Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:11:07 PM



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:11:07 PM

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap


Ban biên soạn:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng, nhưng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". "Tủ sách lịch sử Việt Nam" gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, theo dạng hỏi đáp ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách "'Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định” nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

Trân trọng giới thiệu!


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:14:38 PM

Phần thứ nhất
TRƯƠNG ĐỊNH KHỞI BINH,
XÂY DỰNG CĂN CỨ VÀ CHỈ HUY NGHĨA QUÂN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Câu hỏi 1: Khi đội quân xâm lược của thực dân Pháp tấn công thành Gia Định, trước thái độ nhu nhược cầu hoà dẫn đến bán nước của triều đình nhà Nguyễn, phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Ngày 1 tháng 9 năm 1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Đầu tháng 2 năm 1859, sau khi kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17 tháng 2 năm 1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình - một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân "ứng nghĩa" tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị các đội quân của ta đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh Nam Kỳ, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, địch tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ".

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động. Trong khi đó, nhân dân Lục tỉnh một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1 tháng 4 năm 1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề. Mặc dù vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào vũ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Trong thời gian này, từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân đã làm cho giặc Pháp cũng phải thừa nhận: "Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình) không có ảnh hưởng đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng. Họ (chỉ các toán nghĩa quân) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này".

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5 tháng 6 năm 1862, hòa ước nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh vũ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định đã làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng.

Cùng với cuộc đấu tranh vũ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc (gọi là "tị địa") đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của ba tỉnh bị chiếm tham gia. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu.

Cuộc đấu tranh vũ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân ba tỉnh đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông bị mất vào tay giặc Pháp, nhân dân ta rất tự hào về những người con ưu tú của mình đã chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân; tiêu biểu cho phong trào là người anh hùng Trương Định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2016, 08:08:38 PM

Câu hỏi 2: Quá trình khởi binh chống thực dân Pháp xâm lược của Trương Định diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Trương Định sinh năm 1820 tại huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam1. Ông là con lãnh binh Trương Cầm.

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh xã hội phong kiến Việt Nam đang bế tắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp cả Nam - Trung - Bắc, Trương Định không thể không suy nghĩ về con đường đi của mình.

Vốn xuất thân trong một gia đình phong kiến, "trang mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư và bắn rất giỏi"2, Trương Định có điều kiện để thi đỗ làm quan, vinh thân phì gia. Nhưng ông không đi theo con đường đó.

Năm 1844, Định theo cha vào Nam, lúc Trương Cầm được phong làm lãnh binh tỉnh Gia Định. Vào đó, "Định lấy vợ con gái một nhà giàu ở Tân An (tỉnh Định Tường). Sau khi cha mất, ông ở lại luôn quê vợ".

Tháng 1 năm 1854, Tự Đức ra dụ khẩn hoang, giao cho Nguyễn Tri Phương kêu gọi "những người có thế lực, tiền của, đứng ra chiêu mộ nhân dân phiêu tán, cùng khổ, để lập đồn điền". Dựa vào chủ trương đó của triều đình Huế, Trương Định xuất tiền bạc của nhà vợ đứng ra lập đồn điền ở Gia Thuận (một vùng đất thuộc tỉnh Gia Định) và ông "được phong chức phó quản cơ của đồn điền". Dân đồn điền của Trương Định cũng giống như các đồn điền khác, "... là những người nghèo và những người dân lưu vong không có trong sổ đinh (sổ hộ của nhà vua), tập trung lại theo những luật lệ nhất định. Họ sống từng gia đình và suốt đời làm tá điền, không bao giờ có ruộng đất cả. Khi có chiến tranh, dân đồn điền cùng tham gia chiến đấu với quân đội chính quy. Họ hầu hết được trang bị bằng giáo mác và theo như quy định thì trong mỗi một "cơ" có 500 "lính đồn điền".

Lập được đồn điền rồi, Trương Định ngày đêm lo luyện tập cho "lính đồn điền". Trong các cuộc luyện tập thường xuyên đó, ông luôn luôn tỏ ra là người có tài "võ nghệ mấy ban cũng trải"3. Chính vì vậy mà tiếng tăm lan rộng, tài thao lược của ông được ca ngợi khắp vùng. Thông thường, một "cơ đồn điền" chỉ có 500 người, nhưng "cơ đồn điền" của ông đông tới hàng ngàn và ngày càng có nhiều người về quy tụ.

Ngay từ lúc đó, Trương Định đã nổi tiếng là người rất mực nghiêm minh trong khi luyện tập. Theo lời truyền tụng của các cụ bô lão vùng Gia Thạnh thì "ngài Quản còn là người rất mực thương yêu dân nghèo. Những người trong đồn điền của ngài đều được đủ ăn đủ mặc, không bị đối xử tệ như ở các đồn điền khác... Vì vậy ai ai cũng muốn về hầu dưới trướng của ngài". Trương Định rất có uy tín đối với mọi người trong đồn điền và cả ở khắp các vùng xung quanh. Sĩ phu yêu nước các nơi đều ngưỡng mộ uy danh, tìm đến kết bạn làm thân với ông. Tên tuổi Trương Định đến tai triều đình Huế, Tự Đức bèn "bổ chức quản cơ" cho Trương Định, hòng lấy lòng ông, mong biến ông thành một bầy tôi trung nghĩa.
___________________________________
1. Theo cách gọi của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục. Hiện nay, Quảng Nam và Quảng Ngãi là hai tỉnh. Huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
2. Nguyễn Thông, Kỳ xuyên văn sao, trích trong Thơ văn yêu nước Nam Bộ - Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Nxb Văn hóa, H. 1962, tr. 162.
3. Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế Trương Định, trích trong Thơ văn yêu nước Nam Bộ - Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Nxb Văn hóa, H. 1962, tr. 56.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2016, 08:09:16 PM

Câu hỏi 3: Khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định, Trương Định cùng nghĩa quân chống giặc như thế nào?   
Trả lời:


Trong khi Trương Định đang lo xây dựng và tổ chức đồn điền thì giặc Pháp tấn công Đà Nẵng (tháng 9 năm 1858). Trương Định nhận thấy trách nhiệm của mình trước họa xâm lăng liền chiêu mộ thêm những trai tráng quanh vùng cùng với dân trong đồn điền lập thành một đạo nghĩa binh chuẩn bị đánh Pháp. Trang bị của nghĩa binh chủ yếu là tầm vông vạt nhọn, giáo, mác, gươm, đao... Ngoài ra cũng có một số hỏa khí cổ sơ như súng kíp và đại bác.

Trương Định đang ráo riết chuẩn bị thì giặc Pháp kéo quân vào tấn công Gia Định. Ngày 9 tháng 2 năm 1859, Ri-gôn Đờ Giơ-nu-y hội hơn 2.000 quân Pháp và Y-pha-nho tại Vũng Tàu. Ngày 10 tháng 2, chúng bắt đầu tấn công vào các vị trí tiền duyên của Gia Định như pháo đài Phúc Thắng (tại núi Lại Sơn, Gành Rái lúc đó thuộc tỉnh Biên Hòa, nay thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu) và các thành khác như Lương Thiện, Phúc Mỹ, Danh Nghĩa (đều thuộc Gia Định). Được tin đó, Trương Định tự động kéo đội nghĩa binh của mình tới phối hợp tác chiến với quan quân triều đình. Lúc bấy giờ, quan trấn thủ Gia Định là Võ Duy Ninh, do thiếu chuẩn bị đối phó và quan quân lại nhút nhát, nên thành Gia Định bị thất thủ, mặc dầu nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của Trương Định đã có nhiều cố gắng trong việc đánh chặn giặc Pháp trên đường tiến quân của chúng.

Thành bị mất, Võ Duy Ninh tự tử. Hàng ngũ binh sĩ triều đình hoang mang dao động. Trước tình thế ấy, Trương Định không hề nao núng, vẫn tiếp tục động viên nghĩa quân chiến đấu, phá rối địch ở khắp ngoại vi thành Gia Định.

Chỉ một thời gian ngắn, uy danh nghĩa quân Trương Định đã vang dội khắp nơi. Nhân dân hết lòng ca tụng hành động kiên quyết chống Pháp của nghĩa quân và rất căm tức tinh thần bạc nhược và cách dùng binh dùng dằng không quyết của quan quân triều đình. Ai ai cũng muốn noi gương nghĩa quân Trương Định. Hơn 5.000 nông dân huyện Bình Dương đã tụ nghĩa quanh cựu tri huyện Trần Thiện Chánh và cựu xuất đội Lê Huy. Ở các nơi khác như Gò Công có Đỗ Trình Thoại, ở vùng Biện Kiều (Biên Hòa) có Phan Văn Đạt và Trịnh Quang Nghi, ở Mỹ Tho có Phủ Cậu (tức Trần Xuân Hòa)... đều lần lượt dấy binh chống Pháp.

Trước sự chống đối mạnh mẽ của nghĩa binh các nơi, giặc Pháp vô cùng lúng túng. Với quân số ít ỏi, chúng không thể nào giữ được Gia Định và Đà Nẵng cùng một lúc, nhất là trong khi tình hình giữa Trung Quốc và Anh-Pháp rất căng thẳng. Cực chẳng đã, Ri-gôn Đờ Giơ-nu-y đành phải đem quân chủ lực quay ra giữ Đà Nẵng sau khi đã đốt phá thành Gia Định. Ở đây giặc chỉ còn để lại một số quân nhỏ dưới quyền chỉ huy của Giô-rê-ghi-bê-ri.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2016, 08:10:59 PM

Câu hỏi 4: Khi thực dân Pháp xin giảng hòa và bỏ Đà Nẵng kéo vào Gia Định rồi cùng binh thuyền sang tham chiến ở Trung Quốc - thời cơ đánh Pháp xuất hiện nhưng triều đình nhà Nguyễn đã làm gì?
Trả lời:


Tháng 10 năm 1859, sau cuộc giảng hòa không có hiệu quả, chiến sự lại tiếp diễn ở cảng Đà Nẵng. Pháp cho tên Pa-giơ sang Việt Nam thay Ri-gôn Đờ Giơ-nu-y (ngày 1 tháng 11 năm 1859). Tháng 1 năm 1860, Pa-giơ được lệnh rút khỏi Đà Nẵng vào Gia Định vét quân số sang hội quân với đô đốc Sác-ne để tấn công Trung Quốc. Một lần nữa giặc Pháp xin thương thuyết giảng hòa với triều đình nhà Nguyễn. Bản kiến nghị gồm 11 điểm của Pháp được vua quan triều đình bàn đi bàn lại mãi mà không đi tới kết luận dứt khoát.

Ngày 23 tháng 3 năm 1860, quân Pháp bỏ Đà Nẵng kéo vào Gia Định rồi cùng binh thuyền sang tham chiến ở Trung Quốc. Trên lãnh thổ nước ta lúc này quân Pháp đóng ở Gia Định chỉ còn 800 binh sĩ, 7 chiếc tàu nhỏ, vài chiến thuyền do tên đại tá Đa-ri-ét chỉ huy. Quân Y-pha-nho trở về Phi-lip-pin gần hết, ấy thế mà quân đội triều đình cứ án binh bất động. Đáng lẽ phải tấn công địch thì họ ra sức đào hào đắp lũy, xây dựng đại đồn Chí Hòa (Chí Hòa là kiến trúc phòng ngự lớn nhất trong lịch sử trúc thành của quân đội phong kiến Việt Nam: đồn dài 3 cây số, rộng 1 cây số, có tới 2 vạn quân chiếm giữ).

Cuối năm 1860, cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và quân xâm lược Anh - Pháp kết thúc. Ngày 7 tháng 2 năm 1861, đô đốc Sác-ne mang 50 chiến thuyền các cỡ và hơn 4.000 quân về tập trung ở Bến Nghé.

Ngày 24 tháng 2 năm đó, Pháp tấn công đại đồn Chí Hòa và ngày hôm sau thì hạ được đồn. Bị thua to, đại quân của triều đình phần thì theo các bại tướng rút về Biên Hòa, phần thì gia nhập nghĩa quân Trương Định. Thời gian này, Trương Định có đem nghĩa quân tham gia chiến đấu ở  đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương1. Chính ở đây qua những cuộc chiến đấu bọn xâm lược đã biết đến ông.
_________________________________________
1. Năm 1860, Nguyễn Tri Phương được triều đình Huế cử làm tống đốc quân vụ quân thứ Gia Định (Theo Đại Nam chính biên liệt truyện nhi tập, q. 23, tờ 17a-b).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Mười, 2016, 08:13:02 PM

Câu hỏi 5: Căn cứ nghĩa quân của Trương Định ở Tân Hòa được xây dựng như thế nào?
Trả lời:


Tháng 2 năm 1861, sau khi Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, toàn bộ quan quân nhà Nguyễn rút lui về phía bắc cố thủ Biên Hòa. Trương Định không theo họ, ông dẫn số nghĩa quân ít ỏi của mình tiến vào vùng địch kiểm soát, bám sát giặc chiến đấu. Để có chỗ dựa cho mọi hoạt động của mình, Trương Định chọn và xây dựng Tân Hòa làm căn cứ kháng Pháp.

Tân Hòa là một vùng đồng bằng, nhiều sông ngòi, thuận lợi cho việc chuyển quân và liên lạc khắp nơi. Tân Hòa là nơi tiện lợi cho việc phối hợp chiến đấu giữa các căn cứ nghĩa quân ở Tân An, Gò Công và Mỹ Tho. Hơn nữa, Tân Hòa không nằm trong khu vực chiếm đóng của giặc Pháp, lại ở gần Sài Gòn, tiện cho việc tiến công quân địch. Chính vì lẽ ấy, nên Trương Định "về ở Tân Hòa, đắp lũy đồn binh, giữ một góc bày lòng địch khái" và lấy "núi đất" làm "thành đồng lũy sắt" để tiến hành cuộc "giáo tre nghìn dặm đánh Tây". Hơn nữa Tân Hòa là một miền trù phú, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, rất thuận lợi cho việc tụ nghĩa, dồn lương. Chính vì vậy, Trương Định đã chọn Tân Hòa để xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài.

Sau khi về đến Tân Hòa, Trương Định liền chiêu tập thêm nghĩa binh. Trong một thời gian ngắn, quân của ông đã tăng lên đến 6.000 người. Số quân đó được biên chế thành 6 cơ để luyện tập. Đồng thời với việc tổ chức lực lượng, Trương Định gấp rút xây dựng một hệ thống đồn lũy ở vùng căn cứ Tân Hòa và ở các nhánh sông nối với Tân Hòa như Rạch Lá, Soài Rạp, hoặc ở các ngả đường như Chợ Gạo, v.v...

Để có lương thực, súng đạn đánh Pháp, Trương Định đã cho nghĩa quân phối hợp với nhân dân sản xuất lương thực, vũ khí1. Có thể nói, ông đã lo toan chu đáo về nhiều mặt: "Nào nhọc sức hộ tào biên sổ, lương tiền nhà ruộng, cho một câu háo nghĩa lạc quyên; nào nhọc quan võ khố binh cân, thuốc đan ghe buôn, quyền bốn chữ "gian thương đạo tải".

Để thực hiện chủ trương vừa xây dựng vừa chiến đấu, không để cho kẻ thù rảnh tay đánh nghĩa quân, Trương Định cho các tướng đem quân đi phục kích đánh giặc ở chung quanh thành Gia Định, chặn đường tiến công của chúng đến Vĩnh Long, v.v... Trong những cuộc chiến đấu này, Trương Định và các tướng sĩ của ông đã tỏ ra biết mình, biết địch, biết chọn hình thức chiến đấu phù hợp để đánh kẻ địch mạnh hơn về trang bị vũ khí. Các cuộc chiến đấu lẻ tẻ đã xuất hiện dần với những hình thức phục kích, đánh sau lưng, đánh ngang hông địch vào những lúc bất ngờ, làm cho giặc Pháp hoang mang lo sợ. Chúng phải kêu lên rằng: "Họ xuất hiện bất ngờ từng toán đông đảo, khi ở nơi này, khi ở nơi khác, đốt phá những làng mạc yên ổn rồi lại biến mất"...

Trong thời kỳ này, nghĩa quân Trương Định hoạt động khắp các vùng Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Gia Định, lan rộng ra hai bên nhánh sông Vàm Cỏ từ biển Đông tới biên giới Cam-pu-chia. Trương Định bắt liên lạc với hầu hết những văn thân ở các nơi như Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lâu, Phủ Cậu, thủ khoa Huân, Phạm Văn Đạt, Lê Cao Dõng, Hồ Huân Nghiệp, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Trà Quý Bình, v.v... Một số văn thân như Nguyễn Thành Ý và Phan Trung, mỗi người mộ được 2.000 quân; Lưu Tấn Thiện, Lê Quang Quyền mộ được hơn 1.000 quân cũng kéo đến hợp tác với Trương Định; lực lượng của ông tăng lên đến gần một vạn.

Theo Nguyễn Thông: "Khi Trương Định đóng ở Tân Hòa, hội các nhân sĩ để định kế hoạch, Huân Nghiệp đến gặp Định. Lúc trở về có người hỏi: "Trương Định xướng nghĩa, hào kiệt kéo đến đông như mây. Không biết có thành công được không?". Huân Nghiệp trả lời: Kẻ làm việc nghĩa, không kể thành bại"2. Điều đó chứng tỏ rằng việc liên kết với các nhóm nghĩa quân không phải là một việc tự nhiên hình thành trong chiến đấu sau này, mà chính Trương Định đã có chủ trương từ trước.

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Trương Định đã xây dựng được căn cứ chống Pháp. Ông phát huy được sức mạnh của nhân dân, biết dựa vào dân để tổ chức xây dựng lực lượng, chuẩn bị vũ khí, trang bị và lương thực, thực phẩm để thực hiện chủ trương đánh Pháp lâu dài.
____________________________________
1. Theo Nguyễn Thông, trong khi xây dựng căn cứ Tân Hòa, "Định lại đúc thêm đại bác”, xem Thơ văn yêu nước Nam Bộ - Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Nxb Văn hóa, H. 1962, tr. 164.
2. Thơ văn Nguyễn Thông, Nxb Văn hóa, H. 1965, tr. 197.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 01:46:43 PM

Câu hỏi 6: Cùng với việc xây dựng căn cứ, phát động một phong trào kháng chiến rộng lớn, Trương Định đã xây dựng chính quyền kháng chiến bí mật bên cạnh chính quyền của địch như thế nào?
Trả lời:


Để tổ chức nhân dân kháng chiến chống Pháp lâu dài, sau khi họp bàn với các nhân sĩ, Trương Định chủ trương thành lập chính quyền kháng chiến và "gửi giấy cử Huân Nghiệp giữ chức tri phủ Tân Bình".

Tân Bình là một trong ba phủ của Gia Định. Sài Gòn là một huyện (Bình Dương) nằm trong phủ Tân Bình.

Phủ Tân Bình có vị trí quan trọng về mặt chính trị cũng như quân sự trong vùng địch chiếm. Nếu Tân Bình bị uy hiếp, bộ máy thống trị của địch ở Gia Định cũng khó bề đứng vững và âm mưu xâm lược Nam Kỳ của chúng khó lòng thực hiện được. Vì vậy, chúng đã phải rút binh lực ở nhiều nơi về củng cố vùng này.

Ngoài việc cử Huân Nghiệp giữ chức tri phủ Tân Bình, Trương Định còn đặt một hệ thống chính quyền từ phủ xuống huyện trong toàn "hạt Gia Định"1. Hệ thống chính quyền này có nhiệm vụ lo cả về dân sự lẫn quân sự2, đặc biệt là "thường điều động binh lính, lương thực tiếp tế cho Trương Định"3.

Chính quyền của quân khởi nghĩa không chỉ hạn chế trong phạm vi tỉnh Gia Định, mà sau này còn lan rộng khắp ba tỉnh miền Đông: "Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ vui theo; tóm muôn dân gây cơ sở mộ binh, luật lệ nào ai dám trái"; “Văn thì tham biện, thương biện, giúp các cơ bàn bạc nhung công; võ thì dùng tổng binh, đốc binh coi mấy đạo sửa sang khí giới"4.

Chủ trương này đánh dấu một bước tiến mới trong tư tưởng và hành động của Trương Định. Càng đi sâu vào cuộc kháng chiến, ông càng thấy cần thiết phải thành lập một chính quyền kháng chiến cứu nước thật sự để thay thế cho chính quyền thối nát, bạc nhược, không còn tác dụng của triều đình nhà Nguyễn.

Không những Trương Định chỉ lo tổ chức cơ sở chính quyền để phục vụ kháng chiến, mà còn chú ý xây dựng quân đội. Theo Ca-min Bơ-ri-phô, Trương Định đã "ban phát các bằng cấp và chức vị cho nghĩa quân". Nguyễn Thông cũng cho biết rằng, quân khởi nghĩa có kỷ luật rất nghiêm minh nên rất được nhân dân yêu mến5.

Sự tồn tại của chính quyền kháng chiến bí mật đã làm cho giặc Pháp không thể nào kiểm soát được các tỉnh miền Đông suốt cả thời gian từ năm 1861 đến năm 1864. Chúng đã phải kêu lên rằng: "Tình trạng khởi nghĩa ở nông thôn không cho phép thu những thuế gì khác (trừ vài thứ thuế gián thu thu được ở Sài Gòn) cho đến năm 1864".

Trong những năm đầu hoạt động, Trương Định đã tỏ ra có tài về quân sự, chính trị và tổ chức, tỏ ra có ý thức tự lực xây dựng lực lượng, tổ chức chính quyền để tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước. Chính Phan Thanh Giản cũng phải thừa nhận lúc bấy giờ hai tỉnh Định - Biên (Định Tường, Biên Hòa) là thuộc quyền kiểm soát của Trương Định.

Sự kiện lịch sử này đã bác bỏ hùng hồn những luận điệu của các sử gia thực dân cho là nhất nhất mọi hành động của Trương Định đều do triều đình Huế chỉ huy.

Trương Định có thể làm được những việc lớn như vậy và ngày càng có uy tín đối với nhân dân Nam Kỳ là vì ông đã tỏ ra trung thành vô hạn với sự nghiệp cứu nước, đã có thái độ dứt khoát với kẻ thù xâm lược, ông đã biết phát động lòng yêu nước của nhân dân, dựa vào nhân dân để mưu đồ việc lớn.

Thấy uy tín của Trương Định ngày một cao, thanh thế ngày một lớn, bọn vua tôi triều Nguyễn bèn tính kế mua chuộc, lợi dụng ông. Trước khi giặc Pháp hãm thành Biên Hòa (tháng 12 năm 1861), triều đình Huế bổ ông làm phó lãnh binh tỉnh Gia Định. Nhưng người anh hùng của đất Đồng Nai anh dũng đã thấy rõ thái độ hèn nhát, bạc nhược của triều đình Huế, trước nhiệt tình ủng hộ của nhân dân và nghĩa quân, ông đã không để cho mồi danh lợi làm nhụt chí khí của mình.
________________________________________
1, 3. Thơ văn Nguyễn Thông, Nxb Văn hóa, H. 1965, tr. 198.
2. Thơ văn Nguyễn Thông, Nxb Văn hóa, H. 1965, tr. 179.
4. Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Thơ văn yêu nước Nam Bộ, H. 1962, tr. 56.
5. Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Thơ văn yêu nước Nam Bộ, H. 1962, tr. 164.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 01:51:17 PM

Câu hỏi 7: Khi thực dân Pháp tấn công Biên Hòa, nghĩa quân Trương Định cùng nhân dân chống giặc như thế nào?
Trả lời:


Tháng 11 năm 1861, Bô-na đến Sài Gòn thay thế Sác-ne và hống hách tuyên bố: "Chúng ta sẽ tiến công Biên Hòa và nếu cần sẽ tiến công Huế". Trước tình hình đó, triều đình Huế vẫn dùng dằng, chậm chạp, không chịu tăng viện ngay cho Nam Kỳ. Người có trách nhiệm trong việc phòng thủ Biên Hòa là Nguyễn Bá Nghi lại mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa. Nghi sợ địch, không dám chuẩn bị chiến đấu chống giặc, e rằng nêu đào hào đắp lũy, chặn đánh những toán quân do thám, thì bọn địch sẽ cho là: triều đình nhà Nguyễn có ý không muốn giảng hòa và lấy cớ đó để tấn công ta.

Tháng 12 năm 1861, Bô-na mở cuộc tấn công lên Biên Hòa bằng cả hai đường thủy, bộ. Quân triều đình không dám chống cự, rút lui về Bình Thuận, bỏ thành Biên Hòa rơi vào tay địch trước khi quân của Nguyễn Tri Phương đến tiếp viện. Nhân dân Nam Kỳ đau lòng trước cảnh tan nát, tang thương của quê hương xứ sở đã truyền cho nhau những lời hịch vô cùng thông thiết:

      "Nhắm vừa hương bát nước lại ngậm ngùi.
      Nhìn tấc đất ngọn rau thêm bát ngát.
      Vầng nhật nguyệt noi đường Nho giáo, há để bày chim chóc đến líu lo.
      Cuộc giang san nổi tiếng thần linh, đâu để lũ chó heo trây nhớt...”1
.

Trước tình thế đó, Trương Định vẫn giũ vững quyết tâm của mình, chiếm cứ Quy Sơn chống giặc. Sau khi Biên Hòa bị mất (tháng 1 năm 1862), lợi dụng thế của Trương Định, triều đình Huế cử "khâm phái quân vụ là Nguyễn Túc Trưng tìm đường tới hội ở Tân Hòa, mưu tính thu phục lại thành trì"2. Chúng muốn dựa vào lực lượng kháng chiến lớn mạnh của nghĩa quân Trương Định làm hậu thuẫn cho cuộc giảng hòa với Pháp.

Lúc này Trương Định còn hy vọng ở thái độ của phái chủ chiến trong quan quân triều Nguyễn, nên đã thuận ý giao cho Nguyễn Túc Trưng làm tổng chỉ huy liên quân triều đình và nghĩa quân. Chẳng bao lâu, ông đã thấy rõ sai lầm của hành động khinh suất đó. Từ khi lên nắm quyền chỉ huy, Nguyễn Túc Trưng không chủ trương mở rộng địa bàn của quân khởi nghĩa, không tìm giặc để đánh mà cứ “cố thủ” trong phạm vi hạt Tân Hòa. Chính trong lúc đó thì phong trào ứng nghĩa cuồn cuộn dâng lên ở khắp Lục tỉnh, nghĩa quân các nơi liên tiếp nổi lên tấn công địch.

Trương Định không theo Túc Trưng nữa mà ra lệnh cho nghĩa quân của ông triển khai hoạt động ngoài căn cứ. Nhiều đồn địch ở quanh Sài Gòn - Chợ Lớn bị bao vây ngặt. Tháng 3 năm 1862, địch bị bức rút khỏi các đồn Gò Công, Chợ Gạo, Cái Bè, Phước Lộc. Thừa thế, nghĩa quân Trương Định tấn công vào Chợ Lớn (xóm Củi). Bọn địch phải thừa nhận vùng này đã bị cháy trong một đêm ròng, khi nghĩa quân rút, chúng vẫn không dám cho quân đuổi theo. Phong trào kháng Pháp của nghĩa quân Nam Kỳ lên cao đến nỗi bọn Pháp phải thú nhận là "các tỉnh Gia Định, Mỹ Tho luôn luôn bị quấy nhiễu, nhiều trung tâm khởi nghĩa đã có ở  trong hai tỉnh này".
______________________________________
1. Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Thơ văn yêu nước Nam Bộ, H. 1962, tr. 23.
2. Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Thơ văn yêu nước Nam Bộ, H. 1962, tr. 163.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 09:55:00 PM

Câu hỏi 8: Vì sao Trương Định lại vứt bỏ "cân đai, áo mũ" của triều đình và nhận chức "Bình Tây Đại nguyên soái" do chính nhân dân phong?
Trả lời:


Khi giặc Pháp liên tiếp bị ta tấn công tiêu diệt đang lúng túng chống trả thì triều đình nhà Nguyễn khiếp nhược không cùng nhân dân chống giặc mà lại đầu hàng. Triều đình lệnh cho Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp thay mặt nhà vua ký hòa ước Nhâm Tuất (1862). Theo bản hòa ước này, triều đình dâng ba tỉnh (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) cho giặc Pháp và phải bồi thường cho Pháp 20 triệu quan chiến phí (tính ước đến 2 triệu 800 nghìn lạng bạc), phải mở các cửa biển Đà Nẵng, Quảng Yên, Ba Lạt (Thái Bình) cho Pháp vào tự do thông thương; Pháp sẽ trả lại thành Vĩnh Long cho triều đình Huế khi mà triều đình làm cho nhân dân ba tỉnh miền Đông không chống Pháp nữa.

Hòa ước đã ký kết. Nhiệm vụ của Túc Trưng cũng chấm dứt. Triều đình Huế ra lệnh bãi binh, triệu hắn về kinh và phong cho Trương Định chức lãnh binh, buộc Trương Định phải tuân theo hòa ưóc, giải tán nghĩa quân để đi nhận chức ở An Giang (Châu Đốc).

Hành động đầu hàng của triều đình đã gây một làn sóng phẫn nộ sôi sục trong nhân dân. Một sử gia của Pháp đã ghi lại: "Khi bọn Pháp hối hả đem tin hòa ước ký kết truyền đến các nơi bị nguy cấp nhất để chấm dứt ngay cuộc chiến đấu..., đến phạm vi vùng Tân Hòa, nơi Quản Định đóng quân, người ta vẫn dùng súng và máy bắn đá bắn vào những người Pháp đến báo tin đình chỉ chiến sự".

Nhận được chỉ dụ bãi binh và sắc phong của triều đình, Trương Định đang suy nghĩ dùng dằng chưa quyết thì nhân dân Nam Kỳ biết tin vội vàng kéo đến bày tỏ nguyện vọng, yêu cầu ông ở lại lãnh đạo nhân dân chống Pháp: "Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền"1. Nghĩa quân - những người cùng sống chết với Trương Định - cũng đề đạt ý kiến: "Bọn Tây bị dân ta nhiều lần đánh lui, nay chúng được triều đình giảng hòa, chắc chúng sẽ giết hại bọn ta. Vả lại, bọn Tây lấy binh lực ăn hiếp ta bắt hòa, nhưng chúng không thành thực, nay triều đình giảng hòa với chúng, bọn ta không nơi nương tựa, sao bằng hợp lực đánh lại chúng, giữ lấy một mảnh đất để cùng nhau bảo toàn sinh mạng"2.

Sau đó, Phạm Tuấn Phát ở  Tân Long đem thư các nghĩa hào đến tỏ ý muốn cử Định làm chủ soái để ra sức trừ giặc. Sáng kiến đó được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ nhiệt liệt. Họ yêu cầu ông vứt bỏ "cân đai, áo mũ" của triều đình và nhận chức "Bình Tây Đại nguyên soái" của chính nhân dân phong, cảm động vì nhiệt tình của dân chúng đối với mình, lại thấy rõ thêm được âm mưu thâm độc của quân cướp nước và hành động đầu hàng của triều đình, Trương Định vui vẻ nhận trọng trách mà quần chúng nhân dân đã giao phó cho mình.
____________________________________
1. Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế Trương Định, trích trong Gương sáng ngàn đời - Bảo Định Giang, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quảng Tuân, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 198. Câu này có nghĩa là, khi chiếu chỉ của Tự Đức bảo giải binh không đánh Pháp, nhân dân không nghe, lại được tin Trương Định đang dùng dằng, nên đến trước đầu ngựa yêu cầu ông ở lại.
2. Thơ văn Nguyễn Thông, Sđd, tr. 194.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:01:56 PM

Câu hỏi 9: Khi nhận chức "Bình Tây Đại nguyên soái", Trương Định đã truyền hịch kêu gọi tướng sĩ và nghĩa quân đứng lên chống giặc như thế nào?
Trả lời:


Sau khi nhận chức Bình Tây Đại nguyên soái, Trương Định đã viết lên lá cờ khởi nghĩa tám chữ "Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân" (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước, triều đình bỏ dân), và ông truyền hịch kêu gọi tướng sĩ, nghĩa quân đứng lên chống giặc đến cùng. Bài hịch có những câu như sau:

      "Tưởng có lời ca rằng:
      Nước có nguồn, cây có gốc,
      Huống người sinh có da có tóc.
      Mà sao không biết chúa biết cha?
      Huống người sinh có nóc có gia
      Mà sao không biết trung biết hiếu?
      Hai vai nặng trĩu, gánh chi bằng gánh cang thường!
      Tấc dạ trung lương, gồng chi bằng gồng xã tắc!".


Sau khi vạch mặt bọn Việt gian bán nước "nỡ đem lòng mại quốc cầu vinh", "vong ân bội tổ” và chỉ rõ cho những kẻ lầm đường lạc lối "để cho Tây bắt vợ giết chồng", bởi mình tham ham hố bạc đồng... Bản hịch viết tiếp:

      "Làm người sao khỏi thác,
      Thác trung thần, thác cũng thơm danh!
      Làm người ai chẳng tham sanh1,
      Lòng địch khái2 xin cho rõ tiết!
      Đêm năm canh thương người chính liệt,
      Ngày sáu khắc nhớ kẻ trung thần.
      Chốn biên thùy lãnh ấn Tổng binh,
      Cờ đề chữ: "Bình Tây đại tướng".


Sau cùng bài hịch kêu gọi:

      "Bớ trẻ già, bé lớn ai ai,
      Đều bội ám đầu minh3 cho kíp!
      Chiếu phụng4 dù ta lãnh đặng,
      Mũi thiên oai5 thương kẻ sanh linh6.
      Phải cạn lời tỏ hết chơn tinh,
      Cho kẻ dân đen đặng biết!”


Bài hịch kêu gọi nhân dân đánh Pháp của Trương Định là một bản án hùng hồn kết tội những kẻ theo giặc, bỏ Tổ quốc, bỏ nhân dân, là một lời hiệu triệu vô cùng thống thiết, là tiếng gọi cứu nước làm rung động lòng người rất mãnh liệt.

Việc nhận chức Bình Tây Đại nguyên soái với khẩu hiệu "Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân" và bài hịch cứu nước phát ra trong dân chúng đã nói lên lòng căm phẫn của nhân dân đối với việc bán nước của vua quan nhà Nguyễn và chứng tỏ rằng cuộc chiến đấu của Trương Định đã chuyển sang một giai đoạn mới.
__________________________________
1. Tham sanh: muốn sống, không chịu chết.
2. Địch khái: chống lại kẻ thù.
3. Bội ám đầu minh: bỏ hẳn con đường mờ tối, đi theo con đường sáng sủa.
4. Chiếu phụng: chiếu phượng, dịch chữ Hán “Phượng chiếu" tức chiếu nhà vua.
5. Mũi thiên oai: mũi gươm thần.
6. Sanh linh: nhân dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:03:38 PM

Câu hỏi 10: Khi Trương Định đã thoát ly hẳn triều đình, dựa vào nhân dân, tự lực chống Pháp, ông đã xây dựng căn cứ như thế nào để thực hiện kháng chiến lâu dài?
Trả lời:


Khi đã thoát ly hẳn triều đình, dựa vào nhân dân, tự lực cánh sinh kháng Pháp, Trương Định đã tổ chức lại lực lượng, xây dựng khu căn cứ phòng thủ vững chắc nhằm chiến đấu lâu dài.

Ông đã cử Trịnh Quang Nghi làm tham tán quân vụ, sắp xếp lại bộ tham mưu và bố trí binh lực ở các nơi hiểm yếu để phòng ngừa quân giặc tấn công vào căn cứ. Chung quanh căn cứ, từ động Cây Đa đến đập Ông Canh đều đắp lũy, đào hào. Ông cho mở rộng công binh xưởng, chế tạo thêm đại bác, chiêu mộ thanh niên khỏe mạnh ở các địa phương chung quanh căn cứ để bổ sung vào các đơn vị phòng bị. Đại quân của Trương Định đóng trong vùng Gò Công; Phạm Tuấn Phát đóng giữ ở vùng Hắc Khâu (Gò Đen); Bùi Huy Diệu đóng giữ ở vùng Cần Đước; Nguyễn Văn Trung đóng giữ ở Tân Thịnh. Các đội quân này tạo thành một hệ thống tiền đồn hình tam giác, làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Tân Hòa.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Trương Định, nghĩa quân khắp nơi cũng ráo riết chuẩn bị chiến đấu chống Pháp. Thiên Hộ Dương tích cực xây dựng căn cứ Đồng Tháp Mười, Đốc Binh Kiều tăng cường hoạt động trên sông Vàm Cỏ, thủ khoa Huân mở rộng những hoạt động du kích ở vùng Mỹ Quý, Tam Bình...

Với sự bố trí và tổ chức lực lượng hợp lý, ý chí chiến đấu ngoan cường của các tướng sĩ nghĩa quân và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân, căn cứ kháng chiến của Trương Định đã tạo ra được thế và lực mạnh để chủ động tấn công quân Pháp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:05:58 PM

Câu hỏi 11: Thái độ của Trương Dịnh thế nào khi triều đình nhà Nguyễn ba lần cho Phan Thanh Giản đến dụ hàng ông?
Trả lời:


Trước sức đề kháng mạnh mẽ của nghĩa quân Trương Định, giặc Pháp không kiểm soát được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ liền dùng áp lực buộc triều đình Huế phải giải quyết.

Tự Đức vội vàng bắt Phan Thanh Giản ra sức dụ hàng Trương Định. Phan đã ba lần đưa thư dụ Trương Định bãi binh không chống Pháp nữa, nhưng cả ba lần đều vô hiệu. Phan bèn quay ra làm môi giới cho Pháp và đã bốn lần đưa thư của giặc cho Trương Định. Trong một lá thư gửi cho Trương Định, Phan đã viết: "Triều đình đã ký hòa ước, ông nên bãi binh, không nên trái mệnh vua. Trung hiếu là điều tốt, nhưng phải có giới hạn, không thể vượt qua giới hạn mà được trung hiếu. Quá cũng như bất cập, có thêm chân lại không phải là rắn nữa. Nếu ông đem toàn bộ hai tỉnh Định, Biên về với triều đình thì cũng là một cử chỉ tốt. Hiện nay, đại binh của triều đình triệt hồi đã lâu, các quan chưởng binh lẻn lút ở nơi rừng núi đều đã giải tán. Còn một mình ông đem toán quân ấy tiến lên đánh thì có chắc thắng được không? Lui về giữ thì có chắc vững được không? Quyết không thể được..."1.

Trương Định vẫn không hề nao núng trước những lời dụ dỗ, hăm dọa, mà còn "giả lệnh vua mật truyền đi các nơi để cổ động dân chúng"2 đánh Pháp. Ông trả lời dứt khoát cho vua tôi nhà Nguyễn rằng: "Nhân dân ba tỉnh không muốn đất nước bị chia cắt, nên họ suy tôn chúng tôi cầm đầu. Chúng tôi không thể nào làm khác hơn điều mà chúng tôi đang làm. Cho nên chúng tôi sẵn sàng chiến đấu, ở  miền Đông cũng như ở miền Tây chúng tôi chống địch, đánh địch và sẽ thắng địch. Nếu các ông nói đến việc giữ gìn những điều đã ký kết với giặc thì chúng tôi sẽ chống lại lệnh của triều đình và chắc hẳn rằng sẽ không có đình chiến và cũng không có hòa bình giữa chúng tôi với các ông, và các ông sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên cả".

Thấy không dụ nổi Trương Định, Tự Đức bực tức cách chức lãnh binh của ông. Thật là một trò hề, vì thực tế Trương Định đâu có nhận chức lãnh binh đó; ông đã ly khai với triều Nguyễn ngay từ khi nhận chức Bình Tây Đại nguyên soái và giương cao lá cờ "Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân”.
_______________________________________
1, 2. Nguyễn Thông, Kỳ xuyên văn sao, trích trong Thơ văn yêu nước Nam Bộ - Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh, Nxb Văn hóa, H. 1962, tr. 165.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:34:11 PM

Câu hỏi 12: Sau khi triều đình ký hòa ước dâng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho giặc Pháp, phong trào đấu tranh của nhân dân và nghĩa quân Trương Định diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Sau khi triều đình ký hòa ước sỉ nhục dâng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho giặc Pháp, phong trào nhân dân vũ trang chống Pháp ở  khắp nơi lại càng sôi nổi, rầm rộ.

Ngày 16 tháng 12 năm 1862, Trương Định đã tổ chức một cuộc tổng công kích, phản công mạnh mẽ giặc Pháp trên khắp các mặt trận. Chúng gọi đó là "một cuộc tổng khởi nghĩa thường trực, cuộc khởi nghĩa này buộc chúng ta (giặc Pháp) phải phân tán lực lượng đến cực độ" ở  một số nơi quan trọng khắp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.

Trước khi cuộc tổng công kích bùng nổ, bọn Pháp đã đánh giá tình hình Nam Kỳ như sau: "Ngược lại với sự mong đợi của chúng ta, những người cầm đầu khởi nghĩa không muốn quy thuận chính quyền mới, mà cũng không xin đi sang đất An Nam (vùng không bị Pháp chiếm đóng). Họ ở lại đất của chúng ta, họ thu thuế, họ cướp các đoàn vận tải và đánh giết những người Pháp lẻ tẻ khi nào họ có cơ hội thuận tiện".

Tên chỉ huy Bô-na đã rất lo sợ "về những hoạt động ngấm ngầm đang diễn ra trên toàn bộ Nam Kỳ và thư nào cũng xin tăng viện". Trong bức thư đề ngày 13 tháng 12 năm 1862, gửi cho Bộ trưởng Hải quân Pháp, Bô-na viết: "Nếu ngài không thể gửi cho tôi số quân tăng viện mà tôi đã yêu cầu thì tôi không thể khôi phục lại tình hình".

Rất rõ ràng, lực lượng nghĩa quân thời kỳ này đã lớn mạnh, các cuộc tấn công không phải chỉ là những trận đánh lẻ tẻ như từ năm 1861 về trước, mà đây là những hoạt động có tổ chức quy mô, mạnh mẽ, buộc giặc Pháp phải lo sợ tìm cách chống đối.

Trận đánh lớn đầu tiên là trận tập kích đồn Rạch Tra (trên đường Sài Gòn - Tây Ninh, cách Sài Gòn 15km). Đồn này có 74 lính thủy đánh bộ dưới quyền chỉ huy của đại úy Tu-rút-đơ.

Đồn Rạch Tra được Pháp xây dựng trên con đường giao thông Sài Gòn - Tây Ninh, sau khi chúng chiếm xong Gia Định, để bảo vệ cho thành Sài Gòn cũng như để giữ vững đường giao thông liên lạc trong vùng chúng kiểm soát. Đấy cũng là một tiền đồn để sau này chúng dùng làm bàn đạp tiến đánh Tây Ninh cho thuận tiện.

4 giờ sáng ngày 17 tháng 12 năm 1862, nghĩa quân trang bị bằng giáo, mác, dùng thang tre bí mật vượt hào, trèo tường, giết lính gác, tấn công đồn Rạch Tra. Tên đại úy Tu-rút-đơ đã bị nghĩa quán giết chết bằng mác.

Tiếp sau trận Rạch Tra ở  Sài Gòn, nghĩa quân tấn công đồn Long Thành ở Biên Hòa (đêm 17 rạng ngày 18 tháng 12 năm 1862). Theo tài liệu của Pháp, nghĩa quân Việt Nam đã mở hai mũi tấn công vào đồn Long Thành với gần 1.200 người có súng. Tuy giặc Pháp không dám công bố kết quả thất bại của chúng tại Long Thành, nhưng qua sự kiện Bô-na vội vàng cho 49 lính bộ, 40 kỵ binh, 5 pháo thủ, mang theo 2 khẩu sơn pháo lên chiếm giữ Long Thành sau trận đánh, cũng đủ chứng tỏ rằng đồn Long Thành đã bị tiêu diệt.

Đồng thời với cuộc tấn công vào Long Thành, ở Tân Hòa, nghĩa quân đã tổ chức những cuộc tấn công vào pháo hạm A-lác-mơ đang thả neo trên rạch Gò Công và trận địa pháo của viên đại úy Mác-xê đóng trên bờ rạch Gò Công để yểm hộ cho pháo hạm A-lác-mơ với 2 tàu chiến số 13 và 191. Nghĩa quân đã dùng 6 thuyền phóng lửa bắn các mồi lửa vào pháo hạm A-lác-mơ, đồng thời hỏa lực của nghĩa quân từ các tiền đồn ở căn cứ Tân Hòa (và ở cả đồn chính) bắn chế áp vào trận địa pháo binh và bộ binh của địch. Cùng trong lúc ấy, hơn 400 binh sĩ của nghĩa quân đã tổ chức một cuộc tấn công đánh thẳng vào các vị trí quan sát của địch đóng trước căn cứ Tân Hòa (về phía Gò Công).
____________________________________
. Mục đích của việc bố trí các chiến hạm và pháo binh ở đây chính là để quan sát hành động của nghĩa quân, chuẩn bị cho các cuộc tấn công sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:34:43 PM

Cũng trong ngày 18 tháng 12 năm 1862, vào giữa buổi trưa nghĩa quân đã phóng mồi lửa đốt chiếc thuyền (Lorcha)1 số 10, đang làm nhiệm vụ quan sát gần Phước-ti.

Cùng lúc đó trên đường đến phủ Phước-ti, 100 nghĩa quân trang bị đầy đủ đã tập kích và diệt gọn một đội tuần tra Pháp. Chỉ có một tên lính chạy thoát.

Như vậy, trong hai ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1862, nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo, cùng với các nhóm nghĩa quân khác đã phối hợp chiến đấu liên tục, gây cho địch nhiều tổn thất khiến chúng rất hoang mang lo sợ. Nhân dân Nam Kỳ thì vô cùng phấn khởi, tinh thần ủng hộ nghĩa quân và tham gia kháng chiến ngày càng dâng cao.

Nhưng cuộc tổng công kích không dừng lại ở những cuộc tấn công trên. Chính trong ngày 18 tháng 12 năm 1862, một trận đánh lớn đã nổ ra ở  Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho).

Đồn Thuộc Nhiêu cách Mỹ Tho 20km (giữa Mỹ Tho và Cây Mai), nằm ngay trên ngã ba đường: Mỹ Tho - Tân An, Mỹ Tho - Tân Hòa. Thuộc Nhiêu được coi như tiền đồn của thị xã Mỹ Tho và làm nhiệm vụ kiểm soát các con đường trên. Đồn này do tên đại úy Ta-bu-lơ chỉ huy.

Chiều ngày 18, một toán nghĩa quân gồm 2.000 người có trang bị đại bác tấn công đồn Thuộc Nhiêu. Trận đánh đã diễn ra rất ác liệt. Chính giặc Pháp đã phải thừa nhận "nghĩa quân xông vào đánh… can đảm và quyết tâm một cách phi thường".

Tối ngày 18 tháng 12 năm 1862, 2.000 quân sĩ có 12 súng đại bác bắn đá, mở cuộc tấn công vào đồn Rạch Kiên. Đồn này có 2 khẩu sơn pháo do một đại đội lính đánh bộ và một số lính pháo thủ đóng giữ. Cuộc tấn công đã diễn ra suốt trong hai ngày 18 và 19, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng.

Ngoài các trận đánh trên, nghĩa quân còn liên tiếp tấn công địch khắp nơi ở Biên Hòa, Định Tường và Mỹ Tho suốt từ ngày 16 đến 25 tháng 12 năm 1862.

Đi đối với những trận tấn công địch, Trương Định chủ trương tiến hành ráo riết công tác phá hoại, kìm chân giặc Pháp ở khắp nơi, không để chúng liên lạc tiếp ứng được cho nhau.

Ngay tuần lễ đầu năm 1863, nghĩa quân đã cắt đứt đường dây điện thoại của giặc theo con lộ từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho ở  nhiều đoạn, đồng thời còn phá hoại và cắt con lộ đó ra làm nhiều khúc không cho chúng có thể di chuyển dễ dàng. Đường dây điện thoại nối liền Biên Hòa - Bà Rịa, Sài Gòn - Cáp Xanh Giắc cũng bị nghĩa quân cắt đứt. Việc liên lạc giữa Sài Gòn với các nơi tắc nghẽn. Điều đó chứng tỏ rằng, do yêu cầu của chiến đấu thực tế, nghĩa quân thời kỳ này đã chú ý đến công tác phá hoại, một hình thức chiến đấu du kích rất có tác dụng để giam chân, bịt mắt kẻ thù. Công tác phá hoại thông tin, liên lạc của địch không những chỉ mình nghĩa quân thực hiện mà còn được đông đảo nhân dân Nam Kỳ tham gia tích cực.
____________________________________
1. Lorcha là một loại thuyền chiến lớn có boong. Người Bồ Đào Nha gọi loại thuyền này là "Lorcha".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:15:01 PM

Câu hỏi 13: Trước khí thế tiến công và thắng lợi giòn giã của nghĩa quân Trương Định, giặc Pháp đã phải làm gì?
Trả lời:


Khi nghĩa quân Trương Định tập kích đồn Rạch Tra, tấn công đồn Long Thành, đồn Thuộc Nhiêu, quân địch đã bị tiêu hao nhiều lực lượng và phương tiện chiến tranh. Chúng buộc phải thú nhận: "Người Việt Nam đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã đảo lộn vai trò: giờ đây họ tấn công chúng ta ở ngay trong những vị trí của chúng ta".

Trong đợt tấn công thứ nhất này, ở trung tâm lãnh đạo Gò Công, Trương Định đã chỉ huy các mặt trận hiệp đồng chiến đấu rất tài tình. Giặc Pháp đã phải nói: "Trung tâm cuộc khởi nghĩa của Nam Kỳ là Gò Công và từ đó những mật sứ đã truyền đi những bản hịch cổ vũ cho công cuộc khởi nghĩa trong ba tỉnh... Chính ông ta (tức Trương Định) đã phát ra những lời hịch khích lệ cuộc khởi nghĩa... Ông hứa thưởng cho những ai lấy được một đầu lính Tây 20 lạng bạc, đầu sĩ quan các cấp từ 30 đến 100 lạng, đốt cháy một kho lương hoặc một kho thuốc súng: 1.000 lạng, đốt cháy một tàu chiến: 4.000 lạng...".

Chỉ riêng đợt tấn công đầu này, nghĩa quân đã gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề về quân số, khiến chúng không có đủ lực lượng để bảo vệ các vị trí vừa chiếm được. Tên Bô-na, trong thư gửi cho Bộ trưởng Hải quân đã phải nói: "Để bảo vệ an ninh của thành phố (Sài Gòn) tôi bắt buộc phải đưa lên bộ tất cả những lính thủy của tôi có, phải cấp súng ống cho những người thường dân (Pháp), cho những người ốm và cho cả y tá, cấp dưỡng, thợ... Tôi không có lấy 100 người để sử dụng". Và tên Poay-ăng cũng để lộ rằng: "Quân Pháp bị xé lẻ đến mức vô cùng nguy hiểm, đến ngay bọn xạ thủ cũng bị phân tán mỗi người một đồn, nhiều đồn không có pháo binh và chỉ có một vài người để chống giữ". Thật vậy, theo tài liệu của Pháp thì lúc bấy giờ đồn Hóc Môn chỉ có 12 tên lính bộ, đồn Rạch Tra 54 tên và 5 kỵ binh, đồn Cần Giuộc chỉ có 16 tên...

Sự thật lịch sử này đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: nếu không có sự đầu hàng giặc Pháp, sự phá hoại phản động của triều đình Huế, thì phong trào kháng Pháp của nhân dân Nam Kỳ do Trương Định lãnh đạo hồi đó chắc chắn còn đi xa hơn nữa.

Tuy giặc Pháp cố tìm mọi cách cứu vãn tình thế như bắt ép Tự Đức ra lệnh bãi binh, xin cầu viện quân đội từ nước Pháp sang, nhưng tình hình chiến sự đầu năm 1863 cũng vẫn không có lợi gì cho chúng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:15:44 PM

Câu hỏi 14: Trận phục kích địch ở khu vực Bà Rịa, tấn công địch tại Gia Thạnh của nghĩa quân Trương Định trong những ngày đầu năm 1863 diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Trận tấn công mở đầu cho năm 1863 của nghĩa quân là trận đánh gần Bà Rịa (ngày 1 tháng 1 năm 1863), trên đường đi Thanh Mỹ.

Ngày hôm đó, tên Cô-kê - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn lính thủy đánh bộ mang theo 25 lính bộ, 12 lính pháo thủ 13 tên vừa kỵ binh vừa hiến binh có trang bị một khẩu dã pháo do trung úy Pây-ri-sút điều khiển đi bắt liên lạc với toán "người Việt theo đạo Gia-tô phiêu bạt" (theo cách gọi của Pháp), đang tiến sâu về phía Long Lập, thì bị một toán nghĩa quân phục kích bất ngờ. Trận đánh đã diễn ra vô cùng ác liệt. Nghĩa quân đã đột kích vào ngay toán pháo binh, buộc giặc không dùng được hỏa lực tầm xa, mà phải "rút lui dần, vừa đánh vừa rút và thỉnh thoảng phải dừng lại bắn lia" vì bị nghĩa quân đuổi sát sau lưng. Sau trận đánh, quân giặc thừa nhận là chết mất 2 kỵ binh người Âu và 7 con ngựa bị thương; chắc chắn con số thiệt hại của chúng không phải chỉ có thế.

Bốn hôm sau, dưới Gò Công, nghĩa quân đã chạm trán với quân địch tại Gia Thạnh suốt trong 3 ngày (từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 1 năm 1863).

Khi nhận được tin nghĩa quân tập trung một lực lượng khá đông kéo về đóng ở Gia Thạnh, giặc Pháp liền điều động 2 đạo quân tổ chức càn quét Gia Thạnh và các vùng xung quanh. Mũi thứ nhất gồm 45 lính bộ do tên đại úy hải quân Giu-gia chỉ huy vượt qua Rạch Sao đánh vỗ mặt vào Gia Thạnh. Mũi thứ hai do tên đại úy hải quân Đôn chỉ huy, gồm có 40 lính Phi châu, 30 lính thủy, 10 pháo thủ và có một khẩu dã pháo, xuất phát từ Phủ Cụt theo con đường cái ven rạch Kẻ Lược tấn công vào Gia Thạnh. Trên đường tiến quân, mũi thứ hai lọt vào trận địa phục kích của nghĩa quân. Nghĩa quân chỉ với một vài khẩu đại bác đã tổ chức đánh mũi thứ hai ngay sát rạch Kẻ Lược và trên gò cao. Đồng thời, còn tổ chức một trận đánh khác trên đường Gia Thạnh – Bến Cát. Trong trận chống càn này, nghĩa quân đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Bọn địch có nói: chúng đã phá được 1 xưởng đúc đạn chì và 1 xưởng làm khiên bằng tre đan phủ dan trâu của nghĩa quân. Điều đó giúp chúng ta hiểu rằng nghĩa quân đã có sự chuẩn bị mọi phương tiện vật chất cho những trận chiến đấu quy mô. Chính vì lẽ đó mà giặc Pháp phải mang nhiều quân đi càn quét cố tiêu diệt nghĩa quân ở vùng Gia Thạnh để phá kế hoạch tấn công của quân ta.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:16:42 PM

Câu hỏi 15: Sau khi bị thất bại nặng nề ở Bà Rịa và Gia Thạnh, mặc dù bị hao tổn rất nhiều về lực lượng và vũ khí trang bị, nhưng thực dân Pháp cũng cố sức tập trung quân mở cuộc tấn công lần thứ hai vào căn cứ của ta. Trước tình thế ấy, Trương Định đã chỉ huy nghĩa quân đánh địch như thế nào?
Trả lời:


Sau trận càn quét vào Gia Thạnh, giặc Pháp nhận thấy rằng, nếu không tập trung đánh vào các căn cứ quan trọng của nghĩa quân thì khó có thể giữ vững được truyền thống trị của chúng ở Gia Định. Vì vậy, dù bị tổn thất nhiều trong đầu năm 1863 nhưng chúng cũng cố tập trung lực lượng mở cuộc tấn công lần thứ hai vào căn cứ của nghĩa quân: Trận đánh Gò Đen và Cần Đước đã diễn ra rất ác liệt suốt từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 1 năm 1863.

Chỉ huy cuộc tấn công này là tên đại úy hải quân Lơ-pét. Lực lượng của chúng gồm có: 1 đại đội lính tập người Phi châu, 30 lính ngụy, 15 lính thủy đánh bộ, 11 lính thủy và 5 tên lính pháo thủ. Ngoài ra còn có 1 pháo hạm và 1 tàu đổ bộ mang theo 1 trung đội lính thủy đánh bộ.

Ngày 8 tháng 1 năm 1863, tên Lơ-pét trên đường hành quân vào Gò Đen đã hai lần bị phục kích (lúc này Phạm Tuấn Phát chỉ huy nghĩa quân chiếm đóng Gò Đen) vì đã gặp sức kháng cự mãnh liệt của quân ta tại một vị trí tiền đồn. Cùng lúc đó, cánh quân thủy đổ bộ vào gần Long Khê để phối hợp với Lơ-pét đánh chiếm vị trí Long Khê, đã bị quân ta chặn đánh ở nhiều chỗ, mãi đến ngày 9 tháng 1 năm 1863, chúng mới tiến đến Long Khê. Khi đó quân ta đã rút khỏi vị trí này từ lâu.

Sau 3 ngày hành quân vất vả, ngày 11 tháng 11 năm 1863, giặc Pháp mới tới được Cần Đước (cách Long Khê không đầy 40 cây số). Trên đường Long Khê - Cần Đước, chúng đã bị nghĩa quân phục kích nhiều lần. Khi đến Cần Đước, lại bị nghĩa quân (do Bùi Huy Diệu chỉ huy) chống trả kịch liệt. Bị tiêu hao nặng, chúng đã phải lùi lại, rút về Sài Gòn. Trên đường tháo chạy, chúng lại bị nghĩa quân chặn đánh ở Long Phú và Gò Đen. Thế là cuộc tấn công quy mô của giặc vào căn cứ của ta trong 6 ngày liền đã không thu được kết quả gì, lại còn bị hao quân tổn tướng. Nghĩa quân đã bảo vệ được toàn vẹn căn cứ.

Qua các trận đánh kể trên, chúng ta thấy nghĩa quân đã khéo vận dụng chiến thuật du kích, biết tìm hình thức chiến đấu phù hợp với khả năng của mình, luôn luôn nắm vững phương châm bảo toàn lực lượng, tiêu hao địch, nhử địch vào sâu trong nội địa để đánh, biết rút lui khi cần thiết, biết tấn công địch trong những điều kiện thuận lợi. Chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: "Họ tụ tập thành những toán đông ít hay nhiều, đánh du kích và tập trung lại khi cần hành động tại một điểm nhất định. Trong tấn công cũng như trong rút lui khi thất bại, họ lợi dụng vô số những chướng ngại thiên nhiên của xứ họ, là xứ có nhiều sông ngòi ngang dọc, nhiều rừng rú, đồng ruộng và bãi lầy, những hồ ao sâu rộng rải rác khắp nơi, v.v... Họ lặng lẽ lách mình qua những chướng ngại ấy, đột nhiên xuất hiện, nổ súng, rồi biến mất cũng như khi họ đến, để rồi trở lại đánh nữa, quấy rối, làm cho quân thù luôn luôn ở  thế đề phòng, mỏi mệt, kiệt sức và chán nản, phải bỏ cuộc".

Bị thua liên tiếp, tên Bô-na cố mở tiếp những đợt tấn công khác để giành lấy một số kết quả, dù ít, để có thể dễ dàng ăn nói với chính quốc trong việc xin thêm lính, vũ khí và tiền viện trợ cho cuộc xâm lăng Nam Kỳ.

Ngày 17 tháng 1 năm 1863, bọn Pháp làm nhiệm vụ quan sát trước Gò Công liều mạng đột nhập vào vùng Vĩnh Lợi đã bị nghĩa quân tiêu diệt tên hạ sĩ thủy quân.

Trong những ngày 21, 22, 23 tháng 1 năm 1863, cũng có những cuộc giao tranh giữa nghĩa quân và giặc Pháp trên tuyến đường Đông Sơn. Trong các trận đánh này, Pháp đã bị ta tiêu diệt 1 tên trung úy.

Ngày 23 tháng 1 năm 1863, tên đại úy Héc-bi-ông - đồn trưởng đồn Long Thạnh dẫn 35 lính bộ, một số lính mã tà, 3 pháo thủ và 1 khẩu lựu pháo tấn công vào vị trí Phước Lợi của nghĩa quân. Trận đánh đã diễn ra ác liệt trong các chiến hào. Cuối cùng giặc Pháp đã thất bại thảm hại và phải bỏ chạy.

Hạ tuần tháng 1 năm 1863, nghĩa quân ở Biên Hòa - Bà Rịa bao gồm cả Kinh lẫn Thượng, đã liên tiếp tấn công những căn cứ của giặc, làm cho giặc Pháp không dám ló ra khỏi các đồn lũy của chúng. Ngày 20 tháng 1 năm 1863, tên tiểu đoàn trưởng Cô-kê đã bị nghĩa quân Kinh - Thượng bao vây chặt ở  Bà Rịa. Tình hình nguy kịch đến nỗi tên Bô-na phải vét quân ở  Sài Gòn gửi lên tiếp viện. Cùng trong ngày này, giặc Pháp đã bị nghĩa quân người Thượng tấn công ven Bà Rịa. Ngày 23 tháng 1 năm 1863, nghĩa quân Kinh - Thượng lại tấn công vào cánh quân của giặc trên đường hành quân từ Bà Rịa lên chợ Bến.

Những hoạt động trên cho chúng ta thấy: Trương Định đã đoàn kết được cả đồng bào Thượng trong công cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. Bọn giặc đã phải thừa nhận: "Quân khởi nghĩa đã thành công trong việc lôi kéo những bộ lạc người Thượng ở ven biên giới Biên Hòa và Bà Rịa; trước đó, những bộ lạc này vẫn đứng ngoài cuộc chiến đấu. Việc tham gia của những bộ lạc này chứng tỏ cuộc khởi nghĩa ở Biên Hòa đã có một trợ lực quan trọng".

Như vậy, trong suốt tháng 1 năm 1863, chiến sự hầu như không lúc nào không xảy ra ở khắp nơi; quân địch đã gặp rất nhiều khó khăn và thất bại thảm hại trong đợt tấn công lần thứ hai vào căn cứ của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:17:28 PM

Câu hỏi 16: Bị thất bại liên tiếp, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã thực hiện những âm mưu, thủ đoạn gì nhằm tiêu diệt nghĩa quân Trương Định?
Trả lời:


Sau những thất bại thảm hại, tên Bô-na không dám huênh hoang nữa. Chúng chỉ còn cách xin viện binh ở các nơi khác đến để hòng chống chọi với nghĩa quân.

Trong khi chờ tăng viện, chúng tìm mọi cách để bảo toàn lực lượng, cố kéo dài thời gian chiến đấu. Mặt khác, lợi dụng sự yếu hèn, bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn, tên cáo già Bô-na bắt ép Tự Đức phải ra lệnh cho Trương Định bãi binh. Phan Thanh Giản lúc ấy được triều đình phái tới Vĩnh Long phụ trách mọi việc liên hệ với Pháp và chịu trách nhiệm dụ Trương Định bỏ nghĩa quân theo triều đình. Đặt chân tới đất Vĩnh Long, Phan Thanh Giản ra sức khuyên nài Bô-na chớ hành động nóng nảy và Phan tình nguyện nhận làm người trung gian liên lạc giữa quân đội Pháp và nghĩa quân Trương Định, dùng ba tấc lưỡi dụ nghĩa quân tuân thủ hòa ước Nhâm Tuất (1862), cố làm sao cho nghĩa quân chịu đình chỉ mọi hoạt động quân sự, nộp khí giới cho Pháp qua bọn phủ huyện bù nhìn.

Nhưng, những cố gắng của Phan Thanh Giản hoàn toàn vô hiệu. Hắn trắng trợn bày tỏ lòng thù địch đối với Trương Định trong bức thư gửi cho Bô-na: "Trương Định là một kẻ bịp bợm, đô đốc cần phải tiêu diệt đi!".

Dụ dỗ mua chuộc không xong, Bô-na quyết định mở cuộc tấn công quy mô vào căn cứ nghĩa quân. Để có đủ lực lượng, hắn viết thư cho tên Giô-rét, chỉ huy lực lượng hải quân Pháp ở  Trung Quốc yêu cầu cấp bách tăng viện. Nhận được thư, Giô-rét vội vàng vét tất cả những lực lượng có thể có ở  các căn cứ quân sự của Pháp ở Trung Quốc và cho hai chiếc tàu Rơ-nô-mê và Sê-mi-ra-nít sang Ma-ni (Phi-líp-pin) đón một tiểu đoàn quân Y-pha-nho gồm 800 tên. Những lực lượng tăng viện này do Giô-rét thân hành chỉ huy, sang đến Sài Gòn ngày 1 tháng 2 năm 1863. Sau đó ít lâu, tên Bô-na lại được hỗ trợ thêm 6 đại đội bộ binh và 1 trung đội pháo binh từ Pháp gửi sang.

Đồng thời với việc chuẩn bị lực lượng cho cuộc tấn công quy mô nhằm tiêu diệt nghĩa quân Trương Định ở căn cứ Tân Hòa, Bô-na gửi tối hậu thư bắt triều đình Huế phải gấp rút phê chuẩn hòa ước Nhâm Tuất (1862), tạo điều kiện thuận lợi cho hắn nhanh chóng bình định ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tiến tới chiếm luôn ba tỉnh miền Tây nữa (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).

Giặc Pháp cũng hiểu rằng việc thúc ép triều đình Huế phê chuẩn hòa ước 1862 chưa phải là vấn đề quyết định, mà chủ yếu là phải tiêu diệt cho được nghĩa quân của Trương Định. Nhưng nếu vua tôi Tự Đức phê chuẩn hòa ước 1862 càng sớm thì chúng càng có thể dùng chính quyền của Tự Đức làm áp lực đàn áp các phong trào khác, để chúng rảnh tay tiêu diệt nghĩa quân ở  Tân Hòa.

Trước khi tấn công Tân Hòa, giặc Pháp đã tăng viện thêm 1 đại đội khinh binh người Phi châu cho tên trung tá Lu-be-rơ, chỉ huy trưởng tỉnh Biên Hòa, để mở những cuộc càn quét áp đảo tinh thần nghĩa quân và gây hoang mang trong nhân dân, làm khó khăn cho việc yểm trợ giữa hai cánh nghĩa quân Biên Hòa và Gò Công - Tân An. Trong các trận càn quét ở Biên Hòa, chúng đã hèn mạt bắt và khủng bố hơn 1.000 người họ hàng thân thích của nghĩa quân và đã cướp phá tàn tệ hoa màu, lương thực của nhân dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:18:34 PM

Câu hỏi 17: Sau khi được tăng viên, địch đã tổ chức đội hình, bố trí lực lượng, hình thành các hướng mũi tấn công vào căn cứ của ta. Trương Định cùng nghĩa quân chống giặc như thế nào?
Trả lời:


Được tăng cường lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật, địch tổ chức lực lượng tấn công căn cứ của nghĩa quân Trương Định bằng nhiều hướng mũi.

Tại Gò Công, quân địch mở cuộc tấn công vào vị trí Gò Đen bằng bốn cánh (vị trí này, sau trận càn quét tháng 1 năm 1863 của giặc, nghĩa quân đã chiếm lại và đóng giữ tại đấy). Cánh thứ nhất xuất phát từ Sài Gòn do đại úy Côt-tơ chỉ huy gồm 2 đại đội khinh binh người Phi châu, có pháo binh yểm hộ. Cánh thứ hai xuất phát từ đồn Bến Lức (Tân An) do tên Gu-gia chỉ huy, gồm có 40 lính thủy, 50 lính ngụy và một khẩu sơn pháo. Cánh thứ ba xuất phát từ Rạch Kiên do tên đại úy Sát-xơ-ri-ô chỉ huy, gồm 83 lính thủy đánh bộ. Cánh thứ tư xuất phát từ Cái Trôm (hướng Mỹ Tho) gồm 80 lính bộ.

Trên đường tiến quân của các cánh, quân giặc luôn luôn vấp phải chướng ngại vật và liên tiếp bị nghĩa quân phục kích; nhờ có lực lượng mạnh, cuối cùng chúng cũng tiến đến được Gò Đen. Trương Định thấy không thể dàn mặt đánh với địch nên đã lệnh cho nghĩa quân rút lui trước để bảo toàn lực lượng. Giặc Pháp đến Gò Đen chiếm được một cái đồn trống rỗng. Chúng cay cú mở cuộc tấn công chính thức vào Tân Hòa.

Tại khu căn cứ Tân Hòa, nghĩa quân đã bố trí trận địa phòng ngự rất vững chắc ở  Gò Công, Vĩnh Lợi, Đông Sơn; xây dựng đồn lũy trên rạch Mương Đào, Rạch Lá... Tại Trại Cá, Trương Định cũng đã cho xây một vị trí kiên cố. Trên rạch Lãng Lộc vào Soài Rạp, nghĩa quân cũng đã đắp các đập cản để ngăn chặn đường tiến của tàu chiến địch. Các đập cản này đều được hỏa lực của các đồn gần đó yểm hộ.

Ngày 13 tháng 2 năm 1863, chiến hạm Ơ-rốp-pê-ăng xuất phát từ bến Sài Gòn, chở theo 150 giường bệnh (dùng làm trạm xá cho mặt trận), lương thực và đạn dược đủ để cung cấp cho 1.200 quân chiến đấu trong một tháng. Trên tàu này chúng còn mang theo 8 khẩu đại bác và nhiều vật liệu công trình. Đồng thời, chiến hạm A-lác-mơ cũng đã đến thả neo tại cửa sông Rạch Lá với nhiều tàu chứa nước mang đầy đủ lương thực, thực phẩm.

Cùng ngày này, tên thiếu tá Pi-ê-tơ-rơ dẫn một đội quân gồm 3 đại đội lính tập người Phi châu, 100 tên lính ngụy, 80 tên khinh binh người Phi châu, 30 lính công binh và 1 trung đội pháo gồm 2 khẩu sơn pháo nòng có rãnh xoắn đánh chiếm làng Đông Sơn và đổ bộ lên rạch Dung (ở phía tây Đông Sơn, tức là sông Gò Công).

Nghĩa quân do Lưu Bảo Đường và Đặng Kim Chung chỉ huy đã đánh trả lại quân địch rất kịch liệt. Giữa lúc chiến đấu gay go, hai tướng này đều bị trúng đạn chết. Mặt trận Đông Sơn tan vỡ, nghĩa quân còn lại đều phải rút về căn cứ Tân Hòa.

Cùng lúc đó, quân Pháp cho một toán quân tấn công vào Quy Sơn, Trương Định lập kế dụ chúng đi vào chỗ lầy, giết được rất nhiều. Ông truyền hịch cho các đạo nghĩa quân từ Tân Long, Bình Dương, Bình Long cho đến Biên Hòa, cùng ngày tấn công Mai Sơn, phía tây Thuận Kiều. Lại truyền cho các đồn ở Thái Phúc, Tuy Bình, An Long đến đánh để chia sức giặc. Như vậy là, ngay từ khi giặc bắt đầu mở cuộc tấn công vào Tân Hòa, Trương Định đã cho các đội nghĩa quân đánh thọc vào sau lưng chúng, buộc chúng phải phân tán đối phó, nhưng vì lực lượng của giặc lúc này đã được tăng cường mạnh hơn trước rất nhiều, nên chúng có khả năng cầm cự với quân ta ở  các nơi, để cho đại quân của chúng tiến thẳng vào căn cứ Tân Hòa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:18:53 PM

Ngày 15 tháng 2 năm 1863, giặc Pháp từ Đông Sơn chia làm 3 cánh tấn công vào Vĩnh Lợi. Nghĩa quân đã chia quân đánh lẻ tẻ dọc đường hành quân của chúng và rút an toàn ra khỏi căn cứ Vĩnh Lợi.

Trong hai cuộc tấn công vào Đông Sơn và Vĩnh Lợi, quân địch bị thiệt hại nặng, không đủ sức tiếp tục tấn công nữa, nên sau khi tên Pi-ê-tơ-rơ chiếm được Vĩnh Lợi, Bô-na vội vã quay ngay về Sài Gòn tổ chức thêm một đạo quân mới đưa đến phối hợp với đạo quân của Pi-ê-tơ-rơ để mở cuộc tấn công chính diện vào Tân Hòa.

Đạo quân mới này do tên quan năm Y-pha-nho là Pa-lăng-ca chỉ huy, gồm có 600 lính bộ, 3 đại đội lính thủy đánh bộ, 100 lính thủy, 1 đại đội pháo gồm 6 khẩu. Ở Mỹ Tho, giặc Pháp cũng phái thêm 2 cánh quân gồm 200 binh lính để tấn công nghĩa quân ở Mương Đào, Rạch Lá và rạch Cửa Cao, hỗ trợ cho cánh quân của Pi-ê-tơ-rơ đang đóng giữ tuyến đường Đông Sơn - Vĩnh Lợi và cánh quân của tên Gu-gia chiếm giữ tại Chợ Gạo.

Ngày 22 tháng 2 năm 1863, binh đoàn của Pa-lăng-ca xuất phát từ Sài Gòn xuống Tân Hòa. Đi theo đoàn quân này có tướng Sô-mông, tổng chỉ huy chiến dịch tấn công Tân Hòa. Ngày 23 tháng 2 năm 1863, chúng cho công binh bắc cầu qua rạch Tây Nhiên Trung. Thừa lúc giặc Pháp đang làm cầu, Trương Định cho một toán nghĩa quân bất ngờ tấn công chúng. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt và theo bọn Pháp thú nhận thì chúng chỉ bị chết 10 tên, nhưng chúng lại còn tuyên bố rằng: "Ngoài ra còn có rất nhiều người chết vì bệnh thô tả, trong số đó có đại úy hải quân Ô-đe Pe-lanh".

Nghĩa quân tuy có giành được một số thắng lợi trong các cuộc phục kích, tập kích bất ngờ, nhưng lực lượng so với địch lúc này quá chênh lệch nên không thể phá được kế hoạch tấn công của chúng. Ngày 24 tháng 2 năm 1863, quân giặc đánh chiếm Gò Công và hội quân trước cửa Tân Hòa. Trương Định chỉ huy nghĩa quân chống cự rất mạnh mẽ. 8 giờ tối ngày 25 tháng 2 năm 1863, tên Bô-na ra lệnh tổng tấn công. Sáng ngày 26 tháng 2 năm 1863, một cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra. Trương Định đã cùng quân sĩ chống cự với địch 3 ngày liền không cởi áo giáp. Cuối cùng, biết không thể giữ được đất Tân Hòa vì như vậy là tự giam mình trong một tình thế bất lợi, Trương Định đã khéo léo tổ chức rút lui an toàn về lập căn cứ mới ở Phước Lộc, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Giặc Pháp tuy đã chiếm được Tân Hòa, nhưng theo tên Vi-an: đây là một cuộc hành binh rất hao người tốn của và mục đích tiêu diệt nghĩa quân của tên Bô-na đã không thành công. Kế hoạch "tiêu diệt sinh lực nghĩa quân" bị phá vỡ làm cho bọn Pháp rất căm tức, chúng không thể không công nhận là: "Nhờ một cuộc rút lui thận trọng, trong cuộc chiến đấu vừa qua, quân địch (chỉ nghĩa quân Trương Định) đã hao tổn rất ít về người".

Bô-na đánh chiếm được Tân Hòa, nhưng mối lo bị nghĩa quân Trương Định phản công lúc nào cũng như gươm kề cổ, làm cho hắn mất ăn, mất ngủ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:20:08 PM

Câu hỏi 18: Khi triều đình nhà Nguyễn chính thức chấp nhận hòa ước Nhâm Tuất vào đầu tháng 4 năm 1862, trước những hành vi phản bội của vua tôi Tự Đức, Trương Định cùng nghĩa quân đã làm gì?
Trả lời:


Giữa lúc nhân dân Nam Kỳ đang chiến đấu quyết liệt một mất một còn với quân thù xâm lược thì triều đình Huế hoảng hốt trước sức mạnh của địch, "long trọng" làm lễ chính thức chấp nhận hòa ước Nhâm Tuất vào đầu tháng 4 năm 1862. Trong bữa tiệc khoản đãi Bô-na (đại diện thực dân Pháp) và Pa-lăng-ca (đại diện Y-pha-nho), Tự Đức đã không biết hổ thẹn nói với những tên tướng giặc tay còn đang vấy máu nhân dân Nam Kỳ như sau: "Các sứ thần chịu mệt nhọc đến đây, vua nước Nam lấy làm khen ngợi, về nước, các sứ thần hãy tâu lại với vua rằng: hòa cuộc đã định, từ nay về sau mọi việc đều trang trải một cách hòa hảo và tình bè bạn rất thành thực sẽ vĩnh viễn giữa ba nước để mưu hạnh phúc cho mình".

Rất rõ ràng, với hòa ước Nhâm Tuất (1862), ngoài việc dâng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp và việc bồi thường tiền đi ăn cướp cho giặc, triều đình Tự Đức đã chính thức câu kết với địch chống lại phong trào cứu nước của nhân dân ta. Bọn chúng (giặc Pháp và triều đình Tự Đức) đã thống nhất với nhau rằng: "Nước Nam có dân cướp bóc, giặc bể đã nhiễu hại ở  các đất thuộc Pháp (ám chỉ nghĩa quân) nay trốn trở về, hoặc có tù phạm của các nước Tây trốn trong đất Nam, quan Pháp được chiếu hội với quan địa phương bắt đem về làm tội, có tù phạm giặc giã người Nam trốn đến đất thuộc Pháp thì quan Nam cũng được xử như thế". Và theo điều khoản thứ mười trong hòa ước Nhâm Tuất, triều đình Huế thuận để cho Pháp có toàn quyền đàn áp những hoạt động chống xâm lược của nhân dân: "Từ hòa nghị về sau, nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên qua lại các đất Nam thuộc Pháp làm ăn hễ theo lệ nước Pháp đã định thì được tự tiện, nếu nhân việc công, chở binh lính, lương thực, súng đạn, khí giới đi ngang qua đấy mà không cho biết trước và không có giấy của quan Pháp thì xe tàu ấy sẽ bị đánh phá, quân lính bị bắt trị tội".

Trước những hành vi phản bội của vua tôi Tự Đức, Trương Định không hề nản chí, ông vẫn cương quyết chống Pháp đến cùng. Nhân lúc Bô-na vừa ở Huế về đến Nam Kỳ, Trương Định liền gửi cho hắn một bức thư. Trong thư, Trương Định thóa mạ giặc Pháp đã giết hại nhiều người vì quá tin theo triều đình Huế nên ra đầu thú với chúng; và ông đòi Pháp nhất thiết phải trả ba tỉnh miền Đông lại cho nước Việt Nam.

Để tăng cường lực lượng của nghĩa quân, Trương Định giữ liên lạc chặt chẽ với phong trào của Thiên Hộ Dương ở  Đồng Tháp Mười, thông qua Dương bắt liên lạc với phong trào kháng Pháp của người Khơ Me ở  vùng Châu Đốc - Tà Keo, mở đầu cho sự thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung.

Lúc này rất nhiều thanh niên ở  khắp nơi đến gia nhập nghĩa quân; có cả nghĩa quân các nơi khác, vì mất lãnh tụ, cũng về tụ họp dưới cờ Trương Định, chẳng hạn như nghĩa quân của thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (thủ khoa Huân bị giặc bắt và đến 1864 thì bị đày ra đảo Rê-uy-ni-ông).

Từ khi rút về xây dựng căn cứ kháng Pháp ở Phước Lộc - Lý Nhân, Trương Định hết sức chăm lo đến việc củng cố, xây dựng lực lượng, tàng trữ lương thực; ông phái những toán nghĩa binh đi khắp nơi, từ miền rừng núi ở Biên Hòa, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, tới các vùng đồng bằng, giữa đường Sài Gòn, Trảng Bàng, Đồng Tháp Mười, để vận động thu lương, mộ binh, chuẩn bị cho những kế hoạch chiến đấu mới. Trương Định rất chú ý đến công tác vận động nhân dân trong vùng địch chiếm đóng. Ông tổ chức những đội hoạt động tuyên truyền trong các tỉnh với nhiệm vụ tích cực vận động nhân dân nổi dậy chống Pháp, quyên góp tiền bạc, lương thực cho nghĩa quân. Khắp nơi, ngay cả trong thành Gia Định, đều có yết những bố cáo, hịch chống Pháp, dưới có đóng dấu son mang dòng chữ "Bình Tây Đại nguyên soái". Điều đó chứng tỏ rằng, Trương Định không những chỉ kiên trì đánh Pháp bằng lòng quả cảm của mình, mà ông còn biết dựa vào dân, vận động nhân dân ngay cả trong vùng địch chiếm hưởng ứng và tham gia kháng chiến. Thấy công tác vận động quần chúng của Trương Định rất nguy hiểm cho nền thống trị của chúng ở  ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, giặc Pháp đã phải kêu lên: "Cả xứ vẫn tiếp tục bị xôn xao vì những lời lăng mạ của Quản Định".

Việc xây dựng căn cứ địa ở  vùng rừng, kết hợp với việc xây dựng lực lượng vũ trang và tuyên truyền thức tỉnh quần chúng ở thời kỳ này đều là những kinh nghiệm rút ra từ trong cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ từ 1861 đến 1863.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:20:28 PM

Cùng với việc xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng, Trương Định còn tổ chức nhiều trận đánh lẻ tẻ ở khắp nơi thuộc Biên Hòa, Tân An, Cần Giuộc, Phú Lạc, Chợ Lớn, Bà Hom, nhằm phá rối, gây hoang mang cho quân địch, đồng thời động viên, nuôi dưỡng ý chí chiến đấu cho nghĩa quân, gây lòng tin cho nhân dân đối với cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông đã cho nghĩa quân đi phục kích diệt bọn tuần tiễu trên các sông, rạch và trên các ngả đường từ Gia Định đến các căn cứ xung quanh, tổ chức những trận đánh cướp lương thực, bắt do thám và diệt bọn Việt gian bán nước, v.v... Bản thân Trương Định cũng thân hành đi khắp nơi chấn chỉnh cơ sở, tổ chức lực lượng kháng chiến, chuẩn bị cho những trận đánh lớn khi có điều kiện.

Hành động dũng cảm, mưu trí, biết dựa vào sức mạnh của nhân dân để tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa của Trương Định là mối đe dọa lớn nhất đối với thực dân Pháp. Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Nam Kỳ do ông lãnh đạo là một bản cáo trạng hùng hồn về tội bán nước của vua tôi nhà Nguyễn. Ngay thực dân Pháp cũng buộc lòng phải thừa nhận sự thật là: "Quản Định là linh hồn của mọi phong trào. Những thư tín, mệnh lệnh của ông được tay trao tay, miệng truyền miệng phổ biến khắp nơi. Lúc thì tưởng ông ta đang công cán ở Huế, lúc thì ông xuất hiện ở  vùng rừng núi sát biên giới Bình Thuận hay ở ngay tại Sài Gòn. Đấy là cuộc âm mưu lật đổ thường trực được tổ chức khéo léo chống lại sự an ninh của chúng ta".

Nhà viết sử thực dân Sếp-tăng cũng để lộ nỗi lo lắng của bọn xâm lược Pháp về hoạt động ngày một tích cực của nghĩa quân: "Vào lúc đô đốc La Gơ-răng-đi-e lên nắm quyền chỉ huy (tháng 5 năm 1863) những bọn phiến loạn và nhất là ông Quản Định vừa rút khỏi Gò Công đã lại tiếp tục cuộc chiến tranh. Ông Quản Định đã cả gan đến mức cho dán ngay giữa chợ Mỹ Tho tờ hịch kêu gọi nhân dân An Nam đứng lên cầm vũ khí và treo giá đầu Tây". Và chính tên La Gơ-răng-đi-e lúc này cũng lo sợ một cuộc tổng tấn công sẽ nổ ra. Đề phòng bị, hắn buộc phải trì hoãn việc hồi hương quân lính đã mãn hạn.

Trong thư gửi lên bộ trưởng bộ hải quân Pháp đề ngày 27 tháng 10 năm 1863, La Gơ-răng-đi-e viết: "Tình trạng của chúng tôi khi tới đó (La Gơ-răng-đi-e tới Sài Gòn ngày 28 tháng 3 năm 1863) sự đe dọa của những cuộc biến động mà ta phải tránh bằng bất cứ giá nào, việc ngăn ngừa sao cho các cuộc biến động đó khỏi chuyển thành một cuộc khởi nghĩa mới đã buộc chúng tôi phải giữ đoàn quân đó ở  lại Nam Kỳ".

Tài năng, uy tín của Trương Định và những chiến công của ông không những làm cho nhân dân Nam Kỳ tin tưởng, tự hào, vua quan triều đình bẽ mặt mà thậm chí bọn giặc khát máu cũng phải kinh sợ. Vi-an, một sử gia thực dân, hoạt động trong quân đội xâm lược Pháp lúc đó đã phải hạ bút viết về ông như sau: "Nhà lãnh tụ vĩ đại của quân khởi nghĩa là Trương Định có đủ sự mềm dẻo và sự táo bạo cần thiết để đóng vai trò phức tạp của mình: ông đã tỏ ra không biết mỏi và sau khi Gò Công thất thủ, dường như ông ta lại có ảnh hưởng to lớn hơn".

Sau 3 năm (1861-1863) chiến đấu chống giặc Pháp, là 3 năm trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh, đồng thời cũng là 3 năm gắn liền cuộc sống của mình với quần chúng nhân dân, Trương Định càng thêm quyết tâm, tin tưởng phất cao ngọn cờ kháng chiến cứu nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:40:42 PM

Câu hỏi 19: Lợi dụng những khó khăn của phong trào kháng Pháp và sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, thực dân pháp đã thực hiện những âm mưu, thủ đoạn gì để cô lập, bao vây nghĩa quân nhằm tiêu diệt Trương Định?
Trả lời:


Trong khi Trương Định cùng nghĩa quân đang hoạt động sôi nổi, tích cực thì tình hình chung lúc đó ngày một xấu đi. Các cuộc khởi nghĩa khác ở Nam Kỳ đều bị giặc đàn áp, nhiều nhóm nghĩa quân tan rã, phong trào ngày một thu hẹp lại. Quân xâm lược không phải lo nghĩ đến sự chống cự của triều đình Huế, không phải phân tán lực lượng để chống các nhóm nghĩa quân như trước nữa, chúng có khả năng tập trung lực lượng để đối phó với Trương Định.

Lúc ấy, nạn đói lại đang đe dọa nghiêm trọng. Bọn Pháp ngay từ khi chiếm được Gia Định đã tìm mọi cách vơ vét của cải, ra sức thu lúa gạo đem xuất cảng ra ngoài1, làm cho giá lương thực, thực phẩm cao vọt lên. Cả năm 1862, dân ta đã gặp nhiều khó khăn như thuế cao, mất mùa...; sang năm 1863 lại bị hạn lớn, cây cối khô trụi, mùa màng của nhân dân Nam Kỳ bị tổn hại nặng nề. Việc cung cấp lương thực cho nghĩa quân vì vậy cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tình hình đó không cho phép Trương Định tập trung nhiều quân, mở những cuộc tấn công lớn, dài ngày.

Đói kém tuy có thể gây khó khăn tạm thời cho nhân dân, cho quân khởi nghĩa, nhưng cũng không tai hại bằng chính sách "cầu hòa" bán nước của triều đình Huế. Vua tôi nhà Nguyễn vẫn cố sống, cố chết bám lấy đường lối "chủ hòa" phản động của chúng. Chúng nghĩ rằng, dùng "lời lẽ ngọt ngào" và hành động "hạ mình xuống thấp" thì có thể xin bọn xâm lược Pháp cho chuộc lại ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa). Nhưng đường lối thương thuyết "hòa bình" với bọn đế quốc thực dân không mảy may mang lại kết quả gì.

Giặc Pháp rất quỷ quyệt. Chúng không đả động gì đến đề nghị xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông của triều đình Huế mà chỉ đồng ý giao lại tỉnh Vĩnh Long, theo như hòa ước 1862 đã định. Âm mưu của chúng là trước hết dùng uy lực của chính quyền và quân đội nhà Nguvễn để làm công cụ đàn áp các cuộc khởi nghĩa, ổn định tình hình ở Vĩnh Long, sau nữa là gây ảo tưởng cho vua tôi nhà Nguyễn đối với việc thương thuyết chuộc lại đất đai, cả tin vào lòng "tốt" của chúng mà sơ hở, chủ quan, dọn đường cho chúng đánh cướp dễ dàng ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) sau này. Vì vậy, sau khi được vua tôi Tự Đức tiếp đãi ân cần ở Huế (trong dịp triều đình phê chuẩn hòa ước Nhâm Tuất), Bô-na cùng Phan Thanh Giản trở vào Nam Kỳ. Ngày 25 tháng 5 năm 1863, Bô-na cùng La Gơ-răng-đi-e đồng ý cho Phan Thanh Giản tiếp nhận Vĩnh Long. Sau đó, Bô-na giao công việc lại cho đô đốc La Gơ-răng-đi-e về Pháp nhận nhiệm vụ khác.

Âm mưu của giặc Pháp một phần nào cũng đã có hiệu quả. Nó làm cho một số người do dự, lừng chừng trong việc kháng Pháp. Đúng vào lúc đó, theo lệnh của triều đình Huế, Phan Thanh Giản lại cầm đầu một phái bộ (gồm có Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản...) đi sứ sang Pháp (tháng 6 năm 1863). Mục đích của cuộc đi này là xin sửa đổi hòa ước 1862 và xin chuộc lại ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa.

Bọn thực dân cáo già đã triệt để lợi dụng tình hình này. Một mặt chúng lập lờ, kéo dài việc giải quyết các đề nghị thương thuyết của triều đình nhà Nguyễn. Một mặt chúng ra sức củng cố việc cai trị ở vùng đất mới chiếm được.

Hơn nửa năm trời, kể từ sau khi chiếm được Gò Công (Tân Hòa), về mặt quân sự, chúng chia đất Nam Kỳ thành 7 khu: Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, khu Cần Giuộc, khu Tây Ninh, khu Tân An - Gò Công, khu Mỹ Tho, khu Biên Hòa và khu Bà Rịa. Chúng tung tiền mua chuộc bọn Việt gian, tổ chức ngụy quân và cũng không quên dùng mọi cách phỉnh phờ, mua chuộc nhân dân. Năm 1863, trước nạn mất mùa đói kém, bị nhân dân đấu tranh kịch liệt chống thu thuế và phản đối vơ vét lúa gạo, chúng buộc lòng phải đình chỉ việc thu mua và bán lúa gạo ra ngoài nhưng lại rêu rao ầm ĩ là nước đại Pháp đã lo lắng đến đời sống của nhân dân, đã quan tâm "giải quyết nạn đói" cho người An Nam. Đi đối với việc phỉnh phờ bịp bợm đó, chúng lợi dụng tình hình đói kém, quăng tiền ra cho một số tay sai và những người có máu mặt vay với mức lãi rất nhẹ, giúp những người này lợi dụng lúc nạn đói cho vay nặng lãi và mua rẻ ruộng đất của nông dân. Bọn này dần dần trở thành những tên địa chủ mới ôm chân đế quốc, làm tay sai trung thành cho chúng, giúp chúng vơ vét bóc lột dân ta, lập nên một hệ thống ngụy quyền phục vụ đắc lực cho việc cai trị của chúng.

Đối với nghĩa quân, trước sau như một, địch quyết thẳng tay đàn áp cho bằng được. Xuất phát từ tình hình mới đã có lợi cho chúng, địch đã thay đổi chủ trương không dùng lối "... một cuộc chinh phạt đã dẫn đến tổn thất lớn về người, về của như chuyến đánh Gò Công" nữa, mà chúng mua chuộc bọn phản bội, tung vào hoạt động phá hoại trong hàng ngũ nghĩa quân, phối hợp với những cuộc tập kích nhằm đánh thẳng vào các cơ quan đầu não, tiêu diệt tổ chức và những người cầm đầu.

Để thực hiện chủ trương trên, tên đô đốc La Gơ-răng-đi-e hứa "sẽ thưởng tất cả tài sản của Quản Định cho người nào bắt nộp được kẻ phiến loạn (chỉ Trương Định) còn sống hay đã chết cho nhà cầm quyền Pháp".
_______________________________________
1. Giặc Pháp mở hải cảng Sài Gòn từ 1860.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:43:04 PM

Câu hỏi 20: Bằng những thủ đoạn xảo quyệt, giặc Pháp đã biết được trụ sở chỉ huy của nghĩa quân và tổ chức lực lượng bao vây đánh úp, Trương Định đã chiến đấu và hy sinh anh dũng như thế nào?
Trả lời:


Chính nhờ những thủ đoạn thâm độc trong việc dùng người Việt làm tay sai chỉ đường cho chúng, nên giặc Pháp đã dò biết được trụ sở chỉ huy của Trương Định ở Lý Nhân.

Ngày 25 tháng 9 năm 1863, quân Pháp ở hai tiểu khu quân sự Gò Công - Cần Giuộc, dưới quyền chỉ huy của Giu-gia và Bê-hích, cùng phối hợp mở một cuộc đột kích bất ngờ vào Lý Nhân. Chúng đã thọc thẳng vào nơi Trương Định đóng quân, buộc ông phải giáp chiến trong một tình thế thật hiểm nghèo. Mặc dù bị đánh bất ngờ, nhưng Trương Định vẫn rất bình tĩnh, gan dạ, chỉ huy một toán nghĩa quân hỗn chiến với quân giặc đông gấp mười lần. Trong lúc đánh giáp lá cà, một tên mã tà đã tóm được vai áo của Trương Định, hắn định bắt sống ông để lập công lớn, nhưng nhanh như cắt, Trương Định đã đâm chết nó. Sau đó, ông chỉ huy nghĩa quân, anh dũng mở đường máu rút khỏi vòng vây. Trong trận này, vợ Trương Định bị giặc bắt cùng một số anh em trong nghĩa quân.

Sau khi rút khỏi vòng vây của địch, Trương Định về vùng Tân Phước (hữu ngạn sông Soài Rạp) tiếp tục xây dựng căn cứ chống Pháp. Nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của ông vẫn còn một lực lượng hùng hậu đáng kể. Qua lần tổn thất trên, Trương Định thấy cần phải có những đối sách mới để chống lại chủ trương mới của giặc Pháp. Ngoài việc tăng cường phòng thủ vùng căn cứ, ông chuẩn bị lực lượng nhằm nơi sơ hở của giặc, bất ngờ tấn công một cách quy mô, chớp nhoáng, rồi lại phân tán hoạt động lẻ tẻ đánh tiêu hao giặc, kết hợp với công tác tuyên truyền vận động nhân dân ở các vùng địch kiểm soát, không để chúng rảnh tay thực hiện âm mưu phá hoại vùng căn cứ của ta.

Dựa vào chủ trương mới đó, các tướng lĩnh nghĩa quân ráo riết tiến hành chuẩn bị cho đợt tấn công mới vào tháng 8 âm lịch (1864). Tiếc thay, kế hoạch lớn đó chưa thực hiện được thì xảy ra cuộc đánh úp do tên phản bội Huỳnh Công Tấn chủ mưu.

Vào khoảng trung tuần tháng 8 năm 1864, Đội Tấn dò biết Trương Định cùng với 25 nghĩa quân cận vệ sẽ đến trú tại làng Kiến Phước (thuộc vùng Tân Phước) để làm công tác chuẩn bị chiến trường cho trận đánh vào Tân Hòa. Tên chó săn vội vàng báo cho chủ biết để xin quân chi viện và yêu cầu được dẫn một toán thủ hạ có vũ trang đầy đủ đi vây bắt Trương Định.

Do thiếu cảnh giác, nghĩa quân của Trương Định không canh phòng cẩn mật, nên đã để cho bọn Đội Tấn bao vây được ngôi nhà của Trương Định ở (đêm 19 tháng 8 năm 1864). Chúng cho quân lính bố trí chẹn kỹ các ngả đường. Sáng tinh sương ngày 20 tháng 8 năm 1864, Đội Tấn ra lệnh cho bọn chó săn ập vào nhà để bắt sống ông.

Mặc dù quân số quá ít, lại bị đánh bất ngờ, nghĩa quân cận vệ đã chiến đấu hết sức ngoan cường, dũng cảm để bảo vệ chủ tướng. Trương Định cũng xông ra đánh giáp lá cà với giặc. Một số nghĩa quân đã hy sinh. Trương Định vẫn bình tĩnh, dũng mãnh, xông xáo như con hổ giữa đàn dê. Ông đã tập trung được số anh em còn lại, đang chuẩn bị phá vòng vây của giặc, thì bị một viên đạn bắn gãy xương sống. Biết không thể thoát khỏi tay địch, ông rút dao đâm chết tên chó săn đang nhảy đến hòng bắt sống ông, rồi quay dao lại đâm vào cổ tự sát để giữ toàn vẹn thanh danh bất khuất của người tướng anh hùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:45:00 PM

Trương Định hy sinh năm ông 44 tuổi, vào lúc ông đã có nhiều kinh nghiệm tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp và đang chuẩn bị một kế hoạch tấn công quy mô vào kẻ thù xâm lược. Khi chết, ông còn mang theo trong người tờ hịch hiệu triệu tướng sĩ và nhân dân hưởng ứng cuộc tấn công vào tháng 8 âm lịch năm đó (1864). Trong tờ hịch có đoạn viết: "... Chúng tôi sẽ lấy lau làm cờ, chặt tầm vông làm binh khí. Nhất định chúng tôi không bao giờ ngừng chiến đấu chống quân cướp nước...

Phát lời kêu gọi này, tôi ngỏ cùng tất cả binh sĩ từ "tổng binh đến quát suất", không phân biệt sĩ phu hay binh lính. Bất cứ ai dâng được kế hay tiêu diệt quân cướp bằng thủy chiến, lục chiến, hoặc chiến đấu bằng xe, bằng ngựa, bằng trâu; tìm được cách diệt tàu thủy, chiếm đồn địch; hoặc tìm được căn cứ địa kháng chiến tốt bảo tồn được lực lượng, đem lại được kết quả, thì tôi sẽ ban thưởng tước quyền trọng hậu".

Trương Định hy sinh, nghĩa quân và nhân dân Nam Kỳ mất một lãnh tụ có tài, thủ lĩnh các nhóm nghĩa quân mất một người bạn chiến đấu trung thành, dũng cảm và tài trí.

Nguyễn Đình Chiểu chẳng những xót xa về sự mất mát của chính bản thân mình: "Lục lâm mấy chặng hoa sầu bạn. Thủy Hử vì đâu nhạn rẽ bầy", mà ông còn đứng về phía nghĩa quân, quần chúng yêu nước để khóc người lãnh tụ đáng yêu đáng kính:

      "Gò Công binh giáp hãy chàng ràng,
      Ngó Bắc trông Nam luống thở than.
      Trên trại đồn điền hoa khóc chủ,
      Dưới vàm Bao Ngược sóng kêu quan.
      Mây giăng Truông Cốc đường quân vắng,
      Trăng xế Gò Rùa tiếng đẩu tan.
      Mấy dặm non sông đều xửng vửng,
      Nạn dân ách nước để ai toan?".


Nghĩa binh càng đau lòng vì mất chủ soái bao nhiêu thì càng căm giận tên Việt gian bán nước Huỳnh Công Tấn đã ám hại Trương Định bấy nhiêu:

      "Chạnh lòng quân sĩ, thương quan tướng nhắc quan tướng, chiu chít như gà;
      Bực trí nhân dân, giận thằng tà, mắng thằng tà, om sòm như nhái".


Cử nhân Phan Văn Trị cũng thống thiết nói:

      "Mối tơ ai gỡ lúc này xong,
      Một dẫy trời Nam biết mấy trùng.
      Kẻ tía gan trung trương mắt ngó,
      Người hiền dạ sắt múa tay không.
      Thân bày trung nghĩa theo tro bụi,
      Hoài của giang sơn trút biển Đông.
      Ơn nước nợ nhà đành có thuở,
      Biết bao giờ đợi, biết bao trông?".


Nhưng không phải vì thương tiếc, đau xót mà bi quan chán nản, nhân dân, nghĩa quân Nam Kỳ, dưới sự lãnh đạo của "đội quân Anh Hai" (Trương Quyền) và các sĩ phu yêu nước, hạ quyết tâm: "Quay góc lại hơn thua một trăm trận bãi".

Uy tín của Trương Định đối với nhân dân Nam Kỳ không bút nào tả xiết. Uy tín lớn lao đó buộc kẻ thù cũng phải kính nể.

Trương Định mất đi là một tổn thất lớn cho nhân dân ta và phong trào kháng Pháp ở  Nam Kỳ thời đó. Đau xót và căm thù, nhân dân miền Nam càng quyết tâm chiến đấu tiếp tục con đường kháng chiến cứu nước mà Trương Định còn bỏ dở. Phong trào ở  khắp nơi càng bùng lên mạnh mẽ, gây cho địch nhiều khó khăn mới. Trong cuộc đấu tranh chung đó, Trương Quyền đã kế tục sự nghiệp của cha một cách anh dũng, ghi lại những trang sử chống xâm lăng vô cùng oanh liệt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:47:43 PM

Câu hỏi 21: Là kẻ phản bội nghĩa quân, Huỳnh Công Tấn đã giúp thực dân Pháp tiêu diệt Trương Định như thế nào?
Trả lời:


Dưới cờ Bình Tây, Đại nguyên soái Trương Định hăng hái chống Pháp với sự hưởng ứng của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ. Nghĩa quân dưới sự chỉ huy của ông đã gây nhiều thiệt hại cho Pháp tại Rạch Tra, Thuộc Nhiêu... Thiếu tướng Bô-na được lệnh đem toàn lực xuống Gò Công quyết tiêu diệt nghĩa quân. Bị vây khốn cả bốn mặt, Trương Định đành phải bỏ chiến khu Bình Xuân, nhưng lại hoạt động quấy phá các đồn trại trong đất Gò Công.

Khi tên Huỳnh Công Tấn làm phản, do bạn của hắn là Nguyễn Hữu Nguôn giới thiệu với Pháp để thâu dụng làm chức đội trưởng. Có lần Tấn ăn hối lộ của một viên cai tổng tại Gò Công để người này đem gia đình lên Sài Gòn theo chính phủ mới. Việc vỡ lở, Tấn bị khiển trách nặng nề, Trương Định muốn chém Tấn, nhưng có nhiều người can ngăn, Tấn được tha tội. Từ đó Tấn rắp tâm làm phản.

Nhân khi đi tuần tại miệt Gò Công, Tấn gạt nghĩa quân, trốn sang hạt Tân An, nhờ lính Pháp nơi đây hộ tống lên Sài Gòn gặp Nguôn. Nguôn giới thiệu với các sĩ quan Pháp thưởng cho Tấn 20 lượng vàng, cho giấy ban khen, lại phong làm đội trưởng chỉ huy một toán lính.

Trong trận đánh Gò Công tháng 2 năm 1863, Tấn được đi trước mở đường làm tay sai cho quân Pháp tấn công vào căn cứ của nghĩa quân. Biết Tấn theo giặc, Trương Định vô cùng tức giận, cho người về Sài Gòn, Gia Định tìm cách trừ Tấn, nhưng không có kết quả.

Trong cuộc tấn công của Pháp vào "đám lá rối trời", Tấn cũng đi trước dẫn đường. Trong trận này, Tấn bị thương ở  đùi, được đưa về Sài Gòn băng bó vết thương. Biết Huỳnh Công Tấn là người thù Trương Định, lại có công giúp Pháp diệt trừ nghĩa quân, Pháp cho Tấn chỉ huy một đội người Việt theo Pháp cùng với Nguyễn Hữu Nguôn xuống tấn công chiến khu Bình Xuân - Kiến Phước.

Ngày 19 tháng 8 năm 1864, khi Trương Định cùng với 25 chiến sĩ tâm phúc từ chiến khu Bình Xuân trở về làng Kiến Phước (thuộc vùng Tân Phước) để quan sát địa hình, tên mật báo địa phương đến báo cáo với Tấn. Tấn dẫn bọn tay sai đến phục tại bãi cỏ bên nhà Trương Định, lại cho người đi báo với một tàu Pháp để xin viện binh.

Trời tờ mờ sáng, quân của Tấn tràn vào, Trương Định và 25 chiến sĩ quyết mở đường máu, chống cự quyết liệt, lớp tử trận, lớp thoát ra vòng ngoài. Trương Định bị quân của Tấn bao vây. Một mình tả xung hữu đột, Trương Định oanh liệt chém ngã nhiều tên phản quốc nhưng binh sĩ của ông cũng chết rất nhiều. Vòng vây vừa được mở rộng thì cũng vừa lúc quân Pháp tiếp viện tới, chúng nổ súng vào binh sĩ bất cứ bạn hay thù, Trương Đinh bị trúng một viên đạn vào giữa xương sống. Biết mình không sống được, Trương Định đã chém chết tên phản động đang lao vào định bắt sống ông và tự sát để bảo toàn thanh danh, khí tiết vào ngày 20 tháng 8. Con ông là Trương Quyền đã rút lên vùng Châu Đốc tiếp tục chống Pháp.

Sau khi ông mất, Tấn và Nguôn muốn đến cướp thây để lập công, nhưng 18 chiến sĩ sống sót cương quyết không cho ai đụng tới thân thể ông.

Viên đại úy Pháp, trước nghĩa cử cao đẹp của 18 chiến sĩ đã cho người thông ngôn nói là bằng lòng tha cho tất cả anh em còn sống sót, riêng thi thể Trương Định xin đưa về Gò Công an táng theo lễ đàng hoàng. Nhưng anh em chiến sĩ không bằng lòng, đòi tự tay khiêng thi hài của chủ tướng xuống tàu đưa về Gò Công. Viên đại úy đành phải chấp thuận, về đến Gò Công, 18 chiến sĩ cách mạng phụ lực với một người thiếp của Trương Định làm lễ tang và chôn cất ông.

Riêng 18 chiến sĩ của nghĩa quân, Huỳnh Công Tấn dụ quy hàng tân triều, nhưng tất cả mắng chửi Tấn là tên phản quốc. Tấn hạ lệnh cho lính bắn chết trước mặt viên đại úy Pháp. Tấn được người Pháp cất nhắc đến chức lãnh binh, vì đã giúp người Pháp diệt trừ Trương Công Định. Thật vô cùng tủi nhục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:49:35 PM

Câu hỏi 22: Sau khi Trương Định chết, Trương Quyền (con trai Trương Định) tiếp tục con đường kháng chiến chống Pháp. Để kế tục sự nghiệp anh dũng quật cường của cha, Trương Quyền đã xây dựng căn cứ kháng chiến như thế nào?
Trả lời:


Trương Quyền khi còn nhỏ rất ham thích nghiệp võ, năm 17 tuổi đã theo cha tham gia chiến đấu. "Cậu Hai" luôn luôn được nghĩa quân kính phục về tài năng và sức mạnh. Khi cha mất, tuổi mới đầy hai mươi, nhưng Trương Quyền đã chỉ huy một đạo quân lớn. Nhân dân Nam Kỳ thường gọi là "đạo quân Anh Hai".

Trương Định hy sinh, để lại một đạo quân khá lớn. Lúc ấy, phó tướng Quang Quyền - cánh tay phải của Trương Định - tuy có tài tổ chức, nhưng chưa đủ uy tín để tập hợp phong trào, cũng như chưa đủ uy tín để lãnh đạo các tướng lĩnh dưới quyền Trương Định. Tình trạng mỗi phương một ngươi, không thống nhất hành động, đã xảy ra trong hàng ngũ nghĩa quân. Quản Là tự phong làm "Đại nguyên soái", Phan Chỉnh tự phong làm "Bình Tây Phó nguyên soái".

Đứng trước tình hình ấy, Trương Quyền lúc đầu cũng do dự, không biết nên thế nào; ông tạm thời kéo quân về căn cứ Giao Loan1 phối hợp với Phan Chỉnh. Thế nhưng, Phan Chỉnh thường tỏ ra hám danh, hám lợi, không phải là người tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù. Mặt khác, căn cứ Giao Loan cũng không phải là nơi có thể dùng làm căn cứ kháng Pháp lâu dài; bởi vì tại đây đất xấu, dân nghèo, lương thực không có đủ để cung cấp cho nghĩa binh.

Căn cứ địa đã không bảo đảm cho cuộc chiến đấu chống giặc, chủ tướng lại không phải là người kiên quyết, triệt để, tất nhiên sự thất bại không thể tránh khỏi. Vì vậy, Trương Quyền mang quân về thành lập căn cứ ở khu rừng Tây Ninh, tự mình đảm đương nhiệm vụ lãnh đạo nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước.

Đầu năm 1865, giặc Pháp do tên thiếu tá Đờ la Rút-xơ chỉ huy mở cuộc tấn công vào căn cứ Giao Loan. Ngay trận đầu tiên, phó tướng Quang Quyền bị tử trận, Phan Chỉnh hoảng hốt rút lui và sau một thời gian trốn tránh, ra đầu hàng giặc. Từ đó nghĩa quân về Tây Ninh tụ họp dưới sự chỉ huy của Trương Quyền.

Vốn đã được rèn luyện trong cuộc đấu tranh chống Pháp do cha đứng đầu, Trương Quyền đã rút được bài học kinh nghiệm quý báu về vấn đề căn cứ địa. Ông thấy Tân Hòa tuy là đất mẹ của cuộc khởi nghĩa, thuận lợi cho việc dựa vào nhân dân để kháng chiến cũng như không phải lo nhiều về vấn đề lương thực, nhưng không phải là một vùng có địa thế hiểm trở để "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", khó cho việc phát triển lực lượng ngày càng mạnh mẽ, lại không tiện cho việc liên hệ chặt chẽ giữa vùng rừng núi với đồng bằng.

Trương Quyền cũng nhận ra rằng, đi đối với hoạt động chiến đấu, cần gấp rút tổ chức một lực lượng quân sự hùng mạnh như cha mình chủ trương và thực hiện được mới có khả năng đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi. Do đó, Trương Quyền đã ngày đêm dốc sức vào việc xây dựng căn cứ địa ở  khu rừng Tây Ninh hiểm trở. Tại đây, quân của ông có thể thọc xuống Gia Định, đánh ra Biên Hòa, tỏa xuống miền châu thổ sông Cửu Long, rồi rút về cố thủ ở biên giới Việt - Cam-pu-chia. Nếu cần thiết, từ căn cứ địa ấy, Trương Quyền còn có thể ngược ra khu rừng Bình Thuận (nay là vùng Tây Nguyên) phát triển căn cứ kháng chiến.

Ở Tây Ninh ít lâu, Trương Quyền thấy ở vùng rừng núi không dựa vào đồng bào ít người thì không thể nào xây dựng được căn cứ và tổ chức được lực lượng nghĩa quân. Vì vậy, Trương Quyền đã vận động được dân tộc Xtiêng và Mơ Nông (ở vùng Tây Ninh - Thủ Dầu Một) ủng hộ và trực tiếp tham gia hàng ngũ nghĩa quân. Vậy là, Trương Quyền đã kế tục thắng lợi đường lối của cha trong việc tổ chức một đội quân gồm cả người Kinh và các dân tộc ít người, cùng chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Trương Quyền đã dựa vào người Xtiêng và Mơ Nông lập thêm một căn cứ phụ ở vùng Tchray - Mê-ông (thuộc Thủ Dầu Một). Chính căn cứ này đã giúp cho nghĩa quân có điều kiện hoạt động mạnh mẽ ở vùng Thủ Dầu Một sau này.

Đã có căn cứ tốt, lại có lực lượng khá hùng mạnh, Trương Quyền chuẩn bị mọi mặt để tiến hành tấn công quân địch. Sự nghiệp của Trương Định bỏ dở đang được con ông kế tục với một khí thế vững vàng, mạnh mẽ.
____________________________________
1. Một địa điểm giữa Bà Rịa và Bình Thuận.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:05:15 PM

Câu hỏi 23: Sau khi đã xây dựng căn cứ kháng chiến ở vùng rừng núi Tây Ninh và được nhân dân các dân tộc ủng hộ, giúp đỡ, Trương Quyền đã tổ chức lực lượng tấn công thành Tây Ninh và phục kích đánh địch tiếp viện như thế nào?
Trả lời:


Sau khi đã xây dựng được khu căn cứ kháng chiến ở vùng rừng núi Tây Ninh và được nhân dân các dân tộc hết lòng, hết sức ủng hộ, giúp đỡ, ngọn cờ kháng Pháp quang vinh của nghĩa quân Trương Quyền hiên ngang bay trên dải đất bao la từ Tây Ninh, Quảng Bàng chạy dài đến Gia Định.

Trương Quyền bắt đầu tổ chức cho nghĩa quân tấn công quân giặc. Tuy mới chỉ là những trận đánh lẻ tẻ, nhưng chiến công của họ đã có tiếng vang trong nhân dân Nam Kỳ và đã có tín nhiệm với hầu hết các nhóm nghĩa quân khác. Các nơi tìm bắt liên lạc với Trương Quyền. Giặc Pháp rất lo sợ, nếu cứ để cho lực lượng nghĩa quân phát triển mạnh mẽ thì nhất định chúng sẽ khó bề "làm ăn" ở Đông Dương. Do đó, chúng ra sức tăng cường hoạt động gián điệp, tung mật thám thọc vào rừng Tây Ninh sục sạo để phát hiện lực lượng nghĩa quân và tìm cách tiêu diệt.

Ngày 3 tháng 6 năm 1866, chỉ huy trưởng khu vực Tây Ninh Xa-vanh-đờ Lác-cơ-lô-dơ được tin: có chừng 1.500 nghĩa quân chuẩn bị tiến đánh Tây Ninh, hiện đang tập trung ở một vị trí cách Tây Ninh khoảng chừng 35km. Lác-cơ-lô-dơ vội ra lệnh tăng cường phòng thủ, đồng thời đem một toán quân nhỏ đi lùng sục. Đoán được ý đồ của hắn, Trương Quyền quyết định đánh lạc hướng giặc, vờ chuyển quân lên miền Bắc, tiến về hướng Bình Thuận. Lác-cơ-lô-dơ cho rằng nghĩa quân đã bỏ ý định tấn công Tây Ninh nên sao lãng việc phòng bị.

6 giờ 30 chiều ngày 7 tháng 6 năm 1866, nghĩa quân bất ngờ quay lại đột kích vào Tây Ninh. Mũi tấn công của nghĩa quân từ hữu ngạn rạch Tây Ninh đánh thẳng vào thành phố làm cho Lác-cơ-lô-dơ vội vàng mang quân ra chặn. Chúng bị nghĩa quân bao vây ngay. Lúc này Trương Quyền mang quân đánh thọc vào phía sau thành Tây Ninh, làm cho Lác-cơ-lô-dơ vô cùng hốt hoảng. Hắn kêu gọi tiếp viện. Tên quan ba Pi-nô từ trong thành Tây Ninh vội vã mang quân ra ứng cứu. Hai bên giáp chiến kịch liệt. 7 giờ tối trận đánh kết thúc. Lác-cơ-lô-dơ, thiếu úy Lơ-xa-giơ và 11 lính Pháp bị chết tại trận. Tên quan ba Pi-nô thoát chết, lui vào thành Tây Ninh cố thủ.

Chiến thắng đầu tiên ở Tây Ninh, dù chỉ tiêu diệt hơn một chục tên Pháp, cũng làm cho địch hết sức khiếp đảm.

Sau trận đánh, nghĩa quân tiếp tục phục kích bên kia rạch Tây Ninh, chờ đánh bọn giặc ra lấy xác tên Lác-cơ-lô-dơ. Thế nhưng, bọn giặc khiếp sợ đến nỗi bỏ mặc cho diều tha, quạ mổ thây của Lác-cơ-lô-dơ và các binh sĩ khác.

Ang-đờ-rê Bô-đi, trong cuốn Những năm đầu ở Nam Kỳ đã ghi rõ tinh thần bạc nhược đó như sau: "Sau trận đánh 9 giờ, có lần quân Pháp liều ra lấy xác. Viên quan ba Pi-nô kéo quân qua cầu, vừa qua khỏi cầu, thoáng thấy bóng nghĩa quân núp sau cây thì đâm hoảng, xô nhau chạy quay về đồn, chỉ mang về được xác của thiếu úy Lơ-xa-giơ, vì xác này nằm ngay đầu cầu".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:05:36 PM

Sau trận chiến thắng Tây Ninh, nghĩa quân vô cùng phấn khởi, ai nấy cũng đều như được tiếp thêm sức chiến đấu, hăng hái chuẩn bị cho những trận đánh khác. Trương Quyền nhận định: sau trận thất bại ở Tây Ninh, thế nào giặc Pháp cũng đem quân tiếp viện nên đã chuẩn bị chu đáo để đón đánh và cắt đứt nhiều đoạn đường dây điện thoại từ Sài Gòn đến Tây Ninh. Đúng như phán đoán, ngày 14 tháng 6 năm 1866, tên đô đốc La Gơ-răng-đi-e tức tốc gửi quân cứu ứng từ Sài Gòn lên.

Chúng lên Tây Ninh bằng cả hai đường thủy và bộ. Tên quan năm Mác-sét-xơ, bằng đường thủy cho quân đổ bộ lên Bê-na-keo (một địa điểm cách Tây Ninh 30km), rồi từ đó tiến về Tây Ninh. Chúng sợ nếu đi thẳng bằng đường thủy sẽ bị nghĩa quân phục kích. Cùng lúc ấy, tên Phơ-rê-mi-ê tiến quân bằng đường bộ.

Trương Quyền biết được tin đó liền tổ chức chặn đánh cánh quân của Mác-sét-xơ tại Truông Mít và cầu Khởi.

Tại Truông Mít và Cầu Khởi, ngay từ những phát súng đầu tiên, nghĩa quân đã gây cho toán quân của Mác-sét-xơ những thiệt hại đáng kể làm chúng không tiến thêm được nữa. Được tin đó, Phơ-rê-mi-ê hoảng hốt, lùi quân trở lại. Tên Pi-nô từ trong thành Tây Ninh cũng chỉ dám thập thò xem xét tình hình, chứ không dám ló ra khỏi vị trí. Mác-sét-xơ chấn chỉnh lại đội ngũ, tiếp tục tiến quân với một lực lượng 150 tên có 2 khẩu đại bác yểm hộ.

Nghĩa quân chia hai cánh, dàn trận đánh Mác-sét-xơ tại rạch Vinh (cách Tây Ninh hơn 40km). Trương Quyền vờ cho một cánh quân rút lui sâu vào rừng, để lộ cho quân giặc trông thấy. Tên Mác-sét-xơ tưởng nghĩa quân khiếp sợ, liền thúc quân kéo nhanh qua rạch Vinh để truy kích. Giữa lúc chúng đang lội xuống rạch Vinh để qua bên kia rừng thì bị đánh bất ngờ. Từ trong các vị trí phục kích, nghĩa quân vừa xả súng bắn, vừa la hét áp đảo tinh thần quân giặc, rồi thừa lúc chúng hoang mang đến cực độ, nhảy ra giáp chiến với địch. Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra đến 5 giờ chiều (14 tháng 6 năm 1866). Tên quan năm Mác-sét-xơ và một số lớn binh sĩ tử trận. Tàn quân còn lại cố sống cố chết tháo chạy về Tây Ninh.

Hai trận chiến thắng liên tiếp ở Tây Ninh (ngày 7 tháng 6 năm 1866) và rạch Vinh (ngày 14 tháng 6 năm 1866), cách nhau có 7 ngày, chẳng những đã tiêu diệt được khá nhiều sinh lực địch, giết mất của giặc Pháp những tên chỉ huy già dặn, từng có kinh nghiệm xâm lược như Lác-cơ-lô-dơ, Mác-sét-xơ, mà còn có tác dụng cầm chân một lực lượng khá lớn của Pháp ở  Tây Ninh, tạo điều kiện cho nghĩa quân các nơi khác hoạt động.

Tên Vi-an viết về tình hình đó như sau: "Trong lúc thiếu tá A-lây-rông lo tổ chức một cuộc hành quân khác thì tin tức về sự thiệt hại nặng nề của ta trong trận rạch Vinh lan tràn trong nhân dân như một ngọn lửa thuốc súng; các lãnh tụ khởi nghĩa phái người đi cổ vũ các nơi, cả trong hàng ngũ chúng ta, cả trong thành phố Sài Gòn và họ tìm cách tấn công ta ngay tại phủ của ta".

Hai chiến công đầu tiên đó của nghĩa quân đã có tác dụng động viên lớn đối với quần chúng nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài. Thắng lợi này đã ảnh hưởng tốt đến việc củng cố và phát huy tinh thần quyết chiến với kẻ thù, gây thêm lòng tin vào sức mạnh của nghĩa quân trong cuộc chiến đấu không cân sức với một kẻ thù mạnh hơn rất nhiều về trang thiết bị kỹ thuật.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:07:42 PM

Câu hỏi 24: Để phát huy những chiến công và thắng lợi giòn giã của nghĩa quân vừa giành được, Trương Quyền đã sử dụng những cách đánh nào để tiêu diệt và làm rối loạn quân địch?
Trả lời:


Để phát huy chiến thắng vừa giành được, nghĩa quân liên tiếp tổ chức những cuộc tập kích chớp nhoáng, bất ngờ vào những khu vực an toàn của giặc ngay sát thành Gia Định. Một bộ phận hoạt động mạnh ở Tây Ninh, thu hút quân giặc cho đại bộ phận do Trương Quyền chỉ huy dễ dàng hoạt động ở vùng ven Sài Gòn. Sự phối hợp ăn ý ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghĩa quân Trương Quyền chiến thắng ở Thuận Kiều (sát Sài Gòn) vào đêm 24 tháng 6 năm 1866, sau trận đánh rạch Vinh 10 ngày.

Nhờ chuẩn bị chu đáo nên nghĩa quân của Trương Quyền dễ dàng lọt vào được Thuận Kiều. Sau khi phá nhà bưu điện, Trương Quyền chỉ huy xung kích vượt tường, xông vào giết giặc. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, từ khuya đến sáng, quân địch vừa bị giết vừa bị thương gần hết, số còn lại phải bỏ đồn mà chạy. Trương Quyền thu vũ khí của địch và cho xe bò chở về căn cứ.

Nghe tin nghĩa quân đánh Thuận Kiều, Phủ Ca1 lật đật mang quân từ Hóc Môn lên tiếp viện, nhưng đến nơi thì nghĩa quân đã rút lui an toàn về căn cứ.

Cũng vào đêm 24 tháng 6 năm 1866, nghĩa quân tập kích chớp nhoáng vào Trảng Bàng. Các nhóm nghĩa quân khác ở Gia Định cũng phối hợp hoạt động du kích mạnh mẽ ở chung quanh Chợ Lớn.

Tình hình trên làm cho bọn xâm lược Pháp điên đầu. Chúng quyết tâm tìm mọi cách trả thù và tiêu diệt nghĩa quân. Chúng cho bọn tay chân sục sạo tìm kiếm, phát hiện cho được vị trí của nghĩa quân. Sau khi biết Trương Quyền đóng quân ở tổng Cầu An Hạ (dọc đường Sài Gòn - Tây Ninh; giữa bưng Tầm Lạc và sông Vàm Cỏ Đông), chúng liền quyết định mở cuộc tấn công quy mô lớn vào căn cứ của ta nhằm nuôi mộng tái diễn cuộc tấn công vào Tân Hòa hồi ba năm trước.

Đoán biết được ý đồ của giặc, Trương Quyền liền chia lực lượng ra làm 3 cánh chủ động phá kế hoạch bao vây của địch. Cánh thứ nhất thọc xuống Bình Điền (trên đường Chợ Lớn - Mỹ Tho), cánh thứ hai vượt ngang qua sông Bến Nghé, cánh thứ ba là cánh quân chủ lực do Trương Quyền chỉ huy thì ngược lại Trảng Bàng (Tây Ninh). Cánh thứ nhất và cánh thứ hai có nhiệm vụ đánh lạc hướng quân giặc, đồng thời bắt liên lạc với các nhóm nghĩa quân ở  vùng đồng bằng tạo điều kiện phá rối hậu phương địch ở Gia Định - Định Tường; còn cánh quân do Trương Quyền chỉ huy sẽ về hoạt động vùng Tây Ninh - Thủ Dầu Một - Bà Rịa. Cuộc chuyển quân khéo léo này của đội quân "Anh Hai" đã phá tan kế hoạch tấn công quy mô hòng tiêu diệt sinh lực nghĩa quân của giặc Pháp.

Ấm ức vì kế hoạch bị phá sản, giặc Pháp dò theo vết chuyển quân của Trương Quyền lên Tây Ninh.

Năm chắc được ngày giờ hành quân của giặc, nghĩa quân liền tổ chức một trận phục kích tại Trà Vang (trong khu rừng Tây Ninh). Ngày 2 tháng 7 năm 1866, quân giặc gồm 400 quân, có pháo yểm hộ, dưới quyền chỉ huy của tên A-lây-rông tiến đến Trà Vang. Chúng chưa kịp nghỉ ngơi đã bị nghĩa quân tấn công ngay. Không kịp trở tay, giặc Pháp đành phải tháo chạy. Nghĩa quân tổ chức truy kích sau lưng, chặn đầu và đánh xuyên hông. Suốt từ ngày 2 sang ngày 3 tháng 7, quân Pháp không lúc nào yên, luôn luôn bị nghĩa quân phục kích, gây cho chúng rất nhiều tổn thất. Không có cách nào khác, bọn chúng đành mở đường chạy về Tây Ninh. Đồng thời với trận đánh trên, một cánh nghĩa quân khác, đã đột nhập vào thành Tây Ninh (đêm ngày 3 tháng 7 năm 1866) đốt phá cơ quan và nhà cửa của bọn tay sai, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Sau trận Trà Vang nổi tiếng, nghĩa quân liên tiếp tấn công vào các vị trí địch ở  Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng ngày 7 tháng 7 năm 1866, bắc Tây Ninh ngày 11 tháng 7 năm 1866...; đồng thời triệt để tận dụng chiến thuật du kích, quấy rối địch ở  khắp nơi, buộc chúng phải đêm ngày lo đối phó, ăn không ngon ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo chống đỡ với nghĩa quân. Hết bị lôi cuốn đằng đông lại bị kéo đằng tây, chúng phải kêu lên rằng: "Trong giai đoạn chiến tranh này, điều đáng chú ý là kẻ thù của chúng ta biết hoạt động khéo léo, có ý chí cương quyết và sử dụng súng ống giỏi mà từ trước đến nay chúng ta chưa hề thấy ở người bản xứ. Từng lúc, du kích lại đến quấy rối các vị trí tiền tiêu hay xóm làng ta đóng; họ núp ở các đường hẻm mà quân ta đi qua để nhắm bắn những người chỉ huy các toán quân ấy".
_____________________________________
1. Phủ Ca là một tên chó săn đắc lực của Pháp, chính hắn đã điều tra và cung cấp nhiều tin tức bí mật về nghĩa quân Trương Định cho giặc Pháp và làm chỉ điểm cho Pháp trong nhiều trận đàn áp các toán nghĩa quân Nam Kỳ. Tên này cùng với tên Đội Tấn là hai tên Việt gian đầu tiên được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh (ngày 3-12-1865). Tên Phủ Ca sau này bị Quản Hớn giết chết, treo đầu tại cột đèn chợ Hóc Môn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:11:44 PM

Câu hỏi 25: Khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ và tìm mọi cách bao vây, tiêu diệt nghĩa quân, Trương Quyền đã đối phó như thế nào?
Trả lời:


Trong khi nghĩa quân đang trên đà thắng lợi và phong trào vũ trang kháng Pháp của Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười, Nguyễn Trung Trực và Đỗ Thừa Long, Đỗ Thừa Tự ở Rạch Giá, thủ khoa Huân ở Tân An, Mỹ Tho, v.v... đang sôi nổi khắp Nam Kỳ, thì triều đình Huế vẫn cứ tiếp tục trượt dài trên con đường cầu hòa bán nước, tạo điều kiện cho giặc Pháp đánh phá các lực lượng nghĩa quân.

Lúc này, giặc Pháp đã chiếm xong Cam-pu-chia (1864) và đang ra sức củng cố sự thống trị về mọi mặt của chúng ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa). Chúng tổ chức ngụy quân, thành lập ngụy quyền từ tỉnh đến xã, mở rộng những hoạt động thương mại với nước ngoài. Sự ổn định tương đối về mặt thống trị đó kết hợp với thái độ nhu nhược, phản bội của triều Nguyễn đã giúp cho giặc Pháp có thêm điều kiện để tiến hành thôn tính nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Ba tỉnh này là chỗ dựa cho nghĩa quân, là cái gai trước mắt làm cho giặc mất ăn mất ngủ. Chừng nào chưa chiếm được nó thì vùng địch kiểm soát vẫn còn bị đe dọa, việc liên lạc với bọn Pháp cai trị ở Cam-pu-chia còn khó khăn. Do đó, bọn chúng tìm mọi cách tích cực thực hiện việc xâm chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ một cách nhanh chóng, dễ dàng.

Thật vậy, sau khi đi sứ ở nước Pháp về, Phan Thanh Giản được cử làm kinh lược sứ ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (cuối 1864). Trước khi đi nhậm chức, Phan Thanh Giản đã tâu với Tự Đức rằng: chính sách sẽ theo là tuân thủ đúng hòa ước1. Vì vậy, khi đến Vĩnh Long, Phan Thanh Giản ra một bản yết thị, trong đó công nhiên bài xích những cuộc khởi nghĩa, khuyên nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên "làm ruộng, đi học, yên nghiệp làm ăn, vì triều đình đã giao hảo với nước Pháp rồi. Nếu ai không tuân sẽ trừng trị"2.

Yết thị đó tuy có gây nên tâm lý cầu an, dao động ở  một số người, nhưng về căn bản vẫn không làm lay chuyển được tinh thần kiên trì, quyết tâm kháng Pháp của nhân dân và nghĩa quân.

Giặc Pháp lấy cớ là triều đình Huế bất lực trong việc đàn áp "phiến loạn", đòi chiếm luôn ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Tháng 6 năm 1866 (tháng hoạt động sôi nổi của nghĩa quân), tên đô đốc La Gơ-răng-đi-e được Bộ trưởng Hải quân Pháp khuyến khích, tập trung hơn 1.000 quân ở  Mỹ Tho tiến đánh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Khiếp sợ quân giặc, Phan Thanh Giản lệnh cho các quan trấn thủ nộp thành cho chúng rồi uống thuốc độc tư tử. Thế là, không tốn một viên đạn, giặc Pháp đã được triều đình Huế giao lại cho ba tỉnh miền Tây trong vòng không đầy một tuần lễ.
___________________________________
1. Phan Khoang, Việt Pháp bang giao sử lược, Huế, 1950. tr. 159.
2. Trần Huy Hiệu, Lịch sử 80 năm kháng Pháp, q. I, Nxb Văn - Sử - Địa, H. 1957, tr. 32.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:12:11 PM

Ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên chính thức lọt vào tay giặc Pháp đã gây nên những khó khăn đáng kể cho các nhóm nghĩa quân. Chỗ dựa của họ đã bị giặc kiểm soát, phạm vi đóng quân bị thu hẹp, vấn đề đi lại hoạt động của họ gặp rất nhiều trở ngại. Nguồn tiếp tế lương thực do đó cũng bị ảnh hưởng. Thêm nữa, nhân tâm ngày càng xáo động, nhất là tầng lớp trung gian. Trong điều kiện lịch sử ấy, Trương Quyền phải chuyển về hoạt động vùng Soài Riêng, Trảng Bàng (giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây), là nơi địch đang có nhiều sơ hở và chỉ trong một ngày đã quét sạch ngụy quân, ngụy quyền ở Phủ Sóc, dựng cơ sở kháng chiến làm chỗ đứng chân hoạt động lâu dài.

Nhưng tình thế ngày càng không có lợi. Sự liên lạc giữa các nhóm nghĩa quân bị gián đoạn vì địch phong tỏa gắt gao. Các nhóm nghĩa quân ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) ở  vào thế cô lập, ngày càng bị đàn áp dữ dội. Các nhóm khởi nghĩa vừa dấy lên ở miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) không bắt liên lạc được với Trương Quyền. Địa bàn của nghĩa quân đã bị thu hẹp, lại bị bao vây, phong tỏa. Địa bàn cuối cùng của nghĩa quân chỉ còn nằm trong một phạm vi hẹp từ Tây Ninh đến biên giới Việt - Cam-pu-chia. Giặc Pháp lại vũ trang cho các nhóm phản động ở vùng này mở các cuộc tấn công liên tiếp, quy mô vào lực lượng nghĩa quân đang hoạt động ở vùng Trảng Bàng, Soài Riêng.

Trước tình hình bất lợi đó, thấy không thể tập trung quân hoạt động như thời gian trước, mà cần phải phân tán hoạt động, gây lại cơ sở kháng chiến, Trương Quyền mang quân về ở Suối Giây (phía bắc khu rừng Tây Ninh).

Quân của Trương Quyền vừa về đến Suối Giây thì bọn do thám của giặc đã phát hiện được. Ngày 28 tháng 7 năm 1867, giặc Pháp mở cuộc tấn công bất ngờ vào nghĩa quân. Trương Quyền chống cự mãnh liệt nhưng sức yếu, thế cô lập, không thể thắng được chúng, đành chia quân ra từng toán nhỏ, vừa đánh vừa rút. Tuy nhiên, không để bị lâm vào thế bị động, trên đường rút quân về vùng châu thổ Cửu Long Giang, Trương Quyền đã mở nhiều cuộc đột kích chớp nhoáng vào quân địch, nhưng thế giặc quá mạnh nên những trận đột kích đó cũng chỉ đạt tác dụng quấy rối, tiêu hao, không thu được kết quả gì đáng kể.

Trong lúc Trương Quyền đang mưu toan khôi phục lại phong trào thì được tin ở Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng tình hình của các nhóm nghĩa quân mới dấy lên rất khả quan. Hầu hết vùng này đều đã vào tay nghĩa quân do anh em Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo. Tin vui đó làm cho Trương Quyền vô cùng phấn khởi, ông quyết định vượt sông Cửu Long, kéo quân xuống miền Hậu Giang, phối hợp với các nhóm nghĩa quân ở  ba tỉnh miền Tây, gây dựng phong trào mới. Rủi thay! Trên đường về Hậu Giang quân của Trương Quyền bất ngờ gặp địch. Hai bên nổ súng ác liệt. Trong khi hỗn chiến, Trương Quyền bị trúng đạn. Ông trút hơi thở cuối cùng bên bờ sông Cửu Long giữa lúc phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ đang có những hứa hẹn mới.

Sau khi Trương Quyền chết, ngọn cờ kháng chiến của ông vẫn được tiếp tục được giương cao. Phong trào kháng Pháp mạnh mẽ từ ba tỉnh miền Tây lan ra rộng khắp và tồn tại hàng chục năm sau.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:13:42 PM

Câu hỏi 26: Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược của Trương Định và nghĩa quân đã không thành công; vai trò của Trương Định, nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa được thể hiện như thế nào?
Trả lời:


Ngay từ khi giặc Pháp đặt chân lên đất Gia Định (1859), nhân dân Nam Kỳ đã anh dũng vùng lên đánh quân xâm lược.

Trong những ngày kháng chiến, đồng bào miền Nam đã tỏ ra xứng đáng với truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc ta. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ dấy lên quy mô mạnh mẽ với lá cờ "Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân" của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định đã mở đầu những trang sử vẻ vang chống thực dân Pháp xâm lược của toàn thể dân tộc ta.

Trong cuộc đấu tranh anh dũng và gian lao đó Trương Định đã được nhân dân Nam Kỳ mến phục, tin yêu, suy tôn làm lãnh tụ của mình và đã trở thành anh hùng dân tộc.

Trương Định đã xứng đáng với vinh dự lớn lao đó. Trước sự mất còn của Tổ quốc, với lòng yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường bất khuất, ông đã không để cho hai chữ trung quân ràng buộc, khước từ mọi dụ dỗ mua chuộc, bất chấp mọi đe dọa, hiểm nghèo, trước sau vẫn đứng về phía nhân dân, cùng với nhân dân chiến đấu, kiên quyết chống lại đường lối đầu hàng giặc Pháp của vua quan triều Nguyễn.

Tư tưởng và hành động phù hợp với yêu cầu nguyện vọng của quần chúng lúc đó của Trương Định đã mang lại cho ông một sự đồng tình, ủng hộ nhiệt liệt của nhân dân. Sự đồng tình ủng hộ đó là điều kiện tiên quyết giúp cho Trương Định đoàn kết, tập hợp được các lực lượng yêu nước tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài.

Thật vậy, nhìn lại cuộc kháng chiến cứu nước do Trương Định lãnh đạo, chúng ta thấy vai trò của nhân dân có tính chất quyết định. Chính đồng bào Kinh cũng như Thượng, vùng tự do ở ba tỉnh miền Tây cũng như vùng địch chiếm ở ba tỉnh miền Đông, đã hăng hái tham gia nghĩa quân, che chở, nuôi dưỡng nghĩa quân. Chính nhân dân đã quyên góp tiền bạc, lương thực vũ khí và tham công tác vận chuyển, phá hoại, phối hợp chiến đấu mọi mặt với nghĩa quân, v.v...

Có thể nói, cuộc kháng chiến của nghĩa quân Trương Định là một cuộc chiến tranh cứu nước có tính chất nhân dân rõ rệt. Đó là điều cắt nghĩa tại sao cuộc chiến đấu đó tồn tại được khá lâu và đã làm cho giặc Pháp nhiều phen khốn đốn. Đó là điều chủ yếu tạo ra thắng lợi của nghĩa quân Trương Định.

Cùng thời Trương Định cũng đã có nhiều sĩ phu yêu nước khác phất cao cờ khởi nghĩa nhưng không một cuộc khởi nghĩa nào được đông đảo quần chúng tham gia và lập được những chiến công lừng lẫy khiến quân thù phải khiếp sợ như cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo. Cho nên, ngoài việc khẳng định vai trò của nhân dân, không thể không thấy cái lớn lao của con người Trương Định, không thể không thấy vai trò quan trọng của ông đối với phong trào chống Pháp lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:14:02 PM

Trương Định là người có đức, có tài. Đức, tài của ông phát triển theo cuộc kháng chiến của nhân dân.

Trương Định là một người yêu nước thiết tha, bổng lộc không mua chuộc, uy vũ không khuất phục được.

Trương Định là một chủ soái gần gũi thương yêu quân sĩ, một tướng lĩnh dũng cảm kiên cường khi xung trận.

Trương Định là một lãnh tụ nghĩa quân có tài lãnh đạo và chỉ huy. Chính do tinh thần yêu nước thiết tha và đức tính dũng cảm kiên cường mà tài của ông có điều kiện để phát huy và phát triển. Ông kế thừa được truyền thống anh hùng và những chiến lược, chiến thuật tài tình của ông cha ta qua bao đời đấu tranh bất khuất, những cuộc đấu tranh tự vệ hết sức anh dũng và sáng tạo của một nước nhỏ yếu chống kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta rất nhiều lần.

Trương Định không chỉ lo trước mắt mà còn lo cả lâu dài, từ việc xây dựng căn cứ cho vững mạnh đến việc phát triển nghĩa binh thành một đội quân thiện chiến ngày càng đông đảo, có tổ chức, có kỷ luật. Ông không chỉ lo tác chiến mà còn chú ý sao cho có lương thực, vũ khí. Ông không chỉ quan tâm về mặt quân sự mà về sau này cũng đã nghĩ đến việc xây dựng chính quyền kháng chiến trong vùng địch chiếm, vận động nhân dân đấu tranh với địch về kinh tế và chính trị.

Tài thao lược của Trương Định còn thể hiện ở chỗ ông đã áp dụng những phương pháp chiến đấu thích hợp để đánh một kẻ thù mạnh hơn về trang bị kỹ thuật: tránh mạnh đánh yếu, đánh vào nơi sơ hở, đánh giáp lá cà, v.v... Những trận phục kích, tập kích, quấy rối, phá hoại, v.v... do ông chỉ huy đã làm cho quân địch phải điên đầu.

Đức, tài và uy danh của Trương Định lừng lẫy đến kẻ thù cũng phải thừa nhận, khâm phục.

Tiếc thay, Trương Định đã sớm hy sinh bỏ dở sự nghiệp cứu nước của mình. Trương Quyền - con ông, đã nối chí cha mà cũng không xoay chuyển được tình thế. Cũng như tất cả các cuộc khởi nghĩa khác thời đó, cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo và sau này là Trương Quyền đã không thành công.

Nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa, tất nhiên cũng có thể tìm thấy trong phong trào đấu tranh thời đó; những thiếu sót, nhược điểm do hạn chế về mặt giai cấp của bản thân Trương Định, nhưng không vì thế mà chúng ta không thấy công lao của ông và của nhiều lãnh tụ nghĩa quân khác. Cũng không vì thế mà không chú ý đến một nguyên nhân quan trọng hơn, chủ yếu hơn dẫn đến việc đất nước ta rơi vào tay giặc Pháp. Đó là tình trạng thối nát, suy tàn của chế độ đương thời, là sự yếu hèn phản động của giai cấp phong kiến thống trị triều Nguyễn với đường lối thương thuyết cầu hòa đi tới đầu hàng phản bội Tổ quốc. Tất cả những điều đó đã tạo cho giặc Pháp điều kiện và cơ hội đánh chiếm nước ta.

Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có truyền thống đấu tranh bất khuất. Gương Trần Hưng Đạo bình Nguyên, Lê Lợi phá Minh, Nguyễn Huệ đuổi Thanh còn sáng chói trên những trang sử vẻ vang của dân tộc ta. Với một dân tộc quật cường như thế, quân địch đâu có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đen tối của chúng. Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: "Giá như triều đình lúc bấy giờ không phải ở trong tay bọn vua chúa nhà Nguyễn phản bội và đầu hàng mà trong tay những ngươi kế tục sự nghiệp yêu nước và anh dũng của Nguyễn Huệ, thì phong trào kháng Pháp lúc bấy giờ ở Nam Bộ chắc còn mạnh mẽ hơn nhiều" .

Kế tục sự nghiệp anh hùng của nghĩa quân Trương Định, mặc dù bọn đế quốc hung bạo và giai cấp phong kiến phản động đê hèn đã dùng mọi thủ đoạn tàn ác, dã man dìm các cuộc khởi nghĩa trong biển máu, nhân dân ta đã không ngừng vùng lên khắp Bắc, Trung, Nam và cuối cùng dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước ta.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:15:37 PM

Câu hỏi 27: Đền thờ Trương Định hiện nay được xây dựng như thế nào?
Trả lời:


Trương Định là một vị anh hùng dân tộc trong phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Công lao và sự nghiệp chống Pháp của ông đã được sử sách ghi nhận và nhân dân hết lòng ca ngợi.

Năm 1864, sau khi Trương Định tuẫn tiết, bà Trần Thị Sanh (vợ thứ Trương Định) đã nhận thi hài của ông mang về an táng rất trọng thể. Mộ được làm bằng hồ ô dước, trên bia mộ khắc: "Đại Nam an hà lãnh binh kiêm Bình Tây Đại tướng quân Trương Công Định, huý Định chi mộ", nhưng nhà cầm quyền Pháp tại Gò Công ra lệnh đục bỏ hàng chư "Bình Tây Đại tướng quân" và phạt bà Trần Thị Sanh 10.000 quan tiền vì lập bia trái phép.

Năm 1874, bà Sanh đứng đơn xin lập mộ cho chồng. Mộ xây bằng đá hoa cương cùng với 3 bức hoành phi và 6 trụ đá ghi lại thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trương Định. Một lần nữa, các hoành phi và trụ đá bị đục bỏ. Ngôi mộ trở nên hoang phế trong thời gian Pháp thuộc bởi sự cấm đoán và dòm ngó của mật thám.

Năm 1964, Gò Công tái lập tỉnh, để thu phục nhân tâm, chính quyền cũ đã xuất công quỹ tu bổ ngôi mộ. Sau ngày miền Nam giải phóng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Gò Công đã đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo và xây dựng lại ngôi mộ Trương Định khang trang như ngày nay.

Để tưởng nhớ công lao của Bình Tây Đại nguyên soái, Trung thiên tướng quân Trương Định, tỉnh Quảng Ngãi đã đầu tư kinh phí xây dựng đền thờ Trương Định tại quê hương ông ở xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Khu đền thờ có diện tích gần 20 nghìn mét vuông, gồm các hạng mục như: Đền thờ chính, nhà trưng bày, nhà khách, nhà bia tưởng niệm, tường rào, sân hành lễ, vườn trồng cây lưu niệm, v.v...

Hàng năm, vào ngày mất của Trương Định, tại nơi đây đã diễn ra lễ hội hết sức long trọng và thành kính, để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết bằng chính những lễ thức truyền thống của vùng đất Ấn - Trà.

Từ sáng tinh mơ, nhân dân địa phương và các nơi khác trong tỉnh đã nô nức đổ về đền thờ Trương Định để dự lễ. Trên sân đình, những người đi rước bát nhang và linh vị Trương Định trong y phục, nghi cụ chỉnh tề.

Mở đầu cho lễ hội là đoàn rước đón bát nhang và linh vị Trương Định được đưa từ Gia Thuận và thị xã Gò Công về đền. Đoàn rước gồm đội thiếu nhi cầm cờ ngũ sắc, đội múa lân, đội múa kiếm, đội võ, đội hát sắc bùa, đội dâng lễ, đội cầm lọng, đội học trò gia lễ, ban tế lễ, đội long đình, các vị bô lão, đoàn học sinh thanh niên cùng nhân dân các xã Tịnh Khê, Tịnh Thiện, tạo nên không gian đầy màu sắc và tôn nghiêm.

Trước lễ nghinh thần nhập điện một ngày, tại đền thờ này cũng đã diễn ra lễ tế ngoại đàn, một nghi lễ thể hiện lòng tôn kính của người đang sống đối với những người đã khuất. Cùng với lễ tế ngoại đàn là lễ tế tiên thường, được xem như một sự thông báo với trời đất, thánh thần trước khi lễ chính được diễn ra vào ngày mai.

Lễ nhập điện bắt đầu sau 3 hồi chiêng, trống trầm hùng. Bài vị anh hùng dân tộc Trương Định và bát nhang rước từ đền thờ ông ở  Gia Thuận, Gò Công Đông và thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang được kính cẩn đặt lên bàn thờ và với những nén nhang thành kính của nhân dân.

Cùng với nghi thức trên, ở trước sân đền thờ, các nghệ nhân tiến hành những nghi thức diễn xướng hầu thần. Mở đầu là đội lân, tiếp theo là phần diễn xướng của đội hát sắc bùa. Đây là một loại hình dân ca nghi lễ truyền thống của Quảng Ngãi với các bài Hát cửa đền ở trước đền, Hát hầu thần ở trong đền và Múa bắt bướm, Múa trấn ngũ phương, Múa đèn ở ngoài sân đền.

Sau phần diễn xướng của đội lân, đội sắc bùa, là lễ chánh tế. Các bô lão cùng đội học trò gia lễ và ban nhạc lễ thực hiện các bước lễ tế theo nghi thức "tam tuần bát bái". Lễ chánh tế cùng các nghi thức tế lễ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, không những ôn lại cuộc đời và công trạng của anh hùng dân tộc Trương Định nhằm tri ân và tôn vinh Người, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc, mà còn mang ý nghĩa cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Tiếp theo là lễ tưởng niệm và dâng hương.

Tổ chức lễ hội tưởng niệm ngày tuẫn tiết của Bình Tây Đại nguyên soái, Trung thiên tướng quân Trương Định là một hoạt động văn hóa đầy ý nghĩa trong việc ôn lại cuộc đời và công trạng của anh hùng Trương Định; đồng thời cũng là dịp để hiểu thêm về quá khứ hào hùng, bất khuất của cha ông trong suốt chiều dài lịch sử bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam cũng như trên quê hương núi Ấn - sông Trà.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 10:13:57 PM

Phần thứ hai
ANH HÙNG TRƯƠNG ĐỊNH TRONG THƠ VĂN YÊU NƯỚC NAM BỘ


I. HÌNH ẢNH ANH HÙNG TRƯƠNG ĐỊNH TRONG THƠ VĂN YÊU NƯỚC NAM BỘ

Câu hỏi 28: Ý chí sắt đá của Trương Định được thể hiện qua thơ văn yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX như thế nào?
Trả lời:


Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quần chúng yêu nước ở Nam Bộ, cũng như Trương Định đã trải qua những ngày gian khổ bậc nhất, khi họ phải đứng giữa hai gọng kìm tấn công của bọn xâm lược viễn chinh Pháp và bọn triều đình bán nước nhà Nguyễn.

Thực dân Pháp xâm lược và triều đình nhà Nguyễn đã tìm cách thăng chức cho Trương Định làm lãnh binh ở An Giang nhằm muốn đẩy Trương Định ra khỏi môi trường chiến đấu của ông, nhưng Trương Định đã dứt khoát đứng về phía nhân dân, chiến đấu chống giặc. Trong thời đại phong kiến, cự tuyệt mệnh lệnh nhà vua không phải việc dễ. Tấm lòng yêu dân, yêu nước đã giúp Trương Định chặt đứt mọi thú luân lý, đạo đức phong kiến như một thứ dây oan nghiệt tròng vào cổ ông. Trong lịch sử phong kiến, lần đầu tiên lời của những nông dân bình thường bỗng có giá trị tuyệt đối trước cái gọi là "thiên tử chiếu". Việc nhân dân cản đầu ngựa không thuận để Trương Định đi An Giang nhận chức của nhà vua, tôn Trương Định - người mà nhân dân tín nhiệm - làm Bình Tây Đại nguyên soái và việc Trương Định khước từ bổng lộc của triều đình, nhận sự phong tặng của nhân dân, cắt nghĩa một cách hùng hồn tinh thần: một lòng vì Tổ quốc của nhân dân ta trong đó có sĩ phu yêu nước hồi bấy giờ.

Trong bài Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định:

"Chợt thấy cánh buồm lai sứ, việc nghị hòa, những tưởng rằng xong;
Đã đành tấm giấy tựu phong, phận thiên tỉ có đâu dám cãi.
Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền;
Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại".


Giặc thấy Trương Định không tuân theo lệnh triều đình, cương quyết đánh tới, nên nhiều lần thúc giục Phan Thanh Giản viết thư cho Trương Định, khuyên Trương Định bãi binh:

"Triều đình đã ký hòa ước, ông nên bãi binh, không nên trái mệnh vua. Trung hiếu là điều tốt, nhưng phải có giới hạn, không thể vượt quá giới hạn mà được trung hiếu; thái quá cũng như bất cập, có thêm chân lại không phải là rắn nữa. Nếu ông đem toàn bộ hai tỉnh Định, Biên1 về với triều đình thì cũng là một cử chỉ tốt. Hiện nay đại binh của triều đình triệt hồi đã lâu, các quan chưởng binh lén lút ở nơi rừng núi đều giải tán. Còn một mình ông, ông đem toán quân ấy tiến lên đánh thì có chắc thắng được không? Lui về giữ thì chắc có vững được không? Quyết không thể được...”.

Nhận được thư, Trương Định dứt khoát trả lời:

"... Nhân dân ba tỉnh không muốn đất nước bị chia cắt, nên họ suy tôn chúng tôi cầm đầu. Chúng tôi không thể nào làm khác hơn điều mà chúng tôi đang làm. Cho nên chúng tôi sẵn sàng tử chiến, địch đằng đông, kéo địch đằng tây, chúng tôi chống địch và sẽ thắng địch. Nếu ngài còn nói hòa nghị, cắt đất cho địch thì chúng tôi xin không tuân mệnh lệnh triều đình và chắc hẳn là như thế sẽ không bao giờ có hòa thuận giữa các ngài và chúng tôi, các ngài sẽ không lấy gì làm lạ cả...''.

Phải thấy rằng Phan Thanh Giản đối với nhân dân Nam Kỳ trước đó có uy tín dường nào, nhưng khi Phan Thanh Giản đã mất tinh thần trước giặc thì lời nói của Phan cũng không còn có giá trị gì nữa. Không phải đợi đến ngày nay lịch sử mới đánh giá đúng đắn, mà ngay lúc Phan còn nghiễm nhiên giữ chức kinh lược đại thần, nhân dân Nam Kỳ, đứng đầu là các sĩ phu yêu nước, cũng đã xem Phan là người như thế nào rồi trước cơn nguy biến của Tổ quốc.
___________________________________
1. Tức Định Tường và Biên Hòa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 10:17:26 PM

Chẳng những Trương Định cự tuyệt lời khuyên của Phan Thanh Giản, mà ông còn cự tuyệt cả lời dụ của triều đình nữa. Theo Bài tựa liệt truyện của những người có ý kiến sai lầm bài ngoại, Trương Định đã trả lời thẳng với triều đình chỉ ngay việc một đạo dụ bắt buộc "các tỉnh phải đình chỉ ngay việc mộ quân". "Định thà chịu tội với triều đình còn hơn, chớ không nỡ ngồi yên nhìn thấy non sông, đất nước bị chìm đắm". Ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của Trương Định làm cho bọn sử thần của nhà Nguyễn cũng phải bực tức:

"Chúng ta lấy làm quái lạ cho một mình ông Định bướng ngạnh như thế. Phận làm tôi con, chỉ biết mệnh lệnh nhà vua thì phải theo, tức như việc cũ của đời Tống (Trung Quốc) thẻ vàng nhà vua có lệnh truyền xuống dẫu danh tướng như Nhạc Vũ Mục cũng phải vâng theo chiếu chỉ mà rút quân về...”

Trái hẳn với quan niệm "ngu trung" theo kiểu Nhạc Phi đời Tống, Trương Định đã liệt vua chúa nhà Nguyễn vào hạng đã đầu hàng giặc, nên không thể theo mệnh lệnh của vua chúa, thuận lòng dân đứng ra đánh giặc cứu nước thì bị lên án là bầy tôi nghịch, bị "tiếng thị, tiếng phi" tuôn ra từ cửa miệng của bọn vua chúa đình thần - hạng người mà Phan Sào Nam cho là "gan đệ lợn mà mưu chuột cáo, một khi trông thấy người Pháp liền run sợ mồ hôi ra như mưa. Ví người Pháp đòi đem cha mẹ cho chúng ăn thịt, bọn ấy cũng cung kính hai tay, bưng đến dâng ngay, huống chi là sáu tỉnh..." (Phan Sào Nam – Việt Nam vong quốc sự, bản dịch của Chu Thiên, Chương Thâu). Đó là tấn bi kịch của Trương Định và những người yêu nước cuối thế kỷ XIX.

Nguyễn Đình Chiểu hiểu thấu tâm trạng uẩn khúc của Trương Định hơn ai hết. Chẳng những hiểu mà ông còn tán thành cách xử lý của Trương Định. Theo quan niệm "ngay chúa" lúc bấy giờ, trước hết là phải chống vua, chống hành động hèn nhát của nhà vua:

      "Giúp đời dốc trọn ơn nam tử,
      Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần".


Hoặc:
      "Gian truân kể xiết bấy nhiêu lần,
      Vì nước đành trao một tấm thân.
      ... Bát cơm ki lữ chi sờn buổi,
      Mảnh áo mông nhung chẳng nệ phần.
      Chí dốc ra tay nâng vạc ngã.
      Trước sau cho trọn chữ quân thân".


Hoặc:
      "... Cuộc trung nghĩa hai năm làm đại tướng, nhọc nhằn vì nước, nào hờn tiếng thị, tiếng phi;
      Cõi An Hà1 một chức chịu lãnh binh, lây lất theo thời, chưa chắc đâu thành đâu bại".


Hoặc:
      "... Cám nỗi kiến ong ra sức dẹp,
      Quản bao sâu mọt chịu lời nhăng".


Trong mấy bài thơ điếu Phan Tòng, người anh hùng chống Pháp tử trận ở  Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu càng đề cao Phan Tòng bao nhiêu, thì ông càng nói cay, nói đắng triều đình bấy nhiêu. Ông vô cùng thương tiếc người anh hùng trẻ tuổi họ Phan; nhưng trước cái chết của họ Phan Nguyễn Đình Chiểu cho là "phận cũng may", vì theo ông Phan Tòng không chết giữa trận mạc thì sớm muộn ông cũng không tránh được "viên đạn nghịch thần" của triều đình đã "treo trước mắt" rồi đó. Và đó cũng là số phận chung của các bậc anh hùng thà thác chẳng đầu Tây thời Tự Đức. Khóc trước cái chết của Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu trong một bài thơ cũng nói lên cái ý ấy. Nhưng ở đây, ông đã đả kích thẳng tay bọn bán nước ở triều đình, ông cho thái độ đối xử của chúng đối với những người anh hùng, những người chính nghĩa, khác nào thái độ của lũ chó cắn trộm:

      "Thà buổi trường sa da ngựa bọc,
      Khỏi nơi đạo chích tiếng muông rầy".


Trong thời phong kiến, tiếng nói của vua chúa quyết định hết thảy. Vua chúa mà có hành động đầu hàng và cất cao tiếng nói đầu hàng của mình trong quần chúng thì nguy hiểm lắm.

Cho nên muốn cương quyết đánh Tây, không thể không cương quyết vạch mặt bọn vua chúa triều thần, các hạng tai to, mặt lớn có dã tâm bán nước. Trong văn học cận đại, sự lên án triều đình bao hàm ý nghĩa động viên quần chúng cứu nước rất mạnh, rất thống thiết. Trong bài Hịch Trương Định, tiếng nói lên án bọn bán nước càng đanh thép:

      Bớ những người tai mắt!
      Thử xem loài thú cầm,
      Trâu ngựa còn điếc câm,
      Mà biết đền ơn cho nhà chủ.
      Muông gà, loài gáy sủa,
      Còn biết đáp ngãi cho chủ nuôi.
      Huống chi người chân đạp đất, đầu đội trời,
      Ở chi thói sâu dân, mọt nước!


Hoặc:
      Nước có nguồn, cây có gốc,
      Huống người sinh có da có tóc.
      Mà sao không biết chúa, biết cha?
      Huống người sinh có nóc, có gia
      Mà sao không biết trung, biết hiếu?

___________________________________
1. Tức An Giang và Hà Tiên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 10:22:08 PM

Câu hỏi 29: Nghị lực và tinh thần tận tụy hy sinh vì nước, vì dân của Trương Định được thể hiện trong văn thơ yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX như thế nào?
Trả lời:


Đọc thơ văn viết về Trương Định chẳng những chúng ta thấy rất rõ những chiến công đánh giặc Pháp lẫy lừng của ông: "Trong Nam tên họ nổi như cồn, Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn. Dấu đạn hãy rêm tàu bạch quỷ, Hơi gươm thêm rạng thẻ hoàng môn", "... Rạch Lá, Gò Công mấy trận, người thấy đã kinh; cửa Khâu, Trại Cá khắp nơi ai nghe cũng hãi" mà chúng ta còn thấy một cách đầy đủ tinh thần hy sinh tận tụy vì nước, vì dân của Trương Đinh. Thắng không kiêu, bại không nản, Trương Định tỏ ra có đầy đủ đức tính của một tướng lĩnh, chỉ huy cuộc kháng chiến của nhân dân. Ông là một người có nghị lực đặc biệt.

Chính sử gia của thực dân Pháp (Vi-an) cũng phải nhìn nhận như vậy: "Nhà đại lãnh tụ của quân khởi nghĩa là Trương Định có đủ sự mềm dẻo và táo bạo cần thiết để đóng vai trò phức tạp của mình, ông tỏ rõ rằng ông càng hoạt động hơn trước nữa, hoạt động không biết mỏi và sau khi Gò Công thất thủ, dường như ông ta lại càng có ảnh hưởng to hơn”.

Đuy Hay-i cũng viết:

"Trong 18 tháng trường, người du kích không biết mỏi ấy mà ta có thể gọi là Ap-en Ca-đe của Việt Nam bị truy nã từ chỗ này đến chỗ nọ trong rừng sâu, trong vũng lầy không thể đi đến được; người du kích ấy đã phá các cuộc truy nã của chúng ta với cả một nghị lực bền bỉ mà ta phải thừa nhận, dù người ấy là kẻ địch của ta”.

Để làm nổi bật tinh thần anh dũng tuyệt vời, tinh thần tận tụy vì dân, vì nước của Trương Định và nghĩa quân, Nguyễn Đình Chiểu trong bài Văn tế của ông đã cho chúng ta thấy lực lượng so sánh giữa phía quân đội xâm lược Pháp và phía Trương Định chênh lệch nhau như thế nào:

      "Há chẳng thấy:
      Sức giặc Lang Sa, nhiều phương quỷ quái.
      Giăng dưới nước tàu đồng, tàu sắt, súng nổ quá bắp rang;
      Kéo trên bờ ma-ni, mã tà, đạn bắn như mưa vãi.
      Dầu những đại đồn thuở trước, cũng khó toan đè trứng ngàn cân;
      Huống chi cô lũy ngày nay, đâu dám chắc treo mành một dải".


Như chúng ta đều rõ, "đại đồn thuở trước" mà Nguyễn Đình Chiểu nhắc ở đây là cái đồn lớn nhất của Việt Nam trong thời đại phong kiến, án ngữ phía tây nam thành Gia Định, do danh tướng Nguyễn Tri Phương đóng giữ, 1861, giặc Pháp tấn công đại đồn, mặc dù phải trả một cái giá rất đắt (bị chết và bị thương trên 300, đại tá Tếc-ta tử trận, đại tá Cơ-su-ra bị thương), cuối cùng giặc vẫn chiếm được, sau khi Nguyễn Tri Phương bị trọng thương. Trước sức mạnh về vũ khí của địch, đại đồn khác nào một quả trứng bị đè bởi sức nặng nghìn cân, huống chi là "cô lũy ngày nay", "núi đất nửa năm ngăn giặc" của Trương Định.

      "Nhưng vậy mà:
      Vì nước tấm thân đã nấy còn mất cũng cam;
      Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại”.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 10:23:44 PM

Nguyễn Đình Chiểu giới thiệu cho chúng ta thấy một Trương Định vô cùng dũng cảm, khi còn ở dưới quyền của tổng trấn Nguyễn Tri Phương, lúc nào ra trận ông cũng không buông vũ khí, vẫn tiếp tục đắp lũy đồn binh, đánh giặc một cách cương quyết:

      "Lối đánh giặc tới, theo quan Tổng đốc, trường thi mô súng, trọn mấy năm ra sức tranh tiền;
      Lúc cuộc tan rồi, về huyện Tân Hòa, đắp lũy đồn binh, giữ một gốc bày lòng địch khái".


Tin ở chánh nghĩa, tin ở sức mạnh của đông đảo nghĩa quân, Trương Định đã biến "núi đất" ra "thành đồng lũy sắt", "giáo tre" thành "ngựa giáp xe nhung":

      "Núi đất nửa năm ngăn giặc, nào thành đồng lũy sắt các nơi;
      Giáo tre nghìn dặm đánh Tây, nào ngựa giáp xe nhung mấy cái".


Trong tập Kỳ xuyên văn sao, nhà văn Nguyễn Thông khi viết về Hồ Huân Nghiệp có đoạn ghi rõ: "Khi Trương Định đóng ở Tân Hòa hỏi các nhân sĩ để định kế hoạch, Huân Nghiệp đến gặp Định. Lúc trở về, ghé qua nhà người em tôi tên là Hài, Hài hỏi: "Trương Định xướng nghĩa, hào kiệt kéo nhau đến đông như mây, không biết có thành công được không?” Huân Nghiệp trả lời: Kẻ làm việc nghĩa, không kể thành bại”.

Nhận xét của Hồ Huân Nghiệp về Trương Định, qua sự ghi chép của Nguyễn Thông hoàn toàn phù hợp với sự đánh giá của Nguyễn Đình Chiểu trong nhiều bài thơ và văn tế của ông làm ra để tang điếu Trương Định. Cũng cần nói thêm rằng: tư tưởng quyết hy sinh vì đại nghĩa của Trương Định đã ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Huân Nghiệp sau này. Người con hiếu thảo nổi tiếng Hồ Huân Nghiệp, mặc dù tấm lòng vẫn luôn luôn áy náy vì không có ai phụng dưỡng mẹ già, vẫn sẵn sàng theo lời kêu gọi của Trương Định, tham gia hàng ngũ nghĩa quân đứng lên cứu nước. Và với thế ung dung, người anh hùng trẻ tuổi ấy trước giờ lên đoạn đầu đài vẫn ứng khẩu làm thơ nói lên ý chí của mình thật đáng khâm phục và cảm động xiết bao:

      "Thấy nghĩa lòng đâu dám hững hờ
      Làm trai ngay thảo quyết tôn thờ.
      Thân này sống chết không màng nhắc
      Thương bấy mẹ già, tóc bạc phơ".

                                      (Bảo Định Giang dịch)

Lòng kiên trinh với Tổ quốc giúp cho Trương Định chẳng những không sợ sức mạnh về vũ khí của đế quốc, mà còn khiến ông làm tất cả những gì cần làm để đánh bại đế quốc xâm lược. Triều đình đã ký hòa ước nhận chia cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho giặc, chẳng những Trương Định không nghe theo thì chớ, trái lại ông còn làm giả giấy tờ của triều đình, mật gửi hiệu triệu nhân dân chiến đấu:

      "Mực sớ lãnh binh lờ mắt giặc,
      Son bằng ứng nghĩa thắm lòng dân.
      Giúp đời dốc trọn ơn nam tử,
      Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần".


Việc đó chẳng những cắt nghĩa lòng trung thành vô hạn của Trương Định đối với Tổ quốc, mà còn cắt nghĩa sách lược sáng suốt của ông. Ông thấy cuộc chiến đấu chống xâm lược Pháp không thể không có ngọn cờ hiệu triệu. Mặc dù ngọn cờ đó đối với ông đã rách nát, dơ bẩn lắm rồi. Nhưng, cái gì cũng phải có danh nghĩa. Triết lý đạo nho đã dạy ông: "Không có danh nghĩa thì nói ra không thuận". Dùng danh nghĩa nhà vua để hiệu triệu dân đánh giặc, đối với ông là việc hoàn toàn bất đắc dĩ, nhưng cần thiết trong một tình thế nhất định. Đó là ngọn cờ mà ông mượn tạm. Thực chất của cuộc kháng chiến cứu nước đối với ông không phải ở  đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười Một, 2016, 10:24:57 PM

Nguyễn Đình Chiểu đã nói rất nhiều về tinh thần tự lực, về sự mưu toan ráo riết của Trương Định trong suốt quá trình đánh giặc. Nói về căn cứ chống Pháp của Trương Đinh, Nguyễn Đình Chiểu thường cho Gò Công không phải là nơi "đất hiểm". Nơi đó chẳng qua là "một gò cô lũy", một góc đất nhỏ hẹp mà thôi. Nguyễn Đình Chiểu viết ra sự thật hiển nhiên này cốt để làm nổi bật tinh thần yêu non sông, đất nước của người bạn chiến đấu của mình. Và điều đó rất chính xác: Gò Công chẳng qua là một cánh đồng bằng nhỏ, không có núi rừng, khả dĩ giúp cho Trương Định dựa vào thế thiên nhiên để chống giặc được:

      "Dẫu biết dùng binh nhờ đất hiểm,
      Chẳng đành xa bỏ cõi Gò Công".
      "... Trăm đám mộ binh vầy lớn nhỏ,
      Một gò cô lũy chống hôm mai".


Những năm kháng chiến của Trương Định là những năm cực kỳ căng thẳng. Qua các hoạt động của ông, chúng ta thấy ông lo toan nhiều việc:

      "Nào nhọc sức hộ tào biên sổ, lương tiền nhà ruộng, cho một câu háo nghĩa lạc quyên;
      Nào nhọc quan võ khố bình câu, thuốc đạn ghe buôn, quyền bốn chữ gian thương đạo tải".


Qua Nguvễn Đình Chiểu, chẳng những chúng ta thấy Trương Định ra sức tổ chức bộ máy chiến đấu của mình, làm sao cho có lương thực, súng đạn đánh Tây, mà ông còn cho chúng ta thấy sự quan tâm của Trương Định trên nhiều mặt. Tầm mắt nhìn, ý nghĩ, sự lo lắng của Trương Định không phải chỉ bó hẹp trong một địa phương Gò Công mà còn rộng ra khắp các nơi ở Nam Kỳ lục tỉnh trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, nhất là ở ba tỉnh phía đông, phần đất đã bị mất vào tay của địch:

      "Phân bua trời đất cho biết lòng,
      Công việc đâu đâu cũng muốn xong.
      Cảm nỗi nhà nghiêng lăm chống cột,
      Nài bao bóng xế luống day đồng.
      Đồng Nai, chợ Mỹ lo nhiều phía,
      Bến Nghé, Sài Gòn kể mấy đông".


Một người có chí lớn, tài cao như Trương Định mà chẳng may gặp hoàn cảnh bất lợi. Sự đầu hàng của vua chúa, việc đánh giặc không kiên quyết của các tướng lĩnh triều đình lúc đầu, là những tổn thất to lớn không gì bù đắp nổi. Tiếc cho Trương Định, Nguyễn Thông đã đánh giá rất đúng về người anh hùng đầy mưu lược đó:

"Phan Văn Đạt xướng nghĩa đầu tiên, thân chịu chết để giữ trọn điều nhân. Trương Định bị thua chạy trốn, thu thập tàn quân, chiếm cứ Tân Hòa, bỏ mình vì nghĩa. Ví như khi Gia Định chưa mất, được cầm quyền bính, nhờ quốc oai và địa thế thì mưu lược xếp đặt há chỉ làm có thế mà thôi đâu".

Trong bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc, khi đề cập giai đoạn lịch sử này, đồng chí phạm Văn Đồng có rút ra một kết luận vừa chuẩn xác vừa cảm động: "Hồi tưởng cuộc chiến đấu anh dũng vô cùng của dân tộc Việt Nam ta ở Nam Bộ lúc bấy giờ, ruột gan của chúng ta đau như cắt xé. Giá như triều đình lúc bấy giờ không phải ở trong tay bọn vua chúa nhà Nguyễn phản bội và đầu hàng mà trong tay những người kế tục sự nghiệp yêu nước và anh dũng của Nguyễn Huệ, thì phong trào kháng Pháp lúc bấy giờ ở Nam Bộ chắc còn mạnh mẽ hơn nhiều, nhất là được lãnh đạo thống nhất và kiên trì đấu tranh cho đến thắng lợi, đồng thời phong trào ấy chắc được sự ủng hộ kiên quyết của cả nước, như vậy đất Đồng Nai anh dũng từ đó trở nên bức thành đồng ngăn chặn bọn cướp nước phương Tây xâm phạm đất nước chúng ta ở Nam Bộ và do đó, đã bảo vệ vẹn toàn độc lập và thống nhất của Tổ quốc".

Cái tiếc của nhà văn Nguyễn Thông ngày trước và cái tiếc của đồng chí Phạm Văn Đồng ngày nay là cái tiếc của mọi chúng ta khi giở lại những trang lịch sử hùng tráng, bi thương thế kỷ trước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 10:54:18 PM

Câu hỏi 30: Văn thơ yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX ca ngợi tinh thần chiến đấu và tiếc thương sự hy sinh anh dũng của Trương Định như thế nào?
Trả lời:


Đang lúc Trương Định chuẩn bị tấn công nhằm lấy lại Tân Hòa thì Đội Tấn lén dẫn giặc về bí mật bao vây Trương Định ở  làng Tân Phước. Rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864, trong cuộc chiến đấu cuối cùng, chẳng may Trương Định bị trúng đạn gãy xương sống. Không để bị giặc bắt, ông đã tự sát.

Tin Trương Định hy sinh bay đến nhân dân và nghĩa quân giữa lúc cuộc kháng chiến cứu nước ở  Nam Kỳ rất cần người đủ tinh thần, mưu lược như ông để chỉ đạo cuộc đấu tranh. Mất một người như Trương Định lúc này là một mất mát lớn đối với nghĩa quân và quần chúng yêu nước ở Nam Kỳ. Nguvễn Đình Chiểu chẳng những xót xa về sự mất mát của chính bản thân mình "Lục lâm mấy chặng hoa sầu bạn, Thủy Hử vì đâu nhạn rẽ bầy" mà ông còn đứng về phía nghĩa binh, quần chúng yêu nước khóc người lãnh tụ đáng yêu, đáng kính của họ:

      "Gò Công binh giáp hãy chàng ràng,
      Ngó Bắc trông Nam luống thở than.
      Trên trại đồn điền hoa khóc chủ,
      Dưới vàm Bao Ngược sóng kêu quan.
      Mây giăng Truông Cốc đường quân vắng,
      Trăng xế Gò Rùa tiếng đẩu tan.
      Mấy dặm non sông đều xửng vửng,
      Nạn dân ách nước để ai toan?”.


Hoặc:
      "Tướng quân còn đó, các nơi đạo tặc thảy kiêng dè;
      Tướng quân mất rồi, mấy chỗ nghĩa binh thêm bái xái".


Nguyễn Đình Chiểu cho ta thấy sự liên hệ giữa nghĩa quân với tướng lĩnh của họ - Trương Định - mật thiết biết bao, gắn bó biết bao. Nghĩa binh càng đau lòng vì mất chủ soái bao nhiêu thì họ càng căm giận tên Việt gian bán nước đã dẫn Tây về ám hại Trương Định bấy nhiêu:

      "Chạnh lòng quân sĩ, thương quan tướng nhắc quan tướng, chiu chít như gà;
      Bực trí nhân dân, giận thằng tà, mắng thằng tà, om sòm như nhái".


Nguyễn Đình Chiểu vẫn mơ tưởng vị tướng quân anh dũng ấy và nhà thơ yêu nước vĩ đại của chúng ta lúc nào cũng tiếc ngẩn, tiếc ngơ người bạn đồng tâm, đồng chí của mình. Sự hy sinh đó đến giữa lúc quần chúng yêu nước đang sôi sục, muốn đánh Tây. Trước cái chết bất ngờ của Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu cho là một sự bất lợi lớn. Nhà thơ ví giặc như đám cỏ được rưới thêm mưa, còn nghĩa quân của ta như sương đang hồi bị nắng:

      "... Giặc cỏ om sòm mưa lại nhóm,
      Binh sương lác đác nắng liền thâu.
      Cờ lau đà xếp trên giồng Cốc
      Trống sấm còn gầm dưới cửa Khâu.
      Cảnh ấy những mơ người ấy lại,
      Hội nầy nào thấy tướng quân đâu?".


Nguyễn Đình Chiểu khóc thương Trương Định, yêu người anh hùng, nhớ tiếc người anh hùng thật không có gì an ủi nổi:

      "Ôi!
      Trời Bến Nghé, mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp bước gian truân;
      Đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng trung ái".


Hoặc:
      "Ôi!
      Làm ra cớ ấy, tạo hóa ghét nhau chi;
      Nhắc đến đoạn nào, anh hùng rơi lụy mãi".



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 10:56:20 PM

Sau cuộc khởi nghĩa 1866, ở kinh thành Huế, toan lật đổ chính quyền Tự Đức bị thất bại, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Đoàn Hữu Trưng ngồi trong nhà tù viết lại các biến cố ở kinh thành, không quên nhắc Trương Định với cả một tấm lòng kính trọng và thương tiếc. Cũng như Nguyễn Đình Chiểu và những sĩ phu văn thân có cách nhìn đúng đắn khác, Đoàn Hữu Trưng trong Trung nghĩa ca đã lên án Tự Đức bỏ rơi nghĩa quân và kết quả lại là Trương Định bị tử trận:

      "... Tiếc thay nghiệp củ gian nan
      Ba thành bằng mất ai hoàn lại cho.
      Đua chen Hoa lộn với Hồ
      Mùi tanh nhuộm khắp một bầu giang san.
      Quảng Nam Trương Định một chàng
      Ra cờ trung nghĩa dẹp loàn mấy năm.
      Tướng hùm quân sói chi lăm
      Đánh cho xong giặc mới nằm được an.
      Triều đình sẵn kẻ trí nang
      Giúp đem binh thực đôi hàng hiệp chinh.
      Trong trừ tả đạo cho thanh
      Ngoài cùng Tây tặc tranh hành một phen.
      Lo chi pháo lợi, thuyền kiên
      Đã không nội ứng ắt liền bại vong.
      Tiếc thay cơ hội sẵn dùng
      Nỡ liều Trương Định kế cùng táng quân.
      Còn chi nghĩa sĩ trung thần
      Khiến nên giặc dữ mười phần bằng lăng...”


Trương Định hy sinh trước khi cuộc khởi nghĩa ở kinh thành nổ ra hai năm. Tất nhiên dự tính của Đoàn Hữu Trưng và quân khởi nghĩa không thực hiện được. Nhưng qua bài Trung nghĩa ca chúng ta thấy rất rõ những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa rất tín nhiệm và tin tưởng ở Trương Định. Họ hy vọng rằng Trương Định sẽ phối hợp với họ đắc lực trong công cuộc cát cứ đất Nam Kỳ, dùng Nam Kỳ làm bàn đạp tiến công lật đổ Tự Đức, chiếm lấy "thành vàng".

      "... Tháo lồng Tử Trực ra tay
      Thừa khi đêm tối phò ngay xuống thuyền.
      Canh giăng bến đò Trường Tiền
      Bằng nghe binh biến đè miền vào trong.
      Cậy tay Trương Định giúp công
      Ra cờ chính thống xưng hùng một phương.
      Sau mưu khử ngụy binh tàn
      Phú Xuân quyết lấy thành vàng một giây...".


Càng thương tiếc Trương Định bao nhiêu, Nguyễn Đình Chiểu càng oán trách triều đình, bọn Việt gian bán nước bấy nhiêu. Nhìn đất nước bị chia cắt, nhớ tới ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ còn trong tay giặc, ông càng nguyền rủa bọn đã giúp tay cho giặc không tiếc lời:

      "Sự thế hãy bên Hồ bên Hán, bao giờ về một mối xa thư;
      Phong cương còn nửa Tống nửa Liêu, đâu nỡ hại một trang tướng soái.


Hoặc:
      "Vì ai khiến dưa chia khăn xé, nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồn;
      Biết thuở nào cờ phất, trống rung, hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái”.


Hoặc:
      "Tướng quân đâu hỡi có hay chăng?
      Sáu ải cơ đồ nửa đã ngăn.
      Cám nỗi kiến ong ra sức dẹp,
      Quản bao sâu mọt chịu lời nhăng.
      Đá kêu rêu mọc bia Dương Nghiệp,
      Cỏ úa hoa tàn mả Lý Lăng".



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 10:58:05 PM

Không riêng gì Nguyễn Đình Chiểu, trong những bài vè, những câu ca dao truyền miệng của quần chúng do quần chúng trực tiếp làm ra, chúng ta cũng đánh giá được đầy đủ tinh thần thương yêu sâu sắc của quần chúng đối với Trương Định. Chẳng hạn như:

      "Gò Công anh dũng tuyệt vời
      Ông Trương đám lá tối trời đánh Tây”.


Trong một bài lưu truyền rất rộng rãi trong thời kỳ Nam Kỳ lục tỉnh mất vào tay giặc, chúng ta còn gặp được những tấm lòng yêu nước vô cùng nồng nàn của quần chúng. Họ khuyên răn nhau: đừng có ai theo giặc làm tôi mọi cho Tây. Họ nhắc nhau: hãy nhớ đến gương chiến đấu và hy sinh cao cả của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định ngày xưa. Đó là những bài văn rất quý, chẳng những giúp chúng ta - con cháu đời sau - biết rõ hơn về sự tín nhiệm của quần chúng đối với Trương Định như thế nào, mà còn giúp chúng ta biết rõ hơn về tinh thần, luân lý đạo đức của ông cha ta đối với đất nước trong những ngày đen tối nữa.

      "Làm người ai chẳng tham sanh
      Lòng địch khái xin cho rõ tiết.
      Đêm năm canh thương người chính liệt
      Ngày sáu khắc nhớ kẻ trung thần.
      Chốn biên thùy lãnh ấn tổng binh
      Cờ đề chữ: "Bình Tây đại tướng"".


Đào Tấn (1846-1906) người ở Bình Định, đậu cử nhân, làm quan đến chức công bộ thượng thư. Là nhà soạn tuồng nổi tiếng, khi hay tin Trương Định hy sinh ông làm ba bài thơ chữ Hán nhan đề: Tặng Trương Định lãnh binh, Khóc Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, Khóc Trương tướng quân Công Định. Bài thứ nhất có những câu:

       "... Tôi là kẻ học trò thẹn không có tài thao lược,
       Cầm bút làm thơ nêu tỏ lòng trung của ông".


Bài thứ hai:
       “... Đáng tiếc chí lớn dẹp giặc chưa thành.
       Hồn thiêng dưới suối vàng mong giúp nhà xưa".


Bài thứ ba:
      "Hăng hái dẹp giặc Pháp chí chưa thỏa
      Âm dương hai ngã, khiến nước mắt tôi chảy dài.
      Hồn thiêng nên giúp nước Hùng Việt ta,
      Quét sạch lũ giặc mạnh, chém đầu giặc ".

                        (Theo giáo sư Lê Trí Viễn cung cấp cho ông Nguyễn Quảng Tuân).

Ở Gò Công còn truyền lại những bài thơ khuyết danh, xin trích một bài:
      "Bình Tây Đại soái tiếng Trương Công
      Danh tiếng anh hùng dậy núi sông,
      Đám lá tối trời ngăn giặc Pháp
      Gò Công bạch quỷ khiếp oai ông.
      Ba năm kháng chiến gan đường sắt
      Một phút sa cơ chí tựa đồng.   
      Tử tiết trách vào tay lãnh Tấn
      Coi thường cái chết nhẹ như lông".



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 10:59:23 PM
   
Với tên Việt gian đội Tấn mưu hại Trương Định, mà sau đó bọn thực dân Pháp đã cất nhắc lên đến chức Đốc phủ sứ, Học Lạc đã ví tên này như con chó chết trôi sông, khi nhà thơ trào phúng nổi tiếng có dịp chứng kiến đám tang của Tấn đi ngang qua đường phố Sài Gòn:

      "Sống thời bắt thỏ, thỏ kêu rêu
      Thác thả dòng sông xác nổi phều.
      Vằn vện sắc còn phơi lẩn đẩn
      Thúi tha danh hãy nổi lêu bêu.
      Tới lui bịn rịn bầy tôm tép
      Đưa đón lao xao lũ quạ diều.
      Một trận sóng dồi cùng gió dập
      Tan tành xương thịt biết bao nhiêu!''.


Trái lại, đối với Trương Định, người bị Tấn hãm hại người đời vẫn thương tiếc và vẫn đọc mấy câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu như đọc một lời tuyên thệ trước vong linh người anh hùng đã khuất:

      "Làm thinh hổ đứng giữa hai ngôi
      Nếm mật từ đây khó nỗi ngồi.
      Mũi giáo Thi Toàn đừng để sét
      Lưỡi gươm Dự Nhượng phải toan dồi.
      Đánh Kim chi xá thằng Lưu Dự
      Giúp Tống xin phò gã Nhạc Lôi.
      Dâng hộ nước Nam về một mối
      Nghìn năm miếu tặng rạng công tôi”.


Nghĩ về Trương Định, chúng ta càng nhớ đến bản kêu gọi của ông:

“Thật vậy, chúng tôi sẽ lấy lau làm cờ, chặt tầm vông làm binh khí. Nhất định chúng tôi không bao giờ ngừng chiến đấu chống quân cướp nước...

Phát lời kêu gọi này, tôi ngỏ cùng tất cả binh sĩ từ tổng binh đến quản suất, không phân biệt sĩ phu hay binh lính, bất cứ ai dâng được kế hay tiêu diệt quân cướp nước bằng thủy chiến, bằng lục chiến, hoặc chiến đấu bằng xe, bằng ngựa, bằng trâu, phát kiến được cách diệt tàu thủy, chiếm đồn địch, hoặc tìm được căn cứ địa kháng chiến tốt, bảo toàn được quân đội, đem lại được kết quả tốt sẽ ban thưởng...”.


Chính trên mảnh đất mà Trương Định đã từng đổ máu và từng viết ra lời kêu gọi đanh thép ấy, nhân dân yêu nước miền Nam đã dâng lên Tổ quốc biết bao chiến công rực rỡ, những chiến công đã làm cho thực dân Pháp, sau này là đế quốc Mỹ xâm lược phải đau đầu, nhân dân cả nước phấn khởi, bầu bạn năm châu, bốn biển nức lòng.

Ngày nay, đất nước được độc lập, thống nhất, giấc mơ chưa thực hiện được của lớp lớp tiền nhân khiến chúng ta khi đọc lại những câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu điếu Trương Định càng thắm thiết biết bao ý nghĩa về một con người không một bước lùi, không một phút ngừng hoạt động vì hạnh phúc của nhân dân:

      "Cảnh ấy những mơ người ấy lại
      Hội nầy nào thấy tướng quân đâu!".



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 11:04:25 PM

Câu hỏi 31: Giá trị của "Hịch Trương Định " và "'Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây" được thể hiện như thế nào?
Trả lời:


Một thế kỷ đầy nước mắt và lòng nóng bỏng căm thù vì nạn mất nước, tan nhà đã qua, giờ đây đọc lại các áng văn của ông cha ta viết ra trong những ngày nước sôi lửa bỏng, ta vẫn thấy nhói trong lòng, vẫn thấy trong tim có một ngọn lửa đang cháy.

Cao trào chống xâm lược và bán nước đã mọc lên giữa lòng thế kỷ những đỉnh cao của văn học, làm giàu có thêm gia tài tinh thần của nhân dân ta, làm rạng rỡ bộ mặt của dân tộc ta. Đó là nét đặc trưng biểu hiện nổi cộm nhất của nửa sau thế kỷ XIX, khiến chúng ta giờ đây - thế kỷ sau - vẫn còn thấy choáng ngợp khi mỗi lần ngửa mặt nhìn lên tòa lâu đài đồ sộ, nguy nga ấy.

Là một vùng đất mới, nếu chẳng có nền văn hiến lâu đời được trang bị sẵn từ buổi đầu cuộc hành trình vào khai sơn, phá thạch ở vùng cực Nam Tổ quốc thì dễ gì có được một kiến trúc thượng tầng làm sáng danh cả một thế hệ, trong đó có những tên tuổi như ta biết qua trường gươm và trận bút đã tạo ra những chiến công và những tác phẩm bất hủ.

Trở lại hai bài hịch vừa nêu, chúng ta nhận thấy rằng: những áng văn mang tính bức xúc về chính trị, quan hệ tới vận mệnh của đất nước, sản sinh trong một thời kỳ lịch sử nhất định, phần nhiều là nhũng áng văn làm chấn động lòng người, ở một cây bút mà tầm suy nghĩ, tình cảm ngang (hoặc vượt) với người đứng ra hiệu triệu và có tài lớn thì giá trị của những lời hiệu triệu và sức đẩy của nó trong quần chúng là vô cùng to lớn, hiệu quả tích cực do nó mang lại là không sao lường trước được.

Hịch Trương Định là lời hiệu triệu của một tướng lĩnh cầm quân ở một địa phương, do nhân dân đề cử, không có danh nghĩa toàn quốc và trên thực tế không được triều đình chấp nhận, nhưng tính năng và hiệu lực của bài văn đã vượt ra khỏi phạm vi địa giới và vượt lên khỏi tầm cỡ của một tướng lĩnh dù là một tướng lĩnh có tài và uy tín mỗi ngày một tăng; trở thành nguồn hy vọng của nhân dân và sĩ phu yêu nước, trước hết là ở Nam Kỳ.

Xét về mặt đạo lý làm người, về trách nhiệm công dân trong một nước đang gặp hồi biến cố mà các bài văn đã khắc sâu, in đậm làm rung động tận tâm khảm mọi người thì tầm vóc của nó to lớn biết là dường nào. Chính người khai sinh ra nó cũng khó biết trước được sức sống mãnh liệt của một bài văn trong không gian rộng rãi và bất hủ với thời gian.

Nội dung chủ yếu của hai bài hịch là: nói bao quát về tội ác của quân xâm lược, phần này chiếm không nhiều, phần chính, bao trùm là động viên tinh thần khảng khái, tích cực của nhân dân, hướng nhân dân về với cội nguồn, với truyền thống vẻ vang của dân tộc, không "tham đồng bạc con cò" mà quay lưng lại Tổ quốc, quên cơ nghiệp do nhiều thế hệ nối nhau bỏ công xây dựng.

Từ đầu đến cuối hai bài hịch không thấy nói đến cuộc đọ sức bằng súng gươm, mặt đối mặt với quân thù trên chiến trường mà cái lõi là huy động sức mạnh tinh thần, là chống tư tưởng đầu hàng thỏa hiệp, là bảo vệ phẩm giá con người, thà chết chứ không chịu nhục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 11:06:43 PM

Mở đầu bài Hịch Trương Định, tác giả viết:

      "Nước có nguồn, cây có gốc,
      Huống người sinh có da có tóc,
      Mà sao không biết chúa biết cha?
      Huống người sinh có nóc có gia
      Mà sao không biết trung biết hiếu?
      Hai vai nặng trĩu, gánh chi bằng gánh cang thường!
      Tấc dạ trung lương, gồng chi bằng gồng xã tắc!".


Mở đầu bài Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, tác giả nhấn mạnh về tính vững bền của dân tộc và kỷ cương của đất nước:

      "Nước Nam ta là một mối Xuân Thu;
      Giặc Tây thật ba loài di địch.
      Chúng nó toan lòng bội nghịch;
      Dân ta gặp thủa ly loàn".


Trước tình hình giặc Pháp dựa vào vũ khí lấn tới cướp đất đai của ta, ép uổng triều đình cắt chia ba tỉnh ra khỏi Tổ quốc, tác giả cho rằng đó chẳng qua cái thế mạnh tạm thời, rút cục nước ta sẽ độc lập, giang sơn sẽ về một mối. Sử dụng sự tích cũ, đoạn văn viết rất hùng hồn, chắc nịch.

      "Chẳng nhớ thuở Hung Nô chống Hán, tướng mạnh như hùm, binh đông như cỏ, cướp ải lang giành ải hổ, vãn tuồng rồi Nô cũng về Nô;
      Há chẳng nghe Đột Khuyết đánh Đường, xe đi chật đất, ngựa tế chật đồng, phá trấn bắc, đốt trấn đông, rã đám hết Đột thời ra Đột.
      Xa thư Hán hãy còn tóm một:
      Phong cương Đường đà mầy chia hai".

                                     (Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây)

Từ một sự tích, tác giả vận dụng lối diễn đạt của quần chúng thật là tuyệt: "Nô cũng về Nô”, "Đột thời ra Đột”, để nói về số phận sau cùng của quân xâm lược. Lối nói, lối viết này người Nam Bộ rất thích.

Tác giả cho rằng "tuy cậy có tàu đồng ống khói, súng thép đạn chì" nhưng chúng là người ở xa đến, không hiểu gì về ta, lại ăn khác ta, đánh với ta chúng bị hao binh, tổn tướng, chứ không phải dễ dàng gì. Để trấn an dân chúng, tác giả cho thấy trước việc đánh nhau với "mọi lớn" thì phải có hơn, thua, không có gì là lạ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 11:08:38 PM

Đề cập tình hình ba tỉnh bị chia cắt, Sài Gòn đã về tay giặc và Gò Công thất thủ, bằng đoạn văn vô cùng thống thiết, tác giả kêu gọi nhân dân giữ vững tinh thần, không vì tiền bạc mà ra đầu giặc, trở mặt hại nhau; phải nhớ ơn thủy thổ và không để lỗi đạo thần dân; "phải che đậy nhau" và nương nhau ăn ở, đừng lầm tin giặc.

Đoạn văn chẳng những làm nổi rõ tình hình thực tiễn đang diễn ra trên một phần đất ở Nam Kỳ mà còn làm nổi rõ sự hèn yếu của vua quan triều Nguyễn và mưu ma, chước quỷ của thực dân xâm lược Pháp. Cuộc "gặp" nhau giữa chúng đã tạo ra cuộc sống không bình thường trên đất nước ta, làm xáo trộn những giá trị tinh thần mà nhiều thế hệ đã dày công xây đắp.

      "Chớ thấy chín trùng hòa nghị mà tấm lòng địch khái nỡ vội quên;
      Chớ rằng ba tỉnh trọn vong mà cái việc báo cừu đành ngơ bỏ.
      Chớ thấy đồn bảo dưới Gò Công thất thủ mà đành lòng theo mọi.
      ... Oán dường ấy, hờn dường ấy, cừu thù dường ấy, làm sao trả đặng mới hay;
      Công bấy lảu, nghiệp bấy lâu, lao khổ bấy lâu, nghĩ lại bỏ đi sao phải”.

                                               (Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây)

Những đoạn văn đầy tâm huyết như thế này không phải cây bút nào hễ cứ bóp trán là khắc viết được, cũng không đợi mất nhiều thì giờ nắn nót, gọt dũa mà có được. Phải có lửa cháy hừng hực trong lòng và lệ nhỏ thấm khăn, tác giả mới tạo ra được những dòng bi tráng, khiến bây giờ - trên một trăm năm - ta đọc lên vẫn thấy thấm thía và miên man suy nghĩ về những tháng năm sống cay đắng mà oanh liệt của ông cha.

Cũng với tấm lòng và tình cảm bức xúc ấy, tác giả đã mở đường cho những người bị cám dỗ đi lạc hướng trở về với mồ mả ông cha, biết xót xa trước những gì đã mất và biết phải làm gì để lấy lại:

      "Lẽ cho phải trải gan trung, bồi nghĩa mật,
      Mà đền thuở trong bụng mẹ mười tháng mới sinh ra;
      Lẽ cho phải vợ khiến chồng, con lại giúc cha,
      Mà đền thuở ở đất vua, nắm rau mớ ốc.
      Thậm tiếc những người làm quan mà ăn lộc,
      Nỡ đem lòng mại quốc cầu vinh;
      Tiếc những tay tham lợi an mình,
      Mà lại khiến vong ân, bội tổ
      Tai sao chẳng nghe, mắt sao chẳng rõ!
      Tổ tiên đâu, mồ mả nước nào?
      Lòng sao không xót, dạ sao không bào?
      Bờ cõi loạn, muôn dân đồ thán...''.

                                            (Hịch Trương Định)

Yêu cầu cao nhất đối với nhân dân, được tác giả nêu trong bài hịch là "lòng địch khái xin cho rõ tiết". Với danh nghĩa là người đứng ra hiệu triệu (ở đây là Trương Định) ông đinh ninh sẽ giúp vua trở thành vua tốt như Nghiêu, Thuấn, còn mình thì nguyện giữ phận làm bề tôi trung thành với nền xã tắc đó. Để bớt sự dòm ngó với những cặp mắt không chút cảm tình của triều đình và để tránh hiểu lầm, những câu cầu nhà vua trong hai bài hịch không thể không có. Có mới thuận.

Nội dung tư tưởng của hai bài hịch được tóm gọn trong câu ở bài Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây:

      "Hễ làm người chớ ở hai lòng;
      Đã vì nước phải theo một phía".


Câu ấy chẳng những có giá trị giáo dục những kẻ vô liêm sỉ, đánh một đòn mạnh vào bọn mất gốc làm chúng tỉnh ra theo yêu cầu của thời cuộc mà nó còn giá trị lâu bền đối với dân tộc trước những khúc quanh của lịch sử. Thực tiễn bất hạnh của đất nước diễn ra nửa sau thế kỷ XIX là cả một sự thử thách ghê gớm. Từ sự thử thách này xuất hiện những anh hùng bất tử. Và đi đối với hiện tượng đó là sự nảy sinh những tư tưởng đẹp, tình cảm đẹp biểu hiện qua thơ văn. Những tư tưởng, tình cảm đẹp ấy được tích lũy lâu đời, trở thành cuộc sống của nhân dân ta, tiềm tàng trong từng con người, có dịp là trỗi dậy.

Cả hai bài hịch là những áng văn lớn cả về tư tưởng và nghệ thuật. Ngôn ngữ của quần chúng, qua tay sàng lọc của người cầm bút, đã nâng những áng văn lên đỉnh cao của thế kỷ và có những mặt vượt hẳn những thế kỷ trước từ nội dung đến hình thức. Ở Nam Bộ, thời kỳ này giữa văn chương bác học và bình dân không có khoảng cách. Quá trình gần gũi, tiếp xúc của các sĩ phu với quần chúng đẩy nhanh sự tiến bộ, gần như đột xuất ấy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười Một, 2016, 11:09:21 PM

Nhưng những bài hịch nói trên rất có thể là của Nguyễn Đình Chiểu, bởi vì:

Một là, dù có làm tham mưu cho Trương Định, như nhiều bài đã viết hay không, người hiểu Trương Định, không ai hơn Nguyễn Đình Chiểu - kể cả Nguyễn Thông, người viết tiểu sử Trương Định. Mười hai bài thơ liên hoàn và bài Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu nói lên nhiều điều. Ngoài tình cảm cao quý của tác giả dành cho người anh hùng đã hy sinh, các bài văn trên còn toát ra sự gắn bó này, thì ngoài Nguyễn Đình Chiểu khó mà viết được mọi khía cạnh như ta đã thấy trên các bài thơ và bài văn khóc Trương Định của ông.

Việc nông dân Gò Công cản đầu ngựa Trương Định phong ông làm soái xảy ra đột ngột, đòi hỏi sau khi nhận chức, lập tức phải có ngay lời hiệu triệu. Ai đáp ứng được sự đòi hỏi mang tính khẩn trương này, nếu không phải là Nguyễn Đình Chiểu, người hội đủ mọi điều kiện để hoàn thành một bài văn chặt chẽ về chính trị, có tính văn học cao ấy. Trương Định bên này sông, Nguyễn Đình Chiểu bên kia sông, sông dù rộng, nhưng liên lạc với nhau chẳng khó khăn gì, nhất là Bến Tre hãy còn là vùng tự do. Với tấm lòng dào dạt yêu quê hương, sát vai cùng nhau làm việc lớn, lẽ nào ông không chấp nhận.

Hai là, tư tưởng và tình cảm thể hiện trong hai bài hịch rất phù hợp với tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu, qua hàng loạt thơ văn của ông.

Ba là, văn phong, ngôn ngữ sử dụng trong hai bài hịch rất gần - nếu không nói là rất giống văn phong, ngôn ngữ của Nguyễn Đình Chiểu. Hơn ai hết lúc bấy giờ, Nguyễn Đình Chiểu thường sử dụng thể phú và hầu hết những bài ông viết ra đều hay.

Dựa vào sự tìm hiểu lâu ngày, chúng ta có thể nhận định: Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của hai bài nói trên. Một bài mang danh nghĩa Trương Định, còn bài kia là lời kêu gọi không mang tên tác giả. Bài sau ra tiếp bài trước, bổ sung những điều bài trước chưa nói hoặc do tình hình chính trị phức tạp không nói được hết. Bài trước (hịch) chẳng những không đề cập sự đầu hàng của vua mà còn thác cớ vua sai, giương ngọn cờ chống Pháp:

      "Chiếu phụng dù ta lãnh đặng,
      Mũi thiên oai thương kẻ sanh linh".


Còn bài sau thì:
      "Chớ thấy chín trùng hòa nghị mà tấm lòng địch khái nỡ vội quên;
      Chớ rằng ba tỉnh trọn vong mà cái việc báo cừu đành ngơ bỏ”.


Đều là những áng văn bi tráng, nhưng bài sau lâm ly hơn, dễ gây xúc động hơn về tình hình "Bến Nghé phân cưu", "Gò Công thất thủ" đang làm xao xuyến lòng người.

Có thể một bài hịch, một bài không phải là hịch mà chỉ là lời kêu gọi. Nhưng hịch hay không phải hịch, không thành vấn đề quan trọng mà là bài có hay hay không? có sức động viên, cổ vũ quần chúng hăng hái đi vào cuộc chiến đấu quyết liệt hay không? Về phương diện này, các bài văn nói trên quả có sức nặng giục giã mọi người đi lên trong cuộc chạm trán không cân sức với quân thù. Hơn nữa, do những yếu tố tinh thần và đạo lý làm người được đặt lên hàng đầu, quán xuyến từ đầu tới cuối, các bài văn mang tính hiệu triệu, ra từ một thời điểm, trở thành các bài văn bất hủ bởi tính thuyết phục cao, bởi giá trị lịch sử, giá trị văn học và giá trị tinh thần của chúng.

Là một nhà thơ lớn, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nguyễn Đình Chiểu với thủ lĩnh nghĩa quân - Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, là sự hợp tác tuyệt đẹp giữa hai nhân vật, hai bậc anh hùng, gươm, bút đều xung trận, chẳng những tạo nên những chiến công vang dội mà còn - trong một bước ngoặt lịch sử - tạo nên những áng văn bất hủ để lại cho đời sau.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 09:39:33 PM

II. NHỮNG BÀI THƠ, VĂN VÀ HỊCH VIẾT VỀ TRƯƠNG ĐỊNH CÙNG NGHĨA QUÂN

ĐIẾU TRƯƠNG ĐỊNH1

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU2

I
Trong Nam tên họ nổi như cồn,
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn
Dấu đạn hãy rêm tàu bạch quỷ3,
Hơi gươm thêm rạng thẻ hoàng môn4.
Ngọn cờ ứng nghĩa5 trời chưa bẻ,
Cái ấn bình Tây6 đất vội chôn.
Nỡ khiến anh hùng rơi hạt lệ,
Lâm dâm ba chữ điếu linh hồn.


II
Linh hồn nay đã tách theo thần,
Sáu tỉnh7 còn roi dấu8 tướng quân.
Mực sớ9 lãnh binh lờ10 mắt giặc,
Son bằng11 ứng nghĩa thắm lòng dân.
Giúp đời dốc trọn ơn nam tử,
Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần12.
Ốc ngỡ13 tướng tinh rày trổ mặt,
Giúp xong nhà nước buổi gian truân14.

__________________________________
1. Bảo Định Giang, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quảng Tuân, Gương sáng ngàn đời, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 205-209.
2. Nguyễn Đình Chiểu (1832-1888), sinh tại làng Tân Thới, tỉnh Gia Định. Thân phụ là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên, làm việc tại Văn hàn ty Tả quân dinh Lê Văn Duyệt.
    Đậu tú tài trường Gia Định vào năm 21 tuổi (năm Quý Mão - 1843).
    Năm 1847 ra Huế chuẩn bị kỳ thi năm Kỷ Dậu (1849) thì thân mẫu ông qua đời (năm 1848).
    Ông đành phải bỏ thi trở về Nam chịu tang mẹ. Giữa đường vì quá thương khóc mẹ, ông mắc chứng đau mắt và bị mù.
    Tuy bị mù nhưng ông vẫn mở trường dạy học. Học trò theo học khá đông, do đó người ta gọi ông là Đồ Chiểu.
    Năm 1859, sau khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc. Ông tuy không trực tiếp chống Pháp nhưng vẫn liên hệ với những người cầm đầu nghĩa quân như Đốc binh Là, Tướng quân Trương Định. Khi Trương Định hy sinh, ông vô cùng đau xót đã làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu vị anh hùng vì dân vì nước.
    Ông đã giữ thái độ bất cộng tác với Pháp cho đến cùng cuộc đời (mất năm 1888 ở Bến Tre).
    Tác phẩm nổi tiếng của ông là Truyện Lục Vân Tiên.
3. Rêm tàu bạch quỷ: rung chuyển cả tàu của giặc Pháp đến như rạn nứt ra.
4. Hoàng môn: một chức quan ở nơi đài sảnh ngày xưa, ở đây chỉ chức lãnh binh. Thân phụ của Trương Định là Trương Cầm làm lãnh binh Gia Định đời Thiệu Trị.
5. Ứng nghĩa: vì nghĩa mà đứng lên hưởng ứng. Cả câu ý nói dân còn đang dựng cờ khởi nghĩa đánh giặc.
6. Bình Tây: Trương Định được nghĩa quân tín nhiệm, tôn làm Bình Tây Đại nguyên soái. Cả câu ý nói ông đã chết (Ông chính tên là Trương Định người ta thường thêm chữ Công để tỏ lòng tôn kính).
7. Sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
8. Roi dấu: noi theo, bắt chước theo.
9. Mực sớ: hai chữ này đặt đối với son bằng.
    Câu 3: (triều đình phong ông chức lãnh binh, bắt ông dời khỏi Gò Công đi nhận chức ở An Giang, ông có sớ tâu về không đi) tờ sớ tâu về triều đình làm quân giặc cũng phải mờ mắt.
10. Lờ: mờ mệt không tỏ rõ.
11. Bằng: văn bằng.
     Son bằng: văn bằng đóng dấu, màu son đỏ làm thắm lòng dân.
12. Nghịch thần: kẻ bề tôi chống lại triều đình.
     Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần: có lòng trung với vua thì dù chống lại lệnh triều đình (cứ chống cự với giặc Pháp, không đi An Giang) cũng không lo là mắc tiếng nghịch thần.
13. Ốc ngỡ: tưởng là, ngỡ là.
14. Gian truân: lúc khó khăn vất vả.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Mười Một, 2016, 09:47:06 PM

III
Gian truân kể xiết bấy nhiêu lần,
Vì nước đành trao một tấm thân.
Nghe chốn Lý Nhân người sảng sốt,
Nhìn cồn Đa Phước1 kiểng bâng khuâng.
Bát cơm Ki lữ2 chi sờn buổi,
Mảnh áo mông nhung3 chẳng nệ phần.
Chí dốc ra tay nâng vạc4 ngã,
Trước sau cho trọn chữ quân thân5.


IV
Quân thân còn gánh nặng hai vai,
Lỡ dở công trình hệ6 bởi ai?
Trăm đám mộ binh vầy7 lớn nhỏ,
Một gò cô lũy8 chống hôm mai.
Lương tiền nhà ruộng9 ba mùa trước,
Thuốc đạn ghe buôn10 bốn bể ngoài
May rủi phải chăng trời đất biết,
Một tay chống chỏi mấy năm dài.

______________________________________
1. Lý Nhân, Đa Phước: những nơi Trương Định đóng quân.
2. Ki lữ: khách đi đường xa (ki: ở đậu nơi đất khách, lữ: quán khách trọ), chỉ người phải rời bỏ đất nước đi trú ngụ ở nước ngoài.
3. Mông nhung: hình dung cái áo lông cũ rách. Thơ Mao Khâu, Kinh Thi có câu: "Hồ cừu mông nhung", nghĩa là áo hồ cừu tả tơi, lời một thần tử của Lê Hầu nói cái cảnh ngộ của vua tôi Lê Hầu bị mất nước, ngụ ở nước Vệ đã lâu, áo hồ cừu rách nát rồi, mà chưa về được.
4. Nâng vạc: do chữ "phù đỉnh" vua Vũ đời nhà Hạ thu đồng của chín châu (Trung Quốc cổ chia làm chín châu) đúc chín cái vạc để tượng trưng chín châu, do đó người ta gọi sự nâng đỡ cơ đồ quốc gia là "phù cửu đỉnh" (nâng đỡ chín vạc).
5. Quân thân: vua và cha mẹ, tức chữ "trung” và chữ "hiếu" (các bản quốc ngữ đều chép là quân thần tức là nghĩa vua tôi).
6. Hệ: quan hệ, duyên cớ.
7. Vầy: hợp lại.
8. Cô lũy: thành lũy lẻ loi, đứng trơ trọi một mình.
9. Lương tiền nhà ruộng: tích lũy lương thực để nuôi quân đánh giặc.
10. Thuốc đạn ghe buôn: cho thuyền đi mua vũ khí trở về.
     Bài "Văn tế Trương Định" cũng có câu: "Nào nhọc sức hộ tào biên sổ, lương tiền nhà ruộng, cho một câu háo nghĩa lạc quyên; Nào nhọc quan võ khố bình câu, thuốc đạn ghe buôn, quyền bốn chữ gian thương đạo tải?".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 10:40:12 PM

V
Năm dài những mảng ngóng tin vui
Nín nhịn thầm toan lẽ được thua.
U Kế1 năm hằng còn chỗ đoái,
Ngô Tôn2 trăm chước đợi ngày đua
Bày lòng thần tử vài lời sớ,
Giữ mối giang sơn mấy đạo bùa3
Phải đặng tuổi trời cho mượn số,
Cuộc này ngay vạy4 có phân bua5.



VI
Phân bua trời đất biết cho lòng,
Công việc đâu đâu cũng muốn xong.
Cám nỗi nhà nghiêng lăm chống cột6,
Nài bao bóng xế luống day đòng7.
Đồng Nai, chợ Mỹ8 lo nhiều phía,
Bến Nghé9, Sài Gòn kể mấy đông.
Dẫu biết dùng binh nhờ đất hiểm,
Chẳng đành xa bỏ cõi Gò Công10.

__________________________________
1. U Kế: châu U, châu Kế, hai châu trong 16 châu, vua Thạch Kinh Đường nhà Tấn cắt cho nước Liêu.
2. Ngô Tôn: Ngô Khởi và Tôn Vũ là hai nhà binh pháp thời Chiến quốc bên Trung Quốc.
3. Bùa: do chữ "phù" nghĩa là "ấn tín", ở đây nói những ấn tín, mệnh lệnh của Trương Định: "Son bằng ứng nghĩa thắm lòng dân".
4. Ngay vạy: thẳng và cong.
5. Phân bua: phân trần, bày tỏ cho mọi người biết.
6. Chống cột: một cây cột khó chống được nhà nghiêng. Cả câu ý muốn đem hết sức mình ra chống đỡ khi vận nước lâm nguy nan.
7. Day đòng: day là quay, vẫy; đòng là cái giáo, quay cái giáo. Sách Hoài Nam tử chép: Lỗ Dương Công đánh nhau với quân nước Hàn. Ngày đã chiều, ông giơ ngọn giáo vẫy mặt trời đứng lặng để tiếp tục đuổi giết giặc.
    Cả câu 4 ý nói: dù tình thế đã bất lợi vẫn kiên trì chống giặc.
8. Chợ Mỹ: chợ Mỹ Tho.
9. Bến Nghé: theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con. Nhưng theo Đại Nam nhất thống chí thì nơi này có lắm cá sấu, chúng thường kêu "nghé" nên gọi là Bến Nghé. Lấy rộng nghĩa ra, Bến Nghé chỉ cái bến sông Sài Gòn hoặc Sài Gòn - Gia Định.
    Đồng Nai: gần Sài Gòn. Người ta cũng gọi vùng đất miền Đông Nam Bộ là Đồng Nai (đồng có nhiều nai).
10. Gò Công: tên chữ là Khổng tước nguyên, nghĩa là cái gò có nhiều con công, là quê hương của Trương Định.
     Mỹ Tho: trước là thủ phủ trấn Định Tường, sau gồm cả Gò Công.
     Câu 8: Chẳng đành xa bỏ cõi Gò Công: Triều đình phong cho Trương Định chức lãnh binh và bắt ông dời khỏi Gò Công đi nhận chức ở An Giang nhưng ông chẳng đành bỏ đi, có viết sớ tâu về nhà vua.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 10:58:07 PM

VII
Gò Công binh giáp hãy chàng ràng1,
Ngó Bắc trông Nam luống thở than.
Trên trại đồn điền2 hoa khóc chủ,
Dưới vàm Bao Ngược3 sóng kêu quan.
Mây giăng Truông Cốc đường quân vắng,
Trăng xế Gò Rùa4 tiếng đẩu5 tan
Mấy dặm non sông đều xửng vửng6,
Nạn dân ách nước để ai toan?


VIII
Ai toan cho thấu mấy trời sâu,
Sự thế nghe ra đá lắc đầu7.
Giặc cỏ om sòm mưa lại nhóm,
Binh sương8 lác đác nắng liền thâu.
Cờ lau đà xếp trên giồng Cốc,
Trống sấm còn gầm dưới cửa Khâu9.
Cảnh ấy những mơ người ấy lại,
Hội nầy nào thấy tướng quân đâu?

__________________________________
1. Chàng ràng: rộn ràng, lăng xăng, không yên chỗ.
2. Đồn điền: chỉ nơi đồn điền của Trương Định đã khẩn hoang để trồng trọt.
3. Vàm Bao Ngược: cửa sông Bao Ngược ở huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An ngày nay.
4. Truông Cốc, Gò Rùa: tên đất ở Gò Công, thuộc phạm vi hoạt động của Trương Định.
5. Tiếng đẩu: do chữ "điêu đẩu", một dụng cụ của quân đội thời xưa, làm bằng đồng, đựng được một đấu gạo, ban ngày dùng để thổi cơm, ban đêm dùng để gõ làm kẻng báo hiệu cầm canh
6. Xửng vửng: choáng váng, bất tỉnh, sợ sệt.
7. Đá lắc đầu: lấy ở chữ "Ngoan thạch điểm đầu" - hòn đá gân guốc cũng phải gật đầu, ý nói việc làm tốt, lời nói hay đá cũng phải gật đầu. Đá mà phải lắc đầu là việc làm khó khăn.
    Câu 2: ý nói việc chống giặc Pháp chắc gặp nhiều khó khăn đến đá cũng phải lắc đầu.
8. Binh sương: Ý nói quân đội như lớp sương đêm, nắng lên lại rút lui hết.
9. Giồng Cốc, Cửa Khâu: đều thuộc Gò Công.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 11:03:29 PM

IX
Tướng quân đâu hỡi có hay chăng?
Sáu ải1 cơ đồ nửa đã ngăn.
Cám nỗi kiến ong ra sức dẹp,
Quản bao sâu mọt chịu lời nhăng2.
Đá kêu rêu mọc bia Dương Nghiệp3,
Cỏ úa hoa tàn mả Lý Lăng4.
Thôi vậy thời vầy thôi cũng vậy,
Anh hùng đến thế dễ ai dằn.



X
Dễ ai dằn thúc lối sau nầy,
Trời bởi chưa cho vội đổi xây.
Thà buổi trường sa5 da ngựa bọc6,
Khỏi nơi đạo chích7 tiếng muông rầy8.

______________________________________
1. Sáu ải: tức sáu tỉnh Nam Kỳ.
2. Lời nhăng: lời nói lăng nhăng, gièm pha, chê trách.
3. Dương Nghiệp: một danh tướng đời Tống Thái Tông, có sức khỏe, dùng quân đánh đâu được đấy. Ông thường cầm quân ở biên thùy, quân Khiết Đan trông thấy bóng cờ của ông là lùi ngay. Sau ông bị thứ sử Ủy Châu Vương Sằn tranh công, để một mình ông bị hãm vào trong trận của địch, không cho quân đến cứu, ông bị bắt nhịn ăn ba ngày rồi chết.
    Câu này ý nói tướng giỏi đã chết, việc đánh đuổi quân ngoại xâm nay biết trông cậy vào ai.
4. Lý Lăng: tướng đời Hán Vũ Đế cầm quân đánh Hung Nô, quân ít, sức kiệt phải hàng, rồi chết ở nước Hung Nô.
    Câu 5-6: Đưa hai nhân vật Dương Nghiệp và Lý Lăng, Nguyễn Đình Chiểu muốn nói đến tội của triều đình nhà Nguyễn đã bỏ mặc Trương Định chống giặc Pháp.
5. Trường sa: sa trường, nơi chiến địa.
6. Da ngựa bọc: Mã Viện, một võ tướng đời Đông Hán thường nói: "Kẻ nam nhi chết ở nơi biên tái, lấy da ngựa bọc thây"
7. Đạo Chích: một tay ăn trộm cừ khôi, tên là Chích, người đời Xuân Thu ở Trung Quốc.
8. Tiếng muông rầy: tiếng chó làm rầy (sủa, cắn).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười Một, 2016, 11:11:19 PM

XI
Đầu vầy sấm chớp nổ thình lình,
Gió bạt thêm buồn mấy đạo binh.
Ngựa trạm1 xăng văng miền Bắc khuyết2,
Xe nhung3 ngơ ngẩn cõi Tây Ninh.
Bài văn phá lỗ4 cờ chưa tế,
Tấm bảng phong thần5 gió đã kinh.
Trong cuộc còn nhiều trang tướng tá,
Lời nguyền trung nghĩa há làm thinh.



XII
Làm thinh hổ đứng giữa hai ngôi6,
Nếm mật7 từ đây khó nỗi ngồi.
Mũi giáo Thi Toàn8 đừng để sét,
Lưỡi gươm Dự Nhượng9 phải toan giồi.
Đánh Kim10 chi sá thằng Lưu Dự11,
Giúp Tống xin phò gã Nhạc Lôi12,
Dâng hộ nước Nam về một mối,
Nghìn năm miếu tặng rạng công tôi13.

_________________________________
1. Ngựa trạm: thời xưa các trạm đường thường dùng ngựa để chạy văn thư, gọi là ngựa trạm (dịch mã).
2. Bắc khuyết: cửa kinh thành phía bắc trên lầu. Thời xưa, dâng sớ hay thư từ hoặc yết kiến vua đều vào cửa khuyết phía bắc.
3. Xe nhung: xe binh. Câu 4: Ý nói khi Trương Định chết, con là Trương Quyền đem quân về Tây Ninh tiếp tục kháng chiến.
4. Phá lỗ: phá giặc.
5. Phong thần: sắc phong làm thần.
6. Hai ngôi: trời và đất.
7. Nếm mật: vua nước Việt là Câu Tiễn, bị vua nước Ngô (Phù Sai) đánh bại, về nương náu ở núi Cối Kê, sau phải cầu hòa với vua Ngô, khi trở về nước, thường treo quả mật trên chỗ ngồi, ăn uống thì nếm nước mật, tự khắc khổ thân mình, ngày đêm nuôi chí báo thù nước Ngô.
8. Thi Toàn: một viên tướng giỏi kết nghĩa anh em với Nhạc Phi đời Tống, Nhạc Phi bị gian thần là Tần Cối giết hại, Thi Toàn đón đường định ám hại Tần Cối, không may, mưu bị lộ, bị giết.
9. Dự Nhượng: người đời Chiến quốc, chú là Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết chết. Dự Nhượng bèn bôi sơn vào mình làm lở loét như người hủi, nuốt than làm khản tiếng như người câm, biến đổi hình dạng, mưu đâm Triệu Tương Tử để báo thù cho chú. Bị Tương Tử bắt được, Dự Nhượng mới xin cái áo mặc của Tương Tử, rồi rút gươm ra, ba lần nhảy lên mà chém vào áo rồi tự sát.
10. Kim: tên một nước ở phía bắc Trung Quốc, thường đem quân đánh nước Liêu và nước Tống.
11. Lưu Dự: người đời Tống, đỗ tiến sĩ, làm chức thị ngự sử, nhưng từ thuở nhỏ vốn là người vô hạnh, khi người Kim đánh nhà Tống, Lưu Dự hàng Kim, được người Kim phong quan rồi lập làm hoàng đế bù nhìn, đặt quốc hiệu là Đại Tề, sau lại bị người Kim phế đi.
12. Nhạc Lôi: con Nhạc Phi đời Tống cùng với cha phù Tống đánh Kim.
13. Miếu tặng rạng công tôi: lập miếu thờ và phong tặng cho người bê tôi có công lao.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 10:29:34 PM

VĂN TẾ TRƯƠNG ĐỊNH
NGUYỄN ĐÌNH CHlỂU

Hỡi ơi!
1. Giặc cỏ bò lan; tướng quân mắc hại!
2. Ngọn khói Dương Di1 đóng đó, cỗi biên còn trống đánh Sơn Lâm2;
    Bóng sao Võ khúc3 về đâu, đêm thu vắng tiếng canh dinh trại.


Nhớ tướng quân xưa:
3. Gặp thuở bình cư4 làm người chí đại.
4. Từ thuở ở hàng viên lữ5, pháp binh trầm trận đã làu;
    Đến khi ra quản đồn điền6, võ nghệ mấy ban cũng trải
5. Lối giặc đánh tới, theo quan Tổng đốc7, trường thi mô súng8, trọn mấy năm ra sức tranh tiền9;
    Lúc cuộc tan rồi, về huyện Tân Hòa10 đắp lũy đồn binh, giữ một gốc bày lòng địch khái.
6. Chợt thấy cánh buồm lai sứ11, việc giảng hòa những tưởng rằng xong;
    Đã đành tấm giấy tựu phong12, phận thiên tỉ13 có đâu dám cãi.
7. Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền14;
    Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù15, gánh vác một vai khổn ngoại16.
8. Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ vui theo.
    Tóm muôn dân gầy sổ17 mộ binh, luật lệnh nào ai dám trái.
9. Văn thì nhờ tham biện, thương biện, giúp các cơ bàn bạc nhung công18;
    Võ thì dùng tổng binh, đốc binh, coi mấy đạo sửa sang khí giới.

_________________________________
1. Dương di: tức giặc Pháp. Các bản Quốc ngữ chép là Tây bang (nước Tây).
2. Sơn Lâm: núi rừng.
3. Vũ khúc: sao Vũ khúc là sao tiêu biểu và cũng là sao chiếu mệnh của tướng võ, chỉ Trương Định.
4. Bình cư: lúc ăn ở bình thường, không có chiến sự.
5. Viên lữ: doanh trại quân đội.
6. Quản đồn điền: Trương Định trước đã đứng ra khai hoang mở đồn điền ở Gò Công.
7. Tổng đốc: đây chỉ Nguyễn Tri Phương.
8. Trường thi, mô súng: hai địa điểm tập luyện quân sự của bên ta.
9. Tranh tiền: tranh ra trước, tình nguyện đi tiên phong.
10. Tân Hòa: huyện Tân Hòa, căn cứ của Trương Định.
11. Lai sứ: sứ đến, đây chỉ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn giảng hòa với Pháp.
12. Tựu phong: tới nơi nhận chức phong. Triều đình cho làm lãnh binh và bắt dời khỏi Gò Công, đi nhậm chức ở An Giang.
13. Thiên tỉ: dời đi chỗ khác. Phận thiên tỉ là đặt đối việc giảng hòa. Vì việc giảng hòa mà triều đình mới ra lệnh cho Trương Định phải dời về An Giang. Các bản Quốc ngữ thường chép là phận thần tử thì không đúng.
14. Mã tiền: trước đầu ngựa. Được tin Trương Định sắp đi An Giang, dân chúng cản đầu ngựa giữ lại.
15. Tướng quân phù: ấn tín của người tướng.
16. Khổn ngoại: ngoài cửa kinh đô. Sử ký Tư Mã Thiên có câu "Khổn dĩ ngoại, tướng quân chế chi", nghĩa là "Ngoài cửa quốc đô, thuộc quyền chế ngự của tướng quân". Câu này là lời của vua trao quyền về quân sự cho một vị tướng.
17. Gầy sổ: lập sổ.
18. Nhung công: việc quân (nhung: binh khí, chiến tranh).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười Một, 2016, 11:09:36 PM

Khá thương ôi!
10. Tiền vàng ân chúa1, trót đã rõ ràng;
     Ấn bạc mưu binh, nào còn trễ nải.
11. Chí lăm dốc cờ xuê lộ bố2, chói sắc giữa trào;
     Ai muốn đem gươm báu can tương3, chôn hơi ngoài ải.


Há chẳng thấy:
12. Sức giặc Lang Sa, nhiều phương quỷ quái.
13. Giăng dưới nước tàu đồng, tàu sắt, súng nổ quá bắp rang;
Kéo trên bờ ma-ni, mã tà, đạn bắn như mưa vãi.
14. Dầu những đại đồn4 thuở trước, cũng khó toan đè trứng nghìn cân5;
     Huống chi cô lũy6 ngày nay, đâu dám chắc treo mành một dải.



Nhưng vậy mà:
15. Vì nước tấm thân đã nấy còn mất cũng cam;
     Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại.
16. Rạch Lá, Gò Công mấy trận, người thấy đã kinh;
     Cửa Khâu, Trại Cá khắp nơi, ai nghe chẳng hãi.
17. Nào nhọc sức hộ tào7 biên sổ, lương tiền nhà ruộng, cho một câu háo nghĩa lạc quyên8;
     Nào nhọc quan võ khố bình câu9, thuốc đạn ghe buôn, quyền bốn chữ gian thương đạo tải10.
18. Núi đất nửa năm ngăn giặc, nào thành đồng lũy sắt các nơi;
     Giáo tre nghìn dặm đánh Tây, nào ngựa giáp xe nhung mấy cái.

___________________________________
1. Tiền vàng ân chúa: tiền vàng của vua ban, ấn bạc của quan chức to, ý nói chịu ơn nhà vua.
2. Lộ bố: thời xưa, khi xuất binh thắng trận thì dâng thư báo tiệp về triều và viết vào lụa rồi dựng cột trương lên gọi là lộ bố.
3. Can tương: tên thanh kiếm quý. Sách Ngô Việt xuân thu chép: "Can Tương người nước Ngô luyện thép làm kiếm, vợ là Mạc Gia cắt tóc và móng tay bỏ vào trong lò, thép được tôi, làm thành hai cái kiếm, cái dương tên là Can, cái âm tên là Mạc Gia".
4. Đại đồn: đồn lớn, tức đồn Chí Hòa do Nguyễn Tri Phương phòng giữ (Gia Định).
5. Đè trứng nghìn cân: do chữ "thiên quân áp noãn" (nghìn cân đè quả trứng).
6. Cô lũy: cái lũy lẻ loi của Trương Định.
7. Hộ tào: cơ quan trông coi sổ bộ (tiền thuế ruộng đất, nhân khẩu...). Ở đây biên tên những người đóng góp tiền của.
8. Háo nghĩa lạc quyên: mến việc nghĩa vui lòng quyên giúp. Ý nói Trương Định hô hào một câu thì mọi người vui vẻ quyên tặng.
9. Võ khố bình câu: quan giữ kho vũ khí ngang bằng trong việc cung cấp khí giới.
10. Gian thương đạo tải: người buôn gian chở trộm hàng, ở đây ý nói vì quyền biến nên mới mua lén được vũ khí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:32:52 AM

Khá thương ôi!
19. Chí đốc đem về non nước cũ, ghe phen1 hoạn nạn, cây thương phá lỗ2 chưa lìa;
     Nào hay trở lại cảnh quê xưa, nhắm mắt lâm chung, tấm bảng phong thần vội quải3.
20. Chạnh lòng quân sĩ, thương quan tướng, nhắc quan tướng, chiu chít như gà;
     Bực trí nhân dân, giận thằng tà, mắng thằng tà, om sòm như nhái.
21. Sự thế hãy bên Hồ bên Hán4, bao giờ về một mối xa thư;
     Phong cương còn nửa Tống nửa Liêu5, đâu nỡ hại một trang tướng soái.
22. Nào phải kẻ tán sư đầu giặc6, mà để nhục miếu đường;
     Nào phải người kiểu chiếu7 đánh Phiên, mà gây thù biên tái8.
23. Hoặc là chuộng một lời hoà nghị, giận Nam Phiên phải bắt Nhạc Phi9 về;
     Hoặc là lo trăm họ hoành la10, hờn U địa11 chẳng cho Dương Nghiệp12 lại.
24. Vì ai khiến dưa chia, khăn xé13, nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồn;
     Biết thuở nào cờ phất trống rung, hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái ?
25. Còn gì nữa, cõi cô thế riêng than người khóc tượng14, nhắm mắt rồi may rủi một trường không;
     Thôi đã đành, bóng tà dương gấm ghé kẻ day đòng15, quay gót lại thua trăm trận bãi.

________________________________________
1. Ghe phen: nhiều phen.
2. Cây thương phá lỗ: ngọn giáo đánh tan quân giặc.
3. Quải: treo.
4, 5. Bên Hồ, bên Hán, nửa Tống, nửa Liêu: nước Hồ, nước Hán, nước Tống, nước Liêu thường đánh lẫn nhau. Câu này ý nói quân Pháp đương xâm lược nước ta, đất nước đương bị chia cắt.
6. Tán sư đầu giặc: đánh bị thua, để mất hết quân rồi đầu hàng giặc.
7. Kiểu chiếu: giả thác là chiếu chỉ của vua. Đây ý nói đánh giặc là do lòng yêu nước, căm thù quân ngoại xâm chứ không phải giả làm chiếu vua để mà gây thù oán ở nơi biên ải xa xôi.
8. Biên tái: cửa ải ngoài biên giới.
9. Nhạc Phi: tướng giỏi nhà Tống, tài kiêm văn võ. Khi nước Kim xâm lấn nước Tống, ông cầm quân chống đánh, người Kim bị thua to, phải lùi về phía bắc. Đang lúc thắng trận thì tên gian thần Tần Cối tư thông với địch, lấy mệnh vua triệu ông về, làm cho việc phá địch của ông nửa đường bị bỏ dở. Ông lại bị Tần Cối vu tội bắt giam và bị chết trong ngục. Câu này ý nói triều đình Huế nghị hòa với Pháp muốn Trương Định cũng phải bãi binh.
10. Hoành la: Giăng lưới.
11. U địa: châu U, phần đất nhà Tấn cắt giao cho nước Liêu, ám chỉ ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị triều đình nhường cho giặc.
12. Dương Nghiệp: một danh tướng đời Tống, có sức khỏe, giỏi hành binh, đánh đâu được đấy, người ta gọi là vô địch. Ông thường cầm quân ở biên thùy. Quân Khiết Đan trông thấy bóng cờ của ông là phải rút lui ngay. Nào phải... Dương Nghiệp lại: ý đoạn này chỉ trích triều đình nhà Nguyễn đã mặc Trương Định trong khi ông không làm điều gì sai phạm.
13. Dưa chia khăn xé: do chữ "qua phong bức liệt" (quả dưa chia, tấm lụa xé) nói về đất nước bị chia cắt.
14. Khóc tượng: nhà Tống chiếm giang sơn nhà Chu, quan Tiết độ sứ nhà Chu là Lý Quân hội quân đánh lại. Vua Tống sai sứ đến phong quan chức, Lý Quân treo bức họa tượng của vua Thái Tổ nhà Chu lên trên tường mà khóc lóc mãi, tỏ ý vẫn thủy chung với nhà Chu, không chịu thần phục nhà Tống.
15. Day đòng: do chữ "huy qua" là quay vẫy ngọn giáo. Sách Hoài Nam tử chép: Lỗ Dương Công đánh nhau với quân nước Hàn, ngày đã chiều, ông giơ ngọn giáo vẫy mặt trời đừng lặn để tiếp tục đuổi giặc mà giết cho sạch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:37:29 AM

Ôi!
26. Làm ra cờ ấy, tạo hóa ghét nhau chi;
     Nhắc đến đoạn nào, anh hùng rơi lụy mãi!
27. Cuộc trung nghĩa hai năm làm đại tướng, nhọc nhằn vì nước, nào hờn tiếng thị tiếng phi;
     Cõi An Hà1 một chức chịu lãnh binh, lây lất theo thời, chưa chắc đâu thành đâu bại.
28. Khóc là khóc, nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nôi;
     Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phương tớ dại.
29. Tướng quân còn đó, các nơi đạo tặc2 thảy kiêng dè;
     Tướng quân mất rồi, mấy chỗ nghĩa binh thêm bái xái3.
30. Nào đã đặng mấy hồi nơi thích lý4, màn hùm5 che mặt rằng xuê;
     Thà chẳng may một giấc chốn trường sa, da ngựa bọc thây mới phải.



Ôi!
31. Trời Bến Nghé, mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng, gặp bước gian truân;
     Đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng trung ái.
32. Xưa còn làm tướng, dốc rạng đồi hai chữ Bình Tây6;
     Nay thác theo thần, xin dâng hộ một câu phục thái7.
33. Hỡi ôi! Thương thay!

___________________________________________
1. An Hà: An Giang và Hà Tiên. Cõi An Hà một chức... đâu thành đâu bại: câu này ý nói nếu trước đây Trương Định vâng lệnh triều đình đi nhận lãnh binh ở An Giang - Hà Tiên thì chưa chắc đã làm nên sự nghiệp gì.
2. Đạo tặc: giặc cướp.
3. Bái xái: bối rối, rối bời.
4. Thích lý: nơi thân thích, làng mạc.
5. Màn hùm: do chữ "hổ trướng". Sách Nam Đường thư chép: Lương Vương Từ Tri Ngạc, chỗ ngồi thường chắp da hùm làm bức màn to. Do đó người ta gọi nơi đóng dinh của các tướng soái là màn hùm (trướng hổ).
6. Bình Tây: dẹp yên giặc Tây.
7. Phục thái: khôi phục lại sự thịnh vượng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:40:26 AM


            TẶNG TRƯƠNG ĐỊNH LÃNH BINH

      Quảng Nghĩa địa linh xuất nhất hùng,
      Nam thùy trượng kiếm thệ binh nhung.
      Thư sinh tự quý vô thao lược,
      Chấp bút thành thi biểu nhữ trung.



Dịch nghĩa:

            TẶNG LÃNH BINH TRƯƠNG ĐỊNH
      Đất thiêng Quảng Nghĩa, sinh ra một vị anh hùng,
      Ông chống kiếm vào đất miền Nam thề dẹp giặc.
      Tôi là kẻ học trò thẹn không có tài thao lược,
      Cầm bút làm thơ nêu tỏ lòng trung của ông.


Dịch thơ:

            TẶNG LÃNH BINH TRƯƠNG ĐỊNH
      Đất thiêng Quảng Nghĩa nảy anh hùng,
      Chống kiếm vào Nam dẹp giặc hung.
      Tôi thẹn không tài, cầm bút viết,
      Nêu rõ lòng ông bậc tận trung.

                                                              Nguyễn Phan dịch


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 05:29:43 PM

            KHÓC TRƯƠNG TƯỚNG QUÂN CÔNG ĐỊNH
                                                                                ĐÀO TẤN1

      Phấn dũng bình Tây chí vị thù,
      Âm dương vĩnh quyết lệ trường lưu.
      Anh hùng nghi trợ ngô Hùng Việt,
      Tảo tận cường nhung trảm tặc đầu.




Dịch nghĩa:

            KHÓC TƯỚNG QUÂN TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH

      Hăng hái dẹp giặc Pháp chí chưa thỏa,
      Âm dương hai ngả, khiến nước mắt tôi chảy dài.
      Hồn thiêng nên giúp nước Hùng Việt ta,
      Quét sạch lũ giặc mạnh, chém đầu giặc.
_____________________________________________
1. Đào Tấn (1846-1906): ông hiệu Mai Tăng, người làng Vĩnh Thanh, phủ Tuy Phước (Bình Định), đậu cử nhân, làm quan đến chức Công bộ thượng thư. Về sự nghiệp văn học nghệ thuật, ông đã góp phần nghiên cứu cải tiến nghệ thuật diễn tuồng, chỉnh lý một số vở cũ có giá trị như: Sơn Hậu, Đào Phi Phụng, Tam nữ đồ Vương. Ông cũng có soạn thêm nhiều vở như: Diễn võ đình, Trầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, Hộ sinh đàn, Hồi Cổ thành, v.v...
    Ông còn để lại một số thơ chữ Hán, lời lẽ trang nhã, trong đó có nhiều bài ca tụng các nhà yêu nước như: Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, v.v...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười Một, 2016, 05:32:20 PM

            KHÓC BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI TRƯƠNG ĐỊNH
                                                                                                   ĐÀOTẤN

      Cuồng nhung xâm phạm ngã sơn hà.
      Báo quốc tinh trung sát Lãng sa
      Khả tích vị thành bình lỗ chí,
      Anh hùng thỉnh trợ cựu bang gia.



Dịch nghĩa:

            KHÓC BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI TRƯƠNG ĐỊNH
      Bọn giặc dữ xâm phạm non sông ta,
      Ông tỏ lòng trung, giết giặc Pháp, đền nợ nước.
      Đáng tiếc chí lớn dẹp giặc chưa thành.
      Hồn thiêng dưới suối vàng mong giúp nhà xưa.


Dịch thơ:

            KHÓC BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI TRƯƠNG ĐỊNH
      Giặc cuồng xâm phạm núi sông ta,
      Ông tỏ lòng trung giết Lãng sa.
      Chỉ tiếc chí kia chưa được thỏa,
      Hồn thiêng xin hộ nước non nhà.

                                                      Nguyễn Phan dịch


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười Một, 2016, 11:48:12 PM

            VỊNH BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI TRƯƠNG ĐỊNH
                                                                            TRƯƠNG GIA MÔ

      Dân nghèo kết hợp lập cơ doanh,
      Đúc súng rèn quân ứng chiến tranh.
      Phục kích nhiều lần thâu thắng lợi,
      Tiên phong liên tục nổi thanh danh.
      Triều đình dạ thỏ, theo hòa ước,
      Trương Định gan hùm, chống bãi binh.
      Bị phản, mang thương xem khó thoát,
      Bình Tây đại soái tự quyên sinh.

                                                     1920




            VỊNH TRƯƠNG ĐỊNH
                                                     NGUYỄN QUẢNG TUÂN

            MƯỠƯ
      Nên hư nào nại giúp đời,
      Ai đem gươm báu chôn nơi biên thùy.
      Tướng quân nào quản gian nguy,
      Tấm thân phá lỗ những vì nước non.



            NỐI

      Anh hùng bất khuất,
      Trận Gò Công danh tiếng thật như cồn.
      Đã liệt oanh phục kích với công đồn,
      Khiến quân giặc phải tan hồn táng đảm.
      Sống đã nêu cao gương dũng cảm,
      Chết càng tỏ rạng tấm trung kiên.
      Trọn mấy năm đã ra sức tranh tiền,
      Cho đến buổi thụ mã tiền nguyên soái.
      Những gánh vác một vai nơi khổn ngoại,
      Tướng quân phù nào dám trái lòng dân.
      Ngờ đâu một phút về thần.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:18:08 PM

            TRƯỚC ĐỀN THỜ TRƯƠNG ĐỊNH
                                                          BẢO ĐỊNH GIANG

      Cút xa rồi mặt ngựa, đầu trâu,
      Tiếng sấm thôi gầm dưới cửa Khâu.
      Vì nước ngày nào "thân đã gửi”1
      "Hội nầy nào thấy tướng quân đâu!"2

                                          Gò Công, cuối năm 1975





            NGHE THƠM HƯƠNG LÚA
                                                        BẢO ĐỊNH GIANG


      Chưa có dịp về lại thăm quê
      Chào Cai Lậy, Cái Bè
      Chào những hợp tác xã, tập đoàn mười tấn
      Tên được đóng khung như tấm bằng trên báo Đảng.

      Có phải nơi này dưới ách đế quốc trăm năm
      Những Tổng đốc Lộc, Đốc phủ Tâm
      Bỏ vào cối quết3 người như quết chuối
      Bổ đầu con gái, con trai như bổ củi
      Rạch bụng chửa thả trôi sông
      Tuổi sáu, bảy mươi vẫn bị kẹp, bị còng.
      Có phải nơi này dưới thời phong kiến
      Mồ hôi, nước mắt nông dân đong thành biển
      Đồng khô cỏ cháy, lúa không đủ nộp tô.

      Người làm ra gạo sống bằng bông súng, củ co.
      Địa chủ ngồi không no say sinh tệ
      Một vợ lớn thêm bao vợ bé
      Hoàng phi Phúc Lộc Thọ vàng chóe tông đường
      Nông dân không chiếu không giường
      Trốn muỗi đêm đêm gò mình trong nóp kín.
      Có phải nơi này những thế hệ nối nhau quyết chiến
      Mấy mươi năm không nghỉ, không ngừng
      Người được tuyên dương, xã được tặng phong4 
      Con trai Trương Định, Nguyễn Hữu Huân
                                                     nhiều tên tuổi mới.
      Người thêm đông đất như hẹp lại
      Nêu cao truyền thống "nhiều mũi giáp công"
      Theo đi một hướng, chung sức, chung lòng.
      Hết hè thu đến đông xuân ra đồng như đánh trận
      Bắt ruộng lúa từng mùa thêm tấn
      Thời "một công hai giạ" đã quá cũ càng
      Sánh sao những chiếc thảm vàng
      Trải rộng trên những cánh đồng "cao sản"
      Liên tục được mùa lòng ai thêm phấn chấn
      Xin hôn những bàn tay xốc dậy một vùng quê Cai Lậy, Cái Bè!
      Đêm Sài Gòn nghe thơm hương lúa!

                                                       20-3-1984
                                                  Dòng sông - Cuộc đời
__________________________________________
1. Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu: "Vì nước tấm thân đã nấy, còn mất cũng cam".
2. Trích Điếu Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu.
3. Động tác giã gạo.
4. Thời kỳ chống Mỹ, một xã ở Cai Lậy, một xã ở Cái Bè được tặng phong "Anh hùng lực lượng vũ trang".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:27:16 PM

           HÔM MAI ĐỒ CHIỂU VUI THẦM
                                                         BẢO ĐỊNH GIANG

      Ra từ "đám lá tối trời”
      Gò Công từ ấy sáng ngời hào quang
      Còn đâu lũ giặc hung hăng
      Còn đâu vua chúa đầu hàng bỏ dân.
      Hôm mai Đồ Chiểu vui thầm
      Đêm đêm sóng giận thôi gầm cửa Khâu1.
      Gò Rùa2 trăng sáng treo cao
      Đường qua Truông Cốc3 mây sầu đã tan
      Sáng ngời trang sử nông dân
      Lên đường tựu nghĩa làm quân dưới cờ.
      Chọn người phong soái tôn phò
      Non sông coi trọng, chiếu vua coi thường.
      Vì đất tổ, vì quê hương
      Một gò cô lũy tỏa hương ngàn đời!


                                     Tháng 5-1975
                                Dòng sông - Cuộc đời



           VẦN THƠ VÀ LƯỠI KIẾM
                                                       LÊ HÀ

      Thi nhân mù đôi mắt
      Nhìn đời bằng trái tim
      Không chung trời với giặc
      Kết nghĩa cùng tướng quân
      Vua chúa bán rẻ dân
      Tướng quân mài kiếm bén
      Vần thơ thi nhân mù
      Linh hồn thanh kiếm sáng
      Đừng! đừng đi An Giang
      Đừng về kinh đô Huế
      Ngọn cờ nghĩa rỡ ràng
      Bình Tây Đại nguyên soái
      Câu thơ xoáy đêm trường
      Thanh kiếm vung tới trước
      Triều xao vàm Bao Ngược
      Sóng dậy khém Băng Cung.
      Thanh kiếm trong vòng chiến
      Mắc cạn - chiều Ao Vinh
      Văn tế trợ lưỡi kiếm
      Tiếp nối bước nghĩa quân.

________________________________________
1-3. Điếu Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu:
      "Trống sấm còn gầm dưới cửa Khâu"
      "Mây giăng Truông Cốc đường quân vắng,
      Trăng xế Gò Rùa tiếng đẩu tan".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:32:41 PM

            VỀ LẠI GÒ CÔNG
                                                    BẢO ĐỊNH GIANG

      Về thăm "đám lá tối trời"
      Trận xưa mất dấu vẫn ngời gương ai
      Trăm năm dồn lại một ngày
      Đã xanh đồng ruộng, vườn cây, ao nhà.
      Xóm làng đỏ rực cờ hoa.
      Thêm hồng trang sử ông cha thuở nào.

      Đêm nay trăng sáng Gò Rùa
      Mây tan Truông Cốc chắc vừa lòng ai.
      Xuân về cánh én cao bay
      Cửa Khâu sóng hết réo ngày réo đêm.

      Trước đền thắp một nén nhang
      Nhớ xưa lòng những bàng hoàng không nguôi.
      Cũng tai, cũng mắt, mặt người
      Cam làm trâu ngựa giữa đời thực sao!
      Những ngày bơ sữa qua mau
      Anh hùng sống mãi bền lâu muôn đời.
      Nhìn về "đám lá tối trời"
      Tối tăm là giặc, sáng ngời là ông.




            VlẾNG TRƯƠNG ĐỊNH
                                                       VIỆT ÁNH

      Trái chúa thuận lòng dân, sự nghiệp sáng choang cờ Đại soái;
      Quên thân trừ giặc nước, cơ đồ hồng thắm chí Trương Công.




            VIẾNG TRƯƠNG ĐỊNH
                                                        BẢO ĐỊNH GIANG

      1. Máu nhuộm Tân Hòa một sớm não nùng tin sét đánh
          Đường qua Trại Cá, nghìn thu vọng tiếng quân reo.
      2. Hận nước cất cao đầu, sóng bạc chuyển rung vàm Bao Ngược;
         Thương dân thà mất mạng, máu hồng tô thắm đất Gò Công.




            VIẾNG TRƯƠNG ĐỊNH VÀ CON LÀ TRƯƠNG QUYỀN
                                                          BẢO ĐỊNH GIANG
     
      1. Một dạ hiếu trung, cha ấy, con ấy;
          Muôn đời oanh liệt, dân nầy, nước nầy.
      2. Chúa hàng giặc, chúa khinh dân, bỏ chúa theo dân, trơ mặt chúa;
          Cha yêu nhà, cha thương nước, noi cha cứu nước, sáng gương cha.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:42:49 PM

TRUYỆN TRƯƠNG ĐỊNH1
NGUYỄN THÔNG


Trương Định nguyên người Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, con ông lãnh binh Trương Cầm. Ông theo cha vào Nam lúc Trương Cầm làm lãnh binh tỉnh Gia Định thời Thiệu Trị.

Định lấy vợ là con gái một nhà giàu ở Tân An, tỉnh Định Tường. Sau khi cha mất, ông ở luôn tại quê vợ. Trương Định trang mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư và bắn giỏi. Thời Tự Đức, Trương Định xuất của nhà chiêu mộ dân nghèo, lập đồn điền nên được bổ chức quản cơ2.

Tháng Giêng năm Kỷ Mùi, niên hiệu Tự Đức thứ 12 (1859) thành Gia Định thất thủ, ông dẫn lính cơ tới đóng ở Thuận Kiều3. Khi quan triều đình kéo đến, ông thường đi tiên phong và lập được nhiều chiến công. Tháng Giêng năm Tân Dậu, Tự Đức thứ 14, sau trận thua ở Phú Thọ4, các đại tướng của triều đình lui về giữ Biên Hòa, Trương Định rút quân về đóng ở đồn cũ Tân Hòa5. Buổi ấy bọn Tây đang vây đánh Biên Hòa và Vĩnh Long chúng cho Định là một tên giặc cỏ nhỏ mọn không đáng để ý. Định mới cùng với tri huyện Lưu Tấn Thiện6 và bát phẩm thư lại Lê Quang Quyền tích trữ lương thực, rèn đúc súng đạn, có hơn nghìn binh lính. Nhân lính Tây không am hiểu đường sá, ông thường đem quân phục kích thu nhiều thắng lợi nhỏ. Triều đình Huế nghe tin bổ ông làm phó lãnh binh tỉnh Gia Định. Tháng 11 năm ấy, quân Pháp hãm thành Biên Hòa7, triều đình có chỉ nghiêm trách hiệp tán quân vụ Thân Văn Nhiếp và khâm phái quân vụ là Nguyễn Túc Trưng phải tìm đường tới hội ở Tân Hòa, mưu tính thu phục lại thành trì. Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, trước đó đã đi đường khác tới hợp lực với Trương Định. Lúc ấy Định đã chiếm cứ Quy Sơn8, quân lính đông quá 5.000 người. Ông nghĩ rằng Nguyễn Túc Trưng là một vị quan to của triều đình, nên tôn làm chỉ huy. Thấy thế giặc mạnh Túc Trưng cẩn thận không dám tiến, chỉ ngồi yên cố giữ hạt Tân Hòa mà thôi.
____________________________________
1. Bảo Định Giang, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quảng Tuân, Gương sáng ngàn đời, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 188-193.
2. Quản cơ: Khoảng 1854, Nguyễn Tri Phương vào Nam Kỳ chỉ đạo việc xây dựng đồn điền, một chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng. Những người tham gia đồn điền cũng đồng thời trở thành lính và những ai mộ được nhiều lính đồn điền sẽ được khen thưởng. Trương Định được phong là quản cơ thì có khoảng 300 lính đồn điền.
3. Thuận Kiều: ở gần khu vực Phú Lâm, nay thuộc phạm vi quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phú Thọ: Tức trận thua ở Đại Đồn, ngày 25 tháng 2 năm 1861.
5. Tân Hòa: Tên huyện thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định thời Nguyễn, ngày nay là khu vực Gò Công tỉnh Tiền Giang.
6. Lưu Tấn Thiện: người thôn Lộc Tường, huyện Vĩnh Trị, tỉnh Vĩnh Long, năm 1847 đậu cử nhân, làm tri huyện ở  Gia Định, đã cùng Trương Định chống Pháp. Sau hòa ước Nhâm Tuất (1862) tị địa về Vĩnh Long, làm quan tới chức tri phủ.
7. Biên Hòa: Thành Biên Hòa thất thủ ngày 18 tháng 2 năm 1861.
8. Quy Sơn: tức Gò Rùa, nằm trên giồng Sơn Quy, thuộc địa phận xã Tân Niên Đông cách thị xã Gò Công 2km về phía bắc. Quy Sơn đây chỉ Gò Công.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:50:06 PM

Năm Nhâm Tuất, Tự Đức thứ 15 (1862), ở vùng Quảng Yên (Bắc Kỳ) bọn giặc cỏ là Lê Minh Phụng nổi dậy, làm khắp cả hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên. Bắc Kỳ náo động, ở Nam Kỳ thì thành Vĩnh Long1 thất thủ, tin báo thua trận hàng ngày gửi về triều. Tháng 5 năm ấy, Tây soái là Bô-na2 phái thuyền ra kinh, yêu cầu cử toàn quyền đại thần vào bàn định hòa ước. Vua hội các quan trong triều bàn bạc, rồi sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định hội nghị. Tháng ấy, bản hòa ước làm xong. Đến tháng bảy bãi binh và đòi bọn Túc Trưng về triều. Trương Định được thăng hàm làm lãnh binh tỉnh An Giang và được lệnh giải binh để lĩnh chức mới. Bọn Túc Trưng giải tán quân lính, rồi gửi thư bảo ông Định mau mau theo đường tắt đi ngay. Trương Định cho vợ con đi trước còn mình ở lại kiểm điểm quân số rồi sẽ đi sau. Nhưng những người ứng nghĩa không muốn giải binh, cố lưu ông Định ở lại. Họ nói với nhau rằng: "Bọn Tây bị dân ta nhiều lần đánh lui, nay chúng được triều đình giảng hòa, chắc chúng sẽ giết hại bọn ta. Vả lại bọn Tây lấy binh lực ăn hiếp ta bắt hòa, nhưng chúng không thành thực, nay triều đình giảng hòa với chúng bọn ta không nơi nương tựa, sao bằng hợp lực đánh lại chúng, giữ lấy một mảnh đất để cùng nhau bảo toàn sinh mạng".

Mọi người đều cho là phải, liền cử Trương Định giữ binh quyền. Lúc ấy có Phạm Tuấn Phát ở Tân Long3 đem thư các nghĩa hào đến tỏ ý muốn cử Định làm chủ soái để ra sức trừ giặc. Tức thì mọi người xây đàn tôn Định là chủ soái. Định tự xưng Bình Tây Đại nguyên soái cử Trịnh Quang Nghi làm tham tán quân vụ và bố trí các cơ quan viên chức, mặt đông nam ra tới bể, mặt tây lên đến Hoa Cương4. Tại các nơi hiểm yếu đều sai quân lính phòng giữ, Định tự đem đại quân đóng ở Gò Công. Từ động Cây Đa đến đập Ông Canh5, từng đoạn một, đều đắp lũy để cản quân Tây đột nhập. Định lại đúc thêm đại bác, kén chọn quân lính các huyện, bổ sung vào các đồn thuộc Tân Hòa, phòng thủ chắc chắn để làm kế lâu dài. Sau đó gửi thư hiểu dụ các nghĩa hào, khuyên ai nấy có lòng vì triều đình trừ giặc. Các nghĩa hào đều theo mệnh lệnh của ông, các phủ huyện cũng vận tải tiền gạo đến cung cấp. Thỉnh thoảng Định giết trâu dọn rượu khao thưởng tướng sĩ ai nấy đều phấn khởi ra sức. Nhưng quân lính không có kỹ luật, khi hợp khi tan. Riêng quân do Trương Định chỉ huy và quân của Phạm Tuấn Phát ở  Hắc Khâu6, của Bùi Huy Diệu ở  Cần Đước7, của tuyên phủ sứ Nguyễn Văn Trung ở  Tân Thạnh8 là khá nghiêm chỉnh, cùng Định phối hợp thanh thế để chống giặc.

Vì Hòa ước đã thành, nên Tây soái không động binh và nhiều lần thúc giục quan tỉnh Vĩnh Long gửi thư cho Định, khuyên bãi binh.

Đại ý thư nói: "Triều đình đã ký hòa ước, ông nên bãi binh, không nên trái mệnh vua. Trung hiếu là điều tốt, nhưng phải có giới hạn, không thể vượt quá giới hạn mà được trung hiếu; thái quá cũng như bất cập, có thêm chân lại không phải là rắn nữa. Nếu ông đem toàn bộ hai tỉnh Định, Biên9 về với triều đình, cũng là một cử chỉ tốt. Hiện nay đại binh của triều đình triệt hồi đã lâu, các quan chưởng binh lén lút ở nơi rừng núi đều đã giải tán. Còn một mình, ông đem toán quân ấy tiến lên đánh thì có chắc thắng được không? Lui về giữ thì chắc có vững được không? Quyết không thể được...".
_________________________________
1. Vĩnh Long: Thành Vĩnh Long thất thủ lần thứ nhất ngày 23 tháng 3 năm 1862.
2. Bô-na: tức Bonard, thiếu tướng hải quân Pháp, giữ chức tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh tại Việt Nam từ ngày 29-11-1861 đến 30 tháng 4 năm 1863.
3. Tân Long: tên huyện thuộc Tân Bình, tỉnh Gia Định.
4. Hoa Cương: tức giồng Ông Huệ nằm trên xã Vĩnh Lợi, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
5. Đập Ông Canh: nằm trên rạch Ông Canh, nay thuộc xã Thành Công, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
6. Hắc Khâu: tức Gò Đen, nay thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
7. Cần Đước: nay thuộc huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
8. Tân Thạnh: tên huyện thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định, đời Nguyễn, nay thuộc huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An.
9. Định Biên: Gia Định, Biên Hòa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 09:57:35 PM

Thư qua lại ba lần, Định vẫn không nghe. Mãi sau Tây soái Bô-na gửi thư cho hiệp biện đại học sĩ Phan Công (Thanh Giản) đại lược nói: "Hạt Tân Hòa không phải sức tôi không lấy được. Nhưng nghĩ chốn ấy dân cư đông đúc, quân lính kéo đến phá làng mạc thành đồi hoang, nên tôi còn ngập ngừng không nỡ. Nay Định không chịu bỏ đi, ấy là y chưa hiểu ý ấy, cho nên phải dùng sức mà đuổi đi, không còn cho ở  lâu tại đó".

Phan Công trả lời rằng đã đem việc tâu về triều đình xin đợi triều đình xử trí. Trong lúc ấy, Trương Định giả lệnh vua mật truyền đi các nơi để cổ động dân chúng. Tây soái ngờ triều đình có ra lệnh thật, nên sai quân tấn công Quy Sơn. Định lập kế dụ quân Pháp đi vào chỗ lầy, giết chúng rất nhiều. Tháng 11 (âm lịch) hỏa thuyền tập trung ở  Dung Giang1, cho lính đổ bộ vây đánh. Các kiện tướng Đặng Kim Chung và Lưu Bảo Đường đều bị trúng đạn chết. Trương Định truyền hịch cho các đạo quân từ Tân Long, Bình Dương, Đinh Long cho đến Biên Hòa cùng ngày tấn công Mai Sơn2 phía tây Thuận Kiều. Lại truyền đồn ở Thái Phúc, Tuy Bình, An Long đến đánh để chia sức giặc. Nhưng các quân đánh không nổi, bị tan vỡ. Bọn Văn Trung, Tuấn Phát cũng bị vây đánh bại, bỏ chạy. Định bị lâm vào thế cô. Đến tháng Chạp, Tây binh hội cả vào Tân Hòa, chia làm ba đạo, một đạo đi theo ven bể vào Thư Giang3, một đạo đi đường bể vào đánh Lãng Lộc4 và đi theo Kỳ Man Giang5, dùng hỏa thuyền chở quân đánh thẳng Quy Sơn, tiếng súng vang trời, đạn bay như mưa. Định thúc quân chống cự luôn ba ngày, quân sĩ không cởi áo giáp. Ngày mồng 7 tháng Giêng năm Quý Hợi, Tự Đức thứ 16 (1863), thuốc súng hết, Tây binh trèo lũy đánh vào, nghĩa quân tan vỡ. Định thoát chết bị Tây đuổi theo, phải cùng bộ hạ trốn vào rừng cây ở  bờ bể6. Sau ông lại lén ra thu thập tàn quân đóng ở Phước Lộc7, tính việc khỏi binh lại. Trong bọn thuộc hạ, có tên Đỗ Tiến có ý làm phản. Ngày 19 tháng 8 năm Giáp Tý, Tự Đức thứ 17 (1864), hắn khuyên Định trở lại thôn Phước Lộc để đánh úp Tân Hòa. Định tin lời. Tiến lên sai người dẫn giặc đến đánh úp.

Định bị thương nặng, liệu không thoát khỏi, rút dao mang sẵn trong mình tự vẫn chết. Năm ấy ông 44 tuổi. Con ông là Trương Quyền8 tuy tuổi còn trẻ, song biết cầm quân thường gọi là Nhị Lang Quân (cậu Hai).

Sau khi Định chết thì Quyền trốn đi. Trương Định biết tùy cơ ứng biến, hiệu lệnh nghiêm túc, các tướng tá thảy đều sợ phục. Ông chết rồi, các nghĩa hào đều tự xưng hùng dọa người cướp của. Quang Nghị không sao kiềm chế nổi. Quang Nghị người Thừa Thiên, theo nghĩa binh, được Định cho làm tham tán, giỏi việc hành chánh biết điều khiển quân lính, nên được Định tin cậy. Khi Định chết, Quang Nghị chạy sang Giao Loan, dựa vào Phan Chánh9. Chánh người Ninh Thuận, chiếm giữ Giao Loan, tự xưng là Bình Tây Phó nguyên soái. Nghĩa hào hai tỉnh Định Biên đều theo phụ. Giao Loan giữa Biên Hòa và Bình Thuận, đất đai màu mỡ, chia quân làm đồn điền, chứa trữ thóc gạo, muốn chờ quân lính có đủ súng đạn sẽ khởi sự.

Bọn Chánh sau về triều được bổ làm quan.

Lê Thước và Phạm Khắc Khoan dịch
_______________________________________
1. Dung Giang: tức sông Gò Công ở phía đông Quy Sơn. Rạch Gò Công là một con rạch lớn trong nội địa vùng Gò Công, nối tiếp với kinh Vĩnh Lợi và rạch Vàm Rồng rồi đổ ra sông Cửa Tiền.
2. Mai Sơn: tức gò Cây Mai, còn có tên là Mai Khâu, nay thuộc đường Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 1 năm 1860, quân Pháp đánh chiếm khu vực này rồi xây dựng đồn lũy.
3. Thư Giang: bản ĐAVT phiên là Trà Giang (sông Trà), bản SĐ dịch là Già Giang (rạch Già).
4. Lãng Lộc: tức chỗ rạch Cầu Lộc thông ra cửa sông Soài Rạp, rất rộng và sâu nên gọi là Vàm Láng, ở gần vàm có một khu rừng cây cối um tùm, hươu nai hay ra đó uống nước nên gọi là Lãng Lộc.
5. Kỳ Man Giang: tức rạch Cây Bông, là con rạch chạy khắp Vàm Rồng chảy qua địa phận Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
6. Rừng cây ở bờ bể: tức Rừng Sác lúc bấy giờ chạy khắp ven biển từ Biên Hòa đến tận vùng Cần Đước tỉnh Gia Định.
7. Phước Lộc: tên huyện thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định, nay thuộc khu vực huyện Cần Đước và Cần Giuộc tỉnh Long An.
8. Trương Quyền: (còn có tên là Huệ hay Tuệ) sau trực tiếp chống Pháp ở  Tây Ninh và bị giết chết khoảng tháng 5 năm 1870.
9. Phan Chánh: tức Phan Cư Chánh sau đổi là Phan Trung, tự Tử Đan, hiệu Bút Phong, người thôn Tiến Lộc, huyện An Phước, đạo Ninh Thuận, đậu cử nhân, làm tri huyện Tân Thạnh sau bị cách chức. Khi Pháp đánh Nam Kỳ, Phan Chánh cùng Trương Định mộ nghĩa binh đánh Pháp, về sau kháng chiến ở Giao Loan rồi ra miền Trung, làm quan dần tới Thị lang bộ Hộ, Điển nông sứ Khánh Hòa, bạn rất thân của Nguyễn Thông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 10:06:15 PM

HỊCH TRƯƠNG ĐỊNH1

Tưởng có lời ca rằng:
Nước có nguồn, cây có gốc,
Huống người sinh có da có tóc.
Mà sao không biết chúa biết cha?
Huống người sinh có nóc có gia2
Mà sao không biết trung biết hiếu?
Hai vai nặng trĩu, gánh chi bằng gánh cang thường3!
Tấc dạ trung lương4, gồng chi bằng gồng xã tắc5!
Bớ6 những người tai mắt!
Thử xem loài thú cầm,
Trâu ngựa còn điếc câm,
Mà biết đền ơn cho nhà chủ.
Muông gà, loài gáy sủa,
Còn biết đáp ngãi cho chủ nuôi.
Huống chi người chân đạp đất, đầu đội trời,
Ở chi thói sâu dân, mọt nước!
Sao chẳng nghĩ sau, nghĩ trước,
Lại làm thằng nịnh, thằng gian!
Sao rằng trai trí chúa an bang? 7
Sao rằng trai thừa gia khai quốc? 8
Lẽ cho phải trải gan trung, bồi nghĩa mật,
Mà đền thuở trong bụng mẹ mười tháng mới sinh ra;
Lẽ cho phải vợ khiến chồng, con lại giúc cha,
Mà đền thuở ở đất vua, nắm rau mớ ốc.
Thậm tiếc những người làm quan mà ăn lộc,
Nỡ đem lòng mại quốc cầu vinh9;
Tiếc những tay tham lợi an mình,
Mà lại khiến vong ân, bội tổ10
Tai sao chẳng nghe, mắt sao chẳng rõ!
Tổ tiên đâu, mồ mả nước nào?
Lòng sao không xót, dạ sao không bào?
Bờ cõi loạn, muôn dân đồ thán11
Người nước Hán, mẹ cha nước Hán,
Hỏi chớ nào thảo nào ngay?
Đầu Tây rồi ở lại với Tây,
Hỏi chớ nào tôi nào chúa?
___________________________________
1. Bảo Định Giang, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quảng Tuân, Gương sáng ngàn đời, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 229-231.
2. Có nóc có gia: có nóc có nhà.
3. Cang thương: tam cương và ngũ thường. Tam cương: ba mối: vua tôi, cha con, vợ chồng. Ngũ thường: năm đức thường của người ta là: nhân, nghĩa, lễ, trí và tín.
4. Trung lương: trung chính và lương thiện.
5. Xã tắc: (xã: chỗ tế thần đất, tắc: chỗ tế thần nông) thuở xưa dựng nước tất quý trọng nhân dân. Dân cần có đất ở nên lập nền "xã" để tế thần Hậu thổ, dân cần có lúa ăn, nên lập nền "tắc" để tế thần Nông. Mất nước thì mất xã tác nên xã tắc cũng có nghĩa là quốc gia.
6. Bớ: Tiếng xướng lên mà kêu như tiếng ớ.
7. Trí chúa an bang: giúp vua yên nước.
8. Thừa gia khai quốc: đảm đang việc nhà và mở mang gây dựng đất nước.
9. Mại quốc cầu vinh: bán nước để mưu cầu lấy sự vinh hiển cho riêng mình (Mại: bán).
10. Bội tổ: làm phản lại tổ tiên.
11. Đồ thán: (đồ: bùn; thán: than, do gỗ đốt ra) ở trong chỗ đất bùn than lửa, chỉ cảnh khốn khổ, lầm than.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 10:16:22 PM

Bởi mình lại tham làm tiền của
Để cho Tây bắt vợ giết chồng.
Bởi mình tham, ham hố bạc đồng.
Để cho Tây lột da, khỏ óc1.
Thân sao không biết nhục,
Vinh vang chi cũng lấy tiếng Tây!
Sung sướng không trọn đời.
Muốn thác chớ kêu trời.
Sung sướng không trọn kiếp.
Cảm thương kẻ nó hành nó hiếp,
Xoi tóc cúp đầu!2
Cảm thương người nó móc nó câu,
Hình thân hoại thể3
Nghĩ thương khôn xiết kể,
Giận nói chẳng hay cùng;
Giận phô4 loài bất hiếu bất trung,
Thương những kẻ oan con, oan vợ5.
Thương ả chệc đêm nằm hơn năm ngủ6,
Nóng gan son ra lập ngãi đàng7,
Giận thằng dân chẳng giữ phong cương8,
Lướt óc tới ở cùng tả đạo;
Trách những kẻ lòng muông, dạ cáo,
Vinh vang chi sửa dép nâng khăn;
Thương những tay bảng quế trung thần9,
Thuở gan dạ, thẻ ngời, bài tạc10.
Làm người sao khỏi thác,
Thác trung thần, thác cũng thơm danh!
_______________________________
1. Khỏ óc: gõ óc, có nghĩa là khinh khi, hiếp đáp.
2. Xoi tóc cúp đầu: trước khi thực dân Pháp sang xâm chiếm nước ta, người đàn ông nước ta để tóc dài và búi lại thành cái búi tóc ở sau gáy. Khi Tây đặt xong nền cai trị; có người ra làm việc cho Tây đã bó buộc phải cắt tóc ngắn theo chúng. Câu này phản đối bọn Tây và bọn Việt gian theo Tây.
3. Hình thân hoại thể: hành hạ làm cho hư hại cả thân thể.
4. Giận phô loài: giận các loài. Phô là các: chữ phô đặt đối với chữ những ở về dưới: Giận phô loài - Thương những kẻ.
5. Oan con oan vợ: Kẻ ra đầu hàng giặc cũng làm cho vợ con khổ lây, mang tiếng xấu oan.
6. Thương ả chệc đêm nằm hơn năm ngủ: câu này không được rõ nghĩa. Ngoài ra người ta không nói "ả chệc" mà thường gọi "chú chệc", chú khách.
7. Ngãi đàng: con đường đạo nghĩa.
8. Phong cương: (phong: cương giới) bờ cõi đất đai.
9. Bảng quế trung thần: người có khoa cử đỗ đạt hết lòng trung thành với vua. Bảng quế là do điển "chiết quế". Trong một bài đối sách Khước Sằn có cho rằng thi đỗ cũng như bẻ một nhành quế trong rừng quế. Có người lại cho rằng thi đỗ cũng như bẻ được cành quế trong cung trăng. Nghĩa thông thường là thi đỗ.
10. Thẻ ngời, bài tạc: ý nói những người dám liều mình vì nước, dù có hy sinh nhưng danh vẫn sáng ngời, sự nghiệp vẫn được đời sau ghi chép, lập bàn thờ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Một, 2016, 10:20:35 PM

Làm người ai chẳng tham sanh,
Lòng địch khái1 xin cho rõ tiết!
Đêm năm canh thương người chính liệt2,
Ngày sáu khắc nhớ kẻ trung thần.
Chốn biên thùy lãnh ấn Tổng binh,
Cờ đề chữ: "Bình Tây đại tướng".
Trước trí quân ư Nghiêu, Thuấn thượng3,
Sau vì xã tắc thần4;
Phải cam lời rao khắp muôn dân,
Sửa tất dạ dắt dìu về một mối.

Bớ trẻ già, bé lớn ai ai,
Đều bội ám đầu minh5 cho kíp!
Chiếu phụng6 dù ta lãnh đặng,
Mũi thiên oai7 thương kẻ sanh linh8.
Phải cạn lời tỏ hết chơn tình,
Cho kẻ dân đen đặng biết!
____________________________________
1. Địch khái: (khái: giận) cái tinh thần chống cự với người mà mình căm giận, đây là giặc Pháp.
2. Chính liệt: người trung chính, dũng cảm.
3. Trước trí quân ư Nghiêu, Thuấn thượng: mưu tính giúp cho nhà vua để nhà vua có thể trở thành vua Nghiêu, vua Thuấn (Nghiêu - Thuấn: Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai ông vua hiền đời xưa bên Trung Quốc).
4. Vi xã tắc thần: làm người bầy tôi của xã tắc, nghĩa rộng là người giữ gìn non sông đất nước.
5. Bội ám đầu minh: bỏ chỗ tối theo chỗ sáng.
6. Chiếu phụng: chiếu của nhà vua viết trên tờ giấy có vẽ hình chim phụng.
7. Thiên oai: oai trời, oai của nhà vua coi như oai trời.
8. Sanh linh: như sinh linh, chỉ nhân dân. Cả đoạn này ý nói: ta vâng lệnh vua, có nhiệm vụ tiễu trừ những kẻ phản nghịch, nhưng vì thương dân chưa nỡ ra tay. Vậy những kẻ lầm lạc nên biết, hãy mau cải tà quy chính như người bỏ chỗ tối ra chỗ sáng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 09:10:00 PM

HỊCH KÊU GỌI NGHĨA BINH ĐÁNH TÂY1
                                                           NGUYỄN ĐÌNH CHlỂU



1. Lời truyền cáo thị;
    Nói với sĩ phu.
2. Nước Nam ta là một môi Xuân Thu2;
    Giặc Tây thật ba loài di địch3.
3. Chúng nó toan lòng bội nghịch4;
    Dân ta gặp thủa ly loàn.
4. Chẳng qua là vận trời đến buổi gian nan;
    Cho nên mỗi việc nước nhiều nơi hoạn nạn.
5. Đường trị loạn sách xưa còn chạm bảng;
    Lẽ chánh tà đời trước hãy treo gương.
6. Làm người khôn không xem xét cho tường;
    Thà đứa dại mà lỗi lầm cũng đáng.
7. Chẳng nhớ thuở Hung Nô5 đánh Hán, tướng mạnh như hùm, binh đông như cỏ, cướp ải lang giành ải hổ, vãn tuồng rồi Nô cũng về Nô;
    Há chẳng nghe Đột Quyết6 đánh Đường, xe đi chật đất, ngựa tế chật đồng, phá trấn bắc, đột trấn đông, rã đám hết Đột thời ra Đột.
8. Xa thư7 Hán hãy còn tóm một:
    Phong cương Đường đà mầy chia hai.
_______________________________
1. Bảo Định Giang, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quảng Tuân, Gương sáng ngàn đời, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 233-234.
2. Xuân Thu: mùa xuân và mùa thu, dùng để tiêu biểu cho một năm. Lại dùng để nói về tuổi. Cũng dùng để chỉ đời Xuân Thu bên Trung Quốc là đời văn nghệ phát đạt lắm. Ở đây tác giả muốn nói đến nước ta là một nước thống nhất có nền văn hiến đã lâu đời.
3. Di địch: xưa người Hán gọi các dân tộc ở chung quanh là di địch vì có văn hóa chưa cao. Ở đây tác giả dùng chữ "Di địch" để chỉ quân Pháp xâm lược.
4. Bội nghịch: làm loạn, làm phản. Ở đây tác giả nói đến sự tráo trở; ngang ngược của quân Pháp.
5. Hung Nô: một bộ tộc ở phía Bắc Trung Quốc thuộc vùng nội và ngoại Mông Cổ ngày nay.
6. Đột Quyết: một bộ tộc ở phía Bắc các sa mạc châu Á, thường tràn xuống đánh phá phía Nam Trung Quốc, đời Đường.
7. Xa thư: (xa: xe; thư: sách) Trung Dung: Kim thiên hạ xa đồng quỹ, thư đồng văn (Ngày nay trong thiên hạ xe cùng một thứ trục dài bằng nhau, sách cùng một thứ chữ). Ý nói chế độ nhà Chu (đời thạnh trị) đã được lưu hành khắp trong thiên hạ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 09:14:49 PM

Nay Tây cùng ta:
9. Muôn trùng non nước cách xa;
    Trăm việc ở ăn lạ thói.
10. Tuy rằng có tàu đồng ống khói;
     Tuy răng nhiều súng sắt đạn chì.
11. Trải sáu năm1 qua đánh cõi biên thùy;
     Hơn trăm trận cũng hao ngôi tướng soái.
12. Đòi xin ba tỉnh2 lời nào chẳng phải;
     Bắt phạt muôn dân của mấy cho vừa.
13. Giá như ta hợp nhau đã nhẫn thua chưa;
     Huống chi mọi3 lấn chỗ ai đành để vậy.
14. Ở đâu mà chẳng thấy, đào mồ mả phá miếu chùa, làm những việc bất nhân;
     Ở đâu mà chẳng hay, đốt nhà cửa hãm vợ con, làm những điều vô đạo.
15. Trời nào để dân ta lòi bụng ráo;
     Trời này cho lũ nó rảnh ăn chơi.
16. Xưa nay ai mạnh qua trời;
     Đâu có vật thời có chủ.
17. Kinh Phú Xuân ấy là nơi thiên phủ4,
     Vua Tự Đức ta thật đấng thánh thông.
18. Hơn ba mươi tỉnh hội đồng;
     Hơn sáu mươi năm huệ dưỡng5.
19. Văn võ hiếm6 người làm tướng;
     Man di nhiều nước đến chầu7.
20. Vả xưa kia Tây đã cúi đầu;
     Đến nay lại Tây nào trở mặt.
__________________________________
1. Sáu năm: giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1863 nghĩa là từ khi quân Pháp tiến đánh Đà Nẵng đến khi tiến đánh Gò Công.
2. Ba tỉnh: ba tỉnh phía Đông: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.
3. Mọi: đây chỉ quân giặc Lang sa.
4. Thiên phủ: kho trời.
5. Huệ dưỡng: nuôi dưỡng bằng ân huệ.
6. Hiếm: thiếu gì.
7. Man di nhiều nước đến chầu: ý nói việc các nước Ai Lao và Chân Lạp xưa đã phải thần phục triều đình nhà Nguyễn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 09:22:18 PM

Ớ các làng ơi!
21. Chớ thấy chín trùng hòa nghị1 mà tấm lòng địch khái nỡ vội quên;
     Chớ rằng ba tỉnh trọn vong mà cái việc báo cừu đành ngơ bỏ.
22. Nào những thuở rèn mác thông, đan nón gõ, ra đường hăm hở, như tuồng đâm ai chém ai;
     Đến bây giờ bưng bạc nén, vác tiền trăm, vào cửa lom khom, phải quỳ lạy nó dạ nó.
23. Mặt nào tới lãnh bằng ngày nọ;
     Mặt nào ra xuất thú buổi này.
24. Đã thề nguyền ra sức đánh Tây;
     Lại tiếc của trở vào đầu giặc.


Như vậy thời:
25. Một đường cái há phân nam bắc;
     Một vóc tơ nỡ nhuộm xanh vàng.
26. Làm chi cho thầy Địch2 thở than,
     Làm chi để ông Châu3 động khóc.


Ớ các làng ơi!
27. Ơn thủy thổ thảy đều mang nặng;
     Phận thần dân đâu khá lỗi nghi.
28. Phải che đậy nhau mà rán ở đợi thì;
     Đừng làm tin nó mà xui ra đầu thú.
29. Chớ thấy đồn bảo4 dưới Gò Công thất thủ mà đành lòng theo mọi.
30. Dầu ai hỏi cớ sao rằng ngu, cớ sao rằng nịnh, coi cái bia trên mả ngụy Khôi5.
     Dầu ai coi làm sao là họa, làm sao là tai, ngó tấm bản trong làng Đa Phước6.
__________________________________
1. Chín trùng hòa nghị: chỉ triều đình Huế đã ký Hòa ước ngày 6 tháng 6 năm 1862 nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp.
2. Thầy Địch: tức Mặc Địch, người thời Chiến quốc, chủ trương thuyết kiêm ái.
3. Ông Châu: tức Dương Chu, người thời Chiến quốc, xướng lên thuyết vị ngã, trái với thuyết kiêm ái của Mặc Địch (chữ châu cũng đọc là chu).
4. Đồn bảo: tiếng đôi, chỉ là chỗ đặt binh canh giữ.
5. Mả ngụy Khôi: ngụy Khôi tức là Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt đã khởi nghĩa chống triều đình nhà Nguyễn. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp tan và mấy ngàn người theo Khôi đều bị giết, chôn chung vào một chỗ gọi là "mả ngụy".
6. Làng Ba Phước: tên một làng ở cách Sài Gòn khoảng 20km, nay thuộc huyện Bình Chánh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 09:38:36 PM

Hỡi ơi!
31. Oán dường ấy, hờn dường ấy, cừu thù dường ấy, làm sao trả đặng mới hay;
     Công bấy lâu, nghiệp bấy lâu, lao khổ bấy lâu, nghĩ lại bỏ đi sao phải ?
32. Thà rã xác tìm nơi sơn tái1 nhóm kẻ anh hùng
     Thà lội đường ra mé hải tân2 theo người hào kiệt.
33. Năm Giáp Tý3 vận thời hầu gặp;
     Nước Đại Nam đường đất còn dài.
34. Thử xem cầm thú khác loài;
     Tua4 biết dương di5 khác mặt.
35. Mọi nào dữ cho hơn Ngột Truật6, mà sĩ Trung Nguyên chẳng khứng đầu Kim;
     Mọi nào hung dám sánh Khuyển Nhung7, mà dân Tây Thổ đều về ấp Lạc.
36. Thói hoạt Hạ8 xưa nay hằng khác;
     Việc nhương Di9 chầy kíp cũng xong.
37. Hễ làm người chớ ở hai lòng;
     Đã vì nước phải theo một phía.
38. Trước làm nghĩa sau cũng làm nghĩa, trước sau cho trọn nghĩa vua tôi;
     Sống cho danh thác cũng có danh, sống thác đặng thơm danh nhà nước.
39. Nghĩ trong thế triều đình sẵn chước, một là gần viện hai là xa viện, rồi đây thấy "dĩ di công di"10.
     Xin các viên quản suất bền lòng, trước ai đánh Tây, sau ai đầu Tây, không nhớ chữ "xuất nhĩ phản nhĩ"11.
40. Chớ khá phân bì kẻ sĩ, hoặc là làm phủ, hoặc là làm huyện, ấy những đồ hư, đồ bỏ, đồ thối, đồ nhơ;
     Chẳng nên xeo nạy12 thằng dân, hoặc theo làm mướn, hoặc theo làm thuê, ấy những đứa dại, đứa hoang, đứa nghèo, đứa rách.
41. Quan làm đường ấy, cũng như hoa chùm gửi mua ngày13;
     Dân đến nỗi này, ví như cây dù che theo nắng.
42. Nhân nghĩa lòng người đã sẵn;
     Tội phúc phép nước có phân.
43. Buổi hanh thông14 còn có đứa phi nhân;
     Cơn bĩ thế15 há không thằng tặc tử16.

Nhưng mà:
44. Lòng ai nấy giữ;
     Việc ai nấy lo.
45. Chớ tưởng tham đồng bạc con cò17;
     Chẳng đoái lại tấc gươm đầu hổ.
46. E đó mắc vòng lao khổ;
     Nên đây đưa tiếng khuyên răn.
47. Nín mà coi trời lúc trinh nguyên;
     Thời cũng thấy người trong thiện ác.
___________________________________
1. Sơn tái: núi non ở biên giới.
2. Hải tân: bờ biển.
3. Năm Giáp Tý: tức là năm 1864.
4. Tua: tiếng cổ, có nghĩa là nên, là phải.
5. Dương di: (dương: biển) quân mọi rợ từ ngoài biển xâm nhập vào; đây chỉ quân Pháp.
6. Ngột Truật: Con thứ tư vua Thái Tổ nước Kim, đem quân đánh lấy nước Tống nhưng không được các sĩ phu đất Trung Nguyên tòng phục.
7. Khuyển Nhung: tên chủng tộc Tây Nhung xưa ở tây bắc Trung Quốc, đã tấn công vào kinh đô nhà Chu khoảng năm 770 trước Công Nguyên. Chu Bình Vương phải dời đô về Lạc Ấp và đưa dân về đó.
8. Hoạt Hạ: Kinh thư có câu: "Man di hoạt Hạ" nghĩa là rợ man vào quấy rối miền Hoa Hạ (Hoa Hạ tức là Trung Quốc).
9. Nhương Di: đánh được mọi rợ. Công dương truyện chép: "Hoàn Công cứu Trung Quốc như nhương di địch" nghĩa là Hoàn Công cứu Trung Quốc, đánh lui được quân mọi rợ (rợ Nhung ở phương Bắc).
10. Dĩ di công di: Lấy mọi đánh mọi, dùng quân địch để đánh lại quân địch.
11. Xuất nhĩ phản nhĩ: Làm ra thế nào thì trở lại như thế. MạnhTử có câu: "Giới chi giới chi, xuất hồ nhĩ giả, phản hồ nhĩ giả dã". Người làm cho ai việc gì thì việc ấy sẽ được trả lại như thế cho người.
12. Xeo nạy: xê dịch, bẫy lên; nghĩa bóng là suy bì, tị nạnh.
13. Hoa chùm gửi mua ngày: ý nói đến bọn phản quốc theo giặc chỉ sống ăn bám vào người Pháp vì hành động của chúng trái với câu tục ngữ: "Mua đêm nằm mua năm ở".
14. Hanh thông: May mắn, dễ làm ăn nên việc.
15. Bĩ thế: Thời vận khốn quẫn, bế tắc, trái với hanh thông.
16. Tặc tử: Đứa con làm tai hại đến cha mẹ.
17. Đồng bạc con cò: Tiền Mễ Tây Cơ bằng bạc, có hình con ó, được người Pháp cho lưu hành tạm ở Nam Kỳ. Ca dao Nam Bộ có câu: "Ngán thay đông bạc con cò Tiết trong giá trắng đen mò vì mi".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 09:47:19 PM

PHỤ LỤC

PHONG TRÀO KHÁNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN NAM KỲ
Từ 1859 đến 1885


Phong trào kháng Pháp của nhân dân Nam Kỳ từ 1859 đến 1885 đã diễn biến qua 3 giai đoạn:

I. Giai đoạn 1859-1860

Ở Bình Dương đã có hơn 5.000 nông dân sung vào những đoàn nghĩa binh của cựu tri huyện Trần Thiện Chánh và cựu xuất đội Lê Huy chỉ huy. Những đoàn nghĩa binh này đã phối hợp đắc lực với quân của đề đốc Trần Tri chống Pháp. Một sự kiện chiến đấu nổi bật của nghĩa binh lúc bấy giờ là cuộc tấn công vào căn cứ chùa Chợ Rẫy (đêm mồng 3 rạng ngày mồng 4 tháng 7 năm 1860), một vị trí trọng yếu trên tuyến phòng ngự của địch từ Mai Sơn đến Trường Thi. Nghĩa binh đã đánh phá suốt đêm làm cho quân Pháp bị nhiều tổn thất. Tên quan ba Bác-bê bị nghĩa binh phục kích giết chết ở Trường Thi.

Đây có thể coi là giai đoạn mở đầu cuộc chiến đấu của nghĩa binh mới chỉ dấy lên chung quanh đất Sài Gòn. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ mạnh mẽ khi giặc Pháp tiến chiếm Gia Định.


II. Giai đoạn 1861-1867

Trong giai đoạn này, cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất mạnh mẽ nhất là của Trương Định (1-1861 đến 20-8-1864); ngoài ra còn có nhiều cuộc khởi nghĩa khác.

1. Cuộc khởi nghĩa của Đỗ Trình Thoại (Gò Công).

Đỗ Trình Thoại người làng Tân Long, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định, đậu cử nhân năm 1843, làm tri huyện. Tháng 6 năm 1861, ông mộ binh đánh Pháp ở vùng Gò Công. Sau khi Mỹ Tho thất thủ, ngày 22 tháng 6 năm 1861, ông lãnh đạo hơn 1.000 nghĩa binh tiến đánh Gò Công, một trong ba căn cứ của giặc ở vùng Tiền Giang và Vàm Cỏ. Cuộc tiến công bị thất bại, Đỗ Trình Thoại bị tử trận. Toàn quân còn lại đã gia nhập vào nghĩa quân Trương Định.

2. Cuộc khởi nghĩa của Phan Văn Đạt và Trịnh Quang Nghi ở vùng Biện Kiều, Biên Hòa.

Phan Văn Đạt, tự là Minh Phủ, người thôn Bình Thành, huyện Tân Thịnh, đỗ cử nhân đời Tự Đức, nhưng không ra làm quan. Khi quân triều đình thất bại rút về Biên Hòa, ông cùng Trịnh Quang Nghi mưu tính việc chiêu binh chống Pháp. Nghĩa quân của hai ông đóng ở thôn Bình Thành và Ô Khê, phía nam Biện Kiều. Hai ông chưa kịp tổ chức cuộc tấn công thì ngày 16 tháng 7 năm 1861, giặc Pháp biết tin mang quân đến đánh úp. Nghĩa quân do hai ông chỉ huy đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Phan Văn Đạt tử trận, Trịnh Quang Nghi rút về An Giang, sau này liên kết chiến đấu với Trương Định.

3. Cuộc khởi nghĩa của Phủ Cậu ở vùng Mỹ Tho.

Phủ Cậu là người mắc bệnh phong, bán thân bất toại, nhưng do lòng yêu nước nồng nàn, nên ông đã dấy binh chống Pháp vào giữa năm 1861. Ông là người chỉ huy cầm quân rất nghiêm chỉnh, được quần chúng kính phục đặt tên là "Hùm Xám”. Trong lúc đánh Bà Rịa, do lực lượng yếu hơn, ông bị giặc bắt ở Cai Lậy đem về giết tại Mỹ Tho. Nghĩa quân của ông đã về gia nhập với nghĩa quân Trương Định.

4. Cuộc khởi nghĩa của Lưu Tấn Thiện, Lê Quang Quyền đầu năm 1861; khởi nghĩa của Lê Cao Dũng và Hồ Huân Nghiệp năm 1862.

Đầu năm 1861, khi Trương Định mới xuống lập căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công) tri huyện Lưu Tấn Thiện và Lê Quang Quyền chiêu mộ được hơn 1.000 nghĩa binh đến hợp tác với Trương Định đánh Pháp.

Năm 1862, cùng với Hồ Huân Nghiệp, Lê Cao Dũng dấy binh chống Pháp ở Bình Dương, bị giặc bắt, ông đập đầu vào tường tự tử.

Hồ Huân Nghiệp, người làng Yên Định thuộc Bình Dương, tỉnh Định Tường. Ông đã dấy binh cùng với Lê Cao Dũng. Sau khi Lê Cao Dũng chết, ông đến hợp tác với Trương Định. Trương Định cử Hồ Huân Nghiệp làm tri phủ Tân Bình, điều động binh lương tiếp tế cho nghĩa quân. Ngày 17 tháng 4 năm 1864, ông bị giặc Pháp bắt và sau đó thì bị chúng xử tử.

5. Cuộc khởi nghĩa của Quản Là ở vùng Cần Giuộc.

Năm 1861, Quản Là lãnh đạo nghĩa quân ở vùng Cần Giuộc, không chế hoạt động của địch ở vùng phía bắc sông Vàm Cỏ, làm cho địch không ra khỏi Chợ Lớn. Có lúc Quản Là đã tấn công vào Gò Công, phối hợp với nghĩa quân Trương Định rất mạnh mẽ.

6. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Lịch (tức Nguyễn Trung Trực) ở Nhật Tảo.

Nguyễn Trung Trực chính tên là Nguyễn Văn Lịch, người Tân An, nhà nghèo, làm ruộng và chài lưới. Khi giặc Pháp đánh vào Nam Kỳ, ông mộ binh chống giặc được nhiều người tin theo. Chiến công đầu tiên, nổi tiếng là trận đánh tàu "Hy vọng" của Pháp đậu trên sông Nhật Tảo hồi cuối năm 1861. Do đó mới có câu "Hỏa hồng Nhật Tảo kinh thiên địa".

Sau trận này, Nguyễn Trung Trực được triều đình Huế phong chức thành thủ úy, trấn nhậm vùng Hà Tiên. Từ đó, ông đã liên lạc với nghĩa quân Trương Định tổ chức đánh Pháp ở các nơi: Thủ Thừa, Thuộc Nhiêu, Bến Lức, Tây Ninh; có lúc đánh đến tận Long Thành, Phước Lý, Tân Uyên, Biên Hòa. Cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo kéo dài sang giai đoạn III.

7. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân (tức thủ khoa Huân) ở vùng Mỹ Quý, Tam Bình, Rạch Gầm.

Thủ khoa Huân người Tĩnh Giang, phủ Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, đỗ giải nguyên khoa Nhâm Tý (1852), làm giáo thụ Kiến Hưng, khởi nghĩa ở vùng Mỹ Quý, Tam Bình, Rạch Gầm hồi cuối năm 1862. Ông đã làm cho địch mất ăn mất ngủ ở Mỹ Tho. Tháng 6 năm 1863, sau khi tổ chức đánh Mỹ Tho thất bại, ông chạy về Châu Đốc, bị giặc bắt. Năm 1864, ông bị giặc đem đày ở đảo Rê-uy-ni-ông.

8. Cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười.

Khi nghe Trương Định về lập căn cứ Tân Hòa (Gò Công) Võ Duy Dương đã dấy binh khởi nghĩa ở vùng Gò Công, Tân An, hợp tác với Trương Định trong những năm 1862-1864. Sau khi Trương Định mất, Thiên Hộ Dương (tức Võ Duy Dương) trở về lập căn cứ ở Đồng Tháp Mười.

Lúc đầu địch chưa dám tấn công vào Đồng Tháp Mười. Ngày 22 tháng 7 năm 1865, Thiên Hộ Dương chính thức đem quân đánh phá vùng Mỹ Trà (Sa Đéc). Giặc được tin, đem quân chặn đánh. Ông lại chuyển sang tấn công Cái Bè, Mỹ Quý, đánh tan quân Pháp đóng giữ vùng này. Tháng 3 năm 1866, nghĩa quân ra chiếm Cái Nứa.

Tháng 4 năm 1866, giặc Pháp tổ chức một cuộc tấn công đại quy mô vào Đồng Tháp Mười. Hai bên đánh nhau kịch liệt, nghĩa quân bị thiệt hại nặng. Tuy vậy, Thiên Hộ Dương vẫn còn tiếp tục hoạt động. Ít lâu sau, khi ông chết vì bệnh thì nghĩa quân của ông cũng tan rã.

Ngoài ra còn có các cuộc khởi nghĩa của đốc binh Kiều, Nguyễn Thành Ý, Phan Trung, Trà Quý Bình, Đỗ Quang, Âu Dương Lâu, Phan Văn Trị... Những sĩ phu yêu nước này đã từng liên kết chặt chẽ với Trương Định.

Sau khi Trương Định mất, Trương Quyền kế tục sự nghiệp của cha (1864-1867).

Tóm lại, giai đoạn 1861-1867 là giai đoạn lịch sử mà quân dân Nam Kỳ đã liên tiếp tiến công vào quân giặc ở khắp nơi, khiến giặc Pháp phải kêu lên:

"Người Pháp bị bao vây trong một cái lưới âm mưu, trong đó các tầng lớp nhân dân đều tham gia chống lại ta"


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Trương Định
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Một, 2016, 09:50:10 PM

III. Giai đoạn 1867-1885

Tháng 7 năm 1867, khi giặc Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, nhiều cuộc khởi nghĩa khác lại kế tiếp nổi lên.

1. Cuộc khởi nghĩa của Phan Tam, Phan Ngũ.

Phan Tam, Phan Ngũ (còn gọi là Phan Tôn, Phan Liêm) đều là con trai của Phan Thanh Giản. Sau khi cha chết, anh em họ Phan về với nhân dân. Được phong trào kháng Pháp của nhân dân rèn đúc, Phan Tam, Phan Ngũ đã dấy binh khởi nghĩa từ sau khi ba tỉnh miền Tây đã hoàn toàn lọt vào tay giặc. Hoạt động của anh em họ Phan hầu khắp vùng châu thổ sông Cửu Long, bao gồm các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc...

Chiến công nổi tiếng nhất là trận đánh Hương Điểm (Bến Tre) đêm 9 rạng ngày 10 tháng 11 năm 1868, thừa lúc mưa to, nghĩa quân tổ chức tập kích quân địch tại Hương Điểm, cách Bến Tre 10 cây số, chiếm được đại bác, tên chủ tỉnh Sam-pô bị thương nặng, giặc phải rút lui và xin viện binh. Tên sử gia thực dân Vi-an đã ghi về trận này như sau: "Quân phiến loạn đã cầm giáo, cầm gậy đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể phủ nhận sự can đảm của những người đã xáp chiến rất gần, không sợ chết để chống lại binh lính thiện chiến có vũ khí đáng sợ"1.

Anh em họ Phan đã tiến hành cuộc chiến đấu chống Pháp mạnh mẽ suốt trong hai năm 1867-1868. Nhưng vì địch tập trung nhiều binh lực tấn công; cuối cùng sau trận Hương Điểm lần thứ hai (15-11-1868), nghĩa quân bị thất bại nặng. Phan Tam, Phan Ngũ chạy ra Huế, rồi theo Nguyễn Tri Phương đi trấn thủ Hà Nội, hy sinh trong khi Hà Nội thất thủ (19-11-1873).

2. Khởi nghĩa lần thứ hai của Nguyễn Trung Trực.

Khi ba tỉnh miền Tây thất thủ, triều đình Huế lại phong cho ông làm chức lãnh binh và ra lệnh cho ông phải dời quân đi trấn nhậm Phú Yên. Trực kiên quyết không chịu đi và kéo quân ra lập căn cứ ở Hòn Chông và dọc theo ven biển từ Hà Tiên đến phía nam, tới tận đảo Phú Quốc.

Năm 1868, nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực vượt biển, tập kích vào đồn Kiên Giang (Rạch Giá), khi địch còn đang ngủ, nghĩa quân chỉ dùng có giáo mác, leo tường đất đột nhập vào đồn, xuất kỳ bất ý tiêu diệt địch. Sau mấy mươi phút chiến đấu kịch liệt, nghĩa quân đã hoàn toàn tiêu diệt cả đồn.

Ngày 21 tháng 6 năm 1868, địch huy động lực lượng, do tên quan tư An-sa chỉ huy, mở cuộc đánh chiếm lại Kiên Giang. Nghĩa quân, sau một lúc chống cự, thế yếu, phải lui về Hòn Chông rồi rút ra Phú Quốc.

Tháng 9 năm 1868, giặc Pháp tấn công ra Phú Quốc. Sau hai trận chiến đấu lưu huyết, Nguyễn Trung Trực bị giặc bắt. Giặc Pháp cố sức dụ dỗ, nhưng ông kịch liệt phản đối.

Chúng đem ông ra xử tử tại Rạch Giá, cuối năm 1868.

Nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực tập trung dưới quyền chỉ huy của hai anh em Đỗ Thừa Long và Đồ Thừa Tự lập căn cứ ở khu rừng U Minh tiếp tục chiến đấu.

3. Cuộc khởi nghĩa của Ba Tông ở Bến Tre.

Ba Tông (hay Phan Tông) đã dấy binh khởi nghĩa ở Ba Tri (Bến Tre) vào năm 1869. Ông đánh Pháp nhiều lần, và đã bị tử trận trong cuộc chiến đấu ở giồng Gạch (cuối năm 1870).

4. Cuộc khởi nghĩa lần thứ hai của thủ khoa Huân.

Sau khi bị đi đày ở đảo Rê-uy-ni-ông được thả về, ông lại tiếp tục tổ chức nghĩa quân kháng chiến ở vùng Định Tường từ năm 1872 đến 1874. Thủ khoa Huân lập căn cứ ở Long Trì, tập hợp nghĩa quân, vận động mã tà, tổ chức tấn công Mỹ Tho thất bại, bị bắt và bị giặc hành hình ở chợ Bến Tranh.

Trong thời gian này (1872-1875) còn có các cuộc khởi nghĩa khác như:

- Cuộc khởi nghĩa của Lê Công Thành, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ ở vùng Vĩnh Long, Long Xuyên và Cần Thơ năm 1872.

- Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Bửu ở Trà Vinh năm 1874.

- Cuộc khởi nghĩa của Lê Tấn Kế, Trần Công Bình ở Ba Động (Trà Vinh) năm 1875.

- Cuộc khởi nghĩa của Quản Thanh (gọi là phong trào "Đạo lành") ở vùng Thất Sơn (tức là bảy quả núi liên tiếp nhau thuộc tỉnh Châu Đốc giáp giới Cam-pu-chia) vào năm 1868.

Đến năm 1885, một phong trào mới lại nổi lên ở Bà Điểm, Hóc Môn. Người đứng đầu phong trào này là Nguyễn Văn Bường, Phạm Văn Hớn. Hai ông đã tổ chức "hội kín", lợi dụng vườn trầu xanh tốt như rừng để ẩn núp ban ngày; ban đêm ra tập kích các đồn lẻ và chặn đánh các đường giao thông tiếp tế của giặc. Nghĩa quân đã giết chết tên phản động Phủ Ca (đốc phủ Trần Tử Ca). Nghĩa quân còn định đánh úp Sài Gòn, nhưng kế hoạch bị lộ trước khi hành động. Nguyễn Văn Bường bị bắt, phong trào dần dần tan rã, chấm dứt cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất của nhân dân Nam Kỳ.

Tóm lại, suốt từ năm 1859 đến năm 1885, nhân dân Nam Kỳ đã luôn luôn vùng lên quyết không chịu khuất phục, ngay từ khi quân thù mới đặt chân tới đất nước ta. Hết phong trào này đến phong trào khác, nhân dân Nam Kỳ đã xông tới kẻ thù với một khí thế vô cùng dũng mãnh, thà chết chứ không lùi bước.





TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bảo Định Giang, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quảng Tuân: Gương sáng ngàn đời, Nxb Trẻ, T.p Hồ Chí Minh, 2001.
2. Tô Minh Trung, Nguyễn Xuân Huy: Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1965.
3. Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang: Thơ văn yêu nước Nam Bộ, Nxb Văn hóa, H. 1962.
4. Nguyễn Bảo Hóa: Nam Bộ chiến sử (1859-1868), Sài Gòn, 1949.
5. Phạm Văn Đồng: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc. Báo Nhân dân số 3.384, ra ngày 3-7-1963.
6. Phan Khoang: Việt - Pháp bang giao sử lược (từ thế kỷ thứ XVII đến đầu thế kỷ XX), Huế, 1950.
7. GS Trần Văn Giàu: Chống xâm lăng (lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1898) trong cuốn Nam Kỳ kháng Pháp, Nxb Xây dựng, H. 1956.
8. GS Trần Văn Giàu: Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858, Nxb Xây dựng, H. 1958.
9. Trần Huy Liệu: Lịch sử 80 năm chống Pháp (In lần hai), Nxb Văn - Sử - Địa, H. 1957.
10. Léopold Pallu, Lịch sử cuộc chinh phạt xứ Nam Kỳ năm 1861, Pari, 1864.
11. Nguyễn Thông, Kỳ xuyên văn sao (trích trong Thơ văn yêu nước Nam Bộ), Nxb Văn hóa, H.1962.
_____________________________________
1. P. Vial, Sđd, q. 2, tr. 180.


Hết