Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 09:45:24 pm



Tiêu đề: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 09:45:24 pm
 
        - Tên sách: Chiến mã trên không
        - Tác giả: Nguyễn Công Huy
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Văn học
        - Số hóa: Giangtvx

        - Thông tin thêm: Là  một đồng đội của Đỗ Văn Lanh, Nguyễn Công Huy kể lại những năm tháng của người anh hùng trong cuộc đọ sức với không lực Mỹ .

        Nguyễn Công Huy cũng là thành viên trong diễn đàn, có nickname là Phicôngtiêmkích. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trong các topic mà ông thành lập và chủ trì. Có thể trao đổi trực tiếp với tác giả ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=29092.0

(https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23262;image)



Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 08:31:03 am
       
Lời nói đầu

        Với loại máy bay MiG-21, khi đã bị tắt máy ở ở trên không và không còn khả năng mở máy lại được nữa thì phải nhảy dù. Trong “Sổ tay phi công MiG-21” đã có quy định như vậy. Nhưng đã có một trường hợp thật hy hữu là một phi công làm ngược lại cái điều quy định kia, nhất quyết đưa máy bay về hạ cánh. Phi công ấy là Đỗ Văn Lanh - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong một trận không chiến khi đã sử dụng đến giọt dầu cuối cùng, máy bay bị tắt máy, sở chỉ huy lệnh cho anh nhảy dù đến 3 lần nhưng Đỗ Văn Lanh không muốn rời bỏ “con chiến mã” đã từng gắn bó với anh qua bao gian nan, vất vả trong cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam. Anh đã đưa được chiếc máy bay bị tắt máy ấy về hạ cánh an toàn trên sân bay Đa Phúc. Anh đã lập được kỳ tích trong đời bay. Có lẽ, cho đến tận bây giờ vẫn chưa hề có người thứ hai trên thế giới này lập lại chiến công ấy.

        Xin được kể lại với các độc giả về người Phi công Anh hùng này.

        Xin được kể lại với các độc giả về người Phi công Anh hùng này.

        Xin được cám ơn gia đinh, người thân và bạn hữu cùng đồng đội của anh Đỗ Văn Lanh đã cưng cấp cho tôi những tư liệu, những thông tin quý giá và động viên tôi hoàn thành cuốn sách!

        Trong quá trình biên soạn có thể còn có những sai sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và chia sẻ cùng tác giả.

        Trân trọng cám ơn!.


TÁC GIẢ       


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 08:33:38 am
           
1

        Phải nói rằng từ lâu lắm rồi, từ năm nảo năm nào khi mà anh Tạ Quốc Hưng - một trong những người dẫn đường kỳ cựu trong Quân chủng Phòng không Không quân từng rất gắn bó với anh em chúng tôi chuyển nhà xuống phố Tân Mai thì mãi vừa rồi tôi mới đến thăm anh được.

        Anh em tôi gặp nhau, “tay bắt mặt mừng”, ngồi hàn huyên một thôi một hồi thì bỗng anh nói:

        - Mày bây giờ còn khả năng viết được thì hãy viết về “thằng Quất” Lanh đi. Nó đáng để viết lắm!

        - Vâng! Em cũng đã dự định rồi. Có kế hoạch cả rồi, anh ạ. Anh cho em thư thư một chút! - tôi trả lời.

        - Thư thư cái gì nữa? Bắt tay vào mà viết ngay đi! Thời gian nó trôi như chó chạy ấy! Thử ngó lại xem “họ hàng nhà Quất” còn được mấy ai?

        Tôi thần mặt ra. Cái “họ hàng nhà Quất” mà anh vừa nhắc tới gồm có anh Lại Văn Hiện, anh Nguyễn Viết Thân (tục gọi là Thân “xồm”), anh Tạ Quốc Hưng, anh Vũ Trọng Tân (tục gọi là Tân “sì”), anh Đỗ Văn Lanh và tôi.

        Anh Vũ Trọng Tân và anh Lại Văn Hiện đều là sĩ quan Trinh sát - Quân báo của Trung đoàn. Riêng anh Lại Văn Hiện có biệt tài là bắt được tất cả các loại rắn và đã từng cứu sống được nhiều người bị rắn độc cắn nhưng mà bài thuốc quý ấy anh chẳng bày lại cho ai cả.

        Anh Nguyễn Viết Thân là sĩ quan tác chiến của Không quân, nhưng trước đấy anh đã là lính đặc công, đã từng đi tiễu phỉ ở vùng núi phía Bắc.

        Anh Đỗ Văn Lanh đã hy sinh trong một chuyến bay huấn luyện sau chiến tranh ở vùng trời Thái Nguyên. Anh Nguyễn Văn Thân thì cũng đã bị bệnh tật “cướp” đi rồi. Vậy là “họ hàng nhà Quất” còn lại có 4 người. Anh Vũ Trọng Tân bị tai biến đi tai biến lại, đến giờ đi lại đã khó khăn, ăn nói còn khó khăn hơn nữa, suốt ngày chỉ loanh quanh trong phòng mà thôi. Anh Hiện, anh Hưng thì đã vượt cái tuổi “cổ lai hy”, tôi thì cũng chẳng mấy chốc là chạm vào cái ngưỡng ấy. Đúng là phải xúc tiến viết cho sớm một khi còn có thể viết được, không thì muộn mất thật Thời gian thì cứ trôi vù vù. Thế gian thì vội vã, người nào người nấy đều tất bật, hối hả đến nỗi mọi ý nghĩ cũng hối hả, vội vã nốt, nhưng rồi tôi lại thấy rằng sao ta lại cứ lao vào cái guồng quay tít mù ấy mà không chầm chậm lại một chút để còn có thể nhớ được những cái gì đáng nhớ, cần nhớ nhỉ?...

        Cái sự tích về “họ hàng nhà Quất” mà anh Hưng nhắc đến ấy, có xuất xứ của nó. Ấy là khi chúng tôi cơ động, sơ tán về Gia Lâm - về Đa Tốn thì anh Hưng có đem theo một chú cún con để nuôi. Thời đó, Đa Tốn cấm chó triệt để nên có lẽ chú cún này là chú tồn tại duy nhất vào lúc bấy giờ. Chú được chúng tôi đặt tên là “Quất”! Cũng vì cái tính của chú nhắng nhít, gặp ai cũng mừng rỡ, quấn quýt, cái đuôi ngắn cũn cỡn cứ ngoáy loạn xạ cả lên, mấy anh em bảo trông giống như tôi nên gọi tôi là “Quất” luôn thể. Rồi chú lại hay chạy chơi lang thang, mỗi nơi mỗi tí giống như tính cách của Lanh nên Lanh cũng được mang tên “Quất” kèm theo cái tên của mình... Dân dà, cả nhóm gọi nhau là “Quất” hết và từ đó, “họ hàng nhà Quất” ra đời. Khi gặp nhau, chúng tôi toàn gọi nhau là “Quất” thôi. Chúng tôi quen với cái từ ấy rồi nên không sao, nhưng Trung đoàn trưởng thì ngạc nhiên:

        - Các cậu gọi nhau theo cái kiểu gì mà khi nghe đến “Quất ơi” là đến mấy cậu đều thưa cả. Thế là thế nào?

        - Có thế nào đâu ạ! Chúng tôi chỉ đùa nhau rồi thành quen miệng thôi!

        - Lạ nhỉ? - Trung đoàn trưởng vẫn băn khoăn vì nghe chừng lời giải thích ấy không được thuyết phục cho lắm.

        Chuyện tếu táo của mấy anh em chúng tôi là thế. Vậy mà nó tồn tại mãi cho tới tận bây giờ. Nếu không giải thích thì cũng chẳng ai hiểu nổi.

        Tôi cũng muốn nói thêm một chút về cách xưng hô. Chuyện chúng tôi gọi nhau, xưng với nhau bằng những từ “cậu, tớ” hoặc “mày, tao” thì đấy là chuyện rất bình thường, thân mật là đằng khác, nhưng đến khi chuyển sang “anh anh, tôi tôi” thì tình hình đã đến lúc căng thẳng rồi và khi gọi “đồng chí” là bắt đầu nghiêm trọng: phê bình, kiểm điểm hoặc là tẩn nhau đến nơi!... Tôi chẳng thể giải thích được nó là thế nào. Chỉ thấy vậy, biết vậy!

        Nhưng viết về Lanh đâu có phải dễ. Lanh là người có cá tính, khác người khác nhiều lắm: khác từ vẻ diện mạo bên ngoài đến tính cách bên trong, như anh Phạm Tuân nhận xét là “có cá tính ở mọi lĩnh vực”. Lanh lại chẳng để lại những bút tích như các phi công khác. Vào thời đó, cánh phi công chúng tôi có trào lưu viết nhật ký. Trong túi áo bay thường có quyển sổ nhỏ để lúc nào rảnh rỗi là hí hoáy ghi ghi, chép chép... Lanh thì không, vì tính thích đi lang thang, thích tự do phiêu du như gió trời, chẳng muốn vướng vào những chuyện ấy làm gì. Đến ngay cả ảnh của Lanh sưu tầm cũng còn khó. Người khác thì có khá nhiều ảnh, chụp ở khá nhiều nơi với khá nhiều người. Lanh cũng ngược lại luôn, không hề muốn xuất hiện trước ống kính tí nào hết...

        Vậy là tôi “gãi đầu gãi tai” nghĩ xem mình phải làm thế nào và bắt đầu từ đâu. Khá khó khăn đấy, nhưng phải làm!


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 08:40:00 am

2

        Tôi nhớ lại cái đận sân bay Sao Vàng ở Thọ Xuân  - Thanh Hóa (hồi chiến tranh mang mật danh Bl) bị máy bay Mỹ đánh bom. Gần như toàn bộ đường cất hạ cánh và đường lăn bị hỏng hết, đặc biệt là đường cất hạ cánh. Các tấm ghi thì cong veo, vặn ngược lên, hố bom chi chít, đất đá ngổn ngang vương vãi tứ tung... Để đưa được vào hoạt động trở lại thì phải mất thời gian khá dài. Tất cả số anh em chúng tôi cơ động vào trực ở trong đó đành phải rút ra căn cứ chính là sân bay Đa Phúc. Chúng tôi hành quân bằng ô tô. Con đường hành quân từ Thọ Xuân ra Đa Phúc gian nan lắm. Đường không được to, rộng như bây giờ đã đành, nó lại gồ ghề với những “ổ trâu, ổ voi” và các hồ bom nằm quanh hai bên đường. Chiếc xe tải ậm ạch, khó nhọc bò trên tuyến đường ấy. Chúng tôi đành chịu những cú xóc nảy theo nhịp xe. Khoảng chập tối, khi đến Ninh Bình thì Lanh đề xuất:

        - Này, tất cả vào thăm nhà tao một tí nhé, rồi lát nữa qua nhà thằng Huy. Sau đó ta hãy ra Đa Phúc?

        - Nghe hợp lí đấy! - các ý kiến phụ họa.

        - Cứ thế nhé!

        Đang thời buổi chiến tranh thế này mà lại được ghé qua nhà dù chỉ là mấy phút thôi cũng đã là hạnh phúc lắm rồi.

        Chiếc xe tải đỗ nép vào bên lề đường ở vị trí an toàn. Bọn chúng tôi lục tục xuống xe. Lanh đi trước dẫn đường. Trời tối, đường thì nhỏ, lại lồi lõm... Lanh đi nhanh nên anh em chúng tôi chạy gằn đằng sau để kịp đội hình. Qua cổng, vào trong nhà thì thấy mấy cô em gái của Lanh cùng với mấy cô bạn hàng xóm đang ngồi khâu nón. Nhác thấy một đám sừng sừng xông vào nhà, các cô thôn nữ liền ngừng tay khâu nón, ngửng lên.

        - Ơ kìa! Anh Lanh! - cô em gái reo lên.

        - Bố, mẹ đâu? - Lanh hỏi ngay.

        - Bố chưa về. Mẹ vừa chạy đi đâu đó! Các anh vào nhà đi!

        - Thôi! Nói với bố mẹ là tao khỏe! Chúng tao đi đây!

        - Các anh uống nước đã!

        - Nước nôi gì! Đi nhá!

        Dứt lời, Lanh dẫn anh em tôi “đằng sau quay”. Ngang qua bể nước mưa, Lanh lấy gáo vục một gáo, uống ừng ực, xong lại múc một gáo nữa, đưa tôi:

        - Này, “Quất”!

        - Nào, đưa đây!

        Tôi cũng làm một hơi hết gáo nước rồi mấy anh em chúng tôi lại ra xe, tiếp tục cuộc hành trình. Các cô em  gái của Lanh thì còn chưa hết ngơ ngác vì các vị khách ào đến quá nhanh và đi cũng quá nhanh, cứ như cơn lốc vậy.

        Xe chạy được một đoạn, tôi với Lanh đứng trên thùng xe. Tôi huých Lanh:

        - Mày nói chuyện với mấy đứa em gái mà cứ như là hỏi cung ấy! Chúng nó không sợ à?

        - Kệ chúng nó! Quen rồi!

        - Mà này, mày có đến mấy đứa em gái, đứa nào đứa ấy đều xinh, vậy mà sao mày giữ kín thế? Cùng “họ hàng nhà Quất” với nhau mà bây giờ tao mới biết đấy!

        - Ôi dào! Nói làm gì! Mà mày có hỏi đâu mà khai!

        Lanh trả lời nhát gừng rồi im lặng, không nói gì nữa.

        Tôi cũng không hỏi thêm. Chắc ý nghĩ của Lanh đang bồng bềnh trôi ngược lại phía quê nhà và suy nghĩ về câu hỏi của tôi cũng chưa biết chừng.

        Theo đúng kế hoạch đã được thống nhất, đến gần lối vào nhà tôi thì tôi đập đập vào mui xe. Chiếc xe dừng lại ngoài quốc lộ số 1, anh em chúng tôi cuốc bộ vào nhà. Đường vào nhà tôi rộng hơn và dễ đi hơn lối vào nhà Lanh nên anh em đi với “đội hình mật tập” chứ không phải đi theo hàng dọc như khi vào nhà Lanh, cả đám vừa đi vừa nói cười ầm ỹ, đến đâu chó má sủa râm ran tới đó. Đến sân thấy trong nhà có ánh sáng của ngọn đèn dầu vặn nhỏ, tôi lên tiếng:

        - Bố ơi! Mẹ ơi!

        - Ông ơi! Thằng Huy nó về ông ạ! - tiếng mẹ tôi gọi bố tôi.

        Bấc đèn lập tức được vặn lên, ánh sáng đã nhìn rõ trong nhà. cửa mở, chúng tôi theo nhau tiến vào nhà.

        - Con chào bố mẹ!

        - Cháu chào cô chú!...

        - Không dám! Chào các anh! Làm sao mà lại về lúc tối tăm thế này?

        Tiếng chào hỏi thật ríu rít.

        - Các anh đã ăn cơm chưa? Để tôi đi thổi nhé?

        - Thôi, mẹ ạ! Chúng con chỉ qua nhà mấy phút thôi. Chúng con phải đi ngay bây giờ đây! - tôi trả lời mẹ.

        - Thì làm cái gì mà gấp gáp thế?

        - Thời chiến mà! Thôi, chúng con đi đây! Bố mẹ giữ sức nhé! Các em cố học nhé!

        Chúng tôi chào cả nhà rồi quay ra cửa. Trên chiếc chõng tre là rổ khoai lang luộc. Mỗi người chúng tôi nhặt một củ rồi bước ra sân. Bố mẹ tôi tiễn ra tận cổng, ái ngại:

        - Chả ở lại mà ăn cơm, lại ăn khoai luộc thế kia cho nó nóng ruột ra!

        - Không sao đâu ạ! Chúng con quen rồi! Chúng con đi đây!

        - Ừ!...

        Bố mẹ tôi nhìn theo chúng tôi trân trân. Chỉ mới kịp nghe giới thiệu từng người thôi, chưa kịp hỏi han gì thì tất cả đã như cơn gió lốc, ào đến lại ào đi.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 07:37:55 pm
        Dọc đường, tôi bảo:

        - Tối thế này, tao chẳng bóc được khoai đâu!

        - Vẽ chuyện! Tao giải quyết gần xong rồi!

        - Mày ăn theo kiểu thuồng luồng à?

        Bọn tôi cười ầm cả lên và lũ chó trong thôn lại được dịp sủa ầm ỹ.

        - Này, tạt qua Hợp tác xã thêu một tí nhá! Con gái thợ thêu ở xã tao xinh lắm đấy!

        - Vậy thì vào thăm thôi!

        Tất cả hưởng ứng ngay. Nói là làm. Tôi dẫn đầu tốp, “ập” ngay vào nhà thêu tập thể của Hợp tác xã thêu (sau này vị trí ấy nhường cho Trường Tiểu học) hệt như cái kiểu biệt kích nhảy dù, tập lách vậy.

        Chúng tôi chẳng nói chẳng rằng, mở rộng hai cánh cửa và hùng dũng bước vào. Các cô thợ thêu ngừng tay kim, ngửng lên. Một cô nhận ra tôi.

        - Ơ, anh Huy! Em chào các anh ạ!

        - Em chào các anh!... tiếng các cô khác chào theo.

        - Chào! Chào! Mấy chị em cứ làm đi! Bọn anh đi nhé!

        - Ơ, các anh vội thế?

        - Thôi, đi nhé!

        Mồm nói, chân bước... Thoắt cái, chúng tôi đã mất hút Rồi chúng tôi nghe thấy những tiếng cười khúc khích phía sau. Chắc chắn là các cô trêu nhau và có những nhận xét về đám chúng tôi.
 
        - Này, chúng mày thấy gái thợ thêu có xinh không?

        - Xinh!

        - Nghiên cứu mà về làm rể xã tao nhé!

        - Được đấy!

        - Thôi, lên xe!

        Thế là chiếc xe lại “cõng” anh em chúng tôi lao đi trong đêm. Trên xe lúc này im ắng lắm, chắc mỗi người mỗi tâm trạng nên chẳng ai nói với ai câu nào nữa.

        Lanh hầu như không bao giờ tâm sự về gia đình mình. Sau chuyến đi ấy, một thời gian, khi có dịp trực cùng Lanh, tôi nói:

        - Bà mẹ vợ tương lai của tao cũng quê ỏ Ninh Bình đấy!

        - Ở đâu của Ninh Bình?

        - Cam Giá!

        - Thế thì là làng tao rồi còn gì nữa!

        - Cái làng mà đêm hôm mình vào ấy à?

        - Chứ còn gì nữa!

        Hỏi han thêm một lúc thì Lanh nói bà ở xóm trong, thuộc xóm 2, nhà Lanh thì thuộc xóm 3. Vậy là tôi đồng hương với Lanh về đằng ngoại...

        Phải đến hơn bốn chục năm sau tôi mới có dịp quay trở lại nhà Lanh. Tôi chẳng thể nào nhận ra lối vào xóm nữa. Đường làng bây giờ đã “bê tông hóa” từ lâu rồi. Chiều rộng thì hai xe ô tô tránh nhau thoải mái. Cô em gái của Lanh - cô Đỗ Thị Thu dẫn tôi đi, vừa đi vừa nói như một hướng dẫn viên du lịch:

        - Anh thấy bây giờ đường sá có khang trang hơn xưa không?

        - Khang trang hơn nhiều lắm! Ngày xua lối đi thì nhỏ, cỏ rậm rịt, đất đá lổn nhổn, mấp ma mấp mô... Bây giờ thì như là phố ấy!

        - Là phố rồi mà anh! Xóm 3 nhà em năm xưa bây giờ tên là phố Hợp Thành, còn xóm nhà bà mẹ vợ anh - cái xóm 2 ấy bây giờ là phố Trung Thành!

        - Ra là vậy! Thế còn chỗ ông bà đang ở bây giờ?

        - Chỗ bố mẹ em đang ỏ trước là xóm 5, bây giờ là phố Mía, thuộc phường Ninh Khánh rồi, anh ạ!

        - Đây, ngôi miếu cổ đây, trước lối rẽ vào nhà đây, anh còn nhớ không?

        - Ngôi miếu thì anh nhớ! Nhà thì không!

        Thu cười:

        - Ngôi nhà ngày xưa của bố mẹ em thì bây giờ vợ chồng em về ở. Chúng em xây lên hai tầng rồi, anh không nhận ra là phải. Chỉ có cái bể nước là em vẫn giữ nguyên như cũ thôi!

        Tôi ngắm nhìn hai bên đường. Tuy làng có những biến chuyển, đường lát bê tông, nhà tầng mọc lên san sát, các cửa hàng cửa hiệu với những đèn nhấp nháy ra dáng kiểu sống ở phố nhưng những bức tường cổ vẫn còn lại, vẫn giữ những nét phong rêu của một thời... Tôi chợt nhớ đến câu: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...” mà lòng buồn buồn, nhớ đến cái đêm hôm nào cùng Lanh về thăm nhà trong chốc lát giữa cái thời chiến tranh. Không biết tôi có thuộc loại người hoài cổ hay không.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 07:40:56 pm
        Thu bước thoăn thoắt, dẫn tôi vào nhà và xóa tan ý nghĩ của tôi chợt đến như một làn sương mỏng:

        - Đây, bể nước đây, anh nhận ra không?

        - Nhận ra rồi, nhưng chẳng còn chiếc gáo dừa để anh vục lấy một gáo mà uống!

        - Gáo dừa thì anh Lanh bỏ đi, anh thay vào đó bằng chiếc ca anh tự gò lấy. Vừa rồi, Bảo tàng về để sưu tằm các kỷ vật, gia đình đã đem tặng lại rồi, anh ạ!

        - Cũng là điều tốt! Mình có giữ thì chỉ mình nhà mình biết thôi. Khi đưa vào Bảo tàng thì nhiều người sẽ được biết, tính giáo dục sẽ cao hơn, rộng hơn...

        - Anh nói cứ như là Chính ủy ấy!

        - Thôi đi! Tôi xin cô!

        Anh em tôi cùng cười và quay trở lại ngôi nhà bố mẹ Lanh đang ở. Mẹ Lanh đã mất hơn năm nay, chỉ còn lại bố anh. Cô em gái Lanh - cô Đỗ Thị Thảnh về đấy ở để chăm bố.

        Tôi ngồi hỏi chuyện ông bố của Lanh về những kỷ niệm với Lanh, ông trầm ngâm trong giây lát, vuốt nhẹ chòm rầu bạc rồi chậm rãi trả lời:

        “Thực ra tôi chẳng ở nhà mấy. Tôi làm công tác về xây dựng mà. Mọi công việc ở nhà từ đồng áng đến chăm con, nuôi dạy con cái, tôi đều nhờ cậy vào tay bà ấy cả. Tiếc là bà ấy mất rồi chứ nếu còn thì bà ấy kể được cho anh nghe nhiều điều lắm!... Hồi nhỏ, Lanh ở nhà nghịch thuộc loại nhất nhì ở làng này. Lại còn cầm đầu lũ trẻ tung hoành khắp cả. ở đâu ầm ỹ là có nó ở đấy. Nhà thì đông con, anh Đỗ Văn Hanh là cả, rồi đến Lanh, sau Lanh là còn 7 đứa em nữa - Đỗ Thị Ảnh, Đỗ Thị Thảnh, Đỗ Thị Thơi, Đỗ Thị Thu, Đỗ Thị Nga, Đỗ Văn Trường và cậu út là Đỗ Văn Nguyên.

        Lanh học sáng dạ lắm. Tôi cũng chỉ biết khuyên anh em chúng nó cố gắng học thôi chứ cũng chẳng biết cách dạy anh em nó học đâu! Mà cũng lạ, chẳng thấy Lanh học
gì ở nhà, đi học về là vứt sách vở vào một góc, có hỏi thì nó bảo học thuộc rồi. Tôi hỏi anh nó - anh Hanh ấy:

        - Thế mày học thuộc chưa?

        - Con chưa thuộc, bố ạ!

        Tôi nghĩ: “Lạ nhỉ? Thằng anh học bài còn chua thuộc, sao thằng em lại nói đã thuộc rồi nhỉ. Hay nó nói dối mình?”. Tôi bảo:

        - Nếu thuộc thì mày thử đọc xuôi rồi đọc ngược cho bố nghe xem sao?

        Vậy mà nó đọc được, anh ạ! Nó đọc xuôi rồi lại đọc ngược đàng hoàng, cả cái bản cửu chương cũng thế, anh của nó không đọc được vậy mà nó đọc vanh vách. Tôi biết thế là nó đã thuộc bài rồi nên không hỏi nữa.

        Nó hay lấy cánh cửa gác lên cành cây nhãn trước nhà, để nằm ngủ. Khoản ăn thì khỏe lắm. Khoai lang luộc là chén được hết nồi. Bắt cá bắt cua đều giỏi. Mà lạ là nó chỉ ước mơ trở thành sĩ quan trong quân đội thôi!”.

        Cô em gái Đỗ Thị Thảnh ngân ngấn nước mắt:

        - Cái khoản ăn thì anh Lanh thích nhất là khoai lang sống và lạc sống. Ngày xưa, thời kinh tế khó khăn, cả khoai, cả lạc là đều phải chia theo suất cho từng anh em. Có được ăn thoải mái, no nê đâu. Anh Lanh cứ nói với chúng em là: “Suất của chúng mày, chúng mày muốn luộc hay rang thì tùy, còn suất của tao cứ để mặc tao, tao nhai sống cho khoái!”. Và rồi, anh ấy nhai sống thật, ăn một cách rất ngon lành. Anh là người thương các em lắm. Bề ngoài trông cục cằn, hay gắt gỏng thế thôi nhưng chẳng ai thương các em bằng anh ấy đâu. Khi anh ấy ở Trung Quốc về, cho mỗi đứa em gái một chiếc áo khoác. Khi đi bên Lào về, anh ấy cũng mua cho chúng em mỗi đứa một chiếc áo thun, một đôi dép tông. Mà hồi ấy, anh biết đấy, những thứ ấy là có giá lắm chứ!. Em hồi anh ấy: “Anh làm gì có tiền mà mua cho chúng em nhiều thế?”. Anh biết anh ấy trả lời thế nào không?. Anh ấy bảo là: “Không có tiền thì tao xin chứ sao nữa! Có thích, có lấy hay không?”. Đương nhiên là chúng em thích rồi. Anh thừa biết vào thời đó, áo thun và dép tông là những thứ sang như thế nào rồi. Rồi anh ấy còn gò cho mỗi đứa em gái một chiếc ca nhôm, cho mỗi đứa một chiếc lược làm bằng đuya-ra. Anh ấy không bộc lộ tình cảm của mình ra bên ngoài đầu. Anh ấy sống theo chiều sâu của nội tâm! Anh ấy thương các em lắm!

        Cậu em út Đỗ Văn Nguyên cũng xen vào:

        - Ngày anh Lanh đi bộ đội thì em chưa ra đời. Chỉ nghe mẹ kể lại: Khi anh ấy về thăm nhà, thấy một thằng bé mới được vài tuổi đang chơi lê la ỏ nhà thì hỏi:

        - Con cái nhà nào thế này? Sao lại cứ bò lê bò càng ra thế?

        - Em mày đấy! - mẹ trả lời.

        - Thế à? Này, thế thì ra đây anh cho kẹo này!

        Tinh Lanh vốn thế, thường hay nói ngắn, cụt lủn, cộc lốc, nghe nhiều lúc cứ như “đấm vào tai” ấy. Tôi ở với Lanh cũng lâu nên biết được điều ấy. Ví như muốn đưa gì đó cho tôi thì chỉ gọi: “Ê! Quất!”. Thế là hiểu.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 07:43:17 pm
        Cô em Đỗ Thị Thu thì hào hứng:

        - Lần nào anh ấy về phép cũng đều cởi trần ra gánh nước đổ vào bể. Mà là phải đi mượn thêm thùng, một lúc quẩy bốn thùng luôn. Hồi ở nhà, anh ấy còn có tên là “phó Vại” đấy!

        - Sao lại gọi là “phó Vại”?.

        - Thì là dạo ấy ở thôn có một ông to béo, phốp pháp... dân làng vẫn gọi ông là “ông phó Vại”. Anh Lanh trông cũng giống như thế nên được gọi theo như thế luôn.

        - Ừ, đúng đấy! Khi Lanh mặc quần áo thì ít người biết nó mập mạp như thế nào đâu. Anh vẫn gọi đùa nó là cái thằng “mặt cố nông, mông địa chủ” mà! - tôi nói.

        - Da anh ấy trắng trẻo lắm! Trắng hơn cả con gái cơ!

        - Đúng thế! Con gái cũng phải ghen tị với nước da của Lanh, ở đơn vị anh, hắn thường cởi trần, áo vắt vai, đi khắp đó đây dưới nắng, đầu chẳng mũ nón gì. Vậy mà da chỉ đỏ ửng lên rồi sang ngày hôm sau lại trắng mịn màng như cũ, còn anh thì ngược lại, thoạt đầu nắng làm cho đỏ rực lên, hôm sau thì chuyển sang màu tím ngắt rồi là đen sạm... chẳng giống ai hết!.

        Thảnh tiếp lời:

        - Anh Lanh ít khi mặc áo dài lắm. Từ ngày anh ấy đi bộ đội, khi về nghỉ phép, chẳng bao giờ em thấy anh ấy mặc quần áo quân phục cả. Từ bến xe về là đã mặc áo may-ô hoặc cởi trần rồi. Ở nhà thì chủ yếu là trần trùng trục. Mà đặc biệt, những lần về đến nhà mà còn sớm là anh ấy không vào nhà đâu vì sợ mất giấc ngủ của cả nhà. Mùa Hè thì anh ấy ngồi hoặc nằm ngay trên tảng đá ở ngoài sân, mùa Đông thì vào bếp, nằm trong “chuồng trấu”. Có hôm, em dậy vào bếp nhóm lửa thì thấy anh ấy lù lù ở đó làm em giật bắn cả người. Hỏi anh ấy: “Sao anh lại nằm đây mà không vào nhà?” thì nhận được câu trả lời: “Thì sao? Tao không muốn cả nhà thức giấc!”.

        Tồi phải giải thích một chút về cái “chuồng trấu” bởi có thể có những bạn đọc không hiểu về nó. Thuở xua, khi mà chất đốt dùng cho bếp núc chủ yếu là bằng rơm, rạ, lá cây khô..., còn những cành củi, gốc cây hoặc gộc tre thì được để dành đến Tết cho việc nấu bành chưng thì trong bếp người ta hay làm một cái tựa như cái cũi ỏ một góc gian bếp, cạnh chỗ đun nấu, hai phía thì là hai bức vách của gian bếp, hai phía kia thì thưng, đan với độ cao chừng 70 cm, độ to nhỏ, dài rộng thì tùy từng gia đình. Người ta gọi đấy là cái “chuồng trấu” vì nó đựng trấu và rơm, rạ dùng để đun nấu. Những ngày rét, nhiều người lợi dụng đó làm chỗ nằm ấm cúng vì vừa gần bếp lửa lại có rơm rạ như một tấm nệm vậy. Mấy anh em tôi cũng thường hay vào đó nằm. Có câu: “No cơm tấm, ấm ổ rơm!” thì cái sự “ấm ổ rơm” ấy có một phần liên quan đến cái “chuồng trấu”!

        Nhắc đến “chuồng trấu” thì tôi lại nhớ đến một chuyện cười ra nước mắt. Ấy là, vào những ngày rét mướt thì mấy anh em chúng tôi rồi cả mấy anh bên hàng xóm nữa đều hay chui vào “chuồng trấu” để ngủ cho ấm. Vào một đêm, đang ngủ ngon giấc thì tôi thấy một anh cứ khạc nhổ phì phì. Tôi thức giấc, lấy làm lạ liền hỏi:

        - Anh bị làm sao mà nhổ ghê thế?

        - Tao ăn phải cứt gà!

        - Sao lại ăn cứt gà lúc nửa đêm? - tôi ngạc nhiên thực sự.

        - Thì bỗng dưng tao thấy có cái gì đó cộm ở dưới lưng, tao nghĩ đấy là hạt ngô nụ mình ăn lúc tối bị rơi xuống đấy, tiếc rẻ, tao lấy cho vào mồm nhai, ai ngờ đấy lại là cục cứt gà khô, kinh quá!

        Tôi cười sặc sụa vì nơi “chuồng trấu” thường là nơi đám gà con hay vào bới nhặt thức ăn rồi tiện thể “bĩnh” luôn ra đó, mấy ngày sau thì “cái đầu ra” của lũ gà con ấy cứng ngay lại, việc lầm tưởng là hạt ngô nụ cũng dễ hiểu thôi, nhưng mà vào lúc nửa đêm lại để xảy ra chuyện ấy thì có lẽ cả thế giới chắc chỉ đấy là duy nhất Anh ấy vừa bực, vừa tức, vừa ngượng, vừa buồn cười... Đúng thật khó tả tâm trạng vào thời điểm ấy.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2016, 08:54:28 am
        Trở lại chuyện của Lanh. Lanh là thế! Tôi “hợp” với Lanh từ những ngày đi cơ động, trực chiến ở sân bay Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hóa. Sau này, khi biết tôi có bên ngoại cùng làng thì thân nhau hơn. Rồi những buổi trưa không ngủ, hai anh em đều cởi trần, áo vắt vai, chống gậy lục cục đi khắp nơi thì lại càng thấy thân thiết hơn nữa.

        Lanh thích sống đơn giản, không cầu kỳ, không câu nệ. Được cái ham học hỏi, không giấu dốt, thích khám phá, tìm tòi... Tính tình dễ dãi đấy nhưng có lúc cũng cục tính ra trò, chủỉ bạt mạng.

        Thảnh kể tiếp:

        - Hồi ở nhà, anh tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Một hôm, chúng em bứt được một ít sung, đem về giã để nấu cháo. Tới lúc giục nhau đi nhóm bếp thì rơm, củi đều ướt cả, nhóm mãi chẳng cháy, cứ khói um lên. Anh Lanh thấy vậy, chẳng nói chẳng rằng, ra múc ngay một gáo nước vào vừa giội nước xuống bếp vừa nói: “Này! Này!”. Thế là tắt ngấm cả.

        - Giời đất! Thế thì còn nhóm làm sao được nữa? - Em ngạc nhiên hỏi

        - Củi với kiếc! Nhóm thế nào được! Thôi vứt! - Anh trả lời nhấm nhắn rồi thủng thẳng bỏ đi.

        Rồi lại còn cái đận anh ấy làm cho mấy đứa em sợ chết khiếp lên được. Đấy là cái lần anh ngồi tỉ mẩn lau khẩu súng trường rồi lên đạn cứ loạch soạch. Chúng em thì thường tụ tập chơi ờ một xó nhà. Bỗng dưng nghe “Đoàng” một tiếng! Viên đạn xuyên thủng miếng gỗ gần nơi chúng em đang ngồi. Mặt mũi chúng em tái xanh tái xám. Bấy giờ chỉ cần chệch một chút thôi thì chắc chắn trong lũ bọn em đã có đứa dính đạn rồi mà có khi còn “xuyên táo” đến mấy đứa chứ chẳng chơi.

        - Tao lau súng bị cướp cò thôi, không được đứa nào mách lẻo đấy, nghe chua? - anh Lanh trợn mắt răn đe chúng em.

        Chúng em không đứa nào dám hé răng nên mẹ cũng không biết chuyện ấy.

        Cô em Thu tiếp lời:

        - Mà anh ấy cũng lạ lắm. Luôn bảo: “Tao không thèm đi lính bộ binh đâu! Tao muốn là lính bay trên giời cơ!”. Anh không đi khám bộ binh thật, vẫn tiếp tục cắp sách đi học. Có người trong thôn thấy vậy, nói với anh kiểu nửa trêu chọc, nửa chê bai:

        - Nhà thì đông con, lại nghèo nữa. Không đi khám nghĩa vụ mà đi bộ đội, cứ đi học. Học mãi để làm ông giời chắc?

        - Không làm ông giời nhưng sẽ làm con giời! - anh Lanh thủng thẳng trả lời.

        Thế rồi khi anh đang học phổ thông thì được khám tuyển vào phi công thật. Hôm Lanh đi khám về, mẹ hỏi:

        - Con khám thế nào? Có được không? Bây giờ có đói không?

        - Chắc là được, mẹ ạ! Có chín vòng con qua được cả chín. Đợt này chắc trúng tuyển đấy. Cũng chẳng thấy đói đâu, con ăn khoai rồi!.

        Lanh trúng tuyển phi công thật! Vậy là cái câu anh trả lời cái ông trong làng hỏi cạnh khóe kia chẳng có gì sai: Anh sẽ là con giời!

        Ngày ấy, ngày anh trúng tuyển khi Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức về tất cả các trường học để tuyển lựa, chuẩn bị đưa đi đào tạo có những người trúng tuyển thành những phi công tiêm kích tương lai, không ai nghĩ rằng anh Đỗ Văn Lanh sau này sẽ trở thành người phi công Anh hùng, người sẽ lập được kỳ tích trong đời bay!


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2016, 08:56:45 am

3

        Vậy là tạm biệt làng quê, Đỗ Văn Lanh lên đường nhập ngũ. Tính ra, cùng đợt đi khám tuyển với anh có 9 người cùng quê cả thảy nhưng chỉ mỗi mình anh trúng tuyển thôi. Ngày anh lên đường nhập ngũ, bố mẹ anh bàn nhau định tổ chức một bữa ăn tươm tất hơn mọi ngày một tí gọi là để tiễn anh. Biết chuyện, anh gạt phắt:

        - Ôi dào, nhà thì nghèo, bố mẹ bày vẽ làm gì cho tốn kém. Không cần phải tổ chức ăn uống gì đâu. Rồi người ta lại cười cho!

        Vậy là chẳng có thủ tục lễ nghi gì hết. Nhưng mà chẳng lẽ lại không đi tiễn anh. Anh lại can ngăn:

        - Có chân thì đi! Con khắc đi được!

        Quân chủng Phòng không - Không quân đón tiếp anh cùng với các anh khác đã trúng tuyển trong đợt khám tuyển phi công vừa rồi.

        Sau khi tập họp ở Quân y viện 108, cả đoàn được đưa về Cát Bi - Hải Phòng. Hầu như vào giai đoạn đó, đoàn nào trước khi đi đào tạo cũng đều tập kết ở Cát Bi rồi về thôn Xâm Bồ để học chính trị, học các quy định... rồi tiếp tục chọn lọc, phân chia theo đoàn đi đợt 1, đợt 2,

        Một số đoàn trước đã lên đường, chuẩn bị đến lượt đoàn của Đỗ Văn Lanh thì lại có sự chọn lọc nữa. Hiệu trưởng trường Không quân Phạm Dưng đích thân bắt tất cả cởi trần, xếp thành hàng ngang để Hiệu trưởng tuyển lựa. Những ai được Hiệu trưởng vỗ vai là được nhận vào trường.

        Đoàn của Đỗ Van Lanh đi vào tháng 9 năm 1965 gồm có 40 người. Đó là các anh:

        Lê Văn Bàng
        Lương Quốc Bảo
        Bùi Đình Đoàn
        Nguyễn Trọng Đức
        Vũ Xuân Được
        Võ Sĩ Giáp
        Nguyễn Hồng Hải
        Nguyễn Văn Hảo
        Tồn Văn Hiện
        Đặng Trần Hùng
        Trịnh Văn Hức
        Hoàng ích
        Cao Sơn Khảo
        Nguyễn Văn Khuê
        Hà Trung Kiên
        Nguyễn Đức Kỳ
        Đỗ Văn Lanh
        Nguyễn Đình Lâm
        Nguyễn Văn Lục
        Đinh Trọng Lực
        Lưu Đức Ngân
        Trằn Quang Ngự
        Nguyễn Sĩ Nhiếp
        Nguyễn Văn Nhượng
        Cao Văn Phúc
        Dương Văn Phương
        Nguyễn Văn Quý
        Nguyễn Xuân Quyên
        Huỳnh Đình Tài -Trằn Thanh
        Phạm Tất Thắng
        Bùi Đình Toại
        Nguyễn Văn Trình
        Lương Đức Trường
        Hán Vĩnh Tưởng
        Tồn Văn Việt
        Tống Văn Vĩnh
        Tạ Văn Vượng
        Hoàng Kim xảo
        Đào Công Y


        Đoàn rời nơi tập kết, lên chuyến tàu hỏa - đúng ra là chuyến tàu hàng để đi Yên Bái. Lý do tại sao đoàn của Lanh lại đi bằng tàu hàng thì không ai biết cụ thể, nhưng tôi đồ chừng, mấy đoàn trước đã đi tàu liên vận, có thể thông tin về chuyện ta đưa một lực lượng đi đào tạo thành các phi công đã bị “rò rì”, nếu lần này lại đi bằng tàu khách thì sẽ không giữ được bí mật lực lượng đi học bay nên đi bằng tàu hàng thì sẽ an toàn hơn, giữ được bí mật hơn chăng?

        Chuyến tàu đưa các anh đến Yên Bái thì chuyển sang phương tiện bằng ô-tô tải (có mui che) đi ngược về Đoan Hùng rồi từ đó theo đường lên Tuyên Quang rồi đi Hà Giang. Suốt dọc đường, Lanh nhìn ngắm những cánh đồng lúa, cánh đồng ngô mà nhớ quê đến cồn cào ruột gan. Lanh cứ tự hỏi: bây giờ mình đã đi rồi, công việc ở nhà ai sẽ giúp mẹ đây? Mấy đứa em thì còn nhỏ, lại nhắt nhắt toàn con gái, làm sao mà gánh vác được những công việc nặng nhọc. Bố mẹ, nhất là mẹ chắc vất vả lắm. Xa nhà thế này mới nhận ra những điều tưởng chừng như vặt vãnh hàng ngày mình chẳng để ý nhưng nó thật lớn lao và có khi còn thiêng liêng nữa.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2016, 08:58:56 am
        Xe chạy xuyên rừng với những đoạn đường vừa nhỏ vừa gồ ghề, khúc khuỷu. Lanh như ngơ ngác trước cảnh rừng rú. cả đời đã bao giờ lên rừng đâu. Đây mới là lần đàu. Lạ lẫm đủ thứ: Lạ từ những bạn cùng nhập ngũ, lạ từ những loại cây, con suối... lạ từng đoạn đường với những khúc cua, với những cú xóc... Nghĩa là chẳng có tí gì quen thuộc hết!

        Lại nhớ đến những bài học về chiến khu Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang). Bây giờ thì chính mình đang đi đến An toàn khu (ATK) đây. Đúng là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thật! Lanh cứ ngọ nguậy hết nhìn trái lại nhìn phải cố mường tượng xem có nét gì giống với quê mình không. Giống làm sao được khi một đằng là rừng núi, một đằng là đồng bằng!

        Đêm đến, cả đoàn chia nhau vào ngủ ở các nhà sàn của đồng bào miền núi. Mệt mỏi cả một ngày đi đường nhưng Lanh cứ thao thức khi nằm trên sàn nhà sàn. Những con trâu con bò buộc ở dưới nhà cọ người vào cột cho đỡ ngứa rồi tiếng sừng va vào nhau, mùi phân trâu phân bò bốc lên... làm Lanh lại mường tượng đến cảnh quê... Làng quê có những cái mùi rất đặc trưng: đấy là mùi thơm của lúa đang thì con gái, rồi mùi lúc lúa trỗ đòng, rồi mùi lúa chín, mùi của rơm rạ, mùi tanh tanh của bùn đất, mùi của phân chuồng, phân trâu phân bò... Không làng quê nào là không có những cái mùi ấy.

        Ở đây, Lanh cũng bắt gặp được mùi quê qua mùi phân trâu bò dưới nhà sàn. Lại nao nao nhớ quê, nhớ những cánh đồng làng, nhớ đàn trâu bò lững thững về làng vào lúc hoàng hôn... Nỗi nhớ cớ đeo bám da diết... Khuya lắm rồi mà Lanh vẫn trằn trọc... Rồi như tỉnh, như mơ... Lanh thấy mình đang cưỡi trâu trên cánh đồng làng... Bỗng thấy người nhẹ bẫng, tự dưng mình nhấc bổng khỏi lưng trâu nhẹ nhàng bay lên trời cao, vượt qua những đám mây đủ mọi hình thù, mọi màu sắc... Lanh chìm vào giấc ngủ.

        Rồi Lanh lại chợt thức giấc. Tiếng chày giã gạo ven bờ suối tạo những nhịp giã đều đặn gõ vọng giũa rừng. Những tiếng chim rừng gọi bạn, tiếng thú săn mồi... vang trong đêm tĩnh mịch. Rừng không còn im ắng nữa, nó có cuộc sống riêng của nó khi đêm về. Lanh căng tai lắng nghe mọi tiếng động của rừng với sự hồi hộp, lo âu... Những tiếng sột soạt của lá khô khi có bước chân của con vật ăn đêm nào bước qua, những tiếng rào rạo của đàn rết rừng với những đám chân khua khoắng rối rít. Truyền thuyết cho rằng ai mà lấy được viên ngọc rết giữ trong người thì sẽ tránh được hòn tên mũi đạn. Làm sao mà rết có ngọc được? Có lẽ, khi con rết đầu đàn bò đi trước, nó đùn bọt ra và qua ánh sáng lân tính của những lá cây cành cây mục trông nó óng ánh, sáng rực như viên kim cương đội trên đầu nên lầm tưởng đấy là ngọc chăng. Mà cái “anh” rết to như thế bắt được đem ngâm rượu thì là bài thuốc chữa tan mụn nhọt hiệu nghiệm lắm... Rồi những tiếng chim “thủ thi thù thì”, tiếng đôi “gầm ghì” cất lên như hù dọa, thi thoảng một tiếng cú rúc nghe rợn người...

        Gió rừng chốc chốc lại ào về. Tiếng gió giữa đêm làm cây rừng rung lên rào rạt. Mây sà thấp hẳn xuống, phả hơi nước vào từng nhà tạo thêm sự lạnh lẽo, cô tịch...

        Lanh cứ chập chờn, chập chờn nửa tỉnh nửa mơ... Rồi tiếng gà rừng lại cất lên lảnh lói... Lại nhớ quê, nhớ nhà cồn cào... Ôi, cái tiếng gà! Nó báo thức cho nông phu. Nó gáy đề mọi người biết canh một, canh hai, canh ba... để mọi người sắp xếp công việc của một ngày mới và gọi mặt trời thức dậy. Mình cũng đến lúc phải dậy thôi...

        Sáng hôm sau lại tiếp tục cuộc hành bình. Lại những khu rừng... Lại những cây là cây... Lại những điều lạ lẫm ập đến... Lanh vừa nhìn ngắm cảnh vật hai bên đường vừa nhủ thầm: Bây giờ mà quăng mình xuống đây thì sẽ chẳng biết đường nào mà lần. Đúng là:

“Vào rừng chẳng biết lối ra
Thấy cây núc nấc ngỡ là vàng tâm!”

        Mà cây núc nác là cây nào và cây vàng tâm là cây nào nhỉ? Lanh nghệt mặt ra khi qua rừng. Đúng là chịu thôi!

        Xe cứ đi như vậy. Ngày đi, đêm nghỉ. Mấy ngày sau thì đến Hà Giang. Hết rừng cây thì đến núi đá. Đá tai mèo sao mà lắm! Thứ này mà làm hòn non bộ thì tuyệt! Thiên nhiên tạo ra thật biết bao điều kỳ thú!. Lanh biết làm sao được về sau này, cao nguyên đá Đồng Văn sẽ là di sản văn hóa của đất nước và là “Công viên đá của Thế giới”.

        Từ Hà Giang cả đoàn qua cửa khẩu Thanh Thủy sang đất Trung Quốc thì đi bằng xe của bạn. Đường sá khá hơn đường rừng của ta nhiều. Xe chất lượng cũng khá hơn. Tốc độ đi cũng nhanh hơn. Cũng vẫn cái điệp khúc ngày đi đêm nghỉ nhưng bây giờ là nghỉ trong doanh trại của bộ đội Trung Quốc. Hành quân bằng ô tô đến Khai Viễn thì được chuyển lên tàu hỏa đi về Côn Minh, rồi từ Côn Minh về Tường Vân lại đi bằng ô tô.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2016, 06:55:59 pm
        Chuyến đi dài ngày ấy cũng có những kỷ niệm khó quên. Ấy là khi ngồi đánh tú-lơ-khơ trên xe, những lúc xe vòng vào khúc cua, tất cả lại xô dạt vào nhau, đổ ngang đổ ngửa, rồi ăn gian khi chơi bài, rồi cãi cọ om sòm... nhưng mà vui. Rồi khi đến nhà nghỉ, lúc vào tắm, chẳng biết sử dụng vòi tắm nóng lạnh thế nào, có anh suýt bị bỏng vì không biết cách điều chỉnh... Lắm chuyện lắm.

        Kể từ ngày xuất phát tới khi đến được trường ở Tường Vân thì cũng phải mất đến cả tuần lễ.

        Sân bay Tường Vân - một sân bay bằng bê tông xi măng ở vị trí cao hơn mặt biển gần 2000 mét (chính xác thì là 1997 mét) với chiều dài là 2800 mét và chiều rộng là 45 mét Hồi đó, trong phe Xã hội chủ nghĩa, ta có khái niệm Liên-xô là “anh cả”, Trung Quốc là “anh Hai”. “Anh Hai” đã cho ta “mượn” địa điểm Tường Vân làm trường huấn luyện bay, đào tạo phi công trên các loại máy bay Iak-18 và MiG-17.

        Địa điểm, tên trường đều phải giữ bí mật. Các học viên bay, thày dạy bay của ta đều được trang bị quân phục của bộ đội Trung Quốc: không quân hàm, trên ve áo chỉ có miếng “tiết đỏ”, sĩ quan thì áo bốn túi, chiến sĩ thì áo không có túi. Mũ lưỡi trai gắn ngôi sao đỏ... Nếu không nói tiếng Việt thì không ai biết đấy là người “đằng mình”. Năm 1969 - 1970, khi chúng tôi có dịp sang đấy, dù đã được thông báo trước rồi nhưng trong nhóm của tôi vẫn có anh nhầm. Lúc hạ cánh xong, lăn về sân đỗ, mở nắp buồng lái ra, thấy một anh mũ lưỡi trai đeo sao đỏ, qùần áo như chiến sĩ Giải phóng quân thì chào ngay:

        - Ní hảo! (Chào anh!)

        - Anh bay có mệt không? - người thợ máy hỏi.

        - Pú tủng! (Không biết!) - chàng phi công ta trả lời.

        Tới lúc này thì anh thợ máy phải hét lên:

        - Tôi là người Việt Nam cơ mà!

        - Ôi trời đất ơi! Tôi cứ ngỡ anh là người Trung Quốc!

        Chính vì vậy, chuyến đi của đoàn anh Đỗ Văn Lanh mới phải “ngụy trang” bằng cách đi tàu hàng và xe tải cũng nên.

        Thời tiết ở sân bay Tường Vân thì thật khắc nghiệt: hanh khô kinh khủng, lạnh cũng ghê gớm. Mũi rất hay bị chảy máu cam vì hanh khô quá, các mao mạch ở mũi dễ bị vỡ. Để hạn chế chuyện này, phía dưới các đàu giường ngủ thường để một chậu nước cho tăng thêm độ ẩm. Thế nhưng khi trời rét thì chậu nước ấy cũng sẵn sàng đóng băng luôn.

        Gió cạnh ở sân Tường Vân thì mạnh hơn tất cả các sân bay mà tôi được biết. Ngay sân bay ở Ax-tra-khan, nơi chứng tôi đến để thực hiện những bài bắn tên lửa không đối không trước khi tốt nghiệp khóa bay MiG-21, gió cạnh đã là to nhưng vẫn không bằng ở Tường Vân. Mà cứ gió nổi lên là cát bụi bay mịt mù chẳng thể mở mắt được mà cũng chẳng thể thở được. Sân bay lại hiếm nước. Một tuần thày trò mới ra khu vực Tiền sở - nơi có nhà tắm nước nóng - nước khoáng tự nhiên ấy tắm một lần. Cự li từ nhà ở ra đến đó cũng phải đến 4 - 5 cây số chứ chẳng ít. Tắm xong trên đường về mồ hôi ra thì lại bẩn như khi chưa tắm.

        Nói đến chợ Tiền sở thì phải nói đến cơm rang. Hầu như khắp chợ chỗ nào cũng có quán cơm rang. Mì sợi thì phơi trên những chiếc sào và những chú lợn thì chạy lông nhông khắp nơi, vì dân ở đây không nhốt lợn trong chuồng mà thả rông như lợn rừng, lợn mán vậy nên thi thoảng chúng lại xông vào ngoạm trộm một miếng mì đang gác trên sào rồi vừa chạy vừa nhai, hai túm mì xòe ra hai bên mép trông đến tức cười. Các trái lê, trái lựu... thì chất đống ngoài các cửa hàng để cả ngày cả đêm như vậy không cần cất vào nhà vì không có kẻ trộm.

        Rau xanh thì hiếm. Vì thế, sau chuyến bay, các trò đi lau máy bay còn các thầy thì đi hái rau muối - loại rau khá sẵn ở đó để về nấu canh ăn thêm cho đỡ “xót ruột”. Chim sẻ ở ngoài sân bay nhiều vô kể. Mỗi lần cất cánh hay hạ cánh là chúng lại bay lên hàng đàn và va vào máy bay rơi xuống không phải là ít. Các thày đi hái rau và cũng nhặt chim sẻ về thịt luôn thể. “Nhất cử lưỡng tiện” mà!

        Cũng không thể nào hiểu được cái phong tục của người dân ở đây. Nếu tôi không nhầm thì họ thuộc dân tộc gọi là “Xi Xoang Bản Na” thì phải. Trẻ em dưới 1 tuổi mà bị chết thì họ coi đó chưa phải là con người nên hay cho vào trong sọt treo lên cành cây hoặc vứt xuống suối chứ không đem chôn. Cứ ở đâu thấy có nhiều tiếng quạ kêu la om sòm hoặc những tiếng chó sủa ầm ỹ thì y như rằng nơi đó có xác trẻ con.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2016, 06:59:42 pm
        Phụ nữ lớn tuổi thì vẫn theo tục “bó chân”: bàn chân của họ bé tí như cái búp sen, đi cứ lậc khậc... lậc khậc... không thể chạy nhanh được.

        Quần áo, trang phục của họ trông gần giống với trang phục của người dân tộc Nùng bên mình.

        Sức kéo, sức chở cho từng gia đình thì là những chú la. Nó nhỏ hơn lừa nhưng khỏe không kém lừa là bao. Người ta nói nó là sản phẩm của lừa và ngựa và nó không thể “sinh nở” được. La được dùng vào việc thồ hàng hóa, dùng để kéo xe, dùng để kéo nước từ giếng lên...

        Đám cưới ở đây cũng khác những nơi khác. Ấy là trên đường cô dâu về nhà chồng thì cô phải đeo một chiếc gương to trước ngực và không được nhìn đường, nhìn xung quanh... mà phải nhìn vào gương để bước theo chân chú rể đi ở phía trước. Họ quan niệm như thế mới giữ được sự chung thủy. Các cô phù dâu đi hai bên cạnh. Đồ đạc, của “hồi môn” của cô dâu được cho vào những chiếc thùng vuông dán giấy đỏ, gánh theo tiếng nhạc réo rắt suốt dọc đường làm ta liên tưởng đến cảnh ừong phim “Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài”...

        Thức ăn chính của người dân vùng này là loại đậu “răng ngựa”. Kinh tế khó khăn lắm!

        Người ở đây lại còn có thói quen bón rau bằng phân tươi. Đứng ở ngoài cánh đồng thì không thể nào quen được với cái mùi sú uế ấy. Đổi lại, rau củ tốt khủng khiếp. Những ai đã từng ở đấy đều biết những cây củ cải tôi gọi là “vĩ đại”, nói thật không ngoa, củ của nó to đúng như cái phích hai lít rưỡi ấy!

        Cây cối, hoa quả nhiều nhất là lê, đúng ra là cây mắc coọc, quả nhiều vô kể, táo cũng nhiều và quả lựu cũng lắm!

        Được cái, ngoài sân bay bạt ngàn hoa bướm. Mùa hè, khi hoa bướm nở, những cánh hoa đủ màu sắc sặc sỡ như một tấm thảm màu trải khắp các khu vực. Những trận gió ào qua như những bàn tay khổng lồ vô hình đùa rỡn gạt những thảm hoa tạo thành những làn sóng rực rỡ chạy suốt từ đầu này sân bay đến tận đầu kia sân bay.

        Đoàn 40 học viên bay của Lanh được mang phiên hiệu Đại đội 6 do anh Lê Công Uẩn làm Đại đội trưởng và 3 anh Đại đội phó là Cấn Đỗ Kết, Trần Bơn và Đàm Cảnh Thống.

        Thày dạy bay của Lanh là anh Nguyễn Hữu Khoán. Tổ bay của Đỗ Văn Lanh khi học lí thuyết gồm có 7 người. Đó là:

        Bùi Đình Toại
        Hán Vĩnh Tưởng 
        Lương Đức Trường
        Hoàng Kim Xảo
        Đỗ Văn Lanh
        Nguyễn Trọng Đức
        Nguyễn Văn Nhượng

        Khi học xong phần lí thuyết thì các anh Hoàng Kim Xảo và Nguyễn Trọng Đức chuyển sang tổ khác để bay trên loại máy bay Iak-18 “ba bánh sau”, còn lại 5 anh em bay trên loại máy bay Iak-18 “ba bánh trước”. Loại “ba bánh sau” là loại máy bay có hai bánh chính và một bánh đằng phía đuôi. Loại “ba bánh trước” là loại có hai bánh chính và một bánh phía đằng mũi máy bay.

        Thoạt đầu, nhiều người nghĩ rằng Lanh không thể bay được. Ngay đến Chủ nhiệm chính trị Năng cũng nói với anh Nguyễn Hữu Khoán:

        - Anh nên đánh giá lại khả năng của cậu Lanh. Tôi nghĩ chắc cậu ta không thể trở thành phi công được đâu. Cứ để bay thì tôi e tốn kém lắm!.

        - Tôi thì lại thấy cậu ta rất có khả năng, mà có khi lại còn bay giỏi nữa cơ đấy! - anh Khoán trả lời.

        - Vậy cứ thử xem sao?

        Có lẽ, khi nhìn diện mạo của Lanh với chiếc miệng “méo méo”, mắt lại “xênh xếch” khác người thường, nhất là hôm xem biểu diễn văn nghệ, Lanh ngồi phía sau cố dướn người lên nhìn cho rõ thì độ “méo méo”, “xênh xếch” càng tăng. Chính vì vậy mà mới có cuộc trao đổi giữa Chủ nhiệm chính trị và thày dạy bay của Lanh kể trên.

        Thày dạy bay của Lanh - anh Nguyễn Hữu Khoán kể:

        - Lanh học lí thuyết thuộc loại khá, nhưng khi thực hành bay thì thuộc loại giỏi. Trong tổ bay, Lanh là người bay đơn đầu tiên. Mức độ theo dõi giờ bay tích lũy để đánh giá khi bay đơn đạt 15 giờ là tối thiểu, 16 giờ 30 là trung bình, 18 giờ là chậm. Lanh mới bay 14 giờ 30 phút - tức là chưa đến 15 giờ đã bay đơn rồi. số lượng chuyến bay thì đủ nhưng số giờ bay thì ít hơn quy định. Lanh không chỉ bay đơn sớm mà tất cả các động tác trong không vực cũng tiếp thu rất nhanh. Các khoa mục chỉ cần kèm ờ mức độ tối thiểu thôi.

        Thường thì bay đạt khoảng 80 đến 95 giờ bay tích lũy và qua tất cả các khoa mục là học viên sẽ tốt nghiệp. Với Lanh thì tốt nghiệp khi đạt 80 giờ bay, sớm trước các học viên khác đến 2-3 tuần.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2016, 07:02:48 pm
        Tôi nhớ nhất chuyến bay đơn đường dài đầu tiên của Đỗ Văn Lanh. Hôm ấy, sau khi bay trinh sát thời tiết về, tình hình khí tượng vẫn đảm bảo cho bay bình thường, nhưng một lúc sau thì mây xuất hiện. Tôi bàn bạc với các giáo viên và quyết định cho các anh Tưởng và Toại bay trước, để Lanh bay vào cuối giờ. Khi Lanh cất cánh lên bắt đầu bay chuyến hành trình 3 cạnh thì mây kéo đến che kín sân bay. Thày Hiệu trưởng Mai Quân chạy ngay lên Đài chỉ huy, lo lắng hỏi tôi:

        - Tinh hình thế này liệu cậu Lanh có xử lí được không?

        - Báo cáo Hiệu trưởng! Tôi nghĩ Lanh sẽ bay về được!

        Tuy biết rằng Lanh bay giỏi, nhưng đây là chuyến bay đơn đường dài đầu tiên, hơn nữa lại chưa hề xuyên mây bao giờ cho dù phần lí thuyết xuyên mây thì Lanh đã nắm được. Tôi báo cáo mạnh dạn thế thôi chứ cũng lo lắm chứ.

        Lanh vẫn tiếp tục bay cạnh hai rồi cạnh ba của hành trình và cuối cùng thì về hạ cánh an toàn. Tôi thấy Lanh tiếp đất xong mới thở phào nhẹ nhõm.

        Tôi gặp Lanh:

        - Chuyến bay gặp nhiều mây không?

        - Em xuyên mây cả 3 cạnh luôn! Theo đúng lí thuyết ạ!

        Tôi ngắm nhìn Lanh, thấy yêu thấy quý cậu ta quá. Có được một trò giỏi như thế, tự hào lắm chứ! Người thày nào mà chẳng vậy!

        Đấy là chuyến bay đơn của Lanh. Chuyến bay tôi kèm Lanh từ không vực về khi vào hạ cánh thì mới kinh khủng, không sao tôi quên được. Hôm ấy, hai thày trò đang trên đường lao xuống hạ cánh thì gió cạnh nổi lên rất to, bụi cát mù mịt. Thày trò tôi chống gió, máy bay gần như lao xuống thẳng đường lăn thế mà gió thổi vào đúng đường cất hạ cánh. Máy bay tiếp đất rồi mà gió vẫn lắc cánh nghiêng hết bên nọ sang bên kia. Thày trò tôi phải tắt máy, sợ nếu lăn tiếp là máy bay sẽ bị lật. Bao nhiêu người chạy ra xem chúng tôi có bị sao không. Đúng là chưa bao giờ có chuyến bay như thế thật!.

        Một chuyến bay có thể nói là đặc biệt nữa của Lanh. Đó là bài bay giả thiết máy bay bị chết máy trên không, không thể mở máy được, phải hạ cánh bắt buộc. Bay bài này thì phải thu hết cửa dầu để giống như máy bay bị chết máy. Với các học viên khác thì thường sau khi đối chuẩn đường băng xong là từ từ tăng vòng quay lên và hạ cánh với động cơ làm việc bình thường. Động tác kia chỉ là giả định thôi. Nhưng với Lanh thì cậu ta không tăng vòng quay mà cứ thế xuống hạ cánh sau khi lấy tâm từ không vực về, làm đúng như máy bay bị chết máy thật. Cậu ta hạ cánh lại đẹp và lại chuẩn nữa chứ!. Tôi hỏi:

        - Có lẽ đấy cũng là chuyến tiền lệ để rồi sau này Lanh có chuyến hạ như vậy trên MiG-21 chăng?

        - Cũng có thể lắm chứ! - anh Nguyễn Hữu Khoán đáp.

        Sau khi tốt nghiệp khóa bay trên loại máy bay Iak-18 thì Lanh chuyển sang bay trên loại máy bay MiG-17 thuộc Đại đội của giáo viên bay là Đại đội trưởng Trần Phương.

        Khi bay loại máy bay MiG-17, các giáo viên bay gồm cả người của ta và của Trung Quốc. Có tổ bay thì giáo viên bay người Trung Quốc phụ trách toàn bộ, có tổ bay thì ta phụ trách toàn bộ, lại có tổ bay thì cả giáo viên của ta và giáo viên người Trung Quốc cùng phụ trách.

        Từ loại máy bay cánh quạt Iak-18 với tốc độ chậm chạp chuyển sang loại máy bay phản lực chiến đấu MiG- 17 có tốc độ lớn, xấp xỉ với tốc độ tiếng động không phải là chuyện đơn giản. Đó là bước ngoặt lớn trong đời bay của một phi công. Khi sang học bay, đoàn có 40 người thì qua các khóa huấn luyện cứ “rơi rụng” dần, tới lúc tốt nghiệp bay trên MiG-17 chỉ còn có 17 anh em mà thôi.

        Tổ bay của Lanh khi bay trên loại máy bay MiG-17 gồm 3 anh em là Lương Quốc Bảo, Nguyễn Văn Nhượng và Đỗ Văn Lanh.

        Giáo viên bay của tổ là thày Nguyễn Trọng Hòa cùng với thầy Đông là giáo viên bay người Trung Quốc nữa.

        Trung đội trưởng Trung đội bay là thày Trần Hùng.

        Trong quá trình thực hành bay, Lanh đã bộc lộ được những phẩm chất của một phi công tiêm kích chiến đấu. Đã có giáo viên bay người Trung Quốc nhận xét về Lanh sau khi bay với Lanh như sau:

        - Cậu này là người không biết sợ là gì. Sẽ là phi công gan dạ, chiến đấu rất tốt đấy!

        Khi bay gần hết chương trình trên loại máy bay MiG- 17 thì bên nhà cử các anh Phan Văn Na, Mai Đức Toại, Lê Quang Trung... sang bay cùng để bồi dưỡng cho đoàn trước khi về nước những bài bay với động tác kỹ thuật cao cấp và những bài bay không chiến để kiểm tra chất lượng, đánh giá phân loại các học viên bay sau đó sẽ lập danh sách theo từng đợt về nước, về Trung đoàn chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2016, 08:46:40 am
        Đoàn bay của Lanh ngay từ đầu đã có 4 anh ở lại trường làm giáo viên bay trên loại máy bay Iak-18 là:

        Lê Văn Bằng
        Nguyễn Văn Khuê
        Nguyễn Văn Trình
        Tống Văn Vĩnh

        Trong số 17 người tốt nghiệp bay trên loại máy bay MiG-17 thì có 3 người ở lại trường làm giáo viên bay là các anh:
       
        Hà Trung Kiên
        Trần Quang Ngự
        Trịnh Văn Hức


        Vậy là còn 14 phi công sau khi tốt nghiệp được chia thành 2 đợt trở về nước. Đợt đầu có 8 người và đợt sau có 6 người. Đợt đầu gồm:

        Nguyễn Văn Lục
        Lương Quốc Bảo
        Hoàng ích
        Đỗ Văn Lanh
        Võ Sĩ Giáp
        Lương Đức Trường
        Đinh Trọng Lực
        Bùi Đình Đoàn


        Đợt sau gồm có 6 người là:

        Nguyễn Văn Đang
        Cao Sơn Khảo
        Nguyễn Văn Nhượng
        Phạm Tất Thắng
        Hán Vĩnh Tưởng
        Cao Văn Phúc


        Đợt của Lanh khi về nước được máy bay vận tải I1-14 sang chở về theo hành bình: Tường Vân - Mông Tự - Nam Ninh - Gia Lâm.

        Vậy là sau 3 năm học tập bên đất bạn với sự giảng dạy, huấn luyện của các giáo viên bay của ta và của Trung Quốc, Lanh đã trở thành phi công tiêm kích chiến đấu. Chặng đường phía trước đang chờ đón chàng phi công trẻ Đỗ Văn Lanh với những thử thách cam go, gian truân và là bước ngoặt để đến với những chiến công rạng ngời...


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2016, 08:51:20 am
       
4

        Năm 1968, khi tốt nghiệp bay về nước, Lanh được biên chế vào Đại đội 1 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. (Thực ra, theo các giấy tờ sổ sách thì là Đại đội 2 vì cách đánh số thứ tự của ta hồi đó là số lẻ thì dành cho các Đại đội của MiG-21, các số chẵn dành cho các Đại đội của MiG-17).

        Lanh đã được các bậc đàn anh dạy dỗ, kèm cặp cho phù hợp với tính chất của Trung đoàn Không quân chiến đấu. Anh Lê Hải - cựu phi công chiến đấu trên MiG-17, sau này trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là thày bay kèm cho Đỗ Văn Lanh những ngày Lanh ở Trung đoàn 923. Anh Lê Hải muốn truyền hết những kinh nghiệm chiến đấu của những người đi trước cho lớp đàn em thuộc các thế hệ sau. Những điều anh Lê Hải dạy dỗ, dặn dò trong những chuyến bay và trong cuộc sống hàng ngày tưởng chừng như đơn giản nhưng đấy chính lại là sự tổng kết qua các trận đánh khốc liệt, qua những ngày gian khổ, cơ cực trong chiến tranh. Để có được những lời ấy đã phải trả giá bằng bao sức lực, trí tuệ và cả máu xương của không biết bao nhiêu phi công.

        Anh Lê Hải phân tích về nguyên nhân hy sinh của phi công trong không chiến. Một trong những nguyên nhân chính đó là sự cay cú, ham bám đuổi địch dẫn đến sự mất cảnh giác, không để ý đến tình thế diễn biến xung quanh đang có những thay đổi bất lợi cho mình.

        Muốn làm chủ được chiến trận, - anh Lê Hải thường nói, là phải tạo được sự bất ngờ đối với kẻ địch. Đó là phải tiếp cận địch từ những hướng, những độ cao có lợi cho mình mà địch không tính đến. Nếu địch không bất ngờ thì hãy tạo ra sự bất ngờ làm cho chúng hốt hoảng, ví như lao thẳng vào đội hình của chúng, bắn những loạt đạn mang tính chiến thuật bắt chúng phải cơ động, bắt chúng phải phá tan đội hình... để ta chớp thời cơ tóm ngay lấy thằng nào lúng túng nhất, ở vị trí “ngon” nhất.

        Ngay khi phát hiện được địch, ta phải đánh giá thật nhanh xem trận này sẽ đánh được hay không đánh được. Luôn phải cẩn thận với thủ đoạn “mồi chài” của chúng, nghĩa là có thằng cứ bay tưởng chừng như vật vờ, lượn qua ta kiểu như không thấy ta để nhử ta đuổi theo. Đấy chính là cái động tác “rắc thính” - nói theo ngôn từ của người đi câu. Nếu ta bám theo nó là dứt khoát ta đã bị vào tròng, kiểu gì cũng có bọn ở phía sau “đập” ta ngay.

        Ta cũng phải biết cách lựa thời cơ để ghìm địch xuống độ cao có lợi nhất cho mình, ở độ cao ấy, tính năng máy bay mình được phát huy tối đa và sẽ vượt trội hơn địch. Đã đánh là phải quyết liệt, dứt khoát Kể cả khi thoát li cũng vậy. Trong quá trình thoát li khỏi cuộc chiến phải biết tận dụng địa tiêu, địa hình địa vật, phải cơ động máy bay cho khéo léo, cho chuẩn xác. Nếu bị địch bám đuổi thì việc quay lại hay không quay lại để phản kích cũng phải tính toán sao cho thật hợp lí, nên hay không nên, ví như số lượng dầu liệu còn nhiều hay ít, lực lượng của địch bám theo mình có đông hay không, cự li đến căn cứ sân bay của ta xa hay gần, cự li đến vùng hỏa lực pháo phòng không của ta còn bao xa... Nghĩa là tối kỵ việc hành động không tính toán cụ thể.

        Khi đã về đến sân bay, việc rút ngắn thời gian vào hạ cánh là rất quan trọng. Cần phải bay ở độ cao thấp với tốc độ lớn, lập hàng tuyến hẹp, bằng mọi cách cho máy bay nhanh chóng tiếp đất, bởi sau trận không chiến, khi đã thoát li về rồi thì càng ở trên không thời gian dài bao nhiêu càng bất lợi bấy nhiêu.

        Anh Lê Hải từng nói: “Không chiến là một cuộc đấu cả trí và lực. Đã là phi công chiến đấu thì luôn phải nhớ một điều là bất kể lúc nào cũng có một chiếc máy bay địch bám ở phía sau. Phải nắm chắc được tính năng máy bay địch, hiểu tâm lí đối phương. Việc tạo được bất ngờ chính là đánh vào tâm lí đối phương.

        Một điều cốt lõi nữa đối với ta là vào trận đánh phải thật thanh thản. Nếu vào trận mà đầu óc không tỉnh táo, không thanh thoát, cứ bị mụ mị thì khó mà phán đoán được tình hình chiến trận và như vậy làm sao có thể hành động quyết đoán được!... Cứ phải coi cái chết nhẹ tựa lông hồng!”

        Chàng phi công trẻ Đỗ Văn Lanh đã thuộc lòng ngay những bài học ấy và thầm nhủ sẽ quyết tâm theo kịp các bậc đàn anh.

        Qua những ngày trực ban chiến đấu, những lần xuất kích cùng các phi công kỳ cựu của Trung đoàn, tuy chưa gặp địch, chưa tham chiến nhưng trình độ kỹ thuật của Lanh đã nâng cao lên nhiều và đặc biệt là tính thần chiến đấu, bản lĩnh chiến đấu đã hình thành và được hun đúc, tôi luyện.

        Đến năm 1970 thì Lanh và một số phi công khác của Trung đoàn 923 được chọn lựa để chuyển loại lên bay trên loại máy bay MiG-21.

        Số phi công chuyển loại từMiG-17 lên MiG-21 trong đợt ấy gồm có:

        Đỗ Văn Lanh
        Võ Sĩ Giáp
        Cao Sơn Khảo
        Lê Khương
        Trần Sang
        Hạ Vĩnh Thành
        Nguyễn Duy Tường
        Ngô Duy Thư
        Lê Minh Dương


        Anh Phạm Tuân cũng nằm trong danh sách chuyển loại đợt này, nhưng vì Trung đoàn còn giữ anh rồi tiếp đến là anh ở trong đội tuyển bóng chuyền, phải đi thi đấu nên khi hết đợt Hội thao thì Tuân về chuyển loại một mình một đợt.

        Tính năng của MiG-17 và MiG-21 khác nhau rất nhiều, từ hình dáng đến tính năng kỹ chiến thuật, cách thức điều khiển, phương thức không chiến, cách đánh chặn, cách sử dụng vũ khí... rồi cách cất hạ cánh... Nếu kể ra thì rất dài dòng, tốn giấy mực lắm.

        Chỉ trong một thời gian ngắn, Lanh đã “thuần phục” được “con chiến mã” MiG-21, làm chủ được nó, sẵn sàng nhận nhiệm vụ trực ban chiến đấu, xuất kích chiến đấu.

        Trong những số phi công chuyển loại từ MiG-17 lên MiG-21 đợt ấy đã có 3 phi công sau này lập được những chiến công xuất sắc trong chiến đấu, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là Phạm Tuân, Đỗ Văn Lanh và Lê Khương.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2016, 08:56:22 am
        
5

        Từ ngày sau cái đận Cao Sơn Khảo hy sinh, tôi hay cắt trọc đầu, rồi Lanh cũng cắt trọc nữa.

        Hồi ấy, bộ quần áo lót được may bằng loại tơ tằm màu vàng. Tôi và Lanh thường mặc hàng ngày để đỡ thấm mồ hôi ra bộ quần áo bay, bởi bộ đồ bay thì dày, giặt lâu khô lắm, đằng này chỉ cằn giũ giũ, căng lên phơi một lúc là khô liền, lại sử dụng được luôn. Hai thằng tôi cứ nhênh nhang với bộ cánh màu vàng, đầu thì trọc lốc... trông chẳng khác gì hai vị hòa thượng ở trên chùa. Mấy cô chị nuôi gọi chúng tôi là: “Hai ông sư”. Khi gặp mình tôi hoặc mình Lanh thôi thì gọi: “ông sư ơi!”. Cái biệt danh “ông sư” ấy đến tận bây giờ khi gặp nhau vẫn sử dụng giống hệt như những ngày xưa.

        Chúng tôi, chúng tôi cũng đặt cho mỗi cô một biệt danh. Thuở ấy có mấy cô chị nuôi người Hải Dương là được chúng tôi gắn cho “tên húy” hết lượt: cô Hòa với dáng đi lạch bạch thì gọi là “Vịt Hòa”, cô Toan người tròn như hạt mít, như con ốc bươu ấy thì được đặt là “ốc Toan”, cô Trinh thì chỏm mũi lúc nào cũng lấm tấm mồ hôi, cô hay lấy tay áo chùi thì được gọi ngay là “Mèo Trinh”...

        Mới năm vừa rồi, khi tôi với anh Nguyễn Văn Quang đi lên nghĩa trang Phổ Yên thắp nhang viếng các liệt sĩ phi công ở đó, khi quay về, dự định sẽ tạt qua nhà cô “Hòa vịt”, thăm vợ chồng cô ấy. Xe đến gần nhà, đang chạy chậm chậm thì thấy đứa cháu lai cô Hòa bằng xe máy từ sân phi vù ra đường. Tôi vội hạ kính xe xuống, hét lên: “Vịt ơi!”. Lập tức, chiếc xe phanh lại và vòng về nhà. Vừa xuống xe xong là Hòa ta la lên:

        - Ối “ông sư” ơi là “ông sư”! Bao nhiêu năm nay ông ở đâu mà sao hôm nay ông lại tìm được đến nhà tôi thế này?

        - Nam mô a di đà Phật! Sư về rừng núi tu nhưng chẳng thành chính quả, đói quá, đang đi khất thực đây! - Tôi trả lời.

        - “Ông sư” ơi là “Ông sư”! - Hòa vừa nói vừa lôi chúng tôi vào nhà.

        Chồng của “Hòa vịt” cũng là phi công bay MiG-21 cùng Trung đoàn với tôi đang ở trong nhà thấy phía ngoài sân nhộn nhạo, ầm ỹ cả lên thì chạy vội ra:

        - Ôi, “ông sư” Huy! ông với anh Quang đi đâu thế này? Vào nhà đi, vào nhà đi! - Anh rối rít giục.

        Chúng tôi vào nhà. Câu chuyện thật rôm rả và toàn xoay quanh chuyện của những năm tháng chiến tranh, những năm tháng khi mà mấy anh em chúng tôi còn ở cùng đơn vị với nhau... Rồi lại nhắc đến “ông sư Lanh”... ừ, bây giờ thì “ông” đã ở cõi Niết Bàn rồi!...

        Thuở ấy, anh em phi công và các anh chị nuôi thân nhau lắm. Trong nhóm các cô chị nuôi thì có hai cô “kết” chặt với phi công và đã thành vợ chồng. Đó là Hòa “vịt” lấy Phú “lươn”. Nói về cái biệt danh Phú “lươn” thì trong đơn vị có đến mấy người tên Phú: nào là Phú “lỉnh”, Phú “thể thao”...rồi phi công thì có Phú “rắn”... nên để đỡ lẫn, Phú - Hòa được gọi là Phú “lươn”!

        Rồi Toan “ốc” thì lấy Lê Văn Kiền cũng là phi công của Trung đoàn. Về Toan “ốc”, tôi biết dạo ấy cũng có đến mấy anh phi công “để mắt” đến vì cô nàng tươi tắn, nhỏ nhắn lại mũm mĩm. Lanh hay nói với tôi: “Đứa nào mà lấy được “con ốc” về làm vợ là có phúc đấy. Nó đảm đang lắm!”. Tôi và Lanh chơi với nhóm ấy khá thân thiết, coi các cô như những đứa em gái của mình. Chúng tôi đã có người yêu cả rồi và các cô ấy cũng thường xuyên hỏi thăm người yêu của chúng tôi. Tôi từng làm hai câu thơ để trêu đùa Toan:

Nếu mà  yêu được “ốc” Toan
Thì ta làm chục cái “khoan”giữa trời!

        “Cái khoan” đây chính là động tác kỹ thuật bay phức tạp: cho máy bay xoay quanh trục dọc của nó 360 độ theo chiều mặt phẳng ngang hay theo các chiều mặt phẳng khác nhau... gọi là “khoan ngang hay khoan lên, khoan xuống”...

        “Lão” Phạm Phú Thái biết chuyện, thi thoảng lại nói: “Làm chục cái “khoan” giũa trời đi!”. Nhiều người chẳng hiểu thế là thế nào cả.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2016, 10:15:52 pm
        Một hôm, Lanh gặp tôi:

        - Này, thằng Kiền làm “chục cái khoan” rồi!

        - Chúng yêu nhau thật à? - tôi hỏi.

        - Lại chẳng thật!

        Thế cũng là mừng cho họ. Tôi nhớ lần xuống Hải Phòng công tác ghé vào nhà “ốc” Toan. Khi đến cổng nhà, tôi gọi to:

        -“Ốc” ơi “Ốc”! Có nhà không?

        - Ối! “Ông sư”! Làm sao mà “ông sư” lại biết đường đến đây, lại tìm được nhà? - Toan nghe tiếng réo “tên húy” của mình vội chạy ra, hỏi tíu tát.

        Đúng là hai cái “Con vịt” với “Con ốc” này là hai chị em có khác, cách nói giống nhau y chang.

        - Đường ở mồm ấy! - tôi cười, trả lời.

        Hai cô con gái của Toan cứ há hốc mồm ra vì ngạc nhiên, rồi hết hỏi tôi lại quay sang hỏi mẹ chúng:

        - Bác ơi! Sao bác lại gọi mẹ cháu là “ốc” vậy bác?

        - Mẹ ơi! Sao mẹ lại gọi bác ấy là “ông sư”?

        Nghe tôi giải thích theo kiểu hài hước, hai cô cháu cứ cười ré lên.

        Trong đám mấy cô chị nuôi và y sĩ dinh dưỡng thì chắc Lanh ghét cô y sĩ dinh dưỡng nhất. Chẳng là cô hay cấm Lanh ăn rau sống. Mà kiểu ăn rau sống của Lanh cũng khác người lắm cơ. Khi đi qua ngang luống rau thơm là Lanh vặt lấy một nắm nào là húng, nào là mùi... các loại rồi tráng qua vòi nước, vẩy vẩy mấy cái sau đó là đặt lên đĩa, chén luôn. Một lần, cô y sĩ dinh dưỡng - cô Thuyền mà chúng tôi vẫn gọi là Điêu Thuyền thấy Lanh làm vậy thì ào ra thu ngay đĩa rau một cách thẳng thừng, không khoan nhượng như các lần trước nữa. Lanh bước theo, ghé sát vào tai Thuyền chửi một câu rồ tục rồi quay lại bưng bát cơm, đủng đỉnh ra ngồi ngay cạnh luống rau thơm, vặt rau đặt thẳng vào bát, ăn ngay chẳng cần rửa ráy gì hết. Nàng Thuyền ta thấy vậy, chẳng dám ra vì vừa bị Lanh chửi mắng xong nên chỉ còn nước là đứng vào góc nhà, khóc nức nở...

        Lần cô chị nuôi tên là Thơm không biết đi đứng thế nào mà ngã gãy sứt một chiếc răng. Cô đi bịt chiếc răng gãy ấy: bịt vàng!. Thời đó cũng hay có trào lưu bằng răng vàng. Chẳng biết đấy là vàng thật hay vàng giả nhưng mà sau khi cô bịt răng vàng về thì hay bị trêu chòng. Một trong những lần trêu chòng mà sau đó hễ cứ thấy bóng dáng Lanh đâu là cô lập tức chạy... “mất dép”!.

        Ấy là lần cô chị nuôi Thơm xuống bếp đánh răng. Lanh ta đi đâu không biết nhưng ngang qua đó, thấy thế liền tạt ngay vào trong bếp, lấy ra chiếc rá vo gạo, hứng nước đánh răng của Thơm rồi chao qua chao lại. Lấy làm lạ, Thơm ngừng đánh răng, hỏi:

        - Anh làm cái trò gì thế?

        - Mày lãng phí ghê quá. Ai lại đi đánh răng vàng bao giờ. Tao hứng nước đãi may ra nhặt được chút mạt vàng nào chăng?

        Tức thì, Thơm quăng cả bàn chải đánh răng, cả ca nước... chạy biến vào nhà vừa cười, rồi... vừa khóc!

        Chưa hết chuyện. Hồi ấy bọn tôi hay được ăn loại kẹo Hải Châu, Hải Hà gì đó, mỗi chiếc kẹo đều được bọc một miếng giấy thiếc hoặc màu trắng hoặc màu vàng. Lanh lấy ngay giấy thiếc màu vàng, lẩn mẩn bọc vào chiếc răng cửa của mình rồi lẳng lặng đi xuống bếp. Gặp Thơm, Lanh nhe răng ra cốt khoe một chiếc răng của mình cũng được “bọc vàng”, chẳng kém cạnh gì. Mọi người được bữa cười đau bụng, còn Thơm thì chạy mất hút!

        Tuy trêu chọc, nghịch ngợm thế nhưng Lanh không có chút gì ác ý cả. Cốt chỉ để gây cười thôi. Mọi người đều biết vậy nên cũng không ai “thù” Lanh làm gì.

        Lanh hay xuống bếp giúp mọi người hoặc đơn giản chỉ xuống để tán gẫu. Lắm khi cũng xào xào, nấu nấu... ra dáng lắm.

        Tôi nhớ, có íàn mua to, mối cánh bay ra nhiều. Tôi và Lanh lấy chậu nước đặt dưới bóng đèn điện, mối sa xuống đó với số lượng kha khá. Tôi và Lanh vớt ra, mang xuống bếp xin hành, tỏi, mỡ để phi lên xào. Mấy cô chị nuôi người Hải Dương chưa thấy loại mối ấy bao giờ và không biết chúng tôi sẽ làm gì nên cứ gặng hỏi. Lanh thủng thẳng đáp:

        - Thấy có người bán mớ “nhộng Bắc Kinh” này rẻ quá, bọn tao mua về xào ăn thôi! Nào, cho xin ít mỡ, ít hành, ít mắm để trộn cho thơm!...

        - Trông ghê thế này mà ăn được á? - Mấy cô hỏi.

        - Ăn sống còn được nữa là! - Lanh đáp và tóm lấy một con cho ngay vào miệng nhai.

        - Eo ôi! - Mấy cô kêu ré lên.

        - Nào, có lấy các thứ hay không, kẻo tao nhai sống hết bây giờ? - Lanh hỏi.

        - Có ngay! Có ngay!...

        Chúng tôi xào mối lên rồi lấy bánh phở (bếp bay chuyên tự tráng bánh phở cho các bữa ăn sáng chứ không mua ở ngoài) loại chưa thái sợi, vẫn to như chiếc bánh đa ấy, trải ra rồi đổ mối vừa xào vào và cuộn lại chia cho mỗi người thưởng thức một tí. Về sau, mấy cô chị nuôi hỏi cặn kẽ mới biết đấy là loại thức ăn gì vừa ăn thì kêu la om sòm:

        - Ối hai “ông sư” ơi là hai “ông sư”! Ai lại đi ăn mối cánh bao giờ? Lại còn nói là “nhộng Bắc Kinh” nữa chứ! Khiếp quá đi mất!

        - Vậy ăn có ngon không để lần sau bọn tao còn làm tiếp?

        - Thôi, thôi đi các “ông sư” ơi!

        Rồi các cô đấm nhau cười rúc rích.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2016, 10:19:08 pm
        Mới gần đây thôi, khi tôi có số điện thoại di động của cô Trần Thị Toan - “ốc Toan” ấy, tôi bấm máy. Chuông kêu một lúc rồi nghe thấy tiếng Toan:

        - A lô! Ai gọi đấy ạ?

        - “Ốc” ơi! Dạo này “ốc” có khỏe không?

        - Giời ơi! “Ông sư”! ông đang ở đâu thế?

        Anh em tôi hàn huyên qua điện thoại một lúc rồi tôi hỏi:

        - “Ốc” còn nhớ “sư Lanh” không?

        - Làm sao mà quên được cái “ông sư” ăn sống mối cánh ấy! - rồi tiếng Toan cười ròn tan - cả “ông sư” Huy nữa trong cái vụ ấy! Chúng em nhớ chứ, chẳng bao giờ quên được đâu!

        Lanh và tôi hay đi với nhau. Lanh nghĩ ra được “chiêu” gì thì tôi hưởng ứng, ngược lại, tôi có “trò” gì hay thì Lanh lại phụ họa... rồi “tự biên tự diễn”. Cuộc sống trong thời chiến căng thẳng, gian nan vất vả vậy nhưng cũng có những thời điểm yên ắng. Và chúng tôi tự tìm lấy cách thư giãn cho mình. Có đêm, trời sáng trăng suông, tôi, Lanh cùng mấy anh em khác nữa lấy chiếc xe cải tiến kéo dọc đường. Một người cầm càng xe, một người đẩy đằng sau, còn mấy người ngồi trên xe làm hành khách. Cứ kéo một đoạn thì lại đổi nhau xem cảnh phu xe có vất vả không. Vừa kéo vừa trêu chòng nhau, nói cười ròn rã, om sòm cả một đoạn đường. Bất chợt, chiếc ô-tô chỗ Trung đoàn trưởng đi vụt qua. ông ngờ ngợ rồi thấy xe chạy chậm hẳn lại... Ông nhận ra đúng là đám lính của mình. Lúc ấy chắc ông ngạc nhiên lắm. Hôm sau, khi xuống ăn sáng, gặp chúng tôi, ông nhìn với ánh mắt là lạ, nửa như muốn dò hỏi, nửa lại không. Bọn tôi tất cả cứ tảng lờ, vờ như chẳng có chuyện gì xảy ra cả...

        Lanh thuộc dạng người khéo tay. Hồi cơ động vào sân bay Sao Vàng - Thọ Xuân, Lanh lần mần đi học rua, học móc - nào móc “quả núi”, nào móc “hoa dâu”... Rồi Lanh móc hoàn chỉnh hằn một chiếc áo gối hẳn hoi. Tôi lấy làm phục lắm. Tới khi nói chuyện với mấy cô em của Lanh mới biết thêm chi tiết là ngày ở nhà, Lanh biết dàn, biết sàng gạo còn giỏi nữa là đằng khác. Cái sự “khéo tay” ấy của Lanh đã có lần làm cho Trung đoàn trưởng phải làu bàu, bực mình. Ấy là khi chúng tôi “diện” chiếc áo lót cao không bằng tơ màu vàng nhưng phần phía hai cổ tay và cổ áo lại dệt bằng sợi vải trắng. Cái phần sợi trắng ấy nhanh rão và nhanh bẩn. Thế là, hai chúng tôi lấy kéo làm cho cái “xoẹt” để đỡ áy náy. Tôi thì lấy chỉ mạng theo kiểu vắt sổ vào mép vải ờ những chỗ vừa cắt cốt cho vải đỡ bị bung ra, còn Lanh thì lại lấy kim móc, hì hục móc theo kiểu móc “quả núi” quanh mép vải. Thực ra, nếu đấy mà là áo của con gái thì có thêm cái nét giêm giúa ấy càng thêm điệu đà, nhưng khốn nỗi, đây lại là một “đức ông” đầu trọc, diện vào, hai tay vừa đi vừa vung vẩy, tung tẩy... thì trông cũng “khó coi” thật!

        Khi gặp chúng tôi ở nhà ăn, Trung đoàn trưồng nhìn gườm gườm, chắc là “ngứa mắt’ lắm nhưng ông không quát tháo gì, chỉ lẩm bẩm:

        - Thật chẳng ra làm sao cả!

        Tôi chờ sự phản ứng tiếp theo của ông nhưng không thấy “tiến biển” gì thêm ngoài cái câu “Thật chẳng ra làm sao cả!”. Chẳng ra làm sao tức là chẳng làm sao và “hai ông sư” thì vẫn cứ đủng đỉnh trong cái bộ trang phục nửa sư nửa sãi với cách tạo mẫu ấn tượng ấy!.

        Cách ngủ của Lanh cũng thật khác người. Khi đi trực chiến ở các sân bay, Lanh chẳng bao giờ sử dụng đến gối khi nằm ngủ. Gối đầu lên gối là quá cao, ngay trải chiếc khăn mùi xoa để gối lên cũng đã là cao rồi! Lanh thường bẻ bớt một vài thanh giát giường và nằm gối đầu vào đúng cái chỗ lõm giữa mấy thanh vừa bị bẻ ấy mà ngủ. tức là khi ngủ, đầu phải dốc xuống. Rồi có bận lại còn xoay ngang người, đẩy mông sát vào tường, đưa hai chân dựng ngược lên tường kiểu như “tư thê hoa sen” trong Y-ô-ga. Chẳng biết “lão” ta nằm như vậy có ngủ được hay không, có ngủ ngon hay không, nhưng trông khó chịu lắm!

        Ở tất cả các nhà trực ngoài sân bay, cứ thấy giường nào bị bẻ vài thanh giát giường phía đầu giường thì chắc chắn Lanh đã ngủ ỏ đó!.

        Những ngày cơ động vào trực ở sân bay Sao Vàng - Thọ Xuân là những ngày chúng tôi bày ra lắm trò nghịch ngợm, trêu chòng nhau. Còn nhớ, khi biên đội của anh Đặng Ngọc Ngự vào, cùng ngủ ở khu nhà lá ở Đồi Luồng với chúng tôi. Đêm ngủ anh ngáy rất to làm cho bọn tôi không ai ngủ được. Hôm sau, Lanh bàn với tôi phải tìm cách làm cho anh Ngự ngủ ít đi để anh bớt ngáy thì may ra chúng tôi mới “yên thân”. Tôi và Lanh tìm cách bắt mấy con dế than và mấy con sạch sành. Dế than thì cho vào trong giày của anh, lấy tất chặn phía trên, còn sạch sành thì cho bám vào thành màn và đình màn của anh Ngự. Hai cái giống này có đặc điểm là khi có ánh sáng là chúng nằm im, nhưng khi tắt điện, có bóng tối là chúng bắt đầu rên ri, nỉ non... càng ngày độ réo rắt càng tăng. Tiếng dế than thì réo rắt, tiếng sạch sành thì lạch sạch, loạch quạch... khi mà hai cành chúng cọ vào nhau rung rung.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2016, 10:22:06 pm
        Bật đèn lên thì tất cả im thít, tắt điện đi thì lại bắt đầu dở chứng. Thoạt đầu chỉ có một con kêu nho nhỏ, ti tỉ thôi như kiểu thăm dò, sau đó thì tất cả òa lên như một giàn đồng ca. Tôi nằm nghe những âm thanh ấy, nghĩ bụng thế nào “bố” Ngự cũng phải dậy. Y như rằng, anh ngồi bật lên:

        - Những cái con gì kêu khó chịu thế nhỉ?

        Bọn tôi nằm im, giả vờ ngủ, không ai trả lời anh. Anh ấm ức:

        - Quái nhỉ? Lạ thật nhỉ? Hôm qua có thấy gì đâu!

        Anh bật đèn lên. Lập tức mọi tiếng kêu im bặt. Cứ tắt điện thì lên tiếng, bật điện thì im! Đúng là lũ frêu ngươi! Anh cáu tiết lắm! Lừa lúc chúng kêu vào giai đoạn cao trào nhất, anh bật ngay điện và nhảy ra khỏi giường, tay càm đèn pin sục sạo. Theo ánh đèn pin, anh phát hiện ngay được một chú sạch sành đang bám ờ thành màn. Anh tóm lấy cu cậu và lẩm bẩm:

        - Thằng thủ phạm đây rồi! Mà làm sao mày lại bám được vào đây nhỉ?

        Anh tiếp tục lia đèn pin, kiếm tìm. Thấy tiếp một chú đang nằm ung dung trên đình màn, anh tóm ngay và tới lúc này thì anh bắt đầu đặt dấu hỏi nghi ngờ:

        - Không thể nào mà cùng lúc lại có đến mấy con mà chỉ bám vào đúng màn của mình. Đúng là trò của thằng cha nào đây rồi!

        Chúng tôi vẫn nằm im mặc cho anh độc thoại. Anh lia đèn pin sang các giường khác để kiểm tra. Không thấy ai phản ứng gì nghe chừng tất cả đã ngủ say. Anh tắt đèn, lên giường. Chỉ chua đầy phút sau, một chú dế than bắt đầu rên khe khẽ, sau rồi to dần, to đàn. Rồi tiếp đến là tiếng mấy con khác cất lên. Bản hòa tấu cất vang. Đến lúc này thì anh Ngự không thể chịu đựng thêm nũa. Anh khua tất cả chúng tôi dậy:

        - Tớ dám chắc đây là trò đùa của mấy cậu! Nào, cậu nào trêu tớ thì nhanh chóng dẹp cái trò này đi để còn ngủ, mai còn trực! Hại thần kinh lắm! Bực người ghê thật ấy!

        Bọn tôi lục tục dậy, vờ vịt tay dụi mắt như cố xua đi cơn ngái ngủ. Anh tuyên bố thẳng với tôi:

        - Cậu là thủ phạm của cái trò đùa này, phải không? Tớ nghĩ rồi, chỉ có cậu thôi, đúng không?

        - Ơ! Sao anh lại đổ cho em? Bọn em có sao đâu, có bị con nào bám đâu! Chắc anh mới vào, lạ hơi nên chúng mới đến đấy chứ!

        - Đừng có mà lí sự cùn! Đi tìm ngay xem chúng đang ở đâu đi!

        - Theo em, không thể để điện sáng được. Phải tắt điện đi rồi càm đèn pin sẵn sàng, nghe tiếng kêu ồ đâu là lập tức rọi ngay vào khu vực đó tìm thì may ra mới thấy!

        - Ừ, cậu nói có vẻ có lí đấy!

        Rồi đèn được tắt, các đèn pin sẵn sàng rọi. Phút sau, tiếng dế đàn dàn vang lên. Anh Ngự bật ngay đèn, phát hiện một chú vừa chui ra khỏi giày vừa rung cánh vừa gáy ngay dưới cuối giường của mình. Anh chộp lấy và bóp nát chú ta trong cơn tức giận. Anh bắt đầu lục tiếp chiếc giày bên cạnh, tóm tiếp một chú khác. Giải quyết xong hai chú dế than, anh gọi tôi giật giọng:

        - Huy! Có phải cậu làm cái trò này không?

        - Ngay từ đàu em đã nói là không rồi mà! Sao anh cứ xoáy vào em mãi thế nhỉ?

        - Không cậu thì thằng Lanh! Mà cũng có thể là cả hai thằng cùng làm việc này!

        - Thôi, anh ơi! Anh đừng ngờ vực nữa! Ngủ đi để mai còn đi trực! Việc đó điều tra sau!

        ...

        Sáng hôm sau ở ngoài nhà trực, anh vẫn nhìn chúng tôi với cái nhìn dò xét để phán đoán xem thằng nào là thủ phạm chính, thằng nào là tòng phạm, hay cả lũ đều đầu têu như nhau... Rồi lệnh báo động vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của anh...

        Viết đến đây, tôi thành thật kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn anh, xin anh sự tha thứ vì những trò đùa trẻ con ấy. Lanh thì cũng đã thành “người thiên cổ” rồi! Chắc ở cái “thế giới bên kia” ấy, Lanh đã gặp anh và nói về kỷ niệm của một thời xa xưa ấy. Tôi đoán, chắc thế nào anh cũng mỉm cười với nụ cười độ lượng:

        - Tớ chẳng thèm chấp ba cái thứ lặt vặt ấy đâu!

        Xin anh cho hai chữ Đại Xá!


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2016, 08:40:15 am
        Lanh hay đi lang thang, thích đi lang thang...

        Những ngày không phải phiên mình trực là y như rằng không mấy khi Lanh ở nhà. Lanh hay đi đó đi đây. Cứ vào nhà này một tí xong lại sang nhà khác ngồi một tẹo, chẳng ngôi ở đâu lâu. Thế mà nắm được khối chuyện. Một lần, Lanh đi đâu không biết, nhưng khi về thì bảo tôi:

        - Này, “Quất”! Tuần này có thích ăn thịt chó không?

        - Thịt chó ở đâu mà ăn? Mà ai sẽ làm? - Tôi hỏi lại.

        - Thì bếp trưởng Hải sẽ làm!

        - Đợi đấy! Có mà còn khuya!

        - Mày “cú đỉn” bỏ mẹ! Đúng là chẳng biết gì! Chỉ cần khen vợ lão ấy trắng... như “chiếc chậu men” là lão ấy sướng lắm, gì cũng chiều hết sảy!

        - Có mà ăn đòn thì có! Ai mà lại sướng khi nghe khen “trắng như cái chậu men” bao giờ!

        - Mày cứ thử mà xem!

        - Thử thì thử, sợ gì!

        Nói là làm! Tôi lững thững đi xuống bếp, gặp cô chị nuôi Thiết liền đứng nói chuyện tào lao, cốt để thăm dò và tìm cớ làm sao để anh bếp trưởng phải mời mình vào uống nước. Một lúc sau thì thấy tiếng anh vọng từ trong nhà ra thật:

        - Hôm nay anh không phải trực à? Vào tôi uống nước đi, anh Huy ơi!

        - Tôi vừa trực hôm qua. Mai mới đến phiên cơ. Hôm nay anh cũng ở nhà à?

        Tôi vừa nói, vừa hỏi, vừa bước vào phòng anh. Anh tráng ấm, pha trà rồi chúng tôi ngồi hàn huyên hết chuyện nọ đến chuyện kia. Tôi thì cớ lựa đàn các câu chuyện để xoay sang cái việc cần hỏi là “trắng như cái chậu men”. Từ xưa tới giờ tôi chỉ nghe thấy câu “trắng như trứng gà bóc” chứ chua nghe thấy câu “trắng như cái chậu men” bao giờ. Mới nghe Lanh thuật lại là lần đàu. Tôi thăm dò:

        - Từ ngày anh vào đây thì chị có vào thăm anh lần nào không?

        - Có chứ! Mấy tháng trước đây có vào ở với tôi mấy ngày đấy!

        - Nghe mấy người kháo nhau là chị ấy xinh lắm và trắng trẻo lắm!

        - Đúng vậy đấy! Vợ mình xinh và da trắng như chậu men ấy!

        - Thế thì hơn đứt mấy cô ở đây rồi! Đúng là nhất anh!

        - Ừ, hơn là cái chắc! Mấy cô cứ gọi là chạy dài!...

        Vậy là thằng cha Lanh nói đúng. Tôi thì cứ lo, nhỡ mà ví vợ anh ấy “trắng như chậu men”, anh ấy cho là mình chê bai, miệt thị thì có mà ăn đòn, đằng này tự anh ấy nói ra nên tôi thấy sướng rơn cả người. Mà có lẽ, hồi đó cái chậu sắt tráng men thì đúng là nó trắng thật!

        Chuyện loanh quanh một lúc rồi tôi đặt vấn đề:

        - Lâu quá không có món *Vitamin gâu gâu”, anh nhỉ?

        - Cuối tuần này ta làm thôi! - Anh trả lời gọn lỏn. - Để tôi tìm xem có chú vện hoặc chú vàng nào vừa vừa tầm thì ta sẽ “làm” thôi!

        - Thế thì còn gì bằng! “Nhất vện, nhì vàng...” mà! Đúng không anh?

        - Đúng thế!

        Và đúng thế thật. Vào cuối tuần ấy, một “chú vện” đã bị “xử".

        Lanh huých tôi:

        - Thấy đúng không “Quất”?

        - Đúng thật! Mà cũng lạ thật! - tôi trả lời.

        - Lạ cái gì?

        - Lạ về cái việc “trắng như chậu men” ấy!

        - Ừ, không biết sao, cứ khen thế là lão ấy sướng lắm!

        Mà đúng là anh Hải sướng. Sướng một cách thật sự!

        Rồi khi trở về sân bay Đa Phúc, tôi nhớ Lanh còn làm một cú giật gân nữa. Đấy là hồi ấy, anh Tạ Quốc Hưng nuôi một đàn gà con nhưng không hiểu thế nào mà chuột vào “chén” chỉ còn độc có một con. Cái con thoát chết ấy cũng không được lành lặn, nó bị đám chuột gặm mất một chân và moi ruột lòng thòng ra ngoài bụng. Anh Hưng xót xa, lấy chỉ khâu bụng nó lại và băng bó chân cho nó. Chẳng ai nghĩ là nó có thể sống sót. Vậy mà nó lại vượt qua được cái “cửa tử” mới lạ. Nó cứ nhảy lò cò một chân trông vừa thương vừa thấy ngộ nghĩnh. Mà cũng lạ, anh Hưng đi đâu là nó theo tiếng huýt sáo của anh lóc cóc theo sau. Một hôm, chàng Lanh ta tóm trộm nó đem ra để “khoe” giống gà lạ: không phải là chín cựa như vật sính lễ của Sơn Tinh, Thủy Tinh đi ăn hỏi Mỵ Nương mà là gà một cẳng biết nhảy theo tiếng huýt sáo. Bất ngờ lệnh báo động chuyển cấp vang lên rồi sau đó là xuất kích chiến đấu. Lanh ta đã cho gà vào túi áo bay, bay về sân bay Kép, cuối chiều mới trở lại căn cứ chính Đa Phúc.

        Trong thời gian ấy thì anh Hưng nháo nhác tìm gà, hỏi ra mới biết “Quất” Lanh ôm gà đi trực. Anh Hưng lo quá, chẳng hiểu rồi những gì sẽ xảy ra với Lanh nữa. Tới lúc Lanh ôm gà về trả, cười cười với cái miệng “meo méo” thì anh Hưng muốn chửi lấy một câu cho bõ tức cũng chẳng được nữa. Thật là hết trò! ở cái tuổi ngoài hai mươi lại trong chiến tranh bom rơi đạn nổ như vậy mà Lanh vẫn nghịch được như trẻ con hồi còn ở quê mới lạ.

        Trong thời gian ấy thì anh Hưng nháo nhác tìm gà, hỏi ra mới biết “Quất” Lanh ôm gà đi trực. Anh Hưng lo quá, chẳng hiểu rồi những gì sẽ xảy ra với Lanh nữa. Tới lúc Lanh ôm gà về trả, cười cười với cái miệng “meo méo” thì anh Hưng muốn chửi lấy một câu cho bõ tức cũng chẳng được nữa. Thật là hết trò! ở cái tuổi ngoài hai mươi lại trong chiến tranh bom rơi đạn nổ như vậy mà Lanh vẫn nghịch được như trẻ con hồi còn ở quê mới lạ.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2016, 08:44:21 am

6

        Bước sang năm 1972 - một năm dự kiến sẽ có  nhiều trận đánh phá ác liệt của không quân Mỹ ra miền Bắc, đặc biệt là sau sự kiện “Mùa hè đỏ lửa” ở Quảng Trị. Trong khoảng thời gian trước đó, vào cái thời gian “ném bom hạn chế” ấy thì phía Không quân, Hải quân Mỹ đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của các đơn vị sẽ tham gia các chiến dịch đánh phá miền Bắc Việt Nam như các chương hình nâng cao cho phi công rồi cải tiến trang bị các loại tên lửa mới cho các máy bay, cải tiến, bổ sung tính năng kỹ thuật, động lực học (khí động học) cho các máy bay khi cơ động ở các mặt phẳng, nhất là mặt phẳng ngang trong không chiến. Trên các máy bay cũng đã được lắp thêm hệ thống tác chiến điện tử có thể thu được tần số thu phát của máy bay MiG để có thể phát hiện sớm vị trí của máy bay MiG, đồng thời tăng cường gây nhiễu: nhiễu tiêu cực, nhiễu tích cực... với những cường độ lớn, dày đặc.

        Chiến thuật, thủ đoạn đánh phá cũng được thay đổi. Trong đội hình bay vào miền Bắc Việt Nam, chúng sử dụng đội hình nhỏ hơn, bay vào từ nhiều hướng khác nhau, với nhiều độ cao khác nhau. Đặc biệt, tỉ lệ máy bay tiêm kích đi yểm trợ được tăng lên rất nhiều, tỉ lệ đến 3/1. Chính vì vậy, các phi công ta khi tham gia chiến đấu phải đương đầu với những sự khó khăn nhiều hơn gấp bội so với những trận chiến của những năm trước đó.

        Nhưng, tất cả các phi công của ta đã sẵn sàng, đã như mũi tên đặt trên dây cung, chờ lao thẳng vào trận bất kể lúc nào.

        Sau khi Trung đoàn chuyển căn cứ từ Thọ Xuân về sân bay Đa Phúc đã tổ chức những Hội nghị “Quân sự dân chủ” tìm cách đánh và lựa chọn phương pháp bay thấp ra phía xa rồi kéo cao, bất ngờ chọc thẳng vào đội hình địch là phương pháp đánh chính.

        Ngày 20 tháng 5 năm 1972, biên đội Lương Thế Phúc, Đỗ Văn Lanh trực ban chiến đấu ở đầu Đông sân bay Đa Phúc nhận lệnh xuất kích lúc llh35 phút. Sau khi cất cánh, biên đội vòng về khu vực Phủ Lý, nhận lệnh từ sở  chỉ huy:

        - Vứt thùng dầu phụ! Tăng lực kéo lên độ cao 4000 mét!

        - Nghe tốt! - số 1 Phúc trả lời.

        Phúc và Lanh nhanh chóng ấn nút vứt thùng dầu phụ, bật tăng lực kéo lên. sở chỉ huy tiếp tục thông báo:

        - Mục tiêu bên phải 30 độ, 30 cây!

        - Nghe rõ 30 độ, 30 cây!

        Lát sau, Phúc phát hiện được 2 chiếc F-4 ở bên trái liền thông báo:

        - Tôi phát hiện biên đội 2 chiếc bên trái 60 độ, 15 cây!

        - Tôi thấy tốt! - Lanh trả lời.

        - Xin phép công kích! - Phúc báo cáo sở chỉ huy.

        - Cho phép! - Sở chỉ huy trả lời.

        Hai chiếc F-4 bay theo đội hình kéo dài, thường xuyên cơ động đan chéo. Phúc nhiều lần tiếp cận để công kích nhưng 2 chiếc cơ động rất gấp nên không thể công kích được. Trong lúc đó, Lanh vẫn bám chặt theo Phúc ồ phía sau. Phát hiện thấy có 2 chiếc F-4 ở phía sau vừa xuất hiện và phóng tên lửa vào số 1 của mình, Lanh hô:

        - Chúng phóng tên lửa! Cơ động gấp 

        Phúc kéo máy bay làm động tác tránh tên lửa. Khi phát hiện thấy có 1 chiếc F-4 ờ phía trước, Lanh nhanh chóng bám theo, đến cự li chừng 1500 mét với tốc độ là 1100 km/h, điểm ngắm khá ổn định, Lanh ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa bên cánh trái lao vọt ra, máy bay rung, mang độ nghiêng nhẹ. Lanh vòng gấp thoát li luôn, không thấy được điểm nổ, chỉ thấy thằng F-4 vòng phải, lao xuống rất nhanh mà thôi. Ngay lúc đó, Lanh thấy 2 thằng F-4 bám theo máy bay của Phúc và tiếp tục phóng tên lửa. Lanh báo cho Phúc:

        - Cơ động gấp!

        Phúc lập tức kéo máy bay mình vòng gấp. Hai quả tên lửa vọt qua dưới cánh máy bay MiG. Lanh bám ngay được 2 thằng F-4 ấy. Đến cự li thích hợp, anh ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai, thấy điểm nổ ở bên phải chiếc F-4. Lanh kéo lên cao thoát li và không nhìn thấy Phúc nữa. Lanh báo cáo:

        - Tôi mất số 1 rồi!

        - Giảm độ cao, bay hướng 360 về hạ cánh! - sở chỉ huy ra lệnh.

        - Chú ý tăng cường cảnh giới trên đường đi! - số 1 Phúc nhắc thêm.

        - Nghe tốt! - Lanh trả lời và nghĩ: “Vậy là số 1 của mình cũng đã thoát li khỏi trận chiến an toàn rồi!”. Lanh yên tâm về sân bay Đa Phúc hạ cánh.

        Trước đó 5 phút, Phúc cũng đã được sở chỉ huy dẫn về hạ cánh an toàn. Khi Phúc và Lanh gặp lại nhau trong phòng trực chiến thì cũng là lúc nhận được tin thông báo: Lanh đã bắn rơi 1 chiếc F-4 ngay từ quả tên lửa thứ nhất Chiếc F-4 này mang mật danh “Bovvleg 02” do Trung úy John D. Markle và Đại úy James w. Wĩlliam điều khiển. Hai phi công nhảy dù. John D. Markle được cứu thoát, còn James w. William thì bị bắt làm tù binh.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2016, 08:47:13 am

        Phúc bắt tay chúc mừng Lanh. Mọi người kéo đến chúc mừng biên đội và chúc Lanh lập thêm nhiều thành tích hơn nữa. Không khí tại khu trực chiến thật vui vẻ, hân hoan.

        Tin Lanh bắn rơi được máy bay trong trận không chiến cũng được thông báo ngay cho các thành phần trong Trung đoàn để động viên kịp thời. Ai ai cũng phấn khích, đặc biệt là tôi...

        Cũng phải kể lại cái chuyện này một chút Ngày Lanh bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên thì ngày ấy không phải là phiên trực ban chiến đấu của tôi. Tôi đang ở trong hầm. Thời chiến tranh ấy, cả quả núi ở gần thôn Lạc Đức được khoét rỗng tạo thành 3 chiếc hầm thông nhau. Mỗi hầm là một Đại đội bay ở ừong đó. Hầm có thể chống được bom tấn và cả bom nguyên tử hạng nhẹ. Phía dưới chân núi là bếp bay, Ban Quân y và Hậu cần. Chỗ ấy nay đã chuyển thành Kho khí tài. Đằng sau núi là hồ nước rất trong. Tương truyền đấy là vết chân ngựa của Thánh Gióng để lại trước khi Người bay về trời. Nếu đi tắt từ hầm bọn tôi ở đến đền Gióng thì chẳng bao xa.

        Nghe tin Lanh bắn rơi 1 F-4, tôi vui quá, nghĩ bây giờ phải làm cái gì đó để chúc mừng thằng bạn mới được. Nhác thấy chiếc bảng đen dựng ở thành hầm dùng để thông báo, phân công các biên đội trực, tôi vác ra cửa hầm, lau chùi sạch sẽ rồi hí hoáy vẽ một phi công trong buồng lái MiG-21 kéo máy bay vọt lên trong trạng thái thoát li khỏi trận chiến, phía dưới là chiếc F- 4 bốc cháy đang lao xuống. Xong xuôi, tôi cẩn thận viết mấy chữ rõ to: “Hoan hô thằng Lanh!”. Rồi tôi mang “tác phẩm” của mình ra treo gần lối lên hầm, cốt để khi Lanh về là phát hiện được ngay. Nào ngờ, Lanh thì chưa thấy bóng dáng đâu mà lại thấy ngay Chính ủy đi từ dưới chân núi lên. Dừng chân trước “tác phẩm” của tôi, hai tay chắp sau lưng ngắm nghía hồi lâu rồi Chính ủy gật gù:

        - Tranh vẽ được đấy! Đẹp đấy! Ai vẽ thế? 

        Tôi phổng mũi, nghĩ phen này mình sẽ được khen là “khéo tay”, hăng hái thưa:

        - Dạ! Tôi vẽ ạ!

        Chính ủy vẫy tôi lại gần rồi nhẩn nha hỏi:

        - Sao không phải là “Đồng chí Lanh” mà lại là “thằng Lanh”?

        - Thì hàng ngày chúng tôi vẫn xưng hô “mày, tao” với nhau bình thường mà!

        - Xưng hô hàng ngày nó khác. Đằng này đua lên bảng như quảng cáo thế này thì... tếu táo quá! Tếu táo quá!

        Tôi thầm nghĩ chắc chỉ là nhắc nhở thế thôi, ai dè, tôi bị phê bình là “lạc quan tếu” và đương nhiên tháng ấy khi bình xét, tôi không đạt “4 tốt” (chỉ còn “3 tốt”, mất “1 tốt” vì cái trò “lạc quan tếu”!)

        Sau đấy thì Lanh gặp tôi:

        - Quên chuyện ấy đi nhé!

        - Quên chuyện gì? - tôi ngơ ngác hỏi lại.

        - Thì cái chuyện “3 tốt” của mày ấy!

        - Thì tao cũng có nhớ nữa đâu!

        Cái việc đạt “3 tốt” với tôi lần này đâu có phải là lần đầu. Tôi hay bị như vậy nên cũng chẳng nặng nề gì. 

        Mấy hôm sau, lão Thân “xồm” tìm gặp tôi:

        - Con cố gắng phấn đấu lên nhé! Cứ đạt “4 tốt” đi rồi bố sẽ có thưởng!

        Mấy anh em chúng tôi chơi với nhau thường hay xưng “mày, tao” nhưng khi mà có việc gì hứng lên thì lại “chuyển gam” gọi “con” và xưng “bố” ngay.

        - Thì con cũng liệu thần hồn đấy! Đã bù lại cho đủ số đạn chưa, kẻo bố mà tố cáo thì chắc gì con đã đạt được lấy “1 tốt”?

        Cái chuyện đạn dược mà tôi hỏi ấy chính là cái chuyện Lanh với tôi và “lão xồm” hay vác súng đi tìm chỗ để thi bắn lắm. Lần tôi cùng Thân “xồm” ra mấy hố bom ở sân bay Sao Vàng - Thọ Xuân thấy có mấy chú ếch nhấp nhô bơi lội thì đố nhau xem thằng nào bắn trúng ếch. Tôi rút khẩu súng ngắn K-59, còn lão “xồm” thì K-54. Hai bên thi nhau đì đùm, kết quả chẳng thằng nào hơn thằng nào mà đến lúc nhìn lại thì hết nhẵn cả cơ số đạn trong súng. Lúc ấy, hai chúng tôi mới ngẩn mặt ra:

        - Bỏ mẹ! Lấy gì bù vào bây giờ đây? - Thân hỏi.

        - Dưới ghế dù của tao có một hộp gồm 16 viên. Tao mà có sợ đếch! Nhảy dù là tao có đạn bắn liền!

        Vậy là cả một giai đoạn dài tôi trực chiến nhưng chỉ có súng không mà chẳng hìề có viên đạn nào cả. Cho tới tận khi ra ngoài sân bay Đa Phúc thì tôi mới tìm cách bổ sung đầy đủ cơ số.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2016, 08:27:11 pm
        Hồi đó, bọn tôi còn lấy súng tín hiệu với loại đạn màu xanh, màu đỏ để bắn vào những chiếc thùng phuy ngoài sân bay có khoảng 1/3 nước mưa ở trong đó để tạo thành “phẩm màu” rồi lấy những mảnh khăn dù màu trắng cho vào đó nhuộm. Để chừng mươi phút, khi nhấc lên thì những tán khăn dù có màu xanh hoặc màu hồng trông rất đẹp mắt. Có được cái “sáng kiến” ấy, chúng tôi quàng những chiếc khăn màu lên cổ với vẻ mặt nghe chừng vênh váo lắm.

        Mà nói về chuyện bắn thì tôi lại nhớ đến lần mấy tên đi thi tài cùng nhau, trong đó có Lanh. Lanh cuộn một tờ báo đem theo để làm “bia”. Ra khu vực rừng thông thì Lanh lấy báo căng lên, rồi xoay người lại, rất ra dáng, bước từng bước để tính khoảng cách. Lanh rút súng, giương lên theo động tác giống hệt như các điệp viên tình báo trong phim và... bóp cò!. “Đoàng...đoàng...đoàng... !”. Sau khi xử lí hết 6 viẽn ừong băng đạn của súng K-59 thì đĩnh đạc tiến lên kiểm tra kết quả.

        Động tác bắn trông rõ oai, đạn nổ rõ to, nhưng... tờ báo vẫn còn nguyên vẹn, lành lặn như lúc đầu. Vậy thì đạn đi đâu hết nhỉ? Chúng tôi cười ầm lên. Lanh bực mình, rút súng, dùng nòng súng K-59 đâm liên tục vào tờ bào. Mỗi lần đâm là một lần hậm hực: “Này, này...!”. Chúng tôi nhìn tờ báo rách bươm rồi tiu nghỉu rủ nhau về. Thế là vãn trò!

        Dưới đất xạ kích của Lanh thì như thế, vậy mà trên trời thì khác hẳn.

        Sau chiến công đầu 4 ngày, vào ngày 24 tháng 5 năm 1972 thì Lanh đã lập được kỳ tích trong đời bay.

        Ngày ấy là ngày Quân chủng nhận được tin tình báo: Không quân, Hải quân Mỹ sẽ đánh vào phía Tây Nam Hà Nội và các mục tiêu ven đường 1 Bắc.

        Bộ tư lệnh giao cho Trung đoàn sử dụng lực lượng đánh vào các tốp máy bay của Không quân Mỹ trên hướng Tây Nam Hà Nội, ngoài vùng hỏa lực phòng không.

        Hôm ấy có 2 biên đội MiG-21 trực chiến. Biên đội thứ nhất là Phạm Phú Thái và tôi. Biên đội thứ hai là Lương Thế Phúc và Đỗ Văn Lanh.

        Phạm Phú Thái và tôi cất cánh trước - vào lúc 10 giờ 32 phút Chúng tôi bay về hướng Tây Bắc Thái Nguyên. 8 phút sau thì Sở chỉ huy lệnh:

        - Vứt thùng đàu phụ! Tăng lực kéo lên độ cao 5000!

        Nghe tốt 5000! - Thái nhắc lại.

        Cả biên đội nhanh chóng vứt thùng đàu phụ, bật tăng lực và kéo lên lấy độ cao. Khoảng một phút sau, anh Thái phát hiện thấy 1 chiếc F-4 nhưng rồi mất hút. Ngay lập tức, chúng tôi thấy một tốp 12 chiếc F-4 bay theo đội hình kéo dài ở bên trái chúng tôi 30 độ. Phía bên phải lại có thêm 4 thằng nữa bay theo đội hình “bàn tay xòe”. Bọn bay theo đội hình kéo dài thì ở cùng độ cao với chúng tôi, còn 4 thằng “bàn tay xòe” thì ồ cao hơn chừng 500 mét Tất cả bọn chúng hoàn toàn bị bất ngờ nên không có phản ứng gì cả. Phạm Phú Thái chớp thời cơ, ra lệnh cho tôi:

        - Tôi đánh thằng số 4 của biên đội bên phải!

        - Nghe tốt! - tôi trả lời.

        Thái lao vào, phóng liền 2 quả tên lửa rồi thoát li ngay. Sau khi nhận lệnh phân công công kích của Thái, tôi bám theo 2 thằng bên phải, đến cự li 2000 mét, tôi ngắm vào 1 thằng và ấn nút phóng quả tên lửa thứ nhất nhưng không trúng. Tôi tiếp tục bám theo và phóng tiếp quả tên lửa thứ hai, thấy tên lửa nổ phía sau thằng F-4. Tôi nhanh chóng thoát li.

        Sau khi biên đội chúng tôi cất cánh được 7 phút thì biên đội Phúc, Lanh nhận được lệnh xuất kích, bay về phía Phủ Lý. Sở chỉ huy cho thay đổi hướng và độ cao liên tục, rồi lệnh cho biên đội vứt thùng dàu phụ, bật tăng lực kéo lên độ cao 6000 mét và hướng bay 10 độ thì Lương Thế Phúc phát hiện thấy 2 chiếc F-4. Phúc hô:

        - Mục tiêu bên trái, phía trước 20 độ, cự li 15 cây!

        - Nghe tốt! - Lanh trả lời.

        - Xin phép công kích! - Phúc báo cáo.

        - Cho phép công kích! - sở chỉ huy đồng ý.

        - Tăng lực tiếp cận! - Phúc ra lệnh cho Lanh.

        - Nghe rõ!

        Ngay lập tức, 2 thằng F-4 cơ động đan chéo liên tục. Phúc bám theo lụa thời cơ, bắn 1 quả tên lửa nhưng không trúng. Anh tiếp tục tiếp cận, bắn tiếp quả nữa, vẫn không trúng nên thoát li về sân bay Đa Phúc hạ cánh với lượng đầu chỉ còn 50 lít


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2016, 08:29:59 pm
        Nói về Lanh. Khi cất cánh lấy hướng bay về phía Phủ Lý, Lanh lại chợt nhớ đến trận đánh ngày 20 tháng 5 - trận anh lập được chiến công đầu tiên. Như được tiếp thêm sức mạnh, Lanh thấy mình phấn chấn hẳn lên. Khi nghe số 1 thông báo có mục tiêu, Lanh còn phát hiện thêm biên đội 2 chiếc F-4 nữa bay ở phía bên phải đối đầu. Lanh thông báo:

        - Có 2 thằng ngược chiều bên phải, cùng độ cao!

        - Tôi thấy rồi! Giữ đội cho chắc nhé! - Phúc trả lời.

        - Nghe tốt!

        Trận này, Lanh đã giữ đội yểm hộ cho số 1 Phúc suốt thời gian Phúc bám đuổi, công kích thằng F-4.

        Khi nhận được lệnh thoát li, cả biên đội lấy hướng bay về phía sân bay Đa Phúc để hạ cánh, nhưng tới lúc nhận được thông báo cách sân bay 45km thì bỗng nhiên động cơ máy bay Lanh ngừng hoạt động vì hết dầu!. Lúc này, Lanh đang ở độ cao 5500 mét và tốc độ bay là 700km/h. Lanh báo cáo:

        - Máy bay tôi bị chết máy vì hết dầu!

        - Độ cao hiện nay? - Sở chỉ huy hỏi.

        - 5500 mét! - Lanh bình tĩnh trả lời.

        - Nhảy dù, bỏ máy bay! - Sở chỉ huy ra lệnh.

        - Tôi đang ở hướng thẳng đường băng. Xin hạ cánh bắt buộc!

        - Nhảy dù đi! - sở chỉ huy tiếp tục ra lệnh

        Lanh không trả lời sở chỉ huy vì đang cố gắng điều chỉnh mọi tham số, số liệu bay cho phù hợp để chuẩn bị cho cú hạ cánh bắt buộc với động cơ không làm việc. Lanh đưa đầu máy bay đặt vào vị trí khoảng 2/3 chiều dài của đường cất hạ cánh để lao xuống với tốc độ lao là 450 km/h.

        Sở chỉ huy còn giục Lanh nhảy dù một lần nữa, nhưng lần này thì Lanh đã qua Phúc Yên, sắp đến Đài xa rồi. Biết tính quyết đoán và có phần liều lĩnh của Lanh vì cùng “họ hàng nhà Quất” cả, anh Tạ Quốc Hưng trực dẫn đường trong sở chỉ huy khi thấy thời tiết đảm bảo - không có mây và thời điểm đó tình hình địch cũng “yên ắng” - không có tốp nào hoạt động, Lanh lại đang ở đúng hướng hạ cánh... với đầy đủ các yếu tố “Thiên thời, Địa lợi” như vậy nên anh Tạ Quốc Hưng đã ra những khẩu lệnh hợp lí giúp cho Lanh xuống hạ cánh an toàn. Anh nhắc Lanh:

        - Chú ý đặt điểm lao và giữ tốc độ lao!

        - Nghe tốt! - Lanh trả lời

        - Nhớ phải kéo bằng hai lần để tạo góc tiếp đất cho hợp lí!

        - Nghe rõ!

        Cẩn thận hơn, anh Hưng còn nhắc ngoài Đài chỉ huy K-5 (Đài chỉ huy cất hạ cánh):

        - Chú ý là máy bay bị chết máy nên không có tiếng động đâu. Cần tập trung, phát hiện sớm để chỉ huy giúp việc hạ cánh!

        - Tôi nghe rõ! Tôi đã thấy máy bay đang về đây rồi!

        - Chú ý nhắc cho kịp thời!

        - Nghe tốt!

        Anh Hưng còn yêu cầu anh Nguyễn Đức Trinh trực dẫn đường hiện sóng phải liên tục thông báo cự li và độ cao của Lanh để anh Hưng giúp Lanh chỉnh lượng lao xuống cho phù hợp.

        Các khẩu lệnh vẫn phát đều đặn để nhắc nhở, hướng dẫn Lanh, nhưng không thấy Lanh trả lời nữa. Rõ ràng, Lanh đang tập trung hết mức để đưa máy bay xuống hạ cánh an toàn.

        Sau khi lao qua đài xa ở độ cao lớn hơn 2000 mét, Lanh làm động tác thả càng. Càng không ra. Lanh thu càng lại và thả bằng hệ thống khẩn cấp. Càng đã được thả. Độ cao bây giờ còn gần 1000 mét, đã qua đài gần. Lúc này tốc độ còn 430km/h. Lanh thả cánh tà rồi kéo bằng lần thứ nhất để giảm góc lao. Rồi tiếp tục kéo bằng lần hai để tạo góc cho máy bay tiếp đất theo sự chỉ dẫn của Đài chỉ huy K-5. “Kịch”! - Máy bay đã tiếp đất trên đường băng. Cú tiếp đất hơi nặng so với thông thường khi động cơ còn làm việc, nhưng máy bay đã tiếp đất an toàn!.

        Máy bay chạy được chừng 2/3 đường băng thì dừng lại. Có lẽ do quá căng thẳng và mệt mỏi nên Lanh cứ ngồi nguyên trong buồng lái. Xe ứng cấp chạy đến và anh em thợ máy mở nắp buông lái, đỡ Lanh ra. Khuôn mặt Lanh nhợt nhạt, bộ quầàn áo bay đẫm mồ hôi... nhưng trên môi Lanh lại nở nụ cười hạnh phúc - nụ cười chiến thắng!.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2016, 08:31:56 pm
        Anh Tạ Quốc Hưng trực dẫn đường trong sở chỉ huy hôm ấy kể lại:

        - Trận ngày 24 tháng 5 năm 1972, tôi trực ban dẫn đường tại sỏ chỉ huy Trung đoàn 921. Khi nghe Đỗ Văn Lanh báo cáo máy bay hết dầu bị chết máy, sở chỉ huy đã 3   lần lệnh cho Lanh nhảy dù, nhưng phi công Đỗ Văn Lanh quyết định quay về hạ cánh để cứu máy bay. Sau lần phi công Võ Sĩ Giáp hi sinh trong khi hạ cánh bắt buộc ngoài sân bay, Bộ tư lệnh đã quy định trong những tình huống tương tự, các phi công phải nhảy dù để bảo toàn lực lượng phi công.

        Tôi thấy trời tốt, không có mây, độ cao và tốc độ của Lanh đều nằm trong giới hạn cho phép nên vẫn hướng dẫn cho Lanh quay về hạ cánh. Rất may là chuyến hạ cánh thành công, chứ không thì...

        Sau này, khi vầ họp rút kinh nghiệm tại sở chỉ huy tại K-12, gặp tôi, Lanh nói: “Anh và anh em đã cứu tôi và máy bay của tôi!...”

        Tới lúc tôi gặp anh Tạ Quốc Hung, tôi hỏi anh:

        - Làm sao mà anh lại rành rọt về chuyện xử lí bất trắc của bọn em thế nhỉ? Cứ như anh cũng đã từng đi học bay ấy!

        Cái thằng “Quất” này! Tao biết được mọi thứ về máy bay MiG-21 là nhờ công của anh Phạm Công Thành đấy. Anh Thành trước đây được cử đi Liên Xô học lớp dẫn đường của tàu ngầm mà vẫn được gọi là Hoa tiêu ấy, hiểu chưa. Anh học mấy năm bên đó nhưng đến khi về nước nghỉ phép thì không sang học tiếp được nữa vì giai đoạn đó bạn không nhận với những lí do gì đó thì tao chịu. Anh Thành tiếp tục học dẫn đường Khóa 2 ở trong nước. Anh Thành rất giỏi tiếng Nga, mọi tài liệu tiếng Nga, nhất là về máy bay, anh đều dịch ra tiếng Việt và dạy tao. Tao có thể nói, ngay từ hồi đó, nhờ anh Thành mà tao đã biết được hết cách xử lí bất trắc trên loại máy bay MiG-21 của chúng mày rồi. Chính vì vậy mà khi thằng “Quất” Lanh nói nó bị hết dầu, xin hạ cánh khẩn cấp là tao đã định hướng phải làm ngay những gì.

        - Ai mà cũng được như anh thì chúng em yên tâm biết bao nhiêu, hạnh phúc biết bao nhiêu. Đúng như là phao cứu sinh ấy!

        - Thôi đi, tao không ăn “bánh hón” đâu!

        - Em nói thật mà, anh!

        Sau này, anh Tạ Quốc Hưng có viết lại chuyến hạ cánh “độc nhất vô nhị” ấy của Đỗ Văn Lanh frên “Tạp chí Thông tin khoa học” của Học viện Không quân thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân, đăng ỏ số 01 năm 1997 với tựa đề: “Thoát hiểm nhờ kỹ thuật lái và lòng dũng cảm” (trang 16-17 của Tạp chí).

        Các anh dẫn đường ngày ấy (và bây giờ cũng vậy) gắn bó với phi công chúng tôi qua sóng vô tuyến - qua đối không. Các anh có thể biết rất rõ tính cách của từng phi công một và chúng tôi qua ngữ điệu, qua giọng nói của các anh cũng có thể đoán biết được tình huống ở trên không lúc bấy giờ.

        Khi nghe giọng của các anh dẫn đường ở sở chỉ huy như anh Nguyễn Văn Chuyên (sau này trở thành Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân), anh Tạ Quốc Hưng, anh Trần Đức Tụ... với khẩu lệnh thư thái, điềm tĩnh là biết tình hình chưa có gì gay cấn, nhưng khi thấy giọng của các anh nhấn mạnh và nói nhanh hơn bình thường thì có nghĩa là tình hình đã trở nên căng thẳng... Đặc biệt, khi nghe giọng của anh Lê Thiết Hùng trực dẫn đường hiện sóng hô: “Cơ động gấp!” là phải kéo cần lái ngay tắp lự và y như rằng thấy ngay vài quả tên lửa không đối không của địch xẹt qua dưới cánh máy bay mình. Bản thân tôi cũng đã được anh cứu cho không chỉ một lần bằng cái khẩu lệnh: “Cơ động gấp!” ấy.

        Những người dẫn đường cùng với người chỉ huy trực ở sở chỉ huy là những người kiến tạo, những “kiến trúc sư” của trận đánh. Họ lặng lẽ nghiền ngẫm, rút kinh nghiệm từng trận đánh một để rồi rút ra những bài học của những trận thắng, trận thua... để rồi đưa ra cách đánh mới, cách thức dẫn dắt mới, tìm những chiến thuật mới cho những trận đánh mới. Họ đã có công lớn, đóng góp phần lớn vào những thắng lợi của cuộc chiến. Chúng tôi gắn bó với họ và biết ơn họ rất nhiều.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2016, 07:29:53 am
        Trở lại chuyện của Đỗ Văn Lanh - đấy là Lanh nói với anh Tạ Quốc Hưng, còn khi ngồi với tôi thì Lanh lại xuýt xoa:

        - Chuyến ấy tao hạ không “u T”, lại rơi hơi nặng một tí. Kể chỉnh điểm lao tốt hơn và kéo thêm tá nữa thì đẹp!

        - Mày đã cứu được máy bay thế là quá giỏi rồi, “T” với tiếc cái đếch gì nữa, cái thằng “Quất” này! - tôi trả lời.

        Về cái chuyện “u T” mà Lanh nói ở đây thì tôi phải giải thích thêm một chút để các bạn độc giả hiểu:

        Trong quá trình học bay, phía bên trái đường băng tính từ phía cuối đường lên với khoảng cách chừng 200 - 300 mét có đặt một chữ “T” màu trắng (được rắc bằng vôi bột hoặc căng bằng vải trắng) để lấy chuẩn cho vị trí tiếp đất. Nếu máy bay tiếp đất ngang với chữ “T” (gọi là “u T”) thì đạt điểm ưu, nếu vượt quá “T” hoặc chưa đến “T” thì không đạt được- điểm ưu và tùy theo cự li cách “T” bao nhiêu mà sẽ nhận điểm khá hay trung bình hoặc là kém. Sau này, khi về chiến đấu và đặc biệt là ở các sân bay dã chiến, cơ động thì không có chữ “T” nữa, nhưng phàm đã là học viên bay và nhất là phi công thì không ai là không hiểu về khái niệm chữ “T” kia khi về hạ cánh!.

        Trong thời gian chúng tôi bay trên loại MiG-21 ở trường, các giáo viên bay có huấn luyện cách xử lí khi động cơ bị tắt, cách thức mở máy lại ở trên không và cách thức hạ cánh bắt buộc khi máy bay bị tắt máy như thế nào. Chỉ tiến hành mở máy trên không lần cuối ở độ cao không nhỏ hơn 3000 mét. Nếu ở độ cao nhỏ hơn 2000 mét không mở máy được thì phải quyết định hạ bắt buộc hay nhảy dù. Khi quyết định hạ cánh thì cần phải nhớ rằng động cơ không làm việc thì máy bay sẽ rơi xuống với tốc độ thẳng đứng là 50 m/s. Vì vậy, phải tạo được tốc độ cho đường lao xuống là 480 - 500 km/h. Thả càng khẩn cấp ở độ cao 2000 mét. Độ cao trên Đài xa là 1300 -1700 mét. Khi lao xuống đến độ cao 200 - 250 mét thì bắt đầu giảm góc để đưa máy bay đến độ cao 10 -12 mét với tốc độ 380 - 400km/h và tiếp tục hạ cánh.

        Khi thực tập hạ cánh với giả thiết động cơ không làm việc, trong quá trình vào hạ cánh và lướt xuống thì thả mảnh giảm tốc và cửa dầu đặt ở nấc “SPS”. Đường lướt xuống trong trường hợp này gần giống như đường lướt xuống khi động cơ không làm việc.

        Nhưng đấy là trong hoàn cảnh thời bình, trong huấn luyện, mọi thứ đều yên ổn, đều chủ động một cách đàng hoàng, không có gì là gấp gáp cả và tất cả đều được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước: kể cả từ phi công đến chỉ huy và các thành phần bảo đảm khác...

        Đằng này lại là trong bối cảnh khác: trong thời chiến tranh, địch đang dùng lực lượng Không quân đánh phá, sử dụng lực lượng tiêm kích đi yểm hộ nhiều hơn thời gian trước đó và đặc biệt lại vừa thoát li ra khỏi cuộc không chiến xong. Sự căng thẳng từ phía chỉ huy đến phi công chua hề giảm tí nào lại tiếp tục có sự cố ghê gớm này... sở chỉ huy lệnh cho nhảy dù đến 3 lần, nhưng có lẽ chỉ có Lanh mới dám làm và quyết tâm làm cái việc cứu máy bay đã hết sạch dầu, đưa chiếc máy bay chết máy ấy về hạ cánh an toàn trên sân bay. Rồi lại còn xuýt xoa tiếc rẻ không tiếp đất vào được khu vực đạt điểm ưu nữa...

        Như vậy thì đúng là chỉ có mỗi Đỗ Văn Lanh!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2011_zpsbumq37gy.jpg)
Trở về sau chuyến bay
  
        Cho đến thời điểm ấy và cho đến tận bây giờ, khi tôi ngồi viết nhũng dòng này thì có lẽ trên thế giới chưa có phi công bay MiG-21 nào làm được như Lanh cả!.

        Có lẽ chính vì thế mà khi lấy ý kiến để đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đỗ Văn Lanh thì ai cũng đồng ý, cho dù Lanh chỉ bắn rơi có 4 máy bay (thời ấy, tiêu chuẩn phải bắn rơi 5 chiếc trở lên thì mới đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng). Riêng chuyện đưa chiếc máy bay hết dầu về hạ cánh an toàn trên sân bay đã là hành động Anh hùng, xứng đáng được phong Anh hùng rồi!...


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2016, 07:35:26 am

        Tháng 6 năm 1972 là tháng mà Trung đoàn giành được thắng lợi ròn rã nhất Rất nhiều phi công của Trung đoàn lập công trạng ở tháng 6 này, trong đó có tôi. Riêng Đỗ Văn Lanh thì tháng 6 là tháng anh “gặt hái” được mùa hơn cả: bắn rơi 2 chiếc F-4 trong 2 trận.

        Đầu tiên là vào ngày 13 tháng 6. Hôm ấy, Phạm Phú Thái và tôi trực ỏ đầu Tây, còn Lương Thế Phúc và Đỗ Văn Lanh trực ở đầu Đông sân bay Đa Phúc. Ngày ấy là ngày có nhiều tốp máy bay của Không quân và Hải quân Mỹ vào đánh phá các mục tiêu giao thông của ta và sử dụng lực lượng lớn tiêm kích để đối phó với các máy bay MiG.

        Lúc 8 giờ 54 phút, biên đội Phúc, Lanh chuyển cấp và xuất kích chiến đấu. Biên đội được dẫn đi đánh tốp 12 chiếc của Không quân Mỹ đang bay đến gần khu vực Yên Châu và một tốp 4 chiếc khác đang bay từ Phú Thọ lên Tuyên Quang.

        Sau khi cất cánh, biên đội nhận lệnh từ sở chỉ huy:

        - Hướng bay 260, độ cao 3000!

        - Nghe tốt 260 và 3000! - số 1 Phúc trả lời.

        Rồi tiếp ngay sau đó lại là khẩu lệnh:

        - Vứt dầu phụ! Tăng lực kéo lên độ cao 5000 mét!

        - Nghe rõ!

        Cả biên đội theo lệnh nhanh chóng vứt thùng dầu phụ, tăng lực và kéo máy bay lấy độ cao, nhưng máy bay của Lanh không bật được tăng lực vì biên đội sau khi xuất kích bay vào khu vực loa cất hạ cánh ồ đầu sân bay thì máy bay của Lanh đã bị trúng đạn pháo phòng không. Máy bay bị thương, hệ thống tăng lực không làm việc và hệ thống dầu bổ trợ điều khiển cũng trục trặc. Lanh biết vậy nhưng cứ im lặng bay. Ngay lúc đó, Phúc phát hiện thấy biên đội 4 chiếc F-4 đang bay theo đội hình phân tốp kéo dài. Phúc hô:

        - Tôi phát hiện tốp 4 chiếc bên trái 20 độ, cự li 20 cây ở độ cao 4500!

        - Tôi thấy tốt! - tiếng Lanh đáp lại.

        - Giữ tăng lực! Lấy độ cao công kích từ trên xuống! - Phúc ra lệnh.

        - Nghe rõ! - Lanh trả lời.

        Biên đội kéo lên đến độ cao 6000 mét rồi lật máy bay sang phía trái, ép độ nghiêng bổ xuống, lao vào đội hình của bọn F-4.

        Bọn F-4 đã phát hiện được biên đội Phúc, Lanh. Chúng vòng gấp, ép ngay vào phía bụng máy bay của Lương Thế Phúc. Phúc nghe thấy tiếng Lanh:

        - Cơ động gấp!

        Biết bọn chúng phóng tên lửa, Phúc kéo gấp máy bay mình, tránh được hai quả tên lửa của bọn F-4 vừa phóng ra. Thấy đã lỡ thời cơ, không còn thế chủ động tấn công nữa, Phúc quyết định xin phép thoát li khỏi cuộc chiến. Sở chỉ huy đồng ý và dẫn Phúc về hạ cánh.

        Khi Phúc hô: “Phát hiện...” thì Lanh cũng đã thấy ngay cho dù Phúc chưa nói hết câu. Riêng về khoản phát hiện mục tiêu trên không thì Lanh thuộc dạng rất nhanh và xa. Bình thường, khi thấy Lanh cười - mồm thì méo méo, mắt lại nheo nheo, xếch xếch thì ai cũng nghĩ là Lanh tìm mục tiêu kém lắm. Vậy mà ngược lại!

        Mấy đứa em tôi sau cái lần gặp Lanh xong thì cứ thi nhau hỏi tôi về cái sự “meo méo, xếch xếch” ấy trên khuôn mặt Lanh:

        - Anh ơi! Có phải là anh Lanh bị thương khi đánh nhau không?

        - Lanh đã nhảy dù trong chiến đấu lần nào đâu và có làm sao đâu mà bị thương? - tôi hỏi lại.

        - Thì nhìn mặt anh ấy chúng em đoán thế!

        - Anh cũng chịu thôi! Lúc nào anh sẽ hỏi anh ấy cho, nhưng mà không phải là anh ấy bị thương đâu!

        - Chúng em vẫn nghĩ là...

        Bọn chúng bỏ lửng, không nói hết nhưng tôi biết chúng vẫn nghi ngờ là Lanh bị thương trong chiến đấu mà tôi giấu bọn chúng. Bọn chúng không tín lời giải thích của tôi.

        Tận mãi mấy chục năm sau này, khi có dịp ngồi nói chuyện với ông bố của Lanh, tôi chợt nhớ lại câu chuyện ngày nào của mấy đứa em tôi nghi ngờ, tôi hỏi ông:

        - Ông ơi! Ông cho con hồi, hồi xưa khi con ở với Lanh, con thấy Lanh mồm cứ hơi “meo méo và mắt cũng cứ xênh xếch” thế nào ấy. Lí do sao thế, ông nhỉ?

        - Hồi nhỏ, có lần Lanh bị trúng gió, bị cảm mà cứu chữa chẳng được kịp thời nên sau khi khỏi cảm thì nó để lại cái di chứng ấy đấy! - ông trầm ngâm, trả lời chậm rãi.

        - Đến tận bây giờ con mới biết được điều ấy đấy!

        - Thì cũng có ai nói đâu. Anh biết rồi đấy, nhà quê thì chẳng mấy ai quan tâm tỉ mỉ thế đâu!

        Thế là đã rõ! Tuy mắt Lanh “nheo nheo, xếch xếch” thế thôi, nhưng tinh như mắt cú mắt cáo ấy!

        Trong trận này, Lanh phát hiện gần như cùng lúc với số 1 Phúc.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2016, 07:40:04 am
        Khi Phúc lật máy bay, bổ xuống vòng theo lũ F-4 thì Lanh lại phát hiện được 4 chiếc khác đang cắt bám vào phía sau máy bay của Phúc và bắn tên lửa. Lanh đã hô cho Phúc kịp tránh mấy quả tên lửa không đối không của lũ F- 4 ấy. Khi bám theo số 1 lấy độ cao, Lanh lại phát hiện thêm 4 chiếc nữa ở cự li chừng 7 - 8 km ờ phía bên phải 30 độ đang bổ nhào vào biên đội MiG. Lanh cắt ngay vào bám theo 4 chiếc này, nhanh chóng đưa thằng bay gần nhất vào vòng ngắm. Đến cự li 1500 mét, Lanh vừa ấn nút phóng tên lửa vừa lẩm bẩm:

        - Mẹ thằng “cú đỉn” này!

        Quả tên lửa từ bên cánh trái lao ra, nổ ngay trên lưng thằng F-4. Lanh kéo máy bay thoát li về bên phải. Ngay lúc ấy lại thấy một thằng F-4 khác ở bên phải chừng 20 - 30 độ. Lanh đặt điểm ngắm, giữ ổn định rồi ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai, mồm vẫn lẩm bẩm:

        - Mẹ thằng “cú đỉn” này!

        Quả tên lửa nổ ngay phía bên phải thằng F-4. Lanh nhanh chóng dúi ngay máy bay mình thoát li luồn qua dưới bụng thằng F-4 ở cự li gần tới mức Lanh thấy rõ cả cờ hiệu ừên chiếc máy bay F-4 này.

        - Nhanh chóng thoát li về hạ cánh! - sở chỉ huy ra lệnh.

        - Nghe tốt!

        - Giữ hướng bay 60!

        - Nghe tốt 60!

        Cái từ “cú đỉn” nó xuất hiện từ khi nào và trong ngữ cảnh nào thì tôi không được rõ, nhưng chỉ biết rằng quanh nó đã có khá nhiều giai thoại. Chắc chắn một điều lằng, khi đã nói đến cụm từ “cú đỉn” với một ai đó hoặc với một hành động nào đó thì người ta hiểu ngay rằng chẳng hay ho, tốt đẹp gì. Chúng tôi cũng thường dùng nó để biểu tình cảm hay phản ứng của mình, như:

        - Sao mày “cú đỉn” thế?

        - Đúng là “cú đỉn”!

        ...

        Về sau này cái cụm từ ấy bị lãng quên dằn và cho đến bây giờ không thấy ai sử dụng nữa!.

        Khi bay đến ngang Việt Trì, Lanh thấy có 4 chiếc F- 4 lẽo đẽo theo sau anh ở cự li chừng 10 km, nhưng gần đến Vĩnh Yên, bọn chúng biến mất Hỏa lực phòng không của ta được bố trí suốt từ Việt Trì đến Vĩnh Yên bắn rất mạnh tạo thành màn lưới lửa với các độ cao khác nhau. Bọn F-4 không dám tiến vào sâu hơn nữa, đành “bỏ của chạy lấy người”. Lanh đã không bị chúng bám đuôi. Tới lúc này, Lanh thấy máy bay của mình bỗng rung, lắc một cách không bình thường. Lanh quan sát bên ngoài máy bay thì thấy một bên cánh bị vỡ toác một miếng, vòng quay động cơ cũng dao động. Trong lúc quần nhau, bay với chế độ “vòng quay lớn nhất” thì Lanh không để ý lắm. Biết máy bay mình “có vấn đề”, Lanh nhanh chóng về hạ cánh.

        Sau khi tiếp đất, lăn vào sân đỗ thì mới thấy một mảnh đạn của pháo phòng không đã gây ra sự cố ấy. Dầu vẫn còn chảy nhỏ giọt từ thùng dầu trên cánh. May mà Lanh đã hạ cánh an toàn trên sân bay Đa Phúc sau khi bắn hạ được 1 thằng F-4. Sau khi rút kinh nghiêm trận đánh xong, anh Tạ Quốc Hưng hỏi Lanh:

        - Này, “Quất”! Sao mày biết máy bay bị thương mà mày vẫn lao vào trận mà không báo cáo, hả?

        - Em mà báo cáo thì sở chỉ huy đuổi về ngay. Bỏ một trận tiếc lắm!

        Thế mới biết Lanh ham đánh tới mức nào.

        Trong khi đó, ở đầu Tây sân bay, vào lúc 9 giờ 16 phút thì biên đội của Thái và tôi nhận lệnh xuất kích chiến đấu bay về khu vực Sơn Dương - Đại Từ. Khi biên đội kéo lên độ cao 4000 mét, ngang Bắc Cạn thì tôi phát hiện thấy có biên đội 4 chiếc F-4 ở cự li khoảng 13 cây số phía bên phải 30 độ. Lại nói về mắt của tôi. Nếu so với mắt của Lanh thì tôi thua kém xa. Anh em lúc thì gọi tôi kèm theo từ “cận”, lúc lại kèm theo từ “lòa”!. Nghĩa là, tôi chỉ phát hiện được mục tiêu chừng 13 cây sô đổ lại thôi, chứ xa hơn thì tôi “chấp một mắt”! (vì có nhìn căng cả hai mắt ra cũng chẳng thể thấy!).

        Khi biên đội tôi vòng lại đánh tốp này thì lại thấy một tốp nữà ở bên phải, gần hơn một chút Phạm Phú Thái hô:

        - Vứt dầu phụ! Tăng lực! Nện bọn này!

        - Nghe tốt! - tôi trả lời.

        Khi anh Thái bắt đầu tiếp cận thì bọn F-4 cũng bắt đầu cơ động đan chéo. Đợi đúng thời điểm thằng bay số 4 trong biên đội F-4 vừa cải bằng thì Thái nện ngay một quả tên lửa. Quả tên lửa R-3S của máy bay Thái lao thẳng vào thằng F-4. Nó bùng cháy dữ dội. cả anh Thái và tôi đều la:

        - Cháy rồi!

        - Nó cháy rồi!

        Còn lại 3 thằng, lúc bấy giờ chắc bừng tỉnh hẳn. Chúng quay ngoắt vào phía bụng máy bay của chúng tôi. Chúng tôi không thể nào công kích được nữa. Anh Thái báo cáo về Sở chỉ huy xin thoát li và biên đội chúng tôi thoát li khỏi cuộc chiến, về sân bay hạ cánh.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2016, 08:51:24 pm

        Sau đó 1 tuần, vào ngày 21 tháng 6, Lanh tiếp tục lập công, bắn rơi 1 chiếc F-4 nữa khi đi số 2 cho anh Lương Thế Phúc.

        Chiều hôm ấy, sau khi nhận được tin Không quân và Hải quân Mỹ sẽ sử dụng lực lượng lớn đánh vào đường số 2. Sở chỉ huy đã thông báo tình hình cho biên đội Phúc, Lanh đang trực ban chiến đấu biết. Lúc 13 giờ 30 phút, trạm ra-đa cảnh giới của ta phát hiện được 1 tốp 16 chiếc bay từ Bắc bản Ban về phía Tây Sơn La. Ý định của sở chỉ huy sẽ cho biên đội Phúc, Lanh chuyển cấp 1 và xuất kích chiến đấu để đánh tốp bay từ Yên Châu vào.

        Phúc và Lanh đang nằm nghỉ trong nhà trực chiến ở đầu Đông sân bay Đa Phúc thì chuông điện thoại reo dồn dập. Trực ban tác chiến vồ lấy tổ hợp, nghe xong vừa hô vừa chạy ra gõ kẻng báo động:

        - Biên đội Phúc, Lanh cấp một!

        Ba tiếng kẻng phía đàu nhà trực chiến vang lên lảnh lót. Phúc và Lanh bật dậy, vơ lấy mũ bay, vừa chạy ra máy bay vừa đội. Tổ thợ máy của máy bay trực chiến cũng đã kịp mở nắp buồng lái, xe điện APA đã nổ máy ròn rã. Phúc và Lanh ngồi vào buông lái, bật Vô tuyến điện và báo cáo:

        - Biên đội chuẩn bị tốt!

        - “Ấp Bắc! Cờ Hồng!” - (nghĩa là “Mở máy! cất cánh!”)

        - Nghe tốt!

        Biên đội nhanh chóng mở máy, khẩn trương lăn ra, cất cánh.

        Sau khi rời đất, biên đội được sở chỉ huy dẫn về hướng Thanh Sơn. Đến khu vực phía Nam Việt Trì, sở chỉ huy ra lệnh:

        - Hướng bay 280! Độ cao 5000!

        - Nghe tốt 280,5000! - số 1 Phúc dõng dạc trả lời.

        Khi biên đội đang bay ở hướng 180 độ thì sở chỉ huy lại thông báo:

        - Mục tiêu bên phải 30 độ, cự li 12 cây!

        - Nghe rõ! - Phúc vừa trả lời xong thì phát hiện được 4 chiếc F-4 đang bay đối đàu ở cự li 10 km. Phúc liền báo:

        - Phát hiện được 4 chiếc đối đàu ở cự li 10 cây! Xin công kích!

        - Cho phép! Chú ý quan sát các tốp khác! - Sở chỉ huy trả lời và nhắc nhở.

        Phúc lượn phải rồi vòng trái gấp để bám tốp F-4. Anh đua thằng F-4 bay số 2 vào vòng ngắm. Đến cự li phóng tên lửa, điểm ngắm đã ổn định, anh ấn nút phóng tên lửa, nhưng tên lửa không ra. Anh chuyển điểm ngắm sang thằng bay số 1. Đến cự li 1300 mét, anh ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai, nhưng không hiểu sao tên lửa cũng không ra. Phúc báo cáo về sồ chỉ huy và xin thoát li khỏi cuộc chiến. Sở chỉ huy đồng ý và dẫn Phúc quay về sân bay Đa Phúc hạ cánh.

        Tốp F-4 mà Lương Thế Phúc lao vào tấn công chính là tốp máy bay đi yểm hộ bọn thả nhiễu. Trong lúc đó, ngoài tốp F-4 ấy ra thì Lanh lại còn phát hiện được bọn thả nhiễu bay ờ phía dưới và xa hơn liền lao đến tấn công bọn này.

        Bọn này gồm 6 chiếc bay theo đội hình kéo dài: 4 chiếc bay kiểu đội hình “bàn tay xòe” đi đầu và 2 chiếc đi xa hơn, ở phía sau. 4 thằng bay với đội hình “bàn tay xòe” chính là bọn làm nhiệm vụ thả nhiễu. Lanh lao thẳng vào cái “bàn tay xòe” ấy, đưa thằng F-4 đang bay ở vị trí số 3 vào vòng ngắm. Đến cự li 2000 mét, Lanh ấn nút phóng quả tên lửa bên trái. Quả tên lửa lao vút ra. Lanh thấy mục tiêu vẫn bay thẳng liền quyết định “nện” tiếp quả thứ hai. Anh ấn nút phóng tên lửa và lẩm bẩm:

        - Mẹ thằng “cú đỉn” này!

        Ngay lúc ấy anh thấy thằng F-4 bùng cháy. Quả tên lửa thứ hai cũng lao luôn vào đuôi thằng F-4 ấy khiến nó nổ tung. Lanh nhanh chóng lật máy bay sang trái và kéo lên độ cao 5000 mét, sau đó lộn xuống bay thật thấp về hạ cánh tại sân bay Đa Phúc.

        Chiếc F-4 mà Lanh thiêu cháy do Đại úy George A.Rose và Trung úy nhất Peter A.Calloghan điều khiển thuộc Phi đoàn 334, Không đoàn 4 với nhiệm vụ đi gây nhiễu cho đội hình tấn công, cả hai phi công trên chiếc F-4 này đã kịp nhảy dù thoát khỏi máy bay và đã bị bắt làm tù binh.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2016, 08:53:09 pm

        Trận đánh ngày 9 tháng 9 là trận đánh ác liệt, cam go đối với biên đội Phúc, Lanh. Trong 2 ngày trước đó, Mỹ đã sử dụng lực lượng lớn máy bay của Không quân để đánh phá các mục tiêu dọc đường số 2, đường 1 Bắc; còn lực lượng máy bay của Hải quân thì đánh phá các mục tiêu ở khu vực Hòn Gai, Quảng Ninh, Thanh Hóa, đồng thời tiến hành trinh sát vũ trang nhiều mục tiêu trọng điểm.

        Vào ngày 9 tháng 9, theo tin tình báo ta nhận được, địch vẫn tiếp tục sử dụng lực lượng lớn để đánh phá đường 1 Bắc, đường số 3, Thái Nguyên và Hải Phòng.

        3 Trung đoàn Không quân tiêm kích của Quân chủng đã nhận nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Thời gian đó, Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 đã được trang bị loại máy bay MiG-21 F-96 có nhiều ưu việt hơn loại máy bay MiG-21 F-94. Hôm đó, biên đội Lương Thế Phúc và Đỗ Văn Lanh trực ban chiến đấu với loại máy bay MiG-21 F-96 này.

        Ngoài nhà trực chiến, Phúc-Lanh liên tục được sở chỉ huy thông báo tình hình địch và nhận được những lời động viên chiến đấu. Phúc-Lanh hiệp đồng thêm với cách xử lí các tình huống. Chuông điện thoại reo vang...

        - Biên đội Phúc, Lanh cấp 1! - trực ban tác chiến hô to.

        Cả hai nhanh chóng trèo vào buồng lái, mở máy liên lạc đối không.

        - “Ấp Bắc! Cờ Hồng!” - lệnh từ sở chỉ huy.

        - Nghe tốt!

        Tiếng động cơ nổ rền vang. Không khí ngoài sân bay nhộn nhịp, náo nhiệt hẳn lên. Ai nấy đều biết đây sẽ là một ngày rất căng thẳng, sẽ có nhiều chuyến xuất kích chiến đấu, sẽ có nhiều trận không chiến xảy ra, sẽ có chiến thắng và rồi có thể... cũng sẽ có tổn thất Không một ai mong muốn tổn thất đến với mình cả. Các đồng chí thợ máy là những người có những tâm trạng diễn biến theo những cung bậc khác nhau nhất, nhanh nhậy nhất Khi nhận được tin phi công bay trên máy bay mình bắn rơi máy bay địch thì họ hoan hỉ, hồ hởi và phấn chấn có khi còn hơn cả phi công vì hơn ai hết, họ là những người gắn bó với những chiếc máy bay nhất, họ chăm sóc chúng như chăm sóc đứa con của mình. Họ có thể bỏ ăn, bỏ ngủ, thức thâu đêm suốt sáng để sửa chữa những hỏng hóc dù là nhỏ nhất, để không bao giờ cho phép mang hỏng hóc lên trời... Khi chiến thắng trở về, người đầu tiên đón các phi công là thợ máy, là các thành phần kỹ thuật ngoài khu trực chiến...

        Một khi các máy bay không trở về thì tất cả đều buồn bã chẳng khác gì mình mất đi đứa con dứt ruột đẻ ra. Thật nao lòng đến phát khóc lên được khi thấy cảnh thợ máy cầm càn dắt máy bay, đứng ngóng trông về phía đầu sân bay, đợi chờ hết giờ này đến giờ khác với cái nhìn càng ngày càng tuyệt vọng... Thật hệt như hòn vọng phu ngoài bờ biển! Thấy cảnh tượng ấy, ai mà không thổn thức cho được!

        Chính vì những lẽ đó mà giữa phi công và các thành phần thợ máy đã có mối dây liên kết vô hình ngày càng bền chặt. Càng gian nan hiểm nguy, càng khó khăn vất vả bao nhiêu thì mối dây kia càng khăng khít bấy nhiêu...

        Chúng tôi chưa bao giờ phụ lòng nhau trong từng chuyến bay dù là huấn luyện hay chiến đấu. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn cùng với sự khâm phục đối với các đồng chí thợ máy cùng các thành phần kỹ thuật khác đã không quản khó khăn, luôn chuẩn bị máy bay ở mức độ tốt nhất, sẵn sàng cho mọi chuyến cất cánh bất kể lúc nào! Không có các anh, không có được những sự giúp đỡ, gắn bó tâm huyết của các anh thì chúng tôi cũng chẳng thể làm nên công trạng gì!


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2016, 08:57:20 pm
        Trở lại chuyến xuất kích của biên đội Phúc và Lanh. Sau khi biên đội đã tách đất, sở chỉ huy vẫn chưa xác định được hướng đánh chính của địch. Phúc, Lanh nhận lệnh bay về hướng 230 độ, sau đó bay về hướng 360 độ. Lúc này Sỏ chỉ huy đã quyết định cho biên đội Phúc, Lanh đánh vào tốp 12 chiếc đang bay ra.

        - Vứt thùng dầu phụ! Tăng lực kéo lên độ cao 6000! - Sở chỉ huy ra lệnh

        - Nghe tốt 6000! - Phúc trả lời

        Biên đội nhanh chóng vứt thùng dầu phụ, bật tăng lực và kéo lên lấy độ cao.

        - Hướng bay 100! - sở chỉ huy ra lệnh tiếp.

        - Nghe rõ 100!

        - Tôi phát hiện 4 chiếc bên trái 30 độ, 18 cây! - Tiếng Phúc dõng dạc

        - Tôi thấy tốt! - tiếng Lanh đáp lại.

        - Còn 4 chiếc nữa bên phải, hàng ngang cách 8 cầy!

        - Tôi thấy tốt! - Lanh trả lời.

        - Tôi công kích chiếc bên phải, ngoài cùng! - Phúc phân công.

        - Nghe rõ!

        Phúc lao vào tốp gần nhất, bám theo thằng bay số 4, đưa nó vào vòng ngắm. Đến cự li gần 2000 mét, Phúc ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa bên cánh trái rời khỏi bệ, lao vút về phía trước. Phúc vừa kịp nhìn thấy chiếc F-4 cắm xuống thì nghe thấy tiếng Lanh hô:

        - Cơ động! Nó bắn súng đấy!

        Ngay lập tức, Phúc kéo vọt gấp lên cao thoát li, sau đó được Sở chỉ huy dẫn dắt về hạ cánh ở sân bay Kép. Khi về đến sân bay Kép, vì lượng dầu trên máy bay còn ít nên Phúc xin hạ cánh trực tiếp mà không bay theo hàng tuyến thông thường, sợ không đủ dầu bay lại nếu như gặp sự cố. Sở chỉ huy đồng ý cho Phúc vào hạ cánh trực tiếp. Vừa thả càng, thả cánh tà xong thì Phúc nhận được lệnh từ Đài chỉ huy K-5 ngoài sân bay:

        - Thu càng, thu cánh tà! Quay lại phản kích!

        Hôm đó, Nguyễn Xuân Hiển đang trực chỉ huy trên Đài K-5 vừa quan sát máy bay của Phúc vừa quan sát tình hình chung để đảm bảo chỉ huy cho Phúc xuống hạ cánh an toàn. Phát hiện được biên đội 2 chiếc F-4 bám theo máy bay của Phúc, phán đoán chúng sắp phóng tên lửa nên Hiển ra lệnh rất kịp thời. Phúc nhanh chóng thu càng, thu cánh tà, tăng tốc độ rồi vòng gấp lại. tức thì, 2 quả tên lửa bay sạt ngay phía trên lưng máy bay. Máy bay rung lên. Phúc tiếp tục kéo vòng gấp để bám vào bán cầu phía sau của 2 thằng F-4, nhưng đúng lúc ấy thì máy bay của Phúc hết dầu, động cơ tắt lịm. Phát hiện thấy có ánh chớp lửa dưới cánh thằng F-4, Phúc biết chúng lại tiếp tục phóng tên lửa vào máy bay mình. Anh kéo gấp máy bay để tránh, đồng thời tìm cách mở máy trên không, nhưng vì dầu liệu đã hết sạch, hơn nữa độ cao quá thấp nên Phúc quyết định nhảy dù, rời bỏ máy bay.

        Lương Thế Phúc tiếp đất an toàn tại huyện Lạng Giang - Bắc Giang.

        Bọn F-4 vẫn còn tiếp tục lao vào bắn chiếc máy bay “không người lái” của Phúc nữa, nhưng không trúng. Chiếc máy bay tự rơi!.

        Vào giai đoạn này, bọn F-4 rất hay dùng thủ đoạn “tự do săn lùng”, sục sạo ờ các khu vực hai đầu loa cất hạ cánh ở các sân bay để mai phục máy bay ta khi cất cánh lên hoặc khi về hạ cánh sau khi thoát li khỏi không chiến. Lúc đó, tốc độ của máy bay ta còn nhỏ, nhất là nhũng máy bay nào bị thương trong không chiến phải thoát li về nữa thì dễ làm “miếng mồi ngon” cho bọn chúng lắm. Trường hợp của Lương Thế Phúc lúc này cũng tương tự như vậy, anh cũng bị chúng bao vây, tấn công. Nhưng, dù cho chúng đã chiếm ưu thế về số lượng máy bay, về cả thế chiến thuật, chúng vẫn không bắn rơi được Phúc. Anh phải nhảy dù, bỏ máy bay vì lẽ đơn giản là máy bay hết đầu, tắt máy ở độ cao thấp mà thôi.

        Nói về số 2 Đỗ Văn Lanh. Lúc số 1 của mình là Lương Thế Phúc phóng tên lửa thì đúng vào thời điểm đó anh cũng phát hiện thấy 2 thằng F-4 tiếp cận vào máy bay Phúc để sử dụng súng trên máy bay công kích Phúc. Thời gian ấy, trên máy bay F-4 đã được cải tiến, trang bị thêm súng 20 li, loại M61A120mm để tăng khả năng công kích ở cự li gần. Trận này, chúng đã sử dụng chiến thuật ấy để tấn công Lương Thế Phúc.

        Thấy bọn F-4 áp vào máy bay số 1 của mình, biết là chúng sẽ sử dụng súng trên máy bay, Lanh báo ngay cho số 1 biết và nhanh chóng phóng một quả tên lửa về phía bọn F-4 nhằm uy hiếp, xua đuổi chúng, bắt chúng rời khỏi máy bay của Phúc. Nhimg biên đội F-4 không dễ gì nhả ngay “miếng mồi” mà chúng cho rằng sắp “sực” được đến nơi. Chúng vẫn tiếp tục bám đuổi Phúc. Lanh quyết định bám theo bọn này. Anh đưa một thằng vào vòng ngắm, tăng tốc độ, tiếp cận đến cự li 1600 mét thì ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa bên cánh phải máy bay rời khỏi bệ phóng, lao đi rất căng và chui thẳng vào động cơ của thằng F-4. Một vầng lửa rất to bốc lên! Thằng F-4 lao cắm đầu xuống đất!


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 07:55:42 am

        Lanh kéo vọt máy bay mình lên đến độ cao 13000 mét để thoát li. Lanh nghe thấy Phúc nhắc nhở:

        - Chú ý không bay vào làng kéo khói!

        - Nghe tốt! - Lanh trả lời.

        Lanh biết số 1 của mình vẫn theo dõi, quan tâm liên tục đến diễn biến trận đánh, biết rằng số 1 đã cảnh báo không nên bay ồ độ cao của tầng kéo khói vì như vậy bọn khác sẽ phát hiện và bám theo công kích nên Lanh nhanh chóng giảm độ cao xuống còn 10000 mét rồi tiếp tục hạ độ cao để thoát li khỏi chiến trận. sở chỉ huy lệnh cho Lanh về hạ cánh ở sân bay Gia Lâm.

        Khi đến gần bay Gia Lâm, Lanh nghe thấy tiếng hô:

        - Quay lại phản kích!

        Lanh nhanh chóng tăng cửa dầu, kéo gấp máy bay vòng lên quan sát nhưng không thấy gì nên quyết định tiếp tục xuống hạ cánh.

        Lanh xuống hạ cánh với tốc độ tiếp đất lớn. Phán đoán có khả năng máy bay sẽ xông ra khỏi đường băng, Lanh tắt máy luôn và thả dù giảm tốc. Dù giảm tốc bị đứt ngay vì tốc độ lao lớn hơn tốc độ cho phép sử dụng dù và máy bay lướt ào ào. Lanh bóp phanh hết cỡ nhưng không thể ghìm được chú ngựa “bất kham” đang phi nước đại ấy. Nó lao xuống ruộng nước sâu như cái ao. Nghe “rầm” một tiếng. Nước bắn lên tung tóe. Mày bay lướt thêm một đoạn rồi dừng hẳn. Lanh ngồi trong buồng lái ngó ra thấy xung quanh mình toàn nước là nước liền mở nắp buồng lái, nhảy ra đứng trên cánh máy bay, ngó nghiêng... Chợt phát hiện ra có rất nhiều ốc nhồi ở ven bờ. Cái khoản ấy ở vùng sân bay Gia Lâm thì sẵn lắm! Lanh cởi giày bay, buộc giây lại với nhau rồi quàng qua cổ, tiện thể cởi luôn quần bay vắt lên vai và nhảy khỏi cánh máy bay, lội vào bờ. Lên đến bờ thì Lanh cởi bỏ tiếp mũ bay và để lại giày bay trên đó rồi buộc túm một ống quần bay lại, lội xuống nhặt ốc cho vào đầy ống quần sau đó ôm tất cả “đồ nghề” lững thững đi bộ về khu “ba nhà” (khu có ba nhà liền cạnh nhau, nơi chúng tôi cơ động đến sân bay Gia Lâm, ăn nghỉ ở đó khi không đến phiên trực). Gặp số anh em chúng tôi đang ở đó thì vừa hàn huyên, vừa bắc mấy hòn gạch và đặt ốc lên... làm nồi ốc luộc!

        Lực lượng trực ứng cấp khi thấy máy bay Lanh bị đứt dù giảm tốc, lao với tốc độ lớn thì đoán thế nào cũng xông ra đường băng nên chuẩn bị sẵn sàng ứng cứu. Nhưng khi xe chạy đến nơi thì chỉ thấy máy bay nằm dưới nước mà không thấy phi công đâu liền phân công nhau tìm kiếm. Gọi chán cũng chẳng thấy ai trả lời, săm soi khắp nơi khắp chốn cũng không thấy bóng dáng nào thì tất cả nhìn nhau ngơ ngác, chẳng hiểu được sự thể thế nào cả.

        Khi lần đến khu “ba nhà” thì thấy Lanh ta đang ngồi nhể ốc ăn cùng đám bọn tôi.

        Chiếc máy bay của Lanh được kéo về, phải thay động cơ và một số thiết bị, sau đó nó lại tiếp tục tham gia trực chiến, chiến đấu...

        Tiếp đến ngày 30 tháng 9 năm 1972. Hôm ấy Đỗ Văn Lanh và Lê Văn Hoàn ra nhận trực thay cho biên đội Trần Việt, Lê Minh Dương vào tầm gần trưa.

        Khi hiệp đồng chiến đấu thì Lê Văn Hoàn bị mệt, phải đổi trực cho người khác. Trung đoàn quyết định lại đưa Trần Việt ra thay. Vậy là biên đội có sự xáo trộn, sắp xếp lại: Trần Việt bay số 1 và Đỗ Văn Lanh bay số 2. Giai đoạn này, các phi công của Trung đoàn đều bay trên loại máy bay MiG-21MF (loại F-96).

        10 giờ 30 phút, một tốp 12 chiếc F-4 bay ở độ cao 6500 mét vào phía Nam Nà sản. Trạm ra-đa cảnh giới của ta đã phát hiện bọn chúng và sở chỉ huy lệnh cho biên đội Việt, Lanh vào cấp 1, rồi mở máy, xuất kích.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 07:58:32 am

        Biên đội được dẫn bay về phía Hòa Bình, sau đó sở chỉ huy ra lệnh:

        - Hướng bay 270, độ cao 5000!

        - Nghe rõ 270,5000! - Tiần Việt trả lời.

        -  Hướng bay 350! - sau đó chưa đầy 1 phút, sở chỉ huy lại ra lệnh cho biên đội.

        - Nghe tốt 350!

        - Mục tiêu bên trái 10 độ, 20 cây!

        - Nghe rõ!

        Sau khi báo cáo “Nghe rõ” xong, khoảng chừng 30 giây sau thì Việt thông báo:

        - Phát hiện 4 chiếc bên trái 30 độ, cự li 12 cây!

        - Tôi thấy tốt! - tiếng Lanh vang lên trong tai nghe.

        - Chú ý cảnh giới! Tôi vào công lách! - số 1 Trần Việt ra lệnh.

        - Nghe rõ! - Lanh trả lời.

        Trần Việt ép độ nghiêng cắt vào bám biên đội 4 chiếc này. Đến cự li khoảng 7 km, biên đội F-4 dùng chiến thuật tách tốp và đan chéo: hai chiếc vòng trái, hai chiếc vòng phải theo kiểu rắn bò. Việt quyết định bám chặt 2 chiếc đang vòng phải. Vừa lúc chúng cải ra để đổi chiều thì Việt đưa ngay thăng bay số 2 vào vòng ngắm. Đợi đúng thời điểm nó bay thẳng, Việt nhanh chóng tiếp cận. Đến cự li gần 2000 mét, anh ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa bên cánh trái lao vút ra. Việt thấy quả tên lửa đi chệch mục tiêu và ngay lúc ấy nghe thấy tiếng Lanh:

        - Có 4 chiếc phía sau anh! Thoát li đi!

        Việt thấy thằng phía trước vẫn còn bay thẳng và nhanh chóng đánh giá tình hình: bọn phía sau có thể chưa kịp bắn mình, thời cơ để mình diệt thằng phía trước là trong tầm tay rồi. Vậy là Trần Việt quyết định nán lại, bám chặt thằng F-4 bay phía trước và đến cự li 1500 mét, anh ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai. Quả tên lửa rời bệ phóng, lao thẳng vào thằng F-4. Có cảm giác như thằng F-4 bỗng khựng lại và một vầng lửa bùng lên. Nó bốc cháy dữ dội, lao xuống đất.

        - Cơ động gấp! Nó phóng tên lửa! - Lanh hô cho số 1 Việt biết

        Việt kéo gấp máy bay tránh. Hai quả tên lửa không đối không của bọn F-4 bám phía sau anh bay sạt qua. Máy bay anh hơi rung nhẹ. Việt tiếp tục vòng, tạo gia trọng lớn để tránh tiếp 2 quả khác chúng vừa phóng. Chiếc F-4 bay số 2 tìm cách tiếp cận anh để sử dụng súng nhưng Trần Việt đã nhanh chóng cho máy bay mình chui vào mây, mất hút trước sự ngơ ngác của kẻ địch.

        Trần Việt ra khỏi mây, nhanh chóng giảm độ cao để về hạ cánh ở sân bay Đa Phúc, nhưng khi thấy sân bay Gia Lâm, anh báo cáo sở chỉ huy xin xuống hạ cánh ồ đó. sở chỉ huy đồng ý. Trần Việt đã hạ cánh trên sân bay Gia Lâm với lượng dầu chỉ còn 100 lít

        Khi nghe khẩu lệnh của số 1: “Chú ý cảnh giới!” thì Lanh phát hiện được biên đội 4 chiếc F-4 đang tăng lực lao về phía biên đội của anh. Lanh kéo cao lên quan sát cho rõ và hô cho số 1 thoát li sau khi thấy số 1 đã phóng tên lửa. Thấy số 1 vẫn tiếp tục tiếp cận thằng F-4 và tiếp tục phóng tên lửa, Lanh lại thấy bọn F-4 bắn, anh hô cho số 1 cơ động để tránh những quả không đối không của bọn F-4. Nghe tiếng Sỏ chỉ huy ra lệnh cảnh giới phía sau, Lanh phát hiện thấy 4 chiếc khác đang tăng lực bám theo biên đội của anh. Lanh kéo gấp máy bay vòng lại phản kích. Biết các máy bay MiG đã cảnh giác, phát hiện và phản kích nên bọn F-4 này chuồn thẳng.

        Lanh quay lại, bám theo số 1 về hạ cánh ở sân bay Gia Lâm vào lúc 10 giờ 59 phút.

        Trận ngày 30 tháng 9 này, biên đội Trần Việt - Đỗ Văn Lanh đã lập công. Chiếc F-4 bị Trần Việt bắn hạ chính là chiếc máy bay Mỹ thứ 300 bị các phi công của Không quân nhân dân Việt Nam tiêu diệt khi chúng đánh phá ra miền Bắc Việt Nam.

        Ngày 9 tháng 10 năm 1972, khi ta sử dụng lực lượng của Tiểu đoàn ném bom 929 để đánh căn cứ Buôn Lọng nằm ở phía Tây Bắc Bản Ban 25 km (của Lào) khi chiến dịch Cánh đồng Chum diễn ra quyết liệt Tôi và Lanh đã cất cánh bay yểm trợ trên tuyến Bá Thước - Yên Châu để cho 2 chiếc Il-28 của tổ bay anh Bùi Trọng Hoan (anh Hoan lái chính, anh Nguyễn Đình Nhẫn dẫn đường trên không, anh Nguyễn Hùng Cường xạ thủ súng máy kiêm thông tin trên không) và tổ bay anh Nguyễn Văn Trừ (anh Trừ lái chính, anh Thân Xuân Hạnh dẫn đường trên không, anh Ngô Văn Trung xạ thủ kiêm thông tin trên không) sau khi đánh Buôn Lọng xong về hạ cánh an toàn.

        Gần như suốt trong thời gian chiến tranh, Lanh chỉ bay ở vị trí số 2 và đều lập công khi bay ở vị trí này, cũng giống như anh hùng Nguyễn Văn Cốc vậy.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 08:06:23 pm

        Tôi nói thêm một chút về vị trí các số trong biên đội. Với biên đội 2 chiếc thì số 2 có trách nhiệm chính là yểm hộ, bảo vệ số 1. Số 1 có nhiệm vụ nhận lệnh từ sở chỉ huy, dẫn biên đội theo lệnh, phát hiện địch và quyết định đánh hay không đánh, đánh chiếc nào trước, liên tục công kích hay đồng thời công kích... rồi khi nào thoát li khỏi trận chiến và thoát li ra làm sao... Có nghĩa là, cơ hội lập công, tiêu diệt địch gần như đêu thuộc về số 1. Nói vậy không phải là số 2 không được công kích, không được lập công. Tùy theo tình huống cụ thể của từng trận đánh mà cả hai cùng đồng thời công kích hoặc khi số 2 phát hiện được địch mà số 1 chưa thấy thì số 2 được phép vào công kích trước, hoặc giả, vị trí số 2 gần địch hơn, công kích sẽ tạo bất ngờ hơn thì số 2 sẽ vào công kích trước số 1... và nhiều tình huống khác nữa. Có điều, số 2 luôn có ít thời cơ lập công hơn số 1 nhưng đối với anh Nguyễn Văn Cốc và Đỗ Văn Lanh thì lại khác. Các anh đều lập được thành tích khi bay ở vị trí số 2 và vẫn bảo vệ cho số 1 an toàn.

        Tôi với Lanh cứ ngày càng “gắn” với nhau qua những thời gian ở các sân bay cơ động và một thời gian dài Lanh cũng bay số 2 cho tôi. Sau cái bận đánh Buôn Lọng, lúc đó Lanh đã hạ được 4 chiếc rồi thì một hôm, Chính trị viên gọi riêng tôi đi “tâm sự”:

        - Huy ạ! Mình thấy có một việc này muốn nói rõ với Huy để Huy phải thật sự hiểu!

        - Chuyện gì mà nghiêm trọng thế anh? - tôi chột dạ và hỏi với giọng lo lắng.

        - À! Không có gì nghiêm trọng đâu! Chỉ là thế này này... Cậu Lanh đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ rồi, tổ chức đang có ý định đề nghị trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho cậu ấy, nếu cứ để cậu ấy bay số 2 mãi thì cũng có cái gì đó ngài ngại. Mà bây giờ Huy đang là số 1 của Lanh, nếu lại để bay số 2 cho Lanh thì cũng lại ngại. Chẳng hiểu ý của Huy ra sao?

        - Ôi giời ơi! Tưởng gì! Khi anh gọi tôi ra để đặt vấn đề, tôi nghĩ là chắc trời sập đến nơi rồi mới thấy ghê, chứ chuyện này thì bình thường thôi! Nói thật với anh, trong không chiến, số 1 đúng là dễ có thời cơ lập công thật nhưng không phải 100% được thế đâu. Nó còn là cái “duyên” trong chiến bận nữa. Như anh Cốc đấy, toàn bay ở vị trí số 2 mà bắn bọn Mỹ rụng như sung đấy thôi. Còn riêng tôi với Lanh, anh đừng băn khoăn gì vì chúng tôi là bạn của nhau rồi, đứa nào bay số nào mà chẳng được. Mà chẳng cứ phải là bạn của nhau, số 1 và số 2 đều phải có trách nhiệm với nhau khi đã ở trên trời, nhất lại là trong không chiến nữa! Tôi nói ngắn gọn thế thôi chắc anh hiểu. Từ ngày mai, Lanh cứ làm số 1 đi, tôi làm số 2 vô tư mà!

        - Ừ, cám ơn Huy nhé! Trước khi đặt vấn đề này với Huy, mình cứ thấy lo lo...

        - Sợ tôi không hiểu sẽ phá đám chứ gì? - Tôi ngắt lời.

        - Không đến mức đó đâu, nhưng mà dự định là cứ phải giải thích với Huy thật dài dòng cơ!

        - Vẽ chuyện! - Tôi định nói thêm “anh không phải “họ hàng nhà Quất” nên anh chẳng hiểu gì cả, nhưng kịp ngậm miệng lại ngay.

        Trong giai đoạn chiến tranh, việc đả thông tư tưởng đối với các phi công chúng tôi là công việc khó và không phải ai cũng làm được trọn vẹn, trôi chảy. Có trường hợp chỉ hơi vội vàng một tí thôi thế là hỏng hết mọi chuyện. Ví như cái trường hợp khi có báo động chuyển cấp, phi công đang hối hả chạy ra máy bay thì một đồng chí chính trị viên lại chạy theo, gọi với:

        - Này, khi cần thì báo tin cho ai nhỉ?

        Thế là nhận được sự phản ứng gay gắt ngay tức thì:

        - Cho cái con củ c... ! Bố mày đếch bay nữa! Gở mồm gở miệng thế này thì còn đánh đấm cái đếch!

        Đúng là, trước lúc xuất kích, chuẩn bị lao vào cuộc chiến một mất một còn, khi mà cái ranh giới giữa sống và chết còn nhỏ hơn cả sợi tóc mà lại hỏi ngay cái câu “Khi cần báo tin cho ai?” thì không choáng mới lạ! Ngay cả những người có thần kinh thép thì chắc cũng phải hơi “choằn” trước câu hỏi đột ngột như vậy.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 08:12:13 pm
        Thực ra, lúc bấy giờ khi hỏi câu ấy, không ai nghĩ là mang tính xúc phạm đâu. Chẳng qua, nếu không hỏi ngay thì không kịp điền vào danh mục theo dõi và phải nộp lên trên theo quy định, đúng thời hạn mà thôi, nhưng cái cách hỏi và thời điểm hỏi không hợp lí nên mới gây ra sự phiền toái như thế.

        Chuyện ấy về sau này đã trở thành giai thoại trong đám phi công của chúng tôi. Cho đến tận gần đây, khi chúng tôi có dịp tụ hội với nhau, nếu anh nào đó có việc gì vội, phải đứng lên dời chỗ thì thế nào cũng có một ai đó sẽ gọi với lại và hỏi:

        - Này, khi cần thì báo tin cho ai nhỉ?

        Tất cả lại cùng cười rộ lên. Cuộc sống có những chuyện kỳ thú trong từng lĩnh vực như vậy đấy.

        Trở lại chuyện số 1, số 2 của tôi và Lanh. Sau lần gặp gỡ giữa chính trị viên và tôi thì tôi chuyển sang bay số 2 cho Lanh. Ngày trực đầu tiên, mấy anh ngoài tuyến trực tưởng trực ban sắp nhầm khi chúng tôi ra tiếp thu máy bay. Tôi cười và nói: “Vị trí biên đội đúng đấy, không lầm đâu!”. Anh em hiểu ra ngay.

        Lúc hiệp đồng chiến đấu sau khi tiếp thu máy bay xong, Lanh nói với tôi:

        - Cứ thế nhé!

        - Ừ, cứ thê! - tôi trả lời.

        Người ngoài cuộc thì chẳng thể hiểu chúng tôi vừa trao đổi với nhau cái nội dung gì, nhưng chúng tôi thì quá hiểu. Những vấn đề từng hiệp đồng biên đội khi đi trực với nhau là những vấn đề “thuộc lòng như cháo chảy” rồi, cần chi phải thêm nếm cho rườm rà nữa. Tôi với Lanh có phải bay chuyến này là chuyến đầu tiên đâu. Chúng tôi đã từng là “họ hàng nhà Quất” kia mà!.

        Sang đến tháng 11 năm 1972 thì Lanh chuyển sang Trung đoàn 927 và người đi số 2 cho Lanh là Dương Bá Kháng.

        Ngày 27 tháng 12, Lanh và Kháng nhận lệnh xuất kích đánh chặn tốp máy bay chiến thuật của Không quân Mỹ, bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng... Trong bận này, Dương Bá Kháng đã bắn cháy 1 chiếc F-4.

        Anh Dương Bá Kháng kể lại:

        “Ngày hôm ấy chúng tôi nhận lệnh báo động chuyển cấp đến mấy lần rồi lại xuống cấp. Đến 11 giờ 30 phút khi tôi và anh Lanh đang ngồi ăn bữa cơm trưa thì nhận lệnh vào cấp 1 và mở máy cất cánh luôn. Sau khi cất cánh, chúng tôi xuyên mây lên độ cao 3000 mét, rồi nhận được lệnh từ Sở chỉ huy:

        - Vòng phải, hướng 160 độ, độ cao 2000, phía sau bên phải 20 độ, 20 cây đang có nhiều tốp địch!

        - Địch bên trái 25 độ, 16 cây! - lệnh tiếp theo ngay sau đấy từ Sở chỉ huy.

        - Giảm độ cao xuống 500, hướng 210 độ, địch đang bám sát!

        Sau khi chúng tôi xuống độ cao 500 mét thì nhận được thông báo:

        - Địch bên trái 30 độ, 10 cây!

        Biên đội của chúng tôi nghiêng trái rồi nghiêng phải để quan sát Tôi phát hiện thấy 2 chiếc F-4 liền xin phép vào công kích. Nhận được lệnh: “Cho phép công lách!”, tôi đưa ngay một thằng vào vòng ngắm và phóng tên lửa. Thằng địch có vẻ chao đảo. Chúng tôi tiếp tục quần nhau. Tôi đưa thằng khác vào vòng ngắm. Tiếng anh Lanh động viên tôi:

        - Bình tính ngắm bắn cho chính xác, tôi sẽ cơ động nhử địch!

        - Nghe tốt! - tồi trả lời

        Để chắc ăn, tôi đếm một, hai, ba rồi mới ấn nút phóng. Quả tên lửa lao vút ra, thằng F-4 bùng cháy. Anh Lanh hô:

        - Bắn rất tốt! Quá đẹp!

        Trận không chiến của chúng tôi vào ngày ấy gần như là trận không chiến cuối chiến tranh vì sang ngày hôm sau, anh Lê Văn Kiền và Hoàng Tam Hùng đánh trận cuối cùng về ban ngày trước khi kết thúc chiến tranh rồi!”.

        Cũng trong ngày này, Trần Việt cũng đa thiêu cháy 1 chiếc F-4 khác khi một mình xuất kích từ sân bay Miếu Môn.

        Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu và kỳ tích đã lập được trong đời bay, ngày 11 tháng 1 năm 1973, Đỗ Văn Lanh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%202_zps1v26c11k.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%201_zpsnely8mdr.jpg)
Chủ tịch hội đồng nhà nước Trường Chinh gắn huy hiệu Bác Hồ cho đồng chí Nguyễn Văn Lanh
     


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2016, 08:22:37 pm
         
7

        Người xưa vẫn nói: “Trai lớn đựng vợ, gái lớn gả chồng!”. Lanh cũng đã đến lúc cần phải lập gia đình, xây dựng hạnh phúc riêng tư cho mình. Bố mẹ Lanh cũng đã nhắc nhở, thúc giục Lanh nhiều lần. Lanh biết không thể lần khân được nhiều hơn nữa nên đã tâm sự với mấy cô em gái:

        - Thày bu cứ giục tao lấy vợ. Thôi, bảo tao lấy ai thì lấy, biết đâu mà kén chọn. Mà chúng mày thấy đám nào được thì “chỉ điểm” cho tao để tao đến!

        - Trong làng thì chúng em thấy có chị Lan với chị Lâm đấy, không biết anh chọn ai?

        - Ai cũng được hết Cứ chúng mày đồng ý là tao cũng đồng ý!

        - Ơ, anh lấy vợ thì anh phải chọn chứ. Nhỡ đâu sau này...

        - Sau này gì? Lơ mơ là tao nện cho một trận!

        - Anh nện được chứ làm sao chúng em dám nện!

        - Thôi được, biết thế! Tao sẽ sang thăm mợ rồi sang các nhà kia!

        Lanh nói và đi thăm các nhà thật. Được cái, mọi nhà đều quý Lanh bởi lần nào được về thăm quê, Lanh cũng đi chào hỏi tất cả các nhà trong thôn, không ngồi ờ nhà ai lâu, nhưng đều đi khắp lượt. Lanh thấy mẹ mình nói cũng có lí: Nếu lấy vợ là người làng thì gia cảnh thế nào ai cũng biết cả, rồi tính tình của “người ấy” ra sao cả làng cũng đều biết từ tấm bé, chẳng giấu vào đâu được, rồi sau này có “sinh con đẻ cái” cũng có nhiều cái thuận hơn là lấy vợ thiên hạ, lấy vợ xa. Các cụ đã từng ví:

“Ta về ta tắm ao ta
Biết đâu trong, đục mà qua ao người!”
        Còn lớp trẻ thời nay thì lại nói:

“Ta vê ta tắm ao ta
Dàu trong, dàu đục cũng là... cái ao!”

        Chẳng qua đấy chỉ là “vui miệng” mà thôi, nhưng mà vẫn có câu: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”... đấy thôi!

        Mình cứ đi biền biệt thế này, nay cơ động đến sân bay này, mai lại cơ động đến sân bay khác chẳng biết khi nào dừng thế thì cũng phải tìm lấy nơi neo đậu cho vững chắc, cho yên hàn. Mà điều ấy thì lấy vợ cùng quê là hay hơn cả.

        Lanh đắn đo, suy đi tính lại và đã có quyết định lấy vợ làng!

        Người mà Lanh chọn chính là Lâm - Nguyễn Thị Lâm - người cùng làng cùng xóm.

        Lanh quyết định thế rồi thì tìm cơ hội để “tấn công”.

        Chuyện vợ chồng chừng như là duyên số. Tôi không rõ có nhiều người nghĩ như thế hay là phản đối, nhưng riêng tôi, tôi càng ngẫm nghĩ thì càng thấy đúng như vậy. Đúng là theo thuyết âm dương thì con người ta sinh ra mới chỉ có “một nửa”, chưa trọn vẹn được nên cứ phải đi tìm “nửa kia” của mình. Có người tìm được dễ dàng, có người thật khó khăn, chật vật, người thì tìm thấy ngay, người mãi mới thấy, cũng lại có người cứ tìm mãi tìm mãi mà cũng chẳng thấy đâu. Âu cũng là cái quy luật sinh tồn của muôn đời...

        Chuyện với Lanh thì hình như đã là thiên định. Một lần, khi ở quê lên đơn vị thì Lâm đi nhờ xe. Bấy giờ chị đang làm việc ở nhà máy Z-125. Dọc đường chẳng hiểu đôi bên chuyện trò thế nào nhưng gần đến đơn vị thì Lanh đặt vấn đề:

        - Anh mời em về đơn vị anh ăn Tết!

        - Không, em phải về cơ quan em! - Lâm trả lời.

        - Thế thì Tết anh sẽ đến chúc Tết nhé?

        - Vâng!

        Một sự “tiếp cận” thật nhẹ nhàng, êm đềm.

        Rồi Lanh hỏi địa chỉ và đến thăm Lâm thật. Chị Nguyễn Thị Lâm kể:

        “Thời đó kinh tế khó khăn lắm, có lần anh Lanh cùng với anh Nguyễn Văn Đậu đến cơ quan, chúng tôi giữ lại ăn cơm nhưng thức ăn chẳng có gì, anh Lanh nói ngay: “Cần gì phải bày vẽ, chỉ cần nấu cơm chín rồi cho chút muối vào đảo đều lên là ăn thôi, cầu kỳ làm gì!”. Thật ngại quá đi mất Mà đúng anh ấy là người cực kỳ đơn giản, không câu nệ gì thật. Khi anh ấy được Nhà nước tuyên dương Anh hùng, đám bạn đọc báo, đưa cho tôi xem thì tôi nhận ra anh và nói: “Đây là người làng tao chứ đâu!”. Rồi một thời gian sau, khi tôi sang bên nhà máy Z-117 chơi thì thấy bạn tôi bảo:

        - Này, “cái nhà ông Lanh” sẽ sang hỏi mày làm vợ đấy!

        - Mày đừng có mà vớ vẩn! Làm gì có chuyện ấy! - tôi trả lời - anh ấy đi nói chuyện ở trường học, nhà trường giới thiệu, gán cho cả giáo viên rồi cả con giáo viên mà anh ấy còn chả ưng nữa là!

        - Vậy mà lại ưng mày đấy!

        - Thôi đi!

        Lanh ưng chị Lâm thật. Lanh ngỏ lời một cách chất phác, thật thà theo đúng kiểu quê nhà và chị Lâm cũng nhận lời một cách mộc mạc như theo kiểu quê nhà thật.

        Chuyện ấy xảy ra vào cuối năm 1974.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2016, 02:08:11 am

        Một năm sau, vào tháng 10 năm 1975, anh chị tổ chức đám cưới.

        Anh chị về quê đăng ký và ủy ban xã Ninh Khánh khi ấy đã tổ chức cho 3 đám cưới liền một lúc theo nghi thức “đời sống mới” tức là trong đám cưới chỉ có trầu, kẹo, thuốc lá... Đơn giản thế thôi nhưng mà vui lạ. Các cụ bà thì say trau, các cụ ông thì say thuốc, còn cánh thanh niên thì... say nhau!

        Nhà máy Z-125 nơi chị Nguyễn Thị Lâm làm việc ưu tiên bố trí cho anh chị nửa gian nhà ngói. Tổ ấm bé nhỏ của anh chị được hình thành.

        Giai đoạn ấy là giai đoạn khó khăn đủ mọi kiểu, mọi mặt. Lo cái ăn đã khổ, lo cái đun còn khổ hơn. Tôi còn nhớ, khi ở khu gia đình tập thể của Sư đoàn “Đồi mồ mả” - người ta vẫn gọi quen miệng thế vì nơi ấy trước kia là khu nghĩa địa sau mới dời chuyển đi. Trên đồi còn khá nhiều thông, những cây thông to có, bé có và cũng có khá nhiều cây bị chết khô rồi nhưng không một ai dám đụng đến vì sợ bị kiểm lâm bắt, bị kỷ luật. Một lần tôi nói với Lanh:

        - Tao muốn “xử lí” mấy cây thông khô quá mà ngại!

        - Ngại gì? Vớ vẩn! Tao sẽ giúp một tay!

        Nói là vậy thôi, nhưng cũng phải còn bàn bạc, tính kế chứ, làm sao dám ngang nhiên lên đồi mà chặt được. Tôi và Lanh đều im lặng, rồi hầu như cả hai cùng bật ra:

        - Sao không “chơi” vào lúc mưa gió nhỉ?

        Đúng là khi trời mưa to gió lớn thì chẳng ai muốn ra khỏi nhà cả. Chính lúc ấy là lúc có thể thực hiện ý định được. Bàn là bàn thế thôi, tôi cứ nghĩ là rồi Lanh sẽ quên, nhưng đúng hôm mua to thì Lanh đến chỗ tôi:

        - Khởi sự chứ?

        Thoạt đầu tôi hơi bất ngờ bởi sự xuất hiện đột ngột của Lanh và câu hỏi cũng bất ngờ như vậy, sau tôi nhớ ra và trả lời ngay:

        - Tiến hành thôi! 

        Vậy là hai thằng tôi vác dao lên đồi chẳng quản gì mưa gió, chẳng sợ gì sấm chớp vì mua càng to, sấm chớp càng lớn thì bọn tôi chặt càng hăng, những tiếng dao chặt cây càng lọt thỏm vào mưa gió.

        Ngả xong cây là chặt khúc, nhanh chóng vác về xếp gọn ghẽ, đậy điệm sau nhà. Mọi thứ ổn rồi thì Lanh nói:

        - Thôi, tao đi đây!

        - Ừ, cẩn thận kẻo dằm mua ốm thì khốn!

        - Còn lâu!

        Lanh nói dứt lời là quay bước đi luôn, khuất dàn sau màn mưa.

        Anh Nguyễn Viết Thân (Thân “xồm”), Đỗ Văn Lanh và tôi rất thích dầm mưa. Ngày mưa thì anh Nguyễn Viết Thân, anh Lại Văn Hiện vác dao đi chém cá. Riêng khoản chém cá nếu không biết cách là tự chém vào chân mình ngay vì khi chém dưới nước, lưỡi dao bị lạng đi ghê lắm, không “có mẹo” là ăn đòn. Lanh đi bắt cá ngược theo dòng nước, còn tôi đơn giản chỉ là đi dầm mưa cho khoái mà thôi. Đến mãi tận sau này tôi vẫn cứ thích tắm mưa, dằm mưa. Tôi đã từng thốt lên:

“Trời mưa bong bóng phập phồng
Một đàn con trẻ tồng ngông dưới mưa
Thú chơi biết mấy cho vừa
Thú nào bằng thú dầm mưa... tồng ngồng!"

        Những ngày mưa là có biết bao nhiêu kỷ niệm, trong đó không sao quên được lúc đội mưa chặt cây cùng với Lanh.

        Chuyện “lo cái thổi” thì Lanh cũng giống như tôi thôi, khác gì đâu. Chị Lâm nhớ lại:

        “Lần nào được về nhà, kiếm được gốc cây hoặc củi gộc là anh Lanh đem ra bổ cật lực. Lo cái đun cho vợ mà! Cái ăn thì đã có sổ gạo, cái thổi mới là vấn đề. Mọi người trong nhà máy quý anh ấy lắm. Anh ấy chào hỏi tất cả, lại nhanh mồm nhanh miệng nữa. Có người phải kêu lên: “Mình định chào trước nó một câu mà cũng không được!”. Tình Lanh vốn vẫn thế.

        Rồi bé Đỗ Thị Hằng ra đời vào năm 1976. Cuộc sống trở nên tất bật hơn, vất vả hơn, đương nhiên là có niềm vui hơn rồi. Con cái bao giờ chẳng là sợi dây níu bố mẹ lại cho gần, cho chặt!. Anh Lanh vẫn đi bay, rồi vẫn đi bộ những khi được về nhà.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2016, 02:14:30 am

        Hai năm sau thì tiếp đến “chú lính con” Đỗ Văn Hải ra đời. Năm Lanh gặp nạn thì cháu Hải mới được 18 tháng tuổi. Chị Lâm bồi hồi, xúc động nhớ lại và kể với giọng nghèn nghẹn:

        “Khi nhận được tin anh Lanh mất, tôi khóc tới mức không còn nước mắt để khóc nữa. Nỗi đau xót tới tận cùng và cho đến bây giờ hầu như cũng vẫn chẳng nguôi ngoai. Mới lấy nhau được có 5 năm chứ nhiều nhặn gì đâu. Anh Lanh “ra đi” để lại một mình tôi với hai nách con nhỏ. Biết xoay xở, sinh sống thế nào bây giờ khi trụ cột gia đình không còn nữa. Cuối năm 1980 thì mẹ con tôi chuyển về khu gia đình của Sư đoàn, tôi được bố trí làm ỏ Trạm sửa chữa thuộc Phòng Hậu cần rồi chuyển sang văn thư bảo mật sau đó lại chuyển sang Thư viện. Nhà trẻ của Sư đoàn giai đoạn ấy, vất vả không biết đâu mà kể. May là tôi được các đồng đội của anh Lanh như anh Hán Vĩnh Tưởng, anh Phạm Tuân, anh Tạ Quốc Hưng, anh Nguyễn Đức Soát... giúp đỡ nhiệt tình chứ không thì chẳng biết thế nào.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%204%20Gia%20dinhbe%20nho%20cua%20do%20van%20lanh_zpswdkzljvc.jpg)
Gia đình bé nhỏ của anh Đỗ Văn Lanh


        Rồi mẹ con tôi chuyển về Hà Nội, tôi vào Đội tăng gia của Cục chính trị, sau rồi về Bảo tàng rồi về xưởng in của Quân chủng... Cũng làm đủ các việc. Nhờ Trời, các cháu đều mạnh khỏe, ngoan ngoãn, cứ lớn dần theo từng ngày nên tôi cũng đỡ vất hơn. Cháu Hải thì theo nghiệp bố nhưng không bay trên loại máy bay tiêm kích mà là bay trên loại máy bay trực thăng Mi-8, Mi-17, Mi-171. Trong tổ bay, cháu làm công tác dẫn đường trên không. Cháu Hằng cũng đã có việc làm ở Công ty ACC của Quân chủng. Hai cháu cũng đã xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái cả rồi. Tôi thấy cũng được an ủi phần nào. Tôi bây giờ đã có 4 cháu nội, ngoại, cũng đã thành ba nội bà ngoại rồi, nhanh thế đấy!”...

        Chị Lâm cố nén tiếng thồ dài, mắt như nhìn vào cõi xa xăm...


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2016, 02:20:40 am

        Nhắc lại cái thời ở Sư đoàn ấy, anh Tạ Quốc Hưng kể với tôi:

        - Tháng 10 năm 1982 thì tao được cử làm Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn 371. Tao thấy vợ “thằng Quất” Lanh vất vả, lận đận quá nên tao đề nghị với Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Chuyên cho Lâm về bộ phận Văn thư lưu trữ, giao cho cậu Thu kèm cặp, hướng dẫn công việc. Khốn nỗi, một thời gian sau, khi nghe báo cáo là Lâm không quen việc đánh máy chữ, tao đành sắp xếp cho Lâm về thư viện của Sư đoàn và phải phân việc cụ thể: “Lâm phụ trách tờ “Quân đội”, chị Bích Ngọc phụ trách tờ “Nhân dân” và chị Quỳnh Phim phụ trách tờ “Phụ nữ”. Thế là tạm ổn...

        Đúng là cái thời ấy có xa xôi gì lắm đâu, vậy mà khi nhớ lại, người ta vẫn thấy như là trong truyện cổ tích ấy. Một thời thật gian nan chẳng bao giờ có thể quên.

        Tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với chàng sĩ quan trẻ của Quần chủng Phòng không Không quân Đỗ Văn Hải. Hải giống anh Lanh ghê lắm, giống từ “phoóc người, đến dáng đi dáng đứng, đến cả cách nói, cách diễn đạt nữa. Hải không biết gì về bố, không có kỷ niệm gì về bố cả, nhưng qua những gì mẹ kể lại, bạn bè của bố kể lại, qua những bài báo viết về bố thì Hải thấy rất tự hào về bố mình. Ngắm nhìn dáng vẻ chững chạc, tự tin của Hải, tôi thầm nghĩ: “Hải sẽ còn tiến xa trên bước đường công tác của mình, cầu mong cho cháu luôn gặp được may mắn và hạnh phúc!”

        Rồi chị Lâm bế cháu bé - con thứ hai của Hải “khoe” với tôi:

        - Cháu “đích tôn” của anh Lanh đây này, ông trẻ này!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%207_zpswpigzxjr.jpg)
Chị Nguyễn Thị Lâm:"Cháu “đích tôn” của anh Lanh đây ạ !"

        - Trộm vía, nó giống bố nó và giống cả ông nội nó quá! Nhìn cái tai nó thế kia sau này chắc hơn ông nó, hơn bố nó! - tôi tiếp lời.

        Đúng là cháu có rất nhiều nét của Lanh, nhất là nước da trắng như da con gái vậy. Chắc ở “nơi xa” kia, Lanh cũng mừng lắm!.
       


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2016, 11:59:26 pm
         
8

        Lanh chuyển từ công tác quân sự sang làm công tác chính trị hình như vào năm 1974 (nếu tôi nhớ không lầm). Tôi hơi ngạc nhiên. Lanh sinh ra không phải ở cương vị ấy mà để làm một anh “thợ bay” với cuộc sống phóng khoáng, không chịu gò bó về mọi mặt. Đặt Lanh vào vị trí ấy sẽ gây khó cho Lanh và khó ngay cả với tổ chức. Đúng như vậy. Một thời gian sau thì Lanh về làm Chủ nhiệm bay của Sư đoàn. Tôi cho rằng, vị trí ấy phù hợp với Lanh hơn.

        Giai đoạn tôi ờ sân bay Yên Bái, Lanh cũng hay lên cùng Trung đoàn chúng tôi. Bấy giờ thì tôi và Lanh đã mỗi đứa ở một cương vị khác nhau rồi, nhưng chúng tôi vẫn “mày tao” với nhau như xưa. Rồi những lúc rảnh rỗi, chúng tôi vẫn cùng nhau đi bộ lùng sục các nơi, áo vắt trên vai, cởi trần trùng trục, đầu không mũ nón, uống nước suối, nhai lá rừng... mà thấy cuộc sống thật êm đềm, đẹp đẽ đến lạ lùng.

        Chúng tôi cùng vào rừng, chặt giang về chẻ lạt, học đan giần, đan sàng... “Biết thì đan lóng mốt. Dốt thì đan lóng đôi!” - Cái câu ấy tới khi học đan tôi mới hiểu thế là thế nào. Hai thằng tôi hì hục gò lưng tôm để học đan học lát nghe chừng miệt mài ra trò. Bây giờ thì giang nứa chẳng còn mấy, tre pheo cũng gần hết cả, mọi đồ dùng hàng ngày được thay hết bằng đồ nhựa nên “lóng mốt, lóng đôi “ cũng chẳng để làm gì nữa!.

        Lanh hay hỏi tôi, hỏi rất tỉ mỉ, rất chi tiết về các bài bay nhào lộn động tác phức tạp, đặc biệt là ở độ cao thấp. Lanh biết tôi bay nhiều hơn Lanh với các bài bay này, có nhiều kinh nghiệm hơn nên tranh thủ "moi” kinh nghiệm ở nơi tôi. Tôi từng bay với Lanh nhiều chuyến hơi “ẩu” nếu như không nói là “mạo hiểm” hoặc là “không chấp hành quy định”, hoặc nặng hơn nữa là “lưu manh trên không”. Đấy là bài bay với động tác nhào lộn phức tạp, độ cao đỉnh là 2000 mét, đáy là 200 mét, nhưng chúng tôi bắt đầu thực hiện động tác chỉ với độ cao 1800 mét thôi. Đương nhiên, độ cao kết thúc các động tác vẫn phải là 200 mét Riêng với động tác nhào lộn theo phương thẳng đứng này, tôi thường xuyên nói với Lanh:

        - Khi máy bay lao xuống với tư thế cắm xuống vuông góc với mặt đất, không bao giờ được phép để nó ở tư thế ấy dù chỉ là phần nào đó của giây. Phải coi vị trí ấy như là điểm tiếp tuyến của đường tròn ở phương thẳng đứng, chỉ cần giữ chậm một tí ti thôi là sẽ không có đủ độ cao thoát li ra đâu. Bằng bất kỳ giá nào cũng phải đưa máy bay thoát nhanh ra khỏi cái “điểm tiếp tuyến” ấy càng nhanh càng tốt!

        - Tao hiểu rồi!

        - Mày thấy đấy. Trung đoàn tao có hai phi công là Nguyễn Huy Đãng và Nguyễn Văn Hải kỳ cựu đấy chứ. Thế mà khi bay trên UMiG-21 với bài bay ấy chỉ tí nữa là lao xuống đất đấy. Lí do đơn giản là khi ở vào cái thời điểm “tiếp tuyến” ấy anh nọ cứ tưởng anh kia sẽ kéo. Thế là máy bay cứ cắm thôi. Khi chợt nhận ra thì cả hai đều ra sức kéo đến mức máy bay “ưỡn’ hẳn ra tưởng như sẽ gãy đôi. Tao nghĩ bụng: phen này hỏng mất rồi! Thế mà may mắn làm sao lại vượt ra được, không bị tai nạn. Khi về hạ cánh thì anh bị chảy máu tai, chảy máu mắt vì kéo quá tải lớn quá. Ngay tối hôm đó dù Trung đoàn bị mất điện, tao vẫn cho đốt đuốc lên để giảng bình chuyến bay, nói xa xả cả tiếng đồng hồ, phân tích tỉ mỉ về chuyến bay ấy. Mày nên nhớ: riêng với các động tác của bài bay ấy, khi lộn xuống là không thể đùa được!

        - Nhớ rồi! Nhớ rồi! - Lanh trả lời.

        Ở cương vị của Lanh lức bấy giờ, Lanh đã bay khá nhiều các chuyến bay phức tạp như vậy với các thành phần khác nhau của các Trung đoàn trong Sư đoàn. Lanh có vẻ cũng rất khoái những bài bay nhào lộn phức tạp như vậy vì chỉ có ở đó mới thực sự được vùng vẫy, mới thực sự được tung hoành, khuấy đảo bầu trời.

        Giai đoạn năm 1979 ta có chủ trương đào tạo phi công vũ trụ. Rất nhiều phi công được đi khám tuyển, khám cả ở bên nước mình và khám cả số đang học ở bên Liên Xô. Phạm Tuân trúng tuyển khi đang học ở Học viện Không quân mang tên Gagarin ở Liên Xô. Tôi được biết ta có ý định chuẩn bị hai đôi bay là Nguyễn Văn Cốc, Đinh Trọng Kháng và Phạm Tuân, Bùi Thanh Liêm sau rồi chỉ còn đôi bay Phạm Tuân, Bùi Thanh Liêm là được gửi đi học, đào tạo thành phi công vũ trụ tại “Thành phố Ngôi Sao” của Liên Xô.

        Chuyện đào tạo trở thành phi công vũ trụ như thế nào và khi bay vào vũ trụ ra làm sao thì anh Phạm Tuân đã từng kể nhiều rồi, tôi không nhắc lại ở đây nữa. Có điều, khi gần đến ngày bay thì các bạn Liên Xô gợi ý với anh Phạm Tuân là hãy cho một người bạn thân của mình từ nhà sang đón anh khi anh bay từ vũ trụ về Trái Đất.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2016, 08:25:54 am
     
        Anh Phạm Tuân nhớ lại:

        “Sau khi tôi và anh Bùi Thanh Liêm đã kết thúc khóa đào tạo phi công vũ trụ thì tôi được chọn là người bay chính thức cùng với phi công vũ trụ Gorbatcô. Phía bạn có nhã ý là khi chúng tôi kết thúc nhiệm vụ, từ vũ trụ bay trỏ về Trái Đất thì ngoài gia đình ra, hãy mời một người bạn thân cùng đến đón. Tôi nghĩ ngay đến Đỗ Văn Lanh vì trong số bạn hữu thì chỉ có mỗi mình Lanh là chưa biết gì nhiều về đất nước Liên Xô nên tôi đề nghị Lanh sẽ đi đón tôi. Đề nghị ấy được chấp nhận. Sau đó tôi về sân bay Baicônua tiếp tục làm những công tác chuẩn bị cho chuyến bay, không biết thêm thông tin gì nữa. Ngày 23 tháng 7 năm 1980 tôi bay vào vũ trụ và ngày 31 tháng 7 về hạ cánh. Sau khi hạ cánh tôi được thông báo là có Nguyễn Đức Soát đến đón. Tôi liền hỏi:

        - Thế Lanh đâu?

        Tất cả im lặng trong giây phút rồi tôi nhận được câu trả lời:

        - Đỗ Văn Lanh đã hy sinh trong một chuyến bay huấn luyện!

        Tôi bàng hoàng. Thê là tôi mất một người bạn thân. Trong chiến tranh ác liệt, chiến đấu dũng cảm như thế thì nguyên vẹn, vậy mà trong thời bình, trong huấn luyện thì lại gánh chịu tổn thất. Chẳng bao giờ Lanh còn biết đất nước Liên Xô thế nào nữa rồi!”...


        Chuyện Đỗ Văn Lanh sẽ đi đón Phạm Tuân thì mọi người đều biết và Lanh cũng đã có động tác chuẩn bị nhưng rồi không thực hiện được. Nhắc đến chuyện này, anh Dương Công Danh - nguyên Phó trưởng phòng huấn luyện của Sư đoàn Không quân 371 kể lại với giọng trầm hẳn, buồn hẳn:

        “Hôm mồng 8 tháng 7, tôi và Lanh đang ngồi học chính trị ở Hội trường thì nhận được cú điện thoại của Trung đoàn 921 báo cáo việc chuẩn bị cho ban bay vào ngày mồng 9 tháng 7. Tất cả đã sẵn sàng nhưng có một khó khăn là thiếu giáo viên bay khoa mục nhào lộn động tác phức tạp, đề nghị Sư đoàn giúp. Anh Lanh bấy giờ là Chủ nhiệm bay của Sư đoàn. Tôi trao đổi với anh Lanh:

        - 921 nó thiếu giáo viên ở khoa mục bay không vực phức tạp. Nó đề nghị mình xuống giúp. Anh suy nghĩ, cân nhắc xem có nên xuống hay không vì ngày tới là anh sang Liên Xô đón anh Tuân. Anh không bay với chúng cũng không sao, tôi sẽ tính cách khác.

        - Tôi sẽ xuống bay với chúng nó ban bay cuối cùng rồi về chuẩn bị cho chuyến đi cũng kịp chán! - Lanh trả lời ngay.

        Đúng là ban bay ấy là ban bay cuối cùng của Lanh thật và chuyên bay ấy cũng là chuyên bay cuối cùng đối với Lanh thật. Chuyến bay ấy như là chuyến bay định mệnh. Lanh đã bay kèm Nguyễn Văn Vịnh trên chiếc UMiG-21 với bài bay “không vực động tác kỹ thuật cao cấp ở độ cao thấp”.

        Khi anh Nguyễn Văn Thục với cương vị Trực Huấn luyện trên sở chỉ huy chạy về báo:

        - Anh Danh ơi! Lanh mất liên lạc!

        - Thôi hỏng rồi! - Tôi thốt lên.

        Cả hai anh em chúng tôi cùng chạy lên sở chỉ huy, ở đó những tiếng gọi Lanh vẫn vang lên nhưng không hề vọng lại tiếng đáp lời.”


        Anh Danh kể tiếp:

        “Tôi và một số thành phần được điều ra ngoài sân bay Đa Phúc, lên chiếc trực thăng để làm nhiệm vụ tìm cứu. Rủi làm sao khi máy bay cất cánh mới chỉ đến Đông Anh thì động cơ trục trặc, lại phải quay về Đa Phúc. Một lúc sau, khi đã khắc phục được sự cố rồi thì chúng tôi lại cất cánh bay về Phú Bình rồi đến chỗ Lanh gặp nạn. Bấy giờ trời đã về chiều. Nắng mặt trời đã tắt, hoàng hôn dàn buông. Không gian tình mịch, lặng lẽ và u ám. Máy bay của Lanh gần như “ngồi bệt” xuống vùng đất ruộng rất rộng, nước đến quá đâu gối. Chúng tôi làm mọi cách đưa Lanh và Vịnh ra khỏi máy bay rồi cùng với nhân dân hai xã quanh đấy làm các thủ tục cần thiết và lo liệu thật chu đáo. Đêm ấy tôi đã ngủ lại ngay cạnh đấy chờ đến sáng hôm sau mai táng cho hai anh em. Tôi nằm ngủ trên chiếc nong hồi chiều nhà ai đó vừa phơi vừng xong. Nong phơi vừng gây cảm giác ngứa ngáy khó chịu, duỗi thẳng chân thì không được, cứ phải nằm cò quăm. Sương xuống lạnh lạnh. Gió thi thoảng réo từng cơn như tiếng hú ai oán. Côn trùng kêu ri rả như tiếng rên, tiếng nấc. Tôi gần như thức trắng cả đêm. Chẳng phải vì sương vì gió, vì ngứa ngáy của chiếc nong phơi vừng gây ra đâu. Vì thương Lanh mà thôi. Tôi với Lanh thật gắn bó khi Lanh về Phòng huấn luyện. Tôi có thể giận người khác nhưng không bao giờ giận được Lanh. Lanh là người cực tốt với cách sống giản dị, chân thật, tình cảm. Mất một người như thế đúng là một nỗi đau khó hàn gắn!. Những năm còn ở Sư đoàn tôi hay ra thăm và động viên vợ con của Lanh, nhưng giờ về hưu rồi, ở mãi tít trong Nghệ An, xa xôi cách trở thế nên chẳng thăm vợ con Lanh được nữa. Đành nhận lỗi vậy chứ biết làm thế nào...”
       


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2016, 08:31:02 am

        Khi gần đây tôi có dịp ngồi với anh Nguyễn Văn Cốc, tôi nhắc tới chuyện Lanh thì anh Cốc nói:

        “Hồi đó mình là cán bộ Sư đoàn. Ngày hôm ấy lượng mây Cu chùng 4-5 phần, ở độ cao 500 - 600 mét gì đó. Mình nhắc Lanh:

        - Mây thấp sẽ ảnh hưởng đến bài bay đấy. Hãy kết thúc các động tác ở trên đỉnh mây nhé!

        - Đã gọi là bay độ cao thấp mà lại ở trên đỉnh mây thì còn gọi gì là độ cao thấp nữa? - Lanh cự lại một cách khẳng khái như vậy.

        - Thế rồi chuyện gì xảy ra đã xảy ra như cậu biết rồi đấy. Mình quý Lanh và tất cả các anh em khác như nhũng người ruột thịt của mình. Mọi mất mát đều làm mình buồn ghê gớm!”
- Anh Cốc trầm hẳn giọng xuống.

        Nguyễn Thị Hồng Yên - Vợ của một phi công tiêm kích MiG-21 vào giai đoạn đó đang là y tá của Tiểu đoàn Thông tin của Sư đoàn 371, khi nhắc đến Lanh lại rưng rưng, mắt đỏ hoe:

        “Chuyện anh Lanh sẽ bay sang Liên Xô để đón anh Tuân thì ai cũng biết và mừng cho anh ấy. Đầu giờ chiều ngày hôm anh Lanh bay huấn luyện thì mọi người trong Khu gia đình cứ thì thào cho nhau về chuyện của anh Lanh gặp nạn. Chị Lâm hồi ấy còn ở Z-125 chớ chưa về Khu gia đình nên có khi biết muộn hơn. Thương anh Lanh quá! Chuyên đi bộ từ Sư đoàn về nhà rồi lại từ nhà lên Sư đoàn, mà đường thì có ngắn đâu, gần chục cây số chứ ít ỏi gì, thế mà anh ấy cứ vui vẻ như không. Người tốt như thế sao lại “mất” sớm được nhỉ?”

        Vậy là Lanh không thể đi đón người phi công vũ trụ Anh hùng Phạm Tuân được nữa. Anh đã “xếp lại đôi cánh” của mình và yên nghỉ tại vùng đất Phú Bình - Thái Nguyên vào năm 1980.

        Số phận đã bắt anh phải rời bỏ đời bay, rời bỏ bầu trời vĩnh viễn...

        Giai đoạn ấy tôi đang ở Trung đoàn 931 tại sân bay Yên Bái. Nhận được tín mà tôi sững sờ. ôi, Lanh ơi! Vừa mới đây thôi hai thằng còn khuấy đảo khoảng không với những động tác “lộn xuống” rồi “thắt vòng đứng”, “thắt vòng nghiêng”, “khoan lên”, “khoan xuống”...., từng “vẽ” trên bầu trời Yên Bái những nét vẽ bằng chế độ tăng lực, bằng các chế độ khác của động cơ UMiG-21 kia mà. Vậy sao cũng loại UMiG-21 ấy lại là điểm kết thúc, lại là dấu chấm hết với đời bay của Lanh? Thật oan nghiệt làm sao!

        Tôi gần như người mất hồn. Trời Yên Bái bỗng kéo đầy mây xám xịt.. Gió réo lên như những tiếng hú dài ai oán. Những tàu lá cọ rạp xuống, rũ rượi, tang tóc...

        Đau thương! Đau thương vô hạn không thốt được nên lời! Lanh ơi là Lanh ơi!...

        ... Lanh đã “ra đi” mãi mãi, nhưng những đồng đội, bạn hữu, những người thân của Lanh vẫn luôn nhắc đến Lanh, nhớ về Lanh:

        Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân Lê Hải -  Cựu phi công MiG-17, người giáo viên bay kèm cặp, dạy dỗ Lanh khi Lanh tốt nghiệp bay về nước, từng huấn luyện cho Lanh những động tác bay phức tạp, những bài bay không chiến:

        - Sau khi tốt nghiệp, Lanh về nước, được biên chế về Đại đội của tôi. Lanh là một phi công thông minh, dũng cảm, lì lợm, có bản lĩnh, không hề biết nịnh bợ, rất thẳng tính!”

        Nguyễn Hữu Khoán - Giáo viên dạy bay của Lanh khi bay ừên loại máy bay Iak-18 bên Tường Vân:

        - Lanh là người tính tình hiền lành, trung thực, cương trực, thẳng thắn, lì lợm, gan dạ, ham học. Chăm chú “học mót” nhanh, bay giỏi. Là học viên bay đơn đầu tiên của Khóa 6.

        Nguyễn Minh Cảnh - Cựu giáo viên bay của Trường Tường Vân:

        - Lanh là người chân thật, thẳng thắn, thực sự cầu thị, cái gì không biết là hỏi ngay, không giấu dốt. Đối với bạn bè, Lanh luôn hòa nhã, vui vẻ, nhưng cũng là người nóng tính.

        Lưu Đức Ngân - Người cùng nhập ngũ, cùng đoàn bay với Lanh:

        - Lanh là một phi công nông dân, chân chất, thật thà với tính cách chất phác, hiền hậu. Giúp đỡ anh em rất nhiệt tình, hăng hái. Một đặc điểm của Lanh mà tôi nhớ nữa là biết lái máy bay đấy nhưng lại không biết đi xe đạp. Trông Lanh với nước da trắng mai mái thì ai cũng nghĩ là yếu, nhưng thực ra lại rất khỏe. Lanh có thể chơi đu quay đến hơn 200 vòng mà không cần nghỉ giữa chừng. Có điều, miệng Lanh hơi “meo méo” và mắt lại hơi “xênh xếch” nên tôi thường gọi Lanh là “thằng trượt cạnh” và có lẽ cái tên Lanh “trượt cạnh” xuất phát từ đó.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2016, 08:35:16 am

        Tạ Văn Vượng - Người cùng đoàn bay với Lanh:

        - Lanh là người hiền, thật thà, thuộc loại trẻ nhất đoàn nhưng có trình độ kỹ thuật bay tốt

        Hán Vĩnh Tưởng - Phi công cùng đoàn bay, cùng tổ bay năm đầu tiên với Lanh:

        - Trong tổ bay, Lanh thuộc loại bay giỏi, thẳng thắn, giản dị, không sợ dư luận, không sợ ai, thấy gì “trái khoáy” là phản ứng luôn. Tuy Lanh cục tính nhưng sống rất tình nghĩa, sống hết mình với công việc, ghét cảnh bon chen. Rất tâm huyết với đồng đội.

        Lương Quốc Bảo - Phi công cùng đoàn bay, cùng tổ bay khi bay trên loại máy bay MiG-17 với Lanh:

        - Lanh là người tốt tính, rất thật thà, chất phác như một người nông dân nhưng lắm khi cũng ngang ngang...

        Lê Văn Bàng - Phi công cùng đoàn bay với Lanh:

        - Lanh là người hiền lành, bộc trực, dễ nổi nóng. Lanh cũng là người đầu tiên trong Đại đội bay chơi đu quay đếm được 100 vòng liền, cả Đại đội đứng vỗ tay cổ vũ, hầm trồ tán thưởng. Lanh là con người có ý chí, đã quyết là làm bằng được. Bởi vẻ ngoài của Lanh khác anh em khác với cái miệng, cái mắt không bình thường nên anh em gọi Lanh là “trượt cạnh” và rồi sau này khi gặp Lanh, mọi người không gọi tên mà dùng “tên húy” để gọi, ví như “Trượt cạnh” đi đâu đấy?... chẳng hạn.

        Tạ Quốc Hưng - Một trong những cựu sĩ quan dẫn đường của Quân chủng Phòng không - Không quân, người cùng “họ hàng nhà Quất”:

        - Lanh là con người trung thực, rất trung thực. Mình nhớ lần xuất kích của Phúc và Lanh. Hôm ấy Phúc bắn xong thoát li luôn, không nhìn thấy điểm nổ. Lanh lao vào bắn tiếp. Thằng F-4 ấy bốc cháy dữ dội và lao cắm xuống đất Khi vê rút kinh nghiêm chiến đấu, Phúc nói: “Tôi bắn xong thoát li ngay, không quan sát được điểm nổ, nhưng chắc là không trúng!”. Khi ấy Lanh nói ngay: “Chiếc máy bay ấy là của anh Phúc vì khi bắn xong, anh thoát li ngay, tôi chưa thấy nó cháy nên lao đến bồi thêm cho nó một quả, nhưng quả tên lửa của tôi vừa rời khỏi bệ phóng thì thằng F-4 đã bốc cháy rồi và quả tên lửa của tôi cũng lao vào đám cháy, nổ luôn. Vì thế, chiếc máy bay ấy là do anh Phúc bắn cháy trước, nhẽ ra tôi chẳng cần phải bồi thêm một phát làm gì!”. Qua đó, mình thấy Lanh đúng là người rất trung thực. Lanh cũng là người thông minh, bình tình, dũng cảm. Chuyện hạ cánh khi máy bay chết máy đấy. Rồi còn lần đi đánh nhau máy bay bị thương ở cánh, chảy dầu, hỏng cả hệ thống thủy lực mà vẫn bắn được một thằng F- 4 và vẫn về hạ cánh thì biết rằng Lanh rất dũng cảm và bình tĩnh trong chiến trận.

        Trần Văn Năm - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Lanh là người trung thực, thật thà, thẳng thắn!

        Hà Quang Hưng - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Lanh thích gắn tánh cách hoặc hình dáng của người với một con vật quen thuộc nào đó để gọi hoặc đặt “tên húy”. Ví như, khi gặp tôi, bao giờ Lanh cũng nói: “Ê! “Con gà rù” đi đâu thế?.

        Hoàng Quốc Dũng - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Lanh là người trung thực, thẳng thắn, giản dị, nhưng quyết liệt, làm gì phải làm bằng được mới thôi.

        Nguyễn Văn Lục - Cựu phi công tiêm kích MiG-17, người cùng đoàn bay với Lanh:

        - Lanh là người có cá tính, thẳng thắn, trung thực, dám nói ra những ý nghĩ của mình mà không sợ trù dập. Khi thấy những gì chướng tai gai mắt là chửi thẳng cánh.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2016, 07:23:14 pm

        Từ Đễ - Cựu phi công tiêm kích MiG-17:

        - Lanh là người thẳng tính, không thích phô trương, chỉ ngấm ngầm thôi, nhưng đối xử với bạn bè thì thật tuyệt vời.

        Hạ Vĩnh Thành - Cựu phi công tiêm kích MiG-21, người từng chuyển loại bay từ MiG-17 lên MiG-21 cùng với Đỗ Van Lanh:

        - Lanh là một phi công bay giỏi, quả cảm, tích cực bảo vệ số 1 nhưng không bỏ lỡ thời cơ lập công. Sống với bạn bè rất chân thật. Luôn có tinh thần lạc quan. Thích khám phá cái mới. Đã từng tự tháo đồng hồ ra xem rồi lắp lại. Khi lắp xong rồi mới thấy vẫn còn thừa một số ốc vít, chẳng biết nó nằm ở vị trí nào thế là quăng luôn chiếc đồng hồ đi.

        Lê Tùng - Người cùng bay nhiều chuyến với Đỗ Văn Lanh ở bài bay động tác nhào lộn kỹ thuật phức tạp độ cao thấp:

        - Lanh là người sống tình nghĩa, luôn quan tâm đến đồng đội, không hề nghĩ về chức tước, cương vị. Có trình độ kỹ thuật bay giỏi.

        Nguyễn Ngọc Dương - Nguyên Chính ủy Trung đoàn Không quân 927:

        - Lanh là người chất phác, thẳng thắn, mang đậm tính nông dân. Rất nhiệt tình, có trách nhiệm với công tác và cằn cù.

        Nguyễn Hùng Thông - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Đỗ Văn Lanh là người chất phác, thẳng tính và hay... nói bậy, chửi bậy nếu thấy ngang trái.

        Nguyễn Vinh Đạt - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Lanh là người bay giỏi, tính tình vui vẻ, hòa đồng.

        Trần Tuấn Việt - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Nhớ nhất cảnh anh Lanh chơi bóng bàn với anh Trân bếp trưởng. Một anh thì lác mắt, một anh thì méo mồm mà lại hay trêu nhau để làm trò cười trong lúc chơi bóng làm cho tất cả mọi người xem cũng phải cười theo. Mà hễ cứ bay xong là anh Lanh hay đi bộ về đơn vị, áo vắt lên vai, chẳng cần mũ nón gì hết.

        Dương Đình Lợi - Từng phụ trách tổ kỹ thuật máy bay của Đại đội 7:

        - Lanh rất hay uống nước lã và ăn rau sống. Thường hay cởi trần đi bộ.

        Phạm Ngọc Cảnh - Nguyên tổ trưởng máy bay UmiG:

        - Lanh là người sống hòa nhã, vui vẻ, có tác phong quần chúng, thân thiết với mọi người.

        Vũ Phi Hùng - Cựu thợ máy của Trung đoàn Không quân 921:

        - Hình ảnh của Đỗ Văn Lanh luôn in đậm trong tôi những khi bay xong thường cởi trần, áo vắt vai, xắn quần đi bộ hệt một nông dân vừa hoàn tất công việc nhà nông. Là người rất thẳng tính, trực tính.

        Mai Bá Quát - Cựu phụ trách ngành kỹ thuật qua nhiều thê hệ:

        - Lanh là người hiền lành, bay giỏi, dũng cảm, phải cái cục tính nhưng rất thông cảm với các thành phần kỹ thuật.

        Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đăng Kính- cựu phi công MiG-21:

        - Khi Lanh sang bay chuyển loại lên MiG-21 thì Lanh là một phi công lì lợm, dũng cảm, dám nhận khuyết điểm, khi nhận xét mà thấy mình sai thì không bao giờ cãi. Lanh thuộc diện thông minh, làm gì được nấy. Lanh là người bay xuất sắc trong nhóm chuyển loại từ MiG-17 lên MiG-21, nhưng cũng hay hứng chí kiểu bạt mạng. Đã có lần Lanh tự ý nhảy lên máy bay An-26, bay cùng tổ bay vào chơi trong miền Nam mà chẳng báo cáo gì hết. Khi Đại đội trưởng hỏi tôi về sự vắng mặt của Lanh thì tôi cứ ngớ người ra vì Lanh lẳng lặng đi theo máy bay có báo gì đâu!.

        Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Cốc - Cựu phi công MiG-21:

        - Lanh là người ít nói, tính tình thẳng thắn, trung thực nhưng cũng thuộc loại đa sầu đa cảm đấy. Và rất khảng khái nữa!

        Lương Thế Phúc - Cựu phi công tiêm kích MiG-21, người bay số 1 của Đỗ Văn Lanh suốt một thời gian dài trong chiến tranh:

        - Lanh là người linh hoạt, nhanh nhẹn, dũng cảm. Có tính chủ động, sáng tạo, nhưng ý thức chấp hành kỷ luật
chiến trường có lúc chưa được cao, hay tách đội để tấn công riêng lẻ.

        Dương Bá Kháng - Cựu phi công tiêm kích MiG-21, người từng bay số 2 cho Đỗ Văn Lanh trong trận không chiến ngày 27 tháng 12 năm 1972:

        - Anh Lanh là người luôn vui vẻ, rất tốt tính, thật thà, thẳng thắn và trung thực.

        Lê Văn Kiền - Cựu phi công tiêm kích MiG-21:

        - Anh Lanh sống rất thoải mái vói bạn bè, tốt tính lắm, không hề phân biệt mình là cấp trên hay đang giữ cương vị gì. Rất quần chúng, gần gũi với mọi người và chất phác lắm.


Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2016, 07:29:30 pm
        Trần Thị Toan - “Toan ốc”:

        - “Ông sư” Lanh luôn vui vẻ, lạc quan, sống chan hòa với mọi người. Chẳng thể nào quên được “ông sư Lanh” vì ông từng ăn cả mối sống.

       Dương Công Danh - Nguyên Phó trưởng phòng Huấn luyện của Sư đoàn Không quân 371:

        - Lanh là một Anh hùng nông dân, chất phác, thật thà, càn cù, chân chất như hạt lúa, củ khoai. Tôi vẫn thường ví Lanh là “củ khoai Hoàng Long” đây rồi. Lanh rất thẳng thắn, thẳng vô cùng, không cần bợ đỡ, xu nịnh. Đấy là một người thợ: thợ bay, thợ đánh giặc, giao gì làm nấy. Cương trực lắm!.

        Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân - Phi công vũ trụ Phạm Tuân - Người sống cùng với Lanh từ khi ở Trung đoàn Không quân tiêm kích 923, cùng chuyển loại lên máy bay MiG-21:

        - Lanh là người đày cá tính ở mọi lĩnh vực. Rất nông dân nhưng lại không theo kiểu nông dân. Bản chất và cách cư xử nhiều khi cứ thấy hơi ngược ngược thế nào ấy. Sinh hoạt tự do nhưng chăm chút công việc. Thích làm gì là phải làm bằng được. Chiến đấu dũng cảm. Mà có lẽ khi vào trận, lúc đánh nhau thì Lanh mới thể hiện đúng mình.

        Đỗ Thị Thảnh, Đỗ Thị Thu - Các em gái của Đỗ Văn Lanh:

        - Anh Lanh với vẻ bề ngoài thì như người thô kệch, khô cứng nhưng thực chất anh lại là người sống rất tình cảm, yêu thương mọi người, quan tâm đến mọi người và sống rất đơn giản. Anh có thể hy sinh hết chẳng cằn gì giữ lại cho mình cả. Có lần, thấy bộ đội lau súng, anh đã xé vạt áo mình đưa cho các anh ấy làm giẻ lau súng đấy. Khi anh ấy được phong Anh hùng, xã đến đặt vấn đề rải nhựa cho đoạn đường từ đường chính vào đến nhà, anh Lanh không đồng ý, nói là không được trội lên làm gì. Rồi đến lúc xã cho hai sào đất, anh cũng gạt đi với lí luận: “Ăn hết nhiều chứ ở hết mấy! ở nhà không được ai lấy gì hết kẻo mang tiếng!”. Anh rất quý các em, chăm lo cho các em từng tí một Anh mất đi đúng là một tổn thất lớn đối với gia đình. Chúng em luôn nhớ về anh ấy, không khi nào quên được!.

        Đỗ Văn Hải - Con trai của Đỗ Văn Lanh:

        - Tôi rất tự hào về bố tôi với những sự cống hiến của bố tôi trong cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá ra miền Bắc Việt Nam. Tự hào về bố bao nhiêu thì tôi càng phải cố gắng rèn luyện bấy nhiêu để trưởng thành, để không hổ thẹn trước vong linh của bố tôi. Tôi sẽ nuôi dạy con cái cho nên người và sẽ kể cho chúng về ông nội của chúng!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%203_zpslff878c3.jpg)
Bút tích ít ỏi, hiếm hoi của đồng chí Đỗ Văn Lanh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%206_zpssxw49n6e.jpg)
Các cựu phi công tiêm kích MiG-21 thăm gia đình đồng chí Đỗ Văn Lanh





Tiêu đề: Re: Chiến mã trên không
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2016, 08:43:24 pm
        
9

        Vào một ngày của tháng gần cuối năm 2013, tôi cùng chú em út của Đỗ Văn Lanh đến nghĩa trang Bảo Lý để viếng Lanh. Suốt dọc đường đi, trong tôi cứ luẩn quẩn, vương vấn một câu: “Phải chi họ có thêm 100 mét độ cao!”, “Giá mà họ có được 100 mét độ cao!”...

        Biết rằng sự ước muốn ấy không bao giờ có được, nhưng sao vẫn cứ ao ước.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%205_zps71dzwyv9.jpg)
Em út Đỗ Văn Nguyên cùng bố nói chuyện về Lanh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%209_zpsa0lyb2mi.jpg)
Các cựu phi công tiêm kích MiG-21 thắp nhang viếng đồng chí Nguyễn Văn Lanh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2010_zpstnoxhruu.jpg)
Nơi yên nghỉ cuối cùng của đồng chí Đỗ Văn Lanh

        Không gian quanh nghĩa trang thật yên ả, tình lặng. Tĩnh lặng như khi Đỗ Văn Lanh đưa chiếc máy bay chết máy vì hết đầu về hạ cánh... Tĩnh lặng như sau khi máy bay của các anh đã “ngồi bệt” trên vùng đất này...

        Chúng tôi thắp nhang và lúc bấy giờ trời lặng lẽ rắc mưa. Những hạt mưa nhỏ li ti rơi, tôi như nghe được cả tiếng chạm nhẹ của nó trên mộ Lanh. Rồi mưa ngày càng mau hạt hơn. Không một làn gió... chỉ có màn mua ngày càng dày, phủ kín đất trời. Trời cứ lặng lẽ đổ mưa. Tôi cứ lặng lẽ khóc. Khói nhang cứ lặng lẽ tỏa nhạt nhòa khắp nghĩa trang...

        “Ước gì có thêm được trăm mét độ cao!”, “Phải chi có thêm được trăm mét độ cao... Lanh ơi!” - Tôi khóc thầm, khấni thầm bên mộ Lanh.

        Đỗ Văn Nguyên - chú em út của Lanh cũng đứng lặng, môi mấp máy chắc đang thì thầm điều gì đó với anh mình...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%208_zpsm7nj6lr2.jpg)
Em út Đỗ Văn Nguyên bên mộ Đỗ Văn Lanh

        Không gian thật tình lặng, lĩnh lặng vô thường!...

        Rồi tôi lại cứ nghĩ miên man, không biết có phải là nghĩ quẩn hay không, rằng “Lanh sinh ra từ bùn đất, từ một làng quê nghèo... nhung đã trở thành “con Trời” như Lanh từng nói. Lanh trở thành người nhà Trời thật, đã từng vẫy vùng, từng tung hoành ngang dọc trên trời, từng lập được kỳ tích trong đời bay. Và rồi, số phận đã không cho Lanh tiếp tục khuấy đảo trời mây nữa, đã đến độ phải “lôi” Lanh xuống. Nơi Lanh xuống là vùng ruộng nước thuộc vùng đập thôn Ngò của “Thủ đô gió ngàn”, một vùng địa linh... Vậy thì, biết đâu, có thể bây giờ, Lanh sau khi đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của “con Trời” rồi, lại tiếp tục làm “con vua Thủy Tề” để vùng vẫy nơi sóng nước, làm nốt sứ mệnh tiếp nối của mình thì sao?...”

        Có thể lắm chứ! Đời này đã ai biết được, ai giải thích được cặn kẽ mọi chuyện đâu. vấn đề này chắc chỉ mỗi Lanh biết được mà thôi!

        Tôi cứ ngồi bần thần, bần thần trong màn mưa rồi bỗng như nghe thấy tiếng gọi giật giọng của Lanh:

        - Ê! “Quất”!...

        Mưa dày hạt hơn, nặng hạt hơn!

HẾT