Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 19 Tháng Tám, 2016, 08:42:26 PM



Tiêu đề: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tám, 2016, 08:42:26 PM
        
        - Tên sách: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
        - Năm xuất bản: 1987
        - Số hoá: ptlinh
        - Hiệu đính: Giangtvx

LỜI NÓI ĐẦU

        Chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh trong Xuân- Hè 1968 là một chiến dịch Bộ đã tập trung nhiều sư đoàn binh chủng hợp thành và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật, trong đó có các tiểu đoàn xe tăng lần đầu tiên tham gia chiến đấu. Và cũng là lần đầu trong kháng chiến chống Mỹ, bộ đội ta mở chiến dịch tiến công đột phá trực tiếp vào tuyến phòng ngự vững chắc chủ yếu của quân Mỹ ở nam giới tuyến quân sự tạm thời, trực tiếp tác chiến với các sư đoàn mạnh của quân Mỹ (thuỷ quân lục chiến và kỵ binh không vận).

        Qua 177 ngày đêm chiến đấu liên tục, chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã kết thúc thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ của Bộ giao cho: tiêu diệt và bắt sống nhiều sinh lực địch (chủ yếu là Mỹ), phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh; phá vỡ một mảng lớn tuyến phòng ngự của địch ở phía tây Đường 9; nhất là thu hút kìm giữ một bộ phận sinh lực quan trọng và một khối lượng lớn bom đạn của Mỹ vào khu vực Đường số 9- Khe Sanh trong một thời gian dài, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền, trước hết cho Trị- Thiên- Huế tiến công địch.

        Bản tổng kết này được viết theo kết luận của Hội nghị khoa học tổng kết chiến dịch đợt III (tháng 3-1986), còn những tư liệu cụ thể chúng tôi căn cứ vào các bản dự thảo tổng kế chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh của Bộ Tổng tham mưu và của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, cùng những ý kiến của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn, trung đoàn tham gia chiến dịch.

        Tài liệu tổng kết này nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về nghệ thuật chiến dịch của toàn quân, và công trình “Lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng”.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2016, 06:30:44 AM
PHẦN THỨ NHẤT

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

        Cuối năm 1966 đầu năm 1967, mặc dù quân Mỹ được tăng cường thêm lực lượng, nhưng Mỹ- nguỵ cũng chỉ có thể tập trung đánh trên một hướng là miền Đông Nam Bộ, trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu, hòng diệt cơ quan đầu não của ta, còn các hướng khác chúng thực hiện kiềm chế, riêng Đường số 9 địch tích cực phòng ngự.

        Cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 của chúng bắt đầu từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967, trong đó có cuộc hành quân Gian- xơn- xi- ti với lực lượng 26 tiểu đoàn (có 22 tiểu đoàn Mỹ) là cuộc hành quân lớn nhất và chủ yếu nhất. Mỹ hy vọng giành được những thắng quân sự có ý nghĩa chiến lược, tạo ra bước ngoặt quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho chúng. Nhưng hơn 14.000 tên địch bị loại (trong đó có 2 tiểu đoàn và 18 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh, 9 chi đoàn thiết giáp bị diệt gọn); trên 1.000 xe quân sự (có 881 xe thiết giáp) và 90 khẩu pháo bị phá huỷ, 167 máy bay các loại bị bắn rơi và bắn cháy.

        Địch bị thất bại to lớn trong mùa khô 1966- 1967 và đặc biệt trong cuọc hành quân Gian-xơn-xi-ty. Mặc dù quân Mỹ còn gần 480.000 tên nhưng lực lượng bị dàn mỏng để đối phó với ta trên các chiến trường, không còn đủ sức “tìm diệt”; còn gọng kìm “bình định” của quân nguỵ cũng bất lực. Mỹ-nguỵ ngày càng lún sâu vào thế bị động, chiến lược 2 gọng kìm “tìm diệt và bình định” đang đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn.

        Cùng với việc đẩy mạnh “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, địch ra sức mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm hạn chế vận chuyển tiếp tế của ta vào miền Nam và sang Lào, phá hoại tiềm lực của miền Bắc, làm suy yếu hậu phương chiến lược của cả nước. Về biện pháp chiến lược, ngoài việc sử dụng không quân vẫn là chủ yếu, địch còn mở rộng pháo kích của hải quân đến vĩ tuyến 20 và thả thuỷ lôi phong toả một số vùng chọn lọc (Cửa Nam Triệu, cửa Ba Lạt, cửa sông Mã, sông Cả, sông Gianh và sông Kiến Giang).

        Năm 1967, địch đã thực hiện 122.960 lần máy bay xuất kích ném 270.000 tấn bom, từ các tàu chiến bắn vào vùng biển miền Bắc- chỉ tính từ ngày 25 tháng 10 năm 1967 đến ngày 1 tháng 1 năm 1968 là 484.000 viên.

        Trong cuộc đọ sức với quân và dân miền Bắc, đế quốc Mỹ không những không thực hiện được ý đồ chiến lược đã đề ra, mà còn gánh chịu một thất bại to lớn với 1.062 máy bay bị bắn rơi, 65 tầu chiến bị bắn cháy và bắn chìm, hàng trăm giặc lái sừng sỏ bị chết hoặc bị bắt sống. Thất bại to lớn hơn cả là sự dao động trong bọn hiếu chiến Mỹ đã bắt đầu xuất hiện, lòng tin của chúng ở biện pháp chiến lược dùng không quân đánh phá miền Bắc đã giảm sút. Ngày 27 tháng 8 năm 1967 Mác-na-ma-ra, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã phải công khai thú nhận: “Những cuộc ném bom mới, dù kết quả thế nào, Mỹ cũng không thể thắng và rút ngắn được cuộc chiến tranh. Tôi chưa bao giờ nhận được bằng chứng nào chứng minh nếu cứ tăng cường oanh tạc thì giảm được số thiệt hại của lính Mỹ ở Nam Việt Nam, trái lại tôi thấy bằng chứng ngược lại”… (Theo tin AFP ngày 28- 8- 1967)

        Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở cả hai miền Nam- Bắc trong 2 năm 1966- 1967 đã đẩy Mỹ- nguỵ lún sâu vào thế bị động chiến lược, lực lượng vũ trang của ta trên cả hai miền đều được thử thách và trưởng thành. Trên chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang giải phóng, đặc biệt là khối chủ lực lớn mạnh vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu, giữ vững thế chủ động tiến công, giành thắng lợi lớn ở Quế Sơn, Thăng Bình, Lộc Ninh, Đắc Tô… Quy mô trận chiến đấu cũng nâng cao dần lên cấp trung đoàn, sư đoàn, hình thức chiến đấu hiệp đồng bộ binh với pháo binh đã xuất hiện và đang trở thành hình thức chủ yếu trong các loại hoạt động chiến đấu của khối chủ lực tập trung. Bên cạnh đó, phương pháp chiến đấu của từng binh chủng như đặc công, pháo binh, công binh… cũng được phát huy rộng rãi, gây cho địch nhiều thiệt hại to lớn.

        Thực tế chiến trường đã buộc bọn hiếu chiến Mỹ phải nhìn thẳng vào sự thật là không thể thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu này. Nhưng do bản chất ngoan cố và mù quáng, dựa trên cơ sở quan điểm ỷ vào sức mạnh vũ khí, số lượng quân đông, nên đế quốc Mỹ vẫn tăng thêm quân số và phương tiện chiến tranh vào miền Nam, dự dịnh mở cuộc phản công lớn lần thứ 3 vào mùa khô 1967-1968, nhằm phá kế hoạch tiến công lớn của ta, giành thế chủ động trên chiến trường, phục vụ đắc lực cho cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ vào tháng 11 năm 1968, đồng thời để gây vốn chính trị khi buộc phải thương lượng với ta.

        Cuối năm 1967, trước sự uy hiếp ngày càng mạnh của lực lượng vũ trang ta trên toàn chiến trường không chỉ ở ngoại tuyến mà ngay cả trong các thành phố và thị xã, lại đồng thời phát hiện sự điều quân của ta, Mỹ- nguỵ phải tạm ngừng cuộc phản công chiến lược lần thứ 3, đưa quân về giữ các vùng trọng điểm (trọng yếu), tăng quân cho vùng chiến thuật I, củng cố tuyến phòng thủ Đường số 9, thiết lập “hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra” ở phía nam khu phi quân sự. Thực chất địch đã phải chuyển vào phòng ngự một cách bị dộng, rõ nét nhất là ở chiến trường Trị-Thiên và Đường số 9.

        Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đã phân tích thất bại của đế quốc Mỹ trong những mục tiêu chiến lược của chúng trên cả hai miền Nam-Bắc nước ta, đó là thất bại cả về quân sự và chính trị - chủ yếu là quân sự - là thất bại lớn về chiến lược. Trong Nghị quyết của Bộ Chính trị (sau được Trung ương thông qua và coi là Nghị quyết Trung ương 14) viết: “Đã đến lúc cần động viên những cố gắng lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển mới, thực hiện tiến công và nổi dậy đồng loạt để giành thắng lợi quyết định".

        … “Những diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở trên thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở trong thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình ấy cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định" (trích).

        Đó là bối cảnh chiến lược của chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh ra đời do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp tổ chức và chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2016, 06:35:47 AM

PHẦN THỨ HAI

TỔ CHỨC CHIẾN DỊCH

        I. Ý ĐỊNH CHIẾN LƯỢC

        Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh đã xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược Xuân- Hè 1968, trong đó nêu rõ:

        “Cùng với đòn tập kích chiến lược quy mô trên toàn Miền đánh vào các thành phố, thị xã, kết hợp với nổi dậy của quyết chiến ở nông thôn và đô thị- trọng điểm là Sài Gòn- Huế, thì còn có một đòn tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực nhằm tiêu diệt, phân tán lực lượng chủ lực của địch mà chiến trường chính là hướng Đường số 9, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoàn thành nhiệm vụ tiến công và nổi dậy đồng loạt, trước hết cho Trị- Thiên- Huế”.

        “Thời cơ phát động tiến công và nổi dậy đồng loạt là lúc địch sơ hở nhân ngày Tết Mậu Thân, dùng lực lượng tinh nhuệ tập kích vào các thành phố, thị xã, trụ bám giữ vững thế làm chủ, phát động quyết chiến, đưa cao trào lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân".

        KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC CHIA LÀM 3 BƯỚC

        Bước 1: Tiến hành trong mùa đông năm 1967, và đầu tháng 1 năm 1968 vừa tác chiến vừa tạo thế kéo địch ra vùng rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho tổng công kích và tổng khởi nghĩa ở các đô thị.

        Bước 2: Tiến hành cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa ở các thành phố, thị xã.

        Bước 3: Phát triển củng cố các vùng mới giải phóng, đánh địch phản kích, lập chính quyền mới.

        VỀ PHƯƠNG HƯỚNG CHIẾN LƯỢC

        - Hai chiến trường trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn- Chợ Lớn (chiến trường quyết định thứ nhất), chiến trường Đường số 9-Trị-Thiên-Quảng Đà (chiến trường quyết định thứ hai).

        - Ba trọng điểm tổng công kích và tổng khởi nghĩa là Sài Gòn-Chợ Lớn (chủ yếu 1), Huế (chủ yếu 2), Đà Nẵng (chủ yếu 3).

        - Chiến trường rừng núi Tây Nguyên, Đường số 9-Khe Sanh (đặc biệt Khe Sanh) là chiến trường thu hút kiềm chế, tiêu diệt lực lượng cơ động của Mỹ càng nhiều càng tốt, để cho các trọng điểm thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa.

        ĐỊA BÀN MỞ CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG SỐ 9-KHE SANH

        Địa bàn mở chiến dịch được xác định từ Cửa Việt- Đông Hà (phía đông) đến biên giới Việt- Lào (phía tây) tiếp giáp phía bắc đến Cồn Tiên, Dốc Miếu.

        Hướng tây (khu vực Khe Sanh) được xác định là hướng chính của chiến dịch, hướng đông là hướng quan trọng. Trong quá trình diễn biến chiến dịch, tuỳ tình hình, có thể khu vực phía đông sẽ chuyển thành hướng chính.

        NHIỆM VỤ CỦA CHIẾN DịCH ĐƯỜNG SỐ 9-KHE SANH

        - Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, chủ yếu là Mỹ. Khi có điều kiện thì phá vỡ một phần hệ thống phòng ngự của địch ở Đường số 9, phát triển vào Trị-Thiên.

        - Hiệp đồng chặt chẽ với các chiến trường toàn Miền, nhất là với Trị-Thiên-Huế.

        - Qua chiến đấu, rèn luyện bộ đội, bồi dưỡng cán bộ, để đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh.

        Trong 4 nhiệm vụ trên, nhiệm vụ tiêu diệt địch, phối hợp chiến trường là cơ bản nhất,

        Yêu cầu đợt Xuân- Hè 1968:

        - Diệt 2- 3 vạn địch, trong đó diệt gọn 5-7 tiểu đoàn Mỹ, 2-3 tiểu đoàn nguỵ.

        - Kéo được 2-3 sư đoàn quân địch ra Đường số 9, trong đó có 2 sư đoàn Mỹ, giữ chân chúng lại tiếp tục tiêu diệt.

        - Trường hợp địch rút lui một bộ phận hoặc xuống thế thì thừa thắng tiến vào giải phóng một phần Đường số 9, mạnh bạo phát triển vào Quảng Trị-Thừa Thiên.

        Đợt mùa Xuân là đợt quan trọng nhất trong kế hoạch hoạt động Xuân- Hè 1968, phần lớn yêu cầu của kế hoạch phải thực hiện đầy đủ trong mùa Xuân, cụ thể: phải tiêu diệt trên dưới 2 vạn tên địch, trong đó diệt cho được một số vị trí và một số đơn vị từ 3- 5 tiểu đoàn Mỹ, 2- 3 tiểu đoàn cơ động nguỵ, phối hợp có hiệu quả với toàn Miền, đánh dồn dập, liên tục thực hiện tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, chiến đoàn địch, bảo đảm dúng thời gian quy định.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2016, 06:39:15 AM

        PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN

        Lấy đánh địch ngoài công sự làm chính, đánh địch trong công sự khi cần thiết và chắc thắng; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh liên tục, rộng khắp, tạo điều kiện cho đánh lớn; phối hợp chặt chẽ 3 thứ quân, kết hợp nhịp nhàng quân sự, chính trị và địch vận.

        LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN CỦA CHIẾN DỊCH

        Bao gồm lực lượng thuộc B5 đang hoạt động ở khu vực Đường số 9 và lực lượng mới được điều và tham gia chiến dịch.

        - Lực lượng đang hoạt động có: sư đoàn bộ binh 325; 3 trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 thuộc sư đoàn 324 cũ; trung đoàn bộ binh 270 (của Vĩnh Linh); 2 tiểu đoàn địa phương Quảng Trị; các đại đội địa phương huyện; 1 đoàn đặc công; 3 trung đoàn pháo binh (84, 164, 204); 2 trung đoàn cao xạ (128, 282) cùng các lực lượng bảo đảm khác…

        Những đơn vị kể trên, đã có kinh nghiệm đánh Mỹ và quen thuộc chiến trường Đường số 9.

        - Lực lượng điều động mới để tham gia chiến dịch gồm có: 2 sư đoàn bộ binh (304, 320) 5 đại đội đặc công; 4 đại đội xe tăng; 2 trung đoàn pháo binh (675, 45); 1 trung đoàn pháo cao xạ (241).

        Các đơn vị mới vào chiến trường nói chung đã được huấn luyện cơ bản, hệ thống; được trang bị đầy đủ (loại sư đoàn bộ binh nhẹ). Nhưng chưa có kinh nghiệm trực tiếp đánh Mỹ, chưa quen thuộc địa hình, thời tiết trong khu vực tác chiến1 (Các lực lượng tham gia chiến dịch nói trên, trong quá trình diễn biến chiến dịch, Bộ có điều một số đơn vị vào tăng cường cho chiến trường phía trong; việc đó có ảnh hưởng đến yêu cầu tập trung lực lượng của chiến dịch).

        TỔ CHỨC CHỈ HUY

        Ngày 6 tháng 12 năm 1967, theo quyết định của Thường trực Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9-Khe Sanh được thành lập, do đồng chí Thiếu tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Quý Hai làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính uỷ chiến dịch.

        Các lực lượng đang hoạt động ở khu vực Đường số 9 - Khe Sanh thuộc quyền chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh.

        THỜI GIAN NỔ SÚNG

        Bộ yêu cầu chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh phải tích cực nổ súng trước khi thực hiện đòn tiến công chiến lược (Tết Mậu Thân 1968). Ngày “N” của toàn Miền không phổ biến cho cấp chiến dịch.

        II. TÌNH HÌNH ĐỊCH, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH VÀ TÌNH HÌNH NHÂN DÂN Ở KHU VỰC ĐƯỜNG SỐ 9

        1. Địch

        Cuối năm 1967, trên tuyến Đường số 9, địch có 45.000 tên, trong đó có 28.000 tên Mỹ gồm 3 trung đoàn thuỷ quân lục chiến tăng cường (10 tiểu đoàn bộ binh), 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới.

        Lực lượng trên được bố trí thành 3 khu vực:

        - Khu phía đông là khu vực phòng ngự chủ yếu bao gồm các cứ điểm: 31, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Gio Linh, Quán Ngang, miếu Bái Sơn. Ở phía sau có Đông Hà, Cam Lộ và Quảng Trị hình thành phòng ngự có chiều sâu.

        - Khu giữa gồm các cứ điểm: Tân Lâm, Cà Lu, 241, tác dụng nối liền giữa khu đông và khu tây, đồng thời án ngữ, ngăn chặn lực lượng của ta thâm nhập vào hướng Ba Lòng - Quảng Trị.

        - Khu phía tây gồm các cứ điểm: Hương Hoá, Làng Vây, Huội San (trên Đường số 9); các cứ điểm ngoại vi Tà Cơn gồm có: Đông Tri, 832, 845… Cụm cứ điểm Tà Cơn bố trí dọc theo thung lũng Tà Cơn có diện tích chừng 2km2, lực lượng trong cụ cứ điểm có: trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến Mỹ và tiểu đoàn 37 biệt động nguỵ; 24 khẩu pháo và 2 trung đội xe tăng. Khi bộ đội ta tiến công chúng được cụm pháo binh căn cứ 241 trực tiếp chi viện và hoả lực không quân yểm trợ.

        Nói chung, lực lượng của địch ở khu vực Đường số 9 chỉ đủ phòng ngự tại chỗ, thiếu lực lượng cơ động.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2016, 06:40:40 AM

        2. Địa hình

        Từ Cửa Việt đến biên giới Việt- Lào, địa hình chia làm 3 khu vực rõ rệt:

        - Khu đông từ mép biển đến Tân Lâm là địa hình đồng bằng và mấp mô trung bình, tiện cho các loại xe cơ giới hoạt động. Có nhiều đường sá, ngoài Đường số 1 và Đường số 9, còn có Đường 75, 76 ở phía bắc Đường số 9, từ Cam Lộ đi Mai Lộc- Ái Tử và thị xã Quảng Trị có đường tỉnh lộ.

        - Khu giữa từ Tân Lâm đến Rào Quán là địa hình đồi núi, xe cơ giới khó qua lại, đồi trọc nhiều, khó che giấu bộ đội, tiện cho địch quan sát từ trên không và mặt đất…

        - Khu tây từ Rào Quan trở lên biên giới Việt- Lào là địa hình rừng núi, tiện che giấu bộ đội; đường sá hầu như độc đạo, ngoài Đường số 9 chỉ có thêm một vài đoạn đường nhánh (3- 5km) lên phía bắc hoặc xuống phía nam.

        3. Tình hình nhân dân

        Lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của nhân dân trong khu vực Đường số 9 trong thời gian cuối năm 1967 có nét phát triển mới so với năm 1966, có thể hỗ trợ cho hoạt động quân sự:

        - Vùng giải phóng nông thôn đồng bằng được củng cố và mở rộng, ta đã chiếm lĩnh một số vùng xung yếu đông dân, tạo ra nhiều bàn đạp xung quanh thị xã, thị trấn và các căn cứ lớn của địch, làm cho chúng thường xuyên bị uy hiếp. So với năm 1966, số xã làm chủ đã cở trình độ cao hơn, có chính quyền tự quản, có lực lượng du kích, lực lượng nòng cốt đấu tranh chính trị và quần chúng đều tham gia các đoàn thể cách mạng. Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ngày càng cao, có nhiều cuộc đấu tranh nổ ra quyết liệt, quần chúng đã chăn từng đoàn (chi đoàn) xe bọc thép Mỹ, không cho chúng vào càn phá xóm làng, có cuộc đấu tranh đã giải thoát được hàng chục cán bộ, du kích bị địch bao vây.

        - Ở các thị xã, thị trấn, phong trào cũng phát triển tốt. Hoạt động quân sự của ta trong thị xã ngày càng tăng (7 lần đánh vào thị xã Quảng Trị). Phong trào đấu tranh của quần chúng đòi quyền dân sinh, dân chủ và lực lượng chính trị, vũ trang của quần chúng phát triển mạnh hơn trước.

        - Ở miền núi, trải qua một thời gian khó khăn, nay đã được củng cố. Các mặt công tác đều thu được kết quả, nhất là đã ổn định được tư tưởng của quần chúng, củng cố lại tổ chức, phát động được phong trào bắn máy bay, diệt biệt kích, động viên được khí thế sản xuất, nhờ đó đã hạn chế được nạn đói.

        Qua thực tiễn trên, ta thấy:

        Về phía địch, ở Đường số 9 có cả quân Mỹ và quân nguỵ, nhưng lúc này quân Mỹ đã ngày càng đông, nếu ta đánh mạnh, địch bị diệt nhiều, chắc chắn sẽ thu hút được lực lượng lớn quân Mỹ đến ứng cứu. Tuy chúng phòng ngự trên cả hai hướng đông- tây, nhưng do nhiều nguyên nhân, địch tập trung lực lượng ở hướng đông là chủ yếu, trái lại ở hướng tây chúng chỉ đủ sức phòng ngự tại chỗ, khi bị ta cắt đoạn Đường số 9 từ Tân Lâm đến Cà Lu thì Khe Sanh sẽ bị cô lập về đường bộ, càng tăng thêm khả năng thu hút quân Mỹ.

        Về phía ta, lực lượng lớn tham gia chiến dịch là các sư đoàn chủ lực của Bộ; các sư đoàn này tuy đã qua huấn luyện cơ bản nhưng khả năng đánh địch trong công sự vững chắc còn có hạn, nên việc đánh điểm phải cân nhắc và có chuẩn bị chu đáo. Với điều kiện địa hình rất khác nhau giữa hướng đông và hướng tây, rõ ràng hướng tây hạn chế được chỗ mạnh của địch, lại phát huy được sở trường của ta…

        Đó là những cơ sở thực tiễn để Bộ Tư lệnh hạ quyết định chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2016, 06:44:20 AM
         
        III. QUYẾT TÂM CỦA BỘ TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH

        Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Đảng uỷ chiến dịch họp phiên đầu tiên thảo luận và thông qua quyết tâm chiến dịch:

        1. Ý định tác chiến

        a. Hướng tây là hướng chủ yếu, hướng đông là hướng quan trọng, trong quá trình diễn biến chiến dịch, tuỳ tình hình có thể hướng đông sẽ trở thành hướng chủ yếu.

        b. Phương pháp và thứ tự tiêu diệt địch: diệt 1, 2 điểm và bao vây uy hiếp một số điểm khác, buộc địch phải tăng viện ứng cứu, tập trung lực lượng để giam chân và tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch tăng viện ứng cứu.

        Cụ thể:

        - Hướng tây, diệt quận lỵ Hương Hoá, Huội San, điểm cao 832; bao vây cứ điểm Làng Vây để đánh viện lớn ở khu vực tây và tây nam Tà Cơn.

        - Hướng đông, diệt 1, 2 điểm trong 4 điểm của địch phòng ngự trên Đường 75; bao vây Cồn Tiên, Dốc Miếu; cắt giao thông ở đoạn Cam Lộ- Cà Lu; đánh địch tăng viện ở khu vực Quán Ngang, Dốc Miếu và ở tây, tây nam Đông Hà; cắt đường sông Cửa Việt; đánh phá kho tàng, sân bay địch…

        Trong ý dịnh có 2 dự kiến tình huống khác:

        - Nếu địch không tăng viện (phản kích), phía tây phải diệt Làng Vây và vây hãm Tà Cơn (lúc này xác định là vây hãm, chưa phải là vây lấn); triệt tiếp tế kéo địch lên; có điều kiện thì công kích giải phóng Khe Sanh. Phía đông, cắt Đường số 9 ở đoạn Cam Lộ- Tân Lâm, uy hiếp vận chuyển trên đoạn sông Cửa Việt- Đông Hà buộc địch phải tăng viện.

        - Nếu địch bị thua lớn ở các chiến trường khác, nhất là ở các đô thị thì tuỳ tình hình phát triển có thể đánh chiếm một đoạn Đường số 9 và đưa lực lượng phát triển vào Trị- Thiên- Huế.

       2. Sử dụng lực lượng

        -  Hướng tây, 2 sư đoàn bộ binh (304 và 325), 1 tiểu đoàn và 1 đại đội địa phương, 2 trung đoàn pháo binh (675 và 45), 1 trung đoàn pháo cao xạ (241), 1 tiểu đoàn xe tăng lội nước (PT- 76) thiếu 1 đại đội, 1 trung đoàn và 1 đại đội công binh, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 đại đội súng phun lửa nhẹ, 6 tiểu đoàn vận tải…

        - Hướng đông, sư đoàn sư đoàn bộ binh 320, 2 trung đoàn bộ binh (1 và 3) thuộc sư đoàn 324 cũ, trung đoàn bộ binh 270 độc lập của Vĩnh Linh, 1 tiểu đoàn và 2 đại đội địa phương Gio Linh, đoàn đặc công B5 và 2 đại đội đặc công hải quân, 3 trung đoàn pháo binh (84, 164 và 204), 1 tiểu đoàn A72, 2 trung đoàn cao xạ (128 và 282), 1 tiểu đoàn xe tăng (PT- 76) thiếu 1 đại đội, các phân đội trinh sát và thông tin B5…

        3. Nhiệm vụ của các đơn vị

        a. Ngày 9 tháng 1 năm 1968, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho hướng tây như sau:

        - Sư đoàn bộ binh 304 bố trí ở phía nam Đường số 9, trước mắt tập trung lực lượng đánh chiếm quận lỵ Hương Hoá (cả Ku Bốc nếu có địch). Sẵn sàng đánh quân tăng viện trên đường bộ từ Tân Lâm, Cà Lu lên hoặc địch đổ bộ đường không xuống khu vực Hương Hoá; nếu địch không tăng viện thì diệt Huội San, Làng Vây và đưa lực lượng vào bao vây uy hiếp Tà Cơn để kéo viện binh địch.

        - Sư đoàn bộ binh 325 (325 C) bố trí ở tây bắc Tà ơn, tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 832, bao vây đường không xuống bắc và tây bắc Tà Cơn.

        - Trung đoàn 7 công binh bảo đảm đường trục chiến dịch và các đường nhánh phục vụ vận chuyển tiếp tế, cơ động của pháo binh, xe tăng; mở thông Đường số 9 từ Bản Đông đến Hương Hoá.

        b. Ngày 10 tháng 1 năm 1968, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho các đơn vị hướng đông như sau:

        - Sư đoàn bộ binh 320 (thiếu trung đoàn 52) cùng các lực lượng địa phương tiêu diệt địch ở trong khu vực Phú An, Cam Lộ, Tân Lâm (gồm điểm cao 241) và Đông Hà. Cắt giao thông đoạn Cam Lộ- Tân Lâm, phá vỡ thế phòng ngự của địch trên Đường 76; diệt 1, 2 cứ điểm trong số 4 điểm phòng ngự của địch trên Đường 75 (cuối cùng xác định tiến công Cam Lộ); đưa một bộ phận lực lượng vào kháng chiến Thọ Xuân, An Bình, Trúc Khê, hiệp đồng với tiểu đoàn 27 và trung đoàn 270 địa phương đánh địch ở Quán Ngang.

        - Trung đoàn bộ binh 3 (thuộc sư đoàn 324 cũ) có nhiệm vụ cắt giao thông ở đoạn Tân Lâm- Cà Lu; tổ chức một bộ phận hiệp đồng với sư đoàn 320 thọc sâu vào Cùa, đánh địch ở tây và tây nam Đông Hà.

        - Trung đoàn 270 (thiếu 1 tiểu đoàn) cùng đại đội đặc công hải quân, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch trong khu vực đông- tây Đường 1 (đoạn Dốc Miếu- Quán Ngang và cảng Cửa Việt, sông Cửa Việt đi Đông Hà).

        - Trung đoàn bộ binh 1 (thuộc sư đoàn 324 cũ) bao vây đánh lấn cứ điểm Cồn Tiên, Dốc Miếu, tạo điều kiện diệt một trong hai cứ điểm này.

        - Đoàn đặc công B5 đánh phá kho tàng, sân bay, hậu cứ địch ở Đông Hà, Nhan Biểu; phối hợp với sư đoàn 320 diệt trận địa pháo địch ở điểm cao 241.

        - Đặc công hải quân phong toả triệt để đường sông Cửa Việt đánh phá cảng Cửa Việt, Đông Hà, diệt các phương tiện vận chuyển trên sông; nếu điều kiện thuận lợi thì hiệp đồng với đoàn đặc công B5 và pháo binh tiêu diệt hậu cứ Cửa Việt.

        - Trung đoàn bộ binh 52, làm dự bị trực tiếp cho sư đoàn 320 và dự bị cho cả hướng đông. Sẵn sàng bước vào chiến đấu trên 3 hướng: Cam Lộ- Đông Hà, bắc và tây bắc Tân Lâm, Cùa. Khu vực triển khai đánh địch: Đông Phát, Tiền An, Tân Linh, Bến Quan và điểm cao 74.

        c. Pháo binh chiến dịch Ngoài các nhiệm vụ đánh độc lập như trước (đánh các cứ điểm, căn cứ, trận địa pháo và sân bay), lần này nổi lên hai nhiệm vụ mới là: chi viện cho bộ binh, xe tăng tiến công tiêu diệt địch trong các cứ điểm, đánh địch ứng cứy giải toả và chi viện cho bộ binh vây hãm căn cứ địch trong thời gian nhất định…

        d. Pháo cao xạ chiến dịch Lúc đầu chủ yếu bảo vệ căn cứ hậu phương, các tuyến giao thông và trận địa pháo. Về sau có bổ sung thêm nhiệm vụ đi cùng bộ binh vây hãm địch ở Tà Cơn.

        e. Xe tăng chiến dịch Lực lượng xe tăng được chia đều trên 2 hướng (mỗi hướng 1 tiểu đoàn thiếu 1 đại đội), do chiến dịch nắm để sử dụng vào mục tiêu quan trọng hoặc thời cơ quyết định…

        j. Chiến dịch không tổ chức lực lượng dự bị chung


        4. Các mặt công tác bảo đảm

        Cuối tháng 10 năm 1967, lực lượng B5 và lực lượng của Bộ có chuẩn bị một bước cho chiến dịch nhưng làm đường, tổ chức các kho dự trữ ở cuối các đường cơ giới… Nhưng thời gian trực tiếp chuẩn bị của các sư đoàn rất gấp. Có đơn vị đến ngày nổ súng vẫn chưa xác định được mục tiêu định diệt (sư đoàn 320); có đơn vị không kịp chuyển gạo đạn vào lót ổ mà chỉ mang theo trên vai 7- 10 ngày ăn, 0,25 cơ số đạn. Ngay sở chỉ huy mặt trận cũng như các sở chỉ huy cấp sư đoàn đều chưa chuẩn bị xong, mang thông tin hữu tuyến cũng chưa triển khai đầy đủ.

        5. Sở chỉ huy chiến dịch chiến dịch

        Bố trí tại Sap- lit (62- 66) (Bản đồ tỷ lệ: 1/100.000 do Cục Bản đồ BTTM- in lần thứ 2 năm 1964).

        Chiến dịch không tổ chức sở chỉ huy tiền phương chung hoặc trên từng hướng. Bộ Tư lệnh chiến dịch trực tiếp chỉ huy tới các sư đoàn và các binh chủng trực thuộc.

       6. Thời gian nổ súng (mở màn chiến dịch)

        Quy định từ ngày 20 đến cuối tháng 01 năm 1968.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2016, 06:51:09 AM

PHẦN THỨ BA

DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH

       
ĐỢT I- TIÊU DIỆT CÁC CỨ ĐIỂM PHÍA TÂY, MỞ THÔNG ĐƯỜNG 9, ĐƯA LỰC LƯỢNG VÂY HÃM TÀ CƠN
(20/1 - 7/2/1968)

        I. HƯỚNG TÂY

        Chấp hành lệnh của Bộ, hướng tây nổ súng trước. Mở màn chiến dịch bằng 2 trận tiến công của trung đoàn bộ binh 66/304 và trung đoàn bộ binh 2/325 vào quận lỵ Hương Hoá và điểm cao 832 ngoại vi cụm cứ điểm Tà Cơn.

        Quận lỵ Hương Hoá do 1 đại đội bảo an phòng giữ, có cơ quan hành chính nguỵ quyền và dân trong huyện bị dồn về đây chừng 10.000. Điểm cao 832 ở ngoại vi phía tây bắc Tà Cơn (khoảng 3- 4 km) có 1 đại đội thuỷ quân lục chiến Mỹ phòng ngự, có hoả lực của cụm pháo binh ở Tà Cơn trực tiếp chi viện.

        Đêm 20 tháng 1 năm 1968, được pháo binh chiến dịch chi viện, tiểu đoàn 7/trung đoàn 66/304 nổ súng tiến công quận lỵ Hương Hoá. Trận mở đầu diễn ra tương đối thuận lợi, phần lớn quân địch bị tiêu diệt, một số chạy thoát vào cụm cứ điểm Tà Cơn, ta chiếm được mục tiêu. Cùng đêm, tiểu đoàn 6/trung đoàn 2/325 tiến công điểm cao 832 nhưng không thành công, phải chuyển vào bao vây kiềm chế địch. Ngày 21 tháng 1 năm 1968, địch điều 1 đại đội bảo an từ Quảng Trị đổ bộ xuống ngã ba Ku Bốc liền bị ta tiêu diệt gọn.

        Đến trưa ngày 22 tháng 1, ta hoàn toàn làm chủ phía nam cụm cứ điểm Tà Cơn, tổ chức chốt giữ quận lỵ Hương Hoá, điểm cao 471 và ngã ba Ku Bốc, giải phóng 8.000 dân, lập bàn đạp vây hãm Tà Cơn ở phía nam và sẵn sàng đánh địch phản kích tăng viện…

        Về phía địch, sau khi quận lỵ Hương Hoá bị mất, Tà Cơn bị uy hiếp trực tiếp từ phía nam, điểm cao 832 ở phía tây bắc bị bao vây, địch đối phó chủ yếu bằng hoả lực phi pháo, nhằm ngăn chặn lực lượng ta và nghe ngóng tình hình; không tổ chức phản kích tại chỗ và cũng không phản kích từ xa tới.

        Ngày 23 tháng 1 năm 1968, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tiêu diệt cứ điểm Huội San ở sát biên giới Việt- Lào do 1 tiểu đoàn nguỵ Lào phòng giữ, để tăng thêm áp lực ở hướng tây, mở đường tiếp cận Làng Vây, bức địch phải tăng viện.

        Huội San là một cụm cứ điểm nằm án ngữ ở biên giới Việt- Lào (trên Đường số 9) gồm 12 cứ điểm nhỏ, mà trung tâm là cứ điểm Tà-Mây, do tiểu đoàn 33 quân nguỵ Lào phòng giữ. Tiểu đoàn 1/trung đoàn 24/304 được tăng cường 1 đại đội xe tăng lội nước (8 chiếc PT-76) tiến công Huội San. Cách đánh là bao vây toàn cụm, dùng lực lượng mạnh gồm bộ binh và xe tăng đánh thẳng vào trung tâm Tà Mây, rồi từ đó tỏa ra tiêu diệt toàn cụm cứ điểm. Do ta bao vây không kín nên địch chạy thoát về Làng Vây cũ gần 400 tên, ta làm chủ cụm cứ điểm Huội San.

        Sau 3 ngày chiến đấu, địch vẫn không tăng viện. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tiến công tiêu diệt cứ điểm Làng Vây, giải phóng đoạn Đường số 9 từ Khe Sanh ra tới biên giới Việt- Lào, đưa thêm lực lượng vào bao vây Tà Cơn, buộc địch phải phản ứng mạnh và sớm hơn.

        Việc tổ chức tiêu diệt cứ điểm Làng Vây, Bộ Tư lệnh giao cho đồng chí Lê Ngọc Hiền phụ trách, nhưng sau đó lại giao cho Bộ chỉ huy sư đoàn 304 đảm nhiệm có cán bộ sư đoàn 325 tham gia (đồng chí Trần Văn Ân và đồng chí Dương Bá Nuôi).

        Nhưng do công tác chuẩn bị không kịp, phải kéo dài thời gian, mãi đến thượng tuần tháng 2 năm 1968, sư đoàn 304 mới chuyển vào tiến công cứ điểm Làng Vây.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:07:01 AM

        II. HƯỚNG ĐÔNG

        Đêm 19 tháng 1 năm 1968, trung đoàn 270 vào chốt ở Lâm Xuân, Bạch Cầu và Hoàng Hà, phối hợp với đặc công hải quân phong toả đường sông Cửa Việt đi Đông Hà, buộc địch phải đưa quân giải toả. Trong 3 ngày liền, tiểu đoàn 47/trung đoàn 270 đánh lui nhiều đợt tiến công của địch có pháo binh, không quân và xe tăng yểm trợ. Kết quả ta diệt 347 tên (trong đó có 110 tên Mỹ), phá huỷ 7 xe tăng và M113, bắn hỏng 3 tàu trên sông, giữ vững chốt Bạch Cầu.

        Ngày 24 tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn 3/trung đoàn 1 thuỷ quân lục chiến Mỹ đánh vào chốt Hoàng Hà, bị ta diệt 200 tên. Trong tuần cuối tháng 1 năm 1968, địch chiếm được chốt Lâm Xuân và Bạch Cầu.

        Đêm 31 tháng 1 năm 1968 trung đoàn 48/320 tiến công quận lỵ Cam Lộ không thành công.

        III. TIẾN CÔNG TIẾP

        Ngày 2 tháng 2 năm 1968, đồng chí Văn Tiến Dũng- Tổng Tham mưu trưởng điện hỏi Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Bộ Chính trị rất không yên tâm vấn đề Đường số 9, Lý do gì, vì sao, có khó khăn gì mà không đánh mạnh phối hợp để địch rút lực lượng từ Đường số 9 (hướng đông) vào Trị- Thiên, gây khó khăn cho Trị- Thiên”.

        Để chấp hành mệnh lệnh của Bộ, Bộ Tư lệnh chiến dịch đôn đốc sư đoàn 304 khẩn trương chuyển vào tiến công tiêu diệt cứ điểm Làng Vây càng sớm càng tốt.

        Làng Vây là một cứ điểm mạnh bố trí trên bình độ 320m, công sự gỗ đất xen kẽ lô cốt xi măng đúc sẵn, xung quanh có hàng rào kẽm gai và mìn. Vị trí địch chia thành nhiều khu vực, mỗi khu vực do 1 đại đội biệt kích nguỵ phòng ngự; tổng số có khoảng 600 tên (trong đó có một số cố vấn Mỹ); vũ khí có: 16 súng cối 60mm, 278 súng M79, 4 súng cối 81mm, 4 súng cối 106,7mm, 1 ĐKZ 75, 1 ĐKZ 57, khoảng 300 tiểu liên AR- 15 và các bin; khi bị ta tiến công, vị trí Làng Vây được cụm pháo binh Tà Cơn, 241 và được không quân trực tiếp chi viện.

        Để tiêu diệt cứ điểm Làng Vây, sư đoàn 304 sử dụng: trung đoàn bộ binh 24 (thiếu 1 tiểu đoàn) được tăng cường thêm: tiểu đoàn bộ binh 3/sư đoàn 325, tiểu đoàn xe tăng 198 (thiếu 1 đại đội, gồm 16 hiếc PT- 76), 1 đại đội đặc công của mặt trận, 1 đại đội đặc công/304, 1 đại đội AM- 14,5 mm; 1 trung đội súng phun lửa; có nhiệm vụ: tiêu diệt toàn bộ lực lượng biệt kích nguỵ trong cứ điểm Làng Vây, khai thông đoạn Đường số 9 từ Khe Sanh trở ra biên giới Việt- Lào; tăng thêm áp lực vây hãm Tà Cơn buộc địch phải tăng viện.

        Khi trung đoàn 24 tiến công sẽ được tiểu đoàn pháo binh 122 mm nòng dài/trung đoàn pháo binh 675 trực tiếp chi viện chiến đấu; và được tiểu đoàn công binh mặt trận và tiểu đoàn công binh/304 bảo đảm cho xe tăng cơ động tiếp cận địch trên các hướng tiến công.

        Kế hoạch tác chiến của sư đoàn 304 xác định tiêu diệt Làng Vây vào đêm 5 tháng 2 năm 1968, nhưng vì điều kiện chuẩn bị của trung đoàn 24 chưa tốt nên phải hoãn lại…

        23 giờ 30 phút ngày 6 tháng 2 năm 1968, trung đoàn 24 chuyển vào tiến công địch trong hành tiến, đột phá cứ điểm Làng Vây bằng 3 hướng (trừ hướng đông bắc, còn hướng nam và hướng tây có xe tăng tham gia đột phá). Trận đánh kéo dài đến 8 giờ sáng ngày 7 tháng 2 ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm. Kết quả: ta tiêu diệt tại chỗ 400 tên, bắt sống 253 tên (trong đó có 5 tên Mỹ), thu toàn bộ vũ khí và quân trang, quân dụng. Cùng ngày trung đoàn 66 đánh địch ở Làng Vây cũ phía bắc cứ điểm Làng Vây khoảng 1000 m; do bao vây không kín, số lớn địch ở đây chạy thoát về Tà Cơn.

        Cứ điểm Làng Vây bị diệt, ta làm chủ đoạn Đường số 9 từ Cà Lu đến biên giới Việt Lào mở rộng bàn đạp vây hãm Tà Cơn và đánh quân địch phản kích tăng viện. Đến đây, đợt 1 của chiến dịch kết thúc. Cả 2 hướng của chiến dịch ta đã diệt và bắt sống 1.600 tên (có 200 tên Mỹ), bắn rơi và bắn cháy 19 máy bay các loại, phá huỷ 11 khẩu pháo và cối, phá huỷ 11 xe cơ giới, thu nhiều vũ khí và quân dụng…

        Qua 19 ngày chiến đấu (20/1 – 7/ 2/1968) ta thu được một số thắng lợi, nhưng rất ít trận tiêu diệt gọn quân địch (trừ trận Làng Vây), thậm chí có trận không thành công (trận điểm cao 832 của sư đoàn 325 và trận Cam Lộ của sư đoàn 320), phối hợp giữa 2 hướng đông-tây của chiến dịch không chặt, yêu cầu chiến dịch Đường số 9-Khe Sanh phải đánh mạnh, tiêu diệt lớn, buộc địch phải tăng viện, hỗ trọ cho Trị-Thiên- Huế chưa thực hiện được.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch không được biết ngày “N” của cấp chiến lược, do đó trong kế hoạch tác chiến chỉ nói chung là phải ra sức đẩy mạnh các hoạt động phối hợp với các chiến trường trong toàn Miền, không xác định được mục tiêu nào, trận đánh nào cụ thể vào ngày “N”. Yêu cầu đánh mạnh, đánh dồn dập đánh trước ngày “N” để thu hút địch không làm được đúng mức cần thiết.

        Đặc biệt, đêm 31 tháng 1 năm 1968- đêm giao thừa Tết Mậu Thân, ta tiến công mạnh vào các đô thị toàn Miền. Ở Thừa Thiên ta làm chủ được thành nội Huế nên phần lớn lực lượng địch phải lo đi giải toả các đô thị, khả năng địch tăng viện ra Khe Sanh càng hạn chế.

        Sau khi ta đánh Làng Vây vẫn không kéo được viện binh địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương vây hãm Tà Cơn để ép địch phải đưa viện binh lên giải toả, kiên quyết thực hiện yêu cầu của chiến lược trong khả năng thực tiễn của địa bàn chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:10:22 AM

        ĐỢT II- VÂY HÃM TÀ CƠN (10- 2- 31- 3- 1968)

        Đầu tháng năm 1968, Mỹ tổ chức Bộ Tư lệnh nhẹ do tên tướng A- bờ- ram phụ trách (A- bờ- ram là Phó tư lệnh đội quân xâm lược Mỹ ở miền Nam Việt Nam), điều sư đoàn 1 kỵ bị không vận và chiến đoàn 3 dù nguỵ ra Quảng Trị để sẵn sàng ứng phó với ta trên chiến trường Đường số 9. Nhưng ở chiến trường Trị- Thiên- Huế địch đang bị uy hiếp mạnh nên chúng chưa thể đưa quân ra giải toả cho Đường số 9 mà chủ yếu dựa vào hoả lực phi pháo đánh vào các trận địa vây lấn của ta, đồng thời đưa quân ra chiếm giữ thêm điểm cao 550 ở phía Bắc, 595 và 573 ở phía tây để hoàn chỉnh trận địa cố thủ Tà Cơn.

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định: phải đẩy mạnh vây lấn Tà Cơn, tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch; phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh; triệt tiếp tế đường không, cắt tiếp tế đường bộ; hãm địch vào thế khốn quẫn hơn nữa, bức chúng phải đưa quân ra ứng cứu giải toả càng sớm càng tốt. Chừng nào địch chưa đưa quân ra ứng cứu thì ta vẫn giữ chặt vòng vây, tích cực đánh lấn, đánh địch ra phản kích, tiêu diệt và đánh mẻ từng phần căn cứ Tà Cơn.

        Kế hoạch cũ vây hãm Tà Cơn được điều chỉnh với quyết tâm đánh địch cao hơn: (từ vây hãm phát triển lên vây lấn); các đơn vị vây lấn phải xây dựng công sự trận địa vững chắc, dùng ít lực lượng nhưng có hoả lực mạnh; lực lượng phía sau ở vị trí cơ động sẵn sàng đánh địch phản kích hoặc đổ bộ đường không; pháo binh chi viện trực tiếp cho các đơn vị vây lấn, đồng thời bắn phá sở chỉ huy, khu thông tin và sân bay, kho tàng trong căn cứ, làm cho địch ở Tà Cơn ngày càng hoang mang, kiệt quệ phải đưa quân ra giải toả.

        HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ CỦA CÁC ĐƠN VỊ

        I. HƯỚNG TÂY

        Sư đoàn 325 vây đánh địch ở bắc và tây bắc Tà Cơn, tổ chức kiềm chế địch ở các điểm cao 845, 832 và Động Trì, cố gắng nhằm tiêu diệt 1- 2 điểm phòng ngự của địch, mở đường vào vây sát hơn nữa. Lực lượng cơ động của sư đoàn sẵn sàng đánh quân địch ra ứng cứu giải toả.

        Sư đoàn 304 vây đánh địch ở nam Tà Cơn; trung đoàn 9 tổ chức luân phiên các tiểu đoàn vào vây lấn; trung đoàn 24 và 66 sẵn sàng đánh địch ứng cứu giải toả ở phía nam và tây nam Tà Cơn. Lực lượng chiến đấu ở các trận địa vây lấn dùng các phân đội nhỏ (trên dưới 40 người) được tăng cường súng cối 82 mm, 60 mm, súng máy cao xạ 12,7 mm và súng chống tăng B41, nên sức mạnh đánh địch tăng lên, khuyết điểm vây hãm lúc đầu được khắc phục (Lúc đầu ta chủ trương vây hãm, chưa chủ trương đánh lấn nên trận địa bao vây còn xa địch, chủ yếu dùng hoả lực cối 82 mm và súng máy 12,7 để kiềm chế địch).

        Giữa tháng 2 năm 1968, trung đoàn 66 vào thay thế cho sư đoàn 325 (Sư đoàn 325 được điều vào Tây Nguyên). Trung đoàn 66 chỉ để lực lượng nhỏ kiềm chế 832 và 845, đưa lực lượng chính vào trực tiếp vây lấn phía tây Tà Cơn. Trận địa vây lấn đã đưa vào sát hàng rào địch; dùng mìn định hướng phá huỷ vật cản và bắn tỉa tiêu diệt những tên lính Mỹ đi lại trong căn cứ…

        Ở phía nam Tà Cơn, 3 mũi vây lấn của trung đoàn 9, đến cuối tháng 2 năm 1968 đã vào cắt được hàng rào địch; trận địa ở phía sân bay Tà Cơn đã lấn đến giữa hàng rào địch, cách tiền duyên phòng ngự địch chừng 40- 50m. Các đêm 29 tháng 2 và 1, 2 tháng 3 năm 1968 ta tổ chức xung phong đánh chiếm một số đoạn chiến hào nhưng không thành công.

        Pháo binh ta kiềm chế sân bay, làm cản trở địch tiếp tế cho Tà Cơn. Thời kỳ này ta mới ngăn chặn được máy bay có cánh (như C123, C130) còn với máy bay lên thẳng và địch thả dù tiếp thì ta chưa khống chế được. Ở hướng bắc và đông Tà Cơn ta không có lực lượng uy hiếp địch (do địa hình ở 2 hướng này quá hiểm trở).

        So với lúc đầu, địch ở cụm cứ điểm Tà Cơn đã phải chịu sức uy hiếp mạnh hơn, chúng tiếp tế chủ yếu vào ban đêm; chúng sinh hoạt trong căn cứ gặp nhiều khó khăn; tinh thần binh lính chúng căng thẳng… Địch cố gắng phản kích tại chỗ nhằm đẩy lực lượng ta ra xa. Ngày 25 tháng 2 năm 1968, địch dùng 2 đại đội thuỷ quân lục chiến Mỹ từ Tà Cơn tiến hành 2 mũi đánh vào chốt 4 (Châu Lang Chánh) do một phân đội của trung đoàn 66 chiếm giữ, trận đánh diễn ra từ 8 giờ đến 14 giờ 45 phút, bị ta tiêu diệt gần 200 tên, số còn lại bỏ chạy. Ngày 8 tháng 3 năm 1968, địch dùng 1 đại đội biệt kích nguỵ mang tên “Lôi hổ” đánh vào chốt 1 ở đông nam Tà Cơn do một phân đội của trung đoàn 9 chiếm giữ; chốt này ở vị trí có địa thế cao, gần sân bay, khống chế rộng… nên phát hiện sớm địch, do đó, khi lọt vào tầm hoả lực ta thì đại đội biệt kích này bị ta tiêu diệt hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:14:30 AM

        Những ngày cuối tháng 3 năm 1968, bọn thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Tà Cơn dựa vào hoả lực chi viện lại thực hành phản kích ra phía tây Tà Cơn: ngày 28 tháng 3, 1 đại đội Mỹ đánh ra chốt 3 (Châu Lang Chánh) bị bộ đội ta đẩy lùi, ngày 30 tháng 3, 2 đại đội Mỹ, 2 đại đội nguỵ có xe tăng và pháo binh yểm hộ đánh vào chốt 3 lần thứ 2, trận đánh diễn ra từ 7 giờ đến 12 giờ 40 phút, ta diệt 300 tên, số còn lại bỏ chạy vào Tà Cơn.

        Qua 4 lần phản kích đều bị thất bại nặng nề, địch lại dùng hoả lực không quân và pháo binh đánh phá ác liệt vào trận địa vây lấn của ta. Chúng dùng máy bay B52 rải bom cách tiền duyên phòng ngự của chúng dưới 1.000 m (khu vực Khe Sanh rộng khoảng 32 km2 mà địch đã sử dụng từ 15- 18 lần chiếc B52/ngày đánh 3.300 tấn bom nhằm huỷ diệt trận địa và đội hình vây lấn của ta).

        Trong tháng 3 năm 1968, mặc dù địch phản ứng điên cuồng, đánh phá ác liệt, nhưng quân ta không chùn bước. Các khẩu hiệu hành động như: “Địch phá ta sửa”, “Phải gây ác liệt đối với quân Mỹ", “Phải biến Tà Cơn thành địa ngục trần gian, thành lò thiêu quân Mỹ trên đường số 9”;… được thực hiện triệt để. Hàng ngày bộ đội ta phải sửa chữa tói 40%- 50% công sự, có nơi phải sửa chữa tới 70%, nhưng vẫn không ngừng đánh địch. Ta dùng pháo binh, súng cối, ĐKZ đánh phá sân bay; bộ binh áp sát bãi thả dù, dùng súng bắn tỉa tiêu diệt binh lính địch, gây cho địch căng thẳng về tinh thần, khó khăn về tiếp tế… buộc chúng sớm muộn cũng phải đưa quân giải toả Tà Cơn.

        II. HƯỚNG ĐÔNG

        Đầu tháng 3 năm 1968, sư đoàn 320, dùng một bộ phận tiếp tục bao vây Cồn Tiên (thay trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 324 cũ được lệnh chuyển vào Thừa Thiên), tổ chức uy hiếp giao thông trên đoạn Cam Lộ- Tân Lâm buộc địch phải tăng cường giải toả. Các đơn vị này chỉ thực hiện một số trận đánh nhỏ. Sư đoàn 320 chuẩn bị tiến công Quán Ngang, nhưng không đánh vì địch đã tăng cường lực lượng ở đây.

        Ở đông đường số 1, trung đoàn 270, sau tăng thêm một bộ phận của trung đoàn 52 cũng chỉ đánh được một số trận nhỏ.

        Trung tuần tháng 3 năm 1968, lực lượng hướng đông tiếp tục rút bớt vào tăng cường cho Thừa Thiên- Huế, sư đoàn 320 được lệnh rút ra củng cố, chuẩn bị cho đợt hoạt động tháng 5 năm 1968.

        Do lực lượng hướng đông giảm đi, cường độ hoạt động không mạnh, nên địch có điều kiện điều lực lượng tăng cường cho Huế và đánh phá khu vực Khe Sanh bằng hoả lực.

        Kết quả 50 ngày đêm vây lấn Tà Cơn, ta đã tiêu hao tiêu, diệt thêm một bộ phận sinh lực địch (chủ yếu là Mỹ); thu hút phần lớn hoả lực của không quân và pháo binh của Mỹ ra Đường số 9- Khe Sanh. Trong đợt vây lấn Tà Cơn, địch đã sử dụng 110.000 tấn bom và 100.000 quả đạn 175 mm đánh vào khu vực Khe Sanh.

        ĐỢT III- ĐÁNH ĐỊCH ỨNG CỨU GIẢI TOẢ (1/ 4 – 7/5/1968)

        Đầu tháng 4 năm 1968, cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam đã kéo dài 2 tháng , Huế và Sài Gòn đã chuyển sang hoạt động bình thường và chuẩn bị cho đợt tiến công mới.

        Tình hình mặt trận Đường số 9- Khe Sanh cũng có sự thay đổi, hướng đông được tách ra đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh. Phạm vi chiến dịch tập trung vào khu vực Khe Sanh (hướng tây) đối với khu vực phía đông từ đây chỉ có quan hệ hiệp đồng.
        Lực lượng chiến đấu của chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh lúc này còn: Sư đoàn 304 (thiếu 1 tiểu đoàn), tiểu đoàn bộ binh 8 độc lập, 1 tiểu đoàn pháo 122 mm, 1 trung đoàn pháo ĐKB và 1 trung đoàn pháo cao xạ. Các đơn vị đều chưa được bổ sung quân, sức khoẻ giảm sút.

        Thời gian này, địch ở Tà Cơn ra sức củng cố công sự, lùng sục thăm dò. Tiếp tế của chúng vẫn gặp nhiều khó khăn. Trên tuyến Đường số 9, các hoạt động trinh sát của địch tăng lên. Không quân và pháo binh tăng cường đánh phá dọc hai ven Đường số 9 từ Tân Lâm đến Rào Quán; một số điểm cao có lợi đã xuất hiện trận địa pháo binh và điểm chốt bộ binh. Đồng thời một bộ phận công binh địch thăm dò, sửa chữa đường từ Cà Lu đi Hương Hoá (lực lượng và hành động giải toả Khe Sanh của Mỹ- nguỵ, xem phụ lục II).

        Trước những hoạt động trên đây của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã kịp thời nhận định: Hiện tượng tương đối rõ là địch đang chuẩn bị cho một cuộc hành quân lớn lên hướng Khe Sanh. Nhưng về tính chất cuộc hành quân chưa rõ là để giải vây rồi bỏ chạy hay là để thay quân rồi cố giữ Khe Sanh? Bộ Tư lệnh cho rằng cả 2 khả năng đó đều tồn tại, nhưng khả năng thay quân để giữ Khe Sanh có nhiều hơn. Dù khả năng nào, địch đã phải đưa quân ra Đường số 9 là thời cơ rất thuận lợi để ta tiêu diệt chúng ngoài công sự. Tuy nhiên ta cũng có những khó khăn lớn do lực lượng chiến dịch còn quá mỏng.

        Để giành thắng lợi lớn nhất, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: động viên bộ đội, tận dụng mọi lực lượng hiện có, nắm vững thời cơ địch thoát ly công sự để tiêu diệt chúng. Trước mắt cần điều chỉnh gấp một số lực lượng ra chốt chặn dọc Đường số 9; điều tiểu đoàn 8 (thiếu 1 đại đội) xuống tây Cà Lu đánh địch nhằm tiêu hao và làm chậm bước tiến của địch trên Đường số 9; bộ phận vây lấn cụm cứ điểm Tà Cơn phải giữ vững trận địa, lấn sâu về phía địch, tích cực đánh địch phản kích và khống chế chúng ở trong căn cứ; lực lượng cơ động sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không xuống sát cụm cứ điểm hoặc phía sau đội hình chiến đấu của ta, triệt để cô lập cụm cứ điểm Tà Cơn.

        Phương châm chỉ đạo là kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng, tiêu diệt từng toán đổ bộ đường không, đánh chặn từng mũi tiến công đường bộ, chia cắt đội hình địch, vao vây tiêu diệt từng bộ phận lực lượng hành quân của chúng. Vận dụng linh hoạt các phương pháo tiến công nhằm đánh vào sườn và sau lưng địch, tích cực chia cắt không để chúng co cụm. Khi địch đổ bộ hoặc tạm dừng, đứng chân chưa vững thì phải vận động tập kích. Các đơn vị cố gắng giữ nguyên đội hình, tránh xáo trộn không cần thiết; phải tranh thủ củng cố đơn vị sau mỗi đợt chiến đấu để đủ sức đánh liên tục, không bỏ lỡ thời cơ diệt địch.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:18:00 AM

        DIỄN BIẾN CỤ THỂ

        1. Đánh địch giải toả giao thông (1- 6- 4- 1968)

        Từ 11 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4 năm 1968, sau khi tiến hành pháo hoả chuẩn bị trực tiếp tại vùng nam, bắc Rào Quán và Sa Mưu, lữ 3 kỵ binh từ Đồng Lâm cơ động bằng máy bay lên thẳng đổ bộ 1 tiểu đoàn xuống Đồng Cho, Úc Nghi, Bồng Kho, Sa Mưu; 1 tiểu đoàn xuống khu vực Làng Cát, 1 tiểu đoàn và sở chỉ huy lữ 3 đổ xuống Sa Mưu, thực hành chốt các điểm cao ở hai ven Đường số 9 (đoạn Cà Lu- Rào Quán) yểm hộ cho lực lượng công binh làm đường.

        Trước tình hình diễn biến khẩn trương, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: sau khi chiếm lĩnh một số bàn đạp ở đông và đông nam Tà Cơn, địch sẽ đổ quân xuống Ku Bốc và nam quận lỵ Hương Hoá, lực lượng địch ở Làng Cát sẽ mở rộng về phía tây, hình thành vành đai phía ngoài, kéo lực lượng vây lấn Tà Cơn của ta giãn ra, rồi đổ quân trực tiếp xuống khu trung tâm thực hành giải toả. Vì vậy, ta cần giữ vững các trận địa vây lấn, tích cực đánh địch từ trong phản kích ra, kết hợp đánh chặn quân đổ bộ đường không (không cho địch phối hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào);  đồng thời phải sẵn sàng đánh quân đổ bộ đường không vào sâu hậu phương chiến dịch của ta. Trước mắt, tập trung tiêu diệt tiểu đoàn địch mới xuống Làng Cát, đánh bại âm mưu mở rộng bàn đạp sang phía tây của chúng.

        Thực hiện quyết tâm trên, các đơn vị đánh địch cơ động trên Đường số 9, đánh lui nhiều đợt tiến công của tiểu đoàn địch ở Làng Cát; tiêu diệt một bộ phận thuộc lữ 2 kỵ binh đổ bộ xuống Húc Thượng (lúc 11 giờ sáng ngày 3 tháng 4). Bọn địch ở Tà Cơn đánh ra chốt 3 (Châu Lang Chánh) cũng bị đẩy lui.

        Ngày 3 tháng 4, địch đổ bộ 1 tiểu đoàn, lữ 2 kỵ binh xuống khu vực điểm cao 471, cách ngã ba Ku Bốc khoảng 2 km, bọn địch ở Tà Cơn đánh ra phía đông Nam Động Ché Riên, định nối liền với lực lượng giải vây cùng đánh chiếm ngã ba Ku Bốc. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt: 6 đồng chí cảnh giới của ta chiến đấu rất dũng cảm, chặn đánh gần 1 tiểu đoàn địch. Cùng ngày (3 tháng 4) bọn địch ở Làng Cát bắt đầu đánh xuống Làng Khoai, nhiều lần bị ta đẩy lùi. Sáng 4 tháng 4, sau khi dùng hoả lực không quân dọn bãi, địch đổ thêm 1 tiểu đoàn, lữ 3/sư 1 kỵ binh bay từ Sa Mưu “nhẩy cóc” xuống khu đồi ở đông nam Ku Bốc, cách ngã ba Ku Bốc khoảng 1.5 km nhằm án ngữ lực lượng ta ở Làng Khoai, làm bàn đạp đánh chiếm ngã ba Ku Bốc. Cùng ngày (04 tháng 4), địch từ Làng Cát lại mở cuộc tiến công về phía Tà Cơn đồng thời một bộ phận địch từ Tà Cơn đánh ra chiếm Động Ché Riêng. Nắm trước được ý đồ của địch, ta đã chặn đánh 2 cánh quân trên, buộc chúng phải đổ thêm một tiểu đoàn kỵ binh không vận xuống tăng viện cho bọn địch đang tiến công Động Ché Riêng. Cùng ngày, địch tổ chức đổ quân xuống điểm cao 471, nhưng vừa tới đất, địch đã bị quân ta bao vây và tiêu diệt 2 đại đội, bị bắn rơi 5 máy bay lên thẳng; đến cuối ngày ta chủ động rút khỏi điểm cao 471.

        Sáng ngày 5 tháng 4, địch đổ thêm 2 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 sư kỵ binh bay xuống vùng Pa- Ka- Húc Hạ làm nhiệm vụ án ngữ ngăn chặn lực lượng ta ở phía tây nam Khe Sanh. Sáng cùng ngày (5 tháng 4), địch chiếm được Động Ché Riêng, phối hợp cùng với tiểu đoàn phía đông đánh về ngã ba Ku Bốc.

        Đến cuối ngày 5 tháng 4 sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ (thiếu 1 tiểu đoàn) đã đủ mặt ở khu vực Khe Sanh. Nhìn chung, địch tiến từng bước thận trọng, không dám nhảy sâu mà chỉ tập trung lực lượng ở từng khu vực, đẩy lùi ta từng bước, đánh chiếm từng bàn đạp, giải toả từng phần khu vực bị vây lấn. Triệu chứng của địch cố mở rộng khu vực đổ quân về phía tây nhằm cắt đứt đường tiếp tế, gây khó khăn cho lực lượng của ta đang vây lấn, buộc ta phải giảm áp lực đối với Tà Cơn. Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: đẩy mạnh các hoạt động nhỏ ở nam Đường số 9; giữ vững chốt Làng Khoai, Ku Bốc và các trận địa vây lấn quanh Tà Cơn; tích cực đánh giao thông chặn địch trên đoạn Cà Lu- Rào Quán; tăng thêm, lực lượng phòng giữ Làng Vây và chuẩn bị kế hoạch tác chiến khôi phục Làng Vây khi bị địch chiếm.

        Đến sáng 6 tháng 4 địch chiếm được ngã ba Ku Bốc và Làng Khoai, chiều hôm đó chúng nối thông được với sân bay Tà Cơn và cũng là kết thúc giai đoạn giải toả giao thông (đoạn Cà Lu- Khe Sanh), làm cho Tà Cơn được nối liền với Đông Hà bằng đường bộ bằng cả một sư đoàn mạnh, có trang bị hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ.

        Ở khu vực phía đông, trong thời gian địch giải toả Khe Sanh, sư đoàn 320 đang ở bờ bắc củng cố để chuẩn bị cho đợt hoạt động tháng 5 năm 1968. Ở bờ nam chỉ có trung đoàn 27, trung đoàn 270 và các đại đội, tiểu đoàn địa phương tiếp tục bao vây Cồn Tiên, đánh giao thông, đánh địch phản kích nhỏ. Ngoài ra ta còn dùng pháo binh chế áp Cửa Việt, Đông Hà và 241.

        Trong thời gian đánh địch giải toả giao thông, mặc dù quân số thiếu hụt, sức khoẻ giảm sút, tiếp tế khó khăn, nhưng các đơn vị bộ đội vẫn kiên trì bám sát địch, đánh liên tục đều khắp, làm chậm bước tiến của chúng. Sư đoàn 304, tiểu đoàn bộ binh 8 độc lập đã hợp đồng chặt chẽ với các binh chủng đánh rất nhiều trận, trong đó có những trận diệt nhiều địch như trận Làng Khoai (2, 3- 4), trận điểm cao 471 (4 tháng 4). Nhưng địch đã giải toả được giao thông đường bộ (Khe Sanh- Đông Hà) và ta bị mất các trận địa vây lấn và đài quan sát pháo binh ở phía nam và tây nam Tà Cơn. Trước những khó khăn mới, nhất là về lực lượng, Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn quyết định tiếp tục duy trì hoạt động trên một số trọng điểm như Rào Quán, Ku Bốc, Làng Vây; giữ vững đường tiếp tế phía tây Tà Cơn; đẩy mạnh hoạt động nhỏ quanh các điểm 832, 845 phía tây bắc Tà Cơn, đánh giao thông đoạn Cà Lu- Rào Quán.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:20:45 AM
       
        2. Đánh địch nới rộng vòng vây (7 - 14/4)

        Ngày 7 tháng 4, địch dùng lữ 1 kỵ binh đánh chiếm khu vực Làng Con- Húc Hạ là vị trí cũ của ta nằm ở phía tây nam Khe Sanh, nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát về phía tây. Cùng ngày (7 tháng 4) chiến đoàn 3 dù đã dùng 132 chiếc máy bay lên thẳng từ Nhan Biểu đổ bộ xuống các ngọn đồi phía tây bắc Làng Vây cũ (cách khoảng 2 km). Sau khi đánh chiếm các điểm cao 400, 542, đông nam 567, địch tiến hành đổ bộ đợt 2 xuống Cô Pút (bắc làng Vây cũ). Ngay khi đổ quân và trong đêm đầu địch bị pháo binh ta tập kích trúng đội hình, 2 tiểu đoàn 3 và 6 dù bị diệt 250 tên. Tiếp đó các tiểu đoàn 3 và 8 dù lại bị tiểu đoàn 5, trung đoàn 24 bám đánh cả ngày, tiêu hao một bộ phận. Đêm 8 tháng 4, địch cụm ở điểm cao 400, ta kịp thời tập kích diệt thêm 320 tên (có tên thiếu tá tham mưu trưởng chiến đoàn 3 dù).

        Ngày 9 tháng 4, các tiểu đoàn 3 và 6 dù phát triển tới các ngọn đồi phía tây bắc và tây nam Cô Pút 2 km; ngày 10 tháng 4, tiểu đoàn 6 dù đánh chiếm làng Vây cũ có sự yểm trợ của một bộ phận kỵ binh Mỹ ngày 11 tháng 4, 1 tiểu đoàn dù nguỵ  và 1 tiểu đoàn kỵ binh Mỹ chia làm 3 mũi tiến công Làng Vây (cứ điểm Làng Vây). Lực lượng ta được pháo binh chi viện đánh lui 3 đợt xung phong của 2 tiểu đoàn địch, đẩy lùi tiểu đoàn dù nguỵ bật lại điểm cao 500 (phía tây bắc Làng Vây); địch bỏ lại 200 xác. Ngay đêm đó (11- 4) ta tập kích vào điểm cao 500 diệt thêm 1 đại đội nguỵ, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác.

        Ngày 12 tháng 4, địch huy động không quân, pháo binh và dùng chất độc hoá học đánh vào Làng Vây lần thứ 2. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, đến 16 giờ ngày hôm đó (12- 4) quân ta được lệnh rút khỏi Làng Vây. Sau khi chiếm được Làng Vây, lữ 1 kỵ binh đổ quân chiếm Pa Ka, Làng Con và cho những phân đội nhỏ đổ bộ xuống Làng Troài, Bi Hiên khôi phục lại hình thái trước ngày 6 tháng 2 năm 1968, đẩy lực lượng ta ra xa. Chiều ngày 14 tháng 4, địch rút khỏi Làng Vây mới và cũ: chiến đoàn 3 dù bị thiệt hại 40% quân số phải đưa về Huế củng cố.

        Trong thời gian này, bọn thuỷ quân lục chiến trong cụm cứ điểm Tà Cơn đánh rộng ra cải thiện thế phòng ngự; lữ 3 kỵ binh bay Mỹ chuyển vào Tà Cơn làm nhiệm vụ bảo vệ Tà Cơn. Ngày 7 tháng 4, địch dùng không quân chuẩn bị hoả lực trên chính diện phòng ngự phía tây và phía bắc. Từ ngày 10 tháng 4 đến ngày 13 tháng 4, trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến bắt đầu đánh rộng ra phía tây Tà Cơn. Đặc điểm hoạt động của địch là chúng tiến từng mũi nhỏ, tiến đến đâu dùng máy bay lên thẳng thả lô cốt lắp sẵn đến đấy, đồng thời với việc cải tạo hoặc phá hoại công sự trước đây của ta, hình thành vị trí phòng ngự mới của chúng. Ngày 14 tháng 4, tiểu đoàn 3 trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến ở điểm cao 845 đánh ra phía bắc (cách trận địa 2 km) bị lực lượng ta chặn đánh, thiệt hại nặng phải quay về 845.

        Ngày 14 tháng 4, cũng là ngày địch kết thúc giai đoạn “nới rộng vòng vây” đẩy lực lượng ta ra xa, để sân bay Tà Cơn khỏi bị hoả lực bắn thẳng của bộ binh ta uy hiếp.

        Liền trong 3 ngày (12 – 14/4), địch dùng máy bay B52 đánh phá từ Tà Khống đến Bản Đông nhằm ngăn chặn chủ lực ta tiến vào Khe Sanh, bảo đảm an toàn cho việc giải toả của chúng.

        Ở phía đông, cùng thời gian trên, ta tiếp tục đánh giao thông, bao vây kiềm chế Cồn Tiên, pháo kích Cửa Việt, Đông Hà và căn cứ hoả lực 241. Nhưng ta hoạt động không mạnh ở hướng này nên địch điều được tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 1 thuỷ quân lục chiến từ Đông Hà tăng viện cho Tà Cơn.

        Để chủ động đối phó với mọi tình huống, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị tích cực đánh địch ở khu vực Làng Khoai, Pa Ka, nam Làng Vây, kiên quyết không cho địch mở rộng ra phía tây; điều một bộ phận lực lượng bố trí chặn địch ở Làng Vây để bảo vệ hậu phương, giữ vững đường tiếp tế; các đơn vị phải tranh thủ củng cố để đánh được dài ngày.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:24:29 AM

        3. Đánh địch thay quân (14- 4- cuối 4- 1968)

        Cuộc thay quân của địch được tiến hành từ ngày 14 tháng 4, nhưng bị ta bám đánh liên tục. Bộ phận địch rút khỏi Làng Vây bị tiêu hao; 1 đại đội kỵ binh không vận bị diệt gọn ở điểm cao 656 (nam Pa Ka); một bộ phận địch đánh ra Xiêm La Hạ (tây bắc điểm cao 845) và đánh ra La Viên Ấp (bắc điểm cao 832), đều bị bộ đội ta đánh bật lại. Máy bay lên thẳng địch hạ cánh bị cao xạ ta đẩy lên cao, sân bay Tà Cơn bị pháo binh ta bắn hỏng, máy bay C130 không thể hạ cánh được, Đường số 9 bị phá hỏng nhiều đoạn và luôn bị phục kích nên tốc độ rút quân của địch rất chậm.

        Địch thay quân có mấy đại đội: thay phía sau trước, phía trước sau (bắt đầu thay quân từ phía bắc, rồi đến lực lượng ở Tà Cơn, cuối cùng mới đến tiểu đoàn 1 thuỷ quân lục chiến đang trực tiếp tiếp xúc với ta); thay dần từng đại đội, từng tiểu đoàn, tiến hành liên tục suốt ngày với quy mô bình thường không tạo nên những hoạt động đột xuất, nhằm làm cho ta khó phát hiện việc chúng thay quân, các đơn vị bất kỳ ở đâu đều về tậpt rung ở sân bay Tà Cơn rồi mới rút khỏi Tà Cơn; địch sử dụng đường không là chủ yếu, nhưng cũng có một phần kết hợp với đường bộ để vận chuyển các khí tài nặng; trong khi thay quân, lực lượng kỵ binh bay tăng cường hoạt động ở phía nam, bảo đảm an toàn cho việc thay quân.

        Việc rút sư đoàn 1 kỵ binh bay và trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến khỏi khu vực, địch cũng tiến hành với những đặc điểm gần như thứ tự của thay quân, rút dần lần lượt từng tiểu đoàn, cố tránh gây sự giảm lực đột ngột.

        Ngày 19 tháng 4, địch hoàn thành việc thay quân. Trung đoàn 9 (thiếu 1 tiểu đoàn) thuỷ quân lục chiến Mỹ được tăng cường 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 4 thuỷ quân lục chiến và 2 tiểu đoàn kỵ binh không vận thay trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến chiếm giữ khu vực Tà Cơn. Địch chỉ để 2 tiểu đoàn làm nhiệm vụ chiếm đóng như trước, còn 4 tiểu đoàn khác hoạt động có tính chất cơ động hơn, lúc cần thì đánh ra phía tây hoặc đi bảo vệ đường và lùng sục phía nam Tà Cơn.

        Những ngày cuối tháng 4 năm 1968, quân địch ở Tà Cơn cố gắng mở các trận phản kích ra xung quanh Tà Cơn nhằm đẩy lực lượng ta giãn ra để giảm áp lực đối với Tà Cơn. Ngày 21 tháng 4, 3 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến chia thành nhiều mũi đánh vào điểm cao 622, bị ta diệt 250 tên, buộc số còn lại bỏ chạy về Tà Cơn. Ngày 23 tháng 4, một bộ phận kỵ binh từ Làng Con- Húc Hạ tiến về phía Làng Vây, bị ta diệt hơn 100 tên, hạ 2 máy bay lên thẳng; số còn lại chạy về Húc Hạ. Cùng ngày (23- 4) 1 đại đội biệt kích nguỵ đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống Pê Rang; nhưng cũng đều bị tiêu diệt gọn. Trên Đường số 9, các đoàn xe vận chuyển của địch bị ta phục kích liên tiếp, chúng phải rải 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến để cảnh giới đường bộ.

        Quyết tâm mới của Bộ Tư lệnh chiến dịch là: khắc phục mọi khó khăn về lực lượng, nhanh chóng xốc lại đơn vị, bám địch mà đánh, theo sát từng bước địch thay quân, áp sát các vị trí địch còn đang chiếm giữ, khống chế sân bay, kìm chân địch lại để tiêu diệt. Khu vực tác chiến chính cần tập trung lúc này là các điểm cao 689, 622 và các vị trí Làng Khoai, Ku Bốc. Khôi phục lại thế trận vây hãm Tà Cơn. Địch còn giữ Khe Sanh ngày nào, thì địch còn phải rải quân giữ Đường số 9, do đó ta phải đánh mạnh trên Đường số 9, không để cho địch vận chuyển được dễ dàng.

        Thực hiện quyết tâm trên, các đơn vị tuy quân số không đủ, nhưng vẫn bám địch ngay từ lúc chúng thay quân. Trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến Mỹ phải mất 6 ngày mới về tới Quảng Trị (ngày 15- 4 bắt đầu thay quân mà đến 20- 4 chúng mới tập trung hết trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến ở Quảng Trị).

        Đến những ngày cuối tháng 4 năm 1968, địch kết thúc cuộc hành quân “Ngựa bay” của Mỹ và cuộc hành quân “Lam Sơn 207” của nguỵ giải toả Khe Sanh. Cả lực lượng hành quân hỗn hợp và lực lượng chiếm đóng Tà Cơn từ trước, cả Mỹ và nguỵ bị ta diệt 5.200 tên (có 3.870 tên Mỹ), trong đó có 10 đại đội Mỹ, 1 đại đội nguỵ bị diệt gọn; 82 máy bay các loại bị bắn rơi; 4 khẩu pháo, cối, 4 trọng liên và 21 xe (có 5 xe tăng) bị phá huỷ.

        Nhìn chung, đợt III chiến dịch đánh địch ứng cứu giải toả Khe Sanh (thay quân ở cụm cứ điểm Tà Cơn), ta đã nắm chắc tình hình, phán đoán đúng âm mưu và hành động của địch nên có quyết tâm đúng, có cách đánh phù hợp, chỉ đạo chiến thuật chặt chẽ và linh hoạt, tiêu diệt được nhiều địch. Bên cạnh ưu điểm về chỉ đạo và chỉ huy phải thấy được tinh thần chịu đựng khó khăn, ác liệt mà vẫn chủ động đánh địch của các phân đội bộ binh và các binh chủng, đã thực hiện được yêu cầu tiêu diệt nhiều sinh lực Mỹ.

        Nhưng, trong đợt đánh địch giải toả Khe Sanh ta chưa có trận nào diệt gọn tiểu đoàn Mỹ; trung đoàn 9 sư đoàn 304 làm nhiệm vụ vây lấn Tà Cơn đã rút 2 tiểu đoàn về phía sau khi chưa có lệnh: các trung đoàn 24 và 66 bỏ lỡ một số thời cơ diệt địch; pháo binh để mất đài quan sát gây ảnh hưởng xấu đến tổ chức hiệp đồng; sau từng trận đánh các đơn vị không nắm chắc ngay quân số, chưa củng cố đơn vị kịp thời. Đó là những thiếu sót làm tăng thêm khó khăn, hạn chế kết quả của chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:29:33 AM

        ĐỢT IV- VÂY LẠI TÀ CƠN, ĐÁNH ĐỊCH RÚT CHẠY

        (8/5 - 15/7/1968)

        Sau khi địch thay quân giữ Khe Sanh, tuy vành đai vây lấn của ta chưa khôi phục được như cũ, nhưng chúng vẫn nằm trong vòng uy hiếp của hoả lực pháo binh ta. Việc cung cấp tiếp tế cho số quân lớn của địch ở Khe Sanh là vấn đề khó khăn của chúng.

        Sang tháng 5, trong khi toàn miền mở đợt 2 tiến công và nổi dậy, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: tích cực tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nhanh chóng khôi phục lại thế vây lấn Tà Cơn, uy hiếp địch mạnh hơn nữa, buộc chúng phải đưa quân lên giải toả lần 2, thu hút thêm lực lượng địch ra Đường số 9 để phối hợp với Thừa Thiên- Huế hoặc bức địch rút khỏi Khe Sanh để ta tiêu diệt chúng ở ngoài công sự.

        Khó khăn của ta là thiếu quân số, sức khoẻ bộ đội giảm sút. Vì vậy, phương hướng chung là: hoạt động nhỏ, tiêu diệt gọn; đánh liên tục nhưng có trọng điểm; giữ vững chủ động, vừa đánh vừa củng cố để chuyển sang đánh lớn khi có thời cơ.

        Lực lượng bộ binh ở khu vực Khe Sanh lúc này có: tiểu đoàn độc lập đánh địch ở đoạn Cà Lu- Rào Quán; trung đoàn 66 đánh địch ở phía tây và tây bắc Tà Cơn; trung đoàn 9 đánh địch ở nam Tà Cơn; trung đoàn 24 lùi về sau củng cố.

        Do sự chỉ đạo sát nên những ngày đầu tháng 5 có những trận đánh với hiệu suất cao. Ngày 4 tháng 5, ta tập kích địch ở điểm cao 552 diệt 3 đại đội Mỹ (có 2 đại đội kỵ binh không vận và 1 đại đội thuỷ quân lục chiến), phá huỷ 4 khẩu 105 mm và 9 khẩu 106,7 mm. Về phía bắc và tây bắc Tà Cơn ta bao vây kiềm chế các điểm cao 832 và 689. Ở phía đông nam ta áp sát Làng Khoai, đánh địch phản kích diệt 200 tên, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng. Trên Đường số 9, liền 2 ngày 14, 15 tháng 5 ta đã đánh một số trận tập kích ở nam Làng Khoai, diệt 310 tên địch, phá huỷ một số xe vận tải, buộc địch phải vận chuyển từng đoạn. Thượng tuần tháng 5, thế trận vây lấn Tà Cơn đã được khôi phục, các loại hoả khí của ta lại bắn vào Tà Cơn, gây cho địch nhiều thiệt hại. Nhưng lực lượng của ta hiện có ở khu vực Khe Sanh không đủ khả năng vây lấn Tà Cơn vừa sẵn sàng đánh địch ứng cứu giải toả. Trong tình hình đó, Bộ điều sư đoàn bộ binh 308 (thiếu trung đoàn 36) vào chiến đấu ở Khe Sanh.

        Ngày 9 tháng 5, đồng chí Đỗ Trình thay mặt Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho sư đoàn 308 như sau: “Sư đoàn 308 phải cắt Đường số 9 từ Rào Quán đến Ku Bốc, đẩy Khe Sanh trở lại tình trạng bị cô lập đường bộ, buộc địch phải ra giải toả, tạo thời cơ cho ta tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ngoài công sự; uy hiếp địch ở Tà Cơn, buộc chúng phải rút lực lượng ở nơi khác tăng cường cho Tà Cơn, giam chân địch càng đông, càng lâu càng tốt, phối hợp với đợt 2 tiến công và nổi dậy trong toàn miền. Phương châm đánh địch ngoài công sự là chủ yếu, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, tạo điều kiện đánh lớn”.

        Trong khi sư đoàn 308 khẩn trương chuẩn bị tổ chức nắm địch, trinh sát thực địa, làm phương án tác chiến, học tập kinh nghiệm v.v… thì các đơn vị thuộc sư đoàn 304 vẫn kiên trì khắc phục khó khăn đánh địch. Ngày 19 tháng 5, một đơn vị của sư đoàn 304 phục kích gần căn cứ Tà Cơn diệt gọn 1 đại đội và 3 xe tăng của địch khi chúng sục sạo ra phía tây. Bị thiệt hại, địch dùng 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến đánh ra tây nam Động Ché Riêng nhằm thăm dò và đẩy lực lượng ta ra xa. Sau 3 ngày đưa quân ra hoạt động ngoài căn cứ Tà Cơn, địch lại co về cố thủ, dùng hoả lực phi pháo đánh vào các trận địa ta.

        Trước tình hình địch cố thủ trong căn cứ nên ta chủ trương đánh nhỏ, đánh vừa, đánh bằng mọi cách để kéo địch ra mà tiêu diệt. Điểm cao Làng Cát nằm ở nam Đường số 9, cách cầu Rào Quán 1 km về phía nam, có 1 đại đội Mỹ chiếm giữ để bảo vệ các đoàn xe vận chuyển tiếp tế cho Tà Cơn. Ta chọn Làng Cát là điểm “châm ngòi”, thực hiện cắt tiếp tế đường bộ, bức địch phải giải toả.

        Trung đoàn bộ binh 102/308 được giao nhiệm vụ tiêu diệt địch và chiếm điểm cao Làng Cát. Sau 2 ngày chuẩn bị, 03 giờ 12 phút ngày 28 tháng 5, tiểu đoàn 8/102 nổ súng tiến công địch, tiêu diệt được một bộ phận địch, nhưng không dứt điểm. Ngày 31 tháng 5, trung đoàn 102 sư đoàn tiểu đoàn 7 tiến công lần 2, trận đánh kéo dài đến sáng ngày 31 tháng 5, nhưng cũng không giành được thắng lợi hoàn toàn, địch vẫn giữ thông đường vận chuyển.

        Phát hiện lực lượng mới của ta và trước nguy cơ Khe Sanh lại ở trong thế bị vây chặt như cũ, địch vội vã vét quân ngày ở chiến trường Đường số 9 bao gồm: trung đoàn 4 (thiếu 1 tiểu đoàn) và tiểu đoàn 1, trung đoàn 9 thuỷ quân lục chiến để tổ chức cuộc hành quân giải toả, nhằm vào khu vực hoạt động của sư đoàn 308. Cuộc hành quân này địch lấy mật danh là cuộc hành quân “SCỐT- LEN 2”1 (Cuộc hành quân “Scốt- len 1” do sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến Mỹ tổ chức càn quét ở khu vực Quảng Trị vào tháng 11 năm 1967) do Bộ chỉ huy sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến Mỹ chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:32:44 AM
        Ngày 1 tháng 6 năm 1968, máy bay trinh sát của thuỷ quân lục chiến Mỹ hoạt động trên vùng trời Đường số 9 và nam Khe Sanh. Các ngày 2, 3 tháng 6, 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến và 1 tiểu đoàn pháo binh đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm Tà Ri, Tà Quan; ngày 4 tháng 6, tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến thứ ba đổ bộ xuống Pa Trang và Húc Cốt Giang, từ đó toả ra đánh chiếm một số bàn đạp khác.

        Căn cứ vào tính chất và cách hoạt động của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch dự đoán: địch mở cuộc hành quân lần này để đối phó với cuộc vây lấn Tà Cơn của ta đang ngày càng tăng. Cũng cần đề phòng địch lên lần này nhằm kéo lực lượng ta giãn ra rồi rút bỏ Khe Sanh.

        Giữa tháng 6 năm 1968, Bộ điều trung đoàn bộ binh độc lập 246 vào thay sư đoàn 304. Sư đoàn 304 rút về phía sau củng cố. Như vậy, từ giữa tháng 6 ở Khe Sanh chỉ còn trung đoàn 246 đánh địch ở phía tây Tà Cơn, sư đoàn 308 (thiếu 1 trung đoàn) đánh địch ở nam Tà Cơn.

        Cuộc hành quân “Scốt- len 2” bị ta đón đánh ngay khi chúng vừa đổ quân xuống Pa Trang, Húc Cốt Giang. Có nhiều trận tập kích vào các cứ điểm mà địch mới chiếm như: Rô- Mơ, Húc Thượng, điểm cao 635, Hô Le và Pu Nhoi. Các đơn vị thuộc sư đoàn 308 đã tiêu diệt 1.380 tên, bắn rơi và bắn cháy 11 máy bay các loại, phá huỷ 7 khẩu pháo và cối; đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3/trung đoàn 4 thuỷ quân lục chiến Mỹ. Ở phía tây, trung đoàn 246 tiếp tục bao vây kiềm chế các điểm cao 832, 845 và 689, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch.

        Ngày 18 tháng 6, địch co lực lượng về giữ Đường số 9 và nam Tà Cơn. Ngày 19 tháng 6, địch điều 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến từ khu vực Khe Sanh về tăng cường cho Đông Hà, Cửa Việt đang bị ta uy hiếp mạnh và cuộc hành quân “Scốt- len 2” cũng kết thúc.

        Từ ngày 20 tháng 6, lực lượng địch ở Khe Sanh chỉ còn 5 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến mà vẫn phải rải một bộ phận lực lượng bảo vệ Đường số 9 để duy trì tiếp tế cho Tà Cơn và khi cần để yểm hộ cho cuộc rút chạy khỏi Khe Sanh. Vì mục tiêu đó, trong mấy ngày lên, địch tung 3 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến càn quét lùng sục tây nam Tà Lu 2 km nhằm bảo vệ an toàn cho tuyến vận chuyển đường bộ và hành lang tiếp tế đường không cho Tà Cơn, đồng thời rút bớt quân ở một số cứ điểm ngoại vi về Tà Cơn và chuyển một số trang bị nặng khỏi Tà Cơn.

        Thấy hành động của địch đã biểu hiện triệu chứng rút chạy khỏi Khe Sanh, Bộ Tư lệnh chiến dịch liền chỉ thị các đơn vị tích cực bám sát tình hình, kiên quyết đánh địch ngay khi chúng bắt đầu thu quân và cả quá trình rút chạy. Trung đoàn 246 vây chặt các điểm cao 832, 845 và 689, kiềm chế địch bốc quân bằng máy bay lên thẳng; dùng tiểu đoàn 2/trung đoàn 246 phối hợp với trung đoàn 88/308 đánh địch ở Ku Bốc, 471 và Làng Khoai (trên Đường số 9).

        Ngày 26 tháng 6 năm 1968, địch tuyên bố rút bỏ Khe Sanh. Cuộc rút chạy của chúng phải kéo dài. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1968 địch mới rút hết lực lượng ở căn cứ Tà Cơn. Sáng 8 tháng 7 ta đã vào làm chủ Tà Cơn.

        Trong quá trình địch rút, trung đoàn 246 vây điểm cao 689 đã chặn được địch, buộc chúng phải tăng thêm 3 đại đội để đối phó… Trung đoàn 246 liên tục đánh địch nhưng vì lực lượng ít nên chỉ bám đánh bọn rút sau cùng, không đánh được vào chủ lực của chúng nên không phá vỡ được đội hình rút lui. Ở phía nam, trung đoàn 102 đã rút về phía sau củng cố, trung đoàn 88 gặp phải đội hình mạnh của địch án ngữ ở nam Đường số 9 nên cũng chỉ đánh được vào bộ phận bảo vệ, không đánh được vào đội hình chính của chúng. Trong thời gian này, pháo binh của ta hoạt động có hiệu quả, gây cho địch nhiều tổn thất trong khi rút lui.

        Đến ngày 15 tháng 7 năm 1968, địch rút hết về tập trung ở khu vực Cà Lu- Tân Lâm; ta làm chủ Đường số 9 từ Lao Bảo đến sát Cà Lu (trừ cứ điểm Động Truồi trên điểm cao 1015m). Chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đến đây kết thúc toàn bộ.

        Kết quả đánh địch rút chạy: ta tiêu diệt 1.333 tên Mỹ, bắn rơi, bắn cháy 34 máy bay các loại; phá huỷ 5 xe vận tải, 5 khẩu pháo và cối.

        Tính chung cả đợt 4: ta diệt 5.100 tên, bắn rơi, bắn cháy 96 máy bay; phá huỷ 31 khẩu pháo; cối và 46 xe cơ giới.

        Các chiến trường có liên quan

        Khu vực phía đông Đường số 9, sau một thời gian củng cố, cuối tháng 4 năm 1968, sư đoàn 320 và trung đoàn 27 vào triển khai chiến đấu với nhiệm vụ chủ yếu là cắt vận chuyển đường sông Cửa Việt, cắt vận chuyển trên Đường số 1 và Đường số 9 của địch, đẻ phối hợp với đột 2 tổng tiến công của toàn Miền.

        Đợt này, các lực lượng của sư đoàn 320 tập trung đánh địch trên sông Cửa Việt và Đường số 9. Trung đoàn 27 hoạt động ở xung quanh miếu Bái Sơn (tây Đường 1). Các đơn vị đã cắt Đường số 1 ở đoạn Đông hà đi Quán Ngang trong 15 ngày, buộc địch phải đưa 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến về vùng Quán Ngang để giải toả Đường 1. Ta đánh nhiều trận phản kích, có trận quy mô trung đoàn thiếu và đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 2/trung đoàn 4 thuỷ quân lục chiến Mỹ, thực hiện được phối hợp với mặt trận Khe Sanh và toàn Miền.

        Đầu tháng 5 năm 1968, các chiến trường đều mở cuộc tiến công đợt 2 buộc địch phải bị động đối phó, giam chân các binh đoàn cơ động của địch vào xung quanh đô thị. Tất cả hoạt động đó của ta ở mặt trận Đường số 9 làm cho địch không đủ quân để tiếp tục hành quân giải toả và giữ Khe Sanh nên đã góp phần buộc địch phải rút khỏi Khe Sanh.

        KẾT QUẢ TOÀN CHIẾN DỊCH

        Chấp hành nhiệm vụ của Quân uỷ Trung ương giao, chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh, dù thời gian gấp, công tác chuẩn bị chưa làm được chu đáo, nhưng đã nổ súng đúng thời gian quy định. Qua 177 ngày đêm đã chiến đấu liên tục, chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã tiêu diệt, bắt sống 11.900 tên (chủ yếu là Mỹ); bắn rơi, bắn cháy 197 máy bay các loại; bắn chìm, bắn cháy 80 tàu vận tải lớn nhỏ; phá huỷ 78 xe các loại (có 8 xe tăng), 46 khẩu phái, cối và nhiều phương tiện chiến tranh khác1 (Hiện nay các tài liệu nêu thiệt hại về địch chưa thống nhất, bộ phận biên soạn sẽ bổ sung tiếp…).

        Ta đã kéo được một lực lượng đáng kể quân Mỹ ra Đường số 9, để phối hợp với hoạt động của toàn Miền. Ta đã giải phóng được đoạn Đường số 9 từ Huội San đến Cà Lu, giải phóng hoàn toàn huyện Hương Hoá với gần 10.000 dân. Trong lúc địch có số quân đông nhất, với số lượng lớn không quân và hải quân tham chiến mà ta đã giải phóng được một địa bàn quan trọng, cửa ngõ đường vận chuyển chiến lược 559, là một thắng lợi hết sức quan trọng cố ý về chiến lược.



Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:37:40 AM

PHẦN THỨ TƯ

MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC VÀ THỰC HÀNH CHIẾN DỊCH

        Chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh diễn ra trên chiến trường chính của các binh đoàn chủ lực của Bộ, tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn, đột phá trực tiếp vào tuyến phòng ngự vững chắc của quân Mỹ, bao vây cô lập cụm cứ điểm Tà Cơn trong thời gian dài, thu hút được một bộ phận lực lượng tinh nhuệ của Mỹ ra khu vực Khe Sanh để phối hợp chiến trường, giải phóng được một vùng đất (toàn bộ huyện Hương Hoá) có ý nghĩa chiến lược, đồng thời đóng góp nhiều kinh nghiệm thiết thực cho các chiến dịch tiếp sau như Đường số 9- Nam Lào năm 1971 và Trị- Thiên năm 1972 giành được thắng lợi to lớn hơn…

        Trong chiến dịch này, đã thể hiện rõ nghệ thuật tổ chức và điều hành chiến dịch của cấp chiến lược và cấp chiến dịch, do đó cần phải đề cập đến những bài học kinh nghiệm tốt và cả những khuyết điểm làm hạn chế thắng lợi để nghiên cứu, học tập và tận dụng trong chiến tranh tương lai…

        I. TA CHỌN KHU VỰC TÁC CHIẾN CHỦ YẾU ĐÚNG

        Trong quyết tâm tác chiến, việc chọn khu vực tác chiến chủ yếu đúng có ý nghĩa rất lớn trong việc hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch.

        Trong điều kiện so sánh lực lượng lúc đó, địch còn có ưu thế tuyệt đối về binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân và thiết giáp, ta đã chọn khu vực phía tây là khu vực rừng núi (Khe Sanh) hạn chế được nhiều chỗ mạnh của địch. Và là khu vực quan trọng “nhạy cảm” đối với địch về chiến lược để ta có thể thu hút, kiềm chế và diệt địch. Trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh, tuy lực lượng lớn ta ở khu vực phía tây và khu vực phía đông không chênh lệch nhau lắm, nhưng các đơn vị hướng đông đã gặp nhiều khó khăn hơn; không đánh được nhiều trận dứt điểm. Một trong những lý do chủ yếu là ở hướng đông địch phát huy được nhiều hơn chỗ mạnh của chúng về xe tăng - thiết giáp (thuỷ quân lục chiến thực chất là một loại bộ binh cơ giới), cũng như ưu thế tuyệt đối của chúng về không quân và pháo binh. Chọn khu vực phía tây làm khu vực tác chiến chủ yếu là ta chọn đánh vào nơi địch yếu hơn so với khu vực khác, nhưng đồng thời đây lại là một địa bàn chiến lược quan trọng. Trong suốt cuộc chiến tranh, địch luôn tìm mọi cách ngăn chặn sự chi viện của ta từ Bắc vào Nam. Địch biết rõ đoạn Đường số 9 từ Hương Hoá đến Bản Đông là cửa ngõ của đường vận chuyển chiến lược Bắc Nam, một khu vực có ý nghĩa quyết định đối với việc ngăn chặn người và vật chất của ta vào miền Nam.

        Từ kinh nghiệm thực tế của chiến dịch, trong chiến tranh giải phóng, nhưng ta cũng thấy đây là một kinh nghiệm lớn có giá trị cả trước đây và sau này. Trong chiến tranh giải phóng cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thường ta phải đánh với một kẻ địch lúc đầu mạnh hơn ta. Để giành thắng lợi từng bước, đánh cho địch suy yếu dần, làm chuyển hoá tương quan lực lượng có lợi cho ta, ta thường phải tìm cách hạn chế chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng. Một trong những biện pháp đó là lợi dụng những nơi địa hình hiểm trở, nơi địch yếu và liên quan đến nơi hiểm yếu, có ý nghĩa chiến lược để mở các chiến dịch lớn hoặc tương đối lớn. Lợi dụng địa hình hiểm trở, phát huy được cách đánh sở trường của ta là một truyền thống của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Cha ông ta trước đây có Chi Lăng, có Bạch Đằng. Trong kháng chiến chống Pháp có chiến dịch Biên Giới, Tây bắc, Hoà Bình, Điện Biên Phủ và một loại chiến dịch khác. Trong kháng chiến chống Mỹ có Đồng Xoài, Pơ Lây Me, Khe Sanh, Đường số 9- Nam Lào, và Tây Nguyên 1975…

        Tất nhiên muốn thắng địch, phải biết tác chiến ở tất cả các loại địa hình để đánh thắng kẻ địch mạnh. Cả quá trình cuộc chiến tranh chống Mỹ, với phương châm 3 vùng, ta phải đánh địch cả vùng rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Quy luật chung của các cuộc chiến tranh là phải đánh chiếm các đô thị lớn mới đập tan đầu não của địch. Nhưng lúc địch còn mạnh, ta phải biết lợi dụng địa hình rừng núi mà ta khắc phục được để phát huy được tính năng của các binh chủng kỹ thuật của ta, đồng thời hạn chế được chỗ mạnh của địch, nhằm tạo điều kiện đánh tiêu diệt lớn.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:39:31 AM

        II. PHƯƠNG CHÂM CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN CHIẾN DỊCH ĐƯỢC XÁC ĐỊNH CHÍNH XÁC

        Phương châm chỉ đạo tác chiến của chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã được Bộ xác định đúng ngày từ đầu, từ khi làm kế hoạch tác chiến Xuân- hè 1968. Phương châm lấy đánh địch ngoài công sự làm chính, đánh địch trong công sự khi cần thiết và chắc thắng là xuất phát từ điều kiện so sánh lực lượng ta, địch ở khu vực Đường số 9- Khe Sanh lúc đó. Địch tuy lui về phòng ngự, nhưng còn quân đông, hoả lực mạnh, sức cơ động cao và tổ chức phòng ngự tương đối hiện đại và là những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ, nhưng những sư đoàn bộ binh của ta lúc đó là loại “sư đoàn bộ binh nhẹ” (Sư đoàn bộ binh nhẹ: không có lựu pháo, pháo cao xạ, xe tăng và một số binh chủng kỹ thuật khác nên sức đột phá phòng ngự địch có hạn chế…) chưa quen thuộc chiến trường, chưa có kinh nghiệm trực tiếp tác chiến với bộ binh Mỹ, và khả năng hoả lực, trình độ tiến công đột phá công sự vững chắc còn có hạn.

        Để thực hiện phương châm chỉ đạo của trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã quyết định tiến công diệt quận lỵ Hương Hoá và điểm cao 832 để “châm ngòi” vào đêm 20 tháng 1 năm 1968 nhằm kéo viện binh địch lên khu vực Khe Sanh để tiêu diệt chúng ngoài công sự.

        Chủ trương diệt điểm “châm ngòi” là chính xác, nhưng thực tế diệt điểm đã không giòn giã, không tiêu diệt gọn địch trong quận lỵ Hương Hoá và không thành công đánh chiếm điểm cao 832. Việc đó, chứng minh rằng: sức đột phá vào cứ điểm (điểm tựa) mà địch xây dựng trên điểm cao có công sự vững chắc (do bộ binh Mỹ chiếm giữ)… của bộ đội ta lúc này chưa tốt (ví dụ thêm, trung đoàn 102/308 sau này đột phá điểm cao Làng Cát vào đêm 28 và 31 tháng 5 năm 1968 cũng không thành công).

        Trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch, địch chưa tăng viện cho cụm cứ điểm Tà Cơn do có nhiều nguyên nhân chi phối; nhưng trong đợt 3 và đợt 4 địch đã xuất kích nhiều lần và lực lượng tăng viện giải toả rất đông, có nhiều thời cơ cho ta tiêu diệt chúng ở ngoài công sự. Tổng số địch bị loại khỏi vòng chiến đấu trong chiến dịch là 11.900 tên thì khoảng 1 vạn tên bị ta tiêu diệt trong lúc chúng đang vận động hoặc tạm dừng. Thực tiễn đó chứng minh sự đúng đắn của phương châm chỉ đạo chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh; nhờ đó ta đã hoàn thành được mục đích của chiến dịch là: kéo địch ra Đường số 9, giam chân chúng trong thời gian dài, tiêu diệt nhiều sinh lực Mỹ, phối hợp tốt với các chiến trường toàn Miền.

        Việc xác định phương châm chỉ đạo tác chiến đúng là do nắm được quy luật hoạt động của địch, biết đánh giá khả năng của ta và biết tận dụng từng binh chủng để vây hãm địch trong thế trận vững chắc của chiến dịch, tạo điều kiện tập trung lực lượng ưu thế hơn địch, lần lượt tiêu diệt từng mục tiêu bằng binh chủng hợp thành, và bao trùm hơn cả là do quán triệt được tư tưởng tích cực tiến công, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, nhất là quân Mỹ và quân tăng viện, giải toả, rút chạy và quân phòng ngự trong cứ điểm, cụm cứ điểm.

        Việc xác định phương châm chỉ đạo tác chiến đúng rất quan trọng, vì nó phản ánh đúng sự vận động quy luật hoạt động của cả địch và ta trong tác chiến, nó quyết định tổ chưc hành động trong thực tiễn, chủ động chuẩn bị trước như: chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị bảo đảm các mặt, chuẩn bị cho từng trận đánh…”.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:41:44 AM

        III. KIÊN QUYẾT LIÊN TỤC TIẾN CÔNG VÀ VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT ĐỂ GIÀNH THẮNG LỢI

        Trong chiến dịch tiến công, việc duy trì được nhịp độ tiến công liên tục từ khi mở màn, cho đến khi kết thúc chiến dịch là một nguyên tắc không thể thiếu được để giành thắng lợi nhanh, gọn và triệt để.

        Muốn liên tục tiến công trong điều kiện địch còn có lực lượng đông, có hoả lực mạnh và sức cơ động cao là một vấn đề hết sức khó khăn. Kinh nghiệm chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã chỉ rõ, muốn giữ được liên tục tiến công, ta phải giải quyết tốt 2 vấn đề sau đây:

        - Quán triệt tư tưởng tiến công, nêu cao quyết tâm chiến đấu, phát huy tinh thần anh dũng, khắc phục mọi khó khăn gian khó.

        - Với cơ sở quyết tâm cao, phải đồng thời biết vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, các cách đánh cụ thể phù hợp với tình hình của từng trận chiến đấu, từng đợt chiến đấu, bảo đảm đánh nhanh diệt gọn từng đối tượng định diệt, hoàn thành nhiệm vụ đánh địch trong từng đợt, tạo điều kiện cho chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch, giành thắng lợi giòn giã.

        Những nội dung trên được thể hiện trong chiến dịch như sau:

        a.Các đơn vị tác chiến trên chiến trường Đường số 9- Khe Sanh thực sự đã thể hiện một tinh thần rất cao trong việc khắc phục khó khăn gian khổ, không ngại hy sinh để tiến công địch liên tục. Bội đội tiến công, tuy thời gian chuẩn bị rất gấp, nhưng với gạo, đạn trên vai, vượt qua việc đánh chặn của máy bay, pháo binh, nổ súng đúng thời gian.

        Dưới điều kiện phi, pháo của địch rất ác liệt, bộ đội ta đã bám trụ dài ngày ở Đường số 9-Khe Sanh để tạo thời cơ không ngừng tiến công địch; phải chịu thương vong trong quá trình bám trụ, vây hãm rồi vây lấn quân địch nhiều hơn so với lúc tiến công đột phá hay tiến công vận động tiêu diệt địch.

        Khi còn sung sức cũng như lúc bị thương vong tổn thất lớn, lực lượng giảm sút nghiêm trọng, có tiểu đoàn chỉ còn dưới trăm quân, nhưng vẫn tiếp tục tiến công, liên tục tiến công. Chúng ta đã trải qua quá trình vây hãm rồi vây lấn dài ngày, thương vong nhiều, nhưng khi địch phản kích, tăng viện thì lại chính những đơn vị từng vây hãm, vây lấn đó chuyển sang tiến công địch cả khi chúng giải toả, rút lui.

        b.Các binh đoàn ở chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và chuyển hoá cách đánh cụ thể phù hợp với từng trạng thái quân địch, bảo đảm tiêu diệt được nhiều sinh lực của chúng.

        - Đối với những cứ điểm riêng lẻ (cỡ tiểu đoàn) ta đã dùng phương pháp tiến công hiệp đồng binh chủng trong hành tiến (Hành tiến có chuẩn bị ngắn- và thường tiến hành vào ban đêm hoặc lúc chiều tối), dứt điểm trong thời gian ngắn. Trong các trận đó có trận Làng Vây (6- 2) là một trận rất thành công bằng phương pháp tiến công trong hành tiến đột phá phòng ngự địch bằng hiệp đồng binh chủng: pháo binh của chiến dịch tiến hành pháo bắn chuẩn bị, chi viện xung phong, đánh quân địch rút chạy; công binh của sư đoàn và trung đoàn tiến hành mở cửa cho bộ binh xe tăng xung phong; xe tăng dẫn đầu bộ binh xung phong và hiệp đồng với bộ binh tiếp tục tiêu diệt địch trong cứ điểm.

        - Đối với quân địch phòng ngự trong cụm cứ điểm (như Tà Cơn), không thể tiến công dứt điểm ngay được, ta đã tiến hành từ vây lấn đến đánh lấn, xây dựng trận địa tiến công để có thể đứng vững dưới phi, pháo địch mà liên tục tiến công (ta đã xây dựng trận địa trực tiếp tiếp xúc với địch trong quá trình vây lấn).

        - Đối với quân địch đổ bộ bằng đường không được hoả lực mạnh của không quân chi viện, ta đã xây dựng trận địa xuất phát tiến công có công sự ẩn nấp tốt ở gần những nơi ta dự kiến địch sẽ đổ bộ. Như vậy, tuy ta chưa dùng được bộ binh tiến công ngay lúc quân địch mới xuống mặt đất, nhưng ta đã đứng vững được ở trận địa xuất phát dùng hoả lực mạnh, vừa đánh quân địch trên không, hạ nhiều máy bay lên thẳng của địch; vừa đánh địch khi chúng mới đặt chân tới đất. Các trận địa xuất phát đó đã tạo điều kiện cho ta tiến hành tập kích địch ngay trong đêm và khi chúng lùng sục ra xung quanh thì các trận địa xuất phát đó lại trở thành thế trận để thực hiện phương pháp chiến đấu “chốt kết hợp với vận động”.

        - Ngoài những trận tiến công địch trong công sự vững chắc hay đánh quân địch đang cơ động hoặc tạm dừng, các lực lượng ở hướng đông đã tổ chức “chốt” để ngăn chặn quân địch vận chuyển đường sông Cửa Việt vào Đông Hà và đánh địch phản kích giải toả… Các phân đội của sư đoàn 320 và trung đoàn 270 đã dựa vào làng xóm và sông ngòi để xây dựng trận địa chốt như: các chốt Lâm Xuân, Bạch Cầu và Hoàng Hà của tiểu đoàn 27/270 đánh lui nhiều đợt tiến công của địch dù chúng có pháo binh, không quân và xe tăng yểm hộ, trong 4 ngày liền (21, 22, 23 và 24- 1) đã diệt 547 tên địch (có 310 tên Mỹ), bắn cháy 7 xe tăng và M113, bắn hỏng 3 tàu trên sông, giữ vững trận địa. Những hành động chiến đấu kể trên, thực chất là chiến đấu phòng ngự của các phân đội bộ binh ở hướng đông lúc đó. Nhưng thời kỳ đó chưa thật rõ về lý luận chỉ đạo phòng ngự nên trận địa của “chốt” còn thiếu vững chắc, không có chiều sâu và thế dựa, nghệ thuật phản kích chưa rõ ràng…

        Như vậy, trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh Xuân- Hè năm 1968, ngoài nghệ thuật đột phá trong hành tiến, còn xuất hiện chiến thuật phòng ngự làng mạc kết hợp với sông ngòi của các phân đội bộ binh, trên thực tế đã tiêu hao, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch và giữ vững trận địa “chốt” trong thời gian dài.

        Tóm lại, nhờ quán triệt tư tưởng tiến công, bộ đội ta đã phát huy tinh thần dám đánh và biết vận dụng linh hoạt các phương pháp tiến công phù hợp với tình hình thực tế của từng trận đánh, từng đợt chiến đấu để tiêu diệt địch. Việc chủ động và liên tục tiến công địch là một truyền thống trong nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tất nhiên ta không chỉ có tiến công và phản công mà có cả phòng ngự. Nhưng ta xác định rõ chỉ có tiến công mới có thể đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi triệt để cho chiến tranh. Trong mọi hoàn cảnh phải sáng tạo ra phương pháp tiến công thích hợp, phải quán triệt tư tưởng tiến công không chỉ trong chỉ huy tiến công mà cả trong chiến đấu phòng ngự. Đó là bài học của quá khứ và cũng là bài học của tương lai.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:43:50 AM

        IV. NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM CHÍNH VÀ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM ĐÓ

        Trước lúc đi vào những khuyết điểm cụ thể của chiến dịch, cần thấy vấn đề chỉ đạo chiến lược cũng có những điểm có ảnh hưởng khó khăn đến thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Ví dụ: lúc đầu xác định lực lượng, giao nhiệm vụ và chuẩn bị cho chiến dịch quá gấp; trong quá trình chiến dịch lại điều bớt lực lượng cho các chiến trường khác trong lúc nhiệm vụ của chiến trường Đường số 9 - Khe Sanh ngày càng bức thiết hơn trong việc kéo quân Mỹ ra, giam chân chúng lại để tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến ở các đô thị.
        Sau đây là những khuyết điểm chính và những bài học rút ra từ những khuyết điểm đó:

        1. Không tập trung được lực lượng vào hướng (khu vực) chủ yếu, vào thời cơ quyết tâm

        Trong chiến dịch tiến công, đương nhiên phải tiến công địch trên nhiều hướng, đó là một nguyên tắc cơ bản không thể thiếu, để buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó nhiều nơi. Song trong nhiều hướng tiến công đó, phải có hướng tiến công chủ yếu. Hướng tiến công chủ yếu phải được tập trung lực lượng nhiều hơn so với các hướng khác của chiến dịch. Mức độ tập trung lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch phải bảo đảm cho hướng đó đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao.

        Thực tế trong chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh, lực lượng đã bị phân chia 2 hướng gần như bằng nhau trong suốt quá trình chiến dịch. Trong đợt 2, ta có 11 trung đoàn bộ binh thì hướng tây 5 trung đoàn, hướng đông 6 trung đoàn. Đợt 3 và đợt 4, tuy hướng đông đã tách ra khỏi chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh, nhưng cũng ở tình trạng không tập trung được lực lượng vào hướng chủ yếu là khu vực Khe Sanh (ở hướng đông lúc đó có 5 trung đoàn bộ binh, còn hướng tây lúc đầu chỉ còn 3 trung đoàn quân số thiếu của sư đoàn 304, sau thêm 2 trung đoàn của sư đoàn 308. Về binh chủng kỹ thuật ở 2 hướng cũng gần bằng nhau).

        Do phân tán binh lực nên khi hướng tây tạo được thời cơ chủ yếu để diệt địch ngoài công sự, nhưng lại không có lực lượng đủ mạnh để tiến công diệt địch hành quân giải toả, rút lui, mặc dầu trước đó ta nhận dịnh đây là thời cơ thuận lợi để tiêu diệt lớn quân địch.

        Đây là bài học kinh nghiệm lớn. Thực tiễn quá trình chiến tranh, ở nhiều chiến trường ta đã biết tập trung lực lượng trên hướng (khu vực) chủ yếu nhưng cũng ở nhiều chiến dịch khác, ta không kiên quyết tập trung lực lượng, vì vậy đã hạn chế kết quả của chiến dịch. Nguyên nhân phân tán lực lượng có nhiều; những nguyên nhân dẫn đến phân tán lực lượng trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh cũng là những nguyên nhân phổ biến sau đây:

        - Trước hết do chuẩn bị chiến trường không đầy đủ, nên không sử dụng được nhiều lực lượng, nhất là sử dụng nhiều binh chủng kỹ thuật, như không có đường cơ động cho cơ giới; không dự trữ đủ lương thực đạn dược, do đó muốn tập trung lực lượng cũng không tập trung được.

        - Do đánh giá khả năng ta không đúng - hơi cao- dẫn đến ý muốn đánh mạnh ở nhiều khu vực, giành thắng lợi ở nhiều nơi, vượt quá khả năng thực hiện. chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh đề ra tiêu diệt gọn 5 - 7 tiểu đoàn Mỹ là quá cao. Nếu tập trung lực lượng diệt gọn 1- 2 tiểu đoàn Mỹ thì tình huống sẽ có nhiều chuyển biến có lợi cả về chiến dịch và chiến lược.

        - Chưa tin chắc ở khả năn dự kiến tình huống, thiếu quyết đoán khi thực hiện quyết tâm nên phải giữ binh lực ở nhiều khu vực khác nhau để sẵn sàng, đối phó với các tình huống khác nhau. Trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh tuy chọn hướng tây là chủ yếu, nhưng lại dự phòng quá nhiều khả năng hướng đông có thể trở thành chủ yếu, do đó dẫn đến phân tán lực lượng.

        - Cuối cùng, trong một số cán bộ chỉ huy cũng chưa nhận thức hết giá trị của những trận đánh tiêu diệt gọn, những trận then chốt trong chiến dịch nên không tập trung chỉ đạo và không kiên quyết tập trung lực lượng để đánh những trận quyết định…


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:53:40 AM
        Ví dụ: Trong đợt 2 ta vây hãm Tà Cơn, địch đang ở thế khốn quẫn về nhiều mặt. Nếu tập trung lực lượng: dùng trung đoàn 2 sư đoàn 325 và trung đoàn 66 sư đoàn 304, kiên quyết đánh liên tục, tiêu diệt bằng được tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến Mỹ ở điểm cao 832 và 537 (tây bắc Tà Cơn), đưa ĐKZ và súng cối lên các điểm cao khống chế này, uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy trung đoàn thuỷ quân lục chiến Mỹ, sớm khống chế sân bay Tà Cơn, thì quân địch cố thủ trong Tà Cơn càng khốn quẫn hơn nữa, buộc địch phải đưa quân từ Trị- Thiên- Huế ra cứu nguy cho Tà Cơn sớm hơn: như vậy ta vừa thực hiện được yêu cầu diệt gọn 1 tiểu đoàn tinh nhuệ của Mỹ phòng ngự trên điểm cao vừa sớm thu hút thêm lực lượng quân Mỹ lên khu vực rừng núi Khe Sanh, và tình hình diễn biến chiến dịch nhất định sẽ thay đổi có lợi cho ta… Trái lại, cuối tháng 2 năm 1968, ta lại rút toàn bộ sư đoàn 325 để đưa vào Tây Nguyên; còn nhiệm vụ bao vây các cao điểm 845, 832, 537 và đánh lấn phía tây bắc sân bay Tà Cơn chỉ do trung đoàn 66 đảm nhiệm. Vì lực lượng ít, nên vây cũng không chặt, lấn cũng không sâu, khi địch ra phản kích thì diệt cũng không gọn, không còn lực lượng đột phá tiêu diệt địch phòng ngự trên điểm cao. Đây là một trường hợp bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn Mỹ ở trong công sự khi chúng đang lâm vào thế nao núng…

        Trong đợt 4, ta vây lại Tà Cơn và đánh địch rút chạy. Giữa tháng 5 năm 1968, sư đoàn 308 (thiếu e 36) vào chiến trường Khe Sanh, lực lượng đang sung sức, có sở trường diệt địch trên điểm cao. Trung đoàn 102 đảm nhiệm tiêu diệt 1 đại đội Mỹ phòng ngự điểm cao Làng Cát (trên Đường số 9 sát cầu Rào Quán), cắt đứt đoạn Đường số 9; không cho địch ứng cứu hoặc rút khỏi Tà Cơn bằng đường bộ. Nhưng do sử dụng lực lượng không tập trung (đêm 28-5, dùng tiểu đoàn 8; đêm 30-5 dùng tiểu đoàn 7)  nên 2 lần tiến công đột phá cứ điểm Làng Cát đều không thành, ta thương vong, địch vẫn giữ thông Đường số 9… Nếu ta kiên quyết tập trung lực lượng và có cách đánh tốt, thì ta có thể diệt được cứ điểm Làng Cát, thực hiện được vây chặt Tà Cơn bằng đường không có khả năng buộc chúng phải bó lại binh khí kỹ thuật nặng để tháo thân, ta sẽ giành được kết quả lớn hơn khi làm chủ cụm cứ điểm Tà Cơn, kết thúc chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh.

        Qua hai trường hợp trên, nguyên nhân không phải là thiếu lực lượng, mà do sự vận dụng phương châm tác chiến chiến dịch thiếu linh hoạt, sự quan tâm chỉ đạo đánh trận then chốt thúc đẩy chiến dịch phát triển chưa đúng mức.

        2. Kéo quân Mỹ ứng cứu Đường số 9- Khe Sanh chưa được sớm theo yêu cầu, để giam chân dài ngày, tiêu hao tiêu diệt chúng, phối hợp với chiến trường toàn Miền, đặc biệt với Trị-Thiên-Huế

        Một nhiệm vụ nổi bật chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh là kéo địch ra Đường số 9, (nhất là Đường số 9), tạo điều kiện cho các chiến trường khác đánh vào đô thị từ đầu tháng 2 năm 1968, đặc biệt trong hiệp đồng tác chiến với mặt trận Huế trong đợt 1. Cao điểm của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng mãi đến đầu tháng 4 năm 1968, địch mới đưa quân giải toả Khe Sanh.

        Nguyên nhân của việc kéo địch chậm ra Khe Sanh là do ta có chú ý tới một quy luật cũ của địch, nhưng lại không thấy những điều kiện hoàn cảnh mới chi phối hoạt động của chúng. Ta vẫn cho rằng: hễ chủ lực ta xuất hiện ở đâu là địch sẽ hành quân phản ứng ngay vào khu vực đó như những năm 1965 - 1966 và đầu năm 1967. Vì vậy ta chủ trương hạn chế đánh điểm lớn, chỉ đánh một vài điểm nhỏ còn thì vây điểm, chờ viện, dành lực lượng để đánh viện. Chủ trương như vậy không phù hợp với tình hình khách quan lúc đó là quân địch đã bị thất bại sau hai cuộc phản công chiến lược, không còn hung hăng như trước. Trái lại, đến lúc này, muốn điều quân đi ứng cứu, chúng đã phải cân nhắc thận trọng hơn. Đặc biệt sau khi ta đã đồng loạt nổ súng ở các đô thị thì việc kéo địch ra lại càng khó.

        Từ tình hình thực tiễn của chiến trường Đường số 9- Khe Sanh và các chiến dịch khác, ta thấy: muốn chủ động kéo viện binh địch thì phải đánh mạnh đến mức buộc địch phải thấy mối nguy cơ mà nếu chúng không cứu viện thì đồng bọn tại chỗ sẽ bị tiêu diệt. Cụ thể trong chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh, nếu ta liên tục tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi và sau đó bao vây, đánh lấn căn cứ Tà Cơn ngay thì nhất định sẽ phải tăng viện sớm, phản công sớm…

        Từ kinh nghiệm cụ thể ở trên, ta cũng thấy một quy luật là trong quá trình chiến tranh, ta vẫn cố hết sức kéo địch ra ngoài các cứ điểm, cụm cứ điểm để diệt, đánh điểm là hạ sách, nhưng thành phần đánh điểm thường ngày càng yêu cầu cao hơn. Muốn vậy phải có đủ sức mạnh đánh điểm, diệt địch trong công sự vững chắc, lúc đó mới có thể buộc địch phải hành quân tăng viện, hành quân phản kích để cho ta diệt chúng ở ngoài công sự.

        3. Thời gian chuẩn bị ngắn, trong lúc các binh đoàn chiến thuật lúc này còn ít khả năn tác chiến trong điều kiện chuẩn bị gấp

        Trong những năm 1967- 1968, bộ đội ít có khả năng đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng trong điều kiện chuẩn bị gấp. Trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các sư đoàn đều có rất ít thời gian chuẩn bị. Vì vậy, khi bắt đầu chiến dịch, nhiều đơn vị đánh ít kết quả. Sư đoàn 325 đánh đúng thời gian, nhưng lại đột phá điểm cao 832 không thành công; chiến dịch đã mở màn, sau 10 ngày sư đoàn 320 mới tiến công Cam Lộ, cũng không thành công vì thiếu chuẩn bị chu đáo.

        Từ tình hình trên, ta thấy rõ: một mặt cấp chiến dịch (và cả cấp chiến lược) cố dành nhiều thời gian cho các binh đoàn chiến thuật chuẩn bị tác chiến chu đáo các mặt như nắm địch, chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị vật chất, tổ chức hiệp đồng, tổ chức bảo đảm đầy đủ mở màn chiến dịch một cách thuận lợi. Nhưng mặt khác, các đơn vị cơ động, các đơn vị dự bị nhất là dự bị chiến lược, lại phải rèn luyện cho mình biết tổ chức và chuẩn bị tác chiến trong thời gian ngắn mới đáp ứng được yêu cầu trong mọi tình huống. Nếu lúc nào cũng yêu cầu phải có thời gian chuẩn bị dài thì sẽ mất thời cơ vì đơn vị dự bị chiến lược thường được sử dụng khi có thời cơ mà thời cơ xuất hiện và mất đi lại rất nhanh.

        Thực tiễn ở chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh đã có đơn vị đánh được và đánh có hiệu quả ngay trận đầu và liên tiếp các trận sau. Một nguyên nhân là những đơn vị này trong huấn luyện thời bình, thường lấy công tác chuẩn bị chiến đấu trong điều kiện thời gian gấp (24- 36 giờ làm xong công tác chuẩn bị của cấp sư đoàn) làm mức luyện tập.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:57:12 AM

        4. Trong điều hành chiến dịch chưa tạo và nắm thời cơ đánh trận then chốt

        Một phần rất quan trọng của việc điều hành chiến dịch là phải tạo ra, nắm chắc thời cơ tiến hành các trận then chốt và đánh thắng địch trong các trận then chốt đó. Thông thường mỗi đợt của chiến dịch có 1, 2 trận then chốt.

        Lẽ ra trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh phải tạo ra được thời cơ bắt địch lên tăng viện. Trong 2 đợt này, ta đánh trận Hương Hoá, sau 17 ngày mới đánh trận Làng Vây; sau trận Làng Vây gần 1 tháng mới thực sự vây lấn tiến công Tà Cơn (trong tháng 2-1968 thực chất mới là bao vây). Các trận đánh trên đều có tác dụng nhất định, nhưng các trận đó, cách xa nhau quá và cũng không tạo ra được tình huống quan trọng nào của chiến dịch, không có tác dụng chuyển hoá thế chiến dịch, nên cũng chưa thành trận then chốt. Vì vậy ta không kéo được viện binh lớn lên Khe Sanh theo đúng yêu cầu của chiến dịch về thời gian.

        Trong đợt 3, trận then chốt đáng lẽ phải là trận diệt cho được 1-2 tiểu đoàn Mỹ ra giải toả. Nhưng đợt 3, tuy ta đánh rất nhiều trận nhưng đều là các trận nhỏ, đơn vị nào có điều kiện thì đánh, không hình thành một trận then chốt của chiến dịch.

        Trong đợt 4, đáng lẽ phải có trận then chốt quyết định đánh vào đội hình chính của địch lúc rút lui. Nhưng ta chỉ đánh vào bộ phận phía sau và bảo vệ sườn của chúng nên cũng không hình thành được trận then chốt nào.

        Nói tóm lại, vì không có các trận đánh then chốt nên chiến dịch kéo dài, ít hiệu quả, phối hợp chiến trường chưa thật tốt. Trong cả chiến dịch tuy có tiêu diệt được nhiều địch, nhưng không có nhiều trận diệt gọn 1 tiểu đoàn địch (trừ tiểu đoàn biệt kích nguỵ ở Làng Vây), chưa tạo nên biến động tình huống chiến dịch, đẩy chiến dịch phát triển thuận lợi đến điểm nút thắng lợi quyết định. Đó là do thiếu sót điều hành chiến dịch chưa xác định rõ, chưa tập trung tinh lực chỉ đạo và cũng chưa tập trung đủ sức mạnh cần thiết cho các trận then chốt chiến dịch.

        Trong thực tiễn chiến tranh, nhiều chiến dịch thường được chuẩn bị trước, nhưng cũng không ít chiến dịch nẩy sinh trong quá trình tác chiến do đòi hỏi của tình huống chiến lược. Những chiến dịch đó phải tiến hành trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp hoặc không có thời gian chuẩn bị sẵn trước, có tình huống vừa tác chiến vừa tiến hành chuẩn bị kế hoạch, vừa cơ động lực lượng, vừa hoàn thiện các mặt bảo đảm chiến dịch. Trong điều kiện đó càng đòi hỏi nghệ thuật chiến dịch phải thể hiện sự tập trung chỉ huy đánh thắng cho được trận đầu mang tính chất then chốt- để tạo thế, tạo thời cơ, hình thành mối liên kết các trận đánh và đánh thắng bằng được các trận đánh lớn then chốt.

        Chưa làm được những vấn đề ấy thì kết quả chiến dịch dù bằng con số thống kê diệt địch lớn và đáng tin cậy tới đâu cũng không vượt khỏi tính chất của một đơn vị chiến lược mà thôi. Đây là mặt hạn chế nhất của chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh trong việc thực hiện nhiệm vụ chủ yếu nhất là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, chủ yếu là Mỹ; diệt gọn môt số đơn vị Mỹ như yêu cầu đề ra, coi đó là biện pháp hàng đầu để thu hút lực lượng lớn quân Mỹ lên rừng núi tây Đường số 9, kìm giữ lâu dài chúng ở đó, phối hợp đắc lực với chiến trường toàn Miền.

        5. Tổ chức chỉ huy thiếu vững chắc, thiếu liên tục

        Tổ chức chỉ huy chiến dịch phải bảo đảm tính vững chắc, liên tục, kịp thời, luôn giữ vững được hiệp đồng… Trong chiến dịch tiến công, luôn nắm chắc các binh đoàn tác chiến phía trước, nắm chắc mọi diễn biến chiến dịch; nhất là các tình huống then chốt (trận then chốt); bảo đảm an toàn, bí mật.

        Trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh, sở chỉ huy chiến dịch bố trí tại Sat-li [62- 66] (bản đồ tỉ lệ: 1/100.000 do Cục Bản đồ Bộ Tổng tham mưu Việt Nam in lần thứ 2 năm 1964).

        Từ sở chỉ huy chiến dịch theo đường thẳng đến sở chỉ huy sư đoàn 304 (ở nam Khe Sanh) có cự ly chừng 30 km, đến sở chỉ huy sư đoàn 320 (ở bắc huyện lỵ Cam Lộ) thì cự ly khoảng 45 km. Khi sử dụng thông tin vận động hoặc phái viên mặt trận xuống các sư đoàn phía trước phải mất nhiều thời gian.

        Thiết bị sở chỉ huy lại sơ sài và để lộ, nên thời gian đầu, sở chỉ huy chiến dịch bị máy bay B.52 oanh tạc phải di chuyển; các sư đoàn phía trước mất liên lạc với sở chỉ huy chiến dịch trong một thời gian, việc thiếu chỉ huy đó có ảnh hưởng đến hành động của các hướng chiến dịch.

        Thực tế ở trên cho thấy: việc tổ chức chỉ huy trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh chưa phù hợp với yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, thời gian tác chiến dài, chiến trường rộng… Trái lại, tổ chức chỉ huy chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh phần nào vẫn mang dáng dấp cách tác chiến phân tán (khoán cho từng hướng), chỉ huy rời rạc, không liên tục và có lúc thiếu kiên quyết…


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 08:59:33 AM
        
KẾT LUẬN

        Chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh có những thành công nhất định, đồng thời cũng còn nhiều nhược điểm. Nhìn chung cả quá trình chiến dịch, ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

        1. Chọn chiến trường Đường số 9 - Khe Sanh mở một mặt trận mới và lớn để phối hợp với các chiến trường trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là đúng. Nó có ý nghĩa chiến lược về phối hợp chiến trường và có điều kiện thuận lợi để tổ chức chiến dịch hợp đồng binh chủng lớn có khả năng giành thắng lợi và đưa trình độ tác chiến lớn của bộ đội ta lên một bước mới.

        2. Ta đã chọn hướng tiến công chủ yếu đúng nên đã hạn chế được sứ mạnh tác chiến ở rừng núi, đồng thời phát huy được sở trường tác chiến ở rừng núi của bộ đội ta. Ta đã khắc phục được địa hình hiểm trở để cơ động binh khí kỹ thuật, tạo điều kiện đánh hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt được nhiều sinh lực Mỹ.

        3. Phương châm chỉ đạo chiến dịch được xác định đúng- một nội dung cơ bản trong quyết tâm tác chiến chiến dịch- là vấn đề quan trọng chỉ đạo phương pháp tác chiến, công tác tổ chức và bảo đảm chiến dịch tốt.

        4. Trong chiến dịch tiến công, việc thực hành tiến công liên tục là một nguyên tắc cơ bản nhất, vì chỉ có tiến công liên tục mới giành được thắng lợi triệt để. Muốn vậy, phải biết vận dụng nhiều phương pháp tiến công, chuyển hoá linh hoạt từ cách đánh này sang cách đánh khác, sao cho phù hợp với trạng thái địch lúc đó, bảo đảm đánh nhanh diệt gọn. Tiến công quân địch ngoài công sự có nhiều thuận lợi, nhưng lại phải chuẩn bị khả năng tiến công quân địch trong công sự vững chắc, mới tạo điều kiện đánh địch ngoài công sự. Thành phần tiến công trận địa trong các chiến dịch lớn ngày càng cao, nhất là trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Do đó, quân đội ta đã giỏi đánh quân địch đang cơ động hoặc tạm dừng, đồng thời cũng phải đủ khả năng đột phá phòng ngự vững chắc của kẻ thù khi cần thiết. Có thế mới nhanh chóng phá vỡ trận địa của địch, thu hẹp sự chiếm đóng của địch- mở rộng vùng giải phóng của ta.

        5. Trong chỉ huy điều hành các bước tác chiến chiến dịch, trong đó có nội dung chuẩn bị lực lượng để đánh những trận then chốt là một yêu cầu quan trọng của nghệ thuật chỉ huy thực hành chiến dịch. Có đánh được những trận then chốt mới giành được thắng lợi quyết định cho chiến dịch. Trong chiến tranh hiện đại, sức cơ động của quân địch rất cao, do đó tình huống diễn biến trong quá trình chiến dịch cũng rất khẩn trương. Có tình huống xuất hiện mà ta đã dự kiến được, nhưng cũng có tình huống xảy ra ngoài dự kiến của ta. Do đó, muốn đối phó kịp thời với mọi tình huống xảy ra thì yêu cầu chỉ huy chiến dịch phải có lực lượng dự bị đủ sức giải quyết những tình huống đó… Không nên tác chiến một thê đội và cũng không nên sử dụng đội dự bị “lưỡng tính" như sử dụng trung đoàn 52 ở hướng đông trong đợt 1 của chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh. Và để khắc phục về cơ động của lực lượng dự bị trên địa hình rừng núi, có thể bố trí triển khai lực lượng dự bị trên cả 2 hướng (có trọng điểm) để khi có thời cơ là chuyển đội dự bị vào chiến đấu được ngay. Có như vậy, điều hành chiến dịch mới nhịp nhành, luôn tăng cường sức đột kích cho phía trước, đánh được nhiều trận kế tiếp hoặc đồng loạt, liên tục giữ vững tốc độ tiến công.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 09:01:04 AM

        6. Về công tác tổ chức chiến dịch, cần chú trọng đánh nhiều thời gian để có điều kiện chuẩn bị được chu đáo. Có chuẩn bị chu đáo mới có thể đánh thắng trận đầu, đánh thắng liên tục, nhất là trận then chốt quyết định. Nhưng mặt khác, phải biết chuẩn bị tác chiến nhanh, nhất là cấp chiến thuật, như vậy mới đáp ứng được đòi hỏi của chiến tranh hiện đại.

        Tại Hội nghị khoa học (đợt III) tổng kết lại các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ (tháng 3/1986), trong bài phát biểu kết luận Hội nghị, về chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh Xuân- Hè 1968, đồng chí Đại tướng Hoàng Văn Thái đã phân tích như sau:

        “Ở hướng này (hướng Đường số 9 - Khe Sanh) nếu chỉ nói từ Tết Mậu Thân sẽ không đủ, mà phải đánh giá từ chủ trương chiến lược rất tài giỏi của Bộ Chính trị kéo quân Mỹ ra và kìm chúng lại trên Đường số 9 từ trong năm 1966 - 1967.

        Trước hết, cần khẳng định chủ trương kéo địch ra Đường số 9- Khe Sanh trong thời điểm lúc đó là rất đúng đắn và sáng suốt về chiến lược.

        - Ta đã buộc Mỹ phải đưa sư thuỷ quân lục chiến và sau này cả sư kỵ binh bay lên vùng rừng núi, theo ý định của ta, căng địch ra, thu hút địch và kìm chân địch lại mà tiêu diệt, tiêu hao chúng, buộc địch có trang bị hiện đại phải kéo nhau lên rừng núi và phải đánh theo ý định của ta, để Đường số 9 phối hợp với chiến trường toàn Miền trong năm 1967 và 1968.

        - Ta đã làm cho Mỹ thấy, dù quân chúng đông, nhưng không những ta vẫn có khả năng tiếp tục đánh nhỏ, đánh du kích mà còn có khả năng đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng. Trong quá trình diễn biến, Mỹ đã rất lo Khe Sanh có thể giống như Điện Biên Phủ thứ 2. Bọn tướng tá Mỹ đã phải ký cam kết giữ Khe Sanh với Tổng thống Mỹ.

        - Ta đã tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực Mỹ- nguỵ (hàng ngàn tên bị diệt, hàng trăm xác xe các loại bị phá…) làm cho chúng không thể chịu nổi và cuối cùng (sau hơn 170 ngày đêm bị vây hãm) phải rút chạy khỏi Khe Sanh. Đó là một thất bại lớn về chiến lược của địch, góp phần vào thắng lợi rất lớn về chiến lược của ta, trong Xuân 1968.

        - Đến tháng 7 năm 1968, ta đã giải phóng được một địa bàn chiến lược quan trọng, phía tây Đường số 9 (Quảng Trị), tạo điều kiện mở rộng đường vận chuyển chiến lược Bắc- Nam, góp phần vào thắng lợi chiến dịch phản công Đường số 9- Nam Lào năm 1971 và chiến dịch tiến công Trị- Thiên năm 1972 sau này.

        Giành thắng lợi lớn như vậy là do:

        - Chủ trương chiến lược mở mặt trận Đường số 9 của Đảng ta rất đúng đắn, sáng suốt, là một trong những nét xuất sắc của nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị trong chiến tranh cách mạng miền Nam nói chung, trong cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 nói riêng.

        - Ta đã tìm ra nhiều cách đánh khác nhau trong những điều kiện rất ác liệt, khó khăn, phục kích, đánh vây hãm, vây lấn, đánh tiêu hao địch bằng hoả lực, rất dũng cảm và mưu trí từ lúc kéo Mỹ phải lên rừng cho đến khi buộc chúng phải rút chạy (về chiến thuật, cần tổng kết kỹ hơn các trận đánh).

        - Quân và dân ta trên chiến trường này rất anh dũng và sáng tạo, khắc phục nhiều khó khăn, liên tục tiến công quân địch, tạo thế mới, thông vào chiến trường Trị- Thiên- Huế.

        - Khi đánh giá thất bại của quân Mỹ trong Tết Mậu Thân, Kít- xinh- giơ đã phân tích sai lầm của Giôn- xơn, Oét- mô- len là đã điều 94% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên những mới chỉ chiếm 4% số dân miền Nam ở vùng rừng núi, trong đó có chiến trường Đường số 9. Kít- xinh- giơ cho rằng Hà Nội đã chơi trò “người đấu bò”, lừa con bò tó Mỹ ra ngoài vòng, rồi dùng lực lượng quân sự của họ bất thần đánh ập vào các đô thị phía trong là nơi Mỹ có sơ hở, làm cho Bộ chỉ huy Mỹ không kịp trở tay. Cho nên chúng ta phải gắn tác dụng của chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh trong tổng thể cuộc tiến công chiến lược vào các đô thị- trung tâm đầu não phía trong của địch- với đòn tiến công của chủ lực ta ở vòng ngoài trên chiến trường rừng núi được lựa chọn sẵn (Đường số 9- Khe Sanh, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ) mới thấy hết ý nghĩa thắng lợi của nó.

        Chúng ta đã kéo thêm được địch ra Đường số 9, không chỉ có lính thuỷ đánh bộ Mỹ, mà sau này (từ ngày 1- 4- 1968) cả sư đoàn kỵ binh bay, quân ta đã vây hãm quân Mỹ hơn 170 ngày đêm ở đó. Đương nhiên, nếu ở Đường số 9- Khe Sanh ta đánh khá hơn thì thắng lợi còn lớn hơn và hình thái phát triển chung của cuộc tiến công chiến lược sẽ phát triển tốt hơn nữa.

        Những mặt còn hạn chế và những bài học kinh nghiệm quý:

        - Ta chưa tạo được điều kiện diệt gọn vài tiểu đoàn Mỹ như ý định đề ra lúc đầu.

        - Lực lượng được chỉ định ở hướng chính, thường bị thay đổi luôn, không ổn định (f325 mới vào chiến trường tháng 12- 1967 đến tháng 3- 1968 phải điều vào Tây Nguyên).

        - Do phải tính đến khả năng khởi nghĩa thuận lợi ở Huế cần tiếp ứng kịp thời và đề phòng khả năng địch dùng bộ binh đánh ra nam Khu 4, nên sử dụng lực lượng trên 2 hướng đông- tây có phần dàn đều (mỗi hướng đều có 2 sư đoàn, nhưng hướng chính là phía tây, lực lượng lại bị thay đổi luôn).

        - Tuy có ý định đánh lớn từ sớm, nhưng việc thiết bị chiến trường, chuẩn bị các điều kiện cho một chiến trường đánh lớn- trước hết là đường cơ động- còn chậm, đơn giản, cập rập.

        - Công tác chỉ huy cũng như việc tổ chức sở chỉ huy còn đơn giản, sơ sài, chủ quan; không lường hết được những tình huống phức tạp, không giữ được bí mật để địch dùng máy bay B.52 đánh phá dữ đội vào cơ quan chỉ huy chiến dịch.

        - Đặc biệt, khi chuẩn bị cuộc tiến công Tết Mậu Thân đã có dự kiến trước, đáng lẽ tổ chức chỉ huy phải gắn chặt chiến trường Đường số 9- Khe Sanh trên hai hướng tây- dông và chiến trường Huế để có thể phối hợp chặt chẽ hơn và phát huy cao hơn sức mạnh tổng hợp của một chiến trường thống nhất, trên một hướng chiến lược quan trọng.

        Đây là những vấn đề về nghệ thuật tổ chức và thực hành một chiến dịch lớn có nhiệm vụ nặng nề, đề nghị cần được sưu tầm đầy đủ tài liệu, rút kinh nghiệm sâu sắc hơn nữa…”.


Tiêu đề: Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh - Xuân - Hè 1968
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 09:07:08 AM
      
        PHỤ LỤC I

        Cuộc hành quân giải toả Khe Sanh của sư đoàn 1 kỵ binh bay Mỹ và chiến đoàn 3 dù nguỵ (1/4-  cuối tháng 4/1968)

        Lực lượng hành quân giải toả gồm có:

        - Bộ phận giải vây: 12 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 9 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ và 3 tiểu đoàn của chiến đoàn 3 nguỵ).

        - Bộ phận tại chỗ (phòng ngự Khe Sanh): 7 tiểu đoàn (trong đó có 6 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến Mỹ và 1 tiểu đoàn biệt động nguỵ).

        (Trong quá trình địch bị bao vây trong cụm cứ điểm Tà Cơn, chúng được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến).

        - Bộ phận chi viện và bảo đảm gồm có: 3 tiểu đoàn pháo binh (thiếu) của sư đoàn 1 kỵ binh và chiến đoàn 3 dù, 3 tiểu đoàn pháo binh của lực lượng phòng ngự Tà Cơn; 1 tiểu đoàn máy bay lên thẳng vũ trang của sư đoàn 1 kỵ binh Mỹ có 40 chiếc. (3 đại đội mỗi đại đội có 13 chiếc, 1 chiếc của tiểu đoàn trưởng); có một bộ phận thiết giáp của thuỷ quân lục chiến và khoảng 2 tiểu đoàn công binh. Ngoài ra còn được hoả lực pháo binh và không quân chi viện. Cuộc hành quân hỗn hợp này, lấy mật danh là cuộc hành quân “Ngựa bay” và “Lam Sơn 207” đặt dưới quyền chỉ huy của hai tên tướng Mỹ Rốt- sơn và Guýt- man.

        Địch giải toả Khe Sanh nhằm mục đích: giải toả áp lực của ta ở xung quanh cụm cứ điểm Tà Cơn, đẩy lực lượng ta ra xa để bảo đảm cho máy bay vận tải loại lớn (C- 130) có thể lên xuống an toàn, giải quyết khâu tiếp tế bổ sung, nối liền Khe Sanh với hậu phương địch bằng đường bộ, đồng thời chuẩn bị cho cuộc rút bỏ Khe Sanh sau này: thay quân phòng giữ Khe Sanh; gây tiếng vang về chính trị nhằm mục đích tuyên truyền lừa bịp về sức mạnh tiến công của quân Mỹ.

         Cuộc hành quân giải toả Khe Sanh của địch chia làm 3 bước.

        - Giải toả giao thông (1- 6/4).

        - Nới rộng vòng vây (7 – 14/4).

        - Thay quân (15/4 - cuối tháng 4/1968).

        PHỤ LỤC II

        I. Số lượng pháo của ta tham gia chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/ChiendichDuong9-2_zps1gtv5wi6.jpg)
       II. Pháo và cối trong biên chế của bộ binh

        1. Sư đoàn bộ binh 304 và 320

        -  Cối 82: 54 khẩu

        -  ĐKZ 82: 18 khẩu

        -  Súng máy cao xạ 12,7 mm: 63 khẩu.

        2. Sư đoàn bộ binh 325

        -  Cối 82: 35 khẩu

        -  ĐKZ: 4 khẩu

        -  Cối 120: 4 khẩu

        Ghi chú: Có một số đơn vị như: eBB27, 270, 246, fBB 308 và eBB1, eBB 3 thuộc 324 cũ chưa thống kê được số lượng pháo, cối tham gia trong chiến dịch Đường số 9- Khe Sanh.

        III. Số lượng đạn tiêu thụ

        A- Hướng tây

(http://i36.photobucket.com/albums/e48/thongdiepthoigian/Quansu/ChiendichDuong9-1.jpg)

        B- Hướng đông (15- 1- 31- 3- 1968)

        1.342 viên 152 mm    4.216 viên 85 mm    303 viên H12

        3.638 viên 130 mm    1.387 viên sơn pháo    610 viên cối 120 mm

        2.817 viên 105 mm    1.510 viên A12       3.106 viên cối 82 mm

        2.521 viên 100 mm    475 viên ĐKB       154 viên ĐK

        Tổng cộng: 22.069 viên đạn các loại.

HẾT