Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 01:53:47 am



Tiêu đề: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 01:53:47 am

        - Tên sách: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 1997
        - Số hoá: ptlinh, chuongxedap
        - Tóm lược về nội dung: Xây dựng hậu phương, các số liệu về hậu cần trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ

        TẬP THỂ TÁC GIẢ:

        Trung tướng - GS-PTS HOÀNG PHƯƠNG (chủ biên)
        Thượng tá - PGS-PTS TRỊNH VƯƠNG HỒNG
        Thượng tá - VŨ TANG BỒNG
        Trung tá - PTS HỒ KHANG

        Với sự cộng tác của:
        Thiếu tá TRẦN VĂN THỨC

LỜI NÓI ĐẦU

        Trong những năm từ 1992 đến 1995, Viện Lịch sử quan sự Việt Nam đã triển khai đề tài cấp Nhà nước: Nghiên cứu một số vấn đề chiến lược trong lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975), mã số KX.ĐL.92-12.

        Đề tài do Trung tướng - GS.PTS Hoàng Phương làm chủ nhiệm và Trung tướng - PGS Nguyễn Đình Ước đại diện cơ quan chủ trì.

        Với hai cuộc kháng chiến ở nửa sau thế kỷ XX này, dân tộc Việt Nan được cả thế giới ca ngợi về sức chiến đấu ngoan cường, lòng dũng cảm và tài thao lược. Dư luận chung đều cho rằng đây là lần đầu tiên trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc, một nước thuộc địa đã lập nên chiến công vĩ đại, “không có một tấm gương nào có thể vĩ đại hơn thế (M. Mắc-lia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày).

        Tuy các công trình nghiên cứu về hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ được công bố không ít, song, một vấn đề quan trọng là tại sao Việt Nam lại thắng được hai đế quốc to, đối với nhiều người còn là điều khó hiểu.

        Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời căn cứ vào khả năng của mình, trong đề tài kể trên, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chọn 4 vấn đề chiến lược sau đây triển khai nghiên cứu: Chỉ đạo chiến lược chiến tranh nhân dân; Chỉ đạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân; Chỉ đạo giải quyết vấn đề trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự và Chỉ đạo xây đựng hậu phương chiến tranh nhân dân.

        Sau khi đề tài KX.ĐL.92-12 được Hội đồng khoa học công nghệ Nhà nước nghiệm thu và xếp loại xuất sắc, Viện đã tổ chức bổ sung, sửa chữa và chuyển văn bản sản phẩm đề tài thành sách phố biến. Đây là tập đầu tiên ra mắt bạn đọc.

        Nhân dịp này, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảnh ơn Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, Bộ Tài chính, Cục Khoa học - Công nghệ và Môi trường (Bộ Quốc phòng), các vị lão thành cách mạng, các tướng lĩnh và các nhà khoa học trong và ngoài quân đội đã tạo điều kiện, cộng tác, giúp đỡ và cổ vũ trong quá trình thực hiện đề tài.

        Dù đã có nhiều cố gắng, tập sách này cũng không thể phản ánh đầy đủ nội dung rộng lớn của hậu phương chiến tranh nhân dân trong 30 năm (1945 - 1975). Chúng tôi rất mong các vị thức giả và bạn đọc đóng góp ý kiến.


Đại diện cơ quan chủ trì đề tài                
VIỆN TRƯỞNG                          
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM            

Trung tướng - PGS NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC        


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 01:58:13 am
        
PHẦN THỨ NHẤT

XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)

        Đã thành quy luật, hậu phương luôn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh. Bởi vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa, khoa học kỹ thuật; là nơi chi viện chủ yếu sức người, sức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần của tiền tuyến.

        Tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, kế thừa những kinh nghiệm quý báu của dân tộc, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng hậu phương; coi đó là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh giải phóng dân tộc. Đảng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương, căn cứ địa kháng chiến, coi đó là một bộ phận chiến lược của đường lối chiến tranh nhân dân mà nội dung là giải quyết vấn đề cốt tử của bất kỳ cuộc chiến tranh nào: Dựa vào đâu lấy sức đâu mà đánh giặc? Nói cách khác là giải quyết vấn đề đất đứng chân và tiềm lực để kháng chiến lâu dài. Trong suốt chín năm kháng chiến, Đảng đã chỉ đạo toàn quân, toàn dân ta ra sức xây dựng, củng cố phát triển hậu phương, căn cứ địa, tạo được chỗ dựa vững chắc và sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù.

        Hậu phương của ta trong kháng chiến chống Pháp bao gồm những vùng tự do, các khu du kích, căn cứ du kích sau lưng địch và lòng dân yêu nước trong vùng tạm bị chiếm. Mặt khác, sự ủng hộ vật chất và tinh thần của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới cũng được coi là hậu phương của cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Về cả lý luận và thực tiễn, hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam có những điểm sáng tạo và độc đáo. Trong đó, từ hậu phương trong cuộc chiến chống chủ nghĩa thực dân cũ, đến hậu phương trong cuộc đối đầu với chủ nghĩa thực dân mới, đã có sự phát triển trên nhiều phương diện.

        
A. CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ HẬU PHƯƠNG TRƯỚC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC
 
(9-1945 - 12-1946)

        Trước khi bước vào cuộc kháng chiến, đất nước ta đang đứng trước muôn vàn khó khăn và bị chủ nghĩa đế quốc bao vây bốn phía. Trong Nam, quân Pháp được quân Anh trợ giúp, ngày 23 tháng 9 năm 1945 khởi hấn ở Sài Gòn, kế đó đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Ngoài Bắc, 20 vạn quân Tưởng được Mỹ tiếp tay kéo vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng kỳ thực là nhằm bóp chết cách mạng, dựng nên chính quyền tay sai của chúng. Trong khi đó nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời chưa được nước nào trên thế giới công nhận. Chính quyền nhân dân mới thành lập, chưa được kiện toàn, kinh nghiệm quản lý nhà nước chưa có. Thậm chí ở một số nơi chính quyền chưa phải hoàn toàn nằm trong tay những người cách mạng. Lực lượng vũ trang non trẻ, vũ khí thô sơ, kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu đều ít ỏi. Ách áp bức phong kiến cùng chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại. Nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm 1945, hơn hai triệu đồng bào (tức là gần 1/10 dân số nước ta) đã chết vì đói và dịch bệnh. Ngay trước khi giành được chính quyền, nạn lụt lại xảy ra làm vỡ đê nhiều tỉnh thuộc Bắc Bộ, 35 vạn héc-ta ruộng bị ngập lụt. Chín tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình bị mất mùa nặng. Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mất mùa tới 50%. Sau nạn lụt lại đến hạn, 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang. Diện tích cấy trồng và sản lượng đều giảm sút. Ở 15 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diện tích trồng cấy vụ mùa năm 1945 chỉ đạt 540.000 ha (Vụ mùa năm 1944 là 967.000 ha). Số ruộng bị bỏ hoang không cày cấy được vì ngập lụt, thiếu nhân công, thiếu giống khoảng 265.000 ha. Vụ mùa năm 1944, miền Bắc thu được 832.000 tấn thóc, cả năm 1945 chỉ thu được 500.000 tấn1. Công thương nghiệp hoàn toàn đình đốn, ngoại thương bị đình trệ, thủ công nghiệp phá sản. Hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, giá cả tăng vọt. Hàng vạn công nhân không có việc làm. Về tài chính, kho bạc của chính quyền cách mạng chỉ có 1,3 triệu đồng thì một nửa là tiền hào giấy nát đang chờ hủy. Trong khi đó, Ngân hàng Đông Dương ta không chiếm được. Đồng tiền quan kim do quân Tưởng tung ra buộc ta phải lưu hành - một thứ giấy lộn mất giá trị, khiến cho thị trường càng rối loạn thêm.

--------------
1. Báo Sự thật ngày 12-12-1945


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:11:38 am

        Trên lĩnh vực văn hóa, hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân số Việt Nam mù chữ. Số người được đi học các bậc học tiểu học, trung học và cao đẳng rất ít ỏi. Theo Đông Dương thống kê niên giám, thì năm 1936 - 1937 cả ba kỳ bình quân 3 làng có một lớp sơ học và chỉ có 2% dân số đến trường sơ học. Đó là bậc học phát triển nhất dưới chế độ thực dân Pháp. Bậc tiểu học, toàn quốc có 638 trường (kể cả trường tư) bình quân 34 làng và 29.239 người có 1 trường và chỉ có 0,4% dân cư theo học ở bậc tiểu học. Bậc cao đẳng tiểu học, bình quân cứ 1.170.000 người dân mới có một trường và chỉ có 0,05 dân số đến học ở các trường này. Còn ở bậc trung học số người Việt Nam theo học chỉ chiếm tỷ lệ 0,009% so với dân số1.

        Những khó khăn trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa đặt ra những nhiệm vụ trước mắt mà chính quyền cách mạng phải giải quyết. Nhiệm vụ cơ bản nhất đặt ra cho Đảng và chính quyền nhân dân là giữ vững chính quyền, bảo vệ và xây dựng chế độ mới.

        Từ thân phận nô lệ trở thành công dân và người làm chủ của một nước độc lập, tự do, đồng bào ta khắp từ Nam chí Bắc dâng trào niềm tự hào, phấn khởi. Các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, nhân dân các dân tộc một lòng tin tưởng vào Chính phủ cách mạng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám. Trước những hành động xâm lược và phá hoại của đế quốc và tay sai, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi càng thêm đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Cụ Hồ, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh - mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi do Đảng lãnh đạo. Các hội cứu quốc trong mặt trận như công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứu vong, v.v... phát triển mạnh mẽ. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, nền tảng của mặt trận được phát triển và củng cố vững chắc. Đây thực sự là khối quần chúng cách mạng, khối đoàn kết toàn dân được tổ chức chặt chẽ, là lực lượng chính trị hùng hậu phát triển rộng khắp trong và sau ngày Tổng khởi nghĩa.

        Lực lượng chính trị hùng hậu ấy đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân, hình thành và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng hậu phương kháng chiến.
       
        Để chống thù trong, giặc ngoài, cùng với việc giáo dục chính trị cho quần chúng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tổ chức và phát triển các đoàn thể cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương lớn xây dựng hậu phương trước khi xảy ra chiến tranh trên phạm vi cả nước. Trong tay Chính phủ tiền, gạo, vải muối... hầu như là con số không. Mọi chi tiêu cửa Chính phủ, quân đội lúc này chỉ có một nguồn cung cấp là nhân dân. Trong khi đó nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, lại đang bị nạn đói mới đe dọa.

        Sản xuất lương thực để cứu đói và nuôi dưỡng quân đội là công việc bức thiết mà chính quyền cách mạng phải quan tâm lãnh đạo nhân dân thực hiện. Ngày 3 tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày chủ trương “Phát động một phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói”. Người xác định: “Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam, “thực túc” thì “binh cường” cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện “tấc đất tấc vàng” thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó”2. Người kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm sẻ áo cho nhau. Mười ngày một lần tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người nghèo. Và chính Người nêu gương thực hiện đầu tiên.

        Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng. Nhân dân cả nước nô nức tăng gia sản xuất như chiến đấu, chống đói như chống giặc ngoại xâm. Tính đến cuối năm 1945, nhân dân ta đã bỏ ra 4 triệu ngày công, đào đắp 2,72 triệu mét khối đất bổ trợ cho hàng trăm ki-lô-mét đê điều đẩy lùi nạn lụt Diện tích trồng lúa mở rộng gấp rưỡi, diện tích trồng khoai lang tăng gấp ba, số khoai thu hoạch tăng gấp bốn, diện tích trồng ngô tăng gấp năm, số ngô thu hoạch tăng gấp bốn lần so với năm 1943. Từ năm 1938 đến năm 1943 trung bình mỗi năm miền Bắc sản xuất được 65.400 tấn khoai lang, 56.000 tấn ngô, 26.000 tấn đỗ tương, nhưng từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến đầu năm 1946, miền Bắc đã thu hoạch được 231.000 tấn khoai lang, 224.000 tấn ngô, 60.000 tấn đỗ tương3.

        Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, giá gạo tại Bắc Bộ từ 700 đồng được hạ dần xuống 200 đồng một tạ4. Cách mạng đã chiến thắng nạn đói ngay từ những ngày đầu chế độ mới. Kết quả đó không chỉ bồi dưỡng sức dân mà còn góp phần quyết định vào việc xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng. Thắng lợi trên mặt trận chống giặc đói vì vậy có ý nghĩa chính trị to lớn, làm nổi bật tính ưu việt của chính quyền cách mạng. Nhân dân càng thêm tin tưởng và gắn bó với chế độ mới.

--------------
1. Hội truyền bá quốc ngữ (1938 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1984, tr. 11, 12.

2. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1956, tr.26.

3. 4. Tổng cục Hậu cần, Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1944 -1954, Tập 1, Hà Nội, 1985, tr.68, tr. 66.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:17:02 am

        Trước tình hình nguy ngập về tài chính1, Chính phủ đã kiên quyết cắt giảm các khoản chi tiêu chưa thật cần thiết và kêu gọi sự đóng góp của toàn dân. Việc tổ chức lạc quyên trong nhân dân được tích cực thực hiện. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL xây dựng “Quỹ Độc lập” và ngày 17 tháng 9 tổ chức “Tuần lễ vàng”, động viên mọi người dân yêu nước tự nguyện đóng góp ủng hộ việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập của đất nước, để “dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”2. “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ vàng” được nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng. Nhiều gia đình đem hết vàng bạc ra góp; nhiều mẹ, nhiều chị đem cả tư trang quý và vật kỷ niệm thân thiết cúng vào các quỹ trên. Chỉ trong một thời gian rất ngắn các tầng lớp nhân dân đã đóng góp được hơn 20 triệu đồng và 370 kg vàng3. Số vàng và tiền đóng góp trên tuy không lớn so với nhu cầu chi tiêu của một nhà nước, nhưng đã giải quyết được những khó khăn gay gắt trước mắt, nhất là việc xây dựng nuôi dưỡng và trang bị cho các đơn vị Vệ quốc quân đang được xây dựng và phát triển.

        Các đoàn thể cứu quốc thường xuyên tổ chức các cuộc lạc quyên ủng hộ bộ đội. Chỉ trong “Ngày len vải sợi” do phụ nữ cứu quốc Hà Nội tổ chức đã quyên được 5.842m vải, 149kg len, hàng nghìn quần, áo, chăn, màn, giày, dép4...

        Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, chính nhờ biết dựa vào dân, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước đưa đất nước vượt qua khó khăn trước mắt, lãnh đạo nhân dân cả nước vừa kháng chiến ở miền Nam vừa ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

        Song song với việc huy động sự đóng góp của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta cũng đề ra nhiều chủ trương và biện pháp lớn nhằm bồi dưỡng sức dân, như giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, sửa lại nhiều thứ thuế cho nhẹ và công bằng, ban hành sắc lệnh “Đảm phụ quốc phòng”, phát hành giấy bạc Việt Nam... Các chủ trương và biện pháp đó góp phần quan trọng vào việc xây dựng hậu phương.

        Song song với thắng lợi to lớn bước đầu trên mặt trận kinh tế tài chính, chính quyền cách mạng cũng sớm đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lớn và đã giành được nhiều thành tích trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, một trong những việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt là phát động một cao trào toàn dân chống nạn mù chữ để mở mang kiến thức cho nhân dân lao động, từng bước khắc phục hậu quả của chính sách ngu dân suốt hơn 80 năm của thực dân Pháp.

        Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nạn dốt là một phương pháp độc ác của bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch chống giặc dốt”. Tiếp đó ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh 17/SL quyết định thành lập Nha Bình dân học vụ, sắc lệnh 19/SL quy định các địa phương phải mở lớp bình dân học vụ chậm nhất là trong thời gian 6 tháng và sắc lệnh 29/SL thi hành cưỡng bức việc học chữ quốc ngữ. Toàn dân đã sôi nổi hưởng ứng lời kêu gọi và các sắc lệnh đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp nơi từ thành phố đến nông thôn, trong các nhà máy đến đồng ruộng, nhiều lớp bình dân học vụ đã được mở, lôi cuốn từ em nhỏ đến các cụ già. Khẩu hiệu “Đi học là kháng chiến”, “Mỗi lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến” xuất hiện khắp các đường phố, xóm làng.

        Sau hơn một năm thực hiện chiến dịch chống giặc dốt, cả nước đã có 2.500.000 người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học cũng được xây dựng và từng bước phát triển theo ba nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học. Tiếng Việt được dùng trong các văn bản chính thức của Nhà nước và trong việc học tập giảng dạy ở các trường lớp, kể cả Trường đại học y, dược khoa5.

-------------
1. Sau Cách mạng tháng Tám ngân sách Đông Dương hụt tới 185 triệu đồng và nợ tới 564 triệu đồng, trong khi đó ngân khố Trung ương chỉ còn 664.000 đồng có thể tiêu được.

2. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.211.

3. Tổng số vàng và tiền nói trên tương đương với tổng số thuế thân và thuế thu trong cả nước một năm dưới chế độ cũ (Theo 45 năm kinh tế Việt Nam, tr 249.

4. Tổng cục Hậu cần, Những sự kiện lịch sử về hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, 1979, tr.68.

5. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 1 (1930 - 1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.455.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:18:24 am

        Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống giặc dốt ngoài ý nghĩa lớn về văn hóa còn là một thắng lợi lớn về chính trị. Nó tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước và phát huy quyền làm chủ của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

        Cuộc vận động đời sống mới nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, lòng căm thù bọn cướp nước, yêu lao động, yêu chính quyền cách mạng, căm ghét bóc lột và xây dựng đạo đức “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân. Những thói hư tật xấu, những phong tục tập quán lạc hậu trong ma chay, cưới xin, nạn cờ bạc được xóa bỏ.

        Cuộc đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hóa văn nghệ nô dịch và chống các khuynh hướng của quan điểm tư sản trong nghệ thuật cũng bắt đầu cùng với việt phát động và hướng dẫn phát triển một phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng rộng rãi.

        Công tác y tế vệ sinh phòng bệnh được quan tâm. Chính quyền cách mạng có chính sách đúng đắn sử dụng đội ngũ cán bộ y tế của chế độ cũ, đồng thời nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ y tế của chế độ mới, xây dựng bộ máy y tế chăm lo sức khỏe của nhân dân.

        Nhân dân chỉ có thể phát huy sức mạnh to lớn của mình khi được tổ chức và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Nhiều cán bộ của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, của các đoàn thể cứu quốc được cử đến những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh ở Tây Bắc,Tây Nguyên để làm công tác tuyên truyền vận động và tổ chức nhân dân. Các đoàn thể cứu quốc được xây dựng rộng khắp: hội công nhân cứu quốc ở các nhà máy, công xưởng; các hội nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng cứu quốc ở khu phố thôn xã; hội học sinh, sinh viên cứu quốc ở trường học; hội viên chức cứu quốc ở các công sở. Trong các tôn giáo có Hội phật giáo cứu quốc, Hội công giáo cứu quốc. Để mở rộng hơn nữa mặt trận dân tộc thống nhất do giai cấp công nhân lãnh đạo, Đảng chú ý tranh thủ những nhân sĩ yêu nước thuộc tầng lớp trên. Đảng còn cố gắng lôi kéo tranh thủ cả những người cầm đầu tầng lớp thống trị cũ (trong đó có Bảo Đại), những người có ảnh hưởng lớn trong các dân tộc, các tôn giáo (như vua H’mông Vương Chí Sình, linh mục Lê Hữu Từ... ). Mặc dù một số những người này đi với cách mạng chỉ là một cử chỉ có tính chất cơ hội nhằm tránh đòn trừng phạt của nhân dân, nhưng điều đó càng nói lên chủ trương đoàn kết rộng rãi của Đảng vì quyền lợi chung của Tổ quốc, đồng thời có tác dụng cô lập triệt để bọn đế quốc xâm lược, ngăn chặn hạn chế các hoạt động chia rẽ, phá hoại của bọn phản cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tạo sự ổn định vững chắc về chính trị, chuẩn bị hậu phương cho sự nghiệp kháng chiến.

        Với tư cách người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước còn yêu cầu chính quyền các cấp và nhân dân toàn quốc phát hiện, tiến cử những người tài đức, không phân biệt tuổi tác và thành phần giai cấp ra giúp dân giúp nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

        Trước sự xâm lược và phá hoại của bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng và củng cố quốc phòng. Tháng 1 năm 1946 Trung ương Quân ủy được thành lập. Những đơn vị tự vệ cứu quốc và tự vệ chiến đấu được tổ chức ở tất cả các khu phố, thôn xã. Trên cơ sở đó các đơn vị bộ đội tập trung được xây dựng và phát triển nhanh chóng, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng từ trung ương đến cơ sở. Đến cuối năm 1946, riêng Vệ quốc đoàn (bộ đội chủ lực) đã có 82.000 cán bộ chiến sĩ.

        Để trấn áp bọn phản cách mạng, ngày 5 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ban hành sắc lệnh giải tán “Đại Việt quân dân xã hội đảng” và “Đại Việt Quốc dân đảng” là những đảng phái phản động tay sai của phát xít Nhật. Chính phủ còn ra sắc lệnh lập tòa án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng.

        Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn hết sức quan tâm tăng cường tính chất nhân dân của chính quyền cách mạng. Tháng 10 năm 1945 trong thư gửi các ủy ban hành chính các xứ, tỉnh, huyện và xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các ủy ban phải luôn luôn nhận rõ và làm đúng. Qua đó nhân dân nhận rõ nhà nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là nhà nước của mình, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ nhà nước.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:20:11 am

        Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và đập tan những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, mặc dầu chính quyền non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn, nhưng với lòng tin vững chắc vào sự ủng hộ của toàn dân, Đảng và Chính phủ vẫn quyết tổ chức tổng tuyển cử tự do dân chủ trong cả nước vào ngày 6 tháng 1 năm 1946 để bầu quốc hội, lập chính phủ chính thức, xây dựng hiến pháp của nước Việt Nam độc lập. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử lịch sử này là một đòn chí mạng đánh vào âm mưu chia rẽ, lật đổ, xâm lược của bọn đế quốc và tay sai, nâng cao uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Đây cũng là dịp giáo dục lòng yêu nước, ý thức làm chủ và nghĩa vụ của người công dân một nước độc lập. Đây là một cuộc tổng động viên chính trị rộng lớn và sâu sắc trên phạm vi cả nước nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí của khối đoàn kết toàn dân, quyết hy sinh để giữ quyền độc lập tự do, sẵn sàng đánh bại kẻ thù xâm lược. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta.

        Cùng với việc ra sức ổn định tình hình, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, đặt cơ sở đầu tiên của chế độ mới, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cả nước đấu tranh chống lại hành động xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam và âm mưu lật đổ của quân Tưởng và tay sai của chúng ở miền Bắc. Thực hiện chủ trương tránh chiến đấu với nhiều kẻ thù trong cùng một lúc, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng trong vấn đề Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khôn khéo thực hiện sách lược hòa với Tưởng để chống Pháp, sau đó lại hòa với Pháp, phá tan được âm mưu của Tưởng và tay sai định đẩy ta vào thế bị cô lập, tống khứ được 20 vạn quân Tưởng cùng bè lũ tay sai phản động ra khỏi đất nước, giành được thời gian chiến lược quý báu chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới: kháng chiến toàn quốc đánh tay đôi với Pháp giành độc lập hoàn toàn.

        Nhiệm vụ chính trị của giai đoạn mới chống âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta của thực dân Pháp và xây dựng đất nước, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sắp tới đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, làm hậu thuẫn vững chắc cho chính quyền nhân dân, mặt khác thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng mới, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

        Tháng 5 năm 1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập bao gồm các tổ chức, đảng phái và cá nhân yêu nước chưa tham gia Mặt trận Việt Minh. Ngày 27 tháng 5 năm 1946 Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được thành lập, đoàn kết và thống nhất các tổ chức của giai cấp công nhân trong cả nước. Tháng 7 năm 1946, Đảng vận động giới trí thức Việt Nam thành lập Đảng Xã hội Việt Nam nhằm đoàn kết rộng rãi những người trí thức yêu nước, đập tan âm mưu của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai định lập lại chi nhánh đảng xã hội Pháp ở Việt Nam hòng lôi kéo trí thức và công chức chống lại Việt Minh. Ngày 20 tháng 10 năm 1946 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra đời đoàn kết các tầng lớp phụ nữ yêu nước, ủng hộ chính quân nhân dân, chống thực dân Pháp xâm lược.

        Đặc biệt, ngày 19 tháng 4 năm 1946 Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam Việt Nam được triệu tập ở Plây Cu và ngày 3 tháng 12 năm 1946 Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức ở Hà Nội nhằm đoàn kết các dân tộc trong nước, chống âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp.

        Trước các âm mưu và hành động phá hoại nền độc lập thống nhất của ta, đặc biệt là sau khi cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-bơ-lô tan vỡ, ngày 19 tháng 10 năm 1946 Đảng triệu tập Hội nghị quân sự toàn quốc. Hội nghị khẳng định: “Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”1. Cả nước được chia làm 12 chiến khu. Các phương án tác chiến được đề ra. Kế hoạch phá hoại đường sá, cầu cống, làm “vườn không nhà trống” được chuẩn bị để ngăn địch. Vùng núi rừng Việt Bắc được củng cố làm căn cứ địa vững chắc của Trung ương, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. Máy móc, nguyên vật liệu của nhiều nhà máy, xí nghiệp được bí mật tháo gỡ chuyển từ các thành phố về các chiến khu xây dựng các nhà máy, công xưởng phục vụ các yêu cầu chiến đấu và đảm bảo đời sống. Hơn hai vạn tấn muối, hàng chục vạn mét vải, hàng chục tấn thuốc chữa bệnh và nhiều mặt hàng thiết yếu khác được chuyển lên các vùng căn cứ.

-----------------
1. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1945 – 1954, Tập 1, 1978, tr.94.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:22:34 am

        Sau Cách mạng tháng Tám, khi Trung ương về Hà Nội, đồng chí Phạm Văn Đồng được Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công ở lại Việt Bắc chuẩn bị xây dựng căn cứ địa, phòng khi chiến tranh xâm lược tái diễn. Trung ương thành lập Ban xây dựng căn cứ địa do hai đồng chí ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh phụ trách. Các khu, tỉnh và huyện trong cả nước cũng khẩn trương chuẩn bị căn cứ, nơi đứng chân của địa phương mình. Quân và dân thủ đô Hà Nội được giao nhiệm vụ chuẩn bị sẵn sàng, khi chiến tranh nổ ra phải chiến đấu giam chân địch một thời gian, tạo điều kiện cho hậu phương và cả nước chuyển vào thời chiến.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã chủ động chuẩn bị sẵn sàng vào cuộc chiến đấu. Đầu tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu những phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu của kháng chiến và vạch rõ “ta sẽ kháng chiến lâu dài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tổ chức du kích khắp nơi, tăng gia sản xuất khắp nơi”. Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng họp trong hai ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946 khẳng định cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắnglợi. Hội nghị vạch ra đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến mà nội dung chủ yếu chứa đựng trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946) và Chỉ thị toàn dân kháng chiến (22-12-1946) của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tống bí thư Trường Chinh viết một loạt bài đăng trên báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1947, giải thích, cụ thể hóa đường lối kháng chiến của Đảng. Các văn kiện trên vạch rõ mục đích, tính chất của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện trường kỳ và tự lực cánh sinh.

        Về chính trị: đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên nhân lực, tài lực, đoàn kết với hai dân tộc Lào và Cam-pu-chia, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân tộc bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hòa bình dân chủ trên thế giới, củng cố chế độ cộng hòa dân chủ, đánh đổ chính quyền bù nhìn; lập ra ủy ban kháng chiến các cấp để chỉ đạo kháng chiến.

        Về quân sự: triệt để dùng “du kích vận động chiến” thực hành phá hoại “làm cho địch đói, khát, mù, điếc, câm, tiêu hao, mệt mỏi, chán nản”, tản cư nhân dân ra khỏi vùng có chiến sự, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng; cuộc kháng chiến phải trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và tổng phản công.

        Về kinh tế: tăng gia sản xuất tự cấp tự túc, tự sản xuất vũ khí và lấy súng giặc đánh giặc, tiếp tế cho bộ đội vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

        Về văn hóa: chống nạn mù chữ, thực hiện cần, kiệm, liêm chính; văn nghệ sĩ ủng hộ kháng chiến1.

        Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng được thể hiện bằng khẩu hiệu “Mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài”2.

        Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, đúng đắn và sáng tạo của Đảng đã dẫn dắt tổ chức nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và anh dũng. Đó là sự chuẩn bị quan trọng nhất cho cuộc kháng chiến toàn quốc đi tới thắng lợi.

-----------------       
1. Văn kiện Đảng 1945 – 1954, Tập 2, Quyển 1, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1979. Trang 15.

2. “Chỉ thị toàn dân kháng chiến”, Văn kiện Đảng 1945 – 1954, Tập 2, Quyển 1, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, 1979, tr. 15.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:27:03 am

B. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN.

        Hơn một năm kháng chiến ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ cùng những tháng ngày khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc đã chỉ ra cho Đảng ta bao điều mới mẻ về nghệ thuật điều hành chiến tranh đồng thời đặt ra trước nhân dân ta nhiều việc phải làm để nhanh chóng chuyển đất nước vào cuộc chiến tranh cứu nước.

        Ngay từ trước khi quyết định chủ động khởi đầu cuộc chiến tranh cứu nước, Đảng và Chính phủ đã triển khai kế hoạch tổng di chuyển các cơ quan lãnh đạo, kho tàng, máy móc, vật tư, các cơ sở y tế, giáo dục về các khu an toàn. Đây là một trong những việc quan trọng cấp bách nhằm thực hiện chủ trương “bảo đảm thực lực kháng chiến lâu dài”1. Công tác di chuyển đã được tiến hành ngay từ cuối năm 1945 ở miền Nam và nửa cuối năm 1946 ở miền Bắc. Đợt tổng di chuyển diễn ra từ cuối tháng 11 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947 và kết thúc vào tháng 7 năm 1947. Trong đợt tổng di chuyển này riêng ngành quân giới đã chuyển được hơn 42.000 tấn máy móc thiết bị, nguyên vật liệu qua những chặng đường dài từ vài chục đến vài trăm ki-lô-mét vào các căn cứ; trong đó có hàng trăm máy tiện, hàng chục máy phay, máy bào, máy khoan, động cơ điện, hàng nghìn tấn sắt, thép, gang, đồng, chì, kẽm, thiếc; hàng trăm tấn hóa chất và cả những bán thành phẩm rất quý dùng cho việc sản xuất đạn súng trường mìn, lựu đạn. Riêng ở Bắc Bộ, gần hai phần ba số máy móc thiết bị của các nhà máy đã được chuyển lên các căn cứ. Nhờ đó ta đã xây dựng được hàng trăm cơ sở công nghiệp sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu và xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Khối lượng máy móc, nguyên liệu nói trên tuy còn rất ít ỏi đối với một quốc gia nhưng nó lại là một khối lượng khổng lồ đối với đôi vai khiêng vác và các phương tiện vận chuyển thô sơ của quân và dân ta lúc này. Nó là vốn liếng ban đầu vô cùng quý giá để tạo cơ sở, từng bước tạo tiềm lực cho cuộc kháng chiến lâu dài giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

        Theo chủ trương của Đảng, nhân dân cả nước đã triệt để thực hiện “vườn không nhà trống”, tản cư phá hoại cầu đường, xây dựng làng kháng chiến. Việc phá hoại và tổ chức nhân dân tản cư ra khỏi vùng địch chiếm đóng là những công tác lớn. Hàng triệu đồng bào trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Chính phủ đã bỏ lại nhà cửa, tài sản, không chịu hợp tác với giặc, tản cư ra vùng tự do. Nhân dân hăng hái tham gia công tác phá hoại nhà cửa, cầu cống, đường sá, đắp ụ ngăn bước tiến của giặc với lòng tin sắt đá rằng: “Đến ngày kháng chiến thắng lợi sẽ cùng nhau kiến thiết và sửa sang lại”2.

        Vừa phá hoại giao thông và những nơi địch có thể đóng quân, nhân dân ta còn dùng mọi biện pháp làm tê liệt những cơ sở kinh tế mà địch có thể sử dụng để “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chỉ tính riêng ở Bắc Bộ, sau 5 ngày đầu kháng chiến, ta đã phá sập phần lớn hầm mỏ và ba phần năm số máy móc không thể di chuyển ra vùng tự do. Nhiều nhà máy trong vùng địch tạm chiếm phải đóng cửa, một số nhà máy đến cuối năm 1947 địch mới khôi phục được nhưng mức sản xuất kém xa so với trước. Nhà máy xi măng Hải Phòng trước đây sản xuất 266.000 tấn mỗi năm, năm 1947 chỉ sản xuất được 40.000 tấn. Mỏ than Hồng Gai năm 1947 chỉ khai thác được 26.000 tấn/tháng; trong khi đó, ngay trước kháng chiến, trung bình đạt 145.300 tấn/tháng. Ở Nam Bộ trước đây địch thường xuyên khai thác được trên chục vạn héc-ta cao su, do ta tích cực phá hoại đến cuối năm 1947 chúng mới khai thác trở lại được gần 4000 ha3.

        Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ trong năm đầu kháng chiến (từ cuối năm 1946 đến cuối 1947) nhân dân ta đã phá hoại 1.060 km đường sắt, 5.640 km đường ô tô, 30.500 cầu cống, 59.100 nhà cửa, 84 đầu máy xe lửa và 868 toa xe4.

        Phá hoại, tiêu thổ kháng chiến là biểu hiện của quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Nhân dân cả nước ta đã không tiếc công sức, xương máu, miễn là tiến hành kháng chiến thắng lợi. Phá hoại, tiêu thổ kháng chiến đã gây nhiều khó khăn cho địch, trực tiếp đánh vào hậu phương chiến tranh, ngăn cản làm chậm bước tiến hoặc phá vỡ kế hoạch tiến công của chúng. Phá hoại, tiêu thổ kết hợp chặt chẽ với tác chiến đã nhân hiệu quả đánh địch lên gấp nhiều lần. Tuy nhiên công tác tản cư, phá hoại, tiêu thổ trong những ngày đầu kháng chiến do thiếu kinh nghiệm nên cả về mặt chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở cơ sở đều còn những hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao nhất.

---------------
1. Văn kiện Đảng 1945 – 1954, sđd.

2. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Tập 1, “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.413.

3, 4. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr.77.



Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:28:08 am

*

*       *

        Khi kháng chiến nổ ra ở miền Nam và ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta chưa thể lường hết được sức địch, sức ta, chưa thể ấn định chính xác đâu là vùng tự do, là hậu phương của cuộc kháng chiến.

        Trong vận động cách mạng nói chung và trong đấu tranh vũ trang nói riêng phải dựa vào lực lượng to lớn nhất là nông dân, phải có cơ sở vững chắc trong nhân dân để huy động được sức người, sức của phục vụ kháng chiến, do đó tất yếu phải đặt ra vấn đề xây dựng hậu phương. Căn cứ địa cách mạng để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là hình ảnh đầu tiên về hậu phương của chiến tranh nhân dân ở nước ta. Trong quá trình kháng chiến, nhờ có đường lối đúng đắn sáng tạo nên hậu phương của cuộc chiến tranh nhân dân sớm hình thành bao gồm ba vùng tự do lớn (Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Khu 5), các vùng tự do, khu căn cứ rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, U Minh Thượng, U Minh Hạ và Đông Nam Bộ. Mỗi liên khu mỗi tỉnh cũng có các khu căn cứ, nơi đứng chân của mình. Theo quan điểm của Đảng ta, nội dung của hậu phương kháng chiến còn hàm chứa trong liên minh chiến đấu Việt - Lào - Miên, trong sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Trung Quốc và Liên Xô, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Pháp và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Hậu phương của ta còn là lòng dân và sự đóng góp của nhân dân ngay trong vùng tạm bị chiếm.

        Ngay từ đầu kháng chiến, Đảng đã xác định căn cứ địa của cuộc kháng chiến không những ở rừng núi mà ở cả đồng bằng. Mùa xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lên Việt Bắc xây dựng trung tâm chỉ đạo cả nước kháng chiến.

        Xây dựng Việt Bắc trở thành căn cứ địa của cơ quan đầu não, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến toàn quốc, cũng như việc xây dựng các vùng tự do khác và các căn cứ trong vùng địch hậu là một quá trình đấu tranh quyết liệt. Đó là quá trình giành đất, giành dân, giành sức của giữa ta và địch. Qua thực tế diễn biến chiến tranh trong phạm vi cả nước, đã dần dần hình thành hai vùng rõ rệt: vùng tạm bị địch chiếm và vùng tự do. Có vùng tự do ổn định từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến, có vùng tự do thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh giành giật giữa ta và địch, có vùng tạm bị địch chiếm, nhưng nhân dân vẫn tìm cách tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

        Hậu phương của cuộc kháng chiến toàn quốc hình thành và được xây dựng trong bối cảnh lịch sử đó. Nó gắn liền với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến. Hậu phương chiến tranh nhân dân được xây dựng toàn diện bao gồm nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, vừa xây dựng vừa bảo vệ hậu phương.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:32:00 am

        I. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỀ CHÍNH TRỊ

        Xây dựng hậu phương về chính trị là một trong những nhiệm vụ của công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương trong kháng chiến. Những ngày đầu, trước âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch, nhiều tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng ở cơ sở không giữ vững được, đội ngũ cán bộ bị phân tán. Vì vậy, việc củng cố và phát triển Đảng, hệ thống chính quyền các cấp và các tổ chức quần chúng trở thành nhiệm vụ trước mắt hết sức khẩn trương.

        Theo chủ trương của Trung ương, trong thời gian này các đảng bộ phát triển nhanh về số lượng đảng viên và tổ chức của đảng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về cán bộ và về sự lãnh đạo. Các đảng bộ cũng đề ra nhiều biện pháp nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở đảng.

        Tại Liên khu 4, Liên khu ủy đề ra ba danh hiệu để phấn đấu là: tự động, tiến bộ và gương mẫu. Các đảng bộ trong liên khu lấy mục tiêu đoàn kết nội bộ, đoàn kết toàn dân, sinh hoạt đều, nâng cao năng lực lãnh đạo để phấn đấu. Đến đầu năm 1949 Thanh - Nghệ - Tĩnh có 196 chi bộ được liên khu công nhận là chi bộ “Tự động công tác”. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ nhất tháng 2 năm 1948 đã kiểm điểm việc thực hiện chỉ thị kháng chiến của Trung ương và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh kiểu mẫu”. Đại hội xác định phải đẩy mạnh mọi mặt công tác ở vùng thượng du, “thượng du thắng là Thanh Hóa thắng”1 và đề ra nhiệm vụ “xây dựng Thanh Hóa thành hậu phương vững mạnh để kịp thời cung cấp đầy đủ sức người, sức của cho chiến trường, đồng thời tổ chức chiến đấu tốt để bảo vệ hậu phương trong mọi tình huống2.

        Đến đầu năm 1949 nhiệm vụ xây dựng hậu phương chi viện tiền tuyến được các tỉnh đảng bộ trong Liên khu 4 xác định hoàn chỉnh và cụ thể hơn. Nghị quyết của các kỳ đại hội nêu rõ: “Về chính trị: thống nhất Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, đẩy mạnh công tác giáo vận, tích cực tuyên truyền vận động cách mạng trong đồng bào các dân tộc thiểu số, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền...”3.

        Tại Việt Bắc, sau hơn một năm kháng chiến, Liên khu ủy nhận xét rằng do được chuẩn bị kỹ về tư tưởng và tổ chức, nên quân dân các dân tộc đã giành được nhiều thắng lợi, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao làm tròn nhiệm vụ căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến, công tác xây dựng và phát triển đảng được Trung ương và các tỉnh đặc biệt chú trọng. Đảng viên phát triển nhanh vào những vùng địch tạm thời kiểm soát, các xã vùng biên giới, dọc đường giao thông quan trọng, vùng các dân tộc ít người. So với năm 1947 thì năm 1948 số đảng viên của Cao Bằng tăng 845 đồng chí. Nhiều huyện, cơ sở đảng có ở hầu hết các xã. Huyện Quảng Uyên có 15 xã thì 14 xã có chi bộ. Một vấn đề tồn tại của Cao Bằng cũng như các tỉnh thuộc ba vùng tự do lớn là còn hẹp hòi trong công tác phát triển đảng, trình độ văn hóa trong đảng viên còn thấp nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu những chủ trương chính sách của Đảng và nhận định đánh giá tình hình. Sau chiến thắng Biên Giới năm 1950, toàn tỉnh Cao Bằng được giải phóng, trong cán bộ đảng viên nảy sinh tư tưởng chủ quan, khinh địch, coi nhiệm vụ quân sự đã hoàn thành, không chú ý đến việc củng cố phát triển dân quân du kích, bộ đội địa phương. Các cấp bộ đảng, chính quyền chưa nhận thức hết vai trò, vị trí của một địa phương đã được giải phóng trong khi cuộc kháng chiến cả nước đang phát triển mạnh mẽ.

----------------
1, 2, 3. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Tập 1, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa xuất bản năm 1991.)


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:47:43 am
 
        Ngay sau thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Tuyệt đối chớ vội thấy thắng mà kiêu căng, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng càng gần thất bại địch càng cố gắng, càng hung dữ, càng liều mạng. Càng gần thắng lợi, ta càng gặp nhiều sự gay go. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng tinh thần và lực lượng để đối phó với những khó khăn mới”4. Quân dân Việt Bắc coi đó là một bài học về công tác chính trị tư tưởng trong toàn đảng bộ, đặc biệt là ở những nơi vừa được giải phóng sau chiến dịch Biên Giới. Công tác xây dựng và phát triển đảng được coi trọng. Tính đến cuối năm 1950 số lượng đảng viên ở vùng tự do trong liên khu như sau:
TỉnhDân sốĐảng viênTỷ lê so với dân số %
-------------------------------------------------
Cao Bằng200.0007.0003,5
Thái Nguyên174.0006.9223,77
Tuyên Quang119.0006.5005,46
Lạng Sơn170.0006.0002,94
Bắc Cạn90.0002.1162,34
Hà Giang20.0002.0301,69

        Tại Liên khu 5: Từ vị trí chiến lược của chiến trường và sự phát triển của tình hình, quân và dân liên khu phải cùng một lúc thực hiện ba nhiệm vụ: đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, đánh bại kế hoạch “bình định” của địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta; xây dựng và củng cố vùng tự do thành căn cứ địa vững chắc, hậu phương kháng chiến trực tiếp của chiến trường và cho cả chiến trường Hạ Lào, Đông bắc Cam-pu-chia; phối hợp với cách mạng Lào, Cam-pu-chia phát triển chiến tranh du kích, xây dựng thế trận đánh địch ở khu vực biên giới ba nước.

        Tháng 4 năm 1948 đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ triệu tập hội nghị quân, dân, chính, đảng toàn Nam Trung Bộ. Hội nghị đã vạch ra những chủ trương và biện pháp cụ thể cho từng vùng.

        Đối với vùng tự do: Về chính trị, trên cơ sở củng cố khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc ra sức tăng cường và củng cố bộ máy kháng chiến tỉnh, huyện, xã. Hết sức coi trọng công tác xây dựng đảng, phát triển đảng viên mới. Số đảng viên trong toàn đảng bộ Nam Trung Bộ đến tháng 3 năm 1949 là 16.000 đồng chí, trong đó có 600 đảng viên nữ, 50 đảng viên thuộc các dân tộc ít người. Hầu hết các xã vùng tự do đều có chi bộ. Tuy nhiên do nhận thức và thực hiện không đúng chủ trương xây dựng đảng nên có tình trạng phát triển đảng chạy theo số lượng, hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên, nhất là ở vùng tự do. Từ 16.000 đảng viên tháng 3 năm 1949 tăng vọt lên 86.000 vào cuối năm và tiếp tục tăng mạnh vào đầu năm 1950. Đến tháng 5 năm 1950 toàn đảng bộ đã có 184.166 đảng viên với 926 chi bộ. Số đảng viên là công nhân chỉ có 1.582 người. Con số đó chưa phản ánh hết được phong trào công nhân với số lượng 44.700 công nhân trong liên khu. Công tác giáo dục quản lý đảng viên không theo kịp tình hình nên tổ chức đảng ở cơ sở đông nhưng không mạnh. Khuyết điểm này đã được phê phán và sửa chữa sau đó.

        Thực hiện chỉ thị của Liên khu ủy và ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ, các tỉnh ở vùng tự do đã cử cán bộ lên tăng cường cho các tỉnh Tây Nguyên, đồng thời giúp đỡ thiết thực về vật chất cho công tác xây dựng cơ sở ở Tây Nguyên. Tháng 3 năm 1949 Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 5 lần thứ nhất đã đánh giá cao thắng lợi bước đầu về xây dựng vùng tự do, nhất là xây dựng nền kinh tế tự chủ và lực lượng vũ trang. Đại hội chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng bị địch tạm phiếm, với khẩu hiệu “Tất cả cho vùng bị chiếm”, “Giành lại từng phần Tây Nguyên”. Sau đại hội, Khu ủy điều 500 cán bộ ở vùng tự do bổ sung cho chiến trường Tây Nguyên, Cực Nam Trung Bộ và Hạ Lào.

        Thất bại trong âm mưu đánh chiếm toàn bộ vùng tự do, từ năm 1948 thực dân Pháp quay sang thực hành thủ đoạn bao vây, bóp nghẹt. Chúng ráo riết phong tỏa không cho đưa vào vùng tự do những mặt hàng thiết yếu như lương thực, vải, thuốc chữa bệnh, máy móc, hóa chất... Chúng liên tục càn quét cướp phá giết hại nhân dân vùng tự do, phá các công trình thủy lợi, các đầu mối giao thông, các cơ sở sản xuất, phun xăng đốt cháy các cánh đồng lúa chín, giết hại trâu bò... Chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, gây chia rẽ nội bộ nhằm gây tình hình căng thẳng không ổn định ở vùng tự do, làm kiệt cùng tiềm lực kháng chiến của ta.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:52:04 am

        Trong tình hình ấy, đầu năm 1950 Đảng và Chính phủ chủ trương “gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”, thực hiện tổng động viên theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Do nhận thức không đúng về chủ trương, cho rằng cuối năm 1950 sẽ chuyển sang tổng phản công nên cấp ủy, chính quyền nhiều địa phương đã động viên cao độ nhân tài vật lực, coi nhẹ bồi dưỡng sức dân, trái với quan điểm kháng chiến lâu dài. Việc huy động “Quỹ chuyển mạnh sang tổng phản công” đã gây cho nhân dân các vùng tự do lớn (Việt Bắc, Khu 4, Nam Trung Bộ) nhiều khó khăn. Do mức huy động quá cao, nhiều người phải nộp cả tư liệu sản xuất (ruộng đất, trâu bò), một số nông dân mất một phần cơ sở sản xuất. Khi đặt ra mức huy động, các liên khu đã căn cứ vào tình hình sản xuất, sự phá hoại của địch, vào tinh thần của nhân dân mà định ra mức huy động. Nhưng khi thực hiện thì các tỉnh, huyện lại chú ý đến tinh thần hơn là thực tế. Chẳng hạn như ở Quảng Ngãi, trên giao chỉ tiêu huy động 600 triệu đồng đã huy động tới 1.200 triệu. Ở Bình Định mức giao 700 triệu đã huy động 1.100 triệu (trước đó đã huy động 150 triệu quỹ nuôi quân). Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi phát hiện ra những sai lầm thiếu sót khuyết điểm trong tổng động viên, đã nghiêm khắc phê bình các liên khu ủy và tỉnh ủy; yêu cầu các địa phương tổ chức cho cán bộ, đảng viên công khai tự phê bình, nhận thiếu sót trước dân, trả lại những thứ huy động sai cho dân.

        Cuộc vận động học tập lý luận, kiểm điểm sai lầm trong việc thi hành lệnh tổng động viên năm 1950 của các địa phương có tác dụng nâng cao trình độ, năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên và điều quan trọng là lấy lại được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền cách mạng.

        Song song với công tác xây dựng đảng, Đảng và Chính phủ luôn chú ý củng cố bộ máy chính quyền các cấp. Những người không đủ trình độ năng lực làm việc, thiếu tinh thần gương mẫu, hy sinh, sa sút phẩm chất đạo đức... được đưa ra khỏi chính quyền các cấp thay vào đó là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu. Chính quyền các cấp đã tổ chức cho quần chúng phê bình ủy ban và tham gia đóng góp vào công việc của ủy ban các cấp. Theo chủ trương chung, các địa phương đều tinh giản cấp huyện, tăng cường quyền hạn cho cấp tỉnh và cấp xã. Các đoàn thể quần chúng trong kháng chiến ở tất cả các cấp được Đảng chú trọng xây dựng và củng cố. Nhiều tỉnh có nghị quyết bắt buộc các đảng viên, cấp ủy viên đều phải tham gia vào các tổ chức quần chúng.

        Trong công tác xây dựng hậu phương kháng chiến thì xây dựng hậu phương về chính trị là một lĩnh vực khó khăn hơn cả, nhất là ở những vùng tranh chấp và vùng địch tạm chiếm. Có thể nói xây dựng hậu phương về chính trị là kết quả tổng hợp của các lĩnh vực công tác lớn của Đảng: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa... Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhờ tinh thần tận tụy, gương mẫu của tuyệt đại đa số cán bộ đảng viên, với hệ thống tổ chức chính quyền và đoàn thể không ngừng được củng cố và ngày càng vững mạnh, nhờ sự ủng hộ và tín nhiệm tuyệt đối của nhân dân, trong kháng chiến chúng ta đã xây dựng được hậu phương vững chắc về chính trị. Sự vững mạnh về chính trị của hậu phương kháng chiến có ý nghĩa quyết định đối với các lĩnh vực xây dựng hậu phương về kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội.

        Thành quả của công cuộc xây dựng hậu phương về chính trị đã phải trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ, vừa làm vừa học tập để giải quyết những vấn đề do thực tế đặt ra, khắc phục những sai lầm lệch lạc về nhận thức và phương pháp tổ chức thực hiện, vừa làm vừa chống các hành động phá hoại của địch. Thành tựu và tính ưu việt của hậu phương kháng chiến là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự vững mạnh của hậu phương, đến việc hoàn thành nhiệm vụ chiến lược của hậu phương góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:53:45 am

        II. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỀ KINH TẾ

        Xây dựng hậu phương về kinh tế là một lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong vai trò của hậu phương đối với cuộc kháng chiến.

        Nhìn chung các vùng tự do của ta không có nhiều lợi thế về kinh tế. Bởi vậy xây dựng hậu phương về mặt kinh tế để ổn định đời sống nhân dân, phục vụ công cuộc kháng chiến trên địa bàn và chi viện cho tiền tuyến ngày một lớn nhất là về lương thực, thực phẩm là một quá trình đấu tranh gian khổ vừa chống chọi với thiên tai hạn hán, lũ lụt, vừa chống lại sự phá hoại của địch. Đồng thời đây cũng là một mặt trận đấu tranh với nghèo nàn lạc hậu.

        Theo sự chỉ đạo của Trung ương, phương hướng xây dựng kinh tế phát triển sản xuất trong kháng chiến là chú trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng. Khuyến khích hình thức kinh tế cá nhân, kinh tế hợp tác xã và kinh tế nhà nước. Các đảng bộ, chính quyền các cấp đã quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương bằng các khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc”, “Tiến tới toàn quốc tự cấp, tự túc, địa phương tự lập”, “Nhân dân tiếp tế cho bộ đội tác chiến, bộ đội giúp đỡ nhân dân làm ăn”, “Hết sức thực hành chính sách tiết kiệm”.

        Với phương hướng đó, sau một thời gian tiến hành tổ chức sắp xếp lại các ngành sản xuất, nhất là việc tích cực di chuyển máy móc, nguyên vật liệu đến nơi an toàn, xây dựng các công xưởng, xí nghiệp, lập các trại tăng gia sản xuất, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế kháng chiến ngày càng phát triển mạnh mẽ và đã thu được nhiều thành tựu.

        1. Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

        Để phù hợp với điều kiện kháng chiến, chúng ta đã xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc phòng theo quy mô nhỏ, phân tán, bí mật. Các xưởng quân giới được bố trí rải rác khắp nơi, dựa vào núi rừng thiên nhiên hiểm trở. Ngay ở đồng bằng, đặc biệt là ở Nam Bộ chỉ có rừng thưa, núi thấp, ta vẫn bố trí được các xưởng an toàn do biết dựa vào dân.

        Ngoài các xưởng quân giới do Bộ Quốc phòng tổ chức, còn có các xưởng vũ khí dân quân do các địa phương tạo lập và chỉ đạo. Thí dụ: ở Liên khu Việt Bắc có 8 xưởng dân quân (5 xưởng cho tỉnh và 3 xưởng cho khu). Đến giữa năm 1948 theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, các xưởng vũ khí dân quân được thống nhất vào hệ thống các xưởng quân giới và chịu sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Quốc phòng.

        Để giải quyết khó khăn về máy móc, sau một thời gian nghiên cứu, chúng ta đã cải tạo các đầu máy xe lửa và đầu máy ô tô thành máy phát lực vừa đơn giản vừa dễ di chuyển. Về máy công cụ, ta đã tận dụng số máy cũ và tích cực tìm cách tự chế tạo máy mới.

        Để có nguyên liệu cho sản xuất, ta đã tích cực thu thập các nguyên liệu cũ sẵn có trong nước, quyên góp của nhân dân và lấy của địch. Với trí thông minh và bàn tay sáng tạo, công nhân và trí thức cách mạng đã chế tạo ra súng ba-dô-ca từ những thanh đường ray và biến những quả bom chưa nổ thành nguồn cấp thuốc nổ. Chúng ta cũng đã mò mẫm chế ra được thuốc nổ, a xít sun-phua-ríc bằng phương pháp thủ công.

        Phương châm sản xuất vũ khí của ta là hết sức chú trọng sản xuất vũ khí cơ bản, đồng thời tích cực tìm tòi chế tạo vũ khí mới. Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, các xưởng quân giới của ta tăng cường sản xuất mìn, lựu đạn nhất là mìn đánh xe phục vụ cho phong trào chiến tranh du kích. Từ sau chiến thắng thu đông 1947, chúng ta chú trọng nghiên cứu sản xuất vũ khí công đồn. Chính trong giai đoạn này (1948 - 1949) đã xuất hiện nhiều kiểu súng cối Việt Nam đủ các cỡ, súng phóng bom và bom phóng, súng không giật (SKZ) có sức công phá gấp 3 lần ba-dô-ca khiến cho địch rất khiếp sợ và kinh ngạc. Liên khu 5 và Nam Bộ còn chế tạo được các loại mìn lõm (gọi là ba-dô-min) có sức công phá lớn.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:55:23 am

        Theo thống kê chưa đày đủ, trong chín năm kháng chiến nền công nghiệp quốc phòng non trẻ của chúng ta đã sản xuất được 12.000 tấn vũ khí đạn dược cho các lực lượng vũ trang (chiếm tỉ trọng khoảng 10% tổng số vũ khí đạn dược mà các lực lượng vũ trang ta sử dụng trong chín năm kháng chiến). Về nhịp độ phát triển từ Liên khu 4 trở ra, năm 1953 sản xuất tăng 35 lần so với năm 1946; ở Liên khu 5 tăng 3 lần so với năm 1948. Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của ta, trong điều kiện xuất phát từ con số không, những con số sản xuất này có ý nghĩa rất to lớn góp phần quan trọng đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi. Công nghiệp quốc phòng trong kháng chiến còn bao gồm cả công binh, quân nhu, quân dược. Bằng các nguyên liệu sẵn có trong nước, chúng ta sản xuất được hàng chục vạn xẻng cuốc, kéo cắt dây thép gai, nhiều loại quân trang quân dụng từ chiếc áo trấn thủ, bộ quần áo xi-ta đến đôi dép cao su. Đặc biệt, ngành quân dược thấm nhuần phương châm tự lực cánh sinh và kết hợp đông tây y, vượt qua khó khăn đã sản xuất được hàng trăm loại thuốc chiến thương, bông băng và nhiều dụng cụ y tế phục vụ kịp thời cho chiến đấu. Viện Khảo cứu chế tạo dược phẩm đã sản xuất được thuốc chống sốt rét bào chế từ vỏ cây thường sơn. Lần đầu tiên người châu Á sản xuất được thuốc chống sốt rét từ đông dược. Chính loại thuốc này đã cứu sống sinh mạng cho hàng vạn đồng bào, chiến sĩ ta trong những năm kháng chiến gian khổ.

        Song song với công nghiệp quốc phòng, chúng ta cũng chú trọng phát triển công nghiệp dân dụng, trong đó có thành phần quốc doanh. Đây là những tổ chức kinh doanh của nhà nước nhằm mục đích xây dựng và phát triển khu vực kinh tế của nhà nước; lãnh đạo và giúp đỡ kinh tế hợp tác xã và kinh tế tư nhân phát triển theo quỹ đạo của kinh tế nhà nước, tích lũy vốn và tăng thu cho tài chính quốc gia (theo điều lệ tạm thời của doanh nghiệp quốc gia ban hành tháng 10 năm 1952).

        Các xí nghiệp quốc doanh được xác định nhiệm vụ cụ thể như cung cấp giấy bạc, giấy in, giấy viết, giấy đánh máy, vải, xà phòng, bát đĩa, diêm... phục vụ các cơ quan dân chính đảng và các yêu cầu dân sinh, cung cấp gỗ cho xây dựng, cung cấp phân bón và công cụ cho nông nghiệp, cung cấp máy móc thiết bị cho công nghiệp... Số lượng và tình hình sản xuất của các xí nghiệp như sau:

        Về ngành than: Có các mỏ Lam Sơn, Làng Cẩm, Tân Thành, Phấn Mễ ở Thái Nguyên, mỏ Tân Trào ở Tuyên Quang, mỏ Bố Hạ ở Bắc Giang, mỏ Đồi Hoa ở Hà Nam, mỏ Quyết Thắng ở Ninh Bình, mỏ Khe Bố ở Nghệ An, mỏ Châu Long ở Hà Tĩnh. Theo thống kê chưa đầy đủ, từ 1946 đến 1950 các mỏ đã sản xuất được 20.000 tấn than cốc. Từ 1951 trở đi sản lượng đạt được còn cao hơn.

        Về khai khoáng: Có các mỏ thiếc ở Tĩnh Túc, mỏ chì và kẽm ở Bắc Sơn, mỏ phốt phát ở Bắc Giang, mỏ ăng-ti-moan ở Tân Trào. Mỏ thiếc Tĩnh Túc bắt đầu hoạt động từ tháng 4 năm 1947 đến cuối năm đó đã sản xuất được 20 tấn thiếc và đãi được 40 lạng vàng. Mỏ chì Bắc Sơn từ năm 1950 đến năm 1952 sản xuất được 43 tấn. Mỏ ăng-ti-moan ở Tân Trào từ cuối năm 1946 đến tháng 6 năm 1951 sản xuất được 1.327 kg.

        Ngành cơ khí: Có nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, xưởng cơ khí Liên khu 5, cơ khí Huỳnh Ngọc Huệ sau sáp nhập với xưởng cơ khí Liên khu 4. Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo đặt ở Tuyên Quang ngay từ những năm đầu kháng chiến đã sản xuất được máy in, máy hơi, máy nổ. Về sau do nhu cầu mới đã chuyển sang sản xuất cân treo, máy xay xát gạo, sắn...

        Ngành hóa chất: Ngoài các xưởng a-xít, chế thuốc nổ phục vụ quốc phòng còn có các xưởng sản xuất cồn 90 độ, ê-te ở Thái Bình. Xưởng sản xuất ca-phê-in ở chợ Thượng (Thanh Hóa) và một số xưởng sản xuất phân hóa học. Xưởng phốt phát Cát Văn ở Nghệ An 8 tháng đầu năm 1953 sản xuất được 172 tấn.

        Về công nghiệp nhẹ: Có nhiều xí nghiệp dệt, sản xuất giấy, nấu xà phòng ở Việt Bắc, Khu 4 và Khu 5. Xí nghiệp dệt quốc doanh Việt Thắng ở Khu 5 có hàng trăm khung dệt với hàng nghìn công nhân. Đến cuối năm 1950, chỉ tính riêng ở vùng tự do Liên khu 5 đã có gần 1 vạn khung dệt, mỗi năm sản xuất được 5 triệu mét vải, đảm bảo cung cấp đủ vải mặc cho bộ đội và cung cấp bình quân cho mỗi người dân 2m một năm. Năm 1949 số vải Liên khu 5 cung cấp cho bộ đội là 161.000m, năm 1950: 437.000m, năm 1951: 530.670m.

        Về quản lý: Nói chung các xí nghiệp quốc doanh đều hoạt động theo chế độ cung cấp. Xí nghiệp sản xuất theo kế hoạch của nhà nước, được nhà nước cấp vốn trả lương; lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù. Trong thời chiến chế độ này là cần thiết và không thể làm khác được. Nhưng đây cũng chính là mầm mống nảy sinh ra chế độ quản lý tập trung quan liêu bao cấp mà chúng ta hiện nay đang phê phán và xóa bỏ.

        Tóm lại, trong chín năm kháng chiến, nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của nước ta bao gồm công nghiệp quốc phòng, công nghiệp dân dụng, công nghiệp tư doanh và quốc doanh... đã được xây dựng và phát triển từ không đến có, từ nhỏ đến lớn. Nền công nghiệp đó đã cung cấp cho quân và dân ta những vũ khí và hàng hóa cần thiết, góp phần bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi. Điều quan trọng nhất là nền công nghiệp đó đã để lại những cơ sở đầu tiên và một đội ngũ công nhân cán bộ trên 6 vạn người làm nòng cốt để chúng ta tiếp tục xây dựng và phát triển nền công nghiệp của nước nhà trong giai đoạn mới.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 02:58:45 am

        2. Về nông nghiệp

        Ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải giải quyết nhiệm vụ cấp bách nhất lúc bấy giờ là “chống giặc đói”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm đã trở thành khẩu hiệu cách mạng lôi cuốn mọi tầng lớp đồng bào tham gia. Chính phủ cũng kịp thời ban hành nhiều chủ trương biện pháp cụ thể: tạm cấp ruộng đất của Việt gian phản động và của thực dân Pháp cho nhân dân, giảm tô 25%... Những biện pháp tích cực đó của Chính phủ đã thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân. Chỉ sau một năm “cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thực là một kỳ công của chế độ dân chủ” (Tuyên bố của Chính phủ nhân dịp kỷ niệm 1 năm quốc khánh, 2-9-1946).

        Trong chín năm kháng chiến, Đảng, Chính phủ chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự cấp tự túc, ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm huy động khả năng của nhân dân đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến. Riêng các vùng tự do, trong năm 1947 nhân dân ta đã cấy được 1.893.700 ha lúa, thu được 2.194.000 tấn thóc. Hoa màu trồng được 243.400 ha, thu được 474.100 tấn, tăng 189% so với năm 19411. Nhiệm vụ phản phong được thực hiện từng bước, phục vụ cho nhiệm vụ phản đế. Tháng 7 năm 1949, Chính phủ ban hành sắc lệnh giảm tô, thành lập hội đồng giảm tô ở cấp tỉnh nhằm triển khai sắc lệnh trên. Tiếp sau đó, Chính phủ còn ban hành sắc lệnh quy định chế độ lĩnh canh, cấm địa chủ vô cớ đòi đất lĩnh canh của nông dân, sắc lệnh xóa những khoản nợ nông dân vay trước cách mạng.

        Chính sách thuế nông nghiệp cũng sớm được ban hành, quy định biểu thức lũy tiến về sản lượng từ 6-50%. Biểu thức này có lợi cho nông dân, giảm hẳn mức đóng góp của nông dân, điều tiết thu nhập của địa chủ, phú nông. Với biểu thức suất mới, bần nông chỉ phải đóng từ 5-10%, trung nông 10-30%, còn địa chủ phải đóng 30-50% sản lượng thu hoạch.

        Nhằm giải quyết một bước khẩu hiệu ruộng đất về tay dân cày, năm 1950 Chính phủ ban hành sắc lệnh trưng thu ruộng đất hoang, ruộng đất của thực dân Pháp, của địa chủ cường hào chạy vào vùng địch để tạm cấp cho nông dân nghèo; ban hành điều lệ sử dụng đất công của làng xã nhằm ngăn chặn sự lũng đoạn của địa chủ. Những biện pháp này đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Nạn đói bị đẩy lùi, đời sống được cải thiện, đồng bào càng thêm phấn khởi tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, hăng hái đóng góp sức người sức của cho kháng chiến. Theo báo cáo của Bộ tài chính, riêng thuế điền thổ, năm 1948 Nhà nước thu được 174 triệu đồng; năm 1949 thu được 403 triệu đồng; năm 1950 thu được 1.002 triệu đồng2.

        Ở chiến trường Nam Bộ, Trung ương Cục chỉ đạo quân dân Nam Bộ tích cực tăng gia sản xuất, tự túc tự cấp. Theo báo cáo của ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ tháng 1 năm 1950 thì năm 1949 riêng miền Đông trồng thêm được 10.000 ha lúa (thu được 1.000.000 giạ), 2.000 ha khoai, 1.500 ha ngô và 5.069 ha đậu. Đồng Tháp Mười cấy thêm 24.000 ha lúa, trồng thêm 3.018 ha khoai lang, 1.800 ha ngô3.

        Tại vùng tự do Liên khu 5, chính quyền các cấp đã chia 140.412 mẫu ruộng công và 4.436 mẫu ruộng của thực dân Pháp và Việt gian cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng. Nhiều địa phương còn động viên các hộ địa chủ hiến điền. Nhân dân trong liên khu hăng hái thực hiện chủ trương “Ra sức phát triển kinh tế và văn hóa, tự túc về ăn, mặc, nâng cao trình độ mọi mặt...”. Chỉ trong một thời gian ngắn, lúa xanh trải kín đồng. Đồi núi, rừng hoang, bãi cát đều biến thành nương khoai, rẫy sắn. Ngoài phong trào chung mỗi người đều thi đua nhau trồng 10 mét vuông rau, nuôi 1 con gà. Mỗi gia đình trồng 10 cây bông lấy sợi hoặc 10 cây dâu nuôi tằm dệt vải. Sáu tháng cuối năm 1948, riêng các đơn vị bộ đội của liên khu đã vỡ hoang và trồng được 1.150 ha lúa và hoa màu. Chính quyền các cấp đã lãnh đạo nhân dân đào đắp xây dựng hàng chục công trình thủy lợi. Kênh Bàu Sáng đào xuyên qua gần một nghìn mét núi đá ong, tiêu úng cho hàng nghìn mẫu lúa ở Mộ Đức. Kênh Sơn Tịnh, kênh Phú Sơn, đập ngăn mặn Tuy Phước đã biến đổi 40 nghìn héc-ta ruộng một vụ thành hai vụ. Chỉ trong chín năm kháng chiến, nhân dân Liên khu 5 đã xây dựng một hệ thống công trình thủy lợi tưới tiêu phục vụ sản xuất công nghiệp nhiều gấp 3 dân số công trình thực dân Pháp xây dựng trong 80 năm. Năm 1949 nhân dân Liên khu 5 đã cung cấp cho chiến trường 12.500 tấn gạo, năm 1950: 17.569 tấn, năm 1951: 16.537 tấn. Diện tích trồng bông năm 1950 đã lên tới 1 vạn héc-ta, bình quân mỗi năm thu hoạch 800 tấn bông sợi.

-------------
1. Báo cáo của Bộ Canh nông năm 1948. Theo Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, sđd, tr.112.

2. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, sđd, tr.113.

3. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, sđd, tr. 114.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 03:01:03 am

        Sự phát triển và tác dụng ngày càng lớn của hậu phương đối với tiền tuyến đã góp phần làm đảo lộn các chiến lược và kế hoạch chiến tranh của địch. Chúng tập trung mọi cố gắng đánh phá, càn quét liên tục vào vùng tự do hòng làm cho ta kiệt quệ về kinh tế, rối loạn về xã hội.

        Do bị địch đánh phá ác liệt nên trong những năm từ 1948 đến 1950, diện tích sản xuất ở vùng tự do của ta bị thu hẹp, năng suất, sản lượng lương thực đều giảm sút nghiêm trọng. Nạn đói xảy ra ở nhiều địa phương. Ở nhiều vùng, bộ đội ta phải ăn đói mặc rách hàng năm trời. Tình hình này được phản ánh qua ngân sách Nhà nước những năm 1948 - 1949. Số thu năm sau kém hơn năm trước. Cũng vì vậy số chi cho quốc phòng không đảm bảo nhu cầu. Sau đây là một vài số liệu:

        - Năm 1948, từ Liên khu 4 trở ra.

             Tổng số thu: 105.000 tấn thóc.

             Tổng số chi: 500.000 tấn thóc.

             Tỉ lệ thu chi: gần 20%.

        - Năm 1949:

             Tổng số thu: 71.000 tấn.

             Tổng số chi: 417.912 tấn.

             Tỉ lệ thu chi: gần 18%1

        Đầu năm 1950 Liên khu ủy và ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ triển khai Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (21-1-1950): “Gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuyển mạnh sang tổng phản công thực hiện tổng động viên theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia đóng góp. Theo báo cáo của ủy ban kháng chiến hành chính các tỉnh, nhân dân vùng tự do đã đóng góp bằng tiền mặt, lúa, gạo, trâu, bò, ruộng đất quy ra tiền là 2.028 triệu đồng, tương đương với 34.700 tấn gạo, trong đó tiền mặt 634 triệu, ruộng hiến vĩnh viễn 5.800 ha, ruộng hiến có thời hạn 700 ha.

        Kết quả động viên nói trên đã giải quyết được khó khăn trước mắt về ngân sách, về nhu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, tạo điều kiện cho bộ đội ta mở các chiến dịch tiến công vào vùng tạm bị chiếm. Nhưng do nhận thức không đúng về giai đoạn chiến lược nên đã động viên cao độ nhân tài vật lực, coi nhẹ bồi dưỡng sức dân, trái với quan điểm kháng chiến lâu dài của Đảng.

        Địch đánh phá ác liệt, cộng với khuyết điểm chỉ đạo động viên “Quỹ chuyển mạnh sang tổng phản công” và vụ bạo loạn ở Sơn Hà (Quảng Ngãi) khiến tình hình các mặt ở vùng tự do Liên khu 5 cuối năm 1950 đầu năm 1954 gặp nhiều khó khăn. Nạn đói xảy ra đầu năm 1952.

        Nhận thức được sai lầm, đảng bộ và chính quyền các cấp đã nghiêm khắc kiểm điểm, sửa chữa, nhanh chóng trả lại tư liệu sản xuất cho nông dân; động viên cán bộ, công nhân viên chức, bộ đội nỗ lực sảnxuất tự túc. Chính phủ cũng kịp thời gửi vào liên khu 140 triệu đồng và 50 tấn thóc. Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ xuất 1.000 tấn thóc cứu tế và 1.300 tấn để thu mua sản phẩm tiểu thủ công. Một loạt biện pháp tiết kiệm, giảm chi ngân sách, giảm biên chế, điều hòa lương thực được triển khai. Nhờ những cố gắng nói trên, nạn đói bị đẩy lùi sản xuất được khôi phục, giá gạo bắt đầu hạ. Thu ngân sách bảo đảm được yêu cầu của chiến trường. Năm 1950 nhân dân Liên khu 5 cung cấp cho bộ đội 16.400 tấn gạo, năm 1952: 23.500 tấn.

        Tại Liên khu 4, vụ chiêm năm 1947 và năm 1948, sản lượng lương thực đạt khá. Ở Thanh Hóa giá gạo rẻ vì đường giao thông khó khăn không vận chuyển buôn bán được (giá gạo tháng 11 - 1947 ở Thanh Hóa là 1,8 đồng đến 2,8 đồng một ki-lô-gam). Trong khi đó ở Nghệ An từ 4,5 đến 5,5 đồng. Ở Hà Tĩnh được mùa liên tiếp nhưng có đông dân tản cư nên giá gạo từ 5 đến 5,5 đồng. Năm 1948 tổng số thu hoạch quy gạo của ba tỉnh là 406.890 tấn.

        Năm 1950, cùng với việc thi hành lệnh tổng động viên, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã thực hiện thêm một bước chính sách ruộng đất - tạm cấp ruộng đất vắng chủ và ruộng đất công cho nông dân thiếu ruộng. Việc thực hiện chính sách ruộng đất làm cho nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Chính phủ, vì thế tinh thần tham gia kháng chiến càng cao hơn. Vụ chiêm năm 1950 Thanh - Nghệ - Tĩnh đã cấy được 185.400ha lúa, thu hoạch trên 144.900 tấn. Ngoài ra còn thu hoạch được 155.900 tấn khoai, 10.790 tấn ngô.

        Cùng với việc thực hiện chính sách ruộng đất, các tỉnh còn có nhiều cố gắng trong việc xây dựng các hình thức sản xuất mới trong nông nghiệp. Năm 1949 có 5.107, năm 1950 có 9.831 hợp tác xã, tổ đổi công, tổ hợp công, hợp tác xã thủ công nghiệp. Số xã viên trong các hợp tác xã của ba tỉnh là 6.376.692 người, với số vốn 8.383.617 đồng, 59.566 trâu bò và 702.191 mẫu ruộng.
       
----------
1. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, sđd, tr.123.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2016, 03:07:28 am

        Từ năm 1951, Chính phủ ban hành và thực hiện chính sách thuế nông nghiệp, nhằm huy động công bằng hợp lý hơn đối với nhân dân và khuyến khích sản xuất. Chính sách thuế nông nghiệp thay cho các hình thức đóng góp tự nguyện trước đây như “Quỹ công lương”, “Công trái quốc gia”... Đây cũng là cơ sở pháp lý để huy động được nhiều hơn, nhất là với địa chủ, phú nông. Riêng trong năm 1951 Thanh - Nghệ - Tĩnh đã thu được 161.714 tấn thóc thuế nông nghiệp. Nhân dân còn dệt được 7 triệu mét vải, 6 vạn mét lụa, sản xuất 1,4 triệu thếp giấy.

        Hiểu rõ vị trí của vùng tự do Thanh - Nghệ. - Tĩnh đối với cuộc kháng chiến, kẻ địch đã tăng cường đánh phá với mức độ ngày càng cao. Chúng tập trung đánh phá các công trình thủy lợi như đập Bái Thượng, đập Đô Lương, cống Trung Lương và các kho tàng, công xưởng. Chúng bắn giết trâu bò, rải hóa chất phá hoại mùa màng. Nhằm hạn chế thiệt hại do địch gây ra, nhân dân các tỉnh tích cực xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ, đắp bờ giữ nước, chuyển một số diện tích trồng lúa sang trồng màu... Nhờ sự cố gắng và những biện pháp tích cực nên ba tỉnh vẫn giữ vững được diện tích trồng cấy và sản lượng lương thực. Năm 1951 Liên khu 4, chủ yếu là Thanh - Nghệ - Tĩnh đã nộp cho Nhà nước 161.714 tấn thóc. Năm 1953, Trung ương giao cho liên khu 190.200 tấn, riêng Thanh - Nghệ - Tĩnh thu được 145.968 tấn và nộp 25.000 tấn thóc thuế công thương nghiệp1. Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh thực sự trở thành những địa phương đóng góp chủ yếu về lương thực đáp ứng yêu cầu của kháng chiến trên miền Bắc.

        Tại Liên khu Việt Bắc, phong trào tăng gia sản xuất đã đạt được mục đích tự túc về lương thực tại chỗ. Hơn 100 đồn điền, trại ấp của Pháp và Việt gian được tạm cấp cho nông dân. Kết quả sản xuất nông nghiệp ở Việt Bắc trong 4 năm từ 1947 đến 1950 như sau2:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Hau%20phuong%20-%200054_zpspn4ppg5z.jpg)

        Diện tích trồng lúa và trồng hoa màu cũng như kết quả thu hoạch của nhân dân Việt Bắc ngày càng tăng. Năm 1947, toàn liên khu thu hoạch 450.288 tấn (lương thực và hoa màu), năm 1950 tăng hơn 68.150 tấn. Kết quả này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc củng cố căn cứ địa, “thủ đô” kháng chiến của cả nước.

        Từ 1950 đến 1953 tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Bắc tiếp tục ổn định và có những bước phát triển cao hơn. Năm 1952 diện tích lúa chiêm tăng 2.014 ha. Lâm thổ sản thu được 9.000 triệu đồng. Do biên giới khai thông số hàng xuất sang Trung Quốc ngày càng tăng, đạt giá trị 18.569.470.250 đồng (tiền Trung Quốc). Thuế nông nghiệp năm 1952 thu được 26.573 tấn. Thuế công thương nghiệp năm 1952 thu được quy ra thóc đạt gần 8.232 tấn.

        Năm 1952, mức thuế liên khu giao cho tỉnh Lạng Sơn là 10.850 tấn (bình quân một nhân khẩu 298kg) thực tế đã thu được 318kg. Thuế công thương nghiệp trong 3 tháng 7, 8, 9 năm 1952 thu được 369.498.535 đồng. Tỉnh Tuyên Quang cũng thu được 6.762 tấn thóc thuế nông nghiệp và 9.337 tấn thóc thuế công thương nghiệp.

        Nhiều tỉnh trong liên khu đã tăng dần số hàng xuất chỉ nhập những mặt hàng địa phương chưa thể tự túc được. Tỉnh Hà Giang năm 1953 xuất về các tỉnh miền xuôi 300 tấn chè, 7 tấn đường, 2.317 con lợn, 438 con trâu, 510 kg sa nhân, 8.952 kg thảo quả. Cũng trong năm 1952 Hà Giang còn xuất sangTrung Quốc 10 tấn gạo, 2,1 tấn chè, 272 kg thảo quả, 16 kg sa nhân, 388 con trâu và 5.071 con lợn3.

        Kết quả sản xuất và thu thuế đã giữ cho giá cả ở Liên khu Việt Bắc thường xuyên ổn định. Ở Cao Bằng, năm 1952 giá 1kg gạo lúc thấp nhất là 1.200đ, lúc cao nhất 1.700đ. Giá muối 1kg lúc thấp nhất 10.500đ, cao nhất 17.000đ. Giá thịt lợn 1kg lúc thấp nhất là 8.000đ, lúc cao nhất 10.000đ. Ở Tuyên Quang tháng 1 năm 1952 giá 1kg gạo 350đ, 1kg muối 1.650đ, 1 mét vải 2.100đ. Tháng 10 năm 1953 giá gạo vẫn giữ nguyên, giá vải hạ chỉ còn 1.400đ 1m, giá muối chỉ còn 800đ 1kg.

---------------
1. Báo cáo nội chính năm 1953 của Ban thư ký nội chính Liên khu 4. Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phòng số 4, hộp 15. Đơn vị bao quản (ĐVBQ) 143.

2. Báo cáo của Liên khu ủy Việt Bắc về tình hình kháng chiến và chiến dịch Lê Hồng Phong. Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. ĐVBQ 644.



Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:10:23 am

        Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” các vùng tự do vừa ra sức bảo vệ hậu phương vừa ra sức cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến. Các ngành sản xuất tiếp tục phát triển. Kết quả thu hoạch lúa và hoa màu trội hơn các năm trước. Tỉnh Thái Nguyên đã đóng góp 3.051 tấn thóc, 31.041.141đ, 2.215 bộ quần áo trị giá 1.075.000đ, mua công phiếu kháng chiến 1.299.000đ, ủng hộ bộ đội địa phương và thương binh 21.027.773đ và 604 tấn thóc. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ tỉnh Tuyên Quang đã đưa ra mặt trận 829 tấn gạo, 43 tấn thóc, 7 tấn rau và 305.612 ngày công phục vụ chiến dịch1.

        Nhằm phát huy sức mạnh của hậu phương, thực hiện hai nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, tháng 1 năm 1953 Trung ương Đảng quyết định phát động quần chúng tiến hành triệt để giảm tô và thực hiện cải cách ruộng đất.

        Theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, Liên khu Việt Bắc được chọn làm điểm phát động quần chúng triệt để giảm tô ở một số tỉnh, tiến hành làm 3 đợt ở 222 xã. Kết quả đợt 1 và đợt 2 đã đấu tranh với 174 địa chủ đầu sỏ ở 96 xã, thu được 2.215 tấn thóc, chia cho 21.028 hộ nông dân. Ở các tỉnh Liên khu 4, đến đầu năm 1954 đã tiến hành xong 3 đợt giảm tô ở 148 xã, trong đó 114 xã có đồng bào công giáo, 17 xã có đồng bào thiểu số, đấu tranh với 3.485 địa chủ. Kết quả đã thu được 4.560 tấn thóc chia cho nông dân. Đợt 4 toàn liên khu có thêm 46 xã được phát động giảm tô. Khi cuộc kháng chiến kết thúc thì cả 3 tỉnh trong liên khu đã căn bản hoàn thành việc giảm tô sau 5 đợt phát động.

        Cải cách ruộng đất được tiến hành thí điểm ở 6 xã của huyện Nông Cống, thu được 832 mẫu ruộng, 22 tấn thóc, 207 con trâu chia cho 1.285 gia đình nông dân.

        Tại Liên khu 5, ruộng đất phần lớn tập trung vào các đồn điền. Địa chủ chiếm 70% ruộng đất. Cuộc đấu tranh giảm tô ở Liên khu 5 diễn ra ngay từ năm 1948. Đến cuối năm 1949 đã có 12.276 mẫu ruộng giảm tô (chưa kể Phú Yên). Tháng 10 năm 1950 Hội nghị Liên khu ủy 5 tổng kết đã có 250.640 mẫu điền chủ thực hiện giảm tô và 291.719 tá điền được giảm tô2. Đầu năm 1953 Liên khu ủy quyết định phát động quần chúng triệt để giảm tô. Chỉ trong năm 1953, địa chủ đã phải trả lại cho nông dân 4.500 tấn thóc và trên 6 triệu đồng. Ở tỉnh Bình Định số điền chủ thực hiện giảm tô, số tá điền được giảm và số lúa thu được như sau6:

        Năm   Điền chủ đã giảm tô   Tá điền được giảm   Số thóc thu được (kg)

        1949           2.756                        8.770                       303.494

        1950           8.375                       12.965                       746.001

        1951         10.274                       14.930                       878.700

        1952           9.672                       13.817                    1.874.900

        1953          10.408                      16.212                    2.570.9113

        Việc thực hiện giảm tô và bước đầu cải cách ruộng đất trong kháng chiến đã bộc lộ một số khuyết điểm do chưa căn cứ đầy đủ vào thực tế Việt Nam, chưa nắm vững chính sách và phương pháp tiến hành, nên trong quá trình phát động triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất có nơi, có lúc gây phản ứng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân.

        Tuy vậy các đợt phát động quần chúng đấu tranh đòi giảm tô, bước đầu cải cách ruộng đất, kết hợp với củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể từ cơ sở đã có tác dụng tích cực. Nó đã góp phần củng cố và tăng cường lực lượng chính trị, xây dựng hậu phương kháng chiến. Bộ mặt nông thôn bắt đầu đổi mới. Tinh thần được giải phóng, quyền lợi được đem lại nên nông dân phấn khởi, hăng hái tham gia mọi công việc kháng chiến kiến quốc. Nó chẳng những có ý nghĩa lớn lao đối với việc tăng cường sức mạnh hậu phương mà còn tăng thêm sức mạnh đối với cán bộ chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận.
 
---------------       
1. Báo cáo thành tích 8 năm kháng chiến của các tỉnh thuộc Liên khu Việt Bắc, tài liệu đã dẫn.

2. Báo cáo tình hình chung ở Liên khu 5, năm 1950. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, ĐVBQ 174.

3. Báo cáo của Tỉnh ủy Bình Định về tình hình chung, tình hình ruộng đất năm 1953. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. ĐVBQ 625.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:13:30 am

        3. Về giao thông vận tải

        Chủ trương phá hoại, đánh phá giao thông, cắt đứt thông tin liên lạc của địch, bao vây kinh tế địch được thực hiện trong suốt chín năm kháng chiến. Về phía địch, chúng cũng thực hiện gắt gao chính sách phong tỏa tất cả các đường giao lưu của ta, chặn đường tiếp tế giữa miền núi với đồng bằng ở Bắc Bộ, giữa miền Trung và miền Đông Nam Bộ. Bao vây và chống bao vây kinh tế của hai bên diễn ra rất quyết liệt. Sắc lệnh số 231 của Chính phủ đặt bao vây kinh tế địch thành một chiến dịch, một nội dung công tác lớn của các địa phương. Và việc thực hiện đã có kết quả rõ rệt. Hàng hóa trong vùng địch kiểm soát bị ứ đọng, sụt giá. Năm 1947 số gạo địch xuất khẩu chỉ bằng một phần tư so với những năm trước chiến tranh.

        Đồng thời, phía ta cũng gặp không ít khó khăn. Nông sản ở nhiều nơi bị ứ đọng. Một số mặt hàng thiết yếu như thuốc, vải, dầu hỏa... thiếu nghiêm trọng. Trước tình hình đó, từ đầu năm 1948 Chính phủ đã điều chỉnh chính sách, chủ trương thực hiện giao lưu kinh tế với vùng tạm chiếm một cách linh hoạt, tìm đường tiếp tế bí mật, cải tiến và mở mang các đường giao thông, phát triển các phương tiện thích hợp. Chính phủ tổ chức một cơ quan đặc biệt chuyên lo vận tải tiếp tế với số vốn ban đầu 30 triệu đồng. Kết quả hoạt động rất khả quan: giá lương thực, thực phẩm và giá một số mặt hàng thiết yếu hạ nhanh Ví như giá gạo ở một số nơi hạ từ 1.800đ/kg xuống còn 700đ. Công tác tiếp tế cho bộ đội và nhân dân ở những miền hẻo lánh được giải quyết một phần1.

        Từ sau chiến dịch Biên Giới, do yêu cầu mới của kháng chiến, ta tích cực mở và sửa chữa đường cũ cho ô-tô chạy. Riêng trong năm 1952 chúng ta đã làm mới 1.800km đường ô-tô, 25.000m cầu, chi phí hết 3 triệu ngày công và 8.402 tấn thóc. 71km đường sắt trên đoạn Yên Bái - Lao Cai và 60km trên đoạn Thanh Luyện - Đò Vàng cũng được khôi phục lại để chạy tàu, ô tô ray và goòng đẩy, phục vụ trước hết cho quân sự.

        Năm 1953, mặc dù địch đánh phá ác liệt, nhưng chúng ta đã làm mới được 156km, sửa chữa tu bổ đưa vào hoạt động thêm 2.075km đường bộ. Đáng chú ý là ngay từ đầu năm 1952 lực lượng vận tải quốc doanh được hình thành trên tuyến Thủy Khẩu - Phú Thọ với 26 ô-tô vận tải, 92 xe trâu bò, 6 thuyền. Chỉ trong 6 tháng đầu năm đã vận chuyển được 115.000 tấn/km.

        Các tập đoàn vận tải của nhân dân cũng được Chính phủ khuyến khích phát triển. Chỉ tính từ Liên khu 4 trở ra đã có 34 công đoàn thuyền, 216 tập đoàn vận tải thô sơ, 1 tập đoàn ô-tô. Phương tiện vận tải chủ yếu trên đường thủy là thuyền, trên đường bộ là xe súc vật kéo và xe đạp. Lực lượng xe đạp thồ phát triển nhanh chóng. Ở Phú Thọ năm 1952 có 50 chiếc, năm 1953 lên 616 chiếc. Thái Nguyên từ 360 lên 700 chiếc. Năm 1953 Hội đồng Cung cấp mặt trận đã huy động được 12.400 xe đạp thồ của đồng bào Việt Bắc phục vụ các chiến dịch. Tải trọng trung bình của xe cũng tăng dần từ 60kg lên tới 140kg. Cá biệt có dân công thồ được 270 - 300kg. Nhờ huy động được lực lượng vận tải của toàn dân mà trong chiến dịch Điện Biên Phủ chúng ta đã hoàn thành được khối lượng vận chuyển gấp 36 lần chiến dịch Biên Giới. Ngoài ô-tô, ta đã sử dụng 11.800 thuyền mảng, ca nô, 21.000 chiếc xe đạp thồ, 26 vạn dân công góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch2.

----------------
1. Báo cáo của Việt Minh đoàn Chính phủ trong Hội nghị Tổng bộ Việt Minh ngày 20-12-1948.

2. 25 năm nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Tổng cục Thống kê, 1980, tr.138-140.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:17:45 am
         
       4. Trên lĩnh vực thương nghiệp

        Trong những năm đầu, Nhà nước áp dụng chính sách “bao vây kinh tế địch” ngăn cấm việc buôn bán giữa vùng tự do với vùng tạm chiếm. Song, trong thực tế thương nhân ở vùng tự do vẫn mang nông lâm sản vào vùng tạm chiếm, mua hàng công nghiệp đưa ra vùng tự do.

        Năm 1950, Nhà nước áp dụng chính sách kinh tế mới “tự do nội thương, quản lý ngoại thương”. Nội dung cơ bản của chính sách đó đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (khóa II) đề ra là: “ Không phải ta đặt ra một hàng rào ngăn hẳn giữa ta và địch, mà chúng ta vẫn mở mang buôn bán với địch, nhưng chỉ cho vào vùng địch những thứ không có hại cho ta và đưa ra những thứ hàng cần cho kháng chiến và cần cho đời sống nhân dân”1. Chính sách kinh tế mới đã góp phần khôi phục và phát triển một số ngành sản xuất ở vùng tự do như dệt vải, sản xuất giấy... Khai thác được một số lượng lớn lâm thổ sản bán cho vùng tạm chiếm để mua vật tư thiết bị, hàng thiết yếu cho vùng tự do. Nhà nước đã lập ra những tổ chức kinh tế của mình để phục vụ nhân dân vùng tự do: Nha Tiếp tế (1946), Cục Tiếp tế vận tải (1948), Sở Nội thương (1950), Thương nghiệp nhà nước và tư nhân vừa buôn bán đường dài, vừa kinh doanh cố định ở các chợ, thị trấn. Nhiều thương nhân là dân thành phố tản cư ra vùng tự do.

        Đến giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, vùng tự do càng được mở rộng thì những hình thức tổ chức kinh tế được lập ra trước đây không còn đáp ứng được yêu cầu cao hơn của tình hình mới. Ngày 14 tháng 5 năm 1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Sở Mậu dịch quốc doanh trung ương. Ngày đó đã đi vào lịch sử kinh tế nước ta như ngày ra đời của một hình thức thương nghiệp mới.

        Hệ thống tổ chức mậu dịch quốc doanh được phát triển ở hầu khắp các vùng tự do Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4, Liên khu 5 và ở Nam Bộ. Đến năm 1954 mậu dịch quốc doanh đã có trên 100 cửa hàng với 4.000 cán bộ công nhân viên. Doanh số mua vào nếu lấy năm 1950 làm gốc thì năm 1952 bằng 12,9 lần, năm 1953 bằng 21,5 lần và năm 1954 bằng 48,2 lần. Doanh số bán ra ở thời điểm tương tự là 8,9 lần, 18,8 lần và 25,9 lần2.

        Trong điều kiện nguồn hàng chưa dồi dào, mậu dịch quốc doanh cung ứng chủ yếu gạo, muối, vải, thuốc men. Ở miền Bắc mức cung ứng cho mỗi cán bộ từ 20 đến 24kg gạo mỗi tháng. Ở Nam Bộ hàng tháng mỗi cán bộ được cung ứng 27 lít, bộ đội 32 lít gạo. Muối là một mặt hàng chiến lược. Có lúc ở các vùng tự do miền Bắc giá muối đắt gấp 5 lần giá gạo, trong khi đó ở vùng địch tạm chiếm Nam Định, Thái Bình giá muối tương đương giá gạo. Mậu dịch quốc doanh dựa vào số lượng muối Chính phủ bí mật chuyển ra vùng căn cứ từ trước ngày toàn quốc kháng chiến (trên 2 vạn tấn) tổ chức cung ứng muối cho các chiến trường, đồng thời sớm có chính sách khuyến khích thương nhân kinh doanh muối, đưa muối từ vùng tạm chiếm ra các vùng tự do, lên Tây Bắc, Việt Bắc. Do vậy trong chín năm kháng chiến, đồng bào, cán bộ, bộ đội ở các vùng Việt Bắc, Tây Bắc và các khu căn cứ khác không bị thiếu muối; giá muối dần dần đi vào ổn định.

        Ngoài gạo, muối, vải, mậu dịch quốc doanh đã khai thác nguồn hàng, cung ứng thuốc chữa bệnh, văn phòng phẩm, phương tiện đi lại (chủ yếu là xe đạp) đồng thời kinh doanh một số tư liệu sản xuất như trâu, bò, công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển các ngành nghề thủ công như dệt vải, làm giấy, sản xuất đường.

        Chính sách kinh tế mới đã thúc đẩy sản xuất phát triển, giao lưu hàng hóa mở rộng, khắc phục dần tình trạng biến động về giá cả, bình ổn dần giá cả giữa các vùng. Chẳng hạn như năm 1950, giá gạo của ba tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thanh Hóa có sự chênh lệch lớn5:

        Tỉnh                    Tháng 1                    Tháng 6                    Tháng 12

        Lạng sơn            30,5 đ/kg                    90,0 đ/kg                    160 đ/kg

        Thái Nguyên       26,3 đ/kg                    115,0 đ/kg                  200 đ/kg

        Thanh Hóa          24,0 đ/kg                    42,5 đ/kg                    94 đ/kg3

        Nhưng đến những năm cuối của cuộc kháng chiến, sự chênh lệch giữa các vùng không lớn, ngày càng ổn định. Tỉ giá giữa một số mặt hàng công nghiệp với gạo ở Việt Bắc trong hai thời điểm như sau:

                                                                1948            1954

Giá 1m vải diềm bâu trắng (tương đương) 19 kg gạo         4,7 kg

Giá 1 lít dầu hỏa                                     17,5 kg gạo       4,3 kg

Giá 1 tập giấy học sinh                            6,0 kg gạo         1,4 kg4

        Có thể nói trên lĩnh vực lưu thông phân phối, nhờ kịp thời đề ra những chủ thương chính sách đúng, chúng ta đã góp phần xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh, điều hòa giá cả thị trường, bình ổn vật giá, giúp đỡ sản xuất phát triển, hướng dẫn thương nhân kinh doanh phục vụ kháng chiến và dân sinh đấu tranh kinh tế với địch, làm thất bại âm mưu của địch hòng bóp chết hậu phương kháng chiến.

---------------
1, 2. 45 năm kinh tế Việt Nam 1945 – 1990, sđd, tr.152, 154.

3, 4. 45 năm kinh tế Việt Nam, sđd, tr.155.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:23:41 am

        5. Về tài chính

        Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đã làm cho chương trình cải cách chính sách tài chính và thuế của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa thực hiện được. Các loại thuế cũ, bất công bị bãi bỏ nhưng các chính sách thuế mới chưa kịp ban hành Trước tình hình đó, Nhà nước tạm thời giữ lại một số loại thuế như thuế điền thổ, thuế môn bài, thuế sát sinh, thuế xuất nhập khẩu... Sau đó Chính phủ lại đặt Quỹ đảm phụ quốc phòng, Quỹ tham gia kháng chiến nhưng vẫn chưa bảo đảm được nguồn thu ổn định cho ngân sách. Vì vậy trong giai đoạn đầu kháng chiến, nguồn tài chính ở các địa phương chủ yếu dựa vào sự quyên góp của nhân dân dưới nhiều hình thức như Hũ gạo kháng chiến, Quỹ nuôi quân, Quỹ giúp binh sĩ bị nạn, Quỹ huấn luyện dân quân tự vệ, Quỹ giúp đồng bào tản cư, v.v,.. Những kết quả về mặt động viên chính trị và kinh tế thật to lớn nhưng nền tài chính độc lập tự chủ vẫn chưa có nguồn thu và ổn định.

        Trong tình hình ấy, Chính phủ buộc phải dựa vào việc phát triển giấy bạc là chính. Số giấy bạc được phát hành ngày một tăng đã đẩy giá cả lên cao, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, cán bộ, bộ đội. Đến cuối năm 1950, so với năm 1947 số giấy bạc phát hành tăng 19 lần nhưng giá cả lại tăng tới 29 lần.

        Để hạn chế một phần số tiền phát hành quá mức, Nhà nước đã dùng hình thức công trái. Năm 1948 phát hành 500 triệu đồng công phiếu kháng chiến (lãi 3% thời hạn 5 năm). Năm 1950 phát hành công trái quốc gia ghi bằng thóc để đảm bảo giá trị tiền cho vay. Kết quả phát hành công trái rất hạn chế do nhiều nguyên nhân như còn mắc nhiều khuyết điểm về tổ chức và kế hoạch thực hiện, nhân dân thì cho rằng công trái chỉ là một hình thức ủng hộ, nên chỉ tham gia lấy lệ, nhất là lãi suất được xác định thấp, không có tác dụng kích thích so với tiền gửi tiết kiệm và tiền cho vay nặng lãi ở nông thôn.

        Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) đã chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức của các ngành tài chính ngân hàng, thương nghiệp và xác định chính sách tài chính là then chốt đối với cả sản xuất, đời sống và kháng chiến1.

        Trung ương Đảng đề ra phương châm: Tăng thu giảm chi, thống nhất quản lý tài chính Nhà nước. Để tăng thu, ngày 1 tháng 5 năm 1951 Nhà nước ban hành chính sách thuế nông nghiệp, có tính giai cấp rõ rệt nhằm động viên mỗi năm khoảng 18 - 20% hoa lợi thường niên của ruộng đất theo một biểu thuế lũy tiến từ 5% đến 45%, giảm nhẹ mức đóng góp cho dân cày nghèo và đánh nặng hơn vào địa chủ, phú nông. Thuế thu bằng thóc để bình ổn giá thị trường vì giá mọi hàng hóa khác thường căn cứ vào giá gạo.

        Đối với các ngành sản xuất kinh doanh khác, các thứ thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất nhập khẩu... cũng được định rõ nhằm động viên sự đóng góp đúng mức của các tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản công thương, khuyến khích kinh doanh có lợi cho kháng chiến, dân sinh; hạn chế và ngăn chặn đầu cơ tích trữ. Tỉ lệ động viên trung bình trong công thương nghiệp là khoảng 15% doanh thu.

        Việc thống nhất quản lý thu chi, cùng với chính sách ngân hàng và mậu dịch mang lại kết quả tốt góp phần rất quan trọng vào việc xây dựng và củng cố hậu phương kháng chiến. Số thu cho ngân sách nhà nước mỗi năm một tăng. Nếu lấy chỉ số năm 1951 là 100 thì số thu cho ngân sách như sau2:

         

                                                 1951        1952        1953        1954

        Thuế nông nghiệp                 100        277           430          326

        Thuế công thương nghiệp       100        700         1720         2797

        Năm 1954 thu chi ngân sách thăng bằng ngân hàng không phải phát hành thêm tiền. Đó là cơ sở vững chắc để quản lý tiền tệ, bình ổn vật giá. Năm 1951 phát hành thêm 1 lần thì vật giá tăng 2,6 lần. Năm 1952 phát hành thêm 1 lần, giá tăng không đến 1 lần. Từ năm 1953 đồng tiền của ta vững giá. Tiền tệ vật giá ổn định, lại tác động trở lại đến tài chính nhà nước tạo điều kiện cho thu chi ngân sách được cân đối và góp phần đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện một bước đời sống nhân dân, cán bộ, bộ đội; góp phần xây dựng hậu phương kháng chiến ngày càng vững mạnh.

---------------
1. Báo Nhân dân ngày 7-5-1951.

2. 45 năm kinh tế Việt Nam, sđd, tr. 183.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:26:41 am
           
        III. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỀ QUÂN SỰ VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG

        Sức mạnh của hậu phương không chỉ về chính trị kinh tế, mà còn gồm lĩnh vực quan trọng khác là quân sự. Mục tiêu đánh phá chủ yếu của địch vào hậu phương ta là vào nguồn cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Vì vậy công cuộc xây dựng quân sự ở hậu phương và chiến đấu bảo vệ hậu phương diễn ra thường xuyên và ngày càng gay go quyết liệt.

        Quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Trung ương, quân và dân ta đã tập trung cao độ mọi cố gắng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương. Đầu năm 1947, quân dân cả nước triệt để thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”. Phong trào “quân sự hóa toàn dân” được đẩy mạnh. Các địa phương đều coi trọng và phát triển dân quân tự vệ, mua sắm vũ khí. Những nơi địch có thể đánh tới đều được tổ chức phòng thủ. Làng kháng chiến xuất hiện khắp nơi. Các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện được chú ý xây dựng. Ở Thanh - Nghệ - Tĩnh có các trung đoàn 57, 75, 103, các huyện đều có đại đội độc lập. Số lượng dân quân tự vệ tăng nhanh. Riêng tỉnh Nghệ An đầu năm 1947 có 4.000 dân quân, đến tháng 11 đã lên tới 11.417 người; tự vệ từ 30.000 tăng lên 76.768 người. Cũng năm 1947 ở Cao Bằng có 1 tiểu đoàn bộ đội địa phương và 5 đại đội của các huyện Hòa An, Nguyên Bình, Đông Khê, Trà Lĩnh, Quảng Uyên. Về dân quân tự vệ, Cao Bằng có trên 9.000 dân quân và 56.000 tự vệ. Ở Lạng Sơn cũng có 8.500 dân quân và 60.000 tự vệ. Ở Liên khu 5 đến năm 1948 ngoài 2 trung đoàn chủ lực của liên khu và 7 trung đoàn của các tỉnh, toàn liên khu có 500.000 dân quân du kích, 40 đại đội bộ đội địa phương. Phong trào xây dựng làng chiến đấu được đẩy mạnh ở vùng tự do và vùng căn cứ bàn đạp. Tuyến du kích và làng chiến đấu ven biển Liên khu 5 kéo dài tới 400km và phải thường xuyên đương đầu với các hoạt động biệt kích, tập kích, ném bom, bắn phá của địch; nhưng quân và dân ta đã anh dũng đánh trả, bảo vệ vững chắc vùng tự do.

        Từ cuối năm 1949, phong trào thi đua xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích càng được đẩy mạnh nhằm thực hiện một trong những mục tiêu của cuộc vận động thi đua ái quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ cuối năm 1948. Nổi bật là phong trào “Đỡ đầu dân quân” được nhân dân tích cực ủng hộ. Tại Liên khu Việt Bắc, riêng tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1949 nhân dân đã đóng góp vào quỹ đỡ đầu dân quân trên 1.000 mẫu ruộng, 265 con trâu, 500 tấn thóc. Ở Liên khu 4 ngoài việc đóng góp gạo, ruộng, trâu bò nhân dân còn đóng góp cho kháng chiến bằng nhiều cách, ví như ở Thanh Hóa, đến tháng 7 năm 1949 nhân dân đã góp tiền mua cho dân quân 25.110 quả lựu đạn, 430 quả mìn, rèn 24.495 mã tấu. Ngoài hình thức đỡ đầu các đơn vị bộ đội dân quân, các tỉnh còn xây dựng các trại tăng gia sản xuất tập trung của bộ đội, dân quân du kích, dành ruộng tốt cho bộ đội và các cơ quan tăng gia sản xuất.

        Các cuộc vận động đỡ đầu bộ đội, dân quân du kích, nuôi dưỡng thương binh là dịp nhân dân trực tiếp tham gia vào công tác xây dựng lực lượng vũ trang, làm thắm thiết gắn bó mối quan hệ quân dân, một yếu tố quyết định bảo đảm cho sự lớn mạnh của các lực lượng vũ trang và sự vững mạnh của hậu phương.

        Việc xây dựng lực lượng vũ trang ở hậu phương và các vùng địch tạm chiếm được chú ý về cả số lượng và chất lượng. Về tổ chức những ngày đầu kháng chiến có bộ đội địa phương huyện. Hầu hết các huyện trong toàn quốc cả ở vùng tự do và vùng sau lưng địch đều có một hoặc nhiều đại đội bộ đội địa phương. Chẳng hạn như huyện Tiên Lãng (Kiến An) nằm rất sâu trong vùng tạm chiếm, dân số chỉ có 50.000 người nhưng đã lần lượt tổ chức xây dựng được 5 đại đội bộ đội địa phương làm nhiệm vụ chiến đấu xây dựng, bảo vệ khu du kích và bổ sung cho bộ đội chủ lực. Riêng số thanh niên bổ sung cho bộ đội chủ lực là 4.000 người. Ở xã Hùng Thắng (Tiên Lãng), năm 1950 có 530 nam thanh niên thì 517 người tham gia dân quân du kích, gia nhập bộ đội địa phương1.

        Cùng với việc phát triển số lượng, công tác xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị được đặc biệt chú trọng. Hàng vạn cán bộ đảng viên đã được điều động vào quân đội, bộ máy lãnh đạo, chỉ huy bộ đội địa phương và dân quân du kích. Từ năm 1950, theo quy định, các ban chỉ huy xã đội trong toàn quốc phải là các đồng chí trong cấp ủy cơ sở. Việc giáo dục tinh thần yêu nước, căm thù giặc, sẵn sàng chiến đấu hy sinh của ba thứ quân được tiến hành thường xuyên dưới nhiều hình thức. Vì tổ quốc gắn bó chặt chẽ với dân, vì nhân dân mà chiến đấu là lẽ sống, là mục tiêu phấn đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân.

        Trong công cuộc bảo vệ hậu phương, cùng với lực lượng vũ trang ba thứ quân, các cơ quan chuyên chính như công an, tòa án có vai trò hết sức quan trọng góp phần đánh bại mọi hành động đánh phá của địch, bảo vệ hậu phương kháng chiến. Điều nổi bật là quân và dân ta đã xây dựng được các làng chiến đấu ở hầu khắp các vùng nông thôn, miền núi, đồng bằng, ven biển, ở cả vùng tự do và vùng địch tạm chiếm và phát động được toàn dân tham gia đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Địch đi đến đâu cũng vấp phải sự đánh trả của ta. Ngoài việc chiến đấu bảo vệ địa bàn, bộ đội địa phương và dân quân du kích các tỉnh huyện còn chủ động tổ chức các trận đánh sâu vào hậu cứ địch, tiêu diệt sinh lực và phá hủy dự trữ chiến tranh của chúng. Biện pháp tích cực chủ động này đã phát huy thế trận chiến tranh nhân dân của ta, khiến địch càng thêm bị động và lúng túng, góp phần bảo vệ và ngày càng mở rộng hậu phương ta, thu hẹp dần hậu phương của địch.

        Những thành công trên lĩnh vực xây dựng hậu phương về quân sự không chỉ làm cho hậu phương kháng chiến thêm vững chắc mà còn góp phần quyết định vào việc xây dựng và sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta. Từ chỗ chỉ có hơn 8.000 người cuối năm 1946 đến 1953 đã tăng lên 30 vạn cán bộ, chiến sĩ với 6 đại đoàn chủ lực của Bộ và nhiều trung đoàn chủ lực của các liên khu, đủ sức đánh bại đội quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp.

----------------
1. Lịch sử Đảng bộ huyện Tiên Lãng (1930 - 1975), Nxb Hải Phòng, 1988, tr. 112.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:29:55 am
             
        IV. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỀ VĂN HÓA XÃ HỘI

        Kháng chiến bùng nổ, cuộc sống tuy có bị đảo lộn, công tác bổ túc văn hóa và xóa nạn mù chữ cho nhân dân gặp nhiều khó khăn hơn, nhưng Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quyết tâm động viên nhân dân phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc và các nền nếp văn hóa giáo dục được xây dựng từ sau Cách mạng tháng Tám. Khẩu hiệu được đề ra là: “Gấp rút thanh toán nạn mù chữ, tiến lên học bổ túc văn hóa”.

        Nhiều hình thức tổ chức, nhiều sáng kiến động viên học tập đã nảy sinh trong hoàn cảnh kháng chiến. Ở nhiều địa phương, chính quyền và các đoàn thể đặt giải thưởng cho các gia đình cả nhà biết chữ. Thiếu giấy, đồng bào lấy lá cây, vỏ cây thay thế. Đến năm 1949 ở 4 tỉnh vùng tự do Liên khu 5 có 1.260.000 người từ 8 tuổi trở lên thoát nạn mù chữ. Năm 1948 có 83.000 người theo học các lớp dự bị bổ túc, năm 1949 lên tới 20 vạn. Xã Nghĩa Lâm (Quảng Ngãi) là xã đầu tiên ở liên khu xóa nạn mù chữ vào năm 1949. Đến năm 1950 toàn vùng tự do Liên khu 5 xóa xong nạn mù chữ. Toàn liên khu có 3.000 lớp tiểu học ở các huyện xã với 140.000 học sinh (nữ chiếm 3%), cứ 1.000 người dân có 90 học sinh sơ học. Mỗi tỉnh có từ 2 - 8 trường phổ thông trung học, trung bình 1.000 dân có 4 học sinh trung học (gấp 40 lần thời Pháp thuộc). Việc nâng cao trình độ văn hóa cho con em và cán bộ các dân tộc thiểu số được các cấp đặc biệt quan tâm. Các huyện, tỉnh và khu đều có trường nội trú dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc và con em các dân tộc thiểu số. Riêng trường nội trú do liên khu tổ chức, năm 1950 có 300 thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số. Trường bổ túc văn hóa của khu có 4 lớp dành cho cán bộ lãnh đạo cấp khu và tỉnh. Nhiều anh chị em tốt nghiệp trung học được gửi đi học tại các trường đại học ở Khu 4 và Việt Bắc.

        Ở Thanh - Nghệ - Tĩnh năm học 1947 - 1948 có 470 trường tiểu học với 55.444 học sinh, 27 trường trung học với 5.000 học sinh. So với năm 1947 số học sinh tiểu học tăng gấp 3 lần.

        Về đại học, ngay từ năm 1948 Nhà nước đã mở một lớp toán học đại cương ở Nghệ An cho sinh viên theo học. Ngoài ra, còn có một số trường chuyên môn như trường kỹ nghệ thực hành, kỹ thuật thực hành và trường canh nông.

        Đặc biệt, phong trào bình dân học vụ ở Thanh - Nghệ - Tĩnh phát triển mạnh. Năm 1947 ở Nghệ An có 3.673 lớp với 5.970 giáo viên và 71.027 học viên; Hà Tĩnh có 3.971 lớp với 4.812 giáo viên và 81.512 học viên, có 3 xã Quảng Hành (Cẩm Xuyên), Văn Lâm (Đức Thọ) và Văn.Quân (Can Lộc) xóa xong nạn mù chữ từ cuối năm 1941. Ở Thanh Hóa có 3.562 lớp với 70.526 học viên.

        Tại Việt Bắc, phong trào xóa nạn mù chữ và học văn hóa cũng được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Đầu năm 1948 nhiều xã đã thanh toán xong nạn mù chữ cho lứa tuổi từ 45 trở xuống như các xã Tiến Thành, Hồng Quang... (Phục Hòa). Ở huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) đã tổ chức được 2 lớp học cho đồng bào H’mông. Tính đến đầu 1948, 6 tỉnh trong liên khu có 2.000 lớp bổ túc văn hóa với trên 50 vạn học viên, có 620 trường tiểu học với trên 78.000 học sinh, 32 trường trung học với 6.500 học sinh.

        Phong trào học bổ túc văn hóa trong các ngành cũng diễn ra sôi nổi. Báo cáo năm 1948 của Bộ Lao động cho thấy: năm 1948 trong ngành kỹ thuật có 25% số cán bộ công nhân viên theo học bổ túc văn hóa, 50% số người biết đọc biết viết nhanh, 24% số người đọc, viết được và 1% mù chữ. Trong ngành bưu điện các con số tương ứng là 45%, 50% và 0%1.

        Từ năm 1951, Nhà nước mở thêm hệ phổ thông lao động để bổ túc văn hóa chuyên tu cho chiến sĩ thi đua, cán bộ, công nhân xuất sắc, nâng cao trình độ văn hóa như học sinh phổ thông hệ 9 năm song thời gian học rút ngắn hơn. Với hệ này chúng ta đã từng bước giải quyết nhu cầu của cán bộ chiến sĩ tham gia kháng chiến không có điều kiện học chính quy. Ngoài ra, từ năm 1950, được sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, Đảng và Nhà nước ta chuyển Việt Nam học xá sang Trung Quốc, đưa học viên đi đào tạo ở nước ngoài.

        Tính chung trong vùng tự do và vùng du kích cả nước, đến hết năm 1952 đã có hơn 4 triệu người biết đọc, biết viết. Nạn mù chữ đã cơ bản được thanh toán ở vùng kháng chiến2. Năm 1954 cả nước có 3 triệu người học các lớp bổ túc văn hóa3.

        Đối với ngành giáo dục phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ là cải tổ và hoàn thiện hệ thống giáo dục phổ thông theo hướng cách mạng, dân tộc và đại chúng.

        Sau những năm đầu tập trung duy trì việc học tập của con em nhân dân lao động, đào tạo giáo viên, kiện toàn bộ máy quản lý, tháng 1 năm 1950 Hội đồng Chính phủ quyết định tiến hành cải cách toàn bộ ngành giáo dục phổ thông mà nội dung chủ yếu là thay hệ thống giáo dục cũ bằng hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm.

        Hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm được bắt đầu áp dụng thống nhất từ năm học 1950 - 1951 trong vùng tự do cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.

        Nhìn lại chín năm kháng chiến, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn: thiếu trường, thiếu lớp, thiếu giáo viên, thiếu phương tiện dạy và học; nhưng với lòng yêu nước, ham học, thày giáo, học sinh và toàn dân ta đã đưa nền giáo dục kháng chiến không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Riêng về giáo dục phổ thông, năm học 1939 - 1940 được coi là năm thịnh vượng nhất của nền giáo dục thuộc Pháp, số học sinh cấp I chỉ có 524.227 em, học sinh cấp II có 16.519 em và học sinh cấp III có 507 em. Vậy mà đến năm 1953 - 1954 chỉ tính ở ba vùng tự do lớn, con số tương ứng là 1.068.000, 575.000 và 4.482 em4.

        Như vậy chỉ riêng số học sinh trong ba vùng tự do lớn của ta cũng nhiều hơn số học sinh trong cả nước dưới thời thuộc Pháp năm cao nhất. Học sinh cấp I hơn 2 lần, cấp II hơn 341ần và cấp III hơn gần 9 lần.

---------------
1. Báo cáo tình hình hoạt động năm 1948 của Bộ Lao động. Cục lưu trữ quốc gia Phòng Phủ Thủ tướng. Hồ sơ 2319.

2. Báo cáo của Bộ Giáo dục về công tác giáo dục trong thời gian từ tháng 6-1945 - 3-1954. Phòng Phủ Thủ tướng. Hồ sơ 1696.

3. Kinh tế Việt Nam 1945 – 1954, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.380.

4. 45 năm kinh tế Việt Nam, sđd, tr.335.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:32:46 am

        Về văn hóa văn nghệ: Các tỉnh vùng tự do là nơi tập trung nhiều văn nghệ sĩ. Lăn lộn trong cuộc sống lao động và chiến đấu, các văn nghệ sĩ đã sáng tác kịp thời nhiều tác phẩm phục vụ kháng chiến. Nhiều truyện ngắn, phóng sự, nhạc phẩm, thi ca... đề cao lòng yêu nước, lòng tự hào chân chính, niềm tin vào thắng lợi và khí phách anh hùng của nhân dân. Đầu năm 1948 ở Liên khu 4 đã tiến hành đại hội văn hóa văn nghệ toàn khu. Đại hội khẳng định văn hóa phải đứng trên lập trường dân tộc, dân chủ theo phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng. Năm 1948 ở Liên khu 5 mở đại hội văn hóa kháng chiến, năm 1949 thành lập Chi hội Văn nghệ Liên khu 5.

        Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ngoài báo hàng ngày, hàng tuần, nội san của Trung ương, các tỉnh trong vùng tự do còn phát hành báo và nội san riêng của mình. Ở Liên khu Việt Bác có tờ nội san Tranh đấu. Báo Việt lập của Tỉnh bộ Việt Minh Cao Bằng tháng ra 3 kỳ. Việc thực hiện nếp sống văn hóa mới được chăm lo khuyến khích. Báo Việt lập số 287 ra ngày 1 tháng 10 năm 1947 đăng bài của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời tựa cho tác phẩm Đời sống mới của Tân Sinh. Người chỉ rõ: “Trong lúc kháng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều kiện cần cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc. Quyển Đời sống mới viết một cách vắn tắt, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu. Đó là một cuốn sách nhỏ chỉ rõ bước đường đời sống mới. Tôi mong rằng đồng bào ta mỗi người có một quyển Đời sống mới để xem, để hiểu, để thực hiện đời sống mới. Như thế chúng ta nhất định sẽ tiến bộ hơn”.

        Các tác phẩm văn hóa văn nghệ, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Nam Bộ và báo chí ở các vùng tự do đã góp phần đắc lực vào công tác tuyên truyền giải thích chủ trương của Chính phủ, cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân, đập tan các luận điệu phản tuyên truyền của địch, góp phần xây dựng và bảo vệ hậu phương.

        Về y tế, dưới thời thuộc Pháp, tổ chức y tế rất nhỏ yếu. Điều kiện vệ sinh quá thấp kém. Hàng năm các bệnh kiết lỵ, đậu mùa, dịch tả giết hại hàng loạt người. Đến Cách mạng tháng Tám cả nước chỉ có 147 bác sĩ, dược sĩ cao cấp và một số ít nhân viên y tế sơ cấp. Trung bình 15 vạn dân mới có một thầy thuốc trong khi tỉ lệ thường thấy trên thế giới là 1.000 người dân có một thầy thuốc. Bệnh tật hoành hành, 40% số dân vùng trung du và miền núi bị sốt rét, 75% số dân cả nước bị bệnh đau mắt, 4% mắc bệnh lao. Trong khi đó toàn Đông Dương chỉ có 47 nhà thương (kể cả các nhà thương cửa quân đội Pháp) với sức chứa khoảng 9.600 người. Tỉ lệ người chết khi vào viện rất cao (trên 26%)1. Trong nước không có công nghiệp chế thuốc, nguồn dược liệu dồi dào không được chú ý khai thác sử dụng. Thuốc và dụng cụ y tế hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài.

        Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thấy sự cần kíp phải xây dựng nền y tế của Nhà nước phục vụ nhân dân. Theo lời kêu gọi của Bác, hầu hết số bác sĩ, dược sĩ tình nguyện tòng quân, hăng hái tham gia kháng chiến, phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân. Cuối năm 1945 Trường đại học Y khoa Hà Nội khai giảng khóa đầu tiên dưới chế độ mới. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được phát động khắp các thành thị, nông thôn. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trường đại học Y - Dược khoa sau những ngày di chuyển, lại tiếp tục khóa học trong rừng sâu. Thầy và trò đã khắc phục và vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn về cơ sở vật chất, phương tiện dụng cụ giảng dạy và thí nghiệm thực hành. Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ y tế phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân. Năm 1948 Chính phủ quyết định mở hệ quân y đại học nằm trong Trường đại học Y - Dược khoa. Trường còn mạnh dạn thay đổi chương trình đào tạo. Sinh viên sau khi học tại trường 3 năm phần lớn đều đi phục vụ bộ đội và nhân dân, sau đó trở về trường học tiếp chương trình còn lại. Chủ trương này nhằm nhanh chóng có cán bộ y tế trung cao cấp phục vụ sự nghiệp kháng chiến. Tháng 3 năm 1949 Trường Quân y sĩ được thành lập, tháng 7 năm 1950 Trường Quân dược sĩ mở lớp đầu tiên. Các Quân y vụ (của các đại đoàn, liên khu) liên tiếp tổ chức các lớp đào tạo y tá, dược tá, y sĩ, nữ hộ sinh. Nhờ đó, từ cuối năm 1948 hầu hết các xã trong vùng tự do đều có y tá, nữ hộ sinh chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Chỉ tính từ Liên khu 5 trở ra, riêng ngành quân y đến cuối năm 1948 đã đào tạo được 412 y tá trưởng, 3.232 y tá, 333 dược tá và 1.150 cứu thương.

        Cùng với các thành tựu khác về chính trị, kinh tế, quân sự thành tựu về văn hóa giáo dục và y tế trong công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương là rất to lớn, có ý nghĩa nhiều mặt. Những kết quả trên đây đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, củng cố và ổn định hậu phương góp phần đẩy nhanh kháng chiến mau thắng lợi.

----------------
1. Ba mươi năm phục vụ và xây dựng của ngành quân y (1945 - 1975), Cục Quân y, 1976, tr.103.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:35:41 am

C. MỘT VÀI NHẬN XÉT

        Xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp là một quá trình phấn đấu đầy gian khổ, đấu tranh liên tục, một mất một còn giữa quân và dân cả nước ta với kẻ thù xâm lược.

        Do chưa có kinh nghiệm, lại thường xuyên bị bao vây đánh phá nên việc tổ chức chỉ đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương không tránh khỏi những sai lầm, tổn thất. Nhưng vừa chống chọi với kẻ thù, vừa xây dựng tiềm lực mọi mặt của hậu phương bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi là một kỳ tích của quân và dân ta.

        Về phía đối phương, cuộc chiến tranh Đông Dương ngày càng trở thành một gánh nặng quá sức chịu đựng của nước Pháp. Chi phí chiến tranh hàng năm tăng một cách nhanh chóng: năm 1945: 3 tỉ phơ-răng, năm 1946: 27 tỉ, năm 1947: 53 tỉ, năm 1948: 89 tỉ, năm 1949: 130 tỉ, năm 1950: 201 tỉ, năm 1951: 308 tỉ, năm 1952: 535 tỉ.

        Báo Pháp Lơ Phi-ga-rô đã công bố một bảng tính toán cụ thể về chiến tranh Đông Dương như sau: 1 viên đạn đại bác tốn 20.000 phơ-răng; mà một đêm chống lại quân ta tiến công phải bắn 2.600 viên, một tháp canh tốn 5.000.000 phơ-răng mà mỗi hành lang phòng thủ phải xây dựng 500 tháp. Lương hàng tháng của mỗi người lính Pháp là 17.000 phơ-răng, nếu đem nhân với 338.000 lính năm 1951 thì riêng số tiền phải chi trả lương cho lính Pháp ở Đông Dương cả năm 1951 là 5.746 triệu phơ-răng. Báo này viết: “Những món tổn phí này đáng lẽ ngân sách Việt Nam phải chịu, nhưng hiện nay trút hết lên đầu nước Pháp(!)... Vì thế chúng tôi mong rằng một quân đội quốc gia Việt Nam do ngân sách Việt Nam đài thọ sẽ thay thế cho quân đội Pháp. Trước hết là để thế mạng cho người lính Pháp ở lỗ châu mai. Sau nữa là giải quyết vấn đề tổn phí”1.

        Ngay từ năm 1946, khi bắt đầu kế hoạch xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp đã dự tính một kế hoạch gọi là kế hoạch phục hồi, hiện đại hóa và trang bị nền kinh tế Đông Dương với vốn đầu tư 5 năm từ năm 1946 đến 1950 là 25.498 triệu đồng Đông Dương. Nhưng đến năm 1949 Pháp mới chi được 1.241 triệu đồng. Năm 1950 dự định chi 1.481 triệu đồng tức là chưa được 5% kế hoạch. Đây là thất bại thảm hại của chủ nghĩa thực dân Pháp trong âm mưu khai thác Đông Dương, tổ chức hậu phương tại chỗ, thực hiện chủ trương chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của chúng.

        Thất bại về quân sự tác động mạnh mẽ đến các kế hoạch khai thác bóc lột về kinh tế. Tâm lý thất bại chủ nghĩa ngày càng lan rộng không chỉ trong giới chính trị, quân sự mà cả trong giới kinh tế thực dân. Ngay từ sau thất bại ở Việt Bắc (thu đông 1947) nhiều công ty Pháp đã xin chuyển sang đầu tư ở các thuộc địa khác ngoài Đông Dương. Đến cuối năm 1950 có hiện tượng rút vốn hàng loạt. Chẳng hạn như Đông Dương địa ốc ngân hàng đã chuyển 95% số vốn về Pháp và sang châu Phi.

        Vậy là một bộ phận trong giới thực dân Pháp không còn tin vào “thắng lợi” của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Do mất lòng tin nên khai thác kinh tế không đi đôi với đầu tư tái sản xuất. Vụ án “buôn lậu giấy bạc Đông Dương” với những món lời hàng triệu, hàng tỉ phơ-răng bị vỡ lở trong những năm 1952, 1953 là biểu hiện sự tan rã và thối nát của nền kinh tế thuộc địa trong chiến tranh xâm lược. Vụ án đó đã đưa ra ánh sáng hàng loạt nhân vật thực dân đầu sỏ: thủ tướng Pi-nay, tổng tham mưu trưởng Rơ-ve, cao ủy Pi-nhông, tổng giám đốc ngân hàng Đông Dương Lô-răng... Tâm lý thất bại lan tràn trong giai cấp thống trị Pháp. Hiện tượng phân hóa đã xuất hiện trong chính giới Pháp và ngày càng sâu sắc, nặng nề. Sau thất bại Biên Giới người thì chủ trương rút bỏ một phần đất đai, kẻ thì chủ trương tiếp tục chiến tranh và có người định kết thúc chiến tranh bằng cách đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng tất cả đều không tin rằng nước Pháp có thể thắng được, tất cả đều thấy rõ rằng bản thân nền kinh tế Pháp - hậu phương của chiến tranh xâm lược không đủ và không thể bảo đảm cho cuộc chiến tiếp tục được nữa.

        Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta, đặc biệt là từ sau năm 1950 càng thúc đẩy nhân dân Pháp kiên quyết phản đối và chống lại cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu của thực dân Pháp ở Đông Dương. Phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu ngày càng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân Pháp. Nhiều nghị sĩ quốc hội Pháp đã lên tiếng đòi đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhân dân các nước An-giê-ri, Tuy-ni-di, Ma-rốc cũng lên tiếng đòi rút quân đội viễn chinh Pháp ra khỏi Việt Nam. Công nhân các bến tàu ở Bắc Phi nhiều lần đình công, tẩy chay những chuyến tàu chở binh lính và vũ khí sang Việt Nam.

        Thực dân Pháp đứng trước tình cảnh hậu phương của chúng ngày càng rạn nứt, rối ren; quân đội viễn chinh tiến lui đều khó. Trong tình thế đó, lối thoát của Pháp để ra khỏi bế tắc là tiếp tục xin viện trợ Mỹ. Từ năm 1950 đến 1953, Mỹ đã đưa vào Đông Dương 400.000 tấn vật liệu chiến tranh. Trong 2 năm 1952 và 1953, Mỹ cho Pháp vay 314 triệu đô-la và từ năm 1953 đến 1954 lại cho Pháp vay tiếp hơn 1 tỉ đô-la để tiếp tục chiến tranh. Viện trợ Mỹ chiếm tỉ lệ ngày càng quan trọng và quyết định trong ngân sách chiến tranh Đông Dương của Pháp. Từ 19% (với 51 tỉ phơ-răng) năm 1950, 35% (với 200 tỉ phơ-răng) năm 1952, 43% (285 tỉ phơ-răng) năm 1953 lên đến 78% (555 tỉ phơ-răng năm 1954). Tuy nhiên viện trợ ngày càng tăng của Mỹ càng khiến nội bộ chính quyền Pháp thêm phân hóa, mâu thuẫn, hậu phương càng mất ổn định, nước Pháp càng lệ thuộc Mỹ. Chính H.Na-va nguyên tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã thừa nhận rằng “điều nguy hiểm nhất của viện trợ Mỹ là về phương tiện chính trị... Viện trợ Mỹ đã dẫn tới việc nước Mỹ ngày càng xen sâu vào các công việc của chúng ta... Chúng ta đã rơi vào hoàn cảnh trái ngược là do việc nhận viện trợ Mỹ, chúng ta đã gần như chắc chắn mất Đông Dương dù cho rằng viện trợ làm cho chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh”2.

---------------
1. Báo Nhân dân, ngày 9-8-1951.

2. H.Na-va, Đông Dương hấp hối, Tài liệu dịch, Thư viện Trung ương quân đội, tr.28.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:39:08 am

*

*      *

        Trong chiến tranh, bên nào cũng cố gắng xây dựng hậu phương của mình. Bên nào có hậu phương được tổ chức vững chắc và hùng hậu, bên đó đã nắm một trong những nhân tố quyết định thắng lợi. Chế độ tiến bộ và cuộc chiến tranh chính nghĩa cho phép động viên cao nhất, nhiều nhất sức người sức của, tạo nên hậu phương vững chắc hơn. Nước Pháp vốn bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Pháp thêm điêu đứng do hậu quả của chiến tranh Đông Dương, càng phản đối và lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược Việt Nam. Đối với thực dân Pháp, cái họa bại vong không chỉ ở Việt Nam mà còn ở chính ngay nước Pháp.

        Nhân dân ta thắng vì ta có một hậu phương vững chắc, dựa trên chế độ dân chủ nhân dân. Sau Cách mạng tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân lao động đã thực sự làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mình. Nhân dân ta sẵn sàng hy sinh để bảo vệ, giữ gìn các quyền thiêng liêng ấy. Do tính chất và đặc điểm của cuộc kháng chiến theo đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, hậu phương của ta được xây dựng ở các vùng tự do, vùng tranh chấp và vùng sau lưng định, song chủ yếu là ở ba vùng tự do chính: Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Liên khu 5. Tuy chưa dựa trên một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, nhưng hậu phương của ta vẫn có đủ khả năng cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến lâu dài. Kháng chiến càng phát triển thì hậu phương càng vững mạnh.

        Cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu vào lúc nhân dân ta vừa giành được chính quyền. Mười sáu tháng vừa kháng chiến vừa tạm thời hòa hoãn ở miền Bắc chưa đủ để nhân dân ta khắc phục hậu quả và giải quyết những di sản nặng nề của đế quốc, phong kiến và chiến tranh để lại. Ta phải mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp trong khi hậu phương còn nhiều yếu kém về kinh tế, khoa học kỹ thuật. Xây dựng một hậu phương vững chắc trong điều kiện đó cần phải có thời gian lâu dài. Vì thế chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng hậu phương do Đảng ta đề ra phản ánh quy luật tất yếu của cuộc kháng chiến.

        Thực tiễn của việc xây dựng hậu phương kháng chiến cho thấy đó là quá trình tạo sức mạnh, là quá trình xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực chất đây là xây dựng một chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân.

        Xuất phát từ yêu cầu của kháng chiến và khả năng thực tế, việc xây dựng hậu phương trong kháng chiến nhằm mục tiêu cơ bản: đủ ăn, đủ mặc, đủ vũ khí để đánh giặc, ai cũng được học hành.

        Chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm tô và tạm cấp ruộng đất của bọn thực dân phản động, tạm cấp ruộng công, ruộng vắng chủ, ruộng bỏ hoang cho nông dân đã giải quyết được vấn đề quyền làm chủ của người lao động. Ở một số vùng tự do đã tiến hành cải cách ruộng đất, càng làm cho người lao động nhận rõ bản chất của chế độ mới. Thực hiện tốt chính sách ruộng đất ngay trong kháng chiến là một nhân tố có ý nghĩa quyết định để xây dựng và củng cố hậu phương. Nhờ đó tinh thần và lực lượng kháng chiến của hàng triệu nông dân được phát huy mạnh mẽ, khối liên minh công nông được tăng cường, chính quyền nhân dân và mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố, sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân tăng lên, mọi mặt hoạt động của kháng chiến đều được đẩy mạnh.

        Xây dựng hậu phương kháng chiến về mọi mặt, ngay trong quá trình kháng chiến là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

        Trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch rất chênh lệch thì điều quan trọng hàng đầu làm chuyển hóa so sánh lực lượng là phải vừa chiến đấu vừa xây dựng, tích lũy lực lượng. Phải vừa tích cực tiêu diệt sinh lực địch vừa tích cực bồi dưỡng lực lượng ta.

        Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, xây dựng hậu phương vững chắc là một yêu cầu cấp bách đối với từng chiến trường cũng như với cả nước. Kháng chiến lâu dài phải có lực lượng toàn dân tham gia, phải có sức mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và xã hội, trong đó quân sự đóng vai trò quyết định trong việc tiêu diệt sinh lực địch, tạo ra sự biến đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 03:40:02 am

        Vận dụng các chủ trương cửa Trung ương, các liên khu ủy, tỉnh ủy đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trên các lĩnh vực xây dựng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, đáp ứng ngày càng cao các yêu cầu của cuộc kháng chiến.

        Xây dựng để bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi đồng thời kháng chiến để bảo đảm cho xây dựng thành công. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng hậu phương, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng này, đã lãnh đạo nhân dân đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược. Giải quyết từng bước, hợp lý, khoa học cả hai nhiệm vụ chiến lược là một thành công lớn của Đảng từ trung ương đến cơ sở. Nhờ có hậu phương vững chắc mà tiền tuyến lớn thắng to và nhờ những thắng lợi ở tiền tuyến mà hậu phương được xây dựng và củng cố vững chắc, xứng đáng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến.

        Từ thực tế xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp bước đầu có thể nêu lên mấy bài học kinh nghiệm sau:

        Một là: Phải dựa chắc vào dân, tổ chức nhân dân xây dựng lực lượng mọi mặt của hậu phương kháng chiến.

        Nắm vững quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, Đảng ta luôn đặt công tác vận động tổ chức quần chúng là một trong những công tác quan trọng hàng đầu. Trong quá trình xây dựng và củng cố hậu phương, vấn đề giành dân, giữ dân giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Địch dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, kết hợp với bạo lực để giành dân với ta. Vì thế việc vừa giáo dục rèn luyện nhân dân đề cao tinh thần cảnh giác, vừa tuyên truyền làm cho quần chúng thấy rõ âm mưu quỷ quyệt và hành động tàn bạo của kẻ thù, động viên nhân dân tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng. Không chỉ tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng, các cấp ủy Đảng và chính quyền còn phải có những chủ trương, biện pháp đúng nhằm bồi dưỡng củng cố sức dân. Cán bộ, đảng viên từ trung ương đến cơ sở, từ vị chủ tịch nước đến người đảng viên thường phải là những tấm gương mẫu mực về tinh thần chiến đấu hy sinh, về đạo đức cần kiệm liêm chính, thường xuyên gần gụi và hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng. Chính nhờ có đường lối chủ trương chính sách đúng, nhờ cán bộ đảng viên gương mẫu mà Đảng đã tập hợp được sức mạnh của toàn dân, huy động được sức mạnh của toàn dân phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến.

        Xuất phát từ tính chất, nhiệm vụ của hậu phương trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố các đoàn thể quần chúng trong nông dân, công nhân, phụ nữ, thanh niên, đồng thời hết sức tranh thủ các nhân sĩ, trí thức, thân hào yêu nước, mở rộng và củng cố mặt trận, phát huy sức mạnh to lớn của mặt trận trong công cuộc đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Việc nghiêm chỉnh chấp hành chính sách dân tộc chính sách tôn giáo vận của Đảng có ý nghĩa quyết định đến công cuộc xây dựng hậu phương, xây dựng thực lực cách mạng. Không chỉ ở vùng tự do mà ngay ở vùng tạm bị chiếm, đồng bào ta không phân biệt tôn giáo đều hết lòng ủng hộ, đóng góp cho kháng chiến. Nhiều làng công giáo trong vùng địch hậu là những làng kháng chiến kiên cường. Đồng bào các dân tộc cũng hăng hái tham gia đánh giặc giữ làng, đưa con em vào dân quân du kích, gia nhập bộ đội chủ lực, đóng góp nghĩa vụ lương thực, thực phẩm, đi dân công phục vụ các chiến dịch. Trong các chiến dịch Biên Giới, Tây Bắc, hàng nghìn đồng bào H’mông, Dao cả đời ít khi xuống núi nhưng vẫn hăng hái đi dân công. Đêm đêm trên các chặng đường hành quân kháng chiến, bên ngọn đuốc của các đoàn dân công Kinh, Tày... còn có những ánh lửa của các bàn đèn thuốc phiện của đồng bào H’mông. Đi phục vụ kháng chiến, những dân công người H’mông ấy chưa bỏ được thói quen tập tục cũ, nhưng trong họ lại tràn đầy lòng tin vào Đảng và Bác Hồ. Đó là một trong những hình ảnh mộc mạc mà tuyệt đẹp của toàn dân kháng chiến.

        Xây dựng được khối đoàn kết nhất trí giữa nhân dân các dân tộc, tôn giáo từ vùng thấp đến vùng cao, từ miền núi tới ven biển, từ vùng tự do đến vùng tạm chiếm, huy động được toàn dân tham gia kháng chiến, vừa xây dựng hậu phương vừa hết lòng chi viện tiền tuyến là thành công lớn nhất của Đảng ta. Nhờ sự ủng hộ tham gia đóng góp của nhân dân mà chúng ta đã có được một hậu phương vững mạnh, đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu của kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 04:03:39 am
       Hai là: Để hoàn thành thắng lợi công cuộc xây dựng hậu phương vững mạnh, yếu tố quyết định là phải xây dựng được đảng bộ các cấp vững mạnh.

        Hiểu sâu sắc Đảng là người lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, các tỉnh ủy và liên khu ủy luôn coi công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Xây dựng các chi bộ, đảng bộ vững mạnh về chính trị tư tưởng đi đôi với việc tăng cường giáo dục đường lối chủ trương của Đảng là công tác thường xuyên của các cấp bộ Đảng. Trong hoàn cảnh vừa đánh giặc vừa xây dựng hậu phương, tổ chức Đảng các cấp luôn coi trọng giáo dục cho đảng viên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản, tính tiên phong, tính giai cấp, mục đích chiến đấu của Đảng để nâng cao lập trường, tác phong, đạo đức và khí tiết của người cộng sản.

        Xây dựng Đảng về chính trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để vận dụng đường lối chủ trương của Trung ương và địa phương trong mỗi giai đoạn của cuộc kháng chiến, phát huy nghĩa vụ và trách nhiệm của đảng viên trong việc thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, làm cho mỗi cán bộ đảng viên thật sự là người lãnh đạo, người lính xung kích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và lao động sản xuất, thực sự là những tấm gương cho nhân dân học tập và noi theo.

        Ở các đảng bộ, chi bộ thành phần đảng viên đa số là nông dân, bao gồm nhiều dân tộc. Nhận thức rõ thực tế đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng giáo dục cho đảng viên lập trường của giai cấp công nhân, ý thức đoàn kết dân tộc, phấn đấu cho lý tưởng cao cả của Đảng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, chống mọi biểu hiện của tư tưởng ích kỷ, cục bộ địa phương, dân tộc hẹp hòi. Các cấp bộ đảng luôn chú trọng xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong chi bộ, đảng bộ, giữ và phát huy mối liên hệ chặt chẽ giữa Đảng và quần chúng, dựa vào sức mạnh của quần chúng để hoàn thành mọi nhiệm vụ của hậu phương kháng chiến. Các đảng bộ đã thường xuyên gắn công tác củng cố và phát triển đảng với việc đào tạo cán bộ tại chỗ là người địa phương, của các dân tộc.

        Thắng lợi của công cuộc xây dựng hậu phương gắn liền với công tác xây dựng Đảng vững mạnh.

        Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng ở các vùng tự do, các vùng tranh chấp, vùng tạm chiếm còn mắc một số khuyết điểm. Có lúc có đảng bộ địa phương chạy theo số lượng, bỏ qua các nguyên tắc tổ chức, tiêu chuẩn đảng viên, phát triển đảng ồ ạt như các năm 1947, 1948 đến mức Trung ương phải quyết định tạm đóng cửa, dừng phát triển để củng cố. Có lúc có đảng bộ lại quá nhấn mạnh củng cố, không chú trọng phát triển những quần chúng ưu tú trong sản xuất và chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Khuyết điểm tương đối phổ biến là còn hẹp hòi, thành phần chủ nghĩa, chỉ chú ý phát triển quần chúng có thành phần xuất thân là bần cố nông. Những sai lầm đó phần nào đã ảnh hưởng đến sức mạnh của Đảng. Mặc dù có những sai lầm, khuyết điểm; song nhìn chung Đảng là cuộc sống, là niềm tin của quần chúng, người đảng viên là những chiến sĩ dũng cảm, kiên cường và tận tụy, được quần chúng hết lòng thương yêu đùm bọc và kính trọng sâu sắc. Đó là yếu tố quyết định để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng được một hậu phương kháng chiến ngày càng vững mạnh.

        Ba là: Phải xuất phát từ thực tế đất nước, bám sát các yêu cầu cuộc kháng chiến ở mỗi giai đoạn để quyết định mục tiêu phương hướng xây dựng hậu phương mà trước hết là xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và nền kinh tế kháng chiến.

        Cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến hành trong điều kiện nước ta vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại bị kiệt quệ do chính sách vơ vét bóc lột của đế quốc Pháp và phát xít Nhật. Bốn năm đầu, cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta diễn ra trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Sau chiến thắng Biên Giới (10-1950), hậu phương kháng chiến được mở rộng với sự giúp đỡ viện trợ của các nước xã hội chữ nghĩa anh em. Sự giúp đỡ đó (chủ yếu là các mặt hàng quân sự) là to lớn và vô vùng quý báu nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 22% tổng số vật chất mà quân đội ta sử dụng từ năm 1951 đến năm 1954. Cụ thể như sau1:

1950            1951           1952         1953        1954 (1-6-54) + (tấn)         
Vũ khí đạn949 tấn463 tấn990 tấn1.060 tần791 tẩn4.253 tấn
Nguyên liệu quân giới     71 -157-342 -103 -30 -703 -
Vận tải120 -776 -610 -1.516 -2.047 -5.069 -
Gạo2.634 -4.210 -151 -823 -1.772 -9.590 -
Quân trang181 -452 -713 -159 -1.505 -
Quâny20 -27 -58 -28 -24 -157 -
Thông tin8 -1 -5 -157 -29 -210 -
Công binh40 -40 -
+2.893 -6086 -2.156 -4.400 -4.892 -21.517 -
Trong đó
ô tô vận tải (chiếc)30 -240 -20 -81 -344 -715 -
Pháo 105 (khẩu)24 24
Đạn 105 (viên) 11.000 11.000
Sơn pháo 75 (khẩu)242448
Đạn75(viên)18.9504668.6681.0004.00032.484
Cao xạ 37 (khẩu)2424
Đạn37(viên)1.60020.94029.48051.620

(Theo Hồ sơ số 89, 90, 91, cặp 20, lưu trữ Tổng cục Hậu cần.

Số đạn vào với pháo 105 sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ có 3.600 viên. Còn 7.400 viên vào sau tháng 5 năm 1954 khi chiến dịch đã kết thúc.)

        Xuất phát từ thực tế kể trên, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh là khoa học và sáng tạo, trong đó hậu phương có vai trò nổi bật, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: Mọi thắng lợi của công cuộc kháng chiến đều “dựa vào sự hy sinh đóng góp của đồng bào nơi hậu phương”.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 04:23:50 am
       
        Mở rộng chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp ra sức giành giật với ta từng tấc đất, từng người dân nhất là ở những vùng có vị trí chiến lược quan trọng, những nơi đông người nhiều của. Sau một năm kháng chiến, chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp bị thất bại, hình thái vùng tự do và vùng tạm chiếm xuất hiện. Từ yêu cầu kháng chiến, các liên khu ủy, tỉnh ủy, huyện ủy trong các vùng tự do đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm xây dựng địa bàn trở thành hậu phương kháng chiến. Xây dựng hậu phương kháng chiến trước hết là xây dựng chế độ xã hội mới vững mạnh về chính trị, có tiềm lực về quân sự và kinh tế, vừa bảo đảm cho nhu cầu tại chỗ, vừa chi viện cho tiền tuyến và làm nghĩa vụ quốc tế.

        Tin tưởng và nắm vững đường lối kháng chiến của Trung ương, cấp ủy và chính quyền các cấp đã vận dụng sáng tạo đường lối đó vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình, từng bước đáp ứng được yêu cầu ngày càng lớn của sự nghiệp kháng chiến mà trước hết là lực lượng gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ba thứ quân. Nhờ có hậu phương vững mạnh mà bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng với số lượng ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao.

        Cung cấp đủ số lượng, nuôi dưỡng, trang bị và bảo đảm chất lượng đáp ứng yêu cầu kháng chiến là một thành công lớn của công cuộc xây dựng hậu phương. Trong điều kiện tiến hành kháng chiến lâu dài nhằm lấy thời gian khắc phục những khó khăn, hạn chế thì việc bảo đảm ăn mặc, trang bị vũ khí và phục vụ cho các lực lượng vũ trang là nhiệm vụ thường xuyên của hậu phương. Để đảm bảo yêu cầu: “ăn no, mặc ấm, đánh thắng” cho lực lượng vũ trang ba thứ quân, các địa phương thuộc vùng tự do đã chú trọng trước hết là sản xuất nông nghiệp sau đó mới đến công nghiệp quốc phòng, thương nghiệp, thủ công nghiệp, giao thông vận tải, văn hóa xã hội.

        Bốn là: Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương.

        Trong suốt chín năm kháng chiến, kẻ địch tìm mọi cách đánh phá, lấn chiếm, thu hẹp hậu phương của ta. Âm mưu và hành động phá hoại của thực dân Pháp cực kỳ thâm độc và nham hiểm. Chúng sử dụng mọi thủ đoạn, vừa mua chuộc về vật chất, vừa khống chế đàn áp dã man, liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân càn quét vùng tự do để mở rộng phạm vi chiếm đóng và làm cho hậu phương của ta rối loạn, mất ổn định.

        Từ thực tế trên, việc kết hợp giữa hai nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng hậu phương là một trong những điều kiện để hậu phương có thể đứng vững và hoàn thành nhiệm vụ của mình. Để bảo vệ hậu phương, chúng ta đã dựa vào hệ thống các làng xã chiến đấu hợp thành các mặt trận, các phòng tuyến, phát động và tổ chức toàn dân chiến đấu bảo vệ hậu phương với nòng cốt là lực lượng vũ trang ba thứ quân. Nhiều địa phương còn chủ động tổ chức lực lượng luồn sầu vào hậu phương địch, tập kích các vị trí, căn cứ hậu cần của chúng, chủ động bảo vệ hậu phương từ xa đồng thời tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, góp phần làm đảo lộn các chiến lược chiến tranh của địch. Đối với bọn phản động phá hoại từ bên trong, chúng ta một mặt giáo dục, thuyết phục, cảm hóa; mặt khác sử dụng bộ máy chuyên chính kiên quyết trấn áp. Tuy nhiên trong công tác bảo vệ hậu phương, có lúc có nơi còn phạm khuyết điểm cả hữu khuynh và tả khuynh mà phần lớn là tả khuynh. Trong các cuộc ném bom hay những trận tập kích bằng lực lượng dù, địch thường gây cho hậu phương của ta nhiều khó khăn và tổn thất do chúng ta chưa có hỏa lực phòng không và cũng chưa tích cực đánh trả không quân địch mà chủ yếu là phòng tránh.

        Như vậy muốn bảo vệ vững chắc hậu phương phải chủ động xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, đặc biệt là phải có lực lượng tại chỗ mạnh. Phải xây dựng hậu phương toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, đồng thời phải luôn luôn đề cao cảnh giác, kiên quyết trấn áp các cuộc bạo loạn, các thủ đoạn phá hoại của địch từ bên trong, đồng thời sẵn sàng đập tan các cuộc tiến công của địch nhằm đánh phá, chiếm đóng vùng tự do của ta.

        Năm là: Phải có nghệ thuật quân sự, cách đánh phù hợp với điều kiện Việt Nam, điều kiện về kinh tế, khoa học kỹ thuật, con người, địa hình, thời tiết v.v... Đó là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít đánh nhiều. Nghệ thuật quân sự đó không chấp nhận chiến tranh quy ước; lực lượng tiến hành không chỉ là bộ đội chính quy mà do toàn dân trên cả nước, với lực lượng vũ trang làm nòng cốt tiến hành. Trong đó, “ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm” và “cướp súng giặc đánh giặc”. Nghĩa là có thứ gì đánh bằng thứ ấy, từ giáo, mác, cung nỏ, súng kíp, hầm chông, cạm bẫy đến các vũ khí tương đối hiện đại và hiện đại, có đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Chắc thắng mới đánh. Đánh khắp nơi. Triệt để tận dụng yếu tố bất ngờ đánh lúc nào, đánh ở đâu, đánh thế nào, kẻ địch không sao lường được. Đó là nghệ thuật càng đánh càng mạnh, càng đánh càng phát triển.

        Trong sự nghiệp vĩ đại của quân và dân ta đánh thắng chiến tranh xâm lược thực dân cũ của Pháp và can thiệp Mỹ, hậu phương chiến tranh nhân dân là một trong những nhân tố quyết định.

        Đối với thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, một trong những nguyên nhân thất bại của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược này là đã không tính hết khả năng xây dựng, huy động và chi viện của hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam cho phía trước. Béc-na Phôn đã nói về thắng lợi của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ rằng: “Trước hết và trên hết là những thắng lợi về tổ chức tiếp tế”1. Bản thân Na-va sau này cũng phải đau xót thú nhận: “Trong lĩnh vực quân sự, bài học đầu tiên là không được đánh giá thấp những khả năng của đối phương”2.

        Thành tựu của hậu phương kháng chiến thể hiện tài năng lãnh đạo và tổ chức của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đồng thời thể hiện lòng yêu nước, trí thông minh của toàn dân và toàn quân ta trong kháng chiến chống Pháp. Điều đó càng được nhân lên khi dân tộc ta bước sang cuộc chiến đấu mới, với kẻ thù mới: đế quốc Mỹ và tay sai.

-------------
1. Béc-na Phôn, Việt Minh 1945 – 1950, tài liệu dịch, Thư viện Trung ương quân đội, tr. 192.

2. Na-va, Đông Dương hấp hối, tài liệu dịch, Thư viện Trung ương quân đội.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 04:29:39 am
       
PHẦN THỨ HAI

XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
(1954 - 1975)

A. XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC

        I. SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC

        Chín năm kháng chiến bền bỉ và anh dũng, nhân dân ta đã giành được thắng lợi, buộc thực dân phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (7-1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

        Thế nhưng, sau ngày hiệp định được ký kết, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm và huấn luyện, trang bị cho quân đội ngụy. Âm mưu của Mỹ là biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, chia cắt lâu dài Việt Nam, ngăn chặn ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa xuống khu vực Đông Nam châu Á, đe dọa phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển ở nhiều nơi trên thế giới.

        Vậy là, đất nước ta bị cắt chia thành hai miền với hai chế độ chính trị đối lập, sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chưa hoàn thành. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân ta đi tiếp chặng đường kháng chiến giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành thống nhất nước nhà. Cuộc kháng chiến lần này kéo dài suốt 21 năm. Suốt chặng đường đó, sự nghiệp xây dựng bảo vệ miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược của cách mạng cả nước, đóng vai trò có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sự nghiệp đó diễn ra trong những điều kiện mới của lịch sử vừa thuận lợi, vừa phức tạp khó khăn.

        Sau chín năm chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, chúng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, trong đó có kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ hậu phương. Đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách trong gian khổ ác liệt của chiến tranh. Các tầng lớp nhân dân một lòng hướng về Đảng và Chính phủ kháng chiến, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường trên cơ sở liên minh công nông ngày càng củng cố vững chắc.

        Trên trường quốc tế, vị trí và uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không ngừng nâng cao do thắng lợi của ta trong kháng chiến chống Pháp, do sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của ta là chính nghĩa, do Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn.

        Tuy nhiên, đất nước vẫn còn bị chia cắt làm hai miền là đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975. Quá trình Đảng, Nhà nước ta đề ra và thực hiện đường lối chiến lược, phương pháp đấu tranh cho cách mạng cả nước nói chung, cho mỗi miền nói riêng đều chịu sư tác động và chi phối của đặc điểm này. Từ mục tiêu chung của cách mạng cả nước và mục tiêu cụ thể của từng miền trong mỗi giai đoạn kháng chiến đến những vấn đề thuộc về chủ trương, sách lược, biện pháp thực hiện, phải xuất phát từ đặc điểm này và phù hợp với điều kiện cụ thể ở mỗi miền nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thời kỳ này (1954 - 1975) trước hết và chủ yếu nhằm biến miền Bắc trở thành căn cứ địa chiến lược của cách mạng cả nước, thành hậu phương chiến lược của tiền tuyến miền Nam. Thành tựu, kết quả của miền Bắc trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, do đó cũng phải đặt trong điều kiện lịch sử này để xem xét, đánh giá.

        Trong suốt quá trình chiến tranh, chúng ta phải đương đầu với kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh đứng hàng đầu các nước đế quốc, đang ráo riết thực hiện âm mưu thống trị thế giới. Đây cũng là một đặc điểm lớn của cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Đặc điểm này chi phối nhiều tới công việc tiến hành chiến tranh, trong đó có vấn đề xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnh của hậu phương chiến tranh. Đất nước ta không rộng, kinh tế chưa phát triển, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn sau 80 năm mất nước và bị 15 năm chiến tranh tàn phá nặng nề. Trong điều kiện đó, để có thể đánh thắng kẻ địch mới, nhất định dân tộc ta phải mạnh hơn hẳn thời kỳ chống Pháp. Muốn vậy, ngoài đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, còn cần phải có đường lối và biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương nhằm tạo nên sức mạnh cần thiết ấy.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế vừa thuận lợi, vừa phức tạp. Hệ thống xã hội chủ nghĩa đang ở thời kỳ phát triển mạnh, nối liền từ châu Âu sang châu Á. Phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao. Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và hòa bình trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển rộng khắp. Nhìn chung, cách mạng thế giới đang ở thế tiến công. Đó là những điều kiện quốc tế thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc...

        Bên cạnh điều kiện thuận lợi đó, quan hệ giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đó là sự bất hòa giữa một số nước trong phe xã hội chủ nghĩa và sự xuất hiện các khuynh hướng của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi hoặc sô-vanh... Tình hình đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải có đường lối đối ngoại đảm bảo đoàn kết quốc tế tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, trước hết là các nước anh em, bầu bạn... nhằm mở rộng hậu phương ta, thu hẹp hậu phương của địch.

        Tình hình trên đây tác động tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta, tới việc xây dựng và phát huy vai trò của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến đó. Kế thừa và phát huy kinh nghiệm xây dựng hậu phương thời chống Pháp trong những điều kiện mới, suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, Đảng, Nhà nước ta, trên cơ sở giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện Việt Nam đã giải quyết thành công nhiều vấn đề đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và nghệ thuật quân sự, trong đó có vấn đề xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hậu phương chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 04:35:43 am
       
        II. XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC

        Kháng chiến chống Pháp kết thúc, miền Bắc sạch bóng quân xâm lược. Để hoàn thành độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc, “điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam”1. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa II) khẳng định “miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được củng cố”2. Tiếp đó, phát biểu trong Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (9-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt”3. Để củng cố miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lầu thứ III của Đảng (1960) chủ trương phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc gắn bó chặt chẽ với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.

        Như vậy, từ đầu, vị trí và vai trò của miền Bắc trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước được xác định rõ. Để làm tròn vai trò đó, miền Bắc phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc mới trở thành hậu phương vững mạnh, đáp ứng được đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        1. Xây dựng miền Bắc vững mạnh toàn diện

        80 năm thống trị của thực dân Pháp và 15 năm chiến tranh làm cho nền kinh tế miền Bắc vốn đã lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề. Về nông nghiệp, hơn 140.000 ha đất bỏ hoang không người trồng cấy. Hệ thống thủy lợi hư hại nặng khiến 200.000 ha ruộng không nước tưới tiêu, hoang cằn và úng ngập. Xóm làng xơ xác, dân cư xiêu tán, chưa kịp hồi cư. Cuối 1954 đầu 1955, thiên tai tàn hại mùa màng, nạn đói lan trên 200 xã toàn miền Bắc.

        Công nghiệp nhỏ bé, què quặt, mất cân đối nghiêm trọng, bị đối phương phá hoại, tháo gỡ máy móc, thiết bị, phụ tùng... đưa vào Nam. Hầu hết các nhà máy,. xí nghiệp của tư sản người Pháp, tư sản dân tộc đều ngừng hoạt động sau ngày ta tiếp quản. Cuối năm 1954, tỉ trọng công nghiệp trong tổng sản lượng công - nông nghiệp từ 10% trước chiến tranh sụt xuống còn 1,5%.

        Là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc dân nhưng giao thông vận tải và bưu điện chắp vá, lạc hậu, bị tổn thương nghiêm trọng. Hầu hết đường sắt, đường bộ bị đào xẻ bốc dỡ. Đường sông không được nạo vét trong nhiều năm nên bị bồi cạn. Phương tiện vận tải cũ nát. Một loạt thiết bị, tài liệu bưu điện bị chuyển vào Nam. Hệ thống điện thoại sau ngày giải phóng trở nên vô hiệu.

        Chín năm kháng chiến, ở vùng tự do, những yếu tố thương nghiệp xã hội chủ nghĩa hình thành, phục vụ kháng chiến. Ở vùng mới giải phóng, với 1.750 hộ tư sản thương nghiệp, hơn 226.000 hộ tiểu thương, hoạt động đầu cơ, nâng giá lũng đoạn thị trường là phổ biến. Hàng hóa khan hiếm. Đồng tiền chưa thống nhất. Phân phối, lưu thông, ổn định giá cả, tổ chức lại thị trường nội địa gặp khó khăn trở ngại.

        Hòa bình lập lại, bên cạnh những khó khăn về kinh tế, miền Bắc đứng trước nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng, phức tạp. Số người mù chữ rất đông. Một số lớn công chức giáo viên, y bác sĩ, nhân viên kỹ thuật... bỏ miền Bắc vào Nam. Hệ thống trường, lớp cơ sở y tế nhỏ bé, lạc hậu. Các bệnh xã hội như lao phổi, hoa liễu, sốt rét... hoành hành. Các tệ nạn xã hội như mại dâm, mê tín dị đoan... phổ biến ở thành thị và nhiều vùng nông thôn. Hàng nghìn trẻ em lang thang, cơ nhỡ. Hàng trăm nghìn người không nơi trú náu. Hàng nghìn gia đình lâm vào thiếu đói. Hơn 50.000 lao động không có việc làm. 240.000 tề, ngụy tan rã chưa qua cải tạo. Vấn đề tôn giáo, dân tộc vốn đã phức tạp do chính sách cai trị của người Pháp trước đây, bây giờ càng trở nên căng thẳng do âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo giữa các dân tộc để kích động sự chống đối, phá hoại trong lòng miền Bắc. Trước, trong và sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, làn sóng di cư vào Nam phổ biến ở vùng đồng bằng theo đạo Thiên chúa. Trong khi đó, hàng nghìn gián điệp, mật vụ và tổ chức phản động của nước ngoài cài lại vẫn ngấm ngầm hoạt động. 11.000 thổ phỉ tác oai, tác quái trên miền rẻo cao.

        Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ nông thôn chuyển vào thành thị, từ phân tán nay về tập trung... trong cán bộ đảng viên và một bộ phận nhân dân xuất hiện tâm lý nghỉ ngơi, dừng lại. Tại những vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng vừa thành lập nhưng chưa được củng cố. Kinh nghiệm tổ chức, quản lý xã hội, quản lý. kinh tế của các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương còn nhiều hạn chế. Để hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất tổ chức, nhiệm vụ “củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời... Cần khắc phục tư tưởng sai lầm cho rằng: để chiếu cố miền Nam nên hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc. Đồng thời cũng đề phòng tư tưởng chỉ đơn thuần củng cố miền Bắc chứ không chiếu cố miền Nam một cách thỏa đáng”4.

        Ổn định tình hình miền Bắc sau chiến tranh, xây dựng miền Bắc trở thành nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đảng và Nhà nước ta phải giải quyết một cách toàn diện những vấn đề cơ bản đặt ra trong lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội và quân sự.

--------------
1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1955), Văn kiện lịch sử Đảng, Trường Nguyễn Ái Quốc ấn hành, tập 9, tr.66.

2. Như trên, tr.67.

3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989, tập 7, tr.331.

4. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1955), Văn kiện lịch sử Đảng, Trường Nguyễn Ái Quốc ấn hành, tập 9, tr. 66-67.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2016, 04:38:46 am
               
        a. Về chính trị

        Chín năm trong vòng khói lửa, Đảng, chính quyền dân chủ nhân dân phải dồn tâm lực vào nhiệm vụ chủ yếu là lãnh đạo quân và dân ta kháng chiến giành độc lập dân tộc và từng bước thực hiện nhiệm vụ dân chủ - tịch thu ruộng đất của những phần tử phản động chia cho nông dân. Từ cuối 1953, Đảng, Nhà nước quyết định đưa cuộc cách mạng ruộng đất lên một quy mô lớn, thể hiện bằng cương lĩnh ruộng đất của Đảng và Luật cải cách ruộng đất do kỳ họp Quốc hội khóa I (12-1953) thông qua.

        Hòa bình lập lại, “để củng cố miền Bắc, trước hết cần cải cách ruộng đất.... Vì có đẩy mạnh cải cách ruộng đất mới đoàn kết được đại đa số nhân dân, củng cố được khối công nông liên minh, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng; mới có thể khôi phục kinh tế một cách nhanh chóng và có thêm điều kiện tăng cường quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng”1. Thực hiện nhiệm vụ này là cần thiết nhằm xây dựng miền Bắc vững mạnh về chính trị, tạo điều kiện để xây dựng và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, tăng cường tiềm lực quốc phòng của hậu phương miền Bắc. Tuy nhiên, do không nắm vững những biến đổi trong nông thôn miền Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám, đánh giá thấp lực lượng cách mạng ở nông thôn, đánh giá quá cao thế lực kinh tế và chính trị của địa chủ miền Bắc nên trong chỉ đạo thực hiện ta phạm một số sai lầm2. Những sai lầm đó nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài; làm cho lực lượng của Đảng ở nông thôn bị tổn thất; khiến cho uy tín của Đảng bị giảm sút trong quần chúng, quan hệ giữa Đảng, chính quyền và quần chúng nhân dân bị ảnh hưởng rất nhiều. Thế nhưng, khi phát hiện những sai lầm, Đảng ta đã nghiêm khắc tự kiểm điểm, công khai tự phê bình, kiên quyết sửa chữa những sai lầm phạm phải. Thái độ đó được nhân dân đồng tình và vì thế lòng tin của dân vào Đảng, Chính phủ được củng cố, uy tín của Đảng được phục hồi, khối đại đoàn kết được giữ vững.

        Hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành các kết quả việc sửa chữa sai lầm đã đưa lại chuyển biến lớn trong nông thôn và nông dân miền Bắc. Thế lực chính trị, kinh tế của địa chủ bị đánh đổ. Chế độ phong kiến bị xóa bỏ. Thoát khỏi ách thống trị của đế quốc thực dân, làm người dân của một nước tự do, độc lập và giờ đây được giải phóng khỏi ách áp bức của địa chủ, phong kiến, trở thành người chủ nông thôn là sự đổi đời của người nông dân miền Bắc.

        Sau chiến tranh, bên cạnh một loạt các vấn đề kinh tế, xã hội phải giải quyết, việc nâng cao sức mạnh, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định để xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh, trước hết là về chính trị. Đảng chú trọng công tác tư tưởng và tổ chức, xây dựng công tác lý luận, chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng, tích cực sửa đổi lề lối làm việc và phương pháp lãnh đạo, đi sát thực tế và gắn bó với nhân dân, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình đi đối với việc thực hiện dân chủ nội bộ. Bên cạnh đó Đảng luôn chăm lo công tác lựa chọn, rèn luyện, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, đẩy mạnh công tác kiểm tra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa II) chỉ rõ: “Phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ công nông, một cách thường xuyên trong công tác hàng ngày, lựa chọn cán bộ cho thích hợp với từng công tác, tập trung lực lượng, bố trí cán bộ để đảm bảo thực hiện chu đáo những công tác chính trị. Thực hiện việc thống nhất quản lý cán bộ. Cần lập Ban Kiểm tra Trung ương, và ngành nào cũng phải tự tổ chức việc kiểm tra của mình để kiểm tra một cách có trọng điểm việc thi hành những chính sách của Đảng và Chính phu”3. Nhiều đảng viên của Đảng có phẩm chất tốt, có năng lực, qua rèn luyện và thử thách trong thực tế công tác, chiến đấu được bố trí vào bộ máy nhà nước và các cấp chính quyền. Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua việc đề ra và chỉ đạo thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, phương châm công tác lớn. Đồng thời Đảng thông qua các tổ chức đảng đoàn ở Hội đồng Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước, của Mặt trận để biến đường lối của Đảng thành chính sách hoạt động của Nhà nước. Các cấp ủy đảng chú trọng lãnh đạo việc tăng cường hiệu lực của các cấp chính quyền, đẩy mạnh công tác kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chống hiện tương “khoán trắng” cho chính quyền.

--------------
1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955), Văn kiện lịch sử Đảng, tài liệu đã đẫn, tập 9, tr.44.

2. Xem kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương cải cách ruộng đất số 148/BCT, ngày 25-5-1994.

3. Văn kiện lịch sử Đảng, tài liệu đã dẫn, tập 9, tr. 53.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:17:41 am

        Chuyển sang thời bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên đứng trước những nhiệm vụ nặng nề về kinh tế xã hội. Do vậy, tất cả các cấp ủy đảng ở miền Bắc và toàn bộ đảng viên được học tập chính sách kinh tế, tài chính, nhằm nâng cao hiểu biết và năng lực lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực mới này.

        Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bộ máy chính quyền từng bước được xây dựng, nhưng do điều kiện lúc bấy giờ, tổ chức và hoạt động còn nặng về hành chính và kháng chiến. Hòa bình lập lại Đảng ta chủ trương: “Củng cố chính quyền nhân dân là công tác cần thiết để củng cố miền Bắc”1. Một mặt, chúng ta kết hợp phát động quần chúng cải cách ruộng đất với việc củng cố chính quyền cấp xã và huyện, làm cho chính quyền các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân lao động. Mặt khác, chúng ta từng bước chỉnh đốn, cải tạo, nâng cao hiệu lực của chính quyền ở các vùng mới giải phóng, xây dựng chính quyền ở các đô thị một cách vững vàng và rộng rãi. Sau chiến tranh, các cơ quan nhà nước trở lại hoạt động đều đặn. Trách nhiệm, quyền hạn, thể lệ, chế độ được quy định rõ ràng, cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực tổ chức và quản lý kinh tế. Các kỳ họp của Quốc hội tiến hành theo định kỳ nhằm thông qua các chủ trương chính sách lớn; các kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước. Hội đồng Chính phủ được kiện toàn về cơ cấu, tổ chức, từng bước nâng cao hiệu lực quản lý, chỉ đạo thực tiễn. Chính quyền các cấp được tăng cường theo nguyên tắc vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Hội đồng Chính phủ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở.

        Nhằm đẩy mạnh việc dân chủ hóa cơ quan tư pháp, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Viện Công tố nhân dân; tách hệ thống tòa án nhân dân và hệ thống công tố khỏi Bộ Tư pháp, chuyển thành hai cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ.

        Để phát huy tinh thần chủ động của nhân dân, động viên nhân dân tham gia tích cực sự nghiệp xây dựng miền Bắc, Nhà nước đã ban hành Luật Công đoàn, luật bảo đảm quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Trung ương Đảng công bố các chính sách đối với trí thức (8-1957), đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh (8-1957). Bộ Chính trị ra nghị quyết về công tác văn hóa, văn nghệ... Sau gần 3 năm soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, ngày 31 tháng 12 ngày 1959 Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua. Phản ánh những thành tựu và những biến đổi của đất nước suốt 14 năm chiến đấu và xây dựng, hiến pháp mới là đạo luật cơ bản, quy định tính chất, chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của Nhà nước Việt Nam, là sự thể hiện ý chí của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, quyết tâm xây dựng bảo vệ vững chắc miên Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đảm bảo cho miền Bắc trở thành cơ sở của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Tiếp đó, các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và các cấp chính quyền từ trung ương tới cơ sở về kinh tế, văn hóa, xã hội, về quyền tự do dân chủ, về quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được ban hành. Việc ban hành các văn bản pháp luật đó góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trong đời sống chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội...

        Khối đại đoàn kết toàn dân - nguồn sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân tiếp tục được củng cố. Đảng và Nhà nước thường xuyên chăm lo tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, nêu cao ý thức cảnh giác, củng cố niềm tin và quyết tâm kháng chiến chống Mỹ, tăng cường khả năng định hướng về chính trị cho mọi người dân, trước hết là cho đợi ngũ cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang.

        Trên cơ sở sự nhất trí về chính trị, sự ổn định xã hội ở miền Bắt được tăng cường, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh.

-----------------
1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7, Văn kiện lịch sử Đảng, tài liệu đã dẫn, tập 9, tr.46.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:21:00 am

        Tháng 9 năm 1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thay cho Mặt trận Liên Việt trước đấy. Tuyên ngôn và cương lĩnh của mặt trận thể hiện nguyện vọng và ý chí của mọi người Việt Nam yêu nước là đại đoàn kết để hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Phát biểu tại buổi bế mạc đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn thực hiện cương lĩnh của mặt trận thì chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi”1.

        Trong Mặt trận, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm tới thành phần các dân tộc ít người. Đảng, Nhà nước ban hành và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế văn hóa - xã hội miền núi. Nhằm mục tiêu đó khu tự trị Thái - Mèo (khu tự trị Tây Bắc) và khu tự trị Việt Bắc lần lượt được thành lập. Trong thư gửi đồng bào khu tự trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Mục đích thành lập khu tự trị là để cho các dân tộc anh em và toàn khu cùng nhau tự quản lý công việc của mình, phát huy khả năng của mình để tiến bộ mau chóng về mọi mặt”2. Tiếp đó, từ tháng 8-1959, các khu vực và tỉnh miền núi thực hiện cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ. Cuộc vận động thu được kết quả đã làm cho vùng núi bước đầu phát triển, tăng cường tình đoàn kết anh em giữa các dân tộc, cải thiện một bước đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc vùng cao...

        Đối với các tôn giáo, một thành phần của Mặt trận Tổ quốc, Đảng và Nhà nước thường xuyên giáo dục cho cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân hiểu rõ và làm đúng chính sách bất di bất dịch của Đảng, Chính phủ: tôn trọng tự do, tín ngưỡng, không can thiệp vào hoạt động tôn giáo, không xâm phạm đến tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà thờ, nhà chùa. Trên cơ sở phân biệt rõ tín ngưỡng tôn giáo với việc lợi dụng tín ngưỡng đó, Đảng, Nhà nước ta kiên trì thuyết phục, giáo dục đồng bào theo đạo tham gia tích cực vào sự nghiệp chung của dân tộc, đồng thời kiên quyết trừng trị những bọn phản động đội lốt tôn giáo, lợi dụng nhà thờ, nhà chùa để chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân. Đây là công tác phức tạp, khó khăn. Chính sách thống trị của chủ nghĩa thực dân và những hoạt động lợi dụng tôn giáo của Mỹ - Diệm trước, trong và sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết để lại trong đồng bào miền Bắc mặc cảm và tâm trạng cách biệt giữa người theo đạo và người không theo đạo... Tuy nhiên, do biết dựa vào dân, tin dân nên các cấp chính quyền ở vùng có đông đồng bào theo đạo dần dần khắc phục được sự cách biệt đó, đã động viên được mọi người ra sức làm ăn xây dựng đời sống, góp phần xây dựng miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.

        Để mở rộng khối đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền, liên minh công nông được tăng cường trên nền tảng chính trị - kinh tế - xã hội mới. Những biến động sâu rộng trong đời sống chính trị, kinh tế những năm sau giải phóng đưa lại sự thay đổi về kết cấu giai cấp trong xã hội miền Bắc. Giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trở thành chủ thể của chế độ xã hội mới được xây dựng trên miền Bắc. Trình độ giác ngộ chính trị, năng lực sản xuất, ý thức làm chủ, tinh thần cách mạng của công nhân, nông dân, trí thức ngày càng nâng cao. Đó là một đảm bảo cho miền Bắc được xây dựng vững mạnh về chính trị.

--------------
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tập 7, tr.331, 520.

2. Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:22:29 am

        b. Về kinh tế, văn hóa, xã hội

        Sự vững mạnh về chính trị vừa là điều kiện, vừa là kết quả của một chế độ kinh tế phát triển lành mạnh, cân đối. Cho nên, cùng với việc xây dựng miền Bắc vững mạnh về chính trị, Đảng, Nhà nước đã đề ra và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh tế văn hóa, xã hội ngắn hạn nhằm biến đổi sâu rộng nền kinh tế miền Bắc.

        Trước thực trạng kinh tế miền Bắc sau giải phóng, Đảng, Nhà nước chủ trương giành khoảng thời gian 3 năm (1955 - 1957) để phục hồi nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Chính sách và biện pháp của Đảng, Nhà nước thời kỳ này đã động viên được khí thế chiến thắng thành sức mạnh phục hồi kinh tế, ổn định sản xuất và đời sống trên miền Bắc; đã phát huy được mọi năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế. Nhờ đó, những mục tiêu của kế hoạch đã được thực hiện. Mặc dù yếu tố kỹ thuật trong canh tác chưa có gì mới, nhưng nhờ phục hồi các công trình thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, nhờ sức sản xuất được giải phóng khỏi quan hệ phong kiến, đế quốc nền nông nghiệp được khôi phục và có bước phát triển cả về diện tích, năng suất, chăn nuôi, nghề phụ. Sau 3 năm, nông thôn miền Bắc một thời điêu tàn đang hồi sinh khởi sắc. Nạn đói với những kỳ giáp hạt từng bám riết đời người nông dân được khắc phục một phần.

        Trải qua thử thách chiến tranh, phát huy ý chí tự lực tự cường, đội ngũ công nhân miền Bắc khắc phục thiếu thốn, khó khăn, duy trì và mở rộng sản xuất ở các xí nghiệp mới. Nhờ vậy, năm 1957, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp đạt mức năm 1939; đưa giá trị sản lượng công nghiệp trong tổng sản lượng công - nông nghiệp từ 1,5% (1954) lên 24% (1957), đáp ứng nhu cầu thiết yếu về hàng tiêu dùng của nhân dân.

        Trong 3 năm, lần lượt 4 tuyến đường sắt với 168 cầu cống được phục hồi, nối thủ đô với các miền đất nước. Đường bộ, đường sông, cảng biển cũng đã lưu thông. Các tuyến điện thoại, điện báo, đường thư và công văn từ trung ương về địa phương và đường dây liên tỉnh, nội tỉnh được nối liền, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo sản xuất, cải cách ruộng đất, chống cưỡng bức di cư, chống phỉ và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh.

        Kết quả khôi phục kinh tế thúc đẩy sự nghiệp văn hóa giáo dục, y tế. Hai hệ thống giáo dục ở vùng tự do và vùng tạm chiếm trước đây, bây giờ được thống nhất thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm. Chăm lo tới việc học hành của con em nhân dân, các địa phương mở nhiều trường cấp I, cấp II và cấp III. Các trường học sinh miền Nam, các trường sư phạm miền núi cũng được xây dựng. Năm học 1956 - 1957, 65 vạn học sinh miền Bắc cắp sách tới trường, trong đó có 60.000 con em các dân tộc ít người và 15.000 học sinh con em cán bộ miền Nam tập kết. Cùng với giáo dục phổ thông, các lớp bình dân học vụ được mở ra ở mọi địa phương, mọi công trường, xí nghiệp... Lần thứ hai trong lịch sử của chế độ dân chủ cộng hòa, “diệt dốt” trở thành phong trào quần chúng biểu hiện ý chí của một dân tộc không cam chịu thất học và đói nghèo. Ngoài ra, để nâng cao trình độ văn hóa cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên và nhân dân lao động, Nhà nước và chính quyền các cấp mở các lớp bổ túc văn hóa, lập các trường bổ túc công nông. Hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp được tổ chức lại. Trong tuyển sinh, các trường chú trọng cơ cấu xã hội theo hướng tăng dần tỉ lệ học sinh xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, miền núi, phụ nữ... Năm học 1956 - 1957, toàn miền Bắc có 3.860 sinh viên đại học.

        Khắc phục hậu quả của chế độ cũ, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, mạng lưới y tế bước đầu hình thành với 50 bệnh viện, 13 cơ sở điều dưỡng, 5.000 ban phòng hoạt động ở các địa phương. Nhân viên y tế đi về các bản làng xa xôi các vùng nông thôn hẻo lánh, khám chữa bệnh cho nhân dân, phát động phong trào “Vệ sinh yêu nước”. Ba năm sau chiến tranh là khoảng thời gian ngắn. Trong khoảng thời gian đó, mặc dù vẫn còn nhiều gian khổ, phức tạp phải vượt qua để đưa miền Bắc trở thành hậu phương vững mạnh nhưng với sự cố gắng của mọi người, mọi nhà, tình hình bớt khó khăn gay gắt. Chính trị ổn định, sản xuất phục hồi, đời sống văn hóa được cải thiện, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa mọi miền đất nước được khuyến khích đã góp phần bồi đắp tình đoàn kết, gắn bó trong nhân dân.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:23:17 am

        Kết thúc kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, miền Bắc bước vào kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế (1958 - 1960). Trọng tâm của kế hoạch này là cải tạo các thành phần kinh tế tư nhân; thiết lập chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Nhờ làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong nhân dân, nhờ có biện pháp tổ chức thực hiện đúng nên sau 3 năm, công cuộc cải tạo đã hoàn thành về cơ bản. 85,8% số hộ nông dân, 87,9% thợ thủ công vào hợp tác xã. 100% số hộ tư sản công nghiệp, 99% tư sản vận tải và 97,1% tư sản thương nghiệp đã được cải tạo bằng hình thức công tư hợp doanh và các hình thức khác. 5 vạn tiểu thương chuyển sang sản xuất. Các chỉ tiêu khác về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng được hoàn thành. Nạn thất nghiệp và nhiều tệ nạn xã hội khác do chế độ cũ để lại tiếp tục được khắc phục tích cực bằng các biện pháp hiệu quả.

        Hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo nền kinh tế thiết lập quan hệ sản xuất mới trong một thời gian tương đối ngắn là một thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, để giữ vung thành tựu đó cần có một khoảng thời gian dài hơn nhiều, trong đó đòi hỏi phải có đường lối, chính sách, biện pháp đúng để biến đổi và phát triển sản xuất. Đường lối cơ bản để giải quyết nhiệm vụ này được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra. Theo đó, miền Bắc phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách mạng này gắn bó chặt chẽ với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước; đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.

        Theo phương hướng đó, từ năm 1960 - 1965, miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch diễn ra sôi nổi. Nhiều cuộc vận động lớn cũng được phát động trong công nghiệp, nông nghiệp, trong lực lượng vũ trang... Mặc dù những tháng cuối năm 1964, chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ lan ra miền Bắc buộc ta phải gấp rút tăng cường sức mạnh quốc phòng không thể tập trung sức người, sức của cho việc hoàn thành kế hoạch đề ra nhưng đến cuối năm 1965, các mục tiêu cơ bản cũng được thực hiện. Nếu năm 1960, toàn miền Bắc có 4.300 hợp tác xã bậc cao thì đến 1965, con số đã tăng lên 18.600. Gần 700 hợp tác xã có năng suất lúa vượt 5 tấn thóc trên 1 ha mỗi năm. Về công nghiệp, toàn miền Bắc có 1.132 xí nghiệp, trong đó 205 xí nghiệp trung ương. Tỉ trọng công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp từ 42,4% năm 1960 lên 53% năm 1965. 90% hàng tiêu dùng thiết yếu và một phần tư liệu sản xuất do công nghiệp trung ương và địa phương đảm bảo. Hệ thống giao thông vận tải, bưu điện được mở rộng, nâng cấp; được trang bị thêm phương tiện, máy móc, thiết bị tương đối hiện đại.

        Như vậy, kết thúc kế hoạch 5 năm, các ngành kinh tế chủ đạo đạt được bước tiến khá vững chắc. Được như vậy, một phần do sự hỗ trợ tích cực của các ngành tài chính, ngân hàng, ngoại thương... Hoạt động của các ngành này hoàn toàn do Nhà nước quản lý điều hành, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa và củng cố quốc phòng.

        Tiếp tục xóa bỏ tàn tích của chế độ cũ, nhiệm vụ chủ yếu của sự nghiệp văn hóa, giáo dục là xây dựng nền văn hóa mới và con người mới Việt Nam.

        Theo định hướng trên, giáo dục phổ thông và đại học phấn đấu gắn việc học tập với thực tiễn cuộc sống, với điều kiện Việt Nam. Việc học tập của con em nhân dân lao động, của các dân tộc ít người được chú trọng. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách khuyến khích giáo viên miền xuôi lên dạy học ở miền núi. Nhiều người trong số đó suốt đời gắn bó với sự nghiệp phát triển giáo dục vùng cao. Chính quyền các cấp tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc học tập của con em mình. Con em những gia đình thuộc diện chính sách (thương binh, liệt sĩ, nghèo, có 3 con đi học...), con em các vùng dân tộc ít người được miễn học phí, nhận học bổng của nhà nước...


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:24:21 am

        Nhờ chăm lo sự nghiệp giáo dục, việc dạy và học đạt kết quả cao. So với những năm 1954 - 1955, đến năm 1964, số học sinh phổ thông tăng gấp 3,5 lần; năm học 1965 - 1966 dù chiến tranh phá hoại trở nên ác liệt nhưng toàn miền Bắc số học sinh đến lớp đạt 4.969.000. Điều đó có nghĩa cứ bốn người dân miền Bắc có một người đi học.

        Sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp cũng đạt được kết quả đáng tự hào. So với năm đầu sau khi miền Bắc được giải phóng, số học sinh đại học và trung học chuyên nghiệp năm 1964 tăng 2 lần. 21.332 cán bộ đại học và trên 55.000 cán bộ trung học được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Họ có mặt khắp mọi miền đất nước phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc, củng cố quốc phòng. Con số trên đây tuy chưa nhiều, nhưng so với gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp thì đó là thành tựu lớn. Trong gần 100 năm bị thực dân Pháp thống trị, tổng số người Việt Nam có trình độ đại học chưa quá 200 người. Thời thuộc Pháp, 95% dân số Việt Nam không biết đọc, biết viết. Trước ngày được giải phóng, toàn miền Bắc còn 3,5 triệu người ở độ tuổi từ 12 - 50 mù chữ. Sau gần 10 năm phấn đấu, đến năm 1965, hầu hết nhân dân miền Bắc đã được xóa mù.

        Cùng với sự nghiệp phát triển giáo dục, nền văn hóa mới đa dạng và phong phú, truyền thống và hiện đại kết hợp đã hình thành và phát huy tác dụng to lớn trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Hầu hết các văn nghệ sĩ từng trải qua một thời chiến tranh nay đang cùng “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, gắn bó chặt chẽ với quần chúng nhân dân lao động, ra sức khám phá và sáng tạo để xây dựng các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, phản ánh sâu sắc hiện thực lao động và chiến đấu trên miền Bắc và ở miền Nam.

        Văn học nghệ thuật nói riêng, sự nghiệp văn hóa giáo dục nói chung góp phần quan trọng hun đúc ý chí, tình cảm và đạo đức cách mạng trong sáng; bồi đắp tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng chí, đồng bào và tình cảm quốc tế cao cả cho các tầng lớp nhân dân. Nó xứng đáng là vũ khí sắc bén của Đảng trên mặt trận tư tưởng.

        Mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh phát triển rộng khắp các địa phương trên miền Bắc từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi. Đến năm 1965, 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xã đồng bằng và 78% số xã miền núi có trạm y tế với đội ngũ những người thầy thuốc tận tụy. Đội ngũ này ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. So với năm 1960, đến năm 1965, đội ngũ y bác sĩ và dược sĩ được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa tăng gấp 5 lần. Do mạng lưới y tế phát triển nên các dịch bệnh được phát hiện kịp thời và được phòng trừ tích cực. Sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là người lao động được chăm sóc tốt hơn. Phong trào thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe, trong đó có nhiều môn thể thao quốc phòng phát triển rộng rãi trong nhân dân, ở các trường học, xí nghiệp, công trường, các đơn vị quân đội... góp phần nâng cao ý thức quốc phòng trong mọi tầng lớp nhân dân.

        Mười năm sau ngày giải phóng, từ đổ nát của chiến tranh, nhân dân miền Bắc khắc phục nhiều trở ngại, khó khăn, bền bỉ lao động xây dựng cuộc sống mới với chế độ xã hội ưu việt, với nền kinh tế có bước tiến vững chắc về cơ cấu, về thành phần, về năng suất. Nền kinh tế đó đi dần vào thế tương đối ổn định với hai ngành sản xuất chính - công nghiệp và nông nghiệp; với hai hình thức sở hữu bao trùm - quốc doanh và tập thể. Trên nền tảng chính trị và kinh tế đó, sức mạnh quân sự của miền Bắc cũng được tăng cường.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:27:14 am
       
        c. Về quân sự

        Sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Bộ Chính trị họp (9-1954), chỉ rõ: “Bất kỳ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm, nguy hiểm... Cho nên, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân”1.

        Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, bộ đội ta từ các chiến trường miền Nam, Lào, Cam-pu-chia rút ra miền Bắc. Hoàn thành tập kết, quân số bộ đội tập trung gần 33 vạn, chủ yếu là bộ binh; biên chế, điều lệnh, trang bị chưa thống nhất.

        Trước thực tế đó, thời gian đầu, quân đội tập trung chấn chỉnh một bước về mọi mặt. Các đại đoàn chủ lực, các đơn vị tập kết, bộ đội tình nguyện, lực lượng vũ trang liên khu và một số đơn vị chủ lực tỉnh biên chế thành các sư đoàn và các trung đoàn bộ binh. Một số đơn vị bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang ven biển được xây dựng thành các đơn vị phòng thủ bờ biển. Các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội bảo vệ nội địa, bảo vệ giới tuyến cũng được thành lập. Các đơn vị binh chủng, hệ thống cơ xưởng quốc phòng, cơ sở kho tàng, viện quân y được biên chế và bố trí phù hợp với phương án phòng thủ miền Bắc.

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 đã quyết nghị các vấn đề xây dựng quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng trong giai đoạn cách mạng mới. Hội nghị đã thông qua kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy và tương đối hiện đại.

        Thực hiện kế hoạch này, quân đội tiến hành giảm tổng quân số đi đôi với nâng cao chất lượng toàn diện của bộ đội tập trung, tận dụng khả năng xây dựng kinh tế, xây dựng các công trình quân sự và đẩy mạnh công tác tổng kết nghiên cứu khoa học quân sự.

        Hoàn thành việc giảm quân số, bộ đội thường trực ở mức 16 vạn, biên chế thành 7 sư đoàn, 6 lữ đoàn, 12 trung đoàn độc lập và các đơn vị quân binh chủng khác. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần các cấp trong toàn quân cũng được chấn chỉnh, sắp xếp theo biểu biên chế mới nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy. Một số quân binh chủng mới lần lượt ra đời. Từ chỗ bộ binh chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng, đến năm 1960, cơ cấu, biên chế quân đội được điều chỉnh căn bản. Tỉ lệ giữa bộ binh và các binh chủng kỹ thuật xấp xỉ nhau: 51/49%. Vũ khí trang bị đều được đổi mới nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa. Hỏa lực, sức cơ động của bộ đội do vậy được tăng cường. 37.250 cán bộ từ trung đội trở lên bao gồm cán bộ chính trị, quân sự, hậu cần và các quân binh chủng được bổ túc hoặc đào tạo chính quy ở các trường quân sự trong nước hoặc nước ngoài. Đó là một đảm bảo quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội tiến lên chính quy.

        Thực hiện nhiệm vụ này, việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị đi vào nền nếp với nội dung sát thực và phương pháp ngày càng được cải tiến. Thông qua huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Khả năng chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn cũng được dự tính và triển khai huấn luyện.

        Hệ thống điều lệnh quân đội được tổ chức biên soạn và thực hiện nhằm đưa bộ đội vào nếp sống chính quy, tăng cường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao của quân đội.

------------------
1. Nghị quyết Bộ Chính trị (9-1954), Văn kiện lịch sử Đảng, tập 9, tài liệu đã dẫn, tr. 29.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:28:17 am

        Xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng quân đội trở thành một quân đội cách mạng nói riêng, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng về chính trị, xem đó là yếu tố quyết định bản lĩnh và sức mạnh của quân đội. Vì vậy, song song với các mặt công tác khác, Đảng ta đẩy mạnh công tác đảng - công tác chính trị trong quân đội. Từ năm 1957, đại hội đảng bộ ở các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn bắt đầu được tiến hành thường xuyên theo định kỳ nhằm thực hiện sự lãnh đạo toàn diện theo chế độ tập trung dân chủ của các cấp ủy đảng trong lực lượng vũ trang. Tháng 11 năm 1958, hội nghị chính ủy và chủ nhiệm chính trị toàn quân được triệu tập. Hội nghị đã bàn bạc và quyết nghị về tính chất, nhiệm vụ, nội dung công tác đảng - công tác chính trị, chức trách và quyền hạn của các cơ quan chính trị trong các đơn vị.

        Tổng cục Chính trị chỉ đạo toàn quân mở nhiều đợt học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, thời kỳ này, các đơn vị thực hiện cuộc vận động lớn nhằm “nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa”, “rèn luyện lập trường quan điểm giai cấp vô sản cho đảng viên”, “xây dựng chi bộ vững mạnh”. Hiệu quả của công tác đảng - công tác chính trị và bầu không khí chính trị xã hội ở miền Bắc cũng như sự mẫu mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã cổ vũ lôi cuốn mạnh mẽ thanh niên trong quân đội; thôi thúc họ phấn đấu trong công tác, học tập, rèn luyện và chiến đấu. Trên cơ sở đó, hàng chục nghìn đoàn viên, chiến sĩ qua thử thách, đã gia nhập hàng ngũ Đảng, đưa tỉ lệ đảng viên trong toàn quân lên xấp xỉ 40% năm 1960.

        Tháng 2 năm 1961, Bộ Chính trị họp nhận định về kết quả 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại; thông qua nhiệm vụ quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 - 1965) nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng toàn dân, đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới.

        Sau hội nghị, các đơn vị tập kết từ miền Nam ra được tổ chức thành các lữ đoàn bộ binh gọn nhẹ, sẵn sàng cơ động vào chiến đấu ở miền Nam. Các sư đoàn trực thuộc bộ, được biên chế đủ quân số, trang bị mạnh. Một số sư đoàn biên chế theo khung thời bình (bao gồm khung cán bộ và quân số rút gọn), bảo đảm khi cần có thể nhanh chóng bổ sung quân số và trang bị đủ. Các quân binh chủng kiện toàn về biên chế, tổ chức, tăng cường về lực lượng trang bị.

        Tháng 10 năm 1962, bộ đội phòng không và không quân hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân gồm 12 trung đoàn, 17 tiểu đoàn. Hệ thống ra-đa triển khai thành mạng trinh sát cảnh giới phòng không quốc gia... một số sân bay được tu bổ, phục hồi, xây dựng mới.

        Lực lượng hải quân xây dựng 4 tiểu đoàn tàu ven biển làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm. Các đơn vị phòng thủ biển tổ chức thành lực lượng tác chiến binh chủng hợp thành, bố trí ở các trọng điểm. Đến năm 1965, bộ đội chủ lực miền Bắc từ 16 vạn (1960), 18 vạn (1964) tăng lên 27 vạn. Mặc dù giải thể trong các năm 1960 - 1964 nhưng từ năm 1965 bộ đội địa phương được xây dựng lại. So với năm 1959, trong vòng một năm, bộ đội địa phương tăng từ 18.000 lên 46.000 người.

        Sở dĩ bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương được tăng cường nhanh chóng như vậy là bởi trong khi tập trung xây dựng lực lượng thường trực, Đảng và Nhà nước đồng thời chú trọng xây dựng lực lượng hậu bị. Năm 1962, gần 1 triệu người ở độ tuổi từ 18 đến 45 đăng ký ngạch dự bị, trong số đó có gần 8 vạn bộ đội chuyển ngành, giải ngũ làm nòng cốt. Lực lượng dự bị được quản lý chặt chẽ. Hàng năm, các địa phương tập dượt việc động viên lực lượng dự bị. Dân quân tự vệ từ 1 triệu (1960) tăng lên 1.670.786 (1965). Lực lượng này bố trí rộng khắp, được huấn luyện theo định kỳ hàng năm, đảm nhận vai trò nòng cốt trong đảm bảo trật tự trị an, xung kích trong lao động, chiến đấu và phục vụ chiến đấu ngay tại các địa phương. Trang bị của dân quân tự vệ cũng được đổi mới. Các vùng trọng điểm, dân quân tự vệ còn được trang bị đại liên, súng máy phòng không 12,7, ĐKZ và súng cối.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:28:41 am

        Đường lối quân sự của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Vì vậy, cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều biện pháp nhằm củng cố nền quốc phòng toàn dân.

        Sức mạnh của nền quốc phòng miền Bắc là sức mạnh của quần chúng nhân dân có giác ngộ cao về chính trị, được tổ chức chặt chẽ. Vì thế, Đảng ta thường xuyên chăm lo giáo dục, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, ý thức quốc phòng trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên. Nhà trường xã hội chủ nghĩa, bên cạnh giáo dục cho học sinh về kiến thức, khoa học, luôn chú trọng bồi đắp lòng yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, đồng chí, yêu chế độ, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người trước vận mệnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước đã phát động nhiều phong trào thi đua, mở nhiều cuộc vận động lớn, tổ chức cho các tầng lớp nhân dân học tập chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng... Thông qua các hoạt động này, sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân càng được củng cố. Dựa trên cơ sở đó, Nhà nước đã huy động nhân dân tham gia, đóng góp vào việc xây dựng các công trình quân sự, các hệ thống phòng thủ ven biển, vùng giới tuyến, phục hồi và xây dựng mới nhiều tuyến giao thông chiến lược có ý nghĩa cả về kinh tế lẫn quân sự.

        Để củng cố nền quốc phòng toàn dân, căn cứ vào thế bố trí chiến lược chung, miền Bắc được chia thành các quân khu. Bộ tư lệnh quân khu là cơ quan quân sự cao nhất chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn quân khu.

        Một nội dung lớn của sự nghiệp củng cố nền quốc phòng là giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Thể hiện sự kết hợp giữa hai lĩnh vực này, các nông trường, lâm trường quốc doanh và quân đội, các tập đoàn sản xuất của cán bộ tập kết ra đời. Các cơ sở đó được bố trí trên những địa bàn có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế và quân sự. Trên thực tế từ năm 1965, nhiều nông lâm trường trở thành địa bàn đóng quân, đảm bảo hành quân... cho các đơn vị chủ lực vào miền Nam chiến đấu. Đồng thời, mạng đường sá nông thôn liên xã, liên huyện và liên tỉnh cũng được tu bổ, xây dựng mới. Mạng đường sá đó đã phát huy tác dụng to lớn chẳng những trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới mà còn trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giữ vững mạch máu giao thông, đảm bảo sự chi viện liên tục và ngày càng tăng cho các chiến trường. Mặc dù vừa ra khỏi cuộc chiến tranh chống Pháp, nguồn thu còn ít, đất nước còn nghèo, nhưng ngân sách quốc gia đã dành một khoản chi lớn cho quốc phòng, cho việc đảm bảo chế độ đối với 36.916 thương binh, hàng chục nghìn gia đình liệt sĩ và hàng vạn bệnh binh. Mặt khác, Đảng và Nhà nước, các ngành, các cấp chính quyền luôn luôn chăm lo công tác hậu phương quân đội.

        Sau khi thí điểm ở một số địa phương, ngày 31 tháng 3 năm 1959 Quốc hội đã thông qua Luật nghĩa vụ quân sự. Từ chế độ tòng quân tình nguyện, chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự là bước phát triển mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nó cho phép tăng cường lực lượng hậu bị, giảm bớt số quân thường trực, tiết kiệm tài lực để tập trung cho công cuộc kiến thiết miền Bắc. Ngoài ra, chế độ nghĩa vụ quân sự còn tạo điều kiện phổ cập tri thức quân sự, nâng cao ý thức quốc phòng trong xã hội, động viên sự tham gia đóng góp của toàn dân vào sự nghiệp củng cố quốc phòng.

        Mười năm xây dựng trong hòa bình, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, xã hội miền Bắc trên đà chuyển biến sâu sắc: chuyển biến trong đời sống kinh tế và cuộc sống tinh thần, chuyển biến trong mỗi khu phố, xóm thôn. Trên nền tảng kinh tế chính trị, tinh thần đó, uy tín của Đảng được nâng cao, chính quyền được củng cố, lực lượng vũ trang và nền quốc phòng xây dựng ngày càng vững mạnh.

        Sau những năm dài nô lệ lầm than trước Cách mạng tháng Tám và gian khổ, hy sinh trong chín năm kháng chiến, đây là thời kỳ phấn khởi, tin tưởng và đầy hy vọng của nhân dân miền Bắc. Dẫu cuộc sống còn nhiều chật vật, còn lắm khó khăn nhưng mọi người, mọi nhà sống chan hòa, ổn định và bình yên trong chế độ mới - một chế độ mà bất công tủi nhục đã trở thành dĩ vãng. Mọi người tin yêu nhau, tin yêu Đảng và Chính phủ, chung sức, chung lòng xây dựng, bảo vệ miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:30:39 am

        d. Về đối ngoại

        Mỹ là nước có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn ta nhiều lần. Trong điều kiện đó, việc xây dựng hậu phương cho cuộc kháng chiến không thể chỉ giới hạn trên địa bàn miền Bắc Việt Nam mà còn phải ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, qua đó, mở rộng hậu phương chiến lược của ta và thu hẹp hậu phương của địch. Chỉ có như thế, chúng ta mới làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam của đế quốc Mỹ; mới đảm bảo cho hậu phương miền Bắc có đầy đủ điều kiện để đương đầu và đánh bại mọi hành động chiến tranh của Mỹ cũng như mới đảm bảo cho miền Bắc phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam.

        Trong bối cảnh quốc tế vừa thuận lợi nhưng lại vừa phức tạp, khó khăn, Đảng, Nhà nước ta ngay từ đầu và suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, đã đề ra và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt với Liên Xô, Trung Quốc và hai nước láng giềng là Lào và Cam-pu-chia. Nội dung cơ bản của đường lối đó là: trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế để đẩy mạnh cuộc kháng chiến.

        Đối với Cách mạng Lào và Cam-pu-chia, Đảng, Nhà nước ta chủ trương giúp đỡ trên tinh thần quốc tế trong sáng. Trong thực tế, Đảng và Nhà nước thường xuyên giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hiểu rõ tầm quan trọng của liên minh chiến đấu với Lào và Cam-pu-chia, đề phòng tư tưởng hẹp hòi hoặc chủ nghĩa sô-vanh, nước lớn. Suốt những năm chống Mỹ, nhất là từ năm 1960 trở đi, miền Bắc không chỉ là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào, Cam-pu-chia. Những người lính tình nguyện và cán bộ dân, chính, đảng chiến đấu, công tác ở vùng giải phóng Lào hay ở Cam-pu-chia đều thấu suốt đường lối quan điểm trên đây của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, cán bộ, chiến sĩ ta được nhân dân Lào, nhân dân Cam-pu-chia tận tình ủng hộ, giúp đỡ.

        Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản, Đảng và Nhà nước ta kiên trì giải thích, thuyết phục, làm cho bạn hiểu rõ và hiểu đúng chủ trương chiến lược, khả năng chiến thắng và sách lược của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, qua đó, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ của bạn.

        Trước những thủ đoạn, ngoại giao và những luận điệu tuyên truyền hòng đánh lạc hướng dư luận, biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ, chúng ta đã đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, vạch rõ âm mưu và những tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, làm cho nhân dân và chính phủ nhiều nước - trước hết là các dân tộc Á, Phi, Mỹ La-tinh đồng tình, ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, phản đối chính sách hiếu chiến và xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Đối với nhân dân tiến bộ Mỹ, Đảng và Nhà nước chủ trương làm cho họ ngày càng hiểu rõ lập trường và thiện chí của ta, thấy được tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược mà các đời tổng thống Mỹ theo đuổi ở Việt Nam.

        Tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi ở hai miền Nam - Bắc, sự vững chắc của hậu phương chiến lược trước thử thách ác liệt của chiến tranh cùng đường lối đối ngoại trên đây của Đảng và Nhà nước ta đã làm thất bại âm mưu và nhiều thủ đoạn ngoại giao của Mỹ, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế ngày càng rộng rãi, to lớn. Trên thực tế, trong kháng chiến chống Mỹ, mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đã hình thành, Tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Rút-xen được thành lập và tiến hành các phiên họp xét xử tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Chính phủ, các nhà hoạt động chính trị, xã hội và dư luận nhiều nước, kể cả một số đồng minh chiến lược của Mỹ đã lên tiếng phê phán cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương...

        Về mặt đó, hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ là miền Bắc. Hậu phương đó còn là sự đồng tình, cổ vũ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của dư luận tiến bộ và chính phủ nhiều nước trên thế giới.

        Trong khi hậu phương của cuộc kháng chiến chống Mỹ được củng cố, tăng cường, ảnh hưởng của nó ngày càng mở rộng ra ngoài phạm vi miền Bắc Việt Nam thì hậu phương của địch lại ngày càng bị thu hẹp. Trên thế giới, nhiều nước đồng minh của Mỹ, kể cả các nước Tây Âu và Nhật Bản, nhân lúc Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam, đã mạnh mẽ vươn lên, trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ về kinh tế và quân sự. Bên trong nước Mỹ, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền không ngừng tăng lên, biến thành sự bất đồng về chính trị ngày càng gay gắt trong nội bộ giới lãnh đạo Mỹ và giữa các tầng lớp nhân dân Mỹ với chính quyền liên bang. Vào những năm 1967 - 1968, 1971, 1972, phong trào chống chiến tranh đã biến thành các cuộc bạo động dữ dội ở nhiều thành phố lớn của Mỹ. Tất cả những điều đó trở thành nhân tố ngày càng quan trọng, tác động mạnh tới sự ổn định trong lòng nước Mỹ, chi phối quá trình điều hành chiến tranh của chính quyền Hoa Kỳ. Và cuối cùng nó là một trong những nhân tố quan trọng buộc Mỹ phải chấm dứt sự dính líu về quân sự ở Việt Nam để ưu tiên cho các vấn đề trong nước.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:32:01 am

        2. Bảo vệ và phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc

        a. Âm mưu và hành động chống phá miền Bắc của địch

        Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc luôn luôn phải đối phó với âm mưu và thủ đoạn phung phá của Mỹ - ngụy trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, tư tưởng, quân sự và ngoại giao. Mỹ - ngụy chống phá miền Bắc nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực của chúng ở miền Nam; ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc, đè bẹp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Vì vậy, hành động chống phá miền Bắc của địch chủ yếu là bằng biện pháp quân sự và ngày càng trở nên ác liệt theo mức độ gia tăng của chiến tranh ở chiến trường chính miền Nam.

        Từ sau năm 1954 đến năm 1964, địch sử dụng các thủ đoạn, biện pháp như chiến tranh tâm lý, tung biệt kích, thám báo vào miền Bắc; móc nối với các phần tử phản động nằm vùng hoạt động gián điệp, kích động sự chống đối của một bộ phận quần chúng, tiến hành các hoạt động phá hoại hòng gây mất ổn định từ bên trong. Qua đó phá hoại công cuộc xây dựng miền Bắc, ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Điển hình của các hoạt động này là hoạt động của tổ chức CIA đối với miền Bắc từ sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Dưới cái tên “phái đoàn quân sự Sài Gòn” (S.M.M) do E.G.Lên-xđên cầm đầu, CIA đã ráo riết hoạt động như phá hoại máy móc ở các thành thị miền Bắc trước ngày ta tiếp quản, tung tin, xuyên tạc, kích động quần chúng di cư vào Nam, bí mật cài người và tuồn vũ khí vào miền Bắc, tung tin xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để gây bạo loạn (đặc biệt ở các vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa).

        Từ 1961, tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi chỉ thị cho Bộ trưởng Quốc phòng, Cục trưởng Cục Tình báo Trung ương (CIA), xây dựng các chương trình ngắn hạn và dài hạn bí mật chống miền Bắc. Tháng 10 năm 1961, Ken-nơ-đi ra lệnh tiến hành các hoạt động biệt kích, kể cả việc dùng cố vấn Mỹ để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc. Tháng 12 năm 1961, chương trình tuyển mộ người Việt Nam để thành lập các đội đánh mìn hoạt động ở các vùng biển chiến lược miền Bắc do CIA đỡ đầu, đã được tổng thống Mỹ phê chuẩn.

        Các hoạt động chống phá miền Bắc tiếp tục gia tăng cả về mức độ, cường độ suốt các năm 1962 -1963; tung biệt kích thám báo vào sâu nội địa miền Bắc, thực hiện các cuộc tuần tiễu DESOTO dọc bờ biển miền Bắc, vạch kế hoạch 34A nhằm chuẩn bị cho các âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ đối với miền Bắc.

        Sau một loạt các hoạt động chống phá và khiêu khích (dùng tàu biệt kích nã pháo vào các đảo và một số vùng bờ biển miền Bắc, bắt các ngư dân, dựng nên sự kiện ngày 5 tháng 8 năm 1964 để cho 64 máy bay ném bom miền Bắc…) từ đầu năm 1965, Mỹ sử dụng không quân, hải quân, mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn, với mức độ ngày càng ác liệt. Âm mưu của Mỹ là bẻ gãy ý chí kháng chiến của nhân dân miền Bắc, phá hoại tiềm lực về mọi mặt của miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, nâng đỡ tỉnh thần của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn.

        Thực hiện mục tiêu đó, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968) và lần thứ hai (1972), Mỹ sử dụng một số lượng lớn máy bay, tàu chiến ném xuống miền Bắc một khối lượng bom đạn khổng lồ các loại. Bom đạn Mỹ đã tàn hại nặng nề 4.000/5.708 xã, 28/30 tỉnh lỵ, 350 bệnh viện, 1.300 trường học và các hệ thống giao thông, công trình thủy lợi, các cơ sở kinh tế chủ chốt của miền Bắc, gây bao đau thương tang tóc cho nhiều gia đình, sát hại và để lại thương tích cho hàng trăm nghìn dân thường miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:33:52 am

        b. Bảo vệ hậu phương miền Bắc

        Trước tình hình Mỹ - ngụy tăng cường hoạt động chống phá miền Bắc, ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho miền Bắc vững mạnh về chính trị, trong sạch về tổ chức.

        Xuất phát từ quan điểm xây dựng và bảo vệ miền Bắc là sự nghiệp của toàn dân, đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố nền quốc phòng toàn dân, Đảng và Nhà nước thường xuyên chú trọng giáo dục chính trị cho nhân dân, làm cho mọi người dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, thấy rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù. Qua đó, nâng cao ý thức chính trị, củng cố sự đoàn kết nhất trí trong mọi tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân giữ vững ý chí, quyết tâm kháng chiến chống Mỹ.

        Từ những ngày đầu hòa bình lập lại và suốt những năm chống chiến tránh phá hoại của Mỹ, miền Bắc đã trải qua nhiều cuộc vận động chính trị (cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa, phong trào hợp tác hóa, phong trào cải tiến quản lý xí nghiệp, phong trào thi đua đạt 5 tấn thóc trên 1 ha gieo trồng...). Thông qua các cuộc vận động này, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân; phù hợp với nguyện vọng và ý chí của nhân dân, được nhân dân đón nhận và thực hiện tự nguyện tự giác.

        Mặt khác, Đảng luôn chăm lo giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng, kịp thời phát hiện để uốn nắn hoặc xử lý nghiêm khắc mọi biểu hiện xa rời lập trường, quan điểm của Đảng, xa rời quần chúng nhân dân của một số cán bộ, đảng viên. Do vậy mà trong gian khổ, khó khăn, đội ngũ cán bộ, đảng viên càng gắn bó với nhân dân, gương mẫu và tiên phong trong lối sống, công tác và chiến đấu, được nhân dân tin cậy, mến phục.

        Một thành công của công tác chính trị thời kỳ chống Mỹ là Đảng và Nhà nước đã giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân tinh thần đoàn kết quốc tế, làm cho mọi người hiểu rõ nhiệm vụ đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Nhờ đó, tình đoàn kết giữa quân đội và nhân dân ba nước qua thử thách trong kháng chiến chống thực dân Pháp được tiếp tục phát huy mạnh mẽ trong kháng chiến chống Mỹ. Con em ở miền Bắc chẳng những đánh giặc ở miền Nam, mà còn chiến đấu ở Lào và Cam-pu-chia. Miền Bắc là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam và cũng là hậu phương của cách mạng hai nước láng giềng.

        Như vậy, những năm chống Mỹ, nhờ tiến hành có hiệu quả công tác giáo dục chính trị cho nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã giữ vững được sự nhất trí về chính trị, tinh thần trong xã hội miền Bắc. Dựa trên cơ sở đó, Đảng đã động viên toàn dân, tổ chức toàn dân tham gia giữ gìn và bảo vệ an ninh chính trị trật tự và an toàn xã hội. Nòng cốt trong nhiệm vụ này là lực lượng công an và dân quân tự vệ. Trong các thôn xã, công nông trường, xí nghiệp, hầm mỏ, cơ quan nhà nước, lực lượng dân quân tự vệ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nếu năm 1965, lực lượng này có 1.670.785 thì đến năm 1969, con số đó tăng đến 2.202.216 và năm 1975 là 2.501.865. Bên cạnh lực lượng công an, dân quân tự vệ, miền Bắc còn chú trọng tăng cường lực lượng biên phòng. Tại các vùng biên giới hải đảo, giới tuyến quân sự và những vị trí có tầm quan trọng về an ninh, hệ thống đồn canh, trạm kiểm soát, các công trình phòng thủ được thiết lập, củng cố.

        Công cuộc xây dựng miền Bắc càng tiến triển, Mỹ - ngụy càng đẩy mạnh hoạt động chống phá. Trước tình hình đó, để phục vụ cho yêu cầu xây dựng miền Bắc, củng cố quốc phòng, giũ vững an ninh, miền Bắc tiến hành thống kê dân số, thực hiện chế độ hộ khẩu. Phòng ngừa sự lợi dụng của các phần tử phản động, các địa phương miền Bắc kết hợp cuộc vận động bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu với việc xây dựng nếp sống văn minh, đảm bảo trật tự công cộng.

        Tháng 6 năm 1961, ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua nghị quyết về việc tập trung cải tạo những phần tử có hoạt động nguy hại cho trật tự trị an. Tháng 6 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ra nghị định quy định rõ những vấn đề thuộc về an ninh bí mật quốc gia và trách nhiệm của mọi công dân trong việc giữ gìn, bảo vệ bí mật nhà nước. Những văn bản mang tính pháp luật đó góp phần trấn áp kịp thời và có hiệu quả các lực lượng phản động tay sai của Mỹ - ngụy, giữ vững an ninh chính tri, trật tự an toàn xã hội.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:35:51 am

        Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình, phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn mới của địch đối với miền Bắc, Đảng và Nhà nước sớm có kế hoạch và biện pháp chuẩn bị. Vì vậy, khi Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo tổ chức nhân dân kịp thời chuyển nhanh toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục xây dựng hậu phương trong điều kiện chiến tranh.

        Từ đầu năm 1964, trước âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược của Mỹ, Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc được triệu tập. Hội nghị bàn biện pháp triển khai và tăng cường hệ thống phòng không nhân dân ba thứ quân, kế hoạch sơ tán nhân dân khỏi những vùng trọng điểm. Nhằm động viên chính trị toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, giữ vững ý chí, quyết tâm hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội (27-3-1964). Phát biểu tại hội nghị, Người nêu rõ “trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”. Người kêu gọi nhân dân miền Bắc, mỗi người “phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”.

        Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại hội nghị được phổ biến sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Bắc. Tháng 4 năm 1964, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị phát động phong trào thi đua “mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam”.

        Tháng 6 năm 1964, Bộ Chính trị ra chỉ thị về tăng cường công tác phòng không, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Chỉ thị nêu rõ: phương châm đối phó cơ bản của ta là “kết hợp mọi biện pháp đánh địch và biện pháp phòng tránh; lấy bộ đội phòng không làm nòng cốt, kết hợp với việc phát động một phong trào rộng rãi bắn máy bay địch bằng mọi thứ súng của bộ binh và các lực lượng dân quân tự vệ”1.

        Thực hiện chủ trương trên, quân và dân miền Bắc tích cực chuẩn bị mọi mặt, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới.

        Lực lượng vũ trang gấp rút chấn chỉnh biên chế, tổ chức, tăng cường về số lượng. Các đơn vị được lệnh tổ chức báo động, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Quân chủng Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án chiến đấu, triển khai lực lượng theo hướng tập trung hỏa lực bảo vệ các mục tiêu chủ yếu, đồng thời hình thành lực lượng chiến đấu tại chỗ, rộng khắp. Quân chủng Hải quân từ tháng 7 năm 1964 chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường tuần tiễu dọc bờ biển, tổ chức Bộ tư lệnh tiền phương ở vùng biển Quân khu 4. Các quân binh chủng khác cũng gấp rút hình thành phương án chiến đấu, đảm bảo giao thông trong điều kiện địch đánh rộng ra miền Bắc. Các địa phương tập dượt huấn luyện chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sơ tán, phán tán tài sản và nhân dân...

        Vùng ven biển, vùng giới tuyến quân sự, vùng biên giới phía Tây, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương được phổ biến kế hoạch phòng chống bộ binh, máy bay, tàu chiến và pháo binh địch. Tại các vùng này, lực lượng vũ trang địa phương tăng cường tuần tiễu, bố phòng nhằm chống sự đột nhập, phá hoại của địch. Các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với công an vũ trang, dân quân tự vệ triển khai chuẩn bị theo kế hoạch phòng thủ. Trong nội địa, các binh đoàn chủ lực tập kết tại những khu vực quy định, sẵn sàng cơ động chiến đấu ở các hướng cần thiết.

        Nhờ công tác chuẩn bị trên đây, quân và dân miền Bắc đã làm thất bại các âm mưu phá hoại, khiêu khích của địch, trừng trị kịp thời máy bay Mỹ trong ngày 5 tháng 8 năm 1964. Trong trận đầu đọ sức trực tiếp với không quân Mỹ, lực lượng phòng không miền Bắc đã bắn rơi 8 máy bay, bắt sống giặc lái.

        Từ thực tiễn chiến đấu ngày 5 tháng 8, lực lượng phòng không các ngành, các cấp, các địa phương kịp tổ chức rút kinh nghiệm, gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị.

        Tháng 1 năm 1965 Hội đồng Quốc phòng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ và phương hướng công tác quốc phòng trước mắt của miền Bắc là tăng cường công tác phòng thủ, trị an, sẵn sàng chiến đấu; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực xây dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt.

----------------
1. Dẫn theo Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, Tập 4, tr.209,210.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:37:06 am

        Như vậy, cuối năm 1964, đầu năm 1965, miền Bắc được chuẩn bị một bước căn bản; đã ở trong tư thế sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ.

        Tháng 3 và tiếp đó, tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 và 12 đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến nhằm đảm bảo cho miền Bắc tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, đảm bảo cho miền Bắc có đủ sức mạnh đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tuyền tuyến lớn.
       
        Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, miền Bắc chuyển nhanh mọi mặt vào thời chiến; tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh toàn diện trong điều kiện trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt của không quân, hải quân Mỹ.

        Về công tác tư tưởng và tổ chức: trong điều kiện chiến tranh ác liệt, để đảm bảo lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc, tăng sức chi viện chiến trường, các cơ quan Đảng, Nhà nước gấp rút chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn về tổ chức và lề lối làm việc; thực hiện đúng chức năng, giản tiện hóa các thủ tục hành chính, kịp thời giải quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra.

        Tháng 7 năm 1965, Hội nghị cán bộ nghiên cứu về nhiệm vụ chuyển hướng chỉ đạo hai nhiệm vụ chiến lược do Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập đã bàn bạc thống nhất: Trong tình hình mới, các cấp ủy Đảng phải thực hiện sự chuyển biến mạnh mẽ cách suy nghĩ, lề lối làm việc, phong cách lãnh đạo. Huyện ủy phải lãnh đạo và chỉ đạo sâu sát nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp ở cơ sở. Tỉnh ủy phải nắm chắc tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp địa phương và đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từng tỉnh.

        Tiếp đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra các chỉ thị thúc đẩy mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng chi bộ cơ sở “4 tốt”, tăng cường sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, làm cho Đảng thực sự sâu sát và gắn bó mật thiết với quần chúng, với nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu và đảm bảo giao thông vận tải.

        Phù hợp với nhiệm vụ chuyển hướng nền kinh tế, cơ cấu cán bộ, công nhân viên trong các cơ quan nhà nước, trong các ngành sản xuất được tổ chức, sắp xếp lại. Một số cán bộ được động viên vào lực lượng vũ trang hoặc chuyển sang công tác trên mặt trận giao thông vận tải. Các vùng trung du, miền núi cũng được tăng cường thêm cán bộ.

        Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Bí thư Trung ương thường xuyên bám sát thực tiễn, phân tích đúng tình hình, nhận định đúng âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Do vậy, sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng trên các lĩnh vực công tác đối nội, đối ngoại, sản xuất, chiến đấu, chi viện chiến trường của hậu phương miền Bắc kịp thời có hiệu quả.

        Các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền cải tiến hoạt động chỉ đạo thực tiễn, đáp ứng nhiệm vụ tổ chức, quản lý sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, huy động lực lượng phục vụ chiến đấu đảm bảo giao thông vận tải, chi viện chiến trường, giữ vững trật tự, trị an. Do chiến tranh ác liệt, ở nhiều địa phương và trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, hoạt động của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp chuyển sang lối hành chính, cung cấp để huy động kịp thời và có hiệu quả sức người, sức của cho nhiệm vụ hàng đầu là chống Mỹ, cứu nước.

        Mặt trận Tổ quốc tiếp tục được củng cố, mở rộng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Các tổ chức quần chúng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội tham gia. Hoạt động của tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội phụ lão, hội mẹ chiến sĩ... có tác dụng thiết thực trong việc tập hợp và động viên quần chúng thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua chiến đấu và công tác, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, góp phần ổn định tình hình hậu phương, động viên những người ra trận.

        Thành công của sự chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức và phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp là đảm bảo quan trọng cho việc chuyển hướng và tiếp tục xây dựng kinh tế miền Bắe trong những năm chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:38:56 am

        Về kinh tế: tiếp tục duy trì và giữ vững sản xuất trong điều kiện địch đánh phá, miền Bắc tập trung sức đẩy mạnh nông nghiệp với hai ngành sản xuất chính là trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, ổn định đời sống của nhân dân. Nhà nước chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch phân bố lại lực lượng lao động, dành số vốn thích đáng để phát triển sản xuất, chăn nuôi. Đồng thời, để tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, Nhà nước ban hành Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (4-1969), trong đó quy định rõ tính chất, nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; những nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của xã viên. Điều lệ còn coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho xã viên, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế cho hợp tác xã. Trong lời nói đầu ghi trên bản điều lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải thực hiện tốt điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất ngày càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ”1.

        Bên cạnh nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng theo phương châm: “tích cực bảo vệ, duy trì và phát triển sản xuất”. Sau khi sơ tán, phân tán các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng... đến những địa điểm tương đối an toàn, các ngành công nghiệp nhanh chóng ổn định mọi mặt, tiếp tục duy trì và đẩy mạnh sản xuất. Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, chú trọng xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ. Tổng số vốn đầu tư vào khu vực này trong 3 năm từ 1965 - 1967 tăng gấp 38 lần so với tổng số vốn đầu tư 3 năm trước đó. Bên cạnh các xí nghiệp sản xuất trung ương, một mạng lưới công nghiệp địa phương với hàng nghìn xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ hình thành.

        Nhìn chung, kinh tế những năm chiến tranh phá hoại phát triển theo điều kiện từng vùng. Điều đó tạo thuận lợi để từng địa phương đảm bảo được một phần quan trọng những nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Ngoài ra, việc chú trọng phát triển kinh tế địa phương, thúc đẩy khu vực này phát triển nhanh hơn tốc độ bình thường còn nhằm làm cho từng vùng phát huy đầy đủ tiềm năng của mình, đáp ứng hậu cần tại chỗ: vừa đảm bảo sản xuất, vừa đảm bảo chiến đấu và phục vụ chiến đấu theo đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân của Đảng.

        Trong xây dựng cơ bản: Nhà nước điều chỉnh một số chỉ tiêu phù hợp với yêu cầu trước mắt và đảm bảo cho phương hướng phát triển lâu dài.

        Cơ chế quản lý kinh tế thời bình cũng chuyển nhanh sang cơ chế quản lý thời chiến. Hội đồng Chính phủ đề ra các nội dung cụ thể nhằm làm cho cơ chế mới này thực sự nhạy bén, kịp thời, hiệu quả, vừa đáp ứng yêu cầu tập trung cao độ việc quản lý, huy động và sử dụng tốt nhân lực, vật lực, tài lực phục vụ nhu cầu thời chiến; vừa phát huy được tính năng động, chủ động của các ngành, các cấp trong hoạt động sản xuất, đảm bảo đời sống, đảm bảo giao thông và đòi hỏi của chiến tranh.

        Công tác kế hoạch tập trung xây dựng các kế hoạch kinh tế ngắn hạn. Điều đó đảm bảo cho việc điều hành chỉ đạo sản xuất thích đáng với tình hình luôn biến động do chiến tranh phá hoại gây nên; phù hợp với những khoảng thời gian ngắn khôi phục kinh tế sau mỗi lần địch ngừng các hoạt động đánh phá...

        Đi đôi với việc chuyển hướng nền kinh tế để giữ vững và đẩy mạnh sản xuất, Đảng, Nhà nước còn ban hành các chính sách có tác dụng động viên mãnh mẽ khí thế lao động, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của hậu phương. Trong những năm tháng chiến tranh, khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, phong trào thi đua sản xuất thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãnh phí đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, thu hút đông đảo mọi người tham gia. Nhờ đó mặc dù chiến tranh tàn phá nặng nhiều khu vực kinh tế, nhiều hệ thống đê điều và công trình thủy lợi, và mặc dù số lao động trẻ, khỏe rời ruộng đồng nhà máy vào lực lượng vũ trang ngày càng nhiều nhưng sản xuất không những vẫn tiếp tục được duy trì mà còn có bước phát triển trên một số mặt cụ thể.

        Về nông nghiệp, vượt qua bao thử thách ác liệt của chiến tranh và thiên tai, nền nông nghiệp hợp tác hóa vẫn không ngừng được củng cố và phát triển. Tính đến cuối năm 1968, 94,9% hộ nông dân vào hợp tác xã. Hàng chục nghìn cán bộ, công nhân kỹ thuật được đào tạo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, hàng nghìn hợp tác xã và hàng chục huyện, tỉnh đạt năng suất 5 tấn thóc trên một héc-ta đất gieo trồng. Nếu so với những năm 1954 - 1957 thì trong các năm từ 1966 - 1971, sản xuất nông nghiệp đạt 141,9% và tiếp đó, những năm 1972 - 1975 đạt 158,9%. Trong hoàn cảnh một khối lượng bom đạn khổng lồ giội xuống ruộng đồng, làng mạc, giết hại hàng chục nghìn dân thường, tàn phá nhiều công trình thủy lợi… hàng triệu lao động trẻ khỏe gia nhập lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong và đi dân công hỏa tuyến thì kết quả trên đây là thành tựu đáng tự hào của miền Bắc trong những năm chiến tranh.

---------------
1. Dẫn theo Những sự kiện lịch sử Đảng, Tập 4, Tài liệu đã dẫn, tr.313.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:39:51 am

        Trong công nghiệp, sản xuất căn bản được giữ vững. Các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn kịp thời sơ tán, phân tán và đi dần vào sản xuất, đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu nhất của nền kinh tế quốc dân, của đời sống nhân dân và của quốc phòng. Đặc biệt, sản lượng công nghiệp địa phương trong toàn bộ nền công nghiệp ngày càng tăng. Nếu năm 1965, tỉ lệ đó là 46,7% thì đến 1971 là 54,1%. Cùng với nông nghiệp hợp tác hóa, công nghiệp địa phương đã góp phần đảm bảo hậu cần tại chỗ cho cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

        Bên cạnh đó, tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương đều hướng nỗ lực phục vụ yêu cầu duy trì và đảm bảo sản xuất, ổn định đời sống, chiến đấu và chi viện chiến trường. Các ngành tài chính, ngân hàng tăng cường động viên nguồn thu trong nước, sử dụng tốt nguồn chi viện từ bên ngoài, cải tiến chế độ quản lý, giữ vững chế độ hạch toán kinh tế đối với các cơ sở sản xuất quốc doanh. Cùng với ngành thương nghiệp, hoạt động của các ngành tài chính, ngân hàng, ngoại thương đã góp phần củng cố quan hệ sản xuất mới, chống đầu cơ tích trữ, ổn định giá cả về đời sống của nhân dân, cán bộ công nhân viên và lực lượng vũ trang.

        Bom đạn Mỹ không làm cho sự nghiệp văn hóa giáo dục bị ngừng trệ. Hàng vạn lớp học với hàng chục vạn học sinh sơ tán khỏi vùng trọng điểm bị địch đánh phá, tiếp tục học tập. Chương trình giảng dạy cũng được cải tiến cho phù hợp với tình hình mới. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa trong các trường học được đẩy mạnh nhằm chuẩn bị đày đủ tri thức và nhân cách cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống chiến đấu và lao động. Nếu năm đầu khi miền Bắc bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, số học sinh phổ thông là 2.674.000 thì những năm học tiếp theo số học sinh không ngừng tăng. Đến năm 1969, số học sinh đến lớp là 4 triệu.

        Cùng với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp cũng tiếp tục phát triển. Số lượng trường, các ngành học, giáo viên giảng dạy và học sinh không ngừng tăng lên. Từ 60.000 học sinh các trường trung học và 24.000 học sinh đại học năm 1965, đến năm 1975, có số tương ứng là 69.000 và 55.000. Nếu 1939, bình quân 1 vạn người dân Việt Nam có 184 người đi học, trong đó có 0,9 người là học sinh trung học và đại học thì đến năm 1975, con số tương ứng là 2.780, trong đó 60 người là học sinh trung học và đại học. Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu chiến tranh, trên miền Bắc đã hình thành Phân khoa đại học Kỹ thuật quân sự - cơ sở ban đầu của Trường đại học Kỹ thuật quân sự.

        Công tác bổ túc văn hóa trong những năm chiến tranh được đặt ra cấp thiết nhằm nâng cao tri thức cho cán bộ, công nhân viên, thanh niên xung phong. Năm 1968, toàn miền Bắc có trên 1 triệu người theo học các lớp bổ túc văn hóa.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ cần những con người có giác ngộ về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có tri thức khoa học kỹ thuật để làm chủ vũ khí, đánh thắng kẻ thù. Nền giáo dục miền Bắc những năm chống Mỹ đã góp phần quan trọng đáp ứng đòi hỏi đó. Thế hệ những nam nữ thanh niên chiến đấu và công tác trên mọi miền đất nước những năm đánh Mỹ với tất cả sự hiểu biết và niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng đã trưởng thành dưới chế độ xã hội mới, trong các nhà trường xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

        Hoạt động của các ngành văn hóa thời kỳ này sôi nổi, phục vụ đắc lực sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của quân và dân ta. Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, lao động, phản ánh nét đẹp của con người Việt Nam những năm đánh Mỹ: dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu lao động; thủy chung, trong sáng trong tình yêu, tình bạn, tình đồng chí... Những vốn quý trong di sản văn hóa các dân tộc trên mọi miền Tổ quốc được trân trọng bảo vệ, sưu tầm. Nhiều tác phẩm văn học nước ngoài có giá trị được chọn dịch và giới thiệu với người đọc trong nước. Một số tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu với bầu bạn quốc tế, giúp cho các nước càng hiểu rõ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

        Chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh nhưng cuộc sống văn hóa, tinh thần của miền Bắc không bi lụy, bi quan. Trên mọi miền đất nước, phong trào “tiếng hát át tiếng bom” phát triển mạnh mẽ, biểu hiện niềm tin và khí thế của người hậu phương trong chiến đấu và xây dựng...

        Đồng thời với sự chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức và xây dựng kinh tế nền quốc phòng miền Bắc cũng được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại, bao vây, phong tỏa của không quân, hải quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:41:06 am
        Ngày 25 tháng 5 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh sửa đổi Luật nghĩa vụ quân sự, kéo dài thời hạn phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

        Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Người ký Lệnh động viên cục bộ. Theo đó, một số sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận lực lượng thuộc ngạch dự bị được động viên vào các đơn vị vũ trang. Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm đặt kế hoạch động viên cục bộ và chỉ đạo quá trình thực hiện theo phương hướng vừa đảm bảo tăng cường khả năng quốc phòng của miền Bắc đến mức cần thiết; vừa đảm bảo sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế miền Bắc trong điều kiện chiến tranh.

        Từ đây, khắp nơi trên miền Bắc, phong trào “cử người đi đánh Mỹ”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” ... trở thành phổ biến và sôi nổi. Chỉ một thời gian ngắn, 68.874 thanh niên và quân nhân chuyển ngành, phục viên được tuyển vào quân đội. So với đầu năm, đến cuối 1965, khối chủ lực miền Bắc tăng gấp 2 lần, từ 195.000 quân lên tới 400.000 quân. Các quân binh chủng cũng được tăng cường về lực lượng và trang bị. Đến cuối năm 1965, lực lượng các quân binh chủng tăng gấp 3 lần so với năm 1964. Riêng Quân chủng Phòng không - Không quân, nhiều đơn vị được gấp rút xây dựng, trong đó có các đơn vị tên lửa phòng không, pháo phòng không.

        Bên cạnh bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ về số lượng, chất lượng. Nếu năm 1964, dân quân tự vệ chiếm 8% so với dân số miền Bắc thì đến cuối 1965, tỉ lệ đó tới 10%. Đây là lực lượng nòng cất để xây dựng và phát triển phong trào toàn dân bắn máy bay, toàn dân làm công tác phòng không, toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải, bảo vệ trị an. Ở các địa bàn cơ sở, dân quân tự vệ còn là lực lượng xung kích trong sản xuất, xây dựng, đặc biệt ở những địa bàn thường xuyên bị địch đánh phá.

        Dựa trên cơ sở đó, lực lượng ba thứ quân trong phòng không, phòng thủ bờ biển nhanh chóng phát triển về số lượng và chất lượng. Nếu năm 1964, lực lượng phòng không miền Bắc chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn không quân tiêm kích, 2 trung đoàn ra-đa... thì đến những năm 1966 đến 1968, hệ thống phòng không miền Bắc có bước phát triển mạnh mẽ. Trong khoảng thời gian này, với 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn pháo phòng không, 10 trung đoàn tên lửa, 2 trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn ra-đa, lực lượng phòng không miền Bắc được xây dựng thành hệ thống đất đối không hoàn chỉnh, khá mạnh. Hệ thống đó bao gồm hỏa lực tầm cao, tầm trung, tầm thấp. Năm 1972, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo phòng không của bộ đội chủ lực tăng gấp 5 lần đến 7 lần so với năm 1965.

        Bên cạnh lực lượng phòng không của bộ đội chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cũng có bước phát triển. Lực lượng đó bao gồm hàng chục nghìn tiểu đoàn và đại đội pháo phòng không của bộ đội địa phương; hơn 2.000 đơn vị trực chiến của dân quân tự vệ. Năm 1972 vũ khí phòng không trang bị cho dân quân tự vệ tăng gấp 32 lần so với năm 1964, trong đó có nhiều loại vũ khí, khí tài tương đối hiện đại.

        Cùng với lực lượng phòng không, lực lượng phòng thủ bờ biển cũng có bước phát triển mạnh mẽ, bao gồm các đơn vị pháo binh bờ biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Đến năm 1972, pháo binh của bộ đội chủ lực có 12 trung đoàn, 1 tiểu đoàn và 4 đại đội. Lực lượng pháo binh của bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ đến năm 1972 lên tới 500 đơn vị và được trang bị các loại pháo bắn biển nhiều gấp 17 lần so với năm 1964.

        Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ biển trên miền Bắc được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân, vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung hỏa lực bảo vệ các khu vực mục tiêu trọng điểm. Thế trận đó cho phép quân dân miền Bắc thực hành phương châm tác chiến tiến công địch liên tục ở mọi nơi, mọi lúc và sáng tạo nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, hiệu quả cao, vô hiệu hóa được nhiều thủ đoạn đánh phá cũng như nhiều loại vũ khí, khí tài của máy bay, tàu chiến Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc.

        Các lực lượng vận tải và đảm bảo giao thông như công binh, vận tải quân sự, vận tải nhà nước, vận tải nhân dân... theo nhịp độ gia tăng của chiến tranh cũng ngày càng lớn mạnh. So với năm 1965, đến năm 1968 số trung đoàn công binh tăng gấp 1,2 lần, số tiểu đoàn công binh tăng gấp 2 lần, số đại đội công binh tăng gấp 16 lần. Bên cạnh lực lượng tập trung, các tổ đội công binh của dân quân tự vệ cũng phát triển rộng khắp, đặc biệt ở những khu vực ven các tuyến giao thông huyết mạch. Các loại phương tiện bắc cầu, đảm bảo vượt sông năm 1968 tăng 2,6 lần so với năm 1965. Lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng, của các quân khu tăng từ 4 đến 5 lần. Vào những thời kỳ miền Nam tổng tiến công (1968, 1972; 1975), đại bộ phận lực lượng giao thông vận tải của nhà nước được huy động chở hàng quân sự. Ngoài ra, các đội thuyền nan, bè, mảng, xe thồ... của nhân dân với phương thức vận tải thô sơ nhưng phù hợp cũng được động viên chuyển tải hàng hóa qua những vùng trọng điểm, nơi địch thường xuyên lùng sục, đánh phá, phong tỏa bằng nhiều loại vũ khí, bằng các thủ đoạn đánh phá hòng ngăn chặn, cắt đứt mạch máu giao thông vận tải trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:42:09 am

        Với quyết tâm cao, cơ cấu, tổ chức và bố trí lực lượng hợp lý; với vũ khí, phương tiện đảm bảo ngày càng được cải tiến và tăng cường, lực lượng phòng không, phòng thủ biển và lực lượng đảm bảo giao thông vận tải ba thứ quân của hậu phương miền Bắc thực sự là lực lượng nòng cốt phát động toàn dân tham gia chống chiến tranh phá hoại. Vì vậy, suốt những năm chiến tranh, phong trào toàn dân bắn máy bay, bắn tàu chiến Mỹ bằng mọi thứ vũ khí phát triển khắp nơi trên miền Bắc. Tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trường; dân quân các làng bản, xóm thôn đều thành lập các tổ đội bắn máy bay để vừa sản xuất vừa chiến đấu. Nhiều địa phương, các cụ phụ lão cũng tổ chức lực lượng bắn máy bay. Khắp nơi, khẩu hiệu “Chắc tay cày, tay súng”, “Chắc tay búa, tay súng” trở thành hành động thực tế của giai cấp nông dân, công nhân trong những năm chống Mỹ. Kết thúc hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, lực lượng phòng không dân quân, tự vệ đã bắn rơi 424 máy bay các loại của Mỹ (chiến tỉ lệ 10% trong tổng số máy bay Mỹ bị bắn hạ trên miền Bắc). Vùng ven biển, pháo binh bộ đội địa phương và dân quân tự vệ bắn cháy, bắn chìm 164 tàu chiến Mỹ (chiếm tỉ lệ 55,4% trong tổng số tàu chiến Mỹ bị bắn trúng ở vùng biển miền Bắc).

        Bên cạnh phong trào toàn dân bắn máy bay, tàu chiến, các địa phương còn phát động và tổ chức phong trào toàn dân giúp đỡ bộ đội, phục vụ chiến đấu, toàn dân làm công tác phòng không; toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải... Chỉ riêng phục vụ chiến đấu (tiếp đạn, kéo pháo, đào đắp công sự, cứu chữa và chăm sóc thương binh...), nhân dân miền Bắc đã đóng góp 267 triệu ngày công. Tính ra, trung bình mỗi ngày, trên miền Bắc có 92.000 lao động theo nghĩa vụ thời chiến, chiếm tới 10,5% tổng số nhân khẩu đang ở độ tuổi lao động của toàn miền Bắc (8.692.100). Trong điều kiện miền Bắc phải liên tục động viên thanh niên vào lực lượng vũ trang, vào thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, trên đồng ruộng, trong nhà máy, lao động nữ là chủ yếu thì con số trên đây là nỗ lực lớn của miền Bắc. Nó chứng tỏ sự tham gia tích cực rộng rãi và hiệu quả của quần chúng nhân dân vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Nó tạo ra lực lượng vật chất và tinh thần to lớn, góp phần quan trọng đảm bảo cho miền Bắc có đủ sức mạnh liên tục đương đầu và đánh trả có hiệu quả nhiều thủ đoạn đánh phá, vô hiệu hóa nhiều loại vũ khí hiện đại, làm thất bại các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1964 - 1968) và lần thứ hai (1972) của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc Việt Nam.

        Vượt qua bao thử thách nguy nan, khắc phục vô vàn gian khổ, ác liệt, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Bắc nêu cao quyết tâm, bền lòng đánh Mỹ. Nhờ thế, cho dù chiến tranh ngày càng khốc liệt, tổn thất về người và của ngày càng nặng nề... nhưng suốt những năm chiến tranh, miền Bắc vẫn vững vàng và ổn định; sản xuất về cơ bản không bị ngừng trệ mà tiếp tục được duy trì, hơn nữa, trên một số mặt như năng suất lúa, kinh tế địa phương... còn có bước phát triển so với những năm trước đó. Ngoài ra, đời sống của nhân dân miền Bắc, kể cả vùng tuyến lửa Khu 4 không bị xáo trộn lớn. Những nhu cầu thiết yếu trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần vẫn được đảm bảo. Giao thông, vận tải không bị ngừng trệ, ùn tắc. Mặc dù toàn bộ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, cầu cống, bến cảng, bến đậu thường xuyên bị uy hiếp hoặc bị đánh phá nặng nề nhưng nhịp độ và khối lượng vận chuyển không ngừng tăng lên, góp phần quan trọng đáp ứng kịp thời, ngày càng đầy đủ mọi yêu cầu của cuộc chiến trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam cũng như của chiến trường Lào và Cam-pu-chia.


        Leo thang đánh phá miền Bắc, mục tiêu hàng đầu của phía Mỹ là uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta. Thế nhưng, trải qua hai lần chống chiến tranh phá hoại, quân và dân hậu phương miền Bắc đã giáng trả đích đáng không quân, hải quân Mỹ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về người lái, về máy bay, về tàu chiến, làm suy giảm ý chí xâm lược của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, làm thất bại âm mưu đàm phán trên thế mạnh của họ ở Hội nghị Pa-ri...

        Cuộc chiến đấu để bảo vệ hậu phương miền Bắc là một bộ phận rất quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân của cả nước chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Đánh bại các bước leo thang của không quân và hải quân Mỹ, hậu phương miền Bắc chẳng những làm suy giảm nặng nề uy tín và sức mạnh hai lực lượng chiến lược này của Mỹ mà còn góp phần rất quan trọng cùng quân và dân ta trên chiến trường miền Nam làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Với thắng lợi qua hai lần đọ sức trực tiếp với không quân, hải quân Mỹ, hậu phương miền Bắc chứng tỏ trên thực tế sức mạnh, tính bền vững của mình. Đó là sức mạnh và tính bền vững của một hậu phương được tổ chức chặt chẽ do chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt được thiết lập và củng cố vững chắc, nhờ khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng mở rộng và tăng cường. Chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa không những là nền tảng tạo nên sức mạnh bảo vệ miền Bắc mà còn là nền tảng để miền Bắc phát huy đầy đủ thường xuyên vai trò quyết định của mình đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:45:15 am

        c. Phát huy vai trò, tác dụng của hậu phương miền Bắc

        Dựa trên nền tảng chế độ xã hội mới được xây dựng trong 10 năm hòa bình (1954 - 1964), được củng cố và bảo vệ vững chắc trong 10 năm chiến tranh (1965 - 1975), Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy đầy đủ, liên tục vai trò, tác dụng có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị, làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nhận rõ tính chất chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, mức độ quyết liệt, lâu dài của cuộc đọ sức giữa nhân dân ta với tên đế quốc hàng đầu, nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang của hậu phương miền Bắc, sức mạnh tổng hợp to lớn của quân và dân ta... Qua đó, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, giữ vững quyết tâm kháng chiến; phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, yêu chế độ trong mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc, biến chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước thành hành động cách mạng, thành phong trào thi đua sôi nổi của quần chúng. Mặt khác, Đảng, Nhà nước đặc biệt chú trọng công tác rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong gian khổ, hy sinh, đội ngũ này càng thể hiện tính tiên phong trên các mặt trận chiến đấu, giao thông, sản xuất; gắn bó chặt chẽ với nhân dân; thực sự là tấm gương cho quần chúng noi theo, được mọi người tin yêu, mến phục.

        Trên nền tảng của chế độ xã hội mới, giải quyết mối quan hệ giữa chiến đấu và sản xuất, giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài, giữa yêu cầu trung ương và yêu cầu địa phương, giữa vùng trọng điểm bị địch đánh phá... Đảng, Nhà nước đã đề ra và thực hiện có hiệu quả chính sách động viên sức người, sức của phù hợp với điều kiện thực tế của từng thời kỳ, từng địa phương.

        Đồng thời với công tác động viên, Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm và đề ra những biện pháp bồi dưỡng sức dân. Trong những năm chiến tranh, Đảng, Nhà nước chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương không những củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, đặc biệt là củng cố các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cũng vì lẽ đó hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được củng cố đã cho phép hậu phương miền Bắc động viên cao độ sức người, sức của phục vụ kháng chiến đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về quân số của chiến trường. Tại hậu phương, dựa vào tính ưu việt của chế độ xã hội mới, Đảng, Nhà nước ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế văn hóa - xã hội, chính sách phân phối thu nhập, chế độ tiền lương, chính sách thuế... theo định hướng đảm bảo duy trì và ổn định đời sống nhân dân trongchiến tranh. Đối với công nhân viên, cán bộ trong biên chế, bên cạnh tăng tiền lương, Nhà nước thi hành chính sách cung cấp theo định lượng, bán theo tem phiếu các nhu yếu phẩm với giá tương đối ổn định thống nhất. Đối với nông dân, Nhà nước chỉ đạo các địa phương, các hợp tác xã thực hiện chính sách phân phối theo phương thức kết hợp, trong đó một phần lương thực được phân phối theo nhu cầu thiết yếu căn cứ theo định suất (mức ăn đã xác định cho từng nhân khẩu) và phần này được bán theo giá cả ổn định do Nhà nước quy định, thấp hơn giá thị trường tự do. Đối với bộ phận dân cư thành thị không nằm trong biên chế, Nhà nước đảm bảo các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu theo tem phiếu theo giá thấp hơn giá thị trường tự do... Ngoài ra, việc học hành, chữa bệnh cũng được Nhà nước bao cấp phần lớn. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, chi viện cho chiến trường ngày càng tăng, việc thực hiện chính sách phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo định lượng cho mọi người dân, ổn định được đời sống nhân dân là cố gắng to lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là một chính sách cần thiết và đúng đắn, thể hiện sự chăm lo cho đời sống nhân dân của Đảng, Nhà nước.

        Trong khi đó, các cấp bộ đảng, cấp chính quyền, mặt trận và các tổ chức quần chúng đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân và giữa những vùng ít bị địch đánh phá với những trọng điểm đánh phá của địch. Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội neo đơn trong thời kỳ chiến tranh trở thành lương tâm và trách nhiệm của mọi người, mọi nhà. Chính quyền các địa phương, các tổ chức quần chúng, các trường học đã có nhiều hình thức giúp đỡ, tương trợ kịp thời hiệu quả với những người mẹ, người vợ liệt sĩ, thương binh hoặc gia đình bộ đội ở địa bàn mình trong cuộc sống, trong sản xuất. Ngoài việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, Đảng, Nhà nước ban hành các chế độ chính sách ưu tiên đối với những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đối với con em cán bộ miền Nam...

        Nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chính quyền các cấp luôn luôn chú trọng công tác sơ tán, phòng tránh, vận động và tổ chức toàn dân làm nhiệm vụ phòng không nhân dân. Nhờ thế, dù chiến tranh ngày càng ác liệt nhưng miền Bắc đã hạn chế được tối đa những tổn thất về người và của trước sự đánh phá của không quân và hải quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:47:26 am

        Nhìn chung lại, suốt những năm chiến tranh, đặc biệt trong hai cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai của không quân, hải quân Mỹ, Đảng và Nhà nước đã đề ra và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy vai trò tác dụng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn một cách mạnh mẽ, liên tục. Dù chiến tranh gây ra nhiều tổn thất, tác động tới toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; dù đòi hỏi của chiến trường ngày càng cao, nhu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng lớn và cuộc sống của người dân miền Bắc có bị xáo trộn, còn nhiều thiếu thốn, gian lao, nhưng miền Bắc luôn luôn là một hậu phương vững mạnh được tổ chức chặt chẽ. Hậu phương đó không ngừng đứng vững trước thử thách ác liệt mà còn vươn lên đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến.

        Ngay sau Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, miền Bắc bắt đầu tổ chức chi viện sức người, sức của cho miền Nam, cho cách mạng Lào và sau đó, cách mạng Cam-pu-chia. Sự chi viện đó ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường. Năm 1959, miền Bắc chi viện cho miền Nam 542 người thì năm 1964, con số đó tăng lên 17.475 người. Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên từ miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng lên gấp 4 đến 5 lần so với trước đó. Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm nhiệm vụ dự bị chiến lược và chiến đấu, công tác trên tuyến vận tải 559, chỉ riêng số quân từ miền Bắc vào các chiến trường ở miền Nam trong những năm kể trên như sau: 1968: 141.081, 1972: 152.974, 1975: 117.193.

        Năm 1975, năm cuối của cuộc kháng chiến, tổng số nhân lực miền Bắc động viên theo nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc; 60-65% trong số đó vào lực lượng vũ trang. Giai đoạn 1973 - 1975, 50% số quân bộ đội tập trung ở miền Nam là lực lượng do miền Bắc tăng cường.

        Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, lực lượng đảm bảo giao thông, mở đường và các lực lượng đảm bảo khác... bao gồm hàng chục vạn người cũng đều được động viên ở miền Bắc.

        Đại bộ phận lực lượng được động viên phục vụ nhu cầu chiến tranh thời kỳ này là thanh niên. Đó là những người trưởng thành trong chế độ xã hội mới, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, có giác ngộ, có tri thức, có phẩm chất đạo đức, có sức khỏe. Do vậy đây là lớp người có trình độ để nắm vững và sử dụng thành thạo có hiệu quả các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại1, là lớp người chiến đấu với niềm tin và ý thức giác ngộ chính trị cao.

        Về vật chất, phần lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, lương thực, thuốc men... phục vụ công tác chiến đấu và ổn định vùng giải phóng ở miền Nam là do miền Bắc chi viện. Miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất, phương tiện kỹ thuật do nước ngoài viện trợ, tổ chức nghiên cứu, thiết kế, cải biên, cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài chiến đấu, vận chuyển vượt hàng nghìn ki-lô-mét dưới bom đạn đánh phá của địch, đưa các loại vật chất vào các mặt trận, các vùng giải phóng. Trong những năm 1965 đến 1968, miền Bắc đã tổ chức vận chuyển vào miền Nam khối lượng vật chất lớn gấp 10 lần so với những năm 1961 - 1964. Tổng khối lượng vật chất mà miền Bắc chi viện cho miền Nam trong những năm chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” còn tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ “chiến tranh cục bộ”.

        Như vậy, lực lượng và vật chất - hai nhân tố chiến lược quan trọng trong chiến tranh đã được hậu phương miền Bắc đáp ứng kịp thời, đầy đủ, liên tục.

        Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, với chế độ xã hội mới được thiết lập trong 10 năm hòa bình (1954 - 1964), được bảo vệ và tỏ rõ sức sống mãnh liệt trong khói lửa chiến tranh (1965 - 1975), miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam, đặc biệt những thời kỳ cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề. Nếu từ 1955 - 1959, miền Bắc là chỗ dựa về tinh thần, là niềm tin và hy vọng của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam trong những ngày tháng chịu nhiều tổn thất hy sinh, thì từ năm 1960, đặc biệt từ năm 1965 trở đi miền Bắc không chỉ là nguồn cổ vũ tinh thần mà còn là nguồn sức mạnh vật chất to lớn của cách mạng miền Nam. Từ sau cuộc tiến công Mậu Thân năm 1968, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thế trận chiến tranh nhân dân bị suy giảm nghiêm trọng. Trước tính hình đó, miền Bắc đã đưa vào miền Nam số lượng lớn người và vật chất để khôi phục lại lực lượng và thế trận của cách mạng miền Nam. Nhiều đơn vị bộ đội chủ lực vừa từ miền Bắc vào đã phân thành các bộ phận nhỏ xuống các cơ sở làm nhiệm vụ của du kích và bộ đội địa phương. Năm 1968, 141.081 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ dân - chính - đảng và 72.499 tấn vật chất từ miền Bắc chi viện cho miền Nam. Trong ba năm tiếp theo, miền Bắc chi viện tiếp cho miền Nam 162.501 người và 111.045 tấn vật chất. Sự chi viện đó của miền Bắc đã giúp cho cách mạng miền Nam phục hồi và phát triển.

---------------
1. Trong kháng chiến chống Mỹ, binh chủng kỹ thuật chiếm khoảng 52% trong biên chế Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:48:57 am

        Như vậy, bên cạnh việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường, miền Bắc còn là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam về vật chất và tinh thần, nhất là những lúc cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, gặp nhiều khó khăn...

        Đánh bại các bước leo thang chiến tranh của không quân, hải quân Mỹ, làm thất bại các mục tiêu chiến lược chủ yếu của cuộc chiến tranh này, quân và dân hậu phương miền Bắc đã góp phần rất quan trọng cùng tiền tuyến lớn miền Nam đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

        Thành quả của công cuộc xây dựng miền Bắc, sự ổn định của miền Bắc trong những năm chống chiến tranh phá hoại, sự phục hồi nhanh của miền Nam sau năm 1972 là một trong những cơ sở để Đảng ta đề ra chủ trương chiến lược giải phóng miền Nam, hoàn thành độc lập dân chủ trong hai năm 1975 - 1976.

        Mặt khác, Đảng, Nhà nước đã động viên cao độ sức mạnh toàn diện của miền Bắc cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975: trong hai năm 1973 - 1974, 25 vạn thanh niên miền Bắc được động viên vào lực lượng vũ trang, 15 vạn quân từ biệt hậu phương vào chiến trường chiến đấu, hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong miền Bắc tới các vùng giải phóng góp phần ổn định tình hình. Lực lượng công binh, bộ đội Đoàn 559, ngành vận tải miền Bắc cùng hàng vạn dân công miền Bắc dồn sức mở rộng đường Trường Sơn, đặt thêm đường ống dẫn dầu. Trong hai năm này, 379.000 tấn vật chất từ miền Bắc được chuyển vào các mặt trận, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giao cho chiến trường trong suốt 16 năm trước đó.

        Được sự chi viện mạnh mẽ của miền Bắc, thế và lực của cách mạng miền Nam trở nên áp đảo quân địch.

        Trên miền Bắc các lực lượng dự bị chiến lược được tăng cường, các quân đoàn chủ lực gồm các đơn vị hợp thành lần lượt ra đời. Các quân binh chủng cũng xây dựng thêm nhiều đơn vị mới.

        Toàn bộ tình hình trên đây là cơ sở để Bộ Chính trị đi đến quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

        Thực hiện quyết tâm đó, 4 tháng đầu năm 1975, miền Bắc đưa nhanh vào miền Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại. Như vậy, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, miền Bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh của mình cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn. Kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc: trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là từ miền Bắc đưa vào.

        Sau ngày miền Nam giải phóng, với những kinh nghiệm tiếp quản thành thị và vùng bị địch chiếm đóng năm 1954 - 1955, với đội ngũ cán bộ đảng viên, nhân viên kỹ thuật đưa từ miền Bắc vào đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp quản các đô thị và vùng mới giải phóng; nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội ở miền Nam.

        Như vậy, suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, sở dĩ miền Bắc trở nên vững mạnh toàn diện, trở thành hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến là bởi được xây dựng và bảo vệ theo một đường lối đúng đắn và bằng những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó là: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, gắn chặt nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam, kết hợp giữa nhiệm vụ xây dựng kinh tế phát triển văn hóa với nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân củng cố nền quốc phòng toàn dân; kết hợp giữa nhiệm vụ xây dựng với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc hậu phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội. Đường lối và biện pháp đó đã đoàn kết được toàn dân, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, yêu chế độ của mọi tầng lớp nhân dân, biến quyết tâm của Đảng thành phong trào và cao trào cách mạng của đông đảo quần chúng, thành sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò có ý nghĩa quyết tâm của hậu phương miền Bắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Vai trò đó của miền Bắc thể hiện ở chỗ: nguồn cung cấp chủ yếu sức người, sức của cho cuộc kháng chiến; nơi đề ra đường lối chiến lược và sách lược trong các giai đoạn kháng chiến; cơ sở để tiến hành đường lối đối ngoại nhằm mở rộng hậu phương của cuộc kháng chiến. Ngoài ra, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên miền Bắc là niềm tin, là nguồn cổ vũ to lớn đối với đồng bào miền Nam, đối với cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ở ngoài mặt trận hay trong vùng địch chiếm đóng; thôi thúc họ bền bỉ chịu đựng gian khổ, hy sinh, anh dũng chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn. Về phương diện đó, vai trò và vị trí của miền Bắc xã hội chủ nghĩa được Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV đánh giá: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước” (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng).


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:52:14 am

B. XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ

        I. NHỮNG ĐIỀU KIỆN LIÊN QUAN TỚI VIỆC XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ

        Chín năm kháng chiến chống Pháp, ở phía nam vĩ tuyến 17, ta có những vùng căn cứ, vùng tự do. Tại đó, chính quyền và các đoàn thể cách mạng được thành lập, nhân dân đã được hưởng những thành quả bước đầu của cách mạng: bình đẳng, tự do, được chia ruộng đất, được làm chủ xóm ấp, bản làng...

        Thế nhưng, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, vùng tự do của ta trở thành vùng do đối phương kiểm soát. Những tháng ngày tốt đẹp qua mau, nhường chỗ cho những tháng năm thương đau dưới ách thống trị của kẻ thù.

        Dù vậy, vâng theo lời Đảng gọi, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào miền Nam nghiêm chỉnh thực hiện lệnh ngừng bắn, chuyển quân tới những khu vực tập kết để ra Bắc theo các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tranh thủ thời gian còn lại, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang giúp dân làm nhà, dựng trường học, xây cất lại mộ liệt sĩ, độngviên người ở lại giữ vững niềm tin, hẹn ngày trở về.

        Dù mất đất, mất tự do, thậm chí mất cả người thân thì trong mỗi người dân miền Nam, niềm tin yêu Đảng, Chính phủ kháng chiến đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh càng trở nên sâu sắc. Tình cảm đó không những không một thế lực nào, không một thủ đoan nào dù tàn bạo và thâm độc đến đâu có thể dập xóa mà còn luôn luôn được bồi đắp, trở thành nhân tố cốt lõi; thành nền móng cho việc xây dựng, mở rộng hậu phương tại chỗ trong chiến tranh cách mạng miền Nam.

        Trong khi đó, miền Bắc xã hội chủ nghĩa được thiết lập và bảo vệ vững chắc, không chỉ phát huy sức mạnh như một lực lượng vật chất mà còn là chỗ dựa tinh thần cho đồng bào, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ miền Nam. Suốt 21 năm kháng chiến, miền Bắc luôn dành cho miền Nam mọi sự giúp đỡ, chi viện to lớn, toàn diện, liên tục về vật chất lẫn tinh thần, tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam ngày càng phát triển, vùng giải phóng không ngừng mở rộng. Trong gian khổ, khó khăn, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam vẫn hướng về miền Bắc - nơi chế độ xã hội công bằng, tốt đẹp đang trở thành hiện thực, tìm thấy ở đó chỗ dựa vững chắc về tinh thần và vật chất, giúp họ giữ vững niềm tin, đẩy mạnh đấu tranh chống sự chiếm đóng và thống trị của Mỹ - ngụy.

        Trong khi đó, tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam, bản chất phản động của ngụy quân, ngụy quyền tai sai của Mỹ đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, đối lập với nhân dân là một điều kiện khiến cho Mỹ - ngụy không lôi kéo được nhân dân, không bình định được miền Nam. Suốt 21 năm chiến tranh, Mỹ - ngụy đã sử dụng nhiều bom đạn và tiền bạc, áp dụng nhiều biện pháp, nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp sự phản kháng của nhân dân miền Nam nhưng cách mạng miền Nam vẫn không ngừng phát triển, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của chiến tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược.

        Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Đảng ta phát động và tổ chức là sự kế thừa truyền thống dựng nước, giữ nước của cha ông, là tiếp nối sự nghiệp kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Đó là sự nghiệp chính nghĩa, vì quyền lợi sống còn của dân tộc nên có sức tập hợp mạnh mẽ mọi lực lượng dân tộc, yêu nước ở miền Nam. Thực tế đó được các nhà làm tổng kết chiến tranh của Bộ Quốc phòng Mỹ sau này thừa nhận: “Việt Nam dân chủ cộng hòa đã nắm được ngọn cờ dân tộc và chống thực dân, do đó, chính phủ Việt Nam cộng hòa chỉ còn lại có độc ngọn cờ chống cộng”1. Vì thế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đại đa số nhân dân miền Nam trong đó bao gồm cả một số đảng phái chính trị, tôn giáo, nghiệp đoàn... đã tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đẩy mạnh đấu tranh bằng nhiều hình thức, với những mức độ khác nhau nhằm vào Mỹ - ngụy. Đây là một thực tế để Đảng ta chủ trương phát động và tổ chức quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị; xem đấu tranh chính trị cũng là bạo lực cách mạng, là một hình thức đấu tranh cơ bản của cách mạng miền Nam. Đây cũng là điều kiện để xây dựng, củng cố, mở rộng hậu phương tại chỗ bao gồm cơ sở cách mạng, lõm chính trị, lõm du kích, căn cứ du kích ở các thành thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng miền Nam.

        Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cơ bản trên đây, việc xây dựng hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam cũng gặp không ít khó khăn. Mỹ là nước có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự đang theo đuổi chính sách bá chủ toàn cầu. Ở Việt Nam, sau mỗi lần thất bại, Mỹ lại thay đổi chiến lược chiến tranh hòng đè bẹp cách mạng miền Nam, thống trị nơi đây bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Thực hiện mục đích này, Mỹ đã chi hàng trăm tỉ đô la, sử dụng hàng trăm triệu tấn bom đạn, đưa hàng chục vạn quân chiến đấu Mỹ vào trực tiếp tiến hành chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Song song với biện pháp quân sự, Mỹ - ngụy còn thực hiện nhiều thủ đoạn chính trị, kinh tế, tư tưởng hòng lôi kéo các tầng lớp nhân dân miền Nam, tranh giành quần chúng đối với cách mạng miền Nam, qua đó tạo dựng cơ sở xã hội cho chính quyền Sài Gòn.

        Nhằm mục đích trên, ở thành thị, bên cạnh bộ máy đàn áp được tổ chức chặt chẽ, trang bị đầy đủ để khống chế chặt chẽ nhân dân, Mỹ - ngụy còn dùng nhiều thủ đoạn tinh vi tranh thủ quần chúng, lôi kéo thanh niên vào quân đội và các tổ chức tay sai, phản động khác.

        Đối với nông thôn đồng bằng miền Nam, Mỹ - ngụy chia ra thành các vùng để áp dụng các biện pháp thích đáng. Tựu trung, chúng dùng bom đạn, quân đội triệt phá làng mạc, dồn dân vào các khu tập trung hoặc để khu trục lực lượng vũ trang ta khỏi các vùng dân cư. Tiếp đó, chúng sử dụng bộ máy kìm kẹp để khống chế nông dân; dùng các biện pháp kinh tế, văn hóa - tư tưởng để lôi kéo nông dân miền Nam đứng về phía chính quyền Sài Gòn.

        Vùng rừng núi, chúng liên tiếp mở các cuộc tiến công lớn, sử dụng một khối lượng lớn bom đạn, chất độc khai quang hòng đánh phá các căn cứ, kho tàng... của ta.

        Trong điều kiện địch chiếm ưa thế về hỏa lực, sức cơ động; áp dụng nhiều thủ đoạn thâm độc về quân sự, chính trị, văn hóa - tư tưởng... quá trình xây dựng, củng cố và mở rộng hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam gặp muôn vàn gian khổ, khó khăn.

        Tình hình đó đòi hỏi những người lãnh đạo phải đề ra và thực hiện một đường lối, một chiến lược đúng đắn; phải có biện pháp tổ chức hiệu quả; qua đó phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, của ý thức dân tộc tiềm tàng trong mỗi người dân miền Nam thành sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ trên cả ba vùng chiến lược ở miền Nam.

-------------
1. Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Thư viện Trung ương quân đội sao lục, 1982.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:54:25 am

        II. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HẬU PHUƠNG TẠI CHỖ

        1. Sự hình thành và phát triển của hậu phương tại chỗ

        Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết và lệnh ngừng bắn có hiệu lực, Xứ ủy Nam Bộ, các cấp ủy đảng và chính quyền kháng chiến - hành chính ở các địa phương miền Nam khẩn trương sắp xếp, bố trí lực lượng tập kết và lực lượng ở lại. Bộ phận ở lại bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm hoạt động trong những điều kiện khó khăn, phức tạp trước Cách mạng tháng Tám và trong chín năm chống Pháp trên địa bàn miền Nam. Đây là lực lượng nòng cốt tổ chức và phát động quần chúng đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở các địa phương, việc cất giấu vũ khí, muối, một số vật chất cần thiết cho hoạt động sau này được bí mật xúc tiến. Các huyện Đức Hòa, Nhơn Ninh, Thạnh Phước, Vĩnh Đức thuộc Long An chôn nhiều hầm vũ khí đủ trang bị cho 3 trung đội vũ trang. Tỉnh Sóc Trăng chôn 4 hầm với 200 khẩu, tỉnh Kiến Tường chôn 3 hầm với 280 khẩu. Phân liên khu miền Tây để lại một số vật chất thiết yếu và 14 triệu đồng “tiền” Cụ Hồ, giao cho Ban căn cứ thuộc Xứ ủy quản lý. Ngoài vật chất, vũ khí, một số thợ cơ khí, thợ quân giới được bố trí ở lại hoạt động hợp pháp. Khi cần thiết, họ sẽ là người tập hợp lực lượng, tổ chức sửa chữa, chế tạo các loại vũ khí thô sơ. Dù số lượng không nhiều và phân bố rải rác nhưng vũ khí, lực lượng để lại là một trong những điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến buổi đầu.

        Sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Mỹ hất cẳng Pháp, thiết lập sự thống trị miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Chế độ tay sai Ngô Đình Diệm với quân đội và bộ máy đàn áp được Mỹ trực tiếp nuôi dưỡng, huấn luyện, trang bị thực hiện chính sách “tố cộng”, hòng tiêu diệt các phe phái chống đối, những người Việt Nam yêu nước, những người tham gia kháng chiến chống Pháp, những gia đình cách mạng có người thân tập kết và đặc biệt là những người cộng sản hoặc bị tình nghi là cộng sản. Chúng gom dân lập “khu trù mật”, “khu dinh điền” hòng kiểm soát chặt nhân dân miền Nam, tách người dân miền Nam khỏi sự liên hệ với những người cộng sản. Dọc các trục lộ giao thông Khu 5, dọc các cánh rừng từ Tây Ninh, Công Tum đến miền Đông Nam Bộ... một loạt khu tập trung được xây dựng. Âm mưu của Mỹ - Diệm là thiết lập một cơ cấu kiểm soát chặt cùng tiếp cận giữa rừng núi với đồng bằng nhằm bảo đảm an ninh tại các địa bàn bị tình nghi có liên hệ với cách mạng.

        Trước hành động khủng bố, trả thù của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng nặng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều nơi, cán bộ, đảng viên phải rút vào hoạt động bí mật, chuyển vùng... Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền tổ chức sản xuất tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các “trại bí mật”. Ở chiến khu Đ, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”. Vùng Đồng Tháp Mười ra đời các “túi dân tản cư”. Sâu trong miệt rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các “làng rừng”. Vùng đồng bào S.Tiêng có các “làng Độc Lập”... Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ.

        Mặt khác, từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đặc biệt những năm 1955, 1956, để duy trì sự liên hệ về mặt tổ chức Đảng giữa các vùng để xây dựng các địa bàn đứng chân của lực lượng cách mạng, Xứ ủy và Khu ủy Khu 5 đã chỉ đạo việc mở các “đường giao liên bí mật”, thành lập các Ban miền Tây, Ban căn cứ. Ở Khu 5, đến cuối 1955, đường dân liên lạc bắt đầu hình thành từ Bắc vào Nam, qua Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Công Tum... Vào tận các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Ở Đông Nam Bộ và Nam Bộ, các tuyến liên lạc cũng được thiết lập, nối kết giữa các vùng rừng núi, đồng bằng, với các đô thị. Sự liên hệ giữa các cơ sở Đảng ở nhiều địa phương vẫn được duy trì. Đường giao liên bí mật hình thành và ngày càng phát triển tạo điều kiện cho việc xây dựng tuyến hành lang, hệ thống căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền rừng núi và vùng giáp ranh những năm 1955 - 1956...

        Như vậy, trước sự bức bách của tình thế, để tự vệ để bảo tồn lực lượng, một yêu cầu lớn đặt ra cho cách mạng miền Nam là phải hình thành những vùng căn cứ làm chỗ đứng chân cho các lực lượng cách mạng. Những vùng như vậy đã xuất hiện ở miền rừng núi, ở các vùng căn cứ cũ thời kháng chiến chống Pháp. Thực tế này được Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: “Những căn cứ địa vững chắc của cộng sản đã được thiết lập ở Nam Việt Nam trong quá trình cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống lại người Pháp. Dân cư ở những vùng này vẫn duy trì mối quan hệ chặt chẽ về Đảng với Việt Nam dân chủ cộng hòa, tạo ra những vùng đất thánh an toàn và những căn cứ hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động chống Chính phủ Việt Nam”1.

--------------
1. Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Thư viện Trung ương quân đội sao lục, 1982.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:55:35 am

        Từ cuối 1956, để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập các đội vũ trang tuyên truyền, cử đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến làm ủy viên quân sự của Xứ ủy. Từ U Minh, đồng chí đã về miền Đông để chỉ đạo công tác xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy và tổ chức các lực lượng vũ trang tập trung. Từ năm 1957 trở đi, các đơn vị vũ trang tập trung xuất hiện ngày càng nhiều, bao gồm của Xứ ủy, của các tỉnh và lực lượng du kích mật của các địa phương. Cùng với quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang tập trung, yêu cầu xây dựng, củng cố và mở rộng các vùng căn cứ thành hậu phương tại chỗ cho lực lượng cách mạng, cho các đơn vị vũ trang được đặt ra và giải quyết.

        Đầu năm 1958, Xứ ủy quyết định thành lập khu căn cứ miền Đông, Khu căn cứ này nối thông với các vùng đất sát biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia theo hai hướng tây bắc và đông bắc. Ở Khu 5, tháng 2 năm 1958, tỉnh ủy Quảng Ngãi họp tại căn cứ Trà Bồng quyết định tăng cường công tác xây dựng các vùng căn cứ du kích, trọng tâm là các huyện Trà Bồng, Ba Tơ, Sơn Hòa. Hội nghị đề ra nhiệm vụ thành lập các đội tự vệ vũ trang ở các xã để bảo vệ căn cứ tổ chức sản xuất để tự túc lương thực, thực phẩm và có một phần dự trữ. Nhiều địa phương ở Quảng Ngãi đã thành lập các đội “Nông binh” làm nòng cốt trong việc bảo vệ và sản xuất ở các vùng căn cứ; tích lũy gạo muối, thuốc men. Đồng bào các dân tộc miền núi đã bí mật làm nhiều “rẫy cách mạng” nhằm đóng góp, ủng hộ lương thực cho lực lượng dân quân, du kích. Trong khi đó, một số lương thực, thuốc men, muối cũng được bí mật chuyển từ đồng bằng lên các vùng căn cứ bổ sung vào nguồn dự trữ.

        Giữa năm 1958, Liên khu ủy Khu 5 họp hội nghị mở rộng quyết định xây dựng miền tây các tỉnh đồng bằng và khu vực Tây Nguyên thành căn cứ địa cách mạng, tổ chức lực lượng vũ trang và bán vũ trang để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ và nhân dân. Sau hội nghị, việc xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng được xúc tiến mạnh mẽ. Các đơn vị vũ trang tập trung, các đội tự vệ và du kích mật đẩy mạnh hoạt động diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn vùng căn cứ và khu vực tiếp giáp với vùng địch kiểm soát. Các dân tộc Tây Nguyên tích cực rào làng, cắm chông, canh phòng. Năm 1958, một số xã ở Gia Lai, Công Tum, tây Quảng Ngãi đã thành lập “Ban tự quản”, “Ban cán sự” nhằm quản lý mọi mặt vùng căn cứ, vùng làm chủ. Đến cuối năm 1958, bên cạnh một số căn cứ có từ thời chống Pháp tiếp tục được duy trì, củng cố sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhiều vùng căn cứ mới xuất hiện dọc những miền rừng núi nối với nhau bằng các đường dây liên lạc bí mật. Các vùng căn cứ này được thiết lập ở các tỉnh Tây Nguyên, miền tây các tỉnh đồng bằng Khu 5, khu vực Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, tạo thành thế đứng mới của cách mạng miền Nam.

        Đầu năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) đã xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực, là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nhiệm vụ của các địa phương miền Nam là phải tích cực xây dựng những “cơ sở an toàn”, “khu an toàn” làm cơ sở để xây dựng lực lượng, chuẩn bị điều kiện cho bước phát triển mới của cách mạng miền Nam.

        Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Tổng Quân ủy họp bàn nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam, quyết định mở tuyến vận tải trên biển và trên bộ nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ ở miền Nam.
       
        Tại miền Nam, sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, phong trào đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của lực lượng tự vệ, lực lượng vũ trang ngày càng phát triển. Đồng thời, công tác xây dựng lực lượng, mở rộng hậu phương tại chỗ được đẩy mạnh. Dựa vào đó, các đơn vị vũ trang tăng cường các hoạt động diệt ác, phá tề, trừ gian; tiến công, bao vây, bức rút đồn bốt địch; hỗ trợ cho quần chúng đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng trên nhiều khu vực rộng lớn ở đồng bằng và rừng núi miền Nam: 800 xã trong số 1.202 xã ở Nam Bộ, 3.200 thôn, bản ở Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng Khu 5. Tại đây, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của bọn phản động chia cho dân nghèo, tổ chức lực lượng tự vệ, vũ trang, vận động nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, tham gia bảo vệ vùng giải phóng.

        Trên đà thắng lợi, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã được thành lập (12-1960), đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của cách mạng miền Nam: Từ thế giữ gìn lực lượng, lấy đấu tranh chính trị làm hình thức đấu tranh chủ yếu cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công rộng khắp, liên tục; kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt hai hình thức đấu tranh cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.

        Từ đây, cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, hậu phương tại chỗ ngày càng mở rộng và được củng cố vững chắc trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:56:27 am

        Đô thị là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của Mỹ - ngụy. Trong hơn 20 năm thống trị miền Nam, Mỹ - ngụy ra sức tăng cường lực lượng bảo vệ và bộ máy kìm kẹp khống chế chặt chẽ mọi người dân. Chúng áp dụng các biện pháp về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm biến đô thị thành hậu phương an toàn, thành căn cứ quân sự vững chắc của chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Vì vậy, cuộc đấu tranh giữa ta và địch ở địa bàn đô thị diễn ra phức tạp, quyết liệt trên tất cả các mặt. Trong cuộc đấu tranh đó, Đảng ta đã có nhiều biện pháp xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong đô thị, lấy đó làm chỗ dựa vững chắc để phát triển lực lượng, phát động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh đấu tranh bằng nhiều hình thức và với những mức độ khác nhau. Mặt khác, các cơ sở cách mạng ở đô thị còn là nơi giấu ém lực lượng và vũ khí; nơi xuất phát của các đội biệt động, đặc công tập kích vào các mục tiêu quan trọng của Mỹ - ngụy tại sào huyệt của chúng; nơi thu gom tài liệu, thuốc men, tin tức tình báo... phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Đảng.

        Vùng nông thôn đồng bằng từ Trị - Thiên qua ven biển miền Trung đến Nam Bộ là khu vực đông dân, nhiều của, có tầm quan trọng đối với ta và địch. Vì vậy đây là nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa “bình định” và chống phá bình định nhằm giành quyền kiểm soát, giành đất, giành dân. Để bình định nông thôn miền Nam, Mỹ - ngụy không từ một thủ đoạn tàn bạo, thâm độc nào hòng khuất phục nông dân miền Nam, buộc người nông dân phải rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa vào sống trong các trại tập trung “khu trù mật”, “ấp chiến lược”, “ấp tân sinh”, “ấp đời mới”. Làm như vậy, Mỹ - ngụy nhằm mục đích thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ ở đồng bằng, tách nông dân khỏi sự liên hệ với cách mạng, xóa bỏ “hạ tầng cơ sở”, của chiến tranh nhân dân bao gồm cơ sở chính trị, căn cứ du kích, vùng làm chủ và vùng giải phóng rộng lớn...

        Cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát vùng nông thôn đồng bằng diễn ra dai dẳng, quyết liệt trên tất cả mặt quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng. Trong cuộc chiến đấu đó, quân và dân miền Nam thực hiện phương châm “ba bám”, “một tấc không đi, một ly không rời”, đẩy mạnh ba mũi giáp công, không ngừng mở rộng quyền làm chủ ở nhiều vùng nông thôn, xây dựng thành làng chiến đấu, thành căn cứ du kích, thành “vành đai diệt Mỹ”, tiến tới áp sát và uy hiếp nhiều tuyến giao thông huyết mạch, nhiều đô thị, nhiều căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy mà đỉnh cao là những năm 1964 và 1968. Vùng giải phóng được củng cố, mở rộng ở nông thôn đồng bằng trở thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng, của dân quân du kích, bộ đội địa phương và các đơn vị bộ đội chủ lực.

        Vùng rừng núi bao gồm tây Trị - Thiên, Tây Nguyên, tây Khu 8, Đông Nam Bộ, dải rừng U Minh ở Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược trọng yếu cho toàn bộ chiến trường miền Nam và Nam Đông Dương. Nếu trước Đồng khởi, đây là địa bàn che giấu, bảo tồn lực lượng cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phục hồi và phát triển thì sau Đồng khởi, từ năm 1961 trở đi, vùng rừng núi trở thành địa bàn tiếp nhận sự chi viện của hậu phương miền Bắc, nơi đặt bản doanh của các cơ quan chỉ đạo miền Nam, nơi xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang tập trung. Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, vùng rừng núi là nơi ta tổ chức các trận đánh lớn nhằm thu hút, kìm chân, tiêu diệt lớn một bộ phận quan trọng chủ lực địch, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công chống phá bình định, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn đồng bằng, thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh mẽ ở các đô thị bị Mỹ - ngụy chiếm đóng. Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, địa bàn rừng núi do ta làm chủ ngày càng rộng lớn, bao gồm vùng rừng núi từ tây Trị - Thiên đến miền núi Khu 5 vào tới Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, vùng núi Khu 6; nối với vùng giải phóng Hạ Lào, vùng Đông Bắc Cam-pu-chia, vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ, vùng rừng đước Năm Căn Quân khu 9... Từ năm 1969 trở đi, do âm mưu và chiến lược của Mỹ - ngụy, Đông Dương thực sự là một chiến trường, quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia cùng chung một chiến hào đánh Mỹ, trong đó, miền Nam Việt Nam là chiến trường chính. Trong cuộc chiến đấu đó, nhiều vùng đất thuộc Cam-pu-chia và nhất là Lào trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam; miền Bắc Việt Nam là hậu phương căn cứ địa cho cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia. Trên thực tế, trong kháng chiến chống Mỹ, đã hình thành một vùng giải phóng rộng lớn thuộc ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Vùng giải phóng rộng lớn đó được xây dựng, củng cố, nối với hậu phương miền Bắc qua hệ thống đường vận tải chiến lược 559 để trở thành hậu phương trực tiếp, thành bàn đạp tiến công của các binh đoàn chủ lực quân giải phóng, uy hiếp ngày càng mạnh hệ thống phòng thủ của Mỹ - ngụy trên toàn bộ chiến trường.

        Suốt 21 năm chiến tranh, sự hình thành và phát triển của hậu phương tại chỗ gắn bó chặt chẽ với sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam. Hậu phương đó dựa vào lòng dân, bao gồm cơ sở cách mạng bí mật, khu du kích, làng chiến đấu, hệ thống vành đai, hệ thống căn cứ địa được xây dựng và không ngừng mở rộng trên khắp ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Đó vừa là điều kiện, vừa là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ hai phương thức đấu tranh: quân sự và chính trị, là điều kiện hình thành và phát triển của thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam; là kết quả của đường lối biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ mà Đảng ta, trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đã phát triển trong kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:58:26 am

        2. Xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ

        Giữ một vai trò to lớn trong suốt quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, là điều kiện để triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, thực hành chiến lược tiến công rộng khắp trên ba vùng chiến lược, hậu phương tại chỗ trở thành mối uy hiếp trực tiếp, ngày càng mạnh hậu phương, hậu cứ của Mỹ - ngụy từ nhiều hướng. Vì vậy chúng đã đề ra và thực hiện nhiều kế hoạch bình định, áp dụng mọi thủ đoạn tàn bạo, thâm độc, sử dụng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng nhằm giành đất, giành dân, thu hẹp dần và tiến tới xóa bỏ cơ sở cách mạng, lõm căn cứ, vùng làm chủ, vùng giải phóng của ta.

        Trước tình hình đó, cuộc đấu tranh chống phá bình định, duy trì, mở rộng hậu phương tại chỗ của quân và dân ta trên khắp chiến trường diễn ra quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh đó, tùy điều kiện và tình hình cụ thể, quân và dân các địa phương miền Nam vận dụng nhiều biện pháp, sáng tạo nhiều hình thức, kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh, tạo nên sức mạnh bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng xây dựng thành hậu phương tại chỗ của các lực lượng cách mạng miền Nam.

        Thành thị là căn cứ, là hậu phương quan trọng của chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, là đầu não của ngụy quân, ngụy quyền. Tại đây, địch kiểm soát khống chế gắt gao quần chúng bằng hệ thống cảnh sát, do thám, gián điệp dày đặc; bằng bộ máy kìm kẹp tới từng ngõ phố, xóm thợ. Trong tình hình đó, để phát động và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở thành thị trên cơ sở vận động quần chúng, tập hợp lực lượng, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc giải phóng bao gồm cả các tổ chức nghiệp đoàn, các tổ chức tôn giáo, các đảng phái và tổ chức chính trị đối lập với tập đoàn thống trị tay sai, các cấp ủy Đảng miền Nam luôn luôn kết hợp phong trào đấu tranh công khai với các hoạt động bán công khai và các hoạt động bí mật; ra sức xây dựng cơ sở cách mạng trong các thành thị mà lực lượng nòng cốt là các đảng viên, tổ chức Đảng, những quần chúng có giác ngộ chính trị, trung kiên trong công nhân, thanh niên, phụ nữ... Các cơ sở đó bao gồm những tổ chức bí mật, kể cả các cơ sở ngầm, mai phục lâu dài và lồng sâu trong tổ chức hoặc bộ máy của địch. Để đảm bảo cho các cơ sở này vững mạnh và trong sạch, các nguyên tắc, các biện pháp tổ chức và hoạt động bí mật, công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ nòng cốt, che giấu lực lượng được tuân thủ nghiêm ngặt. Dựa vào các cơ sở cách mạng đó, cán bộ, đảng viên hoạt động ở thành thị có điều kiện bám sát thực tiễn, bắt mạch kịp thời các động thái chính trị, quân sự của địch, có biện pháp đúng nhằm tập hợp, tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng nòng cốt và xung kích trong các khu dân cư, xóm thợ; trong các ngành, các giới, không ngừng củng cố và mở rộng cơ sở chính trị bí mật.

        Mặt khác, ta còn tìm cách thâm nhập vào các tổ chức, các nghiệp đoàn, các đảng phái chính trị, các tôn giáo và các công sở của địch; vận động và giác ngộ một số người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền, qua đó, gây dựng cơ sở cách mạng ngay trong các tổ chức của địch.

        Ở nông thôn đồng bằng vùng địch chiếm, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta bền bỉ thực hiện “ba bám”, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tổ chức thành đội ngũ bao vây, bức rút đồn bốt địch, đấu tranh chống địch cào ủi làng xóm, ruộng vườn, gom dân vào các trại tập trung; chống địch bắt lính, vây ráp; giành dân, che giấu, bảo vệ thanh niên trốn lính và đào binh, buộc địch phải ngừng các hoạt động bắn phá bừa bãi, phải bồi thường thiệt hại về tính mạng và tài sản cho nhân dân. Qua đấu tranh, sự giác ngộ chính trị của quần chúng nhân dân vùng địch kiểm soát được nâng cao, tạo điều kiện để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong các vùng bị địch chiếm đóng. Ở các địa bàn trọng điểm, ta lập ra bộ phận chỉ đạo gồm đại diện cấp ủy đảng, cán bộ chính trị, quân sự để chỉ huy thống nhất các lực lượng quân sự, chính trị để chỉ đạo các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận nhằm tạo nên sức mạnh phá rã các tổ chức kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ trên từng vùng, từng mảng, từng khu vực ngày càng rộng lớn, xây dựng các vùng này thành căn cứ, khu du kích, vùng giải phóng liên hoàn, thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng miền Nam.

        Nhìn chung, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam đan xen “cài răng lược” với vùng địch kiểm soát hoặc vùng tranh chấp. Vì vậy, để bảo vệ, phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ, hậu phương đó phải được xây dựng vững mạnh toàn diện.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 12:59:21 am

        Xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ hàng đầu vì sự vững chắc của cơ sở cách mạng, khu du kích, làng chiến đấu, căn cứ địa... trước hết dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân; dựa vào sự vững mạnh của các tổ chức chính trị của quần chúng cách mạng. Buổi đầu, tình hình mọi mặt ở vùng giải phóng, căn cứ địa phức tạp. Các tổ chức phản động do địch cài lại, các phần tử tay sai của địch thường trà trộn, lén lút hoạt động, phá hoại. Do vậy, ở những vùng mới giải phóng, cùng với việc xóa bỏ bộ máy ngụy quyền, phải thường xuyên làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và ý thức cảnh giác cho nhân dân, tổ chức nhân dân tham gia công tác bảo đảm trị an, phát hiện và đập tan các ổ nhóm phản động, các phần tử tay sai của địch.

        Chăm lo xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đảm bảo cho hậu phương tại chỗ không ngừng mở rộng và phát huy vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến. Trong giai đoạn đồng khởi, các ủy ban nhân dân tự quản hình thành ở nhiều xã, ấp ở đồng bằng và miền núi, thay thế cho chính quyền địch bị tan rã hoặc bỏ chạy. Các ủy ban này đảm nhận chức năng của chính quyền cách mạng: tổ chức nhân dân ổn định sản xuất, xây dựng cuộc sống mới; diệt trừ bọn phản động; chống các cuộc càn quét, đánh phá của địch. Tuy nhiên, ủy ban nhân dân tự quản mới là hình thức chính quyền sơ khai, mới ở cấp cơ sở và chưa thành một hệ thống. Từ khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, ủy ban mặt trận được xây dựng ở các địa phương. Đối với những địa phương chưa có chính quyền cách mạng, những vùng còn tranh chấp hoặc những vùng mới giành quyền làm chủ, ủy ban mặt trận đảm nhiệm chức năng của chính quyền cách mạng. Ở các vùng giải phóng, ủy ban mặt trận đóng vai trò của hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, ủy ban nhân dân tự quản được kiện toàn, củng cố và đóng vai trò chính quyền cách mạng cơ sở. Từ năm 1965, ủy ban nhân dân tự quản đổi thành ủy ban giải phóng nhằm nêu bật nhiệm vụ hàng đầu của chính quyền cách mạng là chống xâm lược, giải phóng đất nước. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức tuyển cử bầu ra ủy ban nhân dân cách mạng ở các địa phương. Các cuộc bầu cử thực sự là những đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân vùng giải phóng. Thông qua các cuộc bầu cử này, nhân dân ý thức sâu sắc hơn những quyền lợi mà chính quyền cách mạng đem lại; cổ vũ họ tham gia tích cực và tự nguyện vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chính quyền, bảo vệ vùng giải phóng.

        Tháng 6 năm 1969, trước yêu cầu của cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Từ đó, hệ thống chính quyền từ trung ương tới cơ sở được kiện toàn, củng cố. Hệ thống chính quyền đó đã phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn trong việc vận động và tổ chức quần chúng tham gia tích cực nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ.

        Trong sự nghiệp xây dựng và củng cố hậu phương tại chỗ, các tổ chúc chính trị của quần chúng đóng một vai trò quan trọng. Các tổ chức này tập hợp nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi hoặc theo giới và động viên mọi người thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và chính quyền, đóng góp tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Trên thực tế, ở các vùng giải phóng, các tổ chức quần chúng được thành lập như Hội Lao động giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội Nhà giáo yêu nước, Hội Liên hiệp sinh viên và học sinh, Hội những người công giáo kính chúa, yêu nước... Các tổ chức quần chúng đó thu hút ngày càng nhiều hội viên tham gia và đã phát huy tác dụng đoàn kết, động viên mọi người tham gia xây dựng, bảo vệ. vùng giải phóng.

        Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân và tính hiệu lực của chính quyền cách mạng, các cấp ủy đảng và chính quyền thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng dân quân du kích, bộ đội địa phương làm nòng cốt cho toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Bên cạnh dân quân du kích và bộ đội địa phương, lực lượng chính trị của quần chúng nhân dân được chú trọng phát triển. Nòng cốt của lực lượng này là các tổ chức chính trị của quần chúng do các cấp ủy đảng ở cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo. Năm 1960, toàn miền Nam có khoảng 12.000 bộ đội địa phương và 10.000 dân quân du kích cùng hàng chục vạn dân quân tự vệ. Lực lượng này tiếp tục được tăng cường cùng với quá trình mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng. Đến năm 1965, bộ đội địa phương của các huyện, tỉnh miền Nam lên tới 68.000 và dân quân du kích là 137.000. Đây là lực lượng nòng cốt cho việc phát động phong trào đấu tranh chống phá bình định, mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:00:48 am

        Nhưng từ giữa năm 1968 tới các năm 1969, 1970, trước sự đánh phá dữ dội vào các kế hoạch bình định thâm độc, tàn bạo của Mỹ - ngụy nhằm vào “hạ tầng cơ sở” của cách mạng miền Nam ở thành thị và nông thôn đồng bằng, lực lượng cách mạng miền Nam bao gồm cơ sở cách mạng, quần chúng cách mạng, cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang bị tổn thất nặng nề. Riêng về lực lượng dân quân du kích, nếu năm 1967, toàn miền Nam có 302.638 người thì đến cuối năm 1968, con số đó giảm xuống còn 184.081 và năm 1969 còn lại 104.744. Cùng với quá trình sút giảm lực lượng là sự thu hẹp dần vùng giải phóng, vùng làm chủ ở ven các đô thị và nông thôn đông bằng. Mất bàn đạp tiến công, bộ đội chủ lực của ta phải lùi về rừng núi. Thế trận chiến tranh nhân dân bị giảm sút nghiêm trọng...

        Như vậy, giữa việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị có mối liên quan chặt chẽ, hỗ trợ và tác động lẫn nhau. Khi nào và ở đâu, vấn đề này được các cấp ủy đảng, chính quyền và chỉ huy chú trọng giải quyết tốt thì khi đó, hậu phương tại chỗ được bảo vệ và mở rộng, thế trận chiến tranh được củng cố và phát triển.

        Đồng thời với việc xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, quân và dân các vùng giải phóng, vùng căn cứ đã xây dựng làng chiến đấu với hệ thống công sự, trận địa được bố trí, tổ chức phù hợp với điều kiện địa hình và phương án chiến đấu cụ thể từng nơi, từng lúc. Thế trận đó cho phép quân và dân ta vừa sản xuất, vừa sẵn sàng đánh địch kịp thời, hiệu quả bằng mọi loại vũ khí sẵn có. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa đó, quân và dân ta đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận, bảo vệ mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng, tạo thành thế liên hoàn, hỗ trợ cho nhau.

        Tại các vùng tranh chấp, vùng nằm sâu trong hậu phương của địch, ngoài hệ thống công sự, trận địa, quân và dân ta còn xây dựng hầm bí mật để ém giấu lực lượng, tài sản; chống các cuộc càn quét bình định của địch. Một số địa bàn xung yếu uy hiếp mạnh các mục tiêu chiến lược của địch; nơi thường xuyên bị địch đánh phá như Củ Chi, Bến Cát và những làng mạc xung quanh căn cứ quân sự Mỹ, quân và dân ta đã đào địa đạo sâu trong lòng đất, tổ chức các tuyến giao thông, giao liên bí mật liên kết các làng xã giải phóng với nhau, hình thành các tuyến trước, tuyến sau, bố trí lực lượng quân sự, chính trị phù hợp trên từng tuyến, tạo thành thế trận vững chắc bảo vệ vùng giải phóng.

        Vùng căn cứ rừng núi và khu vực giáp ranh là địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực và các cơ quan chỉ đạo kháng chiến của cách mạng miền Nam, nơi tập kết lực lượng và vật chất chi viện từ miền Bắc vào. Đây là khu vực thường xuyên bị địch đánh phá, uy hiếp bằng các cuộc hành quân quy mô lớn, bằng không quân, biệt kích, thám báo, bằng các loại vũ khí, khí tài hiện đại, kể cả chất độc khai quang và các thiết bị điện tử... Trước tình hình đó, để bảo vệ vững chắc căn cứ, kho tàng, mạng đường sá và các khu vực tập kết lực lượng, bên cạnh việc bố phòng, ngụy trang, phòng gian, tuần tra canh gác... quân và dân ta đã tích cực và chủ động tiến công quân địch, bẻ gãy các cuộc hành quân lớn của chúng đánh lên vùng căn cứ (tiêu biểu là các cuộc hành quân Át-tơn-bơ-rơ, Xê-đa-phôn, Gian-xơn Xi-ti mùa khô 1966 - 1967 đánh vào các căn cứ kháng chiến).

        Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Mỹ - ngụy luôn luôn tìm mọi cách phá hoại kinh tế, phá hoại vùng giải phóng và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc thì việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất xây dựng đời sống mới ở vùng giải phóng là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa ta và địch, là nhiệm vụ cần kíp để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng tiềm lực kinh tế - chính trị tinh thần của hậu phương tại chỗ. Thực tế những năm đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam cho thấy, nếu chỉ dựa vào nguồn chi viện từ hậu phương chiến lược, coi nhẹ nhiệm vụ sản xuất tự túc thì mỗi khi bị địch ngăn chặn quyết liệt tuyến vận tải 559, vùng căn cứ, vùng giải phóng sẽ gặp rất nhiều khó khăn mà trước tiên là về hậu cần. Những khó khăn về kinh tế, đời sống tác động đến các mặt quân sự, chính trị, tinh thần trong căn cứ hậu phương. Địch sẽ lợi dụng khó khăn của ta để đẩy mạnh đánh phá và tăng cường chiến tranh tâm lý nhằm lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam. Như vậy, đẩy mạnh sản xuất trong các vùng giải phóng, vùng căn cứ không chỉ giải quyết vấn đề kinh tế và hậu cần tại chỗ mà còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng, củng cố hậu phương tại chỗ về mặt quân sự, chính trị.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:02:33 am

        Tại những vùng vừa giành được quyền làm chủ, những vùng căn cứ và vùng giải phóng, chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động, của bọn tay sai gian ác có nhiều nợ máu chia cho nông dân, xóa bỏ các thứ tô phụ do chính quyền ngụy đặt ra trước đó. Việc chia cấp ruộng đất cho nông dân còn được thực hiện ở những vùng tranh chấp khi tình hình cho phép. Đồng thời, quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất của các tổ chức tôn giáo kể cả đồng bào di cư từ miền Bắc vào trước và sau năm 1954 cũng được bảo đảm. Ngoài ra, gia đình và vợ con của ngụy binh cũng được chia ruộng đất. Chính sách ruộng đất của Đảng thực hiện ở vùng giải phóng đã động viên, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân. Tính đến năm 1965, nông dân miền Nam đã được chia 2.100.000 ha ruộng đất1. Đến năm 1968, chính quyền cách mạng lại chia thêm hàng vạn héc-ta ruộng đất cho nông dân. Các con số trên đây có ý nghĩa không chỉ về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội. Bởi vì, sau năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành các đạo dụ tước bỏ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân miền Nam đã được cách mạng chia sau Cách mạng tháng Tám và trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Âm mưu của Mỹ - Diệm là phục hồi và câu kết với giai cấp địa chủ phản động để cướp đoạt ruộng đất của nông dân, xóa bỏ những thành quả ruộng đất mà cách mạng để đem lại cho người nông dân; hỗ trợ cho các chiến dịch đẫm máu gom dân vào “khu trù mật”, “ấp chiến lược”... thu hẹp và xóa bỏ ảnh hưởng vùng cơ sở cách mạng trong nông thôn miền Nam. Sau khi Diệm đổ, Mỹ - ngụy liên tiếp thực hiện nhiều chính sách nhằm tranh thủ, lôi kéo nông dân miền Nam, trong đó có chính sách ruột đất. Đặc biệt, trong thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ - ngụy càng chú ý vấn đề nông thôn và nông dân, xem đó là mặt quan trọng của chương trình bình định nông thôn miền Nam. Tháng 3 năm 1970, chúng ban hành luật Người cày có ruộng hòng lôi kéo nông dân tạo thành cơ sở xã hội của chế độ thực dân mới... Vì vậy, việc chính quyền cách mạng chia ruộng đất cho nông dân, xác lập quyền làm chủ của người nông dân trong các vùng giải phóng đối với loại tư liệu sản xuất cơ bản này đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi kinh tế của người lao động với chế độ chính trị - xã hội mới hình thành ở vùng giải phóng. Đó là nguồn động viên to lớn đối với các tầng lớp nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân ở các vùng làm chủ, vùng giải phóng nói riêng; cổ vũ họ trong cuộc đấu tranh chống phá bình định của địch, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới.

        Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ ruộng đất các cấp ủy đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân bám đất giữ làng, đấu tranh chống địch lấn chiếm và phá hoại kinh tế vùng giải phóng. Trong cuộc đấu tranh đó, quân và dân vùng giải phóng đã kết hợp nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu để bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ sản xuất; phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chống địch bình định, lấn chiếm vùng giải phóng. Ở nhiều địa phương, nhân dân thực hiện “hầm tốt hơn nhà tốt”, biến nơi ở thành công sự, đào đắp hệ thống hầm, hào, địa đạo... ở trong làng và ngoài đồng, tổ chức lực lượng tuần tra, canh phòng để bảo vệ làng xóm, bảo vệ sản xuất. Trong vùng địch kiểm soát, với danh nghĩa để sản xuất, nhân dân đã phá thế kìm kẹp, bỏ khu tập trung, bung về làng cũ. Phong trào quần chúng bung ra ngày càng nhiều góp phần phục hồi sản xuất, lấp dần vào các vùng trắng, tạo điều kiện xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ của ta. Ở Tây Nguyên, với phương châm “lấn đất, ép địch, giành dân, tạo thế chiến trường”, cán bộ và chiến sĩ ta đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở rộng nương rẫy dọc hai bờ sông Pô Cô, Sa Thầy, đặc biệt là ở phía đông, hình thành hệ thống nương rẫy sản xuất ở các vùng địch chiếm, các trục đường 14, 19... thu hẹp vùng chiếm đóng của địch, tạo điều kiện cho nhân dân bám trụ vùng ven, duy trì và đẩy mạnh sản xuất, thực hành các hình thức đấu tranh. Bên cạnh đòn tác chiến của lực lượng vũ trang, nhân dân vùng ven, vùng tranh chấp tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị phản đối Mỹ - ngụy cào ủi ruộng vườn, nhà cửa, mồ mả; nã pháo và giội bom phá hoại mùa màng, làng mạc; buộc địch phải bồi thường những thiệt hại mà chúng gây ra.

----------------
1. Số liệu trong Tình hình chính trị cơ bản ở miền Nam, Tài liệu của ủy ban thống nhất thuộc Hội đồng Chính phủ. Dẫn theo Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:03:30 am

        Song song với cuộc đấu tranh bảo vệ sản xuất, chống địch phá hoại kinh tế, quân và dân vùng giải phóng, vùng căn cứ thường xuyên chú trọng tăng gia sản xuất, khai thác nguồn hậu cần tại chỗ. Năm 1967, vùng căn cứ Khu 5 bị bom đạn và chất độc Mỹ phá hoại hầu hết mùa màng. Khắc phục thiếu đói, khó khăn, nhân dân vùng căn cứ khai thác sản vật của rừng làm nguồn lương thực, kiên quyết trụ bám căn cứ, đẩy mạnh khai phá nương rẫy, từng bước phục hồi sản xuất. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân, nghĩa là từ giữa năm 1968 kéo dài tới năm 1969 và năm 1970, cách mạng miền Nam gặp khó khăn và thử thách nặng nề về nhiều mặt, trong đó có vấn đề thuộc về hậu phương tại chỗ. Ở nhiều nơi, cơ sở cách mạng bị vỡ, hậu phương tại chỗ ở thành thị, vùng ven, đồng bằng bị thu hẹp, vùng căn cứ rừng núi thường xuyên bị uy hiếp, sự chi viện từ miền Bắc bị địch ngăn chặn quyết liệt. Trong tình hình đó, vấn đề bảo đảm hậu cần cho các đơn vị bộ đội chủ lực, cho lực lượng vũ trang, các cơ quan dân - chính - đảng và nhân dân vùng căn cứ trở nên bức xúc. Trong các cấp lãnh đạo, chỉ huy chiến trường xuất hiện ý kiến cho rằng cần phân tán khối chủ lực về hoạt động nhỏ lẻ ở các địa phương để khôi phục phong trào, khắc phục trở ngại khó khăn về lương thực... Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã chỉ thị cho các đơn vị vừa đánh địch bảo vệ căn cứ vừa tổ chức tăng gia sản xuất; xem tăng gia sản xuất là một nhiệm vụ cần kíp và rất quan trọng. Quân dân Khu 5 nêu khẩu hiệu “Sản xuất như đánh giặc”. Hết thảy cán bộ, chiến sĩ trong quân khu đều thực hiện “ngày sản xuất, đêm chiến đấu và công tác”. Quân khu Trị - Thiên - Huế phát động phong trào trồng 5 triệu gốc sắn. Đảng bộ, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định dành 10% quân số làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất. Một số đơn vị bộ đội chủ lực được đưa ra miền Bắc để củng cố và khắc phục khó khăn về hậu cần ở các vùng căn cứ... Những chủ trương, biện pháp trên đây đã thúc đẩy phong trào phát triển sản xuất tự túc, góp phần ổn định dần tình hình vùng căn cứ, giữ vững khối bộ đội tập trung.

        Trong điều kiện chiến tranh liên miên, địch thường xuyên càn quét, đánh phá, để duy trì và phát triển sản xuất, nhân dân các vùng giải phóng và vùng căn cứ đã phát huy mạnh mẽ truyền thống “lá lành đùm lá rách”, giúp đỡ, tương trợ nhau trong sản xuất và cuộc sống thông qua hình thức các tổ vần công và đổi công. Hình thức này ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được duy trì và phát triển trong kháng chiến chống Mỹ. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, mặc dù Mỹ - Diệm cấm đoán và khủng bố nhưng tại nhiều vùng, nông dân vẫn duy trì các tổ vần công, đổi công. Đây còn là chỗ dựa nửa hợp pháp cho cán bộ, đảng viên ta hoạt động. Sau Đồng khởi, cùng với vùng giải phóng rộng lớn hình thành, các tổ đổi công, vần công xuất hiện ngày càng nhiều; thu hút đông đảo nông dân lao động tham gia.

        Nhờ vần công, đổi công mà nông dân vùng giải phóng, vùng căn cứ khắc phục có hiệu quả sự đánh phá của địch, sự tàn phá của thiên tai; duy trì và đẩy mạnh sản xuất cả về diện tích, năng suất, thời vụ; bảo vệ sản xuất khỏi sự phá hoại của địch. Các tổ vần công, đổi công đã tổ chức cảnh giới để cày cấy thu hoạch, giúp nhau làm công sự chống bom, pháo, cất giấu trâu bò, dụng cụ, lương thực mỗi lần địch càn quét..: Ngoài ra, các tổ viên còn động viên và giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày, trong việc đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, cho việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ...

        Sản xuất được duy trì và đẩy mạnh, đời sống kinh tế tương đối ổn định tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng đời sống văn hóa mới ở các vùng giải phóng. Chính quyền cách mạng và các đoàn thể như Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng... đã vận động nhân dân tham gia bài trừ văn hóa thực dân, bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc để xây dựng đời sống văn hóa mới. Cùng với sự phát triển của cách mạng, các tổ chức văn hóa như Hội Văn học - Nghệ thuật giải phóng, Hội Nhà báo giải phóng, Đài phát thanh giải phóng, Nhà xuất bản Giải Phóng, Xưởng phim tài liệu giải phóng, các đội văn công chuyên và không chuyên ra đời với đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Hoạt động của các tổ chức đó đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, của mặt trận; xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần ở các vùng giải phóng.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:04:17 am

        Sau năm 1954, ở các “làng rừng” sâu trong các cánh rừng tràm, rừng đước U Minh (tây Nam Bộ), ở chiến khu Đ (miền Đông Nam Bộ), ở Tây Nguyên... một số cán bộ giáo dục được phân công ở lại đã tổ chức các lớp bổ túc văn hóa và dạy chữ cho cán bộ, cho con em nhân dân vùng căn cứ. Từ sau Đồng khởi, vùng giải phóng ngày càng rộng lớn. Nhiều địa phương thành lập Tiểu ban giáo dục bên cạnh ủy ban tự quản để chăm lo việc học tập ở vùng giải phóng. Được sự chi viện của miền Bắc, ngành giáo dục giải phóng nhanh chóng phát triển vươn lên đáp ứng yêu cầu “giải phóng tới đâu, mở trường tới đấy”. Đến năm 1966, toàn vùng giải phóng đã có gần 6.000 trường học phổ thông với 500.000 học sinh. Năm 1967, các trường sư phạm giải phóng đào tạo giáo viên cấp I, cấp II được thành lập. Bên cạnh giáo dục phổ thông, phong trào bổ túc văn hóa đã bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa cho hàng trăm nghìn lượt cán bộ các cấp của mặt trận, của chính quyền Cách mạng và đoàn thể quần chúng. Giáo dục giải phóng của cách mạng miền Nam cũng đã mở rộng ảnh hưởng vào các trường học ở vùng tranh chấp. Tại đây, cán bộ giáo dục giải phóng khắc phục hy sinh, gian khổ đã trụ bám địa bàn, mở lớp học cho con em nhân dân lao động. Trong khói lửa chiến tranh, ngành giáo dục giải phóng đã góp phần vào cuộc đấu tranh chống văn hóa - giáo dục nô dịch của Mỹ - ngụy, đào tạo thế hệ trẻ lòng yêu quê hương, đất nước, căm thù địch; có kiến thức, đạo đức, sức khỏe. Giáo dục giải phóng còn góp phần nâng cao trình độ chính trị, văn hóa cho nhân dân vùng giải phóng, cho cán bộ, các ngành, các cấp và lực lượng vũ trang.

        Mạng lưới y tế phát triển mạnh mẽ ở vùng giải phóng, vùng giáp ranh, vùng tranh chấp từ sau ngày miền Nam đồng khởi. Các ban dân y của các khu, tỉnh, huyện, xã lần lượt được thành lập cùng với hệ thống bệnh viện, các cơ sở bào chế, cơ sở nghiên cứu... tạo thành mạng lưới y tế điều trị, khám chữa bệnh rộng khắp. Mạng lưới này ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ nhân dân vùng giải phóng và tham gia cứa chữa thương bệnh binh từ tuyến trước gửi về. Bên cạnh số cán bộ dân y từ miền Bắc vào (bao gồm 1.641 người từ 1961 đến 1975), ngành y tế giải phóng đã thành lập hệ thống các trường trung cấp, sơ cấp y, dược; mở các lớp chuyên tu, bổ túc; đào tạo được một đội ngũ những người thầy thuốc và nhân viên y tế tận tụy trong công việc, có năng lực chuyên môn, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc kháng chiến, của các vùng giải phóng ngày càng mở rộng.

        Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Mỹ - ngụy điên cuồng phá hoại, tùy điều kiện và tình hình cụ thể, chính quyền cách mạng các cấp, các địa phương chú trọng bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho nhân dân: quyền bầu cử các cơ quan chính quyền, quyền về ruộng đất, về văn hóa - xã hội...

        Nhìn chung lại, do Đảng ta đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp đúng, động viên và phát huy được sức mạnh của lòng yêu nước, ý thức dân tộc truyền thống đoàn kết, bất khuất tiềm tàng trong mỗi người dân miền Nam nên sự nghiệp xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ thực sự là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dựa trên sự giác ngộ chính trị của nhân dân. Vì thế, mặc dù chiến tranh kéo dài và ngày càng ác liệt, kẻ thù không từ một thủ đoạn, biện pháp tàn bạo và thâm độc nào để khuất phục nhân dân, đè bẹp cách mạng miền Nam... nhưng đại đa số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân vùng giải phóng hay vùng địch chiếm vẫn giữ vững niềm tin, khắc phục gian khổ, hy sinh, vừa đẩy mạnh cuộc đấu tranh quân sự, chính trị vừa ra sức xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ. Nhờ đó, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam không ngừng mở rộng và được củng cố vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, với nhiều hình thức đa dạng, ngày càng phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:05:47 am

        3. Phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ

        Kháng chiến chống Mỹ, quân và dân trên cả nước nói chung và ở miền Nam nói riêng đụng đầu với thế lực xâm lược có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh, có bộ máy ngụy quân, ngụy quyền tay sai hung hãn, chống phá cách mạng điên cuồng ngay từ những ngày đầu khi Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được ký kết. Trong điều kiện đó, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta buộc phải trải qua chặng đường dài 21 năm mới giành được thắng lợi. Suốt chặng đường dài đó, quân và dân miền Nam phải khắc phục bao trở ngại khó khăn, phải chịu nhiều hy sinh, mất mát. Dù vậy, cách mạng miền Nam không ngừng phát triển, lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh. Một trong những nguyên nhân quan trọng của thực tế đó là cách mạng miền Nam đã dựa vào lòng dân, dựa vào sức dân để xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ làm cơ sở để bảo tồn và phát triển lực lượng cách mạng. Giai đoạn 1954 - 1959, được sự đùm bọc, che chở, nuôi giấu của nhân dân mà cán bộ, đảng viên nằm vùng mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng vẫn duy trì được lực lượng vẫn dựa chắc vào nhân dân mà tồn tại và đi lên. Trong khi đó, tại vùng rừng núi, bưng biền, một số căn cứ kháng chiến cũ được duy trì, một số khác mới hình thành là nơi xây dựng các đơn vị vũ trang, bán vũ trang; là bàn đạp thực hiện một số hoạt động tiến công quân sự vào chi khu, đồn bốt địch. Sau ngày miền Nam đồng khởi, vùng làm chủ, vùng giải phóng rộng lớn được mở ra đã tạo điều kiện để xây dựng lực lượng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Tại những vùng này, với sự tham gia tích cực của nhân dân vào nhiệm vụ sản xuất và đánh giặc, với nguồn tích trữ, cất giấu và tiếp tế từ ngoài vào, lực lượng cách mạng miền Nam có điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Lực lượng đó bao gồm các cơ quan dân - chính - đảng, lực lượng vũ trang ba thứ quân và đông đảo quần chúng nhân dân một lòng đi theo kháng chiến.

        Thời điểm cách mạng miền Nam gặp những thử thách nặng nề như những năm 1969, 1970... vai trò của hậu phương tại chỗ càng trở nên quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt và những biện pháp tàn bạo của Mỹ - ngụy, cơ sở cách mạng ở đô thị, vùng giải phóng rộng lớn và các căn cứ du kích ở đồng bằng bị thu hẹp. Mất chỗ đứng chân và bàn đạp tấn công ở vùng ven và đồng bằng, bộ đội ta phải lùi dần về căn cứ rừng núi dọc miền biên giới Việt - Lào, Việt - Cam-pu-chia. Tại đây, quân dân vùng căn cứ phải trải qua những tháng ngày đầy gian khổ, thiếu thốn, khó khăn. Bộ đội Khu 5 hy sinh hàng nghìn người trong khi đi thu gom lương thực. Bộ đội và nhân dân vừa vận chuyển vũ khí vừa phải đào củ mài, hái rau rừng thay cơm. Phụ nữ vùng căn cứ Khánh Hòa không có vải mặc phải lấy vỏ cây rừng làm quần áo, khi tải đạn phải mở lối đi riêng. Ở Khu 6 và Trị - Thiên - Huế, do địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hóa học cộng với thiên tai nên mùa màng bị mất. Mỗi tấn gạo thu gom lúc này phải đổi bằng sinh mệnh của 6, 7 chiến sĩ. Những đơn vị trực tiếp chiến đấu phía trước, mỗi người chỉ được cấp 2, 3 lạng gạo mỗi ngày. Còn ở phía sau, cán bộ, nhân dân, chiến sĩ ăn củ rừng, khoai, sắn thay cơm. Ở Tây Nguyên, toàn bộ gạo tồn lại của năm 1968 chỉ còn 1/3 so với số tồn kho năm 1967. Dự trữ lương thực đến giữa năm 1969 chỉ đủ nuôi sống bộ đội ta trong khoảng 1 tuần... Đói rét, ghẻ lở đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của bộ đội, nhân dân. Vũ khí thiếu hụt. Sức chiến đấu của lực lượng vũ trang sút giảm. Dù vậy, một lần nữa, dựa vào căn cứ rừng núi, dựa vào sự đùm bọc, che chở của nhân dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân khắc phục khó khăn, vừa đẩy mạnh tăng gia tự túc, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ vùng rừng núi, vừa bám đất bám dân, bám địch ở đồng bằng; từng bước khôi phục vùng làm chủ, vùng giải phóng, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược. Nhờ đó, cách mạng miền Nam vượt qua thời kỳ đầy thử thách, tiếp tục phát triển. Như vậy, hậu phương tại chỗ là cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng trong mọi tình huống chiến tranh.

        Mặt khác, suốt 21 năm kháng chiến, hậu phương tại chỗ là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng thế chiến lược của chiến tranh nhân dân.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:07:43 am

        Về mặt quân sự, chiến trường miền Nam hẹp, mật độ quân địch (bao gồm lực lượng vũ trang, bộ máy kìm kẹp) dày đặc. Chỉ riêng lực lượng vũ trang, địch tập trung một số lượng lớn gồm các quân binh chủng của Mỹ - ngụy, chư hầu với những vũ khí hiện đại và chi phí chiến trường khổng lồ... vượt xa mức độ và chi phí của Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên hoặc hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai. Trên một diện tích xấp xỉ 18 vạn ki-lô-mét vuông, lúc cao nhất, lực lượng vũ trang địch lên tới 1.591.356 gồm 1 triệu quân ngụy, 550.136 quân Mỹ và 70.220 quân chư hầu...

        Để đương đầu và đánh thắng địch, Đảng ta đã phát động quân và dân ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân dựa trên thế trận được xây dựng và ngày càng phát triển ở khắp ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Đó là thế trận xen cài giữa vùng ta và vùng địch tạm thời kiểm soát; bao gồm những cơ sở cách mạng, lõm căn cứ, khu du kích, vùng làm chủ, vùng giải phóng, vùng căn cứ được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và chính trị một cách tương đối hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công quân địch rộng khắp, liên tục và ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự và chính trị; bằng nhiều bình thức, với những vũ khí sẵn có trong tay. Bị bao vây, chia cắt, bị tiến công liên tục và từ mọi phía, Mỹ - ngụy buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó khiến cho ưu thế về binh lực, hỏa lực, sức cơ động của chúng bị hạn chế. Suốt cuộc chiến tranh, chúng luôn bị lâm vào tình thế giằng co, mâu thuẫn giữa chiếm đóng và cơ động, giữa phân tán và tập trung, giữa phòng giữ và tiến công, giữa “bình định” và “tìm diệt”… Trong “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” hay trong “Việt Nam hóa chiến tranh”, mặc dù số quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng kìm kẹp không ngừng tăng lên nhưng Mỹ - ngụy luôn luôn thiếu quân. Trong “chiến tranh cục bộ”, 1/3 lực lượng quân Mỹ thường xuyên buộc phải làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ trước sức tiến công, uy hiếp của quân và dân ta ở các “vành đai diệt Mỹ”. Lính thủy đánh bộ Mỹ - một trong số những binh chủng mạnh nhất của quân đội Mỹ sau khi vào miền Nam đã phải “tập trung cố gắng vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài, Đà Nẵng”1. Thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ trong những năm “chiến tranh cục bộ” là một trong những cơ sở để Đảng ta hạ quyết tâm mở cuộc tiến công và nổi dậy “Tết Mậu Thân” 1968 nhằm tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh.

        Ngoài vai trò quan trọng trên đây, hậu phương tại chỗ còn là nguồn cung cấp sức người, sức của quan trọng cho chiến trường; nơi tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí, phương tiện chiến tranh và các vật phẩm khác từ hậu phương miền Bắc chuyển vào.

        Bên cạnh sự chi viện của miền Bắc, nguồn hậu cần khai thác từ hậu phương tại chỗ đóng góp cho chiến trường một phần quan trọng. Dựa vào sự giúp đỡ ủng hộ của nhân dân vùng địch chiếm và dựa vào cơ sở cách mạng ở đô thị ta đã tổ chức thu mua và vận chuyển được một số thuốc chữa bệnh và các vật chất thiết yếu khác từ vùng địch kiểm soát. Trong các giai đoạn kháng chiến, tổ chức hậu cần của ta bao gồm hậu cần miền, quân khu, hậu cần các địa phương và hậu cần nhân dân đã trụ bám tại vùng tranh chấp, vươn sâu vào vùng địch kiểm soát tới tận hậu phương chiến lược của địch là vùng nông thôn đồng bằng đông dân, nhiều của và vùng đô thị để khai thác nguồn hậu cần ngay trong hậu phương của địch. Ngoài ra, thị trường nội địa Cam-pu-chia cũng là một địa bàn quan trọng mà tổ chức hậu cần của ta đã khai thác có hiệu quả trong suốt những năm chiến tranh. Từ năm 1969, trước những khó khăn của cách mạng miền Nam, chúng ta đã mở rộng phạm vi hoạt động hậu cần sang Cam-pu-chia. Trên chiến trường miền Nam lúc bấy giờ chỉ còn có một số đoàn hậu cần và cơ sở hậu cần bám trụ ở vùng sâu. Đó là Đoàn hậu cần 81 ở khu vực chiến khu Đ, một bộ phận lực lượng Đoàn hậu cần 82, 83 ở khu vực núi Bà Đen, Dầu Tiếng, Long Nguyên... Do kịp thời mở rộng tổ chức và phạm vi hoạt động ở Cam-pu-chia nên ta đã tạo được nguồn vật chất rất quan trọng, đủ đảm bảo cho các đơn vị vũ trang ta đang đứng chân trên đất Cam-pu-chia; đồng thời chi viện về cho các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ và chi viện một phần quan trọng ra chiến trường Tây Nguyên, tuyến 559, góp phần tích cực cùng với hậu cần trung ương giải quyết khó khăn về nguồn cung cấp và vận chuyển vật chất cho chiến trường trong những năm 1970 - 1971. Từ cuối năm 1971, bên cạnh một số đoàn hậu cần vẫn hoạt động ở Cam-pu-chia, các đoàn hậu cần của ta đã vươn sâu về chiến trường miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

------------------
1. S. L.Xetentơn, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam, Nxb Presido Press, 1986. Trích đăng trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số 8-1987.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:08:54 am

        Vùng làm chủ, vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh toàn diện và ngày càng mở rộng, đã tạo điều kiện cho việc huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến, thực hiện hậu cần tại chỗ. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân vùng căn cứ, hậu phương tại chỗ, chúng ta đã phát huy mạnh mẽ sự tham gia đóng góp của nhân dân vào nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng hậu phương tại chỗ. Đồng thời, hàng triệu lượt người được huy động phục vụ chiến đấu, hàng chục vạn thanh niên nam nữ vùng giải phóng đã gia nhập lực lượng vũ trang ba thứ quân. Từ đô thị và vùng nông thôn địch chiếm, nhiều thanh niên yêu nước đã tìm đến với cơ sở cách mạng hoặc vào vùng giải phóng gia nhập lực lượng vũ trang. Trên thực tế, suốt những năm chiến tranh, ở vùng giải phóng hay vùng địch tạm thời kiểm soát, phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam từ cụ già tới em bé đều tự nguyện tham gia, ủng hộ cách mạng bằng nhiều hành động như che giấu cán bộ, giao liên dẫn đường, đấu tranh chính trị chống địch phá hoại nhà cửa, mùa màng hoặc tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu... Về vật chất, trong 15 năm từ 1960 đến 1975, hậu phương tại chỗ đã đảm bảo 22,5% nhu cầu vật chất của lực lượng vũ trang miền Nam. Nếu tính cả số chiến lợi phẩm thu được của địch và số lương thực, thực phẩm do bộ đội tập trung sản xuất thì trong 21 năm chiến tranh, hậu cần tại chỗ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu của các chiến trường. Tỉ lệ 35% đó có ý nghĩa to lớn trong điều kiện Mỹ - ngụy thường xuyên sử dụng các biện pháp quân sự, kinh tế, chính trị để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, phá hoại và bao vây kinh tế đối với vùng giải phóng, đánh phá kho tàng, căn cứ, dự trữ chiến lược... của ta. Đặc biệt, tỉ lệ 35% mà hậu cần tại chỗ đáp ứng nhu cầu của các chiến trường càng trở nên quan trọng vào những thời điểm sự chi viện từ miền Bắc bị ngừng trệ và nguồn thu mua từ thị trường Cam-pu-chia gặp khó khăn.

        Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, nhu cầu về nhân lực và vật chất của các chiến trường ngày càng lớn. Tuyến vận tải chiến lược 559 không ngừng được mở rộng với hệ thống trục dọc, trục ngang và hệ thống đường nhánh vươn tới các chiến trường, các hướng chiến dịch để đáp ứng sự chi viện ngày càng mạnh mẽ của hậu phương miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Hầu hết mạng đường chiến lược 559 chạy qua các khu vực hậu phương của chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, vào tới Lộc Ninh của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống căn cứ hậu cần, kho chứa, trạm sửa chữa, khu vực tập kết bộ đội... cũng được bố trí ở các vùng giải phóng, vùng căn cứ dọc theo trục dọc, trục ngang và mạng đường nhánh chiến dịch thuộc tuyến vận tải chiến lược 559 và hệ thống các đường trục trong khu vực căn cứ, vùng giải phóng. Trong điều kiện vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn chủ yếu thực hiện vào mùa khô, toàn bộ số vật chất, vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh từ miền Bắc đưa vào nhằm tạo nguồn dự trữ chiến lược, cung cấp cho các chiến trường hay phục vụ cho việc xây dựng và bảo vệ vùng căn cứ, vùng giải phóng đều dồn vào một số tháng trong năm. Dựa vào hệ thống kho tàng, mạng đường trong khu căn cứ, vùng giải phóng, vật chất, vũ khí... được tiếp nhận cất giấu, bảo quản kịp thời nên đã hạn chế được hư hao, tổn thất, ùn tắc do địch lùng sục đánh phá và do thiên tai, thời tiết gây nên.

        Ở vùng ven biển miền Nam, dựa vào sự che chở của nhân dân, sự giúp đỡ của chính quyền và đoàn thể cách mạng vùng giải phóng, một số bến bãi, kho chứa tiếp nhận vũ khí do miền Bắc chi viện bằng đường biển đã được xây dựng. Năm 1962. Đoàn 926 đã mở được các bến bãi ở Cà Mau, Trà Vinh, Bến tre. Từ năm 1963 đến 1965, Đoàn 759 thuộc Miền đã xây dựng bến bãi ở vùng giải phóng Hàm Tân - Xuyên Mộc, tiếp nhận 70 tấn vũ khí, giải quyết một phần khó khăn về vũ khí của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ thời kỳ này. Tại ven biển Khu 5, khắc phục địa hình trống trải, cơ sở bí mật của ta đã tổ chức được các bến ở Vũng Rô (Phú Yên), Lộ Giao (Bình Định), Đạm Thủy (Phổ An, Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam); tiếp nhận vũ khí do Đoàn 125 hải quân chuyển giao. Cuối năm 1965, theo đường hàng hải quốc tế, tàu biển của ta đã cập bờ biển Rạch Kiến Vàng (Tây Nam Bộ) và bãi biển Cà Mau, chuyển giao cho các đơn vị chủ lực Miền 197 tấn vũ khí, đạn dược, góp phần quan trọng giải quyết vấn đề trang bị vũ khí thời kỳ đầu “chiến tranh cục bộ”.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:10:10 am

        Càng về cuối cuộc chiến tranh, hậu phương tại chỗ, đặc biệt là vùng căn cứ rừng núi càng được mở rộng, đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực lớn tập kết lực lượng, chuẩn bị điều kiện thực hiện các đòn đánh chiến lược.

        Trong cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam, tác chiến của các binh đoàn chủ lực ngày càng quan trọng - giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt những bộ phận sinh lực lớn và quan trọng của địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện để kết thúc chiến tranh thắng lợi. Một trong số những nhân tố đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực phát huy vai trò và hiệu lực trên chiến trường là hậu phương tại chỗ phải được xây dựng và mở rộng, trở thành chỗ đứng chân vững chắc và bàn đạp tiến công của các binh đoàn.

        Trong những năm “chiến tranh cục bộ”, sở dĩ Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị được thành lập và trở thành hướng tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam, thành chiến trường thu hút, giam chân và tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động địch là bởi tại đây dựa vào vùng căn cứ tại chỗ kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ sở hậu cần ở nam Quảng Bình, ta có điều kiện đảm bảo hậu cần, đảm bảo bàn đạp tiến công cho các sư đoàn, trung đoàn tử miền Bắc đưa vào.

        Những năm 1969, 1970, tại vùng căn cứ rừng núi dọc miền biên giới phía tây và vùng giải phóng của cách mạng Cam-pu-chia, của cách mạng Lào, các đơn vị bộ đội tập trung của ta được duy trì, củng cố, từng bước tăng cường lực lượng, đẩy mạnh tiến công, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở nông thôn đồng bằng và mở rộng căn cứ địa rừng núi. Bước sang năm 1971, các sư đoàn và trung đoàn bộ đội tập trung của ta mở một số chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch binh chủng hợp thành quy mô lớn đầu tiên của chủ lực ta ở Đường 9 - Nam Lào, đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ - ngụy, giữ vững và mở rộng hậu phương tại chỗ miền rừng núi phía tây. Đây là khu vực tiếp nhận, bảo quản một khối lượng vật chất, vũ khí, là địa bàn tập kết của các binh đoàn chủ lực từ miền Bắc vào, tạo điều kiện quyết định để ta thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đánh vào tập đoàn lớn quân địch trong hệ thống phòng thủ chiến lược của chúng.

        Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, quân và dân ta trên chiến trường tiếp tục đẩy mạnh tiến công, mở rộng hơn nữa hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam nói chung, của các binh đoàn chủ lực nói riêng. Hai năm 1973, 1974, một vùng giải phóng rộng lớn nối liền từ tây Trị - Thiên tới vùng rừng núi Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ được xây dựng thành hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực. Dựa vào đó, sau khi củng cố và tăng cường lực lượng, chuẩn bị thế trận, các binh đoàn chủ lực mở cuộc tiến công mãnh liệt giải phóng Tây Nguyên, tiến nhanh xuống đồng bằng, cùng quân và dân cả nước mở cuộc tiến công thần tốc giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung... góp phần tạo nên tính thần tốc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, tạo nên thế và lực áp đảo đối phương trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Được thắng lợi Tây Nguyên cổ vũ, quân và dân ta trên khắp chiến trường, từ rừng núi, đồng bằng nông thôn tới thành thị đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, làm tan rã tại chỗ chính quyền và lực lượng địch ở cơ sở, hỗ trợ cho đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực. Trên những nẻo đường quân ta tiến công, nhân dân biểu lộ sự vui mừng và ủng hộ quân giải phóng bằng nhiều hành động thiết thực. Thái độ đó của hầu hết nhân dân miền Nam tác động mạnh tới tinh thần của ngụy quân, ngụy quyền, khiến chúng bị suy sụp hoàn toàn về ý chí, bị tan rã về mặt tổ chức, buộc chúng phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:10:48 am

*

*        *

        Nhìn chung lại, trong kháng chiến chống Mỹ, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng, xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công, giữ vững quyền chủ động chiến trường, uy hiếp và thu hẹp hậu phương của địch, buộc chúng phải lâm vào tình thế bị động về chiến lược chiến thuật, phải đối phó cả phía trước, phía sau, khiến chúng không sao phát huy đầy đủ ưu thế về binh lực, hỏa lực và sức cơ động trong một trận thế đan xen, cài răng lược không phân vùng, phân tuyến.

        Sở dĩ hậu phương tại chỗ đã phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam là bởi hậu phương đó được xây dựng, bảo vệ và không ngừng mở rộng theo một đường lối đúng đắn, bằng những biện pháp hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó đã tạo được sự bền vững, tạo ra tính đa dạng và rộng khắp của hậu phương tại chỗ ở rừng núi, ở đồng bằng, ở thành thị. Tùy điều kiện từng nơi, từng lúc mà đề ra và thực hiện các biện pháp xây dựng, bảo vệ, củng cố và mở rộng hậu phương tại chỗ phù hợp với tình hình cụ thể nhưng tựu trung, phải biết tin vào nhân dân, dựa vào nhân dân, cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân, xuất phát từ quyền lợi, nguyện vọng và ý chí của nhân dân mà tìm ra các hình thức và biện pháp xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân, phát động nhân dân đẩy mạnh đấu tranh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ ngày càng vững mạnh.

        Thực tiễn chiến trường những năm đánh Mỹ cho thấy ở đâu và lúc nào công tác xây dựng, bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ được chú trọng thích đáng, được thực hiện bằng những biện pháp tích cực, đúng đắn thì các nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng đạt được kết quả rõ rệt, to lớn. Buông lỏng việc chỉ đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ, để cho địch lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ thì lực lượng cách mạng bị tổn thất, thế trận chiến tranh nhân dân bị sa sút, cách mạng miền Nam bị uy hiếp nặng nề.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:12:40 am

C. XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC

        I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI

        Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đến năm 1958, ta đã có đường dây Thống Nhất do Ban Thống nhất Trung ương tổ chức để đưa đón cán bộ, chuyển tài liệu và một số hàng cần thiết giữa miền Bắc và miền Nam. Đây là thời kỳ Mỹ - ngụy ra sức phá hoại hiệp định, đàn áp cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng, gây ra hàng loạt vụ khủng bố, tàn sát dã man, khiến cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề. Thế nhưng, trong điều kiện đó, đường dây Thống Nhất vẫn được duy trì, giữ vững.

        Bước vào năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi, bưng biền đã tạo nên thế đứng mới của lực lượng cách mạng miền Nam.

        Từ giữa năm 1959, cách mạng Lào chuyển hẳn sang thời kỳ kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập chính quyền cách mạng.

        Sau gần 5 năm (1955 - 1959) phục hồi và xây dựng mới nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực của Nhà nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và quân đội nhân dân, sự nghiệp củng cố miền Bắc thành nền gốc cho cách mạng miền Nam đã đạt được một số kết quả vững chắc. Khắc phục vấp váp, sai lầm trong cải cách ruộng đất và trong một số mặt công tác khác, miền Bắc càng tự tin hơn vào sức mạnh của mình.

        Tháng 1 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và khẳng định: con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, miền Bắc phải đẩy mạnh chi viện cho miền Nam. Trong điều kiện đó, đường dây Thống Nhất Bắc Nam không còn phù hợp. Hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ chỉ có thể phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng và sức mạnh khi nó được nối liền bằng hệ thống giao thông thông suốt. Đất nước ta dài và hẹp, nhân dần miền Bắc còn nghèo, Mỹ là nước giàu về tiềm lực kinh tế,.quân sự và có nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại... Vì vậy việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận tải nối giữa miền Bắc với chiến trường miền Nam vừa cấp thiết, vừa phức tạp và khó khăn...

        Nhận thức được tầm quan trọng cùng những phức tạp và khó khăn đó, Đảng và Nhà nước đã quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược; chỉ đạo chặt chẽ quá trình xây dựng, mở rộng, bảo vệ và phát huy vai trò, tác dụng của nó trong chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:14:36 am

        II. XÂY DỰNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC

        Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập tuyến giao liên quân sự trên bộ (Đoàn 559). Tiếp đó, tháng 7 năm 1959, tuyến vận tải đường biển chi viện miền Nam ra đời (Đoàn 759).

        Buổi đầu, tuyến vận tải đường bộ dựa vào đường dây Thống Nhất để thực hiện nhiệm vụ, chủ yếu làm công tác giao liên, vận chuyển một số vật chất bằng phương thức gùi thồ với phương châm: phòng tránh, giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ lực lượng, bảo vệ mục tiêu nhiệm vụ. Tuyến vận tải biển, do Mỹ có lực lượng hải quân mạnh, khống chế ngặt vùng biển miền Nam nên Đoàn 759 gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã tìm nhiều biện pháp, mở nhiều tuyến ven biển, vòng ra tây Trường Sa, vòng qua đông Trường Sa nhưng kết quả hạn chế. Từ năm 1962 đến năm 1972, đoàn vận tải biển chi viện miền Nam tổ chức 101 chuyến vận chuyển cho chiến trường được 5.616 tấn vũ khí, đạn dược. Việc đảm bảo chi viện chiến trường, nối liền giữa hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và Cam-pu-chia chủ yếu dựa vào tuyến vận tải chiến lược trên bộ.

        Tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị. Bộ Chính trị giao cho Quân ủy Trung ương và Ban Thống Nhất Trung ương chỉ đạo công tác quân sự ở miền Nam, quyết định tăng cường cán bộ, đẩy mạnh việc tiếp tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam và mở rộng giao thông liên lạc Bắc - Nam.

        Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng tăng cường lực lượng cho Đoàn 559 nhằm mở rộng tuyến vận tải Trường Sơn theo phương hướng: kiên trì giữ vững hành lang phía đông, khẩn trương mở đường vận tải phía tây Trường Sơn. Đồng thời, mạnh dạn áp dụng phương thức vận tải cơ giới, kết hợp với phương thức vận tải thô sơ (xe đạp thồ), chú trọng khai thác đường sông.

        Được tăng cường lực lượng và bằng những biện pháp tổ chức chặt chẽ, hiệu quả, đến giữa năm 1964, Đoàn 559 đã xây dựng được địa bàn hoạt động từ tây Quảng Bình vào đến ngã ba Biên Giới, triển khai được một số tuyến, thành lập được các cung trạm, xây dựng được tuyến hành lang nối liền miền Bắc với chiến trường miền Nam. Nhờ đó, trong 4 năm thực hiện nhiệm vụ (1961 - 1965), Đoàn đã vận chuyển bàn giao cho các chiến trường gần 3.000 tấn vật chất các loại đảm bảo hành quân cho 12.000 lượt người qua lại trên đường Trường Sơn.

        Từ năm 1965, Mỹ sử dụng không quân, hải quân leo thang đánh phá miền Bắc, đưa các đơn vị quân bộ của Mỹ và chư hầu vào miền Nam tiến hành “chiến tranh cục bộ”. Trước tình hình đó, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” là ý chí của hậu phương miền Bắc đối với cách mạng miền Nam. Từ đây, miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tăng sức chi viện cho chiến trường miền Nam, cho cách mạng Lào và Cam-pu-chia.

        Để đảm bảo vận chuyển người và phương tiện chiến tranh cùng các loại vật chất cần thiết khác vào chiến trường, trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, toàn bộ hệ thống giao thông vận tải từ miền Bắc vào các chiến trường đều được chấn chỉnh và tăng cường. Lực lượng vận tải quân sự cùng lực lượng vận tải dân sự trên miền Bắc tập trung năng lực vận chuyển tạo chân hàng cho Đoàn 559. Lực lượng phòng không, lực lượng đảm bảo giao thông tăng nhanh về số lượng; hình thành thế trận vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung bảo vệ, bảo đảm các đầu mối giao thông, các địa bàn trọng điểm.

        Trên tuyến vận tải chiến lược, Đoàn 559 được tăng cường lực lượng và phương tiện, hình thành lực lượng binh chủng hợp thành. Lực lượng này được bố trí thành thế trận đánh địch, đảm bảo giao thông và vận tải quân sự trên toàn tuyến theo phương châm vừa có lực lượng tại chỗ vừa có lực lượng cơ động mạnh. Nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật thuộc nhiều binh chủng và cơ quan dân sự được điều động vào chiến đấu, công tác trên đường Trường Sơn.

        Khắc phục gian khổ, khó khăn, cán bộ, chiến sĩ thanh niên xung phong và nhân viên kỹ thuật của Đoàn 559 đã bền bỉ, anh dũng và mưu trí đánh địch, mở đường, đảm bảo giao thông, thực hiện nhiệm vụ trung tâm là tiếp nhận các nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc (bao gồm của Tổng cục Hậu cần, của Ban Thống Nhất Trung ương, của các cơ quan nhà nước gửi vào chiến trường, gửi cho bạn Lào) và nguồn thu mua ở hướng Cam-pu-chia, tổ chức vận chuyển chi viện tới các chiến trường miền Nam và Lào, đảm bảo hành quân cho bộ đội và các đoàn cán bộ dân - chính - đảng qua lại trên đường Trường Sơn.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:16:53 am

        Bốn năm (1965 - 1968), Đoàn 559 đã chuyển tới chiến trường miền Nam và Lào gần 100.000 tấn vật chất, đảm bảo cho hơn 200.000 lượt người qua lại trên đường Trường Sơn; góp phần đánh bại “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” ở Lào; tạo điều kiện cho việc hoàn thành nhiệm vụ trong các giai đoạn tiếp theo.

        Từ năm 1969 đến năm 1972 là thời kỳ Mỹ triển khai một loạt biện pháp nhằm ngăn chặn bằng được mọi nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam, đặc biệt là tuyến vận tải chiến lược từ Bắc vào Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ áp dụng triệt để những thành tựu mới nhất của nền khoa học - công nghệ Mỹ vào mục đích ngăn chặn, tăng cường độ, mật độ đánh phá của không quân, bộ binh và các hoạt động biệt kích trên khu vực Trường Sơn và hệ thống đường ngang rẽ tới các chiến trường của tuyến vận tải chiến lược. Cùng một lúc, bộ đội Trường Sơn phải đương đầu với điều mà Mỹ mệnh danh là “chiến tranh ngăn chặn” và “chiến tranh hủy diệt” trong thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”.

        Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước chủ trương tăng cường thêm lực lượng và phương tiện để đảm bảo cho Đoàn 559 tác chiến bảo vệ giao thông, đủ sức đối phó có hiệu quả mọi âm mưu và thủ đoạn đánh phá ngăn chặn của địch, giữ vững sự chi viện cho chiến trường.

        Được tăng cường về lực lượng và phương tiện, bộ đội Trường Sơn nhanh chóng tổ chức lại đội hình, bố trí lại thế trận, điều chỉnh giới tuyến chiến đấu, hiệp đồng giữa các quân binh chủng và từng binh trạm, cải tiến hệ thống chỉ huy, tăng cường cho các trọng điểm... Rút kinh nghiệm thời kỳ “chiến tranh cục bộ”, hệ thống binh trạm, khu kho, mạng đường, các điểm vượt, các đoạn vòng tránh và việc tổ chức cung đoạn, đội hình vận tải... cũng được cải tiến phù hợp với tình hình mới... Vì vậy, mặc dù địch đánh phá ác liệt bằng bộ binh, bằng không quân; giội xuống khu vực đường Trường Sơn một khối lượng bom đạn, chất độc hóa học và các loại thiết bị điện tử hiện đại tăng gấp 4 lần thời kỳ Giôn-xơn (1965 - 1968) và gấp 20 lần thời kỳ 1960 - 1964... nhưng tuyến vận tải chiến lược vẫn không ngừng được xây dựng và mở rộng, vươn sâu và vươn xa vào các chiến trường. Nếu trong thời kỳ “chiến tranh cục bộ”, Đoàn 559 mới mở thông được trục đường 20 - cửa khẩu vượt đỉnh Trường Sơn, nối với hệ thống đường chiến lược ở sườn phía tây Trường Sơn, rút ngắn cung độ đến các hướng chiến trường... thì từ 1968 đến 1972, thêm 4 trục đường từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn được mở, bao gồm đường 18, 16, 10 và 12, tạo thành hệ thống đường vượt khẩu chống địch ngăn chặn, nâng tổng số chiều dài tuyến đường từ 2.930km (1968) lên tới gần 11.000km (1972), chưa kể 6.500km đường giao liên, gùi thồ. Nhờ đó, trong 4 năm thực hiện nhiệm vụ (1969 - 1972), tuyến vận tải chiến lược đã vận chuyển được tổng khối lượng vật chất đạt 118%; đảm bảo hành quân đạt 184 đến 190% so với chỉ tiêu; bàn giao cho các chiến trường một khối lượng vật chất và một số lượng nhân lực tăng gấp 3 - 6 lần so với 4 năm trước đó1, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và Cam-pu-chia, đặc biệt vào những thời điểm quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược 1972, quân và dân Lào mở cuộc tiến công chiến lược buộc địch phải ký Hiệp định Pa-ri và Hiệp định Viêng-chăn.

        Thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh (1973 - 1975), nhiệm vụ của tuyến vận tải chiến lược là phải tranh thủ thời cơ, “tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, tiếp tục bảo đảm hành quân vào các chiến trường... đảm bảo cho các quân khu thực hiện tốt việc tổ chức chiến trường, xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược. Đồng thời phải bảo đảm một phần nhu cầu dân sinh kinh tế, góp phần xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam và các nước bạn”2.

        Tháng 11 năm 1973, Hội đồng Chính phủ phê chuẩn kế hoạch thiết kế, mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Lực lượng công binh của Đoàn 559 và ngành vận tải miền Nam được huy động làm đường. Từ 8 trung đoàn và 65 tiểu đoàn năm 1972, lực lượng công binh của Đoàn 559 đã tăng lên 1 sư đoàn, 17 trung đoàn và 40 tiểu đoàn với tổng quân số bằng 36.341 người. Bên cạnh lực lượng công binh, lực lượng mở đường còn bao gồm 2.741 thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến... Đồng thời, Nhà nước và quân đội còn tăng cường thêm phương tiện cho Đoàn 559, bao gồm hàng nghìn xe máy các loại, xe lu, máy ép hơi, máy nghiền đá, máy san ủi...

----------------
1. 1965 - 1968: kế hoạch chi viện 85.000 tấn, hành quân 324. 000 lượt người; 1969 - 1972: kế hoạch chi viện 114.820 tấn, hành quân 598.000 lượt người. Dẫn theo Công tác vận tải quân sự chiến lược. Tài liệu lưu hành nội bộ của Tổng cục Hậu cần, 1984, tr.100.

2. Nghị quyết số 221/NQĐU 559. Dẫn theo Công tác vận tải quân sự chiến lược. Tài liệu đã dẫn, tr. 106, 107.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:18:13 am

        Khí thế chiến thắng trên khắp chiến trường cùng với việc lực lượng và phương tiện được bổ sung, được tổ chức chặt chẽ đã tạo nên sức mạnh mới, giúp Đoàn 559 nhanh chóng mở thêm 3.480km đường cơ giới với các trục dọc men theo đông và tây Trường Sơn. Số ki-lô-mét đường mới mở đó lớn hơn tổng số chiều dài giao thông được xây dựng trong vòng 13 năm trước đó. Các tuyến đường ngang hỗ trợ cũng được khai thông. Gần 5.000km đường ống dẫn nhiên liệu lỏng với hệ thống trạm bơm, bể chứa tương đối hiện đại từ hậu phương miền Bắc, men theo các trục dọc Trường Sơn, vươn tới các chiến trường. Các tuyến đường bộ phía tây được sửa chữa, bảo dưỡng, mở rộng, bảo đảm cho việc vận chuyển cơ giới theo đội hình lớn.

        Qua 16 năm xây dựng, từ lối mòn giao liên bí mật len lỏi dưới các triền rừng, với phương thức vận tải thô sơ, gùi thồ là chủ yếu, tuyến vận tải chiến lược phát triển thành hệ thống trục dọc và trục ngang, ngày càng vươn xa tới các chiến trường, vươn sâu vào các hướng chiến dịch. Tính đến năm 1975, tuyến vận tải chiến lược lên tới gần 20.000km, bao gồm 4 hệ thống trục dọc dài 6.810km, 13 hệ trục ngang dài 4.980km, 5 hệ thống đường vượt khẩu dài 700km, 1 hệ thống đường vòng tránh các trọng điểm dài 4.700km, 1 hệ thống đường ống dài 1300km, tuyến vận tải đường sông vào tới Stung-treng.

        Trên các nẻo đường, hệ thống cung binh trạm làm nhiệm vụ vận tải, điều chỉnh giao thông, cấp phát, giao liên, bảo đảm hành quân, đưa đón và điều trị thương bệnh binh; hệ thống kho trạm, trận địa phòng không, trạm sửa chữa và bảo dưỡng xe máy... cũng được xây dựng và ngày càng hoàn chỉnh, bảo đảm sự hoạt động thông suốt của con đường trong mọi tình huống.

        Dọc dài theo các tuyến, nhiều khu căn cứ dự trữ chiến lược của Bộ và các khu căn cứ hậu cần của các quân khu, các mặt trận được bố trí dưới những tán rừng Trường Sơn, tiếp cận các hướng chiến trường, đáp ứng mọi yêu cầu chiến lược, chiến dịch...

        Từ khi được đưa vào sử dụng cho tới lúc kết thúc kháng chiến chống Mỹ, tuyến vận tải chiến lược thường xuyên bị địch đánh phá dữ dội bằng nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn. Chúng mở hàng nghìn cuộc tiến công của bộ binh, hàng chục vạn cuộc đánh phá của không quân, tung hàng nghìn toán biệt kích, thám báo hoạt động sâu trong khu vực đường mòn, rải xuống các cánh rừng hàng chục triệu quả bom, mìn vướng nổ và nhiều thiết bị điện tử tinh vi cùng nhiều tấn chất độc làm trụi lá cây rừng...

        Trung bình hàng năm, mỗi ki-lô-mét thuộc khu vực đường Trường Sơn phải chịu 736 quả và loạt bom. Chỉ 2 năm 1970, 1971, ngoài 4.959.489 quả và loạt bom, cùng hàng chục vạn quả mìn và nhiều thiết bị điện tử tinh vi rải xuống đường Trường Sơn, Mỹ - ngụy còn sử dụng một lực lượng lớn quân đội đánh cắt tuyến vận tải: cuộc hành quân Chen-la 1, Chen-la 2 của 25.000 quân đánh vào vùng ngã ba Biên Giới; cuộc hành quân “Lam Sơn – 719” của 20.000 quân với sự yểm trợ của 9.000 quân Mỹ cùng 2.000 máy bay các loại đánh vào Đường 9 - Nam Lào - một chi nhánh quan trọng của tuyến vận tải chiến lược.

        Dọc các đường 14, 23, 16, 13... Mỹ - ngụy miền Nam và ngụy Lào bố trí hàng loạt cứ điểm, sân bay quân sự và hệ thống đồn bốt hòng khống chế, chặn cắt ngăn cách khu vực Trường Sơn với vùng giáp ranh và vùng đồng bằng.

        Tuyến vận tải chiến lược trở thành mặt trận nóng bỏng, quyết liệt, nơi thử thách ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm, sức chịu đựng của đôi bên.

        Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, khí hậu thời tiết phức tạp, việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận tải kéo dài hàng nghìn ki-lô-mét qua nhiều khu vực địa hình bị chia cắt mạnh đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm mà còn phải có trí thông minh, có biện pháp tổ chức lực lượng, bố trí thế trận... đúng đắn, hiệu quả.

        Buổi đầu, lực lượng công tác trên tuyến chỉ có một số đơn vị nhỏ lẻ, tổ chức thành các “trạm đường dây” với nhiều vụ xoi đường, dẫn quân, gùi thồ luồn sâu qua các vùng địch chiếm. Dần dần, trước yêu cầu chi viện chiến trường ngày càng tăng, không gian chi viện ngày càng rộng, địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, lực lượng chiến đấu và công tác trên tuyến không ngừng lớn mạnh. Lực lượng đó bao gồm các đơn vị binh chủng hợp thành như vận tải cơ giới, bộ binh, phòng không, công binh, thông tin và các lực lượng bảo đảm khác như quân y, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Đến cuối cuộc chiến tranh, chỉ riêng bộ đội Trường Sơn đã tăng đến 100.495 người, trong đó có 8 sư đoàn và cấp tương đương, 14 trung đoàn trực thuộc và cấp tương đương, lực lượng công tác, phục vụ trong các xưởng sửa chữa, khu kho, trạm xá... Toàn bộ lực lượng trên đây được tổ chức thành hai bộ phận: lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động là những đơn vị hợp thành, những đơn vị chuyên môn binh chủng thực hiện các chiến dịch vận chuyển và đánh địch trên từng hướng hoặc vào những thời điểm quan trọng, phục vụ ý đồ chiến lược chung. Lực lượng tại chỗ là những binh trạm với các bộ phận binh chủng và lực lượng phục vụ, đảm nhiệm công tác chiến đấu, vận chuyển, bảo vệ giao thông, bảo đảm hành quân... trên từng cung, chặng được giao. Giữa các bộ phận lực lượng có sự liên quan chặt chẽ, hỗ trợ, phối hợp và dưới sự lãnh đạo chỉ huy tập trung, thống nhất. Các lực lượng đó lấy việc vận chuyển, mở đường, bảo đảm hành quân, bảo vệ tuyến vận tải làm nhiệm vụ chủ yếu, trong đó nhiệm vụ vận chuyển chi viện là trung tâm.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:19:28 am

        Để hoàn thành nhiệm vụ đó, bộ đội Trường Sơn đã chủ động, tích cực quy hoạch và xây dựng mạng giao thông bao gồm nhiều trục dọc, trục ngang, đường vòng tránh, đường nghi binh; hình thành nhiều hệ thống đường cho các loại xe cơ giới, triệt để khai thác đường sông, xây dựng tuyến đường ống với hệ thống trạm bơm, bể chứa tương đối hiện đại; phối hợp với các chiến trường, các quân khu mở mạng đường chiến dịch nối với mạng đường chiến lược; cấu trúc các công trình cầu, bến vượt, bãi trú quân, bãi giấu xe; tổ chức các binh trạm, khu kho, trạm sửa chữa, bệnh viện; xây dựng các đài quan sát, trạm điều phối giao thông... Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, thế trận giao thông vận tải của tuyến ngày càng phát triển, hoàn chỉnh, đảm bảo cho việc vận chuyển liên tục, mức độ ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn bảo đảm tốt yêu cầu cơ động lực lượng của các binh đoàn chủ lực.

        Thế trận đó được mệnh danh là “Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”, khiến sự đánh phá của địch không thể nào ngăn chặn nổi nguồn tiếp tế từ miền Bắc tới các chiến trường.

        Ngoài việc xây dựng và hoàn chỉnh thế trận giao thông vận tải, bộ đội Trường Sơn còn luôn gắn chặt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược với việc tác chiến mở rộng khu vực hành lang, xây dựng địa bàn vững mạnh, xem đó là một điều kiện quan trọng làm thất bại các hoạt động ngăn chặn, phá hoại của địch; khắc phục tác động tiêu cực của địa hình và thời tiết đối với nhịp độ mở đường và vận chuyển. Ngay từ những năm sáu mươi, các trung đoàn chủ lực của ta đã phối hợp với bạn tổ chức nhiều đợt chiến đấu giải phóng một khu vực khá rộng phía tây Trường Sơn bao gồm Mường Phìn, Bản Đông (1960 - 1961) đường 12, từ Mụ Giạ đến đường 9 (1962 - 1963); Pha Lan - Đồng Hến (1964 - 1965)... Trong những năm 1970 - 1972, bộ đội ta đã giải phóng A-tô-pơ, cao nguyên Bô-lô-ven, Sa-ra-van, Pha Lan (lần 2)... Những hoạt động tác chiến đó nhằm mở rộng vùng giải phóng dọc tuyến hành lang, tạo ra sự liên hoàn giữa tuyến vận tải chiến lược với các chiến trường, qua đó, tạo nên sự vững chắc của tuyến vận tải chiến lược. Mở rộng địa bàn đến đâu, bộ đội Trường Sơn khẩn trương tổ chức triển khai các đơn vị như công binh, giao liên, cơ sở sản xuất, kho tàng... Các đơn vị này vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn vừa đảm nhiệm chức năng lực lượng vũ trang địa phương tác chiến bảo vệ địa bàn, khắc phục điều kiện thiếu vắng dân cư.

        Đối với vùng có dân, bộ đội Trường Sơn đã giúp đỡ chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng làng chiến đấu, xây dựng lực lượng bảo vệ làng bản, duy trì và đẩy mạnh sản xuất. 16 năm chiến đấu và công tác, bộ đội Trường Sơn đã góp phần bảo đảm, ổn định đời sống và sinh hoạt cho 250.000 đồng bào trên địa bàn hoạt động của mình. Đối với vùng giải phóng Lào dọc tuyến vận tải, cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn đã tích cực giúp đỡ bạn xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động chiến tranh nhân dân bảo vệ và mở rộng tuyến hành lang, xây dựng thành địa bàn vững chắc, đủ sức quét sạch bọn biệt kích, thám báo, đối phó có hiệu quả các thủ đoạn và hành động nống lấn vùng giải phóng, vùng căn cứ hành lang, làm thất bại âm mưu ngăn chặn tuyến vận tải chiến lược của Mỹ - ngụy (miền Nam, Lào, Thái Lan).

        Như vậy, trong điều kiện địch chiếm ưu thế về binh lực, hỏa lực, sức cơ động; có hệ thống căn cứ xuất phát tiến công trên chiến trường miền Nam, trên đất Lào và Thái Lan, nếu chỉ dựa vào lực lượng của bản thân thì bộ đội Trường Sơn không thể xây dựng, bảo vệ và mở rộng tuyến vận tải chiến lược với tổng chiều dài gần 20.000km; không thể đủ lực lượng rải khắp địa bàn có chiều dài 1.000km và chiều rộng 100km để bảo vệ con đường, thực hiện nhiệm vụ trung tâm là vận chuyển chi viện cho các chiến trường Nam Đông Dương. Vì vậy, bộ đội Trường Sơn luôn luôn phối hợp chặt chẽ với các chiến trường, với các đơn vị bạn, với lực lượng giao thông vận tải trên hậu phương miền Bắc và lực lượng vận tải của các mặt trận, các quân khu... tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh địch bảo vệ vận chuyển, mở rộng con đường, mở rộng hành lang, mở rộng vùng giải phóng...


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:20:40 am

        Bằng sức mạnh đó và với quyết tâm cao, lòng dũng cảm, sự mưu trí, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trên đường Trường Sơn phát huy tư tưởng tiến công, khắc phục gian khổ hy sinh, suốt bao năm ròng không tiếc tuổi xuân, không tiếc mồ hôi và máu xương vì sự nghiệp con đường đã bền bỉ và kiên cường trụ bám trận địa, trụ bám mặt đường, giữ vững mạch máu giao thông nối giữa hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Nhờ đó, suốt 16 năm, tuyến vận tải chiến lược không ngừng mở rộng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.

        Trong 16 năm, bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển một khối lượng lớn vật chất, giao cho các chiến trường 1.500.000 tấn hàng hóa, vũ khí, 5.500.000 mét khối xăng dầu; đưa đón, vận chuyển, đảm bảo hành quân trên 2 triệu lượt người. Những năm quân và dân miền Nam mở các cuộc tiến công chiến lược, miền Bắc tăng sức chi viện cho chiến trường, tuyến vận tải chiến lược đảm bảo chuyển từ bậu phương ra tiền tuyến một khối lượng vật chất và quân số gấp 4 đến 5 lần những năm trước đó. Do vậy, sự thông suốt và năng lực đảm bảo hành quân, vận tải chi viện của Tuyến 559 đóng vai trò to lớn trong việc tập kết lực lượng và vật chất, tạo nguồn dự trữ chiến lược cùng quân và dân cả nước nói chung, quân và dân miền Nam nói riêng thực hành thắng lợi các đòn (đánh) chiến lược làm chuyển biến cục diện chiến trường.

        Càng về cuối cuộc chiến tranh, yêu cầu của chiến trường ngày càng cao, nhiệm vụ của tuyến vận tải chi viện chiến lược ngày càng nặng nề. Nhờ tăng cường lực lượng nhanh chóng, mở rộng mạng đường chiến lược và chiến dịch, Tuyến vận tải 559 đã đảm bảo cho cách binh đoàn chiến lược, các đoàn cán bộ dân - chính - đảng cơ động gấp vào chiến trường, nhận từ các mặt trận chuyển ra 22 vạn thương binh, vận chuyển bàn giao cho các mặt trận, các hướng chiến dịch một khối lượng vật chất bằng tổng số vật chất đã giao cho các chiến trường trong suốt 13 năm trước đó (1959 - 1972), tạo được một khối lượng vật chất dự trữ 240.000 tấn trong tổng khối lượng vật chất dự trữ chiến lược 255.000 tấn trước khi chiến dịch hạch sử Hồ Chí Minh mở màn.

        Với hệ thống hậu cần bảo đảm được bố trí dưới các cánh rừng Trường Sơn mênh mông, dọc theo các cung đường, vươn theo các hướng chiến dịch, tuyến vận tải chiến lược trở thành chỗ đứng chân, bàn đạp xuất phát tấn công thành hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực.

        Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, một số binh trạm và mạng quân y, thông tin, vận tải, công binh... của Đoàn 559 đã góp phần tích cực vào quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến của các binh đoàn chủ lực như đoàn 70, sư đoàn 324, sư đoàn 2 và các binh chủng kỹ thuật tham gia chiến dịch. Đồng thời, lực lượng phòng không và các đơn vị thuộc Đoàn 559 đóng vai trò là lực lượng tại chỗ đã kìm chân, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực tiến công và phản công trên các hướng chiến dịch, đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn – 719” của 3 sư đoàn quân đội Sài Gòn được quân Mỹ chi viện.

        Trong những năm 1973, 1974, để chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy khi thời cơ tới, bộ đội Trường Sơn phối hợp với các đơn vị bạn đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt và bức rút các vị trí khống chế hành lang phía đông, mở rộng tuyến hành lang đông Trường Sơn. Tuyến hành lang này đã nối thông từ đường 9 qua các khu vực hậu phương tại chỗ của chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và đến Lộc Ninh (miền Đông Nam Bộ). Trong khi đó, các chiến trường khác cũng đẩy mạnh tác chiến mở rộng địa bàn, xây dựng mạng đường chiến dịch nối từ các trục của Tuyến 559 tới các vùng giáp ranh, áp sát các vùng hậu phương và vùng kiểm soát của địch. Dọc theo các tuyến vận chuyển, hệ thống hậu cần, khu kho, trạm cấp phát xăng dầu, trạm sửa chữa, quân y, thông tin... của Đoàn 559 được triển khai, bố trí tiếp cận với các căn cứ hậu cần của các chiến trường, các quân khu, tạo thành thế trận hậu cần vững chắc...

        Như vậy, vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, khu vực đường Trường Sơn trở thành căn cứ chiến lược rộng rãi lớn nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam; gắn vùng Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia, Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ thành thế trận hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực. Từ địa bàn Trường Sơn, nhiều binh đoàn chủ lực đã tiến xuống đồng bằng phối hợp với lực lượng tại chỗ giải phóng Huế - Đà Nẵng và vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Từ địa bàn Nam Tây Nguyên, nhiều binh đoàn chủ lực đã tiến quân về tham gia lực lượng đánh chiếm và giải phóng Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:22:10 am

        Suốt 16 năm, Tuyến vận tải chiến lược 559 còn đảm bảo vận chuyển chi viện cho cách mạng Lào, tạo điều kiện cho việc cùng bạn giải phóng và giữ vững vùng rộng lớn, xây dựng thành khu vực hậu phương trực tiếp của cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.

        Trong những năm kháng chiến chống Pháp, để đáp ứng yêu cầu của sự liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc Việt - Miên - Lào, trên địa bàn Trường Sơn đã hình thành những nẻo đường giao liên. Những nẻo đường đó liên kết các căn cứ kháng chiến của Cam-pu-chia và Lào với các căn cứ kháng chiến của cách mạng Việt Nam ở phía đông dãy Trường Sơn thuộc Tây Nguyên, Khu 5, Trị - Thiên, Khu 4...

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cách mạng ba nước cùng chung một kẻ thù xâm lược. Do vậy, truyền thống đoàn kết chiến đấu, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng ba nước tiếp tục được củng cố và phát triển suốt những năm đánh Mỹ. Về phương diện đó, sự ra đời và quá trình mở rộng tuyến vận tải chiến lược trên khu vực Trường Sơn mênh mông không chỉ xuất phát từ nhu cầu của cách mạng Việt Nam mà còn nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng Lào và Cam-pu-chia.

        Suốt 16 năm xây dựng, tuyến vận tải chiến lược đó đã không ngừng mở rộng, vươn sâu, vươn xa, trở thành hậu phương tại chỗ, thành căn cứ vững chắc của cách mạng ba nước, nối liền hậu phương tại chỗ của cách mạng ba nước với hậu phương chiến lược miền Bắc. Nhờ đó, sự chi viện của miền Bắc và bạn bè quốc tế cho cách mạng hai nước Lào, Cam-pu-chia luôn luôn được giữ vững và ngày càng tăng cường với sự mở rộng của tuyến đường. Từ năm 1959 đến năm 1964, tuyến vận tải chiến lược đã đảm bảo vận chuyển và hành quân cho chiến trường miền Nam và Lào được 10.136 tấn cùng hàng nghìn tấn vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho cách mạng Lào. Trong các năm 1967 đến 1969, vận chuyển chi viện cho chiến trường Lào và các đơn vị hành quân đạt từ 105% đến 115% chỉ tiêu kế hoạch. Năm 1970, tuyến vận tải chiến lược đã chuyển trên 5.000 tấn vũ khí, đạn dược phục vụ kịp thời cho lực lượng giải phóng Cam-pu-chia phối hợp với quân giải phóng miền Nam đập tan cuộc hành quân “Chen-la”. Các đơn vị tình nguyện của Tuyến 559 phối hợp với quân và dân Lào đánh địch, giải phóng một vùng rộng lớn phía tây bao gồm A-tô-pơ, Sa-ra-van, Keng-cốc, Pha Lan... Từ sau cuộc đảo chính của Mỹ - Lon-non, đường vào cảng Xi-ha-núc Vin bị cắt đứt, toàn bộ vật chất chi viện cho lực lượng quân giải phóng Cam-pu-chia đều do Đoàn 559 đảm nhiệm. Hai năm 1973 - 1974, Tuyến 559 đã vận chuyển chi viện chiến trường Lào, Cam-pu-chia và miền Nam một khối lượng vật chất gấp 3,8 lần giai đoạn 1969 - 1972 và bằng 65,5% tổng khối lượng vận chuyển chi viện trong 17 năm trước đó (1955 - 1972), tạo điều kiện thuận lợi cho bạn tiến lên giành thắng lợi vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.

        Như thế, quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược và thực hiện thắng lợi quyết định đó là một trong những thành công lớn trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Nhà nước, là biểu hiện của ý chí, sức mạnh, trí thông minh, lòng dũng cảm của con người Việt Nam trong những năm chống Mỹ; biểu hiện của tình đoàn kết chiến đấu và giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào, Cam-pu-chia.

        Kết quả hoạt động của tuyến vận tải chiến lược tác động trực tiếp tới quy mô, cường độ của các hoạt động trên chiến trường ba nước Đông Dương. Càng về cuối cuộc chiến tranh, tác chiến binh chủng hợp thành của các binh đoàn chiến lược càng đóng vai trò quan trọng. Để bảo đảm cho hoạt động của các binh đoàn đó, phải có hệ thống hậu cần và đảm bảo kỹ thuật cùng địa bàn tập kết, bàn đạp tiến công, mạng đường cơ động lực lượng... Tuyến vận tải được mở rộng trên hai cánh đông và tây Trường Sơn đã biến một vùng rừng núi rộng lớn theo dải Trường Sơn thành địa bàn chiến lược của cách mạng ba nước, thành hậu phương trực tiếp đủ sức vận chuyển quy mô lớn, đủ sức tạo lập nguồn dự trữ chiến lược, đủ sức bảo đảm hậu cần và bàn đạp xuất phát tiến công cho các binh đoàn chiến lược lớn thực hành tác chiến hiệp đồng quân binh chủng...

        Để bảo vệ, mở rộng và phát huy đầy đủ hiệu lực của tuyến vận tải chiến lược, ngoài ý chí và quyết tâm cao, phải có biện pháp tổ chức chỉ huy, tổ chức lực lượng, bố trí thế trận, phối hợp hiệp đồng giữa các bộ phận lực lượng trên toàn tuyến và giữa lực lượng Đoàn 559 với các chiến trường, các đơn vị bạn, với lực lượng giao thông vận tải trên miền Bắc và các đoàn hậu cần của các chiến trường, các quân khu. Ngoài ra, phải không ngừng tác chiến mở rộng vùng giải phóng dọc theo tuyến hành lang; xây dựng thành địa bàn vững mạnh, thành căn cứ tự bảo vệ của tuyến vận tải chiến lược....


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:23:38 am

D. MỘT SỐ NHẬN XÉT

        Hình thành sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển những kinh nghiệm của thời kỳ trước, theo một đường lối thống nhất, bằng những biện pháp có hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó đã tập hợp, đoàn kết, khơi dậy và phát huy được sức mạnh tiềm tàng và to lớn của lòng yêu nước và ý thức dân tộc, của trí thông minh, lòng dũng cảm, sự táo bạo, khả năng chịu đựng bền bỉ trước mọi thử thách đầy phức tạp và khó khăn của mọi người Việt Nam vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ nói chung, vào việc xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnh liên tục, ngày càng tăng của hậu phương nói riêng.

        Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ không ngừng mở rộng, bao gồm hậu phương chiến lược miền Bắc, vùng giải phóng miền Nam, cơ sở cách mạng trong lòng hậu phương của địch và căn cứ du kích, vùng làm chủ xen cài với vùng địch kiểm soát, tuyến vận tải chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ trên các chiến trường của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Trải bao năm chiến tranh, hậu phương đó ngày càng phát triển, áp sát và đẩy lùi vùng kiểm soát và hậu phương, hậu cứ của địch. Hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ còn bao gồm lòng dân vùng địch chiếm vẫn thủy chung với cách mạng, luôn hướng về kháng chiến, về miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vượt ra ngoài biên giới, hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ còn là sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước anh em, bầu bạn; sự đồng tình, cổ vũ của dư luận quốc tế, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Hậu phương của ta càng mở rộng, hậu phương của cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam càng bị đẩy lùi, thu hẹp. Nó trở thành áp lực tác động mạnh tới quá trình điều hành chiến tranh của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ ở Oa-sinh-tơn và của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MACV)... Được như vậy là bởi tính chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến mà nhân dân ta tiến hành, bới đường lối chính trị, đường lối quân sự, đường lối đối ngoại và đối nội của Đảng, Nhà nước ta đúng đắn, sáng tạo, độc lập tự chủ, phù hợp với thực tiễn chiến tranh, thực tiễn chiến trường, thực tiễn truyền thống và con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Được như vậy còn bởi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ là sự kế tục truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha, là sự tiếp tục kháng chiến chống Pháp vì độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, phù hợp với nguyện vọng sâu xa của mọi người Việt Nam yêu nước...

        Trải suốt 21 năm chiến tranh dằng dặc và ngày càng ác liệt, hậu phương đã phát huy ngày càng đầy đủ mạnh mẽ vai trò, tác dụng to lớn vào các lĩnh vực hoạt động chiến tranh, vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ. Quy mô hoạt động và kết quả của mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ trên chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ tùy thuộc một phần quan trọng vào sự lớn mạnh và khả năng đáp ứng về nhân lực, vật lực của hậu phương cho chiến trường, cho các nhu cầu của chiến tranh. Hậu phương được cấu thành bởi nhiều nhân tố địa lý, con người, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, đường lối đối nội, đối ngoại của Nhà nước... Do đó, mọi tác động liên quan tới hậu phương, mọi biến động của bản thân hậu phương đều ảnh hưởng tới chiến trường.

        Từ năm 1954 đến 1959 là quãng thời gian miền Bắc ra sức khắc phục hậu quả hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp và 9 năm tàn phá của chiến tranh, tạo dựng nền móng của một quốc gia, làm cho miền Bắc trở thành hậu phương căn cứ địa của cách mạng miền Nam, cách mạng cả nước. Đó là quãng thời gian không thể nào khác được. Hơn nữa, trên con đường xây dựng một chế độ xã hội mới, chúng ta phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm đòi hỏi phải có thời gian khắc phục. Trong khi đó, cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề về tổ chức và lực lượng. Một số căn cứ có từ thời chống Pháp được duy trì, một số căn cứ mới hình thành ở miền rừng núi. Đó là điều kiện cho việc xây dựng một số đơn vị vũ trang tập trung, phổ biến là cấp trung đội... Vì vậy thời kỳ này, ở miền Nam, chúng ta buộc phải thực hành phương thức đấu tranh chính trị là chủ yếu nhằm bảo tồn lực lượng, chuẩn bị điều kiện (ở cả miền Bắc, miền Nam, trong nước và quốc tế) cho bước phát triển tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:24:45 am

        Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương và phong trào đồng khởi toàn miền Nam đã đưa cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn phát triển mới. Từ đây, miền Bắc vừa ra sức thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất vừa tổ chức chi viện cho chiến trường. Tuyến vận tải chiến lược trên bộ và trên biển ra đời, nhanh chóng khai thông luồng đường và tổ chức tiếp tế, chi viện cho cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Sau Đồng khởi, một vùng giải phóng rộng lớn mở ra. Vùng giải phóng đó được xây dựng và củng cố thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, thành chỗ đứng chân cho mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cho các đơn vị vũ trang tập trung. Được sự chi viện của hậu phương miền Bắc và dựa vào hậu phương tại chỗ ngày càng mở rộng, lực lượng cách mạng nói chung, lực lượng vũ trang giải phóng nói riêng nhanh chóng lớn mạnh về tổ chức, về biên chế, về trang bị, về quân số, về khả năng tác chiến.

        Mặt khác, dựa vào hậu phương tại chỗ, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh tiến công quân địch về quân sự, chính trị, binh vận; mở rộng vùng giải phóng, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cả ba vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam vừa tăng cường lực lượng, vừa thực hành chiến lược tiến công rộng khắp và mạnh mẽ theo phương châm “hai chân, ba mũi” trên cả ba vùng, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

        Sau gần 10 năm miền Bắc xây dựng trong điều kiện hòa bình và sau gần 5 năm cách mạng miền Nam bước ra khỏi thế giữ gìn lực lượng, phát triển mạnh mẽ, hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ, tuyến vận tải chiến lược được xây dựng và củng cố vững chắc. Đó là một cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước ta hạ quyết tâm chiến lược đánh thắng “chiến tranh cục bộ” trên chiến trường miền Nam và chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên miền Bắc. Trên cơ sở phân tích một loạt các nhân tố liên quan đến hai bên, trong đó có nhân tố hậu phương, Đảng và Nhà nước ta cho rằng: Trong “chiến tranh cục bộ” mặc dù Mỹ đưa quân vào chiến trường miền Nam tham chiến nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn... Do đó quân và dân miền Nam có đầy đủ điều kiện để đẩy mạnh chiến lược tiến công, giữ vững chính quyền chủ động trên chiến trường. Sự vững mạnh toàn diện của hậu phương miền Bắc sau 10 năm xây dựng đảm bảo cho miền Bắc cùng một lúc thực hiện ba nhiệm vụ: vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa đẩy mạnh chi viện sức người sức của cho chiến trường.

        Sau gần 3 năm trực tiếp đương đầu với bộ binh, với không quân và hải quân của Mỹ - ngụy, quân và dân ta trên khắp hai miền đã làm thất bại một bước các biện pháp, các mục tiêu chiến lược của “chiến tranh cục bộ”. Hậu phương miền Bắc vững vàng và dạn dày thêm trong khói lửa chiến tranh. Hậu phương tại chỗ trên chiến trường miền Nam cũng ngày càng mở rộng, áp sát, bao vây căn cứ quân sự, các vùng đô thị, các tuyến giao thông huyết mạch. Tình hình đó đặt Mỹ trước thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược; cho phép ta mở cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ vào đầu Xuân Mậu Thân 1968, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

        Từ giữa năm 1968 kéo dài sang năm 1969, 1970, cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề. Hậu phương tại chỗ ở thành thị và vùng nông thôn đồng bằng bị thu hẹp. Mất bàn đạp tiến công, các đơn vị vũ trang ta lùi dần về rừng núi, sang bên kia biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Nhiều đoàn hậu cần của Miền cũng phải lật cánh hoạt động sang Cam-pu-chia, chỉ để lại một bộ phận gọn nhẹ tiếp tục hoạt động trên chiến trường miền Nam. Một số đơn vị vũ trang tập trung Khu 5 phải phân tán thành bộ phận lực lượng nhỏ hơn để khắc phục khó khăn về vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men. Trong điều kiện hậu phương tại chỗ bị thu hẹp; thế trận chiến tranh nhân dân bị sa sút, vai trò của hậu phương miền Bắc và Tuyến vận tải chiến lược 559 càng đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, bước ra khỏi cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1964 - 1968), miền Bắc phải dành một thời gian nỗ lực để khắc phục hậu quả chiến tranh phục hồi sản xuất, ổn định mọi mặt trong khi vẫn duy trì sự chi viện toàn diện cho cách mạng miền Nam, cho cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Để giữ vững sự chi viện đó, các binh đoàn chủ lực miền Bắc phối hợp với lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn - 719” của quân đội Sài Gòn, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược khu vực Đường 9 - Nam Lào (1971).

        Tiếp đó, đầu năm 1972, từ miền Bắc, các binh đoàn chủ lực hành quân vào Nam mở cuộc tiến công chiến lược. Trên miền Bắc, quân và dân ta đập tan cuộc tập kích của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, đánh bại các mục tiêu của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của không quân và hải quân Mỹ. Như vậy, sức mạnh của hậu phương miền Bắc là một trong những nhân tố quyết định tạo nên thắng lợi to lớn năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri.

        Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh (1973 - 1975), miền Bắc dồn sức chi viện cho chiến trường. Được sự chi viện mạnh mẽ, to lớn, toàn diện của hậu phương miền Bắc, thế và lực của cách mạng miền Nam chuyển biến nhanh chóng, áp đảo quân địch. Thời cơ chiến lược lớn giải phóng hoàn toàn miền Nam xuất hiện.

        Với khí thế “một ngày bằng 20 năm”, miền Bắc xã hội chủ nghĩa dốc toàn sức mạnh tiềm tàng cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        Như vậy, vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, sự chi viện kịp thời, to lớn của hậu phương miền Bắc là nhân tố quyết định tạo ra thế và lực của cách mạng miền Nam áp đảo quân địch; mở ra thời cơ chiến lược lớn; tạo nên sức mạnh đánh bại hoàn toàn quân địch, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:28:41 am
       
PHẦN KẾT LUẬN

XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA HẬU PHƯƠNG  CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM
(1945 - 1975)

        Thắng lợi oanh liệt của sự nghiệp kháng chiến kéo dài ba mươi năm của nhân dân ta đã khẳng định vị trí to lớn của hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đó là một hậu phương được tổ chức chặt chẽ theo một đường lối đúng đắn, sáng tạo và bằng những biện pháp có hiệu quả. Vì thế, trước thử thách ác liệt của chiến tranh, hậu phương kháng chiến của ta được xây dựng được bảo vệ và ngày càng mở rộng đã phát huy mạnh mẽ vai trò, tác dụng to lớn, toàn diện, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Trên thực tế, căn cứ địa Việt Bắc... trong kháng chiến chống thực dân Pháp hay hậu phương lớn miền Bắc và hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược là nơi đặt cơ quan đầu não lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến; nơi xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là các binh đoàn chủ lực; nơi đáp ứng sức người, sức của ngày càng tăng của cuộc chiến tranh; nơi tổ chức và triển khai công tác đối ngoại, công tác tuyên truyền nhằm làm cho thế giới hiểu rõ, hiểu đúng sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta, qua đó, mở rộng mặt trận đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của anh em, bè bạn khắp năm châu. Bên cạnh đó hậu phương là nơi tiếp nhận, bảo quản, cải biên, cải tiến và tổ chức vận chuyển tới các chiến trường một khối lượng lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh do các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện. Cuộc chiến đấu để bảo vệ hậu phương là một bộ phận quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân của cả nước chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, góp phần rất quan trọng đập tan ý chí xâm lược của kẻ địch. Với chế độ xã hội mới, ưu việt được thiết lập, được bảo vệ vững chắc, hậu phương không chỉ là chỗ dựa về vật chất mà còn thực sự là chỗ dựa về tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận và cho nhân dân đang sống trong vùng tạm bị chiếm, giúp họ giữ vững niềm tin và quyết tâm trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh. Những thời kỳ tiền tuyến gặp khó khăn về quân số, về vũ khí, về lương thực và thuốc men... hậu phương đã dồn sức chi viện, đảm bảo cho các chiến trường khôi phục thế trận, tăng cường lực lượng, giữ vững và phát huy chiến lược tiến công. Vào những thời điểm mang tính bước ngoặt của cuộc chiến tranh, sự ổn định và vững mạnh của hậu phương chiến lược là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng để Đảng ta hạ quyết tâm chiến lược kịp thời và chính xác. Tại hậu phương, lực lượng dự bị chiến lược được xây dựng và tăng cường, sẵn sàng cơ động ra chiến trường, thực hiện các đòn đánh lớn có tác dụng làm xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho ta và bất lợi cho đối phương. Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, hậu phương chiến lược đã dốc toàn bộ sức mạnh tiềm tàng cho tiền tuyến tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang sự nghiệp kháng chiến 30 năm của toàn dân tộc.

        Việc giải quyết thành công vấn đề hậu phương trong hai cuộc kháng chiến nói trên đã góp phần giải thích tại sao dân tộc ta đã đánh thắng hai đế quốc to có tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự và khoa học công nghệ mạnh hơn ta rất nhiều.

        Xưa nay trong các cuộc chiến tranh, hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định kết quả được hay thua của hai bên. Tôn Tử coi vật chất là chỗ dựa chủ yếu của hành động quân sự, là cơ sở để tiến hành chiến tranh, qua đó nhấn mạnh chiến tranh phải “dựa vào hậu phương hùng mạnh, dựa vào lực lượng hùng hậu; quân đội nào tách khỏi hậu phương hùng mạnh thì không thể giành được thắng lợi trong chiến tranh, không thể tồn tại được”. Những nhà quân sự lỗi lạc như Na-pô-lê-ông, Cờ lao-dơ-vít đều coi trọng việc xây đựng và bảo vệ hậu phương, chuẩn bị thật chu đáo việc bảo đảm hậu cần. Mác, Ăng-ghen và Lê-nin, những người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản đều nhấn mạnh đến vai trò của hậu phương vững chắc và có tổ chức, vì hậu phương là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh. Hồ Chí Minh nói: “Khi có chiến tranh phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng trong nước để chống giặc”1.

----------------
1. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, Tập I, tr.474.)


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:30:49 am

        Nhìn chung, vai trò của hậu phương đều được các nhà chiến lược, các nhà quân sự đánh giá cao và yêu cầu những người lãnh đạo quốc gia và những người cầm quân phải quan tâm thường xuyên trong thời chiến cũng như thời bình. Bởi lẽ, chiến tranh là sự thử thách toàn diện với mỗi bên tham chiến, trong đó hết thảy mọi lực lượng đều bị thử thách, bị tiêu hao, do đó đòi hỏi phải được bổ sung và phát triển, nhằm đè bẹp đối phương để chiến thắng. Cơ sở vật chất của đất nước mạnh hay yếu, dồi dào hay thiếu thốn là một điều kiện quan trọng, có tác động rất lớn đến thắng hay bại của chiến tranh. Sức mạnh của cơ sở vật chất đó thường được thể hiện rõ nét qua nền kinh tế có nông nghiệp và công nghiệp mạnh, giao thông vận tải phát triển, sản phẩm dồi dào. Đặc biệt đối với lực lượng vũ trang, những thứ mà con người cần dùng để sinh sống và chiến đấu đều do nền kinh tế và khoa học, công nghệ cung cấp. Vì vậy, nhìn vào những chỉ số về kinh tế, về mức sống và trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật của con người, vũ khí và trang bị kỹ thuật của quân đội, các nhà quân sự phương Tây nhất là trong giới thực dân thường có một kết luận cứng nhắc là: bên nào có kinh tế mạnh hơn, lực lượng vật chất dồi dào hơn, thì bên đó sẽ thắng trong chiến tranh. Chính từ quan điểm và cách nhìn như vậy nên trưởng đoàn đại biểu Pháp tại hội đàm ở Phông-ten-bơ-lô tháng 9 năm 1946 đã trắng trợn tuyên bố: “Nếu các ông không khôn ngoan mà chấp nhận những điều kiện của chính phủ Pháp đề ra thì chúng tôi sẽ bẻ cổ các ông trong vòng 8 ngày bằng một chiến dịch cảnh sát thông thường”. Cũng giống như thực dân Pháp, trong khi xâm lược Việt Nam, tướng không quân Mỹ Lơ May đã ngạo nghễ đe dọa “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

        Song, lịch sử chiến tranh đã từng chứng kiến những trường hợp bên có hậu phương lớn, có lực lượng vật chất dồi dào lại bị bên có lực lượng vật chất ít hơn và yếu hơn làm cho hao mòn suy sụp và cuối cùng phải chịu thất bại. Thí dụ như nước Đức phát xít của Hít-le, sau khi thôn tính được các nước trên lục địa châu Âu đã có một nền công nghiệp chiến tranh mạnh hơn Liên Xô gấp từ 2 đến 2,5 lần. Tỉ lệ so sánh về số quân giữa hai bên là: Liên Xô: 1 Đức: 1,9. Nhưng cuối cùng quân phát xít đã phải đầu hàng vô điều kiện.

        Lại có trường hợp những đội quân nhà nghề vừa đông, vừa có trang bị kỹ thuật hiện đại, được huấn luyện tốt lại phải chịu thua trong khi hậu phương của chúng vẫn còn nhiều tiềm lực, quân còn đông, trang bị vũ khí còn nhiều. Đó là trường hợp thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã bị nhân dân Việt Nam đánh thua liểng xiểng và phải chịu chấm dứt chiến tranh, rút quân viễn chinh về nước.

        Hậu phương vẫn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi hay thất bại của chiến tranh, song so sánh hậu phương của hai bên, giải quyết vấn đề hậu phương, xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương như thế nào lại không phải là một vấn đề đơn thuần của số học. Hậu phương có thể chuyển hóa từ yếu sang mạnh, hoặc từ mạnh sang yếu. Hậu phương cũng có thể vẫn còn lực lượng hùng hậu, nhưng lại không phát huy được tác dụng để phục vụ cho nhu cầu của chiến tranh và đành để cho cuộc chiến tranh bị cuốn xuống vực thất bại, không có cách gì cứu vãn được. Đó là trường hợp của những cuộc chiến tranh xâm lược mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã gây ra ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Công tác xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương, việc làm chuyển hóa sức mạnh đó từ nhỏ đến lớn, từ yếu thành mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tính chất chính nghĩa hay phi nghĩa của chiến tranh mà hậu phương phải phục vụ; phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng hay chiến tranh cổ điển; khả năng huy động và tổ chức nhân dân nhiều hay ít; đường lối chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo hay máy móc; trình độ giác ngộ của con người cao hay thấp; năng lực xử lý cơ sở vật chất hiện có sẵn để phát triển lên giỏi hay kém, v.v... Vì vậy trong cả hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Đảng và Chính phủ ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chịu bó tay trước tình trạng nghèo nàn, đầy khó khăn của đất nước khi cuộc chiến tranh bắt đầu. Lúc đó, nhìn vào hậu phương mỗi bên tham chiến, ai cũng dễ thấy hậu phương của nhân dân ta quá yếu. Vì thế nhiều người ở nước ngoài, có cả một số người trong nước, cho rằng kháng chiến là liều lĩnh, khác gì “châu chấu đấu voi”. Nhưng kết cục lại là đế quốc Pháp phải chịu thua. Cuộc kháng chiến chuống Mỹ bắt đầu với miền Bắc đã được giải phóng hoàn toàn. So sánh hậu phương của hai bên trong cuộc chiến tranh mới này, ai cũng thấy rõ sự chênh lệch nghiêng về phía Mỹ là quá lớn. Hầu như các nước trên thế giới đều nghĩ rằng kháng chiến chống Mỹ là phiêu lưu, mạo hiểm; đòi đánh thắng Mỹ là ảo tưởng, hão huyền. Nếu “chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện trạng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem thì như thế thật”1. Nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem xét và đánh giá hiện trạng khi bắt đầu từng cuộc kháng chiến theo quan điểm duy vật biện chứng, dựa vào nhân dân nên đã đề ra được đường lối kháng chiến đúng đắn nói chung và giải quyết chính xác vấn đề xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương nói riêng.

----------
1. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, Tập I, tr.474.)


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:36:00 am
       
*

*       *

        Vấn đề hậu phương được quan tâm thường xuyên ngay khi chính quyền cách mạng mới được thành lập. Những chủ trương lớn như nâng cao trình độ chính trị của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết của toàn dân, xóa nạn mù chữ, tăng gia sản xuất, xây dựng đời sống mới, củng cố chính quyền nhân dân, mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố và phát triển Đảng, v:v... được toàn dân và toàn Đảng nô nức thực hiện. Khí thế cách mạng sôi nổi trên khắp mọi miền đất nước được chuyển thành hành động tích cực trong mọi mặt hoạt động của xã hội.

        Sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác hậu phương mang tính lý luận và tính thực tiễn cao, tính tri thức và tính kỹ thuật phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và trình độ của con người được nâng cao từng bước. Chiến lược hậu phương được xây dựng và thực hiện bằng sự kết hợp chặt chẽ tính cách mạng với tính khoa học của quần chúng và Đảng lãnh đạo. Chiến lược đó dựa vào sự đánh giá đúng đắn thực tế tình hình, coi trọng vai trò con người khi đã được giải phóng khỏi ách nô lệ và đề ra được những biện pháp thực hiện thiết thực, sáng tạo, không máy móc, giáo điều. Những biện pháp đó đã phát huy cao độ tinh thần cách mạng, tính tổ chức và kỷ luật của quần chúng để biến thành hành động tích cực trong việt thực hiện đường lối của Đảng. Vì hậu phương của ta phục vụ cho chiến tranh chính nghĩa được toàn dân nhất trí tiến hành với tinh thần tự giác cao, nên mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương được mọi người chấp hành nghiêm chỉnh và sáng tạo. Chính nghĩa khi đã được toàn dân nhận thức đầy đủ đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với toàn dân kháng chiến. Có chính nghĩa, mọi người dân có điểm chuẩn để bóc trần những hành động và thủ đoạn chiến tranh phi nghĩa của quân xâm lược, luôn luôn làm cho sự nghiệp chính nghĩa càng tỏa sáng, càng lan rộng, có thêm điều kiện thuận lợi để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế.

        Tình trạng nghèo nàn và đầy khó khăn của nền kinh tế khi mới bắt đầu kháng chiến không làm cho Đảng và nhân dân ta lùi bước. Trái lại Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân biết khai thác cơ sở vật chất hiện có, khắc phục khó khăn, xây dựng hậu phương bằng mọi cách mà trước hết là bằng sức mạnh của truyền thống lịch sử, của con người có giác ngộ về chính trị ngày càng cao và được tổ chức chặt chẽ.

        Đất nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, nửa phong kiến, vẫn còn bị những hậu quả tai hại của chiến tranh. Nạn lụt, nạn đói, nạn mù chữ còn gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân. Lực lượng vũ trang còn nhỏ bé, không được trang bị đày đủ vũ khí và khí tài tối tân như các quân đội xâm lược. Ta chỉ có con người, có Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo để đấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa. Đây là vốn liếng của cách mạng và cũng là những yếu tố cơ bản để xây dựng hậu phương, tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài cho đến thắng lợi. Kẻ địch dựa vào sức mạnh của vũ khí và những thành tựu của khoa học kĩ thuật là ưu thế của chúng hòng buộc nhân dân ta phải khuất phục. Ta dựa vào chính nghĩa vào sức mạnh của toàn dân, vào các giá trị truyền thống của dân tộc, vào trí tuệ Việt Nam, là những ưu thế của ta để kiên quyết đập tan mưu đồ và hành động xâm lược của chúng. Điểm khởi đầu của ta chỉ được biểu hiện bằng những con số không gây được ấn tượng về sức mạnh đối với nhiều người nhất là đối với kẻ xâm lược. Dưới đây là một vài điểm so sánh giữa Việt Nam và Pháp.

Hạng mục so sánh                        Việt Nam                                     Pháp
Dân số                                      25 triệu người                              53 triệu người
Gang thép (theo đầu người)               0                                           262kg
Than đá (theo đầu người)                107kg                                    1.000kg
Điện (theo đầu người)                  3,9kw/giờ                                417kw/giờ
Thu nhập bình quân (theo đầu người)49 đồng
                                        (tương đương 490 phơ-răng)        6.200phơ-răng
Quân số                                      82.000 người                 90.000 người  (65.000 Âu Phi)

        Vấn đề đặt ra là phải có thời gian triển khai công tác hậu phương, xây dựng và phát huy sức mạnh của cả nước để thắng giặc. Trước tình hình đất nước lúc đó kháng chiến thế nào? Nhân dân ta không thể tiến hành chiến tranh kiểu cổ điển, chiến tranh quy ước. Không thể chỉ đưa quân đội ta ra chọi với quân đội địch, mà phải thực hiện toàn dân kháng chiến. Không phải chỉ đánh địch trên mặt trận quân sự mà còn đánh trên các mặt trận chính trị, kinh tế đối ngoại, văn hóa, tư tưởng... được phối hợp chất chẽ với nhau. Không phải đánh theo kiểu dàn trận địa, phân trận tuyến giữa địch và ta trên chiến trường, mà phải phát động và đẩy mạnh chiến tranh du kích khắp nơi, đi từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Để đánh thắng kẻ địch có vũ khí, trang bị nhiều và mạnh hơn ta, cuộc kháng chiến phải lâu dài, không thể đem hết lực lượng ra “quyết sống mái” với địch bằng một vài trận, thực hiện chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh được”.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:37:28 am

        Trong suốt cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Hoa Kỳ luôn luôn bỏ xa Việt Nam ở phía sau về kinh tế và khoa học kỹ thuật. Theo Niên giám bách khoa toàn thư trên thời báo Niu Yoóc năm 1972, những chỉ số sau đây nói lên sự chênh lệch to lớn giữa Việt Nam và Mỹ về mặt kinh tế và khoa học kỹ thuật: về tổng sản phẩm quốc gia Mỹ hơn ta 325 lần, về đường bộ gấp 505 lần, về đường sắt gấp 225 lần, về xuất khẩu gấp 310 lần, về báo chí gấp 437 lần, về máy thu thanh gấp 210 lần, v.v...

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ được tiến hành theo đường lối chiến tranh nhân dân đã được thử thách qua kháng chiến chống Pháp và được phát triển tới đỉnh cao. Công tác xây dựng hậu phương trong hai cuộc kháng chiến đã quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

        Hậu phương đã động viên sức người, sức của cho kháng chiến, đồng thời là nguồn cổ vũ mạnh mẽ về chính trị tinh thần cho các lực lượng vũ trang chiến đấu trên các chiến trường. Để làm được như vậy, phải qua một quá trình vừa kháng chiến vừa kiến quốc từng bước củng cố và phát triển hậu phương từ nhỏ yếu thành lớn mạnh. Trong quá trình đó hậu phương phải thường xuyên tái tạo ra tiềm lực mới cả về vật chất và tinh thần để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của kháng chiến. Công tác hậu phương đã được tiến hành theo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, bảo đảm cho toàn dân và toàn quân đánh được lâu dài, càng đánh càng mạnh. Trước yêu cầu đó hậu phương tuy còn yếu sức nhưng vẫn bảo đảm cho cuộc kháng chiến triển khai nhanh chóng trên cả nước. Hậu phương đã có sức bền bỉ, biết khai thác, động viên của cải vật chất và sức mạnh tinh thần để phục vụ cho kháng chiến trường kỳ, không phải dốc hết khả năng để đánh cho được một vài trận đầu rồi kiệt sức.

        Chiến tranh du kích được phát động và ngày càng mở rộng làm cho địch đi đến đâu cũng bị đánh, đóng quân ở đâu cũng bị tiến công. Thế xen kẽ giữa ta và địch được hình thành. Vì vậy quân xâm lược không thể nhanh chóng kết thúc chiến tranh theo ý định chiến lược của chúng. Trong khi đó hậu phương ta vừa có thể đáp ứng được những yêu cầu bảo đảm cho chiến tranh du kích, vừa có thể mở rộng hoạt động để chuẩn bị cho những giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến.

        Thực hiện phương châm đánh địch trên cả ba vùng chiến lược nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị, ta càng làm cho thế xen kẽ trở nên phổ biến và phức tạp. Hậu phương vì thế xen lẫn với tiền tuyến, không có ranh giới ổn định, vì biến động luôn.

        Ta thực hiện toàn dân kháng chiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Từ cụ già đến em nhỏ ai làm việc gì có lợi cho kháng chiến và kiến quốc cũng là chống xâm lược. Với tinh thần đó, trường học, ruộng đồng, xí nghiệp, cơ quan, công trường... đều là chiến trường. Sách bút, cuốc cày, máy móc, thiết bị nghiên cứu, công cụ lao động... đều là vũ khí. Học sinh, người cày ruộng, người làm thợ, nhà văn, bác sĩ, kỹ sư đều là chiến sĩ. Ở mỗi ngành, trong mỗi tổ chức kháng chiến, trong mỗi con người dù ở đâu và làm gì, đều có yêu cầu phải giải quyết về xây dựng hậu phương và chiến thắng kẻ thù. Nhiệm vụ xây dựng hậu phương không của riêng ai, nhưng lại được phân công phụ trách cụ thể đến từng bộ phận nhỏ thậm chí đến từng người một. Chính phương thức xây dựng hậu phương đó đã tập hợp được toàn dân, tạo nên sức mạnh ngày càng lớn, đạt hiệu quả ngày càng nhiều và cao, làm cho kẻ địch không lường nổi. Lực lượng xây dựng hậu phương của ta còn có nguồn phong phú từ ngoài biên giới quốc gia, ở nhiều nước trên thế giới, kể cả nước Pháp và nước Mỹ. Sự nghiệp chính nghĩa ngày càng sáng tỏ, được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ thì sự cổ vũ và giúp đỡ quốc tế kể cả từ nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ ngày càng mạnh mẽ, có hiệu quả. Sức mạnh từ hậu phương chuyển ra tiền tuyến để giành chiến thắng vì thế mà có nguồn vô tận. Trái lại về phía địch, tuy đất nước của họ giàu mạnh, nhưng vì tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa, nên việc huy động những tiềm lực mạnh giàu đó vào cuộc chiến tranh xâm lược ngày càng bị phong trào quần chúng ở nước họ phản đối quyết liệt. Đến một lúe nào đó, các chính phủ hiếu chiến trên thực tế không thể tùy tiện huy động sức người, sức của cho chiến tranh được. Tiềm lực còn nhiều, lực lượng vũ trang còn khá hùng hậu, nhưng họ đành phải kết thúc chiến tranh, từ bỏ ý đồ xâm lược.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:40:26 am

        Nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến, với những nét độc đáo của mình đã cho phép tiến hành chiến tranh trong nền kinh tế của ta còn lạc hậu rất nhiều so với kẻ địch. Nghệ thuật đó coi trọng nhân tố chính trị tinh thần, phát huy cao độ vũ khí và trang bị có trong tay của nhân dân và các lực lượng vũ trang, chú trọng lập thế, dùng mưu, tạo và tận dụng thời cơ để tiến công diệt địch, giữ gìn và phát triển lực lượng của ta. Với nghệ thuật quân sự đó, quân và dân ta đã làm cho kẻ địch xâm lược, mặc dù có đông quân, nhiều súng, không sao phát huy được sức mạnh theo ý muốn của chúng. Trái lại nhân dân ta đã làm theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém về vật chất”1. “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc xuổng, gậy gộc”2. Theo giời kêu gọi đó, đồng bào cả nước tự vũ trang cho mình, tự tạo ra vũ khí, cùng đứng lên đánh giặc. Trong khi nền kinh tế của nước ta còn yếu kém, chưa đủ sức giải quyết vấn đề trang bị vũ khí ngay cả cho một số đơn vị chủ lực thì cuộc chiến tranh do kẻ thù buộc nhân dân ta phải chấp nhận vẫn được tiến hành. Ta không có trang bị đầy đủ ngay lúc đầu, không có máy bay, xe tăng và các loại vũ khí hiện đại như kẻ địch, nhưng ta vẫn đánh được ở khắp nơi, không cho chúng thực hiện được kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”. Trong khi ở các nước công nghiệp, bánh xe đã thay cho vó ngựa, điện lực đã thay cho cánh buồm, súng pháo thay cho cung nỏ, đầu đạn thay cho tên tre, thì ở Việt Nam những khẩu súng trường kiểu cũ, súng khai hậu, súng kíp, những gậy tầm vông, tên nỏ cùng với hầm chông, bẫy đá… do nhân dân tự tìm kiếm hoặc tự tạo ra và sử dụng trong chiến đấu vẫn phát huy được sức mạnh làm cho quân xâm lược bị tiêu diệt và tiêu hao ở khắp nơi. Nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam không đòi hỏi du kích phải đánh lớn, đánh tập trung. Chắc thắng mới đánh. Đánh khắp nơi, đánh bằng lực lượng nhỏ là phổ biến. Khi có điều kiện thì du kích phối hợp với bộ đội tập trung cùng đánh. Ta đánh lúc nào, đánh ở đâu, đánh như thế nào, kẻ địch không sao lường được. Ta đến hay đi, địch không sao thấy hình bóng, không sao phát hiện nổi. Nhờ nghệ thuật đó mà lúc mới kháng chiến, tuy chưa có bộ đội chủ lực đông và mạnh, dân quân du kích chưa được huấn luyện nhiều, nhưng ta đã hãm được địch vào thế trận hiểm hóc của chiến tranh nhân dân. Điều này, những nhà chiến lược quân sự trong các quân đội xâm lược không thể hiểu được, do đó không đánh giá được sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Rõ ràng là dù trang bị vũ khí còn ít ỏi thô sơ, nhưng với ý chí chiến đấu kiên cường, với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, quân và dân ta có điều kiện triển khai kế hoạch kháng chiến lâu dài, tổ chức công tác hậu phương về mọi mặt. Vì vậy hậu phương của ta trong hai cuộc kháng chiến đã hoàn thành được những nhiệm vụ rất nặng nề, bảo đảm cho ba thứ quân, đặc biệt là Quân đội nhân dân Việt Nam vừa chiến đấu, vừa trưởng thành nhanh chóng và vững chắc.

        Trên mặt trận quân sự, kết quả của các trận đánh, các chiến dịch không những đem lại cho ta nhiều kinh nghiệm quý báu mà còn bổ sung dần dần cho các lực lượng vũ trang nhân dân những vũ khí, khí tài và nhiều loại trang bị vật chất khác mà quân đội ta đang rất thiếu.

        Trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... những thắng lợi mỗi ngày một lớn đã động viên toàn dân và toàn quân tiếp tục khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Kẻ địch phải đối phó không những trên mặt trận quân sự mà cả trên các mặt trận khác. Tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược càng sớm bị bóc trần làm cho hậu phương của chúng ở ngay chính quốc ngày càng mất ổn định và dẫn tới rối loạn: phong trào phản chiến ngày càng lan rộng, mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền ngày càng gay gắt. Hậu phương đã như thế tất nhiên sẽ gây ra nhiều khó khăn và bối rối cho hậu cần của quân đội, cho tinh thần và hành động tác chiến của binh sĩ trên chiến trường. Dư luận trong nước và thế giới lên án “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” mà đế quốc Pháp tiến hành ở Đông Dương, lập ra tòa án quốc tế để xử tội đế quốc đã gây ra nhiều tội ác trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chiến tranh càng kéo dài, địch càng bị tổn thất lớn. Các tướng chỉ huy quân viễn chinh trên chiến trường lúc nào cũng đòi tăng quân, thêm vũ khí, nâng ngân sách quân sự và luôn luôn phàn nàn “không có được hậu phương vững chắc để trông cậy”3. Phải đối phó với kiểu chiến tranh “kỳ lạ” mà họ chưa từng được học ở bất kỳ học viện quân sự nào của các cường quốc tư bản giàu mạnh, các tướng lĩnh được cử sang cầm quân để xâm lược Việt Nam đều ngỡ ngàng, lúng túng, không tìm ra được cách gì để đánh ngã đối phương.

-------------
1. Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tr.105.

2. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Tập I, tr.403.

3. Hăng-ri Na-va, Thời điểm của những sự thật, Nxb Plông Pa-ri, 1979, tr.251.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:41:41 am

        Trong khi đó cuộc kháng chiến của ta ngày càng phát triển theo phương châm đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Chiến tranh ác liệt. Kẻ thù gây cho quân và dân ta rất nhiều khó khăn và tổn thất, nhưng thế đứng của hậu phương ta vẫn vững vàng. Có hậu phương lớn của tiền tuyến lớn, hậu phương của từng chiến trường, có căn cứ tại chỗ của những lực lượng kháng chiến, căn cứ du kích, căn cứ “lõm” trong vùng địch tạm chiếm, cơ sở cách mạng ngay ở nơi mà địch cho là đã “bình định” xong. Kẻ thù thấy rõ sự lợi hại của hậu phương ta nên tìm mọi cách đánh phá. Đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Mỹ, không có nơi nào trên đất nước Việt Nam mà máy bay Hoa Kỳ không thể tới đánh phá được. Miền Bắc, hậu phương lớn của tiền tuyến lớn càng bị đánh phá dữ dội. Ngoài thủ đoạn dùng bom đạn, địch còn phá hoại hậu phương ta bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp hòng gây hoang mang, dao động, làm sa sút ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Vì vậy sự ổn định và vững chắc của hậu phương luôn luôn bị thử thách. Chiến đấu bảo vệ hậu phương, bảo vệ các căn cứ kháng chiến là một nhiệm vụ lớn được đặt ra trong suốt quá trình chiến tranh. Ranh giới giữa hậu phương và tiền tuyến trên chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ biến hóa khôn lường. Việc giành đi giật lại giữa ta và địch nhằm giữ dân, giữ địa bàn hoạt động, tạo thế đứng có lợi làm cho hai mặt chiến đấu và xây dựng, đánh địch và phát triển lực lượng ta, tiến công để làm chủ, làm chủ để tiến công gắn chặt với nhau. Hoạt động của tiền tuyến và hậu phương vì thế luôn luôn phối hợp và hỗ trợ cho nhau. Khái niệm về hậu phương trong hai cuộc kháng chiến, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ cũng vì thế được mở rộng ra nhiều, phù hợp với quan điểm chiến tranh nhân dân Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh. Hậu phương không còn là đối xứng của tiền tuyến theo nghĩa cổ điển, cũng không thể được xác định chỉ bằng yếu tố không gian. Một khi toàn dân đã đồng tâm nhất trí đứng lên kháng chiến, thì đương nhiên ở đâu có người Việt Nam kháng chiến hoặc hướng về kháng chiến dù ở nước ngoài thì ở đó có nhân tố hậu phương của ta. Kháng chiến là do toàn dân tiến hành với lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, cho nên ở đâu có giặc, ở đâu giặc đến, ở đó có lực lượng đánh trả, ở đó là tiền tuyến, khi giặc bị diệt hoặc phải rút đi thì ở đó dân ta lại làm ăn theo điều kiện thời chiến, vừa củng cố hậu phương, vừa sẵn sàng chiến đấu. Ở nơi nào địch vẫn chiếm đóng mà còn có dân sinh sống thì ở đó có lực lượng kháng chiến, có chỗ dựa của cách mạng. Đồng bào ta ở đây, mặt đối mặt với quân thù, vận dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai và bí mật đã biến hậu phương của địch nhiều khi thành tiền tuyến đấu tranh trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Khi có điều kiện và thời cơ còn có thể dùng hình thức đấu tranh vũ trang. Ở những vùng như thế, hậu phương của địch cũng là nơi luôn luôn xảy ra nhiều cuộc đấu tranh, cũng là nơi tổ chức cách mạng hoạt động. Tiền tuyến cũng là hậu phương. Hậu phương cũng là tiền tuyến. Đó là “hiện tượng kỳ lạ” trong hai cuộc chiến tranh chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Hình thái xen kẽ rất phù hợp với tính chất hoạt động của chiến tranh nhân dân. Công tác xây dựng hậu phương gắn liền với việc phục vụ chiến đấu tại chỗ đồng thời còn tạo điều kiện khai thác nguồn cung cấp ngay trong lòng địch để khuyển ra vùng tự do. Có những vùng hậu phương thường xuyên phát huy tác dụng. Có những vùng phát huy tác dụng từng lúc. Có những vùng lúc này dường như “nằm im”, lúc khác lại hoạt động mạnh. Hình thức hoạt động mỗi vùng rất phong phú, có giống nhau, có khác nhau.

        Trong cả hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, ngay từ đầu địch đã bị lâm vào thế cài răng lược trên quy mô cả nước cũng như trên từng khu vực. Lực lượng của chúng bị căng ra. Có quân số đông, nhưng số đơn vị cơ động chiến lược lại thiếu nghiêm trọng.

        Thế xen kẽ giữa ta và địch đương nhiên cũng gây cho ta không ít khó khăn nhất là về giao thông liên lạc, về tiếp tế, vận chuyển, song vì ta chiến đấu trên nước mình, có nhân dân đùm bọc nên có thể khắc phục được nhiều khó khăn xây dựng được thế liên hoàn giữa hậu phương và tiền tuyến, giữa các chiến trường với nhau và tận dụng thế xen kẽ để đánh địch, phát triển chiến tranh du kích cũng như tổ chức những trận đánh của bộ đội tập trung. Trái lại, thế xen kẽ gây cho địch vô vàn khó khăn mà không không sao vượt qua được vì phải chiến đấu ở một chiến trường xa lạ, ở đâu, đi đâu cũng bị đánh. Vận chuyển, tiếp tế, giao thông liên lạc đều gặp nhiều trở ngại, dễ bị gián đoạn, cắt đứt. Quân đồn trú cũng như quân cơ động luôn luôn nằm trong thế bị bao vây. Chiến tranh du kích phát triển trong vùng địch cũng như xung quanh các đồn bốt làm cho chúng bị què, mù, đui, điếc, bị mệt mỏi, bị tiêu hao, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung được lực lượng đánh vào những chỗ địch sơ hở. Nếu địch thường xuyên đánh phá các căn cứ và hậu phương của ta thì trong vùng chúng tạm chiếm cũng không có nơi nào được an toàn tuyệt đối. Nhiều kho tàng, sở chỉ huy, sân bay, nơi cư trú của các sĩ quan, đường giao thông chiến lược, công sở... đều bị đánh phá không biết bao nhiêu lần. Ngày cả sứ quán Mỹ, nơi được canh phòng rất cẩn mật cũng bị tiến công và tổn thất nặng nề. Tinh thần binh sĩ trong quân đội xâm lược và quân ngụy, nhân viên trong chính quyền bù nhìn, kể cả những tên ngoan cố, vì thế mà ngày càng sa sút.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:45:20 am

*

*      *

        Việc xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương đã được tiến hành theo phương châm từ yếu đến mạnh, từ nhỏ đến lớn. Bằng việc xây dựng như thế, hậu phương có thể đáp ứng được yêu cầu của chiến tranh nhân dân để đánh thắng kẻ thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “trong cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”1. Chân lý này đã được chứng minh qua thực tiễn đấu tranh của Cách mạng tháng Tám và thời kỳ bảo vệ chính quyền nhân dân từ 19 tháng 8 năm 1945 đến khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Tinh thần cách mạng của toàn dân kiên quyết chống ách nô lệ của thực dân, sẵn sàng hy sinh để giữ vững thành quả cách mạng đã phá tan âm mưu lật đổ của các loại kẻ thù lúc đó có lực lượng quân sự đông và mạnh hơn ta rất nhiều. Bài học về dựa vào sức dân đã tạo nên niềm tin ngày càng vững chắc cho nhân dân cả nước thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng. Quán triệt đường lối đó, toàn dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Toàn dân vừa đánh giặc vừa củng cố hậu phương. Vì vậy nói hậu phương là nói đến vai trò của nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể trong việc xây dựng hậu phương, vừa là đối tượng phục vụ của hậu phương để kháng chiến đến thắng lợi.

        Nhân dân Việt Nam vốn có bản chất dân tộc cao đẹp, lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm từ lịch sử hàng nghìn năm nên có đầy đủ sức mạnh và mưu trí để xây dựng và tổ chức hậu phương vững mạnh. Từ khi chính quyền về tay nhân dân, sức mạnh giáo dục và tổ chức của cách mạng càng làm tăng thêm khả năng hành động thực tiễn của nhân dân ta.

        Kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa cách mạng và khu giải phóng từ thời kỳ tiền khởi nghĩa cho thấy rằng hậu phương vững chắc trước hết và chủ yếu là ở lòng dân. Có dân là có tất cả. Vì vậy nói xây dựng hậu phương trước hết là nói đến phát động và tổ chức nhân dân các dân tộc trên mọi miền đất nước tích cực thực hiện nhiệm vụ đó. Hậu phương mạnh là do dân cùng chung sức lo vun đắp nên. Được thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cổ vũ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân một lòng đứng lên kháng chiến. Song chiến tranh chống đế quốc xâm lược là một hình thức đấu tranh mới mà nhân dân ta chưa có kinh nghiệm. Nhiệm vụ kháng chiến đòi hỏi mọi người Việt Nam phải có tinh thần cách mạng triệt để, ý thức trách nhiệm cao, năng lực hành động giỏi. Vì vậy xây dựng hậu phương là hướng vào bồi dưỡng sức dân, động viên dân góp sức càng nhiều cho kháng chiến đồng thời lại không làm cạn nguồn lực.

        Để đạt được những yêu cầu trên, công tác chính trị được triển khai bằng nhiều hình thức nhằm đoàn kết toàn dân để kháng chiến đến thắng lợi. Mặt trận dân tộc thống nhất được mở rộng trên cơ sở nông liên minh dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân. Công tác giáo dục chính trị được tiến hành thường xuyên. Nhờ đó trình độ giác ngộ cách mạng của đồng bào cả nước được nâng cao, quyết tâm kháng chiến được củng cố ngày một vững chắc thêm. Mọi người, trừ một số Việt gian bán nước, đều biết phân rõ ranh giới giữa bạn, thù và ta, nhận rõ sự nghiệp chống đế quốc xâm lược là chính nghĩa, cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc đang tiến hành để chống nhân dân Việt Nam là phi nghĩa. Được thử thách rèn luyện trong thực tế đấu tranh, nhân dân ta có bản lĩnh chính trị vững vàng. Những thủ đoạn lừa bịp, chia rẽ của kẻ thù đều bị đồng bào và chiến sĩ ta vạch trần và đập tan rất kịp thời. Tư tưởng được giải phóng, ý thức chính trị được nâng lên làm cho toàn dân hăng hái đi vào cuộc kháng chiến với lòng tự hào của người dân làm chủ đất nước mình, với niềm tin quyết thắng. Tư tưởng cách mạng ngày càng được quán triệt sâu sắc đã thúc đẩy mọi người thêm tích cực, sáng tạo vượt qua khó khăn, khắc phục nhiều trở ngại trong kháng chiến nói chung và trong xây dựng hậu phương nói riêng.

---------------
1. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, Tập 1, tr.429.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:47:09 am

        Việc nâng cao trình độ chính trị cho toàn dân là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp mở mang dân trí. Dân trí không thể cao nếu nhãn quan chính trị của quần chúng nhân dân không được mở rộng, trình độ xem xét và đánh giá các vấn đề chính trị thiếu nhạy bén và chính xác. Song việc mở mang dân trí không chỉ dừng lại ở giáo dục chính trị. Kiến thức về mọi mặt của từng người lao động trên mọi miền đất nước cần được mở rộng để có thể tiếp cận những thành tựu văn hóa và tham gia tích cực vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc kháng chiến cũng như của đời sống xã hội. Vì vậy ngay từ khi chính quyền nhân dân được thành lập và trong quá trình kháng chiến, Đảng và Chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã quan tâm đến việc xây dựng nền văn hóa mới, chăm lo đời sống văn hóa ở cơ sở. Nạn mù chữ được giải quyết. Giáo dục phổ thông được phát triển. Trình độ học vấn của mọi người được nâng lên làm cho việc phổ biến tin tức chiến sự, tình hình thế giới và trong nước đạt được hiệu quả rõ rệt. Nhờ đó, việc động viên toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ thêm thuận lợi.

        Cuộc sống kháng chiến còn rất mới mẻ. Hoạt động văn hóa kháng chiến càng mới mẻ hơn. Đi vào cuộc chiến tranh cách mạng, đội ngũ văn nghệ sĩ dưới chế độ cũ còn nhiều bỡ ngỡ về chỗ đứng, về đối tượng phục vụ, về đề tài sáng tác,... Số văn nghệ sĩ mới, trẻ tuổi và hăng hái lại thiếu vốn sống; trình độ nghề nghiệp còn hạn chế. Những tàn dư của nền văn hóa thực dân còn tác động nhiều đến quan điểm, tư tưởng và hoạt động văn hóa cách mạng của các văn nghệ sĩ. Ảnh hưởng của văn hóa thực dân còn khá mạnh trong tập quán cũng như trong tư tưởng của cán bộ và nhân dân ta. Đảng đã đề ra hai nhiệm vụ kháng chiến trên mặt trận văn hóa là: 1- Đánh đổ văn hóa ngu dân, văn hóa xâm lược của thực dân Pháp; 2- Xây dựng một nền văn hóa mới cho nước Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của nhân dân mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới biết. Các nhà văn hóa của ta phải có những tác phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền những gương oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho con cháu đời sau”1.

        Vừa kháng chiến, nhân dân ta vừa xây dựng nền văn hóa mới có bản chất dân tộc, khoa học, đại chúng. Các văn nghệ sĩ đi vào quần chúng công nông binh để hòa nhập với cuộc sống kháng chiến, vừa rèn luyện mình, vừa phục vụ cho công việc mở mang dân trí, động viên quân và dân đoàn kết chiến đấu bằng nhiều hình thức dễ cảm hóa quần chúng như báo chí, phát thanh, kịch ngắn, tranh ảnh, áp phích, thơ ca, kể chuyện, múa hát, hò, vè, v.v... Những sáng tác về người thực việt thực, phục vụ kịp thời, được quần chúng rất ưa thích. Những gương sáng của các chiến sĩ thi đua, của những anh hùng trên các mặt trận kháng chiến, những chiến công và thành tích ở các chiến trường và hậu phương là chất liệu phong phú để sáng tác. Nhiều văn nghệ sĩ tham gia quân đội, cùng với các chiến sĩ đi chiến đấu, dự các chiến dịch. Nhiều người lăn lộn với đồng bào trong các vùng bị địch chiếm, tổ chức truyền tin thời sự, cùng lao động và cùng chiến đấu. Những luận điệu phản động của đế quốc và tay sai nhằm chia rẽ dân tộc, làm yếu sức kháng chiến đều bị vạch trần. Đường lối chính sách kháng chiến và kiến quốc của Đảng được phổ biến, giải thích thông qua các hình thức văn nghệ thường dễ đi sâu vào lòng người và trở thành hành động có hiệu quả cao. Hoạt động văn hóa còn đáp ứng ngày càng nhiều những yêu cầu giải trí lành mạnh của quân và dân ta. Các tổ chức chi hội văn nghệ được thành lập và phát triển ở các liên khu. Đội ngũ văn nghệ sĩ mở rộng. Kháng chiến đem đến cho họ một sức sống mới. Khí thế quyết chiến quyết thắng của toàn dân với những hành động anh hùng là lò rèn đúc nên nền văn nghệ mới. Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa được tiến hành với đường lối đúng đắn, đội ngũ chiến sĩ văn hóa trưởng thành, và phong trào quần chúng tham gia đông đảo đã góp phần rất quan trọng vào công tác xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp. Đời sống văn hóa ở cơ sở với những hoạt động giáo dục, thông tin đại chúng, văn học nghệ thuật, xây dựng nếp sống mới, vui chơi giải trí lành mạnh, đã tạo nên tinh thần lạc quan cách mạng, niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng. Cuộc đấu tranh đó đã tạo nên những vốn liếng quý báu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ trên mặt trận này. Đó là đường lối văn hóa đã được thử nghiệm, đội ngũ cán bộ văn hóa được rèn luyện và phát triển cả về số lượng và chất lượng và những kinh nghiệm phong phú và quý giá đã tích lũy được.

-----------------
1. Hồ Chí Minh, Thư gửi hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai, ngày 15-7-1948.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:49:40 am

        Kết quả của công tác giáo dục, văn hóa đã từng bước cung cấp cán bộ cho các ngành hoạt động xã hội và đáp ứng cho nhu cầu cuộc kháng chiến ngày càng phát triển. Nhờ đó sản xuất được đẩy mạnh, kinh tế và văn hóa phát triển, việc củng cố và phát huy sức mạnh của hậu phương được thực hiện theo yêu cầu càng ngày càng vững hơn để phục vụ cho kháng chiến thắng lợi. Đường lối đúng đắn của Đảng đã phát động được quần chúng sáng tạo ra nhiều hình thức để thực hiện các chương trình văn hóa, giáo dục, đào tạo cán bộ bằng những hình thức và phương pháp linh hoạt, thích hợp với hoàn cảnh và điều kiện kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ.

        Việc chăm lo đền đời sống vật chất của nhân dân giữ một vị trí quan trọng trong đường lối kháng chiến nói chung cũng như trong chiến lược xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương nói riêng. Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng ngay khi chính phủ cách mạng mới được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dề nghị với Quốc hội trong phiên họp đầu tiên giải quyết những nhiệm vụ cấp bách nhất là: “1- Làm cho dân có ăn; 2- Làm cho dân có mặc; 3- Làm cho dân có chỗ ở; 4- Làm cho dân được học hành”. Tiếp tục chủ trương đó, trong hai cuộc kháng chiến những vấn đề cấp bách nói trên được cải thiện. Có như vậy, cuộc kháng chiến lâu dài mới được tiếp sức để giành thắng lợi. Kháng chiến thắng lợi sẽ tạo ra điều kiện cơ bản để mang lại ấm no hạnh phúc cho toàn dân, cho cả nước. Vấn để chăm lo đời sống được giải quyết một cách thiết thực sát với hoàn cảnh của đất nước vừa đánh giặc vừa sản xuất. Nhu cầu trước nhất và cơ bản nhất của đời sống là ăn no, mặc ấm. Biện pháp tích cực và có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu này là thực hiện triệt để chủ trương toàn dân tăng gia sản xuất, tiến tới tự cấp tự túc, thực hành tiết kiệm. Toàn dân hưởng ứng nhiệt liệt lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh hăng hái lao động, sản xuất ra nhiều lương thực, hoa mầu, vải vóc. Bộ đội, công nhân, cán bộ cũng dành thời gian để tăng gia tự túc một phần lương thực. Công tác y tế trong kháng chiến được tổ chức tốt và phát triển mạnh. Bệnh viện và bệnh xá tăng gấp hơn 3 lần vào năm 1953 so với thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám. Đội ngũ cán bộ y tế và hội sinh viên cũng được đào tạo đủ bảo đảm để chăm lo sức khỏe cho nhân dân ở các xã trong vùng tự do.

        Cùng với việc chăm lo cải thiện đời sống cho quân và dân, Đảng và Chính phủ còn chú ý giáo dục mọi người tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, đồng cam cộng khổ, giúp đỡ và đùm bọc lẫn nhau. Trong chiến đấu cùng nhau đoàn kết, hiệp đồng, trong lao động sản xuất để củng cố hậu phương cũng phải hiệp đồng, đoàn kết.

        Dưới chính quyền cách mạng, tuy cuộc sống còn nhiều vất vả, nhất là còn phải kháng chiến chống ngoại xâm, đồng bào các dân tộc trên cả nước đã thấy được sự chăm lo của Đảng và Chính phủ Cụ Hồ đối với đời sống của mình về mọi mặt. Phải đánh giặc ngoại xâm để bảo vệ chế độ cách mạng này, giành lại nền độc lập và thống nhất Tổ quốc. Đó là nguyện vọng, là lý tưởng và cũng là hành động thống nhất của quân và dân cả nước ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương trên các mặt trận dấu tranh.

        Trên mặt trận kinh tế, đất nước ta từng bị thực dân xâm lược làm cho kiệt quệ. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, việc xây dựng hậu phương về kinh tế được tiến hành bằng một chiến lược đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam. Chiến lược đó đã xác định nền kinh tế kháng chiến phải được xây dựng trên cơ sở dựa vào nông dân, vì ở nước ta lúc đó nông dân là lực lượng sản xuất cơ sở của xã hội. “Bộ phận kinh tế công nghiệp của ta chỉ có một số cơ sở sản xuất quốc phòng. Ngoài bộ phận kinh tế quốc phòng này, còn có bộ phận kinh tế thu hút đông đảo lực lượng nhân dân của cả nước là nền kinh tế nhân dân, kháng chiến của nông dân. Đó là nền kinh tế duy nhất của chúng ta để bảo đảm sự sinh sống cho nhân dân và cung cấp mọi nhu cầu cho cuộc kháng chiến”1. Nông dân được giúp phương tiện sản xuất, giúp vốn, trâu bò, nông cụ... để có thể phát huy hết khả năng lao động của mình. Chính sách giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất làm cho sức nông dân được bồi dưỡng cả về vật chất và tinh thần. Trên cơ sở của nền kinh tế nông dân, khu vực kinh tế nhà nước gồm các xí nghiệp công nghiệp quốc phòng, các xí nghiệp công nghiệp dân dụng quốc doanh, các cơ sở mậu dịch, vận tải quốc doanh và ngân hàng nhà nước được hình thành. Trong nông nghiệp, một số nông trường quốc doanh được thành lập do tịch thu đồn điền của thực dân và Việt gian. Các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ; vận tải được tổ chức ở nhiều nơi. Nền kinh tế kháng chiến được xây dựng và phát triển từng bước vững chắc qua những thành công và vấp váp khó tránh khỏi những năm chiến tranh chống Pháp đã cung cấp nhiều kinh nghiệm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.

-----------------
1. Lê Duẩn, Giai cấp vô sản và vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, tr. 183.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:50:42 am

        Những kết quả xây dựng và phát triển kinh tế đều phải trải qua đấu tranh gay go, quyết liệt với kẻ địch. Nền kinh tế kháng chiến hàng ngày hàng giờ phải chống lại những thủ đoạn thâm độc mà bọn thực dân luôn luôn sử dụng để phá hoại tiềm lực vật chất tinh thần của ta. Trong vùng tạm bị chiếm, chúng giám sát chặt chẽ việc sản xuất và thu hoạch sản phẩm, tìm mọi cách ngăn chặn việc lưu thông hàng hóa giữa vùng chúng kiểm soát với vùng tự do. Chúng thiết lập những “vành đai trắng” để thực hiện thủ đoạn phong tỏa kinh tế. Đồng thời đối với các khu căn cứ và hậu phương, chúng dùng bom đạn, tổ chức những cuộc hành quân phá hoại sản xuất, cướp phá mùa màng. Hai nền kinh tế địch, ta đấu tranh không khoan nhượng. Kẻ địch muốn dùng biện pháp kinh tế để bóp chết cuộc kháng chiến của nhân dân ta đồng thời để thực hiện thủ đoạn “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng, cứu vãn thất bại trên mặt trận quân sự. Đặc biệt sau thất bại trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, tâm lý chán nản trong quân đội Pháp càng lan rộng. Pháp phải cầu xin viện trợ quân sự và kinh tế Mỹ. Đồng thời các tổ chức kinh tế Pháp ở Đông Dương bắt đầu rút vốn sang các thuộc địa khác và thi hành chính sách vơ vét tràn lan đối với những xí nghiệp và đồn điền của chúng. Hậu phương lớn là nước Pháp với sự kiệt quệ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự bất bình của quần chúng đối với cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” không thể hỗ trợ được mãi cho cuộc xâm lược Đông Dương đã tới năm thứ chín. Trái lại về phía ta đường lối kinh tế kháng chiến của Đảng đề ra đã được thực hiện thắng lợi. Nền kinh tế lúc mới kháng chiến rất yếu kém tưởng chừng không có cách gì đáp ứng được yêu cầu đánh lâu dài cho đến khi thắng lợi, đã vươn lên từng bước, bảo đảm cho toàn dân, chiến thắng kẻ thù. Kinh tế kháng chiến đã thắng trên toàn miền Bắc được giải phóng. Kinh tế thực dân bị đẩy lùi và phát triển theo kiểu thực dân mới của đế quốc Mỹ trên nửa phần phía nam của đất nước ta.

        Mọi công tác xây dựng hậu phương theo đường lối cách mạng, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng sẽ không thể thực hiện với kết quả to lớn như đã diễn ra nếu tổ chức Đảng ở các cấp không được củng cố và phát triển. Chính vì vậy, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, rút kinh nghiệm, tổ chức bồi dưỡng đảng viên và cán bộ, kiểm tra đôn đốc sinh hoạt Đảng ở các cấp theo Điều lệ Đảng, các chỉ thị của Trung ương và những lời căn dặn của Người. Việc tự phê bình và phê bình được tiến hành có nền nếp trong các đảng bộ. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được đảng viên và quần chúng coi trọng và thực hiện toàn tâm, toàn ý trên cơ sở cùng chung mục đích cách mạng, cùng nhất trí với đường lối của Đảng. Việc học tập và tu dưỡng của đảng viên để làm được nghĩa vụ trước Đảng, trước nhân dân được khuyến khích và thực hiện tích cực. Những đảng viên và cán bộ gương mẫu được quần chúng rất quý mến, giúp đỡ, nuôi dưỡng và đùm bọc, bảo vệ. Nhờ đó mà ngay ở những vùng địch tạm chiếm, chi bộ Đảng, các tổ chức đoàn thể trong mặt trận thống nhất dân tộc vẫn hoạt động, vẫn phát triển và phát huy tác dụng. Trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ, sinh hoạt thiếu thốn, nguồn cung cấp sức mạnh cho đảng viên và cán bộ là sự giác ngộ về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tinh thần kỷ luật và đoàn kết ngày càng được củng cố. Sự giúp đỡ chân tình của tập thể và quần chúng làm cho việc đấu tranh để khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong nội bộ được tiến hành có kết quả tốt. Trong thời kỳ kháng chiến chính sự vững mạnh của các tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên đã làm cho đồng bào cả nước tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đi cùng với Đảng để đánh thắng mọi kẻ thù. Cũng như thời kỳ giành chính quyền, mọi người dân Việt đều “tiến lên, tiến lên theo cờ Việt Minh”, thì trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân ta trên mọi miền đất nước lại đi theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ, sẵn sàng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” để giành độc lập tự do. Không một luận điệu lừa bịp xảo quyệt nào, không một thủ đoạn khủng bố dã man nào có thể làm cho nhân dân ta xa rời mục tiêu đó. Kết quả cuối cùng là cả hai kẻ thù xâm lược đều bị thất bại hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:54:51 am
       
*

*        *

        Vấn đề hậu phương trong chiến tranh nhân dân Việt Nam được giải quyết trong những điều kiện lịch sử của nước ta, một nước thuộc địa nửa phong kiến bị áp bức bóc lột suốt gần một thế kỷ và tiếp đó kháng chiến chống xâm lược kéo dài tới 30 năm. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống hai đế quốc to đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn để xây dựng hậu phương trong thời bình, giải quyết có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

       
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÓ LÀ:

        1. Khái niệm về sự vững mạnh và vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh. Về vấn đề này, Mác, Ăng-ghen, Lê-nin và Xta-lin đều đánh giá cao nhân tố chính trị - tinh thần, đồng thời cũng nhấn mạnh đến yếu tố trang bị vũ khí. Xta-lin khi đề cập đến sự thử thách khắc nghiệt của chiến tranh đã nói: “Lịch sử chiến tranh dạy rằng chỉ có những nước nào mạnh hơn đối phương của mình về mặt phát triển và tổ chức kinh tế, về kinh nghiệm, tài nghệ và tinh thần chiến đấu của quân đội, về tinh thần kiên cường và đoàn kết của nhân dân trong suốt cả quá trình chiến tranh thì mới chịu đựng được sự thử thách đó”1. Nói về điều kiện vật chất, kỹ thuật, Xta-lin viết: “nếu cho rằng chúng ta giành được thắng lợi đó là nhờ kết quả của tinh thần dũng cảm của quân đội ta thì đó lại càng sai lầm. Không có tinh thần dũng cảm tất nhiên không thể giành được thắng lợi. Nhưng chỉ dựa vào tinh thần dũng cảm thì vẫn chưa có thể đánh được quân đội của kẻ thù rất đông, được vũ trang mạnh mẽ, sĩ quan được huấn luyện kỹ càng, quân trang quân dụng được cung cấp đầy đủ. Để có thể chống lại sự tiến công của một kẻ địch như vậy, sau đó lại phản công và hoàn toàn đánh bại chúng thì ngoài việc dựa vào tinh thần dũng cảm vô song của quân đội ta ra, còn cần phải có những vũ khí hiện đại nhất với số lượng thật đầy đủ; thêm vào đó còn phải tổ chức thật tốt việc cung cấp với số lượng theo yêu cầu. Để làm được việc này cần phải chuẩn bị đầy đủ những thứ tối thiểu sau đây: những thứ kim loại nhằm cung cấp cho việc chế tạo vũ khí và những thiết bị của các xí nghiệp, nhiên liệu để các cơ quan vận tải và các xí nghiệp hoạt động, lương thực để cung cấp cho quân đội...”2.

        Có thể thấy rõ khi nói đến hậu phương vững mạnh, không thể không nói đến một tiêu chuẩn quan trọng là tiềm lực kinh tế. Trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược, Đảng ta không hề coi nhẹ tiêu chuẩn này. Theo đồng chí Lê Duẩn, “một hậu phương vững mạnh là một hậu phương có tiềm lực kinh tế và quốc phòng hùng hậu, có một nguồn dự trữ dồi dào để cung cấp lương thực, súng đạn, sức người, sức của đầy đủ cho tiền tuyến”3. Đồng chí Trường Chinh coi một trong những “nhân tố thường xuyên của thắng lợi trong một cuộc chiến tranh nhân dân ở thời đại chúng ta” là “hậu phương chiến tranh nhân dân được củng cố, nguồn cung cấp nhân tài vật lực cho chiến tranh dồi dào, chỗ dựa của các lực lượng vũ trang vững mạnh”4. Đảng ta không coi nhẹ vai trò của hậu phương, đồng thời cũng khẳng định những yếu tố tạo nên sức mạnh của hậu phương. Song nhìn vào thực tế tình hình đất nước khi buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến để bảo vệ thành quả cách mạng, chống quân xâm lược, Đảng nhận thức và giải quyết vấn về hậu phương bằng quan điểm biện chứng và khẳng định: tuy không có nền kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật bằng kẻ địch, nhưng nhân dân ta vẫn có thể đánh thắng chúng. Tính quyết định của nhân tố hậu phương để giành thắng lợi trong chiến tranh chống xâm lược ở Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là ở chỗ hậu phương được xây dựng phát triển và huy động được tới mức cao nhất, nhiều nhất sức người, sức của của toàn dân cho kháng chiến theo yêu cầu càng đánh càng mạnh để đi tới thắng lợi hoàn toàn. Khi buộc phải phát động chiến tranh cách mạng, Đảng ta hiểu rằng giá trị quyết định của hậu phương lúc này không phải chủ yếu ở tiềm lực kinh tế và kỹ thuật, tuy đây là một yếu tố quan trọng. Hậu phương tuy chưa có kinh tế mạnh nhưng vẫn có thể bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi. Trình độ học vấn của nhân dân tuy còn thấp, khoa học kỹ thuật còn kém, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù địch sâu sắc, nhất quyết không chịu làm nô lệ, đồng bào cả nước có thể xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương để đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến. Trình độ nhân văn cao, truyền thống cố kết dân tộc chống ngoại xâm sẽ tạo ra lực lượng to lớn để khắc phục những khó khăn và yếu kém về trang bị vật chất, kỹ thuật và giành toàn thắng. Trí tuệ của cả dân tộc nhằm đánh thắng kẻ xâm lược sẽ cao hơn trí tuệ của kẻ đi xâm lược bị đánh trả ở khắp nơi. Sức mạnh của hậu phương trước hết là ở lòng dân. Chân lý đó đã được chỉ ra qua lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Đảng và Chính phủ tổ chức và lãnh đạo để hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan”5. Vừa chiến đấu vừa xây dựng, Đảng ta với quan điểm phát triển đã lãnh đạo toàn dân làm chuyển hóa tiềm lực về mọi mặt của hậu phương từ yếu đến mạnh. Quan điểm đó là một căn cứ quan trọng để xác định quyết tâm kháng chiến.

-----------------
1. Dẫn theo Về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1965, tr.113.

2. J.V.Xta-lin, “Không có công nghiệp nặng thì không bảo vệ được Tổ quốc”, in trong Sức mạnh của quân đội ta, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr.69-70.

3. Lê Duẩn, Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, tr.28.

4. Trường Chinh, Bàn về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr.54.

5. Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.155.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:56:12 am
        
        2. Bằng cách gì Đảng và nhân dân ta đã giải quết thành công vấn đề hậu phương trong kháng chiến? Chúng ta không bao giờ coi thường vai trò của kinh tế trong chiến tranh, không đánh giá thấp tác dụng của trang bị vũ khí, kỹ thuật trong cuộc đấu tranh vũ trang. Đảng và Chính phủ ta khi phát động khởi nghĩa vũ trang cũng như trong quá trình lãnh đạo toàn dân tiến hành chiến tranh cách mạng luôn luôn tìm mọi cách để vũ trang cho toàn dân, đặc biệt là cho các lực lượng vũ trang nhân dân. Song, trong hoàn cảnh vật chất thiếu thốn, Đảng đã giáo dục và hướng dẫn cho quân và dân cả nước biết sử dụng cơ sở vật chất hiện có để vừa kháng chiến vừa kiến quốc, biết tạo thêm của cải, thực hành tiết kiệm, biết làm hao mòn lực lượng vật chất, kỹ thuật của địch làm cho chúng càng theo đuổi chiến tranh càng kiệt quệ, biết khoét sâu mâu thuẫn nội bộ của chúng, biết tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ ngày càng nhiều và có hiệu quả của quốc tế. Bằng những cách đó hậu phương của ta vẫn có thể làm được chức năng và nhiệm vụ của mình. Kháng chiến lâu dài không làm cho hậu phương bị kiệt sức. Tiềm lực kinh tế yếu kém hơn địch vẫn bảo đảm được cho kháng chiến thắng lợi. “Thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau”1. Lời dạy đó Bác Hồ đã được toàn dân và toàn quân thực hiện triệt để.

        Qua việc tổ chức và phát huy sức mạnh hậu phương trong hai cuộc kháng chiến, có thể khẳng định những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công là:

        1. Có quyết tâm kháng chiến cao, không vì khó khăn, thiếu thốn mà chịu khuất phục trước kẻ thù có sức mạnh vật chất hơn ta.

        2. Có đường lối đúng đắn, sáng tạo độc lập tự chủ được xác định trên cơ sở nắm vững và phát huy chính nghĩa của Việt Nam, đánh giá đúng địch, ta và các mối quan hệ phức tạp của tình hình thế giới và trong nước. Đường lối đó sử dụng được những khả năng rất hạn chế của hậu phương khi mới nổ ra chiến tranh, đồng thời lại tạo điều kiện cho hậu phương nhân lên và khai thác được sức mạnh tiềm tàng, phát huy từng bước sức mạnh đó làm cho cuộc kháng chiến ngày càng phát triển cho đến thắng lợi.

        3. Đường lối đúng đắn đó được nhân dân cả nước nhất trí thực hiện với khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc được xây dựng trên cơ sở giác ngộ chính trị cao. Nhờ đó, mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước được biến thành hiện thực, đem lại kết quả to lớn. Trong quá trình thực hiện đường lối kháng chiến cũng như chiến lược hậu phương, vai trò của nhân dân các dân tộc mà nền tảng là khối công nông liên minh do giai cấp công nhân lãnh đạo đã được đánh giá đúng đắn và được phát huy bằng nhiều chủ trương và chính sách thích hợp. Sức dân được huy động để phục vụ kháng chiến đồng thời cũng được bồi dưỡng để phục vụ được lâu dài, bền bỉ.

        4. Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng gắn bó với dân, được nhân dân cho dựa và cũng là chỗ dựa để nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

        5. Có nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo của chiến tranh nhân dân vừa thực hiện được nhiệm vụ đánh địch trong điều kiện của đất nước và con người Việt Nam, vừa tạo được thuận lợi để xây dựng hậu phương vững mạnh.

        6. Tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế khắc phục những chỗ yếu và thiếu trong quá trình phát triển tiềm lực của hậu phương.

        Những kinh nghiệm về giải quyết vấn đề về hậu phương trong hai cuộc kháng chiến vừa qua vẫn có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng đất nước hiện nay theo yêu cầu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Trước những thuận lợi mới và thử thách mới, Nghị quyết của Đại hội VIII đã chỉ ra phương hướng, nội dung và biện pháp lớn để xây dựng và bảo vệ chế độ và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện có kết quả những nghị quyết đó toàn Đảng và toàn dân ta đang phải chiến đấu chống những kẻ thù của chủ nghĩa xã hội mà đế quốc Mỹ vẫn là kẻ tiêu biểu. Bị thất bại trong cuộc chiến tranh nóng, Mỹ đang lợi dụng tình hình quốc tế có lợi cho chúng hiện nay tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng đang dùng đô-la, khoa học công nghệ tiên tiến và lý luận phản động để thực hiện mục tiêu đó. Sức mạnh quân sự không ngừng phát triển trong điều kiện mới được dùng để răn đe và khi gặp thời cơ có lợi, cũng sẽ được sử dụng.

-----------------
1. Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.92.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2016, 01:59:53 am

        Qua thực tế lịch sử được trình bày trên đây, tập thể tác giả xin nêu mấy kiến nghị sau đây:

        1. Quan tâm nhiều hơn nữa đến việc củng cố và phát triển sức mạnh tinh thần của toàn dân. Tuy là “lực lượng vô hình”, nhưng đây lại là sức mạnh cụ thể đã được biểu hiện rõ trong suốt quá trình cách mạng của dân tộc ta. Đó là khối đoàn kết, thống nhất của toàn dân xung quanh Đảng được xây dựng trên nền tảng nhất trí về mục tiêu và đường lối cách mạng. Vì vậy trong xã hội ta mọi tầng lớp dân cũ và các giai cấp sống hòa hợp và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay trong điều kiện mở cửa, khi nền kinh tế còn có thành phần tư doanh, việc làm ăn buôn bán tư nhân còn được hiến pháp thừa nhận thì vấn đề đoàn kết toàn dân để xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thực hiện được khi mọi người trong xã hội, mọi thành phần kinh tế đều quán triệt đường lối của Đảng trong giai đoạn cách mạng này. Điều quan trọng là làm sao trong xã hội ta hiện nay không có đối kháng giai cấp. Muốn vậy thì điều cơ bản là mọi người không mất phương hướng xã hội chủ nghĩa. Việc giáo dục chính trị vì vậy cần được tiến hành tích cực và thường xuyên cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Cần giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách cơ bản, có hệ thống; gắn lý luận với thực tiễn để giải thích những sự kiện trong xã hội, đấu tranh chống các luận điệu phản động, giáo dục lòng yêu nước, yêu nhân dân, không làm gì hại cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

        2. Củng cố các cơ quan có chức năng nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị. Đào tạo đội ngũ cán bộ lý luận để có lực lượng nghiên cứu cơ bản lâu dài liên tục.

        3. Coi trọng công tác tổng kết lý luận, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, sử dụng thành quả đạt được làm tài liệu để giáo dục cho lớp cán bộ trẻ. Lớp cán bộ này có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật trong đó nhiều người đang đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong các ngành hoạt động xã hội. Song vì không có điều kiện rèn luyện trong đấu tranh cách mạng nên họ thường gặp khó khăn và vấp váp trong cách nhìn nhận tình hình nhất là trong giao dịch với nước ngoài.

        4. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, kiểm tra đôn đốc thường xuyên việc sinh hoạt Đảng cho thiết thực, có chất lượng cao, theo Điều lệ Đảng. Đặc biệt thực hiện dân chủ, nâng cao tính kỷ luật tự giác thực hiện đoàn kết, giúp nhau tiến bộ trên cơ sở đấu tranh thẳng thắn, chân tình. Vì vậy cần thực hiện tự phê bình và phê bình thành nền nếp và thiết thực. Vấn đề này ít được nhắc tới nên tuy có làm, nhưng kết quả thấp. Cần tái bản tài liệu Sửa đổi lề lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết từ năm 1946 cho đảng viên và cán bộ nghiên cứu liên hệ với bản thân để rèn luyện mình.

        5. Củng cố các đoàn thể quần chúng và Mặt trận Tổ quốc để các đoàn thể đó có sức sống mạnh mẽ, thực sự phát huy vai trò và tác dụng trong công tác giáo dục nhân dân làm tốt nghĩa vụ đối với Tổ quốc, giữ vững kỷ cương, đoàn kết chặt chẽ, giúp nhau nâng cao trình độ chính trị, chống mọi hành động tiêu cực và những tập quán lạc hậu.

        6. Tuyên truyền quốc tế rộng rãi về sự nghiệp chính nghĩa của ta, về thiện chí giữ gìn và hợp tác hữu nghị với các nước trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp vào nội bộ của nhau. Giáo dục cán bộ và nhân dân nắm vững đường lối đối ngoại, có ý thức cảnh giác, giữ bí mật quốc gia, giữ vững lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2016, 09:43:46 pm
    
PHỤ LỤC

THÀNH TÍCH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÀN VÀ DẰN TA TRONG 9 NẢM (1945 - 1954)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200001_Flat_zpsbnt7vfms.jpg)

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG GIỮA TA VÀ ĐỊCH TRONG KHẢNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200002_Flat_zpsrkqndhau.jpg)

CHI PHÍ VÀ SỐ QUẢN CỦA PHÁP TRÊN CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG DƯƠNG (1945 - 1954)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200002a_Flat_zps4j3k5c0k.jpg)

CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CHI NGÀN SÁCH (nĂm 1950 = 100)

1951    1952    1953    1954    
Tổng số chi152181204310
Riêng - Chi kiến thiết kinh tế129142254712
Chi cho văn hóa y tế142153189297



Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2016, 10:32:15 pm
       
RUỘNG ĐẤT CHIA CHO NÔNG DÂN MIỀN BẮC QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ(1)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200003a_Flat_zpsrcaseigr.jpg)

1. Số liệu tinh toán từ tài liệu cùa 3036 xã cùa miền Bắc.

2. Tinh dến tháng 4-1963 dối với các vừng tự do và đến tháng 7 năm 1954 đối vởi vừng mới giải phóng

3. Không kể ruộng đất cải cách ruòng đắt để lại cho dịa chù, nhố chung và dự trữ.

SẢN XUẤT LƯƠNG THỰC Ở VÙNG TỰ DO
(nghỉn tấn)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200004_Flat_zpsf51nlxcq.jpg)

CHÌ SỐ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LƯƠNG THỰC Ở VÙNG TỰ DO
 (năm 1946 = 100%)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200005_Flat_zps0ullyn1j.jpg)

SẢN XUẤT QUỐC PHÒNG PHỤC VỤ KHÁNG CHIẾN
(từ 1950 đến 1954)

Chủng loạiTổng số
Mìn địa lôi449,5 nghìn quà
Lựuđạn1.398,9 nghln quả
Bộc phá139.4 nghìn quả
Đạn ba-dô-ca16,8 nghìn viên
Đạn súng trường2.600,0 nghln viên
Đạn oOÍi167,0 nghìn viên

Riêng năm 1954 đã sản xuất: 

Súng ĐKZ                    4S6 khẩu
Súng phóng bom          243 khẩu
Súng phóng  lựu đạn     2.030 khẩu
Súng ba-dô-ca             785 khẩu
Súng cối                      1.908 khẩu
Măng-xòng AT              2.355 khẩu
Tơ năm lông                 4.551 khẩu




Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2016, 10:42:25 pm
        
KẾT QUẢ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN PHỤC VỤ CÁC NHU CẦU KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC
(năm 1950 = 100%)

1951    1952    1953    1954
Thiếc109112129135
Than125134182196
Phốt phát    114142165179

1950    1951    1952    1953    1954
1. Vải các loại (triệumét)   33,233,033,834,534,8
- Lièn khu Việt Bắc0,50,60,60,70,7
- Liên khu 3 + 422,723,023,423,824,0
- Liên khu 59,09,49,810,010,1
2. Giấy các loại (nghìn tấn):4,04,84,97,410,6
- Quốc doanh1,72,12,63,96,1
- Thủ công nghiệp  2,32,72,33,54,5

CHỈ SỐ NGẰN SÁCH NHÀ NƯỚC CHI VẾ KINH TẾ VĂN HÓA - XẢ HỘI

1951    1952    1953
Kinh tế100111198
Vãn hóa xã hội    100150

TỈ TRỌNG THUẾ NÒNG NGHIỆP TRONG TỔNG SỐ THU CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1951    1952    1953    
83%70%76%

THÀNH TỰU GIÁO DỤC Ở VÙNG TỰ DO TRONG KHÁNG CHIẾN

1949-50    1950-51   1951-52    1952-53    1953-54
Trường học:   30473469379138324104
Cấp l28453118340634913673
Cấp II193216302316397
Cấp III915232534
Giáovièn
(người)7989987810.25010.44012.592
Cấp l731489449.1389.23011 240
Cấp II63084998210601.176
Cấp III4585130150176

Chỉ số phát triển (%)

1949-50    1950-51   1951-52    1952-53    1953-54
Trường học100    114    124    126    135
Cấp l100110122123129
Cấp II100112156164195
Cấp III100167256278378
Giáo viên   100124128131158
Cấp l100122125126154
Cấp II100135156168187
Cấp III100188289333391

HỌC SINH PHỔ THÔNG THONG KHÁNG CHIẾN
(nghìn người)

1949-50    1950-51    1951-52    1952-53    1953-54
Tổng số   413,4504,7518,4527,1624,3
Cấp l381,9462,8470,2474,7568,2
Cấp II30,840,746,850,352,9
Cấp III0,71,21,42,13,2
Nữ HS82,993,999,0109,8192,8
Cấp I80,790,995,2104,4186,6
Cấp II2,12,93,75,26,4
Cấp III0,10,10,10,20,4

Chỉ số phát triển (%)

1949-50    1950-51    1951-52    1952-53    1953-54
Tổng số    100    122    125    128    151    
Cấpl100121123124149
CấpII100132152163172
Cấp HI100171200300457
NữHS100113119132233
Cắpl100113118129231
CấpII100138176248305
cấp IU100100100200400



Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2016, 11:27:50 pm
      
GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP Ở VÙNG Tự DO(1)

1950-51    1951-52    1952-53    1953-54
Trường học   1235 1
Giáo viên8225095
Học sinh2505391.0152.054

Chỉ số phát triển (%)

1950-51    1951-52    1952-53    1953-54
Trường học100200300500
Giáo viên1002606301.190
Học sinh100220410820

(1) Chưa tinh các trường trong quân đội.

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VÙNG TỰ DO

1950-51    1951-52    1952-53    1953-54
Trường học1234
Giáo viên7243589
Học sinh1503904121.020

Chĩ số phát triền (%)

1950-51    1951-52    1952-53    1953-54
Trường học  100200300400
Giáo viên  1003405001.270
Học sinh100200270680

Học sinh đại học đi học nước ngoài:
             1963 - 1954: 244 người.
             1954 - 1955: 329 người.

XÂY DỰNG CƠ SỞ Y TẾ TRONG VÙNG TỰ DO

19501954
Bệnh viện bệnh xá120135
Phòng khám bệnh685790
Trạm cứu thương630740
Nhà hộ sinh295300

TỲ TRỌNG THUẾ NÔNG NGHIỆP TRONG TỔNG SỐ THU CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200014_Flat_zpsprnjfg97.jpg)

TỔNG CHI PHÍ CỦA PHÁP QUA CÁC NĂM

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200015_Flat_zpsqk5i3xim.jpg)

VIỆN TRỢ CỦA MỸ CHO PHÁP

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200016_Flat_zpsxzokxbtr.jpg)



Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:38:45 am
so SÁNH CÁC KHOẢN CHI TIÈU QUÀN sự CỦA KHÓI NATO VÀ CỦA MỸ TỪ 1964 ĐẾN 1971
(ti đô-la)

Nguồn: The American Almanac, Grossetand and Dunlap Ine, New York, 1973.
Dẫn lại theo Bùi Đinh Thanh - Võ Nhân Trí, Tổ hợp quân sự - công nghiệp Mỹ... Nxb Quân dội nhân dân, 1974.


1964    1965    1966    1967    1968    1969    1970    1971    
I. Theo giá đô-la hiện hành                
a) Toàn khối NATO  73  74  87  100  105  106  104  106
b) Riêng Mỹ 51,01351,87263,91874,93880,98481,078,077,976
II. Theo giá đô-la oố định 1969
a) Toàn khối NATO90 90102115115112104102
b) RiêngMỹ62,988 62,97274,98786,08889,04086,08878,073,899

THỪA HOẶC THIẾU HỤT NGÂN SÁCH CỦA MỸ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200017_Flat_zpsq8srcj3c.jpg)

VIỆN TRỢ CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200017a_Flat_zpse6xk67t0.jpg)

CHI PHÍ NGẰN SÁCH CỦA MỸ VÀO cuộc CHIẾN TRANH VIỆT NAM

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200018_Flat_zps6muirhaw.jpg)

Nguồn: Cuốn Tóm tắt thống kê Mỹ. Dẫn theo R. Stevens trong "Hy vọng hăo huyền, thực tế phũ phàng', Nxb New Vienpoints, New York - London 1976.

Nhận xét: Chi phí ngân sách của cuộc chiến tranh Việt Nam tăng nhanh trong 3 năm sau năm tài chinh 1965. Năm 1968, tổng chi phí của nó tăng gấp 265 lần so với năm 1965. Năm 1969, nó ngồn khoảng 1/3 toàn bộ chi phi quăn sự và khoảng 3% tổng sản phẩm quốc gia.





Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2016, 02:35:31 pm
        
LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP Ở MỸ DO TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM
(1960 - 1973)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200018a_Flat_zpsrrk9bdkp.jpg)
1.   Thời kỳ 1960 - 1965, do sự phát triển của kinh tê Mỹ và do chưa đưa quân chiến đấu Mỹ vào Nam Việt Nam; chưa leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam nên mức thất nghiệp giảm xuống và không có một số tăng lạm phát nào đáng kể.

2.   Trong nhứng năm tiếp theo, thời kỳ Mỹ tăng cường chiến tranh ờ Việt Nam, 1966 - 1969, thất nghiệp giảm xuống 4% nhưng lạm phát tăng nhanh; đạt mức 4,8% nám 1969.

3.   Thời kỳ 1970 - 1973, khi Mỹ rút dần quân chiến dấu trên bộ ra khỏi Nam Việt Nam, thất nghiệp táng iên 5 đến 6% và lạm phát ở mức 3 đến 3,5%.

4.   Khung kẻ đậm và gạch ngang cho thấy: nền kinh tế Mỹ đáng lẽ sẽ phát triển bình thường, ổn định nếu thất nghiệp ở mức bằng hoặc thấp hơn 4% và lạm phát bằng hoặc thấp hơn 2%.

        Thê nhưng, do chiến tranh Việt Nam, hền kinh tế Mỹ càng suy sút. Khi đó, hệ thống các nút đen càng rời xa khung kẻ đậm, gạch chéo. Vì thế, từ sau 1969, đặc biệt từ sau 1973, nền kinh tế Mỹ lảm vào tình trạng tồi tệ. Đến đầu năm 1975, thất nghiệp tăng lên 8,5%; lạm phát giá cả hàng nãm tăng tới 12%.

        (Nguồn: Hội đồng cố vấn kinh tế, Báo cáo kinh tẽ của tổng thống Mỳ 2 năm 1973 - 1975, dẫn theo R.Stevens).

VIỆN TRỢ CỦA LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC
(Từ nâm 1972 đến nâm 1975)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200020_Flat_zpstx25n9uc.jpg)
Liên Xô: triệu rúp; Trung Quốc: chục triệu nhân dân tệ
Nguồn: Tập thông kê của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

SO SÁNH SỨC MẠNH KINH TẾ GIỮA HOA KỲ VÀ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/HP%20-%200021_Flat_zpsj0ltfwa8.jpg)
Ghi chú: Mỹ so vời Vièt Nam dân chủ cộng hòa
(Nguồn: Niên giám Bách khoa loàn thư, Thời báo Niu Yoóc,1972)

VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA MỸ CHO NGỤY QUYỀN NAM VIỆT NAM
(Từ 1955 đến 1975)

Năm           Tíèn viện trợ Đơn vị: triệu đô-la           Nguồn
1955234.8a
1956180.0a
19571628a
1958144.3a
1959143,0a
1960164,0a
1961-62750,0b
1963211,5c
1964216,4c
1965300,0c
1966862,0a
19671.203,5a
19681.054,5a
19691.608,2a
19701.692,6a
19711.882,5a
19722.382,0a
19732.270,5a
19741.026,0a
19751.450,0a
Cộng17.938,6


Nguồn:

a.   Theo tài liệu VNTTX

b.   Theo tin AFP ngày 6-3-1963

c.   Theo Harold Hovey Us Ulilitary Assistance (dẳn theo Bùi Đinh Thanh - Vô Nhân Trí, Tổ hợp quân sự - công nghiệp Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1974).


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2016, 02:39:01 pm

       
CÁC CHỮ VIẾT TẮT

        - BTTM - Bộ Tổng tham mưu.

        - C.T.Q.G - Chính trị quốc gia.

        - Đ V B Q - Đơn vị bảo quản.

        - HN - Hà Nội.

        - KCCM - Kháng chiến chống Mỹ.

        - K.H - Ký hiệu.

        - KHXH - Khoa học xã hội.

        - KHQS - Khoa học quân sự.

        - LKUVB - Liên khu ủy Việt Bắc.

        - LK5 - Liên khu 5.

        - LHNB - Lưu hành nội bộ.

        - Nxb - Nhà xuất bản.

        - PTT - Phủ thủ tướng.

        - QĐND - Quân đội nhân dân.

        - ST - Sự thật.

        - TLLT - Tài liệu lưu trữ.

        - LSQS - Lịch sử quân sự.

        - NCLS - Nghiên cứu lịch sử.

        - TCHC - Tổng cục Hậu cần.

        - TCKT - Tổng cục Kỹ thuật.

        - TKCT - Tống kết chiến tranh.

        - TTLL - Thông tin lý luận.

        - TVQĐ - Thư viện quân đội.

        - TTLTQGI - Trung tâm lưu trữ quốc gia I.

        - TTTTKHQS - Trung tâm thông tin khoa học quân sự.

        - LSQSVN - Lịch sử quân sự Việt Nam.

        - VNTTX - Việt Nam Thông tấn xã.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2016, 02:41:01 pm
   
TÀI LIỆU THAM KHẢO

        TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

        1. G.A.Am-tơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1970.

        2. Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Tập I, Nxb QĐND, Hà Nội, 1970.

        3. Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Tập VI, Nxb QĐND, Hà Nội, 1974.

        4. Báo cáo công tác tổ chức quần chúng của tỉnh ủy Quảng Ngãi. Phông LK5, ĐVBQ 774, TTLTQG I.

        5. Báo cáo tổng kết chiến dịch Đông Xuân 1950, công tác đấu tranh phá chính sách chiêu an và tập trung của địch, tỉnh Quảng Nam. Phông LK5, ĐVBQ 749, TTLTQG I.

        6. Báo cáo công tác 6 tháng (3-1949 - 9-1949) “Tất cả cho vùng bị chiếm” của nhân dân Khu 5. Phông LK5, ĐVBQ 172, TTLTQG I.

        7. Báo cáo tổng kết công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường B2. Tập phụ lục số liệu. Ban tổng kết chiến tranh B2, 1981. Lưu tại Viện LSQSVN, Ký hiệu T.K 1280.

        8. Báo cáo công tác đảm bảo hậu cần kỹ thuật trong kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam của tỉnh Long An. Lưu tại VLSQSVN, Ký hiệu TK.1287.

        9. Báo cáo công tác hậu cần tỉnh Mỹ Tho trong kháng chiến chống Mỹ. Lưu tại VLSQSVN, Ký hiệu 1285.

        10. Báo cáo kiểm điểm công tác vận tải quân sự chi viện chiến trường tuyến hậu phương 1972, TCHC, Cục Vận tải, 1973.

        11 Báo cáo thành tích 8 năm kháng chiến của các tỉnh thuộc Liên khu Việt Bắc. Phông PTT, ĐVBQ 113, TTLTQG I.

        12. Báo cáo của Liên khu ủy 4 trong các năm từ 1950 đến 1955. Phông PTT, ĐVBQ 142, TTLTQG I.

        13. Báo cáo tình hình thi hành chính sách ruộng đất ở Liên khu 4 (1952 - 1953). Phông PTT, ĐVBQ 1309,

        14. Báo cáo của các Liên khu 1, 3, 4, Việt Bắc, Nam Bộ về việc tạm cấp ruộng đất 1948 - 1952. Phông PTT, ĐVBQ 1312, TTLTQG I.

        15. Báo cáo tình hình thi hành chính sách ruộng đất ở Khu 5 và Nam Bộ (1950 – 1953) Phông PTT, ĐVBQ 1973 TTLTQG I.

        16. Báo cáo thành tích 8 năm kháng chiến của các tỉnh thuộc Liên khu 4. Phông PTT, ĐVBQ 137, TTLTQG I.

        17. Báo cáo của Hội đồng Cung cấp mặt trận Liên khu 4 về tình hình tài chính, lương thực và thực phẩm cung cấp mặt trận Trung và Thượng Lào (1953 - 1954). Phông PTT, ĐVBQ 1426, TTLTQG I.

        18. Báo cáo 3 năm kháng chiến kiến quốc (1946 - 1948) của Văn phòng Hội đồng quốc phòng tối cao. Phông PTT, ĐVBQ 9, TTLTQG I.

        19. Báo cáo về công tác thuế nông nghiệp của Liên khu 4 trong các năm 1951, 1952, 1953. Phông PTT, ĐVBQ 2112, 2115, 2118, TTLTQG I.

        20. Báo cáo tình hình dân quân sau một năm kháng chiến của Ban dân quân Khu 4. Ngày 13-1-1948. Phông PTT, ĐVBQ 114, TTLTQG I.

        21. Báo cáo công tác năm 1953 tỉnh Phú Yên. Phông LK5, ĐVBQ 725, TTLTQG I.

        22. Báo cáo tình hình sản xuất và giảm tô ở tỉnh Phú Yên từ 1949 đến tháng 3-1954.

        23. Báo cáo Đại hội Đảng bộ lần 4 tỉnh Phú Yên (1950). Phông LK5, ĐVBQ 722, TTLTQG I.

        24. Báo cáo tình hình chung năm 1952 ở Liên khu 5. Phông LK5, ĐVBQ 177, TTLTQG I.

        25. Báo cáo của tỉnh ủy Bình Định về tình hình phong trào đấu tranh của nhân dân, tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp năm 1953. Phông LK5, ĐVBQ 625, TTLTQG I.

        26. Báo cáo tổng quát quá trình lãnh đạo đảng bộ của đảng bộ tỉnh Bình Định (1946 - 1954). Phông LK5, ĐVBQ 623, TTLTQG I.

        27. Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ruộng đất và thuế nông nghiệp, tình hình nạn đói ở liên khu 1953. Phông LK5, ĐVBQ 181, TTLTQG I.

        28. Báo cáo tình hình tổng động viên ở Khu 5 - 1950. Phông LK5, ĐVBQ 179, TTLTQG I.

        29. Báo cáo tổng quát tình hình liên khu (1949 - 1951). Phông LK5, ĐVBQ 175, TTLTQG I.

        30. Báo cáo của Liên khu 5 về tình hình chung và công tác quân sự, tuyên truyền, dân vệ ở Liên khu 5 (1954). Phông LK5, ĐVBQ 183, TTLTQG I.

        31. Báo cáo tổng quát tình hình liên khu 1950. Phông LK5, ĐVBQ 174, TTLTQG I.

        32. Báo cáo Liên khu ủy Việt Bắc - 1954. Phông LKUVB, ĐVBQ 1041, TTLTQG I.

        33. Báo cáo của UBKCHC tỉnh Tuyên Quang về công tác phục vụ chiến dịch và bảo đảm đời sống nhân dân - 1953. Phông LKUVB, ĐVBQ 1018, TTLTQG I.

        34. Báo cáo của tỉnh ủy Hà Giang 1950. Phông LKUVB, ĐVBQ 592, TTLTQG I.

        35. Báo cáo của tỉnh ủy Lạng Sơn tổng kết công tác 1950. Phông LKUVB, ĐVBQ 606, TTLTQG I.

        36. Báo cáo của tỉnh ủy Hà Giang 1953. Phông LKUVB, ĐVBQ 994, TTLTQG I.

        37. Báo cáo tình hình các mặt của tỉnh Bắc Cạn 1953. Phông LKUVB, ĐVBQ 979, TTLTQG I.

        38. Báo cáo tình hình các mặt của tỉnh Lạng Sơn 1951. Phông LKUVB, ĐVBQ 764, TTLTQG I.

        39. Báo cáo của liên khu về tình hình công tác 1952. Phông LKUVB, ĐVBQ 721, TTLTQG I.

        40. Báo cáo của tỉnh ủy Thái Nguyên về tình hình công tác 1950. Phông LKUVB, ĐVBQ 647, TTLTQG I.

        41. Báo cáo tình hình cải thiện đời sống cho đồng bào Mán, Mèo, ở Bắc Cạn 1950. Phông LKUVB, ĐVBQ 570, TTLTQG I.

        42. Báo cáo tình hình năm 1952 của tỉnh Hà Giang. Phông LKUVB, ĐVBQ 896, TTLTQG I.

        43. Báo cáo của UBKCHC Tuyên Quang về thành tích sản xuất và phục vụ chiến dịch (1953 - 1954). Phông LKUVB, ĐVBQ 1099, TTLTQG I.

        44. Báo cáo của UBKCHC Thái Nguyên 1952. Phông LKUVB, ĐVBQ 936, TTLTQG I.

        45. Báo cáo của tỉnh ủy Lạng Sơn về tình hình các mặt năm 1952. Phông LKUVB, ĐVBQ 991, TTLTQG I.

        46. Báo cáo của tỉnh ủy Thái Nguyên 1951. Phông LKUVB, ĐVBQ 795, TTLTQG I.

        47. Báo cáo của Liên khu ủy Việt Bắc về tình hình 4 năm kháng chiến và trong chiến dịch Lê Hồng Phong. Phông LKUVB, ĐVBQ 543, TTLTQG I.

        48. Bảng so sánh hàng xuất nhập khẩu trong năm 1953, 1954 (không kể số của mậu dịch quốc doanh) của tỉnh ủy Hà Giang. Phông LKUVB, ĐVBQ 1071, TTLTQG I.

        49. S.Ban-ten-nép, cơ sở kinh tế của sức mạnh quốc phòng (Tạp chí Militaire Sovetique 8-1973). Viện KHQS dịch, 1974.

        50. Biên bản Nghị quyết Hội nghi tỉnh ủy Lạng Sơn 1954. Phông LKUVB, ĐVBQ 1081, TTLTQG I.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2016, 02:41:46 pm

        51. Biên niên sự kiện lịch sử hậu cần QĐNDVN (1954 - 1975),TCHC, 1972.

        52. Bộ tư lệnh Quân khu 5, Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập I, BTL QK5, 1986.

        53. F.Bran-phman, Chiến tranh kỹ thuật - giai đoạn cuối cùng của sự can thiệp của Mỹ ở Đông Dương, Phân viện TTKHQS sao lại, 1979.

        54. Chỉ thị về tích cực củng cố, mở rộng căn cứ địa miền núi - Ban thống nhất Trung ương. Viện KHQS sao lại, 1972.

        55. Chesth, Chiến tranh Việt Nam, Thư viện quân đội dịch.

        56. Chiến tranh Việt Nam và cách mạng khoa học kỹ thuật. Viện KHQS, 1971.

        57. Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam, Tập I, Nxb ST, HN, 1959.

        58. Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương. Nhóm nghiên cứu về chiến tranh không quân. VNTTX dịch và phát hành, 1972.

        59. Công tác quân nhu thời kỳ 1945 – 1954, Hồi ký của đồng chí Vũ Anh, Tư liệu phòng KHCNMT TCHC.

        60. Công tác vận tải quân sự chiến lược trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước trên đường Hồ Chí Minh 1959 – 1975 (Lưu hành trong quân đội), TCHC, HN, 1984.

        61. Công tác hận cần trong kháng chiến chống thực dân Pháp, TCHC, HN, 1981.

        62. Công tác hậu cần một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, TCHC, HN, 1982.

        63. Công tác hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, TCHC, HN, 1983.

        64. G.Côn.Cô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tài liệu dịch, Nxb QĐND, HN, 1991.

        65. Cục Quân y, Ba mươi năm phục vụ và xây dựng ngành quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, 1976.

        66. Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb ST, HN, 1976.

        67. Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb ST, HN, 1985.

        68. Lê Duẩn, Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1993.

        69. Văn Tiến Dũng, Chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, Nxb QĐND, HN, 1978.

        70. Dự thảo tổng kết công tác đấu tranh chống địch đánh phá hậu phương trong kháng chiến, TCHC, 1960.

        71. K. Dan, Phát triển căn cứ ở Việt Nam 1965 – 1970 (Bộ lục quân Mỹ 12-1972), Học viện Hậu cần, Phòng nghiên cứu địch dịch, 1978.

        72. Võ Nguyên Giáp, Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng, Viện KHKT, HN, 1974.

        73. Nguyễn Kiến Giang, Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám, Nxb ST, HN, 1959.

        74. Y.Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Tài liệu dịch, TLLT tại VLSQS.

        75. Lê Mậu Hãn, Trần Quốc Vượng, 40 năm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb ST, HN, 1985.

        76. Đa vít - Hanbướcxtam, Hồ, Tài liệu dịch, TLLT tại VLSQS.

        77. G.Hây-ma, Chiến tranh Đông Dương và Điện Biên Phủ, Tài liệu dịch. TLLT tại Thư viện quân đội.

        78. Lưu Quang Hà, Trương Đình Châu, Trận tuyến hậu cần Điện Biên Phủ, Nxb QĐND, HN, 1975.

        79. Hồ Chí Minh, Về công tác hậu cần quân đội, Nxb QĐND, HN, 1970.

        80. Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, HN, 1981.

        81. Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Tập I, Nxb QĐND, HN, 1985.

        82. Hồ sơ tổng kết 1.000 ngày kháng chiến (23-9-1945 - 19-8-1948). Phông PTT, ĐVBQ TTLTQG I.

        83. Hồ sơ Hội nghị kháng chiến hành chính kiến quốc lần thứ nhất (từ 23 đến 31-7-1948). Phông PTT.

        Tập I, ĐVBQ 53 TTLTQG I.

        Tập 2, ĐVBQ 54 TTLTQG I.

        Tập 3, ĐVBQ 55 TTLTQG I.

        Tập 4, ĐVBQ 56 TTLTQG I.

        Tập 5, ĐVBQ 57 TTLTQG I.

        Tập 6, ĐVBQ 58 TTLTQG I.

        Tập 7, ĐVBQ 59 TTLTQG I.

        Tập 8, ĐVBQ 60 TTLTQG 1.

        84. Nguyễn Hoài, “Một số tài liệu về thực hiện phương châm tự lực cánh sinh trong thời kỳ kháng chiến (1945 - 1954)”, Tạp chí NCLS số 80 (11-1965).

        85. Phạm Hùng, Mấy quan điểm cơ bản và phương hướng lớn về chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế. Nxb ST, HN, 1969.

        86. Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, KHXH, HN, 1985.

        87. Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi, KHXH, HN, 1986.

        88. R.Kô-mơ, Báo cáo về cuộc chiến tranh khác ở miền Nam Việt Nam, VNTTX dịch, 4- 1947.

        89. V.Lê-nin, Bàn về chiến tranh, quân đội, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, Nxb QĐND, HN, 1980.

        90. V.Lê-nin - Xtalin, Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, Nxb QĐND, HN, 1970.

        91. Hoàng Linh và Văn Tấn, Viện trợ Mỹ đã đưa kinh tế miền Nam đến đâu, Nxb ST, HN, 1959.

        92. Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Nxb QĐND, HN, 1974.

        93. C.Mác - Ăng-ghen - Lênin - Xtalin, Bàn về mối quan hệ giữa kinh tế, hậu phương, quân đội và quốc phòng, Nxb QĐND, HN, 1974.

        94. M.Mắc-clia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Tài liệu dịch. Tư liệu Viện LSQSVN.

        95. Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước, Tập I (1954 - 1965), Nxb ST, HN, 1985.

        96. Một số tư liệu về kinh tế quân sự của nước ta trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, Viện KHQS lưu VLSQSVN, T.K 2555.

        97. Mỹ và Việt Nam, Văn bản và tư liệu theo nguồn Mỹ (1950 - 1965). Tư liệu tham khảo Pháp, 1966. Viện Sử học, UBKHXHVN dịch, 1974.

        98. H.Nava, Đông Dương hấp hối. Tài liệu dịch, VLSQSVN.

        99. Nhân tố tinh thần, chính trị trong chiến tranh hiện đại (4 quyển ), Nxb QĐND, HN, 1961.

        100. Nghị quyết đại hội Đảng bộ Liên khu 5 lần thứ nhất (3-1949). Phông LK5, ĐVBQ 22, TTLTQG I.


Tiêu đề: Re: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2016, 02:43:36 pm

        101. Nghị quyết Liên khu ủy Liên khu Việt Bắc 1950. Phông LKUVB, ĐVBQ 582, TTLTQG I.

        102. Nghị quyết của Khu ủy về công tác địch ngụy vận ngày 20-8-1953. Phông LK5, ĐVBQ 121, TTLTQG I.

        103. Nghị quyết báo cáo tình hình địch, ta ở vùng tự do, vùng sau lưng địch, công tác tuyên truyền hoạt động quân sự hè 1952. Phông LK5, ĐVBQ 752, TTLTQG I

        104. Những vấn đề kinh tế chiến tranh. Trích dịch trong cuốn Giáo trình chính trị kinh tế học, Viện KHQS.

        105. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tập I, Nxb ST, HN, 1956.

        106. Những sự kiện lịch sử Đảng, Tập III, Tập IV (về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước), TTLT HN, 1985.

        107. Clốt Pay-a, Hai mươi năm xâu xé nước Pháp, TVQG dịch.

        108. Đặng Phong, 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam. Viện NCKH thị trường - giá cả, 1991.

        109. Hoàng Phương, Từ chiến dịch Điện Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Nxb ST, HN, 1994.

        110. Hoàng Phương, “Thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp và cơ sở giành thắng lợi lớn hơn trong kháng chiến chống Mỹ”. Tạp chí LSQS số 16 (4-1987).

        111. Lữ Phương, Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Nxb Văn hóa, HN, 1985.

        112. G.Sap-pha, Hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ Va-luy đến Oét-mo-len, TLLT tại Viện LSQSVN.

        113. N.Shi-hân, Sự lừa dối hào nhoáng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.

        114. R.Stê-ven, Hy vọng hão huyền, thực tế phũ phàng. Những hậu quả kinh tế của cuộc chiền tranh Việt Nam. Viện TTKHXH, HN, 1979.

        115. Sức mạnh Việt Nam - một số tư liệu về thắng lợi vĩ đại của dân tộc và tình hình, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội trong giai đoạn mới, Nxb QĐND, HN, 1976.

        116. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, VNTTX dịch và phát hành, HN, 1971.

        117. Tập thống kê số liệu chiến tranh trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), TLLT tại Viện LSQSVN.

        118. Văn tập – Chiến tranh Việt Nam và kinh tế Mỹ, KHXH, HN, 1973.

        119. Tình hình quân sự miền Nam Trung Bộ chuẩn bị tổng phản công (1949). Phông LK5, ĐVBQ 21, TTLTQG I.

        120. Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo một năm hoàn thành nhiệm vụ chuyển mạnh sang tổng phản công (1950). Phông LKUVB, ĐVBQ 648, TTLTQG I.

        121. Tình hình tài chính và tạo tài chính cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, bài nói của đồng chí Mai Hữu Ích. TLLT tại Viện LSQSVN.

        122. Bùi Đình Thanh, Võ Nhân Trí, Tổ hợp quân sự công nghiệp Mỹ và cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb QĐND, HN, 1974.

        123. Hoàng Minh Thảo, “Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta - Một sáng tạo lịch sự”, Tạp chí LSQS số 14 (1-1987).

        124. Hoàng Minh Thảo, “Một số bài học của cuộc phản công chiến lược Việt Bắc thu đông 1947”, Tạp chí LSQS số 22 (10-1987).

        125. Tống cục thống kê, Việt Nam - con số và sự kiện (1945 – 1989), Nxb ST, HN, 1990.

        126. Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, TVQĐ sao lục 1982.

        127. Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, TCHC, HN, 1986.

        128. Tổng kết động viên tuyển quân, BTTM, Cục Quân lực HVQSCC sao.

        129. Tổng kết tình hình bình định của địch từ 1954 đến nay, Ban tổng kết chiến tranh B2 sao lại, TLLT lại Viện LSQSVN. Ký hiệu TK. 2424.

        130. Tóm tắt báo cáo công tác phòng không nhân dân 4 năm 1965 - 1968 và đề nghị phương hướng tới Bộ Quốc phòng 1969.

        131. Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm, Cục Chính trị, Tổng cục Xây dựng kinh tế, HN, 1979.

        132. Tổng cục Hậu cần, Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, 1985.

        133. Ngô Đăng Tri, “Vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp”, Tạp chí LSQS số 16 (4-l987).

        134. Nguyễn Duy Trinh, Miền Bắc XHCN trong quá trình thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, Nxb ST, HN, 1976.

        135. Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Tập 1, Nxb QĐND, HN, 1979.

        136. Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Tập 2, Nxb QĐND, HN, 1980.

        137. Trường Chinh, Tranh thủ nhân dân bồi dưỡng lực lượng ở sau lưng địch (Báo cáo tại hội nghị chiến tranh du kích tháng 7-1952).

        138. Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Tập 1, Nxb ST, HN, 1975.

        139. Từ không đến có, Hồi ký quân giới, Nxb Lao động, HN, 1971.

        140. UBKHXHVN Viện sử học, Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb KHXH, HN, 1985.

        141. UBKHKTNN, 45 năm khoa học và kỹ thuật Việt Nam (1945 - 1990), HN, 1990.

        142. Văn kiện Đảng, Tập 3, Ql, tập 4, Ban NCLSĐTƯ, HN, 1979.

        143. Văn kiện lịch sử Đảng (tập 9 đến 14). Tài liệu tham khảo học tập do trường Nguyễn Ái Quốc phát hành.

        144. Văn kiện của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc (từ 1960 đến 1977), Nxb ST, HN, 1978.

        145. Văn kiện của Đảng về đường lối phát triền nông nghiệp ở miền Bắc nước ta, Nxb ST, HN, 1968.

        146. Văn kiện Đảng, Tập 1, Ban NCLSĐTU, HN, 1979.

        147. Văn hiện Đảng, Tập 2, Ban NCLSĐTU, HN, 1979.

        148. Về việc xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ (7-1954 - 2-1960) của tỉnh Đồng Tháp. Học viện QSCC sao, 1979.

        149. Phạm Thành Vinh, Kinh tế miền Nam, Nxb ST, HN, 1957.

        150. Viện LSQSVN, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Q 1, Nxb QĐND, HN, 1988.

        151. Viện LSQSVN, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Q2, Nxb QĐND, HN, 1989.

        152. Viện LSQSVN, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Tập 1, Nxb ST, HN, 1990.

        153. Viện LSQSVN, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Tập 2, Nxb ST, HN, 1991.

        154. Viện LSQSVN, Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Tập 1, Nxb QĐND, HN, 1982.

        155. Viện LSQSVN, Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 - Những sự kiện quân sự, Nxb QĐND, HN, 1988.

        156. Viện LSQSVN, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập 1, Nxb QĐND, HN,

        157. Viện LSQSVN, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập 2, Nxb QĐND, HN, 1994.

        158. Viện LSĐ, Hội đồng biên soạn lịch sử, Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1954), Viện LSĐ, Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ xuất bản, HN, 1992.

        159. R.Xa-lăng, Đông Dương đỏ, TVQĐ dịch 1981.

HẾT