Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 08:21:58 AM



Tiêu đề: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 08:21:58 AM
        
        - Tên sách: Người tìm chìa khóa vàng
        - Tác giả: Nguyễn Công Huy
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Văn học
        - Số hóa: Giangtvx

        - Thông tin thêm: Là  một phi công lái máy bay lúc ông Trần Mạnh đã là trung đoàn trưởng một trung đoàn phi công tiêm kích, Nguyễn Công Huy kể lại những năm tháng trăn trở của ông khi tìm cách đối đầu với lực lượng không quân hùng mạnh của đế quốc Mỹ.

        Không thể lấy số lượng máy bay ta để thắng máy bay Mỹ, cũng không thể lấy kỹ thuật của ta để đối chọi với kỹ thuật Mỹ. Vậy muốn thắng Mỹ chỉ còn trông chờ vào cách đánh.

        Tìm ra cách đánh phù hợp là tìm ra chìa khóa vàng để không quân Viết Nam giành chiến thắng trước không quân Mỹ!  

        Nguyễn Công Huy cũng là thành viên trong diễn đàn, có nickname là Phicôngtiêmkích. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trong các topic mà ông thành lập và chủ trì. Có thể trao đổi trực tiếp với tác giả ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=29092.0

        MỤC LỤC

        LỜI NÓI ĐẦU   

        1.   Nguồn cội    
        2.   Từ Chính ủy trở thành phi công tiêm kích   
        3.   Kiến trúc sư không chiến   
        4.   Thương trường là chiến trường   
        5.   Hạnh phúc ngọt ngào   
        6.   Tiếng vọng mai sau    

        Thay cho lời kết   


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2015_zps9rgxy0xj.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2017_zpsizylapnp.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%201_zpsa5umajuj.jpg)
Thiếu tướng Trần Mạnh (tức Mai Cao Đa)
(1928 - 1992)




Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2016, 07:36:52 AM
         
Lời nói đầu

        Sẽ không công bằng và thật thiếu sót khi nói đến những trận không chiến mà chỉ nói đến những chiến công bắn rơi máy bay địch, chỉ nhắc đến các phi công lập thành tích mà quên không nhắc đến những thành phần kiến tạo nên trận đánh.

        Để có được một chuyến bay, lại là chuyến bay xuất kích chiến đấu lên trời thì phải có rất nhiều thành phần liên quan, từ việc chuẩn bị máy bay, chuẩn bị cho phi công... đến việc chỉ huy dẫn dắt.

        Một trong những thành phần quan £rọng nhất chính là người chỉ huy cùng kíp trực chỉ huy ở sở chỉ huy. Mỗi khẩu lệnh phát ra từ sỏ chỉ huy đều dẫn đến sự thành công hay thất bại của  trận đánh.

        Các vị chỉ huy đều là những phi công. Họ có thể là những người từng kinh qua trận mạc, từng tham gia nhiều trận không chiến, cũng có thể là chưa kịp, chưa có cơ hội lao vào những cuộc không chiến vì phải trực liên tục ở Sở chỉ huy.

        Ông Trần Mạnh thuộc vào số sau. Ông không trực tiếp tham gia những trận không chiến. Ông thường xuyên trực ở các sở chỉ huy - cơ quan đầu não quan trọng cùng với những quyết định quan trọng.

        Vào cuối tháng 4 năm 1968, khi “Đoàn bay MiG-21 khóa 3” của chúng tôi tốt nghiệp về nước thì ông đã là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Tôi không có vinh dự được bay với ông, nhưng những ai đã từng bay với ông đều có chung một nhận xét về ông: “Đấy là một phi công nhìn nhận mọi vấn đề, mọi khía cạnh rất sắc sảo, là người chỉ huy tài năng với tính tình thật điềm đạm mà thẳng thắn!”

        Ông là người có khả năng tổng kết trận đánh và nâng lên thành chiến thuật, thành những cách đánh hiệu quả cho MiG-21 giành thắng lợi. Phi công Anh hùng Nguyễn Văn Cốc - người bắn rơi 9 máy bay Mỹ gọi ông là “Cha đẻ của chiến thuật Không quân Việt Nam”. Còn khi tôi có dịp gặp Trung tướng Trần Hanh - phi công tiêm kích, Anh hùng lực lượng vũ trang - người có thời gian dài sông vói ông Trần Mạnh ở Trung đoàn Không quân Sao Đỏ và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân thì Trung tướng Trần Hanh nói với tôi: “Anh Trần Mạnh ít người biết lắm và ít người viết lắm. Cậu viết được là tốt đấy!”

        Ông như một vị nhạc trưởng của dàn nhạc, là người kiến tạo nên thắng lợi của các trận đánh.

        Nhà báo Vũ Thành đã viết về ông: “Nếu như mỗi chiến công bắn rơi máy bay Mỹ, các phi công và chỉ huy được tặng một Huân chương thì ngực áo của Trần Mạnh - người chỉ huy gần 100 trận không chiến thắng lợi, chắc không còn chỗ để đeo Huân chương...”

        Suốt trong 46 năm công tác và hoạt động của mình, ông đã trải qua 3 giai đoạn ở 3 lĩnh vực 'khác nhau: là lính bộ binh, Chính ủy Trung đoàn thời kháng chiến chống Pháp, là phi công tiêm kích, là người lãnh đạo chỉ huy của nhiều đơn vị trong Không quân thời chống Mỹ rồi là Tổng Cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam thời kỳ đổi mới.

        Giai đoạn nào ông cũng để lại những dấu ấn đặc biệt và như một người luôn gắn liền với những thời điểm có những bước chuyển đổi, bước ngoặt quan trọng.

        Bệnh tật đã cướp ông đi ở cái độ chưa đến tuổi “cổ lai hy” trong niềm tiếc thương, đau xót của những người thân, đồng đội và đồng nghiệp của ông. Tôi luôn nghĩ ông là một người chỉ huy - một vị tướng có TÂM, có TẦM và có TÀI.

        Xin được trân trọng giới thiệu cùng các bạn đọc về người phi công tiêm kích - người chỉ huy tài năng ấy.

        Xin cám ơn gia đình, người thân cùng đồng đội, đồng nghiệp của ông Trần Mạnh đã cung cấp cho tôi những tư liệu, những thông tin quý giá, đã động viên tôi hoàn thành cuốn sách này và xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của ông.

        Có thể, trong quá trình biên soạn còn có những thiếu sót. Rất mong nhận được những lời góp ý và chia sẻ cùng tác giả.

        Trân trọng cám ơn!

TÁC GIẢ       


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2016, 07:39:28 AM

1. NGUỒN CỘI

        Khi cậu bé Mai Cao Đa cát tiếng khóc chào đời tại thành phố Đà Lạt thơ mộng, lúc đó không một ai nghĩ được rằng sau này cậu bé ấy lợi trờ thành Chính ủy Trung đoàn, rồi thành một phi công tiêm kích và hơn thế nữa, lại là một “kiến trúc sư” của các trận không chiến.

        Tôi mời các bạn đọc đi ngược dòng lịch sử một chút - về với phong trào Cần Vương.

        Phong trào cần Vương nổ ra vào cuối thế kỷ XIX, do đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị Hoàng đế trẻ Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp.

        Cần Vương mang ý nghĩa là “giúp vua”. Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, trước thời nhà Nguyễn từng có những lực lượng nhân danh giúp nhà vua phát sinh như ở thời Lê sơ, các cánh quân đã hưởng ứng lòi kêu gọi của vua Lê Chiêu Tông chống lại quyền thần Mạc Đăng Dung. Tuy nhiên, phong trào này không để lại nhiều dấu ấn và khi nhắc tới Cần Vương, mọi người thường hiểu đấy là phong trào chống Pháp xâm lược.

        Phong trào cần Vương do Tôn Thất Thuyết khởi xướng đã thu hút được một số quan lại trong triều đình và văn thân. Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giò. Phong trào Cần Vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứng “Chiếu cần Vương” của vua Hàm Nghi, kéo dài 11 năm, từ năm 1885 cho đến năm 1896.

        Sau cuộc tấn công tại kinh thành Huế thất bại, đại thần Tôn Thất Thuyết - một người thuộc phe chủ chiến đã đưa vua Hàm Nghi ra ngoài thành và phát hịch Cần Vương chống Pháp. Bấy giờ, người Pháp dựng vua Đồng Khánh lên ngôi tại Huế. Ngoài cuộc khởi nghĩa Cần Vương của vua Hàm

        Nghi, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn còn có các cuộc khỏi nghĩa khác hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi là:

        - Nghĩa hội Quảng Nam của Nguyễn Duy Hiệu.

        - Khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương Khê - Hà Tĩnh.

        - Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An.

        - Khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga Sơn - Thanh Hóa.

        - Khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định.

        - Khởi nghĩa Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân ở Bá Thước và Quảng Xương - Thanh Hóa.

        - Khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên.

        - Phong trào kháng chiến ở Thái Bình, Nam Định của Tạ Quang Hiện và Phạm Huy Quang.

        - Khởi nghĩa Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và Yên Bái.

        - Khởi nghĩa Sông Đà của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa Bình.

        Đêm 30 tháng 10 năm 1888, vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt trong lúc mọi người đang ngủ say. Bắt được vua Hàm Nghi, thực dân Pháp ra sức dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc nhà vua trẻ cộng tác với chúng, nhưng vua Hàm Nghi đã từ chối quyết liệt. Không mua chuộc được vua Hàm Nghi, thực dân Pháp liền đưa ngài đi an trí tại Angieria - một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi (châu Phi), thực chất là đi đày.

        Vua Hàm Nghi bị bắt nhưng các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, phong trào cần Vương suy yếu dần, từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt: từ cuối năm 1895 đến đầu năm 1896, khi tiếng súng cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại thì phong trào Cần Vương coi như chấm dứt hẳn.

        Trong tất cả các cuộc khởi nghĩa cần Vương hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, tôi lưu tâm nhất đến cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định. Trong cấp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Bình Định ấy thì thực dân Pháp và tay chân của chúng, đặc biệt là Trần Bá Lộc, sợ nhất là Nguyên soái Mai Xuân Thưởng, Đại tướng Nguyễn Cang và Thống binh Nguyễn Hóa.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2016, 07:42:17 AM

        Tôi xin được nói kỹ hơn về vị Nguyên soái Mai Xuân Thưởng.

        Mai Xuân Thưỏng là ngưòi thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tay Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha ông là Mai Xuân Tín, từng làm bố chính tỉnh Cao Bằng. Mẹ là bà Huỳnh Thị Nguyệt, con một nhà quyền quý trong làng.

        Thuở nhỏ, ông thông minh, ham học. Năm lên 6 tuổi, cha mất sớm. ông lớn lên dưới sự nuôi dạy của mẹ và của tú tài Lê Duy Cung, nên ông giỏi cả văn lẫn võ. Năm 1878, Mai Xuân Thưởng thi đỗ tú tài.

        Đầu tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), nổ ra cuộc phản công của phe chủ chiến ở kinh thành Huế. Khi ấy ở Bình Định đang diễn ra cuộc thi Hương. Đến khi nghe tin Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ Cần Vương, mấy nghìn sĩ tử liền bỏ thi, trở về quê tụ nghĩa. Ở lại thi tiếp chỉ còn có 8 người và tất cả đều trúng tuyển cử nhân, trong số đó có Mai Xuân Thưởng.

        Giai thoại có một chi tiết là: Khi ban áo mão, quan chánh chủ khảo tặng 8 ông tân khoa một bài thơ luật Đường như sau:

                                  Sơn hà phong cảnh dị tiền niên
                                  Hoành khán du khan thủ địa huyền
                                  Hậu mãn xương môn trần ảm ngoại
                                  Lệ linh văn viện bút đình biên
                                  Lịch truyền giáo dục ân như hải
                                  Bát giải thinh danh thẩm thị tiên
                                  Nhất dự y quan nan tự ủy
                                  Cương thường khán tủ cổ anh hiền


        Tạm dịch:

                                  Non sông rày đã khác xưa
                                  Gương nêu tài tuấn còn nêu chôn này
                                  Hận tràn, cung khuyết bụi bay
                                  Tay cam dừng bút, lệ đầy viện văn
                                  Bao triều tắm gội biển ân
                                  Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao
                                  Cân đai trót đã dự vào
                                  Cương thường noi dấu anh hào soi chung


        Tương truyền rằng, trước khi khảo lại các quyển thi, quan chánh chủ khảo nằm mộng thấy một bà lão cầm tặng cho ông một nhành mai trắng chỉ trổ một bông nhụy vàng, cánh trắng, mùi hương tỏa nhẹ nhàng. Viên quan vừa đưa tay nâng thì hoa rụng vào nghiên bút và bà lão biến mất. Viên quan giật mình tỉnh dậy, bâng khuâng không biết đấy là ứng vào điềm gì.

        Khi xét thấy trong 8 ông cử nhân có một ông họ Mai và xem lại quyển văn thì thấy văn chương có khí phách liền đoán rằng điềm ứng vào Mai Xuân Thưởng nên sau khi ban áo mão xong, quan mời riêng Mai Xuân Thưỏng vào dặn:

        - Lúc này nước nhà mất, một phần lớn do nơi đám sĩ phu. Cho nên làm việc gì cũng phải hết sức thận trọng.

        Mai Xuân Thưởng lĩnh ý lui ra, trở về quê Phú Lạc chiêu mộ nghĩa sĩ, lập căn cứ ở Hòn Sưng (nay thuộc thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn).

        Khi ấy, nguyên Tổng đốc Đoàn Doãn Địch sau khi về Bình Định truyền hịch Cần Vương cũng đã chiêu mộ được khoảng 600 nghĩa quân rồi đóng quân ỏ thôn Tùng Giản (nay thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước). Từ đó cho đến năm 1887, phong trào Cần Vương ở Bình Định diễn ra rất sôi nổi và lan nhanh đến Quảng Ngãi, Phú Yên... lôi kéo hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia.

        Giữa tháng 7 năm 1885, chủ tướng Đoàn Doãn Địch tổ chức đánh chiếm thành tỉnh Bình Định. Trừng trị viên quan thân thực dân Pháp là Tổng đốc Lê Thận xong, quân của ông còn kéo nhau đi đánh phá các làng theo đạo Thiên Chúa giáo. Từ Quy Nhơn, quân Pháp kéo lên đàn áp. Đoàn Doãn Địch dàn quân kháng cự. Hai bên giao tranh dữ dội ở Trường Úc và Phong Niên. Trước hỏa lực mạnh, lực lượng của Đoàn Doãn Địch bị đánh tan, buộc vị thủ lĩnh phải rút chạy về đại bản doanh của Mai Xuân Thưởng lúc này đang đặt tại Lộc Đổng (Đồng Hươu) ở thôn Phú Phong (huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định).

        Tháng 9 năm đó, Đoàn Doãn Địch lâm bệnh mất. Trước đấy, khi Mai Xuân Thưởng ứng nghĩa, Đoàn Doãn Địch đã phong ông làm Tán tương quân vụ. Nay trước khi mất, ông cử Mai Xuân Thưởng lên làm Nguyên soái thay mình.

        Sau khi làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, Mai Xuân Thưỏng cho xuất quân và giao chiến với đối phương nhiều trận tại cẩm Vân, Phú Thiện, Hòn Kho (Tiên Thuận). Hồi này, theo giúp sức Mai Xuân Thưởng có các ông: Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Bùi Điển, Đặng Đề, Nguyễn Hóa, Lê Thượng Nghĩa, Hồ Tá Quốc, Võ Đạt... cùng hàng ngàn sĩ phu và nhân dân các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: gamma2 trong 22 Tháng Bảy, 2016, 11:57:07 AM
Chào bác Giangtvx, chúc mừng bác bắt tay vào số hoá " Người tìm chìa khoá vàng", chúc bác nhiều sức khoẻ và niềm vui trong công việc đã định và trong cuộc sống.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2016, 10:10:24 PM

        Để động viên tinh thần binh sĩ và cũng là để nói lên chí khí của mình, Mai Xuân Thưởng từng viết bài thơ trong khi chiến đấu như sau:

                           Chết nào có sợ, chết như chơi
                           Chết bởi vì dân, chết bởi thời
                           Chết hiếu chi nài xương thịt nát
                           Chết trung bao quản cổ đầu rơi
                           Chết nhân tiếng để vang nghìn thuở
                           Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời
                           Thà chịu chết vinh hơn sống nhục
                           Chết nào có sợ, chết như chơi!

        Nhận thấy lực lượng của Mai Xuân Thưởng ngày càng lớn mạnh và đã gây ra nhiều thiệt hại cho mình, Soái phủ Sài Gòn liền điều Thiếu tá De Lorme đem pháo thuyền án ngữ biển Quy Nhơn, đồng thòi sai Trần Bá Lộc mang quân từ Khánh Hòa đánh ra, Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh vào. Nhờ có pháo binh yểm trợ, hai cánh quân này nhanh chóng gặp nhau tại Bình Định rồi cùng tiến lên Phú Phong mặc sức tàn phá.

        Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (An Nhơn), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng phải cho rút tàn quân vào Linh Đỗng (núi Phú Phong) ẩn náu, tính kế lâu dài.

        Rồi Mai Xuân Thưởng bị bắt vào ngày mồng 4 tháng 5 năm 1887. Sau ông, những thủ lĩnh cuối cùng như Nguyễn Ngọc Loan, Lê Khanh... cũng bị bắt hết.

        Trần Bá Lộc dụ hàng. Mai Xuân Thưởng khẳng khái nói:

        - Chỉ có đoạn đầu tướng quân chứ không có hàng đầu tướng quân!

        Biết không thể khuất phục được ông, chúng đã đưa ông cùng các thuộc hạ ra xử trảm tại Gò Chàm (phía đông thành Bình Định cũ). Trước lúc bị hành hình, ông còn khẳng khái đọc bài thơ:

                           Không tính làm chi việc mất còn
                           Nợ trai lo trả ấy là khôn
                           Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước
                           Đá tạc lòng trung quý mấy hòn
                           Tái ngắt mặt gian xương tợ giá
                           Đỏ lòe bìa sách mấu là son
                           Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới
                           Một nhánh mai già nảy rậm non!


        Thi hài ông sau đó được đưa về an táng tại Cây Muồng (nơi cha ông đã yên nghỉ), thuộc thôn Phú Lạc.

        Năm 1961, nhà thơ Quách Tấn và nhiều người dân đứng ra vận động xây dựng lăng mộ nhà Mai Xuân Thưởng và các lãnh tụ cần Vương khác của quê hương Bình Định.

        Ngày 22 tháng 1 năm 1961, nhân dân Tây Sơn làm lễ đưa hài cốt ông từ Phú Lạc về lăng mộ trên một quả đồi cao thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường. Đây cũng chính là căn cứ mà lúc sinh thời, ông dựng cờ khởi nghĩa.

        Sau khi Mai Xuân Thưởng cùng gia đình và các thuộc hạ của ông bị xử trảm, để tránh bị truy nã và sát hại, dòng họ Mai Xuân đã phải đổi thay danh tính, trong đó có một chi đã chuyển từ Mai Xuân thành Mai Cao như chi của cụ Mai Cao Chí.

        Cụ Mai Cao Chí chuyển gia đình đến sinh sống tại xã Vĩnh Lai.

        Cụ Mai Cao Chí sinh thời nổi tiếng là một thầy thuốc giỏi, chữa giúp cho nhiều người, được mệnh danh là “thầy thuốc mát tay”. Cụ cũng là một họa sĩ, điêu khắc nổi tiếng. Tác phẩm của cụ từng đoạt giải thưởng khi tham dự “Hội chợ thuộc địa” tổ chức tại Pháp (Marseille) vào năm 1922. Phía Pháp tính trợ cấp học bổng cho cụ để đưa cụ sang Pháp học, nhưng cụ từ chối. Tác phẩm của cụ vẫn còn được trưng bày ở một bảo tàng Marseille, Pháp. Một người trong dòng họ nhà cụ đã thấy và khẳng định vậy.

        Cụ có 2 người con là Mai Cao Lương và Mai Cao Đống.

        Ông Mai Cao Lương được người trong vùng gọi là ông Trợ Lương, làm nghề dạy học và cũng rất giỏi nghề hát bội, từng là thầy dạy của nhà thơ Quách Tấn. Con của ông Mai Cao Lương là Mai Cao Chương - Giáo sư, Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng (công trình nghiên cứu và dịch thuật đáng chú ý nhât là tập sách Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn (viết chung với Đoàn Lê Giang, NXB. Khoa học xã hội, 1996) và bộ tiểu thuyết truyền kỳ Kim cổ kỳ quan (NXB. Tổng hợp Đồng Tháp).

        Ông Mai Cao Đống vốn là kỹ sư công chánh, làm nghề thầu xây dựng nên thường nay đây mai đó theo các công trình của Pháp thuộc. Ông rất giỏi tiếng Pháp, có thể dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp và luôn tự hào là người giỏi chữ Pháp hơn người Pháp.

        Vào giai đoạn đầu những năm 1920, khi người Pháp khảo sát các địa điểm nghỉ dưỡng trên đất nước ta xong, họ triển khai xây dựng thành phố Đà Lạt với phong thái kiến trúc như một “tiểu Paris của phương Đông”. Mai Cao Đông đã tham gia xây dựng nhiều công trình, trong đó có khách sạn Dalat Palace và nhiều căn biệt thự theo trường phái une architecture indochinoise của kiến trúc sư ngưòi Pháp Ernest Hebrard, bên bờ hồ Xuân Hương.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2016, 10:12:59 PM

        Ông Mai Cao Đống có 3 người con trai là Mai Cao Đa, Mai Cao Văn và Mai Cao Võ.

        Chính ỏ thành phố Đà Lạt đầy thơ mộng này, vào ngày đầu của tháng 5 năm 1928, cậu bé Mai Cao Đa đã cất tiếng khóc chào đòi. Khi cậu bé Mai Cao Đa ra đời, lúc đó không một ai nghĩ được rằng sau này cậu bé ấy lại trở thành Chính ủy Trung đoàn, rồi thành một phi công tiêm kích và hơn thế nữa, lại là một “kiến trúc sư” của chiến thuật MiG-21, “kiến trúc sư” của các trận không chiến.

        Cái tên Đa được đặt có lẽ là để kỷ niệm về thành phố- Đà Lạt mộng mơ này (vì xưa kia Đà Lạt có tên là Đa Lạt, Đạ Lạch, Cam Ly suối (theo ngôn ngữ của người Thượng, Da hay Dak có nghĩa là nước của bộ tộc người Lạt). Mà biết đâu lại chẳng có hàm ý là “túc trí đa mưu” để sau này ứng vào khi tìm những chiến thuật, những cách đánh cho MiG- 21 thì sao? Tôi không dám bàn luận thêm về vấn đề này.

        Chỉ biết rằng, cậu bé Mai Cao Đa đã sống, đã trải qua tuổi niên thiếu của mình tại thành phố Đà Lạt này - nơi pha trộn nền văn hóa kiến trúc Pháp với những nét văn hóa Tây Nguyên đầy bản sắc.

        Cậu bé Mai Cao Đa bấy giờ được gửi cho một bà họ hàng bên ngoại là bà Bôn nuôi nấng. Tuổi thơ của cậu hòa nhịp và cùng lớn theo đám con cháu của bà Bốn. Bà Bốn coi Mai Cao Đa như con và như người anh cả của đám con cháu bà là Hữu, Việt, Đường... (sau này Mạc Như Đường trở thành giáo sư, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh).

        Rồi cậu bé Mai Cao Đa về Quy Nhơn theo học tại trường Quốc học Quy Nhơn (College de Quy Nhon), học hết, Thành chung. Sau khi lấy bằng Thành chung ở Quốc học Quy Nhơn, Mai Cao Đa vào Sài Gòn ở với bố mẹ và theo học tại trường Petrus Ký nổi tiếng. Trường Petrus Ký từng là nơi các văn sĩ và các nhà cách mạng nổi tiếng như Huỳnh Văn Nghệ, Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước... theo học. Trong thời gian học ở trường Petrus Ký, Mai Cao Đa đã nhiều lần phản kháng gay gắt chương trình dạy lịch sử kiểu thực dân của giáo viên Pháp. Tức tối và bất lực trước những lý lẽ phản kháng của Mai Cao Đa, giáo viên Pháp đã tấu trình lên trên và cậy quyền thế đuổi học Mai Cao Đa.

        Trước khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ngay từ năm 1944, khi mới 16 tuổi, chàng thanh niên Mai Cao Đa đã sớm giác ngộ và tham gia Đội thanh niên cứu quốc Sài Gòn - Gia Định, tham gia phong trào sinh viên phản đối chương trình lịch sử kiểu thực dân của giáo viên người Pháp... và là cán bộ quân sự Sài Gòn - Chợ Lớn. Mai Cao Đa được giao nhiệm vụ giữ kho súng, cất giữ vũ khí ngay tại nhà.

        Là một thanh niên năng động, được cất giữ súng ống tại nhà nên Mai Cao Đa rất thèm được bắn súng, nhưng còn e ngại. Tới khi có lệnh bàn giao kho súng cho tổ chức để chuẩn bị Cách mạng tháng Tám thì Mai Cao Đa đã tự ý mang súng ra ngoài đồng bắn thử để thỏa nguyện lòng mong ước của mình. Sau này, cái thú bắn súng ấy được thể hiện một cách điêu luyện, tài năng qua các cuộc đi săn trên những chặng đường công tác.

        Và để tránh liên lụy đến gia đình, để giữ bí mật cho cả các hoạt động của bản thân mình và của tổ chức, chàng thanh niên Mai Cao Đa đã đổi tên thành Trần Mạnh (có lúc là Trần Văn Mạnh).

        Vậy là từ đây, hầu như cái tên Mai Cao Đa chìm vào ký ức, không mấy khi được nhắc tới. Từ đây trở đi, mọi người chỉ biết đến cái tên Trần Mạnh - cái tên gắn với rất nhiều sự kiện về sau này. Những bước chuyển biến lớn trong đời của chàng Mai Cao Đa xưa - Trần Mạnh nay cũng đã bắt đầu.

        Đến năm 1946, sau khi Pháp gây hấn, tấn công Sài Gòn - Gia Định, cùng với rất nhiều thanh niên học sinh Sài Gòn, Trần Mạnh đã xung phong nhập ngũ.

        Tháng 10 năm 1947, Trần Mạnh đã được đồng chí Dương Cự Tẩm - người chỉ huy Chi đội Hải ngoại về chiến trường Nam Bộ để hỗ trợ kháng chiến giới thiệu vào Đảng. Tháng 10 năm 1948, Trần Mạnh được kết nạp Đảng và được chọn đi học Trường Quân chính Khu 8.

        Sau khi tốt nghiệp, Trần Mạnh được bổ nhiệm làm Chính trị viên Trung đội rồi Chính trị viên Đại đội 981, Trung đoàn 109, Khu 8.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2016, 09:23:30 AM

        Ngày 5 tháng 1 năm 1948, Tiểu đoàn 307 ra đời. Đến ngày 27 tháng 12 năm 1948 thì Bộ Tư lệnh Khu 8 quyết định thành lập Tiểu đoàn 308. Đây là hai đơn vị chủ lực của bộ đội Đông Nam Bộ. Ngày 20 tháng 3 năm 1949, tại Giồng La Ghì (thuộc xã Vĩnh Xuân, Trà ôn, Vĩnh Long), Tiểu đoàn 308 làm lễ xuất quân. Trần Mạnh được đích thân tướng Đồng Văn Cống điều về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 308. Khi ấy, Trần Mạnh mối tròn 20 tuổi.

        Lúc mới thành lập, Tiểu đoàn 308 có 1.300 cán bộ, chiến sĩ, chiến đấu trong đội hình liên Trung đoàn 109-111. Ngay từ ngày đầu ra quân, Tiểu đoàn 308 đã liên tiếp lập được những chiến công vang dội. Ví dụ như, tại địa bàn hoạt động là Vĩnh Long - Trà Vinh - Sóc Trăng - Cà Mau, tiểu đoàn 308 đã đối đầu với các đơn vị tinh nhuệ của địch được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại, hơn hẳn về tính năng và đã đánh tan nhiều đơn vị ấy của địch.

        Trên chiến trường Vĩnh Long, chiến công đầu tiên của Tiểu đoàn 308 là bắn rơi chiếc máy bay Pháp đầu tiên vào ngày 26 tháng 12 năm 1948 khi Tiểu đoàn về Mỹ Thạnh Trung chuẩn bị làm lễ chính thức thành lập Tiểu đoàn. Khi ấy, máy bay địch lao đến ném bom, không ngờ vấp ngay phải lưới lửa của Tiểu đoàn 308 bắn trả và một chiếc đã bị chiến sĩ Ngô Tùng Châu bắn hạ ngay lập tức (hiện nay vẫn còn tượng đài kỷ niệm đặt tại Tam Bình, Vĩnh Long).

        Chiến công này đã động viên, cổ vũ tinh thần cán bộ chiến sĩ toàn Tiểu đoàn 308 trước ngày thành lập, tạo đà tạo thế cho Tiểu đoàn 308 tiếp tục giành thắng lợi trong những trận chiến đấu tiếp theo.

        Sự kiện này chắc chắn cũng đã để lại dấu ấn sâu sắc và kinh nghiệm quý báu đối với Chính trị viên Trần Mạnh, giúp ông rất nhiều về sau này khi ông trỏ thành phi công tiêm kích, thành người chỉ huy để ông cùng đồng đội tìm ra cách đánh những máy bay hiện đại của Mỹ.

        Ngày 1 tháng 6 năm 1949, Tiểu đoàn 308 đã đánh tan cuộc càn của địch vào Đồng Tháp Mười, liền sau đó Tiểu đoàn 308 tập kích vào tỉnh lỵ Vĩnh Long, đánh đắm tàu địch trên sông Tiền và phá căn cứ hậu cần của thực dân Pháp.

        Tại thị trấn cầu Kè, địch lập 3 cứ điểm, ngoại vi còn có 31 đồn và 100 trạm gác. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 308 là phải phối hợp với các đơn vị bạn, nhổ toàn bộ căn cứ địch. Từ tháng 12 năm 1949 đến tháng 1 năm 1950, Tiểu đoàn 308 cùng các đơn vị bạn đã hoàn thành chiến dịch cầu Kè, đánh tan toàn bộ lực lượng của địch, giành thắng lợi to lớn.

        Đây là chiến dịch tấn công đầu tiên ở đồng bằng Nam Bộ đã giành được thắng lợi trọn vẹn về quân sự, binh vận, dân vận, tạo ra một vùng giải phóng rộng lớn, phá tan hệ thống đồn bốt của địch, mở rộng vùng đông dân Khmer ở cầu Kè, Trà Vinh.

        Sau chiến dịch này, Tiểu đoàn 308 đã được tặng cờ “Đơn vị lập công đầu” và được tặng thanh gươm “Đơn vị chủ công” của Bộ Tư lệnh Khu 8.

        Sau chiến dịch cầu Kè, Tiểu đoàn 308 tiếp tục tham gia chiến dịch cầu Ngang (Trà Vinh) rồi tiếp đến chiến dịch Bến Tre cùng với các đơn vị bạn giành thắng lợi ròn rã.

        Phải nói rằng, Tiểu đoàn 308 cùng với Tiểu đoàn 307 đã lập nên những chiến công oai hùng, hiển hách, lừng lẫy cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long qua các trận Tháp Mười, Mộc Hóa... nổi tiếng khắp Nam Bộ. Chắc hẳn ai ai cũng nhớ bài hát “Tiểu đoàn 307’ của nhạc sĩ Trần Hữu Trí phổ thơ Nguyễn Bính qua giọng hát của ca sĩ Quốc Hương - cựu chiến binh của đồng bằng Nam Bộ.

        Những trận đánh ấy đã làm cho “bao nhiêu quân Pháp run rẩy, sợ hãi”...

        Năm 1951, khi thành lập Tỉnh đội Vĩnh Trà (Vĩnh Long, Trà Vinh), Trần Mạnh được giữ chức Tỉnh đội trưởng, Tỉnh ủy viên tỉnh Vĩnh Trà khi mới 23 tuổi.

        Tiểu đoàn 308 bấy giờ cũng chuyển về hoạt động tại miền Tây Nam Bộ, ở các chiến trường Sóc Trăng, Cần Thơ...

        Đến năm 1954, Tiểu đoàn được lệnh của Bộ Quôc phòng tập kết ra Bắc, xóa phiên hiệu và có phiên hiệu mới là Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 330.

        Khoảng giữa năm 1953, theo chỉ thị của Bác Hồ, tướng Đồng Văn Cống được lệnh ra Bắc tham gia khóa tập huấn quân sự và dự Hội nghị Cán bộ trung cao cấp để nghe phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị và Kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2016, 09:31:30 AM

        Nhìn thấy trước khả năng phát triển lâu dài của Chính trị viên trẻ tuổi Trần Mạnh, đồng chí Đồng Văn Cống đặc biệt quan tâm và đề nghị đưa Trần Mạnh đi theo ông ra Bắc để học tập, đào tạo lâu dài.

        Trần Mạnh không thể nghĩ được rằng sau chuyến đi này, ông sẽ ở lại hẳn ngoài Bắc.

        Vậy là đoàn ra Bắc chỉ có mấy người: Đồng Văn Cống, Đào Sơn Tây, Trần Mạnh.,.

        Họ đi theo đường bộ qua các đường giao liên, dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ hết ngày này qua tháng khác, vừa đi vừa nghỉ rồi lại tiếp tục đi...

        Ngày nối ngày, đêm nối đêm. Bước chân vạn dặm của những người lính bộ binh từng chinh phục các đồn bốt địch trong suốt từng ấy năm không hề biết nghỉ, nay lại tiếp tục chinh phục chặng đường thiên lý đầy hiểm trở, gian nguy... Không hề biết mệt mỏi, không hề chùn bước.

        Tôi bỗng liên tưởng đến những lời trong bài hát “Bài ca Trường Sơn”, một sáng tác của nhạc sĩ Trần Chung:"... Trường Sơn ơi! Trên đường ta qua không một dấu chân người! Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác. Dừng ở lưng đèo mà nghe suốỉ hát. Ngắt một đóa hoa rừng cài lên mũ ta đi...” Những ca từ đẹp đẽ và cảnh tượng thơ mộng ấy chắc không dành cho đoàn của ông Trần Mạnh khi vượt Trường Sơn năm ấy.

        Tôi không thể tưởng tượng họ đã đi như thế nào để vượt được chặng đường dài thăm thẳm, xuyên rừng xuyên núi, vượt sông vượt suối..., nhưng với thời gian 1 năm 10 ngày, họ đã ra đến miền Bắc thì phải nói rằng chí khí, nghị lực, kỹ năng sông của họ thật đáng khâm phục, thật tuyệt vòi, mà như ngôn từ của lớp trẻ thời nay thì là “trên cả tuyệt vời”!

        Vì thời gian đi bộ dài như vậy nên khi Trần Mạnh ra đến Chiến khu Việt Bắc thì chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã tiến hành.

        Hòa bình lập lại, tháng 7 năm 1954, Trần Mạnh được cử đi học Trường Sĩ quan Lục quân khóa 9. Sau khi tốt nghiệp, ông được điều về làm Chính ủy Trung đoàn 556 thuộc Sư đoàn 330.

        Ở đây xin được nói thêm một chút là các đơn vị miền Nam tập kết ra Bắc được chia thành 2 Sư đoàn là Sư đoàn 330 và Sư đoàn 338. Sư đoàn 330 của Trần Mạnh đặt dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Sư đoàn là Đồng Văn Cống - người chỉ huy cũ từng gắn bó ở Khu 8 và là người cùng chuyến đi xuyên Việt vối Trần Mạnh.

        Sau này, con trai của tướng Đồng Văn Cống là Đồng Văn Đe cũng trở thành phi công tiêm kích, ở cùng Trung đoàn với Trần Mạnh. Tôi sẽ kể sau.

        Năm 1958, trong đợt phong quân hàm của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trần Mạnh được Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký quyết định phong quân hàm Thiếu tá. Khi ấy Trần Mạnh vừa tròn 30 tuổi.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/a0%2010_zpsigcbraae.jpg)
Chứng minh thư quân đội đầu tiên của ông Trần Mạnh

        Ông cũng không thể ngờ được rằng từ đây đời ông sẽ có bước chuyển biến lớn, bước ngoặt lớn - từ một người lính bộ binh, từ một Chính ủy Trung đoàn lại trỏ thành người lính canh trời với danh hiệu cao quý: Phi công tiêm kích!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2016, 09:36:30 AM

        Hai người con trai sau của ông Mai Cao Đống là Mai Cao Văn và Mai Cao Võ thì Mai Cao Văn sinh năm 1929, cũng trốn gia đình, theo anh trai đỉ kháng chiến và có bí danh là Trần Hùng. Sau này, sau khi tập kết ra Bắc, Mai Cao Văn từng giữ chức Giám đốc Công ty Xây lắp đường dây và trạm 2 (kéo đường dây 110 kv qua sông Tiền, sông Hậu vào những năm 80 của thế kỷ trước) thuộc Bộ Điện và Than.

        Mai Cao Văn mất năm 1989.

        Người con út là Mai Cao Võ, vào năm 14 tuổi cũng thoát ly gia đình, theo 2 anh trai đi kháng chiến, nhưng bị 2 anh bắt phải quay về gia đình để chăm sóc bố mẹ. Mai Cao Võ đã ở lại miền Nam làm phiên dịch và là giáo viên dạy tiếng Anh.

        Mai Cao Võ mất năm 1981.

        Mãi gần đây khi có dịp, có cơ hội đến thăm Bình Định, tôi mới thực sự hiểu được Bình Định chính là nơi giao hòa giữa đồng bằng và đồi núi, sông suối và biển cả... Bản giao hưởng của non nước ấy đã tạo nên một Bình Định với dáng “sơn kỳ thủy tú”. Nơi ấy chính là nơi “địa linh sinh nhân kiệt”, nơi “đất võ, trời văn”. Ba anh em nhà họ Nguyễn đã dựng cờ đào với những chiến công chói lọi của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ đi vào sử sách của muôn đời.

        Bình Định có Đào Tấn, Xuân Diệu. Rồi Bình Định có nhà thơ lớn là Hàn Mặc Tử, tuy gốc ỏ Quảng Bình, nhưng sông và chết đều ở Bình Định, thành danh cũng ở đất Bình Định.

        Ở Bình Định cũng có nhóm thơ “Bàn thành tứ hữu” gồm 4 thi sĩ tài hoa: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn.

        Ai đó đã từng nói: “Người Bình Định có truyền thống “vũ nhân, văn nhân”. Bởi võ hay văn đều thuộc về “Nhân” chứ không thuộc về “Thiên” hay “Địa”. Tôi tâm đắc vối bài thơ “Về Tây Sơn” của nhà thơ Nguyễn Đình Trọng viết về mảnh đất Bình Định:

                        Về thăm đất võ Tây Sơn
                        Quê hương của những người con Anh hùng
                        Non xa biêng biếc chập chùng
                        Lúa vàng trải đến tận cùng chân mây
                        Nhìn đồng lúa chín mà say
                        Nâng niu gié lúa trên tay bồi hồi
                        Trải bao gió dập, mưa dồi
                        Mồ hôi và máu bao người tuôn rơi
                        Cả dòng sông nữa, sông ơi
                        Hạt phù sa đã cho đời ấm no...

                        Mải mê với bóng con đò
                        Xa xa mát rượi những gò dâu xanh
                        Nắng chiều buông xuống mỏng manh
                        Ngỡ như sắc kén đã thành lụa tơ
                        Dâu xanh phủ kín bãi bờ
                        Cho con tằm thức nằm chờ ăn lên
                        Đã nghe kén giục lò ươm
                        Nhịp thoi khung củi dệt nên nắng vàng
                        Sông Kôn trong đến ngõ ngàng
                        Dâu xanh đến tận cuối làng còn xanh

                        Ghé thăm Kiên Mỹ - Bình Thành
                        Ta về dưới mái nhà tranh của Người
                        Bao đời me vẫn xanh tươi
                        Trái cong như thể gươm rời khỏi bao
                        Nâng gầu nước giếng, nao nao
                        Ngàn năm non nước quyện vào lời ca
                        Áo Người đỏ tựa ráng pha
                        Vó câu muôn dặm đường xa mới về
                        Đồng làng lúa đã vàng hoe
                        Nghiêng soi mặt nước bốn bề dâu xanh

                        Ôm hôn mảnh đất nghĩa tình
                        Bâng khuâng nghĩ tới lúc mình sẽ xa
                        Mẹ già tóc bạc sương sa
                        Con xin hát một khúc ca tặng Người!


        Càng ngày thì tôi càng hiểu thêm con người Bình Định. Những phi công tiêm kích - những người con của quê hương Bình Định mà tôi từng biết đều có những tố chất, đều có những nét đậm chất Bình Định, ví như phi công Anh hùng Đinh Tôn, phi công Anh hùng Nguyễn Hồng Nhị, phi công Anh hùng Trần Việt, tới các phi công liệt sĩ như Phạm Thành Nam, Nguyễn Ngọc Thiên, Phạm Ngọc Tâm, Phan Trọng Vân, Đỗ Hạng... rồi phi công Trần Mạnh - người chưa được nhận danh hiệu Anh hùng nhưng trong tâm khảm của nhiều thê hệ, ông hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu ấy.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2016, 05:11:31 PM

TỪ CHÍNH ỦY TRỞ THÀNH PHI CÔNG TIÊM KÍCH

        Sau những vòng khám tuyển sức khỏe, ông Trần Mạnh đã trúng tuyển để đi học lái máy bay. Vậy là bước chân từng chinh phục dải Trường Sơn năm xưa, nay lại bước vào buồng lái máy bay để chinh phục bầu trời!

        Từ tháng 3 năm 1959 đến tháng 1 năm 1964 đã có những đợt tuyển chọn trong toàn quân, tuyển những cán bộ ưu tú để đi học lái máy bay.

        Là người có trình độ văn hóa, lại giỏi tiếng Pháp, ông Trần Mạnh đã lọt vào “kính ngắm” của Cục Cán bộ - Bộ Quốc phòng đang lựa chọn cán bộ chủ chốt dẫn đầu “Đoàn bay sô' 2” sang Trung Quốc học để rồi sau này dần dần sẽ bồi dưỡng trở thành cán bộ lãnh đạo tương lai của Không quân Việt Nam.

        Trước đó, “Đoàn bay sô" 1” mà ông Đào Đình Luyện được điều về làm trưởng đoàn cũng đã bay ở Trung Quốc rồi. Hồi ấy, Trung Quốc có mấy trường giúp ta đào tạo phi công và thợ máy là:

        - Trường Không quân số 2 đào tạo phi công cánh quạt.

        - Trường Không quân số 3 đào tạo phi công phản lực.

        - Trường Không quân số 8 đào tạo kỹ thuật của máy bay MiG-19.

        - Trường Không quản số 9 đào tạo kỹ thuật của máy bay MiG-17.

        Đại tá Trần Thanh - nguyên Phó Cục trưởng Cục Hậu cần tâm sự với tôi:

        - Đoàn của tôi và đoàn của ông Luyện đi đúng vào dịp vỡ đê Mai Lâm, khó khăn vô cùng. Bây giờ ai đó được đi ra nước ngoài thì hoành tráng lắm, nhưng hồi ấy chúng tôi đi thật gian nan. Mỗi người được phát hai mét vuông vải trắng, hai bộ quần áo xanh xi-lâm và một đoạn dây...

        - Để làm gì ạ? - Tôi hỏi chen vào.

        - Để sau khi gói quần áo cho gọn ghẽ, lấy vải trắng bọc ở bên ngoài, rồi lấy dây buộc chặt lại làm cái “va-li” mà xách lên tàu liên vận đi sang Trung Quốc chứ còn làm gì!

        - Các bác đã vậy. Thế đoàn của bác Luyện và của bác Mạnh cũng như vậy hả bác? - Tôi hỏi tiếp.

        - Thì đều vậy hết, như nhau cả mà! Chúng tôi đi phải giữ bí mật. Đi ra nước ngoài mà ở nhà có ai biết là mình đi ra nước ngoài đâu. Thư từ viết về nhà thì phải để ngỏ, không được dán. Sau khi được cấp có thẩm quyền xem xét, thấy không có vấn đề gì lộ bí mật thì mới đóng thành gói gửi về nước, về Cục Cán bộ. Ở đó, phong bì mới được dán tem và gửi bưu điện. Thư ỏ nhà gửi cho mình thì gửi theo hòm thư đã được quy định, tất cả được tập trung lại, đóng gói xong mới gửi sang...

        - Thì đến khi bọn tôi sang học bay bên Liên Xô cũng vẫn phải chấp hành theo cái quy định ấy, có gì thay đổi đâu bác!

        - Vậy đoàn của bác và đoàn của bác Luyện, bác Mạnh cùng học ở một nơi à?

        - Không! Đoàn của bọn tôi mang tên là đoàn “Hồ Nam”, tức là viết tắt ghép hai chữ Bác Hồ và Việt Nam lại mà thành. Bọn tôi học ở Trường Không quân sô" 9, các ông học bay thì học ở Trường Không quân số 2 rồi Trường Không quân số 3. Thế nhưng, có một giai đoạn tất cả mấy đoàn đều tập trung về cả ở Cao Mật, Sơn Đông - cả bay, cả máy, cả tham mưu, chính trị... và bấy giờ đoàn “Hồ Nam” đổi thành “Đoàn Hồ Nam 17”. Con sô" 17 đây chính là MiG-17 đấy! Mật danh mà!

        - À! Ra thế! - Tôi thốt lên. Vậy cái câu thơ “Ăn sạch lương Cao Mật...”

        - Đấy là thơ của ông Nguyễn Trọng Sự, về sau làm Đại đội trưởng Đại đội 14 của Trung đoàn Sao Đỏ. Ông ấy viết là:

                                 Uống cạn nước Trường Xuân
                                 Ăn sạch lương Cao Mật
                                 Gót anh hùng dẫm nát cỏ Giang Tô...


        Chuyện ở Cao Mật, tí nữa tôi sẽ kể cho mà nghe! Uống nước đi! Nước nấu bằng cây chó đẻ răng cưa đấy! Uống tốt lắm!

        - Vâng, tên của nó là “diệp hạ châu”! Nhiều nơi gọi là “chó đẻ răng cưa”! Cũng là nó cả mà!

        - Ừ, ừ...

        Cuôì năm 1959, “đoàn bay số 2” thoạt đầu do ông Nguyễn Phúc Trạch làm đoàn trưởng và ông Trần Mạnh làm đoàn phó phụ trách công tác chính trị, là Chính ủy của đoàn chuẩn bị lên đường sang Trường Không quân số 3.

        Nhưng sau khi có đợt khám lại sức khỏe, với nguyện vọng của mình muốn trở thành phi công và vượt qua được các vòng khám tuyển, ông Trần Mạnh đã đạt tiêu chuẩn trở thành học viên bay.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2016, 05:13:14 PM

        Việc khám sức khỏe cũng nhiều gay cấn, hồi hộp lắm. Tôi còn nhớ, khi chúng tôi rời ghế nhà trường đi khám tuyển thì cũng giống như ông Trần Mạnh thôi. Cứ qua một khoa khám tuyển, thấy trên một trang trong “Sổ sức khỏe” của mình có ghi chữ ĐĐK ngoáy tít kèm theo chữ ký của bác sĩ khoa ấy là yên tâm “thoát một cửa ải” để đi tiếp sang khoa khác (ĐĐK chính là chữ viết tắt của “Đủ điều kiện”). Khoa nào cũng được ghi ĐĐK thì hồ hởi lắm, phấn chấn lắm... Chỉ còn mỗi động tác là đợi hội đồng khám tuyển “gật đầu” phê duyệt nữa là xong, là một chân đã bước qua được ngưỡng cửa vào cõi mơ để lên trời rồi.

        Với sức lực từng được rèn luyện qua cuộc vượt dãy Trường Sơn ra Bắc, ông Trần Mạnh vượt qua các vòng khám tuyển không mấy khó khăn.

        Thế là, sau những vòng khám tuyển sức khỏe, bước chân từng chinh phục dải Trường Sơn năm xưa, nay lại bước vào buồng lái máy bay để chinh phục bầu tròi!

        “Đoàn bay số 2” của các ông gồm 60 người - 60 học viên chuẩn bị cho việc đi học bay bên đất nưóc Trung Quốc, đến Trường Không quân số 3 ỏ Cẩm Châu.

        Tôi có dịp ngồi nói chuyện với Đại tá Mai Đức Toại, người cùng “Đoàn bay số 2” với ông Trần Mạnh, sau này về nước chiến đấu, xuất kích nhiều lần trên loại máy bay MiG-17, từng bắn rơi 2 máy bay Mỹ, rồi giữ rất nhiều chức vụ quan trọng trong Quân chủng Phòng không - Không quân như: Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích 925, Tham mưu trưởng Binh chủng Không quân, Sư đoàn trưởng các Sư đoàn Không quân 370, 371, Hiệu trưởng Trường Chỉ huy Kỹ thuật Không quân, Phó tư lệnh, Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Không quân. Ông kể:

        - Đoàn của chúng tôi lúc đầu có 60 người, nhưng khi sang kiểm tra sức khỏe thì chỉ còn được 54 người. Năm đầu tiên bay trên loại máy bay Iak- 18 ở sân bay Bắc thuộc huyện Cẩm Châu, tỉnh Liêu Ninh...

        Tôi có biết trận Cẩm Châu năm 1948, một trận đánh trong nội chiến Trung Quốc giữa Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa của Đảng cộng sản Trung Quốc với Quân đội cách mạng quốc dân của Quốc Dân Đảng. Đây là một trong những trận đánh mang tính quyết định nhất trong chiến dịch Liên - Thẩm, quyết định sự kiểm soát của lực lượng cộng sản Trung Quốc tại miền Đông Bắc nước này.

        Cẩm Châu án ngữ con đường chính đi bình nguyên Hoa Bắc, đi qua Sơn Hải Quan. Vì vậy, đây là một vị trí có tầm quan trọng chiến lược. Chiếm được Cẩm Châu, quân giải phóng có thể thuận lợi tiến quân vào bình nguyên Hoa Bắc.

        Trong một bức điện gửi cho các lãnh đạo quân sự quân giải phóng ở miền Đông Bắc Trung quốc, Mao Trạch Đông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải phóng Cẩm Châu, cụ thể, ông cho rằng chìa khóa cho thắng lợi của toàn bộ chiến dịch Liên - Thẩm là phải “tấn công và đánh chiếm Cẩm Châu trong vòng một tuần”.

        Cẩm Châu là một địa cấp thị của tỉnh Liêu Ninh, có 3 quận là Thái Hòa, Cổ Tháp, Lăng Hà, có 2 thị xã là Lăng Hải và Bắc Trấn, có 2 huyện là Hắc Sơn và Huyện Nghĩa.

        Diện tích của cẩm Châu là 10.111,45 km2. Dân cư không đông. Cho tới năm 2007 thì mới có 3,8 triệu dân.

        Hồi đoàn bay của ông Trần Mạnh bay ở đó chắc dân số ít hơn nhiều.

        Vậy là “Đoàn bay số 2” của các ông cũng được huấn luyện ở vị trí đắc địa - một vị trí chiến lược trên đường đi bình nguyên Hoa Bắc...

        Ông Mai Đức Toại kể tiếp:

        - Chuyến bay đầu tiên thầy giáo dạy bay cho bay đi xem địa hình và rồi “tranh thủ” làm các động tác nhào lộn nên một số anh không chịu được, về nôn thốc nôn tháo...

        - Hình như với đoàn bay nào cũng vậy thì phải. Chẳng cứ đoàn bay ở Trung Quốc phải “chịu” cảnh như thế mà đoàn bay ở Liên Xô cũng vậy thôi. Có thể, các thầy dạy bay kiểm tra sức khỏe thực tế của các học viên bay cũng nên! - Tôi tiếp lời.

        Mà hình như đúng thế thật! Tôi lại nhớ đến “Đoàn bay MiG-21 khóa 3” của tôi, ngay chuyến bay cảm giác đầu tiên, bay đi tham quan địa hình ấy, các thầy dạy bay cũng làm như thế và sau khi bị “tra tấn” bằng những cú nhào lộn lên xuống, những cú khoan ngang khoan dọc thì cũng có khối anh về chẳng nôn ra mật xanh mật vàng đó thôi.

        Những thầy dạy bay là những bác sĩ hàng y giỏi nhất, đánh giá chuẩn xác nhất, tuyển chọn sức khỏe chính xác nhất. Khi các thầy đã viết cho mấy chữ ĐĐK với học viên nào thì chắc chắn học viên ấy sẽ quen với sinh hoạt trên không rồi, quen với các trạng thái ở trên không rồi và vấn đề còn lại chỉ là phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật bay nữa mà thôi.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2016, 05:15:03 PM

        Ngay bản thân tôi cũng thế, chuyến đầu tiên cũng được thầy “khoắng” cho mấy cái, sau rồi hỏi tôi có thấy đường chân tròi không. Tôi dám chắc 100% là với tất cả những ai lần đầu tiên ngồi vào buồng lái máy bay, bay lên trời thì không thể biết đâu là đường chân trời cả. Tôi vốn xuất thân từ thằng bé chăn bò, vừa mới rời ghế nhà trường, đi khám tuyển, trúng tuyển rồi được gọi nhập ngũ và sau chưa đầy một tháng đã đi sang nước bạn để học bay. Còn đang ngỡ ngàng với bao nhiêu điều mới lạ thì đã hiểu ra làm sao cái đường chân trời ở trên không!

        Mà “chân tròi” được hiểu theo định nghĩa thì đấy là “đường giới hạn của tầm mắt ở nơi xa tít, trông tưởng như bầu trời tiếp xúc với mặt đất hay mặt biển”. Đằng này đang ở trên trời thì biết tìm đường chân tròi ở đâu, trời lại tiếp với trời hay sao? Tôi thật chịu, mù tịt, chẳng biết nó ở đâu cả.

        Cũng phải mất đến mấy chuyến bay sau, tôi mới được thầy chỉ cho một cách cụ thể hơn:

        - Hãy nhìn ra xa, nhìn ngang kính ngắm ấy thì sẽ thấy một vệt nằm ngang, cắt ngang kính ngắm ấy và như vậy là máy bay của ta đang bay bằng. Thấy chưa?

        - Thấy rồi ạ! - Tôi gần như reo lên khi nhìn thấy một đường kẻ thẳng băng ngang kính ngắm trước mặt mình mà tại sao mấy chuyến trước thầy nói lại không thấy được.

        Đúng là đường chân trời rất quan trọng trong khi bay. Nó giúp cho ta giữ vị trí máy bay, biết được máy bay đang bay bằng, đang mang độ nghiêng hay đang bay lên, hoặc đang chúi xuống. Quan sát được đường chân trời thì ta định hướng, định vị được vị trí máy bay của ta trong không gian một cách dễ dàng và điều khiển máy bay cũng rất dễ dàng.

        Trong buồng lái của tất cả các máy bay, trên bảng đồng hồ đều được bô" trí một đồng hồ gọi là “đồng hồ chân tròi”. Chiếc đồng hồ ấy hỗ trợ phi công bay trong thời tiết phức tạp hay bay đêm..., khi không thấy đường chân tròi bằng mắt thường thì phải theo sự chỉ dẫn của đồng hồ ấy. Nó giúp phi công hiểu được trạng thái thực tế lúc bấy giờ của máy bay như thế nào: đang bay bằng hay có độ nghiêng, máy bay đang lấy độ cao hay giảm độ cao...

        Đường chân trời! Ba từ ngắn gọn vậy thôi mà rất quan trọng, mà ngay từ đầu tìm chẳng thấy, mà rồi đi cả đời cũng chẳng đến được. Thế mới biết trên đời này còn biết bao nhiêu thứ thật mung lung...

        Sau khi bay thì “Đoàn bay số 2” lại có sự thay đổi về nhân sự lãnh đạo, ông Trần Mạnh lên làm đoàn trưởng và ông Nguyễn Phúc Trạch làm đoàn phó phụ trách công tác chính trị. Việc thay đổi này đã gây ra sự hiểu lầm dẫn đến những xích mích, nhưng với tính cách là người suy nghĩ chín chắn, sâu sắc và tính tình đỉềm đạm, ông Trần Mạnh đã dung hòa được mọi vấn đề, không để xảy ra mất đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo.

        Từ 60 người, đoàn bay của ông Trần Mạnh còn 54 ngưòi. 6 người đã bị loại về sức khỏe. Sau khi bay trên loại máy bay Iak-18, kết thúc khóa học trên loại máy bay này thì đoàn còn 32 người. Số này được chuyển sang bay trên loại máy bay MÌG-17A (loại MiG-17 không có tăng lực).

        Cách đào tạo phi công thời ấy ở Trung Quốc và ở Liên Xô hoàn toàn giống nhau. Đầu tiên phải bay trên loại máy bay sơ cấp - loại máy bay cánh quạt Iak-18 đã, rồi sau khi tốt nghiệp trên loại máy bay Iak-18 mới chuyển sang học lý thuyết và học bay trên loại máy bay MiG-17. Rồi sau khi tốt nghiệp bay trên loại máy bay MiG-17 mới chuyển sang học lý thuyết và học bay trên loại máy bay MiG-21...

        Đấy là huấn luyện theo kiểu hàn lâm!

        Khi bay trên loại máy bay Iak-18, đoàn của ông Trần Mạnh bay ở sân bay Bắc của huyện Cẩm Châu. Đấy là sân bay đất. Sân bay Bắc nằm ở khu vực bình nguyên nên địa hình và thời tiết rất thuận lợi, phù hợp cho công việc đào tạo những học viên bay đầu tiên bước vào nghề bay.

        Trong những giai đoạn nghỉ bay thì đoàn bay của ông tham gia lao động gặt cao lương giúp dân. Cao lương là một loại cây lương thực cùng họ với ngô, nhưng thân và lá lớn, giẻ ngắn, hạt to tròn. Đi gặt nó thì vất vả cũng chẳng kém gì việc gặt lúa cả. Cứ nghe đến “cao lương mỹ vị” thì nghĩ ngay đến món ăn ngon và bổ dưỡng. Thế nhưng đi gặt cao lương thì “biết tay nhau”!

        Bọn tôi hồi học bay ở Liên Xô cũng vậy, khi nào vào giai đoạn nghỉ bay thì đi đến các nông trường, nông trang lao động, nhưng bọn tôi chủ yếu là đi hái, đi thu hoạch hoa quả như táo, lê, cà chua, dưa hấu... nên vừa thu hoạch vừa được nếm, được ăn thoải mái và khi về lại còn được mang về làm quà nữa. So sánh với việc đi gặt cao lương thì chúng tôi quá sướng! Gặt cao lương thì ăn gì? Chẳng nhẽ nhai sống hạt cao lương? Đi gặt cao lương thì khổ hơn chúng tôi cả trăm lần là cái chắc!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 02:18:10 AM

        Vì MiG-17 không có loại máy bay UMIG-17 (loại hai buồng lái để học viên ngồi trước, giáo viên bay ngồi sau) nên đoàn bay của ông Trần Mạnh phải bay trên loại máy bay MiG-15 với các UMIG-15.

        Khi bay trên loại MiG-15, đoàn phải chuyển đến sân bay Tây. Đấy là sân bay có đường cất hạ cánh (đường băng) bằng bê-tông.

        Kết thúc khóa học bay trên loại máy bay MiG- 15, đoàn của ông còn 29 người để chuyển sang bay trên MiG-17A.

        Khi bay trên loại MiG-17A, đoàn của ông về bay ở Dương Thôn. Đấy là khu vực thuộc Thiên Tân và đến lúc các ông chuyển sang bay trên loại MiG- 17F (loại máy bay có tăng lực) thì “Đoàn bay số 2 của ông Trần Mạnh chỉ còn có 26 người, đó là: Trần Mạnh, Nguyễn Phúc Trạch, Mai Đức Toại, Lê Quang Trung, Nguyễn Văn Bảy (A), Đỗ Huy Hoàng, Võ Văn Mẫn, Đồng Văn Đe, Nguyễn Văn Tài, Phạm Thành Chung, Võ Sử, Triệu Bội Ngọc, Ngô Đức Mai, Nguyễn Thế Hôn, Trần Huyền, Lưu Huy Chao, Trần Triêm, Trần Tấn Đức, Lê Trọng Huyên, Nguyễn Văn Lai, Dương Trung Tân, Trần Ngọc Síu, Vũ Thế Xuân, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Hồng Thanh. Đặng Trình.

        Giai đoạn này là giai đoạn ở đất nước Trung Quốc đang xảy ra cuộc “cách mạng văn hóa” long tròi lở đất. Nhà trường muốn lôi kéo đoàn học viên bay của Việt Nam vào tham gia cuộc “cách mạng” ấy, vào các cuộc mít tinh, biểu tình, thị uy...

        Phải xử lý thật khéo léo, phải thực sự mềm dẻo, thực sự tế nhị trong mọi mối quan hệ thì đoàn bay của ông mới né tránh được, mới không bị cuốn hút vào cái vòng xoáy của cuộc “cách mạng văn hóa” ấy và cũng không để nhà trường hiểu lầm.

        Một thòi gian sau, vì thiếu dầu liệu bay nên các ông lại phải chuyển về Sơn Đông. Trong cuốn hồi ký 60 năm Không quân nhân dân Việt Nam, Đại tá Trần Thanh nhớ lại:

        “Cuối tháng 8 năm 1957, đoàn học kỹ thuật lên đường sang học bên Trung Quốc, về Trường Không quân số 9 ở Trường Xuân. Sau 3 năm miệt mài học tập, đoàn đã tốt nghiệp đạt 100% khá giỏi, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ, sau khi tốt nghiệp, đoàn chưa về nước ngay mà đến cuối tháng 8 năm 1960, thì đoàn chuyển từ Trường Xuân về Cao Mật thuộc tỉnh Sơn Đông (vùng Hoa Trung). Tháng 9 năm 1960, đoàn học bay MiG-17 của ông Đào Đình Luyện tốt nghiệp ở Trường Không quân số 3 tại Cẩm Châu về Cao Mật nhập đoàn. Đây là đoàn có cả phi công và kỹ thuật máy bay. 6 tháng sau thì đoàn học bay MiG-17 số 2 của ông Trần Mạnh cũng về hội tụ ở Cao Mật vì lý do nhà trường không đủ dầu liệu bay huấn luyện...”

                Vùng Cao Mật đã thực sự gắn bó với các học viên Không quân của ta suốt một thời gian dài. Gần đây, tôi có biết được tin Trung Quốc sẽ biến Cao Mật thành “Làng văn hóa Mạc Ngôn” sau khi Mạc Ngôn trở thành tác giả Trung Quốc đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học năm 2012. Làng Bình An Trang, nơi Mạc Ngôn sinh ra và lớn lên là một cộng đồng nông nghiệp nghèo thuộc huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông - miền Đông Trung Quốc. Ở nơi này, Mạc Ngôn đã từng phải ăn vỏ cây và rau dại để sống sót qua thời thơ ấu khắc nghiệt. Nay thì chính quyền Cao Mật đang tính đến một hướng phát triển mới thu hút dòng khách du lịch thông qua tên tuổi của Mạc Ngôn và nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng của ông như Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận, Đàn hương hình... Ngôi làng thơ ấu của cha đẻ Báu vật của đời sẽ trở thành “vùng trải nghiệm văn hóa Mạc Ngôn”...

        Không biết có ai trong đoàn “Hồ Nam” và các “Đoàn bay số 1”, “Đoàn bay số2” từng ở Cao Mật đã đến làng Bình An Trang?

        Đến cuối tháng 3 năm 1963, ta đã tiếp nhận 32 chiếc MiG-17A và 4 chiếc UMIG-15 làm nhiệm vụ huấn luyện. Vậy là đã đủ biên chế vũ khí trang bị cho một trung đoàn bay rồi. Đây là những chiếc máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam. Tuy phần lớn những máy bay này được sản xuất từ những năm 1952 đến 1954, nhưng với chúng ta thì đấy là loại hiện đại nhất lúc bấy giờ rồi.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 02:19:36 AM

        Đầu tháng 6 năm 1963, toàn đoàn cùng các trang bị kỹ thuật quân sự được chuyển quân, rời căn cứ Cao Mật của tỉnh Sơn Đông về căn cứ Không quân Mông Tự thuộc tỉnh Vân Nam, sát biên giới nước ta.

        Những ngày này, tình hình nước nhà đang có nhiều biến động: Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh ở miền Nam và leo thang đánh phá miền Bắc một cách dữ dội, ác liệt. Tại căn cứ Mông Tự, không khí rất sôi động. Ai cũng muốn nhanh chóng được trở về nước để tham gia chiến đấu.

        Rồi Trung đoàn chiến đấu cũng phải được thành lập. Ngoài lực lượng sẵn có ở sân bay Mông Tự, còn được bổ sung thêm các lực lượng từ nước nhà đưa sang cho đủ các thành phần. Tất cả đều được tập kết ỏ sân bay Mông Tự. Bên ngoài vẫn là những ngày học tập bình thưòng nhưng bên trong là cả một sự khẩn trương chuẩn bị cho ngày lễ ra mắt của Trung đoàn.

        Ngày 3 tháng 2 năm 1964, trên một sân vận động của sân bay Mông Tự, toàn thể cán bộ chiến sĩ tập trung đông đủ. Buổi lễ ra mắt chính thức công khai Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam được tiến hành. Trung đoàn được mang tên “Trung đoàn Sao Đỏ”.

        Sau bao nhiêu năm học tập, chuẩn bị, vậy là đứa con đầu lòng của Không quân tiêm kích đã ra đời.

        Sau này, trong quá trình chiến đấu, lực lượng Không quân Việt Nam càng đánh càng mạnh, càng phát triển, càng trưởng thành, càng có thêm những Trung đoàn Không quân khác nữa, nhưng Trung đoàn Không quân Sao Đỏ - Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên luôn xứng đáng với danh hiệu như một người anh cả - “Anh cả Đỏ”!

        Rồi sau “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ngày 5 tháng 8 năm 1964, Trung đoàn nhận được lệnh khẩn trương chuẩn bị để trở về nước, về Đất Mẹ.

        Ngày 6 tháng 8 năm 1964, các biên đội MiG- 17 lần lượt nối đuôi nhau lăn ra đường băng và cất cánh về sân bay Đa Phúc (nay là sân bay Nội Bài) trong không khí nhộn nhịp, náo nức của những người con xa Tổ quốc nay đã đến lúc trỏ về.

        “Đi bằng đường bộ, trở về bằng đường trời!” - Lời nói của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hôm nào càng làm tăng thêm niềm vui và nghị lực cho mọi người.

        Sau khi tề tựu đông đủ ở sân bay Đa Phúc thì ngay chiều hôm ấy, ta đã tổ chức trực ban chiến đấu trên sân bay với 2 biên đội 2 chiếc là Phạm Ngọc Lan, Lâm Văn Lích và Trần Hanh, Nguyễn Nhật Chiêu.

        Các thành phần trực ở sở Chỉ huy cũng bắt tay ngay vào công việc điều hành và Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện và Trung đoàn phó Trần Mạnh đã ở cùng trong sở Chỉ huy.

        Đến đầu năm 1966, khi Trung đoàn được trang bị loại máy bay tiêm kích đánh chặn MiG-21 thì ông Trần Mạnh đã cùng với các phi công dày dạn kinh nghiệm chiến đấu trên loại máy bay MiG-17 chuyển loại thành công lên máy bay MiG-21.

        Đại tá - phi công Anh hùng Nguyễn Nhật Chiêu nhớ lại:

        - Để chuyển loại lên máy bay MiG-21, Trung đoàn đã chọn 5 phi công làm nhiệm vụ chuyển đầu tiên. 5 phi công đó gồm: anh Trần Mạnh chỉ huy, tôi và các anh Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Độ, Trần Hanh. Lên lớp lý thuyết là tất cả các giáo viên của ta. Tuy trình độ tất cả bấy giờ chỉ là trung cấp thôi, nhưng số giáo viên này nắm rất chắc. Họ truyền đạt cho chúng tôi đầy đủ, tỉ mi nhưng rất dễ hiểu. Khi đó, nhóm chuyên gia Liên Xô chưa sang, ta không thể đợi được nên Trung đoàn trưởng quyết định không chờ. Anh Trần Mạnh động viên: “Máy bay đã lắp ráp xong, nhu cầu của chiến trường rất cần đến sự hoạt động của Không quân ta. Giả dụ không có bạn sang thì ta vứt máy bay đi à? Vì vậy, ta cần phải quyết tâm bay chuyển loại khi không chờ được giáo viên. Các anh đã là những phi công dày dạn kinh nghiệm trên loại máy bay MiG-17, đã dày dạn kinh nghiệm trong chiến đấu. Tôi tin là các anh và cả tôi nữa sẽ chuyển loại được trên MiG-21. Chính bây giờ mới là sự thể hiện quyết tâm và cố gắng của anh em chúng ta!” Anh Trần Mạnh đã nói vậy thì không ai là không cố gắng. Rất may là sau đó, nhóm chuyên gia Liên Xô đã sang và ông Chaban đã bay kèm chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 02:21:11 AM

        - Vậy từ MiG-17 chuyển lên MiG-21 anh thấy thế nào?

        - Đầu tiên tớ cũng hơi “gờm” vì MiG-17 thì bé nhỏ so với MiG-21. MiG-21 thì cao lớn, dài rộng hơn MiG-17 nhiều, nhưng rồi tớ lại nghĩ: “Về nguyên tắc thì các máy bay là như nhau, chỉ có điều tốc độ, độ cao... và các tính năng khác là có chút khác nhau thôi. Nhưng mình đã chinh phục được “em” MiG-17 rồi thì “chị” MiG-21 này chắc chắn cũng sẽ chinh phục được! Có quyết tâm là làm được hết!

        - Vâng, rồi khi bay chính thức thì thế nào ạ?

        - Chúng tớ được sát hạch phần lý thuyết xong thì ra sân bay tập buồng lái rồi tập nổ máy, tập lăn, tập cất cánh thử rồi cất cánh thật. Bay đến chuyên thứ hai thì tớ mê ngay. Sau dăm sáu chuyến thì tớ được bay đơn theo hàng tuyến, rồi được kèm một chuyến vào không vực, chưa được kèm bay biên đội thì đã đi chiến đấu rồi. MiG-21 quả là lợi hại và là loại máy bay tuyệt vời thật! Anh Trần Mạnh vừa bay vừa phải trực chỉ huy nên anh bay chậm hơn một chút. Nhìn chung, cả nhóm chúng tớ được Trung đoàn lựa chọn đã chuyển loại “ngon lành” làm cơ sở cho các đợt chuyển loại sau này.

        Vậy là ông Trần Mạnh đã làm chủ loại máy bay tiêm kích chiến đấu hiện đại vào loại bậc nhất thời bấy giờ với những tính năng, ưu điểm vượt trội MiG-17. Việc chuyển loại bay trên MiG-21 đã giúp ông có cơ sở đưa ra những cách đánh phù hợp với loại máy bay này để giành chiến thắng trước một kẻ thù vừa đông, vừa mạnh, vừa giàu kinh nghiệm trận mạc trên không.

        “Đoàn bay số 2" của ông còn lại không nhiều. Tôi nhẩm tính cho tới giờ chỉ còn có các ông: Mai Đức Toại, Nguyễn Văn Bảy A, Triệu Bội Ngọc Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Hồng Thanh... Đại đa số đã hy sinh trong chiến đấu, trong những trận không chiến. Số ít thì mất vì tuổi tác, vì bệnh tật.

        Nhiều người trong “Đoàn bay số 2” của ông đã được Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như các ông: Nguyễn Văn Bảy A, Lưu Huy Chao, Lê Trọng Huyên, Nguyễn Văn Lai, Lê Quang Trung, Võ Văn Mẫn, Ngô Đức Mai, Nguyễn Thế Hôn, Trần Huyền, Dương Trung Tân

        Các đồng chí trong “Đoàn bay số 2” của ông là những nốt nhạc trầm bổng trong bản giao hưởng với những giai điệu thiết tha, bi tráng, hào hùng của một thời không thể nào quên...

        Cuộc đời ông Trần Mạnh đã có những bước chuyển đổi quan trọng: Từ một chàng sinh viên trở thành anh lính bộ binh rồi thành Chính ủy Tiểu đoàn, Chính ủy Trung đoàn, rồi từ Chính ủy lại trở thành người lính canh trời - trở thành phi công tiêm kích, rồi thành người “kiến trúc sư” của các chiến thuật, các cách đánh cho loại máy bay tiêm kích MiG-21... Chắc ông cũng không thể đoán được chặng đường phía trước của ông sẽ còn có bước ngoặt quan trọng nữa - đưa ông sang hẳn một lĩnh vực mới: Một chiến trường không có tiếng súng nhưng gian nan, vất vả không kém gì những trận không chiến ác liệt. Có một điều, dù ở lĩnh vực nào, ông cũng để lại những dấu ấn quan trọng, tạo nên những sự đột phá quan trọng mà khi nhắc đến, nhiều người phải nể phục...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 09:13:03 AM
           
3. KIẾN TRÚC SƯ KHÔNG CHIẾN

        "Nếu như mỗi chiến công bắn rơi một máy bay Mỹ, các phi công và chỉ huy được tặng một Huân chương thì ngực áo của Trần Mạnh - người chỉ huy gần 100 trận không chiến thắng lợi, chắc không còn chỗ để đeo Huân chương...”

        Vào giai đoạn cuối tháng 4 năm 1968, khi lớp phi công trẻ chúng tôi tốt nghiệp trên loại máy bay MiG-21 (sau này vẫn được gọi là “Đoàn bay MiG- 21 khóa 3”) về nước thì ông Trần Mạnh đã là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân Sao Đỏ thay cho ông Đào Đình Luyện.

        Với cương vị Trung đoàn trưởng thì ông chỉ huy là chính, bay là phụ nhưng không phải vì thế mà kỹ thuật bay bị “hao mòn”. Tôi không có vinh dự được bay với ông, nhưng ai đã từng bay với ông đều có chung một nhận xét về ông - “Đấy là một phi công nhìn nhận mọi vấn đề, mọi khía cạnh rất sắc sảo, là người chỉ huy tài năng với tính tình thật điềm đạm mà thẳng thắn”. Anh Hà Quang Hưng - người cùng đoàn bay với tôi, người từng có “cơ duyên” bay với ông, khi nói chuyện với tôi, anh tâm sự:

        - “Cụ” Mạnh là người rất thẳng thắn. Tôi nhớ lần tôi bay với “cụ”, sau khi về hạ cánh xong, “cụ” ôn tồn nói với tôi: “Cậu cứ về Trung đoàn, cứ bay đi, sai đâu khắc sửa đấy!” Tôi nghiệm ra, ít ai vừa chỉ ra thiếu sót của mình lại vừa chỉ cho đường hướng để mình bước tiếp. Đấy là một người chỉ huy tài năng, đầy sức thuyết phục.

        Tôi đồng ý với anh Hà Quang Hưng. Mọi người quý trọng ông chính vì lẽ ấy. Tôi chưa thấy ông nói to tiếng hoặc quát tháo ai bao giò. Lúc nào cũng thấy ông trầm tĩnh, điềm đạm, phân tích mọi chuyện có đầu có cuối, chỉ rõ đâu thuộc về khách quan, đâu thuộc về chủ quan và cách khắc phục nên thế nào. Có lẽ, trong con người ông, giữa công việc của một người chính ủy và một người làm công tác quân sự hòa quyện với nhau chặt chẽ, nhuần nhuyễn không ranh giới nên ông xử lý mọi vấn đề đều có tình có lý.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2018_zpsffocxbek.jpg)
Phi công tiêm kích MiG-21 Tướng Trần Mạnh

        Ông bước vào trực chỉ huy khá sớm. Anh Tạ Quốc Hưng - một trong những sĩ quan dẫn đường kỳ cựu của Không quân nói với tôi:

        - Khi tớ tốt nghiệp khóa học dẫn đường về nước thì đã thấy ông Mạnh đang được ông Luyện (Đào Đình Luyện) kèm trực ở Sở chỉ huy rồi!

        Tôi chợt nghĩ đến sự so sánh, mặc dù biết rằng “mọi sự so sánh đều khập khiễng”, nhưng không thể không so sánh. So sánh để thấy được xuất phát điểm của chúng ta và địch, để thấy được ta có những khó khăn như thế nào và chiến thắng của ta giành được gian nan, chật vật, vất vả ra làm sao... Từ đó mới thấy được chiến thắng của chúng ta vẻ vang như thế nào.

        Hầu như tất cả các chỉ huy của chúng ta trong chiến tranh đều không được đào tạo cơ bản. Họ là những phi công trong chừng mực nào đó tự kèm cặp nhau ở Sở chỉ huy, ở Đài chỉ huy... rồi bước vào trực chỉ huy, điều hành trận chiến... Còn phía Mỹ? Các chỉ huy của Không quân Mỹ đều thuộc vào thành phần có đẳng cấp, thuộc giới thượng lưu, được học hành tới nơi tới chốn, được đào tạo cơ bản cùng với sự hỗ trợ tích cực của khoa học kỹ thuật tiên tiến và sự trải nghiệm qua những đợt diễn tập, tập luyện, qua các cuộc chiến tranh bằng không quân.

        Vậy mà họ thua! Thua trí tuệ Việt Nam, thua con người Việt Nam...

        Ông Trần Mạnh không trực tiếp tham gia xuất kích chiến đấu, tham gia các trận không chiến. Ông trực ở Sở chỉ huy - cơ quan đầu não quan trọng với những quyết đỉnh quan trọng cho trận chiến.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 09:14:47 AM

        Ngay từ những ngày đầu trong sở chỉ huy, ông đã cho các thành phần dẫn đường trong sở chỉ huy luyện tập cách phát các khẩu lệnh qua đối không. Ông hiểu rằng mối liên lạc, sự gắn kết giữa sở chỉ huy với các phi công chỉ bằng làn sóng điện trên vô tuyến, thường được gọi là “liên lạc qua đối không”. Sự liên lạc mỏng manh ấy lại đóng vai trò vô cùng quan trọng. Sợi dây vô hình ấy lại là cả sự sống còn của trận chiến, sự sống còn của những biên đội ở trên trời, thậm chí ở cả dưới mặt đất. Không có những khẩu lệnh, những sự dẫn dắt từ sở chỉ huy thì người phi công không biết sẽ phải đi đâu, không biết tình hình trên không bây giờ diễn ra thế nào, không rõ được những tình huống, sự nhận biết về hình thái ta, địch, không biết được đâu là khó khăn, đâu là thuận lợi, rồi sẽ đánh vào đâu... và rất nhiều các vấn đề khác nữa. Và ngược lại, nếu không qua sợi dây liên lạc vô hình kia thì các thành phần ở Sở chỉ huy cũng không thể hiểu được tình trạng thực tế ở trên trời, như phi công phát hiện được mục tiêu hay chưa, biên đội còn thấy nhau hay đã mất nhau, quyết định của phi công công kích tốp nào, bắn rơi máy bay địch hay không bắn rơi, đã thoát ly khỏi trận chiến hay chưa, có những khó khăn gì cần phải trợ giúp... Nghĩa là cũng có rất nhiều vấn đề liên quan đến nhau, không thể tách rời nhau được... Tôi vẫn nói đùa: “Đối không - đấy chính là cái tai, cái mồm của những người dưới đất và những ngưòi trên trời!”

        Mà những cuộc trao đổi, những khẩu lệnh, mệnh lệnh, những báo cáo... đều không thể nói “dài dòng văn tự” được, tất cả đều phải ngắn gọn, khúc triết, dễ hiểu, đồng thời lại phải giữ được bí mật.

        Mỗi phi công đều có một số gọi riêng thay cho gọi tên mình, và số gọi ấy được thay đổi thường xuyên, có thể một tháng, vài tháng hoặc lâu hơn, hoặc ngắn hơn tùy theo tình hình lại thay đổi một lần. Ví như, khi tôi lên trời thì tôi không còn mang tên tôi nữa mà là mang số gọi “65” hay “45” hoặc “50”... gì gì đó chẳng hạn.

        Nói đến số gọi thì tôi lại nhớ đến cái số gọi (mật danh) đầu tiên trong đời bay của tôi. Hôm đầu tiên, sau khi đã thi xong các phần lý thuyết và qua phần chuẩn bị trực tiếp ngoài sân bay thì chúng tôi được chia tổ bay. Thầy giáo dạy bay (có người gọi là giáo viên bay cũng vậy) đến tổ bay của tôi cốt để thầy trò làm quen, biết mặt nhau và qua tiếp xúc trực tiếp giúp cho thầy đánh giá sơ bộ về từng học viên của mình. Rồi lần lượt mỗi học viên được nhận một số hiệu (mật danh). Tổ bay năm đầu tiên của tôi có 4 anh em là các anh Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Giá, Hoàng Thế Thắng và tôi. Anh Khánh tổ trưởng mang số 12, tiếp đến tôi mang số 13, anh Thắng số 14 và anh Giá mang sô" 15.

        Sáng hôm sau, thầy đến gặp tôi và nói:

        - Số 13 là con số xấu, số không may mắn. Tôi đã báo cáo với phi đội để thay số gọi cho cậu. Phi đội đã đồng ý rồi. Từ bây giờ, cậu sẽ mang số hiệu 50. Cậu thử nói “50” tôi xem?

        - Pi-at-dzê-xiat! - Tôi đáp ngay lập tức.

        - Nghe chưa ổn! Dài và có vẻ khó phát âm, nhất là lại nói qua ống nói (mi-crô phôn) buộc ở phía dưới cổ họng thì chắc lại càng khó nghe. Thôi, tôi nghĩ, cậu hãy thay “50” bằng “nửa trăm” có lẽ sẽ thuận hơn. Nó vừa ngắn mà lại dễ phát âm hơn. về nghĩa thì vẫn thế cả thôi. Tôi sẽ báo cáo vấn đề này với phi đội!

        Vậy là suốt một thời gian dài bay trên loại máy bay phản lực sơ cấp L-29, số hiệu bay đầu đời của tôi cho tới lúc tôi trở thành phi công là “nửa trăm” (pôl-xôt-nhi) và những khẩu lệnh, những câu trả lời, những báo cáo... với cái từ “nửa trăm” ấy được ngân vang trong không trung không chỉ một lần:

        - “Pôl-xôt-nhi” xin mở máy!

        - “Pôl-xôt-nhi” xin phép cất cánh...

        Sau này, khi về nước, khi tham gia chiến đấu thì số gọi của tôi được thay đổi liên tục và tôi cũng không thể nhớ hết những số gọi ấy.

        Tôi lấy ví dụ như vậy để bạn đọc thấy được mối liên hệ giữa các thành phần ở sở chỉ huy với phi công đều chỉ bằng sợi dây vô hình - qua làn sóng vô tuyến điện mà thôi.

        Mọi khẩu lệnh phát ra đều phải ngắn gọn và mang ý nghĩa quan trọng.

        Chính vì vậy, ông Trần Mạnh đã cho các thành phần dẫn đường, chỉ huy luyện tập cách phát các khẩu lệnh qua đối không, tập đi tập lại cho tới khi ông trực tiếp duyệt thấy được thì mới thôi, bởi mỗi khẩu lệnh của dẫn đường, của sở chỉ huy phát ra phải đúng ý đồ của người chỉ huy, phải chuyển tải được tình hình thực tế ở sở chỉ huy lúc bấy giờ để phi công cảm nhận được.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 09:16:43 AM

        Khi tôi có dịp ngồi trao đổi với anh Lê Đình Cảnh - một phi công trong tổ bay của anh Nguyễn Hồng Nhị và Nguyễn Đăng Kính (cả hai anh Nguyễn Hồng Nhị và Nguyễn Đăng Kính đều được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang vì có thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ), từng bay ở “Đoàn bay MiG-21 khóa 1”, sau này đã chỉ huy rất nhiều chuyến cất hạ cánh ở các sân bay cơ động, sân bay dã chiến trong cuộc chiến tranh qua, nói với tôi:

        - Số lượng từ trong một khẩu lệnh không được nhiều. Ngữ điệu của giọng nói cũng rất quan trọng, nhất là trong những tình huống gay cấn, khi phi công hoặc máy bay bị thương... lại càng quan trọng hơn. Khẩu lệnh phát ra phải làm sao để phi công yên tâm, phải giúp được họ trong những lúc khó khăn. Ví như, có một lần, khi anh Lưu Huy Chao về hạ cánh, tớ thấy máy bay bay như người say rượu, khi tớ hỏi thì anh ấy nói là anh ấy bị thương, rất mệt. Tớ cho anh ấy kéo lên để lấy độ cao nhảy dù, nhưng anh ấy nói: ‘Tôi vẫn hạ cánh được!” Vậy là tớ phải chỉ huy, giúp anh ấy từng tí một, từ việc chỉnh hướng, chỉnh tầm đến nhắc độ cao kéo bằng tới lúc tiếp đất rồi cả quá trình lăn về đến sân đỗ...

        - Thế thì gần như anh trực tiếp bay chuyến ấy còn gì nữa! - Tôi nói.

        - Cũng không hẳn thế mà cũng gần như thế. Nếu qua đối không mà cứ cáu gắt, quát tháo hoặc nói giật cục thì chắc hỏng việc. Tớ nghĩ, tớ đã giúp được anh Chao hạ cánh an toàn. Thế thôi!

        Đúng, ngữ điệu của câu nói đóng vai trò rất quan trọng. Tôi nghĩ, các bạn sẽ đồng tình với tôi khi giả dụ như có mấy người đang ngồi nói chuyện với nhau say sưa, đúng lúc ấy một ai đó phát hiện thấy có một con rắn đang trườn tới. Nếu người ấy chỉ nhẹ nhàng nói: “Có một chú rắn đang tiếp cận chúng ta kìa!” thì chắc tình hình sẽ khác hơn nhiều khi người ấy hét thất thanh: “Rắn kìa! ối giời ơi, rắn kìa!”

        Việc chuẩn bị cho các thành phần ở sở chỉ huy tập phát khẩu lệnh qua đối không chứng tỏ ông Trần Mạnh là một chuyên gia về tâm lý.

        Anh Từ Đễ - một phi công trong “Phi đội quyết thắng”, từng đánh bom vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28 tháng 4 năm 1975, nhiều lần tâm sự với tôi:

        - “Cụ” Mạnh quả là rất giỏi về mặt tâm lý và là người làm công tác chính trị thật tuyệt vời!

        - Thì ông vốn là Chính ủy mà! - Tôi trả lời.

        - Tôi kể cho anh nghe cách “cụ” động viện tư tưởng tuyệt thế nào nhé! Khi giao nhiệm vụ cho bọn tôi đi đánh bom, lúc tất cả chuẩn bị căn giờ chuẩn theo lệnh của “cụ” thì tôi báo cáo: “Đồng hồ chỉ giờ trên máy bay của tôi bị hỏng!” “Cụ” liếc nhìn tôi, thấy tôi không có đồng hồ đeo tay, “cụ” liền tháo ngay chiếc đồng hồ trên tay “cụ” ra, đưa cho tôi và nói: “Tớ chỉ cho cậu mượn thôi nhé! Đánh trận xong phải đưa trả tớ đấy!” Anh thấy “cụ” làm công tác tư tưởng có ghê không? Có nghĩa là: Kiểu gì đi cũng sẽ về! Và về một cách an toàn! Đâu cần phải lên gân, hô khẩu hiệu “Quyết tâm! Quyết tâm!”... Chỉ cần một hành động nhỏ của người chỉ huy thế thôi, cấp dưới đã cảm thấy rất yên lòng, thấy tin tưởng lắm rồi!

        - Đúng thế! Đúng thế! - Tôi đồng tình. Mà không hiểu có phải từ tấm gương ấy hay không, về sau này tất cả các đơn vị bay từ Trung đoàn trở lên, các Chính ủy đều lấy từ phi công?

        Trở lại vấn đề những trận không chiến. Sau sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” vào ngày 5 tháng 8 năm 1964, toàn bộ Trung đoàn MiG-17 của ta từ sân bay Mông Tự đã cất cánh chuyển sân về nước, về sân bay Đa Phúc (nay là sân bay Nội Bài) với mật danh X-l.

        Ngay sau khi hạ cánh, các biên đội đã bước vào trực ban chiến đấu, sẵn sàng cất cánh chiến đấu, sẵn sàng nghênh chiến với không quân Mỹ.

        Lòi dạy của Bác Hồ khi Bác đến thăm Trung đoàn vào ngày 9 tháng 11 năm 1964:   “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử, trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa... Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm ấy trước hết là của các chú...” càng làm ông nhận rõ thêm trách nhiệm và quyết tâm của mình: Phải chiến đấu và chiến thắng!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 07:55:20 PM

        Đến đầu năm 1966, khi Trung đoàn được trang bị loại máy bay mới - loại tiêm kích đánh chặn MiG-21, ông Trần Mạnh đã cùng các phi công dày dạn kinh nghiệm trong chiến trận như Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Ngọc Độ, Trần Ngọc Síu, Đồng Văn Đe... chuyển loại thành công trên loại máy bay MiG-21 mà tôi đã kể ở phần trên.

        Tôi “mở ngoặc” để nói một chút về phi công Đồng Văn Đe mà ỏ phần trước tôi có đề cập đến. Anh Đồng Văn Đe quê ở Giồng Trôm, Bến Tre, anh là con trai của Trung tướng Đồng Văn Cống nổi tiếng (mà ông Trần Mạnh từng có chuyến đi “xuyên Việt” với thòi gian 1 năm 10 ngày cùng với vị tướng nổi tiếng này vào năm 1954). Anh Đồng Văn Đe tập kết ra Bắc năm anh 14 tuổi, học tại Trường Học sinh miền Nam. Tháng 2 năm 1959, anh nhập ngũ và được tuyển chọn cử đi học lái máy bay ở Trung Quốc. Tình cờ, anh lại cùng đoàn bay với ông Trần Mạnh do ông phụ trách. Ông và anh Đe rất quý mến nhau. Sau này, khi về nước, anh Đồng Văn Đe hay đến thăm nhà ông, anh thích chơi đùa với bọn trẻ con, đặc biệt hay bế bé Mai Tuấn Anh (con trai đầu lòng của ông Trần Mạnh) nhấc bổng đưa lên trên đầu phía trần nhà.

        Ông Trần Mạnh cũng hay trêu đùa với Đồng Văn Đe:

        - Mày phải kêu tao bằng chú đó vì tuổi tao với ba mày lệch nhau cũng như tao với mày thôi mà ổng vẫn bắt tao gọi ổng bằng chú đó!

        - Đấy là chuyện của anh với ba em, em đâu có rành! - Anh Đe cự lại.

        Khi anh Đồng Văn Đe cùng ông Trần Mạnh chuyển loại lên MiG-21 thì hai người càng gắn bó với nhau hơn.

        Ngày 14 tháng 12 năm 1966, biên đội Nguyễn Nhật Chiêu, Đặng Ngọc Ngự, Đồng Văn Đe, Nguyễn Văn Cốc xuất kích chiến đấu và trận đánh diễn ra với thòi gian rất ngắn - chỉ trong vòng 2 phút 30 giây, biên đội của các anh đã bắn rơi 3 chiếc F-105D tại khu vực phía Bắc dãy núi Tam Đảo, trong đó phi công Đặng Ngọc Ngự bắn rơi 1 chiếc và Đồng Văn Đe bắn rơi 2 chiếc.

        Trong trận đánh ngày 6 tháng 1 năm 1967, biên đội Trần Hanh, Mai Văn Cương, Đồng Văn Đe, Nguyễn Văn Cốc xuất kích giao chiến với bọn F-4 thì máy bay của Đồng Văn Đe bị trúng tên lửa do bọn F-4 bắn. Anh nhảy dù nhưng không thành công. Anh Đồng Văn Đe hy sinh khi mới 27 tuổi.

        Sau khi chuyển loại thành công trên loại máy bay MiG-21 thì đấy là điều kiện rất tốt để ông Trần Mạnh hiểu rõ hơn tính năng máy bay MiG- 21, đồng thời cũng nắm vững hơn những trình độ, những tâm tư, những nỗi bức xúc của các phi công MiG-21.

        Hồi đó, sau trận ngày 4 tháng 3 năm 1966, khi anh Nguyễn Hồng Nhị bắn rơi chiếc máy bay không người lái của Mỹ trên độ cao 18.000m thì toàn Trung đoàn bước vào huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật, chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo ở tất cả các độ cao khác nhau, không phân biệt “cao không7’ hay “trung không”.

        Tuy nhiên, các trận đánh tiếp theo không thật sự thành công. Trong thòi gian từ tháng 4 đến đầu tháng 11 năm 1966, MiG-21 cất cánh nhiều lần nhưng hiệu suất chiến đấu không cao. Có tổn thất về máy bay và phi công: 7 phi công phải nhảy dù, 1 phi công hy sinh trong khi chỉ bắn hạ được có 4 máy bay Mỹ. Có ngày xuất kích 3 trận, phóng 6 quả tên lửa, phóng 16 quả rôc-ket mà không bắn rơi chiếc máy bay nào.

        Có lẽ tôi cũng phải nói kỹ hơn một chút về tính năng kỹ chiến thuật của các loại máy bay tiêm kích thời đó để bạn đọc có thể hình dung ra cách đánh và những khó khăn trong việc tìm ra chiến thuật cho từng loại máy bay.

        Từ những ngày “đánh thắng trận đầu”, chúng ta chỉ có loại máy bay MiG-17. Loại tiêm kích MiG- 17 là loại máy bay tiêm kích “cận âm” - tức là tốc độ tối đa của nó chưa vượt được tiếng động. Trang bị vũ khí thì chỉ có 1 khẩu pháo 37 ly và 2 súng 23 ly mà thôi. Khi vào chiến đấu, bắt buộc nó phải sử dụng cách đánh quần thảo, chủ yếu là vòng mặt bằng, tìm cách cắt bán kính tiếp cận máy bay đối phương đến cự ly thích hợp mới phát hỏa. Ưu việt của nó là cơ động ỏ mặt phẳng ngang rất tốt, gọn nhẹ... Tất cả các chi huy các cấp từ Tư lệnh Quân Binh chủng đến các Trung đoàn trưởng đều bay trên. MiG-17. Các phi công lớp trước cũng đều bay trên MiG-17. Chính vì vậy mà từ nhận thức đến việc sử dụng, thực hành trong chiến đấu đều lấy phương pháp đánh quần là chính. Nó cũng giống như hai đô vật trên sàn đấu, phải vờn nhau, lừa miếng nhau, anh nào chớp được thòi cơ, ra đòn nhanh hơn thì thắng. Từng ấy năm trong chiến tranh với bao nhiêu trận không chiến, cách đánh của MiG-17 đã hằn sâu trong tiềm thức của các phi công và người chỉ huy rồi.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 07:58:37 PM

        Tới khi xuất hiện MiG-21 - loại máy bay có tốc độ lớn (tốc độ tối đa của nó là 2.150 km/h, tương đương trị số MACH - M = 2,05) vượt hai lần tiếng động, lại được trang bị tên lửa không đôì không với tính năng vượt trội MiG-17. Nó là loại máy bay tiêm kích đánh chặn, nhưng vì ta mới sử dụng, còn lúng túng trong việc nắm bắt tính năng kỹ chiến thuật của nó và không phải vị chỉ huy nào cũng bay trên loại máy bay MiG-21, còn các phi công được chuyển loại trên MiG-21 thì trước đó đã rất gắn bó với MiG-17 nên việc tìm ra cách đánh trên MiG-21 đương nhiên là gặp rất nhiều khó khăn rồi.

        Điểm mấu chốt là không thể nào thoát khỏi được cách đánh từ bao lâu nay được sử dụng, áp dụng trên MiG-17. “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”! Thay đổi được một thói quen cố hữu đâu phải dễ, đâu phải ngày một ngày hai mà làm được! Vậy nên việc tìm ra chiến thuật đánh cho MìG-21 là cả một vấn đề. Ồng Trần Mạnh đã chuyển loại, đã bay trên MiG-21 và với sự nhạy bén thiên phú của mình, ông đã hiểu được rằng không thể áp dụng lối đánh của MiG-17 cho MiG-21.

        Nhưng MiG-21 sẽ đánh như thế nào ỏ chiến trường Vỉệt Nam?

        Phi công Mỹ vốn được huấn luyện kỹ lưỡng được đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn, xuất thân từ các gia đình danh giá, được sự trợ giúp, trang bị đến tận “chân răng” các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Chúng có thời gian bay tích lũy hàng ngàn giờ, có nhiều kinh nghiệm bay và kinh nghiệm trong chiến trận. Số lượng chúng tham gia trong một trận chiến lại rất đông, rất áp đảo đối phương nên chúng rất ngông nghênh, ngạo mạn.

        Vấn đề cốt lõi của chúng ta là các phi công MiG-21 chưa tìm ra được cách đánh phù hợp với loại MiG-21. Các phi công của MiG-21 trăn trở một phần thì ông Trần Mạnh với tư cách một người chi huy trăn trở gấp bội phần. Ông gần như thức trắng nhiều đêm, đốt không biết bao nhiêu điếu thuốc lá... Đám cuộng thuốc trên chiếc gạt tàn cứ càng lúc càng nhiều, càng đầy lên. Những ngón tay của ông đều bị cháy xạm vì khói thuốc...

        Vẫn chưa có cách đánh hiệu quả!

        Rồi trong những cuộc hội nghị “Quân sự dân chủ” đã xuất hiện những tư tưởng hoài nghi về hiệu quả chiến đấu của loại máy bay MiG-21. Có một số phi công từng có kinh nghiệm chiến đấu trên loại MiG-17 đã đề nghị lắp pháo trên MiG-21 và đánh theo kiểu chiến thuật của MiG-17.

        Ngay như anh Lê Trọng Huyên (sau này trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang) sau nhiều trận đánh không thành công, không bắn rơi được chiếc nào, trong một cuộc họp đã thốt lên:

        - Giá mà tôi bay trên MiG-17 thì “nó” đã chết với tôi rồi! (Ý anh là nếu trận ấy anh bay trên MiG-17 thì anh đã nện rơi thằng máy bay Mỹ kia ngon lành).

        Tư tưởng đánh theo kiểu của MiG-17 là phải đánh quần. Phải quần nhau với máy bay địch như ở vòng đua ngựa gỗ ấy. MiG-21 đánh quần thì phải dùng súng, dùng rôc-ket, mà như vậy thì cồng kềnh, nhũng nhẵng và không thể cơ động nhanh được, tốc độ lại giảm nhanh và lắm khi tìm cách thoát ly ra khỏi không chiến cũng khó.

        Trận không chiến ngày 9 tháng 10 năm 1966 của biên đội Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Minh cất cánh lên đánh đội hình máy bay Mỹ tại vùng trời Phủ Lý - Ninh Bình thì anh Nguyễn Văn Minh bay số 2, đeo rôc-ket đã bắn rơi 2 chiếc F-4 của Hải quân Mỹ, còn Phạm Thanh Ngân số 1 đeo tên lửa thì không có cơ hội bắn. Thế là tư tưởng các máy bay phải đeo rôc-ket để đánh theo kiểu MiG-17 lại rộ lên.

        Anh Nguyễn Hồng Nhi nhớ lại: Khi một số anh được bố trí đi an dưỡng mấy ngày trên khu nghỉ dưỡng ở đỉnh núi Tam Đảo để lấy lại sức sau những trận chiến căng thẳng thì trước khi đi, ông Trần Mạnh có dặn: “Các cậu đi nghỉ nhưng phải cố tìm ra cho được cách đánh sao cho có hiệu quả để sau khi nghỉ về có thể áp dụng được ngay.”

        Vậy là khi đi nghỉ lại còn mệt hơn ở nhà vì luôn phải căng óc ra suy nghĩ, rồi ngồi thảo luận, tranh luận..., cuối cùng rốt cuộc vẫn quay lại lôi đánh của MiG-17. Chỉ có điều biến tấu đi một chút là số 1 đeo tên lửa, còn số 2 đeo rôc-ket mà thôi.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2016, 08:04:26 PM

        Ông Trần Mạnh ngồi ở sở chỉ huy cũng “đau đầu” không kém. Bài học bắn máy bay địch của chiến sĩ Ngô Tùng Châu thuộc Tiểu đoàn 308 khi Tiểu đoàn về Mỹ Thạnh Trung chuẩn bị làm lễ chính thức thành lập Tiểu đoàn năm nào cứ như đoạn phim tua đi tua lại trong trí nhớ của ông. ông đã rút ra kết luận: “Một quân đội dù rất hiện đại, một khi kéo quân đi xâm lược nước khác, chắc chắn sẽ phải bộc lộ những điểm yếu cốt tử!”

        “Vậy điểm yếu cốt tử của Không quân Mỹ là gì? Vậy Trung đoàn sẽ đánh theo cách nào?” - Ông bật nói thành tiếng.

        Các phi công Mỹ đâu có phải là đối thủ dễ bị đánh bại. Với số lượng giờ bay tích lũy cao, kinh nghiệm bay và kỹ thuật bay giỏi, với sự hỗ trợ của trang thiết bị, khoa học kỹ thuật hiện đại... thì đúng là một đối thủ khó nhằn.

        Vậy ta đánh theo cách nào?

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2023a_zps4llvinib.jpg)
Ông Trần Mạnh cubgf các phi công thuộc trung đoàn Sao Đỏ

        Trong giai đoạn này, Bộ trưỏng Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Thượng tướng Văn Tiến Dũng cũng nhiều lần xuống dự họp với các cuộc Hội nghị “Quân sự dân chủ” của Trung đoàn. Khi nói đến “Khu chờ” thì Đại tướng có ý kiến nhận xét, phê phán cái khái niệm “Khu chờ” ấy. Đại tướng nói rằng: Không chờ đợi, đã cất cánh là phải tiến công kiên quyết, đặc biệt là phải đánh vào đội hình cường kích, tiêu diệt chúng, bảo vệ mục tiêu. Phải lợi dụng yếu tố bí mật bất ngờ. Không được mang tư tưởng nóng vội, đặc biệt là phải biết giữ gìn, bảo tồn và phát triển lực lượng của mình cho cuộc chiến đấu lâu dài.

        Những lòi phát biểu, chỉ đạo của Đại tướng đã gợi mở cho ông Trần Mạnh một hướng đi. Sau mỗi trận không chiến, ông đều cùng với các thành phần dẫn đường, quân báo và phi công ngồi trao đổi, rút kinh nghiệm một cách tỉ mỉ, từ công tác chỉ huy dẫn dắt đến việc giữ đội hình, cách phát hiện mục tiêu, cách chiếm vị công kích, rồi điểm ngắm, cự ly xạ kích, cách thoát ly... Ông lắng nghe rất chăm chú, đặc biệt là ở những trận không đánh thắng rồi sau đó giao nhiệm vụ cho sĩ quan dẫn đường tính toán lại cách dẫn dắt...

        Trên bàn làm việc của ông chất đầy những tập tài liệu, sơ đồ, hình vẽ về các trận không chiến theo ý tưởng của ông được các sĩ quan dẫn đường và tiêu đồ phác họa lại.

        Càng ngày ông càng hút thuốc lá nhiều. Hầu như trên tay ông lúc nào cũng có điếu thuôc đang đỏ lửa.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2016, 08:32:54 AM

        Người ta nói: “Hút thuốc nhiều hay bị háo phổi”. Có lẽ vì vậy mà ông rất thích ăn kem, nhất là loại kem như kem Eskimô thì ông có thể ăn trừ cơm. Tôi cũng là người thích ăn kem và loại kem ấy tôi cũng rất khoái. Tôi nhớ hồi còn ở bên Nga vào mùa đông khi tuyết phủ một màu trắng tinh khôi lên vạn vật, chúng tôi được nghỉ đông, đi lang thang trong tuyết lạnh, khi bụng hơi “ngót ngót” một chút, tạt vào cửa hàng bán kem, mua một chiếc (hồi ấy giá 28 cô-pêch) loại có bọc sô-cô-la, ăn xong là thấy người ấm hẳn lên, lại có thêm năng lượng để bước tiếp nên tôi không quá ngạc nhiên về người chỉ huy của mình có cái sở thích ấy.

        Nhắc đến chuyện kem thì anh Tạ Quốc Hưng trầm trồ:

        - Riêng khoản án kem thì tớ phải gọi ông Mạnh bằng “cụ”! Cậu có nhớ ngày trước Trung đoàn mình có bộ phận ở Hậu cần làm kem không? Gọi là kem cho oai chứ thực ra nước đá là chính, đâu được kem như bây giờ. Vậy mà có lần, ông Mạnh bảo tớ đi mua lấy một phích kem. Một phích đựng được khoảng hơn 20 chiếc kem. Khi tớ xách về thì có việc ở Sở chỉ huy nên tớ vội giao phích kem cho ông Mạnh rồi lên sở chỉ huy. Lát sau, tớ trở về, hỏi ông Mạnh ăn kem chưa thì ông gật đầu nói ăn rồi. Khi tớ mỏ nắp phích kem ra thì vô cùng ngạc nhiên vì trong ấy chỉ còn độc một chiếc, Tớ hỏi có những ai cùng ăn thì ông điềm nhiên trả lời: “Mình tớ thôi!” Cậu thấy có đáng khâm phục không?

        Đúng là đáng khâm phục thật!

        Ông cũng là người thích ăn ngọt nữa. Nói đến chuyện ăn ngọt thì “Đoàn bay MiG-21 khóa 3” của tôi chắc ai cũng nhớ một giai đoạn dài trong Trung đoàn có phong trào “uống nước đường căm tăm” nghĩa là đường cho vào cốc nước chè xanh phải đặc quánh lên. Mà đâu chỉ có uống một lần trong ngày uống như thế nhiều lần lắm. Ngày uống đã đành, tôi khuya cũng vẫn còn uống. Đã có giai thoại, có bài thơ, vè nói về chuyện ấy cơ mà:

                         Nửa đêm, giờ Tí, canh Ba
                         Thằng Nam thức dậy “làm” ca nước đường
                         Uống xong, nhảy tót lên giường
                         Vội vàng quay mặt vào tường, ngáy luôn!

        Ghê chưa?

        ... Ông Trần Mạnh vẫn nghĩ ngợi, đêm đêm thức cùng với những câu hỏi tự đặt ra rồi tự giải đáp. Điếu thuốc lá lúc nào cũng đỏ lập lòe ỏ trên môi. Càng suy nghĩ ông càng hút thuốc nhiều. Vào một đêm, sau khi xem xét kỹ các sơ đồ, các sô" liệu đã tính toán, ông từ từ cầm điếu thuốc, ấn xuống chiếc gạt tàn, lẩm bẩm: ‘Phải cho bọn giặc lái Mỹ này ăn cháo bằng đũa mới được!”

        Rồi ông bỗng nhấc diếu thuốc lên khỏi chiếc gạt tàn và bằng động tác nhanh, mạnh, dứt khoát, ấn tịt điếu thuốc xuống vì lúc đó trong đầu ông lóe lên ý nghĩ: ‘Tại sao lại không dùng tốc độ lớn, đánh nhanh, thọc sâu, công kích nhanh, thoát ly nhanh? Loại MiG-21 là loại tiêm kích đánh chặn cơ mà! ưu thế của nó là lấy tốc độ nhanh, lấy độ cao nhanh. Có tốc độ thì cơ động sẽ tốt... Nếu cứ để nó sa vào lốỉ đánh quần thì có khác gì vác đại đao vào choảng nhau trong ngõ hẻm!”

        “Đúng rồi! Không thể đánh theo kiểu của MiG- 17 được, cũng không thể rập khuôn máy móc theo lý thuyết của Liên Xô hoặc theo cách đánh của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên được. Đây chính là sự đột phá trong chiến thuật. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị phải tiến công kiên quyết, phải lợi dụng yếu tô" bí mật bất ngờ... Chiếc “chìa khóa vàng” của cách đánh đây rồi! Phải tạo được yếu tố bí mật bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh. Phải mạnh dạn chọc thẳng vào đội hình của chúng, phá vỡ đội hình của chúng, tạo cho chúng sự lúng túng, hoảng loạn... Từ đó ta dễ dàng tấn công hơn...”

        Ông Trần Mạnh gật gù, châm tiếp điếu thuốc nữa, rít một hơi dài, giữ khói trong lồng ngực một lúc rồi mới từ từ thả cho khói bay ra nhẹ nhàng với cảm giác thư thái...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2016, 08:34:19 AM

        “Phải đưa vấn đề này ra bàn ở Hội nghị “Quân sự dân chủ!” ông tự nhủ và vặn thật nhỏ ngọn đèn dầu để chuẩn bị ngả lưng, ngủ một chút. Ông không nhận ra bấy giờ trời đã tang tảng sáng. Một giọng gà gô lảnh lói gáy bên sườn đồi: “Bắt con tép kho cà...!” Máu săn bắn trong người ông lại nổi lên. Ông bước tới vị trí vẫn treo khẩu súng săn, với tay lấy khẩu súng nhưng rồi nghĩ thế nào lại dừng lại. Ông tủm tỉm: “Chú mày là béo lắm đây! Thôi được! Cứ tạm để chú mày đấy đã!” Ông bước ra ngoài, vươn vai tập thể dục. Chân mây phía đằng đông đã ửng hồng...

        Sau khi tố chức Hội nghị “Quân sự dân chủ”, ông mạnh dạn báo cáo với Quân chủng cách đánh mới của MiG-21: “Máy bay MiG-21 là máy bay tiêm kích đánh chặn. Vĩ vậy, nó sẽ được dẫn dắt từ Sở chỉ huy, tạo góc có lợi so với mục tiêu để phi công chủ động tiếp cận, cơ động lao thẳng vào tốp đánh chính là tốp cường kích, dùng tốc độ lớn tạo đà tạo thế, ngắm bắn bằng mắt, không sử dụng ra-đa trên máy bay, đến cự ly có hiệu quả thì phóng tên lửa rồi nhanh chóng thoát ly... Nói ngắn gọn, đấy là phương pháp đánh nhanh, thọc sâu, rút nhanh!”

        Với sự nghiên cứu tỉ mỉ, dựa trên cơ sở khoa học, với sự tính toán của đội ngũ dẫn đường giàu kinh nghiệm, với bản lĩnh dày dạn trong trận mạc, với ý chí và tinh thần dám làm dám chịu của mình, ông Trần Mạnh đã hứa đảm bảo với chỉ huy Quân chủng là sẽ đánh thắng.

        Ông đã thuyết phục được Quân chủng. Sau khi được Quân chủng phê duyệt, bắt đầu từ đầu tháng 12 năm 1966, ông tổ chức cho Trung đoàn huấn luyện, luyện tập theo cách đánh mới. Thoạt đầu, tổ chức tập luyện ngay trên đỉnh sân bay, sử dụng Đài chỉ huy bay bổ trợ ở sân bay để chỉ huy hỗ trợ. Sau một thời gian thấy các động tác đã nhuần nhuyễn, ông bắt đầu cho luyện tập theo cách đánh chặn từ xa, theo đúng các phương án mà ông đã cùng các sĩ quan dẫn đường từng tính toán kỹ lưỡng. Các phi công có trình độ bay điêu luyện như Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Đăng Kính, Vũ Ngọc Đỉnh, Đồng Văn Song, Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Văn Cốc, Đồng Văn Đe... được huấn luyện, luyện tập theo cách đánh mới thật thuần thục và chuyển sang Trực ban chiến đấu, sẵn sàng cất cánh, lao vào cuộc chiến.

        Ngày 2 tháng 12 năm 1966, hai Trung đoàn Không quân hiệp đồng chặt chẽ với nhau: lực lượng MiG-17 sẽ tác chiến dưới độ cao 2.000m, lực lượng MiG-21 tác chiến trên độ cao 2.000m trở lên. Biên đội Trực ban chiến đấu gồm Vũ Ngọc Đỉnh, Nghiêm Đình Hiếu, Lê Trọng Huyên, Trần Thiện Lương trên MiG-21 đã xuất kích, bay về khu chiến. Khi phát hiện mục tiêu gồm các máy bay F-105 và F-4 biên đội nhanh chóng vứt thùng dầu phụ, tăng tốc độ, cắt bán kính lao vào đội hình địch. Phi công Trọng Huyên tiếp cận một tên F-105 và nhanh chóng hạ gục nó. Đấy là chiếc F-105D.

        Trận mở đầu theo phương pháp đánh mới lập chiến công, tạo tinh thần phấn chấn cho toàn đội ngũ phi công và chỉ huy. Trong chiến dịch “Sấm rền-Alpha 52” của Mỹ vào ngày này, Mỹ đã bị rơi 12 máy bay cả thảy. Một số tác giả Mỹ đã gọi ngày này là “Ngày Thứ Sáu đen tôi” (Black Priday).

        Ngay sau đó 3 ngày, vào ngày 5 tháng 12 năm 1966, các biên đội của Lê Trọng Huyên, Trần Thiện Lương, Vũ Ngọc Đỉnh, Nghiêm Đình Hiếu, Nguyễn Đăng Kính và Bùi Đức Nhu đã xuất kích, bắn rơi 2 chiếc máy bay F-105.

        Tiếp đến ngày 14 tháng 12 năm 1966, biên đội của Nguyễn Nhật Chiêu, Đặng Ngọc Ngự, Đồng Văn Đe, Nguyễn Văn Cốc trong vòng thời gian rất ngắn, chỉ 2 phút 30 giây đã bắn rơi 3 chiếc F-105D.

        Rồi đến ngày 19 tháng 12 năm 1966, biên đội của Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Đăng Kính, Vũ Ngọc Đỉnh, Nghiêm Đình Hiếu xuất kích chiến đấu bay về khu vực tây bắc Vĩnh Yên, lao vào phía sau đội hình địch, nhanh chóng bắn rơi 1 chiếc F-105 và phá tan đội hình của chúng. Chúng phải vứt bom bừa bãi để tháo chạy thoát thân.

        Nếu chỉ tính riêng tháng 12 năm 1966, cả hai loại máy bay MiG-21 và MiG-17 đã bắn rơi 11 máy bay Mỹ, chiếm 55% tổng số máy bay Mỹ rơi trong tháng. Bản thân các phi công Mỹ cũng thừa nhận, chỉ trong vòng 12 ngày của tháng 12 năm 1966, riêng F-105 đã bị bắn hạ tới 10 chiếc, 7 phi công bị chết hoặc mất tích, 5 phi công bị bắt và chỉ 3 phi công được cứu thoát.

        Mỹ đã phải dừng bay cho đến đầu năm 1967.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2016, 08:35:55 AM

        Những thắng lợi của các trận đánh đã củng cố niềm tin của ông Trần Mạnh, rằng mình đã đi đúng hướng, đã lựa chọn đúng cách đánh để phát huy được lợi thế của loại máy bay MiG-21, nhưng ông cũng hiểu rằng, bọn Mỹ sẽ không chịu ngồi yên nhìn thất bại vì chúng là những kẻ rất thực dụng. Chắc chắn chúng phải nghiên cứu, phải thay đổi chiến thuật cho các đòn đánh tiếp theo. Không phải vô cớ mà chúng lại dừng bay như vậy. Nhưng chiến thuật đó là gì? Ông tự đặt câu hỏi cho mình và tự đặt mình vào vị trí của những nhà chỉ huy Mỹ để tìm ra cách đối phó. Ông giống như người đang chơi cờ vây một mình, khi thì sử dụng quân đen, lúc thì sử dụng quân trắng... tự lần mò tìm ra lối đi thích hợp. Trong căn phòng trực của ông, đèn lại sáng thâu đêm và ánh lửa trên đầu điếu thuốc lá lại liên tục sáng lập lòe...

        Đúng như ông suy nghĩ, Tư lệnh Tập đoàn Không quân sô" 7, Đại tướng John Momyer, nhà nghiên cứu chiến thuật số một của Không quân Mỹ hiện đang ỏ căn cứ Clark bên bờ biển Philippines đã triệu tập Đại tá Robin Old - một phi công Ace đang là Tư lệnh Không đoàn chiến thuật số 8 đến để giao nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm ra cách đánh, chế ngự được MiG-21, không thể để tổn thất nặng nề như thế nữa.

        Đại tá Robin Old là một phi công giỏi, dày dạn kinh nghiệm, từng tham gia các trận không chiến từ Chiến tranh thế giới thứ 2, từng bắn hạ được 16 máy bay của đối phương. Có thể nói, đấy là “con sói già trên không”, có đủ mọi thủ đoạn xảo quyệt... bắt tay ngay vào việc nghiên cứu, tìm biện pháp đối phó với MiG. Và Robin Old đã nhận thấy những trận đánh vừa qua, các biên đội MiG-21 hầu như chỉ cố gắng giao chiến ở khu vực gần sân bay. Vì vậy, Robin Old đưa ra thủ đoạn chiến thuật mới là dùng lực lượng máy bay F-4 bay giả làm máy bay cường kích F-105, bay theo đúng đường bay của F-105 trong thời gian vừa rồi để “nhử’ MiG lên. Còn một lực lượng F-4 khác thì bay thấp, lợi dụng địa hình của dãy Tam Đảo để không bị ra-đa phát hiện sẽ đánh úp MiG khi vừa cất cánh từ sân bay lên.

        Với chiến thuật ấy, trong hai ngày (ngày 2 và 6 tháng 1 năm 1967), Không quân ta đã chịu tổn thất. Ngày 2 tháng 1 năm 1967, lượng mây 10 phần che kín sân bay, đáy mây 200m và đỉnh mây 600m, khi biên đội 4 chiếc của ta xuyên mây lên thì cả 4 chiếc đều bị bắn hạ. Sang ngày 6 tháng 1 năm 1967, ta tiếp tục chịu tổn thất nữa, đặc biệt là phi công Đồng Văn Đe đã hy sinh.

        Anh Tạ Quốc Hưng nhớ lại: Ngày ấy anh trực ở Sở chỉ huy Trung đoàn, ra-đa không bắt được tốp nào hoàn chỉnh cả, trên bàn tiêu đồ thi thoảng mới đi được 1-2 mũi ở phía dãy Tam Đảo và thông báo có khả năng, có nguy cơ là địch sử dụng tiêm kích bay chờ ở đó. Anh Tạ Quốc Hưng báo cáo ông Mạnh sau khi đã quan sát tình hình trên bàn tiêu đồ: “Báo cáo anh! Mây thấp thế này mà ta phải xuyên lên là dễ mất đội hình và dễ bị chúng nó “úp”. Còn nếu như quyết tâm cho xuất kích thì đề nghị anh cho xuyên mây theo phương pháp “bất kỳ” (tức là không theo hướng Đông-Tây), cho bay về hướng Nam rồi tập hợp đội hình...” Ông Mạnh gật đầu, nhấc điện thoại, báo cáo về tình hình địch, những khó khăn của ta và đề nghị phương án xuyên mây chiến đấu, nhưng cấp trên quyết định cho cất cánh và để Sở chỉ huy Binh chủng dẫn. Kết quả là ta chịu tổn thất.

        Ông Trần Mạnh gầy sọp hẳn vì suy nghĩ và thức đêm quá nhiều. Hầu như những đêm ấy ông đều thức trắng. Vậy là chiến thuật mình đưa ra có điều gì bất hợp lý rồi! Bất hợp lý ở chỗ nào nhỉ? Tại sao mấy trận trước lại thắng ròn rã thế? Phải xem xét lại từ đầu mới được! Ông gặp gỡ tất cả các phi công tham gia chiến đấu trong các ngày hôm ấy, hỏi han thật tỉ mỉ, động viên anh em rồi lại cùng đội ngũ dẫn đường bàn bạc, tính toán...

        Hình ảnh phi công Đồng Vàn Đe luôn hiện lên, choán tâm trí ông. ông nhớ lại những lần cùng bay với nhau, những lần Đe đến nhà ông chơi, hay nô đùa với con trai ông, bế cậu bé Mai Tuấn Anh giơ cao lên quá đầu, chọc cho nó cười. Rồi nhớ đến lúc ông trêu Đe, bắt Đe gọi mình bằng chú. Những câu nói như khứa vào lòng ông, chẳng thể nào quên:

        - Mày phải gọi tao bằng chú chứ, vì bố mày hơn tao cũng từng ấy tuổi mà ổng bắt tao gọi ổng bằng chú đấy!

        - Thì đấy là việc của anh với ổng, em đâu biết!

        Đồng Văn Đe là phi công có nhiều triển vọng phát triển, vậy mà lại hy sinh. Mình phải trả lời với ông Đồng Văn Cống thế nào đây? Mình sẽ phải trả lời Quân chủng thế nào đây? Mình thật có lỗi lớn quá!

        Ồng cứ tự dằn vặt, trăn trở...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2016, 10:42:57 PM

        Cách dẫn dắt, cách đánh trong giai đoạn vừa rồi đã hợp lý chưa và ta có tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi hay không? Mà, qua vụ việc cậu Đe nhảy dù không thành công, khi hiệp đồng cần phải nhắc nhở phi công kiểm tra khóa dù thật cẩn thận khi ngồi vào buồng lái mới được!

        Dòng suy nghĩ lại kéo ông trở lại trường hợp của Đồng Văn Đe. Chắc là trong lúc báo động, vội vã nên Đe đã không ấn chặt, không khóa chặt chốt khóa dù. Chỉ một sơ sẩy nhỏ thế thôi mà dẫn đến tổn thất quá lớn. Sau lần ấy, các tổ trưởng thợ máy của máy bay đã nhận được chỉ thị: “Phải giúp các phi công kiểm tra khóa dù trước khi đóng nắp buồng lái!” để không còn vụ việc nào xảy ra tương tự như thế nữa.

        Sau những thất bại đầu tháng 1 năm 1967, ta phải dừng bay cho đến cuối tháng 4 năm 1967. Suốt trong thòi gian ấy là sự tìm kiếm cách đánh mới cho phù hợp. Không thể cứ đánh ở trên đỉnh sân bay, ở khu vực sân bay được nữa rồi, đành rằng ỏ đó sẽ có sự trợ giúp của Đài chỉ huy mặt đất... Vấn đề là ở chỗ vẫn không phát huy được hết tính năng ưu việt của MiG-21. Cuối cùng, tất cả đều thống nhất với phương án mà ông Trần Mạnh đã dự tính từ trước đó. Phương án ấy là phải dẫn máy bay ta vòng ra xa, ra hẳn ngoài vùng hỏa lực Phòng không, sau đó sẽ dẫn máy bay ta vòng lại, tiếp cận với tốc độ lớn, có độ cao ưu thế, có góc vào thích hợp để phi công có thể quan sát được đội hình địch, để lựa chọn đánh tốp nào có lợi nhất rồi chọc thẳng vào đội hình cường kích của địch khi chúng còn kềnh càng đầy bom đạn quanh thân máy bay, chưa kịp dàn trận. Chỉ có vậy mới vừa tạo được thê bất ngờ, vừa phát huy được tính năng của MiG-21.

        Khi tôi có dịp ngồi với anh Lê Hải, nói về chuyện này thì anh Lê Hải rất hào hứng. Giọng anh sôi nổi:

        - Chính xác! Mình không sợ đông! Chúng càng đông càng dễ đánh bởi biên đội của chúng sẽ cơ động kém, hơn nữa bom đạn đầy người nên cơ động lại càng kém hơn. Ta cứ xông thẳng vào, bắn một loạt chiến thuật. Đội hình của chúng hoảng loạn, sẽ tan tác và ta có thòi cơ “thịt” chúng ngay!...

        Cuốỉ tháng 4 năm 1967, các phi công đã triển khai, áp dụng cách đánh mới này. Ngày 30 tháng 4 năm 1967, các biên đội của các anh Nguyễn Ngọc Độ, Nguyễn Văn Cốc, Lê Trọng Huyên và Vũ Ngọc Đỉnh trong buổi chiều hôm ấy đã bắn rơi 4 chiếc F- 105. Tất cả biên đội về hạ cánh an toàn.

        Trong trận này, phi công Nguyễn Văn Cốc lập chiến công đầu tiên để rồi tiếp theo, anh lần lượt bắn hạ thêm 8 chiếc nữa, dẫn đầu thành tích bắn rơi máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh.

        Đây là thắng lợi to lớn sau một thời gian dài tạm dừng bay để rút kinh nghiệm. Đến tháng 5 năm 1967, các phi công MiG-21 đánh 7 trận, bắn rơi 7 máy bay Mỹ. Những thắng lợi này khẳng định thêm một bước lôi đánh của MiG-21, mở ra một giai đoạn mới trong hình thành chiến thuật của MiG-21 là yếu tố bí mật bất ngờ tiếp cận từ xa, dùng tốc độ lớn để tiếp cận, tạo đà tạo thế công kích nhanh thoát ly nhanh.

        Với biên đội bay thì sau khi phát hiện mục tiêu, nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu được giao cho số 1, còn số 2 có nhiệm vụ yểm hộ, bảo vệ cho số 1 vào công kích, nhưng đến ngày 23 tháng 8 năm 1967, khi Trung đoàn trưởng Trần Mạnh chỉ huy cho biên đội Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Văn Cốc xuất kích đánh theo đúng ý đồ thì trận này được coi là đỉnh cao minh chứng cho tính hiệu quả của chiến thuật MiG-21. Trận đánh đã mang tính hàn lâm mà sau này nhiều bài vở, nhiều học viện, nhà trường phải nhắc đến. Ngoài việc biên đội bắn rơi 3 máy bay địch, còn là sự sáng tạo ra lối tấn công “đồng thời công kích”, cả số 1 lẫn số 2 khi có điều kiện thuận lợi đều tấn công, đều lập công. Có thể coi đây là mốc son đánh dấu sự hoàn chỉnh về cách đánh của MiG-21. Nó là công lao của tập thể cán bộ chỉ huy, dẫn đường và phi công, nhưng người đóng góp trí tuệ lớn nhất lại là Trung đoàn trưởng Trần Mạnh. Ông đã thắng Đại tá Robin Old - một phi công lừng danh của Không quân Mỹ trong cuộc đấu trí này. Ông đã vận dụng nguyên lý của máy bay đánh chặn từ xa vào điều kiện của Việt Nam, nâng lên thành cách đánh của MiG-21. Đấy chính là kỳ tích sáng tạo của Không quân Việt Nam.

        Nhờ có cách đánh sáng tạo này, Không quân Việt Nam đã giành những thắng lợi ròn rã mà ông Trần Mạnh là người đóng góp quan trọng nhất.

        Tuy nhiên, khi nói đến công lao của ông, ông chỉ cười và khiêm tốn nói: “Đấy là trí tuệ tập thể chứ mình tôi thì làm thế nào được!” Đương nhiên là trí tuệ tập thể, nhưng nếu không có người nghĩ ra, sáng tạo ra và đưa ra bàn bạc rồi thực hiện thì làm sao có được những thắng lợi như vậy. Vai trò của người chỉ huy trong mọi lĩnh vực đều quan trọng lắm chứ!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2016, 10:45:00 PM

        Đấy là những trận không chiến với máy bay có người lái. Còn việc đánh máy bay không người lái thì thế nào đây? Máy bay không người lái làm nhiệm vụ rất quan trọng là do thám, chụp ảnh các khu vực quan trọng như sân bay, sỏ chỉ huy, trận địa tên lửa phòng không, các trạm ra-đa, các khu vực tập kết hàng, nhà ga, bến cảng... để lên phương án đánh phá. Không thể không tiêu diệt cái “thằng do thám” này được! Nó tuy không có đối kháng nhưng đánh nó có những cái khó, thậm chí rất khó...

        Nó có thân hình nhỏ. Ví như loại hay được sử dụng nhiều trong chiến tranh là loại BQM-34 và AQM-34. Loại BQM-34 thì thân nó chỉ dài 6,98m với sải cánh là 3,92m và cao có 2,04m, tốc độ bay chỉ 700-760 km/h. BQM-34 sau này Mỹ còn cải tiến làm máy bay gây nhiễu, thả nhiễu nữa. Còn loại AQM-34 thì thân dài 8,55m, sải cánh là 3,96m, chiều cao 2,24m, tốc độ bay của nó là 850- 900 km/h. Loại AQM-34 là máy bay trinh sát tầng thấp. Sau này loại AQM-34 được cải tiến thành các kiểu 147-J, s, SK... trên căn bản hình dạng đều giống nhau, trinh sát ở độ cao thấp và cực thấp. Với thân hình như thế thì khi bay trong không trung, nó chẳng khác gì một hạt bụi. Nó bay ở độ cao thấp, bay qua mục tiêu chụp ảnh xong rồi có thể trở về căn cứ của nó vẫn ở độ cao thấp mà cũng có thể từ từ kéo cao hoặc cứ thế bay thấp ra biển. Mà cái cách nó kéo cao mới thật khó chịu. Nó cứ thế lấy độ cao mà tốc độ không bị giảm tí nào. Cứ tưởng tượng khi ta đi xe máy lên dốc, càng lên cao thì tốc độ càng giảm và sẽ tới lúc không đi nổi. Máy bay đánh chặn của ta cũng nằm trong tình trạng tương tự như vậy khi đuổi bám thằng không người lái. Thế là ngày càng bị tụt lại và lắm trận đành chịu để cho nó thoát.

        Nhưng vấn đề chính là phát hiện ra nó thế nào đây? Các trạm ra-đa gần như bị bó tay vì thân hình nó đã bé lại bay rất thấp nên không thể “tóm” được nó.

        Ông Trần Mạnh lại mất nhiều đêm thức trắng. Một buổi sáng, ông cho gọi anh Tạ Quốc Hưng - một trong những sĩ quan dẫn đường kỳ cựu và giàu kinh nghiệm đến sỏ chỉ huy.

        - Báo cáo! Tôi có mặt theo lệnh của đồng chí! - anh Tạ Quốc Hưng bước vào sở chỉ huy, đứng nghiêm báo cáo.

        - Lệnh liếc gì đâu! Cậu ngồi xuống đây, tớ trao đổi chuyện này.

        - Dạ, vâng! - Anh Tạ Quốc Hưng trả lời và kéo ghế ngồi.

        - Tớ muôn cậu chọn thêm một ai đó đi cùng, đi dọc tất cả các cửa sông ven biển, đến tất cả các trạm ra-đa, trạm quan sát, hiệp đồng và ghi lại thời gian xuất hiện của “thằng C-130" cùng với độ cao, hướng bay của nó. Càng chi tiết càng tốt!

        - Rõ! Bao giờ thì đi ạ?

        - Càng sớm càng tốt!

        Anh Tạ Quốc Hưng hối hả chuẩn bị rồi ngay sáng hôm sau, anh cùng anh Chiến thông tin mang theo máy R-809, gồng gánh 2 bộ ắc-quy, thế là “khăn gói lên đường” làm nhiệm vụ. Chuyến đi của các anh xuất phát từ Quảng Ninh rồi cứ thế men dọc theo bờ biển, qua Cửa Cấm, Văn Úc, Diêm Điền, Trà Lý, Bà Lạt...

        Các anh đã đến tất cả các trạm quan sát, đài chỉ huy, các trạm ra-đa để lấy số liệu, hỏi han, trao đổi, ghi chép tỉ mỉ... Không ít nơi khi các anh đến đã phải hứng chịu những trận đánh phá của Không quân Mỹ, bom đạn tơi bời... vì chúng rất tích cực đánh các cửa sông, cửa biển, đánh phá các chân hàng, cầu phà... để ngăn chặn sự tiếp tế của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

                            “Lênh đênh qua cửa Thần Phù
                            Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm!”

        Khi đến đất Ninh Bình, anh đã lẩm nhẩm câu ca ấy và nhủ thầm: ‘Ta đang đi tìm cái Thiện để diệt cái Ác thì đương nhiên ta là Chân Tu rồi. Mà đã là Chân Tu thì làm sao mà chìm được. Bom đạn Mỹ chắc phải né ta ra.”

        Nói đến cửa biển Thần Phù thì đấy là vùng hạ lưu sông Đáy, đất Ninh Bình. Đầu thế kỷ XI, đến chùa Đông Hải, chùa Thiên Đô còn nghe sóng vỗ. Phía trước trông xa bóng Hòn Nẹ, Thần Phù, núi An Tiêm, động Từ Thức... Dải núi có hang động kéo dài địa mạch Tam Điệp - Biện Sơn, mục đầu của dãy Trường Sơn...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2016, 10:48:07 PM

        Đủ biết, thời ấy sóng dữ, ngày đêm réo quanh ngọn núi có chữ “Thần” - thủ bút của chúa Trinh Sâm (1771) đánh dấu mốc. Nay “Cửa Thần” đã yên vị trong đất liền (xã Nga Thiện, Nga Sơn, Thanh Hóa) rồi. Sông cũ đổi dòng, thắt cổ bồng ôm trọn miền đất sa non mơn mởn như dáng nàng tiên nữ uốn mình trưóc biển. Cát ngấy mặn, nơi có thứ rau Quan Âm, hạt tám thơm, nếp cái hoa vàng ta chỉ được thưởng thức vào dịp lễ Tết cổ truyền... Đã có biết bao ngưòi bỏ ra bao nhiêu công sức ngày đêm đắp đê lấn biển để trồng cói, cấy lúa. Tôi chợt nhớ đến những câu thơ của một nhà thơ đã viết:

                                    “Sông thắt cổ bồng xòe nếp váy
                                    Vòng eo hoa lý nước non mình
                                    Sông Đáy, sông Ninh chùng dải lụa
                                    Gió quẩn theo chân gái Dông Bình
                                    Ai bảo đất này như hũ rượu
                                    Cất bằng men ruộng nếp Quần Liêu
                                    Ta bảo đất này như chiếc đó
                                    Đơm cả khơi xa, nhịp thủy triều
                                    Ai bảo đất này như sanh cói
                                    Dệt vừa cả nước chiếu giường đôi
                                    Ta bảo đất này như hạt tám
                                    Thơm thảo lòng dân tự mấy đời
                                    Đừng ví von nhiều e chẳng đủ
                                    Mười năm một xã biển cho người
                                    Đầu sóng Cồn Mờ vừa lấp ló
                                    Rạng đông chừng đã bớt xa xôi...”


        Kết thúc chuyến khảo sát, anh Tạ Quốc Hưng về viết báo cáo, nộp cho ông Trần Mạnh.

        Hôm sau, ông Mạnh cho gọi anh Hưng đến:

        - Bây giờ, cậu tính cho tớ xem thời gian từ khi “thằng C-130" xuất hiện trên màn hình đến khi đài quan sát phát hiện được “thằng không người lái” là bao nhiêu và nó xuất hiện ở đâu thì đài quan sát phát hiện được nó...

        Anh Tạ Quốc Hưng về tính toán tỉ mỉ và báo cáo chi tiết.

        Dựa vào các số liệu và xét đoán trên cơ sở phân tích một cách khoa học, ông Trần Mạnh đã phán đoán được khi “máy bay mẹ” - tức là C-130 cõng “thằng không người lái” đến vùng nào thì lập tức ông biết ngay thời gian C-130 phóng không người lái. Cũng từ đấy, ông lập ra các khu vực đánh chặn, dẫn đường tính đường bay dự kiến của không người lái và dẫn theo phương pháp “dẫn mò”.

        Bằng phương pháp này, các phi công đã phát hiện được không người lái khá nhanh và bắn hạ nó.

        Anh Tạ Quốc Hưng kể lại:

        - Có lần, sau khi “thằng không người lái" bay thấp, ra-đa không phát hiện được, nhưng ta vẫn dẫn như thường và phi công đã phát hiện, bắn rơi ngay “thằng không người lái” ấy. Tới khi rút kinh nghiệm trận đánh, tôi lên trình bày ở sở chỉ huy mà ông cố vấn liên Xô không tin. ông cố vấn không tin cũng có lý do vì “mắt thần” (ra-đa) đã không nhìn thấy thì làm sao mà “mắt trần” lại thấy và dẫn được! Vậy mà chiến thuật kiểu Trần Mạnh đã làm được mới kính nể chứ!

        (Hồi đó, qua một số sĩ quan dẫn đường thì được biết: Mặc dù các chuyên gia Liên Xô đề nghị tham gia trực ở sở chỉ huy, nhưng ngay từ đầu, Bộ Tổng Tham mưu đã giao nhiệm vụ cho các cán bộ chỉ huy trẻ tuổi của Không quân chủ động xây dựng, tổ chức công tác chỉ huy các trận đánh trong Sở chỉ huy mà không có mặt các chuyên gia nưóc ngoài...)

        Sau những lần Không quân Mỹ đánh phá sân bay, đánh hỏng đường cất hạ cánh, ông Trần Mạnh nghĩ đến việc cho máy bay ta cất hạ cánh trên đường lăn khi đường băng bị đánh hỏng. Chỉ có như vậy thì mới duy trì được sự hoạt động của Không quân ta. Chỉ có vậy thì bọn Mỹ mới bất ngờ vì thấy máy bay ta như “xuất quỷ nhập thần”.

        Ông đã tổ chức cho phi công bay thử để áp dụng khi cần thiết. Chính vì vậy, vào giai đoạn cuối năm 1972, khi hầu hết các sân bay, các đường cất hạ cánh bị đánh phá liên tục nhưng Không quân ta vẫn hoạt động, gây cho Không quân Mỹ những bất ngờ đến kinh hoàng. Chúng không thể hiểu nổi máy bay ta xuất kích theo kiểu gì khi mà mọi đường băng ở khắp các sân bay đều bị đánh phá tan tành, đánh đi đánh lại không chỉ một lần...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2016, 08:39:52 AM

        Bản thân tôi cũng đã nhiều lần cất cánh và hạ cánh trên đoạn đường lăn còn nguyên vẹn với chiều rộng 16m ấy. Cho đến tận bây giờ, khi chạy xe trên những con đường cao tốc, tôi vẫn cứ nghĩ tới việc sử dụng nó để cho máy bay ta cất hạ cánh khi cần thiết và cứ nhớ lại một thời đã từng cất, hạ cánh trên đoạn đường chỉ rộng có 16m...

        Cuối năm 1967, ông Trần Mạnh dẫn một đội quân vào Lệ Thủy, Quảng Bình để nghiên cứu về B-52. Ông cùng các thành phần chỉ huy, dẫn đường, phi công... đứng trên đỉnh đèo quan sát cách bay của B-52, cách các tiêm kích đi yểm hộ và cách đánh của chính B-52. Ông đứng bất động như pho tượng đá, chăm chú nhìn đội hình B-52. ông thầm nghĩ: “Không biết nay mai ra Bắc, bọn chúng có bay như thế này không?” Rồi ông tự trả lời: “Chắc chắn là không rồi!” Ở đây hỏa lực Phòng không mỏng, lại không có MiG-21 hoạt động nên chúng rất ngang tàng. Nếu chúng cứ áp dụng phương pháp đánh này khi ra Bắc thì chúng không thể tồn tại nổi. Mà kiểu gì chúng chẳng ra miền Bắc đánh phá. Ông nhớ lại lời tiên đoán của Bác Hồ: “Sớm muộn gì rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mói chịu thua... ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội!”...

        Hàng trăm câu hỏi ông tự đặt ra rồi lại tự trả lời. Điếu thuốc cháy sát đến tận ngón tay bỏng rát. Ông vứt xuống đất, lấy chân di nát và lẩm bẩm: “Suy cho cùng thì mày cũng chỉ là con ngáo ộp thôi! Vỏ quýt dày khắc có móng tay nhọn! Hãy đợi đấy!”

        Cũng ở mảnh đất Quảng Bình này, một thời gian ngắn sau đó đã nổ ra “Chiến dịch Mậu Thân 68” và ông đã cùng các thành phần ở lại để chỉ huy cho các máy bay vận tải chở hàng hóa, vũ khí, khí tài cho chiến dịch.

        Sau chuyến ông Mạnh đi Quảng Bình về, ông lại giao nhiệm vụ cho anh Tạ Quốc Hưng đi tiếp chuyến nữa để tiếp tục nghiên cứu về B-52.

        Chuyến đi lần này của anh Tạ Quốc Hưng có cả các thành phần phi công bay trên MiG-17 và MiG- 21, đó là các anh Lê Hải, Hoàng Ích, Vũ Ngọc Đỉnh và Võ Sĩ Giáp.

        Chiếc ô-tô GAZ-69 chở các anh hăm hở lên đường.

        Trước khi đi, ông Trần Mạnh dặn đi dặn lại anh Hưng là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho chuyến đi. Anh Tạ Quốc Hưng hứa sẽ “đi đến nơi, về đến chốn” nhưng ông Mạnh vẫn lo lắng lắm. Không lo lắng sao được khi một lực lượng quan trọng như vậy đi vào vùng đất lửa mà không có bảo vệ, hơn nữa lại là lần đầu tiên đi, làm gì đã có kinh nghiệm...

        Xe các anh đến Đồng Hới thì phải dừng lại Binh trạm để hỏi đường và tính toán cách đi cho an toàn. Người trực ở Binh trạm lập tức gõ kẻng báo động. Lát sau, xuất hiện một phụ nữ tuổi chừng 25- 27. Chị nhìn các anh, nhìn xe ô-tô rồi thốt lên:

        - Trời ơi! “Mì chính cánh” ở đâu lại rơi xuống đây thế này? Mà các anh đi vào hay đi ra?

        - Bọn tôi đi ra! - Anh Hưng trả lời.

        - Các anh đi ra thì mắt phải trắng dã, nước da phải tái mét, môi phải thâm sì vì có ai thoát được cái sốt rét rừng đâu. Mà xe cộ thì phải tróc ghẻ, nham nhở, võ nát đến thảm hại chứ... Đằng này, các anh thì nhẵn nhụi, khỏe mạnh, xe cộ thì còn óng ả... Thế thì làm sao mà gọi là... đi ra! Mà sao các anh lại không ngụy trang xe nhỉ? Thật là chủ quan chết người!

        Chị rút chiếc còi ra thổi 3 hồi ngắn. Nhanh chóng xuất hiện lực lượng nữ thanh niên xung phong. Chị phân công ngay:

        - Các em nhanh chóng chuyển hết rau cỏ, đồ ăn thức uống trên xe xuống rồi chặt cây ngụy trang gấp cho xe. Còn các anh thì vào trong nhà, không phải làm gì cả, chỉ ngồi để cho chúng em ngắm các anh thôi! Xe của các anh qua đây đều vào ban đêm, chúng em có bao giờ nhận được rõ mặt ai đâu. May mắn lần này các anh lại đi vào ban ngày nên chúng em mới thấy được các anh. Các anh đừng đi vội nhé!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2016, 08:42:27 AM

        Vì xe trước khi đi đã được tháo biển số để không lộ đơn vị và anh Hưng cũng không giới thiệu các thành phần trên xe nên các chị không biết các anh là ai và ở đơn vị nào...

        Chẳng mấy chốc, chiếc xe đã được ngụy trang chu đáo. Các anh bấy giờ mới biết chị là Đại đội trưởng lực lượng thanh niên xung phong ở Binh trạm này. Chị Đại đội trưởng căn dặn:

        - Tuy gọi là “đánh hạn chế’ nhưng chúng nó hay xuất hiện bất ngờ và bắn phá bất ngờ lắm. Các anh phải rất chú ý mới được. Em sẽ dẫn các anh đến đoạn đường an toàn nhất rồi em quay về sau. Có điều, các anh phải hứa với em là khi ra, các anh phải tạt vào chỗ chúng em đấy!

        - Có việc gì quan trọng thế?

        - Quan trọng chứ! Để cho chúng em gửi thư nhà, nhờ các anh chuyển hộ!

        -  Vậy thì các anh hứa!

        Xe đi được một lúc thì nghe thấy chị Đại đội trưỏng hét:

        - Dừng xe! Sơ tán!

        Xe lập tức dừng và mọi người nhanh chóng nhảy ra khỏi xe, lăn hết sang hai bên vệ đường ẩn náu. Ngay lập tức xuất hiện 2 thằng F-4 bay rẹt qua và nã súng xôi xả xuống mặt đường rồi mất hút. May mắn là xe cộ và mọi người không ai bị dính đạn. Chị Đại đội trưởng cười:

        - Nếm mùi chiến trường chưa?

        Đoàn của các anh đã lên đỉnh 940 để quan sát cách thức hoạt động của B-52. Chúng bay nghênh ngang với đội hình 3 chiếc một theo kiểu bậc thang. Anh Vũ Ngọc Đỉnh nghiến răng:

        - Lúc này mà tao đang ngồi trong buồng lái MiG-21 thì chúng mày không thể nào thoát được!...

        Nắm quy luật hoạt động của B-52, thảo luận với nhau về phương án đánh..., hôm sau, đoàn của anh Hưng quay ra. Trên đường về, các anh có vào 

        Binh trạm theo đúng lời hứa và đón nhận thư từ của các chị em, đem ra Bắc gửi. Anh Hưng kể anh đã mất đến cả tuần lễ để chuyển thư đến các gia đình ở quanh Hà Nội, còn những ai ở xa thì đành phải dán tem và gửi qua bưu điện.

        Ông Trần Mạnh còn có nhiều chuyến vào chiến trường khu Bốn và anh Tạ Quốc Hưng đều được ông gọi đi “tháp tùng”. Anh Hưng nhớ có một kỷ niệm vui trong một chuyến đi cùng ông Trần Mạnh. Đấy là khi anh đi từ “ngã ba ông Ngư” sang “ngã tư ông Hội” (vào thời gian ấy, cái cụm từ “ngã ba ông Ngư” là chỉ đơn vị pháo phòng không của ông Ngư đóng ở khu vực ngã ba để bảo vệ đơn vị tên lửa thuộc Trung đoàn 238. Còn “ngã tư ông Hội” chính là đơn vị tên lửa thuộc Trung đoàn 238 của ông Hội). Anh Hưng phát hiện thấy các chiến sĩ đang thịt một “chú” lợn rừng chừng hơn 1 tạ vừa bắn được, anh đến hỏi mua vài cân về “cải thiện” bữa ăn. Tình cờ hôm ấy ông Hội lại đến thăm và làm việc với ông Mạnh. Đến bữa, ông Mạnh giữ ông Hội lại cùng ăn cơm. Thấy mâm cơm có mấy món thịt “hoành tráng” thì ông Hội hỏi:

        - Các anh mới vào mà lấy đâu ra món thịt ngon thế này? 

        - Em vừa đi qua chỗ mấy chiến sĩ thịt lợn, em dừng lại mua mấy cân về “cải thiện” thôi mà! - Anh Hưng trả lời.

        - Vậy mấy cậu chiến sĩ ấy không biết cậu à?

        - Không! Mà em cũng không biết các cậu ấy, các cậu ấy cũng chẳng biết em là ai!

        Ông Hội không nói gì, nhưng sau bữa ăn chừng nửa tiếng đồng hồ thì thấy mấy chiến sĩ xách đến mấy cân thịt để biếu và đem tiền lại trả:

        - “Cụ” Hội về “xạc” cho chúng em một trận rằng “ai đời các cậu lại đi bán mà lại bán ngay cho bộ đội cùng Quân chủng thì còn ra làm sao nữa!”

        Tất cả nhìn nhau cười phá lên và mối quan hệ hiệp đồng chiến đấu từ đấy lại càng gắn bó hơn, mật thiết hơn.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2016, 08:44:00 AM

        Liên quan đến chuyện đi săn, anh Hưng kể:

        - Ông Mạnh là thầy dạy tớ cách đi săn bắn đấy! Tớ trở thành một trong những tay thiện xạ khi đi săn cũng là nhờ ông ấy. Thoạt đầu, ông chỉ cho tớ cầm súng còn ông ấy giữ đạn. Ông ấy dạy: Việc săn bắn cần phải đảm bảo thật an toàn, an toàn cho chính mình và an toàn cho những người khác nữa, nhất là khi bắn xuống nước, đạn thia lia dễ gây sát thương cho người trên bờ. Phải quan sát cho thật kỹ. Bắn phải có kết quả và phải lấy được “chiến lợi phẩm” chứ bắn mà không lấy được “chiến lợi phẩm” thì bắn làm gì... Còn nhiều thứ khác nữa. Khi thấy tớ bắn đã giỏi rồi thì ông ấy mới đưa cho cả đạn và giao súng cho giữ luôn nhưng với một điều kiện là súng phải luôn sạch sẽ. Tố đã làm đúng điều thầy Mạnh dạy...

        Xin trở lại vấn đề chiến trường miền Trung.

        Địa hình miền Trung là địa hình hẹp về chiều ngang và dài, được ví như cái “cán xoong” hoặc “tay áo”. Không quân ta hoạt động ở đây rất khó khăn vì các trạm ra-đa được đặt trên các hạm tàu địch đỗ ngoài khơi phát hiện rất dễ. Tên lửa hải đối không loại Talos được trang bị trên các hạm tàu sẵn sàng phóng để tiêu diệt máy bay ta. Thực tế, ta cũng đã chịu những tổn thất bởi loại tên lửa này rồi. Đường bay của máy bay ta hầu như đơn điệu: chỉ có một lối vào và một lối ra, dễ bị phát hiện lắm. Pháo hạm lại có thể bắn phá được các sân bay dã chiến gần bờ biển. Thời tiết vùng duyên hải lại thay đổi rất đột ngột: nắng ngay đấy, mà mưa cũng ngay đấy, sương mù giăng dày đặc ngay đấy. Các máy bay tiêm kích địch lại được dẫn dắt đến nơi đến chốn vì gần như chúng làm chủ bầu trời ở miền Trung...

        Khó khăn chồng chất khó khăn. Chiến trường này là sự đấu trí, đấu lực của các thành phần chỉ huy và phi công ở cả hai phía.

        Vậy hoạt động trên địa bàn này thế nào để chi viện được cho chiến trường? Quả là câu hỏi thật hóc búa!

        Sau nhiều đêm trăn trở suy nghĩ, cùng với đội ngũ dẫn đường tính toán và trao đổi, bàn bạc trong Hội nghị “Quân sự dân chủ”, cách đánh ở vùng “cán xoong” này đã hình thành và áp dụng. Để tránh ra- đa ngoài hạm tàu phát hiện, phải bay thật thấp. Phi công phải thuộc địa hình bay như thuộc lòng bàn tay mình. Phải giữ bí mật đối không. Đội hình bay cũng không thể áp dụng như đội hình bay ỏ ngoài Bắc được. Thòi điểm hạ cánh ở các sân bay dã chiến phải thật bí mật với yếu tố bất ngờ nhất. Phải có phương án sơ tán máy bay ngay sau khi hạ cánh... Phải đưa Sở chỉ huy và các trạm ra-đa dẫn đường ra hẳn ngoài khu vực hỏa lực Phòng không. Phải tạo được hệ thống sân bay từ sân bay căn cứ đến sân bay cơ động, dã chiến thành hệ thống vòng trong, vòng ngoài...

        Nhiều, rất nhiều chi tiết đã được ông Trần Mạnh cùng các đội ngũ chỉ huy, dẫn đường tính toán.

        Các phi công tranh thủ tập luyện với những bài bay ở độ cao thấp, cực thấp để nâng cao trình độ kỹ thuật, học địa hình trên bản đồ nổi, học cách không sử dụng đối không, cách hạ cánh ở các sân bay ngắn hẹp...

        Ngoài việc đánh chi viện cho chiến trường thì nhiệm vụ tối quan trọng là phải “săn” B-52. Những tính toán của ông Trần Mạnh đã tạo quyết tâm cho các thành phần quyết diệt bằng được con “ngáo ộp” này.

        Và đêm 20 tháng 11 năm 1971, tại Sở chỉ huy B-8, ông Trần Mạnh đã cùng với Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân Sao Đỏ - Trần Hanh và các sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên, Tạ Quốc Hưng, Trần Hồng Hà ở sở chỉ huy và dẫn đường trên hiện sóng là Lê Thiết Hùng, Lê Khiếu tổ chức cho các phi công Hoàng Biểu, Vũ Đình Rạng trực ban chiến đấu trên các sân bay Vinh và Anh Sơn xuất kích chiến đấu.

        Đêm ấy, phi công Vũ Đình Rạng là phi công đầu tiên xáp mặt vói con “ngáo ộp” B-52 và bắn trọng thương “pháo đài bay bất khả xâm phạm” ấy, khẳng định một điều đúng đắn trong phương pháp của ông Trần Mạnh là MiG-21 sẽ diệt được B-52 và mở ra cách đánh, cách dẫn dắt mới với lũ “pháo đài bay”.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2016, 08:36:56 PM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%209_zpshrnyaomw.jpg)
Ông Trần Mạnh cùng các phi công chuẩn bị đánh hạm tàu của Mỹ

        Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, lúc 15h30 ngày 28 tháng 12 năm 1972, ông từ Sở chỉ huy tiền phương đã điện cho Sở chỉ huy Không quân, đề nghị cho Vũ Xuân Thiều cất cánh chuyển sân vào sân bay Cẩm Thủy (thời đó mang mật danh XB-90). Đến 21h28, khi xuất hiện các mục tiêu ở phía đông nam Pạc-Xan (Lào) 90 km, ông nhận định đây chính là các tốp B-52 vào đánh Hà Nội, đã lệnh cho Vũ Xuân Thiều chuẩn bị cất cánh.

        Khi Vũ Xuân Thiều xuất kích, phát hiện được B-52, ông nhắc nhở:

        - Bật công tắc bắn cả loạt, quyết tâm tiêu diệt địch!

        Vũ Xuân Thiều đã trở thành người anh hùng với hành động cảm tử, quyết đánh, quyết thắng.

        Trong các cuộc đấu trí giữa một bên là các chỉ huy già dặn kinh nghiệm của Mỹ, được đào tạo cơ bản..., một bên là các chỉ huy trẻ tuổi của Không quân Việt Nam mà nhiều người chưa được qua các trường lớp đào tạo chỉ huy cấp cao, ông Trần Mạnh và các vị chỉ huy của Việt Nam đã thể hiện được khả năng nắm bắt, phân tích tình hình, chẩn đoán các trận đánh một cách rất sáng tạo và nhiều trận đã vượt qua các tướng lĩnh Không quân Mỹ, chỉ huy các biên đội của ta giành thắng lợi ròn rã.

        Trong gần 10 năm tròi, với kinh nghiệm dày dạn, ông Trần Mạnh đã chỉ huy gần 100 trận không chiến ở các Sở chỉ huy từ cấp Trung đoàn đến Binh chủng và Quân chủng. Cùng với các kíp trực chỉ huy ỏ các Sở chỉ huy, ông đã chỉ huy các phi công bắn rơi hơn 60 máy bay Mỹ, trong đó có cả “pháo đài bay bất khả xâm phạm” B-52.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2021a_zpsetxqweg5.jpg)
Ông Trần Mạnh cùng các lãnh đạo chỉ huy cao cấp

        Ông đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng chung của Không quân Việt Nam trước một kẻ thù hung bạo, mạnh mẽ, tàn ác, xảo quyệt..., bắt chúng phải cúi đầu công nhận sự thất bại cay đắng. Gần như cuộc đời ông đã gắn liền vói sự trưởng thành của Không quân Việt Nam. Mọi chiến thắng đều có bóng dáng của ông.

        Nhà báo Vũ Thành đã từng nói về ông:

        Nếu như mỗi chiến công bắn rơi máy bay Mỹ, các phi công và chỉ huy được tặng một Huân chương thì ngực áo của Trần Mạnh - người chỉ huy gần 100 trận không chiến thắng lợi, chắc không còn chỗ để đeo Huân chương!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2022a_zpsd6exf74q.jpg)
Ông Trần Mạnh (ngồi ở vị trí thứ 7 từ trái sang) cùng các cán bộ cao cấp dự Hội nghị Cán bộ Đảng bộ Quân chủng Không quân lần thứ nhất

        Hơn cả việc chỉ huy những trận không chiến thắng lợi, đấy chính là ông đã là người sáng tạo ra cách đánh, thiết kế chiến thuật hoạt động cho MiG- 21 đầy hiệu quả, gây nỗi khiếp đảm cho giới phi công Mỹ!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2016, 08:52:59 PM

4. THƯƠNG TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRƯỜNG

        Việc phân chia thị phần cũng giống như phân chia chiếc bánh, ở đâu cũng có sự giành giật.

        Thương trường không có tiếng súng nhưng nhiều khi cũng quyết liệt như trong những trận không chiến.

        Nó không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế. Nhiều khi đấy là cả vấn đề chính trị, vấn đề chủ quyền của quốc gia.

        Tôi xin điểm lại mấy nét khái quát về sự hình thành và hoạt động của Hàng không trên đất nước ta từ thuỏ sơ khai.

        Kể từ ngày ngưòi Pháp thả quả khinh khí cầu đầu tiên trên bầu trời Sài Gòn vào năm 1791 thì đến năm 1884, Pháp mới sử dụng một phân đội lái khí cầu chỉ huy lực lượng bộ binh tiến đánh thành Bắc Ninh.

        Bước sang thế kỷ XX, những chiếc máy bay của Pháp xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam là vào ngày 10 tháng 12 năm 1910 trên bầu trời Sài Gòn.

        Năm 1917 là năm cắm mốc đầu tiên của Hàng không Pháp ở Đông Dương. Toàn quyền Đông Dương đã cho phép lấy Vị Thủy (thuộc tỉnh Sơn Tây) làm bãi hạ cánh và kho chứa xăng máy bay. Tháng 1 năm 1917, sân bay đầu tiên ở Việt Nam được khởi công xây dựng.

        Đến tháng 7 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thiết lập sở Hàng không Đông Dương tại Bắc Kỳ (Servise de L’aviation) để nghiên cứu các tuyến đường bay hàng không, thiết lập các sân bay, đường băng, đặt quy chế về việc sử dụng máy bay trong các hoạt động quân sự và dân sự.

        Tháng 7 năm 1917, Phủ Toàn quyền cho thành lập ở miền Bắc 1 Phi đội máy bay với 4 chiếc Voixin.

        Đến tháng 4 năm 1918, Toàn quyền Đông Dương cho thành lập Sở Hàng không Dân sự Đông Dương (Servise Civil de L’aviation). Cả Đông Dương lúc này đã có 2 Phi đội bay.

        Năm 1919, Sở Hàng không Dân sự Đông Dương đổi thành Sở Hàng không Đông Dương (Servise L’aeronautique Indochinois) và được tăng cường thêm lực lượng Thủy phi cơ.

        Đến cuối năm 1920 đã có 34 bãi hạ cánh cấp cứu trên khắp chiều dài đất nước ta.

        Năm 1927, tổ chức Hàng không Đông Dương được tăng cường thêm nhân viên và máy bay.

        Năm 1940, ở Đông Dương đã có một số tuyến bay quốc tế như:

        - Việt Nam (Hà Nội) - Pháp do hãng Air France thực hiện một tuần một chuyến.

        - Sài Gòn - Singapore - Indonesia do hãng Hàng không Hà Lan thực hiện.

        - Hà Nội - Vân Nam do hãng Hàng không Eurasian thực hiện.

        - Hà Nội - Hồng Kông - Peenan do hãng Hàng không Anh Imperial Aiways thực hiện.

        - Hà Nội - Hồng Kông - Trùng Khánh do hãng Hàng không Trung Hoa (China National Corpora¬tion) thực hiện.

        - Tuyến Tokyo - Hà Nội - Tokyo, Tokyo - Hà Nội - Đà Nẵng - Sài Gòn - Băng Cốc do hãng Hàng không Nhật Bản thực hiện.

        Trung tâm điều khiển các chuyến bay đến và đi từ Hà Nội là ga Hàng không Gia Lâm - không cảng lớn nhất Đông Dương lúc bấy giò.

        Vào năm 1951, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện người Việt Nam tham gia kinh doanh trên lĩnh vực hàng không dân dụng. Đó là sự ra đời của Công ty Hàng không Việt Nam (Air Vietnam) do một số nhà tư sản Việt Nam liên kết với Hàng không Pháp (Air France) lập ra. Trụ sở Công ty đặt tại Sài Gòn. Trong những năm đầu, đội bay gồm có: 3 chiếc DC- 3, 3 chiếc DC-4 chở khách và 3 chiếc Bristol chở hàng hóa.

        Ngày 1 tháng 10 năm 1951, lần đầu tiên trên bầu trời Việt Nam đã xuất hiện máy bay mang nhãn hiệu của Công ty Hàng không Việt Nam với màu cờ của chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Hàng ngày, những máy bay này bay trên các tuyến bay nối liền Sài Gòn - Hà Nội, từ Việt Nam sang Lào và ngược lại.

        Đến năm 1953, Air Vietnam có 4 chiếc Dakota, 3 chiếc Bristol, 3 chiếc Sky Master bay trên các tuyến bay Hà Nội - Sài Gòn, Hà Nội - Sài Gòn - Hồng Kông, Hà Nội - Viên Chăn - Sê Nô (Lào), Sài Gòn - Băng Cốc (Thái Lan).

        Mục đích của Pháp xây dựng ngành hàng không ở Việt Nam nhằm phục vụ công cuộc cai trị và bóc lột chứ không vì mục đích phát huy nền kinh tế, kỹ thuật này cho Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2016, 08:55:21 PM

        Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Vua Bảo Đại thoái vị, bàn giao cho chính quyền cách mạng 2 chiếc máy bay Tiger Moth và Morane Sanier.

        Năm 1946, quân và dân cả nước lại nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. Hai chiếc máy bay được bí mật tháo rời, chuyển đi cất giấu ỏ ATK (an toàn khu) Việt Bắc, đầu tiên ở sân bay Bình Ca - Tuyên Quang rồi sau đó lại đưa lên Chiêm Hóa, về sân bay Soi Đúng (còn gọi là Soi Trinh) phía tả ngạn sông Gâm, ở phía nam huyện lỵ Chiêm Hóa chừng 10 km.

        Vào tháng 3 năm 1949, Ban Nghiên cứu Không quân đươc thành lập, và đặc biệt, sau khi tiếp quản sân bay Gia Lâm vào tháng 10 năm 1954, nhiệm vụ xây dựng ngành Hàng không Dân dụng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Đấy cũng là ý thức độc lập dân tộc trong quản lý chủ quyền vùng tròi quốc gia của một nhà nước độc lập.

        Nhiều cán bộ, chiến sĩ vừa tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ xong cũng như ở khắp các chiến trường trên cả nước được chọn lọc và được lệnh về Trường Văn hóa Quân đội để học văn hóa và tiếng Trung Quốc, tiếng Nga...

        Ngày 15 tháng 1 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 666 thành lập Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

        Nghị định thành lập Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam của Chính phủ đã đặt cơ sở cho việc ra đời một tổ chức vận chuyển hàng không trong nước và giao lưu hàng không với các nước.

        Cũng trong năm 1956, ta đã khôi phục được 5 sân bay ở các tỉnh và thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Sơn La, Lai Châu (Điện Biên Phủ), Quảng Bình (Đồng Hới), tạo ra một đầu mối giao thông quan trọng, trọng tâm là sân bay Gia Lâm.

        Thời bấy giò, ta có được 2 chiếc máy bay Li-2 và 3 chiêc Aero-45. Nhiệm vụ là phục vụ ủy ban Quốc tế giám sát việc thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ ở Việt Nam, đi lại trên miền Bắc.

        Ngày 5 tháng 4 năm 1956, Hiệp định Vận chuyển Hàng không Việt Nam và Trung Quốc được ký kết. Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên mở cửa giao lưu với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu bước phát triển và mở ra một thời kỳ mới của Hàng không Dân dụng Việt Nam.

        Rồi sau đó, Cục Hàng không Dân dụng đã được mời tham dự Đại hội Hàng không Dân dụng các nước xã hội chủ nghĩa tại Matx-cơ-va và được công nhận là một thành viên của Tổ chức Hàng không Dân dụng các nước xã hội chủ nghĩa...

        Đến cuối năm 1958 đầu 1959, số lượng máy bay của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam đã có 10 chiếc gồm các loại Il-14, Li-2, An-2, Mi-4, Aero-45, Trener.

        Vào cuối tháng 12 năm 1955, đã có đoàn cán bộ quân đội đầu tiên đi học về Không quân ở Trung Quốc gồm các ông: Đào Đình Luyện, Nguyễn Ái Đồng, Hoàng Ngọc Trung, Lê Văn Nha, Nguyễn Đức Hiền, Phạm Dưng, Hoàng Trọng Khai, Trần Liêm Khê, Nguyễn Văn Doạt, Lê Năng, Nguyễn Xuân Tình, Lê Liên, Lê Thế Hưng, Trần Văn Đông, Hồ A, Nguyễn Hồng Nhung, Đinh Huy Cận, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Cảnh Phiên.

        Về công tác tổ chức, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam có một giai đoạn sáp nhập với lực lượng của Ban Nghiên cứu Không quân để lập ra Cục Không quân (tháng 1 năm 1959) rồi năm 1963 (tháng 10), Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập trên cơ sở cơ quan và lực lượng của Binh chủng Phòng không và Cục Không quân. Rồi sau này, Hàng không Dân dụng lại nằm trong Lữ đoàn Không quân Vận tải 919 cho đến tận khi giải phóng Sài Gòn và các địa phương ở miền Nam.

        Đất nước độc lập, hòa bình, thống nhất đòi hỏi Hàng không Dân dụng - một ngành kinh tế kỹ thuật - đối ngoại cần được phát triển mạnh mẽ. Tháng 9 năm 1975, Bộ Tư lệnh tiền phương Quân chủng Phòng không - Không quân và Lữ đoàn 919 đã họp và đề nghị lên Chính phủ và Bộ Quốc phòng tổ chức Hàng không Dân dụng thành một ngành độc lập để có điều kiện xây dựng ngày càng hoàn chỉnh, có hệ thống trong cả nước, chuẩn bị cho những bước phát triển mới, đáp ứng nhu cầu ngày tầng cao của công cuộc xây dựng đất nước.

        Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam đã được tách khỏi lực lượng Không quân, thành một Binh đoàn làm kinh tế Hàng không, mang tên là Binh đoàn 909.

        Một trang mới trong lịch sử của ngành Hằng không Dân dụng đã được mở.   

        Sau này thì có lúc Tổng cục Hàng không chuyển đổi thành Cục Hàng không, khi thì trực thuộc Chính phủ, lúc trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Cứ chừng như trong khoảng thời gian 3 năm lại có sự chuyển đổi về cơ cấu tổ chức một lần. Sự xáo trộn liên tục về mặt tổ chức đã gây những khó khăn không nhỏ, trước hết là về mặt tư tưởng, nhận thức...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2016, 08:17:11 AM

        Tháng 12 năm 1976, Chính phủ đã ra Nghị định số 28-CP về việc thành lập Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ nhưng về mặt tổ chức quản lý và chỉ đạo xây dựng ngành Hàng không Dân dụng vẫn trực thuộc Bộ Quốc phòng với các nhiệm vụ:

        - Lập kế hoạch xây dựng và phát triển ngành.

        - Quản lý, chỉ đạo việc tổ chức kinh doanh vận chuyển hành khách, hành lý hàng hóa, bưu kiện... bằng đường hàng không ở trong nước và ra nước ngoài.

        - Hợp đồng với các ngành, tổ chức các chuyến bay chuyên nghiệp phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật...

        - Đề đạt về chủ trương phát triển quan hệ với hàng không các nước trên thế giới.

        - Làm nhiệm vụ vận tải quân sự khi có chiến tranh và có sự động viên.

        - Quản lý nhân lực, vật tư, ngân sách của ngành. Đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ... cho các thành phần trong ngành.

        Khi Tổng cục Hàng không Dân dụng được thành lập, tổng sổ có 42 chiếc máy bay các loại, như 15 chiếc An-2, 5 chiếc An-24, 6 chiếc Il-14, 2 chiếc Il-18, 6 chiếc DC-3, 5 chiếc DC-4, 2 chiếc DC-6, 1 chiếc Boeing 707...

        Tổng cục Hàng không Dân dụng là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ chỉ thực hiện ở phương diện kinh doanh, đối ngoại. Nhà nước trực tiếp đầu tư, giao và kiểm tra thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, về tổ chức chỉ huy lãnh đạo và chỉ đạo là một đơn vị quân đội, do Bộ Quốc phòng sắp xếp, điều động, thuyên chuyển. Các chế độ chính sách thực hiện theo chế độ quân đội.

        Cũng trong năm 1976, khi đang giữ chức Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân, ông Trần Mạnh được điều sang Tổng cục Hàng không Dân dụng đảm nhận chức vụ Tổng Cục phó Tổng cục Hàng không Dân dụng.

        Tháng 12 năm 1977, ông được giao chức vụ Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân. Chỉ đến năm 1979, ông mới chính thức làm việc hẳn bên Hàng không Dân dụng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2022_zps8mgzb35j.jpg)
Ông Trần mạnh (đứng thứ ba từ trái sang) cùng các cán bộ chủ chốt trong Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1980

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2021_zpsp2cb51iz.jpg)
Ông Trần Mạnh cùng ông Đào Đình Luyện và hai phi công vũ trụ Phạm Tuân, Bùi Thanh Liêm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2023_zpso4euefyx.jpg)
Ông Trần Mạnh cùng phi công Vũ Ngọc Đỉnh và các chuyên gia Liên Xô



Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2016, 08:27:16 AM
      
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%209a_zpsy8vbr0lu.jpg)
Ông Trần Mạnh cùng các chuyên gia Liên Xô và đồng đội

        Từ một người quen cầm súng đánh giặc trên khắp các chiến trường từ Nam ra Bắc, từ mặt đất cho đến bầu trời, từ thuở trai trẻ cho đến lúc này đều đã quen với trận mạc, đạn bom... nay chuyển sang một lĩnh vực khác không có chiến trận, không có bom rơi đạn nổ - một lĩnh vực kinh tế hoàn toàn mới. Ông hiểu, ở lĩnh vực ấy không hề đơn giản. Hoạt động trên thị trường khác hẳn hoạt động ở chiến trường, ở đó, việc phân chia thị phần cũng giống như phân chia chiếc bánh, luôn có sự giành giật. Thương trường không có tiếng súng nhưng nhiều khi cũng giống hệt như trong những trận không chiến... Nó không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế. Nhiều khi là vấn đề chính trị, là vấn đề chủ quyền của quốc gia...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2019_zpse6wgxhcv.jpg)
Ông Trần Mạnh chụp cùng Tổng bí thư Lê Duẩn

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0a%2019_zpsumhboks4.jpg)
Ông Trần mạnh (ngoài cùng bên phải) cùng lãnh đạo Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam và tổ bay chuyên cơ chụp ảnh với Tổng bí thư Lê Duẩn

        Nhất là sau khi ông Phùng Thế Tài thôi kiêm chức Tổng Cục trưởng, ông Hoàng Ngọc Diêu trở lại làm Tổng Cục trưởng, rồi Bộ Quốc phòng lại điều ông Hoàng Ngọc Diêu đi nhận công tác khác, tháng năm 1981, ông được Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng thì trách nhiệm của ông càng nặng nề.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2020_zpsami8rjsv.jpg)
Ông Trần Mạnh trong chuyến bay phục vụ Chủ tịch Tôn Đức Thắng

        Vốn là người ham học, ham đọc, lại giỏi tiếng Pháp nên ông đã tìm nhiều tài liệu về kinh tế để đọc. Lần nào đi công tác ở nước ngoài, ông cũng cố tìm mua các tài liệu về để nghiên cứu, học hỏi. Đây chính là mặt trận mới, cần phải tìm hiểu, cần phải nhìn nhận một cách thật thấu đáo đủ mọi khía cạnh thì mới tiếp cận, mới làm chủ được. Những bài học trên mặt trận quân sự ít nhiều đã giúp được ông trên mặt trận dân sự - ở lĩnh vực làm kinh tế này và trên mặt trận mới này, ông lại phát huy được tài năng của mình.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2016, 08:38:18 AM
      
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20a20_zpsuilguzm7.jpg)
Ông Trần Mạnh trong chuyến bay phục vụ Đại tướng Văn Tiến Dũng

        “Phải giành lại quyền kiểm soát các vùng thông báo bay! Phải có những bước chuyển biến từ chế độ bao cấp sang hạch toán kinh doanh một cách táo bạo! Phải tính toán đến việc nâng cấp đội ngũ máy bay, thay thế bằng những loại máy bay mới có hiệu quả hơn! Phải tính đến các xưởng bảo dưỡng, định kỳ, sửa chữa máy bay...” Những vấn đề lớn ấy làm ông mất ăn mất ngủ. Ông vùi đầu vào đọc sách rồi nghiền ngẫm, suy nghĩ, trăn trở... Càng suy nghĩ nhiều thì ông hút thuổc lại càng lắm, hút liên tục, hầu như điếu này vừa tắt thì lại châm tiếp điếu khác...

        Tôi đã được đọc cuốn “Sổ công tác” của ông vào những ngày gần đây. Cuốn sổ nhỏ với những trang giấy đã ngả màu vàng theo thời gian. Trong đó, ông ghi rất vắn tắt. Ví dụ như trong một trang có nội dung:

        Họp với a. Sáu Dân:

        - Luận chứng về Nội Bài.

        - Luận chứng về xưởng.

        - Nghiên cứu xa về Hàng không. Làm kế hoạch dài. Quan hệ du lịch...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0a%2010_zpsbjq3yskq.jpg)
Một trong những trang sổ tay công tác của ông Trần Mạnh

        Chỉ mấy cái gạch đầu dòng ngắn gọn thế thôi nhưng lại là cả vấn đề chiến lược phát triển, cả một sự tính toán kỹ lưỡng... Mấy cái gạch đầu dòng trên trang sổ nhỏ thế thôi nhưng chắc ông đã bao đêm mất ngủ, đã đốt không biết bao nhiêu điếu thuốc với những nghĩ suy, lật trái lật phải đủ các vấn đề để rồi chỉ viết vẻn vẹn có mấy dòng, để báo cáo với người lãnh đạo đất nước. Chắc hẳn, trong cuộc họp ấy ông đã giải thích những “cái gạch đầu dòng” ấy một cách chi tiết, đầy sức thuyết phục, bởi tôi ngẫm ra, những “cái gạch đầu dòng” ấy đều được áp dụng một cách có hiệu quả trong ngành Hàng không. Nó cũng giống như khi ông tính toán tìm cách đánh cho các trận không chiến vậy.

        Tôi giải thích đôi dòng về việc kiểm soát vùng thông báo bay:

        Vùng thông báo bay (Flight Iníbrmation Region - gọi tắt là FIR) là vùng trời có kích thước mà Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) giao cho các quốc gia thành viên chịu trách nhiệm trước cộng đồng Hàng không dân dụng Quốc tế cung cấp dịch vụ thông báo bay và báo động. Ranh giới FIR được xác định trên cơ sỏ thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan tại các Hội nghị Không vận Khu vực (RAN) do ICAO phê chuấn. FIR có thể bao gồm cả vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia như FIR Hồ Chí Minh (FIR Sài Gòn cũ), bao gồm cả chủ quyền quốc gia và vùng trời trên Biển Đông.

        FIR Sài Gòn được hình thành từ Hội nghị Châu Á - Trung Đông tại Rô-ma vào tháng 2 và tháng 8 năm 1959. Đến năm 1973, tại Hô-nô-lu-lu, Hội nghị Không vận Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ nhất (RAN-1) có chút điều chỉnh nhỏ và đi vào hoạt động hữu hiệu của FIR Sài Gòn cho đến tháng 4 năm 1975.

        Cuối tháng 4 năm 1975, trưóc nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, ICAO đã đứng ra cùng các quốc gia trong khu vực để đưa ra một thỏa thuận, dàn xếp tạm thời mà theo đó, FIR Sài Gòn (phần trên Biển Đông) được chia thành 3 vùng trách nhiệm lâm thời (AOR) do Thái Lan, Singa¬pore, Hồng Kông quản lý và đỉều hành.

        Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sài Gòn được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh và FIR Sài Gòn cũng được đổi tên thành FIR Hồ Chí Minh, nhưng sau giải phóng, ta chưa đủ điều kiện khôi phục lại quyền quản lý trên Biển Đông vì hồi đó ta hầu như chưa có một kỹ sư kiểm soát không lưu nào...



Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2016, 11:51:49 PM

        Các nước quản lý và điều hành trong vùng trách nhiệm lâm thời thì thấy đấy là vùng tròi rất “béo bở”, là vùng “bờ xôi ruộng mật” nên nước nào cũng muốn giành quyền kiểm soát mà không muốn trả lại cho ta. Họ đưa ra một loạt ý kiến cho rằng Việt Nam không có khả năng quản lý một FIR rộng lớn trên biển. Đã có nhiều nguy cơ bị chính thức hóa vùng trách nhiệm lâm thòi bởi nhiều nước tìm mọi cách cố giành quyền kiểm soát bay tại cái khu vực vốn được cho là “vô cùng béo bở" ấy.

        Việc giành lại FIR Hồ Chí Minh là một vấn đề lớn, một vấn đề chiến lược. Nó không chỉ mang tính kinh tế, lợi nhuận... mà là cả ý nghĩa chính trị to lớn và vấn đề chủ quyền quốc gia.

        Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ ta đã chỉ đạo đoàn Đại biểu hàng không dân dụng Việt Nam tại diễn đàn Hội nghị RAN-2 tổ chức ở Singa¬pore năm 1983 phải thật khéo léo, kiên quyết đấu tranh nhằm giữ nguyên trạng các vùng trách nhiệm lâm thời của ICAO đã xác lập vào tháng 4 năm 1975.

        Đoàn Việt Nam do ông Trần Mạnh - Tổng Cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam dẫn đầu đã cương quyết, khôn khéo đòi giữ nguyên hiện trạng FIR Hồ Chí Minh và ủng hộ kế hoạch tạm thời của ICAO để có thời gian cho Việt Nam khôi phục FIR.

        Cuộc hành trình giành lại quyền điều hành FIR Hồ Chí Minh kéo dài đến tận Hội nghị Không vận Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ ba (RAN-3) họp ở Băng Cốc - Thái Lan, khi đó đoàn Việt Nam do anh Nguyễn Hồng Nhị dẫn đầu, cuộc họp diễn ra với nhiều tình huống diễn biến căng thẳng mà tôi đã trình bày khá chi tiết trong cuốn Thanh kiếm bầu trời. Cuối cùng, ta đã giành được thắng lợi.

        Vậy là ròng rã 18 năm bền bỉ với nhiều cố gắng nỗ lực của ngành Hàng không cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ và sự giúp đỡ của các Bộ, ngành..., các bạn bè quốc tế, đúng 0001 UTC (giờ quốc tế) ngày 8 tháng 12 năm 1994, Hàng không Dân dụng Việt Nam chính thức điều hành bay trên vùng trời FIR Hồ Chí Minh do phía Thái Lan chuyển giao.

        Việc Hàng không Dân dụng Việt Nam tiếp nhận lại phần phía nam của FIR Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế lẫn chính trị. Đấy là sự kiện quan trọng không chỉ đối vối ngành Hàng không, ngành Giao thông vận tải mà còn đôi với cả đất nước...

        Một ý nghĩ nữa luôn đau đáu chiếm gần như hết tâm trí ông Trần Mạnh là bằng cách nào để chuyển đổi được cơ chế giữa cái thời bao cấp trì trệ này. ông lại nhớ lại thời gian chiến tranh, khi diễn ra những trận không chiến ác liệt, có lúc tưỏng chừng như bế tắc về cách đánh và nhớ đến câu ông từng tâm sự với người Chính ủy Trung đoàn: “Phải dám đánh thì mới tìm ra cách đánh!” Đúng rồi! Ngày trước đã vậy thì ngày nay cũng vậy thôi! Ông luôn có tư tưởng đột phá và tin tưởng vào sự thành công. Sự đột phá của ông không phải là sự bồng bột, xốc nổi mà là đều dựa trên cơ sỏ tính toán khoa học một cách rất cẩn thận, chi tiết.

        “Anh Trần Mạnh là người dám làm dám chịu trách nhiệm và bảo vệ cái đúng, cái lẽ phải cho đến cùng, mặc dù biết rằng mình sẽ phải chịu thiệt thời, thậm chí phải trả giá...” - Đấy là lòi nhận xét của Trung tướng Chu Duy Kính - người đã có những tháng năm dài làm Chính ủy bên cạnh Trung đoàn trưởng Trần Mạnh khi ỏ Trung đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Tính cách của ông như vậy nên khi ông đã dồn tâm trí vào việc gì thì tin tưởng việc ấy sẽ đúng, sẽ thắng lợi (như việc đòi lại FIR Hồ Chí Minh chẳng hạn) và ông quyết tâm làm bằng được.

        Anh Nguyễn Hồng Nhị - người kế nhiệm chức Tổng Cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng sau ông Trần Mạnh đã tâm sự:

        - Dưới thời anh Trần Mạnh làm Tổng Cục trưởng kiêm Tổng giám đốc Hàng không Dân dụng Việt Nam, ngành Hàng không đã có những bước chuyển biến từ bao cấp sang hạch toán kinh doanh rất táo bạo. Nhưng thời gian đó anh còn bị đơn độc trong tư duy đổi mới từ bao cấp sang hạch toán cho nên cũng gặp không ít trở ngại, khó khăn, thậm chí còn phải trả giá cho sự chuyển biến ấy. Anh Trần Mạnh là con người luôn suy nghĩ, sáng tạo, dũng cảm, không lùi bước trước bất cứ trở ngại, khó khăn nào...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2016, 11:52:49 PM

        Thế là, ngay từ đầu những năm 1980, sau khi nghiên cứu kỹ các mô hình của Hàng không dân dụng quốc tế cùng những nhiệm vụ, yêu cầu của Hàng không Dân dụng Việt Nam, ông đã mạnh dạn đề xuất ý tưởng: tách khỏi cơ chế bao cấp và xóa bỏ cung cách làm ăn theo công nghệ cũ. Ông đề nghị Hàng không được hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào Bộ Quốc phòng, đưa Hàng không trực thuộc Hội đồng Chính phủ và đưa ra hàng loạt những chủ trương đổi mới, từ đổi mới công tác cán bộ cho phù hợp với các vị trí đến việc phân cấp quản lý rồi ký kết các hợp đồng kinh tế, hạch toán kinh tế, tự cân đối để phát triển...

        Những cái “gạch đầu dòng” trong cuốn sổ tay của ông khi họp với ông Võ Văn Kiệt đã được ông triển khai mà tôi thấy những định hướng ấy cho đến bây giờ cũng vẫn đang thực hiện, ví như “Luận chứng về Nội Bài. Luận chứng về xưởng...” chẳng hạn. Nhà ga T1, rồi nhà ga T2 tại Nội Bài đã đi vào hoạt động, rồi A-75, A-76 đã sáp nhập thành VAECO, rồi sự phát triển của ngành Hàng không đã xứng tầm với khu vực và quốc tế... Những cái đó thôi cũng đã đủ thấy tầm nhìn xa của ông.

        Nhưng...

        Những đề xuất táo bạo của ông có những người ủng hộ mà cũng không ít người ngáng trở. Từ những nhận thức không trùng nhau dẫn đến việc mâu thuẫn nhau chỉ trong gang tấc. Đã có sự đối đầu ngay trong nội bộ. Một số cán bộ cấp trên cũng không ủng hộ việc làm của ông. Thậm chí báo chí cũng vào cuộc nên nhiều việc nhỏ cũng trở nên trầm trọng, rối ren. Hệ lụy dành cho ông có lẽ cũng từ đây, nhất là từ sau khi ông ký và ban hành quyết định “Phương hướng lớn về hạch toán kinh doanh trong ngành Hàng không”.

        Một giai đoạn dài, ông Trần Mạnh phải đối phó, phải hứng chịu khá nhiều những khó khăn, thử thách.

        Tôi nhớ lại vào thời ấy, ở Vĩnh Phú có ông Kim Ngọc, ở Hải Phòng có ông Đoàn Duy Thành. Hai ông cũng đã có những tư duy táo bạo, có những việc làm sáng tạo chuyển đổi hẳn những nếp suy nghĩ lạc hậu, bảo thủ, trì trệ, lỗi thời..., mở ra những cách suy nghĩ mới, tư duy mới đầy sáng tạo và hai ông cũng đã nếm đủ mọi nỗi thăng trầm. Đấy cũng chính là quy luật khắt khe của cơ chế thị trường, của thương trường. Đấy cũng chính là sự thử thách đối với những “ngưòi lính tiên phong”, ó đó, bản lĩnh, chí khí của họ - “những người lính tiên phong" ấy được bộc lộ đến tận cốt lõi và thắng hay bại phụ thuộc chính vào ý chí của họ, tài năng của họ. Có thể, họ sẽ phải trả giá, nhiều khi cái giá quá đau đớn, nhưng họ thực sự tỏa sáng...

        Trong bài viết ngắn “Dấu ấn Trần Mạnh” của nguyên Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Cục Hàng không - ông Nguyễn Quang Minh đã viết:

        “Nghĩ về ông Trần Mạnh, nhiều lúc tôi cứ tự hỏi: “Tư tưởng của ông hay là vậy, những chủ trương, quyết sách của ông mới và sáng tạo là vậy, con người ông nhân văn là vậy, nhân cách ông khả kính là vậy mà sao ông gặp lắm trắc trở, hoạn nạn đến thế? Lỗi của ông là ở chỗ nào? Hay là lỗi của những người đi trước thời đại như ông Kim Ngọc - Vĩnh Phú? Hồi đó, người ta cho rằng, tư tưởng của ông thuộc khuynh hữu, không triệt để cách mạng, chủ trương của ông ngược với đường lối chính thống bất di bất dịch của trên. Người ta còn cho rằng ông có tư tưởng chống đối, ông muốn có “không vực” riêng để làm vua một vùng (nhưng ông có bao giò toan tính cho riêng mình đâu!). Rồi lợi dụng một số sai phạm của một số cấp dưới của ông, người ta quy trách nhiệm cho ông. Người ta dấy lên một làn sóng chỉ trích ông, rồi ép ông nghỉ. Những phiên tòa xử các cán bộ vi phạm, những đoàn thanh tra, kiểm tra dường như đều có ý nhắm vào ông. Vị tướng ấy đành buông gậy chỉ huy trong khi đoàn quân Hàng không đang chuyển mình và đang rất cần một thủ lĩnh tài ba. Ông không tham quyền cố vị, nhưng tôi biết, trong tâm ông vẫn đau đáu nỗi niềm, đau đáu khát vọng đổi mới một ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại. Ông muốn ngành Hàng không dân dụng trở thành một ngành kinh tế thực sự, một mũi nhọn trong nền kinh tế của đất nước. Ông không tiếc cái “ngai” gỗ của ông, nhưng ông buồn cho nhân tình thế thái lắm nỗi ác nghiệt, cơ cầu. Năm tháng qua đi, người đời có thể quên những điều ông nói, nhưng những gì ông để lại trong tâm khảm, trong ký ức của chúng ta thì không bao giờ phai nhạt. Dấu ấn Trần Mạnh vẫn còn mãi tươi nét trên con đường phát triển của Hàng không Việt Nam hôm nay!”


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2016, 11:53:42 PM

        Tâm sự của ông Nguyễn Quang Minh chắc hẳn cũng là tâm sự chung của nhiều người - những ai từng biết, từng sống, từng cùng làm việc với ông Trần Mạnh. Tính cách ông là vậy. Sau khi ông nghỉ được 2 năm thì chủ trương của ông đã được công nhận (đấy là quyết định của Hội đồng Chính phủ QĐ 225/CT về Tổ chức lại ngành Hàng không sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa). Thực tế ngày càng chứng minh rằng chủ trương ấy là đúng đắn.

        Ông đã là người mở lối, đã tìm ra được hướng đi trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Ông là người tìm được “chiếc chìa khóa vàng” trong chiến thuật đánh của MiG-21 thời chiến tranh để giành thắng lợi ngoạn mục trước một đối thủ chưa hề biết sợ ai, bắt đối thủ ấy phải công nhận sự thất bại cay đắng của mình, ông cũng chính là người tìm được chiếc “chìa khóa vàng” ấy khi ông sang hoạt động ở lĩnh vực Hàng không dân dụng, tìm được lối, mở được đường, đặt những viên gạch đầu tiên xây nền móng cho các thế hệ lãnh đạo ngành sau này thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trên nền tảng ý tưởng của ông. Ông không ngại ngần đấu tranh bảo vệ cái đúng, cho dù biết rằng ông không thuộc về phía đa số. Thực ra, đa số có lúc không thuộc về lẽ phải. Ông biết rằng sẽ có nhiều mũi nhọn chĩa vào mình, sẽ có người có định kiến về mình, nhưng ông vẫn chấp nhận bước những bước về phía trước, không quay gót.

        “Suốt cả đời ông, trong chiến tranh cũng như trong thời bình, ông như con cá rô ương ngạnh, thích rạch ngược dòng chảy, chấp nhận đi tiên phong nhằm đích thắng lợi cho Đảng cho dân, không màng danh lợi cá nhân...!”

        Đấy chính là cái hùng, cái bi của vị tướng Trần Mạnh!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 08:46:04 AM
        
5. HẠNH PHÚC NGỌT NGÀO

        Hạnh phúc đối với người lính canh trời - người phi công tiềm kích chiến đấu có khi rắt đơn giản: Đấy là được cất cánh rồi về hạ cánh trên đường băng oà được thảnh thơi bước chậm rãi từng bước trên mặt đất.

        Và gia đinh chính là đường băng, chính là mặt đất thân yêu ấy !


        Muốn ai nói gì thì nói, tôi vẫn cứ tin vợ chồng là duyên số. Chẳng thế mà người xưa đã có câu: “Cái duyên cái số nó vồ lấy nhau!” Không biết ngày trước “nó vồ lấy nhau” thế nào, chứ ngày nay hay dùng cái từ “tiếng sét ái tình”. Mà rồi, chẳng hiểu là “tiếng sét ái tình” hay “tiếng thét ái tình” nữa mà càng gần đây tôi càng thấy họ hay bỏ nhau lắm. Xoạch một cái là đã yêu nhau, là cưới nhau! Xoạch một cái là lại bỏ nhau! Yêu yêu, bỏ bỏ đến chóng hết cả mặt! Lấy nhau thật dễ mà bỏ nhau cũng thật dễ!

        Từ khi có điện thoại di động thì tôi hay nhận được tin nhắn. Mà là toàn tin nhắn bằng thơ thôi. Một hôm, như người ta vẫn hay ví von là: Vào một ngày đẹp trời, tôi nghe thấy tiếng điện thoại di động của mình kêu choe chóe - đấy là tín hiệu “Bạn có một tin nhắn!”. Tôi mở ra thì thấy:

“Bạn tôi đang yên đang lành
Một phát bỏ vợ cái đoành là xong
Luân hồi đã hết một vòng
Nợ nần trả hết, thong dong hai người!”

        Tròi ơi, đất ạ! Sao mà lại dễ như một cái hắt hơi như thế nhỉ? Chẳng hiểu thực hay hư nữa. Tôi đành nhắn lại hỏi và biết đích thực đấy không phải chuyện đùa. Tôi cứ bần thần cả người...

        Thời chúng tôi yêu nhau phải là cả một quá trình, tìm hiểu chán chê rồi mới dám ngỏ lời. Rồi yêu nhau cũng phải mấy năm trời, rồi hai gia đình phải biết nhau, rồi báo cáo tổ chức... sau đó mới dẫn đến hôn nhân. Có lẽ “các bước” như vậy là lạc hậu quá rồi! Thời nay yêu nhau rất nhanh mà bỏ nhau cũng rất nhanh. Mọi chuyện đều đơn giản...

        Tình yêu của ông Trần Mạnh với bà Triều Thu chắc cũng như thời chúng tôi yêu nhau mà thôi vì cùng cái giai đoạn từng ấy năm mà! Đoàn bay của chúng tôi cũng có nhiều đôi gặp gỡ nhau một cách tình cờ, với thời gian ngắn ngủi và rồi cũng “bén duyên nhau” như vậy. Tôi từng được nghe câu ca dao:

Bao giờ trạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình...

        Nghĩa là “ra giá” ghê lắm, nhưng rồi lại có câu:

Ai xui trạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước để ta lấy mình...

        Thì ra, bóng cây đa soi xuống mặt nước nên “trạch đẻ ngọn đa, sáo đẻ dưới nước” là chuyện thường tình. Đã hợp duyên, hợp số thi kiểu gì chẳng thành nghĩa tao khang!

        Lần tôi đến thăm bà Triều Thu, tôi mạnh dạn hỏi bà về chuyện tình duyên của bà với ông Trần Mạnh thì bà kể:

        - Trước đó, tôi và anh Mạnh đâu có quen biết nhau. Anh thì là bộ đội, sau này mới biết là Chính ủy của Sư đoàn 330 sau khi ảnh tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân khóa 9. Tôi thì ở đoàn văn công của Sư đoàn 324. Sau một lần biểu diễn thì tình cờ chúng tôi gặp nhau. Tôi ở Bồng Sơn, Bình Định. Vậy là cùng đồng hương với nhau. Đồng hương với nhau nên khi gặp nhau là dễ thông cảm với nhau lắm...

        - Đúng rồi! Nhất lại là “trai tài gái sắc” nữa! - Tôi ngắt lời.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2011_zpsqo126jav.jpg)
Ông Trần Mạnh và bà Triều Thu hồi trẻ

        Bà tủm tỉm cười, không nói gì. Quả là hồi đó, Thiếu tá Trần Mạnh đúng là một “trai tài”, còn cô văn công Nguyễn Thị Triều Thu xinh đẹp, nền nã thì đương nhiên là một “gái sắc” rồi!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 08:50:46 AM

        Khi họ gặp nhau, quen biết nhau, tất cả ai biết chuyện cũng đều gán ghép, vun đắp cho họ... Rồi tình yêu như có phép nhiệm màu, tạo nên biết bao điều kỳ diệu mà nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để viết về nó... Tuy họ ở xa nhau nhưng tình cảm thì cứ càng ngày càng xáp gần và họ yêu nhau, tình yêu của họ như tiền định. Từ khi họ ngỏ lời yêu tói khi tổ chức cưới cũng mất đến 5- 6 năm trời chứ chóng vánh gì đâu. Bà Triều Thu nhớ lại:

        - Chúng tôi yêu nhau hơn 5 năm tròi. Đến tháng 7 năm 1961 thì tổ chức cưới ở nhà hàng ăn uống Phú Gia (về sau là khách sạn Phú Gia). Bộ Quốc phòng giới thiệu cho chúng tôi đi đăng ký và đứng ra tổ chức lễ thành hôn cho chúng tôi. Khi ấy, tôi đang học ở Trường Đại học Y nhưng chưa tốt nghiệp. Anh Mạnh thì đang học ỏ Trung Quốc. Lễ cưới của chúng tôi chỉ có chừng 50 người dự thôi, chủ yếu là bộ đội, nhưng vui lắm!

        - Tôi cũng đã từng được dự những đám cưới hồi đó. Tổ chức rất đơn giản, gọn nhẹ. Trên chiếc phông chính của tiệc cưới thế nào cũng có đôi chim bồ câu trắng gắn mỏ vào nhau được cắt dán cẩn thận, rồi có chữ “Hạnh phúc” (bây giờ thì thay vào đó bằng chữ “Song Hỷ”), rồi thế nào cũng có câu khẩu hiệu: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ!”. Mà tiệc cưới cũng chỉ có trà thuốc, bánh kẹo... Như vậy đã là sang, là “xôm trò” lắm rồi chứ đâu như bây giờ cỗ bàn, thực đơn lắm món “sơn hào hải vị”. Thời đó cũng làm gì có ảnh cưới. Bây giờ thì trước khi cưới, các cô các cậu đều dẫn nhau đi đến mấy ngày chụp ảnh để làm an-bum cưới. Mà nói thực với bác, có mấy khi lôi ra xem lại đâu! Đúng không, bác?

        - Chú nói đúng đấy! Giai đoạn ấy nó thế! Cưới theo kiểu “đời sống mới” mà! Đơn giản nhưng mà vui, mà đằm thắm lắm, không có tí gì hời hợt, xã giao đâu...

        - Tôi có nghe mối tình của hai bác cũng là mối tình đẹp nổi tiếng ở Không quân đấy!

        - Chú cứ nói quá thế!...

        Tôi nhớ lại lần gặp Trung tướng Chu Duy Kính -   nguyên Chính ủy Trung đoàn Không quân Sao Đỏ, nghe ông tâm sự:

        - Tất cả những người vợ phi công đều là những người phụ nữ dũng cảm. Họ đều biết phi công là tuyệt vời, nhất lại là phi công phản lực chiến đấu, danh hiệu thật cao quý. Các phi công đều trong sáng, lóng lánh như pha lê... Quý giá như vậy đấy nhưng rất mong manh. Cậu thì cậu quá biết chuyện ấy. Phút giây này còn ngồi bên nhau, nhưng rồi thoắt cái là đã vĩnh viễn tan biến trong mây trời. Ranh giới cái sống và cái chết mỏng mảnh không bằng sợi tơ. Nhưng mà tình yêu của họ thì tuyệt đẹp. Chắc cậu đã đọc truyện Khoảng trời Ban-tích, đã biết chuyện tình yêu của các phi công Liên Xô hồi chiến tranh rồi. Tình yêu của họ rất đẹp, nhưng mà tình yêu của các phi công chúng ta còn đẹp hơn. ở kia chỉ là một khoảng trời Ban- tích thôi, còn ta thì xuyên suốt cả hai đầu đất nước, vẫn đánh nhau, vẫn yêu nhau... Chiến tranh mặc chiến tranh, nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn theo cái quy luật của nó... Cậu thấy đấy, con anh Trần Hanh được sinh ra ỏ cái thôn mình đặt Sở chỉ huy dã chiến, rồi anh Mai Cương cũng có con ở Chiêu đãi sở của Trung đoàn... rồi đến thời các cậu cũng thế, có biết bao nhiêu là mối tình đẹp đẽ, cậu quá rõ còn gì.... Những người vợ phi công thực sự là những người phụ nữ dũng cảm. Họ dám chấp nhận sự hy sinh lớn lao cho một tình yêu lớn lao. Họ xứng đáng được vinh danh và nhận những phần thưởng cao quý...

        - Tôi nghĩ, không chỉ những người vợ phi công mới dũng cảm mà những người vợ bộ đội đều là những người dũng cảm. Và nhìn chung, tất cả phụ nữ Việt Nam đều là những người dũng cảm. Vậy mối có danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”...

        Nói đến các phi công của Liên Xô thì khi tôi dịch cuốn hồi ký Tiêm kích sống bằng chiến trận của Nguyên soái Không quân Liên Xô - Nhicôlai Xcômôrôkhôp - phi công chiến đấu công huân, được tặng thưởng 2 lần danh hiệu Anh hùng Liên Xô, nguyên là Hiệu trưởng Học viện Không quân mang tên Gagarin. Ông đã tham gia chiến tranh từ tháng 12 năm 1942 vói cương vị là phi công chiến đấu, tham dự 143 trận không chiến, bắn rơi 46 máy bay của phát xít Đức. Trong hồi ký của ông, có một chi tiết rất thú vị: Đấy là phi công danh tiếng Pôcrưskin đã bay đến đơn vị của ông Xcômôrôkhôp, tìm đến một tiểu đoàn, nơi có cô y tá thân yêu của ông mà ông mới làm quen hồi ở Grôgioniíi. Đó là cô Maria Korgiuc trẻ trung, xinh đẹp, nết na...

        Trong buổi khiêu vũ ban chiều, Pôcrưskin đã có một kế hoạch táo bạo “bắt cóc người yêu”. Được một số đồng đội giúp đỡ, Maria trốn khỏi cuộc khiêu vũ và Pôcrưskin đã chở Maria trên chiếc máy bay Po-2 (loại máy bay chỉ dùng trong việc liên lạc và chuyên chở công văn) bay khỏi nơi ấy về đơn vị của Pôcrưskin - về Phương diện quân Ucraina-4.

        Từ đó, không có sức mạnh nào có thể đưa Maria trở về đơn vị cũ của cô được nữa vì Maria đã trở thành vợ của người phi công anh hùng...

        Mãi tận sau này, khi Nguyên soái Không quân V. A. Xuđes biết chuyện cô y tá ưu tú nhất của Quân đoàn đã bị “bắt cóc” thì ông chỉ còn cách tủm tỉm cười và giơ nắm đấm lên trời dọa dọa...

        Tình yêu thật diệu kỳ! Nó giúp cho người ta vượt qua được bao khó khăn tưởng chừng như không thể vượt nổi. Mối tình của ông Trần Mạnh và bà Triều Thu không đến nỗi phải “bắt cóc” như Pôcrưskin nhưng cũng lắm vất vả, gian truân. Sự vất vả, gian truân của “Ngưu Lang Chức Nữ”, của “chồng Bắc vợ Nam”...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 08:54:25 AM

        Bà Triều Thu kể:

        - Chúng tôi cưới nhau được mấy ngày thì anh Mạnh lại đi học tiếp bên Trung Quốc. Anh học ở đó cho đến tận sau khi tôi sanh cháu Mai Tuấn Anh...

        - Vậy là có như cái chuyện con gọi bố bằng “chú bộ đội” không?

        - Cứ để tôi kể cho chú nghe! Ngày tôi sanh cháu Tuấn Anh ở Quân y viện 108 thì anh Mạnh có ở nhà. Tôi sanh cháu hôm trước thì hôm sau anh Mạnh đến thăm, biết mặt con rồi mới sang Trung Quốc học bay. Ngày tôi ra viện, chị Tuyết Hoa ôm bó hoa đến tặng tôi và đón tôi về khu gia đỉnh Nam Bộ tập kết. Tôi hỏi chị Hoa: “Hoa ở đâu mà chị tặng tôi vậy?” Chị Hoa trả lời: “Anh Mạnh dặn tôi phải mua hoa đến tặng chị và có gửi tôi một tháng lương để thanh toán viện phí!”

        - Bác Mạnh sống hào hoa và tâm lý thế còn gì! -  Tôi nói chen vào.

        - Ừ, đúng vậy! Chú để tôi kể tiếp! Khi đưa tôi về khu gia đình Nam Bộ tập kết thì chị Hoa nấu cho tôi một phích nước sôi và mua cho tôi một bát phở bồi dưỡng sau khi sanh. Vậy là từ khi sanh cháu Tuấn Anh vào năm 1963 cho tới khi sanh cháu Tuấn Tú vào năm 1968, hầu như tôi đều phải nuôi con một mình. Chúng tôi được phân nhà ở khu Trạm 354 nhưng anh Mạnh chỉ tạt qua chốc lát rồi lại đi ngay, có được ở nhà lâu đâu. Ngày cháu Tuấn Anh ra đời thì anh Mạnh còn đang học bên Trung Quốc. Ngày cháu Tuấn Tú ra đời thì anh Mạnh đang ở Bộ Tư lệnh tiền phương trong khu Bốn. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y thì tôi được phân công công tác ở Bệnh viện Bạch Mai. Vậy là sáng sáng phải gửi con ở Ngọc Hà rồi đạp xe đến Bệnh viện Bạch Mai làm việc. Mà chú biết không, thấy hoàn cảnh tôi như vậy, gia đình bác hàng xóm thương tình, cho cô con gái sang ngủ bên nhà tôi để sớm hôm sau giúp tôi. Tình làng nghĩa xóm thật cao cả, chú ạ! Tôi sẽ không biết xoay sở thế nào nếu như không có được sự giúp đỡ ấy. Mà chú ạ, tôi cứ ân hận mãi tới tận bây giờ là tôi không còn nhớ được tên bác hàng xóm ấy nữa và không biết bác đã chuyển nhà đi đâu rồi. Ân nghĩa ấy tôi không bao giờ quên. Muốn gặp lại một lần để gửi lời cám ơn mà cũng chẳng được. Chú tính vậy có buồn không?

        - Thế thật bác ạ! Người giúp thì chẳng bao giờ nhớ để kể công đâu. Có lẽ cái thuyết luân hồi là thế hay sao ấy. Người A giúp người B không bao giờ mong người B sẽ giúp lại mà người B rồi sẽ giúp người c... rồi người nào đó sẽ giúp người A... Cái quy luật ấy nó như vậy có đúng không bác? Cái thời ấy, vợ bộ đội, nhất lại là vợ phi công nữa chịu nhiều thiệt thòi lắm, thiếu thốn lắm. Sân bay tuy cố định nhưng phi công thì có được cố định ỏ một sân bay nào đâu, căn cứ nào đâu. Cứ nay đây mai đó là chuyện thường tình. Một ngày có khi phải cơ động đến mấy sân bay ấy. Người nhà có tìm đến cũng chẳng gặp được...

        - Đúng đấy chú ạ! Đã có lần không hiểu sao tự dưng tôi rất nóng ruột. Cứ nghĩ quẩn quanh không biết anh Mạnh công tác có sao không nên liều gửi cháu Tuấn Anh ở nhà, đạp xe lên đơn vị anh Mạnh thăm nhưng mà có gặp anh ấy được đâu. Hôm ấy anh trực chiến ngoài sân bay. Đơn vị cử anh Trần Hanh ra tiếp tôi. Tôi hỏi han một lúc rồi cáo từ, đạp xe về nhà, lòng ngổn ngang trăm mối lo, khi thì lo cho anh Mạnh, lúc lại lo cho cháu Tuấn Anh. Bên chồng, bên con... chú tính có sung sướng gì đâu...

        - Vâng, với những người lính canh trời thì ngay cả thời bình nhiều khi người thân đến thăm cũng chẳng gặp được huống hồ là thời chiến tranh. Tình cảm của mọi lứa đôi gắn bó với nhau đều phải qua những dòng thư hoặc qua những trang nhật ký thôi. Mà thư từ thì làm sao nhanh và kịp thời như là điện thoại di động thời bây giờ được. Từ khi viết thư đến lúc dán con tem vào phong bì gửi đi cho đến lúc nhận được thư trả lời là thời gian mất cả tháng hơn tháng kém. Đấy là chưa kể đến chuyện thất lạc, rồi lại cả thời gian đi cơ động chiến đấu ở các sân bay khác nữa chứ... Mà cái thời ấy cũng có khối chuyện vui qua chiếc phong bì thư... Ví như có đôi yêu nhau, khi gửi thư cho nhau, ngoài địa chỉ người gửi, người nhận ra, người gửi lại còn cẩn thận viết trên phong bì thư hai câu:

“Xa nhau tình cảm dạt dào
Nhờ “ông” bưu điện chuyển vào tận tay!”

        Rồi chẳng biết có phải “ông” bưu điện hay là “ông” nào đấy viết tiếp ngay cho hai câu bên dưới:

“Ông” thì “ông”... đếch chuyển ngay
Để xem đôi lứa chứng mày ra sao!”

        Thế thì bác bảo có cười ra nước mắt hay không? Mà bác có gặp trường hợp nào tương tự như thế không nhỉ?


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 08:58:43 AM
         
        - Không! Tôi không có ghi như vậy ngoài bì thư bao giờ đâu! Nghe chuyện chú kể vậy thì cũng vui mà cũng tức cười thật đấy! Cứ nhớ lại cảnh nuôi con một mình là tôi lại thấy ớn. Vất vả thật đấy chú ạ! Khi chúng nó khỏe mạnh đã vất vả rồi. Lúc chúng nó ốm đau thì nỗi vất vả, khổ cực ấy tăng gấp không biết bao nhiêu lần nữa. Tôi nhớ cái lần cháu Tuấn Anh bị sốt cao, người cứ như cái tàu lá chuối bị hơ lửa, rũ ra như cái xác chết ấy. Bấy giờ cháu Tú thì phải nhốt trong cũi. Tôi ôm con mấy ngày đêm liền, mệt quá tới mức ngủ gật, ngã quay ra, chú ạ! Rồi cháu phải đi Bệnh viện Xanh-Pôn... Chú biết không, hồi ấy có bà cụ ở Khâm Thiên thương mẹ con tôi lắm. Cụ sai con cụ về Nam Định lấy gạo mới lên, lấy một ít rang để nấu nước cho uống rồi nấu cơm gạo mới cho ăn, nhận tôi như con của cụ vậy. Tôi cũng quý cụ, coi cụ như mẹ mình... Lúc hoạn nạn, cơ nhỡ... có được người giúp đỡ mình chân tình như thế thì chú tính còn gì quý bằng? Ân nghĩa ấy tôi khắc ghi suốt đời, chú ạ! Mà chú ạ, thư từ thì chỉ hồi trước thôi, chứ sau này thì chẳng có thời gian mà viết đâu!

        - Vâng, nhưng mà thời ấy khi nhận được thư nhà, nhất lại là của người thân yêu thì quý lắm, nhiều lúc bức thư ấy cứ như là “tấm bùa hộ mệnh” ấy!

        Bà Triều Thu từng gửi cho ông Trần Mạnh “tấm bùa hộ mệnh” như vậy:

        “Anh yêu quý của em!

        Chủ nhật vừa rồi, em định xếp sắp chớp nhoáng lên thăm anh. Nhưng cơ quan bố trí cho tất cả các cháu còn lại lên hết khu sơ tán ở Sài Sơn nên em đã theo xe lên trên đó thăm con Tuấn Anh. Vậy anh đừng buồn mà bằng lòng để lá thư này thay em đến với anh nhé, anh yêu. Em báo tin để anh yên tâm. Mẹ con em vẫn khỏe. Hôm rồi, em lại đưa con Tuấn Anh đi X quang lại chỗ bả vai. vết gãy đã liền lại hoàn toàn. Con luôn nhắc và hỏi em về anh hoài. Ở nơi sơ tán hôm đầu cứ níu áo em đòi má ở cùng, nhưng có các cô động viên và có nhiều bạn nên con đã quen rồi. Còn anh cũng không phải lo về cái hầm trú ẩn ở nhà mình. Chủ nhật vừa qua, các chú ở Bộ Tham mưu Quân chủng đã ra phụ thêm với mấy anh trong khu tập thể làm giúp cho mẹ con em rất kiên cố hoàn tất rồi. Vừa làm xong buổi trưa, chiều Hà Nội có báo động, em đã “khai trương” và có cảm giác như mình đang ở trong khu căn cứ rất an toàn. Tất cả chỉ còn thương và lo cho anh. Bây giờ bom đạn Mỹ đã trút xuống ở cả nơi các anh cất cánh rồi. Mỗi khi nghe tiếng bom nổ rền trên phía đó, lòng em lại cồn cào như lửa đốt. Nó chỉ dịu đi khi nhìn thấy những cảnh bay của anh sau đó vẫn xuất hiện trên bầu trời. Nhưng đêm xuống, không đêm nào em ngủ ngay được. Cứ thấy hình ảnh anh quá vất vả lo cho đơn vị như đang hiện ra trước mắt em với bộ áo quẩn nhàu nát, xộc xệch, đầu tóc rối bù, da sạm đen, gương mặt hốc hác mà em đã thấy và rất xót xa hôm lên đơn vị thăm anh. Em biết rằng trách nhiệm của các anh và đặc biệt của riêng anh là “Cánh chim đầu đàn” của Trung đoàn với đất nước trong lúc này nặng nề lắm. Nhưng em không thể nào trực tiếp san sẻ được. Chỉ cố gắng hết sức mình với công việc ở hậu phương để anh yên tâm chiến đấu. Cũng như đã bao năm phải xa anh, anh cứ yên tâm về chuyện đời sống của mẹ con em. Em chẳng mong gì hơn là anh gắng giữ gìn sức khỏe, mong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước thần thánh này của dân tộc ta mau thắng lợi để anh cùng em và con luôn được sống gần, sống hạnh phúc bên nhau. Anh yêu ơi! Em tạm dừng lời nhé! Hôn anh nhiều, anh nhớ thương, yêu quý của em!”...

        Ông Trần Mạnh ngồi lặng đi và quãng thời gian đã qua như những thước phim quay chậm được tua lại. Biết bao nhiêu điều từng nén trong sâu thẳm bỗng dưng ào ạt hiện lên. Rồi ông lại nhớ đến trách nhiệm của người chồng, người cha... Rồi biết bao nhiêu thứ khác nữa... Ông lại châm thuốc hút và lặng lẽ nhả khói, suy tư... ông đã từng nằm cạnh con canh chừng cho con ngủ, nghe tiếng rên của con mà lòng se thắt lại. ông cũng từng nghe bà Triều Thu trách ông qua hai hàng nước mắt: “Anh chỉ biết có máy bay thôi, còn con thì anh có ngó ngàng gì tới nó...” Ông muốn bộc bạch nhiều, rất nhiều mà rồi ông lại chỉ độc thoại với mình ông thôi...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 09:58:02 PM

        Tôi bỗng trở nên trầm ngâm, nghĩ về câu nói của người xưa: “Một duyên, hai nợ, ba tình...” Không biết có phải rằng sau cái “duyên” gắn bó với nhau là phải đến cái “nợ”: nợ gây dựng gia đình, nợ sinh con đẻ cái, nợ cho chúng ăn chúng học, nợ dạy cho chúng thành người... hay không. Rồi còn những khoản nợ nào nữa? Rồi đến bao giờ mới hết nợ vì có người sau khi nuôi con xong lại còn phải nuôi cháu nữa cơ mà... Hết cái “nợ” mới đến cái “tình” thì đã già cốc đế ra rồi còn gì! ừ, mà có khi chưa chắc đã có “duyên” mà chỉ là có “nợ” không thôi cũng nên, vì tôi cũng từng được nghe câu:

“Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời nhau đây
Mỗi người một nợ cầm tay
Xưa anh nợ vợ, tôi nay nợ chồng!”

        Vậy thì phức tạp thật! Biết thế nào mà lần!

        Thấy tôi bỗng dưng ngẩn người ra, bà Triều Thu giục:

        - Kìa! Uống nước di chú! Mà sao chú lại trầm ngâm thế?

        - Dạ, vâng! Tôi đang nghĩ đến cảnh hai bác cũng giống như nhiều lứa đôi khác trong thòi chiến, chẳng khác gì cảnh vợ chồng Ngâu.

        - Thì đúng là cảnh vợ chồng Ngâu thật, chú ạ! Chả mấy khi được sum vầy gia đình đâu. Hồi nãy chú có nói đến cái chuyện con gọi bố bằng “chú bộ đội” thì ngay thằng cháu Tuấn Anh nhà tôi đây chứ đâu xa. Khi bố Mạnh cháu về thăm, trời nóng mới lấy cái nón của tôi để quạt quạt thì nó bảo ngay: “Bác bộ đội trả nón cho mẹ cháu đi!”

        - Vậy lúc bấy giờ bác Mạnh nói sao?

        - Anh ấy cười thật hiền và tôi biết anh bắt đầu đặt ra kế hoạch giáo dục, dạy dỗ con cái. Tôi để ý, anh Mạnh không chỉ bảo từng ly từng tí đâu, anh ấy chỉ chỉ bảo, định hướng cho các con để cho các con tự phát triển tư duy một cách độc lập. Anh ấy thường hay mua sách cho các con, rèn luyện qua sách vở, dạy cho các con biết trọng nghĩa khinh tài, biết tự lập, biết đứng vững bằng năng lực của chính bản thân mình chứ không dựa dẫm vào cha mẹ. Anh Mạnh ít nói lắm và đặc biệt rất ít khi đánh mắng các con. Anh nghiêm khắc, không nuông chiều các con như những ông bố khác đâu. Những ngày anh ở nhà, anh hay lôi bọn chúng ra để tắm rửa, kỳ cọ, hướng dẫn bọn chúng tự chăm sóc bản thân. Vào những dịp các con nghỉ hè, anh ấy thường đưa các con vào xưởng, như xưởng A-41 chẳng hạn để dạy chúng lao động, tập làm thợ, để rèn tính cách... Anh Mạnh tuy có đôi chút vụng về, nhưng cùng với tình yêu Tổ quốc nồng nàn, anh rất mực thương yêu vợ con.

        - Vậy mà chẳng có cháu nào theo nghiệp của bác Mạnh nhỉ?

        - Chú thử nhìn lại trong Quân chủng xem có được mấy ai nối nghiệp cha không? Có được bao nhiêu gia đình bố làm phi công, con cũng lại làm phi công? Nói thực với chú, hai đứa nhà tôi không đứa nào theo được cha cả. Tôi cứ nhớ những người đồng đội cùng bay với anh Mạnh ấy, trong chiến đấu cứ lần lượt ra di, nay thì nhận được tin người này mất, mai lại nhận được tin người kia mất. Mà sự mất mát trong khi bay thì chú thừa biết rồi đấy, nó ghê gớm, nặng nề lắm. Chú cứ nói những người vợ phi công là những người dũng cảm, thực ra có những lúc, tôi tưởng tôi không thể chịu đựng nổi. Tôi đã từng trải nghiệm, cô nhà chú chắc cũng vậy. Mỗi một lần nghe tiếng máy bay xuất kích chiến đấu, rồi bom rơi đạn nổ tứ phía, cả ở dưới đất lẫn trên trời thì chú bảo còn nỗi lo nào hơn nỗi lo cho người thân yêu, ruột thịt đang trong cái chảo lửa ấy. Mà đâu chỉ có một ngày... Chiến tranh kéo dài biết bao nhiêu ngày chứ. Càng ngày càng ác liệt hơn chứ. Không biết người ra đi rồi có trở về hay không, rồi trở về còn có nguyên vẹn hay không... Những nỗi ám ảnh ấy đeo đẳng tâm trí tôi không biết bao nhiêu ngày. Là người đàn bà - người vợ, người mẹ... chúng tôi có những nỗi lo mà những người đàn ông như các chú chẳng hiểu nổi đâu. Mà hai cháu nhà tôi: cháu Mai Tuấn Anh nó học kỹ thuật hàng không - ngành đặc thiết ấy, nó làm bảo dưỡng cho máy bay, thế là cũng còn chút liên quan đến nghề nghiệp của bố cháu ngày xưa đấy chứ. Còn cháu Mai Tuấn Tú thì học ở Đại học Bách khoa, ngành tự động hóa, làm ở Văn phòng khu vực miền Nam của Tổng công ty Hàng không Việt Nam một thời gian sau thì cháu chuyển ra ngoài, thành lập công ty riêng, trở thành doanh nhân lăn lộn trên thương trường. Thì thế cũng là một phần liên quan đến quãng đời của bố cháu khi chuyển ngành sang lĩnh vực làm ăn kinh tế còn gì.

        - Vậy là hai bác cũng đã có đủ hai nửa quân sự lẫn dân sự liên quan đến bầu trời và liên quan đến thương trường. Đúng là nghiệp của bác Mạnh để lại! Chắc hẳn các cháu càng ngày càng hiểu, càng chia sẻ những vất vả, những căng thẳng, những áp lực trong cuộc sống ở các lĩnh vực ấy mà khi bác Mạnh còn sống không mấy khi bác có cơ hội tâm sự với các cháu! Mà bản thân hai bác chắc cũng không có nhiều thời gian ở với nhau?


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:05:27 PM

-           Đúng vậy, chú ạ! Khi anh Mạnh ở trong Nam thì mấy mẹ con tôi ở ngoài Bắc, rồi khi anh ấy ra ngoài Bắc thì tôi lại ở trong Nam. Sau khi giải phóng miền Nam tôi vào Nam một thòi gian rồi ra Bắc, làm việc ở Cục Quân y, là bác sĩ đa khoa mà, rồi các anh cấp trên phân công tôi học về khoa siêu vi trùng xong, tôi lại trở vào Nam. Tôi nhớ lần ấy tôi được bay cùng chuyến bay với ông Hoàng Quốc Việt. Rồi hai anh em Tuấn Anh, Tuấn Tú cũng vào Tân Sơn Nhất, về số 3 Tản Viên, chú ạ! Chúng tôi chỉ thực sự ở với nhau, chăm chút được cho nhau sau khi anh Mạnh về hưu thôi. Anh Mạnh chịu nhiều vất vả, thiệt thòi nhưng tôi nghĩ anh ấy là người hạnh phúc!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2012_zpshqg7x58s.jpg)
Gia đình ông Trần Mạnh

        Ý nghĩ của tôi lại quay trở lại với “cái duyên, cái nợ, cái tình”. Có lẽ rất nhiều lứa đôi chỉ được ở bên nhau sau khi đã hoàn tất xong cái giai đoạn hai - giai đoạn sau cái “nợ”. Tôi đã chứng kiến nhiều cặp vợ chồng già quan tâm đến nhau, thương nhau còn hơn cả khi còn trẻ. Cái “tình” bấy giờ mới thấm đậm, mới sâu sắc. Ngẫm cái câu: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông!” thật chí lí. Mà rồi hình như cũng có người lại không được hưởng hết cái giai đoạn “tình” thì phải, bởi bà thì phải đi chăm cháu, còn mỗi mình ông ỏ nhà đành vui với cảnh “Khi chén rượu, lúc cuộc cờ. Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”... thui thủi một mình vậy. Thế thì họ có hạnh phúc hay không nữa? Chịu, chả thể nào hiểu nổi!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0a%2011_zpsrhupagkz.jpg)
Bà Thu,ông Mạnh những năm 1980

        Vâng, hạnh phúc! Cái từ ngắn gọn thế thôi nhưng cũng có không biết bao nhiêu cuộc tranh luận, bàn thảo và viết về nó. Hạnh phúc với mỗi người đều khác nhau và mỗi người quan niệm về hạnh phúc cũng khác nhau. Lắm lúc tôi cứ nghĩ: Hạnh phúc đối với người lính canh trời - người phi công tiêm kích chiến đấu có khi rất giản đơn. Đấy chỉ là được cất cánh rồi về hạ cánh trên đường băng và được thanh thản bước những bước trên mặt đất thân yêu.

        Và gia đình chính là đường băng, chính là mặt đất thân yêu ấy


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2016, 11:55:38 AM
           
TIẾNG VỌNG MAI SAU

        "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”.

        Õng là một trong số ít, rất ít người mà cả phía quân sự lẫn phía dân sự khi nhắc đến đều nói với những lời yêu mến, quý trọng oà kính phục. Một người đức độ, có tâm và có tài thực sự."


        Cách đây chừng dăm năm, khi có dịp vào Nam, tôi lần tìm đến thăm anh Lê Hải - người phi công Anh hùng bay trên loại máy bay MiG-17. Hai anh em tôi đã từng gắn bó vói nhau qua những lần trực ban chiến đấu, hiệp đồng chiến đấu trên các sân bay cơ động, sân bay dã chiến trong thời kỳ chiến tranh, đã từng xuất kích, yểm hộ cho nhau...

        Anh chuyển nhà về quận Gò Vấp. Tôi tìm được nhà anh thì trời đã nhá nhem tối. Tôi ấn chuông. Anh ra mở cửa, đứng chững trong giây lát rồi la lên:

        - Trời ơi mày! Trời ơi thằng em! Sao mà em tìm được nhà anh?

        - Trong bụng mẹ em tôi tăm thế mà em còn tìm được đường ra nữa là! - Tôi cười trả lời.

        - Trời ơi! Cái thằng em này, mày vẫn cứ tếu táo vậy! Vào nhà đi mày!

        Anh em tôi ngồi hàn huyên được một lúc thì anh nói:

        - Em còn có thể viết được thì em viết về bác Trần Mạnh đi. Bác là người đáng để viết lắm. Không viết thì uổng mất, “nhà văn” ạ!

        - Anh lại trêu em rồi! Em đâu phải là “nhà văn”. Em chỉ là người kể chuyện thôi!

        - Ừ! Gì cũng được ráo trọi! Nhưng phải viết nhanh lên nhé!

        - Anh cho em thư thư chút! Còn phải tìm các tư liệu, phải gặp gỡ, hỏi han những bác những chú từng sống vói bác Mạnh nữa chứ!

        - Ừ! Nhưng phải hứa vói anh là sẽ viết nhé?

        - Nghe rõ, anh Hai!

        - Có thế chứ!

        Anh Lê Hải cười to, sảng khoái và tay thì đập đập lên vai tôi như một lòi nhắn nhủ tin cậy.

        Kể từ lần gặp ấy, tôi lẳng lặng sưu tầm những gì có liên quan đến ông Trần Mạnh và hầu như tôi gặp ai thì cũng đều nhận được lòi giục: “Hãy cố viết về ông Trần Mạnh đi!”

        Dầu sao khi đã có ý định rồi thì phải bắt tay vào việc và phải làm bằng được, phải gặp nhiều người để biết rõ hơn về ông. May cho tôi là ai cũng ủng hộ tôi, giúp đỡ tôi trong việc này.

        Tất cả những người tôi gặp gỡ, những người từng công tác bên quân sự cũng như bên dân sự đều nhắc tới ông với sự yêu mến, quý trọng và nể phục.

        Anh Hà Bình Nhưỡng - người từng có mặt ngay từ ngày đầu thành lập Trung đoàn Sao Đỏ và ngày Trung đoàn đánh thắng trận đầu đã viết:

        “Viết về Không quân ta, có thể thiếu chuyện này, chuyện khác nhưng nhất thiết không thể thiếu truyện viết về anh - nhân vật chủ chốt “kiến trúc sư về chiến thuật” đã vật lộn tìm ra được “chiểc chìa khóa vàng'’ cho đoàn Không quân Sao Đỏ để đoàn đã tung hoành với loại máy bay mới MiG-21 vừa có được trong tay. Làm sao có thể bỏ qua anh - một người khi nào cũng đầy ắp những tư duy mới, hừng hực tư tưởng tiến công, sống cương trực, thanh liêm, làm việc gì cũng muốn cống hiến hết mình với tâm hồn trong sáng và là người đầu tiên sớm đặt nền móng cho Hàng không thương mại Việt Nam. Không riêng thế, qua anh nó còn là lời giải xác đáng nhất cho câu hỏi: “Lẽ nào ta chỉ viết, chỉ ca ngợi các phi công đã làm cho lũ giặc Mỹ kinh hồn, thất đảm ở trên mây mà quên không nói đến những người chỉ huy ở mặt đất đã dẫn dắt, chỉ huy tài trí để góp phần quan trọng tạo nên những vòng hào quang lấp lánh, sáng ngòi trên ngực áo của họ?”...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2016, 11:58:12 AM

        Khi nhắc đến những trận không chiến thì phi công Anh hùng Vũ Ngọc Đỉnh nói:

        - Tôi không biết ai là tác giả cách đánh của MiG-17, nhưng theo tôi, lối đánh “nửa đánh chặn” của MiG-21 là do Trung tá Trần Mạnh tổng hợp, đề ra đầu tiên trong các cuộc Hội nghị “Quân sự dân chủ”. Tôi, anh Nguyễn Đăng Kính, anh Lê Trọng Huyên, anh Đồng Văn Song, anh Nguyễn Nhật Chiêu, anh Nguyễn Văn Cốc... là những người ứng dụng đầu tiên. Bản chất của chiến thuật này là Sở chỉ huy dẫn vào bán cầu phía sau ở góc vào thích hợp, các phi công chủ động, tạo thời cơ, góc vào, tốc độ chênh lệch, tạo thế tạo đà, bám sát ngắm bắn bằng mắt, phóng tên lửa và thoát ly nhanh trước khi đối phương kịp hiểu điều gì đang xảy ra...

        Tôi có dịp ngồi nói chuyện khá lâu và khá dài với Trung tướng Chu Duy Kính, người Chính ủy của Trung đoàn Sao Đỏ khi ông Trần Mạnh làm Trung đoàn trưởng. Với tuổi ngoài 80 nhưng ông còn sắc sảo và mẫn tiệp lắm. Khi nhắc tới ông Trần Mạnh thì giọng ông hào hứng hẳn:

        - Năng lực chỉ huy, tổ chức trận đánh cũng như khả năng tổng kết, khái quát cách đánh của anh Trần Mạnh, một vị chỉ huy đặc biệt. Giá mà anh Mạnh được đi học một khóa 1 năm hoặc 6 tháng tại Học viện Ga-ga-rin thì còn hay hơn nhiều. Anh là người chịu khó đọc, chịu khó nghiền ngẫm để tìm ra cách đánh, tìm ra lối đánh cho MiG-21. Có một giai đoạn MiG-21 đánh không được, trong khi đó thì MiG-17 liên tục lập chiến công. Khi đi họp ở Quân chủng, đã có ý kiến nói rằng: “Trung đoàn “Sao Đỏ” thành “Sao Đen” mất rồi!” Anh Trần Mạnh và tớ không nói gì nhưng thấy nặng nề lắm. Mình chưa hoàn thành trách nhiệm của người chỉ huy. Cậu biết không, cấp trên chỉ nói một cách chiến lược, khái quát là: “Thắng không kiêu, bại không nản!”, nhưng mà để triển khai cụ thể hóa nó ra thì là cả một vấn đề lớn, đâu có thể nói chung chung mà được. Đã có lúc, anh Trần Mạnh nói với tớ: “Đời tôi có lẽ chỉ gắn vối thất bại thôi!” thì tó nói ngay: “Vấn đề là ta chưa tìm ra thôi!” Đúng như thế, cậu ạ! Cái khó nó không bó cái khôn mà là ló cái khôn. Anh Trần Mạnh đã tìm ra. Đầu tiên là phải phát huy tốc độ của loại MiG-21, phải đánh từ xa, không được đánh quần, đánh ở độ cao thấp. Đánh phải có dẫn dắt... Sau trận của Độ - Cốc thì rút ra việc dùng biên đội nhỏ đánh vào đội hình lớn, tìm cách để phát hiện sớm, bắn rơi nhiều máy bay, phá tan đội hình địch. Rồi sau trận của Nhị - Kính mới phát huy được đúng ưu thế của việc đánh nhanh thọc sâu. Cậu thấy đấy, tiếp ngay sau đó là trận của Hà Chúc, một mình xông thẳng vào đội hình địch 36 chiếc, bắn rơi ngay thằng liên đội trưởng đấy thôi...

        Anh Mạnh là người kiên định, tin ở bản thân mình và tin ở anh em. Anh từng đặt ra mục tiêu trong một trận, 2 chiếc của ta phải bắn rơi được 2 chiếc của địch, rồi bắn được 3 chiếc của địch, tiến tới bắn rơi 4 chiếc của địch. Cậu cũng nằm trong nhóm tác giả cuốn Những trận không chiến nhìn từ hai phía thì cậu đủ biết bao nhiêu trận thực hiện được đúng ý đồ của anh Mạnh rồi. Mà cậu biết không? Chính trong những ngày khó khăn nhất, máy bay của ta còn ít nhất, chỉ còn có 3 chiếc là 34, 36, 27 thôi mà ta lại bắn rơi được nhiều nhất. Hồi ấy, máy bay đến thời hạn định kỳ nhưng ta chỉ tổ chức định kỳ từng nửa phần một, đánh xong lại định kỳ tiếp. Thế mà hiệu suất chiến đấu lại rất cao. Thằng địch có biết chiến thuật của ta nhưng cũng khó đối phó. Thoạt đầu, chúng xem thường ta lắm chứ. Chúng đã từng tuyên bố là sẽ bắn hạ máy bay ta như bắn hạ lũ vịt giời khi đi săn kia mà! Sau rồi không thể đánh được, thằng địch lúng túng và phải đánh sân bay. Thực ra cách đánh sân bay là không còn biết làm thế nào nữa rồi, hèn rồi. Thằng địch rất muốn thắng chúng ta trong những trận không chiến. Thắng như thế mới là đàng hoàng, mới có tính chất hiệp sĩ trên không. Vậy nhưng chúng có làm được thế đâu!

        Phải nói rằng, anh Trần Mạnh là người có tri thức, có nhiều kinh nghiệm khi chiến đấu ở bộ binh. Có phẩm chất chiến đấu, kiên nghị, dám xông vào khó khăn, tìm hiểu rất kỹ về kẻ thù và có quyết tâm rất cao. Anh thường nói: “Phải dám đánh thì mới tìm ra cách đánh! Ta không thể xem thường địch, nhất lại là bọn Mỹ, không được chủ quan, nhưng phải tìm ra bằng được chỗ yếu của địch!”... Có những lần đi rút kinh nghiệm chiến đấu ở Bộ Tư lệnh về, trên đường đi, tớ nói với anh Mạnh: “Lần này ta đánh thắng, đi họp cũng đỡ đau đầu” thì anh Mạnh thay bằng câu trả lời, liền “lẩy Kiều”: “Chén vui chưa nhắp, nỗi lo dập dồn!” Đúng thế đấy cậu ạ! Người chỉ huy bao giờ cũng phải lo toan. Dù thắng đấy nhưng anh Mạnh vẫn tìm tòi cách đánh nào có hiệu quả nhất. Anh rất tin vào đội ngũ phi công, vào lực lượng quần chúng, vào cán bộ. Anh luôn tự hỏi: “Có sợ địch không? Có tin ở anh em không?” Tớ cho rằng, điều đó là cơ bản của người chỉ huy...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2016, 12:00:02 PM
        Anh Trần Mạnh có những câu nói đánh dấu cho những thời kỳ quan trọng. Đó là: “Thời kỳ mò mẫm cách đánh đã qua. Thời kỳ mạnh dạn đưa MiG-21 vào đánh đã đến!” Rồi sau trận ngày 23 tháng 8, anh nói: “Thòi kỳ hình thành cách đánh đã rõ!”

        Anh là người công phu nghiên cứu mọi trận đánh, cả thắng cả thua đều vậy. Anh nghiên cứu từng quả tên lửa, bắt anh Kim Khôi là Đại đội trưởng Đại đội tên lửa báo cáo chi tiết tính năng từng loại vũ khí, rồi gặp từng phi công sau khi chiến đấu về, hỏi xem điểm ngắm, cự ly bắn ra làm sao, nhìn bằng mắt thường thì thấy thế nào... từ đó anh rút ra kết luận về cự ly bắn hiệu quả nhất.

        Anh là người mà tớ chưa hề thấy sự chủ quan bao giờ. Cậu biết không, có trận, khi phi công ta hô bắn rơi máy bay địch rồi thì trong Sở chỉ huy, có anh bỏ tai nghe ra, vỗ tay. Anh bắt đeo ngay vào và nhắc nhở: Khi nào phi công về hạ cánh an toàn, ta rút kinh nghiệm, bấy giờ vỗ tay cũng không muộn. Cậu thấy chưa? Người chỉ huy phải nhạy bén như thế chứ!

        Mà anh Mạnh, cậu biết không, là người lười tắm lắm đấy. Anh sáng tác ra cái trò tắm khô, nhiều anh học tập theo đấy!

        Thôi, tớ nói ngắn gọn thê này: “Dám đánh đã là Anh hùng. Đánh thắng là rất Anh hùng. Thắng nhiều thua ít là Tuyệt vời. Càng đánh càng thắng thì thật là quá Tuyệt vời!”...

        Ông Chu Duy Kính cho rằng: “Đã xuất hiện một thế hệ các chỉ huy cấp chiến dịch, cấp Quân binh chủng Phòng không - Không quân tài năng, hiện thực hóa thắng lợi chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh.”

        Lịch sử của Trung đoàn Không quân Sao Đỏ cũng đã ghi nhận:

        “Trung đoàn trưởng Trần Mạnh là người chỉ huy quân sự có đầu óc nhạy cảm, là con người có chí. Khi Trung đoàn chuyển loại sang MiG-21, anh cũng học để chuyển loại, nhưng vì phải trực tiếp chỉ huy và luôn luôn phải trực chiến, không thể theo học một lớp có giáo viên như các anh em phi công khác. Anh phải tự học, tự đọc sách và nhờ những người hiểu biết về MiG-21 phụ đạo thêm. Cuối cùng, khi lớp học chuyển loại của các phi công bước vào sát hạch, anh cũng xin sát hạch. Anh không những phải sát hạch nghiêm túc mà còn phải sát hạch kỹ hơn những phi công khác. Chẳng hạn, các phi công trả lòi 5 câu hỏi thì Trung đoàn trưởng phải trả lòi tới 20 câu. Khi bay kiểm tra, anh em bay 3 vòng là được đánh giá kết luận, Trung đoàn trưởng phải bay 5 vòng...

        Trung đoàn trưởng Trần Mạnh không những được công nhận là đủ điều kiện để lái MiG-21 mà sau đó anh còn tiến lên làm giáo viên kèm cho một số phi công khác để huấn luyện nâng cấp bay các thòi tiết và khí tượng phức tạp. Con người có quyết tâm lốn ấy lại lao vào nghiên cứu, không phải chỉ cho anh, người chỉ huy, mà quan trọng hơn, cho các phi công trực tiếp chiến đấu...”

        Nhắc đến ông Trần Mạnh, phi công Anh hùng Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị ca ngợi:

        - Ông Trần Mạnh có 3 đóng góp quan trọng nhất: Một là, “kiến trúc sư” chiến thuật của MiG- 17 và MiG-21. Hai là, “địa lý sư”, là người tinh tường địa lý, lựa chọn đặt các Sở chỉ huy rất đắc địa, ví như Sở chỉ huy của Trung đoàn Không quân Sao Đỏ ở Hương Gia, Nam Cường, Sóc Sơn bên dòng sông Cà Lồ mà sau này được xếp hạng di tích lịch sử chiến tranh của thành phố Hà Nội. Ba là, ông là chỗ dựa tinh thần cho phi công khi thắng lợi cũng như khi tổn thất. Ngoài tài năng của một nhà quân sự, chỉ huy, ông còn có tố chất của một nhà chính trị tích lũy được qua những năm tháng là Chính trị viên Tiểu đoàn 308 Nam Bộ rồi Chính ủy Trung đoàn 556 (Sư đoàn 330). Tuy nhiên, với tính khiêm nhường, khi nói đến quá trình hình thành chiến thuật của MiG-21, ông Trần Mạnh luôn khẳng định: Đấy là công lao của các thế hệ chỉ huy, phi công và dẫn đường... mới là người sáng tạo đích thực các chiến thuật trăm trận trăm thắng.

        Anh Nguyễn Sỹ Hưng, một cựu phi công MiG- 21, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) đã từng viết về ông, gọi ông là “kiến trúc sư” của chiến thuật MiG-21, nhà “tiên tri đỏ”, người đi tiên phong trong ngành Hàng không.

        Anh viết: “Suốt trong gần 50 năm hoạt động ở những lĩnh vực khác nhau, ông Trần Mạnh đã để lại dấu ấn quan trọng, như vị “kiến trúc sư” của các chiến thắng. Ông chưa nhận được danh hiệu gì, nhưng danh hiệu cao quý nhất chính là hình ảnh của ông trong lòng mọi người, đồng đội, bạn bè, người thân - một Trần Mạnh tài năng mà bình dị và chân thành... Ông đã đóng góp công sức của mình cho chiến thắng chung của bộ đội Không quân và chính Không quân đã là bệ phóng, là môi trường tuyệt vời để hình thành nên một vị tướng tài năng, nhân nghĩa...” Và anh kết luận: “Bên trong vẻ ngoài hiền lành, giản dị đặc chất Nam Bộ của ông là trái tim nhân hậu, trung thành, là tài năng, bản lĩnh và nhân cách của một vị tướng: nhìn xa, nghĩ sâu, chấp nhận mạo hiểm bản thân để đem lại lợi ích cho đất nước, nhưng luôn gần gũi nhân dân và đồng đội... Đất nước rất cần những con người lãnh đạo như vậy!”


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 12:29:07 AM

        Nhắc đến ông thì người phi công Anh hùng Thiếu tướng Nguyễn Văn Cốc gọi ông là “Cha đẻ của chiến thuật Không quân Việt Nam”.

        Còn Đại tá - phi công Anh hùng Nguyễn Nhật Chiêu nói:

        - Tôi đã viết trong sổ truyền thống của Trung đoàn: “Trung tá Trần Mạnh là người chỉ huy tài giỏi của Không quân!” Anh đã để lại cho Trung đội trưởng Chiêu những ấn tượng tốt đẹp không bao giờ phai mờ vì đấy là con người đức độ, tài ba khi ở đơn vị mới, lĩnh vực mới - đấy là Quân chủng Phòng không - Không quân. Tôi thực sự kính phục anh Mạnh! Anh không những chỉ huy giỏi mà còn rất tâm lý, rất hiểu cấp dưới của mình. Tôi nhớ, giai đoạn đánh nhau quyết liệt, chúng tôi trực ngoài sân bay đến cả tháng liền. Một lần, anh Mạnh nói với tôi: “Tình hình mấy ngày nay chắc cũng ổn ổn, tôi đi họp Thường vụ nên cậu lấy xe tôi mà về thăm nhà trong vòng 24 tiếng đồng hồ!” Tôi cảm động vô cùng. Đã có được mấy ai là thủ trưởng mà quan tâm đến mình như thế đâu. Anh cũng là người thử thách sự kiên cường của cán bộ dưới quyền mình rất khéo. Như lần Trung đoàn hết máy bay chiến đấu, chỉ còn có 2 chiếc F-13 đã lâu không sử dụng. Anh Mạnh gọi tôi đến và nói: “Ta chỉ còn có 2 chiếc F-13, hiện nay anh em thợ máy đang kiểm tra, tu bổ cho hoàn chỉnh. Loại máy bay F-13 này so với loại PF thì nó cũ hơn, chắc nhiều người sẽ ngại ngần khi sử dụng nó, nhưng vào giai đoạn này, ta không thể để thiếu vắng tiếng máy bay được!” Vậy là tôi hiểu. Cấp trên đã lo một thì chúng tôi phải lo mười. Tôi về trao đổi với số 2 của tôi là Nguyễn Văn Cốc: “Trung đoàn trưởng Mạnh vừa giao nhiệm vụ cho tớ, anh em mình phải trực chiến trên F-13. Nó tuy cũ rồi, nhưng hồi chiến tranh Triều Tiên, các phi công Triều Tiên đã có nó mà bay đâu! Nó nhẹ, cơ động dễ, anh em mình phải cố nhé!” Sau khi chúng tôi ra trực thì anh Mai Bá Quát - người phụ trách khối kỹ thuật của Trung đoàn đến báo cáo cho chúng tôi biết tình trạng máy bay ra làm sao, đã thay thế những khí tài gì... và chúng tôi yên tâm trực chiến. Ngày hôm đó anh em tôi đã xuất kích chiến đấu và hai anh em tôi đã bắn rơi 2 chiếc máy bay địch. Tôi bắn rơi 1 chiếc, số 2 Cốc bắn rơi 1 chiếc. Thế mới biết, sự sáng suốt và ý chí của người chỉ huy quan trọng như thế nào! Nhưng mà anh Mạnh lại quá thiệt thòi vì tính anh thẳng thắn quá, cương trực quá!

        Cựu phi công chiến đấu MiG-21 Vũ Đình Rạng nói:

        - Chuyến tôi được đi Quảng Bình, Vĩnh Linh theo ông Mạnh dùng máy TZK quan sát đội hình của B-52 đánh ở đèo Mụ Giạ để nghiên cứu cách hoạt động của B-52, để tìm cách đánh B-52 mới biết ông còn là người rất tỉ mỉ, chu đáo vì sau xe của ông có đủ cả xoong, nồi... hệt như chuyến xe của bộ phận hậu cần vậy. Trên đường về, vào lúc chiều xuống, khi đến vùng cửa sông thì ông Mạnh hô: “Nóng quá! Xuống tắm tí chút đi tụi bây!” Nói xong là ông cởi quần áo, “ùm” xuống luôn. Bấy giờ lại có chuyến cá về, ông hô anh em xúm vào kéo lưới hộ dân. Mẻ lưới ấy nhiều cá lắm, toàn loại cá bé tí hình như là cá trích hay sao ấy. Các ngư dân thấy chúng tôi kéo lưới hộ thì bảo: “Các chú lấy cá về mà ăn! Lấy bao nhiêu cũng được!”, nhưng mà chúng tôi có lấy bao nhiêu đâu. ông Mạnh bảo đem cái xoong ra xúc lấy một xoong thôi rồi chúng tôi lên đường. Đến chỗ nghỉ nấu cơm, đem cá nấu lên thì đúng là cá ngon thật đấy! Càng nghĩ càng thấy ông Mạnh là người chu đáo trong mọi hoàn cảnh mà sống thật gần gũi, tình cảm vối mọi người...

        Anh Nguyễn Hữu Khoán - nguyên Trưởng tiểu ban Quân lực của Trung đoàn Không quân Sao Đỏ thì nói với tôi:

        - Ông Trần Mạnh có cái thú mê săn bắn. Lần tôi được nghỉ an dưỡng ở Đầm Vạc - Vĩnh Phú, ông rủ tôi đi săn. Ông dẫn tôi đi từ sáng tới chiều mới về, bỏ cả cơm trưa. Khi về đến nhà thì mệt mỏi rã rời nhưng mà vui lắm! Đúng là đi săn có sự đam mê riêng thật!

        Lần nào tôi gặp anh Từ Đễ - cựu phi công MiG- 17 trong “Phi đội quyết thắng", anh cũng đều tâm sự với tôi:

        - “Cụ” là một vị tướng tài, là một “Chính ủy phi công”. “Cụ” không bao giờ cáu gắt, rất tâm lý, cứ như đọc hết được ý nghĩ của từng người vậy...

        Tôi công nhận. Tôi chưa hề thấy ông Trần Mạnh quát tháo bao giờ. Mọi chuyện ông đều xử lý nhẹ nhàng, minh bạch, kể cả khen kể cả chê cũng rất rõ ràng. Tôi từng được ông cho “ăn” một cái “xê- xê” (CC - kỷ luật cảnh cáo) nói theo ngôn ngữ của thời ấy khi Trung đoàn Không quân của tôi bị tai nạn cấp 1 bay (mất cả máy bay lẫn phi công). Hồi đó, các cán bộ Trung đoàn hầu như ai cũng bị 1 "xê- xê”. Có anh còn bị đến mấy lần. Khi họp Quân chính ở Sư đoàn, mấy anh em tôi hay ngồi cùng nhau và cùng tâm sự:

                              Làm Trung đoàn trưởng nghĩ cũng ghê
                              Lơ mơ là “ăn” cái “xê-xê”!


        Tôi như được một roi vụt vào đít, tỉnh ngộ ra rất nhiều điều. Tờ giấy ông ký kỷ luật tôi, tôi vẫn còn giữ tới tận bây giờ. Nó được in rô-nê-ô trên giấy pơ-luya mỏng manh nhưng nó giống như lưỡi gươm luôn lơ lửng trên đầu tôi, bắt tôi phải thận trọng trong từng chuyến bay, trong từng ban bay, từ việc lập kế hoạch trở đi...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 12:31:20 AM

        Tôi rất cám ơn ông về điều đó. Sau này, khi tôi lên cán bộ Sư đoàn phụ trách công tác huấn luyện, tôi đã tổ chức được cuộc chuyển sân (có lẽ là duy nhất thời đó và hình như cả bây giờ) cho các Trung đoàn của Sư đoàn cơ động đến các sân bay căn cứ của nhau đầy đủ trong vòng một ngày: Cùng lúc khi Trung đoàn ở Đa Phúc cất cánh lên Kép thì Trung đoàn ở Kép cất cánh lên Yên Bái và Yên Bái thì cất cánh về Đa Phúc. Sau khi tra nạp dầu liệu xong thì đồng loạt cất cánh tiếp, theo vòng xoay: Trung đoàn từ Đa Phúc lên Kép thì cất cánh đi Yên bái, Trung đoàn ở Kép lên Yên Bái thì cất cánh về Đa Phúc, Trung đoàn của Yên Bái về Đa Phúc thì cất cánh đi Kép. Rồi hạ cánh xong lại tra nạp dầu liệu và lại cất cánh, lần này thì nơi nào về đúng căn cứ nơi ấy: Trung đoàn căn cứ ở Kép hiện đang ở Đa Phúc thì cất cánh về Kép, Trung đoàn căn cứ ở Yên Bái hiện đang cơ động đến Kép thì cất cánh về Yên Bái và Trung đoàn căn cứ ở Đa Phúc hiện vừa hạ cánh ở Yên Bái xong thì cất cánh về Đa Phúc.

        Sau chuyến chuyển sân trong vòng một ngày ấy, các phi công của các Trung đoàn phấn chấn hẳn. Ngoài việc đến được các căn cứ chính của bạn, được tiếp đón nồng nhiệt, chân tình thì trình độ bay qua lần chuyển sân này nâng lên hẳn một bậc, “chắc tay lái” hơn hẳn. Giả dụ, sau này lỡ có việc gì phải chuyển đi các sân bay dự bị thì cũng yên tâm hơn nhiều.

        Tôi cũng là người “cưỡi” trên máy bay chiến đấu, bay đến các Trung đoàn, rồi lên máy bay huấn luyện UMiG (hai buồng lái) bay phê chuẩn các giáo viên bay cho các Trung đoàn theo các khoa mục bay nhào lộn biên đội với động tác kỹ thuật cao cấp, nhào lộn với các động tác kỹ thuật phức tạp ở độ cao thấp, phê chuẩn các giáo viên không chiến...

        Tất cả các chuyến bay ấy đều đảm bảo an toàn tuyệt đối, chính là nhờ cái “xê-xê” của ông từng dành cho tôi. Nó luôn như một lời nhắc nhở, lời cảnh tỉnh trong mọi hành động bay của tôi.

        Một lần nữa xin được kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của ông.

        Gần đây, tôi lại có cơ hội vào Thành phố Hồ Chí Minh, đi cùng anh Từ Đễ đến thăm anh Lê Hải và lại nghe anh ấy giục:

        - Thế nào, thằng em? Viết cho bác Trần Mạnh đến đâu rồi?

        - Em đang viết! Vừa viết vừa tìm thêm tư liệu, anh ạ!

        - Ừ, thế là được rồi! Nhưng phải nhanh lên. Mà này, anh kể cho em nghe chuyện này nhé! Lần đầu tiên anh kể đấy! Có thể nó sẽ giúp thêm em đấy!

        - Anh kể luôn đi! - Tôi háo hức.

        - Uống nước đi đã, em!

        Vẫn bằng cái giọng sôi nổi, hào hứng khi nhắc đến chuyện bay bò, anh kể:

        - Trước khi biên đội của anh Lê Xuân Dị, Nguyễn Văn Bảy B đánh tàu chiến Mỹ một thời gian khá dài thì bác Mạnh đã giao nhiệm vụ cho biên đội 4 chiếc gồm Phan Văn Na, Lê Hải, Lưu

        Huy Chao, Hoàng Văn Kỷ với nhiệm vụ đánh bom cảm tử vào tàu sân bay Mỹ. Em biết không, hồi ấy phương án là MiG-17 đeo một thùng dầu phụ và một quả bom phá 250kg, bay sát mặt nước, tính toán đến thẳng tàu sân bay và...

        - Như đội quân “Thần Phong” của Nhật! - Anh Từ Đễ ngồi cạnh tôi nói chen vào.

        - Đúng như vậy! Nhưng phải bay huấn luyện đã. Bọn anh lợi dụng mùa nước lớn của sông Hồng và nhằm những ngày gió to to để bay trên mặt sông, lấy cảm giác về bay biển, sóng biển. Anh Đào Công Xưởng là giáo viên bay kiểm tra và bác Trần Mạnh trực tiếp chỉ đạo chuyện này. Nhiệm vụ rất bí mật, chỉ có mấy người biết mà thôi. Mấy tháng sau, khi có chuyên gia Cu Ba sang giúp ta huấn luyện kỹ thuật bay biển và kỹ thuật ném bom thia lia thì một loạt phi công MiG-17 đã tiến hành bay biển và nắm vững kỹ thuật ném bom thia lia. Rồi bác Mạnh tìm sân bay dã chiến, chọn sân bay Gát... và biên đội Lê Xuân Dị, Nguyễn Văn Bảy B đã lập nên chiến công lịch sử - đánh tàu chiến Mỹ! Bác Mạnh là người không trực tiếp chiến đấu thế mà mọi suy nghĩ của bác giông hệt như phi công đang trực tiếp chiến đấu, nhưng với mức độ cao hơn nhiều. Bác luôn sáng tạo trong mọi nếp nghĩ. Đấy chính là hòn đá tảng của chiến thuật Không quân. Đó là tư tưởng luôn phải chủ động tấn công. Bác Mạnh cũng là người đào tạo ra các thế hệ chỉ huy đầy sáng tạo. Bác Mạnh thường nói với anh là: “Khỏe thì hay dùng sức, yếu thì phải dùng mưu!” Đúng thế thật! Không quân ta so với Không quân Mỹ thì không thể so sánh được vì xuất phát điểm của ta quá thấp, như ta chiến thắng được chúng vì ta dùng mưu mẹo, dùng trí tuệ của Việt Nam, cách đánh của Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 12:33:40 AM

        Mà thêm chuyện này nữa anh kể cho em nghe: Khi anh mắc phải cái chuyện “lùng nhùng” là tự động giải quyết đi nghỉ phép ấy, người ta định đè anh ra để kỷ luật, thì chính bác Mạnh đặt câu hỏi: “Có ai biết người phi công cảm tử, đã từng đeo bom trên máy bay, chuẩn bị sẵn sàng lao thẳng vào tàu sân bay của địch là người nào không? Đây, chính là người phi công này đây!” - Vừa nói, bác Mạnh vừa lấy tay chỉ vào anh. Rồi sau đó không thấy ai kỷ luật anh nữa. Bác Mạnh là người cứu anh trong cú ấy. Anh nhó mãi câu nói của bác khi anh với bác ấy đi dọc khu Long Bình: “Hồng nhan bạc phận. Anh hùng thì lận đận” mày ơi!

        Anh Từ Đễ tiếp lời:

        - Khi ta đánh Phan Rang, bắt sống Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân Việt Nam Cộng hòa thì ta đưa Phạm Ngọc Sang ra Đà Nẵng hỏi cung. Lần “cụ” Trần Mạnh hỏi cung tướng Sang ngày 23 tháng 4, tôi có được “cụ” cho phép dự. Tôi mang theo tấm bản đồ địa hình và sân bay Tân Sơn Nhất đút vào cái kẹp bay kẹp đùi, cầm trong tay. Thấy tôi cầm kẹp đùi bay và đeo khẩu súng ngắn K-59 bên hông, đứng chắn ngay sau “cụ” như một chiến sĩ bảo vệ thì Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang có vẻ đã đoán ra đang giáp mặt những người cùng nghề. Sau khi nghe cán bộ quân báo giới thiệu “cụ” Trần Mạnh thì Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang đứng bật ngay dậy, cúi chào lễ phép: “Thưa tướng quân! Tôi được nghe về ông từ lâu, bây giờ mới được gặp. Xin ông cho phép tôi được kính chào vị Tướng số một của Không quân miền Bắc!” Bấy giờ “cụ” mới cấp bậc Thượng tá. Các anh biết “cụ” nói thế nào không? “Cụ” Trần Mạnh vẫy tay, nói bằng một câu tiếng Pháp, cho phép ngồi, đưa mắt cho tôi lấy bản đồ ra trải lên bàn và chậm rãi: “Tôi không phải số một! Cậu Pilot này mới là đại diện cho các số một của tôi!” Chuẩn tướng Sang bối rối: ‘Tôi không có ý đó! Tôi chỉ là phi công cánh quạt! Tôi kính nể các ông lái phi cơ MiG-21 siêu thanh dám đương đầu với Không quân và đặc biệt là mấy ông Hải quân Hoa Kỳ. Họ vốn là cơn ác mộng với các phi công trên thế giới này, mà cuối cùng cũng phải cúi đầu không dám tiếp tục chống mấy ông!” “Cụ” Trần Mạnh vẫn giọng chậm rãi: “Thôi, đủ rồi! Bây giờ tôi hỏi anh đây: Tình hình Sài Gòn thế nào, Tân Sơn Nhất ra sao? Chỗ nào là chỗ yếu nhất, quan trọng nhất? Nếu đánh sân bay Tân Sơn Nhất thì nên đánh vào đâu?’ Qua cách trả lòi của Chuẩn tướng Sang, “cụ” đã xác định chính xác thêm những quyết định của mình từ trước đó là phải đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất vì đấy là bộ mặt, là niềm kiêu hãnh của Không quân Sài Gòn, là nơi tập trung máy bay nhiều nhất, là cầu Hàng không duy nhất cho cuộc di tản vội vã. Sau khi đánh vào đó, ta sẽ tiêu diệt được phần lớn máy bay của Không quân Sài Gòn đang tập trung ở đó, ta sẽ làm chủ bầu trời, sẽ tạo ra sự hoảng loạn cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, đánh sập biểu tượng của Không quân Sài Gòn. “Cụ” xác định ngay cách đánh là phải đánh vào sân đỗ phía quân sự, nơi các máy bay quân sự đang đỗ dày đặc ở đó, phải đánh từ cửa ngõ đánh vào để bít lối không cho chúng chạy đỉ đâu được...

        Khi ra khỏi phòng thẩm vấn, “cụ” giao nhiệm vụ ngay cho tôi: “Họ nghiên cứu đối phương kỹ lưỡng cho đến từng sĩ quan chỉ huy Không quân đấy. Tớ mới đọc những tư liệu về tay này ngày hôm qua. Thế là rõ rồi. Cậu về cùng vối cậu Lục chuẩn bị đánh như tớ đã bảo!”

        “Cụ” là người kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết của vũ khí Liên Xô với cách đánh thực tiễn trên chiến trường Việt Nam. “Cụ” là người đưa ra cách đánh hạm tàu, tàu chiến, đưa ra cách đánh cho MiG-17, MiG-21, đặc biệt là đánh B-52 và đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Hầu như mọi chiến thắng đều gắn vói “cụ”. “Cụ” là kiến trúc sư tất cả các thắng lợi của Không quân: Từ sử dụng MiG-21 hiệu quả đến mức MiG-21 được coi là súng AK-47 trên không, rồi bắn rơi B-52, đánh tàu chiến Mỹ, chỉ đạo đánh Tân Sơn Nhất, rồi lại là người đặt nền móng xây dựng ngành Hàng không dân dụng...

        Tôi nhớ nhất và kỷ niệm sâu sắc nhất với “cụ” là vào ngày 21 tháng 4 năm 1975 khi tôi vừa mới xuống máy bay trên sân bay Đà Nẵng, đến gặp “cụ” thì “cụ” xòe bàn tay, giơ 5 ngón tay ra và nói: ‘Tớ cho cậu đúng 5 ngày! Không hỏi lại lôi thôi! Đánh Tân Sơn Nhất! Xe kia đi ra chỗ lắp ráp máy bay!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 02:25:58 PM

        "Đi 5 ngày" đấy không phải là 5 ngày được nghỉ để về thăm nhà đâu mà là 5 ngày để nghiên cứu, chuẩn bị làm chủ loại máy bay chiến lợi phẩm A- 37. Lúc đó tôi nghĩ: “Máy bay đâu? Ai sẽ huấn luyện chuyển loại cho bọn tôi? Rồi bản đồ bay đâu? Nhiều thứ lắm chứ!” Nhưng một khi “cụ” đã nói thế thì chắc là mọi chuyện sẽ ổn. Vậy là tôi phải bắt tay ngay vào công việc. Ngày thứ nhất là ngày 21 tháng 4, tôi cặm cụi đọc và nghiên cứu tài liệu. Ngày thứ hai là ngày 22 tháng 4 thì mở máy, tập lăn trên đường lăn, tập cất cánh thử. Sang ngày 24 tháng 4 thì bay thử chuyến đầu tiên. Đến ngày 25 tháng 4 thì Đại tướng Văn Tiến Dũng vào sở chỉ huy ở Tà Thiết, giao nhiệm vụ cho Quân chủng và rồi thì ngày 28 tháng 4, như mọi người biết đấy... Riêng việc làm công tác tư tưởng trước trận đánh một cách nhạy bén, sắc sảo như thế nào thì qua chuyện chiếc đồng hồ tôi đã kể rồi...

        “Cụ” là người rất tôn trọng người đang nói chuyện với mình, hầu như “cụ” đều chăm chú lắng nghe, không bao giò ngắt lời với những suy nghĩ rất sâu sắc. Mà “cụ” là người thường xuyên đỉ tiên phong, xông xáo, gần như “cụ” đều có mặt ở tất cả các Sở chỉ huy tiền phương. Tính khiêm tốn của “cụ” thì ai cũng phải học hỏi. Chẳng bao giờ “cụ” nhận công lao về mình cả mặc dù ai cũng biết đấy chính là của “cụ”. Khi ta tổng tấn công, “cụ” đã ngồi sẵn ở Sở chỉ huy tiền phương, chỉ chờ đánh Phan Rang xong là ‘lên dây cót” thôi.

        Đại tá Trần Thanh, người từng ở “Đoàn Hồ Nam”, sau này từng là Phó Cục trưởng Cục Hậu cần Không quân kể với tôi sau khi giục tôi uống nước nấu bằng cây “diệp hạ châu”:

        - Ông Mạnh đúng là người tuyệt vời! Tôi vẫn nhớ như in ngày 19 tháng 3, ta giải phóng Đà Nẵng thì ngày 1 tháng 4 có 3 chiếc máy bay bay vào Đà Nắng: chiếc Il-18 chở một Tiểu đoàn tên lửa vác vai A-72, chiếc Mi-6 chở hơn 20 người của Bộ Nội vụ, chiếc Iak-40 chở người của Cục Hậu cần. Tôi đi theo đoàn của Cục Hậu cần vào thì đã thấy ông Mạnh ỏ Đà Nẵng rồi. Không biết ông vào tự bao giò. Ông giao nhiệm vụ cho tôi phải đi khảo sát các huyện xung quanh để nắm tình hình xem chúng (lực lượng của Việt Nam Cộng hòa) có còn cơ hội đánh lại hay không và mình phải có phương án chuẩn bị giáng trả... Ông là người sống rất tình nghĩa, tính tình thật điềm đạm, chan hòa...

        - Ông không tỏ ra chút ngại ngần gì cả. Thấy ở đâu đông đông là ông sà đến. Khi chúng tôi thấy ông đến, chính chúng tôi lại ngại thì ông cười bảo: ‘Thi công với kỹ thuật là một chứ có cái gì mà ngại!” Đúng là ông sống chân tình, sâu sắc thật đấy! - Ông Nguyễn Giao, người cùng nhập ngũ, cùng đoàn đi học kỹ thuật với ông Thanh, ngồi cạnh ông Thanh lên tiếng.

        Lần tôi đến gặp anh Trần Đức Tụ - một trong những sĩ quan dẫn đường kỳ cựu của Quân chủng Phòng không - Không quân thì được nghe anh tâm sự:

        - Năm 1966, khi học xong thì 6 anh em chúng tôi gồm tôi, anh Tạ Quốc Hưng, anh Lưu Lộc, anh Hoàng Minh Nam, anh Thủy, anh Thiện về với Quân chủng. Anh Lộc và anh Nam được phân công trực ngoài K-5, anh Thủy và anh Thiện thì trực ở trạm ra-đa, tôi và anh Hưng thì trực trong sở chỉ huy. Trận tôi dẫn đánh đầu tiên và dẫn đánh cuối cùng đều trực với bác Mạnh cả. Trận đầu tiên tôi dẫn chính là trận ngày 23 tháng 8. Ngày ấy tôi trực phụ cho anh Thành, nhưng anh Thành báo cáo với bác Mạnh là hãy cho phép tôi dẫn chính, bác Mạnh nhìn tôi và gật đầu. Vậy là tôi chính thức được dẫn chính. Không biết lần đầu tiên anh xuất kích đi đánh nhau như thế nào chứ lần đầu tiên tôi cầm ống nói dẫn chính, tôi run lắm, cứ phải bám chắc vào bàn. Bác Mạnh tinh ý lắm, bác thấy vậy thì ghé tai tôi nói nhỏ: “Cứ chủ động mà dẫn!” Bấy giờ tôi bình tĩnh hẳn lại và dẫn đâu ra đấy. Trận ấy, biên đội của hai anh Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Văn Cốc đã bắn rơi 3 máy bay địch. Phải nói, bác Mạnh nắm tâm lý cấp dưới giỏi thật. Đến gần tối thì tôi được cho gọi đi rút kinh nghiệm trận đánh ở Quân chủng. Tôi bấy giờ mói là Thượng sĩ, bác Mạnh đã là Trung tá rồi. Trong thời gian đợi máy bay trực thăng đến, bác Mạnh đem suất cơm của bác ra chia làm 3 phần, bác với Chính ủy Chu Duy Kính thì ăn bát nhỏ, còn chia suất vào bát to thì bác Mạnh nói: “Cậu này trẻ để cậu ấy ăn bát to!” Một cử chỉ, một câu nói với thái độ ân cần của người chỉ huy đối vối “lính tráng” như tôi làm tôi cảm động mãi. Rất ít khi có được tình cảm “cán, binh” như thế! Còn trận cuối là trận đêm 28 tháng 12 khi tôi dẫn cho anh Vũ Xuân Thiều. Hôm đó, bác Mạnh trực ở sở chỉ huy B-l Thọ Xuân. Tôi với nhiệm vụ dẫn bổ trợ, nhưng khi ta cách địch 50 km, sở chỉ huy dẫn chính bị nhiễu, dẫn khó khăn còn chỗ tôi thì lại thấy rất rõ. Bác Mạnh bảo: “Ta dẫn đi!” Vậy là tôi dẫn cho tới lúc anh Thiều phát hiện được mục tiêu và sau đó thế nào thì anh biết rồi đấy. Được trực với bác Mạnh, tôi rất yên tâm vì bác rất quyết đoán. Sau khi đánh giá tình hình, phán đoán nên đánh tốp nào là ông quyết ngay, không do dự. Tôi từng trực với một vài thủ trưởng khác, sợ lắm vì đang cho đánh tốp này lại bảo thôi, quay sang đánh tốp khác... Vậy thì dẫn đường làm sao mà tính cho kịp? Bác Mạnh thì dứt khoát lắm, tính tình lại điềm tĩnh nữa nên được trực với bác ấy là yên tâm lắm. Bác là người có công lớn trong việc tìm ra cách đánh hiệu quả cho MiG-21 đấy!


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 02:28:23 PM

        - Vậy tôi nghe bác Mạnh còn có trò tắm khô trong Sở chỉ huy thì là thế nào?

        - À, là ở trong các sở chỉ huy tiền phương, sỏ chỉ huy dã chiến ấy. Anh tính ở khu Bốn nóng thế nào thì anh biết rồi đấy, vào sở chỉ huy có khác gì vào nhà tắm hơi đâu. Chỉ mặc áo may ô thôi, mà có lúc phải cởi trần cơ. Bác Mạnh thì vừa theo dõi trên bàn tiêu đồ, xem xét các đường bay của địch, đánh giá để quyết định xem ta xuất kích vào lúc nào, đánh tốp nào... tay thì vừa xoa xoa ở cổ rồi ở ngực, ở sườn... để tẩy ghét ra. Chúng tôi gọi “tắm khô” là thế đấy!

        - Các cấp chỉ huy của bọn Mỹ thì ngồi trong nhà có máy lạnh để điều hành, còn các chỉ huy của ta thì thế!

        - Ừ, thế Mỹ nó mới không hiểu được mình, nó mới thua mình! Nó mà lại kham khổ như mình thì chắc nó chẳng đánh nhau làm quái gì!

        - Chắc thế thật!

        Ngoài thành phần dẫn đường thì quân báo cũng là một trong những nhân tố quan trọng ở sở chỉ huy. Tôi lần tìm đến nhà anh Lại Văn Hiện - một trong những sĩ quan kỳ cựu của ngành Quân báo vào đúng ngày mưa tầm tã. Hai anh em ngồi hàn huyên và tôi hỏi anh về ông Trần Mạnh. Sau khi “bắn” một điếu thuốc lào, anh Lại Văn Hiện chậm rãi nói:

        - Tớ trực trong sở chỉ huy với ông Mạnh không được nhiều, nhưng tớ rất quý phục ông ấy về phong cách quyết đoán, ông rất tôn trọng đội ngũ cấp dưới, tôn trọng các trợ lý, chăm chú lắng nghe những đề xuất của họ, chấp nhận những điều hợp lý và phán đoán rồi đưa ra quyết định. Ông là người ít nói nhưng nói rất chắc chắn, chắc “như dinh đóng cột”. Đặc biệt ở ông là vấn đề nghiên cứu các trận đánh. Trận đánh nào ông cũng nghiên cứu rất tỉ mỉ, trận đánh thắng cũng vậy mà trận đánh không thắng thì ông càng nghiền ngẫm, suy đi tính lại, rồi lại trao đổi với các thành phần để tìm ra cách hóa giải những vấn đề gay cấn. Ông cũng là người rất quần chúng, không câu nệ mình là chỉ huy còn anh em là chiến sĩ. Ông sống thực sự chan hòa. Những khi di săn, có “chiến lợi phẩm” mang về là ông cùng ngồi đánh chén với tất cả anh em, cùng đùa vui với anh em. Tớ quý phục ông ấy lắm!

        - Anh có lần nào cùng đi với ông Mạnh vào trong khu Bốn nghiên cứu về B-52 không?

        - Tớ đi theo tốp khác để nghiên cứu, nắm quy luật hoạt động của thằng B-52 chứ chưa lần nào đi cùng ông Mạnh cả. Ông ấy thực sự là người giỏi, người có tài!

        Sau khi “bắn” tiếp một điếu thuốc lào nữa, ngửa mặt lên trần nhà, từ từ nhả khói thì anh lại chậm rãi:

        - Mà thật tiếc cho ông Mạnh! Tớ cứ tưởng đợt vừa rồi thế nào ông Mạnh cũng được phong Anh hùng cùng với ông Đào Đình Luyện, ông Lê Văn Tri cơ, vậy mà không thấy... Liệu những đợt tới, Nhà nước có phong tặng, à, truy tặng cho ông ấy danh hiệu Anh hùng không?

        - Công lao của ông ấy chắc sẽ được đánh giá đúng mức, đúng không anh?

        - Đúng như thế, cậu ạ! ông ấy hoàn toàn xứng đáng vói danh hiệu cao quý ấy!

        Anh Nguyễn Văn Quang - cựu phi công MiG- 21, nguyên Chánh văn phòng Quân chủng Phòng không - Không quân của nhiều đời Tư lệnh thì kể cho tôi nghe những điều tâm huyết:

        - Vào cuối tháng 4 năm 1968, khi “Đoàn bay MiG-21 khóa 3” tốt nghiệp về nước, về Trung đoàn Không quân Sao Đỏ thì Trung đoàn trưởng Trần Mạnh đến gặp. Ấn tượng đầu tiên của tôi là Trung đoàn trưởng không có dáng vẻ gì là phi công cả, người không to cao mà mồm lại “móm mém”, nhưng khi tiếp xúc làm việc với ông, càng ngày tôi càng thấy ông là người tài năng với những tư duy đi trước thời đại. ông còn là người rất cảm thông vối cấp dưới. Trong thời gian chiến tranh, khi tôi trực ở B5 (biệt danh của sân bay Đồng Hới) thì ông trực ở Sở chỉ huy tiền phương B8 (Lệ Thủy), trên đường ông vào B8, ông có ghé qua chỗ tôi trực. Ông hỏi tôi: “Cậu vào đây lâu chưa? Có hay nhận được thư nhà không? Tình hình ở nhà ra sao?’ Tôi trả lời: “Báo cáo thủ trưởng! Tôi vào đây trực cũng lâu rồi, thi thoảng có viết thư về nhà và lâu lâu tôi mới nhận được thư nhà. Nhà tôi chỉ có hai mẹ con thôi nên tôi chắc mẹ tôi vẫn bình thường ạ!” Ông nói: “Nhà chỉ có một mẹ một con thì lại càng cần phải thường xuyên viết thư về, cậu ạ!” Đấy, chỉ qua việc cỏn con thế thôi mà tôi cảm nhận được ngay là ngoài những công việc bộn bề của người chỉ huy nơi “đầu sóng ngọn gió”, ông vẫn quan tâm đến đòi sống của cấp dưới như thế, tôi cảm động lắm. Rồi tôi lại có “duyên” là cấp dưới của ông, được công tác cùng ông một thời gian dài. Năm 1978, ông cùng sinh hoạt Chi bộ Quân huấn với chúng tôi. Ông hay qua chỗ chúng tôi và hay đặt những câu hỏi cho chúng tôi suy nghĩ sao cho đảm bảo bay vững chắc, an toàn.


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 02:30:11 PM

        Ví như, ông hỏi: “Liệu các nhà sản xuất máy bay có sản xuất các phương tiện kiểm tra khách quan hiện đại hơn loại SARPP-12 hay không?” (Loại SARPP- 12 là loại máy kiểm tra khách quan ghi lại 12 tham số khác nhau trong chuyến bay. Nó chính là loại “Hộp đen” mà ta vẫn gọi về sau này). Rồi khi thấy chúng tôi đang kẻ các bảng biểu theo dõi tiến độ bay của các Trung đoàn bay, các phi công thì ông hỏi ngay: “Thứ đó giúp những gì cho người chỉ huy?”... Thế đấy! Tư duy của ông bao giờ cũng đi trước mọi thứ một bước. Ông là người chỉ đạo có tầm vĩ mô nhưng không quên những vấn đề nhỏ nhặt, đặc biệt là hiệu quả của công việc. Càng ỏ gần ông nhiều thì tôi càng kính trọng ông...

        Lần tôi ngồi tâm sự với anh Nguyễn Tam Khoa - nguyên quyền Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, khi nhắc tới ông Trần Mạnh, anh Tam Khoa nói:

        - Bác Mạnh là người rất mạnh dạn trong việc chuyển đổi nhận thức, trong công tác cán bộ cũng vậy. Bác là người đưa ra ý kiến và tổ chức thực hiện việc đặt cán bộ trẻ có chuyên môn nghiệp vụ vào đúng vị trí để thay thế cho một số cán bộ già không có chuyên môn. Có lẽ việc ấy cũng gây ra những phản ứng tiêu cực ngay trong nội bộ. Những cán bộ bị thay thế đương nhiên là không ủng hộ chủ trương này rồi mặc dù đấy là chủ trương đúng. Nhiều việc khác nữa, bác Mạnh đưa ra thực hiện đến bây giờ xét lại thì đều thấy đúng cả nhưng vào thời điểm đó, có lẽ hơi sớm, hơi vội nên sự ủng hộ bác không nhiều, kể cả cấp trên...

        Còn anh Nguyễn Công Kính - nguyên Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ, cùng với Vụ của anh Nguyễn Tam Khoa, cho biết:

        - Ý định tách Hàng không ra khỏi Bộ Quốc phòng, tách dịch vụ riêng, sân bay riêng... giống như bây giờ của bác Trần Mạnh đã làm cho một số người phản ứng ghê lắm. Họ cho là bác có tư tưởng trở thành một “sứ quân”, muốn một mình một lĩnh vực riêng, một khoảng trời riêng, không để ai quản lý. Có lẽ đấy là việc bác bị định kiến nhất. Rồi đến việc bác có chủ trương hội nhập là phải “đi bằng hai chân” tức là quan hệ với cả xã hội chủ nghĩa lẫn tư bản chủ nghĩa cũng lại gây ra những tranh cãi. Chuyện đào tạo, thay đổi vị trí cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ vào đúng các vị trí cần thiết cũng tạo ra những mâu thuẫn, phản ứng trong bản thân nội bộ ngành... nhưng bác Mạnh là người dám làm dám chịu trách nhiệm, kiên quyết bảo vệ cái đúng. Có điều, những bước đi ấy chưa phù hợp với thời điểm nên người ta không hiểu bác và đánh giá bác không đúng. Vậy bác mới vất vả...

        Anh Bùi Đăng Hiệp - Chánh văn phòng Công đoàn Cục Hàng không nói:

        - Tôi không được hiểu nhiều về bác Trần Mạnh, nhưng chỉ biết rằng bác là người tốt. Rất tốt!

        Anh Lê Văn Hằng - một phi công từng bay trên nhiều loại máy bay cả quân sự lẫn dân sự, từng giữ chức Đoàn phó Đoàn bay 919 thì nói:

        - Ông Mạnh muôn tìm hiểu, muốn nắm rất chắc tính năng tất cả các loại máy bay mà Quân chủng có. Tôi nhớ, đã có lần ông hỏi tôi rất chi tiết về loại máy bay L-29 và còn có ý định bay trên loại máy bay ấy nữa. Người chỉ huy muốn biết hết các máy bay, muốn bay được trên tất cả các loại máy bay mà mình có thì đúng là hiếm có thật!

        Trong một buổi gặp với anh Đỗ Văn Vòng - nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hàng không Việt Nam, khi nhắc đến ông Trần Mạnh thì anh Vòng có kể với tôi:

        - Ông Trần Mạnh là người luôn trăn trở về tiềm năng của ngành Hàng không và suy nghĩ tìm cách hội nhập với Hàng không thế giới. Ông là người có tư duy nhạy bén, đi trước mọi người. Từ năm 1980, ông đã ra quyết định QĐ/373 rồi...

        - Quyết định 373 ấy nói về vấn đề gì vậy? - Tôi hỏi.

        - Đấy là về “Kế hoạch Tam phần” với nội dung: Một phần thực hiện theo kế hoạch Nhà nước giao, một phần theo kế hoạch của Tổng cục giao, một phần tự sản xuất để nuôi nhau. Hồi ấy bay bò còn ít, có sân bay cả tuần chi bay có một chuyến nên thời gian rảnh rỗi rất nhiều. Nếu không tận dụng thòi gian ấy để sản xuất, để tăng thêm, tạo thêm các cơ sở vật chất cho đơn vị thì vô cùng lãng phí. Vậy là quy hoạch theo từng miền, từng vùng cho phù hợp với đặc thù của mình, phát huy được sức mạnh của từng vùng miền ấy, ví dụ như sân bay Rạch Giá thì cấy lúa, sân bay Plâycu thì nuôi bò, sân bay Buôn Ma Thuột thì trồng cà phê, sân bay Phú Quốc thì trồng tiêu và làm nước mắm... Các đơn vị hoạt động sôi nổi lắm. Ông Trần Mạnh là người có tư duy về kinh tê nhưng khổ nỗi không gặp thời... Về tính cách của ông thì ông sống rất giản dị, hòa đồng. Ông hay đến bộ phận làm báo của bọn tôi, nếu muốn ở lại ăn cơm là ông đề nghị chúng tôi nấu cơm cho ông ăn cùng chúng tôi. Mà sở thích của ông chỉ là ăn canh rau cải. Chúng tôi thường đi bắt cá rô về nấu canh rau cải. Thứ canh ấy ông Mạnh thích lắm. Ông là người ít nói, không nói to, không quát tháo nhưng lại là người hùng biện. Khi ông trình bày một vấn đề nào đó thì rất khúc triết, lý luận rất chặt chẽ, đầy sức thuyết phục. Đúng là “con kiến trong lỗ cũng phải bò ra”! Mà ông rất hay gãi đầu. Tôi để ý, những người thường hay gãi đầu là những người thường có tâm trạng bức bối không giải tỏa được. Họ lúc nào cũng phải suy nghĩ, tìm cách giải quyết về một vấn đề nào đó... Ông Trần Mạnh là thế. Ông liêm khiết, đức độ... mà thật tiếc là không gặp thời!...


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 11:28:47 PM
        Anh Trần Văn Khuyên là người chuyển từ Quân chủng Phòng không - Không quân sang Hàng không tương đối sớm. Năm 1989 anh đã sang giữ chức Trưởng phòng Tuyên huấn rồi qua khá nhiều chức vụ, trước khi về hưu, anh là Chủ tịch Công đoàn ngành Hàng không thì tâm sự với tôi:

        - Ông Mạnh là người có tư duy táo bạo, nhưng không được một số vị cấp trên ủng hộ, đặc biệt là trong vụ chuyển Hàng không ra khỏi Bộ Quốc phòng.

        - Tôi thấy ngành Hàng không của các nước trên thế giới cũng có ở trong Bộ Quốc phòng đâu. Bác Mạnh, theo tôi, là người dẫn ngành Hàng không của mình bước những bước đầu tiên vào công cuộc hội nhập... - Tôi nói chen ngang.

        - Cậu nói đúng đấy và cũng nên viết như thế. Ngành Hàng không bao giờ cũng tiếp xúc với thế giới sớm và va chạm với các lĩnh vực khác nhau cũng sớm nên cần phải có người lãnh đạo có tư duy thật nhanh nhạy và thật mạnh dạn, cậu ạ... Bác Mạnh chính là người như vậy. Mà bác sống chan hòa, tình cảm đối xử vối cấp dưới chân tình lắm...

        Anh Nguyễn Quang Minh từng viết về bác Trần Mạnh trong hồi ký:

        Tôi rất ngại gặp cấp trên. Với “các cụ”, lúc nào tôi cũng chỉ xin “kính nhi viễn chi”. Thế nhưng, ông là người có sức hấp dẫn rất lạ đôi với tôi, đứng xa tôi vẫn lặng ngắm ông, nghe ông nói, nghe mọi người phẩm bình ông. Tôi kính phục ông!

        Có lẽ thế đã là đủ!

        Người ta ví ông như con tằm, thương ông như thương thân phận con tằm, cứ lặng lẽ nhả tơ cho đời, lặng lẽ cho “đến lúc chết vẫn nằm trong tơ”, nhưng tôi lại nghĩ, biết đâu, thâm tâm ông lại cho rằng mình cần phải làm cho đời thật nhiều, thật nhiều điều có ích hơn nữa, nếu mình không làm được vậy thì mình sẽ mang nợ với đời. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ tôi từng viết:

Rút tơ, ai bảo tằm đau?
Kén dầy, nhộng trả nợ dâu, nợ đời!

        Và ông đã trả hết nợ, thanh thản ra đi, nhẹ nhàng lướt vào cõi thinh không, lặng lẽ tỏa sáng như “tinh cầu bay trong đêm trăng”...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2013_zpsrnntqt65.jpg)
Nghĩa trang Thủ Đức - nơi yên nghỉ cuối cùng của ông Trần Mạnh

          


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 11:28:59 PM

        THAY CHO LỜI KẾT

        Sau cái Tết âm lịch Nhâm Thân - 1992, ông cảm nhận được những chuyển biến trong bản thân mình. Một lần, ông chậm rãi nói:

        - Năm nay tôi chắc chẳng giúp gì cho vợ con được nữa. Tôi biết rõ sức khỏe trong người của tôi mà!

        - Anh đừng lo! Ai cũng có giai đoạn chuyển biến về sức khỏe nhưng rồi sẽ qua thôi! - Bà Triều Thu nhẹ nhàng trả lòi.

        - Thì là tôi nói vậy! - Ông ôn tồn và ánh mắt cùng với nét mặt của ông bỗng tươi hẳn lên trong niềm hy vọng...

        Nói vậy nhưng chắc không vậy. ông vẫn thấy có gì đó áy náy, không yên lòng, ông vẫn lo lắng cho Hàng không. Ông bỗng trở nên ít nói hơn, ít đi thăm thú hơn, hầu như hay ỏ nhà, thi thoảng có đến chùa, vãng cảnh chùa và trầm ngâm rất lâu trước sân chùa.

        Ông không đi thì vẫn có nhiều tập thể, cơ quan và các cá nhân đến với ông, cần đến ông, cần sự tư vấn, giúp đỡ của ông trong nhiều lĩnh vực và ông cũng giúp họ bằng tất cả sự nhiệt tình cùng tâm huyết của mình. Mọi người cần nhiều ở ông, luôn mong ông khỏe, sông lâu để giúp được nhiều cho đời bởi những kinh nghiệm và trí tuệ của ông là tài sản vô giá...

        Nhưng, chừng như con người vẫn không bao giờ thoát khỏi số phận, định mệnh của mình.

        Ông “ra đi” rất nhanh. Một buổi sáng, ông còn ngồi làm việc với ban lãnh đạo của Pacific Airlines, bàn định những vấn đề gì đó hình như về dự án thành lập Air Sài Gòn, chắc cũng rất quan trọng vì nghe chừng không khí căng thẳng lắm. Ăn trưa xong, ông ngồi tựa lưng vào ghế xem bóng đá cùng cậu con trai Mai Tuấn Tú của mình. Bỗng đầu ông gật sang một bên. Nhìn sắc thái của bố không bình thường, Tú chạy lên tầng gọi mẹ:

        - Mẹ xuống ngay đi, bố con có gì đó bất ổn!

        Bà Triều Thu hối hả chạy xuống thì ông đã không còn nói được câu nào nữa.

        Xe cứu thương của bệnh xá khi ấy đi làm nhiệm vụ chưa kịp về, đành phải lấy chiếc xe 4 chỗ, đặt ông nằm ngang ở hàng ghế phía sau, mở các cánh cửa ra, chạy đến Bệnh viện 175 cấp cứu. Ông hoàn toàn không nhận biết gì, như người đang nằm ngủ rất say. Mấy ngày sau thì ông “đi”.

        Tôi nhớ đến những câu thơ trong bài "Phiêu linh”:

                            Cuộc đời ta sẽ có ngày
                            Ngủ quên, theo giấc mơ bay về trời
                            Chẳng bận bịu đến chuyện đời
                            Mặc dâu bể, mặc khóc cười thế gian
                            Mặc cho thiên hạ luận bàn
                            Mặc trầm luân, mặc giàu sang, nghèo hèn
                            Nhân sinh chìm nổi bao phen
                            Tự mình chuốc vạ bon chen,... tự mình
                            Sống cho trọn nghĩa, vẹn tình
                            Để thanh thản chốn phiêu linh ngày ngày
                            Rồi ta sẽ ngủ mê say
                            Không dậy nữa, giấc mơ bay trắng trời....


        Đúng! Ông đã thật thanh thản ở chốn phiêu linh. Giấc mơ của ông cũng vẫn còn “bay trắng tròi”. Đó là những cánh bay sáng lấp loáng của những cánh “én bạc” của những máy bay chiến đấu: những “MiG”, những “Su” với nhiều chủng loại, đó là những cánh bay của máy bay Hàng không dân dụng với những loại Boeing, Airbus... với tần suất bay ngày càng cao.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20a13a_zps2aeckdzs.jpg)
"Nhà" của cựu phi công tiêm kích - tướng Trần Mạnh
       


Tiêu đề: Re: Người tìm chìa khóa vàng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2016, 11:49:33 PM

        Tôi và Mai Tuấn Anh - con trai ông đến nghĩa trang của Thành phố ở quận Thủ Đức viếng ông. Ông nằm bình lặng giữa những bậc đàn anh, giữa những đồng đội, anh em, nằm gần người từng giới thiệu, kết nạp ông vào Đảng...

        Suốt dọc đường đi, tôi cứ nhớ tới ông Kim Ngọc -    người đột phá trong chuyện “Khoán 10" rồi lại liên tưỏng tới ông - người đột phá trong việc xóa bỏ chuyện bao cấp trong ngành Hàng không để tự hạch toán kinh doanh. Chừng như, tất cả những người mở “đột phá khẩu” bao giờ cũng gặp những trắc trở, những mũi nhọn chĩa vào mình, không chút đồng cảm. Chỉ mãi thật nhiều, thật nhiều thời gian sau đó, tất cả mới hiểu, mới đánh giá đúng mức, mới cảm phục, mới thấy họ là vĩ đại, là dũng cảm thì những con người vĩ đại và dũng cảm ấy đã về với hư vô từ lâu rồi...

        Khi tôi viết những dòng này thì nhận tin ông đã được đưa vào danh sách đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho ông.

        “Thật muộn mằn!” - Tôi nghĩ, nhưng rồi lại nhớ đến câu ngạn ngữ: “Thà muộn còn hơn không!” Công lao của ông dầu sao cũng đã được đánh giá, được nhìn nhận một cách đúng đắn...

        Nơi sâu thẳm ấy chắc ông cũng ngậm cười bằng an...

        Tôi lặng lẽ đứng bên mộ ông, ngắm nhìn những hàng chữ khắc trên bia mộ, đặc biệt là hàng chữ: “Phi công tiêm kích” khắc ngay ngắn, sắc nét, rồi ngắm làn khói nhang lan tỏa cùng mùi hương thơm nhẹ nhàng, thanh khiết với những suy nghĩ mung lung. Từ lâu lắm rồi, ông vẫn nhắc các con ông rằng: “Nay mai nếu bố “ra đi” thì trên bia mộ của bố chi cần khắc dòng chữ “Phi công tiêm kích!” thôi.

        Tôi hiểu, chỉ cần 4 từ ngắn gọn nhưng đấy là danh hiệu thật cao quý mà không phải trên đời này ai cũng có được. Trong đầu tôi văng vẳng câu hát “Ôi phi công danh tiếng muôn đời...” Tôi thấy cay cay nơi khóe mắt... Tôi lẳng lặng ngước lên nhìn trời. Cao xanh ơi! Ở nơi ấy ông thế nào? Một con người luôn bắt mình phải suy nghĩ, luôn có những tư duy di trước, luôn có những bước đột phá... chắc chẳng ngồi yên một chỗ đâu. Mà cũng có thể, ông đang dạo chơi một cách thư thái, nhàn tản... như người xưa vẫn dùng câu “Giá hạc vân du” nơi bồng lai tiên cảnh cũng chưa biết chừng... Ừ, biết thế nào được!...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0a%2012_zpsh0xyzo7k.jpg)
Mai Anh Tuấn bên mộ bố

        Bỗng giọng của Mai Tuấn Anh nhắc khẽ bên tai tôi:

        - Ta về thôi chú?

        - Ừ, ta về thôi! Bô" cháu là một phi công tiêm kích, một người chỉ huy thật tuyệt vời. Cháu hoàn toàn có quyền tự hào về bố cháu! Chú cũng tự hào vì mình từng có một người chỉ huy như vậy! Bố cháu là một vị tướng có TÂM, có TÂM và có TÀI - Tôi trả lời.

        - Vâng ạ! Cháu còn nghĩ, bố cháu là một ngưòi “tiên tri”, dũng cảm, kiên cường và rất nhân hậu...

        - Đúng đấy!...

        Một chiếc máy bay dân hàng đang trên đường tiếp cận xuống hạ cánh trên sân bay Tân Sơn Nhất lướt qua khu ông nằm, cánh lắc lắc như động thái chào hỏi, thăm viếng. Không chỉ riêng chiếc máy bay ấy mà tất cả các chuyến bay đều lướt qua như vậy vì đường bay được ấn định như thế. Mai Tuấn Anh từng kể cho tôi nghe rằng khi nào bay từ Bắc vào, Mai Tuấn Anh cũng đều cố gắng đặt chỗ để làm sao được ngồi cạnh cửa sổ, để được nhìn thấy mộ bố mình khi máy bay xuống hạ cánh, giả dụ như không được như thế thì khi máy bay bay qua khu vực mộ của ông, Mai Tuấn Anh vẫn cảm nhận được và chắc chắn là chính xác...

        Ông không bao giờ lẻ loi...

        Chúng tôi chậm rãi bước lên xe...

        Nắng tỏa thật dịu dàng. Gió mơn man vuốt nhẹ các tán lá cây và muôn vàn chiếc lá tựa như những bàn tay bé tí xíu đang vẫy vẫy...

        Bầu tròi rộng mông mênh, xanh thẳm, không một gợn mây trông hệt như viên ngọc bích khổng lồ...

HẾT