Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:26:01 PM



Tiêu đề: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:26:01 PM

        - Tên sách: Những chặng đường chiến đấu
        - Tác giả: Trung tướng Vương Thừa Vũ
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2005
        - Số hoá: ptlinh

LỜI GIỚI THIỆU

        Gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam là những danh tướng quân sự tài ba, những tên tuổi của họ được ghi vào lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam như những huyền thoại về những trận đánh và chiến công.

        Trung tướng Vương Thừa Vũ là một trong những danh tướng như vậy -  Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền với lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng.

        Ngay từ năm 1941, khi tham gia phong trào cứu nước, ông đã bị thực dân. Pháp bắt giam và tù đày. Dù ở trong tù, ông vẫn nêu cao chí khí chiến đấu, không chịu khuất phục trước đòn roi tra tấn của quân thù. Ngày 3 tháng 7 năm 1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ nhưlng không thành, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng huấn luyện quân sự. Với tài năng của mình, ông cược cấp trên giao giữ nhiều trọng trách trong quân đội: Năm 1946 -  Chỉ huy trưởng bộ đội Hà Nội; Khu trưởng Khu 11 (Hà Nội); chỉ huy quân sự Khu 2 bảo vệ Hà Nội; 194 7- 1948 -  Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình -  Trị -  Thiên. Tháng 4 năm 1949, ông được giao nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn 308 ở Việt Bắc; 1949- 1954 ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 308 và kiêm Chính ủy Đại đoàn (1949- 1951). Từ năm 1949 đến năm 1954, ông đã chỉ huy chiến đấu tham gia nhiều chiến dịch, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Tháng 10 năm 1954 ông là Chủ tịch ủy ban quân chính Hà Nội; từ 1955- 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn.

        Từ 1964- 1980, ông được giao giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và một số chức vụ khác.

        Với những công lao to lớn của ông đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Trung tướng Vương Thừa Vũ đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.

        Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thông nhất đất nước, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân sưu tầm, tuyển chọn những nội dung trong Hồi ký và một số tác phẩm quân sự của Trung tuớng Vương Thừa Vũ thành cuốn sách “Những chặng đường chiến đấu”. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp.
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN       


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:29:46 PM
 
Phần một

VƯỢT KHỎI NANH VUỐT QUÂN THÙ TRỞ VỀ VỚI CÁCH MẠNG

        Một số anh em tù chính trị chúng tôi đang bị giam ở nhà "pha" Hỏa Lò -  Hà Nội thì bọn đế quốc lại lôi chúng tôi ra, đẩy lên Nghĩa Lộ.

        Cũng như khi mới bị sa vào tay chúng và những ngày ở các nhà giam khác, bữa ấy, vừa qua khỏi mấy lần cửa sắt, ý nghĩ "nhất định phen này phải thoát khỏi xiềng xích của quân thù, tiếp tục trở về hoạt động cách mạng" lại đến với tôi.

        Phải trở về với đội ngũ của những người cách mạng! Ý nghĩ ấy làm tôi bồn chồn, náo nức. Và cho tới khi bắt đầu đặt chân vào cửa ngõ "mạn ngược", thì ý nghĩ đó lại càng sôi sục trong lòng tôi. Lợi dụng lúc tên lính áp giải vừa sơ ý nhìn cái gì đó, mình đạp cho hắn một cái ngã quay lơ, rồi phóng vào rừng có mà trời tìm!...; hay là, bằng cách nào đó, gỡ đượm tay ra, thoi luôn cho hắn một quả vào giữa mặt, hắn gục xuống, mình sẽ tha hồ vùng vẫy?... Nghĩ thế, thỉnh thoảng tôi liếc nhìn tên lính đi bên, lại nhìn địa hình, địa vật xung quanh. Chà! Rừng rậm, núi cao, suối sâu, lao vút vào đó, quặt ngược trở lại, gặp Đảng, gặp đồng chí, đồng bào, đời của người chiến sĩ cách mạng thênh thang biết mấy!...

        Đang triền miên trong suy nghĩ, ước mơ, một báng súng thúc xói vào lưng tôi, kèm theo tiếng quát: "Đi! Mau lên" của tên lính áp giải. Tôi quay phắt lại, nghiến răng, ưỡn ngực và trừng mắt nhìn hắn. Có lẽ hắn cũng thấy được sự phẫn nộ của tôi, hắn vội cúi đầu xuống. Tuy vậy, hắn vẫn cố làm ra vẻ bình tĩnh, cất giọng hơi run, quát tiếp: "Đi đi! Mau... lê...ênl", và mũi súng của hắn vẫn tì vào sau lưng tôi.

        Nỗi căm giận của tôi vẫn không tan. Nó càng bốc mạnh lên khi tôi nghĩ tới bọn đế quốc Pháp thống trị. Những ước vọng phải thoát khỏi ngục tù đế quốc mỗi lúc một thêm thôi thúc trong tôi. Nhưng ngẫm lại: mọi hoạt động của chúng tôi đều phải tuân theo sự lãnh đạo chặt chẽ của chi bộ Đảng, mà chi bộ Đảng chúng tôi lại trực thuộc dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy. Làm một việc gì, dù lớn hay nhỏ đều phải nhìn vào lợi ích chung, phục tùng cái chung. Nghĩ thế, nên tôi nén căm hờn, chờ ý kiến của trên và đợi thời cơ thích hợp nhất.

        Nhớ lại, thời kỳ ở căng Bá Vân -  Thái Nguyên, sau cuộc đấu tranh của tù chính trị, bọn thống trị Pháp đem hơn một chục anh em chúng tôi ra giam ở nhà lao Thái Nguyên. Chúng cho là bọn chúng tôi cầm đầu cuộc đấu tranh đó.

        Sau cuộc đấu tranh thắng lợi đó, Xứ ủy chỉ thị chi bộ căng Bá Vân phải tổ chức cho một số đồng chí vượt ra hoạt động trong phong trào công nhân, nông dân. Chi bộ đã quyết định tám đồng chí vượt trại giam.

        Cuộc vượt trại giam đã thành công. Trong số ra được có bốn đồng chí là chi ủy viên, kể cả bí thư chi bộ là đồng chí Hà Kế Tấn. Chi bộ đặc biệt ở căng Bá Vân, lúc đầu có 11 đồng chí: Tấn, Trành, Voi, Liên, Khoan, Thử, Thẩm, Đồi, Nho, Hách (giáo Hách), Viên. Khi thoát khỏi trại giam Bá Vân, đồng chí Hà Kế Tấn giao lại cho chúng tôi toàn bộ cơ sở cách mạng.

        Trước đó, tôi cũng đã có ý nghĩ phá ngục. Nhân lúc chuyển "căng", phần lớn lính tráng về nhà để chuẩn bị đồ đạc về xuôi chỉ còn thằng đồn trưởng và mấy tên gác trại giam, tôi nảy ra ý định nên nắm lấy thời cơ này, lãnh đạo quần chúng (trại giam lúc đó có trên 200 người) nổi dậy cướp súng, khử luôn tên đồn trưởng, rồi mau chóng vượt ra rừng, đi một đêm là tới chiến khu của đội du kích Bắc Sơn, nơi mà chúng tôi hằng mơ ước từ lâu.

        Tôi đem ý định ấy ra bàn với mấy đồng chí, có một vài đồng chí tán thành. Nhưng có một số đồng chí cho rằng, thời cơ chưa chín muồi.

        Hai ý kiến này được đem ra trao đổi hồi lâu, cuối cùng đi đến kết luận là tình hình lúc đó chưa nên phá ngục, phải xin chỉ thị Xứ ủy và đón thời cơ khác.

        Ngày tháng trôi qua...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:34:20 PM

        Cuối năm 1944, đế quốc Pháp chuyển chúng tôi về nhà pha Hỏa Lò -  Hà Nội. Ý định vượt ngục trở về với cách mạng vẫn lởn vởn trong tâm trí tôi -  Thuyết phục binh lính? Đục tường, đào đường ngầm, nhảy qua hàng rào dây dẫn điện -  Bằng một trong những phương pháp đó, tôi tin nhất định sẽ thoát được.

        Tôi lại đưa ý định này ra bàn bạc. Nhưng chưa kịp ngã ngũ ra sao thì bọn thống trị Pháp đã xích tay từng người chúng tôi và đẩy lên chỗ mà bọn chúng nghĩ rằng đến một thời gian nào đó, chúng tôi sẽ chết dần chết mòn vì đói, rét, bệnh tật.

        “Nhưng chúng mày đem hổ về rừng, không sớm thì muộn, chúng ông cũng sẽ "tếch" cho mà xem...". Nghĩ vậy, nên chúng tôi không có gì lo ngại cả. Bọn tay sai đế quốc xích hai tay của hai người chúng tôi vào một còng rồi luồn dây thừng từ hàng đầu đến hàng cuối thành một chuỗi, dòng người cứ dắt dây nhau mà đi, trên đường đi, mặc dầu tay bị chằng trói, chân tê tấy phát cước lên, nhưng chúng tôi vẫn nuôi ý nghĩ: nhất định phải vượt ngục thành công để tiếp tục hoạt động cách mạng...

        Gần tới Nghĩa Lộ, bọn lính áp giải đột nhiên quát tháo chúng tôi ầm ĩ:

        -  Cúi mặt xuống?

        -  Người sau nhìn vào gáy người trước, không được nhìn hai bên đường!

        Nhưng bỗng từ phía dưới, tôi không nhớ rõ có tiếng đồng chí nào nói vọng lên:

        -  Nhớ đấy, các "thày quyền" bảo chúng ta nhìn vào gáy nhau đấy.

        Biết ý, chẳng ai cúi đầu xuống cả. Vì cúi đầu chỉ có thể nhìn được gót chân người đi trước, nhìn sao được gáy. Và đã ngửng mặt lên thì chúng cấm làm sao nổi đôi mắt của mỗi người chúng tôi không được nhìn những người và cảnh xung quanh.

        Vào phố Nghĩa Lộ.

        Tôi được biết, nhân dân ở quanh những vùng có giam tù chính trị, do được các đồng chí tuyên truyền, giác ngộ, hoặc qua thái độ và tinh thẩn bất khuất của các đồng chí, nên có nhiều cảm tình với cách mạng, nhất là ở tầng lớp lao động. Ở đây cũng vậy, thấy chúng tôi đến, mặc dầu bị chằng trói, nhưng nét mặt vẫn nghiêm trang, bước đi vẫn đường hoàng, rắn rỏi, nhân dân đã đoán được chúng tôi là hạng người nào rồi. Hai dãy nhà bên đường phố bị chúng cấm dân chúng không được mở cửa. Người đứng trong nhà chỉ ghé qua khẽ hở nhìn đoàn tù chính trị. Chúng tôi vừa đi vào đến đầu phố, đều đồng thanh cất tiếng hát những bài ca cách mạng: “Nào anh em nghèo đâu!...”, "Cùng nhau ta đi hồng binh...". Tiếng hát rất to, nhịp đi đều rầm rập, hùng tráng như đoàn quân chiến thắng xuất trận.

        Bọn lính áp giải đã được lệnh từ trước là phải hết sức ngăn cấm không cho tù chính trị liên hệ với nhân dân bằng bất cứ cách nào. Do đó, chúng tiếp tục hò hét chúng tôi: "Người sau nhìn gót người trước" và dậm dọa dân phố.

        -  Muốn rũ tù hay sao mà khỏe nhìn thế!

        -  Vào hết trong nhà, đóng cửa lại.

        Không một người dân nào nhúc nhích. Bọn lính có thằng sấn sổ giơ báng súng lên định giở trò đàn áp.

        Chúng tôi không ai bảo ai, nhất loạt cất tiếng hô lớn:

        -  Đánh Pháp, đuổi Nhật?

        -  Phản đối khủng bố.

        Rồi mọi người đồng thanh hát vang:

        “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian.

        Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn.

        Sục sôi…”

        Đoàn tù đi đều hùng dũng. Tiếng hát vang vọng núi rừng. Thấy thế, bọn lính vội bỏ dân, quay lại hầm hè chúng tôi.

        Mặc, chúng tôi vẫn cứ hát, tiếng hát mỗi lúc một hùng tráng, bước chân mỗi lúc một mạnh mẽ. Và bà con dân phố vẫn cứ ghé mắt qua khe cửa nhìn theo...

        Sau này được biết, nhiều bà con hàng phố đã rơi nước mắt trước cảnh xúc động ấy.

        Tình cảm giữa chúng tôi với bà con không phải chỉ biểu lộ một cách lặng lẽ như vậy. Tôi còn nhớ hồi ấy, đoàn tù chính trị tới Nghĩa Lộ được ít ngày thì vừa đúng năm hết, tết đến. Chi bộ chúng tôi họp nhau lại bàn bạc một số công việc cần lãnh đạo, trong đó có mục Tết.

        Theo nghị quyết của chi bộ, chúng tôi cần tổ chức ăn Tết cho ra trò để một là tỏ thái độ bất khuất và dũng khí cách mạng của mình; hai là làm cho cuộc sống của anh em thêm tươi vui, thêm chí khí đấu tranh. Kế hoạch chuẩn bị chu đáo, trong đó có việc trang trí khẩu hiệu, cờ, đèn, biểu diễn ca kịch và cả việc đấu tranh đòi ra làm lễ truy điệu một số đồng chí của ta vì địch đánh đập, đày đọa và bị cơn sốt ác tính đã yên nghỉ ở vườn ổi, đòi trại nọ thăm trại kia, thăm trại giam chị em phụ nữ. Cuộc thảo luận hết sức hào hứng và sôi nổi.

        Chỉ còn vấn đề vật chất, tính đi tính lại với nhau, tiền nong góp lại chẳng được là bao. Nhưng rồi tập thể cũng đi đến quyết nghị: có chừng nào, sắm chừng ấy, vật chất nghèo nàn, tinh thần phong phú, càng áp đảo được địch...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:36:44 PM

        Ngày 28 Tết (hay ngày 29 Tết, tôi không còn nhớ rõ), tôi và mấy anh em nữa được phân công đi chợ. Với số tiền ít ỏi trong tay, chúng tôi dự định là cũng chả mua được "sơn hào, hải vị" gì ngoài mấy thứ chuối, cam, bánh, gọi là cho đúng với phong vị dân tộc. Việc đi chợ sắm Tết này, tuy trong lúc đấu tranh, chúng tôi đề lên hàng chủ tếu buột bọn địch phải nhượng bộ, nhưng kỳ thực khi ra đến chợ, việc mua bán lại trở thành vấn đề thứ yếu, mà cái chính là để nhân cơ hội này, chúng tôi tranh thủ tiếp xúc với nhân dân. Và quả nhiên, chúng tôi đã đạt được yêu cầu.

        Thấy chúng tôi, nhân dân tự động chạy lại, đứng chật xung quanh, thăm hỏi, chuyện trò tíu tít như người thân lâu ngày xa cách, nay mới có dịp gặp nhau. Một tên lính áp giải, trước quang cảnh ấy, hốt hoảng thúc giục, dọa nạt:

        -  Mua gì thì mua, không được nói chuyện. Mau lên!

        Nhưng chúng tôi cứ phớt lờ, giả vờ như không nghe thấy, vẫn nói chuyện để đồng bào hiểu rõ thêm: Vì sao chúng tôi bị đế quốc cầm tù? Vì sao nhân dân bị áp bức, bóc lột và đói khổ v.v... Chúng không thể cầm tù mãi chúng tôi và thống trị, bóc lột, áp bức mãi đồng bào ta được. Chúng tôi không quên cảm ơn tấm lòng của đồng bào từ lâu đã giúp đỡ các đồng chí cán bộ, giúp đỡ cách mạng.

        Mấy tên lính thấy không ngăn được tình cảm giữa nhân dân với những người cách mạng, bọn hắn lảng dần và bỏ đi mua bán loanh quanh gần đó. Giữa lúc câu chuyện đang rôm rả thì vòng người tự nhiên giãn ra, nhường lối cho một số bà con đem vào cho chúng tôi đủ thứ. Nào là bánh chưng luộc sẵn, nào chè, thuốc lá, hoa quả, hương trầm...

        Tôi nhìn những món quà lòng đầy xúc động, vừa mừng lại vừa lo. Lo làm thế nào mượn được nhân dân bát đũa để dùng trong ba ngày Tết? Nhưng rồi, việc đó đã được nhanh chóng giải quyết. Khi ra tới chợ, ghé qua một số nhà để hỏi mua các thứ lặt vặt, qua chuyện trò, chúng tôi ngỏ ý mượn ít bát đũa để ăn Tết, mấy gia đình đều vui vẻ nhận lời:

        -  Vâng, các ông cứ đi mua gì thì mua, xong quay lại đây sẽ có?

        Mua xong, chúng tôi quay lại thì thấy nào mâm đồng, nào bát to, bát nhỏ, đĩa, đũa son mới, lại thấy cả mấy gói chè to và mấy chục gói thuốc lá bao tím nữa. Đồng bào nói nhỏ với chúng tôi: Tết cổ truyền của dân tộc! Biết rằng các ông còn đang khó khăn, chúng tôi gọi là của ít lòng nhiều góp nhau ít bát đũa để các ông dùng trong mấy ngày Tết, mong các ông nhận cho. Cảm động trước tấm lòng của đồng bào, một đồng chí trong chúng tôi đỡ lời:

        -  Cảm ơn bà con đã dành cho chúng tôi món quà quý giá này.

        Cuộc gặp gỡ đầu tiên với bà con Nghĩa Lộ làm tôi nảy sinh những suy nghĩ về những điều kiện để thoát khỏi nhà tù. Rừng núi thiên nhiên cũng là một thuận lợi, nhưng lòng dân còn là một thuận lợi quan trọng hơn nhiều.

        Chúng tôi nhất trí với nghị quyết của ban tổ chức Tết cho làm một kỳ đài, dựng lên một chiếc cột thật cao, trên ngọn làm một ngôi sao vàng năm cánh thật lớn để nhân dân ở xa cũng nhìn thấy. Theo tôi nghĩ, chẳng những nhân dân thấy chúng tôi tổ chức ăn Tết vui vẻ mà còn thấy một ngôi sao cách mạng tỏa khắp nơi nơi tượng trưng sự soi đường, chỉ lối của Đảng cho toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị, áp bức của thực dân đế quốc.

        Nhân dịp mấy ngày Tết được tiếp xúc với nhân dân, hiểu được lòng dân ở đây, nên quyết tâm khởi nghĩa, phá ngục của chúng tôi càng cao. Các đồng chí đảng viên tranh thủ họp, cùng nhau nhớ lại tinh thần chỉ thị "Về sửa soạn khởi nghĩa" của Tổng bộ Việt Minh (ngày 7 tháng 5 năm 1944) để vận dụng sao cho thích hợp với hoàn cảnh của mình.

        Qua nhiều buổi hội họp, tranh luận, chúng tôi đều thấy cần phải giải quyết một vấn đề quan trọng được xem như là điều kiện tiên quyết, đó là ai xông ra đánh quân thù?

        Ở đây khác với thời kỳ ở Bá Vân, anh em tù chính trị bí trói buộc, giam hãm rất khắt khe, rất hiếm có điều kiện tiếp xúc với cơ sở quần chúng bên ngoài: mặt khác, việc liên lạc với Xứ ủy và Trung ương cũng vô cùng khó khăn. Vì vậy, chúng tôi phải lấy lực lượng chủ yếu nhất, quyết định nhất là các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù. Đội thanh niên xung phong đã được tổ chức từ trước, bây giờ phải tích cực nâng cao chất lượng huấn luyện thiết thực với nhiệm vụ sắp tới và mạnh dạn phát triển số lượng.

        Còn một lực lượng nữa cũng cần phải ra sức tranh thủ, đó là anh em binh lính địch đang ngày đêm canh gác chúng tôi. Công tác binh vận, các đồng chí trước đây đã có làm, nhưng trong cuộc hội nghị này, việc đó được đưa ra xem xét kỹ thì thấy chưa đạt yêu cầu. Cho nên, hội nghị đã có kế hoạch đẩy mạnh công tác binh vận lên một bước nữa. Lúc này, mọi người đều nhận thấy rằng: Nếu công tác binh vận không làm, hoặc làm ít kết quả, thì công việc khởi nghĩa ở trại giam này sẽ gặp nhiều khó khăn... Bởi thế, chúng tôi quyết tâm làm, thận trọng mà làm, và khi cần phải táo bạo mà làm.

        Để tiến hành được nhanh, được tốt nhiệm vụ này, một đội công tác binh vận gồm những đồng chí vừa có khả năng tuyên truyền, thuyết phục, vừa được anh em binh lính địch trọng nể nhất, được thành lập.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:39:31 PM

        Nhân đây, xin kể một câu chuyện vui, ít nhiều có liên quan đến công tác binh vận trong nhà tù Nghĩa Lộ. Theo sự phân công của ban chỉ huy, tôi chuyên trách về tổ chức, huấn luyện quân sự và rèn đúc vũ khí. Có một hôm, một đồng chí trong đội công tác binh vận đến gặp tôi, cười, nói:

        -  Ông Đồi (Tên tôi hồi ở nhà) ơi, từ nay trở đi ông làm đội viên danh dự đội chúng tôi đấy nhé!

        Tôi ngạc nhiên, hỏi:

        -  Cái gì mà lạ vậy?

        Đồng chí vẫn cười và nói lấp lửng:

        -  Có được một "võ sĩ” cùng hoạt động, còn gì hay bằng nữa!

        Tôi gặng hỏi, đồng chí này tươi cười kể cho tôi nghe: Trong chuyến áp giải chúng tôi từ căng Bá Vân về Hà Nội và từ Hà Nội lên đây, có một vài người lính được bọn mật thám Pháp cho biết tôi là một "tay lợi hại", cần phải hết sức chú ý kẻo tôi trốn. Muốn để mấy người lính đó làm ăn cẩn thận hơn, bọn mật thám còn rỉ tai cho họ biết thêm tôi là một thày dạy võ, dạy quân sự, thập bát ban võ nghệ đều tinh thông, và theo họ thì tôi còn rất cứng đầu cứng cổ. Nhưng sau một chặng đường dài, lên tới đây, họ lại kể cho anh em binh lính ở Nghĩa Lộ biết rằng họ thấy nhà võ sĩ ấy rất hiền và còn nói cho họ nghe nhiều điều rất hay. Họ bảo là, chính do cái bọn mật thám Pháp cho họ biết về anh. Chúng đã vô tình gây cho họ lòng kính phục anh, và anh cũng đã chẳng làm gì cho họ phải sợ cả. Hiện giờ, anh em binh binh ở Nghĩa Lộ đây, đang rất tiếc mấy người áp giải kia chưa kịp chỉ mặt anh cho anh em biết thì họ đã phải về xuôi mất rồi. Đến nay, anh em muốn các đồng chí trong đội binh vận giới thiệu anh cho anh em được rõ. Nhưng các đồng chí ta lại lấy chuyện này làm "vốn”, nên chúng tôi không những đã nói với anh em rằng: Đúng, có "ông võ sĩ" thật, nhưng ông ấy chỉ xuất đầu lộ diện khi nào thật cần thiết, mà còn tô vẽ thêm:

        -  Ông ấy, ngoài thập bát ban võ nghệ tinh thông, lại biết cả gồng, cả điểm huyệt nữa. Thịt da ông ấy, dao chém không đứt. Đánh ai, ông ấy chỉ đặt ngón tay đúng chỗ hiểm là người đó chết tươi... Còn về tính tình, các đồng chí ta giới thiệu là: ông ấy rất thương người nghèo, rất ghét kẻ bóc lột thống trị và lũ tay sai... Nghe vậy, anh em binh lính đều tấm tắc khen ông võ sĩ.

        Tôi đoán là số anh em binh lính áp giải tôi đã được chứng kiến một lần tôi đấu võ với tù thường phạm ở Hỏa Lò -  Hà Nội. Tôi nhớ có một lần trong sân Hỏa Lò, các tù chính trị, tù kinh tế (Pháp phân loại: Tù chính trị là những người hoạt động đảng phái; tù kinh tế là những kẻ ăn cắp, trộm cướp), nam nữ ngồi riêng từng đám quây vòng quanh sân.

        Một người cao to ra đứng giữa thách thức. Mấy anh em tù chinh trị hăng hái nhảy ra đấu, bị hắn quật ngã lăn ra sân. Thấy vậy, tôi xót không chịu nổi. Quan sát kỹ chỗ mạnh, chỗ yếu của hắn, thấy các đồng chí ra trước đã không làm được hai nguyên tắc cơ bản của võ tay không là bám địch đánh địch và lấy sức địch đánh địch. Nó to khỏe, đấm một quả đấm 50 ki- lô- gam, ta chỉ cần thêm vào 20 ki- lô- gam là hắn sẽ phải chịu 70 ki- lô- gam, to khỏe mấy cũng đổ. Tôi nhảy ra, hắn thấy tôi gầy gò mảnh khảnh hắn càng chủ quan kiêu ngạo. Tôi vừa tránh né hắn, tạo cho hắn chủ quan thêm, hắn sấn tới lao vào túm vai tôi. Tôi né người, nắm lấy tay hắn giật mạnh, lỡ đà, lại bị kéo, hắn nhoài người ra. Tôi cứng bàn tay xỉa nhẹ vào nách hắn, hự! Cả thân hình cao to ấy đổ vật xuống sân…

        Anh em tù chính trị nhảy lên reo hò hả dạ.

        Rõ ràng lực lao rất mạnh của hắn cộng với lực vuốt và lực xỉa nhẹ của tôi, ba lực ấy cộng lại, hắn chịu cả, nên hắn phải đổ.

        Có lẽ từ chuyện biểu diễn võ ở căng Bá Vân đến chuyện đấu võ ở Hỏa Lò -  Hà Nội, mà anh em binh lính đặt tên tôi là "võ sĩ đạo".

        Tuy nhiên, khi đồng chí trong đội binh vận thuật lại cho huyền bí, thì tôi không bằng lòng.

        -  Sao cậu lại dựng thêm chuyện huyền hoặc để lòe anh em như vậy? Mình không bằng lòng đâu. Lúc nào cần thiết thì cậu ra mà xuất đầu lộ diện thay "ông võ sĩ" ấy.

        Đồng chí ấy lại cười và bảo tôi:

        -  Anh không tuỳ cơ ứng biến rồi. Anh em binh lính đã bao năm bị bọn đế quốc nhồi vào đầu óc tính "phục tùng cá nhân", mình cũng phải lựa theo trình độ của anh em mà công tác chứ. Về sau anh em dần dần tiến bộ thì anh em sẽ tự hủy cái ý nghĩ "mê tín" ông "võ sĩ đạo" đi và sẽ thay vào đó đồng chí Đồi, cán bộ cách mạng Việt Nam thì đã sao nào?

        Thế là tôi đành chịu. Và cũng từ đó, tôi nghiễm nhiên trở thành "nhà võ sĩ" bí mật. Đồng thời, tôi cũng tự nhủ phải làm sao cho xứng với sự hâm mộ của anh em để khi tổ chức cần nhà võ sĩ ra mắt sẽ không phụ lòng một ai...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:43:25 PM

        Xin trở lại công tác binh vận. Đối với công tác này, chúng tôi chia thành nhiều bước. Việc trước tiên là phân loại, kẻ nào xảo quyệt, nham hiểm, phản động thật sự, ai là người hăng hái nhưng thiếu chín chắn, ai là người biết thương người nghèo khổ nhưng nhút nhát... Theo đó mà đặt ra phương hướng xử trí, tuyên truyền, giáo dục cụ thể.

        Sau khi đã chọn được đối tượng, việc quan trọng là gây cảm tình cá nhân. Trong công tác binh vận, có gây cảm tình cá nhân thì mới dễ gần gũi, giáo dục được. Có những anh em binh lính tuy chưa được giác ngộ, nhưng họ đối với những đồng chí của ta vẫn thân thiết, kể hết mọi chuyện về đời mình, chuyện sinh hoạt hàng ngày của sĩ quan, binh lính cho đồng chí của ta nghe.

        Sau khi đã chọn được đối tượng, gây được cảm tình cá nhân từ đó mới bắt đầu tuyên truyền khêu gợi tinh thần tự cường dân tộc, lòng yêu mến quê hương, đất nước của mỗi người. Nhân câu chuyện anh em binh lính khâm phục "nhà võ sĩ", các đồng chí của ta đã đem một phần sự thật của đời tôi gắn cho "nhà võ sĩ" nọ để thuật lại cho họ nghe. Các đồng chí nói: "nhà võ sĩ” cũng xuất thân là một người dân cùng đinh, tấc đất cắm dùi không có, đi làm thuê làm mướn không đủ ăn, bị bọn hương lý cướp đất, cướp nhà, gia đình sống nheo nhóc trong túp lều vịt, rồi lang thang kiếm sống. Chuyện võ sĩ từ anh cùng đinh đến chỗ biết làm bao nhiêu nghề: nề, một, nguội, thợ đầu máy xe lửa trên con đường xe lửa Hà Nội -  Vân Nam mà vẫn cùng cực. Chuyện võ sĩ vì căm thù bọn đế quốc, phong kiến bóc lột gia đình mình, áp bức nhân dân Việt Nam mình mà quyết chí đi tìm thầy, học đạo, học các môn võ nghệ từ năm 13 - 14 tuổi... Qua đó, các đồng chí ta gợi chuyện nghèo khổ của anh em và dần dần vạch ra con đường để anh em thấy cần phải đi.

        Các đồng chí ta còn đặt nhiều câu hỏi cho anh em tự suy nghĩ như: Các bạn cầm súng trong tay để bắn giết ai, làm lợi cho ai? Các vị Đội Cấn, Đội Cung là ai, và đã cùng ai nổi lên ở Thái Nguyên, Đô Lương làm những việc muôn người ca ngợi? Các vị đó nghĩ gì mà có hành động như vậy, để lại tiếng thơm muôn đời về sau? v.v.

        Đến giai đoạn này, anh em binh lính mới thổ lộ rõ tâm tư, hoàn cảnh của mình hơn. Nhìn chung, trong lòng mỗi người đều ít nhiều vẫn có tình yêu mến quê hương xứ sở, yêu mến Tổ quốc. Nhưng trong từng người lại có những nguyên nhân khác nhau dẫn họ đến con đường cầm súng, chết thay cho giặc. Có người vì cầu an, có người vì tiền, vì quyền lợi gia đình, có người vì bị lừa phỉnh hoặc bị bắt buộc, v.v. Và đến khi được tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước thì từng người cũng có những nguyên nhân khác nhau dẫn đến ủng hộ hoặc đi theo cách mạng với mức độ khác nhau.

        Sau bước này, là đến bước giao việc, thử thách: Từ việc dễ đến việc khó, từ việc thường tới việc nguy hiểm. Công việc lúc đầu có khi chỉ là nhờ anh em mua giúp hộ cái kim, cuộn chỉ, gói thuốc lào, rồi dần dần mua bút mực, sách vở. Và phải một thời gian khá lâu mới tiến tới giao công việc khó khăn như: nghe ngóng tin tức và lấy báo chí, tài liệu... Mỗi khi nâng công việc của người nào lên một bước, tập thể đều có thảo luận nhận xét về người đó rất cẩn thận. Cho đến lúc đánh giá xem một người nào đó đã đạt đầy đủ tiêu chuẩn làm nòng cốt nhân mối thực sự chưa thì lại càng phải hết sức tỉ mỉ, thận trọng. Đến khi một người nào đó có đầy đủ tiêu chuẩn rồi, đều phải trải qua các bước: Được đội phụ trách binh vận nhất trí tán thành; được ban lãnh đạo chung và chi bộ nhà tù quyết định cuối cùng thì người đó mới được công nhận là nòng cất, nhân mối thật sự.

        Song song với vấn đề ai xông ra đánh quân thù, nghĩa là tổ chức, chuẩn bị lực lượng, còn phải giải quyết vấn đề lấy gì mà đánh?

        Ở vào hoàn cảnh của những người tù chính trị trong trại giam đế quốc lúc đó thì dù chỉ có khúc gỗ, đoạn tre cũng rất quý và cũng đã liệt vào loại có khả năng dùng nó làm vũ khí tiêu diệt quân thù. Nhưng tất nhiên, chưa ai cho rằng gỗ, tre đã đủ dùng khi khởi sự được. Cho nên, có hai việc rất lớn được chi bộ nhà tù đặt ra, đó là việc tự rèn đúc vũ khí và việc tổ chức lấy súng đạn của giặc.

        Việc rèn đúc vũ khí, anh em trao cho tôi, vì trước đây tôi là thợ nguội. Có nhiều đồng chí vui tính đã gọi tôi là "giám đốc công binh xưởng".

        "Công binh xưởng" đã được chuẩn bị đặt ở trong căn buồng nhỏ, ở một phía góc nhà tù, có phên nứa ngăn riêng. Ở đấy tôi đào và đắp đất thành một lò rèn, lấy búa tạ thường ngày đập đá, chôn xuống làm đe. Hàng ngày, bộ phận anh em làm ở nhà bếp có trách nhiệm dấm than để dành và chuyển dần lên cho.

        Đến việc làm bễ, anh em thảo luận mất khá nhiều thời gian. Nếu làm hai ống thụt đàng hoàng thì cồng kềnh, lúc động dụng phải cất giấu sẽ gặp nhiều khó khăn, dễ bị lộ. Có ý kiến bảo: nên lấy ống bương làm cái bơm, nhưng cũng chưa tiện, cuối cùng có một sáng kiến được chấp nhận là mua một con chó, lấy thịt ăn, còn bộ da khâu lại thành một cái bao, vặn hai đầu làm cái bễ xếp, hơi cũng nhiều, khi cần thiết có thể tẩu tán mau chóng được.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2016, 11:45:32 PM

        Về nguyên liệu, dựa vào đội binh vận. Các đồng chí giao cho các anh em binh lính đang thời kỳ thử thách hoặc các nhân mối để lượm lặt sắt vụn, dao kéo cũ hỏng đưa về, chôn cất cẩn thận vào một chỗ, dùng đến đâu, đào lên đến đấy.

        Ngày nào muốn "quật búa, khai đe", chúng tôi nhằm vào lúc cai đội, binh lính đi tập, đi ăn cơm và phải nhờ anh em nhân mối canh gác giúp. Để bảo đảm tốt hơn, chúng tôi phải tổ chức các đồng chí ta ở các trại hò hét, gảy đàn, kéo nhị, có khi còn giả vờ cãi cọ nhau loạn xị để át tiếng búa, tiếng đe. Sản xuất được con dao, chiếc mã tấu nào, chúng tôi chuyển ngay sang trại giam các nữ đồng chí chôn giấu ở bên đó.

        Quanh cái "công binh xưởng" đó, đã xảy ra nhiều chuyện lý thú. Một hôm, có ám hiệu báo có nguy hiểm rất gấp ở ngoài sân. Tôi vội cất giấu mọi dụng cụ, san bằng bếp, rồi chạy ra, chuẩn bị ứng phó nếu bị khám xét. Nhưng khi nhìn ra, tôi chỉ thấy hai anh lính, tay đang giằng co nhau vật gì không rõ, miệng thì sỉ vả nhau thậm tệ. Mấy đồng chí ta cũng đang sấn vào can ngăn. Khi đã đẩy được mỗi người sang một bên, tôi mới ra tận nơi xem. Thì ra, cả hai người lính đều là nhân mối của ta, nhưng lại không biết nhau. Một anh đi tìm sắt vụn để cho "công binh xưởng" làm vũ khí. Anh ta nghĩ, nếu chỉ có sắt không có thép, dao không sắc. Anh có tìm được mấy thỏi sắt tròn mà anh cho là thép, giấu kín trong người, định đem đến trại giao cho tôi. Một anh làm nhiệm vụ canh gác, thấy anh kia xống xộc đi vào, liền ngăn lại. Thế là hai bên đã sinh sự với nhau... Có điều đáng buồn cười là cả hai bên đều dùng những câu chẳng ra đâu vào đâu để căn vặn, đối đáp nhau, cho nên cuộc đấu khẩu có lúc rất căng.

        Biết sự tình không có gì đáng lo ngại, tôi lặng lẽ trở vào tiếp tục lôi bễ da chó, nổi lửa, bắt tay vào việc. Tiếng búa đập trên đe chan chát, lửa tóe lên như những chùm hoa. Trong phòng bừng sáng lên một màu hồng rất đẹp.

        Mặc dầu việc tổ chức rèn dao, đánh mã tấu có đôi chút thuận lợi, nhưng chúng tôi cũng quyết định làm gấp rút trong một thời gian ngắn cho hoàn thành kế hoạch để sớm xóa bỏ vết tích lò rèn, đề phòng địch phát hiện.

        Còn việc lấy súng của địch, các đồng chí có lắm ý kiến, nhưng cuối cùng mọi người đều nhất trí, nếu lấy sớm, hàng tuần bọn chỉ huy kiểm tra thấy thiếu, sẽ tổ chức khám xét gắt gao, việc chôn giấu chỉ loanh quanh ở mấy cái buồng nhỏ trong nhà tù cũng gặp nhiều khó khăn, dễ bị chúng lùng sục, phát hiện ra. Mà đã để đến "nước" ấy thì rất có thể vỡ lở cả các kế hoạch khác. Nhất là đối với anh em binh lính đang được ta giáo dục, thử thách, nếu sớm bị khủng bố gay gắt sẽ dễ dao động, xao xuyến. Do đó, chúng tôi giữ bí mật ý định này và càng ra sức làm tốt công tác binh vận. Đến khi nào được đông đảo anh em binh lính theo ta và sắp sửa hành động, thì súng đạn trên tay anh em cũng là của ta cả. Đẩy mạnh công tác binh vận trong hoàn cảnh ấy, không những chỉ phát triển lực lượng, giải đáp được một phần quan trọng của vấn đề ai xông ra đánh quân thù, mà còn "chôn giấu” được vũ khí vào những nơi kín đáo nhất, chắc chắn nhất, đó là "chôn giấu” ngay "trong lòng" các binh sĩ đang được chúng tôi mang hết tâm trí ra hun đúc lòng yêu nước, chí căm thù giặc của họ, khi thời cơ đến là có ngay, có đủ vũ khí dùng vào việc vượt ngục, khởi nghĩa.

        Có lực lượng, có vũ khí rồi, phải giải quyết đánh địch bằng cách nào để giành thắng lợi hoàn toàn?

        Đây lại là một vấn đề rất gay go đối với kế hoạch khởi nghĩa trong nhà tù, rồi từ trong nhà tù phát triển rộng ra bên ngoài.

        Đã có rất nhiều cuộc bàn bạc, tranh luận diễn ra. Mặc dù đều chung một mục đích vượt ngục trở về với Đảng để hoạt động cách mạng, nhưng chúng tôi vẫn chưa thể nào nhất trí được với nhau về cách đánh. Người thì chủ trương dùng cách biểu tình phản đối đi đôi với đấu tranh bằng thương lượng. Người thì cho rằng chỉ có cách bắt cóc những tên chỉ huy đầu sỏ, buộc không phải hạ lệnh cho toàn bộ cấp dưới của chúng đầu hàng ta... là êm ả nhất, dễ thành công nhất. Hoặc là êm ả bí mật rút ra ngoài rồi tản đi các nơi, xây dựng cơ sở... Người thì thấy cần phải vận động quần chúng, tổ chức lực lượng tiên phong, huấn luyện quân sự vũ trang chiến đấu, chớp lấy thời cơ thuận lợi, tiêu diệt địch, vượt ra với quần chúng, tổ chức chiến khu cách mạng, bắt liên lạc với các căn cứ xung quanh thành khu căn cứ cách mạng rộng lớn. Đó mới là cách chắc chắn nhất, v.v.

        Biết là vấn đề rất quan trọng và có tác dụng quyết định đến thành bại của cuộc khởi nghĩa, nên chúng tôi càng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, không thể vội vã, hấp tấp được.

        Nhưng dù đánh bằng cách nào cũng đều yêu cầu mỗi chiến sĩ cách mạng phải hiểu biết về quân sự, phải rèn luyện bản lính chiến đấu. Điều này tất cả mọi người đều nhất trí.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:40:22 AM

        Vậy đã ở trong tù, làm thế nào luyện tập được? Đi một bước, lưỡi lê kèm một bước. Và mặc dầu được anh em binh lính cảm tình với cách mạng giúp đỡ che giấu, nhưng anh em cũng không dám để chúng tôi quá tự do, muốn sao nên vậy được. Thế thì đi đâu? Tập như thế nào cho thích hợp? Nếu lộ một chút, rất có thể dẫn đến những hậu quả tai hại không lường được.

        Tôi nhớ lại hồi đầu năm 1941, khi còn bị giam ở sở mật thám Hà Nội, lúc đó bị địch kiểm soát rất gắt gao, nhưng được tổ chức phân công, tôi vẫn tranh thủ huấn luyện quân sự cho các anh Nghĩa, anh An... bằng cách ngồi chuyện trò, vẽ xuống sàn nhà. Nhưng đến thời kỳ ở căng Bá Vân -  Thái Nguyên, việc huấn luyện quân sự thật là say mê, thích thú làm sao. Đối với các chiến sĩ cách mạng, nhà tù là nơi tiếp tục đấu tranh với kẻ thù và là trường học đào tạo cán bộ cách mạng. Những năm ở trong nhà tù của đế quốc, Đảng đã giáo dục, bồi dưỡng chúng tôi toàn diện như học văn hóa, ngoại ngữ, lý luận chủ nghĩa Mác -  Lênin, đường lối cách mạng của Đảng, công tác chi bộ, công tác vận động quần chúng và một nội dung quan trọng nổi bật nữa là rèn luyện thể lực, huấn luyện quân sự.

        Ở căng Bá Vân, chi bộ Đảng lãnh đạo việc học quân sự cho các đảng viên và quần chúng thanh niên nòng cốt rất tập trung và rất kiên quyết: mặt khác, chúng tôi tranh thủ được sự ủng hộ của một số anh em binh lính có cảm tình với cách mạng, tổ chức hội binh sĩ cứu quốc.

        Nhân dịp những ngày kỷ niệm 1 tháng 5 hoặc kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi tổ chức ngày hội điền kinh, biểu diễn một số môn điền kinh và võ dân tộc, có mời quần chúng vùng xung quanh và thị xã Thái Nguyên tới xem.

        Chúng tôi thi các môn nhảy cao, nhảy xa, xà đơn, xà kép, chạy, bơi, võ, đánh bốc, đấu quyền, đấu kiếm, v.v. Anh Phạm Quang Thân biểu diễn môn đánh gậy; anh Nho nổi tiếng về bơi ngược dòng sông Kông 9 ki- lô- mét -  một con sông nhỏ men theo triền núi Tam Đảo, nước chảy mạnh; tôi biểu diễn các môn võ tay không, đại đao; các anh khác biểu diễn và thi nhiều môn võ dân tộc rất hấp dẫn thanh niên.

        Khán giả là những anh em trong tù, vỗ tay reo hò cổ vũ nhiệt liệt, lôi cuốn cả số đông binh lính và thanh niên trong vùng kéo đến mỗi lúc một đông.

        Sau mỗi lần tổ chức như vậy, nhân dân lại hỏi: Lần sau dự định tổ chức vào ngày nào? Nhớ báo cho bà con biết nhé!

        Các môn thể thao và võ được thanh niên rất ưa thích, dần dần thành phong trào tập luyện sôi nổi. Từ phong trào ấy, bước vào học quân sự, thanh niên tiếp thụ rất nhanh. Đầu tiên, chúng tôi chú trọng rèn luyện tác phong quân sự và kỷ luật quân sự: ăn, ở, đi, đứng, làm lao động, học tập... đều nghiêm túc, khẩn trương. Trước khi làm gì, đều có chuẩn bị kỹ và kiểm tra; sau khi làm, bao giờ cũng có kiểm điểm rút kinh nghiệm và nhận xét. Lệnh đã ban ra thì trăm người như một, nhất nhất chấp hành. Trong tù, đồng chí nào bị kỷ luật thì rất khổ tâm, phải đem khẩu phần ăn của mình ra ngồi ăn riêng, không được chuyện trò với ai, bất cứ đi đâu, kể cả đi tiểu, đại tiện cũng phải xin phép. Nhưng trên tinh thần tự giác rèn luyện, mọi người đều phấn đấu cố gắng giữ gìn kỷ luật tốt.

        Chúng tôi học từ các động tác đội ngũ, sử dụng vũ khí, đến các kỹ thuật chiến đấu cá nhân, dần dần nâng lên trình độ chiến thuật, kỹ thuật, công tác tham mưu và học chỉ huy... Những nội dung bồi dưỡng, huấn luyện đều sát với yêu cầu nhiệm vụ trước mắt là khi có thời cơ thì nổi dậy, phá ngục vượt ra chiến đấu, đồng thời cũng chú ý yêu cầu đào tạo cán bộ chuẩn bị xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, xây dựng quân đội sau này. Những vấn đề về cách xem xét, phân  tích địa hình, phân tích địch, suy nghĩ tính toán làm kế hoạch tác chiến, và một số hình thức chiến thuật cần thiết đều được chú trọng.

        Những buổi học tập ban đầu, thường được tiến hành ở trong nhà -  bây giờ trong các trường quân sự của ta gọi là tập bài chiến thuật trên bản đồ, trên sa bàn.

        Ở trong ngôi nhà nuôi gà khá lớn của căng Bá Vân, nơi ấy, anh Linh thường ngồi sao chép lại các chỉ thị, tài liệu của Xứ ủy từ bên ngoài gửi vào, được đắp lên một bàn cát có núi rừng, làng mạc, sông ngòi, đường sá, v.v. Ở ngoài nhà, bố trí người lao động, tưới rau, làm vườn để canh gác. Các quân cờ được dùng để vừa thay cho quân của hai bên và tượng trưng cho trang bị vũ khí, vừa để đề phòng nếu bị khám xét thì giả vờ chơi đánh cờ. Ở giữa bàn cát ngăn bằng một tấm liếp. Một tốp được tạm ghép từ bốn đến năm người, thay nhau tập làm một ban chỉ huy và tham mưu. Huấn luyện viên đứng giữa làm trọng tài điều khiển, nêu tình huống cho bên phòng ngự, nêu tình huống cho bên tiến công. Để cho hai bên nghiên cứu bố trí thế trận trong một thời gian nhất định, huấn luyện viên ra lệnh hết thời gian chuẩn bị và nhấc tấm liếp ở giữa ra để “Bộ chỉ huy" của hai bên phân tích thế trận của mình và của đối phương. Cuối cùng huấn luyện viên nhận xét, kết luận đúng, sai, mạnh, yếu của từng bên... Sau đó, anh em nhận xét, bổ sung là xong, kết thúc khoa mục huấn luyện.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:43:46 AM

        Sau khi học tập nguyên tắc lý luận và tập chỉ huy trên bàn cát, chúng tôi bắt đầu ra thực địa tập chỉ huy có "thực binh".

        Anh Trịnh Tam Tỉnh lúc đó được chi bộ giao nhiệm vụ trong nội bộ, phụ trách binh vận và cải thiện đời sống, nhưng công khai phụ trách trật tự điều khiển mọi mặt.

        Hàng thần anh Tỉnh cắt cử người vào rừng lấy củi đều dựa vào ý định sắp xếp các bộ phận và ý định luyện tập chiến thuật. Bộ phận nào đi trước, bộ phận nào đi sau, ai ốm nghỉ ở nhà thì hôm khác tập bù. Tổ này tập xong một thương trình, lại thay tổ khác.

        Những ngày đầu tuần, chúng tôi lao động rất khẩn trương, lấy thật nhiều củi, tập trung giấu kín một chỗ; dùng thời gian những ngày sau để tập quân sự, tập xong, đem củi về dần.

        Nội dung luyện tập rất phong phú: tập đánh tháo (Đánh giải vây), đánh úp đánh tỉa, mai phục, đánh bảo vệ căn cứ địa, v.v. Những bài tập ở sa bàn trong chuồng gà, bây giờ được ứng dụng vào thực địa. Dòng sông Kông vào mùa mưa lũ, nước đục ngầu, ào ào cuộn chảy, chúng tôi hăng hái vượt qua, vào rừng rậm, núi cao bắt đầu phân chia bên ta, bên địch, trước tập chậm theo kiểu “xếp quân cờ" vài lần, sau khi đã quen quen, mới bắt đầu diễn tập gần như thật. Khẩu lệnh đã phát ra, mọi người phải nhất loạt xông lên, không kể gì gai góc, khó khăn, ẩn hiện thoăn thoắt trong rừng cây, tiến thoái mau lẹ. Có những lần anh em binh lính là nhân mối của ta áp giải chúng tôi đi lấy củi hoặc anh em binh lính có cảm tình với cách mạng còn cho chúng tôi mượn súng để luyện tập. Trường hợp gặp người lính chưa có cảm tình với ta đi theo, thì chúng tôi tìm mọi cách giữ lại uống rượu, đánh bạc ở nhà cơ sở của ta bên bờ sông Kông. Những ngày tập luyện trong rừng, điều kiện để trốn thoát tuy có phần nào thuận lợi, nhưng tổ chức vượt ngục phải cân nhắc kỹ, phải có quyết định của cấp ủy, của chi bộ và phải xin chỉ thị của Xứ ủy...

        Vì vậy, mọi người phải tuyệt đối phục tùng kỷ luật về việc vượt ngục. Không một ai tự động thoát tù khi chưa có chỉ thị của tổ chức. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi đi lấy củi, đi mua lợn, gà, rau giống, có điều kiện cho phép là chúng tôi tranh thủ tuyên truyền cách mạng trong quần chúng, tổ chức thanh niên cứu quốc, huấn luyện quân sự cho số thanh niên nòng cốt.

        Lúc đầu, chúng tôi tổ chức quần chúng ở xung quanh Bá Vân, dần dần phát triển đến Phúc Thuận, Bình Định, Tân Cương và xung quanh thị xã Thái Nguyên... Nội dung huấn luyện cũng từ thể thao, vũ thuật đến quân sự, tiến tới giao nhiệm vụ canh gác, bảo vệ cơ sở, bảo vệ đường dây, trị an, trấn áp bọn đầu sỏ các toán cướp, v.v. Sau một thời gian thẩm tra, thử thách và xét có thể tin cậy được, chúng tôi huấn luyện thực sự về quân sự để làm nòng cốt trong quần chúng, chuẩn bị khởi nghĩa và phát triển lực lượng vũ trang sau này. Chẳng bao lâu, hàng trăm đồng chí ta và thanh niên yêu nước đã nắm được một số điểm cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật quân sự... thuận lợi biết bao nhiêu khi quyết định khởi nghĩa trong tù, xây dựng khu căn cứ du kích và làm nòng cốt cho lực lượng quân sự ở vùng tây nam thị xã Thái Nguyên.

        Ở Nghĩa Lộ có nhiều khó khăn hơn ở căng Bá Vân, nhưng lại có những thuận lợi khác. Ở đấy chúng tôi không được đi ra ngoài nhiều như ở Bá Vân, nên chi bộ nhất trí thay đổi cách học, lấy địa điểm học tập ở trong trại giam là chính. Và tất cả các khoa mục kỹ thuật, chiến thuật đều phải nhằm phục vụ cho nhiệm vụ khởi nghĩa, tiêu diệt quân địch và đánh chiếm các trại giam, vượt tù, ra lập chiến khu du kích.

        Để chuẩn bị luyện tập có kết quả, chúng tôi lại họp nhiều lần để cùng nhau đóng góp ý kiến. Một số anh em thắc mắc: Tập quân sự mà súng ống chả có thì khó có kết quả?

        Đồng chí Nhu và đồng chí Nho nói với anh em:

        -  Các đồng chí cứ yên tâm, vài ngày nữa chúng ta sẽ có súng để luyện tập.

        Các đồng chí ấy đã tìm cách gần lính gác, miệng tán những chuyện thần thoại, chuyện "Trung -  Nhật chiến tranh", nhưng mắt vẫn để ý quan sát khẩu súng, để nhập tâm đầy đủ các bộ phận và kích thước của khẩu súng. Mấy ngày sau, các đồng chí ấy đã đem đến cho anh em khẩu súng gỗ mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là súng thật. Nòng, báng, đầu ngắm, khoá nòng, hộp tiếp đạn, v.v. đều có cả, giúp cho việc giảng dạy về cấu tạo và sử dụng vũ khí có nhiều thuận lợi.

        Chúng tôi quý nó lắm. Ai cầm lấy cũng gượng nhẹ, nâng niu.

        Để chuẩn bị vượt ngục thành công, hoạt động gây cơ sở, chuẩn bị lực lượng ở núi rừng hiểm trở được thuận lợi, chúng tôi còn chú ý huấn luyện cách sử dụng địa bàn và tìm biện pháp "chế tạo" địa bàn trang bị cho anh em.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:45:45 AM

        Trong không khí tự hào về khả năng sáng tạo của quần chúng, sau khi đã tự chế được khẩu súng gỗ, đồng chí Nhu lại nhận nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo loại sản phẩm mới này, rất vui vẻ và tự tin:

        -  Mình đảm nhận làm món ấy cho.

        -  Nhưng lấy đâu ra nam châm, lấy đâu ra máy móc mà đòi chế địa bàn? -  Một đồng chí băn khoăn hỏi lại.

        Vẫn đầy lòng tin tưởng, đồng chí Nhu đáp:

        -  Tay trắng làm nên mới hay chứ. Cách mạng là ở chỗ đó.

        Chỉ vài hôm sau, đồng chí Nhu đã đưa cho chúng tôi chiếc địa bàn rất xinh. Anh em cầm xoay thử, thấy rất chính xác ngạc nhiên hỏi:

        -  Làm thế nào mà giỏi vậy, Nhu?

        Đồng chí Nhu cười:

        -  Có công mài sắt có ngày nên kim, đúng là mình mài sắt thật. Lấy những mảnh sắt nhỏ, cắt, giọt, giũa, mài... rồi đục, khoét, chắp nối mãi cũng thành. Còn nam châm, mình lấy ở mũi con dao có chất ấy cho truyền sang kim địa bàn là được thôi.

        Trong nhà tù làm được như vậy là một công trình sáng chế lớn, rất quý đối với chúng tôi lúc ấy. Có nó, vừa để học tập vừa để sau này vượt ngục, chiến đấu. Ngoài ra, chúng tôi tiếp tục chuẩn bị các dụng cụ khác để tập quân sự và sẵn sàng hành động.

        Rút kinh nghiệm huấn luyện quân sự ở căng Bá Vân, trong hoàn cảnh mới có khó khăn hơn, chương trình, nội dung huấn luyện của chúng tôi càng được chọn lọc ngắn gọn, sát với yêu cầu nhiệm vụ hơn.

        Ngoài việc ôn luyện kỹ thuật, rèn luyện tác phong chiến đấu khẩn trương, chúng tôi tập báo động chiến đấu tập đánh giáp lá cà, tập vượt ngục, tập đánh tháo, tập đánh úp, tập đánh du kích, xây dựng chiến khu du kích, v.v.

        Nhưng bao trùm lên tất cả những công việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa là vấn đề tư tưởng. Ở bất cứ nhà tù nào, dù bị bọn chúa ngục đối xử tàn bạo đến đâu, kiểm tra, sục sạo gay gắt đến mức độ nào, các đồng chí ta vẫn tiếp tục tổ chức các lớp huấn luyện chính trị để nâng cao tư tưởng, giữ vững khí tiết cách mạng cho nhau. Và đây cũng là một việc trang bị "vốn liếng" trau dồi thêm trình độ chính trị quân sự... cho từng người để mai mốt thoát khỏi nhà tù đế quốc, về phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân đắc lực hơn.

        Vì chúng tôi quan niệm nhà tù đế quốc đối với người cách mạng là nơi tiếp tục đấu tranh cách mạng, là trường học đào tạo cán bộ cách mạng, chứ không phải là nơi nằm chờ thụ động.

        Đứng trước nhiệm vụ mới và cụ thể của chúng tôi ngay cuộc họp bàn trong dịp mấy ngày Tết ấy, đồng chí Trần Huy Liệu đã được chi bộ ủy nhiệm thảo ra một chương trình huấn luyện lý luận cách mạng, giáo dục chính trị cho các đồng chí ta. Tất cả những bài giảng đều nhằm bồi dưỡng thêm cho nhau lòng tin tưởng vững chắc vào tiền đồ tất thắng của cách mạng, nâng cao tinh thần đấu tranh, bền bỉ, dũng cảm hy sinh khi cách mạng cần đến.

        Với tinh thần náo nức đợi ngày nổi dậy, các buổi học tập quân sự, học tập chính trị, các đồng chí ta hết sức tập trung tư tưởng theo dõi thuyết trình viên và cùng nhau thảo luận rất sôi nổi.

        Nhờ đó mà không khí chuẩn bị mọi mặt cho cuộc nổi dậy vượt ngục khẩn trương hẳn lên.

        Một buổi sớm thượng tuần tháng 3 năm 1945, binh lính trong trại nhốn nháo khác thường. Các anh em nhân mối lần lượt báo cho chúng tôi biết tin: Nhật đã đảo chính Pháp... Nhật đã chiếm toàn bộ Hà Nội... Pháp, Nhật còn đang đánh nhau ở Vĩnh Yên, Việt Trì, Yên Bái.

        Giữa lúc ấy, chúng tôi vẫn chưa liên lạc được với Trung ương. Phải chăng thời cơ đã đến? Nhà tù Nghĩa Lộ vùng dậy được chưa? v.v.

        Phần đông trong chúng tôi đều có chung một câu hỏi như thế và đều hướng sự suy nghĩ của mình để tìm lời giải đáp.

        … Pháp thua bỏ cả Sơn Tây, Phú Thọ, Việt Trì, Yên Bái rồi! Pháp từ các ngả, người, ngựa, xe cộ lê thê, lốc thốt chạy qua Nghĩa Lộ đi Sơn La, Lai Châu tháo sang Thượng Lào, sang Trung Quốc rồi?... Hết tin này, tin khác đến với chúng tôi. Hỏi đến tình hình binh lính Pháp ở Nghĩa Lộ ra sao, anh em nhân mối cho biết: chúng vẫn huênh hoang nào là quân Đồng minh sắp vào Trung Kỳ, nào là tướng Lơ- cléc đang ở biên giới Trung -  Việt. Ngoài ra chúng còn chống chế, xuyên tạc, đánh lạc hướng, nói rằng bọn tàn quân Pháp chạy qua Nghĩa Lộ là để trở lại quyết chiến với Nhật? v.v. Khi chúng tôi gặng hỏi tình hình bên trong của bọn Pháp ở Nghĩa Lộ thực tế ra sao, thì anh em nhân mối bảo: chúng ra sức mua chuộc quản Nhượng, đội Mai để hai đứa dọa nạt binh lính, mặt khác, chúng thu vén hòm xiểng khóa gọn ghẽ rồi!...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:48:48 AM

        Qua tình hình nói trên, chúng tôi nhận định: rõ ràng nhìn trên toàn quốc, Pháp đã thua Nhật hoàn toàn, quân đội chúng đang tan rã. Nhưng chỗ nào Nhật chưa đụng đến là chúng còn tiếp tục thi hành những thủ đoạn xảo quyệt đối với ta.

        Tiếp đó, một sự việc mới xảy ra đã giúp chúng tôi xác minh nhận định của mình là đúng.

        Một hôm tên Xi- vê, đồn trưởng Nghĩa Lộ đích thân dẫn hai tên Pháp lạ mặt -  một tên đeo lon quan ba, vào trại gặp chúng tôi và hắn giới thiệu đó là đại biểu phái Đờ- gôn ở Bắc Kỳ muốn nói chuyện với "các ông tù chính trị”. Đồng chí Trần Huy Liệu và một đồng chí nữa đảm nhiệm công tác ngoại giao của nhà tù chúng tôi, được cử ra nói chuyện với mấy tên đó. Thoạt đầu, chúng báo tin đại biểu của phái Đờ- gôn đã gặp đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương để họp bàn và đồng ý hợp tác với nhau theo ba điều kiện:

        -  Một, cơ quan tối cao của bộ máy Nhà nước sau này sẽ có đại biểu của người Việt Nam.

        -  Hai, nước Việt Nam sẽ có nghị viện như các nước.

        -  Ba, dân Việt Nam sẽ được hưởng quyền tự do, dân chủ.

        Mới nghe có chừng ấy câu, chúng tôi đã biết ngay bọn này bịa đặt láo lếu hòng lừa bịp chúng tôi để lợi dụng điều gì đây. Quả nhiên, chỉ qua mấy câu nói, dã tâm của chúng đã phơi bày ra ánh sáng:

        -  Trước hết, các ông hãy lựa cho chính phủ Pháp hai mươi người, giả cách vượt ngục, chia làm bốn toán. Một toán sang Hồ Khẩu (nước Trung Hoa) liên lạc với viên quan năm Pháp ở đó. Còn ba toán khác tìm cách đến những nơi đồn trú của Nhật tại Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái nói là phần tử bài Pháp vừa trốn khỏi nhà tù chạy về với quân Nhật, rồi nhân đó dò xét tình hình báo cho Pháp biết.

        Đồng chí Trần Huy Liệu thay mặt chúng tôi trả lời:

        -  Muốn hợp tác chống Nhật, trước hết phải thả ngay toàn bộ tù chính trì ra. Trong công cuộc chống Nhật chỉ có chúng tôi, những người cộng sản mới động viên được nhân dân Việt Nam đồng lòng đứng lên bảo vệ Tổ quốc mình.

        Chung tôi đồng thanh ủng hộ ý kiến của đồng chí Trần Huy Liệu và đòi thêm không những phải thả toàn bộ tù chính trị mà còn phải được vũ trang. Tên quan ba mắt nheo, mồm nhếch, cất tiếng đểu giả nói luôn:

        -  Cứ làm đi, được việc sẽ tha.

        Tất nhiên, chúng tôi không bao giờ chịu làm gián điệp cho chúng. Và cuộc "thương lượng" ấy cũng tất nhiên không đưa đến kết quả gì. Tên quan ba còn vớt vát đề nghị sẽ tiếp tục nói chuyện với nhau vào một buổi khác, rồi cả bọn kéo nhau chuồn mất.

        Sự thật về tình hình và âm mưu của kẻ địch đã phơi bày ra rõ rệt. Trước âm mưu của kẻ thù và trước tình hình vô cùng thuận lợi cho cách mạng, chúng tôi càng ra sức chuẩn bị cho ngày nổi dậy phá ngục để mau chóng trở về phục vụ cách mạng. Một ban chỉ huy tối cao (tức Ủy ban hành động) được củng cố, gồm: đồng chí Trần Huy Liệu phụ trách chính trị và lãnh đạo; tôi quân sự; đồng chí Phạm Quang Thẩm -  tham mưu; đồng chí Nguyễn Sỹ Nghiêm -  tài chính; đồng chí Trần Đức Sắc -  ngoại giao. Ban chỉ huy tối cao có hai ủy ban chính trị và quân sự giúp việc. Ủy ban chính trị do đồng chí Trần Huy Liệu trực tiếp phụ trách, xung quanh có ban chính trị, ban tuyên truyền, ban ấn loát, v.v. Ủy ban quân sự, tôi được phân công phụ trách, trong đó có ban binh lương, ban y tế do đồng chí Phúc phụ trách, và ban chiến cụ (Lo việc sản xuất và trang bị vũ khí), do đồng chí Nhu phụ trách...

        Lực lượng chiến đấu nòng cốt có đội thanh niên xung phong, do đồng chí Nho (tức đồng chí Lương Nhân) làm trung đội trưởng, đồng chí Thạch là tiểu đội trưởng tiểu đội một, đồng chí Bảy, đồng chí Côn là tiểu đội trưởng tiểu đội hai và ba.

        Chúng tôi ráo riết hoạt động. Ban tuyên truyền thảo lời kêu gọi. Ban ấn loát in truyền đơn bằng chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ nho. Khi viết truyền đơn, chúng tôi lại nhớ đến các lớp học văn hóa, các lớp học ngoại ngữ Anh, Pháp, Hán được tổ chức có nền nếp từ căng Bá Vân. Do đó, trình độ văn hóa của chúng tôi được nâng dần lên cũng bắt đầu từ đó và kiên trì đều đặn hết năm này qua năm khác. Đó là cái vốn văn hóa giúp cho chúng tôi trong học tập và công tác sau này.

        Ủy viên chính trị phụ trách binh vận, đi sâu vào việc củng cố nhân mối, phân loại đối tượng, đặt kế hoạch khẩn trương giáo dục hoặc biện pháp xù lý. Theo nhận định chung thì trong số binh lính người Việt có ba xu hướng cụ thể. Phản động nhất, xảo quyệt nhất vẫn là tên quản Nhượng. Hắn một mực chống phá cách mạng và ra mặt đe dọa binh lính. Đội Mai thì lừng chừng, do dự. Một số anh em binh lính hoang mang dao động, sợ cứ bám theo Pháp thì có ngày làm tù binh cho Nhật, mà theo cách mạng, thắng đã vậy, nhỡ cách mạng thất bại thì tránh sao khói tù tội, thậm chí có khi mất đầu. Một số chỉ muốn có dịp nào đó, chuồn về quê làm ăn với vợ con. Số đông còn lại, chiếm tới hai phần ba, thì ngả theo cách mạng, sẵn sàng hành động khi cách mạng cần đến, trong đó có viên cai Sinh và viên cai mang số hai ngàn, anh em thường gọi là cai "Đơ- min”.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:51:39 AM

        Ủy ban quân sự cũng sôi nổi đẩy mạnh công tác của mình. Ngoài việc chuẩn bị chu đáo trang bị cá nhân, khâu ba lô, vá quần áo, làm túi thuốc, bông băng, tất cả các đồng chí ta, nhất là các đồng chí trong đội thanh mến xung phong đều ra sức ôn luyện quân sự. Đồng chí Phúc đôn đốc việc rang gạo làm lương khô, làm bánh chè lam. Riêng tôi vẫn đặc trách cái “công binh xưởng" bí mật kia. Sắt vụn được các nhân mối chuyển tới, số lượng khá nhiều nhưng “công binh xưởng” cũng chỉ sản xuất đến mức đủ cung cấp cho mỗi đồng chí một thứ vũ khí, rồi phá lò, tránh bị địch phát hiện.

        Mọi việc chuẩn bị do Ủy ban chỉ huy tối cao đề ra, coi như đã hoàn thành khá chu đáo. Nhìn lại, sở dĩ được như vậy vì tất cả mọi người đều hiểu rằng: có thời cơ mà chưa có lực lượng thì không sao hành động được; ngược lại, có lực lượng mà bỏ lỡ thời cơ cũng hỏng việc.

        Nhưng có một vấn đề cơ bản nhất, mấu chốt nhất vẫn chưa được quyết định dứt khoát, đó là vấn đề đánh địch bằng cách nào đế giành thắng lợi hoàn toàn? Đã bao nhiêu lần thảo luận rồi, trong anh em chúng tôi vẫn chưa nhất trí với nhau về cách đánh địch. Có ý kiến cho rằng không nên bạo động, bạo động sẽ đổ máu mà nên tìm cách thuyết phục bọn quản Nhượng, gây áp lực với tên đồn trưởng Xi- vê, bắt nó nhượng bộ thả anh em ra; được vậy, ta sẽ phân tán vào rừng, dựa vào nhân dân, lập chiến khu kháng Nhật, bắt liên lạc với Trung ương, chuẩn bị tham gia Tổng khởi nghĩa toàn quốc. Có ý kiến ngược lại thì cho rằng, kẻ thù sẽ không bao giờ nhượng bộ ta; tình hình chuẩn bị mọi mặt hiện nay là tốt, ta tranh thủ được sự đồng tình của anh em binh lính, thời cơ đến, ta phải vùng lên diệt bọn đầu sỏ gian ác, phá nhà tù... nhất định sẽ giành được thắng lợi. Có như thế mọi việc tiếp theo mới làm được. Tóm lại, mọi người đều nhất trí là phải thoát ra khỏi nhà tù để tiếp tục hoạt động trong phong trào cách mạng của quần chúng để phồl hợp hành động chung, nhưng về phương pháp thì có hai cách khác nhau: bạo động hay hòa bình thuyết phục đối phương nhượng bộ?

        Trong khi cuộc bàn cãi còn đang tiếp diễn thì tàn quân Pháp từ các nơi vẫn cứ hớt hải chạy qua Nghĩa Lộ. Tên Xi- vê phải cho một tiểu đội ra đóng ở Cửa Nhì, trên con đường Yên Bái vào, cách Nghĩa Lộ 12 ki- lô- mét, đề phòng quân Nhật bất ngờ đánh úp.

        Anh em nhân mối còn cho biết, tên Xi- vê, mặc dù có bố trí này nọ nhưng chính hắn cũng sửa soạn rút chạy. Suốt ngày hắn bối rối, đi ra đi vào thu xếp đồ đạc và luôn mồm hỏi tin tức Nhật đã tiến đến đâu. Cơ sở chính quyền tay sai của Pháp bên ngoài cũng hoang mang cao độ. Trừ một số gian ác, xu thời, chuẩn bị đón tiếp Nhật, còn một số binh lính thì thấy thực tế cuộc sống dưới ách thực dân Pháp đã vô cùng cực khổ, lầm than, rất mong được "các đồng chí cách mạng" dìu dắt vùng lên giành tự do, hạnh phúc, bình đẳng, bình quyền. Nay được tin Pháp thua Nhật, lại tận mắt trông thấy Pháp từ các ngả chạy qua và được biết Pháp ở Nghĩa Lộ sắp cuốn gói chuồn để Nhật lên thống trị... mà Nhật thì không ai lạ gì tội ác của chúng, nên anh em càng lo cho cuộc sống mai đây; càng lo càng mong muốn cách mạng sớm có hành động để sân sàng hưởng ứng...

        Trước tình hình đó, chúng tôi lại họp bàn bạc, đặc biệt lần này do thời cuộc khá khẩn trương, không cho phép chúng tôi chậm trễ được nữa. Về phía địch, thì từ tên Xi- vê trở xuống đã rất hoang mang, chỉ còn ngày một ngày hai Nhật sẽ kéo lên. Về phía ta, các đồng chí và đội thanh niên xung phong đã sẵn sàng quyết tâm chiến đấu. Nhân mối và phần lớn binh lính mong chờ ngày khởi sự, đồng tình ủng hộ cách mạng. Nhân dân bên ngoài đang khao khát được cách mạng chỉ đường... Tất cả những yếu tố cần thiết cho cuộc khởi nghĩa ở đây được coi như đã đầy đủ. Ấy thế mà chỉ còn một yếu tố cơ bản nhất vẫn chưa giải quyết xong, đó là sự nhất trí của nội bộ lực lượng nổi dậy về vấn đề cách đánh định. Đánh bằng cách nào? Bạo động hay thuyết phục? Lực lượng có, thời cơ nắm đúng, nhưng chủ trương hành động sai cũng rất khó thành công. Vì vậy, dù có cấp bách về thời gian, nhưng chúng tôi cũng quyết bàn cho ra lẽ. Mà có xác định được vấn đề này thì mới đồng thời xác định được quyết tâm của Ban chỉ huy tối cao của cuộc nổi dậy.

        Sau một buổi thảo luận, chúng tôi đã nhất trí được với nhau chủ trương dùng lực lượng các đảng viên và đội thanh niên xung phong làm nòng cốt chủ yếu, vận động anh em binh lính theo ta, bất ngờ nổi dậy vào đêm 15 tháng 3 năm 1945. Kế hoạch tóm tắt như sau:

        Đêm đó, đúng phiên anh cai Sinh đến chỉ huy anh em binh lính canh gác chúng tôi. Đợi cho tên quản Nhượng phản động ngủ say, anh Sinh sẽ khóa chặt cửa buồng hắn, nhốt hắn lại. Sau đó, anh nhanh chóng mở cửa nhà tù cho chúng tôi ra nhận súng đạn do anh em binh lính lấy ở kho vận chuyển đến, đồng thời chúng tôi cũng trang bị đầy đủ vũ khí tự chế tạo. Mọi việc xong xuôi, chúng tôi tiến sang chiếm đồn, có anh em nhân mối ở đấy làm nội ứng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:54:33 AM

        Để khích lệ tinh thần anh em binh lính tham gia khởi nghĩa, đồng thời cũng để anh em nắm vững kế hoạch, nhân một buổi tối, tên quản Nhượng lên gặp tên Xi- vê trên đồn, các đồng chí trong ban lãnh đạo tổ chức cho tôi tới nói chuyện với một số anh em binh lính theo yêu cầu của anh em. Đề phòng bất trắc, mấy đồng chí nữa được cử đi cùng tôi. Trời vừa nhá nhem, chúng tôi đàng hoàng ra cổng, đi sang trại lính. Một đồng chí nói đùa:

        -  Cẩn thận nhé, có kẻ làm phản thì gay go đấy.

        Đồng chí khác nói ngay:

        -  Yên trí, một sẽ đánh đổ mười.

        Tới trại, anh em đã tề tựu đầy đủ, một đồng chí ta đưa tay về phía tôi, trịnh trọng giới thiệu đấy chính là "nhà võ sĩ" mà bấy lâu anh em hằng ngưỡng mộ. Vừa dứt lời giới thiệu, anh em dường như tròn cả mắt nhìn tôi và như cố tìm xem diện mạo tôi có gì khác thường. Tôi thấy có cả một anh trước đây đã có lần nói với tôi muốn gặp “nhà võ sĩ". Trong giây phút người nào cũng hớn hở vui mừng xúm lại quanh tôi hỏi han tình hình và đề nghị điều này, điều khác.

        Vào chuyện, tôi nhắc lại những tấm gương tốt đẹp của anh em binh lính trong hàng ngũ quân đội đế quốc Pháp từ trước tới nay đã vì sự sống còn của đất nước, của giống nòi mà quay súng bắn vào đầu bọn chỉ huy hung ác, trở về con đường chính nghĩa, cứu nước, cứu nhà. Sau khi nắm chắc được tinh thần thái độ của anh em, tôi phổ biến kế hoạch hành động. Nói xong, tôi đề nghị anh em góp ý kiến. Một người đội đề nghị cho anh em binh lính bắt quản Nhượng và chiếm đồn của tên Xi- vê trước, tiếp đó sẽ mở cửa nhà tù cho chúng tôi để công việc được nhanh gọn hơn. Và người đội đó tình nguyện xin tự mình chỉ huy anh em làm nhiệm vụ này. Có người lại xung phong dẫn một tiểu đội đóng giả Nhật vào bắt Xi- vê...

        Không khí thảo luận tuy bí mật nhưng rất sôi nổi. Với đề nghị của người đội, tôi thấy nếu để anh em binh lính hành động trước sẽ không có lợi nhiều mặt. Làm vậy, chúng tôi sẽ trở thành bị động, nếu tình hình thay đổi hoặc có gì bất trắc xảy ra thì cả anh em lẫn chúng tôi đều lúng túng. Cho nên, về cơ bản, tôi vẫn giữ vững kế hoạch của Ban chỉ huy tối cao đã vạch ra.

        Đang khi trò chuyện, bỗng có lệnh gọi anh cai Sinh về gặp ngay quản Nhượng.

        Và cũng ngay tối đó, chúng tôi được tin quản Nhượng lệnh điều anh cai Sinh đi nơi khác nhận nhiệm vụ mới.

        Sao vậy, đây là chuyện tình cờ hay có ý định gì bên trong, hay đã có người làm phản? Cảnh giác với âm mưu xảo quyệt của tên quản Nhượng, chúng tôi cùng nhau nghiên cứu, tìm nguyên nhân. Rút kinh nghiệm lần trước, tuy lần này Ban chỉ huy tối cao không cho biết thời gian khởi sự vào ngày, giờ nào, nhưng mọi người đều sẵn sàng đợi lệnh. Nhiều anh đêm ngủ gối đầu lên hành trang để có lệnh là vùng dậy chiến đấu ngay được. Muốn kiểm tra công tác chuẩn bị về tinh thần, tư tưởng, quyết tâm của từng người, ngay đêm 15 tháng 3 ấy, tôi ra ám hiệu mật, báo động, tập họp gấp, giả cách báo động. Ám hiệu vừa phát ra, chỉ vài phút sau, mọi người đều có mặt với đầy đủ những thứ cần thiết đã được quy định. Anh em rất cảm động khi thấy mình sắp sửa được làm một nhiệm vụ thiêng liêng. Đến khi biết là tập thử, anh em cười tỏ vẻ thích thú, nhưng cũng hơi tiếc. Nhiều anh chạy lại gặp tôi, khẩn khoản đề nghị:

        -  Anh ạ, hành động được rồi đấy!

        -  Tình hình đang rối ren thế này, không khởi sự đi còn chờ gì nữa?

        -  Thời cơ đến rồi, chậm trễ thì sẽ lọt vào tay Nhật mất!

        Tôi khuyên anh em bình tĩnh, dù sao cũng phải chuẩn bị chu đáo, đón thời cơ có lợi hơn, đỡ tốn xương máu. Quyết tâm khởi nghĩa phá ngục nhất định không thay đổi.

        Sáng 16 tháng 3 năm 1945, chúng tôi gọi quản Nhượng vào nói cho hắn biết, đại ý: Pháp đã bại, dẫu có trung thành với chúng cũng vô ích, các anh nên nghĩ đến đồng bào, đến đất nước. Nếu không, cũng cần có thái độ ủng hộ những người, những việc mưu độc lập cho Tổ quốc, không nên cản trở.

        Quản Nhượng đảo đôi mắt gian giảo nhìn trộm chúng tôi, rồi nói lấp lửng rằng hắn không bao giờ dám chống đối cách mạng, song còn nặng đầu óc gia đình và vì ngu muội nên hắn không biết nghĩ khác hơn.

        Sự thực, làm việc này chúng tôi cũng không hy vọng thuyết phục hắn theo mình mà cốt để hắn dè chừng, hạn chế sự phá hoại của hắn, đồng thời nâng cao tinh thần anh em binh lính.

        Nhưng trong chúng tôi còn có đồng chí mặc dầu cũng quyết tâm thoát khỏi ngục tù để hoạt động trong phong trào quần chúng, lập chiến khu du kích, nhưng vẫn muốn dùng cách thuyết phục, lôi kéo quản Nhượng và tên Xi- vê, đòi chúng phải nhượng bộ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:57:32 AM

        Đa số anh em, trong đó có tôi kiên trì giữ vững ý kiến đã được tập thể thống nhất, vẫn quyết định nổi dậy phá ngục vào đêm 16 tháng 3. Hôm ấy, đội Mai -  một tên không có chút cảm tình nào với cách mạng, được quản Nhượng phái tới thay anh cai Sinh từ đêm trước và anh cai "Đơ- min" đến gác chúng tôi. Sau khi bàn bạc, anh "Đơ- min" nhận trách nhiệm sẽ mở cửa trại giam cho chúng tôi ra và lập cách trói đội Mai trước khi tiến sang bên đồn của tên Xi- vê; còn anh em binh lính bên trong vẫn chuẩn bị sẵn sàng nổi dậy như kế hoạch cũ.

        Trời đã tối từ lâu.

        Theo thường lệ, trước khi chúng tôi đi ngủ, những người canh gác phải vào điểm mặt và đóng cửa nhà giam. Bữa ấy, đến lượt đội Mai. Nhưng đội Mai không chịu vào, hắn đùn cho anh cai “Đơ- min" và bảo:

        -  Tôi vào bây giờ để người ta thịt tôi à, tối nay thế nào cũng có chuyện.

        Nói xong, hắn bỏ đi luôn.

        Lộ kế hoạch rồi hay sao? Nếu lộ thì ai làm lộ? Chúng tôi lại hội ý tập thể ban lãnh đạo và ban lãnh đạo quyết định trao quyền cho tôi nắm thời cơ và phát lệnh khởi sự hành động.

        Kế hoạch nổi dậy phá nghe lần thứ ba căn bản vẫn như cũ nhưng được bổ sung tỉ mỉ, chu đáo hơn. Chúng tôi lại tiếp tục trao đổi sôi nổi về thiên thời, địa lợi, nhân hòa, Nhật hất cẳng pháp, Pháp thua bỏ chạy, chính quyền Nhật chưa ổn định, đó là thời cơ mà ta hành động.

        Vùng Tam Tổng Nghĩa Lộ ở vào một thung lũng, là một vựa thóc, địa hình chung quanh rất hiểm trở, chỉ có ba con đường vào: đường tên Bái, Cửa Nhì, đường đi Tú Lệ và Than Uyên; đường nữa là Trạm Tấu -  Sơn La. Ba con đường đó bị chẹt thì Nhật khó lòng mà vào được. Như vậy là địa hình rất lợi cho ta xây dựng căn cứ du kích.

        Nhân dân mong mỏi cách mạng, và sẽ ủng hộ cách mạng. Anh em binh lính địch thì nhiều người đã ngả theo cách mạng. Như vậy là yếu tố nhân hòa đã có. Còn nói rằng chưa bắt được liên lạc với Đảng, và chưa được chủ trương của Đảng, nhưng thời cơ đến và xét thấy có đủ điều kiện thì có thể từng bộ phận khởi sự rồi ta sẽ tìm đến Đảng và chắc chắn là Đảng cũng sẽ tìm đến ta, không sợ bị cô lập. Chúng tôi tin chắc rằng không nhiều thì ít, Đảng cũng đã có cơ sở ở bên ngoài rồi, đã bắt rễ ở trong quần chúng Nghĩa Lộ rồi.

        Được phân tích kỹ lưỡng, chủ động sắp đặt kế hoạch cụ thể chúng tôi tin rằng cuộn nổi dậy phá nhà giam nhất định thắng lợi. Dù chúng bố trí cai đội nào gác cũng có anh em binh lính mở cửa. Ai cản trở, phá hoại sẽ bị trừ ngay tức khắc. Để tạo thêm điều kiện thuận lợi, chúng tôi bố trí mấy anh em binh lính có cảm tình với cách mạng gác tại đầu cầu (từ phía Yên Bái về Nghĩa Lộ) đến giờ hành động sẽ nổ súng và hô hoán lên là quân Nhật đã kéo đến, nhằm làm cho bọn Pháp hoảng loạn tinh thần, rối ren hàng ngũ. Và lúc đó, dù chúng rút chạy hay chưa, chúng tôi cũng lập tức cùng với sự hưởng ứng của anh em binh lính tiến lên nhanh chóng chiếm đồn, thu vũ khí, đạn dược, tổ chức quần chúng, lập chiến khu kháng Nhật. Chúng tôi còn bàn tới cách đánh chẹn bọn Nhật cướp vũ khí để đẩy mạnh công việc xây dựng lực lượng, củng cố căn cứ địa sau này.

        Cuối cùng, chúng tôi lại xác định một lần nữa: Chỉ có một con đường tốt nhất là đêm nay vẫn hành động theo chủ trương đã đề ra, quyết không thể thương lượng, thuyết phục kẻ địch trong hoàn cảnh hiện tại được. Chiều hôm đó, vào khoảng bốn giờ ngày 17 tháng 3 năm 1945, tôi đang sửa dao trong góc nhà tù, bỗng có một đồng chí trong Ban chỉ huy tối cao đến gặp tôi, bảo:

        -  Lát nữa tên Xi- vê cùng tên phó sứ Pen- li- ê sẽ vào nói chuyện với chúng ta. Tất cả chúng tôi đã thảo luận nhất trí sẽ chuyển sang kế hoạch bắt cóc hết và vừa thuyết phục vừa buộc chúng phải nhận điều kiện trao súng, trao đồn cho mình. Vì quá gấp không kịp mời anh, và không kịp họp tập thể ban chỉ huy, tôi vội đến báo với anh để anh chuẩn bị hành động theo kế hoạch mới.

        Tôi ngạc nhiên, hỏi:

        -  Đã có kế hoạch rồi, sao lại thay đổi đột ngột thế, và bây giờ làm sao phổ biến kịp cho anh em ta và một số binh lính theo ta? Liệu có bắt cóc được chúng giữa ban ngày hay không? Chúng nó đi đâu phải có linh hậu vệ chứ? Thay đổi kế hoạch thế này thì gay go lắm?


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 06:45:58 PM

        Đồng chí này, sau khì phân tích cho tôi nghe khả năng chắc chắn thành công bằng bắt cóc và thuyết phục, đã động viên tôi:

        -  Làm vậy nhất định được đấy anh ạ. Thế nào chúng cũng rơi vào tay ta và phải nghe ta thôi.

        Tôi vẫn phân vân, đáp:

        -  Để nghiên cứu xem sao đã.

        Tôi vội lên hỏi đồng chí Thẩm, phụ trách tham mưu cho rõ hơn.

        Đồng chí Thẩm bàn với tôi, tình hình hiện tại là rất cấp bách, sự việc đã như vậy rồi thì ta phải làm thôi, ngay bây giờ nên phân công một người chạy đi phổ biến cho anh em binh lính; còn tôi về gặp trung đội thanh niên xung phong. Khi đi qua chỗ ban tuyên truyền, tôi thấy khẩu hiệu đã viết xong, nhưng toàn là chữ Pháp, tôi không hiểu nghĩa nó ra sao, một đồng chí giảng cho tôi nghe: "Hãy vũ trang cho chúng tôi chống phát xít Nhật!", "Thả ngay chúng tôi ra!". Nhìn khẩu hiệu đó, tôi áy náy, hoài nghi... và rất tiếc kế hoạch vũ trang khởi nghĩa đã được chuẩn bị đầy đủ.

        Tôi vội chạy đi báo cho đồng chí Nho. Lúc này đồng chí Nho đang ngủ để lấy sức đề phòng đêm khởi sự. Đồng chí Nho choàng dậy ngơ ngác. Tôi phổ biến vắn tắt "các anh ấy quyết định rồi, bắt sống bọn Tây". Tôi phân công đồng chí Nho cùng đồng chí Thẩm chịu trách nhiệm bắt thằng đồn trưởng Xi- vê; Lý Hồ, Côn bắt thằng phó sứ; Bảy, Thạnh bắt thằng quan ba Pen- li- ê. Rồi tôi tiếp tục chạy đi, chỉ kịp phổ biến cho các đồng chí Bảy, Hồ. Một đồng chí được phân công đi phổ biến cho anh em binh linh, nhưng chưa kịp giáp mặt một ai thì hai tên Pen- li- ê và Xi- vê cùng bọn lính hộ vệ đã kéo tới. Chúng tôi xếp hàng ngang trong sân, đón bọn chúng.

        Nhìn dòng chừ khẩu hiệu căng ở phía trước, tên Pen- li- ê ba hoa nói, nào là: Các anh, người An Nam không phải là những tay quân sự lành nghề, không thể chống được Nhật; nào là: quân Pháp sẽ trở lại Yên Bái trong vòng nửa tháng nữa... Rồi hắn dịu giọng "khuyên nhủ” chúng tôi: Cứ việc ăn no ngủ kỹ, không phải lo lắng gì... Đứng sau hắn, chừng bảy tám mét là tên Xi- vê. Tiếp nữa là một thằng Tây cao, to, tay cầm ba- toong, chúng tôi không biết tên và chức vụ hắn là gì. Tên quản Nhượng đứng ngoài cổng. Anh em binh linh đứng bao vây ngoài hàng rào.

        Tên Pen- li- ê vẫn nói. Mọi người nhích dần lại. Tôi biết giờ phút quyết liệt sắp đến. Đồng chí Thẩm và đồng chí Bảy đang để ý vào tên Xi- vê. Tôi đi lén ra phía thằng Tây béo cao lớn để khi khởi sự sẽ túm lấy hắn mà quật, nhưng trong bụng vẫn băn khoăn, liệu tình hình này có thể bắt cóc được chúng một cách êm thấm không? Nếu gặp điều trắc trở thì tình hình sẽ đi đến đâu?

        Thằng Tây đứng cách tôi vài bước, mắt còn đang lơ láo nhìn chúng tôi, thì bỗng huỵch một tiếng, tên Pen- li- ê đã nằm sóng soài xuống đất. Các đồng chí Nho, Côn, Hồ... đã quật ngã nó. Hắn vùng dậy, đánh lại, bảy tám đồng chí của ta xô vào đấm đá hắn túi bụi. Cùng lúc ấy, tôi lập tức lao tới thằng Tây cao lớn. Nó vung ba- toong đánh lại, tôi gạt văng đi, rồi nhảy xổ vào vật nó. Nó vùng chạy. Tôi đuổi theo. Anh em binh lính đứng ngoài không hiểu sự tình ra sao chạy toán loạn. Tiếng hò hét, tiếng kêu la ầm ĩ trong sân trại. Tôi thoáng tiếc lúc này trong tay chúng tôi không có lấy một mảnh gỗ, một tấc sắt nào, và ai cũng ốm yếu, gầy guộc, có anh gần như kiệt sức...

        Tôi đè gí được thằng Tây xuống, nghiến răng bóp cổ nó. Nó giãy giụa đấm đá lung tung. Tôi dang thẳng tay đấm vào mặt thằng Tây thì tên Xi- vê chạy lao ra vấp phải tôi, ngã nhào xuống. Đồng chí Thẩm và đồng chí Nho nhảy theo túm lấy hắn. Bỗng đoàng, đoàng... hai tiếng súng từ tay tên quản Nhượng bắn ra, nổ inh tai. Tôi liếc nhìn thấy đồng chí Thẩm và đồng chí Bảy ngã lăn ra ngay bên cạnh. Tôi dằn đầu thằng Tây xuống. Đoàng, lại phát súng thứ ba của tên quản Nhượng nổ vang tai, đạn bay sạt qua mắt trái, hất tung cả chiếc mũ lưỡi trai của tôi...

        Từ bên đồn, bọn tàn binh Pháp và nhưng tên lính khác thấy có biến đã chạy sang ứng cứu. Chúng xả súng vào trong trại. Tên quản Nhượng cũng thúc giục binh lính tiến hành đàn áp chung tôi. Nhưng anh em, miệng thì hò hét dữ dội, còn súng cứ chĩa lên trời nhả đạn...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 06:47:10 PM

        Tình hình đã lâm vào giây phút gay go, quyết liệt. Trong sân không còn một ai nứa, trù đồng chí Thẩm, đồng chí Bảy và một số đồng chí khác nứa đang nằm trên vũng máu. Một anh lính nhảy từ trên chòi gác xuống. Anh lao theo các đồng chí của ta.

        Thằng Tây cao to vẫn còn nằm dưới tôi. Tên quản Nhượng tống đạn giương súng... biết nó sắp sửa bắn tôi, tôi rạp người tập trung toàn lực giáng một quả đấm cuối cùng vào mặt thằng Tây, rồi vùng dậy, phóng vào sân. Một phát súng bắn theo rít qua tải, tôi chạy vòng qua đầu nhà bếp, nơi tôi rèn vũ khí, rồi lao thẳng ra phía hàng rào nứa vót nhọn, cắm chéo cánh sẻ, cao hơn ba thước. Nhưng lúc đó, có một sức mạnh lạ thường, tôi đu người nhảy vọt ra. Nào chông, nào cọc, nào dây thép gai... tất cả sáu tầng hàng rào, tôi đều vượt bằng hết. Ngay sát lối tôi chạy, có một chòi gác. Người lính ở đây giục tôi chạy mau, rồi giương súng nổ liền mấy phát lên trời.

        Đồng chí Nho vượt ra một phía khác. Thoáng nhìn thấy trên chòi không có lính, đồng chí leo lên lấy đà nhảy lao ra ngoài, lúc đang trèo không rõ một viên đạn từ đâu bắn tới xuyên từ mông qua đùi làm đồng chí khuỵu xuống. Phía ấy có ba đồng chí nữ vượt ra. Một chị bị bắn ngã ngay tại hàng rào. Đồng chí Nho đã lợi dụng địa hình đánh lừa sự quan sát của chúng, mới tiếp tục vượt ra được.

        Bọn lính Pháp cũng sợ, nên hồi lâu mới dám tràn vào trại giam, vòng sang phía rừng bắn đuổi theo, đạn nổ như ngô rang. Chúng tôi tỏa rộng vào rừng, không biết ai sống, ai chết, ai bị bắt?

        Một chặng đường khúc khuỷu, gập ghềnh lại một lần nữa đặt ra trước mắt từng người chúng tôi.

        Qua mấy lần tổ chức khởi nghĩa bị lộ, chúng tôi phải suy nghĩ rất căng thẳng, mấy đêm liền không ngủ trong hoàn cảnh tù đày qua hết trại giam này đến trại giam khác, người gày gò, ốm yếu; mặt khác, tôi vừa phải vật lộn với thằng Tây cao to khỏe hơn mình... nên sau khi thoát khỏi lớp hàng rào cuối cùng của trại giam độ hơn một trăm mét, toàn thân tôi rã rời, hơi thở rất đuối, gần như chỉ còn thoi thóp.

        Những tiếng súng nổ lúc dồn dập từng tràng, lúc ngắt ngắt từng phát một, tiếng bọn lính Pháp gọi nhau ồm ồm, xen lẫn tiếng kêu ăng ẳng của bầy chó săn... như thúc tôi phải gấp rút thoát khỏi nơi này. Giận quá! Vừa nhấc chân lên, nó đã bủn rủn, khuỵu xuống và tự nó duỗi dài ra, không chút động đậy nửa. Tôi đành phải cố lết mình tới bụi cây rậm rịt, tạm nghỉ lấy sức.

        Lại hàng loạt súng nổ xói vào rừng bên phải. Nguy rồi! Một đồng chí nào đã bị chúng giết rồi? Ruột gan tôi đau quặn. Thương xót, trách nhiệm... xáo trộn trong đầu óc tôi!

        Trời đã tối.

        Phía rừng, bọn lính Pháp vẫn không ngừng sục sạo. Chúng đốt đèn, đốt đuốc soi rộng ra ngoài. Bầy chó săn vẫn kêu hỗn loạn. Chúng đã không ngờ tôi còn nằm ngay cạnh sào huyệt của chúng.

        Dù sao cũng không thể nằm đây để chờ chết, hoặc sa vào tay giặc một lần nữa? Phải sống, trở về với Đảng? Phải sống, để tiếp tục sự nghiệp cách mạng! Tôi vùng dậy lần thứ nhất, chưa được. Mảnh đất tôi đứng như lỏng ra. Tôi té nhào xuống. Trong giây phút, từ đầu đến chân tôi đẫm mồ hôi, lạnh toát. Nghỉ một lúc cho tim đập trở lại bình thường tôi vùng dậy lần thứ hai. Vẫn đổ. Ánh đuốc của bọn Pháp, tôi vừa thấy bập bùng, lúc này hầu như tắt hết. Cả tiếng của chúng lẫn tiếng chó sủa cũng im bặt. Cuộc săn lùng chấm dứt chăng? Không phải mắt tôi đã tối sầm, tai tôi ù đặc cả rồi? Đi chẳng được thì bò, thì lết chứ sao!

        Tôi tỉnh dần. Tôi bắt đầu lết mình từng tí một.

        Mấy nấm mồ của các đồng chí ta nằm ở bãi ổi còn đó, lút dưới đárn cỏ. một vùng lân tinh, một bày đom đóm lập lòe... mỗi thứ gây cho tôi một xúc cảm riêng. Lúc tôi ngồi lại, nhìn về hướng đồn Nghĩa Lộ, dường như tức thở. Lúc tôi nhớ tới những làng mạc xa xôi cũng mùa này đom đóm đỗ từng chòm trên mặt ao bèo. Lúc tôi tưởng tượng mình sắp được sống trong một đội du kích, đêm đêm đi đánh úp quân giặc, cướp vũ khí của giặc, trang bị cho mình... Rồi tôi nhỏm dậy, bò, bò mãi, tới một ngọn núi cao (núi Pú Chạng), chợt nghe thấy tiếng người rên khe khẽ, tôi dừng lại, áp tai xuống đất. Đúng rồi! Có đồng chí ta bị thương! Tôi bò đến nơi nhận ra ngay là đồng chí Nho, phụ trách trung đội thanh niên xung phong. Thấy đồng chí bị thương ở háng, tôi gỡ ra đắp vào một nắm thuốc lào, rồi lấy chiếc khăn quàng do vợ tôi gửi cho băng lại cho đồng chí. Sau khi bàn bạc cách ứng phó với mọi trường hợp có thể gặp phải, tôi đứng dậy và cả hai cùng lẩy bẩy dìu nhau đi. Đi một lúc nghỉ, rồi lại tiếp tục đi. Đồng chí Nho bám vào vai tôi lê từng bước, miệng thì thầm kể lại cho tôi nghe những quãng đường vượt trại rất nguy hiểm của đồng chí vừa rồi...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 06:49:33 PM

        Hôm sau, lúc đang đói cồn cào ruột gan thì bỗng đồng chí Nho bấm mạnh vào vai tôi, reo lên:

        -  Lương tươi kia kìa?

        -  À may quá? -  Tôi cũng reo lên, dìu vội đồng chí tới.

        Hai người cùng nghiêng đầu, cắn vào thân cây chuối, tước lấy bẹ, nhai ngấu nghiến một lúc, bụng căng, người tỉnh táo, chân tay khỏe hẳn lên.

        Trời đổ mưa, chúng tôi ướt sũng, nước tràn qua mắt, qua mũi, không kịp vuốt.

        -  Đi mau lên!

        -  Nào, đi mau lên -  Chúng tôi bảo nhau như vậy.

        -  Nhưng đi đâu bây giờ? Bọn lính dõng, hào lý các địa phương chắc đã nhận được lệnh truy nã, đón bắt tù chính trị vượt ngục rồi!

        -  Các ngả đường làm gì chả có mấy thằng phục sẵn. Chúng tôi rì rầm nói chuyện. Tối như bưng lấy mắt. Húc vào bụi, lại lùi ra, lại đi, lại húc vào bụi. Lá khô lẫn bùn ướt lép nhép dưới chân. Có đến hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi vẫn chưa đi thêm được bao nhiêu.

        Lò dò dẫm đi từng bước tới một vách núi đá, nhìn xuống thấy lấp lánh có nước, chúng tôi đoán là suối. Tôi vít cành cây cong thả người rơi xuống suối. Nhưng may quá, suối sâu nên không gãy chân. Đồng chí Nho xuống sau, yếu sức lúc bơi bị trôi giạt xa hơn. Sang bờ bên kia, lo quá, người nọ cứ tưởng người kia bị nước cuốn đi rồi, ra mật hiệu tặc lưỡi một lúc mới tìm thấy nhau, mừng quá.

        Chúng tôi bàn nhau ngủ tạm ở đây để lấy sức.

        -  Nằm vũng bùn à? -  Đồng chí Nho hỏi.

        Nhưng rồi mệt quá chẳng còn đủ sức rời đi chỗ khác, đành cứ nằm xuống, ôm chặt lấy nhau. Nước bùn thấm lên lưng, nhớp nháp, lá rừng lao xao rũ nước đầy mặt, đầy người.

        Một lát sau, chúng tôi thiếp đi, mặc cho lũ vắt quấy rầy, tha hồ hút máu.

        … Chiều ngày thứ ba, chúng tôi tới chân núi gần đến chỗ ngoặt, thì dừng lại quan sát.

        -  Lính dõng! -  Đồng chí Nho kéo tay tôi, kêu lên.

        Chúng tôi chưa kịp tránh, tên dõng đã chạy xộc đến chĩa mũi súng vào nghe tôi, quát:

        -  Tù, tù Nghĩa Lộ phải không?

        Chúng tôi làm vẻ thản nhiên, đáp:

        -  Anh em với nhau cả, làm gì nóng nảy thế!

        Giọng nó càng to hơn:

        -  Anh em cái gì?

        Dứt lời, nó dấn lên mấy bước nhìn chúng tôi từ đầu đến chân. Nắm chắc đặc điểm bọn này, tôi liền cởi chiếc áo vải kẻ ô vuông của tôi, đưa cho hắn và bảo:

        -  Đây, biếu anh làm quà. -  Tên dõng cầm lấy chiếc áo, ngắm nghía một lúc rồi vẫn ra điều oai vệ, nói xẵng:

        -  Thôi đi? -  Hắn chỉ tay và giọng thấp hẳn -  Rẽ đường này, ngả kia cũng có người đấy.

        Xẩm tối, chúng tôi men theo chân ngọn núi cao, đi về phía nam. Nhìn lên đỉnh núi, tôi thấy có những mái nhà lụp xụp, khói xanh bay tỏa. Ở nhiều nơi những mái nhà lá nghèo nàn ấy thường là những nơi êm ấm đã che giấu, đùm bọc chúng tôi. Tôi nói với đồng chí Nho:

        -  Ở đây nhá! Mình lên xem sao, nếu gặp người tốt thì nghỉ lại, mai đi tiếp -  Tôi còn dặn thêm -  Khi nào mình gọi, cậu hãy lên. Nếu có động, cậu lủi ngay lập tức, mặc tớ xử trí.

        Đồng chí Nho ngồi dưới chân núi. Tôi hướng theo đám khói leo lên. Tôi hăm hở đi về phía căn nhà sàn. Thấy tiếng động, một thanh niên mặc quần áo chàm từ trong đi ra, cặp mắt có vẻ xoi mói nhìn tôi, hỏi gọn:

        -  Đi đâu? Thấy thái độ hắn thiếu thiện cảm, tôi giả làm người lỡ đường, đáp:

        -  Tôi về quê thăm nhà, hết tiền, lên xin anh bát cơm.

        Người thanh niên tò mò nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gật đầu đáp:

        -  Được ngồi chờ đây, tao đi lấy cho.

        Tôi ngồi xuống một hòn đá, hai chân buông thõng, bề ngoài nom tự nhiên, nhưng đã chuẩn bị tư thế nhảy vọt, mắt vẫn chăm chú nhìn vào ngôi nhà. Mãi không thấy anh ta ra, tôi sinh nghi, tự hỏi: Lấy cơm sao lâu thế? Tôi toan đứng lên xem xét tình hình, thì thấy tiếng chân nhiều người rậm rịch bên trong. Rồi anh thanh niên kia bước ra, tay cầm giỏ đầy xôi giơ lên gọi tôi; phía sau thấp thoáng có bóng người.

        Không xong rồi, nó đánh bẫy mình đây! Tôi chỉ mới kịp nghĩ có thế thì hai, ba tên cầm súng kíp xồ ra. Một tên giương luôn súng lên nhằm thẳng vào tôi. Lập tức, tôi nhảy lao xuống khe núi. Người và đá lăn rào rào. Đoàng! Một tiếng đạn nổ xé tai sạt sau gáy, mùi khét lẹt. Đoàng, đoàng, tiếp theo vài phát súng nữa.

        Lăn được vài chục vòng, tôi mắc kẹt vào một lùm gai rất rậm. Tôi nằm yên không nhúc nhích. Năm, sáu tên tay cầm đuốc, tay cầm súng chạy xuống chân núi, hò nhau lùng sục. Chẳng thấy gì, bọn chúng lại ra đường mòn, cắm đầu, cắm cổ rượt tôi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 06:51:39 PM

        Nghĩ đến đồng chí Nho, tôi chắc khi nghe súng nổ, đồng chí đã lẩn đi rồi. Nhưng tôi lại lo, không khéo vì vết thương, đồng chí chậm chân, chúng tóm được thì thật khổ. Tôi lắng nghe, vẫn thấy bọn chúng ì ới dưới chân núi, còn tôi vẫn nằm trong bụi gai dưới vực sâu ở gần nhà hắn. Bài học ẩn náu ngay cạnh sào huyệt của địch khi vượt khỏi nhà tù Nghĩa Lộ đã có tác dụng đối với tôi lúc này. Đến khuya, bọn chúng quay về, đứa lèm bèm, đứa đay nghiến chửi bới nhau. Biết đồng chí Nho cũng thoát, mừng quá, tôi chui khỏi bụi rậm, nhưng gai kéo sau lưng, gai chằng trước mắt, nhùng nhằng như chim sa lưới, tôi không thể nào gỡ được. Chân tay, mặt mũi, gai cào toạc hết. (Sau này, tôi thường ví chiến tranh du kích như gai mây giằng co lôi kéo địch, nhùng nhằng, đi không được, ở không xong, rồi lúc nào đó, ta ập đến chĩa súng vào mặt chúng, hỏi chúng còn chạy đường nào cho thoát? Hình ảnh ấy một phần cũng do cảm giác thực tiễn của cuộc "vật lộn" trước kia để lại).

        Phải vất vả lắm tôi mới tách ra khỏi bụi gai. Tôi bò xuống núi, đi khắp ngả tìm đồng chí Nho. Trong bụng tin là đồng chí đã thoát, nhưng tôi vẫn tiếp tục đi tìm. Tôi đoán đồng chí vẫn lẩn khuất gần đây và có lẽ cùng cảnh ngộ, cùng chí hướng, nhạy cảm ý định của nhau, nên khi tới một cái cống,  tôi cho rằng ẩn dưới đó rất tốt, kẻ địch chạy qua, rất có thể không chú ý sục sạo, chắc rằng đồng chí Nho ẩn ở dưới này. Phán đoán vậy, tôi cúi xuống khẽ gọi:

        -  Nho đâu?

        Có tiếng hỏi lại:

        -  Vẫn còn sống đấy à?

        -  Sống chứ?

        Mừng quá, chúng tôi lại bám vai nhau đi về phía nam.

        Mờ sáng, vừa bước ra khỏi rừng, chúng tôi lại thấy những mái nhà sàn cao cao hiện ra trước mặt. Đó là những căn nhà thuộc vùng Trạm Tấu, Bản Ny giáp Ngòi Thia -  một nhánh suối lớn chảy về Nghĩa Lộ. Chúng tôi nửa mừng, nửa ngại!

        Trong khó khăn phải dựa vào quần chúng cách mạng, nhưng liệu có gặp được người tốt hay không, giống như buổi tối hôm qua thì thật là nguy hiểm. Quay trở lại, lỡ gặp bọn kia, nhất định chúng nó sẽ "thịt”. Cứ nhịn đói, nhịn khát và kéo dài mãi tình trạng không cơm, không cháo thế này liệu còn đi được bao nhiêu đường đất nữa?... Nên vào hay thôi, nếu vào, cần ứng phó, phối hợp ra sao... sau khi bàn bạc kỹ, tôi bảo vời đồng chí Nho:

        -  Lại để mình vào xem sao nhé.

        -  Ừ thì đi nhưng phải cẩn thận đấy -  Đồng chí Nho dặn tôi.

        Tôi thản nhiên vào bản. Một người đàn bà chạc ngoài năm mươi tuổi, còn khỏe, áo chàm, đang thái rau trên căn nhà sàn nhỏ ở ngoài cùng, thấy tôi, hỏi ngay:

        -  Mày đi đâu?

        -  Đi tìm chỗ ở -  Tôi trả lời lấp lửng như vậy với ý định để bà có thể hiểu tôi là người làm mướn, đang cần người thuê, hoặc có thể hiểu tôi từ xa mới đến, đang đi chọn đất dựng nhà. Rồi tuỳ theo ý thức nhận xét và thái độ đầu tiên của bà, tôi sẽ liệu bề xử trí. Bà lão đăm đăm nhìn tôi một lúc mới bảo:

        -  Khổ! Đây nghèo, không ai thuê đâu. Ở xuôi không đủ ăn à? Lên uống nước đã.

        Qua nhà cửa đơn sơ, phong thái giản dị, lời nói có tình nghĩa ấy, tuy đã phần nào tôi tin ở bà nhưng vẫn phải cảnh giác. Sau khi từ chối không lên nhà, tôi đem chuyện vùng xuôi cũng đói khổ như ở trên này ra kể bà nghe. Mặc dầu thời gian ngắn ngủi, tôi kể không dài, không kỹ, nghe xong, bà thở dài, nói:

        -  Chết thôi! Đâu cũng như con trâu, con ngựa cả thôi?- Rồi bà bần thần một lúc, nói tiếp -  Tao không nhớ ngày nữa, nhưng tao nhớ có hôm một anh "cách mạng" ở Nghĩa Lộ ra đây cũng nói như mày đấy -  Và tôi không ngờ bà đột ngột hỏi tôi -  Hay là mày cũng là người cách mạng phải không?

        Tôi chưa kịp trả lời câu gì, bà lại bảo thêm:

        -  Người cách mạng tốt bụng lắm, nhưng khổ lắm. Mày lên uống nước đi. Nhà tao nghèo, không đứa nào đến đâu, đừng sợ.

        Tôi không dám nhận mình là "người cách mạng" và vẫn tiếp tục cảnh giác, tôi nói:

        -  Cụ để tôi ra ngoài cất mấy thứ đồ vặt đã nhé.

        Bà cụ gật đầu. Thật ra, tôi chạy đi gặp đồng chí Nho để nói cho đồng chí biết tình hình. Sau khi bàn bạc, đồng chí Nho nhất trí để tôi lên nhà bà cụ, còn đồng chí vẫn ở ngoài sẵn sàng phối hợp nếu xảy ra bất trắc.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 06:58:16 PM

        Khi tôi vừa bước lên cầu thang đã thấy bà cụ đang đem nước và một ông cụ -  được bà cụ giới thiệu là "ông nhà" đã ngồi ở trước cửa sổ có ý chờ tôi. Nhưng ông rất ít nói. Tôi còn nhớ, từ lúc tôi vào đến lúc tôi chào gia đình ra đi, ông chỉ trả lời tôi có một câu “không có” khi tôi hỏi "hai cụ sinh được mấy anh chị?". Còn bà cụ vẫn là người tiếp chuyện chính với tôi. Bà cụ cho tôi biết, ông cụ trước đây cũng hay nói chuyện nhưng từ ngày bị "tạo bản"1 (Một cấp chính quyền cơ sở ở miền núi, tay sai cho đế quốc -  phong kiến) bắt lên đồn Nghĩa Lộ cho Tây đánh, vì để anh "cách mạng" ngủ trong nhà không báo, nên mới "dại người" như thế.

        Tôi mới uống chưa hết một bát nước chè tươi nóng, thì bà cụ đã đưa ra bát xôi sắn, bảo:

        -  Mày ăn đi! Tạo bản nó mới nói có tù Nghĩa Lộ trốn, ai giết một đứa được thưởng một tạ muối, chúng tao không thèm.

        Nhưng tôi chưa kịp tỏ thái độ ra sao đối với cử chỉ ân cần và thực tế đó, thì bỗng bà cụ bưng bát xôi lên, nói vội:

        -  Thôi!

        Tôi lạ quá! Có lẽ bà cụ đã nghĩ về tôi mà sợ tôi? Hoặc có kẻ nào đang đứng ở đâu đây theo dõi gia đình và tôi, khiến bà cụ không dám tiếp tôi nữa. Tôi đưa mắt nhìn quanh nhà, nhìn ra phía cửa sổ, chân co lên, tay ấn mạnh xuống sàn, chuẩn bị đối phó...

        Nhưng không phải, những điều tôi dự đoán đều không đúng. Bà cụ đã đặt trước mặt tôi một bát cháo và gói xôi. Bà dặn tôi:

        -  Bây giờ ăn cháo. Đi đường ăn xôi.

        Khi đưa xôi về cho đồng chí Nho ăn, tôi thuật lại câu chuyện, đồng chí Nho vừa đăm đăm hướng về căn nhà nhỏ bé ấy, vừa nói:

        -  Một hạt xôi là một hạt vàng ừ, có thể hạt vàng cũng không sánh nổi đâu.

        Đêm đó trời mưa tầm tã thỉnh thoảng lại gặp một con đường mòn vắt ngang, vắt chéo. Suối lũ réo ầm ầm. Chúng tôi cứ nắm tay nhau mà đi, có lúc chẳng còn trông thấy gì cả, hệt như trò bịt mắt bắt dê, chúng tôi đi mãi, đi mãi, chẳng may bị lạc đường, vào giữa một cánh rừng rậm. Lại chui rúc. Mưa vuốt mặt không kịp. Lá rừng, gai góc cứa toạc cả người, chỗ nào cũng xót, ngứa. Tình hình này nếu cứ để đồng chí Nho lết từng bước loanh quanh trong rừng thì rất khổ cho đồng chí, chúng tôi bàn với nhau là, đồng chí Nho tạm ngồi một chỗ đợi, tôi đi tìm đường. Lúc đó tôi nhớ tới cái địa bàn và đồng chí Nhu – “người có công mài sắt nên kìm" ấy bây giờ ở đâu? Cả các đồng chí "sáng chế” ra khẩu súng gỗ nữa...! Tất cả các đồng chí sống gắn bó thân thiết với nhau từ căng Bá Vân, Hỏa Lò -  Hà Nội đến nhà tù Nghĩa Lộ, ai còn, ai mất? Nhớ thương cứ xáo trộn trong lòng tôi và thúc giục tôi phải đạp bằng mọi khó khăn trở ngại. Toàn thân tôi đang bị giá lạnh vì mưa gió, phút chốc nóng lên bừng bừng. Và cũng trong phút chốc, tôi lao lên giằng xé tất cả cái gì cản trở trước mặt tôi. Bỗng có một thiếc gai rất cứng đâm vào tay tôi buốt nhói. Tôi dừng lại, nắm chặt lấy vết thương.

        Không xong rồi! Giận dữ với thất bại, không xong rồi! Gặp thất bại càng phải tỉnh táo mới có thể chuyển bại thành thắng được... Nghĩ vậy, tôi mau chóng tập trung trí óc vào công việc trước mắt của mình. Và phải mất một thời gian khá lâu tôi mới tìm ra một con đường ở bìa rừng.

        Tôi quay lại chỗ cũ đón đồng chí Nho, nhưng không thấy đồng chí đâu; hay đồng chí sa lưới địch một lần nữa hay cũng đi tìm đường như tôi? Trong hai ước đoán này, tôi vẫn đề phòng trường hợp xấu nhất. Nhưng dù xấu đến mức nào, cũng không thể một chốc thoát thân một mình được. Tôi vừa thận trọng náu mình, vừa chuyển đi từng chỗ và dùng hết mọi thứ mật hiệu, ký hiệu đã quy định với nhau từ trước vẫn không một lời, một tiếng động, một dấu vết đáp lại. Nhưng ngày chuẩn bị âm thầm mà sôi nổi, những giờ phút chiến đấu gay go, quyết liệt... không xa nhau, nay lỡ lại bị bắt hoặc bị lạc đường giữa lúc bị thương, thì thật là khổ!

        Suốt đêm đó và cả buổi sáng hôm sau loanh quanh mãi, tôi vẫn không sao tìm thấy đồng chí Nho, trong lòng cứ ân hận, day dứt mãi! Thật không có tình cảm nào cao đẹp, gắn bó với nhau bằng tình cảm cách mạng. Lúc bình thường đã thương yêu nhau, lúc gian khổ, khó khăn lại càng gắn bó với nhau, đùm bọc nhau, quí mến nhau.

        Qua sáu ngày đi ròng rã, tôi vẫn men theo một con đường mòn tới một chỗ, một bên vực sâu thăm thẳm, một bên vách núi đá dựng đứng, tôi thấy hơi rờn rợn. Bây giờ có điều gì bất trắc xảy ra, thì thật hết sức nguy hiểm. Nhưng tôi cứ phải đi, vì không còn con đường nào cả.

        Vừa đi tôi vừa nghiêng ngó trước sau, vừa suy nghĩ mưu kế nếu gặp địch thì lợi dụng địa hình, địa vật cụ thể lẩn tránh hoặc buộc chúng bỏ chạy để mình thoát thân. Vạn bất đắc dĩ sẽ sử dụng tới những võ thuật nhanh chóng quật đổ từng tên xuống vực, dọn đường tiến lên.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:00:36 PM

        Đi đến gần đỉnh núi, nhìn lên, tôi thấy có mấy nếp nhà, khói tỏa xanh lam rất ấm cúng (sau này tôi mới biết đó là đồng bào dân tộc vùng bản Bá Tàu, núi Pá Hu -  một vùng rừng rậm, núi cao trên 1.200 mét). Tôi thoáng thấy bóng người lố nhố hiện ra trước mặt. Người nào, người nấy súng ống giương lên tua tủa và như sắp sửa đồng loạt nổ vào ngực tôi. Lúc này, tiến thoái lưỡng nan, con đường độc đạo, lùi cũng chết, mà lên cũng chết. Cuối cùng, tôi quyết định cứ bước dấn lên rồi tuỳ cơ ứng biến. Tôi lên gần và chú ý xem họ là ai. Hình như không phải bọn lính dõng, vì nhìn cách ăn mặc và bộ dạng của họ không có vẻ gì là "nhà binh” cả. Nhưng họ sẵn sàng tư thế đối phó với tôi. Người nào cũng nhìn thẳng vào tôi. Lạ làm sao, phía sau họ lại thập thò có những chú bé chín, mười tuổi.

        Thấy tôi vẫn đi đứng đàng hoàng, toán người nọ bất thình lình xông lên, miệng thét lớn: bắt lấy nó, bắt lấy nó! Họ bảo nhau trói quặt tay tôi lại, đưa ra mép vực chuẩn bị bắn và cắt lấy đầu.

        Rõ là tiếng nói của đồng bào dân tộc, tôi thoáng nghe rõ có người gọi nhau là Vương. Tôi vội dùng ngay tiếng dân tộc nói chuyện với các chú bé. Nghe tôi nói tiếng dân tộc địa phương, mọi người trố mắt nhìn tôi. Trong đó có một người đàn ông đứng tuổi bước sát lại chỗ tôi, hỏi:

        -  Mày họ gì?

        -  Họ Vương -  Tôi đáp. Người đàn ông đứng tuổi đó ôm chầm lấy tôi, nhận là cùng dòng họ, cùng đồng bào của mình, rồi khoác tay tôi:

        -  Thôi vào đây! -  Người đàn ông quay ra vui vẻ nói với bà con đứng xung quanh -  Anh em, anh em ta đây. anh Vương cùng cảnh ngộ như bà con ta cả đấy. Người Việt Nam ta cả đấy!

        Sau Cách mạng tháng Tám thành công, anh Nguyễn Khang bảo tôi nên đổi tên khác để hoạt động công khai, để giao dịch với bọn sĩ quan của chính quyền cũ. Nhớ lại một kỷ niệm sâu sắc ở vùng núi Pá Hu, tôi báo cáo anh Khang xin đổi tên là Vương Thừa Vũ. Tên mới của tôi bắt đầu từ đấy.

        Trở lại câu chuyện ở Pá Hu, khi thấy tôi nhận họ Vương, người lớn, trẻ em vỗ tay, cười nói tíu tít. Tôi đi theo vào nhà, vừa đi vừa kể chuyện, kết nghĩa anh em. Ngồi nói chuyện một lúc, bà con dọn ra một mâm cơm có những đĩa thịt gà đầy ú ụ và những bát rượu tràn miệng. Người có quyền cao nhất ở đó ngồi tiếp tôi. Ông uống rất nhiều rượu, nói chuyện rất tự nhiên:

        -  Các dân tộc Việt Nam đều là anh em, cùng một lòng chống bọn bóc lột, bọn xấu chia rẽ phá hoại. Gặp nhau là mừng rồi? Ăn đi! Uống đi!

        Tôi đã từng được gặp những cảnh chân thật như thế này, nên tôi rất tin. Tôi ăn uống tự nhiên, ăn xong, trò chuyện một lúc, tôi xin phép đi ngủ ngay để mai có sức.

        Sáng hôm sau, biết tôi sắp lên đường, bà con quây quần quanh tôi, khẩn khoản, thân thiết:

        -  Anh cứ ở đây cho thật khỏe đã.

        -  Nom anh gầy quá, chúng tôi muốn lưu anh lại để...   

        Tôi đã nghĩ kỹ. Tôi phải khẩn khoản nói mãi bà con mới để tôi đi. Để giúp tôi không bị bắt lần nữa, bà con đưa bộ quần áo địa phương cho tôi thay và cử một người cao tuổi đi theo, vừa tiễn chân, vừa chỉ giúp tôi đường về. Đến ngã ba đường rừng, ông chỉ đường cho tôi rồi quay lại. Lúc chia tay, tôi cảm ơn bà con và ông, nhưng ông cười đôn hậu, gạt đi:

        -  Có gì đâu, dân tộc Việt Nam ta cả mà!

        Tôi lại theo đường mòn luồn rừng, leo núi mà đi, khác với mọi chặng trước, những chặng này phần vì sốt ruột ngày qua coi như bị bỏ phí, phần vì được ăn no, lại có vài tấm bánh của bà con cho mang theo, nên tôi đi nhanh và khá bền sức...

        Một buổi, trời xẩm tối, vừa bước khỏi rừng, tôi lại nhìn thấy cánh đồng Nghĩa Lộ xa xa phía trước. Tôi suýt nữa kêu lên. Công lao đi không biết bao nhiêu ngày loanh quanh mãi, lại trở về nơi hang hùm, miệng rắn này ư?... Thì ra, tôi đã đi nửa vòng tròn về phía nam cánh đồng Nghĩa Lộ.

        Từ bấy đến nay tình hình các nơi nói chung và ở đây nói riêng có gì biến đổi tốt, xấu? Tôi lặng nhìn Nghĩa Lộ chìm đắm trong đêm. Một thứ tĩnh mịch rất khó phân biệt giữa hai trạng thái: mọi sự đã bình yên hay tất cả vẫn còn đang trong gông cùm, kìm kẹp?...

        Nhưng dù thế nào, tôi thấy cũng cần phải làm ngay hai việc: Một, nhanh chóng lánh khỏi nơi này kẻo không rơi vào tay giặt Pháp thì cũng sa lưới bọn Nhật. Hai, đến tận nơi điều tra rõ ràng, để định phương hướng hành động.

        Tôi tiếp tục đi, thấy ở dưới phân đồi phía xa có một ngôi nhà còn le lói ánh đèn. Nhìn kỹ khu vực đó, tôi biết ở đấy phần lớn là đồng bào từ tỉnh Thái Bình, Nam Định di cư lên làm ăn và rất quý mến anh em tù chính trị. Tôi quên sao được nơi đây đã có đồng bào hy sinh cả thân mình để cứu lấy các đồng chí cán bộ cách mạng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2016, 07:03:08 PM

        Tuy nhiên tôi vẫn phải cảnh giác đề phòng. Tôi thầm phác họa một kế hoạch đề phòng, rồi táo bạo lần sang. Ngó vào một nhà chỉ thấy hai ông bà già, tôi giả làm người bị lạc, bước vào lễ phép, nói:

        -  Chào hai cụ! Cháu bị lạc đường, đói quá, xin hai cụ giúp đỡ.

        Ông cụ nhìn tôi, thoáng có vẻ ngạc nhiên, nhưng cụ trấn tĩnh ngay và ôn tồn, kín đáo, đáp:

        -  Bác, bác ngồi chơi, ngồi khuất vào trong này.

        Rồi như đoán được nhưng điều gì tôi đang cần biết, cụ vừa đưa chén nước cho tôi, vừa nói ngay giọng hồ hởi hẳn lên.

        -  Bây giờ khác trước rồi bác ạ. Thật may? Anh em ta vượt ngục được hai ngày thì Nhật tràn đến, Tây bỏ cả việc lùng sục, cuốn gói chạy hết.

        Đến đây, cụ chép miệng, chán chường:

        -  Đúng là hỗn quân, hỗn quan láo nha láo nháo!

        Nhưng cụ chuyển ngay sang giọng hồ hởi như trước:

        -  Ấy thế cũng hay! Có vậy anh em ta mới có cơ hội mà thoát, nếu không thì còn khối cái trắc trở đấy.

        Biết cụ có thiện cảm với cách mạng, tôi liền cùng cụ bàn chuyện thời sự. Cụ với tôi nhất trí với nhau là dù sao cũng phải đề phòng quân Nhật đến đàn áp, khủng bố khi bộ máy tay sai của chúng chưa được ổn định, và chỉ có đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi thì dân tộc Việt Nam ta mới hoàn toàn độc lập.

        Đang trò chuyện thì bà cụ bưng từ trong bếp ra một mâm cơm. Bữa cơm đơn giản, có bát canh rau, vài con cá nướng nhưng tự tay hai cụ đơm xới, khiến tôi cảm động. Cơm nước xong, hai cụ giục tôi đi nghỉ sớm để mai còn có sức.

        Tinh mơ hôm sau, ông cụ đã đánh thức tôi dậy. Vừa rửa mặt xong, tôi đã thấy ngay một bát xôi đầy đặt ở giữa giường. Ông cụ bảo tôi ăn để chắc dạ lên đường. Tôi mới ăn được vài đũa, bà cụ lại cho thêm một túi gạo nhỏ và hai đồng bạc. Cụ nói gọi là có tý chút để làm lộ phí cho được công được việc...

        Miếng xôi tôi đang nuốt, bỗng như nghẹn lại.

        Từ giã Nghĩa Lộ, những bà con nghèo, những người dân đã hết lòng với cách mạng, không quản nguy hiểm, đùm bọc người cán bộ cách mạng ở đây đã để lại cho chúng tôi biết bao ấn tượng sâu sắc. Tôi chân thành suốt đời nhớ ơn tấm lòng nhân nghĩa đó. Tôi kính trọng tất cả tấm lòng cao đẹp mà giản dị của đồng bào. Sau này tôi mới biết đó là vùng Na Khi, bản Món. Tôi đi suốt cả buổi, đến chiều thì ra đến đường cái ô tô. Khi vừa ở trong rừng đi ra, tôi thấy ba người từ hướng Nghĩa Lộ đi tới. Mỗi người đều đeo một cái túi dết bằng chăn dạ. Tôi nấp vào bụi sim, nhìn thật kỹ thấy không phải anh em ở Nghĩa Lộ. Nhưng sao họ lại có túi dết bằng chăn dạ được? Nếu không phải là binh lính ở đồn Nghĩa Lộ thì không thể có túi dết như thế được? Chỉ có anh em nhà tù mới có thứ ấy. Tôi tự mình khẳng định như vậy, là do khi còn ở Nghĩa Lộ chuẩn bị khởi nghĩa, chúng tôi có làm cho mỗi người một túi bằng chăn dạ để đựng lương khô và quần áo. Cuối cùng, tôi xác định chắc anh em tù với nhau cả thôi. Tôi bèn bước ra nói to: Mấy người kia đi đâu? Bị hỏi bất ngờ, ba anh như ba cái lò xo bật ngay vào rừng chạy. Tôi bèn hạ giọng, nói: Bọn ta cả đây mà? Nghe vậy, ba anh đi ra. Qua chuyện trò, chúng tôi nhận ra nhau là đồng chí. Mấy đồng chí kia ở Sơn La, bị bọn Pháp đưa về Tú Lệ.

        Gặp thời cơ, các đồng chí trốn luôn và định về Yên Bái. Thấy tôi không có gì ăn đường, các đồng chí chia cho ít gạo rang và năm đồng bạc, rồi bảo nhau đi phân tán ra, không nên đi tập trung. Cầm tiền, tôi xúc động đến chảy nước mắt trước tình đồng chí. Trong khi líu tíu vội vã quên cả hỏi tên nhau, quên cả cảm ơn. Tôi lại lững thững đi một mình trên đường Cửa Nhì -  Yên Bái, rồi lên tàu hỏa về xuôi. Về nhà được vài hôm, tôi lại tìm bắt được liên lạc với Đảng và lại được Đảng giao nhiệm vụ thoát ly đi hoạt động gây cơ sở cách mạng, chuẩn bị lực lượng đón thời cơ giành chính quyền.

        Đã hơn 30 năm trôi qua, nhiều chi tiết của cuộc nổi dậy vượt ngục Nghĩa Lộ tôi đã quên, bởi vì trí nhớ con người là có hạn. Nhưng những bài học rút ra từ cuộc nổi dậy đó thì lại trở thành ký ức khó quên:

        -  Nổi dậy trong nhà tù đế quốc phải chuẩn bị rất công phu nhưng sẽ gặp phải những khó khăn, nguy hiểm khôn lường. Hồi đó, chúng tôi đã chuẩn bị cho kế hoạch nổi dậy -  vượt ngục khá chu đáo, có được như vậy là nhờ chi bộ nhà tù lãnh đạo sát sao, biết dựa vào tập thể, phát huy trí tuệ của tập thể. Chi bộ đã coi trọng phát động tinh thần yêu nước của quần chúng binh sĩ địch, tranh thủ họ, vận động họ ngả theo cách mạng dưới nhiều hình thức.

        -  Tinh thần thương yêu, đùm bọc đồng chí của những người vượt ngục; tinh thần yêu nước, lòng yêu mến Đảng của đồng bào các dân tộc đã cho tôi thêm nghị lực đã giúp tôi sững, giúp tôi vượt qua bao nguy hiểm và khó khăn trở về với Đảng, với nhân dân, tiếp tục được góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng cho đến thắng lợi ngày nay.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:38:36 AM
       
Phần hai

TRƯỞNG THÀNH TRONG CHIẾN ĐẤU

MẶT TRẬN HÀ NỘI

        Tôi rời Hà Nội từ tháng 10 năm 1945, đi làm công tác huấn luyện quân sự. Trước khi lên đường, đồng chí Văn Tiến Dũng, Quân khu trưởng Quân khu II (gồm 8 tỉnh hồi đó là: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Sơn Tây, Hà đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) gọi đến giao nhiệm vụ cụ thể cho tôi mở lớp bồi dưỡng cán bộ cấp trung đội, đại đội của quân khu. Lớp này tổ chức tại Ba Thá, từ nhà ở, đến bữa cơm hàng ngày của các học viên đều do Đảng bộ và nhân dân địa phương lo lắng chu đáo. Tiếp đó, Bộ Tổng chỉ huy điều tôi sang trường cán bộ ở Sơn Tây làm huấn luyện viên các khoá V và VI rồi lại sang làm huấn luyện viên khoá I Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (Nay là Trường Sĩ quan Lục quân I).

        Giữa tháng 10 năm 1946, tôi đang dẫn học sinh đi tập dã ngoại ở chân núi Ba Vì thì nhận được điện của Thường vụ Trung ương Đảng gọi về gấp. Hồi ấy, ở Hà Nội quân Pháp hay giở trò khiêu khích nên các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không làm việc trong thành phố. Tôi được hẹn đến “dinh tổng đốc Hà Đông". Đó là một tòa nhà xây theo kiểu cổ "kín cổng cao tường", ở gần cầu thị xã. Từ đường phố chính đi vào phải qua một cổng lớn, như cổng đình, hai cánh cửa lim rất to, chạm trổ cầu kỳ. Qua cổng đến cái sân khá rộng, nói đúng hơn thì đây là một vườn hoa có nhiều cây to, nhiều chậu cây cảnh, đường đi ngang dọc đều lát gạch Bát Tràng. Cuối sân là tòa nhà gạch một tầng, xây trên nền cao, hiên rộng nhiều gian, nhiều cột mái cong. Tôi đến "dinh tổng đốc Hà Đông" lúc quá trưa ngày 15 tháng 10 năm 1946. Thường vụ Trung ương Đảng đang họp. Nhưng tôi được phép đi thẳng vào phòng họp. Các đồng chí tạm ngừng làm việc. Đồng chí Trường Chinh tự tay xếp thêm một cái ghế vào bên cạnh rồi thân mật bảo tôi:

        -  Đồng chí Vũ ngồi đây.

        Lúc mới vào phòng này thoáng gặp vẻ tư lự trên nét mặt các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp... tôi đã cảm nhận rằng hình như Thường vụ Trung ương đang bàn luận về một việc gì hệ trọng lắm. Ngồi một lát, tôi càng thấy nhận xét đó là đúng, bởi vì ngay trong lúc tạm nghỉ các đồng chí cũng không nghỉ, vẫn theo đuổi những suy nghĩ của mình, người ngồi tại chỗ bên bàn họp, người đi đi lại lại nhè nhẹ đặt từng bước chân, không ai ra khỏi phòng, không ai nói gì với ai, căn phòng im lặng. Tôi khoanh tay ngồi, cũng suy nghĩ, băn khoăn tự hỏi: Không hiểu tại sao mình lại được gọi vào đây? Điện gọi mình về nhận chỉ thị cơ mà, vậy thì cớ sao lại ngồi vào bàn họp này? Chẳng tự giải đáp được, tôi ngồi im như phỗng, nghe tim đập thình thịch, hồi hộp chờ đợi. Tôi càng hồi hộp khi tất cả các đồng chí trở vào ngồi quanh bàn họp và ai cũng nhìn về đồng chí Trường Chinh. Ban sáng, lúc nhận được điện về gặp Thường vụ Trung ương Đảng, tôi đã nghĩ: có lẽ các đồng chí hỏi mình về tình hình cuộc khởi nghĩa ở Nghĩa Lộ? Suốt dọc đường đạp xe từ Sơn Tây về thị xã Hà Đông, tôi cố nhớ lại quá trình chuẩn bị và diễn biến của cuộc khởi nghĩa cùng những bài học xương máu mà tôi đã rút ra để trình bày mạch lạc với Thường vụ Trung ương Đảng. Từ hơn một năm nay tôi luôn luôn day dứt trong lòng về cuộc khởi nghĩa không đạt yêu cầu này. Cho nên, trong lúc này, ngồi trước các đồng chí lãnh đạo của Đảng, thấy không khí trong phòng họp nghiêm trang quá, tôi càng tin chắc rằng các đồng chí gọi tôi đến để hỏi về việc đó. Thế là tôi chủ động đứng bật dậy, báo cáo:

        -  Thưa các đồng chí, việc khởi sự ở Nghĩa Lộ bị thất bại, về phần chỉ huy quân sự, tôi xin chịu hết trách nhiệm, xin chịu tội trước Đảng... Tôi xin...

        Tôi mới nói đến đây thì cả phòng họp trang nghiêm rộn lên tiếng cười khiến tôi lúng túng.

        -  Không phải đâu -  Đồng chí Trường Chinh nói chen vào và nhìn tôi với cặp mắt thân thương.

        Vẫn âm điệu chậm rãi, dịu dàng, đồng chí Trường Chinh nói tiếp:

        -  Đồng chí Vũ ngồi xuống! Thường vụ gọi đồng chí đến để giao nhiệm vụ mới, rất quan trọng, tin rằng đồng chí có thể gánh vác được.

        Chờ cho tôi trở lại bình tĩnh và căn phòng dứt hẳn tiếng cười đồng chí Trường Chinh tiếp tục nói, thong thả, rành mạch từng tiếng, giọng đồng chí vẫn dịu dàng nhưng bàn tay đồng chí nắm chắc lại khe khẽ đập xuống mặt bàn theo nhịp từng câu nói:

        -  Giặc Pháp đang ráo riết chuẩn bị, sớm muộn thế nào thúng cũng đánh ta, đánh úp Hà Nội, chiếm Thủ đô ta. Trung ương Đảng giao cho đồng chí Vũ làm chỉ huy trưởng Quân khu XI, quân khu đặc biệt Hà Nội.

        Đồng chí phân tích tình hình, nói ý nghĩa chiến tranh toàn dân, kháng chiến lâu dài, rồi chỉ thị cho tôi nhưng việc trước mắt cần phải làm tốt: Hà Nội phải được chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng địch trở mặt gây hấn... Nếu chúng cố tình tấn công đánh chiếm Hà Nội thì ta phải lập tức đánh trả ngay. Phải giành thắng lợi ngay từ trận đầu. Nhưng phải khéo léo, giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Phải hết sức khẩn trương chuẩn bị, nhưng cũng cần chú ý tránh mắc mưu khiêu khích của giặc. Ta còn phải tranh thủ thời gian để củng cố mọi mặt vì nếu để chiến tranh nổ ra sớm thì không có lợi...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:40:51 AM

        Và cuối cùng đồng chí nhấn mạnh:

        -  Ngay từ bây giờ phải nhanh chóng chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng ở tư thế chiến đấu để, nếu địch trở mặt gây hấn thì ta lập tức đánh trả lại ngay, phai kìm chân địch ở Hà Nội trong một thời gian cho cả nước chuyển sang chiến tranh; phải huy động sức mạnh tiềm tàng của nhân dân thành phố vào cuộc chiến đấu, đồng thời phải biết bảo toàn và bồi dưỡng lực lượng ta để đánh lâu dài...

        Tôi chăm chú nghe từng câu từng ý của đồng chí Trường Chinh, nhưng mắt không rời đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi ở hàng ghế đối diện. Được biết đồng chí đi đàm phán với Pháp ở Phông- ten- nơ- blô mới về mươi hôm. Cuộc đàm phán tuy chẳng mang đến kết quả gì, nhưng qua bên đó, với bài diễn văn nảy lửa của mình, đồng chí đã vạch trần chính sách phản động của thực dân Pháp, nêu rõ lập trường sáng ngời chính nghĩa của nhân dân ta là chiến đấu đến cùng cho một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Qua những ngày đàm phán ở Pháp chắc chắn rằng đồng chí hiểu thấu hơn tâm địa của thực dân Pháp. Đối với địch, đồng chí kiên quyết và dứt khoát. Đồi với đồng chí thì chan hoà, cởi mở và thân mật. Lúc này đây đồng chí đang chăm chú nghe đồng chí Tổng bí thư phân tích tình hình và ra chỉ thị cho tôi. Đồng chí nhìn thẳng vào mắt tôi, đầu gật gật khi đồng chí Tổng bí thư nói: phải khéo léo giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Tôi cũng khẽ gật đầu đáp lại tỏ ý: Vâng, tôi hiểu ý chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, tôi hiểu ý anh, ta đánh lâu dài, địch sẽ không chịu nổi.

        Tiếp lời đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho tôi những việc phải làm ngay: Nghiên cứu âm mưu địch; nắm chắc lực lượng ta, đặc biệt chú ý lực lượng tự vệ thành; làm kế hoạch tác chiến, chỉ huy phải kiên quyết, linh hoạt... Đồng chí nhấn mạnh: Công việc lớn đấy, nhiều khó khăn, phải tích cực khắc phục, nhanh chóng chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt. Kiên quyết đánh thắng ngay từ đầu.

        -  Báo cáo, tôi đã rõ nhiệm vụ, xin chấp hành.

        Tôi đứng nghiêm chào các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng rồi lui ra ngoài. Bước ra khỏi phòng họp mà lòng tôi vẫn còn xúc động, chân bước đi cảm thấy như không chạm đất, tôi vội ngồi ngay xuống ghế đá trong vườn hoa trước cửa nhà. Đầu óc tôi cùng một lúc diễn ra biết bao nhiêu suy nghĩ, những dự định và cả những thắc mắc, lo lắng. Nhiệm vụ lớn quá! Mà khả năng của tôi thì có hạn.

        Kẻ địch mà tôi phải trực tiếp đương đầu là những tên thực dân cáo già Va- luy, Moóc- li- e, bạc đầu trong nghề chinh chiến, chúng có quân đông, vũ khí tối tân. Chiến trường sẽ diễn ra là một thành phố to với vùng ngoại thành rộng lớn, dân cư đông đúc, bộ đội, dân quân tự vệ cũng tới hàng vạn, mà tôi tuy đã từng là huấn luyện viên góp phần đào tạo hàng trăm cán bộ quân sự cho quân đội, nhưng thực ra vốn liếng đó chưa đủ đáp ứng nhiệm vụ mới mà tôi vừa được Thường vụ Trung ương trao. Tôi trầm ngâm suy nghĩ: Nghĩ đến những ngày tù đầy ở Bá Vân, Nghĩa Lộ. Nghĩ đến những ngày thực dân Pháp khủng bố đồng bào ta, đàn áp cách mạng trước ngày khởi nghĩa. Nghĩ đến những ngày sắp tới đây thực dân Pháp lại nổ súng đánh ta hòng trở lại thống trị nhân dân ta một lần nữa... máu căm thù quân cướp nước lại sôi sục trong tôi. Tôi xua đuổi tất cả những ý nghĩ gì có thể cản trở nhiệm vụ. Tôi dù có non nớt, mà non nớt thật, thì có Đảng dìu dắt, có đồng chí, đồng bào giúp đỡ. Ngồi trên ghế đá giữa một vườn hoa thơm mát, tôi hít thở một hơi dài để xua đi những nỗi lo lắng và quay về với nhiệm vụ.

        Ngày mai ra Hà Nội, đến Sở chỉ huy quân khu nhận chức, tôi sẽ bắt đầu bằng công việc gì đây? Hàng trăm câu hỏi về cách đánh địch và thắng đính cứ lần lượt hiện ra trong đầu óc tôi. Đánh như thế nào có lợi nhất, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Thường vụ Trung ương Đảng vừa trao? Bởi lẽ trận chiến đấu sắp tới đâu phải là một trận chỉ có bộ đội ta chọi lại với quân địch, mà là một mặt trận, một cuộc chiến đấu lớn, nhiều trận, nhiều ngày, cả nhân dân cùng tham gia đánh giặc, chiến tranh toàn dân... Bỗng nhiên, tôi nhớ lại hồi tháng 10 năm 1945, khi rời Hà Nội đi làm công tác huấn luyện quân sự, mở lớp đào tạo cán bộ của Quân khu II. Lần ấy, tôi cũng bối rối lắm. Đồng chí Văn Tiến Dũng cho biết số học sinh có khoảng 100 người. Tôi lo lắng: trường sở đặt ở đâu bây giờ, phương tiện dụng cụ, bàn ghế ra sao?

        Chỗ ăn, chỗ ở của học viên, lại còn nồi niêu, gạo, thức ăn, nước uống nửa? Cơ quan giúp việc không có, tài liệu chưa chuẩn bị, tiền không có một xu, lấy đâu ra? Nhưng một lời nói của đồng chí Văn Tiến Dũng mở ra cho tôi phương hướng giải quyết những bế tắc này: phải dựa vào địa phương.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:43:13 AM

        Thế là tôi đi liên hệ với địa phương, gặp các đồng chí trong ban lãnh đạo tỉnh Hà Đông trình bày ý định của cấp trên muốn mở lớp huấn luyện quân sự. Đồng chí Ái, phó chủ tịch tỉnh rất thông cảm với chúng tôi và giải quyết rất nhanh:

        -  Anh mở lớp một tháng, ít ra phải có hai tấn gạo, vậy tạm thời cấp bốn tạ, đủ ăn một tuần, rồi sau lo tiếp.

        Tiếp đó đồng chí Lim công an trưởng, nói:

        -  Trong kho có một số vạc và nồi ba mươi, cần mấy cái cho đủ, bọn mình viết giấy cấp phát.

        Tôi nằn nì trình bày ý kiến xin tiền để mua mớ rau, quả cà cho bừa ăn hàng ngày. Các đồng chí bàn soạn với nhau một lát rồi thống nhất ý kiến: Mấy ông quân sự gan thật, không có một xu mà đòi mở lớp võ bị, thôi cố vét cho cậu ấy 100 đồng.

        Thu xếp được cho việc cơ bản, tôi quay về Ba Thá đi liên hệ với các huyện. Vì Ba Thá là nơi giáp ranh của 3 huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hoà. Các ủy ban huyện đều nhiệt tình ủng hộ, cũng cho gạo, cho tiền. Tôi lại đến các thôn Phú Viên, Viên Nội, Viên Ngoại, Xóm Đông. Ở các thôn này, tôi dựa vào đoàn thể quần chúng. Hội phụ nữ tổ chức đội nuôi quân lo việc chợ búa, cơm nước. Các cụ bô lão hăng hái đứng ra quyên góp tre, nứa, lá, rơm, rạ và huy động nhân công làm trường trại.

        Chỉ hơn hai tuần, mái trường mới đã sừng sững đứng bên sông Đáy. Ba dãy nhà xếp hình chữ môn với gần hai chục gian: năm gian làm giảng đường, năm gian vừa làm nhà bếp vừa làm nhà ăn, bảy gian để ở. Tường vách đất quét phủ vôi trắng, gian nào cũng có cửa ra vào và cửa sổ lắp chấn song. Ba dãy nhà ôm lấy cái sân cỏ rộng ngót trăm mét vuông. Nhìn từ xa đã thấy trường sở khang trang bề thế vào tận nơi, đến từng nhà, từng gian lại càng thích mắt: trong giảng đường, bàn ghế bằng tre, nứa, xếp hàng dọc, hàng ngang ngay ngắn. Buồng ngủ có hai dãy giường tre. Bàn ghế trong nhà ăn cũng chỉ bằng tre nứa thôi, nhưng mấy chục cái bàn cái ghế khuôn khổ, kích thước bằng nhau chằn chặn, xếp thành hàng, thành dãy thẳng tắp, nên tuy thô sơ mà vẫn đẹp mắt. Các học viên đến dự lớp huấn luyện, thấy trường sở đàng hoàng thấy sự chăm sóc ân tình của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, ai nấy đều cảm động, hăng hái học tập.

        Nhớ lại việc mở lớp huấn luyện quân sự ở Ba Thá, tự nhiên tôi cảm thấy trong người nhẹ nhõm, thoải mái, đầu óc thảnh thơi, hết căng thẳng, lo âu với nhiệm vụ mới vừa được Thường vụ trao cho. Tôi tự nhủ: công tác cách mạng, từ việc nhỏ đến việc lớn, có việc nào dễ dàng đâu? Vấn đề là ở người cán bộ cách mạng phải hiểu rõ nhiệm vụ, thấy hết khó khăn, phải nắm vững đường lối, phương châm công tác cách mạng của Đảng, tích cực động viên tổ chức lực lượng đông đảo quần chúng tham gia thì việc khó mấy cũng thành công.

        Hôm sau, tôi ra Hà Nội bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tình hình quân sự của Thủ đô.

        Từ ngày ta nắm chính quyền, chẳng có lúc nào Hà Nội được coi là yên ổn. Theo hiệp ước Pốt-xđam, các nước đế quốc trong phe đồng minh chiến thắng phát xít Nhật phân chia cho quân đội Tưởng Giới Thạnh vào nước ta làm nhiệm vụ tước vũ khí quân đội Nhật từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra. Bọn Tưởng cho đây là thời cơ thuận lợi để chúng thôn tính một nửa nước ta, cho nên đội cái danh đi giải giáp mấy vạn quân Nhật mà chúng huy động đến gần 20 vạn quân, tương đương với lực lượng mà nhà Mãn Thanh đem sang đánh chiếm nước ta hồi năm 1789. Chúng chủ trương "diệt cộng cầm Hồ" bày ra lắm âm mưu hòng bóp nghẹt, lật đổ chính quyền Trung ương của ta ở Hà Nội, lập chính quyền tay sai của chúng. Nhưng chúng đã liên tiếp thất bại vì nhân dân ta một lòng đoàn kết chung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh, vì Bác Hồ và Đảng ta đã đối phó rất khôn khéo với từng mưu mô, thủ đoạn của chúng.

        Giữa tháng 3 năm 1946, Hà Nội đông nghịt quân đội Tưởng lại xuất hiện thêm một đội quân nữa -  quân xâm lược Pháp. Đó là một bộ phận trong số 15.000 quân tiếp phòng Pháp được phép vào Hà Nội thay quân Tưởng theo hiệp định sơ bộ giữa ta và Pháp ký ngày 6 tháng 3 năm 1946. Với khoảng hơn 6.500 quân, chúng từ Hải Phòng theo đường số 5 vào Hà Nội đóng giữ 45 địa điểm khác nhau, trong đó lực lượng cơ động có đến 4.000 tên đóng tại sáu nơi quan trọng: Thành Hà Nội, trường An- be Xa- rô1 (Số 2 Hoàng Văn Thụ hiện nay), phủ Toàn quyền2 (Phủ Chủ tịch hiện nay), trường Bưởi3 (Trường phổ thông cấp II và III Chu Văn An, Hà Nội hiện nay), Đồn Thủy4 (Viện quân y 108 hiện nay) và sân bay Gia Lâm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:46:25 AM

        Như vậy là từ cuối tháng 3 đến hết tháng 6 năm 1946, trong Hà Nội lúc nhúc hai quân đội Tưởng -  Pháp, đứa mới vào và đứa sắp đi lục đục với nhau vì quyền lợi, bắn nhau nhiều phen1 (Ngày 28 tháng 2 năm 1946 bản hiệp ước Hoa -  Pháp được ký tại Trùng Khánh. Theo hiệp ước này Pháp đồng ý trả cho Tưởng Giới Thạch các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông, bán lại đường xe lửa Hà Nội -  Vân Nam trên đất Trung Quốc (từ Hồ Kiều đến Côn Minh; Pháp nhường lại cho Tưởng một "khu đặc biệt" ở cảng Hải Phòng, ở đó Tưởng được tự do nhập hàng và có quyền kiểm soát hải quan. Về phần Tưởng sẽ nhường cho quân Pháp thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất nhường quyền thống trị nhân dân ta cho Pháp.

        Tuy vậy lính Tưởng nhìn lính Pháp vẫn bằng con mắt gầm ghề của những kẻ đang ăn bị kẻ khác đến tranh phần, và xung đột giữa chúng tất nhiên xảy ra ở các nơi. Ở Hà Nội: ngày 31 tháng 3 thời hạn rút quân cuối cùng của quân đội Tưởng đã đến, thì cuộc xung đột đầu tiên nổ ra, quân Tưởng nổ súng vào toán lính Pháp. Ngày 1 tháng 4, hai chiếc ô tô của quân Tưởng và quân Pháp đâm vào nhau, quân Tưởng nổ súng luôn. Ngày 21 tháng 4 cuộc xung đột lớn nhất lại xảy ra giữa quân Tưởng và quân Pháp trước cửa hàng bán hoa ở ngã tư Tràng Tiền. Hai bên bắn nhau, súng nổ lan ra nhà thủy tạ Bờ Hồ, phố Hàng Da, đường Cột Cờ, đường Mai Hắc Đế. Pháp và Tưởng đều có hàng chục tên lính chết và bị thương.

        Quân Tưởng tại Hà Nội đang cố tìm ra một cái cớ để dây dưa ở lại. Cái cớ đó chúng không tìm được ở những va chạm giữa ta với Pháp thì chúng tạo ra bằng những cuộc xung đột nhỏ giữa chúng với Pháp, nhưng cả hai đứa đều tìm cách hại ta, lúc ngấm ngầm, lúc công khai, tình hình càng trở nên phức tạp.

        Cuối tháng 6, quân Tưởng cuốn gói hết.

        Tháng 7, thực dân Pháp đã mưu tính một kế hoạch lớn. Lấy cớ ngày 14 tháng 7 là ngày quốc khánh Pháp, chúng dự định tổ chức một cuộc diễu binh trọng thể và mời bộ đội ta cùng tham dự với tư cách là "quân đội một nước tự do trong khối liên hiệp Pháp" . Chúng dự định gây ra một vụ nổ nhỏ để châm ngòi cho một vụ nổ lớn. Kẻ châm ngòi là lũ đảng phái phản động Đại Việt và Việt Nam Quốc dân đảng. Lũ này sẽ nổ súng vào một khối trong đội hình diễu binh của quân Pháp (tất nhiên là chỉ bắn vào đám lính da đen). Khi có tiếng súng nổ thì một mặt quân Pháp sẽ quay súng bao vây các đơn vị bộ đội ta cùng tham dự diễu binh với chúng, mặt khác bọn thực dân sẽ lấy cớ "duy trì an ninh" tung lực lượng cơ động ra chiếm các công sở, các cơ quan Chính phủ ta, tạo điều kiện cho lũ việt gian tay sai của chúng làm đảo chính cướp lấy chính quyền Trung ương và chính quyền ta ở Hà Nội. Nhưng kế hoạch lớn này của các nhà tham mưu thực dân đã thất bại. Bởi vì trước ngày 14 tháng 7, ngay tại Hà Nội, ta tiến hành một đợt hoạt động nhanh như sét đánh, cùng một lúc vây quét hết các ổ phản động. Âm mưu bị lộ, bọn thực dân Pháp liền bãi bỏ cuộc diễu binh này.

        Bấy giờ, trong hàng ngũ tướng lĩnh xâm lược Pháp đã có nhưng mâu thuẫn sâu sắc về biện pháp tiến hành chiến tranh xâm lược. Tướng Lơ- cléc, kẻ phải đối địch chật vật với cuộc chiến tranh toàn dân của ta ở Nam vĩ tuyến 16 đã phần nào thấy được vấn đề, không thể dùng biện pháp quân sự được y chủ trương tiến hành "diễn biến hoà bình". Nhưng bọn chủ chiến mạnh thế hơn, do vậy, Lơ- cléc đã phải từ chức, về Pháp, và tướng Va- luy lên nắm quyền Tổng tư lệnh lực lượng xâm lược, đẩy mạnh các kế hoạch khiêu khích, lấn chiếm trên khắp đất nước Việt Nam.

        Tại Hà Nội, quân Pháp dần dần lấn chiếm nhiều vị trí quan trọng, nhằm tạo ra một thế trận chia cắt các lực lượng ta ở trong Hà Nội và có thể nhanh chóng đánh úp ta, chiếm cả thành phố. Ví dụ: ở ngay trước mặt trại Vệ quốc đoàn Trung ương1 (40 Hàng Bài), địch cắm một trung đội, đóng trong rạp chiếu bóng Ma- giét- tích (nay là rạp Tháng Tám); đối diện với Bắc Bộ phủ, nơi làm việc của Chính phủ ta, chúng cắm 200 lính trên tầng cao của khách sạn Mê- tơ- rô- pôn (nay là khách sạn Thống Nhất)...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:48:41 AM

        Thế đó, kẻ địch quân đông, có đủ các loại vũ khí, xe tăng, tàu chiến, máy bay. Mà ta thì lực lượng vệ quốc đoàn chỉ có 5 tiểu đoàn, người nhiều hơn súng (Vũ khí của ta lúc này có 1.500 khẩu súng trường (trong đó một nữa là súng khai hậu, súng bắn chim), 4 khẩu đại liên 12,7 mi- li- mét, 7 khẩu cao xạ 75 mi- li- mét dùng làm pháo mặt đất, một khẩu ba- dô- ca với 5 viên đạn, 20.000 viên đạn các loại, 1.000 quả lựu đạn, 80 bom ba càng, 200 chai xăng Crếp, v.v), chưa được huấn luyện bao nhiêu, lại phải đóng phân tán rải rác khắp nội ngoại thành phố để bảo vệ các công sở, nhà máy; đã thế, tại nhiều vị trí quan trọng như nhà máy điện, nhà máy nước, nhà ga, cầu Long Biên, nhà ngân hàng... ta và địch cùng đóng quân canh gác chung. Vậy làm thế nào để thực hiện đúng như chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng: Nhanh chóng chuẩn bị sẵn sàng tư thế chiến đấu, đồng thời phải hết sức tránh không mắc mưu khiêu khích của địch.

        Thật là khó! Bởi vì, nếu không gấp rút chuẩn bị sẵn sàng tư thế chiến đấu thì khi địch trở mặt đánh úp, ta sẽ không kịp trở tay. Ngược lại, ta ráo riết chuẩn bị, sẽ gây nên không khí căng thẳng và đó là cái cớ cho địch gây sự với ta, mà lúc này ta đang cần giữ thế hoà hoãn, tranh thủ hoà bình được ngày nào là có lợi ngày ấy, thêm được thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Khó nữa là bộ đội ta đang phân tán đóng khắp nơi trong thành phố, thu lại thành đơn vị đại đội, tiểu đoàn tập trung thì cơ quan công sở không có ai bảo vệ, mà cũng dễ lộ ý định, địch sẽ lấn chiếm ngay. Nhưng nếu không tập trung lại thì làm thế nào tranh thủ nắm chắc lực lượng để khi cần là chỉ huy chiến đấu được ngay.

        Khó lắm, ngồi một chỗ mà nghĩ, mà bàn luận với nhau thì chẳng ra mưu kế gì hay, càng nghĩ đầu óc càng thêm rối mù!

        Sau khi thống nhất chủ trương, Bộ chỉ huy mặt trận phân công đồng chí Trần Độ xuống các đơn vị kiểm tra và cổ động (nay gọi là động viên) cán bộ, chiến sĩ. Tôi lo việc tổ chức các trận địa chiến đấu. Trước hết tôi bỏ ra một tuần lễ liền cùng với đồng chí quân báo cọc cạch hai chiến xe đạp đi khắp thành phố, qua hết đường lớn đến ngõ hẻm; lúc xem xét một vị trí đóng quân của địch, khi thì gặp gỡ trao đổi bàn bạc với anh em bộ đội, anh em tự vệ. Qua cuộc đi này tôi thu hoạch được nhiều ý kiến hay, vừa giàu trí mưu lược vừa thể hiện khí phách anh hùng của một dân tộc không bao giờ chịu khuất phục uy lực của quân xâm lược.

        Tại Bắc Bộ phủ, các đồng chí ta dự định đào một đường ngầm xuyên dưới nền khách sạn Mê-tơ-rô-pôn, xếp bom vào đó khi địch trở mặt ta cho nổ tung.

        Bên trại Vệ quốc đoàn Trung ương, các đồng chí cũng dự định đào đường ngầm như thế để đánh bom tiêu diệt bọn địch bên rạp Ma- giét- tích và một đường ngầm nữa sang nhà tên Bảo Đại ở bên đường Găm- bét- ta1 (Đường Trần Hưng Đạo ngày nay), đó là đường bí mật cơ động lực lượng từ trong ra, ngoài vào...

        Tôi đã đến nhiều khu phố để xem xét các đơn vị tự vệ Thành chuẩn bị chiến đấu. Số anh chị em này đại bộ phận là công nhân và các tầng lớp lao động khác. Anh chị em vốn sẵn có tinh thần yêu nước, lại bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, khi được giáo dục, động viên họ không những hăng hái nhiệt tình mà còn có rất nhiều mưu kế đánh địch, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu quên mình để bảo vệ Thủ đô bảo vệ Tổ quốc. Đó là một lực lượng đáng quý. Ở Hà Nội, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, do ta phải luôn luôn che giấu lực lượng Vệ quốc đoàn để né tránh các âm mưu của các kẻ thù, cho nên thường xuyên lực lượng tự vệ Thành ở các khu phố phải đảm đương vai trò chính trong việc giữ gìn trật tự, an ninh, kể cả việc đấu chọi vời bọn đảng phái phản động và kìm hãm, ngăn chặn những hành động khiêu khích, cướp bóc của quân Tưởng Giới Thạch, quân xâm lược Pháp. Bọn phản động, bọn Tưởng Giới Thạch và cả bọn Pháp nữa rất kiêng nể lực lượng "sao vuông” này. Chính vì vậy mà hôm Thường vụ Trung ương Đảng trao nhiệm vụ cho tôi, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã căn dặn kỹ càng: Phải đặc biệt chú ý đến lực lượng tự vệ Hà Nội. Trong tự vệ Thành, ngoài nam nữ thanh niên công nhân, những người lao động thủ công, những học sinh, sinh viên, còn có một số người đã đứng tuổi, ngoài 40, bà con trong phố vẫn quen gọi kiểu cũ là ông phán, ông ký, ông La- mốt, ông Ben- la phô- tô, ông Phúc Tân v.v. Những anh em này vốn bị bọn thống trị chèn ép, sẵn có tinh thần ghét Tây, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, được cách mạng giáo dục, hun đúc thêm lòng yêu nước nên họ hăng hái gia nhập tổ chức tự vệ Hà Nội, tự bỏ tiền ra may quần áo ka- ki theo kiểu quân sự, lại thích được mọi người gọi là "anh”, là những chàng trai Hà Nội. Họ nhiệt tình hăng hái, xông xáo trong các việt, trị an, trấn áp phản động, tâm hồn họ đã trẻ lại trong cao trào cứu nước của toàn dân.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:51:20 AM

        Một hôm, nhân đi qua sát vị trí đóng quân của địch bảo vệ nhà viên tướng Moóc-li-e ở phố Hàng Trống (nay là toà báo Nhân Dân), tôi tìm gặp hỏi chuyện anh đội trưởng tự vệ phố Nhà Thờ. Anh này mới qua một lớp huấn luyện quân sự tại trường Hồ Chí Minh, trường đào tạo cán bộ tự vệ do Thành ủy Hà Nội tổ chức. Anh trình bày ý định chuẩn bị tác chiến vẫn với cung cách của một cậu học sinh hiếu động:

        -  Ở đây khó chơi với chúng nó lắm. Anh tính, đầu phố là nhà Moóc- li- e, có gần một trung đội lê- dương, cuối phố là khu nhà Pháp kiều. Mình làm gì chúng nó nhìn hết. Nhưng không sao, phải có cách chơi lại chúng nó chứ. Chúng tôi đã bí mật khoan lỗ vào một số thân cây ở hai đầu phố. Đã xoay được mìn rồi. Khi có lệnh, nhét mìn vào những lỗ đó, cho nổ, thế là chỉ trong nháy mắt là có vật chướng ngại, cắt đường. Cây đổ đè chồng lên nhau, cài vào nhau thì chắc lắm, xe tăng không húc nổi đâu. Chúng nó mà xua lính ra cưa thì ta tỉa cho ngoẻo ngay.

        Anh đội trưởng dẫn tôi vào một căn nhà ở đầu phố. Anh cẩn thận khép kín cửa ra vào rồi chỉ vào một bộ ghế ngựa kê sát bức tường trông ra ngoài đường và nói: đây là một vị trí chiến đấu. Anh lật một tấm phản lên. Dưới gầm bộ ghế ngựa lộ ra một cái hố mới đào, người đứng đến ngang ngực, và phía chân tường là một lỗ đục dở dang, chỉ cần mấy nhát xà- beng, đánh bật một viên gạch ra thì thành cái lỗ châu mai, chĩa súng ra ngã tư đường. Một vị trí chiến đấu khá bất ngờ.

        -  Phố này, ngả nào xe tăng, xe thiết giáp định cũng xộc vào được đến đầu các phố, mà ta thì...

        Tôi đang định đặt một câu hỏi để thăm dò ý định tác chiến của đội tự vệ phố Nhà Thờ thì anh đội trưởng đã nhanh nhảu cướp lời:

        -  Vâng, xe của chúng nó sẽ chiếm được hai đầu phố, dễ dàng thôi. Chúng nó sẽ đặt súng bắn dọc đường, kiểm soát suốt dọc phố này. Nhưng thế thì ăn giải gì, phải không anh. Chúng chỉ mạnh ở ngoài đường thôi. Xe tăng có xông được vào trong nhà, trong ngõ đâu? Chúng tôi đã bàn nhau: ta phải kiên quyết đánh giữ từng bờ tường, từng góc sân...

        Những suy nghĩ, những việc làm thực tế của quần chúng dội vào đầu óc tôi, mở ra cho tôi một hướng chuẩn bị tích cực để thành phố đi vào chiến đấu. Tôi dự kiến những vấn đề sau đây sẽ đưa ra Bộ chỉ huy mặt trận thảo luận và quyết nghị:

        Một là, bí mật đào đắp công sự, hố chiến đấu ở trong nhà, trong vườn, trong ngõ ngách. Ở các nhà có ban công hướng ra ngoài đường thì chuẩn bị sẵn những bao cát, khi cần đem ra ban công xếp thành ụ súng;

        Hai là, đục tường thông nhà này qua nhà khác để bí mật cơ động lực lượng, khi tiến khi thoái, ở trong từng dãy phố, từng khối phố;

        Ba là, chuẩn bị sẵn những vật cồng kềnh, như xe bò, xe rơ- moóc, thùng sắt, thùng gỗ, hòm, bàn, ghế... để khi có lệnh thì lao ra đường, đồng thời chuẩn bị sẵn các phương tiện, dụng cụ, biện pháp chặt cây, ngả cột điện làm vật ngăn chặn từng quãng đường phố.

        Những kết quả về trinh sát địch, tôi chấm lên bản đồ, cái bản đồ hành chính của thành phố in từ thời Pháp thuộc với những tên phố mang tên quan lại, tướng tá thực dân. Căn cứ vào những kết quả trinh sát, tôi dự kiến địch sẽ đánh úp ta ra sao? Các mũi tiến quân mà chúng sẽ theo những đường phố, thọc ra tới đâu? Và như vậy ta cần phải tổ chức chặn địch ở những đoạn nào, và phân chia khu vực tác chiến như thế nào cho thích hợp...

        Hồi đó, cơ quan chỉ huy chưa có quy củ, việc lập kế hoạch tác chiến cũng chưa có bài bản như hiện nay, thường thì cứ vừa làm vừa bàn bạc với anh em, vừa làm vừa kiểm tra, như đặt một điểm chặn, hay một tuyến đường thông tin, một tuyến tiếp tế thì chấm, thì vạch lên bản đồ, rồi lại đạp xe đi xem xét lại, thấy chưa ăn khớp thì thay đổi. Tấm bản đồ kế hoạch tác chiến của tôi môi ngày một thêm những ký hiệu, những nét tẩy, nét xoá, những ghi chú bổ sung, trông mà rối mù, cuối cùng chỉ mình tôi mới có thể hiểu được, đọc được những ký hiệu, những ý định ghi chi chít dọc ngang, ngang dọc đó.

        Có những lần tôi ngồi cả buổi trước tấm bản đồ rắc rối ấy, cứ như người mê cờ ngồi suy nghĩ về các thế cờ, tính những nước đi trước trên bàn cờ vậy. Ngồi nhìn thế địch mà tôi cứ suy nghĩ làm thế nào để thực hiện được ý kiến của đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị cho mặt trận Hà Nội, trong buổi tôi lên nhận nhiệm vụ:

        -  Phải sẵn sàng để khi địch trở mặt là ta đánh trả lại ngay tức khắc; không cho chúng đánh úp Thủ đô ta, bắt chúng đối phó bị động.

        -  Phải thực hiện kìm giữ địch một thời gian trong Hà Nội, không cho chúng mở rộng chiến tranh ra ngoài.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 06:54:03 AM

        Nghĩ mãi, rồi cũng tìm ra cách đánh, tôi đem những suy nghĩ của tôi trình bày với cá đồng chí trong Bộ chỉ huy mặt trận và các cán bộ tham mưu. Nhiều người cùng bàn bạc, nảy thêm lắm ý kiến, đúng có, mà không đúng cũng có, song đúng hay không cũng đều bổ ích cả, vì khi tranh cãi về một ý kiến không đúng thì lại càng thấy rõ hơn phải đánh thế nào mới hợp với sức ta, đúng như phương châm Đảng đã chỉ đạo.

        Vấn đề thứ nhất, làm thế nào đánh trả lại được, bắt địch đối phó bị động? -  Chúng tôi thống nhất với nhau rằng, muốn vậy phải sẵn sàng chiến đấu rất cao để có lệnh là đánh đồng loạt, nơi địch yếu ta dùng lối đánh tập kích, bất ngờ đột nhập tiêu diệt chúng; chỗ khó đánh, ta bao vây, uy hiếp, đánh tỉa, nơi địch tập trung đông quân, ta quấy rối... Đối với những đơn vị cơ động của địch, lực lượng chính để thực hiện âm mưu đánh úp ta, thì phải tìm mọi cách ngăn cản, không cho chúng phóng xe tăng, xe cơ giới chạy ngang, chạy dọc thành phố. Ngăn cản cũng phải làm đồng loạt, cùng lúc các phố đều dựng ba- ri- cát. Việc này phải huy động toàn dân trong thành phố, mỗi người một tay thì chốc lát khắp các đường phố sẽ ngổn ngang vật chướng ngại, khiến cho địch có phá được cái này lại vướng cái kia, tránh phố này thì lại bị cản ở phố khác. Ngay mỗi đường phố cũng cần dựng hai ba cái ba- ri- eát, kiểu như cài cửa nhiều then ấy, kẻ gian có nạy được cái then này rồi thì lại vẫn phải kỳ cạch nạy cái then khác.

        Hình ảnh cửa cài nhiều then gợi cho tôi nghĩ ra chiến thuật gọi là “cài then cửa", mỗi cái "then cửa" ấy gồm một hàng chướng ngại vật và một số tổ chiến đấu bố trí bí mật gần đó để bắn tỉa, đánh cản không cho địch mở đường một cách dễ dàng.

        Về vấn đề thứ hai, làm thế nào kìm hãm, giam chân địch một thời gian trong Hà Nội? Đây là vấn đề sử dụng lực lượng, dàn thế trận, chúng tôi tranh luận bàn bạc rất sôi nổi.

        Bấy giờ, có một phái viên quân sự do cấp trên cử đến giúp chúng tôi. Đó là Ái Việt, nguyên là một sĩ quan Nhật đầu hàng ta, xin được phục vụ trong quân đội cách mạng Việt Nam. Ái Việt nhất trí với chúng tôi về công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, cả về cách phá âm mưu đánh úp của địch, nhưng về phương pháp tác chiến, cách dàn thế trận thì anh ta nêu ý kiến khác hẳn. Theo Ái Việt, do địch mạnh ta yếu, địch hơn ta về mọi mặt hoả lực đột kích, cơ động, cho nên muốn kìm địch ở trong thành phố thì phải dùng phương pháp đánh ngăn chặn từng bước, mặt trận Hà Nội cần tổ chức ba tuyến chiến đấu có công sự phòng ngự vững chắc:

        Tuyến thứ nhất, ở tiếp giáp giữa nội thành và ngoại thành, chạy vòng từ Phà Đen qua các ô Đống Mác, ô Cầu Dền, ô Chợ Dừa, Kim Mã, Cổ Lễ đến ô Yên Phụ.

        Tuyến thứ hai, Đuôi Cá -  Thanh Liệt vòng ra Mọc Quan Nhân, Cầu Giấy, Chém.

        Tuyến thứ ba, Văn Điển -  thị xã Hà Đông -  Tây Mỗ -  Cổ Nhuế.

        Ý kiến của Ái Việt như vậy là không chú trọng phát huy vai trò của lực lượng tự vệ Thành rất đông đảo, tới 8.000 người, là muốn nhanh chóng bỏ trống thành phố. Chúng tôi không tán thành lối đánh này. Hơn nữa, phương pháp tác chiến dàn thành tuyến ngăn chặn như Ái Việt nêu ra lại hoàn toàn không phù hợp với trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội ta lúc bấy giờ. Bài học kháng chiến Nam Bộ cho thấy rõ ràng là nơi nào bộ đội biết dựa vào dân, tổ chức lực lượng tốt, cùng nhân dân đánh du kích thì gây được nhiều khó khăn cho địch, ngược lại, đào hào, đắp chiến luỹ, dàn thành chiến tuyến thì dễ bị địch chọc thủng, mà đã thủng một chỗ là có thể vỡ tung...

        Cuộc tranh luận với Ái Việt diễn ra khá gay gắt. Mục đích chủ yếu là cốt để làm cho phương án tác chiến của ta sáng rõ và cũng qua đó chúng tôi có thể tranh thủ học hỏi, khai thác thêm tri thức quân sự của Ái Việt. Cuối cùng, bao nhiêu ý kiến của Ái Việt nêu ra để bảo vệ cho phương pháp tác chiến dàn thành tuyến ngăn chặn không phù hợp với quan điểm chiến tranh nhân dân của ta và tình hình thực tế lúc đó nên đều không được ta tán thành. Nhưng với người như Ái Việt không phải một lúc nhận ra được phương pháp tác chiến đúng đắn của ta. Anh ta nêu ý kiến, xin hỏi lại:

        -  Nếu không tán thành, vậy xin đề nghị các ông cho ý kiến cụ thể?


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:05:09 PM

        Rất thông cảm với Ái Việt, thay mặt các đồng chí trong Bộ chỉ huy, tôi phát biểu ý kiến:

        -  Ta yếu, địch mạnh, do đó cách tổ chức tác chiến phù hợp với sức ta và trình độ ta lúc này là đánh du kích, cài sát vào địch, bám riết lấy nó mà đánh. Cần chia Hà Nội thành nhiều khu vực, mỗi khu vực có lập nhiều ổ đề kháng -  đào hầm đắp ụ, dựng chướng ngại vật chặn các đường phố, dùng chiến thuật "cài then cửa", buộc địch phải giành giật với ta trên đường phố... Còn bố trí lực lượng, phải có lực lượng đóng ghìm trong thành phố, thực hiện mỗi nhà là một pháo đài, mỗi phố một chiến tuyến, đồng thời phải có lực lượng dự bị đặt ở các cửa ô, như thế hình thành thế trận ta địch cài nhau, bên trong đánh ra, bên ngoài đánh vào phối hợp với nhau giằng kéo địch, làm cho mặt trận luôn luôn hoạt động, chỉ huy địch luôn bị xáo động, khẩn trương, căng thẳng, không thể rảnh tay tập trung lực lượng đánh ra ngoài hay dồn sức đánh vào trong. Như thế ta mới giữ được lâu.

        Sau cuộc họp, tôi báo cáo phương án tác chiến của ta lên Bộ Tổng tham mưu. Sau khi nghe tôi trình bày, đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chỉ thị: Tôi tán thành ý kiến của Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội. Trong thế xen kẽ giữa ta và địch như hiện nay, việc tổ chức chỉ huy là vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quyết định. Cho nên ngay từ bây giờ các đồng chí cần tập trung suy nghĩ tìm ra một biện pháp tổ chức hữu hiệu một mạng lưới thông tin liên lạc để bảo đảm chỉ huy thông suốt trong các tình huống phức tạp, nhất là đối với các đơn vị tác chiến cầm chân, thu hút địch ở trong thành phố.

        Cuối cùng, thay mặt Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội, tôi lên gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp để báo cáo kế hoạch tác chiến. Buổi làm việc diễn ra nhanh, gọn. Tôi không phải trình bày gì nhiều lắm. Bởi vì, đã mấy lần đồng chí Tổng chỉ huy cùng chúng tôi đi xem xét thực địa trong và ngoài thành phố. Mỗi lần đi là một lần đồng chí trao đổi ý kiến với chúng tôi rất cụ thể về công việc tổ chức, chỉ huy chiến đấu; mà thường là đồng chí đề ra những câu hỏi khêu gợi, nêu những tình huống tác chiến cụ thể, những giả định để chúng tôi suy nghĩ giải đáp, rồi đồng chí góp ý kiến uốn nắn, chỉ dẫn thêm. Lần này, sau khi nghe tôi trình bày trên bản đồ, vẫn cái bản đồ kế hoạch mà tôi ghi chi chít những ký hiệu, những ý định, đồng chí hỏi:

        -  Bộ chỉ huy mặt trận có nhất trí với kế hoạch này không?

        -  Dạ, chúng tôi nhất trí.

        -  Còn ý kiến bên Uỷ ban bảo vệ thành phố thế nào?

        -  Tôi đã trình bày với anh Nguyễn Văn Trân, về cách chia khu vực tác chiến, phương pháp tác chiến, về dự kiến chuẩn bị vật chất cho lực lượng ở lại chiến đấu trong lòng địch... Anh Trân đồng ý tất cả và phân công cho Bộ chỉ huy mặt trận cứ tập trung vào công tác tham mưu, chỉ huy tác chiến, còn bao nhiêu công tác khác, bên Uỷ ban gánh hết. Mặt trận cần lực lượng quần chúng làm gì, làm ở đâu, Uỷ ban sẽ chỉ thị cho các khu phố huy động.

        -  Như vậy là sự nhất trí rất cao. Đó là một yếu tố rất quan trọng để tạo nên sức mạnh giành chiến thắng.

        Một lần nữa, đồng chí Tổng chỉ huy khẳng định ý đồ xây dựng thế trận bố trí một tiểu đoàn ở trong Liên khu I, còn bốn tiểu đoàn tập trung đóng ở các cửa ổ để tạo thế: trong đánh ra, ngoài đánh vào, xen kẽ giằng co với địch, mà tôi tạm đặt tên là "trùng độc chiến" (Buộc địch thu hút lực lượng địch vào một nơi, để các nơi khác tiến công tiêu diệt địch). Thế trận này lấy Liên khu I làm trận địa quyết chiến ở trong thành phố, còn các lực lượng của các Liên khu II, III thì đánh một thời gian rồi dãn dần ra ngoài các cửa ô để phối hợp tác chiến với Liên khu I.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:06:34 PM

        Hồi ấy, Hà Nội chia ra làm nhiều khu phố, các khu hành chính. Các khu phố này họp lại thành ba liên khu. Liên khu I rất rộng, chiếm phần bắc thành phố (gồm phần lớn đất đai của hai khu Ba Đình, Hoàn Kiếm hiện nay). Tuy rộng thế nhưng phần nửa phía tây của Liên khu này lúc bình thường đã coi như "đất địch chiếm” rồi, vì ở đấy có thành Hà Nội, trường Xa- rô, phủ Toàn quyền, nơi địch tập trung lực lượng cơ động của chung, ở đấy cũng là một khu vực tập trung nhưng biệt thự của Pháp kiều, mà bà con ta gọi là khu phố Tây. Phía nam Liên khu I giáp vời Liên khu II là phố Tràng Tiền, Tràng Thi, v.v. cũng lại là một khu vực tập trung nhiều nhà Pháp kiều, một khu phố Tây nữa, có nhiều vị trí đóng quân công khai hoặc bí mật của Pháp. Thế là mặt tây, mặt nam Liên khu I đều có địch, còn mặt bắc và đông là sông Hồng, địch có thủy quân, chúng có thể nhanh chóng kiểm soát đoạn sông rộng này. Như vậy, chẳng cần phải là một nhà quân sự, ai cũng có thể dễ thấy rằng một khi địch trở mặt đánh úp ta thì các lực lượng vũ trang của ta ở Liên khu I sẽ bị chúng bao vây tứ bề. Nhưng xét về nhiều mặt, thì Liên khu I có một vị trí quan trọng. Về chính trị, đây là trung tâm thương mại, dân cư đông đúc, ta còn chiến đấu ở đây ngày nào, giờ nào, thì ngày ấy, giờ ấy địch chưa thể nói là chúng đã chiếm được Hà Nội. Về quân sự, xét chung cả thành phố, chỉ có Liên khu I mới có địa hình, địa vật thuận tiện để tổ chức một khu vực trận địa phòng ngự tốt lại có tác dụng thu hút địch, vì ở ngay bên sườn thành Hà Nội, giáp liền với các khu phố tập trung Pháp kiều. Trong khu vực này nhà cửa san sát, ta có thể đục tường từ nhà này sang nhà khác để cơ động ở bên trong, đi suốt cả dãy phố, khối phố, biến mỗi căn nhà, mỗi tầng gác thành một vị trí chiến đấu, mỗi dãy phố thành một trận địa chiến đấu. Đường sá ở đây chật hẹp, thuận tiện cho ta đào cắt đường, đắp chiến luỹ, dựng vật chướng ngại chặn đứng xe cơ giới địch. Toàn khu vực với hàng nghìn nhà cao thấp khác nhau, với những ngõ hẻm ngoắt ngoéo có thể xây dựng thành một trận địa rộng lớn liên hoàn không những chỉ kiên cố, hạn chế được sức phá hoại của bom đạn địch, mà còn là một loại trận địa đặc biệt, phức tạp khiến cho địch có gặm từng miếng cũng khó chứ hoàn toàn không thể đánh thọc sâu, chia cắt ta được. Vì thế, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội quyết tâm tổ chức Liên khu I thành một trung tâm chiến đấu, để vừa tiêu diệt, vừa tiêu hao địch vừa thu hút lực lượng địch, tạo nên thế trong đánh ra cùng với các lực lượng ngoài đánh vào của các liên khu khách đúng như ý kiến chỉ đạo của Bộ Tổng chỉ huy.

        Chúng tôi quy định cho các lực lượng vũ trang trong Liên khu này, gồm có tiểu đoàn Vệ quốc đoàn 101 và các đơn vị tự vệ nhà máy, đường phố như sau: khi nổ súng, các đơn vị đóng tại đâu phải kiên quyết chiến đấu tại chỗ. Sau ba ngày đánh tiêu hao địch thì co dần lại, lấy giới tuyến phía tây là đường Phùng Hưng; phía nam là đường Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng; phía bắc là đường cầu Long Biên, phía đông là đê sông Hồng, nhưng phải giữ được vùng đất bãi giáp ven sông.

        Hà Nội có năm tiểu đoàn Vệ quốc đoàn, Bộ chỉ huy mặt trận chủ trương sử dụng tiểu đoàn 101 cùng lực lượng đông đảo tự vệ của Liên khu I có đến hơn 3.000 anh chị em, hình thành một hạt nhân thật cứng ở trung tâm thành phố. Còn bốn tiểu đoàn 77, 212, 145, 523 cùng các lực lượng tự vệ Liên khu II, Liên khu III và các đơn vị dân quân du kích ngoại thành bao bọc xung quanh. Như vậy, địch tuy mạnh nhưng sẽ bị rơi vào thế trận “trùng độc chiến" của ta, bị giằng co trước sau, phải phân tán lực lượng, tổn hao lực lượng, mắc kẹt trong tình thế bùng nhùng như rơi vào bụi gai mây, xoay đằng nào cũng vướng, trở đằng nào cũng mắc.

        Từ tháng 11 năm 1946, Tổng chỉ huy quân đội xâm lược Pháp, tướng Va- luy, hung hăng đẩy mạnh các hành động lấn chiếm ở Sơn La, Lạng Sơn, Hòn Gai, Hải Phòng, Hà Nội.

        Ngày 20, quân Pháp đánh chiếm thị xã Lạng Sơn và cảng Hải Phòng.

        Ngày 23, quân Pháp chiếm eả thành phố Hải Phòng và sân bay Cát Bi.

        Cũng hôm ấy "Uỷ ban Đông Dương" của chính phủ Pháp quyết định "dùng đường lối vũ lực” và tiếp tục cử Đác- giăng- li- ơ, một tên chủ chiến, làm cao ủy Đông Dương và đưa thêm viện binh sang Đông Dương.

        Tình hình diễn biến phức tạp đó càng làm cho không khí Hà Nội thêm căng thẳng, khẩn trương.

        Hà Nội đã chuẩn bị đi vào cuộc chiến đấu mới một cách tích cực và cụ thể hơn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:10:31 PM

        Hà Nội ráo riết chuẩn bị kháng chiến. Các nhà máy, xí nghiệp chuyển máy móc, nguyên liệu ra ngoài thành phố, các cơ quan chính phủ chuyển dần lên căn cứ địa Việt Bắc. Nhân dân, chủ yếu là ông bà già và trẻ em... những người không trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu được tản cư về nông thôn. Liên tục ngày đêm những chiếc xe ô tô vận tải, xe bò, xe xích lô chở cát, chở đất từ ngoài sông vào các phố để sẵn sàng nhồi vào bao tải, bao cói đắp ụ, dựng chướng ngại chắn ngang đường. Công nhân xe hoả nhà ga Hà Nội chuẩn bị sân một đoàn toa xe chở đá để khi có lệnh sẽ đẩy ra chắn đường không cho xe tăng, xe cơ giới định cơ động từ trong thành Hà Nội qua ngã tư Cửa Nam. Các cơ sở sản xuất, các cửa hiệu và từng gia đình thu dọn đồ đạc. chuẩn bị sẵn những đồ vật cồng kềnh để sẵn sàng lao ra mặt đường đạo nên nhùng đống chướng ngại vật la liệt khắp các mặt đường phố.

        Ngày qua ngày phố xá thưa thớt người, vắng hẳn đi. Nhưng những người ra đi không phải là chạy trốn, lánh xa một cuộc chiến đấu, mà là đi kháng chiến bước vào một cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ. Ai cũng hiểu, một khi Hà Nội đã vùng đứng lên ấy là lúc cả nước chuyển sang thời chiến. Ta phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ. phải chịu đựng nhiều hy sinh, phải nỗ lực vươn lên ngày một thêm sức mạnh để buộc định phải đeo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài mà chúng không tài nào chịu đựng nổi. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Công tác tuyên truyền chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện mà Đảng ta tiến hành rất bền bỉ ngay từ khi quân Pháp định trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, đến lúc này đã thấm sâu vào trí óc mỗi người dân yêu nước. Tản cư là yêu nước, người Hà Nội rời thành phố thân yêu với ý nghĩ như vậy.

        Những người chưa ra đi, ít ra ngoài đường, chẳng phải chỉ vì ngoài đó thường có những chiếc xe bọc thép của quân đội Pháp phóng bạt mạng, chở những tên lính mũ xanh, mũ đỏ, mặt mày vênh váo, lơ láo sẵn sàng gây sự với bất cứ một ai, mà còn phần thu xếp việc nhà, phần tranh thủ góp công, góp sức chuẩn bị cho Hà Nội xuất trận với tư thế đàng hoàng, chững chạc của hùng khí Thăng Long, xứng đáng với vị trí trung tâm của cả nước. Hà Nội tổ chức 12 đội cảm tử chuyên dùng bom ba càng phá xe tăng, xe bọc thép địch, tổ chức 36 tổ du kích đặc biệt, mỗi tổ từ ba đến năm người, cài ở các điểm bất ngờ kiểm soát các ngã tư, ngã ba trọng yếu, chuyên làm nhiệm vụ nghi binh, quấy rối, bắn tỉa và lưu động phục kích. Uỷ ban bảo vệ thành phố và Bộ chỉ huy mặt tràn gấp rút bảo đảm vật chất cho Liên khu I chiến đấu độc lập và lâu dài trong lòng địch, lương thực dự trữ đủ ăn ba tháng cho 5.000 người, bổ sung thêm 10.000 viên đạn, 500 quả lựu đạn, 100 chai gây cháy, trang bị 2 máy thông tin vô tuyến điện (Bút ký chiến sự lục. Lưu trữ Bộ Quốc phòng).

        Trong Liên khu I công tác chuẩn bị tập trung vào những khu vực trận địa chiến đấu. Những ban công, cửa sổ, những mái nhà băng đều trở thành những vị trí bắn. Tường trong nhà, ngoài sân. trên gác đều đục thành lỗ giao thông, mở đường đi từ buồng nhà này sang buồng nhà khác, đi suốt dãy phố dọc, luồn sang dãy phố ngang, tạo thành một trận địa chiến đấu hên hoàn: có thể vừa vận động tác chiến trong khu vực vừa xuất kích đánh địch ngoài khu vực khi cần thiết.

        Sang tháng 12 năm 1946, tình hình càng căng thẳng vì những hành động khiêu khích, cướp bóc, bắn giết của quân Pháp. Để buộc địch phai dè chừng, không dám nổ súng đánh úp ta ngay, đồng thời làm cho chúng không phán đoán được lực lượng của ta, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội đã tổ chức một cuộc nghi binh lớn với sự hỗ trợ của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây. Hàng ngàn dân quân của các tỉnh này được huy động về vùng ngoại thành Hà Nội, cứ tối đến rầm rập kéo vào trong phố, nửa đêm về sáng lại lặng lẽ bí mật rút ra. Suốt một tuần 1 liền ta làm như vậy khiến cho địch tưởng rằng Hà Nội mới được tăng cường 4 vạn quân.

        Ngày 17 tháng 12, từ sáng sớm, sương mù chưa tan máy bay thám thính của Pháp đã gừ gừ bay lượn nghiêng cánh chúc đầu như thằng trộm ngày ngó nghiêng thám thính toàn bộ mặt trận Hà Nội. Lần đầu tiên bọn xâm lược giở trò khiêu khích như vậy ở Thủ đô ta. Đến 8 giờ chúng cho một đoàn xe tăng, xe bọc thép từ trong thành Hà Nôi lao xộc ra chịt các ngã ba, ngã tư đầu đường phố Yên Ninh -  Hàng Bún. Quân lê dương mũ đỏ quây bắt hơn bốn chục người. Lập tức các cánh cửa nhà quay mặt ra đường mở tung ra hết, bà con dân phố Yên Ninh -  Hàng Bún xông ra đấu tranh. Quân lê dương xả súng vào quần chúng tay không tấc sắt.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:16:50 PM

        Cùng lúc ấy, tại Hải Phòng bọn Pháp có một cuộc họp tướng lĩnh do Va- luy triệu tập. Không ai lạ gì bộ mặt nham hiểm của tên chủ chiến Va- luy, kẻ mới được Đác- giăng- li- ơ tin dùng, cất nhắc giữ chức tư lệnh quân viễn chinh Pháp. Cười đấy, hoà nhã, cởi mở, lịch thiệp đấy, mà lật mặt tráo trở cũng ngay đấy thồi. Người Hà Nội biết mặt hắn từ tháng 3 năm 1946, khi hắn dẫn quân Pháp từ Hải Phòng lên Hà Nội. Trước đây một tháng, Va- luy trực tiếp đạo diễn quân Pháp gây ra xung đột ở cảng Hải Phòng rồi vin cớ để đánh lan rộng ra chiếm cả thành phố và sân bay Cát Bi. Lần này Va- luy họp tướng lĩnh ngay ở Hải Phòng mới chiếm được để bàn định việc đánh chiếm Hà Nội. Với cuộc họp này, hắn còn nhằm mục đích "vặn dây cót tinh thần" cho tướng Moóc- li- e, tư lệnh Pháp ở Bắc Đông Dương. Chả là, viên tướng già này còn do dự, muốn trùng trình chờ có quân tăng viện từ Pháp sang mới hành động. Nhưng Va- luy quyết định: cứ lấn tới.

        Từ ngày 17 tháng 12, tiếp theo vụ tàn sát đốt phá ở phố Yên Ninh -  Hàng Bún, quân Pháp gây ra nhiều vụ khiêu khích nữa ở các phố Lò Đúc, Hàng Bột, Hàng Đậu, Hàng Khoai, Đồng Xuân... Nhưng quân và dân Hà Nội rất cảnh giác, rất kỷ luật, không mắc mưu địch. Đến trưa ngày 18 tháng 12, quân Pháp chiếm Nha Tài chính1 (Nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), Bộ Giao thông2 (Phố Trần Quang Khải). Hà Nội vẫn nén lòng chiu đựng chờ lệnh Chính phủ.

        Kết thúc hai ngày gây rối loạn, đến 21 giờ 15 phút ngày 18 tháng 12 năm 1946, tướng Moóc- li- e láo xược gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí công an và tự vệ Hà Nội, đòi Chính phủ ta phải trao quyền kiểm soát trật tự an mình trong thành phố cho quân đội Pháp và ra hạn nếu đến sáng 20 tháng 12 năm 1946, những điều kiện đó không được chấp nhận thì quân đội Pháp sẽ chuyển sang hành động.

        Như vậy là, kẻ xâm lược đã công khai tuyên chiến với ta, hẹn ngày hẹn giờ đánh chiếm Hà Nội.

        Hà Nội vẫn bĩnh tĩnh tranh thủ thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi vào cuộc chiến. Những người phải ra đi nhanh chóng rời khỏi thành phố. Những người ở lại chiến đấu bảo vệ Thủ đô lao vào hoàn thành công việc chuẩn bị, sẵn sàng đánh địch bất cứ lúc nào. Những dòng người ra đi kháng chiến ngày đêm không ngớt. Những cửa nhà đóng kín như bưng. Chỉ còn lại những khẩu hiệu mọc lên chi chít trên khắp các đường phố với những nét chữ rắn rỏi viết trên tường, trên cửa, trên mặt đường nhựa:

        "Sống chết với Thủ đô"

        "Thà chết không chịu trở lại làm nô lệ".

        Tại đình làng Mọc Quan Nhân, các chiến sĩ quyết tử làm lễ tuyên thệ: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Tôi và đồng chí Trần Độ có mặt trong buổi lễ tổ chức đơn giản mà nghiêm trang này. Tiếng hát Quốc ca và lời thề hôm ấy của tuổi trẻ Thủ đô vang mãi trong trí óc chúng tôi, củng cố quyết tâm và tăng niềm tin cho chúng tôi: nhất định Thủ đô ta sẽ chiến thắng.

        Tại Bắc Bộ phủ, các chiến sĩ Vệ quốc quân cũng làm lễ tuyên thệ, nhận danh hiệu Đội Quyết tử của Thủ đô.

        Cũng hôm ấy, lực lượng chiến đấu của Hà Nội xuất hiện một số đội quân rất đặc biệt. Đó là trung đội nhà sư do sư thầy Minh làm trung đội trưởng, lấy chùa làng Tứ Kỳ làm trụ sở, cán bộ và đội viên của trung đội này vẫn mặt áo nâu dài, đầu chít khăn nâu, cổ đeo tràng hạt như mọi nhà sư, chỉ có khác là mỗi người có thêm một thắt lưng da để cài lựu đạn con dao găm hay thanh kiếm.

        Đó là đội tiếp tế -  cứu thương gồm hơn một trăm chị em trước kia kiếm sống bằng đủ mọi nghề: hát ả đào, buôn bán rau qua, v.v.

        Ngày 19 tháng 12 năm 1946, càng về trưa, Hà Nội càng ngột ngạt.

        Ở tất cả các nơi ta và địch cùng canh gác chung, quân Pháp hầm hè chĩa súng vào anh em ta. Và trên đường phố chốc chốc lại một đoàn xe bọc thép của chúng ầm ầm lướt qua. Chúng đi tuần tiễu, ngang nhiên như có quyền kiểm soát thành phố.

        14 giờ, chúng tôi lên Bộ Tổng chỉ huy nhận chỉ thị. Sau khi thông báo diễn biến chiến sự các mặt trận Hải Phòng, Lạng Sơn, đồng chí Võ Nguyên Giáp nói:

        -  Địch láo xược gửi tối hậu thư, bắt ta nộp vũ khí, trao quyền trị an ở Thủ đô cho chúng. Ta muốn tranh thủ hoà bình để xây dựng đất nước, nhưng ta nhân nhượng nữa địch càng lấn tới. Tất nhiên ta không thể để như vậy. Giờ chiến đấu đã đến. Thường vụ Trung ương Đảng vừa gửi điện cho các mặt trận và các chiến khu nói rõ Chính phủ đã bác tối hậu thư của địch. Như vậy chỉ trong 24 giờ là cùng, giặc Pháp sẽ nổ súng... Tất cả hãy sẵn sàng!


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:30:35 PM

        Đồng chí Tổng chỉ huy chỉ thị cho chúng tôi phải tổ chức lực lượng bám sát và nắm chắc mọi diễn biến của địch; phải luôn luôn sẵn sàng tư thế chiến đấu, có hiệu lệnh nhất tề đứng lên giết giặc, cứu nước.

        Tiếp theo, đồng chí Trần Quốc Hoàn, phái viên của Trung ương Đảng, nói:

        -  Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định phát động cả nước kháng chiến. Trong cuộc họp ấy, Hồ Chủ tịch phân tích ngắn gọn nhưng rất xúc tích khoa học về tình hình Mỹ -  Pháp và khả năng của ta. Bác Hồ giải thích rõ ràng và tỉ mỉ là cuộc kháng chiến lâu dài của ta nhất định thắng lợi. Cuối cùng, Bác Hồ còn hỏi kỹ về tình hình mùa màng và sinh hoạt của nhân dân. Biết chắc năm nay được mùa, nhân dân đủ no, Bác Hồ mới an tâm...

        16 giờ, chúng tôi trở về Sở chỉ huy mặt trận, đặt ở bên cạnh sân bay Bạch Mai. Các tiểu đoàn trưởng và cán bộ các Liên khu đã tập trung đầy đủ. Chúng tôi kiểm tra một lần nứa các mặt công tác chuẩn bị. Khi tôi thay mặt Bộ chỉ huy mặt trận quy định các tín hiệu nổ súng thì tất cả mọi người trong phòng họp đứng bật dậy. Phút chốc biến mất hết những vẻ mặt trầm ngâm, căng thẳng của nhiễu ngày đêm làm việc vất vả để đối phó với các hành động khiêu khích ngang ngược của địch. Ai nấy hả lòng hả dạ vui vẻ hẳn lên, vì sắp được chiến đấu, trút hết nỗi căm hờn chồng chất, nén chặt bấy lâu nay xuống đầu quân cướp nước.

        20 giờ, bọn địch cùng gác chung với ta ở nhà máy điện Yên Phụ trở mặt gây sự. Chúng bao vây tiểu đội Vệ quốc đoàn bảo vệ nhà máy, đòi tước vũ khí. Anh em ta liền nổ súng kịp thời và lập tức tự vệ công nhân lao vào phá máy.

        20 giờ 03 phút, đèn điện toàn thành phố tắt phụt. Không đầy một phút sau đó, súng nổ ran, rồi pháo của ta từ pháo đài Láng, Xuân Canh, Thủ Khối ầm ầm nhả đạn vào các nơi địch đóng tập trung đông quân ở thành Hà Nội, trường Bưởi, sân bay Gia Lâm.

        Hà Nội đã nhất tề vùng dậy. Tiếng súng, tiếng pháo rền vang... Cả đô thành bốc lửa. Cả Hà Nội trút căm hờn lên đầu quân xâm lược...

        Chỉ sau 4 giờ chiến đấu, vào lúc nửa đêm 19 tháng 12, qua tổng hợp báo cáo của các đơn vị, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội thống nhất nhận định: Ta đã phá tan âm mưu bất ngờ đánh úp của địch. Chúng không còn cái thế có thể ngày một, ngày hai chiếm xong cả Thủ đô Hà Nội nữa rồi. Nhất định quân và dân Thủ đô sẽ thực hiện đúng mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch. Người đề ra yêu cầu phải kìm chân đích trong Hà Nội từ một đến hai tuần lễ để ta có thời gian chuyển bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chính phủ được ổn định, nhân dân tản cư được đầy đủ và an toàn, tránh được tình trạng rối loạn. Trong không khí phấn khởi của buổi đầu ra quân thắng lợi, đồng chí Trần Độ nêu ý kiến khêu gợi:

        -  Bác Hồ ra hạn phải giữ được Hà Nội từ một đến hai tuần lễ. Nhưng chúng ta thử tính xem có thể giữ được lâu hơn không? Lúc này cả nước nhận được mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tổng chỉ huy rồi, cả nước đã đi vào kháng chiến, đâu đâu anh em ta cũng nổ súng, địch không thể tập trung sức để nhanh chóng cướp được Thủ đô ta đâu...

        Tôi bắt lời ngay:

        -  Phải cố gắng chứ. Phải giừ được Hà Nội ít nhất là nửa tháng.

        Cả Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội cùng nhất trí.

        Những trận đánh đầu tiên trong trung tâm thành phố, ngay sát Hà Nội nơi tập trung quân cơ động của địch, cho thấy rõ hiệu lực chiến thuật của chiến tranh nhân dân -  chiến thuật "cài then cửa” của ta. Cái chiến thuật nảy sinh từ thực tiễn, từ trí tuệ của quần chúng. Cái chiến thuật mà tất cả mọi người dân, mọi chiến sĩ tự vệ, vệ quốc đoàn đều có thể thực hiện được. Nó có hiệu lực ở khắp nơi. Một cái ba- ri- cát dựng lên ở đầu phố bằng cách xếp hàng trăm bao đất, hoặc đào một con hào cắt ngang đường lấy đất đắp sang một bên bờ hào, đắp cao ngọn lên, đó là một thứ "then cài". Một cây to, một cột điện đổ vật ngang đường là một thứ "then cài". Một đống bàn ghế, hòm thùng vứt lổng chổng ngổn ngang trên mặt đường, cũng là một thứ "then cài". Thậm chí, đem nồi đất, chậu sành, chậu gỗ úp rải rác la liệt trên mặt một quãng đường cũng là một thứ "then cài" khiến cho các loại xe địch không dám xông bừa vào, bởi vì biết đâu dưới một cái nồi, cái chậu nào đó có một quả mìn? Nhưng quan trọng hơn cả là các tổ tự vệ chiến đấu kết hợp đánh địch ở đó, ở các vật chướng ngại ấy. Đó là một "then cài hoàn chỉnh" -  một chiến thuật hư thật thật hư, ít tốn kém mà hiệu quả cao.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:31:14 PM

        Gặp "then cài” là địch phải dừng lại, bắn phá lung tung như vãi đạn rồi mới dám cho trinh sát lên phá “then cài". Nhưng phá được rồi, chúng vẫn phải lò dò từng bước, vừa đi vừa nghe ngóng, biết đâu ở quãng đường không có "then cài" lộ thiên lại có một thứ "then cài" bí mật gì đó, hay một ổ phục kích.

        Từ Cửa Bắc thành Hà Nội ra đến nhà máy điện Yên Phụ chỉ mấy trăm mét, hoả lực bắn thẳng của địch đặt từ Cửa Bắc kiểm soát suốt dọc đường này từ mấy hôm trước, thế mà đến khi ta nổ súng chiến đấu, một đoàn xe địch chỉ gặp một cây đổ và một tổ chiến đấu của tự vệ, phải đi mất một tiếng đồng hồ. Chúng đến nơi thì công nhân đã phá xong máy móc nhà máy điện Yên Phụ.

        Trận đánh đầu tiên tiêu biểu cho hiệu lực của chiến thuật "cài then cửa" diễn ra ở dọc đường phố Hàng Đậu. Nơi đây mặt đường rộng rãi, hai bên không có cây cối, là đường đi lối lại của định từ thành Hà Nội qua cầu Long Biên sang sân bay Già Lâm, ta không đào cất đường từ trước được, mà ngay những đồ vật dựng chướng ngại cũng phải giấu kín. Ta dự kiến ngay từ phút đầu tiên tỉa cuộc chiến đấu, thế nào địch cũng tung một lực lượng mạnh ra chiếm phố Hàng Đậu để kiểm soát cầu Long Biên. Và đúng như vậy, chỉ mươi phút sau khì Hà Nội nổ súng kháng chiến, địch đã phóng ra đây một đoàn xe hơn ba chục chiếc. Nhưng mặt đường Hàng Đậu không còn thênh thang nữa. Đội tự vệ Hàng Đậu, gồm những người thợ nguội, thợ hàn, thợ sửa chữa ô tô, những người lái xe vận tải... đã "cài then cửa" rất nhanh. Phố này có những xưởng sửa chữa xe máy, những xưởng gỗ, xưởng củi... nên có nhiều xe rơ- moóc, xe bò. Anh em tự vệ chuẩn bị sẵn một số xe ấy, trên chát đầy gỗ, củi, sắt gỉ, bao cát giấu sẵn ở trong các phố ngang, các ngõ hẻm gần đấy. Có lệnh chiến đấu, họ đẩy các xe chướng ngại vật ấy ra, rồi lật đổ ngổn ngang trên mặt đường Hàng Đậu.

        Đoàn xe địch từ trong thành Hà Nội theo đường Cửa Bắc lao ra định đến cầu Long Biên đón một đoàn quân cơ động của chung từ bên sân bay Gia Lâm kéo sang, nhưng đến đầu phố Hàng Đậu thì phải dừng lại. Hai chiếc xe tăng đi đầu bắn phá dọn đường mãi mới len lách bò dần đến giữa phố. Một quả mìn nổ, chiếc xe đi đầu toác bụng nằm ỳ giữa đường biến thành một vật cản đường. Chiếc xe thứ hai cũng bị đứt xích nằm xoay ngang, lại thêm một vật cản đường nữa. Thế là tắc. Đoàn xe địch phải dừng lại cho lính mũ đỏ nhảy xuống, giữa lúc ấy anh em tự vệ Hàng Đậu, cùng tự vệ các phố lân cận, chạy ùa ra đánh giáp lá cà. Kết quả địch phải tháo lui bỏ lại trên mặt đường hơn bảy chục xác chết, bốn xe vận tải và hai xe tăng, lửa cháy ngùn ngụt...

        Trong nội thành Hà Nội, trước khi quân Pháp nổ súng gây hấn, chúng đã chiếm đóng bảy vị trí lớn và gần bốn chục vị trí nhỏ, hình thành cái thế chia cắt Thủ đô ta; có thể đồng thời xuất quân bao vây các cơ quan trọng yếu và chịt giữ tất cả các cửa ngõ ra vào Hà Nội.

        Nhưng âm mưu hiểm hóc này của Bộ chỉ huy quân đội xâm lược Pháp đã bị phá sản ngay từ đầu. Cùng lúc quân và dân Hà Nội tiến hành cuộc bao vây các vị trí nhỏ của địch, và dựng vật chướng ngại "cài then cửa” trên khắp các ngả đường chặn quân cơ động của chúng. Súng nổ ran trong nội thành suốt đêm 19 rạng sáng ngày 20 tháng 12. Trong đêm đầu ra quân này, Hà Nội giành phần thắng lợi lớn là đã làm cho địch mất thế chủ động chuyển thành bị động, lúng túng, nhưng thắng lợi lớn hơn cả là từ người chỉ huy cho đến chiến sĩ qua một đêm thử thách quyết liệt, ai nấy đều tin rằng với những ổ chiến đấu cắm rải rác ở khắp các khu phố, với những hàng chướng ngại vật mới dựng lên ở khắp các ngả đường, và mỗi giờ trôi qua, những cái "then cài" này lại được củng cố vững chắc hơn, hiểm hóc hơn, nhất định ta sẽ tiêu diệt được nhiều địch, ghìm chúng lâu ngày trong Hà Nội.

        Ngày 20 tháng 12, trời vừa rạng sáng, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Hoàng Văn Thái đã đến Sở chỉ huy mặt trận Hà Nội. Chúng tôi không phải báo cáo tình hình vì suốt đêm qua các đồng chí đã theo dõi sát. Các đồng chí đến để cùng chúng tôi đi vào nội thành, đến các đơn vị, truyền đạt lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, đồng thời xem xét mặt trận. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Que Hoàn cùng tôi vào khu phố Khâm Thiên. Đến đầu phố thì địch đóng ở nhà Dầu Sen bắn súng máy, súng cối liên tục sang trận địa ta. Xen vào những tiếng đạn địch nổ ùng oang, là tiếng nhạc, tiếng hát vẫn vút lên.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2016, 08:34:14 PM

        Đồng chí liên lạc dẫn đường nói:

        -  Tự vệ Khâm Thiên đấy các đồng chí ạ, đàn hát suốt từ mờ sáng đến giờ, đêm qua đi làm ba- ri- cát ở ngoài đường, đạn địch bắn chiu chíu thế mà các ông, các bà ấy vẫn cứ đùa như đi hội, lại còn mang cả ghi ta ra đấy mà gảy phừng phừng nữa chứ.

        Cả đêm qua, tôi lo nắm tình hình và chốc chốc lại trao đổi qua điện thoại với cán bộ các liên khu, gần như trắng đêm không ngủ, người mệt bã, nhưng khi đến phố Khâm Thiên gặp anh em bộ đội, tự vệ, thấy anh em vui quá, cái mệt của tôi tiêu tan hết.

        Hôm ấy ta ghìm địch ở trong thành phố. Địch không mở được một trận địa nào ra phía các cửa ô, ngoài hai trận địch đánh thăm dò ra phía Quần Ngựa (cạnh đường Hoàng Hoa Thám) và Ngọc Hà. Những trận đánh trong nội thành diễn ra rất quyết liệt, nhất là trận đánh ở Bắc Bộ phủ, ta tiêu diệt khá nhiều địch, có nhiều gương chiến đấu rất anh dũng tiêu biểu cho tinh thần cảm tử bảo vệ Thủ đô. Nhưng về mặt chiến thuật, chúng tôi đặc biệt chú ý đến trận đánh cánh quân địch tiến ra đường Ngọc Hà.

        Ở đây sau khi quân Pháp phá được mấy lớp ba- ri- cát ngăn đường, chỉ thấy tiếng súng của tự vệ bắn lẻ tẻ, rời rạc, chúng liền dốc nhau đuổi theo, chúng tiến ào ào được độ dăm trăm mét thì bị một đơn vị Vệ quốc đoàn từ trại Ngọc Hà đánh thốc ngang lưng. Bị đòn bất ngờ, địch trở tay không kịp, hàng ngũ rối loạn, chạy tung toé. Đây là lối đánh mà hồi đó chúng tôi gọi là chiến thuật "xoáy trôn ốc", địch đánh ra, ta nhử cho địch ra xa rồi quật mạnh vào lưng, vào đuôi nó, khiến nó phải quay đầu co trở lại.

        Hôm sau, ta lại đánh một trận tương tự như thế ở phía bắc nội thành Hà Nội. Tự vệ Yên Phụ vừa đánh vừa lui nhử địch vào sâu, rồi lợi dụng chướng ngại vật chặn chúng lại. Giữa lúc đó, hai trung đội Vệ quốc đoàn xuất kích bất thần đánh vào phía đuôi đội hình địch, tiêu diệt vài chục tên, địch phải rút.

        Hôm sau, ta lại đánh một trận như thế nữa ở phía nam thành phố. Khoảng 5 giờ chiều ngày 22 tháng 12, một toán lính Pháp từ Đồn Thủy lặng lẽ tiến xuống Lò Lợn. Các chiến sĩ ta ở đây chỉ bắn lẻ tẻ rồi rút, địch chiếm Lò Lợn không gặp một ai. Chúng đánh thốc xuống Thanh Nhàn. Quân ta vẫn rút. Đồng bào thấy bộ đội không đánh mà cứ xách súng chạy, có người nghĩ rằng “ta yếu, ta lui là phải" nhưng có người phát cáu, nói thậm tệ: sợ Tây thì bỏ súng đấy mà chạy cho nhanh, để dân đánh hộ cho! Thực ra, những chiến sĩ đang xách súng chạy dọc đê Thanh Nhàn kia lại chính là những thanh niên rất gan dạ, mưu trí, đang lấy thân mình làm cái mối nhử đạn, lối chúng đi sâu vào trận địa bày sẵn ở Thanh Nhàn, kéo dài đội hình của chúng ra, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị nấp sẵn bên bờ đê xung phong đánh ngang sườn địch. Trận này có một sự hiệp đồng, tình cờ thôi mà hiệu quả lởn. Khi bộ đội xung phong, nhân dân phấn khởi reo hò. tiếng reo thôi thúc lòng người chiến sĩ, tiếng reo hò nổi lên làm cho kẻ địch đang lúng túng vì bị đòn bất ngờ, lại càng lúng túng thêm, rồi rối loạn, tháo chạy, bỏ xác 15 tên tại trận. Địch chạy, bộ đội truy kích nhân dân phấn khởi nhảy lên mặt đê reo hò, cùng bộ đội đuổi địch cho đến xẩm tối.

        Những ngày 21, 22 tháng 12 ta vẫn ghìm địch trong thành phố. Qua hết đêm 23 tháng 12, ta hoàn thành việc thu gom lực lượng, hình thành thế trận "trùng độc chiến”. Các lực lượng thuộc Liên khu II và liên khu III kéo ra giữ các cửa ô, các lực lượng thuộc Liên khu I cụm lại trong trung tâm thành phố, nằm gọn trong lòng địch.

        Lúc đầu các tướng lĩnh Pháp tưởng lầm rằng các lực lượng của ta cụm lại trong Liên khu I là do bị mắc kẹt, vì không có lối rút ra. Chúng tỏ ra chủ quan xem thường, coi đây là lực lượng đã lâm vào thế tuyệt vọng, bị vây chặt bốn phía, chẳng mấy chốc sẽ tan rã, phải đầu hàng. Nhưng chỉ vài ngày sau, chúng đã thấy khó chịu, nhức nhối. Quân Pháp mở nhiều cuộc tiến công vào Liên khu I, đánh hướng nào chúng cũng bị thiệt hại khá đau, chiếm được một dãy nhà, một góc phố nhỏ ngang dọc chỉ hơn trăm mét cũng mất cả một ngày; nhiều chỗ đã chiếm được rồi lại bị đánh bật ra, hoặc chiếm được ban ngày thì chưa tối đã phải rút lui vì không thể bám chắc được.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 09:51:02 AM

        Kể ra, nếu lúc này quân Pháp tập trung được lực lượng đông hơn, mạnh hơn, liên tục đột phá vào Liên khu I thì chúng cũng có thể nhanh chóng đánh bật ta ra. Bởi lẽ ở trong đó ta đang phải khắc phục nhiều khó khăn. Có hàng mấy vạn dân chưa kịp tản cư, chạy dồn cả về các phố Hàng Bạc, Hàng Mắm, Hàng Buồm, Chợ Gạo... nơi tương đối xa tiếng súng, mà hàng ngày ta phải lo tiếp tế gạo nước, bảo vệ an ninh, và mỗi đêm ta chỉ tổ chức đưa được dăm trăm người bí mật men theo bờ sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên, ngược lên Yên Phụ, ra ngoại thành. Đêm đi được nhiều nhất cũng không quá nghìn người. Khó khăn lớn nữa của ta ở Liên khu I lúc bấy giờ là anh em tự vệ tuy có tinh thần chiến đấu rất cao, sẵn sàng xả thân vì nước, nhưng lại rất yếu về sử dụng vũ khí, phải vừa đánh vừa học tập. Cán bộ chỉ huy từ cấp tiểu đội trở lên, cũng vừa đánh vừa học -  học cách chỉ huy, cách tổ chức hoả lực, bố trí trận địa...

        Các tướng lĩnh Pháp cũng có thể biết được những khó khăn đó của ta, chúng muốn dồn sức nhanh chóng chiếm lấy khu vực trung tâm này của thành phố để ổn định bên trong, lấy chỗ đứng vững chắc mà mở rộng chiến tranh ra ngoại thành. Nhưng chính chúng lại đang bị mắc kẹt trong thế trận "trùng độc chiến" của ta, nên không thể làm gì hơn được. Nhìn toàn cục thì thấy bên trong, chúng bị các lực lượng vũ trang của ta ở Liên khu I đục khoét, bên ngoài lại bị các lực lượng của Liên khu II, Liên khu III đánh ép vào, buộc chúng phải phân tán lực lượng. Hơn thế nữa, ở Liên khu III, chúng ta cũng tổ chức các đơn vị Vệ quốc đoàn, từng đại đội, trung đội đêm đêm luồn sâu vào trong thành phố phối hợp với tự vệ đánh địch trừ gian. Vì thế glặc Pháp càng thêm lúng túng.

        Với thế trận "trùng độc chiến" này, trường hợp mà sức ta tương đương hoặc chỉ kém địch chút ít, thì ta có. thể ép chặt địch lại, cắt địch ra từng mảnh để diệt gọn chúng... Từ ngoại thành, ta phái nhiều tổ du kích vào hoạt động trong khu vực địch chiếm. Mục tiêu của các tổ du kích này là những đội tuần tiễu, những xe địch chạy trong thành phố, những trạm gác địch đặt ở ngã ba ngã tư đường... đánh bất ngờ, chỉ cần nổ một vài phát súng, ném một quả lựu đạn, một chai cháy, nhưng đã đánh là phải chắc trúng, phải gây được thương vong, thiệt hại cho địch, làm cho các khu vực địch kiểm soát luôn luôn náo động, không có chỗ nào địch ổn định, dù là ngay cạnh chỗ chúng tập trung đông quân. Cách đánh này rất phù hợp với khả năng tác chiến của anh em ta hồi ấy. Hơn nữa, với điều kiện một thành phố nhiều nhà cửa san sát, nhiều đường ngõ ngang dọc, nhân dân đã tản cư hết, mà anh em ta lại thông thạo địa hình, có thể nhanh chóng ẩn hiện, làm cho địch bị điên đầu nơm nớp lo âu vì những phát đạn bắn tỉa mà chúng không thể biết được từ cửa sổ nào, hay từ nóc nhà nào, ngõ ngách nào bắn ra. Các tổ du kích đã khiến cho địch phải nghi ngờ hết thảy, phải tung nhiều cánh quân càn quét đi càn quét lại biết bao nhiêu dãy phố mà nhà nào nhà ấy cửa đóng im lìm, không một bóng người.

        Hà Nội chiến đấu được 5 ngày thì chúng tôi nhận được điện gọi vào làng Vạn Phúc (thuộc thị xã Hà Đông) nhận chỉ thị mới của Bộ Tổng chỉ huy. Sau khi nghe các đơn vị báo cáo và giao nhiệm vụ xong, đồng chí Võ Nguyên Giáp công bố quyết định của Bộ về tổ chức chỉ huy chiến đấu trong tình hình mới: Sáp nhập Khu XI vào với Khu II, mặt trận Hà Nội trở thành tiền phương của Khu II. Tôi được chỉ định làm khu phó Khu II, đồng thời chỉ huy khu vực tiền phương gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây. Đồng chí Trần Độ được chỉ định làm chính trị viên phó Khu II.

        Một quyết định thật sáng suốt. Thế là từ nay mặt trận Hà Nội có một địa bàn hậu phương rộng rãi để xoay trở và có thêm lực lượng hùng hậu của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình, Hà Nam. Các lực lượng vũ trang nhân dân của các tỉnh, các đơn vị chủ lực của khu sẽ luân phiên nhau vào tham gia chiến đấu ở các cửa ô Hà Nội. Từ nay, Hà Nội không những có đủ lực lượng trực tiếp chiến đấu mà còn có lực lượng dự bị cơ động ở bên ngoài làm cho thế trận thêm mạnh, thêm khả năng để chiến đấu hãm địch nhiều ngày trong Hà Nội.

        Tôi đang suy nghĩ về quyết định mới này thì đồng chí Hoàng Văn Thái hỏi ngay:

        -  Tổ chức lại như thế, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội thấy thế nào?

        Đồng chí Nguyễn Văn Trân, chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Khu XI, trả lời:

        -  Rất tán thành, hoàn toàn nhất trí.

        Đồng chí Trần Độ nói tiếp:

        -  Phấn khởi lắm, tôi xin biểu quyết cả hai tay!

        Còn anh Vũ cũng nhất trí chứ? -  Đồng chí Thái quay sang hỏi tôi.

        Nghe đồng chí Hoàng Văn Thái hỏi, tôi gật đầu và nói vội:

        -  Vâng, vâng, nhất trí như anh Trân, anh Độ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 09:54:46 AM

        Hà Nội chiến đấu đến ngày thứ 10, ta vẫn ghìm chặt quân Pháp trong nội thành, không một tên nào bén mảng được đến các cửa ô. Trong khi đó, những báo cáo của lực lượng chiến đấu trong Liên khu I gửi ra đều nói lên một tình hình lạc quan: Trận địa trụ bám mỗi ngày một thêm vừng chắc, đã ba bốn ngày liền địch không mở một cuộc tiến công nào vào Liên khu I, mà chúng chỉ rải quân đóng nhiều vị trí để vừa thăm dò vừa hình thành thế bao vây ta...

        Địch lập một hệ thống vị trí bao vây Liên khu I. Điều này chúng tôi cũng có dự kiến. Một khi ỷ vào ưu thế binh hoả lực, dùng chiến thuật bất ngờ đánh úp các lực lượng của ta trụ bám ở trong đó, thấy chẳng dễ dàng gì, địch sẽ khuyển sang bao vây để dồn sức đánh nống ra ngoại thành. Tướng lĩnh Pháp tính rằng nếu họ chiếm được các cửa ô Hà Nội và đánh loang rộng ra xa nữa thì các lực lượng của ta trụ bám trong Liên khu I sẽ bị cô lập hoàn toàn, sẽ tan rã, bị tiêu diệt hoặc phải đầu hàng. Nhưng đó là cách tính của họ. Còn đồi với ta thì trái lại, chúng ta đã có phương án đối phó với tình huống này. Bộ Tổng chỉ huy đã có kế hoạch tác chiến tổng quát -  nhằm hỗ trợ cho mặt trận Hà Nội. Và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội chúng tôi cũng đã có bàn bạc nhất trí một kế hoạch tác chiến cụ thể cho các đơn vị, trước khi vào Vạn Phúc nhận nhiệm vụ như sau: địch bao vây lấn chiếm Liên khu I thì Liên khu II và III đánh thúc sau lưng địch, buộc không phải quay ra ngoài đối phó với Liên khu II và Liên khu III. Nếu chúng mở cuộc hành quân đánh ra ngoài Liên khu II và III thì lệnh cho Liên khu I hoạt động mạnh để co kéo địch lại. Cách đánh phối hợp chặt chẽ trong với ngoài như vậy khiến cho địch không rảnh tay tập trung đánh ta được về phía trong hay ngoài, tạo ra thế ta và thế địch cứ giằng co như vậy là có lợi cho ta, tạo điều kiện để ta thực hiện nhiệm vụ giam chân địch ở Thủ đô càng lâu càng tốt.

        Ngày 28 tháng 12, trong cuộc họp kiểm điểm tình hình tại Bộ Tổng chỉ huy, đồng chí Võ Nguyên Giáp căn dặn chúng tôi:

        -  Ở Hà Nội địch đang lúng túng chúng chờ quân tăng viện thì chúng mới có thể khắc phục được tình trạng hiện nay. Trước mắt để bao vây khống chế Liên khu I có hiệu quả, có nhiều khả năng địch sẽ mở những đợt tiến công lớn ra ngoại ô Hà Nội. Ta phải tiêu hao thật nhiều địch. Phải chuẩn bị kế hoạch và lực lượng để mở rộng mặt trận. Phải đánh chặn địch có hiệu quả cao nhất. Nhưng cần nhớ, phải bảo toàn lực lượng để chiến đấu lâu dài.

        Qua những tin tức trinh sát được, chúng tôi dự đoán địch sẽ đánh ta phía tây nam Hà Nội, chiếm ô Chợ Dừa. Quả nhiên, ngày 30 tháng 12 địch hành động như ta đã dự kiến. 600 lính Pháp, 50 xe cơ giới có máy bay trinh sát, máy bay khu trục yểm trợ theo hai hướng Hàng Bột và Khâm Thiên. Địch chọc thủng được các tuyến ngăn chặn của ta, chiếm được ô Chợ Dừa, nhưng đến 2 giờ chiều chúng phải rút hết. Ngay chiều hôm đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp và tôi đến Khâm Thiên -  Hàng Bột gặp tiểu đoàn 523 và anh chị em tự vệ vừa mới chiến đấu ở khu vực này để tìm hiểu rõ nguyên nhân: tại sao địch có thể nhanh chóng đánh thọc sâu đến ô Chợ Dừa? Tại sao chiếm được cửa ô này rồi mà địch phải rút ngay?

        Lần đầu tiên trong cuộc chiến đấu giam chân địch ở Hà Nội, quân ta chống cự với một trận tiến công mạnh mẽ của địch ở đường phố độc đạo, chung quanh trống trải. Hai bên phố Khâm Thiên hồi đó là những xóm, những làng xen kẽ hồ ao, chuôm. Ở Hàng Bột cũng vậy, nằm dọc một khu vực toàn những làng, những xóm và đồng ruộng. Anh em ta cho rằng xe cơ giới và bộ binh địch không dám tiến vào làng mạc vì có ao chuôm, ruộng lầy cản trở, cho nên ta chỉ chú trọng đề phòng giữ hướng đường phố. Lợi dụng sơ hở đó của ta, địch đánh vòng bên sườn và sau lưng, chọc thủng trận địa ta, bao vây đường phố. Xe tăng đi trước bắn phá, bộ binh theo sau. Địch thọc nhanh được đến ô Chợ Dừa xong không dám dừng lại ở đấy là do anh em ta chiến đấu rất kiên cường, từ hai bên dãy phố ta vận động ra đánh ngang sườn địch, các tuyến ngăn chặn tuy bị chọc thủng nhưng ta không để cho toàn trận địa bị phá vỡ, vẫn bám chặt lấy địch mà đánh, vẫn cố bịt lại những nơi bị chọc thủng. Thành ra tuy địch tiến được xa mà phía sau của chúng lại bị uy hiếp, không khác gì như một hòn đá né ru xuống nước, nước giãn ra, cồn sóng lên, sóng giãn ra tới bờ rồi lại đổ xô vào. Địch tiến được đến ô Chợ Dừa, nhưng phía sau chúng hàng cây số, trên đường Hàng Bột, đường Khâm Thiên ta vẫn giữ vững từng căn nhà, bởi thế chúng phải vội co lại ngay. Trong trận đánh ngày 30 tháng 12 này, ta diệt được một trung đội địch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 09:58:06 AM

        Những kinh nghiệm của Khâm Thiên, Hàng Bột được phổ biến kịp thời. Hôm sau, địch theo đường số 1 tiến công xuống Kim Liên. Ở đây, đường độc đạo, địa hình trống trải thuận tiện cho địch phát huy hoả lực. Ta chỉ có một trung đội Vệ quốc đoàn, nhưng anh em đã khéo dựa vào chiến hào, giao thông hào để cơ động đánh địch từ nhiều hướng, lại biết tập trung lực lượng vào hướng chính và có lực lượng dự bị nên đã đánh chặn được địch suốt cả ngày. Qua trận này, ta có thêm kinh nghiệm chỉ dùng một lực lượng nhỏ mà chọi được một lực lượng lớn của địch, tiêu hao được địch, giữ vững được trận địa mà vẫn bảo toàn được lực lượng mình.

        Những ngày đầu năm 1947, chiến sự phát triển đến các cửa ô. Quân và dân Hà Nội tiếp tục nhiệm vụ ngăn chặn địch đánh ra vùng ngoại thành trên phạm vi rộng từ Vĩnh Tuy đến ô Cầu Dền, Kim Liên, ô Chợ Dừa, Kim Mã, Ngọc Hà, Thuỵ Khuê, Yên Phụ thành một tuyến đường vòng cung dài hơn 10 ki- lô- mét...

        Làm thế nào để có thể giam chân địch một thời gian nữa. Đó là một câu hỏi, yêu cầu Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội chúng tôi phải suy nghĩ tìm cho ra đáp án. Lực lượng Vệ quốc đoàn của ta ở trên tuyến này có 5 tiểu đoàn (mới được tăng viện thêm tiểu đoàn 56). Nhưng qua các trận Khâm Thiên -  Hàng Bột (30- 12- 1946), Kim Mã (31- 12- 1946), Thuỵ Khuê -  Ngọc Hà -  Liễu Giai (3- 1- 1947), Thanh Nhàn -  Vĩnh Tuy (3- 1- 1947), Giảng Võ (6- 1- 1947), quân ta đã trưởng thành rõ rệt, từ phòng ngự đơn giản, rải quân mành mành trong các hố chiến đấu đơn độc, đã tiến tới có chiến hào, giao thông hào liên kết với nhau để cơ động. Từ chỉ biết phòng ngự phía trước mặt, tiến tới biết đề phòng bên sườn, phía sau, biết tổ chức và sử dụng lực lượng dự bị. Qua những trận chiến đấu ấy, quân ta đã biết vận dụng nhiều cách nhừ địch, nghi binh lừa địch và tìm ra một cách đánh thích hợp với nhiệm vụ ngăn chặn và thích hợp với trình độ tác chiến của ta. Địch tiến đánh ra, ta kiên quyết đánh chặn từng bước, đánh tạt sườn làm cho chúng mệt sức, tiêu hao, tiêu diệt địch ngày càng nhiều...

        Trên cơ sở những tiến bộ đã đạt được, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội đã họp bàn bố trí thế trận mới để thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy giao cho với yêu cầu: đánh tốt tiêu diệt thêm sinh lực địch; giam chân địch thêm một thời gian nữa nhưng vẫn bảo toàn và phát triển được lực lượng ta để tham gia đánh lâu dài.

        Những ngày đầu năm 1947, chiến sự diễn ra ác liệt. Trên bầu trời Hà Nội ban ngày lúc nào cũng thấy những cột khói đen đặc cuồn cuộn bốc lên, đêm đến là những vầng lửa cháy sáng rực cả vòm trời. Nhưng chính trong những ngày này khả năng ghìm địch lâu ngày ở Hà Nội lại thể hiện rõ rệt nhất. Sau khi được cấp trên chuẩn y, chúng tôi đã sắp xếp lại lực lượng, tổ chức lại chỉ huy chiến đấu cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Trước hết tại Liên khu I, chúng tôi thống nhất các lực lượng Vệ quốc đoàn, công an, tự vệ để thành lập trung đoàn Liên khu I và cử đồng chí Hoàng Siêu Hải làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Trung Toàn làm chính trị viên.

        Về việc thành lập trung đoàn Liên khu I, các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân và tôi bàn luận rất thận trọng, cân nhắc mọi mặt, cuối cùng chúng tôi nhất trí tán thành, vì có thống nhất lực lượng mới thống nhất chỉ huy, sức mạnh càng tăng lên, ta càng giữ Hà Nội được lâu, càng chứng minh đường lối kháng chiến lâu dài của Đảng là đúng đắn. Chúng tôi báo cáo ý kiến đề nghị này lên Bộ Tổng chỉ huy và được Bộ đồng ý ngay.

        Ngày 7 tháng 1 năm 1947, một ngày đáng ghi nhớ -  ngày trung đoàn Liên khu I, con đẻ của cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Thủ đô, chính thức thành lập trong lòng địch dưới các tầm súng đích. Quả là một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh.

        Một tuần sau, ngày 12 tháng 1 năm 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc họp ở Chương Mỹ -  Hà Đông, nhận xét thành tích của trung đoàn Liên khu I và tặng danh hiệu trung đoàn Thủ đô. Về sau này, trong một bài diễn văn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nói: Đặt tên cho trung đoàn ấy: không có tên nào xứng đáng hơn là trung đoàn Thủ Đô.

        Cả mặt trận Hà Nội phấn khởi được tin cấp trên tặng danh hiệu trung đoàn Thủ Đô cho trung đoàn Liên khu I.

        Anh em chiến đấu ở ngoại thành cũng gian khổ, quyết liệt và diệt được khá nhiều địch, nhưng ai nấy đều đánh giá rất cao vai trò của trung đoàn Thủ Đô. Vì nếu không có trung đoàn ấy chiến đấu kiên trì trong Liên khu I thì địch sẽ rảnh tay tập trung lực lượng phá vỡ vòng vây của ta bao quanh các cửa ô Hà Nội. Ai nấy đều thấy rằng để tạo điều kiện cho trung đoàn Thủ Đô có thể chiến đấu được lâu hơn nữa ở trong đó thì các đơn vị ở ngoài phải hoạt động mạnh, liên tục đánh ép địch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 10:01:29 AM

        Lúc này lực lượng Vệ quốc đoàn chiến đấu ở ngoại thành Hà Nội đã tăng lên 7 tiểu đoàn:

        -  Tiểu đoàn 145, do đồng chí Lê Quân, rồi đến đồng chí Trắc Vinh Nam chỉ huy, phụ trách mặt tây bắc, từ sông Hồng đến giáp ô Cầu Giấy.

        -  Tiểu đoàn 523, do đồng chí An Giao chỉ huy, phụ trách mặt tây nam từ Cầu Giấy đến giáp đường Kim Liên.

        -  Tiểu đoàn 64, do đồng chí Quốc Linh chỉ huy, phụ trách mặt nam, từ Kim Liên đến giáp cửa ô Đống Mác.

        -  Tiểu đoàn 212, do đồng chí Hồng Kỳ chỉ huy, phụ trách mặt đông nam, từ ô Đống Mác đến Vĩnh Tuy, sông Hồng.

        -  Tiểu đoàn 77, do đồng chí Hoàng Kiện chỉ huy, làm đội dự bị của Liên khu II, đóng ở phía đông nam thành phố.

        -  Tiểu đoàn 56, do đồng chí Anh Đệ chỉ huy, làm đội dự bị của Liên khu III, đóng ở trường bay Bạch Mai.

        -  Tiểu đoàn 13 do đồng chí Phùng Thế Tài chỉ huy, là lực lượng dự bị của Liên khu II đóng ở ô Đống Mác tới Giáp Bát, luân phiên đánh địch ở ô Cầu Dền. Lúc này toàn thành phố chỉ có một khẩu ba- dô- ca với năm viên đạn -  là loại vũ khí chống tăng hiện đại duy nhất lúc đó. Khi giao vật hiếm ấy cho đơn vị đồng chí Phùng Thế Tài, tôi nói vui nhưng có ý nhấn mạnh phải bảo vệ nó:

        Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 13 động viên nhau sau khi nhận súng: Trên giao cho đơn vị ta vật quý đó, là trên tin cậy vào khả năng chiến đấu của ta. Để đáp lại lòng tin cậy của cấp trên, chúng ta cần phải "chiều chuộng, nâng niu” nó chu đáo, và phải sử dụng nó cho thật tốt. Tiểu đoàn 13 đã nhận cử ra một số cán bộ, chiến sĩ vừa có tinh thần chiến đấu dũng cảm vừa có nhiều hiểu biết kỹ thuật sử dụng súng chuyên giữ khẩu ba- dô- ca này và liên tục ngày đêm anh em mang nó đi săn xe tăng địch trên một khu vực rất rộng từ ô Cầu Dền, Kim Liên đến cửa ô Chợ Dừa, v.v... Trận đầu, bằng hai viên đạn, anh em đã diệt một xe tăng địch, càng nhắc nhở mọi người phải chăm sóc nó chu đáo hơn nữa, như một vật báu, bất ly thân. Khi đi chiến đấu, anh em buộc dây thừng dài năm, sáu mươi mét vào súng đề phòng đồng chí bắn chẳng may bị thương hoặc hy sinh, đồng chí ngồi sau kịp thời giật súng rời khỏi nơi nguy hiểm, địch không cướp được.

        Về phía địch, lúc này đã biểu hiện rõ rệt tình trạng lúng túng. Kể từ sau trận Giảng Võ ngày 6 tháng 1 năm 1947, chúng không mở cuộc tiến công nào lớn. Chúng chờ quân tiếp viện. Mà quân đó lấy đâu ra? Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiến tranh du kích đã phát triển, địch không thể rút quân từ trong đó ra Hà Nội được. Từ vĩ tuyến 16 đổ ra, quân Pháp đóng ở Vinh đã phải đầu hàng, còn ở Huế, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn... đâu đâu quân Pháp cũng đang kêu xin tăng viện. Địch ở Hà Nội ngong ngóng chờ quân tăng viện từ bên Pháp sang.

        Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy mặt trận nảy ý kiến mở một cuộc phản công tiêu diệt sinh lực địch và chiếm lại một phần phía nam nội thành Hà Nội với kế hoạch: Đánh kiềm chế địch ở các hướng ô Cầu Dền, Kim Liên, ô Chợ Dừa, Ngọc Hà, đồng thời tập trung lực lượng đánh thọc vào Phà Đen, Đồn Thủy rồi theo đường Trần Hưng Đạo đánh cắt ngang ra phía ga Hà Nội. Mục đích chính của kế hoạch này là làm giảm sức ép của địch đối với trung đoàn Thủ Đô đang chiến đấu trong Liên khu I. Nhưng rồi ý kiến này phải gác lại ngay, bởi vì không đúng với phương châm chỉ đạo tác chiến của Trung ương là “tiêu hao sính lực địch đồng thời phải bảo toàn lực lượng mình để đánh lâu dài". Hơn nữa lúc này lợi dụng tình hình địch lúng túng, Chính phủ ta đang dùng biện pháp ngoại giao để cùng với chúng thoả thuận một ngày ngừng bắn cho đồng bào ta và những ngoại kiều (Hoa, Ấn) còn lại trong vòng vây địch ở Liên khu I được công khai rút ra ngoài. Đây cũng là một chủ trương rất sáng suốt, một đòn tiến công ngoại giao của Đảng rất đúng lúc, kịp thời nhằm giảm bớt khó khăn cho trung đoàn Thủ Đô có thể chiến đấu lâu ngày trong lòng địch. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Trân, chủ tịch ủy ban kháng chiến thành phố Hà Nội, cùng cá đồng chí Hoàng Minh Giám, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Hoàng Hữu Nam, thứ trưởng Bộ Nội vụ vào ô Chợ Dừa để cùng các viên lãnh sự Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch), lãnh sự Anh, Mỹ đàm phán về ngày giờ tạm ngừng bắn cụ thể.

        Kết quả cuộc đàm phán này là ta và địch đã thoả thuận ngừng bắn vào ngày 15 tháng 1 năm 1947.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:00:37 PM

        Hôm đố, hơn 6.000 đồng bào ta và ngoại kiều tản cư công khai theo đường Hàng Đậu lên Yên Phụ. Hôm đó, hàng ngàn chiến sĩ của Liên khu I cũng cải trang đi lẫn vào nhân dân để vượt khỏi vòng vây theo kế hoạch đã được chuẩn bị.

        Theo chỉ thị của đồng chí Tổng chỉ huy, trung đoàn Thủ Đô chỉ cần để lại 500 người chiến đấu, còn tất cả theo đường tản cư công khai và bí mật rút ra hết. Nhận được chỉ thi đó, Đảng ủy Liên khu I đã có chủ trương chọn người ở lại, thành lập đội quyết tử. Và ngày 14 tháng 1 năm 1947, đội quyết tử của trung đoàn Thủ Đô làm lễ tuyên thệ tại rạp hát Tố Như (Nay là rạp Chuông Vàng), phố Hàng Bạc.

        Sở dĩ đồng chí Tổng chỉ huy phải quy định cụ thể mức quân số ở lại của trung đoàn Thủ Đô là để giải quyết khó khăn về lương thực, thuốc men và nước uống cho Liên khu I. Nhưng qua ngày 15 tháng 1 năm 1947, chúng tôi nhận được điện của ban chỉ huy trung đoàn báo cáo ra thì số quân ở lại chiến đấu trong Liên khu I không phải là một "đội quyết tử 500 người" mà trên 1.200 người, trong đó có hơn 200 phụ nữ, hơn 100 thiếu nhi. Số quân vượt quá mức quy định của trên như thế này hoàn toàn có thể thông cảm được. Bởi vì như đồng bào ở trong Liên khu I ra, đã nói với chúng tôi. Thanh niên họ không chịu ra đâu, nhiều người vừa đi vừa khóc; nhiều người đã ra đi lại quay trở lại. Tinh thần vui vẻ chấp nhận một cuộc chiến đấu đầy hiểm nghèo của anh chị em thanh mến Hà Nội thật đáng quý biết bao! Việc làm anh hùng đó đã khích lệ chúng tôi rất nhiều. Nhưng mặt khác, với số quân đông như thế lại là một mối lo ngại lớn đối với Uỷ ban kháng chiến và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội. Làm thế nào để bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội trong đó, vì đã hàng chục ngày các chiến sĩ ta ăn uống kham khổ, thiếu chất tươi. Anh em rất thèm rau xanh mà mặt trận chỉ có một tiểu đội nữ giao thông Lãng Bạc đêm đêm vượt bao nguy hiểm, thậm chí có khi đổ máu chỉ đưa vào được lượng rất ít rau xanh đủ cung cấp cho thương binh.

        Để phục vụ cuộc chiến đấu vô cùng khẩn trương, với khẩu hiệu “tất cả cho chiến thắng”, nhân dân Liên khu I đã không tiếc bất cứ một thứ gì. Trong số những ụ súng, những ba- ri- cát được huy động ra làm vật cản địch, có lẫn cả bao chứa đầy đỗ xanh, đường kính. Được tin này, chúng tôi điện vào cho trung đoàn Thủ Đô tổ chức tìm kiếm những thứ đó, nếu là đỗ, đem ngâm thành giá cho bộ đội ăn thay rau tươi; tìm những bao đường đã đem làm ba- ri- cát lấy về phân đều cho bộ đội ăn để bảo đảm sức khoẻ...

        Bấy giờ tình hình chiến sự ở ngoại thành không gay gắt lắm, tôi ngỏ ý muốn vào thăm trung đoàn Thủ Đô. Nhưng đồng chí Trần Quốc Hoàn không đồng ý:

        -  Anh Vũ phải ở ngoài này? Để tôi vào...

        Rồi đêm 20 tháng 1 năm 1947, các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Lê Quang Đạo với tư cách là phái viên của Trung ương Đảng đi men theo sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên vào Liên khu I. Vượt qua bao nguy hiểm, các đồng chí đem đến cho các chiến sĩ trung đoàn Thủ Đô sự chăm sóc ân cần của Đảng, của nhân dân. Và qua chuyến đi nghiên cứu thực tế đó, các đồng chí đã hiểu thêm một cách sâu sắc về tình hình sức khoẻ, tinh thần và khả năng chiến đấu của anh em ta trong đó. Đặc biệt cũng qua chuyến đi này, các đồng chí đã rút ra được những kết luận bổ ích về lãnh đạo và chỉ đạo chung cho mặt trận Hà Nội và riêng cho Liên khu I.

        Khắp nơi đổ nát, nhưng cũng ở khắp nơi đầy máu lửa -  hiểm nghèo này đã nổi bật lên những dòng chữ viết bằng mực, bằng than, bằng phấn, viết lên tường, lên cửa hay mảnh gỗ, mảnh bìa các-tông treo ở gốc cây, cắm ngang chiến luỹ, đặt trước ụ súng: "Sống chết với Hà Nội!"; “Hãy xứng đáng là thanh niên thời đại Hồ Chí Minh”; "Hà Nội, Xta-lin-gtát của Việt Nam"; "Tiêu diệt xâm lược Pháp"; "Thà chết không chịu làm nô lệ"; "Quyết tử bảo vệ Thủ đô"; "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước"... Những dòng chừ hằn nét căm thù, đọc lên là thấy dòng máu nóng trong người thêm rạo rực. Các chiến sĩ Thủ Đô tình nguyện chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng rất lạc quan yêu đời, họ đã tổ chức các tổ ca nhạc, đội kịch, làm thơ ca ngợi cuộc chiến đấu đầy khí phách anh hùng. Trước khi đi tập kích, biết là phải xông pha nguy hiểm, nhưng họ vẫn cười đùa, trêu chọc nhau rất hồn nhiên. Trở về họ lại vui chơi ca hát, lại nghịch, rồi lăn ra ngủ để lấy sức mai còn "đi săn Tây". Những đảng viên và quần chúng cảm tình vẫn còn theo học lớp chính trị ở phố Hàng Buồm. Tại phố Hàng Mắm, Hàng Thiếc, có những lớp đào tạo tiểu đội trưởng, mà bãi tập là một quãng đường nhựa giữa hai lớp ba- ri- cát.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:03:25 PM

        Chỉ có quân đội cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản chân chính thì trong hoàn cảnh một mất một còn, sống giữa vòng vây của địch đang xiết chặt mới giữ vừng được tinh thần lạc quan như vậy. ở Đồng Xuân, một đảng viên nói với đồng chí Trần Quốc Hoàn: "Chỉ khi nào tiểu đội tôi không còn một ai nữa thì quân giặc mới chiếm được cái chợ này". Ở Hàng Gai, bên dãy số chẵn là chiến tuyến của ta, bên kia địch cắm 5 vị trí, bên này nói to, bên kia nghe rõ, thỉnh thoảng anh em ta lại tổ chức ca nhạc, đàn hát cho chúng biết rằng: ở bên này chúng tao vui lắm, nhưng bọn bay chớ có mò sang mà ăn đạn đấy!

        Ban chỉ huy trung đoàn Thủ Đô báo cáo lên Bộ chỉ huy mặt trận về tinh thần chiến đấu rất cao của bộ đội và hứa hẹn: sẽ động viên nhau khắc phục mọi khó khăn về vật chất, bằng cách cho đào giếng để bảo đảm có đủ nước ăn và tắm giặt; sẽ tổ chức lực lượng ra bờ sông lấy ngọn khoai lang, chuối xanh, đu đủ... làm rau xanh. Ban chỉ huy trung đoàn còn điện ra cho biết đã lập một đội tiếp tế tại chỗ, chuyên lo tìm kiếm, thu về tất cả những gì là lương thực, thực phẩm làm thành kho dự trữ tại chỗ đảm bảo cho bộ đội ăn no đánh giặc. Cả các đơn vị tiểu đội đóng ở các phố giáp địch cũng tìm kiếm lương thực, thực phẩm khô trong những căn nhà bị bom đạn đánh sập đổ. Chúng tôi cố gắng tự lo việc ăn uống để cấp trên khỏi phải bận tâm, tập trung chỉ huy tác chiến...

        Qua cuộc đi thăm trung đoàn Thủ Đô của các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Lê Quang Đạo, và qua những điện thư, thư quyết tâm tới tấp gửi về, Thành ủy Hà Nội càng vững tay lãnh đạo cuộc chiến đấu quyết hệt nhưng đầy vinh quang và tự hào này. Về phần tôi, tôi càng cảm phục và tin tưởng vào ý chí chiến đấu kiên cường của anh em ta ở Liên khu I và tin vào cái thế trận của toàn bộ mặt trận Hà Nội mà trong đó trung đoàn Thủ Đô đang đảm nhiệm phần trọng yếu: cái thế trận đã góp phần bước đầu làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của bọn xâm lược Pháp.

        Thấm thoát đã đến tết Nguyên Đán. Mặt trận Hà Nội ghìm địch trong thành phố đã hơn một tháng rưỡi. Từ khắp các địa phương trên đất nước gửi thư, gửi quà uý lạo chiến sĩ Hà Nội. Trên các nẻo đường, từng tốp người gồng gánh bánh chưng, cam, bưởi, mứt, kẹo, thuốc lá ra tận các chiến hào vây địch ở các cửa ô, đem vào tận Liên khu I -  trận tuyến kiên cưởng ở trong lòng địch. Thủ đô kháng chiến đón xuân một cách thật là Hà Nội, cũng hoa đào, hoa cúc, cũng pháo đùng, pháo bánh, pháo thăng thiên, cũng tổ chức đêm ba mươi, nhưng là một đêm ba mươi "có một không hai", liên hoan ca kịch, ngâm thơ, rồi đi đánh giặc đánh về lại ngâm thơ mừng xuân, lại ca hát, pháo nổ suốt đêm, súng nổ suốt đêm mà nổ nhiều nhất là vào lúc giao thừa. Đặc biệt, trong đêm giao thừa này, các chiến sĩ Thủ Đô rất vinh dự được Bác Hồ gửi thư riêng, đọc thư Người, có ai cầm được nước mắt? Những lời thăm hỏi thân thiết ân cần của Người cha hiền từ thương yêu những đứa con trung hiếu. Báe Hồ gọi những chiến sĩ Thủ Đô là em: "... Các em ăn tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ăn tết. Còn 90 phần trăm đồng bào ở hậu phương cũng giảm bớt 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến.

        Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta, mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phụng Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau.
        …
        Các em hăng hái tiến lên, lòng già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em.

        Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi các em lời chào thân ái và quyết thắng"
(Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr. 25- 26).

        Những lời tuyên dương của Bác Hồ là lời của đất nước bốn nghìn năm bất khuất kiên cường, ghi nhận công lao những người con anh hùng đang viết tiếp những trang sừ mới rất oanh hệt.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:19:05 PM

        Qua tết Nguyên Đán (Đinh Hợi), mặt trận Hà Nội bước vào giai đoạn gay go nhất. Quân Pháp đã đưa được một số viện binh từ Hải Phòng lên Hà Nội. Có thêm viện binh, chúng dồn sức cố đánh bật các đơn vị của ta ở ngoại thành ra xa các cửa ô. Mặt khác chúng liên tục giội bom, bắn pháo vào trận địa trung đoàn Thủ Đô, chuẩn bị mở những cuộc tiến công quyết định. Trên bản đồ chiến sự lúc này, trận địa của trung đoàn Thủ Đô chỉ còn là một mảnh con con tô màu đỏ nằm lọt giữa vùng địch chiếm đóng khá rộng tô màu xanh. Bộ chỉ huy quân đội xâm lược Pháp tức tối điên cuồng, vì đã hơn bốn chục ngày rồi mà cái mảnh đỏ chói kia cứ chọc vào mắt họ. Họ đã mất hàng trăm tên lính lê dương thiện chiến ngã gục bên những lề đường, gốc cây, trong những căn nhà đổ nát, mà vẫn không thu hẹp được cái mảnh tô đỏ ấy đi được mấy tí. Từ chỗ chủ quan xem thường lực lượng đối phương, Bộ chỉ huy Pháp đã phái khuyển giọng "đề cao" trung đoàn Thủ Đô là đơn vị "tinh nhuệ nhất của Việt Minh. Điều đó cũng chẳng có gì là khó hiểu. Đây chỉ là cách giải thích vì sao quân đội Pháp hùng cường mà nuốt mãi không nổi một đơn vị của ta đã bị phong bao vây bốn bề, bị ép chặt trong một phạm vi nhỏ bé ngang dọc mỗi bề chưa đầy một cây số, đồng thời lại là cách chuẩn bị dư luận cho một cuộc quảng cáo rùm beng rằng Bộ chỉ huy Pháp tin là trước sau thế nào quân lực Pháp cũng tiêu diệt được trung đoàn Thủ Đô -  một đơn vị tinh nhuệ nhất của Việt Minh -  ngay tại Hà Nội.

        Nhưng trên đất nước Việt Nam này, kẻ xâm lược thường hay bị ngã bổ chỏng, vào cái lúc mà chúng đinh ninh nắm chắc phần thắng. Thì mới đó thôi, hồi tháng 12 bọn Va- luy -  Moóc- li- e chẳng đã tưởng rằng quân Pháp chỉ úp một cái là chiếm cả Hà Nội, bất quá chỉ ngày một ngày hai là xong xuôi hết. Rồi đùng một cái chúng bị mắc kẹt, giãy mãi chẳng ra. Và đến tháng 2 này, bọn chúng đang ôm cái mộng đến hôm nào đó sẽ tổ chức ăn mừng chiến công "tiêu diệt trung đoàn Thủ Đô".

        Ngày 6 tháng 2 năm 1947, quân Pháp mở đầu đợt tiến công lớn vào trận địa trung đoàn Thủ Đô. Trận đầu chúng đánh vào vị trí của ta ở nhà Xô- va (Sở vận tải đường sông của tư bản Pháp, nay là trường Nguyễn Huệ, đường Trần Nhật Quật ở giáp đê sông Hồng). Chiều hôm ấy, nhận được tin đầy đủ, tôi báo cáo lên Bộ Tổng chỉ huy: quân ta anh dũng chống lại năm lần xung phong của địch. Lần thứ năm địch chiếm được nhà Xô- va. Sau ta phản kích chiếm lại và truy kích địch tháo chạy. Đồng chí Võ Nguyên Giáp biểu dương tiểu đoàn 103, đơn vị vừa chiến thắng đã xứng đáng là một đơn vị của trung đoàn Thủ Đô và của Vệ que quân Việt Nam.

        Ngày hôm sau, địch đánh vị trí "trường Ke” (nay là trường Trần Nhật Duật ở phố Trần Nhật Duật). Địch xung phong tám lần, anh em ta đều đánh bật ra hết. Cũng hôm ấy, địch tiến công vào phố Hàng Thiếc. Phố này nhỏ, nhiều nhà lụp xụp chúng phun ét-xăng đốt mặt này, xung phong mặt kia, đến hai giờ chiều chúng chiếm được một dãy phố, nhưng bị thiệt hại nặng, vừa chết vừa bị thương đến ngót trăm tên. Hai ngày sau (9-2), địch lại tiến công định chiếm nốt cả phố Hàng Thiếc. Nhưng cái "kế hoả công" của chúng không còn hiệu nghiệm nữa rồi. Chúng không tiến được nửa bước. Ban ngày, địch tiến công, ta quyết ngăn chặn. Ban đêm, ta đem các thùng sơn, dầu xăng, dầu hoả sang đốt hết những căn nhà bên dãy địch chiếm để chúng không lợi dụng được.

        Rồi liên tục trong bốn ngày 10, 11, 12, 13 tháng 2 địch liên tục giội bom, bắn pháo vào trận địa trung đoàn Thủ Đô.

        Trong những ngày địch tập trung đánh vào Liên khu I thì bộ đội ta ở Liên khu II và Liên khu III đều mở cuộn tiến công sâu vào sau lưng địch, có mũi thọc tới Văn Miếu, có mũi thọc theo đường Hàng Lọng1 (Đường Lê Duẩn) tới gần Tràng Tiền... để co kéo địch trở ra. Trong những ngày ấy, trời mưa phùn tầm tã, rét buốt, các đồng chí liên lạc của đội du kích Hồng Hà làm việc vất vả, đêm nào cũng đem được chỉ thị của Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội và đạn dược tiếp tế vào Liên khu I, và đưa báo cáo từ trong ấy ra. Đường liên lạc thông suốt. Đó là một bảo đảm của thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:20:52 PM

        Sáng ngày 14, trinh sát của mặt trận nghe thấy có nhiều tiếng súng ở phía bắc Liên khu I. Địch đánh vào khu Đồng Xuân. Mấy ngày sau, chúng tôi vẫn nhận được báo cáo tinh thần bộ đội rất vững vàng, sẵn sàng "tiếp" địch. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn hồi hộp lo lắng, vì cũng mấy ngày ấy, địch oanh tạc dữ dội, anh em ta trong đó phải chịu đựng căng thẳng, thể lực tất phải giảm sút. Qua điện đài, chúng tôi nắm tình hình diễn biến trận đánh rất khẩn trương nhưng cũng giàu chất anh hùng.

        9 giờ, ta và địch quần nhau trong chợ Đồng Xuân, địch chết nhiều.

        11 giờ, trận đánh vẫn diễn ra trong khu vực chợ.

        12 giờ, địch đánh sang phố Hàng Đường, Hàng Chiếu.

        15 giờ, sức tiến công của địch yếu dần. Ta phản kích mạnh.

        18 giờ, ta vẫn giữ vững phố Hàng Chiếu, Hàng Mã. Bộ đội diệt được nhiều địch, rất phấn khởi.

        Tôi vừa đọc xong bức điện này thì đồng chí cán bộ quân báo đến báo cáo một tin: Đài địch nói là trung đoàn Thủ Đô đã bị vây chặt, lâm vào thế cùng quẫn, số phận trung đoàn này chỉ còn tính từng ngày. Tôi hỏi lại:

        -  Nó nói thế, cậu nghĩ sao?

        Đồng chí quân báo mỉm cười hóm hỉnh, trả lời hơi ngập ngừng nhưng chứa đựng cái chất hài hước, lạc quan:

        -  Tôi nghĩ, thằng Tây vẫn quen thói huênh hoang, chẳng qua... nó là... con đười ươi giữ ống.

        Tôi bật cười về cái hình ảnh ví von ngộ nghĩnh này, và vội vã cắt đứt câu chuyện với đồng chí quân báo vì lúc này đã có chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy tổ chức cho trung đoàn Thủ đô rút ra ngoài; việc này phải triệt để giữ bí mật cho đến phút cuối cùng.

        Hồi trung tuần tháng 1, và sau tết Nguyên Đán, khi ta kìm chân địch trong Hà Nội một thời gian vượt yêu cầu ban đầu của Bộ đề ra là một tháng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã hỏi tôi:

        -  Anh Vũ suy nghĩ xem liệu ta đã phải rút trung đoàn Thủ Đô ra chưa?

        -  Ta còn có khả năng trụ bám trong đó, đề nghị xin cho tiếp tục giữ Liên khu I một thời gian nữa -  Tỏi trả lời.

        Thể theo nguyện vọng của anh em và nhất là xét khả năng thực tế, Bộ Tổng chỉ huy đồng ý với đề nghị của chúng tôi. Nhưng lần này, vào chiều ngày 14 tháng 2 sau khi tôi báo cáo: trận Đồng Xuân đã kết thúc, địch bị thiệt hại nặng... thì đồng chí Tổng chỉ huy lại chi thị phải tổ chức cho trung đoàn Thủ Đô rút ra ngoài và chuyển lời khen của Bác Hồ: Các chú giam chân địch được một tháng là thắng lợi, đến nay giữ Hà Nội được hai tháng là đại thắng lợi.

        Trong các phương án đưa trung đoàn Thủ Đô ra khỏi vòng vây địch chúng tôi chọn phương án gọi là "cường công, mật rút", nghĩa là tất cả các lực lượng của mặt trận Hà Nội đều đánh thật mạnh, khiến cho địch bị căng kéo ra, tạo nên một hướng sơ hở cho trung đoàn Thủ Đô bí mật rời Liên khu 1 được an toàn, làm cho địch bị một vố chua cay nữa. Sau khi đã quyết định chọn phương án này rồi, đồng chí Võ Nguyên Giáp với thái độ thực sự cảm thông tâm trạng dùng dằng nửa đi nửa ở của toàn thể cán bộ, chiến sĩ mặt trận Hà Nội, của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Thủ Đô, đã nói những lời vừa động viên, biểu dương chúng tôi, vừa như ra lệnh cho chúng tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của Bộ Tổng chỉ huy...

        -  Tôi biết nguyện vọng của bộ đội ta còn muốn cố thủ thêm ít ngày nữa ở Liên khu I. Đó là một tinh thần chiến đấu ngoan cường đáng quý, một tình cảm yêu mến quê hương rất đẹp. Với tinh thần hy sinh cao cả đó, trung đoàn Thủ Đô có thể trụ bám một thời gian nữa. Những xét về nhiệm vụ thu hút địch, giam chân địch thì trung đoàn Thủ Đô đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang. Nay đã đến lúc cần thiết phải vượt ra khỏi vòng vây của địch, trở về hậu phương xây dựng lực lượng lớn mạnh hơn nữa để kháng chiến lâu dài.

        Đồng chí Tổng chỉ huy đưa mắt nhìn chúng tôi vẫn một thái độ cảm thông. Vẫn giọng nói miền Trung êm nhẹ, tình cảm, nhưng nhịp điệu thì dồn dập, kiên quyết:

        -  Rời Liên khu I được an toàn lại là một thắng lợi lớn hơn nữa. Chúc các đồng chí thắng lợi!


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:23:38 PM

        Kế hoạch "cường công, mật rút" được triển khai ngay từ ngày 15 tháng 2. Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh cho đồng chí Phùng Thế Tài điều động các đơn vị của Liên khu II tiến công vào ô Cầu Dền, đồng chi Lê Quấn điều động các đơn vị của Liên khu III tiến công vào ô Cầu Giấy, Kim Mã, Hàng Bột. Đồng thời phải tung nhiều tổ luồn sâu vào các khu phố trong nội thành đánh du kích, quấy rồi, phá hoại. Đêm ấy, trung đoàn Thủ Đô cũng phối hợp với bên ngoài, đánh phối hợp.

        Ngày 16 tháng 2, các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn Thủ Đô đang bận rộn chuẩn bị kế hoạch “trở về hậu phương" vào đêm sau -  17 tháng 2, thì lại phải giải quyết một việc đột xuất rất phức tạp. Từ trong khu vực địch chiếm, viên lãnh sự của Tưởng Giới Thạch vác cờ đến xin gặp đại biểu của trung đoàn. Hắn đề nghị ta tiếp tế cho số Hoa kiều còn lại trong Liên khu I và đề nghị ta tạm ngừng bắn vào ngày 17 tháng 2 để cho Hoa kiều tản cư, hoặc là ngày 18 tháng 2 để cho họ có thời gian chuẩn bị. Đây là một thủ đoạn nham hiểm của địch, chúng muốn đưa hết Hoa kiều ra ngoài để rảnh tày oanh tạc khu vực nhỏ hẹp mà trung đoàn Thủ Đô còn đang trấn giữ. Và thêm nữa, qua việc yêu cầu tiếp tế cho Hoa kiều, chúng muốn thăm dò xem khả năng tích trữ gạo, muối của ta còn được bao nhiêu? Quả thực đây là một vấn đề rất phức tạp, ngoài dự kiến của chúng tôi, nhưng lại đòi hỏi phải có chủ trương đối phó kịp thời, đúng đắn. Tất nhiên, ta không chấp nhận ngừng bắn vào ngày 17 tháng 2 vì như vậy có thể là địch bắn phá ngay từ chiều tối hôm ấy, mà chính đêm ấy là đêm ta "ra đi”. Nhưng không chấp nhận ngừng bắn ngày 17 tháng 2 ta cũng không tự chọn ngày 18 tháng 2, vì như thế địch có thể ngờ vực. Lúc này ta cần phải cho địch không mảy may ngờ vực gì về ý định cố thủ của ta ở Liên khu I. Sau khi thảo luận trong Bộ chỉ huy mặt trận và xin ý kiến Thành ủy, xin chỉ thị cấp trên, chúng tôi điện vào chỉ định đồng chí Hoàng Phương đại diện Ban chỉ huy trung đoàn Thủ Đô làm nhiệm vụ này. Ngay hôm đó đồng chí Hoàng Phương gặp viên lãnh sự Tưởng Giới Thạch trả lời: Chúng tôi đồng ý đề nghị của ông là cần có thời gian chuẩn bị. Vì vậy, ngày mai chưa tản cư vội. Nếu chuẩn bị chưa kịp thì ngày 19 tháng 2, tạm ngừng bắn cho Hoa kiều tản cư cũng được. Hoặc giả cần lui lại đến 20 tháng 2 cũng không sao. Vả lại, ông cũng cần phải có thời gian để liên lạc với quân đội Pháp. Sáng mai, ngày 17 tháng 2, chúng tôi sẽ tiếp tế cho Hoa kiều 5 tạ gạo và 2 tạ ngô. Viên lãnh sự Tưởng hết lời cảm tạ đại diện ta và xin chọn ngày 18 tháng 2 cho Hoa kiều tản cư.

        Ta chấp nhận.

        Thế là cái việc đột xuất, phức tạp, gần như bị động ấy ta đã khôn khéo giành quyền chủ động và đưa ra những biện pháp giải quyết rất thông minh hoàn toàn có lợi cho ta.

        Đêm 16 tháng 2, các chiến sĩ Thủ Đô vẫn chưa biết rằng chỉ trong 24 tiếng đồng hồ nữa họ sẽ phải tạm biệt Hà Nội. Theo kế hoạch của trung đoàn, các chiến sĩ Thủ Đô vẫn xách súng mang đạn đì quấy rối địch, đốt phá những dãy nhà do địch chiếm giừ. Trong nội thành súng nổ suốt đêm, lửa cháy rừng rực. Ngoại thành cũng phối hợp tiến công khắp các ngả. Ta nghi binh rất giỏi. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ tình hình chiến sự ở đây giảm đi. Trái lại địch vẫn căng thẳng đối phó, vẫn thấy xoá được căn cứ của ta ở Liên khu I còn phải mất nhiều thời gian.

        Sáng ngày 17 tháng 2, ngày quyết định của cả một kế hoạch lớn, các đồng chí trong Đảng bộ và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội, mỗi người lo một việc: Người đi xuống các đơn vị thuộc Liên khu II, Liên khu III đôn đốc việc thực hiện kế hoạch "cường công", đánh mạnh trên các tuyến ngoại thành; người đi kiểm tra việc tổ chức đoàn thuyền vào đón trung đoàn Thủ Đô "mật rút" vượt qua sông Hồng. Tôi cứ nghĩ đến lúc được ôm chầm lấy các chiến sĩ từ biên khu I ra mà đứng ngồi không yên. Nhìn đồng hồ thấy đã mười giờ, căn cứ vào kế hoạch của trung đoàn mới báo cáo ra, tôi tưởng tượng như thính mình đang dự cuộc họp mà đồng chí Lê Trung Toàn phổ biến nhiệm vụ với các bí thư chi bộ và các đồng chí chỉ huy cấp tiểu đoàn, đại đội. Anh em thắc mắc rất nhiều.  Nhưng đây là mệnh lệnh, "rời khỏi Liên khu I được toàn vẹn là một thắng lợi”.

        Hôm ấy, suốt cả ngày chúng tôi bám sát tình hình địch, các hoạt động của chúng đều dồn ra ngoại thành, hướng tây -  nam và đông -  nam Hà Nội. Trong Liên khu I địch vẫn bắn pháo và súng cối. Kế hoạch đưa trung đoàn Thủ Đô ra hậu phương được giữ bí mật đến mức cao nhất. Các đơn vị ở ngoại thành chỉ được biết là phải đẩy mạnh các hoạt động để phối hợp với toàn mặt trận. Còn đồi với trung đoàn Thủ Đô, thì mãi đến 14 giờ mới được phổ biến nhiệm vụ cho các đảng viên, cán bộ trung đội và đến 16 giờ các chiến sĩ mới được biết toàn trung đoàn phải vượt ra ngoài, ngay trong đêm 17 tháng 2.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:26:02 PM

        Đêm hôm ấy mưa phùn, gió rét. Khắp các cửa ô Hà Nội súng nổ ran. Địch chống cự rất kịch liệt. Có những tổ du kích của ta lọt vào phố trong Liên khu II, Liên khu III đánh quấy rối. Những đám cháy bùng lên trong nội thành, lửa sáng rực. Trong Liên khu I cũng có nhiều đám cháy, nhiều tiếng nổ, đó là kế hoạch nghi binh của trung đoàn Thủ Đô. Cả Hà Nội rực lửa, ầm vang tiếng súng như một trận phản công lớn. Tính đến đêm nay, 60 ngày và 61 đêm, mặt trận Hà Nội luôn luôn sôi động. Không những ta đã phá được âm mưu địch đánh úp Hà Nội, lại cầm chân địch lâu ngày tại Hà Nội. Lúc đầu, yêu cầu đề ra phải kìm hãm được địch từ một đến hai tuần lễ, nhưng quân và dân Hà Nội đã giữ được gần chín tuần lễ, tiêu hao được nhiều sinh lực địch, trong khi đó lực lượng ta phát triển, thanh thế vang lừng. Nhưng đêm nay là đêm mặt trận Hà Nội hoàn thành nhiệm vụ, đêm kết thúc một chiến dịch, mà kết thúc thật là đặc biệt.

        Theo kế hoạch, 20 giờ ngày 17 tháng 2 năm 1947, các tổ nghi binh của trung đoàn Thủ Đô bắt đầu hoạt động, nổ súng quấy rối, đốt phá nhiều nơi trong các khu vực địch chiếm giữ và phải tổ chức những vụ cháy chậm, nổ chậm để suốt đêm lúc nào trong Liên khu I cũng có những cột lửa, những tiếng nổ. Trong khi đó, một trung đội do trung đoàn phái ra qua cột đồng hồ vượt qua đê, lên bố trí ở gầm cầu Long Biên đề phòng nếu ta bị lộ thì đánh chặn địch bảo vệ đường rút qua gầm cầu. Khi trung đội đó bố trí xong, tiểu đoàn 101 xuất phát, tiếp đến cơ quan trung đoàn, tiểu đoàn 102 rồi tiểu đoàn 103.

        22 giờ, các tổ nghi binh ngừng hoạt động, tập trung ở đình Phất Lộc.

        0 giờ 18 tháng 2 năm 1947, các tổ nghi binh qua gầm cầu đong Biên. Tiếp đó tiểu đoàn 103 rời trận địa bảo vệ đi cuối đội hình trung đoàn.

        2 giờ sáng, tin trinh sát báo về phía cầu Long Biên vẫn im ắng tiếng súng. Chúng tôi mừng thầm: giờ này trung đoàn Thủ Đô đã lặng lẽ qua gầm cầu Long Biên rồi. Và cũng đến giờ này, chúng tôi mới hết hồi hộp. Bởi vì, đây là cửa ải gay go nhất. Trên cầu có địch canh gác và thường xuyên xe địch đi lại tuần tiễu, thỉnh thoảng chúng lại chiếu đèn pha xuống sông, xuống bãi soi dõi; ngoài ra ở đầu cầu phía đường Hàng Đậu (Hà Nội) còn có một trung đội địch canh gác, có chó béc giê đánh hơi. Ví thử ta bị lộ, địch bắn quét thì khó tránh khỏi thương vong. Lại phải tính đến trường hợp xấu nhất, địch phát hiện được có một đoàn quân từ Hà Nội đi ra, chúng huy động quân ra đánh chặn. Tất nhiên, theo kế hoạch dự định từ trước, trung đoàn Thủ Đô đã có những biện pháp đề phòng. Nhưng bí quyết thành công của ta hôm nay là bí mật, ta đi rồi địch vẫn không biết, mới là chiến thắng trọn vẹn. Và đến 2 giờ sáng phía cầu Long Biên vẫn im ắng tiếng súng có nghĩa là trung đoàn Thủ Đô đã thành công trong việc bí mật vượt qua cửa ải gay go nhất rồi, con chim đại bàng bắt đầu tung cánh.

        Đã hai tháng nay, tiểu đội du kích Hồng Hà do đồng chí Nguyễn Văn Nại chỉ huy, bám chặt lấy bãi dâu Phúc Xá, giữ đường liên lạc giữa nội thành và ngoại thành, đêm nay tiểu đội Nguyễn Văn Nại dẫn trung đoàn Thủ Đô từ nội thành vượt vòng vây địch ra hậu phương. Các chiến sĩ du kích Hồng Hà thuộc con đường này như lòng bàn tay của họ, vì họ đẻ ra ở bên bờ sông Hồng, uống nước sông Hồng, lớn lên trên bãi cát sông Hồng này. Ngang Yên Phụ có một chỗ lòng sông rất nông, mùa khô xắn quần lội qua được, họ dẫn trung đoàn Thủ Đô qua quãng đó, sang bãi giữa, đi ngược bãi cát phù sa này một chặng dài thì đến một nơi có đoàn thuyền hai chục chiếc chờ sẵn đưa sang làng Cơ Xá, thuộc huyện Gia Lâm. Anh chị em du kích bên ấy lại dẫn trung đoàn Thủ Đô đi ngay đến địa điểm an toàn bên bờ sông Đuống.

        5 giờ sáng, khi cơ quan trung đoàn bộ và hai tiểu đoàn 101, 102 đã qua sông, tôi báo cáo lên Bộ Tổng chỉ huy, coi như đã giành được thắng lợi căn bản. Vì cơ quan trung đoàn có đủ thành phần nam, phụ, lão, ấu, hơn nữa, ban quân y còn phải phụ trách mấy chục thương binh, phần lớn phải khiêng, phải cõng, mọi người đã vượt sông rộng, thế là gọn.

        6 giờ sáng, trời còn mù sương, đơn vị cuối cùng của tiểu đoàn 103 vượt sông, thì cũng là lúc nổ ra một trận đánh -  một trận đánh không có tiếng vang như trận Bắc Bộ phủ hay Đồng Xuân... Nhưng nói đến cuộc chiến đấu của Thủ đô Hà Nội trong những ngày đầu kháng chiến chững Pháp, thì nhất định phải nhắc đến trận này.

        Trận đánh không mang tên địa danh vì nơi diễn ra không gần một làng, một xóm nào cả, chỉ có những công dân và những con người bất tử, trận đánh cuối cùng của tiểu đội Nguyễn Văn Nại.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:29:06 PM

        Mờ sáng hôm ấy, bọn địch ở cầu Long Biên thấy có nhiều dấu chân ở dưới bãi, rõ ràng có một đoàn người từ Hà Nội đi ra. Bộ binh địch có xe bọc thép yểm trợ lần dấu vết đuổi theo. Một đội ca- nô bọc thép hùng hổ ngược sông tìm kiếm, và qua cầu Long Biên khoảng một ki- lô- mét thì lũ thủy binh Pháp này thấy có một đoàn năm, sáu chiếc thuyền nhỏ đang rẽ nước qua sông. Chúng bắn xối xả, nhưng đoàn thuyền đã cập bến Cơ Xá bên tả ngạn sông. Rồi mấy chục người vừa mới rời đoàn thuyền ấy nhảy lên bờ, chĩa súng bắn trả lại, giữa lúc đó tiểu đội du kích Hồng Hà của đồng chí Nguyễn Văn Nại, vẫn còn ở bãi giữa liền nổ súng. Địch bị đánh trước mặt và cả ngang sườn, chúng bỏ mục tiêu bên tả ngạn sông Hồng, quay sang bãi giữa. Một tốp máy bay khu trục xpít- phai cũng lao tới xối xả trút đạn xuống trận địa. Trận đánh kéo dài mãi gần trưa. Chúng ta không còn được gặp Nguyễn Văn Nại và các đồng chí trong tiểu đội du kích Hồng Hà nữa để được biết rõ trận đánh diễn ra như thế nào mà cả bảy đồng chí đã thu hút được địch trong suốt buổi sáng hôm đó. Nhưng chúng ta có đầy đủ bằng chứng để đánh giá tác dụng to lớn của trận này: suốt hai tháng liền, các đồng chí đã giữ vững liên lạc giữa Bộ Chỉ huy mặt trận với trung đoàn Thủ Đô. Những ngày qua, các đồng chí đã truyền đạt các mệnh lệnh từ ngoại thành vào nội thành và các báo cáo từ nội thành ra ngoại thành để trong ngoài thống nhất hành động. Đêm 17 tháng 2, các đồng chí đã đưa trung đoàn Thủ Đô bí mật ra đi. Và đến sáng 18, các đồng chí đã hy sinh oanh liệt giữ bí mật đến cùng, bảo đảm cho trung đoàn Thủ Đô rời Hà Nội được tuyệt đối an toàn, mãi ngày 19 tháng 2 địch mới biết Liên khu I chỉ còn là miếng đất không người, thì hôm đó trung đoàn Thủ Đô đã sang đất Phúc Yên rồi.

        Nói đến chiến công của trung đoàn Thủ Đô rời Liên khu I thắng lợi, tôi không thể không kính cẩn nghiêng mình trước sự hy tinh anh dũng của tiểu đội du kích Hồng Hà do đồng chí Nguyễn Văn Nại chỉ huy.

        Ngay sáng 18 tháng 2, chúng tôi nhận được điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp chuyển lời Hồ Chủ tịch khen mặt trận Hà Nội: Bác bảo thế là đại thắng lợi. Và đồng chí chỉ thị phải tổ chức ngay một cuộc mít tinh mừng chiến thắng. Việc đó đã được thực hiện tối 22 tháng 2 năm 1947 tại đình làng Thượng Hội huyện Đan Phượng (thuộc tỉnh Hà Đông cũ) có đông đủ đại biểu các cơ quan Đảng, Dân, Chính. Đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên dương công trạng trung đoàn Thủ Đô -  đặc trưng cho một quân đội của một dân tộc nhỏ bé quyết không chịu làm nô lệ, đã hiên ngang chống lại quân đội của một nước đế quốc hùng mạnh. Đồng chí trao tặng trung đoàn Thủ Đô một lá cờ và nói: Hôm nay, tôi thay mặt Chính phủ chính thức trao danh hiệu trung đoàn Thủ Đô cho các đồng chí. Thay mặt Bộ Quốc phòng và quân đội quốc gia, tôi tặng các đồng chí một lá cờ thêu tên "Trung đoàn Thủ Đô" để nêu cao tấm gương anh hùng của các đồng chí.

        Đêm đó, một đêm tưng bừng rộn rã, đêm mừng công của mặt trận Hà Nội. Tôi gặp nhiều đồng chí quen biết cũ, chuyện trò mãi không dứt. Một đồng chí đội mũ ca- lô gắn sao vàng vành trắng, cấp hiệu tiểu đội, chen đến gọi tôi: Anh Vũ, bây giờ em mới biết tên anh. Anh còn nhớ không, em đã gặp anh ở cửa nhà tên Moóc-li-e ấy mà, hôm ấy anh mặc bộ quần áo nâu như bác nông dân ấy… Tôi nhớ ra ngay, đúng là đồng chi đội trưởng đội tự vệ phố Nhà Thờ giờ đây trông rắn rỏi ra nhiều quá, nhưng cái dáng học sinh thì vẫn còn nguyên. Đồng chí ấy mở bao thuốc lá Phi- líp Mo- rít mời tôi:

        -  Anh hút với em một điếu!

        Rồi đồng chí ấy khoe với tôi: Anh biết không, hôm đầu kháng chiến, em ở phố Nhà Thờ, sau nó đánh phải rút dần về phố Hàng Gai, mình lùi hơn 100 mét. Ấy thế rồi mà tiểu đội em cứ giữ chịt được ở đấy cho đến khi có lệnh ra đây. Tối hôm 17, em được chỉ huy một tổ nghi binh, ôi tha hồ mà đốt pháo. Nhưng lúc ra đi, nhớ thương Hà Nội quá, em vừa đi vừa khóc đấy. Bao giờ lại trở về anh nhỉ? Nói đến đây, đồng chí ấy lại chảy nước mắt. Nhưng đồng chí vây quanh tôi cũng có chung một câu hỏi: Bao giờ ta lại trở về anh Vũ ơi? Trong giây phút này tôi cũng nghẹn ngào, biết nói thế nào đây, tôi hỏi lại:

        -  Thế các chú không nghe anh Giáp vừa nói lúc nãy à?

        Tuy đã thông suốt và đang suy nghĩ cách lãnh đạo anh em chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, nhưng chính lúc này đây tôi cũng đang sống trong tâm trạng thật xúc động -  một tình cảm buồn vui rất khó mà diễn đạt. Nhìn những người lính trẻ Thủ đô đang đứng quanh tôi, đang đòi hỏi ở tôi một câu trả lời chính xác. Tôi rít một hơi dài điếu thuốc lá Phi- líp Mo- rít mà đồng chí tiểu đội trưởng tự vệ phố Nhà Thờ vừa cho, phả một làn khói khoan khoái rồi nói tiếp: "Ta thề Thủ đô chiến thắng quân thù". Ta không bao giờ quên lời thề đó. Nhưng để có chiến thắng thì ngay từ bây giờ chúng ta phải bắt tay vào xây dựng lực lượng, tiếp tục đánh, ta sẽ về Thủ đô trong ngày đại thắng! Họ reo lên, phải nói rằng họ hét lên thì mới đúng: Ta thề Thủ đô chiến thắng quân thù... Thủ đô ta đã chiến thắng, sẽ chiến thắng... Ngày mai, ta về giải phóng Thủ đô ta...! Rồi họ ôm nhau ca hát, họ hát những bài tôi chưa hề đượm nghe bao giờ, bởi đó là những bài hát sáng tác ngay trong chiến hào của Liên khu I, những bài hát họ tự làm ra, ca ngợi cuộc chiến đấu rất đáng tự hào của những người rất yêu đời nhưng không sợ chết, những chiến sĩ cảm tử của đất Thăng Long bất diệt.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:30:34 PM

        Đại đoàn 308- những ngày đầu thành lập

        Sự phát triển của lực lượng vũ trang từ nhỏ đến lớn là quy luật tất yếu của chiến tranh giải phóng. Như xưa kia hồi thế kỷ XV, thời Lê Lợi dựng cờ cứu nước đánh đuổi quân Minh xâm lược, lúc đầu thế giặc đương mạnh, mà ta thì “tuấn kiệt lưa thưa như sao sớm”, phải chống đỡ gian nan như ngọn đèn trước gió, chẳng khéo che đậy thì tắt phụt như chơi. Nhưng do có chí vượt gian nan, toàn dân đoàn kết, trên duới đồng lòng chung lưng đấu cật, có cách đánh hay đánh hiểm mà lực lượng ta ngày càng phát triển, chuyển yếu thành mạnh…

        Mấy năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ta cũng gặp phải những khó khăn cực kỳ to lớn. Lực lượng vũ trang ta đã ít lại thiếu thốn nhiều bề- thiếu súng đạn, thuốc men, thiếu quần áo và lương thực, v.v… Trong khi đó lực lượng địch số lượng đông hơn, vũ khí nhiều hơn, lại không ngừng được tăng viện. Cậy có quân đông, súng tốt, đạn nhiều, quân Pháp liên tiếp mở các cuộc tiến công ào ạt hòng nhanh chóng nuốt trôi nước ta, chiến sụ diễn ra ác liệt ở Tây Bắc, Đông Bắc, đường số 5, ở đồng bằng Bắc Bộ, ở Bình- Trị- Thiên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ. Trong cùng thời gian địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét quy mô lớn bằng xe tăng, xe bọc thép, có quân đổ bộ đường không, đường thuỷ phối hợp; tiến hành những trận đột kích, những mũi thọc sâu vu hồi, những gọng kìm bao vây hàng trăm kilômét. Đi đến đâu địch cũng tàn phá đến đó- thực hiện chính sách “tam quang”- đốt sạch, phá sạch, giết sạch rất dã man tàn bạo.

        Đây là thời kỳ rất gay go của cuộc kháng chiến. Ở nhiều nơi quân địch đã chiếm được các đô thị lớn. Chúng ta kháng chiến trong vòng vây bốn bề của chủ nghĩa đế quốc. Thế nhưng quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch, đã đạp bằng mọi khó khăn, làm thất bại những âm mưu chiến lược quan trọng của địch, buộc đế quốc Pháp phải xét lại chủ trương chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng. Đó là những năm đầu thắng lợi của quân và dân ta có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tương lai của cả cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc. Và đó cũng là những năm 1847, 1948 đầy thử thách đối với chúng ta.

        Đầu năm 1949, trong không khí chiến thắng chung, hội nghị cán bộ lần thứ VI của Trung ương Đảng họp bàn và ra các nghị quyết về nhiều vấn đề quan tọng đối với cuộc kháng chiến. Trong phần nói về nhiệm vụ và công tác quân sự, nghị quyết nhấn mạnh “trọng tâm công tác lúc này là tiếp tục xây dựng bộ đội chủ lực, tập trung cán bộ, tập trung vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc cho những đơn vị có nhiệm vụ đánh vận động chiến” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VI). Nghị quyết quan trọng này đã chỉ ra phương hướng tiến lên của quân đội ta.

        Bấy giờ lực lượng chủ lực thuộc Bộ Tổng tư lệnh vẻn vẹn chỉ có trung đoàn 308 gồm các tiểu đoàn 11, 18, 23, 29, 54 và một số tiểu đoàn, đại đội pháo binh, công binh, thông tin, v.v…

        Tiểu đoàn 11 vốn là một tiểu đoàn mạnh của Liên khu III từng chiến đấu ở ngoại thành Hải Phòng và ở Kiến An, được Bộ (bắt đầu từ đây danh từ Bộ-chỉ Bộ Tổng tư lệnh) điều lên Việt Bắc từ mùa xuân 1947, chính là đơn vị đã diệt đồn lê dương Pháp ở Phủ Thông trong mùa hè 1948, và từ đó mang tên tiểu đoàn Phủ Thông.

        Tiểu đoàn 18, thành lập ở Sơn Tây hồi đầu năm 1947 gồm những chiến sĩ tự vệ thành Hà Nội và du kích Hồng Hà. Tiểu đoàn này đã chiến đấu nhiều ở Đông Bắc nhưng lại mang danh hiệu Bình Ca, tên một bến phà trên Sông Lô, vì đấy là nơi tiểu đoàn 18 xuất trận lần đầu và giành chiến thắng mở đầu cuộc tiến công bẻ gãy gọng kìm Sông Lô của quân Pháp do tên trung tá Com- muy- nan chỉ huy đánh lên căn cứ Việt Bắc hồi thu đông năm 1947.

        Tiểu đoàn 23 thành lập ở Liên khu III với hầu hết chiến sĩ quê ở Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, từng lăn lộn đánh địch ở Hoà Bình, Tu Vũ, bên sông Đà. Tiểu đoàn 23 mới lập công lớn trong trận phục kích ở Lũng Phầy trên đường số 4 và mang tên tiểu đoàn Lũng Phầy.

        Tiểu đoàn 29 là sự hợp nhất chung đúc tinh hoa của hai tiểu đoàn 39 và 48. Tiểu đoàn 39 vốn gốc là một trung đội giải phóng, từ sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 phát triển thành tiểu đoàn bảo vệ Bộ Tổng tư lệnh. Tiểu đoàn 48 sinh trưởng từ miền duyên hải, thành phần đa số là anh em công nhân Hải Phòng và các mỏ Hà Tu, Cầm Phả. Cả hai tiểu đoàn này đều có thành tích chiến đấu, khi hợp lại thành một tiểu đoàn mạnh, đã đánh nhiều trận công đông, tiêu biểu nhất là trận Bản Trại, nơi sông Kỳ Cùng chảy cắt ngang đường số 4, tiêu diệt một đồn do lính lê dương đóng giữ.

        Tiểu đoàn 54 chính là trung đoàn Thủ đô thu hẹp lại. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, Bộ Tổng tư lệnh điều động nhiều cán bộ và chiến sĩ của trung đoàn này đi học để tăng cường cho các đơn vị mới thành lập hoặc bổ sung vào các cơ quan, đơn vị chuyên môn; số còn lại tạm thời thu hẹp thành một tiểu đoàn mạnh, để khi có điều kiện phát triển thành trung đoàn, đại đoàn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:32:39 PM

        Mùa xuân năm 1949, tôi đang làm nhiệm vụ quân khu phó Quân khu IV, trực tiếp phụ trách phân khu trưởng phân khu Bình- Trị- Thiên, được thông báo của Trung ương quyết định thành lập đại đoàn chủ lực đầu tiên. Tin vui này đã mang đến sự cổ vũ mạnh mẽ cho quân và dân Bình- Trị- Thiên đang chiến đấu anh dũng trên mảnh đất hẹp của Tổ quốc, bốn bề bị giặc Pháp bao vậy, uy hiếp. Thế là từ nay trở đi, bên cạnh lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa phương rộng khắp, chúng ta có cả bộ đội tập trung cơ động mạnh. Trong suy nghĩ của chúng tôi lúc ấy- thường mơ ước chiến tranh du kích phát triển đến một lúc nào đó sẽ có những bước nhảy vọt, lực lượng bộ đội chủ lực tập trung sẽ xuất hiện. Và một khi những “quả đấm thép” ra đời sẽ thu hút lực lượng địch, làm cho chúng phải chia xẻ binh lực, lúc ấy Bình- Trị- Thiên sẽ có thêm điều kiện phát triển chiến tranh du kích, xây dựng thêm lực lượng… Giữa lúc đó tôi nhận được lệnh điều về Bộ nhận công tác.

        Từ Khu IV ra Thanh Hóa, đến Ninh Bình, tôi gặp đồng chí Văn Tiến Dũng. Tôi cùng đồng chí Văn Tiến Dũng theo đường giao liên qua vùng địch tạm chiếm Nam Định, Thái Bình, Hải Dương rồi vượt đường số 5 lên vùng tự do của tỉnh Bắc Giang.

        Tháng 4 năm 1949 lên tới căn cứ địa Việt Bắc, mới biết rõ Bộ điều tôi về phụ trách chỉ huy đại đoàn chủ lực sắp thành lập. Nhận quyết định tôi tìm ngay về xã Phúc Trìu- địa điểm tiếp đón các đơn vị của các Liên khu (nhu Quân khu ngày nay) điều về để tiến hành xếp biên chế đại đoàn.

        Phong tham mưu đã cử đồng chí Bùi Nguyên Cát- chánh văn đại đoàn đón tôi. Đồng chí Bùi Nguyên Cát cùng tôi chiến đấu ở mặt trận Hà Nội cuối năm 1946, nên vừa trông thấy tôi đồng chí đã reo lên:

        - Anh Vũ! Từ Thủ đô ra đi nay mới lại được gặp anh. Thế mà đã hai năm rồi.

        Tôi nói vui:

        - Quả đất tròn mà!

        Rồi không đợi tôi hỏi han tình hình, đồng chí Cát sôi nổi nói:

        - Được Bộ thông báo quyết định anh về phục trách đại đoàn, chúng tôi rất phấn khởi, mong anh mãi…

        Và hình như sợ mình quên, đồng chí Bùi Nguyên Cát giở sổ tay báo cáo tiếp những công việc mà đồng chí ghi được qua cuộc họp phòng tham mưu: Bộ đã điều anh Cao Văn Khánh từ Khu V ra làm đại đoàn phó. Các đơn vị do Bộ điều về mới có mặt một ít, đại bộ phận đang trên đường hành quân, có đơn vị còn đang chiến đấu. Theo các anh trên gợi ý thì tình hình đang rất khẩn trương, không thể có thời gian và cũng không có đủ điều kiện để hình thành ngay đại đoàn về mặt biên chế, mà phải vừa chiến đấu vừa xây dựng, trên cơ sở đó sẽ từng bước hoàn chỉnh về mặt tổ chức…

        Đúng là khẩn trương, rất khẩn trương. Anh Cao Văn Khánh và tôi chưa kịp nắm quân thì đã có lệnh đi chiến đấu. Nói đúng hơn, chúng tôi mới nắm quân qua giấy tờ, bởi vì mới có hai tiểu đoàn 11, 54 vừa đi chiến đấu ở vùng Sơn Tây trở về, các tiểu đoàn 18, 23, 29 chiến đấu suốt mùa xuân ở đường số 4 đang trên đường về, còn các tiểu đoàn 79, 322, 626 mới được bổ sung thì chưa đến. Anh Khánh được lệnh đưa hai tiểu đoàn 11 và 54 sang Yên Bái tham gia chiến dịch Sông Thao. Theo yêu cầu của Bộ, trận đầu cả hai tiểu đoàn này phải nổ súng vào ngày 19 tháng 5 và đã đánh là phải chiến thắng giòn giã, mỗi tiểu đoàn diệt một đồn địch. Chúng tôi chia tay nhau, cùng thống nhất một điều: Quán triệt tinh thần chỉ đạo của cấp trên “vừa đánh vừa xây dựng”. Vì vậy, những trận đánh sắp tới ở Sông Thao có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây dựng truyền thống đại đoàn sau này. Chúng tôi cũng thống nhất với nhau, trước hết phải rèn cho cán bộ, chiến sĩ có ý thức chấp hành mệnh lệnh thật nghiêm chỉnh. Đây là một trong những điều kiện không thể thiếu được để làm nên sức mạnh của quân đội cách mạng chiến thắng kẻ thù.

        Chúng tôi lưu luyến chia tay nhau và hứa hẹn cùng nhau vượt mọi khó  khăn chấp hành vô điều kiện mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tổng tư lệnh. Anh Cao Văn Khánh dẫn quân qua Sông Lô, Tuyến Quang, vừa đến Sông Chảy thì địch mở chiến dịch Pô-mô-nơ đánh lên Phú Thọ, nhảy dù xuống thị xã Tuyên Quang. Lúc này, ở Thái Nguyên, các tiểu đoàn 18, 23, 29 đã về đến hậu cứ và các tiểu đoàn 79, 626 cũng vừa tới. Tôi được lệnh đưa tất cả lực lượng này vượt Đèo Khế, Sơn Dương để kịp tham gia chiến dịch Sông Lô.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:33:17 PM

        Ngày 20 tháng 5, tôi và chiến dịch Bằng Giang chỉ huy mặt trận Sông Lô lần thứ 2 (tháng 5- 1949) được tin hôm trước, mừng sinh nhật Bác Hồ, các tiểu đoàn 11, 54 đã tiêu diệt nhanh gọn hai đồn Đại Bục, Đại Phác thu toàn bộ vũ khí, bắt nhiều tù binh. Thế là chiến sĩ Sông Thao đã mở màn tốt đẹp. Bộ chỉ huy quân đội Pháp mở cuộc hành quân Pô-mô-nơ đánh sâu vào hậu phương ta cốt gây tiếng vang trong dịp chúng bày trò đưa Bảo Đại ra lập cái gọi là “Chính phủ quốc gia Việt Nam”. Nhưng cuộc hành quân này đã bị các đơn vị tiền thân của đại đoàn 308 cùng quân và dân địa phương bẻ gãy, tướng Cốc buộc phải vội vã hạ lệnh cho quân sĩ dưới quyền tháo chạy. Binh đoàn của Cốc rút về đến Lệ Mỹ (Phú Thọ) thì chui vào thế trận bày sắn của ta; mãi đến ngày 30 tháng 5 địch mới thoát vòng nguy hiểm về tới Việt Trì. Bộ chỉ huy Pháp đã thú nhận là chúng bị “nhiền tổn thất” sau những trận đụng độ với ta ở Tràng São, Núi Hét, Tiên Du, v.v…

        Sau trận này, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, chúng tôi lại chuẩn bị cho tiểu đoàn 79 và một khẩu đội sơn pháo cấp tốc ngược Yên Bái để có thêm lực lượng phát huy thắng lợi của chiến dịch Sông Thao.

        Cuộc tiễn đưa diễn ra nhanh gọn. Tuy không bùi ngùi nhưng nỗi băn khoăn đến sốt ruột trỗi dậy trong nếp nghĩ của tôi sau buổi chia tay này: Bao giờ thì hình thành hoàn chỉnh đại đoàn về mặt tổ chức!

        Nhưng rồi nỗi băn khoăn đó chẳng có điều kiện tồn tại lâu. Bởi lẽ có rất nhiều việc xảy ra sau đó đòi hỏi những người chỉ huy chúng tôi phải nghĩ tới, phải tìm biện pháp giải quyết. Và còn bởi một lẽ rất quan trọng là trải qua năm tháng được Đảng giáo dục và qua thực tế đâu tranh vũ trang với địch, tôi đã dần dần nghiệm ra rằng sức mạnh của một quân đội không phải chỉ là người đông với những đại đoàn này, quân đoàn nọ mà điều chủ yếu là ở trình độ giác ngộ chính trị, là ý thức tổ chức kỷ luật của nó. Muốn như thế, không có cách nào khác hơn là phải biết kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với xây dựng, và “chỉ có xây dựng trong cơn thử lửa chiến tranh nhân dân, một đơn vị mới vững vàng và chóng trở thành tinh nhuệ”.

        Nghĩ như vậy, tôi thấy mình yên tâm và tự tin hơn, càng thất những dự kiến phải làm tiếp theo là rất cần thiết. Sau khi tiễn đưa tiểu đoàn 79 lên đường, tôi tranh thủ triệu tập các đồng chí tiểu đoàn trưởng còn lại họp kiểm điểm rút kinh nghiệm các trận chiến đấu vừa qua để đặt nền móng cho việc kết hợp giữa xây dựng và chiến đấu trong quá trình xây dựng đại đoàn.

        Cuộc họp rút kinh nghiệm diễn ra hào hứng và sôi nổi. Nhiều ý kiến nhận xét phân rõ đúng sai được anh em phát biểu với một tinh thần thẳng thắn và dứt khoát…

        Mọi người như đã hết ý kiến, tôi mới đứng lên nói những suy nghĩ của mình như là điều tâm sự với anh em về trận đánh vừa qua: mình cũng thấy tiếc! Lẽ ra trận đánh khuýp chặt được địch thì ăn to. Thực tế diễn ra chứng tỏ ta phán đoán đúng ý đồ của địch nhưng đi vào cụ thể ta còn khuyết điểm về tổ chức chỉ huy. Ở Phan Lương, đúng là do ta tổ chức trinh sát, bám địch kém nên bộ đội vất vả mò mẫm suốt đêm vẫn không thấy địch, sáng ra ta thấy địch vẫn ở quanh khu vực này…

        Tổng kết chiến dịch Sông Lô qua bảy ngày đêm chiến đấu, ta đã diệt 800 tên, bắn rơi hai máy bay, đánh chìm hai sà lan địch... Đó là một con số đáng khích lệ. Nhưng với tôi, điều tâm đắc lại là những bài học về tổ chức xây dựng lực lượng như thế nào để bảo đảm bộ đội đánh tập trung tốt?- Tất nhiên sẽ có nhiều việc phải làm nhưng trước hết cần nhanh chóng tạo cho đơn vị thống nhất về mặt tổ chức kỷ luật; phải duy trì- nhất là đối với cán bộ, một ý thức nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh. Đó là điều kiện vật chất ban đầu có tác dụng góp phần quan trọng- nếu không nói là quyết định, tạo nên các mặt thống nhất khác. Nếu không như thế thì dù đơn vị có biên chế đầy đủ người và vũ khí cũng khó phát huy được sức mạnh để đánh địch và thắng địch.

        Chiến dịch Sông Lô và Sông Thao vừa kết thúc, thì chúng tôi được lệnh của Bộ trở lại hậu cứ Thái Nguyên để chính thức bắt tay vào công việc xây dựng đại đoàn.

        Vẫn lại con đường đất đỏ xuyên ngang căn cứ địa Việt Bắc với những địa danh quen thuộc mà chúng tôi đã đi qua: Bến Hiên, phà Bình Ca, châu Sơn Dương (huyện Tân Trào ngày nay), Đèo Khế, v.v… Thời gian lúc này đã là mưa rừng tháng 7. Mưa xối xả trút nước xuống đoàn quân gần như không mũ, không áo mưa, quần áo sũng nươc suốt ngày. Nhưng khí thế chiến thắng đã cổ vũ tất cả mọi người vượt qua mọi khắc nghiệt của thời tiết, đảm bảo hành quân tới đích đúng thời gian, đủ quân số.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:36:16 PM

        Ổn định xong chỗ ăn ở của các đơn vị, tôi và anh Cao Văn Khánh lên gặp đồng chí đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận chỉ thị cụ thể về xây dựng đại đoàn. Cơ quan Bộ Tổng tư lệnh hồi đó đóng ở khu Cù Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Qua những trạm gác được bố trí nghiêm mật và chỉ được đi theo những con đường được quy đinh do các đồng chí cảnh vệ trực tiếp dẫn, chúng tôi mới tới được khu làm việc của cơ quan Bộ. Vừa đặt chân tới nơi, chúng tôi đã được hưởng ngay cái không khí thoải mái như của một nơi không có chiến tranh. Những ngôi nhà làm theo kiểu chuôi vồ nằm rải trên một khu đồi thoai thoải, ẩn dưới tán lá rừng rậm nhưng thoáng mát, khang trang. Không khí làm việc ở đây trang nghiêm mà ấm áp, hồ hởi. Chúng tôi không tìm thấy dấu hiệu gì là tạm bợ cả. Nhưng đồng thời lại thấy rất rõ một điều nổi bật là tất cả đều trong tư thế chiến đấu, tất cả đều sẵn sàng rời khỏi khu nhà ấm cúng này khi có lệnh.

        Đồng chí Tổng tư lệnh vẫn mái tóc đen dày chải ngược về phía sau; vẫn nước da trắng nhưng hơi xanh- có lẽ vì sốt rét. Nhưng vóc dáng đồng chí chắc khỏe hơn so với hồi cuối năm 1946 mà tôi đã nhiều lần gặp khi đồng chí đi kiểm tra mặt trận Hà Nội.

        Đại tướng ra tận cửa phòng làm việc thân mật bắt tay và đưa chúng tôi vào nhà.

        Sau khi hỏi tình hình sức khỏe của chúng tôi và nghe chúng tôi báo cáo tóm tắt diễn biến hai chiến dịch Sông Lô, Sông Thao, đồng chí Tổng tư lệnh bàn ngay vào công việc xây dựng đại đoàn.

        Trước hết đại tướng phân tích cục diện chiến tranh đang chuyển biến có lợi cho ta, vì vậy, nhiệm vụ quân sự cần kíp lúc này là phải nỗ lực thực hiện tốt phương châm chiến lược của Đảng; phải “đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược của địch, cắt đứt các đường giao thông quan trọng”. Phải “từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận một cách mạnh bạo hơn” (Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trun ương lần thứ VI). Vì vậy trong thời gian tới ngoài việc phát triển mạnh mẽ, rộng khắp lực lượng dân quân du kích, phát triển và củng cố bộ đội địa phương, cần đặc biệt coi trọng phát triển bộ đội chủ lực, xây dựng các binh đoàn tập trung cơ động đánh địch ở các chiến trường quan trọng…

        Về việc thành lập đại đoàn, đồng chí Tổng tư lệnh chỉ thị: Quân số của đại đoàn này lấy lực lượng chủ lực của Bộ là trung đoàn 308 làm nòng cốt, có bổ sung thêm các tiểu đoàn 79,322, 626 của Liên khu Việt Bắc và Liên khu III, sau đó bổ sung thêm tân binh và vũ khí. Nhưng cũng không ngồi chờ có đầy đủ quân số và vũ khí rồi mới hình thành tổ chức đại đoàn. Tất cả những điều ta mong muốn là cần thiết nhưng phải có thời gian. Bộ đã chỉ thị cho các Liên khu tích cự đóng góp “hùn vốn” nhưng không nên cầu toàn, trước mắt có bao nhiêu lực lượng cần nắm chắc để “làm vốn” ban đầu, rồi vừa chiến đấu vừa xây dựng, dần dần bổ sung hoàn chỉnh biên chế một đại đoàn mạnh…

        Chúng tôi có cảm tưởng đây không phải là vị đại tướng ra lệnh cho cấp dưới theo quy cách thông thường của một đội quân chính quy, mà là một buổi tọa đàm trao đổi ý kiến về công việc rất thân mật, dân chủ mà cũng rất nghiêm túc.

        Niềm tin tưởng vào tương lai và sự say sưa với công việc hiện rõ trên khuôn mặt của đồng chí Tổng tư lệnh đã truyền cảm mạnh mẽ đến chúng tôi, như tiếp thêm sức cho chúng tôi để làm tốt nhiệm vụ Đảng trao cho.

        - Các anh thấy còn ý kiến gì trao đổi nữa không?- Đại tướng hỏi.

        - Các việc như vậy đã rõ. Chúng tôi hứa quyết tâm làm tốt những điều mà Bộ đã chỉ thị- Tôi đáp.

        Đại tướng cười tỏ vui vẻ hài lòng và nói tiếp:

        - Tình hình đang rất khẩn trương, không có thời gian để bàn bạc nhiều. Các đồng chí về triển khai ngay công việc, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Cần hết sức coi trọng chất lượng, bảo đảm khi có lệnh là toàn đại đoàn nhanh chóng lên đường đi chiến đấu và chiến đấu tốt.

        Trước khi chúng tôi trở lại đơn vị, đại tướng nói thêm: Về số hiệu sẽ lấy số hiệu trung đoàn 308 làm số hiệu đại đoàn, vì trung đoàn này là lực lượng nòng cốt đầu tiên của đại đoàn. Bộ cũng đã nhất trí tặng danh hiệu đại đoàn Quân Tiên Phong cho đại đoàn đồng chí với ý nghĩa đây là đại đoàn chủ lực đầu tiên của toàn quân.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:39:11 PM

        Chúng tôi ra về mang theo một niềm tin tưởng mãnh liệt, một niềm phấn khởi không nói thành lời. Vừa đến Phúc Trìu, chúng tôi tiến hành họp Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn để thảo luận kế hoạch cụ thể thực hiện chỉ thị của Bộ, trong khi tình hình tổ chức đại đoàn vẫn còn đang chuyển động. Những đơn vị thuộc các Liên khu được lệnh bổ sung cho đại đoàn vẫn đang trên đường về thì lại có những đơn vị được lệnh đi chiến đấu: tiểu đoàn 23 lên Đông Bắc, tiểu đoàn 29 xuống Trung Du… Có thể nói từ khi Bộ giao nhiệm vụ nghiên cứu thành lập đại đoàn, chưa lúc nào chúng tôi tập trung được đầy đủ các đơn vị.

        Với đặc điểm như vậy, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn đã nhất trí phương châm công tác lãnh đạo và chỉ đạo lúc ấy là không cầu toàn, có bao nhiêu quân số, đơn vị hãy cứ sắp xếp biên chế bấy nhiêu, nhanh chóng ổn định tổ chức từng đơn vị, bộ phận đã có đủ điều kiện, tiến tới ổn định toàn bộ.

        Vì đây là đại đoàn chủ lực đầu tiên, nên Bộ chỉ thị cần tổ chức tốt lễ ra mắt động viên khí thế cán bộ, chiến sĩ đại đoàn, đồng thời cũng là dịp báo cáo thành tích với toàn dân và toàn quân về sự trưởng thành của quân đội. Quán triệt tinh thần ấy, Đảng uỷ quyết nghị thành lập ban tổ chức lễ thành lập đại đoàn. Riêng tôi được phân công trực tiếp huấn luyện đội ngũ để tiến hành diễu binh trong buổi lễ ra mắt đó.

        Có thể nói thời gian này thật là vất vả, ngày đêm bù đầu vào công việc. Trong khi lo biên chế sắp xếp các đơn vị, lo tổ chức lễ ra mắt, lo chương trình huấn luyện quân sự cho bộ đội, đồng thời chúng tôi vẫn phải có bộ phận đi chuẩn bị chiến trường để khi có lệnh của Bộ là lên đường được ngay.

        Với tinh thần phấn khởi về sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang, với tinh thần mong sớm có “quả đấm thép” để có đánh to thắng lớn nên chỉ trong một thời gian ngắn chưa đầy một tháng, toàn bộ cơ cấu tổ chức của một đại đoàn đã được hình thành. Và cái ngày đầy ý nghĩa phải đến đã đến. Ngày 28 tháng 8 năm 1949, lễ chính thức thành lập đại đoàn đã được tổ chức trọng thể tại Phố Đu- thị trấn của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, có đông đảo nhân dân quanh vùng đến dự, có cấp trên đến chứng kiên và giao nhiệm vụ.

        Trên bãi cỏ rộng nằm kề đường số 3, một kỳ đài lớn được dựng lên kết toàn bằng lá rừng. Một cổng chào với hai cột trụ cao to cũng kết toàn bằng lá được dựng ở lối ra vào đầu bãi. Cuối bãi- đối diện với cổng chào nổi lên một bức vẽ do các hoạ sĩ nghiệp dư của đại đoàn thể hiện biểu tượng đại đoàn Quân Tiên Phong với hình ảnh một chiến sĩ xung kích tay xách súng trường lắp lưỡi lê sáng quắc lao vào đồn giặc bốc lửa.

        Các đơn vị được xếp theo đội hình hàng ngang đối diện với lễ đài. Chỉ có khuôn mặt mọi người là thống nhất, rạng lên những nét tin tưởng, tự hào, phấn khởi và hồi hộp chờ đợi giờ phút lịch sử sắp đến với cuộc đời chiến đấu của mình, đang mong mỏi, đợi chờ cấp trên chứng kiện sự lớn lên của mình và giao nhiệm vụ cụ thể cho mình… Còn quần áo, giày mũ, súng đạn thì đủ kiểu, đủ loại với nhiều màu sắc khác nhau. Ngoài những bộ quân phục màu xanh còn thơm mùi vải mới vừa được quân nhu của Bộ cấp phát, lẻ tẻ còn có những đơn vị, những cá nhân mặc quần áo tự túc do gia đình tiếp tế hoặc quần áo chiến lợi phẩm lấy được của địch. Chất lượng cùa quần áo tự túc phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình, vì thế mà nó rất phong phú; có đồng chí mặc loại vải ka ki đắt tiền may kiểu cầu kỳ, có đồng chí mặc loại vải rẻ tiền màu nâu may theo kiểu tiện y (quần áo dùng phổ biến ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám), v.v…

        Riêng tôi vinh dự được phân công chỉ huy cuộc diễu binh, nên anh em trong cơ quan rất quan tâm đến trang phục của tôi. Ý kiến tham gia nói chung là rất rôm rả, nhưng cuối cùng vẫn chỉ có bộ âu phục ka ki màu vàng như quân phục hè hiện nay, đã mặc nhiều lần, mũ cứng bọc ka ki mua ở cửa hàng làm mũ tự nhân và đôi ủng da chiến lợi phẩm.

        Đến giờ khai mạc, đội kèn đồng của Bộ cử xuống do đồng chí Đinh Ngọc Liên chỉ huy, vận quần áo ka kai màu xám, đội mũ ca- lô cũng màu xám, chân đi giày da, vung kèn theo động tác thống nhất, thổi bài kèn chào khi đồng chí Trần Đăng Ninh- đại diện Chính phủ và đồng chí Tổng tư lệnh bước vào lễ trường.

        - Nghiêm!- Tôi hô rất to.

        Hàng quân im lặng, không động đậy.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:41:01 PM

        Tôi đứng nghiêm theo hàng quân, quay mặt về phía lễ trường, mắt nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trong gió sớm mà nhoà đi vì xúc động. Biết bao hy sinh của đồng bào đồng chí, biết bao công sức bù trì của Đảng, của dân mới có được đứa con đầu lòng lớn mạnh hôm nay. Niềm vui sướng bị dồn nén cứ muốn bật tung ra vì những mơ ước nhỏ nhoi xưa, nay đã thành sự thật gấp nhiều lần. Được Đảng giáo dục chỉ lối, tôi tham gia cách mạng, qua những năm tháng tù đầy ở Hoả Lò, ở căng Bá Vân, ở Nghĩa Lộ, lúc ấy những người tù chính trị của đế quốc, chúng tôi chỉ ước gì có được một đội quân nhỏ thôi, một tiểu đội, một trung đội với một ít vũ khí để vượt ngục, lập chiến khu, khởi nghĩa giành chính quyền. Giờ đây cả nước ta đã có cả một đạo quân mạnh gấp ngàn, vạn lần, có biết bao dân quân du kích, có biết bao đại đội độc lập, tiểu đoàn và trung đoàn tập trung, nay lại có cả đại đoàn chủ lực cơ động. Sung sướng biết nhường nào!

        Phấn khởi, tự hào và trách nhiệm cứ xáo trộn trong tôi, tạo thành sức bật mới trong tôi kể từ cái giờ phút lịch sử khó quên này.

        Buổi lễ được cử hành theo đúng chương trình đã định. Đại diện Đảng và Chính phủ, đồng chí Trần Đăng Ninh bước lên lễ đài, đưa cặp mắt hiền hậu nhìn bao quát hàng quân rồi ôn tồn nói: các đồng chí rất xứng đáng là đơn vị mà Đảng, Chính phủ và nhân dân đặt nhiều tin cậy. Hồ Chủ tịch vũng rất vui lòng về những cố gắng trong xây dựng, những gương dững cảm trong chiến đấu của các đồng chí… Càng nói giọng đồng chí càng trầm lắng tình cảm. Đồng chí nói về ý nghĩa thành lập đại đoàn, về vinh quang và trách nhiệm củ đại đoàn trong giai đoạn mới, và cuối cùng đồng chí nhấn mạnh chỉ có học tập tốt, chiến đấu tốt và phải hết sức khiêm tốn thì mới xứng đáng là danh hiệu đại đoàn Quân Tiên Phong.

        Những điều đồng chí Trần Đăng Ninh thay mặt Đảng và Chính Phủ căn dặn là những điều mà chúng tôi nhớ mãi, mang theo nó, vận dụng và thực hiện nó một cách nghiêm túc trong quá trình xây dựng đại đoàn.

        Khác với lần gặp ở Cù Vân, hôm nay đồng chí Võ Nguyên Giáp mặc lễ phụ ka ki màu vàng (tất nhiên lễ phục hồi ấy không giống kiểu lễ phục ngày nay), cổ thắt cra-vát màu đen, đi giày da đen, đội mũ cứng bỏ quai có đính quân hiệu hình tròn sao vàng, nền đỏ, viền vàng xung quanh, nhưng vai không đeo cấp hiệu.

        Đồng chí Tổng tư lệnh bước lên lễ đài trước cái nhìn chăm chú và trìu mến của hàng quân đứng dưới. Một phút im lặng- nghiêm trang nhưng lại chứa chan tình cảm chan hòa dân chủ và bình đẳng của một đội quân cách mạng.

        Giơ tay chào hàng quân rồi với nét mặt thân mật, cởi mở, với giọng nói miền Trung ấm áp, đồng chí đại tướng đọc nhật lệnh phân tích sâu sắc về thế ta đang đi lên, thế địch đang đi xuống và đang sa vào bị động… Sự ra mắt của đại đoàn 308 hôm nay là một cột mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự lớn mạnh của quân đội đang chuyên từ phân tán đến tập trung, từ đánh du kích tiến lên đánh vận động…

        Đoàn quân vẫn trong tư thế đứng nghiêm nghe đại tướng đọc nhật lệnh giao nhiệm vụ. Giọng của đại tướng mạnh dần, dứt khoát như có cái gì thúc giục: đại đoàn Quân Tiên Phong phải xứng đáng la con chim đầu đàn; phải hễ đánh là thắng; phải có nhiệm vụ cùng với cá binh đoàn chủ lực khác đi tiên phong trên con đường tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch…

        Tiếng hoan hô vang dậy lan xa đập vào vách núi dội lại càng làm cho không khí buổi lễ sôi nổi, náo nhiệt nhưng rất trật tự khi đại tướng Tổng tư lệnh bước xuống lễ đài thân mật trao cho tôi, thay mặt đại đoàn nhận lá cờ thêu hai chữ “Chiến thắng”.

        Tôi hiểu rất rõ ý nghĩa phần thưởng này- tất cả cho chiến thắng.

        Và cũng thật nhanh, trong tâm khảm tôi lại trỗi dậy những suy tư muốn tâm sự với các đồng chí cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Thủ đô nay là một thành viên của đại đoàn 308: các đồng chí hẳn còn nhớ khi chúng ta rút khỏi Thủ đô mang theo tâm trạng gì không? Chúng ta lưu luyến, chúng ta băn khoăn sao rút ra khỏi Liên khu I sớm thế, và bao giờ về lại Thủ đô? Thì hôm nay đây, chúng ta đã bắt đầu lần gỡ được câu trả lời. Hơn hai năm - từ tháng 2 năm 1947 đến tháng 8 năm 1949, chúng ta đã đi được một đoạn đường không ngắn lắm. Từ một trung đoàn Thủ đô ngày ra đi, mọi thứ đều thiếu thốn, hôm nay chúng ta đứng trong đội ngũ một đại đoàn. Nhận cờ Chiến thắng của Bộ trao cho, tôi đã hiểu và chắc các đồng chí cũng hiểu là phải chiến thắng và chỉ được phép chiến thắng. Đó là con đường về Thủ đô của chúng ta- Về trong chiến thắng.Đúng là ngày về phải là ngày Thủ đô chiến thắng quân thù mà chúng ta đã cùng với đồng chí đại tướng Tổng tư lệnh hứa hẹn quyết tâm trong buổi liên hoan ở làng Thượng Hội mừng trung đoàn Thủ đô hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở Liên khu I.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:42:36 PM

        Với một nước công nghiệp phát triển, việc lập một binh đoàn cơ động chiến lược chẳng phải là một chuyện gì khó khăn. Nhưng ở nước ta, từ tay không đứng lên chống chọi với đạo quân xâm lược nhà nghề của một đế quốc mạnh, bốn bề đang bị chúng bao vây, thì đây lại là một sự kiện lớn. Cũng vì thế mà toàn quân, toàn dân ta đều vui mừng, tự hào khi nhận được tin thông báo phát trên đài phát thanh, đăng trên báo: Đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta ra đời mang danh hiệu đại đoàn Quân Tiên Phong. Các chiến trường Khu III, Khu IV, Khu V, cực Nam Trung Bộ, đến Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ xa xôi, gửi về cho chúng tôi những bức điện, những lá thư mang theo những tình cảm tha thiết, chia vui với chúng tôi, chân thành, nhắc nhở chúng tôi, phải làm sao cho xứng danh đại đoàn chủ lực đầu tiên của toàn quân.

        “… Đại đoàn Quân Tiên Phong là tượng trưng, là hình ảnh sự trưởng thành của quân đội ta từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh” (trích thư một đơn vị Nam Bộ).

        “Quân Tiên Phong, con chim đầu đàn vừa xuất hiện đã làm chúng tôi vui sướng và tin tưởng biết chừng nào…, con chim ấy nhất định sẽ bay cao và bay xa, bay đi mãi, đi khắp chiến trường, khắp đất nước và làm cho quân thù phải khiếp sợ” (trích thư của một đơn vị Liên khu V).

        Tổng bộ Việt Minh gửi tặng đại đoàn thanh kiếm mang tên “Dân tộc”.

        Quốc hội tặng thanh kiếm khắc bốn chữ “Mã đáo thành công”, chúc đại đoàn đánh đâu thắng đấy.

        Đáp lại tất cả những lời chúc mừng chân thành và đẹp đẽ đó, tôi thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn. Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn, viết thư cảm ơn các cơ quan, đoàn thể, chính quyền, các đơn vị, nhắc lại lời hứa trong ngày lễ thành lập đại đoàn: Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; đẩy mạnh xây dựng đại đoàn lớn mạnh; đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân; chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị và mệnh lệnh của cấp trên; bất cứ nhiệm vụ gì trên trao cho cũng hoàn thành; khó khăn gì cũng tự khắc phục; đánh là thắng.

        Đại đoàn Quân Tiên Phong ra đời trong dịp kỷ niệm lần thứ IV cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám; giữa lúc cuộc Kháng chiến trường kỳ đã vượt qua mùa đông lạnh lẽo bước sang mùa xuân ấm áp. Tuy nhiên về thực lực thì đại đoàn mới sắp xếp biên chế được hai trung đoàn bộ binh tương đối hoàn chỉnh: trung đoàn 88 gồm ba tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 23, 29, 322) và một tiểu đoàn phóng pháo- tiểu đoàn 38 (gồm một đại đội 120mm và hai đại đội phóng pháo 187mm- Kiểu súng cối cỡ lớn do Quân giới ta sản xuất, nòng pháo là một ống oxygene, có đường kính 187mm, đạn tự chế tạo nặng 35kg, có sức công phá tương đối lớn, tầm bắn xa có hiệu quả tốt 2.000m) và trung đoàn 102- tức trung đoàn Thủ đô gồm ba tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 18, 54, 79) và một tiểu đoàn phóng pháo- tiểu đoàn 69 (gồm một đại đội 120mm và hai hai đại đội pháo 187mm).

        Vốn ban đầu tuy còn ít ấy nhưng vẫn không cản bước mọi người.

        Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn chúng tôi họp ha quyết tâm: động viên tất cả cán bộ, chiến sĩ dốc sức vào xây dựng, vừa xây dựng vừa chiến đấu, đưa đại đoàn tiến lên làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang mà nhân dân và Tổ quốc giao phó.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:46:29 PM

        Mặt trận Biên giới

        Năm 1950, cuộc kháng chiến, cứu nước của nhân dân ta đã bước sang năm thứ 5.

        Cục diện chiến tranh lúc này đang chuyển biến mau lẹ có lợi cho ta. Từ năm 1948 đến năm 1950, ta mở 30 chiến dịch nhỏ trên khắp các chiến trường toàn quốc, tiêu diệt và tiêu hao một phần sinh lực địch. Trên chiến trường Việt Bắc (chỉ các tỉnh miền núi thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu X hồi đó: Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn) sau chiến thắng thu đông năm 1947, ta lại liên tiếp thắng địch ở các chiến dịch Sông Lô (5- 1949), Sông Thao (5- 1949), Lê Lợi (11- 1949) và chiến dịch Lê Hồng Phong I đầu năm 1950.

        Như thế là trải qua mấy năm đầu kháng chiến, nhân dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta. Đầu năm 1950, Trung ương nhận định: thế của ta đã mạnh hơn hẳn địch về tinh thần và đang phát triển mạnh mẽ cả về thế lẫn lực. Thế và lực có liên hệ mật thiết với nhau. Thế mạnh có thể tạo nên lực mạnh. Thế và lực hợp lại sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp to lớn.

        Xuất phát từ nhận định tình hình một cách khoa học và biện chứng đó, Trung ương đã đề ra chủ trương “ta cần chiếm ưu thế quân sự trên chiến trường chính” (Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ II của Đảng- họp từ 21- 1 đến 2- 2- 1950) và “ưu thế quân sự đó phải giữ vững và phát triển cho đến toàn thắng”. Trung ương còn đề ra nhiệm vụ quân sự trước mắt là phải “quét lực lượng địch ra khỏi miền biên giới Bắc Bộ”.

        Để thực hiện nhiệm vụ quân sự trước mắt kể trên, tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới. Nhưng chọn khu vực nào để mở chiến dịch trên tuyến biên giới dài gần 1.00 kilômét từ Bát Sát- Lào Cai đến Móng Cái- Quảng Ninh, thì phải đến cuối tháng 7 năm 1950, Trung ương mới quyết định hướng chính là khu vực biên giới thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.

        Để chuẩn bị cho chiến dịch “chỉ được thắng” này, ngay từ đầu năm 1950, Trung ương đã chỉ thị cho Liên khu uỷ Việt Bắc gấp rút chuẩn bị chiến trường Đông Bắc (Các tỉnh biên giới từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Quảng Ninh), cần làm tốt các việc như: “củng cố, phát triển cơ sở chính trị và vũ trang”, “điều tra địch”, “chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh” (Chỉ thị về mở chiến dịch Tây Bắc và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc của Ban Thường vụ Trung ương Đảng). Cùng lúc Trung ương giao nhiệm vụ cho các địa phương trong toàn quốc phối hợp để kiềm chế địch, không cho chúng tiếp viện, đồng thời tiêu hao lực lượng chúng ở địa phương” (Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương về việc phát động “tuần lễ thi đua giết giặc lập công”).

        Về mặt hậu cần, Trung ương đã huy động 121.700 dân công với 1.716.000 ngày công vào việc bắc cầu, sửa đường cũ, làm đường mới, vận chuyển 2.346 tấn gạo, 120 tấn thực phẩm, 200 tấn đạn dược v.v… (Dự thảo tổng kết chiến dịch Biên Giới- Học viện Quân sự) lên tận hoả tuyến phục vụ bộ đội chiến đấu.

        Từ giữa năm 1949, Bộ chỉ huy quân đội Pháp đặc biệt tập trung theo dõi hoạt động của ta ở vùng biên giới Việt- Hoa, chúng có phát hiện một phần nào dấu hiệu chuẩn bị hoạt động quân sự của ta ở vùng này. Nhưng do chỉ đạo hoạt động nghi binh khéo léo của Bộ Tổng chỉ huy ta, những cố gắng của địch vẫn dừng lại ở mức phán đoán sai về ta. Với chiến dịch Lê Hồng Phong I mở hồi tháng 2 năm 1950, ta đã tiêu diệt một phần sinh lực địch, mở ra một vùng giải phóng rộng hàng trăm kilômét vuông ở vùng sông Thao (Sông Hồng đoạn từ Phú Thọ- Lào Cai gọi là Sông Tháo); sau đó trong suốt tháng 3, đầu tháng 4, theo lệnh của Bộ, trung đoàn 102 vẫn ở lại vùng này để cùng phối hợp với bộ đội và dân quân Liên khu X tiếp tục hoạt động, càng làm cho Bộ chỉ huy quân đội Pháp sa vào chủ quan, không phán đoán được chính xác hoạt động quân sự của ta sẽ hướng vào đâu là chính trong thu đông tới. Cho đến đầu tháng 9, trong Bộ tham mưu quân đội Pháp vẫn tồn tại hai ý kiến không phân thắng bại:

        - Đối phương có thể đánh vùng biên giới Đông Bắc.

        - Đối phương có thể tiến công đánh chiếm Lào Cai.

        Thậm chí gần đến ngày chiến sĩ Biên Giới mở màn mà Tổng chỉ huy quân đội Pháp, tướng Carpentier - vẫn còn quả quyết rằng: “Việt Minh chỉ đủ sức mở cuộc tiến công ở phía Lào Cai thôi”.

        Như thế là đại đoàn 308 ra quân lần nay trong một bối cảnh có nhiều thuận lợi rất cơ bản. Niềm vui chiến thắng của chiến dịch Lê Hồng Phong I mà trung đoàn Thủ đô được tham dự góp phần tạo nên cùng với không khí phấn khởi, tin tưởng, tự hào của buổi lễ thành lập đại đoàn vẫn đang hun nóng bầu nhiệt huyết mọi người hăng hái vượt lên phía trước. Và điều quan trọng có ý nghĩa thắng lợi giòn giã của chiến dịch đã được Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy lo liệu một cách khá cụ thể và rất chu đáo.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2016, 06:53:49 PM

        Cuối tháng 4 năm 1950, theo lệnh của Bộ, hai trung đoàn 88 và 102 do anh Cao Văn Khánh chỉ huy ngược lên phía thượng nguồn sông Lô. Thật ra đây là cuộc hành quân mở đầu đi vào chiến dịch nhưng lúc đó chúng tôi không được trên phổ biến trước, mà chỉ được giao nhiệm vụ di chuyển đến địa điểm mới để tiến hành huấn luyện quân sự theo chương trình thống nhất do Bộ quy định…

        Mùa luyện quân qua đi rất nhanh. Tiết trời bắt đầu chuyển dần sang thu. Nước thượng nguồn sông Lô bớt hung dữ, đã trở lại tốc độ chảy hiền lành. Trong lúc cán bộ, chiến sĩ đanh “thi đua” trổ tài “tham mưu con” phán đoán, phân tích để cuối cùng đều có chung một khẳng đinh: thu đông này, chắc lại hướng về Lào Cai, thì Bộ ra lệnh tiếp tục hành quân theo hướng Đông.

        Thượng tuần tháng 8, đại đoàn qua Lũng Cú- Đông Văn- điểm cực bắc của Tổ quốc.

        Từ đây, đại đoàn lại thực sự bước vào một cuộc thử thách mới với thiên cay nghiệt hiếm thấy ở những nơi trước đó đại đoàn đã đi qua.

        Đội hình hành quân lúc thì phải vạch lối tìm đường vượt qua những dáy núi cỏ gianh, lau sậy lút đầu người, hầm hập hơi nóng mặt trời; khi thì phải trườn theo những con đường mon đầy nguy hiểm vừa đủ người đi vắt qua những dãy núi đá trùng điệp, một bên là vách đứng, một bên là vực thẳm, trước mặt là Cổng Trời (là những đèo qua hai hẻm núi, từ xa nhìn tựa như cái cổng thiên nhiên hùng vĩ. Đồng bào địa phương gọi là Cổng Trời) sừng sững, v.v…

        Tất cả những thử thách đó đều đã vượt qua. Chính trên con đường đầy gian khổ và hiểm nghèo này, không khí lạc quan, phấn khởi lại rộ lên, vì ai nấy thấy hướng mình phải đi, đích mình cần tới. Mọi người cười nói râm ran và tự do bình luận:

        - Đây là con đường thông minh.

        - Trung ương Đảng ta tài giỏi thật.

        - Nước cờ ta đi thật cao.

        - Thằng Tây chuyến này hết đường chạy, v.v…

        Cùng thời gian này, tôi được lệnh của Bộ dẫn trung đoàn 36 rời hậu cứ của đại đoàn ở Thái Nguyên lên biên giới. Bộ nhấn mạnh: trung đoàn 36 phải đi nhanh tới đích nhưng phải tuyệt đối giữ bí mật.

        Sau khi trao đổi ý kiến với tiểu đoàn huấn luyện của đại đoàn về kế hoạch ở lại hoạt động nghi binh- đóng giả trung đoàn 36 để lừa địch, đánh lạc hướng theo dõi của chúng, tôi và đồng chí trung đoàn trưởng Hồng Sơn tổ chức gấp cho bộ đội hành quân. Đêm đầu tiên phải đi thật xa khu vực hậu cứ. Sau đó bỏ đường to, xuyên rừng để lên Quảng Uyên (Cao Bằng) là địa điểm tập kết của đại đoàn. Như vậy là hai cánh quân của đại đoàn hành quân trên hai con đường xuyên rừng khác nhau, nhưng cùng có độ dài tương tự trên 300 kilômét, đã tới đích an toàn và bí mật.

        Ở đây xin mở vòng ngoặc nói thêm về tình hình tổ chức đại đoàn. Trung đoàn 36, mãi đến gần chiến dịch Biên Giới, Bộ mới điều về đại đoàn 308. Và cũng từ đây đại đoàn mới hoàn chỉnh về mặt tổ chức, có đủ ba trung đoàn bộ binh. Trước đó trung đoàn 36 chủ lực Liên khu Việt Bắc, còn có tên là trung đoàn Bắc Bắc vì nó thường xuyên hoạt động ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cũ. Trong lúc các đơn vị đang sôi nổi chuẩn bị ngày lễ ra mắt đại đoàn, thì trung đoàn 36 vẫn ngày đêm chiến đấu ở vùng giáp ranh giữa Phúc Yên để mở đường đưa gạo từ vùng địch hậu ra vùng tự do tiếp tế cho bộ đội, vì thời gian này, ta thiếu gạo nghiêm trọng, có đơn vị phải tạm ngừng hoạt động vì không có gạo ăn.

        Đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, tôi thấy lòng mình tràn đầy những bồi hồi, xúc động. Cái hôm qua và cái hôm nay, cái dĩ vãng và cái hiện tại đan vào nhau, bổ sung cho nhau tạo nên mảnh đất đầy tình nặng nghĩa, nghèo về vật chất mà giàu về vận mậnh, về tương lại của dân tộc.

        Con người và cảnh vật Cao Bằng giản dị, khiêm tốn, nhưng lại có quyền tự hạo làm tròn nhiệm vụ cái “nôi” của cách mạng. Mảnh đất đã thay mặt cả nước đón Bác Hồ sau ba chục năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân, trở về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do cho Tổ quốc; mảnh đất mà năm 1941, dưới quyền chủ tọa của Bác, Hội nghị Trung ương lần thứ VIII đã ra nghị quyết vạch ra đường lối đấu tranh vũ trang, chuẩn bị thời cơ và đón thời cơ tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền; mảnh đất mà cuối năm 1944, trung đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ra đời với mấy chục khẩu súng trường, đã đánh thắng giòn giã trận đầu, san bằng hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, v.v…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:12:13 AM

        Và hôm nay- mùa thu năm 1950, Cao Bằng lại là nơi hội tụ của những “Người lính con cháu Bác Hồ” thuộc đơn vị chủ lực mạnh của Bộ và các Liên khu ở chiến trường Bắc Bắc Bộ về đây để cùng với quân dân các tỉnh biên giới Đông Bắc tiến hành một chiến dịch quan trọng. Các đơn vị chủ lực đó là:

        Đại đoàn 308 mang danh hiệu đại đoàn Quân Tiên Phong.

        Trung đoàn 209 mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô vì đã có nhiều thành tích diệt địch trên con sông thân quen này.

        Trung đoàn 174 mang danh hiệu trung đoàn Cao- Bắc- Lạng (Cao Bằng- Bắc Cạn- Lạng Sơn)- vì hầu hết cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn này là con em các dân tộc mà những chiến công của họ lập được cũng ở ngay trên mảnh đất biên cương Đông Bắc của Tổ quốc.

        Tất cả đã có mặt.

        Tất cả đã sẵn sàng.

        Hướng chiến dịch đã rõ, nhưng điểm chiến dịch là đâu?- Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê hay Lạng Sơn thì chúng tôi vẫn chưa được phổ biến. Rõ ràng đây là nghệ thuật chỉ đạo bất ngờ cao nhất mà Trung ương ta đang tiến hành một cách rất thận trọng và thông minh.

        Đúng là điểm công kích của một trận chiến đấu, của một chiến dịch- hơn nữa đây lại là một chiến dịch có quan hệ đế thay đổi cục diện, thay đổi hình thái chiến tranh thì càng phải giữ bí mật tới cùng. Phổ biến sớm quá khó đảm bảo được nhân tố bất ngờ.

        Ngày 2 tháng 8, Bộ chỉ huy mặt trận triệu tập cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên về để nghe phổ biến nhiệm vụ chung của chiến dịch và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị.

        Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, bí thư đảng uỷ và Hoàng Văn Thái chỉ huy trưởng mặt trận lên đây hồi đầu tháng 7 đã có mặt ở phòng họp.

        Ở cuộc họp này, mọi người sáng thêm nhiều điều về hướng chiến dịch. Trong các lần họp hàng năm đề ra hướng hoạt động quân sự thu đông, lần này Trung ương cân nhắc kỹ thấy rằng lực lượng địch ở Đông Bắc mạnh hơn Tây Bắc (Địch chia biên giới thành hai khu: “Khu độc lập” Tây Bắc với 6 tiểu đoàn chốt giữ; “Liên khu biên giới“ Đông Bắc có 11 tiểu đoàn, 9 đại đội chốt giữ, do tên đại tá Công- xtang chỉ huy và đặt sở chỉ huy huy tại thị xã Lạng Sơn để nhận mệnh lệnh trực tiếp của Bộ chỉ huy Bắc Bộ địch ở Hà Nội) nhưng vẫn quyết định Đông Bắc là hướng chính, Tây Bắc là hướng nghi binh phối hợp. Nếu xét về mặt binh lực đơn thuần, tưởng như hướng chiến dịch nhằm vào chỗ mạnh của địch- như vậy khó bảo đảm thắng lợi hoặc sẽ không có thắng lợi giòn giã. Nhưng thực ra đây lại là một quyết định táo bạo và thông minh, dựa trên những căn cứ khoa học của nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch. Trước hết ta đánh vào nơi địch ỷ lại vào binh hoả lực mạnh nên rất chủ quan, hiểu sai về ta, càng tạo được nhân tố bất ngờ một cách  tối đa. Như thế địch sẽ trở thành yếu. Sau nữa, quan niệm vè ưu thế của ta không phải chỉ là chủ yếu dựa vào binh hoả lực, mà phải là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố quân sự, chính trị, kinh tế. Đúng là ở Đông Bắc địch đông hơn hai lần số lượng địch ở Tây Bắc, nhưng ở đây ta lại có ưu thế hậu phương, sức người sức của ta dồi dào, có điều kiện huy động lớn vào việc phục các yêu cầu thắng lợi của chiến dịch.

        Sự phân tích trên đây của Bộ chỉ huy mặt trận càng làm cho quyết tâm chiến đấu của chúng tôi nhân lên nhiều lần. Không khí cuộc họp sôi nôi và khẩn trương. Chúng tôi không kịp bắt tay tạm biệt nhau, vì ai nấy, sau khi cuộc họp kết thúc, đều ba chân bốn cẳng trở về đơn vị lo tổ chức thực hiện nhiệm vụ mà Bộ chỉ huy mặt trận vừa giao.

        Đại đoàn Quân Tiên Phong được giao nhiệm vụ mở màn chiến dịch, đánh vào thị xã Cao Bằng.

        Lần đầu tiên được giao nhiệm vụ tiến công vào một thị xã tuy có nhiều khó khăn nhưng không ai trong chúng tôi bàn lùi mà chỉ bàn tới.

        Bộ chỉ huy đại đoàn tổ chức một đoàn cán bộ đến cấp đại đội đi nghiên cứu thực địa quanh thị xã Cao Bằng. Đứng ở đài quan sát tiền phương của đại đoàn, trên một ngọn núi cao kín đáo, có tầm nhìn xa, chúng tôi thấy Cao Bằng là một thị xã to đẹp ở vùng biên giới phía bắc của Tổ quốc. Hai con sông Bằng và sông Hiến kẹp chặt hai sườn và gặp nhau ở phía bắc thị xã. Sông nước ôm vòng ba mặt đông, tây và bắc, chỉ còn hở một khoảng rất hẹp thì ngay tại chỗ hẹp ấy là thành Cao Bằng, xây từ thủa xưa trên một quả đồi thấp; thành này có tường cao bao bọc, nổi trên mặt đất có nhiều công sự kiên cố, dưới là hệ thống đường ngầm và công sự ngầm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:14:26 AM

        Sử dụng lực lượng đánh vào thị xã Cao Bằng như thế nào đây cho thích hợp? Tôi tự hỏi mình như vậy, nhưng ngay lúc ấy thấy khó có câu trả lời chính xác- đạt cả tình lẫn lý. Ở đây không có vấn đề gì về quyết tâm, bởi lẽ cả ba trung đoàn đều sẵn sàng xung phong nhận nhiệm vụ ở nơi khó khăn nhất.

        Bộ chỉ huy đại đoàn đã dựa trên sở trường, truyền thống và cả tình cảm của người chỉ huy để phân công nhiệm vụ cụ thể:

        Trung đoàn trưởng Thái Dũng- người con của thị xã Cao Bằng có nhiệm vụ chỉ huy trung đoàn 88 đánh vào Cao Bằng.

        Trung đoàn 102 ít nhiều có kinh nghiệm chiến đấu trên đường phố Thủ đô cuối năm 1946, có nhiệm vụ đánh các mục tiêu địch nằm ở khu vực thị xã.

        Trung đoàn 36 có truyền thống đánh vận động ở chiến trường trung du, làm nhiệm vụ đánh quân nhảy dù.

        Khác với khi nhận nhiệm vụ chỉ huy mặt trận Hà Nội (hồi ấy tôi có nhiều băn khoăn lo lắng), lần này tuy biết rằng đánh vào thị xã Cao Bằng sẽ không dễ dàng nhưng tôi lại rất phấn khởi và tin tưởng. Bởi lẽ đại đoàn đã trải qua nhiều trận chiến đấu, đã có kinh nghiệm nhất định về kỹ thuật, chiến thuật, về tổ chức chỉ huy, v.v… Nhất là qua chiến dịch Lê Hồng Phong I, với sáu ngày đêm tiến công vây hãm, tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Phố Lu (Lào Cai), chúng tôi đã thu được những bài học bổ ích về chiến thuật công đồn (sau gọi là chiến thuật công kiên, và nay gọi là chiến thuật tiến công cứ điểm). Thêm vào đó, đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn vừa hoàn thành một đợt huấn luyện cơ bản ở thượng nguồn Sông Lô. Có thể nói bài học quý báu rút ra từ thực tiễn chiến đấu, cộng với trình độ kỹ thuật, chiến thuật được nâng lên qua đợt luyện quân tập trung là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo thành sức mạnh để đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch này.

        Trong lúc bộ chỉ huy đại đoàn cử cán bộ đi kiểm tra lần chót về công tác tổ chức chỉ huy chiến đấu; trong lúc các đơn vị đang chuyển động, hành quân vào vị trí tập kết chiến đấu, hình thành cái thòng lọng thắt toàn bộ quân địch ở thị xã Cao Bằng lại, không cho chúng thoát; trong lúc toàn thể cán bộ, chiến sĩ đại đoàn Quân Tiên Phong quên hết mệt nhọc, không sợ hy sinh, phấn khởi chờ đón ngày N- ngày nổ súng, cũng vui sướng hồi hộp như chờ đón cái đêm giao thừa, thì chứng tôi nhận được điện khẩn: hoãn tiến công, cán bộ từ trung đoàn trở lên về Sở chỉ huy mặt trận nhận lệnh mới.

        Niềm vui của mọi người bỗng nhiên bị nén lại, hàng loạt câu hỏi được nêu ra kèm theo tiếng thở dài:

        - Sao! Sao lại không đánh Cao Bằng nữa?

        - Hướng chiến dịch thay đổi?- Vì sao?

        - Uổng quá! Bao nhiêu sông sức chuẩn bị, v.v…

        Thắc mắc nêu kên ai cũng muốn có một lời giải đáp, nhưng không ai có khả năng làm việc đó trong lúc này.

        Ngày 24 tháng 8, chúng tôi về lại Sở chỉ huy mặt trận với một tâm trạng băn khoắn, thắc mắc hơn là phấn khởi…

        Sở chỉ huy mặt trận vẫn ở địa điểm cũ thuộc huyện Nước Hai, cách thị xã Cao Bằng hơn 10 kilômét về phía tây bắc. Chỉ khác là lớp cỏ gianh trên những lán dã chiến đã héo khô ngả màu xám mốc. Chỉ khác là không khí làm việc của các bộ phận giúp việc Bộ chỉ huy mặt trận tất bật và khẩn trương hơn trước.

        Một tin vui chưa được chính thức thông báo cứ bí mật truyền đi: Bác Hồ đã lên. Mọi người tự nhiên thấy mình nhẹ nhõm, đầu óc thảnh thơi, râm ran rỉ tai nhau bàn tán: “Cụ” lên là hết thắc mắc.

        Đến giờ họp.

        Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, hình như đã chờ chúng tôi từ lâu, ra cửa lán thân mật bắt tay chúng tôi.

        Và mọi việc như đã chuẩn bị kỹ, sau khi hỏi thăm sức khỏe bộ đội, các đồng chí dẫn chúng tôi vào phòng họp và bắt đầu vào việc ngay.

        Chúng tôi đứng vây quanh tấm bản đồ trải rộng, vẫn là tấm bản đồ quân sự, tỷ lệ 1/500.000 thuộc địa phận hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.

        Nhìn tấm bản đồ quen thuộc, mọi người thở phào nhẹ nhõm, tất cả những băn khoăn nhỏ còn đọng lại đến đây đã hoàn toàn tan biến.

        - Vân Cao- Lạng chứ không phải Lào Cai!- Tôi tự nhủ thầm.

        Phòng họp nhanh chóng trở lại yên lặng, tất cả chúng tôi đều hướng về phía các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái để đón nhận nhiệm vụ mới.

        Như hiểu thấu nỗi băn khoăn của những người đã được chuẩn bị đầy đủ, mọi thứ đã sẵn sàng mà không được đánh, đồng chí Võ Nguyên Giáp nói:

        - Bộ chỉ huy mặt trận triệu tập các đồng chí về đây để giao nhiệm vụ mới, nhưng vẫn ở địa bàn cũ…

        Không khí phòng họp bỗng trang nghiêm khác thường. Mọi người gần như nín thở chờ đón đồng chí bí thư Đảng uỷ mặt trận nói tiếp những điều mình đang chờ đợi- muốn biết cụ thể nhiệm vụ mới đó là gì?


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:15:22 AM

        Với phong thái đàng hoàng chững chạc, đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng dậy, chỉ tay vào bản sơ đồ tình huống (sơ đồ thể hiện hình thái bố trí giữa ta và địch; thể hiện diễn biến chiến đấu giữa ta và địch bằng những ký hiệu quân sự) trải rộng trước mặt, rồi nói tiếp, với nhịp điệu vừa phải nhưng mạch lạc, dứt khoát- như có cái gì thúc giục: Sau khi nghe bộ phận quân báo tiền phương báo cáo về tình hình địch mới nhất; sau khi đi nghiên cứu thực địa lần cuối cùng; sau khi báo cáo và được Ban Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn y, Bộ chỉ huy mặt trận quyết định thay đổi quyết tâm- lấy Đông Khê là mục tiêu tiến công mở màn của chiến dịch, chứ không phải là thị xã Cao Bằng như đã phổ biến trước đây cho các đồng chí.

        Sức tập trung nghe như bị trùng lại trong vài giây, tâm trí mọi người đổ dồn chú ý của mình vào cứ điểm Đông Khê đã được vẽ to trên tấm bản đồ tình huống, xem nhiệm vụ của đơn vị mình nằm hướng nào ở cái cứ điểm này.

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp lại tiếp tục phân tích: Với tinh thần chuẩn bị như hiện nay; với khí thế sôi nổi thi đua lập công như hiện nay của các đơn vị, chúng ta hoàn toàn và nhất định đánh thắng địch đang đóng giữ thị xã Cao Bằng, nhưng sẽ gặp phải khó khăn vì Cao Bằng là điểm mạnh của địch, ở đây quân đông, có hệ thống phòng thủ kiên cố. Hơn nữa, điều này mới quan trọng, mới đáng để chúng ta suy nghĩ đi đến thay đổi quyết tâm chiến dịch là đánh vào thị xã này không gây được rung chuyển mạnh mẽ toàn bộ tuyến phòng thủ vùng Đông Bắc, bởi vì thị xã Cao Bằng là vị trí đột xuất nằm ở cuối đường chiến lược số 4 và là vị trí cuối cùng trên tuyến phòng thủ biên giới của địch. Nhưng cách Cao Bằng 40 kilômét về phía đông, dọc theo đường độc đạo xuyên qua rừng núi hiểm trở, có một cứ diểm có giá trị rất lớn về mặt quân sự- đó là cứ điểm Đông Khê. Đông Khê là một vị trí hiểm yếu. Đánh Đông Khê là cô lập địch ở Cao Bằng, là giành cái lợi thế về ta, đẩy địch ở Cao Bằng vào thế tiến lui đều khó… Chúng ta sẽ tập trung một lực lượng mạnh để bảo đảm thắng địch ở Đông Khê và một lực lượng mạnh khác đảm bảo diệt viện có hiệu quả cao. Vì ta đánh Đông Khê, địch sẽ phải đưa viện binh từ Thất Khê lên, và nếu ta diệt viện thắng lợi thì địch cả ở Cao Bằng và Thất Khê đều nao núng, khó khăn. Lúc đó ta sẽ thừa thắng đánh chiếm Thất Khê, và như vậy địch còn ở Cao Bằng càng lâm vào thế cùng cực, cố giữ cũng không nổi, có cố chạy cũng không có đường nào thoát…

        Chúng tôi căng thẳng nhưng rất háo hức nghe đồng chí đại tướng phân tích về quyết tâm cuối cùng của Bộ chỉ huy chiến dịch.

        Đồng chí đại tướng sôi nổi nói tiếp:

        - Nhiệm vụ thay đổi, phân bố lực lượng cũng thay đổi. Trung đoàn 174 và trung đoàn 209 sẽ được tăng cường 10 khẩu sơn pháo 75mm và một đại đội ĐKZ 60mm đảm nhiệm mở màn chiến dịch- tiêu diệt bằng được cứ điểm Đông Khê…

        Ngừng một lát, quay sang tôi, đồng chí đại tướng nói:

        - Đại đoàn 308 làm nhiệm vụ đánh viện, sẽ bố trí phục kích trên địa hình có lợi ở đoạn đường từ Thất Khê đến Đông Khê. Nhiệm vụ rất quan trọng, phải đánh thắng…

        Cuộc họp đến đây tưởng đã kết thúc, thì chúng tôi được thông báo Bác đến thăm.

        Phòng họp náo nhiệt hẳn lên.

        Bác đến!

        Chúng tôi khép dần vòng tròn để được gần Bác hơn, thấy Bác rõ hơn.

        Bác giản dị quá! Bác mặc bộ quân phục màu hè màu xanh, khăn mặt vắt vai, đội mũ cát (kiểu mũ cứng dùng đội mùa hè), tư thế gọn gàng như một lão tướng.

        Chúng tôi xúc động vô cùng, vì Bác đã 60 tuổi mà vẫn cùng bộ đội trèo đèo lội suốí ra trận.

        Phòng họp yên lặng nghe Bác nói chuyện, không khí ấm cúng bao trùm lên mọi người.

        Bác nói ít nhưng có sức truyền cảm mạnh mẽ: các chú đã nghe Bộ chỉ huy mặt trận phổ biến quyết tâm của Trung ương mở chiến dịch này. Các chú đã được giao nhiệm vụ cụ thể. Các thấy không cần phải nói gì thêm. Thời gian này là rất quý, các chú cần tranh thủ thật tốt thời gian, tổ chức tốt công việc chiến đấu…

        Và cuối cùng Bác nhấn mạnh:

        - Chiến dịch Cao- Bắc- Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết tâm đánh thắng trận này.

        Hội nghị kết thúc. Chúng tôi lưu luyến nhìn Bác và tạm biệt Bác. Bác vẫy tay thân mật chúc chúng tôi lên đường thắng lợi.

        Ra về tôi nhớ mãi chỉ thị của Bác- chỉ được đánh thắng trong chiến dịch này. Chỉ thị đó chúng tôi đã mang theo và thực hiện nghiêm chỉnh trong suốt quá trình chiến dịch.

        Từ những ý kiến phân tích của đồng chí đại tướng trong cuộc họp này, tôi rút ra một điều: người chỉ huy giỏi là ở chỗ biết giành lấy cái lợi về mình, dồn cái khó cho địch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:16:21 AM

        Đúng là muốn giành lấy cái lợi về mình, thì trước hết người chỉ huy phải chịu vất vả trong công tác chuẩn bị như chính đồng chí đại tướng đã làm trong chiến dịch này mà tôi được biết. Sau cuộc họp phổ biến nhiệm vụ lần thứ nhất hồi đầu tháng 8, khi chúng tôi trở về đơn vị triển khai nhiệm vụ chuẩn bị thực hành chiến đấu, thì cũng là lúc đồng chí đại tướng- với cương vị chỉ đạo chiến dịch đã xuống sát thị xã Cao Bằng trực tiếp nghe các bộ phận quân báo, trinh sát báo cáo, rồi đi nghiên cứu thực địa để có cơ sở hạ quyết tâm chiến đấu và tổ chức thực hiện những thắng lợi quyết tâm chiến đấu đó.

        Nếu nói đây là bài học về tác phong sâu sát thực tế cần có của một người chỉ huy quân sự cũng đúng; và, nếu nói đây là một trong những nội dung của nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch của người chỉ huy thì cũng hoàn toàn là điều có lý.

        Về tới đơn vị, chúng tôi họp Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn- nói đúng hơn là cuộc hội ý (vì không có thảo luận nhiều, không thành nghị quyết) để bàn kế hoạch thực hiện chuyển nhiệm vụ mà Bộ chỉ huy mặt trận đã giao cho đại đoàn. Công việc trước mắt là chuẩn bị chiến trường, hành quân bí mật an toàn nhanh chóng tới vị trí tập kết mới. Cuộc họp kết thúc nhanh gọn. Anh Cao Văn Khánh ở lại tổ chức bộ đội hành quân; tôi cùng với một số cán bộ tham mưu, trinh sát, thông tin đi trước chuẩn bị chiến trường…

        Khu vực phục kích chặn viện của đại đoàn là nơi có địa hình thật lý tưởng- hai dãy núi đá hai bên kẹp đoạn đường số 4 hẹp, quanh co ngoằn ngoèo vào giữa. Đó là đèo Lũng Phầy. Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà đầy ý nghĩa. Bởi chính nơi đây, năm 1949, tiểu đoàn 23, một trong những đơn vị tiền thân của đại đoàn đã hai lần đánh thắng địch.

        Bộ phận đi trước chuẩn bị chiến trường vừa xong thì cũng là lúc anh Cao Văn Khánh chỉ huy các đơn vị của đại đoàn qua Trùng Khánh, Quảng Uyên, rồi xuyên rừng vạch núi tới địa điểm tập kết. Cuộc hành quân có lúc qua những đoạn đường rộng vừa được dân công mới mở, có cả xe ôtô qua lại tấp nập như đi trên một đường phố thanh bình; có lúc luồn vào rừng vắng, chỉ thấy tiếng thú kêu, ăn uống kham khổ, nhưng các đơn vị đều tới đích bí mật an toàn, đúng thời gian quy định. Đó là biểu hiện ý thức chấp hành mệnh lệnh một cách vô điều kiện của cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn.

        Bộ chỉ huy đại đoàn tranh thủ hội ý xác định quyết tâm và phân bố lực lượng. Tiếp theo các đơn vị nhanh chóng triển khai thế trận. Mạng lưới thông tin lực lượng bằng điện thoại đã nhanh chóng kéo dây đặt máy, chuông đổ hồi liên tục báo hiệu đường liên lạc đã thông suốt từ sở chỉ huy đại đoàn lên cấp trên, xuống các trung đoàn và các đơn vị trực thuộc. Nhờ thế mà phương án đánh viện của đại đoàn đã được báo cáo lên Bộ chỉ huy mặt trận:

        - Khu vực vận động phục kích của toàn đại đoàn là đoạn đường số 4 dài hơn 10 kilômét từ đèo Lũng Phầy đến Khau Luông.

        - Lực lượng phân bố: trung đoàn 88 đứng ở quãng giữa nối tiếp đèo Bông Lau và đèo Lũng Phầy, làm nhiệm vụ khoá đuôi; trung đoàn 36 nằm trên điểm cao Nà Mọc, Sốc Ngà, chốt chặn đầu không địch ra khỏi trận địa; trung đoàn 102 đứng ở đông đường số 4- khu Pác Lũng làm lực lượng đánh ngang sườn, chia cắt đội hình địch…

        Vì địa hình hiểm trở, liên lạc đi lại khó khăn, phương tiện thông tin của ta có hạn, để đảm bảo hành động nhanh và thống nhất, đại đoàn quy định tiếng súng đầu tiên của trung đoàn 36 đánh chặn đầu địch là hiệu lệnh tiến công của toàn đại đoàn.

        6 giờ ngày 16 tháng 9 năm 1950, trung đoàn 174 nổ phát súng đầu tiên vào Đông Khê- mở màn chiến dịch biên giới- mang tên Lê Hồng Phong II, thì cũng là lúc toàn bộ thế trận chặn viện của đại đoàn đã dàn xong. Tất cả đều sẵn sàng.

        Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 9, trận tiến công cứ điểm Đông Khê kết thúc thắng lợi giòn giã, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở cứ điểm này. Khác với trận tiến công lần trước ngày 25 tháng 5 năm 1950, khi trung đoàn Cao- Bắc- Lạng chiếm được Đông Khê, địch phản ứng điên cuồng, chúng cho quân nhảy dù xuống chiếm lại ngay sau đó. Còn lần này địch chưa có phản ứng gì. Đông Khê vẫn yên tĩnh. Và trận địa vận động phục kích của đại đoàn cũng chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ địch dùng con đường này đưa quân lên cứu viện Đông Khê.

        Tình hình mặt trận phía đông, theo lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, các đơn vị bộ đội địa phương thuộc Liên khu Việt Bắc do các anh Thanh Phong và Nam Long chỉ huy đã bắt đầu hoạt động nghi binh từ ngày 14 tháng 9, trước hai ngày chiến dịch mở màn. Ta đã quấy rối địch, phá hoại đường số 4 trên đoạn từ Na Sầm đi Bố Củng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:17:01 AM

        Ngày 20 tháng 9, quân báo tiền phương của mặt trận, trinh sát tiền phương của đại đoàn cho biết suốt ngày hôm đó máy bay địch ì ầm trên bầu trời đầy mây chở một tiểu đoàn Tabor (là những tiểu đoàn Ma Rốc trong quân đội Pháp thạo đánh ở địa hình rừng núi) từ Lạng Sơn lên tăng viện cho Cao Bằng… Hôm sau, 21 tháng 9, Bộ chỉ huy mặt trận thông báo, sau thất thủ Đông Khê, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ vẫn chưa phán đoán được toàn bộ ý đồ chiến dịch của ta. Chũng vẫn cho mục tiêu tiến công tiếp sau của ta là Thất Khê, nên trước mắt chũng tìm cách tập trung tăng viện cho căn cứ này, đồng thời mở những cuộc hành quân nhỏ vào hậu phương ta ở quanh Thất Khê, Cao Bằng để gây ảnh hưởng chính trị và phá công tác chuẩn bị tiếp tiếp tục hoạt động của ta. Tại Lạng Sơn, Công- xtăng chỉ huy “Liên khu biên giới”gấp rút thành lập binh đoàn cơ độg Bay- a gồm hai tiểu đoàn Tabor 1 và 2, tiểu đoàn 1 trung đoàn 8 Ma Rốc, tiểu đoàn dù lên dương 1BEP do Le Page chỉ huy, mấy ngày sau đó, binh đoàn này đã lên tăng viện cho Thất Khê… Rõ ràng sau khi ta diệt Đông Khê, đánh viện binh địch trở thành một nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch.

        Đại đoàn đã quán triệt tình hình và nhiệm vụ trên đây xuống các đơn vị, đồng thời động viên nhắc nhở mọi người hãy thật sẵn sàng để hễ chiến đấu là phải thắng.

        Khí thế thi đua lập công sôi nổi trong tất cả các đơn vị thuộc đại đoàn.

        Ngày này qua ngày khác trừ một vài trận đụng độ nhỏ với ta có tính chất thăm dò ra Pò Mã, đông bắc Thất Khê, còn toàn bộ viện binh địch vẫn nằm im ở thung lũng Thất Khê.

        Đối với đại đoàn, những ngày như thế thật dài với bao tâm trạng diễn biến. Cái lo của lãnh đạo lúc này khôg phải là xác định quyết tâm mà là vấn đề có thật kiên trì để chờ địch lên “tiếp” chúng hay không?

        Toàn đại đoàn vẫn bám chắc trận địa, từng chiến sĩ rời vị trí chiến đấu đã được phân công. Nhưng đã hơn một tuần nằm rừng, lá chuối lợp lán héo vàng, khô cong. Lúc này tuy đã giữa thu nhưng ở đây thời tiết rất “bất kham”. Lúc nắng, lúc mưa gây nên ẩm ướt khó chịu, được dịp cho muỗi độc bay lượn tự do, cho vắt rừng thi nhau ngóc đầu dậy tìm mồi hút máu. Trong cán bộ, chiến sĩ hiện tượng sốt ruột bắt đầu chớm nở- phần vì phải bó chân một chỗ chờ địch, phần vì cái “máu công kiên” lại nổi lên. Một tiếng nói không to, nhưng có sức lan xa, ở đâu, đến đâu cũng nghe thấy:

        - Địch biết ta chờ, nó chẳng chịu ra đâu.

        - Một trận Đông Khê chưa đủ cho địch hốt đâu, phải đánh nữa, đánh công kiên lớn quật ngay vào Thất Khê, v.v…

        Đó là tiếng xì xào bán tán phổ biến của các chiến sĩ ở những trận địa nằm chờ.

        Đó, rõ ràng kiên trì chờ địch đang là vấn đề phải đặt ra, cần phải lãnh đạo.

        Nhân thời gian còn yên tĩnh, tôi tranh thủ xuống kiểm tra một đại đội thuộc trung đoàn 102. Vừa đến nơi, các chiến sĩ đã xúm quanh lại hỏi:

        - Viện binh địch mò lên Thất Khê, rồi nằm ở đấy, vậy nó bị động hay chủ động?

        - Nó bị động- Một chiến sĩ tuổi độ 25 trả lời luôn.

        Bị động và chủ động, từ đó mà nảy sinh ra kiên trì và nóng vội, đang nổi lên, xung đột nhau, đang là hai luồng tư tưởng tồn tại trong sự suy nghĩ của cán bộ, chiến sĩ đại đội này. Nhưng đây có phải là tình hình tư tưởng chung của đại đoàn hay không?

        Ít nhiều thật khó xác định, nhưng đã là một tồn tại thì cần phải giải quyết, nếu không sẽ ảnh hưởng đến tinh thần phấn khởi của bộ đội, đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của chiến dịch là đánh điểm diệt viện.

        Để anh em thoải mái nêu vấn đề, thoải mái tranh luận. Đợi khi mọi người cạn ý kiến tôi mới ôn tồn nói:

        - Từ đầu chiến dịch cấp trên bảo đại đoàn ta mai phục chờ địch ở đây, mới rồi lại nhắc ta phải kiên trì chờ địch, vậy thì ta đang giữ quyền chủ động hay bị động?

        - Chủ động, ta vẫn nắm chắc quyền chủ động đấy ạ.

        Tôi gật đầu hưởng ứng ý kiến trả lời của đồng chí cán bộ trung đội và nói tiếp:

        - Trong chiến đấu kẻ lầm vào thế bị động là khốn khổ lắm, địch phải nằm ùn lại ở Thất Khê là do tướng địch đang lúng túng, nó lo ta đánh Thất Khê, lại lo ta đánh Na Sầm, và lo Cao Bằng bị cô lập. Kẻ đã lúng túng bị động thì dễ mắc sai lầm. Còn ta, cấp trên bảo phải kiên trì chờ địch thì chín lần chờ địch không ra, còn một lần vẫ chờ, thế mời là kiên nhẫn, mới là biết phát huy thế chủ động…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:17:52 AM

        Chuyến đi kiểm tra thực tế đó đã giúp Bộ chỉ huy đại đoàn kịp thời có phương hướng công tác chính trị thích hợp lúc này là phải tập trung xây dựng tư tưởng kiên trì chờ viện, mặt khác cần phải gấp rút tổ chức sửa lại lán trại, cố gắng tạo chỗ ăn, ở vệ sinh, thoải mái, giảm bớt bệnh tật cho chiến sĩ, nhưng vẫn đảm bảo bí mật và sẵn sàng chiến đấu cao.

        Hơn một tuần, rồi hơn 10 ngày trôi qua vẫn không thấy địch mò lên, mà gạo ăn đã hết!

        Vấn đề thật vô cùng nan giải.

        Huy động dân công chuyển vận ư?- Có thể được, hoàn toàn không có khó khăn gì. Nhưng như thế sẽ không giữ được bí mật- mà bí mật lúc này lại là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi nhiệm vụ chặn viện của đại đoàn.

        Vấn đề được thảo luận kỹ: cuối cùng Bộ chỉ huy đại đoàn quyết định: mỗi đơn vị để lại 1/3 lực lượng giữ trận địa, còn 2/3 đi lấy gạo. Nơi lấy gạo khá xa, đi và về mất hai ngày.

        Ngày thứ nhất, tình hình yên tĩnh.

        Ngày thứ hai, buổi sáng vẫn yên tĩnh, nhưng đến trưa súng nổ ra ở phía Đông Khê. Như vậy có nghĩa là viện binh địch đã qua trận địa phục kích của ta ở Lũng Phầy.

        Nhưng vì sao lại có tình hình này- vì sao không một đơn vị nào của đại đoàn bố trí ở đây nổ súng?; vì sao suốt cả buổi sáng không một đơn vị nào biết địch đi qua trước mặt mình?, v.v…

        Đầu óc tôi căng lên vì những câu hỏi đó, những câu hỏi thuộc về trách nhiệm của tôi phải trả lời cả cấp trên và cấp dưới.

        Tôi ân hận, hối tiếc! Ta đã mất bao nhiêu công phu dàn trận ở một địa hình lý tưởng.

        Tôi day dứt- bởi đã mất bao ngày đêm anh em phơi nắng, phơi mưa, im hơi lặng tiếng, ăn uống kham khổ, những vẫn gắng chịu, cắn răng mà chịu để chờ địch lên là chặn đầu, khoá đuôi, đánh thúc ngang sườn, cắt chúng ra từng mảnh mà tiêu diệt… như trong phương án tác chiếc của đại đoàn đã được dân chủ bàn bạc xây dựng nên và đã được cấp trên chuẩn y.

        Vậy mà giờ đây, địch đi qua, ta không biết!

        12 Tháng Mười Một, 2007, 09:27:07 pm

        Nhưng vấn đề không phải ngồi tự trách mình, phê phán mình một cách tiêu cực. Khuyết điểm đã rõ, thái độ đúng lúc này là nhanh chóng tìm ra nguyên nhân và phải nghiêm túc có kế hoạch khắc phục những nguyên nhân gây ra thiếu sót đó- một thiếu sót thuộc về nguyên tắc.

        Kẻ địch xảo quyệt ư?- điều đó có nhưng chỉ đúng một phần.

        Cái chủ yếu là do ta gây nên.

        Nghĩ như vậy, nên đại đoàn đã cử cán bộ xuống các đơn vị tìm hiểu để có kết luận rõ hơn.

        Và nguyên nhân tìm thấy không phải đâu xa, nó nằm ngay trong công tác chỉ huy của chúng tôi.

        Tổ chức chỉ huy chung làm tốt, nhưng tổ chức chỉ huy cụ thể thì lại chung chung, thiếu kiểm tra đôn đốc, v.v… Mà nguyên nhân của những cái thiếu sót đó chính lại là cái mệnh lệnh quy định các đơn vị cử 2/3 quân số đi lấy gạo gây nên. Nhận lệnh, các cấp từ trung đoàn đến cấp tiểu đội- đơn vị nào cũng huy động rất nghiêm chỉnh 2/3 lực lượng toàn những người khỏe. Một tiểu đội có 10 người đi bảy người, còn lại 3 người trông coi vũ khí cũng chưa xong còn lấy người đâu ra mà theo dõi địch, chiến đấu giữ trận địa. Toàn đại đoàn xộc xệch, không một đơn vị nào nguyên vẹn sẵn sàng chiến đấu cả. Lẽ ra muốn để lại 1/3 lực lượng để sẵn sàng chiến đấu thì mệnh lệnh phải quy định cụ thể như trung đoàn 1 để lại tiểu đoàn A, trung đoàn 2 để lại tiểu đoàn B hoặc C, v.v… Như vậy mới có đơn vị hoàn chỉnh về tổ chức, có cán bộ chỉ huy, trinh sát, thông tin; đơn vị ở lại giữ trận địa mới có trách nhiệm chiến đấu rõ ràng.

        “308 đã để địch đi qua trận địa mà không đánh được”.

        Trong lúc tình hình chiến dịch đang diễn biến khẩn trương, Bộ chỉ huy mặt trận chỉ khiển trách, như vậy, nhưng chúng tôi tự nghiêm khắc với mình, đã mắc phải một khuyết điểm thuộc về nguyên tắc, phải tự nhận một hình thức kỷ luật trước cấp trên, trước quần chúng chiến sĩ. Và riêng bản thân, tôi tự nhủ:

        - Ta phải tự nhận là đã thua để mà vươn lên, quyết tâm diệt gọn địch trong các trận đánh sắp tới.

        Đông Khê thất thủ gây chấn động dư luận trong nước và thế giới. Chính phủ Pháp bối rối, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương hoang mang, thất vọng và cuối cùng buộc phải quyết định rút Cao Bằng.

        Hình thái chiến tranh lại có diễn biến phức tạp.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 12:19:55 AM

        Ngày 29 tháng 9, Carpentier mở cuộc hành quân Phốc- cơ, tung một lực lượng khá lớn đánh lên thị xã Thái Nguyên nhằm buộc ta phải đưa chủ lực từ biên giới về đối phó, và như vậy áp lực của ta ở đường số 4 sẽ giảm đi, quân Charton rút chạy khỏi Cao Bằng sẽ có điều kiện thoát đi êm thấm. Với cuộc hành quân Phốc- cơ này, Carpentier còn hy vọng đánh lạc dư luận, không bàn tán xôn xao quá nhiều về cuộc triệt thoái Cao Bằng mà hướng cả về phía Thái Nguyên, nơi “quân đội Pháp đang đánh chiếm thủ đô kháng chiến của Việt Minh”.

        Nhân đây xin kể một chuyện vui nho nhỏ xảy ra 5 năm sau đó nhưng có liên quan đến cuộc hành quân nói trên. Tháng 10 năm 1954, đại đoàn 308 được vinh dự về tiếp quả Thủ đô. Tôi được Chính phủ chỉ định làm chủ tịch Uỷ banQuân chính thành phố. Nhân dịp đầu năm mới, Uỷ ban Quân chính thành phố tổ chức cuộc họp với các phóng viên báo chí nước ngoài tại khách sạn Dân chủ (phố Tràng Tiền) để thông báo thành tích đạt được trong những tháng đầu Thủ đô được giải phóng. Trong cuộc họp này có một người châu Âu, khoảng trên 40 tuổi, mặt nhiều nếp nhăn, chứng tỏ cuộc đời anh ta có nhiều chuyện không may. Ngay từ phút đầu, anh ta nhìn tôi với một thái độ chăm chú khác thường.

        - Đã gặp anh này ở đâu rồi chăng?- tôi tự hỏi như vậy. Tôi tin ở trí nhớ của mình không đến nỗi tồi lắm. Không, mình chưa hề gặp anh ta lần nào.

        Suốt buổi họp anh ta chăm chú nghe tôi nói và vẫn nhìn tôi khá kỹ- cả hình dánh và diện mạo nữa thì phải.

        Mãi đến khi cuộc họp gần kết thúc, hình như sực nhớ một điều gì, anh ta từ tốn nói:

        - Thưa thiếu tướng! Tôi xin phép được…

        - Ông cứ hỏi.

        - Không. Tôi không thấy có điều gì phải hỏi, mà muốn được phép nhắc tới một kỷ niệm đến với tôi cách đây đã 5 năm…

        - Mời ông nói tiếp.

        - Năm ấy tôi theo quân đội Pháp hành quân lên Thái Nguyên…

        - Cuộc hành quân Phốc- cơ phải không?

        Đến đây nét mặt trở nên hoạt bát và anh ta cởi mở kể:

        - Vâng, đúng như vậy thưa thiếu tướng. Hôm ấy tôi từ trên máy bay nhảy dù xuống Núi Vo đột nhập vào hậu cứ của thiếu tướng…

        - Rất tiếc là lúc đó tôi đang bận chuẩn bị tiếp hai ông Le Page và Charton- Tôi nói xen vào.

        Từ cởi mở chuyển sang tư lự, giọng trầm lắng oán trách, anh ta dè dặt kể tiếp:

        - Vâng, mãi sau này tôi đã được nghe giải thích, bởi thế hôm đó tôi mới có thể lọt vào hậu cứ của thiếu tướng được an toàn. Người ta nói với tôi trước khi lên máy bay rằng chủ lực Việt Minh sẽ phải vội vã từ Cao Bằng rút về Thái Nguyên đối phó. Và đấy là cơ hội để ta chiến thắng Việt Minh- Ngay tại thủ đô kháng chiến của họ. Riêng tôi cũng tin như vậy. Tôi đã chuẩn bị sẽ viết một thiên phóng sự có cả ảnh minh hoạ về cuộc hành quân này, nhưng tất cả đều vô ích, không thành!

        - Vì sao vậy?

        - Vì cấp trên của chúng tôi quả quyết lắm, chắc thắng to. Nhưng lại thất bại thì còn viết sao được!

        Qua câu chuyện trên đây, bạn đọc càng thấy thời kỳ này địch đã bị dồn vào cái thế trận cài sắn, buộc chúng phải bị động đối phó, mà càng bị động thì càng thất bại. Nước cờ của Carpentier tưởng là cao kế thực ra đã nằm trong dự kiến của ta. Cho nên mặc dầu cuộc hành quân Phốc- cơ đã lao vào cửa ngõ căn cứ địa Việt Bắc, nhưng chủ lực ta vẫn chủ động chiến đấu ở biên giới theo kế hoạch định trước của Bộ Tổng tư lệnh. Bởi vì ở Thái Nguyên, bộ đội địa phương và mạng lưới dân quân du kích được chuẩn bị sắn đã dìm cuộc hành quân này vào cảnh sa lầy, cuối cùng buộc Carpentier phải vội vã hạ lệnh cho nó rút lui.

        Xin tiếp tục trở lại mặt trận biên giới. Lúc này binh đoàn Le Page từ nhiệm vụ chủ yếu tăng viện cho Thất Khê, Carpentier đẩy nó vào cuộc hành quân Tê-re-dơ với nhiệm vụ chiếm lại Đông Khê làm cái cầu đón bọn ở Cao Bằng rút về.

        Chiến sự Đông Khê sôi động trở lại. Ngày 2 tháng 10, trung đoàn 209 đã đánh một trận xuất sắc, chặn đứng quân địch ở nam Đông Khê. Mộng chiếm lại cứ điểm này của Le Page tan vỡ. Cùng ngày các đơn vị của đại đoàn 308 mở hết tốc lực, từ các kho gạo hậu phương chiến dịch đặt ở Tà Lùng trở lại chiếm lĩnh trận địa mới, khoá chặt binh đoàn Le Page không cho chúng trở lui. Tuy nhiên đây không phải là cuộc chạy đua bình thường với thời gian, chỉ có mệt nhọc và vất vả, mà là một cuộc tiến quân dưới bom đạn địch, một cuộc chiến đấu thực sự, có đổ máu và hy sinh. Đường trở lại mặt trận phải qua nhiều quãng trống trải, phải qua cánh đồng bậc thang Bản Xiển, qua đèo đá Bố Bạch. Ở đây máy bay địch thay nhau bắn phá cản đường. Tiểu đoàn trưởng Dương Hán bị đạn 12,7mm của máy bay địch bắn cụt mấy ngón chân, đại đội trưởng Vũ Phương bị mảnh bom địch xuyên ngực nhưng vẫn chỉ huy bộ đội hành quân; chính trị viên Bùi Tất Thưởng bị trọng thương vẫn ngồi tựa lưng vào vách đá phất tay động viên chiến sĩ đi nhanh, chạy gất ra phía mặt trận…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 09:07:21 AM

        Cùng lúc trinh sát tiền phương đại đoàn báo về cho biết tình hình bố trí của binh đoàn Le Page: tiểu đoàn nhảy dù lê dương 1 BEP đang nằm ở phía nam Đông Khê; tiểu đoàn 1 Tabor tạt sang phía tây nam; tiểu đoàn 1 trung đoàn 8 bộ binh Ma Rốc đứng sau tiểu đoàn nhảy dù lê dương 1 BEP rải quân trên các quả đồi sát ven đường số 4- đoạn từ Nà Pá đến Nà Mọc, Trọc Ngà, chân đèo Lũng Phầy; tiểu đoàn 2 Tabor đóng trên núi Khau Luông làm cái lá chắn che đỡ cho toàn đội hình của binh đoàn Le Page.

        Như vậy địch đã dàn xong thế trận- vừa làm nhiệm vụ phòng ngự, vừa yểm hộ cho nhau tiến công đánh chiếm Đông Khê, để đón binh đoàn Charton từ Cao Bằng đang trên đường rút chạy.

        Cán bộ, chiến sĩ đại đoàn từ kho gạo cấp tốc hành quân trở về phải nói là rất mệt.

        Nhưng vừa vứt bao gạo xuống là cầm lấy súng, thắt bao đạn ngang lưng sẵn sàng chờ lệnh.

        Qua nghiên cứu, phân tích địch tình và địa hình, Bộ chỉ huy đại đoàn quyết định tổ chức một trận phản kích chiếm lại Trọc Ngà và Khau Luông. Vì Trọc Ngà dưới chân Lũng Phầy có tác dụng khoá đuôi binh đoàn Le Page không cho chúng trở lui. Còn Khau Luông là điểm cao có tác dụng khống chế toàn đội hình của chúng.

        Trận Trọc Ngà kết thúc lúc 17 giờ thì 18 giờ ta nổ súng đánh vào Khau Luông.

        Khau Luông tiếng địa phương có nghĩ là núi lớn. Trên thực địa đây là dãy núi đất khá cao, địa hình phức tạp, cây cối rậm rạp.

        Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ nặng nề này. Thời gian thật khẩn trương, nhưng Bộ chỉ huy trung đoàn đã biết nắm lấy những công việc chính của tổ chức hiệp đồng chiến đấu- nhất là bộ binh với pháo binh, xung kích với hoả lực trợ chiến đại liên, súng cối. Trận tiến công bắt đầu vào lúc 18 giờ. Sau 60 phút bắn áp chế, bộ đội xung phong. Hoả lực của địch từ trên bắn xuống cản đường một phần, nhưng núi cao và rừng cây rậm rạp đã gây nhiều trở ngại cho tốc độ phát triển của trận đánh. Đêm tối ở rừng đổ ập xuống rất nhanh. Các đơn vị mất phương hướng mục tiêu. Phải đợi đến quá nửa đêm, khi trăng cuối tuần nhô lên cao mới nhìn thấy vị trí địch. Cuộc tiến công lại tiếp tục cho đến 6 giờ 30 phút sáng.

        Chiều ngày 4 tháng 10, trung đoàn 36 lại tiếp tục cuộc tiến công sau khi được tăng cường thêm tiểu đoàn 11, tiểu đoàn 18 và một đại đội ĐKZ 57mm. Trong đợt tiến công lúc 15 giờ, ta chiếm được hai ngọn núi, sau ít phút ta chiếm thêm một ngọn nữa thì trời tối phải dừng lại chờ trăng lên. Nhưng nửa đêm, đột nhiên địch bắn một chập hết sức dữ dội. Ta đánh sang thì chúng đã rút hết. Trước mắt các chiến sĩ, Khau Luông thực sự là bãi chiến trường tổng hợp thất bại của các thành phần quân lính thuộc binh đoàn Le Page: báng súng gãy, lưới lê quằn, mũ sắt, mũ vải của lính dù, khă vải quấn đầu của lính Tabor, la liệt những xác chết, những hố bom, những đống vỏ đạn, v.v…

        Từ Khau Luông, các đơn vị của đại đoàn đổ xuống đường số 4, gặp ngay cánh đồng Nà Pá- nơi Le Page đặt sở chỉ huy, lại ngổn ngang, loang lổ dù xanh, dù đỏ, dù vàng. Địch cũng đã rút khỏi nơi đây từ lúc nào. Các chiến sĩ trinh sát thong dong xuôi đường số 4 nắm tình hình, gặp một tên lính dù gãy tay ngồi giữa đường với cái gậy buộc mảnh vải trắng báo hiệu xin hàng, xin tha tội chết. Đi vào ven rừng quanh đó lại gặp thêm từng tốp địch, lính dù có, lính Tabor có, bị thương nằm kêu la oán trách cấp trên bỏ rơi chúng… Đi quá về phía Trọc Ngà, Lũng Phầy chốc chốc các chiến sĩ ta lại bắt gặp một cái cáng, tên lính địch nằm ngửa tênh hênh chắp tay vái lậy; rồi những con lừa bơ vơ không chủ, lưng võng xuống vì thồ nặng, toàn là những bộ phận của pháo địch bước những bước chậm chạp, xiêu vẹo…

        Trận đầu thắng lợi, sĩ khí đại đoàn đang lên, tất cả quên mệt, sẵn sàng chờ lệnh mới.

        Địch đã thất bại, đã phải rút Khau Luông, bỏ pháo, bỏ ngựa tải đạn, bỏ thương binh.

        Địch kéo nhau đi đâu rồi? Phía bắc ta chẹn ở Đông Khê, nó không lọt qua được. Phía nam ta đã khóa đuôi nó ở Trọc Ngà. Phía đông là Khau Luông nó vừa rút chạy. Chỉ còn phía tây, nhưng cả vùng rừng núi mênh mông, cây cối um tum rậm rạp này biết nó lủi vào đâu mà tìm. Địch đi đâu và có âm mưu gì đây?

        Trong khoảnh khắc không ai trả lời được câu hỏi này. Một không khí im lặng trùm lên những suy nghĩ, tự nói với mình- nói đúng hơn là tự nhủ mình: nắm địch là một động tác, một nguyên tắc của bất cứ người chỉ huy nào đều phải thực hiện để từ đó mới có cơ sở chắc chắn tổ chức đánh địch. Hơn nữa đánh vận động ở vùng rừng núi hiểm trở như thế này mà không tổ chức, hoặc tổ chức trinh sát bám địch thiếu cụ thể, thiếu thường xuyên liên tục, thì nhất định sẽ bị động với địch, địch ở ta không biết, địch đi ta không hay, cứ đuổi địch miết, bộ đội mệt sức, tốn công, tốn đạn để đánh vào chỗ không người.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 09:53:32 AM

        Một cuộc hội ý chớp nhoáng với các cán bộ tham mưu, quân báo giúp việc Bộ chỉ huy đại đoàn để rút kinh nghiệm trận đánh… Tiếp theo là một loạt biện pháp cụ thể về tổ chức mạng lưới trinh sát được tăng cường, tỏa đi các ngả, xuống các trung đoàn, nhập vào đội hình chiến đấu của đơn vị để nắm địch. Vừa lúc đó, từ điểm cao 615 trên núi Khau Luông có thể quan sát một vùng rộng từ Đông Khê đến Lũng Phầy, anh Cao Văn Khánh báo cáo về:

        - Địch hiện tập trung ở Khâu Xiêm.

        Chúng tôi giở bản đồ đối chiếu: Khâu Xiêm (tiếng địa phương là núi nhọn) là quả núi cao nhất vùng Đông Khê. Nhưng Le Page dồn quân vào đấy với ý định gì?

        Chúng tôi đang tranh luận để tìm lời giải cho câu hỏi này, thì đồng chí liên lạc với vẻ mặt phấn khởi, chạy đến, tay cầm một tờ giấy, hớt hải, nói:

        - Báo cáo anh, có điện của Bộ chỉ huy mặt trận.

        Cuộc tranh luận tạm ngừng. Mọi người dồn về phía tôi, chờ đợi tin tức qua bức điện.

        Tôi xem một lần, rồi đọc to cho mọi người cùng nghe: Địch đã rút khỏi thị xã Cao Bằng từ mờ sáng ngày 3 tháng 10. Hiện giờ chúng đã đến Nậm Nàng (cách Đông Khê 20 kilômét), phá xe cộ, súng nặng bỏ lại dọc đường số 4 đi tạt vào rừng. Bộ đã điều hai tiểu đoàn của trung đoàn Sông Lô lên đánh kiềm chế. Đại đoàn 308 được tăng viện thêm tiểu đoàn 154 của trung đoàn Sông Lô có nhiệm vụ nhanh chóng bao vây tiêu diệt gọn binh đoàn Le Page, hiện ở tây nam Đông Khê.

        Địch chiếm Khâu Xiểm để làm gì, như vậy đã rõ. Tôi gọi các cán bộ tác chiến đến quanh tấm bản đồ Thất Khê- Đông Khê để nghiên cứu kế hoạch thực hiện lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận vừa giao cho đại đoàn.

        Từ Nậm Nàng, Charton đi tắt rừng, nhất thiết phải theo đường mòn Quang Liệt qua điểm cao 477 xuống Bản Ca về Thất Khê. Còn cánh quân Le Page, theo anh Cao Văn Khánh báo cáo về, hiện đang ở Khâu Xiểm, như vậy là Le Page cũng đang tìm đường sang 477. Điểm gặp nhau của hai binh đoàn này là điểm cao 477. Cần phải tách hai cánh quân đó ra, không cho chúng gặp nhau; đối với cánh quân Le Page mà đại đoàn có nhiệm vụ phải tiêu diệt thì ta phải tìm cách chặn đầu, khoá đuôi, rồi dùng một lực lượng đánh sườn, cắt chúng ra từng khúc, diệt từng bộ phận, tiến lên tiêu diệt toàn bộ…

         Nhìn trên bản đồ thấy đường từ Khâu Xiểm sang điểm cao 477 phải qua vùng núi đá Cốc Xá, một đồng chí cán bộ tác chiến đứng cạnh tôi mừng rỡ, nói:

        - Báo cáo anh, sáng nay thông tin của ta bắt được điện của địch có câu “U- ét Can- ke”.

        - Đúng rồi, đấy là nơi Charton và Le Page hẹn gặp nhau- “U- ét Can- ke” (phía tây dãy núi đá vôi) tức là điểm cao 477- một đồng chí khác nói xen vào.

        Tôi gật đầu tán thành nhận định của đồng chí cán bộ quân báo, và nói vui:

        - Hừ, mấy thằng tây già cáo thật. Nhưng vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Ta phải chặn đầu Le Page lại.

        Lúc này trong tâm trí tôi, bài học đánh địch ở chiến dịch Sông Lô lại hiện về.

        Trận Sông Lô II hồi tháng 5 năm 1949, địch đánh lên Tuyên Quang. Ta phán đoán thế nào địch cũng phải rút về theo ba hướng: bên tả ngạn sông Lô, bên hữu ngạn sông Lô và theo dọc sông. Dự kiến thì đúng, nhưng ta không tiêu diệt được địch, để chúng chạy thoát, là do nguyên nhân: chọn nơi quyết chiến không đúng và dùng hình thức đánh tập kích ban đêm trong trường hợp đó cũng không thích hợp, vì bộ đội tiến vào đánh địch phải qua một con suối sâu, nước chảy mạnh, không có cầu thuyền bảo đảm nên lúng túng suốt đêm, lạc mục tiêu; không tổ chức lực lượng chặn đầu tốt, chỉ có chôn bom, bom không nổ để địch chạy thoát. Đầu chạy là đuôi lọt.

        Bài học đó nhắc chúng tôi hôm nay phảt tổ chức một lực lượng chặn  đầu mạnh và phải tìm nơi chốt chặn có lợi nhất.

        Được đồng bào địa phương cho biết, địch muốn qua vùng núi đá Cốc Xá phải vượt một chặng đường độc đạo cheo leo, hiểm trở. Đồng bào nói: “Không đi được nhanh đâu, phải đi người nọ sau người kia đấy. Không đi sánh vai nhau được đâu”. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy đầu cùng cái con đường cheo leo kia là bản Cốc Xá, có nhiều đồi đất: một điểm chặn lý tưởng, ta dàn được đội hình, phá huy được hoả lực, còn địch thì chỉ có một con đường dốc đá chật hẹp- một vùng eo thật sự.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 09:57:53 AM

        Tôi gọi điện cho đồng chí Vũ Yên, trung đoàn trưởng trung đoàn 102:

        - Anh được tin Charton rút Cao Bằng chưa?

        - Báo cáo, được tin rồi, trung đoàn 102 sẵn sàng xuất kích.

        - Hiện giờ Le Page đang tìm đường qua núi đá sang Cốc Xá để sang điểm cao 477 gặp Charton. Tiểu đoàn nào của anh lúc này đang nằm sát đường số 4?

        - Báo cáo, tiểu đoàn 18.

        - Rất tốt. Tiểu đoàn 18 có nhiều cán bộ, chiến sĩ biết vùng này, anh xuống ngay tiểu đoàn 18, chỉ thị cho Ngọc Sơn dẫn toàn bộ tiểu đoàn hành quân ngay, bằng bất cứ giá nào phải đến Cốc Xá trước sáng mai. Anh hiểu ý tôi chưa? phải đến Cốc Xá đúng gìơ quy định!

        - Rõ, đóng một cái chốt, chặn đầu Le Page- Vũ Yên trả lời.

        Tôi vui sướng vì trên dưới hiểu ý nhau, và như hét lên trong máy:

        - Đúng rồi! Bảo tiểu đoàn 18 hãy chạy thi với Le Page. Động viên anh em khắc phục khó khăn, lập công. Nhớ phải đúng thời gian quy định nhé. Đúng thời gian là thắng Le Page, thắng to đấy…

        Lệnh của trung đoàn đưa xuống giữa lúc tiểu đoàn 18 đang thổi cơm chiều. Nhưng tiểu đoàn phó Ngọc Sơn đã nghiêm chỉnh chấp hành lệnh, anh nuôi cứ tiếp tục nấu cơm, nắm lại rồi gánh đuổi theo đơn vị. Cũng không chờ tập hợp cả tiểu đoàn mới xuất phát. Tiểu đoàn phó Ngọc Sơn đến đại đội 263 ở gần đường nhất, giao nhiệm vụ rồi cho đi ngay. Tiếp đến đại đội trợ chiến 265. Chính trị viên tiểu đoàn Hồng Long tiếp tục dẫn hai đại đội còn lại theo sau.

        Tiểu đoàn 18 hành quân như chạy, vì đã 19 ngày chờ địch, khí thế phấn khởi bị nén lại, nay được dịp bung ra, tạo thành sức mạnh đi nhanh tới đích. Tiểu đoàn đã đánh nhiều trận trên đường số 4, lại thông thạo địa hình, nhưng đây là lần đầu tiên anh em được đi trên mặt đường này, đi giữa ban ngày. Nhưng càng đi xuôi đường số 4 càng xa tiếng súng, chiến sĩ thắc mắc:

        - Địch ở bắc, mình xuống nam, đón đầu gì mà lạ vậy?

        Cán bộ ôn tồn giải thích:

        - Đường rừng nó rắc rối thế đấy, cứ theo lệnh mà đi, sớm mai địch nó dẫn thân đến trước mặt mình cho mà xem…

        Tiểu đoàn 18 đã đến đúng giờ quy định- bản Cốc Xá trước sáng ngày 5- 10. Thế là ta đã đóng được một cái chốt chặn đầu quân Le Page rồi. Cũng từ sáng ngày 5 tháng 10, các đơn vị của đại đoàn từ đường số 4 đổ vào vùng núi Cốc Xá. Từng tiểu đoàn cứ theo hướng máy bay địch thả dù mà phá bụi, chặt cây tiến lên sát địch. Không còn phân biệt được trung đoàn nào nữa, các trung đoàn trưởng cứ nắm được tiểu đoàn nào là chỉ huy chiến đấu. Với ý thức kỷ luật, tinh thần phối hợp chiến đấu diệt địch, các tiểu đoàn đều triệt để phục tùng mệnh lệnh bất cứ của đồng chí trung đoàn trưởng nào miễn là họ được đánh địch, được tiêu diệt gọn binh đoàn Le Page.

        Các nơi tới tấp gọi điện về đại đoàn:

        - Đồng chí trung đoàn trưởng Thái Dũng báo cáo đang chỉ huy tiểu đoàn 23 (trung đoàn 88), tiểu đoàn 84 (trung đoàn 36), tiểu đoàn 18 (trung đoàn 102), đánh vào tây nam Cốc Xá.

        - Trung đoàn trưởng Hồng Sơn báo cáo đang chỉ huy các tiểu đoàn 80, 89, 11 và tiểu đoàn 154 của trung đoàn Sông Lô vừa mới tăng cường đang dồn sức phát triển theo hướng đông Cốc Xá.

        - Trung đoàn trưởng Vũ Yên báo cáo đang trực tiếp nắm tiểu đoàn 54, phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 29 của trung đoàn 88 đánh theo hướng đông bắc Cốc Xá.

        Tình hình phát triển khả quan, các mũi hợp đồng chiến đấu tốt. Cốc Xá đã ở trong vòng vây của đại đoàn.

        - Bắt sống Le Page!- đó là lệnh của đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi đại đoàn.

        Mệnh lệnh tuy ngắn, nhưng người tôi nóng ran lên vì vui sướng, và truyền ngay lệnh này xuống các đơn vị:

        - Vây bắt sống kỳ được Le Page; bắt Tabor về vác gạo!

        Lệnh ra trúng tâm lý cán bộ, chiến sĩ gây thêm lạc quan phấn khởi, cổ vũ mọi người hăng hái vượt khó khăn tiến về phía có tiếng súng, mặc dầu trận đánh vận động đã kéo dài 4- 5 ngày, anh em ăn uống thất thường, có đơn vị đói vì hết gạo.

        Ngày 5 tháng 10, binh đoàn Charton từ Cao Bằng về đã mò tới Quang Liệt, trong ngày hôm ấy chúng có thể tới điểm cao 477. Và như vậy quân Charton sẽ thọc vào sau lưng ta để cứu nguy cho bọn Le Page và Le Page được tiếp cứu sẽ đốc quân lính chúng mở đường máu giải vây.

        Nhận được thông báo của sở chỉ huy đại đoàn, và qua nghiên cứu trên bản đồ, đồng chí đại đoàn phó Cao Văn Khánh trực tiếp chỉ huy cuộc bao vây, đánh ép binh đoàn Le Page vào khu núi đá Cốc Xá để tiêu diệt, đã tổ chức gấp một cái chốt nhỏ ở Tân Bể chặn quân Charton lại. Đại đội Tô Văn được giao nhiệm vụ này. Trải qua một cuộc hành quân đầy gian khổ, phải vượt một dãy núi đá tai mèo đầy nguy hiểm, đại đội trưởng đại đội Tô Văn đã dẫn đơn vị của mình đến Tân Bể trước một giờ khi Charton kéo đến. Đại đội Tô Văn tuy chỉ tổ chức chốt chặn, đánh tan trung đội lê dương đi đầu, nhưng trận đó có giá trị quan trọng đối với toàn bộ chiến chắng tiếp sau của đại đoàn, vì sau đó Charton buộc phải dừng đội hình lại, tổ chức cho cả tiểu đoan 3 thuộc trung đoàn lê dường lên tiếp cứu, ảnh hưởng đến tốc độ hành quân.

        Ngày 6 tháng 10, tình hình diễn biến thật khẩn trương. Charton đã về gần tới điểm cao 477.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:01:35 AM

        Bộ chỉ huy đại đoàn cùng với các cán bộ tham mưu giúp việc lại tập trung phân tích tình hình và đề ra biện pháp xử trí. Địch ở Cốc Xá tuy còn đông, nhưng tinh thần rất bạc nhược, đã lâm vào thế bị bao vây không lối ra. Lúc này ta chỉ cần dùng một bộ phận lực lượng cũng đủ tiêu diệt quân Le Page, còn dồn lại tất cả sang đánh quân Charton ở điểm cao 477.

        Được Bộ chỉ huy mặt trận chấp nhận kế hoạch nói trên. Đại đoàn điều động lực lượng thực hiện: trung đoàn 36 được tăng cường thêm tiểu đoàn 11, có nhiệm vụ nhanh chóng diệt gọn cánh quân Le Page ở Cốc Xá; trung đoàn 102 được tăng cường thêm tiểu đoàn 29, chỉ trong đêm 6 rạng ngày 7 tháng 10 phải đưa hết quân vòng qua dãy núi Cốc Xá để đón đánh quân Charton ở điểm cao 477; trung đoàn 88 bố trí ở Bản Ca- phía nam dãy đồi 477, cần lập một cái chốt cứng ở đây để chặn địch.

        Riêng với trung đoàn 88, tôi gọi điện trực tiếp giao nhiệm vụ:

        - Trung đoàn cho một lực lượng chi viện cho trung đoàn 102 đánh vào sườn phía tây dãy 477. Nhưng nhiệm vụ chính của trung đoàn là chốt chặn Bản Ca vì địch bị đánh ở 477, nhất định sẽ về Bản Ca.

        - Rõ. Tôi hiểu từ Bản Ca có đường mòn đi Thất Khê- Đồng chí Thái Dũng trả lời.

        - Đúng. Cần phải chốt chặn, bịt kín Bản Ca, phải bắt sống Charton!- Tôi nhấn mạnh.

        Toàn đại đoàn cho đến ngày 6 tháng 10, tuy đã sáu ngày đêm liên tục vận động, nhưng nhiều tiểu đoàn, nhiều đại đội vẫn chưa được đánh trận nào. Đói mệt, quần áo rách bươm vì gai rừng cào xé, nhưng tinh thần bộ binh rất háo hức. Giữa lúc tình hình khẩn trương, đại đoàn lại nhận được thư Bác Hồ gửi tới thăm hỏi, động viên mọi người quyết tâm diệt địch, giành toàn thắng trong chiến dịch lịch sử này. Nhận được thư Bác, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn rất xúc động, lập tức cho phổ biến đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Anh em phấn khởi như được tiếp thêm sức chiến đấu. Không khí thi đua giết giặc càng sôi nổi, vui như ngày hội. Tiếp theo là nhật lệnh của đại tướng Võ Nguyên Giáp động viên bộ đội tiến lên hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Bác Hồ giao cho.

        Ngày 6 tháng 10, khắp mặt trận chuyển động với nhịp độ thật khẩn trương. Cuộc chiến đấu dần dần khoanh gọn trong hai khu vực: núi đá Cốc Xá và dãy điểm cao 477. Cốc Xá- 477 hai cái địa danh bình thường của vùng biên giới, ít ai nhắc đến bỗng trở thành cái tên quen thuộc, được ghi vào lịch sử những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc. Bộ tham mưu quân đội Pháp ngày đêm hy vọng xen lẫn với hồi hộp, lo lắng, bóp đầu tính toán những mong Le Page từ Cốc Xá có thể vọt sang 477 gặp Charton. Cùng lúc bộ chỉ huy mặt trận của ta cũng đang tập trung trí tuệ vào hai điểm đó, chỉ đạo bộ đội biến nơi đó thành hai cái mồ chôn vùi quân xâm lược.

        Giữa lúc bộ đội đang ầm ầm chuyển động, đạp bằng khó khăn, vượt lên nguy hiểm để thực hiện bằng được quyết tâm chiến đấu của đại đoàn: bắt sống cả Le Page và Charton, thì tôi phải nằm bất động vì bị chảy máu dạ dày- bệnh cũ nay lại tái phát. Lương tâm và trách nhiệm thôi thúc, tôi không sao nằm yên được. Tôi đề nghị anh em vệ binh làm cáng khiêng tôi đi theo đơn vị để được tiếp tục cùng cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến đấu. Nhưng bác sĩ Minh Tâm vừa như ra lệnh cho tôi vừa như động viên an ủi tôi:

        - Đây là căn bệnh cần phải nằm bất động, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mệnh. Chúng tôi đã thảo luận với anh em thông tin đảm bảo đường dây điện thoại để anh em liên lạc với anh Cao Văn Khánh nắm tình hình…

        Tôi phải cắn răng không kêu để chống lại cơn đau và để chấp hành mệnh lệnh chuyên môn.

        Nằm bất động nhưng đầu óc tôi vẫn hiện lên những hình ảnh bộ đội ta đang tiến quân thắng lợi. Tất cả như một cuốn phim với những cảnh: các chiến sĩ quần áo rách bươm đang chiếm lĩnh điểm cao 477, đang vượt búi đá Cốc Xál; hai tên Le Page và Charton mặt cắt không còn hạt máu, râu ria xồm xoàm, hai mắt trắng dã lơ láo, giơ tay đầu hàng…

        - Anh Vũ!

        Tôi giật mình, tỉnh dậy vì có tiếng gọi.

        - Anh vẫn sốt phải không?- đồng chí y tá hỏi tiếp và đặt tay lên trán tôi.

        - Không, mình thấy dễ chịu, vừa ngủ được chút ít.

        - Nhưng thấy anh nói rất to và hai tay nắm giơ lên…

        - Có lẽ mình nói mê- tôi thanh minh.

        Tôi đã tỉnh thật, và lại nghe tiếng súng nổ rộ từ các nơi dội về.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:05:24 AM

        Một câu hỏi lại được đặt ra: đánh như thế nào và đánh vào lúc nào có lợi nhất để tiêu diệt gọn binh đoàn Le Page?

        Cơ quan  tham mưu đại đoàn gọi điện truyền lệnh cho trung đoàn trưởng Hồng Sơn chuẩn bị sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ được giao, vì Le Page rất có thể liều mạng đánh sang 477 vào khoảng mờ sáng ngày 7 tháng 10. Nhận điện, trung đoàn trưởng Hồng Sơn, người được giao chỉ huy trận quyết định ở Cốc Xá đã triển khai gấp kế hoạch:

        - Tiểu đoàn 11 từ tây nam đánh thẳng vào trong eo Cốc Xá, chặn bằng được con đường mà quân Le Page sẽ chạy sang 477.

        - Tiểu đoàn 154 từ phía bắc theo đường mòn đánh thúc mạnh vào đuôi đội hình địch.

        - Tiểu đoàn 89 từ đông nam đánh lên, riêng đại đội 395 bí mật leo lên đỉnh núi giáng “đòn bổ thượng” vào giữa đội hình địch.

        - Trong đêm 6 tháng 10, hai tiểu đoàn 11 và 154 cứ tự động từng bước đánh ép địch lại, dồn chặt chúng vào trong eo Cốc Xá.

        - Giờ tổng công kích thống nhất vào 5 giờ sáng ngày 7 tháng 10, khi đại đội 395 từ trên cao bất ngờ xả súng xuống đội hình địch.

        Như thế là chúng ta đánh Le Page trước khi chúng thúc quân sang 477 để gặp binh đoàn Charton.

        Trận Cốc Xá diễn ra đúng như dự tính của ta. Suốt đêm, hai tiểu đoàn 11 và 154 đánh chặn đầu, thúc đôi. Địch bị lèn chặt trong eo Cốc Xá. Sáng ra, đúng vào lúc Le Page cố thúc quân liều mạng mở đường máu định đánh bật tiểu đoàn 11 của ta ra để kéo chạy sang dãy 477, thì từ trên đỉnh một ngọn núi đá ở bên sườn eo Cốc Xá, đại đội 395 bất thần đánh xuống. Ở điểm cao lợi thế, các chiến sĩ đại đội 395 không cần dùng súng cối đã mất bao nhiêu công phu khiên vác lên điểm cao này để bắn chế áp, mà chỉ dùng súng máy, lựu đạn, thả cả quả đạn cối 60mm mà quét địch, lẳng xuống đầu địch. Kẻ địch dưới chân họ, đứa chết, đứa bị thương kêu cứu, những tên sống sót xô nhau, đạp lên nhau chạy nhốn nháo la thét, chửi bới oán trách cấp trên của chúng đã dẫn chúng đến nơi tử địa này.

        Tiếng súng của đại đội 395 là hiệu lệnh tổng công kích vào eo Cốc Xá, cũng là tiếng chuông báo tử binh đoàn Le Page.

        Kế hoạch mở đường thoát của Le Page, trở thành kế hoạch tự sát. Y thúc tiểu đoàn dù số 1 cố sống cố chết mở đường ra khỏi eo Cốc Xá nhưng một tuyến hoả lực hơn mười khẩu trung liên của tiểu đoàn 11 bố trí sẵn đã bắn chặn chúng, quan lính ngã chồng chất lên nhau thành một đống tắc nghẽn. Duy còn một quãng để ngỏ, ấy là quãng sườn dốc đổ thẳng xuống vực sâu, lũ quân lê dương, nhảy dù tranh nhau chạy, xô nhau để rồi tất cả đều rơi xuống vực thẳm. Tiểu đoàn 11 bắt sống một số sĩ quan dù. Tiểu đoàn trưởng Dũng Mã tranh thủ giải thích chính sách nhân đạo của Chính phủ ta rồi dùng số này quay trở vào thung lũng Cốc Xá kêu gọi đồng đội của họ nộp súng đầu hàng thì được tha tội chết… trong khi đó hai tiểu đoàn 89 và 154 đã tràn vào thung lũng hợp vây diệt địch…

        Tôi vừa nghe đồng chí trợ lý tác chiến báo cáo tổng hợp quân ta tiến công thắng lợi ở Cốc Xá thì có điện của Bộ chỉ huy mặt trận gọi.

        Tôi cầm máy và nghe rõ tiếng đồng chí Võ Nguyên Giáp ở đầu dây bên kia:

        - Tình hình phát triển thế nào rồi, anh Vũ?

        Nghe giọng nói của đồng chí Tổng tư lệnh, biết lúc này đồng chí đang vui, tự nhiên tôi thấy mình khỏe hẳn lên, cơn đau dạ dày biến mất. Tôi báo cáo gọn:

        - Binh đoàn Le Page coi như đã bị xoá sổ ở núi Cốc Xá…

        - Nhưng chưa bắt được Le Page?

        - Vâng, địch tháo chạy được một số…

        - Phải bắt hết! Còn 477 ra sao?

        - Dạ, đại đoàn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Trung đoàn 102 đang đánh vào sườn đội hình binh đoàn Charton ở dãy đồi 477. Trung đoàn 88 đã bịt chặt Bản Ca- nam điểm cao 477…

        Đại tướng nói vui xen vào:

        - Cố thu xếp cho Charton gặp Le Page!

        - Vâng, chúng tôi hứa cố gắng.

        Nghe tôi nói không bình thường, đồng chí đại tướng rất tinh, hỏi:

        - Sao tiếng nói của anh khàn khàn thế?

        Tôi thấy đã đến lúc phải nói thật điều mà mấy hôm nay tỗi vẫn giấu:

        - Dạ, không phải mất ngủ, tôi bị chảy máu dạ dày, đang phải nằm để tiếp máu khô…

        Không để tôi nói tiếp, đồng chí đại tướng ngắt lời:

        - Chịu khó nằm tĩnh dưỡng cho khỏe. Đánh giặc còn lâu dài. Anh bảo cơ quan tham mưu đại đoàn thông báo gấp cho anh Cao Văn Khánh biết, địch đã đưa binh đoàn Đờ- la Bôm từ Thất Khê lên Lũng Phầy để đón Le Page và Charton về đấy. Đại đoàn 308 hoàn thành tiếp nhiệm vụ tiêu diệt binh đoàn này.

        - Rõ!- Chúng tôi hứa kiên quyết thực hiện bằng được mệnh lệnh của cấp trên.

        - Nhưng anh Vũ phải nghỉ cho khỏe, phải theo ý kiến của quân y…

        Tôi gọi điện cho anh Cao Văn Khánh, thông báo tình hình và truyền đạt mệnh lệnh của đại tướng, thì đầu dây bên kia, lại được tiếp tục nghe những lời an ủi đầy tình nghĩa đồng chí:

        - Anh cứ nằm nghỉ. Mong rằng những tin chiến thắng của đại đoàn ta trong ngày hôm nay sẽ làm anh vui, chóng khỏe.

        Tôi cảm động đến chảy nước mắt về những lời khuyên nhủ chí tình, chan chứa tình cảm đồng chí ở giữa chiến trường nóng bỏng này.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:08:30 AM

        Những nghỉ làm sao được trong lúc các đơn vị của đại đoàn quên hết gian khổ, mệt nhọc và đói rét đã kéo dài hàng tuần lễ, vẫn lao về phía trước, về phía có tiếng súng nổ để truy tìm diệt địch.

        Phải gắng sức mình, phải chia xẻ gian khổ và cần thì xả thân cùng cán bộ, chiến sĩ trong lúc này là cần thiết, là vinh dự và cũng là trách nhiệm của bất cứ người chỉ huy nào của quân đội cách mạng.

        Ý nghĩ đó thôi thúc tôi, giúp tôi có thêm sức mạnh. Tôi tiếp tục theo dõi diễn biến trận đánh, cùng với cán bộ tham mưu đại đoàn vạch kế hoạch cho bộ đội hoàn thành tố nhiệm vụ tiếp sau mà Bộ chỉ huy mặt trận vừa giao…

        Sáng ngày 7 tháng 10, ta xoá sổ binh đoàn Le Page trong thung lũng Cốc Xá, nhưng Le Page và mấy trăm tàn quân lẩn thoát vào rừng.

        Trận Cốc Xá kết thúc thì trận đánh binh đoàn Charton ở điểm cao 477 bắt đầu. Điểm cao này có năm ngọn nối tiếp nhau, trong đó có ba ngọn cùng cao hơn mặt biển 477 mét, nên gọi là dãy núi 477. Mỏm đầu là 477, giữa là 520, tiếp theo là mỏm 500, mỏm này đổ xuống Bản Ca, nơi gặp nhau của hai con suối to chảy dọc theo hai bên sườn đông tây của dãy 477.

        Binh đoàn Charton rời Cao Bằng từ ngày 3 tháng 10, lần mò đến mãi xế chiều ngày 6 tháng 10 mới tới dãy 477. Đêm ấy Charton dân quân lò do trên năm mỏm của dãy đồi 477. Rừng núi ở đây có đặc điểm là ở dưới thấp, cấy cối rậm rạp, nhưng trên các mỏm cao toàn là cỏ gianh, đứng xa tưởng như núi trọc- một loại địa hình rất thuận tiện cho ta thực hành chiến thuật tập kích, bí mật, bất ngờ đánh mạnh, thọc sâu chia cắt địch. Sáng hôm ấy, bầu trời âm u, sương mù bao phủ dày đặc hết cả dãy đồi 477, nhưng nhờ có đồng bào địa phương chỉ dẫn, nên tiểu đoàn 18 đánh rất trúng, chỉ qua hai đợt tiến công đã chiếm được hai mỏm phía nam của dãy đồi. Hôm trước cũng tiểu đoàn 18 chặn đứng quân Le Page ở Cốc Xá, hôm nay cũng tiểu đoàn 18 lại làm nhiệm vụ chặn đầu binh đoàn Charton trên dãy đồi 477. Địch phản ứng mạnh. Những đợt ném bom bắn phá dữ dội của không quân, những đợt xung phong liều chết của lính lê dương khiến tiểu đoàn 18 chỉ còn bám được mỏm 500. Nhưng có tiểu đoàn 23 đánh thốc lên, phối hợp thọc ngang sườn bên phải và bên trái có tiểu đoàn 54, nên quân Charton phải dừng lại trước mỏm đồi 500. Ta địch xen kẽ nhau, ta bám sát đội hình địch, khiến không quân của chúng không pháy huy được hiệu lực, chỉ gầm rú lượn vòng mãi tít trên cao để trấn an bộ binh chúng. Chiều hôm đó, Charton và bọn sĩ quan tuỳ tùng đã bị các chiến sĩ đại đội 263 bắt gọn.

        Đến 17 giờ ngày 17 tháng 10, binh đoàn Charton đã bị tan rã. Tiếng súng ở dãy đồi 477 thưa dần và mất hẳn. Không gian trở lại yên tĩnh.

        Qua những năm làm nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu, tôi đã nghiệm ra rằng khi trận địa dứt tiếng súng, kẻ thù đã bị tiêu diệt hoặc tan rã, lại là lúc cần phải nhắc nhở bộ đội: đề cao cảnh giác. Phấn khởi với thắng lợi nhưng không được lỏng lẻo ý chí chiến đấu. Cho nên sau khi nghe báo cáo địch ở dãy đồi 477 đã bị tiêu diệt, tôi gọi dây nói cho trung đoàn trưởng Thái Dũng:

        - Lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận, bằng bất cứ giá nào phải bắt bằng được Le Page. Nếu nó chết phải đem xác về. Đồng chí phải chấp hành triệt để mệnh lệnh này và cần đề phòng địch ở sau lưng đơn vị đồng chí.

        - Rõ, tôi đã hiểu đại đoàn trưởng.

        Và trung đoàn trưởng Thái Dũng báo cáo tiếp quyết tâm của mình:

        - Hiện giờ tôi đang ở Bản Ca với hai tiểu đoàn 18 và 23 đã bố trí theo thế trận đóng chốt và đón lõng tàn quân đich. Sau lưng tôi có tiểu đoàn 322 đã đứng chân ở điểm cao 515- Đây là một cái chốt nữa để ngăn chặn Đờ- la Bôm từ Thất Khê lên. Tôi đã điều tiểu đoàn 80 xuống phía đó để bọc lưng Đờ- la Bôm.

        - Được. Nhưng đồng chí nhắc các tiểu đoàn trưởng lúc này càng phải tăng cường kiểm tra các đơn vị, duy trì kỷ luật thật nghiêm, nhất là cán bộ phải gương mẫu. Nhắc bộ đội chấp hành đúng chính sách tù, hàng binh.

        Với thế trận này, địch khó trốn thoát.

        Chiều ngày 8 tháng 10, Le Page và bộ phận tham mưu của y đã bị ta bắt gọn ở Nà Cao, cách Cốc Xá 4 kilômét.

        Ngày 7 tháng 10 năm 1950 được xem như ngày hội chiến thắng lớn đầu tiên của đại đoàn.

        Năm tháng sẽ trôi đi, nhưng sổ vàng chiến công của đại đoàn sẽ mãi mãi ngời lên nét son tô thắm thành tích chiến đấu của đại đoàn 308 đánh viện đạt hiệu quả cao nhất: sáng diệt binh đoàn Le Page, trưa đánh tan binh đoàn Charton và chiều bắt sống Charton…

        Đây là một đòn thật đau đối với địch. Trong lịch sử xâm lược nước ta của quân đội Pháp, có thể nói đây là ngày bi thảm nhất, như cao uỷ Pi- nhông đã phải thú nhận: Hai đạo quân hợp lại (binh đoàn Le Page và Charton) là một lực lượng tiến công lớn về số lượng lẫn chất lượng của Đông Dương (tức của bọn thực dân Pháp) đã hoàn toàn bị xoá sổ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2016, 10:12:21 AM

        Trong chiến đấu niềm vui và nỗi lo thường hay xuất hiện xen nhau, tác động vào nhau. Điều đó tưởng như vô lý nhưng là chuyện có thật, được xem như một quy luật.

        Còn gì phấn khởi bằng chỉ trong một thời gian ngắn đại đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu xoá sổ hai binh đoàn tinh nhuệ của địch, nhưng liền sau đó chúng tôi lại rất lo, bởi lẽ cái bệnh “say chiến thắng” đã xuất hiện, tuy lẻ tẻ nhưng nếu không kịp thời đặt ra, không kịp thời khắc phục, ngăn chặn, thì sẽ gây ra hậu hoạ khôn lường.

        Mối lo của chúng tôi đã được Bác Hồ thấy trước, Bác Hồ đã viết thư động viên và khuyên răn. Thư Bác gửi cho bộ đội đang tham gia chiến đấu ở biên giới, đã được Bộ chỉ huy mặt trận gửi qua điện thoại đến cho chúng tôi. Đọc xong thư, Bộ chỉ huy đại đoàn giao cho cơ quan chính trị dùng điện thoại đọc ngay thư của Bác xuống các chính uỷ trung đoàn. Đồng thời cho in và cử người đưa xuống các đơn vị, các chiến sĩ truyền tay nhau đọc. Phải làm cho mọi người thấy ta mới chỉ “hoàn thành bảy phần mười cuộc thử thách”, còn phải truy lùng, quây bắt hàng ngàn tên địch đang lẩn trốn trong rừng rậm, khe suối, tìm đườn trốn thoát về Thất Khê, còn phải cố gắng thật nhiều, không được chủ quan, thoả mãn, lơ là, cảnh giác, mới có thể hoàn thành nhiệm vụ còn lại.

        Sau khi tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn Le Page và Charton, nhiệm vụ tiếp theo của đại đoàn là tiến về giải phóng Thất Khê.

        Đại đoàn chuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ này khá sớm.

        Trinh sát của đại đoàn đã được phái tới đây ngày đêm theo dõi, điều tra, nắm tình hình.

        Tất cả việc làm đi trước một bước đó đã tạo cơ sở cho Bộ chỉ huy đại đoàn hạ quyết tâm. Địch trong Thất Khê có khoảng 1.500 tên. Tuy đông nhưng thành phần không thuần nhất, toàn nhặt nhạnh từ các đơn vị khác họp lại. Quá nửa quân số này là quân Đờ- la Bôm mới bị ta đánh tơi tả rút về, một số ít là tàn quân của Le Page và Charton thoát chết, nhịn đói luồn rừng trở về. Đại đoàn hạ quyết tâm: quân địch đang rất nao núng, ta phải đánh gấp. Chậm dù chỉ là một chút cũng sẽ mất thời cơ.

        Đúng, không để địch hồi sức là một nguyên tắc của nghệ thuật tiến công địch. Một phát súng trường lúc này có sức mạnh, sức công phá như một quả đạn pháo cỡ lớn; tiếng hô xung phong của một chiến sĩ lúc này có sức mạnh như một đoàn quân reo hò xung trận.

        Đại đoàn khẩn trương triển khai chiến đấu, trước hết cần chặn đường rút của đội quân ô hợp này, cô lập Thất Khê với Lạng Sơn. Mờ sáng ngày 9 tháng 10, tiểu đoàn 79 tiêu diệt đồn Bản Ne, mở đường vào uy hiếp đông bắc Thất Khê. Tối hôm đó, đại đội công binh 309 được sự yểm hộ của tiểu đoàn 246 bộ đội địa phương Lạng Sơn, phá sập cầu Bản Trại- một cầu lớn bắc qua sông Kỳ Cùng- cách Thất Khê 3 kilômét về phía đông nam. Các đơn vị được giao nhiệm vụ tiến công mở đầu đã hoàn thành diệt địch một cách xuất sắc, Thất Khê bị uy hiếp cả bốn hướng: đông, tây, nam, bắc.

        Ngày 10 tháng 10, đại đoàn đang trên đường vận động đánh Thất Khê thì nhận được điện của Bộ chỉ huy mặt trận thông báo: địch đang rút Thất Khê. Nhưng bộ phận đi đầu của đại đoàn vận động đến nam chân đèo Bông Lau báo về: địch chưa rút Thất Khê, đèn điện ở đây vẫn sáng. Khi ta đến Thất Khê mới biết là địch đã rút từ chập tối, nhưng địch nghi binh lừa ta, nên chúng để nguyên hệ thống điện, đèn trong thị trấn sáng trưng, máy phát điện nổ xình xịch để át tiếng xe cộ rút chạy mò trong đêm tối.

        Các đơn vị vào đến Thất Khê dừng lại, không kịp thời tổ chức lực lượng truy kích địch. Ở đây có nguyên nhân thuộc về tổ chức chỉ huy, vẫn mắc lại cái bênh thiếu cụ thể. Nhưng cũng có cả cái bệnh “say chiến thắng”, thoả mãn dừng lại. Nhưng cái nguyên nhân của nguyên nhân vẫn là khuyết điểm của cán bộ chỉ huy chúng tôi.

        Sáng ngày 11 tháng 10, bộ phận cuối cùng của địch rút qua Bản Trại.

        Cuộc truy kích lại gặp phải khó khăn, một trận mưa bất thần ập xuống, xối xả trút nước xuống hàng quân, ướt, đói, rét, mệt, cả bốn thứ đó được dịp trỗi dậy, đè nặng lên người chiến sĩ. Nhưng mọi người đã tỉnh ngộ cái bệnh “say chiến thắng”, vươn lên đuổi kịp địch và vượt lên trước dàn trận ở Na Sầm, đón bắt được hầu hết số quân của tiểu đoàn dù thuộc địa số 3 và một đại đội lê dương. Thành tích này sở dĩ có được, trước hết là nhờ công lao của tiểu đoàn 246 bộ đội địa phương Cao Lạng. Đơn vị này đã bố trí phục sẵn ở Đèo Khách- dưới Bản Trại, đánh dứt đội hình địch, hỗ trợ cho đại đoàn đến trước đón địch và đánh thắng chúng tại Na Sầm.

        Tiếng súng diệt địch ở Na Sầm gây phản ứng dây chuyền, vang đến Đồng Đăng, sau xuống Lạng Sơn… địch ở đây hoảng sợ thúc nhau theo đường số 4 rút chạy hỗn loạn bỏ hàng loạt cứ điểm Lộc Bình, Đình Lập, An Châu, v.v… đến sát tận Tiên Yên thuộc khu vực duyên hải.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:07:11 AM

        Chiến dịch biên giới toàn thắng.

        Đại đoàn 308 phấn khởi đón nhận Huân chương Quân công hạng Hai của Chính phủ tặng.

        Và một tin vui nữa đến với đại đoàn: Bác đến thăm.

        Vinh dự nào bằng đội hình hành quân lên mặt trận biên giới có Bác dẫn đầu.

        Tự hào nào bằng trong mỗi bước đi của chiến dịch đều có Bác chỉ dẫn…

        Và hôm nay toàn đại đoàn vô cùng xúc động khi được tin Bác đến thăm.

        Cả đại đoàn háo hức, hồi hộp chờ Bác đến!

        Cả đại đoàn dành tình cảm đẹp đẽ nhất để đón Bác!

        Hôm ấy, chiến trường thu dọn đã tạm xong. Thung lũng Thất Khê xinh đẹp thêm ấm áp màu lúa chín vàng.

        Cán bộ, chiến sĩ đại đoàn mặc bộ quần áo đẹp nhất, đi đến địa điểm tập trung ở chân đèo Bông Lau.

        Trên một dải đất động, cỏ xanh rì; các đơn vị của đại đoàn và một số đơn vị bạn đứng tề chỉnh thành hình chữ U, dành một khoảng trống sạch sẽ cao ráo nhất để đón Bác, nghe Bác nói chuyện.

        Từ phía đường số 4 vào là một lối đi vừa được phát quang, hình thành con đường nhỏ xinh, một đội danh dự quần áo gọn gàng, súng lắp lưỡi lê, đứng thành hai hàng ngang thẳng tắp ở hai bên đường đón Bác.

        Nhưng Bác đến bất ngờ, không đi ô tô, mà đi bộ, không từ đường cái lớn mà ở phía núi ra. Đầu đằng ấy, theo tay Bác gọi dã dậy tiếng reo mừng; đầu đằng này bộ đội vẫn ngơ ngác liếc mắt nhìn ra phía đường cái. Đội danh dự dóng lại đội hình, sửa sang lại quần áo, giày mũ để sẵn sàng khi có khẩu lệnh là bồng súng chào khi Bác đi qua.

        Tiếng hoan hô chào mừng vẫn náo nhiệt từ đằng ấy đến đằng này. Súng trên vai người nhảy nhót, nghiêng ngả, mũ bay vọt lên, rồi xuống, lại bay lê, mũ quay tít trên đầu nòng súng…

        Tiếng reo hò “Bác Hồ muôn năm!” dậy lên như những đợt sóng.

        Bác tươi cười vẫy chào lại và bảo thôi, im lặng để bác nói chuyện.

        Bộ đội chưa hiểu ý Bác, lại nhảy lên reo hò to hơn.

        Bác cười, râu Bác rung rinh.

        Bộ đội cui sướng càng cười nói vang động cả khu rừng tĩnh mịch. Tôi phải cố gắng lắm mới điều khiển được bộ đội ngừng trận cười reo như sấm động.

        Tôi mời Bác lên chỗ mô đất cao.

        Bác lắc đầu chỉ tay về phía bộ đội, rồi Người đi xuống bãi cỏ, ra hiệu cho các cháu nhích lại gần.

        Đội hình chữ U tan ra thành hình chữ O hẹp dần quây gần bên Bác và im lặng…

        Bộ đội nhìn Bác, lòng xôn xang!

        Người gầy hơn trong ảnh, da sạm nắng, Bác đã vất vả nhiều cho chiến dịch toàn thắng này.

        Bác nhìn bộ đội trìu mến như Cha lâu ngày mới gặp con.

        Bác hỏi đủ điều: hỏi sức khỏe, hỏi ăn ở, hỏi kỷ luật; hỏi đoàn kết nội bộ và đoàn kết quân dân, v.v…

        Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen đại đoàn 308 đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, vượt qua khó khăn, đánh dũng cảm, thắng to…

        Bác hỏi:

        - Vì sao ta thắng?

        Nhiều cánh tay giơ lên. Bác nhìn lướt hàng quân rồi chỉ định một chiến sĩ rất trẻ ngồi triứơc mặt Bác phát biểu.

        Đồng chí chiến sĩ ấy đứng dậy, hai chân theo tư thế đứng nghiêm, trả lời tuy thiếu bình tĩnh nhưng nội dung gần như thư Bác đã gửi cho bộ đội:

        - Thưa Bác, vì bộ đội ta rất dũng cảm, chỉ huy rất đúng đắn, nhân dân rất hăng hái, Chính phủ rất quyết tâm.

        Bác khen đồng chí chiến sĩ vừa trả lời đúng. Bác gật đầu cười. bộ đội reo lên, vỗ tay, cười theo…

        Bác tặng đại đoàn một số quà- những ngôi sao đỏ xinh xinh, lóng lánh như ngọc, dành cho những cán bộ, chiến sĩ xuất sắc. Sau đó Bác ôm hôn trung đoàn trưởng Thái Dũng- đại diện cho cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn hứa hẹn lập công.

        Bác âu yếm nhìn bộ đội một lượt. Người nói đại ý:

        - Bây giờ thì Bác bận, không thể ở lâu với các chú được. Bác chúc các chú khỏe mạnh, cố gắng luôn luôn để khi Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh, đánh là thắng- Rồi Bác hỏi- Các chú có đồng ý không?

        - Đồng ý! Đô… ồng ý…

        Bác lại đi về phía núi, đi một quãng lại dừng lại, quay lại vẫy bộ đội.

        Tiếng vỗ tay, tiếng reo mừng tiễn Bác vang vọng cả khu rừng biên giới…

        Bóng Bác lẫn vào cánh rừng, nhưng lời Bác dạy còn vang vọng mãi như một lời thề sông núi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:08:20 AM

        Từ đó đại đoàn 308 đã mang theo lời dạy của bác đi vào các chiến dịch Trung Du, Tây Bắc, Điện Biên Phủ; đã đánh và đã thắng ở những địa danh lịch sử đỏ.

        Sau 37 ngày đêm liên tục chiến đấu, chiến dịch Biên Giới kết thúc thắng lợi vào giữa tháng 10 năm 1950.

        Tháng 10 về, thời tiết vùng biên giới đã chuyển sang mùa lạnh. Nhưng vào những ngày này đi bất cứ đâu trên dọc đường số 4 cũng đều bắt gặp một không khí ấm áp tình người, đoàn kết quân dân, tưng bừng náo nhiệt đón mừng ngày Hội chiến thắng.

        Tháng 10 về, ở Hà Nội lúc đó bọn thực dân Pháp lại sống trong không khí ảm đạm, nghẹ thở. Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở chiến trường Bắc Bộ hoảng hốt, lo sợ đoàn quân chiến thắng từ biên giới tiến về huy hiếp Hà Nội. Thế là “những trận địa phòng thủ cấp tốc được dựng lên ở đầu cầu Đu- me (tức cầu Long Biên). Những gia đình bắt đầu di tản, hồ sơ lưu trữ bắt đầu chuyển xuống Hải Phòng (Đường số 4- Hồi ký của Charton).

        Tháng 10 về, cục diện chiến tranh lại thêm nhiều dấu hiệu chuyển biến có lợi cho ta. Nhiều đổi thay sau đó đều được tính từ cái đà của thời điểm tháng 10 lịch sử này. “Bốn năm sau, Điện Biên Phủ thất thủ… nhưng chính là từ đây (tức chiến dịch Biên Giới ở Đông Dương” (Đường số 4- Hồi ký của Charton).

        Hai mươi tám năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào quên lời phát biểu của Bác Hồ tại hội nghị tổng kết chiến dịch Biên Giới tháng 11 năm 1950. Bác nói chiến dịch này ta đã thắng hai trận:

        “Thắng lợi thứ nhất là chúng ta đã tiêu diệt địch và giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê…

        Thắng lợi thứ hai là chúng ta đã thấy rõ những ưu điểm và khuyết điểm của ta”.

        Đúng là trong mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã thu được một thắng lợi quan trọng, đó là sự lớn lên trong nếp nghĩ, trong tác phong. Chúng tôi đã nhìn thấy rõ mình hơn. Thấy ưu điểm, nhưng cũng nhìn rõ khuyết điểm. Chúng tôi đã tâm đắc một điều là thắng lợi sẽ không thể có được, sẽ không thể làm tròn danh hiệu đại đoàn Quân Tiên Phong- nếu thiếu cụ thể trong tổ chức chiến đấu, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu nghiêm khắc chặn đứng cái bệnh “say chiến thắng” ấy lại.

        Mặt trận Trung du- Đồng bằng

        Một bước ngoặt lịch sử được đánh dấu bằng chiến dịch Biên Giới toàn thắng.

        Từ đây lực lượng vũ trang ta có điều kiện phát triển và lớn mạnh không ngừng.

        Ngược lại, địch càng suy yếu và lùi vào thế bị động đối phó.

        Tư lệnh quân viễn chính Pháp ở Đông Dương, tướng Carpentier bị thải hồi, tướng Đờ- lát Đờ Tát- xi- nhi sang thay, một mình nắm giữ cả hai quyền chỉ huy dân sự (cao uỷ) và chỉ huy quân sự (tổng tư lệnh). Đây là lần đầu tiên hai quyền này được chính phủ Pháp giao cho một viên tướng.

        Đờ Tát- xi- nhi nguyên là tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, tư lệnh lục quân khối Bắc Đại Tây Dương và là một trong những thành viên đại diện các tư lệnh quân đội Đồng minh (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ hai đến nước Đức dự lễ ký nhận đầu hàng không điều kiện của Bộ tổng tham mưu quân đội phát xít Hít- le. Tất cả những “may mắn” đó tạo cho viên tướng mang dòng họ quý tộc này mang nặng tính ngạo mạn- chủ quan, rất hung hăng với nghề chiến tranh.

        Đờ Tát- xi- nhi tỏ ra “xông xáo”, rời bộ chỉ huy Pháp từ Sài Gòn ra Hà Nội để trực tiếp chỉ huy bộ máy này đối phó với chiến trường chính là Bắc Bộ và “đặt đồng bằng Bắc Bộ là trọng điểm chiến tranh” (Đông Dương hấp hổi- H.Nava)…

        Ngay sau khi chiến dịch Biên giới kết thúc, Bộ đã gợi ý đại đoàn 308 cần khẩn trương tiến hành tốt công tác tổng kết chiến dịch, chấn chỉnh tổ chức, sắp xếp cán bộ đầy đủ để có thể tiếp tục chiến đấu khi có lệnh.

        Cuối tháng 11 năm 1950, chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Bộ, đồng thời với việc tổ chức cho bộ đội “hạ sơn” trở về trung du, đại đoàn đã phái một bộ phận gồm các cán bộ tham mưu, trinh sát và thông tin đi trước chuẩn bị chiến trường.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:08:58 AM

        Đầu tháng 12, từ Cao Bằng, đại đoàn cấp tốc hành quân về tập kết ở chân núi Tam Đảo chuẩn bị chiến đấu. Cùng lúc đó tôi về Bộ nhận nhiệm vụ cụ thể. Cơ quan Bộ từ Cù Vân chuyển lên khu vực Chợ Chu (Thái Nguyên). Đường đi khá xa, nhưng nhờ con ngựa có sức khỏe dẻo dai đã đưa tôi đến cơ quan Bộ đúng ngày quy định. Ở cuộc họp này chúng tôi mới sáng rõ Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đã phán đoán rất chính xác về diễn biến cuộc chiến tranh. Sau biên giới phải là trung du và đồng bằng. Chính vì thế mà ngay từ tháng 9 năm 1950, trong lúc chiến dịch Biên Giới bắt đầu mở màn. Bộ Tổng tư lệnh đã có kế hoạch chỉ đạo chuẩn bị chiến trường trung du. Trong khi đại đoàn 308 đang lao vào cuộc chiến đấu chặn viện với những trận đánh ác liệt xảy ra ở Khau Luông, ở dãy đồi 477, thì Bộ đã tổ chức hội nghị với các địa phương, các ngành ở vùng trung du để nắm địch, nắm khả năng nhân vật lực; ngoài ra Trung ương còn chỉ thị cho các cấp uỷ địa phương tích cực thu mua gạo, chuẩn bị thực phẩm tập trung ở những địa điểm cơ động để khi có lệnh chiến đấu có thể vận động đến nơi cần thiết phục vụ bộ đội đánh giặc.

        Đồng chí Tổng tư lệnh phân tích hình thái chiến tranh sau chiến dịch Biên Giới đã có những thay đổi nhảy vọt: ta mạnh lên và đang phát triển thế chủ động; địch suy yếu và bị động nhưng chúng vẫn ngoan cố tiếp tục chiến tranh, tập trung lực lượng cơ động (Lực lượng cơ động chiến lược của Pháp ở Bắc Bộ lúc này có bảy binh đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của bảy đại tá: Ơ- đông, Blăng- ca- ê, De Castries, ơ- ruy- banh, Vay- nuy- xem, Clê- măng và Tô- ma- đô) ra Bắc Bộ để củng cố thế trận phòng ngự, cố thủ trung du và đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trước sự suy yếu và bị động của địch, trước khí thế bộ đội ta đang lên, để tranh thủ thời cơ lúc địch đang còn hoang mang, chưa kịp củng cố, Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Trung Du trên địa bàn hai tỉnh Phúc Yên và Vĩnh Yên nhằm mục đích trước hết là tiêu diệt sinh lực địch: phá kế hoạch củng cố lực lượng của địch và góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng hậu địch.

        Cuối cùng đồng chí đại tướng nhấn mạnh: đây là “lần đầu tiên chúng ta sử dụng binh đoàn lớn trên chiến trường đồng bằng”, vì vậy cần phải phát huy dân chủ quân sự tìm cách đánh thích hợp để phát huy cao độ mặt mạnh của ta và hạn chế tiêu diệt sinh lực địch, bỗi dưỡng lực lượng ta.

        Đúng là thời gian chiến dịch không dài, mục tiêu chiến dịch không lớn nhưng tính chất ác liệc và phức tạp thì lại có những điểm hoàn toàn không giống như chiến dịch Biên Giới.

        Thời gian- dù chỉ là ít phút trò chuyện thăm hỏi nhau lúc này cũng thật hiếm. Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi chỉ kịp bắt tay nhau tạm biệt rồi mỗi người một ngả đi nhanh về đơn vị triển khai kế hoạch chiến đấu. Mỗi chúng tôi lúc này đều có chung một ý nghĩ: phải chạy đua với thời gian, phải về trước thời gian để kịp ngày N- ngày chiến dịch bắt đầu nổ súng.

        Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn họp xác định quyết tâm chiến đấu và tổ chức quán triệt ngay quyết tâm chiến đấu đó xuống các đơn vị:

        - Đợt một đánh cứ điểm phải thắng giòn giã.

        - Đợt hai đánh viện phải thực hiện diệt nhiều địch, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí…

        - Trung đoàn 102 diệt cứ điểm Tú Tạo, Cà Phê; trung đoàn 88 đánh Hữu Bằng, Thằn Lằn; trung đoàn 36 quen đất Bắc Bắc trở về nhổ cứ điểm Yên Phụ- Yên Phong (Bắc Ninh).

        Sở trường đánh công kiên của đại đoàn lại có điều kiện phát huy tác dụng. Chỉ trong hai ngày 26 và 27 tháng 12 năm 1950, các trung đoàn đã dùng chiến thuật đánh khác với chiến thuật dùng trong các chiến dịch trướ, là ở cách xa địch trên dưới 10 kilômét, nhanh chóng, bí mật vận động đến gần, đồng loạt tiến công mãnh liệt, tiêu diệt hoàn toàn năm cứ điểm nói trên (mỗi cứ điểm có một đại đội địch đóng giữ). Những trận thắng lợi mở đầu này đã cổ vũ mạnh mẽ sí khí cán bộ, chiến sĩ, góp phần động viên đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ tiếp sau. Vì lần đầu tiên ta tiêu diệt được các cứ điểm boong- ke (loại đồn bót xây dựng bằng xi- măng, cốt sắt) của địch xây dựng trên vành đai trắng (khu vực địch đuổi dân đi nơi khác, nhà cửa làng mạc san bằng để chúng dễ phát hiện ta từ xa và tiện dùng phi pháo diệt ta khi bị tiến công), địa hình trống trải.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:09:42 AM

        Trong đợt một chiến dịch, đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ tương đối thuận lợi là do chấp hành nghiêm chỉnh thiến thuật bí mật, vận động thật nhanh từ xa đến đánh địch của Bộ đề ra- một chiến thuật đã lợi dụng được chỗ yếu của địch (phân tán lực lượng), đánh được nhiều nơi, buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động ứng cứu; đánh đêm nên tránh được phi pháo địch.

        Thắng lợi đợt một, chứng tỏ trình độ vận dụng chiến thuật của các đơn vị có nhiều tiến bộ. Đại đoàn đã thực hiện được 3 yêu cầu: vận động nahnh, giải quyết chiến trường nhanh, nhanh chóng rút về vị trí giấu quân cũ, đem theo cả tù binh và chiến lợi phẩm. Tất cả bằng ấy việc đều phải làm cùng một lúc, thật nhanh; xong trong khoảng 12 tiếng đồng hồ- từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời vừa mới mọc, khoảng mờ mờ sáng, chưa rõ mặt người.

        Ngày 13 tháng 1 năm 1951, đợt hai chiến dịch bắt đầu. Đại đoàn 308 cùng với 2 trung đoàn 209 và 141 của đại đoàn 312 thực hiện phương châm tác chiến của Bộ là đánh điểm diệt viện.

        Ba Chúc được chọn là điểm tiến công mở màn đợt hai. Quân số địch đóng giữ Ba Chúc không đầy một đại đội nhưng cứ điểm này giữ vị trí xung yếu (cách thị xã Vĩnh Yên 12 kilômét về phía tây bắc), trên tuyến phòng thủ có chiều sâu của địch. Mất Ba Chúc sẽ rung chuyển toàn bộ phòng tuyến phòng thủ của địch ở tây bắc thị xã Vĩnh Yên, buộc địch phải dùng viện binh chiếm lại.

        Bộ lệnh cho một đơn vị của đại đoàn 312 tiến công san bằng cứ điểm Ba Chúc, đại đoàn 308 làm nhiệm vụ chặn viện.

        Sau khi nghe các đồng chí cán bộ trinh sát và tham mưu báo cáo địch tình và địa hình, Bộ chỉ huy đại đoàn quyết định khu vực chặn viện từ tây bắc đến đông nam thị xã Vĩnh Yên, bao gồm đường tỉnh số 203 (Thanh Vân- Đạo Tú).

        Diễn biến trận đánh đúng như phán đoán của Bộ Tổng tham mưu.

        Đêm 13 tháng 1, ta tiến công và diệt gọn địch ở cứ điểm Ba Chúc.

        Sáng 14 tháng 1, bốn máy bay cổ ngỗng- kiểu Kinh- cô- bra bay qua bầu trời Vĩnh Yên lúc sương mù cuối đông chưa tan hết, rồi vội vã quay về phía Gia Lâm.

        Trận địa chặn viện của đại đoàn vẫn yên tĩnh.

        Các chiến sĩ căng thẳng chờ địch. Mọi người tranh thủ giấu kín mình ở các cánh đồng vừa mới gặt còn trơ gốc rạ, nhưng vẫn sẵn sàng tư thế tiến công khi có lệnh. Bởi lẽ tuyệt đối giữ bí mật lúc này là yếu tố quyết định thắng lợi.

        Ở Sở chỉ huy đại đoàn, các cán bộ tham mưu và trinh sát đang dán mắt vào tấm bản đồ Vĩnh Yên để theo dõi hoạt động của địch, từng bước đi của chúng. Các đồng chí thông tin lúc nào máy nghe cũng gần như dính liền tai, sẵn sàng nhận tin tức các nơi báo cáo về.

        Không một tiếng nói- dù chỉ là thì thầm.

        Phút yên lặng diễn ra không lâu. Khi tiếng máy bay gầm rú xa dần về phía Gia Lâm, thì tổ trinh sát tiền phương của đại đoàn từ sát thị xã Vĩnh Yên báo cáo về:

        - Một tiểu đoàn địch đã rời thị xã Vĩnh Yên qua ngã ba Đông Đạo tiến về phía Ba Chúc.

        Kế hoạch Sở chỉ huy rộn lên tiếng cười nói.

        - Kẻ địch trúng kế ta rồi- tiếng tro vui của một đồng chí cán bộ tham mưu đang theo dõi địch trên bản đồ.

        Tôi gọi dây nói, lệnh cho trung đoàn trưởng Hồng Sơn:

        - 36 cố gắng làm gọn trận này để tạo cơ hội cho toàn đại đoàn đánh lớn, thắng to!

        Tôi cố ý nhấn mạnh cố gắng làm gọn là tỏ ý thông cảm cới những khó khăn của trung đoàn trưởng Hồng Sơn trong trận này. Khó vì trung đoàn 36 có ba tiểu đoàn bộ binh thì, tiểu đoàn 89 phải đi hoạt động độc lập, xuống Hương Canh, phía đông nam thị xã Vĩnh Yên, phối hợp với dân quân du kích đánh địch dưới đó; như vậy ban chỉ huy trung đoàn 36 chỉ còn hai tiểu để chọi với một tiểu đoàn có hoả lực chi viện rất mạnh của pháo binh và không quân. Khó nữa là địa hình vùng này trống trải, ta không thể giấu quân sát đường cái được, mà phải nằm cách một kilômét, nên khi vận động ra nếu không khéo, không khớp giữa các mũi thì có thể bị động với địch.

        Nhưng trung đoàn 36 đã khắc phục được những cái khó ấy. Với những kinh nghiệm đúc kết được trong trận vận động tiêu diệt hai binh đoàn Le Page và Charton ở Cao Bằng, Lạng Sơn, trung đoàn 36 đã nắm vững nguyên tắc chiến thuật “3 trước, 3 mạnh”, tức là chiếm điểm cao trước, nổ súng trước, xung phong trước; xung phong mạnh, đánh mạnh, đuổi mạnh, nhanh chóng chia cắt tiểu đoàn Bắc Phi thuộc binh đoàn cơ động số 3 do viên đại tá Va- nuy- xem chỉ huy ở dãy đồi Cẩm Trạch lổn nhổn đá gan gà và lúp xúp những bụi cây bù cu xanh rỉ màu đồng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:10:28 AM

        Nghe tiếng kêu cứu của lũ quân bị sa lầy ở Cầm Trạch, Va- nuy- xem vội vã tung hết cả ba tiểu đoàn còn lại của hắn ra trận. Pháo binh địch từ Vĩnh Yên bắn dọn đường. Máy bay địch gầm rít trên không trung. Bộ binh địch, một phần đi xe, những chiếc xe bọc thép, xe GMC nối nhau bò trên đường cái; một phần đi bộ. Cánh đi bộ lò dò từng bước tiến theo con đường mòn vắt dọc dãy đồi từ ngã ba Đông Đạo lên Cẩm Trạch, chúng vừa đi vừ bắn thăm dò.

        Trung đoàn 88 vẫn chưa được lệnh nổ súng.

        Tất cả mọi người đều im lặng, không nhúc nhích để giữ bí mật, nhưng tâm trạng cán bộ, chiến sĩ trung đoàn rất bồn chồn vì súng đã nổ ở nhiều nơi, cá đơn vị bạn đã được chiến đấu, lập công.

        Va- nuy- xem lúc này tập trung sự chú ý của y về phía Cẩm Trạch, chủ quan đốc thúc đại bộ phận quân lính đến dãy đồi ấy cứu nguy cho đồng bọn…

        Theo đúng kế hoạch tác chiến của đại đoàn, trung đoàn 88 bất thần nổ súng, đánh vào đuôi, vào sườn binh đoàn cơ động số 3.

        Trận này, quân ta lại nhanh chóng băm nát đội hình địch. Nhưng cũng như trận buổi sáng của trung đoàn 36, địch chỉ bị cắt vụn, nát ra, ta không có cách nào quây gọn chúng lại mà diệt.

        Trung đoàn 88 báo cáo:

        - Đã cho tiểu đoàn 23 phóng ra bọc hậu binh đoàn địch, nhưng vẫn không thể bọc nổi cái khối quân địch quá lớn như vậy. Quân Va- nuy- xem chạy tan nát, tán loạn…

        Tôi ra lệnh bổ sung:

        - Không quay bắt lớn được thì nhanh chóng quây lấy từng bộ phận nhỏ của địch mà đánh cho gọn.

        Tiếp đó các đơn vị báo cáo nhiều tin đáng phấn khởi: bắt được nhiều tù binh… địch xen hàng rất nhiều…

        Nhưng rồi lại có những báo cáo nghe rất sốt ruột: tù bình tháo chạy… máy bay địch bắn chặn cho tù binh chạy trốn. Tại sao lại có chuyện như thế? Thì ra chiến sĩ ta quen lối bắt địch ở chiến dịch Biên Giới, bắt được tên nào, tốp nào, ta tước vũ khí xếp vào một chỗ, rồi chỉ hướng cho chúng đi về phía sau sẽ có người thu nhận. Tù binh đi tự do nên gặp cơ hội là chúng trốn chạy.

        Trận phục kích này cho chúng tôi thêm một số bài học về thiến thuật:

        - Bố trí đánh phục kích ở địa hình trung du và đồng bằng khác rất nhiều so với đánh trên địa hình rừng núi. Ở rừng núi chỉ có đường độc đạo địch không chạy ngang được, ngược lại ở trung du hay đồng bằng, hai bên đường là ruộng khô, đất trống, nên cho dù có chặn đầu, khóa đuôi, xuyên ngang, chia cắt thì địch vẫn chạy tung toé ra được. Muốn tạo thành thế bao vây, cần phải có lực lượng bố trí sẵn, đối diện với hướng đánh của ta để khi địch chạy toả ra, ta đón bắt, hoặc dồn gom chúng về phía ta đã dự kiến trước.

        - Ngoài ra, phải có lực lượng chuyên bắt tù binh, hàng binh. Bộ phận đi trước cứ đánh, thọc sâu, xuyên mạnh, gạt địch sang một bên cho bộ phận đi sau đón bắt. Nếu không thì đơn vị nào cũng ham đánh, ham đuổi, địch bị bắt hay buộc phả đầu hàng thấy không ai cai quản sẽ lẩn trốn ngay.

        Trận đánh ngày 14 tháng 1, đại đoàn diệt gọn 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn khác của binh đoàn Va- nuy- xem, xác địch, vũ khí địch rải khắp cánh đồng hẹp và trên sườn núi trọc từ Nhân Mỹ đến Thanh Vân, Đạo Tú. Nhưng do những thiếu sót trên nên ra không thực hiện được tiêu diệt gọn, vẫn để tàn quân Va- nuy- xem trốn thoát về thị xã Vĩnh Yên.

        Phối hợp với các trận đánh binh đoàn Va- nuy- xem ở tây bắc và đông nam thị xã Vĩnh Yên, tại hướng Hương Canh- đông nam thị xã, tiểu đoàn 89 thuộc trung đoàn 36 đã cùng với lực lượng dân quân du kích ở đây hoạt động có hiệu quả, bức rút một số đồn bốt và tháp canh, tiêu diệt một đoàn xe 6 chiếc, đánh thọc sát sân bay thị xã, làm nổ một kho xăng, v.v…

        Bộ chỉ huy Pháp nhận định: đường Hà Nội- Vĩnh Yên đang bị Việt Minh uy hiếp nghiêm trọng.. và nếu Vĩnh Yên lọt vào tay Việt Minh thì Hà Nội cũng không còn an toàn…

        Chính vì lẽ đó mà địch phải xuất tướng- Đó chính là chủ tướng Đờ Tát- xi- nhi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:11:13 AM

        Ngày 17 tháng 12 năm 1950, đáp máy bay sang Sài Gòn chính thức nhận chức Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp, kiêm cao uỷ Pháp tại Đông Dương. Hôm ấy tại sân bay Tân Sơn Nhất, Đờ Tát- xi- nhi trịnh trọng tuyên bố với những người ra đón: “Tôi sẽ mang lại chiến thắng và danh dự”. Ngày 24 tháng 12 năm 1950, Đờ Tát- xi- nhi ra Hà Nội. Trong bữa tiệc đêm Nô- en, trước những kẻ quyền quý còn đang hốt hoảng về cái chết của hai binh đoàn Le Page và Charton ở Cao- Lạng, còn đang lo chạy tiền chạy của vào Sài Gòn cho chắc dạ, thì viên Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp lại ngạo mạn tuyên bố: “Tôi kiến quyết giữ Hà Nội, tôi sẽ không bỏ một tấc đất nào”.

        Thế rồi 21 ngày sau đó- ngày 14 tháng 1 năm 1951, Tổng tư lệnh Đờ Tát- xi- nhi phải tất tưởi ra đốc chiến, tự mình giáng chức xuống làm chỉ huy trưởng mặt trận Vĩnh Yên.

        Trưa ngày 14 tháng 1, Đờ- lát đáp máy bay xuống Vĩnh Yên. Tại thị xã đang bị uy hiếp này và trong lúc đang loang ra một tin đồn “Việt Mínhẽ về ăn tết ở Hà Nội”, Đờ- lát ra lệnh:

        “Va- nuy- xem giữ Vĩnh Yên. Ơ- đông cho liên đoàn (đang ở Hương Canh) lên phối hợp với Va- nuy- xem. Ơ- đông bảo vệ khu nội thành Vĩnh Yên. Sa- lăng phải điều hợp các hoạt động. Bô- phrê bảo vệ phía bắc Hà Nội. Clê- măng tập hợp 3 tiểu đoàn quanh cầu sông Đuống để sẵn sàng yểm trợ cho Ơ- đông về phía đông bảo vệ Hà Nội ở phía Bắc. Đờ- danh- vin tập trung tất cả cá đơn vị quanh Phủ Lạng Thương (tức thị xã Bắc Giang) để ngăn chặn phía này. Cát- tơ- ri cho liên đoàn Tabor tạm rời Lục Nam tới với Ơ- đông. Cát- tơ- ri phải đi ngay đêm nay để mai có mặt ở Vĩnh Yên”.

        Sau đó, Đờ- lát bay về Hà Nội lại ra thêm một quyết định nữa cho yên tâm. Y chỉ thị cho tham mưu trưởng A- la bay ngay vào miền Trung và Nam Bộ lấy thêm năm tiểu đoàn viện binh, trưng dụng tất cả máy bay dân sự để lập một cầu hàng không chở viện binh ra Hà Nội.

        Ngày 15 tháng 1, các trận đánh ác liệt diễn ra từ tây bắc thị xã Vĩnh Yên xuống đến Hương Canh, một vùng đồi trọc rộng 12 kilômét, sâu 10 kilômét. Trên bầu trời lúc nào cũng có hàng đàn máy bay gầm rít. Mặt đất ùng oàng liên tục, tiếng đạn đại bác nổ kéo dài như sấm dậy. Va- nuy- xem đưa số quân còn lại của binh đoàn cơ động số 3, khoảng hai tiểu đoàn, lập trận địa ở ngoại vi tây bắc thị xã Vĩnh Yên và chiếm giữ một số mỏm đồi thấp ở phía đông. Hai trung đoàn 88 và 36 được lệnh của Bộ chỉ huy đại đoàn tiếp tục đánh quân Va- nuy- xem uy hiếp thị xã Vĩnh Yên, trung đoàn 102 điều hai tiểu đoàn bám đường số 2, đánh chặn binh đoàn Bắc Phi của Ơ- đông từ Hương Canh đang cố mò lên tiếp sức cho Va- nuy- xem. Sáng hôm ấy, sương mù còn đang mờ mờ sát mặt đất, tiền quân của Ơ- đông vừa lò dò đến vùng Ngoại Trạch thì chạm phải tiểu đoàn 79, mới cơ động từ chân núi Tam Đảo ra đến đó. Với một đợt xung phong bất thần và rất mạnh, tiểu đoàn 79 đánh giạt cả một tiểu đoàn Bắc Phi xuống một cánh đồng trũng. Binh đoàn của Ơ- đông phải đối phó hết sức chật vật, và nhờ có pháo và máy bay yểm trợ đến mức cao nhất mới gỡ được cái “then cài” của tiểu đoàn 79. Nhưng đến trưa, tiến được thêm mấy kilômét, đến vùng Khai Quang- Mậu Thông, quân Ơ- đông lại gặp phải cái “then cài” của tiểu đoàn 18. Vào lúc này, ở Vĩnh Yên, quân Va- nuy- xem đã gần hết đạn, mà đi theo cánh quân của Ơ- đông lại là một đoàn xe tải đạn tiếp tế cho Va- nuy- xem. Như vậy có nghĩ là Ơ- đông đến Vĩnh Yên chậm giờ nào thì tình thế của Va- nuy- xem thêm nguy giờ ấy. Cho nên, Đờ- lát phải giở đến bửu bối: Bom na- pan, thứ bom lửa mới chở từ các căn cứ của Mỹ ở Nhật sang cách đó vài ngày. Đây là lần đầu tiên địch phải dùng loại vũ khí át chủ này.

        Bốn chiếc máy bay King- cô- bra ném 8 quả na- pan, tạo ra một vệt lửa cháy rừng rực dài hơn nửa kilômét. Tiểu đoàn 18 bị bất ngờ vì vũ khí mới của địch, phải giãn ra. Thế là địch đi được.

        14 giờ, binh đoàn Ơ- đông mới mở được đường máu đến Vĩnh Yên. Tiếp sau đó là đoàn xe vận tải đạn dược, và cuối cùng là binh đoàn Cát- tơ- ri.

        15 giờ 30 phút, Đờ- lát lần thứ hai bay lên Vĩnh Yên.

        Từ sau lúc địch dùng bom lửa (lúc này mới chỉ thấy một loại nom gây thương vong khác với bom địch thường dùng trước đó, chứ chưa biết nó là bom na- pan), đại đoàn tổ chức ngay một đoàn cán bộ tham mưu và quân y đến trận địa tiểu đoàn 18 điều tra tính năng, tác dụng của thứ bom mới đó để nghiên cứu cách phòng tránh, hạn chế hậu quả của nó.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 01:12:32 AM

        Việc địch dùng loại bom lửa này, lúc đầu có làm cho một số chiến sĩ lo lắng, băn khoăn vì chưa tìm ra cách phòng tránh có hiệu quả. Nhưng ngay chiều hôm ấy những băn khoăn lo lắng đó của anh em đã được giải quyết sau khi có báo cáo thực tế của trung đoàn trưởng Vũ Yên: Địch ném bom lửa trùm lên trận địa của tiểu đoàn 18, nhưng số anh em bị thương nặng không bao nhiêu, rất nhiều anh em chỉ bị bỏng tay, bỏng vai… vẫn tiếp tục chiến đấu. Do đó, sau khi bị bất ngờ phải giãn đội hình ra thì tiểu đoàn 18 đã nhanh chóng chiếm lại trận địa cũ và tiếp tục quần nhau với địch cho đến xế chiều, có lệnh mới rút đi. Đồng chí Vũ Yên sơ bộ nêu hai ý kiến: một là, để hạn chế địch ném bom lửa, yêu cầu cho tổ chức đội phòng không bảo vệ trận địa, có thể dùng trung liên, đại liên, vì khi ném loại bom này, máy bay địch phải sà xuống rất thấp; hai là chỗ nào ta và bộ binh địch bám sát nhau thì máy bay địch không dám ném bom, vậy bám chặt lấy địch mà đánh là cách làm tốt nhất để hạn chế tác hại của bom lửa.

        Tiếp đến, đoàn cán bộ đại đoàn cử đi nghiên cứu tác hại của bom na- pan, từ trận địa của tiểu đoàn 18 trở về cung cấp thêm một số liệu sơ bộ, nhưng rất quý. Na- pan là bom xăng đặc, mỗi quả nổ tung những cục lửa ra các phía, xa nhất từ tâm điểm nổ khoảng 50 mét. Những cục lửa này gặp vật khô như gỗ, lá, rơm, rạ, sẽ gây ra cháy lớn, nhưng ở chỗ trống trải thì bom này chỉ có tác dụng như một ngọn lửa bùng lên rồi tắt ngay.

        Một chiến sĩ tiểu đoàn 18 bị bom lửa trùm lên người đã nhanh chóng vứt mũ, cởi áo ngoài nên chỉ bị bỏng rất nhẹ

        Có đồng chí áo bị cháy, cởi không kịp đã lăn ra đất và lửa tắt ngay.

        Anh em nêu ý kiến:

        - Áo mưa choàng lên người có tác dụng lắm, địch ném nom lửa, nếu áo cháy, vứt áo ra là xong; áo cháy ít, dập lửa đi, lại tiếp tục dùng.

        - Nên làm hầm có bắp bằng bẹ chuối…

        Ngay đêm hôm đó đại đoàn lại cử cán bộ xuống các đơn vị phổ biến kịp thời những ý kiến sơ bộ về phòng và chống bom na- pan.

        Sáng 16 tháng 1, địch tập trung mọi cố gắng đánh lên núi Đanh, đông bắc thị xã Vĩnh Yên. Ta chiếm núi Đanh từ sáng 14 tháng 1. Đứng trên hai đỉnh cao 210 và 101 của núi Đanh, ta khống chế một vùng khá rộng… Đến sáng 16 tháng 1, ta và địch vẫn chiến đấu giằng co trên cái địa thế hiểm yếu này.

        Cũng sáng 16 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mức tiêu diệt đề ra “từ bốn đến sáu tiểu đoàn địch” nay đã đạt. Nhiệm vụ chiến dịch như vậy về cơ bản đã hoàn thành. Tuy nhiên, ta đang có cơ hội tiêu diệt thêm sinh lực địch, nên cần đánh thêm một trận lớn nữa, đây cũng là một dịp để rèn luyện cho chủ lực ta quen tác chiến ở nơi địa hình trống trải.

        Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ chủ chốt trong trận này, chiếm lại dáy núi Đanh.

        Hôm ấy, chiến trường không lúc nào ngớt tiếng súng. 40 khẩu đại bác của địch bắn liên tục. Trên trời, hàng chục máy bay lượn vòng nhào lộn. Bom lửa trút xuống, dựng lên những cột khói đen kịt. Cả bầu trời Vĩnh Yên rung lên như một cái cối xay khổng lồ, liên tục ầm ù, xay xát. Địch cố chặn các cánh quân của ta từ chân núi Tam Đảo tiến ra. Đồng chí đại đoàn phó Cao Văn Khánh đã chỉ huy thành công cuộc tiến quân quyết liệt ấy. Theo mục tiêu được phân công, các đơn vị cứ nhằm các điểm cao 210, 101, 47, 75 mà tiến. Từng đơn vị lại chia ra thành những bộ phận nhỏ cho dễ di động tránh phi pháo, vận động theo kiểu vọt tiến, lớp này vuợt lên lớp sau cuốn tới.

        Chiều hôm ấy, ta đồng loạt tiến công. Đến xẩm tối, Đờ- lát tung ra hơn 100 máy bay cả phóng pháo lấn trinh sát, vận tải để thả một trận bom dữ dội chưa từng thấy bao giờ ở chiến trường Đông Dương. Một biển lửa bùng lên bốc cháy rực trời. Đờ- lát đã ra lệnh cho máy bay ném bom xuống cả những khu vực “trộn trấu”, tức là những nơi ta và địch bám sát nhau, xen kẽ nhau. Y định thí quân để giải vây cho mặt trận. Nhưng kết quả là ngay trong đêm đó quân Pháp vẫn bị tiêu diệt trên các điểm cao 101, 41, 47. Còn điểm cao 210, ta không đánh được, không phải là do bom lửa của Đờ- lát mà chính là do khuyết điểm của chúng tôi, những người chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:43:39 PM

        Trung đoàn 209 của đại đoàn 312 từ hướng bắc đánh xuống, trung đoàn 102 của đại đoàn 308 từ hướng nam đánh lên. Cả đêm hai trung đoàn mò mẫm không thấy địch đâu và cũng chẳng gặp nhau.

        Ở đây, đỉnh núi cao và trọc, chân núi thoai thoải nhưng cây cối rậm rạp, cao lút đầu người. Hai trung đoàn 209 và 102 mò suốt đêm mà không gặp nhau là do kế hoạch hiệp đồng chung chung, không phân công mục tiêu cho từng trung đoàn. Đánh tập kích đêm tối ở vùng đồi núi cây cối rậm rạp lại càng khó khăn nhiều, nếu việc chỉ thị mục tiêu không được rõ ràng.

        Không tìm thấy địch là do không có tổ chức trinh sát mặt đất thường xuyên bám sát hành động của địch, nên tập kích không có mục tiêu vì bị địch lừa. Ban chiều, từ Sở chỉ huy của đại đoàn ở cách chân núi hơn một kilômét, nhìn lên núi Đanh thấy rõ địch mồn một, bọn Tabor đi lại rất đông, chúng hối hả đào đất làm công sự. Nhưng tối đến chúng bí mật luồn xuống các khe dưới chân núi, nằm yên không động đậy, bộ đội ta vào sát cạnh, chúng vẫn giữ im. Tìm không thấy, ta lui xuống, đến tờ mờ sáng chúng lại mò lên chiếm đỉnh núi. Khuyết điểm này làm tôi nhớ lại trận tập kích địch ở Phan Lương bên sông Lô, hồi tháng 5 năm 1949. Chiều, địch ở trong thôn Hạ Giáp, xẩm tối chúng rút ra xa, đêm ta vào đánh hụt. Rõ ràng, đánh tập kích ban đêm thì việc tổ chức trinh sát bám địch giữ lấy mục tiêu là một nguyên tắc, nếu không sẽ đánh hụt hoặc mất mục tiêu, thậm chí có khi còn bị nguy hiểm nếu địch phục kích đánh trả lại.

        Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 1, không đánh được địch ở điểm cao 210 của núi Đanh, đại đoàn chuyển sang bao vây. Ngày 17 tháng 1, địch tổ chứ giải vây, ta nắm được cơ hội tiêu diệt được khá nhiều sinh lực địch, trong đó có một tiểu đoàn của Va- nuy- xem. Cái binh đoàn cơ động số 3 này chống đỡ với ta từ sáng 14 đến trưa ngày 17 thì bị quỵ hẳn. Cũng hôm 17 tháng 1, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh kết thúc chiến dịch.

        Một tin mừng đến với đại đoàn sau những ngày chiến đấu và chiến thắng ở Vĩnh Yên: đại đoàn 308 được cử một đoàn cán bộ và chiến sĩ lên chúc Tết Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị. Tôi và một cán bộ, chiến sĩ nữa được đại đoàn cử về chúc Tết Bác. Vinh dự quá, vì lần trước, sau chiến thắng Cao- Lạng, bác đã đến thăm đại đoàn. Từ đó đến nay mới 3 tháng. Lời dạy của bác hôm đó ở chân đèo Bông Lau: “Bác bảo đi là đi. Bác bảo đánh là đánh. Đánh là thắng”. Đại đoàn 308 đã có nhiều cố gắng phấn đấu thực hiện lời dạy của Bác. Rất vinh dự được về ăn Tết, mừng xuân với Cha Già dân tộc, chúng tôi mong đợi ngày đi, đếm từng buổi. Nhưng đến lúc tập hợp nhau lại để lên đường thì lại phân vân hết đỗi. Bởi vì, trong ngày Tết cổ truyền nhân dân ta dù nghèo đến mấy cũng cố dành dụm có bộ quần áo  mới, mà nhìn đoàn đi chúc Tết chúng tôi toàn quần áo cũ, màu sắc linh tinh, nâu có, đen có, người mặc áo quần của quân nhu, người lại khoác áo lính Tabor, lính lê dương, bản thân tôi cũng chỉ có cái áo dạ của sĩ quan Pháp chữa lại. Tình trạng như vậy nên ban quân nhu đại đoàn phải gấp rút điều chỉnh, cố sắp xếp cho mấy chục anh em chúng tôi có bộ cánh tươm tất, thống nhất. Gọi là “điều chỉnh” có nghĩa là đi mượn các cán bộ trong cơ quan đại đoàn người cái áo, người cái quần hay đôi giày vải bít tất, cái mũ, sao cho toàn đoàn biểu mặc quần áo của quân nhu ta, màu sắc tương đối giống nhau.

        Đoàn chúng tôi đến Chợ Chu thì có liên lạc đón, đưa đi đường rừng từ sáng sớm đến trưa mới gặp một thung lũng nhỏ. Hai bên đường mòn là sắn, những cây sắn thân to mẫm, hết vạt sắn, đến vườn rau trông mà thích mắt. Anh em chúng tôi nói với nhau: Gia đình nào có vườn sắn vườn rau này thì no ấm rồi. Đồng chí liên lạc suốt dọc đường chẳng nói gì, trừ mỗi một câu lúc đầu: “Các anh cứ đi theo tôi” đến giờ mới tươi cười giới thiệu:

        - Vườn rau này và thửa sắn kia là của Bác đấy.

        Thấy tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên, đồng chí nói tiếp:

        - Tự tay Bác làm đất, trồng trọt, ngày hai buổi, sáng sớm và chiều tà trước và sau giờ làm việc, Bác xách nước, tưới rau. Kia nữa kìa, các anh thấy không khu chăn nuôi của Bác đấy, hơn chục con vừa gà vừa vịt…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:46:09 PM

        Chúng tôi thì thầm với nhau: chăn nuôi, trồng trọt thế này thì Bác ăn quanh năm chả hết, Bác lo việc cho cả nước mà cả nước chẳng phải lo nuôi Bác.

        Đi hết vườn rau đến con suối rộng nước trong vắt. Qua suối đến nhà Bác. Một căn nhà lá ba gian, vách tre nứa, ẩn kín dưới rặng cây to cành lá sum suê. Bác đón chúng tôi ngay bờ suối, dẫn vào nhà. Bàn ghế trong nhà cũng toàn tre nứa. Chúng tôi ngồi quanh Bác uống bát nước chè xanh nóng hổi. Tôi nghẹn ngào mấy lần đinh đứng lên chúc Bác mà không đứng lên được. Biết tôi đáng lúng túng, Bác động viên:

        - Chú định nói gì với Bác?

        Tôi thưa:

        - Chúng cháu rất sung sướng được thấy bác khỏe mạnh, da dẻ hồng hào. Xin chúc Bác sống lâu, luôn luôn khỏe mạnh để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kháng chiến thắng lợi.

        Bác cười rất tươi, đáp lại: Đường lối kháng chiến đã có Trung ương Đảng chỉ đạo. Còn thực hiện đường lối có toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt, nhất là bộ đội chủ lực. Đại đoàn 308 là đứa con đầu đàn nên phải mẫu mực trong thực hiện, các chú đánh đánh giỏi, còn phải đánh giỏi hơn nữa, cần phải có kỷ luật cao hơn nữa, giữ đoàn kết trong đơn vị và đoàn kết với nhân dân…

        Bác cháu chuyện trò vui vẻ hồi lâu thì đồng chí phục vụ lên báo cáo cơm đã làm xong. Bác bảo đồng chí phục vụ: ta đưa lên thôi, rồi lại nói với chúng tôi:

        - Hôm nay Bác chiêu đãi các chú một bữa cơm năm mới bằng cây nhà lá vườn, nào chúng ta cùng thu xếp chỗ ăn…

        Tiệc chiêu đãi của Chủ tịch nước, không mâm cao cỗ đầy mà là bữa cơm gia đình, có món gà luộc, gà rán, món sào, bát canh, thực phẩm lấy ngay từ trong vườn nhà Bác. “Tất cả do bác tăng gia đấy”, Bác nói với chúng tôi như vậy, cho nên bữa cơm này không có rượu. Vâng, không có rượu nhưng chúng tôi ăn rất ngon và cũng cảm thấy say say bởi được hưởng thứ men nồng của tình cha con. Thấy tôi ăn thong thả, ăn một ít đã xin phép thôi cơm. Bác hỏi:

        - Sao chú ăn ít thế? Ăn thế sao có sức đánh giặc?

        Tôi thưa với Bác:

        - Cháu có bệnh đau dạ dày.

        Nét buồn hiện ngay trên vẻ mặt hiền dịu của Bác. Bác bảo tôi phải chịu khó đi chữa bệnh, ta đánh giặc còn lâu ngày mới xong, xong rồi còn nhiều việc lớn, phải có sức khỏe. Cơm ăn gần xong, trên bàn còn bao nhiêu thức ăn, Bác chia đều cho mọi người. Bác hảo: Chủ lực phải đánh tiêu diệt. Làm việc gì cũng phải làm cho gọn. Ăn phải ăn cho hết, món ăn nấu nướng rồi, ăn không hết bỏ lại sẽ lãng phí đấy…

        Bác chăm sóc chúng tôi như người cha già săn sóc đàn con từ xa về. Lúc mới đến gặp Bác chúng tôi mừng rỡ bao nhiều thì khi chia tay Người, chúng tôi lại bịn rịn bấy nhiêu. Tôi xin phép Bác đi chúc Tết đồng chí Trường Chinh và các đồng chí khác trong Bộ Chính trị. Bác “ừ” một tiếng, ngừng lại một lát rồi nói tiếp: Ừ, đã đến giờ rồi nhỉ, các chú phải đi sang bên ấy thôi.

        Bác tiễn chúng một quãng, bước đi thong thả, chầm chậm. Qua con suối, đi hết khu vườn tăng gia, trước khi trở lại nhà. Bác nhìn từng người, nắm chặt tay. Bác dặn:

        - Về đơn vị cho Bác gửi lời thăm anh em, phải cố luyện tập cho giỏi, ra trận đánh thắng mà đỡ tốn xương máu.

        Bác cười âu yếm và căn dặn tiếp chúng tôi:

        - Cán bộ phải thương đội viên, chăm lo từng tý một, phải giúp đỡ anh em hoàn thành nhiệm vụ và tiến bộ không ngừng.

        Thấy chúng tôi ngập ngừng, quấn quýt mãi, Bác lại giục: Xuất quân, chúc cho chân cứng đá mềm, chờ tin chiến thắng của các chú!

        Qua Tết một tháng, chúng tôi xuất quân đi chiến dịch Hoàng Hoa Thám. Từ Thái Nguyên, qua Bắc Giang ra núi Yên Tử trên đất mỏ Quảng Yên, đường không xa lắm, nhưng gặp mưa xuân rả rích nên đi thật vất vả. Những chặng đi đêm đã chật vật vì bùn trơn gió rét, được những chặng đi ngày cùng chẳng hơn gì, đường dốc lên dốc xuống, càng trơn, bộ đội rất mệt. Tuy nhiên, những trận mở đầu của chiến dịch đều nổ giòn giã, đánh đâu được đấy, thắng nhanh gọn. Thực hiện phương châm của chiến dịch là “đánh điểm diệt viện”, đại đoàn 308 đã nhổ một loạt cứ điểm ở dọc sông Vàng Danh, cắt nguồn nước của địch ở Hải Phòng nhằm kéo viện binh địch ra Uông Bí- Vàng Danh để diệt chúng. Nhưng địch bất động. Chúng tôi lại cùng các đơn vị bạn đánh tiếp một đợt nữa, diệt một số cứ điểm và tháp canh trên đường 18. Viện binh địch vẫn không ra, địch còn hốt hoảng bỏ chạy hỏi Uông Bí nữa.

        Xét thấy khả năng phát triển của chiến dịch không còn. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc vào đầu tháng 4 năm 1951.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:47:44 PM

        Những tháng của đầu năm 1951, đại đoàn 308 hành quân như con thoi trên chiến trường Bắc Bộ. Trung tuần tháng 1 tham gia chiến dịch Trung Du, mang tên Trần Hưng Đạo ở Vĩnh Yên, sang tháng 3 ra Quảng Yên tham gia chiến dịch đường số 18, mang tên Hoàng Hoa Thám với những trận thắng địch ở Bi Chợ, Lán Tháp Uông Bí… Và cuối tháng 5 vòng sang phía nam, có mặt ở Ninh Bình đúng thời gian quy định để tham gia chiến dịch Quang Trung.

        “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Mỗi bước đi theo thời gian là cộng thêm một sức mạnh mới. Thời gian thực sự có ý nghĩa; thực sự góp phần rất quan trọng tạo nên truyền thống tốt đẹp của đại đoàn Quân Tiên Phong: sẵn sàng đi bất cứu đâu, sắn sàng xả thân khi Tổ quốc cần.

        Cuộc hành quân từ duyên hải Đông Bắc xuống phía nam qua năm tỉnh và ba con sông lớn, một cuộc đi dài ngày và cấp tốc chẳng kém gì cuộc cấp hành quân từ Cao Bằng xuống Vĩnh Yên hồi cuối năm 1950. Nhưng vất vả thì gấp bội vì đã sang mùa hè oi bức. Đường dài trên 400 kilômét, hầu hết là đi đêm, có những đêm đi suốt tới sáng mới vượt hết quãng đồng chiêm, mới tới chỗ nghỉ chân. Chân được nghỉ thì tay la bận ngay, đào hầm hố tránh máy bay địch. Mệt nhọc đấy, song tình quân dân đằm thắm, hương lúa thơm thơm, nồi cơm gạo mới, bát canh rau ngót, quả cà ghém, chén tương, ấm nước chè xanh… mùi vị đồng quê bấy lâu thương nhớ đã có sức mạnh nhắc nhở, giáo dục và cổ vũ đoàn quân. Sức khỏe bộ đội được hồi phục rất nhanh sau mỗi đêm đi quần quật. Niềm vui là một thứ thuốc bổ vô cùng quý giá. Đến Hoa Lư- kinh đô xưa kia của đất nước thời Đinh Tiên Hoàng, bỗng nhiên trong tâm khảm mỗi cán bộ, chiến sĩ đại đoàn trỗi dậy mãnh liệt niềm tự hào của một dân tộc mang tên Đại Cồ Việt ngàn xưa.

        Qua cuộc hành quân dài ngày, đói mệt là một thực tế.

        Nhưng hào khí Hoa Lư đã nâng tầm suy nghĩ của mọi người, là sức mạnh tinh thần giúp mọi người vượt khó khăn gian khổ, hướng về phía trước mà tiến bước.

        Đứng ở địa điểm tập kết mang địa danh lịch sử này để chuẩn bị những việc cuối cùng cho trận đánh trung đoàn phó trung đoàn Thủ đô Vũ Lăng báo cáo:

        - Không một ai trong trung đoàn ốm mệt. Tất cả đều sẵn sàng?

        - Đã kiểm tra kỹ chưa?- tôi hỏi lại.

        Với nét mặt tự tin, với giọng nói chắc nịch và kiên quyết, trung đoàn phó Vũ Lăng khẳng định:

        - Có một số anh em bị sưng chân, bong gân vì hành quân dài ngày, nhưng qua các làng xóm không ai đi tập tễnh cả. Mọi người rất phấn khởi…

        Phạm vi chiến dịch Quang Trung bao gồm ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nằm trên một địa hình phức tạp, “xa căn cứ địa chính. Địa thế có nhiều khó khăn cho ta, thuận lợi cho địch” (chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đảng uỷ mặt trận Quang Trung).

        Trung ương đã huy động ba sư đoàn 308, 304 và 320 tham gia chiến dịch và chỉ định các đồng chí có kinh nghiệm lãnh đạo và chỉ huy tham gia Đảng uỷ mặt trận (Đảng uỷ mặt trận gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Hoàng Sâm). Mặt khác, để tạo nhân tố bất ngờ, Bộ Tổng tư lệnh đã tổ chức các đợt hoạt động nghi binh rất có hiệu quả. Trước khi chiến dịch mở màn, Bộ đã lệnh cho các trung đoàn 64 (thuộc đại đoàn 320) và 42 (chủ lực của Liên khu III) hoạt động mạnh ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, và khi chiến dịch nổ súng, các trung đoàn này phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích càng đẩy mạnh hoạt động để chặn viện. Những hoạt động đó ngoài việc đạt hiệu quả diệt địch tại chỗ, buộc địch phấn tán lực lượng, làm cho địch không phán đoán được hướng hoạt động chính của ta ở đâu; không biết chủ trương của ta mở chiến sĩ Quang Trung đánh vào phòng tuyến sông Đáy của chúng. Tình báo địch phải thú nhận: “Việt Minh đã giấu kín được ý định” (Quân sử 4- Bộ Tổng tham mưu quân đội nguỵ Sài Gòn ấn hành năm 1972).

        Đó là những thuận lợi, đảm bảo cho các đại đoàn tham chiến hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:50:55 PM

        Đêm 27 tháng 5 mở màn chiến dịch.

        Đại đoàn 308 được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch trong đêm đầu phải diệt gọn ba cứ điểm địch ở thị xã Ninh Bình: Đại Phong, Non Nước và Hoàng Đan.

        Trận mở màn thắng lợi nhưng không giòn giã.

        Trung đoàn 102 đảm nhận nhiệm vụ này mới chỉ sử dụng được tiểu đoàn 79 diệt gọn một đại đội com- măng- đo mang tên Phrăng- xoa, gồm toàn sĩ quan và hạ sĩ quan mang quốc tịch Pháp. Hai mục tiêu khác phải bỏ dở vì tiểu đoàn 54, theo kế hoạch dùng thuyền nan nhanh chóng vượt sông Vân đổ bộ lên thị xã Ninh Bình, nhưng đoàn thuyền gặp phải vạt bèo tây lớn cản đường, mãi ba giờ sáng mới tới cứ điểm Non Nước, nên phải hoãn tiến công. Còn tiểu đoàn 80 không qua sông Đáy sang Hoàng Đan được, không phải vì thiếu phương tiện mà là do quan chờ một nơi, thuyền đón một nẻo, cách nhau không xa nhưng vì đêm tối và phải giữ bí mật, nên người chờ thuyền, thuyền chờ người cả một đêm vô ích.

        Tính chất địa hình phức tạp ở đây đã tác động trực tiếp đến hiệu quả trận đánh mở màn. Nhưng địa hình là vật vô tri, nó sẽ có lợi hay có hại là do ở nơi con người có nghệ thuật sử dụng nó hay không. Một vạt bèo tây, một điểm hẹn chờ giữ người và thuyền chẳng có gì là phức tạp nếu công tác tổ chức chỉ huy không mắc khuyết điểm là thiếu cụ thể.

        Rõ ràng là ở đây mọi sự “vận dụng chiến thuật phải nắm vừng tình hình” (Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đảng uỷ mặt trận Quang Trung); bất cứ mọi tính toán nào, một phương thức chiến lược nào- nếu tách nó ra khỏi yếu tố địa hình đều không phải là người chỉ huy thông minh.

        Ngày 30 tháng 5, hình thái ta, địch ở thị xã Ninh Bình đã thay đổi. Đêm 27 rạng ngày 28 tháng 5- cái đêm lý tưởng đó qua rồi. Địch ở đây không yếu và không còn bất ngờ nữa. Thời cơ diệt địch chưa phải đã hết nhưng gặp khó khăn, một phần rất quan trọng là do hậu quả của trận đầu không thắng gọn gây nên. Lực lượng địch đóng ở Non Nước và quanh đó lên tới hơn một tiểu đoàn. Lại có thêm một trận địa pháo 105 mm mới đặt ở bên kia sông Đáy cộng thêm hoả lực của 9 tàu chiến từ Nam Định xuống chi viện cho Ninh Bình.

        Suốt ngày 28 tháng 5, không có trận đánh lớn nào xảy ra ở thị xã Ninh Bình.

        Nhưng một trận chiến đấu khác lại diễn ra rất khẩn trương. Đó là những cuộc hội ý rút kinh nghiệm- thẳng thắn nêu lên những thiếu sót được tiến hành ở Bộ chỉ huy đại đoàn, ở các đơn vị và nhất là ở trung đoàn 102. Tiếp đó là các công việc chấn chỉnh tổ chức, bổ sung đạn dược, là các tổ trinh sát luồn sâu vào vị trí địch, nắm địa hình. Mọi việc chuẩn bị cho trận đánh vào Non Nước đã làm tốt, cụ thể hơn trước.

        Trung đoàn trưởng Vũ Yên báo cáo về Sở chỉ huy đại đoàn đề nghị cho nổ súng vào lúc 0 giờ ngày 29 tháng 5. Lý do chậm lại vì cần trinh sát kỹ thêm về địch.

        Bộ chỉ huy đại đoàn đồng ý đề nghị của đồng chí Vũ Yên. Chúng tôi hẹn nhau khớp đồng hồ cho giờ thống nhất, để tiện theo dõi trận đánh và có biện pháp xử trí kịp thời mọi diễn biến chiến đấu.

        Giờ phút chờ đợi nổ súng đêm nay thật hồi hộp. Bởi lẽ tất cả mọi người đều muốn qua chiến thắng này mà “chuộc tội”- đã không hoàn thành nhiệm vụ diệt gọn địch ở thị xã Ninh Bình trong đêm 27 tháng 5.

        Giờ G đã đến- 0 giờ 29 tháng 5.

        Kim đồng hồ nhích dần… 1 giờ vẫn không thấy súng nổ?

        Trong Sở chỉ huy đại đoàn đặt ở tả ngạn Lạch Giang, cách cứ điểm Non Nước hơn một kilômét, mọi người đều đăm chiêu suy nghĩ kèm theo cả lo lắng nữa.

        - Đề nghị cho rút, không đánh đêm nay vì chỉ còn mấy tiếng nữa là trời sáng- Một đồng chí cán bộ tham mưu báo cáo như vậy với một thái độ nghiêm túc.

        Không trả lời ngay nhưng qua ý kiến đề nghị của đồng chí cán bộ tham mưu đã gợi cho tôi những suy nghĩ: Đúng là đã muộn. Nhưng để đêm mai liệu có chắc ăn không? Diễn biến chiến đấu rất phức tạp- có nhiều thuận lợi nhưng cũng có chiều nghịch. Đêm mai địch sẽ tăng cường thêm quân, chúng sẽ phòng thủ cẩn mật hơn. Đánh kẻ địch mới đến, chưa kịp chuẩn bị bao giờ cũng là nguyên tắc của tiến công.

        Tôi trao đổi suy nghĩ này với đồng chí Song Hào mới được Bộ điều về làm chính uỷ đại đoàn.

        Chúng tôi đều thống nhất: không đánh đêm nay thì cũng không thể có cơ sở nào để nói rằng đánh đêm mai là chắc thắng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:53:09 PM

        Kim đồng hồ nhích dần theo đúng vòng quay cố định của các bánh xe, nhưng chúng tôi cảm thấy thời gian lúc này đi nhanh quá!

        1 giờ 20 phút! Chỉ còn 4 giờ nữa là hết đêm, hết cái thời gian làm ăn có hiệu quả nhất.

        Tôi cầm máy điện thoại, cố giữ giọng bình thản hỏi đồng chí Vũ Yên:

        - Quân ta hiện giờ đã tới đâu rồi?

        Đầu dây bên kia đồng chí Vũ Yên tự tin trả lời:

        - Bộ binh đã vây Gối Hạc. Các mũi xung kích đang bám sát chân núi Non Nước.

        - Còn bốn tiếng nữa có kịp tiến công không?

        - Xin hết sức cố gắng.

        Sống với nhau đã lâu, lại cùng nhau qua nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch, trải qua những giây phút hồi hộp căng thẳng và những lúc thanh thản mừng vui đều có nhau, nên tôi rất hiểu Vũ Yên- người công nhân vốn có tính cương trực nói ít làm nhiều. Hai tiếng “cố gắng” vừa rồi, Vũ Yên tỏ rõ bản tính dứt khoát, tự tin.

        Sau khi nắm đầy đủ tình hình, Bộ chỉ huy đại đoàn hạ quyết tâm đánh thắng địch ngay trong đêm nay, dù có phải kéo dài quá 6 giờ sáng một chút, địch chưa kịp phản ứng gì lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến trận đánh.

        2 giờ 15 phút ngày 29 tháng 5 ta nổ súng đánh Non Nước.

        Chưa có trận tiến công cứ điểm nào đánh muộn như đêm nay. Nhưng cái muộn trong trường hợp cụ thể này lại là muộn chắc, muộn nhanh. Vì cán bộ chiến sĩ đều có quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng xả thân giành chiến thắng. Vì hệ thống hoả lực được bố trí tốt, sáu khẩu sơn pháo 75mm và hàng chục khẩu súng cối các cỡ đã giội trúng vào đồn địch yểm trợ đắc lực cho xung kích.

        6 giờ sáng ta chiếm xong cứ điểm Non Nước, tiếp đó trung đội Nguyễn Quốc Trị tiêu diệt xong những tên địch cuối cùng trong đó có tên trung uý Béc- na, con trai tướng Đờ- lát cố thủ trong một hang đá trên đỉnh hòn Gối Hạc, kết thúc thắng lợi nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng phòng thủ của địch ở thị xã Ninh Bình, góp phần làm cho cả phòng tuyến sông Đáy của địch rung chuyển dữ dội.

        Đặc biệt cái chết của tên Béc- na, con trai độc nhất của Đờ- lát ở trên hòn Gối Hạc sáng ngày 29 tháng 5 và đám tang của y tổ chức quá trọng thể ở Pa- ri càng tô đậm thêm cái bi kịch không tránh khỏi của những kẻ muốn tiến thân bằng nghề chiến tranh. Nhiều tờ báo Pháp đăng tiểu sử và tả rõ tình huống bị chết của trung uý đại đội trưởng Béc- na kẻ đã tình nguyện lao vào cuộc chiến tranh xâm lược với đầy khát vọng của một tên sĩ quan dòng dõi quyền quý. Hồi cuối năm 1950 chính y đã viết thư khuyên cha y nên sang Đông Dương làm nhiệm vụ lớn, để cứu vãn tình thế, trong khi tướng Doanh và tướng Kê- ních được chính phủ Pháp chọn trước, đều từ chối không đi vì “không muốn mất danh dự tại Á châu” (Quân sử 4- Bộ Tổng tham mưu quân đội nguỵ Sài Gòn). Ngày 28 tháng 5, Béc- na đang nghỉ phép tại Hà Nội thì được tin tiểu đoàn 1 xung kích của y đã được lệnh rời Nam Định đi tiếp cứu cho Ninh Bình. Y liền rời Hà Nội đến Ninh Bình hồi 17 giờ 30 phút vừa lúc viên tiểu đoàn trưởng đang chia quân bố trí đêm. Y xin được đóng trên hòn núi đá Gối Hạc cách cứ điểm Non Nước vài trăm mét về phía tây. Béc- na đặt sở chỉ huy đại đội tại ngôi đền ở lưng chừng hòn núi đá này. Lúc 3 giờ 20 phút một quả đạn cối 60mm rơi trúng vào đo. Béc- na chết ngay, tên trung uý đại đội phó Méc- xi- ê ngắc ngoải một lát sau cũng tắt thở. Tên đội Men- lô lên chỉ huy thay rồi cũng chết nốt. Trưa ngày 29 tháng 5, quân tiếp viện Pháp đến Gối Hạc chỉ còn tìm thấy vài tên của đại đội này sống sót vì rúc được vào kẽ đá kín. 17 giờ hôm đó tại Hà Nội, cha con Đờ- lát một còn sống, một đã chết gặp nhau. Hôm sau Đờ- lát tạm giao quyền chỉ huy cho tướng Đờ Li- na- rét để đưa xác con về Pháp, và mang theo cả xác Méc- xi- ê, Men- lô… Báo chí Pháp đua nhau tâng bốc cha con Đờ- lát, song càng lắm lời bao nhiêu thì lại càng làm cho người ta thấy rõ cái tình thế khốn quẫn không thể nào lật ngược lại được của quân đội Pháp và càng góp phần cho tiếng vang của trận Ninh Bình lan đi xa hơn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:55:29 PM

        Nhiệm vụ tiếp sau của đại đoàn là đánh cứ điểm Chùa Cao ở Yên Cự Hạ nằm trên đường 58 nối thị xã Ninh Bình với Phát Diệm. Cứ điểm này do một đại đoàn địch đóng giữ. Sau thất bại ở Đại Phong, Non Nước, địch tăng thêm một đại đội Com- măng- đô.

        Là “cái bình phong chắn Liên khu 4 của Việt Minh”, Chùa Cao được phòng thủ khá kiên cố. Một pháo đài chính xây bằng bê- tông, ba pháo đài phụ xây bằng đá nửa nổi nửa chìm dưới đất. Xung quanh cứ điểm có tường dày bao phủ, ngoài tường là lớp kẽm gai và bãi mìn đủ loại.

        Trung đoàn 88 được giao nhiệm vụ diệt cứ điểm Chùa Cao, đã nhanh chóng triển khai công tác tổ chức chiến đấu theo đúng thời gian quy định của Bộ chỉ huy đại đoàn.

        Trận đánh kéo dài từ 22 giờ 30 phút ngày 3 tháng 6 đến 6 giờ sáng ngày 4 tháng 6, ta mới chỉ chiếm được 4/5 cứ điểm, tiêu diệt được đại bộ phận quân địch, số sống sót (vài chục tên) rút vào cố thủ ở lô cốt phụ nằm sát bờ sông Đáy.

        9 giờ sáng địch tăng thêm viện binh.

        Trận chiến đấu thắng lợi nhưng không trọn vẹn. Tuy nhiên trung đoàn 88 vẫn điện lên đại đoàn đề nghị xin cho được tiếp tục đánh để giành thắng lợi hoàn toàn.

        Đại đoàn điện xuống hỏi:

        - Còn đủ lực lượng để đánh nữa không?

        - Còn đủ. Trung đoàn đã sắp xếp tổ chức thành hai tiểu đoàn mạnh.

        - Tinh thần thế nào?

        - Anh em rất hăng hái, muốn đánh để trả thù cho những đồng chí đã hy sinh đêm qua.

        Đoàn cán bộ của đại đoàn đi kiểm tra trung đoàn 88 về cũng có nhận xét tương tự: Tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ vẫn được giữ vững. Đến đâu cũng nghe thấy anh em bàn tán tha thiết được trên chuẩn y cho đánh lại, ngay đêm nay, quyết dứt điểm nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng nối tiếp truyền thống tốt đẹp của đơn vị. Đồng bào địa phương cũng đang tích cực giúp đỡ các phương tiện cần thiết để bộ đội đánh tiếp.

        Trên cơ sở quyết tâm rất cao đó, Bộ chỉ huy đại đoàn sau khi trao đổi thống nhất ý kiến, tôi gọi điện cho trung đoàn 88:

        - Đại đoàn quyết định tăng cường cho trung đoàn một tiểu đoàn nữa và chuẩn y đề nghị của trung đoàn tiếp tục đánh Chùa Cao đêm nay…

        - Rõ! Chúng tôi hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

        Đêm 4 tháng 6, mọi người ở Sở chỉ huy đại đoàn đều yên lặng tập trung theo dõi giờ nổ súng của trung đoàn 88 đánh cứ điểm Chùa Cao chẳng khác gì cái đêm theo dõi giờ G của trung đoàn 102 đánh Non Nước lần thứ hai. Cũng căng thẳng và hồi hộp, cũng cảm thấy thời gian đi nhanh hơn ngày thường…

        Súng nổ giòn và đúng thời gian quy định. Nhưng trận đánh vẫn không giành được thắng lợi hoàn toàn.

        Mỗi kết quả đều có nguyên nhân. Chiến đấu là hành động sôi động nhất của con người; là kết quả tổng hợp của nhiều mối quan hệ giữa con người và vũ khí, giữa dũng cảm và mưu lược, giữa tư tưởng và tổ chức, giữa chính trị và quân sự, v.v… Tách mối quan hệ đó hoặc kết hợp nó không thích đáng, máy móc, thì mọi hoạt động sẽ trở nên vô nghĩa và thất bại.

        Trong đêm mở màn chiến dịch, chúng ta phải bỏ dở nhiệm vụ diệt cứ điểm Non Nước và Hoàng Đan là do yếu tố địa hình.

        Còn trận Chùa Cao, hai lần đánh với những cố gắng tối đa vẫn không dứt điểm lại do sự kết hợp chưa tốt giữa tư tưởng và tổ chức. Quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ rất cao, không đánh là thiếu trách nhiệm với việc xây dựng truyền thống đơn vị, với danh hiệu đại đoàn Quân Tiên Phong. Quyết tâm đó thật đáng quý, nó không thể thiếu được trong chiến đấu và chiến thắng. Nhưng ở đây, chúng ta đã xem xét quyết tâm đó chưa thật đầy đủ và nhất là đã không hướng nó phát triển theo hướng đúng.

        Trách nhiệm này không phải chỉ thuộc về các đồng chí phụ trách trực tiếp mà còn thuộc về những người phục trách đại đoàn- người tư lệnh trưởng.

        Tiến công một cứ điểm như Chùa Cao mạnh cả về binh lực, hoả lực và hệ thống công sự bố phòng; có hoả lực pháo chi viện mạnh, có quân ứng chiến đông và gần, bộ đội ta đánh lần thứ nhất không được phải rút ra, như vậy là có vấn đề, muốn đánh tiếp không phải chỉ có quyết tâm cao là đủ mà phải có công tác tổ chức, có khi công tác này còn khó khăn gấp nhiều lần khi đánh lần đầu. Làm mới đã khó, tháo ra làm lại, càng khó hơn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:57:27 PM

        Việc quyết định đánh Chùa Cao lần thứ hai, ta xét nhiều về yếu tố tư tưởng- tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, mà không thấy giữa tư tưởng và tổ chức gắn bó với nhau- hỗ trợ nhau, tác động lẫn nhau. Địch đã tăng cường lực lượng, đã thay đổi thủ đoạn chiến thuật, nhưng tổ chức chiến đấu của ta cơ bản như cũ. Đánh một cứ điểm có hoả lực dày đặc, có công sự nhiều tầng, cần phải tổ chức các mũi tiến công, hiệp đồng chặt chẽ giữa hoả lực và xung lực, tiến đánh từng mục tiêu, giữ vững và củng cố chắc đầu cầu, phát triển nhanh mạnh vào tung thâm cứ điểm diệt đầu não chỉ huy địch, chia cắt tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Mọi sự tách rời, đánh ào ạt không có tổ chức, không có chiến thuật, đều không đảm bảo thành công. Khi vượt qua hàng rào tiền duyên đánh vào chiều sâu trận địa đối phương, tiếng hô xung phong của đoàn quân tiến công là rất cần thiết, có tác dụng cổ vũ sĩ khí mọi người, uy hiếp tinh thần địch, nâng cao tốc độ đánh trận. Nhưng ở trận Chùa Cao lần thứ hai, khi địch đã tăng cường đề phòng, tiếng hô xung phong của quân ta- nhất là về đêm thì tự mình lộ mục tiêu, địch cứ theo phía có tiếng hô mà nổ súng sát thương ta.

        Rõ ràng là bộ đội ta có quyết tâm cao, ta đứng ở thế chủ động tiến công nhưng công tác tư tưởng và công tác tổ chức chưa làm tốt, nên đã tự đặt mình vào thế yếu, phải bỏ cuộc.

        Trong chỉ huy chiến đấu không phải chỉ khi vấp váp, thương vong nhiều, tạm thời thất bại người ta mới dễ mất tỉnh táo, đi đến suy tính phiến diện, quyết đoán sai lầm, mà ngay cả khi đang chiến thắng cũng dễ mắc phải cái bệnh nguy hại này. Điển hinh là trường hợp trận Pheo, ngày 7 tháng 1 năm 1952 trong chiến dịch Hoà Bình.

        Về chiến dịch Hoà Bình, sách báo của ta đã ghi khá đầy đủ, ở đây xin kể về một trận đánh cứ điểm Pheo trong chiến dịch đó và những bài học rút ra qua trận đánh này, nó liền mạch với những bài học đánh cứ điểm Non Nước, Chùa Cao trong chiến sĩ Quang Trung.

        Đợt một của chiến dịch, đại đoàn 308 cùng với đại đoàn 312 hoàn thành đánh bóc vỏ phòng tuyến của địch ở sông Đà bảo vệ thị xã Hoà Bình về phía tây bắc.

        Đợt hai chiến dịch, ta tập trung vây đánh địch ở thị xã Hoà Bình và đường số 6.

        Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chặt đứt phòng tuyến đường số 6 của địch ở Pheo. Làng Pheo nằm trên đường số 6 và giáp bờ sông Đà. Nói cách khác, đường số 6 từ Hà Nội qua Hà Đông, Xuân Mai, tới làng Pheo thì bắt gặp sông Đà rồi theo bờ sông Đà một quãng độ 6 kilômét là tới thị xã Hoà Bình. Như vậy, Pheo là một điểm rất quan trọng trên tuyến đường số 6. Ở đây địch đóng một tiểu đoàn lê dương (hai đại đội ở dưới làng Pheo, một đại đội cắm trên đồi Miều, một đại đội và sở chỉ huy tiểu đoàn (2/13 DBLB) trên đồi Pheo).

        Bộ chỉ huy đại đoàn họp thống nhất kế hoạch cho trận đánh này như sau: trung đoàn Thủ đô làm nhiệm vụ chủ công đánh cứ điểm Pheo. Để tạo cho trận đánh thắng lợi, trung đoàn 36 cùng lúc sẽ tập kích vào thị xã Hoà Bình- tây nam cứ điểm Pheo. Một trung đoàn bạn (đại đoàn 304) tiến công vị trí Đầm Hương- trên đường số 6 phía đông cứ điểm Pheo.

        Trận Pheo là trận chính trong đêm mở đầu đợt hai chiến dịch. Ta tiêu diệt cụm cứ điểm Pheo, địch trong thị xã Hoà Bình bị cô lập, như vậy sẽ tạp điều kiện để đánh viện lớn làm thay đổi cục diện chiến dịch.

        Cán bộ và chiến sĩ trung đoàn Thủ đô rất phấn khởi với nhiệm vụ, xuất kích với khí thế hào hứng, quyết lập công xuất sắc, quyết thắng thật nhanh thật gọn.

        Đêm 7 rạng ngày 8 tháng 1 năm 1952, trong khi trung đoàn 36 vượt qua bao nhiêu khó khăn tiêu diệt sáu vị trí ngoại vi và luồn sâu vào tung thâm phòng thủ của địch, tiêu diệt trận địa pháo ở sát Hoà Bình, bắt sống tên quan ba pháo binh, thì trung đoàn Thủ đô phải rút ra khỏi Pheo.

        Không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Pheo, trước hết cán bộ chỉ huy chúng tôi phải chịu trách nhiệm do chủ quan.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 08:58:49 PM

        Khi chiến thắng, nhất là lúc đang chiến thắng dồn dập, đánh đâu được đấy, người ta dễ bị “say” đi đến chủ quan, khinh suất; nhìn địch chỉ thấy chúng hoang mang mất tinh thần mà không thấy chúng ngoan cố; xem địa hình chẳng thấy có gì đặc biệt, mọ cái đều vượt qua được hết. Nhìn ta chỉ thấy thuận lợi, không thấy khó khăn. Trước khi nổ súng, mọi người cho cứ điểm Pheo tuy mạnh, song trung đoàn Thủ đô có thừa khả năng diệt gọn. Nhận định này hoàn toàn đúng, nhưng từ cái không sai ấy lại đi đến cái sai khác. Do bị “say” vì không khí chiến thắng chung, do thấy địch lúng túng ở cả mặt trận Hoà Bình và trong địch hậu mà đi đến những thiếu sót về tổ chức chỉ huy- thiếu ti mỉ, cụ thể, thiếu thận trọng trong công tác chuẩn bị chiến đấu. Nghiên cứu địa hình chỉ xem xét những vật nổi. Đứng ở điểm cao bên tả ngạn sông Đà nhìn sang, cách vị trí địch khoảng 500- 600 mét, thấy rõ các công sự của trận địa địch, từ mé bờ sông vào tới chân đồi Pheo toàn là bãi cỏ phẳng lỳ đẹp mắt đó lại là những vũng lầy, ao nước, ảnh hưởng rất lớn đến đội hình tiến công. Khi tiến công lên đồi Pheo, ta dùng hai mũi đánh điểm phòng ngự chính của địch. Mũi chủ yếu theo đường lớn đánh thẳng vào cổng chính. Mũi phụ đánh vào phía tây. Nhưng mũi phụ gặp phả vách đồi dựng đứng, không lên được, thành ra tổ chức tiến công chỉ có một mũi, theo một hướng. Trong khi đó, ở phía đông có một điểm cao hơn đồi Pheo, lối lên không có khó khăn gì, mãi sau trận đánh ta mới biết. Nếu như điều tra tỉ mỉ ta có một mũi ở phía đông đánh trên, đè dập đầu địch xuống thì tình thế sẽ khác, chiến dịch sẽ thu được thắng lợi giòn giã hơn.

        Kiểm điểm trận Pheo, chúng tôi kết luận đây là một trận “tiền duyên nhập nhằng, tung thâm rối loạn”, suốt trận đánh sai với yêu cầu hình thái chiến thuật là phải đánh ở nhiều hướng, nhiều mũi, phải biết “chiếm cao vi lợi” triệt để tận dụng giá trị chiến thuật của địa hình. Tất nhiên không phải chúng tôi không biết đánh giá thế nào là đúng, song có điều là do chủ quan đơn giản, điều tra đại khái qua loa, nên hiểu địch không đúng chẳng khác nào như ta chép sai đầu đề bài toán thì tìm sao cho ra đáp số đúng được?

        Nhớ lại bài học thấm thía rút ra sau trận Chùa Cao, hè 1951 “khi không thành công, người chỉ huy dễ mất tỉnh táo, suy tính phiến diên, quyết đoán sai lầm”, qua trận Pheo, cần bổ sung thêm: “khi chiến thắng phải cảnh giác dè chừng cái bệnh chủ quan, người ta dễ bị hoa mắt bởi chiến thắng mà khinh suất”. Tất cả hai vế tư tưởng đó sẽ dễ dẫn tới tổ chức chỉ huy chiến đấu thiếu cụ thể, hoặc xem nhẹ địch, hoặc xem nhẹ địa hình, không gắn chặt các yếu tố tinh thần- tư tưởng với tổ chức, không kết hợp chặt chẽ giữa chính trị với chiến thuật, kỹ thuật. Mọi suy nghĩ phiến diện, mọi việc làm giản đơn đều dẫn tới thất bại.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:00:37 PM

        Mặt trận Tây Bắc

        Năm 1952, quân và dân ta lại tiến thêm một bước thật dài trên con đường đi tới chiến thắng hoàn toàn quân đôi xâm lược Pháp. Trên chiến trường Bắc Bộ vào thời điểm này ta đã có sáu đại đoàn chủ lực hoàn chỉnh (sáu đại đoàn chủ lực được thành lập thứ tự theo thời gian như sau: đại đoàn 308 (3- 1949), đại đoàn 304 (3- 1950), đại đoàn 312 (12- 1950), đại đoàn 320 (2- 1951), đại đoàn 316 (5- 1951) và đại đoàn 351 pháo binh)), đủ sức mở các chiến dịch quy mô lớn.

        Tháng 2 năm 1952, Đờ- lát Đờ Tát- xi- nhi chết, Xa- lăng lên thay. Viên tướng này đã có mặt ở Việt Nam rất sớm, được xem như là người thông thạo phong tục tập quán Đông Dương, hút thuốc phiện, đi lễ đền đài, và “am hiểu cả lổi đánh của Việt Minh”. Nhưng Xa- lăng không đưa ra được một chiến lược nào mới- dù chỉ là lý thuyết để giành quyền chủ động đã mất trên chiến trường từ sau thất bại biên giới hồi năm 1950.

        Mọi việc làm của Xa- lăng đều quy tụ vào bình định vùng tạm chiếm, lo củng cố phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ. Cơ quan tham mưu, tình báo của Xa- lăng thăm dò, phân tích đủ cách đều đoán rằng: có rất nhiều khả năng Việt Minh sẽ đánh xuống đồng bằng vào cuối năm 1952.

        Nhưng thu đông năm 1952, đại quân ta lại hành quân lên miền tây Tổ quốc.

        Ta lại tiến thêm một bước chủ động nữa, mở chiến dịch Tây Bắc.

        Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh mở hội nghị phổ biến nhiệm vụ chiến dịch.

        Tại hội nghị này, chúng tôi được vinh dự đón Bác Hồ đến thăm và được nghe Bác chỉ giáo nhiều điều quý báu.

        Chúng tôi hồi hộp đón Bác.

        Bác đến hội nghị giữa lúc mưa to.

        Hình ảnh Bác thật giản dị và thân quen: tay cầm gậy, quần xắn cao. Người tươi cười vẫy tay và đi nhanh vào phòng họp.

        Chúng tôi vỗ tay hoan hô râm ran như pháo nổ, miệng đồng thành hô:

        Bác Hồ muôn năm!…

        Bác Hồ muôn năm!… mắt vẫn dõi theo hình bóng Bác.

        Ngay lập tức, không ai bảo ai mà thâm tâm đều có chung một câu hỏi kinh ngạc: mưa lớn vừa đổ xuống, nước suối dâng cao, chảy ào ào như thác đổ, Bác đến bằng đường nào?

        Bác giơ tay vẫy chào và nhắc chúng tôi yên lặng để Bác nói chuyện.

        Không để chúng tôi hỏi thành lời, Bác thân mật kể luôn: “Hôm nay trời mưa to, suối nước lũ, khi đi đến một cái suối nước chảy mạnh, thấy bên kìa có một nhóm đồng bào đang ngồi đợi nước xuống để sang. Bác nghĩ: nếu không đi ngay, e các chú đợi mất thì giờ. Nên Bác cùng mấy chú nữa quyết tâm cởi quần áo, tay sào, tay gậy, lần sang được. Thấy Bác sang được, nhóm đồng bào kia cũng quyết tâm sang”.

        Rồi qua chuyện lội suối nước chảy xiết, Bác dạy chúng tôi:

        - Đó là kinh nghiệm cho các chú. Bất kỳ việc gì, to hay nhỏ, mình có quyết tâm thì làm được, mà còn lôi cuốn người khác cũng quyết tâm làm như mình.

        Về thuận lợi, khó khăn và quyết tâm mở chiến dịch Tây Bắc, Người nói:

        - Trung ương Đảng và Tổng quân uỷ đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọ người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục… Gặp cái dễ mà không quyết tâm phát triển thì nó có thể biến thành cái khó, gặp cái khó mà quyết tâm khắc phục thì cũng thành cái dễ…

        Quyết tâm- đã bao lần chúng tôi nói hai tiếng đó, nhưng phải chờ tới lúc này, hai tiếng ấy được Bác Hồ khái quát lên thành bài học lớn, chúng tôi mới thấy được nó mạnh mẽ đến nhường nào.

        Không bao giờ tôi quên được lúc Bác Hồ chia tay với hội nghị phổ biến nhiệm vụ chiến dịch. Bác hỏi han từng đoàn cán bộ đại biểu của các đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh dự chiến dịch: 312, 316, 351… Với sư đoàn 308 chúng tôi, Bác hỏi trung đoàn trưởng Vũ Yên:

        - Lần này chú tính thế nào?

        Đồng chí Vũ Yên đứng nghiêm hứa quyết tâm:

        - Thưa Bác, trận này chúng cháu quyết đánh thắng!

        Bác nhìn nghiêm nghị, gật đầu, thân mật bắt tay trung đoàn trưởng Vũ Yên.

        Tiếp theo Bộ Tổng tư lệnh phổ biến quyết tâm chung của chiến dịch này là: thời kỳ đầu tập trung binh lực tiêu diệt địch ở phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ diệt địch ở tiểu khu Phù Yên, giải phóng Nghĩa Lộ và Phù Yên, phát triển thắng lợi và quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện tiến công Sơn La…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:03:49 PM

        Thực hiện đánh dài ngày, đánh liên tục, vây điểm diệt viện, phá điểm: bao vây chờ viện, diệt viện rồi đánh điểm, hành quân, bao vây chặt, truy kích đến cùng, diệt gọn.

        Nghĩa Lộ nằm gọn trong huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái cũ. Địch chiếm Nghĩa Lộ từ năm 1947, chúng đã thực hiện được một phần trong âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh (vì Nghĩa Lộ là một trong số bốn vựa thóc của Tây Bắc: Điện Biên Phủ, Than Uyên, Quang Huy, Nghĩa Lộ).

        Bộ Tổng tư lệnh xác định điểm của chiến dịch này la phân khu Nghĩa Lộ- một vị trí cửa ngõ đi vào Tây Bắc. Đánh chiếm Nghĩa Lộ là tạo được bàn đạp vững chắc để phá vỡ phòng tuyến sông Đà, tiến lên đánh địch ở Lai Châu, Sơn La, Nà Sản, v.v… thực hiện giải phóng toàn bộ đât đai miền tây Tổ quốc.

        Nghĩa Lộ là cứ điểm kiên cố của địch, nhưng đồng thời cũng là nơi địch có nhiều sơ hở. Hồi tháng 10 năm 1951, đại đoàn 312 đã tiến đánh Nghĩa Lộ, nhưng không dứt điểm, địch càng chủ quan tin ở cách bố phòng vững chắc của chúng ở đây và huênh hoang cho rằng :”ít ra cũng phải vài ba năm, hoặc dăm năm nữa Việt Minh mới có thể đến đánh Nghĩa Lộ”.

        Rõ ràng kẻ địch chủ quan- tức là chúng yếu. Và đó cũng là một yếu tố, một căn cứ để ta quyết định chọn điểm của một trận chiến đấu, một chiến dịch, một hành động chiến lược, v.v…

        Đại đoàn 308 vinh dự được nhận nhiệm vụ đánh chiếm Nghĩa Lộ- mở màn chiến dịch Tây Bắc.

        Lương tâm, trách nhiệm và nghĩa vụ với Tổ quốc đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn chạy đua nước rút với thời gian, hoàn thành mọi nhiệm vụ, mọi công tác chuẩn bị cho ngày lên đường.

        Với tôi, mau chóng trở lại Nghĩa Lộ còn là một thôi thúc từ những kỷ niệm buồn năm xưa: Trở lại để thực hiện nốt nguyện vọng của 13 đồng chí đảng viên cộng sản đã hy sinh trong cuộc nổi dậy vượt ngục hồi đầu năm 1945 với ước mong trước mắt đó có một Nghĩa Lộ sạch bóng quân thù; trở lại để trả ân huệ đồng bào các dân tộc đã giúp tôi, đùm bọc che chở cho tôi vượt qua hiểm nghèo trong những ngày vượt ngục trở về với Đảng, với Cách mạng.

        Từ nay đến lúc chiến dịch mở màn, thời gian chỉ vỏn vẹn có 33 ngày mà công việc chuẩn bị chiến đấu ở chiến trường có nhiều bí mật này thì lại rất nhiều. Sẽ rối lên và không việc gì dứt điểm nếu công tác tổ chức không biết tập trung sức lực vào những vấn đề cơ bản mấu chốt.

        Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn họp nhận đinh: trận đầu phải thắng, phải dứt điểm. Và công tác nghiên cứu thực địa lại có ý nghĩa quyết định. Chỉ có trên cơ sở nắm chắc địch, nắm chắc đặc điểm địa hình và dân tình Nghĩa Lộ, mói có quyết tâm đúng, mới có cách đánh hay. Điều này chúng tôi đã có kinh nghiệm xương máu ở trận Non Nước, trận Chùa Cao và trận Pheo đang còn nóng hổi. Đảng uỷ và Bộ chỉ huy quyết định thành lập hai đoàn đi chuẩn bị chiến trường. Đoàn đi Cửa Nhì do đồng chí trung đoàn trưởng Hồng Sơn chỉ huy; tôi phục trách đoàn vào Nghĩa Lộ, gồm các đồng chí Vũ Yên, Thái Dũng, Kim Hùng (trưởng ban trinh sát) và một số tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, cán bộ hậu cần, thông tin, công binh, pháo binh… tất cả khoảng hơn 20 người, mỗi người mang theo năm ngày gạo ăn.

        Rời Mậu A sang hữu ngạn sông Hồng là coi như đã vào đất địch rồi, vì bọn biệt kích của địch cũng thường hay mò đến tận bờ sông này nhòm sang vùng tự do của đất Yên Bái. Từ đây mỗi bước đi là phải thận trọng, không ai nói với ai, tai mắt phải căng ra mà nghe, mà nhìn mỗi tiếng gió thổi lá cây sột soạt, cành khô rúc rắc ãy rơi là phải phán đoán, phân tích, và có biện pháp đối phó kịp thời nếu là địch. Từ đây rừng cây rậm rạp bịt lấy mắt, nhìn xa chỉ được mười lăm thước. Cảnh vật âm u. Nhưng ác nghiệt nhất vẫn là mưa rừng. Người ướt, đường lầy lội trơn như đổ mỡ, dốc lên, dốc xuống rất khó đi. Ngày đầu tiên phải lội suối 25 lần. Cũng vẫn chỉ một con suối ấy thôi, nhưng nó ngoằn ngèo cắt khúc con đường chúng tôi đi, thành ra suốt ngày dầm nước, hai bàn chân trắng nhợt, da nhăn nheo, các kẽ chân, bàn chân rát bỏng. Qua ngày thứ hai, thứ ba chúng tôi phải đi bằng “ba chân”, phải có cái gậy chống đỡ  giúp cho bàn chân đỡ đau. Cuối chặn đường thứ ba, tại chân đèo Khâu Vác chúng tôi gặp tổ quân báo của Bộ từ phía Nghĩa Lộ đi ra. Trời không mưa mà người nào người nấy ướt sũng. Từ ba tháng nay anh em sống ở trên núi cao, trong rừng sâu, bên bờ suối vắng, ngoài cánh đồng để nắm, nắm dân. Trong tổ quân báo này có đồng chí Vũ Hữu Tấn đi trinh sát địa hình, gặp địch, buộc phải chống chọi, chẳng may gãy chân rơi xuống vực. Đồng chí đã sống hai mươi ngày liền tự điều trị vết thương, ăn quả rừng, uống nước suối, lần bằng được về Bộ với tấm bản đồ về tình hình địch ở Nghĩa Lộ và vùng quanh quanh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:07:12 PM

        Qua cuộc gặp gỡ các đồng chí quân báo, chúng tôi thấy được nhiều khó khăn cụ thể sắp phải vượt qua nhưng lại tăng thêm niềm phấn khởi, tin tưởng vì được biết những sơ hở cụ thể của địch.

        Chặng thứ tư chúng tôi vượt đèo Khâu Vác cao hơn mặt biển 1.230 mét, đường dốc ngược. Phải nói là trèo đèo thì mới đúng vì rất nhiều chỗ phải đi cả bằng hai chân hai tay, đầu người đi sau ngang gót người đi trước. Đây là nhánh đuôi dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, như một bức tường thành cao chót vót chặn đứng các đám mây nên khí hậu rất ẩm ướt, thỉnh thoảng lại có một trận mưa lớn, mặt đường trơn, nước suốt lại dâng đầy chảy xiết, tắc nghẽn đường đi.

        Chúng tôi tới đỉnh Khâu Vác vào lúc tạnh mưa, bầu trời trong quang mây, cứ điểm Nghĩa Lộ hiện ra trước mặt, so với đường chim bay thì không xa lắm, nhưng từ đây ra phải men theo rừng, biệt kích địch tăng cường hoạt động, sẽ còn gặp nhiều khó khăn nguy hiểm mới có thể tiếp cận được.

        Mọi người đang trầm trồ khen Nghĩa Lộ là một thung lũng đep, xa nom như một bức tranh nhiều cảnh nhiều màu, thì đồng chí Kim Hùng báo cáo:

        - Cảnh giới báo về cho biết có bóng người thấp thoáng từ chân đèo đi lên.

        Chúng tôi nhanh chóng tản sâu vào rừng và xoá dấu vết vừa ngồi ngắm cảnh đẹp Nghĩa Lộ.

        Người đó cứ theo phía đỉnh đèo đi lên, thái độ không có dấu hiệu gì dò xét, sợ hãi, trái lại rất bình tĩnh và tỏ ra quen thuộc vùng này.

        Tôi quyết định ta gặp người đó, để nếu là người dân bình thường thì tranh thủ giáo dục và vận động họ giúp đỡ đưa đường.

        Đến khi gặp, hai bên hỏi han nhau kỹ càng,  chúng tôi được biết đó là đồng chí huyện uỷ viên phụ trách khu vực Nghĩa Lộ.

        Sau vài câu hỏi thăm sức khỏe, chúng tôi khẩn khoản nhờ đồng chí ấy dẫn đường đi vào vị trí Nghĩa Lộ cho nhanh, để kịp thời gian. Đồng chí ấy im lặng, nhìn tôi chằm chằm, rồi hỏi lại:

        - Các đồng chí đánh tiêu diệt giải phóng Nghĩa Lộ hay chỉ đánh tiêu hao rồi các đồng chí kéo đi nơi khác, thế là cơ sở địa phương rụng hết, đảng bộ chúng tôi lại vất vả hàng năm mới khôi phục lại được phong trào; và nếu như vậy thì để tôi còn suy nghĩ xem có nên dẫn đường cho các đồng chí hay không?

        Nghe lời hỏi thắng thắn đó tôi không khó chịu, mà lại thấy mừng, mừng vì đã gặp đúng người cần gặp. Tôi nói:

        - Chúng tôi vào đây, theo lệnh của Bác Hồ, đi giải phóng Nghĩa Lộ. Đơn vị chúng tôi kiên quyết thực hiện quyết tâm đó, nhất định chúng tôi sẽ đánh thắng…

        Hai chúng tôi hiểu nhau rất nhanh và đồng chí huyện uỷ viên nhận lời đưa đoàn vào Nghĩa Lộ.:

        - Xuống đèo Khâu Vai này, ta đến Bản Tủ, qua suối Nậm Mười một quãng sẽ gặp đường 11, cắt ngang đường 11, theo con đường mòn sẽ tới phía tây đồn Nghĩa Lộ.

        Thế đó, chặng đường cuối cùng đi vào Nghĩa Lộ nghe gọn như vậy, mà thực ra cũng chằng dài, từ trên đỉnh Khâu Vai đã trông thấy đồn Nghĩa Lộ rồi, nhưng chặng này mới lắm khó khăn.

        Xuống đến Bản Tủ trời đã xẩm tối, chúng tôi dừng lại chặt nứa đóng mảng. Vì lũ to nước suối Nậm Mười chảy ào ảo như thác đổ. Cái mảng đó đóng xong, chưa kịp mừng thì cả đoàn ai nấy đều lo, lo đứng lo ngồi. Số là vừa thả mảng xuống nước, mấy đồng chí quân báo trèo lên, vừa chống sào một cái, thế là nước cuốn đi chèo chống không lại được. Đêm tối mò, chỉ loáng một cái ba đồng chí quân báo và cái mảng đã mất hút. Tính mạng các đồng chí đó ra sao? Mà giả thử các đồng chí nhảy được vào bờ, thì còn cái mảng cứ theo dòng suối này, nó trôi vào Nghĩa Lộ, địch sẽ phát hiện ra hành động của ta, chúng sẽ đề phòng khiến cho trận đánh của ta gặp nhiều khó khăn, ngay đến công tác chuẩn bị chiến trường cũng khặp nhiều trở ngại đoàn chúng tôi sẽ khó mà đến sát vị trí địch để nghiên cứu.

        Nhưng biết làm thế nào, việc đã xảy ra rồi. Trời đen như mực, địa hình không quen, một số anh em được lệnh chạy theo hướng cái mảng, men xuôi dòng suối, đi cả tiếng đồng hồ chẳng thấy tăm tích gi, đành buồn rầu quay lại. Cho tới gần sáng chúng tôi vẫn bị bó chân bên con suối Nậm Mười, không còn cách nào khác là phải rút vào sâu trong rừng, nghỉ một ngày để chuẩn bị thêm tối sau sẽ vượt con suối hung dữ này.

        Trưa hôm sau cả đoàn sung sướng đến chảy nước mắt, vì ba đồng chí bị nước cuốn đã trở về an toàn.

        Sự việc không may này đã cho chúng tôi một bài học về ý chí. Theo ba đồng chí kể lại, sau khi mảng trôi khoảng ba, bốn kilômét, một con ngựa bất kham không sao điều khiển được. Bỏ mảng nhảy xuống nước vào bờ thì hết nguy hiểm, nhưng như thế nó sẽ theo dòng chảy xuôi về Nghĩa Lộ còn nguy hiểm hơn, ảnh hưởng đến nhiệm vụ của toàn đoàn, đến cả thắng lợi chung của chiến dịch. Nghĩ như thế, cả ba đồng chí cố bám lấy mảng, tìm cách lái nó vào bờ. Và thật may đang trên đường dìu nó vào thì gặp một cành cây sà ngang mặt suối, các đồng chí níu lại, lần theo cành cây đưa mảng vào bờ an toàn và giấu kín mảng…

        Cả đoàn thở phào yên tâm, như vậy là ta vẫn giữ được bí mật.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:11:33 PM

        Qua năm ngày hành quân, lội suối, băng rừng, vất vả, gian khổ xen với cả nguy hiểm cứ tăng lên, nhưng không một ai kêu ca, vẫn lạc quan yêu đời, vẫn sôi nổi hiến kế để đi tới đích.

        Trời đã tối hẳn. Chúng tôi tiếp tục vượt suối Nậm Mười. Nước vẫn to như hôm trước. Chúng tôi tập trung dây dù bện to và nối dài ra. Một đồng chí bơi giỏi lao sang trước căng sợi dây dù qua suối. Rồi tổ quân báo sang trước ra sát đường 11 cảnh giới, từng người qua suối thật vật vả. Quần áo ngời cởi hết, quấn lên đầu. Hai tay giơ cao bám lấy dây dù. Nước chảy mạnh đập vào người tung toé lên, như muốn đánh bật người ra khỏi sợi dây bảo hiểm. Có lúc nước xô quá mạnh, cả hai chân bị nâng bổng lên, người lủng lẳng như cái chuông lúc lắc, lúc ấy chỉ lỏng tay một chút, người có thể bị nước cuốn đi.

        Cuộc vượt suối Nậm Mười thắng lợi, tất cả tiến về phía Bản Hẻo. Đóng trại ở đỉnh núi cao phía tây của bản nghỉ ngơi lấy sức.

        Nhưng khó khăn mới xuất hiện: gạo ăn đã hết và có đồng chí bị ốm.

        Tôi đem tình hình này ra trao đổi với đồng chí huyện uỷ viên Văn Chấn, nhưng cũng thấy ít hy vọng có thể giải quyết được vấn đề, vì đã vào đến sát hang ổ của địch rồi, nơi chúng o ép mạnh, kiểm soát gắt gao, làm sao có thể ngày một ngày hai có được gạo ăn- dù chỉ đủ gạo nấu cháo!

        Đồng chí huyện uỷ viên huyện Văn Chấn chăm chú nghe tôi trình bày. Vài phút sau mới trả lời gọn lỏn:

        - Hơi khó đấy!

        Tôi vừa mừng nhưng vẫn không hết lo. “Hơi khó” có nghĩa là khó vừa, còn có khả năng giải quyết. Lo vì biết đâu đồng chí ấy dùng lời lẽ vừa phải để động viên mình, từ đó sinh chủ quan, công việc sẽ lỡ dở thì thật nguy hiểm.

        Tậm trạng tôi lúc này thật phân vân!

        Đồng chí huyện uỷ viên Văn Chấn cũng đang đăm chiêu suy nghĩ, bỗng đồng chí vui hẳn lên, nói tiếp:

        - Để các anh đói cơm sao được? Ăn quả rừng trừ bữa, sức khỏe giảm sút, không bò được vào đồn địch mà điều tra kỹ lưỡng được đâu. Thôi được, để tôi xuống Bản Hèo xem thế nào đã?

        Nói xong, đồng chí ấy đi ngay. Tôi ngạc nhiên hết sức. Xuống Bản Hèo ư? Bản Hèo ở ngay dưới chân núi mà chúng tôi bí mật trú chân. Một bản lèo tèo mấy chục nóc nhà sàn, cách Nghĩa Lộ có bốn kilômét, lại nằm ngay sát đường cái lớn đi Gia Hội, địch đi lại tuần tiễu thường xuyên, kiểm soát gắt gao, làm sao có khả năng giúp chúng tôi gạo ăn lúc này được? Tôi càng ngạc nhiên khi đồng chí ấy trở lại, cùng với một thanh niên nữa, giới thiệu là “chiến sĩ quân báo của Bộ”, mỗi người vác một túi gạo độc vài chục cân. Chưa hết, đồng chí ấy còn mang theo một hũ mắm tôm và thản nhiên nói;

        - Chẳng lo được thức ăn, các anh ăn khô khan tạm vậy.

        Kể ra ở vùng địch hậu dưới trung du hay đồng bằng thì những yêu cầu này không khó khăn lắm. Khi đi chuẩn bị chiến trường ở Ninh Bình, chúng tôi được các cơ sở địa phương chăm lo cơm nước rất chu đáo, còn mua cho cả sữa, đường, thuốc lá nữa, có đồng chí nào bị ốm đau gửi địa phương là rất yên tâm. Nhưng đây là Tây Bắc, đất rộng người thưa… Tây Bắc đau thương, nghèo đói vì bao năm bị đế quốc và bọn tay sai đàn áp, bóc lột mà có được gạo, mắm là rất quý.

        Cuối năm 1945, tên tướng thực dân A- lét- đăng- đơ- ri đem 5.000 tàn quân chạy Nhật hồi tháng 3 năm 19445 từ Vân Nam trở lại đánh chiếm Lai Châu, Phong Thổ, Sơn La… Đến cuối năm 1947, phối hợp hành động với cuộc tiến công lên Việt Bắc của các cánh quân Bô- phơ- rê, Com- muy- nan, tướng A- lét- đăng- đơ- ri cùng dốc lực đánh ra Sa Phương án, Lao Cai, Nghĩa Lộ… Tây Bắc gần như không được hưởng một ngày nào của không khí độc lập tự do của dân tộc.

        Tây Bắc rơi vào tay giặc, các thổ ti, lang đạo lại leo lên những chiếc ghế vương hầu tột đỉnh của chúng ngày trước, thả sức tác yêu tác quái, phục hồi mọi luật lệ hà khắc, tệ tục khi xưa.

        Đi đôi với việc tuyên bố thành lập cái gọi là “Nước Thái tự do”, thực dân Pháp còn tìm mọi cách hiểm độc gây chia rẽ dân tộc, nêu lên những khẩu hiệu dã man xúi giục chém giết lẫn nhau: “giết Kinh lấy muối, giết Thổ (người Tày) lấy ruộng, giết Mán (người Dao) lấy bạc, giết Mèo (người H'mông) lấy thuốc phiện”, v.v…

        Để củng cố quyền thống trị miền Tây Bắc, quân Pháp ra sức lùng cán bộ ta, treo những giải thưởng rất lớn bằng bạc trắng, thuốc phiện, muói, vải… cho những ai “cắt được đầu, xẻo được tai Việt Minh”. Mặt khác chúng bắt lính. Các đạo quân nguỵ Thái, Mường lần lượt mọc ra để càn quét các nơi, đóng những đồn bốt nhỏ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:13:34 PM

        Đầu năm 1948, bộ đội ta trở lại Tây Bắc. Đi đầu là những đội võ trang tuyên truyền: đội xung phong Quyết Thắng, đội xung phong Quyết Tiến, đội xung phong Trung Dũng, đội xung phong Tây Bắc. Mỗi đội khoảng ba chục đồng chí, đội viên là những huyện uỷ viên hoặc cán bộ cấp tỉnh, như ở đội xung phong Quyết Thắng có nhiệm vụ tiến vào Nghĩa Lộ rồi thúc lên Than Uyên, Quỳnh Nhai vào Điện Biên Phủ thì chính trị viên là đồng chí Hồng Quân, bí thư tỉnh uỷ Hà Giang; đội trưởng, đồng chí Luận uỷ viên thường vụ tỉnh Yên Bái; đội phó, đồng chí Châu Thành, trưởng ban huấn luyện của Khu X cũ. Các đội võ trang tuyên truyền đi trước, tiếp sau đến các đại đội độc lập.

        Trở lại Tây Bắc, cả mấy tháng đầu năm 1948, tất cả các đội võ trang tuyên truyền đều phải trải qua những bước đường thật gian nan, những cuộc thử thách thật nặng nề. Và kết quả là tất cả đều bị bật ra hết, phải trở lại bờ sông Hồng củng cố, rút kinh nghiệm và tìm biện pháp Tây tiến (tiếng tắt dùng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp- chỉ các lực lượng bộ đội, Dân, Chính, Đảng lên Tây Bắc hoạt động vũ trang gây cơ sở) mới.

        Đồng chí Song Hào trước là chính uỷ Liên khu X, còn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện đầy xúc động về những người đi trước đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, đã hy sinh cả đời mình cho nhiệm vụ giải phóng miền Tây:

        - Nhiều đồng chí vĩnh viễn nằm lại trên núi rừng Tây Bắc. Người ngã xuống vì một viên đạn của quân thù. Người ngã xuống sau những trận ốm đau mòn mỏi, những ngày đói, khát. Những đồng chí trở ra đến bờ sông Hồng đều đau yếu, gầy còm. Có đồng chí vì bị địch vây phải lẩn núp mãi trong rừng, ăn lắm lá, trái cây, rau rừng, hai hàm răng xanh lè…

        Thế đó, những người đi trước mở đường giải phóng miền Tây. Các đồng chí bị đánh bật trở ra, rồi lại tìm mọi cách trở vào lớp này ngã xuống, lớp sau vào theo ẩn mình trong những hốc cây, hang đá, chịu đựng những cơn mưa rừng tàn nhẫn, những đợt gió lạnh nhức xương, những cơn sốt rét ác liệt, mê man bất tỉnh… kiên trì bám rừng, bám  núi để rồi tiến tới bám được nhân dân mà hoạt động, để có được những cơ sở như Bản Hẻo này.

        Thế đó, lại một thúc giục mới với chúng tôi, nhắc nhở chúng tôi phải làm gì tiếp nối truyền thống của những người đi trước.

        Mọi khó khăn trước mắt đã được giải quyết. Sau khi đồng chí huyện uỷ viên Văn Chấn xuống Bản Hẻo vận động cơ sở giúp gạo ăn, đón số đồng chí trong đoàn ốm đau về dưới bản chăm sóc, đoàn lại tiếp tục hoạt động, bí mật tiếp cận cứ điểm Nghĩa Lộ, bắt tay vào nghiên cứu địch và dự kiến phương án tiến công cụ thể.

        Đoàn tiến về phía tây cánh đồng Nghĩa Lộ.

        Từ mỏm 500 của điểm cao 793 mét, chúng tôi nhìn rõ Pú Chạng với những lớp rào kẽm gai, những đường hào ngoằn ngoèo chạy ra các hoả điểm…

        Nhìn thấy Pú Chạng, tự nhiên những kỷ niệm xưa lại hiện về trong tâm trí tôi. Cảnh vật tuy có thay đổi, Pú Chạng thực sự là một đồn binh kiên cố, nhưng tội ác mới không xoá nhoà được dấu vết của tội ác cũ vấn do bọn thực dân Pháp gây nên. Phía đông Pú Chạng nay là một sân bay quân sự dã chiến, xưa kia là một vườn ổi khá to. Qua khu vườn ổi một quãng đến “căng” Nghĩa Lộ- nơi trước kia thực dân Pháp giam giữ hơn 200 tù chính trị. Vườn ổi xưa kia đã có biết bao nhiêu đảng viên cộng sản nằm xuống vì những đòn tra tấn dã man của bọn cai ngục, vì ốm đau, bệnh tật không được chúng cứu chữa. Và rất có thể 13 đồng chí Nhu, Thẩm, Bảy, Vi, v.v… đã cùng tôi nổi dậy vượt ngục hồi tháng 3 năm 1945, chạy không kịp đã  bị bọn thực dân và bọn cai ngục Nghĩa Lộ vứt xác ra đây?

        Tôi lặng người hồi lâu về những kỷ niệm cũ.

        Hai mắt mờ lệ khi nhìn về khu vườn ổi này đã thành sân bay. Tội ác chồng chất lên tội ác!

        Tôi hứa thầm với những người đồng chí của mình đã ngã xuống vì tộia chiến sĩ của kẻ thù:

        - Các đồng chí hãy yên nghỉ, trận này chúng tôi quyết tâm đánh thắng để trả thù cho các đồng chí!

        Trong lúc bao kỷ niệm cũ dồn dập hiện về trong tôi thì đồng chí trung đoàn trưởng Vũ Yên bò nhanh đến chỗ tôi với nét mặt rạng lên niềm tin, khẩn khoản đề nghị:

        - Anh cho trung đoàn 102 được đánh Pú Chạng. Chúng tôi hứa quyết tâm đánh nhanh, diệt gọn.

        Tôi thông cảm với nguyện vọng của đồng chí Vũ Yên và tôi rất quý trọng phẩm chất của những người cán bộ không quản gian nan nguy hiểm, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ, nhưng tôi vẫn thận trọng trả lời Vũ Yên:

        - Rất hoan nghênh, nhưng để nghiên cứu kỹ lần cuối cùng rồi mới quyết định.

        Công việc nghiên cứu thực địa đạt kết quả tốt sau khi chia nhau bò sát vào đồn địch quan sát cách bố trí của địch từ nhiều phía, cộng với cơ sở địa phương cung cấp, đoàn đã kết luận chính xác, tạo cơ sở cho đại đoàn hạ quyết tâm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:15:16 PM

        Ở Nghĩa Lộ địch bố trí theo cụm cứ điểm (có nhiều cứ điểm) nhưng có hai cứ điểm lớn: Pú Chạng có chừng 300 quân, như con cú vọ đậu trên cao nhòm bao quát cả cánh đồng rộng; Nghĩa Lộ phố- cứ điểm này xưa kia là trại lính khố xanh, nằm sắt nách thị trấn Nghĩa Lộ. Địch ở đây có khoảng 400 tên và sở chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ. Hai cứ điểm này nằm hai đầu sân bay- cách nhau khoảng hơn hai kilômét, một cáu chót vót cao (Pú Chạng), một cái gần sát mặt ruộng (Nghĩa Lộ phố).

        Từ những tình hình chung này, chúng tôi tiến hành thảo luận quân sự dân chủ tại chỗ để sơ bộ xác định quyết tâm và phân bố lực lượng. Cuộc trao đổi ý kiến thật hào hứng và sôi nổi. Nhiều ý kiến hiến kế rất hay, ai cũng xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn.

        Cuối cùng chúng tôi đã đạt được sự nhất trí về nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị:

        - Phải tập trung lực lượng đánh Pú Chạng trước vì cứ điểm này có tác dụng khống chế toàn bộ trận địa phòng thủ của địch ở Nghĩa Lộ.

        - Trung đoàn 102 được tăng cường 1 tiểu đoàn của trung đoàn 88 làm nhiệm vụ đánh cứ điểm Pú Chạng.

        - Trongkhi trung đoàn 102 đánh Pú Chạng, thì hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 88 bao vây Nghĩa Lộ phố. Sau khi giải quyết xong Pú Chạng, trung đoàn 88 bắt đầu đánh chiếm Nghĩa Lộ phố.

        Sau đó chuyển sang bước nghiên cứu sâu hơn, xác định các hướng đánh của từng tiểu đoàn, đại đội.

        Liền trong hai ngày đêm, chúng tôi nằm sát địch. Ban ngày nghiên cứu xác định các hướng đột phá, chiều tối cán bộ các cấp lại mò vào tận trong sờ hàng rào địch, anh em quân báo luồn mãi vào bên trong vị trí địch, đến từng ụ súng; nơi nào còn nghi ngờ thì quân báo dẫn cả cán bộ luồn vào tận nơi xem xét cụ thể. Cuối cùng chúng tôi họp cả đoàn trao đổi phương án tác chiến. Mọi người đều thống nhất ý kiến với phương án đã đề ra; trung đoàn 102 bổ sung một số chi tiết về vị trí đặt trận địa pháo cùng các cỡ hoả lực, về phương phá khắc phục con suối Nậm Đông để triển khai lực lượng và đề nghị chọn thời điểm nổ súng vào quãng từ 16 đến 17 giờ vì chiều ở Nghĩa Lộ có sương mù rất sớm; trung đoàn 88 bổ sung chi tiết về chọn thời điểm đột phá và yêu cầu cho thêm lực lượng để có thể nắm thời cơ đánh Nghĩa Lộ phố ngay cả khi trung đoàn 102 chưa diệt xong Pú Chạng. Trong cuộc họp này tôi nhận thấy tất cả cán bộ và chiến sĩ trong đoàn chuẩn bị chiến trường đều hốc hác, má hóp da xanh, nhưng ai nấy đều linh hoạt, nói năng hoạt bát biểu lộ lòng tin tất thắng. Thế là chúng tôi đã thống nhất ý kiến với nhau xây dựng phương án tác chiến ngay tại thực địa, lấy đó làm cơ sở để về thông qua Đảng uỷ đại đoàn và báo cáo xin chỉ thị của Bộ.

        Từ Nghĩa Lộ trở ra, đoàn chúng tôi đi vào ban đêm, với một tinh thần hăm hở, mong sao chóng ra đến bờ sông Thao, chuẩn bị cho đơn vị vào chiến đấu. Một nguyên nhân nữa khiến đoàn phải trở ra gấp rút là việc chuẩn bị chiến trường đã kéo dài quá thời gian quy định, về chậm ngày nào, các đồng chí trên Bộ và ở đại đoàn càng mong ngày ấy.

        Sự thôi thúc của nhiệm vụ, sự mong đợi của cấp trên và đòi hỏi của nhân dân tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi vượt khó khăn nhanh chóng trở về.

        - Các anh quá hẹn đã bốn ngày rồi!

        Giây phút đầu tiên gặp chúng tôi trở về, đồng chí Song Hào mừng quá, đã trút hết mọi lo lắng của những ngày nóng ruột chờ đợi trong lời trách móc thân tình ấy. Rồi đồng chí nói tiếp:

        - Ngày qua ngày, trông ngóng các anh. Tin các anh chẳng thấy, chỉ nghe tin địch tung quân ra vây chặn các anh. Bộ chỉ huy chiến dịch thông báo: ta và địch chạm súng ở Ca Vịnh không biết diễn biến thế nào, song theo tin địch thì chúng chết một thiếu uý, một trung uý.

        Tôi hỏi cắt ngang:

        - Nhưng đoàn của Hồng Sơn đã về cả rồi mà?

        Đồng chí Song Hào trả lời:

        - Cũng mới về thôi, an toàn cả. Đoàn chuẩn bị chiến trường của trung đoàn 36, khi trở ra phát hiện địch phục kích ở suối Ca Vịnh. Chúng có hai trung đội. Ta đi tránh. Địch đuổi theo. Ta diệt một số. Chúng tháo chạy. Nhưng nghe đồng chí Hồng Sơn báo cáo thắng lợi thì lại càng lo cho các anh ở tận sâu trong Nghĩa Lộ. Mà theo thông báo của Bộ thì có tin địch tung một đại đội Tabor, chẹn các anh ở Khâu Vai. Bộ chỉ thị phải cử ngay một tiểu đoàn vào đánh giải vây. Chúng tôi đã lệnh cho 79 cấp tốc lên đường…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:20:45 PM

        Sau một đêm họp Đảng uỷ đại đoàn, tôi lên Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo quyết tâm và kế hoạch tác chiến mà Đảng uỷ đại đoàn đã thông qua, rồi tiếp ngay đó là cuộc tiến quân vào Tây Bắc mà cán bộ và chiến sĩ trong đại đoàn chúng tôi đã được chuẩn bị kỹ về tinh thần và tổ chức. Mọi người xác định: Tây Bắc! Gian lao sẽ lắm và thắng lợi cũng nhiều đang chờ đang đợi chúng ta.

        Tiến vào Tây Bắc. Mờ đầu là một cuộc hành quân thọc sâu táo bạo, đánh ngay vào vị trí đầu não phân khu Nghĩa Lộ, nơi rắn nhất của địch ở Tây Bắc. Chiếm được Nghĩa Lộ, ta sẽ mở toàn cửa ngõ tiến sâu vào giải phóng miền Tây. Cái khó, đồng thời cũng là bí quyết thành công của ta trong trận then chốt mở đầu chiến dịch, là mọi hành động của đại đoàn phải giữ được bí mật tuyệt đối, phải tranh thủ bất ngờ. Bởi vì, nếu bị địch phát giác đề phòng, chúng đánh chặn viện ta từ đèo Khâu Vai cheo leo, hiểm trở là ta khó mà tiến được đại binh vào tới Nghĩa Lộ, chứ chưa nói gì đến thắng lợi.

        Đêm 15 tháng 10 năm 1952, các đơn vị tham chiến vượt sông Hồng chia thành sáu mũi trên hai hướng tiến vào Tây Bắc.

        Đại đoàn 308 vượt sông ở Mậu A chia thành hai mũi: trung đoàn 102, 88, đại đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc tiến theo hướng Nghĩa Lộ; trung đoàn 36 theo hướng Cửa Nhì.

        Kế hoạch tổ chức vượt sông chia thành hai bến xuống, hai bến lên, quy định thứ tự, thời gian xuất phát và tốc độ đi, địa điểm các đơn vị đi trước chờ các đơn vị đi sau, đảm bảo đội hình sang sông nhịp nhàng, vượt gọn đi nhanh và an toàn.

        Nhưng ngay đêm đầu đã gặp khó khăn vì một trận mưa trái mùa bất thấn ập đến. Mưa rất to bào nhẵn tất cả các con đường lên xuống mới được công binh xẻ đất đánh bậc. Tất cả các kế hoạch, các dự tính bị đảo lộn. Đội hình hành quân bị cắt quãng: cơ quan đại đoàn bộ và đơn vị pháo binh đi cuối đội hình mới quá bờ sông Hồng được một kilômét, thì tiểu đoàn 79 đi đầu, qua sông từ lúc trời nhá nhem tối, chưa nổi cơn dông. Có thể nói quyết tâm và khả năng tổ chức chỉ huy của đại đoàn được thử thách quyết liệt ngay trong đêm đầu tiên vượt sông Hồng sang đất miền Tây.

        Quyết tâm của bộ đội thật cao. Kế hoạch vượt sông tưởng như thế là hoàn hảo, nào ngờ bị trắc trở ngay từ đầu. Ba ngày đi tiếp vẫn chưa tới Nghĩa Lộ. Bộ đội bắt đầu thấm mệt, thiếu ngủ phải tranh thủ ngủ bù đủ kiểu: ngủ ngồi, ngủ đứng, có anh vừa đi vừa ngủ…

        Chiều 15 tháng 10, Bộ chỉ huy đại đoàn hội ý chớp nhoáng nhận định: Bộ đội rất mệt, đói ngủ. Nhưng theo kế hoạch chung đêm trước (14 rạng ngày 15) một đơn vị bạn đã nổ súng tiêu diệt hai đồn ngoại vi phân khu Nghĩa Lộ, thu hút sự theo dõi của địch ra hướng Ca Vịnh, Sài Lương, tạo điều kiện cho đại đoàn bí mật thọc sâu. Tuy nhiên nếu tốc độ hành quân quá chậm, địch có thể phát giác, ta sẽ phải đối phó và như vậy mất yếu tố bất ngờ. Bộ chỉ huy đại đoàn quyết định: bằng bất cứ giá nào cũng phải tiếp tục hành quân, để đêm mai - 16 tháng 10 vào tới Nghĩa Lộ. Nhưng cũng cần có kế hoạch cho bộ đội tranh thủ ngủ bù dù chỉ là ít phút. Vì ngủ là một trong những biện pháp lấy lại sức khỏe, phục hồi sự tỉnh táo hiệu nghiệm nhất, để nâng cao tốc độ hành quân. Một sáng kiến về ngủ nảy nở và được tổ chức thực hiện: luân phiên nhau ngủ và đi. Các đơn vị đi đầu dừng lại, các đơn vị sau vượt lên trước, vượt hết rồi dừng lại ngủ và đánh thức các đơn vị đã ngủ, vùng dậy tiếp tục đi…

        Nhờ đó, tốc độ hành quân của bộ đội tăng lên. Chiều 16 tháng 10, đơn vị đầu của đại đoàn đã vượt qua đèo Khâu Vai, đổ xuống cánh đồng Nghĩa Lộ.

        Đường xuống đèo Khâu Vai vào thung lũng Nghĩa Lộ không dốc như đường lên. Anh em công binh lại khéo lợi dụng địa hình mở đường ngoằn ngoèo chữ chi nên dễ đi. Trời đầy sao soi tỏ đường đất đỏ, đồng chí Song Hào và tôi vừa đi vừa trao đổi những suy nghĩ:

        - Thế là có thiên thời. Bốn ngày liên không mưa, con suối Nậm Mười không thành vấn đề nữa rồi.

        - Trời sao vằng vặc thế này mai mốt cũng chẳng mưa. Bào đến đây rồi thiên thời, địa lợi, nhân hoà ta có tất cả.

        - Ngày mai, địch thấy mất tăm đại đội Tabor vừa bị đơn vị bạn đánh tan khi chúng từ Nghĩa Lộ mò ra sục sạo ở chân đèo Khâu Vai sẽ sinh nghi, nhưng chỉ sáng mai là ta hoàn thành thế trận bao vây. Ta cài thế rồi, chúng có cố cựa cũng hết cách xoay xở.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:23:23 PM

        Cái chất anh hùng của cuộc hành quân thọc sâu vào phân khu Nghĩa Lộ sẽ mãi mãi được ngợi ca. Nhưng từ trong những thiếu sót, những vấp váp gặp phải trên dọc đường, tôi cũng rút ra cho mình những bài học rất bổ ích về công tác chỉ huy chiến đấu:

        - Bộ đội đi cật lực ngày đêm, quên đói, quên rét, quên ngủ, so với kế hoạch vẫn chậm một ngày. Rõ ràng là tính toán sai, không thể lấy vận tộc của một người hay một đơn vị nhỏ mà tính ra cho binh đoàn lớn lại có binh chủng phải khiêng vác nặng như pháo binh, càng không thể đơn thuần đo tính trên bản đồ mà xác định vận tốc hành quân vì so với thực tế địa hình có những điều kiện cụ thể khác hẳn trên bản đồ, đường rừng núi khác đường trung du, đồng bằng; đi ban đêm khác với đi ban ngày; đi đường dài khác với đường ngắn, lúc sung sức khác hẳn khi mệt mỏi.

        - Trong một chặng đường, nhất là phải lội suối băng rừng có thể xảy ra bao nhiêu chuyện không dự kiến được, cho nên không thể hoàn toàn dựa vào kế hoạch định sẵn trước. Vì quá trình hành quân cũng là quá trình biến động, nhiều tình huống diễn ra khác với phương án đã định, cho nên để điều khiển một binh đoàn lớn cần phải tổ chức các đội điều chỉnh đường ở những ngã ba, ngã tư, những nơi không thể đi bình thường được, những nơi dễ ùn tắc, để duy trì trật tự, cho đơn vị nào dừng lại, đơn vị nào tiến lên, có như vậy mới khỏi ùn đội hình và bảo đảm tốc độ.

        - Hành quân đêm tối, đội hình lại kéo dài hàng chục kilômét theo đường mòn độc đạo, cán bộ chỉ huy các cấp nhất thiết phải đi vào đội hình, không được rời bỏ vị trí chỉ huy, có như vậy mới duy trì được đội hình của đơn vị, có việc gì xảy ra truyền đạt báo cáo hay nhận lệnh mới nhanh chóng.

        Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 10, toàn đại đoàn gồm hai trung đoàn bộ binh, các tiểu đoàn pháo binh, súng cối 120mm, súng máy phòng không, thông tin, công binh… cơ quan đại đoàn bộ, lọt hết vào thung lũng Nghĩa Lộ. Sáng ra, sương mù vừa tan thì máy bay trinh sát của địch xuất hiện trên đường từ đèo Khâu Vác qua Nậm Mười, Bản Hẻo vào Nghĩa Lộ; nghiêng ngó tìm tòi và bắn tùm tụp ở phía Cửa Nhì- trên đường Yên Bái vào Nghĩa Lộ, mà ở Cửa Nhì, theo kế hoạch từ hôm qua trung đoàn 36 đã tiến hành bao vây đồn này rồi.

        Một vấn đề đặt ra trong buổi sáng ngày 17 tháng 10 này là địch đã đoán được hướng chiến sĩ của ta chưa? Chúng tôi trao đổi rất thận trọng và xác định thống nhất rằng: Chưa, chúng chưa biết gì hết. Trong phép dùng binh phải giỏi giương đông kích tây, vờn đằng này đánh đằng kia, và mưu kế phải luôn luôn biến hóa khiến cho địch không thể mò ra ý định của ta, phán đoán sai và chết vì sai lầm đó. Những thu đông trước, các chiến trường phối hợp thường đánh trước thu hút sự chú đối phó của địch, tạo thuận lợi cho chiến trường chính giáng đòn hiểm, mà đòn đầu tiên ở chiến trường chính thường là một đòn mạnh rung chuyển thế địch. Nhưng lần này, Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo khác hẳn. Chiến trường chính nổ súng trước, nhưng trận đầu tiên ở đây lại là những trận nhỏ, nhổ mấy đồn tiều tiêu của địch ở Sài Lương, Ca Vịnh, mãi ngoài xa phía đông Nghĩa Lộ… Hiện tượng này khiến cho tướng địch Sa- lăng cùng cơ quan tham mưu của y càng yên tâm với phán đoán: hướng chính của Việt Minh trong thu đông 1952 là đồng bằng Bắc Bộ là đúng. Cụ thể là ta đánh Ca Vịnh, Sài Lương từ đêm 14 tháng 10 mà qua ngày 15, 16 địch vẫn chỉ tung một ít máy bay từ Hà Nội lên trinh sát phía đông phân khu Nghĩa Lộ, trong khi đó, đại đoàn 308 đang là mục tiêu theo dõi của địch, đã lặng lẽ hành quân thọc vào phía bắc Nghĩa Lộ. Và tên thiếu tá Ti- ri- ông chỉ huy trưởng phân khu Nghĩa Lộ, tuy đã bị mất hai đồn tiền tiêu rồi, nhưng hắn vẫn thản nhiên, không ra lệnh báo động trong toàn phân khu của hắn, chỉ tung đội biệt kích sừng sỏ của tên Di- a- rơ ra qua Cửa Nhì đến quá Ba Khe thăm dò, sục sạo. Vì sao Ti- ri- ông lại mất cảnh giác như vậy? Như trên đã nói, hắn cho rằng “ít ra cũng phải dăm năm nữa Việt Minh mới đủ khả năng đánh thẳng vào Nghĩa Lộ”. Hắn tính như vậy nên cái đòn đánh “vờn” của ta ở Sài Lương, Ca Vịnh càng làm cho hắn yên trí với cách suy tính chủ quan của hắn vẫn thường huênh hoang quanh các bàn tiệc bày đầy rượu mạnh do máy bay từ Hà Nội thả dù xuống, rằng: ở vùng núi rừng bạt ngàn này “Việt Minh chỉ có sức vác đạn vác gạo vào chộp lấy mấy cái tiền đồn bé nhỏ thôi”. Tuy nhiên, Ti- ri- ông cũng đã có một vài hành động tỏ ra thận trọng: Hắn rời khỏi cứ điểm Nghĩa Lộ phố ở dưới thấp, đưa cả sở chỉ huy phân khu lên trên đồn Pú Chạng, đồng thời tung một đại đội Tabor ra phía Nậm Mười, đèo Khâu Vai thăm dò mặt bắc thị trấn Nghĩa Lộ, nhưng đã bi ta tiêu diệt gọn trong buổi chiều ngày 16 tháng 10. Còn cứ điểm Pú Chạng thì đến sáng ngày 17 tháng 10 đã bị bao vây rồi mà Ti- ri- ông vẫn chưa biết gì hơn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2016, 09:27:02 PM

        Sáng nay, khi máy bay địch lao lên trinh sát, chúng tôi xác định địch chưa biết gì hết, chúng chưa dò được ý định của ta trong thu đông này, nhưng cũng chỉ ra cho các đơn vị cần chú ý, vì địch ở Nghĩa Lộ đã bắt đầu nghi ngờ về cái đại đội Tabor của nó bị mất tích, cho nên mọi hành động của ta phải hết sức khẩn trương, hết sức thận trọng, bí mật; tranh thủ đến cùng yếu tố bất ngờ của trận đánh.

        Giữ bí mật trước một kẻ địch đã nghi ngờ quả là một việc khó. Càng khó hơn nữa là ta chủ trương đánh sớm, nổ súng trước khi mặt trời lặn khoảng một giờ để có điều kiện cùng trong một đêm liên tiếp tiêu diệt xong cả hai cứ điểm trong thung lũng Nghĩa Lộ, phát huy cao độ bất ngờ về chiến dịch. Ý định lớn như vậy, trận Nghĩa Lộ phải là một tiếng sét, từ bao vây rộng, xa, ta phải siết chặt vòng vây tiến vào chiếm lĩnh trận địa giữa ban ngày, có những đơn vị như tiểu đoàn 54, đại đội pháo 75mm phải vượt qua suối rộng, đường trống trải ở ngay dưới chân cứ điểm địch; có những tiểu đoàn như tiểu đoàn 79, tiểu đoàn 322 phải giấu quân ở giữa cánh đồng để chia cắt hai cứ điểm địch và sẵn sàng đánh địch tăng viện bằng quân nhảy dù; lại có những đại đội như đại 281 phải luồn vào sát bên sườn cứ điểm địch chỉ cách vài trăm mét… Người chiến sĩ thận trọng từng bước đi, từng động tác lúc nào cũng phải nghĩ rằng địch nó đang vểnh tai, căng mắt soi mói, tìm tòi, nghe ngóng mình. Trong những giờ phút kéo dài này, đầu óc người chỉ huy căng như dây đàn. Tại Sở chỉ huy của đại đoàn, tiếng chuông điện thoại reo liên tục:

        - 54 mới qua suối một đại đội.

        - Pháo binh đã cho người lên trước làm công sự, bộ phận tải đạn chưa qua suối…

        - 322 đã vào trận địa.

        - Địch đi tuần cách 79 một trăm mét.

        - Một trung đội địch ra khỏi cổng cứ điểm Pú Chạng có lẽ chúng xuống Nghĩa Lộ phố.

        Qua báo cáo của các trung đoàn, Bộ chỉ huy đại đoàn theo dõi từng hành động, từng hơi thở của bộ đội bước vào dàn đội hình bí mật chiếm lĩnh trận địa tổ chức tiến công. Quá trưa, trung đoàn trưởng Vũ Yên báo cáo một tin quan trọng: địch đã phát hiện được đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn 102 xuống đại đội 281, và đồng chí Vũ Yên kết luận:

        - Thế là địch đã biết “một ít” về ta rồi.

        Tôi động viên lại:

        - Địch đã biết ta vào Nghĩa Lộ, nhưng chúng mới chỉ biết “một ít” thôi mà ta đã dàn xong thế trận.

        Nhận được tin này, cơ quan tham mưu đại đoàn lại nổ ra cuộc tranh luận: vì sao địch phát hiện một đường dây điện thoại của ta mà chúng không tiếp tục sục sạo thêm chung quanh Pú Chạng, cũng không thấy máy bay địch lên trinh sát?

        Có ý kiến cho rằng có thể là bọn trinh sát địch đã không báo cáo sự thật với chỉ huy của chúng, sợ lại bị đẩy đi sục sạo thì dễ bị bắt sống, chi bằng chui vào đồn còn có công sự, có hoả lực mạnh may ra thoát chết.

        Ý kiến khác phân tích: địch vừa mất tích một đại đội Tabor lại thấy có đường dây điện thoại ngay cạnh Pú Chạng, hai hiện tượng đó đủ cho chúng đoán là ta đã có lực lượng mạnh thọc vào Nghĩa Lộ, ít ra cũng phải cỡ trung đoàn tăng cường. Chúng im lặng co vào cứ điểm là đang tích cực chuẩn bị. Lại nữa, vì sao suốt từ trưa không thấy máy bay địch hoạt động trinh sát hoặc đánh ngay vào những khu rừng, điểm cao ở hướng mà chúng đã phát hiện ra đường dây điện thoại của ta? Dứt khoát là địch đã biết ta sẽ đánh Pú Chạng và chúng đang chuẩn bị chơi đòn bất ngờ. Biết ta thường đánh vào chập tối thì chúng sẽ đánh trước vào xế chiều…

        Chúng tôi thống nhất ý kiến: thực ra địch mới biết “một ít” về ta thôi, chúng chưa thể biết đây là mũi chủ yếu của chiến dịch, càng chưa thể biết chiến trường chính của ta trong thu đông này là Tây Bắc. Nhưng hãy chuẩn bị chiến đấu với tình huống phức tạp nhất, cứ cho là địch đã biết kha khá về ta ở đây, và chúng đang chuẩn bị phá ta bằng một đòn đánh phủ đầu trước khi ta nổ súng. Nhưng ta đã đưa địch vào thế trận cài sẵn của ta rồi. Ta có đủ điều kiện đi nước cờ cao hơn, đi trước chúng. Trước đây ta định 17 giờ 30 phút nổ súng đánh Pú Chạng, giờ ta đánh sớm nửa tiếng: 17 giờ. Song ta phải lừa địch một vố nữa, đúng 16 giờ 30 phút, lệnh cho các cỡ súng cối 120mm bắn dồn dập vào Nghĩa Lộ phố, kiềm chế pháo địch, phá một số ụ súng, đồng thời đánh lạc hướng địch, tạo điều kiện cho trung đoàn 102 triển khai các mũi xung kích áp sát vào Pú Chạng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 05:58:39 AM

        Tôi trình bày ý định thay đổi thời gian nổ súng với đồng chí chính uỷ Song Hào. Đồng chí tán thành ngay và nhắc tham mưu trưởng phải kiểm tra chặt chẽ đơn vị được phân công đánh quân nhảy dù, không vì thấy đã về chiều rồi mà lơ là nghĩ rằng địch không còn điều kiện để thả quân. Sau đó tôi gọi điện thoại báo quyết định mới cho đồng chí Cao Văn Khánh đang làm nhiệm vụ đốc chiến ở trung đoàn 102. Đồng chí Khánh đáp lại, nghe qua giọng nói tôi biết đồng chí rất mừng: 102 đang đề nghị được đánh sớm hơn kế hoạch. Hay quá! Trên dưới nhất trí. Anh em muốn đánh sớm, quyết tâm giải quyết nhanh, gọn.

        16 giờ 30 phút, súng cối 120mm bắn dồn dập vào cứ điểm Nghĩa Lộ phố. Cùng lúc, trung đoàn trưởng Vũ Yên báo cáo:

        - Các mũi đã vào vị trí, tất cả đang chờ lệnh!

        Thấy diễn biến nhanh quá, tôi hỏi lại:

        - 267 đang ở đâu? (267 là đại đội chủ công của tiểu đoàn 54, đơn vị đi đầu mũi chủ yếu đánh vào Pú Chạng).

        Đồng chí Vũ Yên sôi nổi trả lời:

        - 267 đã bám hàng rào địch rồi. Trung đoàn phó Hùng Sinh đi với 267, thấy điều kiện có thể tiến sát địch được, anh đề nghị cứ đùn lên, chúng tôi đồng ý, chỗ ấy súng bắn thẳng của địch không kiểm soát được, hôm đi trinh sát tôi đã đến đấy…

        Tôi hỏi thêm: Hùng Sinh đang ở đâu? và được trả lời “đi cùng với 267”. Nghe vậy tôi yên tâm. Đồng chí Hùng Sinh mới được đề bạt lên cấp trung đoàn phó, nhưng từ hồi chỉ huy đại đội, tiểu đoàn đã nổi tiếng là cán bộ dũng cảm, táo bạo đánh rất khôn.

        16 giờ 45 phút, bầu trời Nghĩa Lộ ầm ầm tiếng máy bay địch gầm rít: 3 tốp, mỗi tốp 4 chiếc.

        Thế là điều chúng tôi phán đoán từ trưa nay, có thể địch sẽ chơi đòn bất ngờ đánh ta trước, thì giờ đây đã hiện ra rõ rệt. Một con tính giản đơn cũng đủ chứng minh: Ta nổ súng vào Nghĩa Lộ phố lúc 16 giờ 30 phút. Nếu lúc ấy địch mới báo động khẩn cấp thì đến 16 giờ 45 phút, trong khoảng thời gian 15 phút có sẵn sàng chiến đấu đến đâu, có nhanh như điện thì 12 chiếc máy bay kia cũng chưa thể rời khỏi sân bay Gia Lâm được. Rõ ràng, địch định vồ ta, nhưng vồ hụt rồi, vì ta đã có dự kiến, đã chuẩn bị đối phó. Bộ chỉ huy đại đoàn ra lệnh cho các trận địa súng máy cao xạ nổ súng hất máy bay địch lên cao, còn 120mm tiếp tục bắn vào cứ điểm Nghĩa Lộ phố để thu hút phân tán bom đạn địch, trung đoàn 102 ở trên Pú Chạng vẫn yên lặng che giấu lực lượng.

        Trận đánh ồ ạt của 12 chiếc máy bay địch chẳng phá cũng chẳng cản được gì hết.

        17 giờ ngày 17 tháng 10, theo đúng như đã quy định, trung đoàn trưởng Vũ Yên ra lệnh cho các trận địa hoả lực bắn thẳng và bắn cầu vồng đồng loạt xả đạn vào các mục tiêu đã được phân công trong cứ điểm Pú Chạng.

        … Từ phút đầu của trận đánh, hoả lực của ta đã phát huy hiệu lực đến mức cao nhất. Khẩu 105mm của địch trên cứ điểm Pú Chạng và mấy khẩu súng cối nữa, lốp đốp nhả được mấy phát rồi câm bặt. Cả khẩu 105mm của cứ điểm Nghĩa Lộ phố cũng chỉ hộc lên mấy tiếng rồi ngừng. Các trận địa súng cối của ta, do chuẩn bị kỹ nên bắn rất trúng. Pháo binh, hoả lực chủ yếu của ta thể hiện lối đánh dũng cảm và mưu trí rất Việt Nam: “lên cao, vào gần, ngắm bắn trực tiếp” đã dọi đường ngắm vào đâu là không thể trệch được, một phát dập tắt hoả điểm địch, vài ba phát lô cốt địch thủng vỡ. Lợi dụng sườn đồi Pú Chạng rất dốc, trong khi pháo bắn công sự lô cốt địch, bộ binh xông lên ngay, dùng bộc phá lần lượt phá các lớp hàng rào địch, mở cửa đột phá. Chỉ qua mười phút, kể từ khi bắt đầu vào trận đánh, bộ binh đã yêu cầu pháo chuyển làn bắn sâu vào giữa cứ điểm cho anh em xung phong…

        … 19 giờ trời đã tối om, tiếng súng thưa dần. Đồng chí Cao Văn Khánh điện về: ta đã chiếm hết công sự, hào giao thông, đang tìm hầm ngầm, đã cho rút bớt bộ binh ra khỏi cứ điểm để tránh địch giội bom chùm.

        Chúng tôi trao đổi ý kiến với nhau qua điện thoại:

        - Liệu có thể dứt điểm nhanh chóng được không?

        - Khu vực hầm ngầm xác định được rồi, biết các cửa vào, đã vít chặt.

        - Lực lượng ta thế nào?

        - Đang còn sung sức!

        Thời gian lúc này mới 19 giờ, chậm lắm cũng chỉ một giờ nữa có thể giải quyết xong cái hầm ngầm, dứt điểm Pú Chạng.

        Theo kế hoạch, sau khi diệt xong Pú Chạng, sẽ tập trung toàn bộ lực lượng đánh Nghĩa Lộ phố. Nhưng nếu tình hình diễn biến phức tạp mà chưa đánh xong Pú Chạng trong khi địch ở Nghĩa Lộ phố đang hoang mang. Nếu ta giải quyết xong Pú Chạng mới chuyển sang Nghĩa Lộ phố thì e trời sáng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 05:59:12 AM

        “Chỉ huy phải hết sức kiên quyết và linh hoạt!- câu nói này đồng chí Võ Nguyên Giáp dặn tôi từ hồi trước kháng chiến toàn quốc, khi tôi đến gặp đồng chí nhận chỉ thị cho toàn mặt trận Hà Nội kháng chiến. Từ đấy, lần nào suy tính cân nhắc để đi tới quyết định, tôi đều nhớ câu nói đó. Nhưng kiên quyết và linh hoạt trong tình huống cụ thể này là thế nào? Cứ đánh xong Pú Chạng rồi đánh tiếp Nghĩa Lộ phố như kế hoạch, hay bỏ Pú Chạng, sang đánh Nghĩa Lộ phố? Không. Không thể dánh cái này trước cái kia sau mà phải đánh đồng thời nhưng cách đánh ở mỗi điểm có khác, song chậm nhất cũng phải đánh Nghĩa Lộ phố từ khoảng nửa đêm, vì càng lùi về sáng, địch sẽ cố chống cự chờ quân nhảy dù ứng cứu thì tình hình sẽ trở nên phức tạp.

        Tôi trao đổi suy nghĩ trên đây với các đồng chí trong Bộ chỉ huy đại đoàn. Chúng tôi nhất trí rất nhanh: đánh tiếp ngay, giải quyết nhanh, gọn Nghĩa Lộ phố trước khi trời sáng, đồng thời tiếp tục diệt địch còn lại ở hầm ngầm Pú Chạng.

        Đồng chí Song Hào nói thêm: Đã quyết tâm như vậy, đề nghị anh Vũ tập trung chỉ huy trung đoàn 88 tổ chức chiến đấu đánh Nghĩa Lộ phố, còn các việc đối với 102 ở Pú Chạng để tôi…

        Tôi báo cáo lên Bộ chỉ huy chiến dịch về tình hình chiến đấu ở Pú Chạng và xin chỉ thị đánh tiếp Nghĩa Lộ phố ngay đêm nay. Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn y và khen “thế là linh hoạt”.

        Đợt tiến công mới lại bắt đầu. Thung lũng Nghĩa Lộ ầm ầm tiếng súng. Lửa đạn làm sáng rực cả vòm trời…

        Một quả bộc phá 25 kilôgam nổ rung mặt đất, kết hợp với kêu gọi, nhưng địch ở hầm ngầm Pú Chạng vẫn ngoan cố. Ta tiếp tục kêu gọi: nếu không đầu hàng sẽ đánh tiếp quả bộc phá 35 kilôgam. Sẽ đếm từ 1 đến 10, nhưng mới đếm đến 9 địch trong hầm vội xin hàng, chúng lốc nhốc kéo ra, mặt mũi tái xanh, hai tay run run giờ khỏi đầu, tất cả 84 tên trong đó có tên thiếu ta Ti-ri-ông chỉ huy trưởng phân khu Nghĩa Lộ.

        20 giờ 30 phút, trận Pú Chạng kết thúc thắng lợi.

        2 giờ 40 phút ngày 18 tháng 10, trận Nghĩa Lộ phố bắt đầu và đã toàn thắng trước khi trời sáng…

        Cùng chiều hôm đó, trung đoàn 36 báo cáo về đã thừa thắng, nhổ rất nhanh cứ điểm địch đóng ở Cửa Nhì, đơn vị bạn diệt địch ở Ba Khe. Con đường số 13 nối Yên Bái với Nghĩa Lộ bị địch kiểm soát từ thu đông năm 1947 vừa đúng năm năm, nay đã về ta.

        “Cánh cửa thép” Nghĩa Lộ chẹn đường quân ta tiến vào Tây Bắc đã được mở toang.

        Chiến thắng Nghĩa Lộ mở ra thế phát triển mới của chiến dịch: thế che tre, cái “mấu” cứng nhất của địch đã bị bổ toác, tạo bàn đạp để quân ta phát triển tiếp tục về phía Tây- đánh phá tuyến phòng thủ sông Đà của địch.

        Địch hoàn toàn bất ngờ cả về chiến sĩ và chiến đấu. Tến thiếu tá Ti- ri- ông sau khi chui ra khỏi hầm ngầm Pú Chạng đã làm ra vẻ hiểu biết về ta mà thực tế hắn không hiểu gì hết. Hắn muốn gỡ tội thua, nhưng trước mặt hắn đâu phải là thượng cấp của hắn, mà là một đồng chí cán bộ ta đang hỏi cung hắn.

        - Tôi đã biết trước, nhưng không ngờ…

        - Anh biết như thế nào? Và dự kiến đối phó ra sao?- Ta hỏi lại.

        Hắn tỏ ra thành thật trình bày như để “lập công” chuộc tội:

        - Trưa 17 tháng 10, tôi được quân tuần tiễu cho biết dân chúng các bản đều di tản đi đâu không rõ. Tiếp đến lại được báo cáo về những dấu hiệu “có địch” (tức là ta) lọt vào trong khu lòng chảo Nghĩa Lộ. Tôi liền phát lệnh báo động và điện về Bộ chỉ huy Liên khu Tây Bắc yêu cầu không quân phối hợp với chúng tôi, mở trận giội bom thật mạnh. Chúng tôi định đánh vào lúc các ông triển khai chiếm lĩnh trận địa, không ngờ lúc ấy các ông đã chuẩn bị xong. Hướng tiến công của các ông, căn cứ theo địa hình, tôi đã phán đoán rất đúng, nhưng không ngờ các ông lại mạnh đến thế…!


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 05:59:37 AM

        Thực ra thì ngay cả cấp trên của Ti-ri-ông, tướng Sa-lăng cũng hoàn toàn bất ngờ. Sau khi ta chiếm Nghĩa Lộ, mở tung cửa ngõ vào Tây Bắc, tư lệnh quân viễn chinh Pháp mới biết Tây Bắc là hướng chính của ta trong thu đông năm 1952. Và phải qua ngày 18 tháng 10, bộ tham mưu quân đội Pháp mới biết rõ tại hướng này ta tập trung một lực lượng rất mạnh gồm ba đại đoàn bộ binh 308, 312, 316 và đại đoàn công pháo (công binh và pháo binh) 351. Nhưng biết thì đã muộn. Mà đã muộn thì càng phải bị động đối phó để chuốc thêm thất bại.

        Cuối tháng 10, qua hơn mười ngày kể từ hôm giải phóng Nghĩa Lộ, các cánh quân của ta đã quét sạch địch trên một khu vực rộng lớn giữa sông Thao với sông Đà, từ Quỳnh Nhai trên phía Lai Châu xuống đến Vạn Yên đối diện với Yên Châu, Mộc Châu. Tây Bắc có bốn vựa thóc thì ba đã về ta: Nghĩa Lộ, Quang Huy, Than Uyên. Trước biến chuyển mới, tướng Sa- lăng chủ trương cứu vãn tình thế bằng cách mở một cuộc hành quân lớn từ Việt Trì (ngã ba sông Thao- Sông Lô) và từ Trung Hà (hạ lưu sông Đà) đánh lên Phú Thọ, Yên Bái nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch của ta, hy vọng có thể buộc chủ lực ta phải quay trở lại và như thế, sức tiến công vào Tây Bắc sẽ giảm đi.

        Sa- lăng trao cho Đờ Li-na-rét, tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân cứu nguy mang tên Lo- ren này, lực lượng đông tới 30.000 tên.

        Ngày 3 tháng 11, quân Pháp chiếm thị xã Phú Thọ, ngày 9, nhảy dù chiếm Đoan Hùng và sau đó thọc lên Yên Bái, vẫn không gặp phản ứng gì lớn của ta.

        Trong những ngày địch hối hả mở cuộc hành quân Lo- ren, ồ ạt đánh lên hậu phương ta, thì các đơn vị chủ lực của ta vừa chiến thắng ở tả ngạn sông Đà vẫn tiếp tục chuẩn bị bước sang đợt hai của chiến dịch. Riêng trung đoàn 36 được lệnh quay trở về Phú Thọ.

        Mọi cuộc chia tay đều bịn rịn. Nhưng cuộc chia tay này không có kẻ ở người đi. Hôm ấy là nagỳ 9 tháng 11, cả đại đoàn đang dàn thành một tuyến dài từ Thu Cúc (Phú Thọ), qua Quang Huy (Sơn La) với những hoạt động sôi nổi khẩn trương, trận tuyến tấp nập như một ngày hội: có đơn vị sửa đường; có đơn vị tải gạo, cố chuyển 150 tấn gạo ra bờ sông Đà, v.v… Trung đoàn 36 đi ngược đường tải gạo. Hai bên gặp nhau reo hò vang động, chúc nhau “chiến thắng”. Ai cũng biết địch đã đề phòng ráo riết, nhưng ai nấy đều quyết tâm, cố gắng thực hiện đúng phương hướng chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch, nhất định sẽ giành thắng lợi lớn hơn đợt đầu chiến dịch, bởi vì quyền chủ động hoàn toàn thuộc về ta.

        Ngày 15 tháng 11 mở màn đợt hai của chiến dịch.

        Đại đoàn 308 cùng với các đại đoàn bạn nhanh chóng vượt qua sông Đà đánh vào khu vực phòng thủ của địch ở cao nguyên Mộc Châu.

        Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ xuyên thủng quãng giữa phòng tuyến Lăng- xát- đơ (phòng tuyến địch lập ra ở hữu ngạn sông Đà do tên quan năm Lăng- xát- đơ chỉ huy nhằm ngăn chặn ta từ tả ngạn đáng sang), đánh qua Mường Lụm ra đường số 41, cắt đứt liên lạc của địch giữa Yên Châu và Mộc Châu (những đơn vị hành chính ở miền núi tương đương với cấp huyện do địch lập ra ở Sơn La), đồng thời hình thành một lưới vây bắt gọn những tàn binh của cho đoàn Ru- két, khi chúng bị các đại đoàn bạn đánh bại ở Bản Hoa, Ba Lay và Châu Mộc.

        Cuộc hành quân ra bờ sông Đà thật gian nan vất vả. Đèo Phiêng Pan  không cao lắm nhưng dốc ngược. Công binh đã cố gắng đào bậc, có chỗ làm cả tay vịn, nhưng bộ đội mang vác rất nặng nào súng đạn, nào gạo nước, lại còn lỉnh kỉnh những ống bương ngắn để làm phao cá nhân, những bó nứa để làm mảng chở vũ khí, lương thực, nên vượt Phiêng Pan như anh em nói “là cả một cuộc bò lên bằng hai chân hai tay và tụt xuống bằng mông là chính, trượt ngã mười lăm cái vẫn chưa phải là nhiều”. Cũng nơi này, anh em đã sửa lại câu hò quen thuộc “đèo cao thì mặc đèo cao, quyết tâm diệt giặc còn cao hơn đèo” thành một câu khác mà anh em bảo là “nghe khí phách hơn”: “Đèo cao thì mặc đèo cao, ta leo đến đỉnh ta cao hơn đèo”. Qua Phiêng Pan tới bờ sông Đà, nơi chúng tôi chọn làm bến vượt sông là nơi hoang vu, chẳng có lấy một vệt đường mòn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:01:55 AM

        Rạng sáng ngày 17 tháng 11, chúng tôi đến bờ sông Đà, thượng lưu con sông này, đoạn chảy qua Lai Châu và Sơn La vốn nổi tiếng hung dữ, lắm ghềnh nhiều thác. Lòng sông hẹp, độ sâu luôn luôn thay đổi tạo nên những dòng nước chảy xiết. Hai bêb núi cao đứng thành vại, kẹp lấy lòng sông. Thỉnh thoảng mới có một cái bến hẹp cập được đôi ba mạn thuyền mỏng manh đuôi cao vút, gọi là thuyền đuôi én. Những chỗ ấy nước chảy không hung dữ nhưng tất nhiên đấy là những nơi kẻ địch không rời mắt.

        Ngày 17 tháng 11, đúng ngày mở đầu đợt hai của chiến dịch Tây Bắc, có một sự phối hợp tuyệt đẹp giữa mặt trận Phú Thọ và mặt trận sông Đà. Trung đoàn 36 giành một chiến thắng giòn giã ở đường số 2, quàng Chân Mộng- Trạm Thản. Đòn bất ngờ và rất mạnh của trung đoàn 36, đánh suốt cả ngày 17 tháng 11 thu hút phần lớn máy bay địch về phía mặt trận ấy, nhờ đó mà ở sông Đà này chúng tôi có điều kiện thuận lợi được thảnh thơi, chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc vượt sông.

        Như đã kẻ ở phần trên, sau khi bị mất phân khu Nghĩa Lộ, Sa- lăng hoảng hốt, lệnh cho Đờ Li- na- rét đem 30.000 quân đánh lên vùng tự do Phú Thọ- Yên Bái nhằm kéo chủ lực ta phải quay về giữ căn cứ, sẽ cứu nguy cho tuyến phòng thủ còn lại của chúng ở Tây Bắc không bị uy hiếp tiến công.

        Nhưng cuộc hành quân tốn kém đó đã đánh vào chỗ không người. Ngày 14 tháng 11, Đờ Li- na- rét cho một mũi thọc lên Yên Bình- thị trấn này cũng trống không, thì cũng là lúc Bộ tham mưu quân đội Pháp nhận ra nguy hiểm, cấp tốc lệnh rút quân ngay, mặc dầu từ Yên Bình đến thị xã Yên Bái chẳng còn bao xa mà Yên Bái mới là cái đích phải tới của cuộc hành quân Lo- ren.

        Bộ Tổng tư lệnh đã biết trước “nước cờ” mà địch phải đi, nên rất chủ động chỉ đạo các chiến trường nhịp nhàng hoạt động theo kế hoạch đã định. Nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ nhân thời cơ thuận lợi đẩy mạnh hoạt động. Tại Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực đang đi vào giai đoạn chót của công việc chuẩn bị vượt sông Đà để làm nhiệm vụ đợt hai của chiến dịch. Cuộc hành quân Lo- ren không cứu nguy cho tuyến phòng thủ Tây Bắc, và bản thân nó càng gặp khó khăn về tiếp tế vì đã vào quá sâu vùng tự do của ta… Không có cách nào khác, buộc Sa- lăng phải hạ lệnh lui quân.

        Trưa 16 tháng 11, trung đoàn trưởng Hồng Sơn nhận được điện tối khẩn của Bộ Tổng tư lệnh: “Địch bắt đầu rút, tìm cách đánh ngay”. Đồng thời một phái viên của mặt trận Phú Thọ đến gặp đồng chí Hồng Sơn cho biết tình hình cụ thể: Địch đã rút khỏi Yên Bình về Phủ Đoan. Lúc ấy, trung đoàn 36 đang giấu quân ở vùng Tăng Mỹ, phía nam Phủ Đoan. Đồng chí Hồng Sơn và chính uỷ Lê Linh bàn bạc chớp nhoáng cùng hạ quyết tâm phục kích đánh địch rút lui trên quãng đường Chân Mộng- Trạm Thản và phải gấp rút tổ chức để có thể đánh ngay từ sớm ngày hôm sau, nếu chậm sẽ mất thời cơ, để địch lọt qua Chân Mộng- Trạm Thản ta sẽ khó đánh vì dưới ấy địa hình trống trải.

        Chân Mộng- Trạm Thản, một khu vực phục kích lý tưởng trên đường số 2. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 36 từng đi lại nhiều lần trên quãng đường này. Hai rặng núi và đồi thắt lại hai đầu bọc kín một cái thung lũng hẹp và dài gần bốn kilômét, những cánh rừng già lấn đến ven đường cái, những nương sắn xanh um mọc la liệt trên các vạt đồi là những tấm màn nguỵ trang kín đáo che chở cho bộ đội mai phục. Nhưng chính nơi đây địch cắm ba cứ điểm Vân Mộng, Chân Mộng, Năng Yên án ngữ các ngả đường đi tới mà trung đoàn 36 chỉ có một đêm để dàn thế trận. Cái khó lớn nhất là tìm ra đường đi tránh được các cứ điểm địch và phải đi nhanh, đến ngay đúng nơi cần đến. Song ta có dân nên cái khó ấy lại chẳng thành vấn đề.

        5 giờ 17 tháng 11, trung đoàn 36 chiếm lĩnh xong trận địa phục kích, nằm gọn trong phạm vi ba đồn địch: Vân Mộng, Chân Mộng, Năng Yên.

        Ngày 17 tháng 11, địch rút khỏi Phủ Đoan. Đến Chân Mộng chúng dừng lại xem xét tình hình cái “thung lũng nguy hiểm”, sục sâu vào các khu rừng một cách dè dặt và rất thận trọng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:02:45 AM

        Bộ đội ta chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm. Địch sục vào đến đâu thì ở đó lặng lẽ lùi lại, tránh ra, tuyệt đối không nổ súng. Sở chỉ huy trung đoàn đặt ở phía sau trận địa tiểu đoàn 89 cũng bị một toán địch mò vào sát sườn, phải rút lên cao. Tiểu đoàn 89 căng thẳng nhất. Địch quay được một tổ cảnh giới của tiểu đoàn, chúng nổ súng. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Chương và chiến sĩ Lê Văn Hiến bị bắt. Anh em tiểu đoàn 89 trông thấy địch tra khảo các đồng chí của mình ngay trên mặt đường số 2. Chương bị thương nặng, địch đánh thế nào cũng lặng thinh, đau quá ngất đi. Địch vứt Chương lên xe rồi uy hiếp Hiến. Chúng chỉ muốn biết một điều, có phải Hiến “là quân của đơn vị chủ lực mới từ Nghĩa Lộ trở về Phú Thọ không?”. Nhưng không, bao nhiêu quả đấm, cái đá, bao nhiêu đòn hiểm của chúng giáng vào thân hình bé nhỏ của Hiến đều chỉ bật ra một lời: “Tao là du kích xã Năng Yên này”.

        Các đồng chí Nguyễn Văn Chương, Lê Văn Hiến đã giữ vững lời thề “Khi ra trận nếu bị quân địch bắt được thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thàn với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội”. Các đồng chí ấy là những người lập công đầu tiên trong trận Chân Mộng- Trạm Thản ngày 17 tháng 11 năm 1952.

        Suốt từ 7 giờ 30 phút đến 9 giờ, tên đại tá Kéc- ga- ra- vát vẫn rất thận trọng chỉ huy cuộc lùng sục chung quanh thung lũng Chân Mộng- Trạm Thản, tình hình vẫn yên tĩnh, không thấy dấu hiệu gì nguy hiểm, hắn nhảy lên xe, cho lệnh hành quân. Ngoài đường số 2, xe nổ máy ầm ầm, bộ binh địch lúc nhúc bám theo xe. Đơn vị đầu tiên của địch vào thung lũng Chân Mộng còn thận trọng, Kéc- ga- ra- vát và cơ quan chỉ huy của hắn cũng đi với đơn vị ấy. Tiếp đến tiểu đoàn lê dương. Bọn này yên trí “đầu đi đuôi lọt” chẳng phòng bị gì. Lính ngồi trên xe phì phèo thuốc lá. Lính đi bộ lộn xộn chỗ hàng hai hàng ba, chỗ túm tụm vừa đi vừa đùa. Nhưng chỉ mấy phút sau, đội quân đó đã bị chặt ra từng mảnh, chúng đạp lên nhau mà chạy để dồn nhau vào chỗ chết, vào chỗ bị bắt làm tù binh.

        Suốt ngày 17 tháng 11, tại Chân Mộng- Trạm Thản, trung đoàn 36 đánh thắng hai trận, diệt hơn 400 địch, phá huỷ 44 xe, tạo điều kiện tốt cho ta bước sang đợt hai chiến dịch giải phóng Tây Bắc.

        Lúc trung đoàn 36 đánh thắng trận thứ hai trong ngày, đuổi địch trên một chặng đường dài 8 kilômét từ Trạm Thản xuống tới Phú Hộ, thì ở mặt trận chính Tây Bắc, quân ta đang vượt sông Đà thắng lợi.

        Các đơn vị vượt sông Đà khắc phục mọi khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tổng tư lệnh. Liên tiếp trong ba ngày 17, 18 và 19 tháng 11, ta đã phá tan phòng tuyến hữu ngạn sông Đà của địch.

        Sáng 19 tháng 11, Bộ chỉ huy đại đoàn họp nhận định: phòng tuyến sông Đà của địch đã bị phá tan. Thế trận của địch đang bị rung chuyển mạnh mẽ, có thể chúng rút bỏ Yên Châu, Chiềng Đông, kéo lên phía Sơn La.

        Đại đoàn quyết định:

        - Trung đoàn 88 phải gấp rút tiến lên bao vây Yên Châu, tiến tới công kích tiêu diệt cứ điểm này.

        - Trung đoàn 102 chẹn giữ các ngả đường từ Mường Lụm đến Na Ngà, Bản Thìn bắt hết những toán tàn quân của hai chi đoàn Ru- két và Bét- thơ- nô đã bị tan vỡ.

        Đêm ấy trung đoàn 88 vất vả nhất, đặc biệt là đại đội 219 phải đi vòng lên phía bắc Yên Châu đóng một cái nút. Trung đoàn phó Nam Hà giao nhiệm vụ cho đại đội 219: Hoan nghênh tinh thần truy kích của 219. Các đồng chí đã vượt lên trước, đánh tan một đại đội địch, dẫn đầu cuộc truy kích tới đây. Tinh thần địch đang suy sụp, Yên Châu là một cứu điểm lớn, nhưng có khả năng địch sẽ bỏ chạy. Bởi lẽ đó 219 phải vòng lên phía bắc Yên Châu  chẹn đường rút lui của địch…

        Đại đội 219 lên đường ngay.

        Đêm hôm đó, sáng trăng, đường số 41 thênh thang, quân ta chạy rầm rập suốt quãng đường từ Na Ngà lên đến nam Yên Châu. Ai cũng muốn đến Yên Châu cho sớm. Tiếng súng của đại đoàn 316 từ dưới Mộc Châu vọng tới càng thôi thúc đại đoàn 308 tiến gấp lên Yên Châu kẻo bỏ lỡ thời cơ. Nhìn đoàn quân đêm nay đi dưới trăng, nườm nượp súng to súng nhỏ, chúng tôi lại nghĩ đến những đoàn quân Tây tiến năm xưa xuất phát từ Xuân Mai, cũng cuốc bộ ngược đường số 6 lên trấn giữ Sơn La, nhưng đoàn quân nghèo nàn thiếu thốn, chỉ thấy người mà ít thấy súng, chỉ có một loại súng trường thôi mà dài ngắn khác nhau đủ kiểu cổ lỗ. Bảy năm đã trôi qua, ta lớn lên vùn vụt.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:03:34 AM

        Đêm hôm đó, đối với hầu hết anh em trong đại đoàn chúng tôi, là lần đầu tiên đặt chân lên đường 41. Nhưng với đồng chí chính uỷ đại đoàn thì đã có nhiều kỷ niệm khó quên về con đường này. Lúc từ Mường Lụm đi ra, vừa đặt chân lên đường 41 tôi thấy đồng chí đứng sững lại nhìn đất, nhìn trời, nhìn quang cảnh hai bên đường, vẻ mặt xúc động. Được biết năm 1940 đồng chí bị sa lưới bọn mật thám Pháp ở Nam Định, sau đó chúng đẩy đồng chí lên nhà ngục Sơn La, xuống Hoà Bình, qua nhà lao Hà Nội rồi lên nhà pha Chợ Chu- Thái Nguyên. Thế là đã 10 năm qua, nay lại gặp đường 41. Đồng chí Song Hào nói: “Cũng trên con đường rất vắng vẻ này bọn Pháp đã giải từng đoàn tù chính trị hai tay xích chặt, lê từng bước chân nứt nẻ đẫm máu. Hồi ấy chúng tôi vẫn luôn luôn nghĩ tới một ngày mai thắng lợi, tươi sáng. Nhưng ai có thể hình dung ra cái cảnh tượng hùng vĩ như hôm nay, quân ta đuổi địch với cái thế chẻ tre như thế này…”.

        Đêm hôm đó, thật là một đêm khó quên, trăng rực sáng mừng đêm hội chiến thắng đợt hai chiến sĩ Tây Bắc. Hệ thống phòng thủ của địch trên đường só 41 rung chuyển dữ dội. Phía cuối đường, trung đoàn 174 của đại đoàn 316 tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu. Phía trên trung đoàn 165 của cánh quân vu hồi chiến dịch từ Lai Châu do đồng chí Bằng Giang, tư lệnh trưởng khu Tây Bắc chỉ huy đánh thốc xuống Tuần Giáo đang phát triển xuống Thuận Châu, Sơn La. Ở quãng giữa, trung đoàn 88 đã áp sát Yên Châu.

        Ta tiến công tiêu diệt, tàn quân địch số bị bắt, số cắm đầu cắm cổ rút chạy như ong vỡ tổ.

        Địch rút về tập trung ở Nà Sản- nam thị xã Sơn La 20 kilômét. Đó là một cáu thung lũng rộng một kilômét, dài hai kilômét, giữa có một sân bay và 24 ngọn đồi bao nọ chung quanh.

        Quá trưa ngày 23 tháng 11, tiểu đoàn 322 dẫn đầu đội hình truy kích vượt qua Hát Lót với Nà Sản. Anh em quan sát thấy địch tập trung trong thũng lũng này khá đông, lều vải căng la liệt, quân lính đi lại lộn xộn, lại thấy có nhiều chuyến máy bay vận tải lên xuống sân bay. Một câu hỏi được đặt ra: Địch co lại đây để rút về Hà Nội hay cụm lại chống giữ? Cuộc trao đổi giữa các đồng chí chỉ huy trung đoàn 88 và tiểu đoàn 322 nhanh chóng thống nhất ý kiến: Địch đang ở thế bại. Ta cần tranh thủ đánh ngay, đánh để điều tra thực lực và ý định của chúng. Ngay đêm ấy, được sự hướng dẫn của đồng chí tỉnh uỷ viên Sơn La và một số cán bộ địa phương, tiểu đoàn 322 chia làm ba mũi tiến công vào Nà Sản, đánh đến gần sáng tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên địch mà thấy chúng vẫn còn đông nhung nhúc. Cán bộ ta hỏi cung tù binh: quân Nà Sản có bao nhiêu? Mấy tiểu đoàn? Ở đâu tới? Máy bay lên xuống suốt ngày chở những gì? Đứa trả lời tất cả, đứa nói được vài câu, tổng hợp tất cả những lời khai của tù binh, lúc đó chúng tôi hiểu về tình hình địch ở Nà Sản như sau:

        Địch có khoảng sáu đến bảy tiểu đoàn từ Cò Nòi, Sơn La tập trung về, từ Hà Nội tăng viện lên. Máy bay từ Hà Nội lên chở đồ tiếp tế, lúc về chở lính bị thương và gia đình bọn nguỵ. Như vậy, địch không rút mà co quân lại, tăng viện thêm thiết lập “pháo lũ Nà Sản” ta goi là tập đoàn cứ điểm Nà Sản.

        Nhớ lại mới hôm nào chúng tôi vừa rời Mậu A sang hữu ngạn sông Hồng đã phải thận trọng như đi vào đất địch, chỉ tháng trước tháng saui thôi mà phần lớn đất đai của miền Tây Bắc rộng mênh mông đã trở về ta. Tin vui đến dồn dập. Hồi đánh trận ở Cao Bằng, Bác Hồ chỉ thị “Trận này chỉ cho đánh thắng”. Quân ta đã thắng rất to, song tại nhiều nơi do sức chấn động của đòn Cao Bằng, thế địch rung chuyển phải tháo chạy, quân ta đuổi cũng không kịp chứ chưa nói đến chuyện nắm thời cơ, lợi dụng cơ hội ấy mà phát huy thắng lợi. Nhưng đến thu đông năm 1952, chấp hành mệnh lệnh của Bác Hồ “tiến quân vào giải phóng Tây Bắc” ngay trận đầu ở Nghĩa Lộ mở cửa ngõ Tây Bắc, quân ta đã vượt hết khó khăn trở ngại, khôn khéo giành yếu tố bất ngờ giáng cho địch một đòn choáng váng, rồi đánh dồn dập không cho địch kịp trở tay, đuổi kịch liệt, không cho chúng kịp thở.

        Đợt một của chiến dịch, ta bắt sống phần lớn lực lượng địch bị ta vỡ ở bên tả ngạn sông Đà.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:04:02 AM

        Đợt hai của chiến dịch, do ta thực hiện bao vây, chia cắt tốt, truy kích mạnh mà quây bắt được hầu hết quân địch bị tan vỡ ở phía nam Nà Sản. Riêng một tiểu đoàn của trung đoàn 102 quét ở khu vực Mường Lụm bắt hơn 650 tù binh, trong đó có viên quan tư Ru- két chỉ huy trưởng đoạn phòng ngự cứng nhất của phòng tuyến sông Đà. tại Yên Châu, trung đoàn 88 đánh tan tác tiểu đoàn nguỵ số 55, Bruy- nô viên quan ba chỉ huy tiểu đoàn này cũng một số luồn rừng chạy trốn, bọn hắn định tạt sang châu mai Sơn rồi cùng đồng bọn rút về Nà Sản, nhưng trung đoàn 88 thọc nhanh đến bao vây Nà Sản trước, Bruy- nô cùng bè lũ phải nộp súng xin hàng. Ngày 18 tháng 11, thị xã tiến công đồn Ba Lay (nằm trên đường Vạn Yên, Mộc Châu). Sau 40 phút, ta diệt gọn đại đội 10 Ma- rốc và đại đội 295 nguỵ Thái. Tên quan ba Bai- út chỉ huy đồn khét tiếng gian ác đã bị bắt sống. Khi ta vào đồn, một lính Thái bị bắt làm tù binh, khóc lóc kể lại số phận chua chát của những người đồng ngũ của anh ta: cách đây bảy hôm có 20 lính Thái định bỏ đồn ra hàng bộ đội, quan đồn biết đã bắn chết 16 người rồi chôn xuống cùng một cái hố và bắt vợ con những người chết này mang cho lính Tây ở đồn cao hãm hiếp rất dã man… Thực ra đấy chỉ là một trong nhiều chuyện bi đát của những người lính đánh thuê mà chúng tôi đã được nghe kể kế hoạch vượt sông Đà vào giải phóng Tây Bắc.

        Ở phía bắc Nà Sản, cánh quân vu hồi chiến dịch đã làm nên một chuyện thần kỳ, chỉ có mấy ngày quét sạch địch trên một đoạn dài gần 200 kilômét, suốt dọc đường 41, từ nam thị xã Lai Châu qua Tuần Châu, Tuần Giáo Thuận Châu xuống đến bắc Nà Sản, diệt hơn một nghìn tên địch, lại phóng một mũi thọc sâu vào giải phóng Điện Biên Phủ tiêu diệt một tiểu đoàn nguỵ, bắt sống viên quan tư Giăng Xi- ca, chiếm lấy cánh đồng Mường Thanh lớn nhất miền Tây Bắc.

        Chiến dịch Tây Bắc kết thúc ngày 10 tháng 12 năm 1952.

        Đầu xuân năm 1953, tại hậu cứu của đại đoàn ở vạt rừng Phú Thọ, gần đường số 2, quãng Chân Mộng- Trạm Thản (nơi mà hồi trung tuần tháng 11 năm 1952, trung đoàn 36 đã lập công xuất sắc, góp phần đánh bại cuộc hành quân Lo- ren của địch), chúng tôi được hưởng một ngày vui lớn: Bác Hồ đến thăm.

        Bấy giờ, Tết âm lịch vừa qua được một tuần, đại đoàn đang họp hội nghị cán bộ để tổng kết chiến dịch Tây Bắc, thì Bác Hồ đến, vào lúc nửa đêm.

        Bác không báo trước, xuống xe ở đường số 2, rồi theo đường tắt, Người chống gậy vượt đồi đi vào.

        Tất cả chúng tôi lúng túng vì bị bất ngờ và nhất là vì xúc động, không biết mình phải làm gì lúc đó. Ngoài trời rất tối rét, buốt lại kèm theo mưa dầm nặng hạt. Bác xắn quần đến đầu gối, tay chống chiếc gậy trúc, bùn đất bắn đến nửa ống chân.

        Biết tôi đang lúng túng, Bác chủ động kéo tôi ngồi xuống. Bác cháu ngồi quanh đống lửa, rồi Bác hỏi thăm tình hình đại đoàn…

        Sáng hôm sau, Bác Hồ dậy sớm như thường lệ, suốt cả buổi, bác nghe chúng tôi báo cáo tình hình bộ đội, và đặt ra cho chúng tôi những câu hỏi rất cụ thể: Nói bộ đội ăn khá là như thé nào? Ngủ tốt là thế nào, giường làm bằng gì, lán làm có cao ráo không? Bộ đội có ngại đi chiến đấu ở rừng núi không? Đi đánh xa có ngại nữa không…?

        Người cho chúng tôi biết miền Tây vẫn là hướng địch sơ hở và yếu, mà chúng lại không thể bỏ được. Người chỉ thị cho chúng tôi phải nghiên cứu cách đánh tập đoàn cứ điểm…

        Buổi chiều, Bác Hồ đi thăm chỗ ăn, chỗ ở của cán bộ và chiến sĩ trong cơ quan đại đoàn bộ. Người lại hỏi:

        - Ở dưới trung đoàn, tiểu đoàn, lán của chiến sĩ có tốt, ấm cúng như ở đại đoàn bộ không?

        Người gật đầu hài lòng khi nghe chúng tôi báo cáo:

        - Thưa Bác, có nhiều lán của tiểu đội còn tốt hơn, lại đẹp hơn nữa, vì chiến sĩ khéo tay lắm.

        Rồi Người lại nhắc:

        - Bác muốn các nơi đều được như nhau, cũng ấm cúng, tốt, đẹp cả…

        Tù buổi sáng, các cán bộ dự hội nghị tổng kết đã xì xào truyền nhau tin: Bác đến, Bác đang làm việc với Bộ chỉ huy đại đoàn… ông cụ đã 63 tuổi, hơi gầy, tóc bạc nhiều, nhưng khỏe mạnh lắm, bước đi vẫn nhanh hẹn, v.v…

        Hôm ấy hội nghị không làm việc tập trung, mà thảo luận ở các tổ, ai nấy cứ ngong ngóng đợi có lệnh triệu tập lên hội trường, vì có lệnh đó là chắc chắn được gặp Bác. Anh em nhắc đến lần trước, sau chiến dịch Biên Giới, Bác đến gặp đại đoàn ngay tại chiến trường, tại Thất Khê vừa mới được giải phóng. Lần này, ai cũng nghĩ: chắc Bác sẽ giao cho đại đoàn một nhiệm vụ gì đây.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 06:04:37 AM

        Đúng là đại đoàn chúng tôi sắp nhận một nhiệm vụ quan trọng. Bác Hồ đến trực tiếp nắm tình hình bộ đội và chỉ thị cho chúng tôi phải nhanh chóng có kế hoạch khắc phục những điểm yếu về tư tưởng, về tác phong chỉ huy và về kỷ luật chưa thật nghiêm, v.v… Nhiệm vụ cụ thể còn tuyệt đối giữ bí mật. Với bộ chỉ huy đại đoàn, Bác cũng chỉ nói: Phải chuẩn bị ngay cho bộ đội có thể hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn, phức tạp hơn Tây Bắc.

        Tối hôm ấy, hầu hết cán bộ trong đại đoàn từ cấp đại đội trở lên được đón Bác Hồ với những bài hát do các đồng chí Nguyễn Thành và Ngô Sĩ Hiền mới sáng tác. Trên một bãi cỏ rộng bên đồi chè quen thuộc của đất Phú Thọ, chúng tôi quây quần quanh Bác Hồ, hát rất say sưa:

        “… Qua miền Tây Bắc, núi vút ngàn trùng xa; suối sâu, đèo cao bao khó khăn vượt qua, bộ đội ta vâng lệnh Cha Già…”.

        “… Miền Tây Bắc tưng bừng tin chiến thắng

        Chiến công đầu dâng Cha Già kính yêu…”.

        Bác cười đôn hậu, gật đầu theo nhịp hát.

        Bài hát kết thúc trong tiếng vỗ tay vang xa, phá tan bầu không khí yên tĩnh của khu rừng cọ.

        Bác nói: giờ văn nghệ đã hết ta chuyển sang việc khác. Nói rồi Bác ngồi vào bên ngọn đèn dầu tự chế bằng sắt đồ hộp chiến lợi phẩm, không được sáng lắm. Bác bắt đầu nói chuyện.

        Giọng đầm ấm, đầy tình thương yêu trìu mến, Bác nói:

        - Chiến dịch Tây Bắc ta thắng to. “Trung ương Đảng, Chính Phủ và Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước”. “Các chú đã thấm nhuần quyết tâm của Trung ương Đảng, đã đưa quyết tâm ấy làm cho chiến sĩ thấm nhuần và ra sức tiêu diệt sinh lực địch. Các chú đã vui vẻ chịu đựng gian khổ, khắc phục được nhiều khó khăn”.

        Tiếp đó Bác nêu những khuyết điểm mà đại đoàn đã mắc phải trong chiến dịch này. Khác với lúc sáng, khi làm việc với Bộ chỉ huy đại đoàn, bác nhiêm khắc phê phán những khuyết điểm. Nét mặt hiền từ chỉ lộ vẻ không bằng lòng với những thiếu sót, nhưng mỗi lần nhắc đến một khuyết điểm, Người thận trọng hỏi lại: có phải thế không? Các chú có thế không?

        Liền sau đó, Bác lại ôn tồn nêu cho chúng tôi ba phương hướng sửa chữa:

        1.Phải cố gắng học tập, sự học và vô cùng. Hoàn cảnh xã hội ngày một phát triển, ngày một có những cái mới. Không học sẽ lạc hậu. Già như Bác vẫn còn phải học.

        2.Phải nêu cao tinh thần trách nhiệm với bất cứ việc lớn việc nhỏ của Đảng và Chính phủ giao cho.

        3.Phải cố gắng tự phê bình và phê bình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm…

        Cuối cùng Bác vui vẻ báo tin:

        - “Lần này 308 được giải thưởng của Bác, 308 phải luôn luôn giữ danh dự đó, quyết thi đua giết giặc lập công nhiều hơn nhưng không được tự kiên tự mãn…”.

        Trước chiến dịch Bác đến động viên, căn dặn phải “quyết tâm”. Sau chiến dịch Bác đến chia vui chiến thắng với cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn. Bác chăm lo mọi thứ cho đại đoàn.

        Tôi thay mặt anh em đứng lên hứa với Bác: Thực hiện đúng các điều Bác dạy. Khi được lệnh ra trận, bất cứ ở nơi nào cũng quyết tâm chiến đấu tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, lập nhiều chiến công để xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của Bác và của nhân dân.

        Bác nhận lời hứa, trao cho tôi 9 ngôi sao đỏ bằng hổ phách trong suốt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vừa tặng Bác, Bác tặng lại đại đoàn 308 làm giải thưởng thi đua.

        Đúng đại đoàn 308 “lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước” như Bác đã nhận xét.

        Vẫn còn những khuyết điểm, nhưng đã bớt đi cái bệnh quá say chiến thắng như trong chiến dịch Biên Giới; bớt đi cái bệnh chủ quan, giản đơn trong tổ chức chiến đấu như trận Non Nước, Chùa Cao trong chiến dịch Hà Nam Ninh và trận Pheo trong chiến dịch Hoà Bình.

        Ba tháng tham gia chiến dịch Tây Bắc, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn đã như đi dự một khóa học- mà người thầy giỏi nhất là thực tế, giúp cho mình lớn lên rất nhiều về ý chí- quyết tâm, về thực hành tốt các chiến thuật bôn tập thọc sâu, về bao vây xa kết hợp với bao vây gần tiến công diệt cứ điểm, về truy kích, vu hồi trong đánh địch rút chạy, chọc thủng phóng tuyến địch.

        Bài học của chiến dịch Tây Bắc này thực sự là cái đà nâng bước đại đoàn 308 chúng tôi tiến lên hoàn thành các nhiệm vụ tiếp sau của cuộc chiến đấu…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:03:29 PM

        Mặt trận Điện Biên Phủ

        Thu đông năm 1953, cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn sôi động nhất. Nhiều chiến dịch lớn, nhiều đợt hoạt động quân sự dài ngày diễn ra cùng một lúc, phối hợp nhị nhàng trên quy mô toàn quốc, cuối cùng kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, buộc chính phủ Pháp phải ký Hiệp nghị Giơ- ne- vơ, thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

        Cứ mỗi lần mùa thu đến, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn lại rộ lên cuộc tranh luận rất sôi nổi về những vấn đề quen thuộc:

        - Năm nay ta đánh đâu?

        - Đâu là hướng chính?, v.v…

        Thu đông năm nay anh em khẳng định: xuống trung du, về đồng bằng. Vì lúc ấy nhiều đại đoàn chủ lực vẫn áp sát vùng này, và hàng ngày bộ đội tập luyện đều tập đánh các căn cứ boong- ke, loại công sự địch mới chỉ xây dựng ở tuyến phòng thủ trung du và đồng bằng. Có người đoán nếu hướng chính là Vĩnh Yên thì một trong hướng phụ phải là Hải Dương, ta cắt đường 5, quân và dân đồng bằng tranh thủ thời cơ nổi dậy mạnh mẽ như hồi đầu năm 1952 đánh Đờ- lát, thì địch ở Hà Nội rối loạn… Cứ theo đà tự do phán đoán này, có đồng chí đã nghĩ đến ngày về lại Thủ đô không còn xa nữa.

        Nhưng mọi phán đoán ấy đều trệch hướng, vì chỉ dựa vào những mong muốn chủ quan đơn thuần. Định hướng cho một chiến dịch, một đợt hoạt động quân sự phải căn cứ vào sự phân tích hình thái chiến tranh giữa ta và địch trên toàn chiến trường, vào các mối quan hệ giữa các yếu tố quân sự, chính trị và kinh tế, v.v… Rõ ràng sự chỉ dạo chiến tranh của Đảng ta rất linh hoạt. Năm ngoái, tháng 9, cán bộ đại đoàn, trung đoàn đã lên Bộ Tổng tư lệnh nhận nhiệm vụ đi chuẩn bị chiến trường. Năm nay sang tháng 10, cán bộ, chiến sĩ vẫn lăn lộn trên các bãi tập.

        Giữa tháng 10 năm 1953, Na- va mở cuộc hành quân “Hải âu” huy động 6 binh đoàn cơ động, 9 tiểu đoàn pháo và 3 tiểu đoàn thiết giáp đánh ra vùng tây nam Ninh Bình và còn tuyên bố sẽ chiếm Thanh Hóa nữa. Cả phó tổng thống Mỹ Ních- xơn cũng theo quân Pháp đến tận chợ Ghềnh “tác động tinh thần các chiến hữu”. Đối phó với cuộc hành quân này, Bộ giao nhiệm vụ cho đại đoàn 320 cùng với các lực lượng vũ trang địa phương khác đóng đâu ở yên tại đó, tiếp tục tập luyện. Na- va định đánh lừa ta, buộc chủ lực ra phải bị động đối phó, dốc lực xuống Ninh Bình. Nhưng qua 20 ngày hành quân liên miên, bị đánh trước đánh sau, thiệt hại mấy nghìn quân và mất khá nhiều trang bị, phải bị động kéo về. Một lý do nữa khiến cuộc hành quân “Hải âu” phải kết thúc vội vã là Na-va giật mình vì các nguồn tin tình báo: chủ lực Việt Minh chưa có ý định đánh vào châu thổ Bắc Bộ. Đại đoàn 316 đang rời bỏ miền đồng bằng để tiến ngược lên Lai Châu, v.v…

        Từ tháng 5 năm 1953, sang Đông Dương thay chân Sa- lăng, Na-va lo bị mất miền thượng lưu sông Mê Công, với các tỉnh Luông Pha- băng, Viên Chăn, Pắc Xan, vì từ đó đối phương sẽ tiến vào hành lang con sông này uy hiếp miền nam Nam Đông Dương; và như vậy chiến cuộc sẽ rối lên như canh hẹ, kế hoạch giành thắng lợi 18 tháng hết cơ sở thực hiện. Lo như vậy, nên Na- va đã bỏ tập đoàn cứ điểm Nà Sản, để củng cố chỗ đứng còn lại ở Thượng Lào và dự trù đến đầu năm 1954 sẽ mở cuộc hành quân xuất phát từ Lai Châu vào thung lũng Nậm Hu (Thượng Lào) để kiểm soát vùng Điện Biên Phủ đã trở nên một địa điểm quan trọng.

        Vào những ngày đầu tháng 11 năm 1953, có thêm nhiều tin tức tình báo địch phán đoán “Việt Minh sẽ đánh chiếm Lai Châu và Bắc Lào”, thế là Na- va vội vã quyết định ném quân xuống chiếm Điện Biên Phủ…

        Hôm ấy là 20 tháng 11 năm 1953, tại cơ quan Bộ Tổng tư lệnh đang có cuộc họp cán bộ cao cấp để nghe Bộ phổ biến kế hoạch hoạt động Đông Xuân. Cuộc họp chuyển sang trầm lắng, với những ý kiến thảo luận thận trọng, nghiêm túc về các vấn đề tổ chức chỉ huy chiến đấu, thì đồng chí Tổng tham mưu phó Hoàng Văn Thái đến báo tin: địch đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.

        Kế hoạch cuộc họp bỗng nhiên nhộn nhịp khẩn trương, nét mặt những người dự họp rạng rỡ niềm vui, râm ran cười nói và sôi nổi bàn tán về sự chỉ đạo chiến tranh của Trung ương Đảng là tài tình: ta đã điều địch lên vùng rừng núi; ta đã gọi được rắn ra khỏi hang, v.v…


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:12:59 PM

        Hội nghị vẫn làm việc như chương trình đã định. Nhưng ngày hôm đó, chấp hành mệnh lệnh của Bộ, đồng chí Chu Huy Mân, chính uỷ đại đoàn 316 thôi dự họp, cấp tốc lên đường đuổi kịp đơn vị đang hành quân, tổ chức bộ đội lên Lai Châu nhanh hơn nữa, với nhiệm vụ cụ thể là:

        - Trước hết phải cắt đứt con đường Lai Châu- Điện Biên Phủ.

        - Sau đó bao vây Lai Châu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc diệt địch ở thị xã này như kế hoạch đã được Bộ giao.

        Đồng chí đại tướng Tổng tư lệnh và chúng tôi tiễn chân đồng chí Chu Huy Mân. Buổi tiễn đưa rất đơn giản nhưng thắm tình đồng chí. Đồng chí Tổng tư lệnh xiết chặt tay đồng chí Chu Huy Mân và nói:

        - Đại đoàn 316 phải khẩn trương lên trước, các đơn vị khác tiếp sau. Diệt xong địch ở Lai Châu, có thể đánh lớn ở Điện Biên Phủ…

        Cuối tháng 11 năm 1953, đại đoàn 308 phấn khởi lên đường tham gia chiến đấu, mặc dù lúc này chưa ai biết hướng chiến dịch là đâu? Và mục tiêu chiến dịch nhằm đạt tới là gì?

        Buổi lên đường ra trận được tiến hành nhanh gọn, không một ai thắc mắc vấn vương, là kết quả của quá trình học tập chính trị và rèn luyện nghiêm túc về ý thức tổ chức kỷ luật. Tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn từ lâu đều có chung một nếp nghĩ- một nếp nghĩ trở thành truyền thống: đã là mệnh lệnh thì chỉ có nhiệm vụ chấp hành, chỉ được hỏi những điểm chưa rõ để quán triệt, chấp hành tốt hơn, chứ không thể và không được đặt điều kiện, bởi lẽ hoạt động quân sự là hoạt động có tổ chức, rất khẩn trương và rất bí mật. Không nhất thì bao giờ cũng nói rõ ý định trước khi tổ chức thực hiện, vì như thế sẽ gây chậm trễ, lỡ việc, mất thời cơ, lộ bí mật, sẽ mất quyền chủ động, sẽ dẫn đến thất bại là điều khó tránh.

        Từ Thái Nguyên, đại đoàn nhận lệnh quay lại phía tây. Đường hành quân lại qua những địa danh còn in đậm dấu ấn chiến công. Qua Sơn Dương- nhớ đến mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào- nơi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Qua bến Bình Ca, nhớ về chiến công diệt tàu chiến địch trên sông Lô hồi thu đông 1947. Mỗi đoạn đường là một kỷ niệm về sự tích anh hùng tiếp thêm sức mạnh cho đoàn quân tiến bước.

        Vượt bến Bình Ca, đi một đoạn nữa, bắt gặp đường số 2 ở đoạn cây số 5, đại đoàn ngoặt lên phía bắc chứ không vòng xuống tây nam như mọi người đoán định. Đi một đoạn nữa lại bỏ đường số 2 rẽ trái vào đường Bến Hiên- sông Chảy theo hướng chính tây. Luồng tư tưởng đang thuận chiều, bắt đầu rẽ ngoặt từ khúc quanh này. Từ sôi nổi phấn khởi đến trầm lặng- băn khoăn: Tại sao lại đi về phía tây, về nơi còn rất ít địch? Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn rất thông cảm với những băn khoăn đó của anh em, song lúc này chưa thể nói thẳng ra được những điều mà chúng tôi đã được Bộ phổ biến cụ thể. Bởi như thế sẽ phạm vào nguyên tắc bí mật.

        Tuyên Quang - Bến Hiên - Yên Bái, đại đoàn đang đi trên con đường liên tỉnh, đang nhích gần về phía có địch, thì chính trên đoạn đường này anh em lại thắc mắc, lo không được lập công. Cái phức tạp của tư tưởng đồng thời cũng là cái khó của công tác lãnh đạo lúc này. Phải làm sao trong nhận thức của mỗi người vẫn có quyết tâm cao, hăng hái nhiệt tình thi đua giết giặc lập công nhưng biểu hiện ra ngoài lại phải kín đáo, tuyệt đối giữ bí mật. Thật là khó, nhưng cái khó không bó cái khôn mà cái khó đó đã cho cái khôn. Trong công tác lãnh đạo tư tưởng, nhiều sáng kiến nảy nở, nâng tốc độ hành quân. Chính trị viên đại đội 267, Đỗ Đình Sửu trên đường hành quân đã thủ thỉ với chiến sĩ: “Cấp trên cho biết địch đang theo dõi chúng ta, vì vậy không ai được bàn tán gì hết về đường này hướng nọ. Ta đi đâu, ngược – xuôi - ngang dọc là theo mệnh lệnh chiến đấu. Đời chúng ta là cuộc đời chiến đấu. Đâu có giặc là ta cứ đi!”.

        Bấy giờ đoàn văn công Tổng cục Chính trị cùng lên đường đi chiến dịch với đại đoàn. Các đồng chí cũng có tâm trạng như cán bộ, chiến sĩ đại đoàn: sao cứ đi về phía xa mặt trận. Câu giải thích của đồng chí chính trị viên đại đôị 267 và những bước chân đi rộn rã của đoàn quân, đã gợi ý nhạc sĩ Đỗ Nhuận cảm hứng sáng tác. Và đồng chí Đỗ Nhuận đã sáng tác kịp thời ngay trên đoạn đường hành quân này bài hát Hành quân xa.

                                     “Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ.
                                    Vai vác nặng, ta đã đổ mồ hôi.
                                    Mắt ta sáng, chí ta bền, bảo vệ đồng quê ta tiến bước.
                                    Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi…”.



Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:16:27 PM

        Những câu hát trầm hùng đầy khí phách lạc quan, nhịp điệu dồn dập thúc giục đó bắt đầu được cất lên từ đại đội 267 lan rất nhanh trong tất cả các đơn vị đại đoàn, đi rất ca, theo bước các chiến sĩ Quân Tiên Phong vượt sông Chảy, sông Thao, sông Đà, lên Sơn La, sang Thượng Lào, trở về Điện Biên Phủ, v.v… Bất cứ ở đâu, dù khó khăn mấy, nếu ở đấy có giặc là đại đoàn hành quân tới, quyết đi tới chiến đấu, lập công, góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc.

        Khi qua Nà Sản, đại đoàn tranh thủ tổ chức nghiên cứu cái tập đoàn cứ điểm- mà địch gọi là “pháo luỹ”, trước sự lớn mạnh của ta đã phải rút bỏ. Cả đại đoàn dừng lại ở đây một buổi để nghiên cứu công sự và cách bố phòng của địch, tích lũy những nhận thức mới về cái mà địch đang coi là một sáng kiến duy nhất để đối phó với một trận tiến công lớn của Việt Minh trên vùng rừng núi. Hôm ấy, tuy đang trong cuộc hành quân xa vất vả, nhưng ai nấy đều rất phẩn khởi được “tham quan” Nà Sản. Anh em nói: thế mới đúng là “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, ta chưa diệt được một tập đoàn cứ điểm nào, song cái hiểu hôm nay rất cần cho chiến thắng ngày mai.

        Ngày 7 tháng 1, đại đoàn vừa qua thị xã Sơn La, đang chuẩn bị vượt đèo Pha Đin, một đèo cao và dài phải đi trọn một đêm mới hết, thì được tin địch rút Lai Châu dồn về Điện Biên Phủ. Đồng chí phó tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái kiêm tham trưởng mặt trận Điện Biên Phủ lệnh cho đại đoàn:

        - Cho ngay một trung đoàn bằng đủ mọi cách đi băng rừng vượt núi cấp tốc đến đóng chốt ở Pom Lót trên đường từ Điện Biên Phủ sang Thượng Lào đề phòng địch từ Lai Châu co về Điện Biên Phủ rồi kéo nhau chạy cả sang Luông Pha- băng.

        - Hai trung đoàn khác gấp rút hành quân theo đường số 41 lên Tuần Giáo tiến vào bao vây rộng ở phía đông bắc Điện Biên Phủ…

        Toàn đại đoàn chuyển động khi nhận được lệnh chiến đấu của Bộ chỉ huy mặt trận.

        Cán bộ, chiến sĩ phấn khởi chờ đón nhiệm vụ cụ thể.

        Bộ chỉ huy đại đoàn họp nhanh chóng nhất trí về những công việc trước mắt:

        - Anh Cao Văn Khánh chỉ huy bộ đội tiếp tục hành quân nhanh chóng tới địa điểm chiến đấu do Bộ quy định.

        - Tôi cùng một số cán bộ tham mưu, các đội quân báo vượt lên trước đội hình hành quân, đến Điện Biên Phủ nắm địch và nghiên cứu địa hình để bộ đội đến, có thể chiến đấu được ngay.

        - Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ đóng chốt ở Pom Lót.

        Chúng tôi hoàn toàn yên tâm về khả năng hoạt động độc lập của trung đoàn này, chỉ nhắc lai lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận vừa giao trước khi trung đoàn lên đường với ý nhấn mạnh:

        - Bảy ngày sau khi nhận lệnh phải có mặt ở Pom Lót.

        Nhưng ngày thứ sáu chúng tôi vui mừng đến sửng sốt khi nhận được điện báo cáo của đồng chí trung đoàn trưởng Hồng Sơn:

        - Chốt Pom Lót đã hình thành trước thời gian quy định một ngày.

        Đây lại là một biểu hiện rất đẹp về tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cán bộ, chiến sĩ đại đoàn. Không có con đường nào tới Pom Lót, dù chỉ là đường mòn. Tất cả chỉ còn một cách dựa vào bản đồ, địa bàn mà tìm lối đi. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 36 cứ thẳng đường chim bay mà xẻ núi, băng rừng đi tới với khẩu hiệu: “Đạp bằng mọi trở ngại, quyết nhanh chóng tiến vào Điện Biên Phủ!”. Cùng ngày, trung đoàn 88 và trung đoàn 102 cũng vừa tới đông bắc Điện Biên Phủ, thực hành bao vây xa.

        Đại đoàn đã dàn xong thế trận.

        Điện Biên Phủ đã nằm trong vòng vây của quân ta.

        Nhưng toàn mặt trận vẫn yên tĩnh.

        Mỗi cán bộ, chiến sĩ thường có nhiều suy nghĩ và nhiều mơ ước trước giờ nổ súng. Riêng tôi cái thời gian yên tĩnh này lại nhớ về buổi lên Bộ nhận nhiệm vụ trở lại miền Tây Bắc lần thứ hai. Hôm ấy đồng chí đại tướng Tổng tư lệnh nói ngắn nhưng rất đủ, rất rõ về sự chỉ đạo đầy mưu lược của Trung ương Đảng: giải quyết xong Lai Châu phải nhanh chóng kìm chân địch ở Điện Biên Phủ. Na-va cố tránh chọi nhau với chủ lực ta ở Bắc Bộ trong Đông Xuân 1953-1954 là để có thời gian xây dựng lực lượng cơ động mạnh đến cuối năm 1954 sẽ phản công ta. Nhưng ta quyết không cho chúng điều kiện ấy.

        Đúng là những bước đi của đại đoàn 308 và các đại đoàn bạn đã và đang thực hiện có hiệu quả sự chỉ đạo mưu lược ấy của Trung ương Đảng và của Bộ Tổng tư lệnh, buộc Na- va phải đương đầu với ta ở Điện Biên Phủ, từ chối cũng vẫn bị buộc phải chấp nhận. “Cuộc hành quân xa” của đại đoàn đã góp phần cài thế, dồn địch lao sâu vào thế bị động đối phó.

        Nếu không giữ được bí mật ý đồ chiến dịch, không nhận thức đúng đắn “đâu có giặc là ta cứ đi” thì làm sao ta buộc được Na-va phải đương đầu với ta ở Điện Biên Phủ- một quyết chiến điểm có lợi cho ta, bất lợi cho địch.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:20:43 PM

        Ngày 14 tháng 1 năm 1954, tại hang Thẩm Púa gần Điện Biên Phủ, đại tướng Võ Nguyên Giáp triệu tập hội nghị các tư lệnh đại đoàn tham gia chiến dịch, phổ biến kế hoạch tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ…

        Ngày 25 tháng 1, tất cả các đơn vị tham gia chiến đã chiếm lĩnh xong trận địa tiến công quanh thung lũng Mường Thanh. Đại đoàn 308 được vinh dự nhận nhiệm vụ làm mũi đột phá chủ yếu từ phía tây khe Hồng Lếch đánh thẳng vào sở chỉ huy De Castries.

        Công tác chuẩn bị chiến đấu đã căn bản hoàn thành.

        Tất cả các hướng đang hồi hộp chờ hiệu lệnh nổ súng.

        Nhưng thật bất ngờ. Sự chờ đợi của tất cả mọi người đã không diễn ra.

        Đúng 17 giờ 20 phút chiều hôm đó, đại đoàn nhận được điện thượng khẩn của Bộ chỉ huy mặt trận đình chỉ tiến công, đưa ngay bộ đội trở ra khu vực tập kết chờ lệnh mới.

        Vì sao vậy? Chúng tôi phân vân suy nghĩ: Vì sao tốn bao công phu dàn trận nay lại kéo ra? Xây mà phá thì tiếc lắm! Tiếc cái công phu đưa hàng bạn quân vào tiếp cận địch mà vẫn an toàn; tiếc là bao công việc bề bộn đã hoàn thành tốt trong thời gian rất ngắn như đào công sự, xây dựng trận địa pháo cao xạ, làm hầm chỉ huy, hầm thông tin, v.v… Tất cả đều diễn ra cạnh nách địch mà địch không hay biết. Nhưng những suy nghĩ, phân vân ấy diễn ra không lâu; chúng tôi nhanh chóng xác định: đã là mệnh lệnh thì phải chấp hành, phải tổ chức việc lui quân cũng tốt như lúc đưa quân vào. Khó mấy cũng phải làm và làm thật nghiêm chỉnh…

        Hôm sau vào lúc 14 giờ 30 phút, đồng chí Tổng tư lệnh gọi điện thoại hỏi tôi về tình hình chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận:

        - Đại đoàn thu quân xong chưa?

        - Báo cáo, chúng tôi đã hoàn thành, bộ đội đang ở khu tập kết an toàn.

        - Tốt! Bây giờ anh giở bản đồ ra để theo dõi khu vực chiến đấu mới mà đại đoàn sẽ đảm nhiệm.

        Một phút yên lặng để chuẩn bị, đại tướng nói tiếp, giọng nhấn mạnh vào sau từng vấn đề:

        - Để bảo đảm chiến dịch Điện Biên Phủ chắc thắng, được sự đồng ý của Bộ chỉ huy Quân giải phóng Pa- thét Lào, đại đoàn phối hợp với lực lượng của bạn tiến công vào phòng tuyến Nậm Hu… Phải hành động hết sức nhanh chóng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, thu hút lực lượng bộ binh và không quân địch về phía đại đoàn càng nhiều càng tốt. Lực lượng sử dụng bao nhiêu, tuỳ thuộc vào khả năng cung cấp lương thực của đại đoàn mà quyết định cho thích hợp, miễn sao bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ là được!

        Toàn đại đoàn như một guồng máy chạy đều và ăn khớp. Tham mưu lo kế hoạch tổ chức hành quân; hậu cần lo bảo đảm lương thực, thực phẩm; chính trị lo tổ chức quán triệt quyết tâm chiến đấu của Đảng uỷ đại đoàn xuống các đơn vị và tổ chức phát động thi đua lập công, v.v…

        Đảng uỷ đại đoàn họp. Tôi báo cáo dự kiến quyết tâm thực hiện nhiệm vụ mới: Bộ chỉ huy mặt trận lệnh cho đại đoàn ta phối hợp với lực lượng vũ trang của bạn vận động tiến công vào phòng tuyến Nậm Hu địch vừa mới xây dựng nhằm làm cái cầu nối Điện Biên Phủ với Luông Pha- băng. Làm nhiệm vụ này chúng ta gặp nhiều khó khăn, địch tình và địa hình chưa nắm được; lương thực thực phẩm phải tự lo lấy. Cấp trên cho phép ta được toàn quyền quyết định sử dụng lực lượng, có thể từ một tiểu đoàn, trung đoàn hoặc toàn đại đoàn. Nhưng ta chỉ được phép quyết định với ý thức trách nhiệm cao. Đưa một tiểu đoàn khó ít, đưa một trung đoàn khó nhiều, đưa toàn đại đoàn đi hoạt động xa thì vô cùng khó khăn. Nhưng như thế mới có lực mạnh để tạo thế mạnh, mới thu hút được bộ binh địch và không quân địch. Khó khăn là một việc không thể tránh khỏi. Không cần phải bàn, vấn đề là tìm cách khắc phục, quyết tâm vượt qua thì có thắng lớn, vì đây là hướng sơ hở của địch, ta có điều kiện đánh một đòn có ý nghĩa chiến lược. Hơn nữa, địch dang theo dõi đại đoàn ta, một khi thấy 308 rời Điện Biên Phủ , địch sẽ cho rằng ta đã thay đổi hướng tiến công chủ yếu, buộc chúng phải- một mặt bị động đối phó với đại đoàn ta, mặt khác chúng sẽ mắc sai lầm, cho ta không đủ khả năng đánh vào Điện Biên Phủ, càng tạo cho các lực lượng ở đây có thời gian chuẩn bị tốt để thực hiện một trận quyết chiến thắng lợi…

        Cuộc họp diễn ra khẩn trương và rất hào hứng. Thẳng thắn nên hết khó khăn nhưng cũng rất có trách nhiệm bàn bạc biện pháp khắc phục. Những vấn đề về quyết tâm, về phương thức chiến thuật, về tổ chức chỉ huy, Đảng uỷ nhất trí nhanh, còn lại chỉ là vấn đề lương thực.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2016, 08:22:43 PM

        Đưa một đại đoàn đi chiến đấu, mồi ngày cần phải có 5.000 kilôgam gạo. Con số tuy lớn, nhưng chia ra cho hàng vạn con người thì chỉ là nhu cầu tối thiểu. Lúc đầu cuộc họp lắng xuống về con số này, nhưng ý kiến sôi nổi trở lại, dần dần nhớ lại những khó khăn tương tự đã giải quyết nay mang ra rút kinh nghiệm và bổ sung thêm biện pháp khắc phục phù hợp với tình hình mới. Cũng thời gian này năm ngoái đại đoàn cùng với Quân giải phóng Pa- thét Lào đuổi địch từ Sầm Nưa xuống Xiêng Khoảng, giải phóng một vùng rộng lớn, là nhờ gạo thóc của nhân dân nước bạn ủng hộ và cho vay. Năm ta nay ta cũng sẽ theo con đường đó, nhưng để đảm bảo chiến đấu dài ngày thì không thể trông cậy vào những cối giã gạo nhỏ của nhân dân được.

        Như vậy khó khăn khác lại được đặt ra, biến thóc thành gạo?

        Về khó khăn này, mới đây trong những ngày vây hãm địch ở Điện Biên Phủ, hậu cần đại đoàn đã có sáng kiến tổ chức đóng cối xay, làm chày giã nhờ đó mà đại đoàn có đủ gạo ăn. Tất cả những kinh nghiệm, những sáng kiến nảy ra trong thực tiễn là cơ sở tin cậy để Đảng uỷ đại đoàn ra nghị quyết: tổ chức một đội làm công tác vận động nhân dân cho vay thóc, gạo; lập các đội xay giã gạo và các đội vận chuyển.

        Nội dung tuy nhiều và phức tạp, nhưng Đảng uỷ họp bàn rất nhanh gọn và đạt tới sự nhất trí cao về những vấn đề sau đây:

        - Quyết tâm đưa cả đại đoàn đi chiến đấu.

        - Phương châm hành động là tự lực và gấp rút:

        + Tự lực khắc phục khó khăn, tìm địch mà đánh.

        + Chuẩn bị gấp rút, hành quân gấp rút, tổ chức tiến công gấp rút nhưng chắc thắng.

        Cả đại đoàn chuyển động triển khai thực hiện nghị quyết Đảng uỷ đại đoàn.

        Dọc các khe của triền núi phía tây Mường Thanh, chỉ cách địch khoảng bốn kilômét, người đi lại rầm rập, tấp nập như một ngày hội. Những đồng chí có nghề “phó cối”, “phó mộc” tạm thời nghỉ tay súng (nhưng súng vẫn liền người) chuyển sang nghề xay thóc giã gạo. Các đồng chí đau yếu tập trung về ban quân y trung đoàn để ra khu vực an toàn điều trị…

        Thời gian không còn nhiều, chậm phút nào, giờ nào là mất cơ hội. Nghị quyết Đảng uỷ phổ biến tới trung đoàn, tiểu đoàn. Không còn thì giờ nào để động viên giải thích, nhưng cán bộ. chiến sĩ đại đoàn đã quen với nếp nghĩ “quân lệnh như sơn”- khi có điều kiện thì phổ biến rồi chấp hành, bằng không thì có lệnh là chấp hành ngay, việc “binh đao” là rất khẩn trương và rất kỷ luật. Hiểu như vậy nên ai nấy đều theo lệnh chấp hành răm rắp…

        18 giờ 30 phút ngày 26 tháng 1 năm 1954, toàn đại đoàn lên đường với nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vinh quang: diệt sinh lực địch và thực hành nghi binh chiến dịch.

        Cho đến hôm nay đã không biết bao lần hành quân ra trận, nhưng phải nói đây là cuộc đi trận lần đầu bộ đội mang vác “nhẹ nhõm”- một thứ “nhẹ nhõm” lo hơn là mừng. Vì các lần ra đi khác, mỗi người phải có ít nhất 5- 10 kilôgam gạo, bao gạo trên vai căng phồng, thì lần nay lương thực của mỗi người chỉ vẻn vẹn một cái túi nhỏ buộc gọn ở thắt lưng: một ngày lương khô và một ngày gạo.

        Theo kế hoạch, đội quân báo của đại đoàn và tiểu đoàn 18 hợp thành đội tiền vệ do đồng chí đại đoàn phó Cao Văn Khánh chỉ huy bứt lên trước đội hình có nhiệm vụ mở đường, gặp địch là chủ động đánh ngay. Đi liền trong hai ba ngày đêm đội tiền vệ đã đến Sốp Nao.

        Sốp Nao ở phía tây nam Điện Biên Phủ, theo đường chim bay thì không xa lắm, nhưng đường rừng núi quanh co, phải 80 kilômét mới tới. Đến Sốp Nao là bước vào phạm vi kiểm soát của phòng tuyến sông Nậm Hu. Cả đại đoàn được trang bị hai máy vô tuyến điện, nên phải tổ chức hành quân nhảy cóc. Cứ một đài dừng lại làm việc, thì đài kia vượt lên, cứ thế thay nhau vừa đi vừa dừng lại làm việc để giữ vững liên lạc với trên và với các cánh quân của đại đoàn.

        Đêm 29 tháng 1, đại bộ phận đại đoàn đến vùng Sốp Nao thì bộ phận tiền vệ của đại đoàn vượt lên trước một ngày đường, đến sát bờ sông Nậm Hu. 20 giờ 20 phút- đúng giờ quy định liên lạc với Bộ chỉ huy mặt trận, đồng chí Cao Văn Khánh cho mở điện đài, thì được tin: địch đã phát hiện đại đoàn 308 rời Điện Biên Phủ, chúng ra lệnh bỏ Mường Khoa và các đồn lân cận, có thể địch rút xuống Nậm Bạc. Thế là Na-va vẫn theo bài bản cũ đối phó với các cuộc tiến công của ta ở chiến trường rừng núi là rút chạy, co lại, thành lập tập đoàn cứ điểm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:26:17 AM

        Bộ chỉ huy đại đoàn nhận định: thời cơ, thuận lợi để chúng ta đập tan phòng tuyến Nậm Hu, thực hiện ý định của Bộ chỉ huy mặt trận, đẩy địch xuống tận Luông Pha- băng, thu hút lực lượng không quân và bộ binh địch về phía này càng nhiều càng tốt, đã có. Quyết tâm của đại đoàn là ngay trong đêm 29 tháng 1 phải nhanh chóng hình thành ba cánh quân đánh địch:

        - Trung đoàn 102 tiến sang Mường Khoa.

        - Trung đoàn 88 là cánh chọc thẳng, tiến xuống bao vây Mường Ngòi.

        - Trung đoàn 36 đánh vu hổi, tiến sâu tới phòng tuyến Nậm Bạc.

        Biết địch chuẩn bị rút Mường Khoa, đại đoàn ra lệnh cho các cánh quân: tiến công gấp, truy kích mạnh. Cũng đêm nay gạo vừa hết, nhưng được tin địch hoang mang cao độ, đang đốc thúc nhau rút chạy nên bộ đội quên đói, vui vẻ làm nhiệm vụ, vừa đuổi địch vừa nhắc lại chuyện đuổi địch ở Thượng Lào tháng 4 năm 1953 với khẩu hiệu đã dùng hồi ấy: “cấp dưỡng ở phía trước!” để động viên nhau tiến lên. Bởi vì kinh nghiệm thực tế cho thấy trong truy kích địch, thì nguồn cấp dưỡng của ta là ở phía trước: ở trong đội quân địch đang cắm đầu chạy, ở trong các đồn bốt mà chúng hoảng hốt rút bỏ chưa kịp phá huỷ và cả trên “trời” địch thả dù cho nhau rơi xuống.

        Từ ngày 29 tháng 1 đến 1 tháng 2 năm 1954, các cánh quân của đại đoàn tiến quân ào ạt tiêu diệt và bức địch phải rút bỏ Mường Khoa, Mường Ngòi và các đồn bốt lân cận khác. Phòng tuyến Nậm Hu chỉ còn là những đám tàn quân bị đánh tơi tả, số bị chết, bị thương nằm rên la cầu cứu, van xin, số bỏ trốn lẩn lút trong rừng sâu, dưới các khe suối.

        Ngày 3 tháng 2, mọi người đều không quên hôm nay chính là ngày mồng một Tết Nguyên đán, nhưng chúng tôi cũng chỉ có thể đón ngày Tết cổ truyền của dân tộc trong ý niệm, bởi vì đúng vào ngày này cuộc chiến đấu đang bước sang giai đoạn khẩn trương, không có thời gian nào ngớt tiếng súng. Súng nổ râm ran trên toàn bộ mặt trận. Trên trời từng đàn máy bay địch chở quân từ đồng bằng Bắc Bộ lên tăng viện cho Văng- đơ- rây lập tập đoàn cứ điểm Mường Sài. Dưới đất, các đơn vị nâng cao tốc độ tiến nhanh vào bao vây Mường Sài, bắn súng cối tiêu hao địch…

        Ngày 5 tháng 2 (tức mồng ba Tết) sau khi tiêu diệt 17 đại đội, một tiểu đoàn lê dương số 2 thuộc trung đoàn 3 của địch, các đơn vị tiếp tục quét tàn quân địch dọc dòng Nậm Hu. Năm ngày sau, trung đoàn 36 tiến sát đến cửa sông Nậm Hu. Trước mắt các chiến sĩ- một vùng sông nước mênh mông, hùng vĩ. Cửa sông Nậm Hu đã rộng, nhìn ra sông Mê Công còn rộng gấp mấy lần, nước chảy cuồn cuộn, gió lộng thổi ào ào, lạnh giá.

        Đại đoàn lệnh cho trung đoàn 36 tiếp tục phát huy thắng lợi, bằng bất cứ giá nào cũng phải vượt sông Nậm Hu tiến về Luông Pha- băng, càng sớm càng tốt. Nậm Hu con sông đã ở ngay trước mặt các chiến sĩ, nhưng vượt qua nó không phải dễ dàng. Dòng sông nước cuồn cuộn chảy điều này ai cũng thấy, nhưng tình hình ở hai bên bờ sông thì vẫn là điều bí mật. Bên này sông không một bóng người. Bên kia, tình hình địch thế nào ta hoàn toàn chưa nắm được.

        Nhưng đã là mệnh lệnh, phải tuyệt đối chấp hành. Đội quân báo vàmột tổ tiền tiêu của trung đoàn đóng mảng sang trước thăm dò, chiếm bến đổ bộ. Nguyễn Quảng Châu xung phong nhận nhiệm vụ này. Châu là một chiến sĩ quân báo gan dạ, tháo vát, từng được thưởng Huân chương Chiến công hạng hai về thánh tích dũng cảm, mưu trí trong nhiệm vụ điều tra địch ở bốt Thái Đào, bốt Mỹ. Trong những ngày điều tra địch ở tây nam Điện Biên Phủ, Châu cùng với một số đồng chí nữa dùng mưu bắt sống 32 lính nguỵ để lấy tài liệu chính xác. Lần này đồng chí Châu chỉ huy một tổ, mỗi người ôm lấy một thân cây chuối vui vẻ vượt sông trước sự thán phục kèm theo sự lo lắng của đồng đội. Họ chẳng ngại địch ở bên kia bắn sang, cũng chẳng lo sông rộng, nước chảy xiết, gió lạnh thổi ào ào, chỉ ngại là- nghe nói vùng sông này có cá sấu…

        Một tiếng đồng hồ trôi qua. Bên kia sông bỗng loé lên ngọn lửa nhỏ, tín hiệu không có địch. Toàn đội quân báo qua sông an toàn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:29:03 AM

        Ngày 6 tháng 2, một bộ phận của trung đoàn 36 vượt sông khi trăng đầu tuần vừa nhô lên, tiến thẳng tới đồn Bản Na- một tiền đồn của Luông Pha- băng do một trung đội lê dương và một trung đội nguỵ đóng giữ. Sau ít phút, tiểu đoàn 89 đã đánh tan đồn này, bắt sống tên quan hai đồn trưởng và hơn 20 lính lê dương.

        Như vậy là đại đoàn đã đến cửa ngõ Luông Pha- băng (cách hơn 10 kilômét)- nơi dòng Nậm Hu hoà với nước Mê Công, dồn địch tụt sau vào thế bị động lúng túng. Bản Na bị tiêu diệt, Luông Pha- băng bị uy hiếp nghiêm trọng. Suốt ngày đêm những chuyến máy bay vận tải liên tục đi về giữa Hà Nội và Luông Pha- băng, đổ xuống kinh đô nước Lào bi chiếm đóng đủ mọi thứ, quân lính, vũ khí đạn dược, những tấn dây thép gai, những tấm sắt lát sân bay, v.v… Na-va trúng kế của ta buộc phải điều quân cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ sang Luông Pha- băng gấp rút lập thêm tập đoàn cứ điểm nữa.

        Ngày 13 tháng 2, sau trận Bản Na, đại đoàn được lệnh ngừng tiến công để lại một bộ phận tiếp tục uy hiếp Luông Pha- băng và Mường Sài, còn đại bộ phận bí mật trở về Điện Biên Phủ.

        Bộ chỉ huy đại đoàn họp xác định cần làm tốt hai việc lớn để đảm bảo cho bộ đội hành quân trở lại Điện Biên Phủ an toàn, bí mật, đúng thời gian quy định: Tổ chức chỉ huy hành quân và tổ chức lực lượng ở lại phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động nghi binh dọc sông Nậm Hu và liên tục bắn súng cối vào Mường Sài nhằm làm cho địch yên trí rằng đại đoàn 308 đang gấp rút củng cố bàn đạp chuẩn bị mở đợt tiến công mới. Trong lúc đại bộ phận đại đoàn chuẩn bị hành quân, thì có một tiểu đoàn dân công từ Điện Biên Phủ sang. Sự đi lại của hơn 500 anh chị em dân công trên khắp khu vực địch vừa mới bỏ chạy càng làm cho cả vùng này tấp nập, nhộn nhịp, không khí sôi động như một ngày hội. tạo thành một bức màn che mắt địch rất tốt để đại đoàn bí mật hành quân về phía tây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đúng thời gian quy định.

        Chủ trương của Bộ chỉ huy mặt trận mở cuộc tiến công vào phòng tuyến Nậm Hu là một chủ trương sáng suốt, một nước cờ cao, tính trước được nhiều nước; bắn đi một mũi tên mà cùng lúc trúng nhiều mục tiêu:

        - Đánh trúng nơi địch yếu, ta chẳng tốn mấy sức, chẳng mất mấy thời gian mà tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, đập tan phòng tuyến Nậm Hu cô lập Điện Biên Phủ ;

        - Đánh trúng hướng chiến lược quan trọng, buộc địch phải đem quân cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ lên giữ Luông Pha- băng, Mường Sài; và như vậy là tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta ở vùng châu thổ sông Hồng phá ruỗng thế trận của địch trên địa bàn chiến lược rất quan trọng đó;

        - Đánh lạc hướng phán đoán của địch sang phía thượng lưu sông Mê Công để ta có thêm điều kiện thuận lợi tiếp tục mọi công tác chuẩn bị tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Những tài liệu của Pháp nói nhiều về sự lạc quan của tướng Na- va khi thấy đại đoàn 308 rời mục tiêu Điện Biên Phủ chuyển sang phòng tuyến Nậm Hu, tưởng rằng dó là một biểu hiện chứng tỏ “Việt Minh không dám lao vào Điện Biên Phủ”; nào ngờ đâu chính Na- va bị đánh lạc hướng. Cho đến “ngày 13 tháng 3 năm 1954, Việt Minh tổng tiến công vào Điện Biên Phủ, sau khi đại đoàn 308 của họ đang uy hiếp Luông Pha- băng đã trở về bao vây tập đoàn cứ điểm này, lúc bấy giờ Na- va mới biết chắc là họ quyết tâm đánh bằng được Điện Biên Phủ, nhưng muộn rồi”.

        Từ Nậm Hu trở lại Điện Biên Phủ rất gấp, như anh em nói vui: “Chưa kịp thở đã xung trận rồi!”. Trung đoàn 88 do đồng chí Thái Dũng, trung đoàn trưởng, đồng chí Đặng Quốc Bảo uy, sau ba ngày khẩn trương chuẩn bị đã phối hợp với trung đoàn 165 (đại đoàn 312) tiến công cứ điểm đồi Độc Lập. Trận đánh kết thúc vào lúc 6 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3, ta mở toàn cánh cửa thứ hai ở phía bắc Mường Thanh và cũng là trận kết thúc thắng lợi đợt I của chiến dịch (ngày 13 tháng 3, đại đoàn 312 đã diệt cứ điểm Him Lam).

        Ngày 17 tháng 3, Bộ chỉ huy mặt trận triệu tập hội nghị cán bộ họp tại Mường Phăng. Cán bộ chỉ huy các đại đoàn bộ binh, các đơn vị pháo binh, công binh, thông tin, cao xạ, từ các nơi đổ về, gặp nhau tay bắt mặt mừng, vui nhử đi dự hội nghị mừng công.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:32:36 AM

        Trong hội nghị này đồng chí đại tướng Tổng tư lệnh đã phân tích diễn biến địch ta trên toàn bộ chiến trường Đông Dương và ở Điện Biên Phủ nói riêng, nêu ra nhiệm vụ cụ thể phải làm để thực hiện bằng được quyết tâm của Trung ương Đảng: tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Một là, phải nhanh chóng tiếp cận, bao vây địch bằng cách xây dựng trận địa tiến công và bao vây quân địch khắp các mặt đông, tây, nam bắc trong cự ly có hiệu quả của tất cả các loại súng lớn, nhỏ của ta, đồng thời chia cắt khu Hồng Cúm với khu trung tâm Mường Thanh;

        Hai là, tiếp tục đánh “bóc” thêm một số cứ điểm ở ngoài “vỏ” tập đoàn cứ điểm theo nguyên tắc phải đảm bảo chắc thắng;

        Ba là, phải khống chế sân bay của địch có hiệu quả, chuẩn bị đánh địch phản kích, tăng cường hoạt động nhỏ, tiêu hao, quấy rối quân địch, tạo thời cơ tiêu diệt lớn, kết thúc thắng lợi hoàn toàn.

        Đại đoàn 308 được Bộ chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ xây dựng bằng được hệ thống trận địa tiến công và bao vây quân địch từ đồi Độc Lập ở phía bắc qua Bản Kéo, Phương án Luông, Hồng Lếch ở phía tây, vòng xuống đến bản Cò Mị ở phía nam. Đến Cò Mị, trận địa của đại đoàn nối liền với trận địa của đại đoàn 316 từ phía đông vươn sang, quây vòng quanh trung tâm Mường Thanh, đồng thời chia cắt địch ở đây với phân khu Hồng Cúm.

        Chỉ huy sở đại đoàn đặt ở khe Hồng Lếch, trên một triền núi. Công binh của đại đoàn đã xẻ đôi quả núi này sâu hơn chục mét, dưới đáy có đào các ngách là nơi làm việc của các phòng, ban. Mọi sinh hoạt và làm việc đều dưới khe sâu vừa bảo đảm được bí mật vừa bảo đảm sinh hoạt bình thường.

        Bộ chỉ huy đại đoàn xác định quyết tâm: trên cơ sở quán triệt phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, có kế hoạch tổ chức chỉ huy tốt, thực hành nghiêm chỉnh biện pháp tác chiến của chiến dịch là xiết chặt vòng vây; từng bước đánh lấn ép chặt quân địch, lần lượt tiến công các cứ điểm ở vòng ngoài cùng, cắt sân bay, triệt nguồn tiếp tế, tiếp viện, tiến tới phá vỡ, tiêu diệt toàn bọ hệ thống trận địa tập đoàn cứ điểm của địch. Sau này chúng tôi rút gọn chiến thuật đó thành sáu chữ cho dễ nhớ: Vây- Lấn- Tấn- Phá- Triệt- Diệt.

        Giai đoạn xây dựng trận thật vất vả kèm theo cả hy sinh, nhưng cũng thật lạc quan, để lại trong tôi những kỷ niệm rất sâu sắc về nhiều mặt; tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc, tổ chức chỉ huy sáng tạo, gương chiến đấu anh dũng tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ đại đoàn.

        Trong việc xây dựng trận địa, bước thứ nhất đại đoàn phải đào một đường hào trục bắt đầu từ cửa rừng phía bắc đồi Độc Lập vòng sang Bản Kéo chạy về phía nam ôm lấy phía tây cánh đồng Mường Thanh. Đường hào trục này dài 10 kilômét, sâu hai mét, đáy rộng một mét, miệng hào 1,6 mét đảm bảo hai người đi ngược chiều nhau thoải mái và khiêng vác thương binh được thuận lợi; miệng hào phải được nguỵ trang chu đáo, chống máy bay trinh sát của địch phát hiện.

        Thế là toàn bộ sinh hoạt của bộ đội phải thay đổi. Giấc ngủ của cán bộ, chiến sĩ chuyển về buổi sáng. Hàng ngày sau bữa cơm trưa, từng đơn vị có tổ chức chặt chẽ, vào sâu trong rừng chặt cành cây (bìa rừng có rất nhiều cây nhưng để đảm bảo bí mật) để chuẩn bị che phủ miêng hào sắp đào. Buổi chiều, cơm xong mặt trời sắp lặn, các đơn vị nhanh chóng triển khai tiếp tục đào hào- xây dựng trận địa. Cán bộ chỉ huy đi đầu, tay cầm một gây dài vừa làm thước đo vừa làm gậy chống. Chỉ tiêu mỗi trung đoàn phải đào 500 mét hào đúng kích thước, đào đến đâu nguỵ trang đến đó. Đào xong hào trục, đào tiếp các nhánh ngang chĩa vào các vị trí địch hoặc đi vào quãng giữa hai vị trí địch. Rồi từ những nhánh ngang ấy lại đào nhiều nhánh phục vươn dài ra như những cánh tay khổng lồ có nhiều ngón- tạo thành một mạng lưới hào chằng chịt, bao vây, chia cắt các vị trí địch.

        Những ngày xây dựng trận địa tiến công cũng là những ngày chiến đấu quyết liệt với địch.

        Địch dùng mọi thủ đoạn đánh phá: bom, pháo và dùng bộ binh phản kích suốt ngày đêm. Trận địa mà đại 229 thuộc trung đoàn 88 xây dựng là một trong nhiều ví dụ để nó rằng mỗi mét hào ở đây là kết quả của mồ hôi và xương máu, là sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng trận địa để chiến đấu, chiến đấu để xây dựng trận địa diệt địch. Trận địa do đại đội 229 xây dựng nằm gần hai bản Pe  Luông và Bản Bó, luồn sâu, áp sát vào sân bay Mường Thanh. Địch coi trận này như một “vật chướng ngại rất nguy hiểm”.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:36:35 AM

        Ngày 23 tháng 3, De Castries giao cho tên thiếu ta Bigeard kẻ được phong cái chức “tổng chỉ huy các lực lượng phản kích” mở một trận đánh điển hình “răn đe”, với hy vọng có thể san bằng trận địa mà ta mất bao công phu xây dựng. Nhưng các chiến sĩ đại đội 229 chiến đấu rất ngoan cường, với khẩu hiệu “dù chỉ còn một người cũng đánh”.

        Trận đánh kết thúc thắng lợi vào buổi sáng. Buổi chiều tôi và một số cán bộ tham mưu, chính trị trên cơ quan đại đoàn bộ xuống thăm chia vui chiến thắng với đại đội và kịp thời góp ý kiến rút kinh nghiệmvới các chiến sĩ để trận sau đánh tốt hơn, thắng to hơn. Chúng tôi đến trận địa vẫn còn khét mùi thuốc súng, dấu tích anh hùng của đại đội 229 vẫn còn in đậm ở khắp mọi nơi: các chiến hào, ụ súng còn hằn vết xích xe tăng địch. Bộ đội đang khẩn trương sửa sang lại hầm hào nhộn nhịp như một công trường xây dựng. Anh em nói: mệt hơn cả vẫn là công việc dọn đi cho sạch những đống xác chết của quân lính Bigeard và làm vệ sinh trận địa. Tại đây đoàn được nghe một đồng chí cán bộ đại đội 229 kể lại trận đánh buổi sáng. Đồng chí say sưa vừa kể vừa chỉ cụ thể trên thực địa với đầy đủ các diễn biến như người thuyết minh trận đánh trên sa bàn. Cho đến hôm nay- đã 25 năm trôi qua, nhiều chi tiết trận đánh tôi không nhớ hết, có cái quên hẳn, nhưng những chiến sĩ xuất sắc của trận đánh Pe Luông thì tôi còn nhớ mãi mãi:

        … Trên một quãng hào của trận địa Pe Luông chỉ còn hai đồng chí Nguyễn Hoàng Phương, y tá đại đội trưởng được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng hai trong trận Nghĩa Lộ hồi tháng 10 năm 1952 và đồng chí Bùi Minh Đức 18 tuổi mới cầm súng từ Đông Xuân này. Một chiếc xe tăng địch xông tới chồm qua chiến hào. Nó rú ga tăng tốc vượt qua chiến hào thì đồng chí Phương nhô lên ngay, lia tiểu liên quật ngã gần 10 tên lính bộ binh đang lom khom, run rẩy đi theo xe tăng. Nhưng cũng lúc ấy cả hai tay đồng chí Phương bị trúng đạn. Quãng hào này chỉ còn lại tiếng súng bắn tỉa rất trúng của đồng chí Đức, không một tên địch nào dám hung hăng. Chúng nằm lại sợ sệt nhưng cũng ngoan cố tìm cách chống lại. Ba quả đạn ĐKZ của địch phóng, trận địa của đồng chí Đức vẫn an toàn, tiếng súng bắn tỉa vẫn nổ đanh, đến quả thứ tư thì đồng chí Đức chỉ kịp nghe tiếng sẹt rồi hai mắt tối sầm lại. Trận địa còn lại hai người: đồng chí Phương còn mắt, mất hai tay, đồng chí còn tay nhưng hai mắt bị thương nặng.

        Mọi người tưởng chuyện kể đến đây kết thúc, nhưng không, đồng chí cán bộ đại đội vẫn tiếp tục nói: dù chỉ còn một người cũng đánh, mà tại đây còn hai người thì làm sao im được tiếng súng.

        - Anh còn mắt, anh cố quan sát, chỉ mục tiêu cho tôi. Tay tôi còn, tôi bắn- Đức nói khẩn khoản với Phương như vậy.

        Đồng chí Phương khẳng định:

        - Sao lại cố, đó là nhiệm vụ…

        Thế là trận địa lại không ngừng tiếng súng- tiếng súng phát ra tư một cây súng do công sức hai mắt của người này cộng với hai tay của người kia tạo nên. Một tiếng súng chứa đựng biết bao tình nghĩa và lý trí, có một sức mạnh ghê gớm khó so sánh, chỉ biết rằng, cho đến lúc kết thúc trận đánh, địch vẫn không tiến thêm được một bước nào trước khẩu tiểu liên do hai đồng chí thương binh Phương và Đức điều khiển.

        Trận thắng Pe Luông là đỉnh cao tuyệt vời của lòng dũng cảm rất độc đáo. Tên tuổi hai đồng chí Đức và Phương sẽ mãi mãi gắn với địa danh lịch sử này- trận thắng Pe Luông: mãi mãi sẽ là bài học không thể thiếu được trong nhiệm vụ giáo dục và xây dựng quyết tâm chiến đấu. Nhưng chúng tôi vẫn còn băn khoăn, vì sao lúc đầu địch đánh tràn được vào trận địa ta?

        Chính vì lẽ đó mà chúng tôi quyết định ở lại một thời gian nữa để tìm nguyên nhân. Cùng với các đồng chí cán bộ tác chiến đại đoàn, tôi đi dọc chiến hào, dừng lại lâu ở những điểm bị địch đánh phá, thấy nổi lên một hiện tương, phần lớn các bờ hào, các ụ súng của ta đều bị phá huỷ là do trúng đạn bắn thẳng của pháo xe tăng địch. Tôi nêu vấn đè này ra để cán bộ, chiến sĩ đại đội 229 thảo luận tại chỗ. Ý kiến phát biểu nói chung là sôi nổi; là người tỏng cuộc, anh em nêu lên nhiều lý lẽ rất hay. Tựu chug có hai lý do:

        - Vì súng chống tăng ta còn thiếu.

        - Vì tổ chức trận địa hoả lực ta chưa tốt.

        Cả hai ý kiến “tại vì” mà anh em nêu lên đầu là nguyên nhân lúc đầu địch có thể tràn vào trận địa ta. Nhưng nghiêm khắc mà nói, trong trường hợp cụ thể này thì nguyên nhân thứ hai mới là chủ yếu. Bởi vì ở Pe Luông ta có súng Ba- dô- ca, có ĐKZ- là những vũ khí chống tăng nhưng thiếu trận địa bắn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 05:38:36 AM

        Thiếu sót của cán bộ, chiến sĩ đại đội 229 cũng là thiếu sót của cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn, của chính tôi. Nghiêm khắc nhận khuyết điểm là rất cần, nhưng quan trọng là ở tinh thần tích cực sửa chữa.

        Chuyến đi nghiên cứu trận thắng Pe Luông đã cho tôi một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Vũ khí chỉ phát huy tác dụng khi con người sử dụng nó phải có tinh thần và có hiểu biết. Thiếu một trong hai điều kiện này đều ảnh hưởng đến thắng lợi của trận đánh. Ở Pe Luông nếu chúng ta chú ý đến nguỵ trang trận địa, đặc biệt là những trận địa hoả lực chủ yếu, thì làm sao địch có thể ngay từ đầu dễ dàng phát hiện, dùng pháo của xe tăng bắn chế áp. Và nếu chúng ta chú ý hơn nữa trong công tác xây dựng thật nhiều trận địa hoả lực, nhiều vị trí bắn khác nhau, thì dù địch có bắn chế áp ta, lúc đầu tạm thời một trận địa nào đó bị tê liệt, đã có trận địa khác thay thế, tiếp tục bắn địch, trận địa của ta có thể giữ vững ngay từ đầu.

        Rõ ràng vũ khí nhiều chưa phải đã mạnh, mà điều quan trọng là cách tổ chức sử dụng vũ khí như thế nào để kéo dài độ bền của nó trong thời bình; bảo đảm an toàn cho nó khi vào trận và đặt nó ở những chỗ nào để nó liên tục phát huy được hết tính năng, tác dụng trong quá trình diễn biến tiến công cũng như phòng ngự. Đó chính là điều đòi hỏi người chỉ huy phải suy nghĩ, phải tìm lời giải đáp chính xác nhất.

        Ngày 30 tháng 3, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh mở đợt tiến công lần thứ hai nhằm vào năm cao điểm phía đông. Đây là khu phòng ngự then chốt, cái bình phong che chở cho các vị trí nằm dọc hai bên bờ Nậm Rốm và là xương sống của toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Nhiệm vụ tác chiến ở khu phía đông trong đợt này, Bộ chỉ huy mặt trận giao cho đại đoàn 312 và 316. Vào đợt hai chiến dịch, thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, đại đoàn 308 cử trung đoàn 102 sang làm dự bị đội cho cánh quân phía đông, hai trung đoàn 36 và 88 vẫn phụ trách mặt tây Mường Thanh.

        Cuộc chiến đấu trên đồi A1, điểm cao quan trọng ở phía đông diễn ra hết sức gay go. Tại đây ta liên tiếp mở bốn đợt tiến công (30, 31 tháng 3 và 1,4 tháng 4). Ngày 1 tháng 4, chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận, đại đoàn đưa trung đoàn 102 do đồng chí trung đoàn trưởng Hùng Sinh chỉ huy, sang phía đông cùng với đại đoàn 316 tiếp tục tiến công cứ điểm này. Nhưng đêm hôm đó trời đổ mưa to, các đơn vị bị lạc, trận đánh không thành. Đại đoàn lệnh cho trung đoàn 102 lùi về vị trí tập kết, tiếp tục chuẩn bị kỹ hơn. Nhưng cả ngày hôm sau, đại đoàn vẫn nghe báo cáo địch tình bằng điện thoại từ A1 gọi về.

        Tôi hỏi phòng tham mưu đại đoàn:

        - Còn đơn vị nào ở đồi A1 không?

        - Báo cáo, đã có lệnh cho rút ngay từ đêm qua.

        - Tại sao vẫn có báo cáo đều đặn từ A1 gửi về?

        Các đồng chí tham mưu liền gọi dây nói để xác minh. Sau vài phút, các đồng chí ho biết: Toàn đơn vị đã rút ngay khi có lệnh của đại đoàn. Chỉ còn lại đồng chí Chu Văn Mùi cùng hai đồng chí nữa vẫn ở lại với một máy điện thoại vừa làm nhiệm vụ báo cáo địch tình về đại đoàn, vừa gọi pháo ta bắn chặn địch nống ra trận địa ta, vì đồng chí Mùi chưa nhận được lệnh rút.

        Tôi gọi điện trực tiếp nói chuyện với đồng chí Mùi. Sau khi nghe đồng chí báo cáo cụ thể về hoạt động của địch trong ngày, thay mặt Bộ chỉ huy đại đoàn, tôi biểu dương tinh thần chấp hành mệnh lệnh triệt để của đồng chí Mùi: không có lệnh không rời trận địa. Thế là tốt. Nhưng bây giờ tôi ra lệnh cho đồng chí lui về vị trí tập kết của trung đoàn.

        - Rõ, chúng tôi xin chấp hành mệnh lệnh của đại đoàn trưởng.

        Các trận đánh sau này, đồng chí Mùi vẫn tỏ ra chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, được Chính phủ tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 03:51:51 PM

        Trong khi những trận đánh mà địch kêu là “khiếp vía kinh hồn” đang diễn ra trên dãy đồi phía đồng thì bên phía tây trung đoàn 36 nhổ gọn một cứ điểm trên cánh đồng phía tây sân bay Mường Thanh nhanh và “êm” đến nỗi cơ quan tham mưu của mặt trận ngờ vực hỏi lại: sao nhanh thế? Địch hàng hay rút?

        Đó là trận tiêu diệt cứ điểm 106, địch gọi là Huy- ghét 7, do một đại đội lê dương chiếm giữ. Trận thắng này mở ra một cách đánh mới mẻ, hợp với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, với hình thức tác chiến bao vây đánh lấn. Trận chiến đấu chỉ diễn ra trong vòng 30 phút nhưng phải trải qua một quá trình chuẩn bị khá đặc biệt, nếu không nói là độc đáo.

        Từ sau khi địch ở Bản Kéo ra hàng (16- 3), trung đoàn 36 được lệnh lấy Bản Kéo làm bàn đạp đào chiến hào tiến ra cứ điểm 106 chuẩn bị tiến công. Việc đào hào ở đây mỗi ngày một thêm khó khăn. Càng đào xa Bản Kéo, càng gần vị trí địch, nên chúng tập trung bắn phá ác liệt và liên tục cho quân ra lấp hào. Đêm trước ta mất bao nhiêu công sức đào thêm được vài chục mét, hôm sau địch lấp đi, quãng không lấp được thì chúng đặt mìn, gài bẫy. Đường hào cứ như sợi chun giãn ra, co lại, ta đào địch lấp, địch lấp ta đào…

        Phải đánh không cho chúng lấp hào- đó là ý kiến chung của các chiến sĩ. Ý kiến này được trung đoàn tổ chức thực hiện ngay, ta bố trí quân phòng ngự giữ hào. Nhưng qua một ngày thử thách, các phân đội nhỏ ra phòng ngự bị súng cối của địch đánh bật lại và hào lại bị lấp.

        Đứng trên đồn Bản Kéo quan sát thấy hiện tượng giằng co này, đồng chí trung đoàn trưởng Hồng Sơn bắn khoăn tự hỏi: sao lại để địch tự do bắn mình? Có cách nào diệt nó không?

        Rồi rất nhanh, đồng chí Hồng Sơn gọi dây nói về sở chỉ huy đại đoàn;

        - Yêu cầu đại đoàn cho pháo 75mm ra ngay Bản Kéo để yểm hộ trung đoàn giữ hào.

        Đây là một ý kiến hay, tiến công để phòng ngự. Đại đoàn nhanh chóng thoả mãn yêu cầu của trung đoàn. Một trận địa pháo đã được bí mật xây dựng trên đồi Bản Kéo để làm nhiệm vụ bắn yểm trợ cho bộ binh giữ hào, bắn ngắm trực tiếp phá hoại các lô cốt địch. Cự ly gần nhất từ nòng pháo đến lô cốt địch cũng phải hơn một kilômét. Giữa bộ binh và pháo binh sôi nổi bàn bạc kế hoạch hợp đồng chiến đấu.

        Từ những vấp váp thực tế, từ những quan sát cụ thể trong quá trình tổ chức bộ đội xây dựng trận địa và giữ trận địa, chống lại mọi hành động đánh phá của địch, đồng chí trung đoàn trưởng trao đổi ý kiến với pháo binh một phương pháp đánh phù hợp với điều kiện cụ thể ở đây: đề nghị pháo binh chuẩn bị thật kỹ, bảo đảm bắn trúng lô cốt địch. Loạt đạn đầu “tỉa” cho một lô cốt, “tỉa” cái nào tuỳ các đồng chí chọn, nhưng đã “tỉa” là phải sập. Chưa cần nhiều, “tỉa” một cái thôi.

        Danh từ bắn “tỉa” và biện pháp bắn “tỉa” xuất hiện từ đây, từ đồi Bản Kéo và được áp dụng lần đầu có hiệu quả ở cứ điểm 106 - tây sân bay Mường Thanh.

        Từ pháo 75 mm, biện pháp bắn tỉa phát triển nhanh sang súng cối, súng ĐKZ. Địch ở cứ điểm 106 lâm vào thế lúng túng, hết ụ súng này bị sập lại đến lô cốt khác bị vỡ, chạy chữa không kịp. Cũng do hiệu quả của bắn tỉa, bộ đội ta có điều kiện an toàn, nhanh chóng đào chiến hào vào gần vị trí địch, tạo cho các tay súng bộ binh có chỗ đứng thích hợp tham gia bắn tỉa, khiến cho mọi hoạt động của địch đều phải rút xuống mặt đất.

        Thần kinh địch căng nhão, chúng thấy ngồi trong lô cốt cũng không an toàn, vì rất có thể bị một quả đạn pháo, đạn cối “tỉa” sập, rất có thể một viên đạn súng trường chui qua lỗ châu mai “tỉa” trúng đầu, trúng ngực chết bất thần. Trong khi đó, chiến hào của ta cứ vươn dài, chỉ còn cách địch khoảng một trăm mét. Trận địa đánh lấn càng vào gần, địch càng bắn phá ác liệt. Các chiến sĩ phát huy sáng kiến, bện con cúi bằng rơm to như cây gỗ xẻ. Moi đào đến đâu đẩy con cúi đến đó để đỡ đạn. Cứ thế bộ đội ta vữa dũng cảm vừa kiên nhân đào lấn vào đồn địch, cho đến 31 tháng 3, khi điều kiện đã chín muồi, trung đoàn 36 quyết định tiến công đánh vào cứ điểm 106 - cái cứ điểm cách đây không lâu đã tỏ ra chủ quan, ngạo mạn. Trận đánh thắng lợi nhanh gọn, tên chỉ huy cứ điểm bị bắt sống.

        Sau trận này, Bộ chỉ huy mặt trận cử đồng chí Lê Quang Đạo xuống thăm trung đoàn 36, chuyển lời khen ngợi của Bộ chỉ huy tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ trung đoàn và cùng với trung đoàn rút kinh nghiệm nâng lên thành một cách đánh mới- đánh lấn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 03:54:58 PM

        Danh từ đánh lấn, hay goi là chiến thuật đánh lấn ra đời từ những kinh nghiệm của bắn “tỉa”, kinh nghiệm của những ngày vây lấn để cuối cùng tiến công tiêu diệt cứ điểm 106. Trung đoàn 36 được xem như quê hương của bắn tỉa, đánh lấn.

        Đánh lấn nâng lên chiến thuật đánh lấn được truyền đi rất nhanh, được các đơn vị áp dụng và thu nhiều thắng lợi. Sân bay Mường Thanh bị uy hiếp nghiêm trọng, vì các đơn vị mỗi ngày một lấn tới gần. Địch đã phải than thở “chuyến bay cuối cùng cất cánh ngày 27 tháng 3 năm 1954, kể từ đó quân Pháp ở Điện Biên Phủ chỉ còn tiếp xúc với bên ngoài bằng điện tín và thả dù. Nhưng chỉ mới bước sang ngày đầu tháng 4, việc thả dù lại thêm khó khăn vì phạm vu thả dù bị thu hẹp, cao xạ đối phương hoạt động dữ, phi cơ phải bay cao, các kiện hàng ném xuống theo nguyên tắc 295 tấn một ngày, nhưng chỉ nhận được 175 tấn, phần còn lại đều sang khu vực Việt Minh”..

        Trong tình hình ấy, chúng tôi - những cán bộ phụ trách các đại đoàn bộ binh, các đơn vị công binh, thông tin nhận lệnh về sở chỉ huy mặt trận nhận nhiệm vụ mới - đánh cắt sân bay Mường Thanh, cắt cái dạ dày của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Hôm ấy đồng chí đại tướng Tổng tư lệnh tuy còn mệt nhưng vẫn làm việc rất nhiệt tình, hăng say, chăm chú nghe chúng tôi báo cáo tình hình chiến đấu vừa qua và những dự kiến đánh cắt sân bay theo nhiệm vụ mà đơn vị vừa được giao. Sau cuộc họp kéo dài suốt cả buổi chiều, đồng chí đại tướng mới có thì giờ nói chuyện riêng với từng người…

        Đồng chí đại tướng thân mật hỏi tôi:

        - Cái dạ dày của anh Vũ thế nào? Còn đau nữa không?

        - Báo cáo, từ ngày được bác sĩ Tôn Thất Tùng cắt cái khối u và chỗ loét, được gần sáu tháng rồi, đi lại cũng nhiều mà không thấy có triệu chứng gì.

        - Anh phải viết thư cảm ơn bác sĩ Tùng…

        Buổi trao đổi ý kiến càng trở nên đậm đà, cái chung, cái riêng xen vào nhau, tác động lẫn nhau. Đại tướng cười vui, nói tiếp:

        - Bác sĩ Tùng cắt dạ dày cho anh thì anh khỏe, còn mai đây đại đoàn anh đánh sân bay, “cắt dạ dày” của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ này thì De Castries chết không kịp giãy…

        Qua câu nói với giọng hơi chậm, vì đang mệt, nhưng nét mặt ánh tươi vui, thân mật, đồng chí đại tướng truyền cho tôi niềm tin và trách nhiệm: ta nắm chắc phần thắng rồi, song đòi hỏi người chỉ huy phải suy nghĩ tìm mọi biện pháp giành thắng lợi cao nhất, địch thua nặng mà ta thì thiệt hại ở mức thấp nhất.

        … Giữa tháng 4, các trận địa bao vây của ta từ các hướng bắc, đông, tây, lấn sát vào vòng đai phòng thủ sân bay Mường Thanh, địch càng chống trả quyết liệt. Đêm 18 tháng 4, trong khi đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm 105 ở bắc sân bay, thì trận địa vây lấn của trung đoàn 36 hình thành ba mũi cắm gần sát hàng rào 206- một cứ điểm phía tây sân bay, là nơi địch đón nguồn tiếp tế, tiếp viện từ máy bay thả xuống.

        Trung đoàn 36 bước vào một giai đoạn thử thách mới. Địch phản ứng điên cuồng. Pháo binh địch bắn như đổ đạn. Bộ binh địch chiếm được một đoạn hào của ta khoảng năm mươi mét. Những tên lê- dương bị chỉ huy thúc lưng cố liều mạng dùng xẻng lấp hào định đẩy lùi ta ra xa. Nhưng chúng đã bị chặn lại trước những đường đạn bắn tỉa rất dũng cảm và thông minh của chiến sĩ ta. Đồng chí Đoàn Trần Líp, với khẩu súng trường bắn chín phát hạ chín tên giặc. Đồng chí Trần Đình Hùng bắn một viên đạn ĐKZ hạ một chiếc xe tăng địch, bốc cháy sáng cả trận địa…

        Đêm 19 tháng 4, trung đoàn 88 bước vào trận đánh cắt đôi sân bay Mường Thanh. Tiểu đoàn 23 do Nguyễn Quốc Trị chỉ huy nhanh chóng phá rào dây thép gai tiến vào tận đường băng sân bay đào công sự xây dựng trận địa tiến công thực hành bao vây gần. Một cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt. Pháo địch bắn tới, pháo ta truy lại. Súng trung liên địch từ các cứ điểm 206, 208 lia quét, đạn lửa bay đan chéo nhau, súng cối ta câu đạn truy lại. Trong sân bay các chiến sĩ công binh nằm thành một hành dọc bò dán mình xuống đất thay nhau đánh bộc phá xé những tấm sắt lát mặt đường băng. Một “trận” lao động cực kỳ nguy hiểm và khẩn trương của những con người dũng cảm tuyệt vời. Đào, đào liên tục, mỗi cán bộ, chiến sĩ dốc hết sức lực và trí tuệ vào đôi cánh tay, đào bới mặt đất rắn như sành, khoét lấy một cái hố vừa đủ cho mình nằm lọt tránh đạn; lại đào tiếp cho cái hố sâu thành ngồi, thành đứng được để chiến đấu. Từ các hố cá nhân đó lại đào, đào khẩn trương và liên tục thành những hào nối liền nhau thành trận địa vây, lấn, tiến, diệt hoàn chỉnh.

        6 giờ ngày 20 tháng 4, trời vừa rạng sáng, địch từ khu trung tâm Mường Thanh kéo ra phản kích, chúng khống chế gần hết trận địa mà cả đêm qua trung đoàn 88 mất bao công sức mới lấn được vào trong sân bay. Suốt ngày hôm đó đại đội 211 và 213 phối hợp cùng với hoả lực súng cối và pháo binh, tổ chức nhiều đợt phản xung phong rất dũng cảm; khi đợt xung phong cuối cùng kết thúc vào lúc 17 giờ 30 phút, ta mới khôi phục lại được trận địa.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 03:57:42 PM

        Chúng ta đã thắng, nhưng thế trận vây lấn của ta ở sân bay chưa thật vững chắc. Tình hình đang rất gay go, đang cần phải có mặt của người chỉ huy ở đó để giải quyết những vấn đè phức tạp của cuộc chiến đấu đang đặt ra.

        Tôi gọi điện cho đồng chí trung đoàn trưởng Nam Hà:

        - Mười lăm phút nữa tôi sẽ xuống chỗ đồng chí để cùng ra kiểm tra trận địa cắt sân bay.

        Ngập ngừng một lát, tôi mới nghe tiếng đồng chí Nam Hà từ đầu day bên kia nói lại:

        - Báo cáo đại đoàn trưởng tình hình đang rất căng, địch ở phía nam sân bay vẫn đang bắn xối xả vào trận địa ta. Có gì cần đại đoàn cứ chỉ thị, tôi ra đấy ngay bây giờ.

        - Chưa nhìn tận nơi, chưa thấy chưa nghe thì chỉ thị cái gì?

        - Nhưng tình hình lúc này chưa an toàn.

        - Tôi cần kiểm tra trận địa. Đồng chí chờ tôi mười lăm phút nữa ta cùng đi.

        Từ sở chỉ huy trung đoàn 88 ra trận địa sân bay khoảng một kilômét, đường hào cắt qua cánh đồng. Trời mưa liên miên đã từ mấy tuần nay, đường hào bùn lão nhão, ở những đoạn trũng phải lội bùn ngập đến ngang ống chân. Người đi, người lại tấp nập ai cũng xắn quần ngang đùi, chân đất, một tay chống gậy còn tay kia sằn sàng bám lấy thành hào đề phòng trơn chân, trượt ngã. Đường đi cứ theo dọc con hào, nhiều quãng do tát nước vét bùn, vét mãi mà đáy hào tụt sâu xuống, người đi phải ngẩng đầu lên mới thấy trời. Rẽ vào các nhánh hào ngang là chỗ ở, mỗi nhánh đều có tên riêng, chiến sĩ ta gọi là “phố”; “phố Hoàn Kiếm, Đông Xuân, Tràng Tiền, Cửa Nam…”. Đây là đoạn hào do trung đoàn Thủ đô đào, nên toàn mang tên phố của Hà Nội. Đến đoạn hào tiếp theo thì các “phố” mang tên Lũng Phầy, Bản Trại, Thanh Vân, Yên Châu… tên những chiến công của trung đoàn 88. Chúng tôi rẽ vào một “phố”. Đường hào ở các nhánh ngang được vét sạch bùn, hai bên vách hào chiến sĩ ta moi hầm ếch trải vải dù làm đệm nằm. Đấy là “nhà” ở. Đến đoạn đường hào bị lấp, chúng tôi gặp đồng chí Nguyễn Quốc Trị, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 23 đang cùng các đại đội trưởng sôi nổi bàn đào lại đoạn hào này. Đồng chí Nguyễn Quốc Trị dẫn đoàn kiểm tra ra trận địa cắt sân bay, đến tận mút đường hào. Đứng trên trận địa vây lấn nằm giữa hai cứ điểm 206 và 208, tôi đưa mắt nhìn gần đến xa, khắp bốn phía, cố quan sát kỹ, sợ mình bỏ sót, cũng vẫn chỉ thấy có hai đường nhánh “râu tôm” cụt ngủn.

        - Phải chăng đầu mối của vấn đề là đây?- Tôi tự hỏi mình như vậy.

        Câu hỏi nêu lên chưa thể trả lời ngay được. Tôi tiếp tục nghe các đồng chí tiểu đoàn 23 báo cáo diễn biến các trận đánh trong ngày. Cũng như trung đoàn 36 đánh lấn cứ điểm 106 thắng lợi, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 88 hôm nay đã đánh một trận thật xuất sắc, góp phần xiết chặt vòng vây, uy hiếp mạnh mẽ khu trung tâm Mường Thanh. Chiến công của các đồng chí sẽ sống mãi với thời gian.

        Nhưng trách nhiệm của người chỉ huy xuống kiếm tra đâu phải chỉ có thăm hỏi, động viên, mà phải cắt nghĩa được nguyên nhân ưu điểm, nguyên nhân khuyết điểm, phải giải đáp đầy đủ vì sao thắng và vì sao không thắng một cách rõ ràng, không cần dài dòng, ngắn thôi nhưng thiết thực. Nghĩ như thế, đồng thời qua những điều mắt thấy tai nghe, tôi góp ý với anh em và cũng là tự phê bình mình:

        - Cả ngày hôm nay trận địa lúc mất lúc còn. Các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng tổ chức trận địa phòng ngự thế này là khuyết điểm to.

        Đồng chí Nguyễn Quốc Trị trình bày:

        - Báo cáo đại đoàn trưởng, suốt đêm qua anh em đào, vét rất vất vả, nhưng vì đất rắn quá…

        Tôi nói xen vào:

        - Khuyết điểm của các đồng chí cũng là khuyết điểm của tôi.

        Suy cho cùng khuyết điểm của chiến sĩ là do khuyết điểm của cán bộ. Thiếu sót của cấp dưới, trên có phần trách nhiệm. Lệnh cho dưới phải cắt sân bay địch, nhưng tổ chức cắt như thế nào thì đại đoàn chưa hướng dẫn cụ thể, chưa có những quy định nghiêm ngặt về xây dựng  trận địa. Chỉ lo cắt mà không có kế hoạch giữ thì cắt nhiều cũng vô ích. Cắt đến đâu phải lo giữ đến đó - lo xây dựng trận địa phòng thủ vững chắc. Nền đất sân bay rắn, cứng là tất nhiên, thế thì tham làm gì. Cắt ngắn thôi, cắt từng bước rồi lấn dần; cắt đến đâu đào hào chiến đấu tới đó. Từng đoạn hào phải có các nhánh “râu tôm”, rồi nối ngang các đoạn “râu tôm” đó lại, như vậy ta sẽ có nhiều trục đường, nhiều đoạn hào, nhiều trận địa, tiện cơ động đánh địch. Nếu chỉ đào một đường như cái đầu dùi trơ trọi như trận địa này thì rõ ràng là không bảo đảm được tính vững chắc, cơ động - là những yêu cầu rất cơ bản của một trận địa phòng ngự. Chính vì lẽ đó mà trận địa cắt sân bay của tiểu đoàn 23 mất đi mất lại nhiều lần trong ngày, mặc dầu cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn đã chiến đấu rất dũng cảm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:00:50 PM

        … Vào thời điểm này, Bộ chỉ huy đại đoàn nhận định: đánh chiếm cứ điểm 206 là giáng một đòn nặng nề vào tinh thần quân địch. Vì mất 206, sân bay của chúng bị cắt, càng đẩy chúng vào thế tuyệt vọng. Nhưng ta không thể vì thế mà vội vàng, chuẩn bị không tốt, thiếu cụ thể. Trái lại phải kiên trì biện pháp đánh lấn, phải đưa trận địa tiến công vào sát địch, để khỏi bị phơi mình trước hoả lực địch. Tuy nhiên lại không được vin vào “đánh chắc, tiến chắc” mà kéo dài thời gian chuẩn bị, thiếu tích cực, khẩn trương, để mất thời cơ. Đồng chí đại đoàn phó Cao Văn Khánh và các phái viên mặt trận xuống trung đoàn 36 kiểm tra, góp ý kiến cụ thể trong quá trình chuẩn bị… Xét thấy các điều kiện đã chín muồi, đại đoàn phát lệnh tiến công.

        Đêm 22 tháng 4, chấp hành mệnh lệnh của đại đoàn trung đoàn 36 hoàn chỉnh chiến thuật đánh lấn bằng biện pháp kỹ thuật đào hầm “dũi” (đào hầm ngầm dưới đất) rất điêu luyện, đã tiêu diệt nhanh và rất “êm” cứ điểm 206, khiến De Castries mãi sau khi bị bắt làm tù binh vẫn còn thắc mắc về thất bại này. De Castries khai với cán bộ ta đến hỏi cung hắn: “Cho đến sáng 23 tháng 4, tôi chỉ có thể đoán rằng cái Huy- ghét 1 (tức cứ điểm 206) đã bị mất vào lúc nửa đêm gì đó. Không hiểu nó đã mất như thế nào. Không phải là một cuộc đầu hàng, tôi chắc thế. Nhưng các ông đã đánh bằng chiến thuật gì rất lạ!…”.

        Trận địa vây lấn của các đơn vị thuộc đại đoàn có cao xạ pháo yểm hộ kẹp sát vào hai bên sườn sân bay Mường Thanh, sau khi trung đoàn 36 diệt cứ điểm 206. Nhưng cũng vào thời điểm này, trận địa sân bay trở nên sôi động. Sáng 23 tháng 4, tướng ba sao Cô- nhi, tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở bắc Đông Dương huy động một lực lượng lớn máy bay khu trục ném xuống khu vực sân bay Mường Thanh 600 quả bom. Chưa có trận ném bom nào dữ dội như vậy kể tù khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Đoạn đường băng giữa sân bay, qua hơn một tháng bị ta bắn pháo, ngổn ngang những xác máy bay cháy, những tấm sắt lát mặt đường băng bị lật cong lên, han gỉ nằm ngổn ngang, qua trận bom sáng nay biến dạng hẳn. Những hố bom sâu hoắm, những đống đất ùn lên, những tấm sắt bị xé toác ra, dựng ngược, v.v… Tiếp theo là những trận phản kích điên cuồng, tuyệt vọng vẫn do Bigeard chỉ huy đang tiến gần đến trận địa của đại đội 213 ở giữa đường băng trong sân bay.

        Đại đội 213 do đồng chí đại đội trưởng Mai Viết Thiềng và chính trị viên Hữu Hiệp chỉ huy đã được thử thách nhiều qua các trận phòng ngự ở đồi Độc Lập, ở Bản Tén, v.v… giờ đây đang đương đầu lần thứ hai với đội quân phản kích Bigeard ngay tại sân bay này. Nếu đại đội 213 ghìm được quân Bigeard lại, tiêu hao một phần sinh lực của nó là tạo điều kiện cho trung đoàn chuẩn bị kỹ để mở đợt phản xung phong dự định vào lúc 15 giờ.

        Từ sở chỉ huy đại đoàn, tôi gọi điện thẳng xuống đại đội 213, lệnh cho đồng chí đại đội trưởng phải tổ chức chiến đấu thật linh hoạt nhưng phải đảm bảo ghìm địch.

        Tôi nói chưa hết, đầu dây bên kia, đồng chí đại đội trưởng đại đội 213 đã sôi nổi nói rất to như sợ tôi nghe không rõ:

        - Báo cáo đại đoàn trưởng, chúng tôi đang tổ chức đánh bật nó ra… nhất định… nhất định thực hiện được…

        - Phải tổ chức bắn tỉa cho tốt. Phải giữ lực lượng đánh liên tục. Ai không bắn tỉa phải ngồi trong hầm tránh pháo. Cán bộ luân phiên nhau đi kiểm tra trận địa. Cố ghim địch đến 15 giờ là thắng lợi.

        - Rõ! Chúng tôi quyết tâm thực hiện bằng được lệnh của đại đoàn trưởng.

        Tôi định dặn thêm đồng chí Thiềng cố tránh thương vong vô ích, thì đồng chí Thái Dũng đến xin tranh thủ nói chuyện với đồng chí Hữu Hiệp. Họ là hai anh em ruột sinh ra và lớn lên ở thị xã Cao Bằng, cùng chiến đấu với nhau từ hồi thành lập trung đoàn 88. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy mặt trận điều đồng chí Thái Dững lên làm phái viên tham mưu mặt trận, hôm nay đồng chí về công tác ở đại đoàn. Đã năm sáu, tháng nay, hai người chưa được gặp nhau, bây giờ họ gặp nhau trong một tình huống bất ngờ thật đẹp, trong chiến thắng và cũng rất khẩn trương, ác liệt.

        Tôi nhường máy cho Thái Dũng nói;

        - Anh đây! Thái Dũng đây… ừ phái viên mặt trận… Hiệp này, 213 của chú đánh mấy ngày hôm nay anh vẫn theo dõi chặt… ừ tốt lắm. Cả mặt trận đang theo dõi 213 đấy. Cố gắng đánh tốt nhé… đúng rồi, nhất định quét hết…

        Không hiểu đầu dây bên kia Hữu Hiệp nói gì, chỉ nhìn nét mặt vui của đồng chí Thái Dũng là tôi hiểu anh em hết sức ý hợp tâm đầu, càng mang lại trong tôi một niềm phấn hứng, tin tưởng; và hôm đó ta đã thắng lớn, hoàn toàn cắt được sân bay Mường Thanh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2016, 04:02:29 PM

        … Ở Điện Biên Phủ về cuối tháng 4 ngày nào cũng mưa lớn, bầu trời nặng trĩu những đám mây xám xịt. Cả cánh đồng Mường Thanh, nhìn đâu cũng thấy bùn và nước. Nước tràn xuống các đường hào trận địa, nhưng đường hào của ta vẫn cứ vươn dài ra. Toàn mặt trận nô nức chuẩn bị bước sang đợt ba chiến dịch được bắt đầu từ một ngày mang ý nghĩa quốc tế- Ngày 1 tháng 5.

        Trong đợt này, đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ tiêu diệt ba cứ điểm 310, 311A và 311B ở ngay mạng sườn phía tây của khu trung tâm, trong khi các đại đoàn bạn tiêu diệt các cao điểm còn lại của địch ở dãy đồi phía đông. Tất cả những trận đánh này nhằm bóc hết cả hai mạng sườn địch, khiến chúng phải phơi bày ruột gan ra, và tất cả phải hoàn thành trong đêm 6 tháng 5, để hôm sau toàn bộ mặt trận chuyển sang tổng công kích, kết thúc nhiệm vụ lịch sử của chiến dịch này.

        Đây là một tính toán rất khoa học và rất chính xác của Bộ chỉ huy mặt trận.

        Đây là mệnh lệnh thật nghiêm túc, đòi hỏi mọi người phải triệt để chấp hành, chấp hành không điều kiện; chỉ được bàn tới, không được bàn lùi.

        Ba tiếng Tổng công kích có sức thôi thúc lạ thường đối với chúng tôi. Còn ai nghĩ đến gội mưa tắm bừa nữa? Còn ai nghĩ đến khó khăn này, nguy hiểm nọ nữa? Không, tất cả chúng tôi, tất cả cán bộ, chiến sĩ đại đoàn Quân Tiên Phong chỉ nghĩ đến vinh dự, đến trách nhiệm, đến thắng lợi hoàn toàn của chiến dịch, thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953- 1954. Công tác chuẩn bị cho trận thử thách cuối cùng ở thung lũng Điện Biên Phủ thật là khẩn trương, ngày đêm bận rộn, ăn không ngon, quá bữa cũng chẳng thấy đói, vì ai nấy còn thấy việc này chưa xong, việc kia đã tới; vì dòng suy nghĩ của mình đang tiếp tục tìm một biện pháp, một kế hoạch cho trận thắng sắp tới mà mình được cấp trên vừa giao.

        Lại nữa, mặt trận đấu tranh ngoại giao đang đòi hỏi một chiến thắng quân sự thực sự vang dội, tốt nhất là ở ngay Điện Biên Phủ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1954 phải thắng, vì ngày 8 tháng 5 năm 1954 phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẽ bước vào hội nghị quốc tế về Đông Dương họp ở Giơ- ne- vơ… Kẻ thù của chúng ta sẽ không nhượng bộ trên bàn hội nghị nếu chúng ta không giành thắng lợi quân sự trên chiến trường.

        Sự thôi thúc, giục giã đối với chúng tôi là cụ thể. Đòi hỏi chúng tôi đáp lại cũng phải thật cụ thể. Không thể chung chung, vì chung chung là đồng nghĩa với hỏng việc, mất thời cơ, là thất bại.

        Đêm 30 tháng 4 trận địa đánh lấn của trung đoàn 36 đã phát triển cách hàng rào cứ điểm 311B khoảng năm chục mét. Trận địa vây lấn của trung đoàn 88 cũng cách cứ điểm 311A một khoảng tương tự.

        Trong đợt ba của chiến dịch, chiến thuật đánh lấn đã được đại đoàn hoàn chỉnh thêm một bước qua rút kinh nghiệm các trận thắng địch ở 206; ở quanh sân bay Mường Thanh và trên cả đường băng của sân bay này, theo những nguyên tắc kết hợp tích cực:

        - Đưa hoả lực vào gần, dùng pháo 75mm, ĐKZ tiêu huỷ công sự địch ở các hướng đột phá;

        - Đồng thời tổ chức cho xung kích bí mật gỡ mìn, cắt rào, rồi nhanh chóng xung phong vượt qua cửa mở, tiến vào diệt các mục tiêu còn lại trong cứ điểm.

        Cắt rào trong chiến thuật vây lấn ở Điện Biên Phủ hoàn toàn khác với động tác cắt rào trong chiến thuật công kiên trong các chiến dịch Trung Du, Hà- Nam- Ninh, Tây Bắc mà đại đoàn đã thực hành. Ở đây ta cắt, địch đánh ra rào lại. Nhưng ta tìm cách không cho chúng rào lại. Ở những lớp rào ngoài cùng, cắt đoạn nào ta cuộn lại quăng ra xa (để địch không có dây thép gai rào lại). Đến lớp rào cuối cùng, cắt xong ta mắc lại như cũ để một là làm cho địch tưởng ta chưa cắt hết, chưa mở xong đường đột phá: hai là, không mở sẵn lối cho địch ra rào lại những đoạn ngoài bị ta cắt đứt.

        Đợt ba chiến dịch diễn ra thật nhịp nhàng.

        Đêm 1 tháng 5 là đêm Hội chiến thắng.

        Đêm nay khi các đại đoàn 312, 316 nổ súng tiến công các cứ điểm đồi C1, 505A, 505B ở khu đông Mường Thanh và đồi C khu Hồng Cúm, thì ở phía tây, đại đoàn 308 cũng có những hoạt động phối hợp đúng lúc: đêm mồng 1 tháng 5, trung đoàn 88 diệt cứ điểm 311A; và đêm mồng 2 tháng 5, trung đoàn 36 diệt cứ điểm 311B; và đêm 6 tháng 5, trung đoàn 102 diệt cứ điểm 310, hoàn thành việc “đánh bóc sườn” phía tây. Trận địa vây lấn của đại đoàn chỉ còn cách sở chỉ huy của tướng De Castries khoảng 400 mét.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:33:41 PM

        Với những trận đánh trong đêm 6 tháng 5, các cánh quân ta ở phía đông và phía tây đã hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn vây lấn, bề ngang trận địa địch bị ép chặt chỉ còn khoảng bảy, tám trăm mét. Và cũng đêm nay ta dã khoá được bầu trời Điện Biên Phủ, triệt nguồn tiếp tế độc nhất của địch từ trên máy bay thả xuống.

        Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 5, một đêm chúng tôi thao thức, hồi hộp chờ đón cái giờ phút phải đến sẽ đến. Trên tấm bản đồ căng ở vách hầm, đồng chí Vũ Yên, tham mưu trưởng đại đoàn, căn cứ vào quyết tâm của Bộ chỉ huy, đã vạch 3 mũi tên đỏ thể hiện ba mũi tham gia Tổng công kích của đại đoàn 308 nhằm vào khu vực trung tâm Mường Thanh: mũi thứ nhất từ cứ điểm 311B, mũi thứ hai từ cứ điểm 310, mũi thứ ba từ Nà Noọng đánh sang. Các bàn đạp tiến công lý tưởng này, đã có đủ hầm hào để bố trí các loại hoả lực, kể cả pháo 75 mm, chỉ cách tuyến phòng ngự ngoài cùng của trung tâm Mường Thanh hơn hai trăm mét, cách hầm De Castries năm, sáu trăm mét…

        21 giờ ngày 6 tháng 5 1954, tiếng nổ của một tấn thuốc nổ TNT do công binh đào đường ngầm đặt giữa đồi A1 được coi là hiệu lệnh Tổng công kích.

        Sáng ngày 7 tháng 5, vòng vây của ta xiết chặt, địch hết đường giãy giụa. Ta thực sự đã Tổng công kích- một trận Tổng công kích diễn ra rất “êm” nhưng thắng lợi thật giòn giã, thật to lớn.

        … 15 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5, trung đoàn 209 (đại đoàn 312) đánh chiếm cứ điểm 507, đang phát triển thuận lợi về phía cầu Mường Thanh.

        16 giờ, trên trận địa địch xuất hiện những lá cờ trắng, mới đầu lác đác, sau lan ra rất nhanh hàng trăm, hàng nghìn, đủ kiểu chờ hàng. Binh lính địch dùng tất cả những thứ gì có màu trắng- dù chỉ nhờ chờ để làm cờ báo hiệu đầu hàng. Khăn mặt, khăn mùi- xoa, áo may- ô, áo lót, mảnh dù, v.v… Có cái buộc vào gậy vào que giơ cao phất lia lịa; có cái từ dưới chiến hào ném ra vắt lên hàng rào thép gai; có những cái áo, cái khăn không có gậy làm cán cờ thì chúng tung lên cao rơi xuống rồi bắt lấy, lại tung lên, miễn là để ta thừa nhận là chúng đầu hàng.

        17 giờ ngày 7 tháng 5, đại đoàn nhận được điện của Bộ chỉ huy mặt trận giao cho 308 tiếp quản tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với nhiệm vụ tiếp tục truy quét tàn quân địch, nhanh chóng ổn định để đón đồng bào về kịp sản xuất vụ mùa…

        Ngược đường đi vào Mường Thanh, chúng tôi bắt gặp binh lính, sĩ quan địch vác cờ trắng xếp hàn hai, hàng ba kéo ra hàng, với thân hình tiều tuỵ, quần áo rách bươm, mặt mũi hốc hác xanh gầy, chán nản nhưng tên nào cũng tỏ rõ một niềm vui- thoát chết…

        Tình hình biến chuyển thật mau lẹ. Một tháng sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, tất cả các đại đoàn tham gia chiến dịch đã có mặt ở quanh vùng châu thổ sông Hông, tạo áp lực uy hiếp địch để quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu.

        Suốt tháng 7, đại đoàn được lệnh mở một đợt hoạt động mạnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nhằm uy hiếp địch ở Hà Nội, thu hút quân cơ động của chúng lên đường số 13 và số 18 càng nhiều càng tốt, tạo điều kiện cho quân và dân đồng bằng mở rộng vùng giải phóng. Đại đoàn đã phố hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh bao vây, đánh lấn, bắn tỉa quân địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, đẩy địch càng bị động đối phó. Hơn 30 vị trí địch bị bao vây, đánh lấn, con đường số 13 trở nên vắng lặng, quân địch hoang mang, kêu thiếu nước, thiếu lương thực, v.v…

        Trong lúc trung đoàn 88 gấp rút chuẩn bị tiêu diệt cứ điểm Thái Đào; trung đoàn 36 và 102 đang bao vây tiến công thị xã Bắc Giang… với không khí sôi nổi, khẩn trương, thì đại đoàn nhận được lệnh ngừng bắn. Với nhiều đơn vị khác, có lẽ lệnh này đã đến rất đột ngột, ngoài dự đoán của mọi người. Còn đối với đại đoàn 308 thì được coi như đã biết trước. Thật vậy, từ cuối tháng 6 sau khi ở Điện Biên Phủ trở về, một số đơn vị của đại đoàn được giao nhiệm vụ sửa chữa lại đường số 3- đoạn từ Thái Nguyên- Đa Phúc- Trung Giã. Đây là đoạn đường sắp tới sẽ có một phái đoàn quân sự của ta hàng ngày đáp xe từ Thái Nguyên xuống Trung Giã họp với phái đoàn quân sự Pháp thảo luận về những điều khoản ngừng bắn…

        Đang phục vụ cho một công việc ngày mai sẽ có hoà bình, ngày mai chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam, thì đại đoàn nhận lệnh xuống Bắc Giang hoạt động.

        Thật là tuyệt vời tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ đại đoàn Quân Tiên Phong, vì thắng lợi của Tổ quốc, đã vui vẻ lên đường. Ngày mai sẽ có ngừng bắn, hôm nay đại đoàn vẫn tiến công cứ điểm Thái Đào, vẫn vây hãm thị xã Bắc Giang, v.v… mặc dầu biết rằng sau trận đánh sẽ có hy sinh, mất mát.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:37:58 PM

        Lệnh ngừng bắn đến với đại đoàn không có gì là đột ngột. Nhưng phút đầu tiên nhận được lệnh này không ai ghìm nổi niềm vui sướng. Vẫn biết cái ngày chiến thắng đó phải đến, nhưng khi đến rồi lại xúc động không nói nên lời. Tất cả cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn Quân Tiên Phong luôn luôn hướng về Đảng, về Bác Hồ, tin tưởng ở người chèo lái vĩ đại đưa con thuyền kháng chiến Việt Nam tới bến chiến thắng vinh quang. Giờ đây- giờ phút vinh quang áy đã đến. Tất cả mọi người trong giờ phút đầu tiên của ngày chiến thắng- ngày hoà bình này lại nghĩ ngay đến Đảng vĩ đại, đến Bác Hồ kính yêu. Chiến công này trước hết thuộc về Đảng và Bác Hồ. Đảng và Bác đã dẫn dắt nhân dân ta, đã bồi dưỡng và giáo dục quân đội trong đó có đại đoàn 308 chúng ta chiến đấu và chiến thắng. Cả đại đoàn trong những ngày này đều tưởng nhớ những đồng đội của mình đã hy sinh anh dũng trên các nẻo đường chiến đấu - ở mặt trận Hà Nội, mặt trận Biên Giới, mặt trận Trung Du, mặt trận Đồng Bằng, mặt trận Tây Bắc, mặt trận Điện Biên Phủ và mặt trận đường số 13 - Bắc Giang mới đây. Các đồng chí đã hiến dâng cả đời mình cho truyền thống đại đoàn Quân Tiên Phong, cho truyền thống Quân đội nhân dân, cho sự nghiệp thắng lợi hôm nay của dân tộc.

        Đại đoàn thu quân và cùng với nhân dân vùng trung du- Bắc Giang dựng cổng chào, dựng cờ kết hoa, tấp nập như ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công…

        Ngày về chiến thắng

        Tháng Tám năm 1954, lại một vinh dự lớn nữa đến với chúng tôi, Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ trao cho đại đoàn 308 nhiệm vụ vẻ vang, tiến về tiếp quản Thủ đô.

        Nói sao cho hết niềm vui sướng này? Vui sướng nhất, cảm động nhất là những đồng chí từng chiến đấu ở Hà Nội những ngày đầu kháng chiến, rồi từ Hà Nội ra đi với lời nguyền “ta thề Thủ đô chiến thắng quân thù”. Những đồng chí chưa từng đến Hà Nội bao giờ cũng đều tha thiết với Hà Nội, đều náo nức với “ngày về”; về nơi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nơi Người phát lệnh “Toàn quốc kháng chiến” và khẳng định kháng chiến nhất định thắng lợi.

        Nhưng tiếp quả một thành phố hàng chục vạn dân, một nơi mà trong nhiều năm qua bọn xâm lược Pháp đã lấy làm trung tâm chống phá cách mạng thì đâu phải chỉ là một cuộc tiến quân về trong cờ hoa muôn sắc, kèn trống tưng bừng.

        Từ tháng sau, tháng bảy, trong khi hội nghị Giơ- ne- vơ đang tiến triển còn chưa ngã ngũ, bọn đế quốc Pháp- Mỹ đã thúc đẩy các đảng phái chính trị phản động do chúng nặn ra, tiến hành hoạt động chống phá. Giữa tháng 7, tại Hà Nội, bọn Việt gian hô hào “quốc dân bình tĩnh”, chúng tung dư luận xảo trá “Việt Minh chia cắt đất nước, nhường Nam Việt cho Pháp để độc chiếm Bắc Việt”; chúng nặn ra cái gọi là “Uỷ ban bảo vệ Bắc Việt” và cái “trung đoàn thủ đô” để tập hợp lực lượng phản động. Tuy nhiên, trò hề chỉ là trò hề, những cái gọi là “Uỷ ban” và “trung đoàn” ấy không sống được mấy ngày trước không khí tràn đầy phấn khởi của đông đảo nhân dân Hà Nội đang từng ngày từng giờ mong ngóng “ngày về” của quân đội cách mạng, chiến đấu vì sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.

        Cũng từ tháng 7, ở Hà Nội mọc lên những “trại di cư”. Cả bọn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng thống nhất với nhau trong âm mưu cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam. Báo chí của bọn Việt gian lại một dịp làm chiến tranh tâm lý, đưa ra luận điệu “Không thể sống được với cộng sản”. Kẻ địch ráo riết thực hiện âm mưu trao trả chúng ta một Hà Nội tan hoang, xơ xác, rỗng tuếch, một Hà Nội với đầy cạm bẫy của chúng gài lại.

        Như vậy việc tiếp quản Hà Nội là một cuộc đấu tranh rất phức tạp trên nhiều mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế và phải có sự phòng bị về quân sự. Cuộc đấu tranh ấy không chỉ diễn ra khi ta đến, địch đi, mà từ ngày địch cuón gói từng bước; và một khi ta đến, phải tạo ngay được một không khí mới tin tưởng phấn khởi, vui tươi, xua tan những lo âu, mặc cảm. Trách nhiệm nặng nề đó, Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho quân đội. Chính vì thế mà Hồ Chủ tịch đã viết “Mấy lời căn dặn các đơn vị bộ đội vào thành”. Người dạy:

        “Suốt tám năm kháng chiến, các chú đã làm kiểu mẫu anh dũng, do đó mà chúng ta đã thắng lợi. Nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để giành lấy thắng lợi trong hoà bình”.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:39:35 PM

        Riêng đối với đại đoàn 308, Hồ Chủ tịch triệu tập cán bộ từ đại đội trở lên, đến Đất tổ, giành cho một giờ học tập mà sử sách còn ghi mãi mãi.

        Tôi không được vinh dự có mặt trong buổi nghe Người chỉ giáo hôm đó vì đang cùng với các đồng chí Trần Quốc Hoàn, uỷ viên Trung ương Đảng, bí thư Đảng uỷ tiếp quản Thủ đô, Nguyễn Văn Trân về gần Hà Nội nắm tình hình và tham gia chỉ đạo nhân dân đấu tranh. Khi về tôi được nghe đồng chí Song Hào, chính uỷ đại đoàn và các đồng chí trong phòng chính trị kể lại rất tỉ mỉ.

        … Bác Hồ hồng hào khỏe mạnh lắm, trời thu lành lạnh mà vẫn phong phanh trong bộ quần áo phin màu nâu. Bác gặp cán bộ của đại đoàn ở sân Đền Giếng, dưới chân núi Nghĩa Lĩnh. Bác hỏi thăm “Các chú có mệt không?” rồi chỉ lên núi, phía Đền Thượng, thân mật hỏi:

        - Các chú có biết đây là nơi nào không?

        - Thưa Bắc, đây là Đền Hùng.

        - Đúng, đền thờ vua Hùng- tổ tiên chúng ta. Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa các vua Hùng dựng nước, nay Bác cháu ta là những người giành lại đất nước. Cá vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô. Tám chín năm nay do quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự rất lớn.

        Bác nói về âm mưu và cuộc đấu tranh hiện nay của nhân dân Hà Nội cũng như ở các vung địch đang chuẩn bị rút; về sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với nhiệm vụ lần này của đại đoàn 308. Bác ân cần căn dặn: Khi vào tiếp quản Thủ đô, các chú phải hết sức đề phòng những âm mưu mà kẻ thù của hoà bình sẽ dùng để phá hoại hàng ngũ chúng ta. Các chú phải luôn luôn giữ gìn phẩm chất cách mạng, cán bộ sống gương mẫu, giản dị, bộ đội phải kỷ luật nghiêm minh. Nếu ai cũng giữ vững lập trường cách mạng và làm đúng chính sách thì không sợ một kẻ thù nào cả. Quân đội ta không được vì hoà bình mà lơi tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam, còn đế quốc trên thế giới thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ…

        Khi kết thúc buổi nói chuyện, Bác nhấn mạnh: Chính phủ đã đề ra mười điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác khi vào thành phố mới giải phóng. Bác mong bộ đội nghiêm chỉnh chấp hành, phải gương mẫu đúng đắn. Được không? Anh em ta đứng dậy hứa với Bác hoàn thành nhiệm vụ và chúc Bác khỏe, sống lâu. Bác tươi cười hiền hậu đáp lại: Được, muốn Bác vui khỏe sống lâu, các chú hãy làm đúng những lời Bác căn dặn. Bộ đội vỗ tay ran ran tiễn Bác.

        Trước khi lên xe, Bác quay lại vẫy tay chào tạm biệt…

        Một cuộc họp Đảng uỷ đại đoàn được triệu tập bàn việc lãnh đạo bộ đội chấp hành chỉ thị của Bác Hồ về công tác tiếp quản Thủ đô. Cũng trong cuộc họp này, Đảng uỷ đã dành thời gian rút kinh nghiệm các lần tiếp quản trước đo để làm tốt hơn nữa khi vào Thủ đô lần này.

        Chúng tôi không mấy ai quên những khuyết điểm đã mắc khi tiến vào giải phóng thị trấn Thất Khê hồi chiến dịch Biên Giới thu đông năm 1950. Hồi đó qua mười ngày liên tục vận động đánh viện binh địch ở vùnh Khau Luông- Cốc Xá, bộ đội thấm mệt, khi tiến về Thất Khê bắt gặp một thung lũng đẹp, có cánh đồng thoáng rộng, có nước suối trong, có phố xá buôn bán sầm uất, hàng hoá, thực phẩm nhiều, mọi người nảy sinh tư tưởng nghỉ xả hơi. Lúc này tuy địch đã rút chạy, nhưng trong thị trấn còn nhiều việc cần giải quyết: tiếp tục truy quét tàn quân địch, giữ gìn trật tự an ninh, tuyên truyền giải thích chính sách, tổ chức nhân dân mau chóng trở lại làm ăn bình thường, nhưng phải sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu địch. Tình hình khẩn trương đó đòi hỏi bộ đội phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững kỷ luật vùng giải phóng, phải thể hiện phong thái đàng hoàng, chững chạc của một đội quân cách mạng, thì một số cán bộ, chiến sĩ đã mắc sai lầm, kỷ luật không nghiêm, lơ là với nhiệm vụ tuyên truyền,giáo dục và tổ chức quần chúng sẵn sàng chiến đấu và trở lại làm ăn bình thường; chấp hành chính sách chiến lợi phẩm không tốt. Tất cả đều do lãnh đạo buông lỏng, gây nên ảnh hưởng xấu.

        Tất nhiên những thiếu sót ấy đã được kịp thời ngăn chặn. Những ai vi phạm kỷ luật đều bị nghiêm trị, và sau đó các mặt công tác tiếp quản được tiến hành chu đáo. Nhưng chúng tôi vẫn coi đây là một lần không hoàn thành nhiệm vụ, một thất bại, phẩm chất của quân đội cách mạng bị vi phạm nghiêm trọng. Những bài học rút ra từ “vụ thất bại tiếp quản Thất Khê” được đem ra giáo dục cho tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn. Nhờ đó, qua các chiến dịch tiếp theo, xuống trung du, về đồng bằng, lên Tây Bắc, sang Thượng Lào, ai nấy đều cố gắng tẩy rửa “tiếng xấu” đó, duy trì kỷ luật chiến trường thật nghiêm, cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ gương mẫu trước chiến sĩ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:41:11 PM

        Do đó đến khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, đại đoàn 308 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp quản tập đoàn cứ điểm này, góp phần nhanh chóng trả lại màu xanh cho cánh đồng Mường Thanh.

        Chúng tôi đã có một số kinh nghiệm tiếp quản.

        Nhưng nhiệm vụ tiếp quản Hà Nội lại khác hẳn. Một mặt phải đề phòng âm mưu tráo trở và mọi hành động phá hoại của kẻ địch, bảo vệ tài sản của Nhà nước cũng như tính mạng và tài sản của nhân dân. Mặt khác phải mang về Thủ đô một luồng không khí phấn khởi tự hào với chiến thắng của dân tộc; một tinh thần đoàn kết, cách mạng; một phong cách sinh hoạt văn minh, lành mạnh, xua tan những uế khí của một thành phố đông dân đã qua nhiều năm bị địch sử dụng làm một trung tâm chống phá cách mạng, một nơi ăn chơi truỵ lạc phục vụ cho quân đội viễn chinh của chúng.

        Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn xác định đây là một cuộc chiến đấu hết sức phức tạp giữa cách mạng và phản cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, ta quyết thắng và phải thẳng trọn vẹn.

        Toàn đại đoàn phấn khởi triển khai thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này với một tinh thần khẩn trương, nghiêm túc và rất cụ thể.

        Cơ quan tham mưu cử cán bộ đi trước, cùng với các đội công tác của Chính phủ vào thành phố nghiên cứu các cơ quan, công sở, nhà máy mà ta sẽ tiếp nhận, đồng thời nắm tình hình mọi mặt để đặt kế hoạch cho bộ đội tiến vào tiếp quản Thủ đô, luôn luôn giữ vững thế chủ động.

        Cơ quan hậu cần lo chuẩn bị vật chất từ gạo củi, thức ăn đến các nhu cầu lặt vặt khác, đảm bảo cho hàng vạn con người trong một tháng không phải ra mua ở ngoài phố, ngoài chợ.

        Cơ quan chính trị soạn thảo các tài liệu, in các điều quy định, các chính sách vùng mới giải phóng của Chính phủ để giáo dục sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần và động viên nhắc nhở bộ đội nghiêm chỉnh chấp hành. Công tác giáo dục tiến hành liên tục gần một tháng gồm nhiều nội dung: từ những vấn đề xây dựng quan điểm lập trường, phẩm chất đạo đức của ngườ quân nhân cách mạng, đến việc hướng dẫn bộ đội nhữg điều cụ thể trong sinh hoạt ở thành phố, v.v…

        Trong khi theo dõi công tác giáo dục bộ đội, tôi đã đọc và nhớ mãi một đoạn trong tài liệu giáo dục nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ đề cao cảnh giác, tích cực rèn luyện giữ vững phẩm chất cách mạng: “Trong chiến tranh anh đã anh dũng xông pha lửa đạn, không ngã trước viên đạn bằng đồng, nhưng hãy cẩn thận trong hoà bình, nếu không giữ được phẩm chất cách mạng, anh có thể “chết” vì những viên đạn bọc đường. Trước kẻ thù hung dữ, trang bị đến tận răng, anh có thể là một anh hùng, nhưng đi vào một xã hội sa hoa, phù phiếm, nếu không giữ vững phẩm chất cách mạng chưa chắc anh đã có dũng khí vượt qua…”

        Sự so ánh thật đối nghịch, tưởng như vô lý nhưng lại là một lời khuyên nhủ chí tình, rất thực tế. Phải tự tin, phải có bản lĩnh, nhưng tuyệt đối không lúc nào chủ quan cho mình là toàn thiện toàn mỹ cả. Phẩm chất con người không thể chỉ đánh giá bằng năm tháng tham gia đấu tranh cách mạng, mà còn là ở tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực liên tục của bản thân để vươn lên theo kịp với đòi hỏi không ngừng của cuộc sống, của nhiệm vụ cách mạng trong các giai đoạn khác nhau.

        Đợt giáo dục tiến hành thật khẩn trương, chan hòa tình đồng chí. Anh em chỉ cho nhau những điều hơn lẽ thiệt và cũng xác định một thái độ nghiêm khắc với bất cứ sai lầm nào. Với kết quả của đợt giáo dục, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn có thêm cơ sở để hạ quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong nhiệm vụ mới, thực hiện tốt chỉ thị của Bác Hồ về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô.

        Những bài học trong các trận chiến đấu với kẻ địch bằng xương bằng thịt trước đây vẫn thích hợp với trận chiến đấu mới với kẻ địch vô hình (chiến đấu về tư tưởng). Một mặt tăng cường giáo dục, tăng cường tổ chức, động viên mọi người giữ vững phẩm chất đạo đức, nhưng cũng cần phải xử lý kỷ luật thật nghiêm khắc với nhưng ai vi phạm. Mọi thắng lợi khi vào tiếp quản sau này đã chứng tỏ giáo dục phải đi đôi với tổ chức kỷ luật, không được coi nhẹ mặt nào.

        Chúng tôi phân công nhau xuống các đơn vị kiểm tra mọi mặt công tác chuẩn bị lần cuối cùng trước khi bước vào trận “chiến đấu đặc biệt”.

        Và Ngày về mong đợi đã đến- Về trong chiến thắng!

        Ngày 2 tháng 10 năm 1954, đồng chí Trần Danh Tuyên dẫn đầu một đoàn cán bộ hành chính vào Hà Nội ký nhận bàn giao mọi mặt với đại diện Bộ chỉ huy quân đội Pháp. Tiếp đó một số phân đội của đại đoàn 308 được lệnh vào trước để cùng canh gác với binh lính Pháp tại các địa điểm trọng yếu.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2016, 03:43:31 PM

        Ngày 8 tháng 10, gió mùa đông bắc tràn về. Trời u ám, mưa lất phất. Về chiều mưa càng nặng hạt. Phố xá cừa đóng im lìm. Tại thành phố Hà Nội, quân Pháp làm lễ cuốn cờ. Cũng kèn đồng rúc inh ỏi, cũng những đội lê dương xếp hành dọc thẳng tắp. Lá cờ ba sắc của đế quốc Pháp từ từ tuột xuống. Tướng Mát- xông, tư lệnh các đơn vị triệt thoái đứng dưới chân cột cờ sơn trắng, buồn rầ giơ hai tay đỡ lấy lá cờ, gấp lại làm tư rồi trịnh trọng giao cho viên quan năm Đắc- giăng- xơ, viên sĩ quan kỳ cự chuyên coi đám lính gác thành này từ ngày quân Pháp khởi hấn ở Thủ đô. Ngay tối ngày 8 tháng 10, quân Pháp đã chuyển các bộ phận nặng như pháo binh, xe tăng sang bên Gia Lâm, chỉ còn để lại trong Hà Nội hai tiểu đoàn bộ binh và một số xe thiết giáp, xe vận tải.

        Hà Nội náo nức mong chờ đoàn quân chiến thắng trở về.

        Không khí ngày hội khải hoàn bắt đầu đổ về vùng ngoại thành, bên ngoài các cửa ô.

        Bộ đội tấp nập kéo về, người, xe xếp thành đội ngũ chỉnh tề, dọc các đường cái lớn đi vào Thủ đô.

        Trong các làng, các thôn xã thuộc huyện Từ Liêm, Thanh Trì nhà nào nhà ấy sáng đen, đỏ lửa, quân dân hội họp ca hát, trò chuyện thâu đêm.

        Ngày 9 tháng 10 năm 1954, tại sở chỉ huy đại đoàn đặt ở bên đường Hà Đông- Hà Nội, chúng tôi vui sướng, hồi hộp theo dõi từng bước đi của ba cánh quân tiến về Hà Nội theo kế hoạch đã được Bộ Tổng tư lệnh chuẩn y. Mỗi cánh quân là một tiểu đoàn:

        Cánh thứ nhất, qua ô Cầu Giấy vào vườn hoa Cửa Nam rồi quành sang trái vào tiếp nhận Thành Hà Nội, nhà máy điện, nhà máy nước, phủ toàn quyền.

        Cánh thứ hai, theo đường số 6 qua Cầu Mới vào đến Ngã Tư Sở rẽ phải vào tiếp quản sân bay Bạch Mai, bệnh viện Bạch Mai, khu ga Hà Nội.

        Cánh thứ ba, tiếp nhận các công sở từ khu vực Việt Nam học xá, Đồn Thuỷ, khu hồ Hoàn Kiếm.

        Đúng 16 giờ 30 phút, khi toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên cùng với viên đại tá Đắc- giăng- xơ sang Gia Lâm thì cả Hà Nội bừng lên, tràn ngập cờ hoa, sắc áo, như một vườn hoa gặp tiết xuân nở rộ. Băng vải các màu căng ngang đường với những khẩu hiệu cắt theo các kiểu chữ cầu kỳ: “Hồ Chí Minh muôn năm!”, “Hoan hô đoàn quân chiến thắng trở về!”, “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!”, v.v… Cổng chào mọc lên san sát suốt dọc các phố lớn, phố nhỏ, lối vào một ngõ ngang khuất nẻo cũng có cổng chào, dăng đèn kết hoa.

        Vẫn biết Hà Nội hướng về kháng chiến, vẫn biết Hà Nội ngày đem mong đoàn quân chiến thắng trở về, vẫn biết trong những ngày Hà Nội đang may cờ, sắm hoa đón ngày chiến thắng, nhưng những cái biết trước đó dẫu cho có mạnh đến đâu cũng không bằng sự thật sinh động đang diễn ra trước mắt đoàn quân trở về. Mới trước đó ít phút, Hà Nội còn là thành phố vắng tanh với những lo âu, mặc cảm, cửa từng nhà đóng kín, thì sau đó ít phút, cả Hà Nội bừng dậy, hồi sinh, sôi động, náo nhiệt.

        Đêm hôm đó Hà Nội nghiêm chỉnh chấp hành lệnh giới nghiêm của Uỷ ban Quân chính thành phố. Nhưng cũng là một đêm giới nghiêm đặc biệt, ra ngoài khuôn khổ của từ này. Đường phố sáng rực những dây đèn kết hoa, cờ bay phấp phới, nhân dân không ai ra khỏi nhà, nhưng nhà cũng mở cửa đến khuya, nhiều nhà chong đèn đến sáng, mỗi lần có đội tuần tra đi qua, các cánh cửa sổ lai mở hé, bà con trìu mến nhìn bộ đội ta hiền lành giản dị, dễ thương. Đã hơn ba nghìn đêm, kể từ tháng 9 năm 1945 quân Tưởng vào, rồi tháng 3 năm 1946 quân Pháp đến, cho đến bây giờ, Hà Nội mới có một đêm sạch bóng quân xâm lược, nên ai cũng muốn thức thật khuya để hưởng không khí thanh bình, êm ả của đêm giải phóng, ai cũng mong có một đêm nay để làm kỷ niệm trong đời mình đã từng sống ở Thủ đô.

        Ngày 10 tháng 10 năm 1954- một ngày lịch sử.

        5 giờ sáng hết giờ giới nghiêm, cả Hà Nội nhộn nhịp, vừa có cái không khí thiêng liêng của ngày Tết, vừa có cái tưng bừng rạo rực của ngày hội lớn- Hội chiến thắng- Thủ đô hoàn toàn giải phóng. Nhân dân quần áo chỉnh tề, cờ hoa rực rỡ từng đoàn, từng đoàn đứng đông nghịt trên các hè phố, các con đường được báo trước là có bộ đội sẽ đi qua…

        Sáng nay sở chỉ huy đại đoàn di chuyển vào sân bay Bạch Mai cùng với các đơn vị bộ binh cơ giới, pháo binh, pháo cao xạ. Phía tây, trung đoàn Thủ đô tập trung ở trại Quần Ngựa. Phía đông trung đoàn 36 và trung đoàn 88 tập trung ở Việt Nam học xá.

        Đại đoàn tiến vào Hà Nội theo ba hướng, tất cả gặp nhau ở Hồ Gươm. Dẫn đầu là trung đoàn Thủ đô, tiếp theo là trung đoàn 36, trung đoàn 88.

        Hôm qua Hà Nội rợp bóng cờ. Hôm nay Hà Nội là rừng cờ và hoa. Càng tiến sâu vào trong lòng Hà Nội, càng khó nén nỗi xúc động, mắt nhoà lệ vì niềm vui gặp mặt, niềm vui về lại Thủ đô. Nhất là các cán bộ, chiến sĩ năm xưa đã chiến đấu trên mảnh đất này khi được lệnh ra đi đã hứa với Hà Nội “sẽ trở về”, lời hứa đó hôm nay đã thành sự thật “ra đi hẹn một ngày về, Ba Đình còn đó, Người thề còn đây”. Từng đoàn thiếu nữ ôm hoa đổ ra đường tặng bộ đội, cài lên súng, tung lên xe.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:31:27 AM

        Những tốp thiếu nhi tay vốc từng nắm hao giấy tung lên như thả những đàn bướm muôn mày nhỏ li ti bay sà vào những chiếc xe trận đang từ từ lăn bánh đi qua. Nhân dân hò reo phất cờ, vẫy hoa. Bộ đội đi giữa rừng cờ, rừng hao, rừng người tươi như hoa…

        Từ Hồ Gươm, đoàn quân chiến thắng tiến qua các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Đồng Xuân lên Cửa Bắc, vào thành Hà Nội, tập trung tại sân vận động Cột Cờ Hà Nội. Cả Hà Nội dồn về Cột Cờ chờ đón giây phút lịch sử. Đã 70 năm kể từ ngày Hà thành thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết, cột cờ do nhà Nguyễn xây dựng nên phải đeo cờ Tây, cờ Nhật, cờ Tàu Tưởng rồi lại cờ Tây, giờ đây mới được mang cờ Tổ quốc. Tối qua, bộ đội công binh của đại đoàn đã lắp lên đó một ống thép nặng hai tạ, cao 12 mét, cao vút, nâng lá cờ Tổ quốc sừng sững hiên ngang.

        15 giờ, còi nhà hát Thành phố nổi lên một hồi dài. Đoàn quân nhạc cử Quốc thiều theo sự điều khiển của đồng chí Đinh Ngọc Liên, người nhạc trưởng già rất quen thuộc với nhân dân Hà Nội.

        Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng- cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh cột cờ Hà Nội.

        Trong buổi lễ chào cờ lịch sử này, tôi được vinh dự đọc thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào Thủ đô:

        “Tám năm qua, Chính phủ phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau nhưng lòng Chính phủ luôn luôn gần cạnh đồng bào.

        Ngày nay do quân và dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, kháng chiến đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui khôn xiết kể!”.


        Lời Bác thân mật thiết tha. Nhiều người không nén được xúc động, nước mắt rưng rưng. Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm… Tôi cũng xúc động không cầm được nước mắt, phải dừng lại ít phút, vì những tiếng hô chứa chan lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân Thủ đô.

        Tôi nén xúc động, đọc tiếp thư Bác. Người dặn dò nhân dân Thủ đô hãy “đồng tâm nhất trí góp sức với Chính phủ, thì chúng ta nhất định vượt mọi khó khăn và đạt mục đích chung: làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”.

        Thư Bác đọc vừa chấm dứt thì tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” lại đồng thanh vang động trong sân vận động, qua loa truyền thanh lan qua các đường phố, mang lại trong lòng mỗi người dân Thủ đô một luồng gió mới, một không khí mới, thanh thản, tươi vui, tin tưởng, ấm áp tình người để ngày mai bắt tay vào xây dựng lại Thủ đô to đẹp, xứng đáng là vị trí trung tâm chính trị và văn hóa của cả nước.

        Những ngày này với cương vị Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố, hàng ngày tôi được tiếp nhiều đoàn khách trong nước và ngoài nước, phải cùng với các ngành, các giới giải quyết công việc sản xuất và đời sống của Thủ đô. Qua các cuộc tiếp xúc và bàn bạc công việc đó, đại diện các cơ quan, đoàn thể luôn luôn tỏ lời khen bộ đội ta vào Thủ đô đã nghiêm chỉnh chấp hành mọi chính sách của Đảng và Chính phủ. Toàn bộ tài sản của Nhà nước đã được cán bộ, chiến sĩ quý trọng và giữ gìn chu đáo, khi bộ đội bàn giao lại các công sở cho các cơ quan Nhà nước không thiếu một vật nhỏ, thậm chí cái bàn, cái ghế trong đó lúc vào đặt ở đâu, lúc ra vẫn ở nguyên đó.

        Một ngày cuối tháng 12 năm 1954, các đại biểu của nhân dân Thủ đô được mời đến Bắc Bộ phủ gặp Bác Hồ. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày Hà Nội giải phóng, Bác ra mắt nhân dân. Tôi được vinh dự đi cùng với Bác đến Bắc Bộ phủ. Hôm ấy Bác vui, thân mật hỏi han công việc làm ăn của nhân dân, thăm hỏi sức khỏe của các cụ già, âu yếm các cháu thiếu nhi. Buổi gặp mặt tràn đầy không khí chan hoà, ấm cúng chuyện trò cởi mở.

        Trong cuộc họp mặt này, tôi được Bác giới thiệu với các đại biểu: Đồng chí Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố Hà Nội, cũng là con em của nhân dân Hà Nội ta đấy. Tôi đứng nghiêm đáp lại lời giới thiệu thân mật ấy của Bác trước các đại biểu. Nhưng phải đứng nghiêm hơi lâu vì các cháu thiếu nhi rất hồn nhiên và cũng hơi có tính địa phương chủ nghĩa, đã có tình kéo dài một dịp hoan hô “anh bộ đội Thủ đô”.

        Buổi họp trật tự trở lại, Bác vui vẻ nói tiếp: Bộ đội ta đánh nhau nhiều trận, gối đất nằm sương, gian khổ nhiều, đi đâu cũng được đồng bào quý mến. Tôi nghe nói đồng bào Thủ đô rất hoan nghênh bộ đội, tôi rất vui lòng. Cả căn phòng lớn của Bắc Bộ phủ lại vang lên tràng pháo vỗ tay thật dài. Tôi đứng dậy đáp lại lời biểu dương của Bác và lòng yêu mến của các đại biểu, bỗng nhiên tôi nhớ lại hồi tổng kết chiến dịch Tây Bắc thu đông năm 1952, bộ đội thắng rất to, được Bác Hồ khen là “Bác bằng lòng các chú”, lần này Bác khen cao hơn, Bác “rất vui lòng”.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:33:32 AM

        Hạnh phúc nào bằng khi được đứng trước nhiệm vụ khó khăn ta không nản chí, không kêu ca, không đặt điều kiện, trái lại, xác định quyết tâm làm và tìm mọi biện pháp khắc phục để làm tốt.

        Vinh quang nào bằng, dù làm bất cứ công việc gì, chiến đấu hay công tác, nhiệm vụ nhỏ hay nhiệm vụ lớn, đều lập được thành tích xuất sắc, được lãnh tụ biểu dương, được nhân dân thừa nhận.

        Được như vậy là do Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu dìu dắt, được nhân dân đùm bọc, toàn thể cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đoàn kết nhất trí, không ngừng trau dồi bản lĩnh, truyền thống, bản chất quân đội cách mạng.

        Đảng uỷ và Bộ chỉ huy đại đoàn thông báo kịp thời lời biểu dương của Bác Hồ xuống các đơn vị và phát động thi đua thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Chớ vì có thành tích mà chủ quan. Phải luôn luôn cảnh giác, và giữ kỷ luật chặt chẽ. Phải luôn luôn thi đua học tập và công tác, mở rộng tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi, để làm cho bộ đội ta càng thêm hùng mạnh, chính quyền ta càng thêm vững chắc”.

        Đầu năm 1955, nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô đã hoàn thành, đại đoàn 308 được rút ra ngoại thành đóng tập trung để tiến hành huấn luyện theo chương trình mới. Tôi được Bộ quyết định rời đại đoàn, đi nhận nhiệm vụ tư lệnh Quân khu III. Các cuộc chia tay đều bịn rịn cả, nhưng chia tay giữa những con người từng chia ngọt sẻ bùi, sống chết, buồn vui có nhau mới bịn rịn làm sao, không buồn nhưng nhớ, nhớ những người đang còn, nhớ những người đã khuất, nhớ những ngày đêm cùng nhau tập luyện dầm mưa dãi nắng, nhớ những nơi đóng trại trong rừng già Thái Nguyên, bên đồi chè Phú Thọ; nhớ những chiến trường mà đại đoàn đã đi qua…

        Nhìn các cán bộ đại đoàn có măt trong buổi liên hoan chia tay hôm nay, hầu hết đang tuổi thanh xuân, khuôn mặt rạng rỡ niềm lạc quan, tin tưởng, bỗng tôi nhớ về cái tuổi ấy của tôi- tuổi của một thanh niên cố nông phải lìa bỏ quê hương đi kiếm sống, vào làm công nhân xe lửa Lao Cai- Vân Nam. Hết bị áp bức bóc lột của bọn địa chủ, phong kiến lại chuyển sang ách áp bức bóc lột cảu bọn thực dân, đế quốc. Giữa lúc sống trong cảnh đen tối đó, tôi được Đảng giác ngộ, chỉ cho con đường đi tới lý tưởng hết đói nghèo, hết áp lực và bất công. Được Đảng khuyến khích và tạo điều kiện, tôi say mêm tìm thầy học võ thuật, và tìm mọi cách qua bọn cai đội của quân đội đế quốc mà học; học sử dụng các loại vũ khí với lòng mong ước được xung vào đội vũ trang của Đảng để đánh đổ kẻ thù của dân tộc và giai cấp. Nhớ những ngày ở trong lao tù đế quốc, thực hiện khẩu hiệu “biến nhà tù đế quốc thành trường học!”, những đảng viên Cộng sản chúng tôi lại càng ra sức học tập, học lý luận, học văn hóa; dạy nhau những tri thức quân sự, cùnh nhau bàn luận về chiến thuật, về thế trận một cách say mê. Lại nhớ đến một hôm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, tôi lái xe ô tô đưa đồng chí Văn Tiến Dũng từ Chi Nê về Xuân Mai, dọc đường vắng vẻ, vì mải mê nhìn địa thế xung quanh có nhiều giá trị về mặt quân sự mà lao xe xuống ruộng, xe bị lật người không việc gì. Nhưng từ đó, theo lệch của đồng chí Dũng, tôi không được phép lái xe nữa.

        Đảng đã giáo dục, dìu dắt tôi trở thành người thanh niên có lý tưởng, thành người đảng viên cộng sản, thành một chiến sĩ cách mạng và thành một cán bộ quân sự của Đảng; đồng chí, đồng đội lại tiếp thêm sức cho tôi, giúp đỡ tôi trưởng thành và tiến bộ, tạo cho tôi được góp phần cùng các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ của Đảng giao cho.

        Và còn biết bao nhiêu kỷ niệm nữa dồn dập hiện về trong tâm trí tôi, những kỷ niệm đã gắn bó tôi với quân đội và riêng với đại đoàn Quân Tiên Phong nơi tôi được thử thách, tôi luyện lâu nhất…

        Trong buổi liên hoan chia tay không có rượu nồng mà rất “say”- say về tình cảm đồng chí, đồng đội, chan hoà, gắn bó keo sơn đã, đang và sẽ giúp tôi tiến bộ, trưởng thành. Nghèo về vật chất mà giàu về tinh thần, có nhạc, có thơ, toàn là “nhạc và thơi Quân Tiên Phong”, khiến nỗi nhớ trong tôi càng da diết, cứ như người sắp phải rời mái ấm đi xa.

        Anh em hứa hẹn ở lại tiếp tục xây dựng đại đoàn 308, phát huy truyền thống Quân Tiên Phong.

        Còn tôi, đã trưởng thành với Quân Tiên Phong, hôm nay ra đi nhận nhiệm vụ mới, thật vô cùng xúc động; tôi không khỏi không nhớ đến chặng đường xây dựng và chiến đấu của đại đoàn. Sáu năm- một chặng đường dài, từ buổi ban đầu tập hợp lực lượng xây dựng đại đoàn trên đất Thái Nguyên cho đến Ngày về trong chiến thắng, đại đoàn 308 luôn luôn giữ vững danh hiệu Quân Tiên Phong:

                              “Hễ đánh là thắng;
                              Hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch
                              Ngày càng lớn mạnh;
                              Quyết định chiến trường”.


        Điều đó có nhiều nguyên nhân. Trước hết do có đường lối chỉ đạo chiến tranh đúng đắn và sáng tạo của Đảng soi đường; do thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ và rộng khắp vừa là nguồn vô tận bổ sung lực lượng cho đại đoàn, vừa cài, kéo, căng, vây quân địch, tạo điều kiện, tạo thời cơ, tạo thế trận cho đại đoàn 308 ra quân là giành thắng lợi giòn giã.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:34:57 AM

        Những thuận lợi cơ bản ấy sở dĩ phát huy được tác dụng còn phải do sự nỗ lực chủ quan về mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn, mà điều nổi bật của sự nỗ lực đó được biểu hiện ở ý thức chấp hành mệnh lệnh. Mệnh lệnh ban ra trên dưới chấp hành, răm rắp. Bảo đứng là đứng lặng như tờ, bảo đi là chuyển động thần tốc, bảo đánh thì kiên quyết đánh, gian nan không quản ngại, khó khăn mấy cũng tìm ra cách đánh, hy sinh không sờn lòng, đã đánh là phải thắng. Chính cái tinh thần chấp hành mệnh lệnh vô điều kiện ấy đã tạo ra sự thống nhất, tạo ra sức mạnh, nhờ đó, mà Bộ chỉ huy đại đoàn dám quyết đoán trong chỉ huy, nhiều sáng kiến nảy nở trong tổ chức thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao, được cấp trên tin cậy, được nhân dân yêu mến và khiến kẻ thù phải khiếp sợ, luôn luôn hỏi nhau:

        “308 ở đâu?”;

        “Dò xem 308 đi hướng nào?”;

        “Có phải 308 đã nổ súng ở đấy rồi không?”, v.v…

        Dòng suy nghĩ của tôi bị cắt ngang bởi một câu hỏi đột ngột mà thân mật:

        - Đại đoàn trưởng hãy nói với chúng tôi đi, trong qua trình sống với Quân Tiên Phong, điều gì sâu sắc nhất trong anh?

        - Điều sâu sắc nhât trong những điều sâu sắc là những buổi tôi cùng với đại đoàn được vinh dự đón Bác Hồ đến thăm, được nghe Bác Hồ ân cần thăm hỏi và chỉ giáo.

        Tiếng vỗ tay hoan hô râm ran, không khí buổi liên hoan bỗng sôi nổi hẳn lên, bởi tất cả chúng tôi ai cũng có những kỷ niệm về Bác, toàn đại đoàn đã có chung một kỷ niệm sâu sắc về Bác. Bác đã cùng đại đoàn hành quân đi chiến dịch Biên Giới, Bác đã gửi thư động viên đại đoàn sau khi tiêu diệt hai binh đoàn Le Page và Charton, Bác đã đến thăm đại đoàn sau chiến dịch Biên Giới toàn thắng; Bác đã đến chỉ giáo về bài học ”Quyết Tâm” trước khi đại đoàn lên đường tham gia chiến dịch Tây Bắc, Bác đã đến thăm và ngủ lại một đêm với đại đoàn sau chiến dịch Tây Bắc thắng lợi. Mỗi bước đi của đại đoàn đều có Bác dõi theo, mỗi bước trưởng thành, mỗi chiến công lập được của đại đoàn đều có công lao của Bác.

        Quên sao được hình ảnh Cha già dân tộc đến vơi đại đoàn ở Đất Tổ, lời dạy hôm đó của Bác mãi mãi ăn sâu trong tâm khảm tôi: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Ngày về thắng lợi và thắng lợi trên đường về lại vẫn có Bác đi cùng chỉ lối.

        Không khí buổi liên hoan càng đậm đà tình cảm đồng chí.

        Một đồng chí khác hỏi tôi, nó đúng hơn đây là những điều đồng chí đó muốn tâm sự, trao đổi:

        - Trong cuộc đời của người chỉ huy, anh có kinh nghiệm gì sâu sắc nhất?

        - Quân lệnh như sơn- tôi trả lời ngay.

        Quân lệnh như sơn, đúng là bài học kinh nghiệm sâu sắc nhất trong tôi, cái sâu sắc bị dồn nén từ lâu lúc nào cũng có thể nói được, nói với những dẫn chúng rất cụ thể của chính công việc mà đại đoàn đã thực hiện tốt trong các chiến dịch, các đợt hoạt động, các trận chiến đấu được trên giao.

        Như thường lệ, các buổi liên hoan của đại đoàn đều kết thúc bằng bài hát Quân Tiên Phong: “Từ Thur đô súng thét toàn quốc vùng lên, đoàn người xa phố phường lên núi rừng. Sông Lô chiến công đầu, Bình Ca phơi xác thù…”.

        Nhưng hôm nay, những người dự liên hoan hát đi hát lại nhiều lần, miệng hát, tay vỗ nhịp, người nghiêng ngả theo làn điệu. Chưa bao giờ chúng tôi xúc động với bài hát truyền thống ấy đến như vậy. Bởi lẽ trong lòng mỗi người đang rạo rực một niềm vui, đã hoàn thành nhiệm vụ của một chặng đường cách mạng, ai nấy đã thực sự trưởng thành trong chiến đấu, đều tự hào là một thành viên của Quân Tiên Phong, đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, có những truyền thống quý báu- truyền thống Quân Tiên Phong:

        Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn mấy cũng vượt qua;

        Đi đầu mọi mặt, xung phong nhận nhiệm vụ khó, coi đó là vinh dự;

        Hành quân thần tốc, tiến công dũng cảm, chiến đấu linh hoạt, diệt địch đến cùng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:36:29 AM
       
PHẦN BA

NHỮNG ĐIỀU ĐỂ LẠI

YÊU ĐỘC LẬP, TỰ DO, CĂM THÙ ĐỊCH, QUYẾT TÂM CÁCH MẠNG CAO

        Điểm xuất phát của tính gan góc, trí sáng tạo và sự quyết đoán của người chỉ huy là ở chỗ phải biết tự mình khơi sâu mối uất ức hờn căm đối với kẻ thù ngay trong lòng mình và trong lòng tất cả các chiến sĩ của đơn vị mình xây dựng tinh thần têu dân tộc, yêu giai cấp, trau dồi ý chí, quyết tâm cách mạng. Ngày suy nghĩ, đêm suy nghi, xem kẻ thù còn tội ác gì nữa đối với bản thân mình, gia đình họ hàng mình, đối với dân tộc, giai cấp mình -  giai cấp cùng khổ nhất trong xã hội. Càng khơi hận thù sâu sắc bao nhiêu thì uất ức hờn căm càng chồng chất bấy nhiêu, càng tràn đầy sôi sục bấy nhiêu. Ngày quên ăn đêm quên ngủ, quyết tìm trăm phương ngàn kế giết giặc rửa hờn. Chính lúc đó "tài ba” của người chỉ huy sẽ được rèn luyện hun đúc. Đối với tôi điều này rất rõ. Hồi tôi còn bé, mới chín, mười tuổi đầu, đi chơi đánh nhau với trẻ con ở nước Trung Hoa thời phong kiến, chúng chửi tôi là "vong quốc nô”. Lúc đầu tôi chưa hiểu gì, dần dần về sau tôi hỏi cụ Thắng -  bạn của bố tôi. Cụ cho biết họ chửi chúng ta là dân mất nước đấy. Nghe cụ giải thích, kể chuyện bọn xâm lược đã xâm chiếm đất nước ta như thế nào, đã tàn sát cướp bóc nhân dân ta ra sao, trái tim tôi cứ như bị đập mạnh, tôi nghẹn ngào tức thở. Từ đấy, nghĩ đến hai chữ "mất nước", tôi lại thấy tủi nhục, căm hờn vô cùng. Lớn lên tôi đi hoạt động cách mạng.

        Năm 1943- 1944, khi tôi còn bị giam cầm trong nhà tù đế quốc ở "căng" Bá Vân và Nghĩa Lộ, chi bộ cử tôi phịu trách nhiệm huấn luyện kỹ thuật chiến thuật quân sự cho các đồng chí của ta ở trong tù để chuẩn bị khởi nghĩa phá ngục. Bọn đế quốc ra sức cấm đoán, theo dõi, nhưng không ngăn cản nổi quyết tâm của chúng tôi. Những ngày ở trong tù, mỗi khi nhìn thấy bọn Tây đồn trưởng bọn cai ngục... thì những hình ảnh đã in sâu vào trí óc tôi từ thuở nhỏ lại hiện lên giày vò day dứt. Những cảnh vì sưu cao thuế nặng mà phải bán vợ đợ con; vì túng thiếu nợ nần không trả được mà bị bọn cường hào, lý trưởng sai tuần dỡ mất nhà; cảnh ba mươi Tết có nhà bị vác mất cả đồ thờ, dỡ mất cả nồi bánh chưng đang luộc dở; cảnh người lớn trẻ em bị quân xâm lược tàn sát dã man... Khi mới bốn, năm tuổi, tôi đã phải theo ông tôi đi lang thang nay ở nhà này, mai ở nhà khác, có khi ba, bốn ngày liền không có được một hạt cơm, thìa cháo, phải nằm ép bụng xuống ổ rơm. Khi có vợ có con, tôi lại phải xa nhà, và được tin gia đình tôi lâm vào cảnh hết sức túng thiếu, đói khổ. Nhà bị dỡ mất vì không có tiền trả nợ. Những cảnh đau thương ấy cứ hiện ra mãi trước mắt tôi.

        Từ những nỗi cực nhục nghèo khổ của bản thân, của gia đình, khi tham gia hoạt động cách mạng, được Đảng giáo dục, tôi thấy được cả nỗi cực khổ của giai cấp, của dân tộc. Từ căm thù cá nhân, căm thù một nhóm cường hào lý dịch, tới căm thù cả giai cấp bóc lột thống trị và bọn thực dân đế quốc xâm lược. Những mối hận thù sâu sắc ấy là một trong những động lực chủ yếu đã giúp tôi vượt mọi khó khăn, hướng dẫn các đồng chí của mình luyện tập quân sự trong nhà tù đế quốc. Đi lấy củi cũng luyện tập, đi làm cỏ vê, tưới rau cũng tìm cách luyện tập, nửa đêm tỉnh dậy cũng luyện tập. Sau khi đấu tranh tuyệt thực ai nấy đều đói lả nhưng cũng bắt tay vào luyện tập ngay. Mọi lúc mọi nơi, khi nào có thể tranh thủ được là luyện tập. Miễn làm sao trau dồi được cho bản thân và các đồng chí của mình một bản lĩnh chiến đấu vừng vàng để có thời cơ sẽ vùng lên quật ngã kẻ thù. Đầu năm 1945, khi ban lãnh đạo nhà tù Nghĩa Lộ tổ chức khởi nghĩa phá ngục, sức mạnh của hận thù, sức mạnh của bản lĩnh đã giúp tôi xông lên quật đổ một thằng Tây to lớn gấp rưỡi mình. Mười ngón tay của tôi rắn chắc như những chiếc đinh lớn cắm chặt vào cổ nó. Nó nằm vật ra giãy giụa. Các đồng chí của tôi cũng nhảy xổ vào vật lộn với bọn quỷ dữ khát máu -  tay không quật ngã bọn giặc có vũ khí. Chúng tôi băng mình vượt qua những hàng rào cao vút của nhà tù, chịu đựng biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ trong rừng sâu, tìm đường trở về với Đảng.

        Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nghĩa Lộ được giải phóng, nhưng một thời gian sau lại bị giặc Pháp chiếm đóng. Năm 1952, tôi được thay mặt cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, gặp Đại tướng Tổng tư lệnh nhận nhiệm vụ: “Toàn đại đoàn thọc sâu vào trong lòng địch, tiêu diệt đồn Pú Chạng, Nghĩa Lộ..., cùng các đơn vị bạn giải phóng Tây Bắc”. Mối hận Nghĩa Lộ đã khắc sâu trong tim tôi, trong các chiến sĩ cách mạng và nhân dân Tây Bắc. Nay tôi được cùng các chiến sĩ trở về trả thù, rửa hận. Nghĩa Lộ trước kia thính là nơi bọn thực dân Pháp giam giừ các chiến sĩ cách mạng, trong đó có tôi. Pú Chạng là một ngọn đồi cao cây cối rậm rạp nơi tôi và đồng chí Nho -  tức là đồng chí Lương Nhân -  gặp nhau sau khi vượt ngục. Người bị áp bức nhất định sẽ vùng lên kẻ đi áp bức bóc lót thống trì nhất định sẽ bị người bị áp bức quật đổ.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:37:52 AM

        Tôi hăm hở và vui mừng sau khi nhận nhiệm vụ. Sự việc cụ thể của lần tiến quân vào Tây Bắc, tôi xin nói ở một đoạn sau.

QUÂN LỆNH NHƯ SƠN

        Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Quân sự dân chủ là một yêu cầu và nội dung trong sinh hoạt và chiến đấu của quân đội ta. Cán bộ và chiến sĩ, mọi người đều bình đẳng về chính trị, mọi người đều có trách nhiệm đóng góp sự hiểu biết của mình để giải quyết công việc chung. Nhưng sau khi thống nhất ý kiến thì đó trở thành nghị quyết của tổ chức của đơn vị hoặc biến thành mệnh lệnh của người chỉ huy. Như vậy, mệnh lệnh đó đã tổng hợp ý: kiến của tập thể qua hoạt động thực tiễn phù hợp ý chí, đường lối và nhiệm vụ quân sự của Đảng. Người cán bộ thay mặt cho đơn vị ra mệnh lệnh chung. Ý chí thống nhất thì hành động phải thống nhất, muốn có hành động thống nhất thì phải có mệnh lệnh.

        Vì vậy mệnh lệnh là một trong những vấn đề rất quan trọng của người chỉ huy. Mệnh lệnh phải chính xác, rõ ràng và ngắn gọn chấp hành lệnh phải nghiêm túc, đầy đủ và sáng tạo. Khi một mệnh lệnh đã phát ra thì trăm ngàn người như một, nhất nhất chấp hành một cách phấn khởi và tự giác. Khi có lệnh nghiêm, dù có sấm sét dông tố trên đầu, đội ngũ vẫn chỉnh tề, nghiêm chỉnh, vững vàng như Thái Sơn: khi có lệnh tiến, dù có sông ngăn núi cách, mọi người vẫn kiên quyết, dũng mãnh vượt qua và lao lên.

        Rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh là việc phải làm thường xuyên trong quá trình xây dựng huấn luyện bộ đội. Qua thực tế công tác và chiến đấu, tôi thấy một kinh nghiệm rất quan trọng là muốn rèn luyện cho chiến sĩ và cấp dưới nghiêm chinh chấp hành mệnh lệnh thì ngay bản thân mình -  người chỉ huy -  phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên hết sức nghiêm cách và sáng tạo tuyệt đối không vin lý do khách quan để trù trừ do dự, thoái thác, hoặc chấp hành nhưng không phấn khởi, không tự giác không thực hiện đến nơi đến chốn.

        Bản thân người chỉ huy phải nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên là rất quan trọng. Vì cấp dưới sẽ noi gương đó mà bắt chước. Dưới đây tôi xin kể lại một câu chuyện chấp hành một mệnh lệnh tác chiến trong chiến dịch Đông Xuân năm 1953- 1954.

        Ngày .... đồng chí Đại tướng trực tiếp gọi điện thoại ra lệnh cho tôi, đại ý: “Đại đoàn cấp tốc chuyển sang nhận nhiệm vụ chiến đấu ở..., cho đồng chí đại đoàn phó lên trên này nhận nhiệm vụ cụ thể".

        Xong đồng chí hỏi tôi:

        -  Hiểu rõ ý định chưa?

        Tôi trả lời:

        -  Rõ

        Lúc đó tôi nghĩ cấp trên ra lệnh cho đại đoàn tôi đánh địch ở... là có ý định ta luôn luôn giữ thế chủ động về chiến lược, buộc địch phải phân tán lực lượng, cắt đứt sự liên hệ giữa A và C, cô lập quán địch cao độ ở chiến trường A để tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đó. Đối với tôi có một kinh nghiệm bản thân là mỗi khi nhận được lệnh của cấp trên điều trước tiên là tin tưởng ở trên và suy nghĩ tìm mọi biện pháp thực hiện thật tốt. Vì trên đã ra lệnh là đã có cân nhắc kỹ rồi.

        Chính do sự nhất trí đó về mặt tư tưởng nên tôi thấy phấn khởi và càng tăng thêm niềm tin vào sự chỉ đạo của cấp trên.

        Đồng chí Đại tướng còn nói thêm:

        -  Về lương thực đã chuẩn bị được một số, cán bộ địa phương sẽ giúp đỡ thêm.

        Đồng chí nói cụ thể về số lượng và địa điểm. Đại thể cũng phải hành quân bốn, năm ngày mới tới chỗ có gạo ăn, đó là khó khăn lớn nhất của đại đoàn.

        Sau khi nhận lệnh, tôi cấp tốc triệu tập hội nghị đảng ủy đại đoàn ngay tại sở chỉ huy (hồi đó tôi phụ trách bí thư) để báo cáo nhiệm vụ mới và bàn cách chấp hành. Mọi người đều nhất trí nhận định: Đó là ý định tác chiến rất sáng suất, một đòn hiểm, một đòn bất ngờ đánh vào chỗ sơ hở của địch. Nhưng làm được nhiệm vụ ấy, ngoài những thuận lợi cơ bản ra thì đại đoàn phải vượt nhiều khó khăn. Đặc biệt mấy khó khăn lớn là:

        -  Chuyển biến tư tưởng như thế nào, trong khi đơn vị đang tập trung hướng vào nhiệm vụ chuẩn bị đánh địch ở một nơi, nay đi làm nhiệm vụ ở nơi khác, lại hết sức gấp rút.

        -  Toàn đại đoàn, trung bình mỗi người chỉ còn bốn lạng gạo, phải cấp tốc hành quân tới một chiến trường rừng núi xa xôi, dân cư thưa thớt. Trên đường đi, lấy gạo đâu cho đủ hàng vạn người ăn.

        -  Tình hình địch và địa hình chưa hiểu ra sao, đường sá chưa ai biết.

        Ngoài ra còn một số khó khàn khác, như vấn đề giải quyết thương binh, vấn đề thông tin liên lạc và chỉ huy, v.v...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:52:40 AM

        Đảng ủy còn phân tích kỹ về tình hình nhân dân, địa hình và địch. Cuối cùng đảng ủy quyết nghị: "phải lãnh đạo toàn đại đoàn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của trên. Cứ đi đã đi thật nhanh, nếu lề mề chậm chạp, địch phát hiện được ý định của ta thì mất thời cơ. Công tác động viên, giải thích vừa đi vừa làm. Vấn đề gạo ăn vừa đi vừa khắc phục...".

        Thế là chỉ hơn ba giờ đồng hồ sau khi nhận lệnh, toàn bộ đại đoàn đã xuất phát. Mặc dầu cán bộ, chiến sĩ chưa hiểu đầy đủ ý định của cấp trên nhưng đã chấp hành mệnh lệnh một cách vô cùng kiên quyết và tuyệt đối tin tưởng.

        Trên đường hành quân, cán đơn vị vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ, giải thích động viên bộ đội. Cán bộ, chiến sĩ đều hiểu rằng phải cơ động linh hoạt tới nơi thực tế địch thế nào, địa hình thế nào, ta đánh thế ấy. Vừa đi vừa kiểm tra, vừa đi vừa tìm hiểu thêm tình hình. Chính do sự tin tưởng tuyệt đối ở cấp trên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn -  trăm, vạn người như một -  tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, đồng lòng nhất trì vượt mọi khó khăn, ra đi rất hăng hái và phấn khởi đi liên tục ngày đêm với một tốc độ rất nhanh. Đến nay nghĩ lại, tôi thấy cuộc hành quân chớp nhoáng đó thật là một sự kiện lớn lao, biểu hiện khả năng cơ động phi thường của quân đội ta, tạo ra yếu tố bất ngờ rất lớn, làm cho bọn địch có ô tô, có máy bay mà vẫn trở tay không kịp.

        Giải quyết đủ lương thực ở nơi rừng núi xa xôi, nhân dân thưa thớt là một vấn đề rất khó khăn. Nhưng tin vào dân, biết dựa vào dân: các đơn vị đã tổ chức nhiều tốp đi trước cùng du kích địa phương vận động nhân dân giúp đỡ thóc lúa. Các bộ phận đó đã làm cối, làm chày xay giã ngay tại chỗ, lấy gạo chuyển cho bộ đội. Do tinh thần kiên quyết chấp hành mệnh lệnh, nên cán bộ, chiến sĩ có hàng loạt biện pháp cụ thể để khắc phục khó khăn. Do đó, toàn đại đoàn đã có đủ gạo ăn trong gần một tuần hành quân cấp tốc và gần một tháng chiến đấu liên tục cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ, lui quân về vị trí tập kết vẫn còn thừa gạo.

        Về địa hình, đường sá không biết thì một mặt dựa vào các đồng chí quân báo của đại đoàn cử đi trước, mặt khác còn dựa vào dân, nhờ du kích địa phương dẫn đường. Vì vậy mà bảo đảm được cuộc hành quân nhanh chóng, không lạc đường và còn nắm được tình hình phía trước.

        Quán triệt ý định của cấp trên là phải hết sức giữ bí mật hướng tiến quân ngay từ khi xuất phát cho đến trước khi nổ súng dọc đường hành quân, đại đoàn không dùng phương tiện thông tin vô tuyến điện để chỉ huy và liên lạc. Khi truy kích, đại đoàn tổ chức theo kiểu "sâu đọ” bố trí từng chặng, một đài dừng lại làm việc, một đài đi. Tuy phương tiện ít nhưng giữ được liên lạc thông suốt liên tục.

        Để giải quyết thương binh, đại đoàn đã tổ chức nhiều trạm nhằm giải quyết kịp thời và vận chuyển từng bước. Suốt thời gian chiến đấu liên tục, ở nhiều hướng nhiều đơn vị hoạt động trên địa bàn rộng hàng trăm ki- lô- mét, núi rừng rậm rạp, xa lạ, nhưng đã vận chuyển thương binh về hậu phương đầy đủ.

        Quá tình hành quân, tác chiến, chúng tôi luôn luôn nhận được điện của Bộ chỉ đạo cụ thể, nhất là thông báo tình hình địch và ý định tác chiến của ta.

        … Khi địch rút chạy, đồng chí đại đoàn phó đi trước lập tức ra lệnh trung đoàn 1 truy kích. Tôi ra lệnh trung đoàn 2 tiến lên tiếp xúc cho các trung đoàn đi trước cùng truy kích địch.

        Quán triệt tinh thần tích cực tiêu diệt sinh lực địch, được lệnh của đại đoàn, bộ phận đồng chí tham mưu phó đại đoàn cùng quản báo của đại đoàn vượt lên trước chuẩn bị thuyền cho bộ đội và lệnh tiểu đoàn đi trước của trung đoàn 1 tranh thủ vượt sông ban ngày. Đồng thời bộ phận đồng chí tham mưu phó đại đoàn cùng anh em quân báo tìm đường tắt vượt lên trước địch để nắm tình hình và chặn địch. Sáng ngày .... bộ phận này với lực lượng hơn một tiểu đội đã nổ súng chặn hơn một tiểu đoàn địch đến gần tối. Trung đoàn 1 lập tức truy kích về phía có tiếng súng nổ. Đại đội 261 và 263 đuổi thẳng về phía O.K. Đại đội 259 rẽ về phía S.L., xuyên rừng vượt núi đón đầu quân địch. Ngay trưa hôm đó, quân địch đã bị công kích quyết liệt. Phía trung đoàn 3 cũng biểu hiện tinh thần chiến đấu tốt. Hồi 17 giờ ngày.... một tiểu đoàn của trung đoàn tới... gặp địch đang chuẩn bị rút lui. Quân ta lập tức công kích. Quân địch bị đánh bất ngờ không kịp đối phó. Trên đường truy kích tới..., tiểu đoàn này đã tiêu diệt trên 100 tên địch. bắt sống 82 tên. Trong chiến đấu, các chiến si của đại đoàn đã tỏ ra vô cùng tự tin và anh dũng, kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch. Có một tổ 4 người đã ngăn chặn và đánh lui hai đợt xung phong của hai đại đội địch. Có đơn vị vừa hành quân, vừa chiến đấu đuổi giặc suốt 5 ngày đêm không nghỉ, chỉ ăn cháo và lương khô mà cũng không đủ, phải ăn thêm rau rừng, nõn chuối. Hai tiểu đoàn của trung đoàn 3 đã nhịn đói suốt hai ngày liền đuổi giặc. Những ngày 30, mồng một Tết Nguyên đán là những ngày bộ đội nhịn đói nhưng đánh giặc rất hăng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:54:04 AM

        Quân địch bị một đòn bất ngờ, choáng váng, gần 2 tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn, kể cả số quân địch bị đánh tan là 17 đại đội. Quân ta bắt sống 281 lính Âu -  Phi, 223 ngụy. Trong số Âu Phi có 1 tên quan tư, 2 quan ba, 6 quan hai, 1 quan một. Ta thu được rất nhiều vũ khí, đạn dược, giải phóng trên một tuyến dài hơn 200 ki- lô- mét, rộng gần một vạn ki- lô- mét vuông.

        Tình hình chiến trường đối vời địch càng trở nên nguy ngập. Chúng vô cùng hoảng hốt và lúng túng, phải vội vã điều động hơn 10 tiểu đoàn cơ động từ các nơi về để cố thủ mấy nơi quan trọng còn lại.

        Quán triệt sâu sắc ý định của cấp trên -  một ý định tác chiến rất kiên quyết và linh hoạt -  đại đoàn đã tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh và kiên quyết tìm mọi biện pháp, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Sau gần một tuần cấp tốc hành quân, đại đoàn đã chiến đấu quyết liệt gần một tháng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch và đã thu hút được lực lượng cơ động của chúng và giam phân chúng tại những nơi theo đúng ý định của ta, buộc địch phải phân tán quân cơ động ra nhiều hướng, đạt được mục đích cuộc tiến quân do Bộ giao cho, đánh cho quân địch thêm một đòn choáng váng, vượt ra ngoài sức tưởng tượng và sự tính toán của cơ quan tham mưu và bộ óc chỉ huy của các tướng lĩnh thực dân xâm lược Pháp.

        Đó là một sự kiện đánh dấu sự chỉ đạo tài tình của Bộ Tổng tư lệnh và một minh chứng cụ thể về sức mạnh của sự nhất trì giữa trên và dưới, về tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh một cách tự giác và sáng tạo dựa trên tin tưởng tuyệt đối vào sự chỉ đạo của cấp trên.

        Trên đây là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về chấp hành mệnh lệnh của quân đội ta.

        Khi nhận lệnh, nếu điều kiện cho phép, còn điều gì không rõ cứ hỏi, còn điều gì phân vân cứ nói. Khi đã rõ, đã hiểu phải kiên quyết làm, tìm mọi cách làm cho bằng được, làm với tinh thần phấn khởi, tự giác và hết sức sáng tạo, thì mệnh lệnh của cấp trên mới phát huy đầy đủ sức mạnh. Căn cứ vào mệnh lệnh của cấp trên, cấp dưới phải ra nhưng mệnh lệnh cụ thể, tổ chức thực hiện cụ thể và bảo ban nhau cùng làm thi đua nhau làm cho tốt, gặp khó cùng vượt khó, gặp khổ cùng chịu khổ để đạt kết quả vượt bậc.

        Nhiệm vụ trong mệnh lệnh của cấp trên giao cho là những vấn đề khái quát, từ những tình hình cụ thể tổng hợp lại. Có khi trong mệnh lệnh không thể chỉ ra hết được những vấn đề cụ thể, những tình huống cụ thể nảy sinh ra trong quá trình thực hiện hoặc những điều kiện cụ thể mới xuất hiện trong quá trình hai bên ta và địch đều cố gắng... Cấp trên chỉ có thể cho mình một số điều kiện cơ bản. những nét lớn về tình hình, còn tất cả các điều kiện khác và những tình hình cụ thể thì người cán bộ chỉ huy phải tự mình tạo ra, tự mình phán đoán lấy, làm sao thực hiện cho bằng được mệnh lệnh của cấp trên. Tất nhiên cấp trên cũng phải cố hết sức tạo mọi điều kiện thuận lợi để cấp dưới có thể thi hành tốt mệnh lệnh của mình. Thực hiện đầy đủ, đúng với mệnh lệnh của cấp trên, đó mới chỉ là làm tròn trách nhiệm theo pháp lý. Người cán bộ quân đội cách mạng còn phải làm hơn thế nữa, phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên một cách tích cực triệt để và sáng tạo, lấy trách nhiệm chính trị mà kiểm tra việc chấp hành mệnh lệnh của mình, như thế mới có thể coi là có trách nhiệm chính trị cao. Người cán bộ chỉ huy cần có điều kiện để thực hiện chỉ huy chiến đấu thắng lợi nhưng tuyệt đôi không được đòi hỏi cấp trên phải cho mình đầy đủ mọi điều kiện mới có thể chỉ huy được mới có thể đánh được. Đáng chê trách nếu người cán bộ mỗi khi nhận lệnh lại ra điều kiện với cấp trên: mặc cả với cấp trên: thì người chỉ huy ấy thật chưa đáng tin cậy.

        Chấp hành mệnh lệnh tốt chính là biểu hiện ý thức giác ngộ cách mạng cao, tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, tinh thần đoàn kết gắn bó giữa trên và dưới, tôn trọng cấp trên, thương yêu chiến sĩ. Đó chính cũng là sức mạnh vô địch của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:56:47 AM
        
CÁCH NHÌN VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỊA HÌNH CỦA NGƯỜI CHỈ HUY

        Theo kinh nghiệm của tôi, một việc quan trọng của người chỉ huy là phải rèn luyện "cái nhìn” -  ngôn ngữ triết học gọi là phương pháp xem xét.

        Sự vật bao giờ cũng có nhiều mặt: mặt phải và mặt trái, có khó và có dễ, có kín và có hở, mặt tiêu cực và mặt tích cực, mặt mạnh và mặt yếu, đồng thời trong cái khó có cái dễ, trong cái dễ có cái khó trong cái kín có cái hở, trong cái mạnh có cái yếu trong cái yếu có cái mạnh... Đồi với địa hình cũng vậy trong địa hình hiểm trở có chỗ không hiểm trở trong địa hình có lợi có mặt không lợi.

        Địa hình hiểm trở hay không, có lợi hay không tới mức nào là do con người biết nhìn và đánh giá, biết lợi dụng và cải tạo để biến địa hình hiểm một thành hiểm mười, biến địa hình không lợi thành có lợi. Cho nên, người chỉ huy phải biết vượt qua mọi địa hình hiểm trở, có khi phải táo bạo khắc phục khó khăn, tìm cái lợi trong nhiều cái không lợi của địa hình để giành thế bất ngờ, thế thắng trong tấn công, tạo nên thế vững chắc, thế kín trong phòng ngự.

        Người chỉ huy nhìn nhận sự việc sai lệch thì điều trước tiên là kế hoạch tác chiến sẽ sai, từ đó dẫn tới sai lầm trong nhiều việc tiếp theo và ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tư tưởng của bộ đội.

        Bất cứ một trận đánh dù lớn hay nhỏ, công việc của người chỉ huy là phải biết cách nhìn địa hình, nhìn kẻ địch và nhìn bộ đội ta. Có nhìn nhận phân tích sự việc đúng đắn mới vận dụng cách đánh thích hợp thực hiện được bất ngờ đối với địch và làm cho bộ đội ta tin tưởng phấn khởi, có quyết tâm cao.

        Địa hình như thế, kẻ địch như thế, về phía ta người có ngần ấy, súng đạn cũng chỉ có ngần ấy, "bài binh bố trận" thế nào mà đánh thắng địch giòn giã, ta tổn thất ít, thế mời là người chỉ huy giỏi, đơn vị giỏi.

        Trước tiên tôi kể chuyện kinh nghiệm cách nhìn địa hình. Khi nhận nhiệm vụ tấn công địch, kể cả đánh vị trí địch có công sự vững chắc và đánh địch đang vận động, tôi thường nghĩ tới câu “vượt qua nơi hiểm trở để bắt cọp". Nghĩa là địa hình nơi nào địch cho rằng ta không đi được, nhưng ta đi được thì địch sẽ chết không kịp ngáp, hay địch cho rằng ta không bố trí được hoặc bố trí được nhưng không tiến lên được mà ta tìm mọi cách bố trí được, tiến lên được thì nhất định địch sẽ trở tay không kịp.

        Thí dụ: Trận đánh vị trí Non Nước (Ninh Bình). Vị trí này đóng trên ngọn núi đá đột xuất cao sừng sững, một phía là sông sâu và rộng, xung quanh có nhiều chỗ dốc thành vại dựng đứng, hoặc hàm ếch hoắm vào chân nùi. Ngoài con đường đánh bậc, ghép đá bò ngoằn ngoèo chữ chi từ chân lên đỉnh, cao mấy chụt mét, có “cự mã" chắn ngang, có các ụ súng kiểm soát, khó có thể tìm được một con đường khác. Đã thế, dọc hai bên đường lên cứ điểm, quân địch chôn nhưng chông sắt ngay vào vách đá. Chân núi chằng chịt dây thép gai, bãi mìn. Hai tầng lô cốt xi măng kiểm soát chặt chẽ các hướng. Bên kia sông Đáy chừng 200 mét là vị trí Cầu Cổ, có pháo 105 mi- li- mét. Bên này thị xã Ninh Bình là vị trí Hồi Hạc (ta thượng gọi là Gối Hạc). Dưới sông có tàu chiến sẵn sàng cơ động để tăng viện. Thoạt nhìn rõ ràng là quân địch đã chiếm đóng ở một địa hình có lợi. Chân núi: phía là sông, phía là bãi phẳng, ta bố trí quân ở đâu? Đi đường nào tiến lên đánh chiếm được đỉnh núi? Nếu nghiên cứu địa hình và địch ở đây mà chỉ dừng lại ở mức này thì quả thật là có nhiều khó khăn, hầu như khó mà đánh được và tất nhiên cũng có thể có người nản lòng do dù. Nhưng quyết tâm của cấp trên là nhất định phải đánh vị trí Non Nước. Đại đoàn phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ này, vậy thì nghiên cứu địa hình ở đây là để thực hiện quyết tâm của trên, là để đánh chứ không phải để lùi. Khi đã xác định được như vậy, thì cùng nhau vắt óc ra, sục vào mà nghiên cứu, tìm cho kỳ được chỗ sơ hở, chỗ yếu của Non Nước. Địch ở trên cao nhìn xa dễ, nhìn gần khó, bắn xa mạnh, bắn gần hạn chế. Những chỗ địch cho rằng ta không leo được, không với tới thì ta buột giẻ vào chân để leo, ta làm thang dài 5 -  6 mét để với. Địch ỷ lại vào mấy ụ súng bảo vệ con đường lên đỉnh núi. Ta diệt các ụ súng đó thì đường lên đỉnh cũng không phải khó. Địch cho rằng ta không thể tiến theo đường thì ta nghi binh hướng khác, rồi tiến theo đường, v.v... Địa hình phức tạp ta khó tiến quân thì địch cũng khó cơ động, ở đâu cố thủ đấy, có vận động được cũng trong phạm vi hẹp, rất hạn chế. Mô đá hiểm hóc, địch có thể có những ụ súng bất ngờ bắn ta. Ta lợi dụng thế hiểm hóc luồn vào phía sau leo lên trên bất ngờ đánh xuống đầu địch, đánh vào sườn địch. Cán bộ, chiến sĩ cùng nhau lục soát những kinh nghiệm đánh Bí Chợ, Phố Lu, Cốc Xá, v.v… để xem có thể vận dụng được nhưng gì. Càng suy nghĩ, càng bàn bạc quyết tâm càng cao, càng rõ cái mạnh, cái yếu của Non Nước: Từ hướng suy nghĩ phân đó mà ta giải quyết được vấn đề then chốt là xây dừng tư tưởng "dám đánh” và tin tưởng “nhất định đánh thắng". Từ quyết tâm cao trở thành biện pháp tổ chức cụ thể. Bộ đội quấn giẻ vào chân, làm thang, nối dây, ngày đêm luyện tập ở một núi đá khác khó khăn gần như Non Nước.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:58:09 AM

        Quyết tâm cao chuẩn bị chu đáo, khoảng 2 giờ 15 phút ngày tháng 5 năm 1951, tiếng súng tấn công vị trí Non Nước của tiểu đoàn 54 bắt đầu nổ. Tới 5 giờ sáng thì trận đánh kết thúc, gần 200 tên giặc vừa Pháp vừa ngụy hoàn toàn bị tiêu diệt.

        Chiến thắng Non Nước có nhiều nguyên nhân và rút ra được nhiều bài học nhưng đối với người chỉ huy -  bản thân tôi bài học “cách nhìn". cách phân tích địa hình là một trong nhưng bài học sâu sắc.

        Một thí dụ khác thì ngược lại: Trận đánh vị trí Pheo (Hòa Bình) đầu năm 1952. Vì không đưa một mũi vượt qua đường số 6 luồn lên đồi cao và đánh từ trên cao qua vai bò xuống đồi Pheo, mà chỉ mở cửa đánh một hướng theo đường cái từ dưới đánh lên, trận đánh không thành. Tuy có nhiều nguyên nhân nhưng vấn đề không biết tận dụng lợi thế của địa hình cũng là một nguyên nhân khá quan trọng dẫn đến trận đánh không hoàn thành tốt đẹp.

        Tôi kể thêm một chuyện xem xét địa hình trong đánh vận động. Trong chiến dịch Biên Giới, sau khi cứ điểm Đông Khê bị tiêu diệt, binh đoàn Lơ- pa- giơ từ Lạng Sơn lên Thất Khê, rồi từ Thất Khê tiến lên định bất ngờ chiếm lại Đông Khê để đón cánh quân của Sác- tông từ Cao Bằng rút về, những bị quân ta đánh mạnh. Âm mưu chiếm lại Đông Khê của địch thất bại. Ngày 2 tháng 10 năm 195O. Lơ- pa- giơ nhận được lệnh để lại một bộ phận kiềm chế ta, còn phần lớn lực lượng trước trưa ngày 3 tháng 10 năm 1950 phải đến Quang Liệt, Nậm Nàng (nam Cao Bằng 20 ki- lô- mét) để đón binh đoàn Sác- tông cùng rút về Thất Khê. Biết được ý định của địch, quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch là: “Tập trung lực lượng tiêu diệt từng bộ phận địch... Đại đoàn... tiêu diệt bộ phận chủ yếu của địch ở khu vực Khau Luông, Nà Pá. Phái một bộ phận chiếm lĩnh các điểm cao để khống chế và phái một bộ phận cảnh giới ở phía nam đề phòng quán nhảy dù và bộ binh địch".

        Đại đoàn còn được Bộ cho biết: Quân Sác- tông về tới Nậm Nàng đã phải phá xe cộ, súng nặng để rẽ vào đường mòn xuống Cốc Xá về Thất Khê. Vì âm mưu chiếm lại Đông Khê của Lơ- pa- giơ thất bại, vả lại đứng số 4 bị dân quân du kích của ta phá hoại nặng nề, như vậy Lơ- pa- giơ sẽ đi theo hướng nào để đón Sáe- tông? Nếu để hai binh đoàn ấy gặp nhau và cụm lại ở dãy núi 477 thì quả là ta sẽ gặp khó khăn lớn. Cùng với việc tiêu diệt lực lượng chủ yếu của Lơ- pa- giơ thì phải chia cắt ngăn chặn địch, không cho chúng gặp nhau. Bên đường số 4, quân của Lơ- pa- giơ đang tập trung ở Khau Xiểm, phía tây là dãy núi đá. Từ Khau Xiểm có con đường mòn qua núi đá đến bản Cốc Xá. Nhìn địa hình thì thấy eo Cốc Xá (điểm cao 533) là một vị trí chiến thuật rất quan trọng. Làm thế nào quân ta nhanh chóng đưa được một lực lượng "chốt" ở đấy thì nhất định kế hoạch gặp nhau của địch sẽ thất bại. Chúng sẽ bị cô lập từng bộ phận và sẽ bì quán ta tập trung tiêu diệt từng bộ phận. Đại đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 18 đến "chốt" ở eo Cốc Xá Giữa lúc đang nấu cơm chiều, nhận được lệnh tiểu đoàn 18 đã cấp tốc lên đường, không cần tập họp đủ cả mới xuất phát. Đại đội 263 ở sát đường lập tức đi ngay. Các đơn vị khác tiếp tục chạy theo. Anh nuôi cứ tiếp tục nấu cơm, nắm lại, rồi cấp tốc đuổi theo bộ đội. Dãy núi đá chắn ngang sừng sững, đường leo khúc khuỷu quanh co, lởm chởm, cũng không cản nổi quyết tâm của bộ đội ta. Bụng đói, các chiến sĩ cũng không chùn bước. Mọi người đều quyết tâm chiếm điểm cao 533 trước khi quân địch tới. Trong khi đó, Lơ- pa- giơ đang dồn quân vào dãy núi Cốc Xá, nơi mà y cho là "địa điểm phòng ngự lý tưởng", ”cái bình phong thiên nhiên chặn đứng các tiểu đoàn Việt Minh". Lơ- pa- giơ định cắm ở đây một tiểu đoàn với thương binh, còn bao nhiêu sẽ qua bản Cốc Xá, sang dãy núi 477 đón quân Sác- tông. Chúng cho rằng "hai binh đoàn gặp nhau sẽ thành một lực lượng rất mạnh, Việt Minh không tài nào gặm nổi".

        Nhưng sáng hôm sau, cánh quân của Lơ- pa- giơ đang hí hửng tiến qua eo Cốc Xá, thì các chiến sĩ của tiểu đoàn 18 đã bất ngờ nổ súng phủ đầu như luồng gió mạnh hất chúng bật trở lại. Quân của Lơ- pa- giơ không thể nào vượt qua được điểm cao 533 để tiến về dãy núi 477 cùng Sác- tông cụm lại.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:58:56 AM

        Thế là kế hoạch của Lơ- pa- giơ và Sác- tông hoàn toàn bí phá sản. Hai binh đoàn vẫn tan tác hai nơi.

        Rõ ràng các chốt chiến thuật ở địa hình hiểm hóc kia đã cố tác dụng không phải là nhỏ. Chốt chặn được địch phải kết hợp với lực lượng cơ động vận động đến tấn công.

        Sau đó, có một kinh nghiệm "vượt qua nơi hiểm trở để bắt cọp" nữa là khi quân của Lơ- pa- giơ cụm lại ở hang Cốc Xá, trung đoàn Y nhận nhiệm vụ tiêu diệt cụm này. Tiểu đoàn 11 tấn công binh đoàn Lơ- pa- giơ ở trong núi, đồng thời chặn không cho địch sang 477 (lúc này tiểu đoàn 18 đã chuyển sang 477 để tham gia tiêu diệt cánh quân Sác- tông). Tiểu đoàn 89 (thiếu đại đội 395) tấn công phía đông -  bắc xuống. Cuộc chiến đấu diễn ra rất gay go. Tiểu đoàn 11 giành nhau với địch từng mô đá, từng thước đất.

        Trong khi đó, đại đội 395 đang bấu víu vào từng mỏm đá, gốc cây để leo lên đỉnh núi. Đêm tối, trời mưa lã chã. Có đoạn các chiến sĩ phải bò, phải nhích từng bàn chân, nhất là đơn vị hỏa lực trợ chiến. Có đoạn phải dòng dây kéo từng bộ phận súng lên trước, rồi đến đạn, đến người. Qua một chặng đường gian khổ, các chiến sĩ 395 đã lên tới đỉnh núi, bất ngờ ném từng chùm lựu đạn xuống đầu quân địch. Các chiến sĩ cầm cả những quả đạn cối 60 mi- li- mét giội xuống. Các cỡ đạn súng trường, súng máy đổ vào đầu địch như mưa. Rồi từ tảng đá này nhảy sang tảng đá khác, các chiến sĩ xung phong vào quân địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch vô cùng kinh hoàng, rối loạn... Thừa cơ ấy, tiểu đoàn 11 và 89 xiết chặt thêm vòng vây. Từ trên đỉnh núi đá đánh xuống, đại đội 395 đã khắc phục khó khăn, chiếm địa hình có lợi, bất ngờ đập vào đầu địch, góp một phần quan trọng để tiêu diệt quân địch ở Cốc Xá.

        Trận đánh binh đoàn Sác- tông diễn ra trên dãy núi 477. Địa hình ở đây cũng khá phức tạp. 477 nằm kẹp giữa hai triền núi cao, phía đông là dãy núi cao, phía tây là dãy núi đá lởm chởm thẳng đứng như bức tường thành, chỉ có một con đường mòn chạy từ phía bắc xuống phía nam, ngoài ra không còn đường nào khác. Bọn địch yên trí rằng đi trên dãy núi 477, đội hình chúng sẽ được hai bên núi cao che chở. Nhưng trung đoàn T suốt đêm đã vượt qua dãy núi đá, vừa tờ mờ sáng chọc ngang vào sườn của binh đoàn Sác- tông: bất ngờ chia cắt đội hình chúng ra từng đoạn và tiêu diệt từng bộ phán. Cuối cùng toàn bộ binh đoàn Sác- tông bị tiêu diệt thảm hại.

        Trên đây là một vài câu chuyện về "cách nhìn" địa hình, khắc phục khó khăn vượt qua địa hình phức tạp để tấn công quân địch. Tất nhiên trong thực tế có những tình huống gay go, phức tạp hơn thế nhiều, đòi hỏi người chỉ huy phải bình tĩnh suy nghĩ, phải với tinh thần cách mạng tiến công, tìm cho ra khó khăn và thuận lợi của địa hình phía địch, phía ta, cùng quần chúng bàn bạc cách khắc phục. Đã có quyết tâm đánh thắng thì phải có gan khắc phục địa hình. Từ chỗ bất ngờ tạo thành có lợi cho tay người chỉ huy cùng bộ đội cần dốc hết sức mình để tìm cách vượt bất cứ một khó khăn nào, khi đã thấy rằng tiến hướng đó, đánh hướng đó là có lợi, không nên quá lệ thuộc vào lý do khách quan (như đường vòng, đi xa, thời gian gấp, thiếu lương thực hoặc không có người dẫn đường, v.v...) mà chùn bước.

        Thực tế chiến đấu đã chứng minh rằng ngại đi xa có khi phải đi xa hơn nữa, ngại khắc phục khó khăn có khi phải khắc phục gấp trăm lần, dựa vào đường thẳng để tiến quân không phải lúc nào cũng thuận lợi mà có khi gặp nhiều khó khăn nhất, thậm chí không đến được mục tiêu. Đó là những vấn đề đòi hỏi phải hết sức mưu trí, linh hoạt trong khi giải quyết. Yêu cầu người chỉ huy phải cân nhắc kỹ, khi đã có quyết tâm thì nhất định làm và làm cho kỳ được.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:41:15 PM

LỢI DỤNG ĐỊA HÌNH VÀ CẢI TẠO ĐỊA HÌNH

        Đơn vị chúng tôi, sau mỗi lần tấn công quân địch thường có nghiên cứu tỉ mỉ về cách bố trí của chúng để kịp thời rút ra những bài học cho trận sau. Tại sao địch bố trí ở chỗ này, không bố trí ở chỗ kia? Địa hình thế này, địch đã cải tạo và lợi dụng như thế nào? v.v... Chính nhờ vậy mà bản thân tôi rút ra được nhiều bài học có ích trong khi xem xét địa hình để bố trí tác chiến. Trong quá trình công tác thường cán bộ ta nhất trí về cách nhìn nhận, nhưng như thế không phải không có cách nhìn ngược lại. Cùng một địa hình có cán bộ xem xét chỉ thấy khó khăn, rồi lo lắng bi quan, thiếu tin tưởng vào nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng người khác xem xét thì tuy một mặt thấy có khó khăn, mặt khác lại thấy ta có thể khắc phục và lợi dụng được, thậm chí có khi phát hiện thấy chỗ hiểm hóc của địa hình mà người khác không thấy. Thực ra, với bất cứ địa hình không thuận lợi nào, chỉ cần biết cải tạo, lợi dụng đều có thể tạo nên một thế tác chiến rất mạnh, rất hiểm hóc.

        Trong chiến đấu, những mũi tấn công của ta bị chùn lại hoặc bị sứt mẻ nhiều chính là do những hỏa điểm bất ngờ cách đánh bất ngờ, cách bố trí ở địa hình hiểm hóc của địch đột nhiên làm cản bước tiến của ta.

        Vì vậy, trong khi làm nhiệm vụ xem xét địa hình để bố trí tác chiến, tôi thường nghĩ đến mấy chữ: "hiểm hóc, bất ngờ". Các cán bộ đi nghiên cứu cùng với tôi thường nói: "Tìm địa hình chỗ nào hiểm, bố trí bất ngờ, ăn sườn, ăn sụn của đối phương, chắc chắn thủ trưởng đồng ý". Địa hình để bố trí tác chiến phải có chỗ "xoay lưng" -  ngôn ngữ quân sư gọi là "cơ động", "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Chọn được địa hình tốt, rất "lý tưởng", chỉ cần ít quân cũng có thể ngăn chặn được mũi tấn công lớn của địch. Nhưng trong thực tế, có khi phải bố trí quân đánh địch ở một địa hình so với nơi khác thì ít lợi thế hơn. Lúc này yêu cầu người chỉ huy cần xem xét địa hình một cách tỉ mỉ và đặt mình ở cương vị chủ động đánh địch, bất cứ trường hợp nào cũng không được bố trí để "giơ lưng chịu đòn". Phải luôn luôn tạo điều kiện, thời cơ chủ động đánh thắng địch bất cứ địch từ hướng nào tới hoặc tới bất cứ lúc nào. Người chỉ huy biết phân tích một cách khách quan, biện chứng, tìm cho ra cái mạnh của địa hình để phát huy, tìm cho đúng cái yếu của địa hình để khắc phục, từ thế bất lợi tạo thành thế có lợi, từ yếu trở thành mạng. Thí dụ: Một đơn vị nhận nhiệm vụ đánh địch tấn công ở một địa hình dài và hẹp, lại có nhiều sông núi cắt ngang. Như vậy địch có thể tấn công chia cắt ra từng khu vực. Nhưng ngược lại, chính địa hình ấy cũng chia cắt địch thành từng bộ phận, tạo điều kiện cho ta tập trung tiêu diệt từng cánh quân của địch. Có nhìn thấy hết cái mạnh của địa hình có lợi cho ta như thế thì mới không bi quan, không do dự quyết tâm. Tiếp theo sự nghiên cứu phân tích, người chỉ huy cần biến quyết tâm thành biện pháp tổ chức, tìm mọi cách cải tạo địa hình, chuẩn bị trận địa tác chiến cụ thể. Địa hình dù có nhiều bất lợi nhưng nếu người chỉ huy và bộ đội biết bỏ nhiều công phu suy nghĩ vào đấy, bỏ nhiều sức lao động cải tạo vào đấy, thì nhất định sẽ tạo nên nhiều thế lợi.

        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tiểu đoàn X nhận nhiệm vụ đào trận địa xuyên qua giữa khe hở của hai điểm cao 206 và 311A (hai vị trí này của địch vẫn chưa bị tiêu diệt) để cắt sân bay Mường Thanh. Giặc Pháp cũng đã hiểu sân bay của chúng nếu bị ta chiếm giữ thế chúng coi như bị cắt mất dạ dày. Chúng dồn hỏa lực ra sức bắn kẹp tiểu đoàn X. Nhiều nhất là đạn súng cối và đạn pháo nổ trên không, lại có cả hai khẩu súng máy từ Mường Thanh bắn ra rất lợi hại. Quân địch lại luôn tổ chức đánh chiếm trận địa của ta và lấp hào. Riêng ngày 20 tháng 4, giữa ta và địch giành đi giật lại mấy lần. Buổi chiều, chúng tôi vừa nhận được báo cáo là quân ta phản kích giành lại được trận địa, nhưng một lúc sau lại được tin địch chiếm mất, quân ta củng cố để xẩm tối sẽ tiếp tục phản kích. Tình hình ấy làm chúng tôi rất sốt ruột. Cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn này có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, dày dạn, anh dũng, táo bạo. Vậy thì trận địa bố trí ra sao mà cứ mất đi mất lại như thế mãi?


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:42:41 PM

        Trời chạng vạng tối, quân ta phản kích thành công, khôi phục được toàn bộ trận địa. Lập tức tôi điện cho trung đoàn phải cho bộ đội củng cố công sự ngay, mặt khác chỉ thị cho cơ quan đại đoàn phải đưa hết người vác gỗ ra trận địa giúp đơn vị. Đêm đó, tôi ra ngay trận địa để xem xét tình hình, càng đi ra đầu cùng của chiến hào, càng thấy rõ bộ đội ở đấy chiến đấu không những ác liệt mà còn hết sức vất vả. Ngơi tay súng ra, người chiến sĩ lại cầm lấy xẻng làm việc không ngừng. Đào sâu được một ít, chỉ vài loạt đại bác, vài trận bom giội xuống, chiến hào lại sụt lở tung toé, lại phải mất công sửa chùa. Càng ra tới phía ngoài, chiến hào càng hẹp và nông. Nhưng tất cả những bom đạn của địch cũng không phải là nguyên nhân chủ yếu để bộ binh và xe tăng địch chiếm được trận địa của ta, mà chính là ta chưa biết cải tạo địa hình, cấu trúc thành một trận địa có lợi cho ta, chiết tính cơ động và không hiểm hóc. Tôi ngạc nhiên khi thấy chỉ có độc một đường hào đâm thẳng vào sân bay, xuyên qua giữa khe hở của hai vị trí địch, y như một con đường độc đạo trơ trọi. Bám vào đường hào đó chỉ có hố đứng bắn, hố ẩn nấp. Càng nghiên cứu, tôi càng thấy rõ tại sao trận địa vẫn cứ bị mất đi mất lại, mặc dầu bộ đội ta chiến đấu rất anh dũng. Ở đấy rõ ràng là ta ở vào một địa hình có ít thuận lợi, mũi hào cắt sân bay hoàn toàn ở trên mảnh đất bằng phẳng. Xe tăng địch tấn công có thể bắn chúc xuống miệng chiến hào của ta. Ta chỉ có một đường hào, khỉ địch tập trung chiếm đoạn nào, ta bị mất đoạn đó. Ta giữ đã khó, nhưng muốn phản kích chiếm lại càng khó hơn. Nhiệm vụ cắt sân bay phải làm tròn cắt được đến đâu phải giữ chắc đến đó, không cho địch chiếm lại, lấp hào đi. Bộ đội ta anh dũng, nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ. Nhưng phải làm thế nào để nhiệm vụ được thực hiện tốt hơn nửa mà bộ đội ta ít thương vong.

        Đó là vấn đề đặt ra đối với người chỉ huy các cấp có trách nhiệm chấp hành nhiệm vụ này. Tôi cùng cán bộ của đơn vị và các chiến sĩ tại trận địa nghiên cứu bàn bạc ngay tại chỗ và thấy rằng cần phải tổ chức từng tổ chiến đấu thành thế chân kiềng dựa lưng vào nhau, chi viện hỗ trợ cho nhau. Muốn vậy phải đào nhiều "râu tôm” chạy xoè ngang ra, rồi đào vòng trở lại, đào các ngách chữ A, chữ T, đào nhiều đường cơ động từ sau lên trước và chéo bên sườn để địch đánh hướng nào ta cung có thể “xoay lưng" đánh lại chúng. Một khẩu súng máy cũng có thể di chuyển ẩn hiện nhiều hướng, nhiều nơi bất ngờ đánh vào sườn địch. Địch chiếm chỗ này, ta từ chỗ khác đã chuẩn bị lập tức đánh trả. Đó là tạo thế trong phòng ngự -  thế mạng sẽ tạo thành lực mạnh.

        Đêm hôm đó, ngay sau khi tôi trở về chỉ huy sở, bộ đội bắt tay vào làm làm cật lực. Vì tất cả cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới đều nhất trí phải cải tạo địa hình, xây dựng trận địa thật vững chắc, và chỉ có làm như thế mới tránh được tình trạng "bị trói chân một chỗ”, "giơ lưng chịu đòn".

        Ngày 21 tháng 4, quân địch lại tập trung lực lượng tấn công vào trận địa cắt sân bay của bộ đội ta. Ngoài 7 đại đội Âu Phi, còn thêm 4 xe tăng yểm hộ. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Mặc dầu giặc Pháp đã liều mạng nhảy vào chiếm được một vài đoạn hào của ta, nhưng rồi tất cả bọn chúng đều bị đánh lui và bỏ lại nhiều xác chết ngay trên trận địa.

        Ngày hôm sau, cuộc chiến đấu giữ trận địa cắt sân bay của bộ đội ta ác liệt gấp bội và cũng là ngày giặc Pháp phải “từ giã” sân bay. Bộ binh, xe tăng địch lao vào đều bị quân ta đánh bật trở lại, vòng hướng này bị chặn, vòng hướng khác bị đánh sườn. Không những thế, giặc Pháp còn bị bộ đội ta đánh cho những đòn bất ngờ, bộ binh, xe tăng mỗi nơi mỗi mảng, tàn quân tháo chạy về Mường Thanh. Từ ngày ấy, trận địa cắt sân bay của bộ đội ta hoàn toàn vững chắc cho đến khi Điện Biên Phủ được hoàn toàn giải phóng. Rõ ràng vấn đề thắng bại là do con người quyết định chứ không phải do địa hình.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:44:32 PM

BIẾT ĐỊCH, BIẾT TA, ĐÁNH LÀ CHẮC THẮNG

        Cuộc chiến đấu giữa ta và địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp một mất một còn vô cùng quyết liệt. Từng trận chiến đấu cụ thể là sự đấu trí, đấu lực của hai tập đoàn người sống. Cả hai bên đều tìm mọi cách tiêu diệt, đánh bại đối phương.

        Muốn tiêu diệt địch, ta cần phải hiểu mình, hiểu địch cho thật đúng bản chất của sự việc. Kẻ địch rất gian giảo, hung ác và quỷ quyệt vì bản chất của nó là bản chất của giai cấp thống trị áp bức vì quyền lợi ích kỷ của chúng. Trong từng trận đánh cụ thể khi phân tích về địch bất cứ một hiện tượng cụ thể nào cũng cần xét tới bản chất của nó. Dù kẻ địch mạnh đến đâu cũng có chỗ yếu, chỗ sơ hở và dù kẻ địch yếu đến đâu cũng có chỗ mạnh cần phải chú ý tới. Khi nói địch mạnh phải thật cụ thể, mạnh cái gì, mạnh ở chỗ nào, mạnh trong trường hợp nào, v.v... Trong cái mạnh phải tìm cho ra cái yếu. Yếu như thế nào, yếu ở đâu, yếu tới mức nào, quan trọng hơn cả là làm thế nào biến mạnh của địch thành yếu để tiêu diệt chúng, v.v...

        Theo kinh nghiệm của tôi, những lần chiến đấu gặp khó khăn phần lớn là do nghiên cứu địch không kỹ, hoặc có khi nghiên cứu nhiều lần nhưng vẫn không thấy đúng thực chất cái mạnh, cái yếu của kẻ địch, mà còn mập mờ...

        Đối với cán bộ chi huy chúng ta: thường có hai hiện tượng, một là đánh giá địch quá cao, "sợ bóng sợ gió" khi gặp một vài hiện tượng mạnh của địch, từ đó đi tới do dự, thiếu sự quyết tâm, không dám đánh hoặc đánh nhưng không tin chắc thắng; hai là vừa nhìn thấy vài hiện tượng yếu của địch đã vội vã chủ quan, khinh địch, "coi trời bằng vung". Tôi kể lại mấy mẩu chuyện về ngại địch mạnh.

        Năm 1947, có một đơn vị ở Hòa Bình rất ngại khi phải chiến đấu với lính Âu -  Phi -  một thành phần trong đội quân đánh thuê của thực dân Pháp. Người nọ đồn đại đến tai người kia. Nào là “Tây rạch mặt" ngậm dao găm ở mồm xông lên ghê lắm! Nào là lính này thiện chiến đã từng xâm lược nhiều nơi...! Thấy vậy, tôi suy nghĩ rất nhiều, cố tìm mọi cách để giải quyết tư tưởng cho anh em. Chúng tôi cùng chiến sĩ bàn bạc tìm cho hết cái mạnh cái yếu của chúng mà đánh. Cái mạnh của địch là ỷ lại có xe tăng, ô tô, máy bay, đại bác và binh lính chúng được trang bị nhiều vũ khí tốt, sử dụng quen. Nhưng cái yếu cơ bản của chúng là tinh thần của lính đánh thuê ham sống sợ chết nên chỉ hung hăng có lúc, khi những cái mạnh về vũ khí giảm tác dụng thì tinh thần sẽ sút kém. Vì vậy, ta phải khoét sâu nhược điểm của địch, bất ngờ xông lên đánh giáp lá cà để tiêu diệt chúng, nhất định chúng sẽ thua trận.

        Chúng tôi bố trí một trận phục kích thật chu đáo, cho một bộ phận nhỏ chặn trước mặt địch, lực lượng còn lại giấu kín ở bên sườn... Ngày 1 tháng 5 năm 1947, tại dốc Cun (Hòa Bình), trận phục kích được bố trí xong. Máy bay và súng cối của địch bắn dừ dội trên dọc đường chúng tiến quân. Mười cơ giới và chừng mấy trăm tên địch hùng hổ tới chân dốc Cun, dàn quân tiến lên. Bọn lính xâm lược quen thói chủ quan, vừa đi vừa huýt sáo, nghênh ngang, bất ngờ "khẩu thần công" của quân ta phát hoả. Đây là khẩu súng thần công cũ, được anh em nhồi thuốc phóng và các mảnh gang vụn. Khi bắn, một tiếng nổ dữ dội, mảnh gang tóe ra như mùa rào. Bọn địch đi đầu ngã gục gần hết. Quen thói “sùng bái vũ khí” thì lần này giặc Pháp khiếp sợ vũ khi biết chừng nào. Ngay lúc đó, súng trường, tiểu liên cũ kỹ của ta cùng phối hợp bắn vào những tên còn sống sót. Tên chỉ huy tay cầm bản đồ, tay cầm súng lục đang ngơ ngác nhìn, bị bắn chết đầu tiên. Quân ta vung kiếm, vung mã tấu nhảy lên lăn xả vào tiêu diệt chúng. Bọn lính đánh thuê được đồn đại là thiện chiến nay đã chết ngổn ngang. Các tên sống sót chúi đầu chạy xuống chân dốc, gọi máy bay, súng cối bắn yểm hộ. Suốt ngày không tiến thêm được bước nào, bị quân ta lẻn tới bắn tỉa tiêu hao, cuối cùng chúng phải lên xe tháo chạy nốt. Trận đánh thắng lợi, quân ta chỉ có vài người bị thương nhẹ. Quân địch vừa chết vừa bị thương hơn 80 tên. Sau trận đánh, khí thế quân ta lên cao. Việc xây dựng cho bộ đội tư tưởng dám đánh, quyết đánh thắng và nhất định đánh thắng bọn giặc hung ác bước đầu đã dược giải quyết tương đối tốt. Đơn vị khác thấy vậy cũng vui mừng phấn khởi và tin tưởng ở sức mình. Từ đó bộ đội ta không sợ lính lê dương nữa. Sau đó ít lâu bộ đội ta lại quần nhau và vật lộn đánh giáp lá cà với bọn lính lê dương trong một trận ác liệt ở Ba Thá. Qua nhiều trận đánh, tôi thấy rằng: Kẻ địch nào cũng vậy, miễn là nghiên cứu cho đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng và tìm được cách đánh thích hợp thì nhất định giành được thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:46:24 PM

        Trong chiến dịch Tây Bắc, cán bộ đi chuẩn bị chiến  trường điều tra địch đóng ở Pú Chạng và Nghĩa Lộ. Hai vị trí này cách nhau khoảng gần 2 ki- lô- mét. Địch đóng trên đồi Pú Chạng mạnh hơn, có thể khống chế cả cánh đồng Nghĩa Lộ và chi viện cho cứ điểm Nghĩa Lộ, có công sự và đường giao thông chằng chịt, dây thép gai dày tới 40 -  50 mét, các hỏa điểm bố trí ở xung quanh đồi thành nhiều tầng... Nhưng xem xét kỹ: về phía bắc có mỏm đồi thấp sát hến với đồi Pú Chạng, cây cối um tùm (khi đó đặt tên là đồi Nhà Ngựa), ta đã bí mát tiếp cận và địch có thể bị bất ngờ, nên ta lấy đó làm hướng đột kích chủ yếu. Còn đuôi dãy núi Pú Chạng thì kéo dài về phía nam gần với dãy rừng phía tây, lên phía này ta dễ cắt chia đồi Pú Chạng với "trại con gái" ở phía nam, nên ta lấy đó làm hướng thứ yếu. Trong cái mạnh của địch, rõ ràng là có cái yếu, nhất là cái yếu vì "bị bất ngờ”. Vì vậy, người chỉ huy phải có con mắt biện chứng, tìm ra chỗ yếu trong cái mạnh của địch để đánh, hoặc khắc phục mọi khó khăn vượt qua những hiểm trở để tạo nên một thế bất ngờ. Nếu không chỉ nhìn thấy vị trí địch bốn phía hàng rào dây thép gai dày công sự, hỏa điểm kín đặc cho là mạnh cả, thì sẽ đi đến: một là không dám đánh, hai là đánh vào chỗ mạnh của địch sẽ tổn thất nhiều.

        Trải qua chiến đấu, bộ đội ta ngày càng trưởng thành rõ rệt. Các hình thức công sự phòng ngự của địch đều lần lượt bị phá vỡ. Cuối cùng, chúng phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ và làm phòng ngự bằng công sự boong ke như ở Yên Vĩ (Hà Nam), Cẩu Lồ (Bắc Giang), v.v..

        Mùa hè năm 1954, tiểu đoàn 80, trung đoàn Y nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Cầu Lồ. Trước đây, do thiếu sót của một số cán bộ, khi nói đến công sự boong ke thì chỉ nói cái mạnh của nó, đôi khi còn đề cao quá mức. Có đơn vị khi nhận nhiệm vụ đánh vị trí loại công sự này thì không tin đánh thắng, lo tổn thất nhiều. Việc đó ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng bộ đội. Rút kinh nghiệm ấy, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Y đã bàn bạc tìm cho hết cái mạnh, cái yếu của địch. Mặc dầu công sự xi măng cốt sắt dày, nhưng bản thân nó lại có nhiều nhược điểm: có lỗ thông hơi có thể dùng xẻng chọc thủng lưới sắt, thả lựu đạn vào: địch bố trí ít người, nhiều súng; ở từng lô cốt cô lập, cơ động chi viện cho nhau khó khăn; trong công sự thiết bị kín, địch khó quan sát, ta có thể đưa pháo, ĐKZ, ba- dô- ca vào gần bắn thẳng vào lỗ châu mai, hoặc đánh bộc phá, quân địch dễ chết vì bị sức ép; hỏa lực của địch dù dày đặc thế nào cũng không thể kiểm soát hết mọi chỗ, ở cự ly gần thì lỗ châu mai cũng có góc chết giữa lô cốt này và lô cốt khác, đạn cũng không bắn kín hết được, nhất là khi một vài lô cốt đã bị diệt sẽ tạo nên khoảng trống lớn không có hỏa lực. Đó là những cái yếu cụ thể, ta có thể khoét sâu để tiêu diệt địch. Đơn vị còn phân tích cái yếu cơ bản nữa của địch là sau khi chúng bị thua ở Điện Biên Phủ, tinh thần bọn địch ở đồng bằng đã hoang mang, dao động, không tin tưởng sẽ giữ được những cứ điểm cô lập, nhỏ bé... Do đánh giá địch đúng mức, bộ đội ta đã có quyết tâm cao, tin tưởng đánh thắng. Việc tổ chức, chuẩn bị được tiến hành cụ thể, tỉ mỉ, tổ chức bộ đội gọn nhẹ, "ít nhưng tinh", phân công hỏa lực hợp lý từ lựu đạn, thủ pháo đến tiểu liên, súng trường, ĐKZ..., đồng thời huấn luyện cho mọi chiến sĩ biết cách đánh bộc phá để bảo đảm có thể tự phá được hàng rào dây thép gai ở trong ví trí, ở ngay chân lô cốt.

        Do đó, trung đoàn Y đã làm tròn nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Cầu Lồ. Đặc biệt có một tiểu đội bộ binh đã bí mật cắt dây thép gai, lọt vào vị trí và đã bất ngờ đánh sập ngay một lô cốt boong ke của địch.

        Trên đây là những câu chuyện về cách xem xét địch, cụ thể là giặc Pháp trước đây. Nhưng khi đánh với quân Mỹ là kẻ địch có quân số đông, có nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cách nhìn nhận về địch của người chỉ huy. Chính vì vậy, chúng ta càng phải rèn luyện quan điểm lập trường, trau dồi trình độ lý luận, nắm vững phép biện chứng duy vật trong việc phân tích cụ thể tình hình cụ thể, nắm vững đường lối quân sự của Đảng để soi sáng vào sự việc cụ thể, nhìn nhận kẻ địch cho thật đúng, thấy được chỗ mạnh của địch nhưng quan trọng hơn nữa là phải tìm cho ra chỗ yếu của địch mà "lách lưỡi lê vào đó" khoét cho rộng. cho sâu. Như vậy nhất định chúng sẽ chết.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2016, 04:48:12 PM

        Nhìn nhận về địch đúng hay sai, đó là vấn đề vừa là phẩm chất vừa là tài năng của người chỉ huy, ở trường hợp nào đó, nếu người chỉ huy một mực đề cao cái mạnh của địch, không thấy cái mạnh của quần chúng, của con người đã giác ngộ cách mạng cao thì sẽ sợ địch, thiếu tin ở sức mình, quyết tâm do dự, rụt rè, đánh dò dẫm, đánh cầm chừng... Vì đó mà làm cho bộ đội lâm vào tình trạng "tiến thoái lưỡng nan", tổn thất nhiều, thậm chí có khi đi đến thủ tiêu chiến đấu; những cái mạnh tạm thời của kẻ địch sẽ được phát huy. Cho nên, vấn đề nhìn địch thế nào để không sợ địch và đánh giá địch đúng mức là một yêu cầu rất quan trọng đối với người chỉ huy.

        Ngược lại, sau khi đánh thắng nhiều trận, người chỉ huy dễ nảy sinh tư tưởng chủ quan, coi thường địch quá đáng, nên đã vấp thì vấp rất đau: lúc đó tư tưởng sợ địch lại có thể tái sinh. Đã chủ quan thì việc nghiên cứu địch sẽ không chu đáo, chuẩn bị bộ đội sê không đầy đủ. đánh bừa, đánh ẩu. Trận đánh vị trí Pheo thuộc tỉnh Hòa Bình cũ là một thí dụ. Đại đoàn cùng với trung đoàn, tiểu đoàn đi nghiên cứu vị trí địch: thấy địa hình đồi Phèo và bản Pheo nằm hai bên đường số 6, vị trí đồi Pheo về phía tây có dãy đồi cao hơn, rừng rậm, nối liền với đồi Pheo là một vai bò thoai thoải đổ từ dãy núi cao xuống đồi Pheo. Đại đoàn phần vì chủ quan nên không tập trung vào đấy mà nghiên cứu kỹ, phần vì do dù nên không đề đạt với cấp trên để xin thêm thời gian chuẩn bị và không tích cực đôn đốc trung đoàn khắc phục khó khăn về rừng rậm để có một mũi bất ngờ từ phía tây đánh từ trên xuống. Cán bộ chỉ xem xét qua loa, thiếu trách nhiệm đánh giá địch thấp. Nhất là sau chiến thắng Tu Vũ, cán bộ ta cho rằng quân địch ở Pheo tinh thần dao động. Nhưng thực tế lại khác, tên quan năm Clê- măng, chỉ huy trưởng khu chiếm đóng Hòa Bình, đã ra lệnh cho tên thiếu tá Rúc và binh lính lê dương: "Sống chết phải giữ Pheo đến cùng!" Bố trí cụ thể của địch ở đó ta nắm không chắc. Khi phát hiện địa hình có lợi, có thể chiếm điểm cao đánh thúc xuống đầu địch thì cán bộ ta ngại khó khăn này, khó khăn khác, không quyết tâm khắc phục. Tư tưởng chủ quan ảnh hưởng tới bộ đội. Khi chiếm lĩnh, anh em bảo nhau: “Tốt trời như thế này, đánh một loáng là xong!”. Có khẩu đội đại liên muốn để bớt một nửa cơ số đạn "ở nhà” vì cho rằng chỉ cần bắn vài loạt là đủ, mang đạn đi nhiều lại vác về chỉ tổ nặng... Chính do tư tưởng chủ quan, nắm địch không rõ, chuẩn bị đại khái qua loa, nên lúc chiến đấu đã gặp nhiều khó khăn. Đơn vị đánh bản Pheo đột phá gặp bãi lầy, mãi mới phá xong ba hàng rào, lúc hai xe tăng địch ra bịt cửa mở thì tổ đánh tăng lại ở phía sau chưa lên kịp...

        Trận đánh vị trí Pheo, mặc dầu quân ta đã chiếm được gần hết cứ điểm phòng ngự của địch, chỉ còn bộ phận nho dồn vào cố thủ xung quanh cột cờ, nhưng chúng ta gặp nhiều khó khăn, tiêu diêt địch không gọn.

        Sau đó, khi tổng kết đại đoàn cũng đã nói: "Địch bố trì phòng ngự tuy khá mạnh, song trung đoàn vẫn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt được đồn Pheo, nếu không mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng: chuẩn bị thì chủ quan đơn giản, kế hoạch đại khái, qua loa... Đại đoàn chịu phần trách nhiệm vì nắm tình hình không sát, không phát hiện được kịp thời những sai lầm về tư tưởng và tổ chức của cấp dưới".

        Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, có nhiều cán bộ chỉ huy rất, chủ quan, ảnh hưởng không ít đến tư tưởng bộ đội. Trước khi xuất kích, đơn vị súng cối cho rằng bắn ngần này đạn dù xung kích chưa vào, địch cũng chết hết. Đột kích 1 cho rằng mình vào đồn chỉ để quét tàn binh. Đột kích 2 thì chuẩn bị vào thu dọn chiến lợi phẩm. Bộ phận bao vây thì giương lê sẵn không phải để xung phong mà để nếu địch rút chạy vướng lê phải dừng lại (!), v.v… Nhưng thực tế khi đánh thì đơn vị đã không làm tròn nhiệm vụ. Kết quả của tư tưởng chủ quan, đơn giản là trong tác chiến nhất định không thể nào giành được thắng lợi tốt đẹp như ý muốn.

        Khi thế trận của ta đang trên đà phát triển thuận lợi, chiến thắng đang giòn giã, bắt đầu nảy sinh những nhận xét về địch như "đánh là tan”, "nổ súng là địch chạy", v.v… nên lúc này người chỉ huy càng phải hết sức tỉnh táo, cảnh giácthận trọng hơn bao giờ hết. Vì lý do sơ ý người ta có thể ngã ở quãng đường không trơn.

        Cùng với việc nghiên cứu địch, người chỉ huy phải xem xét kỹ tình hình ta, nếu không, kế hoạch tác chiến sẽ trừu tượng, phiến diện, rất nguy hiểm. Nhìn nhận bộ đội ta không phải chỉ đơn thuần đếm đầu người, tính đầu đơn vị, đếm đầu hỏa khí... với những con số so sánh trên sách vở. Tôi không bác bỏ nhùng con số quý giá ấy mà người chỉ huy cần nắm để làm cơ sở hạ quyết tâm. Nhưng nếu chỉ dựa vào con số ấy thì hoàn toàn chưa đủ và nhất định sẽ phạm sai lầm, có khi rất nghiêm trọng.

        Theo kinh nghiệm của bản thân tôi khi nhìn nhận về ta, người chỉ huy cần hết sức coi trọng vấn đề mấu chốt nhất là tư tưởng, tiếp đến là trình độ kỹ thuật, chiến thuật, và sau đó là vấn đề số lượng thành phần tổ chức, trang bị của bộ đội. Các vấn đề này có liên quan chặt chẽ với nhau. Tư tưởng chi phối hành động của con người, ngược lại cơ sở vật chất có ảnh hưởng trở lại tư tưởng và là điều kiện để phát huy sức mạnh của tư tưởng.

        Trong thực tế cũng có lúc bị tình huống cụ thể lôi cuốn mà người chỉ huy lãng quên mối liên hệ rất cơ bản đó. Có lúc cán bộ đã coi thường, chưa thấy hết ý nghĩa quyết định của ý chí, tinh thần, đồng thời có người đôi lúc lại coi nhẹ các điều kiện thuộc cơ sở vật chất.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:27:57 AM

        Có trận đánh một cứ điểm ở đồng bằng, khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, có khá nhiều cán bộ, chiến sĩ đơn vị nọ rất chủ quan. Ý vào kinh nghiệm và trình độ chiến đấu của đơn vị mình, anh em cho rằng: "Cứ điểm này bé, bóp nát lúc nào cũng được!". Do thiếu sót của lãnh đạo, không nắm được tư tưởng bộ đội nên không kịp thời uốn nắn. Công tác chính trì không tiến hành sâu rộng tới tận chiến sĩ, không làm thấm nhuần phương châm và quán triệt nhiệm vụ, không thấy hết thuận lợi, không dự kiến hết khó khăn để tìm ra biện pháp khắc phục... Tư tưởng chủ quan, coi thường địch như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác chuẩn bị chiến đấu, cấp nọ khoán trắng cho cấp kia tiểu đoàn giao cho đại đội, đại đội giao cho trung đội. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị cơ sở cũng chủ quan cho mình đã làm nhiều, đánh nhiều, nên chuẩn bị qua loa cho đủ số lượng như cấp trên quy định. Khi báo cáo rất đầy đủ, nhưng chất lượng ra sao thì không ai biết.

        Dưới đây, trích lại một đoạn ngắn về diễn biến chiến đấu của trận đánh trong bản tổng kết của đơn vị đó để chúng ta cùng nghiên cứu xem tư tưởng chủ quan ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị như thế nào, việc chuẩn bị đại khái ảnh hưởng đến thực hành chiến đấu ra sao: “... Đại đội mũi chính tiếp cận sát hào, phát tín hiệu cho pháo bắn vào lô cốt bên trong để đơn vị bắc thang vượt qua hào. Nhưng phần lớn hỏa lực của ta đều bắn vào tầng trên của các lô cốt, địch ở bầng dưới chưa bị sát thương, khi hỏa lực của ta vừa bắn chuyển vào lô cốt B thì hỏa lực của địch ở tầng dưới bắn ra rất mạnh. Tổ hỏa lực của đại đội thì đạn dược đã tiêu hao nhiều, không đủ sức kiềm chế các lỗ châu mai. Tổ thang ván không tiến lên được, phải lợi dụng lúc hỏa lực địch ngừng bắn để vượt lên lao thang qua hào, nhưng vì làm không đủ kích thước, thang hụt không sang được, xung kích phải dừng lại ở giữa cửa mở, bị hỏa lực địch sát thương một số. Đại đội trưởng ra lệnh nhổ chông, lội qua hào vượt lên đánh vào lô cất A. Vì không nắm vững công sự của địch, việc chuẩn bị số lượng bộc phá không đầy đủ nên bộc phá sử dụng hết rồi mà lô cốt vẫn chưa thủng. Đại đội trưởng cho tổ đột kích vượt lên nóc lô cốt để đánh xuống. Địch vẫn ngoan cố chống cự. Tổ đột kích phải tiếp cận kiềm chế các lỗ châu mai, đồng thời dùng lựu đạn, thủ pháo, tiểu liên đánh xuống, và sau 10 phút chiến đấu ác liệt mới chiếm xong lô cốt A.

        Đại đội mũi phụ bên trái mũi chính cũng gặp hào, nhưng không chuẩn bị thang ván trước, phải dừng lại ở giữa cửa mở, đội hình ùn, bị hỏa lực địch sát thương một số, trong đó có cả đại đội trưởng và chính trị viên, số còn lại phát triển lạc hướng. Đại đội phó lên thay, phải củng cố lại khá lâu, không hiệp đồng đột phá được cùng mũi chính. Sau khi củng cố xong, mũi này cũng phải lội qua hào vượt lên đánh vào lô cốt E...

        Đại đội mũi phụ ở phía tây -  bắc, do chuẩn bị bộc phá không cẩn thận, nhiều lần đánh không nổ nên cũng bị chậm lại Địch có điều kiện tập trung hỏa lực đối phó mạnh hơn, khi ta tiếp cận sát hào bị thương vong một số, không đủ sức vượt qua, phải lùi lại để củng cố. Thang chuẩn bị cũng không đủ kích thước, khi bắc qua hào bị hụt... hỏa lực của đại đội và tiểu đoàn bắn rời rạc không đủ sức kiềm chế hỏa điểm của địch, nên khi tổ bộc phá khối lội được qua hào, vượt lên bộc phá lô cốt, bị hỏa lực địch sát thương một số. Anh em rất dũng cảm lao lên đặt được bộc phá vào chân lô cốt, nhưng nụ xòe bị ướt, sử dụng hệt số lượng bộc phá khối mà không quả nào nổ...”.

        Qua một đoạn diễn biến chiến đấu nói trên cho ta thấy rằng, nếu người chỉ huy nắm được tình hình chuẩn bị chiến đấu, nếu biết kịp thời uốn nắn tư tưởng chủ quan và tổ chức kiểm tra chặt chẽ, thì chắc chắn công tác chuẩn bị chiến đấu không đến nỗi đại khái như thế, và lúc chiến đấu nhất định sẽ thuận lợi hơn nhiều.

        Trong trận này, cán bộ và chiến sĩ đơn vị cơ sở chiến đấu rất anh dũng. Sau nhiều lần tranh chấp với địch, đại đội mũi chính đã chiếm thêm được lô cốt cố thủ ở tung thâm vị trí và nhà số 5 là nơi chỉ huy đầu não của địch. Nhưng lực lượng các đơn vị đột kích 1 nói chung đã đuối sức. Đơn vị đột kích 2 của trung đoàn thì còn nguyên vẹn. Thời gian còn hai giờ nữa mới sáng. Trung đoàn trưởng quyết tâm sử dụng đại đội... của đột kích 2. Đồng chí giao cho tham mưu trưởng dẫn lên gặp trung đoàn phó ở chỉ huy sở của tiểu đoàn chủ công và chịu quyền chỉ huy của trung đoàn phó. Ba mươi phút sau, đại đội của đột kích 2 và tham mưu trưởng tới vị trì nhận nhiệm vụ. Do ngại đánh ban ngày, sợ phi pháo của địch, một số cán bộ đã đề nghi trung đoàn cho rút.

        Vì không nắm được tình hình cụ thể và cho rằng các đồng chí ở đột kích 1 nắm được tình hình cụ thể hơn, trung đoàn đã thay đổi chủ trương và đồng ý với đề nghị lui quân. Lúc đó, quân địch trong cứ điểm đã bị tiêu hao nặng, còn một số đang lúng túng hoang mang, chỉ mong cố thủ những chỗ còn lại được đến sáng để chờ viện binh.

        Sau này tổng kết anh em thấy rằng, nếu lúc đó trung đoàn trưởng nắm được tình hình, kiên quyết sử dụng đột kích 2 đánh thúc vào phía sau lưng 3 lô cốt ngoại vi còn lại, thì mũi phụ có điều kiện phát triển thuận lợi hơn và chắc chắn trận đánh sẽ kết thúc gọn.

        Qua những mẩu chuyện trên, chúng ta thấy rằng vấn đề mấu chốt của người chỉ huy đối với việc nắm tình hình ta phải nắm thực chất tư tưởng cán bộ và chiến sĩ để có kế hoạch lãnh đạo đến nơi đến chốn. Đồng thời còn phải xem xét thực chất tổ chức, số lượng và chất lượng trình độ kỹ thuật chiến thuật và công tác chuẩn bị cụ thể. Làm được như thế, quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy chắc chắn sẽ ít phạm sai lầm.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:30:48 AM

TAI NGHE KHÔNG BẰNG MẮT THẤY

        Để có cơ sở hạ quyết tâm chính xác, một trong những công việc rất quan trọng của người chỉ huy là công tác chuẩn bị chiến trường, trinh sát thực địa. Chuẩn bị chiến trường thực chất là một thử thách đối với người chỉ huy về tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn và cũng là một thử thách về lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu hy sinh, tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước quần chúng.

        Bất cứ đánh theo hình thức nào đều phải có công tác chuẩn bị chiến trường. Mỗi một cách đánh có đặc điểm của nó, nên nội dung công tác chuẩn bị chiến trường yêu cầu cũng khác nhau. Thí dụ: Đánh úp, đánh địch đổ bộ bằng máy bay lên thẳng thì địch đông, thời gian gấp rút; đánh địch trong công sự vững chắc thì địch cố định, có thời gian chuẩn bị hơn v.v... Vì vậy, yêu cầu công tác chuẩn bị chiến trường là do yêu cầu, đặc điểm của trận đánh quy định.

        Người chỉ huy nếu vì ngại gian khổ, sợ hy sinh, chuẩn bị chiến trường không đến nơi đến chốn, đứng xa quan sát đại khái, hoặc chỉ nghe lời đồn đại, địch thế này, địa hình thế kia, rồi cứ thế hạ quyết tâm, thì khó tránh khỏi những khó khăn không lường được khi chiến đấu.

        Sau khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, đội công tác chuẩn bị chiến trường phải có quyết tâm "ba bốn núi cũng trèo, bảy tám sông cũng lội, nhín mười đèo cũng qua", điều gì còn nghi nghi hoặc hoặc thì đi tới nơi xác định rõ ràng. Người chỉ huy phải băn khoăn, bứt rứt, khó chịu khi thấy rằng công tác chuẩn bị chiến trường của đơn vị chưa chu đáo, có điểm còn mập mờ chưa rõ. Phải tìm mọi cách chuẩn bị chu đáo, kể cả trường hợp đánh tập kích cũng không được vin vào hoàn cảnh địch di chuyển thay đổi luôn, thời gian gấp rút mà bỏ qua công tác chuẩn bị chiến trường. Nhất là không được rời địch một phút, một giây. Địch đi một bước, ta theo một bước. bám sát địch suốt ngày, suốt đêm. Địch dừng lại, ta biết rõ nơi địch bố trí; địch đi, ta biết rõ đường đi và đội hình của chung, v.v...

        Khi đánh vị trí có công sự vững chắc thì công tác chuẩn bị chiến trường lại càng kiên trì, bền bỉ, chịu khó, tỉ mỉ và dũng cảm. Khi nói đến công tác chuẩn bị chiến trường, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng ta đều có thể đóng góp được rất nhiều chuyện, rất nhiều bài học bổ ích để trao đổi học tập lẫn nhau.

        Dưới đây, xin kể chuyện chuẩn bị chiến trường của đại đoàn chúng tôi trong chiến dịch Tây Bắc, mà tôi đã nói ở phần đầu cuốn sách.

        Nghĩa Lộ là một trong 4 phân khu (Lai Châu, Thuận Châu, Nghĩa Lộ, Sơn La), thuộc khu quân sự độc lập ở vùng địch chiếm đóng Tây Bắc. Đây là chỗ mạnh nhất của địch ở Tây Bắc. Nó là "bức bình phong" che chở phòng tuyến sông Đà và là bàn đạp tấn công uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc. Đại đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ thọc sâu vào trong lòng địch, tiêu diệt hai cứ điểm Pú Chạng và Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt cứ điểm Cửa Nhì. Đó là yêu cầu chính của đợt mở màn chiến dịch.

        Địa thế Nghĩa Lộ rất hiểm trở. Ngoài con đường độc đạo số 13, muốn tiến vào Nghla Lộ phải băng rằng, vượt núi hoặc dò theo những con đường ít vết chân người, đèo cao dốc đứng. Trên đường đi có nhiều chỗ rất hiểm: chi cần một vài người cũng có thể ngăn chặn nổi một cánh quân. Con đường ấy đã hạn chế rất lớn công tác tiếp tế vận tải. Lúc thường ngồi nghĩ tới con đường xa xôi heo hút ấy đã hình dung thấy gian khổ nhường nào rồi! Đầu mùa thu năm 1951, trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, một đơn vị được lệnh vượt qua núi rừng hiểm trở tiến đánh Nghla Lộ. Lúc đang trên đường tiến quân đã bị bọn phản động, tay chân của giặt phát giác: mặt khác sự tiếp tế vận tải gặp khó khăn lớn nên đơn vị không đủ sức hoạt động lâu dài đành phải vượt núi lui quân.

        Tôi được biết lúc này quân địch vẫn tự đắc coi Nghĩa Lộ là nơi "bất khả xâm phạm!”. Chúng càng ra sức củng cố, tăng cường càn quét, đánh phá cơ sở của ta, tung gián điệp biệt kích hoạt động trên dọc đường và các bản hẻo lánh rẻo cao và đặt chông, mìn trên các đường ta có thể đi qua. Muốn tiến vào Nghĩa Lộ, chúng ta phải vượt qua tiểu khu Ba Khe, Cửa Nhì, Gia Hội gồm một hệ thống cứ điểm tiền tiêu án ngữ mọi ngõ ngách hiểm yếu.

        Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đại đoàn giao trách nhiệm cho tôi phụ trách một đoàn cán bộ, cùng anh em quân báo vượt qua các vị trí tiền tiêu của địch, đi chuẩn bị chiến trường. Để giữ bí mật, tránh bọn gián điệp biệt kích phát hiện, chúng tôi đã xuyên rừng vượt núi, tìm những con đường đi hẻo lánh nhất. Trên vai mỗi cán bộ phải đèo thêm một bao gạo đầy căng, ngoài ra còn mang đầy đủ chăn màn, quán áo, đồ dùng cá nhân và vũ khí, đạn dược.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:32:59 AM

        Xuyên qua rừng rậm âm u, chúng tôi hết vượt đèo lại lội suối có ngày lội bì bõm 24 khúc suối liền. Hai bàn chân của tôi trắng nhợt, các ngón teo lại dăn dúm như quả mơ khô. Các kẽ ngón và dưới gan bàn chán nước ăn lỗ rỗ. Các đồng chí khác cũng thế, chân không giày không dép lại phải leo lên những mỏm đá nhọn đau buốt đến tận tim. Đồng chí Thái Dũng, trung đoàn trưởng trung đoàn X, mặc dầu chỉ còn một tay nhưng cũng nhất định đeo một bao gạo. Vượt qua nhùng mỏm núi cheo leo, đồng chí ngoắc tay vào cành cây, đu người qua.

        Cách xa Nghĩa Lộ, chúng tôi đã phát hiện mìn của địch gài ở dọc đường mòn và cả hai bên rừng. Chúng tôi lại đi tắt rừng vòng đường khác. Mỗi lúc gặp gian nan, chúng tôi thường nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để động viên nhau.

        Đường đi đã khó, thỉnh thoảng trời lại đổ mưa. Quần áo chúng tôi ướt sũng lấm bê bết. Ngón chân, ống chân mỏi rời, vì phải luôn bấm chặt xương sườn núi chênh vênh, trơn tuột.

        Khi tới suối Bản Tủ, nước lũ đổ về chảy xiết. Chúng tôi rất lo. Thời gian gấp, bộ đội đang chuẩn bị và sắp hành quân, không thể dừng lại ở đây chờ nước rút mới qua suối. Chúng tôi bàn trạc quyết định chặt nứa đóng mảng. Các đồng chí quân báo đề nghị sang trước xem sao đã. Mảng vừa xuống suối đã trôi đi băng băng. Các chiến sĩ ra sức chèo chống nhưng không sao ghìm nổi. Sóng trùm lên mảng, cuốn đi. Trên bờ, chúng tôi chạy dọc suối để tìm cách đón anh em, nhưng không thấy đâu nữa. Thì ra nước đã cuốn anh em trôi đi nấy ki- lô- mét. Những với tính gan góc và mưu trí, anh em quân báo đã bám vào cành cây, vật lộn với nước lũ, rồi băng rừng, và sáng hôm sau trở về với chúng tôi.

        Vượt bằng mảng không thành công, chúng tôi bàn cách nối dây dù lại, một đồng chí cầm một đầu dây bơi sang trước buộc vào thân cây bên kia, để anh em bám vào dây lội sang. Vượt suối thành công, chúng tôi quên cả mệt nhọc, hăng hái đi suốt đêm. Có hôm chúng tôi lạc đường. Đi chuẩn bị chiến trường mà lạc đường thì vô cùng nguy hiểm, lỡ kế hoạch, lỡ thời gian, có khi lộ bí mật. Bộ đội đang hành quân theo sau, đến nơi mà cán bộ chưa chuẩn bị xong thì biết bao nhiêu khó khăn sẽ đến. May sao, gặp một thanh niên người địa phương, sau khi thử thách thăm dò, biết là người tốt, chúng tôi yêu cầu anh dẫn đường. Anh vui vẻ sẵn sàng giúp chúng tôi đi đến nơi.

        Tới Nghĩa Lộ, chúng tôi vừa hết gạo, lại một mối lo nữa. Vì còn phải ở đây nghiên cứu một thời gian và còn phải trở lại đón bộ đội, lấy gì mà ăn?

        Chúng tôi đang lo thì gặp một chiến sĩ quân báo của Bộ nằm sẵn trong phố Nghĩa Lộ ra đón. Biết rõ mỗi lo của chúng tôi, đồng chí về phố ngay, và đến chiều đem ra rừng cho chúng tôi khá nhiều gạo và một ít mắm tôm. Chúng tôi nấu cơm, nắm mỗi người một nắm to để ngày sau không phải nấu nướng, vừa để giữ bí mật, vừa đề phòng bất trắc. Mặt khác, chúng tôi thu xếp cho anh em ốm nặng nghỉ lại, tổ chức người bảo vệ, người chăm sóc chu đáo. Nhưng anh em ốm không nghe, đề nghị cán bộ cứ đi chuẩn bị chiến trường, còn anh em ốm ở lại sẽ tự bảo vệ, tự săn sóc nhau.

        Men theo rừng Nghĩa Lộ, chúng tôi leo lên đỉnh một quả đồi để quan sát, Pú Chạng chính là nơi tôi và anh Nho gặp nhau sau khi vượt khỏi nhà tù Nghĩa Lộ (3-1945), nay là chỉ huy sở của tên quan tư Ti- ri- ông, chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ. Ban ngày nằm trên đỉnh một quả đồi nhìn sang đồi Pú Chạng, chúng tôi quan sát vị trí địch rất rõ. Ban đêm, chúng tôi vào gần hơn cán bộ đại đội, tiểu đoàn bò sát tận hàng rào của địch, nghiên cứu từng ụ súng, từng mô đất tìm nơi đặt từng khẩu súng máy... Nghiên cứu xong Pú Chạng, chúng tôi trở về phía bắc điều tra vị trí Nghĩa Lộ phố. Chúng tôi vào sát Nghĩa Lộ chừng bảy, tám trăm mét, nam trên đỉnh mỏm đồi nhìn xuống phố Nghĩa Lộ rõ mồn một. Đầu sân bay là trại giam, trước Cách mạng tháng Tám đế quốc Pháp đã nhốt chúng tôi ở đó Sân bay, xưa là vườn ổi, nơi tôi đã chôn mấy đồng chí ta bị chết vì bệnh sốt rét ác tính ở trong nhà giam. Vị trí địch đóng trên đồi cao hơn mặt ruộng khoảng 15 mét. Ở phía tây nam thị trấn chính là đồn lính canh phòng chúng tôi ngày trước. Ban ngày xem xét kỹ; ban đêm tuỳ từng cấp, từng cương vị, chúng tôi bò vào sát vị trí để xem xét cụ thể hơn nữa.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:35:03 AM

        Tiện đây, tôi nói thêm một kinh nghiệm nhỏ nhưng rất cần thiết đối với công tác chuẩn bị chiến trường. Mặc dầu ban ngày quan sát địa hình, tình hình địch rõ rồi, nhưng vẫn phải nghiên cứu ban đêm, vào gần hơn nữa, cụ thể hơn nữa, nhận dạng địa hình địa vật để sau này vào chiếm lĩnh ban đêm không bỡ ngỡ. Ngược lại, mặc dầu ban đêm nghiên cứu tỉ mỉ, vào gần rồi, nhưng phải tìm cách nghiên cứu ban ngày. Vì ban ngày nhìn được địa thế bao quát hơn, xác định rõ từng địa vật hơn, còn đêm tối nhìn hình thù địa vật mờ mờ, có khi xác định không đúng thực chất của nó. Nếu cán bộ đi chuẩn bị chiến trường chỉ ở xa dùng ống nhòm quan sát ban ngày, thì khi tiến vào chiến đấu ban đêm, "quân" lạc đường, "tướng" lạc đường, bộ binh, hỏa lực giẫm đạp vào nhau, địch một nơi đánh một nẻo, thậm chí đánh cả vào chỗ không có  địch hoặc đánh quay trở lại hướng mình vừa xuất phát. v.v… Ngược lại, có trận đánh, cán bộ chỉ huy quan sát ban đêm nên không nắm được bao quát tình hình và xác định địa vật không đúng. Có đơn vị bố trí giơ cả sườn, quay cả lưng vào một mỏm đồi khác có địch bố trí, nhà lá thì cho là nhà gạch, nhà một tầng thì bảo là hai, hàng rào đơn thì bảo hàng rào kép... Tất cả những vấn đề cụ thể ấy đều có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của trận đánh.

        Trở lại câu chuyện chuẩn bị chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc. Như vậy, tính từ ngày rời tả ngạn sông Hồng chúng tôi đã đi gần một trăm ki-lô-mét xuyên rừng vượt núi và đi vòng quanh Nghĩa Lộ -  một thung lũng chiều dài 15 ki- lô- mét, chiều ngang chỗ rộng nhất 6 ki- lô- mét, chỗ hẹp nhất cũng chừng 3 ki-lô-mét. Mưa gió rét buốt tận óc. Những cán bộ bị bệnh đau dạ dày như tôi và một vài đồng chí nữa thỉnh thoảng lại đau dữ dội. chống gậy đi cũng không vững. Chân chúng tôi toé máu tươi, rỗ tổ ong, cố cắn răng chịu đựng. Có mấy đồng chí vừa đau chân vừa sốt rét vẫn theo sát đoàn. Trong lúc khó khăn hiểm nghèo, cán bộ đại đoàn, trung đoàn và các cấp dưới rất thương yêu nhau, đùm bọc nhau như anh em ruột thịt vậy. Cho nên: nhiều lúc chúng tôi quên cả vất vả, ngơi một phút lại cùng nhau bàn bạc làm thế nào để chấp hành nhiệm vụ đạt kết quả tốt, chiến đấu thắng lợi.

        Lúc trở ra, gần tới đèo Khau Vác, đuôi của dãy núi Phăng Xi Păng, chúng tôi gặp một tiểu đoàn cơ động của địch đóng chặn ở chân đèo. Chúng tôi bàn cách một là đi vòng đường khác, nhưng xa và lỡ kế hoạch tác chiến; hai là tản ra, phân tán đi qua các khe suối, nhưng dễ lạc lung tung, có khi đâm cả vào địch, chỉ một người bị địch bắt cũng nguy hiểm; ba là đi ngay dưới chân đèo sát khu vực địch đóng. Chúng tôi nhất trí cách thứ ba, vì đó là nhằm vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Ban đêm, chúng phải đóng gọn lại, canh gác thu lu một chỗ, không dám lùng sục ra xa. Mặt khác, chúng đang chủ quan cho là bộ đội chủ lực của ta không thể đến ngay đây được. Trường hợp nếu địch phát hiện được, anh em quán báo sẽ đánh kiềm chế để cán bộ vượt qua. Quả nhiên ban đêm chúng tôi đã vượt qua ngay trước mũi của địch rất êm thấm. Ra khỏi đèo Khau Vác, gạo ăn lại hết, chúng tôi tới các bản làng trên đỉnh núi xin ngô, may mắn đồng chí liên lạc đã đi với chúng tôi, quê hương ở vùng đó, đã dẫn chúng tôi về bản xin ngô và đem đi một ít dự trữ ở dọc đường.

        Trong khi đó, ở bộ tư lệnh đại đoàn, đồng chí chính ủy Song Hào giúp tôi đôn đốc cơ quan tham mưu xúc tiến công tác chuẩn bị cho bộ đội, đồng chí Cao Văn Khánh, đại đoàn phó, lên Bộ nhận nhiệm vụ cụ thể. Các đồng chí ở nhà được tin địch đóng chặn đường, đang định cấp tốc đưa bộ đội đến phá vây thì chúng tôi đã về tới đơn vị.

        Công tác chuẩn bị tư tưởng, chuẩn bị vật chất ở đơn vị đã làm đầy đủ công tác chuẩn bị chiến trường cũng đã hoàn thành, chúng tôi tạm coi như đã cầm chắc một phần chiến thắng.

        Kết quả cụ thể của lần chiến đấu này, tôi xin kể vào một đoạn sau.

        Qua những sự việc kể trên, bản thân tôi rút ra cho mình một bài học về tác phong chỉ huy là phải thật tỉ mỉ, cụ thể, bất kể việc to hay nhỏ, từ việc giáo dục và huấn luyện cho đến chiến đấu, nhất là chiến đấu. Tôi sẽ nói thêm ở phần sau: Phải "ý tới, chân đi tới, mắt nhìn tới", phải "miệng nói tay làm”.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:37:01 AM

QUYẾT TÂM, DỨT KHOÁT, RÕ RÀNG

        Sau khi xem xét, suy nghĩ về địa hình, tình hình địch và tình hình ta, người chỉ huy hạ quyết tâm chiến đấu, ta thường gọi là lập phương án hoặc kế hoạch tác chiến.

        Những căn cứ và nội dung hạ quyết tâm chiến đấu tôi không nói ở đây, mà chỉ nêu một số kinh nghiệm của bản thân về hạ quyết tâm.

        Quyết tâm của người chỉ huy phải dứt khoát và mưu trí. Khi duyệt quyết tâm của cấp dưới cũng phải dứt khoát rõ ràng, có thái độ kiên quyết và tạo điều kiện giúp đỡ cấp dưới thực hiện quyết tâm.

        Sau khi đã suy nghĩ kỹ, người chỉ huy không được do dự, mập mờ ý định, mà phải báo cáo quyết tâm dứt khoát, rõ ràng với cấp ủy để cấp ủy phê chuẩn. Có quyết tâm dứt khoát để toàn bộ công tác lãnh đạo, giáo dục chính trị hướng vào đó, toàn bộ công tác tổ chức, chuẩn bị hướng vào đó, toàn bộ công tác đảm bảo vật chất hướng vào đó. Có quyết tâm dứt khoát để mọi người tích cực thực hiện cho bằng được quyết tâm ấy. Song song với quyết tâm chính, người chỉ huy cần có dự kiến các tình huống khác để chuẩn bị ứng phó, tránh bị động, lúng túng.

        Trong công Lác, tôi đã gạp một số trường hợp. Trong đó tôi thấy quyết tâm của cán bộ chỉ huy không dứt khoát. rõ ràng. Một cán bộ nhận nhiệm vụ đánh vị trí địch. Đồng chí trao nhiệm vụ cho một đơn vị tiêu diệt một trong hai cứ điểm; còn đơn vị kia bố trí ở khoảng giữa hai cứ điểm, với ý định khì đơn vị đánh gặp khó khăn, đơn vị này sẽ vận động tới tăng cường cùng giải quyết cho xong; hoặc nếu địch tiếp viện thì đánh viện; nếu địch không tiếp viện, có thời cơ thì đánh luôn cứ điểm thứ hai.

        Tôi hỏi:

        - Tại sao không bố trí đội hình thành thế trận hẳn hoi, kiên quyết tiêu diệt một cứ điểm, sau đó tập trung tiêu diệt nốt cứ điểm kia?

        Đồng chí trả lời:

        - Tất cả đánh một cứ điểm có thể sẽ thừa, lực lượng không sử dụng hết, vả lại đã tập trung nhiều pháo, cối vào đấy rồi!

        Tôi bảo:

        - Nếu đủ sức thì đồng thời tấn công cả hai cứ điểm trong một đêm.

        Đồng chí lắc đầu, sợ không đủ sức.

        Tôi bảo:

        -  Vậy thì phải bố trí làm sao tạo thời cơ tiêu diệt quân địch ở nơi khác viện đến.

        Đồng chí đáp:

        -  Chưa chắc địch viện đã đến.

        Theo tôi, nếu cứ giữ quyết tâm ấy thì có khi đánh điểm không xong, đánh viện cũng chẳng được, và cấp dưới rất khó chấp hành nhiệm vụ. Có đủ cơ sở rồi mà người chỉ huy hạ quyết tâm như thế là quyết tâm mập mờ, không rõ ràng. Nhưng khi chưa có đủ cơ sở mà người chỉ huy đã vội hạ quyết tâm cũng là sai lầm.

        Bất cứ một tình huống nào, người chỉ huy cũng cần suy nghĩ thật chín chắn, tìm mọi cách để hạ quyết tâm dứt khoát, rõ ràng, đồng thời dự kiến những tình huống khác để sẵn sàng ứng phó, chưa có thời cơ phải tạo ra thời cơ. chưa đủ điều kiện phải tạo ra điều kiện, chỉ có như thế mới giữ được thế chủ động và tạo điều kiện cho mình nắm được quyền chủ động. Đó là tiền đề tạo ra chiến thắng.

        Lại một trường hợp khác mà theo ý kiến tôi cũng là quyết tâm không rõ ràng. Một đơn vị nhận nhiệm vụ tạo thời cơ để tiêu diệt địch ở ngoài công sự. Đơn vị giao cho bộ đội địa phương tấn công tiêu diệt một cứ điểm, còn toàn đơn vị tập trung vào nhiệm vụ danh địch ngoài công sự.

        Theo tình hình cụ thể, địch có thể từ 3 hướng tiếp viện tới. Đơn vị hạ quyết tâm bố trí ở đoạn giữa để có thể đánh địch từ 3 hướng và có 3 phương án tác chiến 1, 2, 3 (phương án 1 có nhiều khả năng nhất). Dự kiến nhiều tình huống và đặt nhiều phương án tác chiến, như thế là cần thiết và phải làm. Nhưng bố trí lực lượng cụ thể thì lại không dứt khoát rõ ràng, quyết tâm còn mập mờ, do dự. Lực lượng bố trí ở đoạn rất chênh vênh, ngay với phương án 1 có đơn vị phải vận động 6 ki- lô- mét trên địa hình trống trải; đối với phương án 2 có đơn vị phải vận động 8 đến 10 ki- lô- mét cũng trên địa hình trống trải... Xem ra không có phương án nào là phương án "chắc ăn” cả, phương án nào cũng bấp bênh có thể thế này, có thể thế khác. Đáng lẽ, sau khi dự kiến tỉ mỉ về địch, người chỉ huy chọn lấy một phương án theo tình huống có thể xảy ra nhiều nhất và chắc thắng nhất để làm quyết tâm cơ bản, tạo mọi thời cơ nghi binh, dụ dịch, lôi kéo địch để buộc địch phải hành động theo ý muốn của mình; tập trung mọi điều kiện khả năng tổ chức, công tác bảo đảm, v.v. để kiên quyết đánh thắng địch theo phương án nào đó. Muốn vậy, phải tổ chức lực lượng ngăn chặn địch ở phía này, bao vây kiềm chế địch ở hướng kia, bố trí quân thích hợp với địa hình...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:03:28 PM

        Đồng thời, người chỉ huy phải dự kiến những tình huống khác có thể xảy ra, có kế hoạch ứng phó đầy đủ, để khi quyết tâm cơ ban thay dối cũng không bị động, lúng túng. Nhưng không vì đó mà do dự với quyết tâm cơ bản, đi đến lững lờ về bố trí quân, mập mờ và nhập nhằng về tư tưởng. Nếu không kiên quyết tập trung "dứt điểm" từng nơi mà chỗ nào cũng muốn có quân, có hỏa lực, chỗ nào cũng muốn đánh mạnh ngay thì cuối cùng chỗ nào cũng yếu, chỗ nào đánh cũng lem nhem, nham nhở. Như vậy khó mà giành được thắng lợi toàn vẹn.

        Một yêu cầu khác đối với người chỉ huy là khi hạ quyết tâm phải chịu khó suy nghĩ, tìm mưu này kế khác để đánh được địch. Tôi nghĩ: "Đánh giặc phải mưu mẹo, nếu đánh theo lối thật thà, chất phác hoặc ngây ngô, khờ dại thì không những khó thắng mà có khi còn bị tổn thất nặng". Ta và địch ở trên chiến trường luôn luôn tìm mọi cách tiêu diệt lẫn nhau. Bản chất của kẻ thù là ngoan cố, xảo quyệt và tàn bạo. Muốn thắng địch, người chỉ huy phải tinh khôn vạch ra những kế hoạch hết sức mưu mẹo. Đặc biệt trong tình hình kẻ địch đông hơn ta hoặc mạnh hơn ta về vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại thì kế hoạch tác chiến của người chỉ huy lại càng phải mưu mẹo: khéo nghi binh đánh lừa địch, làm chođịch không thê phán đoán được ý định tác chiến của ta, làm cho chúng luôn luôn bị động, đánh hụt, vấp đau.

        Vừa rồi, có một cán bộ đến gặp tôi, đề nghị tôi truyền đạt một vài "miếng võ hiểm” của người chỉ huy. Tôi định trao đổi với đồng chí ấy về vấn đề người chỉ huy đánh giặc phải mưu mẹo. Nhưng đó lại là việc mà đồng chí đã từng làm. Tôi được biết đồng chí đã chỉ huy rất dũng cảm, linh hoạt một đơn vị thuộc đại đoàn hoạt động trong lòng địch ở đồng bằng. Có khi ở giữa vòng vây của mấy binh đoàn cơ động của địch nhưng đơn vị đồng chí không những không bị tiêu hao mà còn giáng cho địch những đòn đau điếng. Đồng chí đã nghi binh chỗ này, quấy rối chỗ kia, để rồi tập trung lực lượng đập những đòn quyết định vào chỗ khác: khiến cho kẻ địch đang từ chủ động đi tấn công càn quét trở thành bị động đối phó cuống cuồng. Ngay chỉ trong một trận đánh vị trí địch có công sự vững chắc hay một trận tập kích, đồng chí cũng nghĩ mưu này mẹo khác, chứ không tự trói buộc mình vào sách vở mẫu mực một cách cứng đờ. Có trận tập kích, nếu so sánh về số lượng, ta ít hơn địch về quân số, vũ khí và cả về địa thế cũng không lợi bằng địch; ngoài ra kẻ địch có thể tiếp viện từ 2, 3 hướng đến ứng cứu và pháo binh 2, 3 nơi có thể bắn tới xung quanh mục tiêu. Mặc dầu chiến đấu trong điều kiện khó khăn như vậy, đồng chí vẫn tập trung được ưu thế về hỏa lực, xung lực ở đoạn "hiểm yếu nhất, ở thời cơ bất ngờ nhất, trong một thời gian nhất định", thọc được vào giữa đội hình địch, ngay từ đầu đã tiêu diệt sở chỉ huy, trận địa pháo của chúng và từ đó tỏa ra tiêu diệt toàn bộ quân đích. Khi lui quân đồng chí lại khéo nghi binh làm địch bị mắc lừa đánh nhầm vào nhau. Trận đánh thắng lợi rất đẹp.

        Tôi không kể kinh nghiệm của tôi, mà chỉ gợi lại một vài trận đánh trên và kết luận đó chính là một trong những "bí quyết" của người chỉ huy.

        Có lần tôi đến thăm một làng chiến đấu. Để giữ con đường vào làng, các đồng chí ở đây bố trí một khẩu súng máy ở ngay cổng chính, giữa làng đắp một lô cốt cao có ba lỗ châu mai. Thoáng xem cũng thấy bố trí khẩu súng máy như vậy thật thà, chân phương quá! Xây đắp lô cốt như vậy có vẻ ngây thơ, khờ dại quá! Nói cho đúng thì đó là không mưu mẹo, chưa quán triệt sâu sắc tư tưởng, quan điểm về cách đánh của ta. Đánh giặc theo kiểu vỗ ngực, khoa dao “bớ ta đây” như thế thì có khi chưa bắn được giặc, giặc đã diệt mình, hoặc có khi vừa nổ súng bắn được vài phát đã bị kẻ địch bắn trả lại làm ta tê liệt ngay. Dù những ụ súng to như đống rơm ấy có bằng xi măng cốt sắt, kẻ địch - bắn súng này chưa sập thì dùng súng khác, phát trước không đổ thì phát sau, mãi cũng đổ.

        Ta đã ít súng, tính năng vũ khí của ta có lúc lại kém hơn của địch mà bày ra như "bày hàng xén" thì nhất định chả mấy chốc "khánh kiệt gia tài". Vì súng ta chưa bắn tới địch, thì súng địch đã bắn tới ta. Vì ta có ít, địch có nhiều, ta bị hỏng một là thiệt thòi rất lớn, địch hỏng hai ba vẫn chưa ảnh hưởng lắm. Chính vì lẽ đó mà người chỉ huy càng phải suy nghĩ tìm mưu kế diệt địch. Có trường hợp cụ thể nào đó, ta có lực lượng nhiều hơn địch, tập trung vũ khí mạnh hơn địch, nhưng nếu người chỉ huy đánh giặc theo kiểu "vỗ ngực ta đây", ỷ lại vào vũ khí, ỷ lại vào quân đông, đánh giặc không theo đúng cách đánh của ta, không linh hoạt, mưu mẹo thì không những không thắng được địch mà có khi còn bị tổn thất nặng nề.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:05:22 PM

        Làng mạc và núi rừng Việt Nam ta có nhiều địa hình địa vật phức tạp, hiểm hóc. Nếu người chỉ huy chịu khó tìm tòi suy nghĩ thì trong chiến đấu bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào cũng có thể tạo thành thế bí mật, bất ngờ. Bí mật, bất ngờ có sức mạnh không gì sánh nổi. Có quyết tâm, mưu mẹo thì ta nhìn thấy địch mà địch không nhìn thấy ta; ta bắn được địch mà địch khó bắn được ta; ta ít súng, tính năng vũ khí của ta thấp hơn địch nhưng uy lực sát thương địch lại rất lớn, v.v. Làm được như thế, kẻ địch mạnh mấy rồi cũng trở thành yếu, ngoan cố mấy cũng phải thua.

        Năm 1946, chiến đấu với địch ở Thủ đô, bộ đội ta đã dùng nhiều mưu đánh giặc. Ta đóng ở Bắc Bộ phủ, địch ở khách sạn Mê- tơ- rô- pôn (khách sạn Thống Nhất bây giờ). Để bất ngờ tiêu diệt địch, ta đã đào một con đường ngầm dưới mặt đường sang tới dưới nền nhà khách sạn và đặt một quả bom 250kg. Địch hoàn toàn không biết. Ở nhiều nơi khác, ta cũng làm như vậy. Hồi đó, lực lượng của ta còn ít. Chiều tối, Bộ chỉ huy mặt trận huy động hàng ngàn dân quân tự vệ ngoại thành rầm rập kéo vào Hà Nội, nửa đêm và sáng lại phân tán đi ra. Giặc Pháp tưởng lầm là ta huy động hơn bốn vạn quân về bảo vệ Thủ đô. Khi tác chiến, để làm tròn một trong ba nhiệm vụ là "giam chân giặc ở Hà Nội một thời gian...", chúng ta không đánh theo kiểu chia ba tuyến: các cửa ô -  Giáp Bát, Đuôi Cá -  Hà Đông để bao vây địch như ý kiến của một sĩ quan Nhật tham gia. Chúng ta đã táo bạo cho tiểu đoàn 101 bố trí ở lại trong Liên khu I, và 4 tiểu đoàn bám ở các cửa ô, thực hiện thuật "trùng độc chiến". Địch quay vào đánh Liên khu I thì 4 tiểu đoàn ở bên ngoài đánh vào sau lưng. địch quay ra đánh về hậu phương, tiểu đoàn 101 lại đánh sau dưng chúng, tạo thành thế giàng co lôi kéo địch. Chính vì vậy địch đã mắc mưu ta.

        Người chỉ huy còn có nhiệm vụ nữa là duyệt quyết tâm của cấp dưới. Vấn đề này rất quan trọng. Nhưng tôi chỉ nêu một kinh nghiệm mà tôi thường gặp và giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.

        Khi duyệt quyết tâm của cấp dưới sau khi suy nghĩ chín chắn, xem xét, đối chiếu với chủ trương, kế hoạch chung, đối chiếu với quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng vận dụng vào thực tiễn, người chỉ huy thấy chỗ nào đồng ý thì nói rõ là đồng ý, chỗ nào không đồng ý nói rõ là không đồng ý, thấy đúng cũng phân tích sâu thêm để cấp dưới tin tưởng vào quyết tâm của mình, thấy sai cần sửa như thế nào phải nói rõ. Tóm lại, duyệt quyết tâm của cấp dưới phải dứt khoát, kiên quyết, tuyệt đối không nể nang, do dự. Nể nang, do dự sau này sẽ hối không kịp. Khi quyết định cấp dưới sửa quyết tâm, cấp trên eần nghiên cứu xem khả năng sửa tới mức độ nào, tạo điều kiện cho cấp dưới thi hành.

        Trong công tác, tiếp xúc với đồng chí Bộ trưởng Bộ quốc phòng, đồng chí Tổng tham mưu trưởng, tôi đã học tập được điều này. Khi duyệt quyết tâm hoặc ra mệnh lệnh, chỉ thị cho cấp dưới, đồng chí nói rõ ràng, dứt khoát và thái độ rất kiên quyết Thái độ của đồng chí đã giúp chúng tôi phấn khởi, tin ở mình, tin ở trên và kiên quyết làm tròn nhiệm vụ.

        Trong kháng chiến chống Pháp có lần duyệt quyết tâm tác chiến của một trung đoàn, tôi phân vân không đồng ý hướng đột phá chủ yếu của đơn vị. Tôi muốn chuyển hướng đột phá chủ yếu tới phía núi cao để đánh xuống. Nhưng đơn vị nêu khó khăn về đường sá xa, thời gian gấp, v.v. cộng với một phần tư tưởng chủ quan của mình, nên tôi đã đồng ý với quyết tâm đó. Đồng ý rồi, nhưng trong bụng vẫn phấp phỏng, băn khoăn. Quả nhiên, khi tác chiến gặp nhiều khó khăn... Lúc này nghĩ lại thì đã muộn. Bài học ấy làm cho tôi nhớ rất lâu Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi cũng gặp lại một tình huống gần giống như vậy. Tôi không đồng ý với quyết tâm của một tiểu đoàn trưởng. Đồng chí chính ủy đại đoàn và cơ quan tham mưu cũng nhất trí với tôi. Nhưng tiểu đoàn trưởng cứ vin lý do này, lý do khác để khỏi phải thay đổi cách đánh. Vì thời gian chiến đấu có hạn, buộc tôi phải ra mệnh lệnh để cấp dưới chấp hành ngay. Thấy tiểu đoàn trưởng nêu nhiều khó khăn, tôi cũng phải suy nghĩ... Tôi quyết định cùng tiểu đoàn trưởng đi xem xét thực địa, nghiên cứu địch và địa hình. Qua nghiên cứu thực tế, tôi càng thấy rõ quyết tâm của tiểu đoàn trưởng không được chính xác. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng dứt khoát phải sửa đổi quyết tâm, không được một mảy may trù trừ do dự. Tất nhiên, tiểu đoàn trưởng cũng khó chịu, nhưng dần dần và đến lúc bước vào chiến đấu thì tiểu đoàn trưởng đã rõ vấn đề hơn.

        Quyết tâm phải dứt khoát, kiên quyết. Duyệt quyết tâm cũng phải dứt khoát, kiên quyết. Đó cũng là bài học sâu sắc đối với tôi.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:07:56 PM
           
PHẢI “Ý TỚI, CHÂN ĐI TỚI, MẮT NHÌN TỚI”, PHẢI "MIỆNG NÓI, TAY LÀM”

        Quyết tâm của người chỉ huy phải biến thành quyết tâm của quần chúng và thể hiện bằng hành động thực tế, nếu không, quyết tâm đó mới chỉ là ý muốn chủ quan của người chỉ huy. Có quyết tâm đúng là một vấn đề rất quan trọng, nhưng chưa đủ, nếu quyết tâm ấy không được quán triệt tới chiến sĩ, tới các bộ phận thì cũng bằng không, cũng chỉ là quyết tâm của hội nghị, của giấy tờ văn bản mà thôi. Như trong chiến dịch Biên Giới, sau khi đã tiêu diệt binh đoàn Lơ- pa- giơ ở Cốc Xá và binh đoàn Sác- tông ở dãy núi 477, bộ đội ta đang quét tàn binh, thì binh đoàn Đờ La- bôm ở Thất Khê lên cứu viện cho Lơ- pa- giơ và Sác- tông. Khi binh đoàn này tới quả đồi 500, thì đại đoàn hạ quyết tâm để lại một bộ phận quét tàn binh, còn tập trung lực lượng của đại đoàn tiêu diệt cánh quân của binh đoàn Đờ La- bôm, và điện cho trung đoàn V phối hợp đánh ngược từ phía nam lên đồi 500, tạo thành 2 mũi đánh kẹp địch. Nhưng ý định đó mời chỉ truyền đạt cho đồng chí đại đoàn phó, còn với các trung đoàn trong đại đoàn thì lệnh chưa đến kịp, hơn nữa trung đoàn V không nhận được điện. Trận đánh diệt binh đoàn Đờ La- bôm không thực hiện được. Như vậy ta thấy rằng, tuy chủ trương táo bạo, hay, nhưng cấp dưới chưa biết thì chủ trương đó vẫn còn nằm trong ý nghĩ của người chỉ huy, không biến thành hành động thực tế của đại đoàn.

        Do đó, người chỉ huy phải biết tổ chức quán triệt quyết tâm, chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy tới tận chiến sĩ và các bộ phận phục vụ chiến đấu. Người chỉ huy vận dụng cơ quan chỉ huy, vận dụng các tổ chức quần chúng, bằng mệnh lệnh, bằng huấn luyện, bằng công tác chính trị, v.v. tìm mọi cách làm cho mọi người quán triệt quyết tâm. Cần phải có hàng loạt biện pháp cụ thể để biến quyết tâm ấy trở thành thực tế.

        Ngoài những công việc đó, người chỉ huy phải trực tiếp theo dõi, kiểm tra sự quán triệt quyết tâm của cấp dưới. Tin tưởng ở cơ quan, nghe cơ quan báo cáo là cần thiết, nhưng trực tiếp theo dõi, trực tiếp kiểm tra lại càng không thể thiếu được với trách nhiệm cao nhất của người chỉ huy. Mỗi người chúng ta ngồi nghĩ lại quá khứ, chắc rằng người nào cũng đã vấp váp, vì thiếu kiểm tra tỉ mỉ mà gặp khó khăn lớn trong chiến đấu. Một thiếu sót nhỏ trong chuẩn bị có thể trở thành một tai họa vô cùng lớn khi giáp chiến với kẻ thù. Thí dụ: Chuẩn bị bộc phá hoặc phương tiện mở cửa không chu đáo, khi chiến đấu bộc phá không nổ, hỏa lực của địch bắn ra dữ dội, chiến sĩ, cán bộ phải chạy lên chạy xuống để giải quyết khó khăn đó thì nguy hiểm biết chừng nào; còn có trường hợp đang chiến đấu lại hết bộc phá, hết phương tiện mở cửa, bộ đội phải nằm cả ngoài hàng rào thì gay go nguy hiểm biết bao nhiêu. Ấy là chưa nói đến các trường hợp sử dụng binh khí kỹ thuật hiện đại. Quyết tâm tác chiến hay, nhưng sức chiến đấu của bộ đội có hạn, thậm chí súng bắn không nổ hoặc không bắn được thì quyết tâm hay ấy cũng chẳng có giá trị gì. Chỉ thị, nghị quyết về đánh tiêu diệt, bao vây chia cắt địch đã có, nhưng đơn vị dưới hiểu không đến nơi đến chốn, làm sai, làm tắc trách, thì địch sẽ chạy mất hoặc cụm lại ta không diệt được có khi ta còn bị tổn thất. Bố trí quân không đúng ý định chiến thuật, không tỉ mỉ sẽ dễ gây rối ren đội hình chiến đấu. Đã có trận nòng pháo đi một đằng, phương tiện bắn đi một nẻo, đạn để phía sau; khi cần đến thì pháo có nòng không có phương tiện bắn, có pháo không có đạn. Có trận tổ diệt tăng ở cuối đội hình, khi gặp xe tăng địch thì tìm mãi và điều mãi mới lên được; khi tổ diệt tăng lên được thì lực lượng của mũi dao nhọn đã bị sứt mẻ mất rồi, thế là trận đánh không thành. Do đó, yêu cầu người chỉ huy phải kiểm tra, phát hiện và uốn nắn, sửa chữa ngay cho cấp dưới.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:09:29 PM

        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, quy định đào hào giao thông trục để làm đường vận chuyển bộ đội, thương binh, khiêng pháo, v.v. đáy rộng 1,20 mét, miệng 1,40 mét, trên mặt phải đan lưới hoặc giàn nứa nguỵ trang. Tôi nhận được báo cáo của trung đoàn là đã làm xong và tốt, nguỵ trang đầy đủ. Tôi hỏi lại mấy lần đơn vị đều trả lời như vậy. Theo thói quen, tôi lại xuống kiểm tra tại chỗ. Tôi đi trước, đồng chí trung đoàn trưởng đi sau, thỉnh thoảng chúng tôi bị những dây lưới nguỵ trang, hoặc những cây nứa ngáng ngang vào ngực vào cổ, phải gỡ mất mấy phút. Tôi bảo đồng chí trung đoàn trưởng:

        -  Ngụy trang thì có, nhưng để sụt từng mảng chắn ngang đường như thế sẽ cản trở bộ đội đi lại. Nếu cáng thương binh, khiêng pháo nửa, có lẽ nửa ngày mới đi được một ki- lô- mét, đội hình ùn lại, bị máy bay, pháo binh oanh tạc làm sao tránh khỏi tổn thất?

        Chúng tôi tiếp tục đi. Tôi cầm thanh nứa dài 1,40 mét đặt ngang miệng hào, thinh thoảng bị mắc nghẽn, nếu đo tỉ mỉ có chỗ chỉ rộng một mét, thế nhưng vẫn báo cáo là 1,40 mét. Hôm đi kiểm tra gặp trời mưa nên đáy hào bùn nước lầy lội, trơn nhầy nhụa rất khó đi. Tôi bảo đồng chí trung đoàn trưởng: Nếu bốn người khiêng gặp đoạn hẹp như thế thì gay go lắm, đi người không, tránh nhau đã chật chội rồi.

        Sau cuộc kiểm tra, tôi chỉ thị: "Ngay trong đêm phải sửa xong đúng như quy định". Đơn vị chấp hành tốt chỉ thị đó, cho nên khi tác chiến đã tránh được nhiều khó khăn trên đường cơ động.

        Một đơn vị khác làm nhiệm vụ đào trận địa cắt sân bay Mường Thanh. Qua một thời gian đào, tôi nhận được báo cáo còn cách cây cụt 300 mét. Tôi ra lệnh tiếp tục đào. Đêm nữa tôi vẫn nhận được báo cáo “cách cây cụt 300 mét", và qua một đêm nữa vẫn nhận được báo cáo như thế. Kỳ lạ! Đào mãi mà không nhích được một mét nào, thật là vô lý. Tôi cùng trung đoàn trưởng sục ra tận nơi xem sao.

        Thì ra, những đêm trước còn xa cây cụt, cán bộ ước lượng báo cáo là còn cách 300 mét, hôm sau đào vào nhiều nhưng vẫn còn xa, đành nhắc lại con số 300 và hôm sau nữa cũng vậy. Để sửa chữa tác phong đại khái ấy và tìm ra khoảng cách cụ thể, tôi đã cho nối dây dù lại, lấy một người giữ đầu dây và một người bò vào tận gốc cây cụt để đo thì kết quả đúng nhất vẫn không phải là con số 300 mà còn xa hơn nhiều.

        Nếu không tìm ra con số chính xác, khi địch phản kích chiếm trận địa của ta, lấy cây cụt làm vật chuẩn yêu cầu pháo binh ta bắn chi viện, hoặc lấy thước ngắm các cỡ hỏa lực với con số sai lệch trên chắc chắn sẽ hạn chế hiệu quả rất lớn. Nếu hàng rào dây thép gai hoặc lô cốt địch bắt đầu từ gốc cây cụt cự ly xa báo cáo là gần, cấp trên ra lệnh tấn công hoặc xung phong thì nguy hiểm càng gấp bội.

        Trên đây, tôi chỉ kể một kinh nghiệm cụ thể. Điều quan trọng trong khi kiểm tra, người chỉ huy cần xem cấp dưới có quán triệt mục đích, ý nghĩa của sự việc không, quán triệt phương châm. nhiệm vụ tới mức nào. Cần đề phòng trường hợp do cấp dưới ham đánh hoặc dao động đã hành động sai chủ trương, hoặc có trường hợp do quán triệt tư tưởng quân sự của Đảng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của quân đội chưa sâu sắc mà đề ra kế hoạch tác chiến lệch lạc về nguyên tắc, quan điểm.

        Tóm lại, tổ chức quán triệt quyết tâm và kiểm tra việc tổ chức thực hiện quyết tâm là vấn đề hết sức quan trọng. Người chỉ huy phải trực tiếp làm và nắm kết quả cụ thể, chính xác thì chỉ huy mới yên tâm, tác chiến mới thắng lợi toàn vẹn.

        Mặt khác, có quyết tâm chính xác nhưng phải luôn luôn được sự bồi dưỡng quyết tâm của đồng cấp, nhất là các đồng chí chính ủy, chính trị viên, của cấp phó và cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần... Thành tích, công lao là của tập thể, quyết tâm của người chỉ huy phải được mọi người ủng hộ và tích cực giúp đỡ về mọi mặt, bổ sung những điểm cụ thể mà quyết tâm ban đầu chưa được đầy đủ, giúp cho quyết tâm càng được củng cố. Nếu không được mọi người bồi dưỡng và củng cố quyết tâm thì chỉ một cái lắc đầu của những người bên cạnh cũng đủ làm cho người chỉ huy phải suy nghĩ, đấu tranh tư tưởng và có khi quyết tâm bị dao động.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2016, 05:12:18 PM

TÁO BẠO

        Trong chiến đấu có lúc người chỉ huy phải hạ quyết tâm táo bạo mới giành được thắng lợi. Táo bạo mà thắng lợi là vì có trường hợp phải chuẩn bị rất chu đáo, nhưng cũng có trường hợp do chộp được thời cơ có lợi, tạo được bất ngờ, thế mạnh khuyển thành lực mạnh. Như vậy, có trường hợp dùng lực nhỏ hoặc vừa mà vẫn giành thắng lợi lớn.

        Sau đây, tôi kể vắn tắt hai trận đánh của một đơn vị để chúng ta cùng nhau tham khảo.

        Năm 1952, trung đoàn 3 cùng với các đơn vị bạn đang bao vây thị xã Hoà Bình. Pháo binh ta hàng ngày bắn phá sân bay của địch, không cho máy bay của chúng lên xuống tiếp tế. Để phá vây, pháo binh địch điên cuồng bắn phá liên tục vào bộ đội và trận địa pháo của ta, gây cho ta một số khó khăn.

        Trận địa pháo của địch ở một khoảng trống cách sân bay khoảng 5 ki- lô- mét, có hai đại đội bộ binh bảo vệ chiếm giữ địa hình hai bên, cách nhau khoảng 1.500 mét. Để tạo điều kiện cho quân ta bao vây tiêu diệt địch thuận lợi, trung đoàn 3 nhận nhiệm vụ tổ chức một trận đánh tiêu diệt trận địa pháo đó. Thời gian này, các đại đoàn chủ lực của ta chưa có tổ chức bộ đội đặc công, nhưng mọi người đều nhận thấy phải dùng lực lượng ít, nhưng tinh nhuệ để tiêu diệt địch. Trung đoàn đã chọn lọc một số cán bộ, chiến sĩ trong đại đội bộ binh 41, là một đơn vị có truyền thống chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc và sáng tạo. Cán bộ chiến sĩ đoàn kết nhất trí, kỷ luật nghiêm, có tác phong chiến đấu xông xáo, táo bạo, đồng thời cũng là một đơn vị có trình độ kỹ thuật, chiến thuật tốt. Đại đội rất phấn khởi nhận được thư động viên của đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đồng chí căn dặn: "Phải giữ bí mật, đánh bất ngờ và dũng cảm..." Qua kinh nghiệm thực tế, chúng tôi đều nhất trì, muốn đánh thắng trận này phải chuẩn bị mọi mặt thật chu đáo. Quyết tâm giành thắng lợi của anh em rất cao, nhưng phải eo cơ sở vật chất thực tế để giành thắng lợi. Việc đầu tiên là phải nắm địch thật chắc, thật cụ thể. Cán bộ chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên đến tiểu đoàn ai chỉ huy trận này đều trực tiếp đi trinh sát nắm địa hình và địch. Điểm nào nắm không chắc thì đi điều tra lại. Sau khi nắm chắc địch, anh em mở hội nghị quân sự dân chủ thảo luận rất kỹ cách đánh trên bàn cát, có khó khăn cùng bàn bạc, nhằm mục đích nhanh chóng tiêu diệt địch và không để một thương binh, tử sĩ ở lại trận địa. Đồng thời toàn đơn vị tiếp tục chuẩn bị làm thêm những trái "đề tô", làm những ngọn mác buộc lưỡi lê ở đầu vừa để chuẩn bị đánh giáp lá cà, vừa để sẵn sàng làm cáng, cùng với chăn chiên đeo chéo qua người và cuộn thừng vừa để trói tù binh. Anh em bó dép đi chân đất và trang bị rất gọn nhẹ, những gì phát ra ánh sáng, phát ra tiếng động đều được bọc kín và buộc cẩn thận. Trong quá trình luyện tập và chuẩn bị, thấy vấn đề gì chưa hợp lý lại bổ sung, niềm tin chắc thắng càng cao.

        Sự chuẩn bị chu đáo ấy đã giúp cho trận đánh thuận lợi. Chập tối anh em xuất kích, nửa đêm tới nơi dàn quân xong và bắt đầu nổ súng. Quân địch hoàn toàn bị bất ngờ, tên quan ba Pháp bị bắt sống trong lúc đang mặc quần áo ngủ, mắt nhắm mắt mở tưởng rằng quân lính đánh lộn nhau. Cùng lúc đó, tiểu đoàn 80 và 84 cũng tiêu diệt xong 2 đại đội địch bảo vệ ở hai bên, phía trước.

        Như vậy chỉ trong mấy chục phút: toàn bộ trận địa pháo của địch đã bị tiêu diệt. Quân ta không thương vong một người nào. Đó là một trong những bài học dùng nhỏ thắng lớn, đánh táo bạo, nhưng được chuẩn bị chu đáo. Đây cũng là một bài học muốn đơn vị lớn đánh giỏi, nhất thiết phải rèn luyện cho phân đội nhỏ đánh giỏi.

        Cũng đơn vị trên, trong chiến dịch Thu Đông năm 1952, tiến hành một trận đánh lớn, nhưng thời gian chuẩn bị chỉ có vài tiếng đồng hồ.

        Sau 7 đến 8 ngày hành quân và tác chiến tiêu diệt xong quân địch ở Cửa Nhì, trung đoàn tiếp tục vận chuyển gạo hành quân tiến sâu vào Tây Bắc. Vừa lúc ấy, chúng tôi được cấp trên thông báo là địch dùng 5 GM1 (Chữ viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: groupement mobile -  một cụm chiến thuật gồm từ 2 đến 4 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng) đổ bộ lên Phú Thọ, Đoan Hùng tiến lên Yên Bái đánh vào hậu phương của ta. Trung đoàn được giao nhiệm vụ hành quân quặt trở lại, cùng với bộ đội địa phương đánh địch, do Bộ chỉ huy mặt trận ở đó chỉ huy.

        Đang trên đà thắng lợi nô nức tiến quân vào Tây Bắc, nhưng được lệnh quay lại, sẵn một mềm tin ở cấp trên, trung đoàn đã chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm và phấn khởi.

        Đồng chí trung đoàn trưởng dẫn cán bộ tham mưu tác chiến, trinh sát và các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng vượt lên bộ đội, đi trước để nghiên cứu chuẩn bị. Toàn trung đoàn còn lại do đồng chí chính ủy và trung đoàn phó chỉ huy hành quân theo sau.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 06:43:44 AM

        Chiều hôm đó, địch đã rút khỏi Đoan Hùng, trung đoàn nhận nhiệm vụ đánh địch trên đường số 2. Ban đêm địch dừng lại ở Chân Mộng. có thể sáng mai tiếp tục đi về Năng Yên. Sau khi nhận nhiệm vụ, cán bộ các cấp của trung đoàn nhất trí ngay với ý định của trên, cần phải chộp ngay thời cơ bất ngờ này, mặc dầu cán bộ không có nhiều thời gian chuẩn bị, nhưng nhất định sẽ thắng lợi. Bộ đội hành quân đến gặp địch có thể đánh được ngay với tác phong chiến đấu táo bạo xông xáo sẵn có, với niềm tin tuyệt đối ở cấp trên, nhất nhất chấp hành mệnh lệnh, không phải động viên giải thích nhiều.

        Đúng như vậy, anh em đi cấp tốc đuổi kịp bộ phận đi trước do trung đoàn trưởng phụ trách. Bộ đội phải dừng lại trong rừng chờ ở phía sau. Đoàn cán bộ đi trước gặp được một ông già đang đốt củi làm than. Ông giúp đỡ dẫn ra đường số 2 cho nhanh. Các cán bộ của trung đoàn đã đi nghiên cứu cụ thể địa hình trên đoạn đường sẽ đánh địch, từng vị trì bố trí của từng đơn vị chặn đầu, khoá đuôi, đồi diện và tập trung chủ lực chia cắt diệt địch, bố trí từng vị trí súng máy, từng vị trí cảnh giới, v.v. Sau mấy tiếng đồng hồ nghiên cứu, cán bộ đã quay lại dẫn bộ đội ra chiếm lĩnh trận địa hết sức lặng lẽ, bí mật, trật tự, đến mờ sáng thì mọi việc đều xong.

        Hàng ngàn người hành quân ban đêm: đến một địa hình hoàn toàn mới lạ, chưa có thời gian xoá các dấu vết trên đường đi, nên không tránh khỏi có bộ phận để lộ bí mật.

        Khoảng 7 giờ sáng, một đơn vị địch đi sục sạo phát hiện có vết chân trên ruộng lầy. Chúng sục vào, đơn vị đối diện trong đội hình chiến đấu lùi dần để giữ bí mật. Các tốp tuần tra, dò mìn của địch đã gặp nhau phối hợp sục sạo. Một chiến sĩ cảnh giới của ta chủ quan bị địch bất ngờ ập tới bắt sống. Chúng nghi ngờ đánh đập Hiến rất dã man, kéo xềnh xệch dọn đường, tra hỏi tìm hiểu lực lượng ta. Chiến sĩ có ý chí gang thép ấy đã cắn răng chịu đựng không hề nói một lời về lực lượng và vị trí bố trí của quân ta.

        Tuy nhiên, địch vẫn nghi ngờ. Chúng bắn pháo suốt dọc ven rừng và hai bên đường. Mặt khác, các bộ phận tuần tra của địch vẫn sục vào rừng, vừa đi vừa hò hét, vừa bắn xả vào những chỗ nghi ngờ. Các đơn vị của ta đã lác đác có thương vong. Anh em cắn răng chịu đựng. Mặc dầu có chỗ quân địch đứng trước mũi súng của bộ đội ta chưa đầy chục mét, nhưng tất cả vẫn ép mình im lặng, tuyệt đối giữ bí mật chờ lệnh...

        Địch tra tấn chiến sĩ cảnh giới của ta vẫn không lấy được một tin tức gì, sục sạo mãi vẫn không phát hiện được ta. Chúng bắt đầu chủ quan rầm rầm tiến quân. Một đoàn xe mấy chục chiếc có cả xe tăng, xe bọc thép ầm ầm vượt qua. .. Tiếp đó khoảng 400 -  500 quân đi bộ và khoảng 40 xe cơ giới nữa theo sau nghênh ngang lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu xả súng ghìm chúng lại.

        Chủ lực của trung đoàn từ trong rừng sâu vận động ra bất ngờ xông lên tiêu diệt bộ binh địch, chặt đoàn xe cơ giới của chúng ra từng khúc. Sau hơn hai tiếng đồng hồ chiến đấu quân ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt hàng trăm địch. xe pháo của địch bị bắn cháy ngổn ngang.

        Đây là một trận đánh không những biểu hiện tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc và sáng tạo, bộ đội giữ nghiêm kỷ luật chiến trường, gan dạ, kiên cường chịu đựng, mà còn là một trận đánh táo bạo do chớp được thời cơ, trên dưới tin nhau, hành động khẩn trương, bất ngờ, nên đã giành được thắng lợi lớn.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 06:45:17 AM
 
     
“ĐÃ ĐÁNH THÌ ĐÁNH ĐẾN CÙNG” “ĐÃ ĐỊNH KHÔNG ĐÁNH THÌ DỨT KHOÁT THÔI”


        Mọi việc chuẩn bị chiến đấu đã xong, bộ đội xuất trận. Người chỉ huy phải luôn luôn kiên định quyết tâm, tỏ thái độ tin tưởng nhất định thắng, phấn khởi lạc quan nhưng không được coi thường địch. Khi đã quyết định đánh thì kiên quyết đánh đến cùng, tuyệt đối không một mảy may dao động.

        Chiến dịch Quang Trung năm 1951, để hạ quyết tâm đánh vị trí Non Nước ngay trong đêm 29 tháng 5, bản thân tôi cũng trải qua một quá trình đấu tranh quyết liệt.

        Quyết tâm đánh Non Nước đã có trong kế hoạch và đã chuẩn bị chu đáo. Nhưng đánh vào lúc nào là vấn đề cần phải suy nghĩ quyết đoán, vì tình hình phát triển phức tạp không thuận lợi xuôi chiều như dự kiến.

        Sáng 24 tháng 5, cán bộ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đi trước đến làng Xuân áng nghiên cứu tình hình và sơ bộ hạ quyết tâm trên bản đồ, chuẩn bị đi xem xét thực địa. trong đêm đó Ngày hôm sau, đảng ủy trung đoàn họp thông qua quyết tâm của trung đoàn trưởng trong lúc tình hình địch vẫn chưa có gì thay đổi. Nhưng sau đó có một đại đội lính thuỷ đánh bộ của địch tăng cường đến đóng ở nhà thờ thị xã. Muốn tiêu diệt Non Nước, ta phải bổ sung kế hoạch đánh nhà thờ. Trưa ngày 28 mới phổ biến kế hoạch này tới cán bộ tiểu đoàn và đại đội. Tin ở sức mình, đơn vị quyết tâm tiêu diệt gọn hai cứ điểm trong một đêm. Tiểu đoàn 79 nhận nhiệm vụ đánh địch ở nhà thờ phải tranh thủ phổ biến kế hoạch cho cán bộ, chiến sĩ ngay trong quá trình hành quân, 3 giờ 10 phút ngày 29 nổ súng, đến 3 giờ 43 phút ta tiêu diệt hoàn toàn đại đội lính thuỷ đánh bộ của địch. Tiểu đoàn 54 nhận nhiệm vụ đánh vị trí Non Nước, hành quân chiếm lĩnh gặp nhiều khó khăn, một bộ phận đi thuyền dọc sông Vân, một bộ phận đi đường bộ, cho nên khi tiểu đoàn 79 nổ súng, tiểu đoàn 54 vẫn thưa chiếm lĩnh xong trận địa. Sau khi tiêu diệt xong quân địch ở nhà thờ thì đã gần 4 giờ sáng. Tiểu đoàn 54 chiếm lĩnh xong, chỉ cán hơn một giờ đồng hồ nữa trời sáng hẳn. Lúc này có hai ý kiến, một là cứ đánh Non Nước, hai là cho lui quân để đêm sau sẽ đánh. Qua phân tích thấy rằng, nếu ta cứ đánh thì khó hoàn thành, giải quyết Non Nước không gọn trong đêm mà phải tiếp tục đánh ban ngày. Lần đầu tiên đơn vị đánh cứ điểm vững chắc ban ngày ở đồng bằng -  một cứ điểm đột xuất, xung quanh là nhưng cánh đồng nước thuận lợi cho máy bay và pháo binh của địch hoạt động. Cánh Non Nước khoảng 200 mét có vị trí Cầu Cổ ở bờ sông bên kia chi viện. Non Nước còn có thể được viện binh từ Nam Định, Phát Diệm và cán vị trí lân cận tới. Hơn nữa đây là lần đầu đại đoàn đánh ở đồng bằng, để có nhiều thời gian ban đêm giải quyết trận địa, làm chủ chiến trường, chung tôi nhất trí cho tiểu đoàn 54 lui quân, tối hôm sau sẽ tiến vào đánh Non Nước. Quyết tâm này về sau đã tỏ ra là đúng đắn, nhưng để hạ được quyết tâm ấy cũng trải qua một quá trình suy nghĩ của bản thân và bàn bạc giữa mặt này mặt nọ với cán bộ các cấp.

        Ngày hôm sau, tình hình lại biến đổi. Có tin địch cho một đại đội lính Âu đến chiếm đóng Hồi Hạc sát nách Non Nước và có tăng một số quân cho Non Nước. Lúc này đã có ý kiến do dự: nhưng nhiệm vụ của chiến dịch trao cho chỉ có một quyết tâm là đánh chứ không thể có quyết tâm nào khác. Chúng tôi tính toán lực lượng, dự kiến thời gian chiếm lĩnh trận địa và thời gian tác chiến, tin ở sức chiến đấu của đơn vị nên vẫn giữ quyết tâm đánh Non Nước trong đêm 29. Ý kiến hoãn lại để đêm hôm sau sẽ đánh Non Nước vẫn có, một số đồng khí trình bày với nhiều lý do. Nhưng suy tính cho kỹ thì lùi lại nữa rõ ràng là không có lợi. Bố trí phòng ngự của địch ở Non Nước sẽ được củng cố vững chắc hơn. Viện binh của địch có thể được tăng thêm nữa để đánh phá cuộc chuẩn bị tấn công của ta. Chúng tôi tin tưởng rằng mặc dầu tiểu đoàn 54 ban ngày có tham gia đánh viện, nhưng còn sung sức đủ khả năng tiêu diệt Non Nước trong đêm. 23 giờ hôm đó, tiểu đoàn 54 bắt đầu nổ súng, đến 5 giờ sáng ngày 30 ta hoàn toàn tiêu diệt địch ở Non Nước.

        Qua những tình huống trên, tôi đã rút ra bài học "quyết đoán” đối với người chỉ huy. Người chỉ huy sau khi suy nghĩ chín chắn những ý kiến đề nghị của cấp dưới, sự tham gia đóng góp của cơ quan thì bản thân mình phải có gan quyết đoán sự việc trước khi trình bày xin ý kiến của đảng ủy. Trước những tình huống thay đổi quan trọng trong chiến đấu người chỉ huy phải có gan quyết đoán, tuyệt đối không được lững lờ buông trôi, khoán trắng hoặc phó thác trách nhiệm cho dưới, cho đồng đội.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 06:48:02 AM

        Trận Tu Vũ trong chiến dịch Hoà Bình tháng 12 năm 1951 cũng là một trong những bài học quyết đoán của người chỉ huy.

        Cứ điểm Tu Vũ có 1 tiểu đoàn lính đánh thuế Ma- rốc, 1 xe tăng, 2 chiến xa xung kích, 1 ô tô bọc sắt... Để mở màn chiến dịch Hoà Bình, phá vỡ phòng tuyến sông Đà, mở đường tiến công vào thị xã Hoà Bình, tiêu diệt sinh lực địch. trung đoàn X của đại đoàn nhận nhiệm vụ tấn công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Tình hình cụ thể có nhiều khó khăn. yêu cầu mỗi cán bộ. chiến sĩ trong đơn vị phải có quyết tâm rất cao mới bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ. Để tiếp cận Tu Vũ, ngoài mấy con đường có sẵn đã bị lộ và một phía là sông, còn lại thì địa hình xung quanh đều trống trải và lầy lội. Tuy vậy, khó khăn về địa hình cũng không gây cản trở lớn. so với tình hình địch có nhiều phức tạp hơn.

        Trước đây cán bộ trung đoàn thuộc đại đoàn bạn đi nghiên cứu chuẩn bị chiến trường bị địch phục kích, đã để mất dự án kế hoạch tác chiến khu nam Tu Vũ. Vì vậy địch đã đề phòng và tăng cường phòng ngự. Khi đại đoàn chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh Tu Vũ thì bộ phận đi chuẩn bị chiến trường ngày 6 tháng 12 cũng bị địch phục kích bắt mất một người, có đồng chí hy sinh.

        Chỉ còn vài ngày nữa, đại đoàn phải nổ súng tiêu diệt Tu Vũ, mở màn chiến dịch. Nhưng quân địch ở đây càng tăng cường tuần tiễu, thường xuyên ngày đêm cho một bộ phận ra phục kích trên đường ta có thể tiếp cận. Máy bay trinh sát và chiến đấu luôn bay trên vùng trời xung quanh Tu Vũ. Pháo binh địch bắn tập kích bất ngờ và bắn chặn những nơi ta có thể tiến quân, tập kết. Tình hình rất căng thẳng nhưng cán bộ các cấp vẫn ngày đêm bám sát vị trí địch. vào tận hàng rào dây thép gai, xem xét từng mô đất, nắm quy luật hoạt động, chỗ mạnh và chỗ yếu của địch. Trong những ngày chuẩn bị và trước giờ xuất kích, đơn vị đã dự kiến những khó khăn có thể xảy ra, những tình huống đột biến sẽ đến, động viên mọi người phải có quyết tâm rất cao, tinh thần khắc phục khó khăn rất lớn mời làm tròn nhiệm vụ. Tới ngày 10 tháng 12, bộ đội tiến vào chiếm lĩnh trận địa.

        Quả nhiên, khi tiến vào chiến đấu, đơn vị đã gặp rất nhiều khó khăn. Hồi 7 giờ rưỡi tối, tiểu đoàn 80 và đơn vị súng cối 82 mi- li- mét đang trên đường vào chiếm lĩnh trận địa thì tổ sục sạo đi trước gặp địch phục kính, hai bên nổ súng, địch bỏ chạy. Từ chiều pháo địch bắn phá rải rác, nhưng sau khi gặp tổ sục sạo của ta, pháo địch càng bắn dữ dội hơn. Do đó, một số đơn vị lạc đường, tiến quân, bố trí chồng chéo vào nhau. Tiểu đoàn 29 và bộ phận chỉ huy của tiểu đoàn 23 lại gặp nhau ở sân bay đã đi cùng một đường nên lộn xộn. Đại đội 154 và một khẩu pháo bị lạc, một vài đơn vị khoe mất liên lạc với cấp trên. Đại đội 225 tiểu đoàn 322 tiến gần đến cứ điểm của địch khoảng 200 mét thì tổ sục sạo gặp một trung đội địch phục kính. Chúng bắn súng, hô xung phong, rồi rút chạy. Súng máy, súng cối ở khu C của Tu Vũ bắn ra rất mạnh. Pháo binh địch từ Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp vẫn tập trung bắn không ngớt vào khu vực ta bố trí. Một khẩu súng cối 82 mi- li- mét của ta bị hỏng. Khẩu đội pháo tiến theo mũi của tiểu đoàn 29 bị pháo địch sát thương nặng, nên được lệnh rút. Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 322 đi kiểm tra trận địa, bị thương. Tuy vậy, các đơn vị bộ binh của tiểu đoàn 322 đã bám sát hàng rào của địch khoảng 50 mét. Nhưng pháo binh yểm hộ cho bộ binh đánh khu A và B chưa bố trí xong, đường dây điện thoại bị đứt nhiều đoạn, số bị thương của ta ngày càng tăng.

        Trước tình hình đó, đảng ủy các cấp đã kiên quyết lãnh đạo bộ đội giữ vững quyết tâm, cán bộ phân công nhau trực tiếp đi đôn đốc các đơn vị pháo binh chiếm lĩnh trận địa. Các mũi bộ binh đã bám sát hàng rào, đào công sự, cắt dây thép gai, v.v.

        Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn. Quá giờ quy định, cán đơn vị chưa hoàn thành chiếm lĩnh trận địa. Trong khi đó lại nảy thêm một khó khăn mới. Đại đội 227 tiểu đoàn 322 thấy toàn bộ trận địa bị lộ nên đúng giờ đã tự động nổ súng, sau đó đại đội 225 cũng cho liên tục bộc phá. Cuộc chiến đấu ở khu C bắt đầu, nhưng chưa liên lạc được với trung đoàn. Lúc này trong cán bộ đâu có ý kiến: "Đánh hay thôi? đánh liệu có thắng không? chưa đánh mà đã thương vong như vậy liệu bộ đội còn giữ vững quyết tâm không?", v.v. Có một số cán bộ xao xuyến. Thường vụ đảng ủy trung đoàn X được triệu tập về sở chỉ huy trung đoàn hội ý. Cùng lúc ấy, bí thư đảng ủy trung đoàn nhận được điện của đồng chí Song Hào, bí thư đảng ủy đại đoàn: "Đảng ủy” phải sáng suốt phân tích tình hình ta, địch cụ thể, toàn diện, tìm cho ra cái gì là khó khăn phải giải quyết ngay. Không nên hấp tấp nhìn vào một vài việc mà đánh giá chung cả tình thế. Hạ quyết tâm lúc này phải thật chắc chắn, phải dũng cảm"...


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 06:49:57 AM

        Trong cuộc hội ý quan trọng đó, trung đoàn trưởng và chính ủy đã phân tích sâu sắc lời căn dặn của đồng chí bí thư đảng ủy đại đoàn, lấy hiện tượng dao động của một vài cán bộ để đối chiếu, liên hệ. Sau 20 phút trao đổi, đảng ủy trung đoàn nhất trí: Tuy có nhiều khó khăn như quân số thương vong không ít, mất liên lạc với bộ phận đánh khu C, nhưng quyết tâm của hầu hết đảng viên và quần chúng vẫn không hề lay chuyển, hận thù sôi sục, quyết tâm giết giặc lập công rất cao. Địch chỉ bắn dữ dội từ ngoài 100 mét trở ra, càng tiếp cận ta càng tránh được pháo địch sát thương. Pháo ta đã lắp xong và đang đẩy vào trận địa. Mặc dầu đất cát bị lún, các cỡ hỏa lực của địch bắn ra rất rát, anh em vẫn kiên quyết đẩy pháo vào sát vị trí địch. Bộ binh thì mũi chủ công có bị thiệt hại nhưng không đáng kể, mũi phụ cũng đã tiếp cận được. Mặt khác, qua hiện tượng đối phó của địch càng chứng tỏ chúng đang lo sợ, dao động, lúng túng. Như vậy là sức của đơn vị còn mạnh, còn đủ khả năng tiêu diệt Tu Vũ, chỉ cần phá vỡ được vỏ cứng, thọc đúng vào chỗ yếu thì nhất định địch sẽ tan rã. Mọi người trong đảng ủy trung đoàn, đại đoàn còn nhớ rất rõ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn: "Trận đầu phải thắng!". Tu Vũ là trận mở màn chiến dịch. Cần củng cố quyết tâm, chống tư tưởng dao động, do dự của người chỉ huy, của cấp lãnh đạo, chống mọi hành động không tốt có ảnh hưởng đến vấn đề chỉ huy... Trong lúc đang thảo luận, đảng ủy nhận được báo cáo: Một vài cán bộ hy sinh tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn 29 bị thương, nhưng không một ai xao xuyến. Quyết tâm tiêu diệt Tu Vũ để trả thù cho đồng đội, đồng chí càng cao.

        Sau hơn hai giờ đồng hồ chiến đấu quyết liệt, đến 0 giờ 10 phút ngày 11 tháng 12, tiểu đoàn 322 đã hoàn toàn làm chủ khu C của Tu Vũ. Mọi việc chiếm lĩnh chuẩn bị nổ súng tấn công khu A và B vẫn tiếp tục rất khẩn trương dưới hỏa lực ác liệt của địch. Mọi người động viên lẫn nhau, không một ai do dự, không một ai chùn bước.

        Đến 1 giờ 45 phút, các đơn vị đã hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, trừ tiểu đoàn 322 vẫn bị mất liên lạc. Nhưng do được đại đoàn cho biết 322 đã giải quyết xong khu C nên trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 29 và 23 nổ súng. Pháo binh ta bắt đầu bắn thẳng vào lô cốt địch.

        Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy đại đoàn, với quyết tâm sắt đá như thế, với sức chiến đấu mạnh mẽ như thế, trung đoàn X đã vượt mọi khó khăn, quyết tâm giành thắng lợi. Mặc dầu địch cho xe tăng ra bịt cửa mở; xe bọc sắt, pháo binh, súng máy bắn chia cắt đội hình; bộ binh ra phản kích, v.v., nhưng chúng không thể nào cản nổi sức tấn công vũ bão của những con người có quyết tâm sắt đá, có lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi. Đến 3 giờ rưỡi, Tu Vũ hoàn toàn bị tiêu diệt. Trận đánh mở màn chiến dịch thắng lợi giòn giã. Phòng tuyến sông Đà bị chọc thủng và cửa tiến vào thị xã Hoà Bình đã được mở rộng.

        Bài học quyết tâm sắt đá này, đối với cán bộ, chiến sĩ đại đoàn chúng tôi không bao giờ quên được.

        Trong chiến đấu, người chỉ huy cần luôn luôn đề cao trách nhiệm trong bất cứ tình huống nào. Đặc biệt trước những tình huống quyết định thành bại của trận đánh, người chỉ huy không được buông trôi, bỏ qua, phó thác cho dưới, khoán trắng cho đơn vị; có gan chỉ huy phải có gan chịu trách nhiệm.

        Dưới đây, tôi kể thêm một câu chuyện nữa về quyết tâm và trách nhiệm người chỉ huy, theo tôi, câu chuyện này cũng là bài học rất đáng ghi nhớ.

        Sau khi tiêu diệt cứ điểm Nà Han ở biên giới, mùa xuân năm 1950, trung đoàn X phối hợp cùng trung đoàn bạn và được tăng cường một số pháo, súng cối có nhiệm vụ tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê để xây dựng lực lượng, xây dựng truyền thống đơn vị. Lần đầu tiên tác chiến tập trung trung đoàn, ai nấy đều háo hức, nóng lòng mong đợi được xuất trận. Các cơ quan dân, chính, đảng địa phương động viên bộ đội rất sôi nổi. Từng đơn vị không ngớt động viên nhau, chúc tụng nhau chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2016, 06:51:26 AM

        Tại sở chỉ huy mặt trận, có đầy đủ các đại biểu chính quyền địa phương, tỉnh ủy, các nhà văn, v.v. Mọi người hớn hở, bàn tán, mong đợi giờ nổ súng. Anh Chu Huy Mân và tôi theo dõi tình hình chiếm lĩnh trận địa của bộ đội. Trung đoàn X đã triển khai chiếm lĩnh xong. Trung đoàn bạn chưa liên lạc được với các cơn vị của mình. Địch ra sục sạo chiếm mất đồi, nơi ta dự định bố trí pháo binh của mặt trận. Ngoài ra, không còn dùng pháo binh, súng cối bắn chặn đường tiến quân của trung đoàn bạn. Tình hình lộn xộn vẫn kéo dài. Trung đoàn bạn chưa nắm được quân, các đơn vị lạc lung tung, pháo, cối một nơi, bộ binh một nẻo. Anh Chu Huy Mân và tôi trao đổi với nhau, thấy rằng thực chất của vấn đề hiện tại là tư tưởng, là quyết tâm của cán bộ và chiến sĩ, cộng với trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chưa được rèn luyện kỹ. Tình hình tuy có nhiều khó khăn thật, nhưng nếu từ trên xuống dưới có quyết tâm cao -  cũng còn khả năng khắc phục. Tuy nhiên căn cứ vào quá trình theo dõi từ khi chuẩn bị chiến đấu, cộng với tình hình hiện tại, anh Chu Huy Mân và tôi đều thấy quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ chưa vững chắc như vậy, còn có thể có nhiều khó khăn hơn nữa, nếu cứ tiếp tục tiến vào chiếm lĩnh, nổ súng, tác chiến ngay đêm nay thì không chắc giành được thắng lợi.

        Trong khi chúng tôi trao đổi, các đại biểu chính quyền, tỉnh ủy, văn nghệ sĩ chăm chú theo dõi ý kiến chúng tôi và hình như muốn chúng tôi đừng quyết định thôi đánh. Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều đến sự háo hức mong lập công của đơn vị, đến sự động viên của các cơ quan dân, chính, đảng. Nhưng đánh thì không chắc thắng. Anh Chu Huy Mân và tôi đều nhất trí như vậy (Lúc này các đồng chí Chu Huy Mân và Vương Thừa Vũ được phân công chỉ huy một mặt trận độc lập -  BT). Đã không chắc thắng mà cứ quyết định đánh là phiêu lưu, mạo hiểm, là coi thường sinh mệnh quần chúng. Thấy chúng tôi bàn như vậy, các đồng chí địa phương đều tham gia ý kiến là nên xem xét lại và đề nghị cứ cho đánh. Các văn nghệ sĩ cũng mong cứ cho đánh để ca ngợi những chiến công oanh liệt của các chiến sĩ, mặt khác cũng muốn xem một trận đánh lớn như thế nào. Nhưng không thể được, không vì hãnh diện cá nhân mà quyết định liều lĩnh, tổn hại đến xương máu chiến sĩ, ảnh hưởng đến vốn liếng của Đảng, đến thành bại của cách mạng, nhất là đây là trận đánh tập trung để xây dựng lực lượng, xây dựng truyền thống đơn vị.

        Chúng tôi quyết định hai trung đoàn và tất cả các đơn vị tham chiến lui quân, rời khỏi chiến trường trở về vị trí tập kết.

        Quyết định ấy truyền đi, mọi người trong sở chỉ huy đều bàng hoàng ngạc nhiên. Nhưng không thể nào quyết định khác, mặc dầu có những đơn vị vẫn tiếp tục đề nghị xin ở lại đánh Thất Khê. Có những cán bộ, chiến sĩ dùng dằng, lưỡng lự không muốn quay trở về, vì sợ ngượng ngùng với bà con xóm làng. Ra đi hứa hẹn như thế, bây giờ không đánh lại trở về.

        Trước tình hình đó, chúng tôi phải ra lệnh: "Kiên quyết lui khỏi chiến trường không được trù trừ do dự". Các đơn vị chấp hành triệt để, bảo đảm được lực lượng về vị trí tập kết. Hồi đó, cũng có cán bộ không bằng lòng, nhưng dần dần mọi người đều nhất trí. Nếu đêm hôm đó cứ đánh liều thì nhất định tổn thất lớn mà vẫn không hoàn thành nhiệm vụ. Trận đầu đánh tập trung không thắng sẽ gây nên khó khăn biết chừng nào cho việc xây dựng đơn vị. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm đối với việc lui quân hoàn toàn chính xác và rất kiên quyết ấy.

        Qua đó, ta thấy rằng người chỉ huy phải rèn luyện cho mình có bản lĩnh dám đánh, nhưng phải có gan dám rút. Đã thấy không có khả năng đánh thắng, lui có lợi hơn, khi khác đánh có lợi thì kiên quyết không đánh. Người chỉ huy không những có gan chủ động đánh mà còn phải có gan chủ động lui quân. Đã ra lệnh lui quân thì kiên quyết chỉ huy lui quân, bảo toàn lực lượng không một mảy may do dự, tiếc rẻ. Khi cần thiết dám hạ lệnh lui quân cũng là một yêu cầu đối với người chỉ huy, cũng là dũng cảm và mưu trí1 (Ý tác giả nói trong trường hợp hoạt động độc lập và được cấp trên giao quyền quyết định -  BT). Nhưng khi cần hạ lệnh đánh thì nhất định đánh đến cùng.

        Đánh hay lui là căn cứ vào tình hình cụ thể lúc đó, nhưng tất cả phải vì lợi ích của cách mạng, vì thắng lợi của cách mạng cao hơn hết, không được bơm to khó khăn, lấy cớ là bảo vệ lợi ích lâu dài của cách mạng để nguỵ trang cho tư tưởng bảo mạng rồi tuỳ tiện cho lui quân, coi như thế cũng là quyết tâm, coi như thế cũng là vì lợi ích của cách mạng thì không được.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:17:40 AM
         
ĐỊA THẾ HIỂM TRỞ MỘT NGƯỜI CÓ THẾ CHỐNG ĐƯỢC VẠN NGƯỜI

        Những năm 1960 -  1961, quân nguỵ Sài Gòn được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức ngày ngày hò hét Bắc tiến, đồng thời tung biệt kích đường không, đường biển, đường bộ ra Bắc quấy rối, phá hoại, móc nối với bọn phản động nội địa, điều tra nắm tình hình mọi mặt của ta.

        Hồi đó, tôi là quân khu trưởng Quân khu Hữu Ngạn, được Bộ giao nhiệm vụ cùng với một số cán bộ binh chủng, cơ quan như các đồng chí Doãn Tuế, Hồng Sơn, Ngô Hùng và một số đồng chí khác tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến phòng thủ của quân khu. Sau đó đi xem xét nghiên cứu bổ sung phương án tác chiến phòng thủ giúp Quân khu 4 và Quân khu Tả Ngạn, vì thời gian này các đồng chí thủ trưởng quân sự của quân khu bạn đi vắng.

        Như vậy là tôi lại có dịp đi khắp miền biên giới Việt -  Lào. Lúc đó nhân dân Lào chưa được giải phóng. Chúng tôi đi hầu hết bờ biển của miền Bắc, hải đảo và giới tuyến tạm thời ở Vĩnh Linh.

        Tôi nghĩ phải sâu sát dưới, phải thực tế xem xét tận nơi và lắng nghe ý kiến anh em. Từ thực tế ấy sẽ giúp cho tôi nhiều suy nghĩ đúng. Tuy đã ngoài 50 tuổi, với chiếc ô che nắng che mưa, đùm bánh mì hoặc khoai lang luộc, bi đông nước, tôi cùng cơ quan các ngành ngày này tháng khác leo đèo lội suối, đi nghiên cứu cụ thể khắp các bãi cát, sình lầy sú vẹt, cửa sông, cửa lạch, hải đảo, biển khơi...

        Lúc đó cán bộ ta, một số đã được học kinh nghiệm phòng ngự của một số nước anh em qua đại biến thế giới lần thứ hai, một số chưa được học tập mà chỉ có kinh nghiệm thực tế bản thân.

        Vì vậy quan điểm, tư tưởng tác chiến có những vấn đề cụ thể chưa được thống nhất.

        Khi đến các lữ đoàn, trung đoàn phòng thủ, anh em đều phàn nàn là bờ biển, biên giới dài mênh mông, nhiệm vụ rộng, nhưng quân ít, vũ khí, trang bị ít. Anh em đều có gợi ý nhờ tôi báo cáo Bộ, xin thêm quân, xin thêm trang bị và phân công nhiệm vụ hẹp lại. Tôi không trách anh em, vì đó là thực tế và quân có chừng ấy, trang bị có chừng ấy cũng là thực tế. Nhưng trước thực tế ấy quán triệt quan điểm quân sự của Đảng ta, với truyền thống nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta thì nên suy nghĩ và giải quyết như thế nào cho đúng.

        Tôi cười vui và kể lại cho anh em nghe chuyện ngày xưa khi Nguyễn Trái đi qua sông Bạch Đằng, ông đã nhớ lại, tại đây Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nam Hán và quân Nguyên, giết Hoàng Thao và Toa Đô, Ô Mã Nhi. Nguyễn Trái đã tức cảnh làm hai câu thơ:

        “Quan hà bách nhị do thiên thiết
        Hào kiệt công danh thử địa tằng"


        tạm dịch:

        Non sông hiểm trở, hai người có thể chống lại được một trăm người là do trời định.
        Hào kiệt công danh cũng có từ đây.


        Và một câu ngạn ngữ của tổ tiên ta để lại:

        “Hiểm địa nhất phu địch vạn nhân"

        tạm dịch:

        Lợi dụng địa thế hiểm trở, một người có thể chống được vạn người.

        Tôi nói thêm cho anh em rõ, địa hình đất nước ta thật là đặc biệt, phía tây và phía bắc thì rừng núi hiểm trở, phía -  đông và đông nam thì sông ngòi luồng lạch chia cắt, ruộng nước mênh mông, từng quãng có dãy núi nhô ra sát mép biển. Chỉ địa hình ấy cũng đã giúp cho ta một thế trận, hiểm và mạnh biết chừng nào, nếu ta biết triệt để lợi dụng và cải tạo nó thì ít thành nhiều, yếu hoá mạnh, một người có thể chống lại trăm ngàn người.

        Tuy nhiên, có vấn đề vô cùng quan trọng khác, đó là thế chiến tranh nhân dân. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn dân. "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Phải tổ chức làng, bản, thôn, xóm thành pháo đài, phải thực hiện lời Bác Hồ dạy: "Mỗi người dân là một dũng sĩ...", thế trận của ta là bao gồm cả chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ... Riêng chủ lực cũng không phải chỗ nào cũng dàn quân ra. Phòng thủ kiểu đó thì bao nhiêu quân cũng thiếu, bao nhiêu vũ khí cũng không đủ. Vì vậy phải hình thành từng khu vực, có trọng điểm. Lấy điểm khống chế diện, lấy diện bảo vệ điểm, liên hoàn hỗ trợ cho nhau, liên hoàn hỗ trợ cho nhau, hiện đại kết hợp với thô sơ tự chế tạo mưu mẹo, nghi binh: v.v. Nhất định chúng ta sẽ hình thành được các khu vục phòng thủ vừng chắc trên toàn tuyến biên giới, ven biển và nội địa...

        Từ quan điểm trên đây, được các cấp bộ Đảng, chính quyền địa phương nhất trí, các đơn vị phòng thủ của ta bổ sung phương án, tổ chức lại lực lượng, sắp xếp lại thế trận, thấy tự tin vững tâm hơn trước nhiều. Đó là thế trận tác chiến bảo vệ từng khu vực của chiến tranh nhân dân. Từ các đội thiếu niên nhi đồng đến các đội nam nữ dân quân, lão dân quân cũng sẵn sàng tham gia đánh giặc bảo vệ địa phương. Đó là sức mạnh tập thể xã hội chủ nghĩa ở các địa phương được quân sự hoá. Sau này, thực tế đã chứng minh biết bao nhiêu toán gián điệp, biệt kích, trinh sát của địch từ miền Nam tung ra địa bàn quân khu đã bị dân quân ta tóm gọn. Tàu biệt kích của địch ra đã bị dân quân đánh chìm. Máy bay do thám của địch bị bộ đội tiền tiêu ta bắn rơi, v.v.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:27:26 AM

        Tuy nhiên khi nghiên cứu bố trí thế trận cụ thể, chúng -  tôi cũng phải trao đổi nhiều vì một số cán bộ ta học tập kinh nghiệm của nước ngoài, nhưng không biết chọn lọc vận dụng vào thực tiễn con người, đất nước và điều kiện trang bị vật chất thực tế của ta, của đơn vị để tác chiến với một đối tượng mới.

        Thế trận dàn mành mành, hướng về một phía (!), bố trí phòng thủ như vậy thì dù nhiều cũng trở thành ít, mạnh thành yếu; dù có tuyến 1, tuyến 2, tuyến 3 đến tuyến thứ mấy chăng nữa cũng sẽ yếu.

        Cũng chừng ấy quân, chừng ấy trang bị vũ khí, chúng tôi bàn bạc với anh em xoay lại thế bố trí. Đó là thế chân vạc tam giác nhỏ trong tam giác lớn, đánh được địch từ các hướng tới. Trên trời, dưới biển, phía sau, bên sườn, địch từ hướng nào tới, ta vẫn giữ được thế chủ động, khi tập trung hướng này, lúc tập trung hướng khác, đánh dẻo dai liên tục. Các cụm điểm tựa liên hoàn hỗ trợ cho nhau, tích cực vận động tấn công đập vào sau lưng, bên sườn quần địch. Hết sức quán triệt tư tưởng chủ động tiến công trong tác chiến phòng thủ trong bố trí thế trận, trong sử dụng lực lượng, v.v.

        Để anh em cán bộ cơ sở dễ nhớ những điểm chính, tôi tóm lại những ý chính về cấu trúc và bố trí trận địa:

        -  Tam giác nhỏ trong tam giác lớn

        -  Chéo nhỏ trong chéo lớn

        -  Độc lập trong liên hoàn

        -  Chủ động trong bị động

        -  Điểm khống chế diện, diện bảo vệ điểm

        -  Nhiều tầng có chiều sâu

        -  Kết hợp: xa với gần, trong với ngoài, trước với sau, trên với dưới

        -  Hiểm hóc, bí mật, chéo sườn, thúc hông

        -  Cơ động rộng rãi, thoải mái, tập trung

        -  Thế cọp rình heo, thế mèo vồ chuột.

        Về cách đánh:

        -  Phát hiện địch từ xa, làm chậm bước tiến của địch

        -  Làm địch mệt mỏi tiêu hao, lừa địch vào thế bất lợi

        -  Địch động ta phải động hơn

        -  Cắm trà phá lưới, rút lẫy bẻ thói

        -  Bí mật bất ngờ, đột nhiên, mãnh liệt

        -  Giữ mẹ, dắt con, xoay tròn bốn phía

        -  Kết hợp dũng mưu, dùng nhiều lối đánh

        -  Vận động tấn công, thúc hông chặt sườn...

        Bài văn vần này, sau được anh em đơn vị hưởng ứng sửa chữa thành các đoạn ca dao ngắn. Để giúp cán bộ cơ sở bố trí cụ thể, phù hợp với cách đánh của ta, tôi thường cùng cán bộ tác chiến, kỹ thuật công trình đi xem xét từng vị trí cụ thể, nghiên cứu bố trí từng hỏa khí súng máy, súng ĐKZ, pháo chống tăng..., có một vấn đề cũng phải tranh luận khá chật vật. Một số anh em quan niệm bố trí hỏa khí trong phòng ngự làm sao phải bắn được nhiều hướng, bắn được xa, phát huy hết tính năng của hỏa khí. Vì vậy có trận địa pháo, anh em đặt nghênh ngang trên đỉnh núi. Tôi thường nói đùa là con gà ngồi trên mâm xôi. Có những khẩu súng chống tăng, khẩu súng máy đặt ngay ở mỏm đất cao nhất, ở cổng làng, ở ngã ba ngã tư đường cái. Tất nhiên tôi không bác bỏ hoàn toàn cách bố trì này. Nhưng bố trí theo kiểu Trương Phi vỗ ngực: "Bớ ta đây!...", như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị diệt.

        Anh em giở lý ra là theo tính toán thì một phương tiện chống tăng, một phương tiện chống đổ bộ diệt được mấy tăng, mấy xuồng đổ bộ là hết đời... Vậy thì ta cũng phải có số lượng bao nhiêu vũ khí đó mới đủ sức đánh lại bao nhiêu xe tăng, bao nhiêu phương tiện đổ bộ của địch. Nghe anh em trình bày tôi lo quá. Trệch rồi! lệch cả nhận thức lẫn quan điểm rồi!

        Tôi không bác bỏ cách tính toán của anh em, nhưng đối với ta, người không đông, công nghiệp quốc phòng còn nghèo, không thể đánh theo kiểu đó được. Ta phải đánh thắng kẻ địch có đông quân hơn ta, có nhiều vũ khí hiện đại hơn ta, có tầm bắn xa hơn vũ khí của ta. Ta chưa với tới địch thì nó đã với tới ta trước.

        Đối với ta nếu có nhiều vũ khí hiện đại để đánh địch thì càng tốt. Nhưng nếu không có đủ vũ khí này thì phải tìm trăm phương ngàn kế khác đánh địch. Diệt địch, nhưng phải giữ mình. Đánh giặc phải có hy sinh, nhưng tìm mọi cách tốt nhất cho quần chúng đỡ đổ xương máu, đỡ phải hy sinh. Hỏa khí của ta phải diệt được nhiều địch nhất, tuổi thọ phải kéo dài nhất chứ không phải diệt được 3 -  4 xe tăng địch thì hết đời. Vì vậy phải mưu mẹo, phải tinh khôn. Tuyệt đối không được đánh theo kiểu "đọ vàng với tư bản", không được bài binh bố trận theo kiểu bày hàng xén.

        Chính vì dân tộc ta có cách đánh truyền thống mưu trí, thông minh mà đã thắng nhiều đội quân xâm lược có số lượng đông hơn ta nhiều lần, có trang bị kỹ thuật hiện đại hơn ta nhiều lần.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:30:56 AM

        Sau khi giải thích cho anh em và bố trí thực tế tại trận địa, tôi cho xây dựng một công sự kiên cố. Công sự được xây dựng bằng bê tông cốt thép, có lỗ châu mai nhỏ để tăng sức đề kháng. Chúng tôi dùng lần lượt các loại hỏa khí bắn thử, thì rõ ràng là phát này chưa trúng thì phát sau sẽ tin; súng này bắn không vỡ thì loại khác sẽ phá tan...

        Rõ ràng là bê tông cốt thép, đạn to, súng lớn mà bố trí lộ liễu cũng không có tác dùng là bao, sớm muộn cũng bị diệt. Tôi cho anh em đi xem một khu chốt phòng thủ khác với tư cách là đối phương phán đoán xem trận địa và các hỏa khí của ta bố trí như thế nào? Có đồng chí ngồi ngay ở miệng lỗ châu mai mà không biết, phán đoán bố trí của ta sai trệch cả.

        Tôi kết luận: bí mật là cường độ mạnh nhất, trong chiến đấu đối phương cũng chủ quan phán đoán ta như vậy. Ta bố trí phòng thủ mưu mẹo, có chỉ huy thao lược linh hoạt nữa thì dù chúng có số lượng đông gấp hơn ta bao nhiêu lần cũng chỉ là nhưng bia thịt mà thôi; có vũ khí, trang bị hiện đại cũng sa vào bẫy của ta mà thôi.

        Mỗi lần bố trí phía ta xong tôi lại ra phía trước, đứng vào cương vị đối phương xem xét phán đoán ta, sau đó lại bổ sung phương án. Năm 1961, khi nghiên cứu ở khu giới tuyến tạm thời Vĩnh Linh, tôi đi suốt dọc bờ sông Bến Hải từ phía đông lên mạn đồi núi phía tây, với danh nghĩa là đoàn cán bộ nghiên cứu chống lụt của Trung ương về địa phương kiểm tra. Chúng tôi đi trên bờ, bọn nguỵ quân Sài Gòn có một tổ đi thuyền dưới sông, chửi đổng khiêu khích, vài tên đi xe đạp ở bờ sông bên kia...

        Ta với địch là đấu tranh giai cấp, là một mất một còn, nhưng lúc đó cán bộ cơ sở của ta chân phương quá, xây dựng biết bao nhiêu trụ sở, nhà ngói, lò vôi, lò gạch, v.v. Nhưng nhà là nhà, lò vôi là lò vôi, không biết xây thành thế trận, không dám xây thành ổ chiến đấu, làm sẵn lỗ châu mai khi cần chỉ việc đẩy hòn gạch ra là bắn được. Anh em sợ vi phạm hiệp nghị Giơ- ne- vơ. Tôi nói: đấu tranh giai cấp, kẻ thù thì nham hiểm, nếu ta ngây thơ như vậy thì bị diệt lúc nào không biết. Đây là một vấn đề cụ thể trong xây dựng kinh tế phải kết hợp với quốc phòng. Chúng tôi bàn với anh em, mọi việc xây dựng nhà cửa, đường sá, thuỷ lợi, v.v. đều phải kết hợp chặt chẽ với phương án tác chiến phòng thủ, phải hình thành các cụm chiến đấu liên hoàn...

        Xem xét bố trí xong, tôi muốn đứng ra phía trước quan sát lại trận địa của mình xem sao. Không có cách nào khác, tôi và vài cán bộ giúp việc phải đi bộ qua cầu Hiền Lương đến giữa sông nhìn về bờ Bắc... Mấy tên lính nguỵ từ bờ bên kia hối hả chạy ra cầu quát tháo:

        -  Đi đâu? đi đâu? các anh là ai? chỉ được đến giữa cầu thôi không được đi quá.

        Chúng giơ súng gạt chúng tôi trở lại. Một cán bộ đi theo tôi ra đôi co với chúng một lát, để chúng tôi có nhiều thì giờ xem xét nhìn lại phía trận địa của mình ở bờ Bắc. Tôi chợt nhìn ra cái mố cầu: ôi! đó có thể là một hỏa điểm bí mật nhô ra, bắn dọc ven sông nếu kẻ địch dùng thuyền, dùng xuồng đổ bộ lên bờ Bắc...

        Phải khẩn trương, bí mật, cải tạo ngay cái mồ cầu đó.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:34:29 AM
        
CÓ KẾ HOẠCH TỈ MỈ, NHƯNG PHẢI ỨNG PHÓ GIỎI MỚI GIÀNH ĐƯỢC THẮNG LỢI

        Khi chuẩn bị chiến đấu, kế hoạch phải chu đáo, tỉ mỉ, phải dự kiến đầy đủ những tình huống có thể xảy ra và tuỳ tình hình cụ thể mà chuẩn bị với mức độ khác nhau theo những tình huống đó. Trong kế hoạch phải hết sức mưu mẹo, linh hoạt, phải nghi binh đánh lừa địch.

        Mặc dù đã dự kiến đầy đủ như vậy, nhưng trong chiến đấu tình huống xảy ra cũng có khi đúng nhiều, có khi đúng ít, cũng có khi hoàn toàn không đúng với kế hoạch. Nói chung là tình huống diễn biến muôn màu muôn vẻ, vô cùng phức tạp. Lúc đó, nếu người chỉ huy cứ khăng khăng giữ kế hoạch cũ thì rất nguy hiểm, có thể lâm vào tình trạng bị động và sẽ đi từ bị động này đến bị động khác. Vì vậy bất cứ trường hợp nào, khi đã xuất trận yêu cầu người chỉ huy phải nắm chắc kế hoạch cơ bản đã chuẩn bị sân, nhưng lại phải ứng phó giỏi. Ta thường nói "tuỳ cơ ứng biến", tức là tuỳ tình hình địa hình, địch, ta lúc đó mà xử trí cho thích hợp. ứng phó giỏi không phải là bản năng bẩm sinh. Muốn ứng phó giỏi trước tiên phải có gan đánh địch, có quyết tâm diệt địch cao, từ đó sẽ tìm ra được nhiều cách xử trí. Có gan đánh lại phải có bản lĩnh nghệ thuật quân sự. Có bản lĩnh đánh thắng không phải chỉ cần học cho biết, cho thuộc những điều lệnh, nguyên tắc chiến đấu. Ví như một người học võ, không phải chỉ học thuộc bài để biểu diễn cho có thứ tự, cho đẹp mắt là giỏi, mà phải từ những động tác cơ bản, những bài cơ bản ấy nâng lên trình độ thục luyện, vận dụng trở thành “ngoại tài" để đánh gục đối thủ. Muốn vận dụng giỏi, muốn có "ngoại tài" thì cần ra sức luyện tập trong thực tế Có bản lĩnh rồi và có thực tế ấy sẽ nảy sinh ra mọi cách ứng phó giỏi. Dân gian ta có câu: "trăm hay không bằng tay quen" là như vậy? Cho nên phải rèn luyện và rèn luyện thật nhiều trong thực tế, hết sức tránh tự mình trói buộc mình vào sách vở, công thức. Từ sách vở, công thức phải tiến lên vận dụng nhiều, ứng phó giỏi.

        Sau đây là một số mẩu chuyện ứng phó của đơn vị và bản thân tôi:

        Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, sau khi đại đoàn bố trí đánh phục kích trên đường số 4 bị trượt, địch từ Thất Khê lên chiếm quả đồi Khau Luông tấn công nhứ vào Đông Khê, rồi bất thình lình tạt sang phía tây với âm mưu của Lơ- pa- giơ là đi tắt đường mòn sang dãy đồi 477 để đón Sác- tông. Ta tấn công Khau Luông đêm hôm trước không thành, đang chuẩn bị kế hoạch tập kích Khau Luông lần thứ hai. Lúc đó, trên cho biết là địch sẽ đi sang phía tây. Tôi phát hiện một eo đá của dãy núi Cốc Xá rất hiểm trở, nếu để địch lọt qua eo này thì quân ta khó mà có đường đuổi đánh địch, và nếu để quân Lơ- pa- giơ gặp được quân Sác- tông hợp thành một lực lượng lớn thì ta khó mà tiêu diệt. Cho nên, đại đoàn lập tức điều tiểu đoàn 18 vượt qua các dãy núi đá ngay trong đêm để nhanh chóng chiếm giữ bằng được eo đó, nhằm chia cắt không cho Lơ- pa- giơ qua phía tây. Quả nhiên ta với địch tranh chấp eo này rất ác liệt, cuối cùng ta chiếm được eo, buộc Lơ- pa- giơ phải vón lại ở dây núi Cốc Xá và bị tiêu diệt.

        Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, trên giao nhiệm vụ trong một tuần phải giải quyết xong phân khu Nghĩa Lộ. Kế hoạch của đại đoàn định hai đêm sẽ tiêu diệt xong vị trí Pú Chạng và Nghĩa Lộ phố. Kế hoạch đề ra như vậy, nhưng khi tác chiến, chỉ sau ba giờ đồng hồ quân ta đã tiêu diệt xong vị trí Pú Chạng. Chúng tôi tính toán thời gian và lực lượng, thấy còn đủ sức để đánh luôn vị trí Nghĩa Lộ phố ngay trong đêm đó. Sự tính toán và cân nhắc này được báo cáo với đảng ủy đại đoàn, sau đó hạ quyết tâm chuyển sang đánh ngay vị trí Nghĩa Lộ phố và tới 5 giờ sáng thì hoàn toàn giải quyết xong. Như vậy trong một đêm đơn vị đã đánh hai cứ điểm, tiêu diệt và bắt sống gần 600 tên địch (bắt sống 412 tên).

        Trong chiến dịch mùa hè tiếp sau chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi nhận nhiệm vụ dùng một trung đoàn tăng cường thêm một tiểu đoàn hoạt động ở khu vực Bắc Ninh và -  Bắc Giang để thực hiện mục đích của chiến dịch là đánh tiêu diệt một bộ phận địch và tiêu hao rộng rãi giữ chân địch lại, làm áp lực cho hội nghị Giơ- ne- vơ. Với lực lượng nhỏ như vậy làm sao đạt được nhiệm vụ trên? Trung đoàn X nhận nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Cầu Lồ. Còn tiểu đoàn tăng cường thì đại đoàn cho phân tán từng tổ nhỏ xuống các xã thuộc mấy tỉnh trên để dìu dắt dân quân du kích, tổ chức bao vây và đánh lấn các vị trí địch. Dân quân du kích đã bao vây, đánh lấn hơn 30 vị trí địch, tiêu hao, đánh tỉa địch ở mọi lúc, mọi nơi, gây cho chúng nhiều khó khăn: hết lương ăn, nước uống, bị khốn đốn trong các vị trí, đi đứng không yên. Thế mà chúng tôi đã tạo ra một màng lưới rộng khắp và mạnh mẽ giữa bộ đội chủ lực với dân quân du kích, kìm chân 4 binh đoàn của địch từ phía Phả Lại trong suốt một thời gian dài không nhúc nhích được một bước cho đến khi có lệnh đình chiến.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:37:46 AM

        Tôi nêu thêm một vài thí dụ của các đồng chí chỉ huy khác.

        Tiểu đoàn X sau khi tấn công tiêu diệt cứ điểm được lệnh để một bộ phận nhỏ ở lại giữ vững cứ điểm, bảo đảm cho chủ lực làm nhiệm vụ khác. Theo kế hoạch chuẩn bị thì bộ phận nhỏ đó sẽ lợi dụng công sự, ụ súng của địch để chiến đấu, đồng thời cho một số binh lực ra bí mật bố trí ở một xóm nhỏ gần đấy nhằm khi địch tập trung tấn công chiếm lại cứ điểm, sẽ bất ngờ xuất kích đánh vào bên sườn và sau lưng chúng. Nhưng thực tế chiến sự lại diễn biến hoàn toàn khác với phương án đã chuẩn bị.

        Mờ sáng hôm sau, quân địch kéo đến, nhưng không đánh chiếm cứ điểm ngay mà trước tiên cho máy bay, đại bác oanh tạc dữ dội xóm nhỏ. Khoảng 8 giờ, chúng chia làm 3 mũi tiến vào đánh chiếm xóm nhỏ. Đơn vị ở đây buộc phải chiến đấu. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, linh hoạt, chỉ dùng vài tổ chiến đấu đã ngăn chặn cánh chủ yếu của địch, số còn lại bí mật cơ động theo bờ tre, bờ mương, bất ngờ xuất kích tiêu diệt một bộ phận địch ở cánh thứ yếu. Bọn địch này chạy tán loạn, bọn địch ở các hướng kia cũng phải lui theo. Quân địch tập trung đông hơn, tấn công nhiều đợt nhưng đều bị đánh bật ra cánh đồng. Chúng chuyển hướng tập trung đột phá vào phía khác. Một bộ phận nhỏ của ta ở trong cứ điểm theo đường đã chuẩn bị sẵn, bí mật vận động ra đánh vào trận địa hỏa lực của chúng. Bị đánh một đòn bất ngờ, quân địch bỏ chạy ra xa. Chiều hôm đó, quân địch không tấn công nữa, chúng dàn quân bao vây lực lượng ta ở xóm nhỏ. Vừa chập tối, quân ta ở trong cứ điểm lại bí mật luồn ra đập vào sau lưng chúng. Nghe tiếng súng nổ, bộ phận ở xóm nhỏ trong vòng vây của địch đã nhanh chóng nổ súng phồi hợp, rồi bí mật luồn ra ngoài. Sau khi ra khỏi vòng vây, thấy địch sơ hở, chủ quan, mà thời gian ban đêm còn nhiều, các chiến sĩ ta "tiếc rẻ" đã quay lại đập cho chúng một đòn nữa rồi mới chịu rút. Ý định chiếm lại cứ điểm của địch không thành công. Lực lượng ta tuy nhỏ nhưng luôn luôn giành chủ động, tiêu diệt nhiều địch, làm tròn nhiệm vụ, chính vì cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đó đã có bản lĩnh chiến đấu cao và ứng phó giỏi.

        Ngược lại, một đơn vị nhỏ khác, sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến quân về đồng bằng làm nhiệm vụ bao vây đánh lấn một cứ điểm. Trong khi quân ta đang tập trung bao vây bắn tỉa địch, không chú ý cảnh giới sau lưng, bên sườn thì bị một cánh quân của địch ở nơi khác bí mật vận động tới đánh vào sau lưng. Người chỉ huy đã lúng túng không biết xử trí ra sao, chống cự yếu ớt, rồi ra lệnh cho đơn vị rút. Bị quân địch từ trong đánh ra, ngoài đánh vào, đơn vị tuy rút lui được nhưng cũng bị tổn thất một số. Thế là không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn bị tổn thất, ảnh hưởng đến khí thế đang trên đà chiến thắng của bộ đội. Về nguyên nhân có thể do dự kiến phương án tác chiến và kế hoạch không chu đáo như tiến hành bao vây đánh lấn địch ở cứ điểm mà không tổ chức đánh máy bay, đánh địch trên trời đổ xuống, đánh địch tập kích từ sau lưng, v.v..; cũng có thể do tinh thần chiến đấu của người chỉ huy không vừng vàng trong lúc gay go, ác liệt. Nhưng dù thế nào chăng nữa, nguyên nhân trực tiếp nhìn thấy ngay vẫn là người chỉ huy kém linh hoạt ứng phó. Nếu người chỉ huy có bản lĩnh, ứng phó giỏi, các chiến sĩ thiện chiến thì phắc rằng tình hình sẽ khác, kẻ địch không dễ gì gây cho ta tổn thất.

        Tình huống diễn biến trong chiến đấu rất mau lẹ và vô cùng phức tạp. Người chỉ huy phải ứng phó giỏi để luôn luôn giành chủ động tạo bất ngờ để chiến thắng. Muốn ứng phó giỏi, cần phải rèn luyện thật nhiều trong mọi tình huống, với những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Rèn luyện trong hoàn cảnh càng khó khăn, phức tạp, trong tình huống càng ác liệt, khẩn trương, thì khi chiến đấu sẽ vững vàng, đủ minh mẫn để nhận xét tình hình, xử trì thích hợp. Tuyệt đối tránh chủ quan, thoả mãn, hoặc chỉ quyết tâm chiến thắng trên khẩu hiệu, mà không chịu trau dồi nâng cao bản lĩnh chiến đấu và trình độ chuẩn bị, tổ chức chu đáo.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:40:41 AM

CÓ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH CÀNG TỐT, NẾU KHÔNG CÓ ĐỦ ĐIỀU KIỆN THÌ TỰ TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH THẮNG

        Quyết tâm đánh thắng giặc không phải chỉ là một khẩu hiệu chung chung theo ý muốn chủ quan. Thắng lợi của một trận chiến đấu là do tác động của nhiều điều kiện bên ngoài và sự nỗ lực chủ quan của những người tham gia trận đánh. Khi chuẩn bị một trận đánh (vị trí địch có công sự vững chắc, tập kích, phục kích, đánh quân đổ bộ đường không, bao vây tấn công liên tục quân địch, vận động tấn công kết hợp với chốt chặn địch, v.v.) hay là một đợt hoạt động, một chiến dịch, người chỉ huy phải xét kỹ tới toàn bộ những điều kiện cần có để giành thắng lợi. Trong thực tế chiến đấu, những điều kiện để đánh thắng rất ít khi có đầy đủ ngay từ khi nhận nhiệm vụ, rất ít trường hợp có đầy đủ như ý muốn người chỉ huy. Khi cấp trên giao nhiêm vụ cho cấp dưới là đã xét tới những điều kiện cơ bản để đánh thắng đã có và những điều kiện cơ bản, những điều kiện cụ thể còn thiếu hoặc chưa có nhưng cấp dưới có thể tạo ra. Có khi điều kiện thuận lợi có rất ít, trước mắt, nhìn bề ngoài thấy nhiều khó khăn lớn tưởng chừng như không khắc phục nổi. Nhưng sau khi suy nghĩ những điều kiện cơ bản để đánh thắng, vững lòng tin ở trí tuệ và sức mạnh của quần chúng, người chỉ huy cấp trên vẫn ra lệnh chiến đấu. Lúc ấy chính là lúc biểu hiện lòng trung thành, trí sáng suốt, tinh thần anh dũng quả cảm và tài năng của người chỉ huy cấp dưới. Lúc ấy chính là lúc cấp dưới phải vắt óc suy nghĩ, cùng quần chúng nỗ lực vượt bậc tạo ra những điều kiện chưa có hoác chưa đầy đủ để chấp hành không điều kiện mệnh lệnh của cấp tiên. Có chừng ấy người, có chừng ấy súng, lương thực, vật chất khác cũng chỉ có chừng ấy, nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi phải đánh và nhất định phải đánh thắng, không được trù trù do dự; trách nhiệm chính trị không cho phép chúng ta buông trôi thả lỏng, vin cớ này cớ khác để che đậy cho sự lười biếng, dao động sợ chết, thoái thác nhiệm vụ. Vượt qua mọi hiểm nghèo, khắc phục mọi khó khăn trong chiến đấu, người chỉ huy sê lớn lên rất nhanh chóng, sẽ cứng rắn thêm như thép được tôi luyện, như vàng được thử lửa. Trong điều kiện ta còn yếu hơn địch về trang bị kỹ thuật, còn nghèo hơn địch về vật chất, khí tài, để đánh thắng địch, yêu cầu sự nỗ lực chủ quan của các cấp và các lực lượng tham gia trận đánh phải rất cao. Cán bộ chỉ huy chúng ta lớn lên trong khó khăn, dày dạn trung gian lao, cứng rắn trong hiểm nghèo. Chính vì vậy mà người chỉ huy quân đội cách mạng trở nên trí dũng song toàn, biết bao nhiêu bài học hay, tấm gương tốt còn lưu truyền mãi mãi về sau. Tuy nhiên, trong vườn hoa rộng lớn vừa tươi đẹp vừa thơm ngát ấy cũng không tránh khỏi một vài bông hoa bị sâu đục hoặc chim rỉa. Cá biệt có cán bộ khi nhận nhiệm vụ đã vin lý do này lý do khác đưa ra muôn vàn khó khăn ghê gớm và vin cớ nọ cớ kia để thoái thác nhiệm vụ, bỏ dở công việc, làm không đến nơi đến chốn, làm sai làm hỏng, làm thiệt thời cho cách mạng. Thí dụ: Khi nhận nhiệm vụ tác chiến ở chiến trường rừng núi xa xôi thì vin cớ không có người dẫn đường sợ đi chậm, đi lạc, vin cớ thiếu gạo, thiếu đạn, sợ tiếp tế không kịp..., đặt điều kiện với cách mạng, mặc cả với cấp trên, yêu cầu cấp đủ cái này, giải quyết cái kia mới làm được nhiệm vụ, mới đánh hoặc mới đánh thắng. Nói như vậy không có ý nghĩa là không được phép nêu khó khăn, không được xin thêm điều này điều nọ, mà yêu cầu người chỉ huy khi nhận nhiệm vụ phải với tinh thần phấn khởi, lạc quan, tích cực cách mạng, thấy được thuận lợi để phát huy và thấy được khó khăn để cùng tập. thể bàn bạc tìm biện pháp khắc phục. Còn thắc mắc điều gì cứ. hỏi, cần xin thêm cái gì cứ nói, tìm mọi cách, tạo mọi điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Đó là thái độ đúng đắn thể hiện bản chất tư tưởng tốt đẹp của người chỉ huy. Trường hợp tự mình thấy không đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ cũng cần nói rõ nhưng... khì đã nhận, dù khó khăn đến mấy, cửng kiên quyết khác phục, . tạo mọi điều kiện để đánh thắng. Dẫn chứng trong mục “quân lệnh như sơn” là một trong những bài học tốt về “tự tạo điều kiện để đánh thắng". Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã cùng nhau khắc phục những khó khăn vô cùng lớn lao. Thiếu gạo thì vừa hành quân vừa đánh giặc, vừa cử người đi các vùng rừng núi xa xôi cùng nhân dân giải quyết gạo cho bộ đội. Không biết đường đi thì tự tìm đường, nhờ dân dẫn đường, bắt địch dẫn đường. Thiếu đạn thì thực hiện khi cần mới bắn, đã bắn là trúng, lấy súng đạn của địch để trang bị cho mình, v.v. Đó chính là người chỉ huy biết tích cực tự tạo thêm điều kiện để đánh thắng.

        Vừa qua, có đơn vị nhận lệnh đi tác chiến trong khi số đạn còn rất ít, nhưng đơn vị cứ xuất phát, người chỉ huy tìm mọi cách đưa đạn chạy theo sau. Có đơn vị nhận nhiệm vụ đánh địch không biết đường đi, không có người dẫn đường, nhưng người chỉ huy đã biết quan sát đường đi của máy bay địch, nghe tiếng súng của địch để tìm đến mục tiêu tác chiến.

        Những bài học về tự tạo điều kiện để đánh và đánh thắng địch có rất nhiều. Trước kia và hiện nay đều có. Nhưng bài học mấu chốt vẫn là vấn đề tư tưởng "dám đánh", "dám nhận mới nhiệm vụ khó khăn nhất". Có nhiệt tình cách mạng, tư tưởng thông suốt, từ đó ta cùng quần chúng tìm ra muôn vàn biện pháp, tạo ra nhiều điều kiện để đánh thắng.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:43:55 AM
     
LÚC KHÓ KHĂN CÓ TIẾNG NÓI CỦA CÁN BỘ, KHI GAY GO CÓ MẶT NGƯỜI CHỈ HUY

        Trong chiến đấu, nhất là lúc gặp tình huống gay go ác liệt cấp dưới và chiến sĩ thường chăm chú theo dõi tinh thần, thái độ và tác phong của người chỉ huy. Lúc đó, nếu người chỉ huy nhìn trước nhìn sau, mắt tròn mắt dẹt, hấp tấp vội vàng, đúng ta lúng túng thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lòng tin của cấp dưới. Cho nên yêu cầu người chỉ huy phải hết sức bình tĩnh, điềm đạm, suy nghĩ chín chắn nhưng khẩn trương, tháo vát, có quyết tâm rõ ràng, ra mệnh lệnh kiên quyết. Làm được như thế, đội ngũ sẽ được củng cố, quyết tâm sẽ vững chắc, tinh thần chiến đấu sẽ nâng cao, tác phong chiến đấu sẽ dũng mãnh, từ khó khăn có thể chuyển thành thuận lợi bại chuyển thành thắng.

        Lúc khó khăn, càng là cấp chỉ huy trực tiếp càng cần xông xáo, gương mẫu. Khi cần thiết phải thâm nhập xuống cấp dưới, đi đến nơi, giải quyết tại chỗ. Trường hợp do điều kiện nào đó không đi đến được, hoặc nếu bỏ vị trí chỉ huy mà đi không có lợi cho việc chỉ huy chung, thì nhất thiết người chỉ huy không được buông trôi thả lỏng, thoái thác trách nhiệm, mặc cho dưới hành động, nếu xảy ra sai sót thì đổ cho dưới. Dù hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa, người chỉ huy trực tiếp hoặc người có trách nhiệm với trận đánh nhất định phải có thái độ rõ ràng, phải có tiếng nói của mình với tinh thần phụ trách cao.

        Trong trận Tu Vũ, chiến dịch Hoà Bình năm 1951, khi quân ta đang chiếm lĩnh trận địa thì địch bắn ra rất dữ, làm cho cán bộ, chiến sĩ có người bị thương vong, vũ khí có một số bị hỏng. Trong cán bộ đã có ý kiến đề nghị rút không đánh hoặc hoan khi khác sẽ đánh, v.v. Giữa lúc ấy, đồng khí Song Hào với cương vị bí thư đảng ủy và chính ủy đại đoàn đã chỉ thị rõ ràng, phân tích cụ thể, củng cố quyết tâm cho các cán bộ chỉ huy và đảng ủy cấp dưới. Một lời nói tuy ngắn ngủi nhưng đã làm cho cấp dưới bình tĩnh, sáng suốt thêm và vững tin thêm. Một lời nói của người chỉ huy lúc ấy là vô cùng quý giá và rất quan trọng.

        Ngược lại, trong một trận đánh quyết liệt khác, có cán bộ chỉ huy cấp trên cùng đi với sở chỉ huy cấp dưới để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ huy được chặt chẽ và kịp thời. Thế nhưng, khi đơn vị gặp tình huống rất khó xử trí, nên rút hay nên đánh, cẩn tung đội dự bị ra chưa, chiếm giữ khu vực đã chiếm được hay rời khỏi trận địa, v.v. thì người chỉ huy ấy đã trốn trách nhiệm, giao phó cho dưới, không có thái độ dứt khoát, trả lời với dưới là: "tuỳ theo tình hình, liệu mà xử trí". Câu trả lời bâng quơ đó của cấp trên làm cho cấp dưới hiểu như thế nào và quyết tâm ra sao? Như vậy đã không giúp ích gì cho cấp dưới, sự có mặt của cấp trên cũng bằng thừa và chỉ làm rối bận thêm cho cấp dưới mà thôi. Đó là một thiếu sót rất lớn của người chỉ huy. Tổn thất của trận đánh, người chỉ huy cấp trên đi theo đó cũng phải chịu phần lớn trách nhiệm. Đó chính là quan điểm quần chúng, quan điểm giai cấp, tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy trong quân đội cách mạng trước sinh mệnh của quần chúng, trước thành bại của sự nghiệp cách mạng.

        Dưới đây, tôi kể một mẩu chuyện nhỏ khác mà bản thân đã trải qua.

        Đầu tháng giêng năm 1947, tại mặt trận Hà Nội, sau khi phát hiện quân địch từ phía Lò Lợn chuẩn bị tấn công xuống Thanh Nhàn, Vĩnh Tuy hòng bất ngờ đánh úp tiêu diệt một đơn vị Vệ quốc đoàn của ta ở đây; thay mặt Bộ chỉ huy mặt trận1 (Lúc này đồng chí Vương Thừa Vũ là chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội -  khu 11), tôi cấp tốc đi xuống đơn vị ấy góp ý kiến chuẩn bị đánh địch, đồng thời phổ biến kinh nghiệm tác chiến của các đơn ví tây bắc Hà Nội. Đường vòng từ phía tây bắc xuống đông nam Hà Nội khá xa. Tôi đi bộ rất vội vã, đến nơi giữa lúc đơn vị đang dàn quân bố trí. Tôi cùng đồng chí trung đội trưởng ngồi trong miếu ở chân đê bàn bạc kế hoạch, bố trí lực lượng. Đang làm việc, chúng tôi nghe thấy tiếng cơ giới của địch mỗi lúc một gần. Bộ đội ta đã bố trí xong rồi. Không thấy gì khả nghi, cơ giới của địch tiến rất nhanh ập ngay tới nơi. Tôi và đồng chí trung đội trưởng rút súng lục bắn, ra lệnh nổ súng và hô "xung phong!”. Súng máy ta bắn vùi đầu toán địch đi trước. Tôi chạy lao lên mặt đê, chĩa súng bắn thẳng vào đầu những tên giặc đang chạy nhốn nháo. Đồng chí quân giới cùng đi với tôi, gọi to: “Đồng chí! Đồng chí hãy ở lại đây!”. Nhưng muộn rồi, tôi và đồng chí trung đội trưởng đang xông lên đánh giáp lá cà với địch. Các chiến sĩ vừa nghe súng lệnh, tiếng thét xung phong của chúng tôi thì đã thấy chúng tôi lao về phía địch. Lập tức các chiến sĩ từ các phía xông ra, hét vang trời quần nhau với địch. Khí thế của quân ta rất dũng mãnh, quân địch bị đánh rất bất ngờ, đội ngũ rối loạn, những tên sống sốt phải quay đầu tháo chạy. Quân ta truy kích tới gần vị trí Lò Lợn.

        Sau trận đánh, tôi suy nghĩ về bản thân mình xem hành động như thế có phải là anh hùng cá nhân không? Với tình huống ấy còn cách nào, thái độ nào nữa không? Thấy địch ập đến trước mặt, nếu người chỉ huy hoảng hốt rút chạy thì tình hình thực tế sẽ đưa đến tai họa như thế nào? Ở tình huống khẩn cấp ấy mà người chỉ huy cứ ở phía sau hô xung phong suông có ổn không? Trong khi cấp dưới, chiến sĩ đang chăm chú theo dõi thái độ của mình, đặt hết niềm tin vào người chỉ huy cấp trên, thấy mình như vậy anh em sẽ nghĩ sao? Liệu tất cả mọi người có dũng cảm xung phong không? Tôi không thể nào quả quyết rằng nếu lúc đó tôi cứ ngồi lại rồi hô anh em tiến thì mọi việc có được thuận lợi như thế không? Tình huống đó vạch cho tôi chỉ có một thái độ, một con đường là gương mẫu xung phong lao lên tiêu diệt địch và tôi cảm thấy rằng thái độ đó đã có tác dụng phần nào đối với cán bộ cấp dưới và các chiến sĩ trong trận đánh.


Tiêu đề: Re: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2016, 11:50:29 AM

        Sau này có nhiều trận chiến đấu khác, tôi thường gặp trường hợp gần giống như vậy. Với tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy, tôi cứ nói, cứ làm theo tình hình thực tế lúc đó thực ra trong thâm tâm tôi không hề nghĩ đến những chữ "gương mẫu”, "xung phong", "có mặt"... Mãi về sau, anh em ngồi "bù khú” với nhau kể lại chuyện cũ, tôi nói rõ: Cán bộ cấp dưới và chiến sĩ có khi để ý cả cử chỉ, thái độ rất nhỏ từ câu nói, nụ cười, đến cả cái nhếch mép của người chỉ huy cấp trên. Cử chỉ, thái độ ấy dù rất nhỏ nhưng đã có tác dụng rất lớn đối với mọi người xung quanh. Năm 1950, trong chiến dịch Biên Giới, giua lúc tình huống vô cùng khẩn cấp, đại đoàn đang xuất kích vận động tấn công tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông thì tôi bị chảy máu dạ dày, bụng đau quặn, người tái dần rồi ngã vật ra. Đồng chí Minh Tâm, bác sĩ, khuyên tôi nằm nghỉ để tiếp máu. Tôi sốt ruột vô cùng, đòi cáng đi theo đơn vị xuất kích. Điện thoại cũng kéo đi theo. Chuông điện thoại réo liên hồi. Tôi cầm ống nghe. Tiếng đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp dõng dạc và ấm áp:

        -  Sao tiếng nói lại khàn khàn thế?

        Tôi trả lời:

        -  Tôi bị chảy máu dạ dày.

        Sau khi hỏi thăm sức khoẻ, căn dặn ân cần, đồng chí hỏi tình hình chiến sự và chỉ thị bổ sung một số điểm về nhiệm vụ.

        Tôi thấy khoẻ hẳn lên, tiếng nói của người chỉ huy cấp trên đến với tôi rất đúng lúc. Tôi ốm đau, đó là khó khăn của bản thân, nhưng cũng quan hệ tới đơn vị. Tiếng nói của đồng chí Đại tướng đã an ủi, khích lệ tôi rất lớn. Tôi muốn vùng dậy bám sát đơn vị, nhưng mệt quá, không dậy được. Tôi vẫn nằm, nhờ một đồng chí quay điện thoại để tôi nói chuyện với đồng chí đại đoàn phó về ý định tác chiến mà tôi vừa báo cáo với cấp trên. Tin tôi bị chảy máu dạ dày truyền đi rất nhanh qua các chiến sĩ thông tin, các cán bộ tham mưu. Nhưng lúc đó, mệnh lệnh của tôi vẫn truyền đi đều đặn tới các đơn vị. Các cán bộ cấp dưới vẫn nghe thấy tiếng nói của tôi. Lúc ấy, tôi cho rằng thái độ và việc làm như thế là tất nhiên đối với trách nhiệm của người chỉ huy. Thực ra cũng đúng như vậy. Về sau anh em kể lại, giữa lúc tình huống khẩn cấp như thế, được tin người chỉ huy trực tiếp của mình bị mệt, nếu gián đoạn chỉ huy thì không thể nào tránh khỏi sù xúc động lo lắng. Nhưng cũng giữa lúc ấy lại được nghe tiếng nói, được chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy thì niềm tin, sự phấn chấn, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ lại tăng lên rất nhiều. Về sau này, trong một vài chiến dịch khác, tôi lại gặp tình huống éo le như trên. Nhưng mọi việc giải quyết lại có kinh nghiệm hơn.

        Ngoài ra có những trường hợp, nếu chỉ dùng mệnh lệnh, dùng lời nói cũng chưa đủ bảo đảm công việc thành công chắc chắn, thì người chỉ huy phải trực tiếp đến tận nơi, bắt tay vào hành động thực sự.

        Thí dụ: Việc đi chuẩn bị chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc. Muốn lọt vào tận sào huyệt địch để điều tra tình hình, cần phải vượt qua một chặng đường rừng rất gian khổ, phải đồi phó với địch rất căng thẳng và nguy hiểm. Là một đại đoàn trưởng trực tiếp nhận nhiệm vụ này, tôi cũng biết trước những khó khăn ấy. Nhưng tôi đã cùng đi với anh em, cũng leo núi cao, vượt suối lũ, lẩn tránh địch phục kích, cơm đùm cơm nắm, đi vào sâu tận sào huyệt địch. Tôi cũng cùng anh em nằm sát vị trí giặc suốt hai ngày liền để nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch. Chính tinh thần, thái độ đó đã thúc đẩy cán bộ cán cấp trong đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường nghiên cứu địa hình, nghiên cứu địch đến nơi đến chốn, cấp trực tiếp chiến đấu càng nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể hơn, bò vào tận hàng rào dây thép gai của địch, xem xét từng mô đất, từng lùm cây, bố trí cụ thể từng khẩu súng, từng mũi đột kích, v.v. Sự có mặt của người chỉ huy trong những lúc khó khăn, nguy hiểm là rất quan trọng. Chuẩn bị chu đáo như vậy, tất nhiên khi tác chiến sẽ có nhiều thuận lợi, bảo đảm chiến thắng.

        Những trận đánh trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sở chỉ huy đại đoàn chúng tôi thường ở cách mục tiêu tấn công không ngoài 2 ki- lô- mét, có trận cần thiết chúng tôi chia nhau xuống các sở chỉ huy trung đoàn. Sở chỉ huy trung đoàn chỉ cách mục tiêu 500 -  600 mét, tiểu đoàn đi sát với đại đội chủ công, đại đội đi ngay sau trung đội chủ công. Do đó, chúng tôi luôn luôn nắm chắc được tình hình và xử trí kịp thời.

        Vừa qua, trong chiến đấu với bọn giặc xâm lược, ỷ lại vào hỏa lực của máy bay là chính, có vùng chúng dùng nhiều hỏa lực của pháo mặt đất và pháo hạm, sở chỉ huy các cấp cần tuỳ theo tình hình cụ thể mà bố trí cho thích hợp. Nhưng bất cứ ở trường hợp nào, sở chỉ huy đặt ở đâu thì người chỉ huy cũng phải nắm được tình hình địch, tình hình ta, hiểu được diễn biến của chiến sự để có quyết tâm kịp thời và chính xác. Hết sức tránh vì quá chú ý đến an toàn mà đặt sở chỉ huy quá xa, chỉ huy cách bức, khoán trắng cho cấp dưới, sẽ không bảo đ