Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 07:19:03 am



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 07:19:03 am

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap


Ban biên soạn:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY




LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn xâm lược phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể dưới dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc, mỗi gia đình trong cuộc hành trình tìm về lịch sử nguồn cội.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:28:53 pm

Câu hỏi 1: Hãy trình bày tình hình đất nước Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XVIII - một trong những nguyên nhân làm bùng phát phong trào khởi nghĩa nông dân?
Trả lời:


Bước sang thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam đã vào thời kỳ suy vong nghiêm trọng. Tình trạng nước nhà phân chia làm hai miền, vua Lê - chúa Trịnh thống trị ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cát cứ ở Đàng Trong vẫn tồn tại. Các tập đoàn phong kiến ở cả hai miền ngày càng sa đọa, suy đồi, ngày càng tăng cường đàn áp bóc lột nhân dân một cách tàn khốc.

Ở Đàng Ngoài, quảng đại quần chúng nông dân cùng khổ đến cực độ, không có ruộng đất để sinh sống. Nguyên nhân là do sự chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ, phong kiến. Tình trạng đối kháng giai cấp trở nên quyết liệt. Chế độ thuế khóa nặng nề, quan lại tham nhũng đã làm cho đời sống của nhân dân sa sút nghiêm trọng. Bản thân chúa Trịnh đương thời là Trịnh Cương cũng phải thừa nhận rằng "dân nghèo mảnh đất cắm dùi cũng không có". Ruộng đất công ở các làng bị lấn chiếm gần hết, chỉ còn đủ để cung cấp lương cho binh lính và quan lại, người nông dân không còn có thể trông nhờ gì vào ruộng đất công để tìm nguồn sống. Trong khi đó, sưu thuế chồng chất lên đầu người dân lại càng nặng nề, khắc nghiệt.

Nạn bóc lột cướp đoạt ấy đã dẫn đến kết quả là ở Đàng Ngoài, khoảng những năm 40 của thế kỷ XVIII, "dân phiêu tán dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường. Giá gạo cao vọt, một trăm đồng tiền không được một bữa no. Nhân dân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết đói chồng chất lên nhau, số dân còn lại mười phần không được một. Làng nào vốn có tiếng trù mật cũng chỉ còn lại độ năm ba hộ mà thôi"1.

Trong khi ấy, tình hình Đàng Trong cũng không kém phần nghiêm trọng. Lê Quý Đôn, một quan lại Đàng Ngoài đương thời, khi vào Phú Xuân đã nhận định về đời sống của các tầng lớp xã hội ở Đàng Trong như sau:

"Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa dây cương đều nạm vàng nạm bạc, áo quần là lượt, nệm hoa chiếu mây.

Kẻ sắc mục trong dân gian cũng mặc áo đoạn, còn áo the, áo sa là đồ mặc thường, lấy việc mặc đồ vải mộc mạc làm hổ thẹn. Binh sĩ cũng ngồi chiếu mây, dựa gối xếp, ấp lò hương cổ, uống nước trà ngon, chén sứ bịt bạc, ông nhổ bằng đồng thau, bát đĩa ăn uống đều là đồ sứ Trung Quốc... coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực "
2

Bọn nhà chúa lại càng xa hoa dâm dật đến cực độ. Chỉ lấy riêng một việc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) có tới 146 đứa con cũng đủ thấy sự xa hoa dâm dật đến chừng nào.
___________________________________
1. Việt sử thông giám cương mục.
2. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:31:20 pm

Từ sau khi chúa Nguyễn là Phúc Khoát chết năm 1765, giai cấp phong kiến thống trị ở Đàng Trong lại đi sâu thêm một bước nữa vào con đường suy đốn. Phúc Khoát có nhiều con, ngôi chúa đã định truyền cho một trong những người con lớn tuổi. Nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đã mưu lập người con thứ 16 là Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi lên làm chúa để hắn có thể nắm giữ mọi quyền bính, lũng đoạn triều đình. Nguyễn Phúc Thuần nhỏ tuổi, ham chơi, dâm loạn. Trước khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, Phúc Thuần mới chừng 16, 17 tuổi, mà đã mắc bệnh "không gần đàn bà được"1 và mới một tí tuổi đầu như vậy hắn đã thường ngày "bắt phường hát trẻ tuổi dâm loạn với cung nữ để làm trò vui"2.

Chúa đã như vậy, thì bọn triều thần cũng ăn chơi, rượu chè, dâm dật không kém. Một đại thần như Nguyễn Hoãn, suốt ngày đêm say rượu. Một đại thần khác như Nguyễn Nghiễn có tới 120 vợ lẽ nàng hầu. Mọi việc triều chính đều ở trong tay Trương Phúc Loan. Mà quyền thần Trương Phúc Loan thì lũng đoạn triều chính, mỗi năm tham nhũng hàng chục vạn quan tiền. Những quan lại khác cũng đua theo những hành động bỉ ổi, cướp đoạt để ăn chơi như vậy. Bọn phong kiến càng tăng cường bóc lột, cướp đoạt để ăn chơi bao nhiêu thì dân tình càng khổ cực bấy nhiêu. Thời bấy giờ Quảng Nam là miền trù phú nhất ở Đàng Trong. Quảng Nam, đặc biệt là Quy Nhơn, sản xuất rất nhiều thóc gạo, lạc, mía, hạt tiêu, thuốc lá, trầu cau. Hàng thủ công rất phát triển. Tơ lụa, nhiễu, đường, miến, dầu dừa đều là hàng xuất khẩu. Quảng Nam lại có nhiều ruộng muối, nhiều mỏ vàng, mỏ sắt.

Do Quảng Nam có nhiều hàng nông, lâm, hải sản để xuất khẩu, nên việc vận tải thông thương ở đây cũng rất phát triển. Năm 1768, số thuyền chuyên chở ở Đàng Trong là 447 chiếc, thì Quảng Nam có 60 chiếc, riêng Quy Nhơn có 93 chiếc, còn những nơi khác như châu Bố Chính chỉ có 10 chiếc. Thời bấy giờ các nhà buôn Trung Quốc và các nước khác thường ra vào buôn bán ở Quảng Nam, coi Quảng Nam như là trung tâm kinh tế, văn hóa bậc nhất ở Đàng Trong, họ đã gọi Đàng Trong là Quảng Nam quốc. Một nhà buôn Trung Quốc thời ấy đã miêu tả nền thương nghiệp thịnh vượng ở Quảng Nam như sau:

"Ở Sơn Nam3 khi về chỉ mua được một thứ củ nâu. Ở Thuận Hóa khi về chỉ mua được hồ tiêu. Còn như ở Quảng Nam thì đủ trăm thứ hóa vật, không có nơi nào sánh kịp. Các hóa vật từ các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Bình Khang và dinh Nha Trang đều theo đường thủy, đường bộ tập trung về Hội An. Ở đó, rất nhiều nhà buôn phương Bắc đến mua hàng đem về nước. Trước đây hàng hóa rất nhiều, dù hàng trăm tàu lớn đến chuyên chở một lúc cũng không hết được"4.

______________________________________
1, 2, 4. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục.
3. Tức ngoài Bắc Hà.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:31:51 pm

Chính cái cảnh trù phú, thịnh vượng ấy của Quảng Nam đã khiến Quảng Nam trở thành một trung tâm bóc lột của tập đoàn phong kiến Đàng Trong ở nửa cuối thế kỷ XVIII. Ở Quảng Nam, các thứ thuế má rất nhiều và cực kỳ nặng nề, phiền nhiễu. Theo Lê Quý Đôn, thì "bọn cai trưng và quan lại các nha quá nhiều, mỗi một trường thu thuế có tới vài ba mươi người đốc thúc, tra khảo rất là phiền nhiễu, lại còn truy hỏi, hành hạ ẩn lậu, cố tình thếm bớt, sinh sự làm khổ dân".

Đối với các thuyền buôn ngoại quốc, bọn chúa, tôi nhà Nguyễn đánh thuế rất nặng. Đối với những thuyền buôn thông thương trong nội địa, chúng bắt chịu rất nhiều tầng thuế và đặt sở tuần ty để thu thuế ở khắp mọi nơi.

Đối với mọi thứ thuế khác, người dân Quảng Nam cũng phải chịu nặng nề hơn cả. Riêng các thứ tiền thuế rừng núi, thuế đầm ao, thuế cửa quan, thuế chợ ở hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, hàng năm họ Nguyễn thu vào trên 76.467 quan thì trong số đó Quảng Nam chiếm sáu phần, Thuận Hóa một phần. Đồng bào Chàm, Thượng ở miền núi cũng phải chịu rất nhiều thứ thuế thổ sản, thuế nguồn, thuế ruộng miền núi... Lê Quý Đôn đã phải nhận định rằng:

"Lệ phí thuế ở Quảng Nam khác với Thuận Hóa. Lệ trưng thu so với Thuận Hóa nặng nề hơn, cho nên số thu vào kho rất nhiều và bổng lộc của quan lại cũng rất phiền nhiễu. Dân ở đấy khởi loạn đầu tiên cũng vì cớ ấy".

Đó là toàn bộ tình hình Việt Nam ở thế kỷ XVIII. Giai cấp phong kiến thống trị ở hai miền Nam, Bắc đều thối nát ươn hèn, quảng đại quần chúng nhân dân trong cả nước đều cùng khổ cực độ. Trong hoàn cảnh dở sống dở chết ấy người nông dân Việt Nam đương thời không thể không vùng dậy để giành lấy quyền sống. Chính vì thế mà ngay từ những năm đầu của thế kỷ XVIII, những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại sự áp bức bóc lột của các tập đoàn phong kiến thống trị Lê, Trịnh, Nguyễn đã liên tiếp nổ ra. Trong suốt thời phong kiến ở Việt Nam, khởi nghĩa nông dân đã có nhiều, nhưng chưa bao giờ nhiều bằng thế kỷ XVIII. Người ta có thể gọi thế kỷ XVIII trong lịch sử Việt Nam là "thế kỷ của nông dân khởi nghĩa”.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:35:50 pm

Câu hỏi 2: Thế kỷ XVIII trong lịch sử Việt Nam được gọi là "Thế kỷ của nông dân khởi nghĩa"; hãy trình bày các cuộc khởi nghĩa của nông dân trước cuộc khởi nghĩa Tây Sơn?
Trả lời:


1. Những cuộc khởi nghĩa đầu tiên.

Ngay từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, nông dân nhiều nơi đã nổi dậy cướp phá các nhà giàu, nhưng phong trào chỉ bùng lên từ cuối những năm 30 do hậu quả của các nạn đói liên tiếp.

Mùa thu năm 1737, nhà sư Nguyễn Dương Hưng tập hợp vài nghìn nông dân nghèo, lưu vong ở vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), xưng "ngụy hiệu" khởi nghĩa, đánh phá các vùng xung quanh. Triều đình được tin đã cử đốc đồng Sơn Nam là Nguyễn Bá Lân cùng nhiều người khác cầm quân, chia đường đi đàn áp. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên bị dập tắt, nhưng cuộc đấu tranh của nông dân vẫn tiếp tục ngày càng mãnh liệt. Chúa Trịnh hạ lệnh cho các lộ Sơn Tây, Thanh Hóa phải đặt đồn hỏa hiệu ở trên đỉnh núi, bắt dân sở tại ngày đêm canh giữ, hễ có nguy cấp thì đốt lửa báo.

Những năm tiếp theo, như sử cũ ghi: "Trộm cướp nổi lên mỗi ngày một nhiều, dân gian náo động". Cùng thời gian này, ở kinh thành, hoàng thân Lê Duy Mật mưu cùng một số quan lại nổi dậy, định làm một cuộc đảo chính lật đổ chúa Trịnh nhưng việc không thành, phải chạy vào Thanh Hóa. Để chống lại nông dân, triều đình lập phép đoàn kết, cho dân tự sắm lấy vũ khí, đặt điếm canh, hợp sức nhau bảo vệ xóm làng. Không ngờ, chủ trương đó bị nông dân lợi dụng, gây thành cái cảnh "dân gian đâu đâu cũng có binh khí, kẻ gian... tụ họp nhau đi cướp bóc ngày càng quá".

2. Phong trào nông dân bùng lên rầm rộ.

Từ cuối năm 1739, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở khắp Đàng Ngoài. "Người xã An Lịch là Đỗ Tế giữ châu Sơn Dương (Tuyên Quang), người xã Bình Ngô là Nho Bồng giữ huyện Phượng Nhãn (Bắc Giang), người xã Ngân Già là Bắc giữ huyện Nam Chân (Nam Định), người xã Dũng Thủy là Tú Cao giữ huyện Thư Trì (Thái Bình), người xã Hoàng Xá là Giáo Ly giữ huyện Đông Quan (Thái Bình). Nông dân nghèo đói, lưu vong, "người đeo búa, người vác gậy đi theo, chỗ nhiều có đến hơn vạn, chỗ ít cũng có đến hàng trăm, họ quấy rối làng xóm, vây đánh các ấp thành, triều đình không thể nào ngăn cấm được".

Ở Hải Dương, anh em Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ phối hợp với Vũ Trác Oánh và bè đảng vùng Thất Quận (7 huyện ở đông Hải Dương), nổi dậy ở Ninh Xá (Chí Linh - Hải Dương). Nghĩa quân giương cao lá cờ "Ninh dân", đặt 2 đại đồn chính ở Phao Sơn (Chí Linh) và Đỗ Lâm (Gia Lộc), rồi tiến quân đánh các làng Thích Lý, My Thữ - quê hương họ ngoại chúa Trịnh, nhân thế lớn làm càn, sách nhiễu nhân dân quá đáng - thu hết tiền của, thóc gạo, vải vóc "đem phân phát hết cho dân nghèo". Thanh thế nghĩa quân lên cao, lực lượng càng hùng mạnh. Nghĩa quân đánh sang huyện Gia Bình (Bắc Ninh) rồi đánh xuống Thượng Phúc, Phú Xuyên (Hà Tây). Tháng 6 năm 1740, nghĩa quân đánh Đường An, đốt phá phủ đệ và nhà thờ họ Trịnh, sau đó đánh xuống Khoái Châu (Hưng Yên).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:36:17 pm

Cùng thời gian này, Nguyễn Hữu Cầu dựa vào thế của Tổng Tượng bắt đầu hoạt động ở Thanh Hà (Hải Dương).

Ở vùng Sơn Nam, nghĩa quân Hoàng Công Chất với nhiều chiến thuyền, hoạt động ở hầu khắp vùng hạ lưu sông Hồng, nhiều lần đánh lui quân triều đình. Đồng thời nhóm Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao nổi lên ở Ngân Già, tấn công vào Chân Định, đánh bại quân triều đình giết chết nhiều quân tướng. Nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng, "gặp quan quân là vác dao xông vào chém bừa bãi". Ở vùng Hưng Hóa, Sơn Tây, nghĩa quân do Tế và Bồng chỉ huy "nổi tiếng tinh quái, hung tợn”. Năm 1740, nghĩa quân bị quân triều đình đánh bại, Tế và Bồng đều bị bắt. Một tướng của Tế là Nguyễn Danh Phương bèn đem tàn quân chiếm cứ núi Tam Đảo, dựng thành lũy, mộ thêm người, quyết đánh lâu dài với quân triều đình. Ở vùng Hoa Khê (Vĩnh Phúc), nghĩa quân đánh bại quân triều đình, giết chết nhiều viên quan địa phương.

Đầu năm 1741, thổ tù phiên trấn Lạng Sơn là Toản Cơ cũng nổi dậy, đem quân đánh phá Đoàn Thành, giết trấn phủ Ngô Đình Thạc. Trong lúc đó, Lê Duy Mật đã trở thành một thủ lĩnh nghĩa quân, hoạt động mạnh ở vùng tây Thanh Hóa rồi đánh ra Hưng Hóa, Sơn Tây.

Đứng trước phong trào nông dân rầm rộ đó, triều đình Lê - Trịnh hết sức lúng túng. Phủ chúa đã đưa Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang, đưa Hiển Tông lên thay Ý Tông nhưng thực tế mọi quyền hành đều nằm trong tay họ Trịnh. Sau khi ổn định tình hình nội bộ triều đình, Trịnh Doanh tập trung mọi sức lực chống lại phong trào nông dân. Chúa hạ lệnh xá giảm tô thuế, triệt bỏ bớt số sở tuần ty, sai các đại thần đi kinh lý địa phương phủ dụ nhân dân trở về sản xuất, cho quan lại đi Sơn Nam mua thóc để phát chẩn cho các vùng đói kém, đặt chức khuyến nông lại ở các địa phương để khuyến khích nông dân làm ruộng, lập 33 sở đồn điền ở các vùng làng mạc phiêu tán, dùng binh lính cày cấy... Bên cạnh đó, chúa Trịnh huy động hết nhân tài của triều đình ra chỉ huy quân đội đàn áp nghĩa quân, mộ thêm ưu binh, củng cố kỷ luật trong quân đội. Để chống lại phong trào nông dân, chúa Trịnh chủ trương đánh mặt nam trước sau đó chuyển hướng sang đông: "Ninh Xá chưa thể phá ngay được, bây giờ không gì bằng phải đánh tan được giặc Ngân Già", cấm chỉ quân đội không được "cướp của, giết người".

Cuối năm 1740, Trịnh Doanh tập trung quân đánh xuống Sơn Nam. Nghĩa quân Ngân Già bị đàn áp.

Năm 1741, sau khi đánh lui nghĩa quân Ninh Xá đang kéo về Bồ Đề (Gia Lâm), Trịnh Doanh chia Sơn Nam thành 2 lộ Thượng, Hạ, đặt chức chưởng đốc ở các trấn quanh kinh thành, động viên các địa chủ, hào lý địa phương chống lại nghĩa quân và tập trung sức đánh lên Hải Dương. Hai đại đồn của nghĩa quân là Phao Sơn và Ninh Xá bị phá, thủ lĩnh Nguyễn Tuyển chết. Một tướng giỏi của nghĩa quân là Kình, sau khi đánh bại được quân triều đình ở Cẩm Giàng, Chí Linh, đã xin hàng. Một tướng khác là Nguyễn Diên hoạt động ở Sơn Tây cũng bị thua phải bỏ trốn vào Nghệ An. Thủ lĩnh Nguyễn Cừ chạy lên Lạng Sơn rồi quay về Hải Dương, đến Đông Triều thì bị bắt. Nghĩa quân Ninh Xá bị đàn áp.

Tuy nhiên, năm 1741 chỉ chấm dứt giai đoạn đầu của phong trào nông dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:36:52 pm

3. Những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu.

Các cuộc khởi nghĩa Ngân Già, Ninh Xá bị dập tắt. Phong trào nông dân tiếp tục dâng cao và tập trung lại ở các cuộc khởi nghĩa lớn của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất và cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật.

- Khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương (1740-1751): Nguyễn Danh Phương quê ở xã Tiên Sơn, huyện Yên Lạc, trấn Sơn Tây (nay thuộc Vĩnh Phúc) là một trí thức nho học vì căm ghét chính quyền họ Trịnh, năm 1740 tham gia cuộc khởi nghĩa của Đỗ Tế, khi Tế và Bồng bị hại, Nguyễn Danh Phương tập hợp tàn quân được vài vạn người chiếm cứ Việt Trì và núi Độc Tôn (Tam Dương) tiếp tục hoạt động. Thanh thế nghĩa quân ngày càng tăng. Năm 1744, nhân chúa Trịnh tập trung quân đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu, với lý do "Nguyễn Danh Phương chẳng qua chỉ là tên giặc tự giữ một xó mà thôi, còn như vùng Đông Nam là nơi đẻ ra của cải thuế khóa của quốc gia", Nguyễn Danh Phương mở rộng hoạt động, chiếm vùng núi Tam Đảo, tự xưng là Thuận Thiên khải vận đại nhân, lấy núi Ngọc Bội (giữa hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên - Vĩnh Phúc) làm đại đồn trung tâm. Ở đây, ông cho xây dựng cung điện, đặt quan thuộc, cờ quạt, xe cộ như một triều đình. Xung quanh trung tâm, Nguyễn Danh Phương đặt thêm nhiều đồn lũy như Trung đồn ở Hương Canh (Vĩnh Phúc), Ngoại đồn ở Ức Kỳ (Thái Nguyên) và nhiều đồn lũy nhỏ khác rải ra ở các huyện thuộc Tam Đảo, Lâm Thao, Đà Dương thuộc trấn Sơn Tây và các huyện thuộc Thái Nguyên, Tuyên Quang. Nghĩa quân đóng ở đâu đều làm ruộng, chứa thóc ở đó. Ngoài ra, nghĩa quân còn nắm lấy các nguồn lợi về chè, tre, sơn, gỗ, hầm mỏ để phục vụ việc xây dựng, chế tạo vũ khí, quân nhu, chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Trong nhiều năm, nghĩa quân hầu như làm chủ cả vùng, đánh bại mọi cuộc tấn công lẻ tẻ của quân triều đình.

Đầu năm 1751, sau khi đánh bại nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu, Trịnh Doanh tập trung lực lượng tấn công lên vùng đất của Nguyễn Danh Phương. Các tướng Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Nghiễm, Đoàn Chú được cử coi quân. Quân triều đình theo đường Thái Nguyên đánh trước vào đồn Ức Kỳ rồi đánh sang đồn Hương Canh. Sau một cuộc chiến đấu quyết liệt, đồn Hương Canh bị phá, nghĩa quân phải rút về Ngọc Bội. Được Trịnh Doanh giao phó, tướng Nguyễn Phan hô quân tấn công dữ dội lên núi Ngọc Bội. Nghĩa quân dùng súng bắn xuống, cố thủ nhưng không ngăn được quân triều đình, Nguyễn Danh Phương phải bỏ đại đồn chạy vào núi Độc Tôn, sau đó chạy về xã Tĩnh Luyện, huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc). Đến đây, ông bị bắt, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:37:49 pm

- Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751): Nguyễn Hữu Cầu quê ở xã Lôi Động, huyện Thanh Hà (Hải Dương), thuở nhỏ nhà nghèo được mẹ cho đi học, từng là bạn của Phạm Đình Trọng. Nhưng ông không thích văn mà ham học võ, múa đao, phi ngựa, bơi lặn đều giỏi (người đương thời gọi là quận He). Từ sớm đã bất bình với cảnh quan lại tham nhũng, Nguyễn Hữu Cầu bỏ theo toán cướp ở địa phương, tham gia cướp của các thuyền buôn để cứu giúp dân nghèo. Những năm 1739-1740, ông tham gia nghĩa quân Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và rất được quý trọng. Gặp lúc mất mùa, đói kém, đặc biệt là vùng Hải Dương chịu nặng hơn cả, Nguyễn Hữu Cầu tổ chức cướp thuyền buôn lấy thóc gạo phân phát cho dân đói. Năm 1741, Nguyễn Cừ bị bắt, Nguyễn Hữu Cầu tiếp tục duy trì lực lượng nghĩa quân và phát triển thành một cuộc khởi nghĩa lớn.

Năm 1742, Nguyễn Hữu Cầu lấy Đồ Sơn và Vân Đồn, Trà Cổ làm căn cứ chính, xây dựng lực lượng, đóng thuyền rèn vũ khí, luyện tập quân sĩ. Quân triều đình do Trịnh Bảng chỉ huy kéo ra đàn áp, bị nghĩa quân đánh tan ở Cát Bạc (Hải Phòng). Nghĩa quân cũng kéo sang đánh tan quân của Đằng bảng hầu ở vùng sông Than (Bắc Ninh) cùng nhiều lực lượng khác. Từ đó, thanh thế nghĩa quân thêm lừng lẫy, Nguyễn Hữu Cầu tự xưng là Đông Đạo tổng quốc bảo dân đại tướng quân, làm chủ cả vùng ven biển Đông Bắc. Nghĩa quân thường cướp của nhà giàu, cướp thóc gạo của các chủ thuyền buôn giàu đem chia cho dân nghèo đói, nên đi đến đâu người theo đến đó. Trước tình thế đó, Trịnh Doanh chủ trương tập trung lực lượng đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu vì "vùng Đông Nam là nơi đẻ ra thuế khóa của cải của quốc gia... Sau khi đã bình định được Hữu Cầu, Công Chất rồi, lúc ấy sẽ quay cờ kéo lên mặt tây". Hai đại thần là Hoàng Công Kỳ và Trần Cảnh được cử thống lĩnh đại quân thủy, bộ đi đánh. Sau nhiều trận quyết chiến, quân triều đình bị đánh bại. Trần Cảnh bị triệu hồi, biếm 6 trật, trả chức. Đầu năm 1743, Hoàng Ngũ Phúc được cử làm thống lĩnh kỳ binh đạo Hải Dương đi cứu viện - quân triều đình bị bao vây ở Thanh Hà hàng tuần lễ, Ngũ Phúc không sao cứu được. Sau khi được giải thoát, Hoàng Công Kỳ bị gọi về, chuyển làm trấn thủ Sơn Nam. Phạm Đình Trọng được lệnh đem quân đến bổ sung, đánh gấp. Nguyễn Hữu Cầu rút quân về Đồ Sơn. Hoàng Ngũ Phúc tiến quân đánh Đồ Sơn, bị thua to, tỳ tướng Trịnh Bá Khâm bị giết. Năm 1744, Hoàng Ngũ Phúc cùng Phạm Đình Trọng hợp sức tấn công Đồ Sơn. Liệu thế chống không nổi, Nguyễn Hữu Cầu rút quân khỏi Đồ Sơn, theo đường sông Bạch Đằng kéo về Kinh Bắc, chiếm vùng sông Thọ Xương (khúc sông Thương thuộc Lạng Giang) đắp lũy hai bên bờ để chống giữ. Trấn thủ Kinh Bắc là Trần Đình Cẩm đem quân đến đánh, bị Nguyễn Hữu Cầu đánh bại ở Trai Thị phải rút về Thị Cầu (trấn lỵ). Nghĩa quân thừa thắng, truy đuổi, Đình Cẩm lại bị thua, bỏ trấn thành mà chạy. Nguyễn Hữu Cầu tiến quân vào trấn thành, tung lửa đốt hết doanh trại. Tin đó báo về, cả kinh thành náo động, chúa Trịnh phải huy động hết vệ binh chia nhau đóng ở các xã bao quanh để phòng bị và cho ngươi đưa thư quở trách Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc đem quân về Võ Giàng (Bắc Ninh) xin hết sức lập công. Trịnh Doanh cử thêm Cổn quận công Trương Khuông lên phối hợp chiến đấu. Nguyễn Hữu Cầu rút khỏi Thị Cầu. Với quyết tâm tiêu diệt nghĩa quân, chúa Trịnh tập trung tất cả 5 đạo quân với 10 đại tướng, 64 liệt hiệu và hơn 12.700 quân theo 5 hướng tấn công. Dùng mưu lừa địch, Nguyễn Hữu Cầu cho quân mai phục chỗ hiểm yếu, đổ ra đánh tan quân chủ lực do Trương Khuông chỉ huy ở Yên Dũng, cả 4 đạo còn lại không đánh mà tan. Trịnh Doanh triệu Trương Khuông về, cử Đinh Văn Giai đến thay. Thanh thế nghĩa quân lừng lẫy, hàng loạt thủ lĩnh nghĩa quân địa phương họp ở xã Bình Ngô (Gia Lương - Bắc Ninh) hưởng ứng. Nguyễn Hữu Cầu đặt mưu, thúc quân đánh bại quân của Văn Giai rồi tiến lên vây Thị Cầu. Văn Giai bị triệu về, Hoàng Ngũ Phúc được cử thay thế.

Năm 1745, Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng (bấy giờ được phong Hiệp trấn Hải Dương) đem quân tiến đánh nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu ở thành Xương Giang. Một tướng giỏi của Nguyễn Hữu Cầu là Thông bị giết. Nghĩa quân phải rút về Hải Dương. Năm 1746, thấy tình thế khó khăn Phạm Đình Trọng liên tục đem quân đánh riết, Nguyễn Hữu Cầu quyết định cử người đút lót cho quyền thần Đỗ Thế Giai, xin hàng. Trịnh Doanh chấp nhận, ban cho hiệu Ninh đông tướng quân, tước Hướng nghĩa hầu. Tuy nhiên, Phạm Đình Trọng không chịu, bất chấp chỉ dụ của chúa, đem quân đánh úp quân doanh của Nguyễn Hữu Cầu. Y lại thả mặc cho quân lính cướp bóc nhũng nhiễu nhân dân địa phương. Nguyễn Hữu Cầu phải rút chạy, tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi, có lúc đánh vào tận Duyên Hà (Thái Bình). Cuối năm 1748, sau một thất bại lớn ở Cẩm Giàng (Hải Dương), Nguyễn Hữu Cầu lợi dụng sự sơ hở của quân triều đình, đem quân đánh gấp về Bồ Đề (Gia Lâm), dự định vượt sông đánh vào kinh thành. Nhưng, khi nghĩa quân sang sông thì trời sáng, quân triều đình kịp thời xông ra chống cự. Phạm Đình Trọng cũng được tin, kéo quân về chặn đánh. Quân Nguyễn Hữu Cầu bị tổn thất lớn, phải rút về Sơn Nam phối hợp với nghĩa quân Hoàng Công Chất. Năm 1749, nghĩa quân chiếm nhiều huyện ở Sơn Nam, quân triều đình do Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng đến đánh. Hai bên đánh nhau nhiều trận ở các huyện Ngự Thiên, Phụ Dực, Quỳnh Côi (thuộc Thái Bình). Sau khi bị thua ở đây, Nguyễn Hữu Cầu lại kéo quân về Hải Dương. Năm 1750, nghĩa quân bị thất bại liên tiếp, có lúc Nguyễn Hữu Cầu một mình một ngựa phá vòng vây chạy thoát, rồi mấy hôm sau lại tập hợp được hàng ngàn, hàng vạn nghĩa quân tiếp tục chiến đấu. Đầu năm 1751, bị thất bại lớn ở Bình Lục, Vĩnh Lại, Nguyễn Hữu Cầu buộc phải bỏ chạy vào Nghệ An, dựa vào lực lượng của Nguyễn Diên, một bạn chiến đấu cũ. Nhưng Phạm Đình Trọng lại kéo quân vào đánh, Nguyễn Hữu Cầu thấy bất lợi, bèn cùng một số bộ tướng định vượt biển về lại Hải Dương. Chẳng may khi ra đến biển thì gió bão nổi lên, Nguyễn Hữu Cầu và bộ tướng bỏ thuyền lên bộ, ẩn trốn ở vùng núi Hoàng Mai (bắc Nghệ An - giáp Thanh Hóa) và bị thuộc tướng của Phạm Đình Trọng là Phạm Đình Sĩ bắt, đóng cũi đưa về kinh đô.

Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân điển hình nhất của thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài bị đàn áp.

Theo Lê kỷ tục biên: Khi Cầu bị đem yết thái miếu "mặt mũi vẫn ung dung rắn rỏi. Trịnh Doanh không có ý định giết, nhưng vì Cầu định vượt ngục nên bị bắt chém. Vợ là Nguyễn Thị Quỳnh đã tự tử trước mộ chồng để toàn danh tiết...".

Tinh thần quật khởi, kiên cường vì cuộc sống của giai cấp nông dân của người thủ lĩnh Nguyễn Hữu Cầu và câu chuyện "Quận He" mãi mãi được nhân dân kính trọng và ghi nhớ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:38:12 pm

- Khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (1739-1769): Từ năm 1739, Hoàng Công Chất đã tập hợp nông dân nghèo nổi dậy hoạt động ở vùng Sơn Nam. Nghĩa quân có sở trường về thuật đánh du kích "khi tan, khi hợp”. Như nhận xét của quận công Nguyễn Đình Hoàn: "Giặc đóng ở trong các vùng cỏ rậm rạp, quan quân đến phía trước thì chúng lần ra phía sau, quan quân chọn phía tả thì chúng chạy sang phía hữu”.

Quân triều đình nhiều lần tiến công nhưng đều thất bại. Nghĩa quân làm chủ đất Khoái Châu (Hưng Yên). Năm 1746, Hoàng Công Kỳ được cử làm trấn thủ Sơn Nam, hăng hái đánh dẹp nghĩa quân, vì chủ quan mà bị nghĩa quân bắt giết. Bấy giờ, triều đình Lê - Trịnh đang tập trung sức đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu nên Hoàng Công Chất có điều kiện mở rộng hoạt động ra cả miền Đông, tổ chức đúc tiền dùng riêng trong vùng. Sau khi bị thua ở Bồ Đề năm 1748, Nguyễn Hữu Cầu thu quân chạy vào Sơn Nam phối hợp với nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh phá các huyện Thần Khê, Thanh Quan (Thái Bình), bao vây đại bản doanh của Hoàng Ngũ Phúc ở Ngự Thiên. Quân triều đình đến tiếp viện, nghĩa quân bị thua to ở vùng Bình Lục phải phân tán mỗi người một ngả. Năm 1751, Hoàng Công Chất chạy vào Thanh Hóa, sau đó kéo quân lên miền thượng du Hưng Hóa, liên kết với thủ lĩnh nghĩa quân địa phương là Thành, chống lại quân triều đình. Giữa năm 1751, Thành bị bắt trong một cuộc tấn công của quân triều đình, Hoàng Công Chất lại phải chạy lên châu Ninh Biên (Lai Châu). Nhờ liên kết chặt chẽ với nhân dân các tộc người thiểu số ở đây, nghĩa quân làm chủ cả một vùng rộng lớn Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình... Bấy giờ, các cuộc khởi nghĩa ở miền xuôi đã bị dập tắt, triều đình Lê - Trịnh còn lo việc phục hồi kinh tế, củng cố lại chính quyền. Hoàng Công Chất vận động nhân dân cùng nghĩa quân xây dựng thành lũy kiên cố ở Noọng Hét (Điện Biên), tăng gia sản xuất, chống lại các cuộc tấn công của quân triều đình. Trong gần 20 năm, cuộc sống của nhân dân vùng nghĩa quân chiếm đóng tương đối yên tĩnh.

Người Thái còn lưu truyền những câu thơ: Chúa thật là yêu dân, chúa xây dựng bản mường, mọi người được yên ổn làm ăn... Nghe chăng tiếng hát của Keo Chất trong phủ ngân vang khắp cánh đồng Mường Thanh bao la...

Năm 1768, triều đình cử Hoàng Phùng Cơ, Phạm Ngô Cầu, Phan Lê Phiên hợp quân lên đàn áp. Bấy giờ Hoàng Công Chất đã chết. Con là Công Toản lên thay, sai quân chống cự mãnh liệt. Đầu năm 1769, quân triều đình tập trung đánh mạnh vào vùng Thẩm Cô. Nghĩa quân bị thua, Công Toản phải bỏ chạy sang Vân Nam. Thành lũy bị san phẳng, cuộc khởi nghĩa chấm dứt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:39:00 pm

- Cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật (1738-1770): Lê Duy Mật là một hoàng thân, con vua Dụ Tông. Năm 1738, ông cùng một số quan thân cận định làm một cuộc đảo chính, giành lại chủ quyền cho vua Lê, nhưng thất bại phải chạy vào Thanh Hóa. Dựa vào sự bất bình của nhân dân, Duy Mật đã tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ ở vùng thượng du Thanh Hóa chống lại chúa Trịnh. Cuộc khởi nghĩa dần dần mang tính chất quần chúng và hòa chung vào phong trào nông dân.

Nghĩa quân thường tiến ra hoạt động ở Hưng Hóa, Sơn Tây, Sơn Nam. Trong những năm 1749-1752, phối hợp với nghĩa quân của thủ lĩnh Tương ở Sơn Tây, quân của Duy Mật đã gây cho quân triều đình nhiều thiệt hại. Năm 1752, trong các trận đánh ở Ngọc Lâu (Thanh Hóa) và Vĩnh Đồng (Hà Tây), nghĩa quân bị thua to, thủ lĩnh Tương bị giết, Duy Mật rút về thượng du Thanh Hóa. Từ đó cho đến năm 1763, quân của Duy Mật làm chủ miền thượng du Thanh Hóa, Nghệ An, cùng nhân dân tăng gia sản xuất, đào kênh, lập chợ, dựng lò rèn vũ khí. Năm 1764, Duy Mật lại xây căn cứ mới ở Trình Quang (Trấn Ninh) có hào lũy kiên cố.

Năm 1769, sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất, Trịnh Sâm sai Bùi Thế Đạt, Nguyễn Phan, Hoàng Đình Thể chỉ huy 3 đạo quân Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa tấn công quyết liệt vào Trấn Ninh. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Đầu năm 1770, quân triều đình nhiều lần tấn công vào căn cứ Trình Quang nhưng không được, tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân tiếp viện, đã dùng nội ứng (con rể của Duy Mật) mở cửa thành cho quân triều đình đánh vào. Lê Duy Mật biết thế không giữ được, đã cùng vợ con tự thiêu mà chết.

Có thể nhận xét rằng, ở thế kỷ XVIII, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam bùng lên một phong trào nông dân rộng khắp, rầm rộ và kéo dài hàng chục năm. Phong trào không chỉ lôi cuốn hàng chục vạn nông dân nghèo miền xuôi ở các tỉnh Đàng Ngoài mà còn lôi cuốn cả hàng vạn nhân dân các dân tộc ít người miền núi. Khi phong trào bùng lên mãnh liệt, tuy tập trung chủ yếu ở 4 cuộc khởi nghĩa lớn nhưng không phải chỉ có như vậy. Nông dân nghèo đã nổi dậy ở khắp nơi. Sử cũ ghi: "Khi Cừ, Tuyển bị hại, đồ đảng còn sót lại đều hô hào nhau tụ tập thành từng toán một, toán lớn vài nghìn người, toán nhỏ cũng không kém năm, sáu trăm người, đến đâu cướp bóc đấy". Do đó mà Nguyễn Hữu Cầu có những lúc "chỉ một thân thoát nạn, nhưng hễ giơ tay hô một tiếng thì chốc lát lại sum họp như mây".

Các cuộc khởi nghĩa không chỉ bao gồm nông dân nghèo mà còn có những trí thức nho học, quan lại nhỏ. Mục tiêu đấu tranh chưa phải là đòi ruộng đất, đòi lật đổ chế độ phong kiến mà mới chỉ đòi "Ninh dân", "lấy của nhà giàu chia cho người nghèo", "bảo dân"... thậm chí có lúc có tính chất trả thù như "treo người", "đổ nước vào mũi", "bỏ hạt thóc vào mắt rồi khâu lại", "giam vào nhà có rắn, rết, đỉa", v.v...

Triều đình, mà chủ yếu là chúa Trịnh đã phải huy động toàn bộ lực lượng để đàn áp và họ đã dựa vào tính phân tán của phong trào để "bẻ đũa từng chiếc", cuối cùng đưa phong trào đến thất bại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 08:39:31 pm

Rõ ràng là cuộc chiến đấu quyết liệt của nông dân "được làm vua, thua làm giặc", "cả đời khốn khổ chua cay, ước sao chỉ được một ngày làm vua” đó, tuy chưa giành được thắng lợi, nhưng đã là hồi chuông báo động cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Đàng Ngoài, là những biểu hiện nổi bật, toàn diện của cuộc khủng hoảng đó, cùng với sự đổ vỡ nghiêm trọng của nhà nước Lê - Trịnh, nó chuẩn bị mảnh đất thuận lợi cho thắng lợi to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn sau này.

Tại Đàng Trong, ngay từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, các phong trào nông dân khởi nghĩa đã liên tiếp nổ ra. Năm 1695, nông dân và thương nhân Quảng Ngãi, Quy Nhơn khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Linh Vương và Quảng Phú. Năm 1697, đồng bào Thượng ở năm sách thuộc Quảng Nam nổi lên chống lại nhà Nguyễn. Năm 1708, đồng bào thiểu số miền Bà Rịa khởi nghĩa. Năm 1746, đồng bào Chàm ở Trấn Biên (miền Gia Định) khởi nghĩa do Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng lãnh đạo. Năm 1747, cũng tại Trấn Biên, lại nổ ra khởi nghĩa do một người Hoa kiều là Lý Văn Quang lãnh đạo.

Năm 1770, tại Hà Tiên nổ ra một cuộc khởi nghĩa vũ trang gồm ngót 1.000 người, có 15 chiến thuyền và do một người lính là Phạm Lam cùng mấy người Chà Và, Chân Lạp lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa quy mô khá lớn, được đông đảo quần chúng các dân tộc ủng hộ. Cũng năm 1770, tức là một năm trước ngày phong trào Tây Sơn xuất hiện, cũng tại Quảng Ngãi, Quy Nhơn, quê hương của phong trào Tây Sơn, đã bùng nổ một cuộc khởi nghĩa khá lớn của đồng bào Thượng. Nghĩa quân đánh phá miền Quảng Ngãi, Quy Nhơn. Bọn chúa Nguyễn phải cho toàn bộ quân lính các đạo ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên cùng hợp lực đi đánh dẹp.

Cuộc khởi nghĩa lớn nhất được nhân dân truyền tụng là cuộc khởi nghĩa của "chàng Lía" ở Quy Nhơn (Bình Định). Vốn là một nông dân nghèo, tên là Đoan, anh phải đi ở cho địa chủ, nuôi sẵn chí căm thù, anh lại khỏe mạnh, giỏi võ, khí khái. Nạn đói xảy ra, anh trốn vào rừng, tụ tập dân nghèo khởi nghĩa, lấy Truông Mây làm căn cứ. Nghĩa quân đánh giết bọn cường hào, lấy của cải chia cho dân nghèo. Nghĩa quân bị đàn áp, Lía chết nhưng hình ảnh của anh mãi mãi khắc sâu vào lòng nhân dân:

Chiều chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

Chế độ phong kiến Đàng Trong bước vào giai đoạn suy tàn, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại làm rung chuyển cả nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2016, 12:23:19 pm

Câu hỏi 3: Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu từ năm nào? Hãy cho biết đôi nét về căn cứ Tây Sơn và những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa?
Trả lời:


Năm 1771, một cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở đất Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam vốn gồm hai vùng: vùng rừng núi gọi là Thượng đạo (nay thuộc tỉnh Gia Lai) và vùng đồng bằng gọi là Hạ đạo (nay thuộc tỉnh Bình Định), là nơi rừng núi rậm rạp thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ sinh ra và lớn lên ở ấp Kiên Thành thuộc Hạ đạo Tây Sơn. Tổ tiên của ba người vốn gốc ở Nghệ An, tên là Hồ Phi Khang bị quân chúa Nguyễn bắt làm tù binh vào năm 1655, đưa vào Tây Sơn khai hoang lập ấp. Đến đời cha của ba người là Hồ Phi Phúc, mẹ là Nguyễn Thị Đồng, thì đã thành một gia đình trung nông khá.

Thuở nhỏ, anh em Nguyễn Nhạc được đi học và có thời gian theo học thầy giáo Hiến, một nho sĩ bất bình với quyền thần Trương Phúc Loan, trốn vào đây dạy học, nhờ đó được hiểu biết về tình hình triều đình của chúa Nguyễn. Giáo Hiến mang hoài bão, ý chí của mình truyền lại cho lớp môn sinh. Ông đã khám phá ra tài năng khác thường của anh em Tây Sơn nên hết lòng đầu tư cho sự nghiệp lớn sau này.

Hoài bão đó còn được cổ vũ thêm bằng sức mạnh của thần linh. Giáo Hiến cho là có sấm truyền: "Tây khởi nghĩa Bắc thụ công" - "Phụ nguyên phục thống". Rồi nói với anh em Nguyễn Huệ: "Các con là người của đất Tây Sơn, Tây Sơn khởi nghĩa sẽ lập nên sự nghiệp lớn ở miền Bắc và hết lòng giúp chúa Nguyễn để phục hồi nền nhất thống… Các con nên đổi thành họ Nguyễn để có danh nghĩa lập công". Do vậy, anh em Tây Sơn từ họ Hồ đổi thành họ Nguyễn.

Có tài liệu lại nói rằng, có một thuở, người dân Bình Đinh sinh con lấy họ mẹ là phổ biến để cắt nghĩa việc đổi thành họ Nguyễn của anh em Tây Sơn cùng họ với thân mẫu là Nguyễn Thị Đồng.

Lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đều rất trẻ. Nguyễn Huệ khi ấy mới 19 tuổi. Nhưng họ đã nắm đúng thời cơ khởi nghĩa và đã chuẩn bị tốt cho cuộc khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2016, 12:23:52 pm

Quân thù của phong trào Tây Sơn cũng như các cuộc khởi nghĩa khác của nông dân Việt Nam thời ấy là bọn chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Nói rằng nửa cuối thế kỷ XVIII, cả hai tập đoàn ấy đều đã suy yếu hoặc suy yếu đến cực độ là nói suy yếu về mặt chính trị, kinh tế... nhưng về mặt quân sự thì các tập đoàn này vẫn còn duy trì một lực lượng mạnh, nếu so với những lực lượng quật khởi chống lại thì chúng vẫn mạnh hơn hẳn. Bởi đây là những lực lượng thống trị, lúc nào cũng có lực lượng vũ trang trong tay để tự vệ. Quân đội được tổ chức chặt chẽ, luyện tập thường xuyên, có kinh nghiệm chiến đấu, đủ sức đối phó với mọi phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra ở cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII cho đến trước ngày phong trào Tây Sơn khởi nghĩa. Những lực lượng quân sự ấy vẫn có thể là những trở lực lớn cho phong trào nông dân Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XVIII.

Quân số và trang bị của những lực lượng quân sự này có thể thay đổi ở từng thời kỳ, thời chiến khác, thời bình khác, nhưng đại thể thì con số không xê xích nhau nhiều lắm. Nhà Nguyễn lúc nào cũng có khoảng non 10 vạn lục quân. Thủy quân có khoảng 200 thuyền chiến. Mỗi thuyền chiến của nhà Nguyễn có từ 50 đến 60 mái chèo, và từ 3 đến 5 khẩu đại bác. Kỵ binh của nhà Nguyễn có khoảng từ 200 đến 300 ngựa chiến. Không thấy tài liệu nào nói nhà Nguyễn có tổ chức tượng binh.

Quân đội nhà Trịnh còn mạnh hơn quân đội nhà Nguyễn. Lục quân nhà Trịnh lúc nào cũng có trên 10 vạn người, có khi có tới ngót 20 vạn người. Thủy quân gồm có khoảng 500 thuyền chiến, trang bị của thuyền chiến Trịnh cũng tương tự như thuyền chiến Nguyễn. Quân đội Trịnh có một đội tượng binh lớn gồm từ 300 đến 500 voi chiến. Mỗi voi chiến có 6, 7 binh sĩ cầm vũ khí ngồi trên. Voi chiến của nhà Trịnh đôi khi mang cả đại bác nữa.

Cả hai quân đội Trịnh, Nguyễn đều dùng vũ khí đạn dược kiểu phương Tây, hoặc mua của ngoại quốc, hoặc dựng xưởng chế lấy, thuê người phương Tây trông nom như bọn chúa Nguyễn đã làm.

Trước những quân thù có lực lượng mạnh như vậy, ba anh em Tây Sơn quyết tâm tìm mọi biện pháp để tiến tới đấu tranh vũ trang với địch và nắm chắc phần thắng lợi, ít ra là những thắng lợi bước đầu về mình. Họ đã để một thời gian dài, khoảng từ 1771 đến 1773, để xây dựng căn cứ tuyên truyền khởi nghĩa và tổ chức lực lượng. Họ lấy ngay nơi họ sinh trưởng là vùng Tây Sơn, An Khê thuộc miền rừng núi Quy Nhơn làm căn cứ địa. Như trên đã trình bày, phong trào bùng nổ ở Quảng Nam đã là một điều thuận lợi, các lãnh tụ Tây Sơn lại chọn miền rừng núi Quy Nhơn làm căn cứ địa khiến cho phong trào càng có thêm nhiều điều kiện để phát triển. Phủ Quy Nhơn ở thế kỷ XVIII bao gồm ba tỉnh Bình Định, Kon Tum và Gia Lai ngày nay. Vùng rừng núi Quy Nhơn gồm ba phần tư đất đai phủ Quy Nhơn và là một vòng đai siết chặt lấy phủ chính Quy Nhơn là dinh lũy của chính quyền phong kiến của phủ này. Chiếm giữ được vùng rừng núi và chưa cần đánh, phủ thành Quy Nhơn của nhà Nguyễn cũng đã trở thành cô lập, đợi ngày mất về tay nghĩa quân mà thôi. Nghĩa quân Tây Sơn lại đóng bản doanh tại An Khê, một cao nguyên rất bằng phẳng, cao 600 mét, rộng một chiều 50 kilômét, một chiều 35 kilômét. Đây là một địa điểm rất tốt cho việc bố trí doanh trại và tập luyện quân sự. Từ Quy Nhơn lên An Khê chỉ có một đường độc đạo vô cùng nguy hiểm. Chính vì thế, từ năm 1771 là năm nghĩa quân Tây Sơn bắt đầu nhóm họp đến năm 1773 là năm nghĩa quân đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn, quân đội nhà Nguyễn chưa một lần nào dám tiến công vào căn cứ địa An Khê. Con đường Quy Nhơn lên An Khê không những là con đường độc đạo nguy hiểm ở thế kỷ XVIII, mà ngay cho tới ngày nay, con đường ấy - tức con đường 19 - cũng đã nhiều lần là mồ chôn quân Pháp và quân Mỹ xâm lược. Từ vùng rừng núi tiến xuống chiếm nốt vùng đồng bằng Quy Nhơn, nghĩa quân Tây Sơn đã có một vị trí vô cùng xung yếu về mặt chiến lược, nó cắt đứt giang sơn nhà Nguyễn ra làm đôi khiến sự liên hệ tiếp tế cho nhau bị gián đoạn, đồng thời nó cũng chia tách quân đội nhà Nguyễn ra làm hai bộ phận rời nhau, làm cho lực lượng chiến đấu của họ bị giảm sút, khi một bộ phận nào đó bị nghĩa quân tiến công thì bộ phận khác muốn ứng cứu cũng rất khó khăn. Vùng rừng núi Quy Nhơn, đặc biệt là miền An Khê lại là nơi tập trung nhiều thành phần dân tộc, người Kinh có, người Chàm có, người Ba Na, người Gia Rai, người Xê Đăng đều có. Đó là một nguồn cung cấp nhân lực rất tốt cho phong trào. Miền An Khê lại là nơi đông đúc, giàu có nhất vùng rừng núi Quy Nhơn (tức vùng Bình Định - Kon Tum - Plây Cu ngày nay), cho nên đó cũng là nguồn cung cấp lương thực tốt nhất cho phong trào Tây Sơn trong thời kỳ đầu khởi nghĩa. Vùng rừng núi Quy Nhơn còn là nơi có sẵn voi lớn, ngựa hay, sẵn mỏ sắt, diêm tiêu, gỗ tốt cho nên đó cũng là nguồn cung cấp vật liệu và phương tiện chiến tranh rất phong phú cho nghĩa quân Tây Sơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2016, 12:25:42 pm

Người Quy Nhơn lại có truyền thống thượng võ. Cho đến thế kỷ XIX, người ta vẫn còn ca ngợi truyền thống đó:

"Ai vào Bình Định1 mà coi
Con gái cũng biết múa roi, đi quyền”.

Cùng với tinh thần sôi sục căm thù bọn phong kiến nhà Nguyễn của nhân dân Quy Nhơn, truyền thống tốt đẹp đó càng khiến họ nhiệt liệt hưởng ứng phong trào Tây Sơn và tham gia đông đảo vào đội quân khởi nghĩa.

Để phát động quần chúng vùng lên đánh đổ giai cấp thống trị, anh em Tây Sơn lợi dụng những mâu thuẫn rất sâu sắc trong nội bộ tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn làm mục tiêu tuyên truyền khởi nghĩa.

Năm 1765, chúa Nguyễn là Phúc Khoát chết. Trước kia Phúc Khoát đã lập người con duy nhất của chính phi lên làm thế tử để nối ngôi chúa, nhưng người đó chết sớm để lại một đứa con là Nguyễn Phúc Dương. Khi Nguyễn Phúc Khoát chết, hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương còn nhỏ tuổi quá không lên cầm quyền chính được, đáng lẽ ngôi chúa phải thuộc về người con lớn tuổi hơn cả của Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Luân và chính Nguyễn Phúc Khoát cũng đã có ý như vậy từ khi còn sống. Nhưng Nguyễn Phúc Khoát chết, quyền thần Trương Phúc Loan đã phế lập Nguyễn Phúc Luân, bắt Luân bỏ ngục, giết chết mọi người thân cận của Luân và đưa người con 11 tuổi của Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa. Từ đấy, quyền thần Trương Phúc Loan ngày càng tham tàn, bạo ngược. Bọn quan lại và các tầng lớp trên của xã hội Đàng Trong lúc ấy đều oán ghét Trương Phúc Loan, thâm tâm muốn phù hoàng tôn Dương lên ngôi chúa, nhưng không có phương sách hoạt động. Nắm được tình hình đó, năm 1771, các lãnh tụ Tây Sơn nêu khẩu hiệu: "Đánh đổ Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Dương" để phất cờ khởi nghĩa. Trong một bài hịch xuất quân của nghĩa quân Tây Sơn sau này, phương hướng đấu tranh đầu tiên là đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan đã được nhắc lại rõ ràng:

      "Giận quốc phó2 ra lòng bội bạc, nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương
      Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấm nghé,
      Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kéo cùng dân ra chốn lầm than.
      Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân, ắt dấu cũ lại cơ đồ Hữu Hạ... ".

___________________________________
1. Bình Định là tên nhà Nguyễn đặt cho Quy Nhơn từ đầu thế kỷ XIX.
2. Chỉ Trương Phúc Loan.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2016, 12:26:28 pm

Trong những ngày đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Tây Sơn đã tự nhận mình là quân của hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương để chống lại quân của quốc phó Trương Phúc Loan cho nên người đương thời đã gọi:

      "Binh triều là binh quốc phó
      Binh ó là binh hoàng tôn".


Ó nghĩa là hò reo. Nghĩa quân đi tới đâu cũng la ó, hò reo, kêu gọi mọi người gia nhập nghĩa quân đấu tranh để ủng hộ hoàng tôn Dương.

Trong mấy năm đầu khởi nghĩa, những người lãnh đạo phong trào Tây Sơn đã không tự nhận mình là người lãnh đạo phong trào, chỉ xưng mình là những chủ trại bình thường và vẫn lấy danh nghĩa hoàng tôn Dương làm người cầm đầu nghĩa quân. Khẩu hiệu đấu tranh này thật là sát hợp tình hình và nó đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia phong trào Tây Sơn ngay từ thời kỳ đầu.

Nhưng đối với quảng đại quần chúng nông dân thì khẩu hiệu đấu tranh ấy chưa đủ. Phải có một khẩu hiệu đấu tranh cụ thể hơn, sát hợp với quyền lợi trước mắt của người nông dân hơn nữa. Cho nên bên cạnh khẩu hiệu đấu tranh nói trên, những người lãnh đạo phong trào Tây Sơn đã đề ra khẩu hiệu "lấy của kẻ giàu, giúp người nghèo" và khẩu hiệu ấy đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính vì có khẩu hiệu sát hợp với quần chúng như thế mà phong trào Tây Sơn đã lôi cuốn được đông đảo nông dân tham gia và sớm có một lực lượng hùng hậu ngay từ những ngày đầu để đối phó với quân thù.

Những giáo sĩ phương Tây có mặt ở Việt Nam lúc ấy đã nói nhiều về những hành động "cướp của nhà giàu, giúp người nghèo" của nghĩa quân Tây Sơn.

Một giáo sĩ Tây Ban Nha là Đi-ê-gô đơ Giu-mi-la (Diégo de Jumilla) viết:

"Năm ngoái, 1773, khoảng đầu tháng 4, quân đội Đàng Trong bắt đầu tuần hành các nơi... Ban ngày họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, tới có người mang súng. Họ không hề làm thiệt hại đến người và của. Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người Đàng Trong; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo, họ chỉ giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi... Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Mười, 2016, 12:26:51 pm

Những đường lối vận động cách mạng và những khẩu hiệu đấu tranh nói trên đã đoàn kết và tập hợp được mọi lực lượng để đánh địch. Ngay từ những ngày đầu cuộc khởi nghĩa, trong hàng ngũ nghĩa quân, người ta đã thấy có mặt hầu khắp các tầng lớp nhân dân và thành phần dân tộc của vùng Quy Nhơn, Quảng Nam. Bên cạnh quảng đại quần chúng nông dân là lực lượng cơ bản của phong trào, người ta thấy có những thổ hào như Nguyễn Thung, những đại phú như Huyền Khê. Bên cạnh người Việt, có người Thượng, người Chàm và các thương nhân Hoa kiều hoặc dân tộc Hán như các đạo quân Hòa nghĩa và Trung nghĩa của Lý Tài và Tập Đình. Một phong trào nông dân trong thời phong kiến mà có được nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần dân tộc tham gia như thế cũng là hiếm có. Với sự nhiệt liệt hưởng ứng của quảng đại quần chúng nhân dân, ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa, lực lượng vũ trang của phong trào Tây Sơn đã có tới 3.000 người. Căn cứ địa Quy Nhơn lại có nhiều voi lớn, ngựa tốt. Đồng bào miền núi Quy Nhơn có truyền thống đua ngựa, quản tượng giỏi. Đồng bào cả miền Quy Nhơn, Kinh cũng như Thượng, đều có truyền thống thượng võ, giỏi roi, giỏi quyền, giỏi quân sự. Cho nên những đội quân đầu tiên của phong trào Tây Sơn đã là những đội quân thiện chiến và dũng cảm.

Tới đầu năm 1773, lực lượng vũ trang của nghĩa quân đã có tới hàng vạn người. Căn cứ địa của nghĩa quân đã bao gồm một khu vực rộng lớn của phủ Quy Nhơn: vùng núi An Khê và ba huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Tuy Viễn. Trong thời kỳ đầu, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chưa xuất hiện như những lãnh tụ của phong trào. Phần vì họ còn trẻ tuổi, phần vì muốn thực hiện chính sách đoàn kết các lực lượng, nghĩa quân Tây Sơn đã cử ba người có tính chất tiêu biểu nhất lúc bấy giờ đứng ra lãnh đạo phong trào: Nguyễn Nhạc, đại diện cho những người đề xướng phong trào; Huyền Khê, một người giàu có lớn và Nguyễn Thung, một thổ hào có thế lực ở phủ Quy Nhơn. Nghĩa quân Tây Sơn bắt đầu xây dựng chính quyền của nông dân trong căn cứ địa, theo hình thức tổ chức riêng của mình. Nguyễn Nhạc làm chủ trại nhất, cầm chính quyền hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn. Nguyễn Thung làm chủ trại nhì, cầm chính quyền huyện Tuy Viễn. Huyền Khê làm chủ trại ba, chuyên trách việc quân lương.

Bên cạnh những người lãnh đạo, có mấy người tướng giúp việc là Lý Tài và Tập Đình, trực tiếp chỉ huy hai toán quân người Hoa kiều và người dân tộc Hán do họ chiêu mộ.

Quá trình tổ chức và xây dựng lực lượng của nghĩa quân Tây Sơn là cả một nghệ thuật. Nghệ thuật đoàn kết nhân dân chung quanh mình, nghệ thuật tranh thủ tất cả các tầng lớp hoặc cá nhân có thể tranh thủ được, nghệ thuật chia rẽ đối phương đến cao độ là nguyên nhân chủ yếu khiến cho phong trào Tây Sơn lớn lên rất mạnh. Từ đây, nghĩa quân có thể mở những đợt tiến công đầu tiến vào quân địch và bách chiến bách thắng ở tất cả các chiến trường.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:40:51 am

Câu hỏi 4: Hãy trình bày diễn biến chiến thắng Phú Yên năm 1775 của nghĩa quân Tây Sơn?
Trả lời:


Đến giữa năm 1773, căn cứ địa đã được xây dựng vững chắc, những điều kiện vật chất và tinh thần để vũ trang tác chiến với địch đã có đầy đủ, nghĩa quân Tây Sơn bắt đầu tiến công địch. Trong một đêm, nghĩa quân hạ thành Quy Nhơn. Tuần phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên bỏ cả vợ con, vứt cả ấn tín chạy trốn. Nghĩa quân Tây Sơn tiến công liên tiếp vào các phủ Quảng Ngãi, Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận và đã thu được thắng lợi to lớn trong buổi đầu. Trong vòng mấy tháng cuối năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ cả một dải đất đai chạy dài từ Quảng Ngãi vào Bình Thuận. Lần đầu tiên, ngọn cờ bằng lụa đỏ chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn phấp phới bay trên các thành lũy, dinh thự của bọn vua quan phong kiến, gạt bỏ uy thế chính trị từ hàng bao đời của chúng tại những nơi đây. Tuy vậy, lực lượng nghĩa quân còn yếu, quân chưa nhiều (mặc dầu đã có được 26.000 người nhưng so với địch thì vẫn còn ít), vũ khí còn thiếu, kinh nghiệm xây dựng chính quyền chưa có, nên việc làm chủ và giữ gìn một vùng đất đai rộng lớn như vậy gặp rất nhiều khó khăn.

Đầu năm 1774, chúa Nguyễn cho quân tiến xuống Quảng Nam để tiến công nghĩa quân. Chủ tướng quân Nguyễn là Tôn Thất Thăng sợ thanh thế nghĩa quân, không dám đánh và bỏ trốn. Mùa hè năm 1774, chúa Nguyễn cử Tống Phúc Hiệp đem đại quân từ Gia Định theo hai đường thủy bộ tiến đánh nghĩa quân. Nghĩa quân Tây Sơn phải rút khỏi Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khang để giữ vững từ Phú Yên trở ra Quảng Ngãi.

Với phạm vi đất đai như vậy, nghĩa quân Tây Sơn có thể củng CỐ căn cứ phát triển lực lượng, chuẩn bị cho những đợt tấn công mạnh mẽ hơn. Nhưng cũng trong lúc này, lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang phải tập trung lực lượng để đối phó với nghĩa quân Tây Sơn, chúa Trịnh cử Hoàng Ngũ Phúc đem đại quân từ Bắc Hà tiến vào đánh chúa Nguyễn.

Mùa đông năm 1774, quân Trịnh vượt sông Gianh lần lượt đánh chiếm Bố Chính, Đồng Hới, tiến nhanh vào Thuận Hóa. Ngày 30 tháng 1 năm 1775, quân Trịnh hạ thành Phú Xuân, chúa Nguyễn là Phúc Thuần phải bỏ kinh thành chạy vào Quảng Nam. Tận dụng thời cơ, không để cho bọn chúa Nguyễn kịp nghỉ ngơi, nghĩa quân Tây Sơn theo hai đường thủy bộ tiến ra đánh Quảng Nam. Nguyễn Phúc Thuần vội chạy vào Gia Định, để cháu là Nguyễn Phúc Dương và một số tướng lĩnh ở lại hoạt động ở vùng Cu Đê thuộc Quảng Nam.

Tháng Hai năm Ất Mùi (1775), quân Trịnh tiến xuống Quảng Nam. Nghĩa quân Tây Sơn cũng tiến lên lùng bắt được bọn Nguyễn Phúc Dương. Tháng Tư âm lịch, quân Trịnh vượt qua đèo Hải Vân tiến đánh nghĩa quân Tây Sơn. Lần đầu tiên nghĩa quân Tây Sơn tiếp xúc với quân Trịnh đang đà thắng lợi. Nguyễn Nhạc cử Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm trung quân, tiến đánh quân Trịnh ở Cẩm Sa thuộc Quảng Nam. Nhưng Tập Đình bị đại bại, bỏ trốn khỏi hàng ngũ nghĩa quân, tìm đường chạy về Trung Quốc. Nguyễn Nhạc và Lý Tài phải rút quân về Bản Tân (giáp giới Quảng Nam - Quảng Ngãi). Quân Trịnh vẫn tiến. Nguyễn Nhạc phải rút về Quy Nhơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:41:40 am

Lợi dụng nghĩa quân Tây Sơn đang bị thất bại nặng nề trước sức tiến công của quân Trịnh, tháng Năm năm Ất Mùi (1775), tướng Nguyễn ở Bình Khang, Diên Khánh là Tống Phúc Hiệp đem toàn quân đánh chiếm Phú Yên, nghĩa quân Tây Sơn phải rời bỏ Phú Yên rút về Quy Nhơn.

Vì vậy, căn cứ địa của nghĩa quân bị thu hẹp lại trong phạm vi Quy Nhơn, Quảng Ngãi và lâm vào cái thế bị kẹp giữa hai gọng kìm. Quân Trịnh uy hiếp ở sườn phía bắc Quy Nhơn. Sườn phía nam Quy Nhơn bị quân Nguyễn của Tống Phúc Hiệp uy hiếp. Quân địch ở hai mặt tổng số có tới 5 - 6 vạn quân. Không gỡ khỏi cái thế bị bao vây này, nghĩa quân Tây Sơn có nguy cơ bị tiêu diệt nhanh chóng. Căn cứ địa Quy Nhơn chỉ thuận lợi cho nghĩa quân Tây Sơn trong trường hợp đối phó với một kẻ thù, chia cắt lực lượng của một kẻ thù ra làm nhiều bộ phận để tiến đánh dễ dàng. Nhưng trong trường hợp phải đối phó với cả hai kẻ thù, quân Trịnh từ phía bắc kéo xuống, quân Nguyễn từ phía nam tiến lên, cùng tập trung lực lượng tiến vào căn cứ địa thì nghĩa quân Tây Sơn ở vào cái thế thật nguy hiểm, không thể đương đầu nổi với cả hai kẻ thù một lúc.

Để đối phó với tình hình đó, nghĩa quân Tây Sơn đã có một chiến lược khôn khéo: dùng biện pháp ngoại giao để chặn tay một kẻ thù và chuẩn bị tiến công một kẻ thù. Trong hai kẻ thù lúc ấy, quân Trịnh của Hoàng Ngũ Phúc vẫn là đối thủ nguy hiểm nhất, cần phải hòa hoãn được với quân Trịnh, để tập trung lực lượng tiến công quân Nguyễn. Nguyễn Nhạc cho người tới thương thuyết với tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc xin nhận làm đội quân tiên phong của Trịnh để đánh Nguyễn. Quân Trịnh, sau một thời gian hành quân xa, từ Bắc vào và phải liên tục chiến đấu trong gần một năm trời, cũng có ý muốn nghỉ ngơi đôi chút rồi sẽ quyết định sau, nên Hoàng Ngũ Phúc đã nhận lời hòa hoãn với nghĩa quân Tây Sơn và nhân danh chúa Trịnh, phong cho Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Trưởng hiệu tráng tiết tướng quân. Nhưng tướng Trịnh vẫn không lui quân, vẫn đóng nguyên ở vị trí cũ, sát với căn cứ địa của nghĩa quân, với ý đồ: nếu nghĩa quân Tây Sơn đánh thắng quân Nguyễn, tiến sâu được vào Nam, thì quân Trịnh sẽ tiến theo sau, hòng chiếm lấy thành quả chiến thắng của nghĩa quân, thu phục đất đai mới mà không phải khó nhọc. Trái lại, nếu nghĩa quân Tây Sơn không thắng được quân Nguyễn, hoặc bị quân Nguyễn đánh bại thì khi ấy quân Trịnh sẽ tiến vào căn cứ địa Quảng Ngãi, Quy Nhơn, tiêu diệt nghĩa quân, trực tiếp đối phó với quân Nguyễn. Nghĩa quân Tây Sơn cũng thấy rõ những ý đồ thâm độc ấy của quân Trịnh. Nghĩa quân quyết định phải đánh chiếm được Phú Yên, đẩy lùi quân Nguyễn về phía nam, đồng thời lấy chiến thắng đó làm áp lực buộc quân Trịnh phải từ bỏ ý đồ xâm phạm vào căn cứ địa của nghĩa quân.

Nhưng việc đánh được quân Nguyễn của Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên không phải là dễ dàng. Tại đây Tống Phúc Hiệp có hai vạn quân. Tống Phúc Hiệp đóng bản doanh ở Phú Yên và lập hai cứ điểm phòng vệ cho Phú Yên, một ở Xuân Đài do bộ binh đóng giữ, một ở Vũng Lấm do thủy binh đồn trú. Đối với một lực lượng địch mạnh như vậy, nghĩa quân sẽ đánh như thế nào để thắng và ai sẽ đảm nhiệm sứ mạng quyết chiến với địch, bảo đảm thắng lợi cho nghĩa quân. Các tướng của nghĩa quân như Tập Đình thì đã bỏ trốn, Lý Tài thì bại trận liên tiếp, không còn tinh thần chiến đấu và cũng không có khả năng thực hiện thành công một trận quyết chiến như vậy. Bản thân Nguyễn Nhạc cũng không phải là một tướng tài có thể đảm đương cái nhiệm vụ quân sự nặng nề ấy.

Trước tình hình khó khăn này, Nguyễn Huệ đã xuất hiện như một vị cứu tinh, đứng ra gánh vác trọng trách quyết định vận mệnh sống còn của phong trào. Nguyễn Huệ lúc này mới 23 tuổi. Không ai ghi lại được những hoạt động của ông từ khi phong trào Tây Sơn mới bùng nổ và chỉ từ trận Phú Yên này, tên tuổi ông mới ghi trong sử sách của nhà Nguyễn. Nhưng chắc chắn rằng từ năm 1771 tới năm 1775, Nguyễn Huệ đã kinh qua chiến đấu nhiều, có nhiều kinh nghiệm và tỏ ra là một tướng lĩnh xuất sắc. Cho nên khi ông lĩnh trách nhiệm chỉ huy trận đánh Phú Yên, thì nghĩa quân đều tin tưởng và những tướng lĩnh cũ như Lý Tài, cũng phải chịu làm phó tướng giúp việc ông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:42:00 am

Để phát huy yếu tố bất ngờ, tạo điều kiện đánh thắng dễ dàng cho nghĩa quân, các lãnh tụ Tây Sơn cho người tới Phú Yên thương lượng với Tống Phúc Hiệp về việc lập hoàng tôn Dương làm chúa và nghĩa quân Tây Sơn hợp tác với quân Tống Phúc Hiệp cùng tiến đánh quân Trịnh. Cuộc thương lượng chưa đi tới kết quả thì Nguyễn Huệ bất ngờ đem quân tập kích Phú Yên. Cho đến nay những tài liệu đã sưu tầm được chưa cho biết rõ Nguyễn Huệ đã đánh Phú Yên như thế nào, phương châm, hình thức tác chiến ra sao để đạt được thắng lợi nhanh chóng. Nhưng cũng biết được rằng Nguyễn Huệ đã hạ thành Phú Yên rất mau lẹ. Quân Nguyễn trong thành Phú Yên ra ứng chiến bị tan rã trong chớp nhoáng. Tướng Nguyễn là Nguyễn Văn Hiền tử trận. Một tướng Nguyễn khác là cai cơ Nguyễn Khoa Kiên bị Nguyễn Huệ bắt sống. Chủ tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp phải bỏ thành Phú Yên rút quân chạy. Được tin Phú Yên thất thủ, tướng Nguyễn trấn thủ ở Bình Khang là Bùi Công Kế đem quân theo đường núi tiến ra cứu viện cho Phú Yên. Nguyễn Huệ cho quân đón đánh và bắt sống Bùi Công Kế. Một tướng Nguyễn khác là Tống Văn Khôi đem quân từ Khánh Hòa tiến ra, cũng bị quân đội của Nguyễn Huệ đánh cho đại bại ở Tam Độc, Tống Văn Khôi chết tại trận.

Vậy là hai vạn quân của Tống Phúc Hiệp bị tan rã, Phú Yên lại thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn. Quân Nguyễn bị đẩy lùi xuống phía nam và từ đây mất hẳn khả năng tiến công nghĩa quân Tây Sơn.

Trong khi Nguyễn Huệ đánh Phú Yên thì tướng Trịnh - Hoàng Ngũ Phúc cũng thừa cơ tiến sâu thêm một bước vào gần căn cứ địa của nghĩa quân và đóng quân tại Chu Ổ. Nhưng chiến thắng vang dội của Nguyễn Huệ đã khiến quân Trịnh phải chùn bước. Theo yêu cầu của Nguyễn Nhạc, Hoàng Ngũ Phúc phải chịu nhân danh chúa Trịnh phong chức Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân cho Nguyễn Huệ. Sau đó tự thấy không thể đàn áp được phong trào Tây Sơn và cũng không thể tiến sâu thêm vào Nam, Hoàng Ngũ Phúc bỏ đất Quảng Nam, lui về Phú Xuân, rồi không bao lâu, để một ít quân tướng ở lại giữ Phú Xuân, còn mình thì rút hẳn đại quân về Bắc Hà. Nghĩa quân Tây Sơn từ đây hoàn toàn rảnh tay không phải lo đối phó với một kẻ địch mạnh hơn hẳn mình lúc ấy là quân Trịnh.

Khi quân Trịnh rút khỏi Quảng Nam, dư đảng của nhà Nguyễn ở đây do Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân tập hợp lại, đã nổi dậy chiếm giữ Quảng Nam. Nguyễn Huệ lại từ Phú Yên trở về Quy Nhơn, điều quân lên đánh Quảng Nam. Cuộc nổi dậy của dư đảng nhà Nguyễn bị dẹp tan nhanh chóng. Quảng Nam lại thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn.

Như vậy là chiến thắng Phú Yên của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của vị anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ đã có một tác dụng vô cùng quan trọng, làm thay đổi hẳn cục diện, hoàn toàn có lợi cho nghĩa quân Tây Sơn. Chiến thắng Phú Yên đã gỡ cho nghĩa quân Tây Sơn ra khỏi cái thế bị kẹp trong hai gọng kìm của cả hai thế lực phản động Trịnh - Nguyễn, vĩnh viễn ngăn chặn bước tiến vào Nam của quân Trịnh, làm suy yếu hẳn lực lượng của nhà Nguyễn và mở đường cho sự phát triển rộng lớn ra toàn quốc của phong trào nông dân Tây Sơn. Từ đây cho tới khi ông mất, trải gần hai mươi năm ròng rã, Nguyễn Huệ đi tới đâu, lá cờ đỏ chiến thắng của ông đều giương cao đến đó. Cũng từ đây, Nguyễn Huệ trở thành linh hồn của phong trào Tây Sơn, người tổ chức nên mọi thắng lợi của phong trào Tây Sơn sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:43:10 am

Câu hỏi 5: Trình bày trận tập kích quân Nguyễn ở Gia Định ngày 27 tháng 3 năm 1776 của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy?
Trả lời:


Chiến thắng Phú Yên của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã làm cả hai kẻ địch là quân Nguyễn và quân Trịnh đều bị đẩy lùi xa căn cứ Quy Nhơn của nghĩa quân. Được rảnh tay đối phó với nhà Trịnh ở phía Bắc, các lãnh tụ Tây Sơn quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt thế lực nhà Nguyễn ở miền Nam.

Từ khi chúa Nguyễn phải bỏ kinh thành Phú Xuân cho quân Trịnh chiếm đóng, đem tàn quân chạy vào Gia Định, và tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp bị Nguyễn Huệ đánh bật khỏi Phú Yên, lực lượng quân sự của nhà Nguyễn đã suy yếu nhiều so với trước, nhưng chúng vẫn âm mưu phản công chiếm lại vị trí đã mất. Vào tới Gia Định, Nguyễn Phúc Thuần ra sức tăng cường lực lượng, tích cực tuyển mộ binh lính, tích trữ binh lương. Trong vài tháng, quân số của Nguyễn Phúc Thuần ở Gia Định có tới 25.000 người, Nguyễn Phúc Thuần lại được một người Hoa kiều làm tổng trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ nhận đem quân phù trợ. Gia Định trở thành căn cứ của bọn chúa Nguyễn để chuẩn bị phản công mạnh vào nghĩa quân Tây Sơn.

Biết rõ Lý Tài, tướng Tây Sơn giữ thành Phú Yên đang bất mãn với các lãnh tụ Tây Sơn, vì chức đại tướng của hắn trước kia, nay thuộc về người anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ, Tống Phúc Hiệp liền cho người chiêu dụ Lý Tài. Quả nhiên Lý Tài đã đem thành Phú Yên và quân bản bộ của y đầu hàng Tống Phúc Hiệp, theo về với Nguyễn. Tống Phúc Hiệp lại tìm cách thu phục được Chu Văn Tiếp, một tướng lục lâm, phản động, chống Tây Sơn, từ miền núi Phú Yên đem hơn một nghìn quân theo về với Tống Phúc Hiệp. Do đấy, quân thế của nhà Nguyễn ở miền Bình Thuận, Phú Yên lại mạnh dần lên.

Trước tình hình đó, các lãnh tụ nghĩa quân Tây Sơn thấy cần phải hành động kịp thời, đập tan kế hoạch chuẩn bị phản công của bọn chúa Nguyễn tại Gia Định, kéo bớt lực lượng quân Nguyễn ở Phú Yên, Bình Thuận về Gia Định làm cho chúng mất khả năng phản công cũng như khả năng uy hiếp trực tiếp vào cạnh sườn căn cứ địa của nghĩa quân.

Các lãnh tụ Tây Sơn chủ trương đánh bất ngờ vào căn cứ Gia Định của địch, với mục đích tiêu diệt một phần sinh lực địch và thu hết quân lương của địch ở Gia Định. Trận tập kích đầu tiên này chưa có mục đích giải phóng đất đai và tiêu diệt toàn bộ quân Nguyễn, vì nghĩa quân lúc ấy chưa có khả năng thực tế để làm công việc đó.

Đầu năm 1776, các lãnh tụ Tây Sơn mộ thêm quân và Nguyễn Lữ được trao nhiệm vụ chỉ huy trận tập kích này. Ngày 27 tháng 3 năm 1776, tức ngày 8 tháng Hai năm Bính Thân, Nguyễn Lữ đem thủy quân tiến vào Gia Định.

Bị đánh bất ngờ, quân Nguyễn không kịp trở tay. Nguyễn Phúc Thuần phải bỏ thành Gia Định, đem quân chạy ra Trấn Biên (vùng Biên Hòa ngày nay). Nguyễn Lữ vào thành Gia Định, kiểm định kho tàng, thu thập quân lương, chuẩn bị phương tiện vận tải để đưa về Quy Nhơn. Đồng thời, Nguyễn Lữ cho một bộ phận nghĩa quân tiến xuống phía nam tập kích dinh Long Hồ. Quân Nguyễn ở Long Hồ bị tiêu diệt. Tướng Nguyễn ở Long Hồ là Bùi Hữu Lễ bị nghĩa quân bắt sống tại trận.

Trước sức tiến công mạnh mẽ của nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Phúc Thuần phải chạy về Bà Rịa. Tại đây, có lần bị nghĩa quân truy tìm ráo riết, Nguyễn Phúc Thuần phải chạy trốn vào nhà một giáo sĩ Tây Ban Nha là Đi-ê-gô đơ Giu-mi-la, nằm ẩn dưới gầm giường mới thoát nạn, vì nghĩa quân không xâm phạm tới nhà ở của các giáo sĩ.

Trước tình hình nguy khốn đó, Nguyễn Phúc Thuần vội phái Đỗ Thanh Nhân đi Mỹ Tho mộ quân cần vương, cho người đi cầu viện Mạc Thiên Tứ ở Cần Thơ đem quân lên giúp và triệu Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên đem quân về cứu chúa.

Đến tháng Năm âm lịch, Đỗ Thanh Nhân chiêu mộ được hơn 3.000 quân, gọi là quân Đông Sơn, tự xưng là Đông Sơn thượng tướng quân, từ Tam Phụ (thuộc Mỹ Tho) tiến quân về Gia Định. Trong khi ấy, Mạc Thiên Tứ đem quân từ Cần Thơ tiến lên. Tống Phúc Hiệp và Lý Tài cũng đang trên đường hành quân từ Phú Yên vào Nam và đã tới Trấn Biên, gần Gia Định.

Thấy quân cứu viện của địch ở các ngả đã kéo tới, Nguyễn Lữ hạ lệnh rút quân, đem theo hơn 200 thuyền lương lấy được ở Gia Định, đưa về Quy Nhơn. Tới đây, nhiệm vụ tiến đánh Gia Định của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy đã hoàn thành trọn vẹn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:44:48 am

Câu hỏi 6: Từ năm 1777 đến năm 1783, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã liên tục mở các cuộc tiến quân giải phóng vùng đất nào? Hãy nêu diễn biến các cuộc tiến quân đó?
Trả lời:


Từ năm 1777 đến năm 1783, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tiến quân giải phóng Gia Định ba lần:
- Lần thứ nhất vào năm 1777.
- Lần thứ hai vào năm 1782.
- Lần thứ ba vào năm 1783.

Sau đây là những diễn biến chính của những lần tiến quân đó:

1. Cuộc tiến quân giải phóng Gia Định lần thứ nhất (năm 1777).

Sau khi quân Tây Sơn rút về Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Thuần cùng bọn Đỗ Thanh Nhân đem quân trở về thành Gia Định. Tống Phúc Hiệp và Lý Tài cũng từ Trấn Biên về tới nơi. Bấy giờ là tháng Năm năm Bính Thân (1776). Sang tháng Sáu Tống Phúc Hiệp chết, Lý Tài và Đỗ Thanh Nhân đều muốn giành quyền thống lĩnh toàn bộ quân đội nhà Nguyễn về mình. Hai kẻ đầy tham vọng gặp nhau, không thể cùng chung sống. Lý Tài đem quân bản bộ giữ núi Chiêu Thái, chống lại Đỗ Thanh Nhân. Hai bên đánh nhau. Đỗ Thanh Nhân yếu thế phải đắp lũy ở Bến Nghé và sông Thị Nghè tại Sài Gòn (tức thành Gia Định) để cố thủ.

Tháng Mười năm Bính Thân (1776), Nguyễn Phúc Dương từ Quy Nhơn trốn được về Gia Định. Phúc Dương vội vàng gọi Lý Tài về làm vây cánh cho mình. Lý Tài tiến quân về Gia Định, Đỗ Thanh Nhân phải bỏ Gia Định, chạy về căn cứ cũ Ba Giòng (tức Tam Phụ). Lý Tài ép Phúc Thuần nhường ngôi chúa cho Phúc Dương. Phúc Dương xưng là Tân chính vương và tôn Phúc Thuần làm Thái thượng vương. Lý Tài được phong làm Bảo giá đại tướng quân. Phúc Thuần và bọn cháu là anh em Nguyễn Ánh (tức Gia Long sau này) bỏ Gia Định trốn về Ba Giòng với Đỗ Thanh Nhân, Lý Tài đón bắt Phúc Thuần đưa về Gia Định. Chỉ có anh em Nguyễn Ánh trốn thoát về với quân Đông Sơn.

Như vậy là bọn chúa Nguyễn đã chia làm hai phe: phe Nguyễn Phúc Thuần và phe Nguyễn Phúc Dương. Lực lượng quân sự của nhà Nguyễn ở Gia Định cũng chia làm hai phe, đánh lẫn nhau. Lý Tài và quân Hòa Nghĩa ủng hộ Nguyễn Phúc Dương, Đỗ Thanh Nhân và quân Đông Sơn ủng hộ Nguyễn Phúc Thuần.

Tình hình đó chính là thời cơ thuận lợi để nghĩa quân Tây Sơn tiến vào đánh chiếm Gia Định. Và nghĩa quân Tây Sơn đã không bỏ lỡ thời cơ. Vị anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ được cử làm tướng, đem quân đi đánh Gia Định.

Lần này, để tiến công quân Nguyễn, các lãnh tụ Tây Sơn tập trung một lực lượng tương đối quan trọng, có thủy binh và bộ binh cùng phối hợp tác chiến.

Kế hoạch tác chiến quy định:

Một là, dùng thủy quân làm lực lượng tiến công chủ yếu đánh chiếm Gia Định, tiêu diệt quân chủ lực của nhà Nguyễn; sau đó mở rộng đánh chiếm các địa điểm quan trọng ở phía nam Gia Định như Long Hồ, Phiên Trấn.

Hai là, dùng bộ binh đánh thành Bình Thuận, tiêu diệt quân Nguyễn phòng ngự ở đây; sau đó giải phóng vùng Bình Thuận, Trấn Biên ở phía bắc Gia Định.

Cả hai đạo quân đều đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:43:23 pm

*
* *

Tháng Ba năm Đinh Dậu (1777), quân Tây Sơn bắt đầu tiến công.

Cánh quân đường thủy do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, tiến thẳng vào cửa biển cần Giờ, đánh lên Gia Định.

Cánh quân đường bộ tiến theo đường núi đánh phá khắp một dải từ Phú Yên, Bình Thuận vào đến Trấn Biên, cắt đứt sự liên hệ giữa những cánh quân Nguyễn ở đây với những cánh quân Nguyễn ở Gia Định.

Được tin Nguyễn Huệ đem quân theo hai đường thủy bộ tiến vào, Nguyễn Phúc Dương để Lý Tài ở lại giữ thành Gia Định, tự mình đem một đạo quân lên đóng ở Trấn Biên, với ý định tránh đòn đánh mãnh liệt của Nguyễn Huệ, giữ vững lực lượng, chờ thời cơ phản công. Ý định ấy bị phá tan: bộ binh Tây Sơn đã vào tới Trấn Biên và bắt đầu tác chiến với quân Nguyễn. Hai bên giáp chiến. Quân Nguyễn bị thiệt hại nặng nề, phó tiết chế Nguyễn Cửu Tuấn chưởng trường đà Nguyễn Đại Lữ đều chết trận.

Lúc này, tại Gia Định, Nguyễn Huệ tiến công liên tiếp vào thành. Lý Tài đưa chủ lực ra cự chiến. Trước sức mạnh của quân Tây Sơn, đạo quân Lý Tài bị thất bại dồn dập và tan rã dần.

Thấy nguy cơ mất thành Gia Định, Nguyễn Phúc Dương quyết định để lại một bộ phận lực lượng ứng phó với nghĩa quân tại Trấn Biên, còn đem hết quân về tăng viện cho Lý Tài, với ý định cùng Lý Tài cố thủ Gia Định. Nhưng Nguyễn Phúc Dương về tới Gia Định thì cũng là lúc thành Gia Định thất thủ. Nguyễn Huệ đem đại quân tiến công mãnh liệt vào thành Gia Định. Lý Tài phải bỏ thành đem quân tháo chạy. Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần chạy theo Lý Tài ra Hóc Môn.

Nguyễn Huệ vào thành Gia Định và cho một đạo quân tiến về phía Hóc Môn truy kích bọn Lý Tài, Nguyễn Phúc Dương. Tại đây, trong khi Lý Tài đang tác chiến tuyệt vọng với quân Tây Sơn thì ở phía sau lưng, một đạo quân khác lao mình tiến tới. Lý Tài hoảng sợ, cho là Đỗ Thanh Nhân đem quân Đông Sơn đến đánh úp mình, vội vàng đem quân bản bộ chạy khỏi Hóc Môn, bỏ mặc Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Phúc Thuần ở lại đối phó với nghĩa quân Tây Sơn. Nhưng đạo quân mới tới lại chính là quân Nguyễn. Tướng Nguyễn, Trương Phúc Thận đem quân từ Cần Vọt (Kampot) đi gấp về Gia Định để cứu viện cho bọn chúa Nguyễn và Lý Tài. Được quân Trương Phúc Thận tới cứu, Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần cùng Trương Phúc Thận chạy về Tranh Giang (thuộc Định Tường).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:44:19 pm

Đạo quân Lý Tài, sau khi rời khỏi trận địa Hóc Môn không còn con đường nào khác ngoài con đường chạy về phía Ba Giòng, vì các ngả đường đều bị quân Tây Sơn chặn giữ. Mà chạy về Ba Giòng thì nguy hiểm cho Lý Tài, vì Ba Giòng là căn cứ của quân Đông Sơn. Nhưng, cùng đường, Lý Tài đánh liều đem quân chạy về phía Ba Giòng, và quả nhiên, chạy gần tới Ba Giòng, quân Lý Tài bị quân Đông Sơn đón đánh và tiêu diệt gọn. Lý Tài cũng bị giết chết. Sau khi tiêu diệt quân Lý Tài, Đỗ Thanh Nhân cùng Nguyễn Ánh đem 4.000 quân Đông Sơn đi tìm bọn chúa Nguyễn. Gặp quân Đông Sơn, Nguyễn Phúc Thuần liền tách khỏi bọn Nguyễn Phúc Dương, đi theo quân Đông Sơn về Tài Phụ (thuộc Định Tường) và trao quyền tướng súy cho Đỗ Thanh Nhân.

Lý Tài đã chết, mối xung đột trong nội bộ chúa và tướng nhà Nguyễn tạm hòa hoãn. Đỗ Thanh Nhân và Nguyễn Phúc Thuần chủ trương phối hợp tác chiến với Trương Phúc Thận và Nguyễn Phúc Dương. Kế hoạch dự định là: hai cánh quân lấy sông Tranh Giang làm ranh giới, dựa lưng vào nhau để cùng chống đỡ cuộc tiến công của quân Tây Sơn; Trương Phúc Thận và Nguyễn Phúc Dương chỉ huy hướng Tranh Giang, Nguyễn Phúc Thuần chỉ huy hướng Tài Phụ, Đỗ Thanh Nhân đóng quân tại Giá Khê.

Tháng Tư âm lịch, Nguyễn Huệ cho quân tiến đánh cả hai hướng: Tài Phụ và Tranh Giang. Tại mặt trận Tài Phụ, quân Đông Sơn đại bại. Nguyễn Phúc Thuần chạy dạt sang Long Hưng (thuộc Định Tường). Từ Giá Khê, Đỗ Thanh Nhân cũng đem quân chạy theo sang Long Hưng. Trước sức truy kích mạnh mẽ của nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Phúc Thuần và Đỗ Thanh Nhân phải chạy sang Cần Thơ mong dựa vào quân đội của Mạc Thiên Tứ để đối phó với quân Tây Sơn.

Tại mặt trận Tranh Giang, Nguyễn Phúc Dương và Trương Phúc Thận cũng không đương nổi sức tiến công mãnh liệt của nghĩa quân Tây Sơn và phải rút chạy xuống Trà Tân (thuộc Định Tường) rồi cùng thủy quân do chưởng cơ Thiêm Lộc chỉ huy rút về Ba Việt (tức Ba Vát, ở phía bắc cù lao Mỏ Cày, trên sông Cái Mơng, thuộc địa phận tỉnh Bến Tre ngày nay). Tại đây, Nguyễn Phúc Dương cử Tống Phước Hựu đem quân giữ Mỹ Lung, Thiềm Lộc giữ Hương Đôi, còn Nguyễn Phúc Dương và Tống Phước Hòa đóng quân tại Ba Việt.

Ở phía Cần Thơ, sau khi Nguyễn Phúc Thuần chạy tới, Mạc Thiên Tứ cho con là Mạc Tử Duyên đem quân tiến ra đạo Đông Khẩu nhằm chặn đứng cuộc tiến công vũ bão của quân Tây Sơn. Nhưng Mạc Tử Duyên đã thất bại nặng nề, phải chạy về Cần Thơ, cùng Mạc Thiên Tứ lo kế phòng thủ. Quân của Mạc Thiên Tứ cũng như quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân và toàn thể quân Nguyễn ở Gia Định, đều khiếp sợ tinh thần và sức mạnh chiến đấu của quân đội Nguyễn Huệ và sợ cả một thứ vũ khí riêng của quân đội Nguyễn Huệ là hỏa hổ. Giữa lúc chiến tranh đương diễn ra ác liệt như thế, một giáo sĩ ở Gia Định đã viết thư truyền tin cho giáo hội của họ biết về thứ vũ khí lợi hại đó. Theo miêu tả của giáo sĩ này thì hỏa hổ giống như một cái lao, gồm hai bộ phận, một bộ phận tựa như một cái gậy ngắn làm bằng loại gỗ cây có nhiều gai dài, những gai đó được uốn cong như những lưỡi câu. Gậy gai lưỡi câu ấy buộc nối vào một bộ phận thứ hai, dài như cái sào. Phía trên đầu sào trát dày một thứ nhựa đốt, bên ngoài quấn lá, làm thành một thứ đuốc đặc biệt, vừa là đuốc vừa là lao. Khi ra trận, nghĩa quân đốt dầu đuốc nhựa và khua sào ra phía trước, nhựa đuốc đốt cháy, vung bắn vào địch; bắt cháy, địch sẽ bị chết cháy, nếu không thì cũng bị cháy bỏng nghiêm trọng. Khi tới gần địch, nghĩa quân khua sào, lao đầu gậy gai lưỡi câu vào người địch, gai lưỡi câu móc vào quần áo địch. Địch lúng túng không gỡ ra được đành chịu chết cháy vì nhựa đuốc hoặc đành để nghĩa quân bắt sống tại trận. Thấy Mạc Thiên Tứ không thể đương đầu nổi với nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Phúc Thuần sai Đỗ Thanh Nhân và thuộc tướng Nguyễn Quân tìm đường lẻn ra Bình Thuận, Phú Yên, gọi bọn Chu Văn Tiếp, Trần Văn Thức vào cứu. Tháng Bảy âm lịch, Đỗ Thanh Nhân tới Bình Thuận, Trần Văn Thức đem quân tiến vào cứu bọn chúa Nguyễn. Chu Văn Tiếp ở lại Bình Thuận đối phó với bộ binh Tây Sơn đang đánh phá suốt miền Phú Yên, Bình Thuận, Biên Hòa... Nhưng quân cứu viện của Trần Văn Thức chưa ra khỏi địa phận Bình Thuận thì bộ binh Tây Sơn ở phía Biên Hòa đã tiến lên chặn đánh và tiêu diệt toàn bộ đạo quân cứu viện này. Trần Văn Thức chết trận. Chu Văn Tiếp bỏ chạy. Nghĩa quân Tây Sơn chiếm đóng Bình Thuận.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:45:47 pm

Lúc này, thủy binh Tây Sơn cũng tiến công vào quân đội của Nguyễn Phúc Dương ở Ba Việt. Nhiều tướng lĩnh thân cận của Nguyễn Phúc Dương như Tôn Thất Chí, Nguyễn Mẫn, Tống Phước Hựu đều chết tại đây. Chỉ còn lại Tống Phước Hòa một mình cầm quân cố gắng chống đỡ.

Tháng Tám âm lịch, Nguyễn Huệ cho thêm một cánh quân đi đánh Hương Đôi. Tướng Nguyễn đóng giữ ở đây là Thiêm Lộc phải bỏ chạy về Ba Việt. Bị quân Tây Sơn bao vây chặt chẽ, Nguyễn Phúc Dương thấy đến thế cùng, quân tan, lương hết, muốn tìm đường chạy trốn theo Chu Văn Tiếp nhưng Nguyễn Phúc Dương đã không thể thoát khỏi vòng vây của quân Tây Sơn, và vòng vây ấy ngày càng thắt chặt lại. Quân Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt gọn không trốn thoát một người nào. Nguyễn Phúc Dương và 18 tướng lĩnh tùy tùng bị đưa về Gia Định chịu tội tử hình vào ngày Tân Hợi tháng Tám năm Đinh Dậu (tức 18 tháng 9 năm 1777).

Nguyễn Phúc Thuần ở Cần Thơ nghe tin Nguyễn Phúc Dương bị vây ở Ba Việt, cũng rất lo sợ cho số phận mình. Thấy Cần Thơ không phải là nơi thủ hiểm, không đủ sức đương đầu với những cuộc tiến công của quân Tây Sơn, Mạc Thiên Tứ quyết định cùng Nguyễn Phúc Thuần rời khỏi Cần Thơ, đi theo sông Thiển Giang, lánh ra đất Kiên Giang với ý định nếu quân Tây Sơn đuổi tới Kiên Giang thì lẩn trốn ra các hải đảo. Mạc Thiên Tứ lại cho con là Mạc Tử Duyên cùng một số quân sĩ ở lại sau, chặt cây, lấp dòng sông Hiệp Giang để ngăn chặn quân Tây Sơn truy kích.

Nhưng Nguyễn Phúc Thuần, Mạc Thiên Tứ chưa kịp đến Kiên Giang đã được tin Nguyễn Phúc Dương bị bắt. Nguyễn Phúc Thuần vô cùng hoảng sợ, không yên tâm chạy ra Kiên Giang. Cùng đường, Mạc Thiên Tứ bàn với Nguyễn Phúc Thuần cùng đem vợ con chạy sang Quảng Đông nương nhò nhà Thanh và yêu cầu vua Thanh cho quân sang đánh Tây Sơn. Mạc Thiên Tứ cho người đưa Nguyễn Phúc Thuần tạm lánh sang Long Xuyên để chờ tàu1, còn mình thì đi ra cửa biển Rạch Giá, tìm chiếc tàu biển của một người quen là Quách Ân để nhờ đưa giúp thầy trò nhà Nguyễn sang Quảng Đông.

Nguyễn Phúc Thuần và một số tướng lĩnh tới Long Xuyên tháng Tám năm Đinh Dậu (1777).

Tháng Chín âm lịch, quân Tây Sơn do Chưởng Cơ Thành chỉ huy, truy kích tới Long Xuyên. Nguyễn Phúc Thuần và toàn bộ tướng lĩnh nhà Nguyễn ở đây đều bị quân Tây Sơn bắt sống, chỉ có Nguyễn Ánh lúc ấy mới 15 tuổi, cùng mẹ và một số anh chị em trốn thoát. Quân Tây Sơn tiếp tục tiến xuống Rạch Giá, tìm bắt Mạc Thiên Tứ. Nhưng Mạc Thiên Tứ đã kịp thời chạy trốn ra đảo Phú Quốc.

Nguyễn Phúc Thuần và các tướng lĩnh như cha con Trương Phúc Thận, Nguyễn Danh Khoáng, Nguyễn Phúc Đồng (anh ruột Nguyễn Ánh), v.v... đều chịu tội chết ở Gia Định ngày Canh Thìn tháng Chín năm Đinh Dậu (tức ngày 19 tháng 10 năm 1777).

Như thế là cả bọn chúa Nguyễn đương thời, Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương cùng đại bộ phận tướng lĩnh và quân nhà Nguyễn đều bị tiêu diệt. Toàn bộ đất đai miền Gia Định từ Phú Yên đến Hà Tiên, thuộc quyển kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn. Nhiệm vụ của Nguyễn Huệ trong cuộc tiến quân này, tới đây hoàn thành. Cho nên cũng trong tháng Chín âm lịch, sau khi cuộc tiến công kết thúc, Nguyễn Huệ đem quân chủ lực về Quy Nhơn, chỉ để một vài viên tướng và một đội quân nhỏ ở lại chiếm đóng Gia Định.

Đây là lần đầu tiên Nguyễn Huệ chỉ huy một cuộc tiến quân lớn. Năm ấy ông mới 25 tuổi. Cuộc tiến quân đã diễn ra trong vòng sáu tháng và đã thành công rực rỡ. Với cuộc tiến quân này, Nguyễn Huệ đánh tan quân đội nhà Nguyễn, lật đổ ngôi chúa mấy trăm năm của dòng họ Nguyễn và cùng một lúc giết chết cả hai chúa Nguyễn: Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương, đem lại toàn bộ đất đai miền Gia Định cho nghĩa quân Tây Sơn.
________________________________________
1. Nguyễn Phúc Thuần muốn chờ đón một tàu của người Bồ Đào Nha ở Ma Cao, nhưng tàu này đã đi mất rồi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:46:40 pm

2. Cuộc tiến quân giải phóng Gia Định lần thứ hai (năm 1782).

Bị quân Tây Sơn tiến đánh, sau khi thoát khỏi Long Xuyên, Nguyễn Ánh và gia quyến lẩn trốn vào rừng và lẻn chạy về phía trường đạo ở Mạc Bắc (thuộc Trà Vinh) mong nương nhờ cố đạo Bá Đa Lộc đang ở đó. Nhưng Bá Đa Lộc cũng không dám để bọn Nguyễn Ánh ở trong trường đạo, phải giấu Nguyễn Ánh trong một khu rừng gần nhà trường và hàng ngày cho người cố đạo bản xứ Hồ Văn Nghi đem cơm vào rừng cho ăn. Lối sống ấy không thể kéo dài và đây cũng không phải là nơi an toàn để thoát khỏi sự lùng bắt của quân Tây Sơn, nên Nguyễn Ánh xin cho lẩn chạy ra ngoài hải đảo. Bá Đa Lộc đồng ý và cho người đưa Nguyễn Ánh đi về phía sông Khoa Giang (tức sông Ông Đốc thuộc Bạc Liêu), xuống thuyền chạy ra đảo Thổ Châu (đảo Poulopanjang), cách bờ biển vịnh Xiêm La 200 kilômét. Ở đây, cây rừng rậm rạp, không có người ở, chỉ đôi khi có những thuyền đánh cá qua lại. Vì vậy, đảo Thổ Châu có thể là nơi lẩn trốn an toàn cho Nguyễn Ánh.

Trong khi Nguyễn Ánh chạy trốn khắp nơi, có một số tướng lĩnh của nhà Nguyễn còn ẩn náu được ở miền Gia Định. Đỗ Thanh Nhân, thủ lĩnh quân Đông Sơn, trước đấy chịu lệnh của Nguyễn Phúc Thuần ra Bình Thuận gặp Chu Văn Tiếp xin quân cứu viện, nhưng việc không thành. Quân cứu viện do Trần Văn Thức chỉ huy đã bị tiêu diệt ngay từ khi còn ở trong địa phận Bình Thuận. Mà quân còn lại của Chu Văn Tiếp thì quá ít không dám tiến xuống Gia Định. Khi thấy đại quân của Nguyễn Huệ trở về Quy Nhơn, Chu Văn Tiếp mới cho em rể là Lê Văn Quân và một số tùy tướng đi cùng Đỗ Thanh Nhân về Gia Định hoạt động. Đỗ Thanh Nhân và bọn Lê Văn Quân lại tới Ba Giòng là căn cứ cũ của quân Đông Sơn để mộ quân. Trong khi mộ quân, Đỗ Thanh Nhân một mặt cho người đi tìm bọn bại tướng của nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương, Dương Công Trừng, Hồ Văn Lân đang lẩn trốn ở các nơi, đem tàn binh về hội quân. Một mặt, Đỗ Thanh Nhân cho quân ra Thổ Châu đón Nguyễn Ánh về. Cuối tháng Mười năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Ánh về tới nơi. Tháng Một âm lịch, bọn Đỗ Thanh Nhân mở cuộc tiến công vào quân Tây Sơn và đánh chiếm được dinh Long Hồ. Tháng Chạp âm lịch, Đỗ Thanh Nhân đánh chiếm được Gia Định. Các tướng Tây Sơn ở Gia Định phải chạy về Quy Nhơn.

Tháng Hai năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Nhạc cho quân theo hai đường thủy bộ vào đánh quân Nguyễn. Tổng đốc Tây Sơn là Chu chỉ huy thủy quân tiến vào đánh phá các miền ven sông ở Biên Hòa và Gia Định. Hộ giá Tây Sơn Phạm Ngạn đem bộ binh đánh xuống Biên Hòa. Nhưng cả hai đạo quân đều không thắng lợi. Tối tháng Năm âm lịch, cả hai đạo quân đều rút về Quy Nhơn. Đã mất Gia Định, Tây Sơn lại mất thêm Bình Thuận.

Thấy chưa thể giải quyết ngay được vấn đề Gia Định và cần phải có thời gian xây dựng hậu phương, tăng cường lực lượng, các lãnh tụ Tây Sơn quyết định ngừng những cuộc tiến công hàng năm vào Gia Định cho tới khi có đầy đủ điều kiện chiến thắng. Về phía đối phương, cũng trong thời gian này, Nguyễn Ánh đã có cơ hội thuận lợi để xây dựng lực lượng và tiến tới mưu đồ tiến công lại nghĩa quân Tây Sơn. Đầu năm 1781, Nguyễn Ánh đã có ba vạn quân thủy bộ, 80 thuyền chiến hạng vừa, 3 thuyền chiến lớn, 2 chiếc tàu kiểu Âu châu và 3 tàu Bồ Đào Nha do các sĩ quan và thủy thủ Bồ Đào Nha điều khiển, cả 3 tàu này đều đặt dưới quyền chỉ huy của một sĩ quan Pháp là cai cơ Mạn Hòe (Manuel). Nhưng vì nội bộ có nhiều xung đột về quyền lợi, địa vị, nên bọn Nguyễn Ánh không đủ sức tiến công quân Tây Sơn. Tháng Ba năm Tân Sửu (1781), Nguyễn Ánh ám sát Đỗ Thanh Nhân, người đã lấy lại đất Gia Định cho Nguyễn Ánh, đem Nguyễn Ánh từ đảo Thổ Châu về Gia Định, đặt lên ngôi chúa. Đỗ Thanh Nhân đã tô nặn cho Nguyễn Ánh từ một đứa trẻ 16 tuổi trở thành một ông chúa, có quân, có đất, có quyền thống trị. Vậy mà Nguyễn Ánh giết Đỗ Thanh Nhân. Nguyên nhân chỉ vì Nguyễn Ánh lo sợ uy quyền của Đỗ Thanh Nhân sẽ ảnh hưởng không lợi tới địa vị và quyền hành của mình. Khi Đỗ Thanh Nhân bị giết chết, các thuộc tướng của Đỗ Thanh Nhân và quân Đông Sơn lập tức nổi dậy chống lại Nguyễn Ánh và các tướng lĩnh thân cận của Nguyễn Ánh. Cuộc xung đột đã làm cho cả hai bên hao binh tổn tướng khá nhiều và làm cho lực lượng của Nguyễn Ánh bị suy sút nghiêm trọng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:48:29 pm

Tháng Năm năm Tân Sửu (1781), Nguyễn Ánh cử binh tiến đánh quân Tây Sơn tại Bình Khang (tức Khánh Hòa ngày nay, cách Nha Trang 11 kilômét).

Ba đạo quân được điều động. Hai đạo bộ binh do Chu Văn Tiếp và Tôn Thất Dụ chỉ huy, từ Bình Thuận, Phú Yên chuyển sang tiến công. Một đạo thủy quân do Tống Phước Thiêm, Nguyễn Hữu Thụy, Dương Công Trừng chỉ huy, xuất phát từ Gia Định phối hợp với bộ binh đánh Bình Khang và chặn đánh thủy quân ứng cứu của Tây Sơn.

Quân Nguyễn tiến sát Bình Khang. Đạo quân Chu Văn Tiếp đóng tại Diên Khánh (cách Bình Khang 2 kilômét). Đạo quân Tôn Thất Dụ đóng tại Hòn Khói (cách Nha Trang 40 kilômét). Quân Nguyễn đào công sự, đắp lũy đối diện với quân Tây Sơn.

Tại Bình Khang, quân Tây Sơn có một đội tượng binh khá lớn. Khi quân Nguyễn tới nơi, chưa kịp khiêu chiến thì quân Tây Sơn đã tiến công trước. Quân Tâv Sơn cho toàn đội voi chiến xung trận, quân Nguyễn hoảng sợ, bỏ chạy hỗn loạn. Quân Tây Sơn đuổi đánh dồn dập. Trong tình hình nguy ngập đó, đạo thủy quân của Tống Phước Thiêm ở Gia Định lại không ra được, vì quân Đông Sơn ở Ba Giòng nổi loạn. Quân tướng nhà Nguyễn ở Gia Định cũng đương thất bại nặng nề trước sự tiến công của quân Đông Sơn. Thấy không thể ngăn chặn được sức đánh đuổi mãnh liệt của quân Tây Sơn ở Bình Khang, Tôn Thất Dụ đành phải đem tàn quân chạy về Bình Thuận, còn Chu Văn Tiếp thì đem quân theo đường núi chạy về Trà Lang là căn cứ cũ ở Phú Yên, để chờ thời cơ hoạt động.

Âm mưu đánh chiếm Bình Khang của Nguyễn Ánh hoàn toàn thất bại.

Sau thắng lợi Bình Khang, các lãnh tụ Tây Sơn thấy không thể để yên cho Nguyễn Ánh phát triển lực lượng và đặt ách thống trị lâu dài ở Gia Định.

Tháng Ba năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chỉ huy một đạo bộ binh và một đạo thủy quân gồm vài trăm thuyền chiến xuất phát từ Quy Nhơn tiến đánh Gia Định. Thủy quân đi thẳng vào cửa biển Cần Giờ.

Lần này, Nguyễn Ánh đã chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Khi được tin thủy quân Tây Sơn đã tiến vào cửa biển Cần Giờ, Nguyễn Ánh hạ lệnh cho Tống Phước Thiêm đưa thủy quân ra nghênh chiến. Đạo thủy quân này của Nguyễn Ánh gồm hơn 400 thuyền chiến và có một số tàu của Pháp và Bồ Đào Nha tham dự. Tống Phước Thiêm dàn thuyền chiến thành hàng ngang ở Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang). Kế hoạch của quân Nguyễn là chặn đứng và đánh tan thủy quân Tây Sơn tại Ngã Bảy.

Mặc cho thuyền chiến quân Nguyễn bắn chặn dữ dội thủy quân Tây Sơn đang trên chiều thuận gió, vẫn ào ạt tiến lên và tiến công rất mạnh.

Nguyễn Huệ chỉ huy thủy quân dũng cảm tiến sát thuyền chiến địch và tung hỏa công đánh phá. Trận thủy chiến diễn ra rất ác liệt. Trước sức mạnh của thủy quân Tây Sơn và tài chỉ huy của Nguyễn Huệ, các thuyền chiến của Nguyễn Ánh phải lui dần. Thủy quân Tây Sơn vẫn bám sát thuyền chiến địch và tập trung hỏa lực bắn phá rất dữ dội. Những tàu Bồ Đào Nha và Pháp đều bỏ chạy.

Chỉ còn lại một tàu kiểu châu Âu có 10 đại bác do cai cơ Pháp là Mạn Hòe chỉ huy. Nguyễn Ánh bỏ thuyền, lên tàu để điều khiển cuộc rút lui. Nhưng thủy quân Tây Sơn đuổi rát quá, Nguyễn Ánh lại phải bỏ tàu xuống thuyền nhẹ để chạy nhanh vào bờ. Chiếc tàu của Mạn Hòe bị hãm trong vòng vây của thuyền chiến Tây Sơn. Mặc dù Mạn Hòe cố sức chống cự, thuyền chiến Tây Sơn vẫn bao vây chặt. Cuối cùng chiếc tàu Tây bị đốt cháy và đánh đắm. Tên tướng Pháp là Mạn Hòe tử trận.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:49:17 pm

Cũng lúc đó, Nguyễn Ánh trực tiếp chỉ huy một đội thuyền chiến đến cứu viện, nhưng bị hỏa lực trên thuyền chiến Tây Sơn chặn đánh rất dữ dội. Thuyền của Nguyễn Ánh bị bắn gãy cột buồm. Nguyễn Ánh phải rút chạy về Bến Nghé.

Bến Nghé là một đồn quân ở phía nam thành Gia Định. Nguyễn Ánh rút quân về Bến Nghé là nhằm mục đích tìm nơi an toàn và thuận lợi đối phó với nghĩa quân Tây Sơn. Trước Bến Nghé là thành Gia Định, trong đó vẫn có quân Nguyễn đóng giữ, làm bình phong bảo vệ cho Bến Nghé phía bắc thành Gia Định có một đồn tiền tiêu là đồn Thị Nghè khá kiên cố. Đồn này lập tại một địa điểm trên gã ba sông Thị Nghè và có thể khống chế tất cả mấy ngả sông Thị Nghè và sông Gia Định. Do đấy, đồn Thị Nghè che chở cho thành Gia Định rất kín đáo. Đồn này được lập từ năm 1772, có một chiến lũy lớn, chu vi 15 dặm, tức khoảng 7 kilômét. Năm 1780, chiến lũy Thị Nghè lại được làm bằng thân cây dừa ken với nhau, ngoài đắp đất. Thời bấy giờ chiến lũy làm bằng thân cây dừa hay cây cọ, đặt xen vào nhau, được coi như là bất khả xâm phạm, súng thường và cả đại bác bắn đều không suy suyển vì thân cây dừa gỗ xốp không bị đạn bắn vỡ, mà trái lại, đạn bị thân cây dừa giữ chặt, không xuyên qua và lọt ra ngoài được.

Nhưng thành lũy kiên cố của Nguyễn Ánh không thể ngăn cản được bước tiến của quân đội Tây Sơn. Thấy Nguyễn Ánh rút chạy, Nguyễn Huệ hạ lệnh đuổi đánh. Nghĩa quân Tây Sơn liên tiếp chiếm đóng đồn Thị Nghè, hạ thành Gia Định và tiến đánh quân Nguyễn Ánh tại Bến Nghé. Thủy quân Nguyễn Ánh hoàn toàn tan rã. Nguyễn Ánh đem tàn quân chạy trốn về Ba Giòng.

Nguyễn Huệ cho các đội thuyền chiến nhỏ tiếp tục đuổi đánh địch trên các ngả sông.

Nguyễn Ánh phải chạy về Lữ Phụ (thuộc Định Tường). Cùng đi có một số tướng lĩnh và tàn binh cộng lại gồm 300 người. Nguyễn Ánh cho xây đồn, đắp lũy ở Lữ Phụ để cố thủ. Một đội chiến thuyền nhỏ của Tây Sơn đi tuần tiễu tới đây, Nguyễn Ánh cho thủy binh đánh chặn. Chiến thuyền Tây Sơn thua chạy. Nguyễn Ánh đuổi đến dinh Trấn Định. Tại đây, Nguyễn Ánh tập hợp thêm được một số quân, chỉnh đốn lại hàng ngũ, rồi tiến lên đóng ở Ngã Tư (Tứ Kỳ Giang, thuộc Gia Định).

Nguyễn Ánh vừa đem quân vào đóng ở Ngã Tư thì thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy xuất hiện và tiến đánh rất mãnh liệt. Trận thủy chiến kết thúc rất mau chóng, thủy quân Nguyễn Ánh tan rã ngay từ những phút chiến đấu đầu tiên.

Nguyễn Ánh chạy đi Lật Giang, rồi sang Hậu Giang. Trong khi thủy quân Tây Sơn đuổi đánh bọn Nguyễn Ánh, chúng phải chạy dài từ Gia Định xuống miền Hậu Giang thì bộ binh Tây Sơn do tướng Nguyễn Văn Kim tiến đánh Biên Hòa. Tại đây, Nguyễn Ánh có một đạo quân tương đối lớn do Nguyễn Hữu Thụy, em rể Nguyễn Ánh chỉ huy. Để chống cự với quân Tây Sơn, Nguyễn Hữu Thụy cho thủy binh tiến đóng ở Bình Hóa, bộ binh tiến đóng ở Tân Nhuận. Nhưng cả hai cánh quân thủy bộ đều bị quân Tây Sơn đánh cho đại bại. Nguyễn Hữu Thụy phải thu thập tàn quân chạy về Giang Lăng. Tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Kim đem quân truy kích, tiêu diệt hoàn toàn đạo quân Nguyễn Hữu Thụy tại Giang Lăng. Nguyễn Hữu Thụy bỏ cả cha, cả vợ ở mặt trận, một mình chạy thoát lấy thân, trốn về miền Hậu Giang với Nguyễn Ánh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:49:40 pm

Quân Nguyễn ở Bình Thuận nghe tin Gia Định thất thủ liền tiến về cứu viện. Tháng Tư năm Nhâm Dần (1782), tướng Nguyễn ở Bình Thuận là Tôn Thất Dụ cùng các tướng Trần Xuân Trạch, Trần Văn Tự, Trần Công Chương đem quân vào Biên Hòa. Quân Nguyễn tới cầu Tham Lương thì gặp tiền binh Tây Sơn. Hai bên giao chiến, bên Tây Sơn, tướng Phạm Ngạn tử trận, bên quân Nguyễn tướng Hồ Công Siêu cũng bị chết. Quân Tây Sơn tiến công mạnh, quân Tôn Thất Dụ phải lùi. Vừa khi đó, Chu Văn Tiếp đem quân tới ứng cứu, rồi cả Chu Văn Tiếp và Tôn Thất Dụ đều rút quân trở về Bình Thuận.

Được tin quân Nguyễn thất bại ở khắp nơi, Nguyễn Ánh tự thấy không còn sức đối phó với nghĩa quân Tây Sơn và đất Hậu Giang cũng không phải là chỗ dung thân an toàn. Nhân có Nguyễn Hữu Thụy từ Giang Lăng chạy về Nguyễn Ánh vội cho Nguyễn Hữu Thụy cùng bọn Trần Xuân Trạch, Cao Phú Trí, tất cả 150 người đi qua Chân Lạp sang Xiêm cầu viện. Hành động nhục nhã "cõng rắn cắn gà nhà" của dòng họ chúa Nguyễn đã thể hiện trong việc Nguyễn Phúc Thuần muốn chạy sang Quảng Đông cầu xin nhà Thanh đem quân sang đánh Tây Sơn, thì nay lại được Nguyễn Ánh kế tục trong việc mượn tay người Pháp, người Bồ Đào Nha cung cấp thuyền chiến, khí giới và trực tiếp cầm súng bắn vào người Việt Nam. Thất bại trong trận này, Nguyễn Ánh lại vô sỉ ngửa tay cầu xin quân Xiêm tiến sang can thiệp. Nhưng hành động "cõng rắn cắn gà nhà" như thế còn được Nguyễn Ánh nhiều lần thực hiện tích cực hơn nữa.

Sau khi bọn Nguyễn Hữu Thụy đi rồi, Nguyễn Ánh đem lũ bại tướng cùng một ít tàn quân lui xuống Rạch Giá, định đi Hà Tiên xuống thuyền chạy ra biển. Giám mục Bá Đa Lộc và một số giáo sĩ Pháp đã trở về Gia Định với Nguyễn Ánh từ cuối năm 1777, cũng đang tìm đường chạy trốn. Bá Đa Lộc cùng một số giáo sĩ Pháp, Tây Ban Nha đem theo hơn 80 người công giáo Việt Nam chạy sang Chân Lạp và họ đã tới Chân Lạp khoảng trung tuần tháng 7 năm 1782.

Như vậy, toàn bộ miền Gia Định lại thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn. Với những thắng lợi mới này, các lãnh tụ Tây Sơn: Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có mặt ở Gia Định lúc ấy, đã cho người sang thông hiếu với Chân Lạp. Để tỏ tình giao hảo và sự ủng hộ của mình đối với nghĩa quân Tây Sơn, Chân Lạp cho quân chia làm 3 đạo đi chặn bắt Nguyễn Ánh.

Một đạo quân Chân Lạp đi đón bắt bọn Nguyễn Hữu Thụy. Toàn bộ phái đoàn đi cầu viện Xiêm của Nguyễn Ánh đã bị quân Chân Lạp bắt và tiêu diệt gọn.

Một đạo quân Chân Lạp gồm hơn 30 thuyền chiến đi theo hướng Rạch Giá, đánh đuổi Nguyễn Ánh đến tận Sơn Chiết. Nguyễn Ánh và bọn tùy tùng trốn thoát ra Hà Tiên xuống thuyền chạy ra đảo Phú Quốc.

Một đạo quân Chân Lạp thứ ba được lệnh đi lùng bắt bọn Bá Đa Lộc đương ẩn náu trong đất Chân Lạp. Bọn Bá Đa Lộc phải lẩn trốn trong rừng liền mấy tháng cho đến khi Nguyễn Ánh trở về được Gia Định thì lại dắt díu nhau theo về Gia Định.

Tháng Năm năm Nhâm Dần (1782), tình hình Gia Định đã tương đối ổn định, Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ đem đại quân trở về Quy Nhơn. Một hàng tướng là Đỗ Nhàn Trập, nguyên tướng cũ Đông Sơn được trao trách nhiệm cùng hộ bộ Tây Sơn tên là Bá, lĩnh 3.000 quân ở lại giữ Gia Định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:50:22 pm

3. Cuộc tiến quân giải phóng Gia Định lần thứ ba (năm 1783).

Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ vừa đem đại quân rời khỏi Gia Định tháng Năm năm Nhâm Dần (1782) thì tháng sau, một tướng của Nguyễn Ánh còn lẩn lút ở miền nam Gia Định là Hồ Văn Lân lại bắt đầu hoạt động. Hồ Văn Lân tập hợp được một số tàn quân, đánh chiếm dinh Long Hồ (Vĩnh Long ngày nay). Một số tướng khác như Dương Công Trừng, Nguyễn Văn Quý cũng đem tàn binh lại hợp lực với Hồ Văn Lân cùng tiến đánh quân Tây Sơn ở sông Lật Giang. Quân Tây Sơn thua chạy, bị mất hơn 10 thuyền chiến.

Trong khi bọn Hồ Văn Lân hoạt động ở phía nam Gia Định, thì bọn Chu Văn Tiếp ẩn náu ở vùng núi Lương Sơn (phía nam Phú Yên) cũng tích cực mộ quân, bổ sung lực lượng và tháng Tám âm lịch (1782), Chu Văn Tiếp giương cờ "Lương Sơn tá quốc” (người Lương Sơn giúp nước), tiến quân vào Gia Định, Chu Văn Tiếp chia quân ra làm nhiều cánh cùng tiến, còn tự mình lĩnh một cánh quân mạnh để tiếp viện cho các cánh quân trên. Quân thế của Chu Văn Tiếp khá mạnh mà lực lượng Tây Sơn ở Gia Định thì yếu, chỉ có 3.000 quân đóng rải khắp miền Gia Định. Khi quân Chu Văn Tiếp tới thành Gia Định, tướng Tây Sơn giữ thành là Đỗ Nhàn Trập lại phạm sai lầm là ngay từ đầu đã tung hết quân chia ra các mặt để cùng chống đỡ. Quân Chu Văn Tiếp liên tiếp tiến công. Quân Tây Sơn bị tiêu diệt phần lớn. Đỗ Nhàn Trập cùng số quân còn lại mở một đường phá vây rút về Quy Nhơn.

Chiếm được Gia Định, Chu Văn Tiếp sai người báo tin và đón Nguyễn Ánh từ Phú Quốc trở về Gia Định. Cuối tháng 10 năm 1782, bọn cố đạo Bá Đa Lộc cũng từ Chân Lạp kéo về Gia Định.

Biết Tây Sơn sẽ vào đánh, Nguyễn Ánh ra lệnh tăng cường phòng thủ, xây dựng nhiều đồn lũy, cử tướng chỉ huy các địa điểm then chốt trong hệ thống phòng thủ Gia Định, đồng thời cho đóng thuyền chiến, khôi phục thủy quân.

Ở phía nam sông Gia Định, đặt đồn Thảo Câu (Vàm Cỏ) do Dương Công Trừng đóng giữ. Phía bắc đặt đồn Dác Ngư (Cá Dốc) do Tôn Thất Mân chỉ huy. Giữa hai đồn lớn này, bắc một cầu phao qua sông để tiện việc đi lại. Trong lòng sông đóng cọc và trên sông lúc nào cũng dàn sẵn hơn 100 thuyền chiến làm lực lượng cơ động có Chu Văn Tiếp điều khiển. Ở phía trước lại đặt thêm một con rồng cỏ và nhiều bè để đánh hỏa công.

So với trước, hệ thống phòng ngự Gia Định của quân Nguyễn vững chắc hơn nhiều. Tuy vậy, Nguyễn Ánh vẫn lo không thể chống lại được với sức mạnh của quân Tây Sơn, nên y phải cho Lê Phúc Điển, Lê Phúc Bình đem đồ vàng bạc sang biếu vua Xiêm và cầu viện quân Xiêm lần nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:50:58 pm

*
* *

Tháng Hai năm Quý Mão (1783), Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem thủy quân vào tiến công Gia Định, qua cửa biển Cần Giờ.

Biết rõ Nguyễn Ánh đã tập trung toàn lực để bảo vệ thành Gia Định và mưu dùng hỏa công mạnh để phá thủy quân Tây Sơn, ngày 24 tháng Hai năm Quý Mão, tức ngày 26 tháng 3 năm 1783, chờ khi có thủy triều dâng lên, gió từ cửa biển thổi mạnh trở vào, Nguyễn Huệ cho hai cánh quân tiến vào phá phòng tuyến Gia Định. Cánh quân thứ nhất do tư khấu Nguyễn Văn Kim chỉ huy tiến đánh đồn Dác Ngư ở bờ bắc sông Gia Định. Cánh quân thứ hai do đô đốc Lê Văn Kê chỉ huy, tiến đánh đồn Thảo Câu ở bờ nam. Tướng Nguyễn là lưu thủ Thăng và tiên phong Túy đem kỳ binh tiến ra nghênh chiến, rồi lùi chạy, ý muốn nhử thủy quân Tây Sơn vào khu vực đánh hỏa công để tiêu diệt như kế hoạch đã định từ trước của Nguyễn Ánh. Nhưng ý đồ của Nguyễn Ánh và các tướng Nguyễn đã không thể thắng được tài dùng binh của Nguyễn Huệ, người biết triệt để lợi dụng những yếu tố thiên thời, địa lợi để đánh địch. Nguyễn Huệ chọn lúc thủy triều dâng lên mới xuất quân. Chiến thuyền Tây Sơn càng tiến, nước thủy triều càng dâng cao, gió từ cửa biến thổi vào càng mạnh. Được chiều gió, nước thuận lợi, chiến thuyền Tây Sơn ào ạt tiến lên, đánh thẳng vào khu vực hỏa công của địch. Trước sức tiến công mãnh liệt của thủy quân Tây Sơn, giám quân Tô, người điều khiển hỏa công của quân Nguyễn, tuân theo kế hoạch đã định, vội vàng hạ lệnh phóng hỏa công, nhằm đốt phá thuyền chiến Tây Sơn, hoặc ít nhất cũng ngăn chặn được sức tiến của thuyền chiến Tây Sơn. Nhưng ngược chiều gió, các bè hỏa công phóng ra, không trôi về phía thuyền chiến Tây Sơn mà lại quay về đốt phá thuyền chiến quân Nguyễn, không thể nào ngăn chặn, dập tắt được. Trong khi đó, đại quân của Nguyễn Huệ tiến tới. Quân Tây Sơn tập trung hỏa lực bắn vào thuyền chiến quân Nguyễn. Vừa bị bè hỏa công của mình quay về đốt phá, vừa bị đạn của quân Tây Sơn bắn tới dữ dội, thủy quân của Nguyễn Ánh tan vỡ, rút chạy hỗn loạn. Quân Tây Sơn tiến lên bao vây hai đồn Thảo Câu và Dác Ngư. Tôn Thất Mân, tướng giữ đồn Dác Ngư, không chống nổi, vội đem tàn quân qua cầu phao định chạy vào thành Gia Định nhưng tướng Tây Sơn là Lê Văn Kế chặt gãy cầu phao, Tôn Thất Mân và tàn quân Nguyễn rơi xuống nước chết. Đồn Dác Ngư bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân Tây Sơn tăng cường tiến công đồn Thảo Câu. Tướng giữ đồn Thảo Câu là Dương Công Trừng bị bắt sống tại trận. Toàn bộ tướng sĩ đồn Thảo Câu đều xin hàng.

Sau khi tiêu diệt hai đồn Thảo Câu và Dác Ngư, quân Tây Sơn tập trung truy kích cánh quân Chu Văn Tiếp. Cánh quân này bị tan rã hoàn toàn. Chu Văn Tiếp bỏ trốn, theo đường núi chạy bạt sang tận Xiêm.

Phá tan phòng tuyến của quân Nguyễn, Nguyễn Huệ tiến quân vào thành Gia Định. Nguyễn Ánh hoảng sợ, vội vàng đem gia đình bỏ thành chạy trốn. Đi theo Nguyễn Ánh chỉ có năm, sáu tướng lĩnh tùy tùng và không đầy một trăm quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:52:08 pm

Nguyễn Ánh chạy về Ba Giòng. Sang tháng Tư năm Quý Mão, tàn quân các nơi cũng về tập hợp ở Ba Giòng. Nguyễn Ánh tổ chức lại quân đội, cử Nguyễn Kim Phẩm làm tiên phong; Tôn Thất Dụ, Nguyên Đình Thuyền, Trần Đại Thể, Trần Đại Huề, Hồ Đồng và Minh làm trung quân, Hoảng làm tả chi, Nguyễn Văn Quý làm hữu chi, Nguyễn Hoàng Đức đem 500 quân làm hậu ứng. Tất cả đều cùng tiến lên đóng quân ở Đồng Tuyên để chống chọi với quân Tây Sơn.

Được tin Nguyễn Ánh đang củng cố lực lượng và bố trí phòng ngự ở Đồng Tuyên, Nguyễn Huệ liền đem một lực lượng bộ binh và tượng binh khá lớn tiến công mạnh vào Đồng Tuyên. Quân Nguyễn không chống cự nổi và bị thiệt hại rất nặng. Các tướng Nguyễn Đình Thuyền, Nguyễn Văn Quý, Trần Đại Huề và binh bộ Minh đều tử trận. Hồ Đồng và Nguyễn Hoàng Đức cùng 500 quân hậu ứng đều bị bắt sống tại trận. Tiên phong Nguyễn Kim Phẩm bị đánh bạt đi, không liên lạc được với Nguyễn Ánh, phải chạy trốn vào Hà Tiên rồi bị bắt tại đây.

Nguyễn Ánh đem tàn quân cùng 50 thuyền chiến chạy đi Lật Giang. Quân Tây Sơn truy kích ráo riết. Nguyễn Ánh phải ngày đêm chạy đi Mỹ Tho, rồi chạy ra vùng cửa biển Ba Thắc và gặp Bá Đa Lộc. Trước đây, Bá Đa Lộc vẫn ở Gia Định với Nguyễn Ánh. Nhưng từ đầu tháng 3 năm 1783, khi được tin Nguyễn Huệ sắp tiến đánh Gia Định, Bá Đa Lộc vội vàng đem lương thực, tiền bạc, thuyền bè chạy trước vào Mạc Bắc (ở Trà Vinh) là nơi có trường đạo do giáo sĩ Li-ô (Liot) quản đốc. Ngày 9 tháng 3 năm 1783, được tin Nguyễn Huệ đã đánh vào Gia Định, Bá Đa Lộc và Li-ô cùng hai giáo sĩ Tây Ban Nha, Ca-xtu-ơ-ra (Castuera) và Gi-nét-xta (Ginestar) đem bọn tùy tùng và các học sinh trường đạo Mạc Bắc chạy ra vùng cửa biển Ba Thắc. Bá Đa Lộc đến đây được 8 ngày thì Nguyễn Ánh cũng chạy tới. Sợ ở cùng một chỗ thì nguy hiểm cho mình, Bá Đa Lộc đem đồng bọn chạy đi nơi khác.

Thấy Bá Đa Lộc chạy, Nguyễn Ánh cũng chạy ra Hà Tiên, rồi chạy thẳng ra đảo Phú Quốc. Khi tới Hà Tiên Nguyễn Ánh có thêm được một tướng Xiêm là Vinh-li-ma đem 200 quân đến xin gia nhập. Vinh-li-ma tránh nội biến ở Xiêm, chạy ra vùng hải đảo. Cùng ở trong cảnh như Nguyễn Ánh, Vinh-li-ma đã sẵn sàng đi theo Nguyễn Ánh.

Mặc dầu Nguyễn Ánh chạy ra tận Phú Quốc, Nguyễn Huệ vẫn không ngừng truy kích. Ngày 12 tháng Bảy năm Quý Mão (tức ngày 9 tháng 8 năm 1783), tướng Tây Sơn là Phan Tiến Thận đem quân tiến đánh Nguyễn Ánh ở hòn đảo Điệp Thạch. Tàn quân Nguyễn Ánh bị thiệt hại nặng. Các tướng Tôn Thất Cốc, chưởng cơ Hoảng, Vinh-li-ma và Tôn Thất Điển (em Nguyễn Ánh) đều bị quân Tây Sơn bắt sống. Nguyễn Ánh khiếp sợ phải cởi áo ngự cho Lê Phúc Điển mặc để lẩn trốn cho dễ và Nguyễn Ánh cùng một số tướng sĩ đã chạy thoát được ra đảo Cổ Long1
__________________________________________
1. Tức đảo Koh Rong.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Mười, 2016, 09:53:58 pm

Lẩn lút tại đây, Nguyễn Ánh lại mưu cầu ngoại viện. Nguyễn Ánh định cho người sang Ma-ni (Manille), do hai giáo sĩ Tây Ban Nha dẫn đường, để mua lương thực và cầu viện người Tây Ban Nha lúc ấy đương thống trị Phi-líp-pin. Nhưng Nguyễn Ánh chưa kịp cho người đi Ma-ni1 thì Nguyễn Huệ đã cử phò mã Trương Văn Đa đem một lực lượng thủy quân lớn tới đánh. Trương Văn Đa dàn thuyền chiến thành ba vòng, vây chặt đảo Cổ Long. Bấy giờ là ngày 18 tháng 8 năm 1783, quân Tây Sơn tiến công rất dữ dội. Nhưng gặp phải ngày mưa bão lớn thuyền chiến Tây Sơn không thể dàn ra để bao vây mà phải dồn lại ghì chặt vào nhau để chống đỡ với gió to sóng lớn. Do đó, vòng vây giãn ra. Nguyễn Ánh nhân cơ hội, đem tàn quân chạy thoát trốn sang đảo Cổ Cốt (Koh Kut), rồi lại chạy về Phú Quốc. Tại đây, không có gì ăn, lương thực hết, bọn Nguyễn Ánh phải hái cỏ, đào củ để sống.

Không thể ở yên Phú Quốc để chết đói, Nguyễn Ánh lại đem tàn quân về cửa biển Ma-ni. Nhưng vừa tới nơi, quân Tây Sơn đã đem hơn 20 thuyền chiến đến vây bắt. Nguyễn Ánh bỏ chạy ra khơi. Quân Tây Sơn truy kích. Nguyễn Ánh chạy trốn, 7 ngày, 7 đêm lênh đênh trên mặt biển. Sau mấy ngày truy kích, quân Tây Sơn quay về, Nguyễn Ánh mới chạy thoát trở lại Phú Quốc.

Nhưng cũng như lần trước, không thể ở Phú Quốc để chờ chết, Nguyễn Ánh lại mò về cửa biển Ông Đốc để kiếm ăn và định tiến vào Long Xuyên.

Được tin ấy, tướng Tây Sơn là Nguyễn Hóa đem hơn 50 thuyền chiến ra phục ngầm ở cửa biển Ông Đốc để đón đánh. Thấy nguy cơ bị tiêu diệt, bọn Nguyễn Ánh quay thuyền chạy nhanh ra biển. Chuyến này, Nguyễn Ánh phải bỏ Phú Quốc, chạy qua Hòn Chông, rồi chạy thẳng ra đảo Thổ Châu, cách đất liền khoảng 200 kilômét. Không có lương ăn, bọn Nguyễn Ánh phải nhịn đói, chèo thuyền mấy ngày đêm liền để trốn thoát sự truy kích của quân Tây Sơn.

Tình hình Gia Định tới đây đã tương đối ổn định, nhiệm vụ giải phóng Gia Định đã hoàn thành, Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ đem đại quân trở về Quy Nhơn, lưu phò mã Trương Văn Đa và chưởng tiền Bảo ở lại giữ Gia Định.

Khác với những lần trước, lần này, trước khi trở về Quy Nhơn, Nguyễn Huệ bố trí phòng thủ Gia Định chu đáo hơn. Lơ-gờ-răng đơ la Li-re (Legrand de la Liraye), tác giả cuốn "Bút ký lịch sử về dân tộc An-nam" đã dựa theo dã sử, nhận định về việc Nguyễn Huệ tổ chức phòng thủ Gia Định lần này như sau:

"Với việc chiếm đóng Gia Định, Long Nhương2 đã hoàn toàn làm chủ cả Đường Trong. Ông này không phải chỉ là một người cầm quân mà còn là một nhà cai trị rất giỏi và khác với những tướng lĩnh mà Nguyễn Nhạc đã cử vào lần đầu ông nắm được cả miền Gia Định trong tay, bằng những đồn binh vững vàng ở khắp các đường bộ, đường sông cửa biển và bằng một kỷ luật nghiêm minh, đồng thời lại nhân từ với nhân dân...”.

Quân Tây Sơn ở lại Gia Định lần này không những đủ sức phòng thủ lãnh thổ của mình, mà còn có khả năng đi dẹp loạn giúp nước láng giềng Chân Lạp. Số là trong mấy tháng cuối năm 1783, một số người Mã Lai đem quân sang đánh chiếm Chân Lạp. Nước Chân Lạp cầu viện nghĩa quân Tây Sơn. Tháng 12 năm 1783, tướng Tây Sơn Trương Văn Đa đem quân sang Chân Lạp đánh đuổi quân Mã Lai giải phóng đất nước Chân Lạp. Quân Mã Lai chạy trốn sang Xiêm. Nghĩa quân Tây Sơn rút về Gia Định.
__________________________________________
1. Nguyễn Ánh đương chuẩn bị ghe thuyền cho bọn chân tay đi Ma-ni thì được tin quân Tây Sơn sắp đánh tới. Nguyễn Ánh và tàn quân nhốn nháo lo sợ. Hai giáo sĩ Tây Ban Nha, Ca-xtu-ơ-ra và Gi-nét-xta, vội bỏ đảo Cổ Long, xuống một chiếc "ghe bầu" chạy vào đất liền. Nhưng cả hai đều bị quân Tây Sơn bắt đưa về Gia Định. Nguyễn Huệ đã cho thả hai giáo sĩ này và cho phép họ tự do đi lại truyền đạo.
2. Long Nhương tướng quân là chức tước mà Nguyễn Nhạc đã phong cho Nguyễn Huệ khi Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế vào năm 1778, đặt niên hiệu là Thái Đức.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:51:11 am

Câu hỏi 7: Chiến thắng Rach Gầm - Xoài Mút (ngày 19 tháng 1 năm 1785) thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất của vị chủ soái Nguyễn Huệ và tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết liệt của quân đội Tây Sơn. Với trận quyết chiến chiến lược này, Nguyễn Huệ đã đập tan ý đồ bán nước của Nguyễn Ánh cùng âm mưu xâm lược của quân Xiêm. Hãy trình bày diễn biến của trận Rạch Gầm - Xoài Mút?
Trả lời:


Trong khoảng 12 năm (từ 1771-1783), nghĩa quân Tây Sơn đã giáng những đòn liên tục vào chế độ phong kiến ở Đàng Trong, quật ngã nền thống trị xây dựng trên 200 năm của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn, giải phóng phần lớn đất Đàng Trong.

Trong bước đường cùng, bọn phong kiến phản động ở Đàng Trong đứng đầu là Nguyễn Ánh, đã điên cuồng tìm mọi cách chống lại phong trào nông dân Tây Sơn. Nhưng mọi cố gắng của bọn chúng đều bị đập tan, Nguyễn Ánh nhiều lần bị đánh đuổi ra khỏi đất Gia Định (Nam Bộ) phải trốn tránh trên các hải đảo. Cuối năm 1783, Nguyễn Ánh đã phải nhờ một số giáo sĩ Pháp giúp đỡ lương thực để sống qua những ngày túng thiếu, đói khổ và đầu năm sau (năm 1784) chạy sang cầu cứu vua Xiêm.

Lúc bấy giờ nước Xiêm (từ năm 1945 gọi là Thái Lan) dưới triều vua Cha-kri (Chakkri, sử ta chép là Chất-tri) đang lúc thịnh đạt và đang thi hành chính sách bành trướng mạnh mẽ. Phong kiến Xiêm nuôi tham vọng lớn đối với nước Chân Lạp (ngày nay là Campuchia) và đất Gia Định của ta. Lợi dụng cơ hội này, vua Xiêm là Cha-kri I, dưới danh nghĩa cứu giúp Nguyễn Ánh, âm mưu chiếm đóng nước Chân Lạp và xâm lấn miền đất cực Nam nước ta.

Sau khi nhận lời với Nguyễn Ánh, tháng 4 năm 1784, vua Xiêm phái hai tướng Lục Côn và Sa Uyển cùng với Chiêu Thùy Biện là một cựu thần Chân Lạp thân Xiêm, đem hai đạo bộ binh tiến sang Chân Lạp rồi từ đó, mở một mũi tiến công đánh xuống Gia Định phối hợp với thủy binh sẽ vượt biển đổ bộ lên. Ngoài số quân Xiêm, Chiêu Thùy Biện còn ra sắc chiêu tập thêm quân lính để thực hiện mưu đồ của vua Xiêm. Ngày 25 tháng 7 năm 1784, vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng làm chủ tướng và Chiêu Sương làm tướng tiên phong, thống lĩnh 2 vạn quân và 300 chiến thuyền, từ Vọng Các (Băng Cốc) vượt lên đánh chiếm Gia Định. Nguyễn Ánh cũng tập hợp bọn tàn quân giao cho Chu Văn Tiếp chỉ huy với chức Bình Tây đại đô đốc và Mạc Tử Sinh làm tham tướng, dẫn đường cho quân Xiêm. Nguyễn Ánh đã cam tâm bán rẻ quyền lợi dân tộc, dựa vào thế lực nước ngoài để hòng khôi phục nền thống trị của một tập đoàn phong kiến phản động đã bị nhân dân đánh đổ. Nguyễn Ánh đã tạo cơ hội và dẫn đường cho quân Xiêm xâm chiếm đất Gia Định.

Tháng 8, thủy quân Xiêm cùng với quân bản bộ của Nguyễn Ánh đổ bộ lên Kiên Giang, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược miền đất cực Nam của nước ta. Sau đó, 3 vạn bộ binh của địch do Sa Uyển và Chiêu Thùy Biện chỉ huy, từ Chân Lạp tiến xuống phối hợp với thủy binh đánh chiếm Trấn Giang (Cần Thơ) là một vị trí chiến lược quan trọng của miền tây Gia Định. Tổng số quân xâm lược Xiêm lên đến 5 vạn, kể cả quân thủy và quân bộ. Đó là chưa tính số quân bản bộ của Nguyễn Ánh. Số quân này lúc lưu vong ở Xiêm không có bao nhiêu, nhưng sau khi về nước có được tăng cường thêm về số lượng do sự nổi dậy của bọn đại địa chủ phản động ở Gia Định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:51:47 am

Cuộc kháng chiến của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm buổi đầu diễn ra trong tương quan lực lượng hết sức chênh lệch. Bộ chỉ huy tối cao và đại bộ phận quân Tây Sơn lúc bấy giờ đóng ở Quy Nhơn (Bình Định, Plây Cu, Kon Tum), để sẵn sàng ứng phó với mọi hoạt động của kẻ thù trong Nam, ngoài Bắc. Số quân Tây Sơn đóng giữ đất Gia Định do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy chỉ độ mấy nghìn người. Nhưng đó là một đội quân nông dân dày dạn kinh nghiệm, có tinh thần chiến đấu cao. Năm 1783, trước khi rút quân về Quy Nhơn, Nguyễn Huệ đã lập "nhiều đồn binh vững vàng ở khắp các đường bộ, đường sông, cửa biển" và đề ra một kế hoạch phòng thủ Gia Định khá chu đáo.

Trước cuộc tiến công của quân Xiêm, quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của tướng Trương Văn Đa, vừa chặn đánh quyết liệt ở một số vị trí vừa rút lui từng bước để bảo toàn lực lượng và kiềm chế đến mức tối đa bước tiến của quân thù, đồng thời tiêu hao một phần sinh lực địch. Quân địch tuy có ưu thế hơn hẳn về quân số, nhưng cuộc chiến tranh xâm lược tiến triển rất chậm. Sau gần 4 tháng, cho đến cuối năm 1784, quân Xiêm chỉ chiếm được Kiên Giang, Trấn Giang (Cần Thơ), Ba Xắc (Sóc Trăng), Trà Ôn, Sa Đéc, Mân Thít (Vĩnh Long), Ba Lai (Bến Tre), Trà Tân (Mỹ Tho)... và kiểm soát nửa đất phía tây Gia Định về bên hữu ngạn Tiền Giang (tức ba tỉnh miền Tây: Hà Tiên, An Giang, Vĩnh Long). Quân Tây Sơn vẫn làm chủ miền đất phía đông Gia Định và giữ vững những vị trí quan trọng như Mỹ Tho, Gia Định. Trong một số trận đánh, tuy cuối cùng phải rút lui, nhưng quân Tây Sơn đã chiến đấu dũng cảm, gây cho quân địch những tổn thất đáng kể. Trong trận Mân Thít ngày 30 tháng 11 năm 1784, quân Tây Sơn do Trương Văn Đa trực tiếp chỉ huy, đã giết chết viên tướng cầm đầu quân bản bộ của Nguyễn Ánh là Bình Tây đại đô đốc Chu Văn Tiếp. Một tướng Xiêm là Thát Xỉ Đa (có tài liệu chép là Chất Xi Đa) cũng bị thương trong trận này. Sau đó, Nguyễn Ánh cử Lê Văn Quân làm khâm sai tổng nhung chưởng cơ thay Chu Văn Tiếp. Tháng 12 năm 1787, trong trận đánh đồn Ba Lai và Trà Tân một viên tướng nữa của Nguyễn Ánh là chưởng cơ Đăng Văn Lượng cũng bị giết chết.

Bảo toàn được lực lượng, giữ vững được nửa đất Gia Đinh gây cho địch một số thiệt hại, và làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng, đó là thắng lợi về mặt quân sự của cuộc rút lui chiến lược do Trương Văn Đa tiến hành. Về mặt chính trị, cuộc rút lui chiến lược có tổ chức của quân Tây Sơn còn có tác dụng khoét sâu những nhược điểm cơ bản của quân địch, làm cho bọn cướp nước và bán nước bị lột mặt nạ trước nhân dân Gia Định và càng ngày càng bị cô lập nghiêm trọng.

Sau khi chiếm được một phần đất Gia Định, quân Xiêm sinh ra kiêu căng, chủ quan. Chúng coi thường quân Tây Sơn, khinh mạn Nguyễn Ánh. Chúng không lo chiến đấu mà chỉ tìm mọi cách cướp bóc của cải của nhân dân để gửi về nước, hãm hiếp phụ nữ, giết hại dân chúng. Bản thân tướng Xiêm là Chiêu Tăng, Chiêu Sương khi đánh Ba Lai đã từng "giết hại nhân dân và cướp bóc vàng bạc, của cải không biết bao nhiêu mà kể". Bọn tướng giặc còn "dung túng quân Xiêm cướp bóc và giết chóc nhân dân". Vua Xiêm về sau này cũng phải thừa nhận: "Hai tên súc sinh Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm việc kiêu căng, hung hãn, vào sâu đất giặc, không tuân lệnh quốc vương (chỉ Nguyễn Ánh), tàn hại nhân dân nước ấy...". Theo lời vua Xiêm thì bọn chúng đã dùng chiến thuyền chở về nước rất nhiều con gái, vàng bạc, của cải cướp được ở nước ta.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:53:06 am

Hành động bạo ngược của quân giặc đã khơi sâu lòng căm thù sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân yêu nước ở Gia Định. Càng căm ghét quân Xiêm tàn bạo, nhân dân Gia Định càng oán giận bè lũ Nguyễn Ánh rước quân giặc vào giày xéo quê hương, đất nước. Chính Nguyễn Ánh cũng nhận thấy rõ lòng thù oán của nhân dân. Trong bức thư gửi cho một giáo sĩ người Pháp là Li-ô (J. Liot) Nguyễn Ánh đã tỏ ra lo lắng: bọn lính Xiêm chạy theo cái cuồng vọng của chúng: cướp bóc, hãm hiếp đàn bà, con gái, vơ vét của cải, giết hại bất kỳ già trẻ. Vì vậy sức mạnh của quân "phiến loạn" (chỉ quân Tây Sơn) càng ngày càng tăng lên trong khi quân Xiêm càng ngày càng yếu đi”1. Sử nhà Nguyễn chỉ ghi lại một số cuộc nổi dậy của bọn phong kiến phản động theo Nguyễn Ánh và cố tình che giấu những hành động yêu nước, sự ủng hộ của nhân dân đối với Tây Sơn. Những lời thú nhận trên đây của Nguyễn Ánh chứng tỏ tội ác tày trời của quân giặc và lòng phẫn nộ cao độ của nhân dân. Từ đó bùng lên ngọn lửa yêu nước, căm thù của nhân dân Gia Định với nhiều hình thức tham gia ủng hộ có hiệu quả đối với quân Tây Sơn. Có như vậy, mấy nghìn quân Tây Sơn do Trương Văn Đa chỉ huy mới có thể đương đầu với hơn 5 vạn quân Xiêm - Nguyễn Ánh, làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của bọn chúng. Và có như vậy, sức mạnh của quân Tây Sơn mới "càng ngày càng tăng lên trong khi quân Xiêm càng ngày càng yếu đi" như Nguyễn Ánh phải thừa nhận.

Lực lượng của Nguyễn Ánh không có bao nhiêu, tất cả đều phải dựa vào quân Xiêm. Do những hành động tàn bạo của quân Xiêm và cơn phẫn nộ đang dâng cao của nhân dân, Nguyễn Ánh mất dần tin tưởng vào sự cứu giúp của phong kiến Xiêm và cảm thấy trước nguy cơ thất bại. Vì thế cuối năm 1784, khi giặc Xiêm do Nguyễn Ánh rước vào còn đang gieo rắc tang tóc đau thương cho nhân dân ta thì chính Nguyễn Ánh đã bắt đầu mở đường cho sự can thiệp của tư bản Pháp. Thấy không thể trông nhờ vào quân Xiêm, tháng 11 năm đó, Nguyễn Ánh nhờ Bá Đa Lộc - tên thực dân khoác áo thầy tu - sang cầu viện nước Pháp. Việc làm đó không những một lần nữa tố cáo tính chất phản bội dân tộc của Nguyễn Ánh mà còn chứng tỏ, quân xâm lược Xiêm đang bị cô lập và bè lũ Nguyễn Ánh đã bị lên án trước nhân dân Gia Định. Mâu thuẫn giữa quân Xiêm - Nguyễn với các tầng lớp nhân dân miền Nam đã trở nên gay gắt. Đồng thời giữa quân Xiêm và quân Nguyễn Ánh cũng phát sinh mâu thuẫn. Đó là điều kiện xã hội và chính trị để phong trào nông dân Tây Sơn phát triển lên thành phong trào dân tộc, đảm đương sứ mạng chống ngoại xâm gìn giữ độc lập dân tộc.
_____________________________________
1. Thư Nguyễn Ánh gửi J. Liot ngày 25 tháng 1 năm 1785 do Lê Văn Duyệt sao chép và L. Cadière công bố trong Les Français aux services de Gia Long, Bulletin des amis du vieux Huế, 1926.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:54:16 am

*
* *

Tại căn cứ Quy Nhơn, bộ chỉ huy quân Tây Sơn vẫn theo dõi chặt chẽ cuộc kháng chiến ở Gia Định để sẵn sàng tiếp ứng cho Trương Văn Đa khi cần thiết và đặc biệt là chuẩn bị cho cuộc phản công sắp tới.

Cuối năm 1784, một viên tướng Tây Sơn là đô úy Đặng Văn Trấn về Quy Nhơn báo cáo rõ tình hình ở Gia Định. Trên cơ sở đó, bộ chỉ huy quyết định cử Nguyễn Huệ đem thủy quân vào Nam tổ chức phản công, thực hiện quyết chiến chiến lược nhằm nhanh chóng quét sạch quân Xiêm - Nguyễn ra khỏi đất Gia Định.

Nguyễn Huệ dùng thuyền chiến vượt biển vào đến Gia Định khoảng đầu tháng 1 năm 1785. Nguyễn Huệ đóng quân và đặt sở chỉ huy tại Mỹ Tho.

Tổng số quân Tây Sơn ở Gia Định - kể cả quân đồn trú của Trương Văn Đa và đoàn binh thuyền mới được tăng cường của Nguyễn Huệ - lên đến khoảng 2 vạn. Về số lượng, quân Tây Sơn chưa bằng một nửa quân Xiêm, chưa kể quân bản bộ của Nguyễn Ánh.

Nhưng về trang bị vũ khí, khi bước vào cuộc kháng chiến chống Xiêm, quân đội Tây Sơn, ngoài bộ binh còn có tượng binh, kỵ binh và một đội thủy binh mạnh với nhiều loại thuyền chiến lớn nhỏ khác nhau. Trang bị của quân Tây Sơn đặc biệt là có nhiều đại bác các cỡ. Đó là những đại bác của quân Nguyễn bị quân Tây Sơn chiếm được trong các trận đánh, bao gồm đại bác do quân Nguyễn chế tạo và những đại bác do chính quyền họ Nguyễn mua của các công ty tư bản phương Tây. Chỉ riêng trận đánh ra Quảng Nam giữa năm 1774, quân Tây Sơn đã chiếm được 45 voi chiến, 82 khẩu đại bác Hà Lan, Anh và 6 thuyền chở đầy đạn dược. Trên thuyền chiến, quân Tây Sơn thường đặt nhiều đại bác.

Còn về tinh thần chiến đấu thì dĩ nhiên, quân Tây Sơn có ưu thế tuyệt đối hơn hẳn quân Xiêm - Nguyễn. Đó là tinh thần quật cường bất khuất của giai cấp nông dân kết hợp với lòng yêu nước và truyền thống anh hùng của dân tộc.

Trước khi Nguyễn Huệ đem quân vào Gia Định (lần thứ tư), quân Xiêm - Nguyễn đã kiểm soát được vùng Hậu Giang và tiến tới vùng Tiền Giang. Chúng đã chiếm được Sa Đéc, Long Hồ (Vĩnh Long), Mân Thít, Ba Lai, từ hữu ngạn Tiền Giang cho đến sông Ba Lai. Cuối năm 1784, chúng chiếm được Trà Tân ở phía bắc Tiền Giang và sông Mỹ Tho. Sau khi chia quân đóng giữ một số vị trí trọng yếu trong vùng đã chiếm được, Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng với Nguyễn Ánh đang tập trung quân về Trà Tân (Mỹ Tho). Chúng dự tính sẽ từ Trà Tân tiến lên Mỹ Tho, Gia Định, đánh tan quân Tây Sơn, hoàn thành việc xâm chiếm toàn bộ đất Gia Định. Để chuẩn bị cho cuộc tiến công đầy tham vọng đó, Nguyễn Ánh đã phái cai đội Nguyễn Văn Thành đi Bát Chiên và Quang Hóa thu thập tàn quân Đông Sơn là đội quân do Đỗ Thanh Nhân lập ra trước đây để chống lại quân Tây Sơn. Như vậy là quân Nguyễn Ánh đã lén lút hoạt động ở vùng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, khoảng giữa Mỹ Tho và Gia Định nhằm chia cắt và uy hiếp quân Tây Sơn từ mặt sau để phối hợp với cuộc tiến công từ Trà Tân lên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:55:17 am

Giữa lúc quân địch đang chuẩn bị cho cuộc tiến công đánh chiếm Mỹ Tho, Gia Định, thì bất ngờ thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy kéo vào đóng ở Mỹ Tho. Quân địch phải tạm thời hoãn cuộc tiến công để lo đối phó với Nguyễn Huệ, đề phòng quân Tây Sơn từ Mỹ Tho đánh lên.

Tại Trà Tân và vùng nam bờ sông Mỹ Tho, Tiền Giang quân địch đã tập trung một khối lượng khá lớn gồm đại bộ phận quân Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh. Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh đặt sở chỉ huy và đóng đại quân tại Trà Tân. Trà Tân ở phía bắc sông Mỹ Tho khoảng giữa Cái Bè và Bình Chánh đông. Địa hình và vị trí vùng này khá lợi hại. Dòng sông bị chia cắt bởi những cù lao lớn như cù lao Tân Phong, cù lao Trà Luật (hay cù lao Năm Thôn) và nhiều cồn cát, bãi sa bồi. Các nhánh sông chi chít nhưng hẹp. Địa thế đó rất thuận lợi cho việc bố trí phòng thủ, phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh và thủy binh. Vùng Trà Tân ở vào đầu sông Mỹ Tho tiếp giáp với Tiền Giang và gần chỗ phân lưu của các sông Cổ Chiên, Hàm Luông, Ba Lai đổ ra biển. Khi tiến công, quân địch có thể từ Trà Tân theo dòng sông Mỹ Tho tiến đánh Mỹ Tho.

Phía nam Tiền Giang và sông Mỹ Tho, quân địch phân chia một bộ phận đóng giữ những vị trí quan trọng như Sa Đéc, Long Hồ (Vĩnh Long), vừa để bảo vệ sở chỉ huy, ngăn chặn quân Tây Sơn có thể từ biển theo các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên đánh lên, vừa sẵn sàng tiếp ứng cho đại quân ở Trà Tân.

Tiến công vào Trà Tân, một căn cứ tập trung đông quân địch và phòng bị chặt chẽ như vậy, quân Tây Sơn sẽ gặp nhiều khó khăn, bất lợi, nhất là khi quân ta ít hơn hẳn quân địch về số lượng. Hơn nữa, trong tình hình cả nước lúc đó, tiền đồ phát triển của phong trào Tây Sơn đòi hỏi Nguyễn Huệ phải đánh nhanh, giải quyết nhanh. Kẻ thù nguy hiểm của Tây Sơn không phải chỉ có quân xâm lược Xiêm và bọn phong kiến phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định mà còn có quân Trịnh ở Thuận Hóa. Tiến công vào căn cứ Trà Tân, cuộc chiến đấu chắc chắn sẽ ác liệt và kéo dài. Như vậy, quân chủ lực tinh nhuệ của Tây Sơn bị giam chân ở mặt Nam, do đó ở mặt Bắc, quân Trịnh có thể lợi dụng thời cơ đánh vào Quy Nhơn. Quân Tây Sơn sẽ bị phân tán lực lượng, phải đồng thời đối phó với hai kẻ thù ở hai phía. Đó là những lý do quân sự và chính trị giải thích vì sao Nguyễn Huệ không mở cuộc tiến công vào Trà Tân. Nguyễn Huệ chủ trương nhử địch ra khỏi căn cứ, kéo chúng đến một địa hình có lợi cho ta và tiêu diệt gọn bằng một trận quyết chiến theo lối đánh vận động trên sông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:56:02 am

Những ngày đầu, Nguyễn Huệ sử dụng một binh lực nhỏ mở những trận tập kích vào một số vị trí đóng quân của địch. Mỹ Tho cách Trà Tân gần 30 kilômét. Sông Mỹ Tho cũng như các dòng sông gần biển chịu sự chi phối của thủy triều, hàng ngày nước sông lên xuống theo thủy triều. Lợi dụng nước thủy triều lên, Nguyễn Huệ cho những đội binh thuyền nhỏ xuất phát từ Mỹ Tho đánh lên Trà Tân hoặc theo những cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên đánh lên những vị trí của địch xung quanh Trà Tân rồi lại rút lui. Đó là những trận tập kích nhằm nghi binh thăm dò lực lượng địch và kích động thêm tinh thần chủ quan, khinh địch của quân Xiêm.

Mặt khác, Nguyễn Huệ còn biết rõ dã tâm của vua Xiêm là lợi dụng danh nghĩa cứu giúp Nguyễn Ánh để xâm lấn đất Gia Định và bọn quân lính Xiêm thì lợi dụng cuộc viễn chinh để cướp bóc của cải. Cuối năm 1784, Nguyễn Ánh đã than phiền với Bá Đa Lộc về "tình trạng hai lòng của người Xiêm". Để khoét sâu thêm nhược điểm cơ bản của quân địch và tìm cách ly gián, tăng thêm sự hoài nghi giữa Nguyễn Ánh với quân Xiêm, Nguyễn Huệ dùng một tù binh người Chân Lạp làm sứ giả mang nhiều vàng bạc gấm vóc đến gặp chủ tướng của quân Xiêm xin giảng hòa với điều kiện như sau: "Tân triều (chỉ Tây Sơn) và cựu triều (chỉ Nguyễn Ánh) nước tôi tranh nhau lãnh thổ và nhân dân, không thể cùng đứng với nhau được. Nước tôi cùng nước Xiêm cách trở xa xôi, trâu và ngựa không đánh hơi nhau được, chẳng hay vương tử (chỉ Chiêu Tăng là cháu vua Xiêm) đến chốn này làm gì. Chi bằng hai nước chúng ta hòa hiếu với nhau. Sau khi xong việc, nước tôi sẽ y lệ tiến cống. Như thế có phải là được lợi lâu dài không? Vậy việc cựu chúa (chỉ Nguyễn Ánh) nước tôi để mặc chúng tôi lo liệu, xin vương tử đừng có giúp đỡ". Chiêu Tăng vừa nhận lễ vật để thỏa lòng tham không đáy, vừa âm mưu giả vờ giảng hòa để rồi bất ngờ tiến công quân Tây Sơn. Hắn tưởng thế là cao tay, mưu trí, là "tương kế tựu kế". Chủ tướng quân Xiêm đang thỏa mãn với những "thắng lợi" đã đạt được và tin tưởng vào những dự tính lớn mai sau, có ngờ đâu đang bị Nguyễn Huệ từng bước, từng bước một dẫn dắt vào cạm bẫy.

Hơn mười ngày đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Huệ đem quân vào Mỹ Tho. Quân Xiêm lúc đầu lo phòng thủ để sẵn sàng chống lại một cuộc phản công lớn của quân Tây Sơn. Nhưng rồi chúng thấy quân Tây Sơn chỉ mở những cuộc tập kích nhỏ và Nguyễn Huệ lại điều đình xin giảng hòa. Tại Mỹ Tho, chúng thấy quân Tây Sơn “lui lại, đem thuyền ra dàn ở sông lớn để đợi xem biến chuyển ra sao". Những hành động của quân Tây Sơn càng làm cho Chiêu Tăng tin rằng Nguyễn Huệ không dám tiến công và đang chờ đợi kết quả giảng hòa. Hắn hí hửng bàn với Nguyễn Ánh: "Giặc rất tin tôi, tất không phòng bị, ta nên thừa thế, mà đánh phá giặc ngay. Xin hẹn đến đêm mồng 9 tháng này (tháng Chạp năm Giáp Thìn) quốc vương đem ngự binh đi trước xông vào thuyền giặc. Tôi cùng các tướng bản bộ đem tất cả chiến thuyền lớn nhỏ tiến lên phá các thuyền chắn ngang sông của giặc thì thế nào cũng toàn thắng". Chiêu Tăng đẩy quân bản bộ của Nguyễn Ánh đi trước mở đường, còn hắn sử dụng toàn bộ chiến thuyền, theo sông Mỹ Tho, mở cuộc tiến công lớn vào sở chỉ huy của Nguyễn Huệ, hòng bất ngờ đánh tan quân Tây Sơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:56:49 am


Tại sở chỉ huy đóng ở Mỹ Tho, Nguyễn Huệ bám sát mọi hoạt động của quân Xiêm - Nguyễn. Nguyễn Huệ biết chắc rằng quân địch sớm muộn thế nào cũng đánh lên Mỹ Tho. Những cuộc tập kích nhỏ, việc điều đình giảng hòa, những hành động nghi binh tỏ ra lơ là phòng bị đều nhằm mục đích thúc đẩy quân địch sớm rời khỏi căn cứ, mở cuộc tiến công mà ông mong đợi, đồng thời làm cho quân địch thêm chủ quan, tự mãn, tạo ra nhân tố bất ngờ cho trận quyết chiến. Kế hoạch nhử địch ra khỏi căn cứ để tiêu diệt bằng một trận đánh vận động trên sông của Nguyễn Huệ đã thành công. Bọn tướng lĩnh Xiêm, như sử nhà Nguyễn chép "cậy mình thắng luôn, bèn dẫn quân đến thẳng Mỹ Tho". Trong lúc đó, Nguyễn Huệ đã dày công nghiên cứu địa hình từ Trà Tân đến Mỹ Tho và quyết định chọn khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa quyết chiến với quân thù.

Sông Mỹ Tho là một dòng sông lớn, phía trên tiếp nước Tiền Giang rồi đổ ra biển qua cửa Đại cửa Tiểu và các nhánh sông Ba Lai, Hàm Luông. Đặc biệt, sông Mỹ Tho chảy qua phía trước Trà Tân và Mỹ Tho (trấn lỵ) là hai vị trí đóng quân và cũng là hai đại bản doanh của quân Xiêm - Nguyễn và quân Tây Sơn. Quân địch từ Trà Tân đánh lên Mỹ Tho phải hành quân theo đường sông Mỹ Tho.

Đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài chừng 7 kilômét. Lòng sông ở đây lại mở rộng hơn 1 kilômét, có chỗ đến trên dưới 2 kilômét. Với đoạn sông dài và rộng lớn như vậy, quân Tây Sơn có thể dồn hàng trăm thuyền chiến của địch lại mà tiêu diệt.

Hai bên bờ sông Mỹ Tho ở quãng này có một số thôn xóm, nhưng lúc bấy giờ còn thưa thớt, cây cỏ còn rậm rạp.

Phía bắc sông Mỹ Tho ở quãng này có hai nhánh sông đổ vào là Rạch Gầm và Xoài Mút. Rạch Gầm (hay Sầm Giang) bắt nguồn từ Giồng Trôm (hay đồi Lữ) chảy về phía Nam, hợp với sông Trà Liễu (hay sông Lâu Lâm) đổ ra sông Mỹ Tho. Sông Xoài Mút còn có tên là sông An Đức vì dòng sông này đổ ra sông Mỹ Tho ở thôn An Đức thuộc tổng Kiến Thuận. Nhân dân địa phương thường gọi là sông Xoài Mút hay Xoài Hột vì trước đây hai bên bờ sông, nhất là bên hữu ngạn có một rừng xoài. Đây là loại xoài hoang, mọc tự nhiên nên quả nhỏ, hột to, mu mỏng. Người ta quen gọi là "xoài hột" (vì hột to) hay "xoài mút" (vì mu mỏng nên khi ăn phải mút) và nhân đó đặt tên dòng sông chảy qua là sông Xoài Mút hay Xoài Hột.

Rạch Gầm và Xoài Mút là hai con sông nhỏ, thường gọi là rạch, nhưng giữ vị trí quan trọng trong thế trận của Nguyễn Huệ. Thủy binh Tây Sơn bố trí ở hai rạch này sẽ là hai mũi tiến công lợi hại chặn đầu và khóa đuôi toàn bộ đội hình quân địch một khi chúng đã lọt vào trận địa mai phục.

Khoảng giữa Rạch Gầm và Xoài Mút, dòng sông Mỹ Tho có cù lao Thới Sơn. Đây là một bãi đất bồi, chu vi dài 5 dặm (khoảng 6 kilômét) nằm hơi chếch về phía nam sông Mỹ Tho, đối diện với cửa sông Xoài Mút. Tiếp theo cù lao Thới Sơn về phía nam là cù lao Hộ hay bãi Tôn. Bộ binh Tây Sơn bố trí trên những cù lao đó có thể dùng đại bác bắn vào sườn đội hình quân địch và sẵn sàng tiêu diệt những tên địch liều lĩnh đổ bộ lên để tìm đường tháo chạy. Những nhánh sông nằm giữa các cù lao và bờ nam là những nơi mai phục và xuất phát của đội thuyền chiến Tây Sơn lao ra chia cắt đoàn thuyền của địch thành từng mảng mà tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 08:57:25 am

Chọn đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa quyết chiến, chứng tỏ nghệ thuật lợi dụng địa hình hết sức tinh tường của Nguyễn Huệ. Dòng sông rộng cùng với các nhánh sông, cù lao, bờ sông ở đây đáp ứng đầy đủ yêu cầu bố trí một thế trận tiến công vận động lớn cho phép quân Tây Sơn bao vây chặt rồi chia cắt, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút cách Mỹ Tho khoảng 6 kilômét (tính từ cửa sông Xoài Mút) và cách Trà Tân khoảng 15 kilômét (tính từ cửa Rạch Gầm).

Quân Tây Sơn từ Mỹ Tho có thể nhanh chóng đến chiếm lĩnh trận địa và giữ bí mật không cho quân địch ở Trà Tân dò biết. Trên cơ sở phán đoán đúng ý đồ của địch và với những nguồn tin do thám tin cậy, Nguyễn Huệ không những nắm được âm mưu tiến công của địch mà còn biết cả kế hoạch và thời gian tiến công nữa. Do đó, Nguyễn Huệ có thể chủ động xác định không gian và thời gian của trận quyết chiến, bày sẵn thế trận để đợi giặc.

Quân địch định tối ngày mồng 9 tháng Chạp (tức ngày 19 tháng 1 năm 1785), sẽ rời khỏi Trà Tân, bắt đầu cuộc hành quân tiến đánh Mỹ Tho. Công việc bố trí trận địa của quân Tây Sơn phải hoàn thành trước giờ tiến công của địch.

Nguyễn Huệ huy động đại bộ phận binh lực gồm cả bộ binh và thủy binh, bí mật vận động đến bày trận tại khu vực tác chiến đã được lựa chọn và nghiên cứu trước. Bộ binh với hỏa lực đại bác mạnh, bố trí mai phục trên bờ sông và trên cù lao Thới Sơn. Nhiệm vụ của bộ binh là phát huy sức mạnh hỏa lực bắn vào đội hình thuyền chiến của địch khi đã lọt hẳn vào trận địa mai phục và sau đó, sẵn sàng giáp chiến tiêu diệt tàn quân địch bỏ chạy lên bờ. Hai đội thủy binh tinh nhuệ giấu quân trong Rạch Gầm, Xoài Mút hình thành hai mũi tiến công chặn đầu, khóa đuôi vây chặt quân địch trong trận địa quyết chiến. Một bộ phận thủy binh mai phục trong các nhánh sông, lạch sông, ẩn nấp sau các cù lao, sẽ bất ngờ đánh tạt ngang vào đoàn chiến thuyền địch như những lưỡi dao sắc băm nát đội hình của chúng.


Một bộ phận thủy binh Tây Sơn vẫn đóng ở Mỹ Tho, bày thuyền chiến trên sông để nghi binh đánh lừa quân địch. Nhưng khi quân địch đã lọt vào trận địa Rạch Gầm - Xoài Mút thì bộ phận thủy binh này lập tức ngược dòng sông Mỹ Tho đến tiếp ứng, tăng cường sức mạnh cho quân ta vào giờ phút quyết định của cuộc chiến đấu.

Tối 18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1785, quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ, đã sẵn sàng trong tư thế quyết chiến với một thế trận bao vây, tiêu diệt quân địch rất chặt chẽ, lợi hại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:17:34 pm

*
* *

Sau khi đã bàn bạc phối hợp với nhau và chuẩn bị các mặt, tối 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), quân Xiêm - Nguyễn bắt đầu rời khỏi khu căn cứ Trà Tân tiến thẳng đến Mỹ Tho.

Chiêu Tảng, Chiêu Sương huy động tất cả chiến thuyền lớn nhỏ, toàn bộ lực lượng thủy binh và một bộ phận bộ binh vào cuộc tiến công này. Một bộ phận bộ binh còn lại do Sa Uyển chỉ huy vẫn đóng ở Đông Khẩn (Sa Đéc) để bảo vệ vùng đất chúng đã kiểm soát được thuộc hữu ngạn Tiền Giang. Chiêu Tăng trực tiếp chỉ huy cuộc tiến công.

Quân bản bộ của Nguyễn Ánh do tổng nhung chưởng cơ Lê Văn Quân chỉ huy cũng tham gia cuộc tiến công dưới quyền điều khiển chung của chủ soái quân Xiêm là Chiêu Tăng. Số quân của Nguyễn Ánh lúc bấy giờ có khoảng ba, bốn nghìn, bị Chiêu Tăng đẩy đi trước mở đường. Nguyễn Ánh tham dự cuộc hành quân với tinh thần lo lắng, hoài nghi và tâm lý thất bại. Nguyễn Ánh cố đi sau với một số bầy tôi thân cận như hộ bộ Trần Phúc Giai, cai cơ Nguyễn Văn Bình, thái giám Lê Văn Duyệt để phòng khi lâm nguy còn kịp tháo chạy.

Khoảng đầu canh năm ngày 19 tháng 1 năm 1785 đoàn thuyền chiến của địch lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Từ Trà Tân, chiến thuyền của địch theo sông Trà Luật (một nhánh Tiền Giang chạy theo bờ phía bắc cù lao Trà Luật tức cù lao Năm Thôn) và Tiền Giang ra sông Mỹ Tho. Từ đây dòng sông mở rộng và quang đãng, đoàn thuyền địch trên 300 chiếc lớn nhỏ, xếp thành đội hình tiến nhanh về phía Mỹ Tho. Khi đoàn thuyền đã vào hết trong khúc sông được chọn làm trận địa quyết chiến, nghĩa là tiền quân địch đã đến cửa sông Xoài Mút và hậu quân đã qua cửa Rạch Gầm, Nguyễn Huệ ra lệnh công kích.

Mở đầu trận đánh, hai đội thủy binh Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút bất ngờ lao ra, chặn đánh hai đầu, dồn quân địch vào vòng vây đã bố trí sẵn. Đồng thời, đại bác của quân Tây Sơn từ hai bên bờ sông và trên cù lao Thới Sơn bắn xối xả vào khúc giữa đoàn thuyền địch lúc bấy giờ đang bị ùn lại. Mạc Tử Sinh (một viên tướng của Nguyễn Ánh), lúc đó ở Long Hồ (Vĩnh Long) cũng nghe tiếng súng đại bác nổ liên hồi và dữ dội. Lúc đầu, viên tham tướng được Nguyễn Ánh giao cho nhiệm vụ chuẩn bị đường chạy trốn, tưởng là đại bác của quân Xiêm - Nguyễn đang tiến công thuyền chiến Tây Sơn. Nhưng chỉ một lát sau, hắn đã thấy một viên võ quan và nhiều binh lính bị thương vì trúng đạn chạy về Long Hồ. Hắn lo lắng thăm hỏi tin tức Nguyễn Ánh để kịp tháo chạy.

Bị chặn đầu, khóa đuôi và bị hỏa lực quân Tây Sơn áp đảo từ đầu, quân địch hết sức hốt hoảng và đội hình bị rối loạn. Ngay sau đó, những đội thuyền chiến của quân Tây Sơn từ các vị trí mai phục xông thẳng vào đội hình đang rối loạn của địch, chia nhỏ đoàn thuyền chúng ra từng mảng mà tiêu diệt. Chiến thuyền quân Tây Sơn từ Mỹ Tho cũng kịp thời đến tiếp ứng. Quân Tây Sơn, thủy bộ phối hợp với nhau, khép chặt vòng vây, tiêu diệt quân địch hết mảng này đến mảng khác. Dưới sự chỉ huy và đốc chiến của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn lao vào cuộc chiến đấu quyết định với một tinh thần rất dũng cảm và tác phong rất mãnh liệt. Một viên tướng quân Nguyễn thoát chết chạy về Long Hồ kể cho Mạc Tử Sinh biết: "Nguyễn Huệ đốc chiến ở phía sau, ra lệnh liều chết đánh, quân sĩ nào không quyết chiến thì chém ngay để làm răn. Vì thế các tướng sĩ đều liều chết, không nghĩ gì đến tính mệnh,... tiến công rất là mãnh liệt".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:18:00 pm

Quân địch bị hãm vào một tình thế hiểm nghèo: bị bao vây, bị chia cắt, đội hình tan vỡ, quân lính khiếp sợ. Lúc đầu, đôi nơi quân địch còn tổ chức chống cự, phóng hỏa đốt cháy thuyền chiến Tây Sơn. Nhưng những hành động kháng cự đó nhanh chóng bị đập tan trước sức tiến công ào ạt của quân Tây Sơn.

Hàng loạt thuyền chiến của địch lần lượt bị đánh đắm vì trúng đạn đại bác hoặc vì quân Tây Sơn xông lên tiêu diệt. Vô số quân địch bị giết chết tại trận: kẻ bị trúng đạn trúng tên; kẻ thì bị gươm giáo đâm chém hay bị chết đuối giữa sông nước. Một số quân địch cố bơi vào bờ để tìm đường tháo chạy. Nhưng ở đấy, những đơn vị bộ binh Tây Sơn đã được bố trí sẵn để chờ chúng.

Trận đánh kết thúc rất nhanh, gọn và đạt kết quả hết sức to lớn, oanh liệt.

Toàn bộ thuyền chiến địch - trên 300 chiếc đều bị đánh đắm và phá hủy. Quân Xiêm bị thua to, bỏ chạychết gần hết. Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng với một số tàn quân trốn được lên bờ bắc sông Mỹ Tho. Chúng phải liều chết đánh phá để mở đường tháo chạy lên Quang Hóa rồi qua đất Chân Lạp về Xiêm. Số tàn quân sống sót chạy theo Chiêu Tăng, Chiêu Sương có khoảng vài nghìn người. Đến tháng 3 năm 1785, bọn này mới về tới Vọng Các. Một bộ phận tàn quân địch bị thua trận ở phía sau, có lẽ thuộc hậu quân, bỏ chạy tán loạn ra các ngả. Chúng cướp được một số thuyền nhỏ của dân, theo đường thủy vượt biển về nước.

Khi các nhóm tàn quân Xiêm chạy tán loạn theo các ngả đã dần dần tụ tập lại, Chiêu Tăng kiểm quân số thì thấy: "Lúc xuất quân, quân thủy, bộ tất cả gồm 5 vạn quân, nay chỉ còn hơn 1 vạn".

Còn quân bản bộ của Nguyễn Ánh thì, bộ sử chính thức của triều Nguyễn, bộ Đại Nam thực lục chính biên, cũng đã ghi chép: "Lê Văn Quân và các quân cũng đều tan vỡ, bỏ chạy”. Đại bộ phận quân Nguyễn bị tiêu diệt. Viên cai cơ chỉ huy quân thủy là Nguyễn Văn Oai bị chết tại trận. Viên tướng tiền quân là Dũng hầu (chưa rõ tên) theo gót Chiêu Tăng trốn sang Chân Lạp. Chủ tướng quân Nguyễn là Lê Văn Quân thì quân lính tan tác mỗi người một ngả, phải vừa trốn tránh vừa thu nhặt tàn quân, đến giữa năm sau (tháng 6 năm 1786) mới đem được 600 quân sang Xiêm gặp Nguyễn Ánh. Những viên tướng khác như Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Huy, Tôn Thất Hội... mỗi người cũng chỉ còn được dăm chục tàn quân.

Riêng Nguyễn Ánh đã chuẩn bị cho cuộc chạy trốn trước khi bắt đầu cuộc tiến công của quân Xiêm - Nguyễn. Vừa thấy "thế giặc mãnh liệt, không thể chống nổi", Nguyễn Ánh đã vội bỏ mặc quân lính, rút chạy về phía sau. Nguyễn Ánh cùng một số tướng tá và tùy tùng hơn 10 người, theo sông Trà Luật ra Tiền Giang rồi tìm đường sang Trấn Giang. Tại Long Hồ, Mạc Tử Sinh cũng chỉ còn 3 chiếc thuyền để đón Nguyễn Ánh sang Hà Tiên. Bọn tàn quân dần dần nhóm họp lại, chạy theo Nguyễn Ánh có hơn 200 người và 5 chiếc thuyền. Bọn chúng bị quân Tây Sơn truy lùng nên phải chạy ra đảo Thổ Châu, Cổ Cốt rồi lại trốn sang Xiêm. Trên đường chạy trốn, bọn chúng hết sạch cả lương thực. Nguyễn Văn Thành có lần đi ăn cướp đã bị thuyền buôn đánh lại và bị trọng thương. Nguyễn Ánh cũng phải ăn cơm ngô và có lúc mệt mỏi, kiệt sức quá phải nhờ người tùy tùng cõng chạy.

Số quân bản bộ của Nguyễn Ánh có khoảng 3 - 4 nghìn thì chỉ còn hơn 800 tên chạy thoát sang Xiêm, trong đó có 200 tên chạy trốn theo Nguyễn Ánh và 600 tên chạy theo Lê Văn Quân. Trong bức thư gửi cho giáo sĩ Li-ô sáu ngày sau trận Rạch Gầm - Xoài Mút, Nguyễn Ánh phải đau xót thừa nhận một thực tế: “Chúng tôi vừa bị thua trận, tất cả quân lính đều bị tan vỡ". Từ đấy, Nguyễn Ánh và bọn tàn quân phải sống cuộc đời lưu vong khốn khổ, nhục nhã trên đất Xiêm. Bọn chúng phải đi khai hoang, đốn củi và có khi phải đi đánh thuế cho vua Xiêm để làm kế sinh sống và nương tựa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:18:30 pm

*
* *

Trận Rạch Gầm - Xoài Mút là một trong những trận thủy chiến lớn nhất và lừng lẫy nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Trận đánh diễn ra trên một đoạn sông Mỹ Tho vào lúc trời còn chưa sáng, ánh lửa đom đóm còn lập lòe trên những cây bần ven sông nhô ra mặt nước như một câu ca dao dân gian đã diễn tả:

Bần gie lửa đóm sáng ngời,
Rạch Gầm soi dấu muôn đời uy linh.


Và trận đánh kết thúc rất nhanh chóng trong ngày hôm đó, ngày 19 tháng 1 năm 1785. Chỉ trong gần một ngày, khoảng 2 vạn quân Tây Sơn đã giao chiến và đánh tan tành hơn 5 vạn quân Xiêm - Nguyễn, tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm và hàng nghìn quân Nguyễn.

Với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, quân Tây Sơn đã giành được thắng lợi quyết định, quét sạch quân xâm lược ra khỏi đất Gia Định, thu hồi những vùng đất bị chiếm đóng và làm tiêu tan tham vọng của vua Xiêm đối với phần lãnh thổ cực Nam của nước ta.

Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút còn giáng một đòn đích đáng, vạch trần chân tướng phản bội của Nguyễn Ánh đập tan lực lượng quân sự và ảnh hưởng chính trị của bè lũ phong kiến phản động này.

Cuộc kháng chiến chống Xiêm thắng lợi mà khâu quyết định là trận Rạch Gầm - Xoài Mút đã đưa phong trào Tây Sơn phát triển lên một trình độ mới. Từ đấy, phong trào Tây Sơn làm chủ toàn bộ đất Đàng Trong và có điều kiện tiến ra Đàng Ngoài lật đổ nền thống trị của tập đoàn phong kiến phản động vua Lê chúa Trịnh, làm nhiệm vụ lập lại nền thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc. Cũng từ đấy, phong trào Tây Sơn trở thành phong trào quật khởi của cả dân tộc, kết hợp chặt chẽ trong mục tiêu, tinh thần đấu tranh và tổ chức lực lượng, tính chất ác liệt của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Đó là một nét đặc sắc tạo nên nguồn sức mạnh kỳ diệu cho phong trào Tây Sơn trong cuộc chiến đấu liên tục chống thù trong giặc ngoài, lập nên một chuỗi chiến công bất diệt trong lịch sử dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:19:36 pm

Câu hỏi 8: Trình bày kế hoạch tiến công quân Trịnh của Nguyễn Huệ, chiến dịch giải phóng Phú Xuân và các trận đánh từ đèo Hải Vân đến sông Gianh?
Trả lời:


Năm 1785, sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm và bè lũ Nguyễn Ánh, nghĩa quân Tây Sơn được rảnh tay ở phía Nam để đối phó với phía Bắc. Từ năm 1775 đến bấy giờ trải qua 10 năm ròng rã, nghĩa quân Tây Sơn phải chịu để cho quân Trịnh làm chủ Thuận Hóa và chiếm đóng từ đèo Hải Vân trở ra, vì nghĩa quân ở cái thế không thể cùng một lúc đương đầu với cả hai tập đoàn phong kiến thống trị: bọn chúa Nguyễn ở miền Nam và bọn chúa Trịnh ở miền Bắc. Nhưng đến lúc này, tình thế đã đổi khác, miền Nam đã tương đối ổn định, tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn đã tan rã mà ở miền Bắc thì tình hình rối ren đến cực độ, bọn chúa Trịnh đã suy yếu. Đó là thời cơ thuận lợi để nghĩa quân Tây Sơn tiến hành tiêu diệt tập đoàn phong kiến nhà Trịnh.

Đầu năm 1786, Nguyễn Huệ đề xuất việc tiến đánh Bắc Hà, nhưng Nguyễn Nhạc ngần ngại. Tháng Tư năm Bính Ngọ (1786), tướng Trịnh - Phạm Ngô Cầu ở Phú Xuân cho sứ giả Nguyễn Phu Như vào Quy Nhơn, mượn tiếng trao đổi về vấn đề biên giới, để dò xét tình hình nghĩa quân Tây Sơn. Tới Quy Nhơn, Nguyễn Phu Như lại khuyên các lãnh tụ Tây Sơn nên tiến đánh Phú Xuân và vạch rõ rằng:

"Hai xứ Thanh - Nghệ và cả bốn trấn hiện đang bị đói lớn, dân chúng đều ta oán kêu khổ, dân tới lính chẳng ưa gì nhau, tình thế không thể lâu bền, nếu lấy được Thuận Hóa thì việc dẹp yên thiên hạ không khó gì nữa".

Một tướng giỏi của Trịnh là Nguyễn Hữu Chỉnh theo về Tây Sơn từ năm 1782, cũng nhận định như Nguyễn Phu Như. Mà Nguyễn Phu Như có thái độ phản lại nhà Trịnh cũng chính vì Nguyễn Phu Như là bạn cũ của Nguyễn Hữu Chỉnh. Thấy mọi người đều nhất trí, Nguyễn Nhạc liền quyết định tiến đánh Phú Xuân và cử Nguyễn Huệ làm thống lĩnh các quân thủy bộ, Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc và Nguyễn Lữ chỉ huy đội dự bị thủy quân.

Việc đánh Phú Xuân thật ra không đơn giản. Lực lượng quân đội Trịnh ở đây khá hùng hậu. Suốt từ sông Gianh tới đèo Hải Vân, không kể quân địa phương, riêng quân đội Trịnh từ Bắc Hà đưa vào cũng có trên ba vạn người, mà số quân đồn trú ở thành Phú Xuân cũng có tới vài vạn. Quân số đó của nhà Trịnh đông hơn hẳn quân số của Nguyễn Ánh ở năm phát triển nhất là năm 1781 và cũng đông hơn hẳn liên quân Xiêm - Nguyễn hồi đầu năm 1785.

Cách bố trí phòng thủ tại đây cũng rất kiên cố. Từ sông Gianh tới đèo Hải Vân, trên một địa thế hẹp ngang và chạy dài, không chỗ nào là không có quân Trịnh đóng giữ. Khi có chiến tranh, các đồn quân Trịnh có thể nhanh chóng tiếp viện, ứng cứu cho nhau. Quân Trịnh ở Bắc Hà lúc nào cũng có thể từ Nghệ An, Thanh Hóa, Thăng Long tiến vào cứu nguy cho Thuận Hóa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:20:04 pm

Về phía nghĩa quân Tây Sơn, quân số không phải là đông hơn hẳn quân Trịnh ở Thuận Hóa để có thể áp đảo địch một cách dễ dàng. Tiến công Thuận Hóa, không thể đánh thẳng ngay vào Phú Xuân như những lần đánh Gia Định, vì quân Trịnh ở hai phía sông Gianh và Hải Vân có thể dồn về ứng cứu dễ dàng. Cũng không thể đánh dần từng bước từ đèo Hải Vân đánh ra, vì như thế nhất định sẽ bị quân Trịnh ở Phú Xuân chặn đứng lại.

Tuy nhiên Thuận Hóa lúc ấy vẫn có những nhược điểm cản bản có thể làm tê liệt ưu thế của nó. Đã từ lâu, đất Thuận Hóa không có chinh chiến, quân Thuận Hóa ít chiến đấu, quân đông, đồn trại nhiều, nhưng phòng thủ không cẩn mật. Tướng lĩnh tham nhũng tàn bạo, nhân dân oán ghét. Đó là những điều kiện thất bại của Thuận Hóa một khi bị tiến công.

Nắm vững tình hình chung và triệt để lợi dụng thời tiết thuận lợi của mùa hè, gió nồm thổi mạnh có thể đưa thủy quân tiến nhanh lên đánh phá các cứ điểm ở xa, Nguyễn Huệ quyết định một kế hoạch tiến công bất ngờ và chớp nhoáng ở tất cả các cứ điểm, từ Hải Vân đánh lên, từ sông Gianh đánh xuống, từ cạnh sườn đánh vào Phú Xuân, làm cho quân Trịnh ở khắp nơi trên đất Thuận Hóa không kịp trở tay và không thể ứng cứu được cho nhau.

Để thực hiện kế hoạch đó, Nguyễn Huệ chia quân tiến đánh theo ba đường:

- Một đạo thủy quân tiến đánh Phú Xuân.

- Một đạo thủy quân khác tiến thẳng lên sông Gianh. Tới đây, đạo quân này chia làm hai: một cánh đóng án ngữ ở sông Gianh, đề phòng quân Trịnh ở Bắc Hà tiến vào cứu viện; một cánh đánh xuống các đồn quân Trịnh ở Bố Chính, Leo Heo, lũy Đồng Hới vẫn hợp quân với bộ binh từ Phú Xuân tiến ra để cùng đánh Dinh Cát.

- Tất cả bộ binh tập trung tiến đánh đèo Hải Vân, giải quyết xong đèo Hải Vân, tiến lên phối hợp với đạo thủy quân thứ nhất đánh thành Phú Xuân, giải quyết xong Phú Xuân sẽ tiến đánh đồn Dinh Cát và nếu cần, sẽ tiến lên phía sông Gianh, tiếp viện cho đạo thủy quân thứ hai cùng đánh lũy Đồng Hới và các đồn chung quanh.

Biết Phạm Ngô Cầu, chủ tướng Trịnh ở Phú Xuân là người rất mê tín dị đoan và để làm tê liệt sự cảnh giác của chúng, Nguyễn Huệ cho thuyền đưa một nghĩa quân Hoa kiều tới Phú Xuân trước, giả làm "thầy Tàu" xem tướng số. "Thầy Tàu" vào ra mắt tạo quận công Phạm Ngô Cầu, thường gọi là Quận Tạo, để nói họa phúc và khuyên Phạm Ngô Cầu làm chay, cầu trời phật để tai qua nạn khỏi. Khi Phạm Ngô Cầu chuẩn bị tổ chức đàn chay cầu phúc, thì nghĩa quân Tây Sơn ở Quy Nhơn bắt đầu lên đường đánh Phú Xuân. Ngày 28 tháng Tư năm Bính Ngọ (tức ngày 25 tháng 5 năm 1786) các đạo quân thủy bộ, dưới sự chỉ huy của danh tướng Nguyễn Huệ, được lệnh xuất phát.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:20:26 pm

Nghĩa quân Tây Sơn tiến đánh đèo Hải Vân.

Hải Vân là một rặng núi thuộc dãy Trường Sơn, chạy ngang ra biển, làm thành một ranh giới thiên nhiên giữa hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam (ngày nay là tỉnh Thừa Thiên – Huế và thành phố Đà Nẵng). Rặng núi này gồm nhiều ngọn núi cao và hiểm trở. Từ ngang lưng rặng núi trở lên, lúc nào cũng có mây mù bao phủ, vì thế xưa gọi là Hải Vân sơn. Chỗ gần biển là một quả núi thấp hơn, người xưa mở lối đi qua rặng núi, nên gọi là đèo Hải Vân. Đèo này tuy thấp so với các ngọn núi của rặng Hải Vân nhưng cũng vẫn là cao lắm. Đứng dưới chân đèo nhìn lên mây phủ mịt mù, không thấy đỉnh đèo. Càng đi lên, đường đèo càng quanh co, mây mù càng dày đặc. Từ Quy Nhơn Quảng Nam ra Thừa Thiên, đi đường bộ nhất thiết phải qua đèo Hải Vân. Đã là đường độc đạo, đường đèo lại dốc cao, quanh co, lắm khe nhiều suối, đèo Hải Vân có một phía sườn núi chạy ra biển, nhưng từ mặt biển không có đường đi lên đèo và quãng biển ở chân núi ấy gọi là hang Giơi, thường thường sóng to, gió lớn, ghe thuyền ít khi dám qua lại chỗ đó.

Đèo Hải Vân rõ ràng là một vị trí xung yếu. Nhà Trịnh, sau khi chiếm được Phú Xuân, đã cho làm tại đỉnh đèo Hải Vân một dãy lũy kiên cố để chống giữ với những bất trắc ở phía Nam. Vì có dãy lũy này nên đèo Hải Vân thời ấy, người ta cũng còn gọi là đỉnh Lũy.

Trung tuần tháng Năm năm Bính Ngọ (1786), đạo quân chủ lực Tây Sơn tiến tới đèo Hải Vân. Bị đánh bất ngờ, quân Trịnh ở đây không kịp trở tay và đã tan vỡ nhanh chóng trước sức tiến công mạnh mẽ của quân chủ lực Tây Sơn. Chủ tướng Trịnh là Hoàng Nghĩa Hồ tử trận.

Lấy xong đèo Hải Vân, Nguyễn Huệ lập tức cho quân tiến nhanh đánh phá Phú Xuân.

Để làm kế ly gián các tướng lĩnh địch ở Phú Xuân, trước khi rời đèo Hải Vân, tiến quân ra Phú Xuân, Nguyễn Huệ hạ lệnh cho Nguyễn Hữu Chỉnh lấy tình quen cũ viết thư dụ hàng phó tướng Trịnh ở Phú Xuân là Hoàng Đình Thể và cho người phi ngựa đem ra Phú Xuân, nhưng trao thư cho Phạm Ngô Cầu mà không trao cho Hoàng Đình Thể, khiến địch hoang mang chia rẽ, nghi ngờ lẫn nhau.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:20:55 pm

Tiến công hạ thành Phú Xuân.

Trong khi quân thủy bộ Tây Sơn đương ào ạt tiến về phú Xuân thì Phạm Ngô Cầu, chủ tướng thành Phú Xuân vẫn mải mê với đàn chay cầu phúc, tổ chức rất lớn, bảy ngày bảy đêm liền tại chùa Thiên Mụ. Hầu hết các tướng lĩnh và quân lính nhà Trịnh ở thành Phú Xuân đều phải tới đàn chay chầu chực, phục dịch suốt ngày đêm, rất vất vả, mệt mỏi.

Một vài tàn binh Trịnh ở đèo Hải Vân chạy về tới Phú Xuân báo cho Phạm Ngô Cầu là đèo Hải Vân đã bị chiếm đóng, tướng Hoàng Nghĩa Hồ đã tử trận, quân Trịnh ở Hải Vân đã bị tiêu diệt và quân đội Tây Sơn đương rầm rộ tiến lên, sắp tới Phú Xuân thì Phạm Ngô Cầu vẫn còn ở trong chùa Thiên Mụ để cầu cho tai qua nạn khỏi. Nghe tin quân Tây Sơn sắp tới, Phạm Ngô Cầu hoảng sợ, biết việc làm chay là mắc mưu thám tử Tây Sơn, vội chạy về thành trù tính mưu kế đối phó. Nhưng quân sĩ mỏi mệt về đàn chay và khiếp sợ trước thanh thế dũng mãnh của quân đội Tây Sơn, nên hết thảy đều không còn tinh thần chiến đấu.

Đang lúc bối rối, Phạm Ngô Cầu lại nhận được thư của Nguyễn Hữu Chỉnh gửi cho Hoàng Đình Thể, lòng càng hoang mang. Phạm Ngô Cầu ngờ Hoàng Đình Thể có ý muốn hàng Tây Sơn và lo sợ Hoàng Đình Thể sẽ hại mình để lấy công với Tây Sơn, nên Phạm Ngô Cầu cũng muốn hàng. Cầu dìm bức thư của Chỉnh gửi cho Thể.

Đúng lúc ấy, quân thủy bộ Tây Sơn đều đã tới sát Phú Xuân. Đạo thủy quân do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tới cửa biên gần thành Phú Xuân thì gặp một tàu Bồ Đào Nha đậu tại bên. Tàu này có quan hệ chặt chẽ với Phú Xuân, nên thuyền trưởng và các sĩ quan trên tàu có ý muốn ủng hộ Phạm Ngô Cầu, chống nghĩa quân Tây Sơn. Nghĩa quân Tây Sơn liền bao vây và đốt phá tàu Bồ Đào Nha. Thuyền trưởng và các sĩ quan Bồ Đào Nha đều bị quăng xuống biển. Các thủy thủ tàu Bồ Đào Nha được thu dùng và phân phối vào các đội thủy quân Tây Sơn. Chiếc tàu bị cháy, được phá ra từng mảnh để làm cầu phao.

Sau trận đánh tàu Bồ Đào Nha, thủy quân Tây Sơn theo sông Huế tiến vào Phú Xuân thì bộ binh Tây Sơn cũng đã tới nơi, đang bao vây thành.

Trong thành, các tướng Trịnh hội bàn xem nên hàng hay nên đánh. Phạm Ngô Cầu và một số tướng lĩnh muốn treo cờ bạc (tức cờ trắng) xin hàng và dâng thành cho nghĩa quân Tây Sơn. Nhưng phó tướng Hoàng Đình Thể và một số tướng lĩnh khác muốn phất cờ điều quyết chiến, Phạm Ngô Cầu đành phải để Hoàng Đình Thể chỉ huy cuộc chiến đấu, còn mình ở lại trong thành, mượn tiếng làm nhiệm vụ "giữ thành" để tùy nghi xử trí có lợi cho số phận của mình.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:21:16 pm

Hoàng Đình Thể đem quân lên mặt thành, tập trung pháo bắn xuống rất dữ dội. Bộ binh Tây Sơn giãn vòng vây lùi ra xa chân thành. Bộ binh ở phía trước thành phải lùi xuống thuyền chiến tập trung bên bờ sông Huế. Thuyền chiến Tây Sơn bắn đại bác lên thành để phá hỏa lực của địch. Nhưng từ mặt thành tới mặt nước, cao hơn hai trượng, đại bác của Tây Sơn bắn không tới. Quân Trịnh trên thành vẫn bắn xuống như mưa, một thuyền chiến Tây Sơn bị bắn chìm. Nguyễn Huệ hạ lệnh tạm ngừng chiến, cho quân nghỉ ngơi, tìm cách đánh thích hợp, đến đêm sẽ tiếp tục tấn công. Thành Phú Xuân ở gần cửa biển, sông Huế chạy quanh thành chịu ảnh hưởng của thủy triều, mực nước luôn luôn thay đổi, ban ngày thì xuống thấp, đêm tối lại dâng cao. Bây giờ là tháng 5, đang mùa nước lũ, nước triều thường dâng lên rất cao. Nắm vững quy luật con nước và địa thế thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ quyết định đánh thành về đêm, khi thủy triều dâng cao, khoảng cách giữa mặt thành và mặt nước được rút ngắn, vừa tầm bắn của đại bác trên thuyền chiến Tây Sơn để phá hỏa lực của quân Trịnh trên mặt thành. Quả nhiên, tối đêm nước triều dâng lên và đêm càng khuya, nước dâng càng cao, tràn ngập cả chân thành Phú Xuân. Giành được lợi thế chắc chắn, Nguyễn Huệ hạ lệnh tiến công. Các thuyền chiến Tây Sơn tiến sát chân thành. Bộ binh Tây Sơn xông lên vây chặt các cửa thành. Thủy binh Tây Sơn từ các thuyền chiến bắn lên mặt thành rất mãnh liệt, pháo binh của Hoàng Đình Thể lần này mất tác dụng, không dám lên mặt thành chiến đấu, vì lưới đạn dày đặc của thủy quân Tây Sơn bắn lên. Hoàng Đình Thể đành phải cùng bọn thuộc tướng Vũ Tá Kiên và hai con đem quân mở cửa thành ra ngoài nghênh chiến.

Hai bên đánh nhau được hơn một trống canh thì quân của Hoàng Đình Thể hết thuốc đạn. Hoàng Đình Thể cho người vào thành lấy thêm thuốc đạn. Nhưng Phạm Ngô Cầu sai đóng cửa thành, không cho. Thấy nguy cơ mất thành, Phạm Ngô Cầu vội kéo cờ trắng xin hàng. Trông lên cờ trắng trên thành, quân Tây Sơn khí thế càng hăng, đánh càng rát. Nhìn về cờ trắng trên thành, Hoàng Đình Thể thấy tình thế không thể cứu vãn được, đành chiến đấu một cách tuyệt vọng. Nghĩa quân Tây Sơn dồn lại, siết chặt vòng vây không cho quân Hoàng Đình Thể trốn thoát. Vũ Tá Kiên và hai con Hoàng Đình Thể bị chết ngay trong vòng vây. Quân Hoàng Đình Thể hoàn toàn tan rã. Hoàng Đình Thể phải tự tử trên mình voi.

Tiêu diệt xong quân Hoàng Đình Thể, nghĩa quân Tây Sơn tiến lên phá cổng thành, xông vào. Quân Trịnh ở trong thành Phú Xuân không chống cự nổi, bị chém giết rất nhiều. Đốc thị Vũ Trọng Đang chỉ huy quân Trịnh chiến đấu ở trong thành bị chết tại trận. Phạm Ngô Cầu chủ tướng thành Phú Xuân, tự trói mình, xe quan tài ra xin hàng.

Thế là trong một đêm chiến đấu với quân đội Tây Sơn, hơn hai vạn quân Trịnh ở thành Phú Xuân đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Có vài trăm quân Trịnh trốn thoát được ra ngoài thành, nhưng bị nhân dân địa phương, vốn oán hờn nhà Trịnh từ trước, đón bắt giết hết. Chỉ có một tên lính duy nhất sống sót, chạy trốn về báo tin cho quân Trịnh ở đồn Dinh Cát biết.

Trận đánh hạ thành Phú Xuân đã diễn ra trong đêm 20 tháng Năm năm Bính Ngọ (tức ngày 15 tháng 6 năm 1786) và đã hoàn thành rất nhanh chóng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Mười, 2016, 10:21:41 pm

Các trận đánh từ sông Gianh trở vào.

Trong khi Nguyễn Huệ đánh thành Phú Xuân thì đạo thủy quân của Nguyễn Lữ cũng tiến tới cửa sông Gianh. Thực hiện kế hoạch của Nguyễn Huệ đã định từ trước, Nguyễn Lữ chia quân làm nhiều toán. Một toán đóng án ngữ trên dải sông Gianh, đề phòng quân Trịnh từ ngoài Bắc vào cứu viện. Một toán từ sông Gianh tiến xuống đánh chiếm đồn Bố Chính, tức Dinh Ngói (thuộc huyện Bố Trạch, Quảng Bình ngày nay) và đóng tại đó làm nhiệm vụ đón bắt tàn binh Trịnh từ các đồn phía trong chạy trốn ra Bắc. Một toán tương đối mạnh quay xuống làm nhiệm vụ tiến công lũy Đồng Hới.

Từ sông Gianh tới Dinh Cát, quân Trịnh có rất nhiều đồn lũy doanh trại đóng giữ, nhưng quân đội Tây Sơn đã không phải giao tranh một trận nào. Quân đội Tây Sơn, thủy quân cũng như bộ binh, đi tới đâu, quân Trịnh bỏ thành chạy trốn đến đấy.

Toán thủy quân đánh chiếm dinh Bố Chính đã hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng. Toán thủy quân tiến xuống đánh lũy Đồng Hới, chưa tới nơi, quân Trịnh ở đồn Leo Heo, một đồn phía trước lũy Đồng Hói, trông thấy bóng thuyền chiến Tây Sơn đã vội bỏ đồn mà chạy, định tìm đường trốn về Bắc, nhưng cả tướng và quân chạy gần tới dinh Bố Chính thì bị nhân dân địa phương bắt gọn đem nộp cho quân Tây Sơn đóng ở dinh Bố Chính.

Lũy Đồng Hới, cũng gọi là lũy Thầy, là một hệ thống gồm có nhiều lũy kiên cố, như lũy Sa Phụ, lũy Trấn Ninh, lũy Đồng Hới, lũy Đâu Mâu và quá về phía nam, còn có lũy Trường Dục làm hậu thuẫn. Hệ thống lũy Đồng Hới này trước đây đã giúp cho quân Nguyễn chống nhau được với quân Trịnh, phá tan nhiều cuộc tiến công lớn mạnh của quân Trịnh trong hơn một trăm năm. Nhưng nay trước thanh thế lớn mạnh của quân đội Tây Sơn, tất cả hệ thống đồn lũy kiên cố ấy trở thành vô dụng. Sợ bị quân Tây Sơn tấn công ở hai mặt, thủy quân ở trên đánh xuống, bộ binh ở dưới đánh lên, nên khi thấy bóng chiến thuyền Tây Sơn, tướng giữ lũy Đồng Hới là Vị phái hầu và viên hiệp trấn là Ninh Tốn vội đem quân chạy trốn. Họ chạy theo đường núi, nên trốn thoát về Bắc. Ngày 21 tháng 6 năm 1786 (tức 26 tháng Năm năm Bính Ngọ), thủy quân Tây Sơn tiến vào chiếm giữ lũy Đồng Hới.

Trong khi thủy quân của Nguyễn Lữ hoạt động ở vùng sông Gianh - Đồng Hới, thì một toán bộ binh Tây Sơn đã được lệnh từ Phú Xuân tiến lên đánh chiếm đồn Dinh Cát (cách tỉnh lỵ Quảng Trị ngày nay khoảng 2 đến 3 kilômét về phía bắc). Dinh Cát là một đồn quân tương đối quan trọng, do một viên tướng là con rể chúa Trịnh đóng giữ. Ngày 22 tháng 6 năm 1786, bộ binh Tây Sơn tiến tới Dinh Cát thì đồn lũy đã bỏ trống. Vốn là ngay sau khi một tàn binh ở Phú Xuân chạy về báo tin Phú Xuân thất thủ, các tướng sĩ đồn Dinh Cát đã vội vàng bỏ đồn, mạnh ai nấy chạy, tìm đường trốn ra Bắc. Bọn quân tướng đồn Dinh Cát chạy về gần tới Bố Chính thì bị nhân dân địa phương ngăn giữ, nhưng chúng không chịu hàng. Nhân dân chạy báo quân Tây Sơn ở dinh Bố Chính. Quân Tây Sơn ở dinh Bố Chính cho một bộ phận đi vây bắt quân Trịnh: 200 tướng sĩ nhà Trịnh cùng ba voi chiến và viên chủ tướng, con rể chúa Trịnh, đều bị bắt.

Thế là chỉ trong thời gian chưa đầy mười ngày, quân đội Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã làm chủ cả một khu vực rộng lớn, từ đèo Hải Vân ra tới bờ sông Gianh. Tất cả những mục tiêu quan trọng của quân Trịnh đều lọt vào tay quân đội Tây Sơn. Hơn ba vạn quân cùng toàn bộ tướng lĩnh cao cấp của nhà Trịnh tại đây đều bị tiêu diệt. Cuộc tiến công Thuận Hóa của quân đội Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của anh hùng Nguyễn Huệ đã kết thúc thắng lợi rực rỡ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:21:24 pm

Câu hỏi 9: Trình bày quá trình tiến quân ra Thăng Long lật đổ nhà Trịnh của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ?
Trả lời:


Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng khu vực Thuận Hóa rộng lớn, từ đèo Hải Vân tới sông Gianh, Nguyễn Huệ một mặt cho sửa sang lại các đồn lũy ở địa giới La Hà, miền sông Gianh, đề phòng quân Trịnh từ Bắc Hà vào phản công, một mặt họp bàn với các tướng sĩ xem nên tiếp tục tiến công hay nên củng cố địa giới La Hà phân chia Nam Bắc như cũ, hay nên mở rộng chiến quả, tiến đánh Thăng Long.

Toàn thể tướng sĩ đều muốn nhân đà thắng lợi, tiến thẳng ra Bắc Hà, lật đổ nhà Trịnh, vĩnh viễn xóa bỏ ranh giới phân chia Nam Bắc, lập lại nền thống nhất của Tổ quốc. Nguyễn Hữu Chỉnh, vốn có tham vọng trở lại Bắc Hà để xưng hùng xưng bá nên đã tình nguyện đi tiên phong, mở đường cho nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà.

Thấy rõ quyết tâm tiến công của toàn quân và nắm vững tình hình suy yếu của Bắc Hà, Nguyễn Huệ cho người về Quy Nhơn báo với Nguyễn Nhạc ý định của mình và hạ lệnh chuẩn bị tiến quân ra Bắc, tuyển thêm quân, sửa chữa gấp cầu đường từ Phú Xuân trở ra. Nhân dân khắp vùng Thuận Hóa nô nức tòng quân. Tất cả thanh niên từ 15 tuổi trở lên đều nhập ngũ. Phụ lão, phụ nữ các địa phương nhiệt liệt tham gia các công việc sửa sang đường sá, cầu cống, xay thóc, giã gạo, chuẩn bị lương thực cho cuộc hành quân ra Bắc sắp tới.

Tiến công Bắc Hà, đối với nghĩa quân Tây Sơn, thật ra có nhiều khó khăn hơn tiến công Thuận Hóa và tiến công Gia Định trước đây. Bắc Hà đất rộng, người đông. Tình hình chính trị và quân sự ở Bắc Hà cũng rất khác với tình hình Thuận Hóa và Gia Định. Ở Gia Định, chỉ có một tập đoàn phong kiến là bọn chúa Nguyễn, ngày càng suy yếu và mất lòng dân, cho nên nghĩa quân Tây Sơn, mỗi lần tiến công Gia Định, chỉ cần đập tan lực lượng vũ trang của chúng là chúng phải chạy dài ra khỏi Gia Định ngay. Trái lại, Bắc Hà có hai tập đoàn phong kiến thống trị: vừa vua Lê vừa chúa Trịnh. Về vua Lê, tuy chỉ là bù nhìn, nhưng còn được nhân dân ủng hộ, vì được coi là triều đại chính thống. Còn chúa Trịnh, tuy bị nhân dân oán ghét, nhưng chúng vẫn còn thực lực. Trong trường hợp bị tiến công, cả hai tập đoàn vua Lê chúa Trịnh có thể dựa vào nhau, kêu gọi nhân dân Bắc Hà chống lại nghĩa quân Tây Sơn, sẽ gây nhiều khó khăn cho việc tiến quân ra Bắc Hà của Nguyễn Huệ. Nếu như tiến quân ra Bắc, chỉ tiêu diệt được một tập đoàn vua Lê, mà tập đoàn chúa Trịnh vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục kháng cự thì nhiệm vụ đánh ra Bắc có thể coi như không hoàn thành. Trái lại, nếu chỉ đánh đổ được tập đoàn chúa Trịnh, mà tập đoàn vua Lê vẫn tồn tại, vẫn đối lập với nghĩa quân Tây Sơn, dựa vào tầng lớp sĩ phu kêu gọi nhân dân cần vương cứu giá thì nghĩa quân Tây Sơn cũng chưa dễ đã chiếm đóng được Bắc Hà hoặc ổn định được tình hình Bắc Hà cũng rất khó khăn. Nhân dân Bắc Hà đã là thần dân của vua Lê chúa Trịnh từ mấy trăm năm, nghĩa quân Tây Sơn từ miền trong xa xôi tiến ra mà làm lay chuyển được lòng "phò vua, luyến chúa" của người Bắc Hà, không phải là một việc dễ dàng. Về quân sự, quân đội Trịnh ở Bắc Hà còn đông hơn nhiều so với Thuận Hóa, vì Bắc Hà là nơi tập trung đại bộ phận lực lượng vũ trang của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh. Tiêu diệt một lực lượng vũ trang quan trọng như thế, tại ngay căn cứ của họ, nếu không có chiến lược, chiến thuật thật đúng đắn, sắc bén thì không thể thành công. Hình thế chiến trường Bắc Hà cũng khác với Thuận Hóa và Gia Định. Bắc Hà đất rộng, nhiều cứ điểm quân Trịnh ở sâu trong nội địa, quân đội Tây Sơn không thể vận động nhanh chóng tới được. Khác với thành Gia Định, Thăng Long ở vào trung tâm Bắc Hà, sâu trong nội địa, quân đội Tây Sơn không thể mở trận tiến công đầu tiên vào ngay Thăng Long. Với hình thế chiến trường Bắc Hà như vậy, không thể tiến công cùng một lúc nhiều cứ điểm như khi đánh Thuận Hóa, cũng không thể với trận đầu tiên đánh thẳng ngay vào Thăng Long, trung tâm chính trị, quân sự của Bắc Hà như khi tiến công Gia Định. Nếu nghĩa quân Tây Sơn tiến công Bắc Hà theo lối tiến dần từng bước, từ sông Gianh lần lượt đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn Nam, v.v... thì cuộc tiến công không thể tiến hành nhanh chóng. Mà cuộc tiến công không tiến hành được nhanh chóng thì mục đích của nó chưa chắc đã đạt được. Muốn tiến công Bắc Hà trong những điều kiện chính trị, quân sự cụ thể của nó lúc bấy giờ, không thể áp dụng những chiến lược, chiến thuật đánh Thuận Hóa và Gia Định trước đây, mà phải có những chiến lược, chiến thuật thích hợp với hoàn cảnh Bắc Hà và cũng nhằm đạt tới mục đích đánh nhanh, thắng nhanh như những khi tiến công Gia Định, Thuận Hóa. Tiến ra Bắc Hà lúc này, đánh chậrn thì không phải là chỉ có thắng chậm, mà có thể là không thắng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:22:02 pm

Do vậy, Nguyễn Huệ đã định ra chủ trương và phương hướng tiến công Bắc Hà như sau:

1. Về chính trị: Cần phải phân hóa kẻ thù, xác định kẻ thù chính trước mắt là tập đoàn thống trị họ Trịnh. Cần nêu khẩu hiệu "phù Lê diệt Trịnh" để tranh thủ sự đồng tình của các tầng lớp nhân dân Bắc Hà và triệt để cô lập bọn chúa Trịnh. Đồng thời, tập hợp mọi lực lượng chống đối nhà Trịnh ở Bắc Hà để tăng cường sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn một khi đại quân của Nguyễn Huệ tiến ra thực hiện quyết chiến với nhà Trịnh. Trong tình hình bị cô lập như vậy, nhà Trịnh không thể đương đầu được với sức tiến công của nghĩa quân Tây Sơn. Diệt được nhà Trịnh, tức là giải phóng nông dân Bắc Hà khỏi một ách phong kiến thống trị nặng nề nhất, tàn bạo nhất ở Bắc Hà, xóa bỏ được sự phân chia Nam Bắc, thực hiện thống nhất nước nhà. Như thế, nhiệm vụ tiến công Bắc Hà sẽ được hoàn thành tốt đẹp.

2. Về quân sự: Muốn thực hiện khẩu hiệu "phù Lê diệt Trịnh", giải phóng nhân dân trong tình hình chính trị Bắc Hà phức tạp như vậy, thì về quân sự phải thực hiện chiến lược: đánh nhanh thắng nhanh. Trong điều kiện lúc ấy, quân đội Tây Sơn không thể đánh thẳng vào Thăng Long, không thể cùng một lúc đánh nhiều cứ điểm quan trọng, cũng không thể đánh dần từng bước. Muốn đánh nhanh thắng nhanh thì phải tiến công bất ngờ, đánh chiếm lấy một vị trí xung yếu ở gần Thăng Long làm bàn đạp đánh ra Thăng Long và cũng làm nơi thu hút đại bộ phận lực lượng địch để tiêu diệt. Bấy giờ là mùa hè, muốn đánh bất ngờ và muốn hành quân nhanh chóng trong điều kiện gió nồm đang thuận lợi thì phải dùng thủy quân và vị trí tiến công đầu tiên phải vừa ở gần biển, vừa tiện đường tiến lên Thăng Long. Vị Hoàng, thủ phủ trấn Sơn Nam, đã được Nguyễn Huệ chọn làm mục tiêu tiến công đầu tiên. Vị Hoàng là một vị trí chiến lược quan trọng trên đường từ Bắc vào Nam, đồng thời là một kho dự trữ lương thực rất lớn đủ bảo đảm lương thực cho mọi cuộc hành quân của chúa Trịnh, hoặc đánh vào Nam Hà, hoặc đánh phá các cuộc khởi nghĩa ở miền Nam và đông nam Bắc Hà. Vị Hoàng ở gần biển khiến thủy quân Tây Sơn có thể tiến ra đánh tập kích dễ dàng. Vị Hoàng lại tiện đường thủy bộ để nghĩa quân Tây Sơn có thể từ đó tiến nhanh lên đánh chiếm Thăng Long. Trong khi một bộ phận quân đội Tây Sơn tiến đánh Vị Hoàng, một bộ phận khác sẽ lần lượt chiếm đóng Nghệ An, Thanh Hóa. Khi nghĩa quân Tây Sơn từ Vị Hoàng tiến đánh Thăng Long, thì từ Vị Hoàng trở vào sông Gianh đã trở thành hậu phương an toàn của nghĩa quân, nối liền từ Vị Hoàng vào tới Phú Xuân, Quy Nhơn, Gia Định.

Trên cơ sở đó, Nguyễn Huệ quyết định chia quân làm ba đạo: một đạo ở lại cùng Nguyễn Lữ làm nhiệm vụ giữ Thuận Hóa, còn hai đạo tiến ra Bắc Hà.

Trong hai đạo quân này, một đạo làm nhiệm vụ tiền phong, do Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ huy gồm 400 thuyền chiến, theo đường biển tiến ra đánh chiếm Vị Hoàng, và đạo quân chủ lực do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, có Vũ Văn Nhậm làm phó tướng, sẽ theo hai đường thủy bộ cùng tiến, riêng thủy quân gồm hơn 1.000 thuyền chiến. Trong đạo quân chủ lực, có tượng binh đi cùng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:22:42 pm

Nhiệm vụ chiến lược và kế hoạch tiến công đã được Nguyễn Huệ trao cụ thể cho từng đạo quân.

Đạo quân tiền phong của Nguyễn Hữu Chỉnh có ba nhiệm vụ như sau:

1. Đánh úp Vị Hoàng. Sau khi đã chiếm đóng Vi Hoàng, không mở rộng chiến đấu mà ở lại Vị Hoàng làm nhiệm vụ chuẩn bị quân lương và thuyền bè chuyên chở để phục vụ toàn quân trong suốt cả thời gian tiến công Bắc Hà.

2. Khi tiến ra Bắc, đạo quân tiền phong sẽ cho những toán du binh nhỏ chừng vài trăm người đánh úp vào các đồn binh, các doanh trại quân Trịnh ở gần bờ biển, suốt dọc đường từ bờ Bắc sông Gianh tới Vị Hoàng, vừa tiêu hao sinh lực địch, vừa uy hiếp tinh thần địch làm cho quân tướng Trịnh ở Nghệ An, Thanh Hóa phải khiếp sợ, tạo điều kiện cho đại quân của Nguyễn Huệ tiến ra thu phục Nghệ An, Thanh Hóa được nhanh chóng.

3. Khi đã chiếm đóng Vị Hoàng, đạo quân tiền phong sẽ làm nhiệm vụ chính trị, nêu rõ khẩu hiệu "phù Lê diệt Trịnh", cho một toán quân nhỏ bí mật vào Thăng Long bảo vệ hoàng cung và trao cho vua Lê tờ mật tấu tôn phù của Nguyễn Huệ để trấn tĩnh nhân tâm trong triều, một khi đại quân Tây Sơn tiến tới nơi; đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân Bắc Hà hưởng ứng cuộc tiến quân ra Bắc của nghĩa quân Tây Sơn và tìm cách thu phục các toán nghĩa quân đang chống nhà Trịnh ở miền nam và đông nam Bắc Hà, định kế hoạch cùng họ phối hợp tác chiến.

Về đạo quân chủ lực do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, nhiệm vụ cơ kản của nó là thực hiện bằng được mục đích của toàn bộ cuộc tiến công: tiêu diệt lực lượng vũ trang của các tập đoàn phong kiến Bắc Hà, đánh đổ nhà Trịnh, thống nhất lãnh thổ và ổn định tình hình chiếm đóng Bắc Hà suốt từ bờ Bắc sông Gianh trở ra.

Để làm tròn nhiệm vụ cơ bản đó, đạo quân chủ lực Tây Sơn sẽ theo kế hoạch tiến hành từng bước như sau:

1. Đạo quân chủ lực sẽ theo hai đường thủy bộ tiến ra Nghệ An, Thanh Hóa, củng cố những vị trí mới chiếm đóng.

2. Khi được tin của đạo quân tiền phong báo về, đạo quân chủ lực sẽ lên đường ra Bắc, cùng đạo quân tiền phong nhanh chóng đánh tan đại bộ phận quân lực của nhà Trịnh đã tiến về gần Vị Hoàng để án ngữ đường tiến lên Thăng Long của nghĩa quân Tây Sơn.

3. Sau khi đã tiêu diệt đại bộ phận sinh lực địch ở gần Vị Hoàng, đạo quân chủ lực Tây Sơn sẽ tiến gấp lên Thăng Long, đánh đổ nhà Trịnh, hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ của cuộc tiến công.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:23:15 pm

Với nhiệm vụ và kế hoạch đã trao cho, đạo quân tiền phong của Nguyễn Hữu Chỉnh được lệnh xuất phát.

Theo kế hoạch đã định, dọc đường từ sông Gianh trở ra, đạo quân tiền phong Tây Sơn đã cho nhiều toán du binh lên bờ đánh phá các đồn trại quân Trịnh, dọn đường cho đạo quân chủ lực tiến lên chiếm đóng. Vốn sợ uy danh quân đội Tây Sơn, quân Trịnh ở các đồn trại này thấy bóng cờ Tây Sơn là bỏ chạy. Trước hết, đồn Dinh Cầu (ở phía nam Hà Tĩnh hiện nay) bị mất vào tay du binh Tây Sơn. Sau đó, các tướng Trịnh trấn thủ Nghệ An, Thanh Hóa là Bùi Thế Toại và Tạ Danh Thùy, nghe tin quân Tây Sơn tiến ra cũng đều bỏ thành chạy trốn.

Dọc đường tiến ra Bắc, đội quân tiền phong Nguyễn Hữu Chỉnh không gặp một cản trở gì nên đi rất nhanh. Sáng sớm ngày 11 tháng 7 năm 1786, đội quân Nguyễn Hữu Chỉnh gồm 400 thuyền chiến đã tới Vị Hoàng. Quân Trịnh đóng ở đây hoảng sợ, không ngờ quân Tây Sơn tiến ra Bắc nhanh như thế, vội vàng bỏ chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân vào thành Vị Hoàng thu được hơn trăm vạn hộc thóc trong kho và rất nhiều tiền bạc, khí giới, đạn dược. Chiếm xong Vị Hoàng, Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức, một mặt "đốt lửa hiệu" báo cho quân chủ lực của Nguyễn Huệ ở Thanh - Nghệ biết, một mặt cho một viên tỳ tướng cùng một toán quân nhỏ bí mật tiến vào kinh thành Thăng Long.

Các tầng lớp nhân dân nô nức tới Vị Hoàng hoan nghênh quân đội Tây Sơn. Tình hình quân đội nhà Trịnh và tình hình Bắc Hà đều được nhân dân trình bày tường tận với quân đội Tây Sơn. Chỉ trong vòng mấy ngày, hơn 100 vạn hộc thóc trong kho Vị Hoàng đã được nhân dân địa phương đem ra xay giã và vận chuyển xuống các thuyền lương, chuẩn bị cho đại quân của Nguyễn Huệ tiến ra, đánh lên Thăng Long. Một số thuyền buôn của người Trung Quốc đậu ở bến Vị Hoàng cũng được trưng tập để vận chuyển quân lương. Những toán nghĩa quân Bắc Hà đang đánh nhau với tướng Trịnh là Đinh Tích Nhưỡng ở vùng Hải Dương nghe tin quân Tây Sơn đã tới Vị Hoàng, bỏ trận địa về Vị Hoàng gia nhập quân đội Tây Sơn.

Đại quân của Nguyễn Huệ, tuy chưa ra tới nơi, nhưng thanh thế quân Tây Sơn ở Bắc Hà cũng đã lớn mạnh lắm kể từ khi đội quân tiền phong Nguyễn Hữu Chỉnh đánh chiếm được Vị Hoàng. Kế hoạch cho đội tiền phong Nguyễn Hữu Chỉnh đi trước, đánh lấy Vị Hoàng làm bàn đạp tiến công lên Thăng Long đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nghĩa quân đánh chiếm Bắc Hà được mau chóng.

Được tin của đạo quân tiền phong từ Vị Hoàng báo về, Nguyễn Huệ liền dẫn toàn quân theo đường biển rầm rộ tiến ra Bắc, khí thế vô cùng mạnh mẽ. Gặp gió nam thổi mạnh, hơn 1.000 thuyền chiến Tây Sơn lướt sóng, đi "như bay", quân kỳ Tây Sơn đỏ rực cả mặt biển. Nhân dân Nghệ An nhìn theo đoàn thuyền chiến Tây Sơn hùng dũng xuất phát, cờ quạt rợp trời, đều tấm tắc: "Đây cũng là một việc không mấy đời đã có”.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:24:46 pm

Ngày 17 tháng 7 năm 1786 (tức ngày 22 tháng Sáu năm Bính Ngọ), Nguyễn Huệ cùng đại quân tới Vị Hoàng. Nguyễn Huệ hạ lệnh ngay cho đội quân tiền phong và đại quân phải lập tức chuẩn bị ngày hôm sau tiến đánh quân đội Trịnh đang tập trung ở miền Sơn Nam thượng để đối phó với nghĩa quân Tây Sơn.

Tình hình Bắc Hà lúc ấy vô cùng rối ren, lực lượng quân sự của nhà Trịnh đã suy yếu đến cực độ và tinh thần chiến bại trong quân đội nhà Trịnh đã bộc lộ rõ rệt hơn bao giờ hết. Quân tướng nhà Trịnh khiếp sợ quân đội Tây Sơn ngay từ khi mất Thuận Hóa.

Nguyễn Huệ tiến đánh Phú Xuân, không phải là triều đình Bắc Hà không biết. Biết, nhưng sợ, không dám động binh. Ngay từ ngày 24 tháng Năm năm Bính Ngọ (tức ngày 19 tháng 6 năm 1786), triều đình Lê - Trịnh đã được tin quân Tây Sơn tiến đánh tới sông Gianh. Chúa Trịnh có họp quần thần lại bàn việc cử binh cứu viện và cho quân đi tăng cường phòng thủ các thành trấn duyên hải. Nhưng chúa Trịnh không cử được binh vì không tướng nào chịu đi. Các tướng Trịnh cũng tự biết rằng đi đánh nhau với quân đội Tây Sơn, tức là đi vào chỗ chết, số phận mong manh như sợi tóc.

Ngày mồng 3 tháng Sáu năm Bính Ngọ (tức ngày 28 tháng 6 năm 1786), triều đình Bắc Hà lại nhận được tin của trấn thần Nghệ An cho chạy trạm về cáo cấp Phú Xuân thất thủ. Chúa tôi nhà Trịnh lại họp bàn lần nữa. Nhưng, xuất phát từ tinh thần chiến đấu bạc nhược đến cực độ, mọi người đều cho rằng:

"Thuận Hóa vốn không phải là bờ cõi của triều đình, tiền triều hao phí bao nhiêu của cải trong nước lấy được xứ ấy, rồi lại phải đem quân đóng giữ, rốt cuộc chẳng có ích gì. Ngày nay mất đi cũng là một cái may. Bây giờ chỉ nên bàn tính việc đóng đồn ở trấn Nghệ An và định rõ cương giới cũ mà thôi. Ta lấy sự mất Thuận Hóa làm may, ắt họ phải lấy sự lấy đất của ta làm điều đáng ngại. Như vậy hẳn là ta không phải lo gì nữa"1.

Thế là chúa tôi nhà Trịnh, ai nấy đều yên lòng làm theo lời bàn ấy. Trịnh Khải hạ lệnh cho Trịnh Tự Quyền làm thống tướng, đem quân lính 27 cơ vào ngay Nghệ An, giữ lấy đầu địa giới, đề phòng Tây Sơn tiến quân ra. Nhưng hơn 10 ngày sau khi nhận được lệnh, Trịnh Tự Quyền vẫn không thể chuẩn bị xuất quân được, vì quân lính chần chừ không muốn đi và không tin ở khả năng chỉ huy chiến đấu của Trịnh Tự Quyền, quân lính đòi thay người khác làm thống tướng. Tới khi Trịnh Tự Quyền xuất quân được thì quân vừa ra khỏi thành Thăng Long 30 dặm, tức mới đi được khoảng nửa ngày đường, triều đình Thăng Long đã được tin quân tiền phong Tây Sơn chiếm đóng Vị Hoàng. Trịnh Khải vội hạ lệnh cấp tốc cho Trịnh Tự Quyền đưa quân xuống chống giữ ở miền Kim Động (thuộc Hải Hưng), một mặt cho Đỗ Thế Dận, trấn thủ Sơn Nam, lập tức đem bộ binh tiến đóng ở bờ sông Phù Xa (một khúc hạ lưu sông Hồng, thuộc địa phận thôn Phù Xa, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Dương) và Đinh Tích Nhưỡng, đốc lãnh các quân thủy đạo, đang hành quân tại vùng Hải Dương, phải lập tức đưa toàn bộ thủy quân về giữ sông Cửa Luộc. Ba đạo quân này phải phối hợp chiến đấu để ngăn chặn bước tiến của nghĩa quân Tây Sơn và đây cũng là toàn bộ quân chủ lực của Bắc Hà để đối phó với Tây Sơn.
____________________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:25:23 pm

Ngày 17 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ tới Vị Hoàng, lập tức ngày 18 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ xuất quân, tiến lên phố Hiến, thủ phủ trấn Sơn Nam thượng và là nơi tập trung các đạo quân chủ lực của nhà Trịnh. Chiều ngày 18, thuyền chiến Tây Sơn tiến vào trung tâm trận địa của quân Trịnh. Đinh Tích Nhưỡng đem thuyền chiến chặn ngang sông, dàn thành thế trận hình chữ “nhất" để chống nhau với quân Tây Sơn. Đỗ Thế Dận dàn bộ binh ra hai bên bờ sông để đánh vào hai bên sườn thủy quân Tây Sơn. Khoảng 6 giờ tối, cuộc chiến đấu bắt đầu.

Lúc ấy, gió đông nam đang thổi mạnh, Nguyễn Huệ cho năm thuyền chiến lớn, giương buồm thuận gió xung phong lên trước, đại quân từ từ tiến theo sau. Đinh Tích Nhưỡng hạ lệnh cho quân lính tập trung hỏa lực bắn tan đoàn thuyền chiến xung phong của Tây Sơn. Đạn súng và tên nỏ ở thuyền chiến quân Trịnh bắn ra như mưa. Một chiến thuyền xung phong của Tây Sơn bị bắn đắm. Nhưng các thuyền chiến khác vẫn theo chiều gió nối nhau ào ạt tiến lên. Tên, đạn của quân Trịnh bắn ra tới tấp nhưng không sao cản được. Quân Trịnh vô cùng hoảng sợ. Khi những thuyền chiến lớn ấy tới gần, quân Trịnh mới biết là thuyền không người, chân sào trên thuyền chỉ là những bù nhìn. Nhưng khi ấy, tên đạn của quân Đinh Tích Nhưỡng đã kiệt và đại đội thuyền chiến Tây Sơn cũng đã tiến sát thuyền chiến quân Đinh Tích Nhưỡng. Quân Tây Sơn vừa đánh trống vừa hò reo xung phong "thanh thế kinh thiên động địa". Thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng kêu la thảm thiết, tranh nhau bỏ thuyền mà chạy. Từ dưới thuyền chiến, quân Tây Sơn bắn đại bác lớn lên hai bên bờ sông, tiếng súng đại bác nổ như sấm, cây cổ thụ trên bờ sông bị đạn đại bác làm đổ gãy. Thấy đại bác của Tây Sơn bắn lên, quân Đỗ Thế Dận ở trên bờ khiếp sợ không dám đánh trả lại. Đánh tan thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng, nghĩa quân Tây Sơn thừa thắng kéo lên bờ, xông thẳng vào trận địa Đỗ Thế Dận, dùng hỏa hổ tung lửa đốt phá lan tràn. Bộ binh của Đỗ Thế Dận hoảng sợ, bỏ chạy hết. Chủ tướng Đỗ Thế Dận và viên đốc đồng Nguyễn Huy Bình cũng bỏ mặc quân lính, chạy thoát lấy thân. Từ phía Kim Động, 27 cơ binh của Trịnh Tự Quyền nghe thấy tiếng súng trận trên sông Cửa Luộc cũng vội vàng chạy trốn, không đánh mà tan.

Thế là các đạo quân chủ lực của chúa Trịnh đã hoàn toàn tan rã. Cuộc chiến đấu chỉ diễn ra trong một đêm, kết thúc vào lúc rạng sáng ngày 24 tháng Sáu năm Bính Ngọ (tức ngày 19 tháng 7 năm 1786). Nguyễn Huệ cùng đoàn quân chiến thắng, ngay sáng hôm ấy, rầm rộ tiến vào phố Hiến thủ phủ của trấn Sơn Nam thượng.

Tin thua trận tới tấp đưa về Thăng Long, triều đình hoảng sợ, văn võ triều thần cuống quít lo cất giấu của cải, đưa vợ con chạy trốn, không một ai dám đứng ra nhận lấy trách nhiệm chống nhau với quân Tây Sơn.

Chúa Trịnh đang rất lúng túng lại thấy tể tướng Bùi Huy Bích không có một mưu kế, sách lược nào để đối phó với tình hình, liền bãi chức tể tướng của Bùi Huy Bích và bắt ra trận đốc chiến. Thấy Bùi Huy Bích, một văn thần phải ra trận đốc chiến, lòng người càng mất tin tưởng, cả kinh thành xao xuyến, náo động.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:28:35 pm

Chúa Trịnh cùng triều thần bàn kế đối phó với nghĩa quân Tây Sơn. Trần Công Xán hiến kế:

"Giặc kéo quân vào sâu xứ lạ đó là điều mà trong binh pháp rất kỵ. Nên dử cho chúng tới gần nữa, rồi đánh một trận mà tiêu diệt cho hết, đó là cái thuật kỳ diệu trong phép dùng binh. Vả lại, kinh sư là cái gốc của thiên hạ, rời bỏ thì sẽ đi đâu? Chẳng những thế, nếu kiệu chúa lật đật ra ngoài thành, tất lòng người sẽ phải lìa tan, ấy là đem nước mà trao cho giặc vậy. Bây giờ chỉ nên xin thái phi và cả sáu cung hãy tạm lánh ra ngoài thành mà thôi"1.

Ý kiến của Trần Công Xán chứng tỏ y không hiểu binh pháp là gì, không biết mình, biết người, không biết sức mạnh của quân đội Tây Sơn như thế nào. Tuy vậy, ý kiến ấy đã làm vừa lòng chúa Trịnh. Nhưng lấy ai là người đứng ra bảo vệ kinh thành, đứng ra "đánh một trận mà tiêu diệt hết địch" như ý kiến Trần Công Xán. Trịnh Khải đành phải tìm đến những viên tướng già còn lại và lập tức sai người lên Sơn Tây gọi lão tướng Hoàng Phùng Cơ về triều cứu chúa.

Hoàng Phùng Cơ lúc ấy chỉ có vẻn vẹn 500 quân. Trịnh Khải phải bỏ ra năm nghìn lạng bạc để Hoàng Phùng Cơ mộ thêm quân và trong một ngày, mộ được hơn một nghìn lính cũ. Nhưng mặc dầu có thêm quân, bọn chúa tôi nhà Trịnh không một ai dám nghĩ đến việc xuất quân đón đánh quân đội Tây Sơn, mà chỉ nghĩ đến việc phòng thủ Thăng Long, ngồi chờ cho Tây Sơn đến đánh. Trịnh Khải và các tướng lĩnh bố trí kế hoạch phòng thủ Thăng Long như sau:

- Cho đội thủy quân Tứ Thị, là đội thủy quân duy nhất còn lại ở kinh thành, tới dàn thuyền chiến ở bên sông Thúy Ái2 để chặn giữ thủy quân Tây Sơn. Hai viên tiểu tướng già là Ngô Cảnh Hoàn và Nguyễn Trọng Yên được cắt cử ra quản lĩnh đội thủy quân này.

Cho đội bộ binh do Hoàng Phùng Cơ chỉ huy tới hồ Vạn Xuân để đối phó với bộ binh Tây Sơn; và khi cần thiết thì tiếp viện cho thủy quân ở bến Thúy Ái.

- Còn Trịnh Khải thì ngay từ ngày 25 tháng Sáu âm lịch (tức ngày 20 tháng 7 năm 1786), thân đốc xuất hết thảy bộ binh còn lại trong kinh thành và một đội tượng binh gồm hơn 100 con voi chiến ra quảng trường lầu Ngũ Long bày thành trận thế để chống giữ kinh thành. Quân của Trịnh Khải chia làm năm đạo: đạo Tả bộ giữ mặt Đông Long, đạo Hữu bộ giữ mặt Tây Hồ, đạo Tiền bộ giữ mặt cửa thành Tiền lâu, đạo Hậu bộ giữ mặt Hậu lâu cạnh bờ hồ Thủy Quân3, đạo trung quân gồm hai hiệu lính. Nhưng, kiệu và đội tượng binh đóng ngay tại quảng trường lầu Ngũ Long để bảo vệ Trịnh Khải.

Kế hoạch bố trí có vẻ chu đáo như vậy, nhưng tinh thần chiến đấu của quân tướng nhà Trịnh rất uể oải, quân luật rất lỏng lẻo. Đạo quân tiền tiêu của nhà Trịnh là những đội thủy quân đóng ở bến Thúy Ái thì lại chủ quan cho rằng quân đội Tây Sơn còn lâu mới tiến tới nơi, nên thường cột thuyền vào bến, lên bờ đi chơi tản mát.

Không ngờ rằng Nguyễn Huệ hạ xong Phố Hiến, trấn thành Sơn Nam, liền tiến quân ngay. Đang mùa hè, gió đông nam thổi mạnh, đại đội thuyền chiến Tây Sơn giương buồm thẳng tiến như bay lên phía kinh thành Thăng Long. Sáng ngày 26 tháng Sáu âm lịch (tức ngày 21 tháng 7 năm 1786), thủy quân Tây Sơn tới bến Nam Dư. Nguyễn Huệ cho một cánh quân đổ bộ lên bến Nam Dư, vòng lên đánh úp thủy quân Trịnh ở bến Thúy Ái. Khi cánh quân Tây Sơn này tới nơi, quân Trịnh ở bến Thúy Ái vẫn còn đi chơi tản mát trên bờ. Quân Tây Sơn một mặt nhảy xuống chiếm giữ hết các thuyền chiến của quân Trịnh, một mặt đánh bắt thủy binh Trịnh ở trên bờ. Bên Trịnh chỉ có hai viên tướng Ngô Cảnh Hoàn và Nguyễn Trọng Yên là còn ở dưới thuyền. Khi thấy quân Tây Sơn ập tới, Ngô Cảnh Hoàn và Nguyễn Trọng Yên vội cầm siêu đao ra đứng ở mũi thuyền để chống cự, nhưng đều bị quân Tây Sơn dùng súng lớn bắn chết ngay.
_______________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.
2. Bến Thúy Ái là một bến sông Hồng, nay thuộc thôn Thúy Lĩnh, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.
3. Hồ Thủy Quân khi xưa ở phía dưới hồ Hoàn Kiếm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Mười, 2016, 08:29:08 pm

Tiêu diệt xong đạo thủy quân Trịnh ở bến Thúy Ái, cánh quân Tây Sơn này tiến ngay lên phía hồ Vạn Xuân, tập kích quân Hoàng Phùng Cơ. Quân Hoàng Phùng Cơ đang ăn cơm bị đánh bất ngờ, bỏ cả khí giới mà chạy. Quân Tây Sơn chia làm hai toán từ hai phía đánh ép lại, quân Hoàng Phùng Cơ không sao trốn thoát, thây chết ngổn ngang khắp trận địa. Quân của Hoàng Phùng Cơ nhảy cả xuống hồ Vạn Xuân, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Một thuộc tướng của Hoàng Phùng Cơ là Mai Thế Pháp cố sức chống cự bị quân Tây Sơn đánh dồn ra tới tận bờ sông Nhị. Thế cùng, Mai Thế Pháp phải nhảy xuống sông mà chết. Hơn một nghìn năm trăm quân của Hoàng Phùng Cơ chỉ còn sống sót vài chục tên. Cùng với chủ tướng Hoàng Phùng Cơ và tám người con của Hoàng Phùng Cơ cố sức chống đỡ. Nhưng sáu người con Hoàng Phùng Cơ và mấy chục tên lính đều bị chết trận. Hoàng Phùng Cơ phải nhảy khỏi mình voi xuống đất, cùng hai người con sống sót, cố sức cướp lấy đường chạy thoát thân. Trong khi cánh quân Tây Sơn chiến đấu thắng lợi ở bên Thúy Ái và hồ Vạn Xuân thì đại đội thuyền chiến Tây Sơn vẫn tiến lên phía trước kinh thành Thăng Long, đổ bộ lên bến Tây Long, đánh thẳng vào trận địa của quân Trịnh Khải ở chung quanh lầu Ngũ Long.

Nghĩa quân Tây Sơn từ bến Tây Long ào ạt tiến vào. Quân tiền bộ của Trịnh nổ súng bắn ra. Quân Tây Sơn khom mình vừa tránh đạn vừa xung phong, tiến sát lầu Ngũ Long, bản doanh của Trịnh Khải. Trịnh Khải phải thân tự lên mình voi trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Nhưng mặc dầu Trịnh Khải hạ lệnh phản kích, quân sĩ Trịnh chỉ "nhìn nhau không dám tiến". Trong khi ấy, quân Tây Sơn ào ạt tiến vào chém giết và dùng hỏa hổ tung lửa hừng hực vào hàng ngũ quân Trịnh. Quân Trịnh hoàn toàn tan vỡ, vứt cả khí giới mà chạy thoát thân. Một toán tiền quân Tây Sơn, chừng vài chục người tiến thẳng vào chiếm đóng phủ chúa Trịnh. Trịnh Khải thấy bên mình chỉ còn hơn 100 con voi chiến, đành phải trút bỏ nhung phục "tụt xuống ngồi núp trong ngăn hòm da ở mé sau bành voi” rồi co đầu voi để chạy trốn về phủ, nhưng tới gần thì đã thấy cờ đỏ Tây Sơn phấp phới bay ngoài cửa phủ, Trịnh Khải vội chạy trốn theo đường đi Sơn Tây. Trong khi đại quân Tây Sơn tiến đánh lầu Ngũ Long thì toán quân của viên tỳ tướng Tây Sơn bí mật vào thành từ trước cũng chiếm giữ hoàng thành và trao mật tấu "tôn phù" của Nguyễn Huệ cho vua Lê.

Như thế là quân Tây Sơn đã làm chủ kinh thành Thăng Long và ngay ngày hôm ấy, 26 tháng Sáu năm Bính Ngọ (tức ngày 21 tháng 7 năm 1786), Nguyễn Huệ và đại quân tiến vào Thăng Long, đóng tại phủ chúa Trịnh.

Cuộc tiến công Bắc Hà tới đây đã kết thúc rất vẻ vang. Nguyễn Hữu Chỉnh đánh Vị Hoàng. Chỉ trong vòng 10 ngày, kể từ ngày 11 đến ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ đã mau chóng lật đổ tập đoàn phong kiến họ Trịnh thống trị Bắc Hà 300 năm và chính quyền Bắc Hà từ sông Gianh trở ra đã thuộc về nghĩa quân Tây Sơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:13:16 am

Câu hỏi 10: Cho biết tình hình đất nước ta từ sau khi nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đánh đổ nhà Trịnh ở Đàng Ngoài tới ngày quân Thanh xâm lược nước ta; hành động bán nước của Lê Chiêu Thống khi y cầu viện nhà Thanh?
Trả lời:


Quân đội Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến quân ra Phú Xuân và Thăng Long đánh đổ thế lực nhà Trịnh, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và chính quyền trong cả nước đều thống nhất trong tay nghĩa quân Tây Sơn.

Nhưng tình hình đất nước lúc này lại bước vào một thời kỳ khó khăn mới.

Người gây nên những tình hình khó khăn ấy chính là người lãnh tụ tối cao của phong trào Tây Sơn, người nắm toàn quyền định đoạt mọi hoạt động của phong trào Tây Sơn. Người lãnh tụ tối cao của phong trào Tây Sơn, từ khi cuộc khởi nghĩa bắt đầu cho tới ngày Nguyễn Huệ tiến ra Thăng Long diệt nhà Trịnh, không phải là Nguyễn Huệ, mà là Nguyễn Nhạc. Mặc dầu Nguyễn Huệ đã chiến thắng khắp đó đây, uy danh của Nguyễn Huệ đã lừng lẫy khắp nước, nhưng Nguyễn Huệ vẫn chỉ là một người tướng chịu quyền chi phối của Nguyễn Nhạc. Từ trước cho đến bấy giờ nhiệm vụ của Nguyễn Nhạc trao cho Nguyễn Huệ chỉ là nhiệm vụ đánh giặc. Đánh được giặc là nhiệm vụ hết, Nguyễn Huệ lại quay về đứng dưới trướng của Nguyễn Nhạc không có quyền hành gì khác. Vận mệnh của phong trào Tây Sơn cũng như cách xử lý mọi công việc sau mỗi lần chiến thắng là hoàn toàn do Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc đã sớm thỏa mãn với ngôi hoàng đế ngay từ sau những chiến thắng đầu tiên của quân Tây Sơn ở Gia Định. Nguyễn Nhạc lo sợ ngôi chí tôn của mình bị xâm phạm, không muốn uy quyền của mình bị chia sẻ, cả đối với anh em ruột thịt. Nhất là đối với Nguyễn Huệ, một người có tài đức vượt hẳn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Nhạc càng e ngại, không bao giờ muốn để Nguyễn Huệ rời khỏi cạnh mình, tách xa quyền khống chế của mình. Nhưng Nguyễn Nhạc ở cái thế phải để Nguyễn Huệ đi đánh địch. Vì chỉ Nguyễn Huệ đi đánh thì mới chắc thắng. Nhưng thắng xong phải về ngay. Chưa lần nào Nguyễn Nhạc chịu để Nguyễn Huệ ở lâu tại Gia Định, cứ sau mỗi lần chiến thắng, Nguyễn Huệ lại phải vội vàng đem quân về Quy Nhơn với Nguyễn Nhạc, khiến bọn chúa Nguyễn luôn luôn có điều kiện tổ chức phản công, đánh chiếm lại Gia Định rất dễ dàng. Nguyễn Nhạc cũng đã từng không tán thành đề nghị đánh Phú Xuân của Nguyễn Huệ. Nguyễn Nhạc lại càng không bằng lòng với việc Nguyễn Huệ tiến quân ra Thăng Long, tiêu diệt nhà Trịnh. Nguyễn Nhạc không nhận thức được rằng việc Nguyễn Huệ đánh đuổi Nguyễn Ánh khỏi Gia Định và đánh đổ nhà Trịnh ở Bắc Hà là những sự nghiệp cách mạng lớn lao, phù hợp với lợi ích của giai cấp của dân tộc, tạo cơ sở cho phong trào Tây Sơn xây dựng một chính quyền vững mạnh và thống nhất trên cả nước. Thấy Nguyễn Huệ tiến ra Thăng Long, diệt được nhà Trịnh, Nguyễn Nhạc vội vàng đi mải ngày đêm ra Thăng Long để gọi Nguyễn Huệ về và hạ lệnh cho quân đội Tây Sơn rút hết khỏi Bắc Hà, bỏ mặc Bắc Hà cho bọn vua quan bất lực nhà Lê muốn làm thế nào thì làm.

Những sai lầm ấy của Nguyễn Nhạc đã gây nên tình hình rối ren ở Bắc Hà, dẫn tới việc quân Thanh sang xâm lược, tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh trở lại xâm chiếm Gia Định, đồng thời cũng gây nên tình hình chia rẽ xung đột trong nội bộ phong trào Tây Sơn trong một thời gian ngắn. Trước tình hình đó, nếu như Nguyễn Huệ không sớm thoát khỏi sự kiềm chế của Nguyễn Nhạc, thì bản thân Nguyễn Huệ cũng không thể phát triển được hết tài năng của mình trên mọi lĩnh vực, mà phong trào Tây Sơn và vận mệnh của Tổ quốc cũng sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa từ sau năm 1786 trở đi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:15:14 am

*
*    *


Trước khi từ Phú Xuân tiến quân ra Bắc, Nguyễn Huệ đã viết thư báo cho Nguyễn Nhạc biết. Nguyễn Nhạc không đồng ý, cho người cầm thư ra ngăn lại nhưng không kịp. Ngày 26 tháng Sáu năm Bính Ngọ (tức ngày 21 tháng 7 năm 1786), Nguyễn Huệ lại gửi thư báo tin thắng trận với Nguyễn Nhạc và hẹn đến thu đông, sau khi xếp đặt xong mọi việc ở Bắc Hà sẽ đem quân về Quy Nhơn. Ngày 14 tháng Bảy âm lịch (tức ngày 7 tháng 8 năm 1786), thư về đến Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc rất không bằng lòng và cũng rất lo ngại, tự nghĩ rằng: "... Nếu mình không thân hành ra Bắc bắt hắn phải về, ấy là thả hùm ra khỏi cũi, không bao giờ còn có thể nuôi dạy được nữa vậy"1.

Hoàng Lê nhất thống chí đã thuật lại việc Nguyễn Nhạc ra Bắc như sau:

"Thế rồi, luôn trong bữa đó2 vua Tây Sơn tự đem năm trăm tên lính thị vệ ra thẳng Phú Xuân. Tới nơi, lại lấy thêm hơn hai ngàn quân Phú Xuân đi gấp ra kinh sư. Đoàn quân tất tưởi kéo đi, dáng dấp tiều tụy, người ta không còn nhận ra đó là đám quan quân nào nữa".[/i]

Ngày 5 tháng Tám năm Bính Ngọ (tức ngày 26 tháng 8 năm 1786), Nguyễn Nhạc ra tới Thăng Long. Nguyễn Huệ trao lại quyền bính cho Nguyễn Nhạc, các tướng lĩnh và nghĩa quân Tây Sơn ở Bắc Hà lại thuộc quyền điều khiển trực tiếp của Nguyễn Nhạc, nhất thiết mọi việc đều phải tuân theo mệnh lệnh của Nguyễn Nhạc.

Ngày 17 tháng Tám năm Bính Ngọ, sau khi tới Thăng Long hơn 10 ngày, Nguyễn Nhạc bí mật hạ lệnh cho tất cả các quân thủy bộ Tây Sơn chuẩn bị lên đường, rút về Nam. Canh hai đêm hôm ấy, Nguyễn Nhạc cho người vào từ biệt Lê Chiêu Thống rồi lặng lẽ đem quân đi, bỏ mặc Bắc Hà cho bọn vua quan nhà Lê xoay xở.

Thấy nghĩa quân Tây Sơn bỏ đi, bọn vua tôi nhà Lê hoảng sợ, không biết lo liệu việc nước như thế nào. Lê Chiêu Thống đành phải: "Viết thư triệu hết những người thế gia và bày tôi cũ dấy quân vào bảo vệ hoàng thành. Vì thế hào mục các nơi chiếm giữ châu quận, chiêu tập binh mã đều mượn danh nghĩa "bảo vệ". Những hạng vô lại đánh giết lẫn nhau, trong nước thành ra rối loạn".

Tình hình Bắc Hà trở nên rối ren từ đây.
_________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.
2. Ngày 14 tháng Bảy năm Bính Ngọ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:16:00 am

Thấy quân đội Tây Sơn rút khỏi Bắc Hà, bọn thân thuộc nhà Trịnh tranh nhau tiến về Thăng Long, giành lại ngôi chúa. Trịnh Lệ, con Trịnh Doanh, từ huyện Văn Giang đem quân lên đóng ở cung Tây Long, uy hiếp Lê Chiêu Thống phải trao quyền Chúa cho mình. Trong khi ấy, Trịnh Bồng, con Trịnh Giang, cũng đem quân từ huyện Chương Đức tiến về Thăng Long. Quân của Trịnh Lệ và quân của Trịnh Bồng đánh nhau ở địa phận làng Nhân Mục. Quân Trịnh Lệ tan vỡ, Trịnh Lệ phải chạy lên vùng Bắc, Trịnh Bồng vào thành Thăng Long. Lê Chiêu Thống phải tái lập ngôi Chúa cho nhà Trịnh và phong Trịnh Bồng làm "Nguyên soái tổng quốc chính Yến đô vương". Bọn tướng cũ như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Tế, mượn cố tôn phò nhà chúa cũng từ các nơi đem quân về Thăng Long, tranh nhau quyền hành. Triều chính rối nát, bọn Trịnh Bồng và Đinh Tích Nhưỡng câu kết với nhau, bức hiếp nhân dân.

Về phần các lãnh tụ Tây Sơn, sau khi rút quân từ Bắc Hà về Nam, cũng sinh ra hiềm khích xung đột.

Nguyễn Huệ không theo Nguyễn Nhạc trở về Quy Nhơn mà ở lại Phú Xuân. Khi ấy thanh thế của Nguyễn Huệ rất lừng lẫy. Nhân dân Thuận, Quảng suy tôn Nguyễn Huệ làm Đức Chúa. Hay tin ấy, Nguyễn Nhạc hoảng sợ, hăm dọa trị tội Nguyễn Huệ. Trong tình hình như vậy và đứng trước lợi ích của phong trào, của Tổ quốc, Nguyễn Huệ thấy không thể chung theo những hành động của Nguyễn Nhạc đi ngược lại mục đích đấu tranh của nghĩa quân. Nguyễn Huệ phản đối sự hăm dọa của Nguyễn Nhạc và truyền hịch vạch rõ những sai trái của Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc quyết định đem quân đánh Nguyễn Huệ. Khi ấy Nguyễn Huệ có rất ít quân, vì đại bộ phận quân đội Tây Sơn thuộc quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ khi ra đánh Bắc Hà đã phải theo Nguyễn Nhạc về Quy Nhơn. Để đối phó với sự uy hiếp bằng quân sự của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ hạ lệnh tuyển quân suốt từ Phú Xuân trở ra sông Gianh, thanh niên từ 16 tuổi trở lên đều ra tòng quân. Trong một thời gian ngắn, Nguyễn Huệ đã có một đạo quân gồm sáu vạn người.

Nguyễn Huệ tiến quân vào Quy Nhơn, vây hãm Nguyễn Nhạc ở trong thành trong vài tháng liền, để buộc Nguyễn Nhạc phải nhượng bộ, từ bỏ ý muốn kiềm chế Nguyễn Huệ mãi mãi. Nguyễn Nhạc phải báo tin gấp cho tướng Đặng Văn Trấn, trấn thủ Gia Định đem quân về cứu viện. Nguyễn Huệ cho quân chặn đánh Đặng Văn Trấn ở Tiên Châu (Phú Yên). Đặng Văn Trấn và toàn quân đều bị Nguyễn Huệ bắt sống. Sau khi tiêu diệt viện binh của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cho đắp ụ đất cao ở ngoài thành Quy Nhơn và đặt đại bác bắn vào thành. Nguyễn Nhạc hoảng sợ, phải nhượng bộ, xin giảng hòa. Cuộc xung đột chấm dứt khoảng đầu năm 1787. Hai anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ thỏa thuận lấy xứ Bản Tân làm địa giới, từ Thăng Hoa, Điện Bàn trở ra Bắc thuộc quyền Nguyễn Huệ, từ Quảng Nghĩa trở vào Nam thuộc quyền Nguyễn Nhạc. Tháng 3 năm 1787, Nguyễn Nhạc phong Nguyễn Lữ làm Đông định vương và cử vào trấn thủ Gia Định, có thái bảo Phạm Văn Tham giúp việc.

Như thế là từ đây Nguyễn Huệ hoàn toàn thoát khỏi sư kiềm chế của Nguyễn Nhạc, mặc dầu Nguyễn Huệ vẫn thừa nhận Nguyễn Nhạc là hoàng đế trung ương và chịu nhận tước Bắc Bình vương của Nguyễn Nhạc phong cho.

Chính nhờ thoát khỏi sự kiềm chế của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã xếp đặt lại tốt mọi công việc từ Thuận Quảng trở ra, diệt trừ được tình trạng rối ren ở Bắc Hà và tiến tới đại phá 29 vạn quân Thanh xâm lược sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:18:48 am

Trong khi các lãnh tụ Tây Sơn có sự hiềm khích xung đột thì tình hình Bắc Hà cũng ngày càng rối nát thêm. Tháng Một năm Bính Ngọ, Trịnh Bồng đem quân vây chặt hoàng thành, mưu đồ phế bỏ Lê Chiêu Thống, lập vua khác. Nhưng Lê Chiêu Thống được Hoàng Phùng Cơ đem quân tới bảo vệ, âm mưu của Trịnh Bồng không thành. Lê Chiêu Thống viết thư triệu Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An về cứu giá.

Nguyễn Hữu Chỉnh vốn đã có ý muốn ở lại xưng hùng, xưng bá ở Bắc Hà ngay từ khi Nguyễn Huệ còn ở Thăng Long. Trong khi Nguyễn Hữu Chỉnh cùng Nguyễn Huệ đóng quân ở Thăng Long, Nguyễn Hữu Chỉnh đã có ý định chiếm giữ Nghệ An làm giang sơn riêng, nên mật tâu với Lê Chiêu Thống xin cho vào trấn thủ Nghệ An. Nhưng vì Nguyễn Nhạc đem quân ra Thăng Long, Nguyễn Hữu Chỉnh chưa hiểu sự tình sẽ như thế nào, nên việc này tạm thôi. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ có thể đã thấy được tâm địa phản phúc ấy, nên khi rút quân về Nam, cả Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc đều không báo cho Nguyễn Hữu Chỉnh biết, để mặc cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà. Khi thấy toàn quân Tây Sơn rút đi hết, Nguyễn Hữu Chỉnh hoang mang lo sợ, đành phải xuôi thuyền về Nam. Thấy Nguyễn Hữu Chỉnh chạy theo, Nguyễn Huệ không nỡ từ bỏ nhưng cũng không muốn cho con người phản phúc ấy theo về Phú Xuân, nên Nguyễn Huệ lưu Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An. Được cơ hội đó, khi quân Tây Sơn đi khỏi Nguyễn Hữu Chỉnh liền mộ quân mưu đồ sự nghiệp riêng và cử người về Thăng Long xin với Lê Chiêu Thống cho làm trấn thủ Nghệ An. Đang bị Trịnh Bồng ức chế, mưu hại, Lê Chiêu Thống vội vàng viết thư gọi Chỉnh đem quân về cứu giá. Lấy danh nghĩa tôn phò vua Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh truyền hịch cần vương. Chỉ trong khoảng mười ngày, Nguyễn Hữu Chỉnh đã mộ thêm được hàng vạn quân.

Cuối tháng Một năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An tiến quân về Thăng Long đánh tan các đạo quân của Trịnh Bồng, Trịnh Bồng phải rời khỏi Thăng Long, chạy lên vùng Kinh Bắc. Lê Chiêu Thống phong cho Nguyễn Hữu Chỉnh làm "Bình chương quân quốc trọng sự, đại tư đồ, tước Bằng trung công", cầm giữ tất cả quyền chính ở Bắc Hà.

Nguyễn Hữu Chỉnh đưa bè đảng chân tay vào giữ các chức ở trong triều, ngoài trấn và muốn nắm quyền làm chúa bên cạnh vua Lê như họ Trịnh thời xưa. Nguyễn Hữu Chỉnh ngày càng lộng hành, lấn lướt nhà vua, "quyền Chỉnh thật ngang với nhà vua, thế của Chỉnh có thể lật nghiêng cả nước"1. Lê Chiêu Thống chán nản lo ngại. Triều thần văn võ đều thất vọng, lòng người thật là tan tác. "Bọn hào mục gian ác ở đâu thì tụ họp ở đấy rồi đi cướp bóc lẫn nhau. Ngoài thành vài dặm đều là hang ổ của bọn trộm cướp". Khắp nơi đều có phong trào nổi dậy chống đối Nguyễn Hữu Chỉnh.

Đường lối, chính sách của Nguyễn Hữu Chỉnh trái ngược hẳn với đường lối, chính sách của Nguyễn Huệ khi ở Bắc Hà làm cho nhân dân Bắc Hà phải khổ sở. Đã thế Nguyễn Hữu Chỉnh lại tỏ thái độ thù địch với phong trào Tây Sơn. Nguyễn Hữu Chỉnh dụ dỗ tướng Tây Sơn ở Nghệ An là Nguyễn Duệ theo về mình, mưu chiếm lấy Nghệ An, đắp lại lũy cũ Hoàng Sơn, lấy sông Gianh làm đường ranh giới phân chia Nam - Bắc như xưa.
____________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:19:05 am

Tính chất phản động của Nguyễn Hữu Chỉnh đã bộc lộ rõ rệt, lãnh tụ Tây Sơn không thể không có biện pháp xử trí. Đầu năm 1787, cuộc xích mích giữa các lãnh tụ Tây Sơn dàn xếp xong, Nguyễn Huệ được rảnh tay để lo liệu công việc ngoài Bắc. Trước hết, Nguyễn Huệ cho Vũ Văn Nhậm đem quân ra chiếm giữ Nghệ An, lấy đó làm căn cứ tuyển mộ quân lính, thu thập lương thực, chuẩn bị tiến quân ra Thăng Long trị tội Nguyễn Hữu Chỉnh, thu phục lại Bắc Hà.

Thấy mất Nghệ An, tháng Tư năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Hữu Chỉnh cho Trần Công Xán, nhân danh vua Lê, vào Phú Xuân đòi Nguyễn Huệ trả lại đất Nghệ An. Trước những hành động chống đối của Nguyễn Hữu Chỉnh như vậy, Nguyễn Huệ quyết định cho quân tiến đánh Bắc Hà. Nguyễn Huệ cho Ngô Văn Sở đem thêm một cánh quân ra Nghệ An hợp lực với Vũ Văn Nhậm.

Tháng Một năm Đinh Mùi (1787), Vũ Văn Nhậm thống lĩnh hai vạn quân tiến ra Bắc. Từ Thanh Hóa trở ra, quân của Nguyễn Hữu Chỉnh thất bại liên tiếp. Nguyễn Hữu Chỉnh thân đem hơn ba vạn quân tới bờ sông Thanh Quyết để phòng thủ, chống lại Vũ Văn Nhậm, nhưng cũng bị đại bại. Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ còn vài trăm tàn quân chạy về Thăng Long. Tháng Chạp năm Đinh Mùi, Vũ Văn Nhậm tiến lên Thăng Long. Nguyễn Hữu Chỉnh đem Lê Chiêu Thống chạy sang vùng Kinh Bắc. Chỉ ít ngày sau, Nguyễn Hữu Chỉnh bị Vũ Văn Nhậm bắt sống và giết chết.

Nhưng nạn Nguyễn Hữu Chỉnh vừa qua thì nạn Vũ Văn Nhậm lại tới. Bắc Hà là cơ đồ đế vương sẵn có nền nếp từ hàng ngàn năm, nó rất dễ khêu gợi lòng tham của những kẻ kiêu ngạo, có binh quyền trong tay, mưu phú quý vinh hoa, xây dựng thành một giang sơn riêng biệt cho mình. Nguyễn Huệ khi ra Bắc diệt nhà Trịnh, vẫn giữ vững ý tôn phù, không xâm phạm của dân, không khuấy rối trong nước, không mưu đồ những quyền lợi riêng tây. Điều đó cũng là hiếm có đối với một người đã nắm cả vận mệnh Bắc Hà trong tay. Nhưng những người khác đương thời, khi có cái thế như Nguyễn Huệ, rất khó làm được như Nguyễn Huệ. Trước cái cơ đồ đế vương Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh đã đi vào con đường phản bội và Vũ Văn Nhậm cũng kế tiếp sa ngã theo.

Vũ Văn Nhậm vào Thăng Long tối hôm trước, thì ngày hôm sau cho quân lính ra đường phố cướp bóc của quý tài sản của nhân dân. Giết được Nguvễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm càng kiêu ngạo, lộng hành, tự ý đúc ấn chương riêng, chuyên quyền định đoạt mọi việc.

Vũ Văn Nhậm lại thẳng tay tàn sát nhân dân. Đã có lần, để đề phòng những người chống đối lẻn vào thành, Vũ Văn Nhậm cho lùng bắt tất cả những người ở trọ trong các phường, phố kinh thành đem giết hết. Tình hình Bắc Hà càng thêm rối loạn, nhân dân vô cùng oán thán.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:21:18 am

Tin Vũ Văn Nhậm làm rối loạn Bắc Hà và đương âm mưu làm phản đưa về tới Phú Xuân, Nguyễn Huệ quyết định thân đem quân ra Bắc Hà trị tội Vũ Văn Nhậm.

Tháng Tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ đốc lĩnh bộ binh và kỵ binh lên đường ra Bắc, đi gấp hơn 10 ngày tới Thăng Long. Vũ Văn Nhậm bị giết chết ngay đêm hôm Nguyễn Huệ tới Thăng Long. Nguyễn Huệ trao quyền bính Bắc Hà cho Ngô Văn Sở, cử một số tướng lĩnh Tây Sơn đi trấn thủ các trấn ở ngoài Bắc, trọng dụng các cựu thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lan, v.v... phong quan tước cho họ và để họ ở lại ngoài Bắc giúp việc Ngô Văn Sở.

Tháng Năm năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ lại đem quân về Phú Xuân ngay. Nguyễn Huệ không thể ở lâu ngoài Bắc, vì tình hình trong Nam đương rối ren nghiêm trọng. Nguyễn Ánh đã đem quân về đánh phá miền Gia Định rất dữ dội. Nguyễn Lữ và Nguyễn Nhạc không đương đầu được với giặc. Quân Tây Sơn ở trong đó thất bại liên tiếp.

Nguyễn Huệ cần có mặt ở Phú Xuân để chuẩn bị đối phó với tình hình.

Biết Nguyễn Huệ bận lo công việc ngoài Bắc và thế lực quân Tây Sơn ở Gia Định không mạnh, nên từ đầu tháng Bảy năm Đinh Dậu (1787), Nguyễn Ánh rời khỏi đất Xiêm trở về quấy rối và đánh phá vùng Gia Định.

Những thất bại liên tiếp của quân Tây Sơn ở Gia Định như thế đã buộc Nguyễn Nhạc phải nhiều lần viết thư yêu cầu Nguyễn Huệ vào cứu viện. Trước nguy cơ mất miền Gia Định về tay Nguyễn Ánh, và trước những lời kêu cứu của anh, Nguyễn Huệ không thể không lo tính đến việc vào đánh cứu Gia Định. Giải quyết xong vấn đề Bắc Hà, Nguyễn Huệ cần phải về ngay Phú Xuân để tổ chức một lực lượng quân đội mạnh, chuẩn bị tiến đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định.

Khi ở Thăng Long về, Nguyễn Huệ đã đem theo nhiều quân ở Bắc Hà vào Phú Xuân và cho quân sĩ tập luyện rất ráo riết. Ngay từ giữa năm 1788, nhân dân Phú Xuân và các vùng Quảng Trị, Quảng Bình ngày nay, đã thực hiện khẩu hiệu "tận suất vi binh" tức toàn dân tòng quân. Trong một thời gian ngắn, Nguyễn Huệ đã có một đạo quân mạnh, sẵn sàng lên đường chiến đấu. Thủy quân của Nguyễn Huệ ở Phú Xuân khi ấy có 120 thuyền chiến, lục quân có khoảng 300 voi chiến. Nguyễn Huệ cho đúc nhiều đại bác lớn để trang bị cho đạo quân này và cho đặt tám khẩu đại bác ở mặt trước Phú Xuân để bảo vệ kinh thành.

Nguyễn Huệ đã có một quân đội mạnh và sẵn sàng chiến đấu như vậy, mà tình hình Gia Định thì ngày càng khẩn trương. Tháng Tám năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Ánh đánh chiếm được thành Gia Định, chủ tướng quân Tây Sơn ở Gia Định là Phạm Văn Tham phải chạy vào Ba Xắc. Đất Gia Định có nguy cơ mất hết vào tay Nguyễn Ánh. Nhưng Nguyễn Huệ vẫn không thể quyết định tiến quân vào Nam đánh cứu Gia Định, vì ngoài Bắc lúc ấy lại đang bị nạn ngoại xâm đe dọa.

Khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc giết chết Vũ Văn Nhậm, bọn phản động Lê Chiêu Thống vẫn tiếp tục chống đối phong trào Tây Sơn. Chúng chia ra làm nhiều toán để mưu đồ đánh lại quân Tây Sơn của Ngô Văn Sở. Lê Chiêu Thống và một số tướng chân tay đóng quân ở Lạng Giang, Kinh Bắc. Mẹ Lê Chiêu Thống cùng một số chân tay đóng quân ở Cao Bằng. Em Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi cùng một số tù trưởng chiếm giữ Định Châu (Thái Nguyên). Tháng Năm âm lịch (1788), quân Tây Sơn cùng phiên mục Cao Bằng là Bế Nguyên Trù và người thổ dân Lạng Sơn là Quyền Trâm tiến lên đánh úp trấn doanh Cao Bằng. Mẹ Lê Chiêu Thống và bọn chân tay theo đường Thủy Khẩu chạy sang Long Châu cầu cứu nhà Thanh. Tháng Bảy âm lịch năm ấy, Lê Chiêu Thống từ Kinh Bắc cũng cho chân tay sang Quảng Tây van xin quân Thanh cứu viện. Bọn vua tôi nhà Thanh, nhân cơ hội đó, gấp rút chuẩn bị lực lượng để tiến sang xâm lược Việt Nam.

Tin bọn phản động Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh và quân Thanh mưu đồ xâm lược Việt Nam đã đưa về Phú Xuân từ tháng Bảy năm Mậu Thân (1788). Trước nạn ngoại xâm đe dọa Bắc Hà như vậy, Nguyễn Huệ không thể tiến quân vào Gia Định để đánh Nguyễn Ánh.


Nguyễn Huệ phải chờ tình hình thật chín muồi mới quyết định phương hướng tiến quân: vào Nam hay ra Bắc? Nếu quân Thanh sang xâm lược thì trước nguy cơ mất nước, Nguyễn Huệ phải đem quân ra Bắc Hà đánh tan quân Thanh rồi sau sẽ tính việc đánh bọn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định. Đó là tất cả phương hướng chiến lược của Nguyễn Huệ ở cuối năm 1788.

Thực tế lịch sử đã ghi nhận rằng, đường lối chiến lược đó của Nguyễn Huệ là hoàn toàn đúng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:22:43 am

Câu hỏi 11: Hai mươi chín vạn quân Thanh do tên tướng nào chỉ huy, theo bốn đường tiến đánh nước ta vào thời gian nào?
Trả lời:


Sau khi thoát được sang Quảng Tây, vua tôi Lê Chiêu Thống vội đến cầu cứu tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh và viết thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị. Cả hai, mặc dầu có ý sợ quân Tây Sơn "một phen ra tay đã đánh đổ được cả triều đình 300 năm", vẫn tỏ thái độ sẵn sàng giúp vua Lê "phục tồn" để nhân đó "đặt thú binh giữ lấy An Nam", làm một việc mà được hai công. Tôn Sĩ Nghị đã dâng sớ lên vua Thanh Càn Long nói rõ ý định đó. Sau khi kiểm tra cẩn thận, vua Càn Long đã đồng ý, hạ lệnh điều động binh mã bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, tất cả 29 vạn người (bao gồm cả dân phu), do Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy, chia làm 4 đạo tiến sang nước ta:

Đạo thứ nhất đi theo đường Lạng Sơn, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy.

Đạo thứ hai đi theo đường Cao Bằng, do tri phủ Sầm Nghi Đống chỉ huy.

Đạo thứ ba đi theo đường Tuyên Quang, do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy.

Đạo thứ tư theo hướng Quảng Ninh, tiến vào đóng ở Hải Dương.

Ngoài ra, Càn Long dự định cử một đạo thủy quân vượt biển vào Thuận Hóa sẵn sàng phối hợp với bộ binh đánh từ phía bắc xuống. Tuy nhiên, Càn Long cũng rất thận trọng chỉ thị cho Tôn Sĩ Nghị: "Việc quân phải từ từ", nếu thuận thì đánh mạnh, lập "công to", nếu không thuận thì "làm ơn cho cả hai bên", "ta đóng đại binh để kiềm chế... rồi sẽ xử trí sau". Tôn Sĩ Nghị cũng nhân đó, ban bố một bản quân luật 8 điều, đề phòng mọi biến cố bất thường xảy ra trong chiến đấu.

Tháng 11 năm 1788, quân Thanh ồ ạt tiến vào nước ta. Tướng Tây Sơn đóng ở Lạng Sơn là Phan Khải Đức đầu hàng. Tin báo về Thăng Long, Ngô Văn Sở hội các tướng bàn cách đối phó. Một số đề nghị đánh ngay theo cách của Lê Lợi thời xưa. Trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng của hai bên, thời xưa và thời nay, Ngô Thì Nhậm không tán thành chủ trương của Nguyễn Văn Dụng và đề nghị: tạm rút lui vào đóng giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ba Dội - Ninh Bình) - Biện Sơn (Thanh Hóa) để cho quân Thanh vào Thăng Long rồi cho người cấp báo với Nguyễn Huệ đem quân ra tiêu diệt chúng, tựa như "cho chúng ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi". Ngô Văn Sở đã tán thành đề nghị đó, một mặt hạ lệnh cho quân sĩ bí mật rút về Tam Điệp - Biện Sơn, một mặt cử Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa về Phú Xuân cáo cấp.

Được sự dẫn đường và nội ứng của tàn quân Lê Chiêu Thống ngày 17 tháng 12 năm 1788, quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị kéo vào chiếm đóng Thăng Long. Để phòng thủ Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho đạo quân của Sầm Nghi Đống đóng ở Khương Thượng (Đống Đa - Hà Nội), đạo quân của Ô Đại Kinh đóng ở Sơn Tây, lập nhiều đồn lũy liên tiếp ở Thanh Quyết, Nhật Tảo, Hà Hồi, Ngọc Hồi, Văn Điển..., còn mình thì đóng tại bản doanh ở cung Tây Long (bờ sông Hồng thuộc Hà Nội).

Làm chủ được Thăng Long và các xứ phía bắc, Tôn Sĩ Nghị hống hách, thả cho quân sĩ "mặc sức làm càn", "cướp bóc nhà giàu có", "hãm hiếp đàn bà, không còn kiêng sợ gì cả". Bấy giờ, theo sử cũ "luôn năm mất mùa đói kém, nhất là năm ấy lại càng quá lắm", "triều đình đốc thúc quân lương, các châu huyện đều không cung ứng. Nhà vua sai các quan chia nhau làm, đến nỗi dân chúng có người phải khóc lóc mà dâng nộp", "bao nhiêu lương tiền thu được của dân đều đem cung đốn cho họ hết sạch". Trước tình hình đó, chính bà Thái hậu cũng phải kêu lên "Thôi! Diệt vong đến nơi rồi!".

Trong lúc đó thì Lê Chiêu Thống một mặt trả thù, báo oán rất ti tiện, một mặt hàng ngày đến chầu chực ở bản doanh của Tôn Sĩ Nghị rất nhục nhã và bị chúng khinh bỉ. Nhân dân Thăng Long than thở: "Nước Nam ta từ khi có đế, có vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế”.

Một số quan tướng nhà Lê sốt ruột, xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân. Nghị kiêu ngạo trả lời: "Giặc còn gầy, ta hãy nuôi cho béo, để chúng tự đến dâng thịt cho ta" và từ ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (tức ngày 20 tháng 1 năm 1789) thả cho quân sĩ chơi bời, quậy phá đón xuân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:44:04 am

Câu hỏi 12: Trước khi tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh, để làm sáng tỏ danh nghĩa đối với cả nước, sáng tỏ trách nhiệm của mình đối với nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung. Sự kiện trong đại đó diễn ra như thế nào? Hãy trình bày kế hoạch tác chiến đối với năm đạo quân của Hoàng đế Quang Trung khi tiến đánh Thăng Long?
Trả lời:


Ngày 20 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 17 tháng 12 năm 1788), Ngô Văn Sở đưa quân về tới Tam Điệp thì cũng ngay ngày hôm ấy Ngô Văn Sở cử đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa vào Phú Xuân cấp báo Nguyễn Huệ. Chỉ bốn ngày sau, tức 24 tháng Một năm Mậu Thân (ngày 21 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Văn Tuyết tới Phú Xuân. Nghe báo cáo đầy đủ tình hình, Nguyễn Huệ quyết định ngay ngày hôm sau 25 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 22 tháng 12 năm 1788) xuất quân tiến ra Bắc.

Từ nhiều tháng trước, những đạo quân ở Phú Xuân của Nguyễn Huệ đã được huấn luyện và chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đợi lệnh lên đường xuất trận để đối phó với mọi tình hình bất trắc xảy ra, dù là ở phía Nam hay ở phía Bắc. Nếu không có một sự chuẩn bị chu đáo, một tư thế sẵn sàng chiến đấu như thế, thì không có một đạo quân nào gồm trên dưới chục vạn người có thể ngày hôm trước được tin giặc đến mà lập tức ngày hôm sau đã xuất phát lên đường đi hàng ngàn dặm để đánh giặc.

Tình thế nước nhà lúc ấy, phía Bắc có giặc ngoài xâm lược, phía Nam có bọn phản động Nguyễn Ánh quấy rối, việc đại quân của Nguyễn Huệ ở Phú Xuân tiến vào Nam hay tiến ra Bắc là một vấn đề quan trọng, quyết định vận mệnh của Tổ quốc, đòi hỏi người lãnh đạo chiến tranh, người tướng chỉ huy quân đội phải có một sự tính toán vững chắc, một nhận định tình hình thật sáng suốt và có chủ trương phương hướng thật đúng đắn.

Trong những tháng cuối năm 1788, Nguyễn Ánh đánh phá dữ dội ở miền Gia Định, Nguyễn Nhạc nhiều lần viết thư yêu cầu Nguyễn Huệ đưa quân vào Gia Định. Nguyễn Nhạc chỉ xin giữ một vùng Quy Nhơn, tự xưng là Tây vương, nhường mọi quyền bính trong cả nước và trong nghĩa quân Tây Sơn cho Nguyễn Huệ. Nhưng Nguyễn Huệ đã không đem quân vào Nam ngay, mặc dầu Nguyễn Huệ có đầy đủ điều kiện về quân sự để đánh tan bọn phản động Nguyễn Ánh, bởi vì ở ngoài Bắc, quân Thanh đang chuẩn bị tiến sang xâm lược. Mà đó là vấn đề quan trọng bậc nhất lúc ấy. Nếu Nguyễn Huệ đem đại quân vào Nam đánh Nguyễn Ánh thì khi quân Thanh sang xâm lược, Nguyễn Huệ sẽ không đối phó kịp thời. Nguyễn Huệ từ Gia Định quay trở ra để chống đánh quân Thanh sẽ gặp nhiều khó khăn. Trái lại, Nguyễn Huệ cũng không thể đem quân ra Bắc từ trước để chờ đánh quân Thanh. Bởi vì trách nhiệm của Nguyễn Huệ lúc này là trách nhiệm đối với cả nước. Nếu Nguyễn Huệ đem đại quân ra Bắc lâu ngày thì miền Nam có thể sơ hở, bọn phản động có thể đem quân ra quấy rối Quy Nhơn, Phú Xuân. Nếu Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc để đón đánh 29 vạn quân Thanh tại biên giới, thì thắng lợi chưa chắc đã nhanh chóng. Mà thắng lợi ở Bắc Hà không nhanh chóng thì lại càng là cơ hội tốt để bọn phản động Nguyễn Ánh đánh ra Quy Nhơn, Phú Xuân. Để xảy ra tình trạng cùng một lúc phải đương đầu với thù trong giặc ngoài ở cả hai mặt trận phía Bắc và phía Nam thì thật là nguy hiểm. Cho nên quân đội của Nguyễn Huệ ở Phú Xuân chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu từ lâu, mà đến bấy giờ Nguyễn Huệ mới hạ lệnh xuất quân là hợp thời, đúng lúc.

Mặt khác, trước khi tiến quân ra Bắc, Nguyễn Huệ cho một tướng tin cẩn là Diệm cầm thư của ông vào Gia Định trao cho tướng chỉ huy quân Tây Sơn trong đó là Phạm Văn Tham. Trong thư, Nguyễn Huệ dặn dò phương hướng chiến lược và động viên quần thần ở Nam cố gắng chiến đấu, chờ ông giải quyết xong công việc Bắc Hà sẽ tiến đại quân vào Nam tiêu diệt Nguyễn Ánh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:46:03 am

Trước khi ra Bắc, để làm sáng tỏ danh nghĩa đối với cả nước, sáng tỏ trách nhiệm của mình đối với toàn dân ở cả hai miền Nam - Bắc, ông quyết định lên ngôi hoàng đế. Ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang1, lấy niên hiệu Quang Trung, xóa bỏ niên hiệu Thái Đức mà trước đây Nguyễn Huệ vẫn cố giữ, mặc dù Nguyễn Nhạc đã xưng là Tây vương, đồng thời cũng xóa bỏ cả niên hiệu Chiêu Thống của nhà Lê ở Bắc Hà.

Trong bài chiếu lên ngôi của Nguyễn Huệ ban bố cho toàn dân Nam Bắc, có những đoạn như sau:

"Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không có một thước đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân, vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để mở mang núi rừng, giúp đỡ hoàng huynh2 rong ruổi việc nhung mã, gây dựng nước ở Tây Thổ, vỗ yên các nước Xiêm La, Cao Viên, đánh lấy Phú Xuân, tiến ra Thăng Long cốt ý quét sạch loạn lạc, cứu vớt dân trong vòng nước lửa, rồi sau trả lại nước cho họ Lê, trả đất về đại huynh, trẫm sẽ dùng xiêm thêu hia đỏ ngao du hai nơi mà thôi. Nhưng việc đời run rủi, trẫm không theo được cái chí xưa đã định. Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc ở nước, đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê chỉ trông mong vào trẫm. Về phần đại huynh có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây vương, mấy nghìn dặm đất phương Nam thuộc hết về trẫm. Trẫm tự nghĩ tài đức không bằng người xưa, mà đất đai thì rộng, nhân dân thì nhiều, ngẫm nghĩ cách thống trị, lo ngay ngáy như dây cương mục chỉ huy sáu ngựa...”.

Những lời giản dị trong bài chiếu đã nói khá rõ những lý do lên ngôi vua của Nguyễn Huệ.

Sau khi làm lễ đăng quang, Nguyễn Huệ tự thống lĩnh tất cả quân thủy bộ tiến ra Bắc. Ngày 29 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 26 tháng 12 năm 1788), đại quân tới Nghệ An. Nguyễn Huệ cho quân đóng lại ở Nghệ An hơn mười ngày. Một mặt Nguyễn Huệ cho người đem thư trá hàng ra Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị khiến giặc tăng thêm kiêu ngạo, chủ quan, mất cảnh giác, không chú ý đề phòng. Một mặt Nguyễn Huệ hạ lệnh tuyển quân ở Thanh - Nghệ, trao cho đại tướng Hám hổ hầu đảm nhiệm. Cứ ba suất đinh lấy một người ra lính, trong mấy ngày được tới hàng vạn tân binh, tổng cộng toàn quân có được mười vạn người và một đội tượng binh lớn gồm vài trăm voi chiến.
_______________________________________
1. Lễ lên ngôi lập tại núi Bàn thuộc địa phận xã An Cựu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên gần kinh thành Phú Xuân.
2. Chỉ Nguyễn Nhạc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:47:28 am

Nguyễn Huệ chia quân làm năm doanh: tiền quân, hậu quân, tả quân, hữu quân và trung quân; binh lính mới tuyển ở Nghệ An được đưa vào trung quân đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Huệ. Việc phiên chế quân đội này không có gì đặc biệt, tuy nhiên nó cũng cho thấy Nguyễn Huệ rất khéo dùng người, có tài tổ chức quân đội. Những người lính mới tuyển là những ngươi lính chưa được thao luyện, chưa quen chiến trận, nhưng họ được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của người anh hùng bách chiến bách thắng thì họ sẽ vững vàng tin tưởng, phấn khởi và phát huy được khả năng chiến đấu của họ.

Sau khi phiên chế xong đội ngũ, Nguyễn Huệ tổ chức một cuộc duyệt binh lớn tại trấn doanh Nghệ An. Trước toàn quân, Nguyễn Huệ tuyên bố:

"Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc - Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước"1.

Sau hôm duyệt binh, Nguyễn Huệ hạ lệnh tiến quân. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (tức ngày 15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Nguyễn Huệ tiến tới núi Tam Điệp. Tại đây, Nguyễn Huệ khẳng định chủ trương tạm lui quân của các tướng lĩnh Bắc Hà là đúng, ông nói:

"Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng, đó là một kế rất hay...”.

Rồi Nguyễn Huệ hạ lệnh đóng quân lại ở Tam Điệp một thời gian để tìm hiểu tình hình cụ thể của địch ở Bắc Hà, đồng thời truyền hịch kể tội quân Thanh xâm lược, gọi Tôn Sĩ Nghị là "tên ngông cuồng họ Tôn" và động viên nhân dân Bắc Hà đoàn kết, quyết tâm diệt giặc.
_____________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:48:24 am

Trong khi Nguyễn Huệ và quân đội Tây Sơn tích cực chuẩn bị phản công như vậy thì bọn quân Thanh cướp nước ở Thăng Long lại chỉ nghĩ đến nghỉ ngơi, cướp bóc, rất ngại chiến đấu, mà đám quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống thì đói khát, hoang mang tan rã đến cao độ.

Từ biên ải tới Thăng Long, không gặp một sức kháng cự mạnh mẽ nào, Tôn Sĩ Nghị cho là quân Tây Sơn sợ hãi bỏ chạy, sinh chủ quan, kiêu căng, phá bỏ cả mọi điều quân luật đã đề ra, thả lỏng cho quân lính tự do, bừa bãi "mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, đi lại lang thang không có kỷ luật gì cả. Có kẻ đi ra khỏi thành đến hơn mười dặm để kiếm củi đun, có kẻ đi tới các chợ búa dân gian để buôn bán, hàng ngày sớm đi tối về, xem như việc bình thường. Bọn tướng tá cũng ngày ngày chơi bời tiệc tùng không hề để ý gì đến việc quân”. Quân Thanh thường hoành hành cướp bóc, nạn cướp chợ, hãm hiếp không ngày nào không có. Tôn Sĩ Nghị lại cho quân đi lùng bắt những người trước đây đã làm việc với Tây Sơn. Hàng ngày, số người này bị bắt và bị giết có tới ba, bốn mươi người. Trong khoảng hơn một tháng trời, con số bị giết lên tới hàng ngàn người. Nhân dân Bắc Hà thật là khổ sở và vô cùng oán ghét quân Thanh.

Trong khi ở Bắc Hà quân Thanh cướp nước tàn bạo như vậy, quần chúng nhân dân khổ sở như vậy, bọn phản động Lê Chiêu Thống có những hành động đê hèn nhục nhã, thì bọn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định cũng có những hành động đê hèn nhục nhã không kém. Chúng cũng cầu mong quân xâm lược nước ngoài vào cướp nước, vào giày xéo lên Tổ quốc, chém giết đồng bào của chúng. Được tin quân Thanh tiến sang cướp nước ở phía Bắc, Nguyễn Ánh mừng rỡ, vội vàng cho lũ chân tay là bọn Phan Văn Trọng, Lâm Đề mang thư sang triều đình nhà Thanh tỏ lòng hoan nghênh, thán phục và đem 50 vạn cân gạo để giúp lương cho quân Thanh đánh chiếm Bắc Hà. Nhưng không may cho bọn phản động Nguyễn Ánh, hành động nhục nhã của chúng đã không đi đến kết quả nào. Các thuyền gạo của chúng ra tới biển, gặp bão, bị đắm, cả gạo và người đều làm mồi cho cá biển.

Trong lúc tình hình Bắc Hà hỗn loạn, do quân Thanh xâm lược và bọn phản động Chiêu Thống gây nên, một vài cựu thần nhà Lê đã trông thấy nguy cơ có thể bị tiêu diệt, lấy làm lo lắng và muốn có những hành động quân sự kịp thời. Ngô Tưởng Đào dâng sớ yêu cầu kịp thời tiến đánh quân Ngô Văn Sở ở Tam Điệp.

Tôn Sĩ Nghị khoác lác, từ chối: "Việc gì mà phải vội vã như vậy?... Giặc còn gầy, ta hãy nuôi cho béo, để chúng tự đến dâng thịt...”

Tuy nói ngông nghênh như vậy, nhưng thấy mọi người thúc giục, Tôn Sĩ Nghị cũng không dám để việc quân trễ tràng lắm. Hắn liền quyết định sang xuân, mồng 6 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), sẽ xuất quân và bắt đầu bố trí canh gác đề phòng. Ngoài các đạo quân lớn vẫn đóng tại các vị trí cũ, Tôn Sĩ Nghị bắt đầu đặt thêm đồn canh phòng. Từ Thăng Long về phía nam chừng 60 dặm, Tôn Sĩ Nghị chia quân đóng giữ một số nơi, đắp lũy đất lập đồn để canh gác. Những đồn mới lập ấy gồm có: một đồn ở làng Ngọc Hồi huyện Thanh Trì, một đồn ở làng Hà Hồi huyện Thường Tín, một đồn ở làng Nhật Tảo huyện Duy Tiên và một đồn ở bờ bắc sông Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm.

Nhưng kế hoạch bố trí mới của Tôn Sĩ Nghị lại chỉ là kế hoạch phòng thủ thụ động, ngồi chờ người đến đánh để đỡ, vì vậy bọn thần tử nhà Lê vẫn lo sợ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:51:51 am

Bọn vua tôi nhà Lê cũng thấy nhận định tình hình sẽ rất bi đát một khi quân Tây Sơn tiến đánh nhưng không có cách nào khác hơn là đến cầu khẩn với Tôn Sĩ Nghị để Tôn Sĩ Nghị xuất quân mà thôi.

Thấy tình hình như vậy, Tôn Sĩ Nghị cũng giật mình và cũng tự cảm thấy mình đã sai lầm. Nhưng thời cơ đã lỡ, quân luật đã trễ tràng, binh lính đã uể oải, bản thân Tôn Sĩ Nghị cũng thấy khó khăn lúng túng không biết xoay xở như thế nào, chỉ còn biết mắng nhiếc bọn bù nhìn và đùn cho bọn bù nhìn xuất quân trước.

"… Trước đây tới đón chào ta ở Lạng Sơn, sao không nói cho rõ? Bấy giờ nhân khi ta thắng, đè bẹp ngay chúng đang lúc khốn đốn, há chẳng dễ dàng hơn hay sao? Nay đã bỏ là cơ hội ấy, để chúng có thì giờ thong thả mà bày mưu đặt chước, cách trị chúng cần phải tính toán cho chu đáo không thể hấp tấp. Vả lại đã định đến sang xuân, vào ngày mồng 6 thì sẽ xuất quân, như vậy cũng không còn xa gì nữa. Nếu muốn đi gấp thì cho phép vua tôi nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được"1.

Trước sự tình như thế, bọn vua tôi Lê Chiêu Thống không còn biết nói gì nữa. Nhưng khổ cho chúng là cắt cử ai đem quân đi trước bây giờ và đi trước thì đánh chác ra làm sao. Bọn triều thần ở Thăng Long sợ chết, không tên nào dám đi, đành phải dùng lệnh vua điều động viên trấn thủ Sơn Tây, không phải là đi đánh quân Tây Sơn ở Tam Điệp mà là đem quân bản bộ ở Sơn Tây xuống đóng ở Gián Khẩu, lập thành một đồn tiền tiêu án ngữ đường tiến ra Thăng Long của quân đội Tây Sơn2.

Sự điều động quân Lê từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu như thế không phải để chủ động tiến công quân đội Tây Sơn mà chỉ có nghĩa là đi làm bia đỡ đạn, chịu chết trước để cho quân Thanh yên tĩnh, nghỉ ngơi cho đến ngày 6 tháng Giêng. Nhưng tình hình khẩn trương đã không cho phép Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh được yên tĩnh nghỉ ngơi. Ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân (tức ngày 18 tháng 1 năm 1789), thám tử của quân Thanh từ các nơi chạy ngựa về Thăng Long báo với Tôn Sĩ Nghị là quân Tây Sơn đang tuyển thêm lính ở Thanh Hóa, Nghệ An và chuẩn bị tiến đánh Bắc Hà. Tôn Sĩ Nghị vội vàng cho quân đi đóng giữ ở tất cả các nơi hiểm yếu trên khắp bốn ngả đường, còn đại quân thì sáng chiều tập dượt để chuẩn bị tác chiến. Tôn Sĩ Nghị lại cử đề đốc Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam kinh thành Thăng Long và tăng cường quân lực cho các đồn quân đã có ở mặt trận này, từ Ngọc Hồi đến bờ bắc sông Nguyệt Quyết.

Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh có chuẩn bị đề phòng thì cũng đã muộn quá rồi. Nguyễn Huệ và đại quân Tây Sơn đã tới Tam Điệp từ ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân và Nguyễn Huệ đang nghiên cứu kỹ tình hình địch, để đánh cho địch một trận thật bất ngờ, quyết thắng. Biết địch dự định ngày 6 tháng Giêng sẽ từ Thăng Long xuất quân, Nguyễn Huệ quyết định quân đội Tây Sơn sẽ đánh tan quân Thanh và tiến vào Thăng Long trước ngày mồng 6 tháng Giêng ấy. Biết quân Thanh chỉ lập một mặt trận chính là mặt trận phía nam thành Thăng Long và tập trung quân chủ lực ở đấy, đặc biệt là ở hai đồn quân kiên cố nhất là Hà Hồi và Ngọc Hồi, còn đại quân của Tôn Sĩ Nghị đóng ở hai bờ sông Hồng và mấy vạn quân Điền Châu, Triều Châu của Sầm Nghi Đống đóng ở Khương Thượng, phía tây nam thành Thăng Long, đều chỉ ở tư thế đợi chờ, đợi chờ tin tức của mặt trận phía nam và đợi chờ ngày xuất quân, ở phía bắc thành Thăng Long có một nhóm quân cần vương của Lê Chiêu Thống do Lê Duy Chi chỉ huy là một lực lượng không đáng kể một khi quân Thanh đã thất bại.
________________________________________
1, 2. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:24:21 pm

Nắm được kế hoạch và cách bố trí lực lượng của địch, Nguyễn Huệ chia quân làm năm đạo để tiến đánh quân Thanh với những nhiệm vụ cụ thể cho từng đạo quân như sau:

Đạo quân thứ nhất là đạo quân chủ lực do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, có Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân làm tiên phong và Hám hổ hầu đi hậu quân đốc chiến. Đạo quân này gồm có cả bộ binh, tượng binh, kỵ binh, làm nhiệm vụ đánh vào mặt trận chính của quân Thanh trên đường phía nam kinh thành Thăng Long.

Đạo quân thứ hai đi đường thủy do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy, tiến vào sông Lục Đầu, tiêu diệt quân cần vương của Lê Chiêu Thống ở Hải Dương, rồi tiến lên uy hiếp cạnh sườn phía đông của Tôn Sĩ Nghị đóng ở bờ sông Hồng, làm tiếp ứng cho đạo quân chủ lực và các đạo quân khác đánh vào Thăng Long.

Đạo quân thứ ba do đại đô đốc Lộc chỉ huy, cũng đi đường thủy cùng với đạo quân thứ hai. Khi vào đến sông Lục Đầu thì đạo quân thứ ba này sẽ đi gấp lên các hạt Phượng Nhân, Lạng Giang, Yên Thế để chặn đường chạy về của quân Thanh.

Đạo quân thứ tư do đại đô đốc Bảo chỉ huy, gồm tượng binh và kỵ binh, có nhiệm vụ đi theo đường Sơn Minh (huyện Ứng Hòa, Hà Tây ngày nay) ra làng Đại Áng, ở phía tây nam đồn Ngọc Hồi, để phối hợp với đạo quân chủ lực tiến công đồn này, vừa là vị trí quan trọng nhất của mặt trận phía nam kinh thành Thăng Long, vừa là bản doanh của viên tướng chỉ huy mặt trận là đề đốc Hứa Thế Hanh.

Đạo quân thứ năm cũng gồm tượng binh và kỵ binh do đô đốc Long chỉ huy. Đạo quân này có nhiệm vụ đánh bất ngờ vào Thăng Long, tiến vào Thăng Long trước tất cả các đạo quân khác, làm cho toàn bộ quân địch ở tất cả các mặt trận xung quanh Thăng Long đều hoang mang tan rã mau chóng. Đạo quân thứ năm sẽ đi theo đường huyện Chương Đức (tức huyện Chương Mỹ, Hà Tây ngày nay) tiến theo hướng Sơn Tây nhưng rẽ quặt sang làng Nhân Mục, rồi tạt ngang sang tập kích đồn quân Điền Châu, Triều Châu của Sầm Nghi Đống ở Khương Thượng, liền sát kinh thành Thăng Long về phía tây nam. Tiêu diệt xong đồn Khương Thượng, đạo quân thứ năm của đô đốc Long sẽ theo cửa tây, tiến ngay vào Thăng Long, một mặt chiếm đóng kinh thành, một mặt tiếp tục tiến công vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở Tây Long phía đông kinh thành Thăng Long và chặn bắt tàn quân Thanh từ phía Ngọc Hồi và các đồn khác ở mặt trận phía nam chạy về Thăng Long.

Sau khi phân phối đội ngũ và trao nhiệm vụ cho các đạo quân, Nguyễn Huệ hạ lệnh ngày 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (tức ngày 25 tháng 1 năm 1789) sẽ xuất quân đến đánh các đồn tiền tiêu của giặc. Ngày hôm ấy, trước khi lên đường, Nguyễn Huệ cho làm tiệc khao quân và nói với tướng sĩ rằng:

"Nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên đán trước, đợi đến mồng 7 tháng Giêng vào thành Thăng Long, sẽ mở tiệc lớn. Các người hãy ghi lấy lời ta nói xem có đúng thế không... ".

Rồi sau đó, lễ "thệ sư" được tổ chức trong không khí hồ hởi quyết chiến của toàn quân, giữa đêm giao thừa, Quang Trung đã đọc vang lời hịch:

      Đánh cho để dài tóc
      Đánh cho để đen răng
      Đánh cho nó chích luân bất phản
      Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
      Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.


Hoàng đế Quang Trung vừa dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu, rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp rút lên đường ra Bắc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:26:38 pm

Câu hỏi 13: Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa là một trong những chiến thắng chói lọi, rực rỡ nhất, có ý nghĩa quyết định trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Toàn bộ 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh đã bị đánh tan tành và bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Hãy trình bày trận quyết chiến chiến lược này?
Trả lời:


Vào đêm giao thừa kết thúc năm cũ, đón chào năm mới - năm Kỷ Dậu (1789), tại cung Tây Long bên bờ sông Nhị, Tôn Sĩ Nghị cùng bọn tướng soái quân Thanh đang mở yến tiệc hát xướng để đón xuân và mừng "chiến thắng". Trước đó, Lê Chiêu Thống cũng đã dâng lên "quan đại soái của thiên triều" lễ vật nhiều gấp đôi lễ thết sứ thần sang phong vương. Khắp các doanh trại, đồn lũy, quân địch đều chúi đầu vào những bữa chè chén phè phỡn hay cờ bạc say mê. Bên kia biên giới, tại kinh thành nhà Thanh, theo lệnh vua Càn Long, câu đối Tết dán ở cung Trùng Hoa năm đó đều lấy đề tài "Bình định An Nam" và được sao lục gửi cho Tôn Sĩ Nghị xem. Vua tôi, tướng lính nhà Thanh đang ngây ngất trong không khí "chiến thắng" và tết nhất. Chính vào lúc đó - giữa đêm 30 Tết - đạo quân chủ lực của Quang Trung vượt sông Gián, mở màn cuộc đại phá quân Thanh. Tiền quân Tây Sơn bất ngờ tiến công tiêu diệt đồn tiền tiêu của địch ở Gián Khẩu. Đồn này do một đội quân Lê Chiêu Thống đóng giữ. Quân địch hoảng sợ, tan vỡ và bỏ chạy ngay từ đầu. Quân Tây Sơn thừa thắng tiến lên nhanh chóng tiêu diệt luôn các đồn quân Thanh ở bờ bắc sông Nguyệt Quyết và Nhật Tảo. Những toán quân Thanh do thám "từ đằng xa trông thấy bóng cũng chạy nốt". Quang Trung ra lệnh truy kích ráo riết. Quân Tây Sơn đuổi đến Phú Xuyên (Hà Tây) thì bắt gọn được toàn bộ tàn quân và bọn lính do thám của địch, không để tên nào trốn thoát.

Quân Tây Sơn đã tiến đến Phú Xuyên (cách Thăng Long trên 30 kilômét), phá tung gần hai phần ba tuyến phòng thủ của địch mà quân Thanh từ đồn Hà Hồi trở ra vẫn không biết gì hết. Bằng lối đánh bất ngờ, tiêu diệt gọn, truy kích triệt để, Quang Trung đã phong tỏa tin tức, giấu kín được cuộc tiến công của mình để tiếp tục phát huy thời cơ, tận dụng yếu tố bất ngờ.

Nửa đêm ngày mồng 3 Tết Kỷ Dậu (tức ngày 28 tháng 1 năm 1789), quân Tây Sơn bí mật bao vây đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Tây). Đây là một đồn quan trọng của quân Thanh cách Thăng Long khoảng 20 kilômét.

Hà Hồi là một làng nằm bên đường thiên lý. Con đường giao thông cổ này ở về phía đông và cách quốc lộ số 1 ngày nay khoảng 200 - 300 mét. Trạm Hà Hồi là một trạm dịch trên đường thiên lý ở về phía bắc làng. Đồn quân Thanh đóng trên một khu đất cao ở phía nam làng, sát bên đường thiên lý. Ở đây, quân địch không xây đắp chiến lũy, công sự mà chỉ dựa vào địa hình và làng mạc để lập doanh trại trú quân. Đồn Hà Hồi chiếm lĩnh một vùng đất tương đối cao, phía bắc dựa vào xóm làng, phía nam có thể khống chế con đường thiên lý từ trong ra.

Theo kế hoạch của Quang Trung, khoảng nửa đêm, quân Tây Sơn lặng lẽ vây chặt đồn trại của địch rồi bắc loa gọi hàng. Khắp bốn mặt đồn, "tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người". Quang Trung chỉ sử dụng một bộ phận của đạo quân chủ lực, nhưng bằng hành động bí mật, bất ngờ, kết hợp bao vây uy hiếp dữ dội với biện pháp gọi hàng, làm cho quân địch "ai nấy rụng rời, sợ hãi, liền xin ra hàng”. Toàn bộ quân địch trong đồn từ chỗ giật mình hoảng hốt đến choáng váng khiếp sợ và đành phải bó tay đầu hàng. Chỉ trong chốc lát, quân Tây Sơn đã diệt gọn một đồn quan trọng của địch, thu được rất nhiều vũ khí, lương thực.

Quân Tây Sơn tạm đóng quân ở phía nam Hà Hồi, trên một khu đất cao ráo, rộng rãi gồm cánh đồng Cung và những cánh đồng xung quanh. Đây là vị trí tập kết của đạo quân chủ lực trước khi bước vào trận quyết chiến tiêu diệt đồn Ngọc Hồi. Tại đây, Quang Trung đã tìm hiểu tỉ mỉ sự bố phòng của địch, theo dõi những hành động mới của kẻ thù để bổ sung và hoàn chỉnh hơn nữa kế hoạch công đồn, nhằm giành thắng lợi triệt để cho trận chiến đấu quyết định sắp tới.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:27:53 pm

*
*   *


Ngọc Hồi (thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây) là một làng thành lập từ lâu đời. Vào đời Trần, Ngọc Hồi là một ấp thuộc xã Vĩnh Khang và đã có ba anh em họ Lỗ có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên. Đình làng Ngọc Hồi thờ ba người anh hùng địa phương đó.

Đồn Ngọc Hồi của quân Thanh được xây dựng trên cánh đồng phía nam xóm làng, cách Thăng Long khoảng 14 kilômét. Di tích của đồn lũy hiện nay không còn, nhưng còn được ghi nhớ trong ký ức của nhân dân địa phương và để lại dấu ấn trong một số tên đất ở vùng này như "đồng đồn", "nền đồn", "cây đa đồn"... ’’Đồng đồn" mà nhân dân còn ghi nhớ có lẽ là bộ phận quan trọng nhất trong phạm vi đồn lũy và "nền đồn" có thể là sở chỉ huy của đề đốc Hứa Thế Hanh.

Đồn Ngọc Hồi chiếm lĩnh một địa hình tương đối cao và giữ một vị trí trọng yếu có thể khống chế con đường thiên lý, ngăn chặn cuộc tiến công của quân Tây Sơn từ Tam Điệp ra, bảo vệ cửa ngõ phía nam Thăng Long.

Ngoài đường thiên lý chạy qua làng Ngọc Hồi, còn có một con đường men theo bờ nam sông Tô Lịch, nhân dân địa phương thường gọi là "đường cái cao". Từ Ngọc Hồi, con đường này qua các làng ven sông như Yên Kiện, Lạc Thị, Ích Vĩnh, Quỳnh Đô rồi nối với đường thiên lý ở Văn Điển. Phía đông, cách Ngọc Hồi không xa, khoảng 2 kilômét, là đê sông Nhị, đồng thời cũng là một con đường bộ lên Thăng Long.

Với vị trí và những đường giao thông như trên, quân Thanh ở đồn Ngọc Hồi, mặt trước (phía nam) có thể kiểm soát và khống chế chặt chẽ con đường thiên lý trong ra, sau lưng (phía bắc) có nhiều đường - đường thiên lý, "đường cái cao", đường đê sông Hồng - bảo đảm sự liên hệ và chi viện kịp thời của đại bản doanh và quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long.

Ngọc Hồi là một đồn lũy kiên cố được Tôn Sĩ Nghị đặc biệt chú ý. Đây là vị trí then chốt trong hệ thống phòng thủ của địch ở phía nam Thăng Long và cũng là sở chỉ huy của đề đốc Hứa Thế Hanh - tướng chỉ huy mặt trận này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:28:38 pm

Tại đồn Ngọc Hồi, quân Thanh có đắp lũy đất để phòng vệ. Hướng nam là hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Chiến lũy phòng vệ có lẽ cũng tập trung vào hướng này. Ở đây có cửa lũy phía nam là nơi quân địch canh phòng, bảo vệ cẩn mật nhất. Trên mặt chiến lũy, chúng đặt nhiều đại bác, tạo nên một hỏa lực mạnh.

Phía ngoài chiến lũy, quân Thanh còn bố trí một bãi chướng ngại khá phức tạp và nguy hiểm. Chúng cắm chông sắt, làm cạm bẫy và đặt địa lôi. Bãi chướng ngại này bao quanh đồn nhưng cũng tập trung chủ yếu vào hướng nam. Riêng mặt đông - nam có đầm Thọ Am, trước đây khá sâu, hẳn quân địch đã sử dụng cái đầm này như một đoạn hào che chở một mặt đồn lũy.

Phía trong lũy, chúng bố trí doanh trại của quân lính và sở chỉ huy của đề đốc Hứa Thế Hanh.

Quân địch đã xây dựng đồn Ngọc Hồi thành một cứ điểm phòng ngự bao gồm bãi chướng ngại ở ngoài cùng rồi đến chiến lũy và phía trong là doanh trại. Sức phòng thủ mạnh và tính kiên cố của đồn lũy này là ở chỗ biết kết hợp chặt chẽ giữa chướng ngại vật, chiến lũy với một hỏa lực khá lớn (gồm trận địa địa lôi trong tuyến chướng ngại và trận địa đại bác trên mặt chiến lũy) và một lực lượng phòng thủ rất mạnh.

Số quân Thanh đóng ở đồn Ngọc Hồi có khoảng 3 vạn quân tinh nhuệ. Số quân này lấy từ trong đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị. Thành phần quân đội gồm bộ binh và kỵ binh, trong đó có một đội kỵ binh thiện chiến. Quân lính được trang bị tốt. Ngoài gươm, đao, giáo, mộc, cung tên..., đặc biệt có nhiều hỏa khí gồm: địa lôi, súng tay, đại bác và ống phun hỏa mù. Quân địch còn được phân phát những tấm lá chắn bằng da trâu sống để sẵn sàng chống lại hỏa hổ của quân Tây Sơn.

Trong bốn đạo quân Thanh, đạo quân chủ lực của địch gồm quân lính Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị trực tiếp chỉ huy, dưới có đề đốc Hứa Thế Hanh giữ chức phó tướng. Trong bộ chỉ huy đạo quân này còn có tổng binh Thượng Duy Thăng, phó tướng Khánh Thành đốc suất quân lính Quảng Tây và tống binh Trương Triều Long, Lý Hóa Long đốc suất quân lính Quảng Đông. Trương Triều Long là tướng chỉ huy quân tiên phong và Thượng Duy Thăng là tướng chỉ huy quân tả dực của Tôn Sĩ Nghị. Trong số năm tướng lĩnh cao cấp thuộc đạo quân chủ lực của mình, Tôn Sĩ Nghị đã điều đến ba người về đồn Ngọc Hồi và mặt trận phía Nam là: đề đốc Hứa Thế Hanh, tổng binh Trương Triều Long và Thượng Duy Thăng. Điều đó càng chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của Tôn Sĩ Nghị đối với mặt trận phía Nam mà đồn Ngọc Hồi giữ vai trò quyết định.

Đồn Ngọc Hồi là nơi tập trung nhiều quân tinh nhuệ và tướng giỏi của Tôn Sĩ Nghị. Với vị trí then chốt của nó, nhiệm vụ của cứ điểm này là sẵn sàng chi viện cho các đồn phía Nam khi bị tiến công và phải chặn đứng rồi đánh lui mọi cuộc tiến công của quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị tin rằng quân Tây Sơn sau khi đã phải đánh phá nhiều đồn binh từ Gián Khẩu đến Hà Hồi, thì khó còn đủ sức đánh vào một đồn lũy mạnh và kiên cố như đồn Ngọc Hồi. Hơn nữa, nếu đồn Ngọc Hồi bị tiến công thì quân chủ lực ở Thăng Long cũng có thể điều động kịp thời xuống tăng viện, đánh lui đối phương.

Đồn Ngọc Hồi được xây dựng trong khoảng tháng Chạp năm Mậu Thân (từ 27-12-1788 đến 25-1-1789), nhưng được củng cố và tăng cường thêm nhiều trong những ngày cuối năm đó và đầu năm sau.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười, 2016, 10:30:46 pm

Ngày 23 tháng Chạp (tức ngày 18 tháng 1 năm 1789), khi biết tin quân Tây Sơn đang trên đường tiến ra Bắc, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cho "đại quân sáng chiều tập dượt để chuẩn bị tác chiến” và tăng thêm quân đóng giữ cho các đồn lũy.

Ngày mồng 1 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (tức ngày 26 tháng 1 năm 1789), Tôn Sĩ Nghị lại "phái thêm quân sĩ chia nhau đi tiếp ứng các đồn ở trên bốn ngả đường để phòng giữ và vạch rõ kế hoạch cho các nơi ứng cứu nhau như thế nào"

Tuy có lo đề phòng trước cuộc tiến công của quân Tây Sơn vào dịp tết nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn rất chủ quan vì hắn đánh giá thấp lực lượng của đối phương và quá tin tưởng vào sức mạnh của quân Thanh cùng với sự bố trí phòng thủ quanh Thăng Long, nhất là hệ thống phòng thủ phía nam.

Từ Thăng Long đến Hà Hồi, trên đoạn đường thiên lý dài khoảng 20 kilômét này, ngoài đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi còn có những đồn binh nhỏ đóng ở Bình Vọng (Thường Tín, Hà Tây), Lưu Phái (Thanh Trì, Hà Nội), Văn Điển (Thanh Trì, Hà Nội). Theo sự bố trí của địch thì đồn Bình Vọng giữ vị trí như đồn tiền tiêu của Ngọc Hồi, còn đồn Lưu Phái, Văn Điển là những đồn bảo vệ mặt sau của Ngọc Hồi và là những nhịp cầu liên hệ với đại bản doanh ở Thăng Long.

Sau khi đồn Hà Hồi bị tiêu diệt, sáng ngày mồng 4 tết (ngày 29 tháng 1 năm 1789), Tôn Sĩ Nghị nhận được tin cáo cấp của đồn Ngọc Hồi: "Quan quân ở đồn Hà Hồi đều bị quân Tây Sơn đánh úp bắt hết cả. Ở đấy cách đồn Ngọc Hồi không xa, sớm chiều thế nào cũng bị đánh tới"1. Tin sét đánh đó làm cho quân Thanh vô cùng hoảng hốt. Chúng nói với nhau: "Thật là tướng ở trên trời xuống, quân ở dưới đất chui lên"2. Bản thân Tôn Sĩ Nghị tuy có phòng bị trước, nhưng cũng hết sức kinh ngạc trước lối đánh thần tốc của quân Tây Sơn. Khi được tin cấp báo, hắn "rút kiếm chém xuống đất nói rằng: Sao mà thần đến thế!".

Tôn Sĩ Nghị cố trấn tĩnh để tìm cách đối phó. Trước hết, hắn ra lệnh lập tức tăng viện cho đồn Ngọc Hồi. Lãnh binh Quảng Tây là Thang Hùng Nghiệp và viên hàng tướng Tây Sơn là Phan Khải Đức được lệnh đem một đội quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống xuống tăng cường lực lượng cho đồn Ngọc Hồi. Tôn Sĩ Nghị còn đặc biệt phái 20 kỵ binh trong đội hầu cận của hắn theo Thang Hùng Nghiệp xuống Ngọc Hồi với nhiệm vụ "trong khoảng chốc lát, phải tiếp tục báo tin về ngay".

Tôn Sĩ Nghị đã tập trung tất cả sự chú ý của mình vào mặt trận phía Nam. Hắn muốn trực tiếp theo dõi và nắm chắc diễn biến tình hình của mặt trận xung yếu này để sử dụng một cách kịp thời và có hiệu quả nhất đạo quân chủ lực mà hắn vẫn giữ nguyên vẹn trong tay.
_____________________________________
1, 2. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:48:43 am

*
*   *


Tối ngày mồng 3, sáng mồng 4 tết, đạo quân chủ lực của Quang Trung đã tập kết đầy đủ tại cánh đồng Cung ở phía nam Hà Hồi. Cũng vào khoảng thời gian đó, theo kế hoạch hiệp đồng đã vạch ra ở Tam Điệp, đạo quân của đại đô đốc Bảo cũng tập kết tại Đại Áng (xã Thanh Hưng, Thường Tín, Hà Tây) ở phía tây - nam Ngọc Hồi.

Đạo quân của đại đô đốc Bảo đi theo con đường núi ra Vân Đình (Ứng Hòa, Hà Tây), rồi theo con đường ngày nay là quốc lộ 22 ra ngã tư Vác (Thanh Oai, Hà Tây) và từ đó đi theo con đường qua các làng Canh Hoạch, Tri Lễ, Úc Lý, Dư Dụ (đều thuộc Thanh Oai, Hà Tây) rồi qua cầu Sấu trên sông Nhuệ đến Đại Áng. Đây là một con đường giao thông nhỏ ở địa phương đã có từ lâu đời và đến nay vẫn còn được sử dụng. Con đường này không quan trọng lắm và không cách xa con đường thiên lý (con đường hành quân của đạo quân chủ lực) bao nhiêu. Trục vận động và địa điểm tập kết thể hiện rõ ý định của Quang Trung sử dụng đạo quân của đại đô đốc Bảo như một lực lượng tiếp ứng cho đạo quân chủ lực. Đạo quân này sẵn sàng tiếp ứng cho đạo quân chủ lực khi cần thiết trên hướng tiến công chủ yếu, nhất là trong trận tiến công tiêu diệt đồn Ngọc Hồi sắp tới. Trên đường vận động của đạo quân này lại không có qua một đồn lũy nào của địch (của quân Thanh cũng như của quân Lê Chiêu Thống), điều đó càng bảo đảm sự an toàn, bí mật và bất ngờ cho đội quân tiếp ứng.

Quang Trung quyết định sử dụng đạo quân của đại đô đốc Bảo vào trận công phá và tiêu diệt đồn Ngọc Hồi. Sự phối hợp hai đạo quân - đạo quân chủ lực và đạo quân tiếp ứng - đã cho phép Quang Trung tạo nên một ưu thế binh lực tương đối so với quân địch. Tuy vậy, trước mặt quân Tây Sơn là một đồn lũy phòng thủ kiên cố có công sự bảo vệ, có binh lực tập trung, hỏa lực mạnh. Quân địch lại vừa được tăng cường, sẵn sàng chống cự lại cuộc tiến công của quân Tây Sơn và quyết tâm bảo vệ cứ điểm then chốt này. Phía sau, quân chủ lực của địch ở đại bản doanh cách đấy không xa - 14 kilômét - cũng đã ở trong tư thế sẵn sàng chi viện để đẩy lùi và đánh tan cuộc tiến công của quân Tây Sơn.

Đối với vua Quang Trung, kế hoạch chung là không những phải tiêu diệt đồn Ngọc Hồi mà còn phải tiêu diệt thật nhanh, gọn để phối hợp nhịp nhàng với các hướng tiến công thọc sâu và bao vây vu hồi khác. Có như vậy, hướng tiến công chủ yếu mới phát huy được tác dụng, tạo thời cơ cho đạo quân của đô đốc Đông bất ngờ tiêu diệt đồn Đống Đa và làm tê liệt hành động ứng cứu của đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị.

Nhiệm vụ và yêu cầu chiến đấu đề ra trước mắt vị tổng chỉ huy quân đội Tây Sơn nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn và hết sức khẩn trương. Từ trước khi xuất phát ở Tam Điệp, với tầm mắt nhìn xa thấy rộng của nhà quân sự thiên tài và kinh nghiệm dày dạn của cuộc đời chiến đấu 17 năm liền (1771-1788), Quang Trung đã vạch ra một kế hoạch phản công chiến lược hoàn chỉnh, chu đáo, trong đó có kế hoạch tiêu diệt đồn Ngọc Hồi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:49:30 am

Căn cứ vào sự bố trí lực lượng và diễn biến của trận đánh thì kế hoạch công phá đồn Ngọc Hồi như sau:

- Đại bộ phận đạo quân chủ lực do Quang Trung đích thân chỉ huy sẽ mở cuộc tiến công chính diện và mãnh liệt vào mặt nam đồn Ngọc Hồi. Toàn bộ lực lượng tượng binh, đại bộ phận bộ binh, kỵ binh và hỏa pháo được tập trung vào mũi tiến công quyết liệt này. Quân Tây Sơn không bao vây bốn mặt đồn lũy của địch mà dồn tất cả sức mạnh của mình đột phá mặt phòng thủ phía nam của địch rồi nhanh chóng đột nhập, phát triển vào bên trong. Nhiệm vụ của mũi tiến công này là phá tan sự phòng thủ của địch ở đồn Ngọc Hồi và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ở đây. Số quân địch còn lại có nhiều khả năng phải tìm đường tháo chạy về Thăng Long để hợp với quân chủ lực ở đại bản doanh tìm cách chống đỡ. Quân Tây Sơn không bao vây và tiến công mặt bắc đồn lũy là nhằm mở sẵn hướng tháo chạy đó cho quân địch. Mũi tiến công chủ yếu sau khi hoàn thành nhiệm vụ diệt đồn sẽ tiến hành truy kích.

- Số quân địch từ Ngọc Hồi chạy về Thăng Long phải đi theo hoặc con đường thiên lý qua đồn Lưu Phái, Văn Điển hoặc đường đê sông Nhị, hoặc "đường cái cao" theo bờ sông Tô Lịch qua Quỳnh Đô lên Văn Điển. Chúng có thể tháo chạy theo một trong ba con đường đó mà thuận lợi nhất là con đường thiên lý, cũng có thể tháo chạy tán loạn theo cả ba con đường. Quang Trung quyết định chọn đầm Mực - một cái đầm lớn, lầy lội ở làng Quỳnh Đô - làm trận địa tiêu diệt bọn quân địch tháo chạy. Con "đường cái cao" tự nó đã dẫn quân địch vào cạm bẫy. Một bộ phận quân Tây Sơn tách ra từ đạo quân chủ lực, trước đó đã được lệnh vu hồi vào phía sau đồn địch, bí mật bố trí sẵn ở một vị trí về phía đông - bắc Ngọc Hồi để ngăn chặn cả hai hướng - đường thiên lý và đê sông Nhị - buộc quân địch phải chạy dạt về phía tây theo hướng đầm Mực. Để tiết kiệm binh lực, Quang Trung chỉ sử dụng một lực lượng nhỏ - chủ yếu là bộ binh - nhưng biết "nghi binh" đúng lúc, đúng chỗ nhằm hư trương thanh thế, uy hiếp tinh thần bọn tàn quân địch, thực hiện nhiệm vụ vu hồi chặn địch.

- Đạo quân của đại đô đốc Bảo từ Đại Áng được lệnh bí mật tiến lên, sẵn sàng chi viện cho đạo quân chủ lực nếu việc công phá đồn Ngọc Hồi gặp khó khăn, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là bày sẵn một thế trận bao vây, tiêu diệt toàn bộ tàn quân địch ở đầm Mực (làng Quỳnh Đô). Quang Trung muốn giữ bí mật đến cùng đạo quân tiếp ứng của mình và mỗi khi tung vào chiến đấu sẽ tạo nên những đòn bất ngờ khủng khiếp cho quân thù.

Trong kế hoạch tác chiến của Quang Trung, ba cánh quân Tây Sơn phối hợp chặt chẽ với nhau trong một thế trận liên hoàn, trong đó mỗi cánh quân đảm nhiệm một hướng tiến công, một nhiệm vụ cụ thể và kế tiếp hoàn thành nhiệm vụ một cách liên tục, nhịp nhàng, ăn khớp với nhau. Quân địch dù có đề phòng trước, sự bất ngờ về thời gian không còn tác dụng, nhưng vẫn bị bất ngờ trước lối đánh lợi hại của ta. Quân địch vừa bị đánh mặt trước vừa bị vu hồi bao vây mặt sau, vừa bị đánh tan bằng một trận tiến công trận địa ác liệt không sao đương nổi, vừa bị đẩy ra khỏi đồn lũy và bị tiêu diệt gọn trên đường vận động bằng những mũi truy kích phía sau, mũi nghi binh chẹn đường phía đông - bắc và một trận địa bao vây tiêu diệt hết sức bất ngờ ở đầm Mực.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:52:23 am

Quang Trung quyết định cuộc tiến công sẽ bắt đầu vào mờ sáng ngày mồng 5 tháng Giêng (ngày 30 tháng 1 năm 1789) cùng một lúc với cuộc tiến công của đạo quân đô đốc Đông vào đồn Đống Đa.

Cả ngày mồng 4, Quang Trung tiếp tục công việc chuẩn bị chu đáo cho trận quyết chiến và tổ chức hiệp đồng chặt chẽ với đạo quân của đại đô đốc Bảo. Trong ngày mồng 4, Quang Trung chỉ sử dụng những đội quân nhỏ mở những trận đánh khiêu khích vào vùng ngoại vi Ngọc Hồi. Mục đích của những trận đánh đó là để lôi cuốn hơn nữa sự chú ý của Tôn Sĩ Nghị vào mặt trận phía nam; tăng thêm sự bất ngờ cho đòn vu hồi thọc sâu của đô đốc Đông và đồng thời, gây ra tình trạng chờ đợi căng thẳng cho quân địch ở Ngọc Hồi.

Cũng trong ngày mồng 4, tại địa điểm tập kết ở phía nam Hà Hồi, Quang Trung đã tổ chức ra đội quân xung kích làm nhiệm vụ đột phá vào trận địa phòng thủ của địch. Đội quân xung kích này gồm 600 chiến sĩ tuyển lựa trong số những nghĩa binh khỏe mạnh và dũng cảm nhất. Quang Trung còn chuẩn bị cả những phương tiện chống lại hỏa lực của địch. Đó là những tấm mộc lớn do ba tấn ván gỗ ghép chặt lại, phía ngoài quấn rơm ướt dày. Những tấm ván gỗ đó gồm ván phản, cửa nhà, cửa đình, cửa chùa... mà nhân dân địa phương đã tự nguyện đóng góp giúp quân đội đánh thắng giặc ngoại xâm.

Ngày mồng 4 tết năm Kỷ Dậu (ngày 29 tháng 1 năm 1789), quân Thanh ở Ngọc Hồi và Thăng Long đã phải vội vàng chấm dứt "yến tiệc vui mừng" và được lệnh chuyển sang tư thế sẵn sàng chiến đấu để đối phó với cuộc tiến công của quân Tây Sơn từ Hà Hồi lên. Bọn chúng "nào hay cuộc vui chưa tàn, cơ trời đã đổi"1.

Đồn Ngọc Hồi chỉ cách Hà Hồi 6 kilômét. Quân địch ở đây biết rằng "sớm chiều thế nào cũng bị đánh tới"2 . Vì chỉ có ba ngày đêm - từ ngày mồng 1 đến tối ngày mồng 3 tết - quân Tây Sơn đã tiến sâu vào trận tuyến phòng thủ của chúng gần 70 kilômét, tiêu diệt hàng loạt đồn binh từ Gián Khẩu đến Hà Hồi.

Nhưng trong cả ngày mồng 4, chúng chỉ thấy "quân lưu động của giặc (tức quân Tây Sơn) đến trước, hễ đánh trận nào thì thua luôn trận ấy”. Đó là những trận tiến công nhỏ của quân Tây Sơn vào các đồn tiền tiêu và ngoại vi của cứ điểm Ngọc Hồi. Những trận đánh đó có gây cho quân địch một số thiệt hại đáng kể. Nhưng mục đích và tác dụng chủ yếu của những trận tiến công trong ngày mồng 4 là làm cho quân địch phải dồn sức về mặt trận phía nam, phải chờ đợi một cách bị động, căng thẳng, không hiểu được ý đồ của đối phương. Hứa Thế Hanh không dám chủ động tiến công. Hắn chỉ phái đội quân của bù nhìn Lê Chiêu Thống do Phan Khải Đức vừa đem xuống tăng viện cùng với những đội quân do Lê Duy Chi, Trần Quang Châu chỉ huy, ra chống đỡ. Hắn ra lệnh cho quân Thanh ở các doanh trại chỉ được "cầm cự, không được kinh động".

Ngày mồng 4 trôi qua.
____________________________________
1, 2. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:54:15 am

Quân địch có phần mệt mỏi, hoang mang. Chúng mệt mỏi vì suốt một ngày nơm nớp lo sợ cuộc tiến công lớn của quân Tây Sơn, chờ đợi hết sức căng thẳng. Chúng hoang mang vì không hiểu tại sao đối phương lại không tiến công. Tư tưởng chủ quan, khinh địch lại được dịp phục hồi trong đầu óc của "vị nguyên soái thiên triều" Tôn Sĩ Nghị. Đề đốc Hứa Thế Hanh thì dự định ngày mai sẽ mở cuộc phản công lớn. Hắn tuyên bố "Đến sáng mai, hội quân lại đánh, xem ta quét sạch quân Nam".

Ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (ngày 30 tháng 1 năm 1789) lúc trời còn chưa sáng, bất thình lình quân Tây Sơn tiến công mãnh liệt vào mặt nam đồn Ngọc Hồi.

Từ nơi tập kết ở phía nam Hà Hồi, đạo quân chủ lực bí mật xuất phát vào khoảng nửa đêm. Trước lúc xuất trận bước vào cuộc chiến đấu hết sức ác liệt và có ý nghĩa quyết định này, Quang Trung một lần nữa động viên quân sĩ, nâng cao ý chí quyết chiến quyết thắng cho toàn quân. Quang Trung hạ lệnh không mang theo lương thực, bao nhiêu quân lương bỏ lại hết để biểu thị quyết tâm chiến đấu đến cùng, coi như lời thề: lần ra trận này phải thắng và chỉ được thắng mà thôi. Quang Trung còn buộc khăn vàng vào cổ và cưỡi voi ra trận trực tiếp chỉ huy và đốc chiến. Các đội ngũ quân Tây Sơn đều giương cao lá cờ đỏ1 và quân sĩ đều chít khăn đỏ lên đầu, biểu thị khí thế quyết chiến quyết thắng cao độ.

Quân Tây Sơn tràn qua đồn Bình Vọng, một đồn tiền tiêu của địch, xông thẳng đến đồn Ngọc Hồi.

Mở đầu cuộc tiến công, Quang Trung tung đội tượng binh gồm hơn 100 voi chiến ra trận. Đây là một binh chủng xung phong, đột phá rất lợi hại. Một con voi chiến lúc đó có thể chở được 13 - 14 người kể cả quản tượng. Ngoài cung nỏ, giáo, lao, tượng binh Tây Sơn còn được trang bị thêm nhiều thứ hỏa khí như súng tay, hỏa hổ và đặc biệt đặt cả đại bác trên mình voi. Trước khi sang xâm lược nước ta, Tôn Sĩ Nghị đã nghe nói về binh chủng này và đã nghiên cứu cách đề phòng, chống đỡ. Phía ngoài đồn Ngọc Hồi, quân địch bố trí một bãi chướng ngại dày đặc trong đó có chông sắt và địa lôi, nhằm ngăn cản tượng binh của ta từ xa, không cho tiến sát vào chiến lũy.

Nhưng trước cả một đội tượng binh lớn mạnh với hơn 100 voi chiến đang hùng hổ xông đến, trông từ xa như "quả núi di động", quân Thanh vẫn không khỏi hoảng sợ. Đề đốc Hứa Thế Hanh phải vội vàng trấn an tinh thần quân lính và lập tức ra lệnh cho đội kỵ binh thiện chiến - binh chủng tinh nhuệ nhất của quân Thanh - lao ra khỏi cửa lũy nghênh chiến. Nhưng vừa trông thấy đoàn voi chiến của quân Tây Sơn, ngựa quân Thanh đã "sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau”. Chưa đánh, đội kỵ binh thiện chiến của địch đã rối loạn cả đội hình.

Quân Tây Sơn thừa thắng thúc voi đuổi theo. Quân địch càng hoảng sợ, tất cả rút lui vào trong lũy cố thủ. Chúng dựa vào hệ thống chiến lũy, từ trên cao bắn đại bác và cung nỏ ra rất dữ dội để cản đường tiến của đoàn quân voi Tây Sơn.

Nhưng, trước hỏa lực của địch, "súng và tên bắn ra như mưa", thế trận và đội ngũ quân Tây Sơn vẫn vững vàng.
____________________________________
1. Từ ngày khỏi nghĩa năm 1771, nghĩa quân Tây Sơn đã lấy cờ đỏ làm ngọn cờ chiến đấu của mình. Lá cờ đỏ đó được sử dụng suốt trong quá trình phát triển và thắng lợi của phong trào Tây Sơn, kể cả cuộc kháng chiến chống Thanh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:55:40 am

Theo lệnh của Quang Trung, đội voi chiến lập tức chia ra làm hai cánh đánh vòng về hai phía tả và hữu để mở đường cho đội xung kích lao lên. Đây là một đội quân cảm tử gồm 600 người, chia làm 20 toán. Mỗi toán gồm 10 chiến sĩ giắt dao ngắn bên hông, khiêng một tấm mộc lớn bằng gỗ phía ngoài quấn rơm ướt và 20 chiến sĩ cầm vũ khí tiến theo sau. Hai mươi toán quân cảm tử dàn ngang thành thế trận chữ "nhất", phía trước là 20 tấm mộc kết liền với nhau như một bức tường thành di động, xông thẳng vào trận địa của địch. Những tấm mộc bọc rơm ướt có tác dụng chống đỡ đại bác và cung tên của địch từ trong chiến lũy bắn ra, che chở cho đội quân xung kích tiến lên

Khi đội xung kích tiến gần đến chiến lũy, quân Thanh lợi dụng gió mùa đông - bắc, dùng hỏa đồng (một thứ ống phun khói lửa) phun hỏa mù ra nhằm làm rối loạn trận địa quân Tây Sơn. Trong chốc lát "khói tỏa mù trời, cách gang tấc không trông thấy gì"1. Nhưng bãi chướng ngại đại bác, cung tên và cả hỏa mù nữa không thể cản được bước tiến của những chiến sĩ cảm tử trong đội quân xung kích.

Áp sát chân lũy, đội quân xung kích liền bỏ các tấm mộc xuống, dùng đoản đao và các thứ vũ khí mang theo, xông lên phá cửa lũy, chặt rào rồi nhanh chóng đột nhập vào bên trong khu doanh trại của địch. Quân địch chống trả quyết liệt và tổ chức phản kích hòng đẩy quân Tây Sơn ra ngoài, chiếm lại cửa lũy. Nhưng đội quân xung kích Tây Sơn kiên quyết giữ vững cửa đột phá để mở đường cho đại quân tiến lên.

Quân chủ lực Tây Sơn dưới sự đốc chiến trực tiếp của Quang Trung, lập tức xung phong vào đồn lũy của địch. Bộ binh, kỵ binh, tượng binh của ta ào ạt xông vào cửa lũy đã mở. Thế xung trận của quân Tây Sơn mạnh như triều dâng bão cuốn.

Từ hai bên sườn đồn Ngọc Hồi, đội tượng binh cũng đồng thời đánh ập vào. Quân ta lùa voi, xông pha tên đạn, nhổ rào lũy tiến vào. Từ trên mình voi, quân ta dùng đại bác và hỏa hổ đốt phá đồn lũy, doanh trại địch và thiêu cháy quân địch.

Quân Thanh vốn đã khiếp sợ những con voi chiến hùng hổ của Tây Sơn, nay lại càng khiếp sợ hỏa lực lợi hại của binh chủng này. Đó là hỏa hổ, một thứ vũ khí nổi tiếng của quân Tây Sơn.

Trước sức tiến công vũ bão của quân Tây Sơn, các chiến lũy và toàn bộ trận địa phòng thủ mặt nam đồn Ngọc Hồi bị phá hủy tan tành. Quân ta tràn vào bên trong đồn lũy như những dòng thác đổ, không một sức mạnh nào có thể cản nổi. Sở chỉ huy của đề đốc Hứa Thế Hanh bị tiêu diệt. Nhiều doanh trại của địch bị đốt cháy. Đồn Ngọc Hồi chìm ngập trong khói lửa.
________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:57:03 am

Quân địch không chống cự nổi, bỏ chạy tán loạn. Trong lúc hốt hoảng, chúng "giày xéo lên nhau mà chết"1 hoặc trốn chạy ra ngoài chạm phải địa lôi, rơi xuống cạm bẫy do chúng bố trí, chết và bị thương rất nhiều. Một bộ phận quân Thanh rút về phía sau, cố liều chết tổ chức cầm cự. Nhiều trận ác chiến tiếp tục diễn ra ở khu doanh trại phía bắc đồn Ngọc Hồi cho đến bờ nam sông Tô Lịch. Nhưng đó chỉ là những cố gắng tuyệt vọng của quân địch, không thể cứu vãn được thất bại hoàn toàn của chúng.

Đồn Ngọc Hồi, cứ điểm phòng ngự kiên cố nhất của quân Thanh, bị phá vỡ. Một bộ phận quan trọng quân địch bị giết chết tại trận. Trong bộ chỉ huy của địch, đề đốc Hứa Thế Hanh, phó tướng của Tôn Sĩ Nghị và là tướng chỉ huy toàn bộ mặt trận phía nam Thăng Long và tổng binh Thượng Duy Thăng là tướng chỉ huy quân tả dực của Tôn Sĩ Nghị bị bỏ mạng tại đây.

Tuy nhiên, số quân Thanh thoát chết ở đồn Ngọc Hồi vẫn còn khá nhiều, khoảng vài vạn tên. Bọn tàn quân này theo tổng binh Trương Triều Long, tìm đường tháo chạy về Thăng Long. Bấy giờ đang mùa khô, nước sông Tô Lịch không sâu lắm. Bọn chúng vượt qua sông và đại bộ phận theo đường thiên lý chạy về cung Tây Long mong được sự cứu viện của Tôn Sĩ Nghị. Một bộ phận chạy tán loạn ra các ngả, có thể theo bờ sông Tô Lịch hay đê sông Nhị nhưng cũng đều theo hướng tìm về đại bản doanh của chủ tướng. Mới chạy được một quãng chưa xa và chưa kịp hoàn hồn, bọn chúng lại bất ngờ thấy trước mặt đột nhiên xuất hiện một đạo quân Tây Sơn chắn mất đường về. Đây là một bộ phận nhỏ của đạo quân chủ lực - theo lệnh Quang Trung - đã vu hồi về phía đông - bắc đồn Ngọc Hồi, bố trí sẵn tuyến chặn địch rút chạy về Thăng Long.

Cánh quân vu hồi này xuất phát từ địa điểm tập kết tại cánh đồng Cung theo đường làng ra bờ đê sông Nhị ở Yên Duyên (thôn Sở Hạ, xã Ninh sở, Thường Tín, Hà Tây), rồi theo bờ đê tiến lên phía sau đồn Ngọc Hồi và bố trí sẵn ở phía đông - bắc, cách đồn khoảng 3 kilômét. Ở chỗ này, đê sông Nhị uốn vòng về phía tây rất gần đường thiên lý. Bố trí ở đó có thể đồng thời ngăn chặn cả hai con đường rút chạy của quân Thanh: đường thiên lý và đường đê sông Nhị.

Chờ khi quân địch đến gần, lực lượng vu hồi chặn địch mới bất thình lình mở cờ, gióng trống, hò reo vang dậy nhằm hư trương thanh thế, uy hiếp dữ dội tinh thần vốn đã hoang mang cực độ của quân địch. Bọn tàn quân này vô cùng kinh hoảng, vội vàng tranh nhau chạy tạt về phía tây.
________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 07:58:16 am

Bọn tàn quân Thanh phải theo đường tắt, chạy băng qua cánh đồng Lưu Phái, Quỳnh Đô ở khoảng giữa đường thiên lý và sông Tô Lịch. Chúng qua cầu Vĩnh (hay cầu Viềng ở xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội) để mong tránh sự bao vây của quân Tây Sơn, tìm đường vòng về phía tây trốn về Thăng Long. Nhưng vừa qua khỏi cầu Vĩnh thì một điều bất ngờ khủng khiếp mới lại ập đến với bọn chúng. Một đạo quân Tây Sơn có nhiều voi chiến yểm hộ, bỗng nhiên xuất hiện chặn kín mọi ngả đường tháo chạy của chúng. Đây là đạo quân do đại đô đốc Bảo chỉ huy, theo kế hoạch của Quang Trung, đã được lệnh tiến lên lợi dụng địa hình vùng Ích Vĩnh, Quỳnh Đô bố trí sẵn một trận địa chờ địch.

Đạo quân của đại đô đốc Bảo đã chăng sẵn một mẻ lưới bủa vây và tiêu diệt toàn bộ tàn quân địch ở đây. Từ Đại Áng, đạo quân này đi theo con đường qua các làng Vĩnh Trung, Vĩnh Thịnh (thuộc xã Thanh Hưng, Thường Tín, Hà Tây), Lạc Thị (xã Ngọc Hồi, Thường Tín, Hà Tây) tiến lên khu đầm Mực. Một bộ phận của đạo quân này bố trí ở phía bắc làng Quỳnh Đô để chặn đường rút chạy của quân Thanh về Thăng Long. Một bộ phận nữa từ phía nam làng Ích Vĩnh sẵn sàng tiến lên, dồn ép quân địch vào khu đầm Mực.

Quân Thanh vừa qua khỏi cầu Vĩnh thì cả hai ngả đường dọc theo bờ phải sông Tô Lịch, ngả phía bắc và phía nam đều bị chặn đánh. Sau lưng chúng, quân chủ lực của Quang Trung và cánh quân vu hồi chặn địch cùng phối hợp đuổi theo ráo riết, cả ba mặt, phía bắc, phía nam và phía đông, quân địch đều bị bao vây, uy hiếp mãnh liệt. Chúng không còn con đường tháo chạy nào khác ngoài hướng duy nhất là đâm đầu vào khu đầm Mực ở phía tây.

Quân địch bị dồn vào bước đường cùng. Chúng còn khoảng vài vạn quân nhưng chỉ là một khối người rã rời kiệt sức về thể xác và kinh hoảng đến tuyệt vọng về tinh thần. Từ ba mặt, quân ta khép chặt vòng vây, dồn ép chúng vào khu đầm Mực lầy lội, um tùm mà tiêu diệt. Quân Thanh "hết hồn hết vía, vội trốn xuống đầm Mực làng Quỳnh Đô”"quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người”1. Toàn bộ bọn tàn quân địch ở đồn Ngọc Hồi đều bị tiêu diệt, trong đó có cả tổng binh Trương Triều Long. Một số tên lẩn trốn vào các làng xóm chung quanh cũng bị nhân dân giết chết hoặc bắt nộp cho quân Tây Sơn.

Chỉ trong sáng ngày mồng 5 tháng Giêng Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn đã phá tan đồn lũy Ngọc Hồi, tiêu diệt toàn bộ quân địch khoảng 3 vạn tên ở Ngọc Hồi và đầm Mực. Quân Tây Sơn đã nhanh chóng tiêu diệt một cứ điểm then chốt nhất của quân địch, đập nát hệ thống phòng thủ của chúng ở phía nam Thăng Long, mở toang cửa ngõ tiến vào giải phóng kinh thành, uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Đạo quân chủ lực của Quang Trung và đạo quân của đại đô đốc Bảo đã hoàn thành hết sức rực rỡ nhiệm vụ nặng nề của hướng tiến công chủ yếu, trong đó trận Ngọc Hồi - Đầm Mực giữ vai trò quyết chiến có ý nghĩa quyết định.
_____________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 11:04:50 pm

*
*   *

Cũng vào sáng ngày mồng 5 tháng Giêng, lúc trời còn tối, khi đạo quân chủ lực tiến đánh đồn Ngọc Hồi thì trên hướng tiến công phối hợp, đạo quân của đô đốc Đông cũng đồng thời mở cuộc tiến công hết sức bất ngờ vào đồn Đống Đa.

Đồn Đống Đa tuy không kiên cố như đồn Ngọc Hồi, nhưng cũng giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ Thăng Long của Tôn Sĩ Nghị.

Quân Thanh lập đồn trại ở Đống Đa là để khống chế con đường cái từ Tam Điệp ra phía tây - nam Thăng Long, đề phòng cuộc tiến công của quân Tây Sơn theo hướng này và bảo vệ trực tiếp cửa ô Thịnh Quang, một cửa ngõ phía tây - nam thành Thăng Long.

Tại đồn Đống Đa, quân Thanh không xây dựng công sự, đắp chiến lũy, mà chỉ dựa vào địa hình và làng mạc bố trí doanh trại.

Phía bắc trại Khương Thượng xưa kia là một cánh đồng rộng và cao. Đây là trường thi võ đời Lê, gọi là trường thi bác cử.

Quân Thanh chiếm cánh đồng cao ráo ở phía bắc trại Khương Thượng để dựng đồn trại, sở chỉ huy của Sầm Nghi Đống đặt trên núi Cây Cờ tức Loa Sơn. Đó là một điểm cao lợi hại có thể bao quát cả khu đồn trại và kiểm soát con đường vào Thăng Long. Doanh trại quân lính xây dựng chung quanh sở chỉ huy bao gồm cả hai bên đường cái. Để canh phòng từ xa và bảo vệ đồn Đống Đa, Sầm Nghi Đống còn lập một số đồn binh nhỏ ở chung quanh.

Đóng giữ đồn Đống Đa là đạo quân Điền Châu, Triều Châu. Đặc điểm của đạo quân này là số lượng khá đông - ước đoán khoảng vài vạn quân - nhưng chất lượng không đều và khá ô hợp. Sầm Nghi Đống có một đội quân hộ vệ riêng rất trung thành và tinh nhuệ gọi là thân binh chỉ độ mấy trăm người. Số quân lính Điền Châu và Triều Châu - gọi là thổ binh - được điều động cho Sầm Nghi Đổng cũng chỉ có 2.000 người. Đó là những lực lượng nòng cốt của quân địch ở đồn Đống Đa. Ngoài ra là những quân lính mới tuyển mộ trên đường sang xâm lược nước ta, trong số cư dân vùng biên giới và một số dân phu trong các công trường khai mỏ, gọi chung là "nghĩa dũng". Trong cuộc tiến quân sang xâm lược nước ta hồi cuối năm 1788, Sầm Nghi Đống chỉ trổ tài bằng cách chiêu nạp nhiều "nghĩa dũng" và càn quét vùng Cao Bằng, Thái Nguyên. Hắn được vua Thanh thưởng cho cái lông công cắm lên mũ gọi là "đeo hoa linh".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 11:05:43 pm

Sự bố trí lực lượng phòng thủ quanh Thăng Long càng chứng tỏ Tôn Sĩ Nghị tuy có phòng bị mặt tây - nam nhưng với tư tưởng chủ quan, coi thường, cho rằng quân Tây Sơn ít có khả năng tiến công theo hướng này. Với sự phán đoán chủ quan của kẻ xâm lược, Tôn Sĩ Nghị nghĩ rằng quân Tây Sơn dù có tiến công ra Thăng Long cũng không thể đi theo con đường khó khăn, trắc trở đó. Ý định ấy càng được củng cố khi hắn được tin quân Tây Sơn đang tâp trung lực lượng đánh ra mặt nam Thăng Long. Hắn chỉ lo tăng cường lực lượng cho tuyến phòng thủ phía nam và sẵn sàng điều động cả đạo quân chủ lực ở đại bản doanh chi viện cho tuyến xung yếu này.

Đạo quân Tây Sơn làm nhiệm vụ tập kích tiêu diệt đồn Đống Đa do đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy. Đạo quân của đô đốc Đông phải hành quân bí mật, đi theo một con đường núi đã bế tắc, phải mở lấy đường mà đi và khắc phục nhiều trở ngại của núi rừng. Nhiệm vụ đó đòi hỏi tướng chỉ huy không những phải giàu nghị lực, có tài tổ chức, mà còn phải am hiểu cặn kẽ địa hình và đường đi lối lại trong vùng. Đặng Tiến Đông quê ở Lương Xá (Chương Mỹ, Hà Tây), nằm trên vùng con đường "thượng đạo" đi qua nên đáp ứng hơn ai hết yêu cầu trên. Đạo quân của đô đốc Đông không nhiều lắm - chỉ khoảng một vạn quân - nhưng theo kế hoạch phối hợp của Quang Trung, phải bất ngờ đánh úp, tiêu diệt đồn Đống Đa thật nhanh, gọn. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó, quân đội Tây Sơn cần được sự tham gia, hỗ trợ trực tiếp của nhân dân xung quanh đồn địch. Đặng Tiến Đông sinh ra và lớn lên ở gần Thăng Long, lại thuộc dòng dõi một họ lớn có nhiều bà con thân thuộc và bạn bè quanh vùng. Ông có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để cử người ra bí mật vận động nhân dân các làng xã xung quanh đồn Đống Đa sẵn sàng phối hợp với quân Tây Sơn bao vây, tiêu diệt đồn giặc. Hưởng ứng sự vận động đó, nhân dân 9 làng xã vùng này đã lấy rơm bện thành hình những "con rồng" lớn rồi tẩm dầu và các loại nhựa dễ cháy, cất giấu sẵn trong nhà để đến ngày diệt đồn sẽ đốt cháy, tạo thành lưới lửa bao vây và thiêu hủy đồn giặc phối hợp với quân Tây Sơn. Giao cho Đặng Tiến Đông chỉ huy đạo quân vu hồi đánh thọc sâu vào đồn Đống Đa, Quang Trung không những tín nhiệm ông mà còn xét đoán và sử dụng rất đúng tài năng của ông.

Tối mồng 4 tháng Giêng, đạo quân của đô đốc Đông đã bí mật tiến về phía Nhân Mục (xã Nhân Chính, Từ Liêm, Hà Nội). Sáng mồng 5, trước giờ tiến công, lúc trời còn tối mù mịt, quân Tây Sơn nhanh chóng vượt qua sông Tô Lịch, bí mật áp sát đồn Đống Đa, hình thành sẵn thế trận bao vây tiến công.

Đạo quân của đô đốc Đặng Tiến Đông gồm kỵ binh và tượng binh, tuy không nhiều nhưng có sức cơ động nhanh và đột phá mạnh. Quân đội cũng được trang bị nhiều hỏa hổ và đại bác đặt trên mình voi chiến. Cuộc tiến công bắt đầu vào khoảng cuối canh tư (khoảng 3 giờ sáng). Bằng khí thế áp đảo quân thù, quân Tây Sơn với đội hình đã bày sẵn, xông thẳng vào đồn trại của địch. Quân ta đột phá các doanh trại phía ngoài rồi nhanh chóng đánh thọc vào sở chỉ huy của địch, Sầm Nghi Đống cố đốc thúc quân lính chống cự nhưng không sao đương nổi sức tiến công mãnh liệt của quân Tây Sơn. Chỉ trong chốc lát, số quân Thanh bị chết và bị thương đã lên đến 5.000 người, Sầm Nghi Đống phải bỏ các doanh trại bên ngoài, rút về bảo vệ sở chỉ huy trên Loa Sơn để chờ quân cứu viện.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 11:07:36 pm

Cùng lúc đó, xung quanh đồn trại của địch đột nhiên xuất hiện một hàng rào lửa dày đặc. Đó là "trận rồng lửa" (hỏa long trận) của nhân dân địa phương góp sức cùng với quân đội Tây Sơn diệt giặc.

Quân địch đang choáng váng vì đòn tiến công bất ngờ của quân Tây Sơn lại càng khiếp đảm trước lưới lửa bao vây trùng điệp của nhân dân. Trong đêm tối, chúng chỉ còn trông thấy bốn bề lửa cháy rực trời, tiếng reo hò dậy đất. Đồn trại của địch tan vỡ nhanh chóng. Quân địch đang lúc đêm tối, tự xéo lên nhau mà chạy. Các mũi tiến công của quân Tây Sơn lao vào chém giết như vào chỗ không người.

Từ trên sở chỉ huy, Sầm Nghi Đống thấy rõ đã lâm vào cảnh thế cùng lực kiệt: chống đỡ không nổi, quân cứu viện không có, phá vây không được. Hắn tuyệt vọng, thắt cổ chết ngay tại sở chỉ huy. Đội thân binh trung thành của hắn cũng tự sát theo chủ tướng đến vài trăm tên.

Đồn Đống Đa bị tiêu diệt vào lúc trời chưa sáng. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt luôn các đồn Yên Quyết, Nam Đồng rồi nhanh chóng tràn vào cửa ô tây - nam thành Thăng Long.

Sau trận đánh, hàng vạn xác giặc nằm ngổn ngang khắp chiến trường từ trại Khương Thượng, Thịnh Quang đến trại Nam Đồng. Khi thu dọn chiến trường, quân dân ta đã nhặt xác giặc, xếp thành từng đống rồi đắp đất lên thành những gò đống lớn. Đó là lối chôn cất cổ truyền của nhiều nước phương Đông vừa có ý nghĩa biểu dương chiến công, để lại một di tích chiến thắng cho muôn đời con cháu, vừa nhằm cảnh cáo kẻ thù. Những đống xác giặc đó gọi là Kình nghê kinh quán, có nghĩa là gò đống lớn vùi xác quân giặc hung dữ ví như loài cá kình, cá nghê ngoài biển cả (là loại cá to hay đuổi bắt loại cá nhỏ mà ăn). Mười hai gò đống như vậy đã xuất hiện trên trận địa ngày hôm qua như những chiến tích bất diệt của dân tộc. Trong bài Loa Sơn điếu cổ, nhà thơ Ngô Ngọc Du đã ca ngợi võ công oanh liệt của quân dân ta gắn liền với những chiến tích đó:

      Thành Nam thập nhị Kình nghê quán,
      Chiếu diệu anh hùng đại võ công.


Nghĩa là:
      Phía nam thành, mười hai gò xác giặc
      Rạng rỡ võ công lớn của anh hùng.

Tuy vậy, mười hai gò lớn vẫn chưa vùi hết xác quân xâm lược, đây đó trên cánh đồng vẫn còn nhiều xác giặc chôn rải rác. Chứng cớ là năm 1851, khi đào đất để đắp đường, mở chợ ở khu vực này, người ta còn tìm thấy nhiêu xương cốt và thu nhặt đem chôn vào một hố, đắp thành gò thứ 13.

Trải qua năm tháng, trên các gò đống đó, cây cối mọc um tùm, nhiều nhất là cây đa. Với tên đất sẵn có, nhân dân thường gọi những gò đống đó là “gò Đống Đa” và cùng có những gò đống đó là “xứ Đống Đa”1.
_____________________________________
1. Cho đến giữa thế kỷ XIX, các gò Đống Đa vẫn còn y nguyên. Nhưng đến bản đồ Hà Nội năm Tự Đức thứ 26 (năm 1873) thì chỉ còn thấy sáu gò trong khu vực ghi là "Đống Đa xứ”. Trong khoảng đời Nguyễn và Pháp thuộc, những chiến tích lịch sử đó không được bảo vệ nên đã bị phá hoại dần, nhiều gò bị san bằng. Hiện nay chỉ còn lại hai gò được gọi là gò Đống Đa, tức gò thứ 13 đắp thêm năm 1851 (trên gò này có đền Trung Liệt nên còn gọi là gò Trung Liệt) và gò Đống Thiêng (trong khu Thái Hà ấp, trên gò này trước đây có chùa của làng Thịnh Quang, gọi là chùa Thiêng). Phía sau chùa Bộc, giáp chùa Đồng Quang còn có gò Đầu Lâu nhưng gò đã bị phá từ lâu, nhân dân chỉ còn ghi nhớ vị trí và tên gò.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 11:09:45 pm

*
*   *

Tại đại bản doanh đóng ở cung Tây Long bên bờ sông Nhị, Tôn Sĩ Nghị và bộ chỉ huy quân Thanh đang lo lắng theo dõi chặt chẽ diễn biến của mặt trận phía Nam.

Sáng mồng 4, tuy hắn có bị sửng sốt về cuộc tiến công bất ngờ của quân Tây Sơn nhưng vẫn chủ quan , về sức mạnh của quân Thanh và sự phán đoán đúng đắn của hắn. Hắn tập trung sự chú ý vào mặt trận phía Nam và sẵn sàng tung đạo quân chủ lực chi viện cho đồn Ngọc Hồi khi cần thiết. Cứ khoảng chốc lát lại có một kỵ binh tin cậy mang tin tức của mặt trận phía Nam về đại bản doanh cho Tôn Sĩ Nghị. Nhưng như tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã nhận xét: "Ý của Nghị chỉ lo có một mặt đó, không ngờ lại có mặt khác ập tới".

Sáng mồng 5, lúc canh tư, Tôn Sĩ Nghị đột nhiên nghe tiếng súng nổ liên hồi ở phía tây - nam thành Thăng Long. Hắn vô cùng kinh ngạc, vội sai thám tử cấp tốc phi ngựa ra xem xét tình hình. Sau đó ít lâu, khoảng đầu canh năm lính kỵ mã ở đồn Ngọc Hồi lại phi báo cho hắn biết: đồn Ngọc Hồi đang bị đánh dữ dội. Hắn đang băn khoăn chưa kịp điều quân đi tiếp ứng cho mặt trận phía Nam thì thám tử vừa sai đi đã trở về báo tin: đạo quân Điền Châu, Triều Châu đã tan vỡ, đồn Đống Đa có nguy cơ bị tiêu diệt. Ngay sau đó, hắn lại được tin quân Tây Sơn đã ập vào cửa ô thành Thăng Long "đốt giết lung tung, khói lửa bốc lên đầy trời"1.

Theo kế hoạch của Quang Trung, trong khi đạo quân chủ lực công phá đồn Ngọc Hồi, thì đạo quân của đô đốc Đặng Tiến Đông bất ngờ tập kích tiêu diệt đồn Đống Đa, rồi nhanh chóng thọc sâu vào thành Thăng Long, uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị. Do đó, mờ sáng ngày mồng 5, lúc đồn Đống Đa sắp bị tiêu diệt, đô đốc Đặng Tiến Đông đã hết sức khẩn trương, mau lẹ, đem đội kỵ binh tiên phong của mình đánh thọc vào Thăng Long. Như một mũi dao nhọn, đội kỵ binh Tây Sơn lao thẳng về phía cung Tây Long. Đấy là hành động bất ngờ, táo bạo mà Tôn Sĩ Nghị không thể nào lường trước được. Trong một bài văn bia đương thời, Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm đã ca ngợi hành động của Đặng Tiến Đông: "Ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm"2.
____________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.
2. Tông đức thế tự bi tại chùa Thủy Lâm (Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Tây). Bài văn bia do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc, khắc ngày 15 tháng 6 năm Cảnh Thịnh thứ 5 (ngày 9-7-1797).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 11:12:07 pm

Những tin tức khủng khiếp của mặt trận phía Nam và phía tây - nam đồng thời đến với Tôn Sĩ Nghị như những đòn trời giáng. Cả một đạo quân chủ lực còn nguyên vẹn trong tay, nhưng viên chủ soái của quân Thanh hoảng hốt, không còn biết xoay xở, đối phó thế nào. Như trong bản tâu gửi về triều đình nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị cảm thấy "quân giặc nhiều quá" và quân Thanh đã bị "vây kín bốn mặt". Hắn "sợ mất mật""ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy"1. Viên thiên tổng Tiết Trung phải dắt cương ngựa cho Tôn Sĩ Nghị chạy trốn và phó tướng Khánh Thành đi theo hộ tống.

Chủ tướng bỏ chạy, "quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều"2. Tình hình hỗn loạn đến mức độ, tổng binh Lý Hóa Long chạy đến giữa cầu phao cũng bị quân lính đẩy ngã nhào xuống sông. Thật là một cuộc tháo chạy thảm hại, nhục nhã.

Qua khỏi cầu phao sang bờ bắc sông Nhị, Tôn Sĩ Nghị lại sợ quân Tây Sơn lợi dụng cầu phao đuổi theo. Chỉ lo bảo toàn tính mạng của bản thân, viên bại tướng đó không ngần ngại ra lệnh cắt đứt cầu phao để chẹn phía sau.

Hành động ích kỷ và tàn nhẫn của Tôn Sĩ Nghị đã làm cho hàng vạn quân Thanh bị dòng nước sông Nhị cuốn trôi. "Cầu gẫy, người bị chết vô kể”"nước sông Nhị vì thế mà tắc nghẽn không chảy được”3. Số quân Thanh không kịp qua cầu phao cũng tìm mọi cách liều lĩnh vượt sông. Có bọn cướp được một số thuyền buôn và thuyền đánh cá đang đỗ bên bờ sông nhưng rồi chúng tranh nhau xuống thuyền đông quá nên hầu hết cũng bị đắm. Có bọn thì buộc giáo, mác, khiên, mộc lại thành từng bó để làm bè vượt sông. Vừa lúc đó, quân Tây Sơn ập tới. Số phận quân Thanh chưa kịp qua sông đã được định đoạt: nếu không vùi xác theo dòng sông Nhị thì cũng bị chém giết hoặc bắt làm tù binh. Một số tàn quân trốn tránh vào các xóm làng thì sau đó, trong vòng 10 ngày, đều phải ra đầu thú.

Số phận đám quân Thanh đóng ở bờ bắc sông Nhị cùng với số tàn quân vượt qua cầu phao chạy trốn theo Tôn Sĩ Nghị cũng không may mắn hơn bao nhiêu. Bọn chúng bị quân Tây Sơn truy kích phía sau và đến Phượng Nhân lại bất ngờ bị đạo quân của đô đốc Lộc chặn đánh. Tôn Sĩ Nghị và bọn tàn quân không dám chạy theo đường cái. Chúng phải luồn rừng, lội suối, leo núi đường đi quanh co rẽ ngang rẽ dọc... luôn luôn lạc lối không tìm được nẻo đi và đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi. Tôn Sĩ Nghị phải vất bỏ tất cả mọi thứ mang theo kể cả sắc thư, kỳ bài, quân ấn chủ soái do vua Thanh ban cho, để lo chạy thoát thân. Theo Minh đô sử thì điều đáng tiếc là đạo quân của đô đốc Lộc trong khi vượt biển vì gặp gió đông - bắc nên tập kết ở sông Lục Đầu hơi chậm. Do đó, đạo quân này chưa kịp bịt kín hết các ngả đường như kế hoạch của Quang Trung đã đề ra, "nếu đến sớm vài ngày thì quân Thanh đã bị bắt hết, không còn sót một mống”.

Nhưng cuối cùng, chỉ còn độ ba, bốn chục tên thoát chết trở về nước mang theo tin bại trận thảm hại. Đó có lẽ là nhóm tàn quân chạy theo Tôn Sĩ Nghị và về đến biên giới sớm nhất. Ngoài ra còn có những bọn chạy tán loạn vào rừng và trong khoảng một tháng sau mới lục tục tìm đường về nước. Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị thì số lính sống sót chạy về Quảng Tây trước sau cả thảy hơn 5.000 người. Một bọn hơn 500 người trốn tránh trong núi rừng, bị lạc đường, cuối cùng chạy bạt về Vân Nam. Khí thế chiến thắng vang lừng của quân Tây Sơn và cảnh trốn chạy tả tơi của bọn tàn quân địch làm cho quân Thanh ở vùng biên giới cũng hốt hoảng. "Từ cửa ải Nam Quan trở về Bắc, trai gái, già trẻ bồng bế dắt díu nhau chạy trốn suốt vài trăm dặm lặng ngắt không một bóng người"4.
____________________________________
1-4. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 11:12:31 pm

Đạo quân Thanh đóng ở Hải Dương cũng bị đánh tan. Riêng đạo quân Vân Nam do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy ngày 21 tháng Chạp năm Mậu Thân (ngày 16 tháng 1 năm 1789) đến Tuyên Quang và những ngày cuối năm đó mới đến Sơn Tây. Vừa đóng quân được mấy ngày thì được tin Tôn Sĩ Nghị bại trận, cả đạo quân này hốt hoảng tháo chạy về nước. Không bị tiến công nhưng đạo quân Ô Đai Kinh cũng bị tan vỡ và rút chạy trong cảnh hỗn loạn. Qua vùng Tuyên Quang, chúng lại bị một đội dân binh dân tộc Tày do Ma Doãn Dảo chỉ huy chặn đánh. Chúng càng hoảng sợ, chen lấn, xô đẩy nhau giành đường về nước và một bộ phận khá đông tán loạn vào núi rừng. Một toán quân do Phùng Chấn Tiên cầm đầu, bị lạc đường chạy sang Quảng Tây. Theo lời tâu của tổng đốc Vân Quý là Phú Cương thì trong đạo quân Ô Đại Kinh có một số không thấy trở về, trong đó có một viên vũ cử (cử nhân võ), một viên ngoại ủy (võ quan cấp dưới) và mấy chục tên lính.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến thật là rực rỡ, chói lọi. Toàn bộ quân xâm lược Mãn Thanh khoảng 29 vạn quân cùng với vài vạn quân của bù nhìn Lê Chiêu Thống đã bị đánh tan tành, bị tiêu diệt đại bộ phận và bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Trong bốn đạo quân Thanh thì ba đạo, trong đó có đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị, bị tiêu diệt gần hết và một đạo không bị đánh mà cũng tan tác. Hàng loạt tướng soái cao cấp của địch bị bỏ mạng: đề đốc phó tướng Hứa Thế Hanh, phó tướng Hình Đôn Hạnh; các tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long; tri phủ Sầm Nghi Đống; các tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm. Đó là chưa kể một số võ quan khác cũng bị chết trận như: Minh Trụ, Trương Thuần, Vương Đàn, Trương Hội Nguyên, Lưu Việt; đô ty Đặng Vinh Lượng, thủ bị Lê Trí Minh, tri huyện Vi Thiên Quỳ, kinh lịch Trương Thành. Số quân Thanh đầu hàng và bị bắt làm tù binh có đến vài vạn.

Vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị cho đến các sử thần nhà Thanh đều cố che đậy thất bại thảm hại của quân Thanh và tìm cách biện bạch trách nhiệm của vua quan nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị thì đổ tội cho Lê Chiêu Thống mới nghe tin "Nguyễn Huệ thân hành đem binh đến đánh" đã "mất cả hồn vía" và bỏ chạy trước làm cho "binh sĩ hoang mang rối loạn”. Điều đó thật oan uổng cho tên vua bù nhìn này. Sáng mồng 5, đang ở trong cung điện, được tin quân Thanh bại trận, Tôn Sĩ Nghị rút chạy, Lê Chiêu Thống vội vàng bám gót chạy theo. Nhưng ra đến bờ sông thì cầu phao đã bị cắt, hắn hoảng sợ theo bờ sông chạy lên Nghi Tàm, cướp được chiếc thuyền đánh cá chèo qua sông. Hắn tìm đường chạy lên ải Nam Quan mới gặp Tôn Sĩ Nghị để bắt đầu cuộc sống lưu vong nhục nhã nơi đất khách quê người. Vua Càn Long nhà Thanh thì cho rằng quân Thanh bại trận là vì "Trời đã chán ghét họ Lê" và Tôn Sĩ Nghị sau khi chiếm được thành Thăng Long, không chịu rút quân về nước như chỉ dụ của nhà vua. Vị hoàng đế nhà Thanh còn lo xa, viết hai bài An Nam ký sựAn Nam thủy mạt sử ký với mục đích: "Sợ người đời sau không hiểu cái kế nặng nhẹ lâu dài của ta cho nên bày tỏ mà chép ra đây”. Thực ra, trước đó, chính vua Thanh đã cho phép Tôn Sĩ Nghị tiến quân vào tận sào huyệt Quảng Nam để "bắt sống Nguyễn Huệ” hoặc tiến quân đe dọa buộc Nguyễn Huệ đầu hàng. Vì vậy, tuy quy trách nhiệm cho Tôn Sĩ Nghị, vua Thanh không dám xử tội bại tướng họ Tôn. Vua Thanh có thu hồi tước công nhưng vẫn coi Tôn Sĩ Nghị là người "xuất sắc trong hàng tổng đốc" và triệu về kinh cho giữ chức thượng thư rồi bổ làm tổng đốc Tứ Xuyên, thăng lên tổng đốc Lưỡng Giang.

Về căn bản, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh đã kết thúc từ sáng ngày mồng 5 tết với chiến thắng có ý nghĩa quyết định của trận Ngọc Hồi, Đống Đa.

Mờ sáng ngày hôm đó, sau khi tiêu diệt đồn Đống Đa một cách chớp nhoáng, đạo quân của đô đổc Đặng Tiến Đông là lực lượng Tây Sơn đầu tiên tiến vào giải phóng kinh thành Thăng Long. Đến trưa, sau khi quét sạch quân Thanh ở mặt trận phía Nam, đạo quân chủ lực của Quang Trung cùng với đạo quân của đại đô đốc Bảo, đội ngũ chỉnh tề, tư thế hiên ngang, tiến vào kinh thành. Từ cửa thành phía nam, Quang Trung thấy lá cờ đỏ bách chiến bách thắng của quân đội Tây Sơn đã tung bay trên bầu trời Thăng Long và đô đốc Đông đem quân ra đón tiếp. Quang Trung trên mình voi chiến, với chiếc áo chiến bào đen sạm khói súng qua những ngày đêm chiến đấu ác liệt, dẫn đầu đoàn quân chiến thắng. Nhân dân kinh thành tràn ngập trong niềm vui khải hoàn, đổ ra chật phố phường hoan nghênh, đón chào người anh hùng vĩ đại của dân tộc vừa lập nên những chiến công thần kỳ, giải phóng hoàn toàn kinh thành và đất nước khỏi ách chiếm đóng của quân xâm lược Mãn Thanh, giữ vững nền độc lập tự do của Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:40:02 pm

Câu hỏi 14: Trình bày một số bài học kinh nghiêm về nghệ thuật điều hành chiến tranh của Nguyễn Huệ và về mối quan hệ giữa quân Tây Sơn với nhân dân Thăng Long trong sự nghiệp đánh tan thù trong giặc ngoài?
Trả lời:


Một là, nắm vững nhân tố chính trị, nhân tố chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng, thu phục lòng dân ở Bắc Hà và ở Thăng Long, tạo nên sức mạnh đánh địch to lớn.

Trong hoàn cảnh Nam - Bắc phân chia dẫn đến kỳ thị Đàng Trong - Đàng Ngoài, trước những luận điệu phản động của bọn thống trị coi phong trào Tây Sơn là giặc cướp, gọi lãnh tụ của họ là phản nghịch thì việc thu phục được lòng dân Bắc Hà và Thăng Long về phía nghĩa quân không phải là dễ dàng, đơn giản.

Tháng 6 năm 1786, sau khi hạ thành Phú Xuân, tiêu diệt địch ở sông Gianh, Nguyễn Huệ có quyết định sáng suốt là tiến ra Đàng Ngoài tiêu diệt tập đoàn chúa Trịnh. Tình hình Đàng Ngoài lúc đó hỗn loạn. Kẻ thù chính của nhân dân lúc này - họ Trịnh - cũng là đối tượng mà Nguyễn Huệ chủ trương đánh đổ. Hành động tiến ra Bắc Hà của quân Tây Sơn phù hợp với lòng dân, chính vì vậy ngay khi được tin đạo quân của Tây Sơn tiến đánh Vị Hoàng, nhân dân Bắc Hà đã nô nức chờ đón, nhiệt liệt hoan nghênh và hăng hái tham gia phong trào diệt Trịnh. Chỉ trong vòng một tháng, Nguyễn Huệ đã lật nhào ách thống trị kéo dài gần 300 năm của họ Trịnh. Nếu không có sự ủng hộ của nhân dân Đàng Ngoài, nhất là nhân dân Bắc Hà - Thăng Long thì dù Nguyễn Huệ và các tướng lĩnh của ông có tài thao lược đến mấy cũng không thể có chiến thắng to lớn và mau lẹ như vậy.

Với chiến thắng này, lòng dân Bắc Hà ngả theo Tây Sơn, vừa ca ngợi tài năng và đức độ của người anh hùng áo vải, vừa mến phục đội quân có kỷ luật, biết giúp dân, khác xa với lũ kiêu binh của nhà Lê - Trịnh. Những luận điệu vu khống xuyên tạc nhằm vào quân Tây Sơn bị bác bỏ nhanh chóng. Việc Nguyễn Huệ duy trì triều vua Lê Hiển Tông sau khi diệt họ Trịnh, lập lại trật tự ở Thăng Long rồi sau đó rút vào Nam đã gây ấn tượng tốt đẹp trong lòng dân chúng và sĩ phu Bắc Hà.

Khi 29 vạn quân Thanh tràn sang xâm lược Đại Việt, bọn Lê Chiêu Thống cam tâm làm bức màn che đậy cho hành động xâm lược của giặc, không ít người Bắc Hà đã gia nhập đội quân "Cần vương". Trong tình thế chính trị lúc đó và nhất là trong thế so sánh lực lượng quá chênh lệch, quân Tây Sơn ở Thăng Long đã rút lui về Tam Điệp - Biện Sơn. Nguyễn Huệ đã khen ngợi và tán thành kế hoạch "cho giặc ngủ trọ một đêm rồi đuổi chúng đi" của Ngô Thì Nhậm. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Huệ đã nắm rất chắc tình hình, chứng tỏ nhân quan chiến lược quân sự của ông dựa trên một nhân quan chính trị tỉnh táo, nhìn xa, trông rộng. Thời gian "ngủ trọ" cũng là thời gian đủ để kẻ thù bộc lộ bản chất của chúng là quân xâm lược và bè lũ bù nhìn bán nước. Tất nhiên đến lúc đó, toàn dân nước Việt mà trước hết là dân chúng Bắc Hà, người Thăng Long đã hướng về phía những lực lượng giữ nước, ủng hộ quân Tây Sơn và sẵn sàng quy tụ dưới cờ nghĩa của anh hùng Nguyễn Huệ.

Nhìn lại các võ công hiển hách của Quang Trung - Nguyễn Huệ có thể thấy rõ sức mạnh của quân Tây Sơn bắt nguồn từ sức tiềm tàng của nhân dân, từ truyền thống anh hùng của dân tộc. Quang Trung sở dĩ đánh đâu thắng đấy, đã đánh là thắng trước hết vì các cuộc chiến đấu của ông đều nhằm những mục đích chính trị tiến bộ, chính nghĩa: giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc.

Nguyễn Huệ hiểu rõ thế nào là sức mạnh của nhân dân và đã biết khơi dậy, tập hợp được sức dân đi với mình. Tài khôn khéo của Nguyễn Huệ là biết chỉ ra kẻ thù chủ yếu của từng thời kỳ. Khi ra Bắc lần đầu ông nêu khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh"; trước họa xâm lăng, ông chỉ đích danh: kẻ thù là bọn Tôn Sĩ Nghị, lên án Lê Chiêu Thống rước ngoại xâm vào giày xéo non sông, giết hại giống nòi. Vì vậy nhân dân Bắc Hà đã đứng về phía Nguyễn Huệ, ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của Tây Sơn. Đó là một nhân tố khiến cho quân Tây Sơn đã lập nhiều chiến công trong sự nghiệp đánh đuổi thù trong giặc ngoài.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:40:31 pm

Hai là, vận dụng nghệ thuật quân sự tài giỏi, Nguyễn Huệ và các tướng lĩnh Tây Sơn đã biểu lộ một nghệ thuật quân sự rất cao, tạo nên được một thế trận đánh giặc tài tình trong 6 ngày đập tan 29 vạn quân xâm lược ở kinh đô và vùng phụ cận.

Lần đầu trong lịch sử nước ta, một phong trào nông dân vươn lên đảm nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ dân tộc. Khí thế của phong trào quần chúng khởi nghĩa được nhân lên gấp bội với lòng yêu nước, chí căm thù và tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Quân đội Tây Sơn trong hành quân cũng như trong chiến đấu được sự tham gia ủng hộ về mọi mặt của nhân dân. Tự nguyện gia nhập nghĩa quân, giữ bí mật cho các cánh quân tiếp cận mục tiêu, tiếp tế lương thực cho quân đội... đó là những biểu hiện sinh động của một "cuộc chiến tranh nhân dân phát triển ở trình độ cao trong thời đại phong kiến".

Phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần lớn lao của chiến tranh nhân dân, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã biết tạo nên "một thế trận rộng rãi mà hiểm, táo bạo mà rất vững". Thế trận ấy kết hợp giữa chính binh và kỳ binh, đánh chính diện với đánh cạnh sườn, với chia cắt thọc sâu, vu hồi bao vây chiến lược. Tất cả các cánh quân đều cùng một lúc tiến công vào toàn bộ đội hình chiến lược của địch, làm cho chúng lâm vào tình thế bị chia cắt, buộc phải bị động đối phó, mất hết quyền tự do hành động. Thế trận chung ấy lại tạo điều kiện để xây dựng thế trận bộ phận trong từng khu vực và để hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân. Trong từng trận cũng như trong cả hội chiến, quân ta ít, quân địch đông, mà đâu đâu ta cũng chủ động đánh địch trên thế mạnh, áp đảo và giành thắng lợi giòn giã.

Lực lượng của quân đội và nhân dân, thế trận chiến lược và chiến thuật, chỉ huy tác chiến tài giỏi, tất cả các nhân tố ấy tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đại phá nhanh chóng một kẻ địch đông và mạnh hơn ta. Với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã đưa nghệ thuật quân sự truyền thống cả nước đánh giặc, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh của dân tộc ta lên một bước phát triển mới, sáng tạo xuất sắc.

Ba là, khéo léo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Từ kinh đô Thăng Long, Quang Trung chủ trương "giảng hòa với nước lớn", nhằm nhanh chóng lâp lại quan hệ bang giao hòa hiếu, giữ vững hòa bình, xây dựng đất nước.

Đối với Quang Trung, phương lược tiến đánh ông đã trù liệu từ trước và dự kiến khoảng 10 ngày có thể đuổi được quân Thanh. Người xưa gọi đó là "thần toán". Nhưng sâu xa hơn, ông đã tính trước một cách tỉnh táo, không chủ quan rằng đối phương là một nước lớn gấp mười nước mình, thua trận này ắt vì thể diện nước lớn mà lo báo thù. Ông nghĩ rằng, vì thế chiến tranh sẽ không bao giờ kết thúc, không phải là phúc cho dân, nên lúc ấy phải "giảng nghĩa hòa mục" để xếp bỏ binh đao, có nghĩa là dùng ngoại giao để hòa giải với nhà Thanh, chấm dứt chiến tranh.

Chính sách ngoại giao của nhà Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Quang Trung là rất khôn khéo: vừa cương, vừa nhu, vừa linh hoạt, chủ động. Đó là ngoại giao của một nước nhỏ nhưng là nước chiến thắng; mềm dẻo nhưng kiên quyết, nhằm đẩy lùi thái độ trịch thượng và âm mưu thôn tính của nước lớn.

Mục tiêu lâu dài, ý đồ chiến lược hằng ấp ủ của Quang Trung là tranh thủ điều kiện hòa bình để nuôi dưỡng lực lượng cho nước giàu quân mạnh, là củng cố nền độc lập bền vững bằng cách khẳng định cương vực, cải thiện thế nước, làm nản mưu đồ chiến tranh xâm lược của quân thù mà hầu như đời nào cũng xảy ra.

Như vậy là thắng lợi rồi mà Quang Trung vẫn dành ưu tiên cho việc "dưỡng tinh sức nhuệ", chăm lo xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, làm cho "quốc phú binh cường" nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược: tăng cường thế phòng thủ, đẩy lùi hiểm họa ngoại xâm, giữ yên hòa bình, xây dựng đất nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:38:12 am

Câu hỏi 15: Hãy cho biết một số hoạt động ngoại giao Việt - Thanh dưới thời vua Quang Trung?
Trả lời:


Sau khi 29 vạn quân Thanh đại bại, vua Càn Long nghiến răng căm giận, đòi Tôn Sĩ Nghị về kinh hậu cứu, cử Phúc Khang An làm tổng đốc lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây), đốc suất binh mã 9 tỉnh, đem 50 vạn quân, định ngày kéo đến ải Nam Quan, chực quyết một phen sống mái với quân Tây Sơn để rửa cái nhục thua trận trước.

Nhưng còn đang trù trừ trước mưu định ấy, Khang An đã được ngay một bài học trước mắt: 29 vạn quân không thấy đâu cả, bấy giờ chỉ thấy Sĩ Nghị chiếc thân lếch thếch, tiều tụy trong bộ áo một viên tướng bại trận, chết hụt trốn về! Khang An lại sợ oai phong của vua Quang Trung và tinh thần anh dũng của quân Tây Sơn, nên không ngần ngại bỏ "chiến" mà chủ "hòa" nhưng khéo lót miệng bằng câu: "Nam Bắc tắt được binh lửa, thật là phúc lớn cho sinh linh và cũng là cái may to cho kẻ biên thần".

Vua Quang Trung định tạm gác binh đao, muốn giải quyết việc giao thiệp với nhà Thanh bằng cách hòa bình.

Dân Thanh bấy giờ vì tin lời đồn đại, tưởng Tây Sơn sẽ kéo sang tận nội địa Trung Quốc, nên họ mới vội vã kéo nhau chạy trốn. Thực ra, vua Quang Trung khi đó vẫn chủ trương hòa bình. Chính nhà vua đã tỏ ý ấy trong thư viết cho Thang Hùng Nghiệp, binh bị đạo ở Quảng Tây: "Bộc tòng vô xâm biên phạm cảnh dĩ đắc tội vu Thượng quốc" (Tôi không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mắc tội với Thượng quốc).

Nhà vua nghĩ: nước nhà sau cơn nguy biến, nguyên khí đã kiệt, cần phải bổ dưỡng ít lâu mới khôi phục được nguyên trạng. Vì vậy, chính sách khôn khéo bấy giờ là phải hòa hoãn với Thanh để mình có đủ thì giờ mà mài nanh rũa vuốt.

Kế hoạch ấy đã định, Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung giao nhiệm vụ tiến hành công việc ngoại giao.

Bấy giờ nhà Thanh đã gờm, có ý muốn hòa, nên Tả giang binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Tây Sơn gợi ý bảo vua Quang Trung nên nhân dịp này, vận động lên thế vị họ Lê. Nghiệp sẽ đứng trong, ngầm giúp cho chóng nên việc.

Nhận được bức thư mật ấy của Thang Hùng Nghiệp, vua Quang Trung biết người Thanh ra mặt làm hòa, chứ chẳng dám giở trò gì nữa, nên mới chịu cho người đứng lên dàn xếp như vậy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:38:42 am
Kèm theo tờ biểu gửi vua Càn Long nhà Thanh, vua Quang Trung còn có bức thư gửi cho Thang Hùng Nghiệp cuối thư có những lời rất đanh thép:

"Ôi, quân lính cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều. Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, nhiều hiếp ít. Ví bằng chút tình trước đây không được bày tỏ, Thiên triều không chịu khoan dung một chút, cứ muốn động binh để tranh chiến, thế là làm cho nước nhỏ không được phục sự nước lớn thì bây giờ Đại quốc (chỉ nhà Thanh) có dạy bảo gì, tôi cũng chỉ xin theo thôi (ý nói có muốn đánh nhau thì ta sẽ đánh cho mà coi).

Nay có một tờ hịch của Tôn Sĩ Nghị trong nói toàn là những lời lăng loàn, chọc tức, gây hấn, xin đính trình một thể…”

Những lời giả vờ cung thuận, nhưng đầy vẻ ngạo nghễ ấy của vua Quang Trung làm cho Thang Hùng Nghiệp rụng rời kinh hãi! Nhất là xem hết tờ biểu trên, Nghiệp tưởng chừng như nó có tính cách khiêu khích để cuốn nhà Thanh vào vòng khói đạn lần nữa.

Nghiệp nói với sứ giả nước Nam là Hô hổ hầu: "Bây giờ không phải là lúc quân hai bên đương đánh nhau, vậy sao lại thả toàn giọng tức giận? Muốn cầu phong tước, hay muốn lại gây binh tranh, mà nói những lời như thế?".

Vì giữ thể diện cho "Thiên triều", Nghiệp phải dìm bức thư ấy, không dám để lọt đến tay vua Càn Long.

Sau khi chiến thắng quân Thanh, cũng như hai lần trước ra Bắc, vua Quang Trung lại không quên rút quân vô Nam, giữ lấy căn cứ địa từ Thăng, Điện trở ra Bắc.

Vua Quang Trung nhóm họp và dặn bảo các tướng văn võ: "Việc binh ở Bắc giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân. Việc từ lệnh với nhà Thanh ủy cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Phàm việc, ta cho tùy tiện mà quyết định. Nay ta về Nam, nếu việc nào không quan trọng khẩn yếu thì không cần bẩm báo...".

Đây là lần thứ ba vua Quang Trung lại từ giã sông Nhị non Nùng giữa những tiếng khải hoàn vui vẻ, hùng tráng và oanh liệt.

Từ đấy Ngô Văn Sở làm tổng thống quân quốc cơ vụ, Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích chủ việc từ lệnh để đối phó với Mãn Thanh.

Chính Ngô Thì Nhậm đã đóng vai sứ thần sang Thanh vận động với Phúc Khang An để nối lại tình thân thiện giữa hai nước.

Về phần nhà Thanh, trước Hùng Nghiệp, sau Khang An, họ đều chủ ý giảng hòa.

Sau khi lên thế chân Tôn Sĩ Nghị, Khang An tay cầm con ấn tổng đốc lưỡng Quảng, xoay ngay chính sách ngoại giao: năm mươi vạn quân lấy từ 9 tỉnh, qua tháng Tư mùa hạ năm Kỷ Dậu (1789), thảy đều bãi về. Cây cờ lớn đề chữ "Đề đốc cửu tỉnh binh mã" chỉ là hư trương thanh thế, chứ chính nó đã dẫn lối cho sứ bộ Tây Sơn vào "nói chuyện" với Khang An ở Quế Lâm rồi.

Khang An đã khéo dàn xếp ở ngoài, các thần (bầy tôi trong Nội các) Hòa Thân lại vận động ở trong, như: xin bãi binh, đừng gây sự ở ngoài biên thùy để khỏi làm lao phí trong nước, lại xin vua Thanh phong vua Quang Trung làm quốc vương để thay nhà Lê trị vì. Rồi lấy lịch sử làm chứng cớ, Hòa Thân nói với vua Càn Long: "Từ xưa đến giờ, Trung Quốc chưa bao giờ đắc chí ở cõi Nam cả. Chính Tống, Nguyên, Minh rút cục cũng đều thua hỏng: gương ấy không xa, hãy còn sờ sờ". Vì vậy, chẳng bao lâu, vua Thanh cũng phải vuốt bụng làm lành, niềm nở chìa tay đón lấy Tây Sơn, nhưng không quên "rửa mặt" bằng mấy điều kiện này:

Thứ nhất: để đền bù cái chết của đề trấn Hứa Thế Hanh, Tây Sơn phải lập cho cái đền thờ tại nước Nam mà xuân thu trí tế viên tướng tử trận ấy.

Thứ hai: quốc vương nước Nam, sang năm, nhân dịp bát tuần khánh thọ của vua Càn Long, phải thân sang triều cận.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:39:55 am

*
*   *

Sau khi đã áp đảo được nhà Thanh về mọi phương diện, vua Quang Trung bề ngoài mềm dẻo chịu phong, được Mãn Thanh chính thức thừa nhận, hòa hoãn được việc ngoại giao, chuyên lo mọi việc kiến thiết nội bộ; đối với trong nước được dân chúng biết rõ sự mình lên cầm chính quyền là danh chính ngôn thuận, xứng đáng thay thế triều Lê. Ngày 26 tháng Bảy năm Kỷ Dậu (1789), được tin có chỉ dụ của vua Càn Long, phong vua Quang Trung làm An Nam quốc vương, vì không muốn phải ra Thăng Long mà muốn ép sứ giả nhà Thanh phải thân vào tận Thuận Hóa để làm lễ truyền phong, nên vua Quang Trung đã kiếm cớ này cớ khác để làm cho nhà Thanh buộc phải chấp nhận.

Khi thấy việc ngoại giao đã tiến triển tốt đẹp, vua Quang Trung liền đứng tên khác là Nguyễn Quang Bình vào một bức thư nhũn nhặn hơn, rồi sai cháu là Nguyễn Quang Hiển, bầy tôi là bọn Vũ Huy Tấn, Ngô Vi Quý và Nguyễn Đình Cừ sang Thanh để tăng cường mối quan hệ thân thiện giữa hai nước.

Đại lược bức thư ấy: "Tôi nổi lên từ Tây Sơn, lấy được đất Quảng Nam trước, đối với nhà Lê, vốn không phân biệt trên dưới.

Năm ngoái (1788), đã sai người sang gõ cửa Thượng quốc, giãi bày duyên cớ gây chuyện với nhà Lê, nhưng vì biên thần dìm thư, cho nên không đạt lên được.

Kịp khi quan quân Thượng quốc ra khỏi cửa ải để chực tiến đánh, thì tháng Giêng năm nay (1789), tôi trước đến đô thành nhà Lê, muốn hỏi Lê Duy Kỳ về cớ tại sao cầu viện. Chẳng dè quan quân Thượng quốc mới thoạt trông thấy, đã vội hăng hái giết bừa! Bọn thủ hạ tôi khốn nỗi bó tay chịu trói. Lại gặp cầu sông đứt gẫy đến nỗi quan quân có sự tổn thương!

Xiết đỗi sợ hãi, nhiều lần tôi phải sai người sang gõ cửa ải, tạ tội và xin đưa trả những quan quân còn sót lại. Còn người giết hại quan Đề trấn
(tức Hứa Thế Hanh) thì chính tôi đã mắt thấy phải trị tội rồi.

Đáng lẽ tôi phải thân đến cửa khuyết, giãi tình, tạ tội là phải; ngặt vì nước tôi vừa mới qua cơn binh lửa, dân tình chưa yên, nên phải kính sai cháu tôi là Nguyễn Quang Hiển theo biểu vào chầu...".


Sứ bộ của phe chiến thắng, lẽ tất nhiên phải được kẻ bại trận, dầu kẻ ấy vẫn tự mệnh là "thiên triều", là "Thượng quốc" tiếp đón niềm nở, long trọng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:42:12 am

Chuyến Quang Hiển đi sang Thanh này cũng có Ngô Văn Sở cùng với Nguyễn Văn Danh và các vệ sĩ đi theo. Khi vua Thanh hay tin Sở cũng muốn tiến kinh với Hiển, thì truyền bảo Sở nên quay về vì vua Thanh nghĩ rằng bấy giờ nước Nam vừa mới tân tạo, mà Sở là một tay đắc lực nên cần để Sở lo việc trấn thủ trong nước. Đó là vua Thanh tỏ ý thể tất và săn sóc đến việc nước cho Tây Sơn.

Khi sứ bộ về, vua Thanh, để tỏ tình thân mật yêu quý, có gửi tặng vua Quang Trung một chuỗi trân châu. Sau đó trịnh trọng đem cái "sách phong An Nam quốc vương"; Thành Lâm, hậu bổ Quảng Tây, vâng mệnh vua Thanh, niềm nở sang Nam, lấy lòng khách chiến thắng.

Không muốn chịu phong ở Thăng Long, vua Quang Trung nói thác với sứ Thanh là Thành Lâm, khi Lâm mới đến cửa Nam Quan: "Thành Thăng Long đã tắt hết vượng khí; xin mời sứ giả vô Phú Xuân".

Thành Lâm cho thế là trái lệ, không chịu vào Thuận Hóa.

Vua Quang Trung cũng găng, không buồn ra Bắc để nhận tờ sách phong của một "Thiên triều", nên cứ thoái thác, như đã thấy ở mấy bức thư trên, là nhà vua đang se mình, dùng dằng lần lữa mãi.

Nhưng rồi việc ấy kết thúc bằng cách sai cháu ngoại là Phạm Công Trị mạo thay nhà vua đứng nhận phong.

Còn sắc và ấn thì ngày 12 tháng Chạp năm Canh Tuất (1790), Giả vương nước Nam khi sang Thanh, đi đến ải Nam Quan, có sai lũ bồi thần là Nguyễn Văn Danh và Ngô Văn Sở đem bọn vệ sĩ đến Chiêu Đức đài nhận lĩnh vào ngày 13 tháng ấy.

Thời bấy giờ ở Việt Nam nhân sâm còn rất hiếm, muốn người Thanh phải "cung cấp" nhân sâm, nhưng không muốn mang tiếng là đi xin, vua Quang Trung hành động rất khôn khéo: cho Nguyễn Hoành Khuông sang Thanh đem theo một bức thư; trong đó, nhà vua dặn sứ thần mua nhân sâm, vì Quốc thái (mẹ vua Quang Trung), tuổi đã 80, cần dùng nhân sâm để bổ dưỡng sức khỏe.

Nhà vua liệu trước rằng bức thư dặn mua sâm đó tất sẽ lọt đến bọn quan lại ở biên giới nhà Thanh trước. Một khi họ đã hay biết việc đó, lẽ tất nhiên họ phải tìm cách "lấy lòng" khách chiến thắng, thì thế nào họ chẳng phải dâng sâm đến tận nơi.

Quả nhiên, khi Phúc Khang An xem bức thư dặn mua sâm ấy, không lẽ làm lơ, nên phải kiếm ngay bốn lạng nhân sâm, giao Thang Hùng Nghiệp cắt người ruổi ngựa đưa sang tận Lạng Sơn để nhờ chuyển lên Quang Trung Hoàng đế.

Cũng việc này năm Canh Tuất (1790), vua Càn Long nhà Thanh nhận được tờ tấu của Tôn Vĩnh Thanh nói về việc vua Quang Trung dặn Nguyễn Hoành Khuông mua sâm, vua Thanh liền sai mở kho Thượng phương, tặng ngay một cân nhân sâm tốt nhất.

Thế là vua Quang Trung được vua tôi nhà Thanh hai lần biếu nhân sâm, một của rất quý đối với thời đại bấy giờ, theo như lời vua Thanh Càn Long đã nói trong tờ dụ khác:

"Nhân sâm không phải là của dễ kiếm được, thế mà Thiên triều ban cho như vậy, thật là cái ơn chan chứa ngoài lệ thường".

Nhận được nhân sâm rồi, vua Quang Trung sai viết biểu tạ vua Càn Long có những câu như:

      "Thần hữu mẫu, hữu thân, báo đáp ngưỡng bằng ư đại tạo
      Quân vi sư, vi phụ, sinh thành thâm ký ư long chiêm...”


Nghĩa là:
      "Tôi có mẹ già, báo đáp nhờ công gây dựng lớn,
      Ngài là sư phụ, sinh thành mong tắm móc mưa rào".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:42:57 am

*
*   *

Mùa xuân Canh Tuất (1790), Phúc Khang An làm theo ý vua Thanh đã định trong tờ dụ gửi cho vua Quang Trung, giặc Quốc vương (Quang Trung) sửa soạn sang triều. Nhưng vua Quang Trung nói thác là có tang mẹ không tiện đi, xin sai con là Quang Thùy thay thế.

Cho thế là không nên. Khang An phái người sang Nam dỗ dành rằng: Cực chẳng đã, nếu Quốc vương không thân sang triều cận được, thì nên chọn lấy một người trạng mạo giống mình mà cho đi thay.

Sau khi được tin Quốc vương nước Nam (kỳ thực chỉ là Giả vương) sắp sang triều cận, triều Thanh nhộn nhịp lo sắp đặt mọi việc đón tiếp cho được chu đáo. Vua Thanh lại căn dặn Phúc Khang An lo cuộc hành trình cho vừa vặn, để Quốc vương đi đường được ung dung, không đến nỗi phải vất vả.

Về phần vua Quang Trung, vẫn nhớ mình là nước nhỏ cần phải mềm dẻo trong cuộc ngoại giao, nên nhà vua chọn Phạm Công Trị, cháu gọi vua bằng cậu, cho đội tên mình, đóng vai Giả vương, sang Thanh mừng thọ.

Phương châm ngoại giao đã ấn định. Việc phái Giả vương sang Thanh liền được thực hiện. Sứ bộ gồm có các quan văn võ cao cấp: Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc và Đỗ Văn Công... Ngoài các yếu nhân đó, còn có Nguyễn Quang Thùy, con trai thứ của vua Quang Trung, cùng đi với Giả vương. Sứ bộ gồm 150 người đem theo tờ biểu văn tạ ơn vua Thanh về việc tặng triều châu và hà bao do chuyến Nguyễn Quang Hiển sang sứ lần trước. Và đồng thời lại cử sang Thanh một ban văn thự nhạc công đem theo mười bài từ khúc chúc thọ (khánh chúc vạn thọ từ khúc, thập chương) để biểu diễn, hát mừng vua Thanh trong dịp bát tuần vạn thọ.

Mười bài chúc hỗ ấy là do Phan Huy Ích vâng mệnh vua Quang Trung làm ra, rồi sai viết vào bức kim tiên, đệ sang Thanh. Còn việc lựa lấy mười người nhạc công theo sang triều cận để biểu diễn mười bài chúc phúc ấy theo dịp phách giọng ca, là do chỉ dụ vua Thanh đã dặn từ trước.

Về sau, khi sứ bộ sang tới nơi, dự yến ở ngự điện, bộ Lễ nhà Thanh dẫn nhạc công nước Nam vào hát mừng. Vua Thanh đẹp lòng, khen ngợi, hậu thưởng cho tiền tệ; lại sai quan thái thường kén lấy 10 người hát tuồng (lê viên) ăn mặc theo lối nhạc công Nam: đội mão tú tài, vận áo cổ tràng (giao lĩnh y), đồng thời hòa tấu giữa những tiếng đàn, tiếng sênh, tiếng trống.

Vua Thanh lại vời nhạc công nước Nam vào trong cung cấm dạy những người "lê viên" ấy hát tiếng Nam, diễu khúc điệu; vài ngày tập quen.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:43:17 am

Khi mở tiệc, người ta dẫn nhạc công Nam và Bắc chia đứng hai hàng, đối mặt mà hát; thể cách cùng phù hợp nhau.

Khi hay tin Quang Thùy cùng đi, vua Càn Long tưởng Thùy là Thế tử của Quốc vương nước Nam, nên có đặc cách ban chỉ: phong Quang Thùy làm Thế tử và hứa rằng khi Quang Thùy đến Nhiệt Hà, vào chầu, sẽ cấp sắc thư và ban áo mão.

Nhưng, sau thấy phái bộ ta nói Quang Toản mới chính là Thế tử, Quang Thùy chỉ là Vương tử thôi, vua Thanh bèn sai các thần đổi soạn sắc thư, phong Quang Toản làm "An Nam Quốc vương Thế tử”.

Tuy vậy, đối với Quang Thùy trong chuyến đi này, vua Thanh cũng muốn tỏ ý rất ân cần trọng đãi.

Dọc đường, Quang Thùy nhuốm bệnh. Hay tin ấy, vua Thanh lại thưởng cho Quang Thùy một cái như ý bằng ngọc và kèm thêm những lời chúc: "Để làm điềm tốt lành lớn, tức khắc ngày nay được qua khỏi, yên lành”.

Rồi vua Thanh lại dụ Phúc Khang An phải để Vương tử Quang Thùy về trước điều trị, phải phái người hộ tống Vương tử đến tận cửa ải giáp giới nước Nam.

Làm theo mệnh lệnh ấy, viên tổng đốc lưỡng Quảng bấy giờ phải cắt người đưa Quang Thùy- đến cửa Nam Quan để về nước, chữa chạy thuốc thang. Còn Giả vương và sứ bộ cứ việc thuận đường thẳng trẩy.

Giả vương và sứ bộ nước Nam được nhà Thanh đón tiếp cực kỳ long trọng. Từ châu Ninh Minh tỉnh Quảng Tây ra đi, phàm các thứ gạo, bột, rau, thịt hằng ngày đều do các nhà chuyên trách Mãn Thanh tiếp tế cung ứng, hoặc đi đường thủy, hoặc đi đường cạn. Dọc đường, yến tiệc đón tiếp Giả vương và sứ bộ nước Nam rất ưu đãi. Hễ có của ngon, vật lạ gì, vua Thanh lại sai chạy ngựa trạm đưa đến thết khách.

Khi Giả vương cùng Phúc Khang An mới khởi trình từ tỉnh Việt, vua Càn Long sai đưa tặng Giả vương bánh sữa quạt và đồ hương khí...

Vua Thanh lại dặn Phúc Khang An: trong khi đi đường hộ tống Quốc vương nước Nam, hễ được vua Thanh phê phán gì vào những tờ tấu của Khang An thì Khang An cũng nên đưa cả cho Quốc vương cùng xem khiến cho trong lòng Quốc vương khỏi ngờ vực. Ấy là chưa kể những quà vua Thanh đã đưa tặng Quốc vương như một đôi ngự dụng hà bao lớn, ba đôi hà bao nhỏ, sáu hộp hương khí và những lời khen phê vào biểu văn, nào "tình từ chân chí", nào "truân thiết thành khẩn".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:43:52 am

*
*   *

Quốc vương nước Nam, khi ở trong nước, thường đeo cái đai da sắc đỏ. Vua Thanh muốn tỏ ý ưu đãi khách chiến thắng một cách khác thường, sai chế sẵn áo mão đúng kiểu để thưởng cấp cho Giả vương sau khi tới kinh. Ngoài đó ra, vua Càn Long lại định thưởng thêm cho chiếc "hoàng kim thinh đới" nữa.

"Hoàng kim thinh đới" là một thứ đai bằng da có cẩn hoặc nạm vàng. Theo như lời dụ của vua Thanh, thì thể chế Mãn triều bấy giờ chỉ những bực tông phiên (phiên thần họ đồng tông với nhà vua) mới được dùng thứ đai ấy. Thế mà nay ban nó cho Giả vương nước Nam thật là một thứ "sủng vinh khó gặp!".

Vua Thanh lại dặn: trong khi đi đường, Quốc vương nên cứ thắt cái đai đỏ (hồng đới), đợi khi tiến kinh, vào diện cận, bấy giờ sẽ thưởng chiếc đai vàng mà "Thiên triều" đã sắm sẵn cho kia.

Bấy giờ vua Thanh Càn Long mới in xong cuốn Ngự chế tập, Thạch cổ thi tự, liền gửi tặng Giả vương một tập.

Trong khi đi cùng Giả vương, Phúc Khang An không quên làm công việc như một nhà trinh thám: Phàm tình hình đi đường với Giả vương thế nào, Khang An đều tâu hết với vua Thanh. Chẳng những vậy, ba bức thư của Giả vương gửi về Thăng Long và các chỗ khác cũng đều bị Khang An sao lục rồi tiến trình lên vua Mãn Thanh. Giả vương cũng đã liệu trước tất có sự "kiểm duyệt thư tín" ấy, nên các thư tín gửi về nước đều không niêm cả.

Khi vua Càn Long xem lời tâu và bản sao lục của Khang An, có khen Quốc vương cẩn thận và biết việc. Lại khen trong thư Quốc vương phân xử việc nước thật là rạch rời có thứ tự, có đầu mối.

Sau khi nhận thấy việc "kiểm duyệt thư tín” ấy chẳng những khiếm nhã đối với vị thượng khách, mà lại làm bất tiện và ngăn trở đến việc riêng của khách nữa, nên vua Thanh có dụ Phúc Khang An "Quốc vương vào triều, chúc thọ, đi lại phải mất độ 8, 9 tháng. Tất phải có thư đi tin về để bàn bạc việc nước. Nếu hết thảy thư tín đều không niêm, chẳng hóa ra không phỉ là đạo tỏ tín nghĩa với người ngoài!".

Tức thì vua Thanh ra lệnh: "Từ rầy trở đi, các thư tín đi lại. Quốc vương không cần nệ theo cái thành lệ mà hết thảy phải không niêm nữa". Đó là một cách ưu đãi khác thường, vì theo thể chế nhà Thanh bấy giờ, phàm các ngoại phiên đệ trình văn báo đều không được niêm phong.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:44:20 am

*
*   *


Phái bộ nước Nam, ngày mồng một tháng Bảy, đặt chân trên đất Từ Châu thuộc tỉnh Trực Lệ, Giả vương cùng các nhân viên tùy tòng, khi sắp tới kinh đô nhà Thanh, đã thấy Đức Minh, thị lang bộ Lễ, thân đón tiếp ở tận Lương hương.

Rồi Giả vương dùng trà do vua Thanh từ trước đã sai Kim Giản cắt trà phòng thị vệ theo Đức Minh đến chực sẵn để dâng tiến.

Để tỏ ý ưu đãi khác thường, vua Càn Long khi tiếp Giả vương ở hành cung Nhiệt Hà, cho làm lễ "bão kiến, thỉnh an" trong một bầu không khí cực êm đềm thân mật. Lễ đó, theo như lời dụ của vua Thanh, chỉ những ai trong bọn đại thần có nhiều huân lớn, công to mới được dùng.

Đến Nhiệt Hà, Giả vương được vua Thanh ân cần tiếp đãi và ban tặng bài thơ, đại ý nói: Năm trước phải đem binh sang Nam, là cốt khôi phục cho nhà Lê. Nhưng nhà Lê đã đến lúc không được trời tựa, nên phải phong cho họ Nguyễn (Tây Sơn), vì Nguyễn đã quy phục thật tình. Rồi tác giả bài thơ ấy trịnh trọng khuyên: "Phải nên giữ gìn lấy đất nước, đừng để họ khác nổi lên. Dặn con cháu phải nên dốc một lòng thần phục Đại Thanh...".

Ngày 20 tháng Tám năm Canh Tuất (1790), đoàn sứ bộ được vua Thanh ban chỉ khiến về nước. Giữa ngày ấy, sứ bộ ăn tiệc ở đền Chính đại Quang Minh với bao vẻ huy hoàng lộng lẫy. Rồi hai sứ thần là Phan Huy Ích và Vũ Huy Tấn được đặc cách vời đến bên cạnh vua Thanh, được ban thứ rượu "đề hồ" đựng trong chén bích ngọc do chính tay vua Càn Long rót mời.

Khi Giả vương vào bệ kiến xin từ biệt, vua Thanh muốn tỏ tình ân cần thân thiết, bèn mời vào bên giường ngự, lấy tay vỗ vai Giả vương, vỗ về với vẻ ôn tồn. Lại sai họa công vẽ một bức chân dung đưa tặng để làm kỷ niệm.

Sứ bộ ra đi từ cuối xuân Canh Tuất (1790) đến 29 tháng 11 năm ấy thì về nước. Những cuộc tiếp đón và tiễn đưa đã làm triều Thanh mất ngót một năm bận rộn. Sứ giả Mãn Thanh, do vua Càn Long sai phái, trong dịp có thượng khách này, tấp nập đi lại, náo nhiệt suốt dọc đường.

Do vậy, Đoàn Nguyễn Tuấn, một người trong sứ bộ hồi ấy, đã viết ở cuối cuốn Tinh sa kỷ hành của Phan Huy Ích, một tập thơ thuật lại chuyến đi sứ này, rằng: "Chuyến đi này được nhà vua (Thanh) đặc cách cho quan tổng đốc (Thanh) đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả tai mắt người ta. Đi tới đâu, quan lại phải đón tiếp đến đó. Mùa thu (năm Canh Tuất 1790) đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại theo xa giá (vua Thanh) về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiết yết hàng tuần, được ơn trời âu yếm ưu đãi khác thường. Trước giờ người mình đi sứ Tàu, chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như vậy...".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 08:49:08 am

Câu hỏi 16: Chủ tướng quân xâm lược Mãn Thanh, tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đã từng nói: "Quân Nam đánh trận hay dùng sức voi". Hãy cho biết một số đặc điểm và tác dụng của voi chiến (tượng binh) thời Nguyễn Huệ - Quang Trung?
Trả lời:


Trước khi mở cuộc tiến công xâm lược Đại Việt, tướng giặc tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đã ban bố trước toàn quân tám điều quân luật. Trong đó có hai điều nói rất cụ thể về cách đề phòng và chống lại voi chiến và hỏa hổ của quân đội Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Chúng cho voi chiến và hỏa hổ là "những lợi khí của quân Nam" không thể coi thường được.

Tại sao Tôn Sĩ Nghị đã khẳng định: "Quân Nam đánh trận hay dùng sức voi"1. Hẳn rằng, một viên tướng kiệt liệt của Thiên triều đã từng lão luyện việc biên thùy và được vua Càn Long hết lòng tin cẩn như Tôn Sĩ Nghị, trước khi dẫn đạo quân viễn chinh sang Đại Việt cũng đã tìm hiểu kỹ càng khả năng của đối phương và chắc y cũng hiểu biết được ít nhiều về sức mạnh lợi hại của quân đội Đại Việt trong lịch sử. Đúng là quân ta đã có truyền thống sử dụng voi chiến trong các cuộc chiến tranh chống sự xâm lược Bắc phương. Hai Bà Trưng từ những năm 40 - 42, rồi Bà Triệu năm 248 đã lẫm liệt, hiên ngang cưỡi voi chỉ huy các đạo nghĩa binh chống xâm lăng giành nền độc lập. Trong các cuộc chiến tranh chống Tống (thời Lý), chống Mông - Nguyên (thời Trần) và chống quân Minh (thời Hồ), tổ tiên ta đều sử dụng voi chiến đánh giặc. Sức mạnh hùng vĩ của đạo tượng binh trong quân Thiết Đột của phong trào yêu nước Lam Sơn đã làm giặc Minh lắm phen khiếp đảm và được Nguyễn Trãi ca ngợi trong Đại cáo bình Ngô rằng: "Voi uống nước nước sông phải cạn, gươm mài đá đá núi phải mòn”. Vậy là voi chiến đã xuất hiện sớm, đóng vai trò quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc và trở thành một phương tiện chiến đấu hết sức lợi hại trong quân đội Đại Việt. Điều đó cũng đã được sử sách Trung Quốc nhắc đến nhiều lần.

Đến thế kỷ XVIII, trong điều kiện hỏa khí đã trở thành phổ biến, voi chiến vẫn được, sử dụng rộng rãi và trở thành một binh chủng đặc biệt trong quân đội nhà Trịnh, nhà Nguyễn. Tượng binh Tây Sơn nổi tiếng hùng mạnh, được các giáo sĩ Pháp đương thời chứng kiến và đánh giá cao trong các nhật ký của họ.

Voi chiến có thể vừa là phương tiện chiến đấu, vừa là vũ khí sát thương quân địch. Voi chuyên chở vũ khí, binh lính và lương thảo. Khi cận chiến, giáp lá cà, voi có thể dùng vòi, dùng chân diệt địch hoặc phá rào lũy, mở đường tiến cho bộ binh.

Nghĩa quân Tây Sơn rất chú trọng phát triển tượng binh. Căn cứ bước đầu của phong trào Tây Sơn thuộc miền rừng núi Tây Nguyên, là nơi có truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi, phục vụ trong đời sống và cả trong chiến đấu chống giặc. Để có một voi chiến, người ta phải luyện tập dạy dỗ rất công phu, tập cho chúng nghe theo hiệu lệnh, quen với chiến trận, khói lửa và tên đạn. Trong nghĩa binh Tây Sơn có nhiều người không chỉ giỏi võ mà còn thạo cưỡi ngựa và quản tượng. Đoàn voi chiến của Tây Sơn nhanh chóng phát triển. Đó là voi Tây Nguyên với những người quản tượng đầy tài năng, thành thạo trong chiến đấu. Quân đội Tây Sơn trưởng thành cùng với quá trình chiến thắng trên bước đường tiêu diệt các thế lực phong kiến phản động. Số lượng voi chiến, cũng như đại bác thu được của quân Trịnh và quân Nguyễn ngày càng tăng. Ngay từ những năm đầu, khi tiến đánh Quy Nhơn, Đà Nẵng và Phú Yên, quân Tây Sơn đã giành được gần 100 voi chiến của chúa Nguyễn. Bấy giờ trong quân đội chúa Trịnh, lực lượng tượng binh có tới trên 500 voi chiến đấu. Theo các giáo sĩ Pháp đương thời thì năm 1627, quân Trịnh đã sử dụng 300 thớt voi trong cuộc hành quân đánh quân Nguyễn. Và đến năm 1642, khi tiến công quân chúa Nguyễn, nhà Trịnh đã sử dụng đến 173 con voi, trong đó có 130 voi chiến. Như thế có nghĩa, trên thực tế quân đội chúa Trịnh có một đạo tượng binh rất lớn. Theo sách Thanh vũ ký, sau khi giải phóng Thăng Long, quân Tây Sơn đã tiêu diệt lực lượng họ Trịnh và đưa về Phú Xuân toàn bộ số voi chiến thu được, chỉ để lại ở Bắc Hà 50 thớt voi mà thôi. Thế là trong tay Tây Sơn - Nguyễn Huệ có không ít voi chiến.

Cho đến nay, ta chưa biết đích xác số lượng voi chiến của Tây Sơn có bao nhiêu. Nhưng với số voi vốn có của nghĩa quân, cộng với số voi chiếm được của quân Nguyễn và quân Trịnh, Nguyễn Huệ đã có tới khoảng 500 voi chiến đấu. Mỗi voi chiến, ngoài quản tượng, có khoảng bốn năm chiến binh cầm vũ khí ngồi trên mình voi. Ngoài cung nỏ, giáo và lao, tượng binh Tây Sơn còn được trang bị các thứ hỏa khí như súng tay, hỏa hổ và đại bác.
_________________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 08:50:36 am

Một nét nổi bật về phương pháp dụng binh của Nguyễn Huệ là ông sử dụng lực lượng tập trung với nhiều binh chủng kết hợp, cùng một lúc nhanh chóng tiến công quân địch từ nhiều hướng. Chính vì thế Nguyễn Huệ rất coi trọng và mạnh dạn sử dụng loại binh chủng đặc biệt này.

Trong cuộc hành quân thần tốc năm 1789, để tránh khó khăn phải vượt nhiều sông ngòi trên hướng đường bộ, Nguyễn Huệ cũng đã dùng thuyền vận tải một bộ phận voi chiến qua những chặng đường dài để kịp thời tập kết đúng thời gian ở Tam Điệp. Ngay trong đợt hành quân giải phóng Gia Định lần thứ ba (1783), Nguyễn Huệ đã mạnh dạn dùng thuyền bí mật vận chuyến cả một đội tượng binh để sử dụng hiệp đồng chiến đấu với bộ binh tại cứ điểm Đồng Tuyên, gây cho quân đội chúa Nguyễn bất ngờ và khiếp sợ. Có thể nói chuyển quân trong đó có cả tượng binh bằng thuyền là một điểm mới của phương thức hành quân chiến đấu của quân đội thời Tây Sơn.

Khi đại duyệt quân đội cũng như lúc ra trận, Nguyễn Huệ thường cưỡi voi để úy lạo quân sĩ và trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Trong số năm đạo quân cùng xuất phát từ Tam Điệp - Biện Sơn tiến công quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu đã có tới ba đạo Quang Trung sử dụng kết hợp giữa tượng binh với bộ binh và kỵ binh. Trên mỗi hướng tiến công đều có hàng trăm voi chiến tham gia. Voi chiến không chỉ chở trên mình các chiến binh, mà còn chở cả các phương tiện chiến đấu, các loại hỏa khí như hỏa hổ, đặc biệt là đại bác cỡ vừa và nhỏ. Như vậy là pháo tượng đã xuất hiện ở nước ta. Nhờ thế hỏa lực pháo binh cơ động thuận tiện hơn, càng tăng cường được ưu thế xung hỏa lực để cận chiến và giáp chiến có hiệu quả hơn. Trong chiến tranh, voi không chỉ là một phương tiện cơ động, một thứ vũ khí sát thương mà khi đã trang bị hỏa hổ và đại bác thì nó trở thành một phương tiện hỏa lực, có khả năng đột kích rất lớn.

Về phía quân Thanh, trước cuộc chiến tranh, chúng đã nghiên cứu kỹ cách đề phòng và chống đỡ tượng binh của ta. Chúng cho rằng: "Quân Nam đánh trận hay dùng sức voi”. Nhưng "voi không phải là con vật nội địa (ở Trung Quốc) từng tập quen, nên hễ gặp phải, trước tiên quân ta (tức quân Thanh) thế nào cũng tránh chạy. Không biết rằng, sức voi tuy khỏe, chung quy cũng là thân máu thịt, không thể đương được với súng ống của ta. Nếu thấy voi ra trận, xa thì bắn súng, gần thì dùng cung và đao, làm cho nó bị đau mà chạy trở lại, giày xéo lẫn nhau, quân ta nhân cơ hội ấy mà tiến lên chém giết, thế nào cũng thắng trận, không còn nghi ngờ gì nữa"1. Dẫu sao, quân Thanh vẫn coi voi chiến và hỏa hổ là những thứ đáng sợ nhất. Bởi thế, để đề phòng tượng binh Tây Sơn, quân Thanh đã bố trí một hệ thống chướng ngại gồm mương rãnh, rào gỗ, chiến lũy, chông sắt và địa lôi chung quanh đồn Ngọc Hồi. Ngoài ra chúng còn định dùng kỵ binh và pháo binh để chống lại voi chiến.
_________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 08:51:01 am

Sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu, tại Ngọc Hồi, Quang Trung đã sử dụng hơn 100 voi chiến. Khi được lệnh tiến công, đoàn tượng binh như những chiến xa trong chiến tranh hiện đại, bất chấp các thứ hỏa khí, vẫn hiên ngang tiến sát đồn giặc.

Trông thấy voi chiến, quân Thanh không khỏi hoảng sợ, vì thế từ trước viên tướng chỉ huy mặt trận phía nam này là đề đốc Hứa Thế Hanh đã căn dặn quân lính: "Dạy voi đánh trận là lối cũ của người Nam. Mẹo chống chế, chủ súy (tức Tôn Sĩ Nghị) đã có công văn rõ rồi" (Minh đô sử). Y ra lệnh tập trung pháo bắn voi, dùng hỏa đồng phun lửa để uy hiếp, ném địa lôi cản trở bước tiến của tượng binh ta. Hứa Thế Hanh lại tung đạo kỵ binh tinh nhuệ nhất của chúng ra nghênh chiến.

Mặc dầu đã tính toán đề phòng, nhưng cả chủ súy Tôn Sĩ Nghị lẫn đề đốc Hứa Thế Hanh đều không thể biết hết được sức mạnh của quân đội Tây Sơn, chưa lường trước được tính lợi hại của loại phương tiện chiến đấu đặc biệt này của Nguyễn Huệ, cho nên quân Thanh không thể nào cản phá được đội hình tiến công của quân Tây Sơn.

Thế của quân Tây Sơn "ào ào như nước triều dâng", áp đảo thế quân giặc. "Voi xông pha trong làn tên đạn, nhổ rào lũy tiến vào". Từ trên mình voi, quân Tây Sơn dùng đại bác và hỏa hổ phá hủy và thiêu cháy đồn trại giặc. Quân Thanh chết vô kể. Đề đốc Hứa Thế Hanh và tướng quân tả dực Thượng Duy Thăng đều bỏ mạng. Trong trận này, tượng binh Tây Sơn là lực lượng đột kích lợi hại nhất, tạo nên sức mạnh hiệp đồng chiến đấu có hiệu quả với bộ binh.

Tàn quân giặc lại sững sờ khủng khiếp khi chạy về Quỳnh Đô lại gặp phải đạo tượng binh của đô đốc Bảo.

Chúng bị bao vây ở Đầm Mực. Ở đấy, tượng binh Tây Sơn một lần nữa phát huy sức mạnh của mình: chặn đường giày xéo, quật chết hàng loạt địch. Tổng binh Trương Triều Long cùng toàn bộ quân giặc đang tháo chạy bị tiêu diệt.

Trong lúc Quang Trung và đô đốc Bảo đánh ở Ngọc Hồi - Đầm Mực thì đạo tượng binh và kỵ binh do đô đốc Long chỉ huy, phát huy sức cơ động, vượt qua một chặng đường hành quân dài, đầy khó khăn, đã bí mật tập kết đúng kế hoạch, rồi bất thần tiến công vào cụm quân giặc ở Khương Thượng - Nam Đồng. Voi chiến mang hỏa hổ và đại bác, cùng với kỵ binh xông vào đồn trại giặc, mặc sức tung hoành, đốt phá và tiêu diệt quân Thanh, rồi tiến thẳng vào trung tâm đầu não quân xâm lược tại cung Tây Long, nơi hành doanh của Tôn Sĩ Nghị. Chiến công của đạo tượng binh và kỵ binh trên hướng này đã góp phần quyết định làm rung chuyển và tan rã toàn bộ khối quân giặc đóng tại Thăng Long, khiến chúng hoảng loạn, không kịp trở tay đối phó. Tổng đốc họ Tôn "sợ mất mật", "bủn rủn chân tay", người không kịp mặc giáp, ngựa chẳng kịp đóng yên, may mà thoát chết.

Trưa ngày mồng 5, vua Quang Trung lẫm liệt hiên ngang trên voi chiến, với chiếc áo bào đã nhuộm đen khói súng, dẫn đầu đạo quân chủ lực tiến vào kinh thành giữa sự hân hoan chào đón của nhân dân.

Như vậy, voi chiến quả thật "là một lợi khí của quân Nam"; trong chiến công thần kỳ đầu xuân Kỷ Dậu (1789) có sự đóng góp to lớn của đạo tượng binh Tây Sơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 08:51:55 am

Câu hỏi 17: Nguyễn Nhạc (Nguyễn Văn Nhạc), người khởi xướng và là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, vua đầu tiên của triều Tây Sơn. Hãy cho biết đôi nét về thân thế và sự nghiêp của ông?
Trả lời:


Nguyễn Nhạc (Nguyễn Văn Nhạc, chưa rõ năm sinh, mất năm 1793), quê gốc Nghệ An, sinh tại Kiên Mỹ, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

Từ nhỏ, anh em Nguyễn Nhạc được đi học và có thời gian đã theo học thầy giáo Hiến. Giáo Hiến nguyên là môn khách của Trương Văn Hạnh, ngoại hữu dưới thời Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Sau vì Hạnh bị Trương Phúc Loan giết, giáo Hiến sợ bị liên lụy phải chạy vào Quy Nhơn, mở trường dạy học ở ấp Yên Thái. Lúc đó quyền thần Trương Phúc Loan tác oai tác quái, lòng người ai cũng căm ghét. Hàng ngày được học với giáo Hiến, anh em Tây Sơn lại được thúc giục bởi những câu sấm đầy khích lệ: "Tây khởi nghĩa, Bắc thụ công". Giáo Hiến còn nói cụ thể hơn:

- Anh là người Tây Sơn, hãy cố đi!

Nguyễn Nhạc xuất thân làm biện lại (thu thuế ở một trạm thuế trong vùng) nhưng vụ thuế năm Tân Mão (1771), thu được bao nhiêu Nguyễn Nhạc đánh bạc hết sạch. Để tránh sự truy tố của nhà cầm quyền, Nhạc bỏ trốn cùng hai em vào ở núi Thượng Đạo, ấp Tây Sơn, dựng trại, lập đồn, xưng hùng khởi nghĩa. Cơ nghiệp triều Tây Sơn bắt đầu từ đây.

Theo anh em Tây Sơn là những người can đảm đã từng bôn ba, bị cuộc sống dồn nén, xô đẩy đến bước đường cùng phải cầm vũ khí; lại có cả những người thuộc các dân tộc miền thượng du vùng nam Trường Sơn... Bước đầu nghĩa quân đã có vài nghìn người. Anh em Tây Sơn thường sai quân đi cướp của những nhà giàu trong vùng rồi phân phát cho dân nghèo. Lúc bấy giờ trong vùng Quy Nhơn có Huyền Khê là một tay giàu có, ngầm giúp họ về tài chính. Nhờ đó Tây Sơn mộ lính sắm khí giới và theo đuổi mục tiêu cao hơn: lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ Hoàng Tôn Dương.

Mùa thu năm Quý Tỵ (1773), Tây Sơn đem quân ra đánh ấp Kiên Thành, chia đặt cơ quan cai quản trong vùng họ kiểm soát: Chúa trại nhất Nguyễn Nhạc kiểm soát hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn; Chúa trại nhì Nguyễn Thung phụ trách huyện Tuy Viền; còn Chúa trại ba Huyền Khê cung cấp lương thực quân nhu... Họ không chỉ mở rộng vây cánh ở trong vùng như chiêu dụ những tay lục lâm Nhưng Huy và Tứ Linh mà còn liên lạc với nước ngoài, mật ước với nữ chúa Chiêm Thành đem quân sang đóng ở trại Thạch Thành làm thế ỷ giốc. Công việc sắp đặt và mưu mô ban đầu đều do Nguyễn Nhạc, một con người cơ trí và đóng vai trò chủ động. Bằng mưu kế trá hàng của Nguyễn Nhạc, quân Tây Sơn chỉ trong một đêm đã lấy được thành Quy Nhơn, sau đó tiến đánh Quảng Ngãi. Dưới chiêu bài tôn phò Đông Cung Dương, họ đánh chiếm được Phú Yên. Năm Bính Thân (1776), Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, đúc ấn vàng, phong cho hai em: Nguyễn Huệ làm Phụ chính, Nguyễn Lữ làm Thiến phó. Những người có công theo giúp cũng theo thứ bực ban thưởng. Tây Sơn Vương đóng đô tại thành Đồ Bàn, trữ lương thực, luyện binh lính, điểm duyệt tướng sĩ, thu dùng những tay hào kiệt, lực lượng phát triển nhanh chóng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 08:53:19 am

Giảng hòa với quân Trịnh, năm Đinh Dậu (1777) Nguyễn Nhạc được phong làm Quảng Nam trấn thủ tuyên úy Đại sứ cung quốc công. Từ đó quân Tây Sơn dốc toàn lực tấn công quân Nguyễn ở phía nam. Hai đạo quân thủy bộ do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cầm đầu rầm rộ tiến vào Gia Định: Nguyễn Phúc Thuần và Đông Cung Dương đều bị chết trong trận đánh ở Long Xuyên, chỉ còn Nguyễn Ánh chạy thoát ra đảo Thổ Châu, sau chạy sang Xiêm ẩn náu.

Năm Mậu Tuất (1778), sau khi đã giết được chúa Nguyễn, đánh tan lực lượng của chúa Nguyễn ra khỏi cõi, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, thành lập một vương triều mới, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.

Bấy giờ thấy vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc lấy hiệu bằng hai chữ "Thái Đức", có người hiếu sự, đoán chiết tự hai chữ "Thái" và chữ "Đức" mà phán rằng: "Ba người tranh một nước", "mười bốn năm nữa sẽ mất". Có người còn đoán định mệnh nhà Tây Sơn bằng câu: "Thập nhị niên cường, kỳ cường mạc ngự" (Mạnh mười hai năm, cái mạnh ấy không ai chống nổi).

Từ lúc khởi binh năm Tân Mão (1771) đến năm Nguyễn Nhạc lên ngôi năm Mậu Tuất (1778) anh em nhà Tây Sơn đã phải chiến đấu trong 8 năm trường.

Năm Giáp Thìn (1784), quân đội Tây Sơn đã đánh tan 5 vạn quân với 300 chiến thuyền giặc Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện về để cứu giúp mình ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Năm Bính Ngọ (1786), theo lệnh của Hoàng đế Nguyễn Nhạc, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem đại quân ra hạ thành Thuận Hóa của quân Trịnh tháng 5 năm Bính Ngọ (1786) và một tháng sau - ngày 25 tháng 6 quân đội Tây Sơn đã tiến vào cố đô Thăng Long, thực hiện khẩu hiệu "phù Lê diệt Trịnh".

Sau nhiều chiến thắng lẫy lừng, uy danh của Nguyễn Huệ ngày càng vang dội. Nghe tin Nguyễn Huệ đã lấy được thành Thăng Long, Nguyễn Nhạc cả sợ, cho rằng Nguyễn Huệ giữ quân ở ngoài, khó bề kiềm chế nổi, liền lấy 500 thân binh ra Phú Xuân chọn thêm quân tinh nhuệ đi gấp ra Bắc. Vua Lê biết tin vua Tây Sơn thân hành ra Thăng Long, đem trăm quan ra ngoài cõi để đón. Nguyễn Nhạc thúc quân đi mau, sai người đến hẹn với vua Lê hôm khác sẽ đến ra mắt. Còn Nguyễn Huệ ra tận ngoại ô đón tiếp và tạ tội tự chuyên của mình. Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc nói:

- Tướng ở bên ngoài, nếu gặp việc biến thì cứ tự ý mà làm cũng được. Bắc Hà có thể lấy được, mà chú lấy ngay được, đó là nhờ thần diệu trong phép dùng binh... Nhưng mà mình đi đánh nước khác, kéo quân vào sâu trong xứ sở của người ta, một chốc làm thay đổi hết nền nếp cũ của họ như thế, tránh sao khỏi sự thù oán của muôn họ. Anh luôn luôn lo ngại đến những việc bất ngờ có thể xảy ra, vì vậy phải lật đật ra ngay đây để nghĩ kế đỡ chú.

Tới phủ, Nguyễn Huệ dắt công chúa Ngọc Hân ra chào và nói hết cả sự thật với anh. Vua Tây Sơn khen:

- Chà, em vua Tây Sơn làm rể vua nước Nam, "môn đăng hộ đối", mối nhân duyên thật đẹp!

Rồi lại bảo công chúa rằng:

- Người quý giá như thế này, thực không hổ là cô em dâu của nhà ta.

Hai anh em ôn tồn trò chuyện thân mật như anh em nhà thường dân vậy. Hồi lâu, công chúa cáo từ lui ra, Nguyễn Huệ sai quây màn ở cung chính tẩm, mời anh vào nghỉ; còn tự mình thì chuyển ra ngủ ở Gác Kỳ Lân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 08:54:01 am

Quân lính của Nguyễn Huệ đem đi trước đây, các đội ngũ đều đã thay đổi. Nay Nguyễn Huệ đem binh phù nộp cả lại cho anh. Vua Tây Sơn nắm được binh quyền trong tay rồi, bèn bố trí lại đội ngũ y như cũ. Từ đó tướng sĩ chỉ tuân theo mệnh lệnh của nhà vua.

Buổi lễ gặp mặt hai vua diễn ra ngay sau đó tại bản doanh của vua Tây Sơn: Nguyễn Nhạc đứng chắp tay trên thềm, sai Nguyễn Huệ ra đón rước vua Lê. Vì là nghi lễ "hai vua gặp nhau" cho nên không ai phải lạy ai. Khi mọi người đã an tọa, vua Tây Sơn liền hỏi:

- Hoàng thượng năm nay xuân thu độ bao nhiêu?

Viên quan đi theo đáp thay vua Lê, rồi nhân đó tiếp rằng:

- Quốc quân họ Lê chúng tôi gặp phải họ Trịnh lấn quyền lộng thổ, mũ dép đảo lộn đã lâu. May nhờ thánh thượng là bậc chí nhân đại nghĩa, sai tướng ra quân, vì quốc quân chúng tôi mà chỉnh đốn lại cơ đồ... rồi xin cắt mấy quận ấp khao thưởng quân sĩ.

Vua Tây Sơn đáp rằng:

- Vốn vì họ Trịnh chuyên chế, cho nên mới làm việc tôn phò nhà Lê; nếu là đất của họ Trịnh thì một tấc tôi cũng không để; còn như đất của nhà Lê thì một tấc tôi cũng không dám lấy, chỉ mong tự hoàng phân phát rường mối nhà vua, giữ yên trong cõi, đời đời hòa mục, giao hảo với nước láng giềng, như thế là phúc đức cho cả hai nước vậy.

Từ sau cuộc tiếp kiến đó, lòng người Bắc Hà mới yên, hết ngờ sợ quân Nguyễn Nhạc.

Sau khi từ Bắc Hà trở về, tháng Tư năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Nhạc chia vùng đất phía Nam ra làm ba: từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ; đất Gia Định thuộc về Đông Định Vương Nguyễn Lữ; Nguyễn Nhạc đóng ở Quy Nhơn tự xưng là Trung ương Hoàng đế.

Từ đó Nguyễn Nhạc tự mãn với sự giàu sang phú quý đã đạt được, không lo gì đến thời cuộc, chỉ lao vào con đường hưởng lạc; anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ mâu thuẫn trong việc chia của, chia đất, đem binh đánh lẫn nhau. Nguyễn Huệ cho quân bao vây thành Quy Nhơn trong vài tháng, Nguyễn Nhạc đóng chặt thành cố giữ và cầu viện Đặng Văn Trấn từ Gia Định về giải vây. Nhưng mới đi đến Phú Yên, Đặng Văn Trấn bị quân Nguyễn Huệ bắt được. Nguyễn Nhạc bèn ở trên thành gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng:

- Nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ làm thế?

Rồi hai anh em cùng hướng vào nhau mà khóc, giảng hòa, lấy Bản Tân làm giới hạn: từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ; từ phủ Thăng, phủ Điện trở ra Bắc do Nguyễn Huệ làm chủ. Từ đấy anh em phòng bị lẫn nhau, không còn để ý đến miền Nam nữa. Nguyễn Lữ tài hèn sức yếu bỏ thành Gia Định chạy về Quy Nhơn, rồi mất. Trong khi Nguyễn Huệ phải đem quân ra đánh quân xâm lược Thanh, Nguyễn Nhạc ở phía Nam không lo phòng bị, để quân Nguyễn Ánh lấy Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh... Thế của Nguyễn Nhạc ngày càng yếu, chỉ bo bo giữ được các thành Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên mà thôi.

Khi vua Quang Trung mất năm Nhâm Tý (1792). Nguyễn Nhạc cũng không thể ra viếng em trai được vì quân đội của Nguyễn Quang Toản ngăn cản và lo phòng bị tấn công.

Một năm sau khi Nguyễn Huệ - Quang Trung từ trần, năm Quý Sửu (1793), quân Nguyễn Ánh vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc đang ốm, sai con là Bảo đem quân chống giữ, tình hình rất nguy ngập, Nguyễn Nhạc viết thư cầu cứu Quang Toản. Quang Toản sai các tướng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn, Ngô Văn Sở đem 17.000 bộ binh, 80 thớt voi và 30 chiếc thuyền chiến chia đường tiến vào cứu viện. Quân Nguyễn Ánh phải rút lui. Các tướng của Quang Toản vào thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc sai đem vàng bạc mỗi thứ một mâm khao quân. Thái úy của Quang Toản là Phạm Công Hưng bèn biên kê kho tàng, thu lấy giáp đinh và giữ thành. Trước việc làm đó, Nguyễn Nhạc uất quá thổ ra máu mà chết, Quang Toản phong cho con Nguyễn Nhạc là Bảo làm hiếu công cắt cho huyện Phù Ly để làm ấp ăn lộc, gọi là Tiểu Triều. Mẹ Bảo nói với con rằng: "Khai thác cõi đất đều là công của cha mày, nay chỉ ăn lộc có một huyện, nếu sống mà chịu nhục chẳng thà chết còn hơn".

Từ đó Bảo có chí muôn hàng quân Nguyễn Ánh, bị quân của Quang Toản bắt được, cho uống thuốc độc chết.

Như vậy Nguyễn Nhạc làm vua được 15 năm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:26:14 pm

Câu hỏi 18: Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ - anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, danh tướng bách chiến bách thắng. Hãy cho biết đôi nét về tính cách và con người của ông?
Trả lời:


Nguyễn Huệ (có tên húy khác là Hồ Thơm) sau đổi là Nguyễn Quang Bình, là em trai của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Nguyễn Huệ sinh năm Quý Mùi (1753).

Từ một thủ lĩnh chiến đấu dưới cờ của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã trở thành lãnh tụ kiệt xuất của phong trào Tây Sơn, chăm lo xây dựng quân đội Tây Sơn thành quân đội tinh nhuệ, thiện chiến. Qua 21 năm chiến đấu, Nguyễn Huệ đã lập nên những kỳ tích oanh liệt: Chiến thắng Phú Yên (1775), ba lần đánh tan quân Nguyễn ở Gia Định (1777, 1782 và 1783), thắng trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19-1-1785); đánh đổ các tập đoàn phong kiến: chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt trên 200 năm; quét sạch hơn 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh (1789). Sau thắng lợi, Nguyễn Huệ chủ trương lập lại quan hệ bang giao với nhà Thanh để tranh thủ xây dựng lại đất nước ban hành "Chiếu khuyên nông", "Chiếu cầu hiền", "Chiếu lập học"...

Đã có rất nhiều người, nhiều công trình nghiên cứu về Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ. Qua những tài liệu đã công bố, ta có thể thấy một số nét lớn về tính cách và con người của Nguyễn Huệ như sau:

a) Về hình dung, dáng mạo của Nguyễn Huệ

Theo Hoa Bằng trong Quang Trung anh hùng dân tộc, thì "Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần"1. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30, thì Nguyễn Huệ tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, cặp mắt sáng như chớp. Theo một cung nhân cũ nói với bà thái hậu - mẹ Lê Chiêu Thống lúc quân Mãn Thanh đang chiếm đóng Thăng Long thì "Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trở tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét...”2, Theo các tài liệu lịch sử cũ, thì Nguyễn Huệ còn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và can đảm nữa. Căn cứ như trên, chúng ta có thể thấy rằng Nguyễn Huệ có một thanh âm, một vẻ mặt, đôi mắt làm cho mọi người phải kính trọng. Theo người cung nhân của nhà Lê, thì hình như Nguyễn Huệ có vẻ mặt hung dữ làm cho mọi người phải khiếp sợ. Thật ra thì không phải như thế. Người cung nhân sở dĩ cho rằng "không một người nào dám nhìn thẳng" vào mặt Nguyễn Huệ, "thấy hắn trở tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét”, là vì người cung nhân ấy tuy không phải là kẻ thù của Nguyễn Huệ, nhưng đã phục vụ những kẻ thù đã bại trận của Nguyễn Huệ, vốn đã khiếp đảm về các việc làm của Nguyễn Huệ. Lẽ đương nhiên là vẻ mặt Nguyễn Huệ có cái gì khiến cho người ta phải sợ thật, nhưng đó chỉ là đối với kẻ thù của ông mà thôi. Còn đối với bạn bè, đối với nhân dân, vẻ mặt của ông chỉ gây ra cái gì làm cho người ta phải tin phục. Chứng cớ là giáo Hiến chỉ "thấy Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm, mắt như chớp sáng, tiếng như chuông vang" và biết ngay Nguyễn Huệ "là một thanh niên lỗi lạc có cái tương lai phi thường"3.
____________________________________
1, 3. Hoa Bằng, Quang Trung anh hùng dân tộc.
2. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:28:18 pm

Các sách sử của ta nói Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Với phương tiện giao thông vận tải hồi thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ đã mang quân tiến vào Nam đánh quân chúa Nguyễn đến năm lần1, và đã mang quân ra Bắc đến ba lần2. Không nhanh nhẹn cả về cách đi lại và cả về phép hành quân, và không khỏe mạnh, thì không thể đi Nam về Bắc luôn luôn và nhanh chóng như vậy. Sự đi lại của Nguyễn Huệ nhanh chóng nổi tiếng trong lịch sử. Người cung nhân của vua Lê đã phải than: "Xem hắn (Nguyễn Huệ) ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết". Còn sự can đảm của Nguyễn Huệ, thì đó là điều không cần phải bàn cãi nữa. Để động viên tướng sĩ mỗi khi ra trận, Nguyễn Huệ thường đi đầu. Sáng ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) trong trận Ngọc Hồi, ông đã thân ra đốc chiến. Sự can đảm của ông làm nức lòng tướng sĩ, khiến cho tướng sĩ hăng hái ồ ạt tiến vào diệt quân Thanh ở Ngọc Hồi.

Sử sách cũ của ta nói Nguyễn Huệ có "tiếng nói sang sảng như tiếng chuông". Nếu Nguyễn Huệ có một thứ "tiếng nói sang sảng như tiếng chuông" thì ông có phải là một nhà hùng biện hay không? Ta có thể nghĩ rằng Nguyễn Huệ cũng là một người nói giỏi, và tiếng nói của ông có sức thuyết phục khá mạnh. Cuối năm 1788 khi duyệt binh ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đã dõng dạc tuyên bố trước ba quân: "Quân Thanh kéo sang xâm lược, hiện đang chiếm cứ Thăng Long các ngươi đã biết tin ấy hay chưa?".

"Trong vòng trời đất, chia theo phận sao Dực sao Chẩn, Nam Bắc vẫn riêng một non sông... Từ nhà Hán về sau, chúng cướp đất đai của ta, cá thịt nhân dân ta, vơ vét của cải của ta, nông nỗi ấy thật là khó chịu. Người nước ai cũng nghĩ phải đánh đuổi chúng đi".

"Đời Hán có Trưng nữ vương; đời Tống có Lê Đại Hành; đời Nguyên có Trần Hưng Đạo; đời Minh có có Lê Thái Tổ. Các ngài không chịu bó tay ngồi nhìn quân ngoài tàn bạo, nên phải thuận lòng người, dấy quân nghĩa, đánh thắng rồi đuổi chúng về. Trong những khi ấy, Nam Bắc đâu lại phận đó, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài. Từ nhà Đinh tới nay, chúng ta không phải cái khổ Bắc thuộc. Đó lợi hại, được thua, chuyện cũ rành rành là thế".

"Nay người Thanh không noi gương Tống, Nguyên, Minh lại sang mưu chiếm nước ta, đặt làm quận huyện. Vậy ta phải vùng lên mà đuổi chúng đi".

"Các anh em, hạng người có trí thức, có tài năng, phải cùng ta đồng lòng gắng sức, khiến cho việc lớn được nên, chớ đừng giở thói hai lòng. Hễ việc phản trắc lộ ra, thì ta quyết giết không tha một ai. Bấy giờ đừng trách rằng không bảo trước".

Những lời nói trên là những lời nói của một nhà hùng biện biết cách làm bùng lên lửa căm thù quân cướp nước. Bằng mấy lời giản dị, Nguyễn Huệ đã nói lên được tất cả lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập của dân tộc. Ngoài ra, ông còn vạch ra được tất cả nguyên nhân của các việc lợi hại được thua trong lịch sử. Kẻ được là kẻ đấu tranh bảo vệ đất nước; kẻ thua là kẻ cướp nước. Sự thật của lịch sử rõ ràng là như vậy. Qua đó, ta thấy Nguyễn Huệ là người có tinh thần dân tộc rất cao.

Trong buổi thệ sư ở Thọ Hạc (Thanh Hóa), Nguyễn Huệ ngồi trên mình voi tuyên bố: "Phàm chư quân, ai muốn đánh, phải vì ta mà giết hết quân giặc; ai không muốn đánh thì cũng xem ta đánh một trận giết mấy vạn người không phải là chuyện hiếm lạ đâu". Chép việc này, sách Lê Quý kỷ sự có viết thêm: Huệ nói xong, chư quân dạ ran như sấm, hang núi vang động, trời đất đổi màu. Như vậy là tác giả Lê Quý kỷ sự đã gián tiếp thừa nhận rằng Nguyễn Huệ là nhà hùng biện vậy.

Thật vậy, nếu Nguyễn Huệ không có tài hùng biện thì ông làm sao có thể động viên được hàng vạn, hàng triệu người đứng dậy đánh đổ chế độ thối nát Nguyễn - Trịnh và sau đó động viên cả dân tộc đứng lên đại phá quân xâm lược Xiêm La và quân xâm lược Mãn Thanh?
______________________________________
1. Lần thứ nhất vào Nam hạ Phú Yên, lần thứ hai vào Gia Định đánh Lý Tài, lần thứ ba vào Cần Giờ và Ngã Bảy đánh Nguyễn Ánh (1780), lần thứ tư vào Gia Định đánh Chu Văn Tiếp, lần thứ năm (1785) vào Gia Định đánh quân Xiêm.
2. Lần thứ nhất ra Bắc diệt chúa Trịnh (1786), lần thứ hai ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm, lần thứ ba ra Bắc phá quân Thanh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:29:53 pm

b) Nguyễn Huệ hay làm thơ văn, thích ca hát

Theo sử cũ, gia đình Nguyễn Huệ có bốn anh em: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và một người con gái. Cả ba anh em Nguyễn Huệ đều theo học giáo Hiến, một nhà nho bất đắc chí với chính trị bạo ngược của Trương Phúc Loan, bỏ trốn vào Quy Nhơn rồi mở trường dạy học ở ấp Yên Thái. Nguyễn Huệ đã được ăn học ít nhất là năm bảy năm. Ông chưa làm được văn thơ bằng chữ Hán. Xem các thư mà ông viết cho La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, thì thấy ông viết thơ văn bằng chữ Nôm; chữ ông viết coi chân phương và dễ đọc. Đó là thứ chữ của những người mới học đến trình độ trung bình, chưa đi sâu vào cái học cử nghiệp. Nguyễn Huệ thích viết văn làm thơ. Sau khi đánh đổ họ Trịnh làm chủ cả một dải đất từ Bắc Hà vào đất Gia Định, Nguyễn Huệ vẫn tự viết thư cho Nguyễn Thiếp, mặc dầu dưới tay ông có rất nhiều nho sĩ giỏi hơn ông. Việc này không những chứng tỏ Nguyễn Huệ quan tâm đến La Sơn phu tử, mà còn nói lên rằng Nguyễn Huệ là người rất thích viết văn. Lối văn trong các thư viết cho Nguyễn Thiếp là lối văn bán Nôm bán tự (nửa chữ Nôm và nửa chữ Hán) tức thứ văn xuôi hồi thế kỷ XVIII. Trong thư viết cho Nguyễn Thiếp có những câu đại loại như: "Vậy chiếu ban hạ phu tử tảo nghi dữ trấn thủ Thận cộng sự kinh chi dinh chi", nghĩa là: "Vậy hạ chiếu cho phu tử nên sớm cùng hợp sức với trấn thủ Thận kinh doanh (việc đó)". Nhưng Nguyễn Huệ không viết như dưới mà lại viết nửa chữ Nôm nửa chữ Hán như trên, như vậy phải chăng vị anh hùng dân tộc của chúng ta cũng muốn tỏ ra với Nguyễn Thiếp là chính mình cũng là người cũng biết nhiều chữ?

Khi Nguyễn Huệ đem quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhất đánh đổ họ Trịnh, thì Văn Miếu Hà Nội bị đốt phá. Năm 1789, sau khi đã đại phá quân xâm lược Mãn Thanh, nhân dân làng Văn Chương có nhờ Tam Nông tiên sinh là Hà Năng Ngôn, một cố vấn của Nguyễn Huệ, làm một bài sớ xin Nguyễn Huệ cho dựng lại bia tiến sĩ đề danh trong Văn Miếu. Chính Nguyễn Huệ đã đọc bài sớ nói trên và ông đã phê:

      Ta không trách nông phu.
      Ta chỉ gớm thày Nho
      Cả gan to mật dám kêu vua bằng Ngài.
      Thày Nho là ai?
      Sắc cho Bộ hỏi, dân khai.
      …
      Thôi, thôi, thôi việc đã rồi
      Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta.
      Nay mai dọn lại nước nhà,
      Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian.
      Cơ đồ họ Trịnh đã tan,
      Việc này cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải.


Đọc những câu trên, chúng ta thấy Nguyễn Huệ có một lối văn trôi chảy, rõ ràng, bình dị, cực kỳ bình dân, dễ làm cho quần chúng nhân dân ưa thích. Lối văn nôm na dễ hiểu trên không mâu thuẫn với lối văn bán Nôm bán tự của bức thư viết cho La Sơn phu tử, mà chỉ cho chúng ta biết rõ thêm rằng khi nói với quần chúng nhân dân, thì Nguyễn Huệ dùng lối văn nôm na bình dị như lời văn, những câu văn vần phê vào tờ sớ của dân làng Văn Chương xin dựng lại bia tiến sĩ đề danh, nhưng khi nói với một nhà học giả uyên thâm như Nguyễn Thiếp thì Nguyễn Huệ lại hay nói chữ.

Với những câu nói với tướng sĩ ở Nghệ An hồi cuối năm 1788 khi mang quân ra Bắc đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh, Nguyễn Huệ tỏ thông hiểu lịch sử Việt Nam. Chỉ bằng vài lời vắn tắt, ông đã nêu lên được tất cả những nét cốt yếu của toàn bộ lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

Nguyễn Huệ rất chú ý đến việc học. Ngay sau khi ra Bắc diệt họ Trịnh trở về đến Nghệ An, ông đã mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp ông để tổ chức việc học. Lên ngôi hoàng đế, ông lập tức xuống chiếu cho các xã dân lập trường xã học, tìm các nho sĩ trong xã đặt làm chức xã giảng để dạy con em trong xã. Theo Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm, thì chính Nguyễn Huệ đã đích thân đến thăm nhà thái học nhằm khuyến khích việc học và kiểm tra việc học của các học sĩ.

Ngoài ra, căn cứ vào một số tài liệu ít ỏi, chúng ta biết rằng Nguyễn Huệ thích ca hát. Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy mỗi khi hành quân thường ca hát ở dọc đường. Chúng ta đã biết rằng, trước ngày dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Huệ đã từng làm nghề hát chèo, hát tuồng. Vì vậy, khi làm thủ lĩnh nghĩa quân Tây Sơn, ông hay cho quân đội ca hát, nhất là trong các cuộc hành quân để cho vui và quên sự mệt nhọc ở dọc đường.

Nguyễn Huệ là người ưa màu đỏ, coi màu đỏ như là cái gì tượng trưng được chí khí và hoài bão của mình. Trong bài "Ai tư vãn", Lê Ngọc Hân cũng cho biết lá cờ của quân Tây Sơn là cờ đỏ (mà nay áo vải cờ đào). Bộ Minh đô sử cũng cho biết rằng trong trận đại phá quân Thanh ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), quân đội của đô đốc Long đã kéo vào Thăng Long và cắm cờ đỏ lên thành trước nhất. Giáo sĩ Đi-ê-gô đơ Giu-mi-la cho biết mỗi toán nghĩa quân Tây Sơn có một cái cờ bằng lụa đỏ dài chín thước (cổ). Theo các tài liệu dã sử, thì quân đội Tây Sơn do Bùi Thị Xuân chỉ huy mặc quần áo màu đỏ. Về đời tư, Nguyễn Huệ yêu quý Lê Ngọc Hân một phần là vì bà đẹp, nhưng một phần nữa có lẽ là vì Bắc cung hoàng hậu là một nhân vật có tài, ít nhất là về văn học. Nguyễn Huệ là người yêu văn học, chính ông cũng hay làm thơ làm văn, cho nên ông dễ yêu Lê Ngọc Hân khi thấy bà có tài văn học.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:31:17 pm

c) Nguyễn Huệ là người hay khôi hài và cương nghị

Nguyễn Huệ là người vui tính, hay khôi hài. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh ngỏ ý muốn làm mối cho ông lấy công chúa Ngọc Hân, Nguyễn Huệ đã làm cho mọi người phải bật cười: "Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về; bọn trẻ nó cười cho thì sao? Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng yêu thử một chuyến xem có tốt không?"1. Những câu Nguyễn Huệ phê vào đơn của dân làng Văn Chương xin cho dựng lại bia tiến sĩ đề danh ở Văn Miếu cũng có tính cách làm cho người ta phải bật cười:

      Ta không trách nông phu
      Ta chỉ gớm thày Nho
      Cả gan to mật dám kêu vua bằng Ngài.


Nguyễn Huệ nói trách "thày Nho", nhưng thật ra ông chẳng trách ai cả. Không những ông không trách ai, mà ông còn cho dân làng Văn Chương một con rùa vàng để bán đi lấy tiền xây dựng lại bia tiến sĩ đề danh ở Văn Miếu bị phá nữa.

Nhưng con người vui tính hay khôi hài ấy lại là người vô cùng cương nghị mà mỗi lời nói là một mệnh lệnh buộc kẻ khác phải thi hành cho kỳ được. Sách Hoàng Lê nhất thống chí cho biết khi cử hành lễ tế vua Lê Hiển Tông: "Huệ mặc đồ tang đứng trên điện tế, coi xét lễ nghi hết sức chu đáo. Lúc đang tế, có viên tả phiên lại có vẻ cười, Huệ sai lôi ngay ra chém. Đại khái đối với việc tang lễ, Huệ hết sức kính cẩn như vậy".

Nguyễn Huệ biết Nguyễn Hữu Chỉnh tất có ngày phản lại mình, nhưng ông vẫn dùng Chỉnh, vì ông biết dùng Chỉnh có lợi cho quân Tây Sơn. Sau khi bỏ Chỉnh ở Thăng Long để cho nhân dân Bắc Hà giết Chỉnh đi, nhưng rồi Chỉnh vẫn cứ đuổi theo quân Tây Sơn đến Nghệ An, Nguyễn Huệ vẫn lại thu dùng Chỉnh một lần nữa. Đến khi âm mưu phản phúc của Chỉnh đã rõ ràng, lập tức Nguyễn Huệ không dung thứ, và ông cho ngay Vũ Văn Nhậm mang quân ra Bắc giết Chỉnh. Nguyễn Huệ cũng lại biết Vũ Văn Nhậm tất có ngày phản lại mình, nhưng ông cứ dùng Nhậm, vì ông biết Nhậm là một nhân vật có tài. Khi Vũ Văn Nhậm để lộ âm mưu chống lại ông, thì Nguyễn Huệ lập tức kéo quân ra Bắc và ông đã giết Nhậm "như giết một con lợn vậy".

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ bảo bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lâu, Ngô Thì Nhậm và các tướng lĩnh khác rằng: "Nay ta ra tới đây, thân đốc việc binh, chiến thủ ra sao đã có phương lược định sẵn. Chỉ trong mười ngày thế nào ta cũng phá sạch quân Thanh". Từ khi quân Mãn Thanh tiến vào đất nước Việt Nam cho đến khi bọn Ngô Văn Sở bỏ Thăng Long rút về dãy Tam Điệp, quân Tây Sơn ở trong một tình thế khá hoang mang: Hơn một tháng trời, họ chỉ bại trận, và chỉ nhận được những tin tức có tính cách làm nản chí mọi người. Nhưng sau khi nghe những lời cứng cỏi của Nguyễn Huệ, họ đã thấy hết hoang mang. Kinh nghiệm chiến đấu đã cho biết thủ lĩnh của họ luôn luôn đưa họ đến những thắng lợi vẻ vang. Nguyễn Huệ là người muốn gì là được nấy. Nhưng đến khi Nguyễn Huệ ra lệnh mở tiệc khao quân và bảo các tướng sĩ rằng: "Bữa nay ta hãy ăn Tết Nguyên đán trước, sang xuân ngày mồng bảy, ta sẽ vào Thăng Long, mở tiệc ăn Tết khai hạ. Các ngươi cứ nhớ lấy lời ta xem có đúng hay không?", thì tất cả các tướng sĩ và quân lính đã trông thấy cái thắng lợi ở trước mắt rồi, họ chỉ còn việc tiến lên giành lấy thắng lợi mà thôi.

Thái độ cương nghị của Nguyễn Huệ có hai tác dụng: Đối với kẻ thù, thì nó làm cho chúng khiếp đảm, mất hết tinh thần đến nỗi Nguyễn Huệ chỉ trở tay đưa mắt là cũng đủ làm cho tên nào tên nấy phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét; nhưng đối với quân Tây Sơn, thì thái độ cương nghị của Nguyễn Huệ có tác dụng làm kiên định lòng tin của mọi người. Còn tính vui vẻ, hay khôi hài của Nguyễn Huệ, nó làm cho ông dễ gần gụi nhân dân và quân lính, do đó ông lại có điều kiện thuyết phục nhân dân và quân lính đi theo ông để làm việc nghĩa. Đó cũng là một trong những bí quyết khiến cho Nguyễn Huệ đoàn kết được các tầng lớp xã hội để đánh đổ chế độ phản động Nguyễn - Trịnh và đánh đuổi bọn ngoại xâm.
___________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:31:55 pm

d) Nguyễn Huệ là người khoan hồng và nghiêm khắc

Thời Nguyễn Huệ hoạt động là thời nhân dân Việt Nam vùng đứng lên vừa đánh đổ chế độ phong kiến phản động và thối nát, vừa đánh đuổi ngoại xâm. Nhiều cuộc giết chóc đã xảy ra. Quân Tây Sơn đã giết khá nhiều bọn phong kiến Đàng Trong và quân đội của chúa Nguyễn. Đầu năm 1785 quân Tây Sơn đã đại phá năm vạn quân Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh bằng trận phục kích quy mô ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Đầu năm 1786, khi hạ thành Phú Xuân, quân Tây Sơn đã giết quân Trịnh rất nhiều. Cuối năm 1788 và đầu năm 1789, khi đánh quân Thanh xâm lược, quân Tây Sơn cũng giết quân Thanh ít nhất là đến năm, bảy vạn. Ở đâu quân Tây Sơn cũng tỏ ra rất nghiêm khắc với những ai chống đối lại họ, hay là thù địch của họ. Giáo sĩ phương Tây Đi-ê-gô đơ Giu-mi-la thuật lại việc quân Tây Sơn đối xử với những người là kẻ thù của họ cũng tức là kẻ thù của nhân dân: "Đến tháng 8 năm 1773, quân Tây Sơn đi ngựa và cầm vũ khí tiến vào các thành thị, họ giương cờ khởi loạn lên. Họ xông vào cung vua, chiếm lấy tất cả các tài liệu rồi đem đốt. Họ ban bố một đạo sắc lệnh cấm không được nộp thuế cho nhà vua. Họ thả tất cả tù tội, tín đồ Thiên Chúa giáo hay không Thiên Chúa giáo. Họ bắt giam các quan lại và quân sĩ trung thành; vì cớ những người này là những kẻ áp bức nhân dân khổ sở". Đi-ê-gô đơ Giu-mi-la còn viết: "Sau quân nổi loạn cho lính đi bắt các quan lại nhỏ. Họ chú ý bắt những kẻ tỏ ra tàn ác với kẻ dưới. Họ thả tất cả tù tội và những người vì lẽ này hay lẽ khác, bị giam cầm. Họ phái quân lính đến các làng để buộc các làng phải tuyên bố tuân theo họ. Họ giết các lý trưởng chống lại họ, và đốt nhà của các lý trưởng ấy. Trong những làng nhỏ nhất, họ cũng đòi các công văn rồi đem ra đốt hết ở chỗ công cộng cùng với các sổ thuế khác do vua và quan định ra. Họ ban bố một sắc lệnh bãi bỏ tất cả các thuế má...".

Những dòng trên của giáo sĩ phương Tây đã bác bỏ luận điệu vu khống của vua quan nhà Nguyễn đổi với Nguyễn Huệ, thủ lĩnh số 1 của quân Tây Sơn. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 của Quốc sử quán triều Nguyễn cho "Nguyễn Huệ là người tàn ngược vô đạo". Nếu giết những kẻ thù của giai cấp, của nhân dân, nếu giết những kẻ phản dân phản nước là "tàn ngược vô đạo", thì Nguyễn Huệ quả là người "tàn ngược, vô đạo". Nhưng đối với nhân dân, đối với những người không phải là kẻ thù của nhân dân, thì Nguyễn Huệ không những không "tàn ngược, vô đạo", mà còn là ân nhân là đằng khác nữa. Dưới chế độ phong kiến Nguyễn - Trịnh, nhân dân khổ sở vì tham quan ô lại và các thứ thuế má. Đi đến đâu, quân Tây Sơn giết quan lại và bãi bỏ các thứ thuế má đến đấy. Việc làm này là nguồn gốc mọi sức mạnh của quân Tây Sơn. Quân Tây Sơn đánh đâu được đấy chính là vì vậy. Có nhiều trường hợp Nguyễn Huệ khoan dung cả đối với những người đã từng chống đối lại ông nữa. Trong tờ chiêu dụ các quan văn võ cựu triều (triều Lê), Nguyễn Huệ trịnh trọng tuyên bố trên giấy trắng mực đen: "Ta một lòng yêu tiếc nhân tài, không thể quên đi được. Nay đặc ban tha tội cho các người. Phàm những người bị giam cầm đều tha cho hết; những người đã trốn tránh đi, thì thôi không truy nã nữa". Sau khi quân Thanh bị đánh bại, Tôn Sĩ Nghị ôm đầu chạy về Trung Quốc, Lê Chiêu Thống và nhiều triều thần cũng chạy theo; Nguyễn Huệ tuyên bố: "Các văn võ cựu triều hoặc theo đi (sang Trung Quốc với Lê Chiêu Thống) hoặc đang trốn tránh, nay đều cho về nguyên quán. Còn ai không muốn ra làm quan thì cho tùy theo chí của mình" (Chiếu lên ngôi). Năm 1775, khi cầm quân đánh Tống Phúc Hiệp ở Quy Nhơn, Nguyễn Huệ bắt được viên tham tán của Nguyễn Phúc Thuần là Nguyễn Đăng Trường. Không những Nguyễn Huệ không giết Trường, mà ông lại lấy lễ tân sư để đãi Trường. Tuy vậy, Trường vẫn nhất định không chịu theo Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ có hỏi Trường: "Thày đi chuyến này liệu có xoay lại nổi trời đất không? Sau này có hối e muộn mất rồi!", Trường ngang nhiên đáp: "Tài trai ở đời lấy trung hiếu làm đầu. Tôi nay dắt mẹ đi tìm chúa, đối với đại nghĩa rất là quang minh. Còn cùng hay thông, hỏng hay được, là do số chứ có gì hối hận!". Nguyễn Huệ không những không giận Trường, mà còn khen Trường là khảng khái rồi tha cho đi với Nguyễn Phúc Thuần. Năm 1777, quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ lại bắt được Nguyễn Đăng Trường. Huệ hỏi Trường: "Lần này thì thày định liệu sao?". Trường trả lời: "Bây giờ chỉ còn có chết thôi, cần gì phải hỏi nữa". Đến lúc này, Nguyễn Huệ mới cho đem giết Trường.

Việc đối xử với Nguyễn Đăng Trường chứng minh rằng Nguyễn Huệ không hề giết bừa bãi, mà chỉ trừng trị những kẻ cần trừng trị và chỉ trừng trị khi đã ở vào cái thế không thể đừng được mà thôi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:32:32 pm

e) Nguyễn Huệ là một con người có chí lớn khác người

Nguyễn Nhạc là người cầu an hưởng lạc. Sau khi đánh đổ chế độ phản động và thối nát của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, Nguyễn Nhạc không còn chí tiến thủ nữa. Ông muốn nghỉ ngơi để an hưởng phú quý. Vì vậy cho nên năm 1788 trong khi Nguyễn Huệ đang bận rộn đối phó với bọn cựu thần nhà Lê và âm mưu xâm lược của quân Thanh, thì Nguyễn Nhạc cứ để mặc cho bọn Nguyễn Ánh phát triển lực lượng ở Gia Định, đánh chiếm hết nơi này đến nơi khác. Năm 1792, khi Nguyễn Huệ ốm nặng ở Phú Xuân, thì quân đội của Nguyễn Ánh không những đã đánh chiếm được toàn bộ đất Gia Định, mà còn tiến ra đánh chiếm Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh nữa. Trong bài chiếu lên ngôi, Nguyễn Huệ cũng nhận thấy Nguyễn Nhạc "vì khó nhọc thành ra mỏi mệt, chỉ giữ một phủ Quy Nhơn, tự giáng mình làm Tây chúa". Thế là trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc thật ra chỉ là hoàng đế của một miền đất ngày nay là tỉnh Bình Định mà thôi. Nguyễn Nhạc vui lòng với các "đế quốc" nhỏ xíu của mình, không những không nghĩ đến bành trướng ra Bắc là đất của em, mà còn không muốn tiến vào Nam là nơi mà bọn quốc thù Nguyễn Ánh đang hoạt động ráo riết để không những tiêu diệt Nguyễn Huệ, mà còn tiêu diệt cả ông nữa.

Nguyễn Huệ thì khác hẳn. Hoài bão của Nguyễn Huệ không phải chỉ là quét sạch bọn phong kiến Nguyễn - Trịnh rồi làm chủ dải đất từ đèo Hải Vân ra đến hết đất Bắc Hà, mà còn muốn thu phục cả miền Gia Định để dựng ra một nước Việt Nam thống nhất bao gồm tất cả đất đai của nước Việt Nam. Năm 1786, sau khi đem quân ra Bắc Hà diệt họ Trịnh, Nguyễn Huệ đã bước đầu thực hiện được giấc mộng của ông: ông đã thống nhất được nước Việt Nam trên thực tế. Miền đất Gia Định thực sự đã về tay ông từ năm 1784 khi ông tiêu diệt hơn năm vạn quân xâm lược của bọn phong kiến Xiêm La. Cái "đế quốc" cỏn con của ông anh Nguyễn Nhạc bao gồm phủ Quy Nhơn thật ra đối với ông không phải là một trở ngại nghiêm trọng, sở dĩ ông để cho cái "đế quốc" ấy tồn tại, vì ông thấy "đế quốc" ấy không ngăn cản gì chính sách thống nhất đất nước của ông. Cái "đế quốc" của Trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc đối với ông khác nào như một thái ấp để cho ông anh an dưỡng tuổi già. Năm 1786, trên thực tế Nguyễn Huệ đã thống nhất được đất nước rồi, cho nên trong tờ chiếu lên ngôi viết năm 1789, ông đã chính thức tuyên bố "vài nghìn dặm đất ở cõi Nam đều thuộc về ta hết".

Không những Nguyễn Huệ muốn có một nước Việt Nam thống nhất, mà ông còn muốn xây dựng một nước Việt Nam với một kỷ cương mới mẻ khác nước Việt Nam các triều đại trước về nhiều phương diện. Dĩ nhiên là nước Việt Nam này cũng vẫn nằm trong phạm trù chế độ phong kiến, nhưng so với nước Việt Nam thời Lê - Trịnh, thì nó tiến bộ hơn nhiều. Nước Việt Nam mà Nguyễn Huệ muốn xây dựng là nước Việt Nam có một nền kinh tế độc lập đối với nước ngoài. Trong nước Việt Nam ấy, công nghiệp, nông nghiệp được khuyến khích, việc buôn bán với các nước ngoài cũng được dễ dàng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:32:50 pm

Nguyễn Huệ bắt các nhà sư không xứng đáng phải hoàn tục, ông bắt phá các chùa nhỏ ở các làng để tập trung gỗ, gạch làm một ngôi chùa lớn ở phủ hay ở huyện. Nguyễn Huệ tuy có hạn chế sự phát triển của Phật giáo nhưng ông không hề cấm Phật giáo. Đáng chú ý là đối với các giáo sĩ phương Tây, ông để cho họ tự do truyền giáo. Chính giáo sĩ Đi-ê-gô đơ Giu-mi-la đã viết về sự kiện ấy như sau: "Nhiều quan lại của quân nổi loạn (tức nghĩa quân) đến xin tôi thuốc. Tôi chịu ơn họ rất nhiều. Họ cho phép tôi được truyền giáo công khai và xây dựng nhà thờ. Họ thêm rằng nếu ai dám ngăn cản hay làm phiền nhiễu một tín đồ Thiên chúa giáo hay không Thiên chúa giáo, thì tôi báo cho họ biết, họ sẽ ném kẻ ấy xuống sông. Không ai được làm cái gì hại cho tôi hay lấy cái gì ở trong nhà tôi hoặc trong nhà thờ của chúng tôi. Mười ba người lính có vũ khí ngày đêm canh gác cho chúng tôi".

Nguyễn Huệ khác các triều đại phong kiến trước ở chỗ ông dám để cho việc buôn bán với nước ngoài được dễ dàng và dám để cho các giáo sĩ phương Tây được tự do truyền bá Thiên chúa giáo. Ông sở dĩ làm như vậy là vì ông tin chắc rằng đằng sau ông tất cả nhân dân lúc nào cũng sẵn sàng ủng hộ ông. Trong tờ chiếu lên ngôi ông cũng cho biết rằng nhân dân Bắc Hà không theo nhà Lê nữa và chỉ ủng hộ ông thôi.

Đáng chú ý nhất là nước Việt Nam của Nguyễn Huệ muốn xây dựng là nước Việt Nam có chữ viết dân tộc và có một nền học thuật dân tộc. Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Huệ là người đầu tiên dám dùng chữ Nôm viết chiếu cho La Sơn phu tử. Nguyễn Huệ cũng là người đầu tiên tổ chức quy mô việc dịch các sách Tứ thư Ngũ kinh ra chữ Nôm. Việc làm này nếu được tiếp tục thực hiện sẽ có tác dụng cực kỳ to lớn đối với nền văn hóa Việt Nam: Văn học dân tộc Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển nhanh chóng, học thuật dân tộc sẽ hình thành nhanh chóng, và sẽ đi sâu vào quảng đại quần chúng nhân dân.

Nguyễn Huệ cũng là người đầu tiên tổ chức việc học đến tận xã nhằm làm cho tất cả con em trong xã đều có điều kiện học hành.

Sống dưới chế độ phong kiến, bị điều kiện lịch sử hạn chế, cụ thể là điều kiện lịch sử của thế kỷ XVIII hạn chế, Nguyễn Huệ không thể không tranh bá đồ vương như các nhân vật lịch sử khác. Nhưng cái ước mơ của Nguyễn Huệ không phải chỉ luẩn quẩn ở bên cái ngai vàng, mà là muốn xây dựng một nước Việt Nam thống nhất với một nền nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp phát triển, với một nền văn hóa, học thuật thật sự dân tộc. Cái mộng của Nguyễn Huệ nếu được tiếp tục thực hiện sẽ tạo điều kiện làm cho xã hội Việt Nam phát triển nhanh, nước Việt Nam sẽ trở thành giàu mạnh bậc nhất ở Đông Nam châu Á.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:34:22 pm

g) Nguyễn Huệ luôn tin dùng người dưới, trọng dụng nhân tài

Sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam như trên là một sự nghiệp vô cùng to lớn. Dù tài giỏi đến đâu, Nguyễn Huệ cũng không thể một mình làm sự nghiệp ấy được. Trong tờ chiếu cầu hiền, chính Nguyễn Huệ cũng thấy rằng "nghĩ đến cái nhà to, không phải sức một cây gỗ mà có thể chống đỡ được; thái bình không phải mưu lược một kẻ sĩ mà có thể làm nên". Trong tờ chiếu lên ngôi, ông cũng tuyên bố: "Ta tự nghĩ đức bạc, tài đức không bằng cổ nhân, mà đất đai rộng như thế, nhân dân đông như thế, yên lặng mà nghỉ để thống nhiếp, run sợ như cầm cái roi mục kìm sáu con ngựa vậy". Nguyễn Huệ đã thấy rõ rằng muốn đem hoài bão của ông làm thành sự thật, ông cần phải có nhiều nhân tài giúp sức. Cho nên suốt quá trình hoạt động quân sự và chính trị, Nguyễn Huệ luôn luôn chú ý đến việc thu dụng và bồi dưỡng nhân tài. Nhân tài hồi cuối thế kỷ XVIII cũng như ở các thời kỳ lịch sử khác nói chung bị cột chặt vào tư tưởng trung với một dòng họ: ở Đàng Ngoài là trung với họ Lê, họ Trịnh, ở Đàng Trong là trung với họ Nguyễn. Điển hình loại nhân tài này là Nguyễn Đăng Trường ở Đàng Trong và Trần Công Xán, Phạm Thái ở Đàng Ngoài. Những kẻ sĩ loại này không phải là những người hèn hạ, họ khảng khái, bất khuất, nhưng họ chỉ biết có vua chúa mà không biết đến nhân dân, đến Tổ quốc. Họ đã hy sinh thân thế họ cho những vua chúa ngu muội, ích kỷ, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Trong một thời gian dài, Nguyễn Huệ khá phiền vì những kẻ sĩ ấy. Vì những kẻ sĩ ấy chính là những người đã đứng ra chiêu mộ "nghĩa binh" chống lại triều đại Tây Sơn. Loại kẻ sĩ thứ hai là những người chán ngán vì tình hình xã hội rối ren, họ không tin họ Nguyễn, họ Trịnh, họ Lê nữa. Nhưng họ không đủ can đảm đoạn tuyệt với các dòng họ này để đi với triều đại Tây Sơn, vì họ không muốn mang tiếng là những kẻ bất trung. Tiêu biểu cho loại kẻ sĩ này là Nguyễn Thiếp. Nguyễn Thiếp chỉ làm quan với họ Trịnh trong một thời gian ngắn, rồi đến năm 1768 ông từ quan lui về ở ẩn tại núi Thiên Nhẫn - là một dãy núi ở vào chỗ giáp giới hai huyện Hương Sơn và Thanh Chương. Năm 1780, Trịnh Sâm mời ông về Thăng Long để hỏi về việc chính trị, ông khuyên Trịnh Sâm không nên cướp ngôi vua Lê rồi lại trở về vui với cỏ cây ở núi Thiên Nhẫn, mà không nhận của Trịnh Sâm một tước vị gì. Biết tiếng Nguyễn Thiếp, cuối năm 1786 Nguyễn Huệ cho người mang vàng bạc lên núi Thiên Nhẫn mời Nguyễn Thiếp xuống núi giúp mình. Nhà ẩn sĩ từ chối. Tháng 8 năm 1787, Nguyễn Huệ lại sai người mang lễ vật lên núi mời Nguyễn Thiếp, Nguyễn Thiếp lại từ chối. Cuối năm 1787, Nguyễn Huệ viết một bức thư dài trận trọng mời Nguyễn Thiếp một lần nữa. Nguyễn Thiếp vẫn khước từ. Cũng cuối năm 1787 trên đường ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ lại viết thư mời Nguyễn Thiếp xuống Phù Thạch nói chuyện với ông. Nguyễn Thiếp nhận lời, nhưng khi gặp Nguyễn Huệ, ông chỉ hứa sẽ chọn đất làm kinh đô cho Nguyễn Huệ mà thôi. Năm 1789 sau khi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Huệ lại càng tỏ ra tôn kính Nguyễn Thiếp và vẫn kiên trì cố mời ông ra giúp mình. Lúc này tình hình đã rõ ràng, Lê Chiêu Thống đã lộ ra bộ mặt bán nước, cõng rắn cắn gà nhà, Nguyễn Huệ đã cả phá 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh bảo vệ độc lập cho dân tộc. Nguyễn Thiếp vui lòng xuống núi, nhận chức Viện trưởng Viện Sùng chính của Nguyễn Huệ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:35:13 pm

Tiêu biểu cho loại kẻ sĩ thứ ba là bọn Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng... Những người này đã dứt khoát đi theo quân Tây Sơn và hết sức phục vụ Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đã nhận thấy chế độ của ông rất cần có sự cộng tác của những người này và ông đã tin dùng họ đến mức tối đa. Trần Văn Kỷ là một danh sĩ quê ở Thanh Hóa theo Nguyễn Huệ từ năm ông đánh Phú Xuân (1786). Biết Kỷ là kẻ sĩ có tài, Nguyễn Huệ sau khi đã làm chủ Phú Xuân, cho người mời Kỷ đến để hỏi về việc nước. Kỷ đối đáp đâu ra đấy và được Nguyễn Huệ rất tin yêu, cho dự vào việc tìm mưu vạch kế. Từ ngày được Kỷ, Nguyễn Huệ luôn luôn giữ Kỷ ở bên mình để hỏi han mọi việc. Chính Trần Văn Kỷ đã cứu Ngô Thì Nhậm để khỏi bị Võ Văn Ước làm hại. Khi gặp Ngô Thì Nhậm, chính Kỷ bảo Thì Nhậm: "Nghe ông là bậc kỳ tài, không may bị tiếng gièm pha, trốn tránh hơn năm, sáu năm, sự tích lũy càng thêm tinh tuý. Nay ra ứng dụng với đời chính là hợp thời. Tôi đã đem tên ông trình với chúa thượng, chúa thượng khen tài ông có thể dùng làm việc lớn. May mắn nay được chúa thượng rủ lòng yêu mến, đã sai tôi tìm ông, vậy không phải cần gì đến ông Ước!"1. Rồi Kỷ đưa Thì Nhậm vào yết kiến Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ nói: "Ngày trước, ngươi vì chúa Trịnh không dong, một mình bỏ nước mà đi. Nếu ta không đến đây, ngươi làm sao được thấy bóng mặt trời? Có lẽ đó là ý trời muốn để dành người tài cho ta dùng. Vậy ngươi hãy cố gắng mà lo việc báo đáp, thế là được!". Nguyễn Huệ lại bảo Trần Văn Kỷ: "Đây là người do ta gây dựng lại, nên thảo ngay tờ chế phong làm chức Tả thị lang bộ Lại, tước Tình phái hầu cùng với Vũ Văn Ước coi tất cả các quan văn võ của nhà Lê". Từ đấy, Nguyễn Huệ hết sức tin dùng Ngô Thì Nhậm. Trước khi rời Bắc Hà để trở về Phú Xuân, Nguyễn Huệ đã giao cho bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Ngô Thì Nhậm... coi quản tất cả các việc quân dân ở mười một trấn toàn hạt Bắc Hà. Ngô Thì Nhậm đã xứng đáng với nhiệm vụ mà Nguyễn Huệ đã trao cho. Khi quân Mãn Thanh vượt ải Nam Quan tiến vào xâm lược Việt Nam, chính Ngô Thì Nhậm đã khuyên Ngô Văn Sở cho quân thuỷ bộ Tây Sơn rút về dãy Tam Điệp và cửa Biện Sơn "để trong thì khích lệ lòng căm tức của quân sĩ, ngoài thì làm tăng lòng kiêu căng của giặc". Kế này đã được Nguyễn Huệ khen và đã đem lại kết quả đúng như lời đoán của Nguyễn Huệ. Ngay từ khi còn ở dãy Tam Điệp, Nguyễn Huệ đã biết trước rằng thế nào ông cũng đánh bại quân Thanh và ông đã tuyên bố: "... chỉ trong mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh. Nhưng nước Thanh lớn hơn nước ta đến mười lần. Bị thua tất Thanh lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa liên miên, thật không phải là phúc của nhân dân, lòng ta sao nỡ. Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo dùng từ lệnh thì mới dập tắt được lửa binh. Việc từ lệnh đó ta sẽ giao cho Ngô Thì Nhậm". Sự thật chứng minh: Ngô Thì Nhậm đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của ông. Ông thực sự là bộ trưởng bộ ngoại giao của Nguyễn Huệ trong việc giao thiệp với nhà Thanh. Văn từ ngoại giao của ông vừa đủ mềm mỏng để có thể thuyết phục được đối phương, dành cho đối phương một lối thoát khiến cho họ có thể nhận điều kiện giảng hoà mà không sợ mất thể diện, lại vừa cương quyết để cho đối phương biết rằng lực lượng nhà Tây Sơn không phải là yếu. Sau một thời gian giao thiệp, vua Càn Long nhà Thanh đã nhận tất cả các điều kiện giảng hòa do Nguyễn Huệ đề ra. Sở dĩ được như vậy, một phần là nhờ có văn từ ngoại giao khéo léo và cương quyết của Ngô Thì Nhậm vậy.

Bản thân Nguyễn Huệ còn đào tạo ra một loạt nhân tài quân sự mà tiêu biểu là Ngô Văn Sở, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Phan Văn Lân, Đô đốc Tuyết, Đô đốc Bảo, Đô đốc Long, Đô đốc Lộc... Đây là những tướng lĩnh có tài của Nguyễn Huệ. Họ đã có nhiều cống hiến quan trọng cho sự nghiệp của nghĩa quân Tây Sơn. Về quân sự, Nguyễn Huệ sở dĩ đánh đâu thắng đấy là vì ông biết dùng các tướng lĩnh có tài. Ngô Văn Sở đã đánh bại quân Lê - Trịnh nhiều lần, đã cùng với Nguyễn Huệ thân chỉ huy trận tấn công đồn Ngọc Hồi nổi tiếng vào sáng ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789). Trần Quang Diệu đã lập được nhiều chiến công trong việc đánh đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Phan Văn Lân, Đô đốc Long, Đô đốc Bảo, Đô đốc Tuyết, Đô đốc Lộc đều là những người có chiến công trong trận đại phá quân xâm lược Mãn Thanh. Đặc biệt, trong các tướng lĩnh của quân Tây Sơn có Bùi Thị Xuân, bà là vợ Thiếu phó Trần Quang Diệu, bà đã cùng chồng xông pha chiến trận và lập được nhiều chiến công. Năm 1791 khi Trần Quang Diệu làm trấn thủ Nghệ An, Bùi Thị Xuân đã đem quân đi đánh bọn Lê Duy Chi và đã bắt được tướng giặc là Hoàng Văn Đồng và Nùng Phúc Tấn. Năm 1802, sau khi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Ánh mang quân ra Bắc. Bùi Thị Xuân cùng chồng mang quân từ Nam qua Lào để về Nghệ An. Bùi Thị Xuân đã đem năm  nghìn quân công phá rất dữ đồn Đâu Mâu...

Nguyễn Huệ là một vị vua đã dám dùng một phụ nữ làm tướng, và vị nữ tướng Bùi Thị Xuân ấy tỏ ra rất có tài năng. "Quân của bà Thiếu phó" (tức quân của Bùi Thị Xuân) là quân đã gây nhiều nỗi khiếp sợ cho quân Nguyễn. Chỗ khéo của Nguyễn Huệ là ông tin dùng các tướng lĩnh và các quan lại của ông. Ông có can đảm giao cho họ nhiều chức trách trọng yếu, và để cho họ được tự do hành động khiến cho họ có điều kiện để phát huy đầy đủ sáng kiến, tài năng. Do đó, các tướng lĩnh và quan lại của Nguyễn Huệ đều tận tụy với ông, đều vì ông mà trổ hết tài năng.
__________________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:36:01 pm

h) Nguyễn Huệ là người có đầu óc thực tế đến cao độ

Nguyễn Huệ là "một người áo vải nổi lên ở ấp Tây Sơn”. Bản thân Nguyễn Huệ cũng luôn luôn nhận ông là "một người áo vải". Nói người áo vải là nói người dân thường trong xã hội phong kiến. Trong khuôn khổ xã hội này, người áo vải luôn luôn phải đối mặt với nhiều thực tế khó khăn: Thực tế của chế độ áp bức phong kiến như sưu cao thuế nặng; sự bóc lột của địa chủ; của sản xuất và trong từng thời kỳ lịch sử lại còn của ách ngoại xâm nữa... Muốn sông còn, người áo vải phải có khả năng giải quyết các vấn đề ấy. Đất nước Việt Nam tuy giàu có nhưng khí hậu của Việt Nam lại khắc nghiệt như lụt lội, hạn hán, gió bão lớn luôn luôn xảy ra. Đất nước Việt Nam lại luôn luôn bị ngoại xâm giày xéo và đe dọa. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã bị phong kiến phương Bắc đô hộ đến hơn mười thế kỷ, vậy mà vẫn giữ được tính dân tộc của mình, vẫn tồn tại và phát triển. Được như thế, một phần là vì dân tộc Việt Nam có đầu óc thực tế.

Nguyễn Huệ là một người áo vải, ông đã sống giữa những người áo vải. Ông tiếp thu được tinh hoa đầu óc thực tế của những người này. Nhờ có một đầu óc thực tế cao, mỗi khi nhìn sự vật, Nguyễn Huệ luôn luôn nắm được chỗ cốt yếu của nó. Đối với Nguyễn Huệ, cái thước để đo giá trị của người và việc là tác dụng thực tế của người hay việc đó đối với đời sống xã hội.

Năm 1787, khi ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ có tiếp các cựu thần nhà Lê ở điện Chính Trung. Ông liếc mắt nhìn khắp mọi người, rồi hỏi một người: Ông làm chi? - Viên quan kia đáp: Thưa, tôi đỗ thám hoa. Nguyễn Huệ nói: - Thám hoa là cái chi? Đỗ thám hoa có làm được chánh tổng không?

Câu nói này đã minh hoạ khá rõ ràng quan niệm của Nguyễn Huệ đối với khoa cử: Khoa cử không phải là để tạo ra một bọn người thoát ly thực tế, chỉ biết làm thơ làm phú, mà phải là tạo ra những người có khả năng gánh vác công việc xã hội. Do có lối nhìn sự vật trước hết chú ý đến tác dụng thực tế của nó đối với đời sống xã hội, Nguyễn Huệ đã ra lệnh biến các đền từ ở các phủ thành trường học của phủ, và đã tìm biện pháp hạn chế sự mê tín trong nhân dân. Do có đầu óc thực tế, Nguyễn Huệ đã trọng dụng chữ Nôm, và dịch các sách Tứ thư, Ngủ kinh ra chữ Nôm để làm sách giáo khoa ở nhà trường. Dưới thời phong kiến, người ta có thói quen trọng nam khinh nữ, nhưng do có đầu óc thực tế, Nguyễn Huệ đã có can đảm dùng bà Bùi Thị Xuân làm tướng chỉ huy đến năm nghìn quân đi đánh dẹp các nơi. Đầu óc thực tế còn khiến Nguyễn Huệ dám cử ngay Ngô Thì Nhậm làm Tả thị lang bộ Lại, tước Tình phái hầu ngay khi Ngô Thì Nhậm mới về với ông.

Với đầu óc thực tế cao độ của Nguyễn Huệ đã khiến ông tự gạt được nhiều thành kiến và mê tín, để ra được nhiều biện pháp táo bạo có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:37:48 pm

*
*   *

Khi nghiên cứu về Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, một nhà sử học đã nhận định rất đúng rằng:

"Xét về các chủ trương, chính sách và hành động của Nguyễn Huệ, chúng ta thấy ông là một nhân vật thông, minh, nhân, trí, hùng, lược rất hiếm có trong lịch sử Việt Nam...

Thông, minh, nhân, trí, hùng, lược đã hoà hợp và gắn chặt với nhau để cùng với các tính tình vui vẻ, lòng yêu văn học, yêu nhân tài, tạo thành cơ sở của con người Nguyễn Huệ"1.

Chính vì bản lĩnh và trí tuệ như vậy, nên trong 21 năm, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tung hoành suốt dải đất Việt Nam từ đồng bằng sông Cửu Long đến vùng châu thổ sông Hồng. Trong lịch sử Việt Nam, chưa có quân đội nào lại chiến thắng liên tiếp trong một thời gian dài như thế. Trong thời gian đó Nguyễn Huệ đã làm nên một sự nghiệp cực kỳ hiển hách. "Nguyễn Huệ đã ở vào cái thế muốn gì được nấy, đánh đâu thắng đấy. Lá cờ đỏ của quân Tây Sơn chỉ về đâu, thì tình hình nơi ấy nhất định phải thay đổi một phen"2.

Sự nghiệp của Nguyễn Huệ gắn chặt với nguyện vọng của dân tộc Việt Nam hồi cuối thế kỷ XVIII: Thống nhất và bảo vệ đất nước. Nguyễn Huệ đã nhìn thấy nguyện vọng tha thiết của nhân dân, nhiệm vụ lịch sử của dân tộc và ông đã đề ra nhiều biện pháp nhằm thỏa mãn nguyện vọng cũng như hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ ấy.
________________________________________
1, 2. Văn Tân, Con người Nguyễn Huệ, Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử” số 72 tháng 3 năm 1965.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:51:58 am

Câu hỏi 19: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh kết thúc với thắng lợi rực rỡ, một triều đại mới - triều đại Quang Trung ra đời, hoàn toàn thay thế cho Nhà nước Lê - Trịnh trước đó. Hãy cho biết vua Quang Trung đã tiến hành xây dựng chính quyền, thực thi các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, giáo dục như thế nào?
Trả lời:


Từ cuối năm 1788, nhận tước Bắc Bình Vương do Nguyễn Nhạc phong, Nguyễn Huệ trở thành người cai quản thực sự vùng đất từ Quảng Nam trở ra Bắc mặc dầu Bắc Hà còn tồn tại chính quyền của vua Lê. Năm 1788 khi quân Mãn Thanh vào Thăng Long, Nguyễn Huệ đã lập đàn tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Quang Trung. Cuộc kháng chiến kết thúc với thắng lợi rực rỡ của dân tộc, triều đại Quang Trung ra đời, hoàn toàn thay thế cho Nhà nước Lê - Trịnh trước đó. Trong bối cảnh của xã hội Đại Việt ở cuối thế kỷ XVIII, việc lên ngôi của Nguyễn Huệ, xây dựng triều đại mới là điều tất yếu. Sự kiện này cũng đánh dấu sự kết thúc của phong trào nông dân.

a) Về tổ chức chính quyền:

Từ năm 1788, sau khi tiêu diệt lực lượng của Nguyễn Hữu Chỉnh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã cử các võ tướng của mình cai quản các trấn ở Bắc Hà. Năm 1789, triều đình mới được tổ chức quy củ. Hoàng đế nắm mọi quyền hành. Công chúa Ngọc Hân (con vua Lê Hiển Tông) được phong làm Bắc cung hoàng hậu. Nguyễn Quang Toản được lập làm thái tử. Bên dưới hình thành một lớp quan cao cấp, bao gồm các chức tam Thái, tam Thiếu, tam Tư, đại tổng quản, đại đổng lý... Công việc nhà nước được phân cho 6 bộ do thượng thư đứng đầu, viện Hàn lâm, Ngự sử đài, viện Sùng chính... Các đơn vị hành chính địa phương vẫn giữ như cũ. Trấn do trấn thủ là võ quan đứng thứ đầu, giúp việc có hiệp trấn là văn quan. Các huyện đều đặt 2 chức văn phân tri và võ phân suất trông coi. Tổng có tổng trưởng, xã có xã trưởng.

Quang Trung cũng thực hiện chế độ phân phong các con trấn trị các khu vực quan trọng như Quang Thùy phụ trách Bắc thành tiết chế, Quang Bàn đốc trấn Thanh Hoa.

Hàng ngũ quan lại bao gồm thân thuộc của nhà vua (như Bùi Đắc Tuyên), các võ tướng Tây Sơn và các cựu thần nhà Lê tự nguyện hợp tác với triều Tây Sơn (như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Thế Lịch, Trần Bá Lãm, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Thiếp, Bùi Dương Lịch, v.v...). Quang Trung rất trận trọng những nho sĩ này và thường giao cho các chức vụ quan trọng.

Các quan lại đều được bổng lộc theo chế độ hưởng tô thuế một hay vài xã, một số quan chức cao cấp, có công thì được cấp thêm ruộng đất (như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, v.v...), tuy không nhiều (25 - 30 mẫu).

Để tiện việc điều hành, Quang Trung quyết định chọn đất thành lập kinh đô mới. Việc xây dựng được xúc tiến ngay sau khi chọn vùng chân núi Dũng Quyết (gần Bến Thủy - Nghệ An) làm trung tâm với tên gọi Phượng Hoàng trung đô.

Quân đội được kiện toàn và củng cố, bao gồm thủy binh, bộ binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh. Chiến thuyền có nhiều loại, có loại lớn chở được voi chiến, trang bị 50, 60 đại bác, chở được 500 - 700 quân. Vũ khí có giáo mác, cung tên, súng trường, đại bác, hỏa hổ. Để huy động lực lượng nhân dân, Quang Trung đã tiến hành việc lập lại sổ hộ ở các xã.

Nhân đinh được chia làm 3 hạng:
9-17 tuổi: vi cập cách.
18-55 tuổi: tráng hạng.
56-60 tuổi: lão hạng.
Trên 60 tuổi: lão nhiêu.

Tất cả trai tráng, không phân biệt sang hèn, xuất thân đều phải ghi tên vào sổ hộ. Để tránh tình trạng ẩn lậu, trốn tránh, nhà nước phát thẻ tín bài trên khắc 4 chữ "Thiên hạ đại tín" cho mọi dân đinh, đi đâu đều phải mang theo vì có ghi họ tên, quê quán và điểm chỉ.

Về luật pháp, Quang Trung đã có dự kiến cho người soạn thảo một bộ luật mới cho triều đại mình, song không làm được. Thời Quang Toản đã có một bộ Hình thư mới, nhưng nay không còn nữa.

Trên cơ sở bộ máy nhà nước mới, Quang Trung cố gắng củng cố trật tự, an ninh đất nước. Bấy giờ, mặc dầu phần lớn nhân dân đã hướng về triều vua mới, không ít cựu thần nhà Lê, hào lý địa phương vẫn chưa chịu từ bỏ mưu đồ phục hồi nhà Lê và chế độ cũ. Một số người được sử dụng, giao nhiều trọng trách ở địa phương đã không chịu nhìn nhận tính tiến bộ của triều vua mới, nên tìm cách xuyên tạc, phá hoại các chính sách của nhà nước. Năm 1789, một số thổ tù vùng Tuyên Quang, Cao Bằng đã tôn Lê Duy Chi (em ruột Chiêu Thống) làm minh chủ, mộ quân đánh Cao Bằng, Tuyên Quang và mưu kéo xuống đánh úp thành Nghệ An. Đốc trấn Nghệ An là Trần Quang Diệu đã đánh tan âm mưu đó, truy đuổi chúng và bắt sống Lê Duy Chi. Các cuộc bạo động ở Nghệ An, Hải Dương, Bắc Giang cũng nhanh chóng bị đàn áp. Tình hình dần dần tạm ổn định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:53:13 am

b) Phục hồi và phát triển kinh tế:

Tình hình Bắc Hà những năm 1788-1789 hết sức khó khăn, sử cũ đã viết: "Luôn năm mất mùa đói kém, dân gian trôi dạt lưu ly, cha con không thể nuôi nhau, anh em không thể nương nhau"; ở Thanh Hóa thì "một hạt thóc cũng không có... sau cuộc binh hỏa, dịch tật thịnh hành, chết không biết bao nhiêu mà kể", còn ở Nghệ An thì theo Nguyễn Thiếp: "Mất mùa, dịch tễ, kẻ thì chết đói, người thì phiêu bạt", ruộng đất bỏ hoang hóa khắp nơi.

- Nông nghiệp: Một trong những việc làm đầu tiên của triều vua Quang Trung là nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp. Năm 1789, “chiếu khuyến nông" được ban bố: "Đạo lo cho dân không gì bằng hồi phục dân lưu tán, khai khẩn ruộng bỏ hóa...", "... từ lúc trải qua loạn lạc đến nay, binh lửa liên miên bận rộn, lại thêm đói kém, nhân khẩu lưu tán, đồng ruộng bỏ hoang. Số đinh điền thực trưng mười phần không còn được 4 - 5..." và quy định:

    + Dân lưu tán phải nhanh chóng trở về quê cũ, xã nào chứa chấp người trốn tránh phải bị trừng phạt. Làng xã phải cung cấp ruộng đất công cho họ cày cấy, nộp thuế.

    + Hạn đến tháng Chín năm Kỷ Dậu (tức tháng 10 năm 1789) xã phải làm xong sổ ruộng nộp lên.

    + Hạn trong 3 năm, ruộng đất trong xã đều phải được cày cấy. "Ruộng hoang xã nào đến hạn mà không có người nhận khai khẩn, nếu là ruộng công thì sắc mục xã ấy phải theo mức thuế mà nộp gấp đôi, nếu là ruộng tư thì sung công, nộp thuế như ruộng công".

Mặc dầu chính quyền Quang Trung chưa có những chính sách nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất cuối thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài, "chiếu khuyên nông" với tính cưỡng bức của nó đã có những hiệu quả đáng kể. Theo sử cũ, trong vòng 3 - 4 năm sau "mùa màng trở lại phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình". Chính bài phú Tụng Tây hồ của Nguyễn Huy Lượng cũng nói lên điều này:

      "Qua Canh Tuất (1790) lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức chiêm nhu”.

Tuy nhiên, việc giữ nguyên tình trạng chiếm hữu ruộng đất đã có trong hàng chục năm tiếp theo không phải không hạn chế dần những thành quả của phong trào Tây Sơn. Cuộc sống của người nông dân trở lại với trạng thái cũ, cuối thời Lê - Trịnh.

- Công thương nghiệp: Với mong muốn xây dựng một nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, chính quyền Quang Trung chủ trương khuyến khích phục hồi và mở rộng các làng thủ công cũng như việc trao đổi buôn bán trong nước và với nước ngoài.

Bài phú Tụng Tây hồ đã có những câu: "Lò Thạch Khôi khói tuôn nghi ngút", "Thoi oanh nọ ghẹo hai phường dệt gấm, lửa đóm nhen năm xã gây lò" hoặc "Yên Thái nện trong sương chểnh choảng", v.v... Nhà thơ Phan Huy Diệu cũng thừa nhận ở vùng Bát Tràng "chợ phố đông đúc, hàng bày đầy ắp, mái chèo đi lại tới tấp". Đối với thương nhân nước ngoài, Quang Trung khuyến khích họ chở hàng hóa đến trao đổi, tránh việc chở vũ khí viện trợ cho nhóm Nguyễn Ánh. Ở vùng biên giới Việt - Trung, Quang Trung cũng đề nghị nhà Thanh cho thương nhân hai nước được qua lại buôn bán ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Nam Ninh...

- Tài chính: Chính quyền Quang Trung cho đúc tiền mới để tiêu dùng. Thuế khóa được định lại từ thuế ruộng đất các loại đến thuế thân, phụ thu, các loại thuế công thương nghiệp...

Nhìn chung, sau một thời gian thực hiện khẩn trương các chính sách kinh tế, cuộc sống của nhân dân ở vùng đất của triều đại Quang Trung trở lại ổn định với một số biểu hiện mở rộng về mặt công thương nghiệp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:53:41 am

c) Văn hóa, giáo dục:

Cũng như các triều đại phong kiến trước, chính quyền Quang Trung vẫn tôn sùng Nho giáo nhưng tỏ ra rất rộng rãi với các tôn giáo khác. Một số chùa được phục hồi, tu bổ. Những nhà sư có đạo đức, sùng đạo đều được phép trụ trì ở các chùa, tiếp tục giảng đạo hàng năm, những kẻ "trốn việc quan đi ở chùa", "sư hổ mang" đều bị bắt hoàn tục. Các giáo sĩ đạo Kitô được tự do truyền đạo và được tôn trọng nếu họ chỉ làm việc tôn giáo của mình.

Chữ Nôm được đề cao lên vị trí chữ viết chính thức của dân tộc. Theo quy định của Quang Trung, mọi chiếu chỉ, mệnh lệnh, văn tế, thư từ của nhà nước đều phải viết bằng chữ Nôm. Nhờ đó, chữ Nôm ngày càng được sử dụng rộng rãi trong giới trí thức, trong nhân dân. Nhiều nhà thơ Nôm nổi tiếng xuất hiện (như Nguyễn Huy Lượng, Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương...).

Quang Trung cũng chủ trương đưa chữ Nôm vào giáo dục và khoa cử. Năm 1791, ông cho thành lập viện Sùng chính, mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng. Một số nhà nho giỏi cũng được đưa vào đây để chuyên dịch các sách thi, thư ra chữ Nôm chuẩn bị làm tài liệu giáo dục cho nhân dân cả nước. Quang Trung cũng ban "chiếu lập học" lệnh cho các xã thành lập nhà xã học, chọn ngươi hay chữ và có đức hạnh làm thầy  giáo. Một số chùa cũng được dùng làm chỗ dạy học. Phương pháp học tập của người học cũng được chấn chỉnh theo đúng tinh thần kết hợp học với hành như đề nghị của Nguyễn Thiếp "theo điều học biết mà làm, họa may nhân tài mới có thể thành tựu, nhà nước nhờ đó mà được vững yên". Những "sinh đồ 3 quan" thời Lê - Trịnh, sau khi thi lại mà không đạt bị thải về quê. Năm 1789, kỳ thi Hương đầu tiên được tổ chức ở Nghệ An. Thí sinh phải thi thơ phú bằng chữ Nôm.

Chính sách văn hóa, giáo dục cũng như thực trạng tôn giáo, học hành thi cử thời Nguyễn - Quang Trung đã thể hiện rõ sự bùng lên của ý thức dân tộc, của mong muốn vươn lên tiên tiến của người dân đương thời.

Triều đại Quang Trung đang đi dần vào thế ổn định với xu thế tiến bộ, cuộc sống của nhân dân cũng đang hồi phục, thì tháng 9 năm 1792, Quang Trung mất đột ngột (40 tuổi). Hơn 4 năm cầm quyền trong bối cảnh một đất nước vừa thoát ra khỏi cảnh suy thoái, loạn lạc, chiến tranh ác liệt, người anh hùng "áo vải" Quang Trung chưa thể làm gì hơn để đưa xã hội phong kiến Đại Việt vượt qua được cuộc khủng hoảng, vươn mình lên cùng thế giới tiên tiến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:54:29 am

Câu hỏi 20: Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, một trong những tướng lĩnh tài giỏi bậc nhất của dân tộc Việt Nam. Hãy cho biết một số nét cơ bản về thiên tài quân sự của ông?
Trả lời:


Từ tính cách và con người của Nguyễn Huệ cùng với những chiến công rực rỡ của ông, chúng ta thấy Nguvễn Huệ là một thiên tài quân sự. Nhìn bao quát toàn bộ các hoạt động quân sự của ông, nổi bật là: thường hành quân rất nhanh chóng, tấn công táo bạo và thắng rất nhanh. Để tìm hiểu thiên tài quân sự của ông, chúng ta có thể thấy một số nét cơ bản sau đây:

Một là, kết hợp quân sự và chính trị:

Nguyễn Huệ cũng như anh là Nguyễn Nhạc, là một nhà quân sự biết kết hợp khéo léo chính trị và quân sự, coi chính trị và quân sự là hai bộ phận hữu cơ của một nhiệm vụ: Đánh đổ chế độ áp bức Nguyễn - Trịnh. Mọi người đều biết rằng năm 1771 khi dựng cờ nghĩa ở ấp Tây Sơn, các lãnh tụ của nghĩa quân tuyên bố: Nghĩa quân phải đứng lên là để đánh đổ hà chính của Trương Phúc Loan và tôn phù hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên làm chúa. Thái độ của nghĩa quân Tây Sơn kết quả đã phân hóa sâu sắc hàng ngũ chúa Nguyễn, làm cho nội bộ chúa Nguyễn chia ra làm hai phái lớn: Phái cố bám lấy Trương Phúc Loan và phái ủng hộ Nguyễn Phúc Dương chống lại Trương Phúc Loan, ủng hộ Nguyễn Phúc Dương về danh nghĩa là ủng hộ một phe phái của chúa Nguyễn, nhưng về thực tế là ủng hộ nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đứng đầu. Lực lượng của chúa Nguyễn (cũng tức là lực lượng của Trương Phúc Loan) vốn đang yếu, vì vậy lại càng thêm yếu, và lực lượng của nghĩa quân Tây Sơn vốn đang phát triển, vì vậy lại càng có điều kiện phát triển thuận lợi. Năm 1786, Nguyễn Huệ mang quân ra đánh Bắc Hà, ông đưa ra khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh". Sự thực thì vua Lê lúc này cũng thời nát như chúa Trịnh. Nhưng khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh" đã chia rẽ đối phương, trung lập được họ Lê và cô lập họ Trịnh đến triệt để. Nhờ vậy, khi tiến quân ra Bắc, Nguyễn Huệ đã đánh bại quân Trịnh một cách khá dễ dàng. Sau khi đánh đổ họ Trịnh, Nguyễn Huệ thực sự làm chủ Bắc Hà. Khi Nguyễn Huệ bảo Nguyễn Hữu Chỉnh: "Ta mang vài vạn quân ra đây, đánh một trận lấy được Bắc Hà. Vậy thì một thước đất, một người dân bây giờ không phải của ta thì của ai vào đấy nữa? Dẫu ta muốn xưng đế, xưng vương chi chi, ai còn dám làm gì ta đặng?" là ông đã nói ra một sự thật. Nguyễn Huệ đánh chiếm được Bắc Hà, nhưng về mặt pháp lý, ông vẫn chưa dám tự nhận là chủ Bắc Hà, là vì ông biết ở Bắc Hà, trong nhân dân và nho sĩ vẫn còn có nhiều người luyến tiếc nhà Lê. Năm 1787 sau khi sai Vũ Văn Nhậm đem quân Tây Sơn ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vẫn để cho Lê Duy Cẩn làm giám quốc bù nhìn. Nguyễn Huệ chỉ chính thức lên ngôi hoàng đế thay nhà Lê làm chủ Bắc Hà khi Lê Chiêu Thống đã công nhiên rước quân Thanh vào xâm lược Việt Nam, khi nhân dân đã chán ghét nhà Lê. Nguyễn Huệ quả là nhà quân sự biết chú ý đến chính trị, biết kết hợp tài tình chính trị và quân sự, biết đem chính trị phục vụ quân sự, biết dùng quân sự để đạt mục đích chính trị. Ông đánh đâu thắng đấy, và thường rất nhanh, một phần là vì ông khéo kết hợp chính trị và quân sự vậy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:54:57 am

Hai là, đánh vào mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất:

Trong các hoạt động quân sự của ông, Nguyễn Huệ biết tập trung lực lượng đánh vào chỗ trọng yếu nhất của đối phương, do đó ông giải quyết chiến dịch rất gọn gàng, nhanh chóng. Năm 1777, Nguyễn Huệ mang quân vào Gia Định, chỉ một trận ông đã đánh tan quân của Lý Tài, đuổi Nguyễn Phúc Dương chạy về Trà Tân. Cũng năm 1777, chỉ một trận, Nguyễn Huệ hạ được Ba Vạc, bắt sống được Duệ Tôn và Nguyễn Phúc Dương ở Long Xuyên. Năm 1784, 300 chiến thuyền và 50.000 quân Xiêm đã bị Nguyễn Huệ phá gọn trong một trận ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Đến trận đại phá 29 vạn quân Thanh hồi đầu năm 1789 thì thật là kỳ lạ. Cuối năm 1788 lộ quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đã chiếm Thăng Long. Tiền đội quân Thanh thọc sâu đến tận Hà Nam, còn ở Hà Hồi, Ngọc Hồi, Nhân Mục, Khương Thượng, Đại Áng, Yên Quyết, quân Thanh đều dựng nên những đồn rất kiên cố để che chở cho Thăng Long tại mặt nam và mặt tây. Đạo quân Vân Quý do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy cũng đã vượt Tuyên Quang và đến cuối năm 1788 đã đến đóng ở Phú Thọ, Sơn Tây... Để phá 29 vạn quân xâm lược, Nguyễn Huệ đã vận dụng một chiến lược khác hẳn chiến lược của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Chiến lược của Nguyễn Huệ không phải là chiến lược phòng ngự tích cực của Lý Thường Kiệt, cũng không phải là chiến lược kháng chiến lâu dài của Trần Hưng Đạo hay của Lê Lợi, mà là chiến lược đánh nhanh thắng nhanh. Đây là một chiến lược được vận dụng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đối với quân xâm lược phương Bắc. Tình thế buộc Nguyễn Huệ phải đánh nhanh thắng nhanh. Sau khi cho Tôn Sĩ Nghị thống suất 29 vạn quân theo đường bộ sang đánh Việt Nam, vua Càn Long nhà Thanh còn định cho thủy quân ở Phúc Kiến và Quảng Đông vượt biển đánh vào Thuận Hóa và Quảng Nam. Hồi cuối năm 1788 và đầu năm 1789, thủy quân Thanh chưa xuất phát. Nếu thủy quân Thanh xuất phát đánh vào Thuận Quảng thì quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ bị kẹp vào giữa. Lúc ấy những kẻ theo chúa Nguyễn ở Đàng Trong và những kẻ theo vua Lê ở Đàng Ngoài sẽ nổi lên làm nội ứng cho quân Thanh, lúc ấy quân Tây Sơn sẽ bị hãm vào một tình thế rất gay go, phức tạp: Nếu không sớm bị tiêu diệt, thì cũng phải rút về thủ hiểm ở núi rừng. Muốn khỏi phải đối phó một lúc với hai mặt trận (mặt trận quân bộ của Tôn Sĩ Nghị ở Bắc và mặt trận do thủy quân Mân Việt tạo ra ở miền Nam). Nguyễn Huệ phải dốc lực lượng tiêu diệt 29 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị cho nhanh. 29 vạn quân này không phải đóng ở một nơi, mà đóng ở nhiều nơi: Chúng đóng ở Hải Dương, ở Thị Cầu, ở Phú Thọ, ở Sơn Tây, ở Thăng Long, ở Phú Xuyên, ở Hà Nam. Tiêu diệt các đạo quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây, Phú Thọ thì tương đối dễ dàng. Tiêu diệt cánh quân Thanh đóng ở Hải Dương cũng không có gì khó khăn cho lắm. Nhưng tiêu diệt được các căn cứ quân Thanh ở Phú Thọ, Sơn Tây, Hải Dương, chưa phải là đã lay chuyển nổi căn cứ quân Thanh ở Thăng Long. Căn cứ chính của quân Thanh còn, thì từ đây Tôn Sĩ Nghị vẫn có thể tung quân đi cứu viện các nơi. Chiến tranh như vậy sẽ kéo dài. Và hễ chiến tranh kéo dài, thì thủy quân Mân Việt của nhà Thanh vẫn có đủ thì giờ đổ bộ vào Thuận Quảng, quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ vẫn có thể bị kẹp vào hai gọng kìm nguy hiểm... Nguyễn Huệ đã chọn Thăng Long làm mục tiêu cuộc tấn công lớn và vô cùng táo bạo của ông. Vì hễ thanh toán xong quân Thanh ở Thăng Long là ông thanh toán được toàn bộ quân Thanh ở Bắc Hà, các cánh quân Thanh đóng ở các nơi như: Phú Thọ, Sơn Tây, Tuyên Quang, Thị Cầu, Việt Trì, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương sẽ buộc phải rút lui cho sớm để tránh khỏi bị tiêu diệt. Đánh vào căn cứ chính của quân Thanh ở Thăng Long và chung quanh Thăng Long là đánh vào đầu quân địch khiến cho toàn bộ thân thể và chân tay của chúng rã rời. Muốn đánh vào Thăng Long và giành được thắng lợi phải có chí ít hai điều kiện: Một là những tin tức tình báo rất đầy đủ về quân Thanh, hai là quyết tâm chiến đấu của quân đội đến cao độ. Hai điều kiện này, cuối năm 1788, Nguyễn Huệ có đầy đủ cả. Khi gặp bọn Ngô Thì Nhậm ở núi Tam Điệp, Nguyễn Huệ có nói: "Nay ta đến đây, tự đốc việc quân, đánh hay giữ đã có kế cả rồi, chỉ trong mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch quân Thanh...". Khi cho ba quân ăn tết trước ở núi Tam Điệp, Nguyễn Huệ lại tuyên bố: "Nay hãy tạm ăn Tết Nguyên đán trước. Đợi đến sang xuân ngày mồng 7 vào Thăng Long lại mở tiệc ăn mừng. Các ngươi cứ ghi lấy lời nói của ta xem có sai không?". Với những câu này, Nguyễn Huệ tỏ ra nắm rất vững tình hình quân địch, vì chỉ có nắm vững tình hình quân địch mới dám quả quyết rằng đến ngày mồng 7 tháng Giêng sẽ ăn Tết khai hạ ở Thăng Long. Thực tế đã chứng minh lời vua Quang Trung là hoàn toàn chính xác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:55:20 am

Ba là, hành động bất ngờ:

Trong các hoạt động quân sự của ông, Nguyễn Huệ luôn luôn giữ vững nguyên tắc là không bao giờ làm cái gì mà quân địch có thể nghĩ là mình định làm như thế. Có nghĩa là đối với quân địch phải luôn luôn có hành động bất ngờ, đừng để cho quân địch có thể đoán trước được hành động của mình. Đối với quân địch càng hành động bất ngờ được bao nhiêu thì càng có điều kiện thắng lợi bấy nhiêu. Nguyên tắc này không những ăn sâu vào Nguyễn Huệ mà còn ăn sâu vào các tướng lĩnh khác của quân đội Tây Sơn. Năm 1787, quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy ra Bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Tướng của Nguyễn Hữu Chỉnh là Nguyễn Như Thái và Ninh Tôn đem quân tiến vào Thanh Hóa đón đánh quân Tây Sơn. Qua bên đò Gián Khẩu, Nguyễn Như Thái sai quân đóng giữ bến Gián, rồi tự dẫn đại quân theo đường tắt đến bến đò Nghệ (thuộc trại Nghệ, làng Đại Hữu, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình) để đánh vào lưng quân Tây Sơn. Quân của Như Thái mới đến làng Điểm Xá (thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) thì gặp quân Tây Sơn. Như Thái bị quân Tây Sơn đánh bại phải quay trở lại. Trong khi Như Thái hành quân, thì quân của Vũ Văn Nhậm đã vượt núi Tam Điệp. Quân của Như Thái chưa đến núi Tam Điệp đã thấy quân Tây Sơn hiện ra trước mặt. Hoảng sợ, Như Thái vỗ ngựa kêu to: "Chết rồi! Sao chúng nó nhanh như thế?!". Quân Tây Sơn vượt dãy Tam Điệp vào lúc Nguyễn Như Thái không ngờ, cho nên quân của Như Thái bị quân Tây Sơn đánh bại và Như Thái bị quân Tây Sơn bắn chết ngay tại trận. Cuối năm Mậu Thân (1788) và đầu năm Kỷ Dậu (1789), Tôn Sĩ Nghị bố trí sự phòng thủ Thăng Long khá cẩn thận. Ở gần huyện Phú Xuyên, trên đường Hà Nội - Hà Nam, quân Thanh có đồn Hà Hồi, sau đồn Hà Hồi có đồn Ngọc Hồi cách Hà Nội mười hai cây số. Đồn Ngọc Hồi là một vị trí rất kiên cố, có một lực lượng quan trọng đóng giữ. Sau đồn Ngọc Hồi còn có đồn Văn Điển, Khương Thượng, đồn Nhân Mục, Yên Quyết. Như vậy là ở phía tây và phía nam thành Thăng Long, quân Thanh đã phòng thủ khá vững vàng. Trái lại, ở phía đông và phía bắc thành Thăng Long, quân Thanh hình như không lập phòng tuyến nào, hay có lập phòng tuyến, nhưng không đáng kể. Tôn Sĩ Nghị cho phòng thủ ở phía tây và phía nam, mà ít chú ý phòng thủ ở phía bắc và phía đông thành Thăng Long, vì y cho rằng nếu quân Tây Sơn có ra đánh Thăng Long, thì họ cũng chỉ có thể đánh ở phía tây và phía nam mà thôi. Vì vậy, Tôn Sĩ Nghị bố trí phòng thủ rất kiên cố ở phía tây và phía nam. Do đã bố trí phòng thủ cẩn thận ở phía tây và phía nam, Tôn Sĩ Nghị lại nghĩ rằng quân Tây Sơn không thể đánh vào Thăng Long từ phía tây và phía nam nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm Kỷ Dậu. Cuối năm Mậu Thân khi các quan nhà Lê xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân đánh quân Tây Sơn, Sĩ Nghị cười và nói: "Hết năm đến nơi rồi. Việc gì phải hấp tấp như thế. Không cần phải đánh vội. Quân giặc đang gầy, ta đang nuôi cho chúng béo để cho chúng tự đến dâng thịt". Khi nói câu này, Tôn Sĩ Nghị tỏ ra không tin rằng quân Tây Sơn lại có thể cất quân vào dịp Tết Nguyên đán để đánh vào một hệ thống đồn lũy phòng thủ rất kiên cố mà quân Thanh đã dựng lên ở phía tây và phía nam thành Thăng Long. Cho nên, trong lúc quân Tây Sơn đã hạ đồn Hà Hồi, rầm rộ tiến đánh đồn Ngọc Hồi thì Tôn Sĩ Nghị vẫn ung dung ngồi thưởng xuân ở Tây Long cung cùng với một bầy tướng lĩnh cũng chủ quan khinh địch như Tôn Sĩ Nghị. Đầu năm 1789, Nguyễn Huệ đã đại phá 29 vạn quân Thanh trong một trận, một phần là vì ông đã biết triệt để vận dụng nhân tố bất ngờ khiến cho quân Thanh trở tay không kịp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:57:43 am

Bốn là, chọn thời gian và không gian thích hợp:

Trong các hoạt động quân sự, Nguyễn Huệ tỏ ra là một nhà quân sự thiên tài biết chọn thời gian và không gian thuận lợi nhất để đánh địch. Năm 1784, theo yêu cầu của Nguyễn Phúc Ánh, vua Xiêm là Chất Tri cho tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương mang 50.000 quân và 300 chiến thuyền sang Gia Định giúp Phúc Ánh. Quân Xiêm đánh chiếm Rạch Giá, Ba Thác, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc. Phò mã Tây Sơn là Trương Văn Đa mang quân đón đánh, bị quân Xiêm đánh cho đại bại. Được tin quân Xiêm vào xâm lược Gia Định, Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn lại mang quân vào Nam. Huệ biết rằng phải làm cho quân Xiêm lộ rõ bộ mặt xâm lược của chúng, khiến cho nhân dân chán ghét chúng, thì mới có thể tiêu diệt chúng được. Vì vậy, Huệ không đánh quân Xiêm, mà chỉ vừa đánh vừa lùi. Quân Xiêm thấy chúng đánh đâu thắng đấy, sinh ra kiêu ngạo. Chúng ỷ thế cậy đông đi đến đâu cướp bóc của nhân dân đến đấy. Chúng gây nhiều sự tàn ác làm cho nhân dân đều oán giận chúng, và chỉ chờ mong quân Tây Sơn đến để tiêu diệt chúng. Khi nhân dân chán ghét và căm thù quân Xiêm, Nguyễn Huệ mới nhử chúng vào Rạch Gầm rồi thả phục binh ra tiêu diệt chúng. Chỉ một trận Rạch Gầm, năm vạn quân Xiêm và 300 chiến thuyền bị quân Tây Sơn phá sạch. Quân Xiêm vẻn vẹn chỉ còn lại vài nghìn tên nhịn đói nhịn khát theo đường rừng chạy trốn về nước. Cuối năm Mậu Thân (1788), quân Thanh tiến vào Việt Nam xâm lược. Các cựu thần nhà Lê và nhiều nho sĩ chạy theo giặc, chỉ đường cho giặc đánh quân Tây Sơn. Trước tình hình này Ngô Thì Nhậm chủ trương phải rút lui về giữ dãy Tam Điệp chờ Nguyễn Huệ ra sẽ đối phó với quân Thanh. Tướng Phan Văn Lân khinh suất, nhất định đòi mang quân ra chặn đánh quân Thanh. Một buổi tối, Văn Lân đem mấy nghìn quân tinh nhuệ vượt sông Nguyệt Đức định sang bên kia sông đánh quân Thanh. Kết quả mấy nghìn quân của Văn Lân đều bị quân Thanh tiêu diệt, Văn Lân chỉ còn một người một ngựa chạy trốn về Thăng Long. Khi Văn Lân về Thăng Long, bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm một mặt cho người phi ngựa về Phú Xuân cáo cấp với Nguyễn Huệ, một mặt ra lệnh cho toàn bộ quân đội rút lui về dãy Tam Điệp. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), đại quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy đến dãy Tam Điệp. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân phủ phục ở vệ đường xin chịu tội. Vua Quang Trung bảo bọn Sở và Lân: "Các ngươi theo ta làm đến chủ soái. Ta đem mười một trấn ủy cho các ngươi, cho các ngươi tự tiện hành động. Thấy giặc đến các ngươi chưa đánh trận nào đã chạy trốn. Tội các ngươi thật đáng chết. Các ngươi chỉ giỏi nghề võ, gặp giặc thì đánh khỏe. Còn tìm cơ chế thắng thì không phải ngón sở trường. Cho nên trước khi về Nam ta đã để Ngô Thì Nhậm ở lại làm việc với các ngươi, vả lại Bắc Hà mới yên, lòng ngươi chưa theo phục. Thành Thăng Long bốn mặt đều là chiến trường, không có chỗ nào hiểm trở có thể giữ vững được. Các ngươi đóng quân ở đấy, ngoài thì giặc Thanh xâm lấn, trong thì người Bắc làm nội ứng, các ngươi xoay xở làm sao cho được. Các ngươi đem toàn quân tạm tránh mũi nhọn của giặc để trong thì khích lệ lòng căm tức của quân sĩ, ngoài thì làm tăng lòng kiêu của giặc. Mới nghe ta đã đoán là kế của Ngô Thì Ngậm, đến khi hỏi Văn Tuyết thì quả nhiên là đúng". Khi nói những câu trên, vua Quang Trung tỏ ra đã thấy trước cuối năm Mậu Thân chưa phải là lúc đánh quân Thanh, và Thăng Long cũng không phải là nơi có thể dựa vào để chống đỡ các cuộc tấn công của quân Thanh. Tại sao trước cuối năm Mậu Thân chưa phải là lúc đánh quân Thanh? Chúng ta đếu biết rằng âm mưu của quân Thanh là xâm lược nước Việt Nam, biến nước Việt Nam thành quận huyện của nước Đại Thanh, nhưng quân Thanh lại xảo quyệt tuyên bố rằng chúng kéo vào Việt Nam là để đánh bọn "phản nghịch Tây Sơn" trả lại nước cho Lê Chiêu Thống. Cựu thần nhà Lê và nhiều nho sĩ đã mắc mưu quân Thanh và làm tay sai cho quân Thanh. Những "người Bắc làm nội ứng" mà Nguyễn Huệ nói với Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân chính là cựu thần nhà Lê và nho sĩ. Hồi đầu thế kỷ XV, bọn người "làm nội ứng" ấy là bọn quý tộc và quan lại nhà Trần, bọn này vì quyền lợi ích kỷ đã làm tay sai cho quân Minh đánh lại quân đội của Hồ Quý Ly. Hồi cuối năm Mậu Thân (1788), khi quân Thanh sang xâm lược, một số cựu thần nhà Lê đã mộ quân "dấy nghĩa" đánh lại quân đội Tây Sơn như trường hợp Hoàng Phùng Nghĩa ở Nam Định. Những kẻ như Hoàng Phùng Nghĩa này sẵn sàng chỉ vạch cho quân Thanh chỗ đồn trú của quân Tây Sơn, hay chỗ mai phục của quân Tây Sơn. Tình hình lại nguy hiểm hơn cho quân Tây Sơn khi một phần quân dân bị cám dỗ, phỉnh phờ, lúc đầu cũng theo các cận thần kia chống lại quân đội Tây Sơn. Ở Lạng Sơn, tướng Tây Sơn là Phan Khải Đức sở dĩ phải hàng quân Thanh ngay từ ngày đầu chủ yếu là vì binh lính địa phương đã bỏ trốn đi quá nửa khi thấy quân Thanh tiến vào đất Việt Nam. Từ Lạng Sơn, Nguyễn Văn Diễm vội mang quân chạy về xuôi, vì Diễm thấy nhiều người mắc mưu tuyên truyền của giặc và đã làm tay sai cho giặc. Trong tình hình như thế mà mang quân đánh quân Thanh là tự mua lấy cái chết cho mình. Quân Tây Sơn hành quân ra sao, đóng ở đâu, mai phục ở đâu, sẽ có người báo cho quân Thanh biết hết; quân Thanh sẽ biến mưu của quân Tây Sơn thành mưu của chúng, như vậy quân Tây Sơn sẽ bị tiêu diệt dễ dàng. Muốn đánh quân Thanh phải chờ cho đến ngày chúng tự phơi bộ mặt xâm lược của chúng trước nhân dân Việt Nam. Ngày đó chính là ngày quân Thanh đã vào Thăng Long, đã làm chủ Thăng Long, đã công nhiên đi cướp bóc, hà hiếp nhân dân Việt Nam. Ngày đó cũng là ngày Lê Chiêu Thống đã lộ mặt nạ bán nước "cõng rắn cắn gà nhà" bị quân Thanh khinh bỉ và bị nhân dân căm giận. Chỉ ngày đó tiến quân ra Thăng Long đánh quân Thanh mới giữ được bí mật. Đứng về mặt chính trị mà nói, "giữ được bí mật" đó là được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân. Chỉ khi được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân mới giữ được các cuộc hành quân, và mới biết rõ được tình hình quân địch. Đến Phú Xuyên sở dĩ quân Tây Sơn bắt được toàn bộ quân do thám của Tôn Sĩ Nghị chính là vì quân Tây Sơn được nhân dân ủng hộ. Chính nghĩa ở về phía quân Tây Sơn làm cho quân Tây Sơn giữ được bí mật các cuộc hành quân, biết được tình hình quân Thanh mà trái lại quân Thanh không biết tình hình quân Tây Sơn. Và chính nghĩa của quân Tây Sơn chỉ phát huy tác dụng khi quân Thanh đã chiếm đóng Thăng Long. Nếu đánh quân Thanh ngay khi chúng mới chiếm đóng Thăng Long thì về chủ quan cũng như về khách quan, quân Tây Sơn chưa đủ điều kiện chín muồi. Về chủ quan, quân Tây Sơn còn phải lấy thêm quân ở Nghệ An mới đủ lực lượng đương đầu thắng lợi với quân Thanh. Về khách quan nhân dân Việt Nam đã căm giận quân Thanh và vua tôi bọn Lê Chiêu Thống, nhưng chưa căm giận đến cao độ, chưa nhận thấy là không đi với quân Tây Sơn thì không những mất nước mà nhà cũng không còn. Nửa cuối tháng Chạp năm Mậu Thân có thể nói là thời gian nhân dân ở Thăng Long và xung quanh Thăng Long khổ sở bởi quân Thanh nhất. Thời gian này là thời gian quân Thanh chuẩn bị ăn Tết Nguyên đán. Chúng cần có nhiều rượu, nhiều gạo, nhiều gà vịt, nhiều lợn bò để ăn tết. Chúng đã bắt nhân dân phải nộp cho chúng những thứ ấy, hay chúng sai vua tôi nhà Lê bắt nhân dân phải cung đốn cho chúng những thứ ấy. Nhân dân bị cướp đoạt hết lương thực để nuôi quân Thanh, đã bị dồn đến bên bờ vực thẳm, họ chỉ còn có một lối thoát là đi với quân Tây Sơn, ủng hộ quân Tây Sơn đánh đuổi quân Thanh cướp nước và bọn Lê Chiêu Thống bán nước mà thôi. Hành động cướp nước của quân Thanh đã làm cho nhiều cựu thần nhà Lê mở mắt ra. Những người này đã thấy rõ quân Thanh chỉ là bọn cướp nước không hơn không kém. Thời gian thuận lợi nhất để đánh quân Thanh là thời gian từ ngày 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788) đến ngày 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789). Lúc này nhân dân đã căm giận quân Thanh và bọn Lê Chiêu Thống đến cực độ. Lúc này cũng là lúc quân Tây Sơn đã chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu. Lúc này còn là lúc quân Thanh đang say sưa ăn tết để ngoài khai hạ mới xuất quân đánh quân Tây Sơn, để đến sau ngày 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu mới đánh quân Thanh là bỏ mất thời cơ thuận lợi nhất. Vì đến sau ngày 7 tháng Giêng không phải là lúc quân Tây Sơn tấn công quân Thanh nữa mà chính là quân Thanh đi tìm quân Tây Sơn để đánh. Thế chủ động của quân Tây Sơn nếu không bị mất đi, thì ít nhất cũng bị giằng co. Những đòn bất ngờ sẽ khó thực hiện, thậm chí là không thực hiện được. Chiến tranh giữa quân Tây Sơn và quân Thanh sẽ kéo dài. Các cựu thần nhà Lê sẽ có đủ thì giờ tổ chức "nghĩa binh" ở các địa phương. Thủy quân nhà Thanh từ Phúc Kiến, Quảng Đông sẽ tiến đánh Thuận Hoá, Quảng Nam. Quân đội của vua Quang Trung sẽ bị kẹp vào giữa hai gọng kìm. Quân Tây Sơn nếu không bị tiêu diệt, thì cũng phải chiến đấu trong những điều kiện gay go, phức tạp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:58:04 am

Trên đây là vấn đề thời gian, thời cơ đánh quân Thanh. Bây giờ chúng ta xét về mặt không gian của cuộc tấn công quân Thanh hồi cuối năm 1789. Muốn tiêu diệt thuận lợi quân Thanh không thể tấn công chúng ở Bắc Giang, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ hay Sơn Tây được. Tại các miền này hồi cuối năm Mậu Thân và đầu năm Kỷ Dậu đều có quân Thanh chiếm đóng, nhưng số lượng quân Thanh ở các nơi ấy không tập trung. Đã thế, quân Thanh ở các nơi ấy có thể dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng để chống lại quân Tây Sơn. Cuộc tấn công của quân Tây Sơn như vậy sẽ gặp nhiều khó khăn. Quân Tây Sơn sẽ phải chia sẻ lực lượng để đánh nhiều vị trí mà chưa chắc đã đoạt được phần thắng về mình. Tình hình sẽ phức tạp. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh sẽ thất bại. Thủy quân của nhà Thanh sẽ có thì giờ đổ bộ vào Thuận Quảng. Chiến tranh sẽ kéo dài... Muốn tiêu diệt gọn quân Thanh, tốt nhất là đánh thẳng vào căn cứ chính của chúng ở Thăng Long. Thăng Long là nơi tập trung đại bộ phận quân Thanh, nhưng Thăng Long lại là nơi "bốn mặt đều là chiến trường, không có chỗ nào hiểm trở" đúng như vua Quang Trung đã nói với Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở dãy Tam Điệp. Nếu Thăng Long đã không phải là căn cứ tốt để quân Tây Sơn dựa vào đấy mà đánh quân Thanh, thì nó càng không thể là căn cứ tốt để quân Thanh dựa vào đấy mà chống quân Tây Sơn. Về mặt không gian, chỗ tốt nhất để tiêu diệt quân Thanh là Thăng Long, một căn cứ trống trải không có núi non che chở. Thăng Long là nơi tập trung đại bộ phận quân Thanh, và là nơi có cơ quan đầu não của quân Thanh - Bộ tổng chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị. Đánh Thăng Long là đánh vào đầu quân địch khiến cho toàn bộ cơ thể của chúng bị rã rời, tê liệt. Đánh Thăng Long sẽ gây ra tác dụng làm cho các toán quân Thanh đóng ở các nơi khác phải tháo chạy cho nhanh, nếu không sẽ bị tiêu diệt. Việc chọn Thăng Long làm mục tiêu chiến lược của cuộc tấn công hồi năm 1789 là hoàn toàn phù hợp với chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Nguyễn Huệ. Việc tấn công vào căn cứ chính của quân Thanh ở Thăng Long cuối năm Mậu Thân và đầu năm Kỷ Dậu tỏ ra Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài đã biết tranh thủ thời cơ thuận lợi tập trung lực lượng đánh vào cơ quan đầu não của địch rồi từ đấy mà tiêu diệt tất cả quân địch ở các nơi. Không có một thiên tài kiệt xuất như Nguyễn Huệ thì đầu năm Kỷ Dậu không thể có trận thắng chớp nhoáng và kinh thiên động địa ở Thăng Long được.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:58:22 am

Năm là, làm cho địch chủ quan, kiêu ngạo. Tuyệt đối giữ bí mật kế hoạch tấn công:

Vua Quang Trung là một nhà quân sự thiên tài rất tin ở năng lực của mình. Ngày 24 tháng Mười một năm Mậu Thân (1788), sau khi xem bức thư cáo cấp của Ngô Văn Sở do Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa trạm đem về Phú Xuân, nhà vua quát lớn: "Đàn chó Ngô kia sao dám rông rỡ?". Gặp Ngô Thì Nhậm ở dãy Tam Điệp, nhà vua lại tuyên bố: "Nay ta đến đây tự đốc việc quân, đánh hay giữ đã có kế cả rồi, chỉ trong mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh". Tuy đã nắm chắc phần thắng, vua Quang Trung vẫn tìm cách làm kiêu lòng địch. Sau khi từ Nghệ An ra đi, nhà vua sai Trần Danh Bính cầm đầu tám viên sứ thần đưa đến cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn nói rõ về việc ông phải lên thay thế nhà Lê, và khẩn khoản xin Tôn Sĩ Nghị hãy cho đóng quân ngoài cửa ải, tra hỏi nội tình nước Nam cho rõ rồi hãy hành động. Huệ lại cho đem trả nhà Thanh bọn tuần dương binh là bọn Hác Thiên Tôn do tướng Tây Sơn là Ngô Hồng Chấn bắt từ trước. Nhận được bẩm văn của vua Quang Trung, Tôn Sĩ Nghị vứt xuống đất, sai chém đầu Trần Danh Bính và bắt các sứ thần Tây Sơn giam vào ngục. Tôn Sĩ Nghị lại càng tin rằng lực lượng quân Tây Sơn không có gì đáng sợ. Sau khi vào Thăng Long, Sĩ Nghị ngạo nghễ tự coi y là chủ nước Việt Nam, y coi Lê Chiêu Thống và bọn triều thần như cỏ rác. Ngày đêm y mải miết với gái đẹp rượu nồng. Khi có người báo cho y biết quân Tây Sơn đã kéo ra dãy Tam Điệp, Tôn Sĩ Nghị vẫn tự đắc bảo Lê Chiêu Thống: "Không cần đánh vội, ta cứ lấy thế nhàn rỗi mà đợi quân nhọc mệt". Nhưng đến sáng sớm ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), khi nghe thấy tiếng súng nổ liên hồi ở phía tây bắc thành Thăng Long và khi được tin quân Tây Sơn đã hạ đồn Điền Châu ở làng Khương Thượng, Nghị sợ hết hồn vía, chỉ còn kịp nhảy lên ngựa không yên cùng với mấy tên quân kỵ chạy ra bờ sông Hồng vượt cầu phao chạy sang Kinh Bắc...

Trong các hoạt động quân sự của ông, Nguyễn Huệ không có thói quen vạch ra trước một kế hoạch tấn công tỉ mỉ. Năm 1786, khi ra Bắc lần thứ nhất "phù Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ không hề cho mọi người biết kế hoạch diệt Trịnh của ông. Đến Nguyễn Hữu Chỉnh cũng không biết ông sẽ diệt Trịnh ra sao. Mọi người chỉ biết kế hoạch tấn công của quân Tây Sơn khi Nguyễn Huệ đã vào Thăng Long, đóng đại bản doanh ở phủ chúa Trịnh. Cuối năm Mậu Thân (ngày 25 tháng 11 năm 1788), khi cất quân từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Huệ chỉ cho mọi người biết là ông ra Bắc chuyến này là để diệt quân Thanh xâm lược. Đến Nghệ An gặp Nguyễn Thiếp và nói chuyện với Nguyễn Thiếp, Nguyễn Huệ mới cho hay là chỉ trong mười ngày là ông sẽ phá xong 29 vạn quân Thanh xâm lược. Khi ra đến dãy núi Tam Điệp, do tin tức tình báo đã nhận được đầy đủ, Nguyễn Huệ mới công bố kế hoạch đánh quân Thanh cho mọi người biết. Kế hoạch này sở dĩ được thi hành tài tình và đầy đủ, chủ yếu vì nó đã được vạch ra trên cơ sở tình hình thực tế của quân Thanh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:58:44 am

Sáu là, không coi thường địch:

Ở Phú Xuân, khi được tin quân Thanh xâm lược Việt Nam, Nguyễn Huệ quát lớn: "Đàn chó Ngô kia sao dám rông rỡ". Ở dãy Tam Điệp, ông cho mọi người biết chỉ trong mười ngày là ông phá sạch quân Thanh. Tuy vậy ông không hề coi thường quân Thanh. Ông đã thi hành tất cả các biện pháp nhằm đi đến việc đánh bại quân Thanh. Rạng sáng ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thân tự chỉ huy đánh đồn Ngọc Hồi, một đồn kiên cố nhất của quân Thanh. Nguyễn Huệ cho dồn quân lương vào một chỗ rồi truyền cho đốt sạch. Ông lại lấy khăn vàng buộc vào cổ để cho mọi người biết rằng trong trận quyết liệt này, quân Tây Sơn chỉ còn có hai con đường: một là thắng hai là chết. Khi quân Tây Sơn bắt đầu công đồn Ngọc Hồi, thì quân Thanh từ trong đồn bắn súng ra như mưa. Các phương tiện chống lại súng địch đã được chuẩn bị sẵn sàng: Quân Tây Sơn đã mang sẵn sáu mươi tấm ván gỗ, Nguyễn Huệ cho lấy ba tấm ghép lại thành một lá chắn lớn, ngoài phủ rơm đã tẩm nước. Như vậy là quân Tây Sơn có tất cả hai mươi tấm lá chắn lớn. Nguyễn Huệ sai mười người khỏe lưng đeo đoản đao, khiêng một lá chắn, nấp sau lá chắn có hai mươi khinh binh cầm vũ khí xếp hàng hình chữ nhất tiến theo sau. Thế rồi quân Tây Sơn vừa hô vừa tiến. Súng quân Thanh trong đồn cứ bắn ra, nhưng đều trúng vào những tấm lá chắn có phủ rơm tẩm nước. Khi đã giáp lá cà, quân Tây Sơn bỏ lá chắn xuống, rút dao ra nhảy bổ vào chém quân Thanh. Quân Thanh không kịp trở tay, bị quân Tây Sơn giết hại nhiều vô kể. Để mở đường cho quân đội tiến, Nguyễn Huệ lại cho hơn một trăm voi thật khỏe xông lên trước đánh vào kỵ binh của quân Thanh. Hạ xong đồn Ngọc Hồi quân Tây Sơn rầm rộ kéo đến phá đồn Văn Điển và đồn Yên Quyết. Chỉ huy quân Thanh là đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Triều Long, tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận...

Bảy là, giáo dục lòng yêu nước cho quân đội:

Muốn đánh thắng quân địch, phải có chiến thuật, chiến lược đúng đắn, phải biết chỉ đạo việc thực hiện chiến lược, chiến thuật. Nhưng chưa đủ. Muốn thắng quân địch, còn cần có một đội quân có tinh thần chiến đấu cao. Đội quân có tinh thần chiến đấu cao là đội quân chiến đấu cho chính nghĩa, tức đội quân biết chiến đấu vì ai, vì mục đích gì. Nguyễn Huệ là nhà quân sự biết đem tư tưởng yêu nước, tinh thần bất khuất giáo dục cho binh sĩ, khiến cho binh sĩ hiểu rõ họ chiến đấu vì ai. Quân đội Tây Sơn đi theo Nguyễn Huệ đã từng được Nguyễn Huệ nhiều lần đưa đến những thắng lợi vẻ vang. Họ đã đánh đổ chế độ phong kiến phản động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Họ còn đánh đuổi 5 vạn quân Xiêm xâm lược. Thực tế họ đã hiểu vì sao họ chiến đấu. Đến khi phải đương đầu với 29 vạn quân Thanh, Nguyễn Huệ lại giáo dục thêm cho quân đội lòng yêu nước. Khi duyệt binh ở Nghệ An, Nguyễn Huệ một lần nữa lại đem tinh thần yêu nước quạt vào lòng tướng sĩ: "Quân Thanh kéo sang xâm lược, hiện đương chiếm cứ Thăng Long, các ngươi đã biết hay chưa? Trong vòng trời đất chia theo phận sao Dực, sao Chẩn, Nam Bắc vẫn riêng một non sông. Người Bắc không phải nòi giống ta thì tất khác lòng khác dạ. Từ nhà Hán về sau, họ cướp đất đai ta, cá thịt nhân dân, vơ vét của cải, nông nỗi ấy thật là khổ sở! Người trong nước ai cũng phải nghĩ đánh đuổi đi. Đời Hán có Trưng nữ vương, đời Tống có Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ. Các ngài không chịu bó tay ngồi nhìn quân ngoài tàn bạo, nên phải thuận lòng người, dấy quân nghĩa, đánh thắng rồi đuổi chúng về. Trong những khi ấy, Nam Bắc đâu lại phận đó, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài. Từ nhà Đinh đến nay, chúng ta không đến nỗi phải cái khổ Bắc thuộc. Đó lợi hại, được thua, chuyện cũ đã rành rành là thế. Nay người Thanh không soi gương Tống, Nguyên, Minh, lại sang mưu chiếm nước Nam ta, đặt làm quận huyện. Vậy ta phải vùng lên mà đuổi đi!". Trong trận tiến đánh quân Thanh năm 1789, quân đội Tây Sơn đã được bồi dưỡng thêm về tinh thần yêu nước, chí quật cường, bất khuất, họ hiểu họ đấu tranh không những để bảo vệ những thành quả do khởi nghĩa nông dân (mà họ là đại biểu) đã đem lại mà còn để bảo vệ đất nước bờ cõi nữa. Họ đấu tranh cho chính nghĩa, cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho quyền lợi những người bị áp bức, cho nên họ sẵn sàng hy sinh tính mạng. Về mặt tư tưởng, họ ở vào cái thế áp đảo quân Thanh, cho nên quân Thanh đã bị họ đánh cho đại bại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:59:15 am

Tám là, phân tán và tập trung lực lượng nhanh chóng:

Tài liệu lịch sử không cho phép chúng ta biết Nguyễn Huệ đã phân tán lực lượng và tập trung lực lượng cụ thể ra sao, nhưng chúng ta có ấn tượng rằng ông có phương pháp phân tán và tập trung quân đội rất thần diệu. Từ dãy Tam Điệp, gần mười vạn quân được lệnh tiến ra Bắc. Chúng ta có thể nghĩ rằng cánh quân do Nguyễn Huệ thân tự chỉ huy chí ít phải có đến năm vạn. Năm vạn người này nhất định phải chia làm nhiều toán, thì qua sông mới có thuyền bè, khi nghỉ mới có nhà cửa và mới có thức ăn. Tình thế bắt buộc Nguyễn Huệ phải phân tán lực lượng trong khi hành quân. Nhưng khi đến Nam Định gặp quân của Hoàng Phùng Nghĩa, quân Tây Sơn lập tức lại tập trung ngay để tiêu diệt quân của Hoàng Phùng Nghĩa. Gặp quân do thám của Tôn Sĩ Nghị ở huyện Thanh Liêm, quân Tây Sơn truy kích quân Thanh đến Phú Xuyên thì bắt được toàn bộ quân do thám của Tôn Sĩ Nghị. Đến đồn Hà Hồi, quân Tây Sơn cũng phải tập trung nhanh chóng thì mới giải quyết đồn này nhanh chóng được. Đến đồn Ngọc Hồi, mức độ và nhịp điệu tập trung của quân Tây Sơn lại cao và nhanh hơn một bực, thì mới có đủ điều kiện để công đồn thắng lợi. Tóm lại trên một con đường dài 76 cây số từ bến Gián Khẩu đến Hà Nội, quân Tây Sơn ở vào một tình trạng luôn luôn phân tán và luôn luôn tập trung để làm nhiệm vụ. Vậy mà trên đường tiến quân, quân Tây Sơn đi đến đâu đều thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ chiến thuật và nhiệm vụ chiến lược của mình. Chỉ một việc này cũng đủ nói lên tài năng tổ chức kiệt xuất của Nguyễn Huệ.

Chín là, tập hợp được nhiều tướng lĩnh có tài, quan tâm đến đời sống của binh sĩ:

Trong quá trình lãnh đạo khởi nghĩa Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã tạo ra được nhiều tướng lĩnh có tài như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết, đô đốc Mưu (hay Long), đô đốc Bảo, đô đốc Lộc, v.v... Mức độ tài năng những người này cũng khác nhau. Nhưng tất cả đều rất mực can đảm. Mọi người đều biết thái độ dũng cảm của bà Bùi Thị Xuân, khi bà bị Nguyễn Phúc Ánh thiêu chết ở cửa Đông - Hà Nội. Các tướng lĩnh nói trên theo Nguyễn Huệ từ lâu và đều lập được công to. Phan Văn Lân, Ngô Văn Sở đã cùng với Nguyễn Huệ chỉ huy trận đánh đồn Ngọc Hồi. Đô đốc Long đã đem quân Tây Sơn vào Thăng Long trước nhất. Các tướng lĩnh của Nguyễn Huệ đều được ông tin cẩn và đều là những người thực hành tốt các chủ trương của ông. Cái khéo của Nguyễn Huệ là ông giao nhiệm vụ cho họ nhưng không hề hạn chế sáng kiến hay tính chủ động của họ. Sau khi diệt Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ giao Bắc Hà cho bọn Ngô Văn Sở. Ông nói: "Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân là nanh vuốt của ta; Nguyễn Văn Dụng, Trần Thuận Ngôn là tâm phúc của ta; Ngô Thì Nhậm tuy là người mới, nhưng là bậc tân thần, ta coi như khách. Nay ta giao cho các khanh hết thảy mọi việc quân quốc, coi quản mười một trấn trong toàn hạt. Hễ có điều chi, ta cho cứ được tiện nghi làm việc. Song các khanh cần phải họp bàn với nhau, chứ đừng phân bì kẻ mới người cũ, miễn sao làm cho được việc, ta mới yên lòng". Nguyễn Huệ tỏ ra rất tin cẩn các tướng lĩnh của ông. Thái độ của ông làm cho các tướng lĩnh phấn khởi và có điều kiện để phát huy đầy đủ sáng kiến của họ.

Nguyễn Huệ còn là nhà quân sự có thói quen đồng cam cộng khổ với binh sĩ của ông. Tài liệu lịch sử cho chúng ta biết quân Tây Sơn thường lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo. Năm 1786, sau khi đánh đổ họ Trịnh, kéo quân vào chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ cho đem tất cả gấm vóc, vàng bạc, châu báu ở trong kho phủ chúa Trịnh chia cho các tướng sĩ. Tướng sĩ Tây Sơn thường có nhiều vàng bạc mang ở trong mình. Những vàng bạc này là những vàng bạc tịch thu của bọn phong kiến Nguyễn - Trịnh mà Nguyễn Huệ đem phân phát cho mọi người trong quân đội. Việc Nguyễn Huệ cho quân đội ăn Tết Nguyên đán vào ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân tỏ ra ông hiểu rõ tâm lý của binh sĩ và chú ý đến đời sống của binh sĩ. Ngươi dân Việt Nam rất tha thiết với Tết Nguyên đán. Nhiều người làm ăn quanh năm dành dụm để rồi đến cuối năm ăn tết. Do yêu cầu của sự nghiệp đánh giặc cứu nước, cuối năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ phải đem quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị. Chiến dịch diễn ra vào đúng dịp tết. Hiểu rõ thắc mắc của mọi người, Nguyễn Huệ hạ lệnh cho mọi người ăn tết trước ở dãy Tam Điệp rồi mới xuất quân. Ông tuyên bố: "Nay hãy tạm ăn Tết Nguyên đán trước. Đợi đến sang xuân ngày mồng 7 vào Thăng Long lại mở tiệc ăn mừng. Các ngươi cứ ghi lấy lời của ta xem có đúng không?". Thế nghĩa là quân Tây Sơn được ăn hai cái tết: Cái tết ngày 20 tháng Chạp ở dãy Tam Điệp và cái tết vào ngày mồng 7 tháng Giêng ở Thăng Long. Ngày mồng 7 tháng Giêng, khi quét sạch quân Thanh và làm chủ Thăng Long, Nguyễn Huệ cho mổ rất nhiều bò lợn để khao thưởng ba quân. Quân Tây Sơn lại ăn một cái tết nữa đúng như Nguyễn Huệ đã hẹn ở dãy Tam Điệp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:59:41 am

Mười là, chú ý đến tình báo, tập trung binh chủng quan trọng:

Tôn Vũ có nói: Biết mình biết người, trăm trận đánh trăm trận được. Biết người nói đây là nắm được đầy đủ những tin tức tình báo về quân địch. Trong các hoạt động quân sự của ông, Nguyễn Huệ rất chú ý đến công tác tình báo. Tháng Năm năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ khi đem quân ra đánh Thuận Hoá mà trấn thủ là Phạm Ngô Cầu. Nhờ có tình báo, Nguyễn Huệ biết Phạm Văn Cầu là kẻ mê tín và đa nghi, Nguyễn Huệ đã dùng mưu khiến cho Phạm Ngô Cầu chúi đầu vào việc lập đàn chay, rồi Nguyễn Huệ lại dùng mưu ly gián làm cho Ngô Cầu nghi ngờ Hoàng Đình Thể, và cuối cùng không tiếp ứng cho Hoàng Đình Thể, để mặc cho quân Tây Sơn đánh giết cha con Đình Thể. Năm 1788, khi mang quân ra đánh quân Thanh ở Thăng Long, Nguyễn Huệ dám cho đô đốc Bảo, đô đốc Long mang voi chiến, ngựa chiến đi đường tắt lẻn vào lòng địch để đánh địch, là vì ông đã nắm được đầy đủ tin tức về quân địch ở chung quanh Thăng Long.

Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tượng binh (voi chiến) cũng giữ vai trò quan trọng trong các trận đánh. Hồi đầu thế kỷ XV, Hồ Quý Ly cũng có một đội tượng binh quan trọng. Khi quân Minh đánh thành Đa Bang, Quý Ly cho tượng binh ra đánh quân Minh. Trương Phụ dùng lốt sư tử khoác vào mình ngựa, rồi thúc ngựa ra giao chiến. Voi tưởng là sư tử thật, sợ quay lại chạy, quân Minh thừa thắng đuổi theo, quân Hồ đại bại. Tượng binh của quân đội Nguyễn Huệ khác hẳn tượng binh của Hồ Quý Ly. Trên các voi chiến của Nguyễn Huệ đều có quân sĩ cầm hoả hổ. Khi gặp quân địch, quân sĩ vừa thúc voi tiến, vừa dùng hỏa hổ bắn vào quân địch. Voi chiến của Nguyễn Huệ như vậy khác nào một thứ chiến xa tiến đến đâu quân địch tan vỡ đến đấy.

Sáng sớm ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, gặp tượng binh của Nguyễn Huệ, kỵ binh của quân Thanh hoảng sợ vội quay lại chạy. Chúng ta không rõ quân đội của Nguyễn Huệ được tổ chức cụ thể như thế nào. Chúng ta chỉ biết ở dãy núi Tam Điệp, khi đô đốc Lộc xuất quân tiến về miền Phượng Nhỡn (Bắc Giang) và đô đốc Tuyết xuất quân tiến về miền Hải Dương, thì hai cánh quân này không có tượng binh. Do đó chúng ta nghĩ rằng Nguyễn Huệ đã tập trung tất cả tượng binh cho lộ quân thứ nhất tức lộ quân có nhiệm vụ đánh vào Thăng Long. Trong lộ quân thứ nhất, có ba cánh quân là cánh quân của đô đốc Bảo, cánh quân của đô đốc Long và cánh quân chủ lực do Nguyễn Huệ thân tự chỉ huy. Cả ba cánh quân đều có tượng binh, nhưng hình như cánh quân chủ lực có nhiều tượng binh nhất. Vì trong trận đánh đồn Ngọc Hồi, chúng ta thấy tượng binh xuất hiện từ đầu đến cuối và tượng binh đã góp phần quan trọng vào trận hạ đồn Ngọc Hồi, một trận có tính chất quyết định toàn bộ chiến dịch cả phá 29 vạn quân Thanh hồi đầu năm 1789.


*
*   *

Thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ thể hiện trên nhiều mặt, tựu trung lại là về tổ chức, xây dựng quân đội và chỉ huy tác chiến. Trên đây chỉ là những nét cơ bản, bởi vì thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ vô cùng rực rỡ và phong phú, đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu công phu và kỹ lưỡng hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:15:13 pm

Câu hỏi 21: Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, giỏi văn thơ. Sau khi vua Quang Trung mất, bà đã làm bài thơ "Ai tư vãn" rất thảm thiết để khóc chồng. "Ai tư vãn" nói lên mối tình sâu nặng giữa Quang Trung và Ngọc Hân. Đó thật là một khúc đoạn trường. Hãy cho biết đôi nét về con người và cuộc đời của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân; nội dung của bài "Ai tư vãn"?
Trả lời:


Lê Ngọc Hân là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông và Từ cung Chiêu nghi Hoàng hậu Nguyễn Thị Huyền. Bà Nguyễn Thị Huyền quê ở làng Phù Ninh, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Bà là trưởng nữ của Hiển Khảo Nguyễn tướng công, tự Phúc Duệ, tước Tuân Trung hầu. Sau khi lấy vua Hiển Tông, Hoàng hậu Nguyễn Thị Huyền sinh hoàng tử Lê Duy Vĩ (bố vua Lê Chiêu Thống) và công chúa Ngọc Hân.

Công chúa Ngọc Hân sinh ngày 27 tháng Tư năm Canh Dần (ngày 22 tháng 5 năm 1770).

Năm Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng 47 (1786), công chúa Ngọc Hân vừa tròn 16 tuổi, biết suy nghĩ về tình người thế nước và cũng là lúc cả Thăng Long rung chuyển bởi cuộc tiến công thần tốc nhằm diệt họ Trịnh của lãnh tụ Tây Sơn Nguyễn Huệ. Chỉ trong mấy ngày, tất cả các trận địa xung quanh Thăng Long cùng các danh tướng Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Trịnh Tự Quyền... của chúa Trịnh đều lần lượt bị đánh bại. Quân Tây Sơn ào ạt tiến vào Thăng Long, lật đổ cơ nghiệp họ Trịnh.

Ngay sau khi đến Thăng Long, Nguyễn Huệ đã dẫn các tướng lĩnh đến yết kiến vua Lê Hiển Tông ở điện Vạn Thọ tỏ ý muốn tôn phò nhà Lê. Ông còn xin vua Hiển Tông thiết đại triều ở điện Kính Thiên. Nguyễn Huệ dẫn đầu các tướng lĩnh Tây Sơn và các quan văn võ Bắc Hà vào triều chúc mừng và đem sổ sách dâng lên vua Lê. Vua tiếp nhận rồi ban chiếu, cho yết ở cửa Đại Hưng. Vua Lê sắc phong Nguyễn Huệ làm Nguyên soái phù chính Dực vũ, Uy Quốc công và trao binh quyền Bắc Hà cho vị tướng trẻ này. Tuy được phong chức tước, Nguyễn Huệ vẫn có ý không hài lòng, cho rằng vua Lê dùng cái danh hão ấy để lung lạc mình.

Nguyễn Hữu Chỉnh biết chủ tướng của mình không vui, bèn bịa ra lời vua Lê nói với Nguyễn Huệ:

- Bản ý của hoàng thượng cho rằng mình tuổi cao, sau này không biết nương tựa vào ai, nên muốn kết liên hai họ làm một nhà, cùng chắp mối hôn nhân, rể hiền hơn con trai, nhưng không biết chúa công có ý thế chăng, nên chưa dám đường đột nói ra.

Nguyễn Huệ nói:

- Ta thực hẹp lòng vụng nghĩ, không hiểu hết tấm thịnh tình của hoàng thượng.

Thực ra Nguyễn Huệ đã có vợ rồi (bà thứ nhất là người họ Bùi, em gái cùng cha khác mẹ với Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật và Thái sư Bùi Đắc Tuyên), nhưng thấy Hữu Chỉnh ngỏ ý như vậy, Nguyễn Huệ liền đáp:

- Nay ta là em trai vua Tây Sơn, làm rể vua Bắc Hà, cũng là cành vàng lá ngọc, môn đăng hộ đối, như thế trong đời dễ có mấy ai!

Biết Nguyễn Huệ đã bằng lòng, Nguyễn Hữu Chỉnh liền vào cung tâu với vua Lê Hiển Tống. Lúc đó vua Hiển Tông đã 70 tuổi, còn năm, sáu công chúa chưa chồng nhưng chỉ có Ngọc Hân là người có nhan sắc, giỏi thơ phú và nết na hơn cả, được nhà vua rất cưng chiều và yêu quý. Được Hữu Chỉnh nói lại, vua Hiển Tông bằng lòng chọn Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:16:13 pm

Khi được Nguyễn Hữu Chỉnh nói ý kiến của vua Hiển Tông về nàng công chúa tuổi vừa đôi tám, xinh đẹp tuyệt trần, xin cho được nương bóng nhà sau hầu hạ cho người dũng tướng, thì Nguyễn Huệ rất vui và thật thà nói với giọng khôi hài:

- Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về; bọn trẻ nó cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng yêu thử xem có tốt không?

Rồi Nguyễn Huệ lại nói với giọng nghiêm túc và cảm động:

- Tôi xin kính lạy hoàng thượng vạn tuế! Ở khe núi hẻo lánh xa xôi tới đây, há dám đường đột như vậy? Bây giờ may sao lại được bám vào cành vàng lá ngọc, thật là mốì nhân duyên kỳ ngộ ngàn năm mới có. Kẻ ở khe núi này xiết bao mừng rỡ.

Về phía Ngọc Hân, nghe tin ấy nàng cồn cào lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Bởi vì Nguyễn Huệ là tướng tài, nhưng từ xa đến, biết bụng dạ người ta thế nào. Nhưng khi biết vua cha thật khéo lồng chuyện tình trong việc nghĩa, bắc chiếc cầu giao hảo, trấn an xã tắc thì Ngọc Hân vui lòng ngay.

Ngày 10 tháng Bảy âm lịch, Nguyễn Huệ sai viên Thị lang Bộ hình đem sính lễ gồm 200 lạng vàng, 2.000 lạng bạc, 100.000 quan tiền và một tờ tâu vào điện Vạn Thọ dâng lên vua Hiển Tông theo nghi lễ rất long trọng. Vua sai hoàng tử Sùng Nhượng Công tiếp nhận lễ phẩm rồi xuống chỉ ngày hôm sau làm lễ đưa dâu.

Sáng ngày 11 tháng Bảy, lễ cưới Nguyễn Huệ - Ngọc Hân được cử hành. Con đường từ hoàng cung về đến soái phủ, cờ, lọng, tàn, quạt nối nhau cắm suốt hai bên đường. Trong hoàng cung, các vị hoàng thân, quốc thích, hầu hết văn võ bá quan đều áo mũ chỉnh tề, xe ngựa sẵn sàng đưa công chúa về soái phủ. Dân chúng kinh thành bồng bế, dắt díu nhau, chen chân đứng đặc hai bên đường xem đám cưới sang trọng chưa từng có này. Về nghi thức, khi xe loan về đến soái phủ, Nguyễn Huệ trong bộ nhung phục trắng, cưỡi ngựa hồng, hai bên đều có quan hầu cưỡi ngựa ra đón. Xe loan dừng lại, Nguyễn Huệ xuống ngựa mở màn the cúi chào. Tiếp đó, hai bà mệnh phụ dẫn công chúa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ vào nơi làm lễ giao bái. Tại đây đã để sẵn hai chiếc kiệu rồng cho Nguyễn Huệ và Ngọc Hân đi hàng đôi vào phủ đường làm lễ thành hôn. Nguyễn Huệ đặt tiệc thết đãi các vị hoàng phi, hoàng hậu, công chúa và các quan văn võ cùng đi đưa dâu.

Hôm vào làm lễ yết kiến các vị tiên đế ở thái miếu, Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân gióng kiệu cùng đi, lễ xong lại gióng kiệu cùng về, Nguyễn Huệ tự hào nói với công chúa:

- Con trai con gái nhà vua, đã có mấy người được vẻ vang như nàng?

Ngọc Hân e lệ:

- Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở giữa trời được sa vào chốn này, là sự may mắn của thiếp mà thôi.

Nghe Ngọc Hân nói vậy, Nguyễn Huệ rất hài lòng và càng thêm yêu quý nàng hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:17:06 pm

Nói về mối nhân duyên của công chúa Ngọc Hân, ông Nguyễn Thì Thấu (là người đương thời, từng làm quân sự cho hai ông hoàng Duy Chúc, Duy Mật, dấy quân ở Ninh Trấn chống lại họ Trịnh), có thơ rằng:

”... Ngựa thồ thay mối xích thằng
Ông Tơ, bà Nguyệt dẫu giằng chẳng ra!
Một ngày một vắng quê nhà,
Sáng từng từng nhớ, tối tà tà trông...”

Hôm làm lễ cưới, vua Lê Hiển Tông đang bị ốm, cũng phải gắng bệnh thiết triều nhận mừng.

Qua bữa sau, bệnh tình nhà vua quá nặng. Công chúa Ngọc Hân giục phò mã Nguyễn Huệ vào hỏi thăm, song ông từ chối:

- Tôi chẳng sớm thì chầy rồi cũng về Nam, việc nước không dám dự đến. Vả, tôi từ xa đến đây, chắc người ngoài Bắc còn chưa tin mấy. Nếu vô nội thăm hỏi vua cha, muôn một xa giá chầu trời, chẳng hóa ra tự mình chuốc lấy cái tiếng hiềm nghi không bao giờ giãi tỏ được?

Suốt đêm 17 tháng Bảy năm Bính Ngọ (1786), trời mưa to, gió dữ, thành Thăng Long nước ngập đến một thước, thì cũng là lúc vua Lê Hiển Tông băng hà, thọ 70 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ông còn kịp trối lại cho hoàng tôn Duy Kỳ:

- Khách binh đang đóng ở đây; truyền nối là việc quan trọng, cháu nên bàn cùng Nguyên súy (chỉ Nguyễn Huệ), chứ đừng tự tiện làm một mình.

Trái với những người muốn lập hoàng tôn Duy Kỳ, công chúa Ngọc Hân khi được chồng hỏi nên lập ai lên ngôi báu, đã nghiêng về Lê Duy Cận (Ngọc Hân phản đối Duy Kỳ, vì cho rằng Duy Kỳ không đủ tư cách). Nghe lời vợ, Nguyễn Huệ muốn hoãn lễ đăng quang của Duy Kỳ. Cả triều đình nao núng ngờ vực. Các tôn thất nhà Lê đổ riết cho công chúa Ngọc Hân cái tội "làm lỡ việc lớn" của triều đình và đòi gạch tên Ngọc Hân khỏi sổ họ. Ngọc Hân cả sợ, vội nhân nhượng mà nói lại với Nguyễn Huệ thu xếp cho Duy Kỳ được nối ngôi ngay.

Làm lễ đăng quang, Duy Kỳ lấy niên hiệu là Chiêu Thống, vì có tang vua Hiển Tông nên mọi việc đều tinh giảm cả.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:17:41 pm

Hôm làm lễ tế thành phục vua Lê Hiển Tông ở nội điện, chủ súy Tây Sơn lấy tư cách là con rể, mặc áo tang trắng, đứng ở nơi điện tả dự lễ. Thấy một viên tiểu lại có cử chỉ bất kính trong lúc làm lễ, Nguyễn Huệ liếc mắt bắt gặp, liền truyền lính lôi ra chém ngay. Triều thần từ đó khiếp sợ và nghi lễ được cử hành hết sức tôn nghiêm. Sau buổi lễ, Nguyễn Huệ thân tự cưỡi voi, đem ba ngàn quân hộ tống linh cữu vua Lê Hiển Tông xuống đò đưa về an táng tại Thanh Hóa, ông lại tự hào nói với Ngọc Hân:

- Tiên đế có hơn ba mươi người con trai, ngày nay báo hiếu lại chỉ có một người con gái, nào có ai giúp đỡ cho được mảy may? Người xưa thường bảo: Con gái làm rạng rỡ cho nhà cửa, quả cũng đúng thật!

Ngọc Hân nhỏ nhẹ đáp:

- Nhờ công đức của thượng công, thiếp được báo hiếu với hoàng khảo, mở mặt với anh em. Tục ngữ vẫn nói: Trai không ăn mày vợ, gái phải ăn mày chồng, chính là thế đó!

Khi Ngọc Hân theo Nguyễn Huệ về Nam, Nguyễn Huệ được Nguyễn Nhạc phong làm Bắc Bình Vương ra trấn giữ đất Thuận Hóa.

Đối với Ngọc Hân, Nguyễn Huệ đã yêu vì nết lại trọng vì tài, nên giao cho coi giữ các văn thư trọng yếu, phong cho chức Nữ học sĩ, dạy dỗ các con cái và các cung nữ. Trong thực tế, Ngọc Hân trở thành người cộng sự đắc lực và tin cẩn về một số vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa, giáo dục cho chồng.

Ngoài việc giúp chồng như một cố vấn, Ngọc Hân còn khuyên giải chồng trong nhiều việc hệ trọng khác, như khuyên chồng chấm dứt xung đột với Nguyễn Nhạc.

Sau khi Nguyễn Huệ lên ngôi vua, lấy hiệu là Quang Trung, Ngọc Hân được phong là Bắc cung Hoàng hậu. Ngọc Hân có hai người con là hoàng tử Nguyễn Văn Đức và công chúa Nguyễn Thị Ngọc.

Một buổi chiều, sau khi đã đại phá 29 vạn quân Thanh và đang chuẩn bị tiến binh vào Gia Định diệt Nguyễn Ánh, vua Quang Trung đang ngồi bên cạnh Ngọc Hân bỗng hoa mắt, mặt mũi tối sầm rồi mê man bất tỉnh.

Bệnh vua mỗi ngày một nặng. Vua dặn các tướng Tây Sơn:

- Nay ta đau ốm không dậy được. Thái tử (Quang Toản) có chút tài, nhưng tuổi còn nhỏ. Trong có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm giản tiện thôi...

Bên giường ngự của vua, các văn quan, võ tướng nước mắt chan hòa, đứng lặng như hóa đá. Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân vật mình than khóc chết đi, sống lại.

Ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý (tức ngày 6 tháng 9 năm 1792), vào khoảng 11 giờ đêm, vua Quang Trung băng hà, thọ 40 tuổi, để lại mối tình dang dở với Hoàng hậu Ngọc Hân mới 22 tuổi. Họ chỉ sống hạnh phúc bên nhau được 6 năm tròn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:18:12 pm

Nỗi tiếc thương người chồng yêu quý, vị vua tài giỏi, sự nghiệp còn đang dở dang khiến Ngọc Hân đau đớn khôn cùng. Ngọc Hân đặt riêng một lễ tế chồng ở hữu cung, tự làm bài thơ "Ai tư vãn" rất thảm thiết để khóc chồng.

"Ai tư vãn" nói lên mối tình giữa Quang Trung và Lê Ngọc Hân. Đó thật là một khúc đoạn trường. Ngọc Hân yêu quý Quang Trung đến mức sẵn sàng chết đi để vua sống lại. Ngọc Hân ca tụng sự nghiệp to lớn của Nguyễn Huệ. Lời thơ của bà đầy nước mắt, lâm ly thống thiết, là nỗi đau xé lòng. Nước mắt của bà không chỉ biểu hiện sự đau đớn của một người vợ mất chồng, mà còn là sự lo lắng của người dân mất lãnh tụ nữa. Vì ai cũng biết việc Quang Trung mất sớm là một trong những nguyên nhân làm cho nhà Tây Sơn sớm sụp đổ.

Nỗi nhớ thương khôn nguôi ấy đã làm cho Ngọc Hân héo hon, sầu muộn. Bảy năm sau, nàng công chúa kiều diễm, viên ngọc quý của vua Lê Hiển Tông, người con gái tài sắc của kinh thành Thăng Long, nhân vật huyền kỳ của bao câu chuyện truyền tụng trong nhân gian, nhà thơ, người dệt nên mối tình đẹp đẽ để lại cho đời, cũng đã thác theo chồng trong nỗi buồn tuyệt vọng trước hiện tình suy vi của triều Tây Sơn (Ngọc Hân mất ngày 8 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (tức ngày 14 tháng 12 năm 1798).

Sau khi vua Quang Trung mất, con là Nguyễn Quang Toản chính thức lên nối ngôi, lấy hiệu là Cảnh Thịnh (năm 1793) (Quang Toản là con trưởng của Quang Trung với bà hoàng hậu họ Bùi ở Quy Nhơn). Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, Quang Toản dốc sức chống giữ không nổi phải bỏ thành chạy ra Bắc Hà. Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh ra Thăng Long, bắt được vua tôi Cảnh Thịnh (Quang Toản). Triều Tây Sơn mất từ đó.

Mùa đông năm đó (1802), Nguyễn Ánh về đến Phú Xuân cáo tế miếu, trả thù nhà Tây Sơn cực kỳ tàn bạo và hèn hạ. Quang Toản và những người thân bị hành hình... Ấp Tây Sơn đổi thành ấp An Tây, mọi dấu ấn Tây Sơn đều bị họ Nguyễn xóa sạch.

Trong số những người bị Nguyễn Ánh giết có hai con của Hoàng hậu Ngọc Hân (họ đã trốn tránh và đổi cả họ tên mà vẫn không thoát).

Nghe tin con gái mất và hai cháu bị chết một cách thê thảm, chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ đẻ của Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi làng Nành, tỉnh Bắc Ninh), liền thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được xác con và hai cháu ngoại (có sách nói là thuê người vào Huế lấy hài cốt của ba mẹ con) đem về mai táng tại một cánh đồng ở Phù Ninh. Cạnh đó, bà có lập một cái miếu nhỏ để thờ. Thời Thiệu Trị, miếu ấy đổ nát, một ông tú người họ Nguyễn đứng lên quyên tiền để sửa sang lại. Không ngờ trong làng có tên phó tổng vốn thù riêng với ông tú, đã đi vào kinh tố giác dân làng lập miếu thờ "ngụy hậu” ("vợ vua ngụy"). Tức thì có lệnh truyền quan địa phương về phá hủy ngôi miếu và trị tội ông tú cùng những người quyên tiền giúp ông. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức. Đồng thời, bắt quật mộ ba mẹ con Ngọc Hân, lấy hài cốt quang xuống sông, về sau, gần chỗ quẳng xương, người ta có dựng một ngôi đền thờ Ngọc Hân. Đền ấy gọi là đền Ghềnh, thuộc thôn Ái Mộ, tả ngạn sông Hồng (nay thuộc phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội). Hàng năm không những nhân dân sở tại đến cúng bái mà cả khách thập phương cũng đến lễ đền. Sự tồn tại của đền Ghềnh chứng tỏ lòng quý mến của nhân dân đối với bà vợ và hai người con của vua Quang Trung, đồng thời nó cũng gợi lại sự căm giận của mọi người đối với chính sách trả thù vô nhân đạo của vua quan nhà Nguyễn: tàn sát người sống chưa đủ, lại còn khai quật mồ mả những người đã chết, moi lấy nắm xương khô buông xuống sông cho ngọn sóng cuốn đi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:30:03 pm

Dưới đây, xin chép lại bài "Ai tư vãn" của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân khóc vua Quang Trung:

        Ai tư vãn
                                  (Nguyên văn chữ Nôm)

        Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo,
        Trước thềm lan, hoa héo don don!
        Cầu Tiên1 khói tỏa đỉnh non,
    4. Xe rồng2 thăm thẳm, bóng loan rầu rầu!
        Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,
        Trách nhân duyên mờ lỡ3 cớ sao?
        Sầu sầu thảm thảm xiết bao,
    8. Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời.
        Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc,
        Nghĩa tôn phù4 vằng vặc bóng dương,
        Rút dây5 vâng mệnh phụ hoàng6,
   12. Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.
        Trăm ngàn dặm quản chi non nước
        Chữ "nghi gia"7 mừng được phải duyên.
        Sang yêu muôn đội ơn trên,
   16. Rỡ ràng vẻ thúy nổi chen tiếng cầm.
        Lượng che chở, vụng lầm nào kể,
        Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
        Dẫu rằng non nước biến dời,
   20. Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.

_______________________________________
1. Cầu Tiên: Mộ giả vua Quang Trung ở Linh Đường, gần cầu Tiên, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
2. Xe rồng: Xe vua đi.
3. Mờ lỡ: Dở dang.
4. Nghĩa tôn phù: Chỉ việc vua Quang Trung đem quân ra Bắc "phù Lê diệt Trịnh" năm 1786.
5. Rút dây: Xưa, nhà có nhiều con gái, cháu gái, khi đã kén được rể rồi liền cho đứng cách màn rút dây, hễ rút được dây của cô nào thì lấy cô ấy.
6. Phụ hoàng: Vua cha, chỉ Lê Hiển Tông.
7. Nghi gia: Do câu "nghi kỳ thất gia" trong Kinh Thi; nghĩa là nên cửa nên nhà: ý nói người con gái lấy chồng, thành gia thất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:37:51 pm

        Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội1
        Khắp tôn thân2 cùng đội ơn sang.
        Miếu đường còn dáu chưng thường3
   24. Tùng thu4 còn rậm mấy hàng xanh xanh.
        Nhớ hồng phúc, đôi cành hòe quế5
        Đượm hơi sương dây rễ cũng tươi,
        Non Nam6 lần chúc tuổi trời,
   28. Dâng câu Thiên bảo7 bầy lời Hoa Phong8.
        Những ao ước trập trùng tuổi hạc,
        Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui.
        Nào hay sông cạn, bể vùi,
   32. Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly.
        Từ nắng hạ mưa thu trái tiết,
        Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.
        Xiết bao kinh sợ lo phiền,
   36. Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.
        Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,
        Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
        Ngán thay, máy tạo bất bằng,
   40. Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan.

_____________________________________
1. Thương hoa đoái cội: Yêu hoa yêu cả gốc cây hoa, ý nói vua Quang Trung yêu thương Ngọc Hân nên săn sóc, trông nom đến dòng dõi nhà Lê.
2. Tôn thân: Người bề trên và người họ gần.
3. Chưng thường: Lễ tế về mùa đông gọi là "chưng", lễ tế về mùa thu gọi là "thường"; ý nói nhờ vua Quang Trung nên việc tế lễ trong tông miếu nhà Lê được thường xuyên, chu đáo.
4. Tùng thu: Hai loại cây thường được trồng ở mộ địa, ý nói nhờ vua Quang Trung mà lăng tẩm nhà Lê được giữ gia nguyên vẹn.
5. Hòe quế: Nghĩa bóng chỉ con cái, ý nói nhờ hồng phúc của Quang Trung, Ngọc Hân đã sinh được hai con.
6. Non Nam: Do chữ "thọ tỉ Nam Sơn" trong Kinh Thi, ý nói cầu chúc vua Quang Trung sống lâu như núi Nam.
7. Thiên bảo: Thơ chúc tụng, ca ngợi vua trong Kinh Thi.
8. Hoa Phong: Người đất Hoa Phong chúc vua Nghiêu giàu, thọ, nhiều con trai. Thiên bảo, Hoa Phong: chỉ lời chúc tụng vua Quang Trung.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:41:04 pm

        Cuộc tụ, tán, bi, hoan1 kíp bấy
        Kể sum vầy đã mấy năm nay?
        Lênh đênh chút phận bèo mây,
   44. Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu?
        Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,
        Biết cậy ai dập nỗi bi thương?
        Trông mong luống những mơ màng,
   48. Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say.
        Khi trận gió hoa bay thấp thoáng,
        Ngõ hương trời bảng lảng còn đâu,
        Vội vàng sửa áo lên chầu,
   52. Thương ôi quạnh quẽ, trước lầu nhện giăng!
        Khi bóng trăng lá in lấp lánh,
        Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.
        Vội vàng dạo bước tới nơi,
   56. Thương ôi vắng vẻ, giữa trời tuyết sa!
        Tưởng phong thể2 xót xa đôi đoạn,
        Mặt rồng sao cách gián lâu nay?
        Có ai chốn ấy về đây,
   60. Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành?

_______________________________________
1. Tụ, tán, bi, hoan: Sum họp, chia lìa, buồn đau, vui vẻ.
2. Phong thể: Cũng như phong thái, tức là hình dung dáng vẻ con người.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:47:25 pm

        Nẻo u minh1 khéo chia đôi ngả,
        Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen.
        Kiếp này chưa trọn chữ "duyên",
   64. Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.
        Nghe trước có đấng vương Thang, Võ2,
        Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao.
        Mà nay áo vải cờ đào3,
   68. Giúp dân dựng nước biết bao công trình!
        Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn4.
        Công đức dày, ngự vận5 càng lâu,
        Mà nay lượng cả ơn sâu,
   72. Móc mưa rưới khắp chín châu6 đượm nhuần
        Công dường ấy mà nhân dường ấy,
        Cõi thọ sao hẹp bấy, hóa công?
        Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
   76. Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
        Buồn thay nhẽ, sương rơi, gió lọt,
        Cảnh đìu hiu thánh thót chầu sa.
        Tưởng lời di chúc thiết tha,
   80. Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê

______________________________________________
1. U minh: U là tối (cõi âm), minh là sáng (cõi dương).
2. Thang, Võ: Vua Thang nhà Thương, vua Võ nhà Chu là hai vua hiền của Trung Quốc đời cổ.
3. Áo vải cờ đào: Áo vải chỉ người dân thường, cờ đào chỉ việc dấy nghĩa. Đây chỉ anh hùng nông dân Nguyễn Huệ.
4. Nghiêu, Thuấn: Đế Nghiêu và đế Thuấn, hai vị vua hiền, lý tưởng của Trung Quốc thời cổ.
5. Ngự vận: Thời gian nhà vua trị vì.
6. Chín châu: Dịch chữ "cửu châu" trong tiếng Hán, chỉ đất nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:51:25 pm

        Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở,
        Mối sầu riêng ai gỡ cho xong!
        Quyết liều mong vẹn chữ "tòng",
   84. Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e!
        Con trứng nước1 thương vì đôi chút,
        Chữ "tình thâm" chưa thoát được đi.
        Vậy nên nấn ná đòi khi,
   88. Hình tuy còn ở, phách thì đã theo.
        Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo2.
        Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân.
        Theo xa thôi lại theo gần,
   92. Theo phen điện quế3 theo lần nguồn hoa4.
        Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh,
        Đau đớn thay! Ây cảnh chiêm bao!
        Mơ màng thêm nỗi khát khao,
   96. Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi?
        Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
        Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai?
        Xưa sao sớm hỏi, khuya bày,
 100. Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ!

_______________________________________
1. Trứng nước: Non nớt, bé bỏng.
2. Bồng Đảo: Cũng như Bồng lai, chỉ cõi tiên.
3. Điện Quế: Tức cung trăng. Theo sách Dậu dương tạp trở, ở trong cung trăng có cây quế cao năm trăm trượng, vì vậy người ta gọi cung trăng là điện quế.
4. Nguồn hoa: Tức nguồn hoa đào hay suối hoa đào, chỉ cảnh đẹp, cảnh tiên.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:53:10 pm

        Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ,
        Tình cô đơn ai kẻ xét đâu!
        Xưa sao gang tấc gần chầu,
 104. Trước sân phong nguyệt trên lầu sinh ca.
        Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi,
        Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh.
        Nửa cung gẫy phím cầm lành,
 108. Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ!
        Nghĩ nông nổi ngẩn ngơ đôi lúc,
        Tiếng tử quy thêm giục lòng thương.
        Não người thay, cảnh tiên hương,
 112. Dạ thường quanh quất, mắt thường ngóng trông!
        Trông mái đông, lá buồm xuôi ngược,
        Thấy mênh mông những nước cùng mây.
        Đông rồi thì lại trông tây,
 116. Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà.
        Trông nam thấy nhạn sa lác đác,
        Trông bắc thì ngàn bạc màu sương.
        Nọ trông trời đất bốn phương,
 120. Cõi tiên khơi thẳm biết đường nào đi!



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 08:59:27 pm

        Cậy ai có phép gì tới đó,
        Dâng vật thường xin ngỏ lời trung:
        Này gương là của Hán cung1
 124. Ơn trên xưa đã soi chung đôi ngày!
        Duyên hảo hợp xót rày nên lẻ,
        Bụng ai hoài2 vội ghẽ3 vì đâu?
        Xin đưa gương ấy về chầu,
 128. Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
        Tưởng linh sảng4 nhơn nhơn còn dấu,
        Nỗi sinh cơ5 có thấu cho không?
        Cung xanh6 đang tuổi ấu xung7,
 132. Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương?
        Gót lân chỉ8 mấy hàng lẫm chẫm,
        Đầu mũ mao, mình tấm áo gai9
        U ơ ra trước hương đài,
 136. Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào!
        Trong sáu viện10 ố đào ủ liễu,
        Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê.
        Long đong xa cách hương quê,
 140. Mong theo lầm lối, mong về tủi duyên!

________________________________________
1. Hán cung: Hậu cung nhà Hán. Sau người ta mượn tiếng đó để chỉ hậu cung nhà vua, đây chỉ hậu cung vua Quang Trung.
2. Bụng ai hoài: Lòng thương nhớ.
3. Ghẽ: Rẽ (tiếng cổ).
4. Linh sảng: Linh hồn thiêng liêng sáng suốt (của vua Quang Trung).
5. Sinh cơ: Cuộc đời của người sống, tức là của Ngọc Hân.
6. Cung xanh: Chỗ ở của thái tử (con vua).
7. Ấu xung: Cũng như ấu nhi, ấu niên, tức là còn thơ bé.
8. Gót lân chỉ: Ngón chân con kỳ lân, chỉ con nhỏ của vua Quang Trung.
9. Mũ mao, áo gai: Mũ rơm, áo gai; tức là mũ áo tang.
10. Sáu viện: Cũng như sáu cung, là nơi ở của hoàng hậu và các cung phi, gồm một cung ở chính giữa và năm cung ở đằng sau.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:05:01 pm

        Dưới bệ ngọc, hàng uyên1 vò võ,
        Cất chân tay thương khó xiết chi
        Hang sâu2 nghe tiếng thương bi,
 144. Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân!
        Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát,
        Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi,
        Càng trong càng một xa vời,
 148. Tấc lòng thảm thiết, chín trời3 biết chăng?
        Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi,
        Gương Hằng Nga đã bụi màu trong.
        Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
 152. Thiên duyên lạnh lẽo đem đông biên hà4.
        Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn.
        Cánh hải đường đã quyện giọt sương
        Trông chim càng dễ đoạn trường,
 156. Uyên ương chiếc bóng phượng hoàng lẻ đôi.
        Cảnh nào củng ngùi ngùi cảnh ấy,
        Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!
        Phút giây bãi bể nương dâu
 160. Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
        Chữ "tình nghĩa" trời cao đất rộng,
        Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.
        Mấy lời tâm sự trước sau,
 164. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.

_____________________________________
1. Hàng uyên: Hàng chim uyên, chỉ các quan trong triều đình.
2. Hang sâu: Núi sâu hang thẳm, ý nói rất xa xôi cách trở mà lòng người ở đó vẫn thương xót trước việc vua Quang Trung mất.
3. Chín trời: Do chữ "cửu thiên", tức là chín phương trời.
4. Ý nói mối tình lỡ dở, người sống lẻ loi thấy lạnh lẽo như bên bờ sông vắng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:08:21 pm

TÀI LIỆU THAM KHẢO


- "Quang Trung - Anh hùng dân tộc", Hoa Bằng, Nxb Bốn Phương, 1951.
- "Cách mạng Tây Sơn”, Văn Tân, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958.
- "Lê Quý kỷ sự", Nguyễn Thu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.
- "Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc", Phan Huy Lê - Bùi Đăng Dũng - Phan Đại Doãn - Phạm Thị Tâm - Trần Bá Chí, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976.
- "Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ", Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003.
- "Hoàng Lê nhất thống chí", Ngô Gia Văn Phái, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006.
- "Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung", Đỗ Bang, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006.
- "Đại cương lịch sử Việt Nam", tập 1, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
- "18 vị công chúa Việt Nam", Đặng Việt Thủy - Đặng Thành Trung, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008.
- Và một số sách, tạp chí khác.

Hết