Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 30 Tháng Chín, 2016, 11:58:23 AM



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Chín, 2016, 11:58:23 AM

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap



Ban biên soạn:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủbiên)
Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam”. Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, theo dạng hỏi đáp, ngắn gọn súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách “Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn” nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

Trân trọng giới thiệu!
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2016, 08:15:35 AM

Phần thứ nhất
HỎI ĐÁP VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN

Câu hỏi 1: Năm 1407, nhà Minh đem quân xâm lược nước ta, bắt được cha con Hồ Quý Ly đưa về Trung Quốc. Nhà Hồ bị mất, đất nước Đại Viêt từ đó bị nhà Minh thống trị. Hãy cho biết nhà Minh đã thực hiện chính sách đô hộ tàn bạo đối với nước ta như thế nào?

Trả lời:


Khi mới tiến quân vào nước ta, tướng nhà Minh là Trương Phụ lừa dối và hứa hẹn: "Chờ đến ngày cha con giặc Lê (tức nhà Hồ) bị bắt, sẽ họp quan viên, tướng lại và kỳ lão trong nước, tìm con cháu họ Trần lập làm quốc vương để rửa nỗi oan ức cho u hồn dưới suối vàng, cứu dân trong nước khỏi cơn cực khổ". Nhưng vừa chiếm được Đông Đô, Trương Phụ đã cho bọn phản bội Mạc Thúy mạo xưng là quan lại và kỳ lão nước ta, khai rằng: "Con cháu họ Trần bị giặc Lê giết hết, nay không còn một người nào" và "An Nam vốn là quận Giao Chỉ" nên "xin cho nội thuộc như cũ". Minh Thành Tổ lấy cớ đó, đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, mưu đồ sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1407, Trương Phụ tâu về triều đình nhà Minh, đã chiếm được nước ta gồm 48 phủ và 186 huyện.

Mùa hạ năm sau, Trương Phụ về kinh, dâng lên vua Minh "bản đồ Giao Chỉ" đông - tây dài 1.760 dặm, nam - bắc dài 2.800 dặm, số dân 3.120.000 người và 2.087.000 "người Man" (chỉ các dân tộc thiểu số).

Sau khi chiếm được Đông Đô, nhà Minh đã đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, coi như địa phương quận - huyện của Trung Quốc. Chúng lập chính quyền theo mô hình "chính quốc".

Đứng đầu quận Giao Chỉ là ba ti: đô chỉ huy sứ ti, hay gọi tắt là ti đô, phụ trách về quân chính; thừa tuyên bố chính sứ ti hay ti bố chính, trông coi về dân chính và tài chính; đề hình án sát sứ ti hay ti án sát, nắm quyền tư pháp và giám sát.

Dưới quận, nhà Minh chia đặt lại các phủ, châu, huyện. Đó mới chỉ là sự phân chia khu vực hành chính trên bản đồ. Trong thực tế thì phải đến năm 1414, nhà Minh mới thiết lập được hệ thống chính quyền các cấp phủ, châu, huyện ở nước ta.

Năm 1419, nhà Minh định tổ chức lại các làng xã của ta, lập thành (110 hộ, do lý trưởng đứng đầu) và giáp (10 hộ, do giáp thủ đứng đầu) như cơ cấu hành chính của nông thôn Trung Quốc. Riêng vùng kinh thành thì lập thành phườngsương, tương đương như lý ở nông thôn. Chúng muốn phá hủy kết cấu làng xã cổ truyền của ta, mở rộng chính quyền đô hộ đến tận đơn vị cơ sở để trực tiếp không chế nhân dân ta. Nhưng các làng xã cổ truyền dựa trên kết cấu công xã nông thôn, vẫn tồn tại phổ biến và giữ được tính tự trị khá cao. Nhân dân ta đã dựa vào cơ sở làng xã này để đoàn kết, tập hợp nhau lại, kết hợp cuộc đấu tranh giữ làng với cứu nước.

Cùng với bộ máy hành chính, nhà Minh còn xây dựng một hệ thống thành lũy và thiết lập một hệ thống vệ, sở dày đặc để trấn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Trong năm 1407, chúng đã lập 14 vệ và 19 sở với tổng số quân rải ra đóng giữ là 99.280 quân (mỗi vệ có 5.000 quân, mỗi sở có 1.120 quân). Xung quanh thành Đông Quan đã có đến 5 vệ: tả, hữu, trung, tiền, hậu, với số quân phòng vệ là 28.000 quân. Cùng với quá trình mở rộng phạm vi chiếm đóng, bộ máy trấn áp lại tăng thêm. Riêng trong năm 1418, quân Minh lập thêm 11 sở. Số quân Minh có mặt thường xuyên ở nước ta là trên 10 vạn quân, không kể số quân tăng viện từ Trung Quốc sang mỗi khi cần thiết.

Nhà Minh đã cho xây dựng thành lũy nhằm chiếm đóng lâu dài, chỉ tính những thành lũy đã có đến 39. Vết tích của một số thành lũy đó đến nay vẫn còn như: thành Nghệ An (Hưng Nguyên, Nghệ An), thành Diễn Châu (Nghệ An), thành Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Định), thành Điêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội), thành Xương Giang (thị xã Bắc Giang), thành Chi Lăng (Lạng Sơn)...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2016, 08:17:52 AM

Bên cạnh đó, nhà Minh còn có chính sách đô hộ tàn bạo khác, như tước đoạt mọi thứ vũ khí trong tay nhân dân ta. Ai chế tạo, cất giấu chiến thuyền, vũ khí, dù là loại thô sơ nhất, đều bị khép vào tội "phản nghịch". Mỗi khi nhân dân ta phản kháng hay vùng lên khởi nghĩa thì lập tức chúng dùng vũ lực đàn áp khốc liệt với nhiều thủ đoạn man rợ. Quân giặc "đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc chất thây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui, thậm chí có người theo lệnh giặc, mổ bụng người có thai, cắt tay của mẹ và con để dâng cho giặc"1. Những người sống sót thì "bị bắt hết làm nô tỳ và bị đem đi bán mà tan tác bốn phương"2. Những người yêu nước bị quân Minh bắt, nếu không bị giết chết một cách tàn bạo, thì cũng bị đẩy sang Trung Quốc và không mấy ai được trở về.

Về phương diện kinh tế, nhà Minh đẩy mạnh việc vơ vét của cải và bóc lột nhân dân ta một cách tham tàn.

Vừa chiếm được kinh thành nước ta, Trương Phụ đã cho quân lính mặc sức cướp phá và thu tiền đồng chở về nước. Mùa hạ năm 1408, sau hơn một năm xâm lược và cướp bóc, số "chiến lợi phẩm" mà Trương Phụ tâu lên vua Minh gồm:

- 235.000 con voi, ngựa, trâu bò.
- 13.600.000 thạch thóc.
- 8.670 chiếc thuyền
- 2.539.800 đồ quân khí3.

Trong chính quyền đô hộ, nhà Minh thiết lập một mạng lưới thu thuế mang tên là ti thuế khóa, ti tuần kiểm, ti thị bạc, ti thuế muối... và một số cơ quan khai thác tài nguyên gọi là ngân trường cục (khai mỏ bạc), kim trường cục (khai mỏ vàng), châu trường cục (mò ngọc trai)...

Tàn ác hơn nữa, quân Minh còn lùng bắt hàng loạt dân ta đem về nước phục dịch. Riêng Trương Phụ đã bắt trên 9.000 người, phần nhiều là thợ thủ công. Quân Minh còn bắt phường nhạc, thầy thuốc, phụ nữ, trẻ em... đem về Trung Quốc hoặc phục vụ cho triều đình và quan lại nhà Minh hoặc bán làm nô tì.

Năm 1417, nhà Minh dời đô lên Bắc Kinh và trong ba năm liền, huy động sức ngươi, sức của cả nước để xây dựng kinh thành mới. Nhà Minh cũng bắt nhiều dân phu và thợ thủ công nước ta lao dịch trong công trình này. Chính người thiết kế công trình xây dựng đại quy mô đó lại là Nguyễn An, một kiến trúc sư tài giỏi nước ta bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc. Nguyễn An cũng như nhiều người có tài năng khác đều bị chúng cưỡng bức biến thành hoạn quan, suốt đời làm nô lệ cho chúng.

Âm mưu lớn nhất của nhà Minh là đồng hóa dân tộc ta. Âm mưu đó được quán triệt trong toàn bộ chính sách đô hộ của nhà Minh và được thực hiện ráo riết bằng nhiều thủ đoạn hiểm độc, nhất là những thủ đoạn hủy diệt dân tộc, hủy diệt văn hóa. Tất cả những gì đã từng quy định sự tồn tại độc lập của đất nước ta, đã tạo nên sức sống của dân tộc ta, chúng đều tìm cách hủy hoại.

Tên nước Đại Việt bị xóa bỏ và đất đai bị chia làm quận - huyện của nhà Minh. Chúng áp dụng phương sách "dĩ Di trị Di" để gây chia rẽ, làm yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc của ta.
_____________________________________
1. Việt sử thông giám cương mục.
2. Đại Việt sử ký toàn thư.
3. Minh sử, Hiến trưng lục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười, 2016, 08:18:43 AM

Trong chính quyền đô hộ, bên cạnh bọn tướng sĩ, quan lại nhà Minh cử sang giữ những chức vụ chủ chốt, chúng đào tạo một đội ngũ quan lại người Việt khá đông gọi là thổ quan. Bọn thổ quan này được tuyển lựa trong số những quý tộc, quan lại cũ của triều đình Trần, Hồ đã đầu hàng giặc và trong số những phần tử vong bản của mọi tầng lớp xã hội. Chúng bắt những trẻ em mạnh khỏe, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, gọi là "giao đồng" (trẻ con đất Giao Chỉ), đưa hàng loạt về Trung Quốc, biến các em thành những kẻ tôi đòi trung thành, người thì phục dịch trong cung cấm triều Minh, người thì trở về nước làm thổ quan.

Trong quân lính, bên cạnh số binh sĩ nhà Minh phái sang, chúng cũng tuyển mộ khá nhiều thổ binh. Theo quy định năm 1416, từ Thanh Hóa trở vào, cứ 2 suất đinh chúng bắt 1 suất lính; từ Thanh Hóa trở ra, 3 suất đinh bắt 1 suất lính. Số thổ binh này được chia về các vệ, sở, đóng lẫn lộn với quân Minh để dễ bề kiểm soát.

Lúc bấy giờ, khắp nước ta lưu truyền rộng rãi một lời nguyền:

"Muốn sống đi ẩn rừng ẩn núi
Muốn chết làm quan triều Minh".


Văn hóa là một cơ sở tồn tại quan trọng của dân tộc, là biểu hiện tập trung sức sống, bản lĩnh, tâm hồn của dân tộc. Trong âm mưu đồng hóa, nhà Minh đặc biệt dùng nhiều thủ đoạn hủy diệt nền văn hóa dân tộc của ta.

Trước lúc xuất quân, Minh Thành Tổ đã trực tiếp ra lệnh cho bọn tướng xâm lăng: "Khi tiến quân vào An Nam thì chỉ trừ những bản kinh và sách về Thích, Đạo không hủy, còn tất cả các bản in sách, các giấy tờ cho đến sách học của trẻ con như loại "thượng, đại, nhân, khâu, ất, kỉ", thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ đều phải thiêu hủy hết. Trong nước ấy, chỉ có những bia do Trung Quốc dựng lên ngày trước thì để lại, còn những bia do An Nam lập ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại". Trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta từ cuối năm 1406 đến giữa năm 1407, vua Minh nhiều lần nhắc Trương Phụ phải thi hành đầy đủ mệnh lệnh trên. Tháng 8 năm 1418, triều đình nhà Minh lại cử người sang nước ta, vơ vét những sách vở còn sót lại đem về Trung Quốc.

Do thực hiện chủ trương hủy diệt văn hoá của nhà Minh, phần lớn các sách điển chương, luật lệ cùng những tác phẩm lịch sử, văn học, địa lý, quân sự... của thời đó đã bị quân giặc cướp đoạt và tiêu hủy. Theo Lê Quý Đôn thì "đời nhà Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng và sau đó, nhà Lê ra sức thu thập, nhưng "mười phần còn được bốn năm phần".

Tướng giặc Vương Thông còn cho quân phá chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí đàn áp nhân dân ta.

Chuông Quy Điền (chùa Một Cột, Hà Nội), vạc Phổ Minh (Nam Định) cùng với đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội) và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) là bốn công trình tiêu biểu của nghệ thuật đúc đồng thời Lý - Trần, đã từng nổi tiếng là "An Nam tứ đại khí". Triều đình nhà Minh và quân xâm lược Minh đã phạm nhiều tội ác phá hoại các di sản văn hoá dân tộc của ta.

Nhà Minh còn coi những phong tục tập quán lâu đời của nhân dân ta là "Man tục”, là "Di tục" và bắt phải thay đổi theo những quy định cưỡng bức của chính quyền đô hộ. Chúng bắt dân ta không được nhuộm răng đen, bắt đàn ông không được cắt tóc, phụ nữ không được mặc váy mà phải mặc quần dài, áo ngắn theo kiểu người Hoa. Chúng còn quy định cách ăn mặc của các đẳng cấp trong xã hội và ra sức truyền bá các lễ giáo của phong kiến Trung Quốc.

Nền đô hộ của nhà Minh không những kìm hãm sự phát triển tự nhiên của xã hội mà còn đe doạ nghiêm trọng vận mệnh của cả dân tộc và mọi phẩm giá của người dân đất Việt. Đất nước đứng trước một thử thách hiểm nghèo nhưng nhân dân ta đã quyết tâm vượt qua thử thách đó bằng tất cả ý chí và nghị lực của một dân tộc vốn có truyền thống yêu nước mạnh mẽ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười, 2016, 06:05:43 PM

Câu hỏi 2: Trước khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra đã có những cuộc khởi nghĩa nào chống lại ách đô hộ nhà Minh?

Trả lời:


Từ giữa năm 1407, tiếp ngay theo cuộc kháng chiến thất bại của nhà Hồ, phong trào đấu tranh vũ trang chống giặc cứu nước của nhân dân đã nổi lên ở nhiều nơi. Nhân dân huyện Đông Lan và Trà Thanh phủ Diễn Châu (Nghệ An) nổi dậy phá nhà ngục, giết bọn quan lại. Xung quanh những thành luỹ trung tâm của địch như Đông Quan (tức Đông Đô), Tây Đô, quân Minh phải thừa nhận, có những "ổ quân ác nghịch" tức những hoạt động chống đối của nghĩa quân, cả miền rừng núi rộng lớn, các dân tộc thiểu số vẫn làm chủ quê hương của mình và thành lập những lực lượng vũ trang sẵn sàng đánh giặc. Tháng 9, một đạo quân Minh do đô đốc Cao Sĩ Văn chỉ huy, mới tiến lên châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) đã bị chặn đánh kịch liệt. Quân địch bị tổn thất nặng, Cao Sĩ Văn bị giết chết.

Tháng 11, nội quan Miêu Thanh tâu về triều đình nhà Minh rằng: "Tại các phủ Tân An (miền Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương), Kiến Bình (Nam Định), Lạng Giang (Bắc Giang), các châu Đông Hồ (Quảng Ninh), Thái Nguyên và sông Sinh Quyết, dân Man không phục, họp nhau làm loạn". Trên thực tế, quân Minh lúc bấy giờ chỉ mới chiếm được các thành luỹ, kiểm soát được các trục giao thông thủy, bộ chủ yếu. Phần lớn vùng nông thôn và núi rừng vẫn thuộc phạm vi hoạt động của các lực lượng yêu nước.

Điển hình trong thời gian này là cuộc Khởi nghĩa Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng.

Trần Ngỗi (còn gọi là Trần Quỹ) là con thứ của vua Trần Nghệ Tông (1370-1372). Tháng 10 năm 1407, một số người yêu nước lập Trần Ngỗi lên làm vua, tôn xưng là Giản Định Đế, cầm đầu một cuộc khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình). Cuộc khởi nghĩa được đông đảo nhân dân hưởng ứng và tập hợp được nhiều quý tộc, quan lại cũ của triều Trần, triều Hồ, trong đó có Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đến giữa năm 1408, nghĩa quân giải phóng được một khu vực rộng lớn từ Thanh Hoá vào đến Hoá Châu. Từ đó nghĩa quân tiến ra vùng đồng bằng sông Hồng, mở nhiều cuộc tiến công vào những căn cứ quân sự quan trọng của địch như đồn Bình Than, cửa Hàm Tử; chặn đường qua lại của địch ở Tam Giang (Vĩnh Phúc) và uy hiếp cả vùng ngoại vi thành Đông Quan.

Triều đình nhà Minh phải cử Mộc Thạnh là Chinh di tướng quân, điều thêm 4 vạn quân sang tăng viện. Cuối năm 1408, Mộc Thạnh tập trung một binh lực lớn tiến đánh nghĩa quân ở bến Bô Cô (bên sông Đáy ở Ý Yên, đối diện với thị xã Ninh Bình). Ở đây, chúng bị quân ta giết chết nhiều tướng soái, quan chức cao cấp như thượng thư bộ binh Lưu Tuấn, đô đốc Lữ Nghị, tham chính Lưu Dục, đô chỉ huy sứ Liễu Tông và tiêu diệt khoảng 10 vạn quân địch. Chỉ có Mộc Thạnh và một ít tàn quân thoát chết, chạy trốn về thành Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Định, cách Bô Cô khoảng 18km về phía bắc).

Chiến thắng Bô Cô đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đánh giặc cứu nước của quân dân ta và tạo ra một thời cơ thuận lợi để tiến lên giành những thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Nhưng tiếc rằng, sau chiến thắng ấy, trong bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi lại nảy sinh những mối mâu thuẫn, chia rẽ nghiêm trọng. Trần Ngỗi, nghe lời dèm pha, đã ám hại Đặng Tất và Nguyễn cảnh Chân là hai tướng chủ chốt của nghĩa quân. Hành vi đó làm cho nghĩa quân chán nản, lòng người ly tán. Đặng Dung là con Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Dị là con Nguyễn Cảnh Chân liền đem một bộ phận nghĩa quân vào Nghệ An, suy tôn Trần Quý Khoáng là cháu vua Trần Nghệ Tông lên làm vua, tức Trùng Quang Đế, tiến hành một cuộc khởi nghĩa khác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười, 2016, 06:06:05 PM

Cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng nổ ra do sự phân liệt, chia rẽ trong nội bộ cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi. Tình trạng đó kéo dài sẽ gây nguy hại lớn cho phong trào do quý tộc họ Trần lãnh đạo và sự nghiệp cứu nước nói chung của dân tộc. Những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng thấy rõ điều ấy và tìm cách hợp nhất hai lực lượng yêu nước lại dưới quyền của Trần Quý Khoáng rồi suy tôn Trần Ngỗi lên làm Thái thượng hoàng. Tình trạng phân liệt chấm dứt, nhưng cũng đã làm cho uy tín của quý tộc tôn thất họ Trần bị giảm sút và phong trào đấu tranh mang danh nghĩa của họ chịu những tổn thất nặng nề.

Nghĩa quân Trần Quý Khoáng, sau một thời gian củng cố lực lượng, vẫn kiểm soát khu vực từ Thanh Hoá trở vào. Dưới sự chỉ huy của các tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý, nghĩa quân nhiều lần tiến ra hoạt động ở vùng lưu vực sông Đáy, sông Nhị, sông Thái Bình, đánh chiếm cửa Hàm Tử, đồn Bình Than, gây cho quân Minh nhiều thiệt hại.

Giữa năm 1410, quân Minh vừa chiếm lại được Thanh Hoá thì bùng nổ ngay cuộc khởi nghĩa Đồng Mặc. Nghĩa quân đánh bại quân địch, làm chủ phủ Thanh Hoá và phối hợp hoạt động với cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng.

Vùng đồng bằng có các cuộc khởi nghĩa Lê Nhị ở Thanh Oai, Lê Khanh ở Thanh Đàm (Thanh Trì, Hà Nội), Phạm Tuân ở Đông Kết (Khoái Châu, Hưng Yên), Đỗ CôiNguyễn Hiện ở Trường Yên (Ninh Bình).

Ở miền núi, phong trào chống Minh của các dân tộc thiểu số phát triển rất mạnh. Đó là phong trào do các thủ lĩnh Ông Lão, Chu Sư Nhạn, Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chẩn, Dương Khắc Chung, Nguyễn Trà, Dương Thế Chân...cầm đầu ở Thái Nguyên. Đó là cuộc khởi nghĩa Nguyễn Nhũ ở Đại Từ (Thái Nguyên), Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn, Nguyễn Liễu ở vùng Lục Na (Bắc Giang)...

Đặc biệt, phong trào nghĩa binh "áo đỏ" (hồng y) phát triển rộng rãi và kéo dài nhất. Phong trào bắt đầu dấy lên ở Thái Nguyên cuối năm 1410 rồi lan khắp miền núi rừng phía bắc, phát triển sang vùng Tây Bắc, vào đến miền núi Thanh Hoá, Nghệ An.

Trước sức đàn áp liên tục và khốc liệt của địch, năm 1412 các cuộc khởi nghĩa quanh Đông Quan và các phủ vùng đồng bằng bị thất bại. Năm 1413, Trương Phụ tập trung quân thủy và quân bộ, mở cuộc tiến công lớn vào phía nam, đánh bại lực lượng kháng chiến của Trần Quý Khoáng ở Tân Bình, Thuận Hoá. Nhưng dù thất bại, phong trào đấu tranh vũ trang rộng lớn của nhân dân đã thế hiện quyết tâm chống xâm lược, giành lại độc lập chủ quyền đất nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười, 2016, 06:07:34 PM

Câu hỏi 3: Lam Sơn là nơi khởi xuất, là căn cứ của cuộc khởi nghĩa chống Minh thắng lợi và cũng là quê hương của người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ấy - người anh hùng dân tộc Lê Lợi. Hãy cho biết đôi nét về địa danh Lam Sơn?

Trả lời:


Địa danh Lam Sơn lịch sử đó nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Thời thuộc Minh, Lam Sơn thuộc phủ Thanh Hoá.

Lam Sơn nằm về tả ngạn dòng sông Chu, cách thành phố Thanh Hoá ngày nay khoảng 50km, phía dưới Bái Thượng độ 3km. Từ thành phố Thanh Hoá có thể theo sông Mã rồi ngược sông Chu lên tận Lam Sơn, hay có thể theo đường bộ lên Thọ Xuân, qua bên kia bến đò Mục là bước vào đất Lam Sơn.

Lam Sơn phía tây tiếp giáp miền thượng du Thanh Hóa với núi rừng trùng điệp, đầu nguồn các sông Mã, sông Chu, ngày nay là vùng Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan Hoá, v.v... Những ngọn núi hiểm trở, những cánh rừng bạt ngàn của hệ núi Pù Rinh ngang dọc xưa kia là địa bàn hoạt động kín đáo của nghĩa quân. Trong những năm đầu khởi nghĩa, khi lực lượng mới tập hợp, còn non yếu, núi rừng hiểm trở này đã che chở, đùm bọc và nuôi nấng nghĩa quân, nhiều khi còn bảo vệ nghĩa quân thoát khỏi nhiều cuộc bao vây càn quét lớn của địch, đồng thời tạo địa hình thuận lợi cho nhiều trận phục kích tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.

Lam Sơn và các vùng xung quanh có nhiều rừng thưa và ngọn đồi sát nhau, xen kẽ ở giữa những cánh đồng nhỏ hẹp và vài lạch suối nhỏ chạy quanh, về phía tây bắc có ngọn núi Dầu, chính là núi Lam Sơn. Theo nhân dân địa phương, xưa kia núi này có nhiều cây chàm màu lam nên đặt tên là núi Chàm hay núi Lam. Tương truyền tại núi này, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đã giả dạng người bán dầu vào tìm gặp Lê Lợi và cũng nơi này nghĩa sĩ từ bốn phương kéo về dừng chân trước khi vào bản doanh chính. Chếch về phía tây, bên kia làng Như Áng là núi Đồi Đá. Đây là ngọn núi cao nhất, hơn tất cả những ngọn núi quanh vùng. Trên đỉnh núi Đồi Đá có một khoảng đất rộng và bằng, cạnh có giếng nước nhỏ. Đứng trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát những rừng núi và đường giao thông một vùng rộng lớn.

Quanh Lam Sơn, trong phạm vi vài chục dặm là làng bản của nhiều tướng lĩnh nghĩa quân. Đó là các làng dọc sông Chu (còn gọi là sông Lương hay sông Lường) như Hải Lịch (còn gọi là Hải Quát), Quần Đôi, Diên Hào, Mía (còn gọi là Thịnh Mỹ), Đầm (còn gọi là Đàm Thi hay Quảng Thi), Choán (còn gọi là Hào Lương), Dao Xá, Mục Sơn, Bái Thượng, Bái Đô (nay là các xã Thọ Hải, Thọ Diên, Xuân Lạm, Xuân Bái, thuộc huyện Thọ Xuân). Cư dân ở đây có người làm ruộng, có người đánh cá, vất vả quanh năm với đồng ruộng và sông nước, nhưng tất cả đều nhiệt tình yêu nước, đều hăng hái góp công sức vào công cuộc đuổi giặc cứu nước.

Ngược lên phía tây và phía bắc Lam Sơn là những bản mường các dân tộc thiểu số. Tài liệu đương thời gọi chung họ là người "Man Lão" hoặc người "Man", người "Lão". Đó là đồng bào Mường, đồng bào Thái sống trong các bản mường dưới chân núi hệ Pù Rinh hoặc bên các ngọn suối đổ vào sông Chu như làng Đức Trai, Tép (còn gọi là Dựng Tú), Nguyệt Ấn, Như Áng (nay là các xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn thuộc huyện Ngọc Lặc), Phụng Dương, Cốc Thượng, Nhân Trầm (nay là các xã Xuân Dương, Xuân Mỹ thuộc huyện Thường Xuân). Họ là những nông dân cần cù, chất phác, quanh năm bên nương rẫy và khe suối.

Trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng và những năm gian khổ nhất của cuộc khởi nghĩa, các bản làng trên đã che chở, nuôi nấng Lê Lợi và nghĩa quân. Gia phả một số dòng họ vùng này và truyền thuyết dân gian còn nhắc tên một số quan lang và phụ đạo tham gia khởi nghĩa. Họ đã cùng Lê Lợi đứng trên núi Lam Sơn thề diệt thù cứu nước.

Lam Sơn có sông Chu chảy qua. Sông Chu được tiếp nước từ nhiều sông nhỏ đổ vào như sông Cao từ tây Lang Chánh tới, sông Đạt từ nam Thường Xuân lại và sông Âm có nguồn từ Quan Hoá chảy vào. Sông Chu qua Lam Sơn, lòng khá rộng, mùa mưa nước to có khi tới hơn 300m. Từ Lam Sơn trở xuống, sông Chu chảy qua các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hoá đến ngã ba Bông nhập vào với sông Mã rồi xuôi ra biển. Dòng sông như mạch máu trên cơ thể, nuôi sống một vùng đồng bằng rộng lớn của Thanh Hoá, là đường giao thông quan trọng từ miền núi về miền biển. Từ Lam Sơn có thể ngược dòng lên tận Thường Xuân, Lang Chánh rồi vào Nghệ An hoặc sang Lào. Cũng từ Lam Sơn xuôi dòng đến các huyện Thiệu Hoá, Đông Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, rồi về miền biển giàu có, đông dân.

Rừng núi và sông nước Lam Sơn là như vậy. Nghĩa quân đóng ở đây có thể toả xuống miền đồng bằng, có thể di chuyển lên miền thượng lưu sông Mã, và khi cần thiết có thể rút lên miền tây dựa vào thế núi Pù Rinh để bảo toàn lực lượng.

Lam Sơn, quê hương của phong trào yêu nước lớn nhất đầu thế kỷ XV do Lê Lợi đứng đầu, đã được nêu cao trong sử sách, được khắc sâu trong trí nhớ mọi người. Lam Sơn tượng trưng cho ý chí quật cường, tinh thần bền bỉ và niềm tự hào chính đáng của dân tộc ta.

Ngày nay, nhân dân Thanh Hoá vẫn còn lưu truyền biết bao nhiêu truyền thuyết về sự tích Lam Sơn cách đây hơn 500 năm. Cả rừng núi, sông nước và con người thuở đó còn như sống mãi trong câu ca của điệu hò sông Mã:

Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn
Nhớ vua Thái Tổ chặn đường quân Minh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười, 2016, 06:11:55 PM

Câu hỏi 4: Hãy cho biết nguồn gốc và thân thế của Lê Lợi - vị lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn?

Trả lời:


Lê Lợi là một hào trưởng lớn ở vùng Lam Sơn. Bài văn bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn cho chúng ta biết rõ ràng, chính xác nhất nguồn gốc và thân thế của Lê Lợi1.

Ông tổ của Lê Lợi là Lê Hối vốn ở thôn Như Áng, huyện Lương Giang (nay là thôn Như Áng thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá), sau dọn nhà đến ở chân núi Lam Sơn, khai khẩn đất hoang, xây dựng nên cơ nghiệp. Bia Vĩnh Lăng ghi rõ: "Một hôm (Lê Hối) đi chơi Lam Sơn, thấy nhiều chim bay liệng hàng đàn dưới núi như vẻ nhiều người tụ họp, liền nói rằng: "Đây là chỗ đất tốt!", rồi dời nhà đến ở đó. Trải qua ba năm lập thành sản nghiệp, con cháu ngày càng đông, tôi tớ ngày càng nhiều. Việc dựng nước mở đất thực đã xây nền móng từ đấy. Về sau đời đời làm quân trưởng một phương". Lê Hối lấy bà Trịnh Thị Ngọc Duyên, người sách Quần Đội, huyện Lôi Dương (nay thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân)2 sinh ra Lê Đinh là ông của Lê Lợi.

Đến đời Lê Đinh thì cơ nghiệp đã phát đạt, "kẻ giúp việc có tới hơn một nghìn" (bia Vĩnh Lăng). Lê Đinh lấy bà Nguyễn Thị Quách ở thôn Xuân Lan huyện Lôi Dương (nay là huyện Thọ Xuân) sinh ra hai con trai là Tòng và Khoáng.

Lê Khoáng, theo bia Vĩnh Lăng, là một người "tính vui vẻ, hoà nhã và hiền lành, thích làm điều thiện, hay tiếp đãi tân khách, dân vùng lân cận đều coi như cùng một nhà. Vì thế không ai không cảm vì ân đức, phục vị nghĩa khí". Lê Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc Thương ở làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (sau đổi là Thủy Chú, nay thuộc huyện Thọ Xuân), sinh ba con trai là Học, Trừ, Lợi và ba con gái.

Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (10-9-1385) tại quê mẹ là làng Chủ Sơn huyện Lôi Dương. Lớn lên Lê Lợi là một người thông minh, khoẻ mạnh và có uy tín rộng rãi trong vùng. Toàn thư mô tả dáng người của Lê Lợi như sau: "Thiên tư tuấn tú khác thường, tinh thần và dáng người tinh anh, mạnh mẽ; mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, vai có nốt ruồi, tiếng nói như chuông, đi như rồng, bước như hổ, kẻ thức giả đều biết là người phi thường". Xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp địa chủ, là một tầng lớp đang phát triển và có vai trò tích cực lúc bấy giờ, lại là một người yêu nước và cương trực nên Lê Lợi rất đau lòng trước cảnh nước mất, nhân dân lầm than cơ cực và từ lâu đã nuôi chí diệt giặc cứu nước. Bia Vĩnh Lăng còn ghi lời Nguyễn Trãi: "Tuy gặp thời loạn lớn, mà chí càng bền, ẩn náu trong núi rừng, chăm nghề cày cấy. Vì giận quân giặc cường bạo lấn hiếp nên càng chuyên tâm về sách thao lược, dốc hết của nhà, hậu đãi tân khách".

Lòng yêu nước, chí diệt thù và công việc chuẩn bị khởi nghĩa của Lê Lợi đã làm cho tiếng tăm của ông lừng lẫy khắp nơi. Do đó, từ lâu quân Minh đã chú ý theo dõi và định dùng chức tước để dụ dỗ, dùng tiền của để mua chuộc ông. Nhưng tất cả những mưu kế đó đều bị thất bại trước lòng quyết tâm và ý chí kiên cường trước sau không lay chuyển của Lê Lợi. Toàn thư chép rằng: Lê Lợi là người "không bị quan tước dụ dỗ, không bị uy thế khuất phục, nên dù nhà Minh dùng trăm phương nghìn kế khôn khéo, rút cục vẫn vô hiệu quả”. Lê Lợi thường nói với mọi người: "Kẻ trượng phu ở đời nên cứu nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ đâu lại chịu bo bo làm đầy tớ muôn người”, và tuyên bố rằng: "Ta dấy quân đánh giặc không phải vì tham phú quý, mà vì muốn cho ngàn đời sau biết rằng ta không chịu thần phục quân giặc tàn ngược".

Trong thời gian chuẩn bị khởi nghĩa, có khi Lê Lợi phải dùng lễ vật và lời lẽ nhún nhường để che mắt bọn tướng giặc như Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ, nhưng trước sau không hề đầu hàng hay nhận chức tước của địch.

Từ lâu, Lê Lợi đã dốc hết tâm huyết và tài sản của mình để lo chuẩn bị cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Cả gia đình nội và ngoại của Lê Lợi đều có nhiều người tham gia khởi nghĩa từ những ngày chuẩn bị. Đó là Lê Thạch - con Lê Học, anh cả của Lê Lợi; Lê Khôi, Lê Khang, Lê Khiêm - con Lê Trừ, anh thứ hai của Lê Lợi. Đó là Trần Hoành và Trần Vận - cha vợ và anh vợ của Lê Lợi. Gia đình Lê Lợi thật xứng đáng là một gia đình yêu nước vẻ vang.

Tin Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa được nhanh chóng truyền đi khắp nơi. Nhiều anh hùng hào kiệt từ bốn phương đã bất chấp cả sự kiểm soát nghiêm ngặt của quân thù, bất chấp cả núi sông ngăn cách, lần lượt tìm đến Lam Sơn họp mặt. Đó là những người con ưu tú của dân tộc từ nhiều địa phương xa gần, từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cùng chung một chí hướng, một bầu nhiệt huyết muốn đánh đuổi quân giặc tàn bạo để khôi phục nền độc lập của đất nước, để cứu dân khỏi cảnh lầm than cơ cực. Rừng núi Lam Sơn bề ngoài vẫn im lặng, nhưng bên trong đang hình thành một căn cứ khởi nghĩa. Ở đó, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và những người anh hùng có tên tuổi hay không tên tuổi của đất Lam Sơn lịch sử đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc đấu tranh sống mái với kẻ thù.
___________________________________
1. Bia Vĩnh Lăng cao 2,79m, rộng 1,92m, dài 0,27m, dựng trên một con rùa đá dài 3,46m, rộng 1,94m. Tấm bia hiện còn ở Lam Sơn.
2. Lam Sơn thực lục, Hoàng Lê ngọc phả.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười, 2016, 06:16:03 PM

Câu hỏi 5: Người đề xướng, thủ lĩnh tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi nhưng bên cạnh Lê Lợi, nổi bật lên ngôi sao sáng Nguyễn Trãi – một sĩ phu yêu nước, một thiên tài trên nhiều lĩnh vực của dân tộc. Hãy cho biết thân thế của Nguyễn Trãi trong buổi đầu đến với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn?

Trả lời:


Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm Canh Thìn (1380) tại kinh thành Thăng Long, trong tư dinh của ông ngoại là quan Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán. Tổ tiên của Nguyễn Trãi vốn ở làng Chi Ngại (nay thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương), sau đó mới dời về làng Nhị Khê (vốn là làng Ngọc Ổi, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, là một người nổi tiếng hay chữ, thi đỗ bảng nhãn năm 1374, giữ chức đại lý tự khanh kiêm trung thư thị lang trong chính quyền nhà Hồ.

Nguyễn Trãi là một người học rộng tài cao, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400 trong một khoa thi đầu tiên của nhà Hồ và sau đó giữ chức ngự sử đài chánh chưởng trong chính quyền nhà Hồ.

Sau khi cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt đày về nước, còn Nguyễn Trãi bị chúng bắt giam lỏng ở thành Đông Quan. Biết Nguyễn Trãi là một người có tài lớn, Trương Phụ và Hoàng Phúc tìm mọi cách để mua chuộc, mời ông ra làm quan. Chúng giam lỏng ông ở thành Đông Quan mà không giết nhằm mục đích vừa quản chế, vừa kiên nhẫn dụ dỗ ông. Nhưng dã tâm của quân giặc dù tinh khôn, xảo quyệt đến đâu chăng nữa cũng không thể lay chuyển được con người có tấm lòng yêu nước nồng nàn và ý chí bất khuất như Nguyễn Trãi. Những ngày bị giam lỏng ở Đông Quan là những ngày sống cơ cực mà Nguyễn Trãi đã mô tả trong một bài thơ nôm như sau:

Góc thành Nam, lều một căn,
No nước uống, thiếu cơm ăn
Con đòi trốn dễ ai quyến ?
Và ngựa gầy thiếu kẻ chăn.
Ao vơi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen xuế xoá ngại nuôi vằn.
Quan triều chẳng phải, ẩn chẳng phải
Góc thành Nam, lều một gian.


Thù nước, hận nhà đã nung nấu cả tâm can Nguyễn Trãi, nhưng bề ngoài ông phải tạm thời nhẫn nhục, im hơi lặng tiếng để che mắt quân thù và để chờ đợi thời cơ cứu nước. Với khối óc thức thời và con mắt xét đoán tinh tường, Nguyễn Trãi đã nhìn thấy thời cơ đó khi được tin Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa ở Lam Sơn.

Hiện nay tài liệu không cho chúng ta biết rõ Nguyễn Trãi đã thoát vòng cương toả của quân thù và tìm vào Lam Sơn từ năm nào, nhưng chắc chắn ông đã có mặt ở Lam Sơn từ trước ngày khởi nghĩa và chính ông đã góp phần quan trọng vào công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa1.

Trước khi tìm vào Lam Sơn theo Lê Lợi, Nguyễn Trãi có những hoạt động gì và vì sao ông không tham gia những cuộc khởi nghĩa khác? Đó là một vấn đề cần phải nghiên cứu thêm. Nhưng ở đây một điều chắc chắn là trong thời gian này, Nguyễn Trãi đã từng chăm chú theo dõi thời cuộc, đau lòng nát óc vạch ra một kế hoạch diệt giặc cứu nước để chờ thời cơ thuận lợi sẽ đem ra thi hành. Đó chính là Bình Ngô sách mà Nguyễn Trãi đã cống hiến cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
____________________________________
1. Về thời gian Nguyễn Trãi tham gia cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn từ trước đến nay vẫn tồn tại hai thuyết khác nhau:
    Thuyết thứ nhất cho rằng Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau khi cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ một thời gian.
    Thuyết thứ hai cho rằng Nguyễn Trãi có mặt ở Lam Sơn từ trưóc ngày khởi nghĩa và đã cùng với Lê Lợi chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười, 2016, 06:17:02 PM

Cuộc gặp gỡ của Lê Lợi và Nguyễn Trãi có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Vì hai nhân vật đó là linh hồn của nghĩa quân, là đầu não của bộ tham mưu khởi nghĩa. Nguyễn Trãi là một sĩ phu yêu nước, có chí lớn tài cao. Trong mười năm khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi luôn luôn có mặt bên cạnh Lê Lợi và đã có nhiều cống hiến to lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đi đến thắng lợi.

Trong lần gặp Lê Lợi đầu tiên, Nguyễn Trãi đã trình bày tập Bình Ngô sách. Đó là cả một kế sách diệt giặc cứu nước đã được Nguyễn Trãi nghiên cứu tường tận và ôm ấp bấy lâu nay mà đến bây giờ mới tìm được người minh chủ xứng đáng với lòng mong đợi của mình để hiến dâng. Rất tiếc rằng Bình Ngô sách đến nay không còn nữa, nhưng theo bài tựa của Ngô Thế Vinh trong Ức Trai di tập thì trong tác phẩm đó Nguyễn Trãi "không nói đến việc đánh thành" mà chỉ chú trọng "việc đánh vào lòng người". Đánh vào lòng người có nghĩa là phải dựa vào lòng dân, là phát động sức mạnh tiềm tàng vô địch của nhân dân. Đó là nội dung tư tưởng cơ bản của Bình Ngô sách và cũng là phương châm chính trị cơ bản của cuộc khởi nghĩa. Toàn bộ quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn rồi đây sẽ diễn ra dưới sự chỉ đạo của tư tưởng và phương châm chính trị cơ bản ấy.

Xung quanh cuộc gặp gỡ có ý nghĩa lịch sử của hai người anh hùng cứu nước Lê Lợi và Nguyễn Trãi, nhân dân ta đến nay vẫn còn truyền tụng biết bao nhiêu câu chuyện thần kỳ.

Nào là chuyện thần đình làng Chèm (thờ Lý Ông Trọng) và thần đền Dạ Trạch (thờ công chúa Tiên Dung) báo mộng cho Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi biết "thiên đình" đã chọn "Lê Lợi làm vua".

Nào chuyện một toán quân Minh ở Dương Xá (Thanh Hoá) và Gián Khẩu (Ninh Bình) xem thiên văn biết rằng "tướng tinh của An Nam" đã xuất hiện.

Nào là chuyện lá cây của rừng núi Lam Sơn bỗng nhiên mang dòng chữ1 "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi).

Để tạo lòng tin trong dân, Nguyễn Trãi đã cho người lấy nước cơm trộn với mật (có sách nói là lấy mỡ) viết vào lá cây tám chữ trên. Sau đó kiến kéo đến ăn mật, mỡ, để lại dòng chữ trên. Những lá cây này được thả vào suối chảy ra sông để mọi người có thể nhặt được. Lúc đầu, Lê Sát, Lê Thụ, Phạm Vấn tự ái vì cho rằng Nguyễn Trãi khinh thường mình quá vì họ đều đến Lam Sơn từ thuở ban đầu, mà sao lại chỉ có tên Nguyễn Trãi, về sau, Nguyễn Trãi nói rõ sự việc báo mộng ở đình làng Chèm và đền thờ công chúa Tiên Dung, mọi người mới khỏi thắc mắc.

Tác dụng viết vào lá cây thật là diệu kế. Nhiều người trong vùng nhặt được chiếc lá cho là chuyện lạ, đưa về cho hàng xóm xem và coi như báu vật, truyền hết người này đến người khác. Từ đó, lá cây tạo cho mọi người niềm tin mãnh liệt vì "đây là ý trời". Cũng từ đó, các trạm đón khách của nghĩa quân Lam Sơn, thanh niên trai tráng tình nguyện gia nhập nghĩa quân rất đông.
________________________________________
1. Theo Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục thì Nguyễn Trãi lấy mỡ viết lên lá cây để cho sâu, kiến ăn mỡ đục thành nét chữ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:21:36 PM

Câu hỏi 6: Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi đã tạo dư luận xã hội mạnh mẽ bằng cách nào để tập hợp lực lượng?

Trả lời:


Lê Lợi - vị thủ lĩnh nghĩa quân cho rằng, nếu không nhanh chóng tạo ra được một dư luận mạnh mẽ trong xã hội thì sẽ không thể nào tập hợp và huy động lực lượng cho cuộc nổi dậy lật đổ ách đô hộ của quân Minh. Nhưng trong điều kiện nghiệt ngã lúc bấy giờ, nếu không khôn khéo thì chính dư luận sẽ trở thành đầu mối quan trọng, khiến quân Minh có thể lần mò ra mọi kế hoạch của Lê Lợi. Trên cơ sở phân tích và cân nhắc thực tế phức tạp này, Lê Lợi chủ trương phối hợp chặt chẽ với những người bạn gần gũi và tâm đầu ý hợp nhất, tạo ra sự nhất trí cao độ trong dư luận, trước hết là ở ngay trên quê hương của ông. Một trong những đặc trưng nổi bật của xã hội thế kỷ thứ XV là dễ dàng tin vào những điềm lạ, do đó, Lê Lợi đã bắt đầu tạo dư luận bằng cách tận dụng niềm tin vào những điềm lạ này. Sử cũ chép rằng:

"Bấy giờ, vua (chỉ Lê Lợi), kết bạn keo sơn với Lê Thận (tức Nguyễn Thận), người ở sách Mục Sơn, huyện Cổ Lôi. Thận làm nghề chài lưới ở đầm Ma Viện. Đêm ấy, dưới đáy nước (của đầm Ma Viện) bỗng có ánh sáng ngời lên như một bó đuốc. Thận quăng lưới cả đêm mà chẳng được con cá nào, chỉ được một thanh sắt dài hơn một thước. Thận liền đem về để trong góc nhà. Hôm đó, Thận làm giỗ gia tiên, vua sang chơi nhà, thấy trong góc tối của nhà Thận có ánh sáng thì nhận ra đó là một thanh sắt. Vua hỏi:

- Đó là thanh sắt nào vậy?

Thận đáp:

- Đêm trước tôi ra quăng lưới (ở đầm Ma Viện) rồi tình cờ mà bắt được.

Vua liền xin, Thận cho ngay. Thanh sắt ấy đem về mài ra thì thấy có hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi. Hôm khác, vua vừa đi ra cửa thì thấy một chiếc cán kiếm mài chuốt đã xong, liền khấn vái với trời đất rằng:

- Nếu quả là trời đã ban kiếm cho thì kính xin cho lưỡi kiếm và cán kiếm này vừa khít với nhau.

Vua khấn xong thì ghép vào, quả vừa y với nhau, thành một cây kiếm. Một đêm trời làm mưa gió, sáng sớm hôm sau, Hoàng hậu (chỉ một trong ba người vợ của Lê Lợi) ra vườn rau cải, thấy có bốn vết chân người to lớn khác thường, liền vào gọi vua, vua ra vườn thì bắt được chiếc bảo ấn, trên cũng có khắc hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi. Vua ngầm hiểu đó là (báu vật) trời ban, bèn giấu kín việc này (Lam Sơn thực lục).

Những "điềm lạ" kể trên cứ thế truyền đi khắp Lam Sơn và từ Lam Sơn truyền dần đến khắp bốn phương thiên hạ. Hào kiệt mọi miền lần lượt dò đường tìm đến Lam Sơn tìm đến với Lê Lợi. Là phụ đạo của đất Lam Sơn, Lê Lợi có đầy đủ điều kiện để ân cần tiếp đón họ:

"Vua tuy gặp buổi rối loạn mà vẫn bền chí ẩn náu chốn núi rừng, vừa lo cày cấy, vừa lấy kinh sử làm vui, đã thế lại còn chuyên tâm học sách lược thao. Vua hậu đãi tân khách, tiếp đón những người trốn tránh và làm phản (quân Minh), ngầm nuôi người đa mưu túc trí, bỏ của để giúp kẻ cô đơn khó nghèo, nhún nhường dùng lễ hậu để thu nạp hào kiệt" (Lam Sơn thực lục).

Tuy nhiên, thời nào và ở đâu cũng vậy, hễ có cao thượng là có thấp hèn, có anh hùng là có phản bội... Ngay trong buổi đầu của quá trình chuẩn bị đầy gian nan, Lê Lợi cũng đã vấp phải sự chống phá ác liệt của bọn phản bội, thấp hèn. Một trong những kẻ ấy là Đỗ Phú. Sử cũ chép như sau:

"Bấy giờ ở thôn Hào Lương (cùng huyện) có tên Đỗ Phú tranh kiện đất đai với vua. Hắn kiện đến tận tướng của nhà Minh. Quan xét án của giặc thấy hắn đuối lý, liền xử cho vua được thắng kiện. Đỗ Phú nhân đó mà sinh ra thù oán, liền tố cáo rồi dẫn đường cho quân Minh tới bắt vua. Vua cùng với Lê Liễu bỏ chạy. Đến sông Khả Lam thì thấy xác một người đàn bà, mình mặc áo trắng, đeo xuyến vàng và cài thoa vàng. Vua và Liễu ngửa mặt lên trời khấn rằng:

- Ta bị giặc Minh đuổi, xin giúp ta hoạn nạn. Sau, nếu ta giành được thiên hạ thì sẽ lập miếu thờ. Hễ có bò hay heo để cúng tế thì sẽ cúng tế trước.

Vua và Liễu đắp mồ vừa xong thì giặc xua chó ngao chạy đến, bèn vội lẩn trốn vào gốc cây đa. Giặc đâm mũi giáo đúng vào đùi bên trái của Liễu. Liễu liền lấy một nắm cát vuốt mũi giáo cho sạch máu. Đúng lúc đó, bỗng có con chồn trắng từ trong hốc cây chạy ra. Chó ngao liền lao theo đuổi chồn. Giặc vì thế mà hết ngờ có người trốn trong gốc cây, bèn bỏ đi. Vua nhờ vậy mà được thoát, về sau, khi đã dẹp yên thiên hạ, vua phong cho người đàn bà áo trắng, chết ở Khả Lam là Hoằng Hựu Đại Vương, và cả đến cây đa cũng được phong làm Hộ Quốc Đại Vương". (Lam Sơn thực lục).

Lê Lợi tuy bị Đỗ Phú âm mưu mượn tay quân Minh để hãm hại nhưng chí lớn vẫn không hề vì thế mà suy giảm. Hào kiệt từ tận vùng trung du xa xôi như Lưu Nhân Chú, Trần Nguyên Hãn; từ đất kinh thành Thăng Long như Phạm Văn Xảo; từ miền Nghệ An như Nguyễn Xí; từ đội ngũ Nho sĩ lỗi lạc như Nguyễn Trãi,... nườm nượp kéo về.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:25:51 PM

Câu hỏi 7: Lê Lợi đã chuẩn bị về lực lượng và tổ chức như thế nào? Hội thề Lũng Nhai gồm có bao nhiêu hào kiệt?

Trả lời:


Đồng thời với quá trình chuẩn bị về dư luận, Lê Lợi đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng và tổ chức. Về lực lượng, ngoài các bậc anh hùng hào kiệt, Lê Lợi chủ trương phải tập hợp và huy động cho bằng được sức mạnh cũng như trí tuệ của những người bị quân Minh bức hiếp bóc lột nặng nề nhất, những người ở dưới đáy sâu nhất của xã hội. Nói theo cách nói của Nguyễn Trãi là:

"Nêu hiệu gậy làm cờ,
Tập hợp bốn phương manh lệ"
1.

Lúc đầu, số người tìm đến với Lê Lợi chưa nhiều, nhưng sau đó, đất quê hương của Lê Lợi trở thành nơi quy tụ ngày càng đông đảo nghĩa sĩ bốn phương. Để che mắt kẻ thù, cũng là để thuận tiện trong việc quản lý, Lê Lợi chia họ thành từng nhóm nhỏ, dựng trại rải rác ở nhiều khu vực quanh Lam Sơn. Những nhóm này vừa khai khẩn đất đai và tích trữ lương thực, vừa thường xuyên luyện tập võ nghệ để sẵn sàng chờ ngày ra quân. Lê Lợi cẩn trọng chọn người giao việc, cốt để phát huy hết năng lực riêng biệt của từng cá nhân, đồng thời, cũng để thông qua đó mà phát hiện thêm người hiền tài.

Đầu tháng hai năm Bính Thân (1416), Lê Lợi đã long trọng tổ chức một cuộc hội thề tại Lũng Nhai2, sử gọi đó là Hội thề Lũng Nhai Tham dự hội thề này, ngoài Lê Lợi, còn có mười tám bậc hào kiệt thân tín khác. Đó là:

1. Lê Lai (người Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá).
2. Nguyễn Thận (người Mục Sơn, nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá).
3. Lê Văn An (người cùng quê với Nguyễn Thận).
4. Lê Văn Linh (người Hải Lịch, nay thuộc xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá).
5. Trịnh Khả (người Kim Bôi, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá).
6. Trương Lôi (người Thu Mệnh, sau, ông trở thành gia thần của Lê Lợi. Ông và Vũ Uy là hai người được Lê Lợi sai đi cày ruộng ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi).
7. Lê Liễu (người cùng quê với Lê Lợi).
8. Bùi Quốc Hưng (người Cống Khê, nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).
9. Lê Hiểm (người dân tộc Mường, quê ở thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn, nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá).
10. Vũ Uy (người cùng làng với Trương Lôi).
11. Nguyễn Trãi (tổ tiên người làng Chi Ngại nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời về làng Nhị Khê, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây).
12. Đinh Liệt (người làng Thúy Cối, nay thuộc Lam Sơn, Thanh Hoá).
13. Lưu Nhân Chú (người làng Vạn Yên, nay thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
14. Lê Bồi (người làng Nguyễn Xá, huyện Lương Giang, nay thuộc Thanh Hoá).
15. Nguyễn Lý (người làng Dao Xá, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá).
16. Đinh Lan (người làng Thúy Cối, cùng quê với Đinh Liệt).
17. Trương Chiến (người cùng làng với Trương Lôi).

Tại Hội thề Lũng nhai, Lê Lợi cùng các bậc hào kiệt thân tín kể trên đã long trọng thề cùng hồn thiêng sông núi rằng:

“Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhưng nguyện kết tình thân như một tổ liền cành, phận vinh hiển dẫu có khác nhau, nghĩa vẫn thắm như chung một họ".

"Quân bằng đảng xâm lấn, vượt cửa quan làm hại, cho nên, Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, cùng chung sức chung lòng, giữ cho đất nước được yên, khiến xóm làng được ổn, thề sống chết có nhau, không dám quên lời thề son sắt".

"Nếu như Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến ai thay lòng đổi dạ, núp bóng quân thù để cầu lợi trước mắt, không bền chí hoặc quên lời thề ước, thì kính xin trời đất và các đấng thần linh, hãy giáng trăm tai ương, khiến bản thân cho tới họ hàng và con cháu đều bị tru diệt, chịu hết mọi hình phạt của trời" (Lam Sơn sự tích).

Số người tham dự Hội thề Lũng Nhai chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số những người đã đến Lam Sơn tụ nghĩa lúc bấy giờ. Và tuyệt đại đa số những người có mặt trong cuộc Hội thề này, sau đó, đều được trao những chức vụ rất quan trọng. Nói khác hơn, Hội thề Lũng Nhai thực chất là buổi lễ ra mắt được tổ chức dưới một dạng thức đặc biệt của Bộ chỉ huy Lam Sơn. Từ đây, tất cả lực lượng của Lam Sơn được quản lý và huấn luyện ngày càng quy củ, nhiệm vụ cụ thể của từng nghĩa sĩ Lam Sơn được quy định một cách rõ ràng.

Tư tưởng chung của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn là phát động và lãnh đạo toàn thể nhân dân vùng dậy lật nhào ách đô hộ của quân Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất nước. Để có thể huy động được sức dân, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Trong hai nhiệm vụ chiến lược này, cứu nước phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Nói theo cách nói của Nguyễn Trãi là: "Quân điếu phạt trước lo trừ bạo". (Bình Ngô đại cáo).
__________________________________
1. Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo.
2. Lũng Nhai tức Lũng Mi hay làng Mé, nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá, cách Lam Sơn chừng 10 cây số.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:35:26 PM

Câu hỏi 8: Sau Hội thề Lũng Nhai, lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn được tăng cường như thế nào? Hãy nêu tên một số địa phương và các tướng lĩnh tham gia?

Trả lời:


Trải qua một thời gian chuẩn bị, núi rừng Lam Sơn đã trở thành một căn cứ khởi nghĩa và đến cuối năm 1417, lực lượng nghĩa quân đã có đến vài nghìn người.

Sự đóng góp của nhân dân vùng Lam Sơn và các thôn, làng, huyện Lương Giang (Thường Xuân, Ngọc Lặc và một phần Thọ Xuân) và huyện Cổ Lôi (Thọ Xuân) rất quan trọng. Đó là cơ sở đầu tiên của phong trào.

Một gia đình phụ đạo thôn Dựng Tú (Kiên Thọ, Ngọc Lặc) có Lê Lai, Lê Hãn, Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm, cả 5 người cùng tham gia khởi nghĩa. Lê Lai đứng tên thứ hai sau Lê Lợi trong Hội thề Lũng Nhai. Đây là gia đình yêu nước mà hầu như cả nhà đều theo việc nghĩa. Cùng với phụ đạo Lê Lai, người Dựng Tú còn có Lê Mạnh. Lê Mạnh là chiến sĩ ngoan cường trong đội quân thiết đột của nghĩa quân Lam Sơn.

Từ Dao Xá (Xuân Lam, Thọ Xuân), Nguyễn Lý (sau được ban quốc tính là Lê Lý) đã sớm tìm đến Lam Sơn cùng Lê Lợi mưu tính đại nghĩa và có mặt trong Hội thề Lũng Nhai. Ngoài ra, ở Dao Xá còn có Lê Khảo, Lê Thế Vĩ, Lê Bính.

Ở Đoán Lương (về sau gọi là Hào Lương, Xuân Lam, Thọ Xuân) có Lê Sao, Lê BịLê Nhi.

Ở Nguyễn Xá có Phạm Vấn, Phạm LungLê Bồi. Phạm Vấn là người tài giỏi, có nhiều công lao to lớn, giữ chức thứ thủ quân thiết đột.

Ở Thúy Cối có Lê Lan và ba anh em họ Đinh là Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt.

Thu Mệnh là thôn có nhiều người tham gia: Trương Lôi, Võ Uy, Phạm Lật (về sau được ban quốc tính là Lê Lật), Trương Chiến, Lê Cẩm và hai cha con Lê Văn LễLê Vũ Bị. Trương Lôi và Võ Uy trước là gia thần của Lê Lợi, từng cày ruộng động Chiêu Nghi cho họ Lê, có tên trong Hội thề Lũng Nhai.

Ở Bỉ Ngụ có Lê Sát, Lê Tại. Đặc biệt ở thôn Cao Trị (có lẽ là xã Xuân Cao, Thường Xuân, cách Lam Sơn gần 5km) có bốn người họ Phạm gia nhập nghĩa quân là Phạm Yên, Phạm Thái, Phạm Oánh, Phạm Nội.

Bên hữu ngạn sông Chu, đối diện với Lam Sơn là các làng Đa Mĩ, Diên Hào, Quần Lai, Hải Lịch thuộc huyện Cổ Lôi cũng có nhiều người gia nhập nghĩa quân.

Đa Mĩ (sau gọi là Thịnh Mĩ, còn gọi là làng Mía, Thọ Diên, Thọ Xuân) vốn là một phường đánh cá có Nguyễn Nhữ LãmLê Khuyển là những người lao động nghèo khổ. Lãm là dân chài trên sông Chu, Khuyển có thời gian phải đi ở. Hai người sớm tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Hai lần nghĩa quân bị bao vây ở núi Chí Linh, Nguyễn Nhữ Lãm đã động viên dân chài phường Đa Mĩ tiếp tế gạo muối.

Ở Mục Sơn (Xuân Bái, Thọ Xuân), có hai cha con Lê Văn An, Lê Văn Biếm, Nguyễn Thận, Lê Thiệt, Lê Lãnh, Lê Đạt. Nguyễn Thận là phụ đạo vùng Mục Sơn, tục gọi là Đạo Mục. Ông làm nghề chài lưới, từ trước đã quen thân với Lê Lợi. Lê Văn An và Nguyễn Thận đều dự Hội thề Lũng Nhai.

Ở làng Đầm (tên chữ là Đàm Thi, xã Xuân Thiên, Thọ Xuân) có hai cha con Trần LựuTrần Lãn.

Ở Hải Lịch (Thọ Hải, Thọ Xuân) có Lê Văn Linh, Lê Xuân Thọ. Trong bộ chỉ huy, Lê Văn Linh là một văn thần.

Ở Bái Đô (Xuân Bái, Thọ Xuân) có hai cha con Lý Bá Lao, Lý TriệnLê Văn Giáo.

Và xa hơn, ở Vạn Lại (Xuân Châu, Thọ Xuân) có Lê Hối, Lê Bôn, Lê Hà Viên.

Hầu như không có làng nào thuộc hai huyện Lương Giang và Cổ Lôi dọc sông Chu không có người gia nhập nghĩa quân vào những tháng năm chuẩn bị này.

Nhân dân các dân tộc Mường, Thái cũng có nhiều đóng góp quan trọng. Hai cha con đại quan lang Lê Hiểm, Lê Hưu người Mường ở thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn (Kiên Thọ, Ngọc Lặc). Lê Hiểm tham dự Hội thề Lũng Nhai. Trong chiến đấu cả hai cha con đều là danh tướng. Cho đến nay, nghi thức tế lễ của dòng họ Lê Hiểm cũng phản ánh hai cha con ông đã dự nhiều chiến trận. Vào dịp tế Lê Hiểm, ngày 25 tháng Chạp âm lịch, dân làng và họ hàng làm lễ tế xuất quân và mồng sáu Tết âm lịch tổ chức ăn mừng chiến thắng, làm lễ khao quân. Buổi tế xuất quân phải có đồ mã bằng giấy cắt hình chiến sĩ có vũ khí gươm giáo cung nỏ, voi ngựa và chiến thuyền. Trong buổi lễ khao quân, chủ tế đọc văn chào mừng chiến thắng rồi chia cháo hoa, rượu thịt, xôi chè cho dân làng.

Ở Nhân Trầm, một bản người Thái (Thường Xuân), có Lê Cố. Ông đã từng tham gia nhiều chiến trận ở Thanh Hóa và Nghệ An.

Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, Lê Lợi rất chú ý đến lực lượng các dân tộc thiểu số. Văn bia thần đạo Hoàng Việt khai quốc công thần, Lê Sao ghi rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa Lê Lợi và nhiều sách ở miền núi Thanh Hóa. Văn bia có đoạn viết "Vua (Lê Lợi) biết ông (Lê Sao) là người trung thực có thể dùng làm tôi cùng với (các ông được) tặng thái phó Lê Văn Linh, thị trung Lê Lễ, tặng đô đốc Lê Văn Lang. (Bấy giờ) các ấp, các sách chưa thần phục hết như Quy, Bái, Ấn, Hướng, Cá Lô, Ma, Lại (chỉ các vùng Ngọc Lặc, Thường Xuân, Lang Chánh đến Quỳ Châu). Ông theo vua đến thảo binh được cả. Gần xa không nơi nào không theo về. Vua (Lê Lợi) triệu các quan lang tới dụ rằng: ta nay đã tạm ổn, duy còn việc tài vật, lương thực mà thôi, không biết ai là người có thể gánh vác được. Ông mạnh dạn xin đi. Từ đấy mọi việc được xong xuôi. Đầu năm Mậu Tuất (1418), sau trận Lạc Thủy, nhờ đó mà đánh thành, chiếm đất không phải đem sức nhiều".

Việc xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng vũ trang trong thời gian đầu đã nhờ vào sự đóng góp tích cực của đồng bào các dân tộc Mường, Thái. Có thể nói từ những năm chuẩn bị đến 1424, gần chục năm trời, nghĩa quân Lam Sơn hoạt động căn bản là dựa vào sự ủng hộ của các dân tộc thiểu số vùng rừng núi Thanh Hóa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:35:51 PM

Truyền thuyết dân gian và thần tích địa phương cho biết ở động Sa Lung (Bá Thước) có Hà Thung và thôn Quan Da (Quan Hóa) có Lê Yên là những người có nhiều đóng góp cho nghĩa quân. Sau chống Minh thắng lợi, Hà Thung được làm thống quán, Lê Yên được phong là hải nham hầu.

Có lẽ để ghi nhớ công lao to lớn của các dân tộc thiểu số miền tây Thanh Hóa trong những ngày gian nan nhất của cuộc khởi nghĩa nên sau này triều Lê thành lập, trong lễ tế Thái miếu ở Lam Kinh (tức Lam Sơn), bao giờ cũng phải có vị sư khấn bằng tiếng Ai Lao (tiếng Thái) để chúc phúc.

Trong những năm tháng chuẩn bị khởi nghĩa, hào kiệt nhiều nơi trong Thanh Hóa và khắp đất nước tìm về Lam Sơn tụ nghĩa. Huyện Nông Cống (Thanh Hóa) có Trịnh Đồ, Đỗ Bí, Hà Mộng, Lê Khương, Hà Đệ. Lê Khương người sách Diễn Gia, Hà Đệ người thôn Chiêm và Trịnh Đồ người xã Cổ Mộc. Trịnh Đồ từ trước tránh giặc lên miền rừng núi Ai Lao. Nghe tin Lê Lợi đã chuẩn bị dấy nghiệp, ông đem voi về giúp sức, Đỗ Bí là người thôn Cung Hoàng (nay là Cung Điền).

Huyện Quảng Xương có Lê Tông Kiều, huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) có Trịnh Khả. Trịnh Khả người làng Kim Bôi (nay là xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Lộc). Tổ tiên có công trong kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII. Gia đình sa sút, lên 16 tuổi, Trịnh Khả phải cày ruộng chăn trâu. Thấy ông khỏe mạnh, khôi ngô, một viên tướng Minh ở thành Tây Đô bắt làm nô lệ. Ít lâu sau, ông tìm cách bỏ trốn để thoát khỏi kiếp làm nô lệ cho giặc. Truy lùng không được, quân Minh bắt giam cha ông là Trịnh Quyện để dụ ông về. Nhưng không kết quả, quân giặc đã giết chết và quẳng xác cha ông xuống sông Mã. Đang đêm, ông trở về vớt xác cha đem chôn cất. Xót thương cha, căm giận giặc, Trịnh Khả thiết tha tìm đường rửa hận nước báo thù cha. Ông lên Lam Sơn trước năm 1416 và cùng Lê Lợi dự Hội thề Lũng Nhai.

Ngoài Thanh Hóa, nhiều người con yêu nước của Tổ quốc từ nhiều phương trời cũng lần lượt tìm về Lam Sơn theo Lê Lợi. Từ Bắc vào có Trịnh Lỗi ở Sơn Dược (huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình), Bùi Quốc Hưng ở Cống Khê (huyện Chương Đức, nay là Chương Mỹ, Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây), Trần Trại ở Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội), Phạm Văn Xảo ở vùng kinh lộ (Hà Nội), Trần Nguyên Hãn ở Sơn Đông (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), Lưu Nhân Chú ở Vân Yên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên). Từ Nam ra có Nguyễn Xí ở Thượng Xá (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Danh Cá ở Tuy Lộc (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình)...

Bùi Quốc Hưng và Phạm Văn Xảo là những sĩ phu yêu nước. Bùi Quốc Hưng đậu tam trường đời Trần Duệ Tông (1373-1377) và có thời gian làm quan trong triều Trần. Ông có mặt trong Hội thề Lũng Nhai năm 1416. Phạm Văn Xảo là người nổi tiếng thơ văn ở vùng kinh đô.

Trần Nguyên Hãn là một nhà quý tộc yêu nước thuộc dòng dõi nhà Trần. Ông là cháu nội tư đồ Trần Nguyên Đán và là anh em con cô con cậu với Nguyễn Trãi. Trước khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đã từng chiêu mộ hương binh, chiếm giữ vùng Bạch Hạc. Di tích chiến đấu của ông hiện nay vẫn còn như bãi Tập quân, bãi Luyện voi ở khu rừng Thần ở hai xã Văn Quán và Sơn Đông (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc). Tương truyền rằng Trần Nguyên Hãn cùng với Nguyễn Trãi tìm vào Lam Sơn phò tá Lê Lợi.

Lưu Nhân Chú (còn có âm Thụ), người xã Thuận Thương, huyện Đại Từ (Thái Nguyên), vốn dòng dõi một gia đình đã ba đời thế tập làm quan phiên trấn vùng Thái Nguyên và được nhà Trần phong tước hầu. Lưu Nhân Chú cùng với cha là Lưu Trung và anh rể là Phạm Cuống có mặt ở Lam Sơn khá sớm. Lưu Nhân Chú là một trong những người dự Hội thề Lũng Nhai. Nguyễn Xí người làng Trương Xá huyện Chân Phúc (Nghi Lộc, Nghệ An), xuất thân trong một gia đình làm muối và buôn muối. Cha là Nguyễn Sư Hồi và anh là Nguyễn Biện thường chở muối ra Thanh Hóa bán, có qua lại vùng Lam Sơn và biết uy danh Lê Lợi. Sau khi cha chết, Nguyễn Xí xin làm gia thần của Lê Lợi. Là người thông minh, giỏi võ nghệ, Nguyễn Xí được Lê Lợi tin dùng và thương yêu như con. Lê Lợi giao cho ông nuôi dạy hơn 100 con chó săn. Ông dùng tiếng nhạc làm hiệu lệnh để điều khiển bầy chó lúc cho ăn cũng như lúc đi, lúc đến rất có quy củ. Trong nghĩa quân, ông giữ chức chỉ huy đội quân thiết đột là đội quân xung kích.

Đồng thời với việc tập hợp lực lượng, Lê Lợi rất quan tâm đến việc luyện tập nghĩa quân và tích trữ lương thực. Việc sản xuất và tích trữ lương thực do Trương Chiến, Võ Uy và hai cha con Ngô Kinh, Ngô Từ đảm nhiệm. Ngô Kinh quê ở Động Phang (xã Định Hòa, huyện Yên Định, Thanh Hóa), gia đình rất nghèo khổ, phải ở nhờ nhà chùa. Sau đó, ông tìm đến Lam Sơn làm gia nô cho Lê Khoáng. Con ông là Ngô Từ lại làm gia nô cho Lê Lợi. Tuy thân phận gia nô, nhưng hai cha con Ngô Kinh, Ngô Từ được Lê Lợi rất tin cậy, giao phó cho công việc trông nom trang trại, chăm lo sản xuất để chuẩn bị quân lương và tiếp đón nhân tài các nơi đến mưu việc đại nghĩa.

Trên đây là những người anh hùng đầu tiên của đất Lam Sơn có nhiều cống hiến to lớn vào việc tổ chức cuộc khởi nghĩa, mà sử sách còn ghi rõ tên tuổi. Ngoài ra còn biết bao nhiêu người anh hùng không lưu tên tuổi khác đã sớm gia nhập vào hàng ngũ nghĩa binh Lam Sơn, hiến dâng cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Đó là những người nông dân, những người lao động bình thường ở vùng Lam Sơn và từ nhiều nơi khác đến, bao gồm người miền xuôi và miền ngược, người Việt và người các dân tộc thiểu số khác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:39:32 PM

Câu hỏi 9: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu từ ngày tháng năm nào? Trình bày vắn tắt những năm tháng chiến đấu đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn?

Trả lời:


Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang được xúc tiến về mọi mặt thì bọn tay sai của địch đánh hơi thấy. Tên tham chính Lương Nhữ Hốt vốn quê ở Thanh Hóa, mật báo với quân Minh: "Chúa Lam Sơn chiêu vong nạp bạn, đãi ngộ quân lính rất hậu, chí nó không phải là nhỏ. Nếu giao long gặp được mây mưa thì tất không phải là con vật trong ao nữa đâu. Nên sớm trừ đi, chớ để lo về sau"1. Quân địch âm mưu bóp chết cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước. Trên cơ sở công việc chuẩn bị đã đạt kết quả và trước tình hình đó, Lê Lợi và bộ tham mưu quyết định khởi nghĩa.

Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (ngày 7-2-1418)2, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, tại Lam Sơn, Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân làm lễ tế cờ khởi nghĩa, mở đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống quân Minh. Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân nổi dậy cứu nước.

Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu với quân thù trong một so sánh lực lượng hết sức chênh lệch về mặt số lượng. Toàn bộ lực lượng nghĩa quân không quá 2.000 người, trong đó lực lượng nòng cốt chỉ có 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ và 300 dũng sĩ. Lúc ấy, như Nguyễn Trãi nói: "Cơm ăn chẳng nề hai bữa, áo mặc chẳng phân đông hè, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không".

Bằng lối đánh mai phục lợi hại, nghĩa quân đã đánh thắng những trận lớn ở Lạc Thủy, ở Mường Một năm 1418 và ở Mường Chánh (Lang Chánh) năm 1419.

Tuy nhiên, trong hơn năm đầu của cuộc khởi nghĩa, những cuộc vây quét lớn của địch cũng gây cho nghĩa quân nhiều tổn thất. Trong một trận càn quét vùng Lam Sơn năm 1418, quân Minh được bọn Việt gian ở địa phương dẫn đường, đã đánh úp phía sau doanh trại nghĩa quân. Chúng quật mồ mả tổ tiên của Lê Lợi, lùng bắt những người thân thuộc của nghĩa quân trong đó có cả vợ và con gái của Lê Lợi. Cũng trong khoảng thời gian này, trước những cuộc tiến công lớn của địch, nghĩa quân phải hai lần rút lên núi Chí Linh (hay Linh Sơn) là một ngọn núi cao, hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu (nay thuộc xã Giao An, giữa Lang Chánh và Thường Xuân).

Lần thứ nhất rút lên núi Chí Linh, nghĩa quân bị tuyệt lương đến gần hai tháng liền. Trong thời gian đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ. Nhớ lại những ngày chiến đấu ác liệt đó, Nguyễn Mộng Tuân đã hết lời ngợi ca khí thế anh hùng và tinh thần đánh giặc ngoan cường, mưu trí của nghĩa quân Lam Sơn:

      "Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo, mà ngất trời khí thế.
      Bao nhiêu nghịch, bấy nhiêu thuận, khéo tùy cơ lợi dụng, thật tột bậc anh hùng".

                                                                    (Phú núi Chí Linh)

Lần thứ hai rút lên núi Chí Linh, vào tháng 5 năm 1419 quân địch đuổi theo bổ vây bốn mặt, quyết tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong tình thế hiểm nghèo đó, Lê Lai đã tự nguyện cải trang làm Lê Lợi, dẫn 500 quân ra phá vòng vây để đánh lừa quân địch. Lê Lai và đội quân cảm tử đã hy sinh anh dũng để cứu Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa khỏi một tai họa nguy hiểm.
_______________________________________
1. Lam Sơn thực lục - Đại Việt thông sử.
2. Về ngày khởi nghĩa, các tài liệu chép có khác nhau: Đại Việt thông sử chép "Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất, vua khởi nghĩa ở Lam Sơn". Sách khác lại chép ngày 8 hay 9 tháng Giêng như Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:45:19 PM

Câu hỏi 10: Tại sao có câu "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi"?

Trả lời:


Sau khi rút lên núi Chí Linh, nghĩa quân Lam Sơn định dựa vào địa thế cực kỳ hiểm trở của vùng này để tạm tránh cuộc truy đuổi của địch. Nhưng quân Minh vẫn tiếp tục đuổi theo bao vây hòng tiêu diệt cho kỳ được cuộc khởi nghĩa. Quân Minh đã tập trung một lực lượng khá lớn, chặn các ngả đường và dần dần khép chặt vòng vây. Lực lượng nghĩa quân bị hao mòn, lại cạn hết lương thực, "hơn mười ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người ngựa đều khôn đốn"1. Tình trạng đó kéo dài có thể đẩy nghĩa quân vào nguy cơ bị tiêu diệt.

Lê Lợi liền họp bộ tham mưu lại để bàn kế giải nguy. Lê Lợi nói rằng: "Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín ngày xưa để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau"2. Kỷ Tín là một trung thần của vua Hán Cao Tổ ở Trung Quốc. Một lần Hán Cao Tổ bị quân của Hạng Vũ bao vây ở Huỳnh Dương (Hà Nam) rất nguy ngập, Kỷ Tín đã cải trang làm Hán Cao Tổ ra đầu hàng để cho Hạng Vũ giết chết. Nhờ sự hy sinh của Kỷ Tín mà Hán Cao Tổ được thoát nạn để xây dựng lại lực lượng và về sau đã diệt được Hạng Vũ. Nhắc lại một điển tích cũ trong lịch sử Trung Quốc, ý Lê Lợi muốn có người đóng lại vai trò của Kỷ Tín để đánh lạc mục tiêu của quân thù. Trước tình thế nghiêm trọng đó, tướng Lê Lai đã khảng khái xin tình nguyện hy sinh để cứu Lê Lợi và giải vây cho nghĩa quân.

Lê Lai liền cải trang làm Lê Lợi, lĩnh 500 quân và hai con voi chiến, tự xưng là "Chúa Lam Sơn" kéo ra anh dũng tập kích địch. Quân Minh tập trung quân bao vây bắt được Lê Lai và đánh tan đội nghĩa binh dũng cảm đó. Trong trận này Lê Lai đã chiến đấu đến phút cuối cùng rồi mới chịu rơi vào tay giặc và bị quân giặc bắt giải về, xử bằng những hình phạt cực kỳ tàn ác3.

Tưởng rằng thủ lĩnh Lê Lợi đã bị giết và cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn bị tiêu diệt, quân Minh rút về thành Tây Đô. Nhờ đó Lê Lợi và nghĩa quân mới được giải vây và có cơ hội xây dựng lại lực lượng để tiếp tục hoạt động.

Sự hy sinh cao cả của Lê Lai và đội nghĩa quân cảm tử đã đưa cuộc khởi nghĩa thoát khỏi một tình thế hiểm nghèo tưởng chừng có thể bị tiêu diệt và đã bảo vệ cho bộ tham mưu và đội quân chủ lực của nghĩa quân được an toàn.

Lê Lai người làng Dựng Tú, huyện Lương Giang (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc) là một trong những người cộng sự đầu tiên của Lê Lợi, có mặt trong số 19 người dự Hội thề Lũng Nhai năm 1416.

Tổ tiên của Lê Lai đời đời làm phụ đạo ở vùng Dựng Tú. Cha của Lê Lai là Lê Kiều sinh ra hai con trai là Lãn và Lai. Cả hai anh em đều tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều chiến công và đều hy sinh rất dũng cảm. Lê Lãn tử trận trong trận Khả Lưu (Nghệ An) năm 1425 sau này. Cả ba người con trai của Lê Lai là Lô, Lộ và Lâm đều là những tướng soái quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Lê Lô bị tử trận ở Nghệ An năm 1425 và về sau được truy tặng chức thiếu úy. Lê Lộ đã từng tham gia nhiều trận đánh ở vùng thượng du Thanh Hóa và vùng Trà Lân, bị tử trận cuối năm 1424, sau được truy tặng chức thái úy. Lê Lâm cũng có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến và sau này, năm 1428 được xếp vào hạng thứ ba trong số những công thần theo khởi nghĩa từ đất Lũng Nhai. Trong tờ sắc dụ của vua Lê Thánh Tông thăng chức tước cho Lê Niệm là con Lê Lâm, có viết: "Trước khi đức Thái Tổ ta dựng nên nghiệp lớn, cha ngươi là Lê Lâm rong ruổi khắp đông tây, vì nước bỏ mình"4. Lê Lai và cả gia đình của ông đã nêu cao một tấm gương yêu nước sáng ngời. Trong bài chế văn phong tước cho Lê Niệm năm 1460, Lê Thánh Tông cũng đã từng tuyên dương công trạng của gia đình Lê Lai: "Huống chi, một nhà trung nghĩa, thương ông ngươi, cha ngươi vì nước bỏ mình"5.

Trong ký ức của nhân dân và trong lịch sử, hình tượng Lê Lai thật là hùng tráng và đẹp đẽ. Cái chết của Lê Lai là một trong những cái chết bất tử vì đó là cái chết của người anh hùng vì nước quên mình. Cái chết đó đã mở con đường sống cho nghĩa quân Lam Sơn và đã tô thắm thêm những trang sử anh hùng của dân tộc.

Sau khi cuộc khởi nghĩa đã toàn thắng, Lê Lai được phong làm công thần hạng nhất, truy tặng chức thiếu úy. Lê Lợi còn sai Nguyễn Trãi viết hai đạo "Tiên ước thệ từ" và "Lai công thệ từ" cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công lao của Lê Lai. Theo lời dặn của Lê Lợi, con cháu nhà Lê sau này bao giờ cũng làm giỗ Lê Lai vào ngày hôm trước ngày giỗ của Lê Lợi (22 tháng 8 âm lịch). Vì vậy trong nhân dân thường có câu ''Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi". Hiện nay ở làng Tép (Dựng Tú thuộc xã Kiên Thọ) còn có đền thờ Lê Lai. Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức hội đền Tép vào ngày 29 tháng 4 và ngày 21 tháng 8 âm lịch.
______________________________________
1. Đại Việt thông sử (đế kỷ).
2. Cương mục, Lam Sơn thực lục và Đại Việt thông sử cũng chép tương tự.
3. Đại Việt thông sử chép Lê Lai bị bắt về thành Đông Quan. Lam Sơn thực lụcCương mục chỉ chép Lê Lai bị bắt và bị giết, không chép rõ bị giết ở đâu. Lam Sơn thực lục tục biên chép Lê Lai bị bắt đem về thành ở xã Dựng Tú.
4. Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí).
5. Đại Việt thông sử (liệt truyện), Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:50:25 PM

Câu hỏi 11: Sau khi tế cờ khởi nghĩa, măc dù găp rất nhiều khó khăn gian khổ do quân địch tàn sát, khủng bố ác liệt, song nghĩa quân Lam Sơn vẫn chiến đấu anh dũng, kiên cường, tiếp tục mở rộng hoạt động khắp vùng thượng du Thanh Hóa. Cho biết những hoạt động chính của nghĩa quân Lam Sơn trong thời gian này?

Trả lời:


Trong thời gian đóng quân ở Mường Thôi (phía tây bắc Thanh Hóa, giáp Lào) nhân khi quân Minh còn phải phân tán lực lượng đối phó với các cuộc khởi nghĩa ở khắp nơi, Lê Lợi tranh thủ thời gian xây dựng và chỉnh đốn lực lượng. Sự giúp đỡ của Ai Lao (Lào) trong lúc này cũng có tác dụng tăng cường thêm lực lượng của nghĩa binh.

Tháng 9 năm 1419, nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu tiến xuống hoạt động ở miền Lỗi Giang (miền Cẩm Thủy, Bá Thước và một phần Quan Hóa). Khi quân Minh do đô chỉ huy Hoàng Thành tiến lên đàn áp. nghĩa quân lại rút lui. Minh sử chép rằng: "Mỗi khi quan quân (tức quân Minh) đến đánh thì Lợi lại lẩn trốn đi nơi khác". Như vậy là từ căn cứ Mường Thôi ở phía tây bắc Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn vẫn theo lưu vực sông Mã tỏa xuống hoạt động.

Tháng 2 năm 1420, nghĩa quân lại có mặt ở miền Lỗi Giang và đã xung đột với quân Minh do Từ Nguyện chỉ huy. Trong khoảng cuối năm 1419 đầu năm 1420, khu vực hoạt động của nghĩa quân là miền tây bắc Thanh Hóa thuộc lưu vực sông Mã.

Tháng 11 năm 1420, một đạo quân Minh tiến công lên căn cứ của nghĩa quân. Lê Lợi dò biết đường hành quân của địch nên đã dẫn nghĩa quân đi xa căn cứ, bố trí mai phục sẵn ở bến Bổng để chờ. Quả nhiên quân địch kéo đến lọt vào giữa trận địa phục kích. Bị nghĩa quân từ bốn mặt bất ngờ xông ra chặn đánh, quân Minh tan rã và bị tổn thất nặng. Trong trận này, nghĩa quân bắt được trên 100 con ngựa và thu được nhiều vũ khí. Lê Lợi biết rằng "quân địch vừa bị thất bại, tất nhiên lo phòng bị nên chưa thể đánh được". Nhưng một số tướng chủ quan, khinh địch, nhân đà thắng lợi đuổi theo tiến công vào đồn lũy quân Minh làm cho lực lượng nghĩa quân bị thiệt hại khá nhiều. Lê Lợi rút quân về Mường Nanh rồi rút về căn cứ Mường Thôi.

Ngay sau đó, Lý Bân và Phương Chính điều động một lực lượng rất lớn - theo chính sử của ta là trên 10 vạn quân - tiến lên càn quét vùng căn cứ của nghĩa quân. Viên đồng tri châu Quỳ Châu (nay là Quỳ Châu tỉnh Nghệ An, năm 1417 nhà Minh sáp nhập Quỳ Châu vào phủ Thanh Hóa) là Cầm Lãn dẫn đường cho quân Minh tiến thẳng lên Mường Thôi.

Lê Lợi phái các tướng Lý Triện, Lê Lý, Phạm Vấn đem một số quân đi mai phục sẵn ở xứ Bồ Mộng trên đường tiến quân của địch. Chờ khi quân Minh kéo đến, nghĩa quân xông ra đánh, tiêu diệt hàng trăm quân địch rồi rút lui.

Trong lúc cho một số quân nhỏ mai phục ở Bồ Mộng thì bộ tham mưu nghĩa quân đã huy động toàn bộ lực lượng, chọn địa hình hiểm yếu bố trí mai phục ở Thi Lang (hay Bồ Thi Lang) gần căn cứ của nghĩa quân. Quả nhiên quân địch cậy thế mạnh nên dù bị tổn thất ít nhiều ở Bồ Mộng, vẫn ồ ạt tiến lên. Quân địch lọt vào trận địa mai phục và bị nghĩa quân đánh bại, tiêu diệt hơn 1.000 tên.

Chiến thắng Thi Lang của nghĩa quân Lam Sơn đã đánh dấu một bước phát triển của lực lượng nghĩa quân. Sau thất bại ở Thi Lang, quân địch bị tổn thất nặng, lại mất hết tinh thần chiến đấu, nên Lý Bân, Phương Chính phải lo "chạy thoát thân". Nghĩa quân thừa thắng đuổi theo "sáu ngày đêm mới thôi”.

Tháng 12 năm 1420, Lê Lợi lại tiến xuống hoạt động ở miền Lỗi Giang, đóng quân ở sách Ba Lẫm (ở miền Quan Hóa - Bá Thước). Trước sự phát triển mạnh mẽ và sự hoạt động ráo riết của nghĩa quân, quân Minh phải lui về cố thủ các đồn để bảo vệ cho thành Tây Đô. Phương Chính sau trận thất bại ở Thi Lang rút về đóng ở Tây Đô. Phía trên Tây Đô, quân Minh thiết lập các đồn ở Khả Lam (Lam Sơn), Nga Lạc, Quan Du (thuộc Quan Hóa) vừa để ngăn chặn sự bành trướng của nghĩa quân, vừa để phòng thủ Tây Đô. Do sự hoạt động mạnh của nghĩa quân ở miền lưu vực sông Mã nên bọn tướng nhà Minh là Hoàng Thành, Tạ Phượng phải bỏ đồn Khả Lam, chia quân đóng giữ hai đồn Nga Lạc và Quan Du. Nghĩa quân nhiều lần khiêu chiến dử địch ra khỏi đồn để tiêu diệt nhưng chúng chỉ lo cố thủ trong các đồn lũy không dám đánh. Sau đó quân Minh lại bỏ cả đồn Nga Lạc để tập trung lực lượng giữ trại Quan Du nhằm cản bước tiến của nghĩa quân trên lưu vực sông Mã.

Cuối năm 1420, sau nhiều lần khiêu khích, quấy rồi làm cho quân địch mệt mỏi, Lê Lợi phái các tướng Lê Sát, Lê Hào tập kích trại Quan Du (miền Quan Hóa). Đây là một trận tập kích tương đối lớn của nghĩa quân Lam Sơn vào một đồn lũy tập trung khá đông quân địch. Trong trận này, nghĩa quân đã toàn thắng, giết được trên 1.000 tên địch và thu được rất nhiều quân trang, khí giới.

Ở vùng Thanh Hóa, quân Minh bị tổn thất khá nặng và tinh thần ngày càng sa sút, bạc nhược. Sau thất bại ở Quan Du, chúng phải rút lui về cố thủ thành Tây Đô và các đồn lũy xung quanh để chờ viện binh. Nhân đó nghĩa quân đã mở rộng hoạt động ra khắp vùng tây bắc Thanh Hóa. Nhân dân các vùng lân cận cũng nổi dậy hưởng ứng vây đánh các đồn lũy của địch.

Sau ba năm chiến đấu liên tục, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo tài tình của bộ tham mưu đứng đầu là Lê Lợi, đã bộc lộ rõ ràng một tinh thần chiến đấu dẻo dai, một sức sống mãnh liệt và đã nói lên khả năng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Trong lúc những cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ cùng thời hay sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sớm muộn đều bị đàn áp và thất bại thì cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn duy trì được lực lượng qua biết bao nhiêu cuộc vây quét của địch, vẫn vượt qua mọi thử thách để càng ngày càng phát triển. Đến cuối năm 1420 đầu năm 1421, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trở thành một trung tâm kháng chiến lớn nhất có ảnh hưởng trong phạm vi cả nước, ngày càng thu hút được rộng rãi những lực lượng yêu nước ở các nơi.

Sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thành mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với chính quyền đô hộ của nhà Minh. Do đó vào đầu năm 1421, bọn quan lại và tướng tá đô hộ đã ra sức chuẩn bị mọi điều kiện để mở một cuộc tiến công lớn hòng tiêu diệt nghĩa quân.

Trước hết tổng binh Lý Bân phái quân đi đàn áp những cuộc khởi nghĩa ở các nơi và những lực lượng nghĩa quân còn sống sót ở vùng đông bắc.

Mặt khác, Lý Bân tìm mọi cách dụ dỗ và uy hiếp vua Ai Lao và các tù trưởng Ai Lao ở vùng biên giới giáp vùng thượng du Thanh Hóa để phá hoại mối quan hệ liên kết và tương trợ giữa nghĩa quân Lam Sơn với Ai Lao.

Sau khi đã chuẩn bị chu đáo, ngày 14 tháng 12 năm 1421 (ngày 29 tháng 10 năm Tân Sửu), Lý Bân phái tham tướng Trần Trí điều động một lực lượng khá lớn gồm quân Minh ở các vệ Giao Châu cùng với thổ quân, ồ ạt tiến công lên căn cứ của nghĩa quân ở Ba Lẫm. Quân địch tiến lên đóng ở ải Kình Lộng để chuẩn bị tiến công.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 04:51:02 PM

Trước tình thế nguy cấp đó, Lê Lợi liền họp bộ tham mưu lại để bàn cách đối phó. Lê Lợi nhận định rằng: "Quân địch đông, quân ta ít; quân địch mệt mỏi, quân ta nhàn hạ. Quân địch tuy đông, nhưng ta đem quân nhàn hạ để đón quân mệt mỏi thì tất thế nào cũng phá được". Với tư tưởng chủ động tiến công theo lối "dĩ dật đãi lao", dù lực lượng nghĩa quân còn ít, Lê Lợi vẫn quyết định phải bất ngờ tập kích ngay vào doanh trại của quân Minh nhằm tiêu hao sinh lực địch và không cho chúng nghỉ ngơi để chuẩn bị tiến công trước.

Đang đêm, một bộ phận nghĩa quân được lệnh đánh úp vào doanh trại của địch ở ải Kình Lộng. Nghĩa quân tiến sát đến doanh trại của địch rồi đánh trống, hò reo đột nhập vào đánh phá. Quân Minh hành quân từ xa đến đang mệt mỏi, lại bị tập kích bất ngờ nên hoảng hốt và bị tổn thất khá nặng. Nghĩa quân phá được 4 trại địch, giết được trên 1.000 quân và thu được nhiều vũ khí.

Tuy bị tổn thất, nhưng lực lượng quân Minh vẫn còn mạnh và qua trận tập kích ở Kình Lộng, Trần Trí cho rằng lực lượng nghĩa quân non yếu nên hắn đã ra lệnh cho quân lính phải khai núi, mở đường tiến đánh vào căn cứ của nghĩa quân. Dò biết đường tiến quân của địch, Lê Lợi liền bố trí nghĩa quân mai phục ở Ủng Ải (đèo Ống thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước) để chờ địch. Quả nhiên, đến trưa, Trần Trí dẫn quân theo đường núi tiến quân vào Ủng Ải, lọt vào giữa trận địa mai phục của nghĩa quân. Bị đánh bất ngờ giữa một địa thế hiểm trở, có lợi cho nghĩa quân, quân Minh bị đại bại, Trần Trí phải rút lui.

Tháng 3 năm 1422, Lý Bân chết, nhà Minh cử tham tướng Trần Trí lên làm tổng binh ở Giao Chỉ. Trần Trí tiếp tục theo đuổi những chính sách và thủ đoạn của Lý Bân, một mặt chuẩn bị tập trung lực lượng để mở cuộc tiến công mới vào căn cứ của nghĩa quân, mặt khác ra sức lôi kéo các tù trưởng Ai Lao ở vùng biên giới để cùng phối hợp bao vây và tiến công nghĩa quân từ hai mặt.

Từ Ba Lẫm, Lê Lợi chuyển quân đến Quan Du (hay Quan Da). Ngày 5 tháng 2 năm 1423 (ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Dần), quân Minh do Mã Kỳ chỉ huy ước hẹn với vua Ai Lao từ hai mặt cùng đánh vào doanh trại của nghĩa quân ở Quan Du. Quân Ai Lao tiến sang đóng ở Mường Kiệt (thuộc Quan Hóa). Quân Minh theo lưu vực sông Mã tiến lên. Quân địch lập thành hai gọng kìm tiến công vào Quan Du. Nghĩa quân hết sức chống cự nhưng phải đồng thời đối phó cả hai mặt nên bị tổn thất khá nặng. Lê Lợi phải bỏ Quan Du rút lên sách Khôi (có lẽ là huyện Khôi ở khoảng miền huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình và một phần đông nam tỉnh Hòa Bình).

Nghĩa quân rút lên sách Khôi được 7 ngày thì quân Minh phối hợp với quân Ai Lao lại kéo đến bao vây với một lực lượng rất đông. Nghĩa quân vừa mới bị tổn thất khá nặng ở Quan Du, trong 7 ngày ở sách Khôi cũng chưa kịp củng cố lại lực lượng và xây dựng căn cứ mới. Vì vậy cuộc vây quét lớn này của địch đã dồn nghĩa quân vào một tình thế rất hiểm nghèo. Lê Lợi nhận định tình hình của nghĩa quân lúc bấy giờ như sau: "Quân giặc bao vây bốn mặt... Đây chính là nơi mà binh pháp gọi là "đất chết", đánh nhanh thì còn, không đánh nhanh thì mất"1. Lê Lợi đem tình hình nguy khốn đó nói cho các tướng sĩ biết và động viên mọi người quyết liều chết phá vòng vây để thoát khỏi "đất chết". Với tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời, toàn thể nghĩa quân quyết tâm tiến công để phá thế bao vây của địch.

Các tướng Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào, Lý Triện chỉ huy nghĩa quân xung phong vào phá trận tuyến của địch mở đầu cho cuộc tiến công quyết liệt của nghĩa quân. Trong trận này, nghĩa quân đã giết chết tả tham tướng Phùng Quý cùng hơn 1.000 tên địch và bắt được hơn 100 con ngựa. Trước tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân, cuộc vây quét của địch bị thất bại. Trần Trí, Mã Kỳ phải rút về thành Đông Quan, quân Ai Lao cũng phải bỏ chạy.

Với trận sách Khôi, nghĩa quân đã đánh lui được một cuộc vây quét lớn của địch, nhưng về phía mình, nghĩa quân cũng bị tổn thất nặng, trong lúc đó lực lượng của địch vẫn còn mạnh. Sau trận này, nghĩa quân ở lại hoạt động ở vùng huyện Khôi và huyện Xa Lai (miền huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình). Nhưng chưa đầy một tháng sau, vào đầu tháng 3 năm 1423, quân Minh do chính tổng binh Trần Trí chỉ huy, lại từ Đông Quan tiến lên. Nhận thấy lực lượng còn yếu và không thể dùng miền huyện Khôi, huyện Xa Lai làm căn cứ cầm cự lâu dài với địch, bộ tham mưu cuộc khởi nghĩa quyết định mở một cuộc hành quân dài theo đường núi trở về căn cứ núi Chí Linh lần thứ ba.
__________________________________
1. Toàn thư, Lam Sơn thực lục.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:42:13 PM

Câu hỏi 12: Từ năm 1423 đến năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn phải tạm thời hòa hoãn với địch để củng cố lực lượng. Trình bày khái quát về hoạt động của nghĩa quân thời kỳ này?

Trả lời:


Núi Chí Linh với địa thế hiểm trở của nó là một căn cứ rút lui phòng ngự rất lợi hại của nghĩa quân. Nhưng mặt khác, núi rừng hẻo lánh, cư dân thưa thớt ở vùng này lại làm cho nghĩa quân không phát triển được lực lượng và gặp nhiều khó khăn về lương thực. Cũng như hai lần rút quân trước, lần rút lui về núi Chí Linh này, nghĩa quân phải sống qua những ngày vô cùng gian khổ. Hơn hai tháng trời thiếu lương thực, nghĩa quân phải sống bằng các loại hoa quả, rau củ và măng non của núi rừng. Lê Lợi phải cho giết cả voi, ngựa và cả con ngựa của mình cưỡi để nuôi quân. Trước những thử thách ghê gớm đó, trong hàng ngũ nghĩa quân bắt đầu có những phần tử hoang mang, dao động và thậm chí có kẻ chạy trốn. Có lần Lê Lợi đã phải xử chém một viên tướng đào ngũ tên là Khanh để đề cao kỷ luật và củng cố đội ngũ nghĩa quân.

Tình thế của nghĩa quân lúc đó như Nguyễn Trãi viết:

      Linh sơn lương cạn đến hàng tuần
      Khôi huyện quân không còn một toán

                                     (Bình Ngô đại cáo)

Trước tình hình đó, bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương tạm thời đình chiến với địch để tạo điều kiện khôi phục và phát triển lực lượng rồi giành thế chủ động tiến công, tiếp tục hoàn thành sứ mệnh của cuộc khởi nghĩa.

Vào khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1423, Lê Lợi phái tướng Lê Vận và Lê Trăn làm sứ giả mang lễ vật gồm 5 đôi ngà voi cùng với bức thư "xin hòa" đến thương lượng với các tướng Minh là Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ.

Sau hơn 5 năm (1418-1423) tiến hành đàn áp gắt gao, nhưng không thể nào tiêu diệt được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nên quân Minh muốn lợi dụng việc giảng hòa của Lê Lợi để thi hành những thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ hòng làm tan rã hàng ngũ của nghĩa quân.

Ở Trung Quốc, tháng 8 năm 1424, Minh Thành Tổ chết, Nhân Tông (tên là Chu Cao Xí niên hiệu là Hồng Hy) lên nối ngôi. Trước những khó khăn lớn ở trong nước do hậu quả của những cuộc chiến tranh đời Thành Tổ để lại, vua Nhân Tông - nhà Minh tiếp tục theo đuổi chính sách tạm thời hòa hoãn đối với các thuộc quốc. Riêng đối với Giao Chỉ, nhà Minh chủ trương giảm nhẹ một vài khoản phú cống hòng xoa dịu lòng căm phẫn của nhân dân và mặt khác ra sức dùng chức tước, tiền tài mua chuộc các thủ lĩnh nghĩa quân. Đồng thời, Nhân Tông ra lệnh cho Trần Trí phải tìm mọi cách "chiêu dụ" Lê Lợi.

Do những khó khăn của nhà Minh nên việc thương lượng đình chiến của nghĩa quân đã có kết quả. Ngày 19 tháng 5 năm 1423 (ngày 10 tháng 4 năm Quý Mão), Lê Lợi cùng với nghĩa quân trở về Lam Sơn. Từ đó, trong khoảng hơn một năm, nghĩa quân tạm ngừng cuộc đấu tranh vũ trang để chuyển sang một hình thức đấu tranh mới không kém phần gay go và phức tạp. Thời gian đình chiến với địch là thời gian nghĩa quân triệt để tranh thủ tình trạng hòa hoãn tạm thời để xây dựng và phát triển lực lượng, đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh chính trị nhằm đối phó với mọi âm mưu và thủ đoạn của địch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:43:56 PM

Trở về Lam Sơn, nghĩa quân tiến hành khẩn hoang, sản xuất để tích trữ lương thực. Mặt khác, Lê Lợi cùng với các tướng soái ra sức chiêu tập thêm nghĩa binh, sắm sửa thêm vũ khí. Trong hơn một năm đình chiến, lực lượng nghĩa quân không những được phục hồi nhanh chóng mà còn được tăng cường về mọi mặt. Đất Lam Sơn lịch sử lại một lần nữa trở thành đất tụ nghĩa của những anh hùng hào kiệt, của những người con yêu nước từ các nơi tìm đến theo tiếng vọng của cuộc khởi nghĩa.

Trong quan hệ giao thiệp với bọn quan lại, tướng tá nhà Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi giữ một thái độ mềm mỏng, có khi nhún nhường. Bọn Trần Trí, Sơn Thọ thường sai người đem trâu, ngựa, cá, muối, nông cụ, thóc lúa... đến biếu Lê Lợi để dụ dỗ. Lê Lợi cũng phái sứ giả Lê Trăn đem vàng, bạc đến dinh Trần Trí, Sơn Thọ để "đáp lễ".

Lập trường của nghĩa quân là tạm thời hòa hoãn để tranh thủ thời cơ củng cố lực lượng. Do đó, trong sự giao thiệp với quân Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã rất khôn khéo, kiên quyết chống lại những âm mưu của địch. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi cho Trần Trí, gọi là "thư xin hàng" nhưng trong đó Nguyễn Trãi cũng không quên tố cáo những tội ác của bọn quan lại nhà Minh như nội quan Mã Kỳ, bọn Việt gian làm tay sai như Đỗ Phú, Lương Nhữ Hốt. Chính bọn này "cho quan quân đến đánh úp dân chúng của tôi, không kể trẻ già, đều bị chém giết và bắt bớ; họ hàng tôi đều tan tác, vợ con tôi đều chia lìa; lại khai quật mồ mả tổ phụ tôi mà phơi bày hài cốt"1. Vì vậy, bức thư này còn được gọi là "thư tố oan".

Quân Minh đòi hỏi Lê Lợi phải thực sự đầu hàng, giải tán nghĩa quân. Nhưng Lê Lợi vẫn bảo toàn lực lượng vũ trang của mình và chiếm giữ căn cứ Lam Sơn. Mùa thu năm 1424, Trần Trí tâu về triều rằng: "Lê Lợi tuy xin đem tất cả bản bộ về quy phụ, nhưng cứ ở Nga Lạc không chịu ra và vẫn chế tạo binh khí"2. Trần Trí xin triều đình nhà Minh cho tiến quân lên đàn áp. Lúc bấy giờ, Nhân Tông vừa mới lên ngôi còn muốn tiếp tục chính sách hòa hoãn đối với thuộc quốc để giải quyết những khó khăn trong nước. Nhân Tông ra lệnh cho Trần Trí phải tìm cách chiêu dụ Lê Lợi.

Lúc ấy Sơn Thọ vừa ở Giao Chỉ trở về triều, nhà Minh liền cử ngay Sơn Thọ đem sắc của vua nhà Minh sang "tha tội" cho Lê Lợi và phong làm tri phủ Thanh Hóa. Âm mưu của nhà Minh là định dùng chức tước hòng mua chuộc và ràng buộc Lê Lợi. Để kéo dài thêm thời gian hòa hoãn, Lê Lợi bề ngoài không từ chối chức tước đó, nhưng cứ lần lữa, tìm mọi lý do để không chịu đến "nhậm chức”. Trong một bức thư gửi cho thái giám Sơn Thọ, Nguyễn Trãi một mặt "cảm ơn" nhà Minh đã "xét rõ duyên cớ mang tội, chỉ bảo con đường tái sinh" nhưng mặt khác cũng kín đáo bộc lộ rõ ý kiên cường của nghĩa quân. Nguyễn Trãi viết: "Đạo trong thiên hạ, trọng không gì bằng trung nghĩa, quý không gì bằng danh tiết... Tôi đây nhất sinh thích danh tiết mà trọng trung nghĩa, ghét kẻ tiểu nhân mà dấn mình hoạn nạn, tuy ở trong cảnh gian nan nguy hiểm, mà không nhụt chí bình sinh”3.

Thấy rằng của cải và chức tước không thể khuất phục được Lê Lợi, mọi âm mưu và thủ đoạn chính trị không thể phá hoại được cuộc khởi nghĩa, quân Minh bắt đầu trở lại chính sách khủng bố và chuẩn bị đàn áp bằng vũ lực. Chúng bắt giam sứ giả của nghĩa quân là Lê Trăn.

Sau hơn một năm kéo dài thời gian đình chiến, lực lượng của nghĩa quân đã được phục hồi và lớn mạnh, lương thực và vũ khí đã chuẩn bị đầy đủ, nghĩa là mục đích của sách lược tạm "hòa thân" với địch đã đạt được. Do đó, trước sự khủng bố của địch, Lê Lợi và bộ tham mưu cuộc khởi nghĩa quyết định tuyệt giao với địch và chủ động tiến công để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước. Từ đó, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới.
____________________________________
1, 3. Quân trung từ mệnh tập.
2. Minh sử (An Nam truyện).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:46:23 PM

Câu hỏi 13: Sau thời gian hòa hoãn với quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn quyết định tiếp tục cuộc đấu tranh vũ trang, xác định phương hướng chiến lược trong giai đoạn mới, đó là: Tiến vào Nghệ An, xây dựng căn cứ địa, giành thế chủ động tiến công. Ai là người đề ra kế hoạch có tầm chiến lược này? Trình bày quá trình thực hiện kế hoạch đó của nghĩa quân Lam Sơn.

Trả lời:


Sau khi đã quyết định tuyệt giao với địch và tiếp tục cuộc đấu tranh vũ trang, Lê Lợi liền họp bộ tham mưu cuộc khởi nghĩa để bàn kế tiến thủ. Trong buổi họp trọng yếu đó, vấn đế cơ bản của Lê Lợi đặt ra là: "Chúng ta sẽ đi về đâu để lo việc nước"1, tức là xác định phương hướng chiến lược cho cuộc khởi nghĩa trong giai đoạn mới.

Trong buổi họp, tướng quân Nguyễn Chích đề ra một kế hoạch nổi tiếng có tầm chiến lược quan trọng đến toàn bộ quá trình phát triển và thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn. Ông nói: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng, người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay ta trước hãy đánh lấy Tra Long chiếm giữ cho được Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ"2

Nguyễn Chích muốn nghĩa quân tạm dời căn cứ chật hẹp của miền núi rừng Thanh Hóa để tiến vào chiếm lấy Nghệ An, xây dựng một căn cứ địa mới làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đuổi giặc cứu nước. Kế hoạch sáng suốt của ông đã được Lê Lợi và bộ tham mưu chấp nhận như phương hướng chiến lược mới của cuộc khởi nghĩa.

Nguyễn Chích vốn là một nông dân nghèo đã từng khởi xướng và cầm đầu một cuộc khởi nghĩa ở vùng nam Thanh Hóa mà căn cứ trung tâm là vùng núi Hoàng - Nghiêu. Khi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Lê Lợi đã biết tiếng ông và sai người mang thư đến liên kết với ông. Từ đó, Nguyễn Chích tôn phù Bình Định vương như minh chủ và coi cuộc khởi nghĩa của mình là một bộ phận của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Sau trận đánh thắng Cổ Vô, đánh tan Lương Nhữ Hốt, giải phóng cả vùng Đông Sơn, Lê Lợi phong cho Nguyễn Chích chức vinh lộc đại phu lân hổ vệ tướng quân.

Nguyễn Chích đã từng lên yết kiến Lê Lợi nhưng vẫn cầm đầu nghĩa quân Hoàng - Nghiêu hoạt động ở phía Nam Thanh Hóa cùng phối hợp với nghĩa quân Lam Sơn. Lê Lợi phong ông chức đô đốc đại phủ quản tổng đốc quân dân, tước Quan Nội hầu.

Cuối năm 1420, khi Lê Lợi đóng quân ở Mường Nanh, Nguyễn Chích đem toàn bộ lực lượng lên sáp nhập với nghĩa quân Lam Sơn. Ông được giữ chức thiết đột hữu vệ đồng tổng đốc chư quân sự, chỉ huy một đạo quân xung kích quan trọng của quân đội Lam Sơn. Từ đó cho đến năm 1423, Nguyễn Chích tham gia nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công. Trong chiến đấu ông "xông pha nơi lửa đạn, liều chết không quản mình". Ông được thăng chức nhập nội thiếu úy - một chức tướng lĩnh cao cấp trong bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn.

Lòng yêu nước thương dân, trí thông minh và thực tiễn của cuộc chiến đấu đã tôi luyện Nguyễn Chích thành một tướng soái tài ba dũng cảm của nghĩa quân, một nhà quân sự xuất sắc thời bấy giờ.

Vốn hoạt động khắp vùng nam và tây Thanh Hóa, lại nhiều lần qua lại vùng Nghệ An nên Nguyễn Chích rất am hiểu địa thế và tình hình miền Thanh, Nghệ. Kế hoạch nổi tiếng của ông được xây dựng trên cơ sở sự hiểu biết tường tận đó là kết hợp với tầm mắt nhìn xa thấy rộng của một nhà chiến lược quân sự tài giỏi.
_____________________________________
1, 2. Văn bia Quốc triều tá mệnh công thần.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:46:48 PM

Đứng về mặt địa hình, dân số, Nghệ An (lúc bấy giờ bao gồm cả Hà Tĩnh) không hơn gì Thanh Hóa. Điều quan trọng là ở Nghệ An, nhân dân có truyền thống quật cường và lực lượng của địch lại tương đối yếu. Chính quyền đô hộ của nhà Minh ở đấy mới được xây dựng từ năm 1414, chưa được củng cố và luôn luôn bị uy hiếp bởi những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, những cuộc binh biến của một số quan lại và binh sĩ yêu nước, trong hàng ngũ thổ quan, thổ binh. Thành Nghệ An khá kiên cố, nhưng lực lượng của địch cũng không tập trung nhiều như ở Thanh Hóa. Hơn nữa, trong sự bố trí lực lượng của địch, Nghệ An về mặt bắc, lại xa các sào huyệt như Đông Quan, Tây Đô, và về mặt nam, lực lượng của địch ở Tân Bình, Thuận Hóa rất mỏng.

Trong tình hình như vậy, nghĩa quân Lam Sơn có thể bất ngờ và nhanh chóng giải phóng toàn phủ Nghệ An. Nghĩa quân trước hết theo đường "thượng đạo" chiếm lĩnh miền núi "hiểm yếu", rồi tràn xuống vùng đồng bằng "đất rộng người đông", xây dựng "đất đứng chân" (lập cước chi địa) vững chãi để làm bàn đạp chiến lược tiến lên thu phục cả nước, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Từ Lam Sơn, ngày 12 tháng 10 năm 1424 (ngày 20 tháng 9 năm Giáp Thìn), nghĩa quân bất ngờ tập kích đồn Đa Căng (Bất Căng, Thọ Xuân) để mở đường tiến vào giải phóng Nghệ An. Đồn này có hàng nghìn quân địch đóng giữ, do tên thổ quan tham chính Lương Nhữ Hốt chỉ huy. Trận ra quân thắng lợi giòn giã không những có tác dụng mở đường tiến quân, mà còn làm nức lòng nghĩa quân, nâng cao niềm tin tưởng vào phương hướng chiến lược mới của cuộc khởi nghĩa.

Nghĩa quân theo con đường "thượng đạo" tiến vào Nghệ An mà mục tiêu trước hết là hạ thành Trà Lân. Con đường núi này theo lưu vực sông Hiếu, sông Con và sông Lam.

Quân Minh hết sức bất ngờ và vội vàng đối phó một cách bị động. Tổng binh Trần Trí cùng với Phương Chính, Thái Phúc, Lý An điều quân từ thành Tây Đô đuổi theo phía sau. Tướng Minh ở Nghệ An là Sư Hựu cùng với bọn thổ quan là tri phủ Cầm Bành ở Trà Lân và tri phủ Cầm Lạn ở Quỳ Châu, được lệnh đem quân chặn phía trước. Quân địch âm mưu chặn đầu và đánh phía sau để tiêu diệt nghĩa quân trên đường vận động.

Nhưng nghĩa quân đã mưu trí bố trí một trận mai phục ở Bồ Đằng (hay Bồ Lạp, thuộc Quỳ Châu, Nghệ An) đánh bại cánh quân của Trần Trí. Trong trận này, nghĩa quân giết chết tướng giặc là đô ti Trần Trung, diệt trên 2.000 quân địch và thu được hơn 100 con ngựa. Trần Trí bị thua đau không dám bám sát theo sau nghĩa quân nữa. Cánh quân Sư Hựu cũng phải lui về lập đồn trại ở Trịnh Sơn để bảo vệ thành Trà Lân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:48:08 PM

Hạ thành Trà Lân

Châu Trà Lân (còn gọi là Trà Long) thời Lê, là một châu quan trọng của miền núi Nghệ An, nay thuộc huyện Con Cuông, Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Thành Trà Lân, nơi Cầm Bành lập "sơn trại" chống lại nghĩa quân Lam Sơn, xây dựng trên một ngọn núi ở bờ Bắc sông Lam, gần ngã ba con sông Con (nay thuộc xã Bồng Khê, huyện Con Cuông). Thành đắp theo thế núi, chu vi chừng 2km, phía ngoài có hào và rào tre trúc dày. Cầm Bành và hơn 1.000 thổ binh rút lên "sơn trại" cố thủ, chờ quân cứu viện.

Chủ trương của nghĩa quân là phải chiếm được thành Trà Lân và như Nguyễn Chích đã đề ra: "nếu thuận theo thì vỗ về, nếu chống lại thì đánh lấy!”. Nghĩa quân vừa vây hãm, vừa dụ Cầm Bành đầu hàng.

Sau hơn hai tháng bị vây hãm, không có cứu viện, ngụy quan Cầm Bành kiệt sức và tuyệt vọng, phải đầu hàng nghĩa quân. Một mục tiêu quan trọng trong kế hoạch Nguyễn Chích đã được thực hiện thắng lợi. Trong "trận Trà Lân như trúc chẻ tro bay" (Bình Ngô đại cáo), nghĩa quân vận dụng lối đánh kết hợp tiến công quân sự với dụ hàng và thương lượng. Trận thắng thể hiện một bước lớn mạnh về lực lượng và một bước phát triển về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân.

Thành Trà Lân nằm bên bờ sông Lam nối liền miền núi rừng với vùng đồng bằng và trên con đường "thượng đạo" chạy ngang qua miền Tây Nghệ An. Hạ được thành Trà Lân nghĩa quân chiếm lĩnh được một vị trí then chốt; có thể khống chế cả miền núi rừng phía Tây Nghệ An và từ đây có thể uy hiếp thành Nghệ An cũng như tràn xuống vùng đồng bằng.

Lê Lợi đã dẫn đại quân theo sông Lam, tiến xuống đóng ở ải Khả Lưu (Vĩnh Sơn, Anh Sơn). Đây là một cửa ải hiểm yếu ở về tả ngạn sông Lam, cách thành Trà Lân khoảng 40km. Chiếm ải Khả Lưu, nghĩa quân khống chế con đường tiến quân của địch và chặn đầu quân địch.

Tại Khả Lưu, nghĩa quân làm kế nghi binh, "ban ngày thì bất ngờ gióng trống, ban đêm thì đốt lửa"1. Trong lúc đó, nghĩa quân đã bố trí một trận địa mai phục ở phía sau Khả Lưu và một cánh quân tinh nhuệ bí mật vượt sông, giấu quân ở Bãi Sở (Long Sơn, Anh Sơn) phía dưới doanh trại địch ở Phá Lũ.

Tướng giặc, Trần Trí đốc thúc đại quân vượt sông đánh vào Khả Lưu. Quân ta rút lui nhử địch vào trận địa mai phục rồi bất ngờ tung quân ra đánh. Cùng lúc đó, cánh quân ở Bãi Sở đánh úp vào doanh trại địch ở Phá Lũ. Quân Minh bị tổn thất rất nặng, "bị chém và chết đuối kể đến hàng vạn người"2.

Tuy nhiên, quân địch đông nên Trần Trí vẫn củng cố doanh trại, đắp thêm chiến lũy phòng vệ, để làm kế ngăn chặn lâu dài. Nghĩa quân lại dùng mưu điều địch ra khỏi doanh trại để đánh bại bằng lối đánh mai phục sở trường của mình. Lê Lợi ra lệnh đốt phá doanh trại ở Khả Lưu rút quân về mạn thượng lưu. Nghĩa quân bố trí một trận địa mai phục ở Bồ Ải (Đức Sơn, Anh Sơn) rồi khiêu chiến nhử địch lọt vào cạm bẫy. Trong trận này, quân ta bắt sống đô ti Chu Kiệt và hơn 1.000 tù binh, giết chết tướng tiên phong là đô ti Hoàng Thành và rất nhiều quân địch. Chiến thắng ở Khả Lưu - Bồ Ải, nghĩa quân đã đập tan được một cuộc phản công lớn của quân Minh, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực của địch và đẩy chúng vào thế phòng ngự bị động.
__________________________________
1. Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi, Toàn tập.
2. Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:49:36 PM

Giải phóng các châu, huyện, vây hãm thành Nghệ An

Những chiến thắng liên tiếp của nghĩa quân ở Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu - Bồ Ải làm cho bộ máy chính quyền của địch ở các châu, huyện bị rung chuyển dữ dội. Quân địch hết sức hoang mang, khiếp sợ. Nghĩa quân thừa thắng, tỏa về các nơi cùng với nhân dân nhanh chóng lật đổ ách thống trị của địch, giải phóng các châu, huyện.

Khi nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An, vùng này đang có những cuộc khởi nghĩa, những hoạt động vũ trang chống Minh của nhân dân địa phương.

Phan LiêuVăn Luật vẫn chiếm giữ châu Ngọc Ma, tiếp tục cuộc chiến đấu chống Minh.

Tại thôn Trang Niên (Yên Thành, Nghệ An), Nguyễn Vĩnh Lộc cùng với số nông dân khai hoang trong vùng đã tự vũ trang, xây dựng thành một "làng chiến đấu". Nghĩa quân vừa bảo vệ xóm làng quê hương chống lại các cuộc càn quét của địch, có cơ hội lại tập kích trại giặc, đoạt lấy lương thực, của cải về chia cho dân. Nguyễn Vĩnh Lộc được mọi người suy tôn làm "Tôn trưởng".

Phía Nam phủ Nghệ An, Nguyễn Biên cũng cầm đầu một cuộc khởi nghĩa chống Minh. Nguyễn Biên vốn là một nông dân nghèo ở Phù Lưu (Can Lộc) cùng với một số bà con thân thuộc vào khẩn hoang dưới chân núi Choác (Cẩm Xuyên). Nghĩa quân chiếm giữ Động Choác làm căn cứ khởi nghĩa. Một đồn trại giặc gần đấy bị nghĩa quân tiêu diệt, vết tích còn lại hiện nay là một gò đất cao mang tên là Đống Khách hay Nền thằng Ngô (xã Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên). Nghĩa quân Nguyễn Biên đã giải phóng được hai huyện Kỳ La (Cẩm Xuyên) và Hà Hoa (Kỳ Anh).

Sau khi nghĩa quân Lam Sơn hạ thành Trà Lân, Phan Liêu, Lộ Văn Luật và toàn bộ lực lượng xin theo Lê Lợi. Nguyễn Vĩnh Lộc và 19 người bạn chiến đấu hăng hái tìm đến yết kiến Bình Định vương, nguyện đứng trong đội ngũ chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn. Chính Nguyễn Vĩnh Lộc là người đã hiến mưu kế đánh thắng trận Khả Lưu.

Nguyễn Biên cùng đội nghĩa binh Động Choác cũng đem hai huyện giải phóng phía nam Nghệ An tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Từ đó, Nguyễn Biên giữ chức Bình Ngô thượng tướng quân chiến đấu dưới lá cờ Lam Sơn đại nghĩa.

Khởi nghĩa Lam Sơn đã trở thành nơi quy tụ của nhiều cuộc khởi nghĩa và nhiều lực lượng yêu nước. Hiện tượng đó đã diễn ra ở Thanh Hóa với sự tham gia của Nguyễn Chích, nay thành hiện tượng phổ biến và tiêu biểu cho một xu thế phát triển quan trọng của cuộc khởi nghĩa khi chuyển hướng vào Nghệ An.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:50:06 PM

Tại miền núi, các dân tộc ít người cùng với tù trưởng của họ đều hăng hái tham gia khởi nghĩa, Lê Lợi đã "vỗ về yên ủi các bộ lạc, khen thưởng các tù trưởng"1. Hơn 5.000 trai tráng châu Trà Lân được tuyển vào đội ngũ nghĩa quân. Một tù trưởng người Thái là Cầm Quý trước đây giữ chức tri phủ châu Ngọc Ma của địch, cũng đem 8.000 quân và 10 voi chiến xin tham gia cuộc khởi nghĩa. Nhiều tù trưởng có công diệt giặc được Lê Lợi phong làm Khả Lam quốc công đến nay vẫn còn miếu thờ ở một số bản làng. Miếu Kẻ Trằng (Thọ Sơn, Anh Sơn) thờ Trương Hán là một tù trưởng đã giúp voi, ngựa, lương thực và dẫn đường cho nghĩa quân tiến về vây hãm thành Trà Lân. Miếu bản Phát (Lục Dã, Con Cuông) cũng thờ một Khả Lam quốc công có công giúp đỡ nghĩa quân.

Tiến xuống các châu, huyện vùng đồng bằng đông dân, nghĩa quân càng được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Sử cũ ghi chép hiện tượng đó một cách tổng quát: "Người già người trẻ tranh nhau đem trâu, rượu đến đón và khao quân, đều nói rằng: không ngờ ngày nay lại được trông thấy uy nghi của nước cũ"; hoặc "chia quân đi lấy các châu, huyện, đi đến đâu người ta nghe tiếng là quy phụ, cùng hợp sức để vây thành Nghệ An" và "nhân dân trong cõi dắt díu nhau đến như đi chợ" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Đặc biệt có nơi, nhân dân còn vũ trang nổi dậy phối hợp với nghĩa quân giải phóng quê hương xứ sở, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Nguyễn Tuấn Thiện ở Đỗ Gia.

Nguyễn Tuấn Thiện là một nông dân nghèo ở thôn Phúc Đậu (Sơn Phúc, Hương Sơn). Ông cha đều sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và săn bắn. Nguyễn Tuấn Thiện và một số thanh niên cùng chí hướng trong làng lập thành một đội vũ trang gọi là "quân Cốc Sơn" (Cốc Sơn là ngọn núi trong làng) để bảo vệ thôn xóm. Khi nghĩa quân Lam Sơn tiến vào vùng này, Nguyễn Tuấn Thiện và đội quân Cốc Sơn đã huy động nhân dân nổi dậy, phối hợp với nghĩa quân đánh tan các đồn giặc, giải phóng toàn bộ huyện Đỗ Gia.

Đến tháng 2 năm 1425, 20 châu huyện của phủ Nghệ An đã được giải phóng. Bộ máy chính quyền của địch từ cấp phủ đến các châu, huyện bị sụp đổ, các đồn trại của địch lần lượt bị tiêu diệt. Quân Minh chỉ còn giữ được thành Nghệ An, "giặc đóng chặt cửa thành, không dám ra: thế là đất Nghệ An đều về ta hết" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Từ sau trận Khả Lưu - Bồ Ải, nghĩa quân đã đuổi theo, áp sát chân thành, bắt đầu uy hiếp và vây hãm thành Nghệ An. Các châu, huyện được giải phóng càng dồn quân địch ở thành Nghệ An vào thế cô lập. Tuy vậy, quân Minh do tổng binh Trần Trí cầm đầu vẫn dựa vào hệ thống phòng vệ kiên cố và cao điểm lợi hại của thành để cố thủ chờ viện binh.

Sau mấy lần phản công bị đại bại, quân Minh ở thành Nghệ An bị tổn thất nặng nề và mất hết khả năng phản kích, chúng đắp thêm thành lũy, lo cố thủ lâu dài. Nghĩa quân nhiều lần khiêu chiến, nhưng quân địch không dám ra khỏi thành. Quân ta xiết chặt vòng vây, giam chân chúng ở trong thành và xây dựng đất Nghệ An thành một căn cứ địa cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
_____________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:52:19 PM

Câu hỏi 14: Sau khi vây hãm quân Minh ở thành Nghê An nghĩa quân Lam Sơn vừa xây dựng căn cứ địa, vừa tiếp tục mở rộng khu vực giải phóng, tiến ra Bắc giải phóng Diễn Châu, Thanh Hóa, vào Nam đánh chiếm Tân Bình, Thuận Hóa. Quá trình đó được diễn ra như thế nào?

Trả lời:


Tháng 2 năm 1425, hầu như toàn phủ Nghệ An đã được giải phóng. Quân Minh chỉ giữ được thành Nghệ An và bị đẩy vào thế cố thủ bị động: "Giặc đóng chặt cửa thành không dám ra. Thế là đất Nghệ An về ta hết" (Đại Việt sử ký toàn thư). Cả một vùng ''Hiểm yếu, đất rộng người đông" đã trở thành "đất đứng chân" (Nguyễn Chích) của cuộc khởi nghĩa.

Từ phủ Nghệ An được xây dựng thành "đất đứng chân" vững vàng như vậy, nghĩa quân tiến ra Bắc giải phóng Diễn Châu, Thanh Hóa và tiến vào Nam giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa.

Tháng 6 năm 1425, tướng Đinh Lễ được lệnh tiến ra giải phóng phủ Diễn Châu (gồm các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành). Sử cũ chép: Đinh Lễ đem quân "đi tuần ở Diễn Châu". Điều đó có nghĩa là, nhân dân các châu, huyện vùng này đã vùng dậy giải phóng quê hương của mình, đánh đổ từng mảng chính quyền của địch. Quân Minh phải co về giữ thành Diễn Châu.

Lúc bấy giờ, đô ti Trương Hùng đang đem 300 thuyền lương vào tiếp tế cho thành Diễn Châu, Đinh Lễ bí mật cho quân mai phục ngoài thành, đánh tan số quân địch ra đón thuyền lương và chiếm được nhiều lương thực, thuyền bè của địch. Trên 300 quân địch bỏ xác. Những tên đất Cồn Trận, Cồn Ngô, cánh đồng Xương... là di tích của chiến trận này.

Ngay sau đấy để một lực lượng ở lại vây hãm thành Diễn Châu, Đinh Lễ lấy thuyền địch vượt biển đuổi theo Trương Hùng đến tận Thanh Hóa, Lê Lợi cũng lập tức phái các tướng Lý Triện, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị đem 2.000 quân tinh nhuệ và 3 voi chiến, theo đường núi ra Thanh Hóa tiếp ứng cho Đinh Lễ.

Quân Minh ở Thanh Hóa đã phải điều một bộ phận quan trọng vào cứu viện cho Nghệ An. Lực lượng quân địch suy yếu hơn mấy năm trước nhiều. Hai cánh quân của Đinh Lễ và Lý Triện cùng phối hợp, đánh úp thành Tây Đô. Nghĩa quân giết chết 500 quân địch và bắt sống được rất nhiều, quân Minh phải bỏ các doanh trại ngoại vi, rút hết vào trong thành cố thủ.

Thành Tây Đô là thành lũy lớn nhất và kiên cố nhất của quân Minh kể từ Thanh Hóa trở vào. Nghĩa quân vây hãm thành Tây Đô, rồi chia về các châu, huyện cùng với nhân dân nhanh chóng giải phóng toàn phủ Thanh Hóa. Khắp nơi, nhân dân vô cùng phấn khởi, vùng dậy cùng với nghĩa quân tiêu diệt các đồn trại giặc, đánh sập chính quyền đô hộ: "người Thanh Hóa tranh nhau đến cửa quân xin liều chết đánh giặc" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Việc giải phóng Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa làm cho quân địch ở Tân Bình, Thuận Hóa1 hoàn toàn bị chia cắt và cô lập. Với chủ trương: "bỏ chỗ mạnh đánh chỗ yếu, tránh chỗ vững đánh chỗ núng, thì dùng sức một nửa mà thành công gấp bội", nghĩa quân gấp rút tiến vào giải phóng hai phủ phía nam.

Cánh quân bộ do Trần Nguyên Hãn chỉ huy, cùng các tướng Lê Nỗ, Lê Đa Bồ đem một nghìn quân và một voi chiến, đi theo đường núi tiến vào. Cánh quân thủy do Lê Ngân chỉ huy, cùng các tướng Lê Văn An, Phạm Bôi đem 70 thuyền chiến theo đường biển tiến vào cùng phối hợp tác chiến với cánh quân bộ của Trần Nguyên Hãn.

Tháng 8 năm 1425, cả hai cánh quân này cùng xuất phát. Cánh quân bộ mới vào tới sông Bố Chính (tức sông Gianh) thì gặp toán quân của tướng địch Nhâm Năng. Trần Nguyên Hãn đưa quân tới một chỗ hiểm ở Hà Khương, bố trí mai phục, rồi cho một toán quân ra khiêu chiến, giả thua để nhử địch. Quân địch đuổi theo vào giữa trận địa mai phục, bị nghĩa quân xông ra đánh tan: hơn 1.000 quân địch bị chết trận và chết đuối.

Cánh quân thủy vào tới nơi thì cánh quân bộ của Trần Nguyên Hãn đã diệt xong toán quân địch Nhâm Năng, cả hai cánh quân cùng tiến, lần lượt đánh Tân Bình, Thuận Hóa. Nhưng địch ở cả hai thành đều khiếp sợ, cố thủ không dám ra. Nghĩa quân để lại một bộ phận vây thành, còn lại thì đi giải phóng các châu, huyện. Chỉ trong ít ngày, toàn bộ đất đai miền Tân Bình, Thuận Hóa đều thuộc về nghĩa quân. Nhân dân Tân Bình, Thuận Hóa mừng rỡ thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của địch, đã không tiếc người, tiếc của để ủng hộ nghĩa quân. Thanh niên Tân Bình, Thuận Hóa nô nức tòng quân cứu nước. Các tướng lĩnh nghĩa quân đã lựa chọn được vài vạn trai tráng khỏe mạnh, dũng cảm để thành lập những đội ngũ mới.

Sau khi ổn định đời sống của nhân dân, tổ chức xong chính quyền mới và xây dựng được lực lượng vũ trang của địa phương để tiếp tục vây hãm hai thành Tân Bình, Thuận Hóa, nghĩa quân lại cùng các tướng lĩnh trở ra Nghệ An.
___________________________________
1. Tân Bình, Thuận Hóa là Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:55:39 PM

*
*   *

Như vậy là từ ngày ở căn cứ địa Chí Linh - Lam Sơn xuất phát, chuyển hướng chiến lược vào Nam, tháng 10 năm 1424, tới ngày giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, tháng 8 năm 1425, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến thắng liên tiếp, đi đâu thắng đấy, đánh trận nào được trận ấy, càng đánh càng mạnh, quân càng đông, hậu phương càng rộng, căn cứ càng vững, sự nghiệp giải phóng càng rực rỡ. Chỉ trong vòng 10 tháng, nghĩa quân đã giải phóng được cả một vùng đất đai rộng lớn, từ Thanh Hóa, Diễn Châu vào tới Tân Bình, Thuận Hóa, thu phục hẳn một nửa phần giang sơn đất nước ta về phía Nam. Chính các lãnh tụ nghĩa quân cũng nhận thấy những chiến thắng đã giành được trong vòng 10 tháng chiến đấu như thế là hết sức to lớn, nó là kết quả của nhiều trận đánh rất tài giỏi, mưu trí và oanh liệt.

Về các trận đánh, Nguyễn Trãi đã viết:

      Trận Bồ Đằng sấm ran chớp giật
      Trận Trà Lân trúc chẻ tro bay

                                       (Bình Ngô đại cáo)

      Đêm đốt lửa ngày trương cờ
      Chiếm đất Đỗ Gia, giành thế tiện lợi
      Sang sông Khả Lưu, đánh đắm quân thù
      Sấm ran chớp giật, trúc chẻ tro bay
      …
      Đất Nghệ An đã thuộc về ta
      Thắng Tây Đô tin nhanh như gió

                                      (Chí Linh sơn phú)

Sau 10 tháng chiến đấu, tình hình giữa ta và địch đã đổi khác, so sánh lực lượng giữa ta và địch cũng đổi khác. Địch ở trên chiến trường Đại Việt không còn đủ sức để uy hiếp ta về mặt quân sự.

Kết quả về phía địch, sau 10 tháng chiến đấu Nguyễn Trãi nhận định:

      Cầm Bành rập đầu dâng đất
      Phương Chính khiếp vía chạy dài
      …
      Chu Kiệt bỏ củi, Hoàng Thanh phơi thây

                                     (Chí Linh sơn phú)

      Trần Trí, Sơn Thọ, nghe tin mất vía
      Phương Chính, Lý An nín thở tháo thân

                                     (Bình Ngô đại cáo)

Kết quả về phía ta, Nguyễn Trãi nhấn mạnh:

      Sĩ khí càng tăng
      Quân thanh càng mạnh

                                   (Bình Ngô đại cáo)

      Giỏ cơm bầu nước người xin theo chật đường tấp nập
      Kẻ hào kiệt căm thù, tức giận nghiến răng
      Bắc phụ lão cảm kích mừng vui rơi lệ
      Ta quân thanh ngày càng lừng lẫy
      Địch chạy quanh ngày một yếu suy

                                   (Chí Linh sơn phú)

Từ một đội du kích nhỏ ở miền núi rừng Thanh Hóa có khi bị tiêu hao chỉ còn trên 100 người, đến nay lực lượng nghĩa quân có đến hàng vạn quân gồm cả quân thủy, quân bộ, cả voi chiến, thuyền chiến. Càng chiến thắng và càng tiến xuống miền đồng bằng đông dân thì lực lượng nghĩa quân càng được bổ sung và phát triển nhanh chóng. Nghĩa quân không những được tăng cường nhanh về mặt số lượng, kỹ thuật mà kinh nghiệm chiến đấu cũng ngày càng được nâng cao.

Từ căn cứ chật hẹp ở miền núi Thanh Hóa, đến nay cuộc khởi nghĩa đã có một căn cứ địa vững chắc, một hậu phương rộng lớn từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa. Với một khu vực giải phóng rộng lớn như vậy, cuộc chiến tranh giành độc lập đã có một nguồn bổ sung vô tận về nhân lực, vật lực và tài lực.

Từ những trận vây quét, nghĩa quân đã tiến lên những trận tiến công lớn nhằm hạ thành, vậy thành, tiêu diệt quân chủ lực của địch và giải phóng những vùng rộng lớn, giành được thế chủ động chiến lược.

Đây là một bước tiến nhảy vọt tạo ra những chuyển biến căn bản trong tương quan lực lượng giữa địch và ta, tạo ra thế và lực mới đưa cuộc khởi nghĩa vào giai đoạn tiến công tiêu diệt địch trên phạm vi toàn quốc.

Nguyễn Chích là người đã đề ra đường lối chuyển hướng chiến lược nhằm tạo ra bước tiến nhảy vọt đó. Cho nên nói đến những thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn trong giai đoạn thứ hai này cần phải đánh giá cao cống hiến to lớn của người anh hùng nông dân Nguyễn Chích.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:56:33 PM

Câu hỏi 15: Trình bày tóm tắt quá trình tiến công ra Bắc của nghĩa quân Lam Sơn (tháng 9 năm 1426), đánh dấu bước phát triển từ đấu tranh khởi nghĩa thành chiến tranh giải phóng dân tộc?

Trả lời:


Nhân lúc quân địch ở nước ta đang thế suy, lực yếu, mà viện binh của nhà Minh chưa kịp sang, tháng 9 năm 1426, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định mở cuộc tiến quân chiến lược ra Bắc. Nguyễn Trãi đã nói: "Thời cơ, thời cơ, thực không nên lỡ" (Quân trung từ mệnh tập - Nguyễn Trãi). Mục đích của cuộc tiến quân này là nhằm tranh thủ một thời cơ có lợi, đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc phát triển lên quy mô cả nước, giành những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng về quân sự và chính trị để chủ động đối phó với viện binh của địch.

Ba đạo quân tiến ra Bắc theo ba hướng như sau:

Đạo quân thứ nhất có 3.000 quân và 1 voi chiến, do Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả, Đỗ Bí... chỉ huy. Đạo quân này tiến ra vùng Thiên Quan, Quảng Oai, Gia Hưng, Quý Hóa, Đà Giang, Tam Đái, tức vùng Tây Bắc, với nhiệm vụ giải phóng vùng này, uy hiếp mặt tây thành Đông Quan và ngăn chặn viện binh từ Vân Nam sang.

Đạo quân thứ hai có 5.000 quân và 2 voi chiến, do Lưu Nhân Chú, Bùi Bị... chỉ huy. Đạo quân này chia làm hai cánh. Cánh thứ nhất tiến ra vùng Thiên Trường, Tân Hưng, Kiến Xương, giải phóng vùng hạ lưu sông Nhị và chặn đường rút quân của địch từ Nghệ An về Đông Quan. Cánh thứ hai tiến lên vùng Khoái Châu, Thượng Hồng, Hạ Hồng, Bắc Giang, Lạng Giang, tức vùng Đông Bắc, để ngăn chặn viện binh từ Quảng Tây sang.

Đạo quân thứ ba có 2.000 quân tinh nhuệ, do Đinh Lễ, Nguyễn Xí chỉ huy, tiến thẳng ra phía nam thành Đông Quan.

Cả ba đạo quân chỉ có 10.000 quân và 3 voi chiến. Thế mà nghĩa quân hoạt động trên một phạm vi rộng lớn gồm toàn bộ vùng đồng bằng, vùng trung du và một phần thượng du các phủ, huyện phía Bắc (miền Bắc Bộ ngày nay). Nhiệm vụ của nghĩa quân không phải là chiến đấu một cách đơn độc, mà luồn sâu vào vùng chiếm đóng của địch, kết hợp với các lực lượng yêu nước địa phương và sự nổi dậy của nhân dân nhằm "chiếm giữ đất đai, chiêu phủ nhân dân, triệt đường viện binh của giặc".

Trước đây, Lê Lợi đã cử người ra Bắc liên kết với những người yêu nước và gây dựng cơ sở ở một số nơi cần thiết.

Cuối năm 1425, Phan Liêu và Lộ Văn Luật đã được phái ra hoạt động ở vùng Gia Hưng, Quốc Oai. Sử nhà Minh chép rằng: "Lợi sai đồ đảng là bọn Phan Liêu, Lộ Văn Luật ra các châu Gia Hưng, Quốc Oai, chiêu tập đảng nghịch càng ngày càng nhiều".

Từ cuối năm 1424, sử nhà Minh cũng ghi nhận có quân của Lê Lợi hoạt động ở Lạng Sơn, giết chết tri phủ Dịch Tiên.

Thành Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Định) là một thành lũy quan trọng của địch án ngữ hai con đường thủy bộ, đường thiên lý và đường sông Đáy, từ Thanh Hóa ra Đông Quan. Một người phụ nữ yêu nước ở làng Chuế Cầu gần đấy, là Lương Minh Nguyệt, đã sớm tìm vào Lam Sơn tham gia khởi nghĩa. Lê Lợi giao cho bà nhiệm vụ trở về quê hương hoạt động. Chính Lương Minh Nguyệt đã cùng với dân làng dùng mưu giết hại nhiều quân Minh và chuẩn bị phối hợp với nghĩa quân vây hãm thành Cổ Lộng.

Trước sức mạnh tiến công của một cuộc chiến tranh nhân dân như vậy, "Người Minh chỉ lo ngồi giữ để chờ quân cứu viện mà thôi" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô cả nước. Khu vực giải phóng từ Thanh Hóa trở vào được mở rộng ra phía bắc bao gồm hầu hết các phủ, châu, huyện, trừ một số thành lũy và vùng kiểm soát của quân địch. Quân Minh đã suy yếu, lại bị dồn vào thế phòng ngự bị động trên cả nước. Những thắng lợi vô cùng quan trọng đó đang tạo ra thế và lực mới để quân và dân ta tiến lên đương đầu với viện binh địch.

Sau khi giải phóng các châu, huyện, nghĩa quân bắt đầu tiến công uy hiếp các thành lũy của địch, chủ yếu là thành Đông Quan và chặn đánh viện binh địch.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 10:59:28 PM

Câu hỏi 16: Trình bày tóm tắt chiến thắng Ninh Kiều (ngày 13 tháng 9 năm 1426), chiến thắng Nhân Mục và Xa Lộc (ngày 20 tháng 10 năm 1426)?

Trả lời:


Trong ba đạo quân Lam Sơn tiến ra Bắc thì đạo quân thứ nhất do Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả, Đỗ Bí.... chỉ huy hoạt động mạnh nhất và lập được nhiều chiến công xuất sắc nhất. Nhiệm vụ của đạo quân này là hoạt động ở vùng tây bắc Đông Quan (vùng các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và khu vực Tây Bắc) chặn đường tiếp viện của địch từ Vân Nam sang và tiến công uy hiếp thành Đông Quan.

Ngày 13 tháng 9 năm 1426 (ngày 12 tháng 8 năm Bính Ngọ), đạo quân này thắng một trận lớn ở Ninh Kiều (vùng Ninh Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).

Ninh Kiều là một vị trí trọng yếu và hiểm trở nằm trên con đường từ Đông Quan vào Thiên Quan, Thanh Hóa. Đó là "đường núi" hay "thượng đạo", một con đường giao thông quan trọng có ý nghĩa quân sự to lớn thời Lý, Trần, Lê. Ngày nay nhân dân vùng Chương Mỹ thường gọi đó là con đường "lai kinh" (có nghĩa con đường "đến kinh đô”). Ninh Kiều lại nằm bên bờ sông Ninh (sông Đáy)1 và dưới chân núi Ninh Sơn. Nghĩa quân do Lý Triện, Trịnh Khả, Đỗ Bí chỉ huy lợi dụng địa hình, bố trí mai phục sẵn ở vùng Ninh Kiều. Một bộ phận nghĩa quân do Phạm Văn Xảo chỉ huy, tiến đánh phía tây thành Đông Quan rồi giả thua, nhử địch đuổi theo để đẩy chúng vào trận địa mai phục ở Ninh Kiều.

Trần Trí thấy quân ta ít, lại từ xa đến ắt còn mệt mỏi nên mở cửa thành, tự đem quân ra đuổi đánh. Phạm Văn Xảo vừa đánh vừa rút chạy về phía Ninh Kiều. Chờ khi quân địch lọt vào trận địa mai phục, quân ta liền xông ra chặn đánh. Trong trận này quân ta toàn thắng, tiêu diệt trên 2.000 quân địch. Trần Trí phải rút chạy về thành Đông Quan.

Trận Ninh Kiều là một trận thắng lớn đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn kể từ khi mở cuộc tiến công ra Bắc. Sau chiến thắng này, nghĩa quân chiếm giữ miền Ninh Kiều, đóng doanh trại ở phía tây Ninh Giang. Từ đó, vùng Ninh Kiều trở thành một căn cứ lợi hại của nghĩa quân luôn luôn uy hiếp cửa ngõ tây nam thành Đông Quan.

Sau trận Ninh Kiều, nghĩa quân định thừa thắng tiến công uy hiếp thành Đông Quan. Nhưng vừa lúc đó, bộ chỉ huy nghĩa quân nhận được tin: một đạo viện binh của nhà Minh do đô ti Vân Nam là Vương An Lão chỉ huy đang trên đường tiến sang tăng viện cho Đông Quan. Nhiệm vụ của nghĩa quân là phải chặn đường tiếp viện của địch từ Vân Nam sang, không cho chúng tập trung về thành Đông Quan.
_____________________________________
1. Cương mục chú thích Ninh Giang "phía trên liền với cửa sông Hát, phía dưới đổ vào sông Thá rồi thông với Châu Giang, hạ lưu sông Ninh Giang này hợp làm một với sông Hoàng Giang”. Theo Hoàng Minh thực lụcThiên hạ quận quốc lợi bệnh toàn thư năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), nhà Minh đặt ty tuần kiểm ở cửa Ninh Giang thuộc huyện Mỹ Lộc. Vậy Ninh Giang là đoạn sông Đáy chảy qua vùng Hà Tây, Hà Nam, rồi chảy vào sông Hoàng Giang tức sông Châu Giang nối với sông Nhị.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 11:01:41 PM

Lúc bấy giờ đạo quân thứ ba do Đinh Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy chưa kịp đến để cùng phối hợp có thể vừa tiếp tục tiến công uy hiếp thành Đông Quan, vừa ngăn chặn viện binh của địch. Các tướng chỉ huy đạo quân thứ nhất là Phạm Văn Xảo, Lý Triện nhận thấy nếu đem toàn lực lên chặn đánh viện binh thì quân Minh ở thành Đông Quan có thể thừa cơ tiến công vào phía sau lưng nghĩa quân rồi cùng phối hợp với viện binh đánh lại nghĩa quân từ hai mặt. Như vậy, quân địch ở thành Đông Quan và viện binh sẽ phối hợp được với nhau làm cho lực lượng của chúng được tăng cường và dồn nghĩa quân vào thế bị động, phải đồng thời đối phó cả hai mặt. Điều đó rất bất lợi cho nghĩa quân.

Trong tình huống cấp bách trên, các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện đã quyết định chia đạo quân thứ nhất làm hai bộ phận. Một bộ phận do Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả chỉ huy gồm hơn 1.000 quân tiến lên vùng Tam Giang (miền Phú Thọ, Tuyên Quang) đón đánh viện binh của địch. Một bộ phận do Lý Triện và Đỗ Bí chỉ huy gồm 2.000 quân vẫn tiếp tục tiến công uy hiếp thành Đông Quan. Đây là một quyết định kiên quyết và táo bạo thể hiện tinh thần chủ động tiến công và quyết tâm tiêu diệt địch của nghĩa quân.

Sau trận thất bại ở Ninh Kiều, Trần Trí rút về thành Đông Quan lo tăng cường phòng thủ để chờ quân cứu viên. Một mặt Trần Trí sai quân lính đào thêm hào, đắp thêm lũy, củng cố hệ thống phòng thủ xung quanh thành Đông Quan. Mặt khác, Trần Trí nhận thấy "thành Đông Quan bị cô lập và nguy khốn" nên bí mật sai người vào thành Nghệ An gọi Phương Chính, Lý An đem quân về "cứu lấy căn bản"1. Ý đồ của Trần Trí là muốn tập trung quân về Đông Quan để cố giữ vững căn cứ trung tâm này rồi chờ viện binh sang sẽ tổ chức phản công. Nhưng không để cho quân địch được nghỉ ngơi và yên thân cố thủ, cánh quân do Lý Triện và Đỗ Bí chỉ huy từ Ninh Kiều vẫn không ngừng tiến công uy hiếp vùng ngoại vi phía tây nam thành Đông Quan.

Để giải vây cho vùng ngoại vi thành Đông Quan, ngày 20 tháng 10 năm 1426 (ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ)2 Trần Trí ra lệnh cho đô chỉ huy Viên Lượng cùng với chỉ huy Vương Miễn, Tư Quảng, Đào Sâm, Tiền Phụ đem quân ra khỏi thành, tiến đánh nghĩa quân. Lý Triện và Đỗ Bí bố trí mai phục sẵn ở hai bên đường, phía tây cầu Nhân Mục (cống Mọc ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội)3 để chờ địch.

Khi tiến đến cầu Nhân Mục, viên thổ quan Hà Gia Kháng giữ chức chỉ huy trong quân đội địch, hết sức can ngăn, nói rằng ở đây dễ có phục binh, không nên tiến quân vội. Nhưng Viên Lượng vẫn ra lệnh tiến quân, sai Đào Sâm và Tiền Phụ đem quân qua cầu trước. Chờ khi toàn bộ quân địch đã qua cầu và lọt vào trận địa mai phục, quân ta mới bất ngờ xông ra đánh. Nghĩa quân chia cắt đội hình địch ra đánh và tiêu diệt hết toán này đến toán khác.
___________________________________
1. Cương mục, Toàn thư.
2. Lam Sơn thực lục chép ngày 21 tháng 9 năm Bính Ngọ tức ngày 21 tháng 10 năm 1426.
3. Cầu Nhân Mục bắc qua sông Tô Lịch, trên đường từ Đông Quan đến Ninh Kiều tức con đường số 6 ngày nay. Nhưng cầu Nhân Mục hay cống Mọc ở trên cống Mới ngày nay khoảng 500m, vì con đường cái xưa kia chạy vòng lên phía trên và qua sông Tô Lịch ở cống Mọc chứ không phải chạy thẳng như đường số 6 và qua sông Tô Lịch ở cống Mới.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Mười, 2016, 11:02:06 PM

Ngay từ đầu trận đánh, quân địch đã hoàn toàn lâm vào thế bị động, đội hình rối loạn và hầu như không chống đỡ được. Các tướng giặc là chỉ huy Đào Sâm, Tiền Phụ, thiên hộ Triệu Trinh cùng hơn 1.000 quân địch bị giết chết tại trận. Đô chỉ huy Viên Lượng bị bắt sống. Tàn quân của địch vội vàng tháo chạy về thành Đông Quan.

Trận cầu Nhân Mục xảy ra ở ngay sát thành Đông Quan. Với chiến thắng đó, nghĩa quân không những đã tiêu diệt một phần sinh lực địch, phá tan âm mưu tiến công để giải vây của Trần Trí mà còn thừa thắng tiến lên uy hiếp trực tiếp mặt tây nam thành Đông Quan. Theo Minh sử, sau trận này, Lý Triện chia quân làm ba cánh tiến đánh đến sát cửa thành Đông Quan. Tuy nhiên với một lực lượng nhỏ, nghĩa quân chỉ tiến công uy hiếp rồi lại rút lui về Ninh Kiều để "làm thanh thế, tiếp ứng" cho cánh quân của Phạm Văn Xảo đang chặn đánh viện binh ở vùng Tam Giang.

Cùng một ngày với trận Nhân Mục, cánh quân do Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả chỉ huy chặn đánh đạo viện binh của Vương An Lão ở cầu Xa Lộc (còn gọi là cầu Ròng Rọc hay Đồng Dọc ở gần làng Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ).

Ngày hôm đó, đạo viện binh của Vương An Lão từ Vân Nam sang, vừa tiến đến vùng Tam Giang. Nghĩa binh đón đánh quân địch ở cầu Xa Lộc. Đạo viện binh của Vương An Lão đông gấp bội quân ta, theo chính sử của ta đạo quân đó có đến trên một vạn quân. Nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm và lối đánh vận động lợi hại, nghĩa quân đã tiêu diệt được trên 1.000 quân địch.

Vương An Lão không dám tiến quân xuống thành Đông Quan phải rút vào thành Tam Giang (có lẽ thành cổ Dục Mỹ ở gần cầu Xa Lộc, tỉnh Phú Thọ) ở gần đó để cố thủ.

Cùng với trận Xa Lộc, cánh quân của Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chặn viện binh của địch, không cho chúng tăng viện tới cửa thành Đông Quan.

Đạo quân thứ nhất tuy số lượng không nhiều, nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường, luôn luôn chủ động tiến công và với sự chỉ huy tài giỏi của các tướng, đã liên tiếp lập được nhiều chiến công rực rỡ ở Ninh Kiều, Nhân Mục, Xa Lộc và hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ: chặn viện binh và tiến công uy hiếp mặt tây nam thành Đông Quan.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:04:40 PM

Câu hỏi 17: Trình bày chiến thắng Tốt Động - Chúc Động (tháng 11 năm 1426), một trận quyết chiến chiến lược của dân tộc ta?

Trả lời:


Sau trận Ninh Kiều, Trần Trí đã cho người mang thư lẻn vào thành Nghệ An, yêu cầu Lý An và Phương Chính "bỏ thành Nghệ An, về cứu căn bản" (Đại Việt sử ký toàn thư). Lý An, Phương Chính giao thành Nghệ An lại cho Thái Phúc cố thủ, rồi đem đại bộ phận quân lính về cứu Đông Quan. Ngày 17 tháng 10 năm 1426, chúng dùng thuyền, nhân lúc ban đêm vượt biển ra Bắc.

Lê Lợi nhận định tình hình: "Thế giặc ngày một yếu quân ta ngày một mạnh, thời cơ đã đến mà không hành động ngay, sợ lỡ mất cơ hội" (Đại Việt sử ký toàn thư). Thành Nghệ An không còn là mục tiêu quan trọng nữa. Quân địch đang cố gắng tập trung về Đông Quan để phối hợp với viện binh mở những cuộc phản công lớn. Mặt trận chính rõ ràng đã chuyển ra Bắc, vùng quanh Đông Quan và các trục đường tiếp viện của quân Minh, Lê Lợi quyết định để một bộ phận nghĩa quân ở lại vây hãm thành Nghệ An, rồi cùng với bộ chỉ huy thống lĩnh đại quân, theo hai đường thuỷ, bộ đuổi theo Lý An, Phương Chính. Nhưng quân địch có nhiều thuyền lớn, đã phóng ra biển khơi, chạy thoát về Đông Quan.

Đại quân Lam Sơn dừng lại ở Thanh Hoá một thời gian. Tại đại bản doanh ở Lỗi Giang, Lê Lợi sai tăng cường thêm lực lượng vây hãm thành Tây Đô, không cho chúng rút về Đông Quan và củng cố vững chắc khu vực giải phóng từ Thanh Hoá trở vào, để chuẩn bị đưa đại quân ra Bắc.

Tại Đông Quan, khoảng cuối tháng 10 năm 1426, quân địch đã tập trung được một lực lượng khá lớn. Đội binh thuyền của Lý An, Phương Chính đã vượt qua được lực lượng ngăn chặn của nghĩa quân ở vùng hạ lưu sông Nhị, kéo về hội quân với Trần Trí. Năm vạn viện binh của Vương Thông cũng đã tiến tới Đông Quan. Toàn bộ quân địch có khoảng trên 10 vạn bao gồm bộ binh, kị binh và thuỷ binh, trong đó lực lượng nòng cốt là viện binh của Vương Thông. Theo lệnh vua Minh, Vương Thông giữ chức tổng binh nắm quyển chỉ huy cao nhất, bên cạnh đó tham tướng Mã Anh và tham tán quân vụ Trần Hiệp, Trần Trí và Phương Chính bị cách chức nhưng vẫn lưu lại trong quân để "lập công chuộc tội".

Đầu tháng 11 năm 1426, để lại một bộ phận giữ thành Đông Quan, Vương Thông huy động ngót 10 vạn quân vào cuộc phản công đầy tham vọng của hắn. Từ Đông Quan, quân địch chia làm ba đạo tiến ra chiếm lĩnh những vị trí bàn đạp của cuộc phản công.

- Đạo thứ nhất do Vương Thông trực tiếp chỉ huy đóng ở bến Cổ Sở trên sông Đáy và con đường bộ từ phía tây đến Đông Quan.

- Đạo quân thứ hai do Phương Chính, Lý An chỉ huy đóng ở cầu Sa Đôi trên sông Nhuệ.

- Đạo quân thứ ba do Sơn Thọ, Mã Kỳ chỉ huy đóng ở cầu Thanh Oai trên sông Đỗ Động và con đường bộ từ phía tây nam đến Đông Quan.

Quân địch đã triển khai đội hình, chiếm lĩnh ba vị trí cơ động ở đầu mối các đường giao thông thuỷ bộ phía tây và tây nam Đông Quan. Từ những vị trí đó, ba đạo quân Minh hình thành ba mũi tiến công nhằm vây quét một vùng rộng lớn, mà mục tiêu chủ yếu là căn cứ Ninh Kiều (Chương Mỹ, Hà Tây) của đạo quân Phạm Văn Xảo, Lý Triện.

Đạo quân Phạm Văn Xảo, Lý Triện đóng ở Ninh Kiều là đối tượng vây diệt của địch và cũng là đạo quân đảm đương những trận đánh đầu tiên chống lại cuộc phản công lớn của Vương Thông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:05:05 PM

Trong ba đạo quân của địch, nghĩa quân chọn đạo quân ở cầu Thanh Oai làm mục tiêu tấn công. Đạo quân này nằm hơi tách ra về phía tây nam, binh lực không nhiều, là khâu yếu nhất trong ba mũi tiến công của địch. Ngày 5 tháng 11 năm 1426, nghĩa quân bố trí mai phục sẵn ở cánh đồng Cổ Lãm (Thanh Oai, Hà Tây) rồi khiêu chiến nhử địch ra khỏi doanh trại để tiêu diệt. Sơn Thọ, Mã Kỳ tung quân ra đuổi đánh, đã bị dẫn vào trận địa mai phục và bị đại bại. Hơn 1.000 quân địch bị chết tại trận. Sơn Thọ, Mã Kỳ tháo chạy về Đông Quan. Nghĩa quân truy kích đến tận cầu Nhân Mục, giết thêm nhiều quân địch và bắt sống hơn 500 tên. Đạo quân Phương Chính, Lý An ở cầu Sa Đôi thấy bị đe doạ trực tiếp, cũng vội vàng rút quân về Đông Quan để tránh đòn tiến công của quân ta.

Số quân địch bị tiêu diệt chưa nhiều, nhưng thế trận ba mũi vây diệt của Vương Thông đã bị phá sản. Cuộc phản công chiến lược quy mô lớn của địch vừa mới thực hiện đã bị những đòn giáng trả quyết liệt.

Ngay tối ngày 5 tháng 11 năm 1426, Vương Thông ra lệnh điều số bại binh mới chạy về Đông Quan lên Cổ Sở. Vương Thông đã phải thay đổi kế hoạch hành quân. Hắn tập trung tất cả binh lực lại thành một khối lớn để từ Cổ Sở đánh thẳng xuống Ninh Kiều, bao vây càn quét khu căn cứ của nghĩa quân.

Ngay hôm sau, ngày 6 tháng 11 năm 1426, một bộ phận nghĩa quân do Lý Triện chỉ huy từ Ninh Kiều tiến lên tập kích doanh trại ngoại vi của địch ở Cổ Sở. Trận đánh nhằm quấy rối, tiêu hao và khiêu khích quân địch.

Vương Thông liền huy động đại quân đánh xuống Ninh Kiều. Nhưng đến nơi thì thấy nghĩa quân đã huỷ bỏ doanh trại, rút về Cao Bộ (Chương Mỹ, Hà Tây). Tại đây, đạo quân Lam Sơn thứ ba do Đinh Lễ, Nguyễn Xí chỉ huy, từ Thanh Đàm (Thanh Trì, Hà Nội) cũng đã bí mật kéo đến hội quân. Hai đạo quân phối hợp chặt chẽ chuẩn bị một thế trận lợi hại để quyết giành thắng lợi quyết định, đập tan cuộc phản công của Vương Thông.

Từ Ninh Kiều đến Cao Bộ có hai con đường:

+ Con đường cái là đường "Thượng đạo" từ Ninh Kiều qua Chúc Động, Tốt Động lên Cao Bộ.

+ Con đường tắt từ Ninh Kiều qua Chúc Động rồi vòng về phía Bắc Cao Bộ.

Vương Thông từ Ninh Kiều đánh lên Cao Bộ nhất thiết phải hành quân theo những con đường đó. Nghĩa quân đã khẩn trương bố trí hai trận địa mai phục lớn ở Tốt Động và Chúc Động để chờ địch.

Làng Tốt Động (Chương Mỹ, Hà Tây) tên nôm là Kẻ Rét (cũng có người nói là Kẻ Rót), là một làng đã có từ lâu đời. Đây là một vùng đất thấp, lầy lội. Cánh đồng Tốt Động là một cánh đồng chiêm trũng, có độ dốc nghiêng dần từ tây sang đông.

Chúc Động cách Tốt Động khoảng 6km về phía đông bắc và ở ngay phía tây Ninh Kiều. Vì vậy, trong thư tịch cổ của ta, trận Chúc Động có khi gọi là trận Ninh Kiều.

Cả hai con đường từ Ninh Kiều đến Cao Bộ - đường "lai kinh" và đường tắt đến phải đi qua vùng Chúc Động.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:09:37 PM

Rạng sáng ngày 7 tháng 11 năm 1426, Vương Thông phất cờ lệnh cho quân lính bắt đầu xuất phát. Theo kế hoạch đã vạch ra, từ phía đông Ninh Kiều, hai cánh chính binh và kỳ binh lũ lượt vượt cầu Ninh Giang, tiến về phía Cao Bộ.

Cánh kỳ binh theo "đường tắt" tiến nhanh về phía sau Cao Bộ để "đặt súng phía sau quân ta" và bất ngờ nổ súng (hoả pháo) làm tín hiệu cho cánh "chính binh".

Cánh chính binh do Vương Thông trực tiếp chỉ huy, theo đường "lai kinh" qua vùng Tốt Động tiến thẳng đến phía trước Cao Bộ. Cánh quân này di chuyển ồ ạt, phô trương thanh thế vừa để uy hiếp vừa để thu hút quân ta về phía trước mặt Cao Bộ.

Theo kế hoạch đã hợp đồng giữa hai bên thì khi nghe tín hiệu của kỳ binh, toàn bộ cánh chính binh sẽ dồn dập tiến công phía trước để tạo thời cơ cho cánh kỳ binh lao tới phía sau đột nhập vào Cao Bộ, đánh đòn quyết định.

Quân địch triển khai đội hình thuận lợi, đúng như kế hoạch của Vương Thông. Từ lúc trời chưa sáng hẳn, từng đoàn quân địch, đội ngũ chỉnh tể, nối tiếp nhau vượt qua Ninh Kiều tiến về phía Cao Bộ. Hai bên đường núi rừng, đồng ruộng vẫn yên lặng, xóm làng vẫn bặt bóng người.

Cánh chính binh với đội hình kéo dài, tiến về phía Tốt  Động. Con đường "lai kinh" đang dẫn quân địch vượt qua miền núi rừng Ninh Sơn, Chúc Sơn, tiến vào một cánh đồng trũng rộng lớn. Không may cho quân địch là hôm đó trời đổ mưa. Trong chốc lát đường sá, đồng ruộng trở nên lầy lội, khó đi. Quân địch vẫn cố gắng giữ vững đội ngũ bám sát nhau, mong chóng vượt qua cánh đồng ác nghiệt này.

Tiền quân của chính binh vừa tiến đến Tốt Động thì bỗng nhiên nghe tiếng súng nổ từ hướng Cao Bộ vọng tới. Đúng là tín hiệu của cánh kỳ binh. Vương Thông tưởng rằng cánh kỳ binh đi theo "đường tắt" đã lẻn đến phía sau Cao Bộ và phát tín hiệu cho hắn biết để phối hợp tiến công. Hắn cho rằng đó là "súng nổ ở đường tắt" tức là tín hiệu của "kỳ binh" nên lập tức hạ lệnh cho "toàn quân tiến sâu vào” phía trước Cao Bộ. Nhận đúng tín hiệu đã quy định và theo lệnh của tổng binh, quân địch "mọi đứa đều đổ xô đi chiếm lấy chỗ thuận lợi, chúng lùa quân đi tắt vào". Quân địch ào ạt xông về phía trước Cao Bộ. Tín hiệu phát ra đã có tác dụng đánh lừa quân địch, thúc đẩy quân địch tiến nhanh và tiến sâu vào trận địa mai phục của ta.

Trong lúc đó, tại trận địa mai phục, quân dân ta đã được lệnh "nghe tiếng súng vẫn nằm im không động". Khi tiền quân của cánh chính binh địch "chưa đến cách sông Yên Duyệt vài dặm" nghĩa là đã lọt vào trận địa mai phục chủ yếu ở Tốt Động thì hậu quân của chúng cũng đã "qua hết Ninh Giang" nghĩa là lọt vào trận địa mai phục phối hợp ở Chúc Động. Lúc đó vào khoảng giờ tỵ, tức là khoảng 10-11 giờ, ngày 7 tháng 11 năm 1426.

Thời cơ tiêu diệt địch đã đến.

Theo hiệu lệnh đã quy định trước, quân mai phục của ta tại trận địa Tốt Động nhất tề nổi dậy với khí thế vô cùng mãnh liệt.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:11:13 PM

Một khối quân địch khổng lồ đang dồn lên phía trước cố vượt qua cánh đồng Tốt Động lầy lội để nhanh chóng tiến về Cao Bộ cho kịp phối hợp với cánh kỳ binh. Vương Thông cùng với các tướng soái và quân lính nhà Minh đang tập trung tất cả sự chú ý về phía mục tiêu công kích vừa phát ra tín hiệu. Bỗng nhiên từ sau các lũy tre của xóm làng, từ bờ sông Yên Duyệt phía trước, từ trong các đám cỏ lác, lau lách, từ bờ đầm Rót phía tây, quân dân ta bất ngờ lao ra chặn đầu và đánh ngang sườn đội hình quân địch từ phía tây. Quân ta băm nát quân địch thành từng mảng để tiêu diệt và dồn ép chúng về phía đông cánh đồng Tốt Động.

Hàng ngũ quân địch hoàn toàn bị rối loạn và tinh thần quân lính hết sức kinh hoảng, khiếp sợ. Từ đầu trận đánh, sức chiến đấu của quân Minh đã hầu như tê liệt. Với khí thế áp đảo kẻ thù, quân dân ta tiếp tục xông lên tiêu diệt quân địch hết lớp này đến lớp khác. Quân ta có những con voi chiến hùng dũng giúp sức dồn chúng càng ngày càng lún sâu vào cánh đồng Tốt Động, cả một cánh đồng bùn lầy, nhiều nơi còn ngập nước và đầy lau lách, cỏ lác, trở thành một bãi chiến trường lợi hại của quân ta.

Bộ binh và kỵ binh của địch bị sa lầy, mất hết sức chiến đấu. Sử nhà Minh chép: quân Minh "bị hãm vào bùn lầy", "đường lầy lội, người và ngựa đều vướng chân". Cả một khối quân địch dày đặc bị mất hết khả năng chiến đấu và trở nên cực kỳ hỗn loạn. Quân địch bị đẩy vào "đất chết" (tử địa). Chúng xô đẩy, giẫm đạp lên nhau mà chết khá nhiều. Một bộ phận quân phục của ta đã chiếm lĩnh sẵn những gò đất cao nổi lên giữa cánh đồng xông lên nhằm thẳng vào những đám quân địch đang bị sa lầy mà tiêu diệt. Từ những gò đất cao đó, quân dân ta dùng giáo, lao, đặc biệt là cung nỏ, giết chết hàng loạt quân địch.

Tổng binh Vương Thông hoàn toàn bất lực trước cảnh hỗn loạn và khiếp sợ của quân lính. Bản thân hắn cũng bị thương tại trận. Hắn bị một mũi tên của quân ta bắn vào cạnh sườn. Tham tán quân vụ Trần Hiệp cố thúc ngựa tiến lên phía trước để mong lấy lại tinh thần quân lính. Nhưng lập tức viên binh bộ thượng thư nhà Minh bị nhiều mũi giáo của quân ta đâm trúng vào người. Hắn bị thương nặng và từ trên mình ngựa ngã lộn nhào xuống đất. Quân Minh trông thấy, nói rằng: "Chủ soái (tức Vương Thông) cũng lùi, việc gì ông lại chịu khổ như thế”, rồi "quân lính đều bỏ chạy". Hoàn toàn tuyệt vọng, viên thượng thư bộ binh bị trọng thương đó định tự sát để kết liễu đời mình, nhưng bị quân ta xông tới chém chết.

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt từ giờ tỵ đến giờ mùi, tức khoảng 10-11 giờ đến 14-15 giờ. Trong vòng 4-5 giờ chiến đấu cực kỳ dũng cảm và mưu trí, quân ta đã chặn đứng và đập nát bộ phận tiền quân của địch. Hàng vạn quân địch bỏ xác trên chiến trường Tốt Động. Vương Thông và bọn sống sót tìm đường tháo chạy về Ninh Kiều.

Trong khi tiền quân bị giáng đòn sấm sét bất ngờ ở Tốt Động thì bộ phận trung quân và hậu quân của địch cũng bị ùn lại trên quãng đường từ Chúc Động đến Tốt Động. Sau khi được tin tiền quân bị thua và thấy bọn tàn quân hoảng hốt tháo chạy, bộ phận trung quân và hậu quân cũng nhốn nháo tìm đường rút lui. Cả một khối quân địch đông nghìn nghịt chưa bị đánh đã tan tác hàng ngũ và mất hết tinh thần chiến đấu.

Cánh kỳ binh đang trên đường tiến về phía sau Cao Bộ bỗng nhiên nghe tiếng súng nổ ở Cao Bộ. Viên tướng chỉ huy kinh ngạc vì đó là tín hiệu đáng lẽ do cánh kỳ binh phát ra sau khi bí mật lẻn đến phía sau Cao Bộ. Tất nhiên hắn phải cho quân lính đi do thám và thấy Cao Bộ vẫn im lặng, đối phương không có động tĩnh gì. Ngay sau đó, hắn lại được tin khủng khiếp: tổng binh Vương Thông bị rơi vào trận mai phục ở Tốt Động, không thể tiến tới phía trước Cao Bộ được. Biết đã mắc mưu đối phương, hắn vội ra lệnh cho cánh kỳ binh rút chạy về hướng Chúc Động.

Đúng vào lúc đó, quân mai phục của ta ở trận địa Chúc Động lại vùng lên, bồi tiếp những đòn quyết liệt vào cánh kỳ binh và hậu quân của cánh chính binh cùng với bọn lính địch thoát chết ở Tốt Động đang tháo chạy hỗn loạn với tinh thần hoang mang, khiếp sợ. Từ sườn núi Ninh Sơn, Chúc Sơn, từ rừng cây và cánh đồng hai bên đường, quân dân ta xông lên chặn ngang đường rút lui và chia cắt quân địch ra mà tiêu diệt, cầu Ninh (Ninh Kiều) lập tức bị phá hủy và dòng sông Ninh biến thành một con hào tự nhiên cản đường rút chạy của địch về Đông Quan.

Một trận quyết chiến thứ hai diễn ra ác liệt trên vùng Chúc Động, Ninh Kiều.

Kết quả của trận Chúc Động cũng rất to lớn. Hàng vạn quân địch bị giết chết và bị bắt làm tù binh. Số quân địch liều lĩnh vượt qua Ninh Giang bị chết đuối rất nhiều, đến nỗi "nước Ninh Kiều vì thế không chảy được""làm nghầu cả khúc sông Ninh Giang".

Quân ta thừa thắng "đuổi kẻ chạy, rượt kẻ thua, hoặc giết chết, hoặc bắt sống”. Bọn tàn quân địch phải khó khăn, gian lao lắm mới thoát chết, chạy về Đông Quan được một số. Một bộ phận theo Vương Thông, Mã Kỳ, vượt qua được Ninh Kiều, chạy thoát về Đông Quan. Một bộ phận khác theo Phương Chính không qua được Ninh Kiều, phải theo hữu ngạn sông Đáy chạy ngược lên phía bắc rồi qua bến đò Cổ Sở trốn về Đông Quan.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:12:16 PM

Kể cả hai trận Tốt Động - Chúc Động, quân dân ta đã tiêu diệt trên 6 vạn quân địch, trong đó trên 5 vạn bị giết chết, trên 1 vạn bị bắt sống. Trong bộ chỉ huy của địch, bộ binh thượng thư Trần Hiệp giữ chức tham tán quân vụ và nội quan Lý Lượng, chỉ huy Lý Đằng bị chém tại trận; tổng binh Vương Thông cũng bị thương. Quân ta còn thu được rất nhiều chiến lợi phẩm bao gồm: ngựa, xe cộ, quân nhu, vũ khí, vàng bạc, sổ sách...

Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động là một chiến thắng oanh liệt của quân dân ta trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV. Sử sách và những tác phẩm văn học yêu nước của ta đã dành cho chiến công này một vị trí quan trọng với những lời ca ngợi xứng đáng.

Lam Sơn thực lục chép: Quân ta "cả phá được giặc, chém được Trần Hiệp và Lý Lượng. Giặc bị chém hơn 5 vạn tên, bị bắt sống hơn vạn tên. Ta bắt được khí giới, ngựa, vàng bạc, quân tư, xe cộ không biết bao nhiêu mà kể".

Đại Việt sử ký toàn thư chép: "đại phá quân giặc, chém được thượng thư Trần Hiệp, nội quan Lý Lượng và quân sĩ 5 vạn người, giặc chết đuối rất nhiều, nước Ninh Kiều vì thế không chảy được, bắt sống được hơn 1 vạn người, thu được ngựa, quân tư, khí giới, xe cộ, sổ sách không kể xiết".


Đặc biệt Nguyễn Trãi - người anh hùng dân tộc cùng với Lê Lợi tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến tranh yêu nước lúc đó - đã nêu cao thắng lợi của trận Tốt Động - Chúc Động (hay Ninh Kiều) trong những tác phẩm bất hủ của mình, nhất là trong Bình Ngô đại cáo và bài Phú núi Chí Linh.

Nguyễn Trãi viết trong bài Bình Ngô đại cáo:

      "Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm,
      Tốt Động thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu
      Tâm phúc giặc, Trần Hiệp phải bêu đầu,
      Sâu mọt dân, Lý Lượng cũng bỏ mạng.
      Vương Thông gỡ rối mà lửa lại càng bừng,
      Mã Anh cứu nguy mà giận càng thêm dữ".


Trong bài Phú núi Chí Linh, Nguyễn Trãi viết:

      "Trận Ninh Kiều như tổ kiến làm đê vỡ,
      Trận Tốt Động như gió mạnh gãy cành cây.
      Trần Hiệp, Lý Lượng như dưới hố cọp sa,
      Vương Thông Mã Kỳ như nước sôi cá nhảy".


Trận Tốt Động - Chúc Động là trận đánh quyết định kết thúc thắng lợi toàn bộ chiến dịch phá cuộc phản công ồ ạt của Vương Thông. Đó là chiến thắng lớn nhất của nghĩa quân Lam Sơn từ khi khởi nghĩa cho đến cuối năm 1426. Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động nói riêng và toàn bộ chiến dịch nói chung đã đập tan kế hoạch tiến công của Vương Thông và làm phá sản hoàn toàn âm mưu giành lại thế chủ động của địch.
Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động được ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta như một trận quyết chiến oanh liệt, một trong những mẫu mực điển hình của lối đánh lấy ít thắng nhiều của quân dân ta.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:14:12 PM

Câu hỏi 18: Trình bày quá trình tiến công vây hãm thành Đông Quan và các thành lũy khác của nghĩa quân Lam Sơn. Âm mưu giảng hòa của tướng giặc Vương Thông?

Trả lời:


Sau trận đại bại ở Tốt Động - Chúc Động, Vương Thông thu thập tàn binh rút chạy về thành Đông Quan, chuyển sang thế phòng ngự, lo củng cố lực lượng cố thủ phòng ngự tại đây.

Bên cạnh việc sai quân lính phá chuông Quy Điền (ở chùa Một Cột, Hà Nội) và vạc Phổ Minh (ở chùa Phổ Minh, Nam Định) để đúc vũ khí thay thế cho những vũ khí bị mất gần hết trong thất bại vừa qua, Vương Thông còn bắt quân lính tu bổ lại các hào lũy của thành Đông Quan và củng cố thêm các doanh trại bảo vệ ở vùng ngoại vi.

Về mặt chính trị, y đã cố vá víu lấy bộ máy chính quyền đô hộ. Phạm vi thống trị của chúng đã bị thu hẹp rất nhiều vì hầu hết các châu, huyện của ta đã được nghĩa quân Lam Sơn giải phóng.

Phát huy thắng lợi rực rỡ đã giành được, nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục đẩy mạnh cuộc tiến công, không cho quân địch nghỉ ngơi, hồi phục lại lực lượng. Ngay sau trận Tốt Động - Chúc Động, tướng Đinh Lễ đã thừa thắng đem quân đến vây thành Đông Quan.

Bấy giờ, Lê Lợi và bộ tham mưu đang đóng đại bản doanh ở miền Lỗi Giang (Thanh Hóa) để củng cố căn cứ từ Thanh Hóa trở vào và tập trung lực lượng chuẩn bị cho những trận đánh quyết định của giai đoạn giành thắng lợi cuối cùng. Được tin thắng trận, Lê Lợi liền thống nhất đại quân gồm quân thủy, quân bộ và 20 voi chiến, chia làm hai đường thủy, bộ đi suốt ngày đêm, tiến gấp ra Bắc.

Ngày 10 tháng 11 năm 1426 (ngày 11 tháng 10 năm Bính Ngọ), Lê Lợi trú quân ở Lung Giang (sông Đáy).

Ngày 21 tháng 11 năm 1426 (ngày 22 tháng 10 năm Bính Ngọ), Lê Lợi đóng đại bản doanh ở Tây Phù Liệt (thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). Chính tại nơi đây Lê Lợi và bộ tham mưu nghĩa quân đã quyết định và chỉ huy cuộc tiến công vây hãm thành Đông Quan.

Ngày 22 tháng 11 năm 1426 (ngày 23 tháng 10 năm Bính Ngọ) cuộc tiến công thành Đông Quan bắt đầu.

Tướng Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chỉ huy thủy quân gồm hơn 100 chiến thuyền theo dòng sông Đáy lên cửa sông Hát rồi xuôi sông Nhị xuống bến Đông Bộ Đầu đánh vào phía đông.

Tướng Đinh Lễ chỉ huy hơn 10.000 bộ binh ngầm tiến đến cầu Tây Dương (Cầu Giấy) đánh vào phía tây.

Lê Lợi chỉ huy đạo quân chủ lực tiến lên cửa Nam thành Đại La đánh vào phía nam.

Nửa đêm, quân ta từ ba mặt tiến công vào các doanh trại của địch ở vùng ngoại vi thành Đông Quan. Nghĩa quân phóng lửa đốt các doanh trại của địch làm cho "khói lửa ngợp trời". Quân của Phương Chính đóng giữ ở ngoài thành tranh nhau trốn chạy vào trong thành và bị giết chết rất nhiều. Kết quả của trận tiến công này là quân ta tiêu diệt hết các doanh trại của địch ở vùng ngoại vi thành Đông Quan, buộc quân địch từ đó phải rút hẳn vào trong thành cố thủ. Trong trận này, quân ta còn giải phóng được rất nhiều người bị giặc giam giữ và thu được hơn 100 chiến thuyền với rất nhiều khí giới.

Sau trận tiến công của nghĩa quân "tất cả quân dân ở xung quanh đều là của ta, thế giặc ngày càng cùng quẫn nên phải đắp thêm thành lũy để liều chết giữ thành chờ viện binh"1.
__________________________________
1. Toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:15:01 PM

Lê Lợi dời bản doanh sang Đông Phù Liệt (thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). Chủ trương của nghĩa quân lúc này là tiếp tục vây hãm thành Đông Quan và mở rộng vùng giải phóng, bổ sung thêm lực lượng.

Thắng lợi dồn dập của nghĩa quân Lam Sơn làm cho quân địch từ thành Đông Quan đến các đồn lũy khác đều rất hoang mang. Khắp nơi, từ miền xuôi lên miền núi, nhân dân nổi dậy hoặc tự động, hoặc cùng với nghĩa quân đánh phá các đồn lũy và các trụ sở chính quyền của địch. Quân địch phải bỏ các đồn lũy nhỏ, rút vào cố thủ trong những thành lũy kiên cố. Tình hình miền Bắc từ đó cũng gần giống như tình hình miền Thanh Hóa trở vào năm 1425. Trừ thành Đông Quan và một số thành lũy các nơi như Điêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội), Thị cầu (Bắc Ninh), Xương Giang (Bắc Giang), Khâu Ôn (Lạng Sơn), Tam Giang (Phú Thọ), Cổ Lộng (Nam Định)... quân địch còn ra sức cố thủ, còn hầu hết đất nước đều được giải phóng. Trong vòng chưa đầy ba tháng (từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1426), khu vực giải phóng từ miền Thanh Hóa trở vào đã được mở rộng nhanh chóng hầu khắp cả nước.

Nhân dân khắp nơi vô cùng phấn khởi, ai cũng muốn đem hết công sức mình ra góp phần cùng với nghĩa quân để sớm hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước. Toàn thư chép rằng khi nghe tin Lê Lợi ra đóng quân ở gần thành Đông Quan, "hào kiệt ở vùng kinh lộ cùng với nhân dân các phủ huyện, các tù trưởng ở vùng biên trấn đều tấp nập đến cửa quân nguyện xin ra sức liều chết để đánh các thành giặc ở các nơi". Trước tinh thần yêu nước của nhân dân, Lê Lợi ân cần tiếp đãi mọi người rồi tuyển mộ thêm nghĩa quân, thu nạp thêm nhân tài để bổ sung lực lượng.

Để tránh khỏi nguy cơ bị tiêu diệt trước khi viện binh sang, Vương Thông, một mặt hết sức tăng cường khả năng cố thủ các thành, mặt khác đưa ra việc thương lượng giảng hòa với nghĩa quân để làm kế hoãn binh.

Vương Thông tung ra tin muốn theo tờ chiếu của Minh Thành Tổ năm 1407 tìm con cháu nhà Trần lập lên làm vua rồi sẽ bãi binh. Vương Thông muốn thương lượng theo danh nghĩa lập lại nhà Trần để giữ "thể diện" cho "thiên triều". Danh nghĩa đó chẳng qua chỉ là một chiêu bài do Minh Thành Tổ nêu ra để lấy cớ xâm lược nước ta và che đậy âm mưu xâm lược đó. Nhưng đến nay trong bước đường thất bại, vua tôi nhà Minh muốn lấy lại danh nghĩa đó để làm lối thoát cho tình trạng khốn cùng, bế tắc của cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Khi mới lên ngôi, trước những khó khăn trong nước và những thất bại ở nước ta, chính Minh Tuyên Tông cũng đã có ý định như vậy. Nhưng cho đến đầu năm 1427, từ vua Minh cho đến bọn tướng tá xâm lược như Vương Thông vẫn chưa thực sự chịu rút khỏi nước ta. Việc thương lượng bãi binh theo danh nghĩa lập lại nhà Trần lúc bấy giờ chỉ là một âm mưu hoãn binh để tiếp tục những cố gắng chiến tranh mới.

Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ tham mưu nghĩa quân biết rất rõ âm mưu giảng hòa của Vương Thông. Tuy nhiên những người lãnh đạo nghĩa quân vẫn sẵn sàng tiến hành thương lượng với quân địch.

Dù Vương Thông chưa thực tâm chịu rút quân về nước, nghĩa quân vẫn sẵn sàng tiến hành thương lượng là để mở sẵn con đường rút lui cho nhà Minh, đồng thời để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao và chính trị nhằm phân hóa và làm suy yếu hàng ngũ địch kết hợp với cuộc đấu tranh vũ trang đang phát triển như vũ bão của quân dân ta.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:17:58 PM

Để chuẩn bị danh nghĩa cho việc giao thiệp với nhà Minh, tháng 12 năm 1426, Lê Lợi lập Trần Cảo lên làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Khánh. Thực ra Trần Cảo vốn là Hồ Ông bấy lâu trốn tránh trong nhà Cầm Quý ở châu Ngọc Ma và tự xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ Tông (1370-1372). Đó là một người không có tài năng và công lao gì đối với cuộc kháng chiến, nhưng vì đã mạo xưng là con cháu nhà Trần nên được Lê Lợi lập lên làm vua trên danh nghĩa để tiện việc giao thiệp với nhà Minh. Vị vua Trần này tạm đóng ở núi Không Lộ (huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây), bên cạnh có Bùi Quốc Hưng bề ngoài là người giúp việc, nhưng bên trong là người giám sát mọi hành động của nhà vua. Trong giấy tờ giao thiệp với nhà Minh, Lê Lợi tạm xưng là vệ quốc công, coi như là người phụ tá của Trần Cảo.

Tháng 1 năm 1427, Vương Thông sai sứ giả là Nguyễn Nhậm mang thư ra xin giảng hòa với nghĩa quân. Nhận được thư, Lê Lợi nói với mọi người rằng: "Lời ấy thật hợp ý ta. Vả lại binh pháp nói rằng: không đánh mà khuất phục được người, đấy là mưu kế hay nhất”1. Công việc thương lượng giảng hòa được đề ra bắt đầu từ đó. Về phía nghĩa quân, Nguyễn Trãi là người thay mặt Lê Lợi trực tiếp đảm nhiệm công việc ngoại giao này. Đó là cả một cuộc đấu tranh ngoại giao và chính trị rất gay go, phức tạp với kẻ thù.

Sau một thời gian thương thuyết, hai bên tạm thời thỏa thuận với nhau về điều kiện giảng hòa như sau:

Về phía nghĩa quân, sẽ sửa sang đường sá, cầu cống và cung cấp phương tiện, lương thực đầy đủ cho quân Minh rút về nước; sẽ cử sứ giả sang nhà Minh chịu "quy hàng phục tội"2 có nghĩa là chịu triều cống và thần phục về danh nghĩa, chịu lập con cháu nhà Trần làm vua để nhà Minh phong vương.

Về phía Vương Thông thì nhận sẽ rút quân về nước, trao trả lại các thành trì cho ta, mà trước hết là rút quân các thành từ Thanh Hóa trở vào tập trung về Đông Quan rồi từ đó, rút về nước.

Sau đó, Lê Lợi sai sứ giả cùng với đại diện của Vương Thông mang Biểu cầu phong3 sang nhà Minh xin lập Trần Cảo làm vua theo tờ chiếu của Minh Thành Tổ. Mặt khác, Lê Lợi còn ra lệnh nới rộng vòng vây cho phép "quân Minh được đi lại mua bán, không khác gì dân thường"4. Những việc làm đó chứng tỏ rõ thiện chí hòa bình của nghĩa quân. Trong những bức thư gửi cho tướng Minh, Nguyễn Trãi vạch rõ rằng việc thương lượng thành công thì sớm kết thúc chiến tranh, điều đó không những có lợi cho nhân dân ta mà còn có lợi cho nhân dân và quân lính nhà Minh.

Nhưng trong việc giảng hòa này, Vương Thông đã bộc lộ rõ bản chất lật lọng, ngoan cố của một tên tướng xâm lăng tham tàn. Hắn bề ngoài thì nói thương lượng, nhưng bên trong lại lo cố thủ và cầu cứu viện binh. Hắn bất đắc dĩ phải nhận điều kiện giảng hòa rút quân và phái người cùng với đại biểu của nghĩa quân đến các thành từ Thanh Hóa trở vào tuyên bố lệnh đình chiến rút quân. Nhưng trong lúc đó ở thành Đông Quan, hắn vẫn tiếp tục đào hào, cắm chông và sai hàng chục người bí mật mang thư bọc kín trong sáp lẻn về nước xin cứu viện. Nghĩa binh đã đón đường bắt sống được bọn quân lính ấy và tìm thấy mật thư của Vương Thông.
_____________________________________
1, 4. Toàn thư.
2. Thư trả lời tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ, Quân trung từ mệnh tập.
3. Biểu cầu phong này do Nguyễn Trãi viết, chép lại trong Quân trung từ mệnh tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:19:23 PM

Lén lút phái người về nước không được, Vương Thông lại lợi dụng việc cử người đi theo sứ giả của nghĩa quân dâng biểu cầu phong lên nhà Minh để xin viện binh. Lê Lợi lập tức ra lệnh bắt giữ người của chúng để vạch trần thái độ lật lọng của Vương Thông.

Trước thái độ và hành động gian trá của địch, Lê Lợi ra lệnh khép chặt vòng vây quanh thành Đông Quan. Quân ta mai phục, bắt sống hơn 3.000 quân địch và 500 con ngựa. Đầu năm 1427, Lê Lợi dời đại bản doanh lên Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội), đối diện với thành Đông Quan qua sông Nhị. Tại đây, Lê Lợi, Nguyễn Trãi trực tiếp chỉ đạo việc vây hãm thành Đông Quan và cuộc đấu tranh vừa đánh vừa đàm với địch. Lê Lợi sai dựng một lầu cao ngang tháp Báo Thiên để quan sát tình hình địch ở trong thành.

Bốn đạo quân Lam Sơn áp sát bốn cửa thành Đông Quan. Phía sau là ba trại quân đóng ở ba mặt: Cảo Động (Từ Liêm, Hà Nội) ở phía tây bắc, Sa Đôi (Từ Liêm, Hà Nội) ở phía tây và Tây Phù Liệt ở phía nam. Phía đông bên kia sông Nhị, là một hệ thống chiến lũy và doanh trại của nghĩa quân, vừa bảo vệ đại bản doanh Bồ Đề, vừa ngăn chặn không cho quân địch liên hệ với các thành lũy phía bắc.

Tuy vậy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi tiếp tục cuộc đấu tranh hòa nghị với địch. Thực chất đó là một cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao nhằm vạch trần bản chất phi nghĩa, ngoan cố của kẻ thù, vận động, thuyết phục chúng, đồng thời mở sẵn lối thoát cho triều Minh khi kết thúc chiến tranh. Đó là chủ trương mà trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi gọi là: "Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất" (Ta mưu trí đánh dẹp bằng cách đánh vào lòng người, khiến không đánh mà quân giặc phải tự khuất phục). "Đánh vào lòng người" ở đây là đánh vào lòng giặc, là địch vận.

Tuy nhiên, Vương Thông vẫn lợi dụng những chỗ sơ hở của nghĩa quân, mở một số cuộc phản kích, cố tạo ra vài thắng lợi nhỏ rồi khuếch đại lên để mong giữ tinh thần quân lính.

Ngày 4 tháng 3 năm 1427, Phương Chính tập kích doanh trại Cảo Động.

Ngày 13 tháng 3 năm 1427, một toán quân Minh lẻn ra đánh doanh trại Sa Đôi.

Ngày 6 tháng 4 năm 1427, Vương Thông tự đem một đội quân tinh nhuệ, bất ngờ tập kích doanh trại Tây Phù Liệt.

Ngoài Đông Quan, quân Minh còn chiếm giữ 12 thành: Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, Cổ Lộng, Điêu Diêu, Tam Giang, Thị Cầu, Xương Giang, Chí Linh, Khâu Ôn. Đối với các thành lũy này, chủ trương chung của nghĩa quân cũng là vừa vây hãm vừa dụ hàng, nghĩa là kết hợp tiến công quân sự với địch vận, được nâng lên thành thế trận chiến lược.

Năm thành từ Thanh Hóa trở vào đã bị vây hãm từ năm 1425. Các thành ở phía bắc bắt đầu bị vây hãm vào khoảng cuối năm 1425, đầu năm 1426.

Đối với quân Minh, Nguyễn Trãi chỉ rõ thế tất thắng của ta, thế thất bại của địch, vạch trần cái "bội ước thất tín" của Vương Thông, cái "cơ táng loạn" của triều đình nhà Minh và khuyên bảo: "Các ngươi nếu biết kéo quân ra thành cùng ta hòa hảo thân tình, thì ta coi các ngươi nghĩa như anh em ruột thịt, nào chỉ những bảo toàn tính mệnh vợ con mà thôi đâu!". Mặt khác, Nguyễn Trãi cũng nghiêm khắc cảnh cáo trước: "Nếu không thế, tùy các ngươi. Trong khoảng sớm tối sẽ khắc thấy nhau. Đến lúc bấy giờ, hối cũng không kịp"1.
____________________________________
1. Nguyễn Trãi, Toàn tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười, 2016, 04:19:49 PM

Phương thức đấu tranh chung là vừa vây hãm, vừa dụ hàng, nhưng yêu cầu đối với từng loại thành có khác nhau.

Trong số 12 thành, quân địch còn cố thủ, có những thành nằm sâu trong hậu phương của ta, cách xa các đường tiếp viện của quân Minh, như thành Chí Linh, Cổ Lộng và các thành từ Thanh Hóa trở vào. Về mặt quân sự những thành này ở vào vị trí hoàn toàn bị cô lập và không thể tiếp ứng, phối hợp với viện binh địch. Nghĩa quân chủ trương kết hợp bao vây với địch vận, buộc quân địch trong các thành ấy phải đầu hàng.

Đến đầu năm 1427, các thành Thuận Hóa, Tân Bình Nghệ An, Diễn Châu lần lượt đầu hàng. Chỉ còn thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh, quân địch dù ngoan cố giữ thành, nhưng lực lượng càng ngày càng suy yếu, kiệt quệ và khi viện binh sang, không dám hành động gì.

Những thành khác nằm trên hai trục đường tiếp viện của quân Minh đến Đông Quan. Đó là thành Tam Giang (Vĩnh Phúc và Phú Thọ) - trên trục đường Vân Nam - Đông Quan và các thành Khâu Ôn (Lạng Sơn), Xương Giang (Bắc Giang), Thị Cầu (Bắc Ninh), Điêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội) trên trục đường Quảng Tây - Đông Quan. Những thành này đóng vai trò như những nhịp cầu đón tiếp và dẫn dắt quân địch tiến vào Đông Quan. Vì vậy, để triệt để cô lập Đông Quan và chuẩn bị chiến trường diệt viện, nghĩa quân chủ trương vừa vây hãm, vừa dụ hàng, nhưng nhất thiết phải xóa sạch trước khi viện binh sang. Trường hợp những thành ngoan cố không chịu đầu hàng thì kiên quyết tiến công hạ thành bằng sức mạnh quân sự.

Kết quả là tháng 2 năm 1427, thành Điêu Diêu đầu hàng, tháng 3 thành Thị Cầu đầu hàng, tháng 4 thành Tam Giang đầu hàng, chỉ có hai thành Khâu Ôn và Xương Giang nhất định không chịu ra hàng, quân địch liều chết cố thủ chờ viện binh.

Khâu Ôn là một thành gần biên giới Quảng Tây. Thành đã bị quân ta do Trần Lựu và Lê Bôi chỉ huy, vây hãm từ cuối năm 1426. Tháng 2 năm 1427, quân ta mở cuộc tiến công hạ thành. Quân địch một số tháo chạy về Quảng Tây, một số bị tiêu diệt tại chỗ.

Xương Giang là một thành lũy vào loại kiên cố của quân Minh, lại ở vào một vị trí trọng yếu trên con đường Quảng Tây - Đông Quan.

Cuối năm 1426, một lực lượng nghĩa quân khá mạnh do các tướng Lê Sát, Lý Triện, Nguyễn Đình Lý, Lê Thụ, Lê Lãnh chỉ huy, được lệnh tiến lên vây hãm thành Xương Giang. Nguyễn Trãi đã hai lần viết thư dụ hàng và cho hàng tướng Thái Phục đến dưới chân thành khuyên bảo. Nhưng quân địch dựa vào kiến trúc phòng vệ chắc chắn, binh lực nhiều và lương thực dự trữ sẵn, kiên quyết cố thủ chờ viện binh.

Tháng 9 năm 1427, Lê Lợi điều thêm quân và giao cho các tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Nguyễn Đình Lý phải tổ chức công phá, gấp rút hạ thành Xương Giang. Ngày 28 tháng 9 năm 1427, quân ta dùng thang đột nhập vào thành. Toàn bộ quân địch bị diệt và bị bắt sống. Bọn tướng Minh là Lý Nhậm, Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Trí, Lưu Thuận, Lưu Tử Phụ phải tự tử.

Như vậy là cho đến trước khi viện binh sang, quân Minh ở nước ta chỉ còn giữ được bốn thành: Đông Quan, Chí Linh, Cổ Lộng và Tây Đô. Quân địch tuy liều chết cố thủ, nhưng sự vây hãm lâu ngày kết hợp với những đòn tiến công địch vận đã làm chúng rã rời, suy nhược, mất hết khả năng hành động phối hợp với viện binh. Cả đất nước đã được chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu có ý nghĩa quyết định tiêu diệt viện binh của nhà Minh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:34:12 AM

Câu hỏi 19: Trình bày chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang trận quyết chiến chiến lược lớn nhất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn?

Trả lời:


Cuối năm 1426, tin Vương Thông thất bại thảm hại ở Tốt Động - Chúc Động được truyền về triều đình nhà Minh và tiếp theo đó là những thư cầu cứu xin viện binh của Vương Thông. Nghe những tin đó, "Minh sử” phải thừa nhận rằng vua nhà Minh “sợ lắm".

Trước những khó khăn ở trong nước và những thất bại liên tiếp ở Đại Việt, làm cho vua Tuyên Tông nhà Minh khi mới lên ngôi đã có lúc phải nghĩ đến việc bãi binh ở nước ta. Tuy nhiên, nhà Minh vẫn chưa từ bỏ âm mưu nô dịch nước ta, vẫn muốn gây chiến tranh mới hòng duy trì nền đô hộ ở thuộc quốc.

Cũng như những lần trước, nhà Minh cho rằng quân Minh thất bại là vì tướng tá bất tài. Vì vậy, họ hy vọng nếu thay tướng, thêm quân thì có thể cứu vãn được tình thế.

Nhà Minh tăng viện:

Tháng 1 năm 1427, nhà Minh quyết định điều hai đạo viện binh sang cứu nguy cho Vương Thông.

Đạo viện binh thứ nhất do An Viễn hầu Liễu Thăng làm tổng binh với chức chinh lỗ phó tướng quân, từ Quảng Tây tiến sang. Trong bộ chỉ huy của Liễu Thăng có Bảo Định bá Lương Minh làm tả phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu tham tướng.

Đạo viện binh thứ hai do Kiềm Quốc công Mộc Thạnh làm tổng binh với chức chinh nam tướng quân, tiến sang theo đường Vân Nam. Trong bộ chỉ huy của Mộc Thạnh, có An Hưng bá Từ Hạnh làm tả phó tổng binh, Tân Ninh bá Đàm Trung làm hữu phó tổng binh.

Tổng số quân của hai đạo viện binh, theo sử ta, là 15 vạn quân và 3 vạn ngựa. Đạo quân Liễu Thăng gồm 10 vạn quân và 2 vạn ngựa. Đạo quân Mộc Thạnh gồm 5 vạn quân và 1 vạn ngựa1.

Trong bộ chỉ huy viện binh, vua Minh còn đặc biệt cử hai thượng thư đi theo làm tư vấn cho Liễu Thăng. Đó là thượng thư bộ binh Lý Khánh giữ chức tham tán quân vụ, người mà vua Minh đã khen ngợi là "lão thành và lịch luyện", và thượng thư bộ công Hoàng Phúc, tên quan đô hộ cáo già đã từng sống lâu năm ở nước ta.

Một lúc điều 15 vạn viện binh, lần tiếp viện lớn nhất trong 25 năm đô hộ của chúng, là một cố gắng chiến tranh rất lớn của nhà Minh. Cuộc chiến đấu tiêu diệt viện binh, đập tan cố gắng chiến tranh đó sẽ có ý định đoạt đối với sự nghiệp cứu nước của dân tộc ta.

Khi nghe tin viện binh của địch sắp sang, một số tướng yêu cầu Lê Lợi cho họ đánh gấp thành Đông Quan "để tuyệt nội ứng", rồi tập trung lực lượng tiêu diệt viện binh. Một vấn đề có tầm quan trọng đến sự chỉ đạo chiến lược được đặt ra là: hạ thành trước hay diệt viện trước.

Bộ chỉ huy nghĩa quân không chấp nhận đề nghị hạ thành trước, mà vẫn khẳng định chủ trương "vây thành diệt viện". Lê Lợi đã phân tích tình hình một cách sâu sắc và giải thích chủ trương đó như sau: "Đánh thành là hạ sách. Ta đánh vào thành vững, hàng năm hàng tháng không hạ được, quân ta sức mỏi, khí nhụt. Nếu viện binh giặc lại đến trước mặt, sau lưng đều có giặc. Đó là con đường nguy! Sao bằng dưỡng sức chứa uy để đợi viện binh giặc. Viện binh bị phá thì thành tất phải hàng. Thế là làm một mà được hai. Đấy là kế vạn toàn vậy"2.

Như vậy là bộ chỉ huy tối cao kiên quyết giữ những chủ trương tiếp tục vây hãm thành Đông Quan; đồng thời tập trung một lực lượng cần thiết để chặn đánh tiêu diệt viện binh của địch. Sau khi viện binh đã bị diệt thì quân địch trong các thành tất nhiên phải đầu hàng, và dù cho có thành nào đó chúng ngoan cố chống cự thì quân ta cũng thừa sức để hạ thành.
________________________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Quý Đôn - Toàn tập, Lam Sơn thực lục chép số viện binh của nhà Minh đến 20 vạn.
2. Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:37:49 AM

Kế hoạch diệt viện của quân đội Lam Sơn:

Để chuẩn bị diệt viện, trước hết quân đội Lam Sơn khép chặt hơn nữa vòng vây thành Đông Quan. Một vài cứ điểm quân sự của địch ở phía ngoài thành đều bị đánh chiếm. Quân ta đắp thêm thành Cơ Xá ở phía đông, chiến lũy Vạn Xuân ở phía nam để khống chế mọi hoạt động của địch. Lê Lợi hạ lệnh cho lực lượng nghĩa quân làm nhiệm vụ vây hãm Đông Quan "canh giữ cho nghiêm, ngày đêm tuần xét"1.

Với chủ trương "vây thành diệt viện" thì chiến trường chủ yếu là miền núi rừng trên hai trục đường tiếp viện của quân Minh từ Quảng Tây và Vân Nam sang. Ở đây, công việc chuẩn bị diệt viện cũng đã được xúc tiến khẩn trương.

Nhưng đến nay, 15 vạn viện binh của địch chia làm hai đạo, theo hai đường tiến sang, thì một vấn đề cụ thể có ý nghĩa chiến lược quan trọng được đặt ra là chọn hướng chiến lược, xác định đối tượng quyết chiến chủ yếu như thế nào?

Về đạo quân Mộc Thạnh, Lê Lợi đã đánh giá: "Mộc Thạnh tuổi già, trải việc đã nhiều, vốn đã nghe tiếng ta, tất ngồi xem Liễu Thăng thành bại chứ không dám khinh động"2. Mộc Thạnh trước đây đã cầm quân cùng với Trương Phụ sang xâm lược nước ta và sau đó, hai lần đem quân sang tiếp viện, một lần bị đại bại ở Bô Cô năm 1408. Về chức và tước, Mộc Thạnh cao hơn Liễu Thăng, nhưng chỉ thống lĩnh 5 vạn quân sang phối hợp với Liễu Thăng. Là một tướng già đã từng trải, Mộc Thạnh tỏ ra dè dặt và luôn luôn nghe ngóng, chờ xem đạo quân Liễu Thăng tiến quân thế nào rồi mới hành động.

Đánh giá đúng vị trí của đạo quân Mộc Thạnh và nắm vững thái độ, tư tưởng của viên tướng chỉ huy, bộ chỉ huy nghĩa quân chỉ sử dụng một lực lượng cần thiết để kìm giữ chúng ở ải Lê Hoa. Tại đây, Lê Lợi phái các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Khuyển, Lê Trung đem quân lên tổ chức trận địa phòng ngự, làm nhiệm vụ kiềm chế. Quân ta được mật chỉ đặt phục binh để đợi, chớ vội giao chiến nghĩa là không tiến công, tránh giao tranh lớn, kiên trì mai phục và kiềm chế, chờ dịp đánh địch.

Trên cơ sở nhận định trên, Lê Lợi đã bố trí lực lượng và chuẩn bị sẵn một thế trận đánh thắng hoàn toàn và tiêu diệt gọn quân Liễu Thăng trên đoạn đường tiến quân của địch từ Pha Lũy đến Xương Giang.

Tại Pha Lũy, tướng Trần Lựu được lệnh tổ chức những trận đánh nhử địch nhằm kích động tính chủ quan của Liễu Thăng và dẫn dắt chúng vào trận địa mai phục ở Chi Lăng.

Các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ, Phạm Văn Liêu đem 1 vạn quân tinh nhuệ và 5 voi chiến lên bố trí mai phục sẵn ở ải Chi Lăng.

Các tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đem 3 vạn quân lên tiếp ứng và bố trí những trận đánh phía dưới Chi Lăng.

Tại Xương Giang, tướng Trần Nguyên Hãn gấp rút biến thành lũy thành một chiến lũy kiên cố chặn đứng đường tiến quân của địch về Đông Quan. Một khối lượng lương thực lớn đã được tích trữ sẵn ở đây. Số quân địch còn lại sẽ bị vây hãm và tiêu diệt trước thành Xương Giang. Đó là điểm cuối cùng của chiến trường diệt viện.

Ngoài quân đội Lam Sơn, lực lượng vũ trang của các làng xã cũng được huy động vào các trận đánh diệt viện.

Tại dinh Bồ Đề, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huv vừa chỉ đạo việc vây hãm thành Đông Quan, vừa chỉ đạo toàn bộ chiến dịch tiêu diệt viện binh. Một lực lượng dự bị mạnh có mặt ở đây để sẵn sàng tiếp ứng cho các mặt trận khi cần thiết.

Khi viện binh của địch tiến vào biên giới nước ta cũng là lúc một thế trận đã bày sẵn để đợi chúng và quân dân ta đã đứng ở vị trí chiến đấu trong tư thế quyết chiến quyết thắng.
___________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư.
2. Lam Sơn thực lục trong Nguyễn Trãi, Toàn tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:41:27 AM

Những trận nhử địch của quân đội Lam Sơn:

Ngày 8 tháng 10 năm 1427, đạo quân Liễu Thăng tiến đến cửa ải Pha Lũy ở vùng biên giới.

Tướng Trần Lựu giữ cửa ải Pha Lũy, theo kế hoạch đã định, vừa đánh vừa giả thua, rút về Khâu Ôn (Lạng Sơn). Liễu Thăng tung quân đuổi theo chiếm lấy Khâu Ôn. Tại đây, Liễu Thăng nhận được bức thư của Nguyễn Trãi. Trong thư, Nguyễn Trãi nhân danh Trần Cảo, dùng lời lẽ mềm mỏng xin Liễu Thăng đóng đại quân ở biên giới để "xét rõ sự tình thời thế" rồi "làm sớ tâu rõ công việc về triều đình" để "có thể ngồi yên mà hưởng thành công"1. Liễu Thăng càng kiêu căng, không thèm đọc thư, gửi thẳng về triều, rồi lập tức tiến quân.

Trần Lựu lui về giữ ải Lưu (Chi Lăng, Lạng Sơn). Quân địch tiến đánh ải Lưu, Trần Lựu lại rút về ải Chi Lăng.

Những trận đánh nhử địch tài giỏi của Trần Lựu kết hợp với những bức thư "đánh vào lòng người” hết sức mưu trí của Nguyễn Trãi, đã làm cho Liễu Thăng và đạo quân 10 vạn của hắn tưởng là "đắc thắng" nhưng thực ra đã "thua kế” quân ta.

Trận Chi Lăng:

Ải Chi Lăng là cửa ải xung yếu nhất trên con đường từ Pha Lũy đến Đông Quan, cách Pha Lũy khoảng 60km.

Toàn bộ ải Chi Lăng như một thung lũng nhỏ, hình bầu dục, dài khoảng 4km theo hướng bắc - nam, chỗ rộng nhất ở giữa khoảng hơn 1km theo hướng đông - tây. Phía tây, vách núi đá vôi dựng đứng bên dòng sông Thương. Phía đông là dãy núi Thái Hòa và Bảo Đài trùng trùng điệp điệp. Lòng ải đã hẹp, lại có 5 ngọn núi đá nhỏ: Hàm Quỷ, Nà Nông, Nà sản, Kỳ Lân, Mã Yên. Hai phía bắc và nam, mạch núi khép lại, tạo thành hai cửa ải hiểm trở. Ải Chi Lăng, với vị trí và địa thế của nó, đã bao lần là mồ chôn quân cướp nước từ phương Bắc xuống. Trong kháng chiến chống Tống đời Lý và chống Nguyên - Mông đời Trần, quân dân ta đã từng lợi dụng nơi đây để chặn đánh và tiêu diệt quân xâm lược.

Bộ chỉ huy quân đội Lam Sơn đã chọn ải Chi Lăng làm trận địa đánh đòn phủ đầu hết sức bất ngờ vào đạo viện binh Liễu Thăng. Một vạn quân tinh nhuệ trong đó có 5 voi chiến, 100 ngựa, đã chiếm giữ các vị trí lợi hại, mai phục sẵn sàng đợi địch. Đó là thế trận "phục binh giữ hiểm, đập gãy tiền phong" (Bình Ngô đại cáo).

Tại ải Lưu, Liễu Thăng "thừa thắng" đuổi theo quân ta chiếm luôn ải Chi Lăng. Trong hàng ngũ tướng giặc nhiều người lo ngại, sợ trúng kế quân ta, hết lời khuyên Liễu Thăng nên thận trọng. Tham tán quân vụ Lý Khánh đang ốm, cũng nương dậy can gián Liễu Thăng không nên khinh địch. Nhưng với tính chủ quan, kiêu ngạo đã bị kích động cao độ, Liễu Thăng gạt bỏ mọi lời khuyên can, hạ lệnh tiếp tục tiến quân.

Ngày 10 tháng 10 năm 1427 (ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi), Liễu Thăng đích thân dẫn hơn 100 quân kỵ mã xông lên trước đội quân tiên phong, hung hăng mở đường tiến vào Chi Lăng. Tướng Trần Lựu đã rút về Chi Lăng, lại đem quân ra đón đánh, rồi "giả cách thua chạy". Trên đoạn đường dài từ Pha Lũy đến Chi Lăng, Liễu Thăng chỉ thấy đội quân Trần Lựu vừa đánh vừa chạy. Hắn càng tức tối, thúc quân đuổi sát theo Trần Lựu, lao thẳng vào trận địa mai phục của ta.

Phía nam ải Chi Lăng có ngọn núi Mã Yên. Dưới chân núi là một cánh đồng lầy lội, có cầu bắc qua, Liễu Thăng và hơn 100 kỵ binh vừa qua cầu thì cầu bị sập. Đội quân tiên phong theo chủ tướng, chưa kịp qua cầu. Đội hình của địch bị chia cắt.

Đúng lúc đó, phục binh của ta bốn bề nổi dậy, bất ngờ xông lên diệt địch. Hơn 100 kỵ binh của địch bị diệt gọn. Liễu Thăng bị trúng lao chết bên sườn núi Mã Yên. Tin chủ soái bị giết làm cho quân địch càng thêm hoảng loạn. Quân ta thừa thắng, chia cắt đội hình của địch ra tiêu diệt. Các đội dân binh của nhân dân địa phương cùng phối hợp chiến đấu có hiệu quả. Đặc biệt, "Đội tuần đinh tuần tráng" của Lý Huề ở Đồng Mỏ đã đánh giặc rất dũng cảm và lập nhiều chiến công.

Kết quả, tại Chi Lăng, quân và dân ta dưới quyền chỉ huy của các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Trần Lựu... đã tiêu diệt hơn 1 vạn quân tiên phong của địch.
___________________________________
1. Nguyễn Trãi, Toàn tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:42:38 AM

Trận Cần Trạm:

Sau khi Liễu Thăng bị giết, phó tổng binh là Bảo Định bá Lương Minh lên thay, cầm quyền chủ soái. Nguyễn Trãi lại viết thư cho Lương Minh khuyên nên lui quân. Nhưng còn 9 vạn quân trong tay, bọn tướng giặc vẫn còn ngoan cố, tiếp tục thực hiện mưu đồ xâm lược. Lương Minh cố gắng chấn chỉnh lại đội ngũ và ra lệnh tiến quân.

Phía dưới Chi Lăng, các tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đã đem 3 vạn quân lên bày sẵn một trận địa mai phục thứ hai ở Cần Trạm để đợi giặc.

Cần Trạm (Lạng Giang, Bắc Giang) ở vào cuối dãy núi Bảo Đài, nơi tiếp giáp giữa vùng thượng du và trung du. Đây là một dịch trạm trên con đường Đông Quan - Pha Lũy. Sau khi chiếm nước ta, quân Minh lập lên ở đây một đồn trại để bảo vệ dịch trạm và án ngự con đường giao thông huyết mạch nối liền với Trung Quốc. Di tích thành Cần Trạm hiện nay vẫn còn.

Sau trận Chi Lăng, các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú... rút quân ra khỏi ải, làm nhiệm vụ mới: bám sát địch, chờ thời cơ công kích vào phía sau đội hình quân địch.

Ngày 15 tháng 10 năm 1427 (ngày 25 tháng 9 năm Đinh Mùi), quân địch lọt vào trận địa mai phục ở Cần Trạm. Ba vạn phục binh của ta do tướng Nguyễn Đình Lý Lê Văn An chỉ huy, từ nhiều ngả xông lên đánh tạt ngang vào đội hình hành quân của địch. Cùng lúc đó, hơn 1 vạn quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú... đánh mạnh vào hậu quân địch.

Chiến dịch xảy ra trên một quãng đường dài khoảng 5km, dấu vết còn bảo tồn đến nay là những tên đất như Bãi Chiến ở đông bắc thành Cần Trạm, Nghè Trận ở gần Kép... Phó tổng binh Lương Minh mới lên nắm quyền chỉ huy được 5 ngày, lại bị trúng lao chết ngay tại trận. Khoảng hơn một vạn quân địch bị tiêu diệt. Quân ta thu được rất nhiều lương thực, vũ khí...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:43:43 AM

Trận Phố Cát:

Sau trận Cần Trạm, quân ta lại nhanh chóng, theo đường tắt, vận động về phía sau để tổ chức những trận đánh mới.

Quân địch bị bồi thêm một đòn thất bại nặng nề. Lực lượng bị diệt chưa thật nhiều nhưng thế của địch bắt đầu suy sụp, chuyển sang chống đỡ một cách bị động. Đô đốc Thôi Tụ giữ chức hữu tham tướng, lên nắm quyền chỉ huy. Thôi Tụ cùng với thượng thư bộ binh Lý Khánh và thượng thư bộ công Hoàng Phúc, thu thập quân lính, cố gượng tiến về phía thành Xương Giang mà chúng tưởng đang ở trong tay quân Minh.

Phía nam Cần Trạm là địa hình trung du, đồi núi thoai thoải và thưa dần. Đường hành quân của địch xuyên qua các thung lũng hẹp và dài, hai bên là đồi thấp và rừng thưa. Quân ta lợi dụng địa thế và đội hình hành quân kéo dài của 7 - 8 vạn quân địch, tổ chức những trận đánh vào cạnh sườn, nhất là vào đội quân lương đi sau của địch. Đó là lối đánh "dùng kỳ binh chặn đường, cắt ngang lương đạo" (Bình Ngô đại cáo).

Ngày 18 tháng 10 (ngày 28 tháng 9 năm Đinh Mùi) quân ta đánh một trận lớn ở Phố Cát (gần Phố Tráng, Lạng Giang, Bắc Giang). Đồi Mả Ngô còn như lưu lại dấu tích của trận đánh này.

Những trận đánh liên tiếp như vậy làm cho quân địch bị tiêu diệt thêm khoảng một vạn quân, mất thêm nhiều quân lương, vũ khí. Quân ta “bắt được lừa, ngựa, trâu, quân nhu, khí giới không biết bao nhiêu mà kể"1.

Sau trận Phố Cát, thượng thư bộ binh giữ chức tham tán quân vụ là Lý Khánh, phần vì ốm nặng, phần vì lo sợ và tuyệt vọng đã "kế cùng phải thắt cổ", lại thêm một chủ tướng nữa bị chết.

Chỉ sau 10 ngày (8 đến 18-10-1427) đặt chân lên đất nước ta, đạo viện binh chủ yếu của nhà Minh đã bị những tổn thất hết sức nặng nề. Nguyễn Trãi mô tả thế trận và những thắng lợi của ta trong Bình Ngô đại cáo như sau:

"Ta đã chọn phục binh giữ hiểm, đập gãy tiền phong
Sau lại dũng kỳ binh chặn đường, cắt ngang lương đạo,
Ngày mười tám, Liễu Thăng bị đánh, Chi Lăng trúng kế.
Ngày hai mươi, Liễu Thăng bị bại, Mã Yên phơi thây.
Ngày hai mươi lăm, bá tước Lương Minh trận hãm phải bỏ mình.
Ngày hai mươi tám, thượng thư Lý Khánh kế cùng phải thắt cổ”.


Quân địch đã bị tiêu diệt khoảng 3 vạn quân, các tướng chủ chốt lần lượt bị chết. Số quân còn khoảng 7 vạn, nhưng thế và lực đã hoàn toàn suy sụp. Từ tướng đến quân đều hoang mang, tuyệt vọng.

Nhưng đến gần Xương Giang, quân địch mới biết rằng thành này đã trở thành pháo đài sừng sững của quân ta, chắn ngang đường tiến quân của chúng. Phía sau, quân ta tiếp tục đuổi đánh. Tiến, thoái hết đường. Quân địch hết sức mệt mỏi, hoang mang. Thôi Tụ, Hoàng Phúc đành phải đóng quân giữa một cánh đồng trống trải cách thành Xương Giang khoảng 3km về phía bắc. Đấy là một vùng địa hình bằng phẳng với những quả đồi thấp và phần lớn là đồng ruộng, xóm làng của dân, nằm giữa sông Thương và sông Lục Nam. Quân địch phá nhà cửa của dân làm doanh trại và gấp rút đào hào, đắp lũy, tổ chức phòng ngự để lo đối phó với những cuộc tiến công của quân ta.
____________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:45:02 AM

Đánh tan quân Mộc Thạnh:

Theo hướng kiềm chế, Mộc Thạnh đang đóng quân ở vùng biên giới để chờ tin tức của Liễu Thăng. Tại ải Lê Hoa, quân ta do các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung chỉ huy, chiếm lĩnh những nơi yếu hại, bố trí mai phục để làm nhiệm vụ ngăn chặn địch và sẵn sàng tiến công khi thời cơ đến. Biết rõ thái độ dè dặt của Mộc Thạnh, Nguyễn Trãi gửi thư vạch rõ những thất bại tổn hại nặng nề của quân Minh ở nước ta và dùng lời lẽ ôn tồn khuyên Mộc Thạnh xin triều đình bãi binh.

Sau khi đã giam chặt số quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang, bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương phải kịp thời tổ chức tiến công đánh tan đạo quân Mộc Thạnh.

Lê Lợi sai một tên chỉ huy, ba tên thiên hộ bắt được trong đạo quân Liễu Thăng, mang sắc thư, ấn tín của Liễu Thăng cùng một bức thư của Nguyễn Trãi, chuyển cho Mộc Thạnh. Trong thư, Nguyễn Trãi chủ yếu báo tin cho Mộc Thạnh biết sự thất bại thảm hại của Liễu Thăng vì "mạo hiểm tiến quân vào sâu, chuyên việc chém giết, định diệt hết không để sót người nào" nên "bị chết tại trận tiền, không biết lẫn lộn vào đâu" và "Bảo định bá, Thôi đô đốc, Lý thượng thư cũng nối nhau chết nốt"1.

Đòn tiến công "đánh vào lòng người" đã có tác dụng lớn. Đọc thư, lại tận mắt nhìn thấy những chứng tích thất bại của Liễu Thăng, tướng Mộc Thạnh vô cùng khiếp sợ. Đang đêm, Mộc Thạnh vội vàng đem quân tháo chạy.

Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng lập tức tung quân ra đuổi đánh. Mộc Thạnh dù tháo chạy, nhưng cũng phải bị đánh cho tan nát thì mới đè bẹp được ý chí xâm lược của quân thù.

Quân ta thắng lớn ở Lãnh Câu và Đan Xá, giết chết hơn 1 vạn, bắt sống hơn 1.000 quân địch và thu được hơn 1.000 ngựa cùng rất nhiều vũ khí, lương thực và của cải.

Nguyễn Trãi mô tả chiến thắng này trong Bình Ngô đại cáo:

"Bị quân ta chẹn ở Lê Hoa, quân Văn Nam kinh sợ mà trước đã vỡ mật.
Nghe quân Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Lãnh Câu máu chảy thắm dòng, nước sông ấm ức.
Đan Xá thây chồng thành núi, cỏ nội thẫm hồng''.

___________________________________
1. Nguyễn Trãi, Toàn tập (Thực ra lúc đó, đô đốc Thôi Tụ chưa bị chết).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:47:44 AM

Trận Xương Giang kết thúc:

Tại mặt trận chính ở Xương Giang, vòng vây quân ta ngày càng khép chặt. Nguyễn Trãi tiếp tục viết thư dụ hàng, khuyên Thôi Tụ, Hoàng Phúc nên "lui quân ra ngoài bờ cõi". Như thế "bọn các ông có thể không mất tiếng tốt, mà Nam, Bắc từ nay vô sự. Đó không những là sự may cho nước An Nam tôi, cũng là sự may lớn cho cả bàn dân thiên hạ"1.

Quân địch tuy khốn quẫn, nhưng với khối lượng 7 vạn quân, chúng vẫn cố kéo dài thời gian cầm cự, nuôi hy vọng quân Đông Quan hay quân Vân Nam sẽ đến cứu nguy. Nguyễn Trãi biết rõ điều đó: "Chắc các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông Quan sang tiếp ứng chăng? Hay là quân ở Vân Nam sang tiếp ứng chăng?". Nguyễn Trãi chỉ cho chúng biết "Từ Đông Quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư?". Còn quân Vân Nam thì "Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải..., đã lui quân về Vân Nam rồi"2. Nguyễn Trãi hạn cho chúng trong ba ngày phải lui quân: "Các ông, hạn trong ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy"3. Đó là bức thư cuối cùng, lời lẽ kiên quyết và có tính chất như một tối hậu thư.

Sau khi đánh tan đạo quân Mộc Thạnh, bộ chỉ huy nghĩa quân tăng cường thêm lực lượng cho mặt trận Xương Giang và hạ lệnh gấp rút chuẩn bị tiêu diệt toàn bộ số quân địch còn lại, sớm kết thúc chiến tranh. Các tướng Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Trương Lôi được lệnh đem thêm quân tinh nhuệ và voi chiến lên Xương Giang.

Quân và dân ta đã sẵn sàng diệt giặc trong một thế trận mạnh hơn lúc nào hết. Đúng ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi, tức ngày 3 tháng 11 năm 1427, quân dân ta mở trận tổng công kích. Từ bốn phía, hàng vạn quân bộ binh, kỵ binh, tượng binh, nhất loạt tiến công quyết liệt vào khu vực phòng ngự của địch.

      "Một tiếng trống, sạch sanh kình ngạc,
      Hai tiếng trống, tan tác chim muông.
      Tan tổ kiến xoi, bám nơi đê vỡ,
      Nổi gió mạnh, trút sạch lá khô”

                                      (Bình Ngô đại cáo)

Số phận của quân địch được định đoạt nhanh chóng:

      "Đô đốc Thôi Tụ, quỳ gối chịu tội,
      Thượng thư Hoàng Phúc trói tay nộp mình".


Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng với hơn 300 tướng địch và hơn 1 vạn quân bị bắt sống. Hơn 5 vạn quân bị giết chết tại trận. Một số trốn thoát, chạy tán loạn vào rừng, "trong khoảng không đến năm ngày, những người chăn trâu, kiếm củi đều bắt được hết, không sót tên nào"4. Sử triều Minh cũng phải ghi nhận, toàn bộ đạo viện binh Liễu Thăng đều bị giết và bị bắt hết, duy chỉ có viên chủ sự Phan Hậu trốn thoát về nước. Quân ta thu được rất nhiều vũ khí, xe, ngựa, vàng bạc, vải lụa...

Như vậy là sau 27 ngày chiến đấu (từ 8-10 đến 3-11-1427), quân dân ta đã tiêu diệt 10 vạn viện binh của Liễu Thăng và đánh tan tác 5 vạn viện binh của Mộc Thạnh. Chiến thắng của chiến dịch diệt viện, thường gọi là chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang thật hào hùng, oanh liệt.

Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang là thắng lợi oanh liệt của trận quyết chiến chiến lược có ý nghĩa định đoạt của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Bằng thắng lợi đó, quân dân ta đã đập tan một cố gắng chiến tranh lớn nhất của nhà Minh, buộc Vương Thông ở Đông Quan phải đầu hàng và triều đình nhà Minh ở Bắc Kinh phải từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta. Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang đã trở thành một chiến thắng lịch sử được ghi bằng chữ vàng chói lọi trong những trang sử chống ngoại xâm bất diệt của dân tộc ta, cùng với những chiến thắng Bạch Đằng, Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi – Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh...
________________________________________
1-3. Nguyễn Trãi, Toàn tập.
4. Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:51:32 AM

Câu hỏi 20: Trình bày vắn tắt cuộc trao đổi con tin giữa quân đội Lam Sơn và Vương Thông. Hội thề Đông Quan diễn ra như thế nào?

Trả lời:


Sau đại thắng Chi Lăng - Xương Giang, trên đất nước ta, quân địch chỉ còn giữ được ba thành: Đông Quan, Cổ Lộng, Tây Đô. Chúng liều chết cố thủ là do chủ yếu hy vọng vào quân cứu viện của triều đình nhà Minh. Nay hai đạo viện binh đều bị tiêu diệt, niềm hy vọng của quân địch bị sụp đổ.

Lê Lợi sai thông sự Đặng Hiếu Lộc giải tướng giặc là đô đốc Thôi Tụ, thượng thư Hoàng Phúc cùng một số tù binh mang theo chiếc song hổ phù của Liễu Thăng, hai ấn thượng thư bằng bạc của Lý Khánh, Hoàng Phúc và vũ khí, cờ, trống của địch đem đến thành Đông Quan cho Vương Thông và quân lính của chúng nhìn thấy thất bại thảm hại của viện binh. Đồng thời Nguyễn Trãi viết thư nói rõ cho Vương Thông biết thất bại của Liễu Thăng. Bức thư cùng với nhân chứng, vật chứng đã làm cho quân địch từ chủ tướng Vương Thông cho đến quân lính đều vô cùng khiếp sợ.

Sau khi diệt viện, quân đội Lam Sơn có đủ điều kiện và khả năng để hạ thành. Nhưng chủ trương của Lê Lợi, Nguyễn Trãi là muốn tiếp tục vây hãm và kiên trì thuyết phục, buộc chúng phải đầu hàng. Như vậy, vừa bảo đảm giành thắng lợi trong điều kiện ít tổn hại xương máu nhất, vừa mở lối thoát thuận lợi để kết thúc chiến tranh với nhà Minh. Trong hàng ngũ tướng soái nghĩa quân lúc bấy giờ cũng có nhiều người căm ghét quân giặc tàn ngược, trí trá, khuyên Lê Lợi "lấy binh mà đánh thắng", "bắt giết hết không tha". Nhưng Lê Lợi và Nguyễn Trãi trước sau vẫn chủ trương cố gắng đến mức cao độ nhất, vừa uy hiếp vừa thuyết phục, buộc quân địch đầu hàng. Lê Lợi giải thích như sau: "Việc dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên hết (toàn quốc vi thượng). Nay đã cho bọn Vương Thông trở về nói với vua Minh, trả lại đất đai cho ta, không xâm lấn bờ cõi ta, đó là điều ta không cần gì hơn thế nữa. Hà tất phải giết hết bọn chúng để gây oán với nước lớn làm gì"1.

Vương Thông đã lâm vào cảnh "kế cùng, lực kiệt", một mặt sai người mang thư ra "xin giảng hòa, mở cho đường về". Nhưng mặt khác, Vương Thông vẫn còn ngoan cố, nghi ngại và hoảng sợ. Hắn liều lĩnh dốc hết quân trong thành, tự mình cầm quân, mở một cuộc phản kích hòng phá vây về nước. Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, nhử địch vào nơi mai phục, rồi đánh cho tan tác Vương Thông ngã ngựa, suýt bị bắt sống. Quân ta đuổi đánh đến tận cửa Nam thành Đông Quan.

Lê Lợi ra lệnh khép chặt vòng vây, tăng cường các trận địa bao vây quanh thành và cho quân đội áp sát các cửa thành. Quân ta đắp một chiến lũy án ngữ cửa Nam chẹn lối ra vào của địch. Bản thân Lê Lợi đứng ra đốc thúc quân sĩ đắp một chiến lũy từ phường An Hoa đến thẳng cửa Bắc, chỉ trong một đêm là xong. Lê Lợi còn sai các tướng chuẩn bị sẵn mọi thứ vũ khí và phương tiện đánh thành, để trường hợp địch ngoan cố đến cùng thì quân ta sẽ kiên quyết hạ thành.

Nguyễn Trãi đã viết 7 bức thư gửi cho Vương Thông. Nguyễn Trãi nhắc lại "cái họa Liễu Thăng" và chỉ rõ cho Vương Thông tình thế của chúng lúc này: "Nhà lớn gần xiêu, một cây gỗ khôn hay chống đỡ, đê dài sắp vỡ, một vốc đất khó thể chi trì. Nếu không biết lượng sức mà cứ cưỡng làm thì ít khi không thất bại"2. Nguyễn Trãi đã bác bỏ mọi lý lẽ trì hoãn việc đầu hàng của quân Minh và phân tích một cách hết sức ôn tồn, có tình có lý để xóa bỏ những mối ngờ vực, lo lắng của Vương Thông.

Để cho Vương Thông hết nỗi lo ngại, nghi ngờ, Nguyễn Trãi nêu lên việc trao đổi "con tin": "Nếu đại nhân thực cho lời nói của ta là phải thì nên theo lời ước trước, xin được Sơn thái giám sang sông cùng hội họp. Ta cũng sai người thân tín vào thành hầu tiếp để cho lời giao ước được chắc chắn".

Trước đây, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã cho Lê Quốc Trinh và Lê Như Trì vào thành Đông Quan làm con tin. Cũng trong thời gian này, bản thân Nguyễn Trãi đã có lần: "Miệng hổ lăn mình, quyết nghị hòa để hai nước can qua được nghỉ". Đến đây, trong một bức thư gửi Vương Thông, Nguyễn Trãi lại sẵn sàng cùng với Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan để làm yên lòng địch. Bức thư có đoạn viết: "Nhân Chú là con ta, Nguyễn Trãi là mưu sĩ của ta. Tất cả mọi việc phá thành đánh trận đều là công của hai người ấy. Các đại nhân há lại không biết Nhân Chú, Nguyễn Trãi mà làm con tin thì lòng ngờ vực của các đại nhân có thể tiêu tan được chứ"3.

Cuối cùng, Lê Lợi cho chính con trai của mình là Tư Tề cùng với Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan. Và Vương Thông phái Sơn Thọ, Mã Kỳ sang dinh Bồ Đề làm con tin. Bằng việc trao đổi "con tin" như vậy, Vương Thông đã thực sự chịu đầu hàng rút quân về nước.
_______________________________________
1. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử.
2, 3. Nguyễn Trãi, Toàn tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 07:53:04 AM

Trả lời thư Vương Thông, Nguyễn Trãi nói: "Ta tiếp được thư, thấy lòng thành của đại nhân có thể động đến trời đất, cảm được quỷ thần. Quả đúng như lời, thì không những may riêng cho nước An Nam mà cũng là may chung cho cả nhân dân trong thiên hạ. Chí nguyện ta từ đây thỏa mãn rồi, không còn phải nói gì nữa. Xin cùng với các đại nhân giết muông sinh uống máu đối chứng với quỷ thần, rồi sau ta sai người đại đầu mục thân thích của ta hoặc dăm ba đại tiểu đầu mục thay ta đến thành lĩnh ý. Đại nhân thì sai Sơn đại nhân sang sông nói chuyện để cho lời nói được chắc chắn thêm"1.

Như vậy là cuộc đàm phán về việc rút toàn bộ quân địch ra khỏi nước ta đã kết thúc. Hai bên thỏa thuận tổ chức một hội thề để xác nhận những điều đã cam kết.

Hội thề được tổ chức vào ngày 10 tháng 12 năm 1427 (ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi) tại một địa điểm ở phía nam thành Đông Quan. Đó là Hội thề Đông Quan.

Phái đoàn nghĩa quân do Lê Lợi cầm đầu, gồm các tướng: Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bôi, Lê Văn An, Bế Khắc Thiện, Ma Luân.

Phái đoàn quân Minh do Vương Thông cầm đầu, gồm có: Mã Ánh, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Trần Tuấn, Trần Hựu, Chu Kỳ Hân, Quách Vĩnh Thanh, Dực Khiêm, Lục Quảng Bình, Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh, Dương Thời Tập, Quách Đoan.

Trong hội thề, Vương Thông cam kết rút hết quân về nước và hẹn đến ngày 29 tháng 12 năm 1427 (ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi) thì bắt đầu cuộc rút quân.

Cũng trong hội thề đó, hai bên uống máu ăn thề và đọc bài Văn hội thề do Nguyễn Trãi soạn thảo. Bại tướng Vương Thông, thay mặt toàn thể quân địch trịnh trọng tuyên thệ:

"Từ sau khi lập lời thề này, quan tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông quả tự lòng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng để đợi viện binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lý trong bản tâu, đúng lời bàn trước mà làm.

Về phía bọn quan tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề, người phục dịch và các thuyền đã định rồi, cầu đạp đường sá đã sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh, cùng là ngày về đến triều đình, lại không theo sự lý trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An Nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân thì Trời, Đất cùng Danh Sơn, Đại Xuyên và Thần kỳ các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà"
2.

Bài Văn hội thề đã đi vào lịch sử với giá trị như một bản hiệp định rút quân. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của mình, dân tộc ta bằng những thắng lợi quân sự vô cùng oanh liệt đập tan ý chí xâm lược của kẻ thù, đã buộc chúng phải trịnh trọng dưới hình thức thề thốt, tuyên bố phải rút quân về nước, từ bỏ dã tâm xâm lược và chiếm đóng nước ta.
___________________________________
1, 2. Nguyễn Trãi, Toàn tập.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:37:26 PM

Câu hỏi 21: Sau Hội thề Đông Quan, Vương Thông cùng toàn bộ quân Minh rút quân về nước, đất nước ca khúc khải hoàn. Trình bày diễn biến sự kiện lịch sử này?

Trả lời:


Ngày 29 tháng 12 năm 1427 (ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi), đúng theo lời ước hẹn trước đây, Vương Thông xin rút quân về nước, dù chưa nhận được lệnh bãi binh của nhà Minh. Lê Lợi cung cấp cho quân Minh đầy đủ lương thực và phương tiện để rút lui.

Quân thủy được cấp cho 500 chiếc thuyền do Phương Chính, Mã Kỳ quản lĩnh, vượt biển về nước.

Quân bộ do Sơn Thọ, Hoàng Phúc quản lĩnh, cũng được cấp đủ lương thực, theo đường bộ về nước.

Quân Minh trong các thành Tây Đô, Cổ Lộng, cũng được giải vây và cấp đủ lương thực, theo đường bộ rút lui.

Ngoài ra, nhân dịp này Lê Lợi còn trao trả cho nhà Minh hơn 20.000 tù binh cùng với mấy nghìn con ngựa, giao cho Mã Anh quản lĩnh.

Trông thấy quân địch rút lui, một số tướng sĩ và nhân dân căm ghét quân giặc đã từng giết hại bà con thân thuộc của mình, lại kéo đến xin Lê Lợi cho giết chết bọn chúng để trả thù. Một lần nữa, Lê Lợi giải thích cho mọi người biết rõ lập trường nhân đạo và hòa bình của nghĩa quân: "Phục thù báo oán là thường tình của mọi người. Nhưng không muốn giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả chăng, người ta đã hàng mà mình giết đi thì chẳng còn gì ghê gớm hơn việc làm không lành ấy. Nếu vì hả giận trong chốc lát mà để muôn đời mang tiếng giết kẻ đã hàng thì chi bằng cho muôn vạn người được toàn tính mạng để dập tắt mối chiến tranh về sau, sử xanh ghi chép, nghìn thuở còn thơm, há chằng tốt đẹp sao?". (Toàn thư).

Quân Minh được an toàn trở về nước nên rất vui mừng kéo nhau đến dinh Bồ Đề cảm tạ Lê Lợi - người lãnh tụ tối cao của nghĩa quân.

Ngày 29 tháng 12 năm 1427 quân Minh bắt đầu rút lui và đến ngày 3 tháng 1 năm 1428 thì đội bộ binh cuối cùng của Vương Thông lên đường về nước.

Theo Hoàng Minh thực lục, toàn bộ số quân Minh được trở về nước là 86.640 tên.

Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nói về chủ trương của nghĩa quân và mô tả cuộc rút lui của bọn bại binh này như sau:

      Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng,
      Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;
      Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.
      Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
                                                          ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc,
      Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
                                                          về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
      Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng;
      Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
      Chẳng những mưu kế kỳ diệu, cũng là chưa thấy xưa nay.


Sau 10 năm chiến đấu gian khổ, anh dũng (1418-1428), Lê Lợi và bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành sự nghiệp vĩ đại là đánh đuổi hết quân Minh ra khỏi bờ cõi, khôi phục nền độc lập hoàn toàn cho đất nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:40:30 PM

Ngày 29 tháng 4 năm 1428 (ngày 16 tháng 4 nàm Mậu Thân), Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Kinh, tức Thăng Long.

Trong khúc ca khải hoàn của toàn dân, Nguyễn Trãi đã được vinh dự thảo ra bài Bình Ngô đại cáo tuyên bố nền độc lập của nước nhà:

      Xã tắc từ đây vững bền
      Giang sơn từ đây đổi mới
      Kiền khôn bĩ mà lại thái
1 
      Nhật nguyệt hối mà lại minh2
      Muôn thuở nền thái bình vững chắc
      Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.
      ... Ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
                                         nên công oanh liệt ngàn năm;
      Bốn phương biển cả thanh bình,
                                         ban chiếu duy tân khắp chốn.


Bình Ngô đại cáo là bản tuyên cáo đánh thắng giặc Ngô của nghĩa quân Lam Sơn và cũng là bản tuyên ngôn độc lập của nước nhà sau khi cuộc chiến tranh chống xâm lược kết thúc. Bình Ngô đại cáo vừa tóm tắt lịch sử mười năm chiến đấu oanh liệt vừa tổng kết đường lối đánh giặc cứu nước rất giỏi và tài thao lược của quân dân ta thời đó.

Bình Ngô đại cáo là một áng văn tuyệt tác, được lưu truyền như một "thiên cổ hùng văn" của dân tộc. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nói lên tất cả những niềm tự hào của dân tộc ta, một dân tộc chiến thắng.

Nguyễn Trãi tự hào với tư tưởng vĩ đại nhất của dân tộc đã chỉ đạo mọi hành động của người dân trong nước, là tư tưởng nhân nghĩa, lấy yêu nước yêu dân làm đạo đức cao quý nhất, lấy đánh giặc, cứu nước, cứu dân làm lý tưởng và sự nghiệp vẻ vang nhất của con người. Nguyễn Trãi nhấn mạnh:

      Làm việc nhân nghĩa, cốt để an dân
      Dấy quân đánh dẹp, trước tiên trừ bạo


Từ nguyên lý đanh thép của tư tưởng vĩ đại đó dẫn tới mọi hành động anh hùng khác. Tư tưởng vĩ đại đó của dân tộc không phải ngẫu nhiên mà có, nó được sản sinh ra từ một nền văn hiến vô cùng rực rỡ của dân tộc. Nguyễn Trãi rất tự hào với nền văn hiến đó. Nguyễn Trãi khẳng định nước nhà là một nước văn hiến lâu đời, có nền độc lập, có non sông đất nước riêng, có chính quyền nhà nước riêng, có phong tục, tập quán riêng, có truyền thống tự cường bất khuất và có nhiều sự nghiệp anh hùng qua các thời đại. Nguyễn Trãi đã dõng dạc nói trong Bình Ngô đại cáo:

      Như nước Đại Việt ta
      Thật là nước văn hiến
      Núi sông bờ cõi đã riêng
      Phong tục Bắc Nam cũng khác.
      Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần mở mang dựng nước
      Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đứng vững một phương
      Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
      Nhưng hào kiệt đời nào cũng có.


Nguyễn Trãi tự hào với những cái đã qua, ông càng tự hào với những cái hiện có. Những cái hiện có còn huy hoàng hơn cả những cái đã qua, "mà cũng thật cổ kim chưa đã thấy" như chính Nguyễn Trãi nhận định. Có tư tưởng anh hùng, có khí phách anh hùng, có truyền thống anh hùng thì nhất định có sự nghiệp anh hùng và những sự nghiệp đó nhất định ngày càng huy hoàng hơn trước. Nguyễn Trãi rất tự hào với những chiến công oanh liệt của quân dân ta đương thời đã mười năm ngoan cường chiến đấu chống quân Minh xâm lược. Gần như toàn bộ bài Bình Ngô đại cáo là để báo cáo với toàn dân những thành công của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại này, đồng thời nêu lên tinh thần và quyết tâm qủa quân dân ta và những đường lối chỉ đạo chiến tranh vô cùng tài giỏi đã đưa tới những thắng lợi huy hoàng đó.

Sau Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tranh thủ nhiều dịp khác để thuật lại quá trình mười năm đánh thắng quân Minh xâm lược, nhằm không ngừng động viên, giáo dục tinh thần yêu nước yêu dân của quân dân đương thời. Phú núi Chí Linh và sách Lam Sơn thực lục cũng là bản Bình Ngô đại cáo, viết theo những thể loại khác, trong những trường hợp khác, nhưng nội dung và mục đích vẫn là một. Cho tới năm 1433, khi Lê Lợi chết, Nguyễn Trãi làm bài văn bia đặt tại lăng Lê Lợi. Tuy là văn bia, nhưng nội dung chủ yếu cũng vẫn là thuật lại và ca ngợi sự nghiệp mười năm anh dũng đánh giặc cứu nước của dân tộc ta.
__________________________________
1. Bĩ mà lại thái: Qua cơn loạn lạc, trở lại thái bình.
2. Hối mà lại minh: Tối rồi lại sáng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:43:41 PM

Câu hỏi 22: Tư tưởng "nhân nghĩa" của Nguyễn Trãi - một biểu hiện của tinh thần văn hóa Việt Nam thể hiện trong "Bài cáo bình Ngô” và các tác phẩm khác của ông như thế nào?

Trả lời:


Mở đầu bài Bình Ngô đại cáo (Bài cáo bình Ngô) nổi tiếng, Nguyễn Trãi viết:

      Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân.
      (Việc nhân nghĩa cốt ở an dân).

Thật đáng chú ý là một tác phẩm lớn có nội dung phong phú và âm điệu hào hùng như Bình Ngô đại cáo mà lại được mở đầu bằng hai chữ nhân nghĩa. Trong Bình Ngô đại cáo có 3 chữ nhân và 4 chữ nghĩa. Nếu xét toàn bộ các tác phẩm của Nguyễn Trãi mà chúng ta còn được biết thì thấy chữ nhân được nêu lên 59 lần và chữ nghĩa được nêu lên 81 lần1. Hai chữ nhân và chữ nghĩa được nêu lên tổng cộng là 140 lần như thế đã hoặc là từng chữ đứng một mình hoặc là hai chữ đứng cạnh nhau, hoặc là mỗi chữ ghép với một chữ khác (như trung, tín, lễ, v.v...). Rõ ràng là Nguyễn Trãi hay nói đến nhân nghĩa.

Trong Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa (Quân trung từ mệnh tập), câu mở đầu là: "Ta khởi nghĩa ở đất các ngươi, nay muốn thành công, mong các ngươi giữ chung thủy một lòng, đá vàng một tiết để toàn cái nghĩa quân thần, phụ tử".

Trong Chiếu cấm các đại thần, tổng quản, cùng các quan ở Viện, Sảnh, Cục tham lam lười biếng, gần cuối có câu: "Vua tôi nghĩa lớn, trọn vẹn trước sau...".
Trong bài thơ Nôm Bảo kính cảnh giới có các câu 5 và 6 như sau:

      Có con mới biết ơn cha nặng,
      Dùng lộc thì hay nghĩa chúa nhiều.


Trong Thư gửi cho Vương Thông, có câu: "Thế thật là các ngài đã vì nước hết trung, tôn vua theo nghĩa".

Trong bài Văn tẩu cáo liệt thánh nhà Trần, nhân danh Lê Lợi khấn các vua Trần, có câu: "Tổ phụ thần chịu nhiều ơn nước,... nghĩa phải hết trung ra sức...”.

Trong Lam Sơn thực lục (quyển III, kết thúc bộ sách, lời của Lê Thái Tổ dạy bảo quần thần) có câu: "Trong khoảng vua tôi, lấy nghĩa lớn mà xử với nhau".

Trong các trường hợp trên, khái niệm nghĩa được dùng để biểu hiện quan hệ vua tôi. Đó là quan điểm của Nguyễn Trãi về chữ nghĩa. Còn như quan điểm của Nguyễn Trãi về nội dung của nhân có liên hệ gì với quan điểm của Khổng Tử hay không? Có thể nói rằng không. Trong 59 lần chữ nhân được nhắc đến trong tác phẩm của Nguyễn Trãi - hoặc là chữ nhân đứng một mình, hoặc là chữ nhân được dùng như một thành tố trong các từ ghép như nhân nghĩa, nhân từ, khoan nhân, v.v... - không hề có vương vất một ý tứ gì liên quan đến việc bảo vệ trật tự đẳng cấp (khắc kỷ phục lễ) như trong cách hiểu của Khổng Tử. Có một trường hợp trong đó đã thể hiện một khía cạnh khác của hệ ý thức phong kiến. Trong một bức Thư gửi cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt có đoạn viết: "Tôi cũng lấy đạo nhân nghĩa, hết lòng kính thờ triều đình, phàm quan quân của triều đình đều đưa về hết". Thế là nhân nghĩa được hiểu như là hết lòng kính thờ triều đình. Rõ ràng ở đây thể hiện quan điểm có tính chất phong kiến về đạo nhân nghĩa. Tuy nhiên, vấn đề ở đây cần được xem xét một cách tinh tế. Khi viết bức thư này, nghĩa quân Lam Sơn chưa áp đảo được quân giặc, cho nên lời lẽ trong thư còn rất mềm mỏng. Nguyễn Trãi đã nhân danh Lê Lợi, tự coi là vẫn thần phục triều đình nhà Minh. Cũng vì vậy mà ông đã gắn nhân nghĩa với việc kính thờ triều đình. Nói với bọn quan lại và tướng lĩnh nhà Minh thì cần phải dùng cách nói của chúng. Đối với chúng thì đạo nhân nghĩa trước hết là đạo thờ vua, thờ "thiên tử".
___________________________________
1. Nguyễn Trãi - khí phách và tinh hoa của dân tộc, Viện Văn học, Nxb Khoa học xã hội, H. 1980.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:46:00 PM

Trong bức thư thứ nhất Thư gửi Liễu Thăng (đang trên đường hùng hổ tiến về Chi Lăng, nơi mà hắn sẽ nộp mạng), Nguyễn Trãi đã mở đầu bằng cách trích dẫn một câu nói của Mạnh Tử: "Chỉ có người nhân mới có thể với tư cách là nước lớn mà giao tiếp với nước nhỏ. Chỉ có người trí mới có thể với tư cách là nước nhỏ mà giao tiếp với nước lớn. Nước lớn hòa hảo với nước nhỏ là vui theo mệnh trời. Nước nhỏ hòa hảo với nước lớn là kiêng sợ mệnh trời"1.

Ý tứ trên đây được Mạnh Tử dùng để giải thích về quan hệ "giao lân quốc" tức bang giao. Theo ông thì nước lớn phải lấy chữ nhân, tức là lấy độ lượng bao dung, mà đối xử với nước nhỏ: đó là vui theo mệnh trời. Còn nước nhỏ thì phải lấy chữ trí, tức là lấy sự khôn khéo, mà đối xử với nước lớn: đó là kiêng sợ mệnh trời. Ở đây Mạnh Tử đã trình bày một cách văn vẻ quan điểm về sự bất bình đẳng mà ông cho là tất yếu trong quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ. Nước lớn phải có độ lượng bao dung tức là vui theo cái đạo của kẻ cả, còn nước nhỏ thì phải biết kiêng sợ nước lớn, ăn ở một cách khôn khéo. Khi nhắc lại ý kiến trên của Mạnh Tử, thì Nguyễn Trãi viết rất rõ như sau: "Ta nghe Mạnh Tử có bảo rằng...”. Ở đây, cũng lại là một trường hợp trong đó ông muốn thuyết phục bọn tướng lĩnh của giặc Minh bằng cách trích dẫn chữ nhân của Mạnh Tử, người được chúng coi như là tiêu biểu cho chân lý.

Tóm lại, trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi cũng có những chỗ mà chữ nhân và chữ nghĩa được quan niệm gần giống với Khổng, Mạnh. Đó trước hết là vì Nguyễn Trãi đã được đào tạo trong nhà trường Nho học. Lý do thứ hai không kém quan trọng là trong nhiều tác phẩm ông đã nhân danh vua mà viết và lại viết cho tướng lĩnh hoặc vua nhà Minh.

Tuy nhiên, với Nguyễn Trãi thì chữ nhân và chữ nghĩa trong đại đa số trường hợp thường có những nội dung không gắn với quan điểm của Khổng Tử và Mạnh Tử, hơn nữa còn trái ngược với quan điểm của hai người ấy.

Trước hết, Nguyễn Trãi đã nhiều lần gắn chặt nhânnghĩa với "an dân". Mở đầu Bình Ngô đại cáo, ông viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”.

Trong một bức thư gửi Vương Thông, ông viết: “... Dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ đánh kẻ có tội".

Trong bức Thư dụ hàng các tướng sĩ trong thành Bình Than, ông viết: "Ta nghe: đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân".

Trong bức thứ hai Thư gửi Liễu Thăng, ông viết: “Ta nghe quân của vương giả chỉ có dẹp yên mà không có đánh chém. Việc làm nhân nghĩa cốt để an dân".

Trong bài Biểu gửi vua Minh, ông viết: "Đánh kẻ có tội, cứu vớt dân, là thánh nhân làm việc đại nghĩa”.
_____________________________________
1. Nguyên văn câu nói của Mạnh Tử là như sau: "Chỉ có người nhân mới có thể với tư cách là nước lớn mà giao tiếp với nước nhỏ. Vì thế mà vua Thang hòa hảo với Cát, vua Văn Vương hòa hảo với Côn Di. Chỉ có người trí mới có thể với tư cách là nước nhỏ mà giao tiếp với nước lớn. Vì thế mà Thái Vương hòa hảo với Huân Dục, Câu Tiễn hòa hảo với Ngô. Lấy nước lớn mà giao hảo với nước nhỏ là vui theo mệnh trời vậy, lấy nước nhỏ mà giao hảo với nước lớn là kiêng sợ mệnh trời vậy...".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:46:48 PM

Trong quyển I sách Lam Sơn thực lục, có những câu như: "hay vỗ về dân chúng, khoan nhân và thương người...", "dân ở lân cận cũng coi như người cùng nhà, do đó chẳng ai là không cám ơn và phục nghĩa".

Trong bức Thư gửi Phương Chính, ông viết: "Nước ngươi nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng thăm dân đánh kẻ có tội, kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, thuế nặng hình phiền vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư?"

Trong một bức Thư gửi Vương Thông, ông viết: "Song không làm cho nước đã bị diệt được phục hưng, dòng dã tuyệt có thừa kế, mà lại muốn cùng binh độc vũ, khiến dân vô tội liền năm thiệt mạng ở trước gươm đao, có lẽ nào bụng dạ nhân quân tử mà lại như thế ư?"

Trong Thư gửi thổ quan thành Điêu Diêu, ông viết: "Đấng thượng đế nghĩ thương dân ta, đã mượn tay ta đại thiên hành hóa, Thái sư Vệ quốc công mà cứu dân đánh kẻ có tội để khôi phục cơ đồ. Quân đi đến đâu, nghĩa thanh vang dậy, dân chúng bốn phương cõng địu nhau mà kéo đến theo ta".

Trong một bức Thư gửi Vương Thông, ông viết: "Tôi trộm tính kế cho ngài, chẳng gì bằng rút quân khải hoàn, để cho hai nước thoát khỏi cái khổ can qua không ngớt..., để nên cái nghĩa phục lại nước dã diệt, nối lại dòng dã tuyệt, để tỏ lòng nhân xem dân như một...".

Trong một bức Thư gửi Vương Thông, ông viết: "Thế mà lại còn lừa dối dân ta, dụ điều phi nghĩa".

Trong Thư dụ hàng thành Xương Giang, ông viết: "Kể ra, thích cho người sống mà ghét việc giết người là một vị tướng có nhân nghĩa; xét biết thời cơ mà biết lượng sức mình là một vị tướng có tri thức. Ta kính vâng mệnh trời, lấy đại nghĩa chuyên việc đánh dẹp. Nghĩ đến cơ đồ tổ tông bị nguy đổ, thương nỗi đời sống của dân phải lầm than, đánh thành lấy đất không giết một người. Cho nên đánh đông dẹp tây, không nơi nào không phục".

Trong bức Thư gửi Mộc Thạnh, ông viết: "Lòng người có nhân thường muốn cho người khác được thành đạt. Trước đây tôi gửi thư đến nói về quan hệ lớn giữa việc quốc gia thành hay bại cùng sinh dân vui hay buồn. Người có lòng muốn an dân há chẳng chạnh lòng thương ư?".

Trong Thư gửi Sơn Thọ, Mã Kỳ, ông viết: "Làm hại cả tính mệnh của dân trong một thành thì lòng của bậc nhân giả không làm thế".

Trong bài Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo Thái tử, ông viết: "Mến người có nhândân...".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:47:17 PM

Rõ ràng là trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, chữ nhân và chữ nghĩa không những đã được gắn chặt với hai chữ an dân mà thường là xoắn xuýt với chữ dân. Nhânnghĩa là chăm lo cho dân, là cùng dân vui hay buồn, là gắn bó làm một với dân.

Như thế là Nguyễn Trãi đưa vào khái niệm nhân nghĩa một nội dung vốn rất mờ nhạt nếu không muốn nói là khó thấy ở Khổng Tử và Mạnh Tử. Ở hai người này, nhânnghĩa trước hết là những mối quan hệ phù hợp với lễ tức là trật tự đẳng cấp. Và đạo nhân nghĩa mà Khổng Tử và Mạnh Tử đề xướng chủ yếu nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị. Còn ở Nguyễn Trãi thì nhânnghĩa trước hết được giải thích bằng thái độ đối với dân, và đạo nhân nghĩa của ông là nhằm phục vụ dân chúng.

Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Trãi luôn luôn tỏ lòng quan tâm sâu sắc đối với dân. Không kể các trường hợp trong đó ông dùng những danh từ quen thuộc của cổ văn để gọi dân như "xích tử", "manh lệ”, "sinh linh", "bách tính", "thương sinh", v.v..., thì ông đã dùng đến 155 chữ dân. Ở trên vừa trình bày những trường hợp trong đó ông đã liên hệ dân với nhânnghĩa. Qua đó có thể thấy ông hiểu nhânnghĩa là bổn phận đối với dân. Thật là khác với Khổng Tử và Mạnh Tử là những người đã cho rằng nhânnghĩa là bổn phận đối với bề trên, mà bề trên cao nhất, thiêng liêng nhất là vua.

Trong tất cả các trường hợp mà Nguyễn Trãi không liên hệ trực tiếp chữ dân với chữ nhân và chữ nghĩa, vẫn có thể thấy việc coi trọng dân, ý thức phục vụ quyền lực của dân nổi lên rất rõ và khác xa tinh thần của Khổng, Mạnh.

Nguyễn Trãi có ý thức rất rõ về sức mạnh của dân. Trong bài Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo Thái tử, ông viết: "Vả lại mến người có nhândân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”. Trong câu này, Nguyễn Trãi đã nhắc lại một lời nói của Khổng Tử. Theo sách Khổng Tử gia ngữ thì Khổng Tử đã nói với vua nước Lỗ là Lỗ Ai Công rằng: "Vua là thuyền, dân là nước. Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền". Khổng Tử cũng hiểu được sức mạnh của dân là vô cùng to lớn. Nhưng có điều là trong câu nói trên, ông muốn khuyên vua Lỗ nên biết dùng sức dân vì lợi ích của mình và cảnh cáo rằng nếu vua có thể dựa vào sức dân cũng như thuyền dựa vào nước mà nổi lên được thì vua lại có thể bị sức dân lật đổ cũng như thuyền bị nước lật úp mà chìm. Nguyễn Trãi đã nhắc lại ý của Khổng Tử, nhưng lại nhấn mạnh rằng "mến người có nhândân". Ông cho rằng biết coi trọng dân, chăm lo cho dân, tức là thực hành đạo nhân nghĩa thì có thể dựa vào sức mạnh vô địch của dân để làm nên sự nghiệp lớn.

Trong Bình Ngô đại cáo, ông đã vạch trần tội ác của giặc đối với dân: "Nướng thương sinh trên ngọn lửa hung tàn, vùi xích tử xuống dưới hầm tai vạ. Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế, gây binh kết hấn trải hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả đất trời, nặng thuế khóa, sạch không đầm núi... Độc ác thay, trúc Sơn Nam không ghi hết tội. Dơ bẩn thay, nước Đông Hải khó rửa sạch mùi! Lẽ nào trời đất dung tha, ai bảo thần dân chịu được?".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:48:16 PM

Chính những hành vi bại nghĩa, thương nhân, tức là tàn hại dân chúng, đã làm cho giặc suy yếu đi vì chúng trở thành đối tượng căm phẫn và phản kháng của dân. Trái lại, Lê Lợi nhờ ở sự ủng hộ của dân mà đã có sức mạnh vô địch: "Sào dựng lên làm cờ, tụ hợp bốn phương dân cày, phu tráng; Rượu hòa suối cùng uống, trên dưới sĩ binh một dạ cha con". Nguyễn Trãi đã thấy rõ và nêu cao sự ủng hộ rộng lớn của nhân dân đối với phong trào Lam Sơn. Thế là Bình Ngô đại cáo đã phản ánh được tính nhân dân rộng rãi của phong trào Lam Sơn, tuy rằng Nguyễn Trãi chưa dùng thuật ngữ tính nhân dân như chúng ta ngày nay.

Nguyễn Trãi đã gắn nhânnghĩa với dân, đồng thời ông lại gắn nhân, nghĩadân với quốc.

Trong bài thơ chữ Hán Hạ quy Lam Sơn (Mừng trở về Lam Sơn), ông viết:

      Quyền mưu bản thị dụng trừ gian,
      Nhân nghĩa duy trì quốc thế an...

      (Quyền mưu vốn dĩ để trừ gian,
      Nhân nghĩa giữ gìn thế nước an).

Thế là việc nhân nghĩa cốt để an dân mà cũng để an quốc thế nữa.

Trong bài thơ Nôm Trần tình, ông viết:

      Quốc phú binh cường chăng có chước,
      Bằng tôi nào thửa ích chưng dân.


Nếu diễn giải ra ngôn ngữ hiện đại thì hai câu thơ này có nghĩa như sau: "Nếu không có mưu cao chước giỏi để làm cho nước giàu, quân mạnh thì với tư cách là kẻ làm bề tôi cho triều đình nào có làm ích lợi gì cho dân?". Làm cho nước giàu, quân mạnh, làm cho Tổ quốc được giàu có, làm cho quân đội được hùng mạnh để bảo vệ Tổ quốc là phận sự của người bề tôi của triều đình. Và theo Nguyễn Trãi thì làm tròn phận sự ấy rút cục lại là để chăm lo cho ích lợi của dân.

Khổng Tử và Mạnh Tử không phải là không có lúc nói đến dân và cũng có khi đề ra yêu cầu phải quan tâm đến dân. Nhưng đó chỉ là để sử dụng một cách có hiệu quả nhất sức dân nhằm phục vụ cho vua. Đối với họ, vua là nước, và đạo nhân nghĩa của họ trước hết nhằm duy trì trật tự đẳng cấp trong cái nước của vua ấy. Nguyễn Trãi nói đến nước, cũng có nói đến vua, và ông cũng coi vua là đại diện cho nước. Điều kiện lịch sử chưa cho phép bất cứ ai trong thế kỷ XV quan niệm được rằng có nước nào mà lại không cần có vua đứng đầu. Nhưng nếu như không ít người trong giai cấp phong kiến đã đặt hai chữ trung quân, tức là trung với vua, lên hàng đầu thì Nguyễn Trãi đã có thái độ khác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:49:21 PM

Nguyễn Trãi cũng coi trọng hai chữ trung quân. Ông viết:

      Bui có một niềm chăng nỡ trễ.
      Đạo làm con liễn đạo làm tôi.
      Quân thân chưa báo lòng canh cánh,
      Tình phụ cơm trời áo cha.

                                      (Ngôn chí)

Tuy nhiên, trong quan niệm của Nguyễn Trãi thì ý nghĩa chủ yếu của chữ trung lại là trung với nước. Xem xét hành trạng của Nguyễn Trãi thì có thể thấy nét đặc sắc ấy trong tư tưởng của ông. Là cháu ngoại họ Trần, Nguyễn Trãi làm quan giúp nhà Hồ. Khi giặc Minh cướp nước ta, Nguyễn Trãi vâng lời cha trở về giúp nước, nhưng lại không tham gia cuộc kháng chiến của Trần Giản Định và Trần Trùng Quang, tức là cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần, mà tìm vào Lam Sơn giúp Lê Lợi.

Nguyễn Trãi ra cộng tác với nhà Hồ, vì ông hy vọng tìm thấy ở Hồ Quý Ly một nhà cải cách táo bạo, con người có thể đưa Tổ quốc ra khỏi hoàn cảnh vô cùng khó khăn mà các vua cuối đời Trần đã gây ra. Niềm hy vọng ấy đã không thành sự thực. Sau này, Nguyễn Trãi tìm vào tận rừng núi Lam Sơn để giúp Lê Lợi, một người xuất thân áo vải, vì ông thấy phong trào Lam Sơn thu hút được sự ủng hộ của dân. Ông đã cùng với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn chiến thắng quân giặc xâm lược vì có được sự ủng hộ ấy. Trước giúp Hồ Quý Ly, và sau giúp Lê Lợi, Nguyễn Trãi đều nhằm mục đích cứu nước cứu dân. Trước thì thất bại, sau thì thành công, kết quả tuy có khác nhau, nhưng động cơ của hành động chỉ là một. Ngày xưa, người ta không thể quan niệm được một nước mà lại không có vua. Nhưng Nguyễn Trãi không bị sa lầy trong tư tưởng "trung thần bất sự nhị quân", tư tưởng thường làm cho không ít người rơi vào cái nạn ngu trung, tức là trung với cả những hôn quân bạo chúa, trung với cả những nhà vua bán nước. Nguyễn Trãi có nói đến trung với vua, nhưng ông đòi hỏi vua phải chăm lo đến lợi ích của nước, của dân. Trong bài Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo Thái tử, ông đề ra những yêu cầu đối với nhà vua như sau: "... Phàm những phép giữ nước cầm quân, những phương giữ mình trị nước, thi hành nên cố sức, chăm chỉ chớ ham vui. Hòa thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân. Chớ thưởng bậy vì tư ân, chớ phạt bừa vì tư nộ. Đừng thích của tiền mà luông tuồng xa xỉ, đừng gần thanh sắc mà bừa bãi hoang dâm".

Như thế là Nguyễn Trãi có nói đến trung với vua, nhưng chỉ với vua biết thi hành nhân nghĩa, tức là biết lo cho dân, cho nước. Lòng trung quân của ông là có điều kiện. Ông mà có thể giúp Hồ Quý Ly thời trước và lại có thể giúp Lê Lợi thời sau thì chính cũng vì muốn giúp những người mà ông hy vọng là có đủ sức đảm đương sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Lòng ưu quốc ái dân của ông là vô điều kiện.

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn với lòng ưu quốc ái dân của ông. Với Nguyễn Trãi thì làm việc nhân nghĩa là dựa vào sức của dân, để lo cho vận nước, và lo cho vận nước là vì lợi ích của dân. Do đó, đạo nhân nghĩa có sức mạnh vô địch. Trong Bình Ngô đại cáo, ông viết: "Rút cục, lấy đại nghĩa mà chiến thắng hung tàn, đem chí nhân mà thay đổi cường bạo" (Tốt năng dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi địch cường bạo). Trong Thư trả lời tướng giặc Phương Chính, ông viết: "Người nhân lấy yếu chế mạnh, người nghĩa lấy ít địch nhiều".

Thắng hung tàn không dễ, mà địch cường bạo còn khó hơn. Trước đây địch cường bạo đã được phiên dịch thành "thay cường bạo". Phiên dịch như thế chưa được rõ nghĩa lắm, vì có thể khiến người ta hiểu bảy chữ "dĩ chí nhân nhi địch cường bạo" là: lấy sự chí nhân mà thay thế cho sự cường bạo. Nghĩa của bảy chữ ấy không phải là như vậy. Bảy chữ trên có nghĩa là: lấy sự chí nhân (của ta) mà làm thay đổi đi sự cường bạo (của địch), tức là làm cho kẻ địch không còn cường bạo nữa. Nguyễn Trãi tin tưởng ở sức mạnh cảm hóa, cải tạo của chính nghĩa là như vậy đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:50:01 PM

Tư tưởng nhân nghĩa tức là chính nghĩa vì nước, vì dân mà Nguyễn Trãi luôn luôn nêu cao đã thể hiện tinh thần dân tộc, mối quan tâm đến nước ta, dân ta, đồng thời lại bao hàm cả đến dân chúng nhà Minh bị vua quan nhà Minh đẩy đến chỗ cùng khổ vì chính sách gây chiến và xâm lược của chúng.

Trong Thư gửi Liễu Thăng, ông viết: "Từ bấy giờ đến ngày nay, hơn hai mươi năm, binh đao liên tiếp, tai vạ thảm thương, dân Trung Quốc khổ sở vì việc chinh phạt...". Trong một bức Thư gửi cho Vương Thông, Sơn Thọ, Mã Kỳ, ông viết: "... Huống chi đất ở cõi xa không dùng làm gì, nếu giữ lấy thì chỉ tốn cho Trung Quốc, nếu bỏ đi thì dân Trung Quốc có thể sống lại...".

Như thế là vì đứng trên quan điểm nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nhìn được rộng, được xa. Trong Bình Ngô đại cáo, ông viết: "Nó đã chí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay ta mưu phạt mà tâm công, không đánh mà nó tự khuất" (Bỉ chí cùng lực tận, thúc thủ đãi vong. Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất). Mưu phạt, tâm công, bốn chữ này có người hiểu như sau: đánh bằng mưu, đánh vào lòng. Hiểu như thế e không chính xác. Đánh vào lòng có nghĩa là đánh vào tinh thần quân giặc, mà ở đây thì không phải là như thế. Mưu phạt, tâm công là cách viết gọn. Nếu muốn cho thật rành mạch thì có thể viết là: dĩ mưu phạt, dĩ tâm công, nghĩa là lấy mưu dùng mưu mà đánh, lấy tấm lòng, dùng tấm lòng mà đánh. Mà tấm lòng ở đây bao hàm chí nhânđại nghĩa. Dùng mưu tức là dùng trí tuệ và cùng với trí tuệ lại dùng tấm lòng cao cả. Các sức mạnh ấy đã khiến giặc phải khâm phục. Chí nhân, đại nghĩa còn có thể thuyết phục, cải hóa chúng, có thể "địch cường bạo" như vừa phân tích ở trên. Như thế thì có thể "bất chiến tự khuất", tức là không phải đánh thành, phá trận mà bản thân giặc tự nguyện đầu hàng. Để có thể "bất chiến tự khuất", Nguyễn Trãi đã sáng suốt và thẳng thắn vạch cho quân giặc thấy rõ ràng lợi ích chính đáng của chúng và của nhân dân nước họ là từ bỏ xâm lược. Qua các tác phẩm chính luận của mình, tức là những bức thư gửi cho tướng giặc, ông đã giúp cho không ít người trong bọn chúng nhận ra sự thực. Có người đã nhận xét một cách sâu sắc rằng Nguyễn Trãi không bàn nhiều về cách đánh vào thành mà giỏi bàn về cách đánh vào lòng, đã khiến cho mười lăm thành giải giáp, xin hàng, đỡ rất nhiều xương máu cho nghĩa quân Lam Sơn. Trong bài Phú núi Chí Linh, Nguyễn Trãi viết: "Thần vũ không giết, đức lớn hiếu sinh. Nghĩ vì kế lâu dài của Nhà nước, tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh. Sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh".

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi bao hàm mối quan tâm sâu sắc đến lợi ích của đất nước Đại Việt, nhân dân Đại Việt, cũng chính là đức hiếu sinh và do đó bao hàm lòng yêu chuộng hòa bình và tinh thần hữu nghị đối với lân bang. Tư tưởng nhân nghĩa ấy là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước sâu sắc, đồng thời là một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo rộng lớn.

Không thể phủ nhận rằng trong một số trường hợp mà Nguyễn Trãi đề cập đến nhânnghĩa, ông cũng nhắc lại những khía cạnh nào đó của tư tưởng Khổng, Mạnh và nói chung thì ảnh hưởng của Nho giáo đối với Nguyễn Trãi là có thực. Hơn nữa, Nguyễn Trãi còn tiếp thu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo, và ảnh hưởng này cũng thể hiện trong sự nghiệp trước tác và sáng tác của ông. Việc Nguyễn Trãi tiếp thu ảnh hưởng văn hóa nước ngoài không có gì lạ. Đến thế kỷ XV, sự giao lưu văn hóa ở châu Á đã có lịch sử hàng nghìn năm. Và một người được đào tạo trong nhà trường Nho học như Nguyễn Trãi thì chắc chắn đã đọc những chữ nhân, chữ nghĩa trong kinh điển của Nho giáo.

Tuy nhiên, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi lại chủ yếu có cơ sở trong thực tế đời sống của dân tộc ta.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:50:30 PM

Như đã trình bày, chữ nhân vốn muốn biểu hiện quan hệ giữa người và người, và chữ nghĩa vốn muốn biểu hiện quan hệ giữa cá thể và cộng đồng. Những mối quan hệ ấy thì ở xã hội nào cũng có. Đó là những mối quan hệ trong gia đình và trong xã hội, từ thân cận như giữa cha con anh em đến rộng lớn như giữa những người trong cùng một nước. Lại cần phải kể cả đến mối quan hệ giữa người và người nói chung, tức là mối quan hệ có tính chất nhân loại. Và ở ngôn ngữ dân tộc nào thì cũng đều có những tên để gọi những mối quan hệ ấy.

Trải qua hàng nghìn năm giao lưu văn hóa, không ít từ ngữ Hán, nhất là các từ ngữ thuộc phạm vi văn hóa tinh thần (chính trị, đạo đức, triết học, v.v...), đã thâm nhập xã hội nước ta. Các từ ngữ ấy thường nhanh chóng được Việt hóa, nghĩa là trở thành từ ngữ Việt Hán, đọc theo âm thanh Việt, và kết hợp với các từ ngữ Việt theo quy luật của ngữ pháp Việt. Sự Việt hóa ấy còn thể hiện trong ngữ nghĩa nữa, và không thiếu gì dẫn chứng cho thấy trong kho từ vựng Việt, những từ ngữ có nguồn gốc Hán đã thay đổi ý nghĩa để phục vụ cho việc biểu hiện những khái niệm gắn với thực tế của đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc ta.

Vì lý do trên, rất có thể là các từ nhânnghĩa đã nhập vào kho từ vựng thông dụng của nhân dân ta từ trước thời Nguyễn Trãi. Quá trình thâm nhập này có thể đã trải qua những con đường khác nhau, nhưng có một điều chắc chắn là những từ nhânnghĩa đã được nhân dân hiểu theo ý nghĩa tích cực, tức là phù hợp với lý tưởng của nhân dân về những mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người. Nếu những từ nhânnghĩa đã thâm nhập vào kho từ vựng của nhân dân trước Nguyễn Trãi thì chắc chắn là nội dung của các từ ấy theo cách hiểu của nhân dân đã được Nguyễn Trãi tiếp thu và làm cho phong phú thêm. Nhưng cũng có thể là trước Nguyễn Trãi, những từ nhânnghĩa chưa nhập vào kho từ vựng thông dụng của nhân dân ta. Nếu thế thì những từ nhânnghĩa đã được Nguyễn Trãi là người đầu tiên hiểu theo ý nghĩa tích cực, khác với ý nghĩa mà ông thấy được trong kinh điển của Nho giáo. Dầu trong trường hợp nào, thì qua thực tế trước tác và sáng tác của Nguyễn Trãi, hiển nhiên có thể thấy ông đã dùng những từ ấy để biểu hiện những tình cảm lớn có tính chất truyền thống của dân tộc ta, của nhân dân ta, những tư tưởng tình cảm được nâng cao thêm trong cuộc đấu tranh gian khổ và vĩ đại hồi đầu thế kỷ XV.

Xét cho kỹ, nếu tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi không phải là sản phẩm trực tiếp của nhân dân thì nó cũng là sản phẩm gián tiếp của nhân dân. Tư tưởng ấy không phải chỉ nảy sinh từ phong trào cứu nước đầu thế kỷ XV mà còn bắt nguồn từ những truyền thống tốt đẹp của hàng nghìn năm lịch sử dân tộc.

Trong nền văn hóa tinh thần của dân tộc ta từ trước thế kỷ XV, đã hình thành những truyền thống tốt đẹp.

Đó là tinh thần cộng đồng vốn có từ thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc, được nâng cao trong thời kỳ đấu tranh chống ách Bắc thuộc, củng cố trong thời kỳ Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV. Đó là ý thức về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước gian khổ và anh hùng. Những truyền thống ấy đã ăn sâu vào đời sống của xã hội từ rất lâu đời.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:51:20 PM

Trước Nguyễn Trãi một trăm năm, vua Trần Minh Tông, trong bài thơ Nghệ An hành điện, đã viết như sau:

      Sinh dân tận thị ngã bào đồng,
      Tứ hải hà tâm sử khốn cùng.

      (Hết thảy sinh dân đều là anh em cùng một bọc mẹ của ta,
      Nỡ lòng nào để cho bốn biển phải khốn cùng).

Vua Trần đã coi muôn dân đều là anh em của mình. Thực là khác hẳn với ở Trung Quốc, nơi mà trật tự đẳng cấp được Nhà nước phong kiến xây dựng và củng cố từ rất lâu đời, nơi mà nhà vua tự xưng là "thiên tử", là "con trời". Đã là "con trời" thì làm sao mà lại có thể là anh em cùng một bọc mẹ với dân được kia chứ. Ở nước ta, các triều đại Lý, Trần cũng ít nhiều mô phỏng những thiết chế của Nhà nước phong kiến Trung Hoa, những thiết chế gắn với tư tưởng lễ trị của Nho giáo. Nhưng quan niệm về "con trời" không thể thống trị một cách tuyệt đối trong xã hội nước ta, trong một xã hội mà tư tưởng lễ trị không có được một cơ sở vững chắc. Và sức mạnh của tinh thần văn hóa Việt, của truyền thống cộng đồng vốn được đúc kết trong sự tích một bọc trăm trứng của cha Rồng Lạc Long và mẹ Tiên Âu Cơ đã khiến cho đến cả nhà vua mà cũng không tự đặt mình quá cao so với dân chúng. Truyền thống cộng đồng, một trong những cơ sở quan trọng của ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước, có sức mạnh mà chế độ đẳng cấp phong kiến phiền toái và khắc nghiệt từ Trung Quốc truyền sang từ hàng nghìn năm cũng không lấn át nổi là như thế đó. Về sau này, giai cấp phong kiến cố gắng xây dựng và củng cố chế độ đẳng cấp, thì nó bèn thất bại thảm hại. Và trước sau, việc coi tất cả mọi người trong nước như anh em vẫn là tập quán xã hội ở nước ta:

      Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
      Người trong một nước phải thương nhau cùng.


Câu ca dao này chắc đã xuất hiện sau thời đại Nguyễn Trãi. Tuy nhiên, có thể nói rằng nó phản ánh tinh thần của mọi thời đại ở nước ta, nơi mà trật tự đẳng cấp không dễ dàng xác lập được. Lòng tương thân tương ái, lòng "thương người như thể thương thân", tình cảm cao đẹp ấy từ lâu đã là một trong những truyền thống của nhân dân ta. Tinh thần cộng đồng, lòng tương thân tương ái vốn có tính chất truyền thống ấy đã được nâng cao trong cuộc đấu tranh để cứu nước, cứu nhà của toàn thể nhân dân Đại Việt hồi đầu thế kỷ XV. Giặc Minh đã tàn sát nhân dân ta theo một mưu đồ thâm độc, đã phá hoại nền văn hóa nước ta theo một kế hoạch tỉ mỉ. Chúng bóc lột đến cùng kiệt nhân dân ta, giết hại bất cứ ai không phục tòng. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã viết về quân giặc: "Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội; dơ bẩn thay, nước Đông Hải khó rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, ai bảo thần người chịu được?". Lịch sử còn ghi rành rành tội ác của chúng. Theo lệnh của vua Minh, ngày 21 tháng 5 năm Đinh Hợi (năm 1407), thì: "... một mảnh giấy, một nửa chữ, cho đến cả những bia khắc của nước ấy, hễ gặp thấy thì lập tức phá hủy hết". Năm 1419, giặc đem về Kim Lăng tất cả các văn vật và sách vở mà chúng vơ vét được ở nước ta. Hàng năm, chúng đề ra định mức bắt người tài giỏi bách nghệ nước ta đem về Trung Quốc. Chúng lại tìm cách buộc người Việt phải theo phong tục người Minh. Bản Tuyên Minh giáo hóa của chúng quy định rằng mọi tầng lớp người Việt phải ăn mặc theo kiểu người Trung Quốc. Rõ ràng là giặc Minh đã có chủ trương xóa bỏ đất nước Đại Việt. Chủ trương ấy rút cục đã thất bại trước cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Cuộc đấu tranh này đã kết thúc với thắng lợi vĩ đại của nghĩa quân Lam Sơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười, 2016, 06:52:13 PM

Chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn không phải chỉ có cơ sở ở sức mạnh quân sự. Chiến thắng ấy còn có cơ sở ở sức mạnh văn hóa. Để có thể bảo vệ cuộc sống của mình, để có thể đẩy lùi sự tàn bạo dã man của giặc, nhân dân ta đã phát huy đến cao độ sức mạnh của lòng tương thân tương ái truyền thống, của tinh thần cộng đồng truyền thống. Nguyễn Trãi chiến đấu trong phong trào Lam Sơn đã hiểu thế nào là những sức mạnh ấy. Và ông có ý thức huy động những sức mạnh ấy vào cuộc chiến đấu. Khi viết rằng: "Như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến”, khi đem gắn văn minh với nhân nghĩa, ông đã thể hiện niềm tự hào về những giá trị tinh thần của dân tộc ta. Những khái niệm nhânnghĩa trong tác phẩm của ông phản ánh những quan hệ tốt đẹp, văn minh giữa người và người, những quan hệ xã hội, trong đó vị trí người dân được khẳng định, giá trị con người được đề cao. Nói một cách khác, tư tưởng nhân nghĩa của ông đã phản ánh tinh thần của văn hóa Đại Việt.

Như ở trên đã phân tích, chữ nhân vốn biểu hiện mối quan hệ giữa người và người, và chữ nghĩa vốn biểu hiện mối quan hệ giữa cá thể và cộng đồng.

Dân tộc ta, nhân dân ta hồi thế kỷ XV mà Nguyễn Trãi là một trong những người tiêu biểu xuất sắc nhất đã hiểu hai chữ nhân nghĩa theo nội dung rất tích cực. Nhân nghĩa đối với Nguyễn Trãi cũng bao hàm nội dung bình giá, nhưng bình giá theo quan điểm của dân tộc ta, của nhân dân ta. Cho nên nhân nghĩa là thương yêu đồng bào, thương yêu nhân dân. Hơn nữa, nhân nghĩa còn bao hàm mối quan tâm đến đồng loại, đến con người ở khắp nơi, ở các nước khác. Nhân theo quan niệm của nhân dân ta là thương yêu đồng bào và rộng ra là thương yêu đồng loại. Tinh thần cộng đồng truyền thống của nhân dân ta chính là nền tảng rộng rãi và vững chắc cho một quan niệm như thế. Nghĩa theo quan niệm của nhân dân ta là để lẽ công lên trên lẽ tư, hết lòng phục vụ cộng đồng và nếu cần thì hy sinh cho cộng đồng. Và tinh thần cộng đồng truyền thống của nhân dân ta chính là nền tảng rộng rãi và vững chắc của một quan niệm như thế. Tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau, hay nói một cách khác, tinh thần đoàn kết keo sơn, ý thức phục vụ và biết hy sinh cho cộng đồng là những sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong trường kỳ lịch sử. Vì vậy mà nhân là một sức mạnh và nghĩa cũng lại là một sức mạnh. Và thực hành đạo nhân nghĩa, nhân dân ta từ bao đời đã đủ sức chiến đấu chống hung tàn, chống cường bạo. Đạo nhân nghĩa vì vậy mà gắn được một cách chặt chẽ với sự nghiệp vì nước, vì dân.

Cũng chính vì thế mà, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo. Trong quá trình tham gia vào cuộc đấu tranh cứu nước, Nguyễn Trãi đã tiếp thu được sinh lực của nhân dân, của văn hóa dân tộc. Chính vì thế mà về cơ bản, Nguyễn Trãi đã khắc phục được ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo, tuy rằng ông được đào tạo trong nhà trường Nho học cuối đời Trần. Nhiều tác phẩm của ông đã phản ánh cuộc sống sôi động khí phách hào hùng của dân tộc ta hồi đầu thế kỷ XV.

Khi nêu cao nhân nghĩa, tin tưởng ở sức mạnh chiến thắng của chí nhân, đại nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định tính hơn hẳn của văn hóa Đại Việt so với văn hóa của đế quốc phong kiến xâm lược. Khi viết những lời lẽ rất hào hùng mà lại rất nhân hậu:

      Lấy đại nghĩa mà chiến thắng hung tàn,
      Đem chí nhân mà đổi thay cường bạo.


Nguyễn Trãi không những chỉ ca ngợi chiến thắng của dân tộc ta hồi đầu thế kỷ XV mà ông còn khẳng định một quy luật lịch sử ở nước ta. Quy luật ấy đã thể hiện trong quá trình lịch sử trước thế kỷ XV đến nay. Quy luật ấy là: dân tộc ta với một nền văn hóa mà tinh thần là đại nghĩa, là chí nhân tất yếu chiến thắng mọi kẻ xâm lược hung tàn và cường bạo.

Và có thể nói rằng, nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, chí nhân, đại nghĩa, không những Nguyễn Trãi đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa nhân đạo, mà ông còn giương cao ngọn cờ của văn hóa dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:01:11 PM

Câu hỏi 23: "Bài cáo bình Ngô” được đánh giá là "thiên cổ hùng văn", được các nhà sử học trân trọng gọi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai, hàm ý rằng bài "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt được xem là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất; "Tuyên ngôn độc lập" do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình, Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1945 là bản cuối cùng. Trình bày ý nghĩa của "Bài cáo bình Ngô - bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta?

Trả lời:


Một là, kháng chiến chống Minh thắng lợi, đất nước ca khúc khải hoàn:

Ngày 19 tháng 11 năm 1406, hai mươi vạn quân chủ lực và bốn mươi vạn quân hậu cần của nhà Minh do Trương Phụ và Mộc Thạnh, cầm đầu, vượt biên giới, hùng hổ tiến vào nước ta, giả danh nghĩa "phạt Hồ phục Trần" để biến nước ta thành quận, huyện Trung Quốc.

Nhân dân ta liên tục nổi lên chống xâm lược suốt hai mươi năm cho đến ngày toàn thắng.

Tháng 6 năm 1407, cuộc kháng chiến của quân đội nhà Hồ thất bại, thì tháng 11 năm ấy, cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần bắt đầu và mãi đến 1414 mới chấm dứt, cũng thất bại mà rất anh hùng. Tiếp theo là những cuộc khởi nghĩa nhỏ hơn. Chính quyền thực dân nhà Minh chỉ được ổn định tương đối và tạm thời trong khoảng ba năm thôi. Năm 1416 thì ngọn lửa Lam Sơn bắt đầu nhóm rồi biến thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng cả nước. Trước sau, nhà Minh ba lần gửi viện binh mà không bao giờ đàn áp nổi. Đến ngày 29 tháng 12 năm 1427, sau khi các đạo viên binh cuối cùng của Liễu Thăng, Mộc Thạnh bị tiêu diêt thì Vương Thông được Lê Lợi cho phép rút mười vạn quân còn sống sót, bị bao vây ở Đông Đô, Tây Đô và Cổ Lộng, chia hai đường thủy, bộ lặng lẽ về nước:

Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
                                                                           ra đến bể mà còn hồn bay phách lạc
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Ánh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
                                                                           về đến nước mà vẫn ngực đập chân run.


Cuộc kháng chiến chống Minh của nhân dân ta dài hai mươi năm, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dài mười năm, đến đây kết thúc thắng lợi; thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi triệt để. Nước Đại Việt sạch bóng quân xâm lăng.

Đầu năm 1428, thay mặt vua Lê, Nguyễn Trãi viết bản Bài cáo bình Ngô. Dân tộc ta ca khúc khải hoàn.

Bài cáo bình Ngô trước hết là lịch sử tóm tắt mười năm kháng chiến để toàn dân ghi nhớ những chặng đường và những thành tích của khởi nghĩa Lam Sơn, hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc chiến thắng, thấm nhuần công đức và tư tưởng chính trị của vua Lê.

Bài cáo bình Ngô thực sự là bản tổng kết kinh nghiệm cuộc chiến tranh chống Minh, rút từ đó một số bài học về đường lối đánh giặc cứu nước có giá trị lâu dài cho sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Từ khi lập quốc, dân tộc ta đã nhiều lần chiến thắng oanh liệt, đánh bại ngoại xâm. Nếu chỉ kể từ năm 938 thì lịch sử nước ta có Ngô Quyền diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lê Hoàn diệt quân Tống ở Chi Lăng, Lý Thường Kiệt chặn đứng và đẩy lùi quân Tống trên sông Cầu, Trần Quốc Tuấn ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông. Chiến công đều hiển hách. Nhưng phải đến khi nhân dân ta tiêu diệt quân Minh rồi thì mới nảy sinh cái ý thức phải có một Bài cáo bình Ngô để nhà vua báo cáo lại cho nhân dân cả nước những thành công của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại. Vì sao mà có được ý thức ấy? - Có lẽ vì lần này, hơn tất cả các lần trước, nhân dân cả nước đã tích cực và bền bỉ tham gia kháng chiến đông đảo nhất, rộng lớn nhất, đem lại cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tính nhân dân sâu sắc; nhân dân tự nhiên mang theo trên mũi giáo của mình một số yêu sách về chính trị và xã hội. Cũng có lẽ, phần khác, vì một số nhà lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, trước hết là Nguyễn Trãi, đã nhận thức được khá rõ sức mạnh của nhân dân trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, nhận thức được khá rõ mục đích an dân của đường lối chính trị nhân nghĩa. Cuối cùng, không phải không có khả năng là Bài cáo bình Ngô cũng gián tiếp nhằm để vua tôi nhà Minh nghiền ngẫm mà hiểu đất nước và con người Việt Nam một cách đúng đắn hơn, để họ bớt cái kiêu căng đại tộc, cái háo thắng "thiên triều". Đòn đánh Lam Sơn và Bài cáo bình Ngô chắc đã thấm sâu, cho nên 360 năm sau đó, mới thấy quân "thiên triều'’ trở lại Việt Nam để nhận bài học Đống Đa.

Giá trị đặc biệt của Bài cáo bình Ngô, ngoài việc phản ánh vắn tắt mà đầy đủ lịch sử mười năm kháng chiến oai hùng, thì văn chương tuyệt tác chứa đựng một đường lối chiến tranh giải phóng độc đáo, một hệ thống tư tưởng chính trị về những nguyên lý vĩnh cửu của sự nghiệp xây dựng nước nhà. Các thế hệ đều đồng thanh gọi Bài cáo bình Ngô là "thiên cổ hùng văn".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:02:45 PM

Hai là, ý thức dân tộc và tự hào dân tộc phát triển đến mức cao.

Một đặc điểm lớn, có thể xem như lớn hơn hết trong nội dung của Bài cáo bình Ngô là quốc gia dân tộc và ý thức tự hào dân tộc được khẳng định rõ ràng nhất, đầy đủ nhất, hơn bất cứ lúc nào trước đó:

      Như nước Đại Việt ta từ trước,
      Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
      Cõi bờ sông núi đã riêng,
      Phong tục Bắc Nam cũng khác.
      Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời dựng nước,
      Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
      Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
      Mà hào kiệt không bao giờ thiếu.


Người đời sau muốn xem đoạn văn này của Bài cáo bình Ngô như là tiêu biểu cho học thuyết của Nguyễn Trãi về quốc gia dân tộc, về ý thức dân tộc. Điều chắc chắn nhất là, vào đầu Bài cáo bình Ngô, viết cho nhân dân ta mà cũng cho vua tôi nhà Minh, Nguyễn Trãi như muốn đánh đổ ngay hai định kiến hết sức sai lầm, hết sức láo xược của các triều đại Bắc phương rằng: nhân dân nước Nam là mọi rợ, là "Nam man", họ kia mới là văn minh, ''Hoa hạ". Cho nên Bài cáo bình Ngô nói: nước Đại Việt vốn từ lâu là "nước văn hiến". Nước văn hiến là nước trọng văn hóa, có văn hóa, có nhân tài, có quy củ. Và Đại Việt đã là nước văn hiến từ lâu, từ trước Hán, Đường nên mới đối lập với Hán, Đường. Khẳng định sự thật lịch sử này là điều rất quan trọng, không phải ai cũng nhận thức được, nhất là những người xuất thân từ Nho giáo, chuyên học Bắc sử, thường hay tự ti đối với nước láng giềng to lớn. Bằng một câu ngắn gọn, Nguyễn Trãi đánh đổ cái tự ti ấy trong một số tầng lớp dân ta và trước hết là đánh đổ óc khinh miệt kiêu ngạo của người Minh.

Nguyễn Trãi cũng đánh đổ định kiến thứ hai của các triều đại Bắc phương rằng xứ ta, nước ta vốn là bộ phận của Trung Quốc. Bài cáo bình Ngô nói: "Nước Đại Việt ta bờ cõi núi sông riêng biệt với Trung Quốc". Trong nhiều bức thư gửi tướng địch, trong thư gửi Vương Thông bị vây ở Đông Quan, Nguyễn Trãi cũng lặp lại ý đó: ngày xưa các đế vương Trung Quốc cai trị chín châu, mà trong chín châu thì không hề có đất Giao Chỉ, nay ông rút quân về thì đâu phải là đem đất triều đình cho người khác, chẳng qua nước của người ta thì trả lại cho người ta đó thôi!

Lãnh thổ riêng, văn hóa riêng, phong tục riêng, rõ ràng nước Đại Việt không phải là thuộc nước Trung Quốc, dân Đại Việt không phải là thuộc dân Trung Quốc.

Huống chi, ngoài những yếu tố cơ bản đó, còn có một yếu tố rất cơ bản nữa làm cho không thể mơ hồ chút nào về quốc gia dân tộc, đó là yếu tố lịch sử, yêu tố chủ quyền. Đại Việt đã từng đối đầu với Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên làm đế một phương, hàng trăm hàng ngàn năm như vậy thì Trung Quốc liệu có thể nào phủ nhận sự tồn tại lịch sử của Đại Việt? Liệu người dân nước Đại Việt có thể nào để cho triều đình Bắc phương xem Tổ quốc ta như quận, huyện của họ?

"Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu", câu ấy có nghĩa là chẳng những dân tộc đất nước chúng ta có quyền độc lập, mà còn có sức sống độc lập. Ta có điều kiện chủ quan để tự cường, ta có người tài đức để cai trị lấy mình; ta có anh hùng hữu danh và vô danh để lãnh đạo nhân dân bảo vệ quyền tự chủ.

Từ thời Lê sơ cho đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin du nhập Việt Nam, không có văn kiện nào khẳng định sự hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam một cách rõ ràng, đầy đủ hơn là bằng đoạn kể trên trong Bài cáo bình Ngô. Trước khởi nghĩa Lam Sơn trở về thời Ngô Quyền khôi phục độc lập nước nhà, dân ta có trên bốn thế kỷ tự chủ liên tục, nước ta có sáu lần đánh bại quân xâm lược Bắc phương, đó là cả một thời kỳ hình thành dân tộc, củng cố quốc gia, ý thức quốc gia dân tộc như còn chờ đợi một điều kiện nữa để hoàn chỉnh, điều kiện đó chính là sự tham gia tích cực, đông đảo và bền bỉ của hết sức đông đảo quần chúng nhân dân vào việc cứu nước và dựng nước được thể hiện trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mười năm chống quân Minh xâm lược. Tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi là chung kết của cả một thời kỳ lịch sử dài ngót 500 năm. Ở một số nước phương Đông, trong đó có nước ta, quốc gia dân tộc không chờ đợi đến lúc quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển mới hình thành; lãnh thổ chung, văn hóa chung, phong tục tập quán chung, nhất là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đủ làm một thứ keo sơn để tạo thành một quốc gia dân tộc bền vững ngay trong thời kỳ phong kiến tập quyền thịnh vượng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:04:54 PM

Trong Bài cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi cũng chú ý đề cao lòng tự hào dân tộc chính đáng, lòng tự hào dân tộc đó là một nguồn sức mạnh không bao giờ thừa, nhất    là trong lúc chiến đấu chống ngoại xâm. Đứng trước nước lớn dù là Tống, Nguyên, Minh, đất rất rộng, người rất đông, văn hóa thường rực rỡ, người mình dễ tự ti, mà óc tự ti tác hại lớn, làm nhụt biết bao nhuệ khí. Tự ti thì còn kháng chiến làm sao? Nguyễn Trãi nhấn mạnh rằng ra không có gì phải tự ti cả, họ lớn, họ đông, nhưng mà không phải lúc nào họ cũng mạnh, bằng cớ là ta đã nhiều lần đánh bại họ:

      Lưu Cung tham công mà thất bại,
      Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.
      Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
      Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.
      Việc xưa xem xét,
      Chứng cớ còn ghi.


Xam Hán thua ta; Tống thua ta; Nguyên thua ta, thua không phải chỉ một lần mà đến ba lượt, một nước nhỏ như ta mà thắng luôn những đạo quân xâm lược to lớn hơn hàng chục, hàng mấy chục lần, có bọn như Nguyên Mông đã từng chinh phục cả Á, Âu, như thế chẳng đáng tự hào lắm sao?

Khi ca ngợi núi Chí Linh, Nguyễn Trãi so sánh núi Chí Linh với núi Cối Kê của Việt vương Câu Tiễn, với núi Mang Đãng của Hán Lưu Bang. Mang Đãng, Cối Kê, Chí Linh đều là nơi ẩn tích của anh hùng, nơi anh hùng đợi thời chờ dịp để rồi thực hiện chí lớn. Nguyên Trãi so sánh việc Bình Định Vương vây Đông Đô với việc Hán Bái Công vây Cai Hạ, Việt vương Câu Tiễn vây Cô Tô. Bên kia có kỳ tích nào thì bên này cũng có kỳ tích ấy, nào có kém gì? Mà xét cho cùng thì sự nghiệp của Câu Tiễn không thể nào sánh được với sự nghiệp của Lê Lợi:

      Tuy nhiên, quy mô to lớn của Hán Cao cũng giống như đức thịnh của vua ta ngày nay;
      Còn Câu Tiễn chỉ lo thỏa cái chí phục thù há lại có thể muôn một sánh tày.


Và, nếu xét về nhiều mặt cơ bản khác, thì ngay cả sự nghiệp của Hán Cao Tổ cũng không thể sánh được với sự nghiệp của Lê Thái Tổ, bởi vì:

      Đến như thần vũ không giết;
      Đức lớn hiếu sinh.
      Nghĩ vì kế lâu dài của Nhà nước;
      Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh.
      Sửa hòa hiếu cho hai nước;
      Tắt muôn đời chiến tranh.
      Chỉ cần vẹn đất;
      Cốt sao an ninh.
      Như thế thịnh đức của vua ta, há Hán Cao có thể sánh được, mà phải khen cùng Nhị đế Tam hoàng kia.

                                        (Chí Linh sơn phú)

Đẹp thay và lớn thay tư tưởng tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi! Các nhà nghiên cứu lịch sử hoàn toàn không thấy gì là quá đáng trong sự tự hào này; sự tự hào này, trái lại, rất là chính đáng. Người đời khen Câu Tiễn ở chỗ bền chí rửa xong cái nhục riêng, nhục gì thì mọi người đều rõ; nhưng làm sao có thể đem cái việc "thỏa chí phục thù" riêng đó mà sánh với thành công của Lê Lợi trong việc rửa xong nhục nước, giải phóng nhân dân khỏi ách nước ngoài? Còn như Lưu Bang tranh hùng với Hạng Võ, mỗi bên dàn trên hàng trăm vạn quân, đó là cuộc chiến tranh giữa hai phe phong kiến, "được vua thua giặc", chính nghĩa chưa chắc đã về ai. Hán đế thắng mà diệt quân Sở hàng chục vạn ngay cả lúc không còn cần phải giết nữa, đến khi đắc chí rồi thì phát binh đi xâm lấn các nước nhỏ; như vậy sự nghiệp của vua Hán làm sao có thể sánh bằng sự nghiệp của vua Lê, một bên là bạo ngược, một bên là thịnh đức, mà ở đây thịnh đức nghĩa là yêu nước và nhân đạo.

Tự hào dân tộc chính đáng là một nguồn sức mạnh để cứu nước và dựng nước, là một tư tưởng lớn toát ra từ toàn bộ tác phẩm Bài cáo bình Ngô.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:07:56 PM

Ba là, ngọn cờ "nhân nghĩa" cứu nước, cứu dân, dựa vào dân mà cứu nước.

Ý thức dân tộc như thế. Tự hào dân tộc như thế. Cho nên, đánh chiếm nước ta, quân Minh liền vấp phải sức kháng chiến mà chúng không thể nào tính toán trước được; kháng chiến của nhà Hồ, kháng chiến của nhà Hậu Trần và khởi nghĩa Lam Sơn, ba giai đoạn lớn của cuộc chiến tranh chống Minh dài hai mươi năm và cuối cùng thắng lợi triệt để.

Nhà Hồ kháng Minh, đó là một cuộc chiến tranh tự vệ chính nghĩa. Nhưng, nếu chỉ có chính nghĩa không thôi mà không có chiến lược chiến thuật đúng thì không thắng nổi. Chính nghĩa mà thất bại, phi nghĩa mà thắng dù tạm thời, điều đó vẫn thường thấy xảy ra trong lịch sử. Nói về nguyên nhân thất bại của nhà Hồ trước sức tiến công xâm lược của quân Minh, Bài cáo bình Ngô có đoạn viết:

      Vừa đây,
      Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
      Để trong nước lòng dàn oán phản.
      Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,
      Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.


Như vậy, nhà Hồ bị cuồng Minh đánh bại là vì nhà Hồ cầm quyền mà không được lòng dân, lòng dân lại oán phản. Bọn xâm lược là phi nghĩa, song lực lượng nhân dân ta rời rạc, kháng chiến vì vậy mà không mạnh, quân Minh vì vậy mà chiến thắng dễ dàng trong thời gian không đầy 8 tháng. (Nhà Hậu Trần dựng cờ nghĩa, chiến đấu oanh liệt lâu dài hơn, nhưng cũng không cố kết được sức dân). Trong nhiều dịp Nguyễn Trãi nói rằng rào lim không ngăn được sóng biển, xích sắt không khóa được nước sông, ý muốn phê phán phương lược nhà Hồ chỉ biết xây công sự phòng thủ, tập luyện quân mà không có phương lược để được lòng dân, được nhân dân tham gia đánh giặc cứu nước. Vấn đề được đặt ra trước những người yêu nước bấy giờ là phải:

      Ngẫm nay suy trước;
      Xét cho cùng mọi lẽ hưng vong.


Rút bài học lịch sử vừa đây của họ Hồ và nhà Hậu Trần để có thể vạch ra một phương lược mới. Phải giương cao một ngọn cờ khả dĩ cố kết được lòng dân làm sức mạnh của nước; phải chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân và cứu nước cũng là cứu dân khỏi ách cường bạo. Bình Ngô sách chính là đường lối cố kết lòng dân, tập hợp sức dân để tiêu diệt quân Minh xâm lược. Cờ nghĩa Lam Sơn được phất lên trên cơ sở của đường lối ấy. Bài cáo bình Ngô bắt đầu bằng hai câu có thể xem như tóm tắt phương lược cứu nước được Nguyễn Trãi trình bày cho Lê Lợi:
   
      Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
      Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.


Cũng có đoạn nói:
      Lấy đại nghĩa chiến thắng hung tàn,
      Đem chí nhân đổi thay cường bạo.


Và:
      Cứu dân để dạ, chí háo hức chỉ muốn về đông.

Có thể hiểu rằng, ở Bài cáo bình Ngô nói riêng và các tác phẩm yêu nước của Nguyễn Trãi nói chung, khái niệm nhân nghĩa trước hết là một đường lối chính trị cứu nước cứu dân. Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: "Yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân, và cứu nước là để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người"1.
__________________________________
1. Bài Nguyễn Trãi - người anh hùng của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:10:42 PM

Bài học thất bại của nhà Hồ là đã làm mất lòng dân nên mất nước. Bây giờ, muốn lấy lại nước thì phải biết lấy sức dân mà kháng chiến.

Dân là ai? Dân chủ yếu là ai? Có thể tìm giải đáp ở câu:

      Sào dựng lên làm cờ, tụ hợp bốn phương dân cày phu tráng,
      Rượu hòa suối cùng uống, trên dưới sĩ binh một dạ cha con.


"Dân cày phu tráng" là dịch từ chữ manh lệ. Vậy manh lệ là gì? Manh người dân cày, còn lệ là người tôi tớ, những điền nô, gia nô còn nhiều trong một chế độ thái ấp điền trang tuy suy sụp mà vẫn còn sống và được nhà Minh duy trì. Manh lệ là tất cả những người lao khổ lúc bấy giờ, họ là số đông đảo nhất. Tụ hợp họ lại dưới cờ nghĩa, làm thành sức mạnh lớn của kháng chiến, đó là điều mới của Bình Ngô sách được tóm lại trong Bình Ngô đại cáo. Nếu nhà làm sử không lầm thì đây là lần đầu tiên mà "manh lệ bốn phương" được công khai thừa nhận là lực lượng kháng chiến cơ bản, đặc biệt là trong những năm tháng gian nguy nhất của cuộc kháng chiến. (Và từ độ ấy mãi cho đến Nguyễn Đình Chiểu thì "dân xóm dân lân" mới được ca tụng trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc như những người anh hùng vô danh mà tuyệt diệu; "dân xóm dân lân" của Nguyễn Đình Chiểu, cũng như "manh lệ" bốn phương của Nguyễn Trãi, đều là những lớp người khốn khổ nhất của xã hội đương thời). Phát hiện sức mạnh của dân "manh lệ" như là sức mạnh kháng chiến cơ bản, đó là một điểm rất lớn trong tư tưởng chính trị của những người cầm đầu khởi nghĩa Lam Sơn, của Nguyễn Trãi, đó cũng là nguồn gốc sâu xa nhất của cuộc chiến thắng vĩ đại sau đó. Tất nhiên không phải chỉ có "manh lệ" là lực lượng kháng chiến. Lực lượng kháng chiến bao gồm toàn dân, không sót một ai, giàu lòng yêu nước, có mưu lược:

      Xe đãi hiền vẫn luôn luôn chừa phía tả.

Đoàn kết rộng rãi là một truyền thống tốt ở nước nhỏ phải đương đầu với nước lớn. Nhưng cũng phải nói rằng, Hội nghị bô lão Diên Hồng trước hết là hội nghị của thân hào, thân sĩ, quý tộc; lời hịch của Trần Hưng Đạo nhằm động viên tinh thần của tướng sĩ; còn bây giờ thì "manh lệ" tức đa số nhân dân đã được chú ý đề cao trong chiến đấu lại được nhắc nhở sau chiến thắng, đó là một tiến bộ dài về tư tưởng chính trị mà nguồn gốc là sự tan rã của chế độ thái ấp điền trang, là sự tham gia rộng lớn của chính những người "manh lệ" của cuộc kháng Minh.

Phải khẳng định rằng các nhà lãnh đạo khởi nghĩa như Nguyễn Trãi chẳng những biết nhục vì nước mất mà còn đau lòng vì dân mình bị cuồng Minh bóc lột áp bức bằng nhiều thủ đoạn hết sức dã man. Tấm lòng ưu ái đối với nhân dân, đối với "dân đen", đối với "manh lệ" bốn phương được diễn đạt trong Bình Ngô đại cáo bằng một ngọn bút thần lên án quân xâm lược:

      Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
      Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
      Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
      Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
      Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
      Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
      Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng,
      Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
      Vét sản vật bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng,
      Nhiễu nhân dân bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
      Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
      Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
      Thằng há miệng đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
      Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
      Nặng nề những nỗi phu phen,
      Tan tác cả nghề canh cửi.


Bản án chế độ thực dân Minh tuy chưa phải đã toàn diện - mà làm sao có thể toàn diện được với một số chữ hạn chế - nhưng đủ sâu sắc, đủ rõ ràng, lột trần được sự dã tâm tàn bạo của quân Minh, mô tả được cảnh khốn cùng tột bậc của dân ta, khiến người đọc hơn 500 năm sau vẫn còn thấy sôi sục căm hờn. Thật quả là:

      Đẵn hết trúc Nam Sơn không ghi đầy tội ác,
      Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh hôi.
      Lẽ nào trời đất dung tha,
      Ai bảo thần dân chịu được?


Chắc là trong quá trình phát động khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều bài hịch loại này đã từng được lưu hành khắp chốn để kêu gọi toàn dân, để khơi lòng căm thù và để biến căm thù thành sức mạnh kháng chiến. Điều rất quý là sau khi kháng chiến thành công, các nhà lãnh đạo chính của khởi nghĩa Lam Sơn - Lê Lợi và Nguyễn Trãi - qua Bài cáo bình Ngô vẫn còn nhắc nhở vai trò của "manh lệ tứ phương", của nhân dân cả nước đã từng chiến đấu kiên trì, hy sinh anh dũng, đem lại toàn thắng. Thói thường trong một bài cáo loại này, sau khi nghiệp đế đã dựng lên rồi, thì người ta chỉ tưởng lệ công thần, tri ân Thượng đế, chớ còn nhắc nhở đến dân đen mà làm gì nữa! Nhưng Nguyễn Trãi đã làm khác với "đạo thường" phong kiến mà hợp với lòng người, hợp với nhân nghĩa, hợp với tính chất nhân dân rộng lớn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vừa kết thúc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:12:28 PM

Bốn là, đánh vào quân địch, đánh vào lòng người.

Chúng ta ngày nay không biết được nguyên bản nội dung của hai bộ sách Binh thư yếu lượcVạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Quốc Tuấn. Nhằm mục đích thủ tiêu văn hóa Đại Việt, Minh Thành Tổ đã ra lệnh cho đạo quân ba mươi vạn của Trương Phụ, Mộc Thạnh phải gom và đốt tất cả các sách, một chữ không để sót, gom và đập nát các bia, các chuông không chừa một cái nào. Chắc hai tác phẩm của Trần Quốc Tuấn đã bị quân xâm lược thủ tiêu trước tiên hòng chôn sâu cái nhục nhà Nguyên ba lần bị thất bại. Như vậy, khó mà biết cho rõ vậy Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã lấy được những gì ở binh pháp của Trần Quốc Tuấn. Điều chắc chắn là trong Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú, Bia Vĩnh Lăng người đời sau có thể tìm thấy cả một hệ thống những tư tưởng về chiến lược chiến thuật quân sự đặc sắc, có giá trị lâu dài cho những cuộc chiến tranh giải phóng của nước nhỏ chống sự xâm lăng của nước lớn, tư tưởng đó được Nguyễn Trãi cô đúc thành như những thành ngữ châm ngôn: "... nghĩa binh đóng trên sông Lạc Thủy trước sau đánh hơn hai mươi trận, đều đặt mai phục, dùng kỳ binh, tránh mũi nhọn, thừa chỗ hư, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh" (Bia Vĩnh Lăng).

Bài cáo bình Ngô cũng nói:

      Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,
      Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục.


Hoặc:
      Giữ hiểm để lập công, dùng mưu để lừa địch.
      Đêm thì đốt lửa, ngày thì kéo cờ,
      Chiếm Đỗ Gia để tranh chỗ lợi.

                                         (Chí Linh sơn phú)

Khi khác thì:
      Tuyển quân chọn hiểm để bẻ gãy mũi dùi,
      Điều kỳ binh đón đường cắt lương thực.


Khi khác nữa thì vây thành diệt viện mà mẫu mực là việc vây Vương Thông ở Đông Đô, diệt viện binh mười vạn của Liễu Thăng ở Chi Lăng, Xương Giang, khi ấy ta tập trung nhiều binh lực, đánh rất mạnh, đánh liên tục, vây chặt, diệt gọn: trong 10 ngày đánh bốn trận lớn diệt 4 vạn quân Minh ở khoảng Chi Lăng, trong một trận Xương Giang diệt 6 vạn địch, chỉ để chạy thoát có 1 tên! Thật là thần tốc, thật như sét đánh!

Một bài cáo, một bài phú, một tấm bia, tất nhiên không phải là một quyển binh thư, nhưng ở đó Nguyễn Trãi đã tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và để lại cho đời sau những bài học bất hủ về nghệ thuật tiêu diệt địch. Ở đó, Nguyễn Trãi, Lê Lợi tỏ ra là những nhà chiến lược chiến thuật rất lớn. Nguyễn Trãi càng lớn hơn nữa với chiến lược "đánh vào lòng người”:

      Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.

Bài cáo bình Ngô chỉ có một câu gọn như thế, song "mưu phạt tâm công" (đánh vào lòng người) là cả một chiến lược cơ bản trong Bình Ngô sách mà Nguyễn Trãi đã đệ trình Lê Lợi ngay từ lúc khởi nghĩa Lam Sơn còn ở trong thời trứng nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:13:00 PM

"Đánh vào lòng" là đứng trên miếng đất chính nghĩa, một mặt để tập hợp nhân dân ta thành sức mạnh lớn đương đầu nổi với quân xâm lược; ngày nay gọi là giác ngộ quần chúng, là phát động nhân dân. Đánh vào lòng cũng là đưa trở lại đường ngay những kẻ lầm, làm tan rã những "đảng ngụy gian ác mưu mô bán nước", cô lập bọn nhà Minh đang ra sức dùng "thổ quan", "thổ quân" để kìm kẹp nhân dân. Đối với bọn "thổ quân" này, Nguyễn Trãi kêu gọi họ hoặc kéo ra kháng chiến, hoặc ở lại tại chỗ mà làm nội ứng, nhược bằng ngoan cố làm tay sai cho giặc thì tội sẽ còn nặng hơn tội giặc Minh.

"Đánh vào lòng", mặt khác, mặt rất xung yếu, là giải thích cho quan và quân Minh nhận thấy được cái phi nghĩa và cái thất bại của cuộc xâm lược. Ở chỗ này Nguyễn Trãi tỏ ra là một người nắm vững Bắc sử và đạo lý phổ biến để làm vũ khí tuyên truyền cho mình, nắm vững tình hình chính trị ở nước Minh để vạch trần những chỗ yếu của kẻ xâm lược, nắm vững cả tư tưởng và tính tình của các tướng địch để có cách đối phó hiệu quả với mỗi tên khi cương, khi nhu, bao giờ lý lẽ cũng sắc bén, đầy đủ. Cho nên Liễu Thăng háo thắng được thư của Nguyễn Trãi mà đem nộp mạng một vạn quân tiên phong ở núi Mã Yên; cho nên Mộc Thạnh thận trọng được thư của Nguyễn Trãi mà án binh bất động chờ đến ngày bị đánh bại chỉ trong một trận ở ngay trên biên giới; cho nên Vương Thông dù sợ mang tiếng thượng tướng đầu hàng, dù sợ sấm sét trừng trị của vua Minh, rốt cùng đành chịu dẫn mười vạn quân về nước, bỏ Đông Quan, bỏ Cổ Lộng, bỏ Tây Đô mà không chờ lệnh "thiên triều".

Trường hợp Thái Phúc, Đô đốc trấn thủ thành Nghệ, là một trường hợp điển hình cảm động về tài thuyết phục của Nguyễn Trãi và ý thức "nhân nghĩa" đúng đắn của một người Trung Quốc chân chính. Thái Phúc được Nguyễn Trãi giải thích rằng triều đình nhà Minh miệng thì nói "phục lại nước bị diệt, nối lại dòng bị tuyệt" mà ý thì quyết xâm lược nước Đại Việt; nếu nhằm phục Trần thì còn nói là "nhân nghĩa", song vua Minh bảo rằng sở dĩ sáp nhập Đại Việt vào nước Minh bởi vì họ Trần không còn ai, trong khi ấy thì Trần Cảo sờ sờ đó làm minh chủ cho cuộc kháng chiến; như vậy, việc biến Đại Việt thành quận, huyện nước Minh rõ ràng là phi nghĩa. Làm tướng, làm người, không nên theo phi nghĩa, mà chỉ theo chính nghĩa. Thái Phúc sớm nghe lọt tai; nên Thái phúc sớm phản chiến; ông hạ vũ khí, vận động cho nhiều căn cứ quân sự Minh khác cũng phản chiến như ông. Đến ngày Vương Thông đầu hàng, kéo binh về nước, Lê Lợi và Nguyễn Trãi khuyên Thái Phúc không nên về, tính rằng nếu về thì tất bị giết. Nhưng Thái Phúc tự xác định rằng việc ông phản đối xâm lược nước Đại Việt là việc chính nghĩa, triều đình Minh giết ông, ông chẳng sợ gì. Thái Phúc bình tĩnh về nước, vua Minh giết Thái Phúc. Vua Lê và nhân dân Đại Việt lập ngay đền (đền Tuyên Nghĩa) thờ Thái Phúc ở Rú Thành, Nghệ An, nơi Thái Phúc đã quyết định đứng về phía nhân dân Đại Việt chống lại triều đình nhà Minh xâm lược. Trải nhiều trăm năm, mỗi lúc xuân về, một đám rước đi từ đền thờ Thái Phúc sang đền thờ Lê Lợi, một đám rước khác đi từ đền thờ Lê Lợi ra đón ở cửa, rồi cả hai nhập lại tổ chức lễ đưa thuyền trên sông Lam. Quý hóa thay thái độ của nhân dân Việt Nam! Quý hóa thay thái độ dũng cảm của Thái Phúc!

Mưu lược "đánh vào lòng" quả thật là một mưu lược sâu sắc, thành công. Lý do thành công có hai: đó là chính nghĩa sáng ngời của cả một dân tộc hiên ngang, bất khuất; đó cũng là tài ba xuất chúng và văn chương "thoái lỗ" của Nguyễn Trãi. Không biết trong văn học các dân tộc có mấy tác phẩm được các thế hệ đồng thanh công nhận là "mạnh bằng mươi vạn quân" như Quân trung từ mệnh tập? Thực ra, ở trong thế phải "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh", các vị anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn đã tận dụng khả năng của ngòi bút như là một binh khí cực kỳ sắc bén và họ có đủ tài năng để làm việc khó làm ấy. "Đánh vào lòng", phương lược quý báu mà Nguyễn Trãi nhắc lại vắn tắt một câu trong Bài cáo bình Ngô sẽ được phát huy đến cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh, lần này chẳng những là nhằm vào quân địch trên đất nước ta mà còn nhằm cả vào nhân dân tại nước đi xâm lược, vào nhân dân toàn thế giới, tạo nên phong trào phản chiến rất lớn, góp phần quan trọng làm sụp đổ ý chí xâm lược của bọn thực dân, đế quốc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:15:29 PM

Năm là, kiên trì chiến đấu, vượt mọi gian khổ, cuối cùng thắng lợi triệt để.

Như ở trên đã nói, Bài cáo bình Ngô tóm tắt lịch sử mười năm Lam Sơn khởi nghĩa, và Nguyễn Trãi đã làm nhiệm vụ tóm tắt đó một cách đầy đủ, cung cấp cho các thế hệ một nguồn xúc cảm và phấn khởi, có thể xem là vô tận. Nói về người đứng đầu cuộc khởi nghĩa:

      Ta đây phát tích Lam Sơn, nương thân hoang dã.

Phải chăng là nói lên điều này để phân biệt nguồn gốc xã hội của nhà lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn với nguồn gốc xã hội của các nhà lãnh đạo kháng Minh trước đó, nhà Hồ hay nhà Hậu Trần đều thuộc quý tộc?1 Phải chăng là nói lên điều này để gắn bó Lê Lợi với nhân dân ứng nghĩa? Các nhà sử học đời sau nhận định rằng vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV ở nước ta, giai cấp quý tộc tàn tạ, vai trò lịch sử của họ đã hết. Chí kiên trì kháng Minh của nhà Hậu Trần thật đáng biểu dương, nhưng sức tập hợp nhân dân của họ thì không còn nữa.

Bài cáo bình Ngô mô tả vị thủ lĩnh Lam Sơn khởi nghĩa không phải chủ yếu như một vị cứu tinh "thay trời hành đạo", mà chủ yếu như một người dân chỉ phân biệt với những người dân khác ở chỗ biết căm thù giặc xâm lăng một cách sâu sắc nhất, biết thương yêu nhân dân một cách thiết tha nhất; đọc đoạn văn lên án chế độ thực dân Minh, chúng ta đã thấy rất rõ Lê Lợi cũng là người nuôi hoài bão độc lập dân tộc một cách mãnh liệt nhất:

      Đau lòng nhức óc kể đã mười năm;
      Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.


Và:
      Chí phục thù, thức ngủ chẳng quên.

Giống như Trần Quốc Tuấn khi thảo bài Hịch tướng sĩ: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù".

Như vậy ở chân núi Lam Sơn, Lê Lợi nuôi chí lớn phục thù cũng như Nguyễn Trãi ở góc thành Đông Quan ngay từ khi quân Minh xâm lấn nước ta. Trong khoảng thời gian mười năm, anh hùng "nín hơi lặng tiếng", “lao tâm khổ tứ", quan sát kẻ thù, "lấy xưa nghiệm nay, nghiền ngẫm sách thao lược", tìm vạch một con đường có khả năng nhiều nhất đưa đến giải phóng. Bình Ngô sách không phải một buổi mà có thể thảo ra được, lãnh tụ Lam Sơn khởi nghĩa không phải một ngày mà xuất hiện như vị anh hùng; cả hai đều là kết quả của những tâm hồn yêu nước mãnh liệt, của những suy tư táo bạo dựa trên kinh nghiệm được các thế hệ tích lũy trên thực tế trước mắt và kỳ vọng tha thiết của nhân dân.
_________________________________
1. Lê Lợi "xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp địa chủ là một tầng lớp đang phát triển, và đang có vai trò tích cực lúc bấy giờ" (Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn: Khởi nghĩa Lam Sơn).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:18:43 PM

Bài cáo bình Ngô làm sống lại những ngày gian khổ trong giai đoạn đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Giai đoạn này dài hơn sáu nám. Sáu năm trên mười năm để chuyển yếu thành mạnh, chuyển bại thành thắng. Gian khổ ban đầu càng nhiều thì vinh quang của thắng lợi lúc sau càng lớn. Đọc bài cáo, chúng ta kính phục các vị anh hùng Lam Sơn khi diệt địch với thế chẻ tre, càng kính phục họ khi vượt qua gian khổ buổi đầu với một lòng tin tưởng vững chắc:

      Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
      Chính lúc quân thù đương mạnh.
      Lại ngặt vì:
      Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
      Nhân tài như lá mùa thu.
      Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
      Nơi màn tướng hiếm người bàn bạc.


Nhà Hồ kháng chiến với một quân đội khá hùng hậu, Nhà Hậu Trần dấy nghĩa với số quân sẵn có ở các tỉnh phía Nam. Còn Lam Sơn nổi dậy thì từ không đến có. Lúc ấy (1418) quân Minh đang ở trong thế ổn định dù là tạm thời; thế địch hăng, thế ta cô; sức địch rất mạnh, sức ta yếu quá. Xây dựng lực lượng, khó biết bao nhiêu! Về lịch sử từ 1418 đến 1424, Bài cáo bình Ngô chỉ nhắc lại có hai sự kiện tiêu biểu, Linh sơn và Khôi huyện, nhưng Linh sơn và Khôi huyện vừa đủ gợi lại tất cả những nỗi gian truân khi ấy, vừa nêu cao tinh thần lạc quan tin tưởng ngay trong lúc gian truân tột bậc ấy:

      Khi Linh sơn lương cạn mấy tuần,
      Khi Khôi huyện quân không một lữ.
      Trời thử lòng trao cho mệnh lớn,
      Ta gắng chí khắc phục gian nan.


Bài Phú núi Chí Linh nói càng rõ tình hình của chiến sĩ và của Lê Lợi ở núi Chí Linh:

      Vợ con lưu ly, quân sĩ tan tác,
      Tuy khốn đốn mà lại hay vì có điều sắp vẻ vang.
      Mang giáp trụ để che thân, lấy rau củ làm lương,
      Chí hăm hở lo toan, lòng cầm tức chẳng hề quên.


Lạc quan ngay trong cảnh đen tối, tin tưởng ngay trong khi thất bại liên tiếp, đó mới đúng là chủ nghĩa lạc quan chân chính nhất. Ba lần xuất quân từ Lam Sơn, đánh địch ở miền thượng du; ba lần ta phải rút về núi Chí Linh hiểm trở nhưng dân ít và lương càng ít, bị kẻ địch truy kích, bao vây, dụ hàng nữa. Về đây để "đợi thời chờ dịp, giấu lưỡi sắc, che mũi nhọn". Về đây để khôi phục lực lượng, chuẩn bị đợt xuất quân khác:

      Rồi thu tập tàn quân, nuôi vỗ ân cần,
      Trong rèn chiến cụ, ngoài giả hòa thân.

                                         (Chí Linh sơn phú)

Từ năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn xét thấy vùng thượng du xứ Thanh không đủ rộng về đất, không đủ đông về dân, lại có thể bị quân Minh tấn công hai mặt từ Đông Đô và Tây Đô, nên bất ngờ chuyển hướng hoạt động, mở thượng đạo, vào xứ Nghệ đánh đâu thắng đó, trong một thời gian ngắn mà giải phóng được một vùng rộng lớn nhiều của nhiều dân từ xứ Thanh, xứ Nghệ vào tới đèo Hải Vân, chỉ trừ một số thành như Tây Đô, Nghệ An bị ta bao vây càng ngày càng chặt. Thế của nghĩa quân Lam Sơn chuyển sang giai đoạn tiến công liên tiếp:

      Trần Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
      Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
      Sĩ khí đã hăng,
      Quân thanh càng mạnh.
      Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía;
      Lý An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân.
      Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh đã về chủ cũ.


Nghĩa binh các nơi hưởng ứng, như trăm dòng suối nhỏ đổ nước vào sông to. Nhân dân khắp chốn nhiệt liệt tung hô, góp người, góp của:

      Gạo nước đón rước,
      Người theo đầy đường.
      Hào kiệt nghiến răng vì căm giận,
      Phụ lão nức nở thấy ngày nay.
      Tiếng quân ta càng vang dậy,
      Giặc mỏi mệt càng chạy dài.

                                       (Chí Linh sơn phú)

Quang cảnh chiến đấu và giải phóng, quân dân hợp lực thật là náo nhiệt, cảm động. Tính nhân dân của cuộc chiến tranh giải phóng được ghi lại rõ ràng. Tinh thần quân Minh bắt đầu tan rã.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:20:44 PM

*
* *

Không để mất thì giờ, nghĩa quân Lam Sơn tiến thẳng ra Bắc, đánh những trận tiêu diệt chiến lớn ở Ninh Kiều, Tốt Động, Chúc Động ngay ở phía tây thành Đông Quan:

      Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
      Tốt Động thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu.


Ở đây, ta giết một số địch lớn bằng hai số quân của ta. Đại quân của Vương Thông ở Đông Quan có mười vạn thì mất đứt phần nửa. Thành Đông Quan bốn mặt bị quân ta bao vây chặt:

      Trần Hiệp, Lý Lượng như dưới hố cọp sa,
      Vương Thông, Mã Kỳ như vạc sôi cá nhảy.

                                         (Chí Linh sơn phú)

Thành Đông Quan bị vây thì vua Minh (lúc bấy giờ là Tuyên Đức) tất phải phát binh cứu viện. Nếu ta diệt được viện binh này thì thành Đông Quan tất phải đầu hàng, không đầu hàng thì lực lượng địch có bao nhiêu cũng sẽ bị nghiền nát. Liễu Thăng đưa mười vạn quân từ Vân Nam sang. Ta nhằm vào cánh Liễu Thăng mà diệt trước bằng những trận tiến công liên tiếp, mạnh mẽ, trận sau lớn hơn trận trước. Bài cáo bình Ngô kể lại mấy trận đánh dồn dập trong tháng Chín năm Đinh Mùi:

      Ngày mười tám, Liễu Thăng bị đánh, đồng Chi Lăng cùng kế,
      Ngày hai mươi, Liễu Thăng đại bại, núi Mã Yên phơi thây,
      Ngày hai mươi lăm, Lương Minh trận hãm phải bỏ mình,
      Ngày hai mươi tám, Lý Khánh kế cùng phải thắt cổ.


Người đọc hơn năm trăm năm sau vẫn còn sống lai được cái nhịp tiến công liên tục, chiến thắng liên hồi của nghĩa quân Lam Sơn, địch không kịp đối phó, không kịp thở. Mươi vạn quân Liễu Thăng trong mười ngày đã mất hết bốn vạn. Lúc này, số nghĩa quân được tập trung đông đúc, khí thế ngất trời, chuẩn bị trận đánh lớn cuối cùng nhằm tiêu diệt nốt sáu vạn viện binh còn lại:

      Gươm mài đá, đá núi cũng mòn;
      Voi uống nước, nước sông phải cạn.


Trận đánh lớn cuối cùng, trận Xương Giang hồi trung tuần tháng Mười âm lịch được tả lại một cách đặc biệt hào hùng:

      Đánh một trận sạch không kình ngạc,
      Đánh hai trận tan tác chim muông.
      Cơn gió to trút sạch lá khô,
      Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
      Đô đốc Thôi Tụ quỳ gối dâng tờ tạ tội,
      Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để nộp mình.
      Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
      Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
      Gió mây vì thế mà biến sắc,
      Trời trăng ảm đạm đến lu mời


Sáu vạn quân của đạo viện binh từ Quảng Tây sang, chỉ chạy trốn được có một tên! Thế là mười vạn người của Liễu Thăng bị tiêu diệt hoàn toàn kể cả chủ tướng. Ta thắng lớn ở Chi Lăng, thì:

      ... Quân Vân Nam hồ đồ sợ bóng mà vỡ mật.

Được tin trận đánh Xương Giang khủng khiếp thì

      ... Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.

Cả hai đạo cứu binh của vua Tuyên Đức nhà Minh đông mười lăm vạn vào nước Đại Việt không quá một tháng đã tan tành! Quân Minh bị vây chặt ở Đông Đô, Cổ Lộng, Tây Đô như cá trên thớt, hoàn toàn tuyệt vọng, sống sót hay chết sạch là tùy ở nghĩa quân Lam Sơn dày đức hiếu sinh hay lấy oán báo oán.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:22:00 PM

Sáu là, một đường lối độc đáo kết thúc chiến tranh.

Có thể hình dung được hy vọng của Vương Thông và bè lũ ở Đông Đô như thế nào khi nghe tin viện quân của Liễu Thăng, Mộc Thạnh qua biên giới. Càng dễ dàng suy ra sự kinh hoàng tột độ của chúng khi phái viên của Lê Lợi giải Hoàng Phúc, Thôi Tụ, với ấn tín hổ phù của Liễu Thăng, cho Vương Thông mắt thấy tai nghe ở dưới tường thành Đông Đô.

Sức mạnh so sánh giữa ta và địch bây giờ thay đổi hẳn rồi. Không còn phải "lấy ít địch nhiều" nữa, không còn phải "lấy yếu thắng mạnh" nữa. Quân ta đông hơn ba mươi vạn, tinh nhuệ và quyết tâm cao. Quân địch ở Đông Đô, Cổ Lộng, Tây Đô chỉ non già năm vạn, tinh thần xuống tới mức thấp nhất, người ngựa đều đói, chờ chết trong vòng vây siết chặt. Với sức mạnh so sánh đó, việc kết thúc chiến tranh bằng cách tiêu diệt hoàn toàn quân địch bị vây, đối với ta, khó gì? Giết sạch quân Minh là ý muốn thiết tha và hữu lý của tất cả binh tướng từ cả chục năm nay thề quyết lấy máu kẻ thù mà rửa nhục non sông; thời cơ nay đã tới, đã ở trong tay ta rồi. Nhưng liệu đó có phải là thượng sách hay không? Các nhà lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn cho rằng dùng vũ lực nhổ ba thành còn lại trơ trọi dễ thôi; trước mắt không phải lo sợ một đạo cứu binh mới nữa của triều đình nhà Minh, triều đình nhà Minh đang bị đe dọa từ biên giới phía bắc và cả "từ trong tường vách"; nhân dân nhiều nơi khởi nghĩa đàn áp chưa xong; tiền hết, lương cạn, lính không sẵn, làm thế nào có đủ cứu binh để gửi sang? Mà cho dù gửi thêm mười lăm vạn, hai mươi vạn cứu binh, chắc hẳn cứu binh đó không tránh khỏi số phận bi thảm của Liễu Thăng, Mộc Thạnh. Ta toàn thắng, địch toàn bại là chắc chắn quá rồi. Nhưng Nguyễn Trãi, Lê Lợi nhìn xa hàng chục, hàng trăm năm sau. Cho nên Nguyễn Trãi bàn với Lê Lợi rằng: tình hình lũ giặc bấy giờ, mình ăn gan uống máu chúng nó để trả mối thâm thù, không phải là việc khó, nhưng như vậy sẽ kết oán liên miên với triều Minh, không sớm thì muộn, để giữ thể diện nước lớn, triều Minh lại sẽ động binh nữa, chúng sang thì ta diệt, nhưng về phần ta, ta ắt phải mệt nhọc thêm, hy sinh thêm, cái họa binh đao đến bao giờ mới hết được? Chi bằng ta thừa lúc địch lâm vào thế cùng để ta cùng họ hòa hiếu, chấm dứt chiến tranh, cứu sinh linh hai nước, ta thì vẹn đất và có hòa bình, còn họ thì không đến nỗi quá mất mặt.

Như vậy, dựa bên lý do chính trị có lý do nhân đạo, dựa bên sự tính toán thiệt hơn về lâu về dài có đức lớn hiếu sinh vốn sẵn của dân tộc.

Thế là cách hay nhất dẫn tới kết thúc chiến tranh một cách tốt đẹp là dụ hàng rồi tha hàng binh về nước, họ về nước với tấm lòng cảm phục ta và với ý chí xâm lược tuyệt đối bị tan vỡ:

      Giặc khốn ở các thành, theo nhau giải giáp để ra hàng.
      Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
      Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.


Và:
      Chúng đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng,
      Ta lấy toàn quân là hơn để nhân dân nghỉ sức.
      Chẳng những mưu kế kỳ diệu,
      Cũng là chưa thấy xưa nay.


Mưu kế của Nguyễn Trãi rất sâu. Thực hiện mưu kế ấy phải công phu, khéo léo. Đối với Vương Thông, nống ra thì bị đánh bật trở vào; chờ viện nữa thì biết chừng nào có? Và liệu nghĩa quân Lam Sơn để cho sống sót còn được bao lâu để mà chờ viện? Nhưng nếu nghe theo thư dụ hàng của Nguyễn Trãi, bãi binh khi triều đình chưa ra lệnh bãi binh, thì triều đình có để cho toàn tính mạng hay không? Vương Thông hoang mang tột độ. Nguyễn Trãi phải giải thích cho Vương Thông bằng binh thư của Tôn Tử rằng tướng ở biên cương có quyền quyết định, thậm chí có quyền làm trái lệnh vua. Nguyễn Trãi cũng giải thích cho Vương Thông rằng rút quân khỏi Giao Chỉ không phải là trao đất triều đình cho người khác, bởi vì Giao Chỉ chưa hề thuộc triều đình Bắc quốc bao giờ. Vương Thông không chối cãi được lý lẽ đanh thép, hợp lý và hợp tình của Nguyễn Trãi. Y gửi mật thư về triều, nhận xét rằng nếu muốn chiếm Giao Chỉ một lần nữa thì phải gửi mấy chục vạn quân với hàng chục tướng cỡ Trương Phụ mà cho dù chiếm được, rồi cũng không thể giữ được. Tinh thần của bản thân Vương Thông cũng tan vỡ hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 05:23:12 PM

Lễ "hội thề" ở bên thành Đông Quan là một cách ta để cho Vương Thông công khai tuyên bố đầu hàng, xin an toàn rút quân về nước. Hãy nghe lời thề được viết ra và đọc lên thì đủ rõ tinh thần của Vương Thông tan rã đến mực nào và cuộc đầu hàng diễn ra éo le và nhục nhã như thế nào: "Nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề không làm theo lời giao ước lập tức đem quân về nước mà còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh, cùng là ngày về đến triều, không theo sự lý trong bản tâu mà bàn khác đi, hoặc cho quan quân qua đâu cướp bóc nhân dân, thì Trời Đất cùng Danh Sơn, Đại Xuyên và Thần Kỳ các xứ tất đem bọn quan Tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông từ bản thân cho đến cả nhà thân thích đều làm cho chết hết, đến cả quan quân cũng không một người nào được về đến nhà".

Đến đây thì rõ ràng kẻ địch thật lòng chịu hạ khí giới.

Lê Lợi ra lệnh mở vây.

Số quân Minh, quân bị vây và quân bị bắt sống, trong ngoài mười vạn, chia ra hai đường thủy bộ, không cờ không trống kéo nhau về nước.

      Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
                                                                                ra đến bể mà còn hồn bay phách lạc;
      Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Ánh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
                                                                                về đến nước mà vẫn ngực đập chân run.


Nếu có người hoài nghi:

- Làm gì đến đỗi về tới nước rồi mà còn "ngực đập chân run". Làm gì đến đỗi ra biển khơi rồi mà còn "hồn bay phách lạc"? Hay là viết như vậy để nói lên một cách bóng bẩy rằng chúng đã khiếp sợ?

Thì ta đáp:

- Có lắm chớ! Chẳng nhớ rằng đã từng có sứ thần nhà Nguyên tại Thăng Long, nghe tiếng trống đồng mà sợ đến bạc tóc đó sao? Chính tay họ viết ra hình tượng ấy, nào phải nhà văn hay chính khách của ta bày vẽ ra đâu!

Tâm lý chiến bại của quân tướng nhà Minh là như vậy đó: ra khỏi biên giới Đại Việt rồi mà vẫn "hồn bay phách lạc", "ngực đập chân run"! Bài cáo bình Ngô không nói rằng đó là tâm lý của quân lính Bắc phương; lịch sử ta chép: họ rất mừng và khi đi qua dinh Bồ Đề, họ không quên tạ ơn Bình Định vương Lê Lợi.

Chiến tranh dài 20 năm kết thúc rất đẹp bằng hiệu quả tổng hợp của quân sự, chính trị, ngoại giao, bằng sức mạnh của vũ khí và tài ba, ý thức của con người yêu nước, bằng chính nghĩa, đạo lý, lòng nhân và ý chí hòa bình của dân tộc ta. Bình Ngô đại cáo cuối cùng nêu cao một lý tưởng vĩ đại nối liền dân tộc ta với toàn thể loài người; lý tưởng độc lập của các dân tộc trong một cảnh tượng hòa bình trường cửu:

      Xã tắc từ đây vững bền,
      Giang sơn từ đây đổi mới.
      Càn khôn bĩ mà lại thái,
      Nhật nguyệt mờ mà lại trong.
      Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
      Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:08:43 PM

Bảy là, "Bài cáo bình Ngô” là bản "Thiên cổ hùng văn":

Bình Ngô đại cáo được các thế hệ sĩ phu đồng thanh đánh giá là "thiên cổ hùng văn". Ngày nay, chúng ta cũng nhận định như vậy.

Là hùng văn, bởi vì chỉ cần trong mấy trang ngắn gọn, bài cáo trình bày đầy đủ và có hệ thống cả lịch sử cuộc chiến đấu gay go và chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta trong suốt mười năm khởi nghĩa Lam Sơn, gây được ở mỗi người chúng ta một phấn khởi mãnh liệt, một tự hào chính đáng mà thời gian dài mấy thế kỷ không hề làm giảm sút. Phẩm chất con người và dân tộc được Nguyễn Trãi khám phá và đề cao trong Bài cáo bình Ngô, khiến mỗi người chúng ta đọc hay nghe áng văn bất hủ này, tự nhiên như phát hiện ra mình và tin tưởng hơn ở chính mình.

Là hùng văn, bởi vì, trong cái thể tổng kết chiến tranh cứu nước, Bài cáo bình Ngô chứa đựng, cô đúc, truyền đạt những tư tưởng quân sự, chính trị và triết lý vĩ đại của dân tộc ta trong lần chiến tranh giải phóng này, những tư tưởng đó được hình thành từ trước, được phát triển khá hoàn chỉnh trong mười năm đánh Minh, mãi mãi có tác dụng hướng dẫn sự nghiệp bảo vệ và xây dựng nước nhà, mãi mãi có khả năng làm phấn khởi nhân dân, làm cho mỗi người dân thường đều có thể trở thành một vị anh hùng.

Trên những phương diện cơ bản ấy, từ trước đến cận đại, Bài cáo bình Ngô chiếm vị trí độc nhất vô nhị trong văn chương Việt Nam.

Ý cực kỳ hay thì đã rõ, quá rõ. Còn lời hay cụ thể là thế nào? Chỉ xin gợi ý một ít điểm tâm đắc sau đây:

Bài cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi dùng từ rất sắc sảo thâm thúy, thật chính xác, tuy dễ hiểu mà lắm khi khó diễn dịch ra quốc ngữ mặc dù ngày nay ta có một khối lượng từ Hán Việt khá lớn.

      Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập;
      Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.


Hoặc:
      Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước;
      Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.


Đó là hai bản dịch có thể xem như sát nhất lâu nay, dịch câu:
      Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc;
      Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.


"Các đế nhất phương" mà dịch ra là "mỗi bên hùng cứ một phương" hay "đều chủ một phương", rõ ràng gần sát mà chưa sát, chưa lột hết tinh thần của "các đế nhất phương"; chữ đế nhiều ý nghĩa, giàu tính chiến đấu và gợi cảm xúc lịch sử nhiều hơn chữ "chủ" và "hùng cứ". Chữ đế trong "các đế nhất phương" của Bình Ngô đại cáo dắt ta trở về với Lý Nam Đế, với Đinh Tiên Hoàng, với "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Đối với triều đình phong kiến phương Bắc họ có đế ở xứ họ, ta có đế ở xứ ta; có Như Nguyệt, Bạch Đằng, Hàm Tử, Xương Giang làm chứng cho cái quyển "các đế nhất phương" đó. Chữ đế trong "các đế nhất phương" còn gợi lên một ý niệm triết lý đã từng ăn sâu vào tư tưởng chẳng những của sĩ phu mà luôn của nhân dân nữa: nghĩa là chỉ có chịu mệnh trực tiếp của trời; trên đầu không ai; không một ai được quyền sai khiến dù ai đó cũng là đế ở một phương nào to lớn đến đâu đi nữa. Trong triết lý của Nguyễn Trãi và của nhiều sĩ phu tiến bộ, trời là dân, dân muốn thì trời theo.

Như vậy chữ "hùng cứ", chữ "chủ" ở các bản dịch không làm rung động dây tình cảm dân tộc và ý tự hào dân tộc đến mức thiêng liêng và không gợi được tư duy triết học sâu sắc như chữ đế của nguyên văn Bình Ngô đại cáo.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:10:05 PM

Trong Bài cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi khéo sáng tạo ra những hình tượng gợi ý, gợi cảm, những hình tượng đặc sắc Việt Nam, một khi ta đọc rồi thì nhớ mãi: như để kết thúc đoạn văn lên án bóc lột của thực dân Minh, Nguyễn Trãi viết:

      Đan hết trúc Nam Sơn không ghi đầy tộc ác;
      Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh nhơ.


Hay là khi mô tả khí thế quân và dân ta chuẩn bị trận đánh Xương Giang có tính chất quyết định cho toàn cuộc chiến tranh:

      Gươm mài đá, đá núi cũng mòn.
      Voi uống nước, nước sông phải cạn,


Thường thường nhà Nho hay lấy lại những hình tượng quen thuộc trong lịch sử và văn chương Bắc quốc, Nguyễn Trãi không từ chối cái thói quen ấy, nhưng Nguyễn Trãi đã sáng tạo và sáng tạo rất thành công nhiều hình tượng mang màu sắc dân tộc: "chẻ trúc Nam Sơn", "voi uống nước", "ổ kiến khi đê vỡ"...

Ở mức cao hơn nữa, người đọc có thể chú ý đến những hình tượng có đặc điểm triết lý rất là Nguyễn Trãi như:

      Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
      Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
      Gió mây vì thế mà biến sắc,
      Trời trăng ảm đạm đến lu mờ.


Hoặc:
      Lãnh Câu nước chảy thắm dòng, nước sông ấm ức,
      Đan Xá thây chồng thành núi, cỏ nội thẫm hồng.


Những hình tượng "gió mây biến sắc", "trời trăng ảm đạm đến lu mờ", "nước sông ấm ức" sở dĩ là mới mẻ, là Việt Nam, là Nguyễn Trãi, tất nhiên không phải ở những chữ biến sắc, ảm đạm, lu mờ hay ấm ức, những chữ ấy có gì lạ đâu, nhưng mà ở đây hình tượng nói lên cái thâm ý của tác giả là cuộc chiến thắng của quân ta oanh liệt đến thế, làm thay đổi cục diện đến thế, tuy vậy lòng người chiến thắng được trời đất núi sông thông cảm là có vui gì với cảnh "máu trôi đỏ nước", "thây chồng thành núi" đâu, hơn ai hết, người chiến thắng ở Lạng Sơn, Lạng Giang, Lãnh Câu, Đan Xá, muốn cho "càn khôn bĩ rồi lại thái”, "nhật nguyệt mờ rồi lại trong", cho các dân tộc lớn nhỏ đều bình đẳng với nhau và được hưởng "thái bình muôn thuở". Hình tượng rất Việt Nam, rất Nguyễn Trãi là ở chỗ đó, ở tầm cao của đạo lý, của triết lý.

Nói về địch, Nguyễn Trãi dùng những từ rất nhọn bén nào là: "miệng răng nhờn béo" để nói bọn quan đô hộ hút máu mủ sinh linh; nào là "nhãi ranh" để chỉ vua nhà Minh; nào là "vẫy đuôi" để nói cái hèn của tướng giặc sợ chết.

Thôi Tụ thì "quỳ gối", Hoàng Phúc thì "nộp mình”, Phương Chính "nín thở", Trần Trí "bở vía". Ta căm thù địch, ta càng khinh bỉ địch. Văn Nguyễn Trãi gợi lên những cảm xúc ấy mạnh mẽ.

Nhịp điệu trong Bài cáo bình Ngô thật là đặc sắc. Bản văn lịch sử hay là bản nhạc về một cuộc chiến tranh giải phóng oai hùng? Bắt đầu vào thì văn chương trang nghiêm dắt ta lên bậc cao vọi của những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Rồi, khi nghe lên án chế độ thực dân Minh, ta dường nghe vọng từ hơn 500 năm nỗi căm thù, giận dữ của ông cha. Bước vào buổi đầu của Lam Sơn khởi nghĩa thì sâu thẳm trong sự băn khoăn vì lẽ ta yếu địch mạnh. Chuyển sang giai đoạn tiến công thì dồn dập, nghe như tiếng sắt thép chạm nhau, thấy như trời đất thông cảm với chiến sĩ. Cuối cùng thì khoan hòa, cởi mở, như được thở không khí thanh bình. Thể văn tứ lục mà biến hóa không gò bó. Toàn bộ tác phẩm được vận dụng rất lôgích, nhịp điệu văn chương phù hợp với nội dung lịch sử của mỗi giai đoạn cụ thể. Nếu một nhạc sĩ hay một tập thể nhạc sĩ ngày nay có đủ cảm hứng để viết lên một bản đại hợp xướng bình Ngô thì những bản ấy đã có sẵn một phần chất liệu trong áng văn tuyệt diệu của Nguyễn Trãi.

Nhìn bao trùm, dễ thấy Bài cáo bình Ngô vừa là áng văn chương chính luận mà vừa là áng văn chương trữ tình. Chẳng vui sao khi thấy địch vẫy đuôi cầu sống, ra về an toàn mà hồn bay phách lạc, ngực đập chân run? Chẳng tức giận sao khi đọc bản án chế độ thực dân Minh? Chẳng thương sao khi nghĩ đến lúc Lê Lợi lương cạn mấy tuần, quân không một lữ, vợ con tan tác? Chẳng tự hào và tràn đầy phấn khởi sao khi dưới mắt ta diễn ra cảnh tượng mười vạn quân Minh sống sót được ta tha về và được cấp cả ngựa lẫn thuyền?


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:11:23 PM

Tám là, "Bài cáo bình Ngô” là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của đất nước ta.

Gần đây, một số nhà sử học trân trọng gọi Bài cáo bình Ngô là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai, hàm ý rằng bài Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt được xem là bản Tuyên ngôn độc lập thứ nhất; Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình, Ha Nội, ngày 2 tháng 9 năm 1945 là bản cuối cùng. Nhà sử học cũng muốn nói: Nam quốc sơn hàBài cáo bình Ngô đều có giá trị lịch sử như là những bản "Tuyên ngôn độc lập", và cả ba bản nối tiếp nhau để khẳng định quyền của dân tộc ta sống độc lập, tự do, và để cảnh cáo cho bất kỳ quân xâm lược nào rằng, hễ chúng liều lĩnh xâm phạm quyền thiêng liêng ấy thì chúng không thể nào tránh khỏi thất bại thảm hại.

Lưu vực sông Cầu, không rõ từ lúc nào, có nhiều ngôi đình làng thờ Trương Hống, Trương Hát, hai danh tướng của Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương, từng cầm quân đánh nhà Lương (Trung Quốc) hồi thế kỷ VI. Nhân dân nhớ công đức, tôn thần cả hai anh em họ Trương. Tương truyền rằng hai vị thần anh hùng này rất linh ứng, hằng giúp dân. Năm 1076, trên mặt trận sông Cầu, bờ Nam thì quân ta, bờ Bắc thì quân Tống, cuộc chiến tranh diễn biến ác liệt. Khi ấy, đêm đêm, từ các ngôi đình thờ Trương Hống, Trương Hát, vọng ra tiếng ngâm một bài thơ:

      Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
      Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
      Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
      Nhữ đang hành khan thủ bại hư.


Nghĩa là:
      Sông núi nước Nam vua Nam ở
      Rành rành định phận tại sách trời
      Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
      Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Quân ta nghe bài thơ, tinh thần phấn khởi. Quân Tống nghe bài thơ, tinh thần dao động, rã rời. Lý Thường Kiệt vừa tiến công địch, vừa thương lượng để quân Tống vì thấy không thể nào đạt mục đích mà phải rút về, ta có thể "không nhọc binh tướng, khỏi tốn xương máu mà bảo tồn được tôn miếu". Tháng 3 năm 1077, quân Tống rút chạy, giày đạp lên nhau, mong thoát chết. Cuộc kháng Tống thắng lợi. Triều đình Tống bị buộc phải công nhận nước Đại Việt là vương quốc độc lập. Trong cuộc chiến thắng này, bài Nam quốc sơn hà thực sự đã có một tác dụng động viên quan trọng đến mức có thể xem đó là áng văn yêu nước lớn nhất của thời Lý. Bài Nam quốc sơn hà biểu hiện tinh thần chống xâm lăng của dân tộc ta khi ấy. Nam quốc sơn hà là lời khẳng định quyền độc lập thiêng liêng của dân tộc ta, cũng là lời cảnh cáo quân cướp nước bất kỳ chúng lớn mạnh, tàn bạo như thế nào. "Sông núi nước Nam, vua Nam ở" tức là đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam làm chủ chớ không thể ai khác được. "Định phận tại sách trời" tức là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, ai xâm phạm thì tất phải bị tiêu diệt, "Thần Trương Hống, Trương Hát ngâm thơ" tức là sức mạnh của dân tộc bắt nguồn từ sức mạnh truyền thống nghìn năm quyết tâm "thà hy sinh tất cả chớ không chịu làm nô lệ". Bóc đi cái vỏ thần bí thích ứng với tâm hồn nhân dân thời ấy, thì còn lại cái hạt nhân chủ nghĩa yêu nước vốn là tư tưởng chủ yếu của người Việt Nam từ thượng cổ.

350 năm sau bài Nam quốc sơn hà là bài Bài cáo bình Ngô. Chữ "đế cư" trong Nam quốc sơn hà được tiếp nối bằng chữ "các đế" trong Bài cáo bình Ngô.

Bài cáo bình Ngô cũng là lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc ta; lần này, quyền ấy không phải được ghi ở sách trời mà được cấu tạo bởi các điều kiện địa lý, lịch sử, phong tục, văn hóa tổng hợp lại, đặc biệt là được biểu hiện ở ý thức dân tộc, ở tự hào dân tộc, ở khả năng tự chủ tự cường mà bằng chứng là cuộc sống độc lập lâu dài và biết bao thành tích vang dội trên các chiến trường đánh Tống, diệt Nguyên, quét Minh. Lời cảnh cáo trong Nam quốc sơn hà thì vắn tắt, vắn tắt mà đanh thép; lời cảnh cáo trong Bài cáo bình Ngô là cả lịch sử của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, là một chuỗi đại bại nhục nhã của vua tôi Bắc quốc. Nam quốc sơn hà ra đời dưới dạng một bài cổ động không chính thức; còn Bài cáo bình Ngô là tiếng nói trịnh trọng của vua nước ta, trực tiếp cho dân nước ta, gián tiếp cho triều đình Bắc quốc, cho nên, trên thực tế lịch sử, Bài cáo bình Ngô như mang đầy đủ nội dung, tính chất của một bản Tuyên ngôn độc lập, bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài Nam quốc sơn hà.

Hơn 500 năm sau Bình Ngô đại cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Ba Đình, Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tiếp theo Lý Thường Kiệt và Nguyễn Trãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và cảnh cáo thực dân chớ liều lĩnh xâm phạm quyền độc lập tự do ấy:

"Các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thật sự đã thành nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

Lịch sử kháng chiến dài 30 năm từ 1945 đến 1975 chứng tỏ rằng lời khẳng định, lời cảnh cáo trong Tuyên ngôn độc lập không phải chỉ là lời nói của một Chính phủ Lâm thời, đó chính là quyết tâm của cả một dân tộc.

Nam quốc sơn hà, Bài cáo bình Ngô, Tuyên ngôn độc lập là những giai đoạn phát triển của một lý tưởng:

"Không có gì quý hơn độc lập, tự do".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:22:06 PM

Phần thứ hai
PHỤ LỤC


NGUYỄN TRÃI
BÀI CÁO BÌNH NGÔ

Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt1 trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Vì vậy:
Lưu Cung2 tham công nên thất bại,
Triệu Tiết3 thích lớn phải tiêu vong.
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô4,
Sông Bạch Đằng5 giết tươi Ô Mã.
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi.
__________________________________
1. Điếu phạt: Do câu "điếu dân phạt tội", nghĩa là: thương xót nhân dân, trừng phạt kẻ có tội.
2. Lưu Cung: Vua Nam Hán, sai con là Hoằng Thao đem quân xâm lấn nước ta, bị Ngô Quyền đánh bại. Cung sau đổi tên là Nghiềm. Bản Hoàng Việt văn tuyển viết là Nghiễm.
3. Triệu Tiết: Tướng nhà Tống, đem quân sang đánh nước ta đời Lý, bị Lý Thường Kiệt đuổi chạy.
4, 5. Toa Đô, Ô Mã tức Ô Mã Nhi: hai tướng nhà Nguyên sang đánh nước ta đời Trần. Theo sử, Toa Đô bị thua trận ở Tây Kết (Hưng Yên) và bị giết, còn Ô Mã Nhi thì bị bắt ở sông Bạch Đằng năm 1288. Nguyên văn ở đây có lẽ in nhầm.
    Hàm Tử, Bạch Đằng: Bến Hàm Tử (Hưng Yên) là nơi Trần Nhật Duật phá quân Toa Đô. Sông Bạch Đằng (Quảng Ninh) là nơi Ô Mã Nhi bị bắt sống.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:30:54 PM

Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ1 xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
                                         ngán thay cá mập thuồng luồng-
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
                                         khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim trả2, chốn chốn lưới chăng;
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất,
                             chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc3 Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi,
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần dân chịu được?
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình.
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời;
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao4 suy xét đã tinh;
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế5 đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi6.
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh.
_____________________________________
1. Con đỏ: Chỉ nhân dân.
2. Chim trả (sả), hươu đen: Hai thứ báu vật mà quan lại nhà Minh bắt dân ta cống nộp.
3. Trúc: Xưa chưa có giấy, chép sử trên thẻ trúc, đây nói tội ác nhiều vô cùng, ghi chép không hết.
4. Lược thao: Tam lược lục thao, hai sách dạy binh pháp.
5. Hưng phế: Nói việc các triều đại khi dựng lên, khi bị lật đổ.
6. Đồ hồi: Mưu tính việc khôi phục lại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:36:55 PM

Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác1 hiếm người bàn bạc.
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông2;
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chăm còn dành phía tả3
Thế mà:
Trông người người càng vắng bóng,
                                  mịt mù như nhìn chốn bể khơi;
Tự ta ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần thì giận hung đồ4 ngang dọc,
Phần thì lo quốc vận5 khó khăn.
Khi Linh sơn6 lương hết mấy tuần,
Khi Khôi huyện7 quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho đại nhậm,
Ta gắng chí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
                               dựng cần trúc ngọn cờ8 phấp phới;
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu9 ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh;
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
_____________________________________
1. Nơi duy ác: Mùng màn trong quân đội, nơi tướng chỉ huy ở bàn bạc việc quân.
2. Về đông: Do chữ "dục đông" trong nguyên văn, lấy lời của Lưu Bang khi bị Hạng Võ phong cho vào Tây Thục, Lưu Bang có ý bực tức nói: "Dư diệc dục đông nhĩ, an năng uất uất cửu cư thử hồ?" (Ta cũng muốn trở về đông, sao chịu bực tức mà ở mãi chốn này ư?). Nguyễn Trãi mượn lời này để nói Lê Lợi khởi nghĩa ở Thanh Hóa (Tây Đô) muốn tiến ra Đông Đô (Hà Nội).
3. Phía tả: Tín Lăng Quân nước Ngụy nghe tiếng Hầu Doanh là một người hiền sĩ, đem xe đến đón, mình ngồi phía hữu, để trống phía tả cho Hầu Doanh (bên tả là ngồi trên). Nghĩa bóng là tìm người hiền giúp việc.
4. Hung đồ: Chỉ quân giặc.
5. Quốc vận: Dịch chữ quốc bộ trong nguyên văn.
6. Linh sơn: Núi Chí Linh, thuộc huyện Lang Chánh, thượng du Thanh Hóa.
7. Khôi huyện: Cũng gọi là Khôi Sách, một địa điểm gần núi Chí Linh (Thanh Hóa).
8. Ngọn cờ: Do chữ "yết can vi kỳ" trong Hán thư (truyện Trần Thắng, Hạng Tịch): Lấy cần trúc làm cờ. Ý nói khởi binh vội vàng.
9. Chén rượu: Nguyên văn "đầu giao hưởng sĩ". Xưa có viên tướng giỏi, được người ta biếu một bình rượu, bèn dốc xuống dòng sông, đế ba quân cùng múc nước uống, tỏ ý chia ngọt sẻ bùi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:47:15 PM

Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng1 sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân2 trúc chẻ tro bay3.
Sĩ khí đã hăng,
Quân thanh càng mạnh4.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân5.
Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh6 quân ta chiếm lại;
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô7 đất cũ thu về.
Ninh Kiều8 máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm;
Tốt Động9 thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc, Trần Hiệp đã phải bêu đầu;
Mọt gian kẻ thù, Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy;
Mã Ánh cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng10.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt;
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
                                 ta đây mưu phạt tâm công11
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ;
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính,
                                 lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác;
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian
______________________________________
1. Bồ Đằng: Tên một ngọn núi, cũng gọi là Bồ Liệp hay Bồ Cứ, thuộc Quỳ Châu (Nghệ An) (đừng lẫn với Bồ Đề ở bờ sông Nhị Hà).
2. Trà Lân: Cũng được gọi là Trà Long, thuộc phủ Tương Dương, Nghệ An.
3. Trúc chẻ tro bay: ý nói quân giặc tan rã.
4. Sĩ khí, quân thanh: Chí khí và thanh thế của binh sĩ.
5. Trần Trí, Sơn Thọ, Lý An, Phương Chính: Các tướng nhà Minh.
6. Tây Kinh: Tức thành Tây Nhai (Thanh Hóa) do nhà Hồ đắp.
7. Đông Đô: Tức Thăng Long (Hà Nội).
8. Ninh Kiều: Tức Ninh Giang.
9. Tốt Động: Cũng có sách ghi là Tụy Động: một xã ở huyện Mỹ Lương (nay là Chương Mỹ, (Hà Tây) Hà Nội).
10. Trần Hiệp, Lý Lượng, Vương Thông, Mã Ánh: Tướng giặc Minh.
11. Mưu phạt tâm công: Đánh bằng mưu trí và đánh vào lòng người.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 10:52:36 PM

Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức1, động binh không ngừng;
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng2, đem dầu chữa cháy.
Đinh Mùi tháng chín Liễu Thăng đem binh
                                               từ Khâu Ôn tiến lại;
Năm ấy tháng mười Mộc Thạnh chia đường
                                               từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong;
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tám trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế.
Ngày hai mươi trận Mã An3 Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm lăm bá tước Lương Minh bại trận tử vong,
Ngày hăm tám thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn!
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá,
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau.
Lại thêm quân bốn mặt vây thành,
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc.
Sĩ tốt kén người hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.
Gươm mài đá đá núi cũng mòn,
Voi uống nước nước sông phải cạn.
Đánh một trận4 sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang5, Lạng Sơn, thây chất đầy đường;
Xương Giang, Bình Than6, máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ.
_____________________________________
1. Tuyên Đức: Niên hiệu vua Tuyên Tông nhà Minh.
2. Thạnh, Thăng: Chỉ Mộc Thạnh, Liễu Thăng: tướng nhà Minh.
3. Mã An: ở xã Mai Sơn, thuộc Lạng Sơn.
4. Đánh một trận, đánh hai trận: Nguyên văn là "nhất cổ, tái cổ": tức là hồi trống thứ nhất, hồi trống thứ hai khi ra trận.
5. Lạng Giang: Nay là Bắc Giang.
6. Xương Giang: Một thành do quân Minh xây dựng, nay thuộc thị xã Bắc Giang.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Mười, 2016, 11:00:32 PM

Bị ta chẹn ở Lê Hoa1, quân Vân Nam nghi ngờ
                                         khiếp vía mà vỡ mật;
Thua quân ta ở Cần Trạm2, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu3 máu chảy trôi chày4,
                                         nước sông nghẹn ngào tiếng khóc;
Thành Đan Xá thây chất thành núi,
                                         cỏ nội đầm đìa máu đen
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp;
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;
Thần vũ chẳng giết hại5,
                       thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
                                         ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc;
Vương Thông, Mã Ánh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
                                         về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng;
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kỳ diệu,
Cũng là chưa thấy xưa nay.
Xã tắc6 từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ mà lại thái7,
Nhật nguyệt hối mà lại minh8
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng
                                         ngầm giúp đỡ mới được như vậy.
Than ôi!
Một cỗ nhung y9 chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;
Bốn phương biển cả thanh bình,
ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần báo cáo.
Ai nấy đều hay.


Dựa theo bản dịch của Bùi Kỷ10.
_________________________________________
1. Lê Hoa: Có lẽ thuộc vùng giáp giới Lào Cai hoặc Hà Giang ngày nay.
2. Cần Trạm: ở giữa vùng Lào Cai và Vân Nam.
3. Lãnh Câu và Đan Xá (câu dưới): ở gần ải Lê Hoa.
4. Máu chảy trôi chày: Do chữ "huyết lưu phiêu chử" ở Kinh Thư. Ý nói giặc bị chết nhiều.
5. Thần vũ chẳng giết: do chữ "thần vũ bất sát" ở Kinh Dịch. Ý nói việc uy vũ thiêng liêng không có giết hại.
6. Xã tắc: Nghĩa đen: nơi tế thần Đất gọi là xã, và nơi tế thần Lúa gọi là tắc. Nghĩa bóng: chỉ đất đai bờ cõi của một quốc gia.
7. Bĩ mà lại thái: Qua cơn loạn lạc, trở lại thái bình.
8. Hối mà lại minh: Tối rồi lại sáng.
9. Nhung y: Áo giáp mặc khi ra trận, đây chỉ việc đánh giặc. Thiên Vũ thành trong Kinh Thư có câu: "Nhất nhung y, thiên hạ đại định" (một cỗ nhung y mà thiên hạ được bình định).
10. Bản này do Bùi Văn Nguyên dịch, dựa theo bản của cụ Bùi Kỷ, có tham khảo ý kiến của cụ Bùi Kỷ lúc sinh thời và một số các cụ thâm nho khác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 06:59:28 AM

PHÚ NÚI CHÍ LINH

Rồng thiêng dậy, bay rợp Lam Kinh1
Giáo trời chỉ, dẹp tan Bắc binh
Dựng nước thành công nhiều khó nhọc
Miền Tây2 sông núi hẳn anh linh
Ôi! Vua ta tài thánh vũ
Đứng lên bốn phương kinh dinh
Vận nước gian truân, khổ tâm lo tính
Thấy lẽ tất yếu của trời, càng quyết chí để nghiệp thành
Nhờ thế ngày nay Hồ Việt được một nhà,
                                              mà núi này cũng lưu danh muôn thuở
Khi nghĩa quân mới dấy là lúc thế giặc đương hăng
Anh hào cả nước lưa thưa như lá thu gặp sương3
Chí nuốt giặc Ngô, ai Chủng, ai Lãi
Mưu dựng nghiệp Hán, ai Bình, ai Lương4
Vua ta ẩn náu núi này, đành bặt tăm hơi, bưng kín ánh sáng
Vợ con lưu lạc, quân sĩ tha phương
Trong cảnh khốn vẫn bền lòng, vững tin ở ngày hưng vượng
Lấy giáp sắt làm áo mặc, lấy rễ rau làm quân lương
Chí rộn ràng lo khôi phục, lòng u uất thật khôn lường
Tưởng núi này lúc ấy khác nào đất Mang Đãng5 khi Hán hoàng khởi nghiệp
_________________________________
1. Lam Kinh là Lam Sơn, quê của Lê Lợi, từ khi Lê Lợi lên làm vua, tại đó có xây dựng cung điện nên gọi là Lam Kinh.
2. Miền tây, hay Tây thổ, Tây kinh, Tây đô đều chỉ miền Thanh Hóa thời bấy giờ.
3. Mùa thu, lá cây bị khô rụng, gặp sương càng rụng nhiều. Ý câu này muốn nói anh hào cả nước ít ỏi quá.
4. Thời xưa, ở Trung Quốc, nước Việt bị nước Ngô đánh chiếm, về sau vua nước Việt là Câu Tiễn được những người có tài là Văn Chủng, Phạm Lãi giúp sức, đánh thắng được nước Ngô, khôi phục được nước Việt. Khi nhà Hán khởi nghiệp, Lưu Bang cũng được những người có tài như Trương Lương, Trần Bình giúp sức, nên đánh được nước Tần, diệt được nước Sở, dựng nên cơ đồ đế vương ở Trung Quốc. Tới đây Lê Lợi cũng muốn có được những người tài như thế.
5. Mang Đãng: vùng núi ở Giang Tô. Lưu Bang trước khi dấy binh đánh Tần thường ẩn náu tại đây.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 07:01:40 AM

Biết người, biết mình, khi mềm, khi mạnh
Chờ thời, rình mệt, giấu nhọn, che sắc
Gối củi nằm gai, ngậm cay nuốt đắng
Lo rửa nhục trước, giành lại quê hương
Tưởng núi này khi đó, khác nào đất Cối Kê1 thời Việt vương ẩn náu
Thế rồi, thu nhặt tàn quân, nuôi dưỡng ân cần
Trong sửa chiến cụ, ngoài giả hòa thân
Quyên tiền mộ lính, giết voi khao quân
Ai cũng thân người trên, chết cho người trưởng, cố sức để đền ân
Từ đấy, luyện quân kén tướng, đánh địch ra kỳ
Chết vinh hơn sống nhục, biết quan ta dùng được
Lấy của giặc đánh giặc, thu quân lương vũ khí
Vẹn toàn vững kế, một mũi tên không để phí
Cầm Bành rạp đầu dâng đất
Phương Chính khiếp vía chạy dài
Bèn giữ hiểm để lập công
Lại nhiều phương lừa đánh địch
Đêm lửa đốt, ngày cờ bay
Sớm chiếm Đỗ Gia, giành thế tiện trên núi ấy
Trước vượt Khả Lưu, đánh đắm địch tại sông này
Sấm ran chóp giật, trúc chẻ tro bay
Chu Kiệt bỏ cũi, Hoàng Thành phơi thây
Đánh Nghệ An, đất thuộc về ta
Thắng Tây Đô, tin như bão dậy
Giỏ cơm bầu nước, người xin theo đông như hội trẩy
Hào kiệt căm thù tức giận nghiến răng
Phụ lão cảm khích mừng vui rơi lệ
Ta quân thanh ngày càng lừng lẫy
Giặc sinh mệnh ngày một hao gầy
Trận Ninh Kiều như đê vỡ kiến trôi
Trận Tốt Động như gió rung cây gãy2
Trần Hiệp, Lý Lượng, như hổ ngã hầm sâu
Vương Thông, Mã Kỳ, như cá trong vạc cháy
______________________________________
1. Cối Kê là tên một dãy núi, khi Việt vương Câu Tiễn bị nước Ngô đánh bại, phải tới đó nương náu và xây dựng lại lực lượng, rồi cũng từ đó tiến ra khôi phục đất nước.
2. Cùng một hình ảnh "đê vỡ, kiến tan", Nguyễn Trãi đã viết theo hai cách. Trong Chí Linh sơn phú, Nguyễn Trãi viết là "băng đê hội nghĩ". Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết là "hội nghĩ ư băng đê". Trong Bình Ngô đại cáo, chúng tôi dịch theo ý "kiến đục vỡ đê" (quyết hội nghĩ ư băng đê). Trong Chí Linh sơn phú, chúng tôi dịch theo ý "đê vỡ kiến tan" (băng đê hội nghĩ), cả hai ý này đều có nghĩa. Hiện nay, các bản dịch cũng thường dịch theo hai ý này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 07:06:32 AM

Non sông muôn dặm đã thu lại
Chợ búa Đông Đô chẳng đổi thay
Lúc đó khác nào Hán Cao tổ thuở trước bốn mặt đem quân bao vây Cai Hạ1
Vậy mà lũ giặc cuồng, lòng tham tối mắt
Đưa viện binh bên nước sang đây
Đem dầu chữa cháy, lấy họa làm hay
Liễu Thăng bỏ xác, Chi Lăng lai láng máu
Mộc Thạnh trốn đêm, Lãnh Kinh tràn ngập thây
Cứu binh hai đạo, chân quay chưa kịp đã thua dài
Thành giặc các nơi, đầu cúi chịu hàng không máu vấy
Thảm thiết kêu xin, vẫy đuôi van lạy
Lúc ấy khác nào Câu Tiễn bức khốn vua Ngô ở Cô Tô đài thuở trước
Nhưng thịnh đức của vua ta ngày nay, chỉ quy mô rộng lớn của Hán Cao tổ mới sánh kịp
Còn như Câu Tiễn, ngoài chí phục thù là đáng kể,
                                                         thì trong muôn phần không so được với vua ta
Đến như: uy thần chẳng giết, đức lớn hiếu sinh
Nghĩ kế nước nhà trường cửu
Tha cho mười vạn hàng binh
Gây lại hòa hảo cho hai nước
Dập tắt chiến tranh cho muôn đời
Địch phải theo thượng sách: nước vẹn toàn2,
                                                  dân được an ninh
Như thế thì thịnh đức của vua ta Cao Tổ nhà Hán sánh sao kịp
Vua ta phải ngang hàng với hai đế ba vương3
                                                  lừng danh thuở trước
Than ôi! Xưa đi nay lại, trăm đời nên nghĩ
Nghiêu nổi dậy từ Đường hầu, Thuấn khởi nghiệp tự hàn vi
Thành Thang dấy nghĩa nơi đất Bạc,
Thái vương khởi binh tại núi Kỳ
Nhiều hoạn nạn là nền dựng nước
Lắm lo toan là gốc trị vì
Biến cố trải nhiều thì suy nghĩ sâu
Mọi việc lo trước thì thành công kỳ
Nổi nghiệp đế vương, không thể khác thế
Vậy thì vua ta dựng nghiệp thật đã tự núi này trở đi
Công cao đức cả của vua ta cũng sẽ cùng núi này
                                                            hùng vĩ muôn đời
Bèn cúi đầu chắp tay, dâng lời ca rằng
Trời sinh vua thánh, đất dấy nghiệp vương
Càn khôn mờ mịt, vận hội phi thường
Nhìn Linh sơn cao vút, nhớ những ngày gian khổ
Vỗ nghiệp vương bền vững, không một ngày sao lãng
Xin ghi thịnh đức vào đá, lưu truyền bất hủ
Ngàn vạn đời sau, vẫn cùng trời đất dài lâu

Bản dịch của Nguyễn Lương Bích
__________________________________________
1. Cai Hạ là nơi Hạng Vũ bị Lưu Bang vây khốn.
2. "Toàn quốc vi thượng" là chữ có sẵn trong binh pháp cổ có nghĩa là "giữ được toàn vẹn nước địch là thượng sách". Ở đây, không thể hiểu "toàn quốc vi thượng" là "ta lấy việc giữ toàn vẹn nước địch, tức nước Minh, làm thượng sách", vì ta không đem quân sang đánh nước Minh, và Nguyễn Trãi cũng không nói là "Dư dĩ toàn quốc vi thượng", như đã nói "Dư dĩ toàn quân vi thượng " trong Bình Ngô đại cáo. Nhưng nếu hiểu là "ta lấy việc giữ toàn vẹn nước ta làm thượng sách" hay "giữ vẹn nước là hơn" hoặc "chỉ cần vẹn đất" thì trái với nghĩa "toàn quốc vi thượng" của binh pháp cổ. Ở đây, chúng tôi hiểu Nguyễn Trãi muốn nói là ta buộc địch phải theo binh pháp xưa, lấy "toàn quốc vi thượng" tức "chúng phải rút quân về, lấy việc giữ toàn vẹn nước địch làm thượng sách", do đấy mà nước ta an toàn, dân ta được nghỉ. Chúng tôi đã dịch theo ý đó.
3. Hai đế, ba vương (nhị đế, tam vương): Nhị đế là Nghiêu và Thuấn. Tam vương là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Đây là những vị vua trong truyền thuyết Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 07:11:38 AM

BIA VĨNH LĂNG LAM SƠN

Niên hiệu Thuận Thiên thứ 6, năm Quý Sửu, ngày 22 tháng 8 nhuận, Thái Tổ Cao hoàng đế chầu giời. Ngày 23 tháng 10 năm nay1, táng tại Vĩnh Lăng ở Lam Sơn2.

Nhà vua họ Lê, tên Lợi.

Cụ nội tên là Hối, người phủ Thanh Hóa. Một hôm đi chơi núi Lam Sơn, thấy hàng đàn chim bay lượn quanh dưới núi, như những đám người tụ hội, cụ nói đây là chỗ đất tốt và dời nhà đến ở. Được ba năm, trở thành giàu có, con cháu ngày càng thịnh, tôi tớ ngày càng đông, dựng nước mở đất thật gây nền ở đó. Từ bấy trở đi, đời đời cầm đầu một phương. Ông nội nhà vua tên là Đinh, thừa kế nghiệp nhà, theo chí người trước, kẻ giúp việc có tới hơn một nghìn.

Bà nội nhà vua, họ Nguyễn, người rất hiền hậu, sinh hai con: cả là Tòng, thứ là Khoáng, tức thân phụ nhà vua. Thân phụ nhà vua, tính hiền hòa, ưa việc thiện, thích đãi khách, coi nhân dân xung quanh như người một nhà, cho nên ai cũng cảm ân mến nghĩa.

Thân mẫu nhà vua họ Trịnh, tên Thương, chăm lo đạo làm vợ, gia đình hòa mục, nhà cửa ngày càng thịnh vượng. Bà sinh ba con: con cả là Học, con thứ hai là Trừ, nhà vua là con thứ ba.

Người con cả nối dõi cha ông, không may mất sớm.

Nhà vua kính cẩn vâng thừa kế nghiệp cha ông. Gặp thời loạn lớn, chí càng bền vững. Ẩn mình nơi rừng núi, giữ nghiệp cấy cày. Vì giận giặc dữ bạo tàn, nên chuyên tâm học các sách thao lược, đem hết gia tài hậu đãi tân khách3.

Năm Mậu Tuất, dấy quân khởi nghĩa, đóng tại Lạc Thủy, trước sau hơn mấy chục trận, đều đặt phục ra kỳ, tránh giặc hăng, đánh giặc mệt, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh4.

Năm Bính Ngọ, đánh ở Tốt Động đại thắng, liền tiến vây Đông Đô.

Năm Đinh Mùi, viện binh giặc là An viễn hầu Liễu Thăng đem quân mười vạn theo đường Quảng Tây tiến sang, Kiềm quốc công Mộc Thạnh đem quân năm vạn theo đường Vân Nam kéo xuống. Đánh một trận ở Chi Lăng, Liễu Thăng mất đầu, mấy vạn giặc bị chém chết, bọn tướng giặc Hoàng Phúc, Thôi Tụ hơn ba trăm tên cùng lính giặc hơn một vạn tên, đều bị bắt sống. Lấy được sắc mệnh, binh phù5 của Liễu Thăng đưa tới cho đạo quân Vân Nam, Mộc Thạnh trông thấy, nửa đêm chạy trốn bị quân ta chém giết và bắt sống nhiều vô kể.

Khi ấy bọn Thành sơn hầu Vương Thông trấn thủ thành Đông Quan, vốn đã cùng quân ta giảng hòa nhưng còn chưa quyết thì tới đây xin lập đàn thề trên sông Nhị. Thành giặc các nơi cũng đều mở cửa ra hàng.

Số giặc bị bắt sống và số giặc ở các thành đầu hàng gồm hơn mười vạn tên, thảy đều tha cho về nước. Đường thủy cấp cho hơn năm trăm thuyền, đường bộ cấp cho lương thực, ngựa cưỡi, truyền lệnh quân sĩ không mảy may đụng chạm đến chúng. Hai nước lại thông hiếu, Bắc Nam từ đây vô sự. Mường Lễ, Ai Lao đều thuộc bản đồ nước ta. Chiêm Thành, Đồ Bà6 đều vượt biển tới cống.

Nhà vua thức khuya dậy sớm sáu năm, trong nước đại trị, tới nay thì mất.

Thuận Thiên năm thứ 6, Quý Sửu, tháng 10, ngày lành.

Vinh lộc đại phu, nhập nội hành khiển, tri tam quán sự, thần Nguyễn Trãi vâng soạn7.
___________________________________
1. Ngày 22 tháng 8 nhuận năm Quý Sửu: 4-10-1433. Ngày 23 tháng 10 năm Quý Sửu: 4-12-1433.
2. Vĩnh Lăng là tên lăng có chôn thi hài Lê Lợi.
3. Mở đầu sách Lam Sơn thực lục cũng có một đoạn chép về gia thế Lê Lợi, giống như đoạn đầu văn bia Vĩnh Lăng.
4. Những chiến lược chiến thuật này đã nói đến trong Bình Ngô đại cáo. Đây là tóm tắt những chiến lược chiến thuật đã dùng trong mấy chục trận đánh trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
5. Sắc mệnh, binh phù là sắc thư và ấn tín của nhà vua ban cho tướng soái để trao quyền chỉ huy tướng sĩ ra trận.
6. Đồ Bà hay Chà Bà, tức Java thuộc Inđônêxia ngày nay.
7. Bài văn bia Vĩnh Lăng chép trong các sách thường khác nhau năm, mười chữ. Ở đây, chúng tôi chép theo bài văn khắc trên bia đá Vĩnh Lăng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Mười, 2016, 07:14:29 AM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005.

2. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí, Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1976.

3. Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003.

4. Nguyễn Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam, Nxb Giáo dục, H. 1997.

5. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục, H. 2007.

6. Viện Văn học, Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, H. 1980.

Hết