Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:50:13 PM



Tiêu đề: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:50:13 PM

        - Tên sách: Những chặng đường chiến đấu
        - Tổ chức bản thảo: Thượng tá, nhà thơ Lê Anh Dũng
        - Nhà xuất bản: QĐND
        - Năm xuất bản: 2008
        - Số hóa: binhdana

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

        Khi thực dân Pháp chiếm lại Đà Nẵng (năm 1946) cũng là lúc Nguyễn Chơn gia nhập quân đội. Là một cán bộ chỉ huy chiến đấu, cuộc đời của Thượng tướng Nguyễn Chơn luôn gắn với chiến trường. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông đã trưởng thành từ chiến sĩ đến cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược; đảm đương nhiều chức vụ trong quân đội: cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn, quân khu, rồi Thứ trưởng Bộ quốc phòng... Ở bất cứ cương vị nào, đảm trách công việc gì, ông đều đem hết sức lực, trí tuệ hoàn thành mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao. Trong ông luôn có tấm lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, kính yêu Đảng và Bác Hồ vô hạn. Ông vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần. Trong suốt cuộc đời quân ngũ và ngay cả sau khi nghỉ hưu, Thượng tướng Nguyễn Chơn luôn hướng về Bác, học tập tấm gương đạo đức của Bác, tu dưỡng và rèn luyện để trở thành người có ích cho đời.

        Suốt chặng đường chiến đấu cho độc lập dân tộc, cũng như trong những năm nghiên cứu chỉ đạo về xây dựng lực lượng, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Thượng tướng Nguyễn Chơn luôn trăn trở miệt mài, tận tụy với công việc...

        Cuốn “Những chặng đường chiến đấu”  là tập hợp những bài viết ghi lại một cách chân thực những hồi ức, hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Chơn và đồng chí, đồng đội, bạn bè về quá trình chiến đấu và công tác của ông; trong đó có những bài học kinh nghiệm, những đúc kết hết sức quý báu trong công tác chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo chiến đấu và nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân,thế trận chiến tranh nhân dân...

        Xin trân trọng giới thiệu cuốn "Những chặng dường chiến đấu” của Thượng tướng Nguyễn Chơn cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN        


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 12:02:05 AM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Phuc%20tai%20muu%20luoc_zpsezr8hija.jpg)


PHẦN THỨ NHẤT

ĐÔI DÒNG SUY NGẪM VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG CHIẾN ĐẤU

        ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM

        Trong những cuộc gặp gỡ, nhiều người đặt câu hỏi: “Điều gì tâm đắc nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi?" Bao giờ tôi cũng trả lời rằng: Có ba điều luôn làm tôi trăn trở, suy nghĩ. Một là, cùng đồng chí, đồng đội chiến đấu vì một mục đích chung, cùng nhau chịu mọi gian khổ, khó khăn mà nhiều người đã hy sinh, còn tôi vẫn sống. Hai là, nếu không có Đảng, không có cách mạng thì tôi đã trở thành một con người khác, có thể lương thiện, có thể không, nhưng chắc chắn không phải là tôi bây giờ. Một điều nữa là khi Đảng, quân đội giao cho tôi chỉ huy lực lượng vũ trang, dù là một tiểu đội, hay cả quân đoàn, tôi đều phải tìm mọi cách đánh thật hiệu quả, tiêu diệt gọn, thời gian ngắn, tiết kiệm xương máu.

        Từ ngày nhập ngũ đến nay, sở thích của tôi là nghiên cứu phương pháp xây dựng lực lượng và cách đánh về chiến thuật, chiến dịch và chiến lược; như ở thời điểm hiện nay, tôi nghiên cứu mọi âm mưu "diễn biến hoà bình", "bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch để tìm ra cách đánh kẻ thù xâm lược ở các tình huống phức tạp nhất, bất kỳ từ đâu đến, để bảo đảm cho Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của chúng ta, qua nhiều thế hệ, mãi mãi không bị bất ngờ về chiến lược.

        Sức mạnh của quân đội ta là sự kế thừa và phát huy nghệ thuật quân sự từ ngàn xưa, trải qua các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc với một ý chí không thay đổi là kẻ thù nào cũng đánh thắng.

        Đồng chí Chu Huy Mân trong những năm kháng chiến chống Mỹ, thường nói với chúng tôi: Không có ý chí trừu tượng, ý chí chung chung, đối với người chỉ huy và người chiến sĩ được nhân dân giao cho vũ khí, thì ý chí tiêu diệt quân xâm lược phải thể hiện tập trung ở cách đánh giặc giỏi.

        Muốn có được cách đánh hay cho một trận, một loạt trận, một chiến dịch, người chỉ huy phải thực hiện nhiều biện pháp quân sự, chính trị tại đơn vị mình. Trong  cuộc đời chiến đấu của tôi, tôi chiêm nghiệm những điều sau đây:

        Đầu tiên là phát huy dân chủ: bao gồm dân chủ chính trị, dân chủ kinh tế, dân chủ quân sự. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến vấn đề dân chủ quân sự.

        Mỗi chiến dịch, hay trong một trận đánh, dân chủ quân sự sẽ phát huy được tài trí của mọi thành viên tham gia chiến đấu từ người chiến sĩ đến người tư lệnh. Lấy Sư đoàn 2 bộ binh Quân khu 5 làm ví dụ. Trong những năm trưởng thành, Sư đoàn có truyền thống bao giờ cũng dành thời gian cho cấp dưới thảo luận dân chủ về cách đánh trên bản đồ, trên sa bàn. Qua dân chủ quân sự, những khó khăn của mỗi cấp được giải quyết trước khi hành quân chiến đấu; lòng tin của cấp dưới với cấp trên được củng cố. Nhưng, đó cũng chỉ là lý thuyết. Bước tiếp theo, rất quan trọng là làm thao trường phỏng theo địa hình, vị trí địch và tổ chức huấn luyện theo từng phân đoạn trên thao trường cả ngày lẫn đêm gần sát với phương án tác chiến. Dù thời gian khẩn trương đến mấy, cũng phải tạo ra thời gian cần thiết cho cấp dưới, từ chiến sĩ cũ, chiến sĩ mới tới cán bộ chỉ huy hiểu rõ nhiệm vụ của bản thân và đơn vị họ. Làm được như vậy thì khi chiến đấu, họ mới hoàn thành tốt nhiệm vụ. Kinh nghiệm qua chiến tranh, đối tượng dù là Mỹ -nguy, chư hầu, cấp sư đoàn phải có trung đoàn chủ công, cấp trung đoàn thì có tiểu đoàn chủ công. Trong đội hình Sư đoàn 2 có Trung đoàn 31 giỏi đánh địch trong công sự vững chắc. Đơn vị này về tổ chức trang bị huấn luyện, cách đánh có nhiều điểm khác với các trung đoàn bạn. Các trung đoàn còn lại giỏi đánh địch ngoài công sự, chốt kết hợp cơ động, giỏi đánh từng đối tượng địch để bảo đảm cho Sư đoàn có sức mạnh tổng hợp. Do giải quyết tốt vấn đề dân chủ quân sự từ đơn vị cơ sở nên Sư đoàn 2 liên tiếp giành thắng lợi trong các trận: Trung đoàn 31 đánh địch trong công sự vững chắc ở Cấm Dơi (1972), Nông Sơn (1974), chốt kết hợp với cơ động ở Núi Ngang. Trung đoàn 1 (Ba Gia) trước ngày thành lập Sư đoàn đã đánh địch ngoài công sự một trận vang dội ở Ba Gia trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"; các trận đánh điểm cao 723 ở Nam Lào (1971), sân bay Đắc Tô (1972) đều là những trận đánh tiêu diệt trung đoàn địch...

        Sau khi đã thảo luận dân chủ, các ý đồ chiến đấu sẽ trở thành mệnh lệnh. Cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị phải chấp hành nghiêm chỉnh, vì chấp hành mệnh lệnh tức là tôn trọng dân chủ quân sự.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 12:08:17 AM

        Tôi xin đưa ra một ví dụ trận đánh Cấm Dơi năm 1972 của Sư đoàn 711, lúc đó, tôi làm Sư đoàn trưởng. Sau hai ngày vây lấn, chiến đấu giằng co quyết liệt, giành giật từng mép rào, từng mỏm đá với hai trung đoàn ngụy, đến 15 giờ ngày 19 tháng 8, Trung đoàn 31 và Trung đoàn 38 của ta làm chủ căn cứ Cấm Dơi và giải phóng quận lỵ Quế Sơn. Tàn quân của trung đoàn 5 và trung đoàn 6 thuộc sư đoàn 2 ngụy bỏ chạy về hướng núi Quế. Theo phương án, khi có tình huống này xảy ra, Trung đoàn 9 -một đơn vị mới từ Vĩnh Linh vào, chưa tác chiến ở đội hình lớn, chưa quen chiến trường Quân khu 5, nên không được giao nhiệm vụ chủ công, mà chỉ dàn đội hình đón lõng, xuất kích bao vây để bắt toán địch trên đường bỏ chạy. Nhưng chỉ huy trưởng Trung đoàn 9 thấy địch chạy, tưởng địch tấn công, không cho bộ đội xuất kích nên địch thoát được. Tôi đã gọi Trung đoàn trưởng và Chính ủy đến và nói: "Nếu có quyền, tao sẽ lệnh cho bộ đội "đào hố chôn sống hai đứa bay". Sau này, nhiều đồng chí góp ý là tôi đã nóng tính. Thực ra, lúc ấy, tôi nghĩ đến việc quy chế dân chủ quân sự bị vi phạm; đã bàn bạc, thảo luận cặn kẽ, chân tình với nhau không phải một lần, mà nhiều lần. Bao nhiêu xương máu, công sức của hàng vạn người mới đánh được Cấm Dơi -Quế Sơn lùa địch ra ngoài công sự, vậy mà Trung đoàn 9 để chúng chạy thoát. Đây không chỉ là bài học kinh nghiệm xương máu về chấp hành mệnh lệnh mà còn là một bài học về tôn trọng dân chủ quân sự.

        Thứ hai là, xây dưng tác phong chỉ huy cho người chỉ huy các cấp bằng cả lý thuyết và hành động thực tế qua các trận đánh.

        Trước hết, trong đánh gần, phải có tác phong chỉ huy gần.  Đánh gần là đánh vào chỗ hiểm yếu của địch, đánh gần, ta phát huy được tất cả các loại vũ khí, kể cả lựu đạn, Đánh gần ta còn hạn chế tác dụng của pháo binh, xe tăng và không quân địch. Đánh gần, hiệu suất chiến đấu sẽ cao, đạn sử dụng ít, thương vong thấp, bắn chính xác, thời gian trận đánh ngắn. Nhìn chung, đánh gần, ta có lợi hơn địch.

        Đánh gần, đồng nghĩa với tiêu diệt gọn, làm chủ chiến trường, thu nhiều vũ khí trang bị, bắt nhiều tù binh, giải quyết chính sách tốt, có cán bộ mới, đảng viên mới, đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh tốt, đã đánh tốt, thì các trận đánh sau đạt hiệu suất cao hơn.

        Đánh gần là một cách đánh độc đáo của quân đội ta, chính cách đánh này đã làm nên bao nhiêu chiến công lừng lẫy trong các chiến dịch quan trọng. Có những lúc chúng ta rời truyền thống quý báu này và đã thất bại. Do đó, người chỉ huy ở cấp phân đội phải ở cự ly thấy được cả địch và ta cơ động, thấy được điểm chạm của hỏa lực pháo cối của ta.

        Tiếp đó phải xây dựng tác phong chiến đấu của chiến sĩ trong đánh gần, ném lựu đạn vào địch, xung phong vào đội hình địch, biết tận dụng triệt để cách đánh vào bên sườn, vào phía sau đội hình địch. Trận Ba Gia là trận đánh gần, đánh bên sườn phía sau đội hình địch, trong 2 ngày 3 đêm tấn công liên tục, ta tiêu diệt gọn 4 tiểu đoàn địch, 3 tiểu đoàn của trung đoàn 51 ngụy và tiểu đoàn biệt động 39 ngụy. Trận An Sơn – Quế Sơn ta sử dụng phương pháp đánh gần, nên bắt được 16 tên Mỹ trong thời gian ngắn. Các trận đánh của Sư đoàn ở Nam Lào (1971) cũng sử dụng cách đánh gần, nên tiêu diệt được nhiều lính ngụy, bắt hơn 700 tù binh. Những trận đánh địch lấn chiếm năm 1973, những trận đánh quân Pôn Pốt ở chiến trường Tây Nam là những minh chứng, những bài học để lại dấu ấn lâu dài.

        Thứ ba là, phải đánh giá đúng địch, ta. Đây là bài học kinh nghiệm đặc biệt quan trọng.

        Đánh giá về ta ra quân chiến dịch đã là khó, nhưng đánh giá địch càng khó hơn. Nếu đánh giá cao về địch, cộng với đánh giá ta không đúng sẽ đề ra phương án tác chiến không kiên quyết, không táo bạo, không dám tập trung dứt điểm vì ngại thương vong cao, ngại địch mạnh, do đó, dễ có phương án phân tán binh lực của ta để đối phó với binh lực, hỏa lực địch. Ở đây, tôi xin nêu một ví dụ: Tháng 8 năm 1965, Mỹ ồ ạt đổ quân vào chiến trường Quân khu 5 và thực hiện ngay mục tiêu tìm diệt, đặc biệt là tìm đánh quân chủ lực của ta. Vào thời điểm đó, ta có khó khăn về quân số, đạn dược, thuốc men, lương thực. Trong cán bộ chỉ huy có xu hướng phân ra đánh bằng đội hình tiểu đoàn, trung đoàn, không mạnh dạn tập trung các sư đoàn trong các trận đánh, hoặc có tập trung sư đoàn, nhưng chỉ đánh cỡ trung đoàn, tiểu đoàn như các trận đánh đã diễn ra ở tây Sơn Tịnh các năm 1965-1966. Khi thời cơ thuận lợi do ta tạo ra, nhưng đánh giá địch chưa đúng mức, nên không dám phát triển chiến đấu một cách mạnh dạn. Từ "Chiến tranh cục bộ" chuyển qua "Việt Nam hoá chiến tranh", nhờ trình độ đánh giá địch ngày một chính xác hơn, nên các đơn vị tác chiến của ta đánh nhiều trận quy mô vừa và lớn đều giành thắng lợi, điển hình là các chiến dịch Nam Lào (1971), trận Tân Cảnh -Tây Nguyên (1972), các trận Cấm Dơi, Nông Sơn -Quảng Nam (1972, 1974).


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 08:03:07 AM

        Trong chiến tranh, nên đánh giá địch cao hơn là đánh giá đúng địch. Nếu đánh giá địch thấp sẽ có tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác, dẫn đến đánh kéo dài không dứt điểm, thương vong cao, dẫn đến hiệu suất thấp cả chiến dịch lẫn chiến thuật. Trong thời gian chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, đánh giá địch lúc đầu không đúng, chủ yếu đánh giá thấp, nên các biện pháp tác chiến, cách đánh của ta không đúng, chiến đấu kéo dài, thương vong cao. Nhiều trận đánh không dứt điểm do đánh xa, đánh bằng hỏa lực, cả hỏa lực pháo, cối, ĐKZ, xe tăng, đánh chính diện, chiến thuật và cách đánh không rõ ràng, không hiểm, không bất ngờ.

        Không ai có thể đánh giá địch chính xác 100% được, nên để bổ sung cho cái nhìn tổng quát của người chỉ huy, thì phải đánh giá ta cho đúng. Đánh giá ta đúng là xác định thuận lợi và khó khăn ở mức độ nào. Nếu thuận lợi một, mà nói lên bốn, năm, sẽ sa vào tư duy chủ quan, lạc quan tếu. Nếu khó khăn một, mà cho đó là bốn, năm, thì sẽ làm giảm sút ý chí vươn lên, ý chí dám tìm biện pháp khắc phục của đơn vị. Đánh giá ta không đúng, cũng sẽ đưa đến những hậu quả như đánh giá địch sai.

        Theo tôi, đánh giá ta là đánh giá sức mạnh tổng hợp của các đơn vị tham chiến từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, hỏa lực các loại, đánh giá cho được mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng đơn vị. Đánh giá tư tưởng tấn công địch trong trận đánh sắp diễn ra rồi mới đến trang bị, đến truyền thống. Chú trọng đánh giá khả năng sáng tạo của người chỉ huy đến đâu. Đó là khả  năng điều địch, lừa địch, mê hoặc địch, làm địch phấn đoán ta không đúng, thật giả không phân biệt được. Đánh giá đúng các đơn vị chủ công và mức độ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nó. Cuối cùng phải đánh giá cách đánh đã bảo đảm có cách đánh tối ưu chưa? Các phương án đánh gần, đánh bên sườn, đánh phía sau đã phù hợp chưa?

        Đánh giá địch, ta là cả một nghệ thuật trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào. Quan điểm chung là cố gắng đánh giá sát địch. Không cao quá và cũng không thấp quá. Cụ thể, như sau năm 1965, do đánh giá địch thấp, đánh giá ta cao, nên đưa đến tổn thất lớn trong chiến đấu. Nếu chỉ đánh giá quân Mỹ là quân đông, trang bị hiện đại, cơ động nhanh, thì chưa đủ, vì Bộ chỉ huy của quân xâm lược cũng biết tận dụng lợi thế về sinh lực và trang bị, nên cách đánh của nó là đánh xa, đánh ban ngày, đánh mạnh vào mùa khô. Nếu ta theo cách đánh của địch là mắc mưu địch. Nhìn lại cuộc chiến tranh, đế quốc nào cũng hơn ta về trang bị, nhưng không phù hợp với địa hình Việt Nam, núi rừng hiểm trở hạn chế rất nhiều hiệu quả của bom, đạn, xe tăng. Nhờ đánh giá đúng những yếu tố này, ta mới có cách đối phó hiệu quả là tiến hành chiến tranh du kích căng địch ra đánh lẻ, đánh chia cắt, đánh tiêu hao, đánh ngày và đánh đêm làm cho địch sa lầy. Trong đánh giá địch, ta phải đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau: ở cấp chiến lược đánh giá khác; cấp chiến dịch, chiến thuật phải đánh giá rõ dần, ngắn dần và cụ thể hơn.

        Thứ tư là người chỉ huy xây dựng, huấn luyện đơn vị cần quan tâm đến kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền.

        Kỷ luật tốt thể hiện ở việc chấp hành mệnh lệnh, chấp hành hiệp đồng nghiêm, khi có khó khăn, bằng mọi cách khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ. Trong chiến đấu binh chủng hợp thành, sư đoàn nằm trong đội hình chiến dịch, trung đoàn trong đội hình chiến thuật càng đòi hỏi tính kỷ luật cao. Đặc biệt, trong các trận then chốt, then chốt quyết định, tính chất ác liệt cao, tấn công địch khi ta thoát ly khỏi công sự, thì kỷ luật càng phải nghiêm khắc. Nhưng cán bộ, chiến sĩ kỷ luật kém, tác chiến hợp đồng kém, chấp hành mệnh lệnh kém, khi gặp khó khăn, sẽ không hoàn thành nhiệm vụ; khi tình huống xấu xảy ra, khi có lệnh của cấp trên, sẽ tìm mọi cách để không chấp hành đến nơi, đến chốn. Mà những tình huống xấu vẫn thường xảy ra như số quân thiếu; thương vong nhiều; không kịp bổ sung đạn dược, lương thực, thuốc men; địch cơ động các nơi đến đông hơn, hỏa lực mạnh hơn, ác liệt hơn. Những lúc như vậy, ta càng cần siết chặt kỷ luật. Trong nhiều nguyên nhân làm các trận đánh không thành công, nguyên nhân kỷ luật yếu kém là hàng đầu.

        Thứ năm là, sự rèn luyện thường xuyên của cán bộ chỉ huy góp phần quyết định cho thắng lợi của một chiến dịch, một trận đánh.

        Muốn có một cán bộ chỉ huy vững vàng, một đơn vị tác chiến giỏi, phải trải qua một quá trình tổ chức, rèn luyện từ việc nhỏ đến việc lớn, cả trong thời bình, hay giữa các chiến dịch trong thời chiến. Trung đoàn 1 trước khi về làm nòng cốt thành lập Sư đoàn 2 đã chỉ huy các tiểu đoàn chiến đấu giỏi. Tiểu đoàn 90 đánh thắng xe tăng, xe bọc thép Mỹ tại thôn 8 (Kỳ Sanh); Tiểu đoàn 60 đánh phục kích tốt ở Tiên Yên (Kỳ Trà); Tiểu đoàn 40 đánh thắng trận Đức Phú. Trước khi xây dựng trung đoàn tác chiến tập trung, các cán bộ tiểu đoàn đã chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi trung đoàn tác chiến tập trung từ nền tảng đã có, các phân đội trong đội hình không lúng túng. Người chỉ huy cũng qua từng trận đánh đó để nâng cao trình độ tác chiến hợp đồng từ thấp đến cao.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 08:06:51 AM

        Trong chiến tranh, mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh có thời gian chuẩn bị chu đáo và có trường hợp không có thời gian chuẩn bị chu đáo. Muốn đạt yêu cầu đánh thắng giòn giã, cán bộ chỉ huy phải tạo ra thời gian chuẩn bị chiến đấu. Khâu này hết sức quan trọng, vì nếu có thời gian chuẩn bị chu đáo, thì thuận lợi mọi mặt; còn nếu không có thời gian chuẩn bị chu đáo, nhất là phải cơ động xa, tác chiến trong đội hình chiến dịch, sẽ gặp nhiều khó khăn. Dù hoàn cảnh nào, người chỉ huy lấy chuẩn bị chu đáo làm tiêu chuẩn quan trọng. Chuẩn bị chu đáo gồm nhiều khâu thuộc về công tác tham mưu, chính trị, hậu cần như: chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội, làm đường, làm cầu, triển khai công tác hậu cần, kỹ thuật, chuẩn bị tư tưởng, quyết tâm cho bộ đội. Những việc đó đều làm song song, vì vậy, yêu cầu người chỉ huy phải có kế hoạch tỉ mỉ, rõ ràng, chu đáo. Trong Ban chỉ huy phải phân công trách nhiệm rõ ràng, rành rọt. Có trường hợp do chiến trường xa, các cấp trưởng gồm cả tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, thông tin đi trước để chuẩn bị chiến trường, sau đó quay lại đón bộ đội trên đường hành quân. Tình huống này, có khi người chỉ huy phải xa đơn vị từ một đến hai tháng nên khi gặp lại đơn vị, trước tiên phải nghe tình hình chung và khẩn trương làm công tác tổ chức chiến đấu làm đường, làm phà cho bộ binh, xe tăng, pháo binh cơ động vào vị trí tập kết. Năm 1971, Sư đoàn 2 đánh địch ở Nam Lào xong, chưa kịp kiểm điểm rút kinh nghiệm, thì có lệnh hành quân vào giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven. Thời gian rất gấp, lại vào mùa khô, nắng như đổ lửa, hành quân dài ngày. Nhưng, do quán triệt rõ nhiệm vụ, lại có sẵn tác phong nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, nên mặc dù thời gian chuẩn bị ít (vừa hành quân vừa chuẩn bị), Sư đoàn vẫn đánh tốt, diệt hai trung đoàn địch, bắt hàng nghìn tù binh, làm chủ chiến trường, giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven. Từ vùng mới giải phóng trên đất bạn, Sư đoàn lại có lệnh về địa bàn Tây Nguyên. Cả Sư đoàn đi bộ, mang vác nặng, hành quân gần hai tháng. Đây là tình huống mà cán bộ đi trước nhận nhiệm vụ và chuẩn bị chiến trường xong, quay lại đón bộ đội và làm công tác tổ chức chiến đấu trên đường đi. Trong chiến dịch này, Sư đoàn gặp khó khăn, vì Tây Nguyên bắt đầu vào mùa mưa, lương thực thiếu, huy động trong đồng bào dân tộc không được bao nhiêu. Sư đoàn hạ quyết tâm tiêu diệt căn cứ sư đoàn 22 nguy ở Đắc Tô -Tân Cảnh để lấy gạo, lấy thuốc men. Quyết tâm này đã được thực hiện sau 24 giờ chiến đấu. Đây là kết quả của sự quyết đoán. Khi dứt điểm xong Tân Cảnh ta không chỉ thu được nhiều hơn kế hoạch 200 tấn gạo, mà còn thu được thuốc men, các phương tiện khác phục vụ cho chiến dịch tiếp theo.

        Thứ sáu là, người chỉ huy chiến dịch, hay chiến thuật nào cũng phải nắm nội dung then chốt của chiến tranh là đánh tiêu diệt gọn đơn vị địch, dù là đối tượng nào.

        Đây là truyền thống của quân đội ta. Các đơn vị trong quá trình trưởng thành đã phát huy tốt truyền thống đó. Muốn làm được như vậy, phải thực hiện đồng bộ các yếu tố đã nêu trên. Đây là nhiệm vụ chính trị của toàn đơn vị, là chức năng hàng đầu của cán bộ chỉ huy cấp chiến dịch, chiến thuật. Đánh tiêu diệt phải trở thành truyền thống của đơn vị cán bộ, chiến sĩ cũ, mới, lớp trước, lớp sau phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy. Trọng tâm của chỉ huy chiến đấu là chỉ huy tình huống. Giai đoạn này có tính quyết định một chiến dịch, hay một trận đánh. Sự đương đầu một bên là ta, một bên là quân dịch, sự điều hành lực lượng tấn công hay phòng ngự, rốt cuộc một bên chiến thắng, một bên thất bại thể hiện qua sự chỉ huy tình huống. Nó nói lên bản lĩnh, tài năng, trí tuệ của người chỉ huy, qua việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành một phần nhiệm vụ, hoặc không hoàn thành nhiệm vụ. Muốn vậy, người chỉ huy cần nắm chắc nhiệm vụ cấp trên giao cho đơn vị mình, nắm chắc địch, ta, đặc biệt là địch. Ta triển khai, địch cũng triển khai. Tình huống đến rất nhanh, tình huống đi qua cũng rất nhanh. Tình huống có cái diễn ra ở cả hai bên, có khi trước lúc nổ súng, đặc biệt là sau khi nổ súng đòi hỏi người chỉ huy phải xử trí nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Xử trí không tốt có khi tình huống tốt trở thành xấu. Người ta thường nói khi ra trận, chỉ huy là linh hồn của trận đánh. Điều đó không sai. Vì nếu người chỉ huy xử trí đúng, thì thắng lợi đến rất nhanh còn xử trí không đúng, khó khăn sẽ đến và thất bại cũng đến rất nhanh. Có người nói có ý chí quyết tâm cao là chiến thắng, ý này đúng, mà không đủ.Thực tế trên chiến trường có trận ý chí quyết tâm rất  cao, quân số đủ, trang bị mạnh, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và cấp dưới không sai, vậy mà đánh không thắng. Nguyên nhân chính là do cán bộ chỉ huy có khuyết điểm, xử trí tình huống không đúng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 08:10:36 AM

        Ngày 24 tháng 4 năm 1972, sau khi thắng trận Đắc Tô -Tân Cảnh, lúc này Tây Nguyên vào mùa mưa, xe ô tô chở đạn, chở gạo không đi lại được Địch ở Kon Tum hoang mang dao động đốt tài liệu chuyển người và nhân viên về phía sau. Sư đoàn 2 đề nghị, nhân lúc địch hoang mang, cho chuyển quân gấp phải tấn công ngay, chỉ sau 6-7 ngày chắc là thắng lợi lớn. Người chỉ huy chiến dịch chần chừ, đến gần cuối tháng 5 mới quyết định đánh địch ở Kon Tum, nên làm mất yếu tố bất ngờ, vì địch đã kịp tăng viện cho Kon Tum cả bộ binh, hỏa lực và không quân, lúc này mùa mưa đã đến nên ta cũng gặp khó khăn. Do đó, trận Kon Tum đánh không dứt điểm, thương vong cao. Về nguyên tắc, thì chiến dịch tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho chiến thuật làm được; ngược lại chiến thuật trong các trận đánh then chốt có tác động trực tiếp và thúc đẩy chiến dịch phát triển. Nhưng ở Kon Tum ta không tận dụng được!

        Thực tế, không phải địch mạnh, không phải ta không có thời cơ đánh vào Kon Tum và giành thắng lợi, mà do khi thời cơ đến, ta lại để tuột mất. Trong chiến dịch Xuân 1975, khi địch có dấu hiệu suy sụp và đạn pháo của địch ở Chu Lai cũng hết, Sư đoàn 2 báo cáo lên Quân khu đề nghị cho đánh giải phóng thị xã Tam Kỳ và các vùng đất từ Chu Lai đến Thăng Bình. Mặc dù chưa có điện dài qua 15W trả lời, nhưng Sư đoàn 2 vẫn triển khai đội hình chiến đấu tấn công vào các mục tiêu của địch, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng một vùng đất rộng lớn, đánh quỵ sư đoàn 2 của ngụy để từ đó tiến quân giải phóng Đà Nẵng, lúc này thành phố đang bị cô lập, do ở phía bắc và phía nam địch đang bị tấn công dồn dập.

        Người chỉ huy trận đánh tốt, có nghĩa phải đánh tiêu diệt gọn, xoá sổ phiên hiệu đơn vị đối phương, bắt hoặc tiêu diệt sở chỉ huy địch, thu toàn bộ trang bị của địch, làm chủ chiến trường, giải quyết chu đáo chính sách của ta, cả người và trang bị. Sư đoàn 2 từ ngày thành lập đến năm 1975 có nhiều trận đánh tốt với đối tượng là quân Mỹ, quân ngụy và các loại tay sai khác trong các chiến lược: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh... Tiêu biểu là trận Ba Gia (Quảng Ngãi), trận An Sơn -Quế Sơn (Quảng Nam), trận đánh điểm cao 723 (Nam Lào)... Có được kết quả đó là nhờ người chỉ huy Sư đoàn có kế hoạch, phương án tác chiến, dự kiến được các tình huống thuận lợi và khó khăn. Ngược lại, đánh không dứt điểm mục tiêu, thì ta bị tiêu hao cả về sinh lực và phương tiện, tiêu hao đạn dược lớn, thời gian đánh kéo dài. Cách đánh này không thể gọi là trận đánh tốt và cũng không đúng nhiệm vụ, chức năng của Sư đoàn chủ lực.

        Bộ đội chủ lực mở chiến dịch và các trận đánh then chốt phải dựa vào các khu vực phòng thủ của tỉnh, thành phố. Tác động qua lại giữa chủ lực và các khu phòng thủ tạo thuận lợi cho chủ lực tác chiến tập trung. Chủ lực đánh tốt tạo điều kiện cho các khu phòng thủ đánh tốt, đứng vững và phát triển. Nhiệm vụ của các khu phòng thủ là đánh căng địch ra, làm chúng sa lầy, chủ lực địch muốn tập trung cơ động lớn không dễ dàng, có khi chủ lực địch phải phân tán đối phó với các khu phòng thủ của tỉnh thành phố. Các nhà quân sự Pháp sau chiến tranh ở  Việt Nam (1946-1954), đã rút ra nhận xét là có 90% sinh lực và phương tiện bị diệt do chiến tranh du kích. Quân đội Mỹ sau hơn 10 năm chiến tranh với ta, cũng tổng kết 60% sinh lực, phương tiện bị diệt do chiến tranh du kích.

        Chủ lực ta tập trung tác chiến lớn, tiêu diệt lớn là nhờ các khu phòng thủ tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ. Các năm 1963, 1964, 1965, ta phá các ấp chiến lược của Mỹ -ngụy, rồi biến các ấp chiến lược ấy thành làng chiến đấu. Sư đoàn 2 liên tiếp đánh các trận Vạn Tường, Ba Gia, Việt An, Đồng Dương... các trận đánh này đều ở trung du và đồng bằng; chủ lực khi tác chiến dựa vào các làng chiến đấu, mà thực chất là các ấp chiến lược của địch, ta đã cải tạo.

        Nhiều năm, tôi đã trăn trở suy nghĩ về việc xác định cách đánh của người chỉ huy, dù đánh địch trong công sự, hay ngoài công sự. Cách đánh nào cũng phải làm cho địch bất ngờ, bị động đối phó, thường là đánh vào chỗ yếu của địch. Khi quân địch triển khai tấn công, hay bố trí phòng ngư, điểm yếu chính là phía sau và hai bên sườn. Khu vực này thường là sở chỉ huy, cơ quan bảo đảm hậu cần -kỹ thuật. Phía sau các căn cứ lớn thường là khu gia binh. Ở phía sau, các chướng ngại vật phòng thủ thường sơ hở, kế hoạch pháo binh, phòng không, không quân thường không được chú ý đúng mức. Ý chí quyết tâm chiến đấu chính là tinh thần dám đánh địch, còn biết đánh địch là nhằm vào chỗ sơ hở, chỗ yếu của địch mà tấn công.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:07:37 PM

        Trong trận Ba Gia, ta đánh vào sau đội hình và sườn đội hình địch; trận Tân Cảnh, ta đánh sư đoàn 22 thiếu của địch cả trong công sự, ngoài công sự và đánh sau đội hình địch; trận điểm cao 723, ta đưa địch xuống thấp, để ta đánh bên  sườn phía sau đội hình địch. Khi có dấu hiệu địch chuyển quân để xuống chiếm Sê Pôn, ta chỉ để lại vừa đủ lực lượng bao vây điểm cao 723, còn chuyển lực lượng chính bất ngờ vây ép điểm cao 660. Đòn tiến công này của ta làm rối loạn sự chỉ huy của địch. Do đó, ta không chỉ tạo thuận lợi cho việc vây ép điểm cao 660, mà còn có tác động mạnh đến sự tan rã của bọn địch ở điểm cao 723. Chỉ qua 2 ngày chiến đấu, Sư đoàn đã diệt 4 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo, sở chỉ huy trung đoàn 1, sư đoàn 1 ngụy.

        Có một cách đánh khác để đánh địch đóng quân ở các điểm cao, có tổ chức phòng ngự chu đáo, công sự vững chắc, đó là tổ chức trận địa pháo bắn thẳng. Bộ đội bí mật làm đường ô tô lên các điểm cao, xung quanh căn cứ địch từ 3 đến 4km. Pháo của ta từ đấy hạ nòng bắn thẳng phá hủy các công sự, chướng ngại vật cản, uy hiếp tinh thần quân địch, trước khi bộ binh tấn công. Với cách đánh này ta đã thu được thắng lợi ở các trận Nông Sơn – Trung Phước (1974), Tiên Phước -Phước Lâm (1975).

        Người chỉ huy luôn luôn sáng tạo tìm ra cách đánh phù hợp với tình huống, có trận phải nghi binh làm cho địch phán đoán sai lầm về ta. Ở trận Ngã Ba Biên (Cam-pu-chia) năm 1985, mục tiêu là 4 sư đoàn quân Pôn Pốt; muốn có hiệu quả cao, ta phải đánh vào sở chỉ huy, vào các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần - kỹ thuật địch. Trận này, ta bố trí lực lượng nghi binh lớn ở đông dãy núi Đăng Rếch. Mặc dù nghi binh, nhưng lại là đánh thật vào đội hình địch, ta sử dụng các binh chủng pháo binh, phòng không, xe tăng, công binh cỡ trung đoàn, lữ đoàn. Trong bảy ngày,  khi ta đánh, địch ở phía sau dồn ra phía trước làm công  trình chiến đấu, đối phó với ta ở chính diện. Lúc đó, ta bí  mật dùng 2 sư đoàn: Sư đoàn 2 xuất phát từ đất Lào, Sư  đoàn 315 xuất phát từ đất Cam-pu-chia; khoảng cách  giữa hai sư đoàn là 24 cây số, vòng sâu vào hậu phương địch 13 cây số, bao vây địch từ phía sau, rồi từ phía sau đánh ra phía trước. Trận này, ta đánh tan đội hình địch, bắt trên 500 tên, thu 4.900 súng các loại, 500 tấn đạn. Đây là phương án nghi binh nhưng lại đánh vào chỗ hiểm phía sau địch. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên chiến trường Quân khu 5 có nhiều chiến thắng thể hiện rõ tính sáng tạo trong cách đánh. Tháng 4 năm 1965, trước khi được lệnh hành quân vào Quảng Ngãi đánh trận Ba Gia, Trung đoàn 1 đã tiêu diệt cứ điểm Việt An, phá vỡ phòng tuyến của địch ở tây Quảng Nam, liên tiếp đánh bại 5 cuộc hành quân giải toả dọc đường 16 của địch. Trong  chiến dịch này, mỗi lần địch xuất hiện, bộ đội ta đều bám sát chỉ nổ súng khi nào địch lọt vào tầm đạn tiểu liên. Quân địch hoảng hốt trước cách đánh áp sát của ta, bỏ dở cuộc giải toả, chịu thất bại. Sau này, khi báo cáo ở Trung ương Cục, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết cách đánh đó là " nắm thắt lưng địch mà đánh" . Tháng 10, năm 1967, tại  thung lũng Quế Sơn bão lụt lớn. Một đại đội Mỹ đi càn gặp lụt, không về đồn được. Được trinh sát báo cáo: quân Mỹ trùm áo mưa ngồi tránh bão, máy bay, pháo binh không chi viện được, Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 1 có sáng kiến hạ một cây sung vừa to, vừa cao vắt qua sông Trầu làm cầu cho bộ đội vượt sông. Trận tập kích diễn ra nhanh gọn, diệt 1 đại đội quân Mỹ. Ta không có thương vong, thu 50 súng. Đây là trận đánh mang tính bất ngờ cao.

        Thời kỳ 1959-1960, quân giải phóng Khu 5 còn trong giai đoạn mới thành lập, quân số thiếu, trang bị không đủ và không đồng bộ, chỉ đủ sức đánh đại đội và tiểu đoàn địch. Tháng 3 năm 1960, tại vùng cao huyện Hiên (Quảng Nam) diễn ra trận đánh 45 chiến sĩ ta thắng một đại đội tăng cường địch có 175 tên, được trang bị cối, ĐKZ và đại liên đi cùng. Địa điểm được chọn phục kích đúng nơi địch hành quân lên dốc cao phải ngừng nghỉ trước khi xuống dốc. Do thiếu quân, nên ta huy động đồng bào các dân tộc ở các làng cắm khoảng 2 triệu cây chông đối diện với vị trí phục kích của ta, đề phòng khi ta nổ súng nếu địch tháo chạy sẽ bị sa vào bãi chông. Đúng như dự kiến, địch lên đỉnh dốc dừng nghỉ, đội hình ngắn lại. Khi ta nổ súng, quân địch chạy ngay vào bãi chông. Ta bắt 60 tù binh, thu toàn bộ vũ khí và các trang bị khác.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:09:16 PM

        Có một cách đánh thường gọi nôm na là "đơm đó". Trong chiến dịch giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven (1971), Sư đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiêu diệt 2 trung đoàn địch. Đặc điểm của quân ngụy Lào là khi đánh với quân đội Việt Nam có pháo binh và xe tăng sẽ bỏ chạy. Ta chủ trương bố trí lực lượng đánh phía sau và bên sườn, đồng thời mở đường cho địch chạy về Pắc Xế. Trước khi tấn công, ta dùng một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn công binh và trinh sát bí mật cắm một triệu cây chông trên hướng dự kiến địch tháo chạy. Khi ta tấn công trên ba hướng, 2 trung đoàn địch chạy khỏi cao nguyên Bô-lô-ven về Pắc Xế, lọt ngay vào bãi chông của ta. Ta bắt hàng trăm tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ chiến trường.

        Mỗi đối tượng tác chiến, điểm mạnh, điểm yếu của chúng khác nhau, do đó, người chỉ huy phải chọn cách đánh phù hợp. Đánh bên sườn, đánh sau đội hình địch nếu thiếu quân phải tăng cường chông, quân địch hay chạy, thì phải bố trí quân đón lõng, đó là những cách đánh sáng tạo trong vô vàn cách đánh của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Dù cách đánh nào cũng phải thực hiện 4 cắt: Một là, cắt bộ binh với pháo binh; hai là, cắt bộ binh với xe tăng; ba là, cắt bộ binh với không quân; bốn là, cắt bộ binh với bộ binh và phải tiêu diệt được sở chỉ huy địch. Dù cách đánh nào cũng phải bảo đảm: khi ta nổ súng, địch lâm vào thế cô lập bị động không tấn công được, không co cụm được, không tháo chạy được, không chi viện cho nhau được...

        Những điều tôi muốn nói cuối cùng (sau hàng chục năm lăn lộn ở các chiến trường, đối mặt với các loại kẻ thù) chính là sự chân thành của người chỉ huy trước mọi tình huống. Tôi được đi học ở Trường sĩ quan Lục quân 18 tháng sau khi tập kết ra Bắc, rồi vào chiến trường 16 năm cho đến năm 1975, ngoài ra không được học thêm ở trường lớp nào. Sự trưởng thành của tôi, phần lớn nhờ vào thực tiễn. Chính thực tiễn của đất nước làm phong phú kinh nghiệm đời chiến đấu tôi và làm tôi từng bước trưởng  thành. So với các đồng chí khác, tôi cũng có nhiều điểm hạn chế. Tôi thường nghĩ, ngoài các yếu tố chủ quan, khách quan, thì môi trường rèn luyện là yếu tố quyết định cho sự trưởng thành của mỗi người. Xây dựng đất nước là một môi trường. Chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cũng là một môi trường. Môi trường của tôi tiếp xúc với hằng ngày là môi trường chiến đấu, là xương máu đồng đội, là sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân, là những thành công và thất bại được đổi bằng cái giá không phải rẻ. Trong môi trường đó nếu biết rèn luyện, biết vượt qua thử thách, con người sẽ trở thành phi thường. Kinh nghiệm sẽ được tích luỹ, sẽ làm được nhiều việc, sẽ biết chọn cách đánh tốt hơn, đối tượng địch nào cũng sẽ đánh thắng. Nếu người chỉ huy đã thành thạo ở khâu chiến thuật, thì lên khâu chiến dịch không khó; càng lên cao, càng có nhiều sáng tạo, không để bị lúng túng. Vì vậy, đánh nhỏ, thắng nhỏ; đánh lớn, thắng lớn, được cấp trên tin tưởng, đồng cấp và cấp dưới tín nhiệm. Muốn làm được như vậy, lúc nào tôi cũng nghĩ mình tự giác rèn luyện. Trong phương pháp thực hành, tôi luôn thực hiện "ba không": không phiêu lưu, không cẩu thả, không đánh ẩu. Chỉ có như vậy mới thực sự tiết kiệm xương máu, tiết kiệm đạn dược. Lấy việc giữ gìn đoàn kết làm ví dụ. Tôi đến đơn vị nào, sau một thời gian ngắn, cũng đều trở thành trung tâm đoàn kết. Vậy thì đoàn kết là gì? Theo tôi, muốn có đoàn kết là phải đánh thắng. Để đạt được mục tiêu đó, tất nhiên phải làm nhiều việc. Phải phát huy dân chủ quân sự, phải bàn bạc chân tình, phải rút kinh nghiệm sau một trận chiến đấu. Khi rút kinh nghiệm cần ngắn gọn, với mục đích là bổ sung cho trận sau, có như vậy, mới thấy được khuyết điểm, nhưng quan trọng hơn là phải tìm ra biện pháp khắc phục để trận sau đánh tốt hơn. Lý luận phải gắn với thực tiễn, thực tiễn phải gắn với lý luận. Xây dựng cho được một tập thể có ý chí cao, dù tập thể đó là một trăm, hay vài chục nghìn người. Phải ăn giơ với nhau, trên nói dưới hiểu, dưới nói trên lắng nghe. Cái giơ đó là ý chí quyết tâm, phương án chiến đấu, chiến đấu rồi xây dựng, xây dựng để chiến đấu, trận sau phải thắng to hơn trận tước. Nói và làm là một. Tất cả những điều đó hàng chục nghìn người phải hiểu như nhau.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:52:03 PM

        Khi được lệnh từ Quân đoàn 2 về chỉ huy Quân khu 5, tôi biết có sự rạn nứt nội bộ từ Sở chỉ huy cơ bản ở Đà Nẵng với Sở chỉ huy tiền phương ở phía trước. Tôi nghĩ, muốn khôi phục đoàn kết là phải chiến thắng. Sự rạn nứt này phần lớn là do các chiến dịch trước đánh đấm trầy trật, không dứt điểm được mục tiêu, thương vong cao, không phát triển được cán bộ, đảng viên. Tôi lên ngay mặt trận, vừa sát các đơn vị, vừa suy nghĩ cách đánh để thắng một trận giòn giã. Tôi chọn căn cứ của quân Pôn Pốt trên điểm cao 547. Trước đó, Sư đoàn 307 của Quân khu 5 đã đánh nhiều lần, nhưng không thành công; có trận, bỏ lại cả liệt sĩ cả thương binh. Nguyên nhân chính là do công tác bảo đảm hậu cần chưa chu đáo. Ở một địa hình hầu hết là rừng khộp, khan hiếm nước về mùa khô, có trận bộ đội bị ngất vì thiếu nước, đi tìm nước vấp mìn bị thương vong, địch phục kích những nơi có nước... Tất cả vì thiếu nước mà mất sức chiến đấu. Trong tất cả các khâu chuẩn bị trận đánh như trinh sát địch, tập huấn bộ đội, cơ động lực lượng binh khí kỹ thuật chủ yếu bằng đường ô tô từ Plei-ku sang, bảo đảm đạn dược, lương thực, thực phẩm cho 25 ngày dự kiến chiến dịch, tôi đặc biệt chú ý triển khai đủ nước uống cho gần 15 nghìn cán bộ, chiến sĩ. Việc đó phải bắt đầu từ những tính toán nhỏ nhặt, cụ thể: Để có 5-6 lít nước cho mỗi người một ngày, thì phải có rất nhiều tính toán trong các tình huống khác nhau, sẽ được trình bày rõ trong phần nói về trận đánh điểm cao 547. Việc lớn là phải đánh thắng để khôi phục đoàn kết nội bộ, để tiết kiệm xương máu đồng đội, để hoàn thành nhiệm vụ chính trị, do đó phải giải quyết từ việc nhỏ nhất là chuẩn bị dụng cụ đựng nước. Trong những ngày đó, tôi dồn hết tâm lực vào việc này. Theo tôi, người chỉ huy có lòng chân thành với chính mình, với nhiệm vụ mình được giao, thì phải giải quyết từ những việc nhỏ, thậm chí việc rất nhỏ. Ai cũng biết rằng việc lớn đúng, bắt nguồn từ việc nhỏ đúng.

        Nhiều người hỏi tôi nguyên nhân thắng lợi của cách mạng và sự trưởng thành của tôi? Câu trả lời của tôi vẫn là: Nhân dân. Nhiều người đã nói về điều này, nên nghe đã quen, nhưng đối với tôi, điều đó bao giờ cũng sinh động. Trong trận đánh mở màn cho chiến dịch Ba Gia tại Diên Niên, tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 1. Theo phương án, một trung đội địa phương Sơn Tịnh cùng trung đội trinh sát - đặc công Trung đoàn đánh vào một trung đội dân vệ ở thôn Lộc Thọ, đánh theo cách của bộ đội địa phương để buộc địch kêu cứu tới tên đại úy Nguyễn Văn Ngọc - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trung đoàn 51 ngụy đóng ở Gò Cao. Tên Ngọc cho đó là bộ đội huyện đánh, nên chỉ cho một đại đội xuống giải toả. Ta bố trí một đại đội đánh chặn đại đội ngụy này lại, nhưng chỉ sử dụng một trung đội, chỉ dùng súng tiểu liên, không sử dụng trung liên, không sử dụng cối, dựa vào công sự, chờ địch tới gần mới nổ súng. Địch dồn cả đại đội mà không đánh được ta. Đại úy Ngọc liền điều hai đại đội còn lại cùng ban chỉ huy tiểu đoàn đi trên 8 chiếc xe GMC và một xe Jeép kéo xuống khu chiến, chỉ để lại một trung đội giữ Gò Cao.

        Từ đêm trước, Tiểu đoàn 90 đã bố trí ở xóm An Thành thuộc xã Tịnh Minh. Số quân Tiểu đoàn lúc ấy trên 600. Hành quân từ phía tây sang phía đông đường đi sát chân núi Tròn, vượt qua đường trên một băng vải trắng, hai đầu có du kích gác. Sáng ra, Đảng ủy xã huy động mấy đàn trâu đánh qua cánh đồng xoá hết dấu chân của bộ đội. Cả Tiểu đoàn ở hết trong nhà dân, đồng bào bẻ lá cho bộ  đội kết vòng nguỵ trang. Du kích gác cho bộ đội ngủ. Bộ đội ăn cơm theo từng gia đình, không đi ra ngoài. Làng xóm bên trong hết sức nhộn nhịp, nhưng bên ngoài thì yên lặng như tờ. Quân ta đóng quân ở ngay sát địch, mà địch không hề hay biết.

        Hỏa lực của địch ngày càng mạnh. Bộ phận chặn địch của ta kiên cường đánh theo kiểu du kích; địch tức tối dồn cả đội hình lên. Địch lọt hết vào vòng vây của ta. Đội hình tiến công chủ yếu của ta ở ngay phía sau và bên sườn địch.

        9 giờ, Tiểu đoàn ra lệnh xuất kích. Đường xuất kích phải qua một chiếc cầu khỉ, dân đã lót sẵn cho bộ đội. Địch hoàn toàn bị rối loạn, hai cố vấn Mỹ bị tiêu diệt ngay từ đầu, đội hình bị chia cắt từng mảng nhỏ, không có người  chỉ huy, không hiệp đồng được, địch tháo chạy. Các hướng đều bị lực lượng ta chặn đánh, nên địch phải chạy vào các thôn bên đường -nơi đặt sở chỉ huy Tiểu đoàn 90. Các bộ Phận cơ quan Tiểu đoàn, từ nuôi quân, thông tin, vệ binh, đến chiến sĩ vận tải cùng nhân dân xông ra bắt tù binh (ở thôn An Thành có cụ già bắt được 7 tù binh). Dân đưa hết tù binh xuống địa đạo cũ để tránh pháo, trong đó có đủ cả ban chỉ huy tiểu đoàn và 3 ban chỉ huy đại đội với 217 tên. (có cả tên Đại úy Ngọc). Chính nhân dân đã che chở cho cả một tiểu đoàn ta ém quân, cũng chính nhân dân đã bắt một tiểu đoàn ngụy. Có hiện thực nào sinh động hơn?


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:56:57 AM

        Trong chiến dịch Xuân 1975, Sư đoàn 2 từ khu chiến Tiên Phước -Tam Kỳ, đánh ra Đà Nẵng trong một quỹ thời gian rất ngắn là hai ngày. Lúc đó, Sư đoàn có 4 trung đoàn bộ binh, có các trung đoàn pháo, xe tăng, cao xạ phối thuộc cùng nhiều cơ quan binh chủng khác. Trên đường tiến quân, các cầu lớn trên sông Thu Bồn, sông Bà Rén bị địch ném bom phá sập, nhưng quân ta vẫn hành quân với tốc độ nhanh. Vào ngày Đà Nẵng giải phóng, anh Lê Trọng Tấn, lúc đó là Tư lệnh chiến dịch Đà Nẵng, hỏi tôi: "Quân của cậu đông, không có cầu phà, không có phương tiện lội nước, phải vượt qua những sông lớn, làm sao cậu tiến quân nhanh như vậy. Ngoài Bộ, nhiều người không hình dung ra được?". Tôi trả lời anh Tấn rằng: Dựa hết vào dân. Từ việc cung cấp thuyền bè qua sông, xe cộ trên đường, hay dẫn đường vào các mục tiêu, đến việc bảo đảm lương ăn trong chiến đấu đều dựa vào dân. Từ người nông dân ngoại thành, đến ông lái xe đò, xe ôm trên đường, từ các chị tiểu thương ở chợ đến các em học sinh, ai giúp được việc gì, đều giúp. Bộ đội vào Đà Nẵng, ngoài vũ khí trên người, trong ba lô chỉ mang một bộ quân phục mới để mặc khi thành phố giải phóng, còn tất cả phải nhờ dân lo hết.

        Tôi nghĩ nếu kể về tình cảm nhân dân dành cho bộ đội, thì bất cứ chiến sĩ nào cũng có thể kể, kể mãi không hết được. Trong đời chiến đấu của tôi, điều tôi thường suy ngẫm là bản lĩnh của con người trước các thử thách, trước các bước ngoặt của đất nước. Lịch sử đất nước ta trong 50 năm qua, có các bước ngoặt lớn như: Cách mạng tháng Tám, chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ, Hiệp định Pa-ri, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 thống nhất đất nước... đó là những thời điểm cần đến những nội lực của con người. Có thể anh vượt qua mà trưởng thành, có thể anh không vượt qua rồi  ngã gục. Tôi trưởng thành từ một người lính, được tôi luyện trong môi trường quân đội, rèn luyện trong chiến đấu nên trong các bước ngoặt lớn của đất nước, tôi không bị lúng túng. Điều tâm niệm của tôi là tự mình phải rèn  luyện để khi đất nước qua mỗi bước ngoặt lịch sử thì cùng toàn Đảng, toàn dân tộc nhận diện để vượt qua, làm chủ và chiến thắng

        NGƯỜI CHỈ HUY VỚI ĐÁNH TIÊU DIỆT

        Trải qua các cương vị từ người chiến sĩ lên tới Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Chơn, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân có nhiều suy nghĩ tâm đắc về công tác chỉ huy đánh tiêu diệt địch về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật trong 30 năm chiến tranh giải phóng.

        Đánh cho địch không kịp trở tay

        Ông đã trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, từng lao vào đồn địch, xông thẳng vào đội hình địch để tiêu diệt chúng trong công sự kiên cố vững chắc và ngoài công sự, cùng với đồng đội tiêu diệt nhiều đơn vị quân Pháp và Âu -Phi. Nổi bật ở chiến trường Khu 5 là trận đánh tiêu diệt tập đoàn phòng ngự của Pháp ở bắc Kon Tum; với trận An Khê, ta loại khỏi vòng chiến đấu, xóa phiên hiệu, xóa sổ đơn vị thiện chiến của quân Pháp.

           Năm 1964-1965, ông là Tiểu đoàn trưởng thuộc Trung đoàn 1 chủ công của Sư đoàn 2. Giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975, ông trực tiếp chỉ huy chiến đấu, chủ yếu là với quân đội Mỹ -ngụy Sài Gòn. Từ năm 1967 đến năm 1969, ông là Trung đoàn trưởng chỉ huy đánh và tiêu diệt quân Mỹ ở ngoại ô Đà Nẵng. Từ năm 1969 đến năm 1975 đảm nhiệm các chức vụ Sư đoàn phó và Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 quân khu 5, ông tham gia chỉ huy chiến đấu ở Nam Lào (1971), giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven mở đường dây 559, rồi sau đó về chỉ huy đánh Đắc Tô -Tân Cảnh (1972) giải phóng bắc Tây Nguyên. Đối tượng tác chiến có khác nhau, chủ yếu là quân Mỹ -ngụy Sài Gòn, ngụy Lào, Thái Lan, Pôn Pốt, Nam Triều Tiên, nhưng Nguyễn Chơn nổi bật với thành tích trăm trận trăm thắng (thắng lớn, thắng vừa, thắng nhỏ, không có trận thua).

        Ở tuổi gần tám mươi, về nghỉ hưu tại phường Hòa Thuận (quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng), nhưng với tư duy quân sự sắc sảo, chiêm nghiệm chiến tranh cách mạng một cách có hệ thống, tâm trí ông như chưa hề nghỉ ngơi. Trong quá trình cung cấp tư liệu để chúng tôi biên soạn tập hồi ký đời mình, ông tâm sự:

        "Bản thân tôi nhờ tích lũy kinh nghiệm 9 năm là quân chủ lực cơ động Liên khu 5 đánh thực dân Pháp, trải qua 16 năm đánh Mỹ -ngụy, tuy học ở trường không nhiều, nhưng nhờ đúc rút kinh nghiệm, nên công tác chỉ huy ngày càng vững vàng hơn. Sau năm 1975, tôi lần lượt phát triển lên chỉ huy cấp chiến lược, chiến dịch, Tư lệnh Quân đoàn, Tư lệnh Quân khu, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhờ thế, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy, chỉ đạo tác chiến, có đóng góp vào nhiệm vụ xây dựng lực lượng, thiết kế, thiết bị chiến trường... để bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới (đánh địch trong công sự, ngoài công sự). Công việc đã tạo cho tôi cótầm nhìn chiến lược, chiến dịch với các đối tượng tác chiến của quân và dân ta ".


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:59:18 AM

        Trải qua 30 năm chiến tranh, qua nhiều chiến trường, nhiều trận đánh, nhiều đối tượng tác chiến, từ chiến sĩ Vệ quốc đoàn, cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp, ông có nhiều suy nghĩ về chỉ huy đánh tiêu diệt địch, về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật.

        Theo ông, đánh tiêu diệt còn gọi là "cạo trọc", xóa sổ phiên hiệu đơn vị đối phương. Đánh tiêu diệt gọn cũng là một nghệ thuật, một phương án tác chiến, một cách đánh hiểm, đánh đau, đánh cho địch không kịp trở tay. Mặc dầu địch có nhiều đối tượng khác nhau, đánh nhiều trận ở các địa hình, thời tiết khác nhau, trang bị và cách đánh cũng khác nhau, mạnh hơn ta về hỏa lực, vì vậy đã đánh, thì phải chuẩn bị chu đáo về ta, về địch, về địa hình, thời tiết.

        Thượng tướng Nguyễn Chơn nói: Trong trận đánh phản công quân ngụy Sài Gòn, hỏa lực của Mỹ trong chiến dịch Nam Lào năm 1971, thì phương án tác chiến là đánh địch đang tấn công, ta phản công (địch tấn công ta về chiến dịch, chiến lược, ta phản công địch về chiến dịch, chiến lược). Khi địch bắt đầu dao động, ta tấn công ngay, nếu không tấn công, thì mất thời cơ tiêu diệt gọn quân địch. Do đó, tôi chỉ huy Sư đoàn 2 tiêu diệt trung đoàn 1 của sư đoàn 1 ngụy và 2 tiểu đoàn của trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 1 ngụy, bắt trên 30 sĩ quan, gần 1.000 quân lính.

        Giải phóng Đà Nẵng ngày 29 tháng 3 năm 1975, tình thế chiến lược chung đã tạo thế rất có lợi cho ta. Mặc dầu hỏa lực địch còn mạnh, quân còn đông, nhưng quân địch bị dao động, ý chí thất bại thể hiện đã rõ, thì cách đánh của ta là tấn công trong hành tiến, chiếm Vùng 1 chiến thuật, hai sân bay, cảng hải quân, tòa thị chính, bán đảo Sơn Trà...

        Dù tình huống chiến dịch, chiến lược như thế nào đi nữa, người cầm quân xác định phải tấn công tiêu diệt gọn quân địch. Như vậy đánh tiêu diệt địch về phương án thì cách đánh ra sao? Ngay từ đầu, ta tiêu diệt sở chỉ huy trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn địch với 4 chia cắt: Một là, chia cắt bộ binh địch với không quân địch, chủ yếu là đánh địch đổ quân, địch ném bom; hai là, chia cắt bộ binh địch và pháo binh địch, chủ yếu kèm pháo và đánh pháo địch; ba là, chia cắt bộ binh địch và xe tăng địch, chủ yếu đánh xe tăng địch (về đánh xe tăng địch, ta có đơn vị chuyên trách); bốn là, chia cắt bộ binh địch và bộ binh địch, không cho chúng cụm lại.

        Còn trong đánh gần, quan trọng là người chỉ huy phải suy nghĩ, có phương án, cách đánh đúng mới giải quyết được, “1 tiêu diệt, 4 chia cắt”. Quan trọng là cài đội hình quân ta áp sát vào đội hình quân địch để tiêu diệt chúng. Cài đội hình rồi, khi ta nổ súng tấn công, địch không tiến được, không lùi được, không tháo chạy được, không co cụm được, không cho viện binh đến ứng cứu được (kể cả đường bộ, đường không). Như vậy, ta xác định áp sát đánh gần, thì hạn chế máy bay, pháo binh địch. Đánh gần thì hạn chế hỏa lực trên xe tăng và bộ binh địch (trung liên, đại liên). Đánh gần cũng là cách hạn chế pháo, kèm không quân địch. Tóm lại, đánh gần thì các loại hỏa lực địch bị vô hiệu hóa, hỏa lực ta các cỡ súng đều phát huy được.

        Chú trọng dân chủ quân sự

        Về ta, xây dựng cán bộ chỉ huy các cấp, chiến sĩ cũ và chiến sĩ mới có một tác phong anh dũng, sẵn sàng đánh giáp lá cà với địch khi xông trận. Đánh gần là phát huy yếu tố tinh thần của bộ đội ta và hạn chế cái mạnh của địch. Trước đây, phương châm của Sư đoàn 2 là "nắm thắt lưng địch mà đánh". Thể nghiệm trên chiến trường hàng chục năm qua, nhiều chiến dịch, nhiều đối tượng địch, nhiều trận đánh then chốt, thì ông phương án, cách đánh này rất tốt, làm cho cán bộ trên -dưới thống nhất, ăn ý với nhau. Do đó, trong chiến tranh, thời gian có gấp gáp bao nhiêu đi nữa, vẫn phải thực hiện dân chủ quân sự trước khi ra trận.

        Không chỉ bây giờ mới đặt vấn đề dân chủ quân sự. Trong chiến tranh, ta cũng đã thực hiện dân chủ quân sự một cách có hiệu quả. Thông thường, thực hiện quân sự dân chủ tốt bao nhiêu, thì quán triệt nhiệm vụ đầy đủ bấy nhiêu. Khi chiến đấu, để cấp trên, cấp dưới hoạt động thống nhất phải bắt nguồn từ quán triệt nhiệm vụ, hiểu nhiệm vụ đến nơi, đến chốn, ở quy mô một chiến dịch, một trận đánh then chốt cũng vậy. Đó cũng là tác phong chỉ huy ông rút ra được qua 16 năm chỉ huy đánh Mỹ từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn. Khi làm Tư lệnh Quân khu, chỉ huy tác chiến trên Mặt trận 579 làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Cam-pu-chia, hay khi chỉ huy tập trung đánh từ một đến hai sư đoàn địch tăng cường trong một trận đánh, ông cũng tổ chức thực hiện dân chủ quân sự trên sa bàn. Yếu tố đánh tiêu diệt gọn phải chuẩn bị toàn diện, nhất là chuẩn bị về ta, chuẩn bị về địa hình, tổ chức hợp đồng và các công việc tổ chức khác, nhưng yếu tố dân chủ quân sự thì không bao giờ được bỏ qua. Quá trình chiến đấu quy mô càng ngày càng lớn ở chiến trường, tác chiến liên tục nhiều chiến dịch kế tiếp nhau, cán bộ phát triển, thay nhau liên tục; chiến sĩ sau một trận đánh, một chiến dịch lại bổ sung. Nhờ thực hiện dân chủ quân sự, cứ kèm 2 chiến sĩ cũ -1 chiến sĩ mới, hoặc 2 chiến sĩ mới -1 chiến sĩ cũ thì đều đánh thắng và đánh tiêu diệt gọn, xóa sổ nhiều trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn của địch và một số căn cứ lớn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 07:00:44 AM

        Ưu việt của đánh tiêu diệt

        Về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, đánh tiêu diệt là phải nghiêm túc chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên và muốn đánh tiêu diệt tốt, phải chống đánh xa, đánh ẩu, hay chỉ nặng về hỏa lực. Chỉ huy một đơn vị là xác định các yếu tố huấn luyện quân, nuôi quân, kỷ luật chiến trường phải nghiêm túc, nhất là cán bộ, chỉ huy càng cao, càng nghiêm minh, nêu gương trước cán bộ, chiến sĩ, hành động tiêu biểu cho cấp dưới noi theo.

        Đánh tiêu diệt tốt thì xây dựng được sự đoàn kết cán -binh, xây dựng được lòng tin cho bộ đội, chuẩn bị tư tưởng cho các chiến dịch sau, các trận đánh sau. Đánh tiêu diệt gọn thì thời gian chiến đấu ngắn; thương binh, tử sĩ của ta so với địch ít hơn. Đây cũng là quan điểm tiết kiệm xương máu chiến sĩ. Đánh tiêu diệt được thì số lượng đạn các loại sử dụng không nhiều, hiệu quả tiêu diệt cao. Đánh tiêu diệt tốt, sẽ làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí, giải quyết thương binh, tử sĩ của ta tốt; ngược lại nếu không làm chủ chiến trường, thì thương binh, tử sĩ của ta có khi phải để lại trận địa.

        Đánh tiêu diệt tốt sẽ thuận lợi cho phát triển cán bộ, phát triển đảng viên, góp phần xây dựng truyền thống cho đơn vị, để lại dấu ấn tốt cho cán bộ, chiến sĩ tạo thành nề nếp, tác phong chiến đấu, nhất là các chiến dịch sau, các trận then chốt sau thắng lợi to hơn.

        Suy cho cùng để đạt hiệu quả đánh tiêu diệt địch về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật thì vai trò của người cán bộ, chỉ huy là yếu tố quyết định. Có khi nghị quyết, mệnh lệnh đúng, nhưng chỉ huy kém, không những không tiêu diệt được địch, mà gây tác hại xấu cho đơn vị mình. Qua thực tế 16 năm chỉ huy ở chiến trường Liên khu 5, khi ra trận, buộc lòng tôi phải thay một số cán bộ dưới quyền như trung đoàn trưởng, trung đoàn phó, vì họ không nghiêm túc và thiếu sáng tạo. Ví như, ngày 28 tháng 3 năm 1975, khi tôi chỉ huy Sư đoàn 2 hành tiến theo trục dường số một từ thị xã Tam Kỳ tiến về giải phóng Đà Nẵng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 38 không chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên là "đi lướt, bỏ qua các quận lỵ như Quế Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn", mà sa vào đánh địch ở nơi đó, làm hạn chế bước tiến của Trung đoàn 38, trong khi đó giải phóng Đà Nẵng càng nhanh, càng tốt, là mục tiêu số 1. Đây cũng là qua thử thách để rèn luyện cán bộ, để cán bộ có đủ bản lĩnh, trí tuệ, tài năng, vươn đến đỉnh cao hơn.

        Qua thực tiễn chiến tranh của một cán bộ từng trải ở chiến trường đã chỉ huy cấp chiến dịch, chiến thuật, ông đúc kết một số kinh nghiệm trên để góp phần xây dựng nhận thức chung cho những cán bộ chưa thật vững vàng trong xây dựng, huấn luyện chiến đấu. Phát huy truyền thống "Đã đi là đến, đã đánh là thắng", bản thân ông qua nhiều năm trường, trong đánh Pháp, đánh Mỹ ở nhiều cương vị khác nhau, đánh tiêu diệt với ông là một dấu ấn, một biểu tượng của người cán bộ, chỉ huy ở chiến trường, còn đánh gần là tác phong chỉ huy chiến đấu thường trực.

        Theo ông, cán bộ trẻ, chiến sĩ mới hiện nay đang huấn luyện, xây dựng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, có thể tham khảo và đúc rút những kinh nghiệm này để áp dụng trên bãi tập và bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Đánh tiêu diệt, dù chiến tranh giải phóng, hay chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, cũng là truyền thống, bản chất xuyên suốt của quân đội ta.

Thượng tá LÊ ANH DŨNG ghi       


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:39:45 PM
       
MẤY SUY NGHĨ VỀ CÁNH NAM

NGUYỄN CHƠN          

        Trước hết, hãy tìm lại những tính toán của tướng Ngô Quang Trưởng -tư lệnh vùng 1 chiến thuật và quân đoàn 1 nguy có nhiệm vụ tử thủ Đà Nẵng lúc đó. Qua tư liệu, ta biết rằng, sau khi Huế thất thủ, Trưởng vẫn tin tưởng ta chưa giải phóng được Đà Nẵng. Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 càng củng cố cho nhận định của Trưởng về thời cuộc lúc đó. Và nhiều lần Trưởng đã nói với cấp dưới rằng: Trước sau gì, quân đoàn của y cũng sẽ tái chiếm được Huế. Dựa trên những dữ kiện nào để Trưởng tin tưởng quân nguy có thể tử thủ được Đà Nẵng?

        Để đánh vào Đà Nẵng, địch biết rằng ta sẽ tiến theo 3 hướng. Hướng bắc sẽ là hướng chủ yếu gồm lực lượng của Quân đoàn 2 đang sung sức sau khi giải phóng Huế. Ở hướng này, ta phải vượt qua chướng ngại lớn nhất là đèo Hải Vân, có Lăng Cô, đồn Nhất trên đỉnh đèo, các sườn dốc phía nam đèo... Chướng ngại này có lợi cho địch hơn cho ta, một người có thể chống được nhiều người. Hướng tây từ Thượng Đức, Đại Lộc là hướng tiến quân của Sư đoàn 304 -đơn vị đã chiến đấu quyết liệt chống lại các đợt phản kích của sư đoàn dù và các đơn vị khác của ngụy để bảo vệ vùng Thượng Đức mà ta mới mở ra cuối năm 1974 đang thời kỳ củng cố. Hướng nam là hướng tiến quân của các đơn vị thuộc Quân khu 5 sau khi giải phóng Tam Kỳ, gồm Sư đoàn 2, Lữ đoàn 52, các trung đoàn xe tăng, cao xạ, pháo tầm xa. Đường tiến quân trên hướng này phải qua các chướng ngại vật thiên nhiên là các sông Thu Bồn, Bà Rén, Vĩnh Điện. Nếu cầu trên các sông này bị đánh sập, thì đường tiến quân của ta sẽ gặp trở ngại, nhất là các đơn vị xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ. Trên thực tế, ngày 27 tháng 3, Ngô Quang Trưởng đã cho máy bay đánh sập các cầu Hương An, Bà Rén, Câu Lâu. Viên trung tướng Tư lệnh Quân đoàn 1 đánh giá rằng: Hướng nam là hướng an toàn nhất trong kế hoạch phòng thủ Đà Nẵng. Như tài liệu sau này ta thu được, ngày 18 tháng 3, tại dinh Độc Lập, Trưởng đã đề nghị Thiệu cho lập 3 cứ điểm phòng thủ tại Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Gợi lại chi tiết này để hiểu rõ quyết tâm tử thủ Đà Nẵng đến cùng của Ngô Quang Trưởng. Ý chí của Trưởng chỉ bị lung lay khi chiều 20 tháng 3, Trưởng nhận được bức điện của Cao Văn Viên -Tổng tham mưu trưởng quân ngụy truyền đạt mệnh lệnh của Thiệu rút lữ đoàn không quân số 1 về Sài Gòn, việc phòng thủ Đà Nẵng chỉ còn quân đoàn 1. Trưởng buộc phải tuyên bố. "Tôi sẽ chết với cố đô xưa. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được Huế".

        Trong chiến dịch Xuân 1975, yếu tố bất ngờ là một trong những nguyên nhân làm suy sụp quân ngụy. Ở cánh Nam, quân ta đã tận dụng triệt để yếu tố bất ngờ. Ngày 27 tháng 3, với cương vị là Tư lệnh Sư đoàn 2 Quân khu 5, tôi được triệu tập về Sở chỉ huy cơ bản Quân khu ở Trà Nô, nhận lệnh đưa Sư đoàn tấn công giải phóng Đà Nẵng. Lúc đó ở Đà Nẵng, lực lượng địch còn rất đông, hơn 100 nghìn quân gồm sư đoàn 3 bộ binh, sư đoàn lính thủy đánh bộ, tàn quân các sư đoàn 1, 2; liên đoàn biệt động; cùng hàng chục tiểu đoàn bảo an, hàng trăm trung đội dân vệ, 5 nghìn cảnh sát, sư đoàn 1 không quân với 373 máy bay các loại, 7 tiểu đoàn pháo, các trung đoàn thiết giáp cùng lực lượng hải quân đóng ở quân cảng Đà Nẵng... Lúc đó, cánh quân phía Nam của ta đang ở vùng Tuần Dưỡng, Tam Kỳ, Chu Lai. Nếu cứ tuần tự tấn công đánh chiếm các quận lỵ trên dọc đường số 1, thời gian sẽ chậm và yếu tố bất ngờ sẽ mất. Những ngày đó, Ngô Quang Trưởng vẫn nghĩ rằng, ở hướng Nam quân ta không thể đánh nhanh được vì lực lượng không bằng hướng Bắc. Từ ngã ba Hương An, tôi ra lệnh cho Trung đoàn 38 lúc đó đang ở Tuần Dưỡng, là đơn vị đi đầu của Sư đoàn, bỏ qua quận lỵ Thăng Bình, theo quốc lộ 1 tiến thẳng ra Đà Nẵng. Anh Nguyễn Thí – Trung đoàn trưởng 38, vì không nắm rõ thời cơ, không nhạy bén trước tình hình, vẫn cho bộ đội đánh quận lỵ Thăng Bình, nên bị cách chức. Vì nếu bỏ qua các quận lỵ trên đường tiến quân, khắc phục được các chướng ngại vật thiên nhiên, thì hướng nam là hướng thuận lợi để đánh vào sở chỉ huy quân đoàn 1, sân bay Đà Nẵng, tòa thị chính nhanh nhất. Hướng nam với các trục giao thông thuận lợi quân ta còn có thể tiến quân về phía Non Nước, sân bay Nước Mặn, Sơn Trà, cảng Đà Nẵng.

        Mờ sáng ngày 28 tháng 3, Sư đoàn 2 chia làm hai cánh. Một cánh theo đường số 1 gồm Trung đoàn 38 và Trung đoàn Ba Gia; một cánh khác gồm Trung đoàn 31 và Trung đoàn 36 theo đường sắt tiến ra giải phóng Đà Nẵng. Đến 12 giờ trưa ngày 29 tháng 3, tôi cùng đơn vị đi đầu của Trung đoàn Ba Gia đã có mặt tại sân bay Đà Nẵng, lúc máy bay địch đang cất cánh đưa quân tháo chạy. Bộ đội ta nổ súng chiếm đường băng rồi từ sân bay đánh thẳng sang chiếm bộ tư lệnh quân đoàn 1, cùng với các lực lượng nội thành cắm cờ lên tòa thị chính Đà Nẵng.

        Như vậy vai trò của cánh Nam đối với chiến dịch giải phóng Đà Nẵng là gì? Đó là cánh quân binh chủng hợp thành tham gia một hướng của chiến dịch mà lúc đầu địch đánh giá là hướng thứ yếu, nhưng do ta chớp thời cơ, xử trí tình huống đúng, dựa vào một vùng đất có chiến tranh nhân dân phát triển, ba thứ quân triển khai đồng đều, nên đã nhanh chóng thọc sâu, đánh vào bên sườn, phía sau vùng 1 chiến thuật, nhanh chóng đánh trúng vào các mục tiêu chính, làm cho địch hoàn toàn bị động, không còn đủ sức tập trung lực lượng để đối phó với cánh Bắc – cánh mà địch chú ý nhất. Phải nói rằng, nếu không có chiến tranh nhân dân, quân ta ở cánh Nam không thể thực hiện đánh địch đòn bất ngờ này. Hàng trăm chiếc thuyền của đồng bào Duy Xuyên, Hội An đã chở cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Ba Gia vượt sông Thu Bồn. Từ Vĩnh Điện ra Đà Nẵng, bộ đội đã hành quân thần tốc bằng các phương tiện mà nhân dân có thể huy động được: xe đò, xe lam, xe tải... Nhân dân đã cung cấp từ tin tức về địch, lương thực, thực phẩm đến dẫn đường vào các mục tiêu. Tóm lại mùa Xuân năm 1975, trên đường tiến quân của cánh Nam chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, thế trận chiến tranh nhân dân đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ, kết quả của hàng chục năm tích lũy trong thực tiễn chiến đấu và đúc kết kinh nghiệm, đóng góp một cách phong phú và sinh động cho quan điểm chiến tranh cách mạng của Đảng ta. Năm 1946, khi chưa đầy 20 tuổi, tôi đã vinh dự chiến đấu ở mặt trận Thái Phiên, chống lại quân đội Pháp đánh chiếm Đà Nẵng. Từ một chiến sĩ vệ quốc đoàn, gần 30 năm sau, trong gian khổ ác liệt của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tôi đã trở thành người chỉ huy một sư đoàn có nhiều truyền thống anh hùng, cùng đồng đội đánh một đòn trực tiếp vào Đà Nẵng, căn cứ quân sự lớn nhất, nhì của Mỹ và tay sai ở miền Nam. Đó là một trong những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời cầm súng của tôi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:43:59 PM
         
PHÒNG, TRÁNH BÃO, LŨ LÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN, CHỦ YẾU, CHIẾN LƯỢC

"Ông tha, mà bà chẳng tha.
Làm chi cũng lụt hăm ba tháng mười”.

        Đúng vào ngày 23 tháng 10 âm lịch năm Giáp Thìn (1964) ở huyện Trà My, khu vực đầu nguồn sông Tranh, khi đó tôi là trợ lý tác chiến Trung đoàn 1, đã chứng kiến trận lũ khủng khiếp trên vùng đất Quảng Nam: nước lũ cuốn trôi cả cơ quan Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, đại đội 12,7 ly đóng quân bên sát mé đồi và cả hai làng đồng bào dân tộc.

        Lúc ấy, Ban chỉ huy Trung đoàn đóng ở trên cao, tôi ở cách suối vài trăm mét thấy lũ cuốn trôi nhà, trôi người, mà ứa nước mắt bất lực, vì không có phương tiện ứng cứu, vì lũ quét bất ngờ. Cảnh tượng ám ảnh suốt cả đời tôi là nước lũ mạnh, cuốn phăng cây cối, nhà cửa, đồng ruộng, đá sỏi xung quanh, tạo thành dòng sông lớn cuốn trôi toàn bộ hai làng đồng bào dân tộc ở bên dưới. Nhìn lên Trà Linh, đầu nguồn sông Tranh, tôi còn chứng kiến lũ làm trôi cả voi Những chú voi to như cái đình làng, bị cuốn trôi, đầu voi trồi lên ngụp xuống, vẫn thấy cái ngà trắng; dân bu bám trên các nóc nhà trôi trên sông kêu la, quơ tay kêu cứu trong tuyệt vọng. Khiếp đảm hơn, khi ngó lên thượng nguồn, tôi nghe nước chảy ầm ầm và bỗng dưng phát ra tiếng nổ long trời lở đất, hai quả núi cao ở hai bên lòng sông đổ sập vào nhau và bị lũ cuồn cuộn cuốn trôi hết hai phần ba.

        "Thủy, hỏa đạo tặc", từ xa xưa, ông cha chúng ta đã đúc kết lũ, lụt là giặc: Đánh giặc lũ cũng phải có cách, chứ không chủ quan khinh địch", "nước đến chân mới nhảy". Tôi cho rằng công tác phòng tránh là quan trọng nhất, nó là giải pháp vừa cơ bản, chủ yếu lâu dài, vừa là chiến lược không chỉ hôm nay, mà trong suốt quá trình trị thủy của dân tộc ta. Ngoài công tác đắp đê, hộ đê, chằng chống, di dời nhà cửa... ta phải mở hướng phòng tránh, ứng cứu cho hiệu quả, thiết thực.

        Thực tế cho thấy, hàng chục đảo ở Trường Sa bị sóng biển, gió gào vây quanh bốn phương, tám hướng, nếu bộ đội chúng ta không xây nhà vững chắc như lô cốt, thì làm sao hằng năm chống chọi lại nổi hàng chục trận mưa bão dữ dằn, áp thấp nhiệt đới phức tạp, không theo quy luật của thời tiết. Cần vận dụng, rút kinh nghiệm mô hình làm nhà ở phòng tránh bão, tránh xói lở ở Trường Sa để làm nhà trong đất liền. Nhà dân, hoặc các công trình, trụ sở, cơ quan Nhà nước ở các sườn núi cao, nhất là ở sát ven biển, ven sông có nguy cơ bão lũ đe dọa cao, cần phải xây dựng hợp lý, chống chọi được với sức gió cấp 10, 12 trở lên (tham khảo các mô hình xây nhà tránh bão lũ cho các hộ dân nghèo của các Viện quy hoạch đô thị). Theo tôi, cần đặt trạm báo bão ở Trường Sa vừa báo thông tin cho các thuyền, ghe đánh cá của ngư dân khu vực này phòng tránh bão, vừa làm nhiệm vụ cầu nối thông tin cho đất liền. Kinh nghiệm cho thấy bão Ở Trường Sa, thì vài ngày sau mới vào đến đất liền. Hễ đường đi của bão hướng về phía bắc Trường Sa, thì bão sẽ đổ vào địa bàn Quân khu 4 trở ra; hướng về phía nam Trường Sa, thì bão sẽ đổ vào địa bàn Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9.

        Ở những hướng trọng điểm của sức gió, sức nước, cần chú ý di dời nhà đi nơi khác, không thể bất chấp quy luật, "cố đấm ăn xôi" được. Thực tế Ở miền Trung, qua cơn lũ thế kỷ năm 1999, qua hai cơn bão số 1, số 6, nếu không rút kinh nghiệm xương máu "sống chung với bão, lũ”, thì hậu quả sẽ gấp nhiều lần. Công tác phòng, tránh là chính, địa phương, cơ sở phải chủ động "tự cứu lấy mình", không có tư tưởng ỷ lại cấp trên, chống tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác.

        Trường hợp bất trắc nếu bão lũ phong tỏa cả đường không, đường thủy, đường sắt, đường bộ (quốc lộ, tỉnh lộ), thì ta mở đường nào để cứu dân? Theo tôi, ta sẵn có lối ra tuyệt vời là đường Hồ Chí Minh chạy qua cả Quân khu 4 và Quân khu 5. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng, Nhà nước ta quyết tâm xây dựng đường Hồ Chí Minh huyền thoại trong thời kỳ tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên con đường Trường Sơn lịch sử năm xưa. Đó không chỉ là con đường kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế văn hóa, xã hội cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn kháng chiến, căn cứ năm xưa, mà còn là con đường ứng cứu bão lụt, thiên tai xảy ra. Từ hướng chính của con đường Hồ Chí Minh, ta có thể chủ động mở ra các tuyến nhánh rẽ về các địa phương thuộc Trung Trung Bộ -Quân khu 4, Quân khu 5 -để mở đường cứu trợ, cứu hộ, cứu nạn. Lúc này các lực lượng cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ, nhất là giao thông vận tải, công binh phải vào cuộc "xắn tay áo lên" làm nhiệm vụ ứng cứu một cách bài bản, có hiệu quả. Trong bão, khi các phương tiện ứng cứu án binh bất động, thì tôi thấy lãnh đạo, chỉ huy Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng đã nhạy bén dùng xe bọc thép lao đi trong cuồng phong bão, lũ để vừa kiểm tra công tác phòng tránh của các đơn vị trực thuộc, vừa dùng để chở các nạn nhân bị thương do bão gây ra một cách kịp thời, có hiệu quả. Trong cơn lũ thế kỷ năm 1999 ở Đại Lộc -Quảng Nam, khi ba bên bốn bề nước vây phủ, đường thủy, đường bộ đều bị phong tỏa, chỉ còn một con đường duy nhất là đường không do trực thăng của Sư đoàn B72 không quân thực hiện. Máy bay quần đảo trên bầu trời xám xịt, chỉ có các ngọn đồi cao được phát quang cây cối, sử dụng làm sân đỗ dã chiến mới có chỗ đáp xuống đưa hàng cứu trợ. Khi lũ, lụt bao vây, phong tỏa nhiều ngày, ở các vùng miền núi cao, ở các khu vực xa trung tâm, cần thiết lập bệnh viện dã chiến với đội ngũ y sĩ, bác sĩ cơ động để kịp thời cứu chữa nhân dân. Như vậy, phương án "bốn tại chỗ" cũng sẽ được ứng dụng có hiệu quả cho phòng tránh bão, lũ.

        Với các đơn vị quân đội, công tác chủ động phòng tránh bão, lũ lại có yêu cầu cao và quan trọng hơn. Ngoài nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, bộ đội còn có nhiệm vụ làm công tác dân vận, giúp dân khi có yêu cầu. Trong điều kiện thiên tai, bão, lũ, thì cứu dân là "mệnh lệnh trái tim" của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, của người lính Cụ Hồ. Nhiều năm qua, các đơn vị lực lượng vũ trang đã xả thân cứu dân trong bão, lũ đã có nhiều tấm gương hy sinh quên mình vì sự sống và tài sản của nhân dân trong vùng "rốn lũ', "mắt bão". Có phòng tránh tốt ở đơn vị mình, mới bảo đảm cho công tác xây dựng đơn vị, sẵn sàng chiến đấu cao, đồng thời, mới có thời gian huy động lực lượng và phương tiện cơ động đi ứng cứu giúp nhân dân và chính quyền các địa phương nơi đóng quân.

Thượng tá LÊ ANH DŨNG ghi        


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:48:05 PM

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG

Nhà văn THÁI BÁ LỢI       

        Đứng trên đèo Hải Vân nhìn xuống vịnh Đà Nẵng, tầm mắt ta hãy dừng lại ở bãi cát Xuân Thiều rồi dõi về phía nam vài cây số sẽ đến làng Phú Lộc, quê hương người chỉ huy Nguyễn Chơn. Làng nằm sát biển, nhưng dân làng phần đông sống bằng nghề làm ruộng, số khác dùng nghề đốn củi trên đèo Hải Vân làm kế sinh nhai thời ngọn đèo nổi tiếng còn là rừng đại ngàn. Tộc Nguyễn chiếm hai phần ba dân làng. Bây giờ trở về Phú Lộc thuộc phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng ta đi trên con đường làng được đổ bê tông, chạy sát hàng rào Trường Đại học Bách khoa, nhưng thời năm 1946 nó chỉ là một con đường nhỏ, cát ngập mắt cá chân. Năm ấy Pháp chiếm lại Đà Nẵng, cũng là năm Nguyễn Chơn nhập ngũ. Mỗi người lính bước vào quân đội đều theo những hoàn cảnh khác nhau.

        Cách chia tay gia đình lên đường của Nguyễn Chơn thì thật là hiếm có. Nhà văn Nguyễn Chí Trung đã tả lại buổi chia tay ấy:

        " …Chơn thưa với cha:

        - Cho con đi tòng quân, Pháp hắn trở lại rồi.

        Bà mẹ hỏi:

        - Tòng quân có chết không?

        Nguyễn Chơn cười:

        - Có sống, có chết.

        Ông cha nói:

        - Mi đi, hắn giết hết cả nhà. Giết y như giết cộng sản hồi trước.

        Ông gọi:

        - Cấp ơi, Nhã ơi, Khâm ơi, út ơi! Ra cả đây. Chởn ơi (tên khai sinh của Nguyễn Chơn) thôi mi giết hết cả mẹ, cả cha, cả em, rồi mi đi. Mi không giết, Tây đến, hắn biết mi đi đánh Tây, hắn cũng giết.

        Bên An Hải, trong Ngã Năm, dưới bến đò lửa cháy, những cột khói đen ùn ùn che lấp cả Sơn Trà. Ngoài khơi, tàu chiến Pháp đậu lô nhô, ca- nô máy cập vào Vũng Thùng.

        Tai nghe súng nổ cái đùng.

        Thôi rồi Tây chiêm vũng Thùng hôm qua...

        Câu ca ngày xưa, gieo qua mấy thế hệ, bén rễ vào gan vào óc, như vọng lên tím bầm từ mặt đất pha cát nghèo nàn những đôi chân trần đang đứng kia.

        Nguyễn Chơn cúi đầu thưa với cha:

        - Cha nạ, cho con đi thôi, không đi thì mất nước.

        Một con người không chắc gì đã nhận biết được hết  khát vọng của chính mình. Bởi thế, cho dù là cha mẹ, anh em máu mủ ruột rà, ở bên ngoài cái tâm hồn sống ấy, của riêng nó đơn nhất mà vô cùng, làm sao có thể nhận biết trọn vẹn.

        Nguyễn Chơn lại nói:

        - Xin cho con đi thôi. Cha đừng ép con ở lại với bọn giặc.

        Giữa tất cả những ngổn ngang bề bộn, lửa máu, nước mắt ròng ròng, cái giật mình đau đớn tiếng gọi tòng quân có thể đốt lên thành đuốc, sự bịn rịn đến não lòng, làm sao có thể diễn đạt cho những người thân nhận ra được khát vọng kết tủa trong tro, trong cát, trong muối đọng và biển sâu trong vô vàn những sườn núi đá chen đầy các cành hoa dại tỏa hương, trên đèo Mây, trên núi Chúa và trong tâm hồn của người thanh niên trai tráng.

        Nỗi đau lớn nhất là nỗi đau không nói. Còn khát vọng, khát vọng lại chỉ có thể nói bằng một nỗi đau mà mỗi dân tộc từ thuở hoang sơ và mỗi con người đơn nhất và vô cùng đều có.

        Nguyễn Chơn đứng gần hơn về phía cha:

        - Cha tha lỗi cho con. Con đã quyết chí rồi.

        Chính trong giây phút ấy, may ra nỗi đau mới có thể lý giải được sự khôn cùng của khát vọng. Nguyễn Chơn chặt đứt ngón chân út của mình...".

        Một nhà làm phim tâm sự rằng nếu làm bộ phim về cuộc đời Tướng Nguyễn Chơn, cảnh quay dầu tiên sẽ là dấu bàn chân cụt ngón út in rõ trên nền đất quê hương. Nhưng trước ngày làm cái việc chứng tỏ quyết tâm mà cả gia đình không thể thay đổi được ý định của mình, Nguyễn Chơn đã đến với cuộc cách mạng khi vừa mới thành công.

        Anh tham gia thanh niên cứu quốc, tham gia bầu cử Quốc hội đầu tiên. Anh nhớ mãi câu:

        “A lô, a lô Tổng tuyển cử đến rồi
        Quốc dân đại hội ai thay đồng bào
        Trần Tống, Lê Hiến, Phan Thao
        Phan Bôi, Võ Sả, đồng bào ghi đi
        Phan Diêu, Huỳnh Huệ, Trần Tri
        Lâm Quang Thự, Trần Diễn nên ghi cho rành
        Nguyễn Thế Kỷ, Bà Phan Thanh
        Phan Bằng, Nguyễn Nhị ghi danh cho rồi.. . ".


        Anh cùng cử tri quê hương học thuộc lòng để đi bầu không sai. Thời ấy, chín mươi phần trăm dân ta mù chữ. Vậy mà kết quả bầu cử thu được đúng như ý nguyện của các nhà cách mạng dù cuộc bầu cử diễn ra trong tiếng súng khiêu khích ở phía nam và sự phá hoại của các thế lực thù địch khắp nước. Nguyễn Chơn tham gia diệt tề, góp sức vào công việc tiêu thổ chuẩn bị kháng chiến. Đó là những việc người anh hùng tương lai đã làm trước tháng 2 năm 1946. Chia tay gia đình với ngón chân út cụt còn rỉ máu, anh được phân về Tiểu đoàn 19 Quảng Nam. Nhà quân sự nổi tiếng Giáp Văn Cương lúc ấy làm Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của anh. Từ đó Nguyễn Chơn bước vào con đường chuyên nghiệp: bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 10:02:15 AM

        Những trận chiến đấu dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương diễn ra ở phía bắc Đà Nẵng, vùng gần sân bay bây giờ. Khi Đà Nẵng thất thủ, Nguyễn Chơn cùng đơn vị hành quân lên đầu nguồn sông Trường Định. Địch từ Liên Chiểu, Nam Ô đánh lên. Quân ta phòng ngự ở Khe Sỏ, Bàu Bàng. Rồi sau đó theo lệnh của Mặt trận, Tiểu đoàn của anh vượt sông Cẩm Lệ ở bến Đò Xu về vùng La Tháp, Kiểm Lâm thuộc huyện Duy Xuyên.

        Trận phục kích quân Pháp trên đèo Hải Vân là trận đánh đáng nhớ trong những năm đầu Nguyễn Chơn phục vụ Tiểu đoàn 19. Trận đó xảy ra vào tháng 5 năm 1947. Đại đội trưởng Lạc, người dân tộc Tày giao cho Nguyễn Chơn nhiệm vụ khóa đuôi. Một đại đội lính Pháp trên những chiếc xe cam- nhông tiến từ Đà Nẵng ra. Các chiến sĩ trinh sát dùng dây dừa kéo từ vị trí quan sát về Sở chỉ huy Tiểu đoàn. Giật dây mấy cái báo tin xe địch xuống đèo mấy chiếc, lên đèo mấy chiếc. Chờ đoàn xe đến thật gần, bộ đội mới được lệnh nổ súng. Xe địch bị chặn lại. Nguyễn Chơn cùng đồng đội xung phong ra mặt đường, đốt xe thu chiến lợi phẩm. Anh thu một khẩu súng trường Anh, mỗi người lấy một cái xẻng và chụp lên đầu một chiếc mũ sắt. Súng chiến lợi phẩm quyết mang về đến đơn vị, nhưng mũ sắt và xẻng thì phải bỏ lại trên một ngọn đồi, vì có tin địch đang cho quân đánh bọc hậu.

        Trận ấy, Tiểu đoàn 19 diệt gọn một đại đội lính Pháp. Tên quan năm Rô- giê bị giết. Đoạn đường Tiểu đoàn phục kích có một cái cầu. Sau này anh em gọi là cầu Rô- giê và trận đánh đáng nhớ ấy cũng được gọi là trận Rô- giê.

        Tháng 4 năm 1949, anh được điều về Tiểu đội trinh sát thuộc Tiểu đoàn 39. Nhiệm vụ của anh là trinh sát thực địa đồn Thu Bồn. Các anh phải thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm nhưng thú vị. Trung đội trưởng trinh sát liên lạc được với một Lý trưởng ở Phường Rạnh (là cơ sở của ta, được cách mạng phân công làm lý trưởng, được Pháp giao cho việc tuyển người vào làm tạp vụ trong đồn). Anh Hoàng Đại Hải, quê gốc Huế, hằng ngày dẫn trinh sát mặc áo bà ba đóng giả dân đến xin lý trưởng vào đồn làm việc. Lý trưởng cấp giấy và phát búa, rựa để bổ củi. Đồn Thu Bồn do một đại đội Âu - Phi đóng, quanh đồn chưa có rào kẽm gai, lũy tre kín mít. Anh được giao điều tra chính xác vị trí hai khẩu cối 81 ly và độ cao dày của hàng rào tre. Trong mấy tuần lễ làm việc trong đồn địch, Nguyễn Chơn đã nghĩ ra cách tiếp cận các mục tiêu cần điều tra. Lưỡi búa bổ vào thanh củi, anh cố lái thế nào để củi văng gần hầm có đặt súng cối để anh có cớ chạy đến lượm củi về. Khi đến lượm củi, anh đã quan sát kỹ vị trí đặt súng, nhìn rõ những khẩu cối nước thép xanh rì. Khi điều nghiên hàng rào tre cũng vậy, anh cũng bổ sao cho củi văng đến tận hàng rào, để anh chạy đến lượm khi đó anh đứng sát vào rào lấy tầm cao 1,60m của anh để biết độ cao của hàng rào. Giờ nổ súng vào lúc 5 giờ chiều. Đại đội 2 Tiểu đoàn 19 được giao đánh trận này. Nguyễn Chơn ngoài nhiệm vụ đưa bộ đội tiếp cận mục tiêu, còn tham gia chiến đấu. Anh diệt 4 tên địch, trực tiếp thu hai khẩu cối 81 ly. Trận này, anh được Liên khu 5 tuyên dương công trạng. Bằng tuyên dương khi tập kết ra Bắc, anh gửi ở nhà người em cậu ruột ở Hải Phòng. Năm 1972 nhà cậu em bị bom phá hủy nên bằng tuyên dương không còn nữa.

        Bản lĩnh của người chỉ huy Nguyễn Chơn đã sớm bộc lộ khi còn là cán bộ cấp thấp. Anh nhớ rõ trận đánh đồn Ngũ Giáp thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam cuối tháng 5 năm 1949 - một trận đánh nội ứng. Anh được phân công chỉ huy cánh cảm tử ngồi trên ba chiếc ghe, mỗi ghe chở bốn người. Đồn trưởng là một sĩ quan học bên Pháp, nhưng là người Việt và là cơ sở cách mạng. Nguyễn Chơn cùng với hai ghe xuôi từ phía thượng nguồn xuống còn phía hạ lưu hai ghe ngược lên. Bộ đội mặc bà ba, đội nón lá, vũ khí giấu trong những bó lá bổi. Đồn trưởng giơ mũ báo hiệu trên đường đang có xe chạy. Chờ xe địch chạy qua, hai ghe cập vào chân đồn. Đồn trưởng đã cho lính đánh bóng chuyền, súng dựng ở tận góc nhà. Địch bị đánh bất ngờ không kịp chống trả nên nhanh chóng đầu hàng. Trận đánh diễn ra gọn gàng, ta không thương vong. Tổ của anh thu 37 súng trường và một cối 60 ly. Lúc đó, Đại đội 2 tiếp ứng từ ngoài ùa vào vây lấy đồn. Trên đường, xe địch chở lính chạy qua mà không biết gì. Với chiến công này, lần thứ hai, Nguyễn Chơn được Tư lệnh Liên khu 5 tuyên dương công trạng.

        Trong những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, Nguyễn Chơn đã lăn lộn gần khắp chiến trường Khu 5, từng chiến đấu ở các tiểu đoàn 39, 96, 19 thuộc Trung đoàn 803. Làm nòng cốt cho dân công Phú Yên chuyển gạo cho chiến trường nam - bắc Tây Nguyên, từng hoạt động ở Hạ Lào và Đông Cam- pu- chia, chiến đấu trên đường 14, chiến đấu ở tây Khánh Hòa, đánh đồn Ma Phu, hoạt động ở địa bàn Sông Hinh, Phú Yên rồi Đắc Lắc, cùng Tiểu đoàn 39 chặn viện ở Cheo Reo. Cuối năm 1952 đầu năm 1953, Trung đoàn 803 mở chiến dịch hè Quảng Nam, đánh diệt đồn Xuân Đài, Chiêm Sơn. Những tháng trước khi có Hiệp định Giơ- ne- vơ, Nguyễn Chơn cùng đồng đội chiến đấu ngay trên mảnh đất quê hương Quảng Nam cho đến ngày tập kết ra Bắc.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 10:05:27 AM

*

*       *

        Trên một con tàu Ba Lan rời bến cảng Quy Nhơn rẽ sóng ra hướng bắc, Nguyễn Chơn mới có đủ thì giờ để chiêm nghiệm lại những năm tháng chiến đấu đã qua. Từ một chiến sĩ trinh sát anh trở thành Đại đội phó. Cũng như sau này, những năm tháng đã qua anh đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao, thường là ở những hướng chủ yếu, những tình huống khó khăn. Những chiến dịch hành quân dài ngày, mang vác nặng, những tháng dài cùng đồng đội lặn lội hoạt động trong lòng dân, dù ở đồng bằng hay vùng dân tộc ít người, anh đều có những kỷ niệm sâu nặng cùng nhân dân. Cũng như bao đứa con miền Nam trên đường ra Bắc, anh nghĩ hai năm nữa mình sẽ trở về.

        Nhưng hiện thực của cuộc chiến đấu không phải chỉ có thuận lợi. Anh sẽ trở về, nhưng phải chờ bốn năm nữa và phải trở về bằng con đường khác chứ không phải con đường mà Hiệp định Giơ- ne- vơ quy định.

        Nguyễn Chơn vào nhập học khóa 10 Trường Sĩ quan Lục quân. Anh có may mắn là đồng môn với những đồng đội trưởng thành trong cuộc trường kỳ kháng chiến từ khắp các chiến trường trong cả nước. Trường Sĩ quan Lục quân lúc đó tập trung những trí tuệ quân sự tiêu biểu của toàn quân do các đồng chí Lê Trọng Tấn làm Hiệu trưởng, Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Hai người là những nhà quân sự nổi tiếng được toàn quân kính trọng. Trong suốt khóa học, Nguyễn Chơn được chọn tham gia duyệt binh hai lần.

        Trong một lần chuẩn bị duyệt binh mừng Quốc khánh, lần đầu tiên Nguyễn Chơn gặp Bác Hồ. Cũng như bao lần đến thăm đồng bào, chiến sĩ, Bác thường đến rất bất ngờ. Lúc đó sắp đến bữa ăn chiều. Bác từ dưới nhà bếp bước lên nhà ăn. Đầu tiên ai cũng ngỡ ngàng, sau vài phút định thần, tiếng reo vang cả vùng doanh trại: "Bác đến? Bác Hồ đến!...".

        Bác hỏi:

        - Các cháu tập duyệt binh có mệt không?

        Tiếng đáp lời Bác đều như được tập dượt từ trước:

        - Dạ, có mệt ạ.

        - Có vui không?

        - Dạ vui ạ.

        - Các cháu ăn có no không?

        - Dạ no ạ.

        Bác đưa tay lên:

        - Không đúng! Sức của các cháu mà ăn theo tiêu chuẩn Bác vừa kiểm tra thì chưa đủ no. Bác đã nói với chú Tấn tăng tiêu chuẩn gạo cho các cháu. Còn bây giờ các cháu ngồi vào bàn ăn theo đúng điều lệnh.

        Bộ đội đã ngồi ngay ngắn với bát đũa trước mặt. Bác ân cần dặn dò những việc cần phải làm cho đến ngày duyệt binh. Bác nói ngắn gọn rồi lệnh cho bộ đội cầm chén đũa. Lúc mọi người đang ăn cơm cũng là lúc Bác rời khỏi nhà ăn một cách nhẹ nhàng. ấn tượng về sự giản dị và thiết thực của Bác Hồ còn đọng lại trong lòng Nguyễn Chơn nhiều năm tháng sau này, theo anh trên các ngả đường  chiến đấu, nhắc nhở anh trong suy nghĩ cũng như trong thực hành.

        Ra trường, Nguyễn Chơn được điều về Sư đoàn 305, một đơn vị gồm những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết. Những năm đó, ngoài nhiệm vụ huấn luyện thường xuyên, các đợt diễn tập chiến thuật toàn quân bộ đội được điều động tham gia công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải. Sư đoàn của anh là một trong những đơn vị chủ lực của công trường.

        Ngày 17 tháng 7 năm 1956, Ngô Đình Diệm tuyên bố không có tổng tuyển cử ngày 20 tháng 7 năm 1956.

        Những đứa con miền Nam ra Bắc tập kết đã không thể về bằng con đường Hiệp định Giơ- ne- vơ, không thể về dưới ngọn cờ hòa bình. Nguyễn Chơn cũng như đồng đội của anh nóng lòng muốn trở về bằng bất cứ con đường nào. Nhưng cấp trên xác định phải chờ đợi, phải kiên nhẫn. Những tháng năm dài sống trong tâm trạng "ngày Bắc đêm Nam" vời vợi. Ban ngày học tập, huấn luyện, lao động chiếm hết mọi thời gian không còn khoảng trống cho suy tư, nhưng khi đêm đến, nằm thao thức nhớ về quê hương, nhớ về những kỷ niệm máu thịt, những khát vọng chưa làm xong, làm giấc ngủ của anh cứ chập chờn và anh tự hỏi chẳng lẽ cứ kéo dài mãi hoàn cảnh thế này...

        Đến giữa năm 1958, Nguyễn Chơn có lệnh tập trung về một đơn vị mới. Anh mang ba lô đến số nhà 83 Lý Nam Đế. Đơn vị cũ chỉ biết anh được cử đi học dài hạn ở Liên Xô. Những người được gọi về đơn vị này phải tuân thủ kỷ luật giữ bí mật nghiêm ngặt nhất: Không đi phép năm, không tiếp xúc với người quen, không thư từ ra ngoài. Sau thời gian học chính trị, Nguyễn Chơn cùng đồng đội chuyển lên Cồn Ngựa. Khu vực trường bắn quốc gia bây giờ, Đây là giai đoạn rèn luyện thể lực, chuẩn bị sức khỏe cho một chặng đường phía trước gian lao. Tập leo núi vác nặng, tập hành quân dài ngày, tập ban ngày, tập cả ban đêm. Đến tháng 11 năm 1958, đơn vị được cấp vũ khí, các loại súng đều của Mỹ hoặc Pháp sản xuất. Lại những ngày luyện tập cùng súng, số gạch trong ba lô tăng dần lên, đường đi ngày càng xa hơn. Những cán bộ như anh còn phải ôn lại những kiến thức quân sự, nghe những thông tin mới nhất về quê hương miền Nam, nơi quân thù đang đàn áp cách mạng khốc liệt nhất. Cấp trên chưa nói rõ nhiệm vụ, nhưng ai cũng thầm đoán được những thử thách phía trước đang chờ những người con đầu tiên trở lại quê hương.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:04:59 PM

        Đầu năm 1959, Nguyễn Chơn lên đường. Trước đó mấy ngày, đoàn quân trở về Nam được lệnh tập trung tại Câu lạc bộ Quân đội đón Bác Hồ đến thăm. Đây là lần thứ hai Nguyễn Chơn được gặp Bác. Trong hàng ngũ, bộ đội quân phục chỉnh tề hướng ra phía cửa chính chờ xe Bác đến. Không có chiếc xe nào vào cửa trước. Chỉ có một chiếc hồng thập tự đi từ cửa sau và đỗ lại bên hông nhà. Vài người quay lại nhìn thì thấy Bác từ chiếc xe đó đi vào phòng. Anh em ùa lại vây quanh Bác. Bác không ngồi trên ghế mà ngồi xuống sàn. Bộ đội ngồi quây quần bên Bác. Giọng Bác vẫn ấm áp như thường ngày, nhưng Bác nói chậm lại:

        - Các chú sắp lên đường về Nam, cho Bác gửi tới thăm  đồng bào, cô bác trong đó - Bác ngừng lại một lúc lấy khăn lau chấm lên khóe mắt còn tất cả như đàn con im lặng chờ  nghe từng lời của cha - Các chú vào trước, phấn đấu hoàn  thành xuất sắc nhiệm vụ, Bác sẽ vào sau...

        Hội trường Câu lạc bộ Quân đội đang chứng kiến những giây phút thiêng liêng hiếm có này. Bác không dặn dò gì thêm, chỉ gọi đồng chí cần vụ đi cùng mang kẹo ra để Bác cháu cùng ăn. Khó có lời nào tả hết được tình cảm của những người con miền Nam sắp lên đường trở về quê hương với Bác lúc đó. Bác muốn tạo một không khí thật đầm ấm, thật vui. Nguyễn Chơn sờ vào râu Bác, vạch áo Bác ra xoa xoa trên lưng Bác, cố gắng nhìn rõ, nhớ hết những đường nét, sắc màu trên thân thể người Cha già  dân tộc để sau này còn kể lại với đồng bào, đồng chí. Tấm lòng của anh cũng là tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác. Nước mắt anh chảy trên má lúc nào anh cũng không hay. Anh muốn những giây phút này kéo dài mãi mãi...

        Bác đứng dậy, ôm hôn từng người một, rồi Bác bước nhanh ra xe, Bác muốn đoàn quân lên đường có một buổi chia tay thật ý nghĩa.

        Mấy ngày sau Nguyễn Chơn lên đường.

        Ngày ấy chưa có đường dây 559, chưa có Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Ngày ấy thế hệ các anh là những người đầu tiên trở về với cuộc chiến dấu ác liệt đang chờ. Nguyễn Chơn chợt nhớ lời đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 ở Tam Quan khi các anh sắp tập kết ra Bắc: "Nếu kẻ thù không để cho chúng ta trở về dưới ngọn cờ hòa bình, thì chúng ta sẽ trở về bằng ngọn cờ Quyết chiến Quyết thắng".


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:38:09 PM

*

*      *

        Cánh rừng ấy nằm ở đầu nguồn sông A Vương. Mùa mưa đến, các con suối nhỏ thành những con sông hung dữ, còn các thung lũng chìm trong màn nước trắng xóa. Cả tháng không tìm đâu ra một ngày nắng. Đêm đến, phải đốt lửa mới ngủ được. Cánh rừng cách làng A Dinh của đồng bào Cơ Tu không xa. Đồng bào lạt muối đã bốn năm liền, phụ nữ sinh con không nuôi được, gặp hai người thì có một người phù thũng. Cả làng lâu lắm không ai mua được tấm vải. Vỏ cây lấy từ rừng về, đập cho mềm ra, làm khố cho đàn ông, làm váy cho đàn bà, ốm không có thuốc. Từ Ga Chị Thế - mật danh trạm đón tiếp những người trở về - giao liên đưa Nguyễn Chơn tới đây. Hơn một tháng trên con đường mòn cũ, gần như phải phát đường mà đi, chỉ với chiếc ba lô thời chống Pháp, mảnh dù Điện Biên Phủ, vũ khí chiến lợi phẩm, bộ bà ba trên người, các anh lặng lẽ tiến từng bước về phía nam. Càng xa hậu phương miền Bắc càng khó khăn, có lúc các anh chỉ được phát hai lon nếp mỗi ngày. Nguyễn Chơn thật sự xúc động khi được nghe câu nói: "Đây là đất miền Nam rồi, đất Quảng Nam".

        Đồng chí giao liên nói với anh:

        - Cơ quan này là Dì Hai, đồng chí ở lại đây.

        Nói xong, đồng chí giao liên quay lại Ga Chị Thế.

        Dì Hai là mật danh của tổ quân sự tỉnh Quảng Nam. Nguyễn Chơn chưa thể hình dung được anh sẽ ở đây 6 năm với bao gian khổ khó khăn đang chờ. Một lon muối được chia ra 90 phần để dùng trong một tháng. Trong 6 năm đó, mỗi thứ đều tự xoay xở. Lúc đó địch đang mở chiến dịch "thượng du vận", một chiến dịch "tố cộng" ở miền núi rất gắt gao, nhằm đánh bật tận gốc các cơ sở cách mạng của ta. Việc đầu tiên là che lán và làm rẫy. Đồng chí Hồ Nghinh cũng đi làm rẫy. Làm rẫy cho mình và làm rẫy cho đồng bào để đến mùa thu hoạch dân tuất lúa hộ. Sáu năm hai bộ quần áo. Thu xếp ăn ở tạm ổn, tiếp đến là việc mời thanh niên đi làm cách mạng.

        Vùng tây Hòa Vang có nghề làm củi thước. Những người lên rừng làm củi là những thanh niên khỏe mạnh. Cơ quan Dì Hai lúc đó có 16 người, chia làm hai cánh vây số thanh niên làm củi lại. Lúc đầu, số thanh niên đi củi hốt hoảng, nhưng sau khi nghe giải thích, lại biết những người đang vây mình đều là đồng hương, đều là người "chín năm" đã trở về, anh em bình tĩnh trở lại. Nguyễn Chơn đứng trên một tảng đá nói:

        - Chúng tôi là lính Cụ Hồ đã trở về. Không thể nhìn quê mình sống quằn quại dưới ách thống trị của Mỹ- Diệm, anh em nào muốn cùng làm cách mạng với chúng tôi xin mời ở lại, anh em nào chưa thông, chưa muốn làm, có thể trở về.

        Phần lớn thanh niên tình nguyện ở lại. Sau 4 ngày học tập lại tiếp tục sàng lọc một lần nữa. Những ai có quyết tâm, có hoàn cảnh gia đình gắn bó với cách mạng, tập trung về một đơn vị. Những ai còn dùng dằng, chưa muốn đi làm cách mạng ngay, thì cho về, nhưng được dặn dò kỹ lưỡng, hẹn ngày gặp lại. Số thanh niên miền xuôi được mời cộng với số thanh niên miền núi ở căn cứ lập thành một đơn vị 45 người. Nguyễn Chơn được giao nhiệm vụ huấn luyện số anh em này. Sẵn có kiến thức trong những năm học ở Trường Sĩ quan Lục quân, anh truyền đạt lại cho những đồng đội mới những điều cần thiết làm hành trang cho những nhà cách mạng tương lai. Nhiều người trong số đó sau này đã trở thành những sĩ quan ưu tú.

        Những điều mà anh truyền đạt phải được thực hành. Vậy là đơn vị của anh đánh trận Ga Lâu (thuộc vùng cao huyện Hiên) tháng 10 năm 1960.

        Từ tháng 9, Nguyễn Chơn dẫn bộ đội đi trinh sát. Địch có 4 tiểu đội, đóng trên một mỏm đồi, có công sự được thiết kế kiên cố. Anh bò vào hàng rào cuối cùng với anh em trinh sát. Sau khi trinh sát xong anh cùng cả đơn vị chuẩn bị chu đáo cho trận đánh trong một tháng. Một ngày tháng 10 trời mưa to, nước sông A Vương dâng cao, địch không qua được, ta cũng không qua được. Nguyễn Chơn chọn một cây chò lớn, cho ngã xuống làm cầu bắc qua sông. Anh em người Ca Tu giỏi đốn cây cũng phải mất 2 ngày mới hạ được cây chò nên địch hoàn toàn bị bất ngờ. Đồn Ga Lâu bị ta diệt gọn, thu toàn bộ vũ khí. Quân ta hy sinh ba, bị thương ba. Phải mất ba tháng sau địch mới chi viện được, vì mưa lớn, máy bay không hoạt động được những con đường mòn ta huy động đồng bào cắm chông dày đặc.

        Phát huy truyền thống đánh thắng trận đầu của quân đội ta, trận Ga Lâu đánh gọn, góp phần động viên bộ đội phấn khởi học tập, huấn luyện, sản xuất, chuẩn bị cho trận đánh viện tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:39:52 PM

*

*        *

        Cuối năm âm lịch 1960, cơ quan Dì Hai nhận được bức điện mật từ Hà Nội báo tin Trung ương gửi cho Quảng Nam một tàu hàng gồm: súng đạn, lương thực, một máy làm giấy và quà Tết. Tàu sẽ vào bãi Hố Chuối, dưới chân đèo Hải Vân, đón tàu từ đêm mồng một Tết.

        Nguyễn Chơn được cử phụ trách tổ đi đón tàu gồm 8 người. Các anh từ đầu nguồn sông A Vương, vượt qua sông Bung về Bà Nà - Núi Chúa. Bản đồ không có, cứ nhằm trên các đỉnh núi mà đi. Lương thực mang đi chỉ đủ ăn trên đường. Đoàn của Nguyễn Chơn đi lạc qua Lăng Cô, rồi từ đó men theo đường mòn trên đèo Hải Vân mà về Hố Chuối. Theo lời dặn của cấp trên ở căn cứ, Nguyễn Chơn đến bến Sủng Cọ, ở đó có hai phuy gạo, có thuốc men và bông băng cơ sở đã chuẩn bị từ trước. Nhưng khi đến nơi, tìm được nơi giấu gạo, thì bao ni lông bị chuột cắn, nước mưa thấm vào, gạo đã hỏng hết nên tám người không có gì ăn. Hằng đêm anh em thay nhau men theo đường xe lửa xuống đào trộm khoai lang, củ từ của dân, nhưng không lấy nhiều, phải lấy mỗi nơi một ít và không để lại dấu vết. Không có quang gánh, chỉ bỏ vào quần dài mang đi. Khi nấu ăn, lật ngược một hòn đá, đốt lửa mặt dưới, nấu xong úp trở lại đúng vào chỗ cũ để xóa hết các dấu tích. Cuối cùng thì năm người phải quay về, chỉ còn ba người ở lại. Ban ngày vào hang nằm, đêm đến ra ghềnh đá chờ tàu. Tín hiệu của tàu cập bến là đèn pin quay ba vòng từ phải sang trái, trong bờ đáp lại quay ba vòng từ trái sang phải. Những đêm chờ đợi ấy cứ lần lượt qua đi mà vẫn không thấy có ánh đèn pin mong đợi.

        Một buổi sáng từ ghềnh đá về hang, Nguyễn Chơn nhìn thấy có ba bóng người đang tới chỗ các anh đang ở. Anh đột ngột đến gần, hô lớn:

        - Dừng lại? Các anh đi đâu?

        Cả ba người bị bất ngờ, sững người trước sự xuất hiện của ba người lạ.

        - Bọn tôi vào núi tìm cây mức làm guốc - Một người trong bọn họ trả lời.

        Nguyễn Chơn nhận định được ngay đó là bọn mật thám đã đánh hơi được nơi các anh ở. Anh giữ ba tên này từ chín giờ sáng đến ba giờ chiều mới cho về. Lập tức các anh chuyển chỗ ở trong đêm. Từ bên này suối qua bên kia suối. Đúng như dự đoán của anh, chín giờ sáng hôm sau, một trung đội địch từ đèo Hải Vân lội xuống chỗ ở cũ của các anh. Súng nổ râm ran cả giờ. Nguyễn Chơn nhắc nhở anh em giữ bí mật nghiêm ngặt hơn.

        Rồi đêm giao thừa trôi qua, rồi ba tháng nữa trôi qua, Con tàu mong đợi đó vẫn không đến. Nguyễn Chơn đưa anh em quay về căn cứ. Sau này gặp được Huỳnh Ba, quê thôn Xuân Dương, xã Hòa Hiệp, huyện Hòa Vang - người đi trên con tàu đó kể lại Nguyễn Chơn mới biết: tàu gặp gió mùa cấp 6, cấp 7 vào đêm giao thừa, tay lái bị gãy, không thể vào theo hướng Hải Vân được, thuyền trưởng Nguyễn Bất cho tàu ra khơi chờ biển lặng. Tàu bồng bềnh suốt đêm mồng một Tết, gãy tiếp tay lái phụ. Sáng mồng bốn, thuyền trôi gần đảo Lý Sơn. Theo nguyên tắc tuyệt đối giữ bí mật lúc đó, tất cả số hàng gồm 600kg vải, 400kg ni lông đi mưa, thuốc chống sốt rét, máy làm giấy và toàn bộ súng đạn đều phải thả xuống biển, không thể để lọt vào tay địch. Tất cả đoàn thủy thủ bị địch bắt vào 4 giờ chiều. Chúng đày đi Côn Đảo đến tháng 4 năm 1974 mới được thả.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:43:11 PM

*

*        *

        Đầu năm 1964, Trung đoàn 1 được thành lập tách ra khỏi Tỉnh đội Quảng Nam. Thành phần của Trung đoàn gồm 3 tiểu đoàn 90, 60, 40, đó là những đơn vị đã có thành tích trong những trận chiến đấu chống chiến tranh đặc biệt trước khi về đội hình trung đoàn.

        Trong những năm trước khi Trung đoàn 1 được thành lập, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang còn non trẻ tại chiến trường Khu 5 là phá ấp chiến lược do địch dựng lên đối phó với phong trào đồng khởi đang lên như triều dâng của quân và dân toàn miền Nam. Chủ lực của ta lúc đó chỉ có đại đội, tiểu đoàn, khi địch đánh vào căn cứ Đỗ Xá – cơ quan của Khu ủy và Quân khu 1963, quân ta chỉ đánh được nhỏ lẻ.

        Vùng giải phóng ngày càng mở rộng. Ta giải phóng vùng Sơn - Cẩm - Hà thuộc huyện Tiên Phước, sau đó vài tháng, Trà My được giải phóng. Vùng Dương Yên, Kỳ Sanh, Kỳ Trà thuộc Tam Kỳ đến vùng đông Duy Xuyên, Thăng Bình lần lượt giành chính quyền về tay nhân dân. Đồng bằng giải phóng, vấn đề lương thực cho bộ đội được giải quyết. Không phải chỉ có thóc mà khoai khô, sắn khô cũng nhập kho dự trữ.

        Một công việc quan trọng và thú vị của quân ta lúc này là biến các ấp chiến lược của địch thành làng chiến đấu. Hình như địch đã dành sẵn cho ta nhiều thứ: Súng đạn, máy thông tin, các đồ quân dụng khác đều có trong ấp chiến lược để bổ sung cho quân ta. Năm 1965 là năm thanh niên từ các vùng giải phóng tòng quân lên căn cứ đông nhất, đủ quân số để xây dựng các đơn vị tác chiến lớn hơn.

        Nguyễn Chơn được điều về bộ phận tác chiến Trung đoàn 1.

        Trận đánh đồn Việt An do một tiểu đoàn bảo an ngụy đóng mở màn cho chặng đường trưởng thành của bộ đội ta trên đường đánh tập trung, đánh bằng các đơn vị chiến thuật.

        Địch đóng trên một dải đồi cao, có công sự vững chắc được chuẩn bị từ trước. Tiểu đoàn 40 - đơn vị được giao nhiệm vụ đánh Việt An, không có ĐKZ, không có hỏa lực mạnh, chỉ có hai khẩu cối 82 ly với 30 quả đạn. Cái khó của trận đánh này là xác định thật chính xác vị trí chỉ huy trận địa pháo của địch để đánh một đòn là diệt gọn gàng. Nguyễn Chơn chuẩn bị cho trận đánh cùng cán bộ chủ chốt và trinh sát trung đoàn. Khi mọi người đã rút về, anh cùng đồng chí Tuấn với bi đông nước và gói gạo rang nằm lại ở hàng rào thứ ba trong những ngày Tết. Anh ở lại xác định chắc chắn từng lô cốt, từng cụm hỏa lực, đặc biệt là sở chỉ huy và trận địa pháo lấp sau một lùm chuối lớn mà ban đêm không thể phát hiện ra được. Vào lúc đón giao thừa, địch bắn các loại cối, pháo, súng bộ binh để đón năm mới. Nhờ ánh sáng của các loại đạn này, anh quan sát rõ được cứ điểm địch Việt An, có sáu lớp rào, giữa các lớp rào có gài mìn.

        Trận đánh diễn ra đúng ý định của ta. Ta làm chủ trận địa, bắt gọn tù binh, thu toàn bộ vũ khí. Nhiều cán bộ đã phát biểu trong đợt rút kinh nghiệm: Trận này đánh gọn là nhờ nắm chắc địch, nhờ sự chuẩn bị chu đáo, trong đó công của cán bộ tác chiến cùng các chiến sĩ trinh sát.

        Sau chiến thắng Việt An, bộ đội ta triển khai đánh diệt viện. Trận địa được chuẩn  bị từ phía Hương An, phía cầu Ông Triệu lên. Sau năm, sáu ngày, địch không có động tĩnh gì, bộ đội vẫn ém quân tại chỗ còn cán bộ quân khu rút về thôn Lục Ngạn phía tây bắc Việt An tham dự lớp tập huấn chiến thuật, rút kinh nghiệm đợt hoạt động vừa qua.

        Đồng chí Chu Huy Mân (Hai Mạnh) chủ trì lớp tập huấn. Cán bộ các cấp đang say sưa thảo luận, bàn cãi, rút kinh nghiệm, tự tìm ra những sai sót của mình và tự tìm cách khắc phục, thì trinh sát báo tin địch đang tập trung quân tại Tuần Dưỡng, chuẩn bị phản kích. Đồng chí Hai Mạnh tuyên bố trước hàng quân:

        - Ai bảo đảm về đơn vị nắm bộ đội đánh thắng, thì không phải học nữa. Học cũng chỉ để đánh thắng.

        Nguyễn Chơn là người đầu tiên giơ tay xin về đơn vị. Lúc này anh được đề bạt làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90. Địch hành quân theo đội hình chiến đoàn có thiết giáp M.113 phối thuộc. Đây là một trận vận động phục kích trên đường 16 ở ngã ba Minh Huy. Tiểu đoàn 90 được giao nhiệm vụ bao vây một tiểu đoàn ngụy, vừa nổ súng vừa tiếp cận mục tiêu trong lúc bọn địch vừa mới đến chưa thiết lập được công sự. Trận này Tiểu đoàn của Nguyễn Chơn cùng Tiểu đoàn 40 tấn công tiêu diệt hai tiểu đoàn địch. Riêng bộ đội dưới quyền chỉ huy của anh bắt bốn xe M.113 đang nổ máy. Bọn địch còn sống sót chạy ra cầu Rù Rì. Ở đây Tiểu đoàn 60 bao vây không chặt, nên một số tên địch chạy thoát, do đó ta không tiêu diệt gọn chiến đoàn địch. Trận này Nguyễn Chơn được tặng Huân chương Quân công hạng Ba.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:59:13 PM

        Sau trận Minh Huy, thế trận ở khu chiến này đổi khác. Địch dè dặt hơn trong mỗi lần muốn phản kích, chúng đổi hướng về phía Quế Sơn, Hương An, không đi về hướng đường 16 nữa. Vì vậy, ta phải bố trí đội hình tụt xuống  gần quốc lộ 1 hơn. Trung đoàn kết thúc năm 1964 bằng  hai chiến thắng Đồng Dương 1 và Đồng Dương 2, góp  phần làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của  Mỹ - ngụy.

        Năm 1965 là một năm đặc biệt trong cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Chơn. Anh tham gia hàng chục trận đánh, trong đó có những trận đánh nổi tiếng.

        Từ Quảng Nam, Trung đoàn 1 được lệnh vào bắc Quảng Ngãi. Ở đây, Nguyễn Chơn đánh trận Ba Gia nổi tiếng và từ đó Trung đoàn 1 được mang tên Trung đoàn Ba Gia. Thừa thắng quân ta tiến giải phóng Trà Bồng. Vùng Sơn Mỹ, Sơn Quang thuộc huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi được mở ra, nối vùng giải phóng ra tận biển.

        Tháng 8, Trung đoàn Ba Gia đánh trận Vạn Tường thắng Mỹ giòn giã. Tiểu đoàn 90 của Nguyễn Chơn làm dự bị, không trực tiếp giáp mặt quân Mỹ ở trận này. Một thời kỳ mới của cuộc kháng chiến bắt đầu. Từ đây, quân đội Mỹ trực tiếp tác chiến trên chiến trường, không còn vai trò cố vấn, không còn cái vỏ bọc giúp đỡ chính quyền Sài Gòn chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Mục đích chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ phơi bày rõ  ràng trước nhân loại.

        Từ Quảng Ngãi, Trung đoàn 1 hành quân ra Quảng Nam. Lúc này, quân Mỹ đã đóng quân đông kín căn cứ Chu lai. Tiểu đòan 90 của Nguyễn Chơn đánh trận phục kích quân Mỹ ở nam chợ Cẩm Khê. Một trận đánh thật ác liệt. Ta có một tiểu đoàn, Mỹ cũng có 1 tiểu đoàn. Không như những trận đánh ngụy trước đó, vì mật độ hỏa lực cả không quân và pháo binh của địch tăng gấp nhiều lần. Tuy địch bị phục kích đúng theo ý đồ của ta, nhưng thương vong của hai bên đều lớn. Quân ta bị tổn thất do bị pháo chụp đánh vào đội hình đang vận động. Quân Mỹ thì bị hỏa lực bộ binh của ta đánh quyết liệt khi hai bên đã áp sát nhau. Tiểu đoàn quân Mỹ thương vong trên một trăm, phải dùng trên 50 lượt trực thăng chở xác. Nguyễn Chơn hiểu rằng cuộc chiến tranh sẽ ngày càng ác liệt hơn.

        Ngày 20 tháng 10 năm 1965, Sư đoàn bộ binh 2, đơn vị chiến thuật đầu tiên của Quân khu 5 được thành lập. Tháng 11 , để thiết thực lấy thành tích nhân ngày thành lập Sư đoàn, Trung đoàn Ba Gia đánh một trận lớn ở Hiệp Đức. Tiểu đoàn 90 của Nguyễn Chơn tấn công tiêu diệt một đại đội bảo an ở Đồi Sơn, Tiểu đoàn 60 đánh quận lỵ. Tiểu đoàn 40 làm dự bị. Trung đoàn làm chủ các cứ điểm và các ấp chiến lược, giải phóng quận Hiệp Đức, bắt hàng trăm tù binh; thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng của địch bổ sung cho ta. Với chiến thắng này khí thế cách mạng của nhân dân trong vùng được củng cố và phát huy.

        Trong một năm, Nguyễn Chơn được khen tặng hai Huân chương Quân công hạng Ba cho các trận Ba Gia và Minh Huy; hai Huân chương chiến công hạng Nhất cho các trận Đồng Dương và Hiệp Đức. Tiểu đoàn 90 do anh chỉ huy - một đơn vị có truyền thống từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp đã trưởng thành nhanh chóng, có phong cách chiến đấu độc đáo, nhất là trong đánh vận động. Bước đầu xây dựng truyền thống cho Tiểu đoàn là luôn luôn tìm ra cách đánh tốt, luôn luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao với hiệu suất chiến đấu cao nhất, thương vong bên ta thấp nhất, tiêu hao đạn dược ít nhất. Tiểu đoàn 90 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1983.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 07:02:31 PM

*

*        *

        Nguyễn Chơn được đề bạt làm Trung đoàn phó Trung đoàn Ba Gia vào đầu năm 1966, khi chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam lên tới đỉnh cao. Các sắc lính Mỹ, lính nguy, lính chư hầu có mặt trên chiến trường miền Nam để đối phó với quân ta đã vượt con số triệu. Ở hậu phương lớn miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại đang ở giai đoạn ác liệt nhất. Đế quốc Mỹ huy động phần lớn lực lượng không quân chiến thuật, một phần lực lượng không quân chiến lược hòng đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, âm mưu cắt đứt toàn bộ tuyến đường tiếp tế cho tiền tuyến miền Nam. Các màu da của hàng triệu thanh niên từ Mỹ, úc, Tân Tây Lan, Nam Triều Tiên, Thái Lan... đến Việt Nam để phục vụ cho mục đích xâm lược của một cường quốc tự xưng là đại diện cho thế giới văn minh. Ở chiến trường Quân khu 5, quân ngụy thường được bố trí ở vòng trong, quân Mỹ ở vòng ngoài, quân chư hầu Nam Triều Tiên đóng xen kẽ giữa quân Mỹ và quân ngụy.

        Trong thời gian này, cùng với Trung đoàn Ba Gia, cùng với Sư đoàn 2, Nguyễn Chơn lặn lội trên các địa bàn tác chiến quen thuộc. Mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh đã lên đến cực điểm. Cả một vùng trù phú hai bờ sông Thu Bồn thành vùng trắng. Đứng trên một điểm cao, nhìn ra tận biển mà không vướng một chướng ngại nào, không thấy một mảng xanh nào. Xóm làng đã thành bình địa. Bom pháo quân Mỹ dội xuống những vùng đất yên lành, đào lên, quật xuống hàng chục lần. Những người đã khuất dưới mồ cũng chung số phận với đất đai. Địch chủ trương lập lại ấp chiến lược bằng hình thức lập các khu đồn có cấu trúc kiên cố gần như một cứ điểm tác chiến. Các chiến sĩ trinh sát đi nắm địch không còn được ở trong nhà dân, trong làng chiến đấu mà phải đào hầm bí mật ven sông. Quân địch với bom nhiều, pháo nhiều, quân đông đang hy vọng giành lại thế chủ động chiến trường.

        Sau những trận đánh Mỹ ở tây Sơn Tịnh, đánh biệt kích ngụy ở Gò Viên, Minh Long, Núi Bà, từ Sơn Thắng, Sơn Tịnh ở Quảng Ngãi, Trung đoàn Ba Gia được điều ra đánh Cấm Dơi ở Quảng Nam. Bước chân của các chiến sĩ giải phóng đặt trên đất quê hương vào những năm này dẫm trên sự đổ nát, đến đâu cũng nghe những câu chuyện đau thương ở Sơn Mỹ, Ở Thủy Bồ, Ở Quang Thạnh...

        Nguyễn Chơn nhớ lại trận đánh quân chư hầu Nam Triều Tiên tại Quang Thạnh như một bài học về sự quyết đoán. Cứ điểm đồi Quang Thanh thuộc xã Sơn Kim, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, cách đường số 1 và đường sắt về phía tây 2 km, do tiểu đoàn 3 thuộc lữ đoàn Rồng Xanh và một đại đội lữ đoàn Mãnh Hổ, Nam Hàn chốt giữ. Quân số địch khoảng 500 tên. Trong cứ điểm có ba khẩu cối 106,7 ly, một khẩu cối 81 ly, năm khẩu cối 60 ly và 7 khẩu đại liên. Cứ điểm địch nằm trên một đồi tranh, cây cối lúp xúp, đỉnh đồi có nhiều tảng đá lớn, xung quanh có hào ấp chiến lược rộng 2,5m, sâu 1,8m. Hàng rào nhiều lớp, rào đơn và rào lồng bu chồng lên nhau cao 1,8m, rộng 6m.  Khoảng cách giữa các hàng rào là 5m, giữa các lớp rào có bố trí mìn sáng, mìn ba chấu. Các hố chiến đấu cá nhân có hào giao thông nối liền nhau. Nhà ở sâu dưới lòng đất l,5m có bao cát chất xung quanh. Địch lợi dụng các tảng đá lớn có hang xây thêm bao cát làm sở chỉ huy và đặt máy thông tin.

        Ngày 14 tháng 2 năm 1967, Trung đoàn Ba Gia được lệnh hành quân chiếm lĩnh. Tiểu đoàn 40 trên hướng chủ yếu do nhầm lộ tiêu đi lạc gần đến ga Đại Lộc mới biết, để tổ chức quay lại. Trên hướng quan trọng, Tiểu đoàn 60 đã triển khai chiếm lĩnh, tổ công binh vào liên kết bộc phá, vấp mìn, địch báo động, dùng các loại hỏa khí trong cứ điểm bắn ra, cho quân ra lôi bộc phá khỏi hàng rào. Pháo từ các trận địa Cầu Cháy, Châu ổ, Sơn Tịnh bắn mạnh vào xung quanh cứ điểm. Máy bay C130 thả đèn sáng sáu giờ liền. Tiểu đoàn 60 và phân đội mở cửa có thương vong, lúc đó chưa nắm chắc số lượng.

        Trận đánh tưởng chừng không thực hiện được, nhưng Ban chỉ huy Trung đoàn vẫn giữ vững quyết tâm, cử cán bộ tác chiến đưa Tiểu đoàn 40 về vị trí, xốc lại lực lượng, bổ sung bộc phá cho hướng Tiểu đoàn 60 để tiếp tục thực hiện trận đánh theo mệnh lệnh.

        Gần 4 giờ sáng ngày 15 tháng 2, Trung đoàn chiếm lĩnh xong. Địch tưởng ta không đánh nữa, cho lính vào hầm ngủ, dùng bạt che các khẩu pháo lại. Lúc đó, quân ta bất ngờ nổ súng. Các trận địa hỏa lực phát huy hiệu lực, các hướng tiến hành mở cửa, đánh chiếm đầu cầu. Quân địch mất hai phút sau mới kịp phản ứng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 07:04:49 PM

        Trên hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 40 xung phong vào đến chiến hào 1, bị địch ngăn chặn phải dừng lại. Tiểu đoàn 60 ở hướng quan trọng, chiếm được đầu cầu, đánh chiếm chiến hào 1, phát triển sang chiến hào 2, do hướng chủ yếu không vào được cũng dừng lại. Trung đoàn đưa một đại đội dự bị tăng cường cho hướng chủ yếu, nhưng cũng không đột phá nổi.

        Sau khi hội ý, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn cử Trung đoàn phó Nguyễn Chơn xuống trận địa trực tiếp nắm tình hình, xốc lại lực lượng, tổ chức cho đội dự bị là Tiểu đoàn 90 thiếu, mở một cửa đột phá mới. Kết hợp tốt giữa hỏa lực chi viện và hỏa lực đi cùng, quân ta đã xung phong đánh vào trong, bắt được liên lạc với Tiểu đoàn 60. Địch bị bất ngờ, đối phó lúng túng. Các cánh quân của ta hợp đồng xung phong vào trung tâm. Quân địch hốt hoảng bỏ chạy, chỉ còn lại một bộ phận nhỏ chống cự yếu ớt. Quân ta tổ chức truy lùng, thu chiến lợi phẩm. Đến 6 giờ 30 phút, trời sáng, máy bay địch đến ném bom vào cứ điểm và cho quân phản kích, nhưng quân ta, sau khi giải quyết thương binh, tử sĩ đã tổ chức lui quân theo kế hoạch.

        Trận đánh giành thắng lợi, diệt gần hết một tiểu đoàn và một đại đội thuộc lữ đoàn Rồng Xanh, hạ được uy thế hung hăng của một đội quân man rợ, gây nhiều nợ máu với nhân dân hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh. Địch buộc phải co lại, rút bỏ một số chất điểm ở Khánh Mỹ, Hòn Ngang, Hòn Dọc.

         Tuy gặp khó khăn từ đầu do bị lộ, nhưng quân ta đã kiên trì khắc phục, tạo yếu tố bất ngờ mới, thực hiện quyết tâm kẻ thù nào cũng đánh thắng.

        Đầu tháng 10 năm 1967, lữ đoàn dù Mỹ 101 mở cuộc càn vào khu vực Sơn - Cẩm - Hà thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm này, mùa mưa đến sớm. Một số đơn vị của chúng lùng sục đánh phá phía bắc đường 16, nam sông Trầu. Thời gian này Trung đoàn Ba Gia đứng chân ở đèo Răm. Sau khi đánh giá và nhận định tình hình địch, Trung đoàn chủ trương khắc phục mọi khó khăn, tạo điều kiện đánh một số trận phía nam sông Trầu, làm địch bị bất ngờ. Tiểu đoàn 90 được tăng cường hai khẩu cối 82 ly và Đại đội trọng liên 12,8 ly nhận nhiệm vụ này.

        Nguyễn Chơn lúc này là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 trực tiếp cùng Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xăng nghiên cứu bến vượt sông Trầu. Con sông tuy nhỏ, nhưng nước chảy xiết, chưa biết khắc phục vào hướng nào, thì phát hiện một cây lớn. Theo kinh nghiệm trận đánh Ga Lâu trên sông A Vương, Nguyễn Chơn cho lệnh chặt cây từ phía bắc đổ sang phía nam sông, làm cầu cho bộ đội qua.

        Lúc 23 giờ, Tiểu đoàn 90 đã tổ chức bí mật vượt sông Trầu an toàn, chỉ còn lại đại đội 12,8 ly không qua được, vì nước lên cao cuốn trôi cây cầu, nên phải bố trí phía bắc sông. Tiểu đoàn vào chiếm lĩnh phía tây Bàn Cờ - Núi Tráp, làm công sự và tổ chức hợp đồng, xác định phương án tác chiến. 8 giờ sáng ngày 8 tháng 10, trinh sát tiểu đoàn phát hiện một đại đội Mỹ lên đốt nhà dân ở Gò Đu và bắn pháo theo dọc đường 16. Đến 10 giờ, đài quan sát ở đèo Răm phát hiện một đại đội Mỹ từ Gò Đu kéo lên. Địch rất chủ quan, đội hình đi dày đặc, tiến công uể oải. Bộ đội bí mật tiếp cận hình thành thế bao vây, quân địch không hề hay biết. 12 giờ, Đại đội 1 tiến công vào đội hình địch. Bị bất ngờ, địch luống cuống chỉ biết lợi dụng các bờ ruộng bậc thang để chống trả. Nguyễn Chơn chỉ thị cho Tiểu đoàn trưởng dùng hỏa lực đánh mạnh vào đội hình và cho vu hồi từ phía sau. Đại đội 3 nhanh chóng vận động cách địch 5 đến 7m đồng loạt xung phong, diệt ngay khẩu đại liên. Toàn Tiểu đoàn hợp đồng nhịp nhàng tiêu diệt đại đội Mỹ không còn một tên, thu 54 súng nhiều đồ dùng quân sự và nhanh chóng lui quân để tránh phi pháo địch. Đêm hôm đó, nước sông Trầu vẫn còn lớn, bộ đội phải trùm ni lông ngồi chờ đến 5 giờ sáng hôm sau mới qua sông về hậu cứ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:22:35 AM

        Cuối năm 1967, một tổn thất lớn đến với Sư đoàn 2. Để chuẩn bị cho chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, đoàn cán bộ chủ chốt gồm Bộ chỉ huy Sư đoàn, cán bộ đầu ngành của ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cùng Ban chỉ huy ba trung đoàn được triệu tập về để khảo sát thực địa. Trên dãy Động Mông - Đá Hàm dựa lưng vào núi Hòn Tàu, Sư đoàn trưởng Lê Hữu Trữ ra lệnh mọi người phải về đúng vị trí đã được phân công để có thể quan sát rõ cứ điểm Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn - mục tiêu của Sư đoàn trong chiến dịch tới. Đoàn cán bộ cùng các trợ lý, các trinh sát vừa nghiên cứu bản đồ vừa quan sát thực địa suốt buổi sáng. Hai giờ chiều có một máy bay trinh sát Mỹ bay tới. Chiếc máy bay quần nhiều vòng quanh dải Động Mông - Đá Hàm, rồi nó thu hẹp vòng lại. Vài phút sau, từ phía đông, 4 máy bay lên thẳng vũ trang HU1A ào tới. Chúng dàn hàng ngang, bắn trung liên uy hiếp, để đổ quân bắt sống cả đoàn cán bộ. Sư đoàn trưởng Trữ ra lệnh chiến đấu. Hỏa lực mạnh nhất của quân ta chỉ có tiểu liên AK của các đồng chí cảnh vệ, còn lại chỉ là súng ngắn. Trận chiến đấu không ngang sức đó kéo dài hai tiếng đồng hồ. Quân Mỹ dùng hỏa lực cày nát ngọn đồi. Quân ta chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Tổn thất đến với Sư đoàn 2 thật quá lớn. Sư đoàn trưởng Lê Hữu Trữ, Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Minh Đức, cùng các cán bộ chủ chốt của ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, Trung đoàn trưởng các trung đoàn 31, 21, cùng Ban chỉ huy Trung đoàn hy sinh. Các chiến sĩ cảnh vệ, trinh sát chiến đấu ngoan cường để bảo vệ các thủ trưởng thân yêu của mình, phần lớn đã ngã xuống trên dải núi này. Ngày nay, những người đến Quế Sơn, một địa danh với nhiều chiến công nổi tiếng, từ thị trấn huyện lỵ nhìn dãy Động Mông - Đá Hàm đã phủ cây xanh, ít ai biết được ở đó có một trận đánh bi hùng của Sư đoàn trước ngày mở màn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.

        Nguyễn Chơn thoát chết là do một sự tình cờ. Buổi sáng, anh còn làm việc với Sư đoàn trưởng Trữ. Đầu giờ chiều, anh được phân công đi chuẩn bị một hướng khác - nơi dự kiến địch sẽ đổ quân phản kích. Sư đoàn trưởng rút ra 200 đồng tiền Sài Gòn để anh mua thuốc hút và nói: "Ông về cũng được". Anh dừng chân ở Sơn Long đang ăn bánh tráng thịt heo ở một gia đình cơ sở, thì thấy trực thăng Mỹ bay về hướng dãy Động Mông - Đá Hàm. Đứng nhìn những chiếc máy bay nhào xuống nhả đạn trên đỉnh đồi, nghe những loạt đạn AK bắn trả, anh là người đầu tiên cảm nhận được sâu sắc tổn thất lớn lao mà Sư đoàn phải gánh chịu.

        Nhưng Nguyễn Chơn đã biến những nỗi đau của mình thành hành động. Hai ngày 8 và 9 tháng 1 năm 1968, anh đã chỉ huy Trung đoàn Ba Gia đánh một trận tiêu diệt xuất sắc tại An Sơn, trong thung lũng Hiệp Đức, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên Mỹ, bắt hơn chục tên, bắn cháy 4 máy bay, thu nhiều vũ khí và phương tiện thông tin.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Sư đoàn 2 đứng chân ở vùng ven Đà Nẵng. Trung đoàn Ba Gia đánh chiếm Lỗ Giáng, diệt bọn Mỹ ra phản kích. Địch từ các gò mả trống trải tiến vào. Quân ta dựa vào các bờ tre chiến đấu quyết liệt. Trận này, ta bắt được 7 tù binh Mỹ ngay tại cửa ngõ Đà Nẵng. Khi các đơn vị đánh chiếm thành phố gặp khó khăn, Sư đoàn được lệnh rút khỏi khu chiến, bảo toàn lực lượng. Đó là một quyết định táo bạo, đầy trách nhiệm của Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Ở chiến dịch này, Nguyễn Chơn có một kỷ niệm không thể quên. Lúc Trung đoàn anh tiến ra Non Nước - Ngũ Hành Sơn, trúng ngay vào làn hỏa lực của pháo binh Mỹ. Đạn pháo nổ tứ phía, không tìm ra hầm, một cái mương nước cũng không có. Đồng chí cần vụ tên là Đỉnh đã nằm chồng lên người anh, trên lưng còn mang cả ba lô. Nguyễn Chơn không bị một mảnh pháo nào. Sau này, do biến động của chiến dịch, Đỉnh chuyển công tác khác. Nguyễn Chơn đến tận bây giờ còn băn khoăn không biết Đỉnh còn sống, hay đã hy sinh.

        Sau đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Trung đoàn Ba Gia được lệnh chuẩn bị giải phóng quận ly Khâm Đức. Quận lỵ này nằm ở phía tây tỉnh Quảng Tín (Quảng Nam), cách Tam Kỳ hơn 90km, trên đường 14 nối với Kon Tum, trong một thung lũng dài 3km, rộng 1,5km. Phía bắc và tây bắc có những dãy núi cao, phía nam giáp sông Nước Chè, phía đông giáp sông Nước Mỹ, phía tây là những dãy núi Trường Sơn Nam ngút ngàn. Địch chọn Khâm Đức làm trung tâm huấn luyện biệt kích và làm bàn đạp đánh phá cơ sở cách mạng ở miền núi, chặn tuyến đường 14 từ Tây Nguyên xuống đồng bằng. Lực lượng địch có 7 đại đội, bố trí trên 10 cứ điểm kiên cố.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:25:30 AM

        Khi phát hiện ta sửa chữa đường 14, địch phán đoán quân giải phóng sẽ tấn công Khâm Đức để khai thông hành lang vận chuyển, giữa tháng 2 năm 1968, chúng đổ xuống Ngọc Tà Vát một đơn vị biệt kích ngụy, bổ sung thêm 2 khẩu 105 ly, 1 khẩu cối 106,7 ly, hình thành cứ điểm tiền tiêu phía tây nam nhằm ngăn chặn việc triển khai lực lượng của ta tiến vào Khâm Đức.

        Trung đoàn Ba Gia thiếu, được tăng cường 4 khẩu súng phun lửa, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm tiền tiêu này. Nhiệm vụ thật là khẩn trương, mặc dù địa hình và địch tình nắm chưa chắc, Nguyễn Chơn cùng Ban chỉ huy Trung đoàn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, vừa tổ chức đài quan sát tại điểm cao 550 cách cứ điểm 1,5km theo dõi hành động địch, vừa cấp tốc tổ chức tiếp cận mục tiêu, nghiên cứu xác định phương án và cách đánh.

        Ở độ cao 540m, cách Khâm Đức 7 km về phía tây nam, Ngọc Tà Vát đã được xây dựng thành một cứ điểm từ thời Ngô Đình Diệm. Quân số địch ở đây khoảng 120 tên. Sau khi đổ quân chiếm lại cứ điểm, địch củng cố thêm và chia làm 3 khu. Khu A là trung tâm trên đỉnh cao, có hai tầng công sự và lô cốt. Tầng trong có bờ thành cao, có đường hầm dưới chân thành và hàng rào mái nhà. Phía ngoài là hào giao thông nối liền 5 lô cốt bao quanh khu A. Chính giữa là sở chỉ huy, điện đài, trận địa pháo và một trung đội Mỹ. Thấp hơn giữa bờ thành và chiến hào do 2 trung đội biệt kích ngụy trấn giữ. 5 lô cất bao quanh khu A đều có lỗ châu mai đặt đại liên, bao cát xếp theo hình bán nguyệt phía trước. Khu B phía tây bắc thấp hơn, xung quanh có 4 lô cốt, nhiều hố chiến đấu cá nhân, có hai lớp rào mái nhà, có sân bay trực thăng. Một trung đội biệt kích ngụy có cối 61 ly đóng ở đây. Khu C là khu gia đình ở phía đông nam, cũng có lô cốt, hàng rào do một trung đội biệt kích ngụy canh giữ. Xung quanh cứ điểm địch bố trí mìn clây- mo.

        Tuy lực lượng phòng thủ mạnh, đông quân và nhiều hỏa khí, nhưng Ngọc Tà Vát là cứ điểm độc lập, xa căn cứ Khâm Đức, nếu ta triệt cắt được trên không, thì địch rất khó chi viện bằng bộ binh, chỉ còn chi viện bằng hỏa lực pháo binh.

        Nguyễn Chơn cùng Ban chỉ huy Trung đoàn xác định cách đánh trận này là: "dùng hình thức mật tập của đặc công và một bộ phận bộ binh, sau đó, dùng một Tiểu đoàn bộ binh phát triển và làm chủ hoàn toàn căn cứ".

        Xác định xong cách đánh, Trung đoàn tổ chức tiến công trên ba hướng, bố trí trận địa hỏa lực gồm ĐKZ 75, cối 82 ly và trọng liên 12,7 ly chi viện cho các hướng, đồng thời sẵn sàng đánh viện binh địch đổ bộ đường không.

        Đêm ngày 8 tháng 5, bộ đội hành quân vào vị trí tập kết. Cùng trong đêm, các mũi trưởng đặc công và cán bộ Tiểu đoàn 40 xác định xong mục tiêu và các hướng đột kích cụ thể.

        16 giờ 30 phút ngày 9 tháng 5, sau khi đi trinh sát lần cuối về Nguyễn Chơn đưa các đại đội trưởng hỏa lực cùng Chủ nhiệm pháo đi xác định lại trận địa thì gặp một toán địch nống ra. Chúng gọi cối 106,7 ly bắn vào đội hình làm cả ba đồng chí Đại đội trưởng bị thương. Anh xác định đây là tình cờ gặp địch lùng sục, chưa hẳn bị lộ, nên vẫn giữ vững quyết tâm tổ chức bộ đội hành quân chiếm lĩnh.

        23 giờ, các đơn vị vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát. 1 giờ ngày 10 tháng 5, hỏa lực chuẩn bị xong phần tử bắn, nhưng không được đào công sự, phải chờ cho đến lúc nổ súng. Lúc này, các mũi đặc công đã lọt vào hàng rào cuối cùng, nhưng trăng sáng nên phải tiềm nhập rất cẩn thận. 1 giờ 20 phút, Trung đoàn trưởng ra lệnh tiếp cận. 2 giờ, các hướng đã vào đúng vị trí, chờ lệnh. Lúc này, mũi 1 đưa hỏa lực B41 và súng phun lửa vào, thì vấp mìn sáng. Bọn địch trong vọng gác bắn ra, đúng lúc này Nguyễn Chơn phát lệnh nổ súng. 

        Mũi 2 rất nhanh chiếm ngay lô cốt đông nam, diệt hai hỏa điểm, chiếm bờ thành, dùng thủ pháo, lựu đạn ném vào. Sau 5 phút đã chiếm được khu điện đài, thu máy thông tin 50W, rồi tiến về phía bắc. Một tổ vòng qua phía đông chiếm trận địa pháo 105 ly và cối 106,7 ly. Do kho đạn địch bốc cháy, tổ này phải đi vòng mới bắt được liên lạc với mũi trưởng. Sau 8 phút chiến đấu, bộ đội ta làm chủ khu A, Trung đoàn kịp thời biểu dương và ra lệnh tiếp tục tảo trừ.

        Mũi 1 do vấp mìn địch, thiếu chủ động, nên hai phút sau mới dùng B40, B41 diệt các lô cốt phía tây nam khu B. Địch dùng hỏa lực bắn trả mãnh liệt, làm mũi này dừng lại. Đồng chí mũi trưởng quay ra gọi bộ binh vào, nhưng không liên lạc được với đại đội bộ binh, nên mũi này phải dừng ở lô cốt. Địch ở khu B dùng hỏa lực khống chế qua khu A làm bộ đội thương vong nhiều.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:28:20 AM

        Tiểu đoàn 40 (thiếu) đi theo đường cái dùng bộc phá mở rào. Đại đội 3 đã nghe tiếng đặc công gọi, nhưng bờ thành cao, bộ đội trèo lên lại bị tụt xuống, phải tổ chức kiệu nhau vụt qua, phát triển dọc chiến hào, chiếm được lô cốt phía tây khu A, dùng hỏa lực chi viện cho khu B. Sau 30 phút, khu A và khu C do ta làm chủ. Chỉ huy Tiểu đoàn 40 hội ý với chỉ huy đặc công phương án đánh qua khu B.

        2 giờ 50 phút, Đại đội 1 được lệnh đánh vào cổng chính, bị hỏa lực địch phục hồi ngăn chặn. Nguyễn Chơn lệnh cho cán bộ tác chiến Trung đoàn xuống tổ chức chiến đấu. Lúc này máy bay C130 đã lên thả đèn sáng và bắn đại liên cực nhanh xuống trận địa. Pháo ở Khâm Đức bắn vào điểm cao 550, vào trận địa hỏa lực của ta, vào phía nam khu A. Một số cán bộ bị thương không có người thay thế, nên Đại đội 1 và Đại đội trợ chiến phải dừng lại. Trung đoàn chỉ thị Tiểu đoàn 40 kiên quyết trụ lại, củng cố công sự, sẵn sàng đánh địch phản kích. 7 giờ sáng, địch tập trung súng cối từ phía đông khu C và phía bắc đánh sang. Do công sự còn sơ sài, nên một vài chốt bị địch đánh bật. Nguyễn Chơn chỉ thị Tiểu đoàn 40 cử cán bộ xuống trực tiếp chỉ huy, quyết giữ cho bằng được các vị trí còn lại.

        8 giờ, một tốp máy bay trực thăng CH47 lên. Trọng liên 12,7 ly của ta bắn mãnh liệt, nhưng một chiếc vẫn đáp được xuống, rồi lập tức lên ngay. Phân đội ĐKZ chuẩn bị sẵn phần tử, chiếc thứ 2 vừa hạ xuống, liền bị bắn cháy. Số còn lại quần lượn nhiều vòng mới dám hạ cánh. ĐKZ kết hợp với súng 12,7 ly hạ chiếc thứ 2. Sau đó, địch không dám hạ nữa, chỉ dùng pháo mặt đất và máy bay phản lực đánh phá.

        Đến 14 giờ, theo tin của địch, chúng chỉ còn khoảng 70 tên đang tập trung ở đông bắc cứ điểm. Chúng có thể dàn ra để tránh hỏa lực của ta và chờ viện binh, hoặc chuẩn bị phản kích, hoặc rút chạy. Theo dõi trực tiếp, Nguyễn Chơn phán đoán địch chuẩn bị rút chạy. Anh ra lệnh cho hỏa lực bắn vào khu địch trụ lại. Khi bộ đội xung phong, thì địch tháo chạy. Quân ta vào cứ điểm, lợi dụng công sự của chúng tổ chức chốt lại, thu chiến lợi phẩm, giải quyết hậu quả trận đánh. Khi địch tháo chạy, thì máy bay B52 thả bom xuống khu chiến. Cũng theo tin của địch, bọn tháo chạy hầu như bị B52 đánh trúng.

        Kết quả trận đánh này, ta diệt đại đội biệt kích và trung đội pháo ngụy, đánh thiệt hại trung đội bộ binh Mỹ, bắn cháy 2 trực thăng CH47, thu 2 pháo 105 ly, 1 cối 106,7 ly, nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự khác. Bộ đội ta tháo Pháo kéo ra khỏi trận địa cất giấu.

        Trận mở đầu đánh thắng gây khí thế phấn khởi, tin tưởng, tạo thế cho chiến dịch phát triển nhanh chóng tiêu diệt địch và giải phóng Khâm Đức.

        Năm 1968 ác liệt trôi qua - một năm chiến đấu liên tục thương vong cao. Tiểu đội chỉ còn 3 - 4 người, trung đội còn 14 - 15 người, quân số bổ sung không kịp, Trung đoàn chỉ còn 1.000 người, trong khi yêu cầu 2.000 người, Sư đoàn còn 6.000 người, mà muốn triển khai đủ đội hình, phải cần 10.000 người. Đây là giai đoạn bộ đội ta gặp 4 chữ "đ": đạn thiếu, địch đông, đói triền miên, đau bệnh nhiều.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:19:18 AM

*

*        *

        Ai đã ở chiến trường Quân khu 5 trong thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sẽ không thể nào quên được năm 1969 - một năm giằng co quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường, cả về chiến dịch và chiến thuật. Những khó khăn của năm 1968 để lại cộng với việc địch tiếp tục thực hiện chủ trương "quét và giữ", đánh phá quyết liệt vào cơ sở cách mạng ở thôn, xã bằng biện pháp "bình định nông thôn". Địch tăng cường hỏa lực các loại trên chiến trường, quân Mỹ và chư hầu còn đông, nhưng địch đang chuẩn bị thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" vừa nói lên sự thất bại của chiến lược "Chiến tranh cục bộ", vừa gây bất ngờ cho ta.

        Quảng Nam và Quảng Đà là địa bàn hoạt động của Sư đoàn 2 trong năm 1969. Ở đây, địch tập trung 38 tiểu đoàn, trong đó có 23 tiểu đoàn quân Mỹ, 4 tiểu đoàn lính đánh thuê Nam Triều Tiên, gần 300 đại bác, chưa kể pháo hạm. Hai sân bay lớn Chu Lai và Đà Nẵng lúc nào cũng túc trực sẵn hàng trăm máy bay.

        Từ đèo Hải Vân đến Dốc Sỏi, từ sông Thu Bồn đến sông Cẩm Lệ, địch tập trung quân đánh phá ác liệt, cày ủi từ làng này sang làng khác thành một vùng trắng. Cả một vùng quê Gò Nổi trù phú, chỉ còn lại hố bom, hố pháo. Địch càn đi quét lại bằng bộ binh, máy bay B52 rải thảm, B57 nhằm tọa độ nghi ngờ mà trút bom xuống. Vùng dâu tằm với những tên đất, tên người nổi tiếng: Bảo An, Giáng La, Kỳ Lam, Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp... giờ chỉ còn đất trộn với mảnh bom nên chỉ có cỏ lách mọc được. Địch còn dùng chiến thuật "Mỹ lết" chia quân phân tán đến trung đội đi phục kích trên các trục đường xuống đồng bằng của quân ta. Chúng liên tục hành quân càn quét ra vùng xa các căn cứ như Đại Lộc, Hiệp Đức, vào sâu vùng căn cứ của ta lên tận Thạnh Mỹ, Làng Rô, Bà Huỳnh, Bà Xá, Nước Oa, Trà My.

        Địch gây cho ta không ít khó khăn, nhất là trong bảo đảm hậu cần gạo, đạn. Có thời gian, số quân thương vong do đi cõng gạo nhiều hơn cả thương vong trong chiến đấu. Sư đoàn 2 phải phân tán để giữ thế chiến trường. Đội hình Sư đoàn (thiếu) hoạt động trên địa bàn Mặt trận Quảng Đà, Trung đoàn 31 hoạt động ở vùng Tiên Phước (Quảng Nam). Trong năm 1969, các trận đánh thắng ở An Hoà, núi Đá Đen, Bàn Cờ, Lộc Sơn, Lộc Thành, La Tháp... của Sư đoàn đã diệt và làm bị thương gần vạn tên địch, bắn cháy và phá hủy 200 máy bay, 50 xe tăng và xe bọc thép, gần 100 pháo, nhưng không có một trận đánh tập trung nào cấp trung đoàn. Phần lớn là những trận đánh đặc công, chống càn, tập kích nhỏ. Điều đó nói lên địch đã phần nào đạt được ý đồ của chúng, gây khó khăn cho các đơn vị lớn của ta trong đánh tập trung, đánh tiêu diệt.

        Để giải quyết hai nhiệm vụ giữ thế chiến trường và khắc phục khó khăn thiếu lương thực, Sư đoàn 2 phải phân tán. Trung đoàn Ba Gia lên tây Quảng Đà củng cố nâng cao sức chiến đấu, Trung đoàn 31 hoạt động ở vùng Quế Sơn, Thăng Bình (Quảng Nam), Trung đoàn 21 vào Quảng Ngãi thay thế Sư đoàn 3 về Bình Định.

        Trong những tháng ngày gian khổ, khó khăn nối khó khăn đó, cùng với quân dân cả nước, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 2 vô cùng đau xót khi nghe tin Bác Hồ đi xa. Tháng 9 đất trời vùng nam đèo Hải Vân mưa tầm tã. Những trận đánh vùng giáp ranh Đại Lộc, Quế Sơn mỗi ngày một ác liệt Bộ đội khoác áo mưa, băng tang đeo trên cánh tay, lặng lẽ hành quân trong mưa đêm, tiến về các mục tiêu được giao. Những trận chiến đấu biến đau thương thành hành động trong tháng 9 đã nói lên tấm lòng của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn hướng về vị Cha già dân tộc, trong đó có cả sự ân hận chưa làm tròn nhiệm vụ đánh thắng đế quốc Mỹ để rước Bác về thăm đồng bào quê hương miền Nam.

        Nạn thiếu đói từ năm 1969 kéo sang năm 1970. Có thể nói, trong cả cuộc chiến đấu, chưa lúc nào bộ đội đói gạo lại nặng nề bằng lúc này. Bộ Tư lệnh Sư đoàn đến bữa cũng chỉ có cháo loãng nấu với môn dóc, môn thục – hai thứ rau rừng còn kiếm được. Thời đó đã có những nghị quyết khác thường. Chi bộ cơ quan Sư đoàn khai hội và ra quyết nghị: các đồng chí trong Bộ Tư lệnh phải ăn 1 lon gạo/ngày. Nghị quyết buộc các đồng chí lãnh đạo phải chấp hành, nhưng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh xin chấp hành một nửa nghị quyết. Nửa lon gạo còn lại gửi cho thương binh, bệnh binh ở Bệnh xá Sư đoàn.

        Chiến dịch hè năm 1970, trên hướng chiến trường Quảng Ngãi, Trung đoàn 21 đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn cơ động của sư đoàn 2 ngụy, diệt trên 500 tên. Ở chiến trường Quảng Nam, Trung đoàn Ba Gia, sau thời gian củng cố ở phía tây về cùng với Trung đoàn 31 hoạt động vùng Quế Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Tam Kỳ tiêu diệt hơn 1.500 tên địch, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 51 ngụy: cả hai hướng của Sư đoàn chỉ thực hiện được nhiệm vụ diệt một bộ phận, kéo lực lượng cơ động của địch hỗ trợ cho địa phương đánh phá bọn "bình định nông thôn" để nhân dân giành quyền làm chủ và trở về làng cũ. Nhưng, do địch hoạt động tích cực, những khó khăn về quân số, đạn dược, thuốc men, nhất là lương thực của ta chưa khắc phục được, nên đã hạn chế việc hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:24:56 AM

         Ngày 10 tháng 6 năm 1970, Bộ Tư lệnh Sư đoàn nhận được lệnh hành quân ra bắc đường 9 thuộc huyện Mường Phin, tỉnh Khăm Muộn, nước Lào nhận nhiệm vụ mới. Một nhiệm vụ thật đột ngột và khó tin. Sư đoàn 2 là đơn vị chủ lực của Quân khu 5, mà địch ở địa bàn Quân khu còn dày đặc, làm sao có thể ra tận Nam Lào. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lúc đầu tưởng cơ yếu dịch nhầm, bèn gọi điện cho đồng chí Tư lệnh Quân khu. Từ đầu dây bên kia, Tư lệnh trả lời dứt khoát: "Đó là mệnh lệnh, hãy nghiêm chỉnh chấp hành, không hỏi lại".

        Sau những đợt sinh hoạt quán triệt mệnh lệnh của cấp trên, nghị quyết của Đảng ủy Sư đoàn, ngày 20 tháng 6, Sư đoàn kiểm tra sự chuẩn bị hành quân của từng đơn vị. Trung đoàn 21 vẫn đứng chân tại Quảng Ngãi, Quân khu bổ sung Trung đoàn 141 - một đơn vị của Sư đoàn 312 nổi tiếng vào đội hình Sư đoàn 2. Trung đoàn 141 là một đơn vị có bề dày lịch sử vẻ vang, là đơn vị đánh trận Him Lam mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ với Anh hùng Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Trung đoàn vào Mặt trận Quảng Đà đã được hơn một năm và là một năm đầy thử thách ác liệt.

        Bằng các biện pháp nghi binh như các đài 15W vẫn làm việc đúng phiên tại địa điểm cũ để địch nghĩ rằng Sư đoàn 2 vẫn ở chiến trường, ngày 22 tháng 6, Sư đoàn bắt đầu hành quân.

        Sư đoàn phó Nguyễn Chơn cùng Phó chính ủy Bùi Tùng được Bộ Tư lệnh Sư đoàn phân công đi sau cùng để bảo đảm cho đội hình hành quân không bị rơi rớt lại. Bộ đội đến Binh trạm 61, thì được lệnh bàn giao toàn bộ vũ khí nặng và đạn dược cho Binh trạm. Bộ đội chỉ mang 1/3 số lượng tiểu liên để sẵn sàng chiến đấu trên đường. Ra đến đường dây 559, bộ đội được cung cấp lương thực, thực phẩm đầy đủ. Sau hơn một tháng hành quân, ngày đi, đêm nghỉ, bộ đội càng đi, sức khoẻ càng lên. Số người suy dinh dưỡng nặng giảm dần, bệnh sốt rét cũng bị đẩy lùi. Giữa tháng 8 năm 1970, Sư đoàn đến vị trí tập kết do Bộ Quốc phòng quy định.

        Được đóng quân gần hậu phương lớn miền Bắc, Sư đoàn có điều kiện tập trung củng cố và xây dựng. Bộ đội được ăn no, mặc ấm, có thuốc men đầy đủ, có sách báo để đọc. Nền nếp chính quy được Bộ Tư lệnh Sư đoàn đưa lên hàng đầu để rèn luyện bộ đội. Việc cần thiết là xây dựng doanh trại. Cây của rừng Lào cộng với khả năng tiềm tàng  của cán bộ, chiến sĩ, chỉ trong hai tuần lễ lao động, Sư đoàn cản bản xây dựng xong nhà ở tạm cho bộ đội. Những căn nhà nửa chìm nửa nổi, có hầm sâu lút đầu đề phòng máy bay ném bom. Từ nhà này sang nhà khác đều có hào giao thông để sẵn sàng chiến đấu nếu bị biệt kích địch tấn công bất ngờ. Nhà được bố trí từng dãy theo đội hình trung đội, đại đội, tiểu đoàn. Trong nhà có giá ba lô, giá súng, có bàn ghế sinh hoạt, hội họp, có sạp nước để không phải ngủ võng. Nhà bếp, nhà ăn tươm tất, có đơn vị còn có sân bóng chuyền, có giàn phong lan...

                 Tháng 9, Sư đoàn được bổ sung quân số. Lớp chiến sĩ mới này có trình độ học vấn cao, phần lớn tốt nghiệp phổ thông cấp ba, có một số là sinh viên của các trường đại học, cao đẳng tình nguyện nhập ngũ. Tiểu đoàn đã đủ 500 đến 600 quân, Trung đoàn có trên 2.000 quân, vũ khí được trang bị mới, có nhiều loại hiện đại, phù hợp với điều kiện chiến trường.

        Đúng lúc đó, Nguyễn Chơn cùng một số cán bộ chủ chốt của Sư đoàn được lệnh lên đường ra Bắc tập kết, dự lớp tập huấn do Bộ Tổng Tham mưu triệu tập. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp khai mạc và chủ trì lớp tập huấn. Đợt tập huấn này nhằm quán triệt tư tưởng phải đánh lớn, thắng to, yêu cầu phải tiêu diệt trung đoàn, chiến đoàn, sư đoàn địch. Đánh thắng tất cả các đối tượng, các binh chủng địch. Bộ đội phải đạt trình độ tấn công giỏi, phòng ngự kiên cường, phản công giỏi. Sau 15 ngày tập huấn, Nguyễn Chơn cùng đoàn cán bộ trở về Sư đoàn.

        Trong những ngày Nguyễn Chơn đi tập huấn, thì Sư đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn cùng các cán bộ ở lại từ cấp Đại đội trưởng trở lên đi nghiên cứu tình hình dọc tuyến đường 9 từ Bản Đông đến Sê Pôn, Tha Mé... Cán bộ phải nắm chắc địa hình cả khu vực từ các điểm cao, các đồi trọc, khe suối được thể hiện trên bản đồ toàn bộ khu chiến. Cán bộ pháo binh cùng trinh sát đo đạc phần tử xạ kích của pháo và chọn trận địa cho các loại hỏa lực.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:28:34 AM

        Ngoài không khí phấn khởi chung trước triển vọng của nhiệm vụ mới, bắt đầu nảy sinh một số tư tưởng khác trong một số cán bộ, chiến sĩ. Những người quê miền Nam bắt đầu suy nghĩ không biết bao giờ Sư đoàn mới trở lại chiến trường, lo lắng đồng bào, người thân bị địch khủng bố, lo lắng quê hương đang bị địch đánh phá ác liệt, không biết ngày về, ai còn, ai mất. Cán bộ, chiến sĩ quê miền Bắc vào Nam chiến đấu đã lâu, có nguyện vọng muốn được về thăm gia đình. Những nguyện vọng đó thật chính đáng, nhưng trước yêu cầu của nhiệm vụ mới không thể giải quyết được. Đảng ủy Sư đoàn khai hội đánh giá tình hình, tổ chức đợt sinh hoạt tư tưởng trong toàn Sư đoàn. Vốn là những chiến sĩ trong một đơn vị có truyền thống chiến đấu kiên cường, chịu đựng gian khổ và luôn hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho, sau đợt sinh hoạt nghiêm túc và thẳng thắn, khí thế Sư đoàn tiến bộ rõ rệt. Tư tưởng ổn định, sinh hoạt ở các đơn vị đi vào nề nếp.

         Tháng 12 năm 1970, đồng chí Hoàng Anh Tuấn – Sư đoàn trưởng về làm Tham mưu trưởng Quân khu 5, Nguyễn Chơn được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2. Trung đoàn 31 hành quân trở lại chiến trường Tây Nguyên. Theo lệnh của Bộ Quốc phòng, đoàn cán bộ từ cấp tiểu đoàn trưởng trở lên do Nguyễn Chơn dẫn đầu lên đường vào Tây Nguyên chuẩn bị chiến trường, để nếu địch không đổ quân xuống đường 9, thì chiến dịch sắp tới của Sư đoàn là Tây Nguyên.  Sư đoàn 2 thiếu Trung đoàn 31, tiếp tục ở lại Nam Lào huấn luyện chờ lệnh mới.

         Trong lúc Nguyễn Chơn cùng đoàn chuẩn bị chiến trường rong ruổi trên đường vào Tây Nguyên, thì đế quốc Mỹ thực hành cuộc phiêu lưu mới đánh sang đường 9 - Nam Lào. Mật danh chiến dịch này lấy tên là "Chen La 2" để nối tiếp với chiến dịch "Chen La l" mà quân ngụy Sài Gòn thực hành ở Cam- pu- chia năm 1970, đánh chiếm cảng Xi- ha- núc Vin. Cả hai chiến dịch "Chen La" nhằm mục đích cắt đứt hành lang chiến lược, bịt các con đường tiếp tế cho chiến trường miền Nam trên đất Cam- pu- chia và Lào, thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Ngoài ra, cuộc hành quân này còn có mục đích đưa quân ngụy ra  thực nghiệm đọ sức với chủ lực ta từ miền Bắc vào. Trước mắt, đánh chiếm các bàn đạp Tà Cơn, Khe Sanh, Lao Bảo vào đầu tháng 2 năm 1970, sau đó chiếm các mục tiêu Bản Đông, Sê Pôn lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương. Nếu chiến dịch phát triển thuận lợi, từ tháng 3, địch sẽ chuyển xuống phía nam đánh phá kho tàng của ta trên dọc tuyến đường 559 ở các khu vực từ Mường Nọng qua A Túc, A Sầu đến A Lưới.

        Mỹ - nguy tập trung một lực lượng lớn gồm các lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng cơ động của quân đoàn 1, quân khu 1. Địch tăng cường một bộ phận bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến. Quân mặt đất, cả Mỹ lẫn ngụy được chi viện tối đa hỏa lực không quân và pháo binh Mỹ. Lực lượng lúc cao nhất, chúng sử dụng cho chiến dịch này lên tới 55.000 quân (có 15.000 quân Mỹ) gồm 12 trung đoàn, 3 lữ đoàn quân Mỹ, 578 xe tăng và thiết giáp 318 đại bác từ 105 ly trở lên. Trên 1.000 máy bay các loại Ngoài ra, còn có 9 tiểu đoàn quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở phía tây đường 9 - Mường Noọng.

        Đoán trước ý đồ của địch, Bộ Tổng Tư lệnh triển khai các binh đoàn mạnh để đón đánh địch. Binh đoàn 70 gồm các sư đoàn chủ lực 308, 304, 320, lực lượng của Bộ Tư lệnh 559, Sư đoàn 324 và Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng các trung đoàn độc lập, các đơn vị công binh. Bộ Tư lệnh Mặt trận được thành lập, do các đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Lê Quang Đạo làm Chính ủy, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh quyết tâm của Trung ương Đảng là Tập trung lực lượng tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với nhân dân các nước Lào, Cam- pu- chia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai

        Sư đoàn 2 hiện có trong đội hình Trung đoàn Ba Gia và Trung đoàn 141, được tăng cường thêm Trung đoàn 64 của sư đoàn 312. Nhiệm vụ đầu tiên là kiên quyết ngăn chặn nếu  địch ngoan cố đổ bộ xuống Sê Pôn, không cho chúng nối liền Bản Đông với Tà Khống. Một cánh quân khác ( Trung đoàn 141) cho một Tiểu đoàn chốt vùng Pha Lan - Mường Noọng trước khi quân ngụy Sài Gòn càn sang đường 9, sẵn sàng đánh tan địch ở khu vực này, hai tiểu đòan còn lại cơ động về phía bắc điểm cao 1180 sẵn sàng đánh quân ngụy Lào đến phối hợp với quân ngụy Sài Gòn. Sư đoàn nằm trong đội hình chiến dịch lớn, tác chiến hợp đồng binh chủng, nhiều Sư đoàn được các đơn vị pháo binh, cao xạ, thiết giáp chi viện tối đa.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:14:23 AM

        Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân ngụy Sài Gòn bắt đầu vượt biên giới Việt - Lào. Theo tính toán của tổng hành dinh địch, giai đoạn đầu, chúng chỉ phải đối phó với lực lượng bảo vệ hành lang và giữ kho của Binh đoàn 559, quân chủ lực chưa thể cơ động đến trước lúc địch đạt được mục đích của chiến dịch. Nhưng chủ lực ta đã có phương án cơ động đến đúng lúc. Các sư đoàn 304, 308 từ Quân khu 4 vào, Sư đoàn 324 từ A Lưới lên, Sư đoàn 316 từ Lào về.  Sư đoàn 320 đang trên đường vào Nam Bộ cũng được lệnh dừng lại tham gia chiến dịch, Trung đoàn 64 của Sư đoàn này được Bộ Tư lệnh Mặt trận sáp nhập vào Sư đoàn 2. Tuy phải hành quân từ nhiều nơi đến, nhưng do đường cơ động bộ binh cơ giới tốt và khu chiến được chuẩn bị kỹ nên lực lượng của ta sẵn sàng đập tan cuộc hành quân này. Đây là bất ngờ lớn nhất của chúng về chiến lược, đẩy địch từ thế chủ động tấn công sang thế bị động đối phó.

        Quân ta còn được các yếu tố bảo đảm cho chiến dịch hoàn chỉnh đó là chiến trường gần hậu phương miền Bắc, có hệ thống thông tin hoàn chỉnh, hệ thống kho tàng tại chỗ bảo đảm đầy đủ đạn, gạo, thực phẩm, thuốc men và các phương tiện chiến đấu khác. Lực lượng phòng không của Binh đoàn 559 rất mạnh. Ngoài ra hệ thống đường cơ động cơ giới trong địa bàn Mặt trận cũng được hoàn chỉnh, bảo đảm cho việc điều động binh lực trong quá trình chiến đấu.

        Sau 23 ngày chiến đấu liên tục, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân bảo vệ sườn phía bắc, tiêu diệt lữ đoàn dù số 3, thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 1 biệt động quân, kế hoạch xây dựng căn cứ hỏa lực chi viện cho cánh quân chủ yếu của địch tấn công Sê Pôn bị đập tan. Ở phía nam, lực lượng Binh đoàn 559 đánh địch ở Cô Bốc và điểm cao 550, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng, diệt các đại đội địch. Lực lượng cơ động của ta diệt gọn tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy. Cánh quân chủ yếu của địch bị quân ta chặn đánh quyết liệt ở Huội San, cầu Kat Ki. Địch cho cánh quân chủ yếu dừng lại ở Bản Đông.

        Đoàn cán bộ do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn dẫn đầu đến Tây Nguyên vừa gặp Tư lệnh Mặt trận Hoàng Minh Thảo thì nhận được lệnh cấp tốc hành quân quay ra Nam Lào. Lúc vào đi hết 35 ngày, khi ra rút lại còn 18 ngày. Đoàn đi trên 4 xe tải, nhưng phải thay cả 4 xe. Một xe bị rốc- két phóng trúng thùng xe, cháy ca- bin, một xe cũng bị rốc- két bắn bể két nước. Xe thứ ba trúng hai quả bom, thương vong 7 người. Xe thứ tư, khi bươn qua bãi B5 gặp một cây gỗ lớn thọc từ gầm xe tới ca bin. Gần về đến nơi đóng quân, biết đơn vị đã di chuyển, Nguyễn Chơn dùng đài 2W liên lạc. Cánh rừng đại ngàn trước ngày ra đi, giờ dày đặc hố bom, hố pháo. Rừng cháy lấp hết đường xe. bom bi, bom nổ chậm, bom xăng chỗ nào cũng có. Đoàn cán bộ xuyên qua những cánh rừng đỏ rực màu lửa, dùng  súng AK bắn nhiều loạt để liên lạc với đơn vị. Tiếng bom pháo của khu chiến nổ rầm trời, tiếng AK không còn tác dụng. Nguyễn Chơn điều cả súng 12,7 ly bắn từng tràng theo hợp đồng trên điện dài để báo cho đơn vị biết hướng đòan cán bộ trở về mà cho người ra đón.

        Ngày 3 tháng 3 năm 1971, đoàn cán bộ cấp trưởng của Sư đoàn về tới đơn vị. Lúc này Sư đoàn đang chuyển sang giai đoạn: Vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt trung đoàn 1 sư đoàn 1 ngụy tại điểm cao 723. Nguyễn Chơn do đã suy nghĩ nhiều phương án chiến đấu trên đường, nên khi vừa nắm chắc tình hình bộ đội, anh đã trình bày phương án tác chiến của mình một cách độc đáo và được Bộ chỉ huy Sư đoàn nhất trí thông qua. Phương án gồm hai bước, trước mắt, diệt thật nhanh trung đoàn 1 ngụy ở điểm cao 723, rồi sau đó tiêu diệt tiếp trung đoàn 2 tại điểm cao 660.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:15:39 AM

*

*        *

        Trận thắng lớn trên các điểm cao 723 và 660, tiêu diệt trung đoàn 1, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2 ngụy, Sư đoàn 2 Quân khu 5 đã đánh quỵ sư đoàn 1 ngụy là trận đánh tiêu diệt đầu tiên của toàn Mặt trận đóng góp tích cực vào chiến thắng vang dội của quân ta trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Sư đoàn được đánh giá là một trong những đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kết luận của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận có đoạn viết: "Các đồng chí đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, cơ động nhanh chóng, đoàn kết,  hợp đồng tốt với các đơn vị bạn, tích cực, chủ động, mưu trí, linh hoạt nắm vững thời cơ liên tục chiến đấu, anh dũng lập công. Đặc biệt, tác chiến kết hợp với binh vận đánh thắng 2 trận lớn tiêu diệt trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2, sư đoàn 1 ngụy trên các điểm cao 723 và 660, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ chiến trường. Chiến công của các đồng chí Sư đoàn 2 Quân khu 5 đánh dấu một bước tiến bộ mới quan trọng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của chiến dịch lịch sử phản công Đường 9 - Nam Lào trong mùa Xuân 1971" .

        Chính ủy Nguyễn Huy Chương được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn phân công ra Quảng Bình dự trực báo kết quả với Bộ Tư lệnh Mặt trận. Cuộc trực báo kết quả lần này do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì. Sau cuộc trực báo, theo đề xuất của Sư đoàn, Bộ Tư lệnh Mặt trận giao cho Sư đoàn 2 phối hợp với bộ đội Pa- thét Lào giải phóng cao nguyên Pô- lô- ven - một địa bàn chiến lược ở Hạ Lào.

        Theo kế hoạch, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn cùng Phó chính ủy Bùi Tùng trực tiếp chỉ huy Trung đoàn Ba Gia cùng các đơn vị xe tăng, pháo binh do Bộ Tư lệnh Mặt trận tăng cường tiến vào giải phóng Y tu, Bản Nhík, thị xã A tô pơ. Một cánh quân khác gồm Trung đoàn 141 được tăng cường lực lượng của Sư đoàn 320 do Sư đoàn phó Dương Bá Lợi chỉ huy mở mũi tiến công giải phóng Pha Lan, Đồng Hến, cùng các đơn vị đánh A- tô- pơ, giải phóng vùng dân cư rộng lớn trên địa bàn Trung Lào, tạo điều kiện cho cách mạng hai nước Việt - Lào phát triển, chi viện cho nhau.

        Để phát huy yếu tố bất ngờ, lúc quân ngụy Lào đang hoang mang trước thất bại nặng nề của quân ngụy Sài Gòn trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn 2 được lệnh hành quân ngay. Đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường lên đường sau 2 ngày dứt chiến và 4 ngày sau, toàn Sư đoàn hành quân.

        Đường hành quân đến vị trí tập kết xa. Ngoài trang bị chiến đấu, mỗi chiến sĩ phải mang thêm 7 ngày gạo, 7 ngày lương khô. Lúc này Nam Lào đang vào mùa khô. Những cánh rừng nắng cháy, khô khốc đón chờ đoàn quân vừa chiến thắng. Trên vai bộ đội lại chất thêm nước uống. Nước đựng trong ống bương, nước đựng trong bi đông, nước đựng trong túi ni lông. Dụng cụ gì chứa được nước đều dùng mang nước. Để giữ bí mật, có chặng hành quân 6 ngày liền không được đốt lửa, bộ đội phải ăn cơm nắm. Sau 15 ngày hành quân không nghỉ, tất cả cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đều có mặt ở vị trí tập kết đúng thời gian, sẵn sắng tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi mới.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:17:30 AM

*

*        *

        Nguyễn Chơn cùng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn kết thúc nửa năm chiến đấu trên đất Lào. Trong nửa năm đó, Sư đoàn đã đánh trên 30 trận quy mô từ cấp tiểu đoàn đến cấp trung đoàn tăng cường, Sư đoàn thiếu. Lần đầu tiên tác chiến trong đội hình chiến dịch lớn, cùng các sư đoàn chủ lực của Bộ, Quân khu Trị Thiên, Binh đoàn 559, Quân giải phóng nhân dân Lào, Sư đoàn đã bảo đảm hợp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn, hoàn thành nhiệm vụ được cấp trên giao cho. Qua chiến đấu, cán bộ chỉ huy các cấp cũng như chiến sĩ trưởng thành rõ rệt về trình độ tác chiến tập trung hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Từ chiến trường gian khổ của Quân khu 5, Sư đoàn mang theo bản chất tốt đẹp của một sư đoàn có truyền thống khẩn trương, nghiêm túc trong chấp hành mệnh lệnh, kiên quyết, triệt để trong tấn công tiêu diệt địch, gần gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân. Cùng với Sư đoàn, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, càng chiến đấu, càng trưởng thành, giữ vững được sự tín nhiệm của cấp trên, được các đơn vị bạn, trong đó có cả các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào yêu mến, được nhân dân bạn đùm bọc, thương yêu.

        Cuối năm 1971, khi các Trung đoàn đang khẩn trương hoàn thành chương trình huấn luyện ở bắc đường 9 (khu vực các binh trạm 31 và 32 thuộc Binh đoàn 559), thì Nguyễn Chơn lại một lần nữa lên đường vào Tây Nguyên chuẩn bị chiến trường. Từ tháng 5 năm 1971, khi Bộ Chính trị họp quyết định đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên chiến trường, kết hợp với đẩy mạnh tiến công ngoại giao nhằm giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong năm 1972, thì Tây Nguyên được xác định là một trong những chiến trường trọng điểm.

        Nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh giao cho Mặt trận Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là: "Tiêu diệt địch, giải phóng Đắc Tô – Tân cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum, hướng phát triển có thể là hướng Plei- ku. mở rộng vùng giải phóng ra tây Plei- ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột,  hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh, nối liền với căn cứ miền Đông Nam Bộ".

        Sư đoàn 2 được tăng cường Trung đoàn 66 và các bộ phận binh khí kỹ thuật có nhiệm vụ tiêu diệt cụm phòng ngự của sư đoàn 22 (thiếu) ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Tiếp theo, phối hợp với các đơn vị tiêu diệt lực lượng dự bị của quân đoàn 2 và dự bị chiến lược địch đến ứng cứu, giải phóng tỉnh Kon Tum (bao gồm cả thị xã).

        Trong buổi nhận nhiệm vụ, trước Bộ Tư lệnh chiến dịch  do đồng chí Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch, Nguyễn Chơn hiểu một cách sâu sắc rằng, lần này, Sư đoàn 2 của anh lại được vinh dự nhận nhiệm vụ trên hướng chủ yếu.

        Một thế trận hoàn chỉnh, có chiều sâu và hiểm hóc đã được thảo luận kỹ càng ở các cấp chiến dịch và chiến thuật gồm các bước như sau:

        1.  Tổ chức đánh chia cắt địch giữa Pleiku và Kon Tum buộc địch phải phân tán lực lượng ra đối phó khắp Tây Nguyên.

        2.  Nhử cho địch ra khỏi Kon Tum để ta tiêu diệt một bộ phận và kìm giữ lại làm cho địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh bị sơ hở, tạo ra yếu tố bất ngờ để đánh Đắc Tô - Tân Cảnh được thuận lợi.

        3.  Tổ chức cắt tuyến tiếp tế hậu cần chiến lược của địch từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên trên quốc lộ 19.

        Ngày 26 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn bộ binh 95 nổ súng đánh địch trên đường 14 ở Chư Thoi, hình thành một chốt chặn chiến dịch cắt đường vận chuyển của địch từ Plei- ku đi Kon Tum. Ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, Quân khu 5 cắt đường 19 ở đông An Khê, làm gián đoạn tuyến vận chuyển chiến lược từ đồng bằng lên cao nguyên.

        Để nghi binh, từ giữa tháng 2, Bộ Tư lệnh chiến dịch cho mở hai con đường cơ giới từ biên giới vượt qua dãy núi đá tây sông Pô Cô theo hướng nối vào đường 14 phía bắc thị xã Kon Tum để địch phán đoán ta sẽ đánh vào thị xã. Lữ đoàn 2 dù được Ngô Du - Tư lệnh quân đoàn 2 ngụy đưa ra  lập tuyến phòng ngự dự phòng trên một đoạn dài 20km từ Ngọc Bơ Biêng đến Chư Gơ Tông. Quân địch bị buộc vào thế mà ta đã cài. Ngày 30 tháng 3, Sư đoàn 320 bắt đầu vây ép và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn dù số 2. Địch buộc phải tung lữ đoàn dù 3 ra tuyến phòng ngự tây sông Pô Cô. Sư đoàn 320 nắm thời cơ tiếp tục tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 11 và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 thuộc lữ đoàn dù 3. Tuyến ngăn chặn tây sông Pô Cô bị chọc thủng. Quân dù lui về giữ tuyến phòng ngự cơ bản từ Võ Định đến thị xã Kon Tum. Sư đoàn 320 cho một Tiểu đoàn vượt sông Pô Cô, phối hợp với Trung đoàn 28 đánh cắt đường 14 đoạn giữa thị xã Kon Tum với Đắc Tô - Tân Cảnh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:30:00 PM

        Trong khi các trận đánh trên đường 14, 19 phía tây sông Pô Cô đang diễn ra đúng như ý đồ của Bộ Tư lệnh  chiến dịch, thì ở mũi chủ yếu Đắc Tô - Tân Cảnh, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn kiểm tra lần cuối cùng các bước chuẩn bị của từng đơn vị. Anh không kể ngày đêm, đến với đơn vị đôn đốc tiến độ chuẩn bị, cùng cán bộ các trung đoàn bộ binh và các đơn vị phối thuộc tháo gỡ những khó khăn phát sinh, giải quyết tại chỗ những vướng mắc để bảo đảm nổ súng đúng ngày, giờ quy định.

        Cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Chơn có những dấu ấn đặc biệt. Cứ sau một chiến công hình như lại xuất hiện một nhiệm vụ mới, khó khăn hơn đang chờ anh ở đâu đó. Sau chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh, Sư đoàn 2 cùng các đơn vị đánh vào Kon Tum. Trận đánh này sau bao nhiêu năm nhìn lại có những ý kiến đánh giá khác nhau, chủ yếu là tìm ra nguyên nhân không thành công của nó. Nguyễn Chơn cũng có những suy nghĩ của mình, nhưng không phải lúc nào anh cũng muốn nói ra những suy nghĩ ấy.  Trước hết, anh muốn rút ra những bài học cho chính mình, chủ yếu là việc nắm thời cơ. Khi ta giành được thắng lợi ở Đắc Tô - Tân Cảnh, lực lượng địch ở Kon Tum chỉ còn 2 tiểu đoàn chủ lực và một số đại đội bảo an. Sư đoàn lính dù thiếu đã bị Tổng hành dinh ngụy điều đi ứng cứu cho các mặt trận khác. Sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động 6 vừa từ Nam Bộ ra phải rải quân đối phó trên đường 14. Đây là thời cơ thuận lợi cho ta phát triển tiến công nhanh chóng giải phóng thị xã Kon Tum. Nhưng Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương dừng lại, chuyển một phần lực lượng để đánh diệt cứ điểm Plei- cần, mở đường đưa xe, pháo vào chiến đấu. Lợi dụng cơ hội này, địch tranh thủ củng cố thế trận của chúng ở Kon Tum. Thời cơ đánh nhanh, giải quyết nhanh thị xã Kon Tum mất đi chỉ sau mấy ngày. Bộ Tư lệnh chiến dịch buộc phải chủ trương trước mắt tiêu diệt một bộ phận sinh lực của sư đoàn 23 ở vùng ven, sau đó mới tiến công địch trong thị xã. Phải mất 12 ngày, Sư đoàn 320 và Trung đoàn 28 mới phá vỡ được một khu vực phòng thủ của địch ở tây bắc thị xã. Địch thay đổi Tư lệnh Quân đoàn 2. Nguyễn Văn Toàn thay Ngô Du và thay đổi luôn thủ đoạn chiến đấu: Xây nhiều cứ điểm nhỏ, có công sự vững chắc, liên kết với nhau chặt chẽ để chống đỡ các đợt tấn công của ta; sử dụng tối đa hoạt động của không quân, pháo binh, nhất là máy bay B52 gây không ít khó khăn cho các hoạt động của ta.

        Do phòng ngự bằng nhiều công sự liên hoàn vững chắc trên phạm vi rộng, nên ta không triệt được việc địch tiếp tế bằng đường không. Địch bị vây hãm, nhưng chưa tới mức kiệt quệ.

        Bộ Tư lệnh Mặt trận chủ trương vừa kiên quyết đánh vào thị xã, vừa đánh địch vòng ngoài để tiêu diệt toàn bộ quân địch. Theo phương án, Sư đoàn 320 đánh theo trục nam - bắc qua cầu Lôi Hổ phát triển vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy và tỉnh đường. Sư đoàn 2 đánh theo trục bắc - nam, mục tiêu chủ yếu là biệt khu 24.

        Đêm 25 tháng 5, Sư đoàn 2 có Đại đội 209 của Thị đội Kon Tum tăng cường đảm nhiệm tiến công từ hướng đông cùng một đại đội xe tăng. Chỉ sau 40 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 60 Trung đoàn Ba Gia và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141 đã chiếm được phía nam sân bay và một phân khu hành chính, làm chủ khu vực phía đông thị xã.

        Ngày 26 tháng 5, các tiểu đoàn 40 và 90 của Trung đoàn Ba Gia cùng tiểu đoàn công binh, tiểu đoàn đặc công của sư đoàn đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 23 và trung đoàn 44 ngụy ở biệt khu 24. Sau 3 giờ chiến đấu, ta làm chủ 2/3 biệt khu, trong đó có khu hậu cần và bãi giữ xe cơ giới. Địch tràn ra ngoại vi thị xã bị Trung đoàn 141 chặn đánh.

        Tuy Sư đoàn 2 đánh chiếm được gần nửa thị xã, nhưng các đơn vị có nhiệm vụ tấn công ở phía nam vẫn không phát triển được. Lợi dụng tình thế đó, địch tập trung xe tăng và bộ bính liên tiếp phản kích, giành giật với ta từng căn nhà góc phố.

        Sức tấn công của quân ta ngày càng giảm. Địch tập trung máy bay, pháo binh, cả đạn pháo có chất độc hoá học đánh phá quyết liệt vào các khu vực ta chiếm được. Ở ngoại vi, địch dùng máy bay B52 với mật độ bom dày đánh cả ngày và đêm, gây cho ta nhiều tổn thất, việc bảo đảm hậu cần ngày càng khó khăn. Xe tăng, pháo binh không cơ động được do đường lầy lội, sông, suối nước lớn.

        Đến đầu tháng 6 năm 1972, Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cho Sư đoàn 2 Trung đoàn 66 nhằm tiến công để nối liền các khu đã chiếm thành một tuyến liên hoàn. Nhưng đến lúc này thì đã muộn. Địch không hất ta ra khỏi thị xã. Ta cũng không mở rộng được địa bàn chiến đấu. Đêm ngày 5 tháng 6, xét thấy khả năng giải phóng Kon Tum không còn nữa, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho Sư đoàn rút khỏi khu chiến.

        Sư đoàn 2 được lệnh trở về chiến trường Quân khu 5, trở về nơi sư đoàn sinh ra và trưởng thành. Vùng đồng bằng ven biển Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngài đang háo hức chờ đón đứa con thân yêu của mình sau hai năm chiến đấu ở chiến trường xa.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:32:46 PM
       
*

*       *

        Đã hết nửa năm 1972, tiếng súng trên các chiến trường đang lắng xuống. Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn lại nhận một nhiệm vụ mới. Trong lúc Sư đoàn thân yêu của anh sau 15 ngày hành quân từ Tây Nguyên về đến chân Dốc Cọp thuộc huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, anh có lệnh về Quảng Nam làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 711 , một đơn vị được thành lập vào dịp kỷ niệm 54 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7 .11. 1971) . Nguyễn Chơn không dự được buổi đón tiếp thân mật, nặng tình nghĩa của đoàn cán bộ tỉnh Quảng Ngãi, của Quân khu 5 thay mặt cho quân và dân đồng bằng đón Sư đoàn 2 trở về vì anh phải về ngay Sư đoàn 711, đang bước vào bước 3 của một chiến dịch quân sự tại thung lũng Quế Sơn.

        Đội hình của Sư đoàn 711 gồm có Trung đoàn 31 của Sư đoàn 2, Trung đoàn 38 (trước là Trung đoàn 3 của Sư đoàn 324 đã chiến đấu ở đường 9, có truyền thống diệt Mỹ ở Gio An - Quảng Trị; trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân chiến đấu tại Huế, từ năm 1969 thuộc Mặt trận Quảng Đà), Trung đoàn 9 vừa từ vùng đất lửa Vĩnh Linh vào.

        Bước 1 và bước 2 của chiến dịch Quế Sơn đã được tiến hành từ tháng 7 năm 1972 tiêu diệt các điểm cao ở vòng ngoài căn cứ Cấm Dơi như Bàn Thùng, Hòn Chiêng, Động Mông, Đá Hàm. Sau khi mất các điểm cao vốn là những cứ điểm khống chế toàn bộ thung lũng Quế Sơn, địch sẽ tung quân đánh chiếm lại.

        Bước 2 của chiến dịch đã được thực hiện đúng theo ý đồ của ta. Chuẩn tướng Phan Hoà Hiệp - sư đoàn trưởng sư đoàn 2 ngụy tung trung đoàn 5 cùng các đơn vị trợ chiến mạnh cộng với hỏa lực của các loại pháo, các loại máy bay, đặc biệt là tăng cường hiệu suất của máy bay B52 hòng giải toả sức ép của quân ta và chiếm lại các điểm cao đã mất. Cuộc phản kích kéo dài nửa tháng của địch bị thất bại. Địch bị diệt trên 2.000 sinh lực, Các điểm cao chiến thuật Hòn Chiêng, Bàn Thùng, Động Mông, Đá Hàm... được giữ vững .

        Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn về đến Sở chỉ huy Sư Đoàn 711 dưới chân đèo Le vào lúc các trung đoàn đã hoàn thành bước 2 của chiến dịch. Các công việc của bước 3, bước then chốt tiêu diệt căn cứ Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn đang được khẩn trương tiến hành. Công tác trinh sát trực địa cũng được tiến hành xong. Sau khi nắm chắc tình hình các đơn vị,  Nguyễn Chơn quyết định tồ chức trinh sát toàn diện một lần nữa căn cứ Cấm Dơi. Sư đoàn trưởng cùng Chính ủy bò vào tận hàng rào thứ ba với trinh sát. Vẫn như các lần trước, tác phong sâu sát, tỉ mỉ, chu đáo của người Sư đoàn trưởng đã luôn là tấm gương cho cấp dưới phải cẩn trọng trước mọi công việc. Sau bốn ngày bám thực địa, sa bàn cứ điểm Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn được thực hiện cụ thể, rõ ràng, làm tiền đề giao nhiệm vụ cho các đơn vị đến từng trung đội, tiểu đội.

        Khi mọi công việc chuẩn bị cho trận đánh đang tiến hành khẩn trương thì có điện từ Bộ Tổng Tư lệnh gửi. Toàn văn bức điện:

        Kính gửi anh Hai Mạnh (Chu Huy Mân)

        Bộ đã nghiên cứu quyết tâm của Sư đoàn 711 tiêu diệt địch ở căn cứ Cấm Dơi và giải phóng quận lỵ Quế Sơn. Bộ thấy có mấy khó khăn, gởi ý các đồng chí Quân khu 5 suy nghĩ:

        1.  Các đơn vị ở chiến trường B1 (Trị Thiên - Huế) đã dứt chiến, địch rảnh tay sẽ tập trung quân đội phó.

        2.  Sư đoàn 3 ngụy đóng ở Sũng Mây đã vào đóng ở Tuần Dưỡng và Núi Quế, như vậy là địch đông.

        3.  Cấm Dơi, Quế sơn là căn cứ lớn có chi khu quân sự, hỏa lực địch mạnh, có công sự kiên cố, ta đánh đã chắc thắng chưa? Chưa chắc thắng, thì chưa nên đánh.

        Ký tên: VĂN (VÕ NGUYÊN GIÁP )

        Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân đem nội dung bức điện thảo luận với Bộ chỉ huy Sư đoàn. Nguyễn Chơn phát biểu:

        - Bộ điện cho chúng ta nghiên cứu kỹ là để bảo đảm chắc thắng. Theo tôi, trận này đánh là chắc thắng. Tuy địch đông, thế bất ngờ của ta đã mất, nhưng đó lại là bất ngờ, vì địch nghĩ ta sẽ dứt chiến. Tôi đã cùng các cán bộ chủ chốt đi trinh sát lại, theo như phương án mà Bộ chỉ huy Sư đoàn đã nhất trí, chúng ta có đủ khả năng tiêu diệt mục tiêu. Tôi đề nghị cấp trên cho đánh trận này.

        Các đồng chí trong Bộ chỉ huy Sư đoàn phát biểu bổ sung đều thống nhất với ý kiến của Sư đoàn trưởng. Chỉ xin cấp trên chi viện hỏa lực pháo 130 ly lần đầu xuất hiện ở thung lũng Quế Sơn để tăng uy lực cho trận đánh. Tư lệnh Chu Huy Mân kết luận:

        - Đến đây, chúng ta hoàn toàn nhất trí tiêu diệt Cấm Dơi.  Tôi sẽ báo cáo về Bộ. Tôi tin rằng nguyện vọng của các đồng chí sẽ được Bộ chấp nhận.

        Sau đó, đồng chí Tư lệnh nhắc nhở Sư đoàn tiếp tục khẩn trương hoàn thành tốt các bước chuẩn bị; chú ý tập kết đủ lương thực cho suốt cả quá trình chiến đấu; phân công cán bộ Sư đoàn đi các hướng; tính toán ngày, giờ nổ súng sao cho địch phải bị động đối phó. Bộ Tư lệnh Quân khu sẽ tiến hành nghi binh trên sóng vô tuyến điện để tạo thêm bất ngờ cho chiến dịch.

        Nguyễn Chơn từ chỗ Tư lệnh Quân khu trở về Sư đoàn đôn đốc các bước chuẩn bị cuối cùng với tác phong cẩn thận, chu đáo thường ngày.

        Mấy hôm sau, trinh sát báo cáo địch đang kháo nhau Việt cộng lui quân về căn cứ để mừng Cách mạng Tháng Tám...

        Ngày 18 tháng 8 năm 1972, trận đánh tiêu diệt căn cứ Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn diễn ra.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:37:35 PM

*

*       *

        Sau Hiệp định Pa ri tháng 1 năm 1973, những trận đánh lấn chiếm của địch tưởng như đơn điệu, nhưng thật là ác liệt. Sư đoàn 711 đóng quân ở vùng Quảng Nam, Sư đoàn 2 hoạt động ở Quảng Ngãi cũng như các đơn vị chiến đấu trên chiến trường phải đương đầu với hai khó khăn. Một là sự chống trả điên cuồng của địch cố tình phá hoại Hiệp định Pa- ri, tranh thủ sơ hở của ta để lấn chiếm vùng giải phóng càng nhiều càng tốt. Hai là, tư tưởng hoà bình, nghỉ ngơi đã len lỏi vào suy nghĩ, hành động của cán bộ, chiến sĩ. Vẫn biết, khi một hiệp định được ký, thì mỗi bên sẽ lấy phần lợi của mình, nhưng việc địch phản bội toàn diện hiệp định, là một bất ngờ trong suy nghĩ của nhiều người.

        Nguyễn Chơn chỉ huy Sư đoàn 711 đánh quân địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Ngay trong ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ đã cho máy bay B52 đánh bom suốt ngày xuống Cấm Dơi, Quế Sơn và nhiều vùng quanh căn cứ. Ngày 28, sư đoàn 3 ngụy tung 3 tiểu đoàn thành 3 mũi. Một theo đường 16 qua sông Trầu, có ý định bất ngờ đánh chiếm lại quận Hiệp Đức. Mũi thứ hai đột phá vùng Quế Sơn, đánh chiếm Hòn Chiêng và chiếm lại Cấm Dơi. Mũi còn lại bí mật bao vây Châu Sơn, gọi pháo cấp tập đánh vào đội hình đại đội công binh chốt giữ điểm cao này. Ta đánh tan quân địch ở hướng Hiệp Đức, bảo vệ được vùng giải phóng. Đuổi địch ra khỏi Châu Sơn, nhưng quân ta mất Cấm Dơi và Hòn Chiêng. Đó là bài học lớn khi cuộc chiến tranh đã chuyển giai đoạn.

        Tháng 6 năm 1973, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 giải thể Sư đoàn 711 để thành lập các lữ đoàn và trung đoàn độc lập. Sư đoàn 2 được biên chế lại. Trung đoàn Ba Gia cùng cơ quan Sư đoàn và các đơn vị trực thuộc hành quân từ Quảng Ngãi ra Quảng Nam. Tại đây, Sư đoàn tiếp nhận Trung đoàn 31 và Trung đoàn 38 của Sư đoàn 711 để thành một đội hình hoàn chỉnh. Nguyễn Chơn được chỉ định làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2. Một tháng sau, anh được lệnh ra Hà Nội để học một khoá quân sự cao cấp. Vừa ra đến nơi, kiểm tra sức khoẻ xong, anh được đi nghỉ ở Bãi Cháy. Nhưng chỉ 7 ngày sau, thì có lệnh trở về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn nói với anh:

        - Cậu về chuẩn bị đánh Nông Sơn phối hợp với Sư đoàn 304 đánh Thượng Đức.

        Tháng 7 năm 1974, Nguyễn Chôn trở lại chiến trường. Anh vẫn giữ cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2. Lúc này, hình thái chiến trường Quân khu 5 đã có nhiều thay đổi. Vùng giải phóng được giữ vững và mở rộng. Do hoạt động tích cực của bộ đội ta, quân ngụy trên khắp các chiến trường đang co lại. Đường vận chuyển chiến lược từ Trường Sơn đã thông xuống đồng bằng, xe cơ giới có thể đổ hàng đến kho của Trung đoàn. Vũ khí, lương thực, thuốc men, quân trang, quân dụng được dự trữ sẵn sàng cho mọi hoạt động của bộ đội. Bộ đội yên tâm học tập, huấn luyện, không còn lo thiếu đói như những năm trước.

        Nguyễn Chơn vừa về đến Sư đoàn, thì có lệnh chuẩn bị cho chiến dịch Thu năm 1974. Nhiệm vụ của chiến dịch là tiêu diệt địch ở cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước, đưa địch vào thế trận của ta, buộc chúng phải phản kích. Diệt quân địch phản kích mở rộng vùng giải phóng Quế Sơn. Tạo điều kiện phát triển tấn công giải phóng chi khu An Hoà - Đức Dục, phối hợp với Sư đoàn 304 tấn công giải phóng Thượng Đức.

        Ngày 18 tháng 7 năm 1974, trận tấn công tiêu diệt cứ điểm Nông Sơn bắt đầu. Những ngày sau đó chiến dịch phát triển thuận lợi. Đây là một chiến thắng có những nét độc đáo trong nghệ thuật chỉ huy đánh địch trong công sự vững chắc, cũng như đánh địch phản kích mà Nguyễn Chơn với cương vị là Sư đoàn trưởng đã cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Cùng với chiến thắng Thượng Đức, lần đầu tiên trên chiến trường ác liệt Quảng Nam, Quảng Đà, ta đã giải phóng những vùng đất được coi là tấm chắn thép của quân địch bảo vệ phía tây nam khu liên hiệp quân sự khổng lồ Đà Nẵng. Địch đưa những đơn vị dự bị chiến lược như quân dù, thủy quân lục chiến đến chiến trường nhằm đẩy lùi quân ta, khôi phục lại tình thế chiến trường đã mất. Các sắc quân thiện chiến nhất của địch đã thất bại trong những trận phản kích đẫm máu, nhất là trên hướng Thượng Đức. Sự kiện này rất quan trọng làm căn cứ cho Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đi đến nhận định: “Chủ lực cơ động của địch đã suy yếu không thể đương đầu với các đơn vị chủ lực cơ động của ta. Đó là một điềm báo so sánh lực lượng giữa địch và ta đã thay đổi. Chiến thắng phước Long ở Đông Nam Bộ là tín hiệu cho sự sụp đổ hoàn toàn của quân ngụy” Từ nhận định này, một phương hướng chiến lược mới đã hình thành từ Tổng hành dinh của cuộc kháng chiến giải phóng Tổ quốc mà được biểu hiện rực rỡ trong chiến dịch lịch sử mùa Xuân năm 1975.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đang tiến dần đến thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:01:00 AM

*

*        *

        Cuối năm 1974, Sư đoàn 2 của Nguyễn Chơn được tăng cường thêm các đơn vị mới. Trung đoàn bộ binh 36, nguyên là một trung đoàn của Sư đoàn 308 nổi tiếng được tăng cường cho chiến trường Quân khu 5 sau Tết Mậu Thân 1968, hoạt động ở vùng Quảng Đà, do những tổn thất trong năm 1969, Trung đoàn tạm giải thể và mới được tổ chức lại đầu năm 1974. Trong biên chế của Sư đoàn có thêm Trung đoàn pháo 368. Như vậy, đội hình Sư đòan 2 gồm 4 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh và đầy đủ các đơn vị trực thuộc, trợ chiến kỹ thuật bảo đảm cho Sư đoàn thành một binh đoàn cơ động mạnh của Quân khu.

        Hội nghị bàn phương án tác chiến Xuân - Hè năm 1975 họp tại căn cứ Nước Oa (Trà My). Đây vốn là nơi đóng quân của cơ quan khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu những năm 1972- 1974. Vườn cam mà Tư lệnh Chu Huy Mân cho trồng từ những năm trước đã xanh tốt. Tại hội nghị này, Sư đoàn 2 được tăng cường Lữ đoàn 52, các đơn vị xe tăng, pháo tầm xa, pháo cao xạ có nhiệm vụ tiêu diệt hai quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, đánh chiếm cứ điểm Suối Đá và bày thế trận đánh địch phản kích.

        Nguyễn Chơn đến hội nghị sau khi cùng đoàn cán bộ Sư đoàn đi chuẩn bị chiến trường từ sau Tết âm lịch. Đây là một chiến trường quen thuộc trong cuộc đời chiến đấu của anh. Anh đã cùng chỉ huy các trung đoàn bàn bạc cụ thể phương án tác chiến ngay trên thực địa. Tại hội nghị này, một vấn đề được đặt ra là thời gian dứt điểm các mục tiêu.

        Ngày thứ nhất của hội nghị, tác chiến Quân khu báo cáo tình hình địch, ta và phương án của chiến dịch. Phương án diệt địch đồn trú cần phải có thời gian 7 ngày. Cả hội nghị đều nhất trí về bố trí lực lượng, cách đánh, sử dụng hỏa lực, chỉ có khoảng thời gian là còn phải thảo luận, người nhất trí phải mất 7 ngày, người đề nghị rút xuống 5 ngày. Đến lượt Nguyễn Chơn phát biểu, anh đứng lên phân tích thêm tình hình địch, ta và đề nghị cấp trên cho Sư đoàn 2 đánh trong 24 giờ.

        Đề nghị của anh làm hội nghị càng sôi động hơn, không khí thảo luận trong buổi sáng đã có lúc thật căng thẳng. Cuối buổi vẫn chưa kết luận. Trong bữa cơm trưa, Tư lệnh Chu Huy Mân mời cơm Nguyễn Chơn, ông nói:

        - Phương án đánh nhanh của cậu tớ ưng rồi, nhưng có chắc thắng không, để chiều tớ kết luận.

        Nguyễn Chơn khẳng định quyết tâm sẽ thắng, nhưng anh xin cấp trên phải đủ đạn để mật độ hỏa lực dày hơn, có thể dồn đạn theo kế hoạch đánh 7 ngày cho 24 giờ. Anh muốn mật độ hỏa lực phải dày hơn của Mỹ ở thời gian và vị trí then chốt để lung lạc tinh thần quân ngụy. Hội nghị tiếp tục thảo luận cả buổi chiều. Nhiều nhà quân sự có uy tín vẫn kiên trì đề nghị phương án 7 ngày và cho rằng phương án của Nguyễn Chơn là chủ quan, mà không giải quyết dứt điểm, thương vong sẽ cao, mất sức chiến đấu, ảnh hưởng lớn đến chiến dịch.

        Người Sư đoàn trưởng dày dạn kinh nghiệm, một lần nữa xin được phát biểu ý kiến. Anh nhận định địch đông, nhưng không mạnh, nếu ta đánh tốt, địch sẽ chạy. Hơn nữa, trong chiến dịch này, Sư đoàn 2 đang sung sức, được tăng cường các đơn vị pháo binh, cao xạ, tăng - thiết giáp và các phương tiện kỹ thuật khác, không có gì không đánh nhanh tiết kiệm xương máu, đạn dược. Nguyễn Chơn đứng lên thưa với hội nghị một cách trang nghiêm:

        - Xin Bộ Tư lệnh Quân khu chấp nhận đề nghị của chúng tôi, nếu không thành công, mà Chơn này có chết, thì cứ đào mồ lên, gông lại mà kiểm điểm.

        Những lời nói tâm huyết và những phân tích có căn cứ của Nguyễn Chơn đã thực sự thuyết phục những người dự hội nghị. Tư lệnh Chu Huy Mân kết luận nhất trí với phương án đánh 24 giờ. Nguyễn Chơn khẩn trương trở lại đơn vị. Anh cho đắp một sa bàn lớn có địa hình kéo dài xuống tận đường số 1. Trong lúc đang đắp sa bàn, đoàn cán bộ đơn vị tiếp tục đi trinh sát bổ sung. Vùng đất này Nguyễn Chơn thuộc như trong lòng bàn tay. Quân địch ở đây qua nhiều năm đụng độ, anh cũng nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của chúng, nên không mất nhiều thời gian trinh sát như lần chuẩn bị đầu tiên. ở Sư đoàn, các đơn vị bước vào giai đoạn huấn luyện (hai lính cũ kèm một lính mới), làm thủ pháo, gói bộc phá, làm trạm xá, làm đường đưa pháo lên cao để bắn vào Suối Đá, điểm cao 211. Mọi công tác chuẩn bị tiến hành khẩn trương, nhưng rất bí mật. Chiến sĩ không được ra khỏi đơn vị, không được viết thư, điện đài 2W không làm việc, không nói chuyện chiến dịch trên điện thoại, không một ai được đi phép, không đi chợ.Sau đó, Sư đoàn tổ chức giao nhiệm vụ cho các trung đoàn trên sa bàn. Phó chính ủy Quân khu Đoàn Khuê đến dự. Trung đoàn trưởng viết quyết tâm của mình và ký tên vào một cuốn sổ. Nguyễn Chơn giải thích: Nếu các ông còn sống, dựa vào đó mà kiểm điểm, nếu hy sinh, còn chữ ký làm kỷ niệm. Theo nhiệm vụ được giao, các trung đoàn cũng về đắp sa bàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị của mình.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:05:25 AM

        Đến cuối tháng 2 năm 1975, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, đơn vị Nguyễn Chơn sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu. Trong quá trình quân ta chuẩn bị chiến trường, địch đánh hơi được, chúng điều về khu chiến 5 tiển đoàn chủ lực và 4 đại đội bảo an và tiếp tục điều cho trận địa pháo ở Suối đá một tiểu đoàn pháo binh.

        Trong ba khu phòng thủ, thì Tiên phước là khu vực then chốt, là điểm tựa trung tâm. Mất Tiên phước các khu phòng thủ khác khó có thể giữ vững. Khu vực Suối Đá cũng rất quan trọng. Đây là một dãy điểm cao nối tiếp nhau, địch giữ được dãy điểm cao này là giữ vững được lối liên lạc giữa tam Kỳ và Tiên Phước, giữ được bàn đạp để triển khai lực lượng phản kích. Khi phản kích không thành công, thì đây là tuyến ngăn chặn không cho ta phát triển tiến công xuống Tam Kỳ và đường số 1. Với ta, nếu chiếm được Suôi Đá, là cài một then cửa, khóa chặn toàn bộ lực lượng địch để tiêu diệt, đồng thời là tuyến triển khai lực lượng để đánh phản kích, hoặc phát triển tiến công.

        Đêm ngày 8 tháng 3, các đơn vị ta tiến vào vị trí tập kết cuối cùng. Ngày 9 tháng 3, có tin liên đoàn biệt động 12 ngụy từ phía bắc đang hành quân về phía nam. Đơn vị đi đầu đã tới Tuần Dưỡng. Một câu hỏi được đặt ra: Địch phát hiện được ý đồ chiến dịch của ta chăng? Các phương tiện trinh sát được lệnh bám sát mọi động tĩnh dù nhỏ nhất của địch. Qua phân tích tình hình, Nguyễn Chơn nhận định: Ở tiểu khu Quảng Tín không có báo động, mà nếu địch có phát hiện được, thì cũng đã muộn. Dù cả liên đoàn biệt động địch đến Tuần Dưỡng, thì phải ngày hôm sau chúng mới có thể đến khu chiến, mà 4 giờ 30 ngày 10 ta nổ súng. Tình huống này không ngoài dự đoán của ta, Tư lệnh Tiền phương Quân khu nhắc Sư đoàn 2 đấy nhanh tốc độ tấn công, đồng thời ra lệnh cho các đơn vị pháo dự bị bắn vào Tuần Dưỡng nhằm đánh đòn phủ đầu, làm rối loạn đội hình của liên đoàn biệt động.

        4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, từ Sở chỉ huy của Sư đoàn ở chân núi Dương Côn, hai phát pháo hiệu một xanh, một đỏ đột nhiên vút lên trên nền trời đen sẫm. Ngay lập tức, từ các hướng, tiếng súng tấn công dồn dập của ta vang lên.

        Ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 5 được tăng cường một đại đội của Trung đoàn 38 nhanh chóng quét sạch quân địch ở các điểm cao Núi Vú, Núi Ngọc, Dương Côn. Cùng lúc tiểu đoàn 40 Trung đoàn Ba Gia nhanh chóng triển khai đội hình từ điểm cao 310 đến điểm cao 269, hình thành thế chia cắt quân địch. Cùng lúc Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 38 đã diệt xong cứ điểm Hố Bạch và chiếm giữ các điểm cao từ Hố Bạch đến Suối Đá và Núi Vỹ, làm tuyến ngăn chặn địch từ Tuần Dưỡng phản kích lên. Hiệp đồng với Trung đoàn 38, hai tiểu đoàn 7 và 9 của Trung đoàn 31 diệt các cứ điểm từ Trung Liên đến điểm cao 215. Hai tiểu đoàn 8, 9 của Lữ đoàn 52 tiến công địch trên 8 cứ điểm từ Gò Hàn đến Dương Huê. Tiểu đoàn 10 đánh chiếm các cứ điểm quanh Phước Lâm.

        Cả thung lũng Tiên Phước - Phước Lâm chìm trong lửa đạn. Thế trận phòng thủ liên hoàn của địch đã bị phá vỡ. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt xong 23 cứ điểm. Các mục tiêu chủ yếu bị bao vây. Khi các đơn vị bộ binh vừa nổ súng, Tiểu đoàn công binh nhanh chóng dùng bộc phá san lấp những đoạn đường cuối cùng để kéo pháo vào trận địa. Đến 9 giờ, những khẩu pháo 85, 105, 122 ly ở điểm cao Vú Em, Hàn Thôn hạ nòng bắn thẳng vào cứ điểm 211 và quận lỵ Tiên Phước.

        Theo phương án, khi Lữ đoàn 52 diệt xong Suối Đá, chiếm được trận địa pháo địch, Trung đoàn 31 mới đánh Tiên Phước và cứ điểm 211, nhưng khi một loạt cứ điểm vòng ngoài bị diệt, địch có dấu hiệu hoang mang. Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định cho Trung đoàn 31 tấn công trước cứ điểm 211 .

        Là một điểm cao nằm phía bắc quận lỵ Tiên Phước 1,5Km, có các mỏm đá và sườn nhô ra từ phía tây. Lợi dụng các mỏm đồi, địch xây các tiền đồn để bảo vệ cho đồn chính. Khu trung tâm có 42 lô cốt và gần 30 nhà lính, cấu trúc nửa chìm nửa nổi. Xung quanh cứ điểm có từ 3 đến 5 lớp bùng nhùng.

        11 giờ, pháo của ta từ Hàn Thôn và Vú Em bắt đầu bắn vào điểm cao 211. Lợi dụng lúc địch đang bị pháo áp chế, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 từ ấp Phước Hoà, chia thành hai mũi, vận động "nhảy cóc" qua các ấp chiến lược đánh chiếm các tiền đồn Đồi Tranh, Yên Sơn ở phía bắc và phía tây điểm cao 211. Địch hoàn toàn bị cô lập. Hơn một nửa số công sự, lô cốt và nhà lính bị pháo ta bắn sập. Lính trong đồn hốt hoảng bỏ chạy về quận lỵ. 13 giờ 5 phút, từ hai hướng, các đại đội 5, 7 mở cửa. 20 phút sau, Đại đội 7 chiếm được hai lô cốt đầu cầu để phân đội thọc sâu đánh vào trung tâm. Hướng Đại đội 5, địch lợi dụng sườn dốc, dùng hỏa lực bịt các đường tiếp cận của ta. Đại đội trưởng bố trí lại hỏa lực, dùng B41 lần lượt dập tắt các hỏa điểm của địch. Chỉ cần 15 phút, các chiến sĩ Đại đội 5 cùng tiểu đội thọc sâu của Đại đội 7 đã cắm lá cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy địch. Phần lớn quân địch bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy về quận lỵ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:07:50 AM

        Quận trưởng quận Tiên Phước hốt hoảng điện về Tam Kỳ xin rút chạy. Lúc đó, các trận địa pháo của ta không ngừng nã đạn vào quận lỵ, làm địch không ngóc đầu để tháo chạy được. Tiểu đoàn 7, Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 31 áp sát quận lỵ. Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 từ trên điểm cao 211 đánh xuống. Cả ba mũi nhằm vào quận lỵ lao xuống.

        15 giờ, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn lệnh cho ĐKZ 82 bắn vào các lô cốt ở cổng chính. Đại đội 1 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 cắm sâu vào trung tâm. Cùng lúc Đại đội 11 tiểu đoàn 9 từ hướng đông nam tiến lên, Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 từ bắc đánh vào. Quân ta tiến tới đâu, địch tan rã đến đó. 16 giờ, Trung đoàn 31 làm chủ hoàn toàn quận lỵ Tiên phước.

        Tiểu đoàn 10, sau khi diệt các cứ điểm ngoại vi, tiếp tục phát triển vây ép quận lỵ Phước lâm. Trước cảnh cứ điểm 211, quận lỵ Tiên Phước bị diệt, quân địch ở đây chưa đánh đã tan. Thấy bóng quân ta, sĩ quan, binh lính, nhân viên ngụy quyền bỏ chạy tán loạn. 16 giờ, Tiểu đoàn 10 làm chủ quận lỵ, tổ chức truy lùng tàn quân địch. Đúng lúc đó, Lữ đoàn 52 dứt điểm các cứ điểm trên hướng Suối Đá.

        Chỉ sau 16 giờ tấn công, các mục tiêu của đợt 1 chiến dịch đã giải quyết xong. Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong 24 giờ đã được thực hiện trước thời hạn.

        Ngày 11 tháng 3, địch điều sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra Tam Kỳ chuẩn bị hành quân giải tỏa. Liên đoàn biệt động 12 cùng một tiểu đoàn bảo an cùng chi đoàn xe bọc thép từ Tuần Dưỡng tiến lên Cẩm Khê, Dương Côn. Ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy cùng hai tiểu đoàn bảo an có xe bọc thép phối thuộc đánh lên Dương Leo, Dãy Thám. Tiếp đó, địch còn điều động trung đoàn 4 sư đoàn 2 từ Quảng Ngãi ra, trung đoàn 2 sư đoàn 3 từ Quảng Đà vào để tăng cường lực lượng phản kích. Vào thời điểm này, lực lượng vũ trang ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi của ta đồng loạt nổ súng phối hợp với hướng chủ yếu của Quân khu.

        Ở hướng chiến lược Tây Nguyên, quân ta đang thắng lớn, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, đường 19, đường 21 bị cắt. tập  đoàn phòng ngự địch ở Kon Tum – Pleiku bị bao vây, cô lập. Để cứu vãn tình thế, Nguyễn văn Thiệu lệnh cho Ngô Quang Trưởng – Tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy trả sư đoàn dù về Sài Gòn.

        Sư đoàn 2 của Nguyễn Chơn đã hoàn thành nhiệm vụ đánh quân đồn trú, giải phóng khu vực, tạo thế tiến công cho chiến dịch mà Quân khu giao cho.

        Ngày 16 tháng 3, Thường vụ Khu Ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định đẩy mạnh tốc độ tiến công, khối chủ lực ở hướng này có nhiệm vụ tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Sư đoàn 2 phải tiêu diệt cụm địch ở Suối Đá, phá vỡ tuyến ngăn chặn, uy hiếp thĩ xã Tam Kỳ, buộc sư đoàn 2 ngụy phải đưa hết lực lượng ra Quảng Nam.

        Đã nhiều năm đụng độ nhau trên chiến trường, nên Sư đoàn 2 của ta và sư đoàn 2 của ngụy rất hiểu nhau. Nguyễn Chơn thấy rất rõ đây là thời cơ lớn cho Sư đoàn 2 của anh xóa sổ sư đoàn 2 ngụy lúc này do chuẩn tướng Trần Văn Nhật chỉ huy.

        Ngày 18 tháng 3, các đơn vị trong sư đoàn tổ chức chiến đấu và điều chỉnh đội hình. 5 giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 trận đánh của sư đoàn 2 ta và sư đoàn 2  địch bắt đầu. Do sương mù, nên mãi đến hơn 9 giờ, pháo binh mới nổ súng được. Trận đánh diễn ra quyết liệt ở khắp các mục tiêu. Ở hướng Trung đoàn 31, Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 hai lần xung phong lên điểm cao Dương Huê đều bị địch đánh bật xuống. Trận đánh kéo dài đến 12 giờ ta mới làm chủ được mục tiêu. Tiểu đoàn 7 do gặp địch phục kích, nên chỉ có một đại đội cùng đại đội công binh đánh vào chợ Cây Sanh đúng kế hoạch. Hai đại đội khác đánh lạc sang Đan Trung 1 và Dương Lâm 2. Lực lượng ta bị phân tán. Địch phản kích quyết liệt và cắt đội hình tiến công của ta. Tiểu đoàn 7 điều 2 khẩu ĐKZ 82 lên tăng cường cho Đại đội 1 đánh vào chợ Cây Sanh, đồng thời lệnh cho 2 đại đội còn lại đánh vòng phối hợp. Địch chống trả quyết liệt. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 5 ngụy có xe tăng yểm trợ đánh vào sườn Đại đội công binh. Bình tĩnh chờ địch đến gần, quân ta dùng B40 diệt 2 xe GMC chở đầy lính và một xe bọc thép M113. Sức phản kích của địch giảm dần. Đến giữa trưa ngày 21 tháng 3, tuyến phòng ngự của địch bị vỡ. Sư đoàn 2 đã đánh quỵ trung đoàn 5 ngụy, diệt một tiểu đoàn của liên đoàn biệt động 12.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:09:20 AM

        Để cứu vãn thế trận đang nguy ngập, địch điều những đơn vị còn lại của sư đoàn 2 ra tây Tam Kỳ lập một tuyến ngăn chặn mới. So với tuyến ngăn chặn trước, tuyến mới này thu hẹp khá nhiều. Âm mưu của địch là tập trung lực lượng hòng tạo ra một mật độ đông đặc và một chiều sâu phòng ngự dày để tăng thêm sức đề kháng. Điều đó chỉ đúng về lý thuyết, nhưng trong tình thế hiện nay, việc tập trung dày đặc lực lượng càng tạo thuận lợi cho ta tiêu diệt gọn và sự tan rã của chúng càng đến nhanh hơn.

        Tình hình chiến trường vùng 1 chiến thuật của ngụy đang thay đổi hàng giờ. Ngày 21 tháng 3, quân ta tiến công Truồi phía nam Huế. Xe tăng quân giải phóng đuổi đánh xe bọc thép địch. Đường số 1 Huế - Đà Nẵng bị cắt đứt. Ngày 22 tháng 3, tuyến phòng thủ Mỹ Chánh bị phá. Địch co về giữ tuyến Sông Bồ. Huế đã bị bao vây.

        Trong lúc Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đang cùng Sư đoàn triển khai kế hoạch đánh phản kích tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, thì bộ phận thông tin kỹ thuật cho biết bọn địch báo lên cấp trên là ở Chu Lai đã hết đạn pháo. Nguyễn Chơn hiểu ngay thời cơ đã đến. Vì theo thói quen, nếu quân ngụy không có pháo, xe tăng không đánh được, bộ binh triển khai sẽ lúng túng. Anh liền điện báo cáo lên Quân khu xin cho Sư đoàn 2 đánh Tam Kỳ, Thăng Bình, Chu Lai. Lúc này, 4 trung đoàn bộ binh, các đơn vị xe tăng, cao xạ được tăng cường đã sẵn sàng. Lữ đoàn 52 dưới quyền chỉ huy của Bộ chỉ huy Sư đoàn đứng chân ở Dốc Sỏi. Đặc biệt, Trung đoàn Ba Gia, được giữ nguyên vẹn, còn rất sung sức. Mặc dù chưa có điện trả lời, nhưng không thể chần chừ, Nguyễn Chơn lệnh cho bộ đội áp sát các mục tiêu. Trung đoàn Ba Gia trên hướng chủ yếu được tăng cường Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 38 cùng 10 xe tăng, xe bọc thép đột phá bên cánh phải từ Suối Đá đến bờ bắc sông Tam Kỳ. Phối hợp với Trung đoàn Ba Gia, Trung đoàn 38 (thiếu) tiến công bên cánh trái từ Suối Đá ra đến Cẩm Khê. Tiểu đoàn 10 Trung đoàn 36 và Tiểu đoàn công binh vượt sông Tam Kỳ cắt đường số 1 từ cầu Bà Bầu đến cầu ông Bộ. Trung đoàn 31 (thiếu) làm dự bị trực tiếp cho Trung đoàn Ba Gia.

        Đêm 23 tháng 3 là một đêm xuân ấm áp, trời tối, đường tiếp cận mục tiêu xa, phải luồn lách qua nhiều tuyến phòng ngư của địch, nhưng được sự giúp đỡ của du kích và biệt động nên các đơn vị đã đến vị trí đúng giờ, an toàn và bí mật.

        Đến lúc này vẫn chưa có điện trả lời của Quân khu, nhưng Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn biết quyết tâm mình không sai. Vì mục tiêu của chiến tranh là tiêu diệt, giải phóng đất đai, thời cơ đến phải tận dụng ngay, phải đánh nhanh là biện pháp tốt nhất tiết kiệm xương máu. Anh điện báo cáo cho Tiền phương Quân khu và ra lệnh nổ súng.

        15 giờ 15 phút ngày 24 tháng 3, không gian yên tĩnh của buổi sáng mùa xuân bỗng nhiên ầm ầm chuyển động. Pháo tầm xa của ta chuyển làn bắn vào Tỉnh đường Quảng Tín, Tam Kỳ, Quán Rường, Tuần Dưỡng. Ở tất cả các hướng, các cánh quân của Sư đoàn đồng loạt xông lên. Ngay từ khi pháo binh còn đang bắn phá, các mũi thọc sâu đã khôn khéo lợi dụng địa hình tiến sát vào mục tiêu. Khi pháo chuyển làn, quân ta bất ngờ xông lên. Tiểu đoàn 90 nhanh chóng chiếm ngã ba Trường Xuân - cửa ngõ quan trọng vào Tam Kỳ. Cùng lúc, mũi thứ hai của Tiểu đoàn có xe tăng phối hợp do Tiểu đoàn trưởng chỉ huy đánh vào sân bay Ngọc Bích. Dựa vào công sự và xe bọc thép, bọn địch trong sân bay ngoan cố chống cự. Sau khi tổ chức hỏa lực kiềm chế, Tiểu đoàn cho xe tăng đột phá. Ba chiếc T54 ầm ầm lao lên. Thấy xe tăng ta xuất hiện, cả bộ binh và thiết giáp địch đều hốt hoảng bỏ chạy. Trừ một số xe thiết giáp chạy thoát, toàn bộ tiểu đoàn 3 trung đoàn 4 ngụy đều bị quân ta truy kích, bao vây tiêu diệt và bắt làm tù binh. Một số tên thoát được đến ngã ba Trường Xuân, thì gặp bộ phận chốt chặn của Tiểu đoàn và bị bắt.

        Tiến công bên phải Tiểu đoàn 90 là Tiểu đoàn 60. Tiến công bên trái là Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 38 có bốn xe tăng chi viện. Cả ba mũi đều tấn công nhịp nhàng, lần lượt chiếm các mục tiêu diệt các tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 và tiểu đoàn 3 trung đoàn 5 ngụy; diệt xe bọc thép địch đang tháo chạy về Chu Lai, diệt trận địa pháo ở Phú Trà 2.

        Trên hướng thứ yếu, hai tiểu đoàn 4 và 6 của Trung đoàn 38 cùng đột phá vào tuyến phòng ngự của liên đoàn biệt động 12. Sau một giờ rưỡi chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 4 đánh chiếm khu vực Cẩm Khê, Tiểu đoàn 6 đánh chiếm Khánh Thọ, hai tiểu đoàn biệt động 37 và 39 ngụy bị đánh quỵ, đội hình tan tác, không còn sức chiến đấu.

        Bộ đội ta phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng, xe bọc thép, công binh và các đơn vị trợ chiến khác đã tiêu diệt và đánh tan tác 6 tiểu đoàn quân chủ lực ngụy. Tuyến ngăn chặn cuối cùng của địch ở phía tây thị xã Tam Kỳ bị đập tan. Qua theo dõi điện đài địch, ta biết được: các đơn vị còn lại chuẩn bị tháo chạy về Đà Nẵng. Tỉnh trưởng Quảng Tín ra lệnh cho cấp dưới đốt giấy tờ.

        Tất cả các đơn vị ở các hướng tiến quân được lệnh của Sư đoàn đẩy nhanh tốc độ tiến công. Trung đoàn Ba Gia từ ngã ba Trường Xuân và sân bay Ngọc Bích đánh chiếm ngã tư đường sắt thọc nhanh vào trung tâm thị xã. Ở Trung đoàn 31, Tiểu đoàn 8 chia làm 3 mũi đánh chiếm các công sở phía tây dinh tỉnh trưởng và cầu Kỳ Lý. Để tăng cường sức đột kích, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 31 bước vào chiến đấu nhanh chóng hiệp đồng với Tiểu đoàn 8 đánh chiếm khu vực tỉnh đường, chiếm trận địa pháo 155 ly, ty cảnh sát và mở cửa nhà lao. Hàng trăm chiến sĩ cách mạng bị giam giữ ở đây được giải phóng. Phút gặp gỡ của những người đồng chí, đồng đội thật thiêng liêng, không ai nói nên lời, chỉ ôm nhau trào nước mắt.

        11 giờ, thị xã Tam Kỳ hoàn toàn giải phóng.

        Ở phía bắc, Trung đoàn 38 sau khi làm chủ Cẩm Khê và Trà Phú 2, liền đánh chiếm Quán Rường, đến 13 giờ mới đến Chiên Đàn. Do Trung đoàn đánh chậm, nhiệm vụ bao vây phía bắc không thực hiện được, một số địch chạy thoát ra Đà Nẵng. Sáng ngày 25 tháng 4, Trung đoàn chiếm Tuần Dưỡng, căn cứ của trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy.

        Ở phía nam, Trung đoàn 36 đánh chiếm cầu Bà Bầu, phát triển xuống An Xuân, tiến công giải phóng quận ly Lý Tín, cắt đường chạy của tàn quân địch về Chu Lai.

        Ở hướng đông, các tiểu đoàn 70, 72 của Tỉnh đội Quảng Nam (vùng đất địch đặt tên là Quảng Tín) cùng lực lượng huyện Tam Kỳ đánh chiếm các xã Kỳ Trung, cầu Kỳ Phú, giải phóng các xã ven biển.

        Cùng với cuộc tiến công thắng lợi của Sư đoàn 2 vào thị xã Tam Kỳ, quân và dân Quảng Ngãi đẩy mạnh tiến công và nổi dậy giải phóng thị xã Quảng Ngãi vào gần nửa đêm ngày 24.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:11:05 AM
     
*

*        *

        Nguyễn Chơn được lệnh về Trà Nô - Sở chỉ huy cơ bản của Quân khu 5 nhận nhiệm vụ. Vào thời điểm này, không khí chiến trường thật là sôi động. Ngày 26 tháng 3, cố đô Huế được giải phóng. Bộ Tổng Tư lệnh thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Đà Nẵng do đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 làm Chính ủy.

        Lúc này, tại Đà Nẵng, căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất miền Trung đang tập hợp 75 nghìn quân ngụy gồm sư đoàn 3 và 2 lữ đoàn của sư đoàn lính thủy đánh bộ, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ, 24 nghìn phòng vệ dân sự có vũ trang, 5 nghìn cảnh sát, 7 tiểu đoàn pháo (114 khẩu), thiết đoàn kỵ binh 11 (70 xe tăng, xe bọc thép), sư đoàn không quân có 373 máy bay cộng  cùng hơn 6 nghìn tàn quân từ Trị Thiên vào, từ Quảng Tín ra.

        Chiều ngày 27 tháng 3, Nguyễn Chơn cùng một tổ thông tin,  mấy chiến sĩ trinh sát lên một chiếc com- măng- ca rời hậu cứ Trà Nô theo đường 16 đến bến phà Hiệp Đức. Xe qua phà đến chân đèo Răm thì dừng lại. Từ đây, không còn đường xe nữa. Chiều đang buông xuống, đêm đến gần. Sở chỉ huy Sư đoàn nhỏ bé đó vượt đèo Răm qua vùng Long - Khánh - Thạch, qua quận Quế Sơn và căn cứ Cấm Dơi bọn ngụy vừa tháo chạy buổi chiều, qua Núi Quế đến ngã ba Hương An. Theo mệnh lệnh tác chiến, Trung đoàn 38 từ Tuần Dưỡng bỏ qua quận Thăng Bình, theo đường số 1 tiến ra, theo sau Trung đoàn 38 là Trung đoàn Ba Gia, đơn vị sẽ đảm nhận nhiệm vụ chủ công đánh vào sân bay và sở chỉ huy quân đoàn 1, quân khu 1. Trung đoàn 31 và Trung đoàn 36 tiến công theo trục đường sắt. Tất cả các đơn vị nhằm hướng Đà Nẵng tiến ra càng nhanh càng tốt. Lúc này, thời gian là lực lượng.

        Trong cái đêm ở ngã ba Hương An ấy, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đã giải quyết hai việc đáng nhớ:

        Trung đoàn trưởng Trung đoàn 38 Nguyễn Thí, do chưa nhận thức đúng tình hình khẩn trương phải tiến nhanh về Đà Nẵng, đã cho Trung đoàn 38 đánh chiếm quận ly Thăng Bình, làm đội hình tiến quân chậm mấy tiếng đồng hồ nên bị Nguyễn Chơn ra lệnh đình chỉ nhiệm vụ Trung đoàn trưởng; đồng thời cử Trung đoàn phó Trần Văn Thủy lên nắm Trung đoàn. Dù sau này Nguyễn Chơn biết do Trung đoàn không nhận được điện, nhưng anh vẫn không thay đổi quyết định. Anh nói với Nguyễn Thí rằng: người chỉ huy lúc thời cơ đến, phải biết quyết đoán, sáng tạo và chịu trách nhiệm trước thời cơ đã mở ra. Dù bị đình chỉ chức vụ, nhưng Nguyễn Thí vẫn luôn đi cạnh Trung đoàn trưởng mới, làm bất cứ việc gì được phân công để góp phần mình vào chiến thắng của đơn vị.

        Cũng tại đây, Nguyễn Chơn lệnh cho các chiến sĩ thông tin không cần dùng mật mã trên vô tuyến điện nữa. Trung đội trưởng thông tin báo cáo với Sư đoàn trưởng rằng làm như vậy không thể được, vì đó là sai phạm lớn nhất của nguyên tắc bảo mật và kỷ luật sẽ rất nặng.

        Nguyễn Chơn nói:

        - Chấp hành đi, có chuyện gì Chơn chịu. Bây giờ, nếu địch biết rõ quân ta đang tiến tới đâu, thì chúng sẽ tan rã nhanh hơn.

        Ngày 28 tháng 3, địch dùng máy bay ném bom sập cầu Bà Rén và 2 nhịp cầu Câu Lâu bắc qua sông Thu Bồn. Cánh quân tiến theo đường 1 phải vượt qua sông Bà rén ở phía đông cầu 200m, được du kích dẫn đường vòng qua thị trấn Nam Phước. Trung đoàn 38 có nhiệm vụ đánh chiếm Vĩnh Điện để Trung đoàn Ba Gia vượt lên phía trước đánh vào các cơ quan đầu não của địch ở Đà Nẵng.

        5 giờ sáng ngày 29 tháng 3, qua cửa mở Vĩnh Điện, bộ đội ta dùng tất cả các phương tiện có được như xe đò, xe lam, xe tải, ào ạt tiến ra Đà Nẵng. Trước đó, nhân dân hai bờ sông Thu Bồn đã huy động hàng trăm ghe, thuyền các loại chở bộ đội vượt sông sang Cẩm Hà, rồi từ đó vòng lại Vĩnh Điện tiến theo đường số 1.

        Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn mặc bộ bà ba, cùng tổ trinh sát đi trước đội hình. Đến Viêm Tây, Trung đoàn Ba Gia gặp một đại đội địch chốt chặn, xả đại liên vào đội hình Tiểu đoàn 60. Hơn chục chiến sĩ thương vong. Đó là những người hy sinh sau cùng ngay trước giờ giải phóng Đà Nẵng. Sau khi tổ chức bao vây và đánh vu hồi, đại đội địch này tan rã. Qua khỏi Viêm Tây, Trung đoàn Ba Gia được tăng cường một tiểu đoàn của Trung đoàn 31 hình thành hai mũi đánh chiếm sân bay và sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:11:58 AM

        Ở cánh phải, sau khi vượt sông Cẩm Lệ, đánh tan một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ ngụy, Tiểu đoàn 40 dùng ngay xe bọc thép M113 thu được của địch, nhanh chóng phát triển vào sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy. Đúng 12 giờ, Tiểu đoàn kéo cờ chiến thắng lên cột cờ trung tâm của sở chỉ huy địch; Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn có mặt tại phòng làm việc của trung tướng Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1 ngụy cùng lúc với các chiến sĩ của mình. Trong phòng, mọi thứ vẫn còn nguyên. Nguyễn Chơn thu 4 lá cờ, một cờ ngày thành lập quân đoàn, một cờ do Mỹ tặng, một cờ chiến thắng Mậu Thân năm 1968 và một cờ chiến thắng Quảng Trị năm 1972. Trên tấm bản đồ tình huống có các ký hiệu biểu thị các mũi tấn công của quân ta dừng lại ở một điểm giữa Tuần Dưỡng và Hà Lam. Ngô Quang Trưởng bỏ lại cả súng ngắn và con dấu. Nguyễn Chơn lệnh cho đồng chí Suyền - trợ lý tham mưu quay vào Thanh Quýt báo cáo với đồng chí Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy, Chính ủy Quân khu 5 việc đã chiếm được sở chỉ huy quân đoàn 1. Đồng chí Bí thư cẩn thận hỏi lại là có đúng là toà nhà quân đoàn 1 không, vì Đà Nẵng có nhiều khu nhà giống nhau, đồng chí Suyền đưa con dấu ra, khẳng định là đúng.

        Ở hướng tấn công chủ yếu, sau khi vượt Cầu Đỏ, Tiểu đoàn 60 tiếp tục tiến theo đường số 1 đến ngã ba Huế đánh vào trung tâm thành phố. Tiểu đoàn 90 đánh vào sở chỉ huy sư đoàn không quân ngụy và sân bay Đà Nẵng. Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 cũng vừa bôn tập tới đánh vào phía tây sân bay. Đúng 12 giờ, hai tiểu đoàn đã bắt được liên lạc với nhau.

        Sau khi chiếm Vĩnh Điện, ra đến ngã ba Bồ Mưng gặp xe của nhân dân ra đón, theo kế hoạch, Trung đoàn rẽ về hướng Non Nước, đánh thẳng ra Sơn Trà. Tại đây, các đơn vị của Trung đoàn 97 Quảng Đà đã đánh lướt qua. Khi Trung đoàn 38 đến, bọn lính thủy đánh bộ từ trung tâm thành phố chạy qua cụm lại chống cự. Trung đoàn tổ chức Tiểu đoàn 4 bao vây số địch này, còn bộ đội tiếp tục phát triển về phía Sơn Trà.

        Sau khi vượt đèo Hải Vân, Quân đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm các tuyến Thuỷ Tú, Nam ô, cánh Phú Lộc. Trưa ngày 29 tháng 3, bộ phận đi đầu của Quân đoàn đến ngã ba Cai Lang. Sau khi xác định các mục tiêu trong thành phố đã được các đơn vị bạn chiếm, Quân đoàn vượt cầu Trịnh Minh Thế, tiến thẳng ra Sơn Trà. Cuộc hội quân của bộ phận đi đầu của Quân đoàn 2 với Trung đoàn 38 ở trung tâm bán đảo Sơn Trà vào lúc 15 giờ ngày 29 tháng 3. Đây là giờ giải phóng Đà Nẵng.

        Ở hướng tây, sau khi đánh chiếm Sơn Trà, Sư đoàn 304 đánh chiếm Gò Cà, Hoà Cầm theo đường 14 và bắt liên lạc với Trung đoàn Ba Gia ở sân bay Đà Nẵng lúc 13 giờ.

        Tại tòa thị chính, Trung đoàn 96 Quảng Đà cùng Tiểu đoàn đặc công 491, Tiểu đoàn biệt động Lê Độ cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên nóc tòa thị chính .- biểu tượng cho quyền lực thành phố, rồi sau đó đánh chiếm quân vụ thị trấn và đài phát thanh.

        Đà Nẵng - thành phố lớn thứ hai của miền Nam Việt Nam, một khu liên hợp quân sự nổi tiếng được Mỹ xây dựng, có đủ các căn cứ hải, lục, không quân hiện đại, một trung tâm chỉ huy và điều hành cả khu vực miền Trung của ngụy quyền Sài Gòn đã thất thủ.  

        Trong những ngày tưng bừng mừng Đà Nẵng trở về trong lòng đất nước, Nguyễn Chơn vẫn phải khẩn trương giải quyết những công việc của người Sư đoàn trưởng một sư đoàn chủ lực đang đứng chân trên địa bàn thành phố, trong đó có việc truy lùng bọn phản động, chiêu hồi, tổ chức cho Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 38 và một bộ phận pháo binh Sư đoàn cùng bộ đội hải quân giải phóng quần đảo Trường Sa.

        Rời cảng Đà Nẵng ra khơi, các chiến sĩ vừa ở trên rừng xuống gặp cơn lốc lớn trên biển. Gió xoáy mạnh, sóng nối nhau ép vào mũi tàu, phủ qua đài chỉ huy. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ say sóng, không ăn uống gì được. Nhưng phát huy truyền thống chiến đấu của Sư đoàn anh hùng, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Hải quân, trong tháng 4 đã cùng các đơn vị bạn lần lượt tấn công giải phóng các hòn đảo trên quần đảo Trường Sa.

        Trong những ngày chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra sôi động, Sư đoàn 2 được phân công đứng chân tại vùng Đà Nẵng làm dự bị cho chiến dịch, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi có lệnh.

        Vào một ngày tháng 4, Nguyễn Chơn về làng Phú Lộc thăm nhà. Anh xa Đà Nẵng đã lâu nên trong ký ức của anh Đà Nẵng chỉ có những con phố nhỏ, cát vào tận hiên nhà. Hai con đường chạy dọc sông Hàn bên tả ngạn là trục chính của thành phố. Đà Nẵng vào những năm này phố xá nhiều hơn, cảng lớn, sân bay rộng bằng cả thành phố cũ và đã có nhiều khách sạn lớn, nhưng làng quê anh vẫn như xưa. Đường làng cát vẫn ngập mắt cá, vẫn những ngọn dừa, những hàng dương phất phơ trước gió biển. Cha anh dù tuổi đã lớn, nhưng còn khoẻ, xúc động ôm lấy con:

        - Có phải đây là thằng Chơn không?

        Cả nhà vây lấy anh. Những người ruột rà của anh đây, những Cấp, những Nhã, những Khâm, những út của anh đây. Còn cả họ hàng nội, ngoại. Cả thôn đến thăm anh. Nguyễn Chơn vui cái vui của gia đình, của quê hương vừa giải phóng được không lâu. Rồi anh lại phải chia tay mọi người để về đơn vị. Công việc bộn bề đang chờ anh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:26:14 PM
   
*

*        *

        Những năm sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người chỉ huy Nguyễn Chơn nhận cương vị chỉ huy lãnh đạo ở nhiều đơn vị khác nhau, nhưng đồng thời, đó là thời gian anh có điều kiện để học tập hoàn chỉnh những kiến thức mà anh đúc kết được trong thực tiễn chiến đấu. Những tháng ngày tưởng như bình lặng này, thực chất là cuộc chuẩn bị để anh, như bao lần khác đảm nhiệm những cương vị cao hơn, nhận những trách nhiệm nặng nề hơn.

        Sau giải phóng Đà Nẵng, Sư đoàn 2 về đóng quân ở Tuần Dưỡng - một căn cứ cũ của Mỹ và ngụy. Những ngày hoà bình đầu tiên bận rộn đủ đường. Đơn vị phải xây dựng doanh trại để từng bước chuyển bộ đội vào nền nếp chính quy, hiện đại. Cũng như những ngày lăn lộn trên chiến trường, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn bắt tay vào công việc không có ngày nghỉ, vẫn quyết đoán, cẩn trọng, sáng tạo, tin yêu đồng đội, lắng nghe được nỗi niềm của chiến sĩ và việc gì cũng phải làm đến nơi đến chốn.

        Tháng 4 năm 1976, Nguyễn Chơn ra Hà Nội để học cho xong chương trình văn hoá phổ thông, mà vì nhiệm vụ anh đã phải bỏ dở. Sau đó, anh vào học chính trị ở trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc Trung ương. Rồi từ biên giới Tây Nam, từ biên giới phía Bắc, những thế lực phản động thù địch với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, bắt đầu gây rối.

        Đầu năm 1979, trong một ngày, Nguyễn Chơn nhận được hai lệnh. Lệnh đầu bổ nhiệm anh giữ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn 1 . Lệnh thứ hai điều anh về làm Phó Tư lệnh Quân đoàn 2.

        Trong 4 năm 8 tháng ở Quân đoàn 2, với cương vị Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng, rồi sau đó là Tư lệnh Quân đoàn, Nguyễn Chơn cùng với Quân đoàn tiếp nhận trang bị, vũ khí, khí tài tiên tiến. Ở đây, anh phải học tập ngày đêm để không ngừng nâng cao trình độ chỉ huy chiến tranh hiện đại.

        Năm 1983, Nguyễn Chọn được cử sang học tập tại Học viện Quân sự Cao cấp Liên Xô. Đây là một khoá tập huấn để nâng cao trình độ chỉ huy chiến lược và làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại. Hai vấn đề được đặt lên hàng đầu của khoá học này là công tác tham mưu và quản lý kỹ thuật.

        Tháng 10 năm 1983, Nguyễn Chơn lại được điều trở về quân khu 5, lúc đầu giữ chức vụ Phó tư lệnh, sau đó là Tư lệnh Quân khu và anh lại gắn bó với chiến trường này thêm 3 năm 7 tháng nữa.

        Lúc này, tình hình chiến trường Cam- pu- chia đang rất khẩn trương. Tư lệnh Quân khu Đoàn Khuê được điều vào Bộ Tư lệnh Tiền phương với cương vị Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng nên không kịp bàn giao. Sở chỉ huy Quân khu 5 lúc ấy được đặt ở hai nơi: Đà Nẵng phía sau, Stung-treng phía trước. Tình hình hậu phương đang phức tạp, chuyện vượt biên trốn ra nước ngoài ngày nào cũng xảy ra. Trên địa bàn Tây Nguyên, lực lượng FULRO hoành hành, mặc dù là vùng rốn, là vùng căn cứ cách mạng, mà giờ cũng bị mất ổn định chính trị. Trước thực trạng đó, Nguyễn Chơn quyết định phải khẩn trương lên Mặt trận nắm tình hình tại chỗ. Anh nhận ra các trận đánh của quân ta không đạt được hiệu quả là do đánh từ xa, đánh vào chính diện và chủ yếu dựa vào hỏa lực, chỉ xua địch chạy, chứ không tiêu diệt được từng đơn vị địch. ở điểm cao 547, một sư đoàn của ta đánh hai lần đều thất bại, bỏ cả thương binh, liệt sĩ ở trận địa, vì địch cài nhiều mìn nên thương vong của ta do mìn quá lớn. Bọn địch này rất lạ, rất hiểu ta. Về ta, chủ yếu là các đơn vị cũ nhưng lại rất mới. Vì quân của Sư đoàn 2 có bảy mươi phần trăm là lính mới. Nhưng cái khó nhất là làm sao tập trung được ý chí, trí tuệ của nội bộ Quân khu, vì những lý do nào đó mà bị phân tán và đang còn khúc mắc. Nguyễn Chơn hiểu rằng, chỉ có đánh thắng mới giải quyết được cơ bản những việc này.

        Anh lại bắt tay cùng Bộ Tư lệnh Quân khu làm từ việc nhỏ trở lên. Anh đi đến các sư đoàn 315, 307, 2 đang tham chiến thực hiện lại dân chủ quân sự, cùng nhau bàn bạc giải quyết những vướng mắc, những khó khăn dù là nhỏ nhất một cách chu đáo. Cùng với thời gian, thành quả đã đến, đó là chiến thắng ở điểm cao 547 (tháng 4 năm 1984) và căn cứ Ba Biên giới (tháng 1 năm 1985).

        Tháng 5 năm 1987, Trung tướng Nguyễn Chơn được điều ra Bộ Tổng Tham mưu với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác chiến. Rồi anh được phong hàm thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách phòng thủ. Trên mười năm công tác ở cơ quan chiến lược, Nguyễn Chơn lăn lộn đến với các đơn vị, các khu phòng thủ, các đảo xa. Với cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyễn Chơn đến Trường Sa 7 lần. Các sáng kiến của anh trong việc củng cố các khu phòng thủ, các hải đảo độc đáo mà đơn giản, làm tăng thêm khả năng chiến đấu của quân đội và tiết kiệm ngân sách quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:31:17 PM
     
TRONG SƯƠNG MÙ AN SƠN

Nhà văn NGUYỄN MINH KHÔI        

        An Sơn là một thung lũng hẹp ở huyện Hiệp Đức. Chung quanh có núi đồi bao bọc, thỉnh thoảng có vài đỉnh cao nhô lên trông rất hùng vĩ. Phía tây An Sơn là núi Tráp, Gò Đu, núi Bàn Cờ. Phía đông nam là núi Liệt Kiểm, kéo dài lên phía tây nam một chút là núi Chia Gan. Phía Bắc có núi Chôm và các đèo qua Quế Sơn như đèo Răm, đèo Rập Cu. Con sông Trầu chảy qua An Sơn theo hướng từ tây sang đông, gần như song song với đường 16, tạo thành những cánh đồng nhỏ dọc theo ven đường, lúc bấy giờ mọc đầy lau sậy do bị bỏ hoang lâu ngày. Đây là vùng trắng, phi pháo địch tha hồ tự do oanh kích vì nhân dân địa phương đã bị xúc tát vào các khu đồn ở quận Quế Sơn và quận Hiệp Đức.

        Một thung lũng sương mù rất đẹp, nhưng cũng đầy bom đạn, chết chóc kể từ khi lữ đoàn bộ binh 196 thuộc sư đoàn A- mê- ri- cơn Mỹ đổ quân lên đóng ở Liệt Kiểm. Đây là một đỉnh núi cao, đứng ở đây có thể quan sát một vùng rộng lớn từ ngã ba Đồng Tranh đến quận ly Hiệp Đức, từ An Tráng qua Phước Tuy, Phước Hòa, từ sông Trầu đến tận Châu Sơn... Trên núi, ngoài bộ chỉ huy lữ đoàn còn có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo 155 ly luôn luôn trực chiến. Dưới chân núi có từ 1 đến 2 đại đội thường xuyên dùng chiến thuật "Mỹ lết" nống ra càn quét khu vực An Sơn, An Cường, Cẩm Tú... Trong lúc đó, 1 tiểu đoàn khác đóng dã ngoại ở Sơn Bình, bên kia sông Tranh, vừa tảo thanh càn quét, vừa sẵn sàng ứng phó khi có lệnh. Yểm trợ cho các hoạt động của lữ đoàn 196 có các loại máy bay ném bom, cường kích, trực thăng; bộ phận trinh sát thuộc lữ đoàn không vận số 3 Mỹ đóng tại Cấm Dơi; các trận địa pháo 105, 155, 175 ly đóng tại Núi Quế, Cấm Dơi, Việt An... sẵn sàng chi viện tối đa hỏa lực phi pháo theo yêu cầu.

        Mùa đông năm 1967, để đánh lạc hướng nghi ngờ của địch, trong lúc chuẩn bị cho chiến dịch Tết Mậu Thân (T25) và để báo thù cho các đồng chí ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 hy sinh tại Động Mông - Đá Hàm. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định giao cho 2 sư đoàn chủ lực Quân khu mở một đợt hoạt động đánh Mỹ trên địa bàn từ Quế Sơn đến Hiệp Đức. Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) được giao nhiệm vụ diệt địch ở khu An Sơn, An Cường, Cẩm Tú, dưới chân núi Liệt Kiểm.

        Nguyễn Chơn lúc bấy giờ là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1. Trong đội hình Trung đoàn có 3 tiểu đoàn 40, 60 và 90, được tăng cường thêm hai khẩu cối 120 ly cùng một số phân đội trợ chiến. Phối hợp với Trung đoàn 1 còn có Trung đoàn 31 đang chiến đấu với lữ đoàn không vận số 3 trong thung lũng Quế Sơn.

        Sau khi nhận nhiệm vụ, Nguyễn Chơn lại đi nghiên cứu chiến trường. Lần nào cũng vậy, anh luôn coi trọng công tác trinh sát và nắm địa hình chiến đấu. Với anh, đó là yếu tố quyết định để giành thắng lợi. Lần này, anh chọn quyết chiến điểm là một khu vực gần sát căn cứ địch. Cách đánh cũng là một chiến thuật lạ: "đem mỡ treo miệng mèo".

        Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường, đêm 7 tháng 1 năm 1968, anh đưa cả đội hình Trung đoàn vào khu chiến. Ở ngã ba nhà máy xay dưới chân núi Liệt Kiểm, anh cho trung đội cao xạ đào công sự, đặt 2 khẩu 12,7 ly. Phía trước có một tiểu đội bộ binh làm nhiệm vụ bảo vệ. Các đơn vị còn lại rút ra vòng ngoài chờ lệnh.

        Sáng sớm ngày 8 tháng 1, theo thông lệ, một phi đội trực thăng Mỹ chuyển đồ tiếp tế lên Liệt Kiểm. Hai khẩu 12,7 ly của trung đội cao xạ của Trung đoàn 1 đồng loạt nhả đạn. Tuy chưa có chiếc nào bị thương, nhưng bọn Mỹ rất tức tối, liền cho một đại đội Mỹ từ Liệt Kiểm tiến xuống đồi Cây Si, vòng qua Cẩm Tú hướng về nhà máy xay. Nguyễn Chơn liền ra lệnh cho Tiểu đoàn 60 lập tức chuyển đội hình bám theo phía sau đội hình địch. Cùng lúc đó, một đại đội Mỹ khác từ núi Tráp cũng được lệnh kéo xuống vượt qua đường 16, tiến về nhà máy xay. Tiểu đoàn 90 liền được lệnh bám theo đại đội này. Từ phía Cầu Chìm, một đại đội lính Mỹ khác làm mũi thứ ba tiến về phía miếng mồi béo bở đang treo sẵn. Tiểu đoàn 40 lập tức bám theo sau. Như vậy là cả 3 đại đội của tiểu đoàn 3 lữ đoàn bộ binh 19 Mỹ đã bị 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 bí mật bao vây. Có điều khác nhau là trong lúc bộ binh Mỹ di chuyển trên đường mòn, thì bộ đội ta lại vận động trong lau lách.

        Vào ngày mồng 8 tháng giêng ấy, thung lũng Hiệp Đức dày đặc mây mù, nên hàng chục các ống nhòm trên đỉnh Liệt Kiểm cũng trở nên vô hiệu. Các sĩ quan của Mỹ không thể nào phát hiện ra việc các tiểu đoàn của Trung đoàn 1 bám theo sau đội hình các đại đội Mỹ. Không còn nghi ngờ gì nữa, với một lực lượng hùng hậu như vậy, "bọn Việt cộng sẽ bị đè bẹp trong tích tắc?". Nhưng các sĩ quan tác chiến Mỹ không thể ngờ rằng sau lưng và hai bên sườn của đại đội bộ binh Mỹ là ba tiểu đoàn thiện chiến nhất  của Quân khu 5.

        Từ trên đài chỉ huy, Nguyễn Chơn nhận điện báo từ trận địa phòng không gọi về:

        - Báo cáo thủ trưởng: Mỹ, nó đông lắm!

        Nguyễn Chơn trả lời:

        - Yên trí, trên này thấy hết rồi. Cứ bắn cho thật chính xác vào

        - Nhưng quân Mỹ đông quá, tụi em sợ mất mấy khẩu 12,7 ly thì tiếc lắm, thủ trưởng ơi!

        - Cứ bình tĩnh - Nguyễn Chơn vừa nói vừa cười trong máy bộ đàm. Nếu mất súng, mình sẽ đền cho mấy cậu.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:46:04 PM

        12 giờ 20 phút, khi thấy bọn Mỹ đã tiến gần đến nhà máy xay, Nguyễn Chơn liền ra lệnh cho đại đội cối 82 ly của Trung đoàn và trung đội cối của Tiểu đoàn 90 cùng các khẩu 12,7 ly tập trung hỏa lực bắn mạnh vào đội hình địch, đồng thời lệnh cho trận địa cối 120 ly bắn lên Liệt Kiểm để kiềm chế pháo địch.

        Bất ngờ chạm phải hỏa lực của ta, địch giạt ra bên ngoài để tổ chức phản công. Lúc này, Tiểu đoàn 90 đã chia làm 3 mũi tiến công vào đội hình địch. Mũi thứ nhất đánh dọc theo sông Trầu qua Khe Cạn, nơi quân địch đang co cụm lại để tránh hỏa lực. Mũi thứ hai vận động ra đánh địch ở cánh đồng trước cầu xi măng, gần ngã ba nhà máy xay. Mũi thứ ba đánh vào thôn An Sơn. Cùng lúc đó, Tiểu đoàn 40 từ thôn An Cường 3 xuất kích ra bắc sông Trầu chặn đường rút lui của địch.

        Nhận thấy đội hình địch đang có dấu hiệu rối loạn, Nguyễn Chơn liền ra lệnh cho các phân đội vệ binh, trinh sát của Trung đoàn đổ ra đánh dọc theo sông Trầu để khoét vào mạn sườn quân địch. Do những tên lính truyền tin bị diệt từ ban đầu, nên phi pháo hỏa lực địch bất lực, vì không phân biệt được ranh giới hai bên và cũng do chủ quan vì tưởng rằng sẽ giải quyết nhanh trận địa, nên lính Mỹ khi ra trận có nhiều tên không mặc quần dài, có tên lại ở trần, chỉ mang theo một số đạn vừa đủ, không có cơ số dự phòng. Sau khi bắn hết đạn, chúng chẳng biết làm sao đối phó, đành vứt súng nhảy xuống sông Trầu tìm cách lẩn trốn, nhưng hầu hết đều bị tiêu diệt.

        16 giờ 10 phút, tiểu đoàn 3 lữ đoàn 196 cơ bản bị Trung đoàn 1 loại khỏi vòng chiến đấu. Một đại đội bị thiệt hại nặng, hai đại đội bị diệt hoàn toàn. Xác lính Mỹ chết và số bị thương nằm ngổn ngang khắp khu chiến. Được sự cho phép của cấp trên, Nguyễn Chơn thông báo cho sở chỉ huy lữ đoàn 196 cho máy bay đến tải thương, nhưng có lẽ sương mù nhiều, nên đêm đó địch không đến lấy xác.

        Sau trận đánh, Nguyễn Chơn đi dọc theo trận địa. Mùi thuốc súng vẫn bay nồng trong không gian tương đối yên tĩnh của thung lũng sau một ngày rền vang tiếng bom đạn. Anh đến thăm trận địa phòng không, trò chuyện với các chiến sĩ:

        - Thế nào, các cậu có bị mất khẩu nào không?

        Các chiến sĩ đồng thanh:

        - Dạ không ạ. Nhưng lúc đầu, tụi em sợ giữ không nổi.

        - Cũng đúng thôi - Nguyễn Chơn cười - Nhưng nếu không có mấy khẩu cao xạ của các cậu, làm sao giữ được bọn  một chín sáu?

        Một chiến sĩ tán dương:

        - Dạ, thủ trưởng tài quá trời.

        - Thôi, các cậu củng cố công sự rồi tranh thủ nghỉ ngơi, Ngày mai còn đánh lớn lắm đấy.

        Do đã chuẩn bị trước, nên ngày hôm sau, khi bọn Mỹ cho các loại máy bay trực thăng, cường kích lên điên cuồng ném bom, bắn phá các thôn An Cường, Cẩm Tú và cho bắn cấp tập vào khu chiến, nhưng bộ đội đã chuẩn bị tinh thần sẵn nên không bị bất ngờ.

        Khoảng 8 giờ ngày 9 tháng 1, lữ đoàn 196 đưa tiểu đoàn thứ hai vào thung lũng An Sơn. Các cánh quân Mỹ tiến dọc hai bờ sông Trầu, đến cầu xi măng thì tỏa ra tiến vào An Cường 3 và Cẩm Tú, một mũi khác tiến vào nhà máy xay.

        8 giờ 40 phút, Nguyễn Chơn lệnh cho các tiểu đoàn 40, 60 xuất kích. Ngay lập tức, các đại đội 5, 6 của Tiểu đoàn 60, các đại đội 3, 4 của Tiểu đoàn 40 áp sát đội hình địch, nổ súng tiến công vào hai bên sườn và phía chính diện, buộc địch phải tháo lui khỏi Cẩm Tú. Một đại đội khác của Tiểu đoàn 60 từ An Cường 3 đánh tiêu diệt cánh quân Mỹ đang tiến vào khu vực này. Để chi viện hỏa lực cho các tiểu đoàn, đồng chí Phan Dương Tuyển - trợ lý tác chiến của Trung đoàn, chỉ huy một phân đội gồm vệ binh và trinh sát, bí mật vận động đến bắc sông Trầu dùng lựu đạn tiêu diệt các ổ đại liên địch, sau đó tiêu diệt cánh quân Mỹ đang tập trung ở Khe Cạn.

        14 giờ, toàn bộ quân Mỹ ở bắc sông Trầu đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt. Riêng cánh quân phía nam ở nhà máy xay còn khoảng một trung đội đang chạy về cụm lại ở hào giao thông ấp chiến lược An Sơn cũ. 16 giờ, Nguyễn Chơn lệnh cho Tiểu đoàn 90 dự bị, do Trung đoàn phó Thi trực tiếp chỉ huy vào cuộc. Sau 30 phút chiến đấu, các chiến sĩ Tiểu đoàn 90 đã cùng với các cánh quân khác tiêu diệt gọn các cánh quân Mỹ ở Cẩm Tú, An Cường. Kết thúc trận đánh thắng lợi.

        Sau 2 ngày quần nhau với giặc, các chiến sĩ Trung đoàn 1 dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Chơn đã tiêu diệt 2 đại đội và ban chỉ huy tiểu đoàn 3 lữ đoàn 196 bộ binh Mỹ, đánh thiệt hại nặng 4 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 lính Mỹ, bắt 16 tên, băng bó và phóng thích hàng chục tên khác, bắn cháy 4 máy bay, thu 61 súng các loại, 18 máy truyền tin và nhiều quân trang quân dụng khác.

        Thể hiện tính nhân đạo của người Việt Nam, được sự đồng ý của cấp trên, Nguyễn Chơn bố trí địa điểm, cho phép máy bay Mỹ đến lấy xác đồng bọn và di chuyển thương bính. Ngày 10 tháng 1 năm 1968, hàng chục máy bay trực thăng Mỹ mang cờ hồng thập tự đã đáp xuống thung lũng An Sơn thực hiện công việc này. Thung lũng An Sơn dày đặc sương mù và khét lẹt mùi thuốc súng mãi mãi là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với lính Mỹ thuộc lữ đoàn 196 còn sống sót sau trận đánh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:48:40 PM

THẮNG LỚN Ở ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Ở CÁC ĐIỂM CAO 723 VÀ 660

        Năm 1970, một niềm vui lớn đến với Nguyễn Chơn trong đời quân ngũ. Đó là việc anh vinh dự được cấp trên tin tưởng đề bạt làm Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5. Đây là những ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Quân đội về những cống hiến, đóng góp xuất sắc của anh trong suốt quá trình cầm súng đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc. Nhận được vinh dự lớn lao này, Nguyễn Chơn càng cảm thấy mình phải phấn đấu rèn luyện, nỗ lực nhiều hơn để không phụ lòng tin yêu của lãnh đạo, đồng chí và đồng đội.

        Với ý thức đó, anh cùng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 2 bước vào trận Đường 9 - Nam Lào, cuộc đụng đầu lịch sử giữa các đơn vị thiện chiến của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và các sư đoàn được xem là tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn.

        Lúc bấy giờ là mùa xuân năm 1971 và chiến cuộc đã bước sang ngày thứ 24.

        Đây là cuộc quyết chiến chiến lược lớn nhất từ khi nổ ra chiến tranh chống Mỹ cho đến thời điểm đó. Địch gọi đây là "Chiến dịch Lam Sơn 719" với những mục tiêu đầy tham vọng là cắt đứt hành lang chiến lược Bắc - Nam, chặn đứng con đường tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam theo đường Trường Sơn, đồng thời thực hiện việc đưa quân ngụy ra đọ sức với quân giải phóng, tiến tới thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Ních- xơn. Về phía địch, gồm có sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến, liên đoàn biệt động quân, thời điểm cao nhất lên đến 55.000 tên, trong đó có 15.000 lính Mỹ đóng bên này biên giới, các lữ đoàn thiết giáp với 578 xe tăng và xe bọc thép các loại, 11 tiểu đoàn pháo binh ngụy, 5 tiểu đoàn pháo binh Mỹ với tổng cộng 318 khẩu đại pháo từ 105 ly trở lên và gần 1.000 máy bay các loại. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gồm có Binh đoàn B70 (gồm 3 sư đoàn chủ lực là 304, 308, 320, một số trung đoàn độc lập và các đơn vị binh chủng kỹ thuật), các đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh 559, cùng với Sư đoàn 2 của Quân khu 5 và Sư đoàn 324 của Mặt trận B5. Khu chiến trải rộng hàng trăm cây số vuông dọc theo đường 9 và các khu vực lân cận thuộc huyện Sê Pôn tỉnh Sa- va- na- khét, Nam Lào.

        Ngày 8 tháng 2 năm 1971, tức 13 tháng giêng năm Tân Hợi, các đơn vị quân ngụy bắt đầu vượt biên giới Việt Lào. Các tướng lĩnh Mỹ đều đinh ninh rằng: "Đây sẽ là một đòn bất ngờ giáng xuống đầu Việt cộng..." Nhưng họ không ngờ rằng Việt Nam đã nắm được mọi tin tức tình báo liên quan đến chiến dịch và đã có sự chuẩn bị kỹ để đối phó. Ngay trong ngày đầu tiên, hàng chục tiểu đoàn ngụy bị chặn đánh tơi bời, hàng chục chiếc máy bay bị bắn rơi. Những ngày sau đó, tình hình càng bi đát hơn, tất cả các đơn vị lính ngụy đều bị tiến công trên toàn Mặt trận, không thể nào ứng cứu cho nhau. Chiến dịch Lam Sơn 719 bước đầu bị phá sản.

        Để cứu vãn tình thế, ngày 3 tháng 3 năm 1971, sư đoàn 1 bộ binh - sư đoàn "anh cả đỏ" của quân đội Sài Gòn - được địch đổ xuống các điểm cao 723, 748, 660... Nằm trên dãy Phú Rệp ở phía nam đường 9, cách thị trấn Lao Bảo khoảng 15 cây số về phía tây với nhiệm vụ là dùng các bàn đạp này tấn công tiến chiếm thị xã Sê Pôn, mục tiêu chính của chiến dịch Lam Sơn 719, từ đây sẽ tổ chức họp báo, khuếch trương chiến thắng. Các đơn vị của trung đoàn 1 sư đoàn 1 được đổ xuống điểm cao 723, trung đoàn 2 ở điểm cao 748 sau đó co về điểm cao 660, trung đoàn 3 ớ điểm cao 462.

        Để bẻ gãy kế hoạch tiến quân của địch, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 được giao nhiệm vụ tiêu diệt địch ở điểm cao 723.

        Điểm cao 723 là một điểm cao đột xuất trên dãy Phú Rệp, có vị trí như một pháo đài tiền tiêu nằm giữa núi rừng trùng điệp, có khả năng khống chế đường số 9 và toàn bộ bờ nam sông Sê Pôn. Bên nào chiếm được 723, bên đó sẽ kiểm soát được một vùng rộng lớn dọc bờ nam sông Sê Pôn. Gần điểm cao 723 có trục đường 35, thường gọi là đường Koong Le, thuộc hệ thống đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh chạy qua. Cạnh đó có dốc Nguyễn Chí Thanh nổi tiếng, nơi các đơn vị hành quân bộ vào nam đều phải vượt qua. Vì vậy, với bất cứ giá nào cũng không thể để điểm cao 723 rơi vào tay địch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:52:18 PM
          
        Khi Sư đoàn 2 được giao nhiệm vụ diệt địch ở điểm cao 723, thì Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn cùng đoàn cán bộ quân sự cấp trưởng của Sư đoàn đang vào Tây Nguyên. Nguyễn Chơn chưa kịp ăn hết bữa cơm trưa với đồng chí Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, thì đã vội vàng quay trở lại Nam Lào. Đồng chí Hoàng Minh Thảo cho đoàn công tác của Nguyễn Chơn 3 xe ô tô và 4 tài xế để đi cho nhanh, nhưng rồi tất cả đều bị cháy dọc đường, nên cả đoàn phải hành quân bộ trở lại Mặt trận. Khi vào các anh đi 35 ngày, nhưng khi trở ra chỉ có 18 ngày, trong đó có nhiều hôm phải đi suốt ngày đêm. Để động viên anh em quên bớt mệt nhọc, Nguyễn Chơn thường kể những câu chuyện hóm hỉnh trong lúc đi đường, đôi lúc anh pha trò:

        - Ta đi như thế này là quá chậm. Ngày xưa, để ra đến Thăng Long, Quang Trung chỉ đi có 3 ngày !

        Ra gần đến nơi, Nguyễn Chôn điện cho Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn:

        - Anh Chương ơi, anh bắn cho tôi 4 tràng AK để tôi biết anh ở đâu mà tìm tới chơi.

        Từ đầu dây bên kia, có tiếng cười của Nguyễn Huy Chương:

        - Đồng ý, tôi sẽ bắn cho anh 4 tràng, nhưng phải bắn bằng 12,7 ly thì mới phân biệt được, sau đó anh sẽ bắn lại cho tôi 2 tràng để biết anh ở đâu mà cho con cái đến đón nhé?

        Vừa về đến nơi, Nguyễn Chơn liền tổ chức họp Bộ chỉ huy Sư đoàn, nghe báo cáo tình hình và phương án chiến đấu. Sau khi nghe các ban tham mưu, tác chiến trình bày phương án đánh, Nguyễn Chôn phân tích:

        - Tôi đã nghe các đồng chí trình bày các phương án đánh. Theo tôi, phương án này có nhiều điểm bất lợi. Thứ nhất, địch ở trên cao, ta ở dưới thấp. Nếu ta từ dưới thấp đánh lên như các đồng chí vừa trình bày sẽ nãy sinh nhiều tình huống phức tạp. Thứ hai, đánh theo phương án đó sẽ tốn nhiều thời gian, lực lượng và hiệu quả chắc chắn sẽ không cao. Vì vậy tôi xin đề xuất một phương án mới là:   Đánh theo nhiệm vụ của địch!

        Cả cuộc họp xôn xao. Thế nào là đánh theo nhiệm vụ của địch? Để đánh theo nhiệm vụ của địch phải đánh thế nào?

        Chờ cho không khí lắng xuống, Nguyễn Chơn mới trình bày:

        - Như các đồng chí đều biết, nhiệm vụ của trung đoàn 1 ngụy là chiếm Sê Pôn, vì vậy thế nào chúng cũng từ điểm cao 723 tiến xuống để thực hiện nhiệm vụ này. Do đó ta sẽ không đánh lên. Mà chờ cho chúng tiến xuống thấp rồi mới đánh.  Đây là điểm cốt yếu nhằm biến địch từ chỗ chiếm lợi thế về địa hình trở thành bất lợi, làm cho ta từ chỗ bất lợi thành có lợi. Sau đó ta sẽ dùng chiến thuật “vây, lấn, tấn phá, triệt, diệt”, đồng lọat tiến hành bao vây, đón  lõng cắt đứt đường bộ, đường không, hãm địch trong thế bị vây ép, liên tục bị tiến công và cuối cùng là bị tiêu diệt.

        Phương án của anh đã được hội nghị Đảng ủy Sư đoàn tán thành và được Bộ Tư Lệnh Mặt trận phê chuẩn. Đồng chí Lê Trọng Tấn – Tư lệnh Mặt Trận Đường 9 – Nam Lào điện xuống cho Sư đoàn: “ Đồng chí Chơn và Đồng chí Chương chú ý: đánh điểm cao 723 bằng đặc công, thì không đánh theo kiểu cũ, mà phải đánh dập đầu quân địch ngay từ loạt đạn đầu... .”

        Ngày 8 tháng 3, các tiểu đoàn công binh và đặc công của Sư đoàn 2 bí mật vượt sông Sê Pôn, lót sẵn ở phía đông bắc điểm cao 723. Ngày 10 tháng 3, vòng vây của Sư đoàn 2 quanh điểm cao 723 bắt đầu siết chặt. Lúc này Tiểu đoàn 60 Trung đoàn 1 đã đánh chiếm được toàn bộ điểm cao 680 và sườn tây 723, nhưng gặp tổn thất nặng do phi pháo địch. Đồng chí Hoàng Xuất - Trung đoàn phó Trung đoàn 1 đi cùng tiểu đoàn bị hy sinh, đồng chí Phan Dương Tuyến - Tham mưu trưởng Trung đoàn bị thương nặng. Trước tình hình đó, Nguyễn Chơn quyết định dùng cả hỏa lực và xung lực của Sư đoàn tăng cường sức ép lên trung đoàn 1 ngụy, đồng thời khống chế đường không, cắt hẳn tiếp tế của địch cho điểm cao 723. Liên tiếp trong ba ngày 13, 14 và 15, các loại pháo cối 81 ly, 160 ly, ĐKZ 75, D74... của Sư đoàn tập trung bắn phá làm hỏng 12 khẩu pháo 105 ly và hầu hết các công sự mới làm của địch. Các loại xạ kích khóa chặt đường không, không có một chiếc máy bay nào đáp được xuống điểm cao 723.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:41:56 AM

        Ngày 15 tháng 3, trinh sát Sư đoàn phát hiện địch làm 6 cầu thang dây tại vách núi phía bắc điểm cao 723. Nhận được thông tin này, Nguyễn Chơn từ Trung đoàn 1 vội vã cắt rừng về Sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn đóng dưới chân dốc Nguyễn Chí Thanh ngay trong đêm. Về đến nơi, anh cho mở ngay cuộc họp Ban thường vụ Đảng ủy Sư đoàn, nhận định rằng: Thế nào địch cũng rút chạy khỏi điểm cao 723 theo đúng ý đồ chiến thuật của Sư đoàn. Đúng 1 giờ sáng ngày 16 tháng 3, sau khi rà soát mọi tình huống, anh thay mặt Sư đoàn hạ quyết tâm chậm lắm là ngày 17 tháng 3 phải tiêu diệt xong trung đoàn 1 ngụy. Anh ra lệnh cho Tiểu đoàn công binh 15 nới vây, tạo ra một "cửa mở" để cho địch chui vào, đồng thời giao nhiệm vụ tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy cho Trung đoàn 1 của Sư đoàn.

        Mệnh lệnh của anh được đưa ra ngắn gọn, rõ ràng. Từ lúc đảm nhận cương vị chỉ huy Sư đoàn 2, anh thường nói rất ngắn. Vì theo anh phải để cho cấp chỉ huy Trung đoàn được chủ động trong việc điều động các đơn vị dưới quyền. Nếu mình nói dài, sẽ làm mất thời gian của anh em, mà trong chiến đấu, thời gian đôi khi chính là lực lượng... Anh thường tâm sự với Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn, đồng thời là người bạn thân thiết đã cùng anh vào sinh ra tử như vậy.

        Mờ sáng ngày 16 tháng 3, đài quan sát pháo binh điện báo về Sư đoàn:

        - Báo cáo thủ trưởng, địch rút khỏi điểm cao 723 bằng cầu thang dây, đang hành quân về hướng tây bắc.

        Nguyễn Chơn trả lời:

        - Tốt, tiếp tục theo dõi và báo cáo.

        Sau đó anh gọi điện ra lệnh cho Trung đoàn 141 cắt một cánh quân đánh lên điểm cao 723, rồi từ đó đánh xuống để thúc địch chạy cho nhanh. Đúng như anh dự tính, khi cánh quân này lên đến nơi, thì bộ binh địch đã rút đi, chỉ còn lại 12 khẩu pháo đã bị bắn hỏng. Cánh quân này từ các sườn núi tiếp tục đánh thúc xuống, đẩy địch đi nhanh hơn. Trung đoàn 141 được lệnh đưa 2 tiểu đoàn dự bị bổ sung cho lực lượng đón lõng ở hướng đông. Trong lúc đó, pháo binh tiếp tục bắn chặn các ngả đường, dồn địch vào khu chiến đã chuẩn bị trước.

        Theo kế hoạch, pháo binh sẽ bắn 500 quả, nhưng vì khu chiến trải ra khá rộng, Nguyễn Chơn điện cho Tư lệnh pháo binh Mặt trận:

        - Anh Chung ơi, bắn cho "đồng hương" 1.000 quả được không?

        Tư lệnh pháo binh trả lời:

        - Được, miễn là các cậu "dọn dẹp" cho sạch sẽ.

        Nguyễn Chơn khẳng định:

        - Yên trí. Cá đã nằm trên thớt.

        Sau khi dứt pháo, các cánh quân của Trung đoàn 1 dũng mãnh xung phong đánh vào đội hình đang rối loạn của địch. Các chiến sĩ ta đang áp sát xé vụn đội hình địch ra từng mảng nhỏ để tiêu diệt. Trong lúc nguy cấp, từng tốp máy bay cường kích của địch liều mạng chui qua lưới lửa của bộ đội phòng không để chi viện cho bộ binh đang chiến đấu một cách tuyệt vọng dưới mặt đất. Cả cánh rừng bị bom na- pan đốt cháy, khu chiến nóng như một chảo lửa, rền vang tiếng bom đạn. Đến 11 giờ, các đơn vị còn lại của địch cụm lại bên sườn cao, tung hỏa mù phân tuyến, gọi máy bay đến thả bom chung quanh.

        Nhận thấy lực lượng tuy còn đông, nhưng tinh thần đã rệu rã, không còn ý chí chiến đấu, Nguyễn Chơn cho họp Bộ chỉ huy Sư đoàn, đề xuất ý kiến giao nhiệm vụ tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy lại cho Trung đoàn 141 và một số đơn vị trợ chiến, còn lại rút Tiểu đoàn 60, Tiểu đoàn 90 của Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 và bộ phận hỏa lực của Sư đoàn xuống vây ép trung đoàn 2 ngụy tại điểm cao 660.

        Ý kiến táo bạo, bất ngờ của anh đã gây ra một cuộc tranh cãi trong Bộ chỉ huy Sư đoàn. Có người không đồng ý chất vấn:

        - Sao không chờ diệt xong 723 rồi hãy đưa quân sang vây ép điểm cao 660?

        Anh Chơn trả lời:

        - Sợ trễ mất thời cơ diệt địch.

        Lại có ý kiến:

        - Đánh như vậy có phiêu lưu quá không?

        - Không hề phiêu lưu - Nguyễn Chơn khẳng định.

        Có người lại hỏi:

        - Đánh như vậy có đúng với phương châm đánh chắc, thắng nhanh, diệt từng đơn vị như nghị quyết của Đảng ủy Sư đoàn đề ra không?

        - Hoàn toàn đúng - Nguyễn Chơn khẳng định tiếp và phân tích - Địch tuy còn đông, nhưng tan rã về tinh thần và rối loạn về chỉ huy. Diệt trung đoàn 1 ngụy hiện nay không cần nhiều lực lượng, mà điều quan trọng là biết cách tổ chức chỉ huy và chọn cách đánh hiệu quả. Dồn lực lượng đông tại điểm cao 723 hiện nay, không chỉ lãng phí về thời gian, quân số mà còn có thể gặp thương vong do phi pháo địch. Nếu ta bất ngờ điều lực lượng sang vây ép điểm cao 660, thì chẳng những tránh được thương vong không cần thiết, mà còn tạo ra thời cơ diệt địch ở cả hai nơi...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:44:27 AM
        Cuộc họp trở thành một cuộc tranh luận sôi nổi do có một vài ý kiến không thống nhất. Để làm dịu bớt căng thẳng, Nguyễn Chơn đề nghị Đảng ủy Sư đoàn cho ý kiến quyết định.

        Bí thư Đảng ủy Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn, sau một lúc cân nhắc, quyết định ủng hộ phương án tiến hành vây ép điểm cao 660 theo đề xuất của Sư đoàn trưởng. Ý đồ táo bạo này được báo lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Mặt trận. Cả hai đồng chí đều tán thành và nhắc nhở: Sư đoàn bằng mọi giá không để trung đoàn 2 ngụy ở điểm cao 660 có thời giờ tháo chạy.

        Được cấp trên phê duyệt, Nguyễn Chơn liền lệnh cho Trung đoàn 1 (thiếu Tiểu đoàn 40) tổ chức vận động sang điểm cao 660 vây ép trung đoàn 2 ngụy. Dưới cái nóng nung người của mùa hè Nam Lào, các chiến sĩ Trung đoàn 1 bí mật vượt qua những dốc núi dựng đứng, những ghềnh đá cheo leo, từ tây điểm cao 723 sang điểm cao 660. Cứ 15 phút một lần, máy bay B52 địch trút bom xuống khu vực quanh các điểm cao 723 và 660. Nguyễn Chơn hai lần bị dính bom, nhưng anh đã may mắn thoát chết, cùng đồng đội khẩn trương tiến về điểm cao 660.

        Trong lúc đó, tại điểm cao 723, cuộc chiến càng lúc càng quyết liệt. Từng tốp B52 đánh phá vòng ngoài, máy bay chiến thuật đánh phá vòng trong. Cả cánh rừng lớn rung lên, cháy khét dưới sức hủy diệt của bom Mỹ, cây cối, đất đai đổ sập ầm ầm như đang động đất. Nắm được quy luật tác xạ của máy bay Mỹ, các đơn vị bộ đội đã áp sát vào đội hình địch, khiến hàng nghìn tấn bom địch rơi vào khoảng không.

        14 giờ ngày 16 tháng 3, khi máy bay Mỹ tạm ngừng bắn phá, các chiến sĩ Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 1, Tiểu đoàn đặc công 10, Tiểu đoàn công binh 15 Sư đoàn từ nhiều hướng bất ngờ ào lên trút đạn vào đội hình địch. 16 giờ 30 phút, viên đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn 1 ngụy bị bắn chết tại trận, các tiểu đoàn 2, 3 cơ bản bị loại khỏi vòng chiến đấu, bọn tàn quân còn lại co cụm bên sườn núi, tổ chức chống trả qua đêm. Đến gần trưa ngày 17 tháng 3, sở chỉ huy trung đoàn 1 ngụy cùng lực lượng còn lại, đều bị tiêu diệt. Để che giấu thất bại, địch vội vàng cho hàng chục lượt chiếc máy bay lên ném bom xóa dấu vết trận chiến.

        11 giờ ngày 17 tháng 3, tin vui chiến thắng truyền đi khắp Sư đoàn, càng thôi thúc bước chân của các chiến sĩ Trung đoàn 1.

        Ngay đêm đó, các cánh quân của Trung đoàn đã đến vị trí tập kết, triển khai đội hình chiếm lĩnh trận địa.  Giữa rừng già tối om, các chiến sĩ lặng lẽ nối chân nhau dò dẫm tiến lên sườn dốc. ánh sáng phát ra từ miếng vải phát quang dán trên lưng người đi trước đã soi đường cho người đi sau. Cả đoàn quân chìm trong những bóng cây chập chờn ẩn hiện trong đêm tối. Lúc này, trên điểm cao 660, các đơn vị thuộc trung đoàn 2 ngụy đang chuẩn bị tháo chạy để tránh nguy cơ bị tiêu diệt theo lệnh của bộ chỉ huy chiến dịch ngụy.

        Đến đêm mới thấy được sự nhạy bén, tài tình của Nguyễn Chơn khi đề xuất phương án đưa quân sang vây ép điểm cao 660. Anh dường như đã nắm trước được ý đồ rút quân của địch. Anh nhận định: Do đã mất điểm cao 723, máy bay địch không thể chui qua lưới lửa phòng không của Sư đoàn để chuyển quân, vì vậy địch phải rút chạy theo đường bộ, men theo sườn đông để tuột xuống điểm cao rồi vượt qua đường ống dẫn dầu của đường 559 lên lại điểm cao 462 để máy bay trực thăng bốc đi.

        Từ nhận định đó, anh quyết định lệnh cho các đơn vị trực thuộc Trung đoàn 1 đến phục sẵn tại đường ống dẫn dầu. Đồng thời lệnh cho một số đơn vị khác đến phối hợp tác chiến.

        Trưa ngày 18 tháng 3, các đơn vị đi đầu của trung đoàn 2 ngụy đã đến vị trí đặt đường ống dẫn dầu. Ngay lập tức, các chiến sĩ Tiểu đoàn 60, Tiểu đoàn 90 nổ súng đánh địch. Bị đánh bất ngờ, địch chống cự yếu ớt rồi tháo chạy lên sườn đông các điểm cao 660, 651 và Phu- rơ- tan. Một cánh quân địch liều chết bảo vệ bộ chỉ huy trung đoàn 2 ngụy chạy lên điểm cao 462. Nguyễn Chơn liền ra lệnh tập trung hỏa lực Sư đoàn bắn sát thương quân địch ở các điểm cao, đồng thời lệnh cho Trung đoàn 1 tạo ra "một cửa mở" để nhử địch xuống thung lũng rồi tiêu diệt. Một số cánh quân khác được lệnh mai phục sẵn ở sông Sê Pôn đề phòng địch dùng máy bay trực thăng bất ngờ bốc chân.

        Mờ sáng ngày 19 tháng 3, trung đoàn 2 ngụy theo "cửa mở" rút chạy về hướng đông, nhưng bị chiến sĩ các tiểu đoàn 60, 90 Trung đoàn 1 phục sẵn đổ ra chặn đánh. Một bộ phận lớn bị tiêu diệt, số còn lại cụm về sườn đông điểm cao Phu- rơ- tan. Pháo binh Sư đoàn tiếp tục bắn truy sát vào đội hình địch, đặc biệt là vào bộ chỉ huy trung đoàn 2 ngụy đang co cụm ở điểm cao 462. Do không còn đường thoát, địch buộc phải tung hỏa mù phân tuyến, gọi máy bay đến oanh kích. Từ trưa ngày 19 cho đến hết ngày 20, máy bay địch lồng lộn bắn phá cày nát trận địa. Chung quanh các điểm cao Phu- rơ- tan và 462, khói lửa mịt mù, tiếng bom rền vang khắp trận địa.

        Nguyễn Chơn len lỏi giữa rừng cây cháy khét, theo dõi sát các diễn biến của trận đánh. Đời anh đã nhiều lần vào sinh ra tử, nhưng đây là lần đầu tiên phải chịu đựng sức ép khủng khiếp của bom Mỹ. Máy bay địch hoạt động 24/24,  hình như chúng sợ rằng nếu ngưng lại, dù chỉ một phút thôi, thì không cứu được đồng bọn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:47:27 AM

        Đêm 20 tháng 3, lợi dụng lúc máy bay cường kích hoạt động cực mạnh, địch cho hàng loạt máy bay lên thẳng đáp xuống điểm cao 462 để chuyển quân. Ngay lập tức, từ khắp các hướng, các chiến sĩ Trung đoàn 1 tập trung hỏa lực bắn tới tấp vào các tốp trực thăng đang quăng thang dây xuống cho đồng bọn leo lên. Hàng chục chiếc bị trúng đạn, có chiếc bị rơi còn dính tòn ten lính ngụy trên dây. Tuy vậy, do điểm cao khá rộng, nên cuối cùng địch cũng liều chết bốc được bọn chỉ huy trung đoàn 2 chạy thoát. Một cánh quân khác của tiểu đoàn 5 ngụy cũng được trực thăng bốc đi tại đường Na Va.

        Sáng ngày 21  tháng 3, có sự tăng cường của Tiểu đoàn 40 vừa tiêu diệt điểm cao 723 về, toàn bộ Trung đoàn 1 mở đợt tấn công dứt điểm vào các cánh quân còn lại của trung đoàn 2 nguy. Ngay sau đợt xung phong đầu tiên, bộ đội ta đã bắt được Nguyễn Khắc Huế - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 ngụy, viên thiếu tá vừa đặc cách thăng lên trung tá tại mặt trận do " đã anh dũng đổ quân chiếm Sê Pôn". Sau khi trung tá Huế bị bắt, đội hình địch càng thêm rối loạn, phần lớn đều bị tiêu diệt hay bắt sống. Trong số vừa bị bắt, có thêm thiếu tá Thuần - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4 ngụy cùng nhiều sĩ quan cấp úy khác. Để đảm bảo cho đội hình Sư đoàn và tù binh địch thoát khỏi những đợt đánh bom hủy diệt của máy bay Mỹ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 60 là Trần Như Tiếp có sáng kiến buộc trung tá Huế dùng máy PRC25 gọi chỉ huy địch yêu cầu ngừng ném bom vì "con cái của chúng ta ở đây còn đông lắm?". Nhờ thế, máy bay Mỹ ngừng ném bom, đội hình Sư đoàn 2 được an toàn. Trận đánh tiêu diệt trung đoàn 2 ngụy hoàn toàn kết thúc khi ánh mặt trời dần khuất sau rặng Phu- rơ- tan.

        Trong bóng hoàng hôn yên ả, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn chầm chậm thả bước trên những sườn đồi còn ngổn ngang xác địch. Anh nhặt một mảnh vỡ văng ra từ thân chiếc máy bay đang còn bốc khói, mỉm cười khi nhìn thấy hàng chữ "U.S.A AIR FORCE" (Không lực Hoa Kỳ) bị cháy sém, chỉ còn lại một vệt đen mờ mờ trông rất thảm hại.

        Lúc đó có chiến sĩ báo cáo:

        - Báo cáo thủ trưởng, đây là kết quả tổng hợp hai trận đánh ở các điểm cao 723 và 660.

        - Đọc đi, tôi nghe đây - Nguyễn Chơn bảo:

        - Ở điểm cao 723, trung đoàn 1 sư đoàn 1 ngụy bị tiêu diệt gọn 4 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, 3 đại đội phối thuộc và sở chỉ huy trung đoàn. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.700 tên, bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm vũ khí, trong đó có 12 đại bác, 19 cối hạng nặng, 3 xe ủi đất, 46 máy PRC25... Ở điểm cao 660, trung đoàn 2 sư đoàn 1 ngụy bị diệt gọn tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 3 và 2 đại đội của tiểu đoàn 5. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.300 tên, bắn rơi 36 máy bay các loại, thu hàng trăm vũ khí, trong đó có 4 khẩu đại bác 105 ly, 50 máy PRC25...

        Nguyễn Chơn vui mừng nói:

        - Tốt quá, nhất định chuyến này Sư đoàn sẽ khao quân lớn...

        Đồng chí chiến sĩ báo cáo tiếp:

        - Báo cáo thủ trưởng, tù binh địch bị bắt quá đông, không biết phải xử lý như thế nào?

        Nguyễn Chơn nói tiếp:

        - Được rồi, chuyện này tôi sẽ bàn bạc với anh Chương để tìm cách giải quyết.

        Do số tù binh bị bắt quá đông, hậu cần Sư đoàn không đủ sức nuôi ăn, nên sau khi bàn với Chính ủy Nguyễn Huy Chương, Sư đoàn quyết định sẽ phát lương khô cho tù binh, sau đó sẽ cột tay chúng thành từng hàng rồi chỉ đường về Sê Pôn để tù binh tự tìm tới. Được khoảng hơn một buổi, thì có điện của Bộ Tổng Tư lệnh gọi về cho Sư đoàn. Nguyễn Huy Chương cầm máy.

        - Đồng chí Nguyễn Huy Chương trả lời cho Tổng hành dinh biết: theo Cục 2 báo cáo, thì đài VOA và đài Sài Gòn rêu rao là chúng đã chiếm được Sê Pôn và tổ chức họp báo ở đó, có đúng không?


        Nhận ra giọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Huy Chương lập tức khẳng định:

        - Thưa Đại tướng, đơn vị địch không có ở Sê Pôn.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi tiếp:

        - Nếu địch không có Ở Sê Pôn, thì đồng chí Chương phải cam kết với tôi là địch không có ở Sê Pôn và đồng chí phải chịu trách nhiệm trước Bộ Tổng về sự xác định này. - Đại tướng nói tiếp:

        - Thưa Đại tướng - Nguyễn Huy Chương quả quyết - đơn vị chiến đấu của địch, thì không có, mà chỉ có tù binh do bộ đội bắt hiện đang dẫn bộ về Sê Pôn để tránh máy bay B52 của Mỹ hủy diệt.

        - Tốt lắm! Chuyến này Sư đoàn 2 làm ăn rất tốt? - Đại tướng Võ Nguyên Giáp cười trong máy - Cho tôi gửi lời thăm tất cả anh em...

        Lời động viên của Đại tướng Tổng Tư lệnh đã khích lệ tinh thần của cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn thêm quyết tâm diệt giặc. Nguyễn Chơn cùng Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn mở Hội nghị tổng kết chiến dịch, cử Nguyễn Huy Chương trực tiếp ra Quảng Bình báo cáo với Bộ Tổng Tư lệnh và xin cho Sư đoàn 2 được mở tiếp chiến dịch hè đánh vào cao nguyên Bô- lô- ven và Pha Lan, Đồng Hến, giải phóng vùng Trung - Hạ Lào.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:49:38 AM

        Trên cao nguyên Bô- lô-ven

        Cao nguyên Bô- lô- ven là một địa bàn chiến lược ở Hạ Lào, nằm trên độ cao 600m đến 1000m, nơi có con đường chiến lược vận tải 559 chạy qua trước khi đổ vào miền Trung Việt Nam. Do chiếm giữ một vị trí hết sức quan trọng, nên ở đây thường xảy ra những cuộc đụng độ ác liệt giữa quân tình nguyện Việt Nam và quân ngụy Lào để giành quyền kiểm soát cao nguyên. Đầu năm 1970, quân tình nguyện Việt Nam và các lực lượng vũ trang nhân dân Lào đã giải phóng thị xã A- tô- pơ, làm chủ cao nguyên một thời gian dài. Nhưng đến cuối năm 1970, thực hiện chiến lược "Đông Dương hóa chiến tranh", Mỹ đã sử dụng các đơn vị quân đội Thái Lan phối hợp với quân nguy Lào chiếm A- tô- pơ, giành quyền làm chủ.

        Trên cao nguyên Bô- lô- ven có Păk Xế, là một thị xã khá sầm uất. Cách Păk Xế khoảng 50 cây số về hướng đông là thị trấn Păk Soòng, nằm ở trung tâm cao nguyên, nơi có nhiều kiều bào Việt Nam sinh sống cùng với các dân tộc khác như Lào, Pháp, Hoa... Nối Păk Soòng với Păk Xế là đường 13, hai bên có hai con suối lớn là Huội Chăn Xi ở phía bắc và Huội Băng Hiêng Ở phía nam, chạy gần như song song với đường 13. Giữa đoạn đường Păk Xế - Păk Soòng có 2 bản của người Lào là Y- tu và Bản Nhik. Với một địa hình như vậy, cả Păk Goòng, Y- tu và Bản Nhik đều tự nhiên trở thành một hệ thống lá chắn bảo vệ cho Păk Xế từ xa.

        Để giải phóng hoàn toàn và vững chắc cao nguyên Bô- lô- ven, bảo vệ và mở rộng đường vận tải chiến lược 559 trên đất Lào, Sư đoàn 2 (thiếu) của Nguyễn Huy Chương được Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ đánh tiêu diệt quân  nguy Lào trên cao nguyên này. Sau khi nhận được lệnh. Nguyễn Chơn liền tổ chức một đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường gấp rút lên đường, còn toàn bộ Sư đoàn (thiếu) sẽ hành quân theo sau.

        Để bảo đảm bí mật, thần tốc, đoàn cán bộ chỉ huy cũng như bộ đội được lệnh đi suốt đêm ngày, không được nấu ăn, chỉ dùng lương khô, cơm vắt ăn qua bữa. Vượt qua bao gian khổ, thiếu thốn dọc đường, 15 ngày sau, Nguyễn Chơn cùng đoàn cán bộ đến Bô- lô- ven. Anh lại lao vào nghiên cứu địa hình, trinh sát thực địa, chọn lựa khu chiến, vạch ra phương án đánh tối ưu để chủ động giành phần thắng.

        Qua công tác trinh sát, Nguyễn Chơn biết rằng trong khu chiến hiện có 2 BV, tương đương với 2 trung đoàn, là BV20 và BV43. Đồng thời qua tin tức tình báo, anh cũng biết rằng địch chuẩn bị điều thêm 3 tiểu đoàn quân Thái và 1 tiểu đoàn hỗn hợp Lào - Thái đến tăng cường cho Păk Xế. Tuy lực lượng đông, nhưng địch chỉ sử dụng 1 đại đội đóng giữ Păk Soòng, 2 đại đội đóng giữ tiểu khu, các đơn vị còn lại đều làm nhiệm vụ cơ động vòng ngoài.

        Vào thời điểm này, cao nguyên Bô- lô- ven đã bắt dầu vào mùa mưa, nhưng tiết trời vẫn còn hanh khô, nắng nóng. Đã hơn 1 giờ sáng, nhưng không khí trong lều chỉ huy vẫn còn oi bức, bên tấm bản đồ khu chiến được vẽ một cách vội vã, Nguyễn Chơn đang đi tới đi lui suy nghĩ. Anh dùng bút đỏ gạch một đường thẳng song song với đường 13 ở phía nam, rồi gạch thêm một đường nữa ở phía bắc. Cuối cùng, anh gạch một đường ngang nối hai đường thẳng song song lại với nhau, phía trước hai vòng đỏ ghi các chữ Y tu - Bản Nhik. "Chỉ có cách này mới trị được bọn ngụy Lào?" - Nguyễn Chơn thở ra một hơi dài khoan khoái, bưng lấy tô cháo nguội ngắt do người cần vụ mang lên từ lúc nửa khuya. Đã từng đánh nhau với quân ngụy Lào, anh biết rằng bọn chúng có một chiến thuật rất kỳ lạ là bỏ chạy khi đụng phải lực lượng mạnh của bộ đội Việt Nam. Chúng chạy không phải vì thua, mà là một thủ đoạn trong chiến đấu để đánh lạc hướng đối phương. Chúng chạy có tổ chức, chạy rồi tập hợp lại tại những địa điểm có quy định trước, sau đó mới quyết định tổ chức phản công hay rút lui tùy vào tình hình thực tế. Bởi vậy, một trận đánh dù chiếm ưu thế, nhưng để cho quân ngụy Lào bỏ chạy, thì chưa kể đó là một trận đánh thắng. Chính vì vậy Nguyễn Chơn đã chọn phương án "lùa vịt vô chuồng" bằng cách dùng đại bộ phận Trung đoàn 1 và các đơn vị trực thuộc như xe tăng, cao xạ, trinh sát, vận tải, đặc công, công binh... phục hai bên đường 13, cách đường 13 từ 3 đến 4 cây số trước Y- tu - Bản Nhik, cắm khoảng 2 triệu cây chông trên phía chính diện, hình thành nên thế trận bao vây từ ba mặt. Với phương án đó, bọn ngụy Lào sẽ bị dồn vào thế tiến thoái lưỡng nan, muốn chạy cũng không được, muốn co cụm cũng không yên.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:50:11 AM

        Sau khi các đơn vị đã vào vị trí chiến đấu, Nguyễn Chơn ra lệnh cho Trung đoàn 1 đánh trận mở màn. 1 giờ sáng ngày 16 tháng 5 năm 1971, chiến sĩ các tiểu đoàn 90, 40 trung đoàn 1 đồng loạt nổ súng tiến công thị xã Păk Soòng. Do bị đánh bất ngờ bởi một lực lượng áp đảo về quân số lẫn pháo binh, xe tăng, quân ngụy Lào ở Păk 8oòng và tiểu khu nhanh chóng bị tiêu diệt. Các đơn vị vòng ngoài "vội vàng" chạy về co cụm ở Y- tu - Bản Nhik. Trung đoàn 1 hoàn toàn làm chủ trận địa sau hơn 4 giờ tiến công diệt địch. Đòn phủ đầu đã thu được thắng lợi lớn. Păk Soòng được giải phóng, nhưng nhân dân trong thị xã còn dè dặt, chưa dám tiếp xúc với bộ đội. Nguyễn Chơn liền ra lệnh cho toàn Sư đoàn triệt để làm công tác dân dận: không được đụng vào tài sản của dân, dù chỉ là một con gà; nhiệt tình giúp đỡ dân từ việc nhỏ đến việc lớn...Chẳng bao lâu nhân dân trong toàn thị xã đã cảm nhận được đạo đức và tình cảm tốt đẹp của các anh "Tha hán Việt Nam, tha hán Hồ Chí Minh" (bộ đội Hồ Chí Minh), từ đó đã hết lòng ủng hộ cách mạng, ủng hộ quân tình nguyện Việt Nam.

        Mất Păk Soòng, Păk Xế rơi vào thế bị uy hiếp nặng nề. Để lập lại vành đai an toàn cho Păk Xế, Mỹ thúc ép chính quyền Thái Lan đưa quân sang phối hợp với quân ngụy Lào thực hiện việc "tái chiếm Păk Soòng" . Ngày 2 tháng 6, quân Thái Lan đưa 3 tiểu đoàn sang Păk Xế, phối hợp với 1 tiểu đoàn hỗn hợp Lào - Thái cùng các đơn vị quân ngụy Lào từ vòng ngoài Păk Soòng đưa quân về chiếm lại Păk Soòng. Đến Păk Xế, lực lượng này liền triển khai đội hình xuống Lào Ngâm, lấy I- Tu - Bản Nhik làm bàn đạp chuẩn bị tiến đánh Păk Soòng, lúc này đang ở trong tay các đơn vị của Sư đoàn 2.

        Thấy kế hoạch tiến quân của địch hoàn toàn phù hợp với ý đồ tác chiến mà mình đã vạch ra, Nguyễn Chơn liền điện xin Bộ Tư lệnh Mặt trận cho phép Sư đoàn 2 đánh chiếm Y- tu - Bản Nhik, nhằm mục đích tiêu diệt đại bộ phận quân ngụy Lào có mặt trong khu chiến dọc theo đường 13 từ Păk Soòng đến Y- tu - Bản Nhik. Được Bộ Tư lệnh đồng ý, anh lập tức cho các đơn vị trực thuộc triển khai đội hình chiến đấu theo đúng phương án tác chiến đã đề ra.

        Trong những cơn mưa dầm dề của mùa mưa ở Bô- lô- ven, các chiến sĩ Trung đoàn 1 đã tìm mọi cách khắc phục khó khăn, vượt qua 2 con suối Huội Chăm Pi và Huội Băng Hiên quá hung dữ, các chiến sĩ Tiểu đoàn 90 tưởng chừng không thể nào vượt qua dược, nhưng rồi học tập gương khắc phục khó khăn của chỉ huy Nguyễn Chơn trong trận đánh Ga Lâu năm nào, Trung đoàn trưởng Trần Quang Lập đã đi dọc theo suối, cuối cùng đã tìm được một cây cổ thụ để hạ xuống làm cầu cho bộ đội vượt qua.

        6 giờ sáng ngày 9 tháng 6, trong lúc các mũi tiến công của Trung đoàn 1 và các đơn vị phối thuộc đang vận động chiếm lĩnh trận địa, thì một bộ phận địch từ Y- tu bất ngờ tiến xuống Păk Cụt, với mục đích lập thêm một đầu cầu để tiến thêm một bước về phía Păk Soòng. Thêm một thuận lợi cho phương án tác chiến của Nguyễn Chơn, bởi vì khi đích thoát ly khỏi công sự, thì sẽ dễ bị ghìm chân và tiêu diệt hơn là cố thủ trong công sự. Trong lúc đó, lực lượng phòng thủ ở Y- tu sẽ ít đi, cuộc tiến công sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để giành chiến thắng.

        Để đánh lạc hướng chú ý của địch, Nguyễn Chơn lệnh cho Tiểu đoàn 1 quân tình nguyện Việt Nam, đơn vị phối thuộc với Sư đoàn 2, đưa một cánh quân ra chặn địch trước Păk Cụt. Cuộc giao tranh ở đây diễn ra thật ác liệt.

        Sau gần một ngày chiến đấu, 1 trung đội quân tình nguyện Việt Nam đã đẩy lùi tất cả các cuộc tấn công của quân địch, xác địch nằm chồng lên nhau trước mép công sự, nhưng trung đội của ta cũng bị thiệt hại, chỉ còn lại 3 chiến sĩ.

        Trong lúc địch đang tập trung theo dõi diễn biến trận đánh ở Păk Cụt, thì các mũi tiến công của Sư đoàn 2 đã bí mật áp sát mục tiêu. Tiểu đoàn 15 công binh cùng một số đơn vị trợ chiến bí mật cắm chông trên dải chính diện dài 4 cây số dọc theo 2 bên đường 13. Các đơn vị thuộc Trung đoàn 1 đưa quân vòng ra phía sau Y- tu - Bản Nhik, cách đường 13 từ 3 đến 4 cây số, hình thành thế bao vây đón lõng ở hai bên nam bắc đường 13. Các trận địa pháo, các đơn vị thiết giáp, Tiểu đoàn 1 phòng không, các Phân đội vệ binh, trinh sát... đều ở trong tư thế sẵn sàng nổ súng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:04:15 PM

        16 giờ sáng ngày 10 tháng 6, trận địa cối 120 ly ở phía tây bắc bắt đầu khai hỏa. Mục tiêu là Bản Nhik. Ngay từ loạt đạn đầu ta đã bắn trúng vào sở chỉ huy địch. Đại tá Bu Thong - chỉ huy trưởng và một số sĩ quan tùy tùng chết ngay tại trận. Lực lượng phòng thủ Bản Nhik ở vào thế "rắn không đầu", bắt đầu rối loạn về mặt chỉ huy.

        Đến 18 giờ, mũi tấn công hướng tây bắc Bản Nhik ào lên đánh chiếm mục tiêu ngay sau khi cối chuyển làn. Ở hướng nam, các chiến sĩ vệ binh, trinh sát, thông tin... nổ súng ghìm chân địch trong lúc chờ đợi các chiến sĩ Tiểu đoàn 90. Ở hướng đông, mũi tấn công chính diện có một đại đội tăng thiết giáp phối thuộc bắt đầu tiến quân. Cùng lúc đó, Ở mặt trận Y- tu, các đơn vị thuộc Trung đoàn 1, Tiểu đoàn phòng không, Tiểu đoàn 1 quân tình nguyện Việt Nam, Tiểu đoàn 15 công binh đồng loạt nổ súng tiến công cứ điểm địch. Lợi dụng sương mù đang bao phủ khắp cứ điểm, bộ đội đột kích thẳng vào sở chỉ huy, bắn chết tên chỉ huy phó BV43. Đến 21 giờ, cứ điểm Y- tu bị tiêu diệt, phần lớn quân ngụy Lào bị chết tại trận hoặc bị bắt, số còn lại tháo chạy về Bản Nhik. 22 giờ, sau khi để lại một bộ phận làm nhiệm vụ tảo trừ, Nguyễn Chơn quyết định đưa đại bộ  phận các đơn vị bộ đội qua Bản Nhik, siết chặt vòng vây, quyết tâm tiêu diệt dứt điểm Bản Nhik.

        Vào lúc 0 giờ ngày 11  tháng 6, khi các đơn vị Sư đoàn 2 tạm dừng tấn công để ổn định đội hình, bọn chỉ huy ở Bản Nhik tưởng rằng bộ đội đã lui quân, nên đã điện báo về Păk Xế. "Việt cộng chỉ chiếm được Y- tu, không làm chi được Bản Nhik. Đề nghị tăng viện cho 1 tiểu đoàn để lấy lại Y- tu. Bọn chỉ huy địch đồng ý, nhưng thực tế không còn cơ hội để thực hiện quyết định này. Gần một đêm trôi qua yên tĩnh, cả mặt trận chìm trong đêm cao nguyên vắng lặng, không hề có bất cứ tiếng súng nào vang lên. Nhưng bất ngờ vào lúc 7 giờ sáng, khi quân địch trong Bản Nhik đang thong thả đón một ngày mới, thì từ khắp các hướng, tiếng cối 120 ly, 81 ly, ĐKZ 75, B40 , B41... bỗng nổ vang rền . Tiếp đó là tiếng AK, lựu đạn cùng với tiếng hô xung phong vang rền khắp nơi. Bản Nhik bị tấn công toàn diện, dữ dội, không sót một khu vực nào. Sau những phút đầu hoảng loạn, quân ngụy Lào cùng với quân Thái Lan dựa vào hệ thống công sự kiên cố tổ chức đánh trả quyết liệt.

        Nhưng trước tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của bộ đội ta, lực lượng địch dần dần bị tiêu diệt. 11 giờ ngày 11  tháng 6, các mũi tiến công của quân ta hoàn toàn làm chủ Bản Nhik. Tàn quân địch định tháo chạy về Păk Xế, nhưng bị rừng chông 2 triệu cây ngăn lại. Rừng chông nứa 2 triệu cây như một cánh quân lớn, bí mật đón lõng địch. Khi địch bị vây ép khắp các mặt phải chạy vào bãi chông, thì chông lập tức phát huy tác dụng, giúp các chiến sĩ Sư đoàn 2 thực hiện được cách đánh đơm đó tiêu diệt được một bộ phận quan trọng địch. Ở các nơi không có chông, thì lại có bộ đội phục sẵn. Địch gọi máy bay lên bắn phá giải vây, nhưng máy bay không qua được lưới lửa của bộ đội phòng không. Tàn quân địch không còn lối thoát, một số bị tiêu diệt, số còn lại buông súng đầu hàng.

        Sau gần 20 giờ chiến đấu liên tục, các chiến sĩ Sư đoàn 2 và các đơn vị phối thuộc đã diệt gọn BV20, 1 đại đội quân Thái Lan, đánh thiệt hại nặng BV46, bắt hơn 1.000 tù binh, bắn rơi 4 máy bay, bắn cháy 12 xe quân sự, phá hủy 5 đại bác 105 ly, thu hàng trăm súng các loại.

        Sau chiến thắng Nguyễn Chơn lại lặng lẽ đi quan sát chiến trường. Anh hiểu rằng, đằng sau những con số, anh và đồng đội vừa làm nên một chiến công mang tầm chiến lược, Đó là giải phóng hoàn toàn và vững chắc cao nguyên Bô- lô- ven, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào, bảo đảm an toàn cho đường vận tải chiến lược 559 được thông suốt để tiếp tục mang sức người, sức của từ miền Bắc vào chi viện cho miền Nam, trong đó có Khu 5 thân yêu - nơi anh sẽ trở lại cùng đồng đội tiếp tục đánh giặc cho đến ngày toàn thắng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:05:00 PM

        Bắc Tây Nguyên 24 giờ cho 7 ngày.

        Mùa xuân năm 1972. Từ bắc đường 9, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn được lệnh đưa Sư đoàn vào bắc Tây Nguyên nhận nhiệm vụ mới. Đường hành quân qua bao nhiêu núi cao, vực sâu, nhiều đoạn phải đi trong rừng già ẩm ướt đầy muỗi, vắt, nhưng cũng có những cung đường trống trải bị máy bay Mỹ ném bom. Vượt qua bao nguy hiểm, gian khổ, đầu tháng 4 năm 1972, Sư đoàn vào đến chiến trường bắc Tây Nguyên. Lần này Sư đoàn được giao nhiệm vụ tiêu diệt cụm cứ điểm bắc Tây Nguyên (Đăk Tô - Tân Cảnh), nếu có điều kiện thì giải phóng tỉnh Kon Tum.

        Cụm phòng ngư Đăk Tô - Tân Cảnh nằm trong hệ thống phòng ngự Kon Tum là một cụm phòng ngư mạnh dọc theo đường 14, cách Kon Tum 37 cây số về hướng bắc - tây bắc. Thị trấn Tân Cảnh nằm trên ngã ba quốc lộ 17 và 18. Cách Tân Cảnh theo đường 14 khoảng 3 cây số về hướng tây là quận ly Đăk Tô (Đăk Tô l). Cách Tân Cảnh theo đường 18 khoảng 4 cây số là căn cứ Phượng Hoàng (Đăk Tô 2). Cách Đăk Tô 2 khoảng 2 cây số là căn cứ Plei- cần, giữ vị trí đầu cầu của cụm phòng ngự.

        Trấn giữ Đăk Tô - Tân Cảnh là sư đoàn 22 bộ binh ngụy (thiếu), trong đó đóng giữ thị trấn Tân Cảnh là trung đoàn 42 và bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 22, đóng giữ Đăk Tô 1 và các ấp chiến lược chung quanh là 6 đại đội bảo an, đóng giữ Đăk Tô 2 là trung đoàn 47. Tổng quân số của địch trên cụm phòng ngự này gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 6 đại đội bảo an, 1 trung đoàn xe tăng M41, M48, 1 trung đoàn pháo binh. Ngoài ra, còn có lực lượng dự bị như sư đoàn dù, liên đoàn biệt động quân sẵn sàng tham chiến khi cần thiết. Yểm trợ hỏa lực cho sư đoàn 22 về đường không là sư đoàn 6 không quân ngụy và các phi đội không quân Mỹ đóng ở sân bay Plei- ku, về pháo binh là 2 trận địa pháo ở các điểm cao 1338 và 1001.

        Với lực lượng địch như vậy, Nguyễn Chơn hiểu rằng đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, vì lực lượng phòng ngự của địch là một lực lượng mạnh, bố trí ở điểm cao có công sự kiên cố, lại được chi viện tối đa bởi hỏa lực của phi pháo và xe tăng, thiết giáp. Tuy nhiên, với anh, kẻ địch càng mạnh, thì chiến thắng càng vẻ vang, cho nên anh thường nói: rất "mê" những trận đánh lớn, càng đánh lớn càng "mê". Vì vậy, anh được cấp trên và đồng đội tặng cho danh hiệu là "Người hùng say mê đánh giặc".

        Để giúp Sư đoàn 2 hoàn thành khó khăn này, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) quyết định tăng cường 3 trung đoàn 66, 24 và 28 cùng một số đơn vị xe tăng, pháo binh, đặc công, công binh... thuộc Mặt trận về phối thuộc tác chiến trong đội hình Sư đoàn. Đồng thời, Mặt trận B3 sử dụng Sư đoàn 320 cùng phối hợp trong đội hình chiến dịch nhằm các mục đích: chia cắt quân địch ở Kon Tum và Plei- ku, buộc địch phải phân tán lực lượng ra ứng phó trên khắp chiến trường bắc Tây Nguyên; cắt tuyến tiếp tế hậu cần của địch từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên; nhử một bộ phận quân địch ra khỏi Kon Tum để tiêu diệt, tạo điều kiện cho Sư đoàn 2 tấn công tiêu diệt.

        Trước đó, từ giữa tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã cho mở 2 con đường cơ giới, trong đó có con đường chiến lược 50K dài 200 cây số từ tây sông Pô Cô sang phía đông quốc lộ 14 để đưa các loại xe cơ giới, xe tăng, pháo mặt đất, pháo phòng không... tham gia chiến dịch.

        Thực hiện nhiệm vụ hợp đồng tác chiến, những ngày cuối tháng 3, Trung đoàn 28 thuộc Mặt trận B3 đã cắt đường 14, hình thành chốt chặn ở Chư Thoai, cắt đứt đường tiếp tế của địch từ Plei- ku đi Kon Tum. Tiếp đó một ngày tháng 4, Trung đoàn 95 thuộc Mặt trận B3 cắt đường 19, hình thành chốt chặn đông An Khê, cắt đứt đường tiếp tế từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên. Cùng ngày, bộ phận chủ lực của Sư đoàn 320 đã nổ súng tấn công và đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 2 dù, đơn vị có nhiệm vụ chốt giữ tuyến phòng ngư dự phòng dài 20 cây số từ Ngã Ba Biên đến Chư Gơ Tông. Trước tình hình đó, Ngô Du - tư lệnh quân đoàn 2 ngụy buộc phải đưa lữ đoàn 3 dù ra trấn giữ tuyến phòng ngự phía tây sông Pô Cô. Lữ đoàn này lại bị Sư đoàn 320 đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, buộc phải lui về giữ tuyến phòng ngự cơ bản từ Võ Định đến thị xã. Thừa thắng, một bộ phận Sư đoàn 320 vượt sông Pô Cô, cùng Trung đoàn 28 cắt đứt đường 14, đoạn giữa Kon Tum và Đăk Tô - Tân Cảnh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:05:38 PM

        Trong lúc đó, các đơn vị thuộc Sư đoàn 2 đã bí mật chiếm lĩnh trận địa và triển khai đội hình chiến đấu. Do thời gian chuẩn bị cập rập, không có cơ sở hậu cần tại chỗ, nên mọi nhu cầu đều phải dựa vào các kho Mặt trận B3, mà các kho trạm này lại đang thiếu hụt, nên cả Sư đoàn gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm. Khẩu phần gạo chỉ còn 200 gam cho một ngày. Ngay cả muối cũng thiếu. Các đơn vị phục vụ thường phải nhường phần cho các đơn vị chiến đấu. Lúc đó Bộ Tư lệnh B3 quyết định cấp 200 tấn gạo cho Sư đoàn 2 để đủ sức chiến đấu, nhưng thực tế hoàn toàn không có, vì lượng gạo dự trữ trong kho của Mặt trận cũng đã cạn.

        Tình hình đó thôi thúc Nguyễn Chơn phải đánh gấp, một mặt để tiêu diệt địch theo nhiệm vụ, mặt khác để lấy lương thực cho bộ đội. Tuy vậy, anh biết rằng đánh vào một cụm phòng ngư do cả một sư đoàn địch trấn thủ là một việc không đơn giản, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà phải có một thời gian nhất định.

        Sau khi nghiên cứu chiến trường, Nguyễn Chơn vạch ra phương án đánh tiêu diệt Đăk Tô - Tân Cảnh bằng 2 bước: Bước 1, tìm cách đánh phá vào "4 điểm mạnh' của địch là công sự, xe tăng, pháo binh và không quân nhằm từng bước phá hủy, tiêu hao một phần sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đập tan chỗ dựa tinh thần của quân ngụy. Hướng tấn công chủ yếu của bước 1 để nghi binh là các căn cứ ở hướng tây như Plei- cần, Đăk Mốt, nhưng thực chất là đánh vào sau lưng địch, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện bước 2 là bước dồn toàn bộ sức mạnh để tiến công dứt điểm cụm phòng ngự.

        Ngày 2 tháng 4, Nguyễn Chơn lệnh cho các đơn vị làm nhiệm vụ bước 1 bí mật chiếm lĩnh trận địa.

        Ngày 3 tháng 4, vào lúc 1 giờ sáng, một đơn vị đặc công Sư đoàn bất ngờ tập kích sở chỉ huy trung đoàn 47 ngụy tại Đăk Tô 2, phá hủy 2 đại bác, 2 xe tăng, diệt trên 80 tên. Cùng thời điểm đó, đặc công Trung đoàn 1 tập kích diệt gọn quân ngụy chốt giữ ấp Tam Bôi.

        Việc Đăk Tô 2 bị tập kích và ấp Tam Bôi bị tiêu diệt cùng với những tin tức tình báo về con đường 50K đang vươn dài đến bắc Tân Cảnh đã làm Lê Đức Đạt - chuẩn tướng sư đoàn 22 ngụy nhận ra nguy cơ bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chủ lực. Để đề phòng các cuộc tấn công của bộ đội và cũng để đẩy lùi sức ép của quân ta ra xa Tân Cảnh, ngày 9 tháng 4, Lê Đức Đạt cho trung đoàn 47 đổ quân xuống Ngọc Tụ và các điểm cao 810, 812, 750, cách Đăk Tô 2 khoảng 7 cây số về hướng tây bắc.

        Khu vực điểm cao này có tác dụng như một bức trường thành che chắn cho Tân Cảnh, nên không lọt khỏi tầm nhìn của Nguyễn Chơn. Anh nhận định rằng, nếu bị vây ép mạnh, thế nào địch cũng bung quân ra chiếm giữ dãy điểm cao này, cho nên từ trước khi địch đổ quân, anh đã lệnh cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 141 đến chiếm giữ các vị trí then chốt trên các điểm cao. Khi địch vừa đổ quân xuống, chưa kịp ổn định đội hình, thì ngay lập tức đã bị các chiến sĩ bộ binh Trung đoàn 1 nổ súng đánh phủ đầu Bộ phận chỉ huy tiểu đoàn 4 ngụy bị đánh tan tác. Tuy vậy do điểm cao có nhiều hang đá, nên địch đã dựa vào đó chống trả quyết liệt, đồng thời gọi máy bay đến đánh bom. Hàng chục chiếc máy bay phản lực và trực thăng ào lên quần lượn ném bom và rốc- két vào các vị trí mà bộ đội đang chiếm lĩnh. Trong lúc đó, B52 tập trung thả bom hủy diệt vòng ngoài.

        Dưới làn mưa bom, đạn của địch, Trung đoàn 1 xốc lại đội hình, quyết tâm tiêu diệt dứt điểm tiểu đoàn 4 ngụy đang co cụm ở phía bắc điểm cao. Các chiến sĩ phòng không dũng cảm bám đánh từng chiếc phi cơ địch, không cho chúng thực hiện ý đồ ném bom chi viện. Các chiến sĩ bộ binh vận động qua các hang đá, tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Do bị thiệt hại nặng, cuối cùng bọn tàn quân địch ở phía bắc đành phải bỏ điểm cao tháo chạy thoát thân vào những cánh rừng già. Số quân ngụy thuộc tiểu đoàn 147 ở phía nam điểm cao không còn chỗ dựa cũng bỏ chạy theo. Hai tiểu đoàn 1 và 4 ngụy cơ bản bị tiêu diệt. Trong lúc đó, tại các điểm cao 810, 812, 750, các chiến sĩ Trung đoàn 141 đã chủ động đánh địch ngay từ đầu, tiêu diệt đại bộ phận tiểu đoàn 3 ngụy khi chúng vừa đổ quân xuống.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:06:17 PM

        Mất dãy điểm cao ở hướng tây bắc, Đăk Tô - Tân Cảnh bị uy hiếp nghiêm trọng. Hai đường 14 và 19 vẫn bị cắt đứt dự trữ vật chất ngày càng cạn kiệt. Trong lúc đó tình hình chung ngày càng tồi tệ, sư đoàn 23 bị kẹt cứng trong nhiệm vụ bảo vệ Plei- ku và giải tỏa đường 14. Sư đoàn dù (thiếu) từ Sài Gòn ra cứu nguy, cũng bị đánh tan tác ở các điểm cao 1015, 1049, phải lùi về giữ nhiệm vụ phòng thủ Kon Tum. Trung đoàn còn lại của sư đoàn 22 là 40 cũng bị giam chân ở Hoài ân - Bình Định. Tuy trận tiến công của Sư đoàn 2 chưa nổ ra, nhưng cả 3 sư đoàn địch trên Mặt trận Tây Nguyên đều đã sa lầy vào những thế trận do Bộ Tư lệnh chiến dịch của ta cài sẵn. Trong tay Ngô Du và Giăng Pôn Van - tướng 3 sao Mỹ, cố vấn quân sự cho tư lệnh quân đoàn 2, không còn một đơn vị dự bị cỡ trung đoàn nào.

        Để cứu vãn tình thế, ngày 17 tháng 4, Ngô Du cho tiểu đoàn 9 dù đổ quân đánh chiếm lại Ngọc Tụ. Tiểu đoàn này lập tức bị các chiến sĩ Trung đoàn 1 bám đánh, phải rời khỏi Ngọc Tụ di chuyển xuống phía nam. Ngày 19 tháng 4, một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 ngụy nống ra chiếm dãy đồi tranh phía bắc Tân Cảnh, một vị trí có lợi cho việc phòng thủ. Ngày 22 tháng 4, Lê Đức Đạt sử dụng 1 cánh quân từ phía Diên Bình lên phối hợp với một cánh quân từ Tân Cảnh ra, tổ chức đánh chiếm lại dãy đồi tranh. Theo lệnh của Nguyễn Chơn, Trung đoàn 66 phối hợp cùng với Trung đoàn 141 bẻ gãy cuộc tấn công này, buộc địch phải rút về căn cứ. Thấy cánh quân lớn đã thất bại, tiểu đoàn 9 dù đang luẩn quẩn ở nam Ngọc Tụ cũng tìm cách trốn về căn cứ Plei- cần.

        Bước thứ nhất trong kế hoạch tác chiến của Nguyễn Chơn cơ bản đã kết thúc. Các lực lượng vòng ngoài của địch đã được "dọn dẹp" sạch sẽ. Vòng vây quanh cụm phòng ngự đang từ từ siết chặt, sự tồn tại của nó đang tính từng ngày.

        Theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh chiến dịch, thời gian để tiêu diệt dứt điểm Đăk Tô - Tân Cảnh là 7 ngày. Nhưng sau khi nghiên cứu, Nguyễn Chơn đề ra một thời hạn là 24 giờ, với điều kiện là toàn bộ cơ số đạn sử dụng trong 7 ngày đó phải giao hết cho Sư đoàn 2 trước khi diễn ra trận đánh. Các đồng chí chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên hết sức bất ngờ, nhưng vốn tin tưởng vào tài trí, và sự mưu lược của Nguyễn Chơn, nên đề xuất của anh đã được chấp nhận.

        Vào thời điểm này, con đường cơ giới 50K đã hoàn thành, sẵn sàng đưa xe tăng và pháo binh vào tham chiến. Tuy vậy, để đánh lạc hướng địch, con đường được ngụy trang như chưa làm xong. Mọi công việc chuẩn bị cho một trận đánh lớn đã hoàn tất. Nguyễn Chơn theo sát các cánh quân đang bí mật bao vây cụm phòng ngư. Bước chân anh đi về như con thoi giữa Sở chỉ huy cơ bản và Đăk Tô 2 - Tân Cảnh... Anh chọn mũi tấn công quyết định là sở chỉ huy Sư đoàn 22 ngụy. Đây là một cứ điểm nằm trong căn cứ Tân Cảnh, nhưng hơi lùi về phía đông, nơi có dãy Ngọc Linh cao hơn 2.000m nằm chắn phía sau như một bức trường thành thiên nhiên. Hệ thống phòng ngự của địch tại đây tương đối yếu hơn các nơi khác, vì địch đinh ninh rằng dãy Ngọc Linh quá cao, bộ đội chủ lực với xe tăng, đại bác... không thể nào vượt qua được, có chăng là các hoạt động lẻ tẻ của các đội công tác và du kích.

        Dựa vào sự sơ hở này, Nguyễn Chơn quyết định sử dụng Trung đoàn 66, một bộ phận xe tăng và Tiểu đoàn 37 đặc công mở ở đây một đột phá khẩu để tấn công vào yết hầu địch, từ đó phát triển ra các nơi khác. Sau lưng căn cứ này là khu gia binh gồm toàn bộ gia đình sĩ quan, binh sĩ địch, nên chúng chủ quan, lơi lỏng. Nguyễn Chơn chủ trương đưa đội hình tấn công chủ yếu của bộ binh, xe tăng đánh mạnh vào sau lưng địch, từ đó đánh thẳng ra phía trước, tiêu diệt toàn bộ căn cứ Tân Cảnh. Một khi Tân Cảnh bị tiêu diệt, thì quận lỵ Đăk Tô sẽ tự động tan rã.

        Một ngày trước khi nổ ra cuộc tấn công quyết định, Nguyễn Chơn nhận được điện thoại của Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn, báo tin đã từ miền Bắc vào đến Sở chỉ huy cơ bản. Nguyễn Chơn trao đổi với Nguyễn Huy Chương một số công việc rồi thông báo:

        - Hôm bắm mình tống cân (Hăm bốn mình tấn công - nói lái theo kiểu Quảng Nam).

        - Hôm bắm mình làm ăn có tốt không? - Nguyễn Huy Chương hỏi lại.

        - Anh yên tâm, chắc ăn mười mươi. Nguyễn Chơn trả lời chắc nịch.

        Chiều 22 tháng 4, Mặt trận Đăk Tô - Tân Cảnh vẫn hoàn toàn yên tĩnh. Không có dấu hiệu gì cho thấy là một cuộc tấn công quy mô lớn sắp diễn ra chỉ trong ít giờ tới. Lê Đức Đạt cùng đám sĩ quan chỉ huy sư đoàn 22, các cố vấn Mỹ vui vẻ nâng cốc uống mừng sự "vững chắc" của căn cứ. Trong lúc đó, chung quanh cụm phòng ngự, một cuộc điều quân lớn đang âm thầm diễn ra. Theo lệnh của Nguyễn Chơn, các đơn vị pháo binh bắt đầu kéo pháo vào trận địa, các đơn vị công binh áp sát các hàng rào, sẵn sàng mở cửa.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:07:22 PM

        Các trung đoàn bộ binh chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu. Ngoài Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 đặc công được giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội xe tăng tiêu diệt căn cứ Tân Cảnh, các trung đoàn còn lại gồm Trung đoàn 1 được giao nhiệm vụ tiêu diệt Đăk Tô 2, Trung đoàn 141 chặn cầu Diên Bình, Trung đoàn 28 đánh vào Võ Định, Trung đoàn 24 chốt giữ bờ tây sông Pô Cô để chặn đường rút lui của địch. Đội hình xe tăng được lệnh vượt qua sông Pô Cô, theo đường 50K tiến về Đăk Tô 1, cách 5 cây số thì dừng lại chờ lệnh mới. Tất cả đã sẵn sàng, chỉ chờ đến giờ G là khai hỏa.

        3 giờ 30 phút ngày 23 tháng 4, trong lúc quân địch đang còn ngủ say, thì các trận địa pháo bắt đầu dội lửa vào Tân Cảnh. Cả cứ điểm rung chuyển bởi hàng loạt tiếng nổ dữ dội của D74, ĐKZ 75, đại bác 85 ly, đại pháo 122 ly, tên lửa điều khiển từ xa... Trong lúc pháo binh tập trung bắn nát từng lô cốt địch, các chiến sĩ công binh sư đoàn dùng mìn DH10, DH20, bộc phá... cho nổ tung các lớp rào, các bãi mìn để mở đường cho xe tăng xung phong. Trong khói lửa mờ mịt, bộ đội Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 đặc công băng qua các cửa mở, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 22. Trước đó, đội hình xe tăng đã băng qua Đăk Tô 1, chỉ sử dụng 2 chiếc bắn uy hiếp vào quận ly, còn tất cả tiến thẳng về Tân Cảnh. Lúc bộ đội công binh phá xong các lớp rào, thì cũng là lúc đội hình xe tăng vừa đến nơi, kịp thời cùng các chiến sĩ bộ binh xung phong vào căn cứ.

        4 giờ 30 phút ngày 23 tháng 4, đội hình xe tăng cùng bộ đội Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 hợp thành một lưỡi dao nhọn phóng xuyên qua khu gia binh, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 22, sở chỉ huy trung đoàn 42 và trận địa pháo của địch. Ở phía tây bắc căn cứ, Tiểu đoàn 8 sau khi vượt qua cửa mở đã đánh thẳng vào khu cố vấn Mỹ, một bộ phận đánh dọc về phía tháp nước, phối hợp cùng Tiểu đoàn 7 hình thành 2 gọng kìm từ từ siết chặt vào bộ chỉ huy đầu não địch. Ở phía tây, các chiến sĩ đặc công phối hợp cùng với bộ đội xe tăng hình thành một quả đấm thép đấm mạnh vào mạn sườn địch.

        Trận đánh ở Tân Cảnh diễn ra quyết liệt. Bộ đội giành nhau với địch từng căn nhà, từng tuyến công sự. Địch dựa vào các hầm ngầm, dùng hơi ngạt, hơi cay bắn vào đội hình bộ đội nhằm ngăn chặn bước tiến, nhưng các chiến sĩ ta đã dùng khăn mặt, khẩu trang thấm nước bịt miệng, mũi, tiếp tục chiến đấu. Để tăng cường uy lực tấn công, Nguyễn Chơn quyết định tung lực lượng dự bị là Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 1 vào trận đánh.

        6 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4, phần lớn các mục tiêu trong căn cứ đã được chiếm lĩnh, nhưng vì căn cứ quá rộng, các mũi tấn công lại phát triển nhanh, nên chưa phát hiện được hầm ngầm của bộ chỉ huy đầu não địch. Lợi dụng cảnh khói lửa mịt mù, Lê Đức Đạt cùng các sĩ quan thân cận liều chết chạy trốn khỏi căn cứ phía bắc. Qua sóng truyền tin, bộ phận điện đài kỹ thuật thu được bức điện của Lê Đức Đạt xin Ngô Du cho trực thăng đến cứu bộ chỉ huy sư đoàn 22 tại nghĩa trang thị trấn. Lập tức, Sư đoàn phó Dương Bá Lợi liền cắt một cánh quân thuộc Tiểu đoàn 40 rượt theo truy sát. Đến nghĩa trang, các chiến sĩ Tiểu đoàn 40 hình thành thế bao vây gọi hàng. Địch dựa vào mồ mả tổ chức chống cự, nhưng nhanh chóng bị tiêu diệt. Lê Đức Đạt cùng một số sĩ quan bị bắn chết tại chỗ khi cố tìm cách mở đường máu chạy ra khỏi nghĩa trang. Vi Văn Bình - đại tá sư đoàn phó cùng 6 trung tá, 2 thiếu tá và trên 100 sĩ quan, binh lính bị bắt. Không có người chỉ huy, số chỉ huy quân ngụy còn lại trong căn cứ như rắn mất đầu lần lượt kéo nhau ra hàng.

        9 giờ 15 phút ngày 24 tháng 4, lá cờ chiến thắng của Sư đoàn 2 tung bay trên cột cờ bộ tư lệnh sư đoàn 22 ngụy. căn cứ Tân Cảnh - mắt xích chủ yếu của cụm phòng ngự bắc Kon Tum đã bị xóa sổ. Cùng lúc với trận đánh ở Tân Cảnh, các chiến sĩ Trung đoàn 1 cùng với các chiến sĩ đặc công Sư đoàn 2 mở các đợt tấn công vào căn cứ Đăk Tô 2 do trung đoàn 47 ngụy đóng giữ. Trước đó, các trận địa pháo sau khi làm xong nhiệm vụ bắn mở đường vào Tân Cảnh đã quay nòng ra bắn vào Đăk Tô 2, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong chiếm lĩnh mục tiêu. Thấy hỏa lực và sức tiến công của quân ta quá mạnh, viên trung đoàn trưởng trung đoàn 47 dùng kế trá hàng để kéo dài thời gian củng cố lại hầm hào chiến đấu, nhưng âm mưu của y đã bị Nguyễn Chơn phát hiện khi anh đang đứng trên một điểm cao ở phía đông Tân Cảnh. Anh bàn với Chính ủy Lê Đình Yên tương kế tựu kế, chấp nhận cho địch trá hàng để thừa cơ tiêu diệt. Tưởng đã đánh lừa được đối phương, trung đoàn trưởng trung đoàn 47 cho quân củng cố lại công sự phòng ngư, chuẩn bị cố thủ lâu dài, nhưng bất ngờ từ 2 hướng đông và tây, bộ đội ta như từ đất chui lên, đồng loạt xung phong như vũ bão vào các lô cốt địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch chưa kịp tổ chức chống trả đã nhanh chóng bị tiêu diệt. Bộ chỉ huy trung đoàn 47 ngụy phải chui xuống hầm ngầm để cố thủ. Các mũi tấn công khép chặt vòng vây, quyết không cho địch tháo chạy. Trong lúc đó, tại khu sân bay dã chiến, các vị trí phòng thủ của địch lần lượt tan rã. Bốn xe tăng địch từ trong cứ điểm chạy ra khỏi căn cứ, thì gặp phải 4 chiếc xe tăng T54 vừa từ Tân Cảnh cơ động lên. Một cuộc rượt đuổi diễn ra chớp nhoáng tại bờ rào căn cứ, 2 xe tăng địch bị 4 chiếc T54 bắn cháy tại trận.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:49:37 PM

        Đến đây, thì quân ngụy trong căn cứ bắt đầu tháo chạy tán loạn. Phần lớn chạy dọc sông Pô Cô với hy vọng sẽ chui xuống chiếc cầu bí mật dưới nước để chạy thoát sang bên kia sông, nhưng không ngờ chiếc cầu bị bộ đội ta phát hiện và phá sập. Quân ngụy mất phương hướng, chạy dồn về một thung lũng hẹp, bị bộ đội phục sẵn xông ra diệt và bắt gần hết, số còn lại buông súng đầu hàng. Riêng bọn chỉ huy ở trung tâm căn cứ vẫn ngoan cố không chịu quy hàng, bị bộ đội dùng một quả bộc phá 20 cân thả xuống hầm ngầm tiêu diệt.

        10 giờ ngày 24 tháng 4, căn cứ Đăk Tô 2 hoàn toàn bị tiêu diệt. Thừa thắng, Trung đoàn 141 phát triển tấn công chi khu quận ly Đăk Tô, nơi các mũi tiến công của bộ đội đã lướt qua trên đường tiến quân. 10 giờ 30 phút, Đăk Tô 1 bị tiêu diệt. Cụm phòng thủ liên hoàn Đăk Tô- Tân Cảnh đã bị Sư đoàn 2 chính thức xóa tên trên bản đồ quân sự.

        Trong trận đánh này, lần đầu tiên, Sư đoàn 2 diệt được một đơn vị cấp sư đoàn thiếu của địch, trong đó diệt gọn bộ chỉ huy sư đoàn 22, các trung đoàn 42, 47, trung đoàn 14 thiết giáp ngụy. Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3.000 quân địch, bắt 743 tù binh, bắn rơi 40 máy bay các loại, thu và phá hủy 56 xe quân sự, trong đó có 24 xe tăng; thu hơn 700 súng, trong đó có 8 khẩu pháo 105 và 155 ly. Đặc biệt, quân ta còn thu được 200 tấn gạo, nhiều thuốc Tây và quân trang quân dụng, đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm cho bộ đội chiến đấu trong một thời gian dài. Điều quan trọng nhất là đã đập tan một hệ thống phòng ngự mạnh, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn, mở thông đường ô tô của Đoàn 559 xuống đồng bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Tây Nguyên tiếp tục nổi dậy tiến công tiêu diệt quân thù.

        Sau trận đánh này, Nguyễn Chơn được cấp trên tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất. Đồng thời với chiến công này, tên anh đã được ghi vào danh sách rất ngắn những nhà cầm quân tài giỏi đã làm nên những chiến công vang dội cùng núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.

        Trở lại Cấm Dơi

        Mùa thu năm 1972, từ chiến trường Tây Nguyên, Nguyễn Chơn được lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 điều ra làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 711 . Anh tạm chia tay với Sư đoàn 2, bàn giao quyền chỉ huy Sư đoàn lại cho Sư đoàn phó Dương Bá Lợi rồi lên đường về lại chiến trường Quảng Nam.

        Về đến Quế Sơn, vùng đất nổi tiếng với chiến khu Hường Hiệu - một thời Cần Vương chống Pháp, căn cứ Hòn Tàu suốt những năm dài đánh Mỹ, Nguyễn Chơn thấy lòng mình ấm lại với biết bao nghĩa tình quân dân thắm thiết mà nhân dân nơi đây đã dành cho anh vệ quốc năm xưa, anh giải phóng quân bây giờ. Những tên đất, tên đường như Núi Quế, Động Mông, Đá Hàm, đường 16, đường 105, đèo Le, đèo Răm, đèo Rập Cu... đã quá quen thuộc với anh khi còn chỉ huy Trung đoàn 1 quần nhau với lữ đoàn 196 bộ binh Mỹ trong trận An Sơn, Hiệp Đức ngày nào. Mới đó mà đã gần 5 năm. Nhanh thật. Hồi đó, anh mới 39 tuổi, bây giờ đã qua ngưỡng 44. " Thời gian trong đời một chiến binh chỉ có thể thống kê bằng những chiến thắng" - Nguyễn Chơn mỉm cười khi nhớ đến câu nói của một danh tướng.

        Khi anh về đến Bộ Tư lệnh Sư đoàn 711 thì các đơn vị đã hoàn thành xong 2 bước đầu của chiến dịch (bước 1 đánh bóc vỏ ngoại vi và bước 2 đánh địch phản kích). Anh được giao nhiệm vụ chỉ huy Sư đoàn hoàn thành bước 3 là đánh tiêu diệt căn cứ Cấm Dơi và chi khu quận ly Quế Sơn. Đây là những cứ điểm phòng ngự khá mạnh của địch ở phía tây nam Đà Nẵng, giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ Đà Nẵng  từ xa, trong đó Cấm Dơi là cứ điểm có hệ thống công sự 3 tầng duy nhất ở miền Trung. Tầng ngoài là công sự chiến đấu, tầng giữa là các lô cốt thông với nhà hầm, tầng trong cùng có nhiều hang đá có bố trí xe tăng án ngữ đường vào. Trên đỉnh Cấm Dơi có những tảng đá granit lớn, dựng đứng như một chiến lũy kiên cố. Địch lợi dụng địa hình này, đào những công sự ngầm dưới lòng đất, ăn thông từ ngoài vào trong, nên rất dễ cơ động trong chiến đấu. Đứng trên đỉnh Cấm Dơi, có thể quan sát một vùng rộng lớn từ đèo Răm, núi Hòn Tàu về đến núi Quế, cầu Hương An, cạnh đó là sông Ly Ly uốn khúc từ phía tây căn cứ xuôi về các xã vùng đông nhập với sông Bà Rén chảy ra Cửa Đại - Hội An. Đường 105 từ ngã ba Hương An nối quốc lộ 1 với đường 16 chạy ngang qua Cấm Dơi, Quế Sơn, nên địch có điều kiện sử dụng các loại xe quân sự để vận chuyển quân nhanh chóng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:55:27 PM

        Trấn giữ thung lũng Quế Sơn và căn cứ Cấm Dơi là 2 trung đoàn thuộc sư đoàn 2 bộ binh ngụy; trung đoàn 5 đóng ở Cấm Dơi còn trung đoàn 6 đóng chung quanh quận ly Quế Sơn. Hai nơi này chỉ cách nhau khoảng 2 cây số, nên rất dễ chi viện hỗ trợ cho nhau. Ngoài ra, trong khu vực này còn có một trung đoàn thiết giáp, 1 chi đoàn M.113 độc lập, tiểu đoàn 39 biệt động quân, 2 liên đoàn bảo an, 2 tổng đoàn dân vệ và hơn 2.000 tề ngụy bên trong các ấp chiến lược. Chi viện hỏa lực cho Cấm Dơi, Quế Sơn là 7 trận địa pháo từ Núi Quế đến Tuần Dưỡng với hàng chục khẩu đại pháo từ 105 đến 155 ly, các loại đại bác tầm xa từ các tàu chiến đấu ngoài biển, hàng trăm máy bay chiến đấu các loại túc trực ở 2 sân bay Đà Nẵng và Chu Lai sẵn sàng yểm trợ khi cần thiết.

        Trong khi đó, Sư đoàn 711 là một sư đoàn mới thành lập nhân kỷ niệm 54 năm Cách mạng tháng Mười Nga (7.11.1917 - 7.11.1971) gồm các đơn vị: Trung đoàn 31 của Sư đoàn 2, Trung đoàn 38 của Sư đoàn 324, Trung đoàn 9 vừa từ đất lửa Vĩnh Linh vào cùng một số đơn vị trực thuộc như đặc công, pháo binh, trinh sát, cao xạ, công binh, thông tin... Một số đơn vị chưa có kinh nghiệm chiến đấu trong đội hình lớn. Để giúp Sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ, ngoài việc phối hợp với các tiểu đoàn 70, 71, 72 của Tỉnh đội Quảng Nam, các đại đội bộ binh và du kích của huyện Quế Sơn cùng chiến đấu, Bộ Tư lệnh Quân khu còn tăng cường cho Sư đoàn một số đơn vị pháo xe kéo 130 ly, hỏa tiễn chống tăng điều khiển từ xa B72. Đây là những vũ khí mới, lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường đồng bằng Khu 5.

        Vừa về đến nơi, Nguyễn Chơn liền họp Bộ Tư lệnh Sư đoàn, nghe các đơn vị báo cáo tình hình tác chiến và các bước chuẩn bị chiến dịch. Tại đây, anh gặp lại Nguyễn Huy Chương, người bạn chiến đấu thân thiết luôn có cơ duyên được sát cánh bên nhau trong một chiến hào đánh giặc được điều về trước làm Chính ủy Sư đoàn. Câu chuyện hàn huyên của hai anh tạm thời phải gác lại để lo cho nhiệm vụ chung trước mắt.

        Sau cuộc họp, anh quyết định đích thân đi trinh sát kiểm tra căn cứ Cấm Dơi để tìm cách đánh thích hợp. Đồng thời lệnh cho quân báo Sư đoàn phối hợp với quân báo Mặt trận A5 nắm cho được đặc điểm của tên chỉ huy cụm cứ điểm, chủ yếu là nắm cho được y từ đâu điều về và xuất thân từ loại binh chủng nào. Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn lấy làm lạ, hỏi Nguyễn Chơn:

        - Sao lần này thủ trưởng lại cẩn thận đến độ cho điều tra cả lý lịch của chỉ huy ngụy?

        Nguyễn Chơn cười, làm ra vẻ bí mật:

        - Bí mật quân sự. Sau này, cậu sẽ biết...

        Trời Quế Sơn những đêm ấy không trăng, cả thung lũng chìm trong bóng tối dày đặc, thỉnh thoảng có những làn khói bay qua nghe lạnh buốt. Nguyễn Chơn cùng Chính ủy Nguyễn Huy Chương bò qua các lớp hàng rào, vào gần các lô cốt, nghe rõ tiếng bọn lính gác kháo nhau đủ thứ chuyện. Bộ phận trinh sát Sư đoàn sợ gặp nguy hiểm, đã phải nắm chân hai anh kéo ra, không cho bò vào sâu hơn. Qua 4 đêm trinh sát thực địa, Nguyễn Chơn xác định hệ thống phòng thủ Cấm Dơi được chia làm nhiều tầng, lớp, gồm nhiều công sự kiên cố, chung quanh có 12 lớp hàng rào kẽm gai loại bùng nhùng 3 khoanh. Từ hàng rào ngoài cùng vào đến hàng rào cuối cùng khoảng 120m, nơi hẹp nhất cũng gần 100m. Giữa các lớp hàng rào là mìn phát sáng, mìn clây- mo và 3 con đường chạy vòng quanh căn cứ để xe bọc thép M.113 và bộ binh đi tuần tra quan sát.

        Trở về sở chỉ huy, Nguyễn Chơn được bộ phận quân báo báo cáo: chỉ huy cụm cứ điểm Cấm Dơi nguyên là một trung tá pháo binh, vừa mới được chuyển qua làm sĩ quan chỉ huy tác chiến. Nguyễn Chơn ghi chi tiết "trung tá pháo  binh" vào sổ tay rồi tiếp tục làm việc.

        Ngày 14 tháng 8, Nguyễn Chơn cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 711 gồm Sư đoàn phó Trần Trọng Sơn, Tham mưu trưởng Hoàng Bình, Chính ủy Nguyễn Huy Chương, Phó Chính ủy Mai Thuận lên gặp Bộ Tư lệnh Quân khu báo cáo phương án đánh Cấm Dơi và chi khu quận ly Quế Sơn.

        Trong lúc Nguyễn Chơn đang trình bày về phương án đánh, những thuận lợi, khó khăn của chiến dịch, thì bộ phận cơ yếu mang vào bức điện của Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tổng Tư lệnh gởi cho đồng chí Chu Huy Mân – Tư lệnh Quân khu 5. Xem xong, đồng chí Chu Huy Mân tạm dừng cuộc họp 15 phút, rồi mời Nguyễn Chơn và Nguyễn Huy Chương xuống căn hầm sâu bên cạnh phòng họp để xem và trao đổi nội dung bức điện:

        "Gởi anh Hai Mạnh!

        Bộ đã nghiên cứu quyết tâm của Sư đoàn 711 tiêu diệt địch ở căn cứ Cấm Dơi và giải phóng quận ly Quế Sơn. Bộ thấy có mấy khó khăn gợi ý cho các đồng chí Quân khu 5 suy nghĩ:

        1. Các đơn vị ở chiến trường B1 đã dứt chiến, địch rảnh tay sẽ tập trung quân đối phó.

        2. Sư đoàn 3 ngụy ở Sũng Mây đã vào đóng ở Tuần Dưỡng và núi Quế, như vậy là địch đông.

        3. Cấm Dơi, Quế Sơn là căn cứ lớn có chi khu quận lỵ, hỏa lực địch mạnh, có công sự kiên cố, ta đánh đã chắc thắng chưa? Chưa chắc thắng, thì chưa nên đánh.

               VĂN"


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:58:53 PM

        Sau khi Nguyễn Chơn và Nguyễn Huy Chương xem xong, đồng chí Chu Huy Mân thăm dò ý kiến 2 người:

        - Hai đồng chí thấy thế nào?

        Sau một lúc đắn đo, Nguyễn Chơn trả lời:

        - Thưa đồng chí Tư lệnh, cấp trên điện cho chúng ta nghiên cứu, đó là ý tứ chặt chẽ để bảo đảm chắc thắng, chứ đâu có lệnh cho chúng ta dừng trận đánh...

        Tư lệnh Quân khu 5 tỏ ra băn khoăn:

        - Nhưng ý của Bộ Tổng cũng đã rõ: Các đơn vị ở chiến trường Tây Nguyên và Trị Thiên đã dứt chiến, địch sẽ rảnh tay để đối phó ở các mặt trận khác. Sư đoàn 3 bộ binh ngụy cũng đã vào đóng ở Tuần Dưỡng và núi Quế, như vậy quân số của địch trong thung lũng Quế Sơn sẽ đông hơn. Trong điều kiện như vậy, liệu rằng chúng ta tấn công có nắm chắc phần thắng không?

        - Theo tôi, trận này đánh là chắc thắng - Nguyễn Chơn khẳng định - Đợt 1, bóc vỏ ngoại vi, đợt 2, đánh quân phản kích thắng lợi, hơn nữa anh Chương và các anh ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã điều tra Cấm Dơi rất kỹ, tôi về cũng đã tiến hành trinh sát thực địa thêm lần nữa. Sau đó, tôi và anh Chương cùng làm phương án tác chiến đưa ra thảo luận. Bộ Tư lệnh Sư đoàn thống nhất về cách đánh, cách phân công chỉ huy, nên cũng đã nhất trí với ý kiến này. Tôi đề nghị Quân khu cho Sư đoàn 711 đánh trận này.

        Đồng chí Chu Huy Mân suy nghĩ một lúc, rồi nói:

        - Sau một thời gian dài thực hiện bước 1 và bước 2, hiện  nay yếu tố bất ngờ không còn như trước, địch đã có sự  chuẩn bị để đối phó, nên ta cần thảo luận kỹ.

        - Thưa đồng chí Tư lệnh - Chính ủy Nguyễn Huy Chương nói một cách mạnh mẽ - Tôi cũng nhất trí với đề nghị của anh Chơn. Riêng tôi có ý kiến là hiện nay yếu tố bất ngờ không còn như trước, nhưng nếu đánh trận này,  chúng ta sẽ tạo ra một bất ngờ mới. Bởi vì quân ta đã tác chiến liên tục từ xuân đến hè, địch nghĩ là ta đã dứt chiến.  Đây là một yếu tố để giành thắng lợi; hơn nữa, đây cũng là lần đầu tiên ta có hỏa lực mới, cần phải phát huy tác dụng.  Đề nghị Tư lệnh cho anh em tụi tôi "làm ăn" trận này!

        Thấy hai cán bộ chỉ huy chủ chốt của Sư đoàn đều đồng  lòng xin đánh, Tư lệnh Quân khu 5 phát biểu:

        - Thôi được, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu, tôi đồng ý với phương án chiến đấu của Sư đoàn 711 .

        Cả ba người quay lên phòng họp, cùng cơ quan Quân khu và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 711 thảo luận tiếp, nêu hết những thuận lợi, khó khăn, thống nhất quyết tâm đánh. Cuối buổi họp, đồng chí Chu Huy Mân đặt vấn đề với Bộ Tư lệnh Sư đoàn 711:

        - Các đồng chí dự trù đánh mấy ngày thì dứt điểm Cấm Dơi - Quế Sơn?

        - Thưa Tư lệnh chúng tôi sẽ đánh trong 24 tiếng đồng hồ là bảo đảm kết thúc - Nguyễn Chơn nói một cách quả quyết

        - Tốt! Bây giờ các đồng chí về lo chuẩn bị mọi mặt, tính toán thời gian nổ súng và vận chuyển lương thực cho bộ đội ăn trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch. Phần Bộ Tư lệnh Quân khu sẽ phát điện nghi binh công khai trên sóng PRC25 để tạo điều kiện thuận lợi cho các đồng chí hành động. Chúc các đồng chí giành thắng lợi trọn vẹn? - Đồng chí Chu Huy Mân thân mật bắt tay từng người trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn 711 .

        Mấy ngày sau, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 phát đi một mệnh lệnh ngắn gọn: "Các đơn vị dứt chiến, rút quân về hậu cứ làm lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Tám". Qua theo dõi, bộ phận trinh sát Sư đoàn biết được quân ngụy ở Quế Sơn đang kháo nhau: "Việt cộng rút quân về hậu cứ để mừng Cách mạng tháng Tám, bọn mình có thể yên tâm ăn no ngủ kỹ một thời gian dài...". Từ suy nghĩ đó, bọn địch đóng ở Cấm Dơi và chi khu quận ly Quế Sơn tỏ ra chủ quan và lơ là việc canh gác. Đây là điều kiện thuận lợi để Nguyễn Chơn đưa quân áp sát vào các vị tri chiến đấu.

        Theo phương án tác chiến đã được thông qua, Nguyễn Chơn giao cho Trung đoàn 31 nhiệm vụ chủ yếu đánh vào căn cứ Cấm Dơi bằng 2 mũi: một mũi từ đông nam đánh lên, một mũi từ đông bắc đánh vào. Trung đoàn 38 được giao nhiệm vụ tấn công vào căn cứ theo 3 mũi: 2 mũi từ hướng tây đánh xuống, 1 mũi thọc sâu chia cắt 2 khu vực 1 và 2 của căn cứ. Trung đoàn 9 được giao nhiệm vụ cắt đường 105 đoạn từ Phước Đức đến An Xuân, chặn đánh quân cứu viện của địch từ núi Quế kéo lên, diệt bọn bảo an, tề ngụy ở các ấp chiến lược trong khu chiến, tổ chức một mũi tấn công từ hướng đông lên để phối hợp cùng các trung đoàn 31, 38 nhanh chóng tiêu diệt Cấm Dơi và đón lõng khi địch ở Cấm Dơi - Quế Sơn tháo chạy.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 04:02:57 PM

        Để chỉ huy trận đánh và cũng để tránh phi pháo của địch, Nguyễn Chơn quyết định đặt sở chỉ huy ở một nơi bất ngờ nhất: Đó là một cái hang nhỏ, thường gọi là hang Bà Già. Hàng trăm khẩu pháo, cối lớn, nhỏ thi nhau trút bão lửa lên đầu thù trong đó có cả loại đại pháo 130 ly lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường Khu 5. Cả căn cứ chìm trong cảnh "cá chạy đá bay", khói bụi mịt mù. 7 trận địa pháo của địch từ núi Quế đến Tuần Dưỡng đều bị pháo binh Sư đoàn 2 và Quân khu bắn kiềm chế, không hoạt động được. Lợi dụng lúc địch đang phải tránh pháo, các mũi tấn công trực diện của Trung đoàn 31 và Trung đoàn 38 tiến đến sát hàng rào cứ điểm.

        1 giờ 15 phút ngày 19 tháng 8, ngay sau khi vừa dứt tiếng pháo, các mũi tấn công lập tức ào lên đánh chiếm các mục tiêu đã được phân công. Ở hướng tây căn cứ, 2 cánh quân của Trung đoàn 38 bị xe tăng và bộ binh địch xông ra phản kích ác liệt. Các chiến sĩ Trung đoàn 38 phải chiến đấu giành giật với quân địch từng mỏm đá, từng mép công sự. Đến gần sáng thì quân địch ở đây bị đẩy lùi sau khi bị diệt 2 xe tăng và một số lớn bộ binh. Ở hai hướng đông bắc và đông nam, các chiến sĩ Trung đoàn 31 sau khi bị trúng pháo địch trên các đường hành tiến, đã xốc lại đội hình đẩy mạnh các đợt tấn công vào bên trong căn cứ, tiêu diệt một số vị trí phòng thủ vòng ngoài của địch.

        8 giờ ngày 19 tháng 8, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn nhận được điện của quân báo Sư đoàn báo cáo: sư đoàn 3 bộ binh ngụy đã tập trung 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp từ Núi Quế đang tiến theo đường 105 lên cứu nguy cho Cấm Dơi. Do đã dự kiến trước tình huống này, nên Nguyễn Chơn đã cho thuê đội dự bị của Trung đoàn 9 vào cuộc, chặn đánh quân tăng viện của địch dọc theo đường 105. Với lối đánh gần, áp sát đội hình địch mà đánh, các chiến sĩ Trung đoàn 9 đã vô hiệu hóa pháo binh địch, tiêu diệt phần lớn bộ binh và xe tăng đi kèm.

        13 giờ ngày 19 tháng 8, cánh quân tăng viện của địch bị đánh thiệt hại nặng, phải lui về núi Quế. Trong lúc đó, các mũi tấn công ở cứ điểm Cấm Dơi đã bước vào giai đoạn quyết định. Pháo tầm xa 130 ly và các loại pháo, cối, ĐKZ... bắn cấp tập lần cuối cùng vào cứ điểm. Sau 20 phút dùng pháo bắn phá các công sự, hầm ngầm, các chiến sĩ công binh đã dùng mìn thổi, bộc phá mở các lớp rào để bộ binh xung phong chiếm mục tiêu. Các chiến sĩ bộ binh sử dụng tên lửa B72 điều khiển từ xa tìm diệt từng xe tăng địch. Bộ binh ngụy lần đầu tiên chạm phải hỏa lực mới của quân giải phóng đã thất kinh hồn vía, phải rút dần xuống các hầm ngầm để cố thủ. Lúc này, pháo địch từ hạm đội 7 đang bắn cấp tập vào khu chiến, sau đó, các loại máy bay B52, phản lực ào lên thả bom như trút xuống trận địa. Lợi dụng lúc máy bay đang bắn phá ác liệt, một chiếc trực thăng địch bất ngờ hạ cánh xuống trung tâm căn cứ, nơi có một pháo hiệu màu đỏ được bắn ra. Khi vừa nghe tiếng cánh quạt của trực thăng bộ đội cao xạ liền vọt lên khỏi công sự, quay nòng pháo bắn theo, nhưng không còn kịp nữa: chiếc trực thăng đã bay vọt lên cao cùng đại tá Tôn Thất Lữ - Trung đoàn trưởng trung đoàn 5 ngụy rút chạy. Sau khi Tôn Thất Lữ trốn chạy, trung đoàn 5 ngụy như rắn mất đầu, chỉ chống cự yếu ớt rồi tìm cách tháo chạy về hướng Hương An; một số khác buông súng đầu hàng.

        Đến 16 giờ ngày 19 tháng 8, các mũi tấn công đã hoàn thành nhiệm vụ. Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng tung bay giữa trung tâm cứ điểm. Từ trên hang Bà Già, Nguyễn chơn quan sát thấy địch đang chạy ra cánh đồng phía đông căn cứ, anh liền lệnh cho 2 trung đoàn 31, 38 cắt một bộ phận đuổi theo, bộ phận còn lại phối hợp đánh vào chi khu quận ly Quế Sơn. Lực lượng địch ở đây còn một tiểu đoàn bộ binh thuộc trung đoàn 6, một tiểu đoàn pháo binh, hai đại đội bảo an, nhưng trước sự sụp đổ của căn cứ lớn Cấm Dơi và trước sức tấn công dũng mãnh của bộ đội hai trung đoàn 31 và 38, bọn chúng chỉ chống trả được khoảng 30 phút, thì cũng tìm cách tháo chạy thoát thân về hướng chợ Đàn. Đoàn xe 25 chiếc chở tàn quân trung đoàn 6 ngụy, đã bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 9 phục sẵn xung phong diệt gọn, bắt nhiều sĩ quan, binh lính, trong đó có 1 thiếu tá pháo binh.

        Sau khi chiếm lĩnh chi khu quận ly Quế Sơn, tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn được lệnh đuổi theo truy sát địch. Nguyễn Chơn trực tiếp điện thoại cho một số Tiểu đoàn trưởng với một mệnh lệnh ngắn gọn: "Không để địch sống”.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 04:06:11 PM

        Lúc này địch đang ồ ạt chạy bằng tất cả các loại phương tiện: xe GMC, xe bọc thép M.113, xe tăng M41, M48 và đông nhất là chạy bộ. Địch chạy túa ra trên các cánh đồng dọc theo đường 105. Các đơn vị của Trung đoàn 31, Trung đoàn 38 từ phía tây đánh tràn xuống, mỗi lúc một áp sát vào đội hình địch. Mọi việc diễn ra đúng như tiên liệu của Nguyễn Chơn. Do bị ép chặt từ phía tây, địch chỉ còn con đường duy nhất là tháo chạy về hướng đông, nơi Trung đoàn 9 đang phục sẵn. Đáng tiếc là do thiếu kinh nghiệm chiến đấu trong đội hình lớn, nên khi phát hiện quân địch đang xông thẳng vào đội hình mai phục, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 tưởng rằng quân địch đang tổ chức tấn công, nên chỉ ra lệnh cho bộ đội bám vào công sự mà chống trả, chứ không ra lệnh xuất kích tiêu diệt địch. Quân địch chỉ chờ có vậy liền ào qua tháo chạy về hướng đông. Sự phán đoán thiếu chính xác này đã làm cho trận đánh Cấm Dơi - Quế Sơn không thực hiện được thắng lợi trọn vẹn như mong muốn, làm Nguyễn Chơn đau xót vô cùng.

        Diễn biến cuối cùng của trận đánh: Phối hợp nhịp nhàng với tiếng súng truy kích của Sư đoàn 711 dọc theo đường 105, các lực lượng địa phương của Tỉnh đội Quảng Nam và Huyện đội Quế Sơn đã xuất kích, tiêu diệt và bắt tàn quân địch đang chạy toán loạn trên đoạn đường từ chợ Đụn vào đến cầu ông Triệu, phía tây huyện Thăng Bình.

        18 giờ ngày 19 tháng 8, trận đánh tiêu diệt cứ điểm Cấm Dơi, chi khu quận ly Quế Sơn và truy kích tàn quân địch kết thúc. Qua 2 ngày chiến đấu, Sư đoàn 711 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3.000 quân địch, tiêu diệt 7 tiểu đoàn gồm bộ binh, pháo binh, thiết giáp..., thu trên 500 súng, nhiều quân trang, quân dụng, phá hủy 40 khẩu pháo, 70 xe quân sự các loại, thu 30 xe còn mới nguyên, trong đó có 12 xe M.113. Lực lượng địa phương quân cũng phối hợp đón lõng, tiêu diệt hơn 1.000 quân địch, bắt 450 tên.

        Thung lũng Quế Sơn sau 18 năm bị kẻ thù chiếm đóng đã được giải phóng. Gần 2 vạn đồng bào thoát khỏi ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy, nổi dậy phá banh các ấp chiến lược, trở về quê cũ làm ăn sinh sống. Người anh hùng say mê đánh giặc Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 711 và cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã mang lại cho nhân dân Quế Sơn một ngày lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Tám thật tuyệt vời.

        Trong cuộc họp tổng kết chiến dịch, Nguyễn Chơn mới giải thích lý do vì sao lại cho điều tra lý lịch tên sĩ quan chỉ huy nguy, anh nói: Bản chất bọn sĩ quan ngụy là rất sợ pháo, mà bản thân tên chỉ huy lại là một sĩ quan pháo binh, hiểu rất rõ tác dụng của hỏa lực pháo, nên khi thấy ta sử dụng đại pháo 130 ly lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường Quảng Nam, y rất hoảng sợ, từ đó không còn tự tin để chỉ huy chiến đấu, do đó, dễ bị ta tiêu diệt.

        Đến lúc ấy, Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn mới hiểu được ý định của anh, càng khâm phục anh không những là một nhà cầm quân tài giỏi, mà còn là một nhà tâm lý xuất sắc.

        Chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang Quân khu 5, đồng thời khẳng định tài lãnh đạo, chỉ huy của Nguyễn Chơn trong những trận đánh lớn, diễn ra trên một địa bàn rộng, với những điều kiện ban đầu không thuận lợi. Bình luận về trận đánh này, Đài tiếng nói Hoa Kỳ ngày 21 tháng 8 năm 1972 đã thú nhận: "Mất Quế Sơn, một chi khu quận ly có căn cứ Cấm Dơi được phòng ngư mạnh vào bậc nhất Việt Nam, chứng tỏ quân đội Việt Nam cộng hòa không đủ sức đương đầu với cộng sản ở miền Nam Việt Nam...".

        Kết thúc chiến dịch, Sư đoàn tổ chức khao quân. Sau buổi liên hoan, đêm về ngồi tâm sự bên nhau trong sở chỉ huy cơ bản, Nguyễn Huy Chương nói với Nguyễn Chơn:

        - Anh Chơn nè, trong số chiến lợi phẩm mà tụi mình thu được sau trận đánh, có một số lượng lớn tiền và vàng, tôi đã lập biên bản nộp hết lên trên, chỉ xin giữ lại một số tiền mặt để mua 4 con bò khao quân và ba trăm ngàn để trả nợ tiền thuốc lá cho anh.

        - Nhiều dữ rứa à? - Nguyễn Chơn giật mình khi nghe số tiền quá lớn mà Sư đoàn phải bỏ ra để trả nợ tiền thuốc lá cho mình.

        - Thực ra thì không phải chỉ mình anh hút, mà là cả Bộ Tư lệnh cùng hút trong suốt thời gian hội họp bàn chiến dịch - Nguyễn Huy Chương cười nói tiếp - Theo tính nhẩm của tôi, thì mỗi bao anh chỉ hút được có 2 điếu, còn 18 cán bộ Sư đoàn trong giao ban đã hút hết 18 điếu rồi.

        - Nhưng mà cũng tốn quá... Nguyễn Chơn suy nghĩ rồi nói: Hay là tôi bỏ thuốc quách, anh Chương hè?

        Việc gì phải bỏ, anh xứng đáng được hưởng nhiều hơn thế, chừng đó ăn thua gì so với công lao của anh - Nguyễn Huy Chương nói một cách chân thành.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:40:13 AM

        Nguyễn Chơn trầm ngâm suy nghĩ. Anh có một cá tính mà ai cũng biết, đó là không muốn làm phiền người khác, nhất là làm phiền đơn vị. Trong cuộc sống, chiến đấu hằng ngày anh thường nhường phần thuận lợi, dễ dàng cho người khác, chỉ nhận về phần mình những điều khó khăn, gay cấn. Vậy mà lần này... Nguyễn Chơn lắc đầu, chép miệng rồi đứng dậy bước ra khỏi sở chỉ huy, đến bên các chiến sĩ vệ binh đang ngồi gần đó.

        - Nè, mình có cái này cho các cậu đây...

        - A, thủ trưởng cho quà... - Các chiến sĩ vệ binh reo lên.

        Nguyễn Chơn rút từ trong túi ra một bao thuốc lá và một cái hộp quẹt. Anh đưa cái hộp quẹt cho đồng chí Tiểu đội trưởng:

        - Cái này cho cậu, còn cái này mời anh em. Anh lại đưa bao thuốc lá ra. Từ nay, mình sẽ không hút thuốc nữa! - Nguyễn Chơn trịnh trọng tuyên bố.

        - Sao thế thủ trưởng? Sao phải bỏ thuốc lá, thủ trưởng? -

        Các chiến sĩ vệ binh nhao nhao.

        - Không có gì, đơn giản là mình không muốn hút nữa... - Nguyễn Chơn nhẹ nhàng trả lời, rồi lặng lẽ quay vào sở chỉ huy .

        Từ đó về sau, không bao giờ Nguyễn Chơn đụng tay đến một điếu thuốc lá. Câu chuyện này cứ làm Nguyễn Huy Chương day dứt mãi, nhưng dù sao anh cũng  thầm nể phục ý chí mãnh liệt của Nguyễn Chơn. "Thắng vạn quân không bằng thắng chính mình". - Đó là câu nói nổ tiếng của Na- pô- lê- ông.

        Đập tan cánh cửa thép tây nam Đà Nẵng

        Mùa hè năm 1974, từ miền Bắc, Nguyễn Chơn trở lại chiến trường Khu 5. Anh vừa được triệu tập ra thủ đô Hà Nội dự một lớp tập huấn do Bộ Tổng Tham mưu tổ chức. Nhưng sau khi ra đến nơi, được kiểm tra sức khỏe, được đưa đi nghỉ ở Bãi Cháy để chuẩn bị bước vào khóa học thì anh lại nhận được lệnh trở về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, anh được gặp đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng - người thầy mà anh hết lòng yêu kính từ khi còn học ở Trường sĩ quan Lục quân. Thầy trò gặp nhau, chưa hết nỗi vui mừng, thì thầy đã nói:

        - Cậu về lại Khu 5, chuẩn bị đánh Nông Sơn – Trung Phước, phối hợp với Sư đoàn 304 đánh Thượng Đức. 

        Lời của thầy cũng là mệnh lệnh của thượng cấp, Nguyễn Chơn chỉ kịp chúc sức khỏe thầy rồi vội vàng từ biệt để lên đường về Nam.

        Từ Bộ Tư lệnh Quân khu 5, anh trở về với Sư đoàn 2 thân yêu sau một thời gian dài xa cách, được gặp lại bao đồng đội, chiến sĩ tình thân như anh em ruột thịt. Anh siết chặt tay Nguyễn Huy Chương - người bạn chiến đấu gắn bó với anh như hình với bóng từ Sư đoàn 2 qua Sư đoàn 711, rồi bây giờ cả hai cùng trở lại Sư đoàn 2. Sau cuộc họp Bộ Tư lệnh Sư đoàn, Nguyễn Huy Chương đến gặp anh, hỏi hăm tình hình sức khỏe và tin tức gia đình ở miền Bắc. Hai người bạn thân thiết lại có dịp ngồi bên nhau tâm sự.  Nguyễn Huy Chương nói với anh:

        - Tuy Hiệp định Pa- ri đã ký rồi, nhưng chiến tranh  chưa biết khi nào mới kết thúc. Anh năm nay cũng đã ngoài 40 tuổi rồi, có lẽ cũng đã đến lúc phải nghĩ đến chuyện vợ con. Trong Sư đoàn ta hiện nay có rất nhiều cô trẻ đẹp, anh coi có đám nào ưng ý, tôi sẽ đứng ra lo liệu cho. Hoặc là ở ngoài Sư đoàn cũng được...

        - Cảm ơn anh đã lo lắng cho tôi - giọng Nguyễn Chơn hơi xúc động - Nhưng mà tôi nghĩ, đời chiến binh của chúng ta, sống chết chưa biết lúc nào. Nếu lập gia đình, lỡ có chuyện gì, thì chỉ làm cho người phụ nữ thêm đau khổ. Vì vậy, tôi định khi nào kết thúc chiến tranh, mà may mắn tôi còn sống, thì lúc ấy mới tính đến chuyện vợ con...

        Nguyễn Huy Chương im lặng, chẳng biết nói gì hơn. Từng sống với nhau nhiều năm, anh biết tính Nguyễn Chơn rất kiên quyết, đã nói là làm, không khi nào thay đổi quyết định đã nói ra. Thấy Nguyễn Huy Chương im lặng, Nguyễn Chơn sợ bạn buồn, liền pha trò:

        - Anh yên tâm, đến lúc ấy thế nào tôi cũng nhờ anh đứng ra làm ông mai...Cả hai người cùng cười vang. Nguyễn Chơn nói thêm:

        - Về chuyện ký hiệp định, tôi nghĩ ký là ký vậy thôi, chứ thật ra đối với bọn xâm lược, thì dù cho có ký mười cái như Hiệp định Pa- ri, thì cũng chỉ là giấy lộn. Cho nên, là người lính, chúng ta có nhiệm vụ phải đánh gục kẻ thù trên mặt trận, thì mới mong bảo vệ được Tổ quốc, giải phóng được quê hương...

        Nguyễn Huy Chương rất tâm đắc với nhận định của Nguyễn Chơn. Nhận định ấy chứng tỏ Nguyễn Chơn là một cán bộ quân sự có ý thức chính trị cao, quan điểm chính trị kiên định, vững vàng, quyết tâm xuyên suất, không mơ hồ trước các thủ đoạn lừa bịp của địch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:42:18 AM

        Vào thời điểm này, vùng giải phóng Khu 5 đã được mở rộng, nối liền từ vùng đồng bằng và vùng rừng núi Trị Thiên vào đến nam Trung Bộ, bắc Tây Nguyên. Tuy nhiên, ngoài một số thị thành, quân nguy còn chiếm giữ một số cứ điểm chiến lược cắm sâu vào vùng giải phóng, từ đó nống ra càn quét lấn chiếm, gây nhiều tổn thất cho các lực lượng cách mạng. Nông Sơn - Trung Phước là một cứ điểm như vậy.

        Để khai thông hành lang an toàn ở miền Tây hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà, đập tan "cánh cửa thép" phòng ngự phía tây nam Đà Nẵng gồm các cứ điểm liên hoàn Nông Sơn - Trung Phước, An Hòa - Đức Dục - Thượng Đức, Sư đoàn 2 được giao nhiệm vụ tấn công tiêu diệt địch trong cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước, đánh và tiêu diệt cứ điểm chi khu quân sự Thượng Đức.

        Nông Sơn là một ngọn núi nằm ở bờ bắc sông Thu Bồn, cao độ 298m, cách khu công nghiệp An Hòa - Đức Dục 11 cây số về phía tây, cách núi Cà Tang và ấp chiến lược Khánh Bình khoảng 2 cây số. Trong lòng núi có mỏ than, thường gọi là mỏ than Nông Sơn, được khai thác từ thời Pháp thuộc. Sau năm 1954, Nông Sơn được địch xây dựng thành một cứ điểm phòng thủ kiên cố, kết hợp với Trung Phước nằm bên bờ nam sông Thu Bồn thành một tuyến phòng thủ quan trọng bảo vệ phía tây nam Đà Nẵng.  Cứ điểm Nông Sơn rộng khoảng 2 héc- ta, được xây dựng vững chắc với 9 lớp rào, 41 lô cốt, nhiều hầm ngầm nối thông với các công sự kiên cố bằng hệ thống hào giao thông chằng chịt trong cứ điểm. Dựa vào địa thế hiểm trở của cứ điểm, địch thường huênh hoang tuyên bố. "Khi nào nước sông Thu Bồn chảy ngược, thì Việt cộng mới chiếm được  Nông Sơn?".

        Trấn giữ Nông Sơn là tiểu đoàn biệt động biên phòng  số 78 có một trận địa pháo 105 ly. Chung quanh Nông Sơn còn có 11 điểm ngoại vi như Khương Quế, Phường Rạnh,  Trung Phước, thôn 7 Sơn Thọ, thôn 4 Sơn Phúc, Khương  Bình, Ninh Hòa..., mỗi cứ điểm có 1 hoặc 2 trung đội bảo an, dân vệ chốt giữ. Riêng cứ điểm Cà Tang cao 462m ở phía tây do 1 trung đội biệt động quân của tiểu đoàn 78 thay nhau chốt giữ. Ngoài ra, sư đoàn 3 bộ binh ngụy và các liên đoàn biệt động quân đóng chung quanh Đà Nẵng sẵn sàng ứng cứu cho Nông Sơn khi cần thiết. Dự kiến khi có chiến sự, địch có khả năng điều đến khu vực này từ 4 đến 6 trung đoàn. Bên cạnh đó còn có sự chi viện hỏa lực tối đa của các trận địa pháo ở Quế Sơn, Ái Nghĩa... và các loại máy bay túc trực ở sân bay Đà Nẵng.

        Để giúp Sư đoàn 2 hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định tăng cường cho Sư đoàn: Trung đoàn 36 bộ binh, 2 đại đội pháo 85 ly nòng dài, 1 đại đội lựu pháo 122 ly, 1 đại đội lựu pháo 105 ly, 1 đại đội cối 160 ly, 1 đại đội tên lửa có điều khiển B72, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 ly, 3 xe tăng PT85.

        Qua nghiên cứu thực địa và tình hình địch, ta trong khu chiến, Nguyễn Chơn quyết định trận đánh sẽ được tiến hành theo 2 bước. Bước 1, dùng một lực lượng nhỏ bí mật tập kích các chốt điểm vòng ngoài do bọn bảo an chốt giữ, giải phóng khu vực Trung Phước trước, hình thành thế bao vây diệt địch, không cho tiểu đoàn 78 chạy thoát, đồng thời sẵn sàng đánh quân phản kích địch từ An Hòa kéo lên. Bước 2, tiến hành vây ép, tấn, phá, triệt, diệt, giải quyết gọn tiểu đoàn 78 ngay trong cứ điểm bằng một trận hiệp đồng binh chủng.

        Theo lệnh của Nguyễn Chơn, đêm 16 tháng 7 năm 1974, tất cả các đơn vị trực thuộc và phối thuộc chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 2 bí mật hành quân tiếp cận các mục tiêu đã được phân công trước. Các trận địa pháo được đưa lên chiếm lĩnh các điểm cao từ 4 đến 4,5 cây số.

        Theo kế hoạch, các trận đánh bước 1 sẽ diễn ra trong đêm 17 rạng ngày 18 tháng 7, nhưng vào chiều ngày 17 đã xảy ra một tình huống bất ngờ ngoài dự kiến. Tại Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tư lệnh Sư đoàn, Nguyễn Chơn nhận được điện của quân báo Sư đoàn từ đài quan sát báo về:

        - Báo cáo Tư lệnh: 12 chiếc trực thăng vừa hạ cánh đổ 100 quân xuống Nông Sơn.

        Ít phút sau, có tiếng địch nói lóng trên máy PRC25:

        - Con cái họ đã đến nơi đầy đủ, an toàn.

        Đến khoảng 3 giờ chiều thì tổng số quân địch đổ xuống Nông Sơn lên đến 1 tiểu đoàn, khoảng hơn 400 tên. Tình hình diễn biến bất ngờ, phức tạp, Nguyễn Chơn cho trinh sát Sư đoàn bám sát, theo dõi chặt chẽ các hoạt động của địch để có đối sách thích hợp, đồng thời khẩn cấp triệu tập cuộc họp Bộ Tư lệnh Sư đoàn để phân tích, đánh giá tình huống vừa xảy ra. Anh nói:

        - Tôi báo cáo tình hình để Thường vụ Đảng ủy nghiên cứu: Theo quân báo vừa báo cáo, đến giờ này địch đã đổ thêm 1 tiểu đoàn quân xuống cứ điểm Nông Sơn. Hiện chúng ta chưa nắm được ý đồ đổ quân của địch và diễn biến sắp tới của chúng. Đề nghị các đồng chí xem xét, đánh giá việc này và cho ý kiến.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:44:30 AM

        Cuộc họp đang thảo luận sôi nổi, thì bộ phận thông tin Sư đoàn vào báo cáo có điện thoại của Tư lệnh Quân khu gọi xuống gặp Sư đoàn trưởng. Nguyễn Chơn cầm máy. Từ đầu dây bên kia, vang lên giọng nói của đồng chí Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân:

        - Địch đổ xuống Nông Sơn 1 tiểu đoàn, như vậy, quân số của địch tại đây đã tăng gấp đôi. Sư đoàn định sẽ xử trí như thế nào, báo cáo ngay về Bộ Tư lệnh Quân khu để có ý kiến.

        - Báo cáo Tư lệnh, hiện chúng tôi đang họp Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn để xem xét việc này. Đề nghị Tư lệnh cho chúng tôi thêm 10 phút để hội ý với Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn. Sau 10 phút, tôi sẽ báo cáo ngay với Tư lệnh.

        - Đồng ý. Đề nghị các đồng chí xem xét thật kỹ rồi báo cáo ngay cho tôi biết.

        Nguyễn Chơn trở lại cuộc họp, phát biểu ý kiến của mình:

        - Theo tôi, tình hình diễn biến của địch có thể có 2 tình huống. Một là, ta bị lộ, địch tăng quân đối phó. Hai là, địch thay quân. Khả năng bị lộ là rất ít, bởi nếu bị lộ, thì địch sẽ đổ quân kết hợp với phi pháo tấn công vào những nơi nghi ngờ, chứ không đổ quân rồi nằm im trong căn cứ. Như vậy, khả năng rõ nhất là địch thay quân. Đêm nay,trong căn cứ sẽ có hơn 1.000 tên. Nhà ở chưa làm thêm, công sự chưa đào kịp, bọn lính mới đến mệt mỏi, chưa nhận vị trí chiến đấu, bọn lính cũ, thì ỷ lại, có tư tưởng xả hơi, thế nào đêm nay cũng kéo vào các ấp lùng sục quậy phá, bắt heo, gà ăn thịt. Đây là thời cơ tốt nhất để Sư đoàn ta hạ quyết tâm tiêu diệt địch? - Anh vung tay chém mạnh xuống một góc bàn.

        Cả cuộc họp đều nhất trí với ý kiến của Nguyễn Chơn, đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu cho đánh. Nguyễn Chơn cầm máy báo cáo quyết tâm của Sư đoàn với Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân, trong lúc Nguyễn Huy Chương báo cáo với Bí thư Khu ủy Võ Chí Công. Cả Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đều đồng ý với quyết tâm tiêu diệt cứ điểm Nông Sơn của Sư đoàn. Trước khi gác máy, Tư lệnh Quân khu nói thêm:

        - Trước đây, chỉ chuẩn bị đánh với 1 tiểu đoàn, nay phải đánh với 2 tiểu đoàn, việc ấy có khác nhau đấy...

        - Báo cáo Tư lệnh, cũng có khác thật.   

        - Khác như thế nào?

        - Khác ở chỗ là trước đây 1 hầm chỉ có 1 tên địch, nay 1 hầm có đến 2 tên địch. Trước đây, 1 quả lựu đạn chỉ diệt được 1 tên địch, còn nay, 1 quả lựu đạn lại diệt được 2 tên địch. - Nguyễn Chơn trả lời.

        - Chúc Sư đoàn 2 đánh nhanh, thắng lớn - Tiếng Tư lệnh Quân khu 5 cười vang trong máy.

        0 giờ 15 phút ngày 18 tháng 7, một bộ phận công binh Sư đoàn nổ súng đánh địch trên chốt Cà Tang, làm hiệu lệnh tấn công cho toàn mặt trận. Cùng lúc, công binh Trung đoàn 1 được lệnh tháo chiếc cầu sắt trên đường 104, cắt đứt đường chuyển quân bằng xe cơ giới của địch. Để chặn các xuồng máy, ca nô của địch chắc chắn sẽ tháo chạy về phía hạ lưu, Nguyễn Chơn cho bộ đội công binh dùng dây kẽm gai bện thành những sợi dây cáp dài căng ngang qua sông Thu Bồn, đồng thời bố trí các khẩu đại liên ở bờ nam sẵn sàng nhả đạn vào ca nô địch. Đây là một sáng kiến độc đáo của anh được rút ra từ những bài học lịch sử trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo.

        Sau hiệu lệnh tấn công được phát ra từ đỉnh Cà Tang, các chiến sĩ Trung đoàn 1, Trung đoàn 36 (thiếu) đồng loạt nổ súng tấn công vào các cứ điểm ngoại vi của địch ở Khương Quế, Trung Phước, Khương Nam 1, Khương Nam 2, các ấp chiến lược 1, 2, 3, 4, Khương Bình, Đồi Tranh (thôn 4 Sơn Phúc), Hội đồng Sơn Thọ... Cùng lúc đó, bộ đội pháo binh Sư đoàn thực hiện bắn chế áp vào các trận địa pháo địch ở An Hòa, Đức Dục, Nam Phước, Mậu Chánh..., không cho chúng có thời gian phản pháo. Trên một khu vực rộng hàng chục cây số vuông, tiếng súng bộ binh và tiếng pháo, cối các loại nổ vang trời đất, làm rung chuyển cả 2 bờ sông Thu Bồn và dãy Cà Tang, Thạch Bích. Trước sức tấn công ào ạt, mạnh mẽ của các đơn vị thuộc Sư đoàn 2, các cứ điểm địch lần lượt bị tiêu diệt.

        6 giờ ngày 18 tháng 7, toàn bộ hệ thống chốt điểm ngoại vi của địch đã bị quét sạch. 35 trung đội bảo an, 3 phân cục cảnh sát, 6 mâm tề ngụy bị tiêu diệt hoặc bắt, 6 xã vùng tây Quế Sơn được giải phóng. Đặc biệt, Ở hướng sông Thu Bồn, hàng chục ca nô, xuồng máy của địch khi tháo chạy đã vướng dây cáp vào chân vịt đứng nguyên tại chỗ, bị một đại đội công binh Trung đoàn 1 dùng đại liên đặt ở bờ nam bắn chìm xuống sông, diệt và bắt hơn 100 quân ngụy. Đây là một cách đánh tuyệt vời, thể hiện sự thông minh của Nguyễn Chơn trong việc vận dụng truyền thống lịch sử của ông cha vào chiến tranh hiện đại.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:46:57 AM

        Đòn tiến công bất ngờ tiêu diệt các chốt điểm ngoại vi quanh cứ điểm Nông Sơn đã làm cho bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy giật mình kinh hoàng. Ngay khi trời vừa sáng, một tốp máy bay trực thăng HU1A đã bay lên quần lượn quan sát trận địa. Bộ đội cao xạ 12,7 ly của Trung đoàn 1 đang chốt ở núi Khương Quế đã tung lưới lửa lên bầu trời, không cho máy bay địch được tự do bay lượn. Tuy vậy tốp máy bay này vẫn ngoan cố lượn vòng thám thính, mãi đến khi bị bắn rơi 1 chiếc, chúng mới chịu quay trở về căn cứ.

        Trong lúc các đơn vị bạn diệt địch ở vòng ngoài, thì đại bộ phận Trung đoàn 31 đã luồn sâu, áp sát đội hình vào cứ điểm Nông Sơn. Gần sáng, địch từ trong cứ điểm tung quân ra phản kích, định chiếm lại các chốt điểm lân cận, nhưng bị các chiến sĩ Trung đoàn 31 đánh bật trở lại. Sau khi đẩy lui quân địch vào bên trong căn cứ, bộ đội Trung đoàn 31 tiếp tục xây dựng thế trận vây lấn, tấn phá.

        8 giờ ngày 18 tháng 7, ánh nắng mặt trời bắt đầu xua tan những đám sương mù đang bao phủ đỉnh Nông Sơn. Những mục tiêu trong cứ điểm hiện rõ dần trong ống nhòm của bộ phận trinh sát pháo binh. Các trận địa pháo đã đến giờ khai hỏa. Hàng loạt quả đạn pháo từ trên các điểm cao gần đó thi nhau phóng vào căn cứ. Hàng loạt tiếng nổ như sấm sét vang rền cả cứ điểm. Ba trận địa pháo gồm 6 khẩu 85 ly được giao nhiệm vụ trong 1 ngày mỗi khẩu phải diệt 5 lô cốt ở tầng 1 và tầng 2. Đến 18 giờ ngày 18 tháng 7, hầu hết các lô cốt địch trong căn cứ đã bị pháo phá hủy.

        Sau 2 đợt bắn chế áp, các trận địa pháo chuyển sang bắn phá hoại. Với khẩu hiệu "đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng", các trận địa pháo nòng dài 85 ly được kéo lên các mỏm núi ở phía nam Nông Sơn từ hai ngày trước đã hạ nòng bắn thẳng vào từng lô cốt, công sự địch. Mỗi lô cốt bắn từ 4 đến 6 quả, khi nào xác định đã bị phá hủy hoàn toàn, thì mới chuyển sang lô cốt khác. Khói bụi bay mù mịt, một số quân ngụy chịu không nổi đã phải bò ra ngoài công sự để thở.

        Thấy tình thế ở Nông Sơn càng lúc càng nguy ngập, nguy cơ mất tuyến phòng thủ phía tây nam Đà Nẵng đã lộ khá rõ, Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh quân đoàn 1 – quân khu 1 ngụy lệnh cho sư đoàn 3 gấp rút đưa quân từ Sũng Mây lên An Hòa để giải nguy cho Nông Sơn, đồng thời lệnh cho không quân tập trung bắn phá vòng ngoài để yểm trợ cho quân ngụy bên trong căn cứ cố thủ chờ viện binh.

        Được lệnh Ngô Quang Trưởng, các phi đoàn không quân ngụy ở sân bay Đà Nẵng lập tức xuất phát. Hàng chục tốp máy bay phản lực, trực thăng thay nhau ném bom, phóng rốc- két vào các vị trí bộ đội đang chiếm giữ. Dưới sức nóng của bom và nắng mặt trời, những trảng cỏ tranh quanh cứ điểm bốc cháy. Cả Nông Sơn thành một chảo lửa khổng lồ, nhiều chiến sĩ Trung đoàn 31 bị ngất vì nóng và nắng, Sư đoàn phải điều quân đưa nước lên cấp cứu.

        Để giải tỏa áp lực của không quân địch, Nguyễn Chơn lệnh cho bộ đội Tiểu đoàn cao xạ 37 ly phối hợp với các trận địa phòng không Sư đoàn di chuyển đến các điểm cao, kiên quyết bắn rơi các máy bay địch, không cho chúng được tự do hoành hành. Sau khi xốc lại đội hình, các chiến sĩ cao xạ phòng không đã bắn rơi 1 phản lực, 3 trực thăng HU1A, buộc chúng phải bay tản ra xa. Tình hình lập tức được cải thiện, các chiến sĩ Trung đoàn 31 liền rê đội hình đến sát hàng rào cuối cùng.

        Đến 16 giờ ngày 18 tháng 7, đứng trên đài quan sát của Sở chỉ huy Sư đoàn, Nguyễn Chơn dùng ống nhòm quan sát cả trận địa. Anh thấy hầu hết các lô cốt, công sự của địch đã bị pháo phá hủy. Bộ phận trinh sát báo cáo với anh rằng đã xác định được 38/41 lô cốt đã bị sập, không còn khả năng sử dụng. Trao đổi điện đàm với Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31, anh nhận thấy thời cơ tiêu diệt dứt điểm căn cứ Nông Sơn đã xuất hiện, liền lệnh cho pháo binh bắn cấp tập lần cuối cùng, dọn đường cho bộ binh xung phong.

        16 giờ 30 phút ngày 18 tháng 7, sau khi vừa dứt tiếng pháo, các mũi xung kích của Trung đoàn 31 từ các hướng đồng loạt bật dậy xung phong thẳng vào cứ điểm. Tuy bị thiệt hại nặng sau các đợt bắn sát thương của pháo binh quân giải phóng, nhưng sức chống cự của địch vẫn còn khá mạnh. Ở hướng chủ yếu, các chiến sĩ Trung đoàn 31 phải giành giật với địch từng đoạn hào giao thông. Ở hướng bắc căn cứ, bộ đội phải đánh giáp lá cà với địch, giải quyết từng tên một. Từ đường chính, phân đội thọc sâu thực hiện đánh tiêu diệt địch.

        Đến 17 giờ ngày 18 tháng 7, căn cứ Nông Sơn đã bị các chiến sĩ Trung đoàn 31 tràn ngập. Trong giờ phút tuyệt vọng cuối cùng, chỉ huy địch đã cho nổ quả mìn tự hủy gồm hàng tấn thuốc nổ đã chuẩn bị từ trước. Một cột khói bốc cao hàng chục mét sau một tiếng nổ long trời lở đất. Cả căn cứ chìm trong cát bụi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:48:49 AM

        Nguyễn Chơn đứng trên đài quan sát của Sở chỉ huy sư đoàn đưa mắt ngắm nhìn lá cờ quyết chiến quyết thắng vang dòng chữ "Đoàn dũng cảm đánh hăng, vây lấn điểm cao tiêu diệt gọn, dứt điểm nhanh, tấn công liên tục", do đồng chí Đoàn Khuê - Phó chính ủy Quân khu 5 trực tiếp trao cho Trung đoàn 31 đang phần phật tung bay trên điểm cao Nông Sơn lồng lộng gió rừng - nơi đã chứng kiến những giờ phút cuối cùng của 2 tiểu đoàn địch. Đó là tiểu đoàn 78 biệt động biên phòng và tiểu đoàn 3 trung đoàn 56 bộ binh ngụy. Chung quanh Nguyễn Chơn, khói bụi vẫn còn mịt mờ. Anh cùng Chính ủy Nguyễn Huy Chương đi kiểm tra trận địa. Chiều dần buông trên khu chiến. Trời Nông Sơn cũng dần xanh thẳm trở lại sau một ngày rừng rực đạn bom.

        Sau khi mất cứ điểm Nông Sơn, Ngô Quang Trưởng vội vàng tung các đơn vị thuộc sư đoàn 3 bộ binh và liên đoàn 12 biệt động quân vào khu chiến với ý đồ chiếm lại các vị trí xung yếu đã mất. Nhưng ý đồ này đã được Nguyễn Chơn dự liệu trước. Anh đã bố trí các trung đoàn 1, 31, 36 phục sẵn trên các trục tiến quân của địch, bắt đầu tấn công theo phương án diệt viện đã được chuẩn bị sẵn.

        Trong các ngày từ 20 đến 30 tháng 7, các đơn vị của Sư đoàn 2 liên tục tiến công địch trên dải Dương Côi, Văn Chỉ, Kỳ Vĩ , Khương Quế, điểm cao 238. Từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 4 tháng 8, tiếp tục đánh chiếm lại các điểm cao Hòn Chiêng, núi Giai, Lạc Sơn, đồi 85, đồi 50, buộc địch phải tháo chạy khỏi Việt An, Chóp Chài, Gò Mè...

        Trong lúc đó, các đơn vị thuộc Sư đoàn 304 bước vào giai đoạn dứt điểm. Ngày 7 tháng 8, chi khu quân sự Thượng Đức bị tiêu diệt. Ngày 14 tháng 8, quân ngụy mất luôn cả Ba Khe, Bàn Tân, Lâm Phụng, phải lùi về sát ái Nghĩa. Ngay sau khi chi khu quân sự Thượng Đức thất thủ, Ngô Quang Trưởng cho đánh bom hủy diệt toàn bộ căn cứ, trong đó có cả quân ngụy còn sống sót.

        Cụm cứ điểm phòng ngư liên hoàn Nông Sơn – Trung Phước - Thượng Đức bị tiêu diệt, cánh cửa bảo vệ Đà Nẵng phía tây nam đã bị Sư đoàn 2 và Sư đoàn 304 mở toang. Hơn bao giờ hết, Đà Nẵng đã ở thật gần trong tầm đạn của các sư đoàn quân giải phóng.

        Trong chiến dịch này, các chiến sĩ Sư đoàn 2 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.000 quân ngụy, trong đó có 1.214 tên bị bắt, diệt gọn 3 tiểu đoàn, đánh quỵ 2 trung đoàn, phá hủy 39 đại bác, 37 xe quân sự, bắn rơi 13 máy bay, thu hơn 1.000 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng, giải phóng vùng tây Quế Sơn, nối liền với vùng giải phóng Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước Ở phía nam, Duy Xuyên, Đại Lộc ở phía bắc thành một vùng giải phóng liên hoàn rộng lớn

        Tiến về Đà Nẵng: Khúc khải hoàn ca cho người trở lại

        Những ngày cuối tháng 3 năm 1975 lịch sử, cả nước như sôi lên cùng với những tin tức chiến thắng từ khắp nơi dồn dập bay về.

        Tại Tây Nguyên, sau khi đánh chiếm Buôn Ma Thuột, tiêu diệt sư đoàn 23 bộ binh ngụy, quân và dân Tây Nguyên lại tiếp tục tiêu diệt quân đoàn 2 ngụy gồm 4 liên đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn bộ binh, 3 trung đoàn thiết giáp 1 sư đoàn không quân số cùng toàn bộ bộ máy kìm kẹp của địch trên các tỉnh Tây Nguyên. Đoàn quân bại trận rút chạy theo đường số 7, bị các lực lượng vũ trang quân giải phóng Tây Nguyên truy kích diệt gần hết. Cả núi rừng Tây Nguyên mênh mông đã sạch bóng quân thù.

        Tại Trị Thiên, sau khi giải phóng tỉnh Quảng Trị, các chiến sĩ Quân đoàn 2 và Quân khu Trị Thiên vượt sông Mỹ Chánh, đánh dọc theo đường số 1 từ Bắc Sơn đến Bạch Thạnh, diệt sư đoàn 1 ngụy, đánh quụ sư đoàn lính thủy đánh bộ, giải phóng tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.

        Trên khắp chiến trường miền Nam, các lực lượng vũ trang cách mạng đang tiến công với thế áp đảo. Hàng loạt tuyến phòng ngự của quân ngụy bị chọc thủng, hàng loạt cứ điểm chiến lược lần lượt rơi vào tay quân giải phóng. Giờ cáo chung của chế độ Sài Gòn đã gần kề.

        Từ thị xã Tam Kỳ, tỉnh lỵ Quảng Tín ngụy, vừa được Sư đoàn 2 Quân khu 5 giải phóng vào trưa ngày 24 tháng 3, Nguyễn Chơn nhận được lệnh về Trà Nô, nơi đặt Sở chỉ huy cơ bản của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 để nhận một mệnh lệnh khẩn cấp.

        Cùng các chiến sĩ thông tin và vệ binh, anh lên một chiếc com- măng- ca, giục tài xế phóng như bay trên những con đường xuyên rừng đầy hang hốc và những hố bom chằng chịt. Lòng anh đang dậy lên bao niềm vui khó tả. Với một người lính suốt đời xông pha trận mạc như anh, không có niềm vui nào bằng niềm vui được lao vào những trận đánh lớn và giành lấy thắng lợi. Anh có linh tính lần này anh sẽ được giao nhiệm vụ chỉ huy Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 tiến về giải phóng Đà Nẵng - niềm khao khát cháy bỏng của cả đời anh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 02:01:18 AM

        Đã 29 năm trôi qua, tính từ năm 1946 là năm anh vào bộ đội, trở thành một chiến sĩ của Tiểu đoàn 19 thuộc Trung đoàn 96 làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, chiến đấu để bảo vệ thành phố Đà Nẵng trong 2 tháng trời cho đến lúc phải rút lui theo lệnh cấp trên. Mới đó mà đã 29 năm, gần một nửa đời người? Mới ngày nào anh còn là một chiến sĩ, mà bây giờ đã là Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chỉ huy một cánh quân tiến về giải phóng quê hương!

        Đang theo đuổi những ý nghĩ về trận đánh sắp tới, Nguyễn Chơn bỗng bật cười khi nghe một chiến sĩ vệ binh pha trò:

        - Suýt chút nữa thì tụi em không còn cơ hội để bảo vệ thủ trưởng?

        - Thủ trưởng liều thật, dám đem sinh mạng chính trị ra để bảo đảm thắng lợi! - Một chiến sĩ khác chen vào. 

        Nguyễn Chơn bất chợt nhớ lại trận đánh Tiên Phước - Phước Lâm - Suối Đá mới diễn ra cách đây khoảng mươi ngày. Hôm ấy trong Hội nghị cán bộ Quân khu bàn về phương án tác chiến trong chiến dịch Xuân - Hè năm 1975, khi bàn về thời gian dứt điểm cụm phòng thủ Tiên Phước - phước Lâm - Suối Đá, mọi người đều đề nghị từ 5 đến 7 ngày, riêng Nguyễn Chơn lại đề nghị Quân khu cho Sư đoàn 2 đánh trong vòng 24 giờ! Đề nghị của anh làm cả Hội nghị sửng sốt. Nhiều ý kiến phản đối, cho rằng anh chủ quan, khinh địch.

        Sau bữa cơm trưa, Tư lệnh Chu Huy Mân gặp riêng anh, hỏi nhỏ:

        - Phương án đánh nhanh của cậu, tớ ưng rồi, nhưng có chắc thắng không, để chiều tớ kết luận.

        Anh trả lời:

        - Báo cáo Tư lệnh, nếu như đánh không thắng, không bảo đảm thời gian, tôi xin chấp nhận mọi hình thức kỷ luật của Quân khu...

        Cuộc họp buổi chiều tiếp tục căng thẳng. Một số đồng chí Khu ủy Khu 5 và một số cán bộ quân sự vẫn kiên trì bảo vệ ý kiến đánh 7 ngày, không đồng tình với đề nghị của Nguyễn Chơn và cho rằng thời gian anh đưa ra không đủ để giải quyết chiến trường, nếu không dứt điểm được, sẽ gây ra thương vong cao, làm mất sức chiến đấu, ảnh hưởng đến chiến dịch. Đến phiên mình phát biểu, Nguyễn Chơn nói:

        - Thưa hội nghị, hiện tại trong khu chiến, địch tuy đông, nhưng không mạnh. Nếu ta có cách đánh tốt, địch sẽ bỏ chạy. Hơn nữa, hiện nay Sư đoàn 2 đang sung sức, lại được tăng cường các đơn vị pháo binh, cao xạ, tăng - thiết giáp và các phương tiện kỹ thuật khác, không lý do gì không đánh nhanh, diệt gọn để tiết kiệm xương máu, đạn dược...

        Ngừng một lúc để hội nghị bớt bàn cãi, Nguyễn Chơn mới nghiêm nghị nói:

        - Xin Bộ Tư lệnh Quân khu chấp nhận đề nghị của Sư đoàn 2. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ, dù cho Chơn này có chết đi, thì cũng cứ đào mồ lên gông lại mà kiểm điểm!

        Những lời nói nghiêm túc và tâm huyết của anh đã thuyết phục tất cả những người có mặt trong hội nghị. Phương án của anh được Tư lệnh Chu Huy Mân phê chuẩn. Kết quả sau đó, toàn bộ cụm cứ điểm Tiên Phước - Phước Lâm - Suối Đá, được phòng thủ chặt chẽ bởi 1 trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động, các đơn vị pháo binh, tăng - thiết giáp và hàng chục đại đội bảo an đã bị các đơn vị của Sư đoàn 2 tiêu diệt gọn chỉ trong vòng 16 giờ, về trước thời hạn cam kết của Nguyễn Chơn! Trong trận này, Sư đoàn 2 đạt được chiến thắng lớn là nhờ có phương án tác chiến đúng, cách đánh hiểm, bất ngờ, làm cho địch ngay từ đầu đã bị tan rã về tổ chức, tinh thần hoang mang dao động tột độ, dẫn đến thất bại hoàn toàn.

        - Thủ trưởng tài thật, làm mấy ông ở Bộ Tư lệnh Quân khu rất tin tưởng . - Một chiến sĩ nói .

        - Có gì đâu - Nguyễn Chơn cười - Chẳng qua là trước đó mình đã bỏ ra gần cả tháng để nghiên cứu chiến trường, nên mới dám hứa chắc như vậy, chứ đâu có dám hứa liều...

        Chiếc xe lại tiếp tục chồm lên lao về phía trước, vượt qua những đoạn đường đầy ổ gà to như cái nong phơi lúa. Tình hình đúng như Nguyễn Chơn dự đoán, trong cuộc họp khẩn cấp của Bộ Tư lệnh Quân khu, anh được giao nhiệm vụ chỉ huy Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 tiến về giải phóng Đà Nẵng - căn cứ liên hợp quân sự khổng lồ lớn nhất miền Trung.

        Thời gian lúc này rất gấp, thời gian chính là lực lượng. nếu để cơ hội trôi qua, thì có khi phải tốn cả mấy sư đoàn cũng chưa chắc tạo lại được. Tình hình thay đổi sau từng giờ, Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Đà Nẵng đã được thành lập, do Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân làm Chính ủy.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 02:03:20 AM

        Từ đèo Le về Sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn không có đường ô tô, phải đi bộ. Qua khỏi Sơn Thượng một đoạn, Nguyễn Chơn chỉ vào một ngọn đồi nằm bên kia con suối nhỏ chảy từ đèo Le xuống, nói với Lê Minh Châu, cán bộ tác huấn Quân khu:

        - Cậu biết không, chính cái hồi đó, năm 1967, anh Thạch, anh Đạo, anh Sáng, anh Phong và một số anh nữa trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 hồi ấy đã hy sinh khi bị máy bay Mỹ phát hiện. Riêng cậu Xuất, bị thương, lăn được mấy vòng thoát chết, nhưng rồi sau đó cũng hy sinh trong trận Đường 9 - Nam Lào. Chiến tranh ác liệt quá - giọng anh chợt trở nên bùi ngùi - sự mất mát quá lớn, chiến tranh phải suy nghĩ chiến đấu như thế nào để không phụ lòng mong mỏi của các anh...

        Lê Minh Châu bóp chặt tay anh như muốn chia sẽ cùng anh bao nhiêu tình thương, nỗi nhớ về biết bao đồng đội đã ngã xuống trong suốt cuộc chiến tranh dằng dặt mấy mươi năm. Khi qua thung lũng Quế Sơn, anh chỉ tay về ngọn đồi Cấm Dơi, nói với Lê Minh Châu:

        - Tuy nó thấp thế, mà hồi ấy cũng phải chật vật lắm mới chiếm được. Trong trận này, có cậu dùng B72 bắn cháy trên 10 chiếc xe tăng cơ đấy.

        Vui chuyện đường dài, một lúc sau Lê Minh Châu hỏi anh:

        - Sắp tới đánh về Đà Nẵng, Sư đoàn mình được phân công ra sao, anh?

        Nguyễn Chơn trầm ngâm giây lát rồi chậm rãi nói:

        - Chung nhất là đột phá, tiến công trong hành tiến. Mười một mục tiêu, trong đó Sư đoàn 2 được giao 4 mục tiêu chính là Sở chỉ huy quân đoàn 1, sân bay Đà Nẵng, tòa thị chính và căn cứ hải quân. Đây là mục tiêu chủ yếu trước các đơn vị khác.

        Trên đường về Sở chỉ huy Sư đoàn, Nguyễn Chơn nhận được điện trực tiếp của đồng chí Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy Khu 5. Đồng chí Võ Chí Công dặn Nguyễn Chơn:

        - Thành phố Đà Nẵng là một thành phố của Quân khu 5, cho nên Sư đoàn 2 phải quyết tâm đánh chiếm cho được các mục tiêu chủ yếu trước các đơn vị khác.

        Về đến Sở chỉ huy, Nguyễn Chơn lệnh cho Trung đoàn Ba Gia tiến theo đường số 1 đánh chiếm sân bay Đà Nẵng và Sở chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy. Trung đoàn 38 đến Vĩnh Điện tiến theo đường Tứ Câu đánh chiếm Non Nước, sân bay Nước Mặn, tiếp tục phát triển đánh chiếm Sơn Trà. Lữ đoàn 52 và Trung đoàn 31 tiến theo đường sắt, làm dự bị cho Sư đoàn. Thời gian là lực lượng, tất cả các đơn vị được lệnh tiến càng nhanh càng tốt, không để vướng chân vào các Ổ kháng cự dọc đường.

        Vào giờ phút đó, Nguyễn Chơn đã đưa ra một mệnh lệnh hết sức táo bạo: Không sử dụng mật mã trên vô tuyến nữa. Nhận được lệnh, Trung đội trưởng thông tin lập tức đến gặp Nguyễn Chơn:

        - Báo cáo thủ trưởng, không thể làm như vậy được, vì đó là sai phạm lớn nhất trong nguyên tắc bảo mật thông tin. Nếu xảy ra chuyện gì, kỷ luật sẽ rất nặng...

        - Chấp hành đi, có chuyện gì Chơn chịu - Nguyễn Chơn thân mật vỗ vai người sĩ quan thân tín - Cậu hãy tin rằng, bây giờ nếu địch biết rõ quân ta đang tiến tới đâu, thì chúng sẽ càng thêm hoảng loạn, sẽ càng tan rã nhanh hơn.

        Ngay trong đêm 27 tháng 3, các cánh quân của Sư đoàn 2 thần tốc tiến về Đà Nẵng trên 2 trục song song là quốc lộ 1 và tuyến đường sắt. Trước đó, Nguyễn Chơn. Đã ra lệnh cắt chức Nguyễn Văn Thí - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 38 vì không chấp hành nghiêm mệnh lệnh tiến công, cho quân đánh chiếm chi khu quận ly Thăng Bình, làm chậm tốc độ hành quân chung của Sư đoàn đến mấy tiếng đồng hồ. Anh đưa Trung đoàn phó Vũ Xuân Thủy lên nắm chỉ huy Trung đoàn, rút Nguyễn Văn Thí về Bộ Tư lệnh Sư đoàn để tự suy nghĩ về lỗi lầm của mình. Anh nói với Nguyễn Văn Thí:

        - Người chỉ huy phải biết quyết đoán. Lúc thời cơ đến, phải biết cách xử trí linh hoạt, sáng tạo và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong chiến đấu, trễ một giờ, đôi lúc phải trả giá bằng biết bao sinh mạng của chiến sĩ; trễ hai giờ, đôi khi làm mất luôn cơ hội chiến thắng...

        Tuy nói vậy, nhưng chỉ mấy ngày sau khi giải phóng Đà Nẵng, anh tạo cơ hội cho Nguyễn Văn Thí lập công chuộc tội bằng cách cho chỉ huy một cánh quân của Sư đoàn phối hợp với bộ đội hải quân ra giải phóng quần đảo Trường Sa.

        Sáng ngày 28 tháng 3, toàn bộ đội hình Sư đoàn đã có mặt ở bờ nam sông Bà Rén. Do cầu bị địch dùng bom đánh sập, cánh quân tiến theo đường số 1 phải nhờ vào ghe, thuyền của ngư dân để vượt qua sông. Gần 4.000 cán bộ, chiến sĩ của 2 trung đoàn mang vác cồng kềnh, lần lượt được dân đưa qua sông an toàn trong suốt buổi chiều và cả đêm 28.

        Mờ sáng ngày 29 tháng 3, cả đội hình Sư đoàn đã ra đến Vĩnh Điện - cửa ngõ dẫn vào thành phố Đà Nẵng. Trung đoàn 38 được lệnh đánh chiếm Vĩnh Điện để Trung đoàn  Ba Gia vượt lên phía trước đánh vào cơ quan đầu não địch ở Đà Nẵng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 02:05:47 AM

        Tình hình Đà Nẵng lúc này rất rối loạn. Địch tập trung về đây hơn 75.000 quân gồm sư đoàn 3 bộ binh, 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ, 24.000 phòng vệ dân sự vũ trang, 5.000 cảnh sát, 7 tiểu đoàn pháo binh với tổng cộng 114 khẩu đại pháo, thiết đoàn kỵ binh số 11 với 70 xe tăng hạng nặng, sư đoàn không quân số 1 với các thiết bị kỹ thuật và 373 máy bay các loại. Ngoài ra còn có hơn 6.000 tàn quân từ Trị Thiên, Quảng Nam dồn về và hàng vạn nhân viên hành chính các cấp. Dựa vào lực lượng này, Ngô Quang Trưởng đã cho thiết lập một tuyến phòng thủ kéo dài từ Hải Vân đến Hòa Cầm lên Sơn Gà, Ái Nghĩa do lính thủy đánh bộ chốt giữ. Tuyến phòng thủ thứ hai từ Hòa Cầm vòng xuống Đò Xu, Cẩm Lệ kéo dài sang Non Nước, Mỹ Khê do sư đoàn 3 chốt giữ. Xen kẽ với lực lượng chính quy là các đơn vị bảo an, dân vệ có nhiệm vụ ngăn chặn các đợt đột nhập bí mật của bộ đội vào thành phố.

        Với mật độ bố phòng dày đặc như vậy, Ngô Quang Trưởng huênh hoang tuyên bố. "Sẽ tử thủ bảo vệ Đà Nẵng, không để Đà Nẵng rơi vào tay Cộng sản". Trên thực tế, quân ngụy tuy còn đông, nhưng đã rệu rã về ý chí và đội ngũ, không còn tinh thần chiến đấu. Trừ các đơn vị chính quy, số còn lại phần lớn đều được lắp ghép một cách vội vã, thiếu tổ chức, nên chỉ vừa nhìn thấy bộ đội là vứt súng bỏ chạy. Tình hình đó đã tác động rất lớn đến tâm lý, tinh thần chiến đấu của các lực lượng chính quy ngụy.

        5 giờ 50 phút sáng ngày 29 tháng 3, qua cửa mở Vĩnh Điện, các đơn vị của Sư đoàn 2 đã tận dụng mọi phương tiện có được như xe đò, xe lam, xe tải... Ồ ạt tiến về Đà Năng theo hai hướng Hòa Cầm và Hội An - Non Nước.

        Nguyễn Chơn mặc bộ bà ba xanh quen thuộc, trên tay cầm bản đồ tác chiến, cùng tổ trinh sát đi trước đội hình Trung đoàn 1 tiến về Hòa Cầm. Anh đưa ra một mệnh lệnh ngắn gọn cho các Trung đoàn trưởng: "Trước 12 giờ trưa nay, phải chiếm xong các mục tiêu quy định".

        Với truyền thống "Nhanh như Chóp Nón, gọn như Ba Gia", đến ngã tư Hòa Cầm, một bộ phận Trung đoàn 1 nhanh chóng đập tan tuyến phòng thủ do 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ chốt giữ, sử dụng ngay mấy chiếc M.113 vừa tịch thu được rẽ về phía Cẩm Lệ đánh thẳng vào sân bay, sau đó tiếp tục phát triển đánh vào sở chỉ huy Quân đoàn 1. Một bộ phận khác tiến thẳng theo đường số 1 xuống ngã ba Huế đánh vào tòa thị chính.

        Ở hướng đông, Trung đoàn 38 sau khi chiếm xong Vĩnh Điện đã theo đường Vĩnh Điện - Hội An tiến ra Đà Nẵng. Đến ngã ba Bồ Mưng, thì được xe của nhân dân ra đón. Trung đoàn ra đến Non Nước, thì gặp phải một bộ phận tàn quân lính thủy đánh bộ cụm lại chống cự. Trung đoàn để lại một tiểu đoàn bao vây diệt địch, còn đại bộ phận tiến thẳng ra đánh chiếm bán đảo Sơn Trà.

        Cả đội hình Sư đoàn tiến như chẻ tre, tin thắng lợi báo về tới tấp. Nhận thấy tình hình phát triển thuận lợi, Nguyễn Chơn cho Trung đoàn 31 ở lại khu vực Cầu Đỏ, Trung đoàn 36 ở lại khu vực quận ly Hòa Vang làm nhiệm vụ tảo trừ tàn quân địch.

        Đúng 12 giờ kém 15 phút, lá cờ chiến thắng của Trung đoàn 1 tung bay trên cột cờ Bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy. Cơ quan đầu não của địch trên dãy đất miền Trung đã bị Sư đoàn 2 Quân khu 5 xóa sổ. Nguyễn Chơn bước vào phòng làm việc của Ngô Quang Trưởng - viên tướng 3 sao được quan thầy Mỹ đánh giá là ưu tú nhất trong số các tướng lĩnh của quân đội ngụy. Trong phòng mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn. Hình như chủ nhân của nó không kịp thời gian để mang đi hoặc thiêu hủy những thứ cần thiết.

        Bốn lá cờ gồm 1 lá mang ngày thành lập quân đoàn, 1 lá do Mỹ tặng, 1 lá có hàng chữ "Chiến thắng Mậu Thân 1968", 1 lá khác có hàng chữ "Chiến thắng Quảng Trị 1972". Trên tấm bản đồ tác chiến, các mũi tên biểu thị các mũi tiến công của Sư đoàn 2 đang dừng lại ở đoạn giữa Tuần Dưỡng và Hà Lam. "Vậy là y đã chuồn ngay từ tối 28". Nguyễn Chơn nghĩ bụng. Trong hộc bàn, còn cả 1 khẩu súng ngắn và con dấu của Bộ tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1. Nguyễn Chơn cho đồng chí Suyền - trợ lý tham mưu quay vào Thanh Quýt báo cáo với đồng chí Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy Khu 5 việc đã chiếm được sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy. Đồng chí Võ Chí Công nửa tin, nửa ngờ vì chiến công quá thần tốc của Sư đoàn 2, hỏi lại:

        - Các cậu có chắc đó là tòa nhà của quân đoàn 1 không? Ở Đà Nẵng có nhiều tòa nhà rất giống nhau...

        Báo cáo Bí thư chắc chắn ạ. Vừa nói, đồng chí Suyền vừa rút con dấu của Ngô Quang Trưởng ra. Đến lúc ấy đồng chí Bí thư Khu ủy Khu 5 mới tin rằng Sư đoàn 2 đã đánh chiếm được mục tiêu quan trọng nhất của chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 02:07:01 AM

        Cùng lúc đó, 2 mũi tiến công vào sân bay Đà Nẵng cũng đã chiếm xong mục tiêu. Máy bay và các phương tiện kỹ thuật của địch còn nguyên hàng dãy khi các chiến sĩ Sư đoàn 2 vào đến trung tâm chỉ huy sư đoàn 1 không quân.

        Ở hướng bờ sông, Trung đoàn 96 Tỉnh đội Quảng Đà cùng Đại đội biệt động Lê Độ nhanh chóng chiếm lĩnh tòa thị chính, kéo cờ giải phóng lên cột cờ chính, sau đó đánh chiếm quân vụ thị trấn và đài phát thanh.

        Ở hướng tây, Sư đoàn 304 sau khi đánh chiếm Sơn Gà, Gò Hà, Hòa Cầm, đã theo đường 14 tiến vào Đà Nẵng, hội quân với Trung đoàn 1 tại sân bay vào lúc 13 giờ.

        Ở hướng bắc, các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 sau khi vượt qua đèo Hải Vân đã nhanh chóng đánh chiếm Nam Ô, Hòa Mỹ. Trưa ngày 29 tháng 3, đơn vị đi đầu của Quân đoàn 2 đã vào đến ngã ba Cai Lang. Sau khi xác định các mục tiêu trong thành phố đã được các đơn vị bạn chiếm lĩnh, Quân đoàn cho các đơn vị vượt qua cầu Trịnh Minh Thế, tiến thẳng ra bán đảo Sơn Trà. Tại đây diễn ra cuộc hội quân lịch sử giữa các đơn vị của Quân đoàn 2 và Trung đoàn 38 Sư đoàn 2 vào lúc 15 giờ ngày 29 tháng 3 năm 1975. Giờ đó được xem là giờ chính thức giải phóng Đà Nẵng.

        Đà Nẵng - thành phố lớn thứ nhì ở miền Nam, khu liên hợp quân sự khổng lồ với đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh hiện đại xếp vào loại nhất, nhì Đông Nam á, được phòng thủ nhiều tầng chặt chẽ, đã không chống cự nổi trước sự tấn công như vũ bão, thần tốc của các chiến sĩ giải phóng quân. Khúc khải hoàn ca vang dội khắp phố phường, càng khích lệ cả đoàn quân chiến thắng.

        Nguyễn Chơn bất chợt nhớ lại những lời của đồng chí Nguyễn Chánh đã nói năm nào "Nếu kẻ thù không để cho chúng ta trở về với ngọn cờ hòa bình, thì chúng ta sẽ trở về bằng ngọn cờ Quyết chiến quyết thắng!". Và anh cùng với biết bao đồng chí, đồng đội trên khắp chiến trường miền Nam đã thực hiện đúng lời thề đó. Có một sự trùng hợp đặc biệt là 10 năm trước, vào ngày 20 tháng 10 năm 1965 - ngày thành lập Sư đoàn 2, anh là Trung đoàn trưởng trung đoàn 1 Ba Gia đứng tuyên thệ dưới quân kỳ ở làng Ân Lâm, xã Phước Hà, huyện Tiên Phước, căn cứ địa của nghĩa quân Hường Hiệu. 10 năm sau, anh lại là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2, đưa quân về giải phóng Đà Nẵng, thành phố quê hương. Đòn tiến công chiến lược hiểm yếu từ căn cứ Chu Lai về Đà Nẵng đã cắt đôi khu vực miền Trung, đánh vào phía sau và bên sườn Đà Nẵng, căn cứ liên hợp quân sự mạnh nhất miền Trung.

        Nguyễn Chơn lại bước đi trên con đường quen thuộc dẫn vào làng. Qua bao nhiêu năm chiến tranh, làng anh vẫn không có gì thay đổi. Vẫn những mái tranh nghèo nằm nép mình dưới những tàu dừa xác xơ gió biển. Vẫn những con thuyền nhỏ và những chiếc thúng chai nằm gối đầu trên cát sau bao ngày ra khơi vào lòng. Hình như kẻ thù không muốn cho quê anh thoát khỏi những cảnh đời tối tăm, nghèo khổ.

        Nguyễn Chơn đứng tần ngần trước cánh cổng dẫn vào nhà. Cả ngôi nhà của gia đình anh cũng vậy, vẫn không thay đổi gì mấy so với ngày anh ra đi. Chiếc sân gạch đã rêu dày theo năm tháng, cây mít sau hè da đã sần sùi lốm đốm trắng. Bất giác, Nguyễn Chơn đưa tay sờ lên mái tóc đã bạc màu vì sương gió. Ngày anh lên đường vào quân ngũ, tóc hãy còn xanh. Mẹ anh bảo: "Giống y tóc cha mày". Giờ anh trở lại, tóc tuy chưa bạc, nhưng cũng đã nhuốm màu thời gian...

        Có tiếng chó sủa, rồi tiếng người reo lên:

        - A, anh Hai về! Cha ơi, anh Hai về?

        - Đâu? Đâu? Anh Hai đâu? Anh Hai đâu?

        Cả Nhã, cả Khâm, cả út đều lao ra, rồi ùa tới nắm tay Nguyễn Chơn kéo hẳn vào nhà. Cha anh ngồi đó, tuy không còn tráng kiện như xưa, nhưng ông vẫn khỏe. Hình như ông không còn tin vào đôi mắt của mình. ông hỏi, giọng lạc hẳn đi.

        - Chởn đa con?

        - Dạ, con đây cha! Nguyễn Chơn xúc động trả lời, thấy cay cay nơi khoé mắt.

        Đã ba mươi năm rồi còn gì. Cha mẹ anh còn sống đến ngày anh trở về đã là một hạnh phúc lớn cho đời anh. Sau giây phút ngỡ ngàng, mẹ anh lao tới ôm chầm lấy anh, đứa con trai yêu quý mà bà đã đêm ngày trông ngóng suốt ngần ấy năm trời. Những giọt nước mắt mừng vui, xúc động rơi ướt cả vai áo anh. Nguyễn Chơn ôm lấy thân hình gầy gò của mẹ. Đến lúc này thì chính anh cũng không thể nào ngăn được những giọt nước mắt cứ lặng lẽ tuôn tràn ra hai bên má...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 02:11:45 AM
       
PHẦN THỨ HAI

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHƠN QUA KÝ ỨC CỦA ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHƠN

Đại tướng CHU HUY MÂN       

        Đầu mùa hè 1964, khi sắp kết thúc vai trò trưởng đoàn kiểm tra của Quân ủy Trung ương vào làm việc vơi Quân khu 5, tôi nhận quyết định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, ở lại làm Chính ủy Quân khu 5. Để tìm hiểu lực lượng và phong trào quần chúng, khả năng hoạt động chiến đấu của các lực lượng vũ trang, tôi xin phép Thường vụ Khu ủy xuống vùng giáp ranh nam Quảng nam một thời gian. Trước hết tôi gặp đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam và cán bộ Trung đoàn 1 (chủ lực của Quân khu). Vào một buổi chiều, tôi gặp Trung úy Nguyễn Chơn, trung úy Hiếu đang đi chuẩn bị chiến trường ở một dòng suối đã được che phủ bằng rừng giang. Con suối này không xa làng Tú Mỹ bao nhiêu. Sau mấy lời chào hỏi, chúng tôi trải tấm bản đồ trên một phiến đá lớn, tôi nói: Hai đồng chí cho biết tình hình địch, cơ sở quần chúng và khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang, trước hết là Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 60 Quảng Nam, đồng thời cho biết suy nghĩ của các đồng chí về chiến đấu, xây dựng,bộ đội trước mắt và sắp tới, chúng ta cùng nhau trao đổi để thống nhất một phương án cụ thể. Trung úy Nguyễn Chơn trình bày những nét chung và chi tiết, đồng thời có những đề nghị thiết thực kết hợp giữa chiến đấu và xây dựng. Cả ba người đều thống nhất: vì sao ta diệt kìm kẹp; phá ấp chiến lược của địch và nhân dân giành quyền làm chủ chỉ được mấy hôm, thì lực lượng cơ động cộng hòa ngụy hành quân càn quét giành lại được. Vì sao chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy đã bước đầu phá sản mà lực lượng cơ động ngụy trên chiến trường này vẫn càn quét lên vùng căn cứ cách mạng (tây Quảng Nam, Quảng Ngãi) - chúng gọi là " Đỗ Xá".  Từ buổi làm việc này chúng tôi đi đến hình thành quyết tâm chuẩn bị cho Trung đoàn 1 đánh trận Kỳ Sanh bằng hình thức đánh điểm, diệt viện. Mặc dù, chiến thắng Kỳ Sanh không lớn, nhưng giải quyết một bước quan trọng tư tưởng gồm chủ lực cơ động ngụy, bắn cháy và thu xe M.113, bắn cháy máy bay địch bằng trung liên, súng trường, đánh cả ban đêm lẫn ban ngày. Với chiến thắng này Trung đoàn 1 có bước trưởng thành đúng hướng và đúng chức năng.

        Sau buổi gặp ở Suối Đá và qua chiến thắng Kỳ Sanh, tôi chú ý theo dõi sự phát triển của Nguyễn Chơn. Tiếp theo là chiến thắng địch trong cụm cứ điểm Việt An đầu xuân năm 1965 với trận đánh tiêu diệt một tiểu đoàn ngụy bằng phục kích ở Vinh Huy. Trong trận này, một tiểu đội trưởng đã tung ra khẩu lệnh "bám thắt lưng địch mà đánh". Trong lúc đó trên chiến trường Bình Định, Trung đoàn 2 (chủ lực Quân khu) đánh thắng trận Đèo Nhông - Dương Liễu, thu xe M.113. Vào mùa hè năm 1965, mặc dù thủy quân lục chiến Mỹ đã có ở Chu Lai, Trung đoàn 1 từ trận Kỳ Sanh đến thời gian này chưa được một năm đã có bước trưởng thành nhảy vọt. Trong các cuộc họp xây dựng quyết tâm chiến đấu, tổng kết kinh nghiệm, Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 5 chăm chú lắng nghe ý kiến của Nguyễn Chơn, tinh thần tích cực và táo bạo của anh góp phần khắc phục hiện tượng bình quân chủ nghĩa hay tư tưởng hữu khuynh tiêu cực trong một số cán bộ. Mặc dù thời gian chiến đấu ở Quân khu chưa dài lắm, nhưng thực tế chiến đấu đã đảm bảo cho Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho Nguyễn Chơn ngày một nặng hơn với lòng tin vững chắc. Cuối năm 1967, từ Tây Nguyên tôi về làm Tư lệnh Quân khu 5, từ đây hai chúng tôi có dịp chiến đấu và làm việc cùng nhau lâu hơn. Trong tình huống khó khăn, phức tạp mới hiểu rõ ý chí tài năng và sức sáng tạo của người chỉ huy quân sự ở đây tôi chỉ đề cập ba tình huống, cũng là những kỷ niệm sâu sắc của tôi về Nguyễn Chơn:

        1.    Mùa thu năm 1972, trong trận chiến đấu tiêu diệt một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn thiết giáp và hầu hết  lực lượng bảo an dân vệ, giải phóng toàn bộ quận lỵ chi khu này có một cụm núi đá gọi là Cấm Dơi. Quân địch lợi dụng địa hình này để chống trả mỗi khi bị bộ đội ta tấn công. Lúc này Quân khu được Bộ Tư lệnh tăng cường cho một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn pháo 130 ly. Trận đánh này diễn ra vào cuối mùa tấn công trên toàn bộ chiến trường miền Nam Việt Nam và giữa lúc phái đoàn ta ở Pa- ri đòi hỏi phải có sự phối hợp tích cực của chiến trường. Lúc đầu khi xây dựng quyết tâm và kế hoạch tác chiến, tôi đồng ý với Nguyễn Chơn sử dụng 4 khẩu 130 ly chủ yếu bắn vào Cấm Dơi theo hình thức hiệp đồng bộ - pháo. Chúng tôi đang chuẩn bị theo hướng trên, thì nhận được lệnh của chỉ huy sở cơ quan Quân khu không cho sử dụng pháo 130 ly vào trận Quế Sơn, để sau chiến thắng Quế Sơn dùng cả xe tăng, pháo 130 ly hình thành mấy mũi tấn công giải phóng Đà Nẵng - khu liên hiệp quân sự lớn của địch. Như vậy là từ hình thức chiến đấu bộ - pháo hiệp đồng chúng tôi phải chuyển sang hình thức chỉ có bộ binh bí mật tập kích với hỏa lực mang vác. Khó khăn lúc này là cụm núi đá Cấm Dơi và tư tưởng tâm lý của bộ đội. buộc phải tăng cường công tác động viên chính trị, sắp xếp lại đội hình. Mặt khác, Tham mưu trưởng tiền phương chỉ huy sở Quân khu cho biết: Mấy hôm nay tư lệnh vùng 1 chiến thuật ngụy mấy lần nhận định: Quân Việt cộng đã mệt mỏi, chuẩn bị lui về phía sau nghỉ ngơi, các đơn vị của chúng cũng được nghỉ một thời gian - sự đánh giá này của địch có lợi cho ta. Nói chuyện qua điện thoại, tôi và Nguyễn Chơn thống nhất giữ vững quyết tâm, chuyển lại cách đánh không cần pháo 130 ly. Trận đánh diễn ra sau mấy tiếng đồng hồ, quận ly chi khu và toàn bộ Quế Sơn hoàn toàn được giải phóng, địa bàn chiến lược nông thôn được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng Đà Nẵng sau đó.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:50:39 PM

        2.    Trận đánh tiêu diệt một tiểu đoàn địch chiếm đóng trong cứ điểm Nông Sơn, khống chế cả vùng nông thôn Trung Phước mùa thu năm 1974. Đây là trận đánh địch trong công sự vững chắc bằng bộ - pháo hiệp đồng, đồng thời dùng hình thức phục kích vận động tiêu diệt viện binh địch từ Duy Xuyên qua đập Vĩnh Trinh hòng chiếm lại Nông Sơn. Để đảm bảo chắc thắng, chúng tôi cho tháo rời pháo 85 ly nòng dài khiêng lên một đỉnh núi cách cứ điểm Nông Sơn khoảng trên 1km, từ trận địa pháo nhìn rõ lô cốt và lỗ châu mai của cứ điểm Nông Sơn. Theo kế hoạch, đúng 16 giờ ta nổ súng, nhưng 11 giờ trưa ngày hôm ấy, địch cho một tiểu đoàn cộng hòa lên thay tiểu đoàn chiếm đóng lâu ngày ở Nông Sơn. Trinh sát cho biết tiểu đoàn mới lên vẫn ở lại Nông Sơn chè chén với nhau, ngày hôm sau mới thay quân. Qua điện thoại, tôi hỏi ý kiến Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, anh phấn khởi trả lời: ta quyết tâm tiêu diệt cả hai tiểu đoàn địch. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh và nói thêm: đây là số đỏ, vì chúng ta không phải đi tìm tiểu đoàn địch ở nơi khác như dự tính, thật đúng là ý hợp tâm đầu. Kết quả bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu cả hai tiểu đoàn địch, giải phóng một vùng nông thôn tương đối rộng.

        3.     Mùa xuân năm 1975 lịch sử, nhiệm vụ trọng điểm của bộ đội Quân khu 5 là cùng với lực lượng từ Huế vào giải phóng Đà Nẵng. Theo đúng kế hoạch, mở đầu chiến dịch tiêu diệt địch giải phóng chi khu quận ly Tiên Phước, Phước Lâm, kéo quân cơ động ngụy từ Tam Kỳ lên dãy núi đông Tiên Phước, Phước Lâm, tiêu diệt và đánh tan mấy tiểu đoàn ngụy khi chúng bị tổn thất mạnh, nhốn nháo rút lui ta cho xe tăng giấu kín ở tây thị xã Tam Kỳ xuất kích, thực tế diễn ra cơ bản đúng như vậy. Bộ đội Sư đoàn 2 giải phóng Tam Kỳ trưa ngày 24 tháng 3 năm 1975. Lúc này có ý kiến yêu cầu Sư đoàn 2 cho phân tán mấy tiểu đoàn quét tàn quân địch để giải phóng hoàn chỉnh tỉnh Quảng Nam. Biết ý kiến đó, qua điện thoại, tôi hỏi ý kiến Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, thì được anh trả lời dứt khoát: đề nghị cho toàn bộ lực lượng tiến nhanh ra giải phóng Đà Nẵng. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh và nói: Thời cơ lúc này 1 ngày bằng 20 năm, chúng ta quyết tâm đánh tan gần 10 vạn quân địch, giải phóng khu căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng trong hành tiến, không cho chúng có thời gian để tự thủ, không cho chúng chạy về Sài Gòn. Trên đường tiến quân ra Đà Nẵng, nếu gặp quân địch chống cự, ta chỉ dùng một tổ, nhiều nhất là một tiểu đội kìm giữ chúng, toàn bộ đội hình cứ tiến nhanh. Đi sau đội hình Sư đoàn 2 là tiền phương chỉ huy sở Quân khu, tôi theo đường Hiệp Đức, Quế Sơn, ra ngã ba Phước Chỉ. Ý định hai chúng tôi gặp nhau lúc này thật có ý nghĩa. Đúng trưa 29 tháng 3 năm 1975, sau khi giải phóng Huế, Quân đoàn 2 tiến vào Đà Nẵng, cánh quân của Nguyễn Chơn tiến từ phía trong ra, nhanh chóng tiêu diệt và làm tan rã gần 10 vạn quân ngụy; địch không kịp tử thủ, một bộ phận tháo chạy ra bờ biển hòng tìm cách về Sài Gòn nhưng bị pháo tầm xa của ta ngăn chặn. Sự thống nhất ý chí của chúng tôi lúc này có ý nghĩa chiến lược.

        Qua hơn 10 năm hoạt động, chiến đấu gần gũi bên nhau, trên một chiến trường thực sự ác liệt, gian khổ, tôi thấy Nguyễn Chơn chưa phải là người may mắn được học tập: văn hóa, chính trị, quân sự cơ bản, nhưng sớm được giác ngộ mục tiêu lý tưởng của Đảng, quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một lòng phục vụ Tổ quốc và nhân dân. Quá trình chiến đấu lâu dài, Nguyễn Chơn trở thành một cán bộ quân sự, nhưng rất có trách nhiệm xây dựng đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết nhân dân, chăm lo xây dựng sức mạnh chính trị, sức mạnh tổ chức, trước hết là tổ chức cơ sở Đảng, bồi dưỡng toàn diện cho đội ngũ cán bộ để có năng lực chiến đấu bền bỉ, lâu dài đến toàn thắng. Nguyễn Chơn là người chỉ huy có năng lực, dũng cảm, sát thực tế, có nhiều sáng tạo. Thành tích và chiến công của Nguyễn chơn rất lớn, nhưng bao giờ anh cũng khiêm tốn, đó cũng là đức tính mà Bác Hồ thường dạy cán bộ, đảng viên. Sở dĩ được như vậy, tôi cho rằng: trên cơ sở giác ngộ chính trị, Nguyễn Chơn kiên trì phương châm: vừa làm, vừa học, vừa chiến đấu, vừa rèn luyện, không ngừng nâng cao chí tiến thủ cách mạng.

        Vì vậy, mỗi người đều có thể hiểu Nguyễn Chơn từ Trung úy Đại đội trưởng phát triển lên Sư đoàn trưởng trong chiến tranh; sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Chơn được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao trọng trách làm Tư lệnh Quân khu, Tư lệnh Quân đoàn. Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ Trung úy đại đội trưởng, chúng tôi gặp nhau ở suối đá nam Tam Kỳ năm 1974, nay anh đã được Đảng, Nhà nước phong quân hàm Thượng tướng, phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tại Đại hội Đảng toàn quốc khóa 6, khóa 7 được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, là đại biểu Quốc hội khóa 4, khóa 7. Đời riêng của Thượng tướng cũng đẹp, người bạn đời Trần Thị Lý cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:52:17 PM
       
ĐỨC ĐỘ, TÁC PHONG CHIẾN ĐẤU CỦA NGƯỜI CHỈ HUY ĐÁNG HỌC TẬP

Đại tướng ĐOÀN KHUÊ        

        Nhằm truyền thụ lại những kinh nghiệm cho các thế hệ trẻ, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã chủ trương khai thác, biên soạn tổng kết một số kinh nghiệm về xây dựng, huấn luyện và chỉ huy chiến đấu. Các đồng chí biên soạn đã tổng kết, rút ra những khía cạnh thể hiện sự mưu trí, sáng tạo, dũng cảm, kiên quyết trong các trận đánh của Sư đoàn 2 trên chiến trường Khu 5 trong đánh Mỹ và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong đó có nói đến vai trò chỉ huy rất tiêu biểu của đồng chí Nguyễn Chơn.

        Các đồng chí biên tập có đến xin ý kiến tôi đánh giá về anh Nguyễn Chơn. Tôi ở chiến trường Khu 5 gần gũi, hiểu biết về anh Chơn rất nhiều, từ khi anh còn là cán bộ cơ sở đến cán bộ chiến dịch, chiến lược. Nhất là trong chiến dịch Việt An năm 1965, chiến dịch Ba Gia, hè năm 1965, chiến dịch Nông Sơn - Trung Phước năm 1974, cũng như trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và ngay cả trong những năm làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Cam- pu- chia...

        Đối với anh Chơn, có thể đánh giá là một cán bộ chỉ huy có lòng tin tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, với cấp trên và đồng đội. Lòng tin đó thể hiện ở rất nhiều điều, nhưng tôi có thể nói rằng:

        1.     Anh là một người chỉ huy có ý chí cách mạng rất tốt, kiên cường, thủy chung với mục đích lý tưởng. Luôn luôn suy nghĩ vì lợi ích giai cấp và dân tộc. Xuất phát từ tinh thần đó, ở anh Chơn thật sự là vô tư, tận tụy, luôn tìm cách khắc phục khó khăn vươn lên để đạt được mục tiêu chiến đấu của mình. Khi tổ chức Đảng và nhân dân cần, dù khó khăn đến mấy, anh cũng kiên quyết khắc phục và chấp hành mệnh lệnh.

        2.     Anh là người chỉ huy có kế hoạch, có phương án chiến đấu sắc sảo, luôn tìm tòi cách đánh thắng, đánh tiêu diệt địch có hiệu suất cao. Biết tổ chức xây dựng, huấn luyện bộ đội và làm cho bộ đội quán triệt để hành động đúng đắn với quyết tâm cách đánh. Tôi nhớ khi đánh trận Nông Sơn - Trung Phước, đến ngày nổ súng, quân địch tăng thêm lực lượng thay phiên, nhưng Đảng ủy và chỉ huy Sư đoàn 2, trong đó có ý kiến anh Chơn nhận định đây là thời cơ lộn xộn của địch khi thay phiên, không phải lực lượng nhiều, hay ít. Anh Chơn đã đánh giá rất chính xác, không cường điệu, không chủ quan, mà luôn tạo thế và lực để đánh tiêu diệt.

        3.     Là một cán bộ quân sự năng động, sáng tạo, có quan hệ với cấp dưới sâu sắc và nghiêm túc đối với cấp trên, nét tiêu biểu nổi bật ở anh Chơn là trước khi bước vào trận đánh anh rất chú ý đến công tác luyện quân để giành thắng lợi, nhưng ít tổn thất. Đó là quan điểm của một người chỉ huy thật sự.

        4.    Anh còn là cán bộ quân sự có tư duy, luôn tìm tòi, sáng tạo, nhiều mưu mẹo. Trong chiến tranh ở biên giới Tây Nam, khi tổ chức tác chiến ở điểm cao 547 và tác chiến khu vực ở Ngã Ba Biên, anh đã mạnh dạn tổ chức luồn sâu vu hồi vào phía sau quân địch 13 cây số, nghi binh thu hút địch ở chính diện, tạo nên sự bất ngờ đánh tiêu diệt. Không chỉ có thủ đoạn chiến đấu linh hoạt, hiệu quả, mà anh còn tìm nhiều biện pháp khắc phục khó khăn bảo đảm cơ sở vật chất để đánh thắng...

        Suốt chặng đường chiến đấu vì độc lập dân tộc, cũng như trong những năm nghiên cứu chỉ đạo về xây dựng lực lượng, nghiên cứu cách đánh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, anh Chơn đã trăn trở miệt mài, tận tụy với công việc suy nghĩ và làm một việc gì đó để cho các thế hệ trẻ nối nghiệp.

        Tôi suy nghĩ, thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ hôm nay không chỉ cần trau dồi lý tưởng về mặt nhận thức tư tưởng, chính trị, đạo đức, mà còn phải trau dồi về mặt lý luận quân sự, tìm tòi nghiên cứu xây dựng, huấn luyện, nghiên cứu cách đánh, vận dụng sáng tạo những nghệ thuật quân sự đã được đúc kết, để qua đó hoàn thành sứ mệnh lịch sử thiêng liêng cao cả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà Đảng và nhân dân đã giao cho quân đội.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:55:44 PM
             
CÙNG ANH CHƠN TIẾN VỀ ĐÀ NẴNG

Thiếu Tướng LÊ MINH CHÂU        


        Chiếc xe Gát 69 của Cục Chính trị đưa tôi vượt qua đèo Răm. Tôi hỏi đồng chí lái xe đã đến Sở chỉ huy Sư đoàn 2 chưa? Đồng chí cười, liếc mắt nhìn qua đồng hồ nói:

        - Bây giờ đã 11 giờ, như Thủ trưởng Hạnh đã dặn, thì giờ này, Sư đoàn chưa di chuyển Sở chỉ huy. Tại Sở chỉ huy cơ bản của Quân khu 5 ở tây Hiệp Đức, sáng nay, Tư lệnh Quân khu xuống thăm và làm việc với các anh em trong bộ phận nghiên cứu, biên soạn kinh nghiệm chiến đấu chuẩn bị cho chiến dịch đánh vào thành phố Đà Nẵng.

        Đồng chí Tư lệnh hỏi:

        - Các cậu nghiên cứu biên soạn đến đâu rồi?

        Anh em trả lời:

        - Báo cáo Tư lệnh, tình hình chiến trường diễn biến nhanh quá, so với dự kiến thì...

        Đồng chí Tư lệnh nói:

        - Mình hiểu ý định các đồng chí và đã trao đổi với các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu, cử một số cán bộ làm phái viên của Quân khu đi trên các hướng, các mũi quan trọng. Các cậu qua báo cáo với đồng chí Nguyễn Hữu Hạnh - Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị, rồi đi với Sư đoàn 2, anh Chơn là Sư đoàn trưởng dày dạn và có nhiều kinh nghiệm. Trong chiến dịch đánh vào thành phố Đà Nẵng sắp tới, Sư đoàn 2 là lực lượng chủ yếu của cánh quân phía Nam. Đối chọi với lực lượng quân địch vừa đông, vừa mạnh, nhưng tôi tin chắc Sư đoàn sẽ hoàn thành nhiệm vụ Quân khu giao phó.

        Tôi được giao nhiệm vụ đi với Sư đoàn 2 trong bối cảnh tình hình thay đổi từng giờ và phát triển nhanh như gió lốc. Đà Nẵng là địa bàn địch thực hiện "co cụm chiến lược" và huênh hoang tuyên bố. "tử thủ Đà Nẵng". Nhưng chính lúc đó là thời điểm địch hoang mang, dao động mạnh. Sư đoàn 2 và toàn lực lượng trên khắp chiến trường hạ quyết tâm tận dụng thời cơ thuận lợi này, vận dụng sức mạnh tổng hợp của ta, kiên quyết mạnh bạo, liên tục tiến công quân địch trên các hướng. Thực hiện chiến lược chia cắt, bao vây tiêu diệt địch, ngăn chặn không cho chúng rút lui để co cụm.

        Cuộc tiến công của Sư đoàn 2 do anh Nguyễn Chơn làm Sư đoàn trưởng, anh Mai Thuận - quyền Chính ủy, phát triển chiến đấu hết sức mau lẹ và dũng mãnh. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng và xe bọc thép của ta đã đè bẹp hoàn toàn sức kháng cự của địch.

        Ngày 23 tháng 3, sau nhiều đợt tiến công, Sư đoàn 2 của ta đã đập tan sư đoàn 2 và liên đoàn biệt động quân ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ vào ngày 24 tháng 3. Tiếp tục truy quét và chấn chỉnh đội hình, ngày 25 tháng 3, Sư đoàn 2 tiến đánh căn cứ trung đoàn 51 ở Tuần Dưỡng; trung đoàn này đã từng bị xoá sổ trong chiến dịch Ba Gia (Quảng Ngãi) năm 1965 và trong trận này bị xoá sổ lần thứ 2.

        Ngày 26 tháng 3, Sư đoàn 2 nhận mệnh lệnh và kế hoạch hiệp đồng tác chiến với Binh đoàn Hương Giang (Quân đoàn 2) và lực lượng địa phương Quảng Đà, tiến công giải phóng Đà Nẵng - trận then chốt của chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Từ khắp các hướng, tàn quân địch dồn về đây đông chưa từng có, ước tính lên đến 75.000 tên (chưa kể bọn ngụy quyền). Rất nhiều tiểu đoàn cơ động, bảo an, lực lượng không quân, hải quân, pháo binh của địch còn khá đông. Mặc dù có công sự phòng thủ vững chắc, nhưng thế trận của địch đã bị cô lập, nên tinh thần binh lính và sĩ quan hoảng loạn, thời cơ giải phóng Đà Nẵng đã đến.

        Sở chỉ huy Sư đoàn 2 được di chuyển đến một khu vườn nhà dân ở thôn An Long. Tôi đến đó, anh Chơn chỉ trò chuyện đôi câu, rồi tiếp tục công việc nghiên cứu, tác nghiệp trên bản đồ. Từ ngày chiến dịch lớn mở ra, ăn, ngủ thiếu thốn, vất vả, không thành chế độ giờ giấc, nên người anh Chơn gầy và sút đi rất nhiều. Bao nhiêu năm rồi anh vẫn giữ một tác phong bình dị với đôi dép cao su, bộ quần áo ka- ki bạc màu, có cuộc sống đời thường rất dễ gần với cấp dưới và chiến sĩ. Ở anh, dường như tài năng tổ chức chiến đấu lúc nào cũng tiềm ẩn nhiều khả năng, linh hoạt và sáng tạo. Một con người say mê với nghệ thuật và cách đánh giặc hiếm thấy.

        Trong chiến dịch giải phóng Đà Nẵng lần ấy, cả Sư đoàn "tiến công đột phá trong hành tiến". Sư đoàn trưởng cũng tổ chức chỉ huy chiến đấu trong hành tiến để không mất thời cơ. Nhưng vẫn rất bài bản, chính xác, kịp thời và có hiệu quả. Sau khi ra chỉ thị, mệnh lệnh cho các đơn vị và cơ quan Sư đoàn di chuyển, đội hình của toàn Sư đoàn tiếp tục phát triển chiến đấu. Bầu trời Quế Sơn trong xanh, tuy đang trong mùa xuân, nhưng trời nóng oi nồng, mới sớm mà mồ hôi đã ướt đầm. Qua khỏi Sơn Thượng, may mắn gặp con suốt nhỏ chảy từ đèo Le xuống, anh Chơn bảo tôi:

        - Nè, ta tranh thủ tắm, làm bài 1 cũng được. Mấy hôm nay liên tục chiến đấu căng thẳng, đâu đã được tắm giặt, vả lại anh em đang đi bộ, xuống sớm phải đợi.

        Tôi đi xuống suối theo anh và phân bua:

        - Phải rồi, ngày mai, ngày kia dễ chi có cơ hội và thời gian để tắm giặt. Biết đâu, đây là lần tắm cuối cùng của anh em mình phải không anh? - Tôi nói vui rồi khỏa mình, ngập lặn dưới dòng suối nước mát trong xanh, thấy lòng mình khoan khoái khoẻ ra.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:58:24 PM

        Ở gần anh, tôi mới hiểu: Trong chiến đấu thì khẩn trương, dứt khoát, nhưng bao giờ anh cũng đĩnh đạc, đàng hoàng, rất vui tính và dí dỏm với anh em, đồng đội. Anh chỉ tay nói với tôi:

        - Cậu biết đấy, chính cái đồi bên kia, năm 1967, anh Thạch, anh Đạo, anh Sáng, anh Phong và một số anh nữa đã hy sinh, riêng cậu Xuất bị thương, lăn được mấy vòng thoát nạn, nhưng cuộc chiến tranh quá ác liệt khi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Xuất hy sinh trong trận đánh điểm cao 723. Sự mất mát quá lớn, chúng mình phải suy nghĩ chiến đấu như thế nào để không phụ lòng tin yêu mong mỏi của các anh.

        Trí nhớ của anh rất chuẩn xác. Một địa hình tác chiến đi qua gần chục năm mà anh không hề quên. Bao  nhiêu đồng đội, đồng chí ngã xuống hy sinh, anh vẫn nhớ như in tên tuổi của các anh ấy. Mặc dầu ở cương vị Sư đoàn trưởng có biết bao sự kiện đã qua, bao nhiêu việc đã làm trong một thời gian khá dài như thế.

        Tác phong chỉ huy của anh sâu sát và cụ thể; khi giao nhiệm vụ cho Trung đoàn trưởng và Chủ nhiệm Binh chủng xong, anh liền tranh thủ kiểm tra bài tại thực địa cho cán bộ, nhất là những tình huống phức tạp có thể xảy ra. Anh quan tâm đến số cán bộ được đào tạo bài bản ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa mới vào tham gia chỉ huy chiến đấu ở chiến trường. Anh thường tâm sự:

        - Nắm chắc đối tượng tác chiến và nguyên tắc chỉ huy chiến đấu chưa đủ. Sự thành bại ở mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch là nắm chắc đặc điểm tình hình địch, ta, địa hình, để tìm ra biện pháp, thủ đoạn chiến thuật chuẩn xác phù hợp.

        Qua mỗi câu chuyện trên đường đi anh kể, tôi rút ra được rất nhiều điều. Đi ngang qua khu vực Cấm Dơi - Quế Sơn, anh nói:

        - Tuy nó thấp thế mà chật vật lắm ta mới chiếm được. Trong trận này, có cậu dùng B72 bắn cháy trên 10 chiếc xe tăng cơ đấy .

        Tôi thầm nghĩ, tháng 8 năm 1965, mà có vũ khí hiện đại như hôm nay, chắc chắn máy bay trực thăng và xe thiết giáp của sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ bị bắn cháy hỏng nhiều hơn nữa, sẽ tạo cho trận Vạn Tường một bãi sắt vụn khổng lồ, chiến thắng còn to lớn hơn nhiều. Nhân câu chuyện, tôi tìm hiểu ý định tiến công vào thành phố Đà Nẵng, Sư đoàn trưởng trầm tư, chậm rãi nói:

        - Chung nhất là đột phá, tiến công trong hành tiến. Mười một mục tiêu, trong đó có 4 mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy quân đoàn 1, sân bay Đà Nẵng, toà thị chính và căn cứ hải quân mà theo mệnh lệnh của cấp trên, Sư đoàn 2 phải đánh chiếm cho bằng được.

        Anh lệnh cho Trung đoàn trưởng Phạm Xưởng và Chính ủy Lê Lung (Trung đoàn Ba Gia) thần tốc tiến theo trục đường số 1, Trung đoàn 31 do các anh Tiệp và anh Cẩn chỉ huy tiến theo trục đường sắt, Trung đoàn 38 do các anh Thí, anh Thủy chỉ huy, có anh Nã đi theo, phát triển theo hướng đông đánh vào Non Nước - Sơn Trà. Lực lượng tăng, pháo trực thuộc hành quân chiến đấu sau Trung đoàn Ba Gia. Sư đoàn trưởng đi với đội hình chủ yếu. Toàn Sư đoàn triển khai chiến đấu với khí thế áp đảo quân thù.

        Mọi người trở nên thông minh hơn, hoạt bát, khẩn trương hơn. Mệnh lệnh cấp trên được cấp dưới thấu hiểu rõ ràng, chấp hành kiên quyết, khẩn trương, chính xác hơn.

        19 giờ ngày 27 tháng 3, tôi chia tay anh, chuyển qua đi với đội hình cơ quan Sư đoàn. Anh nhắc tôi:

        - Sáng ngày 28 tháng 3, anh đi với Trung đoàn Ba Gia cùng anh Phạm Xưởng, anh Lê Lung, nhớ là khi đến tuyến cầu Đỏ, dù khó khăn thương vong, tổn thất, cũng phải bám trụ bằng được, tìm cách ghì lại, trụ lại. Tuyệt đối không được giãn ra, sẽ mất thế, dẫn đến hao lực, khó tạo lại thế được đấy.

        Nói xong anh vỗ vai tôi thân mật và chia tay. Hòa trong dòng quân tiến bước rầm rập, đêm cuối tháng trời tối, không có trăng, sao giăng đầy trời, càng về khuya, mưa rơi càng nặng hạt. Hành quân xa mang vác nặng, chiến sĩ ta áo ướt đẫm mồ hôi. Hơn tháng nay, cả Sư đoàn liên tục chiến đấu, vừa đi vừa ngủ gật, làm sao cho kịp thời gian tác chiến để có mặt tại điểm quy định theo mệnh lệnh chiến đấu của người chỉ huy. Bao năm rồi tôi vẫn không quên hình ảnh anh Nguyễn Trung Thắng luôn cầm chắc chiếc gậy trong tay, đôi kính cận buộc chặt vào cổ, bước đều chậm rãi dò dẫm từng bước chắc chắn, lúc nào cũng bám sát đội hình.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 05:00:54 PM

        Mờ sáng ngày 28 tháng 3, đội hình đi đầu đã đến ngã ba Hương An, Trung đoàn Ba Gia chưa vượt lên được nên đội hình phải triển khai tạm dừng. Chỉ có các đồng chí chỉ huy là hối hả đối chiếu địa hình, nghiên cứu thực địa để triển khai đội hình, còn phần đông tranh thủ hạ ba lô tìm vị trí thuận lợi tranh thủ ngủ, trong phút chốc đã có người ngủ ngáy khò khò thật ngon giấc. Chúng tôi đến phía nam cầu Bà Rén để đến Sở chỉ huy Trung đoàn Ba Gia. Dường như địch đã đánh hơi được cuộc di chuyển đội hình của Sư đoàn 2 nên cho mấy chiếc máy bay trinh sát vè vè bay lượn trên bầu trời. Chưa qua sông được, cả Trung đoàn ém quân chờ đợi ở phía nam cầu. Buổi chiều, địch huy động 2 chiếc khu trục ném bom cầu Bà Rén nhằm ngăn chặn bước chân thần tốc tiến quân vào Đà Nẵng. Cầu cháy nghi ngút suốt cả đêm buộc cả hai trung đoàn của ta phải vượt sông bằng thuyền. Trên gần 4 nghìn cán bộ, chiến sĩ mang vác cồng kềnh, đường xuống khu vực sông lại khó đi, không có bến, chờ đợi rất lâu. Sốt ruột và không để mất thời cơ, tôi chen dần từng bước, lách đến bến đã thấy đồng chí Trần Ngọc Yến - Tham mưu phó Trung đoàn đang chỉ huy mấy chiếc thuyền đã vượt sông. Biết anh Yến là con người sông, biển, có tài bơi lội, tôi bèn trao đổi với anh:

        - Tốt nhất là anh lội thử qua trước, dò xem nông, sâu thế nào?

        Anh Yến hăng hái lội qua sông, một lát sau đã quay lại nói với tôi:

        - Nông lắm, chỉ ngang lưng quần thôi?

        Hai anh em thảo luận và tôi đề nghị anh ra lệnh cho bộ đội lội bộ qua sông vì nếu chờ đi thuyền sẽ không bảo đảm thời gian tác chiến.

        Tôi vượt qua sông vội vàng để bám sát đội hình vẫn ngoái cổ lại trách mấy người dân chèo đò:

        - Răng mà sông nông, lội qua được, mà không mách cho bộ đội lội, có nhanh hơn không?

        Một người trong số họ nhanh chóng phân bua:

        - Sợ các chú lội không quen, ướt át tội nghiệp, chứ chẳng có ý nghĩ nào khác.

        Tôi ân hận vì quá vội trách cứ nhân dân nên cảm ơn các anh, các chị chèo đò đã góp phần nhỏ bé vào chiến thắng. Qua khỏi sông, Trung đoàn Ba Gia tiếp tục hành quân rẽ về hướng đông Duy Xuyên để tiến về hướng Hội An như dự kiến. Đoàn quân đi trên đoạn đường nằm giữa khu đồn của Mỹ - ngụy. Trời tối, không có người qua lại hình như bà con đã di tản trở về quê cũ hết. Xóm làng thanh vắng, không gian tĩch mịnh. Để rút ngắn quãng đường, chúng tôi đi theo góc phương vị, những cánh đồng lúa trước đây nay đã bị bỏ hoang, cây cỏ mọc um tùm, phải lấy tay rẽ thành hàng lối mới đi được. Mờ sáng gặp một bộ phận của Thị đội Hội An đang ở những chiếc lán làm tạm dưới các rặng cây, qua chuyện trò, mới biết, địa hình vừa đi qua toàn là chông, mìn của ta đã bố phòng rất cẩn mật. thật là may, mọi người đều an toàn vượt qua nanh vuốt tử thần. Đồng chí Xưởng hỏi thăm tình hình bên Hội An thế nào? Các đồng chí ở thị đội Hội An cho biết: "Chộn rộn lắm. Nhận rõ tình hình, đêm qua đồng chí Thị đội trưởng đã qua bên đó chỉ đạo tác chiến". Sau đó, chúng tôi chuyển qua bàn chuyện vượt sông Thu Bồn.

        Rạng sáng ngày 29 tháng 3, trong đội hình hành quân, bộ phận đi đầu đã triển khai xuống bến. Tôi thấy các đồng chí cán bộ tham mưu Trung đoàn cùng đồng chí Trần Như Tiếp, đồng chí Trung - phái viên của Quân khu cũng có mặt đang tổ chức triển khai một số hoả lực mạnh: ĐKZ, 12,7 ly bên này bờ để sẵn sàng ứng phó có hiệu quả cho cuộc vượt sông thần tốc. Khoảng hơn 100 chiếc thuyền lớn nhỏ đủ loại, cả chèo tay và có máy đẩy, chỉ trong một giờ đồng hồ đã di chuyển toàn bộ Trung đoàn vượt sông an toàn. Đội hình tiếp tục hành quân lên thị trấn Vĩnh Điện để tiến ra Đà Nẵng. Cũng có người thắc mắc không hiểu vì sao lại vòng xuống hướng Hội An, vì họ chưa hiểu hết ý định chiến thuật của Sư đoàn trưởng. Trên đường Vĩnh Điện - Hội An, nào ba lô, áo quần, xác chết của lính ngụy ngổn ngang, bừa bãi. Thì ra Trung đoàn 38 trước đó đã đánh cụm quân địch ở Vĩnh Điện và diệt quân địch tháo chạy ở Lai Nghi để dọn đường tiến quân ra Non Nước, Sơn Trà trên một hướng của sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:39:08 AM

        Tôi đang đi giữa đội hình Trung đoàn, thì Chính ủy Lê Lung truyền gọi tôi lên đi với Trung đoàn trưởng. Vượt lên phía trước, tôi bắt gặp chiếc xe khách tư nhân hiệu Rơ- nô quay đầu đón tôi và một số cán bộ tiểu đoàn cùng 2 khẩu đội hoả lực. Cách ngã ba Trảng Nhật 150m, chúng tôi xuống xe, đã thấy Trung đoàn trưởng đang thảo luận hiệp đồng phương án: tiến công một đơn vị thuộc sư đoàn 3 ngụy di chuyển từ núi Quế về án ngữ, ngăn chặn quân ta tiến đánh vào thành phố Đà Nẵng theo trục đường 1. Kẻ địch khá thâm độc, chúng bắt nhân dân sống vòng ngoài làm "lá chắn". Nếu ta tiến công sẽ gây thiệt hại lớn cho dân. Càng về sau, lực lượng và tốc độ hành quân của Trung đoàn tăng dần. Vì Sư đoàn trưởng và Trung đoàn trưởng đã chỉ đạo rất rõ trong hạ quyết tâm chiến đấu: vừa hành quân vừa tiêu diệt địch, nhưng không được chậm trễ vì sự ngăn chặn bên ngoài của địch. Vừa hành quân bộ, vừa kết hợp trưng dụng phương tiện cơ giới, thuyền bè của dân, thực hiện chiến thuật "mèo chuyền con!” trong hành quân chiến đấu. Dưới một đoạn chiến hào ở luỹ tre ven làng thôn Phong Lục (Điện Thắng, Điện Bàn), Trung đoàn trưởng Phạm Xưởng trao đổi với tôi: "Có điện của anh Chơn".

        - Anh điện chỉ thị như thế nào? - Tôi hỏi lại.

        Anh Xưởng nói:

        - Anh Chơn chỉ thị 11 giờ trưa nay phải chiếm bằng được các mục tiêu chủ yếu ở thành phố Đà Nẵng. Tuyệt đối không được chậm trễ vì chiến đấu dọc đường.

        Hai anh em thảo luận, tôi đề xuất phương án, anh Xưởng bổ sung và tổ chức thực hiện ngay. Không đánh mà vòng tránh một số mục tiêu để bảo đảm đến 11 giờ trưa thực hiện được ý định chiến đấu của Sư đoàn trưởng. Anh Xưởng chỉ thị cho đồng chí Thu - Chủ nhiệm Thông tin triển khai cho bộ đội thông tin rải lộ tiêu theo tôi, rút hoả lực ĐKZ và 12,7 ly về đội hình hành tiến. Trong trường hợp này đánh vào làng mạc sẽ gây thương vong lớn cho nhân dân nên ta tổ chức vòng về phía tây, chỉ cần để lại bộ phận thu hút địch. Khi thấy ta đã bọc về phía sau, tức khắc địch sẽ tự tan rã. Chú ý liên lạc báo lại cho các phân đội tăng, pháo của Sư đoàn ở phía sau biết.

        Đội hình Trung đoàn vận động qua cánh đồng trống, mới ra được khoảng 500m, bất ngờ súng của du kích nổ loạn xạ, anh em lầm tưởng lính sư đoàn 3 ngụy kéo ra, cả đội hình ẩn náu. Phải cử chiến sĩ dùng lá ngụy trang quay mấy vòng làm ký, tín hiệu, anh em mới không tiếp tục nổ súng. Suýt nữa "quân ta bắn phải quân mình". Vượt qua cánh đồng, đội hình rẽ ra đường quốc lộ 1 tiếp tục tiến về Đà Nẵng.

        Cho đến lúc này tôi đã hiểu và thầm phục ý định quyết tâm chiến đấu thần tốc, táo bạo của người Sư đoàn trưởng. Anh Chơn đã điều khiển các trung đoàn một cách chính xác và mau lẹ, thực hiện được chiến lược bao vây lớn, bao vây vừa và bao vây nhỏ, chia cắt từng mảng cụm quân địch. Buộc chúng phải đánh theo ý đồ và cách đánh của ta, không còn cơ hội để đối phó, đánh trả hoặc trì hoãn tốc độ chiến đấu của toàn Sư đoàn. Đồng thời, thực hiện biện pháp chiến thuật đánh nhanh, diệt gọn, không để lực lượng địch trên các hướng rút chạy về Đà Nẵng tổ chức ngăn chặn. Sự sáng tạo trong chiến thuật chính là vòng tránh để chia cắt từng mảng nhỏ, bỏ một số mục tiêu không đánh mà địch vẫn bị cô lập tự tan rã như ở Hà Lam, Thăng Bình.

        Cho đến lúc này nhiều người mới hiểu và thầm phục tài nghệ cầm quân và ý đồ chiến thuật của Sư đoàn trưởng: vòng xuống vùng đông Duy Xuyên, qua Hội An chọn hướng tiến công cho các trung đoàn tiến đánh hướng phía nam thành phố là một đòn tiến công lợi hại, bọc sườn phía sau đội hình chủ yếu của địch.

        Có được những kinh nghiệm quý báu như vậy, anh đã chắt lọc, tổng hợp đúc kết trong nhiều năm, nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch lớn mà anh đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu, tiêu biểu như trận đồi tranh Quang Thạnh ngày 15 tháng 2 năm 1967 ở cương vị Trung đoàn phó; rồi Sư đoàn trưởng trong các trận vây ép đột phá tiến công cứ điểm 723 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tháng 3 năm 1971; trận vận động bao vây tiến công liên tục Dương Côi, Kỳ Vĩ ngày 25 tháng 7 năm 1974... Trong chiến đấu, ưu thế về lực lượng là điều quan trọng. Nhưng tài năng của người chỉ huy và bản lĩnh chiến đấu của bộ đội lại là những yếu tố hết sức quyết định. Vì vậy, có đông đến mấy, có trang bị rất hiện đại, nhưng bị thua về mưu kế và kém bản lĩnh chiến đấu, địch vẫn liên tiếp bị thất bại và thua đau


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:41:13 AM

        Đang miên man suy nghĩ để cùng các anh trong Ban chỉ huy Trung đoàn đối phó với những tình huống sắp tới, thì đội hình đi đầu đã đến chợ Miếu Bông đột ngột gặp ba người lái xe đứng sẵn như chờ đợi. Tôi bước đến hỏi: "Xe của ai?". Các anh chạy đến báo cáo: Chúng tôi là cơ sở của cách mạng, biết quân giải phóng tiến đến đây, chúng tôi đưa xe ra đón, nếu cần mời các anh lên xe.

        Chúng tôi cảm ơn, sau đó đưa 2 khẩu 12,7 ly và 2 khẩu ĐKZ giá sẵn trên 2 xe đi đầu, xe còn lại chở cán bộ chủ chốt tiến ra phía cầu Đỏ. Trên bầu trời Đà Nẵng, máy bay vận tải C.130 thay nhau cất cánh, hạ cánh vận chuyển các sĩ quan và gia đình tháo chạy bằng đường không. Cách nam cầu Đỏ khoảng 100m, chúng tôi bắt gặp một đoàn xe Jeép, xe Đốt, có chiếc có hoả lực gắn trên xe. Xe chở cán bộ chỉ huy dừng lại đi bộ, còn 2 xe hoả lực dừng tại chỗ và sẵn sàng nổ súng nếu địch chống cự và phản kháng. Tôi và anh Trương Hồng Anh tiến đến nam mố cầu, phía bên kia cầu một số người và xe cộ ùn tắc đông nghịt. Khi họ tiến về phía chúng tôi, tôi hỏi:

        - Các anh dùng xe pháo quân sự đi đâu, ra nghênh chiến với chúng tôi phải không?

        Một người trạc tuổi trung niên, tự xưng quý danh là Ngô Tất Thắng rất nhã nhặn và lễ phép đến thưa và báo cáo:

        - Dạ, thưa cán bộ, chúng tôi vào Sài Gòn!

        Chúng tôi không trả lời, cũng không chất vấn làm gì. Bụng thầm nghĩ, họ không hiểu gì về chiến sự cả. Chắc chạy đường không không được, thì nhân viên chính quyền ngụy và đồng bọn tính đường liều di tản bằng đường bộ. đánh bài chuồn vào Sài Gòn. Tôi nói, các anh dẫn đường đưa chúng tôi vào giải phóng Đà Nẵng. Mặc dù chần chừ có vẻ sợ chạm trán quân địch đang phòng thủ trong Đà Nẵng, suy nghĩ chốc lát rồi họ cũng nhận lời:

        - Dạ thưa, chúng tôi đưa các ông vào đánh chiếm Đà Nẵng.

        Đồng chí Phạm Xưởng đứng ra tổ chức thêm 1 xe hoả lực nữa đi theo đội hình, tất cả có 3 xe hoả lực. Anh Xưởng và tôi cùng Trương Hồng Anh, mỗi người một xe Jeép. Tiểu đoàn 40 đi cùng với Trung đoàn phó vào sở chỉ huy quân đoàn 1, Tiểu đoàn 90 vào đến chi khu quận ly Hoà Vang và ngã ba Hoà Cầm. Tôi hỏi Thắng:

        - Trung tâm huấn luyện Hoà Cầm thế nào?

        Thắng trả lời: 10 giờ sáng nay, đại tá Bùi Phùng đã gặp binh sĩ, nhân viên và nhân dân tuyên bố "tự do di tản". Sau đó, ông ta lên trực thăng bay về Sơn Trà. Tôi vào quận ly Hoà Vang.

        Trên trời một chiếc C.130 đang cất cánh. Trung đoàn trưởng ra lệnh bắn máy bay và chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Thế Trạch - Tiểu đoàn trưởng mở cửa đánh chiếm sân bay Đà Nẵng. Tiểu đoàn 60 tiếp tục phát triển về hướng ngã ba Huế. Tiểu đoàn 40 vận động đến cầu phía tây bến Đò Xu, 3 chiếc xe tăng của địch nổ súng vào đội hình, hoả lực ĐKZ của Tiểu đoàn bắn trả quyết liệt, kẻ địch vẫy cờ trắng xin hàng.

        12 giờ ngày 29 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 40 chiếm được sở chỉ huy quân đoàn 1, Tiểu đoàn 90 làm chủ sân bay, Tiểu đoàn 60 tiến vào toà thị chính. Các lá cờ của địch bị hạ xuống, những lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phần phật tung bay trước gió. Bên kia sông Hàn, khu kho An Đồn, sân bay Nước Mặn, cảng nước sâu Sơn Trà, Trung đoàn 38, Trung đoàn 97 và Quân đoàn 2 cũng đã hoàn toàn làm chủ, tiêu diệt các đơn vị địch dồn về đây rất đông để tìm đường tẩu thoát ra biển...

        Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Cùng với lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 và bộ đội địa phương cùng với nhân dân Quảng Đà, Sư đoàn 2 bộ binh đã góp phần quan trọng vào chiến dịch giải phóng Đà Nẵng.

        Trên khắp đường phố, xe tăng, đại bác, xe cơ giới, súng ống các loại của địch vứt bỏ ngổn ngang. Quần áo dã chiến đủ các loại bị lột bỏ từng đống khi tháo chạy. Khí thế chiến thắng hừng hực, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thành phố.

        Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, đồng chí Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy đến thăm Trung đoàn, anh Lung và tôi đã đưa đồng chí Bí thư đến thăm Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn. Anh Chơn báo cáo lại với đồng chí Bí thư những công việc sắp tới phải làm và chuẩn bị lên đường hành quân thần tốc, cùng các cánh quân tham gia giải phóng Sài Gòn...

        Qua mấy chục năm chiến đấu trường kỳ gian khổ, cuộc đời của anh Nguyễn Chơn đã trải qua nhiều trận đánh lớn, chiến dịch lớn, nhưng chiến dịch giải phóng Đà Nẵng lần này đã để lại cho anh nhiều ấn tượng sâu sắc. Người con thân yêu của mảnh đất Đà Nẵng mấy chục năm trước ra đi tòng quân, cũng chỉ mong có ngày được trở về như hôm nay, trực tiếp cùng đồng bào, đồng chí, đồng đội giải phóng quê nhà, quét sạch bè lũ tay sai bán nước. 

        Anh Nguyễn Chơn không chỉ là người chỉ huy thao lược sắc bén, mà trong cuộc sống đời thường còn là vị chỉ huy mẫu mực, khiêm tốn, được bạn bè và cấp dưới kính trọng, tin yêu, mến mộ, vì anh không chỉ có sức hút quần chúng mà anh còn biết cách vận động quần chúng.

        Những năm sau 1975 ở các cương vị công tác cao hơn, quan trọng hơn, nghệ thuật quân sự, chỉ đạo tác chiến chiến lược của anh còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm hết sức quý báu. Trong chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, tôi có nhiều dịp đi với Sư đoàn của anh nhiều ngày, được anh chia ngọt sẻ bùi, học hỏi ở anh được nhiều điều bổ ích để vận dụng trong chiến đấu, huấn luyện sau này. Chính vì vậy những kỷ niệm về tháng ngày cùng anh tiến về giải phóng Đà Nẵng tôi chẳng bao giờ quên.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:45:10 AM

NHỚ VỀ HAI TRẬN ĐÁNH NGUYỄN CHƠN CHỈ HUY

Trung Tướng NGUYỄN NĂNG       

        Qua nghiên cứu lại một số trận đánh của Tiểu đoàn 90 bộ binh (Trung đoàn 1 Sư đoàn 2), tôi có thể khẳng định yếu tố của người chỉ huy là vô cùng quan trọng.

        Trong chiến dịch Ba Gia, hè năm 1965, theo kế hoạch dự kiến, ta sẽ tiêu diệt một đại đội địch đóng dã ngoại ở Diên Niên để khêu ngòi cho chiến dịch, nhưng gần đến giờ G, thì đại đội địch ở Diên Niên cơ động về Núi Tròn, mục tiêu khêu ngòi không còn. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sẽ dùng bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh cùng với trinh sát, đặc công Trung đoàn 1 đánh lực lượng dân vệ ở ấp Phước Lộc và ấp Lộc Thọ, buộc địch ở đây phải kêu cứu và nhất định sẽ có viện binh. Đúng như thế, Nguyễn Văn Ngọc - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trung đoàn 51 ngụy là một tên hung hăng đã ra lệnh pháo binh ở Gò Cao (đồn Ba Gia) chi viện và đưa đại đội bộ binh cơ động ở Núi Tròn xuống chi viện.

        Đúng theo kế hoạch đã định, kẻ địch đã chui vào cái bẫy của quân ta. Được lệnh xuất kích, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90 chỉ cho một đại đội xuất quân đánh giữ chân địch, không tiêu diệt cũng không cho địch chạy thoát, buộc quân địch phải leo thang từng bước vào cứu nguy cho đồng bọn.

        Đúng như vậy, tên chỉ huy hiếu chiến đã ra lệnh cho pháo bắn mãnh liệt và chỉ để lại một bộ phận nhỏ giữ cứ điểm Gò Cao, còn chính tên chỉ huy hăng máu này cùng 2 tên cố vấn Mỹ dẫn cả tiểu đoàn kéo xuống. Không ngờ cả thầy lẫn tớ đã dấn thân vào nơi tử địa.

        Kẻ địch có biết đâu ở phía làng An Thành, xã Tịnh Minh, Tiểu đoàn 90 bộ binh của quân ta đã bố trí giấu quân và được sự che chở của nhân dân đã bưng tai bịt mắt làm cho kẻ địch có mắt như mù, có tai như điếc.

        Đợi cho quân địch vượt qua khỏi khu vực Núi Tròn, quân ta bắt đầu hình thành các mũi tiến công từ phía sau và hai bên sườn, lùa địch vào quyết chiến điểm, nắm thời cơ, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng tiến công. Toàn đội hình của Tiểu đoàn 90 là một tập thể anh hùng lao thẳng vào đánh chia cắt đội hình quân địch. Quân địch bị đánh bất ngờ từ hai bên sườn, đằng sau, bị chặn đầu, khoá đuôi không còn đường tẩu thoát, cả tiểu đoàn địch bị rối loạn ngay từ đầu, tên đại úy Nguyễn Văn Ngọc và các cố vấn Mỹ như cá nằm trên thớt.

        Quân ta với thế áp đảo, dũng mãnh xung phong chia cắt địch ra thành từng mảng để tiêu diệt một cách nhanh chóng. Chỉ trong vòng hơn một tiếng đồng hồ, tiểu đoàn 1 trung đoàn 51 đã bị tiêu diệt gọn. Tên tiểu đoàn trưởng bị bắt, cố vấn Mỹ cùng với hàng trăm tên khác bị tiêu diệt và bị thương nằm ngổn ngang ở cánh đồng Lộc Thọ (Diên Niên - An Thành), trong đó nhiều tên bị bắt làm tù binh.

        Nhân dân Tịnh Minh, qua một đêm thức trắng giúp đỡ bộ đội và cùng bộ đội chờ địch và với lòng căm thù Mỹ - ngụy đã hăng hái xông ra truy bắt tàn quân, thu chiến lợi phẩm, giúp đỡ bộ đội giải quyết hậu chiến, khiêng thương binh...

        Với trận thắng mở đầu của Tiểu đoàn 90 tiêu diệt gọn tiểu đoàn 51, uy hiếp đồn Gò Cao buộc Nguyễn Chánh Thi - tư lệnh vùng 1 chiến thuật phải vội vã đưa quân ra ứng cứu giải toả để cứu nguy và chúng cũng không ngờ rằng đây lại chính là thời cơ để ta đánh viện, tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn gồm 4 tiểu đoàn trong giai đoạn đầu của chiến dịch.

        Cùng với những trận đánh tiếp sau, chiến thắng Ba Gia là mốc lịch sử đánh dấu sự phá sản hoàn toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy. Trung đoàn 1 từ đây được mang tên Trung đoàn Ba Gia.

        Trong chiến dịch tây Sơn Tịnh năm 1966, đối tượng chủ yếu là thủy quân lục chiến Mỹ. Sau khi ta đã kéo được quân Mỹ vào khu chiến, với chiến thuật trực thăng vận, địch đổ 1 tiểu đoàn xuống phía tây điểm cao và tiến lên điểm cao 62, bị Trung đoàn 21 chặn đánh quyết liệt, cũng bằng trực thăng, chúng đổ tiếp một tiểu đoàn xuống Gò Cao với mục đích đánh vòng về phía nam điểm cao 62 để phá thế bao vây.

        Nhưng thế trận đã bày sẵn, quân địch vừa đổ xuống Gò Cát tiến lên Đồi Chùa, liền bị chốt trên Đồi Chùa đánh quyết liệt Chúng lùi ra, dùng phi pháo đánh dữ dội và tổ chức tấn công nhiều đợt, nhưng cũng không chiếm được Đồi Chùa. Nhiều tên địch nằm rên rỉ dưới chân Đồi Chùa, còn đại bộ phận cả lính lẫn quan nằm ngổn ngang giữa cánh đồng Đông Giáp dưới trời nóng oi bức của vùng nhiệt đới.


        Thời cơ tiêu diệt tiểu đoàn thủy quân lục chiến này đã tới Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn Ba Gia xuất kích tiêu diệt cánh quân này bằng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt để phối hợp với Trung đoàn 21 .

        Với tinh thần hiệp đồng chiến đấu, "chia lửa" cùng với Trung đoàn 21, Tiểu đoàn 90 bộ binh với khí thế lập công, với sở trường đánh vận động và bằng khẩu hiệu hành động truyền thống "bám thắt lưng địch mà diệt", bất chấp giữa ban ngày và dưới hoả lực phi pháo địch, cả đội hình Tiểu đoàn 90 dưới sự chỉ huy chặt chẽ của Tiểu đoàn trưởng đã khôn khéo ngụy trang kín đáo, lợi dụng bụi cây, gò đất, bìa làng, hào giao thông, ấp chiến lược tiếp cận đến sát cánh đồng Đông Giáp mà quân địch không hề hay biết gì.

        Mặt khác, do tiếng rên rỉ của quân lính bị thương ở chân Đồi Chùa và tiếng súng nổ ở điểm cao 62 cùng với khí hậu nóng bức, làm cho địch ù tai, mờ mắt.

        Với phương châm nắm chặt thắt lưng Mỹ mà đánh, cả Tiểu đoàn bộ binh 90 đồng loạt xung phong đánh thẳng vào quân địch ở giữa cánh đồng Đông Giáp. Ngay từ những loạt đạn đầu của hoả lực đi cùng kết hợp với những quả thủ pháo lựu đạn, những loạt súng AK bắn găm, bắn gần, áp sát đánh giáp lá cà với địch.

        Tuy quân địch ngoan cố chống cự, nhưng đội hình bị xen kẽ rối loạn, phi pháo của địch không phát huy được: sức mạnh sắt thép uy lực của Hoa Kỳ cũng không cứu nguy được bọn địch chạy tán loạn. Nhưng chúng chạy đi đâu? Vào làng, thì bị du kích đánh, chạy về điểm cao 62, thì bị Trung đoàn 21 chặn đánh, chạy lên Đồi Chùa, thì lực lượng chốt diệt. Cho nên, chỉ trong vòng hơn 1 giờ đồng hồ kịch chiến, ta đã đánh tan tác tiểu đoàn thủy quân lục chiến này.

        Phối hợp nhịp nhàng với Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 1 và tận dụng thời cơ trận đánh ở Đông Giáp, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 21 tổ chức xung phong đánh chiếm điểm cao 62 và làm chủ hoàn toàn trận địa.

        Với âm mưu tấn công "tìm diệt", nhưng quân Mỹ đã không thực hiện được kế hoạch hợp vây, trái lại, bị Sư đoàn 2 và lực lượng du kích địa phương đánh tơi tả. Kết quả ta đã đánh thắng liên tiếp làm thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn địch, thắng lợi giòn giã trong chiến dịch tây Sơn Tịnh.

        Cả hai trận chiến đấu ở chiến dịch Ba Gia và trận Đồi Chùa trong chiến dịch tây Sơn Tịnh của Tiểu đoàn 90 bộ binh đều do đồng chí Nguyễn Chơn làm Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Văn Công Bích làm Chính trị viên.

        Để đạt được thắng lợi như trên có nhiều nguyên nhân, nhưng ở đây, tôi muốn nêu lên vai trò hết sức quan trọng của người chỉ huy, mà đồng chí Nguyễn Chơn là người trực tiếp chỉ huy luôn nhạy bén, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo và dũng cảm, kiên quyết, triệt để tiến công và chấp hành mệnh lệnh


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:47:10 AM
        
NGUYỄN CHƠN - NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU

Trung Tướng NGUYỄN HUY CHƯƠNG        

        Nguyễn Chơn về lại chiến trường Quân khu 5 từ tháng 2 năm 1959. Tôi vào sau anh một năm. Tuy không cùng đơn vị, nhưng cả hai có nhiều dịp phối hợp chiến đấu cùng nhau. Mỗi bước đi, từng hơi thở, niềm vui, nỗi lo của chúng tôi đều được chứng kiến và sẻ chia cùng nhau.

        Trận đầu Nguyễn Chơn đánh là trận đồn Ga Lâu - một điểm chốt của địch trên vùng cao huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam. Đồn này do một trung đội bảo an có 4 tiểu đội, xung quanh có nhiều hàng rào thép gai bao bọc, bãi mìn dày đặc Đồn có 3 lô cất phòng thủ từ 3 hướng. Do ý thức phải chuẩn bị chiến trường cụ thể, tỉ mỉ, nên khi đi trinh sát, anh đã phát hiện địch có thêm một lô cốt bên phải dùng hỏa lực chi viện cho các hướng để bảo vệ đồn khi bị tấn công. Khi chuẩn bị trận đánh, anh đã bò vào tận hàng rào cuối cùng, sờ vào lô cốt địch để ước lượng bề dày của tường, độ rắn của từng lô cốt. Nguyễn Chơn nghĩ rằng, là chỉ huy phải nắm và hiểu địch thật chắc, thật kỹ, thì mới thắng được địch.

        Giờ G cấp trên ấn định là 1 giờ sáng ngày 17 tháng 10 năm 1960. Nhưng cái khó cho người chỉ huy là thời điểm này núi rừng Trường Sơn đã vào mùa mưa lũ. Nước sông A Vương dâng cao và chảy xiết nên rất khó vượt sông. Nguyễn Chơn đã biến khó khăn này thành thuận lợi. Đi dọc bờ sông, thấy cây chò cao hơn 10m, anh liền lệnh cho một số anh em dân tộc trong đơn vị đốn cây chò cho ngã nằm vắt ngang sang bờ bên kia sông, thành cây cầu vững chắc để bộ đội vượt sông. Lúc này, bọn địch trong đồn đã ăn no ngủ kỹ, vì chúng nghĩ "trời mưa lũ thế này, bọn Việt cộng có cánh cũng không vượt sông A Vương được". Chính vì vậy, khi ta bất ngờ nổ súng tấn công, địch hoàn toàn bị động, tổ công binh nhanh chóng phá sạch bãi mìn và các hàng rào dây thép gai để các mũi bộc phá, xung kích xung phong tiêu diệt địch; gặp chỗ bờ tường cao, Nguyễn Chơn kê vai mình kiệu anh em vượt qua nhanh chóng phát triển vào bên trong tiêu diệt địch. Trận đánh diễn ra nhanh gọn. Chỉ trong nửa giờ, ta diệt gọn đồn Ga Lâu, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí. Đây là trận đánh của lực lượng vũ trang "non trẻ" Quảng Nam buổi đầu, tiêu diệt hơn một đơn vị địch trong công sự chắc chắn, mở rộng hành lang vùng giải phóng.

        Năm 1960, khi vào Ga Lâu, tôi vẫn còn nghe âm vang trận đánh Ga Lâu do Nguyễn Chơn chỉ huy mở rộng đường dây và giải phóng tỉnh Quảng Nam.

        Sư đoàn 2 đập tan căn cứ Nông Sơn, giải phóng các xã tây Quế Sơn

        Mùa hè năm 1974, Nguyễn Chơn ra Hà Nội tập huấn quân sự do Bộ Tổng Tham mưu tổ chức. Anh chỉ được nghỉ vài ngày ở Bãi Cháy - Quảng Ninh, khi về Hà Nội chưa kịp dự lớp tập huấn, anh được đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó giao nhiệm vụ trở về chiến trường Quân khu 5 giữ chức Sư trưởng Sư đoàn 2 tấn công dứt điểm Nông Sơn, phối hợp với Sư đoàn 304 tiêu diệt Thượng Đức.

        Lúc này, tôi đang là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam (tôi được chuyển qua phụ trách công tác đảng từ năm 1970) được thông báo gặp Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 ở Phú Toản, Phú Hữu để bàn kế hoạch phối hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng ở các xã tây Quế Sơn.

        Nguyễn Chơn là người chỉ huy quân sự, nhưng trong anh luôn ý thức về sự phối hợp với địa phương khá nhuần nhuyễn. Vì thế, bao giờ anh cũng tôn trọng sự kết hợp chặt chẽ với địa phương dù trong một trận đánh hay trong một chiến dịch quân sự - kết hợp giữa tấn công và nổi dậy.

        Cụm cứ điểm Nông Sơn do tiểu đoàn 78 biệt động biên phòng, có trận địa pháo 105 ly chiếm giữ. Xung quanh Nông Sơn còn có 11 chốt điểm ngoại vi Quế Khương, Phường Rạnh, Trung Phước, thôn 7 Sơn Thọ, thôn 4 Sơn Phúc - mỗi chốt điểm có từ 1 đến 2 trung đội bảo an, dân vệ chốt giữ. Riêng cứ điểm Cà Tang cao 462m so với mặt biển phía tây do trung đội biệt động quân tiểu đoàn 78 thay phiên nhau chiếm giữ. Bên cạnh các chốt điểm còn có sự chi viện của các trận địa pháo Quế Sơn, Ái nghĩa. Để tạo điều kiện cho Sư đoàn 2 hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tăng cường Sư đoàn Trung đoàn 26 bộ binh, 2 đại đội pháo 85 ly nòng dài, một đại đội pháo 105 ly, 3 xe tăng PT85.

        Theo kế hoạch, bước một diễn ra đêm 17 rạng ngày 18 tháng 7. Nhưng chiều 17 tháng 7 lại xảy ra một tình huống ngoài dự kiến. Tại Bộ chỉ huy tiền phương Sư đoàn, Nguyễn Chơn nhận được tin của đài quan sát báo về: Địch dùng 12 chiếc trực thăng đổ quân xuống Nông Sơn. Mười phút sau, bộ phận quân báo của ta lại báo về: địch dùng trực thăng đổ quân tiếp xuống Nông Sơn thêm một tiểu đoàn khoảng 400 tên. Nguyễn Chơn báo cáo với Đảng ủy Sư đoàn có 2 tình huống: Một là, kế hoạch của ta bị lộ, địch tăng cường đối phó; hai là địch thay quân. Khả năng một ít hơn, vì nếu bị lộ, địch sẽ đổ quân kết hợp với pháo tấn công ta ở những nơi chúng nghi vấn, cho nên chỉ có khả năng duy nhất là chúng thay quân. Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn nhất trí với ý kiến của Tư lệnh, đề nghị Quân khu vẫn cho đánh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:48:49 AM

        Vào lúc 0 giờ ngày 18 tháng 7 năm 1974, công binh Sư đoàn tấn công địch trên chốt điểm Cà Tang làm hiệu lệnh tấn công cho toàn Mặt trận. Đồng chí Nguyễn Chơn cho công binh dùng dây kẽm gai bện thành các cáp dài căng ngang sông Thu Bồn. Trận địa bố trí bên bờ nam sông Thu Bồn sẵn sàng nhả đạn diệt ca nô địch khi chúng tháo chạy, một cách nghĩ và làm khá độc đáo, táo bạo được rút kinh nghiệm từ trận Bạch Đằng của Ngô Quyền! Đúng như ta dự kiến, khi ca nô địch tháo chạy chân vịt bị vướng vào thép gai và bị trúng đạn đại liên, hàng trăm tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.

        Được phát lệnh từ Cà Tang, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1, Trung đoàn 36 (thiếu) tấn công; 11 chốt điểm ngoại vi lần lượt bị tiêu diệt. 6 giờ ngày 18 tháng 7, toàn bộ hệ thống ngoại vi bị quét sạch; 35 trung đội bảo an, dân vệ, 3 phân cục cảnh sát, 6 mâm hội tề ngụy đều bị tiêu diệt và bắt; một mảng lớn các xã tây Quế Sơn được giải phóng với 20.000 dân.

        Trong lúc các đơn vị lo giải quyết các chốt ngoại vi, Trung đoàn 31 áp sát cứ điểm Nông Sơn. Gần sáng, địch tung quân ra định chiếm lại các cứ điểm lân cận, bị các chiến sĩ Trung đoàn 31 chiếm giữ đẩy lùi quân địch vào bên trong cứ điểm. 8 giờ sáng ngày 18 tháng 7, mặt trời lên cao xua tan đi đám sương mù bao phủ đỉnh Nông Sơn; những cứ điểm hiện rõ dần qua ống nhòm trinh sát pháo binh. Với khẩu hiệu "Đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng" ba trận địa pháo 85 ly nòng dài một ngày diệt 5 lô cốt.

        Đến 16 giờ, trên đài quan sát của Bộ Tư lệnh, Nguyễn Chơn qua ống nhòm nhìn thấy 38/41 lô cốt đã bị phá sập. 16 giờ 30 phút, sau khi dứt tiếng pháo, thấy thời cơ dứt điểm Nông Sơn xuất hiện, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 lệnh cho pháo binh bắn cấp tập lần cuối cùng dọn đường cho bộ binh xung phong đánh giáp lá cà với số bộ binh địch còn lại, diệt từng tên, giành giật với địch từng hào giao thông. 17 giờ, căn cứ Nông Sơn bị chiến sĩ Trung đoàn 31 tràn ngập; tiểu đoàn 78 biệt động biên phòng và tiểu đoàn 3 bộ binh ngụy bị tiêu diệt. Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, Chính ủy Nguyễn Huy Chương kiểm tra trận địa và triển khai đánh viện trong các ngày từ 20 đến 30 tháng 7. Các trung đoàn triển khai và đánh địch trên các điểm cao tây Quế Sơn như núi Gai, Lạc Sơn buộc địch tháo chạy khỏi Việt An, Chóp Chài, Gò Mè,...

        Sau chiến thắng dứt điểm Nông Sơn, tôi gặp lại Nguyễn Chơn trao đổi tình hình và thống nhất nhận định về địch và ta lúc bấy giờ. Cuộc họp của Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức ngay tại chiến trường bàn việc di dời 20.000 dân vùng Nông Sơn, Trung Phước lên Hiệp Đức, vì sợ nếu địch chiếm lại Nông Sơn, ta sẽ mất dân. Lúc đó giành được một người dân đưa về vùng giải phóng quý như vàng.

        Qua chiến thắng Nông Sơn - Trung Phước càng bộc lộ phẩm chất tốt đẹp của Nguyễn Chơn - Tư lệnh Sư đoàn 2. Ông luôn có tác phong chuẩn bị chiến trường sâu sắc, phán đoán, đánh giá địch tỉ mỉ, cách xử trí tình huống linh hoạt, thông minh và quyết đoán trong việc phối hợp, hiệp đồng cụ thể với cấp ủy địa phương về công tác phát động quần chúng giành dân, giành đất' tôn trọng nguyên tắc kết hợp chặt chẽ với cấp ủy đảng địa phương.

        Sau chiến thắng Nông Sơn - Trung Phước, do Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá chưa đúng tình hình về địch, nên chậm di dời 20.000 dân ở vùng này lên huyện Hiệp Đức. Vì thiếu gạo, thiếu muối, thiếu thuốc men, nên đời sống của họ rất cơ cực và gian khổ lãnh đạo Tỉnh ủy, Huyện ủy gặp nhiều khó khăn trong việc giúp dân ổn định cuộc sống.

        Song, cũng thời gian này, Sư đoàn 2 vẫn giữ vững vùng giải phóng, mặc dù tướng ngụy Ngô Quang Trưởng vội vàng tung hết lực lượng sư đoàn 3 bộ binh, liên đoàn 12 biệt động vào khu chiến để chiếm lại vị trí đã mất, nhưng rồi chỉ ngậm đắng nuốt cay chịu lấy thất bại.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:15:11 PM

        Đường về giải phóng Tam Kỳ

        Đầu năm 1974, chiến trường Quảng Nam được kết hợp giữa địa phương và chủ lực (Sư đoàn 2) do Nguyễn Chơn làm Tư lệnh - mở rộng địa bàn vùng giải phóng tạo thế xen kẽ cài răng lược giữa ta và địch.

        Được chỉ thị của Khu ủy và Quân khu, đoàn cán bộ chủ chốt của Quảng Nam do Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam dẫn đầu về thôn Phú Toản bên bờ sông Tranh thuộc huyện Hiệp Đức (Quế Tiên) nơi đóng quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 để họp. Cuộc họp này do các anh Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy, Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 chủ trì; dự cuộc họp có các anh Nguyễn Chơn - Tư lệnh Sư đoàn 2, Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn; đại diện Quảng Đà có anh Trần Thận - Bí thư, Phạm Đức Nam - Phó Bí thư và Phan Hoan - Tư lệnh Mặt trận 4. Nội dung cuộc họp bàn phương án tấn công và nổi dậy giành dân, diệt địch, tạo thế chủ động trên chiến trường, tạo thời cơ giải phóng Khu 5 và bàn biện pháp cụ thể thi hành chủ trương đó.

        Tại cuộc họp, chúng tôi tự kiểm điểm công việc của từng tỉnh về đánh địch, giành dân, giữ vững vùng giải phóng, nêu lên những ưu điểm, khuyết điểm trong chỉ đạo.

        Tại chiến trường Quảng Nam, tính đến ngày Hiệp định Pa- ri có hiệu lực, vùng giải phóng mở rộng đến phía tây các huyện đồng bằng nối liền huyện Trà My - Phước Sơn thành mảng liên hoàn có các căn cứ lõm xen kẽ vùng ta, vùng địch kiểm soát (tuy vùng giải phóng còn thưa dân hơn trước khi ký hiệp định). Trên chiến trường Quảng Nam - Quảng Đà, lúc này địch đang ra sức đôn quân bắt lính bù vào số quân bị ta tiêu diệt và làm tan rã.

        Năm 1973, chúng có 63.000 tên, sang năm 1974 tăng 74.500 tên, đóng ở 534 đồn bốt lớn nhỏ, 253 khu dồn dân, ấp chiến lược.

        Trong phương án chiến dịch xuân năm 1975, ta chủ trương đánh vào khâu yếu của địch. Mục tiêu được chọn là quận lỵ Tiên Phước - Phước Lâm. Nơi đây là một thung lũng rộng 200 cây số vuông nằm ở phía tây Tam Kỳ chừng 20 cây số theo đường chim bay, chung quanh có nhiều dãy núi cao, làng mạc xen kẽ. Trong tình thế phòng ngự lúc bấy giờ, đây là cụm chốt điểm phòng thủ cơ bản để giữ thị xã Tam Kỳ - tỉnh ly Quảng Tín của địch. Lực lượng địch ở đây có 3.000 tên, gồm 6 tiểu đoàn bảo an, 2 đại đội biệt kích, 41 trung đội nghĩa quân dân vệ, 2 đội pháo có. 10 khẩu 105 - 155mm. Toàn cụm phòng thủ có 77 cứ điểm, chia thành 3 khu. Chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước; chi khu quân sự quận ly Phước Lâm; dãy điểm cao suối đá chốt giữ đường Tam Kỳ - Tiên Phước vì nó nối liền Núi Sâu, Dãy Thám, Dương Huệ, Dương Bàn Quân tạo thành lá chắn trấn giữ thị xã Tam Kỳ.

        Hợp đồng với 2 trọng điểm then chốt của Bộ đánh ở Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 52 Quân khu 5 cùng quân và dân huyện Tiên Phước được Nguyễn Chơn - Tư lệnh Sư đoàn 2 phân công cụ thể như sau:

        - Hai trung đoàn 31 và 38 có nhiệm vụ tiêu diệt chi khu quận lỵ Tiên Phước.

        - Lữ đoàn 52 tiêu diệt cụm Suối Đá.

        - Trung đoàn 36 diệt cứ điểm Hàn Thôn, bao vây bức hàng quận ly Phước Lâm.

        - Trung đoàn 1 (Ba Gia) làm dự bị cho chiến dịch.

        - Trung đoàn 572 pháo chi viện hỏa lực cho Lữ đoàn 52.

        - Trung đoàn 368 pháo binh chi viện cho hai trung đoàn 31 và 38.

        - Trung đoàn pháo cao xạ chi viện toàn Mặt trận.

        4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, từ chân núi Dương Côn tại Sở chỉ huy Sư đoàn 2, Nguyễn Chơn ra lệnh bắn 2 phát pháo hiệu 1 xanh, 1 đỏ vút lên bầu trời báo hiệu giờ G bắt đầu. Đến 16 giờ cùng ngày, quân ta đã làm chủ các mục tiêu trong phương án; đánh tan rã và chiếm toàn bộ các mục tiêu quân địch chiếm đóng (chỉ thực hiện bằng 1/3 thời gian dự kiến).

        Bị một đòn choáng váng, ngày 10 tháng 3, Ngô Quang Trưởng điều sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra Tam Kỳ chuẩn bị hành quân giải tỏa, ngày 11 tháng 3 liên đoàn biệt động 12 cùng tiểu đoàn Bảo An chi đoàn xe bọc thép từ Tuần Dưỡng tiến lên Cẩm Khê, Dương Côn. Ngày 12 tháng 3, trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra Dương Leo, Dãy Thám; Ngô Quang Trưởng ra lệnh điều trung đoàn 4 sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra, điều trung đoàn 2 của sư đoàn 3 ngụy từ Quảng Đà vào để tăng cường lực lượng phản kích chiếm lại mục tiêu đã mất. Hành động của địch càng tạo điều kiện thuận lợi cho 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà tấn công các mục tiêu đã định trong chiến dịch. Chỉ trong hai ngày 14 và 15 tháng 3, quân và dân Quảng Nam tấn công tiêu diệt 11 chốt điểm, giải phóng 3 xã tây Thăng Bình để tạo điều kiện mở rộng hành lang đưa lực lượng ta xuống vùng đông. Rạng sáng 17 tháng 3, Tiểu đoàn 70 Đại đội 16 đặc công cùng lực lượng địa phương Thăng Bình tấn công các chốt điểm giải phóng Bình Hải và một phần xã Bình Triều.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:16:30 PM

        Đêm 18 tháng 3, các tiểu đoàn 72, 74 cùng Đại đội 12 do đồng chí Lê Hải Lý - quyền Tỉnh đội trưởng chỉ huy hành quân xuống vùng đông. Cùng đêm, Tiểu đoàn 70 tấn công san bằng đồn Chợ Được. Từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 3, các tiểu đoàn 70, 72, 74 và Đại đội 12 cùng quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược khu dồn, giải phóng 5 xã vùng đông Thăng Bình, phối hợp nhịp nhàng với cánh đông, Sở chỉ huy tiền phương của địa phương đóng ở Đồi Tròn - Đức An, chỉ đạo Tiểu đoàn 11 trong đêm 20 tháng 3 cùng Đại đội bộ đội địa phương Phước Sơn, du kích xã phía tây Thăng Bình đánh sập cầu ông Triệu trên đường 16 làm chủ khu vực Trảng Chỗi, cắt đường 16 khiến địch vội vã điều trung đoàn 56 từ vùng đông lên phản kích vùng tây.

        Trên hướng trọng điểm Tiên Phước - Phước Lâm, sau 7 ngày chiến đấu, ta đã làm chủ hoàn toàn, nhân dân phấn khởi kêu gọi con em họ trong hàng ngũ địch ra hàng; một số khác ngoan cố, bị ta truy quét loại ra khỏi vòng chiến đấu 250.000 tên địch, giải phóng 21.000 dân, quét sạch hệ thống ngụy quyền kìm kẹp, nhân dân làm chủ chính quyền mới được thành lập ở Tiên Phước và Phước Lâm.

        Sau khi thực hiện thắng lợi giai đoạn 1, Tư lệnh Nguyễn Chơn ra lệnh tổ chức lại đội hình phản công địch. Trung đoàn 31 có tổn thất một ít, Trung đoàn 36 và Trung  đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 52 còn nguyên vẹn. Nhìn chung, lực lượng ta còn sung sức. Đêm 23 tháng 3, các đơn vị tiếp tục chiếm lĩnh trận địa. Nhân dân và bộ đội địa phương mang hàng trăm tấn lương thực, đạn dược tiếp tế bộ đội. Tin thắng trận Buôn Ma Thuột dội về. Bộ đội, nhân dân vô cùng phấn khởi hân hoan. Đúng 5 giờ 15 phút, ngày 24 tháng 3, trận quyết chiến chiến dịch bắt đầu. Sau 2 giờ 30 phút chiến đấu, quân ta đánh quỵ trung đoàn 4 sư đoàn 2 của ngụy làm chủ khu vực ngã ba Trường Xuân, sân bay Ngọc Bích, cầu sắt Núi Lân đến dốc Bà Tỡ. Trên hướng tấn công quan trọng, quân ta đánh chiếm khu vực Cẩm Khê Quán Rường; liên đoàn biệt động 12 ngụy phòng ngự ở khu vực này đã bị ta tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Thừa thắng, từ 3 hướng đông, nam và tây có xe tăng yểm trợ quân ta tấn công vào thị xã Tam Kỳ và tỉnh Quảng Tín; địch trong thị xã, một số chống cự lại, bị quân ta tiêu diệt, một số còn sống sót vứt súng tháo chạy ra Đà Nẵng. Quân ta mở cửa nhà lao giải thoát tù chính trị, anh chị em xúc động ôm hôn các chiến sĩ giải phóng, mừng vui nói không nên lời.

          10 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 3 năm 1975, thị xã Tam Kỳ hoàn toàn giải phóng. Tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân bỏ cả quân phục, cởi trần tháo chạy cùng tàn quân Đà Nẵng. Chỉ huy tiền phương điều động hai tiểu đoàn 70 và 72 lên chặn địch ở Ngọc Phô chỉ diệt được 3 xe, số còn lại tháo chạy ra Đà Nẵng. Ngày 25 tháng 3, vùng đông Thăng Bình, Tam Kỳ được giải phóng. Nhân dân bung ra phá các khu dồn trở về làng cũ; du kích, cán bộ lo tổ chức chính quyền cơ sở, thu đạn dược, vũ khí do địch tháo chạy bỏ lại.

        Ở phía nam thị xã, Trung đoàn 36 chiếm quận Lý Tín, dùng pháo bắn phá căn cứ Chu Lai, quận Lý Tín được giải phóng. Ngày 25 tháng 3, Trung đoàn 38 có xe tăng yểm trợ đánh Tuần Dưỡng - căn cứ trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy, địch chống cự yếu ớt, rồi tháo chạy. Tỉnh đội Quảng Nam điều hai tiểu đoàn 70 và 72 lên chốt chặn Mộc Bài không cho tàn quân địch chạy ra Đà Nẵng. Ngày 26 tháng 3, nhân dân cùng lực lượng vũ trang Thăng Bình đánh Hà Lam, địch tháo chạy ra khỏi Duy Xuyên. Trong ngày, chúng dùng không quân ném bom đánh sập cầu Bà Rén để cản đường quân ta phát triển. Ở Quế Sơn, lực lượng vũ trang huyện cùng nhân dân nổi dậy hù dọa địch ở đồn Chợ Gò; địch hoang mang, binh lính nổi dậy diệt bọn chỉ huy, mang toàn bộ vũ khí ra nộp cho du kích.

        Đến ngày 27 tháng 3 năm 1975 các địa phương trong tỉnh Quảng Nam hoàn toàn giải phóng. Không một phút nghỉ tay, vị Tư lệnh chiến trường Nguyễn Chơn lấy xe Jeép về Trà Nô tiếp tục nhận lệnh của Khu ủy - Quân khu, cấp tốc hành quân về giải phóng Đà Nẵng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:21:54 PM

ĐÔI ĐIỀU VỀ TƯỚNG NGUYỄN CHƠN

Thiếu Tướng, nhà văn NGUYỄN CHÍ TRUNG       

        Những người lính cuối cùng của Liên khu 5 lên đường tập kết ra Bắc trên một con tàu Ba Lan. Tàu neo ngoài khơi Quy Nhơn một đêm. Biển vỗ vào đêm đen. Chỉ có biển nói. Còn những người lính chúng tôi ngồi tựa mạn tàu, câm lặng. Từ hôm nay đây và ở nơi này đây - biển - ta bắt đầu xa quê. Hai năm nữa, chỉ hai năm nữa thôi, sau một cuộc tuyển cử theo như hiệp định ký ở cái thành phố xa tít mù nào đó, ta sẽ trở về. Có thật không, hai năm nữa, ta sẽ trở về? Trong kia là bờ. Sau những rặng thông thưa và xơ xác, những đốm đèn đỏ hoe, thoáng hiện, thoáng mất. Và kéo dài về phía núi, xa nữa là quê hương của người lính này hay người lính khác, cắt rốn ở đấy và chôn nhau ở đấy. Mẹ cha, em gái và em trai, cô, dì, cậu, mợ, bầu bạn thuở nhỏ và một đôi mắt đau đáu, có thể nhìn rõ nhau trong khuya và những mối tình cũng ở đấy.

        Người lính nào quê ở vùng tự do, được đơn vị cho phép về thăm nhà mấy bữa. Còn ai quê ở vùng Pháp tạm chiếm, không sao có thể về kịp trong dăm ba ngày. Như quê tôi ở tận Đồng Bò, cánh đồng vàng rực với những đàn bò thong dong nhai cỏ trong tiếng xào xạc của gió mía; còn Nguyễn Chơn quê ở tận làng Phú Lộc, dưới chân đèo Mây, giặc đóng từ ngày đầu kháng chiến. Chúng tôi chỉ kịp chạy vội về thăm một ông chú, một bà thím, một đứa em nào đó - đơn vị đã từng đóng quân trong nhà, chiều chiều đến vẫn đem cho chúng tôi một nồi cháo đường, một rổ khoai chà, khoai luộc.

        Giữa đêm mông lung, tưởng đã bị cắt lìa với tất cả, làng quê kia và những mối tình vùi ủ tận nơi sâu kín nhất, bỗng từ trong sóng biển, trôi lai láng, một bóng người bơi tới Bóng người bám nhanh vào chiếc phao. Sau đó, những người lính chúng tôi, vẫn tựa hết bên mạn tàu, nghe nói trong hơi thở gấp:

        - Bọn ác ôn về cả rồi!

*

*       *

        Có thật không, hai năm nữa ta sẽ trở về?

        Câu hỏi ấy dằn vặt và triền miên, dày vò nặng trĩu. Nhưng rồi, mùa đông đến, rủ nhau đi xin rơm về ủ chỗ nằm, giúp dân làm cỏ lúa, rồi đi chống bọn phản động cưỡng ép đồng bào di cư, đi đắp đê, đóng gạch xây dựng doanh trại, bắn bia, tập đội ngũ, đọc "Thép đã tôi thế đấy! " nỗi ưu tư nguôi dần. Thôi cứ hẳn tin vậy.

        Cho đến buổi chiều ngày 17 tháng 7 năm 1956, vừa ăn cơm xong, đài đưa tin: Ngô Đình Diệm tuyên bố không có tổng tuyển cử, ngày 20 tháng 7 năm 1956 không có tổng tuyển cử...

        Hồi ấy Thanh Hoá đang đói. Đơn vị chúng tôi đóng ở Còng. Bữa cơm chiều, mỗi người lính đều nhịn một ít, đem về một bát cơm cho các cháu nhỏ. Tôi rụng rời tay chân làm rơi bát cơm. Cúi xuống hốt, cơm rơi hốt lại chỉ còn lưng bát, nước mắt ràn rụa.

        Đã hai năm rồi mà ta không thể trở về. Anh Nguyễn Chánh, trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Bí thư, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5, đến thăm đơn vị chúng tôi. Trên nụ cười bình thản hằn rõ vô số những nếp ưu tư, anh nói:

        - Tôi cũng muốn trở về lại Liên khu ngay bây giờ đây. Với Cao Muôn, Đá Chát, Hiên, Giằng, An Khê, Cheo Reo,... chúng ta hoàn toàn có thể gây dựng những căn cứ du kích và bắt đầu từ đánh du kích. Nhưng không được, phải chờ đợi.

        Anh Chánh, có lẽ hơn ai khác, hiểu niềm khao khát và nỗi dày vò của chúng tôi. Anh lại cười:

        Hồi ra đi, ở Tam Quan, chúng ta đã nói với nhau: nếu kẻ thù không để cho chúng ta trở về với ngọn cờ hoà bình, thì chúng ta sẽ trở về bằng ngọn cờ Quyết chiến quyết thắng.

*

*       *

        Một trong những người được trở về đầu tiên đó là Nguyễn Chơn. Ngày ấy chưa có đường dây 559. Theo con đường giao liên hồi chống Pháp, ngày 25 tháng 2 năm 1959, Nguyễn Chơn cùng với đoàn ra đi. Hơn một tháng sau, đến Ga Chị Thể. Ga Chị Thể là mật danh trạm đón anh em ở tây Quảng Nam. Từ Ga Chị Thể, Nguyễn Chơn và đoàn về nơi ở. Đó là một cụm rừng. Lúc này Mỹ và Diệm đang ráo riết làm chiến dịch "Thượng du vận", tên riêng bọn chúng đặt cho các chiến dịch tố cộng ở vùng núi. Cách đó không xa là làng A Dinh - một làng của đồng bào dân tộc Ca Tu, đầu nguồn sông A Vương. Làng xơ xác. Đói muối đã bốn mùa rẫy. Đàn bà mặc váy bằng vỏ cây. Đêm đến leo lét mấy ống đèn chai, khói đen kịt.

        Công việc đầu tiên của những người lính trở về là chặt cây che lán: Mỗi ngày, mỗi người được phát một lon nếp Lào, mua dọc đường đi. Ba tháng, mới được phát một lon muối nên Nguyễn Chơn trải tấm ni- lông ra sạp, đổ lon muối trên ni lông, bẻ một chiếc que nhỏ, gạt đi gạt lại, chia lon muối cho đủ 90 phần, để biết chắc một phần là bao nhiêu, hằng ngày lấy vừa đủ ăn, để khỏi phải hụt những ngày sau.

        Ban đêm cả đoàn mắc võng nằm quanh đống lửa. Mảnh đất heo hút sơn cùng, thuỷ tận, không thấy được đồng bằng, không thấy được thành Phố, chiều ập đến rất mau, còn sương thì tan rất chậm. Cả đoàn phải giữ bí mật không cười to, không nói lớn. Lúc nào cũng thắc thỏm. Không có lịch, cho nên ngày tháng cũng không cần ghi nhận. Nhưng, chính ở rẻo núi mù sương và lạnh buốt này là miền Nam. Bởi thế, phải tồn tại, tồn tại ở nơi hẻo lánh tột cùng, xa cách tột cùng, gian khổ tột cùng này. Tồn tại, ấy là sự bắt đầu của mọi sự bắt đầu. Tồn tại mới có thể gây dựng, đợi chờ, rồi khởi nghĩa, rồi tiến công, đứng ở nơi này mà ước ao và khao khát.

        Ban ngày cả đoàn ra rẫy rong thân, cốt cây, tạo thế làm cho những thân cây to (hai người ôm không hết) ngã xuống, đè chồng lên các thân cây nhỏ, kích đổ hàng mảng rừng, nghe ào ào như có gió bão, rồi dùng rựa băm nhỏ, trải ra, cho cành, cho lá khô cong dưới nắng và đốt, lửa ngùn ngụt, cháy lan, đuổi chạy không kịp, vấp ngã sưng vù cả tay chân. Mặt rẫy ngổn ngang những thân cây cháy xém. Một lớp tro đày phủ lên đất, nhìn lớp tro có thể đoán được kết quả cuối mùa. Qua mấy đêm, sương xuống làm cho đất ẩm. Cuối cùng là trồng tỉa.

        Người chọc lỗ cầm một cây cọc vót nhọn. Người tỉa cầm một nắm lúa giống trong lòng bàn tay, đều đều xỉa xuống lỗ; mỗi lỗ dăm bảy hạt. Người tỉa lúa đi tụt lùi. Trên lớp tro mịn và dày là dấu của những bàn chân. Bàn chân trái của Nguyễn Chơn thiếu ngón út in đậm trên tro, như có ai đó đã từng cùng với thời gian vẽ lên trên quả đất này từ xa xưa.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:24:02 PM
     
*

*      *

        Đà Nẵng được giải phóng, Nguyễn Chơn về làng thăm cha. Người cha giương mắt nhìn con, không nói. Người cha cúi sát hơn:

        - Chởn đa con? - Tên khai sinh của Nguyễn Chơn là Nguyễn Chởn - Thằng hai Chởn về thiệt à?

-   Sao không thiệt. Hắn đó. Thấp, đôi mắt tròn và bàn chân trái thiếu ngón út.

        Thế mà đã gần ba mươi năm, rồi ngày pháp đánh chiếm lại Đà Nẵng, Chơn thưa với cha:

        - Cho con đi tòng quân. Pháp hắn trở lại rồi.

        Bà mẹ hỏi:

        - Tòng quân có chết không?

        Nguyễn Chơn cười:

        - Có sống, có chết.

        Ông cha nói:

        - Mi đi, hắn giết hết cả nhà. Giết y như giết cộng sản hồi trước.

        Ông gọi:

        - Cấp ơi, Nhã ơi, Khâm ơi, út ơi! Ra cả đây. Chởn ơi, thôi mi giết hết cả mẹ, cả cha, cả em, rồi mi đi. Mi không giết, Tây đến, hắn biết mi đi đánh Tây, hắn cũng giết.

        Bên An Hải, trong Ngã Năm, dưới bến đò lửa cháy, những cột khói đen ùn ùn che lấp cả Sơn Trà. Ngoài khơi, tàu chiến Pháp đậu lô nhô, ca- nô máy cập vào Vũng Thùng .

        Tai nghe súng nổ cái đùng.

        Thôi rồi Tây chiếm Vũng Thùng hôm qua...

        Câu ca ngày xưa, gieo qua mấy thế hệ, bén rễ vào gan, vào óc như vọng lên tím bầm từ mặt đất pha cát nghèo hèn những đôi chân trần đang đứng kia.

        Nguyễn Chơn cúi đầu thưa với cha:

        - Cha nạ, cho con đi thôi không đi thì mất nước. Cha đừng ép con ở lại với bọn giặc.

        Mỗi một con người không chắc gì đã nhận biết được hết khát vọng của chính mình. Bởi thế, cho dù là cha mẹ, anh em máu mủ ruột rà, ở bên ngoài cái tâm hồn sống ấy, của riêng nó, đơn nhất mà vô cùng, làm sao mà có thể nhận biết trọn vẹn.

        Nguyễn Chơn lại nói:

        - Xin cha cho con đi thôi. Cha đừng ép con ở lại với bọn giặc.

        Giữa tất cả những ngổn ngang bề bộn, lửa, máu, nước mắt ròng ròng, cái giật mình đau đớn, tiếng gọi tòng quân có thể đốt lên thành đuốc, sự bịn rịn đến não lòng, làm sao có thể diễn đạt cho những người thân nhận ra được khát vọng kết tủa trong tro, trong cát, trong muối đọng và biển sâu, trong vô vàn những sườn núi đá chen đầy các cánh hoa dại toả hương, trên đèo Mây, trên núi Chúa và trong tâm hồn của người thanh niên trai tráng.

        Nỗi đau lớn nhất là nỗi đau không nói. Còn khát vọng, khát vọng lại chỉ có thể nói bằng một nỗi đau, mà mỗi dân tộc từ thuở hoang sơ và mỗi con người, đơn nhất và vô  cùng đều có.

        Nguyễn Chơn đứng gần hơn về phía cha:

        - Cha tha lỗi cho con. Con đã quyết chí rồi.

        Chính trong giây phút ấy, may ra chỉ có nỗi đau mới có thể lý giải được sự khôn cùng của khát vọng, Nguyễn Chơn chặt đứt ngón chân út của mình.

*

*       *

        Đồng đội thường nghĩ: Nguyễn Chơn sinh ra như để mà xây dựng, để mà tiến công, để mà đánh  những đòn tiêu diệt gọn.

        Nguyễn Chơn ít nói và khi nói, thì nói ngắn. Nhưng con đường mà bàn chân thiếu ngón út in đấu khát vọng đau đáu của một thời, dài xiết bao.

        Khát vọng ấy vẫn còn đó, nguyên vẹn và sâu thẳm, như Nguyễn Chơn nói ở Đại hội Đảng toàn quân: Một khi non sông đã thu về một mối, phải bảo đảm cho Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chúng ta qua hàng trăm thế hệ, hàng ngàn thế hệ, mãi mãi không bị bất ngờ về chiến lược.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:26:59 PM

LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ Ở CAM- PU- CHIA: CHIẾN THẮNG Ở ĐIỂM CAO 547

Đại tá TRẦN NHƯ TIẾP       

        Mùa hè năm 1984, từ Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ở Đà Nẵng, Trung tướng Nguyễn Chơn bay sang Cam- pu- chia để nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị cho trận đánh tiêu diệt điểm cao 547 đang nằm trong tay quân Pôn Pốt.

        Trước khi về nhận chức Tư lệnh Quân khu 5, ông biết các sư đoàn thuộc Quân khu 5 đã nhiều lần tấn công cao điểm này, nhưng lần nào cũng thất bại. Đặc biệt, trong cuộc tấn công lần thứ tư, Sư đoàn 307 do bị thiệt hại nặng đã phải để lại liệt sĩ, thương binh khi rút lui. Những thất bại liên tiếp này, không những làm giảm sút lòng tin, ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu, mà còn tạo ra những biểu hiện thiếu tin tưởng, mất đoàn kết giữa sở chỉ huy cơ bản và tiền phương Quân khu, làm ảnh hưởng đến tình hình chung. Chính vì vậy, ngay sau khi về nhận chức Tư lệnh, ông quyết định phải đánh thắng một trận giòn giã để củng cố khối đoàn kết nội bộ. ông chọn điểm cao 547, vì đây là nơi ác liệt, gay go nhất. Nếu thắng địch ở đây, thì sẽ mở ra rất nhiều cơ hội thuận lợi để tiêu diệt quân địch trên toàn chiến trường, đồng thời sẽ củng cố được khối đoàn kết nội bộ, khơi dậy niềm tin, ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu.

        Nguyễn Chơn tổ chức một đoàn cán bộ đi kiểm tra Mặt trận 579, nghiên cứu chiến trường tại chỗ. Đã gần 6 năm kể từ khi quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng, Nguyễn Chơn đã nhiều lần trở lại đất nước Chùa Tháp, nhưng đây là lần đầu tiên ông đặt chân lên dãy Đăng Rếch nằm sát biên giới Thái Lan - Cam- pu- chia.  Đăng Kếch tiếng Khơ Me có nghĩa là chiếc đòn gánh, dài hàng trăm cây số, rộng khoảng 30 cây số, độ cao từ 4 đến 6 trăm mét. Đứng dưới chân núi nhìn lên trông như một bức trường thành vững chắc, núi non hiểm trở. Dãy núi này về mùa khô, những khe suối thường cạn kiệt nước, thỉnh thoảng mới có vài vũng nhỏ đọng sát chân núi, ven những thung lũng khô khốc vì nắng nóng, có khi phải đi hàng buổi mới kiếm được một ít nước. Vào sâu trong nội địa, các bản làng thưa thớt, núi rừng mênh mông toàn là cây khộp, nên nước càng trở nên khan hiếm. "Đây chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của những đánh trước" - Nguyễn Chơn nói với cán bộ trinh sát đi bên cạnh như vậy.

        Pôn Pốt chọn dãy Đăng Rếch để xây dựng thành một căn cứ địa vững chắc vì nhiều lý do: Đây là nơi có thể tổ chức phòng thủ nhiều tầng, có chính diện rộng, có chiều sâu an toàn, kết hợp với địa hình hiểm trở có núi cao, rừng rậm, nhiều hang động, vách đá cheo leo, dựng đứng, có nơi muốn qua, phải dùng thang dây mới qua được, khi tiến, có thể thọc sâu nội địa, khi lùi, có thể rút sang Thái Lan bằng con đường lớn từ biên giới Thái Lan vắt qua lưng chừng núi. Pôn Pốt vẫn thường tự hào nói với thuộc hạ: "Đây là dãy Ma Thiên Lãnh của đất nước ăng- co!".

        Nhiệm vụ phòng thủ điểm cao 547 được giao cho hai sư đoàn (thiếu) 612 và 616. Ngoài ra còn có 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 hoặc 2 phi đội máy bay Thái Lan đóng cách Đăng Rếch khoảng 50 cây số. Quân Pôn Pốt chia căn cứ 547 thành 2 tầng phòng thủ. Tầng dưới gài các loại mìn chống bộ binh, mìn chống tăng, tầng trên treo hàng nghìn quả mìn trên cây, trên đá thay cho lính cảnh giới. Trên cơ sở 2 tầng đó, hệ thống phòng thủ lại được chia làm 3 tuyến: Tuyến 1, làm nhiệm vụ tuần tra canh gác, an ninh cảnh giới. Tuyến 2, làm nhiệm vụ phòng thủ chính do các lực lượng bộ binh kết hợp với hỏa lực phi pháo dựa vào các hang động, các công sự vững chắc có hệ thống vật cản tự nhiên kết hợp với các hàng rào dây thép gai và các loại mìn, bẫy. Tuyến 3, bộ phận đầu não gồm sở chỉ huy, kho tàng, lực lượng vệ binh... hình thành từng cụm liên hoàn.

        Do tính chất quy mô của căn cứ, Nguyễn Chơn với tư cách là Tư lệnh Quân khu sẽ trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Trước tiên, để nắm chắc tình hình quân địch, ông tổ chức một hệ thống trinh sát gồm 7 toán trinh sát của Trung đoàn, Sư đoàn và Mặt trận, 4 đội trinh sát luồn sâu, 25 toán trinh sát cơ động, 1 toán trinh sát bắt tù binh, 13 toán trinh sát dự bị và cho đặt 4 đài quan sát ở 4 hướng.

        Lực lượng tham gia trận đánh gồm Sư đoàn 307, Trung đoàn 1 của Sư đoàn 2, Trung đoàn 143 của Sư đoàn 315, 1 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn M.113, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 ly cùng một số đơn vị kỹ thuật khác như vận tải, công binh, thông tin, hậu cần, quân y... Riêng bộ phận thông tin đã có đến 1.628 cán bộ, chiến sĩ đảm trách 2 xe tổng đài tiếp sức, 2 xe công trình, 803 máy thông tin liên lạc, 670km dây hữu tuyến.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 06:56:10 AM

        Xác định tinh thần, ý chí, kỷ luật và kỹ thuật chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường là yếu tố quyết định để giành thắng lợi, nên trước khi trận đánh diễn ra, ông đã tổ chức các đợt tập huấn, huấn luyện cho tất cả các đơn vị tham gia trận đánh. Cán bộ chỉ huy từ đại đội trở lên đều phải học các bài về chiến thuật đánh địch trong địa hình hiểm trở, phân tích, rút kinh nghiệm trận đánh thứ tư của Sư đoàn 307, xây dựng quyết tâm chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đối với bộ đội tổ chức huấn luyện từ cơ bản đến diễn tập phân đội, có bắn đạn thật và tập luyện theo phương án đánh địch trong công sự vững chắc.

        Để đảm bảo thắng lợi, ông đưa vào khu chiến hơn 1 vạn quân, trong đó đưa từ Việt Nam sang 3.000 quân, huy động 438 chuyến xe và 5 chuyến chuyên cơ đưa cán bộ từ Pleiku sang và cho phân đội A72 từ Hà Nội sang Tà Beng ứng chiến. Bộ phận hậu cần phải đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm cho hơn 11 nghìn quân ăn trong 25 ngày. Bộ phận vận tải phải đảm bảo vận chuyển 531 tấn vũ khí, đạn dược, trong đó có 591 pháo, cối, súng bộ binh và các phương tiện kỹ thuật khác trước ngày nổ súng. Bộ phận công binh bảo đảm hoàn thành việc khai thông 3 sân bay trực thăng, bảo đảm khắc phục vật cản, mở đường cho bộ binh, xe tăng, pháo binh tấn công chiếm lĩnh mục tiêu.

        Một vấn đề hết sức quan trọng cần phải khắc phục là vấn đề nước uống cho bộ đội trong thời gian tấn công vào căn cứ địch. Qua nghiên cứu chiến trường, Nguyễn Chơn nhận thấy các trận đánh trước đây đều bị thất bại là do bộ đội thiếu nước uống. Trên điểm cao trời nắng nóng, không có nước uống, nên nhiều chiến sĩ bị ngất xỉu. Một số đi tìm nước uống, vấp phải mìn, bị thương vong làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức chiến đấu của đơn vị. Có đơn vị hành quân đến nơi, không còn nước uống, buộc phải rút lui...

        Nguyễn Chơn suy nghĩ mãi để tìm cách giải bài toán hóc búa này. Cuối cùng cũng tìm ra cách giải quyết, ông điện về Đà Nẵng, ra lệnh cho bộ phận hậu cần thu tất cả các vòm cống dã chiến của Mỹ còn lại trong các đơn vị và ở các tỉnh trong toàn Quân khu, sau đó đem hàn ghép lại thành những thùng có sức chứa từ 3 đến 4 khối nước rồi đưa sang Cam- pu- chia. Các đội xe chuyển nước của Quân khu gồm 30 chiếc, có 10 xe bọc thép hộ tống đã đưa nước từ nguồn nước cách xa gần 50 cây số về các trạm tiếp nước của các trung đoàn đặt ở sát khu chiến. Đồng thời ông cho mua thêm hàng nghìn can nhựa, bao ni- lông có sức chứa từ 4 đến 20 lít gởi sang để trang bị cho các tiểu đội, trung đội với cách làm này, mỗi chiến sĩ ngoài bi đông cá nhân chứa từ 1 đến 5 lít nước, còn có những túi nước tập thể chứa từ 10 đến 20 lít sẵn sàng đưa đến tận chiến hào. Mỗi xe tăng, xe kéo pháo... đều được trang bị 1 hoặc 2 thùng phuy có sức chứa từ 1 đến 2 trăm lít. Việc đảm bảo đủ nước uống trong chiến đấu đã làm cho bộ đội yên tâm đánh địch, không sợ chết khát như những lần trước.

        Ngày 20 tháng 4 năm 1984, một cánh quân của Sư đoàn 307 bắt đầu thực hiện đánh chia cắt, tạo thế cho bộ đội công binh mở đường triển khai hệ thống thông tin phục vụ chỉ huy chiến đấu. Cánh quân này đã đánh tan một cánh quân địch ngăn chặn, chiếm được hồ nước Suối Tre và điểm cao 106.

        Trong các ngày từ 20 đến 23 tháng 4, đại bộ phận Sư đoàn 307 và Trung đoàn 143 Sư đoàn 315 bí mật đưa đội hình vào vị trí chiến đấu. Bộ đội được lệnh tìm cách tránh địch, không cho địch phát hiện việc chuyển quân. Cùng thời gian đó, Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 và xe thiết giáp K63, đại đội tăng T54, pháo binh, cao xạ cũng triển khai đội hình chuẩn bị đột phá trên hướng tấn công chủ yếu. Ở mũi phối hợp, Trung đoàn 19K bộ đội Cam- pu- chia đã tổ chức bao vây và đánh chiếm khu vực An Lung.

        Mọi công việc chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành, Nguyễn Chơn cùng các cán bộ chỉ huy Mặt trận 579 và chỉ huy các Sư đoàn đi kiểm tra trận địa lần cuối cùng. ông hài lòng nhận thấy mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đó, đúng theo mệnh lệnh chỉ huy của mình.

        7 giờ sáng ngày 24 tháng 4, Nguyễn Chơn ra lệnh tấn công. Từ khắp các nơi quanh căn cứ, bộ đội đồng loạt nổ súng. Ở hướng chủ yếu, các chiến sĩ Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 được hỏa lực pháo binh, xe tăng, thiết giáp chi viện đã ào lên đánh chiếm các mục tiêu quy định.

        Ngay từ những giờ đầu, Trung đoàn đã đập tan đơn vị địch phòng thủ ở khu vực Z6, chiếm lĩnh mục tiêu. Đến cuối ngày 24 tháng 4, Trung đoàn đã hoàn toàn kiểm soát được các khu vực Zl, Z12, Z14, diệt phần lớn số quân địch chốt giữ tại đây.

        Trong lúc đó, ở cánh phải, các trung đoàn của Sư đoàn 307 tiến hành bao vây sau lưng địch, đánh từ trong đánh ra, dồn địch vào thế bị động, lần lượt bỏ các điểm cao dọc theo con đường chạy sang biên giới Thái Lan. Ở cánh trái, Trung đoàn 143 Sư đoàn 315 được lệnh Mặt trận 579 không được tiến sâu vào đất Thái Lan, nên đã dừng lại làm nhiệm vụ chốt chặn, không cho địch thoát sang bên kia biên giới.


        Ngày 25 tháng 4, những khu vực còn lại được địch tăng cường phòng thủ, tổ chức chống trả một cách quyết liệt với ý đồ ghìm chân các đơn vị bộ đội lại, để bộ đội ta, vì khát nước, sẽ tự động rút lui như những lần trước. Nhưng địch không ngờ rằng, lần này bộ đội không những không chết khát mà sức chiến đấu càng lúc càng tăng lên. Những khẩu đội ĐKZ, trọng liên, đại liên địch được bố trí ở các hang động trên vách núi lần lượt bị hỏa lực pháo binh và xe tăng tiêu diệt. Sư đoàn 307 từ các điểm cao phía sau lưng đánh thốc tới, dồn địch lại thành từng cụm trong khu vực trung tâm. Đến cuối ngày 25 tháng 4, Sư đoàn 307 đã chiếm được các khu vực chính yếu như Z1A, Z1B, Z4...

        Ở các khu vực M1, M2, các mũi tấn công của Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 bị hỏa lực cực mạnh của địch bố trí ở các khu vực M4, M5 chặn lại. Đứng trên một điểm cao, Nguyễn Chơn quan sát thấy đội hình Trung đoàn 1 đang ở vào thế bất lợi, ông liền ra lệnh cho lựu pháo 105 ly và pháo cao xạ 37 ly ngắm bắn trực tiếp vào các ổ hỏa lực địch ở M4, M5, đồng thời lệnh cho Trung đoàn 29 Sư đoàn 307 nhanh chóng chuyển dịch đội hình giải quyết các mục tiêu địch ở M4, M5 để tạo điều kiện cho Trung đoàn 1 xung phong tiêu diệt địch ở M1 và M2.

        Sáng ngày 26 tháng 4, các cánh quân của Sư đoàn 307 và Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 từ hai hướng phía trước và phía sau mở đợt tấn công dứt điểm vào trung tâm chỉ huy đầu não địch. Không còn tinh thần chiến đấu, các đơn vị địch nhanh chóng bị tiêu diệt. 10 giờ, sở chỉ huy căn cứ cửa khẩu 547 bị xóa sổ, các mục tiêu còn lại xung quanh căn cứ lần lượt đầu hàng.

        Trong trận đánh này, hai sư đoàn 612 và 616 Pôn Pốt đã bị xóa sổ, 1.800 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó hơn 300 tên bị bắt. Trên 600 súng các loại bị tịch thu, trong đó, phần lớn là vũ khí hạng nặng như cối 82 ly, ĐKZ 82 ly, cùng với nhiều quân trang quân dụng, 30 tấn lương thực, hàng trăm tấn đạn, nhiều tài liệu quan trọng.  

        Chiến thắng điểm cao 547 một lần nữa khẳng định tài năng lãnh đạo chỉ huy, tác phong sâu sát, tỉ mỉ trong chiến đấu của tướng Nguyễn Chơn. Những yếu tố mang tính quyết định làm nên chiến thắng này là việc giải quyết một vấn đề tuy nhỏ, nhưng hết sức quan trọng là nước uống, kế đó là việc lo tập huấn, huấn luyện bắn đạn thật và xây dựng quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi. Chính nhờ đi sâu, đi sát cán bộ, chiến sĩ, không bỏ qua từng việc nhỏ, mà ông đã làm nên một chiến thắng có tầm chiến lược, giúp nhân dân bạn từng bước đẩy lùi những tên diệt chủng đến bờ vực thất bại, đồng thời củng cố được khối đại đoàn kết nội bộ, khôi phục niềm tin, truyền thống "Quyết chiến quyết thắng" cho cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 07:01:20 AM

VÙNG BA BIÊN GIỚI - NƠI GHI DẤU CHIẾN CÔNG CỦA QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM

Đại tá TRẦN NHƯ TIẾP       

        Sau chiến thắng điểm cao 547 tháng 4 năm 1984, Bộ Tư lệnh Mặt trận 719 đã tổ chức họp tổng kết rút kinh nghiệm về trận đánh cho tất cả các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam, đồng thời cho các quân khu huấn luyện bộ đội, chuẩn bị đến đầu năm 1985 sẽ tiến hành tấn công tiêu diệt 16 căn cứ của Pôn Pốt dọc theo biên giới Cam- pu- chia và Thái Lan.

        Tình hình Cam-pu-chia lúc này đã được cải thiện rõ rệt. Quân đội của chính quyền Cam- pu- chia dân chủ đã xây dựng và làm chủ được một thế trận tương đối vững chắc ở một số vùng nội địa. Tuy nhiên, ở vùng biên giới, đặc biệt là ở vùng ba biên giới Lào - Cam-pu-chia - Thái Lan, tình hình còn diễn biến phức tạp. Các lực lượng địch được sự giúp sức của Thái Lan đã dựa vào địa hình hiểm trở để xây dựng nơi đây thành một căn cứ "kháng chiến" lớn nhất bắc Cam- pu- chia. Đây là nơi Pôn Pốt chọn làm căn cứ huấn luyện, hậu cần, hậu cứ, kho tàng... Từ nơi đây địch tổ chức tiếp nhận các loại súng đạn, hàng hóa, lương thực... được chuyển bằng Ô tô từ Thái Lan đưa đến, Sau đó dùng sức người chuyển đi các căn cứ khác. Đây cũng là nơi xuất phát những đợt hoạt động quân sự của các lực lượng địch vào sâu trong nội địa, gây nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng Cam- pu- chia.

        Để giúp bạn nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng phản động, ổn định tình hình, Bộ Tư lệnh Mặt trận 719 quyết định mở đợt tiến công tiêu diệt các lực lượng địch ở vùng ba biên giới. Một lần nữa, Tư lệnh Quân khu 5 Nguyễn chơn lại trực tiếp chỉ huy.

        Đã từng quen thuộc địa hình núi cao, dốc đứng của dãy Đăng Rếch trong trận đánh điểm cao 547, nhưng ông vẫn tiến hành làm kỹ công tác trinh sát, nghiên cứu chiến trường. Đối với ông, công tác chuẩn bị chiến trường chu đáo là một phần quan trọng để giành thắng lợi. ông nói với một cán bộ trinh sát Sư đoàn:

        - Đi trinh sát, đi chuẩn bị chiến trường là phải đột nhập vào tận nơi, mắt phải nhìn thấy, tay phải sờ đến, tai phải nghe được, thì mới gọi là đi chuẩn bị chiến trường!

        Đi nghiên cứu chiến trường với ông thật gian khổ, vất vả nhưng cũng rất thú vị vì luôn học được những bài học thực tế, sống động. ông không chỉ có lòng dũng cảm, sự phán đoán, quan sát nhạy bén, tinh tế, mà còn có những động tác kỹ thuật rất điêu luyện, thuần thục như đi không gây tiếng động, chui rúc qua các lớp hàng rào rất nhẹ nhàng, khéo léo. ông thường nói với những cán bộ chỉ huy đi nghiên cứu chiến trường cùng ông:

        - Có chuẩn bị kỹ công tác trinh sát, nắm cụ thể được địa hình, quan sát được cách bố trí của địch, thì mới xác định đúng phương án, chọn đúng hướng đột phá chủ yếu, hướng quan trọng và hướng bao vây chốt chặn chính xác.

        Nhờ sự dìu dắt, chỉ bảo tận tình của ông mà sau này nhiều cán bộ từng làm việc dưới quyền ông đã trở thành những người chỉ huy giỏi, được giao đảm nhận những chức vụ quan trọng.

        Vùng ba biên giới Cam- pu- chia - Lào - Thái Lan trải rộng trên một địa hình đa dạng. Ở phía Cam-pu-chia, dãy Đăng Rếch kéo dài rồi thấp dần về phía Lào. Trên sườn núi, dốc đá lởm chởm, dựng đứng, rất khó khăn cho việc di chuyển đội hình.

        Theo dõi Nguyễn Chơn trình bày phương án đánh, Đại tướng Đoàn Khuê - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 719 đã 2 lần di chuyển mũi tên luồn sâu trên sa bàn cát và cạo sửa các mũi tên tác nghiệp trên bản đồ. Đại tướng đã đặt ra cho ông nhiều câu hỏi, câu nào cũng được ông giải đáp một cách thuyết phục. Cuối cùng, phương án đánh hết sức táo bạo, hiểm hóc của ông đã được Bộ Tư lệnh 719 phê chuẩn.

        Giữa tháng 12 năm 1984, các đơn vị đặc công và một bộ phận Sư đoàn 307 bắt đầu thực hiện bước đánh nghi binh lừa địch bằng cách đánh chiếm Núi Cụt của quân Sri-ê-ka, mở thông đường kéo pháo, triển khai lực lượng trên hướng chính diện.

        Tiếp đó, từ ngày 28 tháng 12, các lực lượng đánh ép nghi binh bắt đầu triển khai đội hình. Các đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, pháo cao xạ, xe tăng... đồng loạt xuất quân đánh phá các mục tiêu trong khu chiến, đánh chiếm một số điểm cao, buộc địch phải đưa lực lượng bộ binh và hỏa lực ra chống đỡ. Đợt đánh nghi binh này kéo dài trong 10 ngày. Bộ Tư lệnh Mặt trận 579 sử dụng Trung đoàn công binh dùng cả xe húc và bộc phá mở đường lên biên giới, đồng thời sử dụng xe tăng, pháo binh, cao xạ đánh mạnh vào phía trước căn cứ địch. Địch sai lầm dốc hết lực lượng cả công binh lẫn hỏa lực từ phía sau Pẹt úm ra phía trước, tăng cường công sự, trận địa để đối phó với các đợt tấn công liên tục ở hướng chính diện.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 07:04:40 AM

        Trong lúc địch đang tập trung đối phó ở hướng chính diện thì đại bộ phận các đơn vị bộ đội Quân khu 5 đã bí mật chia làm 2 cánh luồn sâu vào đất Thái Lan khoảng 13 cây số. Cánh trái xuất phát trên đất Cam- pu- chia gồm các đơn vị của Sư đoàn 315. Cánh phải xuất phát trên đất Lào gồm các đơn vị của Sư đoàn 2. Các phân đội hỏa lực phải khiêng vác pháo cối bám theo đội hình hai sư đoàn.

               Sau nhiều ngày băng rừng lội suối, chịu đựng cái nóng khốc liệt trên đất Lào, dùng thang dây vượt qua dãy Đăng Rếch cheo leo trên đất Cam- pu- chia, cuối cùng hai sư đoàn cũng đến nơi quy định đúng thời gian và đã bắt liên lạc được với nhau. Lúc này đội hình hai sư đoàn cách nhau khoảng 24 cây số.

        Đúng 7 giờ sáng, ngày 4 tháng 1 năm 1985, qua máy điện đài, Nguyễn Chơn ra lệnh tấn công trên toàn Mặt trận. Ngay lập tức, các cánh quân từ khắp các hướng đồng loạt nổ súng đánh dồn về phía căn cứ địch. Ở phía sau lưng, các đơn vị thuộc Sư đoàn 315 tiến công bên cánh trái, đánh chiếm điểm cao 753. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 2 tiến công bên cánh phải, đánh chiếm điểm cao 412. Hai cánh quân từ phía sau lưng cùng lúc đánh thốc ra, ép địch vào thế lúng túng, bị động. Đây là một đòn đánh hiểm hóc mà cả Pôn Pốt, Sri-ê-ka, lẫn Thái Lan đều không ngờ tới.

        Đến cuối ngày 4, các mục tiêu đồi Không Tên, X4, X5 lần lượt rơi vào tay các chiến sĩ Sư đoàn 2.

        Trưa ngày 5 tháng 1 năm 1985, hai sư đoàn đã bắt liên lạc với nhau tại Pẹt úm. Sau đó, các cánh quân của Sư đoàn 315 tiếp tục đánh chiếm các điểm cao 694, 651, tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch ở suối Ô Chênh.

        Cùng lúc, các cánh quân của Sư đoàn 2 tiếp tục đánh chiếm điểm cao Ba số 5, tiêu diệt chỉ huy sở của sư đoàn 801 quân Pôn Pốt.

        Trong lúc các cánh quân phía sau đánh thốc vào sau lưng địch, thì các mũi tiến công phía trước vẫn tiếp tục đẩy mạnh cường độ tấn công. Các loại hỏa lực pháo cối, xe tăng, cao xạ... dội bão lửa vào căn cứ địch trong lúc các chiến sĩ đặc công, công binh phối hợp với một bộ phận Sư đoàn 307 đánh chiếm điểm cao 612, bao vây và tiêu diệt toàn bộ quân địch chốt giữ tại đây.

        Hoàn toàn bất ngờ và bị động trước các đòn tiến công dũng mãnh, quyết liệt của các sư đoàn chính quy Quân khu 5, địch co cụm về khu vực trung tâm để tổ chức chống trả, nhưng vòng vây mỗi lúc siết chặt, các cánh quân từ hai phía đánh dồn vào, đặc biệt là 2 mũi vu hồi từ phía sau lưng như 2 mũi tên bắn thủng các lớp phòng ngự, xuyên vào đầu não chỉ huy địch.

        12 giờ ngày 5 tháng 1 năm 1985, cuộc tấn công vào cứ điểm địch ở khu vực ba biên giới kết thúc thắng lợi. Phần lớn quân địch tại đây đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống.

        Căn cứ ở ngã ba biên giới - căn cứ lớn nhất của Pôn Pốt ở đông bắc Cam- pu- chia đã chính thức bị xóa tên trên bản đồ quân sự.

        Trong trận đánh này, các đơn vị của Quân khu 5 đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.173 tên địch, trong đó bắt 244 tên, thu 4.970 súng các loại, với 412 tấn đạn, 15 xe ô tô, gần 4 tấn thuốc chữa bệnh, hàng trăm tấn gạo, muối, quân trang, quân dụng. Xóa sổ một loạt căn cứ gồm căn cứ Núi Cụt của quân Sri-ê-ka, căn cứ hỗn hợp của sư đoàn 801 quân Pôn Pốt, căn cứ hậu phương của sư đoàn 920 quân Pôn Pốt, sở chỉ huy tiền phương của bộ tổng tham mưu Pôn Pốt ở Pẹt úm, vùng 105 của Trung ương tổ chức FULRO, căn cứ chỉ huy của phỉ Lào...

        Trận đánh này là một trong những trận đánh hay trên chiến trường Cam- pu- chia, được xếp vào loại kinh điển trong cuộc đời cầm quân của Nguyễn Chơn. Bằng sự mưu trí, sáng tạo, táo bạo, thần tốc cộng với một lối đánh hiểm hóc, ông đã dồn địch vào thế bất ngờ, bị động dẫn đến tan rã, cuối cùng bị tiêu diệt, làm nên một trong những chiến công hiển hách, vang dội trên chiến trường Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 07:09:30 AM
           
THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHƠN NHỮNG ĐIỀU TÔI TÂM ĐẮC

Đại tá QUÁCH TỰ HẤP                                    
(Nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt  trận 579 Quân khu 5)        

        Đầu năm 1961, tôi là Trưởng đoàn Đoàn 400 chi viện cho miền Nam vượt Trường Sơn vào địa bàn Khu 5 để hình thành Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Trong đoàn có đồng chí Nguyễn Đôn - ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 4, đồng chí Võ Thứ - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324. Khi tới A Vương (Quảng Nam) thì đoàn đi về căn cứ, tôi ở lại tìm hiểu tình hình. Nghe nói ở Ban quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng có Nguyễn Chơn - một trợ lý tác chiến rất năng nổ, xốc vác, nhưng chưa có dịp tiếp xúc. Một hôm có dịp về Ban quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng làm việc tôi mới có dịp gặp với Nguyễn Chơn. Nguyễn Chơn có tướng mạo thấp, cặp mắt kiên nghị và rất quyết đoán. Khi tôi hỏi: "Đồng chí có cần thứ gì không?". Nguyễn Chơn thưa: "Báo cáo, tôi cần súng, đạn". "Được, có ngay đây, đồng chí!", miệng nói, tay tôi xách khẩu trung liên, mấy khẩu súng trường và một số đạn giao cho. Nguyễn Chơn mắt sáng rỡ, miệng nói cảm ơn, rồi vội mang súng đi ngay. Tôi nhìn theo và thầm nghĩ đồng chí trợ lý tác chiến này có khiếu quân sự, nói năng ngắn gọn, tập trung vào vấn đề; rồi tôi đặt vấn đề để tổ chức đưa Nguyễn Chơn về Trung đoàn 1 chủ lực để có điều kiện phát triển.

        Đúng như dự định, năm 1963, khi vài đồng chí chỉ huy muốn giữ Nguyễn Chơn làm cán bộ tác chiến của Tỉnh đội, thì tôi quyết định đưa sang phụ trách tác chiến Trung đoàn 1. Hồi ấy, đồng bào dân tộc Ca Tu ở A Vương rất thích Nguyễn Chơn. Đồng bào thường sợ voi 1 ngà, cọp 1 mắt; khi nhìn Nguyễn Chơn có một bàn chân 4 ngón, khi gặp địch đánh đâu thắng đó, họ vừa nể sợ, vừa khâm phục.

        Trong trận A Trao dưới chân A Vương, Nguyễn Chơn đã biết vận dụng vũ khí thô sơ, vũ khí chất nổ đánh tiêu diệt 1 đại đội bảo an. Khi địch ở trung tâm lên tiếp viện địch đánh chiếm lại mục tiêu, thì Nguyễn Chơn lại cho bộ đội phục kích, dùng hỏa lực đánh chặn buộc địch phải dừng lại và nếu chúng tản ra là bị sa hố chông ngay.

        Các năm 1967- 1968 , khi tôi là Trưởng phòng Tác chiến Quân khu, thì Nguyễn Chơn là Sư trưởng Sư đoàn 2; khi về họp Quân khu ở tây Trà My, anh hay ghé thăm tôi. Quý người chỉ huy đánh giặc giỏi, tôi thường tự mình ra ngoài suối thả lưới bắt cá nướng mời anh cùng ăn.

        Năm 1983, anh Chơn có lệnh của cấp trên điều động về làm Tư lệnh Quân khu 5. Anh Trần Bá Khuê, người tiền nhiệm muốn bàn giao gấp. Khi làm phái viên Quân khu phụ trách nhiệm vụ quốc tế giúp bạn tại Mặt trận 579 về, tôi gặp anh Chơn báo cáo tình hình: ở Cam- pu- chia, Pôn Pốt không phải là giặc cỏ, nó thọc vô sâu địa bàn đóng quân của mình. có đường ô tô, bắc cầu cho xe cơ giới đi. Tôi xin đề nghi trước khi nhận bàn giao, anh nên sang Cam-pu-chia cùng tôi để thị sát chiến trường. Anh Chơn gật đầu, tỏ vẻ ưng ý.

        Sau khi bàn bạc thống nhất với đồng chí Nguyễn Huy Chương - Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu, anh Chơn liền qua Mặt trận 579. Khi trinh sát Quân khu được lệnh đi kiểm tra thì thấy đúng là có con đường quân sự 30 cây số mới làm giữa biên giới Cam- pu- chia và Thái Lan, có cây cầu bắc qua suối lớn, xe tăng, xe thiết giáp qua được. Rõ là Pôn Pốt không thể là quân thổ phỉ được. Quân ta quần nhau với chúng ở Ngã Ba Biên, thấy chúng có cả cao xạ và xe ô tô. Nhờ nắm chắc tình hình địch, anh Chơn đặt vấn đề đánh ngay điểm cao 547. Mặc dù có nhiều bất lợi về địa hình, về tư tưởng, nhất là về nước uống cho bộ đội nhưng nhờ có nhiều kế sách và quyết tâm san bằng điểm cao địch từng khống chế, nên trong trận đánh trên, ta giành thắng lợi lớn.

        So với Nguyễn Chơn, tôi lớn tuổi hơn, lại nhập ngũ trước, từng là chỉ huy cấp trên, nhưng anh có tài đánh giặc giỏi, chỉ huy tốt nên trưởng thành nhanh. Năm 1984, tôi là Đại tá, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 579 Quân khu 5, thì anh là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 5. Trong một buổi họp có đông đủ các thành phần, thấy Nguyễn Chơn đi vào, tôi giơ tay chào và báo cáo theo đúng điều lệnh, thì anh đưa tay khoát xuống: "Thôi, thôi ông Hấp ơi?" và đến bắt tay tôi siết chặt, anh nói "Cám ơn! Cám ơn?".

        Khi mới gặp, nhiều người chưa biết sẽ ngỡ anh là người khô khan, cục mịch, nhưng nếu được ở lâu cùng mới biết anh là người sống có tình nghĩa với đồng bào, đồng chí, đồng đội, nhất là những người từng vào sinh ra tử.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 07:12:30 AM

        Sau khi nghỉ hưu sớm, năm 1990, tôi cưỡi xe đạp .đi khắp Đông Dương, lúc ra Hà Nội, ghé vào thăm Nguyễn Chơn, lúc ấy anh là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh ân cần hỏi han sức khỏe, đời sống gia đình và mời tôi ăn cơm thân tình với các món truyền thống xứ Quảng. Tháng 5 năm 2006, tôi vào nằm chữa bệnh tim mạch và vết thương cũ tái phát ở Bệnh viện Quân y 17 một tháng. Bất ngờ, anh Chơn mặc thường phục đến thăm, ngồi nói chuyện chiến trường xưa. Biết tôi hay đi lại bằng phương tiện tự túc, nằm viện ít có người nhà đến thăm vì đi lại chi phí rất tốn kém, lần nào gặp nhau, anh cũng tình cảm rút tiền túi hỗ trợ: "Ông cầm một ít để bồi dưỡng sức khỏe tuổi già".

        Với tôi, anh Nguyễn Chơn không chỉ là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là một vị tướng với nhiều huyền thoại về tính cách, về sở trường đánh giặc, về chuyện lập gia đình... Anh là một nông dân xứ Quảng Nam - Đà Nẵng thứ thiệt khi đến với cách mạng, anh tự chặt một ngón chân để thể hiện quyết tâm tình nguyện gia nhập bộ đội. Cuộc đời của Nguyễn Chơn là cuộc đời nung nấu khát vọng tìm nhiều cách đánh hay, đánh giỏi, ít tiêu hao lực lượng, phương tiện vũ khí để tiêu diệt các loại kẻ thù, bảo vệ quê hương, làng mạc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, say mê đánh giặc, "đã đi là đến, đã đánh là thắng", không có trận thua, chỉ có thắng nhỏ, thắng vừa và thắng lớn. Hun đúc truyền thống của quê hương "vành đai diệt Mỹ", "trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ", anh là người có chí hướng cháy bỏng "không cho chúng nó thoát", quyết tâm tìm mọi cách hay nhất, hiệu quả nhất để " tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt", trả thù cho đồng đội, đồng bào, bắt kẻ thù phải đền tội ác. Có nhiều phương án, có phương châm, trong đó phương châm nắm thắt lưng địch mà đánh" bắt nguồn từ chiến trường Khu 5, từ những cách bám sát lưng địch, len lỏi vào nắm tình hình địch, "nhìn tận mắt, sờ tận tay" sâu sát trận địa, sâu sát chiến trường của anh đã trở thành bài học xương máu cho nhiều đơn vị, nhiều thế hệ chỉ huy đánh giặc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

        Về đời tư, anh cũng rất khác người anh đi qua nhiều địa phương, gặp nhiều người đẹp qua nhiều hình thức tiếp cận (tổ chức bố trí; bạn bè, đồng chí, đồng đội sắp xếp gặp gỡ mai mối; cấp trên đứng ra xe  duyên; đối tượng có nhã ý tình nguyện sẵn lòng kết tóc xe tơ...) nhưng anh vẫn vô tư, không vướng víu trong mắt một "bóng hồng" trong khi bản thân là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là sĩ quan trẻ, đánh giặc giỏi nổi tiếng cả nước. Đến khi gặp Trần Thị Lý - "gái Quảng Bình khí phách đọ Trường Sơn" cũng là nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thì trái tim vị tướng anh hùng, tuổi ngoài bốn mươi, từng chỉ huy đơn vị Sư đoàn 2 hai lần anh hùng, mới rung lên nhịp đập thương yêu thật sự.

        Nguyễn Chơn là người lính thực thụ, trưởng thành từ cơ sở lên, từ chiến sĩ Vệ quốc đoàn lên các cấp theo thứ bậc từ Tiểu đội trưởng đến Sư đoàn trưởng, Tư lệnh Quân đoàn, Tư lệnh Quân khu, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, qua các chiến trường Đông Dương, từ chống Pháp, chống Mỹ đến chống các quân xâm lược, từ giải phóng dân tộc đến bảo vệ Tổ quốc. Về thực tế, một cán bộ trưởng thành như thế rất hiếm.

        Nguyễn Chơn còn là người chỉ huy luôn phòng ngừa địch, nắm sát sườn địch và đặc biệt là tư tưởng xuyên suốt không sợ địch, đánh để tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Ở trận Nông Sơn, anh chỉ huy đánh 1 tiểu đoàn biệt động quân ngụy, địch tăng cường thêm 1 tiểu đoàn biệt động nữa. Tình huống có vẻ bất lợi vì không ngang sức. Có người trong Ban chỉ huy lo sốt vó, thậm chí muốn rút lui để bảo toàn lực lượng, nhưng anh bình tĩnh, lạc quan theo kiểu "mía ngon, đánh cả cụm" và với sự bài binh bố trận tài giỏi của mình, trận này, đơn vị của anh Chơn thắng đậm.

        Nguyễn Chơn là người chỉ huy táo bạo, quyết đoán, càng trong gian nan, thử thách, có lúc ngặt nghèo, ngỡ không có đường ra, thì nảy sinh nhiều cách nhìn mới mẻ, sáng suốt, cách nghĩ linh hoạt, thông minh phù hợp với thực tế trận đánh. Khi chỉ huy đánh điểm cao 547, các đơn vị sợ nhất là thiếu nước. Mùa khô chiến trường Cam- pu- chia rất khắc nghiệt: rừng cháy, nước cạn. Muốn lấy nước, gần nhất phải đi lấy nước cách 30 cây số. Do đó, anh đã huy động mọi nguồn lực để có nguồn nước dồi dào, giải quyết triệt để tư tưởng "chết vì khát nước". Tôi nhớ, anh chỉ đạo cho ngành hậu cần Mặt trận về bên Quân khu 5 huy  động các thùng chứa. Còn ở tại chỗ, anh chỉ đạo vận chuyển 50 thuyền nhôm lên, đào sâu đất dưới chân điểm cao, đưa xe tải chở nước từ xã Em (xa mấy chục cây sô) đổ vào hồ chứa 250 khối nước. Nước lúc này có giá trị như đạn, mỗi tiểu đội, cử hẳn một chiến sĩ mang nước, mỗi người đều có một ruột nghé bọc ni- lông chứa nước. Trận đánh điểm cao 547 thắng lợi lớn, do anh chỉ huy, trong đó có "sách lược" huy động nước, chứa nước nhạy bén, tài tình, giải quyết tư tưởng "sợ chết do thiếu nước" của bộ đội.

LÊ ANH DŨNG ghi         


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:59:24 AM
     
ĐÔNG BẮC CAM-PU-CHIA NHỮNG NĂM ẤY

Đại tá NGUYỄN ĐÌNH NGẬT        

        Tôi còn nhớ, sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 1975, Sư đoàn 2 về đứng chân ở Tuần Dưỡng để làm nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia nạo vét sông Bà Rén khôi phục tuyến đường sắt Bắc - Nam, xây dựng doanh trại, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện. Giữa năm 1977, anh Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng được cử đi học ở Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) sau đó về nhận công tác ở Quân đoàn 2.

        Sau 6 năm xa Quân khu, đến cuối năm 1983 anh mới được trở lại với cương vị Tư lệnh Quân khu, thay đồng chí Trung tướng Đoàn Khuê làm Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Mặt trận 719.

        Địa bàn Quân khu không phải lạ, các đơn vị trong Quân khu anh quá quen, song vấn đề lớn nhất là nhiệm vụ giúp bạn ở Đông Bắc Cam- pu- chia, đặt trên vai anh một gánh nặng.

        Có lẽ chính vì vậy, nên sau khi bàn giao công tác xong, trước Tết Giáp Tý (1983), anh dẫn đoàn cán bộ các cơ quan Quân khu và cả Sư đoàn 2, đi nghiên cứu chiến trường chuẩn bị cho chiến dịch mùa khô 1983- 1984 ở Đông Bắc Cam- pu- chia.

        Khi về làm Tư lệnh Quân khu, anh Chơn đi chuẩn bị chiến trường và trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch. Lúc này Sư đoàn 2 do đồng chí Trương Hồng Anh làm Sư trưởng - người chiến sĩ trinh sát cho anh Chơn hồi những năm anh làm Tiểu đoàn trưởng, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Ba Gia, còn tôi là Phó sư đoàn trưởng chính trị (cơ chế lúc này không gọi là Chính ủy). Cả hai anh em tôi và toàn Sư đoàn lúc đó có một cái gì đó tạo sự phấn khởi và niềm tin rất lớn. Trương Hồng Anh ôm tôi vui vẻ tình cảm nói: "Sư đoàn ta có thời cơ lập công rồi!'. Tôi cũng rất đỗi vui mừng có một Sư đoàn trưởng trẻ trung sôi nổi. Kéo Trương Hồng Anh vào ngồi ghế, tôi nói luôn: "Anh Chơn về với Sư đoàn mình, thì có gì mà phải nói nữa. Khuôn nào, thì nồi đó. Hễ nhấc máy điện thoại lên, chưa a lô cũng đã hiểu nhau và tin nhau rồi, có điều này tôi suy nghĩ và đã kết luận được". Trương Hồng Anh hỏi ngay: "Anh nói điều gì?". Tôi chậm rãi nói: "Tư lệnh Quân khu trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch ở Quân khu 5 đã là phong cách chỉ huy của Tư lệnh Quân khu qua các thời kỳ đã tạo truyền thống tốt đẹp cho chúng ta, anh Nguyễn Chánh trong chống Pháp, anh Chu Huy Mân trong chống Mỹ, anh Đoàn Khuê đầu năm 1979, bây giờ anh Nguyễn Chơn, chân ướt chân ráo mới nhận chức Tư lệnh Quân khu là nhảy lên chiến trường trực tiếp làm tư lệnh chiến dịch mùa khô 1983- 1984". Trương Hồng Anh ôm chặt tôi cười sang sảng: "Chính ủy đi mấy đường cơ bổn sâu sắc quá".

        Vì lo nhiệm vụ Tư lệnh chiến dịch, nên anh Chơn chưa có dịp đến thăm Sư đoàn, nhất là Trung đoàn 1 (Ba Gia) nơi anh có nhiều kỷ niệm trong cuộc đời binh nghiệp. Hôm anh đi nghiên cứu chiến trường về, ghé qua Sư đoàn bộ rồi đi ngay.

        Sau 5 năm giúp bạn, lần này Quân khu có quyết tâm lớn, tập trung lực lượng mở chiến dịch C84. Sau một thời gian chuẩn bị, ăn Tết cổ truyền xong, ngày 9 tháng 2 năm 1984, Sư đoàn lên đường hành quân chiến dịch. Qua 4 ngày vượt nhiều rừng khộp, nắng đốt cháy da, toàn bộ đội hình đã đến xã Em, đến đây bộ đội khẩn trương chuẩn bị vị trí tạm dừng, cán bộ Sư đoàn đi nhận nhiệm vụ ở cấp trên.

        Lần đầu tiên ở Đông Bắc Cam-pu-chia, ta mở chiến dịch lớn để tiêu diệt căn cứ 547 của 2 sư đoàn 612 - 616 quân Pôn Pốt, nằm trên tuyến biên giới Thái Lan - Cam-pu-chia, phá tan cửa khẩu 1003, cắt đứt đường tiếp tế của chúng từ Thái Lan về nội địa. Tôi nhớ mãi một kỷ niệm về anh Nguyễn Chơn, đó là hôm làm công tác tổ chức giao nhiệm vụ thông qua phương án chiến dịch với Bộ Tư lệnh MT719 tại xã Em, cơ quan tham mưu đắp sa bàn rất đẹp, rộng chừng 40m2 sắp các mũi tiến công của ta, mũi tên nào cũng rất sắc nét. Thành phần tham dự đầy đủ. Bộ Tư lệnh Mặt trận 719 có đồng chí Đoàn Khuê - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng và cơ quan tham mưu, chính trị dự. Anh Nguyễn Chơn - Tư lệnh Quân khu, trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch, trình bày phương án chiến dịch - tay phải cầm cây chỉ trên sa bàn, tay trái cầm tập văn kiện. dày, nhưng hình như anh không xem tài liệu mà cứ nói chắc nịch mạch lạc từ đầu chí cuối từ tình hình nhiệm vụ chung, đến nhiệm vụ của Sư đoàn 307, Sư đoàn 2 và các binh chủng, đâu vào đó.

        Chưa thảo luận nhưng ai nấy đều thấy phương án chiến dịch thể hiện rất rõ tư tưởng quân sự của Đảng, nghệ thuật chiến dịch cao. Thế của chiến dịch rất vững chắc, nhất là có mũi vu hồi sâu phía sau tạo thành thế bao vây khép kín. Vấn đề này cũng dễ hiểu, vì ai cũng biết anh Chơn: Vu hồi, thọc sâu, bao vây, đón lõng, lật cánh, nới vây bao giờ cũng dùng nhiều đòn hiểm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 12:03:11 PM

        Sau đó, đồng chí Đoàn Khuê - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 719 đi quanh nửa vòng sa bàn, cúi xuống nhẹ nhàng nhặt lấy mũi tên cánh quân vu hồi qua đất Thái Lan, rồi về lại chỗ cũ, vui vẻ nói: "Vốn là vấn đề nhạy cảm của chính trị, ta hãy bàn cách khác, chứ không nên có mũi tên này sang đất Thái Lan". Nói xong, đồng chí ngồi xuống và bỏ mũi tên ấy trước mặt mình.

        Lúc này, mọi cán bộ đều nhìn anh Chơn, vừa xem thái độ vừa chờ ý kiến xử lý. Suy nghĩ một phút, anh Chơn phát biểu: "Đây là lệnh cấp trên, ta nghiêm túc chấp hành, nhưng không thể thiếu mũi vu hồi, Trung đoàn 94 vẫn vòng phía sau, đi sát vào biên giới Thái Lan - Cam- pu- chia, bảo đảm cắt đứt phía sau không cho địch chạy thoát". Ai nấy đều nhất trí với phương án của anh Chơn. Khi làm công tác giao nhiệm vụ xong, đồng chí Nguyễn Tấn (Tấn Re) - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 94 bắt tay anh Chơn phát biểu: "Báo cáo Tư lệnh, Trung đoàn 94 của tôi không hoàn thành nhiệm vụ vu hồi, thì tôi không về nữa". Mọi người ồ lên cười nói đùa: "Tấn Re không về thì Tấn Re" ở lại, còn anh Chơn thì nắm chặt tay Tấn với lòng tin tưởng.

        Sau khi làm công tác giao nhiệm vụ xong anh Chơn nói với tôi và Trương Hồng Anh: "Chiến dịch này, anh Nguyễn Hữu Quang - Sư đoàn trưởng, anh Nguyễn Nghĩa - Phó sư đoàn trưởng Chính trị Sư đoàn 315 cùng đi với Sư đoàn 2". Đối với hai anh em chúng tôi, anh cũng nói rõ luôn: "Chiến dịch sau, Sư đoàn 315 đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu ở khu vực Ngã Ba Biên (Thái Lan - Cam- pu- chia - Lào) nên chiến dịch này đi với Sư đoàn 2 để rút kinh nghiệm thực tế về công tác chỉ huy lãnh đạo và các mặt bảo đảm".

        Tối đến, anh em tôi trao đổi với nhau, xác định rõ mình phải làm sao có kinh nghiệm tốt và mặt khác phải tranh thủ ý kiến của các anh Sư đoàn 315. Rồi tôi và Trương Hồng Anh càng hiểu anh Chơn hơn, đây là một cách bồi dưỡng cán bộ của anh vì anh là người luôn luôn tâm huyết với thắng lợi của chiến trường, như những năm chống Mỹ, chưa đánh xong trận này, đã lo cho chiến thắng trận sau.

        Khi nhận nhiệm vụ ở Mặt trận về, Đảng ủy Sư đoàn họp xác định lại quyết tâm, sau đó tổ chức giao nhiệm vụ cho các đơn vị trên sa bàn. Chiến dịch này, Sư đoàn 2 được tăng cường Trung đoàn 143 do anh Nguyễn Văn Điệu làm Trung đoàn trưởng và Tiểu đoàn 3 tăng - thiết giáp do đồng chí Nguyễn Trọng Đồng chỉ huy, nhưng với nhiệm vụ quan trọng nên đồng chí Phạm Viết Thường - Trung đoàn trưởng 574 cũng đi theo.

        Không những vì nhiệm vụ của Sư đoàn rất nặng, đảm nhận nhiệm vụ tấn công hướng nam tiêu diệt hai sư đoàn 612 và 616 của quân Pôn Pốt và một mũi bao vây, đón lõng hướng tây nam. Là người đã gắn bó với Sư đoàn từ khi mới thành lập cho đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nên anh Chơn thường xuyên đi sát giúp đỡ. Tôi còn nhớ trong buổi giao nhiệm vụ cho các đơn vị, anh Chơn đã phát biểu những vấn đề quan trọng, kết thúc cuộc họp cũng là buổi sinh hoạt chính trị, Sư đoàn phát động phong trào thi đua "Quyết chiến thắng quân Pôn Pốt, bảo đảm hiệu quả chiến dịch cao". Tôi đọc thư kêu gọi của Thường vụ Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu gửi cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch C84, do anh Chơn ký. Khi đọc đến câu "Thay mặt Thường vụ Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu, 4 chữ sau tôi đọc thật to: "Thiếu tướng Nguyễn Chơn", tất cả vỗ tay rầm rộ, khí thế sôi nổi, ai nấy đều reo cười. Sau này, đồng chí Nguyễn Văn Điệu gặp tôi ở đâu, cũng vui vẻ nói: Cả Quân khu này chỉ có anh Ngật mới dám "hét" tên anh Chơn to như thế.

        Đáng lẽ sau khi làm công tác tổ chức giao nhiệm vụ, là bước vào chiến đấu, nhưng lại có vấn đề nhạy cảm chính trị, ngoại giao nên có lệnh phải chờ.

        Được lệnh này, một số cán bộ tưởng có dịp nghỉ ngơi, song anh Chơn nhận thấy đây là thời cơ huấn luyện bộ đội bồi dưỡng cán bộ - một vấn đề quan trọng mà anh Chơn đã có kinh nghiệm từ sau Ba Gia - Vạn Tường (1965), sau Đường 9 - Nam Lào (1971) và nhất là sau khi có phương án tác chiến nên anh Chơn chỉ đạo các đơn vị tranh thủ huấn luyện bộ đội đạt 3 yêu cầu:

        - Trước hết cấp ủy, cán bộ có quyết tâm huấn luyện cao, coi đây là thể hiện quyết tâm chiến đấu.

        - Huấn luyện sát với phương án tác chiến của đơn vị.

        - Huấn luyện tại chiến trường nên phải có phương pháp tốt huấn luyện cả cán bộ và chiến sĩ khắc phục được những mặt yếu cả kỹ thuật và chiến thuật.

        Bởi vậy, Sư đoàn tôi phải cử đồng chí Trần Hùng - Tham mưu trưởng Sư đoàn (sau này là Thiếu tướng - Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng) về nước lấy một số phương tiện, học cụ sang cho bộ đội học tập.

        Đi đôi với khẩn trương huấn luyện là vấn đề chuẩn bị phương tiện đựng nước uống cho bộ đội. Rút kinh nghiệm các năm trước, trong chiến dịch này, anh Chơn chỉ đạo rất cụ thể và chu đáo. Sư đoàn tôi ngoài việc đã được bổ sung hàng nghìn bi đông loại 5 lít, hàng trăm chiếc can loại 20 lít cho bộ đội mang theo người, còn có lực lượng tiếp nước bằng các thùng 20 lít, 4m3, phuy 100 lít, 200 lít, téc cao su, khoang thuyền nhôm 3m3. sư đoàn tôi Cử đồng chí Đỗ Quang Dự - Phó chủ nhiệm Hậu cần (sau này là Đại tá, Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu) trực tiếp chỉ huy bộ phận này. Khi đoàn xe vượt qua khu vực Cam Tuất bị quân Pôn Pốt đánh mìn, đồng chí Dự cũng bị thương nhẹ. Chiến đấu ở Cam- pu- chia, bộ đội ta đã rõ đối tượng quân Pôn Pốt, nhưng do địa hình khắc nghiệt, nên chỉ sợ mìn và rất sợ khát nước. Có sự chuẩn bị chu đáo như vậy, nên giới cán bộ chính trị đã nói với nhau: "Tư tưởng sợ khát nước của bộ đội đã được anh Chơn giải quyết thông suốt rồi?".


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 12:07:17 PM

        Qua bao ngày chờ đợi, nay có lệnh tấn công, sáng 22 tháng 3 năm 1984, Sư đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa. Vừa đường xa, vừa khó đi, sau 2 ngày hành quân mới đến nơi quy định. Tối 24 tháng 3, bộ binh và các binh chủng vào chiếm lĩnh trận địa, các mũi, các hướng đều thuận lợi, riêng Tiểu đoàn tăng - thiết giáp đến 2 giờ ngày 25 tháng 3 chưa tiến vào được, vì sợ lộ nên khi chuẩn bị đường cho xe tăng ta cưa cây, nhưng chưa hạ ngã, nay cưa tiếp phần còn lại và có chỗ đường hẹp phải mở rộng cho xe tăng qua lọt, lúc này anh Chơn cứ điện hỏi, có bảo đảm xe tăng vào đúng giờ không, Sư đoàn chúng tôi hiểu Tư lệnh Quân khu rất quan tâm đường cơ động của xe tăng, vì làm sao quên được chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh (1972) khi anh Chơn là Sư đoàn trưởng, anh đã phát hiện đường bí mật cơ động xe tăng phía bắc đồn Plei- cần 5km bộ đội đã khắc phục khó khăn làm con đường dài 50km, lấy tên là đường 50K đưa tăng pháo vào hướng bất ngờ lợi hại, nên lần đầu tiên trên chiến trường ta đã diệt sư đoàn (thiếu) 22 ngụy, sư đoàn trưởng Lê Đình Đạt cùng một số sĩ quan tham mưu chết tại trận, sư đoàn phó Vi Văn Bình - cùng một số sĩ quan tham mưu sư đoàn bị bắt. Với quyết tâm giành thắng lợi cao, anh em công binh khắc phục mọi trở ngại, đã bảo đảm thông đường. 4 giờ, các xe tăng, xe bọc thép vào vị trí, toàn đội hình Sư đoàn hoàn thành chiếm lĩnh trận địa đúng theo mệnh lệnh.

        Trời sáng hẳn, Sư đoàn 307 nổ súng trước, hình thành thế bao vây chia cắt chiến dịch. 7 giờ, Sư đoàn 2 nổ súng tiến công. Qua 2 ngày chiến đấu, ta tiêu diệt hoàn toàn căn cứ 547. Đây là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược quan trọng, không những tiêu diệt sinh lực địch, thu toàn bộ vũ khí. Đây cũng là lần đầu tiên ta tiêu diệt căn cứ cửa khẩu nằm sát biên giới Thái Lan, làm chúng mất bàn đạp từ nước ngoài qua biên giới về nội địa hoạt động.

        Qua chiến dịch này, thêm một việc nữa làm tôi càng hiểu thêm anh Chơn. Đó là ngày 28 tháng 3 năm 1984, đồng chí Trương Hồng Anh, theo lệnh Mặt trận đi khảo sát chiến trường để làm phương án tác chiến tại chỗ. Khi trên đường về đơn vị, chiến xe GMC bị mìn địch, đồng chí Trương Hồng Anh bị thương. Được tin này, anh Chơn điện ngay cho tiền phương Bộ Quốc phòng xin máy bay lên thẳng từ Tân Sơn Nhất lên đưa đồng chí Trương Hồng Anh về Viện Quân y 15 ở Plei- cu điều trị. Sáng 29 tháng 3, máy bay lên thẳng đến, nhưng không xuống được bãi đáp, Sư đoàn báo cáo lên, anh động viên cố gắng đợi ngày mai. Nghe tiếng anh trong máy điện thoại, tôi nhận rõ sự quan tâm của anh với Trương Hồng Anh - một cậu bé 17 tuổi ở mảnh đất Bình Sơn đã có hơn 10 năm chiến đấu dưới sự dìu dắt của anh. Nên khi tổng kết chiến dịch, anh Lê An - Sư đoàn trưởng báo cáo kết quả tác chiến của Sư đoàn 307 xong, đến lượt tôi lên báo cáo kết quả của Sư đoàn 2, nhìn thấy tôi làm anh càng nhớ đến Trương Hồng Anh.

        Tiếp theo chiến dịch C84 là chiến dịch Ngã Ba Biên mùa khô 1984- 1985 mà anh đã chuẩn bị sẵn. Chiến dịch này ta đánh chiếm các căn cứ Pẹt úm, Pha- non Kan Tung, núi Cụt, tiêu diệt các sư đoàn 612, 980, 801, căn cứ hậu phương Sư đoàn 920, tiền phương Bộ tổng tham mưu quân Pôn Pốt, Trung ương FULRO và 1 bộ phận phỉ Lào, loại khỏi vòng chiến 1.294 tên địch, bắt 168 tên, thu 4.566 súng các loại. Các căn cứ địch trên tuyến biên giới Thái Lan - Cam- pu- chia trong phạm vi Quân khu ta phụ trách, bị quét sạch, cắt đứt hành lang vận chuyển bên ngoài vào nội địa. Bạn hình thành tuyến phòng thủ liên hoàn trên biên giới phía Đông Bắc. Mùa khô năm 1985- 1986, lực lượng và bạn mở chiến dịch truy quét nội địa, diệt các căn cứ lõm La Lay - Rừng Xanh, hậu cứ sư đoàn 920, hậu cứ vùng 105, làm cho lực lượng cách mạng của bạn ở Đông Bắc Cam- pu- chia chuyển sang thế và lực mới.

        Đến đây, nhiệm vụ giúp bạn ở Đông Bắc Cam- pu- chia có phần nhẹ hơn. Đồng chí Trung tướng Nguyễn Chơn có quyết định ra Bộ nhận nhiệm vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng, còn tôi chuyển về công tác ở Văn phòng Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu. Sáng ngày 28 tháng 7 năm 1987, trong buổi họp để bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh có đủ các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu và thủ trưởng các cục, tôi ghi rất kỹ và nhớ rất rõ, anh Chơn báo cáo các mặt rất cụ thể, từ phương án phòng thủ, xây dựng lực lượng, công tác đảng, công tác chính trị, hậu cần, kinh tế, tài chính. Cuối cùng anh nói: "Đề nghị thống nhất bắt đầu từ ngày 6 tháng 8 năm 1987, đồng chí Phan Hoan chính thức làm việc với cương vị Tư lệnh Quân khu, với giọng nói chân thật, tình cảm như không muốn xa Quân khu 5, nơi mà đời lính của anh đã gắn bó với miền đất này từ ngày đầu chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 12:56:28 PM

NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC VỚI VỊ TƯỚNG ANH HÙNG NGUYỄN CHƠN

NGUYỄN THÀNH                             
Nguyên Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy               
Chủ tịch Hội đồng nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng       

        Năm 1965, tôi là Bí thư Huyện ủy huyện Tiên Phước gặp Nguyễn Chơn lần đầu tiên ở thôn 1, xã Tiên Lộc khi anh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90 ở Công trường 1 thuộc H21. Đây là vùng giải phóng, bộ đội đóng trong dân, được dân nuôi như con em mình. Hồi ấy, anh khoảng 35 tuổi, mặt mũi sáng sủa, cái nhìn thẳng thắn, cương nghị. Với bộ bà ba đen, mang khẩu súng ngắn, gậy cầm tay, ba lô sau lưng; là lính chính quy nhưng anh rất dễ gần với cán bộ địa phương. Với tác phong nhanh, gọn, cởi mở, hài hòa, chúng tôi làm việc rất ăn ý với nhau trong bàn bạc và thống nhất các phương án chiến đấu giải phóng tiếp một số xã thuộc huyện Tiên Phước như Tiên Phong, Tiên Thọ và một số thôn của Tiên Cảnh.

        Anh có tác phong sâu sát, gắn chặt với phong trào địa phương, nắm bắt tình hình tư tưởng, diễn  biến của địch, nắm chắc từng hàng rào, lô cốt, nơi bố trí lực lượng, vũ khí của địch, thậm chí sử dụng cả  cơ sở bên trong đi chuẩn bị chiến trường, nên trong chiến dịch đó, chúng tôi hoàn thành tốt các phương án đề ra, vùng giải phóng tiếp tục được rộng mở, thế và lực ngày càng nống ép sang cả quận lỵ Tiên Phước.

        Lần thứ hai, vào năm 1969, tôi là ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam phụ trách Trưởng ban đấu tranh chính trị và binh vận gặp anh Nguyễn Chơn - Tham mưu trưởng Trung đoàn 1 ở xã Tiên Thọ. Lúc đó chúng tôi chuẩn bị chiến dịch Xuân - Hè đánh khu vực phía bắc và phía tây Tam Kỳ. Hồi ấy một tiểu đoàn lính Mỹ đã vào Chu Lai, đóng quân ở Gò Gai thuộc Phước Hiệp. Hỏa lực của địch mạnh, nhưng bằng các tính toán, phán đoán và quyết định mạnh mẽ, kịp thời của anh, chiến dịch này, quân ta thắng lớn. Vì chỉ huy quá xông xáo, khi xáp trận, anh bị thương phải băng bó ở đầu. Họp mặt vui mừng thắng lợi ở thôn 9 xã Tiên Thọ, anh còn nói đùa: "Bọn địch, nghĩ cũng tội thiệt, hắn bắn, mà chừa cái mỏ ác ra, nên mình chỉ bị sơ sơ, "cái gáo" của mình ngó rứa mà cứng dữ đó nghe, không bể, vẫn còn ăn cơm, húp cháo được?".

        Lần thứ ba, vào năm 1972, tôi gặp lại anh Chơn khi anh là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, chuẩn bị đánh Cấm Dơi. Là lãnh đạo cơ quan dân chính, cùng đi chiến dịch với Sư đoàn 2, tôi có nhiệm vụ chỉ huy, đôn đốc lo hậu cần cung cấp nuôi dưỡng bộ đội về mọi mặt, nhất là gạo, muối. Sư đoàn 2 lúc ấy đóng ở địa bàn Quế Sơn, phụ trách cả khu chiến phía tây Quế Sơn. Trước khi mở chiến dịch, tôi cũng được họp trong Ban chỉ huy tiền phương. Chuẩn bị chiến trường, tôi và anh Hoàng - Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn, cùng anh Chơn đi hướng Huyện ủy Quế Sơn, kiểm tra chiến trường ở Cấm Dơi. Còn các anh Thạch - Sư đoàn trưởng, anh Đạo - Chính ủy cùng một vài chỉ huy Trung đoàn đi kiểm tra ở Động Mông - Đá Hàm. Khi tập trung lại ở một hòn núi cao, họ bị địch phát hiện cho một đoàn mấy chiếc trực thăng đến chà qua, xát lại; lực lượng yếu mất thế, các anh ấy hy sinh hết. Thật đau đớn vì gần như ta hy sinh toàn bộ đầu não chỉ huy Sư  đoàn. Tuy thế, chiến dịch đánh vào Cấm Dơi vẫn không bị lộ. Biến đau thương thành hành động cách mạng, anh Mão - Sư đoàn phó cùng anh Chơn chủ trì tập hợp củng cố lực lượng, quyết bám trụ, tiếp tục đánh Cấm Dơi, chứ không bỏ chiến trường.

               Nhiều lần, tôi và anh Chơn phối hợp công tác, hoặc hội họp, ăn, nghỉ gần nhau. Tính anh ăn uống đơn giản, không đòi hỏi cầu kỳ. Đặc biệt, anh là người có tay "sát cá',, hễ nơi nào có suối, anh cầm tay lưới, hoặc cần câu, thì y như rằng có cá để ăn và mời khách. Đu đưa trên cánh võng ở rừng, kể lại nhiều trận chết hụt, anh Chơn lại đùa: "Hình như bom đạn nó sợ, nên chừa bọn mình ra. Nhờ đồng bào che chở, hương hồn đồng chí, đồng đội phù hộ, nên cái số bọn mình hên, có khi bỏ vào cối giã, cũng không chết!".

        Về anh Nguyễn Chơn, còn biết bao điều chưa khám phá hết, ngẫm nghĩ, tôi thấy, anh Chơn là ông tướng nông dân, xuất thân từ nông dân mà ra và trở thành người chỉ huy trăm trận, trăm thắng. Anh là người chỉ huy gần gũi, sâu sát thân tình với anh em; chỉ huy với lính không phân biệt, cùng ăn, cùng ở chan hòa, gian khổ, sống chết có nhau. Với địa phương, anh chú trọng khâu đoàn kết quân dân, rất nghiêm khắc trong kỷ luật bộ đội, chú ý học hỏi, lắng nghe ý kiến địa phương về thời tiết, đất đai, sông núi, về đặc điểm tình hình từng loại địch, đồn bót, vũ khí, trang bị địch của địch.

        Khi đánh giặc, anh sâu sát chiến trường, trận địa, cùng bò với trinh sát để sờ tận tay, day tận trán địch. Phối hợp với địa phương chúng tôi, anh thường hỏi rất kỹ về địa hình, địa thế, chốt điểm. Anh không nghe cấp dưới báo cáo lại để ngồi duyệt phương án, mà trực tiếp đi kiểm tra thực tế để thực thi phương án; không chỉ huy trên sa bàn, mà chỉ huy ngay trận địa. Anh còn là người chỉ huy toàn tâm, toàn ý, tiếc xương máu chiến sĩ, nên công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị trận đánh rất kỹ lưỡng, chặt chẽ. Nhờ vậy, chiến dịch nào, trận đánh nào anh chỉ huy, cũng đều chiến thắng, nói chính xác hơn là tất thắng.

        Với phụ nữ, anh là người đứng đắn, đứng đắn đến nghiêm khắc. Lúc thân tình tôi hỏi, anh chỉ cười cười, rồi nói: "Thôi đi ông Thành ơi! Vợ con chi cho mệt cái thân, để đầu óc thảnh thơi mà nghĩ cách đánh thằng giặc. Thắng giặc xong rồi, tha hồ mà lo chuyện vợ con. Trễ nãi chi!".

ANH LÊ ghi       


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 01:02:22 PM

VỚI TRUNG ĐOÀN NGÀY ẤY...

Nhà văn ANH THI       

        Ngày đầu làm quen với bộ quân phục màu xanh, làm quen với đồng đội, làm quen với đội ngũ chỉnh tề của Trung đội vệ binh trong cơ quan Trung đoàn bộ; rồi tiếp đến lại làm quen với các cấp lãnh đạo, chỉ huy tác chiến cao nhất của ba cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và các cán bộ của Ban Tham mưu Trung đoàn, ký ức về màu phượng vĩ rực thắm trong tôi lại lan tỏa và góc trời tự nhiên của tuổi học trò phải nhường chỗ để bắt đầu với những kỷ niệm dồn dập của màu xanh áo lính.

        Núi rừng lại bắt đầu ủ ấm, nhen nhóm ở tâm hồn tuổi trẻ của tôi bằng âm vang lời ca "Giải phóng miền Nam" đầy xúc cảm, rộn ràng và thúc giục, nâng bổng tâm hồn tôi lên theo với giai điệu ngân vang và lâng lâng theo sóng lá của Trường Sơn được tạo ra từ những cơn gió của đại ngàn vô tận.

        Ngày đầu làm lính, mà lại là làm một anh lính vệ binh của Trung đội bảo vệ Trung đoàn bộ Trung đoàn Ba Gia, tôi có biết bao bỡ ngỡ, huống chi lại kèm theo những nhiệm vụ: đào công sự cho chỉ huy sở, đốn cây, chặt lá làm lán trại, che mái hầm... rồi lại gác xách ngày đêm, thay nhau bảo vệ cho bộ não chỉ huy của Trung đoàn được an toàn và bảo mật an ninh chặt chẽ cho các thủ trưởng họp bàn phương án tác chiến. Nhất là lúc các thủ trưởng và Ban Tham mưu lên sa bàn để chuẩn bị cho những trận tác chiến tiếp theo.

        Chuyện không đáng nói, nếu như những kỷ niệm của tôi với Trung đoàn bộ không có liên quan đến chữ "tâm" của vị chỉ huy, lãnh đạo cao nhất về quân sự là Trung tá Nguyễn Chơn và một số cán bộ tác chiến của Ban Tham mưu Trung đoàn bộ Trung đoàn Ba Gia lúc bấy giờ (1966).

        Sau những ngày chiến đấu và chiến thắng lớn vang dội với những địa danh Ba Gia, Vạn Tường, Đồng Dương, Vinh Huy, toàn đội hình Trung đoàn hành quân về hậu cứ, trên vùng rừng núi Ba Tơ - Quảng Ngãi để chỉnh huấn, chỉnh quân, chuẩn bị cho những chiến dịch khác tiếp theo.

        Giữa Trường Sơn, những cơn mưa rừng ào ào trút xuống xối xả... Tiếng thác nước ầm ầm dội vào vách đá đầy cuồng loạn của những cơn thủy quái tranh nhau cuồn cuộn, băng băng tràn về xuôi như một cuộc hành quân thần tốc của thiên nhiên đầy bí ẩn...

        Trong hỗn âm của những tiếng vặn mình từ những thân cây còn tươi, tiếng ngã đổ của những thân gỗ mục và gãy tiếng va đập của những cành cây, ngọn lá từ thân cổ thụ của rừng già, xen lẫn tiếng rít liên hồi của từng luồng gió đại ngàn nguyên thủy.

        Hôm ấy, nhận lệnh từ Trung đội trưởng vệ binh - Trần Đôi, chúng tôi gồm Tiểu đội trưởng Trần Văn Lịch, tôi và chiến sĩ Lê Văn Quả nhận nhiệm vụ đắp "sa bàn", theo sự chỉ đạo của các ban Tác chiến, Tham mưu Trung đoàn, do Trung úy Trần Như Tiếp chỉ đạo trực tiếp...

        Qua mấy ngày cặm cụi làm việc, đắp sa bàn ở từng chi tiết, tất cả tâm lực của người chỉ đạo và ba anh em vệ binh đã dồn hết vào "tác phẩm" mới mà "nguồn cảm hứng" do Trung đoàn trưởng Nguyễn Chơn cùng Ban Tham mưu và Trưởng ban Tác chiến Trần Như Tiếp cùng các chiến sĩ trinh sát đi thực địa, khảo sát chiến trường, mang về...

        Mọi việc đã diễn ra xuôi chèo mát mái và tưởng như kết quả đã hoàn toàn mỹ mãn, tưởng được nhận phần thưởng ngợi khen từ các cấp của cơ quan tham mưu. Không ngờ...!!!

        Vâng, đó là sự việc không ngờ bởi cái công việc ấy chưa hề quen thuộc đối với tôi - một người lính vẫn còn giữ nguyên màu mực, màu phấn, màu phượng vĩ và tiếng ve sầu để bắt đầu làm quen với công việc người lính. Sau khi về lán trại, nằm nghỉ trên võng, bỗng nghe tiếng gọi giật giọng và tiếng nói đầy giận dữ của Trung đội trưởng Trần Đôi:

        - Đồng chí Lịch, đồng chí Chữ! Hai đồng chí đảng viên cùng chiến sĩ của mình đã thực hiện nhiệm vụ tôi giao như thế nào, mà để tôi phải bị khiển trách trước thủ trưởng?

        Lúc đó, Trần Văn Lịch, do lớn ngang bằng tuổi Trần Đôi, nên có tiếng căng thẳng qua lại. Còn tôi, một tân binh gần như mới và cũng tuổi em út, nên đứng "trồng cây chuối" chịu trận lôi đình tỏ ý nhận lỗi của mình qua sự chẳng "khéo tay" để "bay" kỹ thuật đắp "sa bàn" chưa hề tiếp xúc đó...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 02:07:40 AM

        Trong lúc Trung đội trưởng Trần Đôi quá giận dữ, to tiếng, còn Trần Văn Lịch bướng bỉnh cãi lại, thì Trung đoàn trưởng Nguyễn Chơn đi ngang qua, dừng lại nghe, lên tiếng:

        - Đồng chí Đôi! Anh em có sai sót gì, thì ôn tồn chỉ bảo để họ biết mà rút kinh nghiệm. Đồng chí nóng nảy mạt sát chiến sĩ như thế, có đúng không? - Ngừng một lúc, nhìn vào người Trung đội trưởng chỉ huy trực tiếp của tôi, ông hạ giọng ôn tồn như khuyên nhủ:

        - Với cấp dưới, với chiến sĩ, đừng nên dùng cái quyền của người chỉ huy để lên gân cổ. Đồng chí hãy dùng lời nhẹ nhàng, êm thấm và thân tình như một người anh trong gia đình để xử sự thì có tốt hay không?

        Ông nhấn mạnh thêm:

        - Mà bản thân đồng chí phải xem lại mình đi? Cái sai sót về kỹ thuật này có liên quan đến đồng chí  không đấy? Trong lúc cấp dưới về báo cáo làm xong, đồng chí có đi kiểm tra lại chưa? Nếu chưa, thì đồng chí tự kiểm điểm lại mình đã? Lớn đầu, cao tuổi, kể cả thời gian trong quân ngũ đã lâu mà còn sai sót thì tuổi trẻ em út mới nhập vào đường đời, mà lại là đường cách mạng đầy gian khổ, hiểm nguy thế này, sao đồng chí  thông thấu hiểu và thông cảm cho đồng chí mình mà lại đao to, búa lớn, gây căng thẳng nặng nề như thế...

        Lần đầu tiên trong đời của một người lính cách mạng được gần gũi và nghe những lời phân giải đạt tình, thấu lý với cấp dưới để bênh vực cho chiến sĩ, từ cái "tâm" của một Trung đoàn trưởng tài năng và đức độ, tôi cảm thấy như mình được hưởng chút "tình" của lòng đức độ đó.

        Sau lần đó, tôi không còn làm lính của Trung đội vệ binh nữa. Cơ quan tham mưu và Ban Tác chiến của Trung đoàn điều động tôi sang làm công vụ cho cơ quan, rồi lại làm cần vụ cho Trung đoàn trưởng.

        Thường khi đi công tác khỏi cơ quan, ông và tôi cùng một vệ binh theo bảo vệ, lúc trưa hoặc tối xuống, phải chuẩn bị bữa ăn, chúng tôi phải lo cơm nước và lo chỗ ngủ, nghỉ cho ông. Những lúc đó, không bao giờ ông không đụng tay vào công việc mà người cần vụ có nhiệm vụ phải lo chu toàn cho mình.

        Đến khâu nấu cơm, ông mới giao trọn phần việc đó cho chúng tôi và xách lưới cùng lưỡi câu xuống suối đánh bắt và câu cá để cải thiện.

        Điều này rất hãn hữu ở ông - như một đam mê trong mưu lược quân sự đã chỉ huy trong từng trận chiến đấu giữ nước, chống quân xâm lược trong cuộc đời của ông. Và cứ mỗi lần xách ngư cụ ra đi như thế, đến hơn một giở sau trở về, là hăng-gô đầy cá.

        Chúng tôi đi làm cá, đến khâu kho cá, ông lại trực tiếp chăm sóc lửa và hướng dẫn cách kho, cách nấu nướng, chứ không lên võng nằm nghỉ.

        Trong những bữa ăn, hay dừng chân nghỉ tạm cho đỡ mệt ở những chặng đường dài hành quân, ông hay tâm sự và chuyện trò vui vẻ, gần gũi như chú cháu, anh em một nhà. Không có thái độ gì dù là nhỏ nhất để phân biệt giữa cấp trên và cấp dưới. Nhưng trong mệnh lệnh, ông rất khắt khe.

        Hình như đó là tính quyết đoán để dành cho chiến thắng tuyệt đối của người chỉ huy đầy mưu lược và tài ba trước kẻ thù đầy mưu mô xảo quyệt được trang bị những vũ khí hiện đại, tối tân. Tôi thường theo ông trên đường công tác để phục vụ và bảo vệ ông, nhưng nhiều lúc, ông vác súng giúp khi tôi không đủ sức để vượt lên những đỉnh dốc núi, đường dài. Bấy giờ, sự dẻo dai của tuổi trẻ ở tôi chẳng sánh kịp với ông. Sự giúp đỡ đó của ông, tôi cảm thấy xấu hổ.

        Như tiếng đồn lan xa... ông có tài mưu lược, dũng cảm, gan lì, sâu sát chu đáo, sáng tạo và... rất bình tĩnh. Chính vì sự hiện diện ở tính cách bình tĩnh đặc biệt đó, nên Thủ trưởng Trung đoàn của tôi đã ra quân là trăm trận trăm thắng.

        Đây là một trong rất nhiều lần tôi được biết và không bao giờ quên. Sau khi đánh ở Vạn Xuân và ở những địa danh khác của Nghĩa Hành - Quảng Ngãi, đơn vị tập kết về đỉnh núi Đông Trường Sơn để chỉnh huấn, chuẩn bị cho chiến dịch tiếp theo.

        Lúc đó, vào khoảng gần 10 giờ sáng, Trung đội vệ binh chúng tôi đang triển khai đào công sự hết sức khẩn trương. Trong lúc tất cả mọi người đều tập trung vào công việc nặng nhọc, thì giọng Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng lên tiếng, điều quân:

        - Đồng chí Đôi đâu rồi? - Dạ, có tôi? - Trung đội trưởng Đôi lên tiếng và bước ra khỏi hầm, nhìn theo tay Trung đoàn trưởng.

        - Đồng chí nhanh nhanh dẫn một bộ phận chiến sĩ triển khai qua bên kia suối, theo tay tôi chỉ, truy lùng 6 tên biệt kích vừa rẽ vào khu rừng đó... Sau đó, chúng tôi được biết: Thủ trưởng đang tắm giữa suối, bên cạnh những tảng đá lô nhô lên cao khỏi đầu, khi ngóc đầu lên, thì phát hiện 6 tên lính không mời mà đến, cách ông gần 20m... Ở mé rừng bên trái, từ đầu dòng suối đi xuống. ông từ từ cúi đầu xuống, vừa đưa mắt theo dõi, vừa đưa tay nhẹ nhàng kéo chiếc áo đang phơi trên tảng đá về phía mình, rồi từ từ đi vòng về hướng mà 6 tên lính vừa lướt qua... Đồng thời vừa quan sát cho đến khi nó rẽ khuất vào trong rừng, ông liền rời khỏi dòng suối, leo dốc về điều vệ binh chúng tôi xuống truy lùng...

        Nếu không bình tĩnh, chắc rằng, lúc đó khó mà lường được việc gì sẽ xảy ra khi mà khoảng cách giữa ông và 6 nòng súng liên thanh đó chỉ cách có vài mét.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 02:09:31 AM

CHUYỆN VỀ THỦ TRƯỞNG CỦA CHÚNG TÔI

LÊ THỊ DIỆU PHƯƠNG         
Nguyên chiến  sĩ Sư đoàn 2       

        Rất vinh dự và tự hào trong những năm cả nước cùng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi là một chiến sĩ của Sư đoàn bộ binh 2 - sư đoàn thép. Đơn vị, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ còn in đậm trong trái tim tôi trong những năm chống Pháp là mỗi khi bộ đội về đóng quân trong làng, người dân quê tôi từ già đến trẻ, ai ai cũng quý mến, thương yêu các anh. ấn tượng tết đẹp đó luôn hiển hiện trong tâm trí tôi từ thuở thiếu thời và tôi đã mơ lớn lên mình sẽ là một người lính Cụ Hồ - đi đến đâu dân thương, dân mến. Tôi nghe mọi người kể, lính Liên khu 5 là lính chủ lực, đi xa đánh lớn.

        Ngày tháng qua đi, vào những năm 1958- 1959  chế độ độc tài của anh em Diệm, Nhu lê máy chém khắp cả miền Nam, tàn sát những người yêu nước, cán bộ cách mạng và những người dân vô tội. Dân quê tôi bị bắt học "tố cộng", đêm đêm quỳ trước đèn sám hối và bị tàn sát dã man. Tôi đã chứng kiến và căm thù giặc sâu sắc. Bước sang tuổi 13, tôi theo các anh cơ sở để bắt đầu hoạt động cách mạng.

        Những năm 1965- 1966, Mỹ tràn vào Việt Nam, chiến tranh bắt đầu lan rộng, thanh niên nam nữ quê tôi đều đăng ký "Dũng sĩ diệt Mỹ", đăng ký phong trào "Ba sẵn sàng", lúc đó tôi là ủy viên Ban chấp hành Thanh niên Và là Đội trưởng Đội du kích xã.

        Hơn một tháng bị địch bắt giam tại Tổng nha cảnh sát ở Hội An, tôi được trả tự do. Ngày hôm sau, địa phương tổ chức đăng ký tòng quân Nguyễn Văn Trỗi đợt 1 Tôi đã đăng ký để làm gương cho anh em và nhân cơ hội này đi bộ đội luôn.

        Tôi nhập ngũ ngày 25 tháng 6 năm 1965, vào Trường tân binh Quảng Đà, được huấn luyện và học tập đến tháng 4 năm 1966. Thủ trưởng huấn luyện tập trung đơn vị tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của mọi người. Nhiều ý kiến khác nhau đã được đưa ra. Riêng cá nhân tôi đề nghị Thủ trưởng cho tôi vào bộ đội chủ lực. Anh hỏi lý do, tôi đã trả lời là để được đi xa và đánh lớn. Ngay sau đó, tôi được điều về Phòng Tham mưu Sư đoàn 2 (là Nông trường 2) lúc bấy giờ đang đóng quân tại thôn 5 xã Phước Hà - Tiên Phước - Quảng Nam.

        Tôi được phân công làm chị nuôi, chuyên việc phục vụ cán bộ, chiến sĩ của đơn vị và các thủ trưởng Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Qua 8 năm công tác, tôi thường xuyên đi phục vụ chiến đấu (Bộ Tư lệnh Tiền  phương), đi chuẩn bị chiến trường cùng các anh cán bộ và thủ trưởng Sư đoàn.

        Nhờ vậy tôi hiểu rõ từng đặc điểm, cá tính của từng người và có cơ hội tiếp xúc với các cán bộ từ Đại đội trưởng trở lên của Sư đoàn. Nhờ có tài nấu ăn ngon, nên các đợt hội họp, tập huấn của Sư đoàn, tôi luôn có mặt. .

        Tôi đã gặp và ấn tượng nhiều người, nhưng sâu sắc nhất là Thủ trưởng Nguyễn Chơn - Sư đoàn Trưởng Sư đoàn 2. Anh là người có cá tính đặc biệt không giống ai, rất vui tính, nhưng cũng nóng nảy cực kỳ, hay nói đùa, nói tiếu lâm (đó là sở trường của anh).

        Anh sống rất giản dị. Bất cứ ai khi gặp lần đầu đều khó nhận ra anh là cán bộ mà chỉ nhìn như một người nông dân thực thụ, đậm chất quê. Anh sống không cầu kỳ, với  bộ đồ bà ba màu đen hoặc nâu, đôi dép cao su đã mòn gót, quần đôi khi ống thấp, ống cao. Anh có vóc dáng thấp bé nhưng nhanh nhẹn, cách sống hòa đồng tình cảm với mọi người. ấn tượng nhất trong tôi là khi lần đầu gặp, anh xưng hô rất quê hương, gần gũi: "tau, mi". Anh thường vui vẻ kể chuyện, cởi mở với tất cả mọi người.

        Có lần, anh kể cho chúng tôi nghe về anh: "Hồi ở nhà, tau đi làm thợ mộc. Tau xin cha đi bộ đội, cha tau bảo mày nhát như cáy mà đi bộ đội chi. Tau tức quá cầm cái chàng thợ mộc chấn một ngón chân và nói với ông: Cha thấy tui có dũng cảm không".

        Anh quan tâm đến tất cả anh em, trong sinh hoạt "có gì ăn nấy" không cầu kỳ, quan cách. Thỉnh thoảng chị nuôi nấu cơm sống, canh mặn, anh vẫn ăn bình thường, không trách giận gì.

        Mỗi lần hành quân đi chiến dịch, bất cứ đi đến đâu có khe suối, ao hồ, là anh cất ba lô, xách cần đi câu cá. Anh có tài câu cá chình, khó mấy anh cũng câu được, rồi mang về mấy anh em cùng ăn, dù mỗi người chỉ được một miếng nhỏ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 02:14:14 AM

        Hồi ở Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), anh nổi tiếng đánh giặc, có thể nói đánh đâu thắng đó. Bởi anh có cái uy của người chỉ huy, khi giao nhiệm vụ cho các tiểu đoàn, anh thường kiểm tra kỹ từng ly từng tý, từ đội hình đến trận địa và chỉ đạo kịp thời lúc nào nên đánh, lúc nào nên rút. Nếu cấp dưới không chấp hành, anh kiểm điểm phê bình đến nơi đến chốn và được nhắc đi, nhắc lại. Nhờ vậy. địch nghe đến anh và Trung đoàn 1, là chúng hoang mang. Tôi còn nhớ vào những năm 1969- 1970, Sư đoàn tổ chức đánh càn ở địa phận Hiệp Đức - Quế Sơn, lúc đó Ban chỉ huy tiền phương đóng ở đèo Răm, xã Sơn Long - Quế Sơn; vừa tờ mờ sáng, địch cho máy bay các loại quần đảo khắp vùng, đánh bom, phóng rốc- két. Các cứ điểm pháo bắn cấp tập liên hồi, trên trời có hai chiếc máy bay hai thân quần lượn phát loa kêu gọi chiêu hồi, dưới đất thì xe tăng, xe bọc thép dàn hàng ngang tiến theo sau. Máy bay vừa phát loa: "Anh em Trung đoàn 1 hãy quay về với chính thể quốc gia" được mấy vòng, thì quân ngụy nghe đến Trung đoàn 1 liền hoang mang, không dám tiến lên, đứng tại chỗ rồi rút về quận lỵ Quế Sơn.

        Những năm 1969-1970, có thể nói là giai đoạn khó khăn nhất của cuộc chiến, bộ đội đói, thiếu thốn đủ thứ, khi xong chiến dịch trở về hậu cứ, địch dàn ra bịt các đường vận chuyển lương thực, thực phẩm của ta, bộ đội ta phải ăn rau tàu bay, môn dóc, củ móng ngựa... thậm chỉ, kiếm được gì, ăn nấy. Sau đó, anh chỉ huy đánh địch để mở đường vận chuyển lương thực, thực phẩm cho bộ đội.

        Tôi còn nhớ, một hôm đơn vị còn mấy lon bắp hột, bộ phận nuôi quân bàn phải hầm thật lâu cho bắp nở thật nhiều để sáng ra mới đủ cho các thủ trưởng Ban chỉ huy. Tôi chỉ múc một vá (muôi), định thêm tý nữa nhưng nhìn đi, nhìn lại thấy trong nồi ít quá sợ không đủ chia cho người khác, nên thôi. Tôi cứ áy náy, sáng mai, thủ trưởng cũng khổ như lính, cũng chỉ được một phần nên ăn ít đi.

        Sống gần người thủ trưởng như anh, cánh lính phục vụ như chúng tôi thấy an tâm. Chúng tôi nghĩ tính mạng của thủ trưởng cao quý biết bao mà cũng dám hy sinh gian khổ, chịu đói, chịu rét, thì chiến sĩ như mình có nghĩa lý gì đâu. Vì sự động viên đó, chúng tôi rất yên tâm và sẵn sàng hy sinh tất cả.

        Sống trong Sư đoàn bộ, được gần thủ trưởng bình dân quá nên trong nhóm con gái Sư đoàn bộ có cô y tá Nguyễn Thị Ngọc Duyên quê ở Hội An, Huỳnh Thị Minh Tâm quê ở Tam Kỳ, chị nuôi là tôi và mấy đồng chí nữ nghịch ngợm không kém.

        Trong 8 năm làm chị nuôi ở chiến trường tuy thật gian khổ, nhưng cũng rất vui, nhiều kỷ niệm. Có lúc thiếu lương thực, bị địch bao vây, tôi có rất nhiều sáng kiến như làm xì dầu từ xương heo, xương bò của đơn vị ăn bỏ ra, đem thui, rồi qua than hồng bỏ vào hầm lấy nước, sau đó rang một nắm gạo cháy, nấu lấy nước làm màu. Ban đầu, ai cũng tưởng xì dầu thật, nên không ai nói gì, sau việc bại lộ các anh trong đơn vị ngẫu hứng làm mấy câu thơ:

"Nước mắm cô Hồng, xì dầu cô Ca
ăn vào thắm thịt đỏ da
Đi gần nhớ ít, đi xa nhớ nhiều "

        Rồi từ đó lan nhanh đến cả Sư đoàn, mỗi khi gặp tôi, các anh lính lại nghêu ngao đọc mấy câu thơ trên. Nhờ hương vị tốt, nên món xì dầu của tôi được áp dụng cho các bếp ăn tập trung các đơn vị. Rồi từ đó các cánh lính suy ra đủ thứ trêu chọc hoài, bây giờ cũng còn lại dư âm cái thời chiến tranh ấy.

        Vào Xuân Mậu Thân năm 1968, Sư đoàn được lệnh đi đánh Đà Nẵng, ai nấy đều hừng hực khí thế, nhất là anh em miền Nam chúng tôi. Sư đoàn lên- đóng quân ở Gò Nổi, mỗi trung đoàn đi một cánh riêng. Tôi trở về hậu cứ rồi dẫn một tốp tiếp phẩm đơn vị xuống Điện Hồng mua thực phẩm. Mua xong, không lên được, may gặp Trung đoàn 1 về cùng bị mắc kẹt tại Gò Nổi. Vì thông thạo địa hình, nên chúng tôi dẫn Trung đoàn sang đánh bên Đại Lộc. Trở về căn cứ, tôi ở lại Trung đoàn 1 hai ngày và được các anh tại đây kể lại: nhân dân Điện Nam tốt quá, thấy bộ đội đóng quân trong làng, bà con đem cho đủ thứ. Khi thấy tôi bị thương, anh Chơn buột miệng đọc mấy câu thơ:

                           Đất Điện Nam ai đi không nhớ,
                           Người Điện Nam muôn thuở nào quên


        Sau chiến dịch cuối năm 1972, trở về hậu cứ, sau khi lo xong cơm nước cho thủ trưởng, tôi đi dạo và vô tình gặp anh, anh hỏi tôi đi đâu, tôi đang bực mình nói luôn:

        "Tôi gặp thủ trưởng để thưa kiện", anh hỏi tôi kiện điều gì tôi mới bảo: "Tôi về làm chị nuôi cho Sư đoàn, đến nay đã 5 lần thay Sư đoàn trưởng, sao không thay luôn cái chức chị nuôi của tôi". Anh cười và hỏi lại: "Thế, chừ mi thích vô chỗ mô?". Tôi bèn xin về Ban Quân nhu - Phòng Hậu cần. Anh liền bảo Trưởng phòng Hậu cần dẫn tôi về luôn. Tôi mừng và sung sướng quá, buột miệng làm luôn mấy câu thơ:

Từ nay hết chức chị nuôi
Tám năm khói lửa cùng vui một thời

        Sau hòa bình, những cựu chiến binh như tôi có thời gian rảnh rỗi hơn, nhàn hạ hơn, mỗi người tự lo tương lai, hạnh phúc cho mình. Một dịp, tôi trở lại thăm vị thủ trưởng có cá tính của chúng tôi. Anh vẫn như ngày nào, vẫn thích đùa và nghịch, nhưng rất nghiêm khắc với phụ nữ. Cái gì ra cái nấy, không bao giờ có tính lăng nhăng, tuy vui vẻ nhưng rất trong sáng. Anh em cán bộ trong Sư đoàn thấy anh cô đơn mãi mới bảo rằng: "Anh Chơn lấy vợ đi cho bọn em ăn kẹo, hút thuốc chứ?". Anh trả lời: "Tau mà gần đàn bà là phải tắm 2 bánh xà bông mới sạch". Chị em chúng tôi nghe vậy liền ào lên "Thủ trưởng Chơn lấy đàn ông làm vợ bây ơi, không chịu lấy đàn bà sợ lương không đủ mua xà phòng để tắm", rồi cả đám cùng cười.

        Sau này, con gái Sư đoàn mỗi đứa mỗi nơi, khi gặp lại ai cũng nhắc tới vị thủ trưởng cá tính và bảo nhau: "Đứa nào gặp thủ trưởng thì hỏi thủ trưởng có đủ xà bông để tắm hay không. Thiếu thì nói để con gái Sư đoàn mua góp lại cho thủ trưởng tắm".

        Chuyện về thủ trưởng chúng tôi có lẽ kể không bao giờ hết được. Tôi chỉ kể một vài kỷ niệm để mọi người cùng hiểu thêm về anh - vị thủ trưởng, vị Anh hùng đầy cá tính của chúng tôi.

        Những câu chuyện trên hoàn toàn là sự thật, không thêu dệt, không thêm bớt, bởi tôi là người trong cuộc:

Quân kỳ dẫn bước ta đi
Một sư đoàn thép sử ghi hai lần
Sư đoàn chiến đấu lập công

        Tôi là người lính nằm trong Sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 02:16:37 AM

CÙNG THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHƠN THĂM ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN NGỌC HỒI - TÂN CẢNH

        Là vị tướng Anh hùng lực lượng vũ trang tài của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Quân khu 5 nói riêng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong quá trình công tác, chiến đấu của mình, Thượng tướng Nguyễn Chơn đã có nhiều năm tháng chiến đấu và gắn bó với chiến trường Tây Nguyên.

        Tháng 2 năm 2008, bước sang tuổi tám mươi, theo đề nghị của cơ quan đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Đà Nẵng về việc viết hồi ký cho Thượng tướng, ông liền tổ chức chuyến đi thăm lại đường Hồ Chí Minh, thăm chiến trường xưa ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Để có mặt đúng trưa ở huyện Đắc Tô, ông đã thức dậy từ 4 giờ sáng để làm công tác chuẩn bị, không quên nhắc y sĩ và lái xe nhớ mang theo bản đồ chiến lệ trận Đắc Tô - Tân Cảnh năm xưa. Với tác phong nhanh, gọn, sau khi ăn vội buổi sáng ở quán mì Quảng Bà Tỉnh - Túy Loan, Thượng tướng lên xe đi về hướng đường Hồ Chí Minh. Kết hợp một công đôi việc, hôm trước, tôi đã liên hệ với hai anh Thân Đức Nam - Tổng giám đốc và Dương Viết Roãn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông 5 để thông báo trước kế hoạch làm việc của đoàn với anh Nguyễn Văn Đông - Trưởng ban điều hành Dự án đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 đoạn Ngọc Hồi - Tân Cảnh.

        Gần mười một giờ trưa, Ban chỉ huy Dự án đã đón chúng tôi tại đầu tuyến Ngọc Hồi. Trời nắng nóng, nhưng Thượng tướng rất vui khi gặp cán bộ chỉ huy thi công dự án. Ông thốt lên: Cán bộ bây giờ có khác, trẻ, có học, ý thức làm việc nghiêm túc. So với đoạn đường Ngọc Hồi - Tân Cảnh còn gập ghềnh, bé nhỏ năm xưa, nay đường mở rộng thoáng, xe đi êm như ru. Có mở đường mới, cảnh trí phong quang, nhộn nhịp hẳn lên, hàng quán, nhà cửa xây mới nhiều hơn. Đứng trên đường, Giám đốc Nguyễn Văn Đông báo cáo với Thượng tướng Nguyễn Chơn: "Dự án có tổng chiều dài tuyến 22,2km, qua địa phận hai huyện Ngọc Hồi và Đắc Tô ( Kon Tum) với tổng mức đầu tư 127 tỉ đồng khởi công vào tháng 2 năm 2005, phấn đấu hoàn thành vào cuối tháng 3 năm 2007, do ba đơn vị chủ lực 501, 595 và 510 đều thuộc Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông 5 thi công. Khắc phục khó khăn mưa nhiều (từ tháng 6 đến ngày 15 tháng 10), nguồn vật liệu có trữ lượng thấp, phải tập trung khai thác dài ngày; đường độc đạo phải hạ độ dốc để cải thiện dốc dọc; vị trí cầu cũ Đắc Mốt yếu vừa thi công, vừa phải bảo đảm giao thông ngày đêm, đến giữa tháng 2 năm 2007, dự án đã hoàn thành phần lớn khối lượng thi công: Thảm bê tông nhựa 16km trên toàn bộ các đoạn ngoài thị trấn và thi trấn Plei- cần; móng đường lớp trên đạt 16km, móng đường lớp dưới đạt 19km. Cầu Đắc Mốt đã thông xe kỹ thuật ngày 9 tháng 1 năm 2007, đã được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đến thăm, động viên, đánh giá cao sự nỗ lực của cán bộ, công nhân toàn công trường; hiện nay, cầu đang thực hiện công tác hoàn thiện cuối cùng". Trời nắng, nóng, đang nheo nheo mắt, nghe Giám đốc Đông nói về cầu Đắc Mốt, mắt Thượng tướng bỗng dãn to ra: "Chà, cầu Đắc Mốt à? Giám đốc dẫn đường đưa cho mình đến chỗ đó. Chu cha, biết bao là kỷ niệm máu xương".

        Xe lại lao đi bon bon, bất chợt Thượng tướng hỏi tôi: "Cậu có biết con đường này đi về đâu không?". Tôi trả lời: "Thưa thủ trưởng chắc chắn là đi về trung tâm huyện Đắc Tô để về trung tâm tỉnh Kon Tum". ông cười: "ừ, đúng như rứa, mà nó cũng đi về hướng cửa khẩu quốc tế Bờ Y, xe chở công- te- nơ qua nước bạn Lào, gỗ xuất khẩu từ Lào về Việt Nam". Đang vui, Thượng tướng Nguyễn Chơn gợn vẻ băn khoăn: "Liệu lớp nhựa phủ dày 7cm có bảo đảm trong quá trình xe lưu thông chở hàng hóa nặng?". Không rành kỹ thuật làm đường, tôi nói mò: "Đây là đường của giai đoạn 1, còn giai đoạn 2, giai đoạn 3 nữa, thủ trưởng lo chi". Giải tỏa thắc mắc của Thượng tướng, anh Đông bộc bạch: "Thưa bác, chúng cháu phối hợp các mũi thi công chặt chẽ. Về đường, làm móng, bên trên cũng là bê tông nhựa hạt trung 7 phân, bên dưới 2 lớp móng cấp phối đá dăm, mỗi lớp 18cm, đòi hỏi bố trí tốt việc phối hợp nhịp nhàng giữa thảm mặt và làm móng đường theo kiểu cuốn chiếu, bảo đảm tiến độ thi công, tăng hiệu quả kinh tế kỹ thuật. Với chất lượng đường này, xe chở công- te- nơ, xe chở gỗ lưu lượng chưa vượt quá 500 xe/ngày, đêm thì không ảnh hưởng gì".


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 02:18:47 AM

        Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã dừng lại ở cây cầu mới Đắc Mốt. Tuổi đã tám mươi, song Thượng tướng Chơn bỗng dưng như trẻ lại thuở tuổi ba, bốn mươi: "Ngày 24 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 2 của tôi đánh sập cây cầu này để cắt viện, mở con đường phía bắc Plei- cần đưa xe tăng vào giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh. Bao nhiêu xương máu đã đổ trên đất này". Rồi ông say sưa kể lại phương án tác chiến độc đáo theo kiểu "giăng lưới bắt cá", không khí Sư đoàn 2 tấn công giải phóng toàn bộ Đắc Tô - Tân Cảnh tiêu diệt một sư đoàn nguy thật sống động như mới hôm qua. Trận này được Đại tướng Lê Trọng Tấn đánh giá cao, điển hình 1 diệt 1 của cấp sư đoàn ta với sư đoàn địch.

        Không khí trò chuyện rôm rả hơn trong bữa cơm đạm bạc, không thiếu thịt gà núi, cá bống suối kho tộ, canh rau tập tàng ở phố núi vùng xa. Cán bộ của Ban điều hành dự án "tự khai" mình có quan hệ ruột rà với con nhà lính. Phó Giám đốc Trần Hoài Thanh: "Mẹ em từng làm ở Bệnh viện Quân y 108", Doãn Mạnh Thắng - kỹ sư phụ trách thi công: "Bố em từng ở Binh chủng Thông tin Liên lạc, còn bác ruột là Doãn Mậu Hòe - nguyên Hiệu phó Trường Quân chính 1 Quân khu 5. Tôi tiếp tục "khơi ngòi": "Trong quá trình thi công, anh em có sự hỗ trợ, giúp đỡ gì từ phía địa phương không? Có anh em nào đã "bén rễ xanh cây" ở đây chưa?". Giám đốc Đông nói: "Có, chúng tôi có phối hợp chặt chẽ với ủy ban nhân dân huyện Đắc Tô, nhất là công tác giải phóng mặt bằng. Đường cũ hẹp khoảng hơn 10m. Dự án mở ra 32m. Mình phối hợp chặt chẽ các đơn vị thi công. Tết, bố trí lực lượng trực, đi chúc Tết lãnh đạo, chính quyền địa phương và nhân dân khu vực đơn vị đứng chân. Tây Nguyên theo cảm nhận của tôi là cảnh trí thiên nhiên phóng khoáng, con người thật thà chất phác. Tôi từ năm 1995 đã lên trên này rồi. Tháng 11 hằng năm, hoa quỳ cực đẹp nở rộ, nở tràn đường đi từ An Khê lên Mang Yang, lên Hàm Rồng...".

        Phó Giám đốc Thanh "đế" thêm: "Đất lành chim đậu các anh ạ! Có cán bộ kỹ thuật là Nguyễn Văn Khương đã "khai báo" là đi hỏi vợ tại khu vực công trường rồi". Tôi hỏi thêm tư liệu về việc thi công cầu Đắc Mốt - điểm nhấn của toàn dự án, Trưởng phòng Kỹ thuật Hoàng Ngọc ánh, tâm sự: "Đối với Dự án Ngọc Hồi - Tân Cảnh, xác định là dự án trọng điểm, Tổng giám đốc Thân Đức Nam đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện dự án, thường xuyên tổ chức các cuộc họp giao ban sản xuất, trung bình mỗi tháng một lần.

        Trước đây, năm 2003, chúng tôi đã thi công đường Hồ Chí Minh đoạn Khâm Đức - Đắc Dôn 40km với 8 cây cầu. So với nó, đoạn Ngọc Hồi - Tân Cảnh có phần dễ hơn; chỉ có một vài đoạn đào sâu. Về thi công cầu Đắc Mốt, có đặc điểm sông Pô Cô nhiều khi lũ về, nước lên rất nhanh, anh em công nhân tập trung làm phần móng cọc khoan nhồi vượt lên khỏi cao trình nước lũ thường xuyên hằng năm. Điều mừng là ngay sau khi thông xe kỹ thuật, xe hoàn toàn đi trên cây cầu mới.

        Đã gần đến giờ Thượng tướng trở lại khu vực sân bay dã chiến Đắc Tô năm xưa để giới thiệu với tôi toàn bộ trận đánh trên bản đồ, anh em cán bộ Ban điều hành dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Ngọc Hồi - Tân Cảnh xúm xít mừng thọ Thượng tướng, chúc ông khỏe mạnh, sống lâu để chứng kiến Tây Nguyên đổi mới. Thượng tướng cảm ơn, siết chặt tay mọi người, ông nói: "Tây Nguyên rất hùng vĩ, có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của đất nước. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có đời sống văn hóa tinh thần rất đa dạng, phong phú, chính họ đã có nhiều trường ca giàu chất sử thi để lại cho mai sau tài sản vô giá của dân tộc. Họ yêu nước, trung thành với cách mạng, tôn thờ Bác Hồ. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam đến nay, Tây Nguyên đã được Đảng, Nhà nước các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang chăm lo đầu tư xây dựng, bộ mặt Tây Nguyên ngày càng đổi thay, khởi sắc. Tuy nhiên Tây Nguyên vẫn còn không ít khó khăn, một số bộ phận trong nhân dân còn nghèo khó; tình hình Tây Nguyên vẫn còn nhiều tiềm ẩn dấu hiệu phức tạp, chưa thật sự ổn định về an ninh trật tự. Các cơ quan, đơn vị của Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông 5 cần phải tiếp tục tham gia xây dựng nhiều công trình kinh tế, xã hội, văn hóa có giá trị góp phần làm cho Tây Nguyên ngày càng ổn định về chính trị, giàu về kinh tế, vững về quốc phòng - an ninh".

LÊ ANH DŨNG       
       


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2016, 02:23:11 AM
       
(http://static.thanhnien.com.vn/uploaded/ngocthanh/2016_01_04/nguyen-chon-b_egxg.jpg?width=1600&encoder=wic&subsampling=444)
Tướng Nguyễn Chơn

HẾT