Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:41:52 PM



Tiêu đề: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:41:52 PM
        
        - Tên sách: Đời chiến sĩ

        - Tác giả: Đại tướng Phạm Văn Trà. Thể hiện: Duy Tường

        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân

        - Năm xuất bản: 2009

        - Số hoá: ptlinh, macbupda


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/Tra_zpskatuamgw.jpg)
Đại tướng Phạm Văn Trà

        Quê quán: xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
        Sinh năm 1935
        Nhập ngũ: năm 1953
        Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1956).
        Chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, giữ các chức vụ từ tham mưu trưởng tiểu đoàn đến trung đoàn trưởng (1964 – 1975)
        Tham mưu trưởng Sư đoàn 4; Phó Sư đoàn trưởng, kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9 (12/1975 – 1977)
        Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1976)
        Học tại Học viện quân sự cấp cao (từ 9/1978)
        Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997 - 2006)
        Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330 Quân khu 9, chỉ huy sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia (từ 8/1980)
        Tháng 3.1983: Phó Tư lệnh Mặt trận 979.
        Năm 1985 - 1988: Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 9.
        Tháng 6/1988: Phó Tư lệnh Quân khu 3.
        Năm: Tư lệnh Quân khu 3 (1989 – 1993)
        Tháng 12/1993: Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
        Tháng 12.1995: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam
        Năm 1997 - 6/2006: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương).
        Đại tướng: 2003

        Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VII - IX, Uỷ viên Bộ Chính trị khóa VIII, IX.

        Đại biểu Quốc hội các khóa IX - XI.

        Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, hạng Ba)...


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/Doi%20chien%20si_zpsjaurr9xg.jpg)


Cùng bạn đọc

        Chưa tròn tuổi 18, nhỏ con, thiếu cân, nhưng vì lo “kháng chiến chín năm” đang vào hồi kết, mà không thực hiện được điều thầm hứa với vong linh người cha vừa ngã xuống bởi bàn tay của kẻ thù, đã hối thúc tôi nhập ngũ. Vậy là, kể từ những ngày Thu tháng Tám năm 1953 - ngày tôi được đứng trong hàng ngũ Tiểu đoàn Thiên Đức tỉnh Bắc Ninh, đến ngày rời quân ngũ, tôi đã có trên 55 năm làm Bộ đội Cụ Hồ.

        Hơn nửa thế kỷ đó, tôi đã cùng bạn bè, đồng chí, đồng đội làm một cuộc trường chinh theo con đường của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Từ những trận chiến đấu “vỡ lòng” trên quê hương Kinh Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi đã vượt Trường Sơn đến với miền Tây Nam Bộ; trải qua 12 năm là người lính của Trung đoàn 1 U Minh, cùng đồng chí, đồng đội bà con cô bác kiên cường bám trụ từng xóm ấp, dòng kênh; khi Cà Mau - Đất Mũi; Long Mỹ, Phụng Hiệp….Cần Thơ, khi Chương Thiện, Vĩnh - Trà, đánh Mỹ và thắng Mỹ. Tiếp đó là gần 10 năm cùng lực lượng vũ trang Quân khu 9 làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp, góp phần cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt vong…

        Suốt một thời quân ngũ, tôi đã trải qua hết thảy những thang bậc, vị trí của người lính, từ chiến sĩ liên lạc, bộc phá viên, tổ trưởng ba người, đến cán bộ sư đoàn, quân khu, rồi Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng; được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Từ sâu thẳm lòng mình, tôi luôn tâm niệm hết thảy những gì tôi làm được, mỗi bước trưởng thành của bản thân đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, sự giúp đỡ của tổ chức, đồng chí, đồng đội; tình cảm và sự cưu mang của bà con cô bác trên mọi miền Tổ quốc; của biết bao người đã dũng cảm hy sinh trong những tháng ngày chiến tranh cam go, khốc tiệt nhất.

        Bởi vậy, hồi tưởng, xâu chuỗi, ghi chép lại những sự kiện lớn nhỏ, những hỷ niệm của một thời quân ngũ, để tỏ lòng tri ân Đảng và Bác Hồ, tri ân bà con cô bác, đồng chí đồng đội giúp đỡ, cưu mang là điều tôi luôn ấp ủ, canh cánh bên lòng.

        Cảm ơn Đại tá Nguyễn Duy Tường đã nhiệt tình giúp tôi thực hiện được điều mong muốn của mình trong tập hồi ký “Đời Chiến sĩ”.

        Hơn nửa thế kỷ chinh chiến và công tác; đất nước lại trải qua ba cuộc chiến tranh, biết bao sự kiện chồng chất, đan cài, mà trí nhớ lại có hạn. Vì vậy, nếu như có điều gì sai sót, khiếm khuyết ở “Đời Chiến sĩ”, rất mong đồng chí, đồng đội, bà con cô bác và bạn đọc lượng thứ, bổ khuyết.


PHẠM VĂN TRÀ        


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:46:56 PM

Chương một

QUÊ HƯƠNG NGUỒN CỘI VÀ THỜI THƠ ẤU

        Trên hai chục năm trụ bám ở đồng bằng sông Cửu Long, bên những kênh rạch, trong các miệt vườn ở Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Trà… cùng bà con cô bác và đồng đội đánh Mỹ, tôi đã là người con của miền Tây Nam Bộ. Các em, các cháu thân quen gọi là anh Ba, chú Ba; các ba, má trìu mến gọi thằng Ba; còn anh em đồng chí cùng trang lứa thân mật gọi là Ba Trà. Bởi vậy, thoạt nghe tên, nhiều người cứ nghĩ tôi là dân gốc Nam Bộ. Tôi tự hào được là người con của hai vùng quê: Kinh Bắc - Bắc Ninh - miền quê cội rễ, nơi chôn rau cắt rốn, nơi tình cha, nghĩa mẹ, tình làng nghĩa xóm, hạt thóc, củ khoai và những làn điệu dân ca quan họ… nuôi tôi khôn lớn thành người, và miền Tây Nam Bộ - miền quê của một thời trận mạc.

*

*       *

        Quê tôi - Phù Lãng Trung, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Quế Võ nằm trên trục lộ 18, nối Hà Nội - Bắc Ninh với vùng mỏ Đông Bắc của Tổ quốc. Phù Lãng ở phía đông huyện Quế Võ, cách huyện lỵ chừng 15 cây số. Bao bọc ba phía: đông, bắc và một phần phía tây Phù Lãng là sông Cầu - con sông của huyền tích, của những làn điệu dân ca quan họ say đắm lòng người, của thơ ca và tình yêu đôi lứa.

        Phù Lãng quê tôi có địa hình cao thấp xen kẽ. Cạnh những cánh đồng không rộng lắm, những làng thôn - nơi dân cư quần tụ nổi lên dãy Trâu Sơn, núi Cảng (núi Chùa Cao), núi Mang, núi Bờ Rùa, núi Chùa Vân. Giờ đây thì những ngọn núi đó cây cối thưa thớt, đất đá “trơ gan cùng tuế nguyệt”, nhưng theo các bậc cao niên thì trước đây trên núi Chùa Vân cây cối rậm rạp, nhiều cây cổ thụ, nên dân trong vùng vẫn gọi là rừng Vân.

        Sông Cầu nên thơ như dải lụa bao bọc, lại điểm xuyết những ngọn núi lung linh huyền tích… tạo cho Phù Lãng cảnh sơn thủy hữu tình, đắm say kỳ lạ. Con sông Cầu đã tắm mát tuổi thơ tôi; những mái đình - chùa với đầu đao cong vút; những làn điệu dân ca tình tứ, sâu lắng… của đất Kinh Bắc, đã hun đúc, nuôi dưỡng tâm hồn tôi từ thuở nằm nôi.

        Khi xưa, đường bộ chưa phát triển thì sông Cầu là con đường thủy đi lại, làm ăn, buôn bán của Phù Lãng, Quế Võ. Sau này tuyến giao thông chủ đạo là đường 18.

        Cũng như bao làng quê khác, trong sự biến thiên của lịch sử, Phù Lãng, Quế Võ cũng đã nhiều lần thay tên đổi họ, chia ra nhập vào.

        Theo một số công trình lịch sử, địa danh Phù Lãng đã thấy xuất hiện từ đầu thời Lê (Trung Hưng). Tuy vậy, đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đơn vị hành chính cấp Tổng còn tồn tại, thì Phù Lãng chỉ là tên gọi một xã nhỏ của tổng Phù Lương - gồm 11 xã: phù Lương, Cựu Tự, Minh Lương, Đồng Sài, Phù Lãng, Thất Gian, An Xá (An Trạch hay Văn Cần), Phùng Dực (Bằng Dực hay Phùng Dị), An Định, Văn Phong, Hữu Bằng.

        Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam mới ra đời. Dưới chính thể Dân chủ Cộng hòa, cấp Tổng không còn, Phù Lãng thuộc huyện Quế Dương. Sau này, huyện Quế Dương sáp nhập với huyện Võ Giàng thành Quế Võ. Tháng 3 năm 1948, ba xã Phù Lãng, Đồng Sài, An Trạch hợp nhất thành xã Đại Tân và đến đầu năm 1971, xã Đại Tân được đổi thành xã Phù Lãng. Với sự kiện này, phải nói là dân quê tôi vô cùng phấn khởi - như được trở về nguồn cội - trở về với tên gọi đã từng là máu thịt, là tình cảm lắng đọng - là “thương hiệu” của muôn đời - thương hiệu gốm Phù Lãng - rất lý thú, tôi xin dành nói ở phần sau.

        Làng Phù Lãng hay xã Phù Lãng xưa có ba thôn: Trung thôn, Hạ thôn và Thượng thôn. Còn Phù Lãng bây giờ có các thôn: Đồng Sài, An Trạch, Đoàn Kết, Phấn Trung và Thủ Công.

        Cũng như bao làng quê khác ở xứ Kinh Bắc nói riêng và đồng bằng Bắc Bộ nói chung, người dân Phù Lãng quê tôi tự bao đời chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Nhưng ơn trời, “nhất cận thị, nhị cận sông”, do gần sông nước thuận cho giao thương, đất đai thích hợp với đồ gốm, nên ngoài làm nông, người Phù Lãng còn thêm nghề làm đồ gốm.

        Với nông nghiệp, đồng đất Phù Lãng có thế cao thấp đan xen nhau. Có cánh đồng cao bằng phẳng, đất pha cát, một năm canh tác được hai vụ. Nhưng cũng có nhiều cánh đồng trũng, quanh năm ngập nước, chỉ cấy được vụ lúa chiêm, thường gọi là dộc: dộc Đồng Nam, dộc Đồng Long, dộc Láng, dộc Vẽ, dộc Bờ Mảng, dộc Cũ Cò,…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:49:22 PM

        Thuở xưa, khi mà người nông dân, một năm hai vụ “trông trời, trông đất, trông mây / Trông mưa trông nắng…”, thì đồng đất quê tôi thường xuyên chịu cảnh “chớm nắng đã hạn, chớm mưa đã úng”. Cả xã chỉ có đất Đồng Sài khá màu mỡ, nên từ thuở ấu thơ, tôi đã từng được nghe người già truyền nhau câu tục ngữ “Thứ nhất Đồng Sài, thứ hai Đồng Chuê”.

        Đất đai eo hẹp, phần lớn cằn cỗi, nên cho dù người dân quê tôi siêng năng cần cù “một nắng hai sương”, chịu thương chịu khó, thì ngày trước làm ruộng cũng chẳng đủ ăn; một năm thường thiếu ăn chừng vài tháng, phải chạy chợ, làm thêm nghề phụ đắp điếm qua ngày.

        Tuy đất đai cằn cỗi, không sẵn những loại nông sản đứng vào hàng “cao lương mỹ vị” như nhiều vùng khác, nhưng ở phù Lãng cũng có khoai lang Đồng Sài - củ to, thơm ngon nổi tiếng trong vùng và rau cần An Xá, đã bao đời có mặt khắp các chợ gần xa; được nhà nhà ưa chuộng.

        Cùng với cây lúa, luống khoai ngoài đồng; trâu bò, lợn gà cũng được người dân quê coi trọng; vừa để làm sức kéo, làm nguồn thực phẩm dự trữ, và đặc biệt là bán để kiếm đồng tiền dành chi tiêu “trăm thứ bà giằn” trong nhà. Cũng có một số gia đình nuôi dê và nuôi cá đầm, hồ ao.

        Ngoài nông nghiệp là chính, Phù Lãng từ lâu đời đã nổi tiếng bởi nghề làm gốm. Qua một số công trình nghiên cứu lịch sử, thì ông tổ nghề gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, Lưu Phong Tú được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc. Trong dịp này, ông đã học được nghề làm gốm và về truyền dạy cho người trong nước. Đầu tiên, nghề này được truyền cho người ở ven sông Lục Đầu, sau đó là vùng Vạn Kiếp - Chí Linh - Hải Dương và ngược dòng sông Cầu, nghề làm gốm đến đất Phù Lãng vào đầu thời nhà Trần (thế kỷ XIII).

        Sản phẩm chính của nghề gốm Phù Lãng là đồ gia dụng, như. chum, vại, chậu, nồi, chậu cảnh, tiểu sành… Màu men chủ đạo là men da lươn, có các họa tiết hoa văn trang nhã, dung dị. Gần đây, Phù Lãng còn nổi tiếng với đồ gốm mỹ nghệ.

        Nguyên liệu chính để tạo ra sản phẩm gốm Phù Lãng là đất sét màu hồng nhạt, mua ở làng Thống Vát, Cung Kiệm xã Việt Thống (cùng huyện). Đất sét được chuyển bằng thuyền xuôi sông Cầu về Phù Lãng. Qua nhiều công đoạn tinh luyện, đạt được độ dẻo, mịn cần thiết, đất sét được chuyển sang tạo hình trên bàn xoay, bằng bàn tay tài hoa của người thợ gốm.

        Cũng như nghề gốm ở Bát Tràng (Gia Lâm - Hà Nội), Thổ Hà (Việt Yên - Bắc Ninh)…, phương pháp tạo hình gốm Phù Lãng cũng được chuốt trên bàn xoay. Sau công đoạn chuốt là tráng men, phơi khô và cho vào lò nung. Trong cả quy trình đó, nếu khâu tạo dáng để hình thành một phong cách riêng của một “dòng” gốm cần tới độ tình xảo, kỹ thuật điêu luyện của người thợ chuốt; thì sản xuất men là một bí quyết kỹ thuật mà người thợ làm gốm xưa rất coi trọng và giữ kín.

        Về kỹ thuật, nghệ thuật tạo hình, trang trí sản phẩm, gốm Phù Lãng không thua kém các dòng gốm khác. Gốm quê tôi còn được nhiều người biết, trân trọng bởi sự đa dụng và luôn gần gũi với cuộc sống đời thường của thôn quê. Trong cuộc sống hằng ngày, hỏi rằng có gia đình nông dân nào ở đồng bằng Bắc Bộ không cần vài chiếc chum, vại, cái ấm đất, cái chậu sành? Khi sang thế giới bên kia, lại cần đến chiếc tiểu sành sau lần “cải cát”…? Chưa kể tới đồ gốm mỹ nghệ của Phù Lãng thời nay mang sắc thái mới lạ, đầy quyến rũ.

        Ngoài gốm Phù Lãng, đất Võ Giàng - Quế Dương xưa còn khá nổi tiếng với lụa Kim Đôi; hương đen Cách Bi - Hán Quảng, đồ tre đan ở Đa Cấu - Sơn Động, bị dó Quế Ổ, Chiếu buồm Đại Toán,… Bởi vậy, dân trong vùng mới truyền tụng nhau rằng:

Chằm Ngăm đi bán cá con.
Phù Lãng gánh đất nung lon, nặn nồi
Ngăm Ngõ là đất nung vôi,
Đại Toán đan bị, Đông Côi đan giành…

        Nằm bên bờ sông Cầu, lại có nghề gốm nổi tiếng từ xa xưa, nên hoạt động chợ búa, thương mại ở Phù Lãng trước đây thật sôi nổi. Từ thuở ấu thơ, tôi đã từng chứng kiến hằng ngày, thuyền lởn nối đuôi nhau chở đất sét từ Cung Kiệm, Thống Vát về; thuyền bè chở củi, gỗ thượng nguồn về bán cho các lò gốm; rồi thuyền buôn từ Hải Phòng mang cá mắm lên; thuyền buôn Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An… đến cất hàng gốm,… Tất cả tạo nên cảnh bán mua, chợ búa tấp nập, sôi động, làng quê khi nào cũng hừng hực sức sống, nó khác với cảnh yên ả êm đềm những thôn xóm thuần nông.

        Chợ Phù Lãng (dân vẫn quen gọi chợ Lãng), không chỉ là chợ của xã mà quy mô, tính chất của một chợ vùng. Khi tôi lớn lên thì hàng chục cây đa ở chợ Lãng đã là những cây cổ thụ; tỏa bóng mát cho kẻ bán, người mua và tỏa bóng xuống những tâm hồn bé bỏng chúng tôi.

        Cứ mỗi độ hè tới, đám trẻ chúng tôi lấy mấy gốc đa làm nơi quần tụ, tìm bắt ve sầu, tìm hái những quả đa chín thẫm mọng nước, xem đó như thứ lộc trời ban tặng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:52:11 PM

        Chợ Lãng một tháng họp sáu phiên chính vào ngày 1 và ngày 6. Theo mẹ đi chợ phiên, tôi mải nhìn cảnh bán mua, đổi chác không chán mắt; nhất là cảnh mua bán gà, lợn, mèo con, và thương vô cùng những chú cún con, những chú lợn sữa… run rẩy, sợ sệt khi khách hàng bắt ra, bỏ vào lồng; xoay ngược xoay xuôi, xem tai, xem mắt,…

        Cũng như nhiều chợ quê khác, ngoài là nơi trao đổi, bán mua, chợ Lãng còn là nơi gái trai trong vùng hẹn hò, tâm tình. Hãy đọc lời tình tự của một thôn nữ oán trách chàng trai vô tình cũng thấy được vài nét chấm phá về chợ Lãng quê tôi:

Chợ Lãng một tháng sáu phiên
Đường cái đi liền, anh chẳng vào chơi!

        Tuy nhiên, tấm gương nào cũng có mặt trái của nó. Cũng chính nói bán mua, đổi trao ồn ào, tấp nập này, vào năm Ất Dậu 1945, khi lên chín, lên mười, tôi đã chứng kiến người tứ xứ về đây ăn xin, chết đói la liệt.

        Là người con của Kinh Bắc - đất phát tích, đất của nghìn năm văn vật, nên thuở thiếu thời, tôi đã được đắm mình trong không khí hội hè, đình đám - nhất là lễ hội đầu xuân. Đó là cảnh hội làng, thờ Thành Hoàng làng - Thánh Tam Giang (từ ngày 7 đến ngày 16 tháng Giêng hằng năm). Rộn ràng, náo nhiệt khắp thôn Hạ, thôn Trung… là cảnh rước nước từ sông Cầu về đình làng và rước bát hương, bài vị Thành Hoàng… Trong suốt 10 ngày lễ hội, lũ trẻ chúng tôi, ngày thì xem đánh cờ, đấu vật; đêm xem hát chèo, hát quan họ.

        Ngoài hội làng còn có hội chùa; to nhất có hội chùa Cao tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng - trùng với hội làng. Chùa Cao, còn gọi là chùa Vĩnh Phúc (Vĩnh Phúc tự) ở Phù Lãng Thượng. Chùa Cao khá quy mô, nhưng bị thực dân Pháp phá từ hồi kháng chiến 9 năm, hiện dấu tích chỉ còn một tháp đá có tên “Bảo Ân tháp” và một vài bia đá. Qua những gì còn lại ở bia này thì niên đại muộn nhất của chùa Cao là ngày 9 tháng Tám năm Vĩnh Hựu thứ tư (năm 1738). Theo các hòa thượng cao niên trong vùng thì Mãn Giác thiền sư và các vị cao tăng Minh Long, Mã Minh,… đã từng trụ trì ở chùa Cao.

        Cùng thời với chùa Cao còn có chùa Phúc Long (Phúc Long tự) ở Phù Lãng Trung. Chùa Vĩnh Phúc và chùa Phúc Long thuộc phái Trúc Lâm của Phật giáo. Hiện nay, hai ngôi chùa này đã được phật tử trong vùng trùng tu, xây dựng lại.

        Vượt ra ngoài địa bàn Phù Lãng nhưng cùng trên đất Quế Võ có nhiều chùa có niên đại xa xưa và rất nổi tiếng, như chùa Dạm, chùa Phả Lại,… Chùa Dạm (Đại Lãm Sơn tự) được xây dựng vào thời nhà Lý (khởi công năm 1086, hoàn thành năm 1094). Dưới con mắt của vua nhà Trần, thì chùa Dạm là “bức tranh kiến trúc mười hai lớp, mắt thấy thiên nhiên rộng vạn lần”. Chùa Núi Phả Lại (Phả Lại Sơn tự), chùa Đại Minh được xây dựng dưới thời Lý Thần Tông (1128 - 1138), nổi tiếng về quy mô, vẻ đẹp mê hồn và những huyền tích về chủ nhân ngôi chùa là thiền sư Không Lộ…

        Danh nho Trần Nguyên Đán (l325-1390) đã không giấu nổi lòng mình khi vãn cảnh chùa Phả Lại, đã có bài Đề thơ của chùa Đạt Minh như sau:

                                 Chiều bên Bình Than hồi sáo trúc.
                                 Đêm chùa Phả Lại ánh đèn soi,
                                 Xưa nay những khách lên thăm cảnh.
                                 Lo trước vui sau hỡi có ai?

        Với sự xuất hiện những ngôi chùa nổi tiếng như chính thông điệp cho hay Phật giáo đã tồn tại ở Phù Lãng, Quế Võ quê tôi hàng nghìn năm trước và đã hòa đồng được với tín ngưỡng dân gian - thờ cúng tổ tiên, Thành Hoàng và những tôn giáo khác.

        Ngoài tín ngưỡng tôn giáo gắn với lễ hội, người Phù Lãng, Quế Võ còn có đời sống văn nghệ dân gian phong phú, đậm đà chất Kinh Bắc. Cùng với những làn điệu dân ca quan họ đã trở thành máu thịt, như cơm ăn, nước uống, khí trời, dân quê tôi còn hát trống quân, hát đố Thú sinh hoạt dân dã này thường diễn ra vào những đêm hè, đêm thu trăng sáng, bên triền đê sông Cầu, hay sân đình rợp bóng đa.

        Kể chuyện vui, nói khoác gây cười là một nét đặc thù làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của người dân quê tôi. Thủ pháp gây cười ở đây là cách nói phóng đại và giọng điệu hài hước của người kể. Chủ đề thường xoay quanh “đặc sản” khoai lang Đồng Sài - người bạn thường gặp trong bữa ăn đạm bạc của người dân ngày xưa. Ví như: Củ khoai lang luộc chín, cho lên võng đưa tít ba ngày sau chưa nguội; củ khoai đưa chắn cổng làng, giặc không tài nào bẩy đi được để vào làng; trâu kéo cày, vấp phải mầm khoai lang, lưỡi cày vỡ tan tành… Với lối ngoa dụ, khuếch trương truyền đời này sang đời khác, nên trong vùng vẫn lưu truyền câu tục ngữ “Đồng Sài ăn khoai lang nói khoác”, hay là:

Nói khoác một tấc đến trời
Đã từng nổi tiếng một thời quê ta
Bốn phương múa lưỡi nói ra
Ai mà nghe kể ắt là hồn bay…

        Những mẩu chuyện hài hước cũng chính là tiếng lòng của người dân quê, tự mình tạo ra tiếng cười, tạo ra niềm vui từ trong lao động; xua đi nỗi nhọc nhằn cơ cực của người nông dân ngày qua ngày đổi bát mồ hôi lấy hạt thóc, củ khoai; đồng thời tiếng cười sảng khoái trong lao động cũng xua vơi đi nỗi hiềm khích đố kỵ muôn thuở của người tiểu nông, đưa con người đến gần nhau hơn, cố kết tình làng nghĩa xóm.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2016, 08:14:35 PM

        Mặc dù về truyền thống khoa bảng, tôi không thấy Phù Lãng nhiều ông nghè, ông cống, nhưng qua thư tịch và những bậc cao niên, thì từ xa xưa, làng nào cũng có văn chỉ để thờ Khổng Tử và những bậc tiền nho, tiền hiển của làng; từng làng lại có một số ruộng gọi là “học điền”, được canh tác để lấy hoa lợi dùng vào việc nuôi thầy học - cũng là hình thức như gây quỹ khuyến học bây giờ. Theo sách “Quốc triều hương khoa lục” thời Nguyễn, tại khoa thi năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894), Nguyễn Duy Kỳ, sinh năm 1858, người Phù Lãng, là một trong mười nho sinh đất Kinh Bắc đỗ cử nhân tại trường thi Hà Nam. ông được ban thưởng hàm Cửu phẩm văn giai.

        Cũng như bao thôn làng người Việt, để chế ngự những thách đố nghiệt ngã của thiên nhiên - bão lụt, hạn hán và đối phó với giặc giã, người dân quê tôi từ xa xưa đã có truyền thống đoàn kết đấu tranh bảo vệ cuộc sống yên bình, bảo vệ quê hương, đất nước. Theo thư tịch cổ, thì từ xa xưa, làng nào của Phù Lãng cũng có lực lượng trị an bảo vệ xóm làng, bảo vệ hoa màu, chống trộm cướp. Khi đất nước, quê hương bị nạn ngoại xâm vào bất cứ thời nào, người Phù Lãng cũng đồng lòng đánh giặc. Trong các cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc, với địa thế là “phên giậu” phía Bắc của kinh đô Thăng Long, Phù Lãng đã từng là chiến trường khốc liệt; là nơi mà biết bao dân binh, tráng binh đã anh dũng ngã xuống vì cuộc sống bình yên của quê hương, vì độc lập tự do của đất nước. Những địa danh: Mả Cháy, Mả Vưởng, Mả Ngòi, Mả Yên, Mả Cẩm, Mả Bầu,… được gắn với đồng đất quê tôi đã phần nào nói lên điều đó. Hoặc, tên gọi: Đèo Gạo, bãi Quần Ngựa, bến Tắm Ngựa… là những thông tin về thời xưa, quê tôi có thể là nơi hội quân đánh giặc…

        Đất nước đau thương và anh dũng, sau thời kỳ chống chọi với phong kiến phương Bắc là những tháng ngày chống thực dân phương Tây. Sau khi chiếm được Bắc Ninh vào những năm 80 của thế kỷ XIX, thực dân Pháp luôn xác định vùng Quế Dương là địa bàn cần thôn tính - để làm chủ tuyến đường 18 từ Quảng Ninh về Bắc Ninh - Hà Nội. Cũng từ đó, quê tôi bước vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Những nông phu chân lấm tay bùn lại cùng nhau đem dạ sắt gan vàng chọi với tàu đồng, đại bác, bảo vệ từng bờ tre, gốc lúa, từng mảnh vườn, bờ ao mà cha ông để lại.

*

*       *

        Trên mảnh đất giàu truyền thống chống ngoại xâm, với nhiều nét đẹp văn hóa, nhưng cũng lắm cơ cực, bần hàn ấy, vào tháng Tám năm ất Hợi (1935) tôi cất tiếng khóc chào đời ở Phù Lãng Trung. Theo tộc phả, họ Phạm ở Quế Võ, có nguồn gốc từ vùng Kinh Môn - Hải Dương, qua Yên Phong rồi về Châu Cầu, Kim Đôi, Phù Lãng, quần cư sinh nhai từ xa xưa. Cũng vì vậy mà gia tộc tôi đã nhiều đời làm ruộng. ông bà nội tôi sinh được hai người con, cha tôi và chú Phạm Văn Hựu. Cha tôi - Phạm Văn Được sinh năm Canh Tý - 1900.

        Đã hơn 55 năm kể từ ngày cha tôi mất bởi bàn tay giặc Pháp, nhưng đằm sâu trong ký ức của tôi, ông là chuẩn mực của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ: cần cù chịu khó, khéo tay hay làm, toan lo, quán xuyến mọi việc trong nhà, ngoài đồng. Gần như mọi việc, cày bừa, đan lát… cha tôi đều hay; đặc biệt là nghề gốm. Từ tạo dáng, pha men, đến đốt lò, cha tôi đều được tôn là thầy thợ. Với kỹ thuật đốt lò điêu luyện, cha tôi thường được bà con trong làng ngoài xã nhờ đốt giùm.

        “Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng”, tôi còn nhớ thợ đốt lò gốm ngày ấy được mọi người rất trọng vọng. Trước khi đốt lò, gia chủ thường sắm cỗ, thắp hương, cầu may mắn - tốt lành. Mỗi lần theo cha đi đốt lò, anh em tôi đều được khi nắm xôi, khi quả chuối, gọi là lộc.

        Làm ruộng và là thợ gốm giỏi, nhưng cha tôi vẫn có ít vốn liếng chữ Hán. Giáo lý “cửa Khổng sân Trình” giúp ông nuôi dạy con cái luôn giữ nếp nhà, sống có tình có nghĩa; ông cũng là người rất cá tính, bản lĩnh. Có thời gian cha tôi làm chánh trương - một chức sắc nhỏ nhoi trong làng, trong xã, đứng đầu số tuần đinh lo việc bảo vệ trật tự trị an xóm làng, chống trộm cướp, giữ gìn hoa màu ngoài đồng khi mùa vụ thu hoạch đến.

        Tôi còn nhớ, với mối thâm thù đế quốc thực dân, nên một lần đi lễ đền Kiếp Bạc, nhân người chen chúc lễ bái, cha tôi đã nhằm thằng Tây ra một cú “thôi sơn”, nhưng bị chúng phát hiện, bắt về bốt giam hàng tháng.

        Mẹ tôi là Trần Thị Huân, người cùng làng, bà sinh năm Nhâm Dần - 1902, là khuôn mẫu của người con gái Kinh Bắc thuần nông; tần tảo toan lo công việc đồng áng, một nắng hai sương, suốt đời nép mình trong mấy lũy tre làng, dưới mái nhà tranh, cùng chồng thu vén việc nhà, nuôi dạy con cái.

        Bố tôi có hai đời vợ. Với vợ cả, ông có hai người con: anh Thược và một chị gái. Với mẹ tôi - vợ hai, chúng tôi có sáu anh chị em. Trên tôi có chị cả Phạm Thị Bột, anh Phạm Văn Diệp, một chị gái mất khi mới lọt lòng, tôi và hai em gái là Phạm Thị Thước, Phạm Thị Thiểm.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2016, 08:15:36 PM

        Đất nghèo, con đông; mặc dù cha mẹ tôi đều biết toan lo, tằn tiện, được xếp vào hạng bậc trung trong làng, nhưng một năm nhà cũng thiếu vài tháng ăn. “Đói đầu gối phải bò”, cha tôi bươn trải làm thêm đồ gốm, đốt lò thuê; mẹ thì chạy chợ kiếm thêm mớ rau, củ khoai đắp đổi, trang trải qua ngày.

        Với đức tính cần cù, khéo léo lại tháo vát của cha và đức căn cơ, thu vén, khéo trù liệu của mẹ, cho dù rất vất vả túng thiếu, nên trong tám anh chị em, chỉ có chị sát trên tôi đoản mệnh, mất sớm; còn lại năm anh chị em tôi cũng lớn khôn thành người. Hai anh chị con mẹ cả nay đều mất cả. Anh Thược mất năm 1980. Chồng chị Bột là bộ đội chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ, hy sinh thời kỳ chống Mỹ; sau này tôi đã cất công tìm kiếm, nhưng phần mộ vẫn còn thất lạc. Anh Diệp - đi thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, sau hòa bình, học Đại học Kinh tế quốc dân và công tác tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nay đã nghỉ hưu tại quê nhà. Em gái Phạm Thị Thước, có chồng là quân y sĩ thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở Đông Nam Bộ, sau đó chú chuyển sang ngành Công an, tham gia tiếp quản thành phố Sài Gòn rồi công tác ở miền Nam và sau năm 1975 chú mất bởi sốt rét ác tính. Còn vợ chồng cô út - cô Thiểm đều là giáo viên, cùng dạy học ở Tuần Giáo - Điện Biên; nay đã nghỉ hưu, cũng về tề tựu tại quê nhà.

        Theo cha mẹ tôi kể lại - ngày tôi cất tiếng khóc chào đời, cả làng cả huyện đang vào đận cực kỳ đói kém - liên tục mấy năm 1934, 1935 - 1937 lũ lụt vỡ đê sông Cầu, sông Đuống. Hậu họa kinh hoàng của nạn vỡ đê, mùa màng thất bát triền miên dẫn tới nạn đói ở quê tôi những năm này đã được nhà văn hiện thực nổi tiếng Ngô Tất Tố ghi lại trong báo Thời vụ, số 26 (ngày 10 tháng 5 năm 1958) như sau:

        “Nếu không tiện về các hạt đang bị đày đọa, các bạn hãy cứ giở tờ Việt báo, tháng trước và tờ Đông pháp gần đây hoặc sang đầu cầu Đuống mà coi, chúng ta sẽ thấy vô số dân đói đã cách xa sự sống nhiều lắm, tuy họ vẫn còn chưa chết.

        Những kẻ ngắc ngoải muốn chết đó phần nhiều là dân các huyện Lang Tài, Gia Bình, Thuận Thành, Quế Dương, Võ Giàng… Điều đáng nói là nhân dân trong mấy huyện ấy chịu đói chịu khổ đã hơn hai năm, họ sống được cho đến nay là cố lắm. Nhiều kẻ chỉ chực chờ chết. Trên hai con đường Bắc Ninh - Phả Lại và Hà Nội - Thái Nguyên luôn luôn có người chết đói nằm ở ven đường. Đó là chưa kể thôn quê còn có những kẻ không đi được nữa…”.

        Bố mẹ tôi kể lại, những năm này, do đê vỡ, mất mùa, nạn đói hoành hành, có đến mấy chục gia đình ở ba làng Phù Lãng, Đồng Sài, An Trạch bỏ quê, tha phương cầu thực. Và không ít người đã bỏ xác ở đất người.

        Có lẽ sinh vào những năm đói kém kiệt quệ, cả nhà ăn khoai lang, cháo loãng qua ngày, nên từ tấm bé, thân hình tôi cứ còm nhom, quặt quẹo. Sự “khiêm tốn”về cân đong, đo đếm cứ đeo đuổi, làm khổ sở tôi mãi về sau này, nhất là chuyện nhập ngũ.

        Đói kém do thiên tai, cộng với sự bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến đã đẩy người dân quê tôi đến đường cùng. Từ trong đêm đen nô lệ, tất cả ấp ủ một niềm tin về sự đổi đời; mơ đến một ngày: nhà mình mình ở, ruộng mình mình cày. Chính trong những tháng ngày đó, Đảng và Bác Hồ đã đem ánh sáng chân lý đến với mọi vùng quê đất Việt, trong đó có Quế Dương, Võ Giàng và Phù Lãng.

        Sau cao trào cách mạng 1930-1931, Bắc Ninh - đặc biệt địa bàn thị xã và vùng phụ cận được xem là nơi “giữ lửa”. Bất chấp chiến dịch khủng bố trắng của địch, những năm 1933-1934, cờ đỏ búa liềm đã nhiều lần xuất hiện ở Nhà máy giấy Đáp Cầu và một số nơi trong thị xã.

        Từ cuối năm 1936, khi đồng chí Hoàng Quốc Việt - một chiến sĩ công sản lỗi lạc, kiên trung, người con ưu tu của đất Võ Giàng thoát khỏi nhà tù Côn Đảo, trở về xây dựng cơ sở ở vùng Thị Cầu và thị xã Bắc Ninh thì phong trào cách mạng quê tôi mới phát triển mạnh mẽ.

        Trong cao trào vận động giải phóng dân tộc, sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941), Ban Cán sự Đảng Bắc Ninh chủ trương mở rộng cơ sở ra những vùng phong trào còn hạn chế - trong đó có Quế Dương, Võ Giàng. Tuy vậy phong trào cách mạng ở quê tôi thật sự sục sôi từ cuối năm 1944, đầu năm 1945. Sau này, qua tìm hiểu tôi mới biết, đó là thời điểm có cán bộ Ban cán sự Đảng của tỉnh là đồng chí Trần Lê Nhân và ông Lý Khánh về trực tiếp vận động, bắt mối cơ sở, gây dựng phong trào.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2016, 08:17:47 PM

        Với chín - mười tuổi đầu, dù chưa tường tỏ hết mọi chuyện, nhưng bằng cảm quan hằng ngày, tôi cũng nhận biết được có một điều gì đó đang tích tụ, dồn góp, để rồi tạo một sự bùng nổ ở chốn làng quê ngột ngạt bí bức không cùng.

        Chỉ có mấy tháng đầu năm 1945 mà các tổ chức cứu quốc ở quê tôi phát triển rất nhanh. Thanh niên cứu quốc Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc… làng nào cũng có. Cán bộ Việt minh tổ chức mít tinh diễn thuyết ở đình làng, chợ Lãng, thu hút rất đông người nghe. Khi đó, đám trẻ chúng tôi chưa biết Việt minh là gì, nhưng thấy nhiều người hồ hởi tụ tập, cũng trốn việc nhà đi xem.

        Trong bối cảnh vỡ đê năm 1944, phát xít Nhật lại vơ vét thóc gạo, phục vụ cho chiến tranh, nạn đói khủng khiếp, cướp đi hơn một nghìn người của hai huyện Quế Dương - Võ Giàng, hàng trăm gia đình phải tha phương cầu thực, thì lời hiệu triệu của Việt minh - chống sưu cao thuế nặng, phá kho thóc của Nhật để cứu đói…, tiến tới giành tự do, độc lập… có sức cuốn hút muôn người.

        Cuối hè năm 1945, những người dân Phù Lãng mang đồ gốm lên Thái Nguyên, Tuyên Quang… mua bán, đổi chác, trở về truyền nhau nghe những tin tức tốt đẹp về Việt minh, về phong trào đấu tranh chống Nhật, chống địa chủ ở nhiều nơi - về khu giải phóng… thổi bùng ngọn lửa phẫn uất bấy lâu nay trong mọi tầng lớp nhân dân quê tôi. Lại được Việt minh tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức; không khí sửa soạn khởi nghĩa giành chính quyền sôi sùng sục.

        Từ đầu tháng 8 năm 1945, không khí sửa soạn khởi nghĩa giành chính quyền tràn ngập làng trên xóm dưới. Thanh niên nam nữ tự vệ với gậy gộc, giáo mác tụ tập sớm hôm bàn tính đánh Pháp, đuổi Nhật và bè lũ tay sai cường hào ác bá.

        Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tin Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội, chính quyền Trung ương về tay quần chúng công nông lan về Bắc Ninh, như ngòi nổ, kích nổ dây chuyền.

        Ở Quế Dương, sáng ngày 22 tháng 8 năm 1945, hàng nghìn quần chúng từ các xã trong huyện dưới sự lãnh đạo của Huyện bộ Việt minh, mang theo cờ đỏ, gậy gộc, giáo mác, bừng bừng khí thế kéo về trung tâm huyện đường, chiếm các vị trí trọng yếu, tước toàn bộ vũ khí của đám lính lệ đang “hồn bay phách lạc”; tịch thu toàn bộ triện bạ, giấy tờ của chính quyền cũ. Qua người lớn kể lại, tôi được biết tri huyện Đào Bá Cường từng một thời là chúa tể cả vùng, thích gì làm nấy, muốn gì được nấy, nay ngoan ngoãn vâng lời cán bộ Việt minh; lấm la lấm lét, khúm na khúm núm trông thấy mấy anh chị tự vệ công nông, như rết gặp gà, như thỏ đế thấy hùm, beo. Đám trẻ chúng tôi nghe chuyện người lớn, như nghe chuyện cổ tích.

        Cùng với tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện; lần lượt ở các xã, quần chúng cũng vùng lên đánh đổ chính quyền cũ, lập nên chính quyền cách mạng.

        Từ sáng tinh mơ ngày 22 tháng 8, tôi đã nghe cán bộ Việt minh dùng loa (bằng tôn cuộn lại, cầm tay) truyền đi khắp xã lời hiệu triệu tổng khởi nghĩa toàn quốc của Ủy ban cách mạng lâm thời. Rồi cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm xuất hiện trên cây đa cổ thụ ở chợ Lãng, ở chùa Cao… Khẩu hiệu “Đả đảo phát xít Nhật, thực dân Pháp”, “Hoan hô Chính phủ công nông”, “Hoan hô Việt minh”, “Đồng bào hãy ủng hộ Việt minh”,… được dán ở gốc đa chợ Lãng và nhiều nơi khác. Dân tình say sưa bàn tán, ngắm nghía cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu của Việt minh. Còn đám trẻ chúng tôi thì vui mừng tột độ; chạy như điên suốt ngày, khi thì ra chợ Lãng, khi lên chùa Cao, khi về Phù Lãng Hạ, đền Vân,… chứng kiến các làng tổ chức mít tinh rầm rộ chào đón cán bộ Việt minh, chào đón cách mạng. Chứng kiến các bác, các anh, các chị, hôm qua còn lầm lũi, cam chịu trước một sự lộng hành của lính Nhật, quan Tây, cường hào…, nay mã tấu, gậy gộc, hàng ngũ chỉnh tề, bừng bừng khí thế bảo vệ cuộc mít tinh…, tôi vô cùng cảm phục, tự hào; và thầm nghĩ, giá mà mình lớn hơn chút nữa…!

        Phù Lãng Thượng tổ chức mít tinh ở núi Chùa Cao. Phù Lãng Trung, Phù Lãng Hạ tổ chức mít tinh tại đình làng.

        Trong nắng thu vàng, dưới lá cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ, phần phật tung bay, trước đông đảo bà con Phù Lãng Trung tề tựu đông đủ, ông Trần Lê Nhân - khi đó được gọi là cán bộ “Thượng cấp” thay mặt Huyện bộ Việt minh lên phát biểu vạch tội của Nhật, Pháp và bè lũ tay sai; tuyên bố bãi bỏ chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng; kêu gọi toàn dân đoàn kết bảo vệ thành quả cách mạng, ủng hộ chính quyền cách mạng lâm thời, xây dựng cuộc sống mới. Cán bộ “Thượng cấp” vừa ngừng lời, cả rừng cánh tay nhất loạt vung lên, và tiếng hô đả đảo phát xít Nhật - Pháp, ủng hộ Việt minh, hoan hô cách mạng… vang lên như sấm. Tôi có cảm giác tất cả nội lực, uất ức tự bao đời dồn nén trong những tấm thân gầy gò, những lồng ngực lép kẹp… giờ đây như vỡ ùa ra với khí thế “xung thiên”.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2016, 08:19:01 PM

        Tại cuộc mít tinh, chính quyền cách mạng lâm thời của Phù Lãng Trung được thành lập, và bác Xuân - một đại biếu dòng họ Phạm được cử làm Chủ tịch, bác Quê là phó chủ tịch. Chính quyền Phù Lãng Thượng do bác Hán.làm Chủ tịch và chính quyền Phù Lãng Hạ do bác Khiết làm Chủ tịch.

        Sau mít tinh, các làng còn tổ chức lễ tế cờ, bàn giao giấy tờ, triện bạ của chính quyền cũ cho chính quyền cách mạng lâm thời. Cách mạng Tháng Tám với khí thế xung thiên của hàng triệu đồng bào và lực lượng vũ trang, chỉ trong chớp nhoáng đã làm nên một cuộc đổi đời từ các thành phố lớn, các thủ phủ, tỉnh lỵ đến từng xóm thôn hẻo lánh. Bộ mặt của xóm làng Phù Lãng thật sự được thổi vào luồng sinh khí mới - sức sống mới. Buổi chiều hằng ngày, sau khi xong việc đồng áng, đội tự vệ các làng tập đội ngũ, vừa đi vừa hát vang những bài ca cách mạng. “Tiến quân ca”, “Cùng nhau đi hùng binh”, “Diệt phát xít”… Đám thiếu niên chúng tôi được các anh chị thanh niên tổ chức đi cổ động từ thôn này sang thôn khác. Đứa nào đứa nấy tự kiếm thứ gì đánh, gõ kêu như: mõ, trống, chiêng, ống bơ,… Vừa gõ mõ, đánh trống,… vừa hô khẩu hiệu, đến khản cả cổ.

        Cuối tháng 8 năm 1945, Ủy ban lâm thời huyện Quế Dương tổ chức đội tuyên truyền Cách mạng Tháng Tám; Phù Lãng có mười thanh niên tham gia lực lượng này. Hằng ngày chúng tôi được xem đội tuyên truyền xếp hàng đôi, người nào người nấy nai nịt gọn gàng, giáo mác, gậy tre trên vai, hùng dũng bước đều diễu theo đường liên thôn, liên xã và hát vang những khúc quân hành”

                                                    “Một hai, một hai
                                                    Liều thân cho nòi giống
                                                    Việt Nam mau giải phóng,
                                                    Ta xá chi chông gai…”.


        Đoàn người đi vòng khắp làng trên xóm dưới, tới đình làng hoặc chợ Lãng… thì dừng lại tuyên truyền thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, phổ biến chủ trương của Chính phủ cách mạng lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

        Tiếp theo những hoạt động tuyên truyền về thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là đợt tuyên truyền về cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu năm 1946. Nhiều tổ thông tin tuyên truyền của các làng được thành lập gồm những người đọc thông, viết thạo, hăng hái nhiệt tình. Thế rồi, trên những bức tường dọc theo đường làng hoặc ở những chỗ “bắt mắt” đều có khẩu hiệu tuyên truyền cho Tổng tuyển cử. Đội thiếu niên chúng tôi cũng là lực lượng tuyên truyền cổ động hăng hái nhất; cho dù ngày đó, tôi chẳng hiểu gì về Tổng tuyển cử, về “phổ thông đầu phiếu”.

        Càng gần đến ngày bầu cử, không khí làng quê càng sôi động. Những buổi phát loa truyền thanh của các tổ tuyên truyền, các buổi tuần hành cổ động của thiếu nhi; rồi hội họp hướng dẫn bầu cử - đặc biệt là những người chưa biết chữ - mà ở nông thôn lúc đó, đối tượng này chiếm phần lớn cử tri…, đã tạo nên hình ảnh sống động của một thể chế dân chủ thực sự của xã hội mới. Rồi ngày bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra như một ngày hội lớn. Mọi người dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, tự nguyện nô nức ra đình làng bỏ phiếu bầu những người xứng đáng vào cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước. Kết quả là cử tri Phù Lãng và cử tri trong huyện Quế Dương đã bầu các ông Dương Đức Hiền, Bạch Di, Nguyễn Huy Tưởng và Ngô Thế Phúc là đại biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp sau bầu cử Quốc hội là bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Rồi Ủy ban hành chính các xã Đồng Sài, An Trạch ra đời; Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, công an, du kích, văn hóa “Hùng Tín” lần lượt được tổ chức, lôi kéo đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

        Ở vào buổi phôi thai của chế độ Cộng hòa Dân chủ nhân dân, hầu hết những người đứng đầu chính quyền, đoàn thể là những nông dân, thợ thủ công, quen với cày bừa, cấy gặt hoặc làm vại, làm chum,… không tránh khỏi lúng túng, ngỡ ngàng trước việc Đảng, việc dân; nhưng bù lại là nhiệt tình cách mạng; đoàn kết tương trợ lẫn nhau; vừa làm vừa học; đặng tổ chức, chỉ đạo nhân dân tạo dựng cuộc sống mới.

        Việc đầu tiên tôi chứng kiến là chính quyền nhân dân và các đoàn thể tập trung huy động sức dân “diệt giặc đói” hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ. Theo đó, chính quyền địa phương đã lấy ruộng công (ruộng làng, xã ruộng chùa…) tạm cấp cho những gia đình không có ruộng hoặc ít ruộng. Ở Đồng Sài, chính quyền đã tịch thu toàn bộ ruộng đất, thóc lúa, trâu bò… của địa chủ cường hào chia cho dân nghèo. Bên cạnh đó, một số địa chủ, phú nông được tuyên truyền vận động, đã tự nguyện “hiến điền”, “hiến sản”, giảm tô cho người nghèo. Đặc biệt, phong trào tăng gia sản xuất được phát động sôi nổi. Các làng, các xã đều thành lập Ban vận động tăng gia sản xuất… Huyện cũng đưa lương thực về phát chẩn và cung cấp một phần thóc giống cho dân.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2016, 08:21:16 PM

        Có ruộng đất, thóc giống, được tuyên truyền vận động, người dân quê tôi tích cực tăng gia, trồng rau màu “lấy ngắn nuôi dài”. Chỉ vài ba tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ruộng gần, đồng xa đã phủ xanh bởi các loại rau màu. Một ít khoai lang dỡ vội, bắp ngô bẻ non cũng góp phần đẩy lùi nạn đói. Lúc đó đi qua chợ Lãng, chùa Cao…, tôi không còn phải chứng kiến cảnh người đói lả như bóng ma vật vờ chờ thần chết đến rước đi. Sức dân được vực dậy, sản xuất được phục hồi, bộ mặt làng quê đổi thay từng ngày.

        Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ, cùng với phong trào tăng gia sản xuất “diệt giặc đói” là phong trào bình dân học vụ “diệt giặc dốt”, được phát động tới tận xóm làng, từng gia đình. Làng nào cũng thành lập Ban xóa nạn mù chữ. Những người biết chữ đều được chọn làm giáo viên dạy học. Người biết chữ dạy cho người chưa biết; người biết nhiều dạy cho người biết ít. Không có giấy, lấy lá chuối thay giấy. Không có mực, lấy than làm mực. Sân phơi, tường nhà cũng trở thành bảng để viết… Tối tối, tổ thông tin từng làng gọi loa, đọc để bà con nghe thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào toàn quốc chống nạn thất học. Đám trẻ chúng tôi lại được huy động và say sưa, hăng hái tham gia cổ động cho phong trào xóa nạn mù chữ. Ngay tháng đầu tiên của cuộc vận động, thôn Phù Lãng Trung đã tổ chức được bốn lớp học, Phù Lãng Hạ có hai lớp, Phù Lãng Thượng ba lớp; ở An Trạch, Đồng Sài cũng tương tự như vậy. Phong trào học chữ quốc ngừ sôi động không chỉ với lớp trẻ chúng tôi mà cả người già cũng hăng hái tham gia. Hăng hái bởi lẽ thứ hai là sự kiểm tra gắt gao của các ban “xóa mù” và dư luận. Trong các buổi sinh hoạt đoàn thể, liên hoan văn nghệ, người ta thường đọc thơ ca, hò vè cổ vũ cho việc học chữ quốc ngữ. Ví như:

Hỡi cô má đỏ hồng hồng
Cô không biết chữ nên chồng cô chê.

        Hay:

Lấy chồng biết chữ là tiên
Lấy chồng không chữ là duyên con bò…

        Hằng tháng, Ban vận động xóa nạn mù chữ đều dựng cổng “Vinh Quang” ở chợ Lãng hoặc cổng làng để kiểm tra việc học chữ, nhắc nhở, động viên các tầng lớp nhân dân học tập. Tôi đã nhiều lần chứng kiến cảnh những lão nông, lâu nay chỉ quen cầm cày, cầm cuốc nay nhọc nhằn tô từng nét chữ. Viết được một chữ, ai nấy đều phấn khởi, rạng rỡ hẳn lên như cày xong thửa ruộng…

        Với phong trào “Chống giặc dốt” sôi nổi, quyết liệt, sau hơn ba tháng, nhiều người đã biết đọc, biết viết; một số người đọc thông, viết thạo. Có thêm cái chữ, dân trí mở mang; đội ngũ cán bộ chính quyền, đoàn thể có điều kiện tiếp thu, đưa chủ trương - chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống của người lao động; cùng nhân dân tổ chức đời sống mới, bài trừ dần thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội khác.

        Với gia đình tôi, mặc dù đông con; lo ăn, lo mặc cho con cái lắm khi toát mồ hôi, nhưng cha mẹ tôi cũng cố thu xếp để anh chị em chúng tôi kiếm lấy dăm ba chữ cho bằng anh bằng em và khi có điều kiện sẽ học hành lên, “mở mày mở mặt cùng thiên hạ”. Để khỏi phụ công lao và ước nguyện của cha mẹ, lúc này, ngoài công việc đồng áng, chăn trâu, cắt cỏ, phụ giúp làm gốm lúc tháng ba ngày tám nông nhàn, ngày một buổi tôi cùng đám bạn cắp sách tới trường. Tôi học sơ học tại trường làng cho đến hết lớp 4 thì buộc phải gác bút nghiên, vì lúc đó chiến tranh đã “gõ cửa” làng Phù Lãng; Tây đã kéo về đóng ở bốt Châu Cầu, Phả Lại…

        Buộc phải tạm ngừng học chữ quốc ngữ, hai năm sau đó (1950-1951), tôi tạt ngang qua “cửa Khổng sân Trình” lên chùa học chữ Hán. Sư thầy Chúc ở chùa Cao (Phúc Long tự) dạy chữ Hán cho tôi. Sư thầy là một người thông tuệ, kiến thức rộng. Ngoài học chữ Hán, tôi còn được sư thầy giúp mở mang tầm hiểu biết về tự nhiên, xã hội, về tính hướng thiện và thuyết luân hồi, nhân quả… của triết lý đạo Phật. “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, thầy không hề nói, nhưng tôi lại thuộc nằm lòng đạo lý đó. Tôi mang ơn suốt đời những người thầy giúp tôi từ những bài học vỡ lòng. Sau này đi xa, mỗi lần về quê, có điều kiện, tôi đều tới thăm thầy giáo cũ, lên chùa cảm ơn sư thầy đã giúp tôi có được chút vốn liếng tri thức để tôi chập chững bước vào đời. Khi có điều kiện, tôi gom góp một khoản tiền và huy động một số anh em khác giúp nhà chùa sửa sang, tôn tạo lại chùa Cao cũng một vài công trình văn hóa của làng, của xã.

        Phải nói là chỉ sau vài năm kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, vứt bỏ được xích xiềng nô lệ, công cuộc phục hồi sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở Phù Lãng, Đồng Sài, An Trạch… đã tiến được một bước dài. Đời sống vật chất - tinh thần của người dân ổn định, từng bước cải thiện; bộ mặt, dáng dấp quê hương khởi sắc từng ngày.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2016, 08:22:23 PM

        Tưởng rằng người dân quê tôi sẽ mãi mãi được sống trong thanh bình, yên ấm. Nhưng không! Thực dân Pháp chưa từ bỏ mưu đồ thôn tính Việt Nam. Tiếng súng kháng Pháp đã nổ ở Sài Gòn chỉ sau hơn hai chục ngày kể từ khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ đó, với quân đông, nhiều súng, Pháp mở rộng phạm vi đánh chiếm ra khắp cả nước; câu kết với các thế lực phản động trong nước đang trỗi dậy như nấm sau mưa, hòng bóp chết chính quyền cách mạng trong trứng nước. Ở Phù Lãng cũng như các địa phương khác trong huyện, các phần tử Quốc dân đảng phản động đã câu kết, lôi kéo một số lý trưởng, cường hào đỉa chủ ác bá trước đây tuyên truyền nói xấu chính quyền, đả kích chế độ; thậm chí còn mua sắm vũ khí, tổ chức học võ… chờ thời cơ. Tình hình trật tự an ninh làng xóm nóng lên từng ngày. Việc học hành, đồng áng của chúng tôi cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Tuy nhiên, chính quyền huyện, xã; đặc biệt là lực lượng tự vệ vũ trang đã không để cho các ổ nhóm phản động ngang nhiên chống phá. Hoặc bằng tuyên truyền, thuyết phục; hoặc bằng trấn áp, ta đã nhanh chóng giải tán các ổ nhóm phản động. Lý Huyên, Lý Thông - những kẻ phản động ngoan cố nhất tìm đường tẩu thoát sang địa bàn khác; số còn lại hoảng sợ, năm im.

        Mặc dù đã dùng mọi phương cách để loại bỏ, rồi trì hoãn chiến tranh, nhưng khi thực dân Pháp phơi bày toàn bộ mưu đồ xâm lược nước ta một lần nữa, Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

        Những ngày cuối năm 1946, nhân dân Phù Lãng, Đồng Sài được thông báo quyết định phát động toàn quốc kháng chiến của Trung ương. Không khí xóm làng như sôi lên khi tổ tuyên truyền dùng loa, liên tục phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ. Trong những ngày đó, tôi đã thuộc lòng những câu:

        “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

        Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

        …Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước…”.

        Nghe những lời hịch của Bác, ruột gan tôi bồn chồn, rạo rực; chỉ ước ao vụt lớn lên như các anh, các chị thanh niên, du kích để cầm súng đánh giặc. Nhưng, không có súng, thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc…, nghĩa là lũ trẻ chúng tôi cũng có thể đánh được Tây. Nghĩ vậy, tôi cùng đám bạn bè cùng trang lứa vô cùng phấn khởi. Còn cha, mẹ tôi, một mực căn dặn: Đánh giặc là việc của người lớn. Còn chúng tôi phải tập trung vào học hành và đồng áng.

        Chiến tranh đã lan ra cả nước. Xe tăng, gót giày đinh của lính Pháp, lính lê dương đã giày xéo nơi nơi. Nhưng, cho đến cuối năm 1946 và cả năm 1947, quân Pháp vẫn chưa đánh tới quê tôi, cho dù Phù Lãng nằm cạnh quốc lộ 18 và cạnh sông Cầu, là hai tuyến giao thông huyết mạch.

        Tranh thủ những ngày chiến tranh chưa lan tới, cấp bộ Đảng, chính quyền địa phương và các tổ chức quần chúng tích cực chuẩn bị để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, sớm hay muộn cũng sẽ diễn ra trên mảnh đất này.

        Cùng với củng cố tổ chức, tăng cường huấn luyện tự vệ du kích, rèn sắm giáo mác, chuẩn bị kháng chiến, từ cuối năm 1946, nam nữ thanh niên, tự vệ quê tôi hăng hái tham gia đắp kè trên sông Cầu, tại quãng sông chảy qua Thịnh Lai thuộc xã Đức Long, cách Phả Lại chừng hai cây số. Qua tìm hiểu, được biết lúc này quân Pháp đã đánh lên Phả Lại. Ta đắp cản ở Thịnh Lai để chặn từ xa tàu chiến Pháp chở quân lên càn quét phía thượng nguồn sông Cầu.

        Đang vào kỳ nước cạn, nên việc đắp kè tiến hành thuận lợi. Hằng ngày, từng đoàn dân quân - tự vệ, thanh niên Phù Lãng đổ về Thịnh Lai góp công, góp của làm kè. Đá được huy động của nhân dân (vẫn dùng để kè bờ sông) và số đá xây cống Dùng còn lại. Hoặc nhiều, hoặc ít gia đình nào có tre đều đóng góp. Có gia đình tình nguyện hiến tất tật mấy khóm tre trong vườn để làm kè.

        Với tinh thần tất cả cho kháng chiến, tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược, với quyết tâm “xẻ núi, ngăn sông”, chỉ sau hơn ba tháng, kè Thịnh Lai dài hơn một trăm mét đã hoàn thành. Kè đắp xong, nhưng cả năm 1947, tàu chiến Pháp từ Phả Lại chưa ngược sông Cầu Trong khi đó, mùa mưa năm 1947, nước sông Cầu lên to. Con sông vốn hiền hòa, thơ mộng vào mùa Đông, mùa Xuân, thì vào mùa mưa trở nên hung hãn, cuốn phăng kè Thịnh Lai trong chốc lát. Chứng kiến cảnh tượng đó, tôi vô cùng xót xa; đồng thời càng hiểu thêm thành ngữ mà cha ông đúc kết. “Nhất thủy, nhì hỏa”. Sức nước là không cùng. Sau này, thời chống Mỹ vào chiến đấu trên chiến trường miền Tây Nam Bộ, tôi được biết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân dân vùng U Minh, Cà Mau, khi xây dựng căn cứ địa cũng đã dựng nhiều cản trên sông ngăn tàu địch, rất hiệu quả. Tuy nhiên, sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long hiền hòa hơn sông ngòi ở Bắc Bộ - cho phép việc đắp kè, dựng cản thành công.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2016, 07:30:51 AM

        Cũng từ cuối năm 1946, công tác “Tiêu thổ kháng chiến" được tiến hành khẩn trương. Dân quân, du kích được lệnh phá dỡ đình, chùa - những nơi địch có thể đồn trú; phá đường - đắp ụ, rào làng, đào hầm trú ẩn; cất giấu lương thực, sẵn sàng tản cư; thực hiện kế sách khi giặc vào chỉ còn “vườn không, nhà trống”. Sôi nổi nhất vẫn là không khí tập luyện của tự vệ, du kích. Mỗi làng thành lập một trung đội, gồm những thanh niên trẻ khỏe, trang bị chỉ có giáo, mác, mã tấu, dao găm, gậy tre. Bù lại, tinh thần tập luyện của anh chị em rất hăng hái. Nội dung tập luyện đơn giản, chủ yếu là đội ngũ, võ gậy, động tác canh phòng. Nói là đơn giản như vậy, đám trẻ choai chúng tôi rất đỗi thèm thuồng. Chỉ ước sao có ngày cũng được tập tành, lăn lê bò toài thỏa chí.

        Đầu năm 1948, điều mà không một ai ở quê tôi mong đợi đã tới đúng hơn là thảm kịch đầu tiên ập xuống đất Phù Lãng. Sau khi càn quét, lập đồn ở nhiều vùng xung quanh, mờ sáng ngày 22 tháng 1 năm 1948 (nhằm ngày 27 tháng Chạp năm Đinh Hợi 1947), một đoàn tàu chiến, ca nô của Pháp từ Phả Lại ngược sông Cầu lên càn quét Phù Lãng. Kè Thịnh Lai đã bị lũ cuốn trôi từ năm trước, nên tàu địch tiến dễ dàng.

        Trước đó vài ngày, quân và dân Phù Lãng cũng đã hay tin địch rục rịch chuẩn bị càn vào Quế Dương nhân dịp Tết Nguyên đán. Nhưng rồi phần vì thực lực tự vệ - du kích còn non yếu, phần vì công tác chuẩn bị sơ tán không chu đáo, nên đã bị tổn thất khá nặng nề.

        Sáng hôm đó, mặt trời chưa qua khỏi rặng tre, thôn làng tôi đã chìm trong trận mưa đạn từ tàu địch trên sông Cầu bắn vào. Lửa cháy, người kêu khóc, trâu, bò rống lên giãy chết… Cảnh tượng thật hãi hùng. Bị cha mẹ bắt phải đuổi chạy giặc, tôi vẫn chứng kiến phần nào cảnh tượng hãi hùng đó.

        Sau khi cho các loại súng trên tàu, ca nô bắn phá dữ dội, quân Pháp và lê dương ào ạt đổ bộ vào làng. Chúng đốt phá nhà cửa, bắn giết dân làng, cướp của, bắt trâu bò, lợn, gà. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ, Phù Lãng bị giết 10 người, 47 người bị bắt. Tiếp đó, địch kéo lên ruồng càn An Trạch, bắt 64 người và 47 con trâu, bò đưa về tập trung ở chợ Lãng. Sau một hồi đánh đập, đe dọa, dụ dỗ bắt khai người đứng đầu chính quyền, du kích, địch cho thả người già, trẻ nhỏ; số trai trẻ khỏe mạnh bị tập trung về đồn làm lao dịch mấy tháng sau mới thả. Đau lòng hơn, khi chú ruột tôi là Phạm Văn Hựu, bị địch bắt đưa về bốt Châu Cầu, do phản đối kịch liệt đã bị chúng bắn chết trong ngày 27 tháng Chạp. Ông Nguyễn Đăng Bân - Chủ tịch Ủy ban xã Phù Lãng và ông Bùi Văn Học - Phó chủ tịch Ủy ban xã An Trạch bị địch bí mật thủ tiêu.

        Mất mát đầu tiên và cũng là mất mát lởn lao đến với Quế Dương, Phù Lãng. Cũng từ đó ngày 22 tháng 1 (dương lịch) hằng năm trở thành kỷ niệm buồn đau, là ngày “giỗ trận” của Phù Lãng, An Trạch. Tết Nguyên đán Mậu Tý năm đó, quê tôi, gia đình tôi chìm trong đau thương, tang tóc. Mất mát của gia đình cùng với tổn thất lớn của quê hương, làm cho cha tôi vốn đã trầm lắng lại càng thêm thâm trầm, uất ức tột độ.

        Sau tổn thất đầu tiên, chính quyền, các tổ chức đoàn thể quê tôi nhanh chóng được củng cố, chi bộ Đảng được thành lập phát huy vai trò tổ chức, lãnh đạo toàn dân ổn định đời sống, tích cực tham gia kháng chiến, trọng tâm là xây dựng lực lượng tự vệ, du kích, xây dựng thế trận chiến tranh du kích, xây dựng làng chiến đấu, sẵn sàng chông càn, bảo vệ quê hương. Hằng ngày, cán bộ, đảng viên tới từng xóm tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng làng chiến đấu, xây dựng dân quân du kích. Ủy ban kháng chiến hành chính xã chủ trương huy động nam nữ từ 15 đến 45 tuổi vào dân quân du kích. Ban xã đội do ông Nguyễn Văn Toàn làm Xã đội trưởng, ông Trần Văn Chương làm Chính trị viên. Các thôn đều có trung đội du kích tập trung. Lúc này, tôi chưa đầy 15 tuổi, vóc dáng lại nhỏ bé so với lứa tuổi; nhưng thấy tôi nhanh nhẹn, tháo vát, lại nằng nặc đòi tham gia du kích, nên xã đội đồng ý cho tôi làm liên lạc. Mặc dù không muốn con sớm dấn thân vào nơi hòn tên mũi đạn, nhưng thấu hiểu quyết tâm của tôi và cũng muốn con rèn luyện “qua mưa, qua nắng”, cho cứng cáp dần, cha tôi cũng bằng lòng để tôi làm liên lạc cho du kích.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2016, 07:33:12 AM

        Thời gian này công việc xây dựng làng chiến đấu tiến hành hết sức khẩn trương. Toàn dân làm hầm để tránh bom đạn, bám trụ thôn làng đánh địch. Hàng trăm bụi tre được hạ để làm hàng rào. Bao quanh làng là “chiến lũy” tre xanh khá kiên cố. Cổng làng được làm bằng cả cây tre to, rất vững chãi, đóng mở dễ dàng. Ở các cổng làng đều có trạm gác của tự vệ và có bố trí chông, mìn. Sau chiến lũy bằng tre là hệ thống giao thông hào, công sự chiến đấu dày đặc, nối thông từ thôn này sang thôn khác. Ngoài giao thông hào, công sự chiến đấu, còn có hầm bí mật; có hầm ở giữa bụi tre, vừa kín đáo, vừa vững chắc; có hầm đặt dưới đống rơm, chuồng bò, chuồng lợn… Các làng đều có trạm canh gác “viễn thám”, phát hiện địch từ xa, kịp thời báo cho xã đội, du kích triển khai chiến đấu mỗi khi địch càn. Tôi cùng anh Bảo - bạn “nối khố” và một số bạn trong tổ liên lạc thường xuyên có mặt tại trạm gác ở núi Chùa Trâu, trạm gác cuối làng, trạm gác ở núi Chùa Cao… để anh nhận tin tức, nhanh chóng gõ kẻng báo động cho dân làng biết địch đến và chạy về mật báo cho xã đội, cho các trung đội du kích triển khai chiến đấu.

        Đến năm 1949, làng chiến đấu Phù Lãng được xây dựng khá hoàn chỉnh. Qua mỗi trận chống càn, mỗi mùa mưa lũ, làng chiến đấu lại được hoàn thiện thêm một bước, kiên cố hơn, tạo thành thế liên hoàn vững chắc giữa các thôn Phù Lãng với nhau.

        Ngày ấy, tôi có nghe cán bộ xã đội, huyện đội nói về các làng chiến đấu điển hình ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình; hay làng chiến đấu Cảnh Dương (Quảng Bình)… Tuy nhiên cụ thể trình độ tổ chức chiến đấu, quy mô tường lũy, công sự… như thế nào thì không tường tỏ lắm. Riêng với làng chiến đấu Phù Lãng, cho đến ngày kết thúc thắng lợi kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Đại Tân (Phù Lãng, An Trạch) đã rào làng chiến đấu với lũy tre dài gần năm cây số, làm mười cổng làng kiên cố, đào trên ba nghìn mét giao thông hào, gần hai cây số giao thông hầm; 18 “bản doanh” (hầm rộng cho hội họp tập trung), hàng trăm hầm bí mật, trên một chục trận địa chông mìn; làm hàng chục hầm chông tre sâu 2 mét, hàng trăm hầm chông dắt; bãi chông tre cắm phía ngoài lũy tre,

        Xây dựng làng chiến đấu kiên cố, trên cơ sở hệ thống hầm hào, chiến lũy, công sự và đặc biệt tạo được thế trận lòng dân vững chắc là yếu tố quyết định làm cho kẻ thù không chiếm đóng được ở Phù Lãng - Đại Tân, mà còn bị giáng những đòn đau. Đặc biệt với làng chiến đấu và thế trận lòng dân vững chắc, địch không những không chiếm đóng được mà cũng không lập được tề ở Đại Tân. Đây cũng chính là niềm tự hào của người dân quê tôi suốt 9 năm kháng chiến. Bởi lẽ, thời gian đó suốt một dải từ Thuận Thành, Lương Tài (nam phần Bắc Ninh) sang địa bàn bắc Hải Dương, Hưng Yên, địch đã lập được tề ở nhiều nơi.

        Nhằm triệt hạ làng kháng chiến Phù Lãng được cho là “bất trị”, “đáng sợ”, “nguy hiểm”, như nhổ gai nhọn trước mắt, từ năm 1948 trở đi địch liên tục tiến hành nhiều cuộc càn quét, đánh phá. Cũng từ đó, dân quê tôi vừa sản xuất bảo đảm cuộc sống, vừa kiên gan đánh giặc giữ làng, góp công, góp sức phục vụ kháng chiến. Là liên lạc cho xã đội, du kích, thời gian này, tôi được chứng kiến một số trận đánh mặc dù rất đơn giản, nhưng hiệu quả lớn, gây ấn tượng mạnh; phản ánh trình độ kỹ thuật, chiến thuật quân sự của chúng ta trong buổi đầu kháng chiến tuy còn sơ khai nhưng cũng tạo được những đòn choáng váng đối với kẻ thù. Điển hình là trận sáng ngày 21 tháng 7 năm 1949.

        Sau một thời gian theo dõi, nắm bắt quy luật hoạt động của địch trên sông Cầu và con nước thủy triều trên sông, các anh trong Ban xã đội nghĩ ra cách bố trí ở tại bến Nghè Hạ một trận địa “thủy lôi”. Người ta chăng ngang sông những sợi dây thép. Trên sợi dây đó, cách độ chục mét có buộc một chiếc vò sành, đựng hai phần ba nước, để khi thả xuống nước, vò sẽ nổi lập lờ, trông xa chẳng khác gì quả thủy lôi.

        Sáng ngày 21 tháng 7 năm 1949, cuộc hành binh của địch vào Phù Lãng bắt đầu. Tàu thủy, ca nô từ Phả Lại ngược dòng. Bộ binh địch từ Châu Cầu, Đông Du tiến sang.

        Phát hiện trận địa “thủy lôi” của ta, tàu và ca nô địch không dám tới gần mà từ xa nã đạn xối xả vào bãi thủy lôi. Khi thấy bị mắc lừa du kích, bởi “thủy lôi” vò không nổ, quân địch vô cùng cay cú, lồng lộn, bắn như vãi đạn vào làng; rồi ào ạt đổ bộ, phối hợp với lực lượng từ Châu Cầu tiến sang, tiến hành càn quét. Nhưng cả hai hướng, chúng đều vướng mìn và sập hầm chông. Du kích từ các ổ chiến đấu, chớp thời cơ tung hỏa mù (tro bếp, vôi bột trộn ớt bột…), liệng lựu đạn, gạch đá, diệt hàng chục tên, có một quan ba. Chứng kiến trận phục binh tuyệt diệu của du kích Phù Lãng, Đại Tân, đám trẻ chúng tôi vô cùng hả dạ, tự hào bởi những lão nông, những nam nữ du kích rất mực hiền lành, “chân chỉ hạt bột”, có người cả đời chưa đi qua khỏi lũy tre làng, nay đã bày mưu lập mẹo đánh thắng kẻ thù quân hùng, tướng mạnh, có tàu đồng, đại bác…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2016, 07:35:36 AM

        Từ chỗ dương dương tự đắc, xem thường tự vệ, du kích, sau khi nếm đòn đau, kẻ địch đã gán cho du kích Phù Lãng là “bất trị”, “nguy hiểm”, “đáng sợ”,… và chúng quyết phá bằng được làng kháng chiến Phù Lãng, nhổ bằng được “cái gai” trong mắt chúng. Để thực hiện dã tâm đó, một mặt địch tung gián điệp, thám báo ngấm ngầm tìm nắm cán bộ chủ chốt, du kích, tìm hiểu cách bố trí trận địa chống càn của ta, mặt khác tăng cường các cuộc càn quét với quy mô lớn. Cũng vì vậy. Phù Lãng liên tục phải chống chọi với các cuộc càn của Pháp, chịu không ít tổn thất hy sinh, nhưng cũng lập được nhiều chiến công xuất sắc. Làng du kích, làng chiến đấu Phù Lãng, Đại Tân là gương điển hình của phong trào chiến tranh du kích của Bắc Ninh và Khu 12. Phong trào chiến tranh du kích của Phù Lãng - Đại Tân, gương chiến đấu, hy sinh lẫm liệt của du kích Phù Lãng đã tạo cảm hứng để một cán bộ của Ty Văn hóa Bắc Ninh sáng tác bài hát “Đại Tân anh dũng”, với ca từ rất hào sảng:

        “Kìa tiếng súng, hòa câu thét vang từ đất giết giặc giết.
        Đồng bào cùng tiến bước, đứng trông về Đại Tân…
        Nơi đây sông núi hiên ngang
        Chốn đây biết bao oai hùng…
        Đau thương chất hờn căm
        Hiên ngang đứng lên đánh giặc
        Chiến thắng lẫy lừng hai mốt tháng bảy, bốn chín, thủy lôi, mảnh sành, lọ gio anh dũng đánh Tây…”.

        “Đại Tân anh dũng” đã trở thành bài hát truyền thống, luôn vang ngân trong các buổi họp của các đoàn thể, du kích Phù Lãng - Đại Tân suốt những năm đánh Pháp. Và giờ đây, đã tròn 60 năm từ ngày bài hát ra đời, mỗi khi nhẩm lại lời ca, tôi như thấy các mạch huyết quản của mình trào sôi, rung lên rần rật.

        Là gương sáng của phong trào chiến tranh du kích trên một địa bàn trọng điểm, cũng đồng nghĩa với việc Phù Lãng luôn là trọng tâm càn quét, đánh phá của địch. Những năm 1951-1952 là quãng thời gian địch càn đi quét lại Phù Lãng rất nhiều lần. Có lần địch càn quét, rồi trụ lại hàng tuần. Trong những ngày đó, cán bộ, đảng viên, du kích tạm lánh sang đất Yên Dũng - Bắc Giang, phía tả ngạn sông Cầu để bảo toàn, củng cố lực lượng, chờ thời cơ trở về hoạt động.

        Cũng chính trong những ngày cam go, ác liệt đó, quê hương và gia đình tôi đã phải chịu những mất mát lớn. Trong một trận địch càn vào trung tuần tháng 5 năm 1951, cha tôi không may bị trúng đạn, gãy chân. Mẹ cùng anh chị em tôi lo lắng, cố tìm kiếm thuốc thang chạy chữa; nhưng vì điều kiện chiến tranh giặc giã, thuốc thang ngày ấy chẳng có gì; ngoài mấy thứ thuốc lá của ông lang, nên phải mấy tháng, cha tôi mới tập tễnh chống nạng đi lại được. Phần vì thương chú tôi bị Tây sát hại, nay lại vì chúng mà mang thương tật vào mình, ông càng ngày càng trầm hẳn lại. Ngày ngày, trừ khi công việc cùng du kích chống càn, công việc đồng áng, cuốn hút tâm trí, về nhà thấy cha tổn thương cả về tinh thần lẫn thể xác, lòng tôi thêm quặn thắt. Nhưng, nỗi đau chưa dừng lại ở đó!

        Mờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1952, địch mở cuộc càn lớn vào Phù Lãng. Hai tàu chiến, bảy ca nô từ Phả Lại lên, án ngữ từ Phù Lãng Hạ đến cống Dùng, tạo thành vòng vây ngăn không cho nhân dân chạy sang Yên Dũng. Cùng lúc bộ binh địch từ Châu Cầu, Đông Du vượt núi Trâu Sơn rồi băng qua đồng tiến vào Đồng Sài. Trên trời hai máy bay bà già quân lượn xoi mói, gọi loa kêu gọi du kích đầu hàng. Sau “màn dạo đầu” hù dọa, chúng nã súng vào làng. Trong ngày 28 tháng 4, ở Phù Lãng địch đã sát hại 11 người. Khi quân địch xông vào nhà, vì thương tật, xoay trở khó khăn, cha tôi đã bị chúng xả súng bắn chết tại chỗ. Mẹ tôi và các em đều chứng kiến sự kiện đau lòng đó.

        Đang cùng du kích tổ chức chống càn, được tin dữ, tôi đội bom đạn, chui rào, leo tường theo lối tắt chạy về, nhưng không kịp, cha tôi đã tắt thở. Bế cha còn ấm nóng trên tay, tôi thấy đất như sụt xuống, hụt hẫng không cùng. Vậy là chỉ trong vòng vài năm, kẻ thù đã cướp đi của mẹ và anh chị em chúng tôi gần như tất cả. Mất mát chồng lên mất mát, nỗi đau không nói thành lời, muốn khóc cũng khó lòng khóc nổi. Uất hận, tức tưởi dâng trào. Vẫn biết, trong cuộc kháng chiến trường kỳ, phải đối đầu với kẻ thù đông và mạnh hơn nhiều về vũ khí trang bị, con đường đi đến thắng lợi cuối cùng đầy thử thách, cam go; ta phải chịu nhiều mất mát, hy sinh, nhưng nỗi đau của gia đình tôi là quá lớn, khó có gì bù đắp nổi. Giấu nỗi buồn, để nước mắt lặn vào trong; anh em chúng tôi “chui” vào công việc đoàn thể, hoạt động du kích và âm thầm theo đuổi ý định làm một việc gì đó, để vong linh cha và chú tôi thanh thản. Lúc này, nhập ngũ không chỉ là ước mong thỏa chí tung hoành trận mạc, được mang súng ngắn, súng dài theo cảm tính của tuổi mới lớn; mà ẩn chứa trong đó là mối thù lũ cướp nước và tay sai phải trả.

        Biết rằng, lúc này thoát ly thì mẹ tôi sẽ buồn thêm, vì anh Diệp đã đi thanh niên xung phong; nhưng tôi vẫn quyết tâm xin phép mẹ, rồi bàn với hai em ở nhà thay tôi cáng đáng việc nhà, sớm hôm đỡ đần mẹ, để tôi vào bộ đội, mới có thể báo thù cho cha, chú và xóm làng quê hương.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2016, 07:38:41 AM
       
Chương hai

Ở TIỂU ĐOÀN THIÊN ĐỨC, NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẤU VỠ LÒNG
MƯỜI NĂM BIẾT MẤY ĐỔI THAY!

        Đến mùa hè 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã trải qua 8 năm. Trong hành trình tới ngày toàn thắng, chúng ta đã phải vượt qua biết bao thử thách cam go, phải chịu nhiều hy sinh mất mát; để đánh thắng các bước phiêu lưu, nhằm mở rộng chiến tranh của kẻ thù.

        Trên chiến trường Bắc Bộ, sau thất bại trong chiến dịch Hòa Bình và Tây Bắc, Pháp chủ trương tập trung bình định vùng đồng bằng. Theo đó, vùng Bắc - Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang) nói chung, Quế Dương nói riêng là một trong những trọng điểm bình định của thực dân Pháp. phù Lãng quê tôi - vùng đất mà kẻ địch cho là “bất trị”, “đáng sợ”, lại tiếp tục những ngày chống càn quyết liệt.

        Từ năm 1952 trở về trước đã đôi lần có một vài phân đội bộ đội chủ lực Khu về đứng chân ở Phù Lãng, Đại Tân mấy hôm, rồi nhanh chóng rút đi. Vì vậy, hầu hết các trận chống càn đều do tự vệ, du kích độc lập tác chiến. Từ năm 1953, bộ đội chủ lực của Khu về xã thường xuyên hơn. Cũng từ đó, du kích có điều kiện phối hợp cùng bộ đội chủ lực chống càn.

        Tháng 3 năm 1953, một trung đội của Tiểu đoàn Thiên Đức thuộc Trung đoàn 238, do đồng chí Văn Tín chỉ huy, về Phù Lãng hoạt động. Ngoài súng trường, tiểu liên, trung đội của anh Văn Tín còn được trang bị một khẩu SKZ (súng không giật). Lần đầu tiên tận mắt thấy bộ đội có nhiều súng ống, lại là súng lớn, người dân quê tôi vô cùng phấn khởi. Mặc dù các anh bộ đội canh gác rất nghiêm ngặt, ngụy trang kỹ càng, nhưng tin bộ đội có súng lớn chẳng mấy chốc lan ra trong du kích và nhân dân. “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, ai cũng muốn “thực mục sở thị”, phải đến thật gần để nhìn thấy, chạm tay vào súng. Với anh em du kích chúng tôi, khó nói hết sự thèm thuồng, khát khao. Biết đến bao giờ mình mới có được những khẩu súng như vậy?

        Đã âm thầm nung nấu hoài bão đặng góp một chút gì đó dù rất nhỏ nhoi để trả thù cho người cha, người chú của mình và để quê hương không còn cảnh giặc giã,… thì nay, được đi bộ đội trở thành nỗi đam mê, khao khát trong tôi. Sau một thời gian cân nhắc, chuẩn bị, được anh chị em trong gia đình ủng hộ, bạn bè trang lứa khuyến khích, ngày l6 tháng 8 (âm lịch) năm 1953, tôi được chính quyền xã cho đi bộ đội. Cùng đi bộ đội đợt này, trong xã, ngoài tôi, có Trần Văn Đẩu, Nguyễn Trọng Bảo, Nguyễn Văn Tầm. Thực ra khi đó tôi chưa đủ tuổi, phai khai tăng một tuổi mới được xã chấp nhận. Về tuổi như vậy là tạm ổn, nhưng các khoản “cân đong, đo đếm” quả là nan giải. Vì tôi nhỏ con, nên không chỉ người trong gia đình mà cả chòm xóm, bạn bè cũng nghĩ là tôi không đủ sức khỏe để nhập ngũ. Sau này, khi đã là một sĩ quan thực thụ, có lần về thăm nhà, mẹ tôi vẫn nhắc lại rằng: khi đó, bố tôi đã không may, mất đi rồi, anh Diệp lại đi thanh niên xung phong, thật lòng mẹ không muốn tôi vào bộ đội, nhưng vẫn vui vẻ để tôi đăng ký nhập ngũ, vì mẹ tin tôi sẽ bị loại. Quả đúng như vậy, nếu tôi không thật sự quyết tâm, không áp dụng “chiến thuật cù nhầy” thì khó lòng nhập ngũ được đợt đó.

        Đúng ngày nhập ngũ, mấy anh em “khăn gói quả mướp” hành quân lên huyện. Ngay ở vòng sơ loại, tôi và Tầm đã bị Huyện đội giả về, vì bé quá. Thấy chúng tôi cương quyết không về, Huyện đội “xuống thang”, chấp nhận cho ở lại, nhưng sẽ biên chế vào bộ đội địa phương của huyện. Chúng tôi nằng nặc đòi bằng được đi chủ lực. Cuối cùng thì Huyện đội nhượng bộ. Đến nấc Tỉnh đội còn gay cấn hơn. Thấy chúng tôi bé quá, Tỉnh đội gạt tôi và Tầm lại; nhưng cũng với sách lược “cù nhầy” đòi đi bằng được, nên tôi vượt được ải. Thật khó tả hết niềm vui của tôi khi đó. Và sau này nghĩ lại đây chính là khúc ngoặt quyết định của cuộc đời tôi. Thật khó tưởng tượng, ngày đó Tỉnh đội một mực trả về thì không biết giờ đây tôi sẽ ra sao? Còn Nguyễn Văn Tầm ngậm ngùi trở về, phải tới đợt sau, anh mới nhập ngũ thông đồng bén giọt. Về sau anh công tác ở Quân chủng Không quân; khi nghỉ hưu là Đại tá.

        Sau hơn chục ngày làm đủ mọi thủ tục ở huyện và tỉnh, cuối tháng 8 năm 1953, chúng tôi hành quân lên Bố Hạ, được Liên khu Việt Bắc tiếp nhận và đưa ngay vào huấn luyện ở Phố Thắng (Bắc Giang). Sau hai tháng huấn luyện tân binh, với cường độ rất căng, tập cả ngày lẫn tối, lăn lê bò toài, bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn…, tôi được bổ sung cho đơn vị chiến đấu là Tiểu đoàn Thiên Đức (Tiểu đoàn 20) Trung đoàn 238 thuộc Liên khu Việt Bắc.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2016, 07:41:01 AM

        Tiểu đoàn Thiên Đức thành lập tháng 9 năm 1949, là đơn vị nòng cốt của bộ đội địa phương tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiểu đoàn lấy tên Thiên Đức là tên chữ của sông Đuống - dòng sông gắn bó với đất và người Hà Nội cũng như vùng Kinh Bắc tự bao đời.

        Tiền thân của Tiểu đoàn Thiên Đức là Đội du kích Ngọc Thụy được thành lập từ ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

        Từ trong khói lửa chiến tranh nhân dân chống xâm lược, qua thực tiễn chiến đấu vô cùng quyết hệt, Đội du kích Ngọc Thụy đã phát triển thành đại đội, tiểu đoàn. Đa phần cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn là con em quê hương Bắc Ninh. Ra đời và hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn đã vượt lên bao khó khăn, thử thách ác liệt, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, lập được nhiều chiến công. Đặc biệt. tiểu đoàn đã phát huy tốt vai trò nòng cốt của phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn; làm nòng cốt cho phong trào phá tề, phá đồn bốt địch phát triển rộng khắp tỉnh nhà và vùng phụ cận. Trước đây tôi từng được biết tên tuổi của Tiểu đoàn Thiên Đức gắn liền với các trận phá tề ở Đình Sấm (tháng 11 năm 1949), ở Ngô Khê (tháng 1 năm 1950), chống càn ở Nội Viên (tháng 5 năm 1950), đánh bốt Á Lữ (tháng 1 năm 1951), đánh địch ở Lãng Ngâm (tháng 5 năm 1951), chống cuộc càn Nixơ (tháng 3 năm 1953),…

        Để có được những chiến công kể trên và xây đắp nên truyền thống tốt đẹp của Tiểu đoàn Thiên Đức, nhiều cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu. Máu xương của các anh, các chị đã nhuộm thắm đất mẹ anh hùng. Đất mẹ Bắc Ninh và những người lính Thiên Đức chúng tôi luôn ghi lòng tạc dạ, trân trọng sự hy sinh lớn lao đó. Qua thực tiễn chiến đấu và công tác, nhiều cán bộ, chiến sĩ của Thiên Đức đã trưởng thành, là tướng lĩnh, cán bộ cao cấp của quân đội, đó là các anh Lê Minh Nghĩa, Văn Cương, Thái Lâm, Hồ Bắc… Đặc biệt, đồng chí Vương Văn Trà - người Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Thiên Đức đầu tiên đã được truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Được vào bộ đội chủ lực, lại được làm người lính của Tiểu đoàn Thiên Đức - điều mà từ lâu hằng ao ước, là niềm hạnh phúc lớn đối với tôi. Khi đã là người lính thực thụ của tiểu đoàn, nhớ lại nỗi đam mê say sưa ngắm khẩu SKZ của một trung đội thuộc Tiểu đoàn Thiên Đức, do anh Văn Tín chỉ huy về đứng chân ở Phù Lãng đầu năm 1953, tôi cảm thấy vô cùng tự hào, sung sướng và tự nhủ mình cố gắng phấn đấu để xứng đáng với truyền thống gia đình, quê hương và Tiểu đoàn Thiên Đức - vành nôi đời lính của mình.

        Khi tôi về nhận nhiệm vụ, Tiểu đoàn Thiên Đức biên chế gồm ba đại đội: 156, 157, 158, một trung đội hỏa lực, một đội công binh và đội Trưng Trắc - đa phần là nữ, đảm trách công tác quân y, quản lý, tăng gia sản xuất.

        Tiểu đoàn trưởng lúc này là đồng chí Vương Văn Trà - Tỉnh đội phó kiêm chức, Chính trị viên là đồng chí Văn Cương - nguyên Trưởng ban chính trí tỉnh đội, Tiểu đoàn phó là đồng chí Nguyễn Cần - nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 61 bộ đội chủ lực tỉnh Bắc Giang.

        Thời gian này, địa bàn hoạt động của Trung đoàn 238 khá rộng, từ Quảng Yên lên Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên. Riêng Tiểu đoàn Thiên Đức chủ yếu hoạt động ở nam phần Bắc Ninh - quá sang mạn Chí Linh, Đông Triều (Hải Dương), dọc theo trục đường 18.

        Ngày chập chững về tiểu đoàn, cán bộ quân lực tỏ vẻ ái ngại, không muốn đưa tôi xuống đơn vị chiến đấu, Cũng vì quá nhỏ con. Nhưng sau mấy ngày cân nhắc, thấy tôi rắn rỏi, nhanh nhẹn, các anh xếp tôi làm liên lạc cho Ban chỉ huy tiểu đoàn, trực tiếp là anh Văn Cương.

        Làm liên lạc được một thời gian, tôi mạnh dạn đề đạt chỉ huy tiểu đoàn cho tôi được ra đơn vị chiến đấu. Anh Vương Văn Trà và anh Văn Cương nhất trí ngay. Có lẽ, các anh đã nhận thấy cái “bé hạt tiêu” của tôi. Vấn đề lúc này là đi đơn vị nào? Tôi đề đạt nguyện vọng được xuống đại đội chủ công (Đại đội 156) - đại đội có sở trường đánh đồn. Đặc biệt, ở đại đội này có Tiểu đội trưởng Từ Văn Sáng là người chiến đấu dũng cảm, mưu trí, được toàn tiểu đoàn biết tiếng.

        Việc tôi xuống đại đội chiến đấu chủ công của tiểu đoàn cũng là điều đáng bàn. Có anh bạn thân tình, trêu đùa: “Trâu ốm cứ leo cao rồi có ngày ngã đau”. Mặc, cho mọi người ngờ vực, tôi quyết theo đuổi mục đích của mình. Khi tôi về đơn vị, Chính trị viên đại đội tâm sự: Em nhỏ con thế này, sức vóc có hạn, đại đội chủ công của tiểu đoàn chiến đấu thường ác liệt, liệu rồi có chịu đựng được không?

        Đọc hết ý nghĩ của chính trị viên và anh em trong đại đội, tôi trả lời như một sự khẳng định:

        - Các anh yên tâm, em lượng được sức mình, sẽ không để các anh thất vọng.

        Thấy chính trị viên có vẻ xuôi, tôi mạnh dạn đề đạt được về tiểu đội của anh Sáng. Có lẽ cũng là để thử thách, nên cán bộ đại đội chấp thuận. Vậy là mọi ước nguyện đều trọn vẹn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - 4/// Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2016, 07:46:21 AM

        Phiên chế về đại đội chủ công của tôi còn có Bảo - người cùng làng, cùng nhập ngũ một đợt. Ở thời điểm “lạ nước, lạ cái”, anh em cùng quê hương bản quán là điểm tựa quý báu về mặt tinh thần.

        Trong tiểu đội, ngoài anh Sáng - Tiểu đội trưởng, anh Kỳ - Tiểu đội phó, còn có tám chiến sĩ. Anh em gắn bó, yêu thương đùm bọc nhau như con một nhà, chia sẻ cùng nhau mềm vui, nỗi buồn. Trong điều kiện khó khăn đủ bề, có được tấm áo manh quần lành lặn cũng nhường nhịn nhau. Đặc biệt là giúp đỡ nhau trong chiến đấu, công tác, cùng trao đổi kinh nghiệm, khắc phục khó khăn. Trong các trận công đồn, tiểu đội tôi thường được giao nhiệm vụ đánh bộc phá, phá hàng rào, chiếm lô cốt đầu cầu. Đây là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, thông thường, đánh một trận sẽ có một vài bộc phá viên hy sinh hoặc bị thương. Bộc phá viên là người tiếp cận hàng rào, mở cửa đầu tiên cho đến khi chiếm được lô cốt đầu cầu, thì bộ binh mới vào. Cũng vì vậy, bộc phá viên phải là những người nhanh nhẹn, khỏe, tháo vát.

        Để tôi có thời gian tiếp cận nhiệm vụ quan trọng này, gần một tháng đầu, ngày ngày tôi được huấn luyện kỹ thuật đánh bộc phá, chiến thuật công đồn, diệt viện. Trong thời gian này, tôi được trực tiếp theo dõi tiểu đoàn tổ chức trận chống càn ở khu vực bốt Thiên - Ngái (Bến Tắm, Chí Lỉnh), vào trung tuần tháng 11 năm 1953. Do tương quan lực lượng và ở thế bị động, nên trận này, tiểu đoàn tổn thất khá nặng. Tham gia trận đánh, Từ Văn Sáng chiến đấu rất kiên cường, chỉ huy tiểu đội trụ bám đánh địch trên một ngọn đồi suốt buổi sáng. Có lẽ đây là bài học trực quan sinh động nhất, giúp tôi vững vàng, tự tin tham gia những trận chiến đấu “vỡ lòng” trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

        Sau gần một tháng huấn luyện, trung tuần tháng 12 năm 1953, tôi chính thức tham gia trận đánh đầu tiên. Trong trận này, đại đội tôi được giao nhiệm vụ đánh đồn Đại Tân - Chí Linh, Hải Dương. Đồn Đại Tân do gần năm chục tên lính Âu - Phi chốt giữ, nằm cạnh đường 18. Sau khi tổ chức trinh sát kỹ mục tiêu, nắm bắt mọi hoạt động tuần phòng của địch, chập tối hôm đó chúng tôi phát hỏa. Bao bọc quanh đồn có 5 hàng rào. Là bộc phá viên, tôi được giao đánh hàng rào thứ ba. Là đồn do toàn lính Âu - Phi chốt giữ, nên bố trí hỏa lực, canh phòng của địch khá kiên cố. Tiểu đội tôi đánh bộc phá liên tục, mở hàng rào tương đối thuận lợi, nhưng chiếm lô cốt đầu cầu khó khăn. Chiến sự giằng co chừng 40 phút mới giải quyết xong. Trận này, đại đội thắng lớn. Tiểu đội tôi bị thương một đồng chí.

        Trận đầu ra quân thắng lợi, trong niềm vui chung của đơn vị, thì tôi và Bảo (cùng tham gia trận đánh này) là những người phấn khởi nhất.

        Sau thắng trận đánh đồn Đại Tân, chúng tôi khẩn trương rút kinh nghiệm, tiếp tục huấn luyện và cuối tháng 12 năm 1953 tiến hành trận đánh đồn bang tá thuộc quận lỵ Uông Bí. Trận này, đại đội tác chiến trong đội hình tiểu đoàn thiếu. Đơn vị hành quân từ Chí Linh theo đường rừng xuống Uông Bí mất gần một ngày. Có điều ngày đó, các cánh rừng dọc theo đường 18 từ Chí Linh xuống Uông Bí rất rậm rạp. Bộ đội hành quân ban ngày vẫn không lộ bí mật.

        Trong trận này, tiểu đội chúng tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh bộc phá, mở cửa. Là đồn bang tá, nằm ngay quận lỵ Uông Bí, nên địch bố phòng cẩn mật. Đồn cấu trúc chắc chắn. Chúng tôi bò vào trinh sát thấy 7 hàng rào. Tiểu đội tập trung 12 anh em đánh bộc phá. Thời gian này, vũ khí trang bị của tiểu đoàn chủ yếu là súng trường, có một ít tiểu liên, trung liên.

        Sau lệnh phát hỏa, lần lượt bộc phá viên thứ nhất, thứ hai, thứ ba và tôi là thứ tư hoàn thành nhiệm vụ. Khi chúng tôi phá banh hàng rào thứ tư, thì hỏa lực của địch tập trung bắn như vãi đạn vào khu vực cửa mở. Người được phân công phá hàng rào thứ năm có vẻ chần chừ. Từ Văn Sáng lệnh cho tôi phá tiếp hàng rào thứ năm. Lập tức, tôi đón ống bộc phá từ tay đội viên nọ, lao lên giải quyết nhanh gọn hàng rào thứ năm. Hai đội viên còn lại cũng nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi xung phong chiếm lô cốt đầu cầu. Trong vòng chưa đầy 30 phút, tiểu đoàn làm chủ hoàn toàn căn cứ, diệt và bắt toàn bộ địch trong đồn. Viên bang tá bị bắt. Ta thu toàn bộ vũ khí, trang bị.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:15:56 AM

        Trên đà thắng lợi ba trận liên tục, vào đúng Tết Giáp Ngọ, đại đội tôi được lệnh tổ chức trận đánh phục kích ở Tràng Bạch. Nhiệm vụ chính là phục kích tiêu diệt một trung đội địch tuần đường từ Đông Triều về bốt Tràng Bạch.

        Sau một thời gian theo dõi, nắm chắc quy luật hoạt động của trung đội địch tuần đường, chúng tôi chọn ngày 30 Tết Giáp Ngọ - đúng lúc địch chủ quan, lơ là, mất cảnh giác để “cất mẻ vó” này. Suốt mấy ngày náu mình sau những lùm cây cạnh đường 18, để quan sát địch tình, chuẩn bị công sự và suốt ngày 30 Tết ngồi chờ địch trong cái rét cắt da, cắt thịt, chứng kiến cảnh dân tình rục rịch sửa soạn và gồng gánh mâm cỗ đi cúng lễ tất niên, trong lòng cuộn lên nỗi nhớ nhà, nhớ quê da diết. Giá như không có nạn giặc giã, thì giờ phút đó anh em chúng tôi cũng sum vầy cùng gia đình, chòm xóm vui Tết, đón Xuân. Càng hận kẻ thù, chúng tôi càng chắc tay súng. Chỉ chờ trung đội địch lọt vào trận địa phục kích, toàn đại đội nhất loạt xung phong, diệt và bắt gọn 38 tên, thu toàn bộ vũ khí.

        Trận đánh diễn ra trong chớp nhoáng. Quá trình diễn ra trận đánh, ta tuyệt đối an toàn. Nhưng khi lui quân, bộ đội cơ động trên cánh đồng trống, bị địch phát hiện và lập tức cho pháo từ các cứ điểm trên các ngọn đồi cao bắn chặn gây thương vong một số. Trong số đó có anh Cẩn - Chính trị viên đại đội.

        Là một cán bộ chính trị mẫu mực, là tấm gương sáng để anh em chúng tôi “soi” hằng ngày; khi bị mảnh đạn pháo tiện đứt ngang đầu gối, được anh em đưa về khe Chè, nhưng anh Cẩn vẫn nén đau, động viên bộ đội không vì thương vong mà để nhụt ý chí chiến đấu. Trước khi mất, anh còn căn dặn Ban chỉ huy đại đội nhanh chóng khắc phục hậu quả sau trận đánh, cố gắng tổ chức cho bộ đội đón Tết. Nhưng, chúng tôi còn lòng dạ nào nửa mà vui Tết. Cả đại đội khóc suốt mấy ngày. Mất chính trị viên, chúng tôi mất một cán bộ mẫu mực, một người anh ruột thịt. Nén nỗi đau, chúng tôi hứa với vong linh người đã khuất, quyết chiến đấu, lập công, bắt kẻ thù đền tội:

        Vừa củng cố tổ chức biên chế, khắc phục tổn thất của trận phục kích ở Tràng Bạch và nghỉ ngơi vài ngày sau Tết, ngày 16 tháng Giêng năm 1954, Đại đội tôi nhận nhiệm vụ đánh bốt Chiêm ở Đông Triều. Bốt Chiêm nằm dưới chân ngọn núi, có đồn Đông Triều ở phía trên. Giữ bốt Chiêm là hai trung đội lính ngụy ác ôn khét tiếng, gây nhiều tội ác đối với nhân dân trong vùng. Vì vậy, chính quyền địa phương tha thiết yêu cầu Tiểu đoàn Thiên Đức đánh “dằn mặt” bọn ác ôn này. Do triển khai trận đánh bị động theo yêu cầu của địa phương, nên công tác chuẩn bị cho trận đánh không được chu đáo, nhất là khâu trinh sát nắm địch. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến trận đánh không thành công.

        Do trinh sát không tốt, bốt có 7 hàng rào, trinh sát chỉ báo có 5, chuẩn bị lượng nổ không đủ, nên không mở được cửa. Cũng như mọi lần, tiểu đội chúng tôi nhận nhiệm vụ mở cửa, quét được 5 hàng rào thì hết bộc phá. Lập tức địch từ đồn Đông Triều ở trên cao và từ bốt Chiêm tập trung đạn rót vào khu vực cửa mở. Anh em chúng tôi phơi mình chịu trận. Tiểu đội hy sinh hai đồng chí. Tôi cũng bị thương nhẹ sau khi đánh xong hàng rào thứ 5. Trước tình hình đó, đại đội được lệnh dừng trận đánh và lui quân. Toàn đại đội hy sinh 7 đồng chí, bị thương gần hai chục. Thương vong lớn, lại không hoàn thành nhiệm vụ. Đây là một tổn thất, một nỗi đau của anh em chúng tôi ngay đầu năm mới 1954.

        Nửa tháng sau trận Tràng Bạch, chúng tôi đánh trận Mật Sơn (Chí Linh). Từ Chí Linh đi Đại Tân, dọc theo đường 18, địch cho đóng hai đồn là Mật Sơn và Đại Tân. Lúc này, khu vực Sao Đỏ toàn là đồi, rừng, cây cối rậm rạp, rất thuận cho đánh phục kích giao thông. Trong trận này, một đại đội bộ đội địa phương huyện có nhiệm vụ đánh đồn Mật Sơn. Một bộ phận của đại đội chúng tôi có nhiệm vụ mật phục ở quãng giữa Mật Sơn - Đại Tân, đánh quân đi tuần; một bộ phận khác đánh quân chi viện từ Phả Lại xuống. Là tổ bộc phá, chúng tôi được bố trí ở bộ phận đánh quân chi viện. Vấn đề nan giải lúc này là lực lượng quân viện của địch có xe bọc thép hộ tống; trong khi chúng tôi chưa có súng chống tăng và xe bọc thép. Sau một chập bàn thảo, Ban chỉ huy đại đội quyết định sẽ dùng bộc phá, áp sát xe, đánh vào bánh xích.

        Cho dù chưa đánh xe bọc thép bao giờ, nhưng trong quá trình huấn luyện, chúng tôi được phổ biến: ở cự ly xa và trung bình, xe bọc thép của địch phát huy tốt hỏa lực nhưng nếu ta áp sát thì ưu thế của chúng sẽ bị hạn chế. Sau khi được trinh sát báo cáo tình hình viện binh của địch và nhận lệnh của đại đội trưởng, tiểu đội tôi bố trí trận địa phục kích cách đồn Mật Sơn chừng một cây số. Tiểu đội chia làm ba tổ đánh ba xe. Mỗi tổ có một bộc phá viên làm nhiệm vụ áp sát, tung bộc phá vào bánh xích; hai chiến sĩ còn lại có nhiệm vụ yểm trợ, diệt và bắt địch trên xe.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:19:05 AM

        Đúng như những gì chúng tôi đã được huấn luyện, từ Phả Lại lên, quân địch vừa tiến vừa bắn như vãi đạn vào những khu vực nghi có ta phục kích hai bên trục đường 18. Chờ cho xe địch đến cách chừng bảy chục mét, chúng tôi đồng loạt xung phong; đạn từ trên xe bắn, bay chíu chíu qua đầu; mặc, chúng tôi nhanh chóng tiếp cận. Lập tức, địch cho xe lùi lại. Chúng tôi càng đuổi hăng. Đến cách xe chừng ba chục mét, bất ngờ chúng tôi thấy ba thằng Tây nhảy từ trong xe ra, tháo chạy thục mạng. Nhưng đám lính “công tử” ấy làm sao có thể chạy nhanh hơn chúng tôi. Hai thằng đã bị tiểu đội tôi tóm gọn. Đuổi được xe bọc thép, bắt sống được Tây, là ấn tượng mạnh nhất, là niềm tự hào của tiểu đội Từ Văn Sáng trong trận này.

        Kết thúc trận đánh, chúng tôi dẫn giải tù binh, nhanh chóng cơ động về Cổ Vịt, Bến Tắm, cách Sao Đỏ chừng chục cây số về phía đông bắc. Dọc đường chúng tôi lui quân, địch cho pháo bắn chặn rất rát, nhưng toàn đại đội an toàn.

        Lúc này, qua báo cáo của nhân cốt nội tuyến, chúng tôi biết lính địch ở đồn Mật Sơn hoang mang tột độ, vì bị đơn vị bộ đội địa phương tấn công và quân chi viện không tới được. Chớp thời cơ, tiểu đoàn lệnh cho đại đội tôi giải quyết đồn Mật Sơn. Ngay đêm hôm sau, chúng tôi ra quân. Sau khi tổ bộc phá mũi nhọn phá tung hàng rào, bộ binh xông lên đánh vào đồn như vào chỗ không người. Nghe bộc phá, địch chỉ biết chui vào hầm hố, công sự và sau đó nhanh chóng nộp súng, đầu hàng. Chúng tôi bắt được tên đồn trưởng, kết thúc trận đánh rất chóng vánh. Vậy là trận đánh Mật Sơn, từ một trận đã phát triển thành hai trận, giành thắng lợi giòn giã.

        Thời gian này đang có chủ trương của trên đẩy mạnh đánh địch ở vùng đồng bằng địch hậu để phối hợp “chia lửa” với mặt trận Điện Biên Phủ. Vì vậy, khi xét thấy điều kiện cho phép là tiểu đoàn tôi ra quân. Trung tuần tháng 3 năm 1954, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 157 (Đại đội 2) tham gia đánh trận Bãi Thảo - nằm trên quãng đường từ Cẩm Lý (Bắc Giang) về Bến Tắm, Chí Linh (Hải Dương). Trong trận này, đại đội địa phương quân Chí Linh đánh quân đi tuần. Đại đội 157 sẽ phục kích diệt bọn ra nhặt xác lính tuần đường bị tiêu diệt. Kế hoạch, quyết tâm trận đánh là vậy, nhưng diễn biến không như ta mong đợi. Đại đội địa phương quân Chí Linh hoàn thành nhiệm vụ diệt quân địch đi tuần đường. Nhưng Đại đội 157 không những không hoàn thành nhiệm vụ diệt quân địch ra nhặt xác, mà còn bị tổn thất nặng nề. Phát hiện trận địa mật phục của Đại đội 157, địch đã bí mật tập kích, sục hầm bắn chết gần một trăm cán bộ, chiến sĩ. Đại đội gần như mất sức chiến đấu.

        Sau trận đánh, chúng tôi đã ngồi lại, mổ xẻ mọi tình tiết để tìm nguyên nhân. Có thể, vì dân trong vùng, chủ yếu là người Ngái - một nhánh của người Hoa, lúc đó bà con ít có thiện cảm với đằng mình, đã báo cho địch biết trận địa phục kích của Đại đội 157. Cũng có ý kiến cho rằng kẻ địch đã theo dõi nắm bắt quy luật hoạt động của tiểu đoàn, thường sau khi đánh quân tuần đường, sẽ phục kích diệt lực lượng ra lấy xác, giải quyết hậu quả. Ở đây, địch đã “tương kế, tựu kế”, bí mật chụp diệt lực lượng phục kích của ta.

        Do trận này không tham gia, nên Đại đội 156 chúng tôi được giao nhiệm vụ giải quyết hậu quả trận đánh. Chứng kiến gần một trăm anh em bị địch sát hại, cả đại đội tôi không ai cầm được nước mắt, một nỗi đau không thể nói thành lời, ai nấy cắn răng để nước mắt lặn vào trong, khẩn trương đưa thi thể anh em về mai táng tại một địa điểm sâu trong núi.

        Trong đời binh nghiệp của mình, đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi chứng kiến tổn thất nặng nề của đơn vị mình. Trận Bãi Thảo ám ảnh tôi suốt một thời gian dài. Dù ngày ấy, chỉ là một chiến sĩ - một bộc phá viên bình thường, tôi cũng ý thức được rằng mọi sự giản đơn, đại khái, không năng động, rập khuôn theo lối mòn… trong chiến đấu sẽ phải chịu những hậu quả khó lường.

        Sau này, khi về làm Tư lệnh Quân khu 3, có dịp trở lại khu vực Bãi Thảo, Bến Tắm, Chí Linh, tôi đã cho khảo sát, tìm kiếm số hài cốt đồng chí, đồng đội hy sinh ngày ấy chưa được quy tập để đưa về nghĩa trang liệt sĩ. Xung quanh việc quy tập hài cốt các liệt sĩ Tiểu đoàn Thiên Đức hy sinh trong trận Bãi Thảo cũng có nhiều tình tiết mang màu sắc tâm linh. Chúng tôi xem đó là chuyện thường tình. Điều cốt yếu là chúng tôi đã trọn tình với đồng chí, đồng đội đã khuất, mà bao năm rồi, vì trận mạc nơi xa và nhiều nguyên do khác, chưa làm được.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:20:59 AM

        Kết thúc đợt tác chiến ở vùng địch hậu Bắc Ninh - Chí Linh, Đông Triều (Hải Dương), cuối tháng 3 năm 1954, đơn vỉ tôi “lật cánh” sang phía tây, qua Vĩnh Phúc, cùng lực lượng vũ trang ở đây tiến công địch, phối hợp với Mặt trận Điện Biên Phủ đang vào hồi quyết liệt và quyết định. Ở Vĩnh Phúc, đại đội được giao nhiệm vụ đánh một đồn địch ở gần Phủ Lỗ. Nói là đồn, nhưng thực chất địch đóng trong một ngôi đình khá bề thế. Vì “chân ướt chân ráo” mới tới, chiến trường lạ lẫm, không tổ chức điều nghiên; chỉ qua một vài thông tin do đơn vị bạn cung cấp, nên nắm địch không chắc. Kết quả là không diệt được đồn mà còn bị thương vong một số. Riêng tiểu đội bộc phá của tôi hy sinh hai đồng chí. Còn tôi, sau khi giật bộc phá, phá được hàng rào, bỗng giật nẩy mình và thấy đau nhói ở mông. Quờ tay sờ đã thấy máu đầm đìa. Vết thương rộng, sâu, nhưng may chỉ vào phần mềm. Nói chung, trận đánh đó, đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ. Đây cũng là trận cuối cùng tôi chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn Thiên Đức, bởi sau đó, tôi được chuyển về quân y xá, điều trị gần ba tháng. Đồng thời, là lúc Pháp bại trận ở Điện Biên Phủ, buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình.

        Mặc dù trận đánh cuối cùng không thành công, lại bị thương, như một kỷ niệm buồn; nhưng hơn một năm được là người lính của Tiểu đoàn Thiên Đức - tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Bắc Ninh, có truyền thống đánh giặc giỏi, đoàn kết… là quãng thời gian có ý nghĩa sâu sắc đối với bản thân tôi. Ở đó, tôi đã có những tháng ngày trẻ trai, sôi nổi vô tư, xông xáo, đánh giặc hăng say; ở đó, tôi đã bước những bước chập chững đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của mình; có những trận chiến đấu “vỡ lòng”, có thành công và chưa thành công. Qua chiến đấu, tôi đã gạn lọc được biết bao kinh nghiệm quý giá; được sống trong tình đoàn kết đồng chí, đồng đội, anh em gắn bó hơn ruột thịt; nhường áo, sẻ cơm, chia nhau niềm vui, nỗi khổ…

        Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với cương vị chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn đánh địch trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã vận dụng tốt các kinh nghiệm và truyền thống quý báu của Tiểu đoàn Thiên Đức, của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ mà tựu trung lại là những kinh nghiệm, cách đánh, phương thức hoạt động trong lòng địch.

        Về nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam, I.Vơ Gờra, một viên tướng của đạo quân viễn chinh xâm lược Pháp và là giáo sư Học viện chiến tranh của Pháp, sau những năm tháng nếm mùi thất bại cay đắng trên chiến trường đồng bằng sông Hồng, qua tác phẩm “Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương” của mình đã có một nhận xét khá lý thú rằng: “Trong suốt quá trình phát triển của cuộc chiến tranh Đông Dương, các trận hội chiến kiểu như Biên giới, Hòa Bình… có tầm quan trọng lớn, nhưng chúng chỉ diễn ra trong từng thời điểm. Còn cuộc đấu tranh giành giật vùng châu thổ sông Hồng lại mang tính thường xuyên và cuộc đấu tranh đó chính là cốt lõi của toàn bộ cuộc chiến tranh”.

        Dù ở cương vị nào, mỗi khi nghĩ đến những ngày đầu của cuộc đời quân ngũ, trong tôi lại trỗi dậy tình cảm xao xuyến lạ thường. Xin cảm ơn các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Thiên Đức đã tạo dựng nên vành nôi ấm giúp tôi rèn luyện, trưởng thành, vững vàng bước tiếp những chặng đường mới.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:24:10 AM

*

*       *

        Sau gần ba tháng điều trị, lành vết thương, sức khỏe bình phục, tháng 6 năm 1954 tôi trở về cùng đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Lúc này, khắp mọi miền của đất nước đang sống trong dư âm của chiến thắng Điện Biên Phủ. Đâu đâu, từ trong đơn vị bộ đội đến từng bản làng hẻo lánh đều đầy ắp tiếng nói, tiếng cười. Trên khuôn mặt, ánh mắt người người đều chất chứa niềm tự hào của người dân đất Việt, của Bộ đội Cụ Hồ, từ trong nô lệ, lầm than đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, trở thành người chiến thắng.

        Thắng lợi của chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Nhưng với tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Trung ương Đảng ta, thì kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng là điểm mở đầu của thời kỳ mới, thời kỳ chống đế quốc Mỹ. Từ diễn đàn Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) vào tháng 6 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: đế quốc Mỹ đã trở thành kẻ thù trực tiếp của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, và Người chủ trương tập trung lực lượng cả nước chống đế quốc Mỹ.

        Tiên liệu sớm tình hình, trong điều kiện Hội nghị Giơnevơ sắp kết thúc, tranh thủ thời gian Hiệp định Giơnevơ chưa có hiệu lực, Trung ương Đảng khẩn trương tổ chức một chiến dịch tiếp nhận viện trợ vũ khí trang bị của Trung Quốc, Liên Xô. Chiến dịch được mang tên “Kế hoạch Z”. Theo đó, trong vòng từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1954, ta phải bí mật khẩn trương tiếp nhận một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật của nước bạn, chủ yếu là vũ khí, đạn bộ binh, ô tô… Mọi việc phải cơ bản hoàn tất trước khi phái đoàn quốc tế vào giám sát việc thi hành hiệp định đình chiến.

        Vì vậy khi tiếng súng lắng lại trên chiến trường Điện Biên Phủ, một chiến dịch khẩn trương, quyết liệt mà thầm lặng lại diễn ra ở tuyến biên giới phía Bắc. Theo thỏa thuận giữa ta và bạn, hàng viện trợ sẽ vào theo hai hướng: một hướng vào qua Thủy Khẩu (Cao Bằng) và hướng thứ hai qua cửa khẩu Hữu Nghị quan (Lạng Sơn).

        Chạy đua với thời gian, trong ba tháng trời, cùng với đơn vị bạn, chúng tôi làm việc không quản ngày đêm, mưa nắng. Các hang hầm trong các dãy núi đá ở Lạng Sơn dọc theo trục đường 1B đã được cải tạo để cất chứa vũ khí. Nhiều kho tạm bằng tranh, tre nứa lá, được bộ đội, dân công làm gấp, nhằm hạn chế tối đa tình trạng vũ khí phơi nắng, dầm mưa. Khuân vác, vận chuyển cực nhọc, hơn nữa, tôi lại vừa qua kỳ dưỡng thương, nhiều lúc tưởng như quá sức. Nhưng bù lại, thấy quân đội được thêm một nguồn vũ khí trang bị khá hiện đại; nhìn những lô súng ống ngời ánh thép, những đoàn ô tô, pháo xe kéo xếp hàng hành tiến hùng dũng… là mệt nhọc tiêu tan.

        Nguồn vũ khí, trang bị tiếp nhận qua “Kế hoạch Z” là cơ sở để quân đội ta có điều kiện tiến hành kế hoạch thay đổi vũ khí, trang bị những năm đầu hòa bình. Số vũ khí cũ chuyển sang trang bị cho bộ đội địa phương, dân quân tự vệ.

        Sau lễ Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1954, “Kế hoạch Z” cơ bản hoàn tất, cũng là lúc phái đoàn quốc tế có mặt ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Tạm biệt xứ Lạng với nàng Tô Thị và chùa Tam Thanh…, chúng tôi lật cánh ra vùng Đông Bắc, làm nhiệm vụ tiếp quản vùng giải phóng.

        Theo Hiệp định Giơnevơ, trong vòng 300 ngày các lực lượng thuộc khối Liên hiệp Pháp phải rút khỏi địa bàn từ vĩ tuyến 17 trở ra. Đồng thời, ta tiếp quản vùng giải phóng theo từng khu vực, lần lượt 80 ngày (khu vực Hà Nội), 100 ngày (khu vực Hải Dương) và 300 ngày (Hải Phòng, Quảng Yên).

        Việc tiếp nhận hàng viện trợ đang tiến hành hết sức khẩn trương thì đầu tháng 8 năm 1954, tiểu đoàn chúng tôi nhận được lệnh ra tiếp quản vùng mỏ Quảng Ninh. Lập tức, từ thị xã Lạng Sơn, đại đội tôi hành quân theo đường số 4 ra tiếp quản thỉ trấn Tiên Yên. Đơn vị bạn ra tiếp quản thị trấn Móng Cái vất vả hơn chúng tôi vì viên chỉ huy quân Pháp ở Tiên Yên không cho đơn vị này đi qua thị trấn, buộc phải quay lại, đi đường vòng trong rừng.

        Mặc dù lực lượng phản động - tay chân của Pháp nhanh chân trốn vào rừng, bắt tay với trùm phỉ Voòng A Sáng và Lục Văn Thông ngấm ngầm, quyết liệt chống phá cách mạng, nhưng thực hiện hiệp định đã được ký, viên chỉ huy quân Pháp ở Trên Yên “ngoan ngoãn” bàn giao thị trấn này cho người đại diện Trung đoàn 238 là đồng chí Trần Đức - Phó chính ủy trung đoàn. Vào tiếp quản Tiên Yên, chúng tôi nhanh chóng ổn định an ninh chính trị; tuyên truyền thuyết phục đồng bào các dân tộc, phát triển các cơ sở quần chúng; lôi kéo những người theo địch, theo phỉ trở về với gia đình, làng bản. Khi Ủy ban quân chính Tiên Yên ra đời, đồng chí Phó chính ủy trung đoàn đã được trên chỉ định là thành viên của Ủy ban.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:26:07 AM

        Ngày 2 tháng 9 năm 1954, một cuộc mít tinh biểu dương lực lượng, kỷ niệm ngày Quốc khánh được tổ chức ở Tiên Yên. Lần đầu tiên tôi được sống trong không khí ngày lễ Quốc khánh, tràn ngập niềm hạnh phúc của người dân một đất nước độc lập, tự do, sau những năm dài chiến tranh, đạn bom, đau thương, bi tráng.

        Những tháng cuối năm 1954, đầu năm 1955, tiểu đoàn chúng tôi tiếp tục làm nhiệm vụ củng cố, bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng cơ sở chính trị ở Tiên Yên, Khe Tu, Mũi Chùa… và chuẩn bị mọi mặt để tham gia tiếp quản khu Hồng Quảng (thuộc khu vực tập kết 300 ngày).

        Việc tiếp quản khu vực Hồng Quảng được chia làm nhiều đợt. Trung đoàn 238 được giao nhiệm vụ tiếp quản đợt đầu. Lúc này, Ban chỉ huy trung đoàn có đồng chí Trương Cao Dũng - Trung đoàn trưởng, đồng chí Long Xuyên - Trung đoàn phó, đồng chí Trần Đức - Phó chính ủy. Bộ chỉ huy tiếp quản khu vực 300 ngày chỉ thị cho trung đoàn khi vào tiếp quản vùng mỏ phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật, giữ vững an ninh trật tự, không để xảy ra một tiếng nổ khiến đối phương vin cớ trì hoãn việc rút quân.

        Nhận lệnh của trên, sau khi cho một trung đội trinh sát bí mật đi trước nắm tình hình và bảo vệ quãng đường mà đơn vị hành quân vào tiếp quản từ Mông Dương, đến Cửa ông, Cẩm Phả…, ngày 21 tháng 4 năm 1955, tiểu đoàn chúng tôi đã có mặt tại vị trí tập kết cách Mông Dương sáu cây số. Toàn đơn vị chuẩn bị chu đáo lần cuối để sáng hôm sau tiến vào Cửa ông. Tại đây, chúng tôi được tiếp xúc với nữ nhà báo nổi tiếng người Pháp - chỉ Mađờlen Ripphô. Nữ nhà báo đã trò chuyện thân mật với chúng tôi bằng tiếng Việt và năng nổ ghi lại những hình ảnh bộ đội ta vào tiếp quản vùng mỏ.

        Ba giờ sáng ngày 22 tháng 4 năm 1955, toàn đơn vị được lệnh xuất phát. Tiểu đoàn chúng tôi do Tiểu đoàn trưởng Đinh Văn Kế chỉ huy, vinh dự được cùng trung đoàn bộ vào tiếp quản Cửa ông. Tiểu đoàn 434 tiếp quản Cẩm Phả Mỏ. Tiểu đoàn 48 (Bạch Đằng) tiếp quản Quan Lạn, quần đảo Kế Bào,…

        Để chuẩn bị cho bộ đội vượt sông ở Mông Dương, đồng bào quanh vùng đã huy động thuyền xếp ngang mặt sông, rồi rải bè tre dọc lối đi, như cầu phao. Đồng bào ở bờ nam sông, đèn đuốc sẵn sàng đón chúng tôi. Cảnh bến sông như đêm hội hoa đăng.

        Gần trưa ngày 22 tháng 4, theo các vị trí đã phân công, toàn tiểu đoàn chúng tôi tiến vào tiếp quản khu vực Cửa Ông.

        Lúc này tôi đã được cất nhắc làm tiểu đội phó và vinh dự là người đầu tiên vào nhận vị trí gác của tên lính Pháp tại đồn Cửa ông.

        Có chi tiết còn lưu đậm trong trí nhớ của tôi, là khi đó cả tiểu đội không có anh nào có được một bộ quân phục tươm tất. Qua bao tháng ngày chiến đấu, dãi gió dầm mưa, tấm áo manh quần không rách thì cũng phai bạc. Nhưng, với tư thế của những người chiến thắng, toàn tiểu đội, anh nào anh nấy trông cũng gọn gàng, chững chạc; lá ngụy trang quấn đầy mình.

        Đứng nghiêm trang trong bốt gác, nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ đồn Cửa Ông giữa trời xanh lộng gió và nhìn đám lính Pháp tiu nghỉu, lục tục rút quân, trong tôi trào dâng niềm xúc động, tự hào.

        Sau Cửa ông, chúng tôi về tiếp quản vùng mỏ Cọc Sáu, rồi bàn giao lại cho lực lượng Công an vũ trang (Bộ đội Biên phòng sau này).

        Cùng thời gian chúng tôi tiếp quản Cửa ông, Trung đoàn 248, Tiểu đoàn 244 Trung đoàn 64 tiếp quản Uông Bí, Quảng Yên, Bãi Cháy, Hồng Gai, Hà Tu, Hà Lầm. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ tiếp quản, Ủy ban quân quản khu Hồng Quảng được thành lập và đồng chí Trương Cao Dũng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238 được chỉ định làm Chủ tịch.

        Ngày 25 tháng 4 năm 1955, tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi vùng mỏ giàu đẹp của Tổ quốc ta.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:34:16 AM
       
*

*       *

        Kết thúc nhiệm vụ tiếp quản vùng giải phóng; toàn quân chuyển sang thời kỳ huấn luyện, xây dựng, cùng nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, ổn đính cuộc sống.

        Cuối năm 1955, tôi được cử đi đào tạo hạ sĩ quan tại Trường Hạ sĩ quan Quân khu Đông Bắc ở Đông Ngũ, Tiên Yên, Quảng Ninh.

        Sau 6 tháng rèn dũa đến nơi đến chốn, hoàn thành khóa “võ bị” cơ bản đầu tiên trong đời binh nghiệp, tôi trở về trung đoàn tiếp tục công tác. Lúc này, Trung đoàn 238 thuộc biên chế Sư đoàn 332. Sư đoàn 332 được thành lập tháng 6 năm 1955, với lực lượng nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực và bộ đội địa phương Liên khu 3.

        Từ năm 1956, đặc biệt sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) ra Nghị quyết 12 (tháng 3 năm 1957), quân đội bước vào thời kỳ xây dựng chính quy hiện đại.

        Mùa hè năm 1957, chúng tôi được học tập, quán triệt Nghị quyết 12 về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nội dung có nhiều, nhưng khi đó chúng tôi nhập tâm mấy khái niệm Quân đội phải bảo đảm “ngũ thống - tứ tính”; có lực lượng thường trực tinh nhuệ và hậu bị mạnh.

        Năm 1958, với chủ trương tinh giản điều chỉnh lực lượng, chuyển 23 vạn quân thường trực sang xây dựng kinh tế, Sư đoàn 332 có quyết định giải thể. Trung đoàn 238 chuyển về trực thuộc Quân khu Tả Ngạn. Lúc này, tôi giữ chức trung đội phó, được đề bạt thượng sĩ; chỉ có quyết định đề bạt, không có quân hàm. Chuyển thuộc Quân khu Tả Ngạn, trung đoàn đứng chân ở Bích Du huyện Thái Ninh tỉnh Thái Bình, cạnh sông Trà Lý và gần chợ Câu.

        Thời gian này, bộ đội tập trung xây dựng, huấn luyện và vận động quần chúng - chủ yếu là vận động bà con nông dân thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp. Thái Bình là đất thuần nông, chỉ số ít dân cư ven biển làm ngư nghiệp. Vì vậy, thắng lợi của hợp tác hóa nông nghiệp ở nơi gọi là “vựa thóc”, là “vùng lúa”, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trên miền Bắc, là tiền đề để đồng bằng sông Hồng thực hiện được khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” chi viện cho chiến trường trong những năm đánh Mỹ. Để người nông dân suốt bao đời đấu tranh, làm lụng mới có được “thước đất cắm dùi” và con trâu “là đầu cơ nghiệp”, nay tự nguyện đưa những “báu vật” đó vào sở hữu tập thể, là cả một cuộc đấu tranh giằng co gay gắt; một cuộc đấu tranh giai cấp thực sự trên lĩnh vực tư tưởng. Vì vậy, trong quá trình tham gia vận động quần chúng, chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp khá “rắn”. Nhiều trường hợp cha mẹ từ con, đánh đập con, khi con phản đối gia đình không vào hợp tác xã. Có đôi uyên ương sắp thành vợ chồng đến nơi đã buộc phải chia tay, vì chú rể hoặc cô dâu tương lai không thuyết phục được gia đình vào hợp tác Tuy nhiên, với niềm tin sắt son vào Đảng, Bác Hồ, với tình yêu quê hương đất nước và truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái…, lần lượt mọi người dân đều vào hợp tác xã. Phong trào hợp tác hóa cùng với những hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao rộng khắp, sôi nổi đã làm cho bộ mặt nông thôn đổi mới từng ngày.

        Nhớ về những tháng ngày tham gia vận động quần chúng ở Thái Bình, tôi càng cảm phục nhà thơ Tố Hữu đã có được một “bức tranh quê” vô cùng hiện thực, sống động:

                                               “Dân có ruộng dập dìu hợp tác
                                               Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
                                               Chiêm mùa cờ đỏ ven đê
                                               Sớm khuya tiếng trống đi về trong thôn…”.


        Thời gian này, xen kẽ giữa các kỳ huấn luyện, chúng tôi triển khai tăng gia sản xuất, xây dựng doanh trại. Ngày ấy, ở các đơn vị trực thuộc quân khu, đa phần bộ đội ở nhờ nhà dân. Chỉ có Ban chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn mới có doanh trại. Rồi một mùa mưa bão qua, những căn nhà tranh tre nứa lá nơi “đầu sóng ngọn gió” lại tốc mái, gãy cột kèo, xuống cấp nghiêm trọng… Với chủ trương từng bước đưa bộ đội ra khỏi nhà dân, sinh hoạt tập trung, xây dựng chính quy; ngoài thời gian huấn luyện, bộ đội được huy động xây dựng doanh trại.

        Khi Trung đoàn 238 chuyển từ Bích Du về Thái Thụy, gần sông Trà Lý, tiến hành xây dựng doanh trại, Tiểu đoàn 434 chuyên đóng gạch, Tiểu đoàn 432 chuyên xây dựng, còn Tiểu đoàn 433 chúng tôi có nhiệm vụ lên Mai Sưu (Bắc Giang) khai thác tre, gỗ. Khi đó, nhiệm vụ của trung đội chúng tôi là chuyển số tre, gỗ đã được anh em chặt ở trong rừng ra bến sông (bến Bò) để xuôi bè mang về Thái Bình. Làm anh thợ “sơn tràng” khai thác gỗ thật vô cùng cực nhọc, nhưng những ngày đi khai thác gỗ được tự do, thoải mái hơn khi huấn luyện điều lệnh…, nên anh nào cũng phấn khởi, làm việc nhiệt tình, hiệu quả.

        Để kéo gỗ từ rừng ra bến sông, sức người không kham nổi. Vì vậy, trung đội tôi được giao tìm mua và quản lý ba chục con trâu. Một hôm, nghe anh em báo cáo thiếu mất một con, đã cho tìm kỹ xung quanh khu vực chuyển gỗ nhưng không tung tích gì. Có anh em nghi ngại là trâu bị hổ ăn thịt. Sau khi cho tìm kỹ, không thấy dấu vết gì, tôi khẳng định con trâu này đã tìm đường về nhà. Bởi từ những ngày chăn trâu, cắt cỏ, tôi đã từng nghe người già dạy:

                                              “Lạc đường theo chân chó,
                                               Lạc ngõ, nắm đuôi trâu”.


        Phải nói, hai trong số lục súc kể trên rất giỏi nhớ đường; trong khi đó, địa phương mà chúng tôi mua trâu cách chỗ khai thác gỗ không xa mấy. Lập tức, ngay đêm đó tôi đuổi theo, đi suốt đêm. Mờ sáng hôm sau, trâu về đến nhà chủ thì tôi cũng có mặt ở đó. Thấy tôi kể lại sự tình, bà con ở đây ai nấy đều hoảng hồn, bởi rừng Mai Sưu ngày ấy rất nhiều thú dữ, nhất là hổ. Thật may mắn làm sao mà cả tôi và trâu không bị hổ làm thịt!


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2016, 09:33:25 AM

*

*       *

        Thực hiện một bước điều chỉnh tổ chức biên chế quân đội, cuối năm 1958, Trung đoàn 238 giải thể. Tôi cùng một số anh em được điều về Tiểu đoàn 29 trực thuộc Tỉnh đội Thái Bình. Tiểu đoàn bộ đóng ở Tiền Hải. Cuối năm đó, trong đợt thụ phong quân hàm đầu tiên trong toàn quân, tôi được phong chuẩn úy. Lúc này, Tiểu đoàn 29 không có quân. Cán bộ khung hàng năm tổ chức huấn luyện theo kế hoạch, vừa luân phiên xuống huấn luyện dân quân các huyện. Nhiệm vụ không có gì vất vả nhưng lắm khi cũng thấy đơn điệu, không hợp với tính cách của tuổi trẻ thường năng động, thích thử nghiệm. Tuy nhiên, tuổi trẻ cũng hay sống và ứng xử theo cảm tính; thậm chí có anh bị “bệnh sĩ” nặng. Tôi nhớ, những ngày xuống huấn luyện dân quân tự vệ, tiếp xúc nhiều nữ thanh niên, “bệnh sĩ” của một số anh đã có dịp bộc lộ. Khi mới tiếp xúc, thấy chị em nhìn mấy anh trung sĩ, thượng sĩ, rồi trầm trồ: “Mấy thầy đội kia nhiều sao ghê, còn hai thầy đội này (chỉ vào tôi và một cậu người miền Nam là chuẩn úy) trông “cứng” hơn mà chẳng có sao nào”; thế là anh chàng bạn tôi bức xúc ra mặt. Tôi đùa bạn:

        - Muốn người ta không nhầm thì tranh thủ tiếp cận mà “dân vận”.

        Sau này, qua tiếp xúc, phân biệt giữa “gạch vàng” với “gạch bạc”, các thôn nữ thay đổi cách nhìn, thì nỗi “bức xúc” của anh bạn tôi mới giải tỏa. Gần đây, trong một chuyến công tác ở miền Tây Nam Bộ, gặp lại nhau, anh bạn thân vẫn nhắc lại kỷ niệm “gạch vàng, gạch bạc” ngày trước. Đúng là “kỷ niệm sâu sắc” của thời trai trẻ!

        Năm 1960, tôi được điều về Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 - Đại đoàn Đồng Bằng thuộc Quân khu 3. Trung đoàn 64, tiền thân là Trung đoàn 44 thành lập đầu năm 1946. Trải qua 9 năm trường kỳ gian khổ kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung đoàn 64 đã vượt qua biết bao khó khăn thử thách, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành. Bước chân của những người lính Trung đoàn Quyết Thắng, những người con của châu thổ sông Hồng đã in dấu trên khắp mọi nẻo đường chiến đấu; gắn liền với những chiến công vang dội ở Hưng Yên, Hải Dương, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây,… Và cũng từ thực tiễn khắc phục gian khổ, khó khăn, chiến đấu giành chiến thắng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã xây đắp nên truyền thống Quyết Thắng; được Bác Hồ hai lần khen tặng danh hiệu “Trung đoàn Quyết Thắng”, “Trung đoàn dũng cảm đánh hăng”.

        Được là người lính Trung đoàn Quyết Thắng, người lính của Đại đoàn Đồng Bằng, là vinh dự, tự hào đối với mỗi chúng tôi. Thời gian tôi về nhận công tác tại trung đoàn, Trung đoàn trưởng là đồng chí Nguyễn Quang Thát, Chính ủy trung đoàn là đồng chí Bùi Đức Tạm. Lúc này, tôi được đề bạt thiếu úy, là đại đội phó.

        Là đơn vị chủ lực cơ động, thời gian này, cùng với các đơn vị thuộc Sư đoàn 320, Trung đoàn 64 bước vào huấn luyện chính quy rất cơ bản, hệ thống, toàn diện. Trọng tâm là huấn luyện đánh tập trung hiệp đồng binh chủng trên mọi địa hình; đặc biệt là địa hình rừng núi và đô thị. Bộ đội được chú trọng rèn luyện sức cơ động bền bỉ, dẻo dai, hành quân đường dài, mang vác nặng trên mọi địa hình, trong mọi thời tiết. Sau một mùa huấn luyện, đơn vị thường tham gia các buổi diễn tập thực binh với các đề mục: “Trung đoàn tiến công địch trên địa hình đồng bằng, sình lầy”, “Trung đoàn phòng ngự”…, do sư đoàn tổ chức. Tư lệnh sư đoàn thời gian này là Trung tá Sùng Lãm. Chính ủy là Thượng tá Lương Tuấn Khang.

        Giữ chức đại đội phó một thời gian, tôi được điều lên làm trợ lý tác chiến tiểu đoàn. Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 3 lúc này đóng ở Tiền Hải (Thái Bình).

        Trong thời gian công tác ở Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 64, vào tháng Chạp năm 1961 - giáp Tết Nhâm Dần (1962), tôi xây dựng gia đình. Làm lễ cưới, dựng vợ, gả chồng cho con cái vào dịp kề cận Tết Nguyên đán gần như là một thói quen của người Việt mình trước đây; con cái đi xa, kết hợp nghỉ Tết, tổ chức cưới hỏi, đúng là một công đôi chuyện.

        Vợ tôi là Trang - bạn cùng làng. Tình cảm nảy nở dung dị, nhẹ nhàng; anh em quý nhau từ thuở chăn trâu, cắt cỏ. Quê hương, đất nước vào hồi chiến tranh, giặc giã; là trai, tôi vào bộ đội. Tám năm tôi xa nhà, Trang ở lại quê hương. Từ một cô gái bé bỏng, tóc hoen nắng, da mặn mòi bùn đất, Trang đã thành một thiếu nữ nhanh nhẹn, tháo vát, là lao động chính, cáng đáng phần lớn việc gia đình và hăng hái tham gia công tác đoàn thể.

        Đầu những năm sáu mươi, miền Bắc đang tiến những bước dài trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đời sống của người dân - đặc biệt là nông thôn khởi sắc từng ngày. Trong bối cảnh đó, đám cưới của chúng tôi được gia đình, đoàn thể tổ chức chu đáo. Hồi đó, ở mấy thôn Đồng Sài, Phù Lãng quê tôi, đám cưới của một sĩ quan quân đội với một thôn nữ, được xem là một “sự kiện” lớn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2016, 09:36:41 AM

        Hạnh phúc đôi lứa đến với người lính thời nào cũng vậy rất lớn lao mà cũng dung dị, nhẹ nhàng. Sau mấy ngày nghỉ phép, xây dựng gia đình, tôi trở lại đơn vị. có Trang, mẹ tôi vừa thêm một lao động chính, vừa thêm người bạn, bởi lẽ, tiếng là nhà đông con, nhưng thời gian này, anh em chúng tôi, đứa thì thoát ly, người lại về nhà chồng, nên cảnh nhà cũng neo người. Có Trang - một nửa của tôi sớm hôm bên cạnh mẹ nơi quê hương, là niềm hạnh phúc, là chỗ nương tựa về tinh thần, giúp tôi yên tâm, dồn hết tâm sức cho việc quân.

        Đầu năm 1963, tôi được dự khóa đào tạo tại Trường Quân chính Quân khu Tả Ngạn. Thời gian này, Trường Quân chính đóng tại thị xã Hải Dương. Điều kiện vật chất của trường còn đơn sơ, thiếu thốn nhiều; nhưng chương trình đào tạo, kỷ luật rèn dũa học viên rất bài bản, chính quy, chặt chẽ. Đã qua thực tế chiến đấu, nay được trang bị thêm một số vấn đề về lý luận, lý thuyết, chúng tôi trưởng thành thêm nhiều.

        Đang dự khóa tại Trường Quân chính, ngày 1 tháng 12 năm 1963, tôi được Ban Giám hiệu nhà trường thông báo về Kiến An nhận nhiệm vụ mới. Nghe thông báo của Ban Giám hiệu nhà trường mà lòng đầy băn khoăn. Bạn bè rỉ tai là tôi được đi học nước ngoài. Tôi không tin điều đó, vì bản thân thấy công tác, học tập của mình cũng như anh em. Tuy nhiên, ý thức về một nhiệm vụ quan trọng là chắc chắn. Bởi vì, không can cớ gì tự nhiên dừng chương trình học dở dang để làm một việc không đâu vào đâu?

        Chia tay cán bộ Trường Quân chính và anh em đồng khóa, với tâm trạng băn khoăn, thắc thỏm, tôi nhảy tàu hỏa về Hải Phòng rồi sang Kiến An nhận nhiệm vụ.

        Tư lệnh sư đoàn Sùng Lãm, Chính ủy Lương Tuấn Khang đón tôi ân cần và vui vẻ thông báo tôi được chọn đi học nước ngoài. Học ở nước nào, thời gian bao lâu, khi lên cơ quan Bộ Quốc phòng tập trung sẽ biết cụ thể.

        Hắng giọng mấy nhịp, Chính ủy Lương Tuấn Khang dí dỏm dặn:

        - Sắp tới đi xa, đi dài ngày; sư đoàn bố trí để đồng chí tranh thủ thăm gia đình vài ngày; làm công tác tư tưởng để bà cụ và cô ấy thấy được đây không chỉ là vinh dự của đơn vị, bản thân đồng chí mà còn là vinh dự lớn của gia đình. Nhưng, vui duyên mới nhớ đừng trễ phép, nhỡ tàu thì không có lần thứ hai đâu.

        Tôi cảm ơn sự quan tâm ưu ái của thủ trưởng sư đoàn, rồi tranh thủ thăm gia đình mấy ngày.

        Nghe tôi thông báo quân đội cử đi học nước ngoài, gia đình, họ hàng vô cùng phấn khởi. Ngày ấy, cứ nói đi sang Liên Xô, Trung Quốc là chuyện “kinh thiên, động địa” lên rồi. Tranh thủ giúp mẹ và vợ một vài việc vặt trong nhà, ngoài đồng; sửa sang lại chuồng lợn, chuồng gà, làm lại chiếc cổng hư hỏng bởi vắng bàn tay đàn ông…; tổ chức một bữa cơm đạm bạc, chia tay người thân, xóm giềng, tôi nhảy xe đi Hà Nội. Nhưng, mới chỉ mấy ngày thôi, mà mọi chuyện giờ đây đã hoàn toàn khác.

        Hôm tập trung tại Tổng cục Chính trị, thay vì nhận quyết đính đi học nước ngoài, tôi và một số anh em được chọn vào Nam Bộ chiến đấu. Theo thông báo của trên, Bộ quyết định chọn một số cán bộ có kinh nghiệm hoạt động, chiến đấu ở đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đưa vào đồng bằng sông Cửu Long. Đây là quyết định hoàn toàn mới có chủ định, không phải là phép “giương đông kích tây” của tổ chức - mà như lời đồng chí thay mặt thủ trưởng Tổng cục Chính trị truyền đạt lại, thì ngay cả cơ quan Tổng cục cũng thấy hơi đột ngột.

        Thú thực, lúc đó, trong số anh em được giữ lại để đi B (vào công tác ở miền Nam), cũng có anh hơi bị xốc. Nhưng đã là người lính - đặc biệt là anh lính từng trải những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, từng hát vang khúc quân hành “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi…” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, thì mọi chuyện đều nhẹ như lông hồng.

        Khi được hỏi trước quyết định mới của tổ chức, có ý kiến gì không? Tôi trả lời, không một chút đắn đo:

        - Với tôi, đi học nước ngoài hay vào chiến đấu ở miền Nam, đều là nhiệm vụ quân đội phân công. Tuy nhiên, nếu đi B, phải có thời gian để chuẩn bị.

        Thế rồi, dường như để đáp ứng nguyện vọng của chúng tôi, liền đó, toàn bộ số anh em sẽ đi B được đưa ngay lên Xuân Mai để huấn luyện. Cũng từ đó, hơn nửa năm trời, chúng tôi được huấn luyện với cường độ chưa từng thấy. Ngoài phân ít thời gian học tập chính trị, quán triệt chủ trương đường lối cách mạng miền Nam, tình hình miền Nam sau 4 năm Mỹ - ngụy tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”…, thì thời gian còn lại dồn hết cho huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật; đặc biệt là rèn luyện sức bền bỉ, dẻo dai. Bất chấp ngày hay đêm, mưa hay nắng, bộ đội trần mình trên vùng đồi Xuân Mai. Dai dẳng, kiên trì là nội dung hành quân xa, mang vác nặng. Kinh nghiệm tổ chức các đoàn cán bộ đi B - từ những năm 1961-1962 (đoàn Phương Đông 1, Phương Đông 2…) qua cán bộ huấn luyện truyền đạt lại, cho thấy, nếu không huấn luyện kỹ càng, rất dễ bị gục ngã trên tuyến giao liên Đoàn 559. Với phương pháp huấn luyện từ thấp đến cao, ngày đầu, mỗi người mang ba lô gạch nặng 12 ký, hành quân bộ từ 5 đến 10 cây số, sau đó là 15 - 20 ký đi 15 - 20 cây số, rồi 30 - 32 ký đi 2 0 - 25 cây số,…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2016, 10:36:28 AM

        Đã hơn bốn mươi năm, biết bao sự kiện, biến cố diễn ra với cuộc đời binh nghiệp, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được những ngày hè vật lộn với chiếc ba lô gạch trên vùng đồi đá ong Xuân Mai. Nắng hè cùng với gió Lào như đang nung nóng lên hết thảy, thì bỗng chốc mưa rào trút xuống - đường mòn đất đỏ quánh sệt, như níu giữ bàn chân; trong khi đó, chiếc ba lô trên lưng lại muốn kéo giật ngửa người về sau… Mặc, cả đoàn quân vẫn kiên gan, lầm lùi bước.

        Tết Giáp Thìn (1964), đơn vị “cấm trại”. Chúng tôi đón Tết, vui Xuân ở Xuân Mai. Với tâm trạng của một người lính chuẩn bị tạm biệt gia đình, hậu phương, lên đường vào Nam đánh Mỹ, không được về Tết, tôi có viết hai lá thư, một gửi cho vợ và một gửi cho cháu Hưng - cháu gọi tôi bằng cậu. Thật không ngờ, sau mấy chục năm, cháu Hưng vẫn giữ được lá thư ngày ấy của tôi. Thư được viết trên tờ bìa của cuốn vở 48 trang. Xin được dẫn mấy dòng trong lá thư của tôi ngày đó, để bạn đọc hiểu thêm những suy nghĩ không phải của riêng tôi mà của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời dành Mỹ:

        Hưng cháu

        Gần đến ngày cậu tạm biệt cháu, cậu ra đi chiến đấu vì miền Nam Tổ quốc, vì tương lai của các cháu. Cậu ra đi rất nhớ cháu, nhớ gia đình, nhớ quê hương - nơi lớn lên và trưởng thành ở đó. Nhưng biết làm thế nào được, vì đó là nhiệm vụ, là trách nhiệm, là. lý tưởng cao cả của cậu và của tất cả đảng viên đối với nhiệm vụ của Đảng. Vì vậy cậu tạm biệt gia đình và những người thân yêu nhất, hy sinh tình cảm tuổi trẻ để phục vụ lợi ích chung…


Ngày 9-1 tức ngày 21-12-1963          
Cậu của cháu                      
Chiến sĩ giải phóng quân miền Nam        
PHẠM VĂN TRÀ                      
       

        Cuối cùng thì sáu tháng huấn luyện cũng kết thúc. Anh nào anh nấy rắn đanh lại, đen đúa, thô ráp, nhưng rắn chắc hơn, tự tin hơn.

        Tạm biệt Xuân Mai, chúng tôi hành quân vào tập kết ở Tây Hồ, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, chúng tôi được các đồng chí Tô Ký, Đồng Văn Cống quán triệt tình hình nhiệm vụ, động viên và bố trí chuẩn bị lần cuối thật chu tất cho chuyến hành quân xa.

        Trước ngày lên đường, được sự đồng ý của cấp trên, tôi báo tin cho vợ. Và thật cảm động, mấy ngày sau thì Trang đánh đường vào thăm. Cùng đi với Trang có cháu Hưng - đứa cháu họ rất hợp tính, gần gũi và rất đồng cảm với tôi.

        Thời gian vợ chồng dành cho nhau nơi đất khách tuy ngắn ngủi, nhưng quý giá vô vàn. Biết là sẽ đi xa; thời gian vô định; chiến tranh đang ngày càng quyết liệt, nên trước khi chia tay, tôi dành thời gian viết cho Trang một lá thư. Thư khá dài - từng câu chữ như rút ra từ gan ruột của một người sắp đi xa, đi vào nơi mũi tên, hòn đạn, nên lời lẽ sâu lắng, tình cảm. Trong thư tôi có nói: Lần này tôi đi xa, không biết bao giờ được trở về; chiến tranh ngày càng ác liệt, biết bao may mắn, nhưng không ít rủi ro không lường trước… Vì vậy, nếu lâu mà không thấy tin tức gì của tôi, và nếu có ai yêu thương thì Trang có thể đến với người bạn mới…

        Tôi đặt lá thư viết cho Trang vào hòm quần áo, tư trang tôi gửi lại nhà trước khi đi xa, và dặn là sau hai năm mới được đọc.

        Đàn ông con trai, nghĩ sao viết vậy. Nhưng sau 12 năm đằng đẵng, vợ chồng gặp lại nhau, khi chiến tranh vãn hồi, nước nhà thống nhất, mới biết những dòng thư của tôi ngày ấy đã làm cho Trang đau đớn khôn cùng. Em trách tôi sâu sắc mà lạnh lùng, nghiệt ngã. Sau này mỗi lần nghĩ lại, tôi tự trách mình, nhiều khi quá tỉnh táo, để rồi người thân thương nghĩ là khô cứng, lạnh lùng… âu cũng là suy nghĩ của một thời trẻ trung, bồng bột, giản đơn mọi chuyện.

        Đến ngày lên đường, chúng tôi anh nào anh nấy quân phục, ba lô, súng ống nai nịt gọn gàng, đứng trong hàng quân, điểm danh. chuẩn bị lên xe. Đồng chí Tô Ký đi dọc hàng quân săm soi một lượt. Đến chỗ tôi đồng chí dừng lại và vỗ vai, rồi kéo tôi ra khỏi hàng.

        Lại gặp “nạn” rồi! Một ý nghĩ loáng vụt trong đầu.

        Đúng vậy? Đồng chí Tô Ký nhìn kỹ tôi từ đầu đến chân, rồi ái ngại nói:

        - Có lẽ cậu phải ở lại thôi. Để cậu đi, chúng tôi không yên tâm chút nào. Ở lại một thời gian, tập tành rèn luyện thêm, rồi vào sau, còn hơn đi bây giờ mà rơi rụng dọc đường. Mấy tháng hành quân bộ giữa đại ngàn Trường Sơn, nắng núi, mưa ngàn, đèo cao dốc đứng, nhìn cậu, thấy ba lô lớn hơn người, làm sao trụ nổi?

        Thú thật lúc đó, nhìn tôi nhỏ con, 44 ký (cả áo quần, giày dép), mang ba lô nặng 32 ký, lại còn kèm theo một súng ngắn, một AK, thì ai cũng ái ngại. Nhưng, cũng như bao lần lường trước tình huống bất trắc này, tôi bình tĩnh trình bày nguyện vọng, quyết tâm của mình, khẳng định hơn mười năm rèn luyện trong chiến đấu, chắc chắn tôi sẽ vượt qua những thách đố, khó khăn sắp tới, để không uổng công tập rèn, và không phụ lòng tin yêu của mọi người.

        Nghe tôi nói như đinh đóng cột, đồng chí Tô Ký thì thầm với đồng chí chính ủy trong chốc lát, rồi vui vẻ đẩy tôi vào hàng quân.

        Phút chia xa hậu phương miền Bắc, hơn trăm rưỡi anh em, mỗi người một suy nghĩ, một tâm trạng. Số anh em bộ đội, cán bộ miền Nam tập kết, đã ngót chục năm sống trong tâm trạng “ngày Bắc, đêm Nam”, nay hồ hởi, phấn chấn, rạo rực, được trở về quê hương. Số anh em quê miền Bắc sẽ bắt đầu một cuộc “trường chinh”; từ đây lùi lại phía sau là quê hương nguồn cội, là hình bóng cha mẹ già, người vợ thủy chung tần tảo… Nhưng, dù Nam hay Bắc, đều có chung một ý nguyện:

                            “Nước còn giặc, còn đi đánh giặc
                            Chiến trường giục giã bước quân hành”.



Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2016, 10:42:47 AM
       
Chương ba

CHIẾN TRƯỜNG MIỀN TÂY
NHỮNG THÁNG NGÀY THỬ LỬA

        Hoàn tất mọi công việc chuẩn bị, ngày 14 tháng 8 năm 1964, đoàn chúng tôi chính thức lên đường. Tạm biệt miền Bắc - hậu phương với biết bao điều quyến luyến, níu kéo, đoàn xe ô tô của Tổng cục Hậu cần đưa chúng tôi về Nam theo đường số 1. Toàn đoàn trên dưới 160 anh em, hầu hết là sĩ quan cấp úy. Trước khi lên đường, tôi được đề bạt trung úy, mà cũng chỉ có thông báo của chỉ huy đoàn, không được phát quân hàm. Đoàn trưởng là anh Diệm - đại úy. Về tuổi tác, chừng một phần ba anh em đi Nam lần này từ 20 đến 25 tuổi; non hai phần ba tuổi từ 26 đến 35. Chỉ vài anh trên 40 tuổi.

        Dọc đường hành quân càng vào trong, không khí chiến tranh càng hiển hiện đầy đủ sắc màu. Những nòng pháo quấn đầy lá ngụy trang trầm mặc, uy nghiêm đứng canh cầu Hàm Rồng, cầu Bùng, cầu Cấm,… Hầm hố cá nhân cũ, mới rải dọc các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ. Đây đó, thấp thoáng những căn nhà xây mà tường vôi trắng đã được bôi phủ bởi bùn đất, nhựa đường để che mắt lũ “giặc trời”. Vinh - thủ phủ của miền Trung như bình tĩnh; tự tin hơn trong cuộc đối đầu với không quân Mỹ. Trên tầng cao mấy khối nhà tầng, thấp thoáng bóng tự vệ với những nòng súng 12,7ly, sẵn sàng đánh trả máy bay Mỹ… Cảnh tình thật ấn tượng, “lãng mạn” về những ngày đầu đánh Mỹ trên miền Bắc. Vào những ngày chúng tôi lên đường đi Nam (khi đó gọi là đi B), lửa chiến tranh đã bùng cháy trên cả hai miền Nam - Bắc. Trước đó hơn một tuần, ngày 5 tháng 8, không quân Mỹ đã ào ạt đánh phá Đồng Hới (Quảng Bình), Vinh - Cửa Hội (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hòn Gai (Quảng Ninh),… Bà con ở Vinh kể lại, ngày 5 tháng 8, máy bay Mỹ ném bom trúng kho xăng Bến Thủy, mặc dầu xăng dầu ta chuyển sơ tán từ trước, chỉ còn dầu cặn, nhưng khói lửa vẫn bùng cao hàng nghìn mét. Việc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc và quân dân hậu phương lớn giáng trả đích đáng lũ “giặc trời” trong trận đầu như tiếp thêm niềm tin, sức lực, nâng bước chúng tôi, động viên mọi người trước một cuộc “trường chinh” mà không nói thì ai cũng biết là vô vàn cam go, thử thách ác liệt.

        Xe ô tô đưa chúng tôi vào đến Vinh. Còn từ đó trở đi là hành quân bộ. Theo đường chiến lược 15, chúng tôi qua Hà Tĩnh, Quảng Bình. Ai cũng muốn tận hưởng, góp nhặt được một chút gì đó cuối cùng của cuộc sống yên bình nơi hậu phương miền Bắc, dẫu rằng cách đó mấy hôm đã vang rền bom đạn địch. Từ Vĩnh Linh trở vào chúng tôi hành quân theo tuyến giao liên Đông Trường Sơn - Đoàn 559. Thời gian này, Đoàn 559 đã “lật cánh” sang tổ chức tuyến vận tải và giao liên hành quân trên đất bạn Lào trên sườn Tây Trường Sơn. Tuy nhiên ở Đông Trường Sơn, Bộ Tư lệnh 559 vẫn tổ chức tuyến giao liên trên cơ sở đường dây Thống Nhất của Trung ương. Trong khi tuyến Tây Trường Sơn, phần do địa hình bằng phẳng, phần vì ta đã tổ chức vận tải ô tô trên một số cung chặng…, nên đường sá có khá hơn, thì Đông Trường Sơn, tuyến giao liên vẫn chỉ là những lối mòn nhỏ nhoi, luồn lách giữa đại ngàn, khi vượt qua đỉnh núi cao ngất, vách đá cheo leo, khi luồn qua suối sâu, khe cạn…

        Dẫu đã luyện rèn dầm mưa dãi nắng, vác nặng đường xa; dẫu đã quán triệt, thấm nhuần hành quân vượt Trường Sơn vào Nam là khó khăn, gian khổ, nhưng đúng là “trăm nghe không bằng một thấy!”. Có là người trong cuộc mới thấu hết những thách đố dữ dằn, thử thách khốc liệt, của những tháng ngày “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Một vài ngày đầu, mọi chuyện tạm ổn. Nhưng càng đi, hai chân như nặng nề hơn; có cảm giác như bò lê, bò càng, không phải là bước, còn ba lô thì mỗi ngày như khối đá đè nặng trên lưng. Những khi vượt dốc “Ba thang”, “Năm thang”…, khối đá ấy như kéo giật người xuống.

        Từ các trạm làng Riêu, làng Rao, làng Ho - tây nam Quảng Bình, theo những lối mòn quanh lũng núi, bờ khe, chúng tôi vượt đỉnh 1001 - nơi ấy có động Hàm Nghi - một dấu tích ghi lại chặng đường vua Hàm Nghi rời bỏ kinh thành Huế, “thượng sơn”, xây dựng sơn phòng, xuống chiều Cần Vương, kêu gọi thân hào, thân sĩ, con dân chống Pháp. Sau khi vượt thượng nguồn sông Bến Hải, chúng tôi băng qua đường số 9, vượt cơ man nào là sông suối, vào Pai Lin, Tà Riệp - giáp giới tây Thừa Thiên…

        Đã hơn 5 năm trôi qua, kể từ ngày anh Võ Bẩm được Bác Hồ, Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ tổ chức mở đường Trường Sơn, tổ chức vận chuyển chi viện chiến trường, biết bao cán bộ, chiến sĩ ta đã bí mật từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào công tác, chiến đấu ở miền Nam. Tuy nhiên, trên tuyến giao liên, khẩu hiệu “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” của những chiến sĩ Trường Sơn từ những ngày “khai sơn phá thạch” vẫn được chúng tôi chấp hành nghiêm tuyệt đối. Ở những điểm vượt trọng yếu, như đường số 9, sau khi chúng tôi qua, thì giao liên lập tức xóa ngay dấu vết.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2016, 10:46:19 AM

        Nỗi cơ cực, nhọc nhằn hành hạ anh em chúng tôi suốt cuộc hành quân này là cái đói - đói kinh khủng, đói dai dẳng. Cũng vì đói mà sinh bệnh tật, mà bị sốt rét quật ngã. Sức trai, vác nặng, leo núi, vượt dốc, mà mỗi ngày mỗi người chỉ được hai gạt bơ sữa bò gạo. Cứ hai hoặc ba ngày nấu cơm một lần, nắm thành nắm bằng quả cam, mỗi ngày được hai nắm cơm như vậy. Để có sức mà đi, dọc đường, chúng tôi tranh thủ hái rau rừng lót dạ; vớ được rau tàu bay, môn thục… cố gắng nhét cho chặt bao tử. Gặp được nương sắn, bắp ngô của bà con người Thượng cũng dằn lòng, xin mấy bắp, mấy củ. Thực lòng không có củ khoai, củ sắn thêm dặm, lấy sức đâu mà đi!

        Lạ nước lạ cái, đói khát, lại bị đủ thứ côn trùng độc hại tấn công, nên chỉ dính vài cơn sốt ác tính, có anh em đã gục ngã. Mặc dù ý chí, nghị lực có thừa, nhưng đầu không bảo được chân, có anh em đành nằm lại trạm giao liên. Đau buồn hơn là khi chúng tôi bất lực, chứng kiến bệnh sốt rét ác tính cướp đi sính mạng của Tải - một đồng đội người Thái Bình ngay trên đường hành quân.

        Một hôm, hành quân đến quãng giữa Quảng Ngãi và Phú Yên, chúng tôi bắn được một con trâu rừng. Để dành gạo, trưởng đoàn quyết định ăn toàn thịt trâu trong hai ngày. Không phải ăn thoải mái, nhưng bốn bữa thịt trâu rừng cũng làm cho đôi chân chúng tôi cứng cáp hơn. Còn da trâu, được làm sạch sẽ, luộc lên, mang theo làm thực phẩm dự phòng. Nhìn những miếng da trâu khi đó, tôi bỗng nhớ lại tình tiết trong cuốn sách viết về cuộc “Vạn lý Trường chinh” của Hồng quân Trung Quốc thời nội chiến. Khi hành quân, Hồng quân đã từng lấy áo da, giày da hầm thành cháo để ăn lấy sức mà đi.

        Thêm một cung chặng giao liên, sức lực chúng tôi vơi đi cùng bòng gạo trên lưng, có khi gần như cạn kiệt. Hành quân sang tháng thứ hai, một số anh em trong độ tuổi 20 - 25 đã gục ngã, phải nằm lại trạm giao liên. Đến tháng thứ ba, thì số anh em trên tuổi 40 cũng không thể đi tiếp. Số trụ lại đi được vào Nam Bộ chủ yếu trên dưới tuổi ba mươi. Thế mới biết, tuổi trẻ, hăng hái nhiệt huyết có thừa, nhưng rèn luyện chưa đến độ; hay gánh nặng của tuổi tác sẽ khó trụ vững trước thách đố dữ dằn của cuộc hành quân vượt Trường Sơn.

        Tháng thứ ba, chúng tôi hành quân từ Mã Đà vào chiến khu Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ). Ở chặng này, có lúc tôi cảm thấy mình cũng sẽ bị đói quật ngã. Sau một ngày hành quân, khi giao liên thông báo còn vài cây số nữa là đến trạm, cũng chính là lúc tôi thấy đói vàng mắt. Vẫn bước đi, nhưng trước mặt chỉ thấy hoa cà, hoa cải, có khi thấy như đom đóm bay giữa trời chiều. Rất may, nhờ anh Diệm - Đoàn trưởng dặn từ trước, tôi đã chuẩn bị và dành được một lọ đường nhỏ - chưa được vài lạng. Những lúc đói quá, tôi lấy đầu đũa, có khi là ngón tay chọc vào cho dính mấy hạt đường để mút, lấy sức đi tiếp. Cảm giác hạt đường tan vào lưỡi khi đó, có thể giá trị gấp nhiều lần lát sâm - củ sâm Cao Ly sau này người ta dùng để níu kéo cha già, mẹ héo khi lâm chung.

        Phải mất tới gần 5 tháng hành quân ròng rã, chúng tôi mới vào tới cơ quan quân sự Miền ở căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) - giáp biên giới Campuchia. Xuất phát hành quân ở Tây Hồ - Thanh Hóa, cả đoàn trên 160 anh em, vào tới miền Đông chỉ còn trên một trăm. Số còn lại tá túc dọc tuyến giao liên. Không rõ có thêm mấy người phục hồi sức khỏe, tiếp tục cuộc hành trình sau chúng tôi? Ngày có mặt ở trạm giao liên gần cơ quan quân sự Miền, anh nào anh nấy, tóc tai, râu ria tua tủa, áo quần tưa tướp. Nhưng bù lại, không ai giấu nổi niềm vui.

        Sau vài ngày nghỉ ngơi cho lại sức; cắt tóc, cạo râu, để người đằng mình đừng nhầm là phỉ - như lời mấy anh ở Ban quân sự Miền, chúng tôi được trạm cho đi chợ Bàu Cỏ. Chợ cách trạm giao liên chừng ba cây số. Chợ kháng chiến nơi bưng biền chẳng mấy đông đúc, sầm uất, nhưng cảnh tình yên ả, thanh bình, hấp dẫn như bao phiên chợ quê. Việc đầu tiên, không anh nào quên là mua mấy mớ rau tươi về luộc ăn vã cho đỡ thèm. Cái ngọt lành, thơm mát của gắp rau luộc ngày đó cứ đọng mãi, quấn quýt trong tâm tưởng của tôi suốt cuộc đời ngọt lành hơn mọi thứ “mâm cao cỗ đầy”!

        Sau chừng nửa tháng nghỉ ngơi tại chiến khu Dương Minh Châu, hơn trăm anh em phân thành hai nhóm, một cánh xuống miền Tây và một cánh ở lại miền Đông. Cánh xuống miền Tây trên sáu chục anh em, trong đó có tôi. Từng đổ mồ hôi, sôi nước mắt trên thao trường ở miền Bắc, từng chia nhau cơn sốt giữa rừng Trường Sơn, chia nhau gắp thịt trâu, cọng rau rừng trừ bữa, nay đứa xuống miền Tây, đứa ở lại miền Đông, phút chia xa ngậm ngùi khó tả. Chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt, lại ra nơi mũi tên hòn đạn, ai mất, ai còn? Nhưng những nắm tay siết chặt, những ánh mắt lấp lánh niềm tin… nói lên tất cả.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2016, 10:49:21 AM

        Gần 5 tháng trời “xẻ đọc Trường Sơn”, vượt qua biết bao núi cao, rừng rậm, mưa ngàn, suối lũ…, nay xuống miền Tây lại làm bạn với kênh rạch, sông ngòi, sình lầy cũng cơ cực đủ bề. Ngay những ngày đầu, chúng tôi đã được anh chị em giao liên dạy cho cách “ứng xử” với đồng bằng sông nước: anh nào anh nấy bận quần xà lỏn. áo quần, đồ đạc gói chặt bằng vải mưa, khi lội sình lầy thì cho lên đầu; khi qua kênh rạch, thì để nổi trên mặt nước mà kéo. Từ chiến khu Dương Minh Châu, chúng tôi hành quân qua cánh đồng Chó Ngáp (ở Phước Chỉ, giáp giữa Tây Ninh và Long An). Có tên là Chó Ngáp, vì đồng rộng mênh mông, tít tắp thấu chân trời; mùa khô, loài vật nhanh nhẹn, dai sức như chó chạy qua đây cũng mệt đứt hơi, thở thè lưỡi, phải ngáp… Đận chúng tôi qua đây cũng đang mùa khô - cái nhọc nhằn khô khát càng thấm thía. Tiếp đó, đoàn qua sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây; qua Đồng Tháp Mười (Long An); qua Ngã Sáu - Cao Lãnh - Đồng Tháp (khi đó gọi là Kiến Phong), vượt sông Tiền, sang Sa Đéc; rồi qua sông Hậu về Châu Thành sau này tách huyện mới gọi Châu Thành và Châu Thành B (Cần Thơ). Đoàn đến Long Mỹ cũng là lúc Tết Nguyên đán Ất Tỵ gõ cửa mọi nhà. Lập tức chúng tôi được lệnh nghỉ chân ăn Tết tại ấp Cả Mười, xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, Cần Thơ (nay là ấp Sáu xã Vĩnh Viễn, Long Mỹ, Hậu Giang).

        Vừa hành quân tới, lạ nước, lạ cái”, anh em chúng tôi được bà con cô bác ở đây xem như con cái trong gia đình. Thằng Ba, thằng Năm… quê miền Bắc càng được các má chăm sóc, yêu quý hơn. Gia đình bà Ba Sáng, chị Sáu Dương, cô Thảo… đón chúng tôi về nhà. Mấy ngày Tết, gia đình có gì, chúng tôi có nấy. Tết đầu tiên ở chiến trường, chúng tôi sống trong tình yêu thương, chở che của bà con ấp Cả Mười, nên phần nào nguôi ngoai nỗi nhớ quê, nhớ nhà… Nếu như linh cảm được cảnh chúng tôi đón Tết nơi đây, chắc rằng mẹ, vợ và người thân của tôi ở quê cũng ấm lòng! Sau này, với quăng thời gian hơn chục năm lăn lộn, chiến đấu, vào sống ra chết trên chiến trường miền Tây, chúng tôi còn trở lại ấp Cả Mười không biết bao nhiêu lần, coi nơi đây như hậu cứ của Trung đoàn 1 U Minh, nhưng tình cảm quân dân cá nước ngày đầu thật sâu đậm, lắng đọng trong tôi niềm xúc động, ân tình không thể phôi pha.

        Sau mấy ngày dừng nghỉ, đón Tết cổ truyền ở Vĩnh Viễn - Long Mỹ, chúng tôi lại lặn lội về Đá Bạc - U Minh Hạ, Cà Mau - căn cứ địa kháng chiến của Nam Bộ; là nơi đứng chân của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu 9. Tính từ lúc rời chiến khu Dương Minh Châu để xuống tới Cà Mau, cũng mất gần ba tháng. Lúc đó là cuối tháng 3 năm 1965.

        Được tăng cường hơn sáu chục sĩ quan - qua đào tạo, huấn luyện bài bản ở miền Bắc, trong đó có nhiều anh em người miền Tây tập kết trở về, các anh trong Khu ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 9 vô cùng phấn khởi. Anh Đồng Văn Cống - Tư lệnh, anh Nguyễn Thành Thơ - Chính ủy Quân khu đón chúng tôi “tay bắt mặt mừng”. Sau khi nắm tình hình của đoàn, hàn huyên chuyện miền Bắc, miền Nam, Tư lệnh Quân khu quyết định đoàn chúng tôi được nghỉ ngơi một tháng - tạm gọi là an dưỡng cho lại sức để chuẩn bị nhận nhiệm vụ.

        Cũng như ở ấp Cả Mười - Vĩnh Viễn, bà con cô bác ở Đá Bạc quý bộ đội vô cùng. Với số anh em quê Bắc càng được mấy tía, má thương quý hơn cả người thân. Nói chuyện với anh em quê Nam Bộ, các má thường tỷ tê: Tụi bay ở đây sớm muộn rồi vợ con, ba má tới thăm; còn thằng Hai, thằng Ba (các má thường gọi chúng tôi bằng những cái tên thân thương như vậy) bỏ cha, bỏ mẹ, vợ con ngoài đó vào đây chiến đấu, tao phải thương chúng hơn tụi bay.

        Nghe các má nói vậy, chúng tôi vô cùng cảm động và thầm nghĩ rồi đây gắng phấn đấu, công tác, chiến đấu… để khỏi phụ lòng của bà con, cô bác.

        An dưỡng ở vùng căn cứ chủ yếu được chu cấp gạo - khá thoải mái; còn thực phẩm, chúng tôi tự tìm kiếm - chủ yếu là cá tôm, rắn rết,… mà những thứ này ở U Minh là vô kể. Phải nói rằng U Minh là thánh địa, là vương quốc của muôn loài chim, cá. Chim có: vịt trời, gà nước (còn gọi là khúm núm), bìm bịp, cò, vạc, diệc, còng cọc,… kết thành bầy đàn đông tới hàng nghìn con; mỗi khi chúng cùng vỗ cánh là rợp một khoảng trời, rào rào như bão giông. Vào rừng, chúng tôi chọn bắt những chú chim non chưa đủ lông đủ cánh đem về nướng, thịt vừa ngọt vừa mềm. Còn cá thì nhiều vô thiên lủng. Có những quãng kênh rạch, cá nhiều như cá nhốt trong chậu. Cá lóc, lươn, chạch chấu,… ở U Minh rất to. mỗi con có khi tới vài ký. Chỉ cần xúc, câu vài con lóc, con lươn là có được nồi cháo cho cả tiểu đội ăn no căng rốn. Ngoài ra còn rắn, rùa,… Đúng là nguồn hậu cần thiên nhiên vô cùng dồi dào, phong phú.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2016, 07:25:59 AM

        Sau một tháng an dưỡng, tìm hiểu tình hình, tôi cùng một số anh em được điều về Trung đoàn 1 - Trung đoàn U Minh.

        Trung đoàn 1 là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Tây Nam Bộ. Trung đoàn ra đời ngày 23 tháng 9 năm 1963 tại căn cứ U Minh, thuộc xã Khánh Lâm, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ra đời đúng vào kỷ niệm lần thứ 18 ngày Nam Bộ kháng chiến, ở chính căn cứ địa U Minh nổi danh từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nên Trung đoàn 1 mang danh hiệu truyền thống là Trung đoàn U Minh. Ban chỉ huy trung đoàn lúc này có anh Võ Minh Như (Chín Hiền) là Trung đoàn trưởng, anh Phạm Mỹ (Ba Hùng) là Chính ủy, Trung đoàn được biên chế hai tiểu đoàn bộ binh: Tiểu đoàn 96 do anh Nguyễn Hữu Phước làm Tiểu đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Hên (Hai Hên) làm Chính trị viên và Tiểu đoàn 29, do anh Lê Văn Chữ (Năm Lôi) làm Tiểu đoàn trưởng, anh Sáu Danh làm Chính trị viên. Ngoài Trung đoàn 1, lực lượng vũ trang Quân khu 9 lúc này còn có Trung đoàn bộ binh 2, Trung đoàn pháo binh 4 và một số phân đội trực thuộc.

        Trung đoàn bộ binh 2 ra đời sau Trung đoàn U Minh tròn hai tháng. Khí mới thành lập, trung đoàn được biên chế hai tiểu đoàn bộ binh và một số đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 306 chủ lực trước đó trực thuộc khu; còn Tiểu đoàn 309 rút từ Tiểu đoàn U Minh, tỉnh Cà Mau lên. Trung đoàn trưởng là anh Bùi Sáng (Mười An), anh Phạm Văn Bé (Tám Tùng) là Chính ủy, anh Trần Minh Đức (Tư Đức) là Phó chính ủy và anh Hai Phước là Trung đoàn phó.

        Ra đời do yêu cầu nóng bỏng của cuộc chiến đấu nhằm đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ trên chiến trường miền Tây Nam Bộ, Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và các đơn vị tiền thân đã lập được những chiến công vang dội, điển hình là các trận tiêu diệt chi khu Cái Nước, chi khu Đầm Dơi (ngày 10 tháng 9 năm 1963) và đặc biệt là trận tiến công cụm cứ điểm Chà Là (đêm 23 rạng ngày 24 tháng 11 năm 1963) đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, bắn rơi 19 máy bay các loại. Chiến thắng Chà Là có ý nghĩa to lớn - mở đầu chiến thuật đánh tiêu diệt quân chủ lực ngụy ở miền Tây Nam Bộ; là trận lực lượng vũ trang miền Tây tiêu diệt sinh lực địch nhiều nhất, bắn rơi máy bay địch nhiều nhất kể từ đầu kháng chiến; từ chiến thắng này mở ra tiền đề, khả năng xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực của Quân khu 9.

        Vừa vào chiến trường, được điều về đơn vị chủ lực của quân khu, một đơn vị sớm tạo dựng được truyền thống tốt đẹp ngay từ buổi ban đầu, với tôi thật vinh dự tự hào. Nhưng tình hình chiến trường diễn biến hết sức mau lẹ, rồi mỗi chúng tôi cũng bị cuốn theo những biến động đó.

        Đáp ứng yêu cầu của chiến trường, trung tuần tháng 6 năm 1965, Trung đoàn 1 được lệnh tăng cường cho miền Đông Nam Bộ. Sau khỉ Trung đoàn 1 tăng cường cho miền Đông, Trung đoàn 2 được mang phiên hiệu Trung đoàn 1 và danh hiệu truyền thống Trung đoàn U Minh.

        Mệnh lệnh của trên là điều chuyển “nguyên canh” Trung đoàn 1 cho Miền, nhưng thực chất một tỷ lệ khá lớn cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn được Bộ Tư lệnh Quân khu giữ lại làm nòng cốt xây dựng quân chủ lực miền Tây. Bổ sung cho số được giữ lại là lực lượng điều chuyển từ các phân đội khác của quân khu và tân binh vừa tuyển. Phải chăng, vì có duyên với đất miền Tây, nên tôi là một trong số cán bộ được giữ lại. Liền đó, tháng 6 năm 1965, tôi được điều về làm Tiểu đoàn phó Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 29 thuộc Tỉnh đội Sóc Trăng.

        Vào những năm 1966-1967, khi Mỹ đẩy chiến lược “Chiến tranh cục bộ” lên đỉnh cao, đưa hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến ở miền Nam, thì ở miền Tây Nam Bộ, để thực hiện gọng kìm “bình định”, Mỹ chủ yếu dùng cố vấn, vũ khí trang bị hiện đại, không quân, hải quân yểm trợ cho quân ngụy Sài Gòn. Điều dễ dàng nhận thấy lý do chính khiến Mỹ không triển khai bộ binh xuống miền Tây Nam Bộ, là do quân Mỹ quen đánh hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn, không quen tác chiến ở địa hình sình lầy, sông nước; không quen đối đầu với một cuộc chiến tranh du kích - chiến tranh nhân dân “thiên la địa Võng” - mang tính đặc thù như ở đây. Ngay cả Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ đóng ở căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho), cũng chỉ hoạt động chủ yếu ở khu vực Trung Nam Bộ (Khu 8 ). Tuy nhiên khỉ quân Mỹ chốt ở Khu 8 thì quân ngụy được dồn xuống chiến trường miền Tây để thực hiện mục tiêu bình định vùng hậu cứ của ta. Đồng thời, Mỹ đã huy động không quân, hải quân tiến hành một cuộc chiến tranh bằng bom đạn và chất độc hóa học với cường độ cao mang tính hủy diệt vùng căn cứ U Minh, hòng “tát” dân ra khỏi căn cứ, triệt phá nguồn lực của cuộc kháng chiến. Đặc biệt từ giữa năm 1965, Mỹ đã cho máy bay B.52 rải thảm căn cứ địa U Minh, khu vực Khánh Lâm, Khánh Bình - nơi đứng chân của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9. Thực tế trên chiến trường miền Tây lúc này, vùng giải phóng bị thu hẹp lại.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2016, 07:28:10 AM

        Cùng với tiến hành các cuộc hành quân đánh phá, bình định, một trong những thủ đoạn thâm độc của địch lúc này là nhanh chóng tiến hành xây dựng hệ thống “ấp tân sinh” - một loại hình ấp chiến lược kiểu mới. Bằng kinh tế và hàng hóa Mỹ, bằng cuộc sống phồn vinh giả tạo tại các “ấp tân sinh”, kẻ địch đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không nhận ra đây là thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nhằm thực hiện kế sách “tát nước, bắt cá”, cô lập và triệt phá vùng căn cứ kháng chiến. Vì vậy, lúc này trên chiến trường miền Tây đã diễn ra cuộc đối đầu giữa đánh phá bình định (của địch) và chống phá bình định (của ta).

        Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 29 Sóc Trăng lúc này cũng được quân khu và tỉnh xác định rất rõ là.

        - Tuyên truyền vận động nhân dân - chủ yếu là bà con người Khme và cùng với nhân dân đấu tranh chống phá bình định; phá thủ đoạn lập “ấp tân sinh” của địch.

        - Tổ chức tập kích - chủ yếu bằng pháo cối vào các vị trí địch ở thị xã Sóc Trăng, mục tiêu chính là sân bay Sóc Trăng, gây khó khăn cho mọi hoạt động của địch; qua đó cho kẻ địch thấy rằng trên chiến trường miền Tây, không có chỗ nào là “sân sau” của chúng.

        Thời gian này, Tiểu đoàn 29 đứng chân ở xã Hồ Đắc Kiện, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Ở Hồ Đắc Kiện có rừng tràm và cánh đồng nước, sình lầy khá rộng là căn cứ của Tỉnh ủy Sóc Trăng. Trên thực tế, Tiểu đoàn 29 còn có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy. Địa bàn hoạt động của tiểu đoàn thường bám dọc lộ 4 và thị xã Sóc Trăng. Tiểu đoàn trưởng là anh Sáu Chợ. Chính trị viên tiểu đoàn là anh Bảy Sa. Anh Sáu Chợ người ấp Măng Rổ, xã Khánh Bình Tây, huyện Cái Nước (Cà Mau). Anh Sáu là cán bộ tập kết, trở về trước tôi, là con người năng nổ, bộc trực, hết mình vì công việc. Rất tiếc là anh hy sinh quá sớm. Khi tôi xuống công tác ở tiểu đoàn chừng một tháng, cũng là thời điểm địch cho B.52 rải thảm ở miền Tây. Trong một chuyến công tác xuống Cà Mau - vùng kênh xáng Bộ, anh Sáu và gần năm chục anh em của tiểu đoàn nằm gọn trong tọa độ rải thảm. Tổn thất của Tiểu đoàn 29 đận ấy là quá lớn.

        Địa hình Sóc Trăng gần như hoàn toàn đồng trống. Vì vậy rất khó cho việc đóng quân cũng như tác chiến đội hình tiểu đoàn, nên chúng tôi tổ chức đội hình trú quân cũng như tác chiến cơ bản là cấp đại đội, có khi còn phân tán hơn.

        Quán triệt nhiệm vụ trên giao, thời gian một năm ở Sóc Trăng, chúng tôi đã tổ chức Tiểu đoàn 29 đánh một số trận, điển hình là các trận đánh đồn Tam Sóc, Đai Súi…; phối hợp, hỗ trợ cho du kích đánh một số đồn nhỏ lẻ, chống càn, uy hiếp đám hội tề, hỗ trợ quần chúng phá “ấp tân sinh”, củng cố vùng căn cứ; thường xuyên tổ chức pháo kích sân bay Sóc Trăng, nhất là khi nắm được kế hoạch địch tổ chức hành quân bình định bằng chiến thuật “trực thăng vận”. Kết quả không lớn, nhưng đã làm cho kẻ địch mất ăn mất ngủ, lúc nào cũng căng ra để đối phó với đòn tập kích bất ngờ của Tiểu đoàn 29 Sóc Trăng, của du kích.

        Một trong những cái khó của Tiểu đoàn 29 trong hoạt động tác chiến là địa hình ở Sóc Trăng chủ yếu đồng ruộng trống trải, khó giấu quân. Trong khi thực hiện chiến lược bình định, kẻ địch bắt dân chặt hết cây cối, đồng thời chúng tập trung đầu độc, lừa mị, lôi kéo đồng bào Khme. Mặt khác, là một bộ phận đồng bào Khme thiếu thiện cảm với bộ đội. Tổ chức một trận đánh, cái khó đầu tiên vẫn là chuyện giấu quân. Càng đội hình đông càng dễ lộ bí mật; ta chưa chiến đấu, đã bị sát thương vì phi pháo của địch.

        Trước tình hình đó, Ban chỉ huy tiểu đoàn đặc biệt chú trọng công tác dân vận. Tôi cho rằng: Mặc dù địch lừa mị, xuyên tạc, lôi kéo, nhưng bản chất của đồng bào ta là tốt; chúng ta phải dựa vào dân, đặc biệt phải tôn trọng phong tục tập quán, tín ngưỡng của dân, thì chắc chắn sẽ tranh thủ được cam tình của bà con. Từ đó, chúng tôi giáo dục cho bộ đội nắm chắc, tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào Khme. Khi vào chùa, bộ đội phải thành kính thắp hương, lạy Phật; bảo vệ từng nhành cây, bông hoa trong vườn chùa… Những việc làm đó đã giành được sự thiện cảm của Lục Cả (những vị sư già), từ đó tranh thủ được tình cảm của bà con. Có vị Lục Cả tâm sự: Trước đây, chính quyền ông Thiệu bảo nhà chùa, nếu để Việt cộng vào chùa thì sư sãi sẽ bị đánh đập; tượng Phật, đồ tế lễ… sẽ bị phá bỏ. Nay bộ đội nào cũng dễ thương, tốt với nhà chùa. Đây mới là bộ đội của dân, của nhà Phật…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2016, 07:29:48 AM

        Sau khi nghe anh em nói rõ chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Mặt trận Dân tộc giải phóng, các vị chức sắc tôn giáo còn tổ chức cho chúng tôi gặp gỡ trò chuyện với bà con, mong bà con nhiệt tình giúp đỡ khi bộ đội về thôn ấp… Dần dần, từ chỗ xa lánh, ngại tiếp xúc với bộ đội, các gia đình đã hồ hởi đón bộ đội về đóng tại nhà mình. Gia đình đông thì năm, bảy anh em; nhà ít thì ba, bốn. Bài học quý giá nhất đầu tiên mà tôi gạn lọc được khi hoạt động, chiến đấu ở chiến trường miền Tây là phải dựa chắc vào dân, có thế trận lòng dân là có tất cả, thế trận lòng dân là chắc chắn nhất.

        Có được thế trận lòng dân, được nhân dân tin yêu giúp đỡ, từng bước chúng tôi đưa từng trung đội, đại đội vào ém trong các “ấp tân sinh”, tổ chức đánh đồn, khống chế hội tề, hỗ trợ đồng bào đấu tranh làm thất bại gọng kìm “bình định” của địch.

        Một năm ở Sóc Trăng là quãng thời gian tôi có điều kiện thâm nhập, tìm hiểu sâu hơn đặc điểm chiến trường miền Tây, về đất và người nơi đây. Miền Tây - căn cứ địa kháng chiến của Nam Bộ - vùng đất đã nổi đanh từ thời kháng chiến 9 năm chống Pháp. Một vùng đất đai rộng lớn, kênh rạch chi chít, ngang dọc. Kênh rạch ở đây tựa như đường ngang, ngõ tắt ở quê tôi. Còn ghe, xuồng cũng như xe cộ đi lại trên bộ vậy. Những thời khắc yên ả hiếm hoi giữa hai trận đánh, hoặc nhân một vài lần công cán, tôi có dịp ngồi ghe tam bản nhẹ nhàng luồn lách trên những dòng kênh, con rạch. Các xóm ấp trải dài dọc theo bờ kênh; những chiếc vó bè cần mẫn gật gù lên xuống, những cây cầu khỉ vắt vẻo nối hai bờ kênh… Cảnh tình lãng mạn, nên thơ. Ngay trong chiến tranh, đạn bom, chết chóc…, sự sống của người dân nơi đây vẫn không bao giờ ngưng nghỉ.

        Giữa trưa nắng, ghé thuyền nép dưới rặng cây, hương thơm của trái chín miệt vườn làm ta ngây ngất, đắm say. Người dân miền Tây cần cù, chịu thương chịu khó, cộng với đặc ân ưu ái của đất trời đã cho đời những vườn cây trái tốt tươi. Nào chôm chôm, xoài tượng, mãng cầu, bưởi, sầu riêng, dừa Xiêm… cho hoa trái bốn mùa. Sau những xóm ấp, miệt vườn là những cánh đồng mênh mông bát ngát, mỏi cánh cò bay. Đất đai màu mỡ phì nhiêu, mưa thuận gió hòa - bốn mùa đầy nắng… Quả là “thiên thời, địa lợi” của những nông phu!

        Xóm ấp của bà con miền Tây hiền hòa, dung dị. Nhưng kề bên, thường là cạnh ngã ba, ngã tư các con kênh rạch là đồn địch giăng đầy, suốt ngày đêm rình rập, gây tai họa cho dân lành.

        Sau hơn một năm ở Tiểu đoàn 29, đầu tháng 6 năm 1966, tôi nhận quyết định trở lại làm Tiểu đoàn phó Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 309 Trung đoàn 1 U Minh. Cùng lúc tôi nhận quyết định về Tiểu đoàn 309, anh Bảy Sa cũng được điều về làm Phó ban cán bộ Quân khu 9. Thời gian này, Trung đoàn 1 đứng chân ở địa bàn Long Mỹ, Phụng Hiệp, Cần Thơ (nay thuộc tỉnh Hậu Giang). Trung đoàn được biên chế ba tiểu đoàn bộ binh (309, 306, 303) và một số đại đội trực thuộc. Trung đoàn trưởng là anh Lê Duy Mật (Bảy Sơn), Chính ủy là anh Phan Văn Bỉ (Ba Hùng), anh Nguyễn Đệ (Ba Trung) nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 309 là Trung đoàn phó Tham mưu trưởng. Riêng Tiểu đoàn 309 đứng chân ở địa bàn Long Mỹ. Thay anh Ba Trung làm Tiểu đoàn trưởng là anh Lê Tấn An (Sáu Hà). Anh Sáu Hà người Trà Vinh, là cán bộ tập kết vừa trở về. Chính trị viên tiểu đoàn là anh Vưu Hoài Thanh (Tư Bằng), người Cà Mau. Chính trị viên phó là anh Huỳnh Mỹ.

        Khi mới về nhận nhiệm vụ ở Tiểu đoàn 309, có một sự kiện khá vui, xui lòng tôi nhớ mãi. Một thời gian ngắn sau khi tôi về đơn vị nhận nhiệm vụ, theo kế hoạch, tiểu đoàn tiến hành Đại hội Đảng bộ. Là Tiểu đoàn phó Tham mưu trưởng, qua tìm hiểu lai lịch và trung đoàn giới thiệu, biết tôi trưởng thành qua chiến đấu, cộng với tác phong sính hoạt cởi mở, chân thành, anh Tư Bằng, anh Sáu Hà rất quý, muốn đưa tôi vào Đảng ủy tiểu đoàn. Tuy nhiên khi ra đại hội, có bảy cán bộ đại đội chưa thật tin, anh em phát biểu rất thẳng thắn:

        - Đúng là anh Ba trưởng thành từ chiến sĩ, kinh qua chiến đấu; nhưng với chiến trường miền Tây, anh Ba cũng chỉ là tân binh; chưa đánh đấm trận nào ra tấm ra miếng, cần phải thử thách…

        Nghe anh em nói vậy, tôi không hề tự ái, trái lại rất thiện cảm với tính cách bộc trực, thẳng thắn, chân tình của con người miền Tây; đồng thời cũng ý thức rằng phải cố gắng, tranh thủ thời cơ để chứng minh sự từng trải trận mạc của mình. Và không phải đợi lâu, liền đó, tôi tham gia trận đánh đồn Thứ Bảy - trận đầu tiên tôi “ra mắt” Tiểu đoàn 309.

        Nhằm tạo điều kiện cho tôi “ra quân” trận đầu chắc thắng, anh Sáu Hà bố trí để tôi đi trinh sát thực địa. Sợ tôi “lạ nước lạ cái”, anh Sáu còn liên hệ với anh Hải - Huyện đội phó huyện An Biên đi trinh sát cùng tôi. Anh Hải người An Biên, Rạch Giá rất giàu kinh nghiệm tổ chức bộ đội địa phương chiến đấu chống phá bình định.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2016, 07:32:29 AM

        Sau này giữa Trung đoàn 1 với huyện đội, cũng như tình cảm giữa tôi với anh Hải ngày một bền chặt như anh em một nhà; vào sống ra chết, vui buồn có nhau. Được anh Hải hỗ trợ, tôi tổ chức cho bộ đội trinh sát kỹ càng. Đồn Thứ Bảy nằm trên kênh xáng Xẻo Rô và trục đường từ Rạch Giá đi vào, là điểm chốt ở ranh giới vùng địch kiểm soát với căn cứ U Minh. Bởi vậy, tuy chỉ một đại đội chốt giữ, song hệ thống dây thép gai, vật cản địch bố trí khá kiên cố.

        Vào một đêm đầu tháng 8 dương lịch (cuối tháng 6 - đấu tháng 7 âm lịch), tiểu đoàn tổ chức hạ đồn Thứ Bảy. Trời đổ mưa to. Anh em chúng tôi đội mưa tiếp cận mục tiêu. Lực lượng của tiểu đoàn tham gia gồm hai đại đội thiếu. Tôi được phân công đi cùng mũi chủ yếu. Lợi dụng trời mưa, bộ đội đột nhập mục tiêu khá thuận lợi. Nhưng khi tiếp cận, cắt dây thép gai, tạo cửa mở, bất ngờ một quả mìn phát nổ. Lập tức địch trong đồn thét vọng ra: Việt cộng, Việt cộng! Rồi hàng loạt pháo sáng vọt lên, soi tỏ từng ngọn cỏ…

        Nằm sát hàng rào, tôi biết anh em mất bình tĩnh, hoang mang; có anh cho rằng đã bị lộ và đề nghị cho rút ngay.

        Để trấn an anh em, tôi ra lệnh tất cả nằm im, không được nhúc nhích. Mặc dù là trận đầu chỉ huy tiểu đoàn diệt đồn địch, nhưng tôi đã tranh thủ học hỏi anh Sáu Hà chút ít kinh nghiệm. Rất may là thực tiễn diễn ra như những gì anh Sáu chỉ bảo. Khi đó, nếu ta nằm im, kẻ địch sẽ phỏng đoán theo hai hướng; hoặc là, ta chạm trái, biết bị lộ, đã tìm cách tháo lui; hoặc là, không phải Việt cộng, mà chỉ là con chuột, con rắn gì đó chạy vướng mìn. Cứ lý mà suy, lính đồn lại yên trí đánh giấc.

        Chờ một lúc không thấy địch động tĩnh gì, tôi lệnh cho bộ đội tiếp tục nằm im chừng một tiếng đến tiếng rưỡi. Đúng là kẻ địch chịu mình rồi! Trời vẫn đổ mưa - bộ đội dầm mình trong nước. Được cái đang mùa hè - như một lần tắm mưa, nên cũng khá thú vị. Đến chừng 12 giờ đêm, tôi phát lệnh tiếp tục cắt rào, mở cửa, tiềm nhập. Lần này chúng tôi giải quyết đồn nhanh gọn; diệt và bắt toàn bộ đại đội địch; nhanh chóng thu vũ khí và lui quân lẹ làng. Trước khi trời sáng, chúng tôi đã về vị trí tập kết an toàn.

        Trận đánh đồn Thứ Bảy tuy không lớn, nhưng với tôi rất có ý nghĩa. Tôi có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân chiến đấu trên chiến trường sông ngòi, kênh rạch; kinh nghiệm xử trí tình huống mở cửa bị lộ; và cũng như cầu thủ bóng đá ra sân, phần nào giải tỏa được tâm lý khát bàn thắng. Còn anh em trong đơn vị bớt đi sự nghi ngại rằng tôi chưa có thực tế ở chiến trường này. Loáng thoáng, có mấy anh bóng gió:

        - Anh Ba ngó bộ dáng học trò, mảnh khảnh thế mà chơi được, chơi ngon?

        Còn anh Sáu Hà và đặc biệt là anh bạn Hải của tôi thì khẳng định như đinh đóng cột: Trận này, anh Ba không những ghi điểm, mà còn ghi điểm tuyệt đối! Tôi biết các anh động viên là chính. Bởi lẽ tất cả với tôi mới là bước khởi đầu. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đang được Mỹ - ngụy đẩy lên đến đỉnh cao. Được Sư đoàn 9 Mỹ xuống đứng ở Đồng Tâm hậu thuẫn, Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 ngụy tập trung bình định, hòng “làm mưa làm gió” ở chiến trường miền Tây. Khó khăn, thử thách với lực lượng vũ trang Quân khu 9 ngày càng dữ dằn hơn.

        Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1966, miền Tây đã vào mùa khô - “mùa làm ăn” của ta. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu chủ trương tổ chức đợt hoạt động Đông - Xuân 1966-1967; địa bàn trọng điểm là vùng Chương Thiện. Mục đích của đợt hoạt động này là diệt nhiều sinh lực địch, diệt đồn bốt, đánh phá “ấp tân sinh”, “ấp chiến lược”, mở mảng vùng Giồng Riềng, Long Mỹ, Ngan Dừa…, đưa chiến tranh ra sát vùng ven đô Cần Thơ, Rạch Giá, hỗ trợ phong trào đô thị phát triển, chuẩn bị tiến tới đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” trên chiến trường miền Tây, giành thắng lợi tạo đà cho những bước phát triển tiếp theo. Trong mùa chiến dịch này, Trung đoàn 1 U Minh được Bộ Tư lệnh Quân khu xem là lực lượng chủ công, đảm trách nhiệm vụ chủ yếu.

        Nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu giao, Đang ủy cùng chỉ huy trung đoàn nhóm họp bàn thảo thực hiện và phân công cụ thể: Tiểu đoàn 309 tiến công tiêu diệt chi khu Ngan Dừa; Tiểu đoàn 306 do anh Năm Còi Tiểu đoàn trưởng chỉ huy đánh đồn Cái Đuốc (thuộc xã Ngọc Chúc, huyện Giồng Riềng); Tiểu đoàn 303 do anh Dung - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy cơ động đánh quân cứu viện cho Ngan Dừa, Cái Đuốc,… khi bị ta tiến công.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2016, 07:35:41 AM

        Mở màn chiến dịch Đông - Xuân, vào một đêm cuối tháng 10 năm 1966, Tiểu đoàn 306 diệt gọn quân địch, nhanh chóng làm chủ đồn Cái Đuốc, và sau đó hợp sức cùng Tiểu đoàn 303 đánh bại lực lượng ứng cứu của địch gồm Trung đoàn 33 và một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 21 ngụy.

        Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 309 chúng tôi đánh thiệt hại nặng chi khu Ngan Dừa và tiêu diệt ba đồn khác xung quanh chi khu này. Mở màn chiến dịch không dứt điểm được chi khu Ngan Dừa, trong khi hai tiểu đoàn bạn lập công lớn, mấy anh em trong Ban chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi lấy làm bứt rứt. Biết thắng thua trong trận mạc là chuyện bình thường; nhưng tâm lý thi đua ngầm giữa các đơn vị, “con gà tức nhau tiếng gáy” cũng là điều rất con người. Cũng với ý chí, quyết tâm đó, chỉ sau trận Ngan Dừa chưa đầy một tháng, vào cuối tháng 11 năm 1966, chúng tôi lập công lớn.

        Nhận nhiệm vụ tiến công Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 21 ngụy bình định vùng Long Mỹ, chúng tôi đã cùng các anh bên Tiểu đoàn 303 tổ chức trinh sát nắm địch kỹ càng. Căn cứ dã ngoại của Tiểu đoàn 3 ngụy nằm trên kênh xáng Long Mỹ - sát chi khu quận lỵ Long Mỹ. Cũng như bao lần đi trinh sát trước đây, tôi cùng anh em vào sâu trong đồn địch, đếm từng hàng rào kẽm gai, định vị từng hỏa điểm…

        Thực hành trận đánh, anh Sáu Hà không bố trí tôi đi cùng mũi chủ công mà giao cho tôi phụ trách hai phân đội dự bị. Đồn địch nằm ngay bờ kênh xáng, nên chúng tôi hành quân tới vị trí tập kết bằng xuồng. Đêm cuối tháng, nhưng đang cao điểm mùa khô, sao trời như soi tỏ dòng kênh, để những chiếc xuồng con của chúng tôi lẹ làng lao đi trong xôn xao, man mác gió đồng.

        Chừng hai giờ sáng, trận đánh bắt đầu. Lực lượng chủ công ào ạt tập kích căn cứ dã ngoại của Tiểu đoàn 3 ngụy. Nhưng bất ngờ, bộ đội gặp phải sự phản kích quyết liệt của địch. Nghe từng tràng, từng tràng AR15, trung liên đáp trả của địch, phải công nhận lính Sư đoàn 21 ngụy cũng thuộc vào loại lính “có nghề”. Hèn chi, ngày thường, chúng vẫn dương dương vỗ ngực tự cho là dân “anh chị” ở miền Tây.

        30 phút rồi một tiếng trôi qua, tình hình vẫn chưa khả quan. Tâm trạng ngồi ôm súng, “xem” đồng đội quần nhau với địch, thật bồn chồn, nôn nao khó tả. Rồi điều gì đến phải đến! Anh Sáu Hà lệnh cho tôi tung hai phân đội dự bị vào trận. Qua trinh sát nắm chắc bố trí các hỏa điểm của địch, lại được theo dõi chiến sự diễn ra từ đầu, tôi cho lực lượng dự bị bí mật luồn sâu, áp sát từng mục tiêu, đồng loạt dũng mãnh xuất kích tiêu diệt. Bị kéo căng ra hơn một tiếng đồng hồ, địch đã ít nhiều có biểu hiện chùng lại. Đúng lúc đó, lực lượng dự bị của chúng tôi bất thần ra tay, chẳng khác gì “xuất quỷ nhập thần”, gần như toàn bộ địch không kịp phản ứng. Trận đánh dược giải quyết khá nhanh chóng. Việc anh Sáu Hà và tôi chọn thời điểm tung lực lượng dự bị vào giải quyết chóng vánh trận đánh, diệt và bắt gọn Tiểu đoàn 3 ngụy, đã làm cho kẻ địch khiếp đảm quy phục; đồng thời cũng làm lơi lạt sự ngờ vực của số anh em mình trước đây vẫn cho rằng “anh Ba là tân binh ở chiến trường mới” - chiến trường miền Tây.

        Tiếng súng lắng lại, cũng vừa lúc gà ở ấp bên tranh nhau gáy báo sáng. Không thể chậm trễ. Lui quân muộn, khó tránh khỏi phi pháo của địch. Được tin Tiểu đoàn 3 bị Việt cộng “làm gỏi”, chắc chắn chỉ huy Vùng 4 chiến thuật không để chúng tôi yên.

        Qua trao đổi chóng vánh trong tập thể chỉ huy tiểu đoàn, anh Sáu Hà phân công tôi ở lại giải quyết thương binh, tử sĩ và rút về sau, còn đại bộ phận lực lượng của tiểu đoàn khẩn trương cơ động khỏi địa bàn. Hoàn tất nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng giao, mấy anh em chúng tôi thu quân về, thì trời cũng sáng bạch. Vậy là chúng tôi phải giơ lưng chịu trận. Máy bay từ mấy sân bay lân cận; pháo từ Vị Thanh, Hỏa Lựu thi nhau oanh kích dọc các tuyến lộ, tuyến kênh mà địch cho là chúng tôi rút. Và thật không may, lần này tôi lại bị dính mảnh pháo. Vết thương không trầm trọng, nhưng oai ăm nhất là bị mẻ một mảnh xương ở cổ chân, đau đớn không thể nào đi được. Trong khi bom đạn giăng tứ bề, anh em đứa nào đứa nấy cố mà tìm cách thoát nhanh ra khỏi khu vực địch oanh kích. Người còn lại cạnh tôi lúc này là chiến sĩ liên lạc. Cậu ta cố dìu tôi ra giữa đồng, xa trục lộ, xa con kênh. Mặt trời đã lên được mấy ngọn sào, nắng nóng, đau buốt đến óc. Buộc lòng tôi phải nói với chiến sĩ liên lạc rằng không thể ở đây chịu chết cả hai. Tôi sẽ gắng náu mình trong ruộng lúa, còn cậu ta gắng đi nhanh về đơn vị báo cáo chỉ huy tiểu đoàn chờ đêm tối, quay lại tìm đưa tôi về đơn vị. Chiến sĩ liên lạc tỏ vẻ lừng chừng, có thể cậu ta nghĩ bỏ tôi mà đi lúc này là có lỗi - vì rằng tôi khó thoát khỏi sự lùng sục của địch. Qua mấy thôn ấp đằng sau mấy rặng dừa nước kia đã là chi khu Long Mỹ rồi. Nhưng nghe tôi nói như ra lệnh, cậu ta lầm lũi quay đi, vừa chạy vừa lấy tay quệt nước mắt.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2016, 07:39:24 AM

        Chờ cho cậu liên lạc đi khuất, tôi cắn răng chịu đau lết thêm một quãng, tránh xa trục lộ và bờ kênh. Đang giữa mùa khô, mặt trời dần đứng bóng, cộng với vết thương làm tôi khát cháy cổ. Lần tìm vũng nước, vốc mấy ngụm cho đỡ khát, tôi lết tiếp hướng về một ấp phía trước mặt. Chừng quá trưa thì vừa đói, khát, đau đớn làm tôi mệt la đi. Đang suy tính làm sao vượt qua lần lâm nạn này, tôi bỗng thấy từ trong ấp, một bé trai chừng mười - mười hai tuổi đang theo lối bờ ruộng tiến về phía mình. Nghĩ rằng trời Phật, số phận tạo cho mình một cơ may, chờ cháu tới gần vài chục mét, tôi nhổm dậy và gọi to, như sợ cháu vuột mất. Cháu bé giật mình, tiến thêm mấy bước, nhìn tôi chằm chằm một lúc rồi quay đầu đi như chạy về phía ấp. Nhìn lại mình, lúc đó tôi bận bộ đồ Quân giải phóng, vải Ka tê mỏng, trông khá tươm tất, rất dễ cảm tình. Tôi cam đoan là cháu không thể nhầm tôi với lính ngụy.

        Thấy cháu đi như “ma đuổi”, tôi dự kiến hai tình huống sẽ xảy ra: trường hợp xấu, cháu sẽ báo ngay cho quân ngụy ra bắt; nếu không cháu sẽ là “thần hộ mệnh” của tôi. Kiểm tra lại súng ngắn và ít đạn, đề phòng bất trắc sẽ “tử chiến” với địch, sau đó tôi thanh thản, bình tĩnh chờ đợi. Chừng hai tiếng sau, mặt trời xế bóng, cháu bé quay lại. Từ xa, thấy một mình cháu xuất hiện, ngang hông cắp một thúng nhỏ, tôi thở phào nhẹ nhõm. Lại gần, cách tôi chừng chục thước, cháu khẽ khàng đặt chiếc thúng xuống vệ cỏ, nhìn tôi chốc lát và lẳng lặng quay về. Đợi cháu đi một quãng xa, tôi bò lại, và như không tin vào mắt mình, trong thúng có một đĩa xôi to, nửa con gà luộc, một bình nước. Thật chẳng khác gì chuyện cổ tích, bụt hiện lên, giúp cứu người lành gặp hoạn nạn. Tôi xúc động trào nước mắt, cảm giác trong tôi lúc đó khó bút mực nào tả nổi. Tôi gắng ăn mấy miếng để lấy sức. Chiều tắt nắng, hoàng hôn buông trên đồng, rồi khi nhá nhem tối, cháu bé ban nãy cùng mẹ cháu ra dìu tôi về nhà. Đưa tôi vào nhà an toàn, mẹ cháu bé nói trong xúc động:

        - Cán bộ xá lỗi cho, biết ông đau, chờ đợi, nhưng má con tôi không thể làm khác được. Lính ngụy nhan nhản trong làng ngoài ấp. Ban ngày đón ông, làm sao che mắt chúng được. Chỉ trông trời tối nhanh, là má con tôi ra luôn!

        Tôi cám ơn chị và cháu đã cứu mạng, đồng thời mong chị đừng gọi là ông. Chị cười, ánh mắt lành lạnh. Trong ánh đèn đỏ quạch, tôi bắt gặp một dáng hình gọn nhẹ, đa đoan, và nghĩ rằng, người đàn bà này chắc là rất tháo vát. Nhà vắng bóng đàn ông, nhưng vì tế nhị, tôi không đám hỏi. Biết đâu, anh chồng đi lính ngụy thì thật trớ trêu, khó xử cho tôi, cho chị và cháu bé.

        Để tránh phiền hà, liên lụy cho gia đình cưu mang mình, tôi bày tỏ ý định nhờ chị giấu tôi ở một nơi nào đó, không ở trong nhà. Chị trả lời rành rọt:

        - Không được, ra khỏi nhà tôi bây giờ anh sẽ bị lính bắt ngay (chị đã chuyển gọi tôi bằng anh). Tôi sẽ giấu anh trong buồng, trong hầm tránh đạn pháo. Nhà tôi nấu rượu, lính đồn vào ra mua rượu liên tục, nhưng anh đừng sợ, chúng vào đây chẳng biết gì khác ngoài xị rượu đâu. Vả lại, anh đang bị thương, đơn vị không biết nơi đâu mà tìm.

        Vậy là tôi buộc phải chịu lý của người phụ nữ nhỏ nhắn, tháo vát, quyết đoán này.

        Năm ngày ở nhà mẹ con chị, tôi luôn trong tâm trạng nơm nớp, lo lắng, không biết rồi đây tình thế ra sao. Thỉnh thoảng, nghe vọng lại từ xa tiếng một tràng liên thanh, một loạt đạn pháo… tôi càng bồn chồn. Mặc dù, chị chủ nhà hằng ngày rửa vết thương, đắp vài thứ thuốc lặt vặt, nhưng đến ngày thứ sáu thì vết thương của tôi nhiễm trùng nặng, đã có dòi. Lính đồn lại suốt ngày vào ra rượu chè nhí nhố… Thấy nằm lại lâu ở đây bất lợi đủ điều, tôi đề nghị chị Sáu (mấy hôm ở trong nhà, tôi nghe người qua lại gọi chị là cô Sáu) đưa tôi đi. Biết không thể giữ  tôi lại, chị Sáu nói như phân bua:

        - Anh bỏ quá cho, bây giờ mà tìm bác sĩ làm thuốc cho anh, chắc vết thương sẽ ổn, nhưng khác nào gửi anh cho lính đồn. Vậy, giờ biết đưa anh đi đâu?

        - Chị hãy đưa tôi đến nơi nào mà pháo hay máy bay phía bên kia đánh, đó là khu du kích, đến đó tôi sẽ lần tìm được đơn vị - tôi trả lời; hoặc có thể, chị dò hỏi đơn vị U Minh đóng ở vùng nào, đó là đơn vị tôi, mà bộ đội U Minh thì bà con nhiều người biết.

        Chị cười - một nụ cười nhân nhượng và tặc lưỡi:

        - Tôi chịu mấy anh giải phóng! Bom đạn đầy trời, đơn vị không biết ở đâu mà vẫn nằng nặc ra đi!


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:14:40 AM

        Thế rồi chị khẩn trương chuẩn bị, nhờ thêm một người thân cáng tôi đi mờ sáng ngày hôm sau.

        Tạm biệt gia đình ân nhân đã cưu mang nuôi giấu tôi khi gặp hoạn nạn, tôi không cầm nổi lòng mình; cầu mong trời Phật phù hộ chị Sáu và các cháu con chị như chính họ phù hộ tôi. Thật may mắn, vì chị Sáu nấu rượu, quen biết khá nhiều lính đồn, chị lại giả vờ đưa em trai ốm nặng đi nhà thương, nên tôi đã qua được trạm gác của lính ngụy dễ dàng và được đưa về vùng du kích. Từ đó về đơn vị không có gì khó khăn.

        Việc tôi xuất hiện đường đột ở đơn vỉ làm mọi người bết sức ngỡ  ngàng. Anh Sáu Hà, anh Tư Bằng… mừng quýnh lên, bởi đã gần tuần không tin tức gì, ai cũng nghĩ là tôi hoặc đã bị địch bắt, hoặc đã hy sinh. Liền đó, trung đoàn chuyển tôi xuống ngay bệnh xá quân khu ở U Minh Thượng để điều trị vết thương. May mà còn kịp! Dẫu nhiễm trùng khá nặng, nhưng các y sĩ, thầy thuốc ở bệnh xá quân khu vẫn giữ được cặp giò của tôi lành lặn.

        Trong suốt cuộc đời quân ngũ của mình, cả những năm tháng đã qua và thời gian sau này, có biết bao người dân cưu mang, che chở, giúp đỡ tôi; nhưng việc gia đình chị Sáu cứu mạng sau trận đơn vị tôi diệt Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 31 quân ngụy là kỷ niệm sâu sắc nhất. Khi chiến tranh đi qua, đạn bom lui rồi, tôi đã nhiều lần tìm về miền quê ấy, tìm kiếm để nói một lời cảm ơn. Nhưng gia đình chị Sáu đã đi vùng kinh tế mới, không chỉ một nơi, mà do điều kiện khó khăn, đã lăn trải, chuyển dời mấy chỗ; rồi công việc níu kéo, tôi vẫn chưa tìm được ân nhân của mình. Và tôi biết suốt đời tôi chịu ơn, mang nợ gia đình chị Sáu! Mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, tôi không thể nào quên được ánh mắt cháu bé nhìn tôi giữa cánh đồng ngày ấy - ánh nhìn vừa ngỡ ngàng, vừa thân thiện, máu thịt.

        *

        Điều trị lành vết thương, rồi an dưỡng chừng một tháng, tôi trở về tiểu đoàn cũng đã vào mùa mưa năm 1967. Thời gian tôi điều trị vết thương tại bệnh xá quân khu, ở đơn vị, anh Sáu Hà được quân khu điều động nhận nhiệm vụ khác. Thay anh Sáu, giữ chức quyền Tiểu đoàn trưởng là anh Tư Trạch, và sau đó là anh Năm Niên. Từ mùa mưa cho đến cuối năm 1967, nhìn chung, trung đoàn ít chủ động tiến công địch, mà chủ yếu là tổ chức một số trận chống càn, luồn càn; chống phá bình định. Tiểu đoàn 303 chủ yếu hoạt động ở địa bàn các huyện Giồng Riềng, Gò Quao, có khi lên tới Ô Môn. Tiểu đoàn 309 chúng tôi chủ yếu hoạt động ở Long Mỹ, Phụng Hiệp, Kế Sách (Cần Thơ), Châu Thành (Sóc Trăng)… Đến tháng 9 năm 1967, Tiểu đoàn 307 - một đơn vị chủ lực của quân khu có bề dày truyền thống từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, được điều về đứng trong đội hình trung đoàn. Tiểu đoàn 307 thời gian này chủ yếu hoạt động ở Rạch Giá! Nhìn chung, hình thái hoạt động của trung đoàn đã tạo nên sức ép đối với Vùng 4 chiến thuật của địch (Cần Thơ) từ hai phía. Lúc này, Sở chi huy Quân khu chuyển từ Khánh Bình Đông (U Minh Hạ) lên khu vực kênh Xáng Cụt (U Minh Thượng) và trụ lại đây để chỉ đạo mọi hoạt động của lực lượng vũ trang quân khu sâu sát hơn.

        Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu, đến cuối năm 1967, tổ chức biên chế, trang bị vũ khí của Trung đoàn U Minh tăng đáng kể; bộ đội dày dạn kinh nghiệm chống càn, luồn càn, chống thủ đoạn “nhảy dù” của địch. Được sự hỗ trợ của chủ lực, phong trào du kích và phong trào quần chúng đấu tranh chống địch bình định phát triển mạnh, vững chắc. Trên cơ sở đó, từ cuối năm 1967, Trung đoàn 1 U Minh không chỉ tác chiến bảo vệ căn cứ tại chỗ mà còn bung ra hoạt động tại vùng ven các thị xã, áp sát các chi khu, đồn bốt địch. Với Tiểu đoàn 309 chúng tôi, thời gian này đã tổ chức được một số trận đánh đạt hiệu quả tốt; điển hình là tiêu diệt hai đoàn bình định ở An Lạc Thôn, huyện Kế Sách, Cần Thơ (nay thuộc Sóc Trăng) vào tháng 10 năm 1967.

        Qua theo dõi nắm địch, thời gian này chúng tôi biết địch đang tung một lực lượng thực hành bình định ở Kế Sách. Đoàn bình định chừng trên năm chục tên ác ôn cùng một đại đội bảo an đóng ở đình An Lạc Thôn. Lực lượng này đã gây không ít khó khăn, tổn thất cho nhân dân và lực lượng vũ trang hoạt động ở đây.

        Chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân khu là diệt đoàn bình định và đại đội bảo an, quyết không cho địch thực hiện âm mưu bình định vùng lõm.

        Sau khi trực tiếp cùng một số cán bộ đại đội trinh sát thực địa vị trí tập kết của địch ở đình An Lạc Thôn, tôi trao đổi với anh Năm Niên - quyền Tiểu đoàn trưởng và anh Hải - Chính trị viên tiểu đoàn (mới được trên điều về thay anh Tư Bằng nhận nhiệm vụ mới), rằng ta sẽ đánh tốt. Địch có vẻ chủ quan, bố phòng sơ sài. Tuy nhiên cái khó của tiểu đoàn là phải hành quân quá xa. An Lạc Thôn sát sông Hậu. Từ Phụng Hiệp sang Kế Sách, bộ đội phải băng qua lộ 4 (nay là đường số 1) hết sức trống trải, rất dễ bị lộ.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:17:06 AM

        Đã là trận mạc chinh chiến thì mấy ai loại trừ được khó khăn, nên chúng tôi quyết định đánh. Chọn một đêm đầu tháng 9 âm lịch. khi trăng thượng tuần đã lặn, thôn ấp chìm dần vào đêm, chúng tôi phát lệnh hành quân. Đang kỳ nước lớn, thuyền chúng tôi chen nhau lao đi trên dòng kênh đã rất đỗi thân quen. Theo phân công, anh Năm Niên và anh Hải đi với mũi chủ công; tôi nắm hai phân đội dự bị.

        Dự kiến ban đầu chừng 12 giờ đêm, tiểu đoàn đến vị trí tập kết, 1 giờ sáng nổ súng, nhanh chóng giải quyết mục tiêu; sau đó rút nhanh về Ba Trinh, Kế Sách và khi trời sáng thì tất cả đã về địa bàn an toàn. Thế nhưng, khi vào cuộc đã phát sinh một số vấn đề, dẫu đã tính toán, vẫn không lường hết được. Vì lực lượng đông, hành quân chậm, 1 giờ sáng chúng tôi mới đến vị trí tập kết và gay go hơn là trong ngày địch đã đưa về đây thêm một đoàn bình định nữa, nâng tổng số cả lực lượng bình định và lính bảo an lên trên 200 tên.

        Ban chỉ huy tiểu đoàn hội ý chớp nhoáng, bàn nên đánh hay thôi. Anh Hải - một cán bộ tập kết vừa về, có phần ái ngại. Theo anh thì, triển khai đánh quá muộn, địch lại đông; không dứt điểm nhanh, trời sáng, chúng ta khó lòng xoay trở.

        Tôi cho rằng chúng ta không còn độ lùi. Lúc này tổ chức lui quân, vừa không thực hiện được nhiệm vụ, và khi ta rút quân, địch cũng dễ phát hiện, quật lại, ta khó tránh khỏi tổn thất. Không diệt được mục tiêu, lại chịu tổn thất, tự chúng ta cũng không chấp nhận được, chứ nói gì cấp trên!

        Nghe tôi lập luận xác đáng, anh Năm Niên quyết định đánh. Chừng ba giờ rưỡi sáng, chúng tôi phát hỏa. Địch cậy lực lượng đông, co về đình An Lạc Thôn căng sức chống đỡ. Chần chừ lúc này sẽ hỏng hết. Anh Năm Niên lệnh cho tôi đưa lực lượng dự bị vào. Khi đội hình dự bị tiếp cận cách địch chừng ba chục mét, tôi quyết tách làm hai mũi, vòng sang hai bên đánh tạt sườn, tiến công cấp tập, địch không kịp trở tay; trời lại quá tối, không xác định được hưởng chính để chống đỡ. Chỉ sau chừng 15-20 phút, chúng tôi giải quyết gọn mục tiêu. Hơn hai trăm tên địch bị diệt, bị bắt. Tiểu đoàn tôi hy sinh ba đồng chí, bị thương gần vài chục.

        Tiếng súng lắng xuống thì trời rạng sáng. Không được chần chừ một phút, anh Năm Niên, anh Hải chỉ huy bộ đội khẩn trương lui quân. Tôi được phân công ở lại giải quyết thương binh, tử sĩ và thu vũ khí. Trận này đơn vị thu được súng đạn rất nhiều, nhưng vì lúc này đã gần sáng, chúng tôi chọn một số khẩu “ngon ăn”, còn lại đánh chìm cả thuyền vũ khí xuống sông, tiếc mà đành chịu.

        Chúng tôi đang khẩn trương đuổi theo lực lượng đi trước thì nghe từ hướng lộ Lò Rèn, máy bay, phi pháo địch oanh kích dữ dội. Đúng là cánh quân do anh Năm Niên, anh Hải dẫn khi vượt lộ Lò Rèn chạy về phía Ba Trinh. Kế Sách đã bị lộ, trở thành mục tiêu của bom, pháo địch, bị tổn thất một số.

        Trước tình thế đó, tôi cùng một vài anh em dẫn 15 thương binh chạy về phía Trà Ết, giáp sông Hậu. Lúc này trời đã sáng bạch. Gặp dân đi làm đồng, dò hỏi, bà con cho hay đầu thôn, cuối thôn đều có đồn địch. Biết cố đi sẽ không an toàn, tôi quyết định đưa anh em vào ấp. May mắn là cơ sở Đảng ở đây rất vững. Anh chị em khẩn trương lau rửa, băng bó vết thương cho thương binh, cho ăn uống và đêm đó tổ chức chuyển qua Cầu Kè - Trà Vinh. Tôi ở lại Trà Ết một ngày, hôm sau trở về đơn vị ở Kênh Ngang, Phụng Hiệp.

        Mặc dù trong trận đánh này tiểu đoàn có tổn thất nhưng chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ngoài việc hốt được toàn bộ lực lượng bình định và đại đội bảo an ở An Lạc Thôn, tôi còn có được bài học kinh nghiệm là khi vào trận, phải tổng hợp, phán đoán đúng tình hình, ra quyết định dứt khoát, chính xác; thì dù khó khăn đến mấy, khả năng hoàn thành nhiệm vụ rất cao, hạn chế được thương vong.

        Cũng với chủ trương chống phá bình định, cuối tháng 11 năm 1967, tiểu đoàn có ý định tổ chức trận tiến công Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 31 Sư đoàn 21 ngụy đóng ở Đại An - Kế Sách.

        Do đã xây dựng được nhân mối là viên thiếu úy làm quản lý của Tiểu đoàn 3 ngụy, nên chúng tôi quyết định sử dụng một lực lượng tinh nhuệ, đánh theo kiểu đặc công. Chuẩn bị cho trận đánh, tôi cùng ba cán bộ đại đội đi trinh sát thực địa. Mấy ngày liền, chúng tôi bám sát căn cứ địch, theo dõi quy luật hoạt động của chúng. Qua trinh sát, thấy thời gian này địch triển khai bình định, đánh phá rất dữ. Do không cẩn thận, kỹ càng trong trinh sát thực địa (không đi đúng lộ trình, mà đi tắt) nên ngày trinh sát thứ ba, chúng tôi bị địch phát hiện. Mặc dù khi về báo cáo, chúng tôi cũng trình bày tình huống bị lộ, nhưng tiểu đoàn vẫn quyết định đánh. Liền đó, chúng tôi chọn khoảng hai chục cán bộ, chiến sĩ gan dạ, tháo vát, kỹ - chiến thuật vững để thực hành trận đánh. Trước khi xuất quân, tiểu đoàn tổ chức một bữa liên hoan chia tay khá thịnh soạn. Nhưng, trước giờ xuất phát hành quân, chúng tôi nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu: dừng ngay, không đánh nữa. Có thể cấp trên cho rằng trinh sát bị lộ nếu đánh sẽ tổn thất lực lượng nòng cốt của Tiểu đoàn 309; cũng có thể dừng lại vì một kế hoạch khác. Cho dù là nguyên do gì - “quân lệnh như sơn”, chúng tôi quyết định dừng trận đánh, tích cực chuẩn bị cho một đợt chiến đấu mới


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:20:55 AM

*

*       *

        Đến cuối năm 1967 tình hình chung ở các tỉnh miền Tây đã sáng sủa hơn trước rất nhiều. Mặc dù Mỹ - ngụy đã đẩy chiến lược “Chiến tranh cục bộ” lên đến đỉnh cao, với hai cuộc phân công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967, nhưng hai gọng kìm “tìm diệt và “bình định” của chúng gần như bị bẻ gãy. Sư đoàn 9 Mỹ xuống Khu 8 để “dành” chiến trường miền Tây cho Sư đoàn 9 và Sư đoàn 21 ngụy tha hồ “binh định”; nhưng địch bị căng kéo, bị đánh khắp nơi. Vùng giai phóng của ta được mở rộng. Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 từ U Minh Hạ đã chuyển lên U Minh Thượng, tiện cho việc chỉ đạo chủ lực của khu tác chiến.

        Vào lúc đó, lớp cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn như chúng tôi hoàn toàn chưa biết gì về chủ trương Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Sau này, qua tìm hiểu, tôi mới hay rằng, tháng 10 năm 1967, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam họp mở rộng, có đại diện Bộ Tư lệnh Quân khu 9 dự, đã bàn thảo việc thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng tiến hành cuộc Tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào Tết Mậu Thân trên khắp chiến trường miền Nam, chuyển cách mạng miền Nam sang giai đoạn tiến công địch, giành thắng lợi quyết định.

        Để chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Thường vụ khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định sử dụng chủ lực quân khu đánh tập trung quy mô lớn, kết hợp với đòn nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thị xã, thị trấn, trọng điểm là Cần Thơ, Vĩnh Long. Theo đó, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập cấp lữ đoàn thay cho trung đoàn, lấy phiên hiệu là Lữ đoàn 3117. Biên chế của Lữ đoàn 3117 gồm các tiểu đoàn 309, 307, 303 và các đại đội trực thuộc của Trung đoàn 1 U Minh, Tiểu đoàn Tây Đô của tỉnh Cần Thơ, Tiểu đoàn 962. Tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp 2311 của quân khu là lực lượng phối hợp. Lữ đoàn trưởng là anh Võ Minh Như (Chín Hiền), anh Tư Bằng – nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 309 là Chính ủy, anh Võ Văn Đường (Ba Tôn) là Lữ đoàn phó, anh Bùi Hữu My (Huỳnh My) là Phó chính ủy…

        Sau khi ổn định tổ chức biên chế, địa bàn hoạt động của các tiểu đoàn có chút ít điều chỉnh - tập trung về huyện Phụng Hiệp và huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn 309 chúng tôi hoạt động ở Phụng Hiệp. Bước điều chỉnh mới nằm trong chủ định của Quân khu là trong Tổng tiến công vào đầu Xuân Mậu Thân, chúng tôi sẽ đánh vào thành phố Cần Thơ.

        Thành phố Cần Thơ là cơ quan đầu não của Vùng 4 chiến thuật và Quân đoàn 4 ngụy. Ở đây có nhiều mục tiêu trọng yếu như Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 nằm trên trục lộ Hòa Bình, Bộ chỉ huy tiểu khu Phong Dinh trên đường Nguyễn Trãi, Đài phát thanh Cần Thơ trên đường Mạc Tử Sanh (nay là đường 30-4), trụ sở phái đoàn MAAG của Mỹ ở đường Hùng Vương, tòa lãnh sứ quán Mỹ ở đường Hòa Bình, sân bay Lộ Tẻ với không đoàn 73, sân bay Trà Nóc với không đoàn 73, thuộc Sư đoàn 4 không quân ngụy,…

        Ở Cần Thơ, tất cả các căn cứ quân sự, kho tàng, trận địa pháo… đều được bố phòng cẩn mật. Hệ thống chướng ngại bao quanh từng cứ điểm, mục tiêu, gồm nhiều loại dây thép gai, chông, mìn dày đặc. Các lực lượng bộ binh, cơ giới, cảnh sát, mật vụ, quân cảnh… triển khai tuần tra, canh gác thành nhiều vòng, chốt chặn tất cả các trục giao thông, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng từ ngoài vào trong. Do phía bắc là sông Hậu, nên địch phòng thủ chủ yếu ở hướng nam. Trong đó tuyến lộ Vòng Cung chạy song song với sông Cần Thơ, từ cầu Cái Răng vào Phong Điền, Ba Xe, đi qua sáu xã ngoại ô, ôm lấy phía nam, tây và tây bắc thị xã được địch bố trí lực lượng dày đặc với vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân, hiện đại, hòng chặn đứng các mũi tiến công của ta từ vòng ngoài.

        Trước đây, để nắm tình hình địch, sau khi bàn bạc với các anh trong Ban chỉ huy tiểu đoàn, có lần tôi đã mạo hiểm, cải dạng thành một “hai lúa” thực thụ, từ Phụng Hiệp đạp xe lên thỉ xã chơi. Vào phố, qua chợ… chỉ biết đi và nhìn, không nói vì sợ lộ tiếng Bắc. Cũng vì vậy mà tôi có biết sơ bộ địch tình, dân tình ở Cần Thơ. Có lần đi, tôi báo cáo, cũng có lần đi lén, bị tiểu đoàn trưởng và chính trị viên rầy la.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:23:12 AM

        Bước vào Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, ở Khu 9 có hai trọng điểm: Cần Thơ là trọng điểm 1, Vĩnh Long là trọng điểm 2. Khu ủy Khu 9 thành lập Ban chỉ huy thống nhất trực tiếp chỉ đạo tổng tiến công ở trọng điểm 1, gồm các đồng chí trong Thường vụ khu ủy Bộ Tư lệnh Quân khu. Anh Chín Hiền - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3117 là một thành viên của Ban chỉ huy thống nhất.

        Mệnh lệnh của trên phải tuyệt đối giữ bí mật đến phút chót, nên khi được lệnh của lữ đoàn tổ chức cho bộ đội ăn Tết trước, chúng tôi cũng chỉ nghĩ đến sắp tới sẽ có một trận, một đợt ra quân nào đó, như những lần trước.

        Thực hiện lệnh của trên, vừa làm công tác vũ trang tuyên truyền ở các địa phương thuộc huyện Phụng Hiệp, chúng tôi vừa khẩn trương tổ chức cho bộ đội ăn Tết Nguyên đán sớm. Đang sống trong dân, thấy chúng tôi rục rịch chuẩn bị đánh lớn, chưa anh em nào nói gì chuyện tết nhất, thì các gia đình đã chủ động lo Tết cho bộ đội rồi. Nhà này vài ký thịt heo, nhà kia con gà, cặp vịt Xiêm, mấy ký gạo nếp… Vậy là bộ đội có một cái Tết tươm tất. Nhà nào cũng muốn co kéo bộ đội về ăn Tết! Công việc gấp gáp, nhưng chúng tôi vẫn phải chia nhau đi khắp những gia đình thân quen, không đến được là các tía, các má trách hoài.

        Trong khi các xóm ấp đang vui Tết, mừng Xuân mới, chúng tôi nhận lệnh hành quân chiến đấu. Lệnh của trên là: đánh vào Cần Thơ, đánh lớn và chuẩn bị khả năng đánh dài ngày. Vậy là mọi chuyện đã rõ! Sau này qua nghiên cứu, tìm hiểu, mới biết Tết Mậu Thân 1968 Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương Tổng tiến công và nổi dậy (khi đó gọi là Tổng công kích - tổng khởi nghĩa) đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam trọng tâm là đánh vào Sài Gòn, Huế, Cần Thơ…, đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của địch. Ta muốn giáng một đòn quyết định, chấp nhận tổn thất, nhưng phải ra một đòn chiến lược, như lời của đồng chí cố Tổng Bí thư của Đảng - Lê Duẩn là: phải làm một cú “bombarder” - đánh bom, làm cho tung tóe ra - làm lung lay, đi tới đánh gục ý chí xâm lược của đối phương, tạo khúc ngoặt quyết định buộc Mỹ từng bước “xuống thang”, chiến tranh xâm lược.

        Bước vào chiến dịch, theo kế hoạch, Tiểu đoàn 303 xuất phát trước; sau đó là Tiểu đoàn 307 rồi đến tiểu đoàn tôi. Trước ngày xuất quân, đơn vị nào cũng tổ chức lễ tuyên thệ; cán bộ, chiến sĩ cùng nắm tay xin thề quyết giành thắng lợi, dù có phải hy sinh và hẹn cùng nhau đón xuân mới tại thành phố Cần Thơ.

        Ngày 29 Tết (30 tháng 1 năm 1968), Tiểu đoàn 303 và Tiểu đoàn 307 chính thức xuất quân. Do ở xa, nhận nhiệm vụ muộn hơn, nên chiều 30 Tết, Tiểu đoàn 309 mới được lệnh hành quân. Thật khó tả nổi tâm trạng của mỗi người lính chúng tôi lúc đó. Vào đúng thời điểm lắng đọng nhất, thiêng liêng nhất của một năm - thời điểm cần sự hội ngộ, giao hòa… thì chúng tôi lại ba lô, súng ống lên đường, xuống thuyền hướng về lộ Vòng Cung. Đi qua xóm ấp nào, bà con cô bác nơi đó đều chặn lại thăm hỏi, tặng quà. Đặc biệt, bà con tuyến lộ Vòng Cung, mặc dù nằm trong vòng kiềm tỏa của kẻ địch, vẫn hồ hởi đón rước chúng tôi với tình cảm sâu đậm hơn cả người thân. Nhiều má, nhiều em đứng lặng nhìn đoàn thuyền lặng lẽ lao đi trên những dòng kinh trong chiều 30 Tết, mà không cầm được nước mắt. Toàn tiểu đoàn hành quân suốt đêm 30 Tết. Phút giao thừa thiêng liêng, cũng như mấy cái Tết qua, với chiếc rađiô mang theo, chúng tôi hồi hộp nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết. Thật xúc động biết bao, trong cái mênh mông thăm thẳm của đêm 30, trong thời khắc giao chuyển đất trời, chúng tôi nghe trọn lời thơ của Bác:

                                     “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
                                     Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
                                     Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
                                     Tiên lên!
                                     Toàn thắng ắt vế ta”.


        Vậy là, ra trận lần này, hành trang, sức mạnh của chúng tôi không chỉ là súng đạn, lòng căm thù giặc, mà còn có tình thương yêu sâu nặng của bà con cô bác gần xa, tình quê hương gia đình từ phương Bắc gửi gắm và trên hết là lời động viên, mệnh lệnh chiến đấu của Bác Hồ. Không ai bảo ai, chúng tôi thầm hứa với Bác sẽ quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:24:57 AM

        Khoảng 8 giờ sáng mùng 2 Tết, tiểu đoàn hành quân vào ngoại ô thành phố. Hành quân liên tục nửa ngày, một đêm, anh em phản ảnh lên rằng bộ đội đói quá; mặc dù có bánh trái bà con dúi cho dọc đường. Sau mấy phút hội ý Ban chỉ huy, anh Tư Trạch - Tiểu đoàn trưởng quyết định cho bộ đội dừng lại, thổi cơm. Chỉ sau một giờ, bộ đội tổ chức ăn uống xong, chúng tôi phát lệnh tiến công đánh chiếm các mục tiêu: Khu văn hóa, đồn cảnh sát trên đường Tự Đức (nay là đường Lý Tự Trọng)… Tuy nhiên, tình thế ở Cần Thơ đã có những biến chuyển bất lợi cho ta. Sau một ngày bị Tiểu đoàn 303, Tiểu đoàn 307 cùng Tiểu đoàn Tây Đô… bất ngờ tiến công, gây cho một số tổn thất, Trung đoàn 31 ngụy, Tiểu đoàn 44 biệt động quân… đã phân tuyến phản kích lại; đồng thời tư lệnh Vùng 4 ngụy đã lệnh huy động máy bay, pháo oanh kích dữ dội, hòng đánh bật lực lượng của ta khỏi hệ thống công sự trận địa để dễ bề tiêu diệt. Vì vậy cả hướng tiến của hai tiểu đoàn bạn cũng như Tiểu đoàn 309 chúng tôi đều gặp khó khăn. Suốt ngày mùng 2 và mùng 3 Tết, ta không tiến thêm được. Các đơn vị đều bị tổn thất.

        Trước tình hình đó, Ban chỉ huy thống nhất lệnh cho các đơn vị rút quân khỏi nội ô Cần Thơ. Chấp hành mệnh lệnh trên, ngày mùng 4 Tết (ngày 2 tháng 2) chúng tôi tổ chức cho tiểu đoàn lùi ra lộ Vòng Cung, đóng ở xã Bình Thủy, thiết lập trận địa đánh địch phản kích; bổ sung lực lượng, chuẩn bị vào Cần Thơ đánh tiếp. Dọc đường rút lui, các đơn vị đều bị phi pháo địch oanh kích, đánh chặn quyết liệt, nhất là Tiểu đoàn 303 - đơn vị đánh vào thị xã sâu nhất. Bộ đội vừa chiến đấu mở đường rút quân, vừa chuyển thương binh, tử sĩ ra vùng ven.

        Trên tuyến chốt giữ ở lộ Vòng Cung, tiểu đoàn tôi cùng đơn vị bạn liên tục chiến đấu đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch. Điển hình là trận đánh địch phản kích của Tiểu đoàn 307 ở khu vực Mường Củi xã An Bình vào ngày mùng 4 Tết, ta diệt trên 100 tên địch. Tiếp đó, ngày mùng 8 Tết, Tiểu đoàn 309 đã tổ chức một trận xuất sắc, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn dù thuộc lực lượng tổng trù bị của Bộ tư lệnh Vùng 4 đến phản kích, diệt hàng trăm tên.

        Thời gian này, qua theo dõi rađiô, tôi biết được cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đã nổ ra đồng loạt trên khắp chiến trường miền Nam. Quân giải phóng đã tiến công làm chủ hoàn toàn thành phố Huế, đánh vào tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bộ Tổng tham mưu ngụy,… Tin chiến thắng toàn Miền làm ngây ngất lòng người; động viên, cổ vũ chúng tôi tiếp tục chiến đấu góp phần tạo nên khúc tráng ca chào Xuân 1968. Tuy nhiên, do cách tính lịch giữa hai miền khác nhau, nên miền Trung đã nổ súng trước Nam Bộ một ngày. Bị đánh động từ trước, Vùng 4 chiến thuật đã có một khoảng thời gian bố phòng. Yếu tố bí mật, bất ngờ không còn đối với chúng tôi khi đánh vào Cần Thơ. Đây là một điều bất lợi.

        Để tăng cường sức phòng thủ cho Vùng 4 chiến thuật, trung tuần tháng Giêng Mậu Thân, một bộ phận thuộc Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm đã được tung xuống Cần Thơ. Để dọn đường, chuẩn bị bãi đáp cho quân Mỹ, đồng thời cũng để cho “cộng quân” thấy sức mạnh của quân viễn chinh Mỹ, bởi đây là lần đầu tiên lính Mỹ xuống chiến trường miền Tây, địch đã huy động tối đa hỏa lực các cụm pháo ở Cần Thơ, Vị Thanh…, pháo các hạm tàu trên sông Hậu cấp tập hàng nghìn quả vào tuyến lộ Vòng Cung. Hết pháo đến bom. Đất trời Cần Thơ quay cuồng, nghiêng ngả vì mưa bom bão đạn. Nhà cửa đổ sập, cây cối bị tiện đứt đổ rào rào. Mặt đất rung lên từng chập.

        Sau hàng giờ oanh kích dữ dội, tưởng chúng tôi đã tiêu biến thành tro, nếu không sớm lui quân, Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 9 lính Mỹ được trực thăng đổ xuống Cần Thơ. Ngay sau khi chạm đất, được sự hỗ trợ của ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn thiết giáp ngụy, Tiểu đoàn 3 Mỹ tiến hành phản kích vào các xã An Bình, Long Tuyền, Mỹ Khánh, Giai Xuân,…

        Lần đầu tiên đối đầu với chủ lực Mỹ, trong tình thế đã hơn nửa tháng trời quần nhau với quân ngụy, thương vong nhiều, đã có anh em tỏ vẻ lo lắng. Ban chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi hội ý trong chốc lát, xác định phải nắm chắc đối tượng tác chiến là lính Mỹ - từ đó phân tích để cán bộ, chiến sĩ ta thấy được mặt mạnh, mặt yếu của chúng, xây dựng quyết tâm đánh thắng Mỹ. Với tinh thần đó, tôi cùng tiểu đoàn trưởng chọn vị trí thích hợp ở sở chỉ huy theo dõi kỹ mọi diễn biến tình hình, đặc biệt là hành động thực hành chiến đấu của lính Mỹ.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 06:27:50 AM

        Sau một chập cho pháo bầy, máy bay oanh kích giữ dội dọn bãi, lính Mỹ đứa nào đứa nấy đầu đội mũ sắt, quần áo rằn ri màu xanh lá cây, thắt lưng treo kín đạn cối cá nhân M79 lừng lững tiến về phía chúng tôi. Quân Mỹ bố trí đội hình, động tác cá nhân hết sức bài bản; nhưng độ tinh ranh, khôn khéo lợi dụng địa hình địa vật… thì kém xa quân ngụy. Qua theo dõi, chúng tôi thấy lính Mỹ có ưu thế vượt trội về hỏa lực, tác chiến trong thế phân tuyến; nhưng sẽ khó khăn nếu chúng ta bám riết, đánh gần; phát huy cao độ sự nhanh nhạy, dũng mãnh của từng chiến sĩ. Thú thực, lúc đó, chúng tôi chưa được phổ biến kinh nghiệm “bám thắt lưng Mỹ mà đánh” của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đúc kết qua thực tiễn chỉ đạo đánh Mỹ ở miền Trung, miền Đông Nam Bộ, mà chỉ tư duy trực quan.

        Từ kết luận bước đầu: đánh Mỹ không khó, chúng tôi tập trung làm công tác tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ, động viên anh em tích cực chuẩn bị, đặc biệt chú ý củng cố công sự thật vững chắc để giáng một đòn phủ đầu đối với quân Mỹ.

        Ngày 19 tháng 2, quân Mỹ được hỗ trợ của bộ binh ngụy và pháo binh bắt đầu phản kích vào tuyến phòng thủ của các tiểu đoàn 309, 307, 303 ở khu vực lộ Vòng Cung. Cũng như các tiểu đoàn bạn, Tiểu đoàn 309 đã chiến đấu kiên cường, trụ bám từng căn nhà, bờ đất, quần lộn với địch. Suốt một ngày, địch không chọc thủng trận địa phòng ngự của tiểu đoàn; mặc dù cây cối, nhà cửa đổ nát, xóm ấp tan hoang. Cuối ngày, địch đóng cụm lại ở Ngả Bát - rạch Nước Lạnh, gần đội hình Tiểu đoàn 309. Ngày hôm sau, thừa lệnh chỉ huy lữ đoàn, Tiểu đoàn 309 tập trung lực lượng tập kích cụm quân địch ớ Ngả Bát. Lực lượng địch ở đây chừng một tiểu đoàn. Trận đánh diễn ra gần một giờ. Địch núng thế, phải lùi về chốt ở một ví trí cách chúng tôi gần 300 mét, bỏ lại gần một trăm xác chết. Chúng tôi thu được gần bốn chục máy móc các loại; nhưng trận này tiểu đoàn tổn thất nặng, hy sinh gần 200 cán bộ, chiến sĩ, chủ yếu do pháo địch bắn trúng đội hình trong quá trình tiềm nhập cụm quân địch. Sau vài ngày, chiến sự vẫn diễn ra ở thế đôi công, tiểu đoàn tôi được lệnh lùi về bên kia rạch Miếu Ông. Tiểu đoàn 303 và Tiểu đoàn 307 tiếp tục ở lại quần nhau với quân Mỹ.

        Sau khi sang rạch Miếu Ông, tiểu đoàn tổ chức nhiều trận tập kích, phản kích Sư đoàn 21 ngụy; giam chân lực lượng này ngoài đồng trong một thời gian khá dài, “chia lửa”, tạo điều kiện cho đơn vị bạn đánh địch ở vùng ven thành phố. Trong một trận đánh ở khu vực rạch Miếu Ông, tôi bị thương ở mông; cũng may chỉ dính đạn ở phần mềm, nên anh em sát trùng, băng bó qua loa là tôi tiếp tục chỉ huy chiến đấu được. Đây là lần thứ ba tôi bị thương trong chiến đấu.

        Thực tiễn chiến đấu trên chiến trường miền Tây giúp chúng tôi khái quát một kinh nghiệm “xương máu” là: để giảm thương vong, đánh địch có hiệu quả, cần phải tích cực cơ động. ngoài những trường hợp nhất thiết phải cấu trúc trận địa phòng ngự kiên cố, dài hơi, phải thường xuyên thay đổi vị trí đóng quân. Nay chỗ này, mai chỗ khác “lai vô ảnh - khứ vô tung” - như chiến thuật du kích người xưa từng dạy. Với chiến thuật đó, kẻ địch sẽ chẳng biết đâu mà lần, luôn luôn ở vào thế bất ngờ bị ta tập kích… Cũng với tinh thần đó, sau một thời gian chốt giữ ở rạch Miếu Ông, chúng tôi tổ chức cho tiểu đoàn chuyển sang rạch Lò Rèn. Nhưng lần này, do địch cảnh giác, điều nghiên từ trước, nên khi tiểu đoàn hành quân về vị trí mới, vừa ổn định đội hình thì tư lệnh Vùng 4 ngụy điều ngay tiểu đoàn thủy quân lục chiến đánh tạt sườn chúng tôi. Từ hạm đội trên sông Hậu, tiểu đoàn thủy quân lục chiến đổ bộ, kết hợp phi pháo, nhanh chóng tập kích vị trí đứng chân của chúng tôi, hòng “cất vó” gọn tiểu đoàn. Nhưng lính U Minh đâu dễ để cho địch muốn làm gì thì làm. Suốt mấy ngày chúng tôi quần nhau với địch, cả lính thủy đánh bộ, cả phi pháo. âm mưu “cất vó” bất ngờ của địch không thực hiện được, ta tiêu diệt một phần sinh lực địch; thu nhiều súng đạn, máy thông tin.

        Tuy nhiên, cầm cự dai dẳng với địch hàng tháng ròng, lực lượng của tiểu đoàn cũng hao hụt dần. Có đại đội khi vào Cần Thơ với trên một trăm cán bộ, chiến sĩ, sau hai tháng quần lộn với địch, chỉ còn trên 10 tay súng; toàn tiểu đoàn còn trên một trăm quân. Các đơn vị đều phải căng mình ra, chiến đấu hết trận này sang trận khác, đánh địch triền miên; không còn thời gian, điều kiện để củng cố lực lượng. Công tác đảm bảo cho bộ đội chiến đấu gặp muôn vàn khó khăn; vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm vơi dần…; ăn uống, sinh hoạt của bộ đội ngày một khó khăn. Chiến sự ác liệt, đạn bom dữ dằn suốt ngày này sang ngày khác, sinh hoạt khó khăn thiếu thốn; thương vong nhiều… đã làm cho một số anh em nhụt chí, có chiến sĩ đã bỏ về tuyến sau.

        Biết là tình thế hết sức khó khăn, nhưng chấp hành lệnh của trên, tiểu đoàn tổ chức cho bộ đội tiếp tục đánh giam chân Sư đoàn 21 ngụy đến đầu tháng 4, và chủ động chờ thời cơ để đánh vào Cần Thơ đợt 2.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 07:40:56 PM

        Ngày 9 tháng 4 năm 1968, tại ấp Ba Dọi giáp lộ Vòng Cung, tiểu đoàn với trên một trăm tay súng còn lại đã đẩy lùi nhiều đợt phản kích của một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 21 ngụy. Trận đánh diễn ra trên cánh đồng gần ấp Ba Dọi. Lúc này, bà con vừa thu hoạch vụ xuân - hè xong. Đồng trống trải càng trống trải hơn khi lực lượng của tiểu đoàn còn lại rất mỏng, đạn gần cạn. Trong khi đó, địch ngoài bộ binh còn có phi pháo yểm trợ. Máy bay cường kích cho là ta không có hỏa lực phòng không, nên bổ nhào rất thấp, bắn đạn 20ly sát sàn sạt. Đạn bay chíu chíu qua đầu, bên tai tôi. Trong tình thế đó, tôi trực tiếp đứng trên bờ công sự chỉ huy chiến đấu, cùng anh em chỉ huy đại đội dõi theo từng động thái của địch; đợi cho chúng đến thật gần, thật chắc ăn mới lệnh cho bộ đội nổ súng. Khi đó, đường đạn đi thật căng, tuy ta điểm xạ vài phát một, nhưng địch rất sợ. Cũng vì đánh gần như là giáp lá cà, nên chúng tôi nghe rõ địch đã gọi tên tôi rất to. Sĩ quan ngụy đang hò bét quân lính xông lên, quyết bắt sống Ba Trà và bộ đội Ba Trà… Dù lực lượng mỏng, nhưng với cách đánh hợp lý, chúng tôi vẫn cầm chân được quân ngụy. Trong trận này, đang chỉ huy bộ đội đánh bộ binh, thấy máy bay địch bổ nhào “ngon ăn” quá, tôi vớ ngay khẩu AK, nhằm một chiếc F.105 đang bổ nhào, siết cò. “Con ma” Mỹ đang diễu Võ dương oai, bất ngờ dính đạn, loạng choạng tìm đường cút, nhưng không kịp, rơi ở địa bàn lân cận. Huyện đội Châu Thành đã xác nhận máy bay rơi bởi dính đạn bộ binh. Quả thật, tôi không ngờ, từ một phản xạ có phần “ngẫu hứng”, với chừng 15 viên đạn AK, tôi đã làm nên chuyện. Nhưng cũng trong trận đánh đầy ấn tượng này, một lần nữa, tôi bị thương nặng. Vào tầm trưa hôm đó, tôi đang đứng cạnh hầm của Ban chỉ huy tiểu đoàn, trực tiếp chỉ huy bộ đội chiến đấu, bất thần một quả đạn pháo lởn rơi trúng hầm. Tôi bị mảnh đạn pháo phạt gãy chân. Còn hầm chỉ huy bị bốc hết đất phủ, trơ xương cột. Mấy anh em trong hầm không ai sây sát gì - nhưng khi khói pháo tan, anh nào anh nấy tai ù đặc, cứ ngơ ngơ ngác ngác trông đến tội. Còn tôi bị choáng nặng, ngất lịm đi, đến quá chiều mới tỉnh.

        Trận đánh ở ấp Ba Dọi kết thúc cũng đồng thời kết thúc đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy ở chiến trường miền Tây nói chung và cuộc tập kích vào thành phố Cần Thơ nói riêng. Đầu tháng 4, lần lượt các tiểu đoàn chủ lực của khu rút khỏi khu vực lộ Vòng Cung, lùi về tuyến sau, chuẩn bị cho tiến công đợt 2.

        Với đòn tiến công Bộ tư lệnh Vùng 4 chiến thuật, lần đầu tiên trên chiến trường miền Tây, ta đã đưa chiến tranh vào Tây Đô - vào sào huyệt của địch; lần đầu tiên, Mỹ buộc phải tung quân viễn chinh xuống Cần Thơ và buộc phải chấp nhận tổn thất.

        Cùng với đòn tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, 36 thị xã, hàng trăm thị trấn trên khắp miền Nam, đòn tiến công của chủ lực Khu 9 vào Cần Thơ, Vĩnh Long đã góp phần chuyển cuộc chiến tranh ở miền Nam sang giai đoạn mới; góp phần cảnh tỉnh cho Mỹ - ngụy thấy trên đất nước này không có thành phố nào, thôn ấp nào là chỗ dung thân của các thế lực hiếu chiến, xâm lược. Về tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, trong đợt này, các tiểu đoàn 309, 303, 307 - chủ lực của quân khu đánh vào Cần Thơ, đã tiêu diệt hơn 1.500 tên địch, làm bị thương 1.409 tên; bắn rơi, phá hủy hơn 100 máy bay, 8 khẩu pháo… Tuy nhiên, để có được chiến thắng mang tầm ý nghĩa chiến lược sâu sắc như vậy chúng ta đã phải chấp nhận tổn thất lớn. Riêng tiểu đoàn chúng tôi, ngày xuất quân với 7 đại đội đủ quân, xấp xỉ một nghìn tay súng, sau khi kết thúc đợt 1, chỉ còn trên một trăm cán bộ, chiến sĩ. Có tiểu đoàn, khi đánh vào Cần Thơ bộ đội ngồi chật cả trăm xuồng, khi ra chỉ vài chục chiếc, mỗi chiếc chở vài ba anh em. Đành rằng, trong chiến tranh, không phải lúc nào cũng lấy việc “đếm xác” của binh sĩ hai bên trên chiến trường để kết luận sự thắng bại; nhưng để tổn thất lớn là điều chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ; đặc biệt đối với chúng tôi là những người cầm quân trên chiến trường.

        Chiến sự ác liệt, tổn thất hy sinh hằng ngày đã làm một số anh em nao lòng, nhụt chí. Tôi nhớ, khi đó anh em trong đơn ví đã truyền nhau mấy câu lục bát:

Vòng Cung đi dễ khó về
Đạn chen đầu đạn, bom kề hố bom.

        Hay là:

Tưởng là lên lộ đi xe
Ai ngờ trở lại không ghe, không xuồng.

        Rồi thì chủ nhân của mấy câu lục bát ấy - một phóng viên mặt trận, cũng bị phát hiện và chịu nhận hình thức cảnh cáo. Bây giờ nói lại chuyện này, có thể ai đó cho rằng “Sao ngày ấy mọi chuyện ghê gớm thế, chỉ vài câu đầu lưỡi mà cũng quy kết…”. Suy nghĩ như vậy chỉ có thể hợp lý với ngày hôm nay. Còn lúc đó, mọi biểu hiện của sự dao động, hay gây nên dao động, đều không thể chấp nhận, nếu không nói là xúc phạm tới hàng trăm đồng đội chúng tôi ngã xuống trên lộ Vòng Cung, để góp phần viết nên bài thơ Xuân 1968.

        Thời gian trôi như phi mã! Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày tôi cùng đồng đội bám trụ chiến đấu trên lộ Vòng Cung vào Tết Mậu Thân 1968; cho dù cuộc đời binh nghiệp của tôi còn trải qua bao sự kiện lớn lao, vào sống ra chết nhiều lần, nhưng trong tôi vẫn không bao giờ lơi lạt hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 309, tiểu đoàn 303, 307, đã chiến đấu kiên cường, anh dũng hy sinh. góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên một Tết Mậu Thân - một sự kiện “quan trọng nhất và phức tạp nhất”1 của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Tôi cũng không thể nào quên được những người dân dọc trục lộ Vòng Cung, suốt mấy tháng ròng, bất chấp sự đánh phá khốc liệt của địch, đã bền gan, sát cánh cùng bộ đội chiến đấu, phục vụ tải thương, tải đạn, tiếp tế cơm nước, cứu chữa thương binh, chôn cất tử sĩ… Nhiều gia đình đã không ngần ngại dỡ nhà, lấy gỗ ván cho bộ đội làm công sự chiến đấu… Sau Tết Mậu Thân 1968, tôi đã cùng đơn vị trở lại đánh địch ở trục lộ Vòng Cung nhiều lần và sau ngày chiến tranh kết thúc, đã đi về trên trục lộ này không biết bao nhiêu lần. Lần nào cũng vậy, kỷ niệm xưa lại trỗi dậy, khiến tôi xúc động bồi hồi, muốn được quỳ xuống hôn lên từng mảnh đất in dấu chân hành quân hay úp mặt xuống dòng kênh đã nâng đỡ những con thuyền của anh em tôi ngày ấy; hôn từng nắm đất thấm đẫm mồ hôi và máu của biết bao đồng chí, đồng bào và của chính mình một thời trai trẻ…

------------
        1. Nhận xét của học giả người Mỹ. G. Côncô trong tác phẩm “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”, Nxb Quân đội nhân dân, xuất bản các năm 1991, 2000.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 07:47:40 PM
         
*

*       *

        Kết thúc Tổng tiến công Mậu Thân 1968 đợt 1, tôi bị thương, trong trận đánh ở ấp Ba Dọi và được chuyển xuống điều trị tại bệnh viện của quân khu ở U Minh Thượng. Nói là bệnh viện quân khu nhưng cơ ngơi cũng chẳng khác gì một bệnh xá dã chiến. Thuốc chiến thương chẳng có gì. Thay cho truyền huyết thanh hay glucô, y bác sĩ ở đây phải truyền nước dừa cho thương binh. Trong khi đó, vết thương lần này của tôi so với mấy lần trước cũng khá nặng. Thuốc thang khan hiếm, chỉ với mấy món lá cây đắp rịt, mặc dù các y, bác sĩ nhiệt tình chăm sóc, nhưng đến tháng 9 năm 1968, nghĩa là sau 5 tháng, vết thương của tôi mới khỏi hẳn, sức khỏe tạm bình phục.

        Thời gian tôi điều trị vết thương ở U Minh Thượng, ở nhà, Tiểu đoàn 309 và các đơn vị bạn tiếp tục đánh vào Cần Thơ hai đợt nữa; có gây cho địch một số tổn thất, nhưng mục đích làm chủ hoàn toàn thành phố không thực hiện được. Khi địch chủ động tập trung binh lực phản kích, khi mà yếu tố bí mật bất ngờ không còn, thì tổn thất của ta cũng tăng thêm. Nằm bệnh viện, đón nhận tin tức từ mặt trận, tôi như thấy mình có lỗi với chiến trường, có lỗi với anh em đồng đội đang ngày đêm đối mặt với kẻ địch. Chỉ mong sao vết thương chóng lành để được trở lại đơn vị.

        Cũng trong thời gian tôi nằm viện, tổ chức biên chế bộ đội chủ lực của quân khu cũng có một số thay đổi. Thực tế chiến trường trong Tổng tiến công đợt 1, cho thấy việc tổ chức tác chiến đội hình lữ đoàn còn nhiều vấn đề bất cập - nhất là trình độ tác chiến hiệp đồng. Trước tình hình đó, cuối tháng 4 năm 1968, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định giải thể Lữ đoàn 3117, thành lập lại hai trung đoàn bộ binh. Trung đoàn 1 biên chế Tiểu đoàn 309 và Tiểu đoàn 303. Trung đoàn 2 có Tiểu đoàn 307 và Tiểu đoàn 962. Tiểu đoàn Tây Đô trở về thuộc Tỉnh đội Cần Thơ.

        Sau khi ra viện, tôi được quân khu điều về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 29 cảnh vệ vừa mới thành lập, có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu. Nhưng có thể, do cái tạng người tôi, tính cách tôi không hợp với lính cảnh vệ, nên chỉ sau hai tháng ở với Tiểu đoàn 29 tôi được điều lên làm Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng Trung đoàn 2. Lúc này, Trung đoàn 2 đang đứng chân hoạt động ở địa bàn ven thành phố Cần Thơ, khu vực lộ Vòng Cung và huyện Ô Môn.

        Đảm trách những địa bàn có thể nói là ác liệt nhất ở Cần Thơ khi đó, Trung đoàn 2, mặc dù lúc này lực lượng thiếu hụt rất nhiều, mỗi tiểu đoàn có khi chỉ trên một trăm tay súng, nhưng cũng đã tổ chức một số trận đánh hay, đạt hiệu suất cao. Đáng kể nhất là trận đánh sân bay Bình Thủy.

        Thời gian này, sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) vừa mới hình thành, nên máy bay địch ở Vùng 4 chủ yếu đỗ ở sân bay Bình Thủy. Trung bình thường có khoảng 100 chiếc. Qua theo dõi nắm địch, chúng tôi thấy địch ở sân bay khá chủ quan; ta có thể áp dụng tốt chiến thuật đặc công để phá hủy máy bay địch. Một thuận lợi nữa là ta có được một cơ sở - một đảng viên, nhà ở sát sân bay. Cơ sở này theo dõi sát sao tình hình địch. Theo quy ước, ban đêm khi chúng tôi đì trinh sát, hay tập kích sân bay, nếu nhà anh này đỏ đèn, tức là không có địch tuần phòng và ngược lại.

        Để đảm bảo nắm địch thật chắc, tôi cùng cán bộ Tiểu đoàn 2012 đặc công và Tiểu đoàn 327 nhiều lần trinh sát thực địa. Phải nói rằng đi trinh sát sân bay Bình Thủy cực kỳ vất vả. Đêm đêm, anh em chúng tôi anh nào anh nấy, áo và quần dài cột cổ, chỉ bận mỗi quần cộc vượt qua bao ruộng trũng, sình lầy, chui rúc trong mấy đám dừa nước, gai góc cào tưa tướp tay chân, mặt mũi…; luồn sâu vào nắm cụ thể từng vị trí máy bay đỗ…

        Sau gần hai tháng trinh sát nắm địch, chúng tôi hoàn chỉnh quyết tâm trận đánh. Về đại thể, chúng tôi đã sử dụng một bộ phận tỉnh nhuệ - dũng cảm của Tiểu đoàn 2012 đặc công đột nhập sân bay, dùng mìn, bộc phá phá hủy máy bay; Tiểu đoàn 307 có nhiệm vụ tập kết ngoài sân bay để giữ đường lui quân của toàn đơn vị.

        Nghe chúng tôi trực tiếp báo cáo quyết tâm trận đánh, anh Tư Đức - Tư lệnh phó tiền phương quân khu chưa thật tin tưởng. Anh cho rằng trận đánh sẽ không đơn giản, không ngon ăn như khẳng định của trung đoàn, và anh chỉ thị tiếp tục nắm địch, nghiên cứu cách đánh, chờ dịp khác thuận lợi hơn. Nhưng rất may là liền sau đó, anh Năm Hải - quyền Tư lệnh tiền phương quân khu xuống nắm tình hình đơn vị; chúng tôi trình bày quyết tâm đánh sân bay Bình Thủy, phương án đánh… Nghe tôi trình bày xong, anh Năm Hải hỏi:

        - Tổ chức trinh sát kỹ chưa?

        - Báo cáo rất kỹ, đã ngót hai tháng rồi - tôi trả lời.

        - Cơ sở của ta ở gần sân bay có tin tưởng không?

        - Rất tin, ảnh là đảng viên có uy tín.

        - Đánh chắc thắng không?

        - Chắc trăm phần trăm.

        - Vậy thì đánh ngay, chớ còn chờ gì nữa! Anh Năm Hải kết luận.

        Mừng hết chỗ nói! Không bỏ lỡ thời cơ, chúng tôi triển khai đánh ngay. Như phương án đã bàn, Tiểu đoàn 2012 chọn một lực lượng tháo vát, dũng cảm nhất, trình độ kỹ thuật cá nhân, kỹ thuật thuốc nổ khá, bí mật tiềm nhập vào sân bay, gắn mìn, bộc phá hẹn giờ vào từng chiếc máy bay, rồi nhanh chóng rút êm. Khi anh em đặc công trở ra vị trí tập kết đầy đủ, cũng là lúc mìn, bộc phá phát nổ đồng loạt. Sân bay Bình Thủy bao trùm lửa khói. Gần sáu chục máy bay trực thăng bị phá hủy. Lửa cháy rực sáng một góc trời. Anh em chúng tôi ôm nhau, sung sướng tột cùng, mà không thể thốt nên lời. Đêm đó chúng tôi chưa lui quân ngay, mà còn ém lại ở một ấp gần sân bay, tránh kẻ địch cho phi pháo oanh kích chặn đường.

        Trận đánh gây chấn động mạnh. Địch tưởng rằng chí ít chúng tôi cũng phải tập trung cỡ vài tiểu đoàn đủ cho trận tập kích này. Nên chúng đã huy động pháo và B.52 ném bom ngăn chặn đường rút của ta. Nhưng chúng đâu ngờ, chỉ với hơn trăm cán bộ, chiến sĩ, chúng tôi đã đánh nhanh, diệt gọn và rút gọn, không hề thương vong một ai.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 07:51:18 PM

*

*       *

        Trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968 trên chiến trường Khu 9 ta giành được thắng lợi quan trọng. Tuy nhiên, cũng như trên toàn chiến trường miền Nam, ta chuyển hưởng không kịp thời, nhất là các tỉnh vùng trung tâm sông Hậu; vẫn bám vùng ven Cần Thơ đánh dai dẳng. Trong khi đó, quân địch còn đông, đủ thời gian để củng cố, hồi tỉnh sau cú choáng váng ban đầu, tăng cường phản kích, giành lại vùng nông thôn đã mất. Về ta, cả chủ lực khu và bộ đội các địa phương đều bị tiêu hao nặng, mất sức chiến đấu. Có thời điểm toàn Trung đoàn 1 chỉ còn chừng năm trăm tay súng. Địch tập trung lực lượng của Sư đoàn 9, Sư đoàn 21 ruồng càn liên tục. Ta chủ động tránh càn, luồn càn. Thời gian này, trung đoàn hoạt động ở Long Mỹ, Gò Quao - dọc theo tuyến sông Cái Lớn. Địch càn nơi này, ta cơ động sang chỗ khác. Vài ngày lại thay đổi chỗ đóng quân. Địch biết là chúng tôi vẫn bám trụ rất gần chúng, nhưng cũng chẳng làm gì được nhau. Địch vừa xác định được điểm đóng quân của chúng tôi hôm trước, thì hôm sau cho sáu chục chiếc trực thăng đổ quân, hoặc tàu bè tập kích định chụp bắt, thì bộ đội ta với xuồng ba lá đã luồn lách sang chỗ khác rồi.

        Chính trong những ngày trên chiến trường quân và dân ta đang đối mặt với biết bao khó khăn, ác liệt, mất mát, hy sinh, thì chúng ta lại phải chịu cái tang lớn - Bác Hồ đi xa. Chúng tôi nhận được tin Bác mất khi đơn vị lui về đứng chân ở Vĩnh Viễn.

        Đêm mùng 3 tháng 9 năm 1969, với chiếc rađiô luôn bên người, qua giọng đọc buồn đến thắt lòng của nam phát thanh viên, tôi được tin Bác Hồ từ trần. Như có bàn tay vô hình cấu xé con tim. Một mất mát, đớn đau tột cùng. Đã tự nhủ lòng nuốt nước mắt vào trong, tránh xao lòng cán bộ, chiến sĩ, nhưng trong đêm tôi đã bật khóc. Cảm xúc đau thương không thể gì kìm nén được Trốn vào đêm, tôi lẳng lặng ra ngồi bên hiên nhà khóc tấm tức, cứ nghĩ là không ai biết. Nhưng đâu ngờ chiến sĩ liên lạc không bỏ qua một động thái của tôi. Chờ cho trời sáng, cậu ta hỏi:

        - Đêm qua có chuyện gì mà chú Ba khóc dữ thiệt, con không hiểu?

        Không thể giấu được các em, tôi buồn bã nói:

        - Các em ơi, Bác Hồ của chúng ta mất rồi!

        Tin Bác Hồ mất lan nhanh, choàng phủ không khí mất mát, tiếc thương tới từng xóm ấp.

        Có điều, sau ngày Bác đi xa, tôi lại cùng hiểu sâu thêm tình cảm sâu nặng của người dân miền Nam đối với Bác Hồ. Bất chấp sự khống chế, kìm kẹp gắt gao của chính quyền, binh lính ngụy, bà con ở Lương Tâm, Long Mỹ đã lập một ngôi đền thờ Bác Hồ; ngày đêm hương khói. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngôi đền thờ Bác đã được tôn tạo, nâng cấp thành khu tưởng niệm Bác Hồ của người dân Hậu Giang và bà con trong vùng. Mỗi lần có dịp trở lại Lương Tâm, Vĩnh Viễn, tôi đều tới thắp hương tưởng niệm Người ở khu lưu niệm; để nhớ lại, chính trên mảnh đất này, trong những tháng ngày cam go nhất thì hai tiếng Bác Hồ là niềm tin, hy vọng, là sức mạnh nâng bước chúng tôi trên từng chặng hành quân, trong từng trận chiến đấu.

        Vào cuối năm 1969, do lực lượng tổn thất, hao hụt nhiều, biên chế đơn vị nào cũng quá mỏng, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định sáp nhập Trung đoàn 2 vào Trung đoàn 1 và tôi được bổ nhiệm Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng Trung đoàn 1. Biên chế của Trung đoàn 1 lúc này gồm bốn tiểu đoàn (303, 307, 309 và Tiểu đoàn 2012 đặc công). Thời gian này, địch tập trung lực lượng cả hải, tục, không quân mở cuộc hành quân “nhổ cỏ U Minh” lần thứ nhất, tình hình càng xấu hơn. Dù chủ động luồn càn, tránh càn; nhưng vì địch đánh rát quá - đặc biệt là B.52 rải thảm, nên gần như ngày nào cũng có bộ đội thương vong. Trước tình hình đó, đã có ý kiến nên giải thể Trung đoàn 1, chỉ nên duy trì cấp tiểu đoàn. Đang lo lắng bởi tình hình chung, lại nghe tin giải tán trung đoàn, mấy anh em chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn vô cùng trăn trở. Anh Dương Tử đã có lúc bộc bạch cùng tôi:

        - Ba này, tình hình ngó bộ uổi quá. Nếu các ổng giải tán trung đoàn, không hiểu tao và mày đi đâu?

        Mặc dù có cái nhìn khả quan hơn, nhưng là phận em út nên tôi cũng không dám “lên dây cót” tinh thần cho các bậc đàn anh, mà chỉ biết phân bua: Đúng là chưa bao giờ mình khó khăn như lúc này. Nhưng anh em mình cũng phải gắng hết sức, hy vọng là tình hình sẽ khác đi!


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 07:54:57 PM

        Nhìn chung, từ mùa hè năm 1969 đến đầu năm 1970, lực lượng vũ trang Quân khu 9 ít có trận thắng nào cho ra tấm ra miếng. Buồn hơn, chúng tôi còn nghe có lúc đồng chí Tư lệnh quân khu không chỉ huy tác chiến mà trực tiếp đi lo tổ chức chuyển vũ khí từ Cà Mau về U Minh Thượng. Vậy vai trò bao quát chung, công tác chỉ huy tham mưu tác chiến ai lo?…

        Thấu hiểu những khó khăn của Quân khu 9, đầu năm 1969, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền đã điều về U Minh một trung đoàn chủ lực và sau đó tiếp tục bổ sung hai trung đoàn nữa, với trên 8.000 quân. Quân số tuy đông, nhưng ngoài một số cán bộ, cấp tiểu đoàn, đại đội ít nhiều kinh qua chiến đấu, còn đa phần đều là cán bộ, chiến sĩ mới được đưa từ miền Bắc vào, chưa thích nghi với chiến trường sông nước, nên cũng cần có thời gian huấn luyện làm quen với chiến trường mới và thủ đoạn đánh phá mới của địch.

        Điều quan trọng hơn là bộ máy lãnh đạo, chỉ huy quân khu thời gian này đã có một số thay đổi. Đại tá Lê Đức Anh (anh Sáu Nam) - Phó tư lệnh Miền được trên đưa về làm Tư lệnh quân khu thay đồng chí Đồng Văn Cống trở về Bộ Tư lệnh Miền. Đồng chí Võ Văn Kiệt (anh Sáu Dân) được điều về làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy quân khu, thay đồng chí Nguyễn Thành Thơ. Trong thâm tâm, khi đó. tôi vẫn nghĩ đây không chỉ đơn thuần là việc luân chuyển cán bộ, cấp khu, mà còn nhằm tạo sự đoàn kết thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, từng bước tháo gỡ khó khăn, đưa sự nghiệp kháng chiến của quân và dân ta ở miền Tây sang trang mới. Ngày đó, anh em chúng tôi vẫn tâm sự với nhau rằng: chỉ với việc chọn bí danh Chín Hòa của anh Lê Đức Anh và Tám Thuận của anh Võ Văn Kiệt cũng đã mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hòa thuận, đoàn kết, thống nhất cao giữa Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu.

        Lực lượng được tăng cường cùng với bộ máy lãnh đạo, chỉ huy được xốc lại là cơ sở để Quân khu 9 củng cố lại thế trận; khẩn trương điều chỉnh, ổn định tổ chức biên chế, tích cực tiến công địch; đặc biệt tập trung đánh bại cuộc hành quân “nhổ cỏ U Minh” của Mỹ - ngụy.

        Lúc này, qua nghiên cứu tình hình địch, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định tập trung lực lượng mạnh nhất tiêu diệt cụm phòng ngự hỗn hợp Thứ Mười Một của địch. Căn cứ Thứ Mười Một thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nằm án ngữ trên kinh xáng Xẻo Rô - tuyến giao thông thủy quan trọng từ Rạch Giá đi Cà Mau và cắt vào rừng U Minh Thượng. Đây là căn cứ quân sự lớn, là bàn đạp xuất phát hành quân của Mỹ - ngụy xuống đánh phá U Minh. Tại căn cứ này, địch bố trí lực lượng trên ca hai bờ kinh, gồm sở chỉ huy, lữ đoàn thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn 4 và ba đại đội trực thuộc lữ đoàn thủy quân lục chiến, giang đoàn 74 hải quân trên sông (trên 10 tàu)… Tổng số quân ước gần 800 tên, có một số cố vấn Mỹ, do tên đại tá lữ đoàn trưởng lữ đoàn thủy quân lục chiến tổng chỉ huy.

        Lữ đoàn thủy quân lục chiến toàn là lính thiện chiến. Từ trước đến nay, chưa có đơn vị nào của quân khu đánh thắng lữ đoàn này, nên chúng rất hung hăng, ngạo mạn. Cũng vì thế, nếu chúng ta đánh thắng trận này sẽ gây tác động mạnh đối với kế hoạch “nhổ cỏ U Minh” của địch.

        Về phía ta, lực lượng tham gia trận đánh ngoài Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 (mới từ miền Đông về) có Tiểu đoàn pháo hỗn hợp 2311 chi viện. Ban chỉ huy mặt trận do anh Nguyễn Đệ (Ba Trung) - Tham mưu phó quân khu làm Chỉ huy trưởng, anh Vưu Hoài Thanh (Tư Bằng) - Chính ủy Trung đoàn 1 làm Chính ủy, anh Võ Văn Đường (Ba Tôn) - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 và anh Võ Văn Dần (Sáu Hồng) - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 làm chỉ huy phó.

        Đầu tháng 11 năm 1969, Tiểu đoàn 309, nhận lệnh tham gia trận tập kích căn cứ Thứ Mười Một. Lúc này tôi được tăng cường xuống trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 309. Cán bộ, chiến sĩ toàn tiểu đoàn được quán triệt, xác định đây là trận then chốt quyết định nhằm đánh bại cuộc hành quân “nhổ cỏ U Minh” của địch. Trung đoàn 1 đảm nhiệm tập kích trên hưởng chính và Tiểu đoàn 309 đảm nhiệm hướng chủ yếu. Nhiệm vụ đã rõ, vinh dự nhưng cũng rất nặng nề. Đảm nhiệm tập kích mũi chủ yếu, nhưng lực lượng của tiểu đoàn thiếu hụt, vì vậy trung đoàn quyết định tăng cường thêm một số cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 307, nên cũng tạm ổn.

        Chúng tôi còn biết Tư lệnh quân khu Lê Đức Anh đã lệnh cho vét hết đạn trong kho dự trữ của quân khu dồn cho hai trung đoàn, quyết không vì thiếu đạn mà không hoàn thành nhiệm vụ.

        Nhận lệnh hành quân, từ khu vực đứng chân ở Vĩnh Thuận Đông (Long Mỹ), toàn tiểu đoàn lên thuyền, luồn lách theo kênh rạch về khu tập kết ở kinh Chệt Ớt, để từ đó tiếp cận kinh xáng Xẻo Rô.

        Cũng cần nói thêm cách đặt tên kinh xáng ở miền Tây. Kinh thì nhiều người đã rõ. Xẻo là một con rạch nhỏ. Xẻo Bần là con rạch nhỏ có nhiều cây bần mọc hai bên bờ; tương tự như vậy, Xẻo Rô là con rạch nhỏ có nhiều cây Ô Rô ở hai bên,…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 07:57:28 PM

        Không hiểu vì có chỉ điểm hay không, mà trong hai ngày (4 và 5 tháng 11), địch tập trung phi pháo - đặc biệt là pháo ở hạm tàu ở biển bắn vào và ở dọc sông Cái Lớn oanh kích dữ dội vị trí chúng tôi tập kết. Bộ đội lại phải tích cực, chủ động luồn lách tránh né các đợt tập kích hỏa lực và các mũi hành quân sục sạo của địch.

        Do trinh sát nắm khá rõ bố trí của căn cứ địch, cho đến trước giờ “G”, tôi đã cho đồng chí Đại đội trưởng đại đội 1 dẫn một mũi luồn sâu (sáu đồng chí) đem theo một lượng nổ lớn vào “lót” sẵn khu vực chỉ huy của địch. Đúng 1 giờ 5 phút ngày 6 tháng 11, nhận được tín hiệu từ sở chỉ huy trung đoàn, tôi lệnh cho nhóm luồn sâu, ém sẵn phát nổ 8 ký bộc phá, phá hủy hầm sở chỉ huy lữ đoàn địch, đồng thời làm hiệu lệnh cho các đơn vị nổ súng tiến công. Chỉ chờ có vậy, khắp căn cứ địch, cả hai bờ kênh xáng chìm trong khói lửa. Bộ đội ta từ nhiều mũi, nhiều hướng bí mật luồn sâu, áp sát, nay đồng loạt xung phong đánh chiếm mục tiêu được phân công.

        Sau khi diệt sở chỉ huy lữ đoàn thủy quân lục chiến, tiểu đoàn đánh chiếm sở chỉ huy Tiểu đoàn 4 ngụy, trận địa cối 81ly, đại đội thông tin, đại đội công vụ và một đại đội thuộc Tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến; làm chủ cả khu vực từ kinh Kim Quy đến kinh Xã Lập. Đây là một trận tập kích quy mô trung đoàn tăng cường, hiệp đồng bộ binh - pháo binh. Chúng tôi đã vận dụng tốt lối đánh “nở hoa trong lòng địch”, kết hợp lực lượng luồn sâu, ém sẵn trong tung thâm căn cứ đánh ra và các mũi, các hướng tập kích từ ngoài vào; kết hợp sử dụng bộc phá, lựu đạn, bắn găm, bắn gần tiêu diệt địch. Mũi Tiểu đoàn 303, do Ba Đại - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, có nhiệm vụ đánh địch từ kinh Cô Ba Thọ đến kinh Kim Quy, cũng nhanh chóng làm chủ mục tiêu. Ở hướng bờ kinh phía đông, Trung đoàn 2 nhanh chóng làm chủ tình hình; sau đó phối hợp với Trung đoàn 1 diệt một số tàu địch trên kinh xáng Xẻo Rô.

        Sau hai giờ chiến đấu, ta cơ bản làm chủ căn cứ. Lúc này, hàng chục khẩu pháo của địch từ các trận địa vàm xáng Cái Bát, Hoa Lựu,… cấp tập hòng chi viện cho căn cứ Thứ Mười Một; trên trời hàng loạt máy bay trinh sát OV.10, C.47 quần đảo, thả pháo sáng và bắn phá chặn đường rút của bộ đội ta. Sở chỉ huy mặt trận bị trúng mấy chục quả đạn pháo.

        Sau này, tôi nghe anh Ba Trung kể lại: Mấy hôm trước trận đánh, mưa lớn kéo dài. Hầm hố sũng nước. Anh Tư Bằng gọi anh Ba Trung sang hầm của anh để tránh đạn pháo, vì hầm anh Tư khô ráo hơn. Anh Ba Trung chưa kịp chạy qua thì một loạt đạn pháo của địch cấp tập, và một quả trúng hầm anh Tư Bằng chỉ cách hầm anh Ba trăm mét. Anh Tư hy sinh. Con trai anh - cháu Quyết Tiến, theo cha vào bộ đội khi 15 tuổi, nay đã sang tuổi 18, là chiến sĩ vệ binh cũng hy sinh. Tiến không vào hầm mà ngồi trong vỏ lãi theo dõi tình hình, nên dính mảnh đạn pháo. Anh Ba Trung bảo, chỉ cần nhanh chân hơn một chút thì anh cũng đi với anh Tư Bằng và cháu Tiến. Năm đó, anh Tư Bằng mới 40 tuổi.

        Mất anh Tư Bằng, chúng tôi mất một người anh, mất một cán bộ có bản lĩnh, sống giản dị, chân thành, mẫu mực, hết lòng thương yêu bộ đội và luôn tôn trọng ý kiến của anh em, đồng chí…

        Biến đau thương thành hành động, anh Ba Trung với tư cách Chỉ huy trưởng mặt trận lập tức lệnh cho pháo binh ta quay sang kìm pháo địch ở vàm xáng, Cái Bát, Hỏa Lựu; bịt họng pháo địch. Ta phá hủy 4 khẩu 105ly, diệt hàng trăm tên địch ở hai trận địa pháo này.

        Với trận tập kích, tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm phòng thủ hỗn hợp Thứ Mười Một, ta loại khỏi vòng chiến đấu 680 tên địch (có 4 cố vấn Mỹ), tên đại tá lữ đoàn trưởng bị thương đã lợi dụng đêm tối trốn thoát; ta bắn chìm, bắn cháy 8 tàu, phá hủy 6 khẩu pháo (có 3 khẩu 155ly) 11 khẩu cối; thu hàng chục máy thông tin…

        Với thắng lợi của trận tập kích cụm cứ điểm phòng thủ hỗn hợp Thứ Mười Một cùng một loạt trận đánh phối hợp khác trong vùng, ta đã đập tan cuộc hành quân “nhổ cỏ U Minh” lần thứ nhất của địch, buộc chúng phải chấm dứt cuộc bao vây căn cứ Ba Hòn (huyện Châu Thành A, tỉnh Rạch Giá). Địch tổn thất một phần quan trọng lực lượng tổng trù bị từ Sài Gòn xuống chi viện cho Vùng 4 chiến thuật. Các cuộc hành quân bình định tiếp theo của địch vào căn cứ địa U Minh cũng bị phá sản.

        Thắng lợi trận tập kích căn cứ Thứ Mười Một khẳng định bước trưởng thành của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh về trình độ tác chiến hiệp đồng quy mô trung đoàn. Đơn vị bạn và đặc biệt là nhân dân trong vùng phấn khởi, gửi trọn niềm tin vào những chiến thắng mới của Trung đoàn 1 U Minh.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2016, 08:01:57 PM

*

*       *

        Sau thắng lợi tập kích căn cứ Thứ Mười Một, trong đội hình của Trung đoàn 1 U Minh, tôi đưa Tiểu đoàn 309 về Long Mỹ, hoạt động ở vùng địch mới bình định, làm nòng cốt để củng cố phong trào, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân ở vùng yếu, chuẩn bị địa bàn cho việc giành lại vùng ruột Hậu Giang sau này.

        Sau một thời gian ở Long Mỹ, năm 1970 để thăm dò phản ứng của địch, thi hành lệnh của Tư lệnh quân khu, trung đoàn đưa Tiểu đoàn 309 lên đứng chân ở Phụng Hiệp. Lúc này, tôi được bổ nhiệm Trung đoàn phó Tham mưu trưởng, được phân công đi cùng Tiểu đoàn 309. Lên Phụng Hiệp, chúng tôi chọn vị trí đứng chân gần kênh xáng Lái Hiếu. Địa thế đóng quân khá đẹp Tuy nhiên, là địa bàn bình định của địch, nên đồn địch nhan nhản. Ta và địch ở vào thế cài răng lược. Chỗ chúng tôi đóng cách xa đồn địch nhiều lắm cũng chỉ chừng một cây số. Đánh hơi thấy bộ đội U Minh xuất hiện, địch cho pháo bắn thăm dò rất dữ. Dân ở đây về cơ bản bị địch gom vào các “ấp tân sinh”. Hằng ngày, cứ tối tối, bộ đội tìm ra các chòi của dân ở ngoài đồng để ngủ và lấy lương thực do dân cung cấp. Đứng chân ở đây mới được mấy ngày, chúng tôi phát hiện địch từ đồn Cầu Móng đột nhập ấp chúng tôi đóng quân. Một hôm, vào chừng ba giờ rưỡi chiều, nghe tiếng chó cắn rộ lên từ đầu ấp, biết là có địch; như một phản xạ tự nhiên, tôi lệnh cho bộ đội chạy ngược về phía cuối ấp. Địch đuổi theo, liệng lựu đạn tới tấp, nhưng bộ đội không bị thương vong. Phát hiện lực lượng địch không đông, chúng tôi cho một đại đội vòng lại, bủa vây chụp bắt được sáu tên biệt kích.

        Vừa đụng độ với địch - chưa đánh đấm gì lớn, nhưng lực lượng ta đã bộc lộ. Ngày hôm sau, địch tập trung phi pháo, bộ binh đánh dữ. Trung đoàn buộc phải lui về Vĩnh Viễn, Vĩnh Thuận Đông - phía nam Long Mỹ. Ban chỉ huy trung đoàn lại về đứng chân ở khu vực kinh Ba Nước, cuối Vĩnh Viễn, giáp Xà Phiên. Lại những tháng ngày gia đình Hai Phòng, Chín Xê, Hai Hờ,… cưu mang, đùm bọc chúng tôi. Nơi đây thực sự là vùng căn cứ của trung đoàn. Trong chiến tranh ác liệt, khi đạn bom, chết chóc không chừa một ai, mới thấy sự hy sinh của người dân miền Tây vì cách mạng, vì Quân giải phóng là vô bờ bến, vô cùng lớn lao. Ví như ở Vĩnh Viễn, Vĩnh Thuận Đông… dân cả vùng nuôi giấu, tiếp tế từ cân gạo, viên thuốc cho bộ đội. Bộ đội thường trú đóng ở những vườn cây ven kênh rạch, sông ngòi; bà con lấy cớ đi làm đồng, làm vườn mang gạo ra cho chúng tôi, cung cấp tin tức về địch. Dần dần địch đâm nghi, khám thấy dân đi làm đồng mang theo gạo, chúng bắt nhúng nước, hoặc thu hết. Nhưng, bà con vẫn có trăm phương nghìn kế để tiếp tế cho bộ đội. Đêm đêm, bộ đội vẫn ra ruộng, ra vườn lấy gạo, thực phẩm của bà con giấu sẵn, chủ yếu là gạo. Thức ăn thì bộ đội tự kiếm bằng cách bắt cua cá; bằng không có rau thèo lèo làm chủ đạo. Nghĩ lại những năm tháng đó, rất có lý khi nói rằng, cùng với cơm gạo của dân, rau thèo lèo đã nuôi sống bộ đội miền Tây thời đánh Mỹ và thắng Mỹ.

        Cuối năm 1970, nhìn chung trên chiến trường miền Tây, ta gặp khó khăn. Theo tính toán của địch, chiến dịch “nhổ cỏ U Minh” được chúng chia làm ba đợt. Đợt 1 (đến tháng 5 năm 1970) sẽ lấn chiếm và xây dựng một số căn cứ: Bình Minh, Rạng Đông ở Thứ Mười Một (U Minh Thượng). Đợt 2 (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1970) mở rộng khu vực lấn chiếm, xây dựng thêm các căn cứ ở Khánh Lâm, Trí Phải (U Minh Hạ). Đợt 3 (từ tháng 11 năm 1971), sau khi hoàn tất đợt 1 và đợt 2, Sư đoàn 9 ngụy sẽ ở lại U Minh Thượng, còn Sư đoàn 21 cơ động xuống U Minh Hạ, lập thêm một số căn cứ ở huyện Trần Văn Thời, Đầm Dơi, làm cơ sở tiến xuống bình định Cà Mau, xóa bỏ hoàn toàn căn cứ địa U Minh.

        Địch đánh phá quyết liệt, làm cho một số cán bộ cơ sở và du kích xã ấp bị phân hóa, không hoạt động được. Giữa năm 1971, có khá đông dân chúng từ vùng giải phóng bỏ chạy ra chợ Thới Bình và xung quanh chi khu Rạch Ráng, bám trụ các trục giao thông để tránh bom, pháo của địch.

        Cùng lúc mở chiến dịch “nhổ cỏ U Minh”, địch tập trung quân bao vây phong tỏa khu vực Ba Hòn liên tục hơn hai tháng, càn quét vùng Mo So… chặn tuyến chi viện cho căn cứ địa U Minh. Tại địa bàn vùng ven căn cứ B.52 quần đảo rải thảm suốt ngày đêm để tạo “vành đai trắng”. Có tới 80 phần trăm dân vùng ven phải bỏ nhà cửa, thôn ấp, chạy ra vùng địch tạm chiếm, hoặc ra bám các trục lộ giao thông để tránh B.52.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2016, 08:02:42 AM

        Bên trong căn cứ, các cơ quan đầu não của quân khu và Khu ủy liên tục thay đổi chỗ ở để tránh bị địch tập kích đánh phá. Thậm chí, một số cơ quan đã buộc phải tính tới khả năng lui về vùng nam Cà Mau để bảo toàn lực lượng. Có những lúc tình hình căng như dây đàn. Vào giai đoạn này, đồng chí Võ Văn Kiệt và đồng chí Lê Đức Anh đã bí mật lên ở với chúng tôi. Ở khu vực ngã ba kênh Trực Thăng, vàm Tô Ma, hai bên bờ sông Nước Trong. Cũng như trung đoàn chúng tôi, nơi làm việc của anh Sáu Nam sát ngay đồn địch. Thấy tình hình như vậy, đã có lúc anh Sáu Nam hỏi tôi tại sao ở đây khác hoàn toàn miền Đông. Ở miền Đông, các đơn vị Quân giải phóng phải đóng thật xa địch. Còn ở đây có khi đêm nằm nghe địch ca cải lương, la rầy nhau. Anh Sáu Dân còn nghe địch lấy tên tôi (Ba Trà) ra chửi thề: Vì bộ đội Ba Trà mà chúng mất ăn, mất ngủ và cả mất mạng… Tôi thưa với các anh rằng, miền Tây sông nước, kênh rạch chằng chịt, địa hình thấp, chủ yếu là đồng đất, không cho phép ta xây dựng căn cứ cố thủ; nếu ta để hình thành thế phân tuyến giữa ta và địch, sẽ không tránh khỏi thương vong vì hỏa lực phi pháo của địch. Thượng sách của chúng tôi là đóng xen kẽ với địch; cơ động thật nhanh. Phải chủ động chọn sẵn nhiều vị trí. Chỗ này lộ, chuyển nhanh sang vị trí khác. Vì vậy, rất nhiều lần địch đổ quân tập kích bằng tàu thuyền hoặc bằng trực thăng, cứ ngỡ hốt gọn được chúng tôi, nhưng khi địch tới nơi, chúng tôi đã “cao chạy xa bay” rồi. Thời gian anh Võ Văn Kiệt và anh Lê Đức Anh lên ở cùng chúng tôi, ít nhất cũng có tới hai lần anh Lê Đức Anh gặp nguy hiểm.

        “Đánh hơi” các anh lên vùng Trung đoàn 1 đứng chân, địch tập trung lùng sục, vây quét. Ngày ngày, máy bay “cán gáo” của địch quần lượn, xoi mói, như muốn lật tung từng dề lục bình trên sông, rạch. Một lần địch đã phát hiện được hầm của anh Lê Đức Anh và anh Năm Vận - Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ. Lập tức, một chiếc cán gáo sà xuống định thả bộc phá. Với phản xạ gần như bản năng của một chiến sĩ bảo vệ, đồng chí Lo - bảo vệ của anh Lê Đức Anh đã nhanh tay hơn, dùng súng AK nhằm chiếc cán gáo, nhả đạn. Vì dính đạn, chiếc cán gáo bỏ vội bộc phá, để tháo chạy. Khối bộc phá không trúng mục tiêu, bằng không thì hầm của Tư lệnh quân khu đã hứng trọn khối bộc phá đó.

        Sự cố thứ hai xảy ra trong một lần chúng tôi đón anh Sáu Nam từ phía dưới kênh Xáng Cụt lên (tuyến kênh Xáng Cụt là tuyến chốt chặn cuối cùng của ta, qua tuyến này là vùng căn cứ). Thường thì khi đi đón các anh lãnh đạo Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, chúng tôi không đi đông, không mang theo điện đài. Đang trên đường trở về, bất ngờ, chúng tôi gặp một chiếc xuồng của địch. Sau này, qua phân tích sự việc, chúng tôi cho rằng có thể mấy tên lính đó trốn đơn vị đi uống rượu hoặc kiếm gái. Vì trốn đi làm bậy, nên xuồng địch về cũng im ắng, kín đáo. Phát hiện thấy xuồng của chúng tôi, thoạt tiên, chúng cho là chỉ huy đơn vị chúng đang tuần thám, kiểm tra. Vì vậy chúng lẹ làng cho xuồng dạt sang bên, náu vào khóm dừa nước. Tới xáp nhau, địch bất ngờ phát hiện chúng tôi là Việt cộng và nổ súng trước. Nhưng vì “thần hồn nát thần tính”, địch quá luống cuống nên bắn trượt; chúng tôi cho xuồng tăng tốc, thoát hiểm…

        Trong bối cảnh khó khăn chung của toàn chiến trường, hai năm 1970-1971, trung đoàn chúng tôi ít có những trận đánh lớn, chủ yếu là tránh càn, bảo toàn và củng cố lực lượng. Tuy vậy, khi điều kiện cho phép, chúng tôi vẫn chủ động ra những đòn khá hiệu quả. Điển hình là trận đánh đồn Tô Ma, tháng 7 năm 1970.

        Đồn Tô Ma ở sát kinh Ba Lào và trên bờ tây sông Nước Trong. Địch ở đây có hơn một đại đội, do tên Tám Ngàn - thiếu tá ác ôn chỉ huy. Tám Ngàn và tay chân của y tác oai tác quái khắp vùng trong một thời gian dài; gây nhiều tội ác đối với nhân dân.

        Cuối mùa hè năm 1970, theo lệnh của anh Lê Đức Anh, chúng tôi đưa trung đoàn bộ và Đại đội 6 trinh sát từ kinh Cũ thuộc xã Vĩnh Trung, Gò Quao về đứng chân ở kinh Ba Lào, cạnh căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ và Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu, cách đồn Tô Ma hơn một cây số. Đơn vị vừa về tối hôm trước, đang bố trí sắp xếp đội hình đứng chân, chưa kịp làm hầm hố, thì sáng hôm sau lính đồn Tô Ma bất ngờ dẫn xác vào đúng vị trí chúng tôi đứng chân. Chỉ huy trung đoàn hội ý chớp nhoáng và quyết định đánh ngay, không cho địch kịp trở tay. Quyết định đầy quyết đoán của chỉ huy trung đoàn đã kịp thời chuyển bộ đội từ thế bị động thành chủ động; ngược lại, kẻ địch từ chủ động sang bị động. Có thể lúc đó địch hoàn toàn bất ngờ đi đúng vào đội hình đóng quân của chúng tôi chứ không phải phát hiện chúng tôi từ trước, và vô hình trung, chúng lọt vào “trận địa phục kích” của chúng tôi.

        Lệnh nổ súng của chỉ huy trung đoàn vừa phát ra, lập tức Đại đội 6 trinh sát và lực lượng tăng cường đánh thẳng vào đội hình hành quân của địch. Tám Ngàn và cả đại đội địch không kịp trở tay, bị đền tội trong vòng chưa đầy vài chục phút. Trận đánh không lớn nhưng gáy thối động mạnh. Đặc biệt, khi thiếu tá ác ôn Tám Ngàn bị diệt, binh lính địch ở đồn Tô Ma hoang mang, không dám ra khỏi đồn đi phục kích, đánh phá cơ sở. Nắm chắc tình hình, tháng 7 năm 1970, chúng tôi quyết định diệt đồn Tô Ma lần thứ nhất; trận đánh thắng lợi nhanh, gọn; tạo tiền đề cho lực lượng vũ trang địa phương diệt đồn này lần thứ hai.

        Ngót hơn mươi năm đã qua kể từ ngày chúng tôi diệt đồn Tô Ma, đã rất nhiều lần tôi ngồi bo bo ngược sông Nước Trong thăm lại vùng đất đầy ắp kỷ niệm của một thời chiến chinh ác liệt, nhiều mất mát hy sinh, nhưng rất đỗi hào hùng. Mỗi lần trở về lại đều đong đầy tâm trạng. Lần gần đây, vào cuối năm 2007, chúng tôi trở lại, người ra tận mạn thuyền đón rước lại chính là cậu vệ sĩ của anh Sáu Nam ngày ấy. Vóc người nhỏ nhắn, rắn chắc, tác phong vẫn lanh lợi như ngày nào, anh dẫn chúng tôi lách qua những luồng lạch, vào thăm di tích căn cứ của Tỉnh ủy Cần Thơ, thăm mấy gia đình là cơ sở hậu cần, thăm đồn Tô Ma, giờ đây đã nằm trong quy hoạch của lâm trường… Chiến tranh lùi xa. Đất trời U Minh, giờ đây man mác màu xanh của tràm đước, của sông nước - của sự sống bình yên. Chia tay những chiến sĩ cùng chiến hào thuở nào, bo bo chúng tôi hòa vào một đám rước dâu trên sông Nước Trong, đông vui như trẩy hội.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2016, 08:09:21 AM

*

*       *

        Mùa Xuân năm 1972, ta chủ trương tiến hành cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, với trọng điểm là chiến trường Trị - Thiên.

        Thực hiện chỉ thị của Bộ Tư lệnh Miền, Quân khu 9 mở chiến dịch Nguyễn Huệ II - tiến công tổng hợp dài ngày, gồm nhiều cao điểm phối hợp với toàn miền Nam. Địa bàn trọng tâm của chiến dịch gồm các huyện Gò Quao, Vĩnh Thuận tỉnh Rạch Giá; thị xã Vị Thanh, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ và huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu. Vào thời điểm đó, các địa phương trên thuộc tỉnh Chương Thiện theo địa lý hành chính của chính quyền Sài Gòn. Trung đoàn 1, Trung đoàn 2, Đoàn 6 pháo binh và tiểu đoàn đặc công của quân khu đảm nhiệm tác chiến trên chiến trường trọng điểm. Nhiệm vụ đầu tiên của Trung đoàn 1 U Minh là tiêu diệt đồn Thanh Long ở xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, kìm chân Trung đoàn 15 Sư đoàn 9 ngụy, tạo điều kiện cho đơn vị bạn mở mang.

        Trong cao điểm 1 chiến dịch, kể từ ngày 7 đến ngày 13 tháng 4, với trận mở màn tiêu diệt đồn Thanh Long, tập kích gây thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 15 ngụy đóng quân dã ngoại ở kinh Chín Thước, xã Hỏa Lựu, trung đoàn đã cùng du kích diệt hàng chục đồn địch, phá vỡ một mảng kế hoạch bình định vùng Chương Thiện của Sư đoàn 9 ngụy. Riêng trận tập kích tiểu đoàn 3 Trung đoàn 15 ngụy đóng quân dã ngoại ở kinh Chín Thước, do trinh sát không nắm chắc đội hình đóng quân của địch, có hệ thống vật cản với nhiều bãi mìn hỗn hợp, hỏa lực bố trí hiểm hóc… nên khi tiếp cận bị lộ ngay từ đầu, không những không diệt gọn địch mà còn bị thương vong gần ba chục đồng chí; đau đớn hơn là 14 đồng chí không thu được xác; mặc dù chúng tôi đã lệnh cho đơn vị phải giải quyết triệt để vấn đề thương binh, tử sĩ.

        Cao điểm 2 diễn ra vào cuối tháng 4 năm 1972, mở đầu bằng trận cường tập đồn Tô Ma lần thứ ba. Trước đây tôi đã tập kích đồn này, trừ khử được đồn trưởng thiếu tá ác ôn Tám Ngàn. Lần này, trung đoàn chỉ đạo Tiểu đoàn 309 tập kích hạ đồn ban ngày. Nhưng kẻ địch chống cự quyết liệt. Được phân công đi với Tiểu đoàn 309, tôi bàn với anh Năm Quang - Tiểu đoàn trưởng và anh Mười Kiện - Chính trị viên, cho bộ đội chuyển sang vây lấn, chờ đêm xuống tiến công dứt điểm. Sau đó, trận đánh diễn ra suôn sẻ. Thừa thắng, các tiểu đoàn 303, 307 giải quyết nốt các đồn Cây Me, Cái Rắn, Giao Du,… thuộc xã Xà Phiên.

        Vậy là với cao điểm 1 và 2 trong tháng 4, trung đoàn chúng tôi đã chọc thủng hệ thống phòng thủ trọng điểm của địch ở Chương Thiện, hình thành một vùng giải phóng liên hoàn ở nam và tây nam Long Mỹ; giải phóng hoàn toàn xã Vĩnh Viễn, phần lớn xã Xà Phiên và xã Lương Tâm huyện Long Mỹ, khu vực ngọn sông Nước Trong và phía nam sông Nước Đục… Tiếng súng cao điểm đợt 2 vừa tạm lắng, hàng nghìn bà con trước đây buộc phải sơ tán tránh phi pháo dữ dội những năm 1970-1971, đã phấn khởi trở về thôn ấp, ruộng vườn của mình làm ăn sinh sống.

        Đầu tháng 5, toàn quân khu bước vào cao điểm 3 của chiến dịch. Lúc này Trung đoàn 1 đảm trách hướng thứ yếu phía tây Long Mỹ và nam Phụng Hiệp với các trận diệt một số đồn ở xã Thuận Hưng và Vĩnh Thuận Đông, giải phóng cơ bản hai xã này. Trong cao điểm 3, trận đánh ngày 12 tháng 5 của Tiểu đoàn 309 tập kích Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 15 Sư đoàn 9 ngụy tại kình Trực Thăng, xã Vĩnh Viễn gây ấn tượng mạnh trong tôi. Trận này, Tiểu đoàn 309 gây thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 2 ngụy, nhưng ta cũng thương vong lớn, hy sinh không lấy được xác 24 anh em, phải nhờ đoàn thể quần chúng địa phương vào đồn đấu tranh để lấy ra sau. Tiếp đó, trung đoàn vây ép căn cứ Cống Đá, đồn Bần ổi, diệt đồn Xáng Cụt, góp phần cùng đơn vỉ bạn mở rộng vùng giải phóng ở Chương Thiện, khai thông hành lang từ U Minh Thượng lên Giồng Riềng, thực hiện được ý định của Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu.

        Tháng 6 năm 1972, toàn quân khu bước vào cao điểm 4 chiến dịch Nguyễn Huệ II. Bốn trung đoàn chủ lực của quân khu đồng loạt tiến công bốn chi khu, tập trung giải phóng vùng lúa Bạc Liêu. Trung đoàn chúng tôi đảm trách tiến công chi khu Ngã Năm thuộc tiểu khu Ba Xuyên. Bộ đội đang tổ chức chuẩn bị chiến đấu tại xã Ninh Quới, phía tây chi khu Ngã Năm thì bị địch phát hiện, tập trung phi pháo oanh kích dữ dội. Ngày 6 tháng 6, địch huy động B.52 ném bom rải thảm nhiều đợt, Tiểu đoàn 3 thiệt hại gần một đại đội. Tổn thất nặng trước trận đánh, một vài anh em tỏ ra nao núng. Nhưng, anh Dương Tử, anh Sáu Sơn và tôi đều thống nhất phải xốc lại lực lượng, kiên trì thực hiện quyết tâm. Các đơn vị nhanh chóng củng cố tổ chức lực lượng, luồn tránh các mũi càn quét, các phi vụ tập kích, oanh kích của địch, bí mật tiếp cận mục tiêu. Đêm 10 tháng 6, Tiểu đoàn 309 nổ súng tiến công chi khu Ngã Năm - chậm hơn thời gian nổ súng của đơn vị bạn một ngày. Nổ súng chậm, yếu tố bất ngờ không còn, địch tập trung đối phó, nên Tiểu đoàn 309 chỉ tiêu diệt được một bộ phận quân địch, làm chủ khu hành chính và trận địa pháo 105ly (2 khẩu). Đại đội 3 Tiểu đoàn 309 thiệt hại nặng, đồng chí đại đội trưởng hy sinh. Tiểu đoàn phải lùi ra phòng ngự, đánh trả tiểu đoàn bảo an càn quét giải tỏa.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2016, 08:12:15 AM

        Rút kinh nghiệm từ những tổn thất vừa rồi, mấy anh em trong Ban chỉ huy trung đoàn suy đi tính lại, thấy rằng nếu đánh ban ngày, có thể giải quyết được mục tiêu, mà lại ít thương vong. Và chúng tôi chọn đồn Kinh Năm làm cú thử nghiệm. Anh Dương Tử phân công tôi trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 309 đánh đồn Kinh Năm ở xã Hiệp Hưng huyện Phụng Hiệp.

        Lúc này đang cao điểm mùa mưa. Chọn đêm mưa rất dữ, chúng tôi tổ chức đi trinh sát nắm địch. Cũng là học kinh nghiệm của người xưa “nhờ gió bẻ măng”. Quyết định đánh đồn ban ngày, chúng tôi cũng tính toán kỹ thời gian nổ súng vào khoảng 5 giờ sáng hoặc 5 giờ chiều. Đó là thời điểm mà nếu máy bay địch có đến thì bộ đội ta đã rút về căn cứ, hoặc trời đã tối, máy bay không phát huy được ưu thế của nó!

        Là trận đầu đánh ban ngày, nên chúng tôi chủ trương phải chuẩn bị kỹ, tổ chức chặt chẽ, trung đoàn trực tiếp chỉ huy; nếu cần, cán bộ tiểu đoàn xuống nắm đại đội, cán bộ đại đội xuống nắm trung đội…

        Qua trinh sát, chúng tôi nắm được đồn Kinh Năm do một đại đội ngụy đóng giữ. Đặc biệt, xung quanh đồn cây cối rậm rạp, nên ban ngày ta vẫn có điều kiện tiếp cận, dễ dàng đưa ĐKZ75, súng 12,8ly… vào gần, phát huy hỏa lực khống chế, tiêu diệt địch. Ngay khi trinh sát nắm địch, tôi đã nghĩ ngay đến kinh nghiệm đánh cường tập diệt đồn địch ban ngày của Tiểu đoàn Thiên Đức thời chín năm chống Pháp. Bây giờ hỏa lực của tiểu đoàn có ĐKZ75, súng 12,8ly, B40… đủ lực khống chế địch để bộ binh trên công dưới làn hỏa lực, giải quyết nhanh, gọn mục tiêu.

        Diễn biến trận đánh đúng như dự kiến của chúng tôi. Sau pháo lệnh mở màn, hỏa lực ta ghìm đầu quân địch trong căn cứ. Bộ binh dùng bộc phá phá hàng rào thứ nhất, sau đó dùng bao bố nhảy qua các hàng rào còn lại, xông vào chiếm đồn chỉ trong vòng vài chục phút, thắng gọn, lẹ làng.

        Ngoài thắng địch, trận hạ đồn Kinh Năm còn giải quyết được vấn đề tư tưởng của bộ đội ngại đánh ban ngày. Thực tế cho thấy, nếu trinh sát nắm địch chắc, chuẩn bị tốt, kết hợp tốt hỏa lực với xung lực, thì đánh ban ngày cũng giành thắng lợi, hạn chế tổn thất. Trận hạ đồn Kinh Năm ở mức độ nào đó có ý nghĩa mở đầu cho phong trào đánh ban ngày của Trung đoàn 1 U Minh.

        Cuối năm 1972, Bộ Tư lệnh Quân khu chủ trương đưa Trung đoàn 1 vào sát lộ Vòng Cung đánh địch, cùng với toàn chiến trường tạo thế cho hội đàm ở Pari giữa đại diện bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Thực tế trên chiến trường, khi Trung đoàn 1 chuyến lên địa bàn Ô Môn, Châu Thành A, Châu Thành B (Cần Thơ), do các địa phương không đủ sức bảo vệ vùng giải phóng, nên một bộ phận Sư đoàn 9 ngụy yểm trợ cho lực lượng bảo an chiếm lại các căn cứ Lái Hiếu, Xà Phiên, Vĩnh Viễn, Lương Tâm,… Trong khi đó ở địa bàn giáp lộ Vòng Cung, trung đoàn chúng tôi cũng phải gồng mình lên đối chọi với địch, chủ yếu là phi pháo! Chiến sự ác liệt, ta không đánh chiếm được đồn bốt địch; trái lại, tổn thất, thương vong nhiều. Để tránh thương vong, mất sức chiến đấu khó khôi phục cho Trung đoàn 1; đồng thời, đáp ứng nguyện vọng của Tỉnh ủy Cần Thơ muốn Trung đoàn 1 về Long Mỹ, Phụng Hiệp, hỗ trợ địa phương bảo vệ, khôi phục vùng giải phóng, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 lệnh cho trung đoàn chúng tôi trở lại Long Mỹ và Phụng Hiệp.

        Gần một năm quần lộn với địch - chủ yếu là Sư đoàn 9 ngụy (lúc này Sư đoàn 21 ngụy được điều lên đối phó với đòn tiến công của ta ở Khu 8 ), Trung đoàn 1 vừa chống càn, luồn càn, vừa tiến công căn cứ địch. Có một số trận đánh tốt, nhưng thương vong cũng khá nặng nề. Nhìn chung là hiệu quả tiêu diệt địch thấp.

        Nhìn lại cả năm 1972, về hiệu quả tác chiến, tiêu diệt địch thấp, ta thương vong cao, tôi cho rằng nguyên nhân chủ yếu là ta sử dụng lực lượng thiếu tập trung. Các trung đoàn, tiểu đoàn tác chiến riêng lẻ. Mạnh ai nấy đánh, không hiệp đồng chi viện được cho nhau để tạo những đòn đánh quyết định. Hoàn toàn thụ động theo lệnh trên, Trung đoàn 1 U Minh không phát huy được sở trường, lối đánh của mình là tích cực cơ động, tập trung cao độ khi cần giải quyết mục tiêu và phân tán cực nhanh để tránh thương vong; sự phối hợp giữa bộ đội chủ lực và địa phương cũng thiếu chặt chẽ. Mặt khác, việc đưa Trung đoàn 1 lên khu vực sát lộ Vòng Cung, Trung đoàn 2 thế chân ở Long Mỹ, Phụng Hiệp đã hạn chế sức mạnh tại chỗ, quen thuộc chiến trường, tạo điều kiện cho địch nhanh chóng tái chiếm vùng giải phóng…

        Trong chiến đấu, qua thắng lợi để gạn lọc, rút ra bài học là chuyện bình thường. Nhưng chưa thành công, thậm chí tổn thất, thương vong cũng để lại những bài học xương máu, mà nếu có tư duy tổng hợp tốt sẽ tránh được những sai lầm tương tự. Kinh nghiệm của những tháng ngày “thử lửa” trên chiến trường miền Tây - đặc biệt là giai đoạn gặp nhiều khó khăn sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, ta và địch trong thế trận quần lộn - giằng co… là cơ sở để tôi thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 U Minh trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2016, 08:15:21 AM

Chương bốn

TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG TRUNG ĐOÀN 1 U MINH

        Thua đau trên chiến trường miền Nam, trực tiếp là thất bại bởi đòn tiến công chiến lược năm 1972 của ta trên toàn chiến trường và thất bại của chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, buộc Mỹ phải nối lại cuộc đàm phán ở Pari sau mấy năm giản đoạn, hy vọng tìm lối thoát danh dự khỏi chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        Vào cuối năm 1972, khi được lệnh của quân khu đưa trung đoàn lên đứng chân giáp lộ Vòng Cung, nhằm tạo thế “đón” hiệp định đình chiến, chúng tôi đã được phổ biến một số điểm cơ bản trong lộ trình đi tới màn chót của cuộc hòa đàm. Theo tinh thần văn bản hiệp định được ký tắt giữa hai bên thì cuối năm 1972 đầu năm 1973, Mỹ sẽ ngừng đánh phá miền Bắc vô điều kiện, rút quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam. Trên chiến trường, bên nào chiếm được nơi nào thì làm chủ nơi đó… Với tinh thần đó, cả ta và địch đều vào cuộc “đua” quyết liệt, nhằm tạo ưu thế cho mình trước khi hiệp định được ký kết và có hiệu lực. Việc chúng tôi lên đứng cặp lộ Vòng Cung, mở mảng ở Ô Môn, Châu Thành A, Châu Thành B tỉnh Cần Thơ, không nằm ngoài chủ trương đó.

        Nhưng rồi, với mưu đồ thâm hiểm của Mỹ thì mọi chuyện có thể “đổi trắng thay đen” trong chốc lát. Để “mặc cả” với ta trên bàn Hội nghị Pari vào thời điểm quyết định nhất, Mỹ đã tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không vào thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng. Níchxơn muốn dùng con “ngoáo ộp” B.52, hy vọng với uy lực “Siêu pháo đài bay” để khuất phục Hà Nội. Cả nước thót tim, hưởng về Hà Nội. Nhân loại yêu chuộng hòa bình “nín thở”, hướng về Hà Nội - Việt Nam.

        Đã hơn chín năm chiến đấu, lăn lộn trên chiến trường miền Tây, từng chứng kiến và “chịu trận” hàng trăm phi vụ rải thảm của B.52, tôi hiểu thế nào là sự tàn phá kinh hoàng, sự hủy diệt kinh khủng của loại máy bay ném bom chiến lược này. Cứ sau mỗi phi vụ rải thảm của B.52, mặt đất gần như biến dạng, hố bom chồng hố bom; người chết; nhà cửa, vườn tược đổ nát tan hoang… Ở đồng bằng sông nước, đất rộng, người thưa, hậu quả đánh phá của địch dẫu sao cũng có mức độ. Nay B.52 đánh Hà Nội, Hải Phòng, phố xá chật chội, dân cư đông đúc; thiệt hại, thương vong thật khó lường. Đã bao lần trực tiếp đào bới, cấp cứu đồng đội, bà con bị bom B.52 “chôn sống”; nhớ lại lần đầu tiên B.52 đánh ở Cà Mau, sát hại gần năm chục đồng bào và chiến sĩ, trong đó có anh Sáu Chợ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 29 Sóc Trăng…, tôi càng thót tim khi tưởng tượng cảnh hàng chục chiếc B.52 ném bom hủy diệt Hà Nội - trái tim của cả nước.

        Nhưng rồi, nỗi lo lắng trong mỗi chúng tôi nhanh chóng tiêu tan, nhường chỗ cho niềm sung sướng, kiêu hãnh. Quân và dân miền Bắc, quân và dân Hà Nội đã làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”, hạ nhục thần tượng “Siêu pháo đài bay”. Máy bay B.52 rơi ngay trên đường phố Thủ đô, cạnh công viên Bách Thảo, rơi trong vườn hoa Ngọc Hà. Cái ác, cái thấp hèn đã bị chôn vùi bởi cái đẹp, cái nhân văn, cao cả. Hà Nội với 12 ngày đêm cuối năm 1972 - với “Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành lương tri và phẩm giá của nhân loại.

        Từ Hà Nội, lên đường vào Nam chiến đấu đã hơn chín năm, nay được tin Hà Nội thắng lớn, trào dâng trong tôi biết bao xúc động, tự hào.

        Mọi cố gắng, hy vọng của “canh bạc” cuối cùng tiêu tan, Mỹ buộc phải ngậm đắng nuốt cay ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố, xảo trá, lật lọng, tập đoàn cầm đầu Nhà Trắng và chính quyền Sài Gòn đã sớm vạch định một kế hoạch phá hoại Hiệp định Pari ngay từ đầu và có hệ thống. Sau này, qua tiếp xúc, nghiên cứu nhiều tư liệu, tôi biết được: trước khi Hiệp định Pari được ký kết, trong nhiều diễn đàn ở Sài Gòn, ở Tây Đô, Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã lớn tiếng kêu gào: Hãy tranh thủ lấn đất càng nhiều càng tốt - nhất là đồng bằng sông Cửu Long.

        Cùng với chủ trương tranh thủ lấn đất, ngày 26 tháng 1 năm 1973 - một ngày trước khi Hiệp định Pari được ký kết, trong cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia, Thiệu kêu gọi: “Chúng ta phải chống mọi khuynh hướng hòa hợp, hòa giải, phải thấu hiểu một điều: đây là keo cuối cùng, thắng là đây mà thua cũng là đây Nếu Cộng sản bắn trả anh bằng súng trường, các anh hãy dùng súng máy; họ dùng súng máy, các anh dùng súng cối; họ dùng súng cối, các anh dùng đại bác; họ dùng đại bác, các anh đem bom trút lên đầu họ; không cho một tên Việt cộng vào quán uống cà phê, ăn hủ tiếu… Phải kiên quyết xóa bằng được cái thế da báo đáng nguyền rủa kia trên từng quận, từng quân khu, từng chiến trường…”.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2016, 08:17:51 AM

        Nghe giọng lưỡi của người đứng đầu chính quyền Sài Gòn ai cũng thấy hết bản chất phản động, hiếu chiến, thói hợm hĩnh, nỗi hằn học… của kẻ thù khi buộc phải ký Hiệp định Pari. Và rồi, được Mỹ giật dây, khuyến khích, chính quyền, quân đội Sài Gòn đã thực hiện cái gọi là “ngừng chiến, không ngừng bắn”, “trên hòa bình, dưới vẫn chiến tranh”. Theo đó, Hiệp định Pari ký chưa ráo mực, Thiệu đã huy động 60 phần trăm quân chủ lực và đại bộ phận địa phương quân ồ ạt mở nhiều cuộc hành quân thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, thực chất là lấn chiếm vùng giải phóng.

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết. yêu cầu thực hiện hiệp định đình chiến và đánh địch vi phạm hiệp định lúc này đặt các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trên chiến trường trước một vấn đề hết sức hóc búa. Chấp hành lệnh ngừng bắn hay tiếp tục đánh địch vi phạm hiệp định. Thực tế trên chiến trường lúc này không phải không có địa phương, quân khu máy  móc chấp hành lệnh trên, từ đó “án binh bất động”, thực chất là ảo tưởng vào “thiện chí” của ke địch, dẫn tới hậu quả mất đất, mất dân.

        Với chiến trường Khu 9, tập thể Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã sớm thấy được bản chất, âm mưu của địch. Sau này, có điều kiện tiếp xúc, làm việc với các đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt…, tôi được biết ngày ấy các anh đã nghiên cứu, phân tích rất kỹ mọi âm mưu, thủ đoạn, động thái của địch trên chiến trường; tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của địch. Từ đó, sớm kết luận: các hoạt động của địch đã khẳng định chúng không thi hành hiệp định. Nếu địch đánh ta mà ta không đánh lại thì chúng sẽ đẩy ta ra xa. Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Quân khu 9 là: nếu địch tiến công, các lực lượng ta phải phản công đánh trả, giữ đất, bảo vệ dân, buộc địch phải thi hành Hiệp định. Bộ đội hiện tại đứng ở đâu tiếp tục trụ bám ở đó, tiến hành binh vận, giải thích hiệp định có lợi cho ta, kêu gọi địch trở về với nhân dân. Chúng ta có quyền tiến công địch bằng binh vận. Nếu địch đánh ta, chúng ta có quyền đánh trả để bảo vệ hòa bình.

        Tư tưởng cách mạng tiến công, tích cực, chủ động tiến công địch của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu được quán triệt đến cán bộ các cấp từ khi Hiệp định đình chiến chưa ký kết. Đầu tháng 1 năm 1973, anh Lê Đức Anh triệu tập cán bộ trung đoàn về Sở chỉ huy tiền phương quân khu ở vàm Tô Ma, xã Vĩnh Viễn để nghe phổ biến chủ trương của quân khu. Chúng tôi rất phấn khởi, hoàn toàn nhất trí với chủ trương của trên. Về đơn vị, anh Dương Tử, anh Bảy Sa, anh Ba Chơi và tôi thống nhất từng tiểu đoàn đánh gọn từng đồn, cố gắng đánh dứt điểm; đánh được khu vực nào chốt giữ khu vực đó không cho địch líp lại. Với cách đó, có đêm trung đoàn “hót” được từ bốn đến năm đồn. Đêm 27 tháng 1 năm 1973, trung đoàn vẫn đánh diệt gọn hội đồng xã Long Bình - cách chi khu Long Mỹ chỉ độ hai cây số. Chỉ mấy ngày trước khi Hiệp định Pari có hiệu lực, chúng tôi đã mở rộng vùng giải phóng thêm hai chục cây số vuông.

        Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu, bốn trung đoàn chủ lực của quân khu (l, 2, 10, 20) và một số đơn vị trực thuộc đều tập trung về Chương Thiện - địa bàn trọng điểm của cả ta và địch. Lúc này, tôi được Tư lệnh quân khu bổ nhiệm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 thay anh Dương Tử nhận công tác khác. Anh Bảy Sa được bổ nhiệm Chính ủy trung đoàn thay anh Sáu Sơn. Đúng là “duyên kỳ ngộ”, tôi và anh Bảy Sa cứ như hình với bóng kể từ ngày anh em chiến đấu bên nhau ở Tiểu đoàn 29 Sóc Trăng. Hiểu nhau từ mục tiêu lý tưởng, từng ý nghĩ quyết định trong chiến đấu, công tác, rồi tính cách… trong sinh hoạt đời thường, là một trong những yếu tố giúp chúng tôi hoàn thành chức trách nhiệm vụ của mình. Ngay cả trong công tác, sinh hoạt hằng ngày, tôi và anh Bảy Sa cùng làm việc, ngủ nghỉ chung một phòng; không bao giờ có sự cách biệt giữa Trung đoàn trưởng và Chính ủy. Mọi công việc thường xuyên hay đột xuất, anh em cùng chụm đầu lại bàn bạc, thống nhất giải quyết, hết sức lẹ làng. Từ các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu đến cán bộ tiểu đoàn, đại đội thuộc Trung đoàn 1 U Minh, đều xem quan hệ giữa tôi và anh Bay Sa là quan hệ mẫu mực giữa Trung đoàn trưởng và Chính ủy. Tuy nhiên, trong xử lý công việc thường ngày, tôi và anh Bảy Sa cũng có những việc chưa thật đồng thuận. Ví như chuyện áo quần, tóc tai của anh em khi đi chiến đấu. Với tôi, sinh hoạt thời chiến, đặc biệt là tác chiến ở miền đồng nước, đánh tập kích, phục kích, đòi hỏi người lính phải thật sự gọn gàng từ trang phục, đến tóc tai, như “khuôn mẫu” mà anh Ba Trung nói là “đầu húi cua”, “áo vo viên, quần quấn cổ”. Nhưng anh Bảy Sa lại muốn anh em chỉn chu, áo quần đóng bộ, tóc rẽ đường ngôi… Lắm khi chúng tôi va chạm với nhau những chuyện lặt vặt như vậy. Và mọi mắc mứu đều được cởi bỏ ngay. Tính anh Bảy Sa vốn rất nhẹ nhàng, xởi lởi.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:46:35 AM

        Thời gian này Trung đoàn 1 U Minh và Trung đoàn 20 được phân công tiến công chi khu Long Mỹ, tuyến kênh xáng Ba Hồ, Thác Lác… Đồng chí Tư lệnh quân khu Lê Đức Anh ở lại Sở chỉ huy tiền phương quân khu tại vàm Tô Ma trực tiếp chỉ huy hai trung đoàn.

        Như trên đã nói, ngày và đêm 27 tháng 1 năm 1973, “đêm trước của hòa bình”, ta đẩy mạnh ba mũi tiến công địch, làm chủ một phần các chi khu và chuyển sang bao vây địch. Bộ đội địa phương các tỉnh tiến công làm chủ từng con kênh, từng lô ruộng, đoạn đường; phát động nhân dân nổi dậy cắm cờ, làm chủ hầu hết các thôn ấp. Đến 0 giờ ngày 28 tháng 1, Hiệp định Pari có hiệu lực, ta ngừng tiến công địch, thực hiện chủ trương “đứng ở đâu làm chủ ở đó”. Nhưng, đúng như dự đoán của Khu ủy và Tư lệnh quân khu, địch tổ chức lực lượng phản kích, dùng phi pháo đánh phá vùng giải phóng và địa bàn đứng chân của các đơn vị chủ lực.

        Tình hình ở Khu 9 ngay sau ngày Hiệp đính Pari có hiệu lực đã bộc lộ rõ bản chất phản động, tráo trở của địch. Sau khi thống nhất chủ trương với Khu ủy và các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy bốn tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu (trong Hội nghị Thường vụ Khu ủy mở rộng), ngày 6 tháng 2, Tư lệnh quân khu triệu tập Hội nghị quân chính, phổ biến nghị quyết của Thường vụ Khu úy, bàn kế hoạch, biện pháp tiến công địch phá hoại hiệp định. Tôi cùng anh Bảy Sa dự hội nghị quan trọng này. Anh Lê Đức Anh và anh Võ Văn Kiệt chủ trì hội nghị.

        Anh Võ Văn Kiệt phổ biến Nghị quyết của Thường vụ Khu ủy đánh giá sâu sắc tình hình, phân tích rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch và chủ trương, biện pháp của ta là kiên quyết, chủ động trừng trị đích đáng kẻ địch vi phạm hiệp định. Anh Lê Đức Anh chỉ thị cho các lực lượng - đặc biệt là các đơn vị chủ lực: phải đứng vững và làm chủ địa bàn, tuyên truyền rộng rãi thắng lợi của việc ký Hiệp định Pari trong các tầng lớp nhân dân và binh lính địch, giữ vững quyền làm chủ, sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch nếu chúng vi phạm hiệp định, tiếp tục diệt các phần tử ác ôn ở cơ sở.

        Chúng tôi thật sự tin tưởng và nhất trí cao với chủ trương của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu. Bởi thực tế trên chiến trường, Mỹ - ngụy đã thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, dùng phi pháo và tung lực lượng đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng. Nếu chúng ta “bó tay”, trông chờ “thiện chí hòa bình” của địch thì tất yếu sẽ mất đất, mất dân.

        Hội nghị quân chính kết thúc, từ Sở chỉ huy tiền phương quân khu, chúng tôi khẩn trương trở về trung đoàn với tâm trạng hồ hởi, phấn khởi vô cùng. Đã tròn chục năm chiến đấu quần lộn với kẻ địch để có được hiệp định đình chiến, ai không muốn sống dù chỉ một ngày không tiếng súng, không chết chóc, mất mát, thương đau! Nhưng, “cây muốn lặng, gió chẳng dừng”. Đã có chỉ đạo của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, chúng tôi sẵn sàng “nói chuyện” với kẻ thù bằng súng đạn khi cần, mà không sợ là vi phạm hiệp định đình chiến.

        Chấp hành lệnh của anh Sáu Nam, từ ngày 28 tháng 1 đến trung tuần tháng 3 năm 1973, trung đoàn trụ vững ở bắc Long Mỹ, đánh địch lấn chiếm, phát động quần chúng tiến hành ba mũi giáp công, giữ thế hợp pháp, đấu tranh buộc địch thì hành hiệp định. Được tuyên truyền giải thích về Hiệp định Pari, nhiều gia đình có con em tham gia lực lượng bảo an đã kéo vào chi khu, lên đồn… kêu gọi người thân buông súng trở về xóm ấp làm ăn. Do ta làm tốt công tác binh vận, Đại đội 406 bảo an thấy được lẽ phải của hiệp định đình chiến, tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc, đã phản chiến, cử đại diện ra gặp gỡ chúng tôi nộp súng, trở về xóm ấp cùng gia đình. Thời gian này, tôi được biết một tiểu đoàn bảo an ở Ba Hồ cũng chủ động quan hệ với Trung đoàn 20, giữ thế trung lập, không đi càn quét lấn chiếm vùng giải phóng, bắn giết đồng bào. Tin binh lính phản chiến đến tai tỉnh trưởng Cần Thơ và Tư lệnh Vùng 4. Viên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảo an ở Ba Hồ bị cách chức; nhưng làn sóng phản chiến không vì thế mà tắt hẳn.

        Tháng 3 năm 1973, trong một trận phối hợp với bộ đội địa phương chống cuộc càn của địch vào căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ ở xã Phương Bình, bắc Long Mỹ, Tiểu đoàn 309 bắt được ba người phương Tây. Được tin báo của đơn vị, tôi lệnh cho anh em phải bảo vệ cẩn thận và đưa ngay họ về Sở chỉ huy trung đoàn. Thời gian này, Sở chỉ huy trung đoàn đóng ngay cạnh căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, gần rạch Cái Cao. Về đến Sở chỉ huy trung đoàn, mới biết họ là ba nhà báo của một hãng tin Mỹ. Một người Mỹ, một người Mỹ gốc Việt (người Huế), một nữ người Canađa.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:49:17 AM

        Đêm đó, ba nhà báo được chúng tôi đưa vào nghỉ trong hầm chỉ huy trung đoàn. Sáng hôm sau, khi lên khỏi hầm, thấy xung quanh hố bom B.52 và đạn pháo nham nhở, họ rất đỗi kinh ngạc.

        Sau khi nghe chúng tôi nói rõ hành động vi phạm Hiệp định Pari của chính quyền, quân đội Sài Gòn (được Mỹ giật dây tiếp sức), là nhà báo, nên họ tác nghiệp ngay. Nữ nhà báo Canađa hỏi tôi:

        - Ai tiếp tế cho các ông lương thực, thực phẩm, thuốc chiến thương, khi các ông sống biệt lập ở căn cứ?

        Tôi trả lời: Chúng tôi và đối phương luôn ở thế cài răng lược. Ban ngày cơ bản đối phương kiểm soát dân, nhưng ban đêm dân là của chúng tôi, đất trời này là của chúng tôi. Các người cứ ở lại đêm nay sẽ rõ. Đêm xuống dân chúng sẽ mang gạo, thịt, cá, rau cho chúng tôi (và đúng như vậy - đêm hôm đó, ba nhà báo đã chứng kiến những gì tôi nói là sự thật).

        Nhà báo Mỹ - gốc Huế hỏi:

        - Ở đây không có trường học, các ông dạy học thế nào? Dân học ở đâu?

        Anh Bảy Sa trả lời: Đúng là ở đây chúng tôi không tổ chức dạy học thành lớp. Lớp học được tổ chức ở vùng ven. Nhưng không có nghĩa là bộ đội chúng tôi không học. Anh em tự học. Giữa hai trận đánh, hay vào mùa mưa; bộ đội tự học qua sách báo, qua đồng đội…

        - Các ông giáo dục thanh niên như thế nào để họ tự nguyện vào Quân giải phóng? - Nhà báo Mỹ hỏi.

        - Đất nước chúng tôi đã có hàng nghìn năm lịch sử chống ngoại xâm - Tôi trả lời. Thanh niên chúng tôi rất am hiểm lịch sử, họ cũng rất quý trọng nâng niu truyền thống; nên luôn sẵn sàng chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.

        Nữ nhà báo Canađa hỏi tiếp:

        - Chiến tranh bom đạn ác liệt thế này, làm sao mà các ông sống được?

        Tôi vừa cười vừa nói: Thì các người thấy chúng tôi vẫn sống đấy chứ, sống đàng hoàng nữa là khác…

        Cũng phải nói rằng, trong điều kiện chiến sự vô cùng ác liệt, đơn vị cơ động liên tục, chống càn, luồn càn, nay đây mai đã sang chỗ khác, nhưng vào những năm 1973-1974, Sở chỉ huy trung đoàn cạnh căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, được tổ chức khá quy củ, có nơi làm việc hầm chỉ huy trung đoàn, hội trường, trạm khách, nhà vệ sinh… Hầm tránh bom là hầm kèo, là vùng trũng, nên đắp nổi. Điều đáng quý là hơn 30 năm kể từ ngày chiến tranh chống Mỹ kết thúc, trung đoàn chuyển đi nơi khác, nhưng sở chỉ huy ngày ấy vẫn được cơ quan văn hóa, bảo tồn bảo tàng Cần Thơ bảo lưu, duy tu giữ nguyên hiện trạng. Sau này mỗi lần kết hợp công tác, tôi thường ghé lại thăm những căn nhà, căn hầm, gốc cây, lối đi, thậm chí cả từng hố bom đã trở nên thân thiết, máu thịt một thời. Ở đó, tôi đã cùng đồng chí, đồng đội sống những tháng ngày vô cùng ý nghĩa.

        Bắt giữ, tiếp xúc với các nhà báo đêm hôm trước, thì ngày hôm sau, tôi nhận được điện của anh Lê Đức Anh hỏi chi tiết vụ việc. Sau khi nghe tôi báo cáo, anh Sáu Nam dặn phải đối xử tử tế với số nhà báo đó, làm cho họ thấy được Mỹ - ngụy tráo trở, lật lọng, vi phạm hiệp định đình chiến đã được quốc tế công nhận; làm cho họ thấy rõ thiện chí, quan điểm nhất quán tôn trọng hiệp định đình chiến của ta. Theo anh Sáu thì tiếng nói của nhà báo phương Tây có giá trị tố cáo gấp nhiều lần ta phản đối - vì dư luận sẽ thấy được yếu tố khách quan của nó.

        Tôi lĩnh hội sự chỉ đạo của anh Sáu và thầm nghĩ về tầm tư duy của anh. Khi trao đổi lại cùng anh Bảy Sa về những điều anh Sáu dặn, tôi tán thêm: Cứ tưởng Tư lệnh của mình suốt đời làm công tác tham mưu, rặt đánh đấm. Thế mà tư duy chính trị ghê gớm thật!

        Anh Bảy Sa hưởng ứng: Khen các ông thì khen cả ngày…

        Chúng tôi chỉ giữ mấy vị nhà báo trong vài ngày, bởi chiến sự vẫn tiếp diễn, Sở chỉ huy trung đoàn luôn là mục tiêu oanh kích của địch. Nhỡ có chuyện gì sơ xảy đối với họ thì đối phương sẽ kiếm cớ xuyên tạc thiện chí của ta. Tranh thủ quãng thời gian ngắn ngủi, chúng tôi đưa số nhà báo này tới chứng kiến những vụ việc Mỹ - ngụy vi phạm hiệp định, gặp gỡ phỏng vấn nhân dân. Qua đối thoại với chúng tôi và chứng kiến quân đội Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pari, trước khi chia tay, vị nhà báo người Mỹ nói:

        - Nếu đúng như những gì các ông trả lời chúng tôi và những gì các ông chứng tỏ trên chiến trường, tôi chắc chắn cuối cùng các ông sẽ thắng.

        Còn vị nhà báo gốc Huế xúc động nói:

        - Tôi năm nay 48 tuổi. Trong lúc đất nước bị chiến tranh tàn phá, tôi không có công lao gì cống hiến cho Tổ quốc; hứa với các ông, tôi sẽ dùng ngòi bút của mình nói lên sự thật về chiến tranh Việt Nam, về sự vi phạm hiệp định đình chiến của chính quyền, quân đội Sài Gòn, để dư luận ủng hộ các ông, ủng hộ nhân dân Việt Nam.

        Chúng tôi chân thành cảm ơn thiện chí của các nhà báo, sau đó tổ chức để họ tiếp tục hành trình công việc an toàn. Được biết, ngay khi về Sài Gòn, họ đã viết bài, đưa tin những gì họ chứng kiến ở chiến trường miền Tây - về các lần gặp gỡ, đối thoại với nhân dân, về thái độ thiện chí, tôn trọng hiệp định của Quân giải phóng… Những bài báo đó đã có ảnh hưởng tốt đến dư luận quốc tế, phơi bày bản chất lật lọng, hiếu chiến của Mỹ - ngụy Sài Gòn trước dư luận quốc tế.

        Gặp gỡ các nhà báo Mỹ là một sự kiện nhỏ, một tình tiết thú vị trong chiến tranh. Giờ đây, cuộc chiến đã kết thúc, đúng như điều nhà báo Mỹ khẳng định trước khi rời Sở chỉ huy Trung đoàn 1 U Minh. Rất tiếc là trong điều kiện chiến tranh, không ai trong chúng tôi và các nhà báo có được địa chỉ của nhau. Không biết thời gian có làm nhạt nhòa, thậm chí mất hẳn những ký ức trong họ về những ngày đầu xuân Quý Sửu ở đồng bằng sông nước Cửu Long - đất Việt?


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:53:08 AM
         
*

*       *

        Về phía địch, cuối tháng 2 năm 1973, Quân đoàn 4 ngụy triệu tập một cuộc họp gồm đầy đủ tướng tá Bộ tư lệnh Vùng 4 chiến thuật, chỉ huy các sư đoàn, liên đoàn, để triển khai kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, bình định vùng đồng bằng sông Cửu Long trong năm 1973. Với kế hoạch này, địch không chỉ muốn khôi phục lại tình hình trước ngày 27 tháng 1 năm 1973, mà còn tham vọng bình định, lấn chiếm căn cứ U Minh và đến cuối năm 1973 sẽ bình định vùng nam Cà Mau.

        Để thực hiện tham vọng đó, từ đầu tháng 3 năm 1973, địch liên tiếp tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, với lực lượng hỗn hợp cả lục quân, hải quân, có không quân, pháo binh chi viện ồ ạt đánh xuống khu vực phía tây nam Long Mỹ. Riêng bộ binh có tới 30 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 9, Sư đoàn 21, lực lượng bảo an của các tiểu khu; thiết giáp có thiết đoàn 6 (hơn năm chục xe M.113), 4 tiểu đoàn pháo. Về hải quân, có 2 giang đoàn sông ngòi. Vào cao điểm cuối năm 1973, ở Chương Thiện, địch tập trung lên tới 75 tiểu đoàn. Một địa bàn không rộng lắm mà tập trung tới 75 tiểu đoàn địch, quả là một con số biết nói! Cũng vì vậy, Chương Thiện trở thành tâm điểm của cuộc đấu trí, đấu lực giữa Quân khu 9 với đủ các sắc lính Sài Gòn.

        Một trong những lý do mà thời gian này địch tập trung lực lượng bình định, đánh phá ở Chương Thiện, là vì sau khi Hiệp định Pari được ký kết, ở một số quân khu, chiến trường, ta đã quá máy móc tuyệt đối chấp bành lệnh ngừng bắn, “lỏng tay” đối với kẻ thù, nên chúng có điều kiện dồn xuống miền Tây.

        Mặc dù hiệp định đình chiến đã được ký kết và có hiệu lực, nhưng trên chiến trường miền Tây, không một ngày im tiếng đạn bom. Từ tháng 2 cho đến tháng 10 năm 1973, hầu như không ngày nào không xảy ra giao tranh giữa ta với địch; thường thì cấp tiểu đoàn, đại đội. Thậm chí có ngày hai - ba trận. Trên địa bàn phía bắc Long Mỹ - gồm các xã Long Bình, Long Trì, Phương Bình, Hòa An, lúc cao điểm, địch dồn về đây 21 tiểu đoàn - phần lớn là quân chủ lực Sư đoàn 9 và Sư đoàn 21.

        Có trong tay một lực lượng hùng hậu, địch quyết tìm mọi phương cách tiêu diệt hoặc đánh bật trung đoàn chúng tôi khỏi địa bàn bắc Long Mỹ, phá căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ. Điển hình là trận càn quy mô lớn của địch ngày 4 tháng 5 năm 1973. Lực lượng địch huy động tới cấp sư đoàn: Trung đoàn 14 Sư đoàn 9 và một tiểu đoàn bảo an từ Phụng Hiệp theo kênh xáng Lái Hiếu đánh xuống; Trung đoàn 16 từ Cầu Móng theo rạch Cái Cao đánh sang; từ hướng chi khu Long Mỹ và xã Long Trị có một tiểu đoàn bảo an đánh lên.

        Trong thế tương quan lực lượng hết sức bất lợi cho Trung đoàn 1 U Minh, đã có ý kiến cho rằng nên tránh càn để bảo toàn lực lượng, sau đó tìm cơ hội quay lại tập kích địch, giành lại địa bàn. Rất may là trong thời khắc khó khăn nhất, tôi, anh Bảy Sa cùng tập thể Đảng ủy Trung đoàn nhất nhất đồng lòng: quyết đánh, quyết bám trụ giữ vững địa bàn, giữ dân, đúng như mệnh lệnh quân khu đã giao cho trung đoàn.

        Biết chúng tôi đang phải đối mặt với thử thách vô cùng cam go, Bộ Tư lệnh Quân khu hết sức lo lắng. Anh Lê Đức Anh, anh Ba Trung điện hỏi chúng tôi suốt ngày về tình hình tác chiến, liệu chúng tôi có trụ vững được không? Có cần chi viện không?

        Tôi nhớ mãi, Tư lệnh quân khu cứ chất vấn tôi: trung đoàn bấy giờ ở đâu? Có đúng đang ở Phương Bình, Long Trị… hay đã luồn đi chỗ khác?

        Bộ Tư lệnh nghi ngờ, căn vặn, lắm khi tôi cũng tự ái. Sau này hiểu ra, mới thông cảm cho cấp trên. Bởi trước đó khi quyết định giao cho Trung đoàn 1 nhiệm vụ đứng chân bảo vệ vùng giải phóng bắc Long Mỹ, bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Tư lệnh quân khu cũng đã đưa trung đoàn đặc công của quân khu lên ém ở Ba Hồ, chờ thời cơ sẽ đánh vào Cần Thơ. Nhưng sau mấy tháng chiến sự dữ dằn quá, trung đoàn đặc công đã rút khỏi địa bàn. Cái dở là khi Tư lệnh hỏi, anh em mình nói là đơn vị vẫn trụ tại Ba Hồ. Phát hiện chuyện này, anh Sáu Nam rất giận và lệnh cho trung đoàn đặc công phải bằng mọi cách quay lại Ba Hồ.

        Về sau, có dịp tiếp xúc, làm việc với anh Sáu, tôi nhắc lại chuyện anh căn vặn chúng tôi khi đó, anh cười và trả lời rất chân tình:

        - Trận mạc, đánh đấm mà không tin anh em thì sao chỉ huy nổi. Nhưng thằng đặc công làm mình hơi bực, nghi ngờ cả U Minh của các ông. Tính của mình đã hạ quyết tâm rồi phải làm tới cùng, thực hiện bằng được. Vào thời điểm đó, nếu mình lùi một bước, thằng địch sẽ lấn mấy bước; mất đất, mất dân là mất tất cả.

        Trở lại với cuộc hành quân quy mô lớn của địch vào bắc Long Mỹ. Do chúng tôi chủ động chuẩn bí đối phó, nên khi đặt chân đến xã Phương Bình và xã Hòa An, địch đã bị Trung đoàn 1 và lực lượng phòng thủ của Tỉnh ủy Cần Thơ chặn đánh quyết liệt. Lúc này, Tỉnh ủy đã chuyển sang địa điểm mới, nhưng lực lượng bảo vệ Tỉnh ủy vẫn ở lại bám trụ chiến đấu cùng bộ đội chủ lực. Bị đòn phủ đầu choáng váng, địch không tiến được thêm, đành trụ lại và hai bên ở thế “đôi công” quần lộn với nhau ngày này qua ngày khác.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:57:39 AM

        Ngày 13 và ngày 15 tháng 5, biết trước ý định của địch hành quân lấn chiếm vùng giải phóng ở bắc Long Mỹ, Ban chỉ huy trung đoàn chủ động chỉ đạo các đơn vị bố trí trận địa mật phục, tạo thế, đánh hai trận tiêu diệt hai đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 14 ngụy và hai đại đội thuộc Tiểu đoàn bảo an 429. Bị thương vong nặng nề, phần lớn đám lính bảo an còn lại đào - rã ngũ. Địch buộc phải đưa Tiểu đoàn bảo an 429 về hậu cứ củng cố.

        Từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 6, trung đoàn tổ chức nhiều trận đánh đạt hiệu quả cao. Điển hình là trận ngày 9 tháng 6, Tiểu đoàn 309, do anh Năm Quang chỉ huy, phục kích diệt hai đại đội thuộc Tiểu đoàn bảo an 429 đi càn; trận ngày 11 tháng 6, Tiểu đoàn 309 tiêu diệt hai đại đội của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 ngụy đánh vào khu vực rạch Cái Cao…

        Một trong số ít những vấn đề tác động đến tâm tư tình cảm của anh em chúng tôi lúc này không phải là áp lực đánh địch vi phạm hiệp định mà là đánh hay không đánh - là “độ chênh” giữa chỉ đạo của trên với thực tiễn chiến trường; là nhận thức thế nào cho đầy đủ khái niệm “chấp hành nghiêm” hiệp định đình chiến, là “bám lấy luật pháp quốc tế, “tự kiềm chế”, buộc đối phương phải thi hành…

        Thú thực lúc đó, chúng tôi phải căng mình ra để chiến đấu, đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng, vi phạm hiệp định, không tường tỏ những “vấn đề được cho là thiếu đồng thuận” giữa Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 với trên xung quanh việc thi hành Hiệp định Pari. Tuy nhiên vẫn nghe một vài cá nhân nào đó có nói, với dụng ý thiếu thiện chí: có thể Quân khu 9 ở xa Miền, xa Trung ương đã “ngủ quên”, không biết Hiệp định Pari đã được ký kết, nên cứ đánh miết, đánh hoài. Thậm chí có người còn phán xét cay nghiệt hơn: Quân khu 9 đánh địch miết chín, mười năm nay rồi, chưa ngán hay sao mà còn ham đánh dữ vậy?…

        Sau này, được làm việc với các anh Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Ba Trung…, tôi còn nghe các anh nói nhiều về những vấn đề hết sức tế nhị này. Ví như, vào tháng 7 năm 1973, anh Ba Trung thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu về Miền báo cáo tình hình miền Tây, được một số anh trong Bộ Tư lệnh Miền truyền đạt tinh thần Hội nghị binh vận của Miền, xác đỉnh phải “Trường kỳ mai phục”, tự kiềm chế, tăng cường binh vận. Khi anh Ba Trung báo cáo tình hình địch vi phạm hiệp định, lấn chiếm vùng giải phóng, quân khu buộc phải đánh trả, chỉ có như vậy mới có đất sống; thì có anh còn đưa hình ảnh hai con gà chọi nhau để có ý nhắc nhở Quân khu 9 rằng: hai con gà đá nhau trên chậu hành, không khéo chậu hành tiêu tan mà hai con gà cũng sứt đầu mẻ trán.

        Khi anh Ba Trung báo cáo Quân khu 9 không thể lùi về căn cứ U Minh theo chỉ thị của trên, mà trái lại đã chỉ đạo các trung đoàn trụ bám tại chỗ, tiến công địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, và thượng sách để tạo thế thủ là đẩy mạnh tiến công địch, thì có anh trong Bộ Tư lệnh Miền đã phê bình: “Tư tưởng tiến công của quân khu là tốt. Song địch đã thỏa thuận với ta bằng Hiệp định Pari, có quốc tế công nhận. Nếu ham đánh, thì riêng chiến trường Quân khu 9 có tới những 5.000-7.000 đồn bốt; cứ nhổ đồn thế biết bao giờ cho xong. Phải kiên trì đấu tranh buộc địch phải thi hành hiệp định thôi…”.

        Chung quanh việc đánh hay không đánh còn nhiều tình tiết, ngẫm ra thấy thật buồn, nếu không nói là đau lòng. Thử hỏi, là những người lính từng lăn lộn trên chiến trường vô cùng khốc liệt, đã bao lần đối đầu với bom đạn, mà ở đó sự sống và cái chết không hề một lằn ranh; đã bao lần mang trên mình thương tích, bao lần nuốt nước mắt vào trong ôm xác đồng chí, đồng đội vượt qua làn đạn địch,… làm sao chúng tôi không khao khát hòa bình; không mong mỏi một ngày đất nước, xứ sở im tiếng súng? Và xương máu của biết bao cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam, trong đó có bà con, cô bác miền Tây đã đổ xuống vì độc lập tự do…, lẽ nào giờ đây chúng tôi lại “tự trói tay mình”, ngồi nhìn kẻ thù ngang nhiên vi phạm hiệp định, ngang nhiên lấn chiếm vùng giải phóng… Nghĩ về khoảng cách bất cập giữa ý kiến chỉ đạo của trên với chủ trương của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9, tôi càng khâm phục, nể trọng tập thể lãnh đạo, chỉ huy Quân khu 9 khi đó. Được công tác, chiến đấu dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của các anh Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt…, của một tập thể cán bộ ưu tú như vậy, chúng tôi đã trưởng thành, vững vàng hơn nhiều.

        Mùa hè năm 1973, trung đoàn tôi được trên tăng cường một đợt tân binh, sang năm 1974 tiếp tục được bổ sung một đợt nữa; mỗi đợt trên hai trăm anh em quê miền Bắc. Số anh em này phần đông là người Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, có một số thanh niên Hà Nội. Nhiều anh em đã học hết cấp III, có học vấn, lại được huấn luyện cơ bản, sức khỏe tốt; đặc biệt đánh rất giỏi, thông minh. Tôi rất quý số tân binh này, không phải vì cục bộ địa phương, miền Nam hay miền Bắc, mà cái chính là tuổi trẻ, thông minh, ra trận vô tư, đánh hết mình. Trong số tân binh đợt này, thì Mai Quang Phấn, Lê Thái Bộc (Thanh Hóa), Trương Gia Minh, Trần Tường Huấn, Nguyễn Ngọc Bình, Tiến, Tùng, Hiệp, (Hà Nội), Phạm Đức Tráng (Quỳnh Lưu, Nghệ An)… là những cái tên để lại trong tôi nhiều ấn tượng; thậm chí như Lê Thái Bộc, Nguyễn Ngọc Bình… đã có lần bảo vệ tôi thoát khỏi vòng vây của địch… Thời gian gần đây khi có điều kiện, tôi cùng số anh em này lại trở về thăm lại chiến trường xưa, gặp gỡ bạn chiến đấu ngày trước, nay đã thành ông, thành bà; thăm lại những gia đình ở Vĩnh Viễn - Long Mỹ, Hỏa Lựu - Vị Thanh… một thuở cưu mang, nuôi dưỡng; có lúc kề vai chung sức cùng chúng tôi đánh địch, bảo vệ thôn ấp, bảo vệ những miệt vườn cây trái, những dòng kênh xanh mát câu hò.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2016, 05:45:45 AM

*

*       *

        Trở lại với chiến trường bắc Long Mỹ vào mùa hè 1973 là thời điểm chiến sự diễn ra quyết liệt nhất. Lúc này Trung đoàn 16 thuộc Sư đoàn 9 ngụy và một số tiểu đoàn bảo an tập trung đánh phá khu vực rạch Cái Cao, mưu đồ của địch không chỉ lấn chiếm vùng giải phóng, mà còn tạo thế tập kích căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ và Sở chỉ huy Trung đoàn 1. Mấy tháng liền Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 và hai tiểu đoàn bảo an gần như ngày nào cũng càn phá địa bàn này.

        Không thể để cho địch muốn làm gì thì làm, phải chặn đứng mọi hành động, ngang ngược của chúng. Anh Lê Đức Anh bàn với chúng tôi cố gắng tổ chức một trận đánh có tính chất tiêu diệt cỡ tiểu đoàn địch - chỉ có như vậy mới đánh gục được thói ngông nghênh của địch, giống như trước đây chúng tôi diệt lữ đoàn thủy quân lục chiến ở căn cứ Thứ Mười Một - làm phá sản gần như hoàn toàn chiến dịch “nhổ cỏ U Minh” của địch.

        Thấu hiểu ý định của cấp trên, và cũng muốn cho Tiểu đoàn 3 ngụy một đòn đích đáng hơn, tôi và anh Bảy Sa hứa với đồng chí Tư lệnh quân khu là chắc chắn trung đoàn sớm thực hiện được ý định của quân khu. Liền đó, tôi bàn bạc với anh Năm Quang, anh Mười Kiệm cho Tiểu đoàn 309 tổ chức bám nắm mọi động thái của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 ngụy. Một trung đội thuộc Đại đội 6 trinh sát của trung đoàn cũng được tăng cường cho Tiểu đoàn 309 nắm địch và đánh địch.

        Trong quá trình trinh sát nắm địch, xuất hiện một tình tiết, gợi cho tôi một ý tưởng táo bạo. Anh em trinh sát báo cáo, ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết, do địch đánh dữ ở địa bàn gần rạch Cái Cao, cơ quan Tỉnh ủy Cần Thơ được lệnh chuyển sang một vi trí khác. Khi di chuyển, một cán bộ cơ yếu của Tỉnh ủy bỏ quên một tài liệu quan trọng ở căn cứ Tỉnh ủy. Mấy ngày sau, anh này quay lại lấy tài liệu thì căn cứ vẫn nguyên vẹn, không có dấu vết kẻ địch sục sạo, phá phách. Mặc dầu lúc đó Tiểu đoàn 3 ngụy vẫn đóng gần căn cứ Tỉnh ủy.

        Qua phân tích tình hình, tôi cho rằng kẻ địch vẫn chưa phát hiện được căn cứ của Tỉnh ủy. Vì vậy, chúng tôi có thể sử dụng căn cứ này làm chỗ ém quân để bí mật, bất ngờ, tập kích địch ban ngày. Không để tuột mất cơ hội hiếm hoi này, chúng tôi chỉ đạo Tiểu đoàn 309 và Đại đội 6 trinh sát bám nắm Tiểu đoàn 3 ngụy, đặc biệt là khi chúng lui về gần căn cứ Tỉnh ủy. Sau khi nắm chắc quy luật hoạt động của địch, đêm 25 tháng 6 năm 1973, tôi lệnh cho Quách Văn Lép - Đại đội trưởng bí mật đưa Đại đội 6 trinh sát lên ém ở căn cứ Tỉnh ủy. Phần lớn lực lượng Tiểu đoàn 309 tiếp tục bố trí trận địa phòng ngự ở ngã ba kinh xáng Lái Hiếu và rạch Cái Cao; sẵn sàng đợi lệnh dâng đội hình lên tập kích vì trí địch tập kết; đồng thời, Tiểu đoàn 309 đưa một đại đội ra giữa đồng, đón lõng địch rút chạy khi bị Tiểu đoàn 309 và Đại đội 6 tập kích. Trận này, tôi trực tiếp cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn 309 chỉ huy bộ đội đánh địch. Quân số tham gia trận đánh gồm 125 cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 309, do anh Năm Quang - Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy và Đại đội 6 trinh sát của trung đoàn với gần ba chục chiến sĩ, do Đại đội trưởng Quách Văn Lép chỉ huy.

        Ngày 25 tháng 6, thời gian có cảm giác dài vô tận.Thời gian chờ đợi bao giờ cũng vậy. Cùng Quách Văn Lép và hơn ba chục tay súng Đại đội 6, náu mình trong căn cứ Tỉnh ủy, anh em chúng tôi ai nấy đều căng mắt, dõi tìm mọi động tĩnh của địch. Suốt cả ngày nhìn ra đồng chỉ thấy một màu nắng. Quá chiều, có anh em sốt ruột, rục rịch muốn trở về căn cứ. Nhưng rồi tất cả nhất nhất theo lệnh, không ai được rời vị trí cảnh giới. Và điều gì đến cũng phải đến. Hơn bốn giờ chiều, Lép lại gần tôi thì thào:

        Báo cáo Trung đoàn trưởng, địch đã xuất hiện.

        Theo tay Lép chỉ, tôi thấy một toán lính khá đông, lố nhố, từ hướng Cầu Móng, theo rạch Cái Cao hành quân về vị trí tập kết dã chiến. Tôi lệnh cho Đại đội 6 chuẩn bị chiến đấu và lập tức cho thông tin báo ngay cho Tiểu đoàn 309 chuẩn bị dâng đội hình lên bám địch.

        Theo hướng Lép chỉ, chúng tôi thấy một toán lính lố nhố đang lục tục kéo nhau đi về phía rạch Cái Cao. Rồi, chừng như hành quân sục sạo suốt cả ngày nắng nóng, chỉ chờ về đến đây, đứa nào đứa nấy cởi bỏ áo quần ngoài, tranh nhau nhảy xuống rạch tắm. Không để lỡ thời cơ, tôi lệnh cho Đại đội 6 trinh sát nổ súng đánh thẳng vào đội hình địch. Từ bờ ruộng, lùm cây, bộ đội bất thần dũng mãnh xông lên. Nhiều anh em cởi trần, chỉ độc chiếc quần cộc trên mình, súng AK kẹp nách bắn găm, bắn gần, ném lựu đạn hạ gục hàng chục tên địch ngay từ loạt trận đầu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2016, 05:46:25 AM

        Bị đánh bất ngờ, quân địch cuống cuồng, vớ vội súng ống, áo quần tháo chạy. Cùng lúc, Tiểu đoàn 309 áp sát đội hình địch đang đóng dã ngoại ở bên bờ rạch Cái Cao, được lệnh nổ súng. Vậy là chưa kịp hoán đổi vị trí cho nhau, địch đã bị tập kích từ nhiều phía. Quá bất ngờ, địch tháo chạy ra đồng, bị đại đội của Tiểu đoàn 309 đón lõng diệt gọn. Trận đánh diễn ra chưa đầy năm chục phút. Nắng chiều tắt, cũng là lúc chúng tôi kết thúc gọn gàng trận tập kích Tiểu đoàn 3 ngụy. Kết quả. Tiểu đoàn 309 và Đại đội 6 trinh sát đã diệt gọn Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy, tiêu diệt trên 150 tên địch (có 1 thiếu tá - tiểu đoàn trưởng và 1 đại úy); ta thu 197 súng bộ binh, 18 máy vô tuyến điện. Việc ta diệt gọn Tiểu đoàn 3 ngụy làm cho Tiểu đoàn bảo an 428 đóng gần rạch Cái Cao, đối diện với Tiểu đoàn 3, hốt hoảng tháo chạy.

        Trận tập kích diệt gọn Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 sư đoàn 9 ngụy là đòn trừng trị đích đáng hoạt động phá hoại hiệp định đình chiến của Mỹ - ngụy. Đây là một trận đánh độc đáo. Từ khi chuẩn bị cho đến kết thúc trận chỉ một đêm, một ngày, đạt hiệu quả cao; lực lượng ta ít nhưng diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí, gây tiếng vang lớn. Ta chỉ hy sinh một đồng chí, bị thương nhẹ một đồng chí.

        Trực tiếp chỉ huy trận đánh, tôi hết sức xúc động, khâm phục bởi tinh thần chiến đấu dũng cảm, trí thông minh, khôn khéo của cán bộ, chiến sĩ ta; nhất là Đại đội trưởng Đại đội 6 trinh sát Quách Văn Lép và hơn ba chục chiến sĩ của anh. Đặc biệt, tôi vô cùng xúc động khi bắt gặp Nguyễn Tâm - phóng viên mặt trận của báo Quân khu 9, một thương binh, chân đi tập tễnh, nhưng luôn bám sát đội hình chiến đấu của đại đội trinh sát. Nguyễn Tâm quê Bến Tre, vốn là chiến sĩ của Trung đoàn 1. Trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968, anh bị thương, gãy chân. Sau khi điều trị lành vết thương, dù đi lại khó khăn, trên muốn chuyển Tâm về một đơn vị có tính chất tĩnh tại, nhưng Tâm lại học chụp ảnh và xin bằng được làm phóng viên ảnh mặt trận, và liên tục bám các đơn vị đánh địch. Tâm đã ghi lại được những tấm ảnh - những sử liệu bằng hình ảnh vô cùng quý giá của trận đánh này, cũng như nhiều trận đánh khác của Trung đoàn 1 U Minh. Với tư liệu ảnh phong phú của mình, Tâm không chỉ cung cấp cho báo chí, mà sau này, vào những lần họp mặt truyền thống của Trung đoàn 1 U Minh, anh đã tự tổ chức những phòng ảnh truyền thống - với những tấm hình vô cùng sống động, làm xúc động biết bao cán bộ, chiến sĩ trung đoàn.

        Từ sau trận tập kích tiêu diệt Tiểu đoàn 3 ngụy ở rạch Cái Cao, cơ bản chúng tôi chuyển sang đánh địch ban ngày.

        Sau thất bại nặng nề này, địch rút toàn bộ lực lượng về hai bên trục lộ 4 để củng cố và chừng 10 ngày sau, lại dồn lực lượng liên tục hành quân lấn chiếm, hòng đánh bật Trung đoàn 1 ra khỏi địa bàn bắc Long Mỹ. Kết cục, chúng cũng chiếm được một số khu vực, líp lại được ở các đồn: Xáng Bộ, Rọc Dứa, Cái Sơn, kinh Giải Phóng, kinh Nhà Nước,…

        Về ta, trung đoàn chúng tôi và đơn vị bạn vẫn đứng vững, đặc biệt là Sở chỉ huy trung đoàn vẫn trụ bám ở Long Bình - Phụng Hiệp; các tiểu đoàn dãn ra đóng xen kẽ với địch - hình thành “thế da báo” - điều mà tổng thống chính quyền Sài Gòn và tướng tá, binh lính địch không bao giờ muốn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2016, 05:49:13 AM

*

*       *

        Thực tiễn chiến sự trên chiến trường Khu 9 - đúng hơn là cuộc chiến đấu sinh tử - quyết liệt của lực lượng vũ trang Khu 9, Khu 5, Khu 8,… trong nửa năm đầu 1973, đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng, phá hoại Hiệp định Pari, là cơ sở để Trung ương, Quân ủy Trung ương khẳng định một chân lý là chúng ta không bao giờ ảo tưởng, trông chờ vào “thiện chí” hòa bình của kẻ thù. Khi ta thụ động, ta thiện chí thật sự, là lúc kẻ địch lấn tới, và khi đó tổn thất, mất mát của ta là không tránh khỏi. Những năm cuối thập niên 50, vì ta ảo tưởng vào thiện chí của Mỹ - Diệm tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, nên kẻ thù đã dìm miền Nam trong biển máu. Chỉ đến khi Trung ương Đảng (khóa II) có Nghị quyết 15 về nhiệm vụ cách mạng miền Nam, chúng ta mới xốc lại lực lượng, đưa cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới - giai đoạn tiến công địch, mở đầu bằng phong trào Đồng khởi. Giờ đây cũng vậy, khi mà ở Khu 5, Khu 8,… mất dân, mất đất; bên cạnh đó Khu 9 giữ vững phương châm tiến công địch, giữ được dân, được đất, mở rộng vùng giải phóng trong khi địch dồn lực lượng về miền Tây để tăng cường bình định, khi mà chỉ mỗi phần đất nam Long Mỹ (Chương Thiện) có tới 75 tiểu đoàn địch, mà chúng vẫn không làm gì được, thì vấn đề “đúng”. “sai” đã rõ. Đó cũng là cơ sở để Trung ương Đảng triệu tập hội nghị lần thứ 21 (cuối tháng 6 - đầu tháng 1 năm 1973). Tôi tin chắc rằng những kinh nghiệm của quân và dân Khu 9 đánh địch vi phạm hiệp định, mà anh Võ Văn Kiệt và anh Lê Đức Anh mang đến hội nghị là nhân tố vô cùng quan trọng để Trung ương Đảng nghiên cứu đề ra Nghị quyết 21, khẳng định con đường duy nhất đúng của cách mạng miền Nam là cách mạng tiến công; dùng bạo lực cách mạng đè bẹp bạo lực phản cách mạng. Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương kêu gọi quân và dân ta trên các chiến trường miền Nam phát huy cao độ tinh thần tiến công, đẩy mạnh tiến công địch, tiếp tục tạo thế, tạo lực, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thực hiện trọn vẹn Di chúc của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

        Sau khi dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 về, anh Lê Đức Anh đã gặp gỡ, truyền đạt lại tinh thần chủ trương mới của Trung ương cho cán bộ chủ trì các cơ quan và đơn vị trực thuộc quân khu (vì mãi đầu tháng 10 năm 1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 mới họp lần 2 và ngày 13 tháng 10 mới chính thức ra nghị quyết).

        Sự nhìn nhận, đánh giá khách quan của Trung ương Đảng về bản lĩnh chính trị, tinh thần chiến đấu của quân và dân Khu 9, đặc biệt tinh thần nghị quyết mới của Đảng ta tiếp thêm nguồn sức mạnh, ý chí, động viên cổ vũ chúng tôi tiếp tục chiến đấu, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

        Lúc này, ở địa bàn Trung đoàn 1 U Minh đứng chân hoạt động (bắc Phụng Hiệp), lực lượng của địch có hai tiểu đoàn. Một tiểu đoàn bảo an đóng ở Cái Sơn. Tiểu đoàn này có một đại đội đóng ở kinh Nhà Nước, một đại đội đóng ở vàm Cái Cao. Tiểu đoàn thứ hai đóng ở rạch Rọc Dứa (có một đại đội đóng ở Xáng Bộ, một đại đội đóng ở Quang Phong).

        Tới cuối tháng 6 năm 1973, phần lớn chủ lực ngụy rút về Vị Thanh và Cần Thơ, chỉ để lại lực lượng bảo an. Theo dõi sát sao mọi động thái của địch, chúng tôi cho rằng đây là thời cơ thuận lợi để tiến công tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng. Liền đó, chúng tôi quyết định bao vây tiêu diệt căn cứ Rọc Dứa, Ở xã Hòa An, Phụng Hiệp. Chủ trương của trung đoàn là bao vây, giam hãm địch ở căn cứ, buộc địch phải tới ứng cứu, để tiêu diệt, sau đó mới diệt đồn. Trận đánh không lớn, nhưng là cả một cuộc bài binh bố trận, bày mưu tính kế giữa ta và địch. Diễn biến trận đánh hoàn toàn trùng hợp với ý định ban đầu của chúng tôi. Bị ta bao vây chặt năm ngày, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, lính địch ở Rọc Dứa kêu rất dữ, buộc quân ở Quang Phong phải đến ứng cứu. Qua khai thác tên tiểu đoàn phó bảo an bị bắt trong trận này, chúng tôi biết đề phòng bị ta phục kích đánh úp, địch rất cẩn thận khi vào, chúng bố trí hành quân với nhiều thê đội để ứng cứu lẫn nhau; có nhiều phương án đối phó khi ta đánh chặn. Tuy nhiên, địch không ngờ rằng, chúng tôi chủ trương không đánh khi chúng vào tăng viện mà chọn khi chúng ra để đánh.

        Sau mấy ngày vào chi viện cho Rọc Dứa, không thấy ta động tĩnh gì, lực lượng chi viện quyết định rút và cũng rất ranh ma, không ra theo trục lộ mà đi tắt qua cánh đồng Gò. Nhưng, “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, lần này, chúng cũng không ngờ chúng tôi đã giăng lưới sẵn. Vào 3 giờ chiều hôm đó, địch lục tục băng qua đồng Gò, bị chúng tôi đón lõng diệt và bắt gọn hai đại đội; bắt được tên tiểu đoàn phó bảo an. Giải quyết xong lực lượng tăng viện, chúng tôi quay lại dùng chiến thuật cường tập diệt luôn đồn Rọc Dứa ngay chiều hôm đó. Lực lượng đi ứng cứu cho Rọc Dứa bị tiêu diệt, bị bắt và đồn Rọc Dứa đã lọt vào tay Quân giải phóng làm cho đám lính còn lại ở Quang Phong vô cùng lo sợ, bỏ chạy về Cái Sơn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2016, 05:51:58 AM

        Bảy ngày hôm sau, chúng tôi tiến công tiêu diệt đồn Cái Sơn, với hơn một đại đội bảo an; diệt được tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảo an ở đây. Như phản ứng dây chuyền, địch ở căn cứ kinh Nhà Nước và vàm Cái Cao, chưa bị đánh đã tan, rủ nhau chạy về Vị Thanh và các căn cứ bám lộ 4. Vùng giải phóng bắc Long Mỹ được mở rộng như hồi tháng 1 năm 1973.

        Những tháng ngày đánh địch vi phạm Hiệp định Pari ở địa bàn bắc Long Mỹ, trung đoàn chúng tôi được sự giúp đỡ, chi viện nhiệt tình của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các xã Phương Bình, Hòa An, Long Trị, Ba Hồ,… Ở đâu thì tình dân, lòng dân cũng là bức thành trì kiên cố, là điểm tựa của Quân giải phóng. Có thời điểm vì địch đánh phá quá dữ, phi pháo oanh kích suốt ngày đêm, bà con mình buộc phải ra bám các trục lộ để tránh bom đạn. Nhưng đêm đêm lại bí mật trở về cung cấp gạo, đạn cho bộ đội. Trường hợp địch phong tỏa, việc tiếp tế gạo, nước cho bộ đội gặp muôn vàn khó khàn. Các má, các chị dùng thuyền, trên chở lá chầm, cây tràm, như đi sửa nhà, nhưng dưới lòng thuyền chở vài bao gạo 50 ký, bọc ni lông tránh ướt, đều đặn tiếp tế cho trung đoàn. Nhiều chị làm giả người mang bầu, giấu trong bụng dăm ký gạo, “góp gió thành bão”, để bộ đội đừng đứt bữa. Nước uống thì chị em cho vào can, mỗi xuồng chở dăm bảy can, mỗi can 20-30 lít. Chị em còn nghĩ ra cách pha vào nước một chút màu xi-rô, giả làm xăng. Khi qua đồn địch, nếu chúng giữ lại tra hỏi, thì bảo mua xăng về chạy máy bơm… Có những bà, những cô bám trung đoàn tôi như hình với bóng; đơn vị đi đâu, họ đi đó. Anh em chúng tôi xem họ như những nhân viên quân nhu, tiếp phẩm ngoài biên chế của mình. Quả thật, không có những con người như vậy, việc bảo đảm hậu cần cho bộ đội vô cùng khó khăn. Quả là ở đây đã hình thành một hình thức hậu cần nhân dân đặc thù, tuyệt vời mà chỉ có Việt Nam mình mới có. Tình cảm, sự cưu mang, chở che, của các gia đình ông Tư Dừa, ông Hai Răng, bà Tư Bo, ông Năm… ở Phương Bình những năm 1970-1973 với tôi luôn canh cánh bên lòng. Ngót bốn mươi năm qua, đã nhiều lần tôi trở lại đất này; có khi chỉ là dăm câu chào hỏi, cái bắt tay; khi đồng quà tấm bánh, rồi quây quần với các gia đình bữa cơm đạm bạc…, tất cả như một sự tri ân những người dân quê chân chất, nghèo khó, nhưng tình cảm với cách mạng, với những người lính chúng tôi thì bao la như trời biển.

        Trong niềm vui giải phóng hoàn toàn năm xã bắc Long Mỹ, chúng tôi vô cùng phấn khởi nhận được tin tròn 10 năm ngày truyền thống (23.9.1963 - 23.9.1973), Trung đoàn 1 U Minh được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang; và tiếp đó, ngày 20 tháng 12 năm 1973, Tiểu đoàn 309, Đại đội 17 hỏa lực của trung đoàn cũng được phong tặng danh hiệu cao quý này.

        Tình hình bắc Long Mỹ tạm yên. Cuối năm 1973, chúng tôi được lệnh đưa trung đoàn lên khu vực kinh Ngang, giáp Châu Thành tỉnh Sóc Trăng. Tại đây, chúng tôi tổ chức trận cường tập đồn Nghĩa Trang (đóng gần một nghĩa trang). Chỉ với hai đại đội, áp dụng chiến thuật cường tập ban ngày, chúng tôi giải quyết nhanh, gọn đồn Nghĩa Trang. Nhân đà thắng lợi, trong hai tháng đầu năm 1974, trung đoàn cùng lực lượng địa phương lần lượt gỡ được gần hai chục đồn bốt, giải phóng hoàn toàn tuyến kinh Ngang, xã Long Thạnh, hình thành một vùng giải phóng liên hoàn ba xã nam lộ 4, mở thông tuyến kinh Ngang về bắc Long Mỹ. Trước nguy cơ bị ta khai thông tuyến giao thông đường thủy quan trọng này, địch buộc phải điều Trung đoàn 15 Sư đoàn 9 đang hành quân tái chiếm vùng giải phóng huyện Mỹ Xuyên về chi viện. Địch chiếm lại được khu vực ngã tư Cây Dương, ngã tư Búng Tàu và vài đồn xung quanh chi khu Phụng Hiệp. Vấn đề quan trọng là tuyến kênh rạch để thuyền bè đi lại từ nam Long Mỹ lên vẫn do địch khống chế thông qua một số đồn nằm dọc tuyến đường thủy này.

        Trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang quân khu tác chiến ở địa bàn này, anh Ba Trung gặp bàn với chúng tôi ý định của anh Sáu Nam và các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu là phải nhổ được một vài đồn dọc tuyến đường thủy từ nam Long Mỹ lên, trong đó “xương” nhất là đồn Trại Dài. Chỉ có thông tuyến đường thủy này, thì khi cần, cơ động lực lượng từ tuyến nam Long Mỹ, Phụng Hiệp… lên Cần Thơ dễ dàng hơn.

        Bình thường, nhổ một đồn cỡ vài đại đội ngụy chốt giữ đối với trung đoàn tôi khá đơn giản. Nhưng với đồn Trại Dài, qua trinh sát thực địa, cái khó là đồn nằm giữa đồng trống, lại đang mùa nước lên ròng, bộ đội tiếp cận rất dễ bị lộ. Sau khi nghiên cứu, trao đổi kỹ trong chỉ huy trung đoàn và Tiểu đoàn 309, tôi quyết định áp dụng chiến thuật cường tập. Tiểu đoàn 309 là đơn vị có sở trường đánh đồn bằng hình thức chiến thuật này.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2016, 05:54:53 AM

        Vì đồn ở giữa đồng trống, lại đang mùa nước lớn, không thể tiếp cận ban ngày, nên chúng tôi cho bộ đội bí mật tiếp cận ban đêm. Lính Tiểu đoàn 309, anh nào anh nấy mình trần, bận quần cộc, theo kinh rạch, ruộng lác, tiềm nhập như rái cá. Trời gần sáng, bộ đội đã cắt hàng rào, mở cửa, ém sát lô cốt đầu cầu mà địch không hay biết gì. Chờ cho trời tảng sáng, định rõ mục tiêu, tôi lệnh cho hỏa lực ĐKZ, cối phát hỏa. Tiếp đó, bộ bình đồng loạt xung phong. Toàn bộ trận đánh diễn ra chưa đầy 30 phút. Đồn Trại Dài bị tiêu diệt, ta không thương vong. Được tin đồn Trại Dài bị xóa, địch ở một vài đồn lân cận như Vàm Đinh, Cá Nóc,… bỏ chạy. Tuy vậy, khi giải tỏa tuyến đường thủy này, trung đoàn chúng tôi còn vấp phải vài điểm “rắn” nữa, ví như: giải quyết hội đồng xã Phương Phú, đồn Kinh Giám, đồn gần nhà thờ Bô La, đồn gần nhà thờ Trà Lồng.

        Sau khi trinh sát thực địa, chúng tôi quyết định diệt hội đồng xã Phương Phú trước; từ đó cô lập đồn nhà thờ Bô La. Hội đồng xã Phương Phú bị diệt, mặc dù địch ở căn cứ Trà Lồng, do thiếu tá Tông, đội lốt cha cố, rất ác ôn cầm đầu, ngoan cố chống cự, nhưng đã bị cô lập.

        Với đồn gần nhà thờ Bô La, khó đánh hơn, bởi lính đồn chủ yếu là dân Công giáo. Sau bao nhiêu năm bị địch tuyên truyền nhồi sọ, tư tưởng chống cộng thấm vào chân tơ kẽ tóc. Địch ở Bô La có hơn một đại đội. Trước đây, đã hai lần Trung đoàn 2 tập kích vào ban đêm, nhưng không thành. Vì thế, địch ở đây càng hung hăng, khoác lác.

        Sau khi trinh sát nắm địch, chúng tôi dự định sử dụng hai tiểu đoàn - tập trung lực lượng áp đảo để giải quyết bằng được chốt khá rắn này. Lực lượng tập kích đồn là Tiểu đoàn 307. Lực lượng chặn viện là Tiểu đoàn 309. Cũng như một số trận trước đây, chúng tôi quyết định đánh vào 4 giờ chiều là khoảng thời gian mà địch sau một ngày hành quân lấn chiếm, canh gác… dễ uể oải, chểnh mảng gác xách, mất cảnh giác.

        Vì lính đồn chủ yếu là giáo dân, nên chỉ huy trung đoàn chỉ thị cho Tiểu đoàn 307 phải làm tốt việc tuyên truyền vận động anh em binh lính. Biết đồng chí Sáu Bé - Chính trị viên Tiểu đoàn 307 là dân vùng này, từng là bí thư chi bộ của cơ sở đảng ở đây, tôi và anh Bảy Sa bàn với Sáu Bé bằng mọi cách phải gặp được cha Nhâm - chủ trì giáo xứ Bô La, thuyết phục cha cố vận động giáo dân vào đồn kêu gọi con em hạ súng, trở về với cách mạng.

        Gặp cha Nhâm, Sáu Bé đặt vấn đề thẳng thắn nhưng cũng rất điềm đạm:

        - Ở vùng này, cha chẳng lạ gì tôi và bộ đội Trung đoàn 1 U Minh. Mục tiêu của chúng tôi là hạ đồn. Nhờ cha thuyết phục giáo dân vào đồn gọi con em trở về để tránh thương vong. Nội trong hôm nay chúng tôi sẽ đánh; thật đau buồn nếu như xảy ra cảnh “nồi da xáo thịt”…

        Cha Nhâm nhận lời và tích cực hơn, vị linh mục này còn cho mời tập trung giáo dân, để Sáu Bé tuyên truyền thuyết phục. Nghe thấu tình, hơn hai chục gia đình lập tức vào đồn gọi con em mình trở về. Nhưng lính trong đồn ngạo mạn tuyên bố:

        - Việt cộng chỉ giỏi nói dóc, làm sao dám đánh ban ngày? Mấy lần trước đánh ban đêm đã làm được gì nhau đâu!

        Không chỉ tuyên bố ngạo mạn, hống hách, địch còn la hét, chửi bới tôi - chúng gọi tên tôi (Ba Trà) ông ổng suốt ngày, để chọc tức chúng tôi - Đúng là trò trẻ con!

        Chừng 2 giờ chiều hôm đó, tôi bàn với Sáu Bé đi cùng với dân vào gắng thuyết phục lần cuối; nhưng không thành. Địch trong đồn bắn ra như vãi đạn. Bà con hoảng hồn, chạy trở về. Sáu Bé buộc lòng nói với bà con:

        - Các tía, các má thông cảm, bọn con đã nói hết tình hết lý. Bốn giờ chiều nay chúng con sẽ đánh. Mong bà con cô bác đừng trách Quân giải phóng không có tình.

        Đúng 4 giờ chiều hôm đó, Tiểu đoàn 307 nổ súng. Địch hò hét tử thủ, chống cự quyết liệt. Sau gần một giờ chiến đấu, đồn Bô La bị hạ. Ngay lập tức, binh lính ở hai đồn bên cạnh bỏ chạy.

        Ngoài việc nhổ được một điểm chốt khá rắn như chiếc gai nhọn cắm trên tuyến đường thủy từ phía nam Long Mỹ lên, trận diệt đồn Bô La còn có ý nghĩa lớn về giải quyết vấn đề Công giáo vận.

        Sau khi chúng tôi nhổ được đồn Trại Dài, và đặc biệt là đồn nhà thờ Bô La hễ thấy tiếng Trung đoàn 1 U Minh đi đến đâu, thì cỡ đồn có khoảng năm chục quân đều tự bỏ chạy. Đến xuân - hè năm 1974, trung đoàn chúng tôi đã trụ vững ở Long Mỹ, Phụng Hiệp, đánh bại các cuộc bành quân lấn chiếm của Sư đoàn 9 ngụy và lực lượng bảo an, mở rộng vùng giải phóng. Hình thái địch - ta ở Cần Thơ, Sóc Trăng… được tái lập như những năm 1965-1966, trước khi quân viễn chinh Mỹ xuống miền Tây.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2016, 05:56:56 AM

        Để tái lập được thế đứng hoàn toàn có lợi cho ta, Trung đoàn 1 U Minh cùng Trung đoàn 2, các đơn vị trực thuộc quân khu và lực lượng vũ trang, nhân dân địa phương đã ròng rã hai năm trời kiên gan chiến đấu. Và để đi tới thắng lợi, cũng đã biết bao lần phải trả giá bởi sự mất mát, hy sinh; những trận đánh không thành công, tổn thất, thương vong khá nặng. Ví như trận đánh đồn Phủ Thuật ở Phụng Hiệp đầu năm 1973. Do trinh sát nghiên cứu địa hình, địch tình không kỹ, Tiểu đoàn 303 đã không phát hiện được Phủ Thuật là đồn kép (hai ngăn) là Tam Giác và Mã Lai. Khi đắp sa bàn, xây dựng phương án tác chiến, chỉ dựng mỗi mô hình đồn Tam Giác; nên khi đánh không dứt điểm được toàn bộ mục tiêu Địch ở đồn Mã Lai đánh sang, ta thương vong gần hai chục đồng chí. Cũng vì quá bất ngờ trước tình thế đột xuất nên khi rút, ta không lấy được hết xác tử sĩ. Sau thấy ngày, xác chết trương lên, hôi thối cả vùng. Không cầm nổi lòng mình, tôi lệnh cho cán bộ Tiểu đoàn 303 và Phạm Hồng Lợi - Đại đội trưởng đại đội hỏa lực bằng mọi cách phải lấy bằng được xác của anh em. Nhưng kẻ địch vô cùng nham hiểm đã cho gài mìn dưới thi thể anh em ta và bố trí lực lượng chụp bắt ta vào lấy xác. Cố gắng lắm, dùng hỏa lực “ghìm” đầu quân địch xuống, chúng tôi cũng chỉ lấy được năm sáu thi thể anh em. Còn 12 thi thể đành phải nhờ quần chúng đấu tranh lấy ra sau.

        Cùng với Tiểu đoàn 303, trong trận đánh đồn Mười Dào tại ngã ba lộ Đá thuộc xã Kế An, Kế Sách, vào ngày 14 tháng 7 năm 1974, do trinh sát thiếu kỹ càng, không nắm chắc địch, không diệt được mục tiêu, thương vong hơn một chục đồng chí.

        Cũng có lần vào cuối năm 1973, Sở chỉ huy dã ngoại của trung đoàn bị địch bao vây, tập kích. Tình huống khá nguy cấp. Tôi, anh Bảy Sa, anh Ba Chơi (trung đoàn phó) đều giành quyền ở lại chỉ huy một lực lượng chặn địch để anh em khác rút. Cuối cùng anh Ba Chơi nói như ra lệnh:

        - Tôi ở lại chỉ huy chặn địch, Trung đoàn trưởng và Chính ủy phải rút để còn chỉ huy trung đoàn chiến đấu lâu dài. Các đồng chí ở lại, nếu thương vong sẽ có tội với trung đoàn, với Đảng.

        Trong tình thế đó, tôi và anh Bảy Sa phải chấp nhận tuồn tránh địch. Hai chiến sĩ Nguyễn Ngọc Bình và Lê Thái Bộc hộ tống, bảo vệ chúng tôi lội vượt kênh, rạch, thoát khỏi vòng bủa vây của địch. Sau đó, lực lượng do anh Ba Chơi chỉ huy cũng rút êm, an toàn. Có điều khi rút chạy quá gấp. tôi đánh rơi xắc cốt tài liệu. Không chần chừ, Bộc và Bình quay lại mò tìm được, trong số tài liệu đó có toàn bộ quyết tâm chiến đấu của Trung đoàn.

        Chiến tranh, chiến trường là có thắng, có bại, có mất mát hy sinh. Nếu chỉ có thắng cả, thì hóa ra cuộc chiến của ta vì độc lập tự do dân tộc quá ư suôn sẻ, nhẹ nhàng. Và đối phương chỉ là một lũ hèn kém! Trên thực tế thì đối phương vô cùng thâm hiểm, lắm mưu ma chước quỷ, lại trang bị vũ khí tối tân đến “tận răng”. Vấn đề là từ những tổn thất, thương vong, ta phải biết chắt lọc kinh nghiệm, rút ra những bài học bằng máu để tránh lặp lại và đi tới thắng lợi cuối cùng. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, tôi luôn tâm niệm mỗi một chiến công của đơn vị, của bản thân, mỗi một bước trưởng thành của mình đều có công lao, trí tuệ, máu xương của đồng chí, đồng đội, của những người dân rất đỗi chân chất, thật thà của miền Tây sông nước Cửu Long.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 04:34:12 AM

*

*       *

        Với hết thảy những gì đang diễn ra trên chiến trường Khu 9 vào cuối năm 1974, đặc biệt sau sự kiện thành lập Sư đoàn 4 chủ lực trực thuộc Quân khu (tháng 7 năm 1974), tôi nhận thấy thế và lực của ta đã mạnh lên rất nhiều. Suy nghĩ đó càng được củng cố khi chúng tôi được tin Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long đã ra đời trên chiến trường miền Đông và Quân khu 7, Quân khu 8 cũng thành lập một số sư đoàn chủ lực. Việc thành lập các quân đoàn, sư đoàn không phải là phép cộng đơn thuần các sư đoàn, lữ đoàn (để thành quân đoàn); hoặc các trung đoàn gộp lại thành sư đoàn; mà là cả một bước nhảy vọt về chất; khẳng đình trình độ kỹ thuật, chiến thuật và đặc biệt là trình độ tác chiến hiệp đồng quy mô lớn của Quân giải phóng miền Nam.

        Cục diện mới trên toàn chiến trường nói chung và Quân khu 9 nói riêng đang mở ra thời cơ mới thuận lợi để ta tiếp tục đưa cách mạng miền Nam tiến những bước nhảy vọt.

        Quán triệt, vận dụng chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương vào tình hình cụ thể trên chiến trường, bước vào đông - xuân 1974 - 1975, lúc đầu Bộ chỉ huy Miền quyết tâm đánh bại kế hoạch bình định, phá ấp chiến lược, “ấp tân sinh” của địch, tạo thế để góp phần giành thắng lợi quyết định giải phóng miền Nam trong vòng hai năm 1975-1976. Theo đó, Bộ Tư lệnh Miền chọn đồng bằng sông Cửu Long làm trọng điểm.

        Căn cứ quyết tâm và kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh Miền, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 hạ quyết tâm và đề ra kế hoạch tác chiến mùa khô 1974-1975 như sau: Tập trung hai lực lượng, ba thứ quân đánh bại kế hoạch bình định của địch; khôi phục lại thế trận như Tết Mậu Thân…; đặc biệt là vùng nông thôn Vĩnh - Trà, nông thôn vùng ruột Hậu Giang; hình thành thế bao vây gom địch vào các thị xã và vùng ven.

        Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu chọn Vĩnh - Trà là trọng điểm số 1 để đánh bại kế hoạch bình định của địch. Cần Thơ là trọng điểm số 2. Ở hai trọng điểm, tập trung cả chủ lực của quân khu và lực lượng vũ trang của tỉnh diệt địch, đánh bại các cuộc hành quân bình định, giành dân, mở rộng vùng giải phóng. Khẩu hiệu mà chúng tôi được quán triệt lúc này là: “Huyện liền huyện, tỉnh liền tỉnh đánh cho ngụy nhào”.

        Để tăng cường lực lượng cho trọng điểm 1 của quân khu, cuối tháng 11 năm 1974, trung đoàn chúng tôi được lệnh vượt sông Hậu sang Vĩnh - Trà. Trung đoàn có nhiệm vụ phối hợp cùng Trung đoàn 3 và bộ đội địa phương hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, nối liền chiến trường sang Bến Tre, qua Khu 8, sông Hậu và vòng về quân khu. Đồng thời, Bộ chỉ huy trọng điểm Vĩnh - Trà được thành lập, do anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu làm Chỉ huy trưởng, anh Phan Ngọc Sến (Mười Kỷ) làm Chính ủy.

        Một ngày vào cuối tháng 11 năm 1974, anh Ba Trung xuống trực tiếp làm việc với Ban chỉ huy trung đoàn, chính thức giao nhiệm vụ cho đơn vị. Anh Ba rất phấn khởi khi trung đoàn chúng tôi đã tạo được thế trận khá vững ở địa bàn Long Mỹ, Phụng Hiệp, sẵn sàng nhận lệnh của Tư lệnh quân khu lật cánh sang bên kia sông Hậu.

        Với tác phong điềm đạm, thân tình, anh Ba Trung vui vẻ nói: Để các anh ở đây sẽ thuận nhiều bề, nhất là quen thuộc chiến trường, “dễ làm ăn”. Nhưng đã là Trung đoàn 1, thì lúc này cần ưu tiên cho trọng điểm 1.

        Anh động viên chúng tôi rằng: Sang bên đó, địa bàn mới lạ, có nhiều cái khó, nhưng cái khó lúc này cũng không thể như trước đây. Bên đó, Trung đoàn 3 cũng đã tạo được thế vững. Vùng giải phóng đã mở rộng. Ngoài Trung đoàn 3, mỗi tỉnh có vài tiểu đoàn, huyện có từ một đến hai đại đội…

        Tạm biệt chúng tôi, anh Ba nắm chặt tay từng người. Tôi đọc trong cặp mắt rất đỗi hiền từ của anh ánh lên niềm tin rằng với sự có mặt của Trung đoàn 1 U Minh ở Vĩnh Trà, thì hai trung đoàn chủ lực mạnh của quân khu, có bề dày kinh nghiệm, dưới sự chỉ huy trực tiếp của anh sẽ làm nên chuyện ở trọng điểm 1 của quân khu trong đông - xuân này.

        Vĩnh Trà là hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh (theo địa lý hành chính của ta) và là hai tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình (theo địa lý hành chính của chính quyền Sài Gòn). Vĩnh Trà là vùng đất nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Hai con sông giống như hai cánh tay khổng lồ ôm gọn lấy cả vùng đất dài trên 150 cây số, rộng trên 40 cây số. Lúc đó, Vĩnh Trà có ba thị xã là Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh và 18 huyện. Về đường bộ, lộ 4 (nay là đường số 1) là tuyến giao thông huyết mạch. nối thành phố Cần Thơ với Sài Gòn. Với đường sông, Vĩnh Trà có sông Măng Thít nối liền với sông Tiền và sông Hậu, chảy qua lằn giữa hai tỉnh, là tuyến đường sông vô cùng quan trọng, ngắn nhất nối miền Tây với Sài Gòn. Là địa bàn chiến lược quan trọng đối với chiến trường miền Tây, nên địch bố trí ở đây Sư đoàn 9 nguy, Thiết đoàn 2 thiết giáp, trên năm chục xe M.113 và M.118, ba giang đoàn, một trung đoàn không quân đóng ở sân bay Vĩnh Long, trên 10 tiểu đoàn bảo an và Tiểu đoàn 43 biệt động quân.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 04:36:30 AM

        Qua nghiên cứu tình hình địch và địa hình, tôi thấy ở Vĩnh Trà có hai đặc điểm lớn ảnh hưởng đến nhiệm vụ tác chiến của đơn vị, mà một người chỉ huy phải tính đến, đó là:

        Thứ nhất: Hệ thống đồn bốt của địch dày đặc; địch đã thiết lập hệ thống kìm kẹp, khống chế người dân ở đây quá ư chặt chẽ. Cho dù vào thời điểm đầu năm 1975, tình thế đã khác nhiều so với những năm 1969-1970 - cái thời mà anh Ba Trung khái quát là đi đâu cũng đụng địch. Cán bộ địa phương từ sáng chí tối ai nấy “áo vo viên, quần cột cổ”, lúc nào cũng sẵn sàng nhảy xuống hầm bí mật…

        Thứ hai: Địa hình rất trống trải. Là vùng đồng bằng, nhưng Vĩnh Trà không có rừng tràm, rừng đước và những vườn cây trái rậm rạp như U Minh hay một số địa phương khác ở miền Tây.

        Nhớ lại, hồi tôi mới về trung đoàn, theo lệnh của quân khu, Tiểu đoàn 306 đã tách khỏi đội hình Trung đoàn 1 U Minh, vượt sông Hậu, sang chiến trường Vĩnh Trà chiến đấu và làm nòng cốt thành lập Trung đoàn bộ binh 3, do anh Ba Trung làm Trung đoàn trưởng vào năm 1968. Khi Trung đoàn 1 U Minh chúng tôi đảm trách địa bàn Cần Thơ thì Trung đoàn 3 được quân khu giao cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương trụ bám đánh địch ở Vĩnh Trà.

        Tổ chức cho cả đội hình trung đoàn trên hai nghìn quân vượt sông bảo đảm bí mật, an toàn là vấn đề không mấy đơn giản. Khỉ Bộ Tư lệnh Quân khu - trực tiếp là anh Ba Trung giao nhiệm vụ, trong kế hoạch hành quân vượt sông, chúng tôi tính kỹ đến phương án nghi binh. Được Bộ Tư lệnh Quân khu đồng ý, cuối tháng 11 năm 1974, tôi đưa trung đoàn về Phụng Hiệp, Kế Sách, Châu Thành - Cần Thơ hoạt động có tính chất nghi binh, tổ chức một số trận đánh nhỏ lẻ, vừa hiệp đồng cùng các địa phương chuẩn bị ghe, xuồng, chờ thời cơ để vượt sông.

        Trong thời gian này, tôi cùng một số cán bộ cơ quan trung đoàn, tiểu đoàn, cán bộ cơ quan mặt trận, do anh Ba Trung dẫn đầu sang Trà Vinh trước, vừa tiền trạm, vừa nắm tình hình, chuẩn bị chiến trường.

        Do tổ chức hoạt động nghi binh và hiệp đồng với các địa phương chặt chẽ, nhịp nhàng, đầu tháng 12 năm 1974, tôi phát lệnh vượt sông Hậu. Được các địa phương giúp chuẩn bị chu đáo ghe xuồng, chỉ trong vòng ba đêm, toàn bộ trung đoàn trên hai nghìn quân đã vượt sông bảo đảm bí mật an toàn. Quãng vượt sông được xác định từ An Lạc Thôn qua cù lao Nai, cù lao Tân Quy (qua xã Tam Ngãi, lên Cầu Kè tỉnh Trà Vinh). Thời gian bộ đội vượt sông, chúng tôi cho tung tin Trung đoàn 1 U Minh vẫn hoạt động ở Phụng Hiệp, Kế Sách, nên cả trung đoàn sang đất Trà Vinh trót lọt, mà kẻ địch không hay biết gì. Quả là một cuộc vượt sông kỳ diệu. Báo hiệu một chiến dịch ra quân thắng lợi

        Sang đất Cầu Kè, một mặt chúng tôi cho bộ đội khẩn trương ổn định tổ chức, đội hình đóng quân; mặt khác nhanh chóng triển khai kế hoạch tác chiến của mặt trận. Trong cao điểm 1 của đông - xuân 1974 - 1975, trung đoàn được Bộ chỉ huy mặt trận Vĩnh Trà giao nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 3 và các lực lượng vũ trang tại chỗ tiến công các chi khu, phân chi khu và hệ thống đồn bốt địch ở các huyện Cầu kè, Tiểu Cần, Trà Cú, Duyên Hải thuộc tỉnh Trà Vinh; sau đó chuyển hướng về giải phóng nông thôn Vĩnh Long, vây ép địch vào các chi khu, cắt lộ 4.

        Sau khi chỉ đạo các đơn vị ổn định đội hình trú quân, xác định địa bàn tác chiến và nhận nhiệm vụ do anh Ba Trung giao, Ban chỉ huy trung đoàn quyết định sử dụng Tiểu đoàn 307 tiến công phân chi khu Tam Ngãi, phía tây chi khu Cầu Kè.

        Trong buổi gặp gỡ, giao nhiệm vụ cho anh Ba Nhàn - Tiểu đoàn trưởng và anh Sáu Bé - Chính trị viên tiểu đoàn, tôi nhấn mạnh: Toàn trung đoàn vừa sang chiến trường mới; địch tình, đặc điểm chiến trường còn là ẩn số; nhưng không vì thế mà không đảm bao thắng lợi trong trận mở màn đợt hoạt động đông - xuân 1974 - 1975. Thắng hay bại trong trận mở màn của tiểu đoàn có ý nghĩa lớn đối với đợt hoạt động này của trung đoàn và quân khu. Để đảm bảo chắc thắng, phải trinh sát nắm địch thật chắc; phải đánh nhanh, gọn, dứt điểm. Tôi cũng lưu ý các anh ở Tiểu đoàn 307 rằng chi khu Tam Ngãi và đồn Bà My gần đó là những căn cứ khá rắn của địch; trước đây Trung đoàn 3 và lực lượng địa phương đã nhiều lần đánh, nhưng chưa dứt điểm được.

        Anh Ba Nhàn và anh Sáu Bé rất tự tin, hứa với chỉ huy trung đoàn rằng sẽ giải quyết dứt điểm Tam Ngãi, Bà My, chấm dứt cái tiền lệ là “Việt cộng bất khả xâm phạm” hai căn cứ này.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 04:41:38 AM

        Thời gian không chờ đợi, phải triệt để lợi dụng yếu tố bất ngờ - địch chưa biết Trung đoàn 1 U Minh sang Trà Vinh, sau khi quán triệt nhiệm vụ, tôi cùng cán bộ Tiểu đoàn 307 đi trinh sát nắm địch. Địch ở Tam Ngãi có một đại đội bảo an, một trung đội pháo binh gồm hai khẩu 105ly; bộ máy hành chính cảnh sát xã, phân chi khu Tam Ngãi đóng ven rạch Bà My; con rạch này chạy sâu vào vùng căn cứ của Trung đoàn 3.

        Phán đoán nếu chúng tôi tiến công Tam Ngãi, chắc chắn địch sẽ cho quân từ Trà Vinh xuống ứng cứu, nên chúng tôi mạnh dạn trao đổi cùng anh Ba Trung về phương án chặn viện. Rất thú vị là anh Ba Trung cũng nghĩ tới điều đó và Ban chỉ huy mặt trận quyết định sử dụng Trung đoàn 3 chặn viện.

        Phương án của chúng tôi là tập kích tiêu diệt chi khu Tam Ngãi vào ban ngày, bằng chiến thuật kỳ tập được anh Ba Trung nhất trí.

        Chừng bốn giờ chiều ngày 3 tháng 12 năm 1974, Tiểu đoàn 307 nổ súng, tiến công tiêu diệt phân chi khu Tam Ngãi và tập kích đồn Bà My. Địch ở đây chưa bị đánh vào ban ngày, nên khi chúng tôi chọn thời điểm tập kích vào gần cuối buổi chiều, địch càng bí bất ngờ. Mặc dù địch tập trung binh lực chống cự quyết liệt, nhưng sau hơn 30 phút tập kích mãnh liệt, dồn dập, Tiểu đoàn 307 đã giải quyết cơ bản mục tiêu Tam Ngãi, bức rút đồn Bà My. Hàng trăm đồng bào Khme được cấp ủy, chính quyền địa phương phát động đã kịp thời nổi dậy vây đồn, phá ấp chiến lược. Hàng chục lính bảo an bị diệt, hoặc bị thương; ta thu toàn bộ vũ khí. Đêm hôm đó, Trung đoàn 3 bí mật phục kích hai bên đồng lúa đoạn từ lộ Tiểu Cần đi Cầu Kè. Sáng hôm sau, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 3 với chiến thuật “độn thổ”, giữa đồng lúa và ém quân trong ấp chiến lược bất ngờ, kịp thời thực hành trận phục kích chặn viện đạt hiệu quả cao, diệt gọn Tiểu đoàn 404 bảo an từ Trà Vinh lên chi viện, đốt cháy và phá hủy 15 xe GMC, diệt và bắt 300 tên, thu trên 150 khẩu súng.

        Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 mở màn đợt hoạt động đông - xuân 1974-1975 bằng trận tập kích địch giữa ban ngày thắng lợi giòn giã, đạt hiệu suất cao, gây tiếng vang lớn. Nhận được điện biểu dương, động viên của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, chúng tôi vô cùng phấn khởi, củng cố thêm quyết tâm giành thắng lợi lởn hơn ở cao điểm 2 sắp tới.

        Việc ta tiêu diệt phân chi khu Tam Ngãi, bức rút đồn Bà My, tổ chức đánh chặn viện thành công, đặt chi khu Cầu Kè trước tình thế vô cùng nguy ngập. Vì vậy, địch điều ngay Chiến đoàn 7 và một chi đoàn thiết giáp tăng cường cho Cầu Kè. Đồng thời, tư lệnh Quân đoàn 4 ngụy và tiểu khu trưởng Vĩnh Bình, Ban chỉ huy Chiến đoàn 7 đã hộc tốc đến Cầu Kè bày mưu tính kế đối phó với đòn tiến công của ta. Nhưng mọi mưu kế của địch lúc này không thể nào cản nổi thế tiến công của ta trên khắp chiến trường. Đúng kế hoạch, đêm 5 rạng ngày 6 tháng 12, chúng tôi sử dụng toàn bộ lực lượng của trung đoàn tiến công đồng loạt hệ thống đồn bốt của địch thuộc chi khu Trà Cú. Tiểu đoàn 309 diệt phân chi khu Tập Sơn. Tiểu đoàn đặc công 2012 diệt phân chi khu An Quảng Hữu ở bắc và tây bắc Trà Cú. Sau khi giải quyết xong mục tiêu, các đơn vị trụ lại, cùng lực lượng nổi dậy của địa phương quét sạch các đồn bốt vệ tinh còn lại.

        Chỉ với cao điểm 1, gần nửa đầu tháng 12 năm 1974, được sự phối hợp của lực lượng tại chỗ và quần chúng địa phương, Trung đoàn 1 đã diệt và bắt trên hai trăm tên địch; diệt và bức rút 27 vị trí, trong đó có 19 đồn, 3 phân chi khu; giải phóng hoàn toàn ba xã: Tập Sơn, An Quảng Hữu, Lưu Nghiệp Anh, gồm 19 ấp, giành lại hàng chục nghìn dân. Đòn tiến công mở màn của Trung đoàn 1 U Minh đã hỗ trợ đắc lực cho lực lượng vũ trang Trà Vinh đẩy mạnh tiến công mở mảng, mở rộng vùng giải phóng ở các huyện Cầu Ngang, Châu Thành.

        Tháng 1 năm 1975 là cao điểm 2 của đợt 1 chiến dịch mùa khô. Theo chỉ đạo của anh Ba Trung - Chỉ huy trưởng Mặt trận Vĩnh Trà, trung đoàn chúng tôi rời địa bàn Trà Cú chuyển xuống mở vùng ở ba huyện: Duyên Hải, Cầu Ngang, Tiểu Cầu. Trong cao điểm 2, trung đoàn đã cùng lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy nhổ gần 130 đồn lớn nhỏ, trong đó có các phân chi khu thuộc loại rắn như: Ngũ Lạc, Long Toàn, Long Vĩnh, Long Khánh… (huyện Duyên Hải). Thời gian này, có nhiều trận đánh của trung đoàn gây ấn tượng mạnh, khó phai mờ trong ký ức tôi. Ví như các trận diệt các phân chi khu Đôn Châu, Đại An, Ngũ Lạc. Đây là những phân chi khu nằm trên trục đường từ Long Hữu đi Đại An.

        Phân chi khu Đôn Châu cách huyện lỵ Trà Cú hơn mười cây số về phía đông nam. Địa hình xung quanh Đôn Châu là ruộng lúa; lại vào dịp bà con vừa gặt lúa xong, nên vô cùng trống trải. Lực lượng địch ở đây có một đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ, một chi đội cảnh sát và hội đồng xã Đôn Châu. Ngoài ra, khi Đôn Châu bị tiến công thì Tiểu đoàn 522 bảo an gần đó có thể ứng cứu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 04:44:21 AM

        Với địch tình và địa hình ở Đôn Châu như vậy, chúng tôi quyết định áp dụng chiến thuật cường tập, đánh ban ngày. Tiểu đoàn 307, Tiểu đoàn đặc công 2012, một bộ phận của Tiểu đoàn 309 và lực lượng hỏa lực của trung đoàn được huy động để giải quyết dứt điểm phân chi khu Đôn Châu và Tiểu đoàn bảo an 522. Đặc biệt trong trận này tôi cho sử dụng cối 120ly vừa được trang bị để diệt căn cứ địch.

        Chiều ngày 20 tháng 1 năm 1975, trước khi tôi ra lệnh nổ súng thì có tin báo Tiểu đoàn 522 bảo an vừa kéo về Đôn Châu. Quả là một tình huống không lường trước. Nhớ lại lần đánh đồn địch gần đình An Lạc Thôn ở Kế Sách, Cần Thơ, chúng tôi cũng gặp trường hợp như thế này, mà vẫn giải quyết được mục tiêu.

        Trước tình huống địch ở Đôn Châu tăng lên một tiểu đoàn bảo an, tôi cho hội ý Đảng ủy và Ban chỉ huy trung đoàn xác định lại quyết tâm. Cũng có anh em nêu ý kiến nên lùi trận đánh, chuẩn bị lại. Sau khi trao đổi chớp nhoáng với anh Bảy Sa và anh Ba Chơi, tôi quyết định đánh như phương án đã thống nhất, không lùi thời gian, tôi cũng phân tích để các đồng chí còn băn khoăn thấy được rằng thế và lực của địch lúc này không như thời điểm đầu năm 1973. Ngay ở Trà Vinh, chỉ trong vòng nửa tháng, đã có tới trên một trăm căn cứ, đồn bốt bị san phẳng. Tinh thần địch đã rệu rã, hoang mang. Ta ra đòn lúc này không chỉ thắng mà còn thắng to, không chỉ diệt phân chi khu Đôn Châu mà vô hình chung, Tiểu đoàn bao an 522 cũng chui đầu vào thòng lọng ta căng sẵn. Anh em không ai có ý kiến gì thêm. Vào khoảng ba giờ chiều ngày 20 tháng 1 năm 1975, tôi phát lệnh nổ súng tiến công phân chi khu Đôn Châu. Tôi không ngờ mấy khẩu cối 120ly phát huy hiệu lực tốt như vậy. Sau khi tôi cho bắn hơn chục quả cối, pháo 120ly, địch ở Đôn Châu kinh hoàng, kêu la inh ỏi, bỏ chạy tán loạn. Kết hợp hỏa lực và xung lực, sau hơn một giờ chiến đấu, chúng tôi làm chủ hoàn toàn phân chi khu Đôn Châu; diệt gọn Tiểu đoàn bảo an 522, hội đồng xã Đôn Châu và lực lượng địch ở phân chi khu trọng yếu này. Với thắng lợi này, trung đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận quan trọng sinh lực của địch ở tiểu khu Trà Vinh; thối động mạnh tinh thần ngụy quân, ngụy quyền trong vùng, tạo thuận lợi cho lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch và quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, giải phóng quê hương.

        Sau trận tiêu diệt phân chi khu Đôn Châu thì trận đánh phân chi khu Đại An cũng là một kỷ niệm đẹp của tôi trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 U Minh.

        Đại An là một căn cứ khá rắn của địch. Trước đây, Trung đoàn 3 đã nhiều lần đánh nhưng chưa dứt điểm được. Lực lượng của địch ở đây có trên một đại đội bảo an, do tên thiếu tá ác ôn tổng Tép (người Khme) chỉ huy. Tồng Tép và tay chân của hắn từng tác oai, tác quái ở đây trong một thời gian dài. Cũng vì ta nhiều lần đánh mà không dứt điểm được căn cứ địch, nên tổng Tép phao tin nó có bùa, súng bắn không chết. Có một số bà con mình tin điều đó.

        Với quyết tâm diệt bằng được phân chi khu Đại An, dẹp luôn lời đồn đại về phép thần bùa chú của tổng Tép, tôi cùng cán bộ Tiểu đoàn 303 đi trinh sát thực địa, nắm chắc địch tình, địa hình; sau đó chỉ đạo tiểu đoàn chuẩn bị xây dựng quyết tâm, chọn phương án tối ưu. Thời gian nổ súng được quyết định vào 5 giờ sáng. Trận đánh diễn ra đúng kế hoạch. Tiểu đoàn 303 diệt nhanh, gọn mục tiêu, làm chủ hoàn toàn phân chi khu Đại An trong chừng 30 phút. Tổng Tép bị diệt tại trận. Quân giải phóng đã làm chủ phân chi khu mấy ngày. Tổng Tép đã thành “ma” mà một số bà con nhân dân trong vùng vẫn không tin, cho rằng hắn đã “cao chạy xa bay”.

        Tròn hai tháng sang đất Vĩnh Trà, với đợt 1 của chiến dịch xuân - hè, Trung đoàn 1 U Minh cùng với Trung đoàn 3 và lực lượng vũ trang, nhân dân địa phương giành được thắng lợi rất quan trọng, diệt và làm tan rã trên 10.000 tên địch, tiêu diệt 5 tiểu đoàn, làm rã 4 tiểu đoàn khác, thu hàng nghìn súng, trong đó có hai khẩu 105ly, gỡ trên 400 đồn bốt, phân chi khu, chi khu; giải phóng cơ bản địa bàn Trà Vinh tù huyện Duyên Hải, Cầu Ngang, lên vùng trung tâm Càng Long, Cầu Kè, Trà Cú, nam - bắc sông Măng Thít. Đòn mở đầu chiến dịch mùa khô 1974-1975 của Quân khu 9 trên chiến trường Vĩnh Trà là đòn cộng hưởng tạo nên màn dạo đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 trên khắp miền Nam.

        Nói về Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 - là nói tới chủ trương, nhiệm vụ trên phổ biến ở giai đoạn sau, và những gì sau này chúng tôi ý thức được, còn lúc đó, cho dù đã sang tháng 2 năm 1975, Trung đoàn 1 U Minh chỉ biết có đánh địch - đánh để mở vùng, mở mảng. Mặc dù lúc đó, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương - Bộ Tổng tư lệnh đã có kế hoạch chiến lược, kế hoạch thời cơ giải phóng miền Nam. Thậm chí, lúc này, đòn “trinh sát chiến lược” - chiến dịch Phước Long của ta đã kết thúc thắng lợi…, chúng tôi vẫn chưa hay biết gì.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 04:46:50 AM

        Sau này, không dưới hai lần tôi thổ lộ điều băn khoăn này với các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu – anh Phạm Ngọc Hưng và anh Ba Trung; anh Ba chỉ nói: Vào thời điểm đó, ngoài kế hoạch đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế tạo lực, Quân khu nhận được lệnh đánh cắt lộ 4, cắt tuyến giao thông chiến lược của địch từ Sài Gòn về Cần Thơ và cũng chỉ có vậy.

        Đầu tháng 2 năm 1975, tôi dự hội nghị sơ kết đợt 1 trên chiến trường Vĩnh Trà, do Ban chỉ huy mặt trận - Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu chủ trì. Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu quyết định tiến hành đợt 2. Theo đó, trung đoàn chúng tôi và Trung đoàn 3 là chủ lực tiến công tiểu khu Vĩnh Long, trọng điểm đánh địch, mở vùng nam - bắc sông Măng Thít đến bắc lộ 4 ra sát thị xã Vĩnh Long và sông Hậu. Cũng tại hội nghị này, tôi được anh Ba Trung dự báo chuẩn bị đưa trung đoàn lên Vĩnh Long. Đến trung tuần tháng 2, chúng tôi chính thức nhận lệnh đưa trung đoàn lên Vĩnh Long để chuẩn bị cho bước 2 của chiến dịch.

        Bước sang đợt 2, vào trung tuần tháng 3, Trung đoàn 1 U Minh phối hợp với Trung đoàn 3 lần lượt diệt các yếu khu Thuận Thới (Cống Đá), đồn Cầu Sắt. Sau đó, chúng tôi được lệnh để một bộ phận ở lại vây ép chi khu Vĩnh Xuân, còn đại bộ phận nhanh chóng cơ động lên huyện Tam Bình, thực hiện kế hoạch giải phóng tuyến sông Măng Thít. Cuối tháng 3, Trung đoàn 1 lần lượt diệt phân chi khu Ba Kè, giải phóng xã Hậu Lộc và một quãng sông Măng Thít dài trên bốn cây số.

        Niềm vui chiến thắng của riêng mình như được nhân thêm bội phần, bởi lúc này, tin chúng ta đại thắng trong chiến dịch Tây Nguyên, quân địch bỏ cao nguyên tháo chạy; tiếp đó ta mở chiến dịch Trị Thiên, chiến dịch Đà Nẵng; địch ở Vùng 1 chiến thuật, thành phố Huế, Đà Nẵng thất thủ… liên tiếp truyền về làm nức lòng quân dân miền Tây. Thế chiến lược của địch đã hoàn toàn bị đảo lộn, địch đứng bên bờ vực.

        Trên đà thắng lợi đợt 1, lại được thắng lợi trên khắp chiến trường cổ vũ, sau khi nhận được lệnh của trên, trung tuần tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu ở Vĩnh Trà phát động cao trào Tổng tiến công và nổi dậy, hiệp đồng chặt chẽ với chiến trường chính giải phóng quê hương. Nhiệm vụ lúc này của chủ lực Quân khu 9 là:

        - Tập trung lực lượng tiến công địch, cắt lộ 4 từ Cần Thơ, Vĩnh Long. Đây là địa bàn của Quân khu 8 trong kháng chiến chống Mỹ. Đánh chiếm và làm chủ phà Mỹ Thuận, phà Cần Thơ, không cho địch cơ động lực lượng về ứng cứu Sài Gòn và rút lực lượng từ miền Đông về co cụm ở Vùng 4 chiến thuật.

        - Bao vây tiến công, khống chế các sân bay Trà Nóc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, sở chỉ huy Vùng 4 chiến thuật và các sư đoàn địch; khống chế, cắt đứt đường không, không cho địch sử dụng máy bay cơ động lực lượng về chi viện cho Sài Gòn.

        - Chủ động nắm thời cơ, hiệp đồng chặt chẽ với các chiến trường. Khi ta tổng tiến công vào Sài Gòn, thì trên chiến trường miền Tây, từng địa phương đồng loạt tổng tiến công và nổi dậy đánh chiếm thị xã, thành phố, sở chỉ huy Vùng 4 chiến thuật tại Cần Thơ, với tinh thần “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”.

        Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu được thông báo: Ngày “N” là ngày 12 tháng 4, chủ lực quân khu ở Vĩnh Trà phải đánh cắt lộ 4, đánh chiếm phà Mỹ Thuận và phà Cần Thơ, bao vây sở chỉ huy Vùng 4 chiến thuật ở Cần Thơ…

        Nhận lệnh trên, ngày 8 tháng 4, anh Ba Trung cho gọi Ban chỉ huy trung đoàn về Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu giao nhiệm vụ cụ thể: Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 là lực lượng chủ công đánh chiếm yếu khu Ba Càng và chi khu Bình Minh, cắt đứt và làm chủ lộ 4, sau đó phát triển tiến công giải phóng thị xã Vĩnh Long…

        Thời cơ lịch sử nghìn năm có một đang đến. Niềm vui ngập tràn trên từng khuôn mặt, ánh mắt của anh em, đồng đội về dự họp nhận nhiệm vụ hôm đó. Những cái bắt tay chắc nịch trước lúc chia tay như thầm nói với nhau đây là trận cuối cùng, phải chiến thắng.

        Thời gian trôi rất lẹ, đúng là “một ngày bằng hai mươi năm”. Tất cả bị cuốn vào bộn bề công việc.

        Đêm 11 rạng ngày 12 tháng 4 - đúng ngày “N” theo lệnh Bộ Tư lệnh Quân khu, tôi phát lệnh nổ súng đánh chiếm yếu khu Ba Càng. Về sau mới biết, trên đã quyết định lùi thời gian nổ súng, nhưng Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu chưa nhận được. Vì vậy, trung đoàn vẫn nổ súng theo kế hoạch.

        Yếu khu Ba Càng nằm trên lộ 4, là một căn cứ rất rắn của địch. Do trinh sát thực địa không kỹ, không nắm chắc địch; đặc biệt do tư tưởng chủ quan cho rằng quân địch đã hoang mang, rệu rã, Tiểu đoàn 307 (lực lượng chủ công đánh Ba Càng) đã không dự kiến hết tình hình; Ban chỉ huy trung đoàn quá tin vào báo cáo của đơn vị, thiếu kiểm tra, chỉ đạo cụ thể, nên trận đánh không thành công.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 04:50:46 AM

        Đêm 11 rạng ngày 12, Tiểu đoàn 307 và lực lượng phối thuộc thực hành đánh chiếm chi khu Ba Càng nhiều đợt, nhưng không dứt điểm được; phải lùi ra; tổ chức vây hãm, chuẩn bị lực lượng, hỏa lực để đánh tiếp. Nhưng ngày 12 tháng 4, địch lập tức điều Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 và một chi đoàn xe bọc thép từ thị xã Vĩnh Long xuống giải tỏa cho chi khu Ba Càng. Một trận quyết chiến đã xảy ra giữa Tiểu đoàn 307 và lực lượng giải tỏa của địch. Tiểu đoàn 307 bị thương vong trên ba chục đồng chí. Cũng do địch sử dụng hỏa lực quá rát nên tiểu đoàn đã không lấy được thi thể của anh em. Thâm hiểm hơn, biết bộ đội mình bằng mọi giá phải lấy được thi thể đồng đội, kẻ địch đã cho cài mìn dưới xác anh em. Lúc đầu vì mất cảnh giác, một số anh em mình thương vong thêm khi vào lấy xác đồng đội. Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày trôi qua. Cái nắng đầu hè dữ dằn, làm cho thi thể của anh em chóng phân hủy, hôi thối cả một vùng.

        Là người đứng đầu trung đoàn, có trách nhiệm cao nhất trước trận đánh, trước sự mất mát của đồng đội, hơn ai hết, tôi thấu biết trách nhiệm của mình. Thương anh em, không cầm nổi lòng. Thấy tôi ngồi cạnh đống rơm mắt mọng nước, đồng chí bảo vệ đã động viên an ủi. Tôi thầm cảm ơn em vì sự sẻ chia đó. Tôi khóc, và nước mắt ở đây không nói lên sự yếu mềm, mà là xúc cảm, xuất phát từ sâu thẳm nghĩa tình đồng đội, đồng chí. Sau đó, tôi chỉ thị cho Nguyễn Quốc Trung - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 bằng mọi cách lấy bằng được thi thể của anh em. Phải mấy ngày sau, lợi dụng đêm tối, anh em mình bí mật tiếp cận, gỡ mìn, đưa tải, tăng ni lông vào gói và kéo mới đưa thêm được mấy thi thể ra. Số còn lại hơn hai chục thi thể anh em, chúng tôi buộc phải liên hệ với cơ sở, đoàn thể phụ nữ địa phương đấu tranh lấy ra sau. Sau này nghĩ lại, chỉ còn hơn nửa tháng là tới ngày toàn thắng mà để tổn thất như trận Ba Càng là bài học thấm thía, rất đau lòng.

        Bất ngờ bị ta tiến công hàng chục đồn bốt nằm trên lộ 4, rồi sở chỉ huy Vùng 4, sân bay Lộ Tẻ, trung tâm huấn luyện Cái Vồn bị pháo kích dữ dội và bị bao vây, ngày 13 tháng 4, tướng Nguyễn Khoa Nam - tư lệnh Vùng 4 chiến thuật hô hào đốc thúc binh lính tử thủ, giải vây. Nguyễn Khoa Nam còn trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 31 Sư đoàn 21 ngụy tử Cần Thơ đổ quân xuống ngã tư Giáo Mẹo, Ngãi Tứ sục tìm trận địa pháo của ta; đồng thời cho một lực lượng của Sư đoàn 9 cùng hai tiểu đoàn bảo an, Trung đoàn 2 thiết giáp từ Vĩnh Long theo lộ 4 đánh xuống Bình Minh, Ngãi Tứ, hòng đẩy lực lượng của ta ra. Địch còn tập trung phản lực, trực thăng bắn phá trận địa ta. Mặc dù nổ súng sớm, đòn tiến công của Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 ở Vĩnh Trà trở nên cô độc, bị địch tập trung phản kích dữ dội, nhưng ngay đòn tiến công trong ba ngày đầu, hai trung đoàn cũng đã gây cho địch nhiều thiệt hại và hoảng loạn. Đến ngày 15 tháng 4, chúng tôi nhận lệnh từ anh Ba Trung, tạm ngừng tiến công; chuyển sang bao vây các căn cứ địch dọc theo lộ 4 từ Ba Càng về Bình Minh và đảm trách toàn bộ địa bàn từ Trà Vinh đến bến phà Mỹ Thuận, cặp sông Tiền. Lúc này, tôi bố trí Tiểu đoàn 303 đứng cạnh trung đoàn bộ, sẵn sàng triển khai các phương án đánh địch khi cần; còn Tiểu đoàn 307 và Tiểu đoàn 309 tập trung đánh trả các cuộc phản kích của Sư đoàn 21 ngụy.

        Cả trung đoàn đang tập trung chặn cắt, khống chế lộ 4, sẵn sàng tiến công giải phóng Vĩnh Long…, tôi nhận điện của anh Ba Trung báo lên gấp Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu nhận nhiệm vụ mới. Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu lúc đó đóng gần sông Măng Thít. Trước khi đi, tôi chỉ thị cho đại đội trinh sát kiểm tra trục lộ từ Sở chỉ huy trung đoàn lên chỗ anh Ba Trung, thì được báo cáo không có địch. Nhưng thực tế luôn có một tiểu đoàn bao an. do một tên tiểu đoàn trưởng người Khme khét tiếng ác ôn, chỉ huy mật phục ở Ngãi Tứ.

        Sáng hôm đó (ước chừng ngày 18 - 20 tháng 4), tôi cùng anh Bảy Sa và gần chục anh em trợ lý cơ quan trung đoàn bí mật cuốc bộ lên Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu. Vừa đi được ba cây số đến Ngãi Tứ thì cả đoàn lọt vào ổ phục kích của địch. Từ những lùm cây rậm rạp cặp trục lộ, gần trăm tên địch bất thần xông ra vừa bắn vừa đuổi theo chúng tôi. Anh Bảy Sa cùng mấy anh em chạy về một hướng; còn tôi và mấy cậu nữa chạy ngược trở lại Sở chỉ huy trung đoàn. Tôi cố dồn hết sức để chạy, hy vọng thoát lúc đó là rất mong manh. Trong tiếng súng nổ chát chúa, đạn chíu chíu bên tai, tôi nghe rất rõ địch hò hét náo loạn cả lên: bắt sống Ba Trà, lần này quyết bắt sống bằng được Ba Trà, Ba Trà đừng hòng chạy thoát… Thế mới biết địch nắm chắc hoạt động của chúng tôi và đã kỳ công mật phục ở Ngãi Tứ từ lâu. Cũng may là chúng chủ động mật phục, quyết bắt sống. Khi chúng tôi phát hiện được địch, nhanh chóng chạy thoát thân thì chúng vừa đuổi vừa bắn, nên không chính xác; nếu chúng chủ định tiêu diệt, nằm yên, ngắm kỹ càng rồi hàng vài chục họng súng tập trung vào tôi mà nhả đạn thì phúc của tôi có to bằng trái núi cũng khó lòng thoát chết, nếu không cũng bị thương, và khi đó chúng chụp bắt rất dễ dàng. Lúc này thì dáng dấp nhỏ gọn của tôi vô cùng lợi hại. Cố sống cố chết, chạy về cách Sở chỉ huy chừng hơn trăm mét, biết anh em đang sẵn sàng đánh trả, giải thoát cho mình, tôi làm động tác lăn xuống đất. Chỉ chờ có vậy, hàng chục nòng súng của anh em ta lập tức rung lên. Đám lính địch bị chặn lại, mấy tên trúng đạn. Số còn lại quay đầu tháo chạy. Lúc này kẻ như ma đuổi là địch chứ không phải tôi. Anh em trong cơ quan chạy ào ra, đỡ tôi dậy; sờ nắn khắp người thấy còn lành lặn, ai cũng lắc đầu lè lưỡi: Thật không tin nổi. Cánh anh Bảy Sa cũng nhanh chân chạy thoát, không anh nào sây sát gì. Cho mãi đến tận bây giờ tôi cũng không hiểu vì sao có thể qua được cơn hiểm nghèo đó. Tôi vẫn cứ nghĩ trong trường hợp đó không chết mới là chuyện lạ. Thoát chết trong tình huống hết sức hiểm nghèo cách ngày toàn thắng chỉ hơn chục ngày lại càng có cớ để tôi nghĩ về sự sống và cái chết trong chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:19:14 AM

        Thời điểm này chiến sự trên chiến trường miền Nam diễn biến hết sức mau lẹ. Tin chiến thắng ở Khu 5, miền Đông Nam Bộ liên tục truyền về: đại quân ta đã tiến công thần tốc, giải phóng các tỉnh duyên hải miền Trung; Quân đoàn 4 hất địch khỏi Xuân Lộc, phá bung “cánh cửa sắt” bảo vệ Sài Gòn trên hướng bắc - đông bắc; rồi Quân đoàn 1, Quân đoàn 3 áp sát Sài Gòn từ hướng bắc, tây bắc; Quân đoàn 2 đã làm chủ mạn Bà Rịa, Đồng Nai, hướng đông nam. Đoàn 232 của anh Sáu Nam từ miệt Long An đang tiến về Sài Gòn từ hướng tây nam, hình thành thế hợp vây dinh lũy cuối cùng của Mỹ - ngụy từ các hướng. Sài Gòn đang cơn hấp hối.

        Tin thắng lợi trên khắp chiến trường truyền về làm anh em chúng tôi sung sướng, rạo rực. Ai cũng nóng lòng được chiến đấu, được tham gia trận đánh cuối cùng, góp phần giải phóng hoàn toàn quê hương yêu dấu.

        Trong khi diễn biến chiến sự trên chiến trường phát triển như vũ bão, thì anh Ba Trung cho biết mãi tới ngày 25 tháng 4, Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu ở Vĩnh Trà mới nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh Miền và quân khu thông báo: Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh. Vĩnh Trà và các tỉnh tích cực phối hợp cắt lộ 4, khống chế các sân bay, không cho lực lượng của địch ở Vùng 4 chiến thuật kéo về ứng cứu Sài Gòn; đồng thời không cho địch từ Sài Gòn co cụm về đồng bằng sông Cửu Long; nắm thời cơ, tiến hành tổng tiến công và nổi dậy giải phóng địa bàn.

        Mệnh lệnh của trên được phổ biến ngay lập tức tới các đơn vị.

        Thực hiện nhiệm vụ được giao, trong các ngày 28, 29 tháng 4, Trung đoàn 1 đã cùng Trung đoàn 3 và lực lượng vũ trang Vĩnh Trà liên tục tiến công Sư đoàn 9 và một bộ phận Sư đoàn 7 ngụy rút về co cụm ở đây. Trong cơn giãy chết, kẻ địch chống cự quyết liệt; đặc biệt là những trận đánh dọc lộ 4. Ta đã diệt và bắt hàng trăm tên địch; bắn cháy và phá hủy hàng chục xe M.113. Đến chiều ngày 29, sáng ngày 30 tháng 4, các đơn vị đã làm chủ hoàn toàn lộ 4, quãng từ bến phà Mỹ Thuận đến bến phà Cần Thơ.

        Lực lượng mỏng, đạn dược thiếu, lại phải căng mình ra đảm trách nhiều mũi, nhiều hướng; nhưng vào thời điểm “thăng hoa” của cuộc chiến, sức mạnh con người như được nhân lên gấp nhiều lần. Đồng thời với việc hợp sức cùng đơn vị bạn tiến công địch, cắt lộ 4, chúng tôi sử dụng một lực lượng của trung đoàn đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy ở đông nam thị xã Vĩnh Long, góp phần giải phóng thị xã Vĩnh Long.

        Trong khi tập trung lực lượng cho hưởng lộ 4, Vĩnh Long, thực hiện lệnh của trên, ngày 27 tháng 4 tôi giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 303, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Đỗ Quốc Trung nhanh chóng vượt sông Hậu sang tham gia giải phóng Cần Thơ.

        Đêm 28 tháng 4, Tiểu đoàn 303 bí mật vượt sông Hậu, qua đất huyện Châu Thành B, sáng ngày 30 vượt sông Cần Thơ, tiến công địch trong thành phố đánh chiếm một vệt từ Cái Răng vào khu vực đài phát thanh, sau đó phát triển vào trung tâm thành phố, tham gia đánh chiếm dinh tỉnh trưởng Cần Thơ.

        Trở lại thị xã Vĩnh Long - địa bàn tác chiến chính của trung đoàn, trong khi, Dương Văn Minh - Tổng thống chính quyền Sải Gòn tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn vào trưa ngày 30 tháng 4; tướng Nguyễn Khoa Nam - tư lệnh Vùng 4 chiến thuật và Quân đoàn 4 ngụy chấp nhận đầu hàng Quân giải phóng vào hồi 14 giờ ngày 30 tháng 4, thì tại Vĩnh Long, địch vẫn ngoan cố chống cự; buộc chúng tôi vừa đánh, vừa tích cực gọi hàng; nhằm hạn chế tối đa đổ máu trước giờ toàn thắng, không chỉ với cán bộ, chiến sĩ của mình mà kẻ thù cũng vậy.

        Xế chiều ngày 30 tháng 4 sau khi bộ phận trinh sát kỹ thuật của Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu bắt được sóng đài của địch. anh Ba Trung đã sử dụng điện đài tuyên bố với viên tỉnh trưởng Vĩnh Long rằng tính mạng của y đã nằm trong tay Quân giải phóng. Nếu đầu hàng, cách mạng sẽ khoan hồng, tha thứ lỗi lầm trước đây; tính mạng, tài sản của bản thân và gia đình, vợ con được bảo toàn; bằng không, y sẽ phải đền tội và vợ con, gia đình… cũng khó bề bao toàn tính mạng, mặc dù cách mạng không muốn điều đó.

        Sau 30 phút suy tính, vào lúc 17 giờ ngày 30 tháng 4, tỉnh trưởng Vĩnh Long chấp nhận đầu hàng và xin anh Ba Trung giữ lời hứa bảo toàn tính mạng. Tỉnh trưởng Vĩnh Long đã lệnh cho các đơn vị thuộc quyền và lực lượng còn lại của Sư đoàn 9 hạ súng, đầu hàng Quân giải phóng. Trước đó, quân địch đã lẻ tẻ lén lút trút sắc phục nhà binh, gặp chúng tôi xin đầu hàng.

        Tối ngày 30 tháng 4, cùng Trung đoàn 3 và lực lượng vũ trang Vĩnh Long, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh hùng dũng tiến vào trung tâm thị xã Vĩnh Long, tiếp nhận sự đầu hàng của địch. Bà con cô bác trong thị xã nồng nhiệt đón chào Quân giải phóng; nồng nhiệt hoan hô cách mạng và Bác Hồ. Trong ánh chiều chạng vạng, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam - lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh được kéo lên, tung bay ngạo nghễ ở dinh tỉnh trưởng. Trong ánh đèn, tôi vẫn thấy lá cờ hắt lên một vầng hào quang chói lọi, cờ đón gió sông Tiền phần phật tung bay. Bao nhiêu cảm giác ùa về choán ngự lòng tôi: sung sướng, xúc động dâng trào; tự hào là người lính đi tới đích chiến thắng cuối cùng, và bồi hồi nhớ về những đồng chí, đồng đội, bà con cô bác đã ngã xuống để có được chiến thắng trọn vẹn, có được ngày vui đại thắng. Màn đêm đang dần buông xuống mà từ lòng mình tôi như thấy bắt đầu một ngày vui, một ngày mới với ánh dương chói lọi, huy hoàng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:21:39 AM
   
*

*      *

        Vậy là để đi tới ngày đứng ở dinh tỉnh trưởng Vĩnh Long, xúc động dâng trào ngắm lá cờ giải phóng đón giỏ sông Tiền tung bay ngạo nghễ, tôi đã trải qua hơn mười năm sống và chiến đấu trên chiến trường miền Tây; hơn mười năm là người con của Cần Thơ, Vĩnh Trà, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đất mũi. Ở đó, được bà con, cô bác cưu mang, nuôi dưỡng; được cấp trên kèm cặp, giúp đỡ, anh em đồng chí đồng cam cộng khổ bên nhau chiến đấu…, nên tôi đã trưởng thành, từ tiểu đoàn phó bộ đội địa phương lên tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 U Minh - Trung đoàn chủ lực nổi tiếng anh hùng của miền Tây.

        Là người con của đất Kinh Bắc, sinh ra và lớn lên bên dòng sông Cầu, được nuôi dưỡng bằng những hạt thóc, củ khoai, nhọc nhằn một nắng hai sương, bởi nghĩa mẹ, công cha và những làn điệu dân ca quan họ mượt mà say đắm; bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, theo tiếng gọi của Đảng, tôi đã sớm có mặt ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, cùng đồng chí, đồng đội và bà con nơi đây đánh Mỹ và bè lũ tay sai. Xuống miền Tây, tôi đã sớm hòa nhập với đất trời, sông nước, phong tục tập quán địa phương và cuộc chiến đấu rất đỗi hào hùng của đồng bào, đồng chí nơi đây; hay nói đúng hơn, đất và người miền Tây đã rộng lòng ôm ấp, chở che, nuôi dưỡng tôi. Ở đồng bằng sông Cửu Long đất đai màu mỡ, ruộng vườn trù phú; đặc biệt với “Cần Thơ gạo trắng nước trong”, nhưng chiến tranh ác liệt, đã bao lần bị kẻ thù vây ráp; khi đó, bộ đội chúng tôi sống và duy trì sức chiến đấu được là nhờ những bơ gạo, mớ rau, viên thuốc… của những gia đình, những bà mẹ nghèo ở bất cứ nơi nào bộ đội đứng chân.

        Sống trong sự o ép kìm kẹp gắt gao của kẻ địch, nhưng lòng dân luôn hướng về cách mạng. Không chỉ nuôi dưỡng, chở che; nhân dân còn là tai, mắt của bộ đội: chỉ giúp chúng tôi nơi quân địch ẩn náu, báo trước cho bộ đội biết kẻ địch mật phục hay ruồng càn. Lòng dân còn bao dung, che giấu bộ đội khi lâm nạn, bị thương… thoát khỏi sự truy đuổi, lùng sục của kẻ địch mà không hề sợ liên lụy, nguy hiểm đến bản thân mình. Hơn ai hết, bản thân tôi là minh chứng sống động của sự chở che cao quý đó. Không có sự bao dung, chở che khôn khéo của người phụ nữ và con trai của chị trong lần tôi bị thương nặng khi đánh Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 31 Sư đoàn 21 ngụy ở Long Mỹ, thì mạng sống của tôi liệu còn mấy phần trăm?

        Tình cảm, nghĩa tình và cao hơn hết là sứ mệnh, trách nhiệm của người dân đối với cách mạng, đối với Bộ đội Cụ Hồ thật bao la rộng lớn, luôn đầy ắp như nước sông Tiền, sông Hậu. Những lão nông miệt vườn, những ba má miền Tây chân chất, hiền lành như hạt thóc, cọng lục bình, nhưng vô cùng dũng cảm, thông minh, có đủ trăm phương nghìn kế để đánh lừa kẻ địch, bảo đảm hậu cần đúng nghĩa là hậu cần nhân dân, giúp đỡ, hỗ trợ cho bộ đội đánh giặc.

        Là một người lính trưởng thành từ chiến tranh nhân dân ở chiến trường đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nay chiến đấu ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng là đồng bằng, nhưng tính chất chiến trường khác biệt nhau. Đặc điểm đầu tiên của chiến trường miền Tây, điển hình là Cần Thơ, Vĩnh Trà, Sóc Trăng,… là địa bàn sình lầy, trống trải (khác với Cà Mau - nơi có căn cứ địa U Minh), khi kẻ địch ráo riết thực hiện kế sách hủy diệt, khai quang thì sự trống trải càng thêm rõ nét. Thay cho mạng lưới đường bộ, chiến trường miền Tây sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, phương tiện đi lại chủ yếu bằng ghe, xuồng,… Với những đặc điểm đó, ở đồng bằng sông Cửu Long không thích hợp với tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn; mà chỉ phù hợp với tác chiến quy mô vừa và nhỏ; tối ưu là chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích. Điều này không chỉ với ta mà cả đối phương. Giôn Phobai, một chuyên gia quân sự cao cấp của Mỹ sau một thời gian nghiên cứu chiến trường nơi đây đã thừa nhận: “Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đầm lầy không thể xây dựng được các căn cử hỏa lực và Mỹ không thể thực hiện được các cuộc tuần tra thông thường của bộ binh”. Bởi vậy, để “bình định” địa bàn đồng bằng sông Cửu Long, Mỹ không đưa bộ binh đến trực tiếp tham chiến mà chủ yếu dùng cố vấn, vũ khí, trang bị chiến tranh hiện đại và chất độc khai quang, không quân và hải quân để yểm trợ cho quân đội Việt Nam cộng hòa. Với quân đội Sài Gòn, để đối phó với kiểu chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích đặc thù ở chiến trường miền Tây, kẻ địch đã tăng cường bình định, xây dựng hệ thống “ấp chiến lược” cùng với thiết lập một hệ thống đồn bốt dày đặc khắp nơi. Không một thôn ấp nào không có đồn bốt địch. Không một giao điểm - ngã ba, ngã tư kênh rạch nào không có đồn địch. Dẫn tới hình thái chung là ta và địch xen cài lẫn nhau. Rất phổ biến tình trạng điểm đóng quân của ta chỉ cách đồn địch một con rạch, dòng kinh. Đêm đêm, bộ đội ta nghe địch ca vọng cổ, tán dóc và chửi bới rượt đuổi nhau… Một trong những ưu thế của địch đối với ta là hỏa lực đường không, hỏa lực pháo và phương tiện cơ động trên sông, rạch…

        Hơn mười năm lăn lộn trên chiến trường miền Tây, từ những thành công và chưa thành công trong chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, cho phép chúng tôi khái quát một vài vấn đề cốt tử, xuyên suốt:

        Thứ nhất, bộ đội tác chiến ở đồng bằng sông Cửu Long phải bám chắc vào dân, dựa chắc vào dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận lòng dân, hậu cần nhân dân vững chắc; nếu rời dân, không chóng thì chày sẽ tổn thất, không hoàn thành nhiệm vụ.

        Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn giữ mối quan hệ “cá nước” với nhân dân - nguyên lý đó, truyền thống đó đã được định hình từ rất sớm, nhưng với đặc thù chiến trường miền Tây, thì điều này là vấn đề cốt tử.

        Thứ hai, tác chiến trên chiến trường đồng bằng sông Cứu Long, phải giải quyết thật tốt vấn đề phân tán và tập trung. Muốn vậy, cần phải xây dựng, huấn luyện cho bộ đội ngoài kỹ chiến thuật tốt phải có khả năng cơ động cao. Khi cần tác chiến quy mô tiểu đoàn, trung đoàn, phải tập trung thật nhanh để thực hành chiến đấu, giải quyết mục tiêu; sau khi thực hành xong trận đánh phải phân tán ngay. Đặc biệt, trong hình thái chiến trường ta và địch đan cài lẫn nhau, yêu cầu ta phải luôn luôn cơ động, thay đổi vị trí đóng quân liên tục như lời Bác Hồ dặn: “Lai vô ảnh, khứ vô tung”. Hôm nay đóng quân chỗ này, mai đã chuyển sang chỗ khác, có căn cứ chính và nhiều căn cứ dự phòng. Có như vậy thì địch có áp dụng chiến thuật “trực thăng vận”, hay “hạm đội nhỏ trên sông”, sử dụng phương tiện cơ động đường sông; hỏa lực phi pháo mạnh… cũng đều bất lực. Từ đó, ta có điều kiện chủ động, bí mật bất ngờ tiến công địch, giành thắng lợi…

        Hơn mười năm lăn lộn, chiến đấu ở chiến trường miền Tây, chiến trường Khu 9 trong kháng chiến chống Mỹ là quãng thời gian sống động nhất trong cuộc đời quân ngũ của tôi. Tình cảm quân dân cá nước, nghĩa tình đồng đội, những bài học quý giá gạn lọc được từ cuộc chiến đấu cực kỳ khốc liệt… đã giúp tôi trưởng thành và là hành trang vô giá của tôi trên những chặng đường mới.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:24:46 AM

Chương năm

VÌ SỰ BÌNH YÊN MỘT DẢI BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ ĐẤT NƯỚC CHÙA THÁP

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược rất đỗi hào hùng và cũng nhiều mất mát thương đau đã chấm dứt; thắng lợi cuối cùng thuộc về ta. “Khi đại bác thôi gầm thì chim họa mi cất tiếng” - có nhà văn từng viết như vậy, Nói sao hết nỗi vui sướng, niềm kiêu hãnh của những người con đất Việt, của những người lính Cụ Hồ. Thú thật, mười mấy năm trời, ngày qua ngày đối chọi với đạn bom, quần dài quấn cổ, bạn cùng hầm bí mật, công sự, sình lầy, kênh rạch, cả những khi sự sống và cái chết không có một lằn ranh giới rõ rệt, tôi ước ao đến cháy lòng ngày ta toàn thắng; từ mong ước đến hình dung cái ngày đất nước ca khúc khải hoàn. Nhưng chỉ khi ngày ấy đến thật sự, mới thấy nỗi vui sướng niềm kiêu hãnh, tự hào như vỡ òa ra - òa ra từ sự tích tụ, dồn nén tròn 30 năm - suốt hai cuộc kháng chiến thánh thần.

        Những ngày đầu tháng 5 năm 1975, khi vào chiếm lĩnh, quân quản thị xã Vĩnh Long, bộ đội chúng tôi như chìm ngập đi trong rừng cờ hoa. Bà con cô bác vùng tạm chiếm, sau bao năm sống dưới chế độ Mỹ - ngụy, bị kìm kẹp, tuyên truyền xuyên tạc, nay không ít người ngỡ ngàng trước những chiến sĩ giải phóng, Bộ đội Cụ Hồ. Ngó chú nào cũng hiền lành, dễ thương quá! Nhiều má, nhiều cô, đã không giấu nổi lòng mình, mà thốt lên như vậy.

        Không chỉ ở Vĩnh Long, Cần Thơ, mà tin tức truyền về: cố đô Huế, Đà Nẵng, và đặc biệt Sài Gòn - Gia Định - dinh lũy, hang ổ cuối cùng của kẻ thù về tay Quân giải phóng nguyên vẹn; không mảy may có một cuộc “tắm máu” như đối phương vẫn nghĩ và chờ đợi. Điều đó càng làm cho niềm vui của mỗi chúng tôi trong ngày đại thắng nhân lên gấp bao lần.

        Hòa trong niềm vui chung, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh khẩn trương triển khai những nhiệm vụ cấp bách sau chiến tranh.

        Thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh tiền phương quân khu, chúng tôi đưa trung đoàn về đứng chân từ bến phà Mỹ Thuận đến Ba Càng. Sở chỉ huy trung đoàn đóng gần bến phà Mỹ Thuận, khẩn trương chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị triển khai công tác vận động quần chúng, giữ gìn trật tự trị an địa bàn, tham gia truy quét tàn quân địch và những phần tử phản động; vận động những gia đình có người thân từng làm việc, đi lính cho chính quyền, quân đội ngụy…đang lẩn trốn ra trình diện chính quyền cách mạng để được hưởng chính sách khoan hồng. Rồi việc tiếp thu, quản lý vũ khí - trang thiết bị chiến lợi phẩm cũng phải được quán triệt, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ. Đặc biệt, anh Bảy Sa và các anh trong Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn rất coi trọng công tác giáo dục, nhắc nhở anh em tinh thần cảnh giác, không để cho kẻ thù lôi kéo, sa ngã trước những “viên đạn bọc đường”, bởi vật chất; chấp hành nghiệm quan hệ quân dân, giữ tư thế, tác phong của những người chiến thắng, nhưng không được công thần, tự cao, tự mãn.

        Thời gian chưa nhiều, nhưng ngày ngày chứng kiến những người lính của trung đoàn tích cực giúp dân ổn định cuộc sống, không nề hà việc gì, trong tôi trỗi dậy niềm cảm mến. Đúng là, chỉ có bộ đội của dân, vì dân, mới có được đức tính như vậy, mới mang đậm tính nhân văn cao cả, mà một nhà thơ đã khái quát “Súng gươm xếp lại, hiền lành như xưa…”.

        Mọi chuyện cứ ngỡ bằng lặng trôi trong nhịp sống hòa bình. Nhưng đúng là “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”. Niềm vui chiến thắng của chúng ta thật lớn lao, nhưng chưa trọn. Tiếng súng đánh Mỹ vừa ngừng, quân và dân ta chưa hưởng trọn niềm vui thì biên giới, vùng biển đảo Tây Nam đã “nổi sóng”. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đảo Phú Quốc được giải phóng khỏi bàn tay Mỹ - ngụy Sài Gòn, thì ngày 3 tháng 5, tập đoàn phản động Pôn Pốt ở Campuchia đưa quân chiếm phần phía bắc của đảo Phú Quốc, đánh chiếm các đảo Hòn Ông, Hòn Bà (đảo Poulowai), đảo Thổ Chu; giết hại trên 500 đồng bào ta sống lâu đời ở đây. Quân Pôn Pốt còn chiếm các quần đảo Hải Tặc. Cùng lúc này, tiếng súng gây hấn của bè lũ Pôn Pốt đã vang dọc tuyến biên giới Tây Nam. Hành động ngang ngược của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa Ri phản ánh bản chất phản động của chúng - điều mà chúng ta ý thức được từ trước, rõ nét nhất là từ sau năm 1973; nhưng dẫu sao, việc Pôn Pốt gây hấn, xâm lấn lãnh thổ của ta đúng vào những ngày ta kết thúc thắng lợi 21 năm đánh Mỹ, cũng gây sửng sốt, bàng hoàng đối với nhiều người.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:26:36 AM

        Sau này, có điều kiện nghiên cứu kỹ tình hình lúc đó mới thấy rằng: trong khi ta đang dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, thì ở Campuchia, với sự giúp sức của ta, ngày 17  tháng 4, Phnôm Pênh đã được giải phóng. Lợi dụng thời điểm chúng ta đang tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách ở những đô thị lớn sau ngày giải phóng, tập đoàn Pôn Pốt đã cho quân ra chiếm các đảo của ta. Vậy là, điểm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng chính là điểm khởi đầu của một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn, lâu dài, ác liệt không hề thua kém hai cuộc chiến tranh giải phóng trước đó.

        Là một dân tộc bao lần bị ngoại bang xâm lăng, đặc biệt vừa kết thúc thắng lợi 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chịu biết bao mất mát, thương đau, hơn ai hết, chúng ta biết cái giá phải trả để có được một ngày hòa bình, non sông độc lập thống nhất. Và cũng vì thế mà dân tộc ta, quân dân ta quyết bảo vệ, giữ gìn những gì ta có được.

        “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cử đi” - khúc hát hành quân từng nâng bước chúng tôi trong những năm trường đánh Pháp, đánh Mỹ, nay lại thúc giục bước chân những người lính Trung đoàn 1 U Minh hướng ra biên giới.

        Chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 lúc này là khẩn trương tiếp quản tốt, ổn định tình hình vùng mới giải phóng; đồng thời kiên quyết chặn đứng, đánh bại mọi hành động xâm lấn, phá hoại của tập đoàn phản động Pôn Pốt; quyết không để một tấc đất của Tổ quốc lọt vào tay người khác. Để thực hiện quyết tâm đó, trung tuần tháng 5 năm 1975, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đề nghị Bộ Quốc phòng thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng các đảo thuộc vùng biển Tây Nam của Tổ quốc. Anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu được chỉ định làm Chỉ huy trưởng chiến dịch; anh Trần Hanh - Anh hùng không quân, Phó tư lệnh Quân chủng Không quân làm Chỉ huy phó.

        Sau khi Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập, anh Ba Trung cho gọi tôi và anh Bảy Sa lên chính thức giao nhiệm vụ. Với tâm trạng rất buồn, anh Ba Trung truyền đạt nhiệm vụ mà như tâm sự, như giãi bày một phẫn uất:

        - Tình hình xấu quá rồi. Quân Pôn Pốt đã chiếm một số đảo của ta hơn một tháng nay. Chúng tàn sát đồng bào ta rất dã man. Được Tư lệnh quân khu phân công trực tiếp giải quyết tình hình các đảo, vừa rồi tôi đã sử dụng một lực lượng của quân khu, có hải quân tăng cường đổ bộ bí mật lên đảo Thổ Chu, bất ngờ tiêu diệt gọn một tiểu đoàn quân Pôn Pốt, bắt 300 tên. Nhưng điều đáng buồn là khi ta giải phóng đảo, quân Pôn Pốt đã sát hại trên 500 bà con ta sinh sống lâu đời ở đây. Nghe bà con mình kể lại mức độ dã man, không còn tính người của quân Pôn Pốt mà tôi giật mình, không tưởngtượng nổi.

        Về nhiệm vụ của Trung đoàn 1 U Minh, anh Ba Trung chỉ thị:

        - Trung đoàn khẩn trương tổ chức bàn giao địa bàn cho lực lượng vũ trang, chính quyền địa phương, nhanh chóng cơ động ra đảo Phú Quốc, sẽ có hải quân trợ giúp; chuẩn bị cùng các đơn vị bạn tiến công thu hồi các đảo.

        Nhiệm vụ đã rõ, thời gian không chờ đợi, ta ra đảo chậm một ngày là có biết bao dân thường vô tội bị sát hại. Ý thức được điều đó, chúng tôi khẩn trương phổ biến quán triệt nhiệm vụ tới từng cán bộ, chiến sĩ; gặp gỡ bàn giao địa bàn cho Huyện đội Long Mỹ, Ba Càng.

        Mọi việc hoàn tất, ngày 25 tháng 5, toàn đội hình trung đoàn được tàu của hải quân và xe vận tải quân sự chuyển xuống thị trấn Rạch Sỏi - Rạch Giá; sau đó hành quân bằng tàu ra Phú Quốc. Ra quân lần này, đơn vị không háo hức, phấn chấn như những lần ra quân đánh Mỹ trước đây; mà nặng phần ưu tư, trăn trở. Thật trớ trêu - thế gian tráo trở, sớm nắng chiều mưa; cũng con người đó, hôm qua còn là “đồng chí” của nhau, nay đã hiện nguyên hình là những tên đao phủ - là kẻ thù không đội trời chung của ta.

        Đặt chân lên đảo, trong khi bộ đội ổn định đội hình đứng chân, tiếp tục làm công tác chuẩn bị, tôi và các anh trong Ban chỉ huy trung đoàn cùng các anh trong Bộ chỉ huy chiến dịch nhiều lần đi máy bay để trinh sát, chuẩn bị hạ quyết tâm chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:29:23 AM

        Ngồi trên máy bay trinh sát nắm địch, mới thấy được phần nào vẻ đẹp của vùng biển đảo Tây Nam Tổ quốc. Trải dưới cánh máy bay, biển xanh biếc, điểm xuyết từng gợn sóng bạc đầu; thuyền buồm đánh cá hàng trăm chiếc như đám lá tre rải trên mặt hồ. Còn đảo lại xanh mướt một màu cây cối. Cảnh quan đất nước thật thanh bình, nếu như không ẩn giấu sau vẻ đẹp cổ điển đó là những bóng ma diệt chủng. Phải chặn đứng bàn tay vấy máu của chúng!

        Ngày 27 tháng 5, Bộ chỉ huy chiến dịch chính thức giao nhiệm vụ cho trung đoàn chúng tôi tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Poulowai (đảo Hòn Ông, Hòn Bà).

        Điều khó khăn nhất của chúng tôi khi đó là không một ai biết hai hòn đảo này như thế nào, nằm ở đâu, đặc biệt là địch tình trên đảo. Lập tức các loại bản đồ hành chính, quân sự của chính quyền Sài Gòn trước đó, được khui tìm; đồng thời qua giới thiệu của bà con ở Phú Quốc, chúng tôi tìm được một ngư dân địa phương trạc bảy chục tuổi. Ngư phủ nãy biết khá rõ Hòn Ông, Hòn Bà. Hằng năm, ông ra làm ăn và qua lại trên hai hòn đảo này chừng sáu tháng. Những thông tin ít ỏi của người ngư phủ này vô cùng quý giá đối với chúng tôi khi nhận nhiệm vụ.

        Qua nghiên cứu các tài liệu về địch, những thông tin do ngư dân cung cấp và đặc biệt sau khi đã làm chủ Poulowai, có thể khái quát tình hình địch, đỉa hình địa vật ở hai hòn đảo này như sau: Cả hai đảo cách thị xã Rạch Giá 220 cây số và cách An Thới, Phú Quốc 113 cây số về phía tây. Hòn Ông cao 51 mét, Hòn Bà cao 61 mét, nằm song song, cách nhau 3 cây số, diện tích tương đương nhau. Mỗi đảo dài khoảng 3.000 mét, chỗ rộng nhất 1.500 mét, chỗ hẹp nhất 800 mét, có một ít cư dân sinh sống trên đảo. Mỗi đảo có một bãi cát có thể đổ bộ dễ dàng; còn lại bốn bề của đảo đều là vách đá dựng đứng. Đảo Hòn Bà có một cây đèn biển và quân ngụy trước đó có làm một sân bay dã chiến, chủ yếu cho trực thăng và máy bay trinh sát L.19 đậu.

        Quân Pôn Pốt ở đảo Hòn Ông có Tiểu đoàn 420; ở Hòn Bà có Tiểu đoàn 410, thuộc Trung đoàn 21 Sư đoàn 3 bộ binh. Trang bị hỏa lực có 10 khẩu ĐKZ, 82ly và 75ly, một số súng cối, đại liên, AK, súng máy 12,7ly, trên bốn chục khẩu B.40, B.41.

        Để tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Hòn Ông, Hòn Bà, ngoài lực lượng của trung đoàn, Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cho trung đoàn tôi 2 khẩu pháo 105ly; về hải quân có 11 tàu PCF, 10 tàu há mồm (LCM), 3 tàu cao tốc, 3 tàu vận tải; về không quân, có 12 máy bay ném bom A.37, bốn trực thăng vũ trang, hai máy bay trinh sát L.19, hai máy bay cần cẩu CH.47, một trực thăng cứu thương. Yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch là trung đoàn đánh chiếm, làm chủ Poulowai trong vòng hai đến ba ngày.

        Tình hình địch - ta, quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch như vậy là khá rõ. Điểm mấu chốt trong quá trình chuẩn bị là vấn đề công tác tư tưởng của bộ đội. Như tôi đã đề cập, khi trung đoàn hành quân xuống Rạch Sỏi, ra Phú Quốc, không còn không khí hồ hởi như khi ra trận đánh Mỹ - ngụy. Tôi và anh Bảy Sa đều cảm thấy phảng phất một chút tư tưởng ngại chiến đấu, tư tưởng cầu an, hòa bình. Vì vậy, chúng tôi thống nhất phải động viên, giáo dục giải quyết ngay tình trạng nói trên. Mọi công việc chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Bộ đội xốc lại tinh thần, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng là người lính của Trung đoàn 1 U Minh anh hùng.

        Lần đầu tác chiến với đối tượng mới, hành quân xa trên biển, chúng tôi chủ động hiệp đồng chặt chẽ với các anh bên hải quân và không quân. Với hải quân, anh Chinh - Tư lệnh Vùng 5 và anh Hán - Hạm đội trưởng cùng chúng tôi bàn thảo, thống nhất cách đánh, các bước hành quân… Nói thêm một chút về hải quân, sau khi ta giải phóng miền Nam, thu được một số tàu của hải quân ngụy, nên Bộ Tư lệnh Hải quân đã thành lập một số hạm đội. Nói là hạm đội cho có vẻ to tát vậy thôi, chứ thực chất lực lượng, trang bị rất mỏng. Cả hạm đội chỉ có 2 chiếc tàu cao tốc, được trang bị mấy khẩu 12,7ly và 2 khẩu pháo phòng không 37ly; một số tàu “há mồm” và tàu tuần tiễu. Nhân viên lái tàu là lính ngụy trước đây, nay được ta tuyên truyền vận động, mặc dù nhận nhiệm vụ, nhưng chắc chắn rất sợ đánh đấm, chết chóc…; đặc biệt, khi ta sử dụng lái tàu tham gia trận đánh trên biển, họ rất sợ sóng gió, đắm tàu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:43:26 AM

        Khi bàn cách đánh, quan điểm của tôi khác các anh chỉ huy Vùng 5 và Hạm đội hải quân. Anh Chinh và anh Hán cho rằng quân Pôn Pốt cùng lắm cũng như quân ngụy trước đây, thế và lực đều yếu; ta nên đánh một cách bài bản, đổ bộ trực tiếp vào bãi cát rộng khoảng 400m2; kết hợp xung lực, hỏa lực đánh chiếm đảo. Quan điểm của chúng tôi hoàn toàn ngược lại. Tôi cho rằng: ta chưa tường tỏ về địch tình, địa hình, hỏa lực không có, rất khó đánh theo kiểu bài bản. Quân Pôn Pốt có thể không mạnh, nhưng mưu mô, thâm hiểm cũng không vừa; khi ta đánh chiếm lại đảo Thổ Chu, rất có thể địch tăng cường binh - hỏa lực để phòng thủ đảo Hòn Ông, Hòn Bà. Kinh nghiệm thực tế dạy cho tôi, muốn thắng địch, phải thận trọng, đánh chắc, đánh theo cách đánh của trung đoàn - triệt để khai thác yếu tố bí mật bất ngờ.

        Sau một hồi bàn bạc, tranh cãi, các anh bên hải quân đồng ý đánh theo cách của chúng tôi. Cụ thể là ta sẽ đánh vào ban đêm. Với khoảng cách 120 cây số từ Phú Quốc ra đảo Hòn Ông, Hòn Bà, tôi dự kiến tàu đi mất 12 giờ; nếu xuất phát sớm, ra tới đảo trời chưa sáng, có thể tiến công địch trong đêm. Lúc này, đang vào mùa gió bấc, chúng tôi sẽ cho tàu đi vòng xuống phía Malaixia, sau đó đi ngược lên, tiếp cận đảo từ phía nam; do ngược gió nên địch khó phát hiện tiếng máy tàu, giữ được bí mật. Khi đổ bộ lên đảo sẽ không tiếp cận bãi cát bằng phẳng, mà chọn khu vực bãi đá hiểm trở, địch không ngờ ta đổ bộ lên đó, tạo được yếu tố bất ngờ.

        Sau khi thống nhất cách đánh, công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất, chiều ngày 31 tháng 5 năm 1975, toàn trung đoàn được lệnh xuất kích. Theo kế hoạch, Tiểu đoàn 309 và một số phân đội trực thuộc sẽ đánh vào Hòn Bà, Tiểu đoàn 303 đánh vào Hòn Ông, Tiểu đoàn 307 là lực lượng dự bị của trung đoàn. Đội hình xuất phát gồm 2 tàu cao tốc, 10 tàu “há mồm”, 10 tàu tuần tiễu chở hai tiểu đoàn 309, 303, chỉ huy trung đoàn, tiếp đó là Tiểu đoàn 307, lần lượt rời bến với khí thế quyết thắng trận đầu. Nhưng mới đi được chừng một phần ba quãng đường, màn đêm vừa buông trên biển, thì bất ngờ giông gió nổi lên. Biển nổi sóng. Những con sóng lừng lững như muốn nuốt chửng mấy con tàu bé bỏng. Đêm mỗi lúc một đen đặc. Bộ đội say sóng, nôn mửa khắp tàu. Với tôi, đây là lần đầu tiên đi biển, mặc dầu không say sóng, nhưng trước tình huống bộ đội nằm la liệt, không hình dung sóng gió kéo dài bao lâu; sau khi hội ý chớp nhoáng với anh Chỉnh, anh Hán, chúng tôi quyết định quay về Phú Quốc. Liên tiếp mấy ngày sau đó, bão gió lui rồi, nhưng thời tiết vẫn xấu, trung đoàn tiếp tục chuẩn bị và chờ đợi lệnh xuất quân.

        Chiều ngày 4 tháng 6, biển lặng, trời quang, tôi truyền lệnh xuất phát. Toàn bộ đội hình đi vòng xuống phía Malaixia, sau đó căn tọa độ vòng lên, triển khai kế hoạch tiếp cận đảo từ phía nam. Đã tính toán kỹ thời gian hành quân, thời điểm đổ bộ lên đảo, nên tôi lệnh cho các tàu giữ ổn định tốc độ. Sau 12 giờ tàu chạy liên tục, vẫn chưa thấy xuất hiện mục tiêu, tôi trao đổi với anh Hán: Có lẽ chúng ta đã đi chệch hướng, đi quá mất rồi!

        Sau một thoáng lưỡng lự, đồng chí Hạm đội trưởng lệnh cho các tàu tạm dừng, xác định lại tọa độ và cho tàu tuần tiễu kiểm tra kỹ. Một lúc sau thì tàu tuần tiễu phát hiện ánh đèn ở trên đảo. Tất cả được lệnh điều chỉnh lại đội hình, tiếp cận hải đảo từ phía nam. Bốn giờ sáng ngày 5 tháng 6, Tiểu đoàn 309 tiếp cận đảo Hòn Bà. Cách đảo 60 mét. tôi lệnh cho bộ đội nhảy xuống nước lội vào, không lên đảo ở khu vực bãi cát, mà chọn một vị trí khác, tuy khó tiếp cận, nhưng bảo đảm bí mật. Theo cách đó, toàn bộ Tiểu đoàn 309 và lực lượng tăng cường lên đảo trót lọt mà địch vẫn không hay biết gì. Đúng ra thì địch ở đảo Hòn Ông biết chúng tôi đột nhập đảo Hòn Bà, nhưng vì hệ thống thông tín hay vì lý do gì đó mà chúng không báo cho đồng bọn ở Hòn Bà biết được.

        Sau khi bộ đội lên đảo, ổn định đội hình chiến đấu, xong, Nguyễn Thành Chiến - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 309 báo cáo không thấy địch, tôi lệnh cho tiểu đoàn khẩn trương đào ít nhất phải được 300m công sự, để sáng ngày, khi địch phát hiện được, là ta có công sự để chiến đấu được, hạn chế thương vong.

        Ở hướng Hòn Ông, Tiểu đoàn 303 tiếp cận đảo muộn hơn Tiểu đoàn 309 ở Hòn Bà. Vì vậy, khi tàu của ta tiếp cận Hòn Ông thì trời vừa sáng, địch phát hiện trung đoàn lệnh cho tàu chở quân lao thẳng vào bờ. Khi bộ đội nhảy khỏi tàu, đổ bộ lên bờ thì một chiếc tàu há mồm trúng đạn pháo của địch, bị chìm.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:45:53 AM

        Súng ở Hòn Ông nổ cũng là hiệu lệnh báo động cho địch ở Hòn Bà. Lập tức, tôi phát lệnh nổ súng tiến công địch. Đúng như dự đoán của tôi: bãi cát ở Hòn Bà chính là nơi địch bố trí trận địa phòng ngự hỏa lực mạnh. Nếu như chúng tôi đổ bộ vào bãi cát thì chắc chắn toàn bộ đội hình sẽ lọt vào trận địa bày sẵn của địch, và không hiểu khi đó tình hình sẽ ra sao! Bộ đội ta phát triển được chừng trăm mét thì gặp địch phản kích quyết liệt. Khi thấy địch bộc lộ lực lượng, anh Chỉnh và anh Hán rất phục phán đoán của chúng tôi. Anh Hán nắm chặt tay tôi, xúc động nói:

        - Kỳ thật, nói là chưa biết tí gì về địch mà anh lại đi guốc trong bụng chúng!

        Tôi vui vẻ trả lời: Cũng không có gì to tát cả, kinh nghiệm thực tế dạy chúng tôi rằng địch không bao giờ dành cho ta những gì dễ dàng, đơn giản. Một trận đánh dù lớn hay nhỏ cũng là một cuộc đấu trí giữa hai bên. Không những không mắc mưu địch mà ta còn phải biết “tương kế tựu kế”…

        Suốt mấy ngày, kể từ sáng sớm ngày 5 tháng 6, chiến sự diễn ra căng thẳng ở Hòn Bà và Hòn Ông. Ngay trong ngày 5 tháng 6, địch đã cho quân ở đảo Cô Tang đến tăng viện cho Hòn Bà. Tàu cao tốc do anh Hán chỉ huy đã bắn chìm một chiếc PCF, bắn hỏng một chiếc khác, bắt 3 tù binh. Hết ngày 5 tháng 6, Tiểu đoàn 309 cũng chỉ chiếm được một số điểm cao ở phần nam Hòn Bà. Sang ngày thứ hai, bộ đội ta phát hiện ở Hòn Bà có một sân bay dã chiến - đường băng dài chừng 300m.

        Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 6, chiến sự diễn ra ác liệt chủ yếu ở khu vực bãi cát và xung quanh cao điểm 61 - nơi đặt sở chỉ huy Tiểu đoàn 410 quân Pôn Pốt. Nhiều cán bộ, chiến sĩ của ta thương vong ở đây. Liên tiếp những ngày này thời tiết xấu, biển động mạnh, máy bay chiến đấu và tàu chiến của ta không xuất kích được. Đến ngày 10 tháng 6, trời quang, biển lặng, không quân và hải quân hoạt động tốt, hỗ trợ tích cực cho các lực lượng của chúng tôi trên đảo đang vây chặt địch ở cao điểm 61. Trực thăng vũ trang của ta tiến công đoàn tàu địch từ Cô Tang tăng viện cho Hòn Bà, máy bay A37 ném bom cao điểm 61. Máy bay trực thăng và máy bay A37 bay ra chỉ tiếp cận mục tiêu, ném một loạt bom rồi quay về ngay, vì thời tiết xấu.

        Biết địch đã đến lúc “sức cùng lực kiệt”, chiều ngày 12 tháng 6, tôi phát lệnh tiến công tiêu diệt địch ở cao điểm 61 và một số vị trí đang bị vây chặt. Tiểu đoàn 309 và các lực lượng tăng cường làm chủ toàn bộ Hòn Bà, bắt hơn 700 tên, thu rất nhiều súng đạn, trong đó có hai khẩu cối 106,7ly, 10 khẩu ĐKZ 75ly, 82ly và 8 khẩu 12,7ly của địch bố trí trên bãi cát dài chừng 400 mét.

        Sau khi làm chủ hoàn toàn Hòn Bà, ngày 13 tháng 6, chúng tôi cho Tiểu đoàn 309 đưa hai khẩu pháo 105ly mới được máy bay cẩu ra, đặt ở đảo Hòn Bà bắn sang Hòn Ông. chi viện cho Tiểu đoàn 303 và Tiểu đoàn 307 tiêu diệt Tiểu đoàn 420 - tiểu đoàn được mệnh danh là thiện chiến bậc nhất - tiểu đoàn “anh hùng” của Pôn Pốt. Cũng trong ngày 13, không quân ta xuất kích ném bom sở chỉ huy Tiểu đoàn 420 quân Pôn Pốt, oanh kích tàu chiến của địch tăng viện, bắn chìm một chiếc. Lúc này tôi rời Hòn Bà sang trực tiếp chỉ huy đánh địch ở Hòn Ông.

        Sáng ngày 14 tháng 6, Tiểu đoàn 303 và Tiểu đoàn 307 dồn toàn lực mở cuộc tiến công cuối cùng, diệt và bắt toàn bộ quân địch (bắt 782 tên), làm chủ hoàn toàn Hòn Ông, thu hàng nghìn khẩu súng. Về phía trung đoàn, hy sinh 18 đồng chí và bị thương trên tám chục đồng chí. Như vậy, hòa bình chưa được hai tháng, mà những người lính Trung đoàn 1 U Minh vẫn tiếp tục chiến đấu, tiếp tục hy sinh vì chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

        Sau khi đánh chiếm, làm chủ Hòn Bà, Hòn Ông, chúng tôi tổ chức cho bộ đội đi tìm dân cư trên đảo. Anh em tìm mãi chẳng thấy ai. Bao trùm khắp đảo là cảnh tượng hoang vắng rợn người. Khủng khiếp và ghê rợn nhất là khi bắt gặp những đống quần áo cũ, chăn màn, xác chết tấp vào dọc mép biển. Anh em tập trung thu gom chôn cất xác chết, vệ sinh môi trường. Sau đó, theo lệnh trên, chúng tôi để một lực lượng của Tiểu đoàn 309 ở lại tổ chức phòng thủ bảo vệ Hòn Ông, Hòn Bà. Lực lượng chủ yếu của trung đoàn đưa theo tù binh trở về đảo Phú Quốc. Những tháng ngày ở Phú Quốc, trung đoàn vừa tổ chức phòng thủ đảo, vừa cải tạo lại khu vực trại giam Phú Quốc, chuẩn bị nhận số sĩ quan ngụy ra học tập, cải tạo.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:51:01 AM

        Thời gian ở Phú Quốc, ngoài ngư phủ đã gặp lần trước chúng tôi tiếp xúc thêm với mấy người dân ở đảo Hòn Ông, Hòn Bà sống sót chạy về đây. Với vẻ mặt chưa hết nỗi kinh hoàng, khiếp đảm, những người dân may mắn sống sót kể lại: vào cuối tháng 4, hàng trăm ngư dân của ta sinh sống lâu nay ở trên đảo, thấy tàu đổ quân Pôn Pốt lên bờ lại nghĩ là Quân giải phóng, không đề phòng và không kịp chạy, liền bị chúng bắt ngay lập tức. Chỉ những ai đi vắng mới thoát nạn. Lính Pôn Pốt tập trung tất cả thường dân vô tội, xả súng bắn chết rồi hất xác xuống biển. Thật khó tưởng tượng nổi sự tàn bạo, mất hết tính người của những kẻ vừa mới đây đang được ta cưu mang, giúp đỡ; đang cùng ta chung chiến hào đánh Mỹ.

        Thắng lợi của trận tiến công tiêu diệt quân Pôn Pốt, giải phóng đảo Hòn Ông, Hòn Bà, có ý nghĩa hết sức to lớn cả về quân sự và chính trị; chặn đứng âm mưu hành động lấn chiếm của thế lực thù địch mới, thu hồi một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng bị chúng lấn chiếm trái phép. Trận đánh khẳng định một bước tiến mới của trung đoàn về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Còn về phần mình, trận đánh này thêm một lần nữa giúp tôi khẳng định những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn chiến tranh khốc liệt, từ biết bao thắng lợi và cả tổn thất, luôn có tác dụng mọi lúc mọi nơi. Trong tác chiến, thì biết địch, biết ta, thận trọng, chắc chắn nhưng khi cần phải quyết đoán, có được quyết định chuẩn xác đúng lúc, là những nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng.

        Sau hai tháng ở Phú Quốc, cuối tháng 10 năm 1975, chúng tôi bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn, đưa toàn bộ đội hình về đất liền. Lực lượng chốt giữ đảo Hòn Ông, Hòn Bà cũng rút về hết. Thời gian này, đội hình trung đoàn đứng chân ở Vị Thanh và thị xã Cần Thơ. Trở về đất liền lần này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh vô cùng phấn khởi, cùng với niềm vui thắng trận trở về, chúng tôi còn nhận được thông báo, ngày 2 tháng 9 năm 1975, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký quyết định phong tặng trung đoàn danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai. Như vậy, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, đã hai lần tôi cùng cán bộ, chiến sĩ của mình vinh dự được đón nhận danh hiệu cao quý này. Sau đó, năm 1989, trung đoàn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lần thứ ba. Nếu tôi nhớ không nhầm thì Đoàn Đắc Tô (thuộc Quân đoàn 3) cũng là đơn vị ba lần được tuyên dương Anh hùng. Quả là hiện tượng hiếm có trong toàn quân, toàn quốc. Đây cũng là niềm vinh dự, tự hào chính đáng, lớn lao của các thế hệ cán bộ. chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh.

        Sau khi ổn định tình hình đơn vị ở địa bàn đóng quân mới, cuối năm 1975, tôi nghỉ phép thăm gia đình. Vậy là đã hơn 11 năm kể từ ngày tôi tạm biệt miền Bắc hậu phương, lên đường vào Nam đánh Mỹ. Hơn 11 năm, đất nước, quê hương, gia đình biết mấy đổi thay. Hơn 11 năm, tôi chiến đấu ở chiến trường cực Nam của Tổ quốc, hầu như gia đình không nhận được thư từ, tin tức của tôi, nhưng mẹ già và người vợ yêu quý vẫn âm thầm kiên tâm trông đợi, hy vọng. Sau mấy ngày chen chúc xe đò từ Tây Đô về Sài Gòn, rồi từ đó ra Bắc, tôi được chứng kiến biết bao cảnh tình của hai miền Nam - Bắc thời “hậu chiến”. Tất cả còn ngổn ngang, chộn rộn. Riêng Hà Nội và quê hương Quế Võ - Bắc Ninh vẫn như ngày tôi lên đường ra trận, chẳng mấy đổi thay.

        Ngày tôi khoác ba lô trở về, thôn xóm, gia đình như vỡ òa ra vì ngỡ ngàng, sung sướng. Hơn 11 năm “bặt vô âm tín”, mọi người vẫn nghĩ là tôi đã hy sinh. Chỉ có mẹ và vợ còn một chút hy vọng mỏng manh là tôi còn sống bởi không ai ngoài mẹ và vợ tôi hiểu được độ “lỳ” của tôi, rằng tôi không sống ồn ào, rất “tiết kiệm” thư từ. Tôi nhớ mãi phút giây mẹ ôm chặt tôi vừa khóc vừa nói:

        - Làm sao vậy con? Anh em bạn bè trong làng ngoài xóm đi Nam cũng nhiều, nhưng năm thì mười họa còn có mẩu tin hoặc lá thư; riêng con thì biệt tăm biệt tích. Đã bao đêm mẹ thắp hương, cầu mong tổ tiên ông bà và bố con phù hộ độ trì cho con tránh khỏi mũi tên, hòn đạn. Làm sao vậy hở con?

        Tôi ôm chặt lấy mẹ, đứng như trời trồng, một lúc sau mới giãi bày được vài lời, để mẹ hiểu cho chiến trường tôi đánh giặc xa xôi, cách trở…thư từ gửi về không thấu; nhưng dẫu sao tôi vẫn thấy mình có lỗi nhiều với gia đình. Năm đó, mẹ tôi đã 73 tuổi. Đã là lớp người “xưa nay biếm”, nhưng ơn trời, nhờ tần tảo lao động nên mẹ tôi vẫn khỏe, minh mẫn.

        Tròn một tháng nghỉ phép thăm nhà, là quãng thời gian cho phép tôi khỏa lấp phần nào sự trống vắng - mất mát về tình cảm của mẹ, của vợ…, bởi những tháng ngày đằng đẵng tôi đi xa. Thật cảm động và biết ơn đất nước đã sản sinh những bà mẹ anh hùng, những người vợ trọn một đời làm lụng, hy sinh vì con, vì chồng; những người mẹ, người vợ suốt bao năm ròng oằn lưng bởi việc nước, việc nhà, để những người con, người lính chúng tôi yên lòng nơi tiền tuyến, tập trung lo việc binh đao.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:53:38 AM
        Về phép lần này, tôi có ý định sẽ đưa vợ tôi vào định cư lập nghiệp ở Cần Thơ - nơi tôi xem như là quê hương thứ hai của mình. Vả lại, vợ chồng xa cách nhau đã lâu lắm rồi. Tình hình biên giới Tây Nam đang nóng lên từng ngày. Tôi khó có điều kiện về thăm nhà đều đặn hằng năm được. Ý định của tôi được mẹ và vợ đồng thuận. Có mặt hai vợ chồng, mẹ tôi vui vẻ nói:

        - Con tính thế là phải. Vợ chồng đứa Nam đứa Bắc đã hơn chục năm rồi. Cũng chỉ có đất nước này mới có cảnh như vậy. Cứ nghĩ rằng đất nước hòa bình rồi, vợ chồng được sống gần nhau. Ai ngờ, phía đó vẫn chưa yên. Con vào trong đó thu xếp sớm để đưa vợ vào. Mẹ ở nhà còn có anh, chị em con, có bà con chòm xóm.

        Nghe mẹ căn dặn, tôi càng thương mẹ vô cùng. Từ ngày bố tôi mất đi, gánh nặng gia đình oằn đôi vai gầy của mẹ, mọi tình thương mẹ dành trọn cho anh chị em chúng tôi. Dĩ nhiên, với tôi, quãng thời gian 23 năm kể từ ngày xa nhà đã có tới 15 năm ra vào nơi mũi tên, hòn đạn, nên mẹ thương nhất. Nhớ lại hôm tôi mới về, mẹ đã giãi bày: Đêm nào cũng vậy, đêm năm canh, mẹ thường trằn trọc, mỗi canh dành nghĩ về con cái đứa Nam, đứa Bắc, nhưng nghĩ về tôi là nhiều nhất; đêm đêm, cứ thao thức nghĩ lần hết mấy đứa con là trời vừa sáng…

        Khi hồi tưởng những điều này thì mẹ tôi đã là người thiên cổ hai chục năm rồi. Hỏi rằng - là con cái, mấy người trong chúng ta thấu được sự sâu lắng của mẹ mình; để rồi tự mình lại dằn vặt đớn đau bởi nếu có một lần trong đời làm mẹ không vui?

*

*       *

        Mấy ngày phép thoáng chốc qua nhanh, tạm biệt mẹ già, gia đình, quê hương, tôi trở về đơn vị. Về tới trung đoàn, tôi được anh Bảy Sa thông báo quân khu có quyết định điều tôi sang làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 4. Đồng thời, Trung đoàn 1 U Minh cũng được quân khu điều sang trực thuộc đội hình Sư đoàn 4.

        Sư đoàn bộ bình 4 Quân khu 9 ra đời ngày 19 tháng 8 năm 1974, nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến tập trung của lực lượng vũ trang miền Tây trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khi mới thành lập, biên chế của sư đoàn gồm ba trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 2 (Đoàn Lộc Ninh), Trung đoàn 10 (Trung đoàn Sông Hương), Trung đoàn 20 (Trung đoàn Cửu Long) và một số đơn vị binh chủng trực thuộc.

        Ra đời trên cơ sở những trung đoàn có bề dày lịch sử truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu, nên vừa mới thành lập, Sư đoàn 4 đã khẳng định được tính chất “quả đấm” chủ lực của Quân khu 9 trong tổng tiến công Xuân l975; đã tổ chức một số trận đánh quy mô sư đoàn, trung đoàn đạt hiệu suất chiến đấu cao. Điển hình là trận vận động phục kích tại rạch Bàu Ráng - Cả Đỉa (Long Mỹ - Cần Thơ), trận tiến công địch tại khu vực xã Thanh Xuân, huyện Châu Thành A (Cần Thơ), tiến công giải phóng chi khu Hưng Long, tham gia giải phóng Cần Thơ…

        Sau vài ngày chuẩn bị, bàn giao công việc cho anh Ba Chơi - người kế nhiệm tôi trên cương vị Trung đoàn trưởng, gặp gỡ liên hoan chia tay anh em đồng chí, cộng sự, tôi sang nhận nhiệm vụ ở Sư đoàn 4. Là người lính - người cán bộ quân đội, thì chuyện thuyên chuyển công tác theo yêu cầu nhiệm vụ là rất bình thường. Nhưng với riêng tôi, việc phải rời xa Trung đoàn 1 gây xúc động mạnh. Nếu như ở Tiểu đoàn Thiên Đức (Bắc Ninh), tôi chập chững bước vào đời quân ngũ, trưởng thành từ những “trận chiến đấu vỡ lòng”, thì Trung đoàn 1 U Minh là nơi giúp tôi trưởng thành rất nhiều cả về bản lĩnh, tư duy chiến thuật, trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu. Với Trung đoàn 1 và chiến trường Khu 9, tôi đã có hơn chục năm chiến đấu công tác vô cùng cam go ác liệt, nhưng rất đỗi sống động, hào hùng. Ở đây, tôi được sống trong tình thương yêu của đồng chí, đồng bào, đặc biệt là nghĩa tình đồng đội. Các anh Ba Trung, Bảy Sơn, Ba Tôn, Tư Bằng, Dương Tử, Sáu Sơn, Bảy Sa, Ba Chơi… luôn là những người đồng chí, người anh, người bạn tri kỷ, cùng sống, chiến đấu vì mục đích cao cả là độc lập tự do của Tổ quốc, vì Bắc Nam sum họp một nhà. Thật sự vinh dự tự hào là một người lính, một cán bộ của Trung đoàn 1 U Minh - đơn vị ba lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; và cũng vô cùng biết ơn một tập thể đã tôi rèn nên đội ngũ cán bộ, tướng lĩnh hùng hậu, từng giữ nhiều trọng trách mà Đảng, Nhà nước, quân đội giao phó; đó là các anh Ba Trung (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 9); Trung tướng Phạm Hồng Lợi - Phó Tổng tham mưu trưởng, Thiếu tướng Lê Duy Mật (Bảy Sơn), Thiếu tướng Trần Vinh Quang - Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh - Xã hội, Thiếu tướng Nguyễn Việt Quân - Ủy viên Trung ương Đảng - Chính ủy Quân khu 9, Thiếu tướng Mai Quang Phấn - Ủy viên Trung ương Đảng - Chính ủy Quân khu 4; Nguyên Phong Quang - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dũng - Ủy viên Thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy  quân sự Trung ương… cùng nhiều anh em khác đã và đang công tác trong và ngoài quân đội.

        Đất nước đang trên lộ trình đổi mới với nhiều thành tựu trên tất cả các mặt đời sống xã hội; đặc biệt đời sống kinh tế đã có những bước nhảy diệu kỳ. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng người người, nhà nhà không còn quá nặng lòng bởi bát cơm manh áo hằng ngày, điều kiện giao thông đi lại thuận lợi… Hết thảy những điều đó cộng với ý thức trân trọng lịch sử, trân trọng nâng niu tình đồng chí, đồng đội một thời gian khó, hy sinh… là điều kiện để hằng năm bạn chiến đấu Trung đoàn 1 U Minh họp mặt nhân ngày truyền thống. Thực sự xúc động khi được sống trong không khí ấm áp tình đồng chí, đồng đội; kẻ Bắc, người Nam cùng nhau ôn lại kỷ niệm một thời lửa đạn, nhường nhau tấm áo manh quần; chia nhau cọng rau thèo lèo; chia nhau niềm vui, nỗi buồn, chia nhau cái chết…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:55:58 AM

*

*       *

        Thời điểm tôi về làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 4, cũng là lúc toàn đơn vị đang tích cực chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế và củng cố thế trận phòng thủ khu vực biên giới An Giang, Kiên Giang.

        Bộ Tư lệnh Sư đoàn thời gian này có các anh: Võ Văn Đường (Ba Tôn) - Tư lệnh, Dương Tử - Phó tư lệnh, Nguyễn Văn Hên (Hai Hên) - Chính ủy, Hai Lược - Phó tư lệnh. Trừ anh Hai Lược - cán bộ quê miền Trung, trưởng thành từ Trung đoàn Sông Hương lên, còn lại các anh trong Bộ Tư lệnh đều là bạn bè thân hữu, từng bao năm sống chết lăn lộn trên chiến trường miền Tây, nên môi trường, quan hệ công tác không có gì lạ lẫm, tôi nhập cuộc nhanh.

        Anh Ba Tôn, anh Hai Hên khái quát nhiệm vụ của sư đoàn vừa được Tư lệnh quân khu giao là: Xây dựng vùng kinh tế quốc phòng ở khu vực kênh Tám Ngàn và một phần tứ giác Long Xuyên; đồng thời tổ chức tuyển chọn, huấn luyện chiến sĩ mới, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn chiến lược quan trọng ở biên giới Tây Nam thuộc các huyện Tri Tôn (An Giang), Hòn Đất, Kiên Lương, Hà Tiên,…(Kiên Giang).

        Qua tâm sự bước đầu, các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn đều cho rằng cái khó nhất của sư đoàn lúc này là tư tưởng bộ đội. Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ chiến đấu chuyển sang lao động sản xuất, đã có biết bao vấn đề nảy sinh trong suy nghĩ, hành động của bộ đội, không thể giải quyết bằng mệnh lệnh trong ngày một ngày hai.

        Tập thể lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn chúng tôi thống nhất quan điểm: Vùng Châu Đốc - Hà Tiên có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về cả quân sự, kinh tế là địa bàn địch dễ dàng tấn công xâm lấn, nhưng cũng là nơi có địa thế tốt để ta phòng thủ phản công địch, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ dân, trấn áp bọn phản động, bảo vệ các mục tiêu quan trọng của cả vùng.

        Về kinh tế, sư đoàn được phân công đảm trách một vùng đất rộng lởn từ trước đến nay chưa được khai thác. Do vậy, xây dựng nông trường quân đội không những có ý nghĩa về mặt quốc phòng mà còn ý nghĩa về mặt kinh tế. Xây dựng vùng kinh tế - quốc phòng Châu Đốc – Hà Tiên vững mạnh cũng có nghĩa sư đoàn đã tạo được địa bàn phòng thủ chiến lược vững chắc của Quân khu 9.

        Sư đoàn nhận nhiệm vụ hết sức nặng nề, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với thực trạng tư tưởng của bộ đội đang diễn biến khá phức tạp. Sau bao nhiêu năm chiến đấu liên tục, gian khổ, ác liệt, chính sách hậu phương quân đội chưa được giải quyết thỏa đáng; yêu cầu được nghỉ phép, phục viên của anh em chưa được giải quyết, nhất là số anh em quê miền Bắc, hàng năm - bảy năm, thậm chí cả chục năm biền biệt xa nhà; rồi tư tưởng “xả hơi”, nghỉ ngơi, bộ đội đang từ thành phố, thị xã. nay lên vùng biên khai hoang, làm kinh tế, trần mình suốt ngày với cỏ dại, cây hoang, sình lầy, chua phèn; thiếu thốn cơ cực đủ bề… Tất cả những điều đó như gánh nặng lo toan đặt lên vai người cán bộ.

        Biết là tư tưởng của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ “đang có vấn đề”, nhưng nhận nhiệm vụ quân khu giao, Bộ Tư lệnh Sư đoàn vẫn phải quán triệt, động viên anh em, xác định quyết tâm tiến vào mặt trận mới.

        Lúc này, ngoại trừ Trung đoàn 1 vừa tăng cường cho Sư đoàn 4 đang đứng chân ở nông trường Cờ Đỏ (Cần Thơ), tiếp tục nhiệm vụ sản xuất tại chỗ, các đơn vị còn lại của sư đoàn đều được điều chuyển vị trí đứng chân. Cho đến trước Tết Bính Thìn (1976), Trung đoàn 20 Cửu Long được điều lên đứng chân ở tây nam kinh Tám Ngàn. Trung đoàn 10 về đứng chân ở tây bắc kinh Tám Ngàn, huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang. Hai trung đoàn có nhiệm vụ khai hoang vỡ hóa, đắp đập, đào mương trồng lúa. Các tiểu đoàn trực thuộc, có tiểu đoàn ra Phú Quốc khai thác gỗ, có đơn vị đi đóng gạch, nung vôi…

        Nhưng rồi, “Tư tưởng không thông đeo bình tông chẳng nổi” câu ngạn ngữ rất lính, được đúc kết trong hai cuộc kháng chiến, nay lại được kiểm nghiệm ở một số không ít chiến sĩ sư đoàn. Do không nhận thức đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ, cộng với điều kiện sinh hoạt, lao động vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nên một số anh em không chịu lao động, tự do sinh hoạt, vi phạm kỷ luật… Ở những đơn vị có đông chiến sĩ quê miền Bắc, tình trạng nằm ì, kêu ca, đòi phục viên, chuyển vùng… khá phổ biến. Nhưng dở ở chỗ là số cán bộ quê miền Nam lại rất ngại làm công tác tư tưởng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:03:30 AM

        Theo dõi sát sao tình hình Sư đoàn 4, anh Ba Trung - lúc này là Phó tư lệnh quân khu, trong một lần xuống công tác ở đơn vị đã thân tình trao đổi cùng tôi:

        - Tình hình ngó bộ dở quá Ba Trà ơi! Có lẽ tôi với anh phải trực tiếp xuống đơn vị, lấy cái tình cũng là dân miền Bắc với nhau để động viên, bảo ban anh em mình. Anh em đa phần gốc gác nông dân, cần cù, chịu thương chịu khó, nề hà chi gian khổ. Để xảy ra tình trạng này, lỗi đầu tiên phải là cán bộ.

        Tôi trả lời: Anh Ba cứ yên tâm lo công việc của quân khu. Vừa về sư đoàn, nhưng tôi cũng đã nắm được tình hình các đơn vị, tôi đã xuống nằm đồng mấy hôm với anh em dưới đó. Đồng ý với anh là trách nhiệm đầu tiên phải là cán bộ. Tôi đã bàn với các anh Ba Tôn, Hai Hên… cách giải quyết…

        Anh Ba Trung bắt tay tôi, bày tỏ sự tín tưởng. Tôi thấy trên khuôn mặt, trong ánh mắt anh vơi đi nỗi trăn trở đượm buồn.

        Quả thật, có sâu sát người lính lúc đó mới thấu phần nào nỗi cơ cực của anh em. Ngày qua ngày bộ đội đằm mình trong sình lầy, bùn nước, để đào mương xả phèn, vỡ hoang. Mùa khô nắng nóng như rang, đồng không mông quạnh không một bóng cây. Nước chua, phèn pha mặn, vì gần biển. Bộ đội thiếu cả nước ăn, nước tắm giặt. Anh nào anh nấy đen đúa, hốc hác. áo quần rách tưa tướp may mắn và khéo giữ lắm mới có một bộ lành.

        Sau khi bàn bạc thống nhất, cán bộ các cấp từ sư đoàn trở xuống thật sự lao vào cuộc, mỗi người mỗi việc: người lo chuyện nước nôi ăn uống, sinh hoạt cho anh em, huy động xe bồn chở nước ngọt cho bộ đội dùng; người lo mua sắm dụng cụ, giống vốn cho sản xuất. Cán bộ cùng làm, ăn ở, sinh hoạt với bộ đội, trao đổi để anh em dần dần nhận thức làm kinh tế cũng là đánh giặc - giặc đói; tuy không đổ máu nhưng không kém phần gian khổ, tổn hao sức lực…

        Khi cán bộ, chiến sĩ tìm được tiếng nói chung, xác định được quân đội không chỉ là đội quân đánh giặc giỏi mà còn là một đội quân công tác tốt, thì vướng mắc được tháo gỡ dần, công việc có chiều hướng tiến triển tốt. Hàng trăm hécta lúa đã thay dần cỏ dại; kênh mương xả phèn, cấp nước đan nhau, chạy dài; ruộng đồng dần ngời lên sức sống.


        *

        Công việc ở Sư đoàn 4 đã qua được những ngày “khai sơn phá thạch” khó khăn, cực nhọc nhất, thì một bước ngoặt mới lại đến với quãng đời binh nghiệp của tôi.

        Cuối năm 1976, tình hình biên giới Việt Nam - Campuchia ngày một nóng lên. Mặc dù đã bị ta chặn đứng hành động xâm lấn, bằng các cuộc tiến công tiêu diệt lực lượng chiếm đóng trái phép các đảo ở vùng biển Tây Nam, nhưng tập đoàn Pôn Pốt vẫn nuôi mưu đồ chống phá Việt Nam. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, Pôn Pốt bắt đầu cho quân hoạt động vũ trang ở biên giới. Lúc này, Sư đoàn 4 chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; Sư đoàn 8 thực hiện biểu biên chế rút gọn, cho bộ đội phục viên, xuất ngũ hàng loạt. Trước yêu cầu tình hình mới, Quân khu 9 được trên chấp thuận cho tổ chức Sư đoàn 330 cơ động sẵn sàng chiến đấu.

        Bước vào thời kỳ mới, Nhà nước và Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức lại một số quân khu. Theo đó, Khu ủy Khu 9 giải thể. Quân khu 8 và Quân khu 9 hợp nhất thành Quân khu 9. 18 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long dồn ghép lại thành 9 tỉnh là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre. Đồng Tháp, Cửu Long, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang và Minh Hải.

        Đầu năm 1976, anh Lê Đức Anh được điều trở lại làm Tư lệnh Quân khu 9, Chính ủy quân khu là anh Lê Văn Tưởng.

        Cùng với quyết định thành lập Sư đoàn 330, anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu, sau một thời gian được điều xuống giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hậu Giang, nay được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng, anh Huỳnh Xuân Quang (Sáu Hoài) - Phó chủ nhiệm chính trị quân khu được bổ nhiệm Chính ủy sư đoàn. Anh Nguyễn Minh Thông (Năm Thông) - vừa đào tạo ở Học viện quân sự cấp cao về giữ chức Sư đoàn phó và tôi được bổ nhiệm Sư đoàn phó Tham mưu trưởng.

        So với Sư đoàn 4, Sư đoàn 8 của quân khu thì Sư đoàn 330 - sinh sau đẻ muộn hơn, nhưng hợp thành Sư đoàn 330 lại là những trung đoàn có bề dày truyền thống, đó là Trung đoàn bộ binh 1 U Minh, Trung đoàn bộ binh 1 Đồng Tháp, Trung đoàn bộ binh 3 Cửu Long, Trung đoàn 4 pháo binh và một số tiểu đoàn binh chủng.

        Trung đoàn 1 U Mình - đơn vị gắn bó máu thịt với tôi ngót 15 năm, lúc này đã rạng danh với hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bước đường trưởng thành, chiến thắng của Trung đoàn 1, tôi đã dành thể hiện trong phần lớn cuốn hồi ký này.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:05:14 AM

        Trung đoàn 1 Đồng Tháp được thành lập tháng 7 năm 1964 tại chiến trường miền Trung Nam Bộ (Khu 8 ). Tiền thân của trung đoàn là Tiểu đoàn 261 - đơn vị đã tham gia đánh trận Ấp Bắc nổi tiếng đầu năm 1963, lập chiến công vang dội, được Chính phủ Cu Ba tặng danh hiệu Tiểu đoàn Hirông (để kỷ niệm chiến thắng Mỹ trên bãi biển Hirông của lực lượng vũ trang cách mạng Cu Ba). Từ khi thành lập đến kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 1 Đồng Tháp đã đánh trên hai nghìn trận; lập nhiều chiến công xuất sắc, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đội ngũ cán bộ trung đoàn có nhiều người trưởng thành, như các anh Trần Minh Phú, Nguyễn Hữu Vị, Lê Phú Tươi, Nguyễn Cang, Châu Hoàng Nam,… Khi Sư đoàn 8 thành lập, Trung đoàn 1 Đồng Tháp thuộc đội hình Sư đoàn 8. Nay đứng trong đội hình Sư đoàn 330, Trung đoàn 1 Đồng Tháp chuyển đổi phiên hiệu là Trung đoàn 2.

        Trung đoàn 3 Cửu Long được thành lập ngày 20 tháng 4 năm 1968 tại Trà ôn, Vĩnh Long, do yêu cầu cấp thiết tiếp tục đẩy mạnh đến công địch ở chiến trường Vĩnh Trà trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.

        Từ khi thành lập đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 3 đã đánh ngót 1.600 trận, lập nhiều chiến công xuất sắc; xây dựng nên truyền thống “Đoàn kết hiệp đồng, khắc phục khó khăn, bám trụ kiên cường, tiến công nhanh, đột phá mạnh”. Trung đoàn 3 đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nói tới Trung đoàn 3 Cửu Long, đồng bào và chiến sĩ miền Tây khó quên tên tuổi các anh Ba Trung, Huỳnh Xuân Quang, Đinh Trung Thành, Lê Xã Hội, Huỳnh Trọng Phẩm, Nguyễn Văn Tố,…

        Riêng Trung đoàn 4 pháo binh, chính thức thành lập cùng với sự ra đời của Sư đoàn 330. Hợp thành Trung đoàn 4 pháo binh là Tiểu đoàn 10 (pháo 105ly), Tiểu đoàn 11 (pháo 85ly) và Tiểu đoàn 12 (pháo 37ly). Trung đoàn trưởng là anh Tám Tu, Chính ủy trung đoàn là anh Chín Cà Lâm.

        Ngày 27 tháng 12 năm 1976, lễ tuyên bố thành lập sư đoàn được tổ chức tại Thành Cổ Loa, xã Tân Ngãi, thị xã Vĩnh Long - vị trí đứng chân của sư đoàn bộ. Vào thời điểm này, Trung đoàn 1 U Minh đứng chân tại huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ đang làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế ở Nông trường Cờ Đỏ. Từ chiến trường tiến tới nông trường, những người lính trung đoàn đã gieo cấy 5 nghìn hécta lúa. Nay lúa đang vào kỳ thu hoạch thì trung đoàn nhận lệnh sẵn sàng chiến đấu. Trung đoàn 2 đứng chân tại Bình Đức, Đồng Tâm - Mỹ Tho, đang làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch và vận động quần chúng, giúp địa phương xây dựng chính quyền cách mạng. Trung đoàn 3 đứng chân ở thị xã Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp, có một bộ phận khai hoang, sản xuất lúa ở Bình Minh, Vĩnh Long. Trung đoàn 4 pháo binh đóng ở sân bay Vĩnh Long.

        Cuối năm 1976  - đầu năm 1977, Bộ Tư lệnh Sư đoàn tập trung chỉ đạo các đơn vị củng cố tổ chức biên chế chuẩn bị triển khai nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; tạm ngừng giải quyết cho cán bộ, chiến sĩ phục viên xuất ngũ; khẩn trương huấn luyện; đồng thời tranh thủ thu hoạch vụ đông xuân. Chỉ qua một vụ thu hoạch, sư đoàn đã có hơn 5.000 tấn lúa. Quả là đất miền Tây không phụ sức người! Không phụ những người lính đã đổi bát mồ hôi lấy hạt thóc.

        Với bản thân, thực hiện ý định trong lần nghỉ phép thăm nhà, đầu năm 1976, tôi đón vợ từ Bắc Ninh vào. Thời gian này tôi đang cùng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 4 lặn ngụp trong bùn đất, sình lầy vùng tứ giác Long Xuyên, khai hoang trồng lúa. Đưa vợ từ miền Bắc vào với hai bàn tay trắng; đơn vị vừa làm kinh tế vừa sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, có thể nay đây mai nơi khác, nên mặc dù rất khó khăn, tôi cũng tính chuyện kiếm đất làm nhà. Được anh em đồng đội động viên giúp đỡ, đặc biệt là anh Thống - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp - bạn chiến đấu chí cốt rất nhiều năm khi tôi làm cán bộ tiểu đoàn rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, tôi đã được địa phương cấp cho vài công đất ở thôn Xểu Long, xã Phụng Hiệp, huyện Phụng Hiệp, sát lộ 4 (nay là quốc lộ l). Đây cũng chính là vùng đất có nhiều kỷ niệm với tôi trong chiến tranh. Bà con cô bác ở đây đã từng cưu mang, giúp đỡ Trung đoàn 1 rất nhiều. Anh Thống cũng được cấp một mảnh đất ở bên cạnh. Nói là đất cho có vẻ to tát, chứ thực chất là một đám ruộng trũng. Vì vậy, cớ chủ nhật, tôi tranh thủ về Phụng Hiệp, cùng với anh Thống và một vài anh nữa lặn ngụp lấy bùn tôn nền làm nhà. Khó kể hết những vất vả, cơ cực lúc đó! Rồi dần dà vợ chồng tôi cũng có được một căn nhà tuềnh toàng, đơn bạc như đa phần nhà cửa của bà con miền Tây mình vào thời điểm đó. Ở đây chúng tôi được sống trong sự cưu mang đùm bọc của bà con xóm ấp. Rồi hạnh phúc hơn là chính nơi đây vợ chồng tôi có con trai đầu lòng - cháu Chung, thỏa niềm mong mỏi khát khao sau bao năm vì chiến tranh mà chồng Nam - vợ Bắc...

        Cũng thời gian này tôi được đón nhận một tin vui, một niềm vinh dự, tự hào - ngày 20 tháng 10 năm 1976, tôi được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cùng được phong Anh hùng với tôi đợt này, trong Sư đoàn 330 có đại úy bác sĩ Nguyễn Tấn Đang (Tư Đang) - Chủ nhiệm quân y Trung đoàn 3. Trước đó Tư Đang là Chủ nhiệm quân y Trung đoàn 1 U Minh. Khi được trên thông báo được phong tặng danh hiệu Anh hùng, tôi thật sự bất ngờ. Bởi tôi luôn tâm niệm rằng những gì tôi làm được, những thành tích, chiến công của mình cũng rất khiêm tốn, nhỏ nhoi. Tôi cũng không ngờ việc lập hồ sơ, đề nghị Nhà nước phong Anh hùng cho tôi đã được quân khu chuẩn bị từ trước năm 1975.

        Tại lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng do Bộ Tư lệnh Quân khu tổ chức, tôi đã bật khóc khi đồng chí Tư lệnh quân khu gắn lên ngực áo Huy hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước, quân đội, nhân dân phong tặng. Có nhũng giọt nước mắt vì vinh dự tự hào; có nhiều giọt nước mắt dành cho những đồng chí đồng đội, bà con cô bác một thời đồng cam cộng khổ bên nhau chiến đấu và biết bao người trong số đó đã hy sinh. Tự sâu thẳm lòng mình, tôi vẫn luôn tâm niệm, máu xương, nhiệt huyết của biết bao người đã tạo nên ánh hào quang lấp lánh của tấm Huy hiệu Anh hùng mà tôi vinh dự được trao tặng. Cũng vì vậy, tôi tự thấy trách nhiệm của mình trước Đảng, nhân dân và anh em đồng chí càng nặng nề hơn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:08:43 AM

*

*       *

        Đúng vào dịp quân và dân ta đang tận hưởng niềm vui kỷ niệm hai năm kết thúc thắng lợi kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thì đêm 30 tháng 4 năm 1977, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri đã đưa quân đánh chiếm lãnh thổ của ta suốt một dải biên giới Tây Nam từ Tây Ninh đến Hà Tiên - Kiên Giang. Với bản chất của bè lũ diệt chủng, quân Pôn Pốt đã giết hại dã man đồng bào ta; đốt phá, cướp bóc nhiều tài sản của ta. Lửa chiến tranh lại bùng lên ở nhiều xóm ấp đang yên ấm, thanh bình. Chỉ riêng tuyến biên giới do Quân khu 9 đảm trách, từ huyện Mộc Hoá tỉnh Long An đến huyện Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, Pôn Pốt đã tung bảy tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 2 bộ binh và lực lượng địa phương quân thuộc quân khu Tây Nam đánh vào nhiều khu vực thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Trọng tâm đánh phá của địch là khu vực Bảy Núi - Tịnh Biên - An Giang. Địch đã tàn sát hàng trăm thường dân, đốt phá trên một trăm ngôi nhà. Từng chứng kiến tội ác của địch đối với đồng bào ta ở các đảo Phú Quốc, Hòn Ông, Hòn Bà…, nên được tin kẻ địch tràn qua biên giới, tôi đã hình dung phần nào tội ác của chúng.

        Địch tiến công ồ ạt, bất ngờ. Các đơn vị của quân khu đứng chân gần biên giới đã kịp thời tổ chức chiến đấu, đánh trả quyết liệt, bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng vì hầu hết các đơn vị của ta đang làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế, chưa chuẩn bị đối phó với địch, nên có phần bất ngờ, bị động, lúng túng, thậm chí bị tổn thất.

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định đưa các đơn vị ở phía sau lên biên giới đánh địch. Ngay đêm 30 tháng 4 năm 1977, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 330 nhận lệnh của anh Lê Đức Anh: Chuyển toàn bộ sang trạng thái sẵn sàng cơ động lên tuyến biên giới đánh địch. Đồng thời, Quân khu cũng được trên đồng ý cho thành lập thêm Sư đoàn 339 làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

        Kháng chiến chống Mỹ kết thúc tròn hai năm, cũng có nghĩa thời gian đó, quân và dân ta - đặc biệt là những người lính chúng tôi được sống trong hòa bình. Nhưng thực tế không như vậy. Những ngày chứng kiến bè lũ sát nhân Pôn Pốt gây tội ác với đồng bào ta ở các đảo vùng biển Tây Nam; lùi xa hơn nữa là những hành động đầy thù hận của chúng đối với bộ đội ta những năm  1971 - 1973…, chúng tôi đã tiên liệu tình hình còn phức tạp hơn khi lòng người dễ dàng đổi trắng thay đen “sớm nắng, chiều mưa”, đang là bạn bỗng chốc trở thành kẻ thù. Vì vậy, mặc dù tạm gác súng gươm, tăng gia sản xuất, những người lính vẫn luôn ý thức được nhiệm vụ cao cả của mình là chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Và luôn nêu cao cảnh giác là “bản năng” của mỗi một anh lính Cụ Hồ. Cũng chính vì vậy, mà chỉ hai ngày sau khi nhận lệnh của Tư lệnh quân khu, toàn bộ đội hình Sư đoàn 330 đã hoàn tất công tác chuẩn bị, sẵn sàng nhận lệnh hành quân chiến đấu.

        Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ và thực lực, vị trí đóng quân của các đơn vị, chúng tôi chỉ thị cho Trung đoàn 1 đang đứng chân ở Vàm Cống - thị xã Long Xuyên tỉnh An Giang, khẩn trương đưa Tiểu đoàn 1 cơ động lên Tịnh Biên, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch lấn chiếm, hất chúng sang bên kia biên giới.

        Tiếp đó, toàn bộ đội hình còn lại của Trung đoàn 1 cũng được đôn lên tuyến trước chốt giữ khu vực An Phú, thị xã Châu Đốc. Trung đoàn 2 đứng chân ở bên này kênh Vĩnh Tế - dọc theo các xã An Phú, Nhân Hưng huyện Tịnh Biên. Trung đoàn 3 đóng từ xã Thái Sơn đến đông cầu Sắt, sau thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên.

        Lúc này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn hình thành hai bộ phận. Sở chỉ huy cơ bản của sư đoàn về đứng chân ở Vàm Cống thị xã Long Xuyên. Bộ phận chỉ huy tiền phương lên đứng chân ở khu vực từ chùa Thất Sơn, núi Trà Sư đến cầu Bà Mai - thị trấn Chi Lăng, Tịnh Biên, để chỉ huy trực tiếp, kịp thời các đơn vị phía trước. Tôi được phân công phụ trách bộ phận tiền phương.

        Khi sư đoàn chúng tôi được đôn lên đảm trách địa bàn Tịnh Biên; thì Sư đoàn 4 và Sư đoàn 8 cũng được lệnh trở lại làm nhiệm vụ chiến đấu. Sư đoàn 4 đảm nhiệm tuyến biên giới từ cửa khẩu Xà Xía, Hà Tiên (Kiên Giang) đến thị xã Châu Đốc (An Giang). Sư đoàn 8 làm nhiệm vụ chặn địch ở tuyến biên giới tỉnh Đồng Tháp.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:14:46 AM

        Dọc theo biên giới hai nước ở khu vực Sư đoàn 330 và Sư đoàn 4 đảm trách có nhiều thị xã, thị trấn, các tụ điểm buôn bán, dân cư đông đúc như Tịnh Biên, Nhà Bàng, Ba Chúc… Đồng thời cũng chính là những mục tiêu đánh phá chính của địch. Dân cư ở đây định cư tản mát, không đều; có quãng dài hàng chục cây số không có dân ở. Có quãng đường biên chạy qua giữa cánh đồng hoang, mùa mưa nước ngập mênh mông. Cột mốc biên giới không được làm kiên cố như sau này, nên qua thời gian, năm tháng đã bị thất lạc, dịch chuyển nên khó phân định đường biên. Dân cư vùng Tịnh Biên, Bảy Núi, Chi Lăng (An Giang) phần lớn gốc là người Khme, thường xuyên qua lại làm ăn, sinh sống ở Campuchía. Địa hình, quan hệ dân cư phức tạp là điều kiện để kẻ địch xâm nhập, trà trộn, nắm tình hình, móc nối với các phần tử xấu để thực hiện mưu đồ đen tối.

        Về địa hình, phía bên kia biên giới có nhiều núi cao, như: Thâm Đưng, núi Som, Ki Ri Vông…Trên núi có nhiều hang sâu, thuận tiện cho địch triển khai lực lượng, lợi dụng điểm cao để khống chế toàn khu vực. Phần lãnh thổ của ta thuộc hai huyện Tịnh Biên - Tri Tôn được mệnh danh là vùng Thất Sơn huyền bí. Thất Sơn là bảy ngọn núi nằm trải dài trên địa bàn hai huyện là núi Sam, núi Dài, núi Phú Cường, núi Thoại Sơn, núi Cấm, núi Tượng, núi Sập; với tên chữ là: Thiên Cấm Sơn, Ngọa Long Sơn, Ngũ Hổ Sơn, Anh Vũ Sơn, Liên Hoa Sơn, Phụng Hoàng Sơn và Thủy Đại Sơn. Ở mỗi một tên núi kể trên lại có những ngọn núi nhỏ. Ví như ở núi Dài có nhiều núi nhỏ gộp lại, trong đó có núi Trà Sư. Trên đỉnh núi Trà Sư, chúng tôi bố trí đài thông tin của Sở chỉ huy tiền phương sư đoàn. Dưới chân núi có chùa Hoa Long (Hoa Long tự) là “đại bản doanh” của Bộ Tư lệnh tiền phương sư đoàn - là nơi tôi cùng các anh trong bộ phận tiền phương sư đoàn chỉ huy đánh trận phản kích nổi tiếng ở núi Phú Cường, diệt và hất cả sư đoàn địch sang bên kia biên giới.

        Một trong những yếu tố địa lý rất điển hình ở vùng biên ải có ý nghĩa lớn cả về quân sự và kinh tế, là kênh Vĩnh Tế.

        Lần theo sử sách, tôi được biết sau khi được vua nhà Nguyễn cử làm quan trấn biên vùng Hà Tiên, Kiên Giang, Thoại Ngọc Hầu - một viên quan đầu triều nổi tiếng đức độ, thanh liêm, thông tuệ đã có nhiều đóng góp để chấn hưng kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân trong vùng. Một trong những công trình vĩ đại được ông cho thực thi thành công mỹ mãn là đào kênh Vĩnh Tế (đặt theo tên người vợ yêu của Thoại Ngọc Hầu) vào năm 1818. Kênh Vĩnh Tế dài hàng trăm cây số, vừa là công trình thủy lợi tưới tiêu cho cả vùng An Giang, Kiên Giang; vừa là một công trình có giá trị về ngoại giao - tạo nên đường biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Campuchia. Trên thực tế, từ kênh Vĩnh Tế đến đường biên giới quốc gia còn một khoảng vài trăm mét. Cũng vì thế mà kênh còn là một chiến hào bề thế - một công trình quốc phòng rất quan trọng trong thế trận phòng thủ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, lãnh thổ quốc gia.

        Sinh thời, anh Sáu Dân - nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất ngưỡng mộ Thoại Ngọc Hầu và đã vinh danh ông là “Tổng công trình sư” công trình kênh Vĩnh Tế.

        Nghĩ về vai trò của kênh Vĩnh Tế trong thế trận quốc phòng - an ninh, kinh tế - xã hội… Ở miền Tây Nam Bộ, tôi càng khâm phục tầm nhìn của quan Đốc Trấn; và thường nói đùa với anh em rằng: Thoại Ngọc Hầu có thể là vị “Tư lệnh Bộ đội Biên phòng” đầu tiên của Việt Nam.

        Để ghi công lao của vị quan trấn biên ngày đó, nhân dân đã lập đền thờ Thoại Ngọc Hầu và gia tộc ông ngay dưới chân núi Sam. Lễ hội danh tướng Thoại Ngọc Hầu hằng năm được tổ chức vào ngày 6 tháng 6 (âm lịch). Đối diện với đền thờ Thoại Ngọc Hầu, bên kia đường số 2 là đền thờ Bà Chúa Xứ.

        Sự hiện diện của đền thờ Thoại Ngọc Hầu và đền thờ Bà Chúa Xứ đã biến núi Sam - thị xã Châu Đốc - An Giang thành một trung tâm tín ngưỡng tâm linh không chỉ ở miền Tây mà ở cả vùng Nam Bộ. Đặc biệt vào dịp lễ Vía Bà Chúa Xứ hằng năm (ngày 24 tháng 4 âm lịch), tín đồ, phật tử và khách thập phương đổ về đây dự lễ. Trong thời gian xảy ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam, pháo của quân Pôn Pốt thỉnh thoảng vẫn bắn sang khu vực núi Sam, nhưng lễ Vía Bà Chúa Xứ vẫn diễn ra rất rầm rộ. Đây là vấn đề làm chúng tôi hết sức đau đầu. Nếu mình can thiệp làm giảm mật độ người tập trung về đây, dễ làm cho phật tử, khách thập phương hiểu nhầm là can thiệp tín ngưỡng của nhân dân; nhưng để người tập trung quá đông, chiến sự xảy ra, khó lường hết sự tổn thất bởi đối tượng tác chiến của ta lúc này là bọn diệt chủng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:17:35 AM

        Vào những ngày đó, Sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn 330 đóng ở trên đỉnh núi Sam. Ở đây, chúng tôi bố trí ba đài quan sát: đài trinh sát, đài quân báo và đài thông tin. Đứng ở đỉnh núi Sam có thể thấy rõ từng ngọn cây, bờ ruộng, căn nhà ở phía bên kia biên giới. Pháo l30ly của Pôn Pốt cũng đã nhiều lần bắn sang khu vực núi Sam. Ở vào thời điểm căng thẳng, quyết liệt nhất, khi Sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn ở núi Trà Sư bị địch vây bọc ba phía, tôi cùng anh Năm Thông - Sư đoàn trưởng (anh Năm Thông thay anh Ba Trung) và anh em trong Bộ Tư lệnh đã tính tới phương án, nếu không giữ được Tịnh Biên thì Sở chỉ huy tiền phương sẽ lùi về núi Sâm. Nhưng thực tế tình huống đó không xảy ra.

        Trở về với nhiệm vụ của sư đoàn trong năm 1977, từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, địch đã tiến công lấn chiếm một phần đất đai của ta từ Đồng Tháp, qua An Giang, sang Kiên Giang. Ở hướng Kiên Giang, từ Căm Pốt, địch tập trung một lực lượng lớn đánh vào Hà Tiên; một cánh quân địch đã vào sát Nhà máy xi măng Hà Tiên. Ở hướng Đồng Tháp, địch đánh qua cửa khẩu Vịnh Bà.

        Khi địch tràn qua biên giới, chiếm đất, cướp của, sát hại đồng bào ta, Sư đoàn 4 và Sư đoàn 8 đang sản xuất xây dựng kinh tế, đã kịp thời tổ chức chiến đấu, chặn địch. Ở hướng Kiên Giang, Trung đoàn 20 Sư đoàn 4 cùng Tiểu đoàn 207 bộ đội địa phương đã đánh chặn địch quyết liệt, nhưng vì lực lượng địch đông hơn ta nhiều lần, thế trận phòng thủ lại triển khai trên một chiều ngang quá rộng, không có chiều sâu, nên các đơn vị tại chỗ đã không đánh bật được địch ra khỏi địa bàn. Tình hình hết sức căng thẳng. Không thể để cho quân Pôn Pốt muốn làm gì thì làm; anh Sáu Nam lệnh cho Sư đoàn 330 sang Kiên Giang chiến đấu.

        Thực hiện lệnh của Tư lệnh quân khu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định để Trung đoàn 1 ở lại giữ Tịnh Biên, đưa Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 sang Kiên Giang. Đồng thời quân khu cũng điều Trung đoàn 416 tăng thiết giáp, một tiểu đoàn pháo và Bộ Quốc phòng tăng cường hai phi đội máy bay trực thăng đi giải tỏa quân địch ở Kiên Giang.

        Với hai trung đoàn bộ binh và lực lượng của Bộ, của quân khu tăng cường, trung tuần tháng 6 năm 1977, chúng tôi đã tiến hành một trận phản kích hiệp đồng quân binh chủng quy mô sư đoàn. Trung đoàn 2 được tăng cường xe M.113, đánh hướng chủ yếu của sư đoàn, tiến công từ Đầm Chích thọc sâu sang bên kia biên giới và vòng về hướng nam, diệt địch tại nông trường Ton Hon. Trung đoàn 3 phát triển tiến công ở sườn phải Trung đoàn 2, tạo thế hỗ trợ cho Trung đoàn 2 và phát triển tiến công quân địch dọc theo tuyến biên giới, sau đó chốt giữ, hỗ trợ cho Trung đoàn 20 Sư đoàn 4 giải quyết tử sĩ hy sinh trước đó chưa đem ra được.

        Trận đánh diễn biến thuận lợi. Trung đoàn 2 nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Đầm Chích, xã Vĩnh Điện, diệt trên hai trăm tên, thu nhiều súng và 5 tấn đạn. Địch ở các vị trí khác hoảng sợ, vội chạy về bên kia biên giới. Ta khôi phục lại tuyến biên giới Hà Tiên.

        Trong khi chúng tôi đang cùng Sư đoàn 4 khôi phục tuyến biên giới Hà Tiên thì tình hình ở Đồng Tháp lại diễn biến phức tạp. Địch tràn qua khu vực cửa khẩu Vịnh Bà, đánh sâu vào lãnh thổ của ta, chiếm một số khu vực, trong đó có khu vực tăng gia sản xuất tập trung của Sư đoàn 8. Khi anh Ba Trung chỉ huy sư đoàn sang Kiên Giang, tôi được phân công tiếp tục phụ trách Sở chỉ huy tiền phương ở chùa Hoa Long, núi Trà Sư, trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 1 và một số tiểu đoàn binh chủng chốt giữ Tịnh Biên. Tại Sở chỉ huy tiền phương, tôi nhận điện của anh Lê Đức Anh: Đưa ngay một trung đoàn lên Đồng Tháp, cùng Sư đoàn 8 đánh đuổi địch ra khỏi khu vực cửa khẩu Vịnh Bà, khôi phục lại tuyến biên giới.

        Tình thế không đến nỗi khó khăn, căng thẳng; bởi lẽ khi nhận được điện của anh Sáu Nam, tôi cũng đã được tin Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở hướng Hà Tiên. Vì vậy, tôi điện ngay cho anh Ba Trung, báo cáo lệnh của trên, sau đó chúng tôi thống nhất Trung đoàn 3 về chốt giữ Tịnh Biên, để tôi đưa Trung đoàn 1 sang Đồng Tháp. Sau này nghĩ lại, trong trường hợp nhận điện của Tư lệnh quân khu mà ở hướng Kiên Giang, ta chưa khôi phục được tuyến biên giới Trung đoàn 3 chưa lui về được, thì tôi cũng không thể bỏ địa bàn Tịnh Biên mà sang Đồng Tháp được. Dẫu sao thì Tịnh Biên với Thất Sơn vẫn là địa bàn hết sức quan trọng đối với ta.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:13:24 AM

        Sau khi đưa Trung đoàn 1 lên Đồng Tháp, tôi cùng các anh Tư Minh - Trung đoàn trưởng, Ba Tô - Chính ủy trung đoàn… khẩn trương tổ chức trinh sát nắm tình hình; hiệp đồng với các anh bên Sư đoàn 8 tổ chức phản công hất địch qua bên kia biên giới, khôi phục lại khu cửa khẩu Vịnh Bà. Với khu tăng gia sản xuất tập trung của Sư đoàn 8 bị quân Pôn Pốt chiếm từ đầu tháng 5, khi chúng tôi cho Trung đoàn 1 đánh chiếm lại, thì địch đã phá hết máy móc - những thứ mà chúng không mang đi được

        Sau khi giải quyết tương đối ổn thỏa tình hình căng thẳng ở Kiên Giang, Hà Tiên và khu vực cửa khẩu Vịnh Bà - Đồng Tháp, thì điểm nóng lúc này là khu vực Tri Tôn, Ba Chúc - Tịnh Biên (An Giang). Địch tập trung một lực lượng lớn đánh vào Ba Chúc là nơi đứng chân của sư đoàn bộ Sư đoàn 4. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, Sư đoàn 4 không giữ được địa bàn, buộc phải lùi về phía sau. Quân Pôn Pốt nhân cơ hội đó thả sức tàn sát đồng bào ta.

        Sau khi cùng Sư đoàn 8 khôi phục lại tuyến biên giới ở khu vực Vịnh Bà - Đồng Tháp, tôi đưa Trung đoàn 1 quay về Tịnh Biên. Cùng lúc Trung đoàn 2 từ Kiên Giang trở về. Sư đoàn lại nhận lệnh vào giải vây khu vực Ba Chúc. Vừa trở lại Tịnh Biên, theo phân công của Bộ Tư lệnh Sư đoàn, tôi trực tiếp đi cùng Trung đoàn 1 tiến công địch ở Ba Chúc. Đã có kinh nghiệm tác chiến với quân Pôn Pốt ở đảo Hòn Ông, Hòn Bà và những trận gần đây, Trung đoàn 1 nhanh chóng đẩy lùi quân địch qua bên kia kênh Vĩnh Tế, chiếm lại khu vực Ba Chúc, lấy lại niềm tin của nhân dân trong vùng đối với bộ đội Quân khu 9. Sau khi dồn đuổi địch về bên kia biên giới, Trung đoàn 1 trụ lại gần một ngôi chùa của các tín đồ người Khme, giúp bà con ổn định tình hình.

        Cuối năm 1977, theo yêu cầu của trên, chúng tôi bàn giao địa bàn Ba Chúc lại cho Sư đoàn 4 và bộ đội địa phương An Giang, đưa Trung đoàn 1 trở về đội hình sư đoàn. Qua tiếp xúc nắm thực lực của đơn vị bạn và theo dõi mọi động thái của địch, tôi cảm thấy không thật sự yên tâm khi rút Trung đoàn 1. Tuy nhiên “quân lệnh như sơn” - cứ phải chấp hành lệnh của trên. Cũng vì băn khoăn, ái ngại, nên trước khi cho Trung đoàn 1 rút, tôi gạn hỏi đồng chí Tỉnh đội phó An Giang liệu có giữ được Ba Chúc không, thì được nghe trả lời:

        - Anh Ba yên tâm, tụi tôi giữ được. Vả lại quân Pôn Pốt vừa bị một trận phủ đầu, chắc đám lính trẻ con ấy chưa kịp hoàn hồn.

        Nhưng khi Trung đoàn 1 vừa rút đi, thì tình hình diễn ra đúng như chúng tôi dự đoán. Quân Khme đỏ lập tức quay lại đánh Ba Chúc - Tri Tôn; lần này chúng tập trung quy mô cấp sư đoàn, và một lần nữa đơn vị bạn lại không giữ được địa bàn.

        Xâu chuỗi, hệ thống lại những tổn thất của Sư đoàn 4, Sư đoàn 8, bộ đội địa phương An Giang trong thời gian đầu đụng độ với quân Pôn Pốt; để mất dân, mất đất, tôi cho rằng nguyên nhân chủ yếu là ta đã có phần chủ quan trong xác định kẻ thù; từ đó lơ là mất cảnh giác. Khi chuyển các đơn vị đồng loạt sang làm kinh tế, đã cho xuất ngũ một số lượng lớn cán bộ và bộ đội quê miền Bắc đã từng kinh qua chiến đấu, có bề dày kinh nghiệm. Khi chuyển các đơn vị làm nhiệm vụ sản xuất sang làm nhiệm vụ chiến đấu, thì cán bộ khung thiếu nhiều; số chiến sĩ mới chưa được huấn luyện kỹ càng, nên gặp tình huống căng thẳng ác liệt, đã không hoàn thành nhiệm vụ. Đây là bài học kinh nghiệm phải trả bằng máu.

        Về vấn đề này, cùng thời điểm đó, có một số đơn vị đã có giải pháp tốt. Ví như Quân đoàn 2, khì tổ chức cho bộ đội ra quân, đã giữ lại một số cán bộ khung, nhân viên kỹ thuật, một tỷ lệ “cựu binh”. Khi chiến sự xảy ra, yêu cầu khôi phục tổ chức biên chế đủ, đơn vị chỉ cần lắp số tân binh vào - lính cũ, lính mới có điều kiện kèm cặp, giúp đỡ nhau, chỉ một thời gian ngắn là chiến đấu tốt. Các anh ở Quân đoàn 2 gọi là giải pháp “nở nồi”.

        Trước tình hình diễn biến ngày càng phức tạp, tháng 10 năm 1977, Quân khu ủy họp đánh giá âm mưu, mục tiêu cơ bản của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri không có gì thay đổi, vẫn nuôi tham vọng xâm lấn đất đai, tăng cường gây tội ác giết hại đồng bào ta, cướp bóc của cải…; gây oán thù sâu sắc giữa hai dân tộc. Từ đó, Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu xác định nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang quân khu là tăng cường củng cố tổ chức biên chế, nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:16:25 AM

        Học tập và kế thừa kinh nghiệm đánh giặc, giữ nước của các bậc tiền thân - đặc biệt là kế “Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt thời kỳ kháng chiến chống Tống - muốn loại trừ quân xâm lược, phải ra quân trước - triệt hạ mầm mống xâm lược từ gốc, Bộ Tư lệnh Quân khu giao cho Sư đoàn 330 tổ chức một chiến dịch phản công sâu vào hậu phương của địch. Nhiệm vụ cụ thể là luồn sâu qua bên kia biên giới từ 20 đến 30 cây số, đánh vào hang ổ của địch, làm suy sụp ý chí và hành động xâm lược của chúng, đẩy chiến tranh ra xa biên giới. Chiến dịch mở màn vào trung tuần tháng 12 năm 1977.

        Được giao nhiệm vụ ở mũi tiến công chủ yếu của Quân khu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đưa Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 phát triển dọc theo phía đông và tây lộ 2, được tăng cường một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 4, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương An Giang, một số xe M-113, đánh thẳng vào khu vực cố thủ của địch ở núi Tham Đưng và núi Som. Trung đoàn 2 tiến công giồng Bà Ca, Bà Cò. Toàn sư đoàn và lực lượng tăng cường đã đập tan tuyến phòng thủ của địch từ Ki Ri Vông đến quận lỵ Rề Minh thuộc tỉnh Tà Keo. Trong quá trình luồn sâu đánh địch, sư đoàn tiến hành nhiều trận đánh hay, đạt hiệu suất cao; điển hình là trận đánh vào Ki Ri Vông và trận đánh vào Ba Sa ở phía đông lộ 2 thuộc tỉnh Tà Keo. Ngày 21 tháng 12, Trung đoàn 3 đánh vào Ki Ri Vông, diệt gọn Tiểu đoàn 360 thuộc Trung đoàn 14 địch. Ngày 28 tháng 12, Trung đoàn 1 đánh vào Ba Sa, diệt gọn Tiểu đoàn 452.

        Thắng lợi của chiến dịch luồn sâu, đánh vào hang ổ kẻ địch, ngoài tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, là điều kiện để cán bộ, chiến sĩ sư đoàn tiếp cận đối tượng tác chiến được kỹ càng hơn; thấy được chế độ diệt chủng vô cùng tàn bạo của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa Rí đã đẩy đất nước Campuchia tới bờ vực của họa diệt chủng. Cũng vì vậy, khi bộ đội ta truy kích, địch bỏ chạy tán loạn. Nhân dân bạn bị giam cầm trong các trại tập trung, tựa đại hạn gặp mưa rào; xem bộ đội Việt Nam như vị cứu tinh xuất hiện, cứu sống họ. Nhân dân bạn tha thiết mong bộ đội Việt Nam ở lại một thời gian để bà con được nhờ. Khi bộ đội ta buộc phải rút về, hàng nghìn người dân Campuchia nằng nặc đòi đi theo. Nhiều người vừa khóc vừa nói: Bộ đội Việt Nam là bộ đội nhà Phật, đã sang cứu sống chúng tôi. Nay bộ đội rút về, hãy cho chúng tôi về theo, nếu ở lại sẽ bị ăngca giết mất…

        Cảm thương nhân dân bạn vô cùng, nhưng chúng tôi không thể để bà con theo về được.

        Đầu tháng 1 năm 1978, ta rút quân về nước, sau hơn 20 ngày làm cú vu hồi vào sào huyện của địch, thì trung tuần tháng 1, địch cho quân tiến công ào ạt vào các xã Nhơn Hội, Khánh Bình huyện Châu Đốc - An Giang và đặc biệt, ngày 15 tháng 1, địch tập trung 7 tiểu đoàn của Trung đoàn 14 và Trung đoàn 15 Sư đoàn 2 bộ binh đánh chiếm khu vực Ba Chúc, núi Phú Cường thuộc huyện Tịnh Biên. Âm mưu của địch là chiếm giữ các điểm cao thuộc hệ thống núi Phú Cường làm bàn đạp đánh chiếm toàn bộ khu vực Thất Sơn (Bảy Núi) của An Giang.

        Khi địch tràn sang, diễn biến ban đầu như phần trên tôi đã đề cập Sư đoàn 4 và lực lượng địa phương của An Giang đã không giữ được địa bàn. Có quãng, địch đã tiến sâu vào lãnh thổ của ta trên năm cây số, chúng phá sập hai chiếc cầu trên trục đường từ thị trấn Nhà Bàng đi Ba Chúc - Chi Lăng. Đi tới đâu, lính Pôn Pốt xả súng bắn giết đồng bào ta, bắt cả trẻ em, người già. Chúng ngang nhiên đập phá chùa chiền, tượng Phật. Tượng Phật nằm - một công trình văn hóa tâm linh của các phật tử người Khme ở núi Dài đã bị quân Pôn Pốt hủy hoại. Đây cũng là thời điểm Sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn đóng ở Hoa Long tự trên núi Trà Sư bị bao vây ba bề; và chúng tôi cũng đã tính tới phương án xấu hơn là lui về núi Sam. Đỉnh điểm của sự dã man, tàn bạo của quân Pôn Pốt là cuộc thảm sát hơn ba nghìn đồng bào ta ở Ba Chúc.

        Ba Chúc là một xã nằm sát biên giới thuộc huyện Tri Tôn, An Giang. Đồng bào địa phương hầu hết theo đạo Phật, trong xã nhà cửa san sát; cảnh xóm ấp sầm uất như một thị trấn. Khi quân Pôn Pốt tràn qua kênh Vĩnh Tế, đánh vào Ba Chúc, bà con vô cùng khiếp sợ. Hàng nghìn người trong xã hoảng sợ kéo vào hai ngôi chùa lớn để nương nhờ cửa Phật, hy vọng kẻ thù dù có dã man, tàn bạo mấy cũng nương tay trước đức Phật từ bi. Nhưng lính Pôn Pốt đã ném lựu đạn, xả súng giết hại hàng nghìn phật tử - phần lớn là người già, trẻ nhỏ. Một số người trốn chạy vào các hang đá trong núi cũng bị quân Pôn Pốt sục sạo sát hại.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:19:47 AM

        Sau khi tổ chức cho sư đoàn tiêu diệt gọn gần một sư đoàn quân Pôn Pốt, chiếm lại núi Phú Cường và Ba Chúc, tôi cùng một số cán bộ, chiến sĩ đã vào các hang đá tìm cứu bà con mình. Trong hang có rất nhiều xác chết không đầu. Thấy chúng tôi tìm vào hang, có mấy người sống sót tưởng chúng tôi là lính Pôn Pốt, bèn quỵ sụp lạy như tế sao. Sau khi được anh em ân cần giải thích, bà con mới trấn tĩnh, kể lại nỗi kinh hoàng ngày 15 tháng 1 năm 1978. Sau khi ném lựu đạn, xả súng bắn chết hàng nghìn bà con ta ở hai ngôi chùa, quân Pôn Pốt gom số còn lại, dẫn giải ra ngoài đồng, xả súng bắn chết; tương tự như vậy, khi sục vào hang núi, chúng bắt dân ta đi theo; ai không đi bị bắn chết ngay tại chỗ; số còn lại bị dẫn giải ra đồng và cũng bị hạ sát hàng loạt, xác chết chất thành đống trong xóm ấp và ngoài đồng. Không khí chết chóc bao trùm; quạ đen bay đầy trời. Để ghi lại tội ác diệt chủng, “trời không dung, đất không tha” của quân Pôn Pốt, sau này chúng ta cho xây dựng ở Ba Chúc khu tưởng niệm những nạn nhân bị quân Pôn Pốt sát hại. Đã bao lần trở lại đất này, đứng trước cảnh sọ người chất thành đống, trong tôi trào dâng nỗi căm thù, ghê tởm lũ sát nhân; đồng thời cũng khắc ghi lòng mình phải luôn cảnh tỉnh với hiểm họa diệt chủng, với lũ sát nhân mặt người dạ thú.

        Trở lại với hoạt động của sư đoàn, sau khi địch đánh vào Phú Cường, Ba Chúc, Bộ Tư lệnh Quân khu hạ quyết tâm và lệnh cho Sư đoàn 330, Sư đoàn 4 phải tổ chức phản công, đánh bật địch sang bên kia biên giới. Phó tư lệnh quân khu Trần Văn Nghiêm được phân công trực tiếp chỉ huy chung.

        Về phía địch, sau khi chiếm được núi Phú Cường (với độ cao 232m, có 4 mỏm) và địa bàn xung quanh, quân Pôn Pốt đã khẩn trương bố trí trận địa chốt giữ dọc theo kênh Vĩnh Tế (từ Cầu Sắt đến Cống Đá). Chúng hy vọng với lợi thế về địa hình sẽ đẩy lùi các đợt phản công của ta, từ đó tạo bàn đạp đánh sâu vào nội địa An Giang. Chỉ huy quân khu Tây Nam của Pôn Pốt đã có những hoạt động nhằm khiêu khích ta. Chúng tung truyền đơn tuyên bố. “Sẽ đánh cho Sư đoàn 330 mười năm sau phải nể mặt”, hoặc: “Dù cho mấy nghìn quân Việt Nam cũng không thể đặt chân đến khu vục Phú Cường”…

        Chẳng phải vì hành động khiêu khích đầy hợm hĩnh của quân Pôn Pốt, mà vì chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm, vì hàng nghìn đồng bào vô tội bị sát hại, và để thực hiện lệnh của quân khu, chúng tôi quyết tâm phải dạy cho quân địch một bài học nhớ đời.

        Sau khi nhận lệnh trên, chúng tôi tổ chức cho các đơn vị trinh sát nắm địch, nghiên cứu địa hình, xây dựng quyết tâm chiến đấu. Để giải tỏa Phú Cường, Bộ Tổng tư lệnh tăng cường cho sư đoàn một trung đoàn của Sư đoàn 341 do các anh Trần Văn Trân, Vũ Cao… chỉ huy vừa từ thành phố Hồ Chí Minh xuống.

        Căn cứ thực lực của sư đoàn, địa hình, địa vật và lực lượng cũng như thế trận chốt giữ của địch, chúng tôi lên phương án tiến công tiêu diệt địch ở Phú Cường như sau: Trung đoàn 1 từ núi Tượng phát triển theo bờ đông kênh Vĩnh Tế qua chốt 23, chốt 21, tiến lên Cống Đá. Trung đoàn 3 từ núi Cậu phát triển theo bờ đông kênh Vĩnh Tế, qua An Phú, chốt 17 và hợp điểm với Trung đoàn 1 ở Cống Đá. Hai trung đoàn có nhiệm vụ đón lõng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở núi Phú Cường bị Tiểu đoàn 2 tiến công trực diện hất xuống. Như vậy lực lượng trực tiếp tiến công hệ thống chốt giữ của địch ở núi Phú Cường là Trung đoàn 2. có pháo binh, thiết giáp của quân khu tăng cường. Đơn vị của Sư đoàn 341 phối thuộc là lực lượng dự bị.

        Khi tôi trực tiếp báo cáo Bộ Tư lệnh Quân khu quyết tâm, phương án của sư đoàn đánh vào Phú Cường, lúc đầu anh Lê Đức Anh không đồng ý. Mặc dù anh Trần Văn Nghiêm được phân công trực tiếp chỉ huy, nhưng Tư lệnh quân khu đặc biệt quan tâm sự kiện Phú Cường. Vì vậy khi tôi báo cáo cụ thể phương án có lực lượng tiến công trực diện, có lực lượng đón lõng, anh Lê Đức Anh phản ứng:

        - Không được, không được. Một trung đoàn khó có thể hất được đội hình tương đương sư đoàn của địch khỏi núi Phú Cường. Các anh phải nhớ quyết tâm của quân khu là hất địch về bên kia biên giới.

        Tôi kiên trì bảo vệ ý đính của Bộ Tư lệnh Sư đoàn và nói rõ:

        - Hất cả sư đoàn địch qua bên kia kênh Vĩnh Tế là không đơn giản, nhưng cố gắng thì chúng tôi vẫn làm được. Tuy nhiên nếu chúng ta chỉ đánh theo kiểu xua đuổi sẽ dẫn tới tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”, địch không sợ, chúng sẽ còn gây khó khăn cho ta nhiều. Quyết tâm của sư đoàn là phải tiến hành một trận đánh có tính chất tiêu diệt, không những đánh bật địch ra khỏi lãnh thổ của ta mà còn làm cho chúng khiếp sợ, làm suy sụp ý đồ lấn chiếm của chúng. Chính vì vậy, Trung đoàn 2 và lực lượng tăng cường đủ sức hất địch khỏi núi Phú Cường, cùng lúc Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 phát triển đón lõng dọc kênh Vĩnh Tế. Địch không còn đường thoát.

        Chưa thật tin tưởng phương án của chúng tôi, anh Sáu Nam lệnh xuống:

        - Không chắc thắng thì chưa đánh.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:22:00 AM

        Nghe lệnh trên, mấy anh em trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn vẫn không thối chí, mà quyết tìm cách trình bày để thủ trưởng hiểu. Sau này khi trận đánh diễn ra đúng như ý định, chúng tôi mới thấy được giá trị của những quyết định xuất phát từ thực tiễn.

        Tình thế có lúc bế tắc. Tôi chủ động gặp gỡ anh Nghiêm trình bày cặn kẽ, cơ sở phương án chiến đấu của sư đoàn. Là người trực tiếp đi cùng chúng tôi nên anh Nghiêm tán đồng phương án của sư đoàn. Rồi anh về ngay quân khu trao đổi với anh Sáu Nam. Không hiểu anh Nghiêm thuyết phục thế nào đó, mà anh Sáu gọi điện xuống đồng ý cho đánh theo phương án của Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Tuy nhiên anh cũng nhắc nhở chúng tôi phải chuẩn bị chu đáo, kiên quyết phải đánh thắng; không được phạm sơ suất nào - phải cho quân Pôn Pốt thêm một đòn chí mạng, nhớ đời.

        Tôi cảm ơn anh Sáu và hứa quyết tâm cùng sư đoàn giành thắng lợi - không phụ niềm tin của Bộ Tư lệnh Quân khu.

        Triển khai cuộc phản kích địch lấn chiếm, giải phóng núi Phú Cường, Ba Chúc, Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị như sau:

        Trung đoàn bộ binh 2 do anh Năm Thời - Trung đoàn trưởng chỉ huy, được tăng cường hai xe tăng PT.85, sáu xe thiết giáp M.113 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 3 đảm nhiệm mũi tiến công chủ yếu của sư đoàn (một trung đoàn của Sư đoàn 341 làm dự bị), đánh thẳng hướng chính diện vào núi Phú Cường, tiêu diệt toàn bộ cụm địch chốt giữ ở đây; trường hợp không diệt gọn thì hất địch xuống cánh đồng ở phía sau (giữa núi Phú Cường và xã Ba Chúc), để Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 đón lõng, tiêu diệt.

        Trung đoàn 1 do anh Đoàn Quang Minh - Trung đoàn trưởng chỉ huy, được tăng cường ba xe tăng PT.85 và một số xe thiết giáp M.113, một tiểu đoàn của Trung đoàn 10 Sư đoàn 339, được pháo binh yểm trợ, đảm nhiệm hướng tiến công quan trọng, vu hồi cánh trái núi Phú Cường, từ núi Tượng, Lạc Quới đánh lên theo bờ kênh Vĩnh Tế, hợp điểm cùng Trung đoàn 3 tại Cống Đá đón lõng, diệt quân địch bị Trung đoàn 2 tiến công rút chạy hòng vượt kênh Vĩnh Tế về bên kia biên giới.

        Trung đoàn 3, do Trung đoàn trưởng Huỳnh Trọng Phẩm chỉ huy, được tăng cường một tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Cửu Long và ba xe M.113, có pháo binh yểm trợ, đảm nhiệm hướng vu hồi cánh phải núi Phú Cường, từ núi Cậu và núi Đất xã Tân Phú phát triển qua chợ Tịnh Biên vào kênh Vĩnh Tế, phát triển dọc bờ kênh xuống hợp điểm với Trung đoàn 1 ở Cống Đá.

        Trung đoàn 4 pháo binh được Trung đoàn 6 pháo binh quân khu phối hợp, có nhiệm vụ đánh phủ đầu, chế áp quân địch ở núi Phú Cường, chi viện đắc lực cho bộ binh tiến công mục tiêu. Khi bộ binh phát triển tiến công đánh chiếm núi Phú Cường thì pháo binh kịp thời chuyển làn, khống chế pháo địch ở bên kia biên giới.

        Nói thêm về địa hình khu vực diễn ra trận đánh, thì ngoài núi Phú Cường có bốn mỏm; bốn phía núi đều là ruộng đồng bằng phẳng. Núi Phú Cường ngày đó là núi trọc, chỉ có đá “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Cả cánh đồng bao la tít tắp, ruộng đồng vừa sau vụ gặt trống trơn cả vùng. Đứng ở núi Dài, núi Cậu và núi Đất có thể quan sát hết thay. Bên kia biên giới cũng đồng không mông quạnh, nổi lên núi Tham Đưng cách biên giới chừng hai cây số, lùi sâu hơn một chút là núi Xôm. Pháo của địch ở hai ngọn núi này có thể phát huy hỏa lực tốt; riêng với núi Tham Đưng, địch có thể dùng 12, 7ly gây sát thương cho ta. Nhớ lại trước đó, anh Sáu Nam có lần định dẫn một nhóm cán bộ đi qua vùng trống này giữa ban ngày, tôi đã cương quyết can ngăn không để anh đi, rất dễ thương vong.

        Tới ngày 18 tháng 1 năm 1978, từ các mũi, các hướng, anh em báo về mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất. Tối hóm đó, các đơn vị đã tiếp cận mục tiêu. Tất cả sẵn sàng để sáng ngày 19 tháng 1 nổ súng. Công tác chuẩn bị được tiến hành hết sức bí mật và khẩn trương, nên địch hoàn toàn không hay biết gì ý đồ tác chiến của ta.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:24:15 AM

        Sáng sớm ngày 19 tháng 1, khi màn sương mỏng trên cánh đồng vừa tan, tôi báo cáo anh Năm Thông - Tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho các trung đoàn đồng loạt nổ súng tiến công địch. Gần nửa tiếng đầu, các loại hỏa lực cấp tập bắn phá các mục tiêu của địch ở núi Phú Cường. Từ Sở chỉ huy ở núi Cậu, chúng tôi thấy núi Phú Cường bị bao trùm bởi lửa khói đạn pháo. Quân địch đang ngái ngủ, bất thần bị sấm sét chụp xuống đầu, vô cùng hoảng loạn. Màn hỏa lực kết thúc, bộ binh bắt đầu tiến công; được xe tăng, thiết giáp hộ tống đánh thẳng vào núi Phú Cường. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu. Sau cú choáng váng bởi đòn hỏa lực phủ đầu của ta, địch đã lợi dụng công sự, núi đá, chống cự quyết liệt. Phải hơn ba giờ quần lộn với địch, có một số đồng chí hy sinh, mãi đến trưa, Trung đoàn 2 mới chiếm được các mỏm số 1, 2, 3.

        Trực tiếp chỉ huy trận đánh, anh Năm Thông và tôi ra lệnh cho Trung đoàn 2 tập trung hỏa lực đánh chiếm mỏm số 4 và đẩy địch xuống cánh đồng dưới chân núi. Ở hướng Trung đoàn 1, sau khi được lệnh nổ súng, tiến công, từ núi Tượng, toàn trung đoàn dâng đội hình lên áp sát địch. Nhưng phi pháo của ta cấp tập vào hệ thống điểm chốt của địch ở núi Phú Cường thì địch ở nam kinh Thầy Cai đã kịp tổ chức ngăn chặn. Phải mất thời gian khá lâu sau nhiều lần bộ binh, thiết giáp đột phá, Trung đoàn 1 mới chọc thủng được tuyến ngăn chặn của địch ở kinh Thầy Cai, phát triển lên chốt 23 và chốt 21. Lúc này địch từ trên núi Phú Cường bị đẩy dồn xuống cánh đồng, đang cố sống cố chết chạy về bên kia biên giới. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 phối hợp tổ chức bao vây, chia cắt tiêu diệt địch.

        Đến chiều ngày 13, toàn sư đoàn đã tiến hành xuất sắc trận hợp vây trên cánh đồng làng Ba Chúc. Trung đoàn 2 sau khi giải quyết nốt mỏm còn lại, từ trên núi Phú Cường đánh tràn xuống. Cùng lúc, từ hai cánh tả - hữu, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 tiến theo kênh Vĩnh Tế hợp điểm tại Cống Đá. Gần một nghìn quân địch bị quây lại giữa cánh đồng trống, đã bị đền tội. Kẻ sát nhân đã bị đền tội đúng ở nơi mà chúng đã dẫn hàng nghìn dân thường vô tội ở Ba Chúc ra để sát hại.

        Tuy nhiên, địch tháo chạy ồ ạt, Trung đoàn 3 tiến xuống hợp điểm với Trung đoàn 1 ở Cống Đá chậm so với dự kiến, nên địch đã kịp chạy thoát một số trên quãng từ chốt 21 đến Cống Đá.

        Chừng 16 giờ, chúng tôi quyết định đưa đơn vị của Sư đoàn 341 - lực lượng dự bị tham chiến, truy quét tàn binh địch, giải quyết chiến trường, tận thu vũ khí trang bị. Nắng tắt trên cánh đồng Ba Chúc cũng là lúc chúng tôi làm chủ hoàn toàn trận địa. Vậy là gần trọn ngày chiến đấu liên tục, Sư đoàn 330 và đơn vị bạn tăng cường đã thực hiện một trận đánh tiêu diệt xuất sắc; loại khỏi vòng chiến đấu 1.215 tên địch, bắt 106 tên; tiêu diệt gọn 5 tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn khác; thu 348 khẩu súng các loại, 6 máy thông tin, phá hủy 1 khẩu pháo 105ly… Có hiện tượng lạ là sau khi trận đánh kết thúc, khi kiểm tra chiến trường, chúng tôi bắt gặp xác lính địch phủ phục bên bờ ruộng; khắp người không một vết xây sát. Phải chăng tên lính này chết vì khiếp sợ.

        Tổn thất của ta trong trận này là 34 đồng chí hy sình, bị thương 146 đồng chí, bị cháy 1 xe tăng PT.85. Trận tiêu diệt cỡ sư đoàn địch ở núi Phú Cường là trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô cấp sư đoàn tăng cường đạt hiệu suất cao.

        Sau khi làm chủ chiến trường, chúng tôi đã cho giữ nguyên hiện trạng chừng một tuần để các nhà báo trong nước, quốc tế đến quay phim, ghi hình, đưa tin tố cáo hành động xâm lấn của địch đã bị trừng trị đích đáng. Những kẻ gây nên vụ thảm sát đẫm máu đồng bào ta ở Ba Chúc - Tri Tôn đã bị đền tội. Sự kiện này đã gây tiếng vang trong công luận quốc tế.

        Chiến thắng núi Phú Cường khẳng định sự phát triển nhảy vọt về trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô cấp sư đoàn của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330. Chiến thắng này cũng lấy lại niềm tin yêu của nhân dân vùng biên giới Tịnh Biên - An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đối với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330 và lực lượng vũ trang Quân khu 9 nói chung; tin tưởng vào thắng lợi của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:00:04 AM

        Với trận thắng quân Pôn Pốt ở núi Phú Cường, ngoài việc tích lũy kinh nghiệm tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh với kẻ thù mới, đối tượng tác chiến mới, điều tâm niệm nhất đối với tôi là bản lĩnh, tính quyết đoán của người chỉ huy trên chiến trường. Việc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, chấp hành kỷ luật chiến trường luôn là vấn đề tối thượng - là kỷ luật - một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh của quân đội ta - Bộ đội Cụ Hồ. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn có những trường hợp cho phép người chỉ huy trực tiếp có chính kiến - có phương án tác chiến khác với ý định của trên. Vấn đề cơ bản là phương án tác chiến, chính kiến đó phải thật sự khoa học, được hình thành từ điều kiện lịch sử cụ thể và đảm bảo đạt được mục đích cuối cùng của trận đánh, của chiến dịch là giành thắng lợi lớn, hạn chế thấp nhất thương vong. Chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên nhưng chấp hành tới mức thụ động, thiếu sáng tạo, thiếu bản lĩnh… không phải là chuẩn mực của người cán bộ giỏi. Quyết định của người chỉ huy trên chiến trường khác ý kiến cấp trên, nếu dẫn đơn vị tại chỗ không hoàn thành nhiệm vụ, tổn thất; dĩ nhiên cá nhân người chỉ huy phải chịu kỷ luật trước cấp trên, trước Đảng và nhân dân. Ngược lại, nếu thắng lợi, thì hành động của họ phải được lịch sử ghi nhận, cấp trên ghi nhận. Với những ý nghĩa trên, trận đánh quân Pôn Pốt ở núi Phú Cường là một trong những trận để lại dấu ấn sâu đậm nhất, giàu cảm xúc trong cuộc đời binh nghiệp của tôi.

        Sau trận đánh ở núi Phú Cường, chúng tôi nhận lệnh của quân khu, tổ chức cho sư đoàn xây dựng trận địa phòng thủ từ Vĩnh Xương, Tịnh Biên - An Giang lên đến huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. Sư đoàn phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương An Giang, Đồng Tháp và các đơn vị bạn củng cố vững chắc thế trận phòng thủ, bảo vệ từng tấc đất nơi biên cương thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

        Trong thời gian này, khi quân Pôn Pốt mò sang khu vực núi Tượng, Lạc Quới, Ba Chúc - Tịnh Biên; chúng tôi đã tổ chức cho các trung đoàn đánh một số trận. Trong đó có trận đánh ngày 1 tháng 5, sư đoàn diệt trên 250 tên, thu trên một trăm súng, giải thoát cho trên 200 đồng bào ta bị quân Pôn Pốt bắt giữ. Từ đó, ở Mặt trận Hà Tiên, An Giang, quân Pôn bốt hễ thấy bóng dáng đơn vị nào thuộc Sư đoàn 330 đánh ở đâu, đều hò nhau bỏ chạy, không dám chống cự. Điều đó, tạo điều kiện thuận lợi để sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

*

*       *

        Mùa mưa đến, những cánh đồng khu vực Tịnh Biên - dọc hai bờ kênh Vĩnh Tế nước trắng băng, mênh mông một màu nước. Quân Pôn Pốt vẫn bắn pháo và đột nhập vào lãnh thổ của ta ở một số điểm, nhưng thưa hơn mùa khô. Lúc này tôi cùng anh Ba Trung được trên cho đi học Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Trước khi đi, tôi đã được phong quân hàm thượng tá. Khi đó, quyết định phong quân hàm thượng tá do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký.

        Tháng 8 năm 1978, tôi ba lô khăn gói nhảy xe đò ra Hà Nội. Dọc đường “lai kinh” có một chuyện khá thú vị. Có thể vì dáng dấp tôi nhỏ nhắn, mang quân hàm thượng tá, ngó bộ quá trẻ chăng (mặc đầu năm đó thực tuổi của tôi là 42), nên hai anh công an tỏ vẻ nghi ngờ họ cho rằng tôi giả mạo quân hàm và hỏi giấy tờ của tôi. Với thái độ từ tốn, tôi bảo các đồng chí công an nếu cần thì gọi điện về quân khu xác minh cho rõ. Khi rõ ngọn nguồn, hai anh cảnh sát xin lỗi rối rít. Âu cũng là một bài học về tinh thần cảnh giác thái quá, mà thiếu đi độ sắc sảo về nghiệp vụ.

        Lúc đầu, theo diện chiêu sinh, tôi cùng anh Ba Trung thuộc đối tượng bổ túc ngắn hạn. Nhưng sau xét thấy tôi chưa qua một khóa đào tạo cơ bản nào, nên anh Hoàng Minh Thảo - Giám đốc Học viện đề nghị thủ trưởng Bộ chuyển tôi qua hệ đào tạo hai năm. Còn anh Ba Trung vẫn học chương trình bổ túc, đến cuối năm 1978, anh về lại quân khu, kịp tham gia chiến dịch tiến công giải phóng toàn bộ tuyến biên giới Tây Nam và giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh.

        Khóa chúng tôi học là khóa đào tạo cán bộ tham mưu chiến dịch đầu tiên, chuẩn bị cho xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại; chuyển từ xây dựng quân đội theo yêu cầu chiến tranh giải phóng sang xây dựng quân đội theo yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy nội dung chương trình có nhiều điểm rất mới. Cùng dự học với tôi khóa này có nhiều anh em sau này phát triển tốt, đảm đương một số trọng trách trong cơ quan Đảng, Nhà nước, quân đội, đó là các anh: Lê Văn Dũng, Nguyễn Huy Hiệu, Nguyễn Phúc Thanh, Đỗ Trung Dương, Nguyễn Khắc Dương, Phạm Văn Long, Lê Văn Hân, Lê Ngọc Oa, anh Ba Chia…

        Hai năm chúng tôi học tập trung ở Học viện Quốc phòng là quãng thời gian đất nước và khu vực đầy biến động. Lực lượng vũ trang ta thực hiện chủ trương của Đảng và đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, đã thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng, giúp bạn tiến công giải phóng Phnôm Pênh, lật đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri, cứu đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Nhưng, khi tình hình biên giới Tây Nam qua cơn nguy biến thì lửa chiến tranh lại vùng lên ở biên cương phía Bắc…

        Là người lính, là cán bộ từng xông pha nơi chiến trường, trải qua hàng trăm trận chiến đấu; nay hay tin chiến sự diễn ra ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, nhiều khi như có lửa trong lòng. Đã có lúc chúng tôi đề đạt lên Ban Giám đốc Học viện nhanh chóng kết thúc chương trình để được trở về đơn vị chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:01:15 AM

*

*       *

        Kết thúc hơn hai năm dự khóa đào tạo tại Học viện Quân sự cấp cao, cuối năm 1980, tôi trở lại Sư đoàn 330 tiếp tục công tác và được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lúc này ngoài tôi ra, có anh Lê Xuân Phong (Ba Phong) - Sư đoàn phó Tham mưu trưởng, sau đó anh Nguyễn Văn Thanh (Ba Chơi) thay; anh Hồ Văn Sanh (Bảy Sanh) - Chính ủy, anh Lê Hữu Thời (Năm Thời) - Sư đoàn phó.

        Thời gian tôi đi học, Sư đoàn 330 cùng với các đơn vị bạn trong quân khu và nhiều đơn vị của các quân khu, quân đoàn bạn đã thực hiện đòn tiến công xuất sắc: lùa đuổi quân Pôn Pốt dọc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia và phát triển tiến công, giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh, giải phóng đất nước, lật nhào chế độ Pôn Pốt, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Cùng với đại quân tiến vào giúp bạn giai phóng Phnôm Pênh đầu tháng 1 năm 1979, Sư đoàn 330 đảm nhiệm hướng tiến công theo quốc lộ 3 và là đơn vị đánh chiếm sân bay Pô Chen Tông. Tròn hai năm làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn, sư đoàn được phân công đảm trách địa bàn tỉnh Kông Pông Spư. Trong quãng thời gian đó, sư đoàn vừa tổ chức truy quét tàn binh địch, đánh trả một số trận phản kích quy mô cấp trung đoàn của địch; đồng thời tổ chức các đội công tác xuống cơ sở cứu đói, cứu đau, giúp hàng nghìn người dân của bạn bị giam hãm trong các trại tập trung trở về phum, sóc làm ăn, sinh sống; giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng chính quyền phum, sóc…

        Sau hai năm kể từ ngày chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa Ri bị lật đổ, Campuchia đã từng bước hồi sinh. Chính quyền cách mạng đang từng bước thể hiện vai trò tổ chức, quản lý xã hội; lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ đang làm quen dần với chức năng là công cụ bạo lực của chính quyền cách mạng - tham gia truy quét tàn quân Pôn Pốt, giữ gìn trật tự an ninh xã hội; nhưng thực tế cách mạng của bạn đang đứng trước thử thách lớn. Bè lũ Pôn Pốt vẫn chưa từ bỏ tham vọng hòng xoay chuyển tình thế, chống phá sự nghiệp cách mạng của bạn bằng chiến tranh du kích lâu dài và cuối cùng dùng lực lượng áp đảo để giành chính quyền. Theo đó, địch gom góp tàn quân về khu vực biên giới giáp Thái Lan, lấy vùng đất này làm “Thánh địa” để xây dựng lại các sư đoàn chủ lực, chờ thời cơ. Ở nội địa, chúng duy trì một số đơn vị nhỏ, dựa vào những địa bàn hiểm trở để xây dựng căn cứ, bí mật và bất ngờ bung ra đánh vào nơi ta sơ hở; phá chính quyền, các tổ chức quần chúng vừa mới được phục hồi. Các thủ đoạn đánh phá của địch buộc ta phải thường xuyên phải căng lực lượng ra đối phó rất căng thẳng. Chính trong bối cảnh đó, có anh em đã liên tưởng tới trước đây quân viễn chinh Pháp và Mỹ đã khốn khổ như thế nào trước phong trào chiến tranh nhân dân “thiên la, địa võng”, chiến tranh du kích của ta phát triển mạnh mẽ. Cái cần phân biệt rạch ròi ở đây rằng: quân viễn chinh Pháp, Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược; còn chúng ta đang thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, cứu đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt vong và đang giúp bạn từng bước ổn định cuộc sống.

        Thời gian tôi trở về Sư đoàn 330 với cương vị Sư đoàn trưởng, chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ giúp bạn, tình hình có một số thay đổi. Do yêu cầu nhiệm vụ, một số đơn vị của ta được lệnh về nước. Vì vậy, lực lượng tình nguyện của Quân khu 9 phải đảm đương thêm nhiều khu vực. Ngoài địa bàn tỉnh Kông Pông Spư đảm trách từ trước, sang năm 1981, sư đoàn được phân công đảm đương một phần tỉnh Kông Pông Chnăng.

        Căn cứ nhiệm vụ quân khu giao và tình hình thực tế, Đảng ủy và chỉ huy sư đoàn xác định ba nhiệm vụ chủ yếu của sư đoàn lúc này là:

        - Giúp hai tỉnh Kông Pông Spư, Kông Pông Chnăng củng cố, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang. Cùng bạn phát động quần chúng đánh địch với mọi hình thức: quân sự, chính trị, kinh tế, dân vận, phá các tổ chức địch ngầm… Giúp bạn tổ chức sản xuất, ổn định đời sống, phục hồi các hoạt động văn hóa, tôn giáo.

        - Tổ chức trinh sát nắm địch, phát hiện và truy quét, không cho chúng lập căn cứ “lõm”, ngăn chặn hành lang vận chuyển của địch từ nội địa ra biên giới và lực lượng của chúng từ biên giới vào nội địa; bảo vệ mọi hoạt động của ta và bạn trên trục lộ 4 và đường sắt từ Phnôm Pênh đi Puốc Sát.

        - Xây dựng sư đoàn đủ mạnh làm lực lượng cơ động của quân khu và tiền phương Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:02:09 AM

        Với nhiệm vụ giúp bạn, chúng tôi xác định: Hiện tại bạn chưa đủ lực, nên ta làm là chính. Khi bạn phát triển lên, ta và bạn cùng làm và tiến lên một bước nữa bạn làm là chính, ta đóng vai trò tham mưu cho đến khi bạn tự gánh vác được mọi việc. Chúng tôi cũng xác định lộ trình đến năm 1983 đạt đến mức ta và bạn cùng làm.

        Làm nhiệm vụ ở một địa bàn rất phức tạp - rừng núi chiếm một tỷ lệ diện tích lớn, thời tiết nghiệt ngã, nguy cơ sốt rét và bệnh thương hàn rất cao; đặc biệt các ổ phục kích, bãi mìn của địch cài đặt khắp nơi. Nhưng không quản hiểm nguy, ngày qua ngày, không một cánh rừng, không một dòng suối cạn nào vắng bước chân của những người lính sư đoàn lùng sục, truy đuổi dịch, giành lại cuộc sống yên bình cho từng phum, sóc của bạn. Không ít cán bộ, chiến sĩ của ta đã thương vong vì địch bắn lén, đặc biệt là vì mìn.

        Năm 1981, sư đoàn đã tổ chức truy quét trên 900 lượt, tác chiến 14 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 136 tên (có 11 tên chỉ huy cấp trung đoàn), bắt 34 tên, thu trên năm chục khẩu súng, 8 máy thông tin.

        Đối với chính quyền cách mạng và ổn định đời sống, ta giúp bạn xây dựng toàn diện vững chắc, ổn định lâu dài; phải giúp bạn có được một cuộc hồi sinh thực sự. Nói thì có phần đơn giản, nhưng nhập cuộc mới thấy lĩnh vực giúp bạn xây dựng chính quyền, lực lượng vũ trang, ổn định cuộc sống cũng gian khổ, khó khăn không kém đánh giặc. Ví như việc vận động quần chúng; đa phần bộ đội ta là tân binh, ngay ở trong nước cũng chưa làm bao giờ; nay sang đất bạn “lạ nước, lạ cái”, ngôn ngữ bất đồng, không thông hiểu phong tục tập quán của bạn… Khó khăn chồng chất khó khăn!

        Trước tình hình đó, chúng tôi bàn bạc, đề xuất một số biện pháp cụ thể giúp đơn vị tổ chức thực hiện:

        - Có ý chí, quyết tâm cao; kiên trì thực hiện bằng được nhiệm vụ; chống tư tưởng ngại khó, chần chừ, do dự. Vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

        - Phải dựa vào bạn, tranh thủ ý kiến của bạn, đề cao uy tín của bạn. Trong giúp bạn xây dựng toàn diện chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa… phải luôn chú trọng hàng đầu về chính trị, xây dựng tốt mối quan hệ với nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân, tạo cho nhân dân bạn niềm tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng Campuchia, vào sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam.

        Để nâng cao hiệu quả công tác vận động nhân dân bạn, chúng tôi đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu đưa một số cán bộ người dân tộc Khme sang dạy tiếng Khme cho cán bộ, chiến sĩ sư đoàn; đồng thời động viên anh em tranh thủ học tiếng thông qua tiếp xúc hằng ngày với nhân dân, cán bộ, lực lượng vũ trang của bạn.

        Các trung đoàn và tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn đều tổ chức các đội công tác xuống từng phum - sóc, làm việc trực tiếp, thường xuyên với chính quyền, các tổ chức đoàn thể của bạn; giúp bạn tổ chức, điều hành các hoạt động chính trị, kinh tế, quân sự… Dần dần, ta đã giúp bạn xây dựng được chính quyền từ tỉnh xuống huyện, xã. Ngoài bộ máy chính quyền vững, còn có đoàn thể thanh niên, phụ nữ và một lực lượng dân quân, được vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở địa phương và phối hợp với quân tình nguyện truy quét tàn quân Pôn Pốt.

        Một tỷ lệ lớn nhân dân Campuchia theo đạo Phật, chùa chiền được dựng lên khắp nơi. Bởi vậy, người ta vẫn thường gọi Campuchia là đất nước Chùa Tháp. Sau khi thoát khỏi bàn tay diệt chủng của bọn đao phủ “áo đen”, các phật tử ở đây muốn khôi phục nhanh tín ngưỡng của mình, muốn lên chùa, tiến hành lễ “làm phước” cầu nguyện cho những người bị quân Pôn Pốt giết hại; cầu nguyện cho đất nước chóng an bình… Nhưng oái ăm, nghiệt ngã thay - chùa chiền đã bị chính quyền quân đội của Pôn Pốt biến thành chuồng trại, nhà kho; tượng Phật bị đập phá, sư sãi bị giết hại, số còn sống đang “giấu danh ẩn tích”, không dám nhận là sư.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:02:51 AM

        Nắm chắc tâm lý, nguyện vọng của nhân dân bạn, chúng tôi cho bộ đội giúp dân tu sửa lại một số chùa chiền, tìm tượng Phật đưa vào chùa và cho tìm vời các nhà sư về trụ trì. Có chùa, có sư sãi, nhiều địa phương đã tổ chức lễ làm phước; có lễ thu hút hàng nghìn người tham gia. Tiếng chuông, mõ chùa ngân lên, là dấu hiệu của cuộc sống yên bình được khôi phục trên một đất nước đã bao năm chịu nhiều thảm cảnh, đau thương, chết chóc.

        Cùng với chùa chiền, trường học cũng được phục hồi, xây dựng mới. Bước đầu, chủng tôi giúp bạn mở lớp học tại các nhà chùa và cất thêm những phòng học tạm bằng tranh tre ở các phum, sóc. Có trường, có lớp rồi, bộ đội lại lùng tìm thầy, cô giáo. Cũng như sư sãi, giáo viên là đối tượng sát hại của quân Pôn Pốt. Vì vậy, việc tìm giáo viên cũng rất khó khăn. Chúng tôi đã phải động viên nhà sư làm thầy giáo. Thế là, các lớp học được tổ chức. Trẻ nhỏ nô nức tới lớp. Tiếng đánh vần ê a của trẻ thơ là biểu hiện sinh động của sự hồi sinh của từng phum, sóc.

        Một trong những hoạt động chính của bộ đội tình nguyện lúc này là giúp bạn cứu đói, cứu đau. Mặc dù hằng ngày vẫn làm nhiệm vụ truy quét địch, phải đối mặt với thương vong, nhưng sư đoàn vẫn dành phần lớn thuốc thang và cán bộ, nhân viên quân y để phục vụ nhân dân bạn. Nhiều khi bệnh xá của sư đoàn, trung đoàn thu dung, cứu chữa người của bạn đông hơn cán bộ, chiến sĩ ta.

        Để giúp bạn cứu đói, chúng tôi động viên cán bộ, chiến sĩ toàn sư đoàn san sẻ khẩu phần và lương thực, thực phẩm dự trữ của mình cho bạn. Đồng thời, ta giúp bạn khẩn trương tổ chức sản xuất, kết hợp sản xuất theo mùa vụ với trồng cấy hoa màu ngắn ngày, đánh bắt cá… để “lấy ngắn nuôi dài”. Cùng với sản xuất, chợ búa dần dần được khôi phục. Thông qua chợ búa, người dân trao đổi cho nhau con cá, mớ rau, bơ gạo, ký muối… những thứ rất đạm bạc, nhưng đã giúp họ qua được buổi gian nan khốn khó sau ngày đất nước được giải phóng.

        Về xây dựng lực lượng vũ trang, cuối năm 1980 đầu năm 1981, Sư đoàn 330 đã giúp tỉnh Kông Pông Spư xây dựng được hai tiểu đoàn tập trung (Tiểu đoàn 80 và Tiểu đoàn 81). Chúng tôi giúp bạn triển khai huấn luyện theo một chương trình riêng phù hợp với đặc điểm, trình độ của bạn và yêu cầu nhiệm vụ. Tháng 9 năm 1981, sau khi kết thúc chương trình huấn luyện, chúng tôi trang bị đầy đủ vũ khí và giao hai tiểu đoàn này cho Sư đoàn 196 của bạn.

        Vậy là, từ một xã hội “bốn không”: không trường học, không chùa chiền, không tiền, không chợ, bao trùm một màu chết chóc dưới thời Pôn Pổt - Iêng Xa Ri, chỉ sau một thời gian ngắn được Việt Nam giúp đỡ, đất nước Campuchia đã thay đổi từng ngày. Chùa chiền mọc lên và tiếng chuông vang ngân cùng lời cầu nguyện, trường học được khôi phục, sớm chiều đón trẻ nhỏ tới lớp; rồi chợ búa, bệnh xá… cũng dần được khôi phục. Đường thôn đã loáng thoáng những tà áo đầy đủ sắc màu thay cho độc màu đen tang tóc một thời. Tôi đã chứng kiến nụ cười rạng rỡ của một thiếu nữ Khme khi bộ đội Việt Nam khen cô có mái tóc dài và thật bất ngờ khi nghe cô kể lại đã mấy năm liền cô bị lính Pôn Pốt cạo trọc đầu.

        Nhớ lại cũng đất nước này vào mùa hè năm 1977, tôi chỉ huy sư đoàn phản kích luồn sâu vào hậu phương địch, và chứng kiến cuộc sống của nhân dân bạn giò đây, mỗi chúng tôi đều thốt lên: Quả là một sự hồi sinh diệu kỳ của cả dân tộc!

        Bằng lời nói và việc làm, những người lính tình nguyện Việt Nam đã được nhân dân của bạn gọi bằng cái tên rất trìu mến và kính trọng: “Bộ đội nhà Phật”. Đồng thời, nhân dân cũng hiểu hai chữ “xâm lược” mà bọn Pôn Pốt dùng để xuyên tạc, bôi nhọ quân tình nguyện Việt Nam. Tôi đã chứng kiến bà con thốt lên rằng: Không thể có một kẻ xâm lược nào trên thế giới lại tốt bụng như vậy!


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:04:46 AM

*

*       *

        Sau một năm trên cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330 làm nhiệm vụ giúp bạn Campuchia, cuối năm 1981, tôi được gọi về quân khu nhận nhiệm vụ mới. Chia tay anh em trong đơn vị, trở về Tổ quốc, mà trong lòng bao nỗi băn khoăn. Đất nước bạn vừa qua khỏi họa diệt chủng, nhưng vẫn còn đối mặt với bao khó khăn, thử thách. Cũng vì vậy mà nhiệm vụ của Sư đoàn 330 cũng như quân tình nguyện nói chung vẫn rất nặng nề.

        Tiễn chúng tôi về nước, anh Ba Chơi có nói: Tình hình thế này, anh Ba khó có thể rời hẳn xứ sở này được. Thế nào anh cũng trở lại đây thôi mà!

        Tôi cũng nghĩ thế - Tôi đáp. Cũng chưa rõ nhiệm vụ trên giao cụ thể như thế nào. Nhưng chắc chắn là ta còn phải giúp bạn lâu dài. Khi trên “bật đèn xanh”, tôi sẽ trở lại.

        Về quân khu, tôi được anh Nguyễn Chánh - Tư lệnh trao quyết định của Bộ Quốc phòng bổ nhiệm làm Tham mưu phó quân khu. Cùng về với tôi đợt này có anh Hồ Văn Sanh - Phó sư đoàn trưởng chính trị. Anh Bảy Sanh được bổ nhiệm Phó chủ nhiệm chính trị quân khu. Anh Ba Chơi được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng thay tôi và anh Ba Tố được bổ nhiệm Phó sư đoàn trưởng chính trị thay anh Bảy Sanh. Cùng với bổ nhiệm chức vụ mới, thời gian này, tôi được đề bạt quân hàm đại tá.

        Bộ Tư lệnh Quân khu thời gian này có các anh Nguyễn Chánh - Tư lệnh, Võ Văn Thạnh (Ba Thắng) - Chính ủy, Trần Văn Nghiêm - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng; anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu, kiêm Tư lệnh Mặt trận 979,…

        Trên cương vị Tham mưu phó quân khu phụ trách tác chiến, tôi đã cùng các anh trong Bộ Tham mưu nghiên cứu xây dựng các phương án tác chiến phòng thủ biên giới; các phương án tác chiến đánh địch tập kích vào địa bàn quân khu; đặc biệt chú trọng cùng chỉ huy, cơ quan tham mưu Bộ Tư lệnh Mặt trận 979, các sư đoàn 4, 330, 339, xây dựng phương án tác chiến đánh tàn quân Pôn Pốt, được Thái Lan hỗ trợ co cụm ở một số khu vực giáp giới Campuchia - Thái Lan…

        Thời gian chưa đầy một năm làm Tham mưu phó quân khu, ngoài việc giúp Tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu theo dõi; chỉ đạo tác chiến, tôi có trực tiếp giải quyết một vụ việc khá ấn tượng. Lúc đó là đầu mùa khô 1982-1983. Vào một buổi chiều tôi được trực ban tác chiến quân khu báo cáo: xảy ra cuộc đụng độ giữa một đơn vị vận tải thuộc Tổng cục Hậu cần với lực lượng công an Cần Thơ.

        Nhận được báo cáo, tôi cho Phòng Tác chiến cử cán bộ ra nắm tình hình. Anh em đi một lúc, về báo cáo “chiến sự” diễn ra khá căng thẳng. Đã xảy ra “đọ súng” giữa hai bên, tuy chưa có thương vong, nhưng nếu cứ để kéo dài mãi thế này rất nguy hiểm.

        - Nguyên nhân xảy ra đụng độ? - Tôi hỏi.

        Đồng chí Trưởng phòng Tác chiến báo cáo: Do yêu cầu của tiền phương Bộ Quốc phòng ở Campuchia - Bộ Tư lệnh 179 (do anh Lê Đức Anh làm Tư lệnh), đơn vị vận tải có nhiệm vụ về nhận gạo ở cảng Trà Nóc - Cần Thơ để chuyển sang cho các đơn vị làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia. Không rõ vì lý do nào đó, đơn vị kho không cấp gạo. Một số anh em ở đơn vị vận tải cho rằng người ở hậu phương không những không chia sẻ sự gian khổ, thiếu thốn, mất mát hy sinh của những người lính làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn mà còn gây khó khăn. Từ “khẩu chiến” dẫn đến đụng độ, rồi tiến thêm một bước, bộ đội vận tải chiếm cảng. Lập tức, công an địa phương vào cuộc. Việc công an can thiệp như đổ thêm dầu vào lửa. Từ “đấu khẩu” dẫn tới “đấu súng” là như vậy.

        Nắm sơ bộ nguyên nhân và diễn biến sự việc, tôi chỉ thị cho Phòng Tác chiến huy động ba chục đồng chí vệ binh xuống cảng Trà Nóc để giải quyết sự cố, nhưng đến gần nửa đêm, sự việc vẫn chưa chấm dứt. Tình thế không đơn giản! Tôi quyết định trực tiếp vào cuộc. Khi chúng tôi tới nơi, đã là 24 giờ. Thỉnh thoảng vẫn gằn lên một loạt AK đanh gọn, chát chúa.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 08:24:10 AM

        Không để tình trạng này kéo dài, tôi cùng mấy sĩ quan tham mưu đến thẳng vị trí có tiếng súng. Bị lực lượng bảo vệ ngăn lại, tôi nhẹ nhàng giới thiệu là cán bộ tham mưu Quân khu 9, muốn gặp chỉ huy đơn vị, thì được thông báo lực lượng ở trong cảng là bộ đội vận tải, còn công an bảo vệ cảng đã rút ra ngoài, cách chừng 400m. Bộ đội từ trong bắn ra, công an từ ngoài bắn vào.

        Quan sát làn đạn của hai bên, tôi thấy phía công an bắn thẳng và thấp. còn phía quân đội bắn rất cao, chỉ mang tính “cảnh cáo”, tránh sát thương.

        Sau một thoáng suy tính, tôi bảo đồng chí lái chiếc xe jeép mà chúng tôi đang đi, bật đèn pha cực sáng tiến vào cổng cảng Trà Nóc. Tôi ngồi trên xe, dùng loa tay, nói rất to:

        - Tôi là Ba Trà - Tham mưu phó Quân khu 9. Đề nghị cả hai bên - bộ đội, công an không được nổ súng. Chỉ huy hai đơn vị phải gặp tôi ngay để giải quyết vụ việc. Nếu còn tiếp tục dùng vũ lực sẽ phải chịu tội trước quân pháp.

        Chỉ với lần thứ ba tôi nhắc lại lệnh trên, thì mọi chuyện đã an bài. Phía quân đội ngừng bắn trước. Sau đó chỉ huy hai đơn vị đã tới gặp chúng tôi trình bày đủ thứ “lý do lý trấu”.

        Thật bất ngờ và cảm động, khi đồng chí công an nói:

        - Nghe tiếng anh Ba là tụi em chịu luôn. Trước đây nghe mọi người nói nhiều về anh, nay mới được gặp. Anh xá lỗi cho tụi em.

        Tôi chân tình nói với anh em: Đúng sai sẽ giải quyết sau. Cơ quan quân pháp sẽ làm việc với hai đơn vị. Muốn nói gì thì nói, nhưng để diễn ra cảnh “quân ta đánh quân mình” như vừa rồi là không chấp nhận được. Điều phải làm ngay là cố gắng cân đối lượng gạo hiện có tính toán ưu tiên cho phía trước và chuyển ngay gạo cho mặt trận.

        Cả hai bên đều thấy mình có lỗi, vì nóng nảy, mất bình tĩnh đã để xảy ra vụ việc đáng tiếc. Đúng là “cả giận mất khôn”.

        Cũng phải hết sức thông cảm cho những chiến sĩ vận tải không chỉ chứng kiến cảnh thiếu thốn, khó khăn cơ cực, mất mát hy sinh của những người lính tình nguyện, mà chính họ là mục tiêu săn lùng, phục kích của tàn quân Pôn Pốt. Đã có hàng chục xe vận tải của ta bị địch phục kích bắn cháy trong khi làm nhiệm vụ chuyển hàng trên đường số 4, đường số 5 phục vụ các đơn vị làm nhiệm vụ ở Campuchia.

        Chưa tròn một năm giữ chức Phó tham mưu trưởng quân khu, cuối năm 1982, tôi nhận quyết định của trên trở lại chiến trường Campuchia, giữ chức Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979. Vậy là điều mà tôi, anh Ba Chơi tiên liệu và ngoéo tay nhau vào đầu năm đã đến rất chóng vánh.

        Mặt trận 979 trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 9 được thành lập sau ngày ta giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh và phần lớn đất nước, rồi chuyển sang thời kỳ giúp bạn xây dựng chính quyền, xây dựng đời sống mới, truy quét tàn quân Pôn Pốt. Cùng ra đời với Mặt trận 979 làm nhiệm vụ giúp bạn còn có Mặt trận 779 trực thuộc Quân khu 7, Mặt trận 579 trực thuộc Quân khu 5, Mặt trận 479 trực tiếp do Bộ Tư lệnh quân tình nguyện nắm.

        Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 lúc này có anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu làm Tư lệnh, Chính ủy là anh Sáu Hoài; Phó tư lệnh có các anh Sáu Phú, Tám Tào, Dương Tử. Được làm việc cùng anh Ba Trung và anh em đồng chí thân quen là thuận lợi đối với tôi trên cương vị công tác mới. Đặc biệt với anh Ba Trung, anh em tôi đã từ lâu như hình với bóng. Từ hồi còn ở Trung đoàn 1 đến nay, thường là anh giữ chức vụ cấp trưởng, còn tôi là cấp phó của anh.

        Anh Ba Trung sinh ra ở làng Võ Liệt huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An - một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Anh mồ côi bố khi mới lọt lòng mẹ. Từ tuổi ấu thơ, anh đã phải cùng mẹ và bố dượng lưu lạc vào kiếm sống ở đồn điền cao su Bình Ba huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai. Là tầng lớp cần lao, anh Ba sớm đến với cách mạng, trưởng thành trong chiến đấu. Anh Ba đã mấy lần bị thương, chết đi sống lại. Kháng chiến 9 năm chống Pháp kết thúc, anh Ba tập kết ra Bắc và là một trong những cán bộ đầu tiên trở lại chiến trường miền Tây vào năm 1960.

        Xuất thân từ tầng lớp cần lao, lại được tôi rèn trong đấu tranh cách mạng, nên anh Ba Trung là người có bản lĩnh, kiên định. Trong cuộc sống, anh là người rất mực hiền lành, chân chất. Đặc biệt anh không bao giờ tị hiềm, so bì với anh em, với tổ chức, dẫu cho con đường công tác của anh đầy biến động. Tổ chức phân công, sắp xếp thế nào anh cũng chấp hành vô tư. Bổ nhiệm cấp trưởng rồi lại đưa xuống cấp phó, từ bộ đội chủ lực đưa về làm chỉ huy cơ quan quân sự địa phương (cấp thấp hơn), rồi lại đưa về bộ đội chủ lực…; bất cứ cương vị nào, anh đều hoàn thành chức năng nhiệm vụ hết sức mẫn cán, chu đáo.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 08:26:04 AM

        Được công tác gần gũi anh Ba, tôi còn biết chuyện tình của vợ chồng anh thật hiếm có - phải nói là có một không hai. Chị Quý - vợ anh Ba vốn là một cô tiểu tại chùa trên núi Minh Đạm - Bà Rịa. Trong một trận đánh thời kỳ chống Pháp, anh Ba bị thương nặng, trốn náu ở ngôi chùa này và được chị chăm nuôi, cứu chữa. Thế rồi tình yêu giữa anh chị nảy nở. Kháng chiến chống Pháp kết thúc, anh Ba tập kết ra Bắc, hai người chưa kịp tổ chức đám cưới - chỉ kịp làm lễ hứa hôn. Sau đó là 10 năm chị Ba đợi chờ anh trong im lặng. Vào đầu năm 1963, chị Ba nhận được tin anh Ba, nhưng oái ăm không phải tin của “đằng mình” mà qua một tờ báo của Sài Gòn đưa tin quân đội quốc gia diệt được cán bộ cộng quân xâm nhập - người đó là anh Ba. Được tin, chị Ba âm thầm quyết chí đi tìm. Theo chị thì mảy may một chút hy vọng anh còn sống, bằng không sẽ cố tìm phần mộ của anh. Và cuộc đời đã không phụ tình thương yêu của hai người, chị Ba đã tìm được anh bằng xương bằng thịt - khi đó anh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn U Minh thuộc Tỉnh đội Cà Mau. Lần kẻ địch loan tin diệt được anh, thực chất là chúng mật phục đoàn cán bộ Tỉnh đội Cà Mau đi công tác, nhưng các anh đều thoát được; địch chỉ bắt được cái bóng, trong đó có cuốn lý lịch kèm theo một tấm hình của anh - một đại úy Quân đội nhân dân.

        Nói về anh Ba Trung, trong một lần vui chuyện khi cùng anh công tác ở Bộ Tư lệnh Quân khu 9, tôi có nêu một băn khoăn: Với bề dày chiến công, đóng góp xứng đáng của anh cho sự nghiệp kháng chiến, anh Ba rất xứng đáng được phong Anh hùng.

        Nghe tôi nói vậy, anh Ba cười, rồi tâm sự:

        - Cơ quan chính trị và nhiều anh em cũng nghĩ vậy, nhưng khi có ý định đề nghị lên trên, thì được một đồng chí cấp trên nói rằng: Ông Ba đã là Trung tướng, ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu…, không hơn Anh hùng rồi sao? Trên đã có ý như vậy, nên mình bảo cơ quan thôi không làm thủ tục nữa.

        - Không thể như vậy, danh hiệu Anh hùng và chức vụ hoàn toàn khác nhau - Tôi trả lời.

        Anh Ba cười xuề xòa: Biết vậy, nhưng thôi!

        Cái đơn giản, lành lặn, hồn hậu của anh Ba Trung là như vậy đó!

        Sau đó, Bộ Tư lệnh Quân khu và những người thân, người đồng chí của anh lặng lẽ, khẩn trương xúc tiến việc đề nghị trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho anh Ba Trung. Cuối cùng thì ngày 25 tháng 6 năm 1998, anh Ba Trung cũng được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Được tin, tôi mừng hơn là khi tôi được phong Anh hùng, bởi cả cuộc đời anh luôn trọn niềm tin vào cách mạng, vào Đảng và cống hiến cho đất nước, nhân dân.

        Mặt trận 979 lúc này gồm ba sư đoàn, đảm đương địa bàn sát biên giới Campuchia - Thái Lan. Sư đoàn 4 đảm nhiệm hướng Kô Kông. Sư đoàn trưởng là anh Lê Xã Hội (Chín Hội), Chính ủy sư đoàn là Lê Phú Tươi (Tư Tươi). Sư đoàn 339 đứng ở địa bàn Puốc Sát, Năm Nhà, Bảy Nhà. Sư đoàn trưởng 339 là anh Ba Tấn. Sư đoàn 330 lúc này là lực lượng cơ động của mặt trận.

        Vừa trở lại chiến trường, tôi được anh Ba Trung phân công trực tiếp phụ trách hoạt động tác chiến của mặt trận ở tuyến biên giới.

        Nhìn toàn cục, trên chiến trường, địa bàn mà các mặt trận 479, 579, 779 phụ trách đều có những khó khăn, phức tạp, tuy mức độ khác nhau. Riêng Mặt trận 979 phải đảm đương địa bàn khó khăn, ác liệt nhất. Tuyến biên giới ở đây vừa dài, xa hậu phương; đặc biệt đây là nơi tập trung bộ chỉ huy đầu não của quân Pôn Pốt - Xon Xan.

        Từ đầu năm 1983, mặc dù bị quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của bạn lật đổ, truy quét ráo riết, nhưng tàn quân Pôn Pốt được các thế lực bên ngoài “hà hơi tiếp sức” đã tập hợp lực lượng chống phá cách mạng, nuôi tham vọng lật lại tình thế. Pôn Pốt - Xon Xan tích cực xây dựng lực lượng và toan tính chậm nhất là đến năm 1985  sẽ “lật ngược thế cờ”. Trên thực tế, những năm 1981  - 1 982, Pôn Pốt và bè đảng cũng đã gây dựng được một số đơn vị chủ lực. Ở hướng Kô Kông có Sư đoàn 164 (sau đổi thành Sư đoàn 3) biên chế ba trung đoàn bộ binh với trên một nghìn quân, do một Phó tổng tham mưu trưởng trong Bộ chỉ huy của Pôn Pốt làm sư đoàn trưởng. Ngoài ra, địch còn có các sư đoàn chủ lực khác như: Sư đoàn 111 ở Các Đa Môn, Sư đoàn 221 ở Cham Ca Râu, Sư đoàn 86 ở Sóc San, Sư đoàn 175 ở Ô Đa, Sư đoàn 415 ở Pai Lin…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 08:27:01 AM

        Ở địa bàn Mặt trận 979 đảm trách, địch cũng đã xây dựng được 7 căn cứ; có căn cứ nằm sâu trong nội địa, cách biên giới Campuchia - Thái Lan hơn 10 cây số. Để tiện cho việc tiếp nhận vũ khí bên ngoài viện trợ cũng như đưa vũ khí vào trang bị cho lực lượng ở nội địa, trên tuyến chúng tôi phụ trách, địch mở bốn cửa khẩu: cửa khẩu 301 ở Tà Sanh, Tức Sóc, Puốc Sát. Cửa khẩu 401 ở Cham Ca Râu, Ka Ra Vanh. Cửa khẩu vào khu Năm Nhà ở Ô Ran, Lếcch và cửa khẩu 505 vào Viêng Vênh, Thơ Ma Băng.

        Cùng với xây dựng các sư đoàn chủ lực, thiết lập các căn cứ ở vùng biên giới, những năm 1983-1984, địch thực hiện âm mưu “tranh chấp chiến lược”, phát triển chiến tranh du kích quy mô lớn, lâu dài. Chúng hy vọng tổ chức thành hai lực lượng, tạo thế phân ranh hai vùng, hai chính quyền (tăng cường cài cắm lực lượng vào chính quyền cách mạng của bạn).

        Trước tình hình diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt là tuyến biên giới, chúng tôi quyết định các sư đoàn 4, 339, 330 bàn giao khu vực đứng chân Kông Pông Chnăng, Kông Pông Spư… Ở nội địa cho các đoàn chuyên gia quân sự, đội công tác của tỉnh đảm nhiệm để dồn toàn lực lên sát biên giới Campuchia - Thái Lan thuộc các tỉnh Kô Kông, Bát Tam Băng, Puốc Sát.

        Chúng tôi xác định nhiệm vụ cụ thể của ba sư đoàn lúc này là:

        - Tiến công phá các căn cứ, cửa khẩu của địch, tiêu diệt sinh lực địch, không cho chúng có điều kiện tập trung xây dựng ở tuyến biên giới và tung lực lượng vào nội địa.

        - Liên tục ngăn chặn, đánh phá các tuyến hành lang, không cho địch tổ chức các đoàn vận tải chuyển vũ khí trang bị vào chi viện cho lực lượng nội địa.

        - Hỗ trợ để các đơn vị chủ lực của bạn từng bước tự lực chiến đấu bảo vệ tuyến biên giới.

        Như trên đã nói, theo phân công của Bộ Tư lệnh Mặt trận, tôi trực tiếp lên phụ trách các sư đoàn hoạt động ở tuyến biên giới.

        Bước vào mùa khô 1982-1983, Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 chủ trương đánh vào căn cứ của Xon Xan ở Tà Xanh, Săm Lốp. Khi giải quyết xong căn cứ này, sẽ đưa bộ đội ra chốt ở biên giới.

        Căn cứ thực lực của các đơn vị, chúng tôi quyết định sử dụng Sư đoàn 330 đánh vào căn cứ của Pôn Pốt và Xon Xan. Cùng tham gia với Sư đoàn 330 có Binh đoàn 2 của bạn. Tôi trực tiếp đi cùng Sư đoàn 330 thực hành trận đánh này. Kết quả, Sư đoàn 330 và Binh đoàn 2 của bạn giải quyết mục tiêu tương đối nhanh, gọn, phá hoàn toàn căn cứ của Xon Xan ở Tà Xanh, đẩy địch sang đất Thái Lan. Tiếp đó, Sư đoàn 330 phát triển tiến công, đánh chiếm luôn căn cứ Săm Lốp. Ở đây có mỏ đá quý U Đa rất nổi tiếng.

        Thời gian này Sư đoàn 339 đã chiếm giữ được căn cứ Năm Nhà của quân Pôn Pốt. Căn cứ Năm Nhà nằm sâu trong nội địa của bạn, cách đường biên trên 30 cây số. Sư đoàn 339 có tổ chức đánh chiếm căn cứ Bảy Nhà, nhưng không thành. Chiến sự diễn ra khá ác liệt. Sư đoàn 339 quay về chốt giữ Năm Nhà.

        Ở hướng Kô Kông do Sư đoàn 4 đảm nhiệm, tình hình cũng hết sức căng thẳng. Sư đoàn 3 và các lực lượng tăng cường của địch đã chiếm giữ cụm điểm cao 366 chạy dọc biên giới Campuchia - Thái Lan, khống chế toàn khu vực, phản kích đẩy lùi các đợt tiến công của Sư đoàn 4. Cho đến hết mùa khô 1982-1983, Sư đoàn 4 chỉ chiếm giữ Kô Kông, không đưa được lực lượng ra biên giới.

        Mùa mưa năm 1983, tôi trực tiếp lên chỉ đạo Sư đoàn 4 ở Kô Kông. Hơn ba tháng trời nằm ở Kô Kông cùng Sư đoàn 4, tôi đã nếm đủ những gì khó khăn, gian khổ, ác liệt của chiến tranh. Đã trải qua kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, có thể mức độ ác liệt của chiến sự thì nơi đây chưa thể so sánh, nhưng sự gian khổ, khó khăn thì chưa khi nào bằng. Suốt mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) hầu như tuyến trước bị cắt đứt hoàn toàn liên lạc với tuyến sau; đặc biệt là việc tiếp tế vận chuyển tê liệt hoàn toàn. Trong khi đó, địch sử dụng pháo từ đất Thái bắn dai dẳng, ngày này qua ngày khác vào khu vực có bộ đội ta; các trận địa  bãi mìn của địch bủa giăng khắp nơi; anh em mình cứ đi ra khỏi địa bàn quen thuộc là vướng mìn, thương vong rất nhiều. Xuống các bệnh xá, trạm phẫu của sư đoàn bắt gặp nhiều chiến sĩ trẻ trung, khôi ngô bị mìn nổ tiện mất chân, có đồng chí cụt cả hai chân, tôi không cầm được nước mắt; thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm với anh em. Và cũng thật đớn đau, sau một mùa khô, một mùa mưa, giật mình thấy hàng ngũ của anh em mình thưa thớt, trống vắng mất một phần.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 08:28:49 AM

        Do sáu tháng trời không thể vận chuyển tiếp tế được cho tuyến trước, nên sinh hoạt vật chất, ăn uống của bộ đội hết sức khó khăn, thiếu thốn; ngày này qua ngày khác, khẩu phần chỉ có gạo mục, cá khô mục, thịt ôi thối. Động viên anh em cũng chỉ tăng gia được một ít rau xanh để cải thiện bữa ăn, có thêm tí chất rau.

        Ăn uống kham khổ, chiến sự ác liệt, điều kiện khí hậu khắc nghiệt nơi đây đã gây ốm đau, bệnh tật rất nhiều cho bộ đội; đặc biệt là sốt rét - sốt rét ác tính như thần chết cầm lưỡi hái đứng chờ hằng ngày để rước bất cứ ai. Đồng chí công vụ cùng tôi lên Kô Kông cũng bị sốt rét quật ngã, hy sinh khi tuổi mười tám - đôi mươi. Riêng tôi, mặc dù không bị sốt rét quật ngã, nhưng cũng đã nếm trải những cơn sốt kinh khủng. Sợ nhất là đang xuống đơn vị, cắt rừng kiểm tra trận địa phòng ngự của bộ đội…, bất thần cơn sốt ập đến, người run lên bần bật, mắt hoa lên, bước đi lẩy bẩy, anh em không kịp dìu thì khụy xuống giữa đường, giữa rừng. Bộ đội ốm đau, bị thương do pháo, mìn…, nhiều trường hợp bình thường, nếu cấp cứu kịp, chữa trị chu đáo sẽ qua khỏi, nhưng vì không chuyển được về tuyến sau đành nằm lại chịu chết.

        Mùa khô 1983-1984, chúng tôi tiếp tục cho Sư đoàn 339 và Sư đoàn 330 đánh vào căn cứ đầu não của quân Pôn Pốt ở Tà Sanh, Săm Lốp. Mùa khô này, tôi lên Tà Sanh, trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 330.

        Vào mùa mưa, cái khó của ta là vận chuyển tiếp tế, thì tác chiến trong mùa khô, việc thiếu nước uống rất trầm trọng. Trường hợp bị địch vây hoặc truy kích địch bị mất phương hướng, lạc đường, thì thiếu nước uống là nỗi đe dọa kinh hoàng. Tôi đã nghe cán bộ, chiến sĩ đơn vị kể lại những chuyện rất thương tâm: bộ đội khát nước bò lê trên đất, gặp cây gì xanh, mềm đều dùng răng gặm, may chăng kiếm được giọt nước. Khi đó, mọi phản xạ của con người gần như là bản năng. Cũng có trường hợp bộ đội chết khát, rất đau lòng. Nhớ lại, một lần hành quân chiến đấu cùng chỉ huy Sư đoàn 330, anh em đơn vị chủ động thông báo với chúng tôi trước rằng: gạo, thịt bảo đảm cho thủ trưởng thì bọn em lo được, nhưng nước uống, thì thủ trưởng phải lo. Vì vậy, khi ra trận cùng anh em, tôi mang theo mình một can 5 lít nước; đồng chí công vụ cũng vậy.

        Trong mùa khô này, Sư đoàn 4 tiếp tục đảm nhiệm địa bàn Kô Kông, Sư đoàn 339 chốt giữ ở Puốc Sát, còn Sư đoàn 330, chúng tôi cho đưa lên khu vực biên giới phía tây tỉnh Bát Tam Băng. Tại đây, lực lượng của địch đóng tập trung ở hai cụm. Cụm thứ nhất ở tây nam An Đông, cửa khẩu 301. Cụm thứ hai ở Sóc San.

        Ở cụm thứ nhất, lực lượng của địch có 4 trung đoàn bộ binh, sở chỉ huy Sư đoàn 120 quân Pôn Pốt, bố trí thành tuyến phòng ngự liên hoàn có chính diện hơn 10 cây số, chiều sâu 20 cây số, có hệ thống công sự khá vững chắc, hệ thống vật cản - các bãi mìn dày đặc. Từ đầu mùa khô này, binh lính Sư đoàn 120 quân Pôn Pốt đã bung ra phục kích, gài mìn, bu bám tập kích các chốt của Sư đoàn 196 lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia.

        Ở cụm thứ hai, lực lượng của địch có 6 tiểu đoàn và sở chỉ huy quân khu Nam của Sê Rê Ka. Tuyến phòng ngự của địch có chính diện và chiều sâu chừng 10 cây số, hệ thống công sự, vật cản cũng được xây dựng khá kiên cố.

        Sau khi trinh sát nắm chắc lực lượng, hệ thống bố phòng của địch và nghe chỉ huy Sư đoàn 330 báo cáo quyết tâm chiến đấu, tôi đồng ý cho Sư đoàn 330 nổ súng ngày 25 tháng 3 năm 1984, mở màn đợt tiến công địch trong mùa khô này. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 đánh vào cụm thứ nhất và cụm thứ hai của địch. Trung đoàn 3 có Sư đoàn 196 của bạn hỗ trợ đánh vào Ô Đa. Trong đợt này, Sư đoàn 330 đã chiếm được 4 căn cứ cấp trung đoàn của Pôn Pốt, 1 căn cứ của quân Sê Rê Ka, loại khỏi vòng chiến đấu trên 700 tên địch, thu gần 300 khẩu súng; ta làm chủ được một vùng biên giới rộng lớn. Để có được thắng lợi đó, 103 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330 đã hy sinh, 485 đồng chí bị thương. Tổn thất quá lớn!

        Sau đợt hoạt động này, chúng tôi chỉ thị cho Sư đoàn 330 ra đứng chân ở Pai Lin, chuẩn bị mọi mặt cho kế hoạch tác chiến mùa mưa, phối hợp với Lữ đoàn 92 của bạn chốt giữ một dải biên giới dài 60 cây số từ Săm Lốp đến cửa khẩu 301, Pen Ta; hợp điểm với Sư đoàn 339 ở Puốc Sát, khép kín một dải biên giới.

        Vào mùa mưa năm 1984, cũng như những mùa mưa trước, lợi dụng thời tiết bất lợi cho ta, địch huy động lực lượng, có xe tăng, pháo binh yểm trợ, từ bên kia biên giới tiến công chiếm lại các căn cứ Sóc San, cửa khẩu 301, một số điểm ở Puốc Sát; đồng thời bu bám tiến công các chốt của ta ở biên giới.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 08:30:10 AM

        Mùa mưa năm đó, anh Ba Tấn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 339 ốm nặng, phải về tuyến sau điều trị. Anh Ba Trung cử tôi ra Puốc Sát, trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 339. Trên tuyến phòng ngự của Sư đoàn 339, lúc này quân Pôn Pốt được quân Thái hỗ trợ, phản kích quyết liệt, hòng chiếm lại những chốt dọc biên giới của ta.

        Ở gần căn cứ Môn Ba Đa - phía bên kia biên giới chừng một cây số, có hai quả núi nhỏ. Trước đây khi chỉ đạo Sư đoàn 339 giải phóng khu vực này, tôi có bàn với anh Ba Tấn cho hai đại đội chốt lại ở hai quả núi này, như là hai chốt cảnh giới tiền tiêu. Mùa mưa đến, có lúc địch huy động một trung đoàn biệt động, có pháo binh chi viện tiến công hai chốt tiền tiêu của Sư đoàn 339. Pháo và rốc két của địch bắn rất dữ, rất nhiều đạn pháo rơi trúng khu vực sở chỉ huy của chúng tôi. Lúc này, phía sau hai chốt tiền tiêu, tuyến biên giới do Sư đoàn 339 chốt giữ có 4 trung đoàn, gồm 3 trung đoàn của Sư đoàn 339 và Trung đoàn 14 bộ đội biên phòng phối thuộc cho Sư đoàn 339. Được lực lượng phía sau hậu thuẫn vững vàng, nên hai đại đội phía trước đã trụ bám kiên cường.

        Một trung đoàn biệt động của Thái Lan, sau đó có thêm thủy quân lục chiến tăng cường, rồi pháo chi viện, đánh liên tục 7 ngày vẫn không chiếm lại được hai quả núi. Tuy nhiên, do chiến sự quá ác liệt, dai dẳng, tôi quyết định bỏ hai ngọn núi đó, đưa toàn bộ lực lượng về phía sau củng cố thế trận phòng ngự theo đường biên.

        Thêm một mùa mưa ở miền Tây Bắc Campuchia lại càng thấy sự nguy hại, sức “hủy diệt” của bệnh sốt rét. Mùa mưa trước ở Kô Kông với Sư đoàn 4 thấy sốt rét đã kinh khủng, nay sang Bát Tam Băng, Puốc Sát càng kinh hoàng hơn. Sau này, qua nghiên cứu tài liệu và thông tin từ đội ngũ y - bác sĩ của ta sang nghiên cứu cách chừa trị sốt rét cho bộ đội, tôi mới hay rằng: địa bàn tỉnh Bát Tam Băng giáp giới Thái Lan đã được tổ chức Y tế thế giới xếp vào loại có độ sốt rét cao nhất Đông Dương - là “rốn” sốt rét của Đông Dương. Nhân dân địa phương bạn cho hay: vào mùa mưa, voi rừng ở đây cũng rụng hết lông vì sốt rét. Cũng chính vì vậy, trước đây, dưới chế độ cũ, chính quyền Campuchia thường đưa những phạm nhân chịu án tù chung thân đến đây để lao động, giam giữ mượn sất rét thực thi án tử hình và chẳng mấy chốc mà những người này chết vì sốt rét.

        Để giúp bộ đội hạn chế sốt rét, Cục Quân y và Bệnh viện 175, Bệnh viện 103… đã cử nhiều y - bác sĩ sang trực tiếp nghiên cứu, tìm phác đồ điều trị, mua thuốc tẩm màn diệt muỗi…, nhưng hiệu quả chưa được là bao. Giáo sư bác sĩ Trịnh Kim Ảnh - Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy - thành phố Hồ Chí Minh, bác sĩ Đoàn Thúy Ba là những người có bề dày kinh nghiệm chữa trị sốt rét đã cùng hàng chục bác sĩ giỏi sang Bát Tam Băng, lên tận Tà Sanh, Tức Sóc để nghiên cứu hơn một tháng, nhưng cũng chưa có giải pháp gì hữu hiệu. Bệnh sốt rét đái huyết cầu tố vẫn là mối đe dọa rình rập thường nhật cán bộ, chiến sĩ ta. Những anh em không may bị nhiễm sốt rét đái huyết cầu tố, tỷ lệ tử vong rất cao; nếu may mắn được cứu sống cũng để lại những di chứng rất nặng nề. Sau đoàn của Giáo sư bác sĩ Trịnh Kim Ảnh, đoàn của một giáo sư chuyên gia đầu ngành về sốt rét đã trực tiếp sang vùng Bát Tam Băng nghiên cứu cách phòng, chống sốt rét. Vị giáo sư này đã cùng ăn, cùng ở với bộ đội Đêm đêm, ông ngủ không nằm màn, cho muỗi đốt, để nghiên cứu. Cũng vì vậy mà vị giáo sư, người thầy thuốc đáng kính của chúng ta đã tử vong vì sốt rét. Tấm gương quên mình vì nghề nghiệp, mong muốn bộ đội giảm tử vong vì sốt rét của vị giáo sư để lại niềm tiếc thương, lòng kính trọng của những người lính tình nguyên chúng tôi nơi “rừng thiêng nước độc” ngày ấy.

        Vào mùa khô 1984-1985, anh Ba Trung xuống trực tiếp giao nhiệm vụ và chỉ đạo Sư đoàn 4 ở hướng Kô Kông. Tôi tiếp tục bám đốc chiến Sư đoàn 330 ở Bát Tam Băng và Sư đoàn 339 ở Puốc Sát. Nhiệm vụ của Sư đoàn 330 trong mùa khô này được chúng tôi xác định là: tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân chủ lực của Pôn bốt và quân khu nam Sê Rê Ka; đánh chiếm các căn cứ địch, làm chủ hoàn toàn tuyến biên giới, xây dựng tuyến phòng thủ (K5); giúp các lực lượng của bạn phát triển nhanh chóng và vững chắc, cùng quân tình nguyện bảo vệ biên giới, “khóa” các hành lang vào nội địa.

        Ngay từ đầu mùa khô, Sư đoàn 330 kết hợp với Lữ đoàn 92 của bạn tiến công chiếm lại khu vực cửa khẩu 301. Sư đoàn 86 quân Pôn Pốt được các trận địa pháo ở đất Thái Lan chi viện mạnh, liên tục phản kích. Để củng cố khu vực đã chiếm giữ, đánh bại các cuộc phản kích của địch, tôi chỉ thị cho Sư đoàn 330 đưa tiểu đoàn trinh sát và một tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 3 luồn sâu vào đất Thái, vu hồi từ phía sau, tiêu diệt lực lượng địch bu bám ở các chốt 391, 412, phá hủy các trận địa pháo của địch; giữ vững được khu vực cửa khẩu 301.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:12:43 AM

        Đầu tháng 1 năm 1985, Sư đoàn 330 đánh chiếm căn cứ Trung đoàn 11 của địch ở Cham Ca Râu, loại khỏi vòng chiến đấu trên 350 tên địch, thu trên mười tấn đạn. Trên đà thắng lợi, khí thế đang lên, tôi trao đổi với anh Ba Chơi và anh Ba Tố tổ chức cho sư đoàn tiến công ngay căn cứ Sóc San của quân khu nam Sê Rê Ka. Cũng như đánh ở khu vực cửa khẩu 301, ta vừa tiến công chính diện, vừa luồn sâu vu hồi vào sườn đội hình địch; đồng thời bố trí Trung đoàn 2 và Sư đoàn 196 của bạn chốt chặn đường rút của chúng. Sau hai ngày 11 và 12 tháng là ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Sóc San, loại khỏi vòng chiến đấu trên sáu trăm tên địch, thu trên 150 khẩu súng và hơn mười tấn đạn. Trong trận này, điều chúng tôi mừng nhất là Sư đoàn 196 của bạn đã thực hiện tốt nhiệm vụ chốt chặn đường rút của địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên hai trăm tên; khẳng định bước trưởng thành trong thực hành tác chiến của bạn. Đây là mục đích chúng tôi xác định phải đạt tới trong quá trình giúp bạn.

        Nhiệm vụ chủ yếu của Sư đoàn 330 trong mùa khô này là phối hợp cùng bạn đánh chiếm khu vực Các Đa Môn. Đây là trung tâm chỉ đạo, chỉ huy của đầu não - trung ương Pôn Pốt và là khu hậu cần - kỹ thuật của chúng.

        Các Đa Môn nằm ở cuối đường 56, là khu vực địa hình rất hiểm trở; được địch bảo vệ từ xa bởi các tuyến phòng thủ gồm lực lượng cơ động, bãi mìn dày đặc; có sông Mê Tức như chiến hào thiên tạo để chặn ta tiến công. Sư đoàn 111 là lực lượng chủ yếu của Pôn Pốt chốt giữ ở đây. Xung quanh Các Đa Môn còn có một số căn cứ của các sư đoàn địch, hình thành thế phòng thủ liên hoàn. Pôn Pốt và đám tướng lĩnh của y vừa cho Các Đa Môn là căn cứ “bất khả xâm phạm”, nhưng vẫn mở nhiều đường từ căn cứ này thông sang đất Thái Lan, đề phòng thất thủ.

        Bộ Tư lệnh 979 quyết định sử dụng Sư đoàn 330, Sư đoàn 339 và Sư đoàn 4 của bạn cùng một số đơn vị binh chủng tham gia chiến dịch Các Đa Môn. Anh Ba Trung phân công tôi đi cùng Sư đoàn 330.

        Sau khi làm chủ căn cứ Sóc San, Sư đoàn 330 bố trí Trung đoàn 2 cùng Sư đoàn 196 của bạn ở lại chốt giữ căn cứ này, còn Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 khẩn trương cơ động từ Bát Tam Băng về đường 56. Tuyến đường này từ thị xã Puốc Sát vào khu vực Bảy Nhà, Năm Nhà hết sức hiểm trở - nhất là quãng qua đèo Khỉ, đèo Gà. Đề phòng ta chuyển quân theo hướng này, địch đã cho phục binh và gài rất nhiều mìn, gây cho ta nhiều khó khăn. Đến đầu tháng 2, toàn bộ đội hình của Sư đoàn 330 tham gia chiến dịch mới tập kết đủ ở khu vực Năm Nhà.

        Ngày 8 tháng 2 năm 1985, chiến dịch Các Đa Môn mở màn. Cũng như những trận vừa qua ở khu vực cửa khẩu 301, Sóc San, ở đây Sư đoàn 330 vẫn áp dụng chiến thuật vừa tiến công chính diện, vừa vu hồi tạt sườn. Trung đoàn 1 tiến công chính diện, đánh thẳng vào khu vực cầu Vạn Thắng. Trung đoàn 3 vu hồi tạt sườn. Chiến sự xảy ra nơi sào huyệt của địch vô cùng ác liệt. Địch tập trung toàn lực hòng đẩy lùi các đợt tiến công của ta. Chúng còn phá sập cầu Vạn Thắng để cản bước tiến của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330. Nhưng do chuẩn bị tốt, công binh nhanh chóng bắc cầu để bộ bình phát triển tiến công, tiếp cận mục tiêu. Mặc dù vậy, cũng phải gần hai ngày, Sư đoàn 330 và Sư đoàn 4 của bạn mới làm chủ được hoàn toàn Các Đa Môn. Tàn binh dịch tháo chạy sang Thái Lan. Rất tiếc là trong trận này ta đã để sổng thoát Pôn Pốt và Tà Mốc - Tham mưu trưởng.

        Tiếp đó, chúng tôi chỉ thị cho Sư đoàn 330, Sư đoàn 339 cùng đơn vị bạn lùng sục, truy quét tàn quân địch; nhanh chóng chốt giữ các điểm cao, đường 56, khu vực đèo Gà, đèo Khỉ, Năm Nhà, Hai Mươi Nhà…; tạo điều kiện cho Sư đoàn 4 của bạn ra củng cố xây dựng vị trí đứng chân chốt giữ trên tuyến biên giới.

        Chiến dịch Các Đa Môn diễn ra trong thời gian ngắn. Lực lượng Mặt trận 979 tham gia đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 550 tên địch; thu trên 2.300 súng các loại trên 470 tấn đạn, mìn, trên sáu chục tấn lương thực, nhiều kho tàng quân trang, quân dụng. Khi rút chạy, địch cũng đã kịp đốt một kho trên 500 tấn vũ khí.

        Sau chiến dịch Các Đa Môn, các đơn vị của Mặt trận 979 đã làm chủ hoàn toàn tuyến biên giới từ Kô Kông qua Bát Tam Băng, Puốc Sát; tạo thế vững chắc cho ta và bạn, chuẩn bị làm nhiệm vụ xây dựng tuyến phòng thủ biên giới K5.

        Kết thúc thắng lợi mùa khô 1984-1985 - một mùa khô gay cấn, ác liệt trên tuyến biên giới do Mặt trận 979 đảm trách, tôi được lệnh về quân khu nhận nhiệm vụ mới, còn quân tình nguyện Việt Nam nói chung và Mặt trận 979 vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ giúp bạn đến năm 1989 mới rút hoàn toàn về nước.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:14:05 AM

        Việc Đảng, Nhà nước, quân đội, nhân dân Việt Nam cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, xây dựng chế độ mới, đời sống mới đã được nhân loại yêu chuộng hòa bình đánh giá cao. Điều đó, theo tôi là lẽ tất nhiên. Nhưng vấn đề mà tôi có ấn tượng nhất là chính kiến đó lại được một chính khách của Hoa Kỳ khẳng định. Nhớ lại ngày ta đưa quân tình nguyện sang làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn, những người cầm đầu Nhà Trắng đã lớn tiếng la lối Việt Nam xâm lược Campuchia; xuyên tạc mục đích cao cả, tinh thần quốc tế trong sáng, sự hy sinh lớn lao của quân và dân ta trong suốt 10 năm giúp bạn.

        Sau này, khi là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trong một lần tiếp chuyện (không phải hội đàm chính thức) Uyliam Côhen - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, trong chuyến sang thăm Việt Nam năm 2000; ông ta có nói với tôi rằng: Trên thế giới, trong thế kỷ XX có nhiều quốc gia đem quân ra nước ngoài dẹp bạo loạn, lật đổ, chống khủng bố…, duy nhất có Việt Nam thành công. Bởi vì, khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, thì Campuchia vẫn đứng vững và ngày càng ổn định.

        Theo tôi, đây là một chính kiến khả dĩ đáng ghi nhận để tham khảo. Trở lại vấn đề Campuchia, trong khoảng thời gian trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 330 rồi Mặt trận 979 làm nhiệm vụ giúp bạn, cho đến ngày về nước, tôi nhận thấy: thắng lợi lớn của ta là không chỉ giúp bạn loại trừ được chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa Ri, cứu đất nước “Chùa Tháp” khỏi họa diệt vong; mà ta đã dành thời gian, lực lượng giúp bạn xây dựng được cơ sở xã hội, chính quyền, các tổ chức quần chúng. Đến khi ta tập trung cho nhiệm vụ quân sự thì cơ bản bạn đã đứng vững. Ta không chỉ chủ trương giúp bạn về quân sự, và nếu chỉ giúp bạn về quân sự đơn thuần, tôi tin chắc sẽ không thành công. Ngoài giúp bạn về quân sự, cái đúng đắn, sáng tạo của ta là chủ trương “tỉnh giúp tỉnh, huyện giúp huyện…”, huy động sức mạnh toàn dân làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn.

        Về phần mình, từ năm 1980, cùng với truy quét tàn quân Pôn Pốt; chúng tôi tích cực giúp bạn xây dựng cơ sở; tổ chức nhiều đoàn công tác, đội công tác chuyên trách vận động, thuyết phục… giúp bạn xây dựng cơ sở xây dựng đời sống mới. Khi cần tập trung lực lượng để giải quyết hệ thống căn cứ của địch ở khu vực biên giới Campuchia - Thái Lan; ở nội địa các đội công tác của các sư đoàn vẫn hoạt động có hiệu quả.

        Hành động chiến đấu, hy sinh, đồng cam cộng khổ của quân tình nguyện, của chuyên gia tình nguyện Việt Nam vì sự hồi sinh của đất nước Campuchia… là chất liệu để làm nên tượng đài của quân tình nguyện Việt Nam - là biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu vì độc lập tự do của hai dân tộc, vì một Đông Dương, Đông Nam Á hòa bình, ổn định và phát triển.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:16:59 AM

*

*       *

        Từ Mặt trận 979 trở về, tôi được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 9 và được phong quân hàm thiếu tướng.

        Nhận nhiệm vụ mới một thời gian, cuối năm 1985, tôi được trên cử sang Liên Xô, học tại Học viện Vôrôsilốp - đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu chiến dịch - chiến lược. Cùng dự khóa với tôi có anh Sơn - Tư lệnh Binh đoàn 14, anh Nguyễn Trọng Dần - Tư lệnh Quân đoàn 4 và anh Nguyễn Thế Bôn - Phó tổng tham mưu trưởng. Thời gian chúng tôi học ở Học viện Vôrôsilốp tám tháng.

        Trước đây, tôi đã nghiên cứu, tham khảo nhiều tài liệu của bạn - tập trung nhiều vào thời gian đào tạo tại học viện Quân sự cấp cao, nay được học ở một trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu chiến dịch - chiến lược nổi tiếng, mới thấy công tác tham mưu của bạn rất bài bản, lớp lang; đặc biệt là lý luận về công tác tham mưu. Tuy nhiên, nếu vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam, vào chiến tranh nhân dân Việt Nam, có nhiều nội dung không phù hợp; đặc biệt là tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn.

        Một vấn đề có sự khác biệt lớn, nếu không nói là khác hoàn toàn giữa anh em chúng tôi với bạn lúc đó là xác định đối tượng tác chiến chủ yếu lâu dài của quân đội Xô viết. Bạn cho là khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO); còn chúng tôi lại xác định đối tượng khác. Mọi vấn đề khác biệt trong nội dung đào tạo, trong thực tế chiến tranh…, được bàn thảo, trao đổi, thậm chí tranh luận cởi mở giữa học viên ta và bạn; giữa học viên với giáo viên. Mọi ý kiến của anh em chúng tôi, có thể có những điều bạn không đồng ý, giáo viên không đồng ý nhưng bạn đều trân trọng ghi nhận.

        Vào thời điểm này, Liên Xô đang đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội…; nhưng bạn vẫn dành cho học viên Việt Nam và học viên các nước khác thiện cảm và chế độ bảo đảm tốt về vật chất, tinh thần. Xen kẽ chương trình chính khóa bài bản, chặt chẽ, là những buổi dã ngoại thăm các đơn vị quân đội; tham quan những danh thắng, đền đài, cung điện, chiến hạm Rạng Đông… Tôi đặc biệt thích thú hệ thống bảo tàng vĩ đại của Liên Xô, tiêu biểu là khoảng 150 bảo tàng ở cố đô Sanh Pêtécbua (lúc đó gọi là thành phố Lêningrát), với bảo tàng nghệ thuật Êmitát - nổi tiếng trên thế giới, bảo tàng nghệ thuật Trêchiacốp ở Mátxcơva; bảo tàng Cutudốp với bức tranh tròn có một không hai về trận đại chiến Oatéclô - nơi Cutudốp đánh bại quân của Hoàng đế Pháp Napôiêông…

        Một phần tư thế kỷ đã qua kể từ ngày chúng tôi học tập ở xứ sở Bạch dương, thế giới đã trải qua biết bao biến động “vật đổi sao dời”. Liên Xô - thành trì của cách mạng xã hội chủ nghĩa một thời không còn trên bản đồ thế giới. Tuy nhiên, Liên Xô với những tầng nấc kỳ vĩ về văn hóa, chiều dày lịch sử, với những người dân hồn hậu, bao dung, rộng lòng vì bè bạn, vì cách mạng Việt Nam, vẫn còn lưu đậm trong tình cảm, ý thức của mỗi một người Việt Nam - với chúng tôi - những sĩ quan được đào tạo ở xứ sở Bạch dương, ở Tổ quốc của Lênin vĩ đại

        Kết thúc tám tháng học ở Liên Xô, trở về nước tôi tiếp tục đảm nhiệm chức Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 9. Tư lệnh quân khu lúc này là anh Nguyễn Thới Bưng (Út Thới). Anh Mười Thi - Phó tư lệnh về chính trị. Anh Ba Trung - Phó tư lệnh kiêm Tư lệnh Mặt trận 979; Phó tư lệnh có các anh Tư Chức, Hai Nhường. Mấy anh em cùng trưởng thành trong chiến đấu, từng “vào sống ra chết” ở chiến trường miền Tây và chiến trường nước bạn, tuy mỗi người mỗi quê, mỗi cá tính, nhưng cùng chung mục đích, lý tưởng, cùng chung trách nhiệm nên quan hệ công tác rất thuận lợi, hiệu quả.

        Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang quân khu lúc này là tập trung xây dựng lực lượng, làm nòng cốt xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Tuy nhiên trong giúp bạn phải tính lộ trình điều chỉnh lực lượng, để trong một vài năm tới rút toàn bộ quân tình nguyện về nước. Đồng thời với điều chỉnh, tổ chức lại lực lượng, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu cùng với Nhà nước, Bộ Quốc phòng tìm cách tháo gỡ những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội đã đến hồi căng như dây đàn… Biết bao công việc cần tập trung nghiên cứu giải quyết đối với lực lượng vũ trang của một quân khu có địa bàn rộng và khá phức tạp vào loại bậc nhất trong cả nước.

        Mọi công việc đang diễn biến bình thường thì đầu năm 1988, tôi được cử đi bổ túc một khóa ngắn hạn tại Học viện Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Sau khi kết thúc khóa học, tháng 8 năm 1988, tôi được điều về giữ chức quyền Tư lệnh Quân khu 3.

        Cuộc đời người chiến sĩ là những cuộc hành quân. Nhiệm vụ mới cho phép tôi làm một cuộc hành quân về nguồn - cuộc hành quân từ đồng bằng sông Cửu Long về đồng bằng sông Hồng. Nhiệm vụ mới với bao hứa hẹn và thách thức đang vẫy gọi.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:23:21 AM

Chương sáu

TƯ LỆNH QUÂN KHU 3

        Trước khi xuống Quân khu 3 nhận nhiệm vụ tôi khẩn trương trở về Quân khu 9 giải quyết một số công việc chia tay các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu; chia tay bạn bè, đồng chí, bà con cô bác đã từng chia ngọt, sẻ bùi, chia nhau thử thách cam go, chia nhau niềm vui, chia nhau cái chết trong chiến tranh. Như vậy, điều mà anh em, đồng chí hy vọng sau mấy tháng học tôi sẽ trở về với địa bàn quen thuộc, với Quân khu 9, với những con người thân thuộc, đã không như ý muốn.

        Vậy là, kể từ ngày hơn trăm rưỡi anh em chúng tôi từ miền Bắc hành quân xuyên dãy Trường Sơn vào Nam Bộ, xuống đến Cà Mau - Đất Mũi, tôi đã có tới 25 năm công tác, chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ. 25 năm, dưới góc độ nhân học là thời gian của đúng một thế hệ; chẳng ngắn ngủi chút nào! Thật tự hào, hạnh phúc biết bao được làm người con của U Minh, Vĩnh - Trà, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ… bất khuất kiên cường trong những tháng ngày thắng Mỹ.

        Đất nước mình nhỏ hẹp, Nam - Bắc tuy xa nhưng cũng rất gần. Sau này, ở cương vị công tác mới, đất miền Tây luôn là lực hút cực mạnh, luôn níu kéo tôi về. Tuy nhiên, phút chia tay ngày đó vẫn là khúc ngoặt; lắng lại trong tôi biết bao cảm xúc vui - buồn khó tả. Phút chia xa, quá khứ một thời đánh Mỹ quyết liệt, cam go, hào hùng và thấm đẫm nghĩa tình quân dân, tình đồng chí, đồng đội… ùa về như níu giữ, tôi không dễ gì thanh thản ra đi.

        Trở lại với đồng bằng sông Hồng, nơi tôi đã có những trận chiến đấu “vỡ lòng” trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, giờ đây đã biết mấy đổi thay. Đặc biệt, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chiến lược quốc phòng - an ninh của Đảng có sự chuyển hưởng quan trọng, với quan điểm: toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân sẵn sàng chiến đấu bảo vệ và tham gia xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo đó, quân đội có bước điều chỉnh quy mô lớn về tổ chức biên chế.

        Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, ngày 24 tháng 8 năm 1987, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 154/NQ-ĐUQSTW, quyết định sáp nhập Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3. Lúc này, Quân khu 3 gồm các tỉnh, thành phố là Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Hưng, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình; dân số trên mười triệu người.

        Quân khu 3 là địa bàn có nền sản xuất công - nông nghiệp phát triển; là một trong hai vùng sản xuất lương thực, thực phẩm chủ yếu của cả nước; có nhiều trọng điểm kỹ thuật và quốc phòng; tập trung nhiều tuyến đường giao thông quan trọng. Với địa thế mới, Quân khu 3 có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 136 cây số, có bờ biển dài 460 cây số và hàng nghìn đảo lớn nhỏ tập trung ở tuyến đảo Đông Bắc của Tổ quốc. Tất cả những yếu tố đó đã tạo cho Quân khu 3 trở thành một trong những vùng đất căn bản và là cửa ngõ giao lưu quốc tế của cả nước.

        Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trước đây địa bàn Quân khu 3 thường xuyên phải đối phó trực tiếp với mọi hoạt động của địch trên đất liền, trên biển, trên không. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Quân khu 3 là một hướng phòng thủ chiến lược trọng yếu đồng thời cũng là địa bàn có điều kiện tiến hành chiến tranh nhân dân ở đỉnh cao, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Do điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội, nên địa bàn Quân khu 3 sau điều chỉnh lần này mang đầy đủ hai tính chất: vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương.

        Bộ Tư lệnh Quân khu khi mới sáp nhập vào Đặc khu Quảng Ninh, có anh Nguyễn Trọng Xuyên - Thiếu tướng - Tư lệnh; anh Đỗ Quốc Tuấn - Trung tướng, Phó tư lệnh về chính trị; anh Nguyễn Thành Lai - Thiếu tướng, phó tư lệnh Tham mưu trưởng; anh Ngô Văn Tại - phó tư lệnh phụ trách hậu cần. Anh Xuyên và các anh trong Bộ Tư lệnh đều trưởng thành qua thực tế chiến đấu. Riêng anh Nguyễn Trọng Xuyên, trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều năm là Tư lệnh Khu 6. Kết thúc kháng chiến chống Mỹ, anh Xuyên đã sớm làm một cuộc hành quân từ cực Nam Trung Bộ ra đồng bằng Bắc Bộ. Làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng quân khu một thời gian, anh Xuyên được bổ nhiệm Tư lệnh quân khu thay anh Nguyễn Quyết chuyển lên làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Trong thập niên tám mươi, dưới thời bộ ba lãnh đạo: anh Quyết, anh Xuyên và anh Lương Tuấn Khang, Quân khu 3 nổi tiếng với phong trào “Làm giàu đánh thắng”, được toàn quân học tập. Chủ trương “Làm giàu đánh thắng” của các anh ở Quân khu 3 là bước phát triển quan điểm “thực túc - binh cường” một trong những nét đẹp truyền thống, một kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang, về kế sách giữ nước của tổ tiên, cha ông ta.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:26:25 AM

        Thời gian đầu về nhận công tác ở Quân khu 3, tôi được bổ nhiệm Phó tư lệnh thứ nhất. Khi anh Nguyễn Trọng Xuyên được trên điều lên làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, tháng 12 năm 1988, tôi được bổ nhiệm Tư lệnh quân khu. Đồng thời, anh Đỗ Mạnh Đạo - Chủ nhiệm chính trị quân khu được bổ nhiệm Phó tư lệnh về chính trị thay anh Đỗ Quốc Tuấn nghỉ hưu; anh Trần sdCông Thìn được bổ nhiệm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng thay anh Nguyễn Thành Lai.

        Sau một phần tư thế kỷ là lính của các đơn vị chiến đấu khi ở chiến trường trong nước, khi làm nhiệm vụ quốc tế, nay về công tác ở một quân khu đất rộng, người đông “kho người, kho của”, bước vào thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đòi hỏi bản thân tôi cũng phải nhanh chóng nhập cuộc, nắm chắc tình hình, phát hiện vấn đề, từ đó cùng tập thể Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo, tổ chức lực lượng vũ trang quân khu thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới.

        Theo thường lệ, khi về nhận công tác ở đơn vị mới, việc đầu tiên sau khi nắm tình hình tổng thể, tôi tranh thủ xuống một lượt các đơn vị, từ Sư đoàn 395 ở tuyến biên giới Đông Bắc, Sư đoàn 242 (sau này là Trung đoàn 42) ở tuyến đảo, Sư đoàn 350 - đơn vị có bề dày truyền thống của quân khu; Sư đoàn 433 chuyên huấn luyện chiến sĩ mới; rồi các trường, kho, xưởng, xí nghiệp quốc phòng…

        Cùng với nắm tình hình, thực lực các đơn vị, tôi mày mò nghiên cứu tìm hiểu; rồi qua trao đổi, bàn thảo với các anh trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh để có cái nhìn bao quát về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang quân khu. Qua trao đổi, tôi thật sự tâm đắc về sáu nhiệm vụ cơ bản của lực lượng vũ trang quân khu trong tình hình mới, được Thường vụ Đảng ủy quân khu xác định trong phiên họp ngày 4 tháng 1 năm 1988 sau khi sáp nhập Đặc khu Quảng Ninh, đó là:

        1. Quán triệt và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong thời kỳ mới một cách chủ động sáng tạo theo quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; toàn quân bảo vệ Tổ quốc và tham gia xây dựng đất nước”.

        2. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh; xây dựng Quân khu 3 vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, có văn hóa, khoa học kỹ thuật phát triển.

        3. Thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với các lực lượng, kiên quyết đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch.

        4. Ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, tăng cường khả năng phòng thủ, từng bước chuẩn bị sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược của địch trên hướng quân khu, chi viện cho các hướng khác.

        5. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang có cơ cấu hợp lý, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, thường trực và dự bị mạnh.

        6. Tích cực lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế.

        Trên thực tế, những nội dung được Thường vụ Đảng ủy quân khu đề ra trong hội nghị đầu năm 1988 có vai trò định hướng, chỉ đạo các mặt hoạt động của quân khu trong một thời gian dài.

        Thực hiện chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về điều chỉnh, bố trí lại lực lượng vũ trang quân khu theo phương án tác chiến phòng thủ của Bộ, thời gian này, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 tiếp tục kiện toàn biên chế tổ chức Bộ chỉ huy quân sự Quảng Ninh, Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng; tổ chức lại Sư đoàn 395. Sau khi bàn giao một bộ phận cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh, đưa Sư đoàn 395 về đứng chân ở Tiên Yên. Rút gọn Sư đoàn 328, kiện toàn Sư đoàn 329; hợp nhất Sư đoàn 432 và Sư đoàn 350 thành Sư đoàn 350; hợp nhất Sư đoàn 323 và Sư đoàn 360 thành Sư đoàn 323; giải thể Sư đoàn 433 làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới - thực chất là sáp nhập Sư đoàn 433 vào Trường Quân chính quân khu… Trong bước điều chỉnh tổ chức biên chế lần này, Bộ Tư lệnh Quân khu đặc biệt chú trọng các đơn vị thường trực làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu (Sư đoàn 350, Sư đoàn 395, Sư đoàn 242, Lữ đoàn 454,…) và các đơn vị chuyên làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình và yêu cầu nhiệm vụ mới.

        Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quân khu trong thời gian này là xây dựng phương án tác chiến phòng thủ; chỉ đạo các tỉnh, thành phố xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc theo tinh thần Nghị quyết 02/NQ-BCT của Bộ Chính trị (ngày 30 tháng 7 năm 1987) và Chỉ thị số 56/CT-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (ngày 11 tháng 3 năm 1989). Nghỉ quyết 02/NQ-BCT của Bộ Chính trị (khóa VI) xác định những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc về nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn mới; trong đó nổi lên vấn đề hết sức quan trọng, cấp bách là “xây dựng các tỉnh (thành phố), huyện (quận) thành khu vực phòng thủ vững chắc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa… Đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân và hậu phương đất nước một cách toàn diện trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chuyên chính vô sản, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng. Xây dựng quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao. Phát huy hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng”.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:34:12 PM

        Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đây chính là bước chuyển hướng chỉ đạo chiến lược về nhiệm vụ quốc phòng trong thời kỳ xây dựng hòa bình, từ trực tiếp đối phó với chiến tranh xâm lược sang ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh. Theo quan điểm của Đảng, trong tình hình mới, để bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kế sách giữ nước là phải chăm lo xây dựng đất nước giàu mạnh, giữ vững ổn định chính trị, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế, văn hóa xã hội mạnh mẽ; tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao.

        Thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, nhằm xây dựng, củng cố thế chiến lược mới của quân khu, ngày 8 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy quân khu họp, ra nghi quyết về xây dưng tỉnh, thành phố trong quân khu thành khu vực phòng thủ vững chắc. Đảng ủy tập trung thảo luận, đánh giá đúng vị trí, vai trò của Quân khu 3, dự kiến tình hình và các hành động của địch; dự đoán nhưng tình huống có thể xảy ra. Trên cơ sở đó, đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Đồng thời xác định tư tưởng chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

        Về vị trí của quân khu, Đảng ủy tiếp tục khẳng định Quân khu 3 giữ vị trí trọng yếu, chiếm giữ toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Đây là địa bàn đặc biệt quan trọng, quan hệ đến sự mất còn của Tổ quốc trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược. Về dự kiến tình hình, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu nhận định trước mắt kẻ địch chưa thể gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn đối với nước ta, nhưng chúng vẫn thực hiện mưu đồ làm suy yếu đất nước ta bằng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Đối với Quân khu 3, khi tiến hành chiến tranh, kẻ địch có thể tiến công bằng đường biển để đổ bộ, sau đó tiến công bằng đường bộ, kết hợp đổ bộ đường không xuống các khu vực trọng điểm, trọng yếu; tổ chức gây rối, bạo loạn nội địa ở những địa bàn phức tạp, cơ sở chính trị yếu.

        Trước tình hình đó, việc xây dựng các tỉnh, thành phố thành các khu vực phòng thủ vững chắc để đánh bại các kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, làm chủ vững chắc từng địa phương khi chiến tranh xảy ra là việc làm cần thiết, cấp bách của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân, lực lượng vũ trang từng địa phương trong quân khu.

        Trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng ủy quân khu, từng bước hoàn chỉnh mô hình, phương thức hoạt động của khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, chúng tôi đi tới thống nhất. Nhiệm vụ xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc phải căn cứ vào vị trí, tính chất và điều kiện thực tiễn của từng địa phương, nhưng phải xây dựng toàn diện, gồm xây dựng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:

        - Đánh bại chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch: bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, chủ quyền biển và hải đảo, đánh bại mọi âm mưu và hành động phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch.

        - Chuẩn bị tốt mọi mặt cho thời chiến, sẵn sàng chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến nhanh nhất, tốt nhất.

        - Khi có chiến tranh xảy ra không để bị bất ngờ. Nếu địch đến, phải liên tục chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu hẹp phạm vi đánh phá của chúng, tạo điều kiện để ta phản công, tiến công.

        - Xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, kịp thời phát hiện và triệt phá các mầm mống cơ sở phản động của địch. Khi có chiến tranh xảy ra, phải vừa tác chiến, vừa sản xuất, xây dựng kinh tế và động viên sức người, sức của phục vụ chiến tranh.

        Tư tưởng chỉ đạo của Đang ủy Quân khu về xây dựng khu vực phòng thủ là: Thấu suốt quan điểm quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân, phát động tinh thần tích cực chủ động, tự lực tự cường, toàn dân làm quốc phòng, toàn dân làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp nhuần nhuyễn hai nhiệm vụ chiến lược, giải quyết đúng đắn mối quan hệ kinh tế với quốc phòng - an ninh, làm cho cả kinh tế và quốc phòng - an ninh đều phát triển. Mỗi địa phương đều phải quán triệt sâu sắc nhiệm vụ tự bảo vệ mình theo hướng xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh; đồng thời phải góp phần bảo vệ cả nước và làm nghĩa vụ quốc tế.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:35:43 PM

        Xác định, hoàn thiện mô hình, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo và cơ chế vận hành của khu vực phòng thủ, là thành công lớn, là cơ sở để Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 tổ chức thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 56 của Hôi đồng Bộ trưởng.

        Trên cương vị Tư lệnh quân khu, hằng năm tôi đều chỉ đạo cơ quan tham mưu hướng dẫn cơ quan quân sự các tỉnh, thành phố xây dựng phương án tác chiến phòng thủ; tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn cơ quan quân sự tỉnh, thành phố - chủ yếu là Chủ tịch ủy ban nhân dân, chỉ huy trưởng quân sự các cấp làm văn kiện phòng thủ khu vực và tổ chức diễn tập phòng thủ cấp tỉnh, thành phố…

        Từ ngày 17 đến 20 tháng 11 năm 1988, tôi trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 395 và bốn lữ đoàn binh chủng (454, 214, 405, 539), diễn tập sư đoàn bộ binh tăng cường, tác chiến phòng thủ. Từ ngày 15 đến 17 tháng 8 năm 1989, tôi dự và chỉ đạo tỉnh Thái Bình diễn tập khu vực phòng thủ. Tiếp đó,.trong 2 ngày (7 và 8 tháng 10 năm 1989), tôi dự và chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ của tỉnh Quảng Ninh. Dự tổng kết cuộc diễn tập có anh Nguyên Chơn - khi đó là Thượng tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng. Anh Chơn đánh giá rất cao kết quả diễn tập; biểu dương anh Bình Giang - Bí thư Tỉnh ủy, anh Quang Trung - Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh và anh Nguyễn Thế Trị - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh… đã hoàn thành tốt vai trò của mình trong diễn tập.

        Từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 3 năm 1990, quân khu chỉ đạo tỉnh Hà Nam Ninh diễn tập khu vực phòng thủ (PH-90). Tư tưởng chỉ đạo của Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu là qua diễn tập PH-90, đưa cơ chế mới (cơ chế 02 của Bộ Chính trị) vào tập vận hành trong chiến tranh; nâng cao nhận thức và khả năng hành động của cơ quan, ban ngành; đồng thời nghiên cứu bổ sung kế hoạch A và B.

        Trực tiếp theo dõi diễn tập, tôi thấy các đơn vị thực binh, như: động viên quân dự bị, phương tiện, triển khai thực hành chiến đấu đều hoạt động nhịp nhàng, thực hiện đúng kế hoạch. Dự hội nghị rút kinh nghiệm diễn tập PH-90, Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đánh giá cao kết qua diễn tập, và chỉ thị: “… Quân khu 3 có đội ngũ sĩ quan dự bị hùng hậu, chỉ riêng số sĩ quan dự bị của tỉnh Hà Nam Ninh đã có tới 10.847 người, bằng cả số sĩ quan dự bị của Quân khu 7… Đó là tiềm năng lởn cho quân khu quản lý, có thể huy động đóng góp to lớn sức người, sức của trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc”.

        Trung tuần tháng 4 năm 1990, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo tỉnh Hải Hưng diễn tập khu vực phòng thủ, và trung tuần tháng 5, Hà Sơn Bình tổ chức diễn tập. Đại diện cơ quan Bộ Quốc phòng đánh giá: Các bước diễn tập được tiếp hành đạt kết quả tốt; đặc biệt quân số đông viên đạt tỷ lệ cao. Các cuộc diễn tập đều đạt mọi ý định đề ra.

        Song song với diễn tập cấp tỉnh, thành phố là các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện, thị: Đông Hưng (Thái Bình), Phú Xuyên (Hà Tây), An Lão (Hải Phòng),…

        Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố… theo tinh thần Nghị quyết 02/BCT của Bộ Chính trị và Chỉ thị 56/CT-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng là vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược quốc phòng - an ninh theo đường lối đổi mới của Đảng. Để xây dựng được khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, đòi hỏi sự vận hành đồng bộ của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, từ xây dựng phương án tác chiến phòng thủ; xây dựng lực lượng dự bị động viên, xây dựng hậu cần khu vực phòng thủ; thực hành động viên dự bị, động viên công nghiệp… Tuy nhiên, qua việc xây dựng phương án tác chiến phòng thủ, thực hành diễn tập khu vực phòng thủ của các tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu, đánh giá bước đầu của tôi là:

        - Các địa phương đã quán triệt sâu sắc Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ quốc phòng, thực hiện cơ chế mới (Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu và chỉ huy thống nhất lực lượng vũ trang), vận dụng vào thực tế của các giai đoạn, chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến, chuẩn bị chiến đấu và thực hành chiến đấu.

        - Nâng cao kiến thức quân sự, trình độ công tác tham mưu, phương pháp làm văn kiện của các cơ quan trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến đấu.

        - Qua diễn tập bổ sung để ngày càng hoàn thiện thêm kế hoạch phòng thủ của các tỉnh, thành phố.

        Bước khởi đầu của một nhiệm vụ nặng nề, phức tạp, mới mẻ, đạt được như vậy là đáng khích lệ. Từ những kinh nghiệm bước đầu, cùng với thời gian, công tác xây dựng khu vực phòng thủ, diễn tập tác chiến khu vực phòng thủ được Bộ Tư lệnh Quân khu và các tỉnh, thành triển khai hiệu quả, chất lượng cao hơn; hướng tới xây dựng Quân khu 3 là một khu vực phòng thủ vững chắc - xứng đáng là một quân khu nhiều người, nhiều của, có vị thế quan trọng trong thế trận phòng thủ chung của cả nước.

        Trong vòng 5 năm, trên cương vị Tư lệnh quân khu, tôi nhận thấy công tác xây dựng khu vực phòng thủ đã được Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát cụ thể, các địa phương tổ chức thực hiện với quyết tâm và trách nhiệm cao. Trong 5 năm đó, toàn bộ tám tỉnh - thành phố và 82/82 huyện, quận, thị trên địa bàn quân khu đã hoàn thành diễn tập khu vực phòng thủ. Đồng thời đến tháng 7 năm 1993 đã có 328/2.092 xã hoàn thành diễn tập làng xã chiến đấu kết hợp bảo vệ trị an địa bàn, chống thâm nhập, vượt biên, vượt biển.

        Cùng với xây dựng khu vực phòng thủ, tháng 7 năm 1989, quân khu tổ chức diễn tập chống lấn chiếm. Tiếp đó, tháng 11 năm 1992, tổ chức diễn tập theo phương án chống bạo loạn và phương án phòng thủ thời kỳ đầu chiến tranh (PT-02)…

        Từ kế hoạch phòng thủ của quân khu và các địa phương, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ then chốt, trọng điểm, nhất là các công trình chiến đấu, kho tàng lâu bền trên các hướng, các đảo, các điểm tựa biên giới và các vùng xung yếu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:36:52 PM

*

*       *

        Về công tác ở Quân khu 3, trọng điểm hàng đầu thu hút sự quan tâm của tôi là các đơn vị làm nhiệm vụ ở khu vực biên giới và tuyến đảo Đông Bắc - địa bàn giữ vai trò là “phên giậu” của vùng châu thổ sông Hồng nói riêng và đất nước nói chung. Là Phó tư lệnh thứ nhất rồi Tư lệnh quân khu, tôi đã dành nhiều thời gian thăm và làm việc tại Sư đoàn 395; có đợt khá dài ngày tôi đi cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng; có nhiều đợt đi cùng anh em trong cơ quan quân khu, với tinh thần làm việc trực tiếp; thấy điểm nào tốt cần chỉ đạo nhân rộng; điểm nào chưa được phải chấn chỉnh, sửa chữa ngay.

        Cảm nhận chung khi trực tiếp tìm hiểu tình hình, làm việc với các đơn vị là: Trong điều kiện khó khăn của những năm tám mươi, đầu thập niên chín mươi, Quân khu 3 đã có nhiều cố gắng tập trung đầu tư xây dựng các đơn vị đứng chân ở địa bàn biên giới và tuyến đảo Đông Bắc. Tổ chức biên chế hợp lý; chương trình, kế hoạch huấn luyện sẵn sàng chiến đấu được triển khai nghiêm - chất lượng tốt. Đặc biệt với chủ trương “Trên dưới cùng lo, mọi người cùng làm”, các đơn vị đã tích cực chủ động ổn định và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Đi đến đâu, dù là các đơn vị đứng chân ở Tiên Yên, Ba Chẽ, hay lính đảo Ngọc Vừng, Cô Tô, Vĩnh Thực…, chúng tôi đều bắt gặp không khí trẻ trung, sôi động; đều bắt gặp những ánh mắt chiến sĩ đầy tin tưởng, lạc quan, yêu đời. Khẩu hiệu: “Đơn vị là nhà, đảo là quê hương” thể hiện trách nhiệm, tình cảm xuất phát từ khối óc. con tim của mỗi một người lính của tập thể những cán bộ năng động nhiệt tình. Tôi nghĩ, thật khó mà có được một đơn vị vững mạnh nếu không có một đội ngũ cán bộ mạnh.

        Về công tác cán bộ, một trong những bài học kinh nghiệm của Quân khu 3, tôi đã được Đại tướng Nguyễn Quyết - một cán bộ cao cấp lão thành gắn bó gần trọn đời quân ngũ với Quân khu 3 tâm sự - cũng là truyền đạt cho tôi khi về công tác ở quân khu, rằng: “Không có quần chúng yếu - chỉ có cán bộ yếu”. Anh Quyết nói với tôi điều này không dưới vài lần, với tất cả những gì tâm huyết nhất.

        Với công tác xây dựng cán bộ, khi nắm tình hình thực tế ở các đơn. vị làm nhiệm vụ ở tuyến biên giới, hải đảo, điều băn khoăn của tôi là tình trạng cán bộ không được luân chuyển, dẫn tới một số không ít cán bộ không có điều kiện học hành, đào tạo thêm để phát triển. Rất nhiều đơn vị làm nhiệm vụ ở đảo có một số cán bộ đã năm - bảy năm không được học hành thêm.

        Đúng là không có quần chúng yếu, chỉ có cán bộ yếu. Nhưng điều cốt yếu là cần phải tạo điều kiện, môi trường để người cán bộ học tập, phấn đấu, hoàn thiện mình…, lại thuộc về tổ chức, thuộc về những người làm công tác cán bộ. Nhiệt huyết, trách nhiệm của anh em có thừa. Nhưng, trong khi khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, mà chỉ có nhiệt tình và vốn liếng kinh nghiệm thực tế thì chưa đủ.

        Thực trạng cán bộ ở một số đơn vị đứng chân ở tuyến biên giới và tuyến đảo Đông Bắc cứ ám ảnh, day dứt trong tôi từ những ngày đầu tôi ra Cô Tô, Ngọc Vừng, Vĩnh Thực,… Điều day dứt này được tôi trao đổi, sẻ chia với các anh trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu. Các anh Đỗ Quốc Tuấn, Đỗ Mạnh Đạo, Trần Công Thìn, Lê Ngọc Oa… đều cho rằng trăn trở của tôi là có cơ sở. Khi tập thể lãnh đạo, chỉ huy quân khu cùng chung suy nghĩ, thì vấn đề được giải quyết không có gì phức tạp. Thường vụ Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu thống nhất chủ trương luân chuyển cán bộ. Quy hoạch bố trí cán bộ ở các đơn vị tuyến biên giới, hải đảo phải tính tới khả năng luân chuyển - đặc biệt là. đội ngũ cán bộ chuyên môn. Vấn đề này được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu thống nhất cao, ra nghị quyết lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong quân khu thực hiện. Theo đó, trung bình 3 năm, cán bộ ở các đơn vị tuyến biên giới - hải đảo, ưu tiên hàng đầu là cán bộ chuyên môn (quân y, cơ yếu, thông tin…) được luân chuyển về công tác ở đất liền hoặc địa bàn thuận lợi hơn. Từ đó, anh em mới có điều kiện học hành thêm để nâng cao trình độ mọi mặt.

        Được chỉ đạo chặt chẽ, việc luân chuyển cán bộ ở các đơn vị tuyến biên giới, hải đảo đã được Quân khu 3 thực hiện tốt, ngày càng đi vào nền nếp. Đây là cơ sở để đội ngũ cán bộ phát triển đồng đều; nâng cao được chất lượng đội ngũ cán bộ ở các đơn vị công tác ở tuyến biên giới, hải đảo.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:38:06 PM

        Trong những lần làm việc, nắm tình hình tại các đơn vị ở tuyến đảo Đông Bắc, tôi thấy ở một số đảo có hệ thống bệnh xá dân y của các xã, nhưng thường thì khi mắc bệnh hoặc gặp tai nạn, dân lại không đến chữa trị ở bệnh xá dân y, mà cứ kéo đến bệnh xá của đơn vị quân đội. Qua trò chuyện, hỏi han một số trường hợp, tôi được bà con cho hay rằng đến bệnh xá quân đội có bác sĩ, y sĩ giỏi, thuốc thang sẵn hơn và tinh thần thái độ phục vụ của các quân y sĩ cũng tận tình, chu đáo hơn.

        Việc bà con có cảm tình với bệnh xá đơn vị bộ đội, với đội ngũ quân y sĩ là điều bình thường, cũng như tình cảm nhân dân dành cho bộ đội; tôi không xem đó là điều mấu chốt. Điều tôi quan tâm là xuất phát từ điều kiện thực tế và để đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, hải đảo, cần nghiên cứu xây dưng các cơ sở quân - dân y kết hợp. Với mô hình này, trước tiên, quân y các đơn vị có điều kiện chữa trị bệnh cho nhân dân; sau đó đội ngũ quân y sĩ sẽ giúp đỡ cán bộ, nhân viên y tế các địa phương nâng cao trình độ chuyên môn. Tôi cho rằng xây dưng bệnh xá quân - dân y kết hợp, tổ chức khám chữa bệnh cho nhân dân là một trong những hoạt động thiết thực, hiệu quả nhằm củng cố tình đoàn kết quân dân cá nước, xây dựng địa phương, địa bàn an ninh vững chắc.

        Tương tự như chủ trương luân chuyển cán bộ, việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức các bệnh xá quân dân y kết hợp được tôi đề xuất, trao đổi và nhanh chóng tạo được đồng thuận cao trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu. Ngành Hậu cần quân khu được giao nhiệm vụ chỉ đạo Sư đoàn 242 xây dựng thí điểm một số bệnh xá quân - dân y kết hợp ở một số đảo trong năm 1991. Kết quả rất khả quan. Anh em báo cáo là tổ chức chóng vánh, hoạt động hiệu quả. Không chỉ nhân dân mà cán bộ, nhân viên dân y cũng rất phấn khởi.

        Từ một vài bệnh xá quân - dân y kết hợp ở tuyến đảo Đông Bắc, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo Cục Hậu cần tổng kết rút kinh nghiệm để nhân rộng ra các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Để không ngừng nâng cao hiệu qua của các bệnh xá quân - dân y kết hợp ở tuyến đảo, biên giới; cùng với việc đào tạo, giáo dục nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị cơ sở. chúng tôi chỉ đạo Viện quân y 7, Viện quân y 5 tổ chức các tổ cán bộ chuyên môn thường xuyên ra tăng cường cho các đảo Cô Tô, Ngọc Vừng, Thanh Lâm, Vĩnh Thực,…

        Từ những hoạt động nhỏ lẻ của các đơn vị trong toàn quân, vào đầu thập niên 90, với một vài bệnh xá quân dân y được tổ chức ở các đơn vị thuộc vùng sâu - vùng xa, hoạt động quân - dân y kết hợp đã được Liên bộ Quốc phòng - Y tế đệ trình Chính phủ nâng lên thành chương trình cấp quốc gia - Chương trình “Kết hợp quân - dân y xây dựng quốc phòng toàn dân, phục vụ sức khỏe nhân dân”, gọi tắt là Chương trình 12.

        Trong hai ngày (l2 và 13 tháng 11 năm 1991), tôi chủ trì Hội nghị khoa học quân - dân y Quân khu 3 lần thứ nhất tại Đồ Sơn - Hải Phòng. Dự hội nghị có anh Phạm Song - Bộ trưởng Bộ Y tế, anh Nguyễn Trọng Xuyên - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ban chủ nhiệm Chương trình 12 và 180 đại biểu các cơ quan chức năng, các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, các cơ sở y tế các tỉnh trên địa bàn quân khu… Phát biểu tại hội nghị, anh Phạm Song, anh Nguyễn Trọng Xuyên đều đánh giá cao vai trò “khởi xướng” Chương trình 12 của Quân khu 3 và tính hiệu quả của chương trình này - một chương trình vừa mang tính chính trị - xã hội sâu sắc vừa mang ý nghĩa quốc phòng - an ninh rất thiết thực.

        Sau Hội nghị quân - dân y lần thứ nhất - Chương trình 12 được các đơn vị trong toàn quân khu triển khai sâu rộng, hiệu quả hơn. Cùng với hệ thống bệnh xá quân - dân y được phát triển, nâng cấp, hằng năm Viện quân y 5, Viện quân y 7 cử nhiều đội lưu động, luân phiên xuống các bản làng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, tổ chức khám - chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân. Hình bóng “người chiến sĩ áo trắng” của Quân khu 3 đã giành được tình cảm trìu mến, niềm tin lớn lao của nhân dân.

        Hội nghị kết hợp quân - dân y toàn quốc lần thứ hai tổ chức tại Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 1995. Trong hội nghị này, nhiều đơn vị thuộc Quân khu 3 được khen thưởng: Thủ tướng Chính phủ tặng cờ “Đơn vị thực hiện tốt Chương trình 12” cho Trung đoàn 242. Bộ Y tế tặng cờ cho Phòng Quân y quân khu và Ban Quân y Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh. Bộ Quốc phòng tặng bằng khen cho Viện quân y 7.

        Nhớ những ngày đầu về với Quân khu 3, đi thăm và làm việc tại các đơn vị ở tuyến đảo Đông Bắc, nảy nở ý tưởng qua trao đổi với một vài bà con trên đảo, dẫn tới việc hình thành một vài bệnh xá quân - dân y ở Ngọc Vừng, Xích Thổ, Vĩnh Thực,… đến khi chứng kiến một chương trình cấp quốc gia ra đời, hoạt động hiệu quả, tôi càng thấm thía rằng: những gì xuất phát từ ý của dân, thiết thực đối với đời sống của dân sẽ có sức sống lâu bền, không ngừng sinh sôi nảy nở.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:23:39 AM

*

*       *

        Như phần trên đã đề cập, thời điểm tôi về nhận nhiệm vụ ở Quân khu 3, toàn quân đang thực hiện chủ trương tổng điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng giảm thiểu lực lượng thường trực, tăng cường lực lượng dự bị. Lực lượng thường trực của Quân khu 3 cũng được xây dựng, củng cố theo cách mà người xưa tổng kết “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” - quân cần tinh, không cần nhiều. Thực hiện chủ trương tổng điều chỉnh lực lượng, nhiều đơn vị cấp sư đoàn, trung đoàn có quyết định giải thể, sáp nhập; một số đơn vị từ biên chế đủ chuyển sang biên chế khung thường trực (KTT) hay khung rút gọn (KRG).

        Trên thực tế, trong quá trình huấn luyện, tác chiến trước đây, phần lớn vũ khí đạn, phương tiện kỹ thuật, trang bị kỹ thuật đều được biên chế trong tay bộ đội sử dụng, giữ gìn… Khi đất nước hòa bình, ổn định; tổ chức biên chế lực lượng vũ trang được điều chỉnh theo hướng rút gọn cho phù hợp yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì phần lớn các loại vũ khí đạn, phương tiện kỹ thuật, trang bị kỹ thuật phải được phân loại và chuyển sang bảo quản cất giữ, niêm cất dự trữ lâu dài trong hệ thống kho kỹ thuật. Tuy vậy, thực trạng công tác bảo quản, cất giữ vũ khí, trang bị của các đơn vị vào cuối thập niên tám mươi còn là vấn đề hết sức nan giải.

        Những đợt cùng cán bộ cơ quan quân khu xuống nắm tình hình đơn vị, tôi thật sự băn khoăn, thấy bất ổn trước thực trạng một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật được các đơn vị thu hồi sau khi giải thể, sáp nhập hoặc rút gọn biên chế, nhưng không có kho tàng để cất giữ, hoặc không được bảo quản chu đáo. Thật không tưởng nổi cảnh xuống một đơn vị pháo phản lực, mà đạn được gác trên chuồng bò. Vũ khí bộ binh do không được bảo quản chu đáo, nên xuống cấp là khó tránh khỏi.

        Là người lính, mọi cán bộ, chiến sĩ đều không dưới một lần được người chỉ huy truyền đạt: một viên đạn súng CKC hoặc AK có giá trị tương đương mấy cân thóc chưa kể những thứ vũ khí tối tân… Nhưng rồi, phần do ý thức trách nhiệm chưa cao, phần do “lực bất tòng tâm”, kho tàng cất chứa có hạn nên mới có tình trạng đáng buồn nói trên.

        Trước tình hình đó, sau khi trao đổi thống nhất trong Bộ Tư lệnh Quân khu, chỉ đạo Cục Kỹ thuật có chủ trương, kế hoạch cụ thể, tháng 1 năm 1989, tôi đã ký ban hành Chỉ thị 325/BTL về Nhiệm vụ công tác kỹ thuật trong tình hình mới, xác định những nhiệm vụ chính của Ngành Kỹ thuật quân khu như sau:

        - Tổ chức thu hồi, bảo quản và niêm cất vũ khí trang bị kỹ thuật còn tốt, còn khả năng trang bị sử dụng lâu dài.

        - Tổ chức thanh lý số vũ khí và trang bị kỹ thuật cấp 5.

        - Tổ chức quản lý, cất giữ vũ khí trang bị kỹ thuật phải chu đáo. Hệ thống nhà kho phải bảo đảm các điều kiện kỹ thuật để bảo quản, niêm cất giữ gìn vũ khí, trang bị kỹ thuật.

        - Tổ chức bảo vệ, cảnh vệ và bảo đảm an toàn kho vũ khí, trang bị kỹ thuật một cách nghiêm ngặt.

        Sau khi ban hành Chỉ thị 325/BTL, tôi tiếp tục nắm thực tế công tác bảo đảm kỹ thuật của các đơn vị, tiếp tục thấy những bất cập - đặc biệt là công tác quản lý, bảo quản. Vì vậy, khi dự và chỉ đạo Hội nghị sơ kết công tác kỹ thuật 6 tháng đầu năm 1989 do Cục Kỹ thuật quân khu tổ chức. tôi chỉ rõ một số nhiệm vụ cụ thể của toàn ngành như sau:

        1. Tiếp tục thu hồi vũ khí trang bị dư biên chế của các đơn vị về kho, quy hoạch nâng cấp hệ thống kho bảo quản cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

        2 Toàn bộ vũ khí đạn, phương tiện trang bị kỹ thuật tiếp nhận về kho phải tổ chức bảo quản, niêm cất ngay, tránh để xuống cấp nhanh.

        3. Hệ thống các kho kỹ thuật phải chủ động xây dựng các phương án phòng chống cháy nổ, chống mất cắp. Kiện toàn tổ chức biên chế, nâng tỷ lệ số quân nhân chuyên nghiệp ở các kho để làm công tác kỹ thuật.

        4. Đội ngũ cán bộ, chỉ huy kho phải được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý chỉ huy, chuyên môn kỹ thuật; phải quản lý chặt chẽ vũ khí, phương tiện, trang bị kỹ thuật, cơ sở vật chất của lực lượng vũ trang quân khu. Điều một số lữ đoàn trưởng, trung đoàn trưởng xe tăng, pháo binh về làm chủ nhiệm kho quân khí.

        5. Tổ chức thành 4 cụm kho lớn để quản lý và sử dụng chặt chẽ vũ khí trang bị.

        6. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ kỹ thuật ở kho.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:25:03 AM

        Cho dù Đảng ủy, chỉ huy Cục Kỹ thuật đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác kỹ thuật; đặc biệt là công tác quản lý, bảo dưỡng vũ khí, trang bị kỹ thuật; các đơn vị kho, xưởng cũng đã có nhiều cố gắng, nhưng do yêu cầu tổng điều chỉnh lực lượng, khối lượng vũ khí, phương tiện, trang bị kỹ thuật mà toàn ngành phải quản lý tăng lên rất nhiều lần; trong khi hệ thống kho tàng không đủ sức chứa, nhiều kho không bảo đảm quy cách, vì vậy sức ép về bảo quản, cất chứa vũ khí, trang bị đối với toàn ngành Kỹ thuật quân khu là rất lớn.

        Trước thực trạng công tác quản lý bảo quản, niêm cất vũ khí, phương tiện, trang bị kỹ thuật và yêu cầu cấp bách phải quy hoạch hệ thống kho tàng kỹ thuật của lực lượng vũ trang quân khu, sau khi bàn bạc thống nhất trong Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, tháng 6 năm 1989, tôi quyết định nâng cấp hệ thống kho thuộc Cục Kỹ thuật quân khu từ cấp tiểu đoàn lên tương đương cấp trung đoàn; thành lập bốn cụm kho thuộc Cục Kỹ thuật là Cụm kho 22, Cụm kho 23, Cụm kho 76 và Cụm kho 84. Các cụm kho được bố trí ở những vị trí thích hợp, thuận tiện cho việc bảo đảm cho các đơn vị của quân khu làm nhiệm vụ trên các hướng chiến lược, đồng thời bảo đảm yêu cầu phòng gian, bảo đảm bí mật.

        Như hạn hán gặp mưa rào, chỉ một thời gian rất ngắn sau khi có quyết định của Tư lệnh quân khu, lần lượt các cụm kho đã chính thức ra đời.

        Ngày 15 tháng 6 năm 1989, Cục Kỹ thuật công bố quyết định thành lập Cụm kho 22, gồm 5 kho: K12, K14, K7, K54, K18. Cụm kho 22 có nhiệm vụ bảo quản, giữ gìn, niêm cất vũ khí đạn, phương tiện quân sự, khí tài quân sự.

        Một ngày sau khi Cụm kho 22 được thành lập, ngày 16 tháng 6, Thường vụ Đảng ủy, chỉ huy Cục Kỹ thuật công bố quyết định thành lập Cụm kho 76, gồm 6 kho: K36, K37, K38, K41, K42 và K44. Cụm kho 76 có nhiệm vụ bảo quản, niêm cất vũ khí đạn, phương tiện, trang bị kỹ thuật, khí tài quang học và vật tư kỹ thuật.

        Tiếp đó, ngày 10 tháng 7, rồi ngày 25 tháng 8 năm 1989, Cụm kho 23 và Cụm kho 84 lần lượt ra đời. Với quy mô tổ chức tương đương trung đoàn, mỗi cụm kho ngoài Ban chỉ huy, được tổ chức các ban. tham mưu, chính trị, hậu cần và hệ thống các kho kỹ thuật, kho chuyên ngành.

        Việc nâng cấp quy mô tổ chức kho tàng là cơ sở để điều chỉnh chức danh cán bộ chỉ huy các cấp; anh em có điều kiện được bổ nhiệm cấp quân hàm cao hơn. Đây cũng là yếu tố tinh thần vô cùng quan trọng động viên cán bộ, nhân viên thuộc biên chế hệ thống kho kỹ thuật nhiệt tình hăng say công tác.

        Qua nắm tình hình thực tế tổ chức cơ quan kỹ thuật quân khu và cung cách tổ chức, chỉ huy các kho, tôi nhận thấy cần phải có sự đổi mới trong công tác cán bộ. Tình trạng phổ biến ở các kho của quân khu là cán bộ kỹ thuật giữ cương vị chủ trì - cấp trưởng. Đa phần anh em có trình độ chuyên môn tốt, nhiệt tình, trách nhiệm cao, nhưng có phần hạn chế về năng lực tổ chức chỉ huy, dẫn tới ở một số kho có tình trạng mọi hoạt động không đảm bảo nền nếp, chính quy. Tôi đem sự băn khoăn, trăn trở của mình trao đổi cùng anh Đạo, anh Thìn và anh Ngọc, anh Minh - Chánh, Phó chủ nhiệm kỹ thuật quân khu. Nhận được sự đồng thuận tuyệt đối, ngay lập tức tôi chỉ đạo cơ quan chính trị quân khu điều một số cán bộ trung đoàn, lữ đoàn binh chủng về giữ chức Chủ nhiệm cụm kho và các kho chuyên ngành. Số cán bộ kỹ thuật chủ yếu làm phó chủ nhiệm cụm kho và kho, phụ trách chuyên môn. Tương tự, cơ quan Cục Kỹ thuật quân khu cũng được tăng cường nhiều cán bộ trẻ, trưởng thành trong chiến đấu, có nhiều kinh nghiệm chỉ huy và điều hành công tác bảo đảm kỹ thuật ở đơn vị. Chính bước đột phá trong công tác cán bộ cộng với quy hoạch lại kho tàng đã giúp hệ thống các kho kỹ thuật quân khu nhanh chóng đi vào nền nếp, chính quy.

        Định hướng một trong những nhiệm vụ chính của Ngành Kỹ thuật quân khu trong giai đoạn mới là bảo quản, niêm cất vũ khí trang bị, nên sau khi chỉ đạo củng cố tổ chức biên chế, đổi mới công tác cán bộ, chúng tôi tiếp tục chỉ đạo ngành củng cố, xây cất, nâng cao chất lượng kho tàng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:26:03 AM

        Vấn đề đặt ra lúc này là tiền - là kinh phí. Cha ông mình thường nói “cái khó bó cái khôn”, hay “lực bất tòng tâm”, muốn thì nhiều, nhưng lực không kham nổi. Thực tế thì ai ai cũng thấy được khó khăn về kinh tế của đất nước, của quân đội ta vào những năm tám mươi. Nhưng điều mà ngành Kỹ thuật Quân khu 3 làm được lúc này xuất phát từ quyết tâm “cái khó ló cái khôn”. Chúng tôi chỉ đạo các đơn vị khẩn trương phân loại vũ khí, trang bị xuống cấp; những gì có thể thanh lý được, cho phép thanh lý lấy tiền để xây dựng kho tàng. Từ nguồn kinh phí xây dựng cơ bản ít ỏi trên cấp và tiền thanh lý trang thiết bị xuống cấp, chúng tôi cho tập trung đầu tư xây dựng một vài kho mẫu theo tiêu chuẩn thiết kế của Tổng cục Kỹ thuật; sau đó nhân rộng ra toàn quân khu.

        Thực hiện Nghị quyết số 106/TV-ĐU của Thường vụ Đảng ủy quân khu (ngày 15 tháng 4 năm 1988) về xây dựng, củng cố kho tàng kỹ thuật, sau gần một năm tổ chức thi công, đầu tháng 1 năm 1990, Lữ đoàn công binh 513 đã hoàn thành, đưa vào sử dụng 120 gian nhà kho của Cụm kho 23 theo tiêu chuẩn thiết kế của Tổng cục Kỹ thuật.

        Qua nghiên cứu, xem xét kết quả bước đầu và căn cứ đề nghị của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, ngày 26 tháng 2 năm 1990, anh Lương Hữu Sắt - Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật ký ban hành Chỉ thị số 26/K về việc xây dựng cụm kho mẫu cất giữ vũ khí, đạn và phương tiện, trang bị kỹ thuật tại Quân khu 3.

        Theo chỉ thị của Bộ, Cụm kho 23 được xây dựng kho mẫu cất giữ phương tiện, trang bị kỹ thuật; Cụm kho 22 xây dựng Kho 25 thành kho mẫu cất giữ vũ khí. Anh Trương Khánh Châu - Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật và anh Lương Hữu Sắt cũng thống nhất với chúng tôi là: Quân khu 3 cố gắng hoàn thành sớm một số kho mẫu để sắp tới đại biểu dự Hội nghị kỹ thuật toàn quân tham quan; sau đó triển khai trong toàn quân.

        Nắm bắt ý định của trên và sau khi có chỉ thị của Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, tôi trao đổi với anh Minh, anh Ngọc và anh em chỉ huy các cụm kho: Trước đây ta mày mò, chủ động làm, nay trên đã trao cho “gậy Như ý” rồi mà không làm được thì trách nhiệm thuộc về chúng ta. Liền đó, tôi chỉ thị cho Đảng ủy, chỉ huy Cục Kỹ thuật sớm có nghị quyết chỉ đạo xây dựng kho mẫu.

        Thực hiện chỉ đạo của trên, đầu tháng 3 năm 1990, Thường vụ Đảng ủy Cục Kỹ thuật ra nghị quyết chuyên đề về xây dựng kho mẫu. Nghị quyết nêu rõ: “… Xây dựng kho mẫu là nhiệm vụ rất nặng nề được Bộ, quân khu tin tưởng giao cho. Đây vừa là vinh dự lớn lao mà cũng là thử thách không nhỏ đối với Cục Kỹ thuật quân khu. Nội dung yêu cầu của một kho mẫu đòi hỏi nhiều vấn đề từ nhà kho, phương pháp niêm bảo quản vũ khí, trang bị kỹ thuật; công tác quản lý, sắp xếp, tiếp nhận, cấp phát vũ khí, trang bị kỹ thuật… Đây là nhiệm vụ làm mẫu cho Hội nghị kỹ thuật toàn quân tham quan, rút kinh nghiệm để chỉ đạo trong toàn quân…

        Cán bộ, chiến sĩ Cục Kỹ thuật phải tập trung toàn lực, quyết tâm thực hiện vượt thời gian quy định với chất lượng và hiệu quả cao nhất…”.

        Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh quân khu và Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Cục Kỹ thuật, ngành Kỹ thuật quân khu đã phát động chiến dịch thi đua “90 ngày đêm xây dựng kho mẫu”. Cán bộ cơ quan Cục kỹ thuật và cán bộ của các cục Quân khí, Xe máy,… được tăng cường tối đa xuống giúp Cụm kho 22 và Cụm kho 23.

        Được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Tổng cục Kỹ thuật, các cục kỹ thuật chuyên ngành: Ô tô - xe máy, Quân khí, Cục Kỹ thuật tăng thiết giáp, Viện Kỹ thuật quân sự cộng với tinh thần năng động, sáng tạo của Cục Kỹ thuật quân khu, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hai cụm kho, việc xây dựng kho mẫu được triển khai nhanh, hiệu quả. Chỉ từ đầu năm đến hết mùa hè năm 1990, Cụm kho 22 và Cụm kho 23 đã có thêm trên 2.000m2 kho mẫu, các kho đã tổ chức niêm cất, bảo dưỡng, sắp xếp lại toàn bộ vũ khí trang bị kỹ thuật; từng bước đưa công tác quản lý vào nền nếp theo quy định. Các cụm kho đã ứng dụng một số công nghệ mới trong bảo quản, niêm cất vũ khí, trang bị.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:27:35 AM

        Ngày 14 tháng 7 năm 1990, anh Đào Đình Luyện - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh Trương Khánh Châu - Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật và trên hai trăm cán bộ các quân khu, quân đoàn, quân - binh chủng dự hội nghị kỹ thuật toàn quân đã về tham quan kho mẫu tại Cụm kho 23 và Cụm kho 22 thuộc Cục Kỹ thuật Quân khu 3. Anh Đào Đình Luyện biểu dương nỗ lực, quyết tâm cao, việc đầu tư nhiều công sức, trí tuệ của Quân khu 3, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ ngành Kỹ thuật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng kho mẫu phục vụ kịp thời Hội nghị kỹ thuật toàn quân.

        Anh Luyện, anh Châu và anh Lương Hữu Sắt thống nhất với chúng tôi nhân rộng mô hình kho mẫu, từ kho mẫu bảo quản xe máy, phương tiện kỹ thuật phải tiến tới tập trung xây dựng kho mẫu bảo quản đạn dược; không chỉ nâng cao chất lượng bảo quản đạn phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu mà còn hạn chế các sự cố kỹ thuật, nổ kho đạn.

        Nói là làm, ngày 30 tháng 10 năm 1990, anh Đào Đình Luyện thay mặt Thủ trưởng Bộ Quốc phòng ký ban hành Chỉ thị số 253/CTQP về xây dựng kho cất giữ đạn làm mẫu tại Cục Quân khí và Quân khu 3. Tiếp đến, ngày 3 tháng 11 năm 1990, Tổng cục Kỹ thuật ban hành Chỉ thị 795/KT về công tác bảo đảm cho kế hoạch xây dựng kho đạn làm mẫu ở Cục Quân khí và Quân khu 3. Các chỉ thị của Bộ và Tổng cục Kỹ thuật đã thống nhất những nội dung về xây dựng kho mẫu cất giữ, bảo quản đạn dược là:

        1. Xây dựng kho mẫu về quy hoạch đạn dược.

        2. Xây dựng kho mẫu về công tác cất giữ đạn dược vá bảo quản kỹ thuật đạn dược.

        3. Xây dựng kho mẫu về công tác bảo vệ, quản lý an toàn kho đạn dược.

        Với chỉ thị của Tổng cục Kỹ thuật, thì Cục Quân khí có nhiệm vụ xây dựng kho đạn K834 làm kho mẫu và Quân khu 3 xây dựng kho đạn K54 thuộc Cụm kho 22 làm kho mẫu.

        Thực hiện chỉ thị của trên, ngày 15 tháng 11 năm 1990, Cụm kho 22 phát động phong trào thi đua “60 ngày đêm quyết thắng xây dựng kho mẫu K54”. Đến đầu tháng 5 năm 1991, kho mẫu K54 cơ bản hoàn thành, kịp phục vụ Hội nghị ngành Kỹ thuật toàn quân ngày 10 tháng 7 năm 1991. Để có được thành quả đó, Cụm kho 22 đã huy động 18.000 ngày công, đầu tư trên 35 triệu đồng từ nguồn vốn làm kinh tế, tăng gia sản xuất, cộng với nguồn kinh phí trên cấp xây dựng 3 nhà kho với xấp xỉ 1.000m2; xây dựng khu sinh hoạt của cán bộ, nhân viên tách khỏi khu kỹ thuật.

        Từ kết quả xây dựng kho mẫu của quân khu, chúng tôi chỉ đạo bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố xây dựng hoàn chỉnh từng bước hệ thống kho vũ khí đạn, phương tiện trang bị kỹ thuật theo những tiêu chuẩn đã được quy định.

        Cùng với chỉ đạo nâng cấp tổ chức, đổi mới hoạt động của hệ thống kho kỹ thuật, tôi cũng trao đổi thống nhất trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo quy hoạch hệ thống trạm, xưởng sửa chữa; quyết định nâng cấp một số trạm sửa chữa thành xưởng, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật mới, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở sửa chữa vũ khí, xe máy của quân khu.

        Phải nói rằng, vào cuối thập niên tám mươi, đầu thập niên chín mươi, cùng với việc điều chỉnh tổ chức lực lượng, thì công tác điều chuyển, dồn dịch vũ khí trang bị và hoạt động quy hoạch, xây dựng hệ thông kho tàng, trạm xưởng kỹ thuật… là những mảng, miếng công việc được tiên hành đồng bộ, khẩn trương, hiệu quả. Trong đó có những quyết đinh mang tính đột phá. Để rồi từ một vài “điểm” của Quân khu 3 đã được Bộ nhân rộng ra toàn quân.

        Cũng từ thực tiễn xây dựng hệ thống kho kỹ thuật của quân khu, tôi suy tính đến việc xây dưng doanh trại, nhà ở của bộ đội. Điều mà chả mấy ai chấp nhận được là trong khi ta đang xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy hiện đại, thì nhà cửa doanh trại của bộ đội phát triển rất tự nhiên, theo kiểu “mạnh ai nấy làm”, ai ưng kiểu gì thì xây kiểu đó.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:28:24 AM

        Tôi nhớ lại những năm đầu thập niên sáu mươi, chỉ mới mấy năm hòa bình mà doanh trại của quân đội ta đã bước đầu xây dựng có quy hoạch, quy chuẩn hẳn hoi. Mặc dầu khi đó ta chưa sẵn xi măng, gạch ngói, sắt thép như lúc này, nhưng doanh trại cấp trung đoàn, sư đoàn đã được quy hoạch, thiết kế theo mẫu; bố trí sắp đặt nếp nang đâu vào đó. Ví như, Trung đoàn 238 chúng tôi khi đó đóng ở Thái Thụy, Tiền Hải - Thái Bình, chưa có nhiều nhà gạch, lợp ngói, nhưng hình hài, bố trí rất quy củ. Hay thời gian sau, khi vào tập kết ở Tây Hồ - Thọ Xuân - Thanh Hóa, trước khi đi B, ở trong doanh trại Sư đoàn 330, thì nhà cửa xây cất khang trang, nền nếp lắm. Chưa kể các trường sĩ quan được xây dựng vào thời gian này, như Sĩ quan Lục quân, Sĩ quan Pháo binh,…

        Suy đi nghĩ lại, tôi thấy cần phải có tầm nhìn cho tương lai. Chiến tranh trên hai chục năm liên tục, rồi khó khăn đủ bề thời kỳ hậu chiến, chưa kể khi biên giới Tây Nam, khi biên cương phía Bắc tiếng súng chưa ngừng…, đã làm cho chúng ta chưa có được tư duy mạch lạc về những vấn đề có tính quy hoạch - định hướng trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Trong xây dựng quân đội cũng vậy.

        Cái tạng người, hay nói đúng hơn là tính cách của những người như tôi là suy nghĩ đi liền với hành động. Tôi đem những băn khoăn, trăn trở của mình giãi bày với các anh trong Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu. Té ra thì nhiều người cũng có suy nghĩ như mình, nhưng chưa mấy ai bộc bạch. Điều mà chúng tôi thống nhất bước đầu là cần phải quy hoạch lại doanh trại của các đơn vị trong quân khu. Trong khi chưa có điều kiện làm đại trà, quân khu tập trung làm điểm. Chọn đơn vị chủ lực, đủ quân, địa bàn đóng quân cơ bản ổn định, để tập trung chỉ đạo xây dựng doanh trại điểm. Và đơn vị chúng tôi chọn là Trung đoàn 50 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng.

        Trung đoàn 50 trước đó trực thuộc Sư đoàn 350 - một đơn vị chủ lực, có bề dày truyền thống của Quân khu 3. Sau khi Sư đoàn 432 sáp nhập vào Sư đoàn 350, thì Sư đoàn 350 chuyển sang đứng chân ở phía Hữu Ngạn sông Hồng; đồng thời Trung đoàn 50 được tách ra trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng. Trung đoàn 50 đứng chân ở địa bàn quan trọng, nằm trong thế phòng thủ hướng biển của Hải Phòng và của quân khu; theo chúng tôi vị trí đó là tương đối ổn định.

        Thống nhất về chủ trương, chúng tôi chỉ đạo Cục Hậu cần tổ chức nghiên cứu xây dựng quy hoạch, thiết kế mẫu nhà cửa - và triển khai xây dựng. Cách làm vẫn là “Trên dưới cùng lo, mọi người cùng làm”; triệt để khai thác nguồn kinh phí trên cấp kết hợp huy động kinh phí tự có thông qua lao động sản xuất làm kinh tế của đơn vị và sức lao động của bộ đội.

        Có chủ trương đúng, hợp với ý nguyện của cán bộ, chiến sĩ, nên huy động được tối đa trí tuệ, công sức của bộ đội để xây dựng doanh trại. Cũng vì vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn, Trung đoàn 50 đã cơ bản có được cơ ngơi doanh trại khá bề thế, quy chuẩn. Sau này, Bộ Quốc phòng chỉ đạo ngành Hậu cần - trực tiếp là Cục Doanh trại nghiên cứu thiết kế mẫu doanh trại thống nhất trong toàn quân, từ doanh trại cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, sư đoàn xuống tới trung đoàn và sở chỉ huy cơ quan quân sự địa phương các cấp; rồi tập trung đầu tư xây dựng trong nhiều năm, ta mới có được hệ thống doanh trại trong toàn quân chính quy, hiện đại. Nhưng ở vào cuối thập niên tám mươi, việc Quân khu 3 chỉ đạo xây dựng được doanh trại Trung đoàn 50 cơ bản hoàn chỉnh, có quy hoạch, quy chuẩn là một nỗ lực rất đáng trân trọng. Càng đáng được trân trọng hơn khi việc làm đó lại mang tính đột phá - để từ “điểm” ta có cơ sở nhân thành “diện”.

*

*       *

        Là Tư lệnh quân khu, nên kết hợp kinh tế với quốc phòng, chỉ đạo lực lượng vũ trang quân khu làm kinh tế sao cho hiệu quả là một trong những vấn đề buộc tôi phải để tâm nghiên cứu cùng với tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu tìm được đáp án đúng.

        Suốt một thời đánh Mỹ và tiếp đó là những năm tám mươi, nói tới Quân khu 3 là nhiều người nghĩ đến phong trào “Làm giàu đánh thắng”; trong đó nổi lên những công trình có ý nghĩa lớn về kết hợp kinh tế với quốc phòng, như làm đường ra đảo Đình Vũ, lấn biển Cồn Thoi (Ninh Bình), làm âu tàu Nhà máy đóng tàu biển Phà Rừng (Thủy Nguyên - Hải Phòng)… Hình ảnh “Lung tựa Cồn Thoi, mắt nhìn biển cả”, được ví như dáng đứng tự hào của những người chiến sĩ của đồng bằng sông Hồng những năm tháng hào hùng đó.

        Cuối năm 1991, quân khu đã hoàn thành lấn biển Cồn Thoi, với trên 2.000 héc-ta. Lúc này, đơn vị tham gia lấn biển muốn xin lại một nửa diện tích nói trên để tổ chức sản xuất. Nhưng tôi thấy dân trong vùng còn nhiều người, nhiều hộ chưa có đất canh tác, mà mục đích của quân khu là tổ chức lấn biển để đưa dân ra, góp phần xóa đói giảm nghèo cho dân. Vì vậy, tôi bàn với các anh trong Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, rồi làm công tác tư tưởng để đơn vị “thông cảm”, quyết định giao toàn bộ đất đã tạo lập dược cho tỉnh thành lập bốn xã mới. Giờ đây, bốn xã mới ở Cồn Thoi đã phát triển tương đối vững, đời sống nhân dân bớt khó khăn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:45:30 PM

        Truyền thống tốt đẹp đã được khẳng định. Tuy nhiên lúc đó, khi tính đến chuyện tổ chức cho bộ đội làm ăn kinh tế, kết hợp kinh tế với quốc phòng, ngoài khó khăn của đời sống kinh tế đất nước đang kỳ đỉnh điểm, chúng tôi phải đối mặt với những khó khăn của riêng mình:

        - Hầu hết trang thiết bí của các cơ sở sản xuất đã cũ rão, xuống cấp; máy móc, thiết bị đã sử dụng từ 15-20 năm.

        - Quy mô sản xuất manh mún, không có sản phẩm truyền thống độc đáo đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

        - Thiếu vốn. Một số ngành, đơn vị có tính mũi nhọn lại mới hình thành, chưa hòa nhập được với cơ chế kinh tế thị trường.

        - Giải quyết những vấn đề thuộc về cơ chế quân đội làm kinh tế, chế độ chính sách đối với người lao động còn nhiều bất cập.

        - Một số đơn vị làm kinh tế nhưng tổ chức biên chế cồng kềnh; cán bộ chủ trì còn mang nặng tư tưởng bao cấp, chuyển đổi chậm, chưa thích ứng kịp với những đòi hỏi của quy luật kinh tế thị trường.

        Biết nhìn thẳng vào thực tại, sau khi thấy rõ những thuận lợi và khó khăn, ngày 3 tháng 4 năm 1989, Thường vụ Đảng ủy quân khu họp ra Nghị quyết số 96/ĐUQK về nhiệm vụ lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế. Ở nghị quyết này, chúng tôi đã đề ra được một số vấn đề có tính định hướng cho nhiệm vụ xây dựng kinh tế của quân khu; trong đó có việc kiện toàn cơ quan kinh tế quân khu, các đơn vị sản xuất kinh doanh theo mô hình tổng công ty, các công ty, xí nghiệp thành viên. Cũng ngày 3 tháng 4, theo đề nghị từ trước của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 74/QĐ-QP chuyển Sư đoàn 319 thành Công ty xây dựng 3 19 trực thuộc Quân khu 3; về quản lý hành chính, kinh tế thuộc quyền của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - kinh tế. Công ty xây dựng 319 là đơn vị xây dựng, sản xuất kinh doanh tổng hợp, hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập. Công ty nhận thầu, thi công các công trình công nghiệp, dân dụng, khai thác nguyên vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản; sản xuất hàng kim khí, mộc xây dựng, cung ứng vật tư vận tải, tham gia sản xuất hàng xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ.

        Trước đây, Sư đoàn 319 đã từng tham gia xây dựng công trình Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, tạo được uy tín với Bộ Xây dựng. Giờ đây, những người lính, người thợ 319 lại có mặt trên nhiều công trình xây dựng khắp mọi miền, góp phần làm đẹp diện mạo của đất nước thời đổi mới.

        Tiếp theo Công ty xây dựng 319, căn cứ đề nghị của Bộ Tư lệnh Quân khu, ngày 1 tháng 6 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng quyết định (số 58/HĐBT) thành lập Tổng công ty Sông Hồng trực thuộc Quân khu 3, do anh Ngô Văn Tại - nguyên Chủ nhiệm hậu cần quân khu làm Tổng giám đốc. Tổng công ty Sông Hồng là đơn vị sản xuất, kinh doanh, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập; được thành lập trên cơ sở một số đơn vị làm kinh tế của quân khu và Phòng Sản xuất công nghiệp; Xí nghiệp 583, Xí nghiệp 34, Nhà máy xi măng Vạn Chánh, Xí nghiệp 45, Công ty dịch vụ xuất nhập khẩu.

        Thực hiện chủ trương xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, sau khi nghiên cứu tiềm năng vùng ven biển Bắc Cửa Lục, xây dựng đề án, được chuyên gia tư vấn các cấp có thẩm quyền ủng hộ, ngày 1 tháng 7 năm 1991, chúng tôi quyết đỉnh chính thức triển khai công trình lấn biển Bắc Cửa Lục. Theo dự án ban đầu, công trình lấn biển sẽ hoàn thành khối lượng lớn công việc gồm: tuyến đê chính dài 16,5 cây số, đê phụ dài hơn 7 cây số, hàng chục cây số đê khoanh vùng nuôi trồng thủy sản và đường trục. Công trình hoàn thành sẽ có thêm 2.000 héc-ta đất canh tác, trong đó có trên 700 héc-ta đất nuôi trồng thủy sản, 500 héc-ta đất nông nghiệp, còn lại là đất dành cho dân cư trú; tạo điều kiện để trên 1.000 hộ dân với khoảng 4.000 nhân khẩu đến đây sinh cư lập nghiệp. Lực lượng tham gia công trình được điều từ các đơn vị trong quân khu, lấy Trung đoàn 513 công binh làm nòng cốt và huy động tại chỗ. Công trình này được giao cho trung tá Vũ Anh Đức - nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn công binh 513 làm chỉ huy trưởng. Trong thời buổi đất chật người đông, “tấc đất tấc vàng”, thì việc tạo lập một vùng đất trên 2.000 héc-ta để dân sinh cơ lập nghiệp là rất đáng trân trọng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:46:02 PM

        Dẫu còn rất nhiều khó khăn khi những người lính làm kinh tế phải đối mặt với thương trường. Và giờ đây “thương trường là chiến trường” - nên tính cạnh tranh, sự sống còn trên mặt trận kinh tế cũng cam go, khốc liệt chẳng kém gì trước đây ta đánh giặc. Trong cuộc chiến đó, có đơn vị kinh doanh sản xuất đạt hiệu quả, “ăn ra làm nên”, không ngừng phát triển; nhưng cũng có những công ty, doanh nghiệp thua lỗ, thất bại. Trong số những đơn vị làm kinh tế của Quân khu 3 thời gian này, có Công ty 319, Công ty cung ứng lương thực và vật liệu xây dựng, Xí nghiệp đóng tàu 189, Công ty may 369, Nicotex; các xí nghiệp Bạch Đằng, Chiến Thắng,… là những đơn vị phát triển đúng hướng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giữ được truyền thống. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, từ quân khu đến các đơn vị luôn bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, gắn nhiệm vụ chính trị của đơn vị với chương trình kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, góp phần thực hiện các mục tiêu chương trình kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước; đã kết hợp đồng bộ, hài hòa giữa hoàn thành nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu với lao động sản xuất. Trong cơ chế thị trường, nhưng các đơn vị làm kinh tế luôn là lực lượng tiên phong, tích cực thực hiện chương trình “xóa đói giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa”, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

        Trong chỉ đạo quân khu kết hợp kinh tế với quốc phòng, có một phần việc tôi lấy làm tâm đắc là xây dưng khu vực kinh tế - quốc phòng ở Quảng Ninh.

        Trong nhiều chuyến công tác cùng anh em trong Bộ Tư lệnh Quân khu nắm tình hình địa bàn gần biên giới Việt - Trung ở Bình Liêu, Móng Cái (Quảng Ninh), điều tôi băn khoăn là mặc dù quan hệ giữa ta với bạn đã bình thường hóa từ lâu, nhưng địa bàn giáp biên giới vẫn có những khoảng trống chừng 5-7 cây số sâu vào nội địa không có dân ở; chỉ có một số đơn vì quân đội, biên phòng làm nhiệm vụ. Trong khi đó, dân của bạn không chỉ canh tác sát đường biên mà từ bên kia biên giới, họ còn thả từng đàn trâu bò sang đất ta. Qua những khu vực này, dễ liên tưởng tới những vùng rừng không dân mà tôi cùng đồng đội đã từng qua trong những năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia.

        Mặc dù có quân đội, biên phòng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, nhưng ở một góc độ nào đó, đi hàng 5-7 cây số sát đường biên không thấy bóng dáng một người dân, tự nhiên trong tôi xuất hiện cảm giác chống chếnh, bất ổn. Cũng vì vậy, ý nghĩ phải đưa dân ra sát biên giới, dân phải ra để giữ cột mốc biên giới nhanh chóng đinh hình và trở thành quyết tâm lớn của tôi. Điều này nghĩ cho cùng không có gì là mới mẻ. Tự bao đời các bậc vua chúa anh minh rồi Bác Hồ và Đảng ta vẫn xem tư tưởng lấy dân làm gốc là thượng sách để giữ nước. Sức lực, ý chí của dân là thành trì bền chắc nhất. Nay, nếu nói đưa dân ra giữ đường biên, giữ cột mốc chỉ là ảnh xạ một “mảnh vỡ” của chủ trương lớn của Đảng mà thôi. Vả lại, trong những lần đi nắm tình hình thực tế, qua dò hỏi một số người dân địa phương, tôi được biết bà con mình rất muốn ra làm ăn, sinh sống ở sát đường biên, nhưng chưa dám; phần vì còn một lượng mìn ta bố trí trước đây chưa tháo gỡ hết; phần vì chưa rõ động thái cụ thể của người anh em láng giềng bên kia. Thỉnh thoảng, bạn lại rung cây hù dọa, cũng chẳng yên thân mà làm ăn.

        Có một sự việc trùng lặp gần như ngẫu nhiên ở thời điểm này, trong một lần dự họp ở Bộ Quốc phòng, đầu năm 1988, qua báo cáo của Bộ Tư lệnh Biên phòng tôi được biết cột mốc biên giới số 5 giữa Việt Nam và Trung Quốc, tại địa bàn huyện Quảng Hà, Quảng Ninh bị mất. Chính phủ chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Biên phòng và Bó Tư lệnh Quân khu 3 phải tìm bằng được. Chúng tôi đã khẩn trương cho triển khai tìm, và người tìm được cột mốc ấy lại là một già làng 78 tuổi người dân tộc thiểu số. Qua sự việc này càng củng cố quyết tâm của chúng tôi là phải nhanh chóng đưa dân ra làm chủ khu vực biên giới. Ý nghĩ của tôi nhanh chóng trở thành quyết tâm của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu. Các anh Đỗ Mạnh Đạo, Lê Ngọc Oa, Nguyễn Thế Trị,… rất tán đồng chủ trương này. Tuy nhiên đưa dân ra như thế nào, cũng phải bàn tính kỹ, có đường đi nước bước thích hợp. Sau khi nghiên cứu thực tế, thấy dân dù muốn nhưng chưa dám ra sát đường biên, chúng tôi quyết định đưa bộ đội ra trước, tổ chức rà quét mìn, làm nương rẫy, trồng rừng…

        Tháng 12 năm 1990, tôi trực tiếp chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự Quảng Ninh xin ý kiến ủy ban nhân dân tỉnh về việc gỡ mìn, đưa dân về bản cũ và các trục giao thông sát biên giới. Đồng thời, trong khi chờ Bộ phê duyệt kế hoạch tháo gỡ mìn trên tuyến biên giới ở Quảng Ninh, chúng tôi đã chỉ đạo bước đầu tổ chức tháo gỡ mìn ở ba khu vực: đoạn đường từ Hoành Mô đi Cốc Lý - Đồng Văn; đoạn đường từ Tấn Mài đi Pò Hèn và đoạn đường từ thị trấn Móng Cái đi Đồi Vua. Sau khi tạo được cơ sở ổn định bước đầu mới đón dân ra, giao đất cho dân làm nhà, làm vườn; giao rừng cho dân quản lý, canh tác; đồng thời cũng giao cho dân quản lý đất đai, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, hệ thống cột mốc đường biên đã được ta và bạn xác lập.

        Từ một xã thí điểm, chứng tôi mở rộng thành hai rồi ba xã. Trên cơ sở đó dự án vùng kinh tế - quốc phòng 327 của Quân khu 3 ở địa bàn Tiên Yên, Ba Chẽ đã hình thành và phát huy tác dụng như tên gọi vốn có của nó - có ý nghĩa cả về kinh tế và quốc phòng. Từ dự án có tính chấm phá gói gọn ba xã (Thán Pún, Pò Hèn, Lục Phủ) ở Bình Lưu, Quảng Ninh, sau này đã phát triển thành một chương trình lớn của quốc gia - chương trình xây dựng những vùng kinh tế - quốc phòng ở các địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược: Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ…

        Sau này, trên cương vị công tác mới, tôi vẫn nhiều lần trở lại thăm các xã vùng biên ở Quảng Ninh, thuộc chương trình 327 của Quân khu 3. Cứ mỗi lần trở lại tôi được chứng kiến sự thay đổi, phát triển mạnh mẽ của vùng đất này. Những thôn bản, xóm làng vùng ven trù phú, sầm uất đã thế chỗ những “vùng rừng không dân”, ngày nào. Mỗi lần trở lại đất này, tôi lại càng xúc động, vững tin hơn bởi thế trận lòng dân, thế đứng vùng biên ải ngày càng có chiều sâu, ngày càng thêm vững chãi.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:47:41 PM

*

*       *

        Thời gian tôi công tác ở Quân khu 3, tình trạng tiêu cực mất dân chủ dẫn tới khiếu kiện, xung đột nội bộ chưa nhiều nhưng cũng đã xuất hiện lác đác ở một số địa phương.

        Phải nói rằng thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, các địa phương trên địa bàn Quân khu 3 đã phát huy truyền thống tốt đẹp của mình, nỗ lực phấn đấu huy động sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, tập trung phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đạt được nhiều thành tựu, đời sống nhân dân, không ngừng được nâng lên, bộ mặt nông thôn khởi sắc từng ngày, quốc phòng - an ninh từng bước phát triển vững chắc. Tuy vậy, trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, việc lãnh đạo, tổ chức, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền một số địa phương còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Hiện tượng quan liêu, tham ô trục lợi, trù úm cá nhân của một bộ phận cán bộ cơ sở đã gây bất bình trong nhân dân. Việc “dồn vùng đổi thửa” điều chỉnh ruộng đất không tính đến yếu tố lịch sử tâm lý tiểu nông…; huy động các khoản đóng góp của dân… cũng gây nên những bức xúc trong quần chúng. Lợi dụng mâu thuẫn giữa một bộ phận quần chúng nhân dân với chính quyền cơ sở, núp dưới danh nghĩa phát huy dân chủ, chống tham nhũng, những phần tử xấu đã kích động nhân dân có những hành động quá khích, vi phạm nhân quyền và pháp luật.

        Chưa tới “cao trào” như ở Thái Bình những năm 1997-1998, nhưng vào những năm 1990-1993, “điểm nóng” đã xuất hiện ở một vài nơi. Hải Dương có vụ việc ở xã Tân Việt huyện Cẩm Bình (năm 1990), vụ “Làng Nhô” ở Hiệp Lực, Ninh Giang. Hà Tây có vụ ở xã Song Phượng huyện Hoài Đức (năm 1992). Nam Hà có vụ việc ở xã Phúc Lưu huyện Lý Nhân (năm 1993). Với vụ ở xã Song Phượng, Hoài Đức, Hà Tây, nhân dân bị kích động đã bắt giữ trái phép sáu cán bộ, trong đó có một đồng chí tỉnh ủy viên xuống giải quyết sự việc. Vụ ở Phúc Lưu, Lý Nhân, Hà Nam, đã xảy ra xô xát làm một người chết, một số người bị thương, gần sáu héc-ta đất bỏ hoang không ai canh tác.

        Khi được cơ sở báo cáo xảy ra vụ việc phức tạp, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã nghiên cứu kỹ, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, cơ quan quân sự địa phương trên nhiều mặt, đặc biệt làm tốt công tác vận động quần chúng, giải quyết cơ bản dứt điểm các “điểm nóng”. Nói khái quát, nghe có vẻ đơn giản, nhưng thực tế đụng tới những vấn đề này hết sức phức tạp, chẳng khác gì đụng tổ ong; nếu biết cách gỡ thì lấy được mật mà lại không bị ong đốt; bằng không thì mật chẳng được mà còn bị ong đốt sưng mặt, bươu đầu. Có vụ việc chúng tôi chỉ làm việc với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trao đổi thống nhất cách thức giải quyết, nhưng cũng có vụ việc tôi phải trực tiếp giải quyết. Điển hình là vụ ở xã Tân Việt huyện Cẩm Bình và vụ ở xã Hợp Tiến huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương.

        Ở xã Tân Việt, do tranh chấp đất đai kéo dài giữa hai thôn Bằng Giã và Tân Hưng đã dẫn tới mâu thuẫn gay gắt, và xảy ra những hành động quá khích. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân đã dùng biện pháp cưỡng chế, nhằm ổn định tình hình. Nhưng cũng vi tiến hành cưỡng chế mà tình hình đã “nóng” lại càng thêm nóng. Hai làng chính thức dàn trận. Khi xuống trực tiếp giải quyết tình hình thực tế, tôi đọc được việc bày binh bố trận có bàn tay của một số cựu chiến binh. Trận địa bố trí chẳng khác mấy cách ta tổ chức làng xã chống càn trước đây, cũng chặn đầu, khóa đuôi đầy đủ cả. Tình hình căng thẳng tới mức Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân yêu cầu Bộ chỉ huy quân sự Hải Hưng huy động cỡ trung đoàn, tiểu đoàn xuống giải quyết điểm nóng.

        Nhận được điện khẩn báo cáo của anh Nguyễn Trọng Hiếu - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Hải Hưng, không một thoáng do dự, tôi trả lời như ra lệnh:

        - Không được đưa bộ đội xuống giải quyết, tuyệt đối không. Chờ tôi xuống bàn bạc, sẽ có cách xử lý.

        Dứt lời, tôi hội ý nhanh Bộ Tư lệnh và lên Hải Dương ngay. Cùng đi có anh Lê Ngọc Oa - Phó tư lệnh quân khu, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Hải Dương. Lên Hải Dương, chúng tôi trực tiếp nghe anh Hiếu báo cáo cụ thể tình hình.

        Anh Hiếu và tôi cùng là học viên đào tạo cán bộ tham mưu chiến dịch khóa 1 tại Học viện Quốc phòng, nên đã hiểu tính cách của nhau, trong công việc lại không câu nệ cấp trên, cấp dưới, nên trao đổi thẳng thắn, chân tình. Anh em cùng có nhiều điểm tương đồng trong đánh giá tình hình, xác định mâu thuẫn chính gây nên vụ việc… nên dễ làm việc.

        Tôi cho rằng để giải quyết tận gốc vấn đề phải tìm ra nguyên nhân, xác định đúng tính chất mâu thuẫn. Xem xét diễn biến sự việc, chúng tôi thấy dân có sai, nhưng chủ yếu là cấp ủy, chính quyền địa phương cũng mắc nhiều sai sót, thiếu dân chủ trong giải quyết vấn đề.

        Từ nhận định như trên, tôi chủ trương: sai thì phải sửa, sai đâu sửa đó. Cấp ủy, chính quyền sai, phải nghiêm túc rút kinh nghiệm; những trường hợp cần thiết phải kỷ luật, xử lý. Dân sai, phải tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:50:20 PM

        Tôi cũng xác định mâu thuẫn chủ yếu trong nội bộ nhân dân, tuyệt nhiên không phải mâu thuẫn đối kháng địch - ta. Vì vậy, hà cớ gì phải đưa quân đội xuống để giải quyết theo hình thức cưỡng chế?

        Gặp chúng tôi ở Hải Dương, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy phản ứng khá gay gắt việc quân đội không xuống giúp. Anh nói: Quân đội là lực lượng vũ trang của Đảng, của dân; lúc này chính quyền đang gặp khó khăn, sao các anh không ra tay mà còn đợi gì nữa!

        Tôi từ tốn trả lời: Anh hiểu cho quân đội của dân là quý lắm rồi. Cũng vì quân đội của dân, nên chúng tôi phải trực tiếp xuống nghe dân nói gì, xem dân làm gì. Nếu nội bộ dân có vấn đề gì vướng mắc thì cùng tháo gỡ chứ không phải là chế áp dân.

        Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy còn dặn tôi: Ông cẩn thận xuống dưới đó, không khéo dân họ bắt người, xe thì bì đập phá, khi đó đừng có trách chúng tôi không nhắc. Tôi cảm ơn anh, và khẳng định dân chẳng bao giờ bắt chúng tôi.

        Liền đó, tôi cùng các anh trong đoàn xuống thẳng Tân Việt. Đến cách xã chừng một cây số, chúng tôi xuống xe đi bộ vào làng. Trong thôn ngoài làng im ắng như tờ. Cả nhóm dừng lại đầu làng một lúc thì có hai người đàn ông đứng tuổi (trạc chừng sáu chục) ra chào, hỏi chúng tôi cần gì. Tôi giới thiệu lần lượt từng thành viên trong đoàn. Một trong hai người ra đón chúng tôi, giới thiệu là Bí thư chi bộ thôn, là cựu chiến binh. Ông làm bí thư chi bộ hàng chục năm nay. Sau đó, ông mời chúng tôi vào một căn nhà đầu làng, và từ đó mọi chuyện diễn ra hết sức bình thường, như chẳng có gì gọi là gay cấn cả, tuy rằng mạch chuyện rất dè dặt.

        Qua câu chuyện của người bí thư chi bộ, chúng tôi biết căn nguyên gây ra xung đột hai thôn là vấn đề chia lại đất đai. Nghị quyết của chi bộ chỉ đạo đất trước đây của thôn nào, hợp tác xã nào thì nay trả về cho thôn đó; nhưng nghị quyết của Huyện ủy lại chỉ đạo không giả, ai ở đâu, canh tác ở đâu thì giữ nguyên, vì vậy mà xảy ra tranh giành. Dân yêu cầu và chờ Huyện ủy xuống để giải đáp thì ông Bí thư không xuống, sợ dân bắt. Không những thế, huyện còn cho cả một trung đội công an xuống xã, triệu chúng tôi lên xã để công an điều tra. Lúc này thì dân không lên, sợ công an bắt…

        Vậy là, “quan huyện” sợ dân bắt, dân lại sợ công an huyện bắt, nên chàng gặp được nhau… Mọi chuyện đến đây đã được gỡ nút. Thực tế thì bà con, anh em ta luôn hướng thiện, “trọng nghĩa khinh tài”, luôn ứng xử thấu tình đạt lý. Xuống cơ sở, tôi đặc biệt chú ý lực lượng cựu chiến binh. Khi trò chuyện với anh em, tôi không ngần ngại nói mình cũng đã từng “vào sống ra chết”, chín lần bị thương. Anh em mình không gục ngã trước kẻ thù đế quốc, thực dân, hà cớ gì lại đánh đổi máu xương, danh dự bởi những mâu thuẫn cỏn con, nội bộ?

        Sau Tân Việt, là các điểm nóng Hợp Tiến (Nam Sách) và vụ “làng Nhô” (Hiệp Lực - Ninh Giang).

        Ở Hợp Tiến, cũng do mâu thuẫn nội bộ không được giải quyết thỏa đáng, cộng với những biểu hiện thiếu dân chủ trong khi giải quyết…, đã bị những phần tử xấu kích động, nên khi xe đồng chí Bí thư Huyện ủy xuống xã đã bị quây lại trong một thời gian dài. Người trong xe không được ra ngoài, chỉ được tiếp tế bánh mì, nước uống. Có tin đồn rằng dân quân xã chuẩn bị rơm dọc đường để đốt xe nếu cấp trên xuống can thiệp. Anh Hiếu cũng cho tôi biết là công an có ý định mượn quân phục của bộ đội, cải trang để xuống cơ sở. Hay trường hợp ở Hiệp Lực - Ninh Giang, những phần tử cộm cán, “đầu gấu” đã quản lý, khống chế thôn xóm “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Chính quyền huyện đã cho hàng trăm công an xuống, nhưng vẫn không vào được làng.

        Nhận được báo cáo của Hải Hưng, tôi cùng anh Hiếu và các anh trong Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phân tích đánh giá tình hình, xác định mâu thuẫn rồi trực tiếp xuống giải quyết. Cũng như ở Tân Việt - khi quân đội xuống thì tình hình ở Hợp Tiến và Hiệp Lực nhanh chóng được “tháo van”. Để giải quyết êm thấm các vụ việc, tôi thống nhất với các anh ở Hải Hưng, Hà Tây, Hà Nam, khi cử các tổ, đội công tác xuống điểm nóng, phải chọn những cán bộ có bản lĩnh, đồng thời phải có tác phong quần chúng tốt; phải kết hợp được với cấy ủy, chính quyền và Hội Cựu chiến binh…

        Từ thực tế giải quyết các điểm nóng Tân Việt, Hợp Tiến, Hiệp Lực, anh Lê Đức Bình - Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng, anh Nguyễn Văn Thọ - Phó bí thư, Chu tịch tỉnh đánh giá cao và tuyệt đối tin tưởng quân đội. Đã có lúc, anh Bình bộc bạch cùng tôi:

        - Trong hội nghị giao ban Thường vụ Tỉnh ủy, tôi đã khẳng định, xảy ra vụ việc nào, nếu quân đội vào, lính của anh Trà, anh Hiếu vào, coi như vụ việc ổn 70-80 phần trăm.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:51:44 PM

        Tôi cũng vui vẻ, góp thêm với anh rằng: Quân đội chỉ là nòng cốt, vấn đề cơ bản là có nhân dân quần chúng ở cơ sở. Khi ta thu phục được nhân tâm, dân tin thì mọi việc sẽ ổn

        Những kinh nghiệm bước đầu trong xử lý một vài “điểm nóng” ở Hải Dương, Hà Tây thời gian làm Tư lệnh Quân khu 3 đã giúp tôi tham gia chỉ đạo giải quyết một số vụ phức tạp ở Thái Bình, Đông Anh - Hà Nội sau này.

        Ấn tượng mạnh đối với tôi là sự kiện ở Đông Anh - Hà Nội, khi đó tôi là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nguyên nhân của “điểm nóng” này cũng xuất phát từ mâu thuẫn về đất đai; rồi cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết không thấu tình đạt lý, dẫn tới xung đột gay gắt, tới mức chính quyền yêu cầu Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô đưa bộ đội đến can thiệp. Tôi nhớ, trong tình trạng khá căng thẳng, anh Nguyễn Như Hoạt - Tư lệnh Quân khu Thủ đô trực tiếp báo cáo tôi cho phép được đưa bộ đội đến giải quyết vụ việc.

        Tôi hỏi anh Hoạt: Tại sao lại phải đưa bộ đội đến giải quyết mâu thuẫn hoàn toàn thuộc về nội bộ giữa dân với chính quyền? Đồng chí đã tính đến những hệ lụy của nó như thế nào chưa?

        - Báo cáo Bộ trưởng - anh Hoạt trả lời: nhưng đây là ý kiến của đồng chí Bí thư Thành ủy, đồng chí Bí thư nói rằng đã xin ý kiến của Bộ Chính trị.

        - Tôi là ủy viên Bộ Chính trị, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, mà đã có ai hỏi han, đề cập gì đâu? Tôi sẽ trao đổi với các đồng chí trong Bộ Chính trị. Nhưng lệnh của tôi là không được đưa quân đội đến để rồi tạo áp lực cưỡng chế. Chỉ có thể cử những tổ, đội gồm những cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh, có năng lực vận động quần chúng xuống cùng với cấp ủy, chính quyền, các tổ chức quần chúng vận động, thuyết phục nhân dân…

        Kết quả là vụ việc ở Đông Anh - Hà Nội được giải quyết ơn thỏa mà không cần sự can thiệp của quân đội. Sau này, đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội và anh Hoạt khi nhắc lại với tôi chuyện này đều có chung ý nghĩ: Khi đó, nếu như Quân khu Thủ đô “xuất quân”, thì không rõ tình hình sẽ đi đến đâu!

        Từ những vụ việc ở Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội, tôi cho rằng nguyên nhân dẫn tới việc tồn tại những “điểm nóng” có thể có nhiều, nhưng chủ yếu là mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức Đảng ở cơ sở, mâu thuẫn giữa nhân dân với một bộ phận cán bộ chính quyền địa phương về quản lý đất đai, tài chính, tác phong làm việc thiếu dân chủ. Khi dân phát hiện khiếu kiện thì cấp ủy, chính quyền giải quyết không triệt để, kịp thời, làm cho dân bất bình thêm, tạo cơ hội cho những phần tử xấu kích động, lôi kéo, phá hoại. Khi sự việc xảy ra, phương pháp phân tích, xử lý các tình huống của cấp ủy, chính quyền địa phương lúng túng, thiếu chặt chẽ, đồng bộ; nhãn quan tư duy chưa sâu sắc, bản lĩnh chưa thật vững vàng.

        Những vụ việc xảy ra kể trên là điều đáng tiếc. bởi vì Thủ đô Hà Nội cũng như châu thổ sông Hồng vốn là những địa phương giàu truyền thống cách mạng; các tầng lớp nhân dân cần cù lao động, đoàn kết tương thân tương ái, nặng tình làng nghĩa xóm…

        Để giải quyết những vụ việc phức tạp trên, điều cốt yếu đầu tiên là cấp ủy, chính quyền cơ sở, lực lượng vũ trang địa phương phải nắm vững địa bàn, phát hiện mâu thuẫn nảy sinh ở cơ sở, làm rõ nguyên nhân dẫn tới tình trạng đối đầu giữa quần chúng nhân dân với một bộ phận cán bộ, từ đó có biện pháp tiến hành công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, có chủ trương giải quyết từng khâu, từng việc dứt điểm.

        - Nơi nào phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, cấp ủy và chính quyền địa phương phải hết sức bình tĩnh, đánh giá đúng tình hình; đặt trọng tâm sử dụng lực lượng tùy theo trạng thái quy mô, theo đúng sự chỉ đạo của trên, nhất là Chỉ thị 18 Liên bộ Quốc phòng - Nội vụ (nay là Bộ Công an). Đây là vấn đề vô cùng quan trọng, bởi nó không chỉ phản ánh quan điểm, đường lối, thái độ chính trị mà còn là thước đo trình độ nhận thức, bản lĩnh, năng lực và sự nhạy bén của người lãnh đạo, chỉ huy trước tình hình thực tế đặt ra. Đây cũng là vấn đề khó và nhạy cảm đối với những người làm công tác quân sự địa phương. Nếu thiếu tỉnh táo dễ dẫn đến sai lầm, vi phạm kỷ luật quân đội, mất uy tín, gây sự hiểu lầm trong quan hệ với địa phương.

        Một vấn đề có tính nguyên tắc là sự liên kết chặt chẽ của các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, thể hiện sự năng động, sáng tạo, định hướng tạo sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong công tác vận động quần chúng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh Hội người Cao tuổi, Hội Hưu trí, những cán bộ lão thành cách mạng, những người có uy tín ở từng địa phương, dòng họ…, tạo bầu không khí lành mạnh, đấu tranh với những biểu hiện cực đoan, coi thường pháp luật của những phần tử quá khích; phát huy nhân tố tích cực, đẩy lùi tiêu cực. Những địa phương xảy ra vụ việc là do phát sinh mâu thuẫn nội bộ. Ở đó, nhiệm vụ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên địa bàn tự giải quyết là chính, theo pháp luật hiện hành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền cấp trên.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:10:39 AM

        Lực lượng được phân công bám nắm cơ sở phải xử lý nhiều kênh thông tin, phải chọn lọc để có thông tin chính xác, từ đó tham mưu đúng, kịp thời cho cấp ủy, chính quyền, để có quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, phù hợp. Đồng thời, đập tan luận điệu xuyên tạc của những phần tử cực đoan, nhằm định hướng tư tưởng, hành động trong nhân dân.

        - Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị, đồng thời rà soát lại đội ngũ cán bộ cơ sở, xử lý kịp thời những cá nhân thoái hóa biến chất, làm cho bộ máy lãnh đạo, điều hành ở cơ sở bảo đảm sự tin cậy của nhân dân.

        - Kiện toàn, củng cố và nâng cao chất lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ sức làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng, trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các nhiệm vụ khác. Chú trọng giáo dục ý thức chính trị và rèn luyện bản lĩnh đấu tranh, làm cho môi một dân quân tự vệ, dự bị động viên phải là một nhân tố tích cực trong sản xuất và hoạt động xã hội ở địa phương, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện tiêu cực, manh động, vô chính phủ. Đối với những cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ, dự bị động viên nếu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào những hoạt động gây rối ở địa phương, phải kiên quyết loại bỏ khỏi hàng ngũ và có hình thức xử lý thích đáng.

        Quá trình công tác trước đây ở các đơn vị thuộc Quân khu 9 và 5 năm trên cương vị Tư lệnh Quân khu 3, trong công tác cán bộ cũng để lại cho tôi những điều cần đúc kết, suy ngẫm. Tôi nghĩ rằng, khi được tổ chức phân công chủ trì một cơ quan, đơn vị, mình phải luôn nghĩ đến quyền lợi của cấp dưới - bằng các quy chế, chính sách - kể cả chính sách đề bạt, sử dụng cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ phát huy hết năng lực - sở trường sở đoản. Đồng thời, người chỉ huy phải có tính vị tha nếu như cán bộ, nhân viên thuộc quyền phạm khuyết điểm. Trong chúng ta, ở đời, ai mà không có khuyết điểm, hoặc nhiều hoặc ít. Vấn đề là làm sao để anh em nhìn nhận rõ khuyết điểm, có hướng khắc phục; tổ chức phải tạo điều kiện để anh em khắc phục tốt.

        Tôi nhớ những năm đầu thập niên 90, Quân khu 3 có chủ trương bung ra làm kinh tế. Khi chọn cán bộ làm Trưởng phòng Kinh tế quân khu, tôi hỏi anh Đỗ Mạnh Đạo, anh đề cử đồng chí Nguyễn Văn Chỉnh. Chỉnh là người năng động, có đầu óc làm kinh tế, nhưng lần đầu bước vào thương trường, vấp ngã luôn - thời gian đầu lỗ 600 triệu. Khi đó ngần này tiền là to lắm. Sau cú ngã đó Chỉnh báo cáo lãnh đạo, chỉ huy, thôi không làm kinh tế nữa. Còn cơ quan pháp luật vào cuộc đòi xử lý. Nhưng tôi, anh Đạo động viên Chỉnh tiếp tục nghiên cứu triển khai chủ trương của quân khu. Chúng tôi sẽ hỗ trợ. Nếu “hỏng” lần nữa, khi đó xử lý cũng chưa muộn. Được tổ chức động viên, tạo điều kiện, Chỉnh tiếp tục tìm cách làm ăn. Chỉ vài năm sau đã lãi mấy tỷ đồng - và mở ra một hướng làm kinh tế có hiệu quả cho Quân khu 3. Sau anh Chỉnh thì Phan Bá Dân (nay là Chủ nhiệm Hậu cần quân khu) và một số đồng chí khác cũng là những cán bộ có tư duy làm kinh tế và làm có hiệu quả.

*

*       *

        Năm năm trên cương vị Tư lệnh Quân khu 3, cùng với dòng chảy công việc, tôi đã có những bước trưởng thành nhất định, hay nói đúng hơn công việc đã tạo nên những bước tiến đáng kế của tôi. Sau khi nhận quyết định giữ chức Phó tư lệnh thứ nhất quân khu, ngày 29 tháng 8 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Quyết định số 200/ĐUQSTW chỉ định tôi là Đảng ủy viên, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu. Đầu năm 1989, anh Nguyễn Trọng Xuyên được trên điều lên làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, tôi được bổ nhiệm Tư lệnh quân khu. Cuối năm năm đó, tôi được phong hàm Trung tướng. Năm 1991, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, tôi được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tiếp đó, trong đợt bầu cử Quốc hội khóa VIII, tôi trúng cử đại biểu Quốc hội với số phiếu tín nhiệm cao. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu (vòng 2), tôi được bầu làm Phó bí thư Đảng ủy; ngày 26 tháng 3 năm 1993, lại được Đảng ủy Quân sự Trung ương chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Quân khu. Năm năm trên bất cứ cương vị công tác nào, tôi đều tận tâm tận lực, gắng làm tròn trách nhiệm của mình, mong góp công sức nhỏ nhoi của mình cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân khu 3 xứng đáng với truyền thống “Ra quân, ra của, ra chiến thắng”.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:12:09 AM

        Đã ngót hai chục năm kể từ ngày tôi về nhận nhiệm vụ ở Quân khu 3, nhưng mỗi lần có dịp trở lại quân khu, thì các anh Thế Trị, Hoàng Kỳ, Nguyễn Văn Lân, Lê Trung Thành, Nguyễn Tiến Long, Nguyễn Đình Diễn, Lê Ngọc Oa, Phan Bá Dân,… và nhiều cán bộ, nhân viên quân khu bộ vẫn làm sống lại trong tôi những kỷ niệm mộc mạc, dung dị ngày ấy. Trong hồi niệm của nhiều người vẫn hằn sâu bóng dáng của tôi vào các ngày nghỉ, giờ nghỉ, mặc thường phục, đội mũ lưỡi trai công nhân, đạp xe Phượng Hoàng xuống các cơ quan, phân đội trực thuộc, vừa thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ, vừa nắm tình hình, nghiên cứu quy hoạch củng cố, xây dựng doanh trại cơ quan, đơn vị; đồng thời cũng không quên nắn sửa tác phong, lời ăn tiếng nói chưa chuẩn xác của từng cán bộ, chiến sĩ. Có lần, trong một ngày nghỉ. tôi đạp xe ra thăm Trung đoàn vận tải 653 Cục Hậu cần quân khu; thấy tôi dắt xe vào cổng, đồng chí vệ binh trẻ măng cười, chào chú và tự nhiên để tôi vào không hỏi han gì. Sau khi vào cổng, tôi dựng xe và quay lại chỗ đồng chí cảnh vệ, từ tốn hỏi:

        - Đồng chí đứng đây làm gì?

        - Thưa chú - chiến sĩ vệ binh ngạc nhiên hỏi lại - chú không thấy cháu đang đứng gác hay sao?

        - Sao tôi vào, đồng chí không kiểm tra? - Tôi hỏi tiếp.

        - Cháu cứ nghĩ chú là dân sự.

        - Không được, không được - tôi ôn tồn nói: Điều lệnh cảnh vệ không có điều nào quy định chỉ kiểm tra quân nhân mà không kiểm tra thường dân. Đồng chí phải làm tốt chức trách của mình là đang bảo vệ, giữ gìn tính mệnh, của cán bộ, chiến sĩ và tài sản của đơn vị.

        Sau khi nhắc nhở, dặn dò chiến sĩ vệ binh chu đáo tôi vào thăm Ban chỉ huy trung đoàn. Có lẽ người chiến sĩ trẻ ấy không biết người “đối chất” với mình hôm đó là Tư lệnh quân khu.

        Từ những công việc “tấm miếng” như điều chỉnh tổ chức lại lực lượng cả một quân khu “vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương” theo chiến lược quốc phòng - an ninh đầu thời kỳ đổi mới của Đảng, xây dựng khu vực phòng thủ - chú trọng tuyến biển - đảo, những đổi mới có tính đột phá về công tác cán bộ, công tác hậu cần, kỹ thuật, xây dựng bệnh xá quân dân y kết hợp, kết hợp kinh tế với quốc phòng…, đến những câu chuyện rất đỗi đời thường kể trên, đều là những kỷ niệm đẹp, những niềm vui mà tôi có được trong 5 năm sống và công tác ở Quân khu 3 anh hùng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:13:17 AM

Chương bảy

NHỮNG NGÀY Ở TỔNG HÀNH DINH

        Sau hơn 5 năm trên cương ví Phó tư lệnh thứ nhất rồi Tư lệnh Quân khu 3, tháng 12 năm 1993, tôi được thủ tướng bổ nhiệm làm Phó Tổng tham mưu trưởng. Người thay tôi làm Tư lệnh Quân khu 3 là anh Nguyễn Thế Trị.

        Dẫu có nặng lòng với vùng châu thổ sông Hồng; với những dự định lớn, bé của Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, nhằm điều chỉnh tổ chức lại lực lượng vũ trang quân khu theo hướng tinh, gọn, mạnh; với những dự án kinh tế kết hợp quốc phòng… ở vùng “phên giậu” Đông Bắc Tổ quốc…, nhưng, nhận quyết định của trên, tôi khẩn trương bàn giao, chia tay các anh trong cơ quan quân khu để “lai Kinh”. Tất cả những gì chắt lọc qua thực tiễn công tác, và tình cảm anh em, đồng chí “nhiệm vụ cùng bàn, khó khăn cùng nhau khắc phục” (lời các anh Nguyễn Trọng Xuyên, Đỗ Mạnh Đạo,…) là hành trang quý giá mà tôi tích cóp thêm trên đường về Tổng hành dinh.

        Thời điểm tôi lên công tác ở Bộ Tổng Tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng là anh Đào Đình Luyện (kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Phó Tổng tham mưu trưởng có các anh: Nguyễn Thế Bôn, Đỗ Đức, Nguyễn Thới Bưng, Trần Hanh; thời gian sau anh Nguyễn Thới Bưng được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh Đỗ Đức nghỉ hưu; trên bổ nhiệm thêm các anh Nguyễn Văn Rinh, Nguyễn Huy Hiệu làm Phó Tổng tham mưu trưởng. Theo phân công của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng Tham mưu trưởng, mỗi Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách một số mảng công việc cụ thể. Tôi được phân công phụ trách tác chiến. Trong đội ngũ cán bộ chủ trì Bộ Tổng tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng, cho dù tuổi tác có chênh lệch, sống có cá tính, nhưng đều từng trải chiến trận, ít nhiều lại học tập, công tác với nhau, nên anh em đồng thuận, cởi mở, cầu thị; bầu không khí làm việc hết sức thoải mái.

        Vấn đề có tính bao trùm, xuyên suất trong hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân, của quân đội ta vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước là quán triệt được tư duy mới của Trung ương Đảng về chiến tranh nhân dân - quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Không chỉ chuẩn bị đất nước đề phòng chiến tranh xâm lược với mọi quy mô, mà còn phải chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, nhân dân bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ…

        Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề, ngay từ những ngày đầu được giao phụ trách tác chiến, tôi đã cùng các anh Hoàng Nghĩa Khánh, Vũ Cao (Cục trưởng Cục Tác chiến), Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Đồng Thoại, Vũ Xuân Thủy (Phó cục trưởng) và một số chuyên viên có bề dày kinh nghiệm về tham mưu tác chiến, nghiên cứu soạn thảo chỉ thị 25/CT-TM của Bộ Tổng tham mưu, vạch định nguyên tắc, phương pháp đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, trong đó khẳng định: Về nguyên tắc, phải kiên quyết bảo vệ chủ quyền an ninh trong mối quan hệ; ngăn chặn và xử lý gọn các điểm nóng, dựa vào nhân dân, phát động được quần chúng.

        Từ định hướng trên, sau khi được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt, chúng tôi tiếp tục chỉ đạo Cục Tác chiến tập trung triển khai một số công tác trọng tâm:

        1. Xây dựng kế hoạch phòng thủ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới;

        2. Nghiên cứu đề xuất và tổ chức thực hiện một bước điều chỉnh chiến lược lớn;

        3. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng chiến lược bảo đảm an ninh biên giới, biển - đảo, thềm lục địa, không phận của Việt Nam;

        4. Tham gia xây dựng lý luận phòng thủ khu vực và công tác tham mưu trong khu vực phòng thủ; tổ chức các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ trên cả nước;

        5. Quy hoạch vị trí đóng quân; điều chỉnh bố trí lại lực lượng.

        6. Tham gia hoạch định nội dung xây dựng hậu phương chiến lược, xây dựng tiềm lực quốc phòng.

        Về xây dựng kế hoạch phòng thủ cơ bản, để có cơ sở thực tế, tôi đã cùng các đồng chí ở Cục Tác chiến, Cục Huấn luyện chiến đấu (nay là Quân huấn),… nhiều lần nghiên cứu thực địa ở các quân khu. Sau đó, anh em cùng ngồi với nhau bàn thảo về đối tượng tác chiến; dự kiến tình hình phát triển, các tình huống chiến tranh có thể xảy ra. Ngoài những tình huống trước đây ta dự kiến, liệu có tình huống nào xảy ra nữa hay không? Về vấn đề này, chúng tôi cũng nhận được những gợi ý rất sâu sắc, cụ thể của anh Đào Đình Luyện và Bộ trưởng Đoàn Khuê.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:14:33 AM

        Về cách đánh của quân chủ lực, trong những lần bàn thảo, chúng tôi đều thống nhất rằng: chiến tranh nếu nổ ra sẽ lớn hơn, hiện đại hơn, ta khó giành thắng lợi trên tuyến đầu, thời gian đầu. Vì vậy, ta phải tích cực xây dựng lực lượng mạnh tại chỗ, đánh lâu dài; không thể sử dụng lực lượng dự bị chiến lược sớm, tiến hành phản công ngay mà phải áp dụng cách đánh buộc địch phải sa lầy tiến thoái lưỡng nan (đây cũng chính là kinh nghiệm được đúc kết từ hàng nghìn năm chống ngoại xâm của cha ông - đặc biệt là kinh nghiệm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ).

        Trong chỉ đạo xây dựng kế hoạch phòng thủ cơ bản, qua nghiên cứu, chúng tôi dự kiến với những tình huống dự báo hiện nay, có các tình huống phải cùng một đối tượng tác chiến, hoặc một đối tượng tác chiến nhưng thủ đoạn, biện pháp chiến lược của chúng lại khác nhau, tiến hành trên từng không gian chiến trường khác nhau… Vì vậy, không thể xây dựng một kế hoạch phòng thủ chiến lược chung là đủ mà phải có nhiều kế hoạch. Ngoài “kế hoạch phòng thủ cơ bản bảo vệ Tổ quốc”, còn phải có cả “Quyết tâm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an ninh, bảo vệ chế độ”, kế hoạch chống chiến tranh xâm lược quy mô lớn, quyết tâm phòng thủ bảo vệ biên giới, vùng trời, vùng biển - đảo và thềm lục địa… Các kế hoạch được xây dựng không đơn thuần về quân sự - quốc phòng mà phải gắn kết chặt chẽ quốc phòng với an ninh - quốc phòng với kinh tế.

        Qua lĩnh hội ý kiến chỉ đạo tác chiến, chỉ đạo xây dựng kế hoạch phòng thủ cơ bản, của các anh Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Đào Đình Luyện…, chúng tôi dần dần thấm thía rằng: vấn đề có tính nguyên tắc là không vì dự kiến ít có khả năng xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn mà coi nhẹ việc nghiên cứu xây dựng kế hoạch phòng thủ cơ bản (kế hoạch A). Có kế hoạch phòng thủ cơ bản mới có cơ sở triển khai các công việc phòng thủ bảo vệ đất nước, kết hợp kinh tế với quốc phòng, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, phát triển kinh tế… Chỉ có xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, với tiềm lực quốc phòng - kinh tế mạnh, luôn luôn cảnh giác cao độ, thì khi đối phương tiến hành chiến tranh xâm lược, ta mới không bị động về chiến lược.

        Ngoài kế hoạch phòng thủ quốc gia, kế hoạch phòng thủ của quân khu, tỉnh…, Bộ Tổng tham mưu còn chỉ đạo Cục Tác chiến phối hợp với các quân khu, quân chủng, binh chủng xây dựng các kế hoạch bảo vệ một số khu vực trọng điểm, vùng sâu vùng xa, như: kế hoạch bảo vệ vùng biển đảo Tây Nam (Thổ Chu, Phú Quốc,…); kế hoạch bảo vệ căn cứ hậu phương Tây Nguyên, Tây Bắc và Đông Bắc của Tổ quốc. Đặc biệt kế hoạch phòng thủ Cam Ranh được chỉ đạo nghiên cứu kỹ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Vùng 4 hải quân, Quân khu 5 và các quân - binh chủng.

        Vùng biển quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa, thềm lục địa của ta, đặc biệt là các khu vực có dầu khí thường là “điểm nóng”, do có sự tranh chấp của một số nước trong khu vực. Vì vậy, nghiên cứu xây dựng kế hoạch phòng thủ bảo vệ vùng biển - đảo, là một nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan tham mưu tác chiến chiến lược.

        Sau khi về công tác ở Bộ Tổng tham mưu, được phâncông phụ trách tác chiến, tôi đã dành nhiều thời gian đi thị sát nắm tình hình thực tế ở các đảo. Riêng quần đảo Trường Sa, trong vòng một năm, với nhiều đợt công tác, tôi đã tới 32 đảo nổi, đảo chìm, chứng kiến mọi hoạt động của đồng bào, chiến sĩ ta nơi đầu sóng ngọn gió.

        Về kế hoạch phòng thủ, bảo vệ vùng biển - đảo, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Cục Tác chiến nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, chuẩn bị các phương án, tham gia các phái đoàn của Nhà nước tiến hành đàm phán giữa Việt Nam với Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia… về các Vấn đề có tranh chấp giữa các nước tại các vùng chồng lấn trên biển và thềm lục địa; tiến tới phân định rõ ranh giới vùng biển và thềm lục địa giữa Việt Nam và Thái Lan (năm 1997), phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc (tháng 12 năm 2000), phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Inđônêxia (năm 2003),…

        Về bảo vệ vùng biển, thềm lục địa, hải đảo, Bộ Tổng tham mưu đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới Chính phủ, bằng các biện pháp quân sự bảo đảm giữ vững chủ quyền, ngăn chặn đối phương gây xung đột quân sự. Từ năm 1994, Bộ Tổng tham mưu đã cho sưu tầm, chuẩn bị một số văn kiện, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan, hoàn chỉnh và đệ trình lên Quốc hỏi phê chuẩn, ban hành “Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982” và “Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng”.

        Cùng với đấu tranh ngoại giao, bảo vệ chủ quyền biển - đảo, Bộ Tổng tham mưu còn chỉ đạo Cục Tác chiến hoàn thiện kế hoạch bảo vệ khu vực quần đảo Trường Sa và Dầu khí I (DKI); tiếp tục bổ sung phương án phòng thủ, bảo vệ các đảo Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý…; tổ chức các lực lượng phòng thủ, các lực lượng tuần tra, thường xuyên duy trì tàu trực chiến tại Trường Sa, Dầu khí I, bãi cạn Cà Mau, để kịp thời phát hiện xua đuổi tàu nước ngoài xâm nhập trái phép; kết hợp với hoạt động kinh tế và dịch vụ trên biển. Theo đó năm 1998, Cục Cảnh sát biển thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân chính thức ra đời, tham gia vào hoạt động phòng thủ, bảo vệ biển - đảo.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 08:57:42 AM

        Qua những lần đi thực địa ở quần đảo Trường Sa, điều làm cho tôi băn khoăn, trăn trở nhất là đến đảo nào cũng thấy trơ trụi chỉ có cát và đá, san hô. Con người cứ trụi trần bốn mùa, suốt ngày đêm chống chọi với bão tố, gió và cát… Phải đưa “sự sống”, đưa màu xanh ra đảo. Với ý tưởng đó, tôi bàn với các anh bên Tổng cục Hậu cần nghiên cứu, để cải tạo môi trường sống ở các đảo. Tôi cũng gợi ý nên đào những hố sâu trên cát ở đảo, sau đó đưa đất màu từ đất liền ra để trồng cây. Khởi đầu là những hốc cây cảnh, từng luống rau chừng vài mét vuông. Sau này, mỗi năm ta chuyến ra các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hàng nghìn tấn đất. Cứ thế, “góp gió thành bão”. Có đất, có nước là có sự sống. Những luống rau, vườn rau của đảo ra đời, được chiến sĩ ta bón chăm tươi tốt, mang lại màu xanh cho đảo, và cuộc sống của những người tỉnh nơi đảo xa cũng bớt đi sự khô khan, cằn cỗi.

        Ra thị sát ở Trường Sa, tôi lại chứng kiến cảnh nhiều anh em sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp - chủ yếu là y bác sĩ, nhân viên cơ yếu bám trụ lâu dài trên đảo lâu năm, không được chuyển vùng, không có điều kiện học hành nâng cao trình độ chuyên môn. Từ kinh nghiệm luân chuyển cán bộ ở Quân khu 3 thời tôi làm Tư lệnh quân khu, tôi đề nghị Thủ trưởng Bộ thực hiện chế độ luân chuyển đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ ở các đảo Theo đó, phần lớn y - bác sĩ, nhân viên cơ yếu và nhiều sĩ quan sau ba năm công tác ở đảo sẽ được chuyển về đất liền, và các cơ quan, đơn vị ở đất liền hằng năm đều tuyển chọn cán bộ để tăng cường cho các đảo. Việc làm này ngày một đi vào nền nếp, và theo tôi đạt được hiệu quả trên nhiều mặt. Cán bộ - đặc biệt là cán bộ chuyên môn kỹ thuật có điều kiện học tập nâng cao trình độ chuyên môn; đồng thời qua luân chuyển mà thực hiện được chính sách đối với cán bộ, tạo được động lực, niềm hứng khởi cho số anh em nhận nhiệm vụ công tác ở đảo.

        Một trong những vấn đề buộc tôi phải để tâm suy nghĩ nhiều khi đi thực địa ở Trường Sa là trước đó, khi tổ chức phòng thủ đảo, ta đã cho xây dựng hệ thống lô cốt nổi tiền tiêu ở các đảo. Xây dựng được một lô cốt tiền tiêu nơi đảo xa là rất vất vả, tốn kém; nhất là công vận chuyển nguyên vật liệu từ đất liền ra đảo; phải nghiên cứu chọn sắt thép, xi măng chống nước mặn… Nhưng thực tế, theo tôi là ít hiệu quả, nếu không nói là gần như vô tác dụng.

        Khi tôi nêu ý kiến bỏ hệ thống lô cốt tiền tiêu, chỉ nên tăng cường vật cản chống đổ bộ, có một số ít anh trong Bộ Tổng tham mưu và Thủ trưởng Bộ không đồng ý thậm chí phản ứng gay gắt. Bằng kinh nghiệm thực tế và qua nghiên cứu tài liệu tổng kết của ta, tôi dẫn giải để các đồng chí thấy rằng trong kháng chiến chống Mỹ đối với các đảo nhỏ, khi địch tiến công nếu ta phòng ngự đông, rất dễ thương vong lớn và khi đó, bộ đội rất dễ mất tinh thần, tư tưởng dao động, mất sức chiến đấu. Theo tôi, trong tác chiến phòng thủ hiện nay đối với các đảo, nên tính tới phương án giảm số lượng, tăng chất lượng, quân “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Người chiến sĩ ngoài bản lĩnh vững vàng, phải tinh thông, đa năng; có thể sử dụng được nhiều loại vũ khí hiện đại; mặt khác phải chú trọng tăng cường hệ thống công sự, hầm hào và hỏa lực trên các đảo; phòng ngự có chiều sâu. Đây là vấn đề lớn, phải có kế hoạch lâu dài. Riêng ý kiến của tôi đề nghị bỏ hệ thống lô cốt nổi tiền tiêu ở các đảo đã được Bộ trưởng Đoàn Khuê chấp thuận. Lượng nguyên vật liệt. để xây lô cốt nổi, chúng tôi cho tập trung xây dựng hệ thống công sự trên đảo. Bộ Tổng tham mưu đã chỉ đạo Cục Tác chiến phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Công binh nghiên cứu xây dựng các công trình lâu bền và bố trí hỏa lực tăng cường ở các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Việc xây dựng nhà cao chân ở khu vực Ba Kè, Phúc Tần và hệ thống công sự trên các đảo nổi là những công trình trọng điểm được đầu tư lớn. Hằng năm vào mùa biển lặng, ít bão tố, tôi thường cùng cán bộ Cục Tác chiến, Bộ Tư lệnh Công binh, Hải quân ra các đảo kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu của bộ đội; kiểm tra việc thi công và chất lượng các công trình chiến đấu.

        Xây dưng kế hoạch bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, là một trong những nội dung trọng yếu của công tác tác chiến chiến lược lúc này. Trước tình hình biến động ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, đặc biệt là sau vụ bạo loạn ở Bắc Kinh - Trung Quốc, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ đạo Cục Tác chiến nhanh chóng triển khai kế hoạch phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ tại các thành phố lớn, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và phải được kết hợp chặt chẽ với việc sẵn sàng ứng phó với các tình huống khác.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 08:58:57 AM

        Ngày 23 tháng 12 năm 1993, Bộ Tổng tham mưu ban hành Chỉ thị số 94/CT-TM “Bổ sung về thực hiện nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trước tình hình mới”. Trong chỉ thị này, chúng tôi đã dự kiến khả năng sắp tới Mỹ sẽ bỏ cấm vận đối với Việt Nam (thực tế thì ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận thương mại và ngày 11 tháng 7 năm 1995 tuyên bố xóa bỏ cấm vận đối với Việt Nam).

        Với việc xây dựng kế hoạch phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; nghiên cứu về tổ chức biên chế, trang bị, huấn luyện, biên tập, quân đội đã cùng lực lượng an ninh góp phần quan trọng giữ gìn an ninh chính trị - xã hội, phát triển kinh tế đất nước.

        Việc xây dựng kế hoạch phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, lúc đầu không phải đã có được sự đồng thuận tuyệt đối. Không ít người cho rằng ở ta làm gì có bạo loạn mà chống! Họ cho rằng: với bản chất con người Việt Nam, thì phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chỉ là “báo động giả”, là “nguy cơ không có thật”. Có người còn cho rằng chức nàng của quân đội là chống giặc ngoại xâm; chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là “đá nhầm sân, là chơi bao sân của công an”…

        Phải qua thực tế đấu tranh, điển hình là các vụ đã xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh, như vụ “Đông Xuân khởi nghĩa LH90”, ngày 9 tháng 3 năm 1993 của “Liên đảng cách mạng Việt Nam”, do Hoàng Việt Cường từ Mỹ về định gây rối, đánh phá các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự; kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn chiếm đài phát thanh - truyền hình, lật đổ chính quyền (ta phát hiện, dập tắt trước khi chúng hành động, bắt 42 tên, thu nhiều tang vật); vụ gây rối của một số phần tử cực đoan đội lốt phật tử ở Huế ngày 25 tháng 4 năm 1993, hay qua hai vụ bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên (tháng 3 năm 2001 và tháng 4 năm 2004) thì mọi người mới thấy quân đội chẳng “đá nhầm sân” và càng không phải “bảo động giả”!

        Trước bối cảnh tình hình diễn biến phức tạp, Bộ Tổng tham mưu đã cho soạn thảo lại chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu, nhằm đối phó với 5 tình huống, trong đó có bạo loạn vũ trang, sau khi lấy ý kiến của toàn quân và được Thủ trưởng Bộ phê chuẩn đã tổ chức diễn tập cấp quân khu, quân đoàn, quân binh chủng phỏng theo các phương án tác chiến phòng thủ và diễn tập thực nghiệm. Trọng điểm diễn tập chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là các thành phố lớn, các vùng trọng điểm. Từ năm 1993 đến năm 2005, Bộ đã lần lượt chỉ đạo diễn tập 7 quân khu, 4 quân đoàn trên thực địa về các loại hình chiến lược, trong đó có cả sư đoàn bộ binh trang bị bằng vũ khí mang vác. Trong diễn tập đã gắn quốc phòng với an ninh và kinh tế.

        Sau hơn hai năm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng, tháng 12 năm 1995, tôi được bổ nhiệm giữ chức Tổng tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thay anh Đào Đình Luyện trên cương vị Tổng tham mưu trưởng. Lúc này anh Luyện vẫn giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Vài tháng sau, ngày 4 tháng 3 năm 1996, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 989/NQ-TW, chỉ định tôi giữ chức Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7 năm 1996) tôi vinh dự được bầu lại làm ủy viên Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. Tiếp đó, tôi trúng cử đại biểu Quốc hội khóa X và tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa X (ngày 29 tháng 9 năm 1997), tôi được Quốc hội cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay anh Đoàn Khuê chuyển nhận nhiệm vụ khác. Người thay tôi giữ chức Tổng tham mưu trưởng là anh Đào Trọng Lịch. Một nỗi buồn và tổn thất lớn của quân đội, chưa tròn 5 tháng giữ chức Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 25 tháng 5 năm 1998, anh Đào Trọng Lịch đã hy sinh bởi tai nạn máy bay trong một chuyến công tác tại nước bạn Lào cùng một số sĩ quan cao cấp.

        Một thời gian sau khi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 6 tháng 1 năm 1998, Bộ Chính trị ra Quyết định số 322-QĐNS/TW chỉ định tôi làm Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Cũng thời gian này, tôi được phong quân hàm thượng tướng.

        Trên cương vị Tổng tham mưu trưởng và sau đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi đã cùng tập thể Đảng ủy Quân sự Trung ương, thân cận là các anh Nguyễn Chơn, Nguyễn Thới Bưng, Nguyễn Trọng Xuyên, Nguyễn Văn Rinh, Phùng Quang Thanh, Lê Văn Dũng… tập trung nghiên cứu điều chỉnh tổ chức biên chế cũng như thế bố trí chiến lược của quân đội cho phù hợp kế hoạch phòng thủ cơ bản trong thời kỳ mới.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:00:56 AM

        Thời gian này tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới đã có những biến chuyển tốt. Đất nước sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, đã đạt được những thành tựu to lớn, đã qua cơn khủng hoảng kinh tế. Đời sống nhân dân và lực lượng vũ trang khấm khá hơn. Quốc phòng - an ninh được củng cố. Về đối ngoại, lúc này Mỹ đã bỏ bao vây cấm vận, chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chúng ta đã và sẽ là bạn bè, đối tác của các quốc gia láng giềng và trên thế giới. Vẫn biết thế giới đang diễn ra nhiều cuộc xung đột cục bộ về sắc tộc, tôn giáo, nhưng theo chúng tôi thì chiến tranh quy mô lớn sẽ khó có khả năng xảy ra.

        Từ thực tế đó, trong kế hoạch điều chỉnh lực lượng quân đội từ năm 1991-1995, Bộ Quốc phòng chủ trương giảm mạnh quân thường trực, tăng cường xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, thực hiện sự cân đối giữa ba thứ quân; sắp xếp lại hệ thống nhà trường theo hướng đại học hóa đội ngũ sĩ quan và nhân viên kỹ thuật. Bảo đảm trang bị kỹ thuật theo hướng bảo quản, sử dụng những thứ đã có; đồng thời cải tiến, mua sắm, hiện đại hóa một số trang bị kỹ thuật cần thiết.

        Thực hiện được cơ bản kế hoạch tổ chức lực lượng 1991-1995, toàn quân đã có bước chuyển mạnh mẽ. Tuy nhiên do chúng ta giảm biên dàn đều, nên toàn quân tồn tại tình trạng lỗ đỗ, tổ chức thiếu chặt chẽ. Xuống sư đoàn nào, trung đoàn nào cũng thấy tình trạng rời rạc, thiếu tập trung; huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cũng không “ra tấm ra miếng”, mà tổ chức lao động sản xuất làm kinh tế cũng không ổn. Quân đội đang trên lộ trình xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cộng với thời thế đòi hỏi chúng ta phải có tư duy mới. Trước những vấn đề khá bức xúc qua nắm tình hình tổ chức biên chế của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, trong đầu tôi luôn ám ảnh về một mô hình tổ chức quân đội như thế nào cho phù hợp tình hình, nhiệm vụ mới. Tôi cũng dành thời gian nghiên cứu về binh chế của các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn trước đây, rồi tham khảo mô hình tổ chức quân đội một số nước anh em. Những băn khoăn, trăn trở này, tôi đã sẻ chia cùng anh Rinh, anh Hiệu, anh Thanh, anh Dũng,… trao đổi xin ý kiến chỉ đạo của anh Lê Đức Anh… Sau khi có được sự đồng thuận về cơ bản, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh tổ chức biên chế của quân đội.

        Ngày 8 tháng 3 năm 1995, Tổng tham mưu trưởng ra Chỉ thị số 20/CT-TM về “Chấn chỉnh kiện toàn tổ chức biên chế các đơn vị trong toàn quân”. Chỉ thị nêu rõ kế hoạch điều chỉnh lực lượng quân đội từ năm 1996 đến năm 2000 phải đáp ứng được yêu cầu phòng thủ, an ninh, yêu cầu huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy và nâng cao chất lượng toàn diện cho bộ đội”. Với tinh thần đó, Cục Quân lực, Cục Cán bộ và các cơ quan liên quan đã nghiên cứu xây dựng phương án tổ chức các sư đoàn đủ quân, giảm bớt đầu một số sư đoàn; với những sư đoàn còn lại thì hoặc tổ chức theo mô hình khung thường trực (KTT), hoặc là mô hình khung rút gọn (KRG). Dù là sư đoàn đủ quân hay các hình thức khung tổ chức còn lại, thì lực lượng có trong biên chế phải bảo đảm chất lượng cao, tinh nhuệ, thiện chiến đủ sức bảo vệ Tổ quốc trong thời bình và là lực lượng tham chiến đầu tiên khi đất nước bị xâm lược. Rút kinh nghiệm của Quân đoàn 2 và một số đơn vị khác trước đây, với mô hình khung thường trực, khung rút gọn, Bộ chỉ đạo phải đảm bảo đủ cán bộ và lực lượng chuyên môn kỹ thuật, để khi chiến tranh xảy ra, chỉ cần bố trí lực lượng chiến đấu động viên vào là có được nhiều sư đoàn đủ quân. Với biểu tổ chức như thế này, khi cần ta có thể có nhiều sư đoàn đủ quân, đáp ứng yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc quy mô lớn.

        Tiếp đó, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị nội dung tham mưu giúp Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tổ chức biên chế của quân đội trong giai đoạn mới. Công việc được tiến hành khẩn trương, hiệu quả. Tôi đã trực tiếp trình bày đề án về tổ chức biên chế của quân đội từ năm 2000 đến năm 2010 và những năm tiếp theo, trước tập thể Bộ Chính trị.

        Ngày 28 tháng 11 năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ra Nghị quyết 07/NQ-TW Về tổ chức biên chế của quân đội đến năm 2005. Nghị quyết chỉ rõ: Tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, chính quy và từng bước hiện đại, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng đề cập những nội dung cụ thể về tổ chức biên chế, kết hợp giữa tinh giản, nâng cao chất lượng toàn diện bộ đội chủ lực với chú trọng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ; xây dựng nền công nghiệp quốc phòng đến năm 2005 đủ năng lực sản xuất được các loại vũ khí cơ bản đủ trang bị cho một sư đoàn bộ binh.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:01:43 AM

        Nghị quyết 07/NQ-TW của Bộ Chính trị là cơ sở, là định hướng cơ bản để Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu tiếp tục chấn chỉnh tổ chức biên chế, điều chỉnh lực lượng quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong những năm đầu thiên niên kỷ mới.

        Với đề án tổ chức quân đội từ năm 1996 đến năm 2000, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng đã tính tới phương án sáp nhập Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân, thành lập Cục Cảnh sát biển, lục lượng cảnh sát biển, Trung tâm Cứu hộ cứu nạn Bộ Quốc phòng…

        Thực hiện đề án trên, theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, ngày 21 tháng 7 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 531/998/NĐ- CP “Về tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam”. Theo Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Quốc phòng trực tiếp tổ chức, quản lý và điều hành mọi hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển. Ngày 31 tháng 8 năm 1998, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam chính thức ra mắt, thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành hoạt động bảo vệ chủ quyền, giữ vững an ninh vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.

        Tiếp đó, ngày 3 tháng 3 năm 1999, Chủ tịch nước ký quyết định hợp nhất Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân. Vậy là sau hơn hai chục năm (kể từ ngày 30 tháng 5 năm 1977), tách thành hai quân chủng, giờ đây bộ đội phòng không và không quân lại về dưới mái nhà chung. Việc hợp nhất hai quân chủng nằm trong chủ trương của Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương về sắp xếp, tổ chức quân đội có lực lượng tinh gọn, tăng cường chỉ huy thống nhất, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

        Đất nước vào buổi thanh bình, chiến tranh đã lùi xa, nhưng, là Bộ đội Cụ Hồ, chúng ta xác định quân đội luôn thường trực ba nhiệm vụ hàng đầu là: huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất làm kinh tế và vận động quần chúng. Tuy nhiên, dải đất hình chữ S của chúng ta lại đứng nơi đầu sóng ngọn gió, “sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa”, thiên tai bão lũ triền miên. Vì vậy, hơn ai hết, trong thời bình, quân đội phải và lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phải xem công tác cứu hộ, cứu nạn như nhiệm vụ tác chiến trong chiến tranh. Nghĩ về điều này, tôi nhớ lại vào cuối tháng 9 năm 1955, hồi đó đơn vị chúng tôi đang kỳ huấn luyện xây dựng ở vùng cửa sông Trà Lý - Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình, thì một cơn bão lớn đổ vào vùng châu thổ sông Hồng - tâm bão đi vào Đồ Sơn - Hải Phòng. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 350 đã cùng lực lượng địa phương bất chấp mưa to, gió mạnh đã giúp dân cứu đê, chống lụt, cứu dân. Và trong cuộc chiến với “giặc trời” để cứu dân, chiến sĩ Phạm Minh Đức thuộc Sư đoàn 350 đã anh dũng hy sinh, được Quốc hội và Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Xác định yêu cầu cấp thiết và tầm quan trọng của công tác cứu hộ cứu nạn, chúng tôi thống nhất giao cho Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu xây dựng nội dung, kế hoạch huấn luyện chiến đấu kết hợp với cứu hộ cứu nạn; thành lập Trung tâm Cứu hộ, cứu nạn của Bộ Quốc phòng. Theo đó, nhiều cuộc diễn tập cứu hộ, cứu nạn được tổ chức ở các quân khu, quân binh chủng.

        Lửa thử vàng, gian nan thử thách bản lĩnh, tinh thần hy sinh vì nhân dân của những người lính. Trong những lần thiên tai lũ lụt hằng năm, các đơn vị quân đội luôn là lực lượng xung kích, trọng yếu giúp dân phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão lũ. Điển hình là vào đầu tháng 11 năm 1999, lũ lụt gây thiệt hại vô cùng nghiêm trọng về người và vật chất ở các tỉnh từ Quảng Bình vào tới Bình Định. Chúng tôi đã chỉ đạo kịp thời các cơ quan Bộ, Quân khu 4, Quân khu 5, Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân chủng Hải quân, Binh chủng Công binh, Bộ Tư lệnh Biên phòng… tập trung lực lượng, phương tiện cứu dân, khắc phục hậu quả. Anh Lê Hải Anh - Phó Tổng tham mưu trưởng, anh Phùng Khắc Đăng - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được phân công như là Tư lệnh và Chính ủy chiến dịch chống lũ lụt, đã cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Quân khu 5 trực tiếp chỉ huy bộ đội hợp sức cùng nhân dân trong cuộc đọ sức với “giặc trời”. Bão lũ rồi cũng tan, hậu quả được khắc phục dần, cuộc sống của người dân đã qua được buổi cam go, nhưng trung úy Phạm Văn Điền và binh nhất Lê Đình Tư thuộc Hải đội 2 bộ đội biên phòng Thừa Thiên - Huế và trung úy Phạm Hữu Nghĩa - cán bộ đồn biên phòng cửa khẩu Lao Bảo - Quảng Trị, đã dũng cảm quên mình cứu dân.

        Ngày 6 tháng 11 năm đó, tôi nhận được điện của đồng chí Lê Khả Phiêu - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đang, bày tỏ niềm cảm phục trước sự hy sinh của những cán bộ, chiến sĩ quân đội dũng cảm quên mình cứu dân trong bão lũ. Đồng chí nhắc chúng tôi phải nêu gương trong toàn quân những quân nhân mẫu mực như vậy. Cũng trong những ngày bão lũ kinh hoàng năm Kỷ Mão ấy, lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước vô cùng cảm kích trước hình ảnh đồng chí Tổng Bí thư và nhiều cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng đã bươn bả, đội mưa gió về với đồng bào Trị - Thiên, đến với vùng cửa biển Thuận An - nơi sóng nước lùa sạch hàng nghìn ngôi nhà của dân. Thực hiện chỉ thị của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Quốc phòng kịp thời chỉ đạo toàn quân quyên góp giúp dân xây dựng hàng trăm ngôi nhà “tình nghĩa” lập nên một làng “Rồng” mới ở vùng Cửa Thuận.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:49:15 PM

*

*       *

        Thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TW của Bộ Chính trị trong những năm cuối thập niên 90 và đầu thiên niên kỷ mới, toàn quân đã chấn chỉnh, tổ chức, sáp nhập, điều chuyển, kiện toàn 62 đầu mối đơn vị; giải thể các đơn vị dôi dư; chuyển đổi cơ cấu tổ chức 34 đầu mối từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tương đương; thành lập mới gần một trăm đầu mối đơn vị (phần lớn là các đơn vị làm kinh tế). Cũng từ trước điều chỉnh này mà các cơ quan của Bộ Quốc phòng đã nghiên cứu, thống nhất, ban hành chức danh, trần quân hàm, nhóm chức vụ của các đối tượng là sĩ quan, cán bộ trong toàn quân. Qua đó, việc quản lý, bố trí cán bộ, nhân viên chuyên môn trong toàn quân được thuận lợi, chặt chẽ, nền nếp hơn.

        Bước điều chỉnh có tính chiến lược về tổ chức biên chế, là nhằm thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương về sắp xếp tổ chức quân đội có lực lượng tinh gọn, tăng cường chỉ huy thống nhất, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Sau bước “tổng điều chỉnh” lần này quân đội có điều kiện tập trung huấn luyện chuyên sâu; đặc biệt là các quân binh chủng đã đi vào huấn luyện, xây dựng theo hướng chuyên sâu, đặc nhiệm.

        Cùng với tinh giản lực lượng thường trực, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, chúng ta chủ trương xây dựng lực lượng dự bị hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, có chất lượng chính trị cao, có tổ chức phù hợp chặt chẽ.

        Tinh giản lực lượng bộ đội thường trực, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, làm tốt công tác dự bị động viên là chủ trương có tính chiến lược của Đảng ta. Chủ trương này là kế thừa, sự vận dụng sáng tạo vào tình hình hiện nay kinh nghiệm tổ chức quân đội của cha ông được đúc kết từ hàng nghìn năm. Đó là kế “Ngụ binh ư nông”, “Động vi binh, tịnh vi dân”, của các triều đại Lý - Trần - Lê… Có chiến tranh, thì muôn dân là người lính, sẵn sàng xung trận. Đất nước thanh bình thì xếp giáo gươm, lo việc nông phu, tằm tang, chài lưới,…

        Đất nước ta còn nghèo, chiến tranh đã lùi xa, không cho phép chúng ta duy trì một lực lượng quá đông quân thường trực. Tuy nhiên, những biến động trong khu vực xung đột cục bộ vẫn xảy ra nhiều nơi trên thế giới, chủ nghĩa đế quốc tiếp tục chạy đua vũ trang, muốn hướng nhân loại vào thế giới đơn cực…, thì nguy cơ chiến tranh xâm lược vẫn còn. Giải quyết tốt mối quan hệ này chỉ có thể bằng chủ trương điều chỉnh tổ chức lực lượng, cân đối hài hòa giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ.

        Trên cương vị Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi đã cùng tập thể chỉ huy, lãnh đạo Bộ tập trung chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu, các tổng cục nghiên cứu soạn thảo Pháp lệnh lục lượng dự bị động viên, trình Chính phủ, Quốc hội phê duyệt. Ngày 27 tháng 8 năm 1996, Pháp lệnh lực lượng dự bị động viên đã được Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt; và ngày 9 tháng 9 năm 1996, Chủ  tịch nước Lê Đức Anh ký Sắc lệnh 52-L/CTN công bố pháp lệnh quan trọng này.

        Đi đôi với việc xây dựng lực lượng dự bị hùng hậu, chúng ta chủ trương xây dựng dân quân tự vệ rộng  khắp, vững mạnh. Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu tập trung xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình huấn luyện; đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan bảo đảm vũ khí trang bí, thực hiện chính sách đối với dân quân tự vệ.

        Về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, còn có một số nội dung tôi chưa thống nhất với một số anh em và với chủ trương chung. Từ nghiên cứu kinh nghiệm thực tiên của kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ cũng như qua thực tiễn xây dựng dân quân tự vệ trong gần 30 năm sau chiến tranh, tôi cho rằng nếu chúng ta tổ chức dân quân tự vệ quy mô tiểu đoàn, trung đoàn và huấn luyện đánh tập trung là không phù hợp với thực tiễn, sẽ kém hiệu quả. Với các xí nghiệp, nông trường, nhà máy quy mô lớn có thể tổ chức dân quân tự vệ cấp tiểu đoàn; ngoài ra chỉ nên tổ chức thành đại đội. Khi chiến tranh xảy ra, nếu tổ chức cho dân quân đánh tập trung quy mô tiểu đoàn, trung đoàn sẽ không đạt hiệu quả, dễ tổn thất và sau vài trận nếu bị tổn thất sẽ mất tinh thần, mất sức chiến đấu. Nghiên cứu khái niệm dân quân du kích, chúng ta cũng hiểu được phần nào tính chất tác chiến của lực lượng này: vừa là dân, vừa là quân, vừa cơ động vừa đánh địch. Nhớ lại, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, trong một lần gặp gỡ dân quân du kích, Bác Hồ đã từng nói: Phải vừa du vừa kích, chỉ có du mà không kích thì làm sao đánh được địch, nhưng nếu kích mà không du thì dễ bị địch gây tổn thất…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:49:40 PM

        Quan điểm của tôi là, cho dù chiến tranh trước đây, hoặc chiến tranh xảy ra trong tương lai, dân quân tự vệ vẫn nên đánh theo quy mô nhỏ lẻ, khi gặp địch mạnh thì nhanh chóng cơ động, phân tán để bảo toàn lực lượng; khi có điều kiện mới tập trung lực lượng phục kích, tập kích tiêu diệt địch.

        Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, tròn 12 năm chiến đấu trên chiến trường miền Tây Nam Bộ, trải qua biết bao thắng lợi cũng như tổn thất, hy sinh đã giúp tôi có được chút kinh nghiệm: khi tổ chức những trận đánh quy mô tiểu đoàn trở lên, đánh có tính chất dàn trận đôi bên, chúng tôi không bao giờ để du kích đánh cùng bộ đội. Chỉ khi nào bộ đội đánh thắng, giải quyết xong mục tiêu chúng tôi mới hiệp đồng để du kích vào làm chủ và chốt lại - du kích trám vào khi chủ lực rút. Trong trường hợp chúng ta không tuân thủ nguyên tắc trên, khi đánh quy mô tập trung, dân quân du kích rất dễ tổn thất, buộc chủ lực phải quay về làm nhiệm vụ làm chủ địa bàn thì mọi kế hoạch tác chiến khác khó bề thực hiện được một cách chủ động, hiệu quả.

        Tháng 11 năm 1996, Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm đổi mới công tác huấn luyện và hoạt động tác chiến trị an của dân quân tự vệ. Anh Nguyễn Văn Rinh - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách công tác xây dựng lực lượng chủ trì hội nghị. Trong quá trình chuẩn bị hội nghị, tôi và anh Rinh đã thống nhất đánh giá: Trong 5 năm (1992-1996) công tác xây dựng, huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ trong cả nước đã có sự đổi mới rõ rệt; chất lượng dân quân tự vệ ngày nâng cao, thể hiện rõ vai trò, vị trí, đảm nhiệm được chức năng, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự của địa phương.

        Về phương hướng xây dựng, huấn luyện dân quân tự vệ trong thời gian tới, chúng tôi cho rằng: Để tiếp tục đổi mới toàn diện công tác xây dựng, huấn luyện dân quân tự vệ nhằm đạt kết quả tốt, cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương phải nhận thức đầy đủ nhiệm vụ huấn luyện là khâu trung tâm; thường xuyên của công tác xây dựng dân quân tự vệ; để từ đó tập trung lãnh đạo chỉ đạo và tạo điều kiện cho công tác huấn luyện dân quân tự vệ của từng địa phương đạt kết quả tốt.

        Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ về tổ chức biên chế, nội dung và chương trình huấn luyện vừa kế thừa, phát huy được những kinh nghiệm, truyền thống gạn lọc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, lại phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước đang có những biến động mạnh về xã hội - cơ cấu dân cư, đáp ứng được yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay và trong tương lai, là vấn đề rất lớn. Theo tôi, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để có quyết sách đúng.

        Về điều chỉnh thế bố trí chiến lược, ngoài những địa bàn trọng yếu đã được quan tâm từ trước, thời gian này chúng ta chú trọng hơn địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ; từ đó đưa những người lính của Binh đoàn Tây Nguyên đang làm nhiệm vụ ở phía Bắc trở về Tây Nguyên; điều chỉnh vị trí đóng quân của một số trung đoàn, sư đoàn phù hợp với tình hình và yêu cầu nhiệm vụ mới.

        Cũng với việc điều chỉnh tổ chức lực lượng, thế bố trí chiến lược của toàn quân và điều kiện kinh tế đất nước cho phép, thời gian này Bộ Quốc phòng đã có điều kiện quy hoạch tổng thể doanh trại của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; tiến hành xây mới từ trụ sở làm việc của cơ quan Bộ Quốc phòng, cơ quan quân khu, quân - binh chủng, quân đoàn; doanh trại sư đoàn, học viện, nhà trường trong quân đội, bộ chỉ huy quân sự tỉnh, ban chỉ huy quân sự huyện,…

        Hơn nửa thế kỷ làm Bộ đội Cụ Hồ, từ những ngày đầu trần, chân đất, trải qua kháng chiến chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ, hàng nghìn ngày lấy rừng tràm, rừng được làm nhà, nhà dân làm doanh trại; lại nhớ những ngày làm lính sơn tràng lên rừng Mai Sưu - Bắc Giang lấy tre, gỗ làm doanh trại…, cho phép tôi khẳng định việc quy hoạch, xây dựng doanh trại trong toàn quân lần này là một cuộc “đại cách mạng” về doanh trại của quân đội ta.

        Từ kinh nghiệm quy hoạch, xây dựng doanh trại ở Quân khu 3 và một số đơn vị khác trong toàn quân, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Tổng cục Hậu cần - trực tiếp là Cục Doanh trại nghiên cứu thiết kế đồng bộ mô hình - kiểu mẫu doanh trại cấp tiểu đoàn, trung đoàn,… quân khu. quân - binh chủng, học viện, nhà trường, quân y viện, cơ quan quân sự huyện, tỉnh…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:50:17 PM

        Trên cơ sở khuôn mẫu đã thống nhất, chúng tôi chỉ đạo xếp thứ tự ưu tiên đầu tư xây dựng doanh trại cho những đơn vị đủ quân, các đơn vị làm nhiệm vụ ở biển đảo, vùng sâu vùng xa, những đơn vị mới thành lập… Về kinh phí xây dựng, Bộ chỉ đạo kết hợp huy động ngân sách quốc phòng, ngân sách Nhà nước và nguồn lực của đơn vị, địa phương, với phương châm “trên dưới cùng lo, mọi người cùng tham gia xây dựng doanh trại…”. Đặc biệt trong xây dựng cơ bản, chúng tôi chỉ đạo các cơ quan, đơn vị lãnh đạo tư tưởng, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ ý thức triệt để tiết kiệm, hạn chế tối đa thất thoát lãng phí; phải biết quý trọng từng viên gạch, đồng vốn được chắt chiu từ mồ hôi, sức lực của biết bao bà con nông dân “một nắng hai sương” trên đồng ruộng, của những người công nhân mỏ ngày đêm cần mẫn trong lòng đất hay trên dàn khoan giữa biển khơi,…

        Kết quả là chỉ trong vòng hơn 10 năm, đến giữa thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ mới, toàn quân đã cơ bán hoàn thành quy hoạch xây mới doanh trại của các trung đoàn bộ binh đủ quân; các trung đoàn, lữ đoàn binh chủng kỹ thuật; các học viện, nhà trường, quân đoàn, sư đoàn… Trong đó, việc hoàn chỉnh về quy hoạch, xây mới doanh trại tập trung của các trung đoàn đủ quân đã để lại trong tôi ấn tượng mạnh mẽ nhất. Doanh trại tập trung gồm nhà ở của bộ đội, nhà ăn, hội trường, nhà kho, câu lạc bộ… đến sở chỉ huy trung đoàn, với hệ thống cơ sở hạ tầng - điện, nước, đường nội bộ… đồng bộ, hoàn chỉnh.

        Về xây dựng cơ bản, một trong những công trình quy mô lớn được hoàn. thành trong thời gian tôi ở cương vị Bộ trưởng là trụ sở Bộ Quốc phòng.

        Sau khi bàn giao khu vực thành cổ Hà Nội - Khu A Hoàng Thành cho ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Quốc phòng khẩn trương chỉ đạo quy hoạch Khu B và Khu C còn lại để xây dựng trụ sở của Bộ. Yêu cầu của chúng tôi là trụ sở mới phải được quy hoạch, thiết kế bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật; phải đảm bảo yêu cầu cơ bản của một công trình kiến trúc quân sự vừa mang yếu tố kiến trúc truyền thống, hài hòa trong quy hoạch tổng thể khu vực Hoàng Thành Thăng Long, nhưng phải mang tính hiện đại. Đặc biệt, trong những lần bàn thảo, họp Hội đồng chỉ đạo, thông qua đề án quy hoạch, mẫu thiết kế, tôi đều nhấn mạnh: Về diện tích xây dựng và nguồn kinh phí, Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho Bộ Quốc phòng. Ngoài những yêu cầu cơ bản khác, công trình phải có chiều sâu, tạo nên sự vững chãi cần thiết.

        Đến nay thì trụ sở Bộ Quốc phòng đã cơ bản hoàn thành, xứng đáng là một công trình kiến trúc quân sự đẹp, vừa hiện đại lại hài hòa trong quy hoạch tổng thể Hoàng Thành Thăng Long. Đây không chỉ là niềm tự hào của quân đội mà của cả nhân dân thủ đô Hà Nội.

*

*       *

        Kể từ khi Đảng ta ra đời, tổ chức lãnh đạo lực lượng vũ trang, thời nào cũng vậy, chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu, nâng cao chất lượng vũ khí trang bị kỹ thuật, rồi chăm lo nơi ở, bữa ăn của từng cán bộ, chiến sĩ là trách nhiệm, nỗi trăn trở của những người cầm quân. Cùng với chỉ đạo quy hoạch chuẩn hóa hệ thống doanh trại trong toàn quân, lo “cái ở” cho bộ đội, Bộ Quốc phòng thường xuyên chăm lo chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh sản xuất, làm kinh tế, nhằm góp phần ổn định, cai thiện đời sống của bộ đội.

        Thời gian tôi đảm trách chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thứ trưởng phụ trách hậu cần - tài chính là Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh. Lần lượt thay nhau trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần là các anh Nguyễn Phúc Thanh, Nguyễn Văn Đà, Trần Phước, đều là những cán bộ có năng lực, tận tâm tận lực vì đời sống của bộ đội, để mỗi đồng tiền, bát gạo của nhân dân đóng góp phải đến tận tay bộ đội, như lời căn dặn của Bác Hồ trước đây. Cũng vì vậy, thời gian này toàn quân sôi nổi thực hiện phong trào thi đua “Ngành Hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị quản lý tài chính tốt”, và đã đạt được hiệu quả thiết thực.

        Trong một thời gian khá dài, trong toàn quân nổi lên phong trào tăng gia sản xuất quanh bếp, quanh nhà. Mô hình sản xuất này phù hợp với điều kiện ta đóng quân phân tán; bộ đội tận dụng đất đai, thời gian rảnh rỗi để trồng rau, nuôi lợn, gà… Tuy nhiên, khi chúng ta đã quy hoạch, xây dựng doanh trại tập trung, toàn quân đang thực hiện chính quy hóa, thì mô hình tăng gia quanh bếp, quanh nhà trở nên phản khoa học, mất vệ sinh, không bảo đảm an toàn, hiệu quả không cao.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:50:40 PM

        Sau những lần xuống đơn vị công tác “thực mục sở thị” tình hình trên, tôi bàn với anh Rinh và các anh ở Tổng cục Hậu cần nên nhanh chóng chuyển sang sản xuất tập trung: Trồng trọt tập trung và chăn nuôi tập trung. Tổng cục Hậu cần cùng Cục Kinh tế, Cục Kế hoạch đầu tư, các quân khu, quân đoàn, quân - binh chủng tổ chức khảo sát quy hoạch những vùng sản xuất tập trung, lập đề án, tiến hành đầu tư và triển khai thực hiện. Anh Rinh là người có nhiều đóng góp trong việc tổ chức cho bộ đội sản xuất tập trung. Theo gợi ý của anh, các đơn vị có mô hình sản xuất “3 vườn”, rồi “5 vườn”; anh chỉ đạo riết ráo các đơn vị tổ chức khu vực sản xuất tập trung cả trồng trọt, chăn nuôi. Với mô hình sản xuất tập trung, được chỉ đạo triển khai chặt chẽ, đầu tư thích đáng, các đơn vị trong toàn quân đã chủ động bảo đảm được một phần lương thực, thực phẩm; đặc biệt nhiều đơn vị đã tự túc được toàn bộ rau xanh.

        Đây là một cố gắng lớn, rất đáng trân trọng. Cùng với chăm lo cuộc sống hằng ngày cho bộ đội, thì việc quan tâm đến “kế sinh nhai” của những người lính sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, trở về quê hương cũng đặt ra cho chúng tôi biết bao suy tính.

        Trong một lần xuống công tác tại Sư đoàn Sao Vàng thuộc Quân khu 1, qua báo cáo của anh Bế Xuân Trường - Sư đoàn trưởng, nay anh là Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 1, tôi thấy sư đoàn có ý tưởng rất tốt, và đã thực thi bước đầu ý tưởng này có hiệu quả. Anh Trường cho hay: trong thời gian 2 năm tại ngũ, ngoài xây dựng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, cán bộ cơ sở nên nghĩ đến việc dạy nghề cho anh em. Nếu tổ chức tốt việc dạy nghề cho bộ đội sẽ đạt được ít nhất là hai cái lợi. Thứ nhất, bộ đội có kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, cơ khí, điện phổ thông, trước mắt là để tăng gia sản xuất góp phần ổn định, cải thiện đời sống hằng ngày; thứ hai là người lính sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về với gia đình đã có được “vốn liếng” tay nghề tối thiểu, làm cơ sở hòa nhập với xã hội.

        Suy nghĩ cặn kẽ hơn, tôi thấy con em những gia đình điều kiện kinh tế khá giả, đối tượng thanh niên thành phố, đa phần không để tâm đến việc học nghề; sau khi xuất ngũ, số anh em này có điều kiện học hành thêm, nếu không cũng sẽ chọn những ngành nghề đòi hỏi công nghệ - kỹ thuật cao. Trái lại những nghề có tính chất phổ thông rất cần cho những anh em con nhà nghèo. Như vậy, nếu tổ chức dạy nghề được cho số anh em này trong thời gian tại ngũ, chúng ta cũng đã góp phần thực hiện được chính sách xóa đói giảm nghèo. Là “trường học lớn” của thanh niên, được rèn luyện giáo dục; bảo đảm chu đáo về vật chất, tinh thần, lại được giáo dục hướng nghiệp, tổ chức học nghề…, nên môi trường quân đội đã tạo được sức hút mạnh mẽ đối với thanh niên - đặc biệt là thanh niên nông thôn.

        Thấy việc làm của Sư đoàn Sao Vàng có tác dụng tốt, tôi trao đổi với các anh lãnh đạo, chỉ huy Bộ Quốc phòng. Cũng có anh không tán thành, cho rằng vào quân đội chỉ tập trung huấn luyện quân sự. Nhưng phần lớn đồng thuận với ý kiến của tôi và nhất trí phổ biến rộng khắp toàn quân. Tiến thêm một bước, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Cục Kinh tế nghiên cứu thành lập các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề thuộc các quân khu, quân đoàn, quân - binh chủng. Hiện nay, toàn quân đã thành lập được hơn một chục trung tâm dạy nghề; hằng năm tổ chức đào tạo nghề cho hàng nghìn chiến sĩ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có tay nghề cơ bản. Ý tưởng là tốt, tuy nhiên làm thế nào để những trung tâm dạy nghề hoạt động có hiệu quả thực sự, lâu bền lại là vấn đề cần có cái nhìn sâu sát, có quyết sách, đầu tư xây dựng phù hợp; phải có sự chung tay của nhiều cơ quan, trước tiên là Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động, thương binh - xã hội.

        Trên cơ sở tổ chức tốt các trung tâm dạy nghề, các trường dạy nghề trong quân đội, từ năm 2004, Bộ Quốc phòng đã tổ chức đưa hơn 10.000 người đi lao động có thời hạn ở Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia…, trong đó phần lớn là quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, được đào tạo tại các trung tâm dạy nghề quân đội. Số quân nhân hợp tác lao động ở nước ngoài, chủ yếu là Hàn Quốc có mức lương khá cao, được giới chủ tại các nước đánh giá tốt về kỷ luật và kỹ thuật, đảm bảo được uy tín của quân nhân xuất ngũ.

        Về sử dụng lực lượng có chuyên môn kỹ thuật của quân đội, tôi cũng đã có những quyết định mà ở thời điểm nào đó gây “sốc” cho người này, người khác, nhưng kết cục đều đạt hiệu quả. Ví như chuyện tôi chỉ đạo sử dụng lực lượng cán bộ quân y ở Quân khu 9.

        Qua nắm tình hình ở một số đơn vị và Quân khu 9, tôi thấy một thực trạng khá phổ biến là có rất nhiều quân y sĩ có khi hàng chục năm không được học hành đào tạo thêm; trình độ tay nghề cùn mòn dần, một phần trong số anh em này đang tính được cho ra quân. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi trao đổi với các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu 9 giữ số này lại, rồi tổ chức cho học hàm thụ có trình độ bác sĩ. Quân đội sẽ sử dụng một số, còn lại cho chuyển ngành sang phục vụ các địa phương - tăng cường cho mạng lưới y tế cộng đồng. Cả vùng đồng bằng sông Cửu Long, số bác sĩ này chẳng khác gì muối bỏ biển.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:51:35 PM

        Trong khi các anh ở Quân khu 9 phấn khởi, gấp gáp liên hệ với Trường đại học Cần Thơ để gửi cán bộ đi đào tạo, thì hai bộ chủ quản có liên quan không đồng tình. Tuy nhiên sau khi tôi trực tiếp thuyết phục thì hai bộ cũng chấp thuận. Đặc biệt, khi nghe tôi trình bày ý tưởng này, anh Nguyễn Tấn Dũng - khi đó là Phó thủ tướng, rất ủng hộ. Kết cục là nhiều quân y sĩ của Quân khu 9 được hàm thụ xong chương trình đại học y khoa, được cấp bằng bác sĩ, chuyển ngành tăng cường cho các bệnh viện, trung tâm y tế dự phòng các địa phương và đã phát triển tốt. Sau đó, Quân khu 9 tiếp tục duy trì hình thức đào tạo này.

        Giải quyết chính sách đối với những đối tượng tại ngũ là vấn đề lớn, nhưng theo tôi không phức tạp so với giải quyết chính sách đối với những đối tượng đã xuất ngũ không thuộc diện nghỉ hưu, mất sức. Đất nước anh dũng và đau thương trải qua ngót 30 năm kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, tiếp đó cũng trên ba nghìn ngày vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc vừa làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn… Còn biết bao vấn đề tồn đọng thuộc về chính sách dễ gì giải quyết trong ngày một ngày hai. Tuy nhiên với nỗ lực của Đảng, Nhà nước, nhân dân, đặc biệt là Ngành Chính sách trong quân đội và Ngành Lao động - Thương binh xã hội, trong hơn mười năm trở lại đây, chúng ta đã dồn sức giải quyết được nhiều nội dung, trợ cấp cho một số đối tượng tham gia kháng chiến, phục vụ quân đội. Trước tiên, theo đề nghị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, ngày 15 tháng 4 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/1999/NĐ-CP về chế độ trợ cấp một lần đối với quân nhân, cán bộ đi chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, không có thân nhân phải trực tiếp nuôi dưỡng và quân nhân, cán bộ được Đảng cử ở lại miền Nam sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (ngày 20 tháng 7 năm 1954). Kết quả là 16.304 cán bộ, quân nhân thuộc diện chính sách này được trợ cấp một lần với hơn 96 tỷ đồng. Tiếp đó là Bộ Chính trị đã nhất trí với đề nghị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, thông báo để Chính phủ ban hành Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg (ngày 11 tháng 4 năm 2002) giải quyết trợ cấp một lần (với số tiền 580 tỷ đồng) cho hơn 260.000 quân nhân, công nhân viên quốc phòng có thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954, đã phục viên, giải ngũ trước ngày 31 tháng 12 năm 1960.

        Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong một thời gian dài, có điều kiện đi công tác, xuống nhiều cơ sở, về nhiều vùng nông thôn, miền núi mới thấu hiểu phần nào khó khăn, cơ cực của nhiều quân nhân phục viên, xuất ngũ; đồng thời cũng thấy được thiệt thòi của những quân nhân đã tại ngũ, chiến đấu trên 20 năm, 15 năm,… nhưng khi rời quân ngũ chưa đủ thời gian nghỉ hưu, hầu như không được hưởng chế độ gì ngoài trợ cấp một lần. Tình trạng càng bức xúc đối với những quân nhân ở Nam Bộ. Do điều kiện lịch sử, trong kháng chiến chống Pháp và sau khi hòa bình lập lại, ở miền Bắc, chúng ta đã hoàn thành triệt để cách mạng dân chủ - tiến hành cải cách ruộng đất; với nông dân, nhà nhà đều có ruộng đất. Nhưng miền Nam không làm được điều đó. Vì vậy, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ nhập ngũ, tham gia Quân giải phóng, ra cứ, lên rừng đánh giặc, khi xuất ngũ trở về lâm vào cảnh không nghề, không tấc đất cắm dùi, phải đi làm thuê kiếm sống, nuôi con.

        Trước tình cảnh đó, tôi đã trực tiếp đề nghị các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa VIII, khóa IX) nghiên cứu ban hành chế độ phù hợp với từng đối tượng. Các đồng chí trong Bộ Chính trị hoàn toàn ủng hộ. Đồng thời, với cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi trao đổi thống nhất với các anh Nguyễn Văn Rinh, Phan Trung Kiên, Lê Văn Dũng, Phùng Quang Thanh, Bùi Văn Huấn, từ đó chỉ đạo ngành Chính sách nghiên cứu, xây dựng đề án tham mưu giúp Chính phủ kịp thời giải quyết tồn đọng này. Trong các kỳ họp Quốc hội, Chính phủ, khi bàn về vấn đề này, anh Thanh, anh Rinh… luôn có những lập luận xác đáng, có tính thuyết phục cao, nên được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ ngành và đại biểu Quốc hội ủng hộ. Mặc dù hơi muộn, nhưng cuối cùng những gì chúng tôi trăn trở, theo đuổi cũng đều có kết quả. Trước là Chính phủ ban hành quyết định thực hiện chế độ hưu đối với những trường hợp có từ 20 năm tuổi quân trở lên, và gần đây (tháng 10 năm 2008), có thêm quyết định trợ cấp hằng tháng đối với những quân nhân có từ 15 đến 20 tuổi quân đã xuất ngũ; trợ cấp một lần cho những quân nhân đã xuất ngũ dưới 15 năm…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2016, 09:52:22 PM

        Để có được những chính sách hợp lòng dân, hợp tình người nói trên, phải kể đến tinh thần trách nhiệm cao, vai trò nghiên cứu, tham mưu của các cơ quan Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị - trực tiếp là Cục Chính sách. Các anh Nguyễn Văn Rinh - Thứ trưởng, Bùi Văn Huấn, Phùng Khắc Đăng, Phạm Văn Long - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ngô Xuân Lịch - Cục trưởng Cục Chính sách… khi đó đã ngày đêm trăn trở, đề đạt với Thủ trưởng Bộ những vấn đề tôi cho là thấu lý đạt tình. Đặc biệt, các anh: Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Được - Thứ trưởng, anh Bùi Văn Huấn (Út Lê) - những cán bộ đã từng lăn lộn sinh tử trên chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, là những người đau đáu với nỗi cơ cực của sĩ quan, quân nhân ở miền Nam phục viên xuất ngũ, chưa được hưởng chính sách xứng đáng với cống hiến của họ.

        Vấn đề thuộc về chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, quân đội như vậy đã đáp ứng được cơ bản nguyện vọng của các đối tượng chính sách. Tuy nhiên làm sao để anh em được hưởng chính sách mà không gặp phải khó khăn phức tạp, hệ lụy trong quá trình hoàn chỉnh thủ tục là vấn đề không đơn giản. Trách nhiệm đầu tiên phải thuộc vế cơ quan thực thi chính sách các cấp. Thiết nghĩ, nếu một ai đó trong guồng máy công chức - công quyền mà quan liêu, cứng nhắc (chưa nói đến tiêu cực), giải quyết sự việc thiếu lòng nhân ái, tình đồng chí đồng đội thì khó khăn đối với những người được hưởng chính sách là khó tránh khỏi.

        Cũng vì băn khoăn trăn trở hoài về những khó khăn, cơ cực của nhiều cựu chiến binh, nên sau khi “gác súng, treo gươm” trở thành cựu chiến binh tôi đã tích cực đề nghị Bộ Quốc phòng chỉ đạo tổ chức chương trình xây dựng 1.500 nhà “Nghĩa tình đồng đội” tặng cho những đối tượng khó khăn nhất. Chương trình đã khởi đầu với những kết quả rất khả quan, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân “mạnh thường quân”. Điển hình là chưa tròn một năm, Công ty Him Lam đã đóng góp cho chương trình tám căn nhà với tổng giá trị trên 400 triệu đồng. Mấy trăm nhà “nghĩa tình đồng đội” đã mang lại mái ấm cho cựu chiến binh. Tôi còn nuôi ý định làm việc với cấp ủy, chính quyền các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long cấp đất tập trung để lập những làng cựu chiến binh - ý tưởng này đã được một số tỉnh ủng hộ; hy vọng nhanh chóng trở thành hiện thực.

        Thêm một người có công với cách mạng, đóng góp máu xương, sức lực, trí tuệ… cho sự nghiệp kháng chiến và chiến tranh bao vệ Tổ quốc… được hưởng chính sách đãi ngộ của Đảng, Chính phủ, càng khẳng định chính sách ưu việt của chế độ ta; thể hiện nét đẹp đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Với bản thân, thêm một quân nhân xuất ngũ, phục viên được hưởng chính sách đãi ngộ của Đảng, Chính phủ, được sự trợ giúp của cộng đồng, tôi như thấy vui đi một phần gánh nặng “nợ nần” đã mang với đồng chí, đồng đội.

*

*       *

        Sau 5 năm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (được Quốc hội khóa X - kỳ họp thứ nhất ngày 29 tháng 9 năm 1997 cử), ngày 8 tháng 8 năm 2002, Quốc hội khóa XI - kỳ họp thứ nhất tiếp tục phê chuẩn và bổ nhiệm tôi tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau đó, ngày 25 tháng 6 năm 2003, tôi được Chủ tịch nước ký Quyết định số 360/QĐ/CTN, thăng cấp quân hàm từ Thượng tướng lên Đại tướng. Cùng đợt này, các anh Phùng Quang Thanh - Tổng tham mưu trưởng, Lê Văn Dũng - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được thăng cấp từ Trung tướng lên Thượng tướng.

        Được Đảng và nhân dân, quân đội tín nhiệm, tôi lại cùng các anh Phùng Quang Thanh, Nguyễn Văn Rinh, Lê Văn Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Được, Nguyễn Huy Hiệu… dồn mọi tâm sức cho một nhiệm kỳ công tác mới.

        Một trong những nội dung trọng tâm mà chúng tôi tập trung giải quyết trong thời gian này là nghiên cứu, đề xuất tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX hoàn chỉnh thêm một bước chiến lược quốc phòng - an ninh Của đất nước trong tình hình mới. Đặc trưng cơ bản, nổi bật nhất của thời kỳ đổi mới là việc chuyển nền kinh tế đất nước sang vận hành theo cơ chế thị trường, giải phóng lực lượng sản xuất trong nước và mở rộng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Đặc trưng này đòi hỏi tư duy của Đảng về chiến lược quốc phòng - an ninh phải có sự thay đổi.

        Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng đã xác định phương hướng chiến lược của nhiệm vụ quốc phòng - an ninh là: bảo vệ Tổ quốc gắn liền với xây dựng đất nước. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) và đặc biệt Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị khóa VII đã cụ thể hóa cương lĩnh của Đảng về chiến lược quốc phòng - an ninh, đánh dấu một bước quan trọng về tư duy cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 08:50:47 AM

        Qua trực tiếp chỉ đạo, bám nắm tình hình thực hiện chủ trương chiến lược quốc phòng - an ninh của Đảng, sau hơn 10 năm, với nhiều đợt tổng kết công tác dự bị động viên, xây dựng khu vực phòng thủ, chúng tôi thấy rằng: các địa phương đã từng bước hoàn chỉnh, phát huy tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu và trực tiếp tổ chức thực hiện kết hợp vai trò của nhân dân địa phương trong nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.

        Ở các bộ, ban ngành Trung ương, nhiệm vụ xây dựng kinh tế và các nhiệm vụ khác kết hợp với quốc phòng - an ninh đã được xác định cho Ban Cán sự Đảng và những người lãnh đạo, quản lý của các bộ, ngành. Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp Nhà nước, Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành Luật Sĩ quan quân đội, Luật Nghĩa vụ quân sự, Pháp lệnh lực lượng dự bị động viên, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, Pháp lệnh về công trình quốc phòng và khu quân sự…

        Được ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, tôi đã trực tiếp chủ trì nhiều hội nghị liên tịch gồm nhiều bộ, ban ngành Trung ương về công tác quốc phòng - an ninh. Qua những hội nghị này đã rút được nhiều kinh nghiệm và xác định được những vấn đề cần tập trung giải quyết.

        Một trong những vấn đề nổi bật nhất trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh trong khoảng hai chục năm lại đây là Đảng, Nhà nước ta đã xác định được đường lối, chủ trương, phương thức phù hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Các địa phương, các ngành đã đổi mới về nhận thức, thấy rõ hơn trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, trong khi cả nước dồn sức cho nhiệm vụ xây dựng kinh tế, chuyển toàn bộ nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chế độ bao cấp được xóa bỏ, thì công tác quốc phòng - quân sự ở các địa phương vẫn được giữ vững và có bước phát triển mới, đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao khả năng - sức mạnh phòng thủ của đất nước ngay ở từng địa bàn, địa phương, cơ sở. Kết quả đó đã tạo nên sự ổn định về chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội, làm thất bại nhiều kế hoạch phá hoại, gây rối của các thế lực thù địch; bảo đảm môi trường thuận lợi để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội.

        Có thể nói, điểm xuất phát có tính quyết định đến thành công của công tác quốc phòng quân sự ở các địa phương và các ngành trong những năm qua là sự đổi mới tư duy quốc phòng của Đảng được thể hiện ở Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về điều chỉnh chiến lược công tác quốc phòng, chuyển từ quốc phòng phục vụ chiến tranh sang quốc phòng thời bình, nhằm chuẩn bị mọi khả năng sẵn sàng huy động tiềm lực đất nước phục vụ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

        Với những nghị quyết nêu trên, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ xây dựng, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn dân, của các ngành, các cấp; từ đó đưa ra một cơ chế nhằm cụ thể hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm điều hành của chính quyền, công tác tham mưu của cơ quan quân sự các cấp đối với công tác quân sự địa phương trong thời bình và khi chuyển sang thời chiến.

        Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị cũng xác định rõ quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc là phải kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đối ngoại với sức mạnh quân sự. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ bảo vệ an ninh; lấy việc xây dựng kinh tế - xã hội làm cơ sở để tăng tiềm lực quốc phòng.

        Triển khai chủ trương của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân, những năm qua, các địa phương và các ngành tập trung xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh - thành phố, thực hành động viên quân đội và củng cố lực lượng dân quân tự vệ. Xây dưng khu vực phòng thủ là một chủ trương chiến lược nhằm cân bằng các lực lượng chiến lược theo đường lối quốc phòng toàn dân - quốc phòng toàn diện, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.

        Lý luận và mô hình khu vực phòng thủ của chúng ta được hình thành từ việc nghiên cứu thế trận “làng - nước” - giữ làng, giữ nước có từ hàng nghìn năm chống ngoại xâm, từ mô hình các căn cứ địa - căn cứ kháng chiến trong thời kỳ chống Pháp, rồi “vành đai diệt Mỹ”, địa đạo Củ Chi, Vịnh Mốc… trong kháng chiến chống Mỹ…, vận dụng vào thời kỳ đổi mới trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc theo đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 08:51:34 AM

        Xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ là một nội dung rất mới của công tác quân sự địa phương. Vì vậy cả về nội dung, phương pháp, đều phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Từ những năm làm Tư lệnh Quân khu 3 trực tiếp chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ, lực lượng dự bí động viên cũng như sau này trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, qua theo dõi nhiều cuộc diễn tập thực nghiệm khu vực phòng thủ cấp tỉnh (thành phố) đã để lại cho tôi nhiều kinh nghiệm quý.

        Qua trực tiếp chỉ đạo các địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, tổ chức diễn tập thực hiện khu vực phòng thủ cấp tỉnh (thành phô); mặt khác, qua trực tiếp chỉ đạo các địa phương, đơn vị tham gia giải quyết những “điểm nóng” về trật tự trị an trong hơn 10 năm tôi nhận thấy về cơ bản các địa phương đã từng bước hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu đối với công tác quân sự địa phương. Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng, của hệ thống chính trị đối với nhiệm vụ xây dựng, củng cố quốc phòng, làm cho chất lượng các mặt công tác quân sự địa phương được nâng lên. Cũng từ yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ mà nhận thức về hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong cấp ủy, các ngành được nâng lên một bước, việc kết hợp kinh tế - quốc phòng được quan tâm đúng mức hơn.

        Các địa phương, đặc biệt là các tỉnh, huyện ở biên giới, ven biển, hải đảo, đã xây dựng được kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với kế hoạch phòng thủ của địa phương. Từng địa phương đã tổ chức, bố trí lại các khu vực dân cư, xây dựng kết cấu hạ tầng như đường giao thông, công trình thủy lợi, cơ sở y tế, bưu điện… vừa phục vụ sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng - an ninh cả trong thời bình và khi có chiến tranh.

        Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ, không phải ngay từ đầu và không phải địa phương nào cũng thấu suốt quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, chú trọng đến xây dựng “thế trận lòng dân” và hệ thống chính trị cơ sở. Cũng vì vậy, khi xảy ra những “điểm nóng” về an ninh trật tự, thì hệ thống chính trị ở một số cơ sở gần như bị tê liệt, vô hiệu hóa.

        Trong quá trình chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ, qua nhiều lần chủ trì thực hành và tổng kết diễn tập thực nghiệm, tôi thấy không ít cán bộ cơ sở thường chỉ chú trọng công tác động viên thời chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng các công trình quốc phòng…

        Từ thực tế đó, bản thân tôi và tập thể Đảng ủy Quân sự Trung ương nghiên cứu đề xuất một số nội dung giúp Bộ Chính trị, Trung ương Đảng tiếp tục bổ sung hoàn thiện chiến lược quốc phòng - an ninh trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cũng như hoàn thiện dần mô thức, mô hình khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố).

        Trước đây, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị xác định bốn tiêu chuẩn của khu vực phòng thủ (tiềm lực tổng hợp phát triển; lực lượng tại chỗ đủ sức tự lực bảo vệ địa phương; xây dựng được thế trận cụ thể; cơ chế lãnh đạo điều hành - chỉ huy có nền nếp, hiệu quả). Nay, qua đúc kết thực tế, chúng tôi cho rằng mỗi khu vực phòng thủ mạnh phải đảm bảo sáu yếu tố:

        1 Xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, thật sự đại diện cho ý chí, sức mạnh của nhân dân địa phương; được dân tin tưởng.

        2. Xây dựng chính quyền mạnh, thực sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân.

        3. Kinh tế của địa phương phải vững, đảm bảo cho nhân dân có đời sống no đủ, đây là điều kiện quan trọng để nhân dân tin tưởng vào chế độ, tin vào Đảng về Chính quyền.

        4. Tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân chủ trương, quan điểm của Đảng về chiết tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân để mọi người dân thấu hiểu bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng toàn dân, toàn quân, không phải chỉ của lực lượng vũ trang, từ đó có hành động đúng, đóng góp tích cực các công tác quốc phòng - an ninh.

        5. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, bao gồm. chủ lực, dự bị động viên, dân quân tự vệ.

        6. Xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc phòng, các công trình quốc phòng, chú ý tới các công trình có tính lưỡng dụng.

        Với thứ tự sáu nội dung trên, thì vấn đề xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng “thế trận lòng dân” phải được đặt lên hàng đầu.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 08:52:07 AM

        Trong quá trình tham gia chuẩn bị văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh và một số kỳ họp của Trung ương Đảng bàn về nhiệm vụ này, tôi đã trình bày quan điểm của mình và của tập thể lãnh đạo Bộ Quốc phòng, đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương xem xét và cơ bản những vấn đề trên đã được đưa vào nghị quyết. Đây là một trong những đóng góp lớn của Đảng ủy Quân sự Trung ương nhiệm kỳ 1996-2001 và 2001-2005.

        Về chiến lược quốc phòng - an ninh của đất nước, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh; quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội”.

        Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, từ ngày 2 đến ngày 12 tháng 7 năm 2003, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã bàn thảo và thông qua nghị quyết “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Nghị quyết nêu rõ: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Củng cố hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”.

        Ngày 28 tháng 2 năm 2005, Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về xây dựng khu vực phòng thủ. Bộ Quốc phòng được Thủ tướng Phan Văn Khải phân công chuẩn bị nội dung. Hội nghị đánh giá: “Công tác xây dựng khu vực phòng thủ của các địa phương đã có đóng góp quan trọng trong thành tựu chung của đất nước… Thế trận của các khu vực phòng thủ được củng cố… Các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, sở chỉ huy, khu vực phòng thủ then chốt của từng cấp được quy hoạch và xây dựng từng. bước theo khả năng của từng địa phương. Các khu vực kinh tế quốc phòng được thành lập có hiệu quả cùng với sự điều chỉnh bố trí chiến lược trên các hướng chiến lược của bộ đội chủ lực, bộ đội biên phòng tạo ra sự liên hoàn của thế trận chung… Công tác đảm hậu cần - kỹ thuật, tài chính cho xây dựng khu vực phòng thủ được quan tâm tốt hơn trước. Cơ chế lãnh đạo khu vực phòng thủ được thực hiện nghiêm túc và vận hành sáng tạo. Kết quả đạt được là rất quan trọng nhưng cũng bộc lộ nhiều thiếu sót, khuyết điểm: … Không ít bộ, ngành, địa phương quan niệm xây dựng khu vực phòng thủ là việc của Bộ Quốc phòng, của lực lượng vũ trang, do vậy không tích cực chủ động trong triển khai thực hiện; kết quả xây dựng khu vực phòng thủ chưa vững chắc, tính tự lực và khả năng độc lập tác chiến của khu vực phòng thủ chưa cao; chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, bộ đội biên phòng, công an còn hạn chế…”.

        Trên cơ sở tổng hợp đánh giá thực trạng các khu vực phòng thủ và kiến nghị của Bộ Quốc phòng, Chính phủ chỉ thị: “Phải tập trung xây dựng hệ thống chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế bền vững, xây dựng cơ quan quân sự, công an, bộ đội biên phòng có bản lĩnh, được tổ chức, trang bị phù hợp, đủ sức làm nòng cốt hoàn thành nhiệm vụ, tự giải quyết những vấn đề phức tạp trên địa bàn”. Chính phủ cũng yêu cầu các cấp, các ngành phải tiếp tục quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược, thực hiện tốt cơ chế lãnh đạo, kết hợp chặt chẽ quân đội với công an; hằng năm, Ủy ban nhân dân các cấp phải có kế hoạch, nội dung, chương trình xây dựng khu vực phòng thủ và phải đưa vào kế hoạch tổng thể của địa phương.

        Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao kết quả hội nghị. Đồng chí Phan Văn Khải vui vẻ trao đổi cùng tôi. Thực tế cuộc sống, cho dù có sự chỉ đạo chung, vẫn diễn biến hết sức phong phú, phức tạp. Vấn đề cơ bản là chúng ta phải nắm bắt kịp thời, biết khái quát tổng hợp đúc kết thành lý luận để chỉ đạo lại thực tiễn. Về xây dựng khu vực phòng thủ, Bộ Quốc phòng đã giải quyết tốt - cần phát huy hơn nữa.

        Khởi đầu bằng Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị cho đến nay, chiến lược quốc phòng - an ninh của Đảng đã có nước bổ sung, hoàn thiện về cơ bản. Theo đó, mô thức - mô hình khu vực phòng thủ tỉnh (thành phô) cũng từng bước được định hình; tuy nhiên cần phải được nghiên cứu, tổng hợp thực tiễn tiếp tục bổ sung.

        Việc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phô) là sự phát triển mới của nghệ thuật xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Phương châm “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện - tỉnh tự bảo vệ mình” sẽ tạo cho cả nước một thế trận liên hoàn, vững chắc, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù, trong mọi tình huống.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 08:52:53 AM

*

*       *

        Một trong những vấn đề cốt lõi trong chiến lược quốc phòng - an ninh của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay cũng như tương lai là kết hợp kinh tế với quốc phòng. Gần 15 năm công tác ở cơ quan Bộ Quốc phòng - Tổng hành dinh, tôi đặc biệt chú trọng vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, quân đội tham gia làm kinh tế. Cũng vì vậy mà có anh em nói vui là: tôi say làm kinh tế.

        Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong kế sách dựng nước và giữ nước không phải là vấn đề mới mà là một truyền thống tốt đẹp, được hình thành, hun đúc suốt mấy nghìn năm lịch sử. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu để kế thừa, phát huy trong thời đại ngày nay. Một trong những bài học quý báu cha ông ta để lại từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước là phát triển kinh tế phải gắn với củng cố quốc phòng, làm cho dân giàu nước mạnh. Những tư tưởng “thực túc binh cường”, “quốc phú, binh cường”… là sự phản ánh quy luật phổ biến, khẳng định sức mạnh kinh tế là cơ sở của sức mạnh quốc phòng.

        Lần lại lịch sử thì Kinh Bắc quê tôi là đất “phát tích” của triều Lý - một triều đại đã thực thi một chính sách lớn, hết sức ưu việt - chính sách “Ngụ binh ư nông” - gửi binh ở trong nông. Khi có chiến tranh thì mỗi một nông phu là một người lính. Khi binh đao kết thúc, các thế lực ngoại xâm không còn trên lãnh thổ quốc gia thì súng gươm xếp lại, toan lo cấy cày, tằm tang canh cửi. Có thể nói quốc sách “Ngụ binh ư nông” là một chính sách kết hợp kinh tế với quốc phòng, đã đóng vai trò to lớn đối với thắng lợi của những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập và sự cường thịnh của dân tộc ta. Trong từng thời kỳ lịch sử, với mỗi triều đại, sự kết hợp kinh tế - quốc phòng được thực thi ở những mức độ khác nhau. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền, thì kết hợp kinh tế với quốc phòng luôn luôn được Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu. Tuy nhiên, trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, thì vấn đề kết hợp kinh tế - quốc phòng phải mang những nội dung và sắc thái mới.

        Theo tôi, hiện nay quan điểm cơ bản, quyết định toàn bộ chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng là: giải quyết tốt tương quan giữa lợi ích kinh tế, tăng trưởng kinh tế và bảo đảm quốc phòng - an ninh, đảm bảo cho mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là. một bước tăng trưởng quốc phòng; chủ động ngăn ngừa và loại trừ ngay từ đầu mưu toan của các thế lực bên ngoài lợi dụng hoạt động sản xuất kinh doanh để lấn át ta về chính trị - xã hội; nhưng cũng không vì quá cực đoan mà gây cản trở giao lưu, phát triển kinh tế.

        Quan điểm này bắt nguồn từ sự thống nhất biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội là cơ sở tạo nên sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc.

        Theo quan điểm này thì các lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là quân đội phải được xây dựng thích hợp với tình hình và cơ cấu kinh tế mới có thể vừa từng bước ổn định và đổi mới trang bị kỹ thuật, vừa góp phần tích cực, hiệu quả vào phát triển kinh tế, tham gia thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở những lĩnh vực có điều kiện nhất theo sự phân công của Nhà nước.

        Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong giai đoạn hiện nay phải thật cụ thể, linh hoạt trong từng lĩnh vực, từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị cơ sở để thực hiện được ba mục tiêu: ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân, tích lũy để phát triển và bảo đám quốc phòng - an ninh.

        Kết hợp kinh tế với quốc phòng là nhiệm vụ lớn lao của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó, ở vào giai đoạn hiện nay, quân đội phải là lực lượng nòng cốt. Bên cạnh nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thì tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài của những người lính. Quân đội phải tranh thủ thời gian, khai thác tiềm năng to lớn của mình, của các địa phương để làm kinh tế, tăng gia sản xuất, bảo đảm ngày càng tốt hơn nhu cầu nuôi quân và cùng chính quyền, nhân dân địa phương xây dựng hậu cần tại chỗ, tăng cường sức mạnh kinh tế và quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 08:53:24 AM

        Kết hợp kinh tế - quốc phòng với các cơ sở công nghiệp quốc phòng là ngoài sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu quốc phòng, cần phải triệt để tận dụng công năng trang thiết bị kỹ thuật để làm ra những mặt hàng tiêu dùng. Đây là định hướng sản xuất lâu dài rất quan trọng của những cơ sở công nghiệp quốc phòng. Vì vậy, trong định hướng đầu tư về trang bị kỹ thuật cũng phải tính đến tính năng lưỡng dụng của máy móc, thiết bị.

        Các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu đều có thể bố trí lực lượng, thời gian để tăng gia sản xuất xây dựng kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch, để cải thiện đời sống cho bộ đội và tăng cường thế trận hậu cần - thế trận chiến tranh nhân dân trên từng địa bàn.

        Lực lượng khoa học kỹ thuật của quân đội, các cơ sở nghiên cứu khoa học kinh tế quân sự ngoài nhiệm vụ chính là nghiên cứu phục vụ các nhiệm vụ của quân đội, vẫn có điều kiện và khả năng kết hợp phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

        Là một bộ phận nằm trong hệ thống kinh tế của quốc gia, các hoạt động kinh tế của quân đội cũng phải được quy hoạch, quản lý và phải được vận hành theo đúng đường lối kinh tế của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nếu thực hiện tốt, hiệu quả kết hợp nhiệm vụ xây dựng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc với lao động sản xuất xây dựng kinh tế, quân đội sẽ trở thành một trường học lớn của thế hệ trẻ - nơi đào luyện những chiến sĩ kiên cường sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vừa là những người lao động có kiến thức nghề nghiệp, có trình độ tay nghề cao những nhà kinh tế giỏi.

        Với những suy nghĩ trên, ngay từ những ngày đầu được Đảng, Chính phủ giao gữa các chức vụ quan trọng của Bộ Quốc phòng, tôi đã đưa vấn đề quân đội phải làm kinh tế ra bàn bạc trong tập thể lãnh đạo Bộ. Một thực tế là không phải ngay từ đầu đã có sự thống nhất. Có một số anh không đồng tình, cho rằng làm kinh tế là đi buôn, và quân đội là tuyệt đối không được đi buôn. Nhưng dần dà, các anh ấy cũng nhận chân vấn đề, làm kinh tế không đơn thuần là đi buôn; san xuất làm ra vật phẩm, hàng hóa xã hội không phải là đi buôn và quân đội làm kinh tế không phải là kinh tế đơn thuần.

        Nhân nói tới vấn đề này, tôi nhớ lại một câu chuyện nhỏ mà tôi từng chiêm nghiệm vào thời đất nước khởi đầu công cuộc đổi mới, các thành phần kinh tế “bung ra”, một số đơn vị quân đội kết hợp làm kinh tế. Lúc đó, tôi đang là Tư lệnh Quân khu 3. Thi thoảng vào ngày chủ nhật, nếu không vướng công việc gì đó, tôi lại bận thường phục “vi hành” ra chợ hoặc phố thị Kiến An, đôi khi ra các thôn xóm vùng ven. Hòa mình vào phố xá, thôn xóm, đặc biệt là “văn hóa chợ”, chúng ta học được rất nhiều điều. Trong một lần từ chợ Kiến An về cơ quan quân khu, rảo bước sau ba phụ nữ, tôi đã chứng kiến một cuộc “luận chiến” rất lý thú.

        Một chị, vợ một sĩ quan quân đội, tỏ vẻ phàn nàn chồng độ này phải đưa bộ đội đi làm âu tàu, phục vụ xây dựng Nhà máy đóng tàu Phà Rừng, vừa vất vả lại nhếch nhác chẳng nền nếp, chính quy chút nào. Theo chị, thì nhiệm vụ của bộ đội trong thời chiến là đánh giặc; thời bình tập trung huấn luyện, xây dựng chính quy; không làm kinh tế, bệ rạc lắm…

        Chị thứ hai cũng là vợ sĩ quan - chắc ở một nhà máy quốc phòng, phản ứng khá gay gắt: Bệ rạc là bệ rạc thế nào? Nhà em bảo nếu nhà máy của anh ấy không “bung ra” làm kinh tế thì khác gì cái xác không hồn. Máy móc hiện đại, nhưng hòa bình rồi chăng nhẽ cứ làm mã. súng đạn, trong khi cán bộ, công nhân lại đói - phải làn ra cái để nuôi dạ dày đã chứ!…

        Chị thứ ba, chắc là gia đình thuần nông, thủng thẳng chêm vào: Chị nói chị phải, em nói em hay, ha. người đều có lý, nhưng tôi nghiệm điều cha ông ta đúc kết từ hàng nghìn năm, nó liên quan đến hạt thóc củ khoai hằng ngày là “thực túc, binh cường”. Muốn chính quy, hiện đại gì thì cũng phải no, đủ cái đã, có no thi mới mạnh… và muốn no đủ thì chẳng có cách gì ngoài: làm kinh tế.

        Vậy là hai trong số ba người đồng ý là bộ đội phải lần kinh tế. Khổng Tử dạy, đại ý: nếu gặp ba người ở ngoài đường thì thế nào cũng có một người là thầy của ta. Cảm ơn những thôn nữ, những người tưởng như chẳng mấy khi ra khỏi rặng tre làng, nhưng đã có những chính kiến rõ ràng trước những điều “quốc gia đại sự”.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:32:15 PM

*

*       *

        Một thực tế hiện nay là nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng của ta được trang bị máy móc tương đối hiện đại, nhưng không phát huy hết công năng, bởi hằng năm, nhu cầu sản xuất hàng quốc phòng chỉ cần tới 10% công suất. Máy móc “đắp chiếu” quanh năm, còn cán bộ, công nhân thiếu việc làm, thu nhập thấp. Lãng phí về trang thiết bị và lãng phí lao động rất lởn. Nhiều cán bộ kỹ thuật, thợ tay nghề bậc cao tìm đường chuyển ra các doanh nghiệp ngoài quân đội.

        Trong lịch sử, quân đội ta cũng đã có những bài học thấm thía về thiếu tầm nhìn. Ví như, vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, miền Bắc có hòa bình, quân đội cho chuyển ngành ra ngoài hàng loạt công nhân quân giới, vì vậy khi chiến tranh xảy ra, các nhà máy quân giới thiếu nhân lực trầm trọng. Để tránh đi vào “vết xe” cũ, chủ động trong mọi tình huống, chúng ta phải chuẩn bị từ bây giờ, từ trong thời bình nguồn lực đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp quốc phòng nếu chiến tranh xảy ra. Và để không những duy trì mà còn phát triển nguồn lực đó cả về số lượng lẫn chất lượng, chúng ta phải phát huy thế mạnh của các cơ sở công nghiệp quốc phòng để sản xuất các mặt hàng phục vụ đời sống - làm kinh tế.

        Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - kinh tế trong thời kỳ mới, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo xây dựng tổ chức biên chế Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và kinh tế - cơ quan tham mưu và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong quân đội. Chúng tôi cũng chỉ đạo cho chấn chỉnh sắp xếp lại các đơn vị làm kinh tế. Cuối năm 1999, Cục Kinh tế trực thuộc Bộ Quốc phòng chính thức được thành lập, có chức năng tham mưu tổng hợp giúp Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ lao động sản xuất làm kinh tế của quân đội; giúp Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh tế quốc phòng, doanh nghiệp kinh tế…, các khu kinh tế quốc phòng…

        Thời gian tôi đảm trách chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã tập trung nghiên cứu, ban hành chỉ thị, nghị quyết quan trọng chỉ đạo quân đội làm kinh tế, điển hình là Chỉ thị 103/CT-ĐUQSTW (ngày 23 tháng 5 năm 1998) về việc sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp trong quân đội; Nghị quyết 150/NQ-ĐUQSTW (ngày 1 tháng 8 năm 1998) về quân đội tham gia lao động sản xuất, làm kinh tế, phát huy vai trò nòng cốt, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược. Và tiếp đó, là Nghị quyết số 71/NQ-ĐUQSTW về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội trong thời kỳ mới - tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao doanh nghiệp nhà nước…

        Hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên mặt trận sản xuất và xây dựng kinh tế. được sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương, sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, lực lượng quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã trưởng thành không ngừng. Các doanh nghiệp quân đội đã đứng vững, phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường; đặc biệt các doanh nghiệp quân đội đã thế hiện sức mạnh của mình trên những địa bàn chiến lược trọng yếu.

        Thành tựu của quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế được thể hiện ở những nội dung sau:

        - Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh,

        giải quyết những khó khăn của đất nước.

        - Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã góp phần gìn giữ năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho quân đội.

        Minh chứng cho điều này có thể kể đến một số doanh nghiệp đã tạo nên năng lực sản xuất mới với trình độ công nghiệp tiên tiến như Tổng công ty bay dịch vụ Việt Nam, bằng vốn tự tích lũy qua sản xuất kinh doanh đã trang bị cho mình hàng chục chiếc máy bay trực thăng thuộc loại hiện đại nhất nhì thế giới. Liên hiệp Xí nghiệp Ba Son, Công ty 189, các công ty Hồng Hà, Hải Long, Sông Thu… chú trọng đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, đóng được tàu chiến, tàu hàng có trọng tải lớn, tàu cao tốc (chúng tôi chủ trương quân đội tự đóng mới tàu có trọng tải từ 300 tấn trở xuống). Công ty Tân Cảng Sài Gòn đã tự nâng cấp cầu cảng, mua sắm các trang bị bốc xếp hiện đại, hay Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel) đã làm chủ được công nghệ viễn thông hiện đại - là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của đất nước trên lĩnh vực viễn thông… Trang thiết bị hiện đại của những doanh nghiệp nêu trên không chỉ phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà khi chiến tranh xảy ra, thì đây là lực lượng quan trọng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Cũng có thể kể đến các nhà máy Z113, Z121, Z131, Z115, Z125…, không những bảo đảm sản xuất vũ khí khí tài phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu mà còn chủ động vươn ra thị trường sản xuất hàng dân dụng, thuốc nổ công nghiệp đạt hiệu quả kinh tế khá…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:33:16 PM

        - Quân đội sản xuất xây dựng kinh tế thực sự trở thành một nguồn lực của đất nước để giải quyết các vấn đề khó khăn về kinh tế - xã hội trên các địa bàn chiến lược; xây dựng nên các vùng kinh tế - quốc phòng, các trung kinh tế- dân cư - xã hội - an ninh biên giới và trên các địa bàn chiến lược.

        - Quân đội làm kinh tế tạo nguồn thu cho ngân sách, cải thiện đời sống bộ đội. Hiện nay, bình quân mỗi năm các doanh nghiệp của quân đội đóng góp cho ngân sách Nhà nước trên 5.400 tỷ đồng. Đây là một đóng góp đáng ghi nhận của những người lính cho đất nước. Cùng với các doanh nghiệp, các đơn vị thường trực cũng đẩy mạnh tăng gia sản xuất, đẩy mạnh hoạt động kinh tế bằng nhiều hình thức để tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho bộ đội cả về vật chất lẫn tinh thần.

        Sau khi điều chỉnh, sắp xếp lại, nhiều doanh nghiệp quân đội đã có những bước tiến vững chắc trong sản xuất kinh doanh, trong tiến trình hội nhập của đất nước. Ngoài những nhà máy Z113, Z115, Z121, Z131…, Công ty 28, Công ty 20, Tổng công ty xăng dầu quân đội đang thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho quân đội huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, hiện nay quân đội có trên 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản hoạt động có hiệu quả. Điển hình là Tổng công ty Trường Sơn, các công ty Lũng Lô, Vạn Tường, Công ty 789, Công ty 36 thuộc Tổng công ty Thành An…

        Điển hình về sản xuất nông - lâm nghiệp có Tổng công ty 15 và Tổng công ty 16 đứng chân ở địa bàn Tây Nguyên - nam Tây Nguyên.

        Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel) do anh Hoàng Anh Xuân làm Tổng giám đốc, anh Hùng, anh Tính, anh Dũng… làm Phó tổng giám đốc, từ một doanh nghiệp chưa có tên tuổi trong “làng” viễn thông Việt Nam, nhưng với tầm nhìn xa, có quyết sách đúng, hoạch định chiến lược công nghệ và chiến lược kinh doanh chính xác, chỉ sau 7-8 năm đã đạt tốc độ phát triển như vũ bão, tăng trưởng năm sau gấp đôi năm trước, chiếm 25 phần trăm thị phần toàn ngành. Viettel trở thành một trong những doanh nghiệp viễn thông lớn nhất tại Việt Nam và đang “phủ sóng” sang một số quốc gia láng giềng.

        Tổng công ty bay dịch vụ Việt Nam do anh Phạm Viết Thích (nay là anh Hà Tiến Dũng) làm Tổng giám đốc anh Mùi, anh Hòa… làm Phó tổng giám đốc, với chủ trương phát huy cao độ nội lực và tranh thủ hợp tác với nước ngoài để tiếp thu kỹ thuật, công nghệ quản lý tiên tiến, sau 20 năm thành lập đã làm chủ được kỹ thuật bay dịch vụ dầu khí, cứu hộ cứu nạn; làm chủ hoàn toàn thị trường bay dầu khí trong nước và đang vươn ra thị trường quốc tế. Đội bay của Tổng công ty bay dịch vụ Việt Nam được xếp vào loại mạnh nhất trong khu vực, có uy tín trên thế giới; sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.

        Tổng công ty Đông Bắc là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khoáng sản - chủ yếu là than, luôn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Sản lượng than do Tổng công ty khai thác hằng năm thường chiếm 1/10 sản lượng toàn ngành than Việt Nam; doanh thu và đóng góp cho ngân sách Nhà nước luôn ở mức cao.

        Công ty Tân cảng Sài Gòn là một điển hình của tầm nhìn xa, có chiến lược sản xuất kinh doanh đúng. Công ty đã mạnh dạn đầu tư các công nghệ hiện đại, đón đầu làm chủ hoàn toàn kỹ thuật, công nghệ mới, cải cách triệt để công nghệ quản lý, xứng đáng là một trong những cảng côngtenơ quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, công ty là nhà khai thác cảng biển hàng đầu của Việt Nam, chiếm trên 64 phần trăm thị phần xuất nhập khẩu côngtenơ của thành phố Hồ Chí Minh, trên 42 phần trăm thị phần cả nước; trong đó cảng Cát Lái đứng thứ 38 trên thế giới về sản lượng hàng thông qua cảng…

        Còn rất nhiều doanh nghiệp quân đội sáng danh, mà tôi rất cảm mến, tin tưởng về ý chí, nghị lực, trí tuệ của những người lính trên thương trường…, nhưng vì khuôn khổ của tập hồi ký cá nhân, tôi không nêu hết được.

        Người đời thường ví “thương trường như chiến trường”. Các chiến binh của chúng ta khẳng định được vị thế trên thương trường, phát triển vững chắc trong lộ trình hội nhập của đất nước cũng đều xứng đáng là anh hùng và đáng được tôn vinh, ngưỡng mộ.

        Nhìn toàn cục, đến nay, hầu như không có lĩnh vực then chốt nào của nền kinh tế quốc dân không có mặt các doanh nghiệp quân đội. Từ giao thông, thủy lợi, thủy điện, xây dựng, khai thác mỏ, cơ khí, đóng tàu công nghệ thông tin - viễn thông, bay dịch vụ, đến nông - lâm ngư nghiệp đều có dấu ấn của người lính. Bàn tay, khối óc, ý chí của những người lính Cụ Hồ đã góp một phần dù rất khiêm tốn làm thay đổi nhanh chóng diện mạo của đất nước trong thời kỳ đổi mới.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:33:58 PM

*

*       *

        Một trong những vấn đề tôi hết sức tâm đắc về kết hợp kinh tế với quốc phòng và cũng được các anh trong Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng đồng thuận, chỉ đạo giải quyết tốt là xây dựng các Khu kinh tế quốc phòng.

        Xuất phát điểm, hay sự gợi mở về những vùng kinh tế quốc phòng trong tư duy của tôi là vấn đề xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh ở miền biên giới. Trong chiến tranh hay quãng thời gian khá dài chiến đấu, công tác ở cấp phân đội, chiến thuật, tôi chưa có điều kiện mở rộng tầm nhìn. Sau này, khi lên cấp quân khu rồi giữ cương vị Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có điều kiện đi đây đó, giúp tôi xâu chuỗi, góp nhặt được nhiều vấn đề. Có một điều trái ngược giữa ta với một số nước láng giềng là ở ta, địa bàn dọc theo biên giới quốc gia trừ một số thị trấn vùng biên, vùng đồng bằng tập trung mật độ vừa phải dân cư, còn lại đa phần là những vùng “rừng không dân”; dọc theo biên giới rộng chừng năm đến bảy cây số rất thưa hoặc không có dân. Trong khi đó ở Thái Lan, Malalxia… dân cư của họ dọc đường biên đông đúc, cảnh tình sầm uất. Tôi cũng đã nghiên cứu chiến lược “biên giới mềm” của Trung Quốc và Thái Lan. Từ đó, thường trực trong ý nghĩ của tôi là phai nhanh chóng đưa dân ra sát đường biên. Lực lượng bảo vệ mốc chủ quyền vững chắc nhất, không ai khác là nhân dân. “Chúng chí thành thành”, cha ông ta tự bao đời đã đúc kết như vậy! Chỉ có ý chí, quyết tâm của người dân là thành trì giữ nước vững chắc nhất.

        Về tổng thể, nước ta có trên 4.500 cây số đường biên giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia. Địa hình khu vực đường biên chủ yếu là núi non hiểm trở. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào miền núi, khu vực biên giới - vùng chiến khu trước đây mặc dầu đã được cải thiện nhưng còn rất khó khăn, tỷ lệ đói nghèo phổ biến trên 25 phần trăm, có vùng lên đến 60-70 phần trăm. Về quốc phòng - an ninh, địa bàn giáp biên giới thường diễn biến phức tạp, nhất là Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ. Khu vực biên giới phía Bắc vào thập niên 80 thế kỷ trước, có những vùng “trắng” dân, có nơi thậm chí không đủ dân để tổ chức các đơn vị hành chính.

        Phải biến những “vùng rừng không dân” nơi biên cương Tổ quốc thành những vùng kinh tế quốc phòng, tổ chức cho quân đội và nhân dân xây dựng những nông - lâm trường ở những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, làm nền tảng cho thế trận quốc phòng - an ninh ở những địa bàn đó, là điều nung nấu, trăn trở và quyết tâm lớn của chúng tôi. Đã có nhiều cuộc bàn bạc, trao đổi giữa tôi, anh Rinh, anh Phùng Quang Thanh,… khi thì hội họp có tính chất “chính trường”, khi thì trao đổi hằng ngày trong quan hệ công tác. Điều phấn khởi là bàn ở khía cạnh nào cũng có sự đồng thuận.

        Từ kinh nghiệm xây dựng vùng kinh tế quốc phòng ba xã (Thán Phún, Pò Hèn, Lục Phủ) vùng biên Tịnh Tường, Bình Liêu, Quảng Ninh, và tìm hiểu truyền thống tiên phong, luôn đương đầu với gian khổ khó khăn, “khai sơn phá thạch” của quân đội, chúng tôi chủ trương phải đưa bộ đội ra trước khai khẩn đất đai, trồng rừng, xây dựng cơ sở hạ tầng bước đầu, sau đó mới đón dân ra.

        Ngược dòng lịch sử của quân đội, chúng ta thấy, trong hơn nửa thế kỷ qua, mặc dù phải trải qua ngót bốn mươi năm đánh Pháp, đánh Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn, nhưng về xây dựng những vùng kinh tế quốc phòng, quân đội ta đã có những bước đi rất cơ bản và có những đóng góp lớn lao cho đất nước.

        Năm 1956, vừa bước ra từ khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân phục chưa nhạt mùi thuốc súng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân đội đã được cử đến những vùng xa xôi, héo lánh, nơi biên cương Tổ quốc để khai khẩn xây dựng nông trường; biến những vùng đất hoang sơ thành những nông trường rộng lớn, trù phú. Các nông trường Điện Biên (Điện Biên), Mộc Châu (Sơn La), Đông Hiếu, Tây Hiếu (Nghệ An), Bình Minh (Ninh Bình)… là những điểm sáng về kinh tế, dân cư xã hội, an ninh - quốc phòng.

        Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, các đoàn kinh tế - quốc phòng với hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ đã được thành lập ở miền Tây - miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, biên giới phía Bắc. Với bàn tay, khối óc, ý chí của người lính mà nhiều vùng trồng lúa mới ở tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, vùng trồng cao su, cà phê ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên… đã nhanh chóng định hình, đón hàng vạn hộ đồng bào khắp mọi miền đất nước đến định cư lập nghiệp và ổn định, từng bước cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc ít người trên địa bàn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:34:23 PM

        Trên cơ sở hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của việc tổ chức các khu kinh tế quốc phòng và yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, Bộ Quốc phòng đã nghiên cứu, đề xuất Chính phủ một kế hoạch tổ chức hệ thống các khu kinh tế quốc phòng trong cả nước. Tôi và anh Rinh đã nhiều lần trực tiếp cùng các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh các quân khu, binh đoàn khảo sát thực địa, nghiên cứu xây dựng dự án các khu kinh tế quốc phòng và báo cáo Thủ tướng Phan Văn Khải, các Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Nguyễn Tấn Dũng về vấn đề này, đều được các anh ủng hộ và đánh giá cao chủ trương của Bộ Quốc phòng. Theo đó, ngày 31 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Phan Văn Khải ký Quyết định 135/QĐ-TTG, phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi và vùng sâu vùng xa. Thủ tướng giao cho Bộ Quốc phòng xây dựng các vùng kinh tế mới đỡ đầu, đón nhận, xóa đói giảm nghèo cho trên mười vạn hộ dân đến lập nghiệp ở những vùng còn hoang hóa, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển.

        Ngay sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ngày 1 tháng 8 năm 1998, Hội nghị Đảng ủy Quân sự Trung ương được triệu tập kịp thời ra Nghị quyết 150/NQ-ĐUQSTW “Về việc quân đội tham gia lao động sản xuất làm kinh tế, phát huy vai trò nòng cốt, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược”.

        Để tổ chức thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 22 tháng 8 năm 1998 Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Ban chỉ đạo về xây dựng và triển khai thực hiện các dự án kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an nính trên các địa bàn chiến lược - gọi tắt là Ban chỉ đạo 150. Trưởng ban chỉ đạo là anh Nguyễn Văn Rinh - Thứ trưởng. Phó trưởng ban có các anh Trần Đức Việt - Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, Lê Văn Hân - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Nguyễn Biên Thùy - Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và Đặng Vũ Liêm - Phó tư lệnh Bộ đội biên phòng.

        Đi vào thực hiện chương trình, tôi đã cùng Ban chỉ đạo 150 tập trung nghiên cứu khu kinh tế quốc phòng của Binh đoàn 15 (được xây dựng từ năm 1985 trên ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc) và khu kinh tế - quốc phòng của Binh đoàn 16 - mới hình thành ở Đắc Lắc, Đắc Nông; đồng thời chỉ đạo Cục Kinh tế, Cục Kế hoạch đầu tư, Cục Tài chính tập trung khảo sát tổng thể, nắm toàn bộ trực trạng các khu kinh tế - quốc phòng trong cả nước và những địa bàn còn trống, dự trù mọi yếu tố lực lượng, tài chính để đưa vào quy hoạch xây dựng các khu mới. Từ năm 2000, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với các địa phương xây dựng đề án trình Chính phủ cho phép xây dựng 12 khu kinh tế - quốc phòng và được Thủ tướng phê duyệt (Quyết định 277/2000/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 3 năm 2000). Sau đó. do những tình hình ở một số khu vực biên giới - đặc biệt là vụ bạo loạn chính trị đầu năm 2001 tại Tây Nguyên, mà ở đó, Binh đoàn 15 với khu kinh tế quốc phòng trải dài trên ba tỉnh, đã góp phần quan trọng ổn định tình hình, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 43/2002/QĐ-TTg (ngày 21 tháng 3 năm 2002) bổ sung thêm 5 khu kinh tế quốc phòng và mở rộng 2 khu kinh tế quốc phòng đã có. Tiếp đó, để kiểm soát hoạt động ngày càng phức tạp của lực lượng phỉ (Lào) tại khu vực tây bắc Thanh Hóa và xây dựng căn cứ công nghiệp quốc phòng phía Nam, Chính phủ phê duyệt đề nghị của Bộ Quốc phòng triển khai thêm 2 khu kinh tế quốc phòng, một ở Quân khu 4 và một ở Quân khu 7.

        Thực hiện các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đến nay Bộ Quốc phòng đã và đang xây dựng 21 khu kinh tế quốc phòng trên các địa bàn chiến lược từ biên giới phía Bắc đến Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Trong số đó, có những khu đã định hình về cơ bản, phát huy hiệu quả trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh.

        Chọn những địa bàn đặc biệt khó khăn, trống dân, thưa dân, địa bàn nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo dọc biên giới, những căn cứ kháng chiến cũ… để xây dựng khu kinh tế quốc phòng, mục đích của chúng tôi nhằm phát triển kinh tế - xã hội các vùng dự án. Sau khi hoàn chỉnh về cơ bản khâu cơ sở hạ tầng các vùng dự án: điện, đường, trường, trạm, sẽ đón các hộ dân từ miền xuôi những vùng đất chật người đông lên sinh cơ lập nghiệp; góp phần cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, từ đó xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh những vùng có tầm quan trọng chiến lược. Ở một khía cạnh khác, đây là cách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Chính phủ và quân đội đối với đồng bào ở những vùng căn cứ kháng chiến cũ…


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:35:10 PM

        Để đạt được mục đích đó, trong mười năm qua, ngoài đầu tư về lực lượng - bố trí hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, trong đó có đội ngũ cán bộ năng lực tốt, đầy nhiệt huyết, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã đầu tư trực tiếp và gián tiếp cho các khu kinh tế quốc phòng gần 1.500 tỷ đồng. Để rồi, với bàn tay, khối óc, nhiệt huyết của những người lính Cụ Hồ trên mặt trận sản xuất, làm kinh tế, cộng với những đồng tiền, bát gạo của Nhà nước, nhân dân; các khu kinh tế quốc phòng đã có được cơ sở hạ tầng ban đầu đáng khích lệ: đã xây dựng hoàn thành trên 240.000m2 nhà ở cho bộ đội, trên 1.000 cây số đường giao thông, 75 cầu bê tông và cầu treo với trên 1 000m chiều dài, tổ chức 121 bản định cư mới, 37 bệnh xá quân dân y kết hợp, 100 lớp học, gần ba chục nhà trẻ, mẫu giáo, 36 công trình cấp điện sinh hoạt, 142 công trình cấp nước sạch, trên 22.000m2 chuồng trại chăn nuôi, gần ba chục héc-ta trại cây giống, 6 trạm thủy điện, trên 130 công trình thủy lợi lớn nhỏ tưới cho trên 6.000 héc-ta đất nông - lâm nghiệp… Các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đã mang sức sống cho các khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa - đặc biệt khó khăn, thông qua đó góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định cơ cấu lại dân cư tại các vùng kinh tế chậm phát triển.

        Về sản xuất, các khu kinh tế quốc phòng trực tiếp tổ chức sản xuất như Binh đoàn 15, Binh đoàn 16 đã khai hoang trồng được trên 26.000 héc-ta cao su (trong đó có hơn 20.000 héc-ta cao su đang thời kỳ cho sản phẩm), trên 3.800 héc-ta cà phê, hơn 10.000 héc-ta điều cao sản; trên 200 héc-ta lúa nước. Lợi nhuận thu được qua sản xuất hằng năm đạt trên 25 tỷ đồng.

        Dẫu còn những khó khăn ở buổi “khai sơn phá thạch”, ví như ở Binh đoàn 16 - hàng nghìn héc-ta điều đang chống chọi với những thách đố dữ dằn, nghiệt ngã của điều kiện tự nhiên vùng rừng Nam Tây Nguyên, nhưng hiệu quả ban đầu là tích cực.

        Các khu kinh tế quốc phòng không trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung, đã giúp dân khai hoang, cải tạo đồng ruộng, làm lúa nước, quy hoạch đồng cỏ để chăn nuôi trâu, bò…

        Vào thăm khu kinh tế quốc phòng ở A So - A Lưới, tây Thừa Thiên - Huế, của Quân khu 4, tôi được bà con dân tộc ít người ở đây hồ hởi bày tỏ: Nhờ bộ đội mà chúng tôi đổi đời, biết được nhiều thứ. Trước đây làm nương chỉ biết chọc lỗ, tra hạt, nay đã biết cày bừa, làm lúa nước. Ngược lên biên giới phía Bắc đến khu kinh tế quốc phòng Bảo Lâm - Bảo Lạc (Cao Bằng), thấy đàn bò của bà con được dự án đầu tư giống vốn, phát triển mạnh; đời sống người dân bớt đi phần nào thiếu thốn, nhọc nhằn…, càng củng cố trong tôi niềm tin vào tính hiệu quả, sức sống của những khu kinh tế quốc phòng.

        Một trong những thành quả đáng kể nhất của các khu kinh tế quốc phòng là đã góp phần ổn định bố trí cơ cấu dân cư. Từ năm 1999 đến 2007, tại 19 khu kinh tế quốc phòng và 3 khu lấn biển, đã thực hiện di dân, sắp xếp ổn định dân, xây dựng được hàng trăm cụm làng bản, tạo nên vành đai quốc phòng - an ninh dọc các tuyến biên giới. Các thị trấn đông đúc, trù phú, như thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ (Gia Lai), hay Bình Minh (Ninh Bình)… đều có sự đóng góp tích cực từ việc xây dựng các khu kinh tế quốc phòng.

        Từ năm 1999 đến nay, các dự án khu kinh tế quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận trên 56.000 hộ dân đến sinh cơ lập nghiệp; sắp xếp ổn định tạo việc làm cho trên 25.000 hộ dân trong khu vực, trong đó có trên 7.100 hộ đồng bào dân tộc thiểu số và gần 7.000 hộ gia đình cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng. Đóng vai trò chủ đạo trong việc góp phần ổn định dân cư là Binh đoàn 15 và Binh đoàn 16.

        Binh đoàn 15, anh Nguyễn Xuân Sang làm Tư lệnh, do thành lập sớm, có được cơ nghiệp bề thế, thuận lợi hơn, nên đã đỡ đầu, đón nhận được trên 23.000 hộ, trong đó có trên 14.000 hộ trong vùng dự án, trên 5.000 hộ gia đình cán bộ, chiến sĩ và trên 4.300 hộ đồng bào dân tộc ít người được sắp xếp việc làm ổn định.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 08:54:36 AM

        Binh đoàn 16, trước đây do anh Hà Thiệu làm Tư lệnh, nay là anh Nguyễn Doãn Não, được thành lập vừa tròn 10 năm. Mặc dù điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, nhưng Binh đoàn cũng đã đón nhận gần 9.000 hộ dân; trong đó có trên 1.000 hộ dân từ Bến Tre lên và 480 hộ dân từ Thanh Hóa vào khu kinh tế quốc phòng Easúp (Đắc Lắc); định canh định cư cho trên 300 hộ đồng bào Mông và gần 100 hộ đồng bào Dao di cư tự do; tuyển trên 2.000 lao động trẻ, hình thành được trên 1.200 hộ gia đình, sắp xếp ổn định, tạo việc làm cho gần 5.000 hộ gia đình di cư đến vùng dự án. Tuy nhiên, do cơ sở hạ tầng thiếu thốn, năm 2005 binh đoàn đón bà con từ Bến Tre lên, từ Thanh Hóa vào lập làng mới Xuân Khao vào đúng thời điểm hạn hán kéo dài hơn 8 tháng, nên hàng trăm gia đình đã bỏ về quê. Vào làm việc với Bộ Tư lệnh Binh đoàn thời điểm đó, tôi động viên anh em không vì thế mà nản. Có những điều thuộc về tự nhiên ta chưa cưỡng lại được. Trong kháng chiến, nhiều khi vì điều kiện thời tiết nên tác chiến không hiệu quả, thậm chí tổn thất, tôi đã phải thốt lên: “Giặc đánh không bằng trời đánh”. Nay thì xã mới Xuân Khao thuộc khu kinh tế quốc phòng Easúp đã phát triển tốt. Cơ sở hạ tầng điện - đường - trường - trạm đầy đủ. Canh tác nông nghiệp trồng rừng của mấy trăm hộ dân đã ổn định.

        Với Binh đoàn 16, tôi đặc biệt lưu ý anh em nên nghiên cứu điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng, nhanh chóng chuyển đổi dự án trồng điều cao sản sang trồng cây khác. Qua khảo sát hàng nghìn héc-ta, đất khô khát, bạc màu, thấy những gốc điều khẳng khiu đang tranh sống với những cây dầu, cây khộp già nua hàng trăm tuổi, tôi thấy hết sức ái ngại…

        Khu kinh tế quốc phòng Mường Chà của Quân khu 2 thuộc tỉnh Điện Biên, đã xây dựng được 15 cụm bản điểm tại các xã Chà Nưa, Chà Càng, Nà Hỳ (huyện Mường Lay) và các xã Mường Toong, Mường Nhé (huyện Mường Nhé), sắp xếp ổn định cho trên 2.500 hộ dân làm ăn sinh sống.

        Khu kinh tế quốc phòng Bình Liêu - Quảng Hà - Móng Cái thuộc tỉnh Quang Ninh (Quân khu 3), đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, di dân, tách hộ được 2.841 hộ dân, trong đó Đoàn kinh tế - quốc phòng 327 đã sắp xếp đón nhận được trên 800 hộ dân lên địa bàn sát đường biên, riêng quân nhân đã có 74 hộ gia đình lên đây lập nghiệp.

        Các khu kinh tế quốc phòng hình thành, phát triển đã tạo cho thế trận quốc phòng - an ninh ở những địa bàn chiến lược trọng yếu ngày một vững chắc.

        Tại dự án khu kinh tế quốc phòng Bắc Hải Sơn, tỉnh Quảng Ninh thuộc Quân khu 3, có 3 xã Thán Phún, Pò Hèn, Lục Phủ hoàn toàn “trắng” dân vào những năm 80 của thế kỷ trước, đến nay đã khôi phục được hai xã, lấy tên mới là Bắc Sơn, Hải Sơn.

        Khu kinh tế quốc phòng Bình Liêu - Quảng Hà - Móng Cái là vùng thường xuyên xảy ra tình trạng cư dân bên kia đường biên xâm canh xâm cư, khai thác lâm sản, thủy sản trái phép; đặc biệt xã Lục Lầm bị xóa tên vào những năm 80 thế kỷ trước, thì nay Đoàn 327 Quân khu 3 đã đưa 150 hộ dân ra làm ăn sinh sống, nuôi trồng, khai thác thủy hải sản, phát triển sản xuất, tạo nên vành đai bảo vệ biên giới tại những điểm trống dân cư sát biên giới và thành lập lại đơn vị hành chính xã.

        Địa bàn khu kinh tế quốc phòng Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thuộc Quân khu 1, gồm 12 xã giáp đường biên. Sau khi chiến sự nổ ra vào năm 1979, hầu hết các thôn bản ở đây đều “trắng” dân; cơ sở hạ tầng không còn; trong lòng đất lại nhiều bom mìn… Sau khi dự án khu kinh tế quốc phòng Mẫu Sơn được triển khai, đến năm 2007 đã phục hồi hoàn tất 5 bản; số thôn bản khác đang được khôi phục. Khu kinh tế quốc phòng Bảo Lạc - Bảo Lâm (Cao Bằng) cũng khôi phục được 5 bản sát đường biên.

        Binh đoàn 15 đứng chân trên địa bàn ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc là khu vực phức tạp về an ninh chính trị. Nhưng với bề dày truyền thống và nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ binh đoàn trong việc tổ chức ổn định, cải thiện đời sống của nhân dân, tạo được niềm tin của dân, nên thế trận quốc phòng - an ninh ở những vùng có dự án ngày càng ổn đỉnh, vững chắc. Điều đó được minh chứng qua sự kiện các thế lực thù địch kích động, gây bạo loạn chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên vào đầu năm 2001 và đầu năm 2004, số lao động là đồng bào dân tộc ít người vào làm việc tại các công ty của Binh đoàn 15, không có ai tham gia biểu tình, gây rối.

        Nói về vai trò của quân đội trong lĩnh vực làm kinh tế xóa đói giảm nghèo, củng cố thế trận quốc phòng - an ninh, hay hiệu quả của những khu kinh tế quốc phòng, tôi xin dẫn đánh giá của Đảng ủy Quân sự Trung ương qua Nghị quyết 71/NQ-ĐUQSTW (ngày 22 tháng 4 năm 2002): “Quân đội đã thật sự là lực lượng xung kích giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội ở những vùng khó khăn trong quá trình xây dựng đất nước, góp phần làm thất bại âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn hết thống nhất dân tộc Việt Nam, bảo vệ biên giới và chu quyền vùng biển của Tổ quốc, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu chống phá từ bên trong của các thế lực thù địch”.

        Xây dựng khu kinh tế quốc phòng là một quá trình lâu dài, phức tạp, khó khăn; nhưng với truyền thống tốt đẹp của những người “khai sơn phá thạch”, với những thành tựu, hiệu quả đạt được bước đầu trên tất cả các mặt, với những quyết sách, chủ trương cụ thể hiện nay của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, quân đội sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đang, Nhà nước giao; phấn đấu để những khu kinh tế quốc phòng là một nguồn nội lực của đất nước góp phần giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội trên những địa bàn chiến lược.

        Giờ đây, nếu có dịp ngắm nhìn, hay đi giữa những cánh rừng cao su ngút ngàn tầm mắt của Binh đoàn 15, Binh đoàn 16; đi giữa những vườn cà phê trĩu quả trên vùng đất đỏ, cao nguyên, nghe râm ran tiếng nam thanh nữ tú chuyện trò trong mùa thu hoạch; hay đứng ở công trường thủy điện, ngắm người lính thợ của Binh đoàn 12 - Tổng công ty xây dựng Trường Sơn, Tổng công ty Thành An điều khiển những chiếc cần cẩu vươn dài “cánh tay” bạt núi ngăn sông như Sơn Tinh chế ngự Thủy Tinh trong thế kỷ XXI… mới thật sự vững tin vào thực tại và tiềm năng, tương lai của Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận kinh tế - quốc phòng, vững tin vào đất nước từng ngày từng ngày mạnh giàu hơn.


Tiêu đề: Re: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 08:55:59 AM

THAY LỜI KẾT

        Thưa cùng bạn đọc!

        Ông bà chúng ta từng dạy: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Với tôi, chỉ ngần ấy thôi mà học đến chót cuộc đời vẫn chưa tới. Mở đầu tập hồi ký viết gì và “gói” lại bằng gì, thật chẳng dễ chút nào.

        Trên bảy chục tuổi đời, 55 tuổi quân, đồng hành cùng những người lính Cụ Hồ, cùng đất nước qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn, rồi xây dựng đất nước, xây dựng quân đội theo đường lối đối mới…, nay tôi đã được Đảng, Nhà nước cho “gác súng, treo gươm”. Ở điểm dừng này, ngoái nhìn cuộc đời mình - đời chiến sĩ, có biết bao kỷ niệm buồn - vui, sướng - khổ; đối mặt và vượt lên biết bao khó khăn thách đố dữ dằn… để trưởng thành như ngày hôm nay.

        Hạnh phúc biết bao khi được là con của đất Việt, của quê hương Kinh Bắc trải mấy nghìn năm bất khuất anh hùng mà đậm đà sâu lắng chất nhân văn. Truyền thống hào hùng của đất nước quê hương, gia đình nguồn cội, mục tiêu lý tưởng của Đảng quang vinh… là tố chất quyết định, tôi luyện nên thế hệ chúng tôi - những người lính Cụ Hồ suốt đời chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì đạo lý, lẽ phải trên đời.

        Khi ngồi trước trang giấy để ghi lại những dòng hồi ức của mình, những mong góp một chút gì đó có ích cho đời, dù chỉ nhỏ nhoi thôi, thì trong tôi lại hiển hiện biết bao hình bóng thân thương, từ những đấng sinh thành, bạn bè thuở chăn trâu cắt cỏ ở đồng đất Phù Lãng, đến đồng chí đồng đội chiến đấu bên nhau suốt những năm dài chiến tranh; bà con cô bác khắp mọi vùng quê từng cưu mang, đùm bọc chở che…

        Cảm ơn độ lùi thời gian cho phép tôi cảm nhận cuộc đời được sâu lắng, đa chiều hơn. Nhưng cũng buồn, vì thời gian như chính kẻ thù của ký ức. Cuộc đời, với ngót ba chục năm chinh chiến và trên hai chục năm công tác, có biết bao sự kiện, tình tiết rất đáng nhớ đan cài, mà trí nhớ lại có hạn. Vậy nên, điều tôi nhớ được, viết lại trong tập hồi ký này chỉ là thiểu số so với thực tế những gì tôi đã sống, đã trải nghiệm. Chỉ biết rằng, hết thảy những điều tôi có được như ngày nay là kết quả tôi rèn, dung dưỡng của Đảng, quân đội, nhân dân. Cảm ơn Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã cho tôi ý chí, niềm tin để chiến đấu, cống hiến vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.

        Tôi cũng muốn qua những dòng hồi ký của mình bày tỏ lòng biết ơn, tri ân đồng chí, bạn bè, bà con cô bác từng gắn bó với tôi suốt những năm chiến tranh đầy gian khổ hy sinh; từng chia nhau niềm vui, nỗi buồn, nhận hy sinh về mình, dành cho tôi sự sống và sự giúp đỡ, động viên trong những tháng năm sau này.

        Cảm ơn gia đình, với người mẹ “mang nặng, đẻ đau”, nuôi dạy tôi nên người anh chị em ruột rà, vợ và các con cháu…, luôn là điểm tựa về tinh thần, giúp tôi dồn hết tâm sức cho chí làm trai thời trận mạc và cả khi bóng chiều đổ xuống cuộc đời.

        Xin được dành một vài dòng ngắn ngủi cảm ơn tập thể Văn phòng Đảng ủy Quân sự Trung ương – Văn phòng Bộ Quốc phòng và các cộng sự gần gũi nhất là Hà Huy Nguyên, Đào Văn Tân - thư ký, Nguyễn Hữu Nam - bác sĩ, Khổng Văn Tường - trợ lý bảo vệ; Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Long lái xe…, đã làm việc với nhiệt tình, trách nhiệm cao, giúp tôi giải quyết biết bao công việc hằng ngày, lo cho tôi mỗi bước đi xa, từng bước đi gần; viên thuốc, lọ dầu… khi trái gió trở trời, vì dù sao tôi cũng mang trên mình năm, bảy vết thương.

        Cảm ơn Đại tá Nguyễn Duy Tường, chỉ trong một thời gian ngắn, điều kiện tiếp cận thực tế khai thác tư liệu hạn hẹp, đã giúp tôi hoàn chỉnh tập hồi ký, cho dù cả tôi và anh đều ý thức được còn nhiều điều cần chỉnh sửa, bổ khuyết.

        Cuối cùng, xin được cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Công ty Him Lam, Tổng công ty Viễn thông quân đội… đã giúp đỡ, tài trợ để những dòng hồi ký của tôi đến được đông đảo bạn đọc gần xa.

Hà Nội, ngày cuối Đông - Mậu Tý       

HẾT