Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 09:00:34 am



Tiêu đề: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 09:00:34 am
        
        - Tác giả: Vũ Minh
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2009
        - Số hoá: hocphaithi
        - Hiệu đính: Giangtvx

(https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23194;image)
       
        
Lời mở đầu
       
        Có những chiến thắng xoay chuyển tình thế nhưng do thời điểm nhạy cảm nên phải diễn ra trong thầm lặng, nhiều năm sau mới được đưa vào các hồi ký với chất sử liệu quý giá. Đó là trường hợp các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang nhân dân và đồng bào các dân tộc dọc đông nam dãy Trường Sơn nổ ra liên tục suốt thu đông 1960, mở ra một căn cứ địa rộng lớn làm nơi đứng chân vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn.
        
        Những chiến công đó được bắt nguồn từ một sự kiện lịch sử có tính chất bước ngoặt cũng được giữ bí mật trong thời gian dài. Tới nay hẳn các cựu chiến binh còn nhớ về "Nghị quyết 15" với quyết sách của Trung ương Đảng (khóa II) họp Hội nghị lần thứ 15 vào những ngày đầu năm 1959 báo hiệu sự khai tử cuộc "chiến tranh một phía" mà Mỹ - ngụy tiến hành chống nhân dân miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
        
        Nay nhân kỷ niệm 50 năm Nghị quyết 15 (1959-2009), với thời điểm mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ (1959-1960), và kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống của Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, phóng viên chiến trường xưa xin được chuyển đến bạn đọc những dòng bút ký chân thực và sinh động về bước chuyển lớn của Trường Sơn, của cách mạng niềm Nam; cũng là vận mệnh của đất nước ta.
        
Vũ Minh        


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 11:34:56 pm
        
Chương một

ĐƯỜNG ĐÃ MỞ
       
Loạt đạn giao thừa
       
        Lên đường từ Hà Nội hạ tuần tháng 1 năm 1960, chúng tôi bước vào Trường Sơn trước Tết Canh Tý.
        
        Đoàn chúng tôi gồm bảy người. Tôi đi cùng ba cán bộ cơ yếu và ba chiến sĩ đặc công.
        
        Chúng tôi tập trung nhận nhiệm vụ từ giữa năm 1959, chuyển nơi ăn ở, nghiên cứu các văn kiện và luyện tay nghề qua nhiều địa điểm ở nội, ngoại thành Hà Nội. Gần tới năm mới âm lịch, chúng tôi đinh ninh thế nào cũng được ăn Tết ở Thủ đô rồi mới lên đường vào Nam nhận công tác vô hạn định. Nhưng ngày 24 tháng Chạp thì được lệnh xuất quân. Chắc hẳn cấp trên tính toán muốn đưa đoàn chúng tôi (đặc biệt các đồng chí mang theo mật mã) vượt tuyến an toàn vào lúc địch sơ hở trong mấy ngày Tết.
        
        Là một phóng viên thông tấn đã quen với khói lửa chiến trường từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng lần ra trận này của tôi có những khác biệt lớn so với trước. Tôi đã có vợ con và người bạn đời - là một đoàn viên - tuy hiểu được ý nghĩa của nhiệm vụ chung nhưng không tránh khỏi nỗi đau ly biệt, tôi cũng vậy. Và chuyến đi được giữ hoàn toàn bí mật, chỉ có thủ trưởng cơ quan và vợ tôi được biết.
        
        Tối 24 Tết, tôi về thăm vợ con lần cuối, nhưng không thể hé lộ mật lệnh. Mãi đến khi xe đưa đoàn chúng tôi vào tới vùng giới tuyến Vĩnh Linh, một đồng chí cán bộ của Ban Thống nhất mới đến báo cho vợ tôi biết về cuộc khởi hành bất ngờ. Nhà tôi khóc, nhưng không dám khóc to vì đang ở nhà tập thể. Đành vậy thôi.
        
        Khi vượt nguồn sông Bến Hải, bảy người chúng tôi trong đoàn hành quân đều cùng một xúc động. Không ai bảo ai, tất cả vục nước sông đầu nguồn rất trong, uống từng hớp náo nức.
        
        Các đồng chí ở trạm cửa ngõ Trường Sơn đón tiếp đoàn với sự thân thiện và niềm vui ngày Tết đang tới rất gần.
        
        Trạm này ở tương đối xa nơi địch đóng quân, nên sinh hoạt không đến nỗi gò bó. Các đồng chí tìm mọi cách tạo phong vị Tết giữa rừng sâu. Nuôi được đàn gà gần chục con, trạm chỉ giữ lại mấy con gà mái ấp, còn thì đem thịt, làm cỗ chiều ba mươi. Chủ và khách xúm lại xào xào nấu nấu, tán chuyện vang nhà. Không khí ấm tình bạn chiến đấu làm tôi cũng khuây được phần nào nỗi nhớ vợ con.
        
        Sau bữa cỗ tất niên, chúng tôi mở đài Hà Nội nghe cho tới khuya.
        
        Đúng giao thừa, khi máy thu thanh vang rền tiếng pháo thì anh em kéo nhau ra sân. Anh trưởng trạm đã lau súng đạn từ chiều, lúc này trịnh trọng giương khẩu tiểu liên lên trời và nổ một loạt đạn dài giữa niềm vui sướng cao độ của mọi người. Trong đêm đen kịt, từ đầu súng bùng lên những tia lửa lóe sáng như pháo hoa.
        
        Loạt đạn này có ý nghĩa lắm.

        Đất nước tạm thời chia làm hai miền sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 lẽ ra đã có thể tái thống nhất với việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử theo đúng điều đã ký kết, nhưng chính quyền miền Nam cam tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, cố tình chia cắt lâu dài đất nước ta, trả thù những người kháng chiến cũ và đàn áp mọi lực lượng yêu nước bằng những thủ đoạn hiểm độc, dã man. Gần đây nhất, tổng thống chính quyền Sài Gòn Ngô Đình Diệm ban bố luật phát xít 10-59, sử dụng phổ biến máy chém và ra tay khủng bố trắng.
        
        Không thể khác, một chế độ phản dân hại nước như vậy phải bị đào thải. Và mùa Xuân năm 1959 chứng kiến một sự kiện trọng đại, đó là Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng1 đã đáp ứng lòng mong mỏi của quần chúng bằng một Nghị quyết với tinh thần cơ bản: Củng cố miền Bắc, thực hiện thống nhất nước nhà bằng mọi hình thức và phương hướng đấu tranh, phương hướng căn bản là khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm, nhưng khởi nghĩa cũng có khả năng chuyển thành đấu tranh vũ trang trường kỳ và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta. Nghị quyết lịch sử ấy được các chiến sĩ cách mạng miền Nam coi như một cẩm nang có giá trị lâu dài với tên gọi rút gọn dễ ghi vào lòng: Nghị quyết 15.
        
        Vậy là, lần đầu tiên được nổ vang trong đêm giao thừa Trường Sơn, loạt đạn nói lên rằng đã tới lúc trừng phạt kẻ địch ngoan cố và tàn bạo.
        
        Đối với bảy anh em chúng tôi, loạt đạn ấy rộn ràng hơn mọi thứ pháo Tết, say hơn mọi thứ rượu mạnh, thôi thúc hơn mọi lời động viên.
        
        Chính trong âm vang của tiếng súng nổ đầu xuân ấy, chúng tôi ''xuất hành''.

-----------------
1. Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng khóa II họp mở rộng từ ngày 12 đến ngày 22-1-1959.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 11:38:59 pm
        
Thử thách đầu tiên
       
        Sáng mùng hai Tết, trời đẹp.
        
        Chúng tôi dậy hơi muộn, ăn một bữa cơm còn dư vị Tết, lĩnh gạo đầy ruột tượng buộc ngang thắt lưng, rồi đeo ba lô lên vai, bắt tay chúc mừng năm mới các đồng chí ở trạm một lần nữa. Lúc ra đi, sương núi chưa tan hết, nhưng mặt trời đã mọc cao.
        
        Dẫn đường chúng tôi hôm nay là hai đồng chí giao liên trẻ, người dân tộc ít người. Hai chú ăn mặc giản dị: áo bà ba đen, quần cộc, một cái lét1 địu sau lưng. Trong lét có nắm cơm, cái rựa, cái bật lửa và ít thuốc lá. Mỗi người đều lăm lăm trong tay một khẩu tiểu liên "Tuyn" đã lên đạn, khóa cò.
        
        Cả hai thanh niên đều nói sõi tiếng phổ thông.
        
        Các chú bảo:
        
        - Nếu cách mạng cần, mình sẽ đi phục vụ đường dây miết miết (mãi mãi).
        
        Lúc nghỉ chân, chúng tôi đưa ra những thức ăn ngon của thành phố, tưởng các chú vui sướng thưởng thức, nhưng ngược lại: "Mấy anh còn phải dự trữ đi xa", các chú bảo thế. Mời mọc thế nào các chú cũng chỉ cười, lắc đầu.
        
        Đoàn được báo trước cung đường hôm nay sẽ dài. Quả nhiên, gần 12 giờ trưa, chúng tôi mới tới "trực" (nơi chuyển tiếp giữa đường). Giở cơm nắm ra ăn qua quýt, uống nước nguội ở bi-đông, rồi chúng tôi theo hai đồng chí giao liên mới, tiếp tục đi.
        
        Chặng đường buổi chiều, chúng tôi mệt lử. ấy vậy mà lúc trời gần xẩm tối, khi chim rừng đã kéo nhau về tổ, ba lô đã nặng trĩu vai, bụng ai nấy đã đói meo, chú giao liên còn đưa tay chỉ dãy núi sừng sững trước mắt và nói:
        
        - Còn phải leo ba cái dốc như vầy nữa mới tới nơi.
        
        Qua nét mặt nghiêm trang của chú, chúng tôi biết chú không nói đùa.
        
        Của đáng tội, khoảng cách giữa hai trạm không đến nỗi xa quá mức. Theo hai đồng chí giao liên, thường thì 5-6 giờ chiều, các đoàn đã tới nơi. Chẳng qua đôi chân thiếu rèn luyện và cái kiểu rề rà sau Tết đã phản bội chúng tôi.
        
        Bước mò trong đêm, anh em gọi nhau bằng mật hiệu và thỉnh thoảng lại "vồ ếch" hoặc vấp những cái đau điếng.
        
        Cho tới khi đặt chân vào nhà trạm tối om - có lẽ vào khoảng chín giờ đêm - chúng tôi đặt phịch ba lô xuống đất, mắc vội chiếc võng và ăn qua quýt rồi chìm sâu vào giấc ngủ mê man, không còn biết trời đất gì nữa.

-----------------
1. Lét: Một loại gùi dẹt ở Trường Sơn, vốn là túi đựng tên.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 11:42:15 pm

Đường chưa mòn
       
        Quả thật, nếu được ở lại trạm, chúng tôi sẽ ngủ suốt ngày hôm sau. Nhưng mới đi một ngày mà đã xin nghỉ chân thì còn mặt mũi nào! Hơn nữa, đây là vùng không xa nơi địch đóng quân.
       
        Lúc ra đi, anh giao liên - đã đứng tuổi - căn dặn:
       
        - Nếu gặp địch, bị lạc, các đồng chí sẽ tìm tôi theo tín hiệu này.
       
        Nói xong, anh rút trong túi áo ra một cái còi nhỏ bằng trúc, và đưa lên môi, thổi lên những tiếng lảnh lót như tiếng chim. Anh lại nhắc chúng tôi xem kỹ ruột tượng gạo, dù thủng một tí cũng phải vá ngay.
       
        Giao liên bận tâm về địch, nhưng chúng tôi lại bận tâm nhiều hơn đến cái ba lô nặng trĩu trên lưng và cứ muốn vứt bớt hành trang cho nhẹ mà đi. Nhưng hai cặp mắt đầy cảnh giác của hai người dẫn đường không cho phép chúng tôi làm việc đó.
       
        Đường hôm nay quanh co hóc hiểm tợn. Có lúc phải lội suối từng quãng dài, nước suối lạnh buốt. Hai anh giao liên dặn đi dặn lại chúng tôi không được đặt bàn chân ướt lên đá sỏi ở hai bên bờ suối.
       
        Thỉnh thoảng chúng tôi nhắc nghỉ chân, các anh phớt lờ.
       
        Tới một đoạn, bỗng không thấy đường mòn nữa.
       
        Giao liên dẫn đoàn đi theo những lối ngoằn ngoèo trong rừng rậm. Gai mây quất vào mặt, gai móc điếu, gai móc câu, gai móng mèo… và chẳng biết những loại gai quái quỷ gì nữa cứ níu lấy quần áo. Từng bụi nứa lòa xòa cản đường. Đôi chỗ, lá khô sột soạt phủ khắp mặt đất, chúng tôi bước mạnh thì giao liên lại khẽ "suỵt".
       
        Lo dõi theo hướng đi, chúng tôi tạm quên được chiếc ba lô nặng.
       
        Và bẵng đi một hồi lâu, chúng tôi quên mất người giao liên đi phía sau. Đến khi ngoảnh lại thì thấy anh vẫn bám sát đoàn, mặc dù phải làm việc gấp đôi mọi người: anh lẳng lặng vừa đi vừa dùng đầu gậy vun rác rưởi xóa các vết chân, sửa lại các bụi cây ngã rạp, hoặc giấu đi những cành cây gãy… Anh làm nhanh thoăn thoắt mà rất khéo. Bộ điệu chăm chú chẳng khác một nhà địa chất lần dò theo vết quặng mỏ.
       
        Dấu vết của cả đoàn đã được xóa sạch!
       
        Ra thế đấy: Trên con đường mòn mang tính chiến lược này, có đoạn chưa hề mòn! Đường chỉ tồn tại trong trí óc và trong trái tim của các chiến sĩ giao liên.
       
        Đến lúc này anh em mới vỡ lẽ tại sao phải kiểm tra kỹ ruột tượng gạo, không để biến gạo thành một thứ "lông ngỗng Mỵ Châu".
       
        Và anh em không mừng sao được khi qua một cung đường mà địch thường phục kích như vậy, đồng chí giao liên không phải dùng tới chiếc còi trúc có tiếng lảnh lót như tiếng chim của anh.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 11:46:06 pm
       
Câu chuyện ở trạm
       
        Qua mấy trạm, chúng tôi dần dần trút bớt đồ đạc đúng như mong muốn. Có anh vứt cả tễ thuốc bổ, có anh xén mất hai túi bên ngoài ba lô, có anh còn cắt phăng những ống tay áo, ống quần, thành bộ đồ cộc…
       
        Trong khi hành lý của chúng tôi được đơn giản hóa đến cao độ như vậy thì các đồng chí giao liên lại không còn mang nhẹ tênh như ngày đầu năm. Trên lưng các anh đã xuất hiện những gùi hàng nặng, bọc rất kỹ bằng vải dầu, mà qua hình dáng, chúng tôi đoán là súng trường, súng cối, trung liên,…
       
        Chặng nghỉ đầu tiên sau bốn ngày đi đường đối với chúng tôi thật đáng quý. Ai nấy tắm rửa, giặt giũ, lau súng đạn, sắp xếp ba lô.
       
        Lúc rỗi rãi, chúng tôi chuyện trò với đồng chí Thanh - trưởng trạm, một người khỏe mạnh trạc 35 tuổi, điềm đạm, đan lát luôn tay.
       
        Thanh là một trong những người đầu tiên tham gia "xoi" đường. Lúc đó, người cán bộ giao thông phải "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng". Thế nhưng vẫn không thoát được sự đánh hơi của địch.
       
        Anh Thanh kể:
       
        - Tám tháng qua, chúng tôi dời trạm hàng chục lần. Có tháng bị săn đuổi riết quá, phải dời liên tiếp ba lần và có lần bí quá, dời vào làng ở luôn mấy hôm. Dân thấy chúng tôi tìm đến cũng hoảng, nhưng rất nhanh trí, đồng bào bàn nhau treo trước cổng làng một cành lá cữ1, thế là bọn ngụy đi càn không dám vào, chỉ đứng ngoài réo Việt cộng mà chửi và hăm dọa bâng quơ. Nghĩ lại, chuyện đó hơi mạo hiểm. Thời gian gần đây có thơ thới hơn, nhưng đóng ở nơi nào được quá một tháng đã coi như đáng ăn mừng.

        Trạm Thanh - các đoàn thường lấy tên người trưởng trạm để đặt tên cho từng trạm như vậy - lúc này đặt giữa một rừng cây rậm rạp trên đồi cao. Căn nhà bằng tre nứa lá tuềnh toàng của trạm vừa là nơi làm việc, vừa là nơi tiếp khách, vừa là bếp, vừa là nhà ăn. Trạm chỉ giữ lại trong nhà những vật hết sức cần dùng, còn thì phân tán hết ra rừng. Các gùi hàng cũng được cất giấu ở những nơi kín đáo khác. Anh trưởng trạm nói vui: "Thứ gì của bọn mình cũng cơ động, kể cả bàn giấy". Anh chỉ vào bắp vế của anh.
       
        Dù vậy, chúng tôi cũng thấy trạm đang có hướng bình thường hóa sinh hoạt. Tối đến, kiểm điểm công việc trong ngày xong, các chú giao liên người địa phương chong đuốc "cà boong" (nhựa cây rừng) ngồi quanh chiếc bàn tre học văn hóa. Thiếu giấy mực, các chú dùng than viết chữ lên những phiến gỗ hoặc dùng que nhọn vạch chữ lên ruột tre và giúp nhau đánh vần. Sáng tinh sương, toàn thể giao liên đều ra sân tập thể dục.
       
        Tôi hỏi Thanh nhận nhiệm vụ cùng đồng đội "xoi" đường từ thời gian nào?
       
        Thanh đáp, giọng vui vui:
       
        - Tháng tư năm ngoái, năm Con Heo, nhưng là heo rừng nên vất vả.
       
        Như vậy, tuyến đường được thăm dò từ tháng 5 năm 1959 và được mở sau đó ít lâu, khai thông liên lạc giữa miền Bắc với cách mạng miền Nam. Trước hết, đó là tuyến gắn kết vô cùng thuận lợi cho các mật cứ trên Trường Sơn.
       
        Cho tới lúc đó, chưa ai có thể biết được rằng con đường chiến lược ban đầu mang tên "Đường 559" ấy sau này sẽ được vinh danh ngang tầm lịch sử: Đường Hồ Chí Minh.

--------------
1. Theo tục lệ địa phương, khi có cúng lễ, nhân dân treo một cành lá cữ (kiêng cữ) trước cổng làng thì người ngoài không được vào làng.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 11:48:41 pm
       
Vượt ải
       
        Ngày nghỉ ở trạm Thanh thực ra chỉ là để lấy sức vượt điểm cao mới về gian khổ.
       
        Chiều hôm sau, đến trạm kế đó, chúng tôi thấy trạm chật ních người. Có mấy anh bạn đón chúng tôi với nụ cười hóm hỉnh:
       
        - Chuẩn bị tinh thần nghỉ lại đây vài hôm nhé!
       
        Chắc có chuyện gì đây. Quả nhiên, anh trưởng trạm gặp chúng tôi, vẻ mặt hơi âu sầu:
       
        - Ngày mai, các đồng chí nghỉ lại đây suốt ngày, đến đêm ta vượt đường 9.
       
        Anh cho biết thêm: từ trong Tết đến nay, chỉ có ngày mùng một và mùng hai Tết là tương đối yên tĩnh, còn thì địch chuyển quân liên miên trên tuyến đường này và tuần phòng ráo riết, nên anh em ta không qua đường được. Có đoàn nằm lại đây đã 3 ngày.
       
        Quả thật, nghe các đoàn bạn kể về cái nông nỗi vác ba lô lặn lội dưới trời đêm rét buốt, vượt hàng mấy giờ đường núi gập ghềnh rồi đến nửa đêm lại vác ba lô lặn lội trở về, chúng tôi cũng đủ ê mình!
       
        May mắn làm sao, đêm sau trinh sát bám đường trở về báo tin vắng bóng địch. Tất cả khách đi đường - gần hai mươi người, có hai giao liên và cả đồng chí trưởng trạm cùng đi - kéo thẳng ra mặt đường.
       
        Từng người một, chúng tôi đặt chân lên con đường nhựa phẳng phiu, rảo bước đi ngược một quãng rồi tạt xuống dốc bên kia đường. Mò mẫm theo lối mòn rậm rạp lau lách, đi thêm một quãng nữa thì ra tới bến sông. Một con đò chờ sẵn ở đó, đưa mọi người sang sông.
       
        Đò phải chở ba chuyến mới hết khách. Nghe nói đò này ban ngày là thuyền đánh cá và anh lái đò vừa là dân đánh cá ở địa phương, vừa là giao liên của trạm đường dây.
       
        Ra tới giữa sông, đồng chí lái đò chỉ cho chúng tôi thấy đồn địch in bóng lờ mờ trên một đỉnh đồi ven đường số 9. Anh cho biết có nhiều đêm, bọn địch trên đồn cứ bắn vãi đại liên xuống đường, xuống sông. Có đêm chúng còn phục kích ven sông. Một số chuyến vượt đường đã có tổn thất.
       
        Khỏi phải nói, khi đã qua được đường, vượt được sông và leo qua hết một ngọn đồi, được phép dùng lại đèn bấm, chúng tôi khoan khoái thở phào như trút được gánh nặng. Ánh sáng đèn bấm cứ loang loáng như chưa từng bao giờ bị phung phí đến thế.
       
        Đi được một quãng, chúng tôi mới sực nhớ đến đồng chí trưởng trạm và hai đồng chí giao liên ở trạm bắc đường 9. Giao khách ở "trực" xong, các đồng chí rời đoàn lúc nào không rõ và chúng tôi không nói được lời từ biệt.
       
        Vô cùng áy náy và ân hận, nhưng chúng tôi hiểu rằng dù nói lên bao nhiêu lời cũng không diễn tả được lòng biết ơn của mình đối với những chiến sĩ thầm lặng đêm đêm phải lo chuyện vượt qua một trong những "cửa ải" gian khổ và nguy hiểm nhất trên một tuyến đường đầy rẫy gian khổ và nguy hiểm.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 07:34:39 am
       
"Mây kéo mãi thành mưa"
       
        Những ngày sau đó, đường đi có vẻ thênh thang hơn. Chúng tôi băng qua những dòng suối lớn trong vắt, những đồi cỏ xanh mượt, những rừng tùng mơ màng. Và vào lúc mùa khô thực sự đến với núi rừng, ngày ngày nắng ráo, bầu trời xanh thẳm, chúng tôi tiến vào một vùng có nhiều dốc cao ở miền Tây Quảng Nam.
       
        Dốc ở đây mới đáng gọi là dốc. Có cái dốc leo lên tụt xuống vừa một ngày. Trạm đi ở chân dốc bên này, trạm đến ở chân dốc bên kia.
       
        Có mấy đoạn, dốc đá cheo leo, không phát được đường, trạm phải bắc thang cây. Leo những thang chênh vênh như thế thật chẳng khác làm trò xiếc.
       
        Dốc thường kèm với vực. Gặp cầu treo qua vực còn khá, chứ gặp chiếc cầu ghép bằng mấy thân cây với tay vịn mong manh - hoặc không có tay vịn - thì lơ mơ sẽ mất mạng như chơi.
       
        Nhưng cũng từ khi đi vào vùng dốc cao, chúng tôi bắt đầu được tiếp xúc với dân.
       
        Trước đó, họa hoằn chúng tôi mới được chuyện trò với vài bà con đến chơi trạm, hoặc trao đổi nụ cười với những người dân gặp trên đường. Cũng có kỷ niệm rất cảm động, khó quên: thỉnh thoảng thấy những nải chuối, những bó mía đặt cạnh đường đi, chúng tôi hỏi thì giao liên cho biết đó là quà giải lao của đồng bào kín đáo tặng cho người đi chiến đấu (thời gian sau các đoàn vào đông người nên không còn được hưởng diễm phúc đó nữa).
       
        Một hôm, trên đường đi, giao liên đưa chúng tôi vào làng, nghỉ chân trong nhà dân. Anh chủ nhà trạc 40 tuổi, biết tiếng phổ thông, nhưng rất tiết kiệm lời. Chúng tôi hỏi gì, anh trả lời nấy.
       
        Qua câu chuyện, được biết anh có tham gia du kích và đi dân công hồi kháng chiến chống Pháp, lên mãi đâu Măng Đen, Măng Bút,… Nhắc lại chuyện cũ, anh không giấu vẻ tự hào.
       
        Lại được biết nhân dân vùng này đang thiếu muối, vải, nông cụ và rất lo địch tới "tố cộng" như mấy xã vùng dưới.
       
        Bất thình lình, anh chủ nhà hỏi lại chúng tôi:

        - Bao giờ thì cướp chính kiềng?
       
        Tiếng quyền, anh nói thành kiềng, nhưng chúng tôi không thấy buồn cười, mà hiểu được tầm quan trọng của câu hỏi. Chắc hẳn anh đã được nghe cán bộ địa phương nói chuyện về khởi nghĩa vũ trang đánh đổ Mỹ - Diệm (hoặc chính anh là cán bộ địa phương cũng nên).
       
        Cách trả lời dài dòng nhưng thiếu cụ thể của chúng tôi khiến anh không được thỏa mãn. Anh bỏm bẻm nhai trầu, im lặng nghe, vẻ hoài nghi. Hình như anh cho rằng chúng tôi không chịu nói thật với anh.
       
        Gặp chỗ rắc rối khó hiểu, người đàn ông khẽ cười, lắc đầu,…
       
        Lát sau, anh nhổ quết trầu, tự giải đáp:
       
        - Mây kéo mãi thành mưa thôi!
       
*

*      *
       
        Ngày lại ngày, chúng tôi đi.
       
        Thấm thoắt mà đã hai tháng trời.
       
        Thú thật, tôi có phần sốt ruột, muốn chóng tới nơi. Giấy đi đường của tôi ghi địa chỉ là "Đỗ Xá". Thấy ngày càng có nhiều thùng hàng mang địa chỉ "Đỗ Xá", tôi chắc đích không còn xa.
       
        Nhưng chuyện vất vả đường trường chưa hết.
       
        Một hôm, giao liên dẫn chúng tôi qua "đường hợp pháp"1 nhưng không cảnh giới cẩn thận. Gần tới đường, bỗng chú giao liên tái mặt, ra hiệu cho chúng tôi dừng lại và tìm chỗ nấp. Để ý nghe, quả thật có tiếng người lao xao ở đầu đường.
       
        Một đại đội lính ngụy đang đi tới.
       
        Nằm ở triền dốc cao, chúng tôi trông thấy chúng rõ mồn một. Trên một trăm tên nối đuôi nhau đi rải ra, súng khoác vai (có đứa khoác chéo!), vừa đi vừa nói chuyện ồn rừng. Chắc hẳn chúng yên chí đây là vùng chúng hoàn toàn làm chủ.
       
        Với kiểu đi nghênh ngang như thế, chỉ cần vài khẩu liên thanh bắn chéo cánh sẻ là quét sạch cả bọn. Tiếc rằng, lúc này chúng tôi chưa thể làm điều đó.
       
        Sự cố ấy đánh dấu đoạn cuối cuộc hành trình của chúng tôi.

-----------------
1. Đường hợp pháp: Đường của dân đi hồi đó và địch cũng đi. Gọi là "đường hợp pháp" để phân biệt với đường riêng của các trạm giao liên.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 07:39:53 am
       
Chương hai

"ĐỖ XÁ"
           
Khu ủy bí mật
       
        Ở trạm đón tiếp, tôi tưởng chỉ cần phóng vài sải chân nữa là tới cơ quan "Đỗ Xá". Nhưng đoàn chúng tôi đã phải đi hai ngày ròng rã mới tới nơi. Cũng lội suối, vượt sông và khi gần tới nơi thì leo một cái dốc cao vút.
       
        Đây là cơ quan Thường vụ Khu ủy 5. Địch có thể trả giá hết sức đắt để tìm và diệt cơ quan cách mạng đầu não này của khu vực Nam Trung Bộ (ba năm sau, tháng 4 năm 1963, chúng mở một cuộc càn quét rất lớn và qua đài phát thanh tuyên bố "đánh vào Đỗ Xá", nhưng chúng lại vồ hụt).
       
        Về phần tôi đối với "Đỗ Xá" thì:

Đến bây giờ mới thấy đây
Mà lòng đã chắc những ngày một hai
       
        Vâng, với sự tiên cảm kỳ lạ, tôi từng tin chắc sẽ có ngày được đến với nơi đây, nơi vẫn gắn bó với dân những năm dài Mỹ - Diệm ra tay khủng bố trắng, nơi đang là một tia hy vọng sáng lấp lánh trong "đêm đen miền Nam". Những câu chuyện đầy ngưỡng mộ giữa bạn bè trên miền Bắc về "Khu ủy bí mật" đôi khi đượm màu huyền thoại. Cho nên, trước khi tới đây, tôi đã vẽ ra trong óc nhiều hình ảnh kỳ ảo.
       
        Thế nhưng, khung cảnh nơi đây lại hết sức giản dị.
       
        Cơ quan đóng trên đỉnh núi cao. Trời đã vào hè, nhưng ở đây vẫn lạnh.
       
        Đây là lần đầu tiên cơ quan có chỗ ở dài ngày. Trước đây phải dời luôn, có khi dời đi xa hàng mười ngày đường.
       
        Ẩn dưới các vòm cây là năm, sáu nếp nhà tranh nhỏ mà sự sạch sẽ ngăn nắp làm cho người ta có cảm tưởng cả một góc rừng sáng hẳn lên. Nhìn vào cũng đủ biết ở đây có những bàn tay cần mẫn, khéo léo: từ tấm liếp nứa đan cánh chả đến nút mây buộc kèo, từ cái mặt bàn tre ghép đến khung cửa sổ bằng gỗ đơn sơ, tất cả đều được trau chuốt đẹp mắt và đều toát lên niềm vui thanh thản. Chính giữa khu nhà có sân rộng, có ghế ngồi hóng mát. Khó ai nghĩ rằng sống ở đây là sống trong vòng vây của quân thù.
       
        Nhà của các đồng chí lãnh đạo không lớn hơn những nhà khác. Đó vừa là nhà ngủ, vừa là nhà làm việc.
       
        Anh Năm Công1 - thủ trưởng cao nhất về cấp bậc cũng như về tuổi - đang ngồi cắm cúi viết ở nếp nhà nhỏ của anh. Thấy đoàn chúng tôi đến chào, anh bỏ kính xuống, niềm nở bắt chặt tay từng người.
       
        - Gần đây nhân dân phàn nàn rằng… các kho gạo cách mạng đã đầy mà không có ai ăn. Nay căn cứ ta ngày càng đông vui như thế này, hẳn đồng bào bằng lòng.
       
        Anh nói vui rồi cười giòn, đôi mắt mỏi mệt vì thiếu ngủ phút chốc trở nên tươi tỉnh.
       
        Tiếng cười cũng thư thái như vầng trán cao rộng của anh và hết sức chân thật.
       
        Nhà cách mạng lão thành này đã từng bị thực dân Pháp kết án tù chung thân. Đời anh là một chuỗi dài những ngày hoạt động bí mật. Nhìn anh, chúng tôi dào dạt niềm kính yêu và không khỏi xúc động: những năm vừa qua, anh sống như thế nào?
       
        Vài hôm sau, trong khi nói chuyện thân mật, vô tình anh Năm đã giải đáp phần nào câu hỏi thầm kín của chúng tôi.
       
        Anh nói:
       
        - Làm cách mạng có nhiều cái khổ, nhưng lúc không đánh được địch là lúc khổ nhất.
       
        Lúc đó, chúng tôi chỉ hiểu được một phần câu nói của anh. Dần dần qua những lần hỏi chuyện các đồng chí hoạt động trong quần chúng những năm khó khăn của cách mạng miền Nam, chúng tôi mới hiểu thấu đáo.

--------------
1. Đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Liên khu ủy 5, về sau là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 07:43:03 am
       
Giữa lòng dân
       
        Nguyên là từ giữa năm 1959, vùng căn cứ chuẩn bị đón thêm nhiều lực lượng để chuyển phong trào cách mạng sang một bước mới, nên động viên nhân dân miền núi đóng góp sức người, sức của, đặc biệt là lúa gạo. Đồng bào bấy lâu chỉ khao khát cách mạng cho lệnh "đánh" và "cướp chính quyền", nay thấy cách mạng kêu gọi đóng góp nuôi quân thì liền hưởng ứng nhiệt liệt. Vượt qua mọi sự dò xét của địch, các buôn làng dựng lên hàng loạt "kho gạo cách mạng" trong rừng sâu. Chỉ qua một vụ lúa rẫy, các kho gạo đã đầy ắp.         
        Ngoài việc tăng diện tích trồng lúa, đồng bào còn làm thêm nhiều rẫy sắn dành hẳn cho các lực lượng thoát ly, gọi là "rẫy cách mạng".

        Ai nấy ngóng chờ những đơn vị lớn của quân đội cách mạng. Nhưng mãi vẫn không thấy "bộ đội lớn" đâu cả, nên bà con bắt đầu thắc mắc nói ra lời. Cán bộ lại phải vừa cười vừa giải thích: "Đừng lo dư thừa, chỉ lo tới hồi chừng ấy gạo không đủ cho quân ta phủi lủm1 thôi!".
       
        Cơ quan "Đỗ Xá" tới đây chưa lâu, nhưng đã khá quen thân với mấy làng bên cạnh và biết được gần hết mọi chuyện xảy ra trong dân.

        Anh em cán bộ và nhân viên cứ trông chừng hễ vắng bóng bọn cán bộ ngụy và lính ngụy là lui tới các làng, thăm hỏi dân.
       
        Mới rồi, được tin một làng nọ có bệnh dịch tả, y tá của "Đỗ Xá" đã tới nằm luôn trong làng chữa bệnh cho dân, cuối cùng dập tắt được ổ dịch.
       
        Một số cán bộ địa phương thỉnh thoảng vào cơ quan giúp đỡ các việc.
       
        Dân làng thì chưa ai được vào, vì các đồng chí bảo vệ "Đỗ Xá" muốn giữ tuyệt đối bí mật.
       
        Đường vào cơ quan hết sức lắt léo.
       
        Thế nhưng một buổi sáng, có cô gái xuất hiện ở ngay sân nhà. Đồng chí bảo vệ sửng sốt:
       
        - Sao cô Mai biết đường vào đây?
       
        Cô gái tên là Mai nhoẻn miệng cười:
       
        - Rừng núi này, nơi nào mà em không biết! Các anh tới đóng ở đâu là chúng em đoán ra ngay… Mà thôi, có tình hình gấp, cho em gặp cán bộ Dũng (người thường vào làng gặp dân).
       
        Qua việc này, các chiến sĩ bảo vệ (hầu hết mới từ miền Bắc vào) nhận ra rằng giữ bí mật với nhân dân miền núi về nơi ở của mình là không thực tế.
       
        Các đồng chí quen biết cô Mai kể lại rằng lúc bọn lính Diệm còn đóng ngay trong làng, Mai là một trong những người tận tình nuôi giấu cán bộ cách mạng, mặc dù biết rõ mình nắm tới chín phần mười cái chết trong tay. Cô gái chưa đến 14 tuổi hồi đó đã biết cách đánh lừa địch, đều đặn tiếp tế và đưa tin cho cán bộ trong rừng sâu và khi anh cán bộ mắc bệnh nặng, cô đã dìu anh từ ngọn suối này sang ngọn suối khác để tránh địch và tìm cách chạy chữa cho anh, cuối cùng cứu sống được anh.
       
        Cậu em nhỏ của Mai cũng là một "tình báo" và giao liên đắc lực. Có hôm gặp chú bé 12 tuổi giữa đường, tôi tưởng chú đi chơi, nhưng không, chú nói gì đó với đồng chí cán bộ địa phương rồi đĩnh đạc rút từ khố ra một mảnh giấy báo tin quan trọng: địch ra khỏi đồn, đang đi lùng,…
       
        Công tác dân vận đối với "Đỗ Xá" lúc này lại càng đáng quan tâm hơn bao giờ hết, vì cơ quan đang chuẩn bị mở hội nghị lớn.

----------------
1. Phủi lủm: Phủi sạch bụi rồi lủm (nhai nuốt gọn). Ý nói thức ăn ít ỏi.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 07:46:19 am
        
Chống càn
       
        Ngay lúc tôi mới đến, đã thấy anh em cán bộ và nhân viên cơ quan - khoảng hai mươi người - tất bật làm thêm nhà cửa, vận chuyển lương thực, soạn các văn kiện. Số anh em mới cũng lao luôn vào những việc này.
        
        Khoảng hai tuần sau, đại biểu các địa phương đã tề tựu đông đủ. Có những người ở tận Trị - Thiên, tận Bình Thuận, tận các thành phố xa, lặn lội hàng mấy tháng trời và băng qua bao nhiêu vòng kiểm soát của địch mới tới đây1.
        
        Mỗi người đều giản dị với bộ quần áo vải đen hoặc xám, cái nón lá, cây gậy cầm tay và một ba lô nhỏ hoặc một cái gùi trên lưng. Gương mặt ai nấy sạm nắng gió, nhưng tươi vui hớn hở.
        
        Tôi gặp một số bậc đàn anh quen cũ. Các anh cười nói:
        
        - Nước bao giờ chả chảy về chỗ trũng! Còn làm cách mạng là còn gặp nhau.
        
        Câu nói làm vinh dự và khích lệ tôi rất nhiều.
        
        Đi đường chưa hết nhọc mệt, nhưng các anh không ngại thu xếp thì giờ kể cho tôi nghe những chuyện đấu tranh vô cùng phong phú của nhân dân các địa phương, vùng xuôi và vùng núi, nông thôn và thành thị. Sau những năm đen tối mà bọn Mỹ - Diệm dùng "chiến tranh một phía" chống lại nhân dân miền Nam, phong trào cách mạng lại đang lên. Tại hội nghị này, các đại biểu sẽ tổng kết tình hình 6 năm qua và bàn phương hướng lãnh đạo các mặt đấu tranh ở Nam Trung Bộ trong thời gian tới theo đúng tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ 6 năm nay, ở đây chưa có một hội nghị nào quan trọng như vậy.
        
        Tin cấp báo của cô Mai đến vào lúc hội nghị sắp khai mạc: địch càn quét.
        
        Một đại đội lính ngụy từ đồn Đắc Nhé (đông tỉnh Kon Tum) kéo tới một làng cách cơ quan Khu ủy 5 chỉ một giờ đường rừng.
        
        Lệnh báo động được truyền đi. Ai nấy khẩn trương nhưng bình tĩnh thu dọn đồ đạc, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.
        
        Cấp khu lúc này đã có một đơn vị vũ trang nhỏ - một đại đội thiếu - nhưng gồm hầu hết là tân binh đang ở thời kỳ huấn luyện, lại đóng ở xa. Hôm tới cách "Đỗ Xá" chừng một ngày đường, tôi thấy các chiến sĩ trong đơn vị chủ lực khu đầu tiên này còn đang tập đâm lê.
        
        Để đối phó với tình hình cấp bách, một tiểu đội 12 người được thành lập ngay tại cơ quan, gồm các chiến sĩ bảo vệ và cả anh nuôi, cần vụ. Tiểu đội đặc biệt này được giao cho đồng chí Đỗ Phú Đáp, một cán bộ cấp trung đoàn đang giữ việc nghiên cứu quân sự tại "Đỗ Xá" chỉ huy.
        
        Những "lính cùi chỏ"2 trong cơ quan cũng được sắp xếp thành đội dự bị. Thực ra, lúc đó gọi "lính cùi chỏ" cũng không đúng hẳn, vì tất cả đều được trang bị bằng súng ngắn hoặc tiểu liên.
        
        May phước cho bọn giặc, chúng không đến. Chẳng phải nghi ngờ gì, nếu chúng đi quàng xiên thì thế nào cũng bị nện một trận ra trò. Đội cận vệ gồm toàn chiến sĩ ưu tú, lại được chỉ huy tốt. Từ tiểu đội này về sau đã xuất hiện một loạt Anh hùng quân đội và dũng sĩ, xuất sắc nhất là các đồng chí Nguyễn Ngọc Bình, Đoàn Liêm, Mười Thập, Phan Cao,…
        
        Đối với chúng ta, cũng là may, vì đã tránh được một cuộc chạm súng không cần thiết.
        
        Bọn giặc hẳn sẽ tiếc đứt ruột nếu biết được rằng chỉ trong tầm tay, chúng đã vồ hụt một miếng mồi lớn ngoài sức tưởng tượng!

--------------
1. Khu 5 thời gian này (với đúng tên gọi là Liên khu 5) bao gồm Trị - Thiên, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, và cực Nam Trung Bộ.

2. Cùi chỏ: Cùi tay (tiếng địa phương), "Lính cùi chỏ" chỉ các cán bộ nghiên cứu và nhân viên văn phòng, thường không mang súng.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 08:04:00 am
       
Mùa rẫy
       
        Sống bí mật trong rừng, không dám gọi to, không dám động mạnh, nhưng cơ quan "Đỗ Xá" rất vui.
       
        Sáng dậy, ai vào việc nấy. Người đọc tài liệu, người phục vụ hội nghị, người xuống sông đánh cá, người vào làng gặp dân.
       
        Bây giờ đã là tháng 5, mùa phát rẫy. Cơ quan họp, bàn xem có nên làm rẫy tự túc hay không.
       
        Cuộc tranh luận khá sôi nổi.
       
        Không ít người bàn "không nên làm", lý lẽ cũng khá vững: cơ quan neo người, bận phục vụ hội nghị, làm rẫy xong chẳng biết có được thu hoạch không hay lại đi nơi khác… Có một lý lẽ ai cũng nghĩ tới nhưng không ai nói ra, đó là kho gạo cách mạng còn đầy và lại ở gần.
       
        Phái chủ trương "nên làm" cực lực bác bỏ những lý lẽ trên: Phải chăng ta có nhiều việc bận tới mức không thu xếp được để tham gia sản xuất? Làm rẫy thì có thêm gạo, thêm sắn, ta không ăn thì dân ăn, mất đi đâu?
       
        Ý kiến này chiếm số đông. Thêm nữa, mỗi người đều có trong máu ít nhiều truyền thống tự cấp tự túc của Khu 5 thời kháng chiến chống Pháp. Cho nên cuối cùng đi đến quyết định: nên làm, phải làm.
       
        Dân làng mách cho một nơi phát rẫy khá tốt.
       
        Đó là một khoảnh đồi ở ven sông, hướng về phía mặt trời mọc, cách cơ quan khoảng "một giờ rưỡi tụt dốc". Cạnh đấy có rẫy của vài gia đình. Đồn địch xa nửa ngày, lại cách làng, cách sông. Thật là đủ điều "thiên thời, địa lợi, nhân hòa"! Một phần ba số cán bộ và nhân viên cơ quan có mặt thường xuyên trên rẫy.
       
        Chưa ai thạo làm rẫy, nhưng hầu hết là con nhà nông nên cầm rựa cũng chắc tay. Chỉ có lâu ngày ở bóng râm, nay phải phơi nắng, nên ban đầu anh em có chiều mệt mỏi.
       
        Tuy nhiên, khi công việc có đà tiến triển thì chúng tôi rất hào hứng. Dọn xong lớp cỏ và dây dợ trên mặt đất, chuyển sang chặt cây. Rựa mài sắc, bập vào thân cây từng nhát ngọt xớt. Cây lớn, cây nhỏ lảo đảo nghiêng ngả, đổ răng rắc, ào ào, tung lá và bụi mù mịt. Nhựa cây thoảng mùi thơm say say. Gà rừng và chim chóc vừa đáp xuống gần đó lại hoảng hốt kêu lên chí chóe, vỗ cánh bay vù.
       
        Bà cụ già và mấy cô gái ra thăm rẫy sắn bên cạnh, thấy vui cũng chạy sang. Bà cụ mang cho mía, chè tươi. Mấy cô gái, vòng bạc và cườm ngũ sắc rung rinh, nói chuyện ríu rít như chim vành khuyên mới sà xuống rẫy.
       
        Chiều tà, chúng tôi xuống sông tắm mát rồi tới nghỉ ở chòi rẫy của dân. Anh em nhen lửa, vo gạo, làm cá, rửa rau (rau má và rau ranh không để đâu cho hết), rồi ngồi nhìn cơm lên hơi, canh sôi sục trong hăng-gô, hài lòng sau một ngày lao động đạt năng suất cao.
               
        Ăn xong, làm gì nữa? Chẳng làm gì, chẳng còn gì phải bận tâm. Những chàng trai làm rẫy trở thành những người sung sướng nhất đời. Anh em mắc võng quanh chòi rẫy, nằm nhìn vòm trời đêm hè cao vút đầy sao lung linh, nghêu ngao câu bài chòi, hoặc nghe tin, nghe nhạc, rồi ngủ say lúc nào không biết, lắm khi quên tắt "đài".
       
        Chính trong những ngày phát rẫy, tôi có dịp quen thân hơn với những người bạn mới: Mười Thập nói năng lỗ mãng nhưng tốt bụng, Dũng hay đùa dí dỏm, Quảng bắn giỏi và trèo cây thoăn thoắt, bác sĩ Thủy cần mẫn trong nghề cũng như trong lao động chân tay, Sơn nói tiếng Huế thủ thỉ như o con gái nhà lành… Người mà tôi nhanh chóng có cảm tình hơn cả là Phan Cao.
       
        Chàng trai 26 tuổi của xứ dừa Bình Định này có gương mặt hồn hậu, vóc người cao lớn, vạm vỡ. Bắp tay anh chắc nịch, những cánh tay từ nhỏ đã quen leo dừa, đập xơ dừa. Lên rẫy, Cao luôn luôn nhận việc nặng nhọc nhất và nhường nước uống, nhường dụng cụ tốt cho bạn. Xuống sông đánh cá, Cao cũng là "chủ lực", nhưng khi cá dọn ra, anh chỉ gắp cầm chừng, dường như chỉ ngắm anh em ăn ngon là anh đủ vui và no. Chưa xong bữa, thấy các hăng-gô cơm có chiều vơi đi là anh rút êm. Nài ăn thêm thì anh từ chối nhẹ nhàng:         
        - Thôi, "cơm ăn hai chén lưng lưng, uống nước cầm chừng, để dạ nhớ em".
       
        Đúng là anh có thương nhớ một người, nhưng không bao giờ thổ lộ tâm tình. Người con gái quê hương ấy dốc lòng chờ đợi anh, bất chấp mọi sự rúng ép của địch.
       
        Không thể ngờ, sau mùa rẫy này người bạn lớn của tôi sẽ chuyển công tác và rồi ra đi mãi mãi.
       
        Mùa hè năm 1963, chuẩn úy Phan Cao cùng một đơn vị quân giải phóng đánh đồn Long Lếch (Kon Tum). Một hỏa điểm địch ngoan cố chống cự. Cần một người đánh thông đường cho đơn vị tiếp tục xung phong và Cao tình nguyện làm việc đó. Anh thắt lại khăn quàng đỏ - chiếc khăn truyền thống Ngô Mây1 - rồi chỉ với một khẩu súng ngắn cầm tay, vươn tới hướng khẩu đại liên địch đang nhả đạn điên cuồng. Mấy phát súng ngắn bắn qua lỗ châu mai làm cho khẩu đại liên im bặt. Nhưng người cảm tử quân cũng đã trúng đạn, oanh liệt hy sinh vì sự nghiệp giải phóng Tây Nguyên, giải phóng miền Nam.
       
        Trong tim tôi, Phan Cao sống mãi. Bạn anh hiểu rằng anh nhận đương đầu với điểm lửa Long Lếch cũng giản dị hồn nhiên như khi anh nhường cho mình chiếc rựa tốt với nụ cười ân cần một chiều trên rẫy năm nào…

-----------------
1. Ngô Mây: Một chiến sĩ cảm tử, Anh hùng quân đội, trong kháng chiến chống thực dân Pháp anh đã tình nguyện ôm bom lao vào phá nát xe cơ giới địch trên đường 19, Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 05:16:49 pm
       
Quanh hội nghị
       
        Chúng tôi phát rẫy hơi muộn, nhưng cũng kịp đốt và dọn rẫy trước những ngày mưa giông.
       
        Vào lúc này ở căn cứ, hội nghị tổng kết làm việc liên tục, thường họp cả ba buổi trong ngày và họp dài ngày. Các đại biểu kiểm điểm tình hình một cách hết sức nghiêm túc, nghiền ngẫm kỹ các văn kiện, lắng nghe mọi kinh nghiệm đấu tranh từ nhỏ đến lớn và cân nhắc từng ý kiến.
       
        Ở Nam Trung Bộ lúc này, tình hình cả ba vùng đều có tiến triển thuận lợi. Trong các thành thị, việc giữ cơ sở cách mạng sau một thời gian dài gặp khó khăn, nay trở lại tốt và một số nơi còn phát triển vững chắc, ví như ở Huế, Đà Nẵng, Tuy Hòa.
       
        Quần chúng nông thôn đồng bằng đương đầu dũng cảm với âm mưu "bình định" của địch, với các cuộc "tố cộng", với sự khủng bố đẫm máu của luật 10-59 và một số vùng (như huyện Điện Bàn, Quảng Nam) có phong trào sôi nổi chống phá chính sách dồn dân mang chiêu bài "khu trù mật".
       
        Đặc biệt, ở dọc Trường Sơn, đã nổ ra mấy cuộc nổi dậy của quần chúng vũ trang, trong đó đáng chú ý nhất là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Kor thuộc huyện Trà Bồng (vùng núi phía tây tỉnh Quảng Ngãi). Đồng loạt nổi dậy từ tháng 8 năm 1959, các thôn xã khắp Trà Bồng đã liên tiếp giành thắng lợi, gây cho địch nhiều tổn thất, giữ vững và phát triển cuộc chiến đấu cho đến nay.
       
        Quật khởi từ nguyên nhân sâu xa "tức nước vỡ bờ", Trà Bồng đang được coi như là một cuộc thực nghiệm đánh Mỹ và tay sai, và trước hết là điểm đột phá hướng tới một căn cứ địa liên hoàn trên Trường Sơn. Vấn đề lúc này là đẩy tới bước đột phá, là chuyển dần cuộc thực nghiệm lên quy mô lớn, và chuyện đó quả thật không đơn giản.
       
        Ai cũng dễ thấy là lòng căm thù của quần chúng đối với Mỹ - ngụy đã lên tới tột độ. Nhưng đã tới lúc cầm vũ khí hay chưa, thì không phải ai ai cũng nhất trí.
       
        Ngay trong số cán bộ ở "Đỗ Xá", có hồi tranh luận về cuộc khởi nghĩa Trà Bồng, một vài anh vẫn tỏ vẻ hoài nghi: Không khéo Trà Bồng đang lâm vào thế "cưỡi lưng cọp".
       
        Ý kiến của số đồng chí đó không phải không đáng được suy xét một cách nghiêm túc.
       
        Vì quả thật tiến hành vũ trang chống đế quốc Mỹ là một vấn đề vô cùng to lớn, là một chuyện kinh thiên động địa.
       
        Vấn đề lại càng đáng lo nghĩ hơn khi nhìn lại lực lượng của ta sau những năm địch đánh phá ác liệt khắp miền Nam. Văn phòng Thường vụ Khu ủy khu 5 khi thu thập báo cáo của các tỉnh nhận thấy rằng số cơ sở cách mạng ở nhiều huyện có thể đếm trên đầu ngón tay và rất nhiều xã mất trắng cơ sở.
       
        Nhiều câu hỏi được đặt ra lúc đó:
       
        Đã tới lúc đánh chưa?
       
        Đánh như thế nào?
       
        Hướng về hội nghị - mà chúng tôi biết là có trách nhiệm lớn đóng góp vào việc chỉ đạo cách mạng miền Nam - anh em cán bộ nhân viên ở "Đỗ Xá" nóng lòng đợi chờ câu trả lời…
       
        Thấm thoắt, ngày 19 tháng 5 tới.             
       
        Cơ quan quyết định tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật vui và đầm ấm, mời các đại biểu hội nghị cùng dự.
       
        Gian nhà họp vốn nhỏ, tối nay chật ních. Đã sáu năm nay, ở Khu 5, chưa từng có một cuộc họp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ mà cán bộ và chiến sĩ quây quần đông đủ dưới ảnh Bác như thế này.
       
        Cuộc họp không có nghi lễ, cũng không có phát biểu cảm tưởng. Chỉ có hát và kể chuyện về Bác Hồ.
       
        Một đồng chí cách mạng lão thành từng được gặp Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc trước Cách mạng Tháng Tám, kể lại cuộc sống "cháo bẹ, rau măng" của Bác hồi đó. Anh em vô cùng cảm động, thấy rõ sự gian khổ của mình ngày nay không thấm vào đâu so với những ngày Bác Hồ chịu đựng gian khổ để đưa cách mạng tới thành công.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 05:17:19 pm
         
Viên thôn trưởng
       
        Ở vùng Khu ủy 5 đóng cơ quan cũng như ở khắp Tây Nguyên và miền tây các tỉnh Nam Trung Bộ, bọn Mỹ - Diệm đang cố kiểm soát nhân dân chặt hơn nữa bằng một thủ đoạn tiến hành trên quy mô lớn mà chúng gọi là "chiến dịch Thượng du vận".
       
        "Thượng du vận" nằm trong mưu đồ rộng lớn của địch về "bình định", với đủ các ngón tâm lý chiến, tố cộng, luật 10-59…, chỉ có điều những ngón ấy được sử dụng ở miền núi một cách xảo quyệt hơn.
       
        Lấy các đồn bốt làm điểm tựa, từng toán cán bộ "Thượng du vận" (có bọn "công dân vụ"1 làm nòng cốt) mặc quần áo bà ba đen đi từ làng này sang làng khác rêu rao "ba cùng" với dân, rồi tìm cách xúi giục tố cộng, cài cắm gián điệp, kết nạp hàng loạt người vào đảng "Cần lao nhân vị" và "phong trào cách mạng quốc gia", lên dây cót bọn tề và dân vệ hoặc lập tề ở nơi nào chưa có2.
       
        Nói là cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, thực ra chúng chỉ xoi mói khắp các xó xỉnh để lùng cách mạng, ba hoa tuyên truyền cho chủ nghĩa "nhân vị duy linh" của Diệm - Nhu, ăn nhậu và ghẹo gái,…
       
        Nói cho phải, ban đầu chúng cũng giở đủ ngón mơn trớn, ve vuốt. Nhưng chỉ ít lâu sau là chúng khinh miệt dân ra mặt và trở lại lối sống buông thả, bất chấp mọi phong tục tập quán địa phương.
       
        Đồng bào kỵ tấm rửa ở máng nước, chúng cứ tắm.
       
        Đồng bào không muốn khách nấu nướng ở bếp của chủ phía gian trong nhà, chúng cứ ngang nhiên bắc nồi nấu và cười giỡn ầm nhà.
       
        Gặp thức ăn không hợp khẩu vị thì chúng khạc nhổ.
       
        Theo tục một số vùng, khi dọn thịt gà, đồng bào để riêng hai cái đùi gà ra một đĩa, dành cho trẻ con. "Cán bộ ông Diệm" bất kể chi ai, cứ cắm cổ chén sạch trước con mắt hằn học của những người trong nhà,…
       
        Đưa ra phân phát một số vải, bột mì "viện trợ Mỹ" và làm một vài việc y tế vệ sinh để mị dân, chúng cho là đắc sách lắm. Thế nhưng ở nhiều nơi, đồng bào dứt khoát không thèm nhận của bố thí của chúng, vì đã được cán bộ cách mạng chỉ rõ đó là âm mưu địch đưa dân vào tròng.
       
        Chống âm mưu địch đã trở thành nếp nghĩ hết sức nhạy của dân:
       
        Địch tới "ba cùng".
       
        - Phải hỏi ngay cán bộ xem chúng có âm mưu gì đây!
       
        Địch bảo kê khai nhân khẩu để nhận "viện trợ Mỹ".
       
        - Đừng tin, âm mưu đấy.                           
       
        Địch khuyến khích chọn người đi Sài Gòn học.
       
        - Âm mưu!
       
        Địch phát "cạc" (thẻ căn cước) và bảo lăn tay vào "cạc":
       
        - Âm mưu!
       
        Địch phát vải, phát thuốc, phát súng săn, kêu gọi thanh niên lập đội bóng chuyền.
       
        - Toàn là âm mưu, đừng thèm nhận, đừng thèm nghe,…
       
        Chỉ một từ đơn giản được ghi vào lòng đã giúp đồng bào miền núi tránh được vô số cạm bẫy của địch!
       
        Càng ngày càng lộ nguyên hình khi dùng các thủ đoạn mua chuộc lừa phỉnh không ăn thua, địch trở mặt đàn áp. Qua các cuộc "tố cộng", chúng bắt giam và tra tấn hàng loạt người. Chúng phân loại các làng thành vàng, xanh, đỏ tùy theo mức độ mà chúng cho là đã "quy thuận" chúng hay chưa. Đối với những làng đỏ (cứng đầu cứng cổ hoặc còn nhiều nghi vấn), chúng bao vây kinh tế, không bán cho muối, vải, nông cụ. Thậm chí, rập khuôn vùng đồng bằng, chúng mở nhà giam ngay tại làng, tạo nên không khí khủng bố ghê rợn. 
       
        Nhân dân một số làng chịu đựng không nổi đã vùng dậy lấy máu rửa thù.
       
        Ở làng ông Tía (miền tây Quảng Nam), quần chúng đã dùng rựa chém chết sạch một tiểu đội lính ngụy và tên cán bộ "thượng du vận".
       
        Phụ nữ làng Sung-a-bao (Gia Lai) lợi dụng lúc chúng sơ suất dùng thanh củi phang chết một số tên cán bộ và lính ngụy.
       
        Có những trường hợp, vài ba người đàn ông rủ một tên cán bộ ngụy ra sông đánh cá rồi dìm chết hắn và buộc đá thả sông. Vì không có chủ trương của cách mạng nên họ bảo nhau giấu bịt chuyện này, mãi về sau "cán bộ mình" mới biết.
       
        Trong khi chờ thanh toán với bè lũ Mỹ - Diệm, hầu hết các làng phải tạm thời duy trì cách sống "hợp pháp", đấu tranh hợp pháp với địch. Trừ một số làng và khu tập trung ở sát thành thị và đồn bốt địch, còn thì chính quyền ở các làng đều là "chính quyền hai mặt".
       
        Tôi còn nhớ mãi câu chuyện sau đây:
       
        Hạ tuần tháng 5 năm 1960, có việc cần đi xa cơ quan một mình, tôi bèn nhờ đồng bào dẫn đường theo lối tiếp tay từ làng này sang làng khác.
       
        Tới một làng nọ, tôi được giới thiệu với một người đàn ông trạc 35 tuổi, gương mặt lạnh lùng. Anh ta nói mình cũng có việc ở làng bên cạnh, nên nhân tiện đưa tôi đi.
       
        Trên đường đi, anh ta cắm cúi bước, chẳng nói chẳng rằng.
       
        Tới lúc ngồi nghỉ chân ở một khu rừng vắng, anh ta mới rút chiếc tẩu thuốc lá dài ngoằng ra, thong thả tra thuốc, thong thả hút, thong thả phà khói, và đột ngột hỏi tôi:
       
        - Anh có biết mình làm việc chi ở làng không?
       
        Tôi hơi chột dạ. Ngừng một lát, anh ta lại cất giọng lạnh như tiền:     
       
        - Mình là thôn trưởng3.
       
        Bất giác tôi nhìn cây vụ sắc lẻm trong tay anh ta và cũng nghĩ ngay tới khẩu súng ngắn của mình. Óc lại nhẩm rất nhanh mấy thế võ mới học lỏm của anh em đặc công.
       
        Giữa nơi hoang vắng, tiếng thôn trưởng vang lên khô khốc, nghe thật rợn. Viên thôn trưởng này định giở trò gì đây?
       
        Chẳng hề thay đổi dáng ngồi, cũng không đổi sắc mặt, anh ta cứ thong thả hút, thong thả phà khói, rồi thong thả tiếp lời:
       
        - Cũng là… bí thơ chi bộ.
       
        Anh nói không cười, nhưng tôi thì cứ muốn ôm lấy anh mà cười ngất cho bõ mấy phút căng thẳng thần kinh. Tôi cảm thấy quý mến người bí thơ chi bộ này không để đâu cho hết.

-----------------
1. Công dân vụ: Một tổ chức do chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm và em trai kiêm cố vấn của y là Ngô Đình Nhu lập ra, chuyên về đàn áp dân và đàn áp những người không ăn cánh với chúng.
         
2. Số làng mà địch chưa lập được tề khá nhiều, nhất là ở những vùng xa xôi hiểm trở. Ví dụ tại tỉnh Kon Tum, trong số 752 làng thì 100 làng chưa có tề (ngụy quyền thôn, xã).
         
3. Thôn trưởng ngụy quyền.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 10:30:49 pm
       
Cái giấy chờ thống nhất
       
        Trong chuyến công tác, có lần người dẫn đường phải đưa tôi đi vòng cung để tránh một làng có tên phản động. Tên này vốn là sách trưởng1 thời Pháp thuộc, nay ngóc đầu dậy chèn ép dân làng và làm mật thám cho Mỹ - Diệm. Gần đây, liên tiếp bị nhân dân cảnh cáo, hắn đã co vòi, nhưng đối với hắn vẫn phải hết sức cảnh giác.
       
        Đây là trường hợp duy nhất mà tôi gặp trong suốt sáu ngày đi trên đường. Còn thì ở những nơi khác, tôi và người dẫn đường thường vào ngay trong làng, sau khi hỏi kỹ biết không có mặt bọn cán bộ ngụy hay lính ngụy. Ngay cả mấy lần biết có bọn "thượng du vận" ngồi trong nhà dân, chúng tôi cũng chỉ đi tránh một ít phía ngoài làng, không đi đường vòng. Ban đêm, chúng tôi cũng thường nghỉ trong làng.
       
        Ở mỗi làng đều có chòi thông tin của ngụy quyền, treo ảnh tuyên truyền, trong đó có nhiều ảnh Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Lệ Xuân (vợ Nhu).
       
        Đúng là ở đây "treo ảnh quốc gia, thờ ma cộng sản".
       
        Và xem chừng "ma cộng sản" thiêng hơn hết thảy.
       
        Kết bạn với một cán bộ huyện trên đường đi, tôi được biết nhân dân ở đây có vô vàn tục kiêng cử, và có những tục kiêng cử rất tai hại.

        Chẳng hạn, đến mùa tỉa lúa, già làng gieo quẻ bói thấy "ma" không ứng, thế là cả làng không dám ra rẫy, bỏ lỡ vụ. Hoặc có con chim bay qua rẫy cất tiếng kêu lạ tai, thế là đồng bào bỏ cả rẫy lúa chín "bị ma ám".
       
        Ấy vậy mà một hôm, chính mắt tôi thấy dân một làng nọ đưa một cán bộ cách mạng bị ốm nặng từ rừng vào nhà, mặc dù đồng bào rất kiêng cữ chuyện khách lạ chết trong nhà. Với ít thuốc tốt mang theo, tôi và đồng chí cán bộ huyện cố sức chạy chữa cho người ốm hồi tỉnh. Về sau, người đồng chí nói với tôi, vẻ trầm ngâm:
       
        - Không sợ "ma" và không sợ cả Mỹ - Diệm chặt đầu vì tội "chứa chấp cộng sản", đủ thấy đồng bào tin yêu cách mạng đến mức nào!
       
        Người bạn đường quả là "thổ công" ở đất này. Tôi nghe chuyện anh mê mải, quên cả mỏi chân.
       
        Dọc đường đi, tôi có nhận xét: sống trong vùng địch kiểm soát mà đồng bào vẫn ngang nhiên mang giáo mác, bọn địch không gờm sao?

        Anh bạn của tôi trả lời:
       
        - Gờm quá đi chứ! Nhưng ở đây giáo mác tên nỏ với đồng bào như bóng với hình, làm sao Mỹ - Diệm xóa bỏ tập quán lâu đời đó được? Đã có những lúc chúng cấm mang vũ khí, nhưng đồng bào phản ứng gắt, cuối cùng chúng phải thừa nhận mang vũ khí là "hợp pháp". Đây là một lợi thế mà đồng bào miền xuôi không có.
       
        Anh kể tiếp: có những lần người làng bị bọn Diệm bắt đi, dân cả làng cứ vác giáo mác lẳng lặng đi theo chúng mà chẳng cần nói năng gì, nửa đường bọn giặc nao núng phải thả người bị bắt.
       
        Một số vùng núi có thể dựa vào vũ khí nhanh chóng nổi dậy chống địch cũng nhờ thế.
       
        Vẫn chuyện của anh cán bộ huyện:
       
        Năm 1957, Mỹ - Diệm thi hành chính sách "tát nước bắt cá" ở mấy làng vùng này, ráo riết truy lùng cách mạng và khủng bố dân. Bắt gặp ai mang vài lon gạo, vài quả trứng ra khỏi làng là chúng giam giữ, tra hỏi. Dân làng không đi làm ăn gì được nên rất đói khổ. Cán bộ cách mạng và anh em thanh niên Thượng thoát ly phải hết sức giữ ý tứ, tránh gây khó khăn hơn nữa cho dân. Anh em chỉ nhận những gì tối thiểu để sống.
       
        Thấy các chiến sĩ ta chịu cơ cực, không đành lòng, nhân dân bèn nghĩ ra một cách ủng hộ khéo. Che được mắt địch, đồng bào mang heo, gà đến tận nơi ở của anh em, cười mà nói:
       
        - Dân làng khổ thật, nhưng đâu nỡ để bọn bay nhịn miệng. Nếu bọn bay sợ lấy không của dân là trái lời Đảng dạy thì cứ biên mấy chữ vào giấy đó. Dân làng giữ giấy, chờ tới ngày thống nhứt nước nhà sẽ hay.
       
        Trở về "Đỗ Xá", gặp lại một số đại biểu các tỉnh vẫn còn làm việc với Thường vụ Khu ủy, tôi lại được dịp bổ sung nhiều điều về người dân trên Trường Sơn.
       
        Đồng chí đại biểu Thừa Thiên nghe tôi kể lại chuyện "cái giấy chờ ngày thống nhất", tỏ vẻ thích thú. Lạ nhất là ở vùng anh công tác cũng có chuyện y hệt như vậy.
       
        Anh nói:
       
        - Với cách mạng thì lòng dân như thế đó. Còn ai giả danh cách mạng, đồng bào biết ngay. Hồi hòa bình mới lập lại, bọn Đại Việt cũng lên lập chiến khu ở một số vùng núi Trị - Thiên, nói là để chống Diệm. Nhưng theo dõi chúng một thời gian, đồng bào khẳng định: "Bọn này bằng nhau (giống như) bọn Diệm thôi!". Bị dân tẩy chay, chúng nó dần dần cuốn gói. Rốt cuộc chỉ có cách mạng "trụ" lại được.
       
        Cũng qua các đại biểu dự hội nghị, tôi nắm rõ hơn địa danh một số cuộc nổi dậy vũ trang từng nghe nói nổ ra cùng thời gian với cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và vẫn đang tiếp diễn: đó là Ta Lốc, Ta Léc (hai làng dân tộc Ba Na ở huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định), Bến Giằng (vùng dân tộc Ka Tu ở tây bắc Quảng Nam), Bác Ái (vùng dân tộc Rắc Lây ở Ninh Thuận).
       
        Dĩ nhiên, tôi cần thông tin trước hết về cuộc nổi dậy lớn nhất ở Trà Bồng, nên tìm tới đại biểu Quảng Ngãi. Anh vui lòng kể chuyện khá chi tiết, nhưng nói thêm:
       
        - Chuyện Trà Bồng, ngồi đây kể không hết được. Phải chi anh về Trà Bồng ít lâu, sẽ tha hồ có tài liệu nóng hổi và bà con sẽ hoan nghênh anh lắm lắm.
       
        Về Trà Bồng, sống với những người khởi nghĩa! - Quả thật, tôi không có mong ước nào hơn.

--------------
1. Sách trưởng: xã trưởng ở miền núi.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 10:36:41 pm
       
Chương ba

ĐIỂM ĐỘT PHÁ
               
Hợp pháp và bất hợp pháp
       
        Thật "cầu được ước thấy", tháng 6 năm 1960, tôi được về Trà Bồng cùng với hai đồng chí trong Tỉnh ủy Quảng Ngãi dự hội nghị vừa qua.

        Đồng chí Phạm Thanh Biền, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Võ đều nắm đường sá trong lòng bàn tay, lại có kinh nghiệm giao thiệp với dân, nên đi đường không xảy ra điều gì rủi ro.
       
        Dù sao, cuộc hành trình 5 ngày của chúng tôi không được thoải mái lắm. Phải luôn luôn ở tư thế sẵn sàng đối phó với địch. Không ai quên rằng mình đang đi giữa "vùng hợp pháp", nhân dân đang sống hợp pháp với chính quyền địch.
       
        Lại có chuyện này nữa:
       
        Một buổi chiều vào làng, tôi ra ngay máng nước, hỏi mấy cô gái đường xuống suối tắm. Các cô không thèm trả lời, làm ra bộ không biết tiếng Kinh, mắt nhìn cứ khinh khỉnh, mặt lạnh như tiền. Băn khoăn mãi, tôi mới vỡ lẽ: các cô tưởng tôi là "cán bộ quốc gia", thế có chết không! Hiểu được lý do, tôi thầm vui sướng, nhưng cũng không khỏi bối rối. Lúc đó, nên làm thế nào cho phải? Chẳng lẽ đặt tay lên trái tim mà phân trần: "Tôi là người phía mình đây", hoặc: "Tôi không phải bọn chúng nó"?
       
        Không tắm được, trở vào nhà, kể chuyện với hai người đồng chí, các anh cứ cười mãi.
       
        Cho đến một buổi sáng đẹp trời, từ trên một rẫy cao, anh Biền tươi cười chỉ vào đám rừng ở ngay phía dưới chân rẫy và nói:
       
        - Đất Trà Bồng kia!
       
        Nghe nói thế, tim tôi đập rộn ràng. Hồi hộp không chỉ vì sắp đến đích, mà còn vì sắp bước vào vùng đất lửa.
       
        Ranh giới cũng đơn giản thôi. Đó chỉ là một hàng rào tre dọc theo bìa rừng. ấy thế mà chỉ trong vài bước chân, vượt qua một cánh cổng tre, chúng tôi đã bước vào một thế giới hoàn toàn khác: vùng bất hợp pháp.
       
        "Bất hợp pháp" như thế nào?
       
        Đồng chí Biền ngoái lại, bảo tôi nhìn kỹ dọc hàng rào. ở đó tua tủa những chông là chông, ngắn có dài có, ngụy trang khéo đến nỗi ban nãy tôi không hề trông thấy. Câu trả lời đó, thật giản dị nhưng lại là một minh chứng hùng hồn!
       
        Từ nơi này, chúng tôi đi vào một con đường đầy chông. Có đoạn đường hẹp, một bên là vách đá cao, một bên là vực thẳm, bờ vực cắm chông tre dày đặc, nhìn lâu phát chóng mặt. Một đoạn khác đầy hố chông ngầm, đánh dấu theo một lối riêng, chỉ người địa phương mới biết được. ở đoạn này, anh Biền và anh Võ dặn kỹ tôi phải đi theo từng vết chân của hai anh, không được bước chệch ra ngoài.
       
        Về sau tôi mới biết thêm rằng phía trên đầu chúng tôi còn có bẫy đá và phía hai sườn có đủ mọi loại "thò" (lao bay). Sở dĩ hai người bạn đồng hành chưa cho biết vội vì ngại tôi căng thẳng thần kinh.
       
        Trong vòng hơn nửa ngày đi dọc con "đường chông", thấy một loạt khu dân cư chỉ còn là đống tro tàn, tôi sửng sốt hỏi:
       
        - Địch đốt hết nhà ở vùng này hay sao?
       
        Anh Biền điềm tĩnh đáp:
       
        - Không những đốt hết vùng này, mà đốt gần hết huyện Trà Bồng. Chín mươi chín phần trăm số nhà cửa ở Trà Bồng (không kể thị trấn) đã bị thiêu hủy vì chính sách "đốt sạch, phá sạch, giết sạch" của Mỹ - Diệm. Có lẽ từ hồi kháng chiến chống Pháp tới nay, chưa có huyện nào bị đốt nhà nhiều như vậy!


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2016, 10:40:14 pm
        
Làng Búp
       
        Chiều muộn, chúng tôi tìm vào một nóc (xóm) sơ tán để nghỉ qua đêm. Nóc này ẩn sâu trong rừng, cách xa mươi phút đường đi đã có chông thò bố phòng.
        
        Theo tập quán địa phương, đồng bào làm một nhà sàn dài chung cho cả nóc. Nhà chia thành nhiều ngăn, mỗi bếp (hộ) chiếm một ngăn. Phía trước các ngăn là một hành lang dài. Hành lang lát mò o (một loại tre bương) cũng là nơi đun bếp và ăn, ngủ.
        
        Anh Võ cho biết nóc này thuộc làng Búp, gọi là "nóc ông Tài".
        
        Cụ chủ nóc niềm nở bắt tay chúng tôi, đặc biệt nắm lấy vai anh Biền và anh Võ mà lắc thật mạnh và cười hiền hậu, tỏ dấu nhận ra người thân quen.
        
        Trong dân tộc Kor, già làng Tài là một trong những vị bô lão được đặc biệt kính trọng. Trên tám mươi tuổi, cụ vẫn còn khỏe mạnh và vẫn góp sức trông nom mọi việc của dân làng, kể cả đánh địch. Cũng sống lâu và có uy tín như cụ còn có cụ Gia ở xã Trà Nham, lúc này đã trên trăm tuổi, các cụ Toa và Vinh ở xã Trà Lãnh, trên sáu, bảy mươi tuổi… Xã Trà Lãnh còn có cụ Triều cũng rất khỏe và vui tính, nhưng trong khi làm nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng đã bị bọn Diệm bắt tra tấn và xử bắn cách đây không lâu.
        
        Các cụ đều là những người chỉ huy "quân Nước thần", lực lượng nghĩa quân của dân tộc Kor chống thực dân Pháp trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đến thời kỳ chống đế quốc Mỹ và tay sai, các cụ vẫn giữ vai trò thủ lĩnh.
        
        Nhân dân làng Búp hầu hết là con cháu hoặc bà con xa gần của cụ Tài. Hiện nay cụ ở với bếp người con trai cả, và bếp này đã khá đông. Đến bữa cơm tối, già trẻ lớn bé hàng chục người xúm xít nhau quanh rá cơm và một nồi canh to. Ba chúng tôi là khách quý, được ngồi riêng một mâm với cụ Tài và anh chủ nhà.
        
        Nói là "cơm", thực ra là sắn cõng cơm. Chúng tôi có ý nhường cơm cho cụ già, chỉ gắp sắn.
        
        Sẵn gói muối mang theo, chúng tôi nêm canh và biếu các bếp, mỗi bếp một ít.
        
        Vào lúc này, muối ở Trà Bồng hết sức khan hiếm. Muối dự trữ không đủ phân phối cho dân. Tỉnh và huyện đã tìm hết cách, nhưng không dễ gì tiếp tế muối cho cả huyện trong hoàn cảnh bị địch bao vây ráo riết.
        
        Nghe đồng bào ở nóc này kể chuyện, tôi hiểu rõ thêm tình trạng thiếu muối ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày ra sao. ăn nhạt mấy hôm đã thấy chân tay mỏi rã rời, leo dốc không nổi, phát rẫy thì rựa tuột khỏi tay. Người già, mắt đã mờ càng thêm mờ. Trẻ con quấy khóc, cho nó vài hạt muối là nó nín ngay.
        
        Quanh bếp lửa hồng, khi đề cập tới những khó khăn trong chiến đấu - đặc biệt khó khăn về muối - thì dân nóc ông Tài đều trầm ngâm. Thật cũng khó mà biết được tình trạng lạt muối, đói cơm, thiếu áo, thiếu chăn… sẽ còn kéo dài bao nhiêu lâu nữa!


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:20:27 am
       
Nước thần
       
        Ghé làng Búp, tôi không ngờ có may mắn được đến một đất thiêng: một làng chiến đấu chống Pháp rồi chống Mỹ, giữ vững tự do suốt 22 năm qua.
       
        Năm 1938, có tin lan truyền khắp các làng: tại một vùng đất thiêng ở Kon Tum có dòng "Nước thần", xoa nước ấy vào người thì đạn bắn không thủng. Muốn thỉnh Nước thần, chỉ cần có xu đồng (vì vậy phong trào này cũng gọi là "Nước xu"). Dân các làng bèn cử người mang xu đồng và lọ đựng nước ra đi. Thay mặt dân làng Búp, già làng Tài cũng ra đi.
       
        Băng rừng vượt núi hàng chục ngày trời, những người đi thỉnh nước thần mới tìm được tới vùng Đak-rơ-bar ở Kon Tum. Tại đây, họ gặp cả người Ba Na, người Xê Đăng, người Ka Dong,… có thù sâu với thực dân Pháp. Ai nấy lặng lẽ và thành kính đợi tới lượt mình làm lễ.
       
        Một số vị thầy cúng, mặt che kín, áo quần sặc sỡ, trang nghiêm đưa vạt áo nhận các đồng xu và chai lọ mang vào một nơi huyền bí nào đó rồi quay ra với những lọ nước đầy, làm phép xoa Nước thần lên trán mỗi người,…
       
        Và thế là mùa hè 1938, quân khởi nghĩa của dân tộc Kor bắt đầu hành động. Họ chia làm bốn cánh do các già làng Tài, Gia, Chân, Phú chỉ huy, tấn công thẳng vào đồn châu lỵ Trà Bồng (châu: huyện miền núi thời Pháp thuộc).
       
        Tất nhiên, "Nước thần" không thiêng như người ta tưởng. Nghĩa quân phải rút lui với một số thương vong lớn do súng đạn Pháp gây ra. Một số bị bắt vào nhà lao Trà Bồng.
       
        Cuộc tập kích đồn Trà Bồng lần thứ hai vào năm 1942 cũng bị thất bại.
       
        Thất vọng khá chua chát, nhưng cụ Gia và cụ Tài vẫn mỗi người lãnh đạo một phần lực lượng còn lại, xây dựng căn cứ, kiên quyết tiếp tục kháng chiến. Già làng Gia xây dựng căn cứ du kích ở vùng núi Cà Đam. Còn già làng Tài, sau khi trưng cầu ý dân, đã đưa làng Búp lên đầu con sông Tăng để chiến đấu lâu dài.
       
        Cho tới tháng 8 năm 1945, hai cụ đều kéo quân về huyện lỵ Trà Bồng, tham gia cuộc tổng khởi nghĩa của các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:23:14 am

Nguồn "Nước thần" hiệu nghiệm
       
        Rất dễ hiểu là những thủ lĩnh tuyệt đối trung thành với dân tộc ấy đã cùng với đồng bào Kor tỏ thái độ chống đối quyết liệt khi bọn thực dân mới và tay sai lăm le đặt ách thống trị của chúng lên đất Trà Bồng.
       
        Đấu tranh chống khủng bố, chống xâu thuế,… liên tục nổ ra. Không một thanh niên Kor nào đi lính cho Mỹ - Diệm. ở nhiều nơi địch "tố cộng" gay gắt, nhân dân vẫn đưa được người của mình ra làm việc dưới danh nghĩa ngụy quyền, thậm chí có lần đưa được người ra làm quận phó Trà Bồng. Khá nhiều làng, trong đó có làng Búp, vẫn hoàn toàn do nhân dân tự quản.
       
        Cụ Gia, cụ Tài và các già làng yêu nước khác nóng lòng muốn dùng tới vũ khí. Họ nói: "Mỹ - Diệm như dây chùm gởi, để lâu không chặt thì chúng sẽ quấn riết vào cây lớn (nhân dân)".
       
        Đó là một câu nói chí lý và những người lãnh đạo phong trào Quảng Ngãi cũng nghĩ như vậy.
       
        Một cuộc thỉnh "Nước thần" mới trở thành bức xúc. Có điều lần này không đi Đak-rơ-bar nữa, mà đi về hướng…. Đỗ Xá.
       
        Giữa năm 1957, sau khi nghiên cứu tài liệu "Đề cương cách mạng miền Nam" (do một đồng chí lãnh đạo cao cấp của cách mạng miền Nam viết) và mạnh dạn áp dụng ở miền núi một số hình thức chiến đấu như diệt ác ôn, bố phòng chống địch,… để giữ phong trào và phát triển cơ sở cách mạng, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã cử hai cán bộ về cơ quan Khu ủy Khu 5 (lúc đó đóng ở vùng rừng núi Quảng Nam) báo cáo tình hình và xin chỉ thị. Đến đầu năm 1958, Tỉnh ủy lại cử hai cán bộ khác có vai trò chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo, trong đó có anh Phạm Thanh Biền, về Khu ủy báo cáo và xin chỉ thị một lần nữa.
       
        Đứng đầu cơ quan Khu ủy Khu 5 lúc đó là đồng chí Trần Lương (tức Trần Nam Trung, về sau là Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa miền Nam Việt Nam) mà anh em trong cơ quan gọi là "Anh Hai". Cuộc trao đổi ý kiến giữa anh Hai và hai cán bộ Quảng Ngãi được ghi lại trong sổ tay riêng của anh Biền như sau:
       
        Anh Hai - một trong những người đã lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ tháng 3 năm 1945 và đã từng bị giam ở nhà lao Trà Bồng trước Cách mạng Tháng Tám - lần này hỏi kỹ hơn lần trước về các biểu hiện của cán bộ và quần chúng hưởng ứng chủ trương vũ trang, yêu cầu phân tích kỹ nhận định của tỉnh "đã có đủ điều kiện để khởi nghĩa cục bộ", bàn bạc kỹ với Thường vụ Khu ủy, rồi nói lên suy nghĩ của anh:
       
        Nhận định của tỉnh là đúng, đó cũng là gợi ý của Trung ương và Khu ủy cũng hoàn toàn nhất trí như vậy.
       
        Đứng trước một kẻ thù tàn bạo đang quyết liệt dùng bạo lực phản cách mạng để tiêu diệt cách mạng, không đấu tranh bằng bạo lực cách mạng của quần chúng không thể giữ vững và phát triển phong trào.
       
        Anh góp thêm ý kiến cụ thể vào đề án chuẩn bị khởi nghĩa của tỉnh:
       
        Trước đây, đã khởi nghĩa ở Ba Tơ. Ngày nay khi thế và lực cách mạng đã mạnh hơn ở phía Bắc, vùng cao Trà Bồng và Sơn Hà có thể là nơi nổi dậy trước tiên. ở đó ngoài địa thế hiểm trở, địch sơ khoáng nhiều, vấn đề quan trọng là nhân dân có tinh thần dân tộc rất cao luôn luôn chống ngoại xâm, cho nên địch không thể nào cấy được cơ sở, không có người nào đi lính cho địch. Tinh thần đoàn kết Kinh - Thượng ở đó rất tốt.
       
        Trà Bồng sẽ là Ba Tơ ngày trước, núi Cà Đam sẽ là Cao Muôn năm xưa.
       
        Với phương hướng đó, ngày 7 tháng 7 năm 1958, nhân dân dân tộc Kor mở Hội nghị đại biểu tại Gò Rô (xã Trà Phong) để bàn chuyện đánh Mỹ - Diệm.
       
        Đến giữa năm 1959, việc phổ biến Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng càng soi sáng đường đi cho cán bộ và nhân dân Quảng Ngãi, cho dân tộc Kor.
       
        Hạ tuần tháng 8 năm 1959, Mỹ - Diệm bắt nhân dân đi bầu cử "quốc hội" bù nhìn. Đã có chủ trương và chuẩn bị từ trước, toàn bộ các thôn xã ở Trà Bồng tẩy chay cuộc bầu cử. Mỹ - Diệm đưa quân đội đến đàn áp và thế là nhân dân toàn huyện đứng lên cầm vũ khí chống lại.
       
        Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng nổ ra từ ngày 28 tháng 8 năm 1959.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:28:08 am
        
Những vũ khí lợi hại
       
        Trong thời gian hơn một tháng tôi ở Trà Bồng, địch mở mấy cuộc càn quét liên tiếp, đều bị đánh lui.
        
        Tính từ ngày Trà Bồng đồng khởi đến tháng 6 năm 1960, sư đoàn 2 ngụy cùng nhiều đơn vị biệt kích, bảo an đã mở 3 cuộc càn quét lớn và trên 40 cuộc càn vừa và nhỏ, đốt gần sạch huyện, giết và làm bị thương 60 đồng bào ta, cướp hàng chục tấn lúa, trên 300 con trâu… Trà Bồng - với diện tích 325 ki-lô-mét vuông và gần 17 nghìn dân - chẳng khác một hòn đảo bị biển giặc bao vây trùng trùng, bủa sóng dồn dập.
        
        Tuy nhiên, "đảo lửa" này trụ vững, không những thế, ngày càng khởi sắc.
        
        Chủ yếu với lực lượng thanh niên dân tộc Kor và Hrê, và dần dần được sự chi viện của cấp trên về cán bộ chỉ huy, về súng đạn, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã xây dựng được tại đây 3 đại đội bộ đội địa phương với các phiên hiệu: c339 (ra đời ở chân núi Cà Đam ngày 3-3-1959), c89 (thành lập ngày 19-8-1959) và c299 (thành lập ngày 2-9-1959).
        
        Các đơn vị đều đã lập công trong các cuộc chống địch càn quét, các trận tiêu diệt hoặc bức rút đồn bốt địch quanh quận lỵ Trà Bồng và đều có đóng góp tích cực vào việc sản xuất tự túc cùng các hoạt động văn hóa - xã hội ở vùng căn cứ, nên được đồng bào rất tin yêu.
        
        Đồng thời, các làng chiến đấu ngày càng dày dạn kinh nghiệm đối đầu với địch.
        
        Tôi đến xã Trà Lãnh, nơi có những làng và những nóc chiến đấu vững chãi. Non nước cỏ cây ở đây thật nên thơ. Con suối lớn Tầm Rung trong vắt tận đáy, trôi êm ả giữa thung lũng quanh co, soi bóng mây trời. Núi đồi ven thung lũng vừa đường bệ vừa hiền hòa với sắc xanh của rẫy và rừng lộng lẫy dưới nắng. Dường như ở đây chỉ có sự bình yên…
        
        Nhưng người phóng viên luôn được nhân dân nhắc nhở hãy rời bỏ sự mơ mộng, hãy chớ vì mải mê với phong cảnh hữu tình mà lạc bước giữa "mê hồn trận" của Trà Lãnh dành cho kẻ thù.
        
        Quả thật, tôi chưa từng thấy ở đâu có những trận địa độc đáo như vậy, nhất là trận địa chông thò.
        
        Chông thò ở khắp nơi, dọc đường đi, trên rẫy, trong rừng, quanh nhà ở, cạnh kho lúa, máng nước… Chông trên mặt đất, chông ngầm dưới đất, chông dưới nước, chông trên không.
        
        Này đây, một "chông quả lắc" vắt lơ lửng trên cành cây. Hãy tưởng tượng quả chùy bằng chông ấy bung ra, quật đi quật lại vào đầu lũ giặc.

        Đây nữa, một "chông dây" thả lơ lửng theo dòng suối. Thấy bãi chông trên bờ, vòng xuống suối, sẽ có những thằng giặc sa bẫy.
        
        Thò còn ghê gớm hơn nữa.
        
        Đồng chí chi ủy viên kiêm ủy viên ủy ban tự quản xã đưa tôi đi tìm hiểu về xã chiến đấu của đồng chí đã có nhã ý điều khiển cho tôi xem một giàn thò 12 mũi. Giàn thò này được bố trí hết sức bí mật ở ven đường đi. Hệ thống điều khiển được làm bằng một loại dây rừng đặc biệt, vừa mảnh vừa chắc. Từ xa 15 mét ấn một cái cần, lập tức cả 12 mũi thò lao đi vun vút, những mũi nhọn ấy với tốc độ ấy chắc hẳn giết voi chết tươi chứ đừng nói tới người!
        
        Chính từ xã Trà Lãnh mà phong trào đánh giặc bằng chông thò đã lan khắp huyện Trà Bồng và cách đánh không ngừng phát triển phong phú. Khi nhân dân Trà Bồng nêu khẩu hiệu: "Mỗi nóc là một ổ tác chiến", chắc hẳn mọi người phải nghĩ trước tiên tới chông thò.
        
        Một thứ vũ khí khác người ta không thể không nghĩ tới là… thơ.
        
        Hầu như xã nào cũng có thơ ca chiến đấu do cán bộ thôn xã hoặc người già sáng tác và truyền miệng theo nhịp "Xà ru" (một làn điệu dân ca địa phương).
        
        Một bài thơ cảnh tỉnh những kẻ đi theo giặc:

                                     "Anh ở bất lương sao anh không nghĩ,
                                     Anh ăn đồng tiền Mỹ, anh chẳng biết suy,
                                     Anh đi xe Mỹ, anh không biết nhớ,
                                     Núi rừng này biết nhớ, biết ghi.
                                     Suối nước Trà Vang có bóng anh trong đó,
                                     Rừng núi Trà Bồng, dấu chân anh còn đó!
                                     Thương anh, nhiều lần dân chỉ rõ
                                     Thống nhứt nước nhà, anh sẽ trốn đâu?
                                     Anh núp bụi lách? Bụi lách cũng trống,
                                     Anh núp bụi tre? Bụi tre cũng kêu.
                                     Anh chun xuống nước? Nước Trà Vang trong lắm.
                                     Anh bay lên trời? Anh không phải con diều hâu.
                                     Anh sẽ ra sao khi nhân dân ta còn đó?".

        
        Và sau đây là bốn câu kết của một bài thơ dài, nói lên tấm lòng đồng bào đối với Đảng, với chế độ mà đồng bào từng được sống những năm kháng Pháp:

                                     "Hiện nay nhân dân miền Nam không còn ai sợ Mỹ
                                     Hiện nay chiến sĩ miền núi chẳng còn ai sợ Diệm
                                     Hãy đoàn kết chặt chẽ như năm ngón trên bàn tay!
                                     Hãy đứng lên, những ai muốn Mặt trời xưa trở về."



Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:39:04 am
       
Đêm liên hoan
       
        Chắc chắn rằng người dân đang sống dưới ách kìm kẹp của chính quyền Diệm ở vùng đồng bằng Quảng Ngãi nhìn lên căn cứ cách mạng Trà Bồng với rất nhiều tin tưởng, hy vọng.
       
        Khi tờ báo "Thống nhứt" của tỉnh lần đầu tiên được in máy ở căn cứ và đưa xuống đồng bằng, một "cơ sở" của ta vừa ngắm nghía tờ báo vừa cười vui và nói với cán bộ ta:
       
        - Cái hồi hắn bắt đầu khủng bố, mấy anh chỉ làm được bản tin viết tay. Hắn khủng bố thét, lại có tờ báo in đá. Bây giờ hắn khủng bố dữ hơn hồi mô hết, kéo máy chém đi khắp nơi, tờ báo đã in máy rồi!
       
        Đó là tờ báo dành cho đồng bằng, nội dung còn nặng về vạch trần tội ác và âm mưu địch, hướng dẫn đấu tranh. Chứ tờ "Đoàn kết" lưu hành ở miền núi thì thật đa dạng về đề tài: tin chiến sự, tin binh vận, tòng quân, mẩu chuyện tình quân dân, gương thi đua sản xuất, giữ vệ sinh phòng bệnh,…
       
        Qua tờ báo cũng có thể biết được rằng tại một số xã, phụ nữ giữ những vai trò chủ chốt trong chính quyền. Chị Phó chủ tịch ủy ban tự quản xã Trà Xinh không chút lưỡng lự khi trả lời nhà báo:
       
        - Đành rằng nắm chính quyền phải gian khổ, phải thức khuya dậy sớm, chạy lo từng hột muối, viên thuốc, cây chông… Nhưng lúc nào cũng vui vì mình làm cho mình. Chẳng còn ai trói chân tay mình, chẳng còn ai bịt miệng mình. Mình được tự do!
       
        … Một đêm hè đầy sao sáng, tôi lắng nghe người dân Trà Bồng hát lên những bài ca tự do của mình.
       
        Trên đường hành quân, Đại đội 339 tổ chức liên hoan với nhân dân một làng chiến đấu.
       
        Mọi người ngồi thành vòng tròn lớn trên thảm cỏ, lần lượt thưởng thức những tiết mục do các chiến sĩ tự biên tự diễn. Người đi xem mang theo cả chiêng trống và đàn brồ ô1, sẵn sàng góp vui.
       
        Không ngờ khả năng văn nghệ ở đây dồi dào đến như vậy!
       
        Xà ru dịu dàng nhưng thôi thúc cầm vũ khí.
       
        Bài chòi trầm hùng, vạch tội ác kẻ thù.
       
        Kịch vui "Rựa cuốc một nhà" và "Khuyên chồng tòng quân" đóng rất khéo, nam cải trang thành nữ cũng rất khéo, làm cho mọi người cười tức bụng.
       
        Nhảy múa theo nhịp chiêng trống. Lại nhảy múa nữa, lôi cuốn cả khán giả.
       
        Hết tiết mục này đến tiết mục khác, ai nấy mê mải xem, mê mải góp vui, không muốn ra về.
       
        Trên mảnh đất bất khuất của những nghĩa quân "Nước thần" xưa, các nghĩa quân chống Mỹ đốt lên một đống lửa lớn.
       
        Cùng với tiếng chiêng trống rộn ràng, ngọn lửa bốc cao, tàn lửa như vút lên đến tận trời sao.

--------------
1. Đàn brồ ô: Một loại đàn ở địa phương, có bầu và hai dây.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:44:01 am
       
Chương bốn

CĂN CỨ PHÍA TRƯỚC
               
Dưới trời thu
       
        Mùng 2 tháng 9.
       
        Hà Nội có nắng dịu xen mưa nhỏ vừa đủ tưới đẫm phong lan. Hồ Gươm soi bóng cờ đỏ rực. Các đường phố loáng nước cũng rực ánh cờ sao. "Trái tim của cả nước" đang tưng bừng nhịp đập chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
       
        Tại quảng trường Ba Đình, cuộc diễu binh đang tiến hành. Đi đầu là quân kỳ với Huân chương Quân công lấp lánh. Tiếp theo là bộ binh, hải quân, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ, đi đều bước thành từng khối hùng dũng. Rồi tới đoàn mô-tô và đoàn xe của pháo binh, vành bánh xe sơn trắng, lướt tới trong đội ngũ, trang trọng, thong dong.
       
        Này là đoàn quần chúng sôi nổi như sóng cồn với cơ man nào là cờ, hoa, bong bóng màu và tiếng hò reo dậy đất vang trời. Một loạt thiếu niên cùng tuổi 15, sinh đúng vào năm mở nước, hôm nay có hạnh phúc đi thành đoàn lớn ở hàng đầu, biểu dương sức trẻ và tương lai tươi sáng của Tổ quốc.
       
        Và trên lễ đài cao, Bác Hồ và các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước vui cười giơ tay vẫy mãi không thôi,…
       
        Chúng tôi thấy rõ tất cả những cảnh đó. Đúng thế "thấy" rất rõ, và còn bị cuốn hút vào đó nữa kia… mặc dù đang ở cách xa Hà Nội hàng nghìn cây số, giữa một nơi đèo heo hút gió.
       
        Tám người chúng tôi - bảy đồng chí của huyện Hòa Vang và tôi - đang chụm đầu quanh một máy thu thanh bán dẫn. Máy chỉ mở vừa đủ nghe, vì nơi này cách đồng bằng - vùng địch còn kiểm soát chặt chẽ - chẳng xa bao lăm.
       
        Đây là căn cứ phía trước của huyện Hòa Vang. Nó ở rìa Trường Sơn, còn hậu cứ - với cơ sở sản xuất tự túc - thì ở sâu trong núi. Từ nơi đây, cán bộ Hòa Vang đêm đêm trở về công tác ở đồng bằng.
       
        Đường đi tới căn cứ này khá vất vả. May mà tôi tới kịp để có một nơi ấm cúng mừng ngày hội lớn của dân tộc.
       
        Anh Hai Chơn - Bí thư Huyện ủy, các anh Mười Cách và Đán, thường vụ huyện, chưa ra Bắc lần nào, nhưng các anh nói chuyện kiến thiết miền Bắc rành rọt như tự tay các anh tham gia vào đó vậy. Tới bữa trưa ăn tươi, cao hứng vì không khí ngày lễ, các anh còn tính tới chuyện dựng một nhà máy thuốc lá ở đầu cầu Cẩm Lệ, mở mang việc xuất khẩu nước mắm Nam Ô, lập cơ sở du lịch quốc tế ở núi đá hoa Non Nước,…
       
        Chắc chắn đó là những ước mơ khiêm tốn, vì nghĩ cho kỹ, tương lai huyện Hòa Vang - huyện tiếp giáp với thành phố cảng Đà Nẵng - còn tráng lệ hơn thế nhiều. Nhưng khi người ta còn sống ở căn cứ bí mật trong núi thì mơ ước tới mức đó cũng là vừa, hẳn thế.
       
        Căn cứ này vì quá gần địch nên nhà không có, lều cũng không. Suối ở xa, mỗi lần lấy nước phải mang thùng và bi-đông đi về khoảng mươi phút.
       
        Về đây mấy hôm, tôi mới biết xung quanh nơi ở có hầm bí mật. Cả gạo và thức ăn cũng được cất giấu trong hầm. Bữa ăn tươi mà tôi vừa nói - gồm cá hộp nấu mì sợi, nước mắm Nam Ô nguyên chất và mắm thơm (dứa dầm mắm cái) lấy từ dưới hầm lên.
       
        Bảy đồng chí ở đây đều mạnh khỏe, tươi tắn. Đặc biệt, ba chiến sĩ đội vũ trang công tác còn trẻ măng, có đồng chí vạm vỡ như một lực sĩ và cả ba luôn luôn mặc quân phục chững chạc, lúc ở nhà cũng như lúc đi công tác. Ngắm các đồng chí, tôi không khỏi buồn cười liên tưởng tới câu nói bọn ngụy thường rêu rao: "Cộng sản bảy người níu một cành đu đủ không gãy".


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:48:36 am
           
Nỗi khổ tâm lớn nhất
       
        Vùng núi tiếp giáp ranh giới đồng bằng, cán bộ Khu 5 quen gọi là "vùng giáp ranh".
       
        Các vùng giáp ranh thường có nhiều thú dữ. Đêm nằm, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng cọp gầm ở xa xa. Mới cách đây mươi hôm, tại căn cứ huyện Điện Bàn, tôi được chứng kiến anh em bắn gục một chú gấu heo mon men vào gần căn cứ, và hôm đó mới được biết thịt gấu heo thật ngon!
       
        Có điều, thú dữ không đáng sợ bằng bọn mật thám của Mỹ - Diệm. Bọn này thường trá hình đi lẫn lộn với đồng bào làm than củi để dò la nơi ở của cán bộ ta. Chúng sục khắp các bụi bờ. Sáng sáng chiều chiều, cứ nghe tiếng nói chuyện ồn ào hoặc tiếng gọi nhau í ới của đồng bào làm than củi là cán bộ ta biết ý, lánh xa.
       
        Nhưng cũng tùy tình hình, cán bộ ta đón gặp dân - gặp từng người hoặc gặp cả đoàn - để giải thích đường lối chính sách của cách mạng, hoặc để thu nạp những thanh niên muốn gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng.
       
        Vào những lúc Mỹ - Diệm khủng bố gắt gao, cán bộ ta lo đồng bào bị tổn thất, ngược lại đồng bào lo cán bộ ta bị đói, bị tiêu diệt. Có những người mang gạo, bánh đi tìm hết núi này đến núi nọ, hết ngày này sang ngày khác, không gặp được cán bộ thì về nhà dùng lời ru con gửi gắm:

Tìm người như thể tìm chim
Chim ăn biển Bắc, đi tìm biển Đông.
       
        Thời kỳ đen tối nhất là sau khi bọn Mỹ - Diệm lật lọng không chịu tổ chức tổng tuyển cử đúng như Hiệp định Giơnevơ 1954 quy định. Chúng bắn giết người kháng chiến cũ không gớm tay. Chúng trao giải thưởng từ mười nghìn đến hai mươi nghìn đồng cho mỗi cái đầu cách mạng. Ngày lại ngày, toàn là tin dữ: người này bị giết, người kia bị bắt, kẻ nọ phản bội… Cán bộ lên núi phải sống phân tán mỗi nơi một vài đồng chí. Ban đêm xuống đồng bằng gặp dân, gần sáng trở về, nấu luôn cơm hai bữa. Cái đèn cồn lúc đó rất được việc, vì không để lại vết tích nấu nướng.
       
        Ngủ đã có võng, nhưng lúc trời mưa thì thật lúng túng. Mãi sau mới nghĩ ra cách che hai tấm nhựa choàng ngắn bên trên hai đầu võng và cuối cùng mới biết dùng tấm nhựa dài 3 mét để che toàn bộ chiếc võng. Nói thì đơn giản vậy, nhưng từ hai tấm nhựa ngắn chuyển sang tấm nhựa dài cũng phải trải qua hàng năm trời.
       
        Chuyển từ chỗ nằm võng trần đến chỗ có bọc võng giữ ấm lưng, mà lại là bọc võng bằng vải dù nhẹ và gọn, cũng mất một thời gian không ngắn hơn.
       
        Hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, "Việt Minh" thường được khen có tài mắc màn, bất cứ ở đâu cũng tìm được cách mắc màn chống muỗi đốt. Bây giờ đối với "Việt cộng", nhanh chóng xác định nơi mắc võng cũng trở thành một biệt tài. ở các vùng giáp ranh, cán bộ và chiến sĩ ta còn giỏi hơn nữa ở chỗ không để lại dấu vết nơi mắc võng.
       
        Chuyện ăn, chuyện ở là chuyện lớn, nhiều lúc trở thành bức xúc nữa kia, nhưng vẫn không phải là chuyện quan trọng nhất. Day dứt hơn cả vẫn là những câu hỏi: Làm sao giữ được cơ sở quần chúng? Làm sao có phương thức đấu tranh với địch?
       
        "Điên đầu!" - đó là lời các anh Hòa Vang diễn tả tâm trạng lúc đồng bào, đồng chí và cả bản thân bị giày xéo mà chưa có cách trừng phạt kẻ địch.
       
        Tôi càng hiểu rõ thêm câu nói của anh Năm Công: "Lúc không đánh được địch là lúc khổ nhất".


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:54:29 am
       
Lợi và không lợi
       
        Vào mùa thu năm 1960, ở khắp các huyện đồng bằng, bọn Mỹ - Diệm ráo riết xúc tiến việc lập "khu trù mật" đi đôi với "tố cộng" và thi hành luật phát xít 10-59. Chúng bắt dân dồn nhà, phá vườn, rào làng. Chúng kéo lê máy chém đi khắp nơi.
       
        Huyện Hòa Vang ở ngay cửa ngõ căn cứ quân sự Đà Nẵng, càng bị chúng để mắt tới. Từ chân đèo Hải Vân vòng qua núi Phước Tường xuống tới giáp giới huyện Điện Bàn và ra tới biển, đâu đâu cũng có rào, đồn bốt và chòi canh đan thành lưới dày đặc. Tất cả trẻ, già, trai, gái đều phải có mõ và đèn đuốc, hễ nghe "báo động cộng sản" là phải nhất loạt nổi đèn đuốc, đánh mõ la làng.
       
        Khắp nơi trong huyện, bọn Mỹ - Diệm lập ra hàng loạt trại giam trá hình mang tên "trường tố cộng". Tại những nơi này, chúng tra tấn đồng bào ta bằng những thủ đoạn hiểm độc: bắt đứng hoặc quỳ suốt đêm không được cựa quậy, bắt đánh lẫn nhau cho tới khi đổ máu, bắt ngồi trước một bàn thờ và chịu đòn vọt đến chết ngất… Chúng gọi những trò man rợ đó là "sám hối", "đấu lực" và "tống tà" (!!). Không biết bao nhiêu người bị tra tấn đến tàn phế.
       
        Ở nhiều thôn xã đã nổ ra những cuộc đấu tranh lẻ tẻ hoặc lôi cuốn hàng trăm người chống khủng bố, chống dời nhà, chống rào làng, chống lập "khu trù mật" (đồng bào gọi chệch là "khu trù mạt"). Phong trào đấu tranh chưa đồng đều, nhưng một số nơi cũng đã có những hình thức quyết liệt như: đốt phá những vật liệu rào làng, bao vây đả đảo bọn cán bộ ngụy, có nơi dùng tới những vật bén nhọn để đương đầu với địch. Một cụ già mài lưỡi rựa sắc lẻm để giữa nhà, tuyên bố chặt đầu bất cứ đứa nào dám đụng tới các cột nhà của cụ. Bọn ngụy phải gờm.
       
        Nhiều thanh niên tìm đường gia nhập các đội vũ trang cách mạng.
       
        Một số tên phản động gian ác ở xã ấp bị trừng trị, những tên khác bị cảnh cáo nghiêm khắc.
       
        Cơ sở cách mạng ở các thôn xã dần dần phục hồi và phát triển. Đồng bào vừa đánh mõ la làng vừa giấu cán bộ cách mạng ngay trong nhà.
       
        Điều phấn khởi hơn hết là đường đi nước bước của cách mạng miền Nam đã sáng rõ hơn.
       
        Anh Hai Chơn nói:
       
        - Lúc tiếp thu Nghị quyết 15 nói rõ về đấu tranh của quần chúng kết hợp với võ trang, chúng tôi như trẻ lại mười tuổi. Đưa ra thăm dò ý kiến quần chúng thì mười người như một đều nói: phải làm như vậy mới sống được.
       
        Anh lại nói:
       
        - Biết khó, làm càng không dễ, nhưng biết hướng rồi là sẽ có cách làm được.
               
        Anh Hai vẫn sống lăn lộn trong nhân dân địa phương khi hầu hết cán bộ ta đã tập kết ra Bắc. Anh đi trong các đoàn biểu tình đòi hiệp thương tổng tuyển cử, trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Lúc địch khủng bố riết, anh vẫn bám chặt cơ sở. Bọn Mỹ - Diệm dán ảnh của anh ở khắp huyện và treo giải thưởng mười ngàn đồng cho ai bắt được anh đem nộp, dù sống hay chết. Có lần, nằm trong buồng nhà một cơ sở quần chúng, anh nghe người này nói tới Mai Đăng Chơn - tên cúng cơm của anh và trầm trồ với thằng cảnh sát xã:
       
        - Chui cha, mười ngàn đồng, xài tới đời mô cho hết! Mần răng lừa bắt được lão ta, trói nghiến đem nộp lãnh thưởng thì sướng quá…
       
        Đầu năm 1959, đến công tác ở một xã gần đường số 1, anh Hai bị địch vây bắt và đưa đi giam giữ tại nhà lao Hội An. Giữa năm 1959, anh vượt ngục, lên núi.
       
        Đồng chí Bí thư Huyện ủy Hòa Vang nói năng nhỏ nhẹ và có cái cười hết sức ấm áp. Anh vừa cười vừa tâm sự:
       
        - Đứng chân ở núi có cái lợi là dễ tiến dễ thoái, nhưng có mặt không lợi là dễ nảy sinh tâm lý cầu an, co thủ, xa dân,…
       
        Vụt tắt nụ cười, anh đưa mắt nhìn xa xăm về hướng núi vươn xuống thấp.
       
        Tôi hiểu được tâm tư của anh: việc xây dựng "căn cứ trong lòng dân" ở đồng bằng và đô thị lúc này cũng cấp thiết chẳng khác việc mở rộng căn cứ địa trên rừng núi.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 07:58:29 am
       
Xuống núi
       
        Một buổi chiều, tôi theo các chiến sĩ đội công tác về đồng bằng. Chuyến đi này khá đông người, vì có mấy đoàn phối hợp.
       
        Tới căn cứ Hòa Vang được mấy hôm, tôi mới biết là ở vùng giáp ranh này không phải chỉ có bảy người, mà còn có những cơ cấu hoạt động khác nữa gắn với đồng bằng và cả với thành phố Đà Nẵng.
       
        Phong cảnh ở đây cũng không phải đơn điệu. Quanh đây có những cảnh đẹp và có những nơi sau này có thể thành di tích lịch sử nữa kia. Chẳng hạn, trên sườn núi cao có một tảng đá bằng phẳng, to rộng như một cái sân thượng, các chiến sĩ đội công tác vẫn thường ngồi ở đây nhìn về thành phố Đà Nẵng, anh em gọi tảng đá này là "Đà Nẵng". Và có những hang động đẹp, được anh em mệnh danh là "Non Nước".
       
        Trang phục của mọi người ở đây khá thanh nhã, phần lớn là màu tro hoặc màu xanh nhạt. Như vậy không phải để diện với bà con, mà đơn giản là vì mặc quần áo bà ba đen hoặc những quần áo màu sẫm khác về đồng bằng ban đêm thì khó "hòa tan" với thứ bóng tối loãng ở đó.
 
        Cũng may, tôi có cái áo sơ mi màu nâu nhạt, chiều nay khoác vào thật đúng lúc.
       
        Tưởng phóng một hơi thì xuống tới chân núi, té ra đi vòng vèo hàng tiếng đồng hồ. Hết rừng rậm tới đồi tranh, đồi sim… phải tới khi gió biển mát rượi phả vào mặt, cũng chỉ mới tới địa điểm trú quân ở trên cao.
       
        Từ nơi này, chúng tôi ngắm nhìn đồng bằng trải rộng trước mắt.
       
        Đồng quê Quảng Nam đó!

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say.
       
        Câu dân ca trữ tình nồng nàn giờ đây càng gợi lên nỗi cảm thương da diết. Mỗi cán bộ và chiến sĩ ở đây đều biết rõ dưới những mái nhà tranh với khói lam chiều hiu hắt kia, đồng bào đang sống như thế nào, đang nghĩ gì. Anh Mười và anh Đán trỏ cho tôi thấy những rào ấp chi chít và những cánh đồng lúa bị sâu cắn vàng hoe. Tất cả già, trẻ, gái, trai ở đây phải liên tục tham gia "tố cộng", không có thì giờ bắt sâu, chăm bón lúa. Rồi đây, ai không ngồi tù thì cũng phải chạy nháo nhác lên rừng xuống biển để kiếm miếng cơm ăn qua ngày.
       
        Các chiến sĩ đội công tác hẳn đã hàng chục, hàng trăm lần ngồi ở nơi này nhìn về đồng bằng. Vậy mà sao đôi mắt mỗi người đều đăm đắm như lần đầu tiên được thấy lại quê hương, muốn thu tất cả cảnh vật thân yêu vào tận đáy tâm khảm.
       
        Tôi chợt nhớ ngày nhỏ thường nghe mẹ ru:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
       
        Chiều xuống chầm chậm. Hoa dẻ rừng bắt đầu thoảng hương. Từng đàn chim bay về núi.
       
        Lại không khỏi nhớ lời ru của mẹ:

Chim bay về núi, tối rồi,
Anh không lo liệu, còn ngồi chi đây?
       
        Đúng là đã tới lúc phải lo liệu bước vào cuộc chiến đấu. Ai nấy kiểm tra lại súng, cho đạn lên nòng và tạm khóa cò. Ám hiệu được phổ biến cặn kẽ. Không khí rộn lên một lúc, rồi trở lại bình thản.
       
        Xa xa, dãy Ngũ Hành Sơn chìm dần trong sương. Từ phía đó, tôi nghe như vọng lại tiếng sóng biển rì rào.
       
        Ở hướng Đà Nẵng, một quầng sáng lớn hiện rõ trên không. Đèn điện thành phố đã ửng sáng phía chân trời xa.
       
        Trinh sát báo về: an toàn. Đã có thể rời núi.
       
        Từng tốp, từng tốp chiến sĩ lần lượt ra đi. Về tới dưới kia, họ sẽ tỏa đi khắp các ngả.
       
        Các bóng áo nhạt dần dần nhòe trong màn đêm. Chỉ còn thấp thoáng mũi súng của mấy chiến sĩ có nhiệm vụ cảnh giới.
       
        Tôi theo sát gót đồng chí Nguyễn Chiến, cán bộ huyện, bạn đường của tôi đêm nay. Hai chúng tôi lập thành một tổ, về gặp một số "cơ sở". Chiến đi nhiều lần đã quen, nên nhận rõ từng mô đá dọc con đường xuống dốc lờ mờ. Anh nhắc tôi thận trọng, tránh vấp ngã và nhất là xem lại súng, đừng để cướp cò. Tôi bắt đầu thở gấp.
       
        Bỗng tiếng ếch nhái và tiếng dế vang lên, nhói vào tim. Đồng bằng đây rồi.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:01:28 am
       
Tình dân, tình biển
       
        Chiến và tôi đi cho tới quá nửa đêm thì quay trở về căn cứ.
       
        Chuyến đi của chúng tôi không gặp bất trắc gì đáng kể. Toàn bộ số cán bộ và chiến sĩ hoạt động đêm nay có lẽ cũng vậy. Không nơi nào có tiếng đánh mõ la làng.
       
        Chỉ có một lần, chó sủa dữ. Chúng tôi vừa vượt qua một dãy rào gai, phải nằm dán xuống đất, nín thở. Lát sau, có người ra đuổi chó.

        Người ấy nói to (giọng nữ), rõ ràng dụng ý cho cả xóm đều nghe:
       
        - Bò của ai ăn lúa để chó sủa dữ quá!
       
        Chúng tôi lập tức rời nơi ẩn nấp, chạy một quãng xa, bụng thầm cảm ơn người phụ nữ lanh trí đã cứu mình.
       
        Trong đêm tối, Chiến thuộc đường như thuộc lòng bàn tay. Anh luồn lách, tránh được hết các đội tuần tra và các nơi phục kích của địch. Và anh gỡ rào rất nhanh. Tôi có cảm tưởng như nhiều bàn tay đã gỡ rào sẵn và đặt sẵn dấu hiệu báo yên, báo động.
       
        Quả tôi không lầm. Về sau, Chiến kể lại rằng do ta phát triển được nhiều cơ sở quần chúng, có cả cơ sở trong dân vệ và thanh niên cộng hòa (một tổ chức thanh niên của Diệm - Nhu), nên việc đi lại đỡ khó khăn hơn trước. Trước đây, có khi phải mất một đêm để tìm mở một lỗ rào, mở xong ngụy trang để đó, đêm sau mới quay trở lại, vào làng gặp dân.
       
        Trên đường về, Chiến giục tôi nhanh chân. Phải về tới núi trước khi trời sáng.
       
        Chúng tôi đi ven những cánh đồng lúa xơ xác, những cánh đồng thấy từ chiều qua. Thôn xóm chìm lặng sau những rặng tre mờ ảo. Bốn bề im ắng. Từ bụi rậm, một con chồn vụt ra, vểnh mõm nhìn hai người bộ hành kỳ lạ, rồi ba chân bốn cẳng lủi một hơi. Cánh vạc ăn đêm vỗ từng nhịp lạnh buốt không khí.
       
        Sương đêm thấm qua lần áo mỏng, nhưng tôi không thấy rét. Tôi vừa đi vừa nghĩ ngợi.
       
        Cuộc gặp gỡ đêm nay với mấy đồng chí và đồng bào ở vùng sau lưng địch tuy ngắn ngủi nhưng cũng giúp chúng tôi biết thêm về những âm mưu thủ đoạn của địch hiện nay, về những nỗi thống khổ đưa tới cuộc đấu tranh bất khuất và đầy trí tuệ của quần chúng.
       
        Nhưng không phải chỉ chúng tôi tìm hiểu tình hình. Đến lượt đồng bào hỏi chúng tôi:
       
        - Các anh có đủ gạo, mắm không? Mùa này ngủ ngoài rừng có lạnh không? Có thường bị sốt rét không? Bọn hắn nói đã tới tận ổ cộng sản huyện Hòa Vang và "ăn gỏi" hết các anh rồi… Cơ khổ, mỗi lần nghe tiếng súng địch nổ trên núi là nhân dân ăn không ngon, ngủ không yên.
       
        Chúng tôi cười xòa và nửa đùa nửa thật, nói với đồng bào rằng lúc chúng tôi thiếu gạo, mắm lại chính là lúc đáng mừng, vì lực lượng phát triển.
       
        Tận đáy lòng, tôi xúc động sâu sắc. Chúng tôi lo ngại cho những người hằng ngày sống giữa nanh vuốt địch, nhưng đồng bào lại lo cho chúng tôi!
       
        Về tới núi, trời còn tối. Nhưng Chiến động viên tôi leo dấn một quãng dài, tới khi mặt trời mọc mới nghỉ chân.
       
        Người bạn đường giàu kinh nghiệm của tôi tìm một mạch nước, giắt vào đấy một chiếc lá cho nước chảy thành vòi nhỏ để chúng tôi rửa mặt mũi chân tay.
       
        Ngồi một lát đỡ mệt, anh rủ tôi ăn sáng.
       
        Khi đi mỗi chúng tôi đều mang theo một chiếc ba lô. Ra đi ba lô rỗng, nhưng lúc về đã đầy ắp gạo, muối, cá chuồn khô và những thứ cần dùng khác do nhân dân mua giúp.
       
        Chiến lôi từ túi ba lô ra hai gói lá bự - quà của đồng bào.
       
        Mùi xôi nếp hương vừa thoát khỏi lá liền tỏa khắp một vùng, thơm ngát và ấm áp tình dân. Chúng tôi nhón từng ít một, chấm muối vừng, nhai nhỏ nhẻ và để dành lại một gói cho mấy đồng chí ở nhà.
       
        Vài hạt xôi rơi vung vãi, một đàn kiến lập tức kéo nhau tới khuân đi, xông xông, xáo xáo.
       
        Có tiếng cu gáy đâu đó, văng vẳng âm hưởng đồng quê…
       
        Trông chừng đã hồi sức, Chiến và tôi tiếp tục leo dốc. Chiến dẫn tôi đi vòng một đường khác về nhà. Vì vậy, lên tới một vùng rừng thưa trên cao, tôi được dịp trông thấy biển rõ hơn.
       
        Suốt đêm qua, dưới vùng sâu, không lúc nào chúng tôi không nghe tiếng vọng ì ầm của biển khơi, cái tiếng đều đều rất dễ hòa lẫn với sự im lặng của đêm dài. Bây giờ thì biển ở trong tầm mắt chúng tôi đó, xanh ngắt và chói lọi dưới ánh mặt trời ban mai.
       
        Chiến điềm tĩnh ngồi móc thuốc lá ra vấn hút. Còn tôi đứng lặng ngắm biển gần thế kia mà sao xa vời, bỗng dưng thấy cay cay ở mũi, ở mắt,…


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:05:43 am
       
"Nhảy núi"
       
        Vài đêm một lần, tôi theo cán bộ huyện hoặc đội công tác về gặp cơ sở quần chúng ở đồng bằng.
       
        Một buổi chiều, đang ngủ mê mệt sau đêm công tác thì một tiếng nổ choáng tai làm tôi giật nảy mình, bừng tỉnh dậy.
       
        Xung quanh tôi, lố nhố những người.
       
        Tưởng còn mơ màng trong giấc chiêm bao, tôi chớp mắt liền mấy cái, nhưng không, đích thị tôi đã thức giấc và vẫn đang nằm ở căn cứ huyện Hòa Vang.
       
        Giây lát sau, tôi hiểu ra: những gương mặt mới, trẻ trung kia là những thanh niên mới "nhảy núi". Đội công tác đưa họ về tới căn cứ lúc tôi đã ngủ say.
       
        Còn tiếng nổ? Có gì đâu, mấy chàng trai táy máy nghịch súng, gặp phải khẩu súng còn đạn trong nòng, nên súng cướp cò, nổ. Một chiến sĩ đội công tác đi đồng bằng về đã sơ ý không lấy đạn ở nòng ra.
       
        Cũng may, không ai việc gì. Một cái may nữa là trời đã xế chiều, những người làm than củi đã về hết, nên không bị lộ bí mật nơi ở.
       
        Anh Hai không trách móc gì đám thanh niên, chỉ cười. Anh nói:
       
        - Ít bữa nữa, các chú mặc sức mà chơi súng, ưng súng chi có súng nấy.
       
        Tất cả có mười hai người bạn mới, đều ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi.
       
        Hầu hết mặc quần ống "tuýp", nhiều người để tóc mai rậm, một số có răng vàng (nghe đâu bịt răng vàng đang trở thành "mốt" ở đồng bằng, ai không sứt răng vẫn bịt).
       
        Sau bữa cơm chiều, có mấy anh ngồi tán chuyện với nhau, cười rúc rích và tôi thoáng nghe họ nhận định về cấp bậc của từng cán bộ ở căn cứ như sau:
       
        - Ông nớ chừng mười ngàn… ông ni cũng cỡ đó… ông tê phải mười lăm ngàn là ít…
       
        Vài anh đi tha thẩn, nghêu ngao mấy điệu mang máng đài phát thanh Sài Gòn.
       
        Chiều tối, khi mắc võng, có anh loay hoay mãi không biết để hai đôi giày "săng đá" vào đâu cho khỏi ẩm ướt. Hỏi ra mới biết anh bạn vốn là hạ sĩ quan ngụy, đang nghỉ phép, biết có cán bộ về đưa thanh niên lên núi gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng, nên xin đi theo. Anh tiếc của và nghĩ lính cách mạng vẫn phải mang giày, nên vác đi cả hai đôi giày da to sù của lính "cộng hòa". Từ đồng bằng lên tới căn cứ phải đi chân không, anh bèn buộc cả bốn chiếc giày thành một túm, đeo lủng lẳng ở vai suốt đường đi.
       
        Đêm đã khuya, nhưng có mấy thanh niên còn thao thức. Đốm lửa thuốc lá lập lòe ở võng của họ.
       
        Phải chăng họ lạ chốn khó ngủ?
       
        Không, chúng tôi rất hiểu họ. Trong đêm vắng lặng, những người trai trẻ này đang nghĩ tới những điều thực sự nghiêm trọng.
       
        Trước khi ra đi, họ đã cùng gia đình bàn bạc cách khai báo với địch: đi Sài Gòn tìm bà con, đi Đà Nẵng đạp xích lô…
       
        Nhưng dễ gì bọn địch tin theo, nhất là lúc này không phải lẻ tẻ năm ba người mà hàng loạt thanh niên bỗng dưng biến mất khỏi làng. Với luật 10-59, "nhảy núi" theo cộng sản là một trong những tội lớn. Bọn ngụy quyền địa phương có thể đốt nhà, tịch thu gia sản, bắt bớ tra tấn cha mẹ, vợ con của họ.
       
        Mỗi thanh niên đều biết rõ điều đó và họ đang hết sức lo lắng.
       
        Vì sao họ ra đi?
       
        Số lớn những người trẻ tuổi này là con em gia đình cán bộ tập kết hoặc cơ sở cách mạng. Ngay lúc còn thơ ấu, đáng lẽ được cắp sách đến trường thì họ phải ngày ngày xách cơm cho cha hoặc mẹ ở tù và tận mắt thấy những cảnh xiềng xích, những cảnh đầu rơi máu chảy. Người lớn nói cho họ biết vì sao xảy ra những cảnh ấy. Càng lớn lên, họ càng hiểu thấm thía rằng sống với lũ Mỹ - ngụy thì mình càng chịu nhụt, chúng càng làm tình làm tội mình đủ điều.
       
        Đi "quân dịch", hay vào tù chịu cực hình? Hay tham gia cách mạng?
       
        Những câu hỏi này luôn đặt ra hết sức cấp thiết.
       
        Hôm trước, ở căn cứ huyện Điện Bàn, một tân binh kể lại cho tôi nghe tâm tư của anh:
       
        - Lúc bước ra khỏi nhà, tôi thấy lòng xốn xang hết sức. Từ nhỏ tới lớn, tôi có xa nhà bao giờ đâu? Bước đi vài bước, đã muốn quay trở lại. Thương vợ, nhớ con… Nhưng rồi vẫn bước. Đi khỏi làng, lại lưỡng lự, muốn lui gót. Nhưng lại thầm nghĩ: cái anh dũng của thanh niên Việt Nam để đâu? Và thế là lại dấn bước đi tới chỗ hẹn với người đưa đường…
       
        Anh vui vẻ nói thêm:
       
        - Chỉ khó cái lúc ấy thôi, anh ạ. Vượt qua được cái lúc khó khăn ấy rồi là "xuôi chèo mát mái". Bây giờ thì đi xa đơn vị một ngày cũng nhớ.
       
        Ở một thôn thuộc xã Điện Tiến (Điện Bàn), phong trào đã phát triển tới mức hầu hết con trai đều thoát ly theo cách mạng. Ban đầu "thanh niên cộng hòa" gác đường cho các thanh niên khác đi lên núi. Rồi đến dân vệ gác đường cho "thanh niên cộng hòa" đi. Cuối cùng, đến lượt dân vệ cũng đi hết. Còn các cô gái trong thôn thì hết sức băn khoăn không biết cách mạng có tuyển bộ đội gái không, nếu có là các cô xin đi ngay.
       
        Tôi chưa có dịp nói chuyện sâu với các tân binh Hòa Vang, và đêm nay cố đoán biết tâm tình của từng người.
       
        Ví như hai anh bạn thợ rèn đã mang cả đồ nghề lên núi kia, họ mơ ước gì về cái công binh xưởng du kích mà họ sắp tham gia?
       
        Và chàng cựu chuẩn úy kia nữa, anh nghĩ gì về cuộc sống gian khổ sắp tới ở chiến khu? Chỉ bảy ngày nghỉ phép ở nhà, anh bắt liên lạc như thế nào với cán bộ mà kịp chuẩn bị cả võng vải mang lên núi?
       
        Nghĩ cho cùng, những người trai trẻ này có gì đâu khác với những người đi trước họ về tấm lòng hướng theo cách mạng.
       
        Cũng ở huyện Hòa Vang này thôi, cách đây vài tháng, đã xảy ra một chuyện vô cùng cảm động.
       
        Có 11 thanh niên tự động rủ nhau tìm đường lên căn cứ cách mạng. Không ngờ, bọn công an Diệm dò biết. Chúng nấp sẵn ở chỗ hẹn. Và thế là tất cả số người trai trẻ ấy đã sa lưới chúng.
       
        Một người vùng chạy. Bọn địch bắn theo. Có anh bị thương nặng, nhưng trước khi gục ngã còn ráng sức hô: "Đả đảo Mỹ - Diệm!".


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:12:20 am
       
Hậu cứ
       
        Tới mùa trăng, cơ quan huyện Hòa Vang để lại đồng bằng vài đồng chí thường trực, còn tất cả rút về hậu cứ tham gia sản xuất.

        Ở hậu cứ, có nhà cửa đàng hoàng. Anh em ở đây đan sẵn một số cót, bồ và giỏ. Số mới về - trong đó có những thanh niên mới lên núi - chỉ đan thêm một ít dụng cụ là có thể bắt tay vào suốt lúa (theo tập quán nhiều vùng trên Trường Sơn, đồng bào không dùng liềm hái để gặt lúa, chỉ dùng hai bàn tay tuốt từng bông lúa. Vậy suốt lúa có nghĩa là thu hoạch lúa).
       
        Hoàn toàn khác với đồng bằng đang mất mùa, mùa lúa rẫy năm nay khá tốt. Nhìn những bông lúa trĩu hạt của hậu cứ huyện Hòa Vang, tôi không khỏi nhớ cái rẫy của cơ quan "Đỗ Xá" mà tôi có góp một phần nhỏ công sức từ lúc phát cỏ, ngã cây. Xa cơ quan đã bốn tháng rồi, tôi không rõ "Đỗ Xá" nay ở đâu, liệu có người trở về thu hoạch lúa không, hay giao cho nhân dân địa phương…
       
        Cơ quan Hòa Vang làm hai rẫy lớn, cách nhau vài sườn đồi, xen với rẫy của dân. Thỉnh thoảng, đồng bào đến giúp anh em suốt lúa, anh em lại cử người đi giúp đồng bào đuổi chim, thú phá lúa.
       
        Phần lớn anh em chúng tôi chưa quen suốt lúa, nên hai bàn tay rát bỏng. Nơi lúa tốt lại là nơi nhiều tranh mọc xen, có mấy anh không cẩn thận bị tranh cứa nát tay.
       
        Tuy nhiên, ai nấy đều hăng hái. Mỗi người đeo một cái giỏ lủng lẳng trước ngực y hệt đồng bào địa phương, anh em thi đua xem ai tuốt nhanh hơn, mau đầy giỏ hơn.
       
        Lúa suốt tới đâu phơi tới đó, phơi ngay ở rẫy, rồi được đưa đi cất giấu ở kho bí mật trong núi.
       
        Có lúa mới, anh Hai nêu ý kiến làm một bữa mì Quảng để mừng được mùa, chiêu đãi những bạn mới, và vui Tết Trung thu. Vì bữa mì có nhiều ý nghĩa như vậy cho nên không ai có thể từ chối. Và thế là phân công giã bột, xay bột, tráng bánh, kiếm rau sống, làm thịt heo…
       
        Anh Hai tự tay làm nhân mì và coi sóc nồi nước dùng. Anh tỏ ra nấu nướng khéo và sành ăn. Anh phê phán từng quán mì trong huyện và vừa làm bếp vừa thuật lại những mẩu chuyện dí dỏm. Thêm mấy "cây tiếu lâm" mới tới, kể chuyện cứ tỉnh khô, làm anh em cười vang nhà, cười tới chảy nước mắt.
       
        Tối đến, sau bữa liên hoan, chuyện vẫn còn rôm rả. Nhưng càng về khuya, trăng lên cao, "Tiếng nói Việt Nam" lại hấp dẫn hơn, và ai nấy không thể không lắng nghe.
       
        "Tiếng hát gửi về Nam" đang vang ngân, dịu ngọt, tha thiết.

Đạp chân lên dấu chân người vắng bóng,
Trồng cây hoa bên dấu chân của người…1.
       
        Nỗi nhớ thương của nhân dân một buôn nào đó ở Tây Nguyên khi vắng bóng người cán bộ cách mạng thật day dứt làm sao! May thay, những ngày u buồn ấy qua rồi. Núi rừng giờ đây rộn rịp bước chân chiến sĩ cũ và mới và đã tới lúc "Buôn làng em bắc thêm cần rượu"2 mừng căn cứ ta đông vui, chuẩn bị đón chiến thắng không còn xa.
       
        Có một bài hát nói về hy vọng "Đồng bào miền Nam, hãy hy vọng!". Câu nói đó của đồng chí Phạm Văn Đồng sau Hội nghị Giơnevơ, nhân dân miền Nam vẫn đinh ninh ghi nhớ. Và phải chăng bây giờ hơn bao giờ hết, hy vọng sưởi ấm lòng người?
       
        Trăng lên cao hơn, sáng hơn.
       
        Chiếc máy thu thanh - đã được vặn nhỏ - vẫn hát bài này sang bài khác, sau đó đọc tin rồi ngâm thơ và lại tiếp tục hát.
       
        Tôi tưởng có người ngủ quên, định tới tắt hộ máy. Nhưng không, một đôi mắt vẫn mở to trong đêm, kèm với một cái cười tươi rói:
       
        - Chui cha, "mùi" quá đi anh ơi!
       
        Tôi ngồi xuống bên cạnh anh bạn, chia sẻ niềm rung động của anh… Ờ, thảo nào gần đây không thấy mấy người bạn trẻ nỉ non những điệu của đài Sài Gòn nữa!
       
        Cuối tuần trăng, một tin vui bay về căn cứ làm nức lòng người.
       
        Hai chiến sĩ của đội công tác Hòa Vang bằng một loạt đạn tiểu liên đã giết chết tên chi trưởng công an quận Hiếu Đức3 ngay tại nhà riêng của hắn. Hai anh đặt lên người hắn bản cáo trạng, sau đó trở về núi an toàn với khẩu súng ngắn của hắn, một số tài liệu và một cái máy thu thanh của chi công an ngụy.
       
        Lúc đó, không ai có thể đánh giá đầy đủ tầm quan trọng của sự kiện này.
       
        Nhưng sau một thời gian thì có thể xác định rằng việc trị tội tên chi trưởng công an quận Hiếu Đức là mở đầu cho phong trào nhân dân Hòa Vang nổi dậy diệt ác, phá kềm, từng bước giành quyền làm chủ các thôn, xã.
       
        Và tình hình đó cũng tạo thuận lợi hơn cho Hòa Vang huy động nhân tài, vật lực đưa lên Trường Sơn, góp phần củng cố và phát triển vùng đất cách mạng.
       
---------------
1, 2. Trong bài hát "Dấu chân trên rừng" của Vĩnh An.

3. Quận Hiếu Đức: Một phần đất của huyện Hòa Vang, do ngụy quyền cắt ra lập thành "quận" và đặt tên mới.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:16:50 am
       
Chương năm
       
TRẬN HIỆP ĐỒNG

Mùa mưa bão
       
        Hoàn thành chuyến công tác ở một số huyện đồng bằng Bắc Quảng Nam, tôi quay trở về cơ quan tỉnh. Trên đường đi, tôi kết bạn với hai chiến sĩ lực lượng vũ trang, Hiền và Nam.
       
        Ngày đầu, thuận buồm xuôi gió. Tới đêm, mây kéo đen kịt, trời nổi sấm chớp, mưa mỗi lúc một to và rồi bão từ biển tràn vào.
       
        Sáng ra, gió bão vẫn gầm rú, xô cây cối nghiêng ngả. Bứa rừng đã chín vàng, rụng lộp độp. Lá rừng bị cuốn bay tung. Cây gãy răng rắc.

        Mưa hết đợt này đến đợt khác ùa tới, ào ào, sầm sập, trắng núi trắng rừng.
       
        Vẫn liều ra đi, chúng tôi bị gió thốc sau lưng, có những lúc đi nhanh gần như chạy. Tấm nhựa choàng quá mỏng manh, lại bị gai cào rách, nước mưa thấm ướt sũng cả mũ, áo và ba lô.
       
        Các suối bắt đầu chảy xiết. Mỗi lần lội ngang suối, chúng tôi bị nước xô ngã dúi dụi. Bấm gậy xuống lòng suối, gậy cong đi như muốn gãy.

        Suốt mấy tiếng đồng hồ, chúng tôi phải mang ba lô nặng trĩu trên vai mà đi, chẳng có nơi nào có thể nghỉ chân. Được cái Hiền và Nam rất lạc quan, trong gió bão vẫn đùa luôn miệng, cười như phá và rủ tôi tranh thủ nhặt bứa rụng (bứa ngọt như đường!). Nam bảo:
       
        - "Mưa không qua ngọ, gió không qua Mùi", yên trí!
       
        Nhưng rồi "Ngọ" và "Mùi" qua đi mà gió vẫn không ngớt cho.
       
        Ba anh em đến trạm ướt như chuột lột. Suốt đêm, nằm ngủ không yên, chỉ lo cây đổ sập nhà.
       
        Đến sáng, con suối lớn trước trạm đã biến thành con sông nhỏ.
       
        Đồng chí trưởng trạm nói chúng tôi đi đường như hôm qua là quá ư mạo hiểm, vì ở Trường Sơn này, có những suối nước về rất nhanh mỗi khi mưa lớn, người qua suối không kịp trở tay sẽ bị cuốn phăng.
       
        Thế là dù muốn hay không, chúng tôi cũng phải nằm lại trạm này.
       
        Nước con suối không ngừng dâng lên. Dòng nước đục ngầu, réo như thác, cuốn từ nguồn về không biết bao nhiêu thứ rác rưởi và gỗ mục, có lúc lôi theo giữa dòng cả một con mang to, lông vàng chóe. Nhiều chỗ nước xoáy tít.
       
        Cho tới hôm sau, ngớt mưa, nước đã ngập các bụi cơi và lau lách hai bên bờ suối.
       
        Chờ nước rút phải mất ít nhất ba bốn ngày nữa, đó là chưa nói tới mưa có thể tiếp tục. Chúng tôi bàn với trạm cho dùng bè vượt suối. Đồng chí trưởng trạm không đồng ý. Chẳng có cách nào khác là nán đợi.
       
        Nam và Hiền có công tác gấp, băn khoăn hết đứng lại ngồi, hết đi ra lại đi vào.
       
        Trạm có mắc sẵn một dây dong bè, nhưng dây này đã bị nước giật đứt tung. Biết chúng tôi sốt ruột, các đồng chí trạm đi bứt mây bện một dây khác chắc chắn hơn, cột chặt một đầu dây vào thân cây cổ thụ gần bờ và lúc nước bắt đầu rút, cho đưa đầu dây kia qua suối. Công việc này thật nguy hiểm. Liên tiếp mấy đồng chí bị nước cuốn dạt trở lại bờ. Nam bơi giỏi thế mà phải hai lần vật lộn với nước lũ mới đưa được đầu dây sang bờ bên kia.
       
        Dây mây bị nước xô, rung lên bần bật. Bè ra tới giữa dòng, dây căng như muốn đứt. Lúc này chúng tôi mới thấu hiểu là đồng chí trưởng trạm có lý. Chuyện nước lũ, không thể xem thường. Sốt ruột hoặc cậy mình bơi giỏi, có khi mất mạng như chơi.
       
        Qua được con suối lớn, đi non một ngày nữa là Nam và Hiền về tới đơn vị. ở đây lại gặp con sông nước to, nên tôi không thể sang trạm bên kia sông mà phải tạm dừng chân lần nữa.
       
        Không ngờ, lần tạm dừng chân này giúp tôi khỏi lỡ dịp tham gia một sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt.
       
        Đồng chí Lê Khanh - cán bộ Ban quân sự tỉnh Quảng Nam biệt phái về công tác ở đơn vị này, thân mật bảo tôi:
       
        - Thôi, anh ở lại đây với chúng tôi, ta đi làm ăn một chuyến.
       
        Tiếng "làm ăn" thốt ra ở nơi rổn rảng súng đạn này thật đầy ý nghĩa. Tôi hiểu ra ngay, vì lòng cũng đã chờ đón giây phút này từ lâu.

        Bụng bảo dạ, vui vui: "Ông bạn rủ mình đi đánh giặc như rủ đi săn vậy!".
       
        Và tất nhiên, tôi trả lời đồng ý.
       
        Vậy đó: Trên Trường Sơn này, một cơn bão táp khác đang tới, rất gần!


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:24:29 am
       
Một chọi trăm
       
        Lê Khanh nói với tôi:
       
        - Đơn vị này hầu hết là chiến sĩ mới, chưa qua trận mạc, nhưng tinh thần anh em rất tốt. Số cũ thì từ lâu cũng chưa có dịp dùng tới súng. Riêng "a trưởng" Nguyễn Trung Tư đã có may mắn được "khai hỏa". Anh hỏi anh ấy mà xem, chuyện hay lắm.
       
        Nghe giới thiệu hấp dẫn như vậy, tôi bèn tìm ngay tới Tiểu đội trưởng Nguyễn Trung Tư.
       
        Sau bữa cơm chiều, Tư đang cùng các chiến sĩ trong tiểu đội anh tán chuyện lông bông. Anh hà hít điếu thuốc lá Cẩm Lệ (quà quý từ đồng bằng, chắc của Hiền hoặc Nam mới biếu), chưa hết điếu đã dụi đi, dắt lên tai, để dành.
       
        - Ở núi, không có ba điếu thuốc cũng buồn, mà tới lúc hết thuốc thiệt gay go rờ măng. Mâu thuẫn rứa đó!
       
        Vừa cười, Tư vừa phàn nàn như vậy bằng "tiếng Tây" bịa trong mấy năm đánh Tây, rồi anh kể sang chuyện chiến đấu mới:
       
        - Hôm đó, nghĩa là cách đây chưa đầy một tháng, tôi đang cùng với hai bạn đồng đội làm công tác chuẩn bị chiến trường thì bị địch bao vây.
       
        Hai đồng chí kia gặp chỗ địch sơ hở, thoát được ra ngoài. Còn tôi thì khó quá, nhìn xung quanh, đâu đâu cũng thấy địch. Mà hình như chúng chỉ lăm le bắt sống tôi. Chỉ có cách là tranh thủ chiếm lĩnh đồi cao, sẵn sàng chiến đấu.
       
        Đồi trọc, đầy tranh lúp xúp và các loại cỏ gai. Lợi dụng những rãnh nước xói và những bụi gai um tùm, tôi vừa bò vừa chạy, chân tay xây xát cả nhưng cứ mặc kệ. Chạy theo kiểu thi đua với địch chiếm điểm cao, găng hết mức, chắc anh cũng biết.
       
        Tìm được một ụ đất trên đỉnh đồi, tôi sửa sang đôi chút thành công sự rồi nằm giương súng, đợi.
       
        Địch bủa quân xung quanh đồi. Tôi nghe rõ một thằng hô lớn: "Trung đội 3, tiến lên!".
       
        Trong óc tôi thoáng qua rất nhanh mấy ý nghĩ: Một là, quân số địch có thể vào khoảng một đại đội, nghĩa là trên dưới một trăm tên và thằng hô khẩu lệnh vừa rồi là đại đội trưởng. Hai là, địch tập trung vào hướng của tôi, như vậy chắc hai bạn tôi đã thoát đi xa. Ý nghĩ thứ hai này làm tôi yên tâm: nếu tôi hy sinh, đã có hai bạn mang tài liệu về. Nhiệm vụ của tôi là thu hút địch hơn nữa.
       
        Bây giờ, chỉ có việc nhìn bốn phía, coi thử trung đội nào là Trung đội 3. Có tiếng lao xao ở sườn đồi bên trái, tôi liền quay mũi súng về phía đó. Mình thì sốt ruột, mà chúng nó cứ bò lổm ngổm, chậm như rùa. Đợi chúng tới cách chừng ba mươi mét, tôi quạt một băng tiểu liên…
       
        - Đây là loạt súng đầu tiên của anh kể từ ngày hòa bình lập lại đấy nhỉ?
       
        - À… phải, loạt súng đầu bắn địch. Lâu ngày chịu nín nhịn, cứ ấm ức, chừ nghe hắn nổ giòn tan, thiệt sướng tai. Kết quả cũng khá: một thằng lính chết nhào lăn, một thằng bị thương quằn quại trên đám cỏ tranh, kêu cha kêu mẹ thảm thiết. Cả bọn hoảng hồn, không dám tiến lên nữa. Thằng trung đội trưởng gào lên: "Báo cáo, hỏa lực!". Tôi không nén được cười. Mình chỉ có một khẩu "Tuyn" đã cũ, sắp cho vào bảo tàng, vậy mà thằng cha quan trọng hóa dữ quá!
       
        - Thế chúng nó không bắn lại phát nào à?
       
        - Bắn chi được nữa! Bọn hắn lo vực xác đồng đội, rồi ba chân bốn cẳng tháo lui. Chỉ có bọn trợ chiến nã cối và đại liên xối xả lên đồi. Nhưng tôi đã đổi chỗ nấp.
       
        Lát sau, lại nghe thằng đại đội trưởng hô: "Trung đội 1, tiến lên!". Tôi chĩa súng về phía Trung đội 1. Lần này không bắn cả băng nữa, mà chỉ bắn ba phát một, để tiết kiệm đạn. Trung đội 1 mới nghe nổ súng cũng đã chạy quắn đít…
       
        Cứ thế, tôi quần với chúng nó từ xế trưa tới 4 giờ chiều. Tính số đạn của chúng nó từ xa bắn tới thì cũng đủ cho quân ta dùng trong một trận diệt đồn. Vậy mà chúng không làm cho tôi xây xát bằng ba cái gai ngủ ngày và cỏ tranh. Chỉ chịu khó dùng xẻng moi sâu thêm mấy cái khe nước xói làm chỗ nấp là có thể dán chữ "thọ" vào trán…
       
        Chỗ này, Tư có huênh hoang một tí cho vui câu chuyện và anh cũng tự biết như vậy, nên cười hề hề, để lộ hàm răng vàng nhựa thuốc lá. Rồi vừa buông từng tiếng thong thả: "cuối cùng, chúng rút!", Anh vừa lấy điếu thuốc lá ở tai xuống, châm hút. Khói thuốc tỏa um làm cho đôi mắt của anh vốn đã đục lờ vì sốt rét càng thêm đục.
       
        Tư bỗng trở nên trầm ngâm. Lẽ ra nên kết thúc cuộc phỏng vấn khi điếu thuốc lá đã tàn, nhưng tôi lại gợi hỏi thêm một câu:
       
        - Thế… lúc thấy bọn địch cứ không chịu rút thì anh có cảm tưởng như thế nào?
       
        - Cảm tưởng như thế nào à? Hừm… cảm tưởng là… khát nước quá chừng, phải, khát ghê gớm, khát kinh khủng, khát căng đầu óc… Cái "cảm tưởng" nớ thì thiệt khó quên!
       
        Tư bật cười, gương mặt trở lại linh hoạt và lại đưa đẩy câu chuyện:
       
        - Mình thắng được là nhờ bình tĩnh, quyết tâm và cũng phải nói là nhờ bọn địch không có tinh thần chiến đấu. Vài ngày sau, lính ngụy vào làng, nói với dân: "Mấy ông chỉ huy hô tiến, nhưng chỉ núp phía sau. Bọn tui lương tháng có mấy trăm bạc, hơi sức mô mà tiến!".
       
        Chuyện của Nguyễn Trung Tư thật là món quà quý. Nó làm tôi phấn chấn tinh thần lúc sắp cùng anh em ra trận. Đối với các cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị này, có lẽ cũng vậy.
       
        Sau này, mỗi lần đưa tin về những trận như trận Điện Ngọc, trận đồi A Bia… tôi không khỏi nhớ lại cuộc chiến đấu của Tiểu đội trưởng Nguyễn Trung Tư ở rừng núi bắc Quảng Nam.
       
        Nhân thể, tôi xin kể luôn: Hiền, người bạn đường đã cùng tôi gội gió dầm mưa mấy ngày qua, chính là người vài năm sau sẽ chỉ huy Tiểu đội 7 dũng sĩ nổi tiếng đã đánh bại cả một tiểu đoàn địch trong một vườn thuốc lá của xã Điện Ngọc, một xã vùng ven biển thuộc huyện Điện Bàn.
       
        Trong trận đánh sắp mở màn, Hiền phụ trách tổ bộc phá đánh vào lô cốt số 1, dọn đường cho xung kích lao vào khu nhà chỉ huy đồn địch.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:27:12 am
       
Măng mọc
       
        Tôi sống cùng với đơn vị có hai ngày rưỡi ở nơi trú quân, lại là mấy ngày bận rộn hội họp, nghiên cứu sa bàn, diễn tập lần cuối cùng và chỉnh đốn trang bị.
       
        Nhưng chính không khí chuẩn bị khẩn trương này giúp tôi hiểu rõ thêm câu nói của đồng chí Khanh: "Tinh thần anh em rất tốt".
       
        Tại đơn vị này, khó mà nhận ra những người trẻ tuổi cách đây không lâu còn bỡ ngỡ với cuộc sống chiến khu và còn mang tí chút dấu vết của vùng địch tạm chiếm, như những thanh niên tôi đã gặp ở Điện Bàn, Hòa Vang. Tuy chưa thử lửa, nhưng sống theo nền nếp quân đội cách mạng, lớp người này đã rắn rỏi, đã có dáng dấp của những chiến sĩ kháng chiến cũ - cha anh của họ.
       
        Cũng khó phân biệt ai đã từng khoác áo lính "quân dịch", ai chưa. Tất cả tìm thấy ở đây gia đình chân chính của mình và họ sống thong dong như cá lội trong nước vậy.
       
        Tôi có cảm tưởng các cán bộ trong đơn vị ngay từ bây giờ đã hiểu được khả năng cũng như nhược điểm của từng chiến sĩ.
       
        Tối tối nằm đung đưa võng, thường nghe những câu trao đổi như:
       
        - Thằng đó rồi sẽ đánh giặc rất lươm (giỏi, cừ), tôi cứ trông cái cách nó săn đuổi thú rừng và nhất là cái lần nó lừa bắn gục con voi, tôi biết.
       
        Hoặc:
       
        - Cậu này rồi sẽ tiến xa, không chắc trong bọn mình có ai theo kịp.
       
        - Tất nhiên, tre già măng mọc mà!
       
        Lúc thảo luận trên sa bàn, một số chiến sĩ mới đã nêu lên hàng loạt giả thuyết về tình huống bất ngờ, khiến ai nấy phải ngẫm nghĩ lâu trước khi phát biểu ý kiến. Điều này chứng tỏ mỗi người đều lo lắng hoàn thành phần việc của mình và giúp sức cho đồng đội một cách tốt nhất.
       
        Ngồi xổm bên cạnh sa bàn, hút thuốc lá liên tiếp, đồng chí Chơn, cán bộ tác huấn của Ban quân sự tỉnh Quảng Nam, có vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Người trẻ tuổi sau này sẽ là một vị tướng ấy1 rất ít phát biểu, nhưng nói câu nào chắc câu ấy.
       
        Chỉ huy trưởng Đức - thuyết trình viên - tỏ ra hết sức hài lòng về kết quả của buổi thảo luận.
       
        Do mọi công tác chính trị, hậu cần, diễn tập… đã được làm từ hàng tháng nay, nên bây giờ diễn tập cũng như hội họp đều ngắn gọn, khẩn trương.
       
        Và thế là vào buổi trưa một ngày nắng ráo, chúng tôi lên đường ra trận.

-----------------
1. Tướng Nguyễn Chơn, trong  kháng chiến chống Mỹ là Sư  đoàn trưởng Sư đoàn 2 Quân khu 5, Anh hùng Quân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:31:20 am
       
Hướng tiến quân
       
        Đơn vị vượt qua sông dễ dàng, vì đã có cầu treo do công binh mới làm cấp tốc.
       
        Vượt sông, nghĩa là đi về hướng Tây. Các chiến sĩ không nói ra, nhưng dường như ai cũng có hơi thắc mắc. Cũng dễ hiểu, vì nguyện vọng thầm kín của mỗi người là muốn tiến quân về hướng đồng bằng kia!
       
        Tôi đi cùng tiểu đội của Nguyễn Trung Tư với ý định theo luôn đội xung kích này vào đồn địch.
       
        Trên đường hành quân, tôi hiểu thêm rằng đối với khá nhiều tân binh, đây không phải lần đầu tiên chọi với địch. Riêng trong tiểu đội Nguyễn Trung Tư đã có bảy chiến sĩ từng hoạt động ở vùng sau lưng địch, bảo vệ cán bộ, làm giao liên mật, tình báo, rải truyền đơn… Những việc này có khi còn gay go gấp mấy lần cầm súng cùng đồng đội lao vào đồn địch.
       
        Chiến sĩ Trần Văn Trung có đôi mắt to và trong suốt, tôi tưởng đôi mắt ấy nhìn đời toàn thấy đẹp. Thế nhưng lúc nghỉ chân dọc đường, Trung cho tôi biết nhà anh ở gần đập Vĩnh Trinh và kể:
       
        Năm 1956, khi bọn Mỹ - Diệm gây ra vụ thảm sát Vĩnh Trinh (huyện Duy Xuyên), Trung mới 15 tuổi, ngày ngày chăn trâu cắt cỏ. Buổi sáng sau cái đêm hãi hùng đầy tiếng chửi rủa và tiếng kêu trời ấy, Trung chạy ra đập, giúp người lớn vớt xác từ dưới vực lên - gần tám mươi cái xác bị đâm thủng ngực, rạch bụng, xăm nát mặt, bị ràng dây thép và buộc đá…
       
        Cảnh tượng vụ thảm sát ám ảnh Trung suốt từ ngày đó. Tuy thương người cha sớm góa bụa và thương người vợ mới cưới, anh vẫn quyết tâm tìm đến với quân đội cách mạng. Anh đã giấu không cho vợ biết ý định tòng quân, và lúc ra đi gấp gáp đến nỗi không kịp nghĩ tới chuyện mang theo ảnh vợ.
       
        Anh tâm sự:
       
        - Hồi đó, luật 10-59 mới ra, mình phải đề phòng hết mức, chớ thiệt ra nếu em nói thì nhà em cũng không ngăn trở chi… Thương vợ thì thương, bí mật vẫn phải bí mật, nếu không như vậy thì không đi làm cách mạng được.
       
        Tôi không khỏi nhớ lại cảnh chia tay giữa tôi và vợ tôi, nên đưa ra một lời an ủi:
       
        - Trước sau bọn mình cũng sẽ có dịp về chiến đấu ở đồng bằng, chừng đó Trung sẽ biết tin gia đình, sẽ gặp bác trai và chị ấy.
       
        Người bạn trẻ của tôi khẽ cười:
       
        - Được như anh nói thì quá sướng.
       
        Sáng sáng lên đường, đoàn quân vẫn đi ngược hướng mặt trời mọc. Đường đi mỗi lúc một hiểm trở hơn, và trời lại mưa sau mấy ngày tạnh ráo. Cuộc hành quân trở nên vất vả hơn.
       
        Một buổi chiều, vì mưa to quá, chúng tôi phải tạt vào làng, nghỉ chân ở nhà dân.
       
        Làng này cách đồn địch không tới một ngày đường.
       
        Mấy cô bé cậu bé giương mắt nhìn các chiến sĩ bộ đội, vẻ nghi kỵ. Nhưng hình như gương mặt và cách ăn nói của bộ đội mình cũng khác với lính ngụy sao đó, nên chỉ lát sau các em đã tươi cười, lân la đến nhận bạn thân.
       
        Có mấy em lớn hơn nhưng lại rụt rè hơn, cứ ngồi xổm trong bóng tối góc nhà. Một số chiến sĩ đến bên gợi chuyện và hát lên một bài ca cách mạng, các em nheo mắt lắng nghe, rồi bỗng cất tiếng hát theo. Lúc đầu hát nhỏ, sau thấy được khuyến khích thì hát to dần.
       
        Thiếu nhi đồng ca với bộ đội, có gì lạ?
       
        Nhưng anh chủ nhà nói với chúng tôi:
       
        - Lạ thiệt! Từ ngày bọn lính Diệm tới đóng trong vùng, lũ nhỏ này không hát bao giờ, người lớn tưởng chúng nó quên hát rồi.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:33:51 am
       
Quân và dân
       
        Sáng sớm ngày thứ năm và là ngày chót của cuộc hành quân, chúng tôi chuẩn bị tư thế tiến vào vùng giáp giới hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên. Đồn Cha Lan (còn gọi là Ga Lâu) án ngữ vùng này. Nhiệm vụ của đơn vị là tiêu diệt địch ở Cha Lan, giải phóng một địa bàn rộng lớn thông tới tận biên giới Việt - Lào.
       
        Sau bốn ngày đi đường ròng rã, không chiến sĩ nào lộ vẻ nhọc mệt. Khi rạng đông tới với chim ca ríu rít và những áng mây hồng, báo hiệu trời trở lại tạnh ráo, toàn đơn vị thức dậy với vẻ náo nhiệt khác thường, thu dọn không để lại mảy may dấu vết lều trại, ăn một bụng cơm no và mang luôn ba nắm cơm cho ba bữa, rồi hăm hở ra đi.
       
        Trên mỗi bước tiến sâu vào vùng địch đóng quân, ý muốn diệt địch càng thêm nung nấu.
       
        Cảnh vật nơi đây thật tiêu điều. Họa hoằn mới có một vài cái rẫy thì cỏ mọc tràn lan, lấn cả sắn khoai. Nhân dân các làng ven đường bị địch quấy nhiễu đã chạy dạt đi đâu cả, để lại những túp lều xiêu vẹo hoặc những nền nhà trơ trụi. Không một máng nước, không một cây ăn quả. Cả tới một chút tro than cũng không có.
       
        Khác với Trà Bồng, ở đây chưa có chiến tranh du kích, nhân dân chỉ chạy tránh giặc, do đó mà quang cảnh trở nên vô cùng ảm đạm.
       
        Tử khí dày đặc núi rừng. Lội ngang các suối, ai cũng tưởng ngửi thấy mùi xác chết.
       
        Trong những giây phút nặng nề như vậy, không ai có thể tả hết nỗi vui sướng của chúng tôi khi gặp đoàn dân công đã tập hợp tại một khu rừng kín đáo không xa đồn địch, đón chờ bộ đội. Đồng chí cán bộ phụ trách đoàn cho biết mặc dù địa phương đã hết sức giữ bí mật mục đích huy động dân công, nhưng đồng bào hiểu rất nhạy, tranh nhau đi.
       
        Bộ đội và dân công gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Nguyễn Trung Tư có niềm vui lớn hơn ai hết, vì anh gặp lại những người quen. Có cụ già trên 60 tuổi cách đây không lâu đã giúp anh luồn sâu vào sát nách địch, đã rung động với tiếng súng của anh đuổi dạt cả một đại đội địch, hôm nay cũng có mặt ở đây.
       
        Được dịp trò chuyện với dân, nhiều chiến sĩ bỏ cả nghỉ ngơi. Cơm nắm và cá muối biến thành một bữa liên hoan đằm thắm giữa quân và dân.
       
        Tổ trinh sát vẫn bám sát địch lâu nay, trở về báo cáo tình hình với ban chỉ huy trận đánh. Các đồng chí cho biết gần đây bọn địch đánh hơi thấy những hoạt động của ta, nên chúng đề phòng cẩn thận hơn. Chúng không hành quân xa nữa, nhưng tăng cường lùng sục quanh đồn trại. Ban đêm, hễ có chút nghi ngờ là chúng bắn đèn dù liên hồi.
       
        Mặt khác, bọn lính trong đồn tỏ ra lo lắng và buồn chán hơn. Chúng miệt mài cờ bạc và toàn chờ máy bay thả đồ hộp, không đi săn bắn hoặc kiếm rau rừng như trước. Chiều chiều, có những đứa đi tha thẩn hoặc ngồi ủ rũ hàng giờ bên bờ suối cạnh đồn…
       
        Xét kỹ, không có gì buộc phải thay đổi phương án tác chiến. Thời cơ diệt địch lại hết sức tốt. Một giờ rưỡi chiều, có lệnh tập hợp toàn đơn vị.
       
        Ai nấy hiểu rằng giờ quyết chiến đã điểm.
       
        Ban chỉ huy ra lệnh cho các tiểu đội soát xét lại súng đạn, lá ngụy trang.
       
        Với mấy câu vắn tắt, đồng chí chính trị viên nhắc lại nhiệm vụ chiến đấu.
       
        Anh đưa tay chỉ vào đoàn dân công ngồi cạnh đó, giọng nói trở nên tha thiết:
       
        - Các đồng chí đã thấy và đã nghe đồng bào kể chuyện rồi đó, sống dưới ách áp bức của bè lũ Mỹ - Diệm, đồng bào phải chịu bao nỗi cay đắng khổ nhục như thế nào. Cảnh sống của đồng bào ở đây cũng là cảnh sống hiện nay của toàn thể nhân dân miền Nam, trong đó có gia đình của mỗi chúng ta. Là chiến sĩ của nhân dân, chúng ta thề còn một hơi thở là còn chiến đấu trả thù cho dân, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc!
       
        Trong dư âm những lời giản dị mà thôi thúc đó, từng mũi xung kích lần lượt ra đi chiếm lĩnh trận địa.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:36:34 am
       
Tình huống mới
       
        Ở Cha Lan, bọn địch có một trung đội bảo an gồm 4 tiểu đội, do một thiếu úy chỉ huy.
       
        Chúng đóng đồn trại giữa một thung lũng, đồng thời lập một lô cốt mạnh trên sườn núi mé bên phải đồn để yểm hộ.
       
        Quanh đồn có rào thép gai, mìn các loại, tường đất dày và ba lô cốt cố thủ. Mặt trước đồn có một chòi cao đặt súng liên thanh.
       
        Lực lượng ta gồm 3 tiểu đội xung kích và 1 đội dự bị cùng với vài tổ bộc phá và công binh (từ hồi kháng chiến chống Pháp, tôi đã quen với công thức "6 vây diệt 1" khi đánh đồn, nên có hơi ngạc nhiên về lực lượng quá ít ỏi của ta trong trận này, nhưng nghĩ rằng mình phải làm quen dần với những chuyện lạ của cách mạng miền Nam, bèn thôi không ngạc nhiên nữa). Theo kế hoạch, khi bộc phá nổ thì ba mũi xung kích tràn vào đồn, trong khi một tổ bộc phá khác nhanh chóng tiêu diệt địch ở lô cốt trên cao.
       
        Khoảng 4 giờ chiều, các chiến sĩ ta đã tới bố trí cách đồn địch không đầy một tiếng đồng hồ băng rừng. Dân công theo liền với bộ đội.
       
        Được Ban chỉ huy đồng ý, tôi đi theo đồng chí trinh sát tới một điểm cao ven đồn để xem thật rõ.
       
        Đồn địch hiện ra trước mắt đúng hệt như tôi đã thấy trên sa bàn. Ba dãy trại lợp tranh xếp thành hình chữ "U" vây quanh một sân rộng có cột cờ với lá cờ vàng ba sọc phơ phất. Dãy trại chính diện có cột dây trời, đó là nhà chỉ huy.
       
        Qua ống nhòm, tôi thấy rõ mặt từng lính ngụy chơi bóng chuyền hoặc đi lại trước sân đồn.
       
        Khi tôi trở về tới tiểu đội của Nguyễn Trung Tư (mũi xung kích số 3) thì trời gần tối. Bộ đội bỏ lá ngụy trang, bắt đầu tiến vào vây đồn.
       
        Một giờ băng rừng ban ngày, đến ban đêm trở nên dài gần như vô tận, nhất là khi người ta đi thành đoàn. Ban ngày còn thấy lối quang đãng, ban đêm đặt chân tới đâu cũng đụng phải bụi rậm, đá và cây.
       
        Chúng tôi bám sát nhau, bước từng bước thận trọng, mở hết tròng mắt sục sạo bóng đêm, mặc dù chẳng thấy gì hơn là lưng áo của đồng đội phía trước. Tới một lúc tối mịt mù, anh em phải cài lên mũ bạn những chiếc lá lân tinh để có thể có chút ánh sáng mà lần theo.
       
        Hết lên dốc lại xuống dốc, hết băng bụi rậm lại lội bùn, lạc nhau rồi tìm thấy nhau, chúng tôi đang lo lắng không biết mình đi có đúng hướng không, thì may mắn quá đã nghe tiếng suối chảy ào ào phía dưới thung lũng. Đồn đó rồi!
       
        Xuống tới suối thì đã gần 12 giờ đêm. Lội qua được suối nước chảy xiết, chúng tôi mệt lả, phải dừng chân ở bờ suối nghỉ xả hơi. Vả chăng, còn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ nổ súng.
       
        Từ bờ suối, đã có thể trông thấy lờ mờ bóng dáng tường đồn không cao lắm. Như tôi đã biết từ chiều, đây là mé trái đồn. Hai mũi xung kích 2 và 3 đều chuẩn bị tiến công từ hướng này.
       
        Vài mươi phút sau, anh em đã lại sức. Theo hướng trinh sát chỉ dẫn, từng tổ ba người bắt đầu trườn vào sát đồn.
       
        Tôi vẫn bám sát Nguyễn Trung Tư. Tay phải cầm khẩu súng ngắn, tay trái giữ chặt chiếc máy ảnh, tôi dùng sức hai chân và hai cùi tay đẩy người tới trước. Lũ dế và cào cào bị khua động, nhảy quàng cả vào tóc, tai, cổ tôi.
       
        Tổ ba người có vẻ lo lắng cho tôi, thỉnh thoảng lại ngoái nhìn. Cũng may, cái vốn quân sự hồi kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là mấy môn: "bò, lê, lăn, toài" chưa đến nỗi han rỉ, nên tôi toài khá êm. Anh em nhìn tôi, gật đầu cười khuyến khích và tỏ vẻ hài lòng.
       
        Phựt! Một vầng sáng đột ngột tỏa rộng bên trên chúng tôi.
       
        Địch bắn đèn dù!
       
        Lộ rồi chăng? - Tất cả tự hỏi. Nhưng thấy tình hình lại yên ắng nên trả lời luôn:
       
        Không, chưa việc gì. Chúng tôi nằm dán xuống thảm cỏ, chờ dịu ánh sáng lại tiếp tục trườn lên.
       
        Nhưng tiếp đó lại có một chiếc đèn dù nữa. Rồi một chiếc nữa.
       
        Súng nổ ran.
       
        Không ai bảo ai, chúng tôi bật cả dậy, lên đạn rôm rốp và xông thẳng vào đồn.
       
        Trong khói đạn khét lẹt, tiếng thét "xung phong" át cả tiếng súng.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:39:18 am
       
Trong ánh lửa thiêu đồn
       
        Quả là có bị lộ, nên hai khẩu trung liên của ta đặt trên tường đồn phải bắn phủ đầu địch và các mũi xung kích phải lao vào đồn trước giờ quy định.
       
        Sau khi súng nổ, tiếng bộc phá của tổ Hiền đánh vào lô cốt phía sau đồn mới gầm vang.
       
        Mặc dù vậy, đã có dự kiến mọi tình huống, nên không ai bối rối.
       
        Phải hết sức khen ngợi và biết ơn các đồng chí công binh mở đường xung phong. Dây thép gai đã bị cắt đứt tung từ hồi nào không ai rõ. Mìn cũng hết sạch. Vì vậy, quãng đường mà các đồng chí phải thu dọn khó nhọc trong mấy tiếng đồng hồ, xung kích băng qua trong vài giây. Chỉ còn việc trèo qua tường vào trong đồn.
       
        Cũng phải khen cặp trung liên ta (một cựu binh và một tân binh) bắn rất cừ. Khi xung kích đã nhảy vào đồn thì trung liên lập tức chuyển làn lên cao. Chúng tôi như chạy đua với những đường đạn đỏ lừ rát rạt trên đầu.
       
        Vào tới trại địch thì chúng tôi đã thấy chỉ huy trưởng Đức đứng đó từ bao giờ, súng ngắn trong tay, quan sát tình hình và nhắc nhở các chiến sĩ những việc làm cần thiết (nếu tôi không lầm thì chính anh đã ra lệnh cho trung liên nổ kịp thời).
       
        Tới đây, Nguyễn Trung Tư không may bị thương ở chân. Tuy vậy anh vẫn bình tĩnh, từ chối mọi sự giúp đỡ, vừa tự băng bó vừa trao đổi ý kiến với đồng chí tiểu đội phó. Nhiệm vụ của tiểu đội anh là tiêu diệt địch ở dãy trại án ngữ mé trái đồn, nhưng nhiều tên địch đã chết vì đạn trung liên ngay từ đầu, số còn lại chạy ra hầm ngầm cố thủ cạnh đó. Có mấy tên trèo tường hòng tháo thân liền bị đội xung kích dự bị bố trí phía ngoài đồn (ông bạn Nam của tôi thuộc đội này) nổ tiểu liên quật ngã nhào xuống chân tường.
       
        Theo lệnh Đức, đội xung kích 3 nhanh chóng thu súng ống của địch rồi nổi lửa đốt trại.
       
        Trong ánh lửa bừng sáng, tôi thấy rõ ở dãy trại đối diện, vâng theo tiếng gọi hàng của các chiến sĩ thuộc mũi xung kích 2, nhiều tên lính ngụy lố nhố kéo ra khỏi nhà, hai tay giơ cao. Tôi bèn tạm rời tiểu đội Nguyễn Trung Tư và vượt sân đồn, băng qua mấy xác lính ngụy lăn lóc, chạy về phía đó.
       
        Hẳn bọn lính đầu hàng hơi ngạc nhiên khi thấy một người đến trước mặt chúng không phải với khẩu súng chĩa ra trước mà với… một chiếc máy ảnh.
       
        Các chiến sĩ xung kích 2 trói tù binh và tiếp tục truy tróc những tên địch còn ẩn náu.
       
        Trong khi đó, mũi xung kích 1 có chính trị viên đơn vị cùng đi, xung phong từ mặt sau đồn, đã hoàn toàn làm chủ khu nhà chỉ huy. Đồn trưởng Lê Tỵ đã bỏ nhiệm sở, chạy tháo thân.
       
        Phía cổng đồn, tên địch giữ trung liên trên chòi cao bắn quàng một băng đạn rồi cũng bỏ súng, tụt xuống đất lủi vào rừng cùng với mấy tên lính gác lô cốt cổng. Băng đạn đó và mấy phát bắn lén từ các dãy trại làm thương vong vài chiến sĩ ta.
       
        Khi đồn chính cháy rực thì ở phía lô cốt trên sườn núi, bộc phá và tiểu liên cũng nổ giòn giã, chớp lửa sáng lóe. Bọn địch ở đây bị tiêu diệt sạch.
       
        Bây giờ chỉ còn việc thanh toán bọn địch ở hầm ngầm cố thủ.
       
        Đồng chí Chởn đã kịp thời nắm lấy một số chiến sĩ thuộc tiểu đội xung kích 3, bố trí vây chặt hầm ngầm. Bọn địch không chống cự, nhưng cố tình ngồi im thin thít, không chịu ra hàng.
       
        Lê Khanh cũng có mặt tại đây. Tôi nghe rõ tiếng của anh, rành rọt và khoan thai (tôi hình dung cả cái miệng hơi móm của anh mỉm cười nữa):
       
        - Tống cho chúng nó một tạ bộc phá!
       
        Vừa nghe dọa như vậy, mấy tên cứng đầu liền trở nên mềm nhũn, van xin rối rít:
       
        - Xin hàng! Xin hàng!
       
        Ở dãy trại do mũi xung kích 2 vây quét, cũng có một tên ngoan cố. Hắn tìm mọi cách lẩn trốn, cuối cùng thấy bí quá cũng chui ra, hai tay lẩy bẩy giơ cao.
       
        Khác với bọn lính ngụy, hắn mặc thường phục: quần áo bà ba đen.
       
        Đồng chí Trương Trịnh, Tỉnh ủy viên dự trận, trừng mắt nhìn hắn. Hắn hoảng sợ, lắp bắp:
       
        - Thưa… thưa anh, em trước kia cũng là… đảng viên.
       
        Trịnh quát:
       
        - Đồ phản bội, còn mở miệng nhắc tới Đảng nữa à?
       
        Anh túm ngực áo hắn, lôi ra một tờ chứng minh thư. Tờ giấy màu vàng, có ba sọc đỏ chạy chéo góc.
       
        Một tên công dân vụ!
       
        Không hiểu những lúc tên này bắt bớ tra tấn đồng bào thì thế nào, chứ bây giờ trông hắn thật thiểu não. Hắn run như cầy sấy, mặt tái mét. Trời khuya lạnh thế mà lưng áo hắn ướt đẫm mồ hôi.
       
        Trên hai mươi tên tù binh bị trói thành mấy xâu giữa sân đồn. Chúng ngồi giương mắt nhìn y tá của ta băng bó cho mấy tên bị thương nặng.
       
        Khi bộ đội ta đưa đống chiến lợi phẩm ra giữa sân soát xét, có mấy tù binh cứ giới thiệu "súng của em đó", ý chừng muốn thanh minh rằng súng của chúng không có dấu vết bắn trả nào.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:45:15 am
       
Thêm mấy nét ghi nhanh
       
        Trong khi bộ đội và dân công tấp nập thu dọn chiến trường, tôi đi rảo quanh một lượt, xem xét đồn trại địch.
       
        Ở khu nhà chỉ huy, hai tên lính nằm chết co quắp bên cạnh điện đài. Hình như chúng chưa kịp chuyển điện cầu cứu và cũng chẳng có ai ra lệnh cho chúng điện, vì người chỉ huy chúng đã cuống cuồng chạy trốn.
       
        Đồng chí chính trị viên đang cùng với mấy chiến sĩ thu thập những cờ, ảnh, tài liệu, thư từ… của địch, và anh hứa có gì đáng chú ý sẽ cho tôi mượn xem.
       
        Bước sang dãy trại chưa cháy ở mé phải đồn, tôi phải vội lấy khăn tay bịt mũi. Mùi hôi thối và chua loét của chăn màn lâu ngày không giặt lẫn mùi cứt chuột khiến tôi buồn nôn. Trước ánh đèn bấm, trăm thứ bề bộn: xoong, nồi, chén, đĩa, chai, lọ, lon, thùng, giày, dép, chổi cùn, giẻ rách,…
       
        Phía sau trại, bùn và rác rưởi ngập ngụa.
       
        Toàn bộ cái hang ổ nhớp nhúa này thật chỉ đáng châm mấy mồi lửa và bộ đội ta đang làm như vậy.
       
        Lửa cháy lem lém, tre nổ đùng đùng, nhà đổ răng rắc.
       
        Tôi lợi dụng ánh lửa sáng để chụp ảnh.
       
        Đang lui ra phía tường đồn và dạo bước loanh quanh tìm góc độ thì một tiếng quát to phía trên đầu khiến tôi giật mình đánh thót.
       
        - Ai?
       
        - À, mình đây, Huy Minh đây…
       
        Nhìn kỹ, té ra là ông bạn Trung cùng một chiến sĩ khác đang đi tuần tiễu trên bờ tường.
       
        Ở trên cao, trong ánh lửa thiêu đồn giặc, lưỡi lê trên đầu súng của hai chiến sĩ sáng lấp lánh. Hai người mỉm cười thân mật với tôi, rồi tiếp tục bước đi, vẻ ung dung. Toàn thân họ như tỏa hào quang.
       
        Lúc tốp chiến binh cuối cùng rời đồn địch thì trời rạng sáng.
       
        Ai nấy đều mệt, nhưng mang chiến lợi phẩm leo dốc vẫn phấn chấn. Lên tới đỉnh dốc, thấy một chiếc "bà già" bay tới nghiêng ngó, anh em định "xơi tái" nhưng nó chuồn thẳng.
       
        Tôi nhìn đồng hồ: 6 giờ. Và ngày: 17.
         
        17 tháng 10 năm 1960 - Tôi sẽ nhớ mãi ngày này.
       
        Về sau, tôi được biết rằng cũng ngày hôm đó hoặc trước sau một ít, lực lượng vũ trang nhân dân đã tiến công một loạt 27 đồn dọc Tây Nguyên và từ  tây Quảng Nam vào tới tây Bình Thuận, trong đó có những đồn lớn như Trà My (Quảng Nam), Trà Bồng (Quảng Ngãi), Đak Tả (Kon Tum)... Hầu hết số đồn đó đã bị tiêu diệt1.
       
        Đây là trận hiệp đồng quy mô lớn đầu tiên mà Khu 5 đóng góp vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.
       
        Cùng với tin vui này, tôi được biết thêm về tình hình Nam Bộ: nối gót Bến Tre, quần chúng khắp nơi đã ào ạt nổi dậy biểu tình, vũ trang cướp bốt diệt đồn, trừng trị ác ôn, phá rã từng mảng lớn ách kìm kẹp của địch.
       
        Cửu Long đã cuộn sóng, Trường Sơn đã nổi bão táp!
       
        Mây kéo mãi đã thành mưa.

-------------
1. Tới cuối năm 1960, số đồn địch dọc đông nam Trường Sơn bị tiêu diệt hoặc bị bức rút đã lên tới 55.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:49:56 am
       
Chương sáu

VỮNG CHÂN ĐỨNG
       
Chậm nhưng đúng
       
        Sài Gòn, tối 26-10.
       
        Tiệc mừng "quốc khánh".
       
        Phóng viên Giăng Lác-tê-guy (Jean Lartéguy) sau khi nhấm nháp món cá hấp và tợp một ngụm "cô-nhắc", quay sang ông bạn ngồi cạnh, hỏi bâng quơ:
       
        - Việt Minh có vẻ hoạt động tợn nhỉ?
       
        Ông bạn - một đại tá của quân lực Việt Nam cộng hòa - sững người, thảng thốt hỏi lại:
       
        - Sao, ông biết những gì xảy ra ở vùng Quân đoàn 2 rồi à?
       
        Nhà báo Pháp chưa hề hay biết gì cả. Nhưng anh ta nhún vai trề môi, làm ra bộ thạo tin và vừa gợi chuyện viên đại tá, vừa ngắm kỹ khuôn mặt lo âu của hắn cũng như của số đông quan chức Nam Việt Nam có mặt trong bữa tiệc, óc lặng lẽ chắp nối các sự kiện… À, thảo nào mấy hôm trước Pa-xân (Parsons)1 vội vội vàng vàng đến Sài Gòn hội đàm với Ngô Đình Diệm trong 5 giờ liền, và theo thằng cha UPI thì hắn đã nghe Diệm trình bày về "Cộng sản tăng cường hoạt động ở miền Nam"… Phó đô đốc Gíp-phin (Griffin) cũng vừa đến Sài Gòn (lão này với hạm đội 7 của hắn sục vào đâu là ở đó có chuyện, y như rằng!).
       
        Ngắm đi ngắm lại viên đại tá, Lác-tê-guy cười thầm: "Coi kìa con giun ở mũi của anh, nó dài lòng thòng!"2.
        …
 
        Và thế là sáng sớm ngày 27 tháng 10 năm 1960, người phóng viên láu lỉnh của báo "Tin Pa-ri" tìm đường phóng lên Kon Tum.
       
        Đến ngày 4 tháng 11, anh ta đăng được một bài tường thuật tình hình chiến sự Tây Nguyên (không quên nhã nhặn cảm ơn ông bạn đại tá), kèm luôn một bài phỏng vấn Ngô Đình Nhu.
       
        Nhu cho anh ta biết là "với vũ khí của Mỹ và Pháp", Việt Minh đã đánh nhiều trận ở vùng cao nguyên Trung Phần và gây ra tình hình "nghiêm trọng hơn là chúng tôi tưởng lúc đầu rất nhiều". Nhu lại nói tiếp: "Có thể chúng tôi buộc phải áp dụng những biện pháp nghiêm trọng, tuyên bố tình trạng khẩn cấp".
       
        Theo nhận xét của Lác-tê-guy: "Việt Minh" đang nện tả tơi quân đội ngụy Sài Gòn, "một quân đội kiểu Mỹ, béo phị, được trang bị quá nhiều và được cho ăn quá nhiều" (Une armée à l'américaine, joufflue, suréquipée, suralimentée), một quân đội đi diễu binh còn tàm tạm được chứ lâm trận thì đánh đấm chẳng ra sao.
       
        Cũng phải nói rằng với khả năng của nghề báo phương Tây, Lác-tê-guy đã không đưa được sớm tin về một bước chuyển lớn của cuộc "chiến tranh Việt Nam" thứ hai chấn động hành tinh. Nhưng cơ quan thông tin của ngụy quyền Sài Gòn do "tình hình nghiêm trọng hơn tưởng tượng" còn chậm hơn anh ta rất nhiều.
       
        Sau phát biểu của Ngô Đình Nhu, mãi tới ngày 9 tháng 11 Việt tấn xã mới đưa tin về một cuộc họp báo, trong đó "bộ trưởng phụ tá quốc phòng Nguyễn Đình Thuần cả quyết rằng bọn cộng sản đang tìm cách tạo nên một căn cứ hùng hậu tại vùng cao nguyên Trung Phần để chuẩn bị cho những cuộc tấn công mới của chúng vào Nam Phần và miền duyên hải trong một tương lai gần đây".
       
        Từ các khách sạn sang trọng ở Sài Gòn, các phóng viên Anh và Mỹ cũng chậm chạp đưa những tin đại loại như: "Việt Minh đã tấn công và chiếm được 5 đồn bốt của bảo an đóng dọc theo biên giới Lào - Việt Nam" (Reuter, 2-11), hoặc: "Cộng sản đang đánh vào đường sá" (UPI/27-10). Cuối cùng, có lẽ nhờ tiếp xúc với các vị tai to mặt lớn từ Hoa Thịnh Đốn sang kinh lý Nam Việt Nam, nên ngày 8 tháng 11 hãng thông tấn Mỹ UPI đi tới được nhận định đúng, không khác Việt tấn xã:
       
        "Người ta cho rằng mục tiêu cuộc tấn công của cộng sản là nhằm thành lập một căn cứ tại vùng rừng núi để giúp cho họ có thể hoạt động dễ dàng khắp cả vùng chiến lược Trung Phần Việt Nam".
       
        Thuộc về một xứ sở từng biết rõ "Việt Minh", hãng tin Pháp AFP (ngày 3-11) tuy giữ vẻ dè dặt với chuyện "chiến lược" nhưng lại tỏ ra có tầm nhìn rộng hơn và xem ra đúng hơn cả:
       
        "Có thể cộng sản mở cuộc tấn công này là để lập ra một "khu giải phóng" ở Nam Việt Nam".

---------------
1. Pa-xân là phụ tá ngoại trưởng Mỹ phụ trách Viễn Đông sự vụ hồi đó.

2. Thành ngữ Pháp "Kéo những con sâu (hoặc con giun) từ mũi ra "(Tirer les vers du nez) có nghĩa là moi được chuyện người ta muốn giấu kín.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 08:56:47 am
       
Những ngày hội
       
        Có một mẩu tin (ngày 3-11) của hãng UPI rất đáng chú ý:
       
        "Đến nay, đã 13 ngày sau trận tấn công đầu tiên của cộng sản mà tin tức vẫn cho biết còn đánh nhau giữa quân đội chính phủ và quân cộng sản.
       
        Điều mà tại Sài Gòn người ta đang xem là mối lo ngại lớn là đây là lần đầu tiên cộng sản đã sử dụng người của các bộ lạc địa phương với một quy mô to lớn".
       
        "Mối lo ngại lớn" này của Mỹ - ngụy không phải là không có căn cứ.
       
        Với tôi, một "phóng viên Việt cộng" may mắn được sống những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ, lại có niềm hạnh phúc được thêm một lần cảm nhận thế nào là "những ngày hội khởi nghĩa".
       
        Vào những ngày này, trên Trường Sơn, mưa nắng thất thường, các sông suối thường cuồn cuộn nước lũ, trời lại bắt đầu rét dữ, nhất là về đêm. Thế nhưng, bất chấp mưa nắng, bất chấp lũ lụt, bất chấp rét mướt, từng đoàn, từng đoàn dân công cứ nườm nượp đi như trẩy hội. Dân công lên hỏa tuyến, gạo, rau đầy gùi, trâu dắt theo người. Dân công từ hỏa tuyến về, chiến lợi phẩm lỉnh kỉnh trên vai. Dân công phục vụ đường dây, mang theo cả đàn sáo. Họ bước hăm hở, nói chuyện huyên thuyên, trêu chọc những người hoặc những đoàn đi ngược chiều, cười vang rừng.
       
        Những con đường rừng bấy lâu cỏ mọc lan, giờ đây bị bàn chân người xéo nát, có những đoạn đường lầy lội trở nên rộng gấp ba, gấp năm. Dọc đường đã hình thành những bãi trú quân với cây mắc võng, ổ lá, bếp núc… la liệt.
       
        Các cầu được bắc nhanh lạ lùng. Có đoạn sông hẹp nhưng sâu, khách sang sông phải dùng bè, khoảng một tuần sau trở về đã thấy có cầu treo vững chãi. Hỏi ra thì không phải công binh làm mà chính là nhân dân địa phương dồn sức làm với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến". Bình thường, một chiếc cầu như thế ở đây phải làm hàng tháng mới xong.
       
        Gặp một đồng chí cán bộ của tỉnh Kon Tum, tôi được biết cụ thể: trong vòng hạ tuần tháng 10 năm 1960, 250 làng ở Kon Tum (trong đó có nhiều làng Thiên Chúa giáo toàn tòng) với số dân hơn 40.000 người đã nổi dậy bắt và trị tội bọn phản động gian ác, tóm cổ lũ cán bộ "thượng du vận", xé cờ ba que, và ném vào lửa tất cả tranh ảnh của ngụy quyền, tuyên bố quyền tự quản và phối hợp với lực lượng vũ trang nhân dân đánh địch.
       
        Về sau, đọc tài liệu ở văn phòng Thường vụ Khu ủy Khu 5, tôi được biết thêm: Suốt một dải đông nam Trường Sơn, mùa đông năm 1960, 4.300 làng trong số 5.100 làng đã liên tục nổi dậy với những mức độ khác nhau, góp sức người sức của giành chiến thắng, giành giải phóng.
       
        Dừng chân vài ngày ở một làng đã giải phóng thuộc tỉnh Kon Tum, tôi càng có dịp thấy rõ nhịp sống sôi nổi khẩn trương của dân làng trong những ngày này. Từng giới hội họp, say sưa bàn việc làng việc nước (đã quá lâu rồi không được công khai hội họp như thế này!). Thanh niên bỏ trại bí mật trong núi trở về làng chấn chỉnh đội du kích hoặc ghi tên tòng quân. Dân làng tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi và huy động mọi lực lượng từ thiếu niên đến cụ già để vót chông, vót mây, chuẩn bị lập làng chiến đấu. Nhà nhà sấy lúa, giã gạo nuôi quân, nhịp chày rộn vang suốt canh khuya làm ấm cả trời trăng bàng bạc, đến sáng sớm còn mù sương lại rộn vang,…
       
        Bà mẹ nhà tôi ở cũng thấy bận rộn suốt ngày, cứ đến bữa cơm về ăn qua loa mấy miếng lại đi, tất bật nhưng vui tươi. Không giấu vẻ tự hào, cô con gái cho biết mẹ tham gia nhiều công tác lắm, "Hội phụ nữ nè, Hội cha mẹ chiến sĩ nè, Hội bảo trợ du kích nè, vận động hũ gạo nuôi quân nè, ủy lạo thương binh nè,…", ôi nhiều lắm, mỗi ngày phải lấy dây thắt nút mới nhớ hết việc!
       
        Thỉnh thoảng, thấy mấy chàng trai Xê-đăng cãi nhau huyên náo, ngồi nghe mà đoán mới biết các chàng tranh luận về tên hiệu và tính năng các thứ vũ khí bộ đội vừa lấy được của địch. Các chàng lại đem súng và cả mìn ra tháo tháo lắp lắp, coi như một trò chơi thú vị lắm vậy.
       
        Tìm gặp các đồng chí cán bộ địa phương trong lúc này thì thật chẳng khác chơi đi trốn đi tìm. Không mấy đồng chí có mặt ở nhà. Chính quyền tự quản mới ra đời, việc gì cũng đến tay. Ngoài công việc làng xã, cán bộ còn thay nhau nằm rừng, chỉ huy việc vây đồn địch, lùng bắt tù binh,…
       
        Từ các nơi địch bị đánh (nhất là từ các đồn Đak Tả, Đak Tô, Đak Lây, Đak Rú, Đak Mỹ, Mang Bút…1 thuộc tỉnh Kon Tum, điểm nóng nhất của toàn bộ chiến dịch), số lính ngụy chạy trốn tản mát trong rừng khá nhiều. Đói và mệt ngất ngư, chúng đánh bạo mò vào các rẫy tìm cái ăn và thế là sa lưới. Hoặc có những tên bị tóm cổ ngay trong rừng sâu, súng trong tay mà đành một phép tuân theo lệnh mấy cô gái mảnh dẻ chỉ có con dao đi rừng.
       
        Thậm chí, bà già đi củi cũng bắt được tù binh, thiếu niên đi chơi cũng bắt được tù binh.
       
        Một buổi sáng nắng đẹp, trên đường trở về "Đỗ Xá", tôi cùng người giao liên dừng chân trước một cánh cổng làng đóng kín.
       
        Cánh cổng tua tủa những chông.
       
        Quan sát kỹ thì bên trong cổng còn có những dàn thò đã nạp lẫy.
       
        Làng chiến đấu!
       
        Đồng chí giao liên cho biết cách nơi này không xa, nhân dân đang bao vây đồn địch. Đồn Nước Mỹ đóng trên một đỉnh đồi, bị đồng bào triệt mất các nguồn nước, lại thiếu tiếp tế, nên đang lâm vào cảnh khốn đốn. Có thể chúng sẽ rút bỏ đồn nay mai.
       
        Quang cảnh ở đây khiến tôi vụt nhớ tới những làng chiến đấu ở Trà Bồng.
       
        Trên Trường Sơn này, một Trà Bồng đã trở thành nhiều Trà Bồng!
       
        Tôi tưởng như nghe đâu đây tiếng rít của tên đạn bắn tỉa, tiếng cồng, tiếng mõ, tiếng hú, tiếng nhân dân phát loa địch vận,… Nhưng lạ thay, quanh tôi vẫn là sự bình yên của cây cỏ tắm nắng ban mai vàng dịu như mật ong và… hình như có âm thanh gì rỡn lượn trong không gian hiền hòa, phải, một âm thanh êm, rất êm, một nét nhạc… nhiều nét nhạc… thoảng như gần… thoảng như xa…
       
        Sau khi gọi được người mở cổng, bước qua lớp lớp bẫy chông thò, chúng tôi thấy gì?
       
        Một cây đàn - không, một chuỗi đàn - thánh thót trong gió lộng ven đồi cỏ.
       
        Đây đúng là đàn tơ-rưng bằng tre nổi tiếng mà tôi nhiều lần nghe nói, nay mới thấy tận mắt, ngay tại quê hương của nó2.
       
        Phải chăng đã lâu rồi nhân dân các dân tộc trên Trường Sơn tạm ngừng mọi lễ hội và cất biến chiếc đàn cổ truyền độc đáo của mình?
       
        Và phải chăng nhân dân Trường Sơn chỉ chờ tới những ngày hội khởi nghĩa này để mang đàn tơ-rưng ra ngợi ca cuộc sống đổi đời và nói lên tiếng lòng thắm thiết biết ơn những ai đã mang lại chân lý "không thể thiếu được, không có gì thay thế được"3 trên non sông đất nước này?
       
        Âm thanh đàn tơ-rưng êm nhẹ mà vang đi xa, vang rất xa.
       
        Nó như tiếng reo vui của Tự do lan lan khắp rừng rẫy, lay động từng lá cây ngọn cỏ.

------------
1. Riêng tại Đak Tả, quân ta tiêu diệt một tiểu đoàn ngụy, giết chết tên tỉnh phó Kon Tum.

2. Đàn tơ-rưng có loại cho người đàn, có loại phát nhạc bằng sức nước, sức gió.
       
32. ở Tây Nguyên có mấy câu thơ ca:
                 Thiếu vải, lấy vỏ cây làm khố
                 Thiếu cơm, đào củ báng, củ mài,
                 Thiếu muối, đốt tranh lấy tro ăn thay được,
                 Nhưng thiếu cộng sản thì không có gì thay thế được.



Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 09:00:14 am
       
Cơ quan mới
       
        Dọc đường về, trên mỗi bước đi, tôi đều thấy rõ kết quả quan trọng của loạt trận đánh thắng, của đợt đồng khởi.
       
        Đường chạy băng qua các làng nay đã sạch bóng bọn cán bộ "thượng du vận" và lính ngụy, đã chào từ biệt cái "chính quyền hai mặt" bất đắc dĩ, đã biến chòi thông tin của địch thành chòi thông tin của ta. Do đó, con đường giao liên đặc biệt được mở ngay sau chiến thắng này ngắn gần một nửa so với đường giao liên chính.
       
        Bọn địch vừa bị tiêu diệt, vừa bị bao vây bức rút khỏi nhiều đồn lẻ, co lại trong các thị xã và cứ điểm lớn. Chúng chỉ tìm cách đóng lại một số rất ít đồn, còn thì "giao" hầu hết núi rừng cho ta1.
       
        Một căn cứ địa vô cùng rộng lớn, "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" đã hình thành.
       
        Tình hình này ở địa bàn chiến lược Trường Sơn có lẽ còn tốt hơn cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhất là về cơ sở quần chúng. Nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiến triển của toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.
       
        Cơ quan "Đỗ Xá" vẫn còn đóng ở vùng cũ nhưng rời đỉnh núi cao, xuống thung lũng. Và "Đỗ Xá" không còn là cơ quan Khu duy nhất, mà mỗi ngành của Khu đã tách ra ở riêng.
       
        Cơ quan của chúng tôi - một cơ quan gồm nhiều bộ môn: tuyên truyền, báo chí, huấn học, nghiên cứu chữ dân tộc - với tên mật là "Làng Tuấn" - đóng gần Nước Là, một con suối lớn, nước xanh biếc. Bên kia suối là cơ quan Quân khu.
       
        "Làng Tuấn" lúc đầu gồm 4 người, sau đó ít lâu có thêm một số cán bộ làm các việc chuyên môn.
       
        Nghe các đồng chí từ miền Bắc mới vào kể chuyện rằng trên đường đi, nghe tin khắp miền Nam nổi dậy và cuộc đảo chính chống Diệm ngày 11 tháng 11 nổ ra, các đồng chí vội giục nhau nhanh chân, sợ mình không kịp đóng góp vào cách mạng miền Nam!
       
        Kể ra, ai mà không có đôi chút say sưa với thắng lợi ban đầu?
       
        Dần dần, qua các cuộc thảo luận về tình hình và nhiệm vụ, chúng tôi hiểu: Chọi với Mỹ thì không thể không tính kế lâu dài và do đó, cũng không được từ lạc quan chuyển sang dao động, nhụt ý chí.
       
        Một đồng chí cán bộ Thượng nói: đánh Mỹ cũng giống như trèo cây cao. Lúc đứng ở gốc cây nhìn lên thì có hơi ngợp, do dự, nhưng khi đã trèo tót lên cành rồi thì chẳng còn sợ gì, lại khuyến khích người khác cùng lên…
       
        Hình ảnh đơn sơ thế mà ý vị đáo để!

--------------
1. Đó là nói về đất đai. Còn về dân số thì trong mấy tháng cuối năm 1960, khoảng 450.000 dân trong số một triệu dân ở vùng núi Nam Trung Bộ đã được hoàn toàn giải phóng.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 09:01:50 am
       
Nơi ăn, chốn ở
       
        Cơ quan đông người, việc đầu tiên là phải làm thêm nhà ở.
       
        Không ai bảo ai, anh em đua nhau làm nhà thật đẹp. Nền nhà được đắp cao và nhà cũng được làm cao, rộng, lợp dày, che kín. Cột kèo toàn là thứ chọn lọc, chắc và thẳng, cây mang về được róc vỏ trơn tru.
       
        Sân trước, sân sau thoáng đãng.
       
        Nhà bếp liền với nhà ăn, máng có ống dẫn nước vào tận nồi.
       
        Mặc dù rừng này hiếm tre, anh em nhất quyết tìm tre bằng được để làm bàn, ghế, giường, giá sách, cửa sổ, chuồng gà… Lại phải luyện nghệ thuật chặt tre. "Nhứt chặt tre, nhì ve gái", nhiều bạn thừa nhận như vậy, mặc dù một số bạn cho rằng ve gái có phần khó hơn.
       
        Mỗi người một tay, chẳng bao lâu chỗ ở đã tươm tất.
       
        Một ông bạn ở miền Bắc mới vào, ngắm mấy nếp nhà, gật gù nói bông lơn:
       
        - Xem ra "Việt cộng" có ý định ở lại miền Nam lâu dài!
       
        Nhìn vào nhà cửa khang trang, đố ai biết anh em chúng tôi đang thiếu ăn.
       
        Chúng tôi khen nhà láng giềng bên kia suối "ung dung". Nhà láng giềng lại khen chúng tôi "ung dung". Kỳ thực, anh nào cũng phải chạy ngược chạy xuôi kiếm cái ăn.
       
        Thật vậy, làm sao mà khỏi thiếu ăn? Số cán bộ, bộ đội ở căn cứ tăng nhanh vùn vụt, còn mức đóng góp của dân thì có hạn. Các kho thóc cách mạng  hồi đầu năm còn chưa mấy ai đụng tới, giờ cứ vơi đi nhanh chóng. Lời tiên đoán "không đủ phủi lủm" đã thành sự thật rành rành!
       
        Không có cách nào khác hơn là mỗi cơ quan, mỗi đơn vị phải sản xuất tự túc một phần lương thực.
       
        Trước mắt là trồng rau màu ngắn ngày,
       
        Chúng tôi vỡ đất trồng cải, gơ dây lang.
       
        Lại dành một vạt đất để ra Giêng trồng thuốc lá cho mấy anh nghiện.
       
        Có bạn nêu ý kiến trồng vài cây mít, ai nấy cười.
       
        Về sau ngẫm nghĩ, thấy ý kiến của anh bạn không lẩn thẩn lắm đâu!


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 09:04:22 am
        
Sách và người
       
        Tạm ổn với việc xây dựng cơ ngơi và chạy ăn, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào công tác chuyên môn.
        
        Không hiểu sao hồi đó chúng tôi lại thu xếp được cả thì giờ đọc sách.
        
        Sách ở cơ quan không nhiều, nhưng gần đủ loại.
        
        Thử chọn xem dần:
        
        Sửa đổi lối làm việc.
        Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.
        Truyện Kiều (lạ thay cô Kiều, cô cũng có mặt ở chiến khu!).
        Tỉnh ủy bí mật.
        Thép đã tôi thế đấy.
        Gót sắt (Jack London đầy nhiệt tình nhưng hình dung cuộc nổi dậy của quần chúng lao khổ ở Mỹ một cách hơi kỳ quặc và rối rắm. Những gì đang diễn ra ở Việt Nam lại có bài bản và vững chắc hơn nhiều, những người cách mạng Việt Nam cũng giản dị hơn nhiều).
        
        …
        
        Vào một buổi trưa, thư giãn đôi chút, tôi đang thiu thiu ngủ thì có cảm giác ai đến ngồi bên giường.
        
        Tôi mở mắt: anh Bốn.
        
        Anh đang công tác ở các làng quanh đây, rẽ vào thăm chúng tôi. Hôm nay anh cắt tóc ngắn và mặc quần áo bà ba xám, nên trông lạ hẳn. Đôi tai không còn lủng lẳng vòng đồng.
        
        Chỉ có dáng điệu vẫn như xưa. Anh vừa nói chuyện vừa bỏm bẻm nhai trầu, thỉnh thoảng lại thảy vào mồm một nhúm thuốc lá bột.
        
        Độ nọ ghé vào một trạm giao liên, anh còn để tóc dài chấm vai, choàng giồ1 và cầm cây vụ dài. Tôi đưa ra một quả rừng, hỏi có ăn được không, anh tươi cười đáp: "Được ăn", chứ không phải "ăn được".
        
        Ít lâu sau, gặp lại anh trong một hội nghị, tôi lại thấy anh nói tiếng phổ thông rất sõi.
        
        Té ra anh là người Kinh!
        
        Bốn thuộc lớp cán bộ kháng chiến lên các làng miền núi phục vụ từ hàng chục năm nay. Hết kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mỹ, các anh ở luôn trên núi. Do hoàn cảnh chiến đấu khốc liệt, đặc biệt là trong thời kỳ chiếm đóng của Mỹ - Diệm, các anh buộc phải thay hình đổi dạng, tạm quên cả cái tên mình. Từ hình dáng đến tiếng nói, các anh hoàn toàn trở thành người địa phương.
        
        Mấy lần Bốn đụng đầu với bọn cán bộ "công dân vụ" và lính ngụy ngay trong làng. Nhưng chúng chẳng nghi ngờ gì.
        
        Một lần căng nhất, thằng đồn trưởng bắt dân làng tập hợp để hắn "nhận diện cộng sản". Hắn đút tay túi quần, vừa đi bước một vừa nhìn trừng trừng vào mặt từng người.
        
        Ai nấy vô cùng hồi hộp. Nhưng Bốn thản nhiên.
        
        Thằng thong manh hoạnh họe một lát rồi cuốn xéo.

-----------
1. Giồ: tấm choàng bằng vải nhiều màu của đồng bào Thượng.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 09:08:23 am
       
Chiếc noa
       
        Anh Bốn ở chơi với chúng tôi hai ngày.
       
        Anh nói:
       
        - Mình cứ lụi bụi mãi, không theo dõi được thời sự. Tình hình Lào tới đâu rồi, các anh?
       
        Chúng tôi nói chuyện với anh về các sự kiện đang diễn ra ở Viên-chăn, nơi mà một đại úy quân đội vương quốc vừa làm đảo chính. Nghe chuyện, xem bản đồ, anh rất thích.
       
        Bốn lại hỏi sang nhiều chuyện thời sự quốc tế khác. Sẵn lòng quý mến anh, nên có bao nhiêu "tủ" chúng tôi dốc ra hết, không tiếc anh điều gì.
       
        Buổi chiều ăn cơm xong, Bốn dẫn chúng tôi ra suối, bày cho cách bắt cá bằng tay không. Anh đưa tay vào hốc cá rất êm, mơn man con cá rồi chộp luôn.
       
        Chúng tôi chịu, không làm theo được.
       
        Anh lại truyền kinh nghiệm câu cá chình, mách cho những hốc có nhiều cá chình. Cái này thì được, chúng tôi tiếp thu nhanh. Khi con cá dài thượt, vàng óng và lốm đốm hoa được kéo về nhà, ai nấy đều vỗ tay reo mừng. Nhiều anh lần đầu thưởng thức món cá chình Trường Sơn, cứ tấm tắc khen, cho là loại cá thơm ngon vào bậc nhất.
       
        Qua hai hôm, Bốn đối với chúng tôi đã như người trong nhà. Hình như lâu lắm, anh mới có được hai ngày thanh thản như vậy.
       
        Lúc tạm biệt, anh ngỏ ý mong chúng tôi năng đến thăm chơi các làng.
       
        Hồi này, mặc dù bước vào chiến tranh, máy bay địch bắt đầu bắn phá, nhưng đời sống nhân dân vùng căn cứ thơ thới khác hẳn trước.
       
        Đồng bào lập các tổ vần công, thách bắt thi đua sản xuất Đông Xuân, thi đua thực hiện "làng ba sạch" (ăn sạch, uống sạch, ở sạch).

        Chính quyền cách mạng lâm thời khẩn trương tổ chức việc tiếp tế muối, vải, nông cụ, thuốc men,… Cách cơ quan chúng tôi không xa, một lò rèn được dựng lên, búa đập chan chát suốt ngày. Cạnh đó, có hợp tác xã mua bán, nhân dân tấp nập đến "bán" các thứ lâm thổ sản và "mua" vật dụng gia đình, theo lối hàng đổi hàng. Cán bộ cơ quan thì có thể dùng tiền mua một số hàng ở đây như mật ong, nếp,… Núi rừng Trường Sơn vốn hiếm hoi quán xá, nay có một cửa hàng như thế này thật tươi vui hẳn lên.
       
        Khắp vùng căn cứ, các lớp và tổ học vỡ lòng, bình dân, bổ túc,… mọc lên như măng mọc sau mưa.
       
        Các hội quần chúng ra công khai từ lúc đồng khởi, nay được đưa vào sinh hoạt có nền nếp, thu hút thêm nhiều hội viên. Cán bộ xuất hiện và được đào tạo hàng loạt.
       
        Số anh em trước đây ở "Đỗ Xá" thích nhất là được gặp lại hoặc được biết tin về những người quen cũ ở địa phương nay đã vụt trưởng thành trong phong trào hoặc đã chuyển sang một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ. Chẳng hạn cô Mai đã là Phó bí thư chi bộ kiêm Thôn đội trưởng. Cậu em của cô được đưa ra Bắc học. Còn đồng chí bí thơ chi bộ "kiêm" thôn trưởng dạo nào đã làm tôi lạnh gáy thì một hôm thấy tôi cùng mấy anh em vào làng nhận gạo liền kéo luôn lên nhà sàn thết một bữa rượu nếp nhắm với thịt nai ê hề và cho biết đồng chí đã được bầu vào Huyện ủy (mấy tháng sau, đi dự lễ hội thành lập ủy ban dân tộc tự trị huyện, tôi thấy đồng chí cười nói hoạt bát và múa rất khéo chứ không lầm lì như tôi vẫn tưởng).
       
        Cũng như cơ quan Thường vụ Khu ủy, anh em "Làng Tuấn" nhắc nhau tích cực làm công tác dân vận, cười dặn nhau tránh "dân giận". Gặp nhân dân, chúng tôi nói chuyện đánh Mỹ - ngụy, góp ý kiến phòng bệnh và chữa bệnh, dạy thiếu nhi ca múa,… Một số đồng chí chăm chỉ học tiếng dân tộc và có tác phong tốt, được đồng bào đặc biệt yêu mến.
       
        Vài lần, chúng tôi giúp nhân dân làm cỏ sắn. Nói là "giúp" chứ kỳ thực làm cỏ xong, chúng tôi được dân cho hưởng luôn các rẫy đó, vì là "rẫy cách mạng".
       
        Thời gian này, tôi mới có dịp cầm lâu trong tay một chiếc noa.
       
        Đó là một lưỡi rựa cùn, người ta uốn cong và tra cán ngắn thành một cái cào cỏ.
       
        Dùng cào này làm cỏ sắn, giỏi lắm một ngày được năm mươi mét vuông. Nếu là cỏ rậm ở rẫy lúa thì mỗi ngày dọn không được một khoảnh ba chiếc chiếu.
       
        Tôi ngắm đi ngắm lại chiếc noa, lòng thấy bồi hồi.
       
        Trường Sơn nuôi lớn cả một phong trào cách mạng bằng những nông cụ thô sơ như thế này đây!
       
        Trường Sơn và cả nước ta, với những công cụ sản xuất thô sơ như thế này hoặc tốt hơn ít nhiều, đang làm cách mạng chống lại đế quốc Mỹ xâm lược có kỹ thuật hiện đại bậc nhất.
       
        Vậy mà chúng ta biết rất rõ rằng chúng ta nắm chắc phần thắng trong tay.


Tiêu đề: Re: Bước chuyển lớn trên Trường Sơn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2016, 09:12:27 am
       
Chuyện cuối năm
       
        Không hiểu sao từ dạo anh Bốn đến thăm, đời sống cơ quan khá hẳn lên.
       
        Mấy đồng chí quản trị đi đâu về cũng hớn hở báo tin: "Thắng lợi!".
       
        Thức độn dự trữ đủ ăn ngày ba bữa.
       
        Heo nuôi được dăm con vừa lớn vừa nhỏ, con sắp sửa thịt, con để gây giống, con để dành ăn Tết.
       
        Thịt voi săn được, sấy khô, xếp cạnh bếp hàng chục gùi.
       
        Chúng tôi được biết thế nào là chất trong lành và ngây ngất của rượu đoát, một chất nước trong có men say như rượu lấy từ bẹ cây đoát mọc rải rác trong rừng sâu.
       
        Tối tối trời rét, anh em đóng kín cửa, đốt lửa sưởi và nướng sắn, nướng thịt voi. Quanh ngọn lửa cháy rực, thôi thì đủ chuyện trên trời dưới đất. Có anh cao hứng: "Ai bảo Tây Nguyên là khổ?" và quả quyết rằng gì chứ "bát trân" (tám món ăn qúy trong sách xưa) mà không nói tới tủy ngà voi chưng cách thủy và cá chình om thì thiệt là thiếu sót vô chừng,…
       
        Đúng là hồi này chúng tôi "lên voi".
       
        Do bớt vất vả chạy ăn nên anh em làm việc chuyên môn được nhiều hơn và cũng bắt đầu nghĩ đến chuyện giải trí có lợi.
       
        Chúng tôi bàn với cơ quan bạn bên kia suối (lúc này đời sống cũng đã khá hơn) lập một câu lạc bộ, hằng tuần gặp nhau kể chuyện chiến đấu, nói thời sự, ngâm thơ, ca hát… Ra những bản tin nhỏ, những bài thời sự ngắn, và cả một số bài thơ chép qua đài phát thanh, chúng tôi rất được khuyến khích khi bạn cho biết chiến sĩ các đơn vị quân đội chuyền tay nhau đọc đến rách nát các bản đánh máy.
       
        Một số anh em ngày ngày sang dự các cuộc giao ban của Quân khu vui sướng theo dõi trên bản đồ sự chuyển động linh hoạt của vô vàn mũi tên đỏ chỉ các hướng lực lượng vũ trang nhân dân tiến công địch và giúp sức quần chúng nổi dậy, trong đó có những mũi tên đã thọc về hướng đồng bằng!
       
        Thỉnh thoảng, các anh trong Thường vụ Khu ủy đến thăm chúng tôi.
       
        Các anh hỏi chuyện ăn ở, ra vườn xem rau, vuốt ve mấy quả trứng gà mới đẻ trong ổ và trao đổi kinh nghiệm nuôi gà.
       
        Rất hào hứng, các anh luận bàn về các trận giao hữu bóng đá quốc tế đang diễn ra ở Hà Nội nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12).
       
        Mỗi lần chúng tôi gợi hỏi chuyện thế giới trong nước, các anh cười: "ờ, mình lại định hỏi các nhà tuyên truyền đây…".
       
        Thực ra, các anh không có thì giờ ngồi lâu chuyện vãn.
       
        Nhưng một hôm, chắc không nén được nỗi vui mừng, anh Tư Cương1 vừa đến ngồi chơi một lát đã hỏi chúng tôi:
       
        - Các anh biết chuyện gì chưa?
       
        Trông nét mặt tươi rói của anh, chúng tôi đoán trăm phần trăm đây chỉ là chuyện vui và là chuyện vui lớn.
       
        Anh lại cười, nói tiếp:
       
        - Chà, chuyến này mình lại được thông tin cho các nhà thông tin tuyên truyền. Tin quan trọng lắm: miền Nam sắp có Mặt trận và một lá cờ… Các anh đoán thử xem cờ như thế nào?
       
        Dĩ nhiên, chẳng ai đoán đúng.
       
        Nhưng ai cũng náo nức, xúc động.
       
        Vào những ngày cuối của năm 1960 không thể quên, dấu hỏi về màu sắc một lá cờ cứ vấn vương tâm trí chúng tôi. ấy vậy mà, đơn giản biết bao, đó chỉ là lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc, vào giai đoạn lịch sử này có thêm màu xanh với những ý nghĩa sâu xa, và phải chăng đó cũng là màu xanh của hy vọng, niềm hy vọng được thắp sáng từ Nghị quyết 15 - một nghị quyết của ý Đảng, lòng dân, niềm hy vọng tiếp sức "xẻ dọc Trường Sơn", tiếp sức quân và dân cả nước dấn bước trường chinh suốt 15 năm, đưa sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước tới toàn thắng!

----------------
1. Đồng chí Trương Chí Cương, Phó bí thư Khu ủy Khu 5.
               
HẾT