Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 03:37:37 pm



Tiêu đề: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 03:37:37 pm

        - Tên sách: Thanh kiếm bầu trời
        - Tác giả: Nguyễn Công Huy
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Văn học
        - Số hóa: Giangtvx

        - Thông tin thêm: Là  một đồng đội của Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Công Huy kể lại những năm tháng của người anh hùng trong cuộc đọ sức với không lực Mỹ .

        Nguyễn Công Huy cũng là thành viên trong diễn đàn, có nickname là Phicôngtiêmkích. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trong các topic mà ông thành lập và chủ trì. Có thể trao đổi trực tiếp với tác giả ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=29092.0

        MỤC LỤC

        Lời nói đầu

        Miền quê nơi sinh ra người anh hùng   
        Tuổi ấu thơ   
        Bước vào chặng đường chiến đấu   
        Trở thành người lính canh trời   
        Những trận không chiến và những kỷ niệm không thể nào quên   
        Bước ngoặt mới. Chiến trường mới. Thành công mới   
        Đường băng dịu êm   

        Thay cho lời kết   

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200001_zpsp9hix3eu.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200002_zpsv486gmbw.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200003_zps3mrcp1sd.jpg)
Phi công tiêm kích - Anh hùng lực lượng vũ trang
Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị
 


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 09:19:26 pm
         
LỜI NÓI ĐẨU

        Quân chủng Phòng Không - Không Quân - một Quân chủng không thể thiếu được trong hệ  thống Quân Binh chủng hợp thành: Hải - Lục - Không quân - một Quân chủng còn non trẻ nhưng đã biết kế thừa và phát huy, phát triển đến trình độ cao những tinh hoa quân sự truyền thống của cha ông. Đảng, Nhà nước, Bác Hồ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dàn Việt Nam luôn quan tâm, chỉ đạo lực lượng non trẻ này. Các tầng lớp nhân dân củng đã giành hết sự yêu thương của mình để giúp cho Quân chủng ngày càng trường thành, lớn mạnh.

        Và đội ngũ phi công - được ví như thành phần làm nên tiếng sét giữa trời của đám mây tích điện là lực lượng Phòng Không - Không Quân đã lập nên những kỳ tích, chiến tích phi thường. Họ xuất thân từ những người “chân  lấm tay bùn”, từ những người lính bộ binh, từ công nhân, học sinh, sinh viên... là những người rất bình thường của xã hội, nhưng đã tham gia mở “mặt trận trên không”, đã chiến đấu, đã là những “hiệp sĩ trên không”, bảo vệ cho bầu trời mãi thanh bình và mặt đất yên lành, đã làm được những điều không bình thường.

        Nói đến thành tích của các phi công của Quân chủng Phòng Không - Không Quân, không ai là không biết đến phi công Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Cốc - người đã bắn rơi 9 máy bay của lực lượng Không quân Mỹ khi chúng mở cuộc chiến tranh đánh phá miến Bắc Việt Nam với ý đồ đưa đất nước Việt Nam chuyển về “thời kỳ đồ đá”. Nguyễn Văn Cốc đã từng được gặp Bác Hồ kính yêu và câu nói của Bác còn lưu truyền mãi cho tất cả các thế hệ phi công: “Bác mong Quân chủng Phòng Không - Không Quân có nhiều Cốc hơn nữa!”...

        Sau thành tích của phi công Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Cốc bắn rơi 9 máy bay Mỹ là đến các anh Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Hồng Nhị, Mai Văn Cương - đều bắn hạ 8 máy bay Mỹ. Tiếp đó là đến các anh Nguyễn Văn Bảy, Đặng Ngọc Ngự - bắn hạ 7 chiếc. Các anh Lưu Huy Chao, Lê Hải, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Đức Soát - bắn hạ 6 chiếc. Nguyễn Phi Hùng, Nguyễn Tiến Sâm, Nguyễn Văn Nghĩa... bắn hạ 5 chiếc và còn nhiều các phi công khác bắn hạ 4 chiếc, 3 chiếc, 2 chiếc...

        Riêng phi công Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Hồng Nhị còn có một chi tiết khá thú vị là khi anh chuyền sang đơn vị làm kinh tế (sau này là Hàng không dân dụng) có lần khi sang Mỹ hội đàm về việc phát triển, mở rộng những đường bay của Hàng không dân dụng thì đã gặp một nhân vật từng tham dự cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người cựu phi công Mỹ từng một thời là đối thủ của người Anh hùng đã “thú nhộn” từng bị anh bắn nhưng không rơi vì lí do nào đó mà quả tên lửa giắt vào máy bay của người phi công Mỹ, nhưng không nổ. Cựu phi công Mỹ ấy phải thốt lên: “ông bắn rơi 8 máy bay rưỡi chứ không phải là 8 chiếc đâu. Cái máy bay “rưỡi” kia chính là số phận giành sự may mắn cho tôi. Nếu không, chắc tôi củng đã chịu chưng số phận của 8 chiến hữu của tôi rồi!”.

        Từng giữ chức vụ cao trong Quân chủng Phòng Không - Không Quân và rồi lại giữ chức vụ đứng đầu ngành Hàng không dân dụng từ năm 1988 - sự chuyển đổi cuộc đời binh nghiệp sang cuộc đời làm doanh nghiệp với biết bao thứ thách đầy gian khó, quyết liệt. Thương trường là chiến trường! Nhưng với bản lĩnh của người Anh hùng, người phi công từng xông pha trận mạc, anh đã vượt qua mọi sức cản của tư tưởng bao cấp trì trệ, tạo được những bước quyết định trong cuộc cạnh tranh khốc liệt ỏ lĩnh vực chiến trường mới, đưa ngành Hàng không dân dụng có những bước tiến dài cả vê kinh doanh lẫn thanh thế trong làng Hàng không Quốc tế.

        Là một người rất kiệm lời trong cuộc sống hàng ngày, nhưng lại là người có tâm hồn phóng khoáng đượm chất nghệ sĩ, nhân hậu, vị tha... chỉ những người từng sống với anh, hiểu hết anh mới thực sự quý mến anh. Điều đó ngày càng đúng khi anh không còn đảm nhận một cương vị lãnh đạo nào nữa, trở về với đời thường, trở thành “thường dân” thì mọi người từng biết anh lại càng quý anh, càng đến với anh nhiều hơn, thường xuyên hơn, kính nể hơn, yêu mến hơn. Không phải ai cũng được như vậy.

        Tác giả muốn chia sẻ với các bạn đọc về một trong những người phi công Anh hùng như vậy để các bạn đọc hiểu thêm về đội ngủ những người một thời từng được mệnh danh, là “Thanh kiếm bầu trời”!

        Tác giả củng biết ơn gia đình anh Nguyễn Hồng Nhị, các bạn hữu và đồng đội đã nhiệt tình cưng cấp cho tác giả các tư liệu và thường xuyên động viên, khích lệ tác giả trong quá hình thực hiện cuốn sách này.

        Cuốn sách có thể còn có nhiều khiếm khuyết. Rất mong được các bạn góp ỷ, phê bình.

        Xin trân trọng cảm ơn!


TÁC GIẢ       


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 09:22:50 pm
       
MIỀN QUÊ NƠI SINH RA NGƯỜI ANH HÙNG

        Tôi gặp và biết anh có lẽ đã hơn 40 năm nay. Lần đầu tiên, tôi gặp anh khi chúng tôi chuẩn bị tốt nghiệp Trường không quân mang tên Sê-rôp ở Crax-nô-đar. Anh được cử sang để bay đề cao và xem chúng tôi “bay bò” thế nào, đánh giá trình độ từng người một để sau này có kế hoạch sắp xếp, bồi dưỡng ra làm sao khi chúng tôi tốt nghiệp về nước.

        Sau khi kết thúc một ngày bay huấn luyện của bọn tôi, anh gặp từng người, trong đó có tôi. Anh hỏi thủng thẳng, ngắn gọn:

        - Bay thế nào?

        - Cũng tạm ổn ạ! - tôi cũng trả lời ngắn gọn vì chưa biết đấy là ai.

        - Có nắm vững tính năng của MiG-21 không?

        - Cũng được ạ! - tôi bắt đầu dè dặt.

        - Nay mai vê chiến đấu có gì lo lắng không?

        - Không ạ!

        Chúng tôi - những học viên bay đã trải qua thời kỳ bay huấn luyện đầu tiên trên máy bay phản lực L-29, sau lại được “tuyển” thẳng lên máy bay MiG-21, đã qua những bài bay ứng dụng cho chiến đấu, đã sống trong không khí náo nức, háo hức muốn về nước để tham chiến, để đem tất cả những gì mình được học áp dụng vào cuộc chiến, đem hết bầu máu nóng của tuổi trẻ giành giật lại sự thanh bình cho bầu trời thì có gì mà phải lo lắng chứ! Tuổi trẻ thì hăng hái, bồng bột như vậy, tất cả đều thấy giản đơn, chỉ nghĩ rằng mình có sự hăng hái là sẽ vượt được hết, không gì ngăn cản được bước chân của mình hết. Sau này, khi về đơn vị chiến đấu rồi, chúng tôi mới thấy hoàn toàn không phải như vậy. Nhưng thời gian đó chúng tôi còn đang ở bên trường, đang huấn luyện nên suy nghĩ về mọi chuyện đều đơn giản cũng là đúng thôi.

        Mãi cho đến tối, khi đoàn bay của tôi tập trung sinh hoạt, giới thiệu anh là Chủ nhiệm bay kỹ thuật của Trung đoàn, từng tham gia nhiều trận không chiến, bắn rơi nhiều máy bay của lực lượng Không quân Hoa Kỳ, chúng tôi mới thấy “gờm”. A, nay mai mình về nước là phải chịu sự quản lí và được những người như thế này díu dắt đây! Tôi bắt đầu nhìn anh với con mắt khang khác một chút. Cũng chẳng hiểu thế nào, có thể là số phận đã sắp đặt cho tôi cũng nên, khá nhiều năm tôi từng là lính của anh, khi trực tiếp, khi gián tiếp. Càng qua thời gian thì tôi càng hiểu anh, càng quý anh, và tôi cứ tự nhủ, thế nào đi chăng nữa tôi cũng phải đến được quê anh - đến cái miền quê mà “con gái cũng biết cầm roi, đi quyền” ấy, miền quê của vùng đất võ Tây Sơn để hiểu thêm nữa về anh.

        Từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh với lời sấm “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân!”, quê anh đã thuộc về đất “Đàng trong”. Đấy cũng là vùng “địa linh, nhân kiệt”. Anh nhớ lại: quê anh ở cực Bắc tỉnh Bình Định, xưa kia gọi là xứ Vũ Sơn, Bình Đê, nay là làng Hy Văn, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Xứ Vũ Sơn từng nổi danh một thời giống như xứ Đồng Nai ở Nam Bộ vậy. Giao thông thủy, bộ rất thuận tiện. Đường thủy có cửa biển Tam Quan. Đường bộ là tuyến đường liên vận Bắc-Nam (đường 1 và tuyến đường sắt). “Núi Chúa”, “Suối Vàng” là những địa danh “địa linh” của xứ Vũ Sơn. Trên đỉnh Núi Chúa có một tảng đá rất to trông tựa như con gà trống đang vỗ cánh, cất tiếng gáy. Tảng đá đó đứng từ xa đã thấy được rồi. Nó được đặt tên là hòn “Gà cồ”. Án ngữ phía Đông xứ Vũ Sơn là một tảng đá to cao nữa được mang tên là hòn “Bò Cạp”. Hai hòn “Gà cồ” và “Bò Cạp” được ví như hai vị Hộ Pháp bảo vệ cho xứ Vũ Sơn linh thiêng vậy. Từ đâu xuất hiện hai hòn “Gà cồ” và “Bò Cạp”, và chúng có tự bao giờ thì không ai biết được, chỉ biết rằng chúng “xưa như Trái Đất” rồi. Dân trong xứ ai cũng tự hào bởi hai công trình kiến trúc nghệ thuật của Tạo Hóa ấy. Đấy chính là các vị Thần bảo vệ sự bình yên cho xứ Vũ Sơn.

        Cánh đồng Trang của quê anh đất màu mỡ, lắm cua nhiều cá... cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho những người dân quê hiền hậu, chất phác.

        Vậy mà đến năm 1966, khi Ngô Đình Diệm rước các quan thày Mỹ cùng quân Mỹ vào miền Nam, chúng đã đặt hàng tấn thuốc nổ cho nổ tung hai hòn “Gà cồ” và “Bò Cạp”, san bằng hai “công trình nghệ thuật của Tạo Hóa”. Chúng lo sợ khi còn hai hòn “Gà cồ” và “Bọ Cạp” thì xứ Vũ Sơn còn là nơi “địa linh”, còn có “nhân kiệt” để nổi dậy chống lại chúng. Những thế hệ sau này không còn được ngắm những tuyệt tác của thiên nhiên nữa. Nó chỉ còn trong tó ức của những người lớn tuổi, những người đã từng được may mắn chiêm ngưỡng nó một thời.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 09:25:45 pm
        Nhưng chính quyền Diệm cũng đã lầm, rất lầm. Đâu chỉ phá đi những “án ngữ” linh thiêng là chúng có thể yên tâm cai trị, bóc lột, hoành hành theo ý bọn chúng. Ý chí của người dân đâu có khuất phục sắt thép, đạn bom của lũ hung tàn, của lũ lòng lang dạ sói. Nơi đây từng là nơi dây quân khởi nghĩa của quân Tây Sơn. Nơi đây là nơi đất võ, nơi có bề dầy truyền thông không hề biết khuất phục sự cai trị... Nơi đây từng sản sinh biết bao người Anh hùng qua biết bao thế hệ. Anh đã viết về quê anh như sau:

                          Có một quê hương bốn mùa dậy sóng
                          Sóng vỗ về bờ cát trắng, sớm trưa
                          Có một quê hương đêm ngày gió lộng
                          Gió bay trong bát ngát hương dừa...
                          Quê tôi Bình Định ngàn xưa
                          Quanh năm hạt nắng, hạt mưa dãi dầu
                          Lại giang khúc cạn, khúc sâu
                          Bên bồi, bên lở biết đâu mà lần
                          Núi và mây lợp mấy tầng
                          Nhỏn cao, nhón thấp thấy gần, đi xa
                          Đẹp sao cánh én la đà
                          Gọi niềm vui tới Đông qua, Xuân về
                          Bông dừa thơm phức bờ tre
                          Đâu đây khúc nhạc đồng quê nên lời
                          Tiếng ru Mẹ cất à ơi...
                          Bay từ cánh võng đụng trời mênh mông
                          Chuông chùa ai gõ cuối sông
                          Nắng vàng ươm cả chuỗi bông lúa vàng...
                          Quê tôi dừa ngọt Tam Quan
                          Mắm ngon Mỹ Á, cá tràm Quy Nhơn
                          Cờ đào áo vải Tây Sơn
                          Nghĩa tình còn đọng xanh rờn nước non
                          Nhớ ngày đuổi giặc từng không
                          Mây đen sôi sục, cõi lòng nấu nung
                          Nghĩ rrành con cháu Quang Trưng
                          Cánh luôn đọ cánh trời không chung trời
                          Hiềm nguy nhớ Mẹ con cười
                          Đường bay mắt Mẹ chẳng rời bóng con
                          Mẹ cho con nhũng chiến công
                          Từ khi còn ẵm còn bồng trên tay
                          Mẹ mơ, Mẹ ước tháng ngày
                          Chắp cho đôi cánh con bay vào đời...
                          Ai về Bình Định quê tôi
                          Mà coi con gái bỏ roi đi quyền
                          Quê tôi Bình Định khí thiêng
                          Thủy chung nghĩa cả, tình riêng vẹn toàn.


        Tôi càng ngày càng hiểu ra vì sao anh lại kiệm lời, lại bình tĩnh, quả cảm, quyết đoán... trong mọi chuyện, mọi tình huống đến như vậy. Bởi anh đã thừa hưởng những truyền thống tốt đẹp của đất võ Bình Định, bởi hào khí của nghĩa quân Tây Sơn và những đức tính cao cả của “anh bộ đội Cụ Hồ”.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2016, 09:07:49 am
       
TUỔI ẤU THƠ

        Anh sinh vào năm 1936. Gia đình anh là gia đình đông con, nhưng bị mất mấy “đốt” nên chỉ còn 6 anh em: anh Nguyễn Văn Tuần (anh Ba), chị Nguyễn Thị Phòng (chị Năm), chị Nguyễn Thị Hoa (chị Sáu), anh - Nguyễn Hồng Nhị (anh Bảy), chị Nguyễn Thị Khê (chị Tám) và em út là Nguyễn Văn Nhơn.

        Bố anh là người được ông bà cho ăn học, có bằng cấp và giỏi chữ nho. ông thường viết giúp dân làng những khi cần có đơn kiện tụng. Chính quyền phong kiến muốn lợi dụng ông, vời ông ra làm việc cho bọn chúng, nhưng ông không hợp tác, kiên quyết chối từ. Chính vì vậy, chúng tìm cách để hãm hại ông. Chúng vu cho ông tội khai man, trốn thuế và bắt trói ông dẫn đi đồng thời bắt phạt vạ, mặc cho vợ con ông khóc lóc van xin. Vậy là trong nhà có cái gì có thể bán được, có thể cầm cố được là phải cho “đội nón ra đi” để có đủ tiền nộp vạ, cốt để cho ông được tha. Anh Hồng Nhị còn bé, thương cha lắm, mà không biết làm thế nào, chỉ biết khóc ròng và vô cùng căm giận lũ quan lại phong kiến. Cha của anh thường nói:

        - Các con lớn lên, đời phải khác, đừng lặp lại như đời của Cha, Mẹ - vừa khổ cực, vừa bị người ta ức hiếp...

        Chạy đủ tiền nộp vạ, đưa được ông về rồi nhưng làng vẫn bắt ông phải ra điếm canh, canh gác trong vòng một tháng. Thời đó, làng quê Việt Nam làng nào cũng có điếm canh để canh chừng sự yên tình cho làng quê. Hễ có bất cứ động tình gì là phải khua mõ để báo động cho dân làng biết. Mà đã ra ngoài điếm canh để canh thì đêm không được ngủ, phải thức trắng để theo dõi mọi động tĩnh, để còn báo động, ví như có người lạ lẻn vào làng hoặc có trộm cướp đến chẳng hạn... là phải khua mõ ngay tức thì.

        Vào giai đoạn đó cũng từng có một số tù cộng sản ở nhà tù Kon-tum vượt ngục, theo đường đi Quảng Ngãi để lên chiến khu Ba-Tơ nhập vào đội quân du kích. Các điếm canh được tăng thêm người để canh chừng tù cộng sản vượt ngục.

        Anh Nguyễn Hồng Nhị khi ấy chưa đầy 10 tuổi, nhưng anh đã được giao nhiệm vụ cùng với tất cả các chị làm tất cả mọi việc nhà để giúp cho anh Ba (anh Tuần) được đi học. Anh là con trưởng trong gia đình, ngày anh đi học chữ, đêm về lại dạy lại cho các em những gì mình từng học được trong ngày. Anh Nhị biết chữ cũng là nhờ sự dạy dỗ của anh Tuân.

        Thấy Cha đi làm quần quật suốt ngày, vừa mệt, vừa đói, vừa không được nghỉ ngơi, tối mịt mới về đến nhà, chẳng kịp ăn uống gì, lại phải ra điếm canh thì anh thương Cha lắm. Anh nói với Cha:

        - Cha để cho con ra điếm canh thay cho Cha để Cha ở nhà nghỉ nhé. Con thấy Cha mệt lắm rồi!

        - Con chỉ ra điếm ngủ với các bác thôi, đừng tham gia đánh mõ, con ạ! Cha gật đầu đồng ý và căn dặn anh.

        Anh nghe lời Cha. Có những đêm các người gác ở điếm canh khua mõ ầm ỹ, nhưng anh giả vờ ngủ say. Đấy là những đêm có tù cộng sản vượt ngục tìm đường lên chiến khu.

        Tình hình kinh tê gia đình ngày một khó khăn. Thiên tai, địch họa hoành hành liên tục. Hết hạn hán lại đến lũ lụt. Hết thực dân Pháp lại đến phát xít Nhật đè nén, áp bức, bóc lột. Nghèo đói càng thêm nghèo đói. Quẫn bách đến cùng cực. Không biết tìm đâu ra lối thoát!

        Trong lúc khốn quẫn ấy, Cha anh tính cách bỏ quê đi vào Đồng Nai để làm phu đồn điền cao su với hy vọng may ra kiếm được chút tiền gửi về cho vợ con ở nhà. Vậy là Cha đi biền biệt, không tin tức, tiền ở nhà cũng chẳng nhận được một xu, một cắc nào. Biết bao nhiêu nỗi lo âu ập đến.

“Cao su đi dễ, khó về
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo!”

        Câu ca ấy đã tổng kết về nỗi khổ, nỗi cực nhọc, bị ngược đãi của những người phu đồn điền cao su như vậy. Khi Cha đi, Cha đâu có được béo tốt, khỏe mạnh, mà đã ốm yếu, loẻo khoẻo lắm rồi. Liệu có còn giữ được mạng sống cho mình hay là “thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” rồi?

        Cả nhà khắc khoải mong chờ từng ngày từng giờ hình bóng của Cha. Rồi ơn Trời! Cha cũng đã về! Cha về với bộ quần áo rách bươm như tổ đỉa...

        Dầu sao thì Cha cũng đã về rồi! Thật mừng mừng, tủi tủi...

        Cha kể:

        - Không thể nào chịu đựng nổi cái cảnh người công nhân cao su bị bóc lột đến tận xương tận tủy, bị đánh đập dã man, bị ức hiếp đủ kiểu, bị ăn quỵt cả tiền công... Bọn chủ đồn điền là bọn thú đội lốt người!

        - Thôi, Cha bọn bay dẫn được xác về đến đây là tui mừng , tui quý hơn bắt được bạc, được vàng rồi! Không phải bỏ lại xác ở gốc cao su là may mắn lắm rồi! - Mẹ nói.

        Mấy anh chị em thương Cha quá. Cha gày yếu đi rất nhiều. Không ai bảo ai, anh chị em đều tích cực đi làm thêm đủ mọi việc, cốt để san sẻ bớt được phần nào khó nhọc, cực khổ cho Cha.

        Bên ngoại anh rất thương gia đình anh, nhưng thực ra ngoại cũng gặp khó khăn chẳng kém, chỉ có thể nuôi giúp được một trong số mấy chị em mà thôi.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2016, 09:09:34 am
        Cha Mẹ anh chọn lựa và gửi anh sang cho ông bà ngoại nuôi và cho anh học thêm nghề mộc. Nghề mộc đúng là cần có đức tính kiên trì, tỉ mỉ, khéo tay. Tôi cũng đã từng đi học nghề mộc nên tôi biết chút ít, cũng đã từng phải đứng, chân đặt lên bàn xẻ đến cứng đờ để xẻ gỗ - kiểu xẻ lao. Việc cưa xẻ phải kéo đều tay, đẩy đều tay, không được chệch vết mực (mà người ta vẫn nói đùa với nhau là không để “chó liếm mực”!), rồi học đục, học bào, đặc biệt cách bào khi đến mắt gỗ lại phải đổi chiều ra làm sao. Rồi còn chuyện mài đục, mài bào, rửa cưa... nhất là mài lưỡi bào làm sao không được mòn tù ở hai cạnh lưỡi bào, mà phải sắc cạo râu được thì mới đạt yêu càu. Khó lắm! Không thể ẩu được! Lại càng không thể “sáng mài cưa, trưa mài đục, chiều giục ăn”... Kiểu ấy mất nghề là cái chắc!

        Nghề mộc bây giờ từ cưa, bào, cắt mộng... tất cả đều có máy hết, nhàn hơn ngày xưa nhiều.

        Anh đã được ông ngoại và các cậu hướng dẫn rất tỉ mỉ, chu đáo. Cũng trong thời gian anh ở bên ngoại, anh đã được tiếp xúc với nhiều người, nhiều thành phần và bước đầu đã tiếp xúc với cách mạng. Anh được nghe nhiều điều mới lạ, thú vị với những cụm từ cũng rất mới lạ như: cách mạng, khởi nghĩa, độc lập, bình đẳng... Các cậu của anh và anh thích nhất từ cách mạng. Cách mạng sẽ được đổi đời, người cày sẽ có ruộng, sẽ không bị bóc lột, áp bức, sẽ được tự do...

        Ban ngày thì các cậu đi làm, nhưng ban đêm thì không biết các cậu đi đâu, làm gì... Anh đòi đi theo, các cậu không cho đi. Mãi sau này mới biết là các cậu đi họp đoàn thể để chuẩn bị tham gia khởi nghĩa.

        Nghe tin bà nội bị bệnh, anh Nhị xin phép ông bà ngoại rồi chạy một mạch về nhà thăm bà. Thăm bà xong, anh cùng các chị đi đăng tên để gia nhập Đội thiếu nhi, để được tham gia biểu tình. Vậy là cách mạng sắp về rồi, sắp được đổi đời rồi!

        Cách mạng về như một luồng gió mới mang đến luồng sinh khí mới. Vạn vật như được rũ bỏ tất cả những gì bẩn thỉu, bụi bậm bám trên mình. Tất cả trở nên tươi trẻ, tràn đầy sức sống. Chính quyền phong kiến, thực dân từng cai trị xứ Vũ Sơn - Bình Đê hàng chục thập kỷ nay đã bị đổ sập tan tành. Tiếng trống, tiếng reo hò của dòng người biểu tình vang dội khắp đất trời. Cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ khắp xóm thôn, cả nhà anh, cả làng thôn Hy Văn nhộn nhịp, tưng bừng suốt ngày đêm. Cậu bé Hồng Nhị chạy nhảy tung tăng khắp xóm thôn. Chưa bao giờ cậu được vui như thế. Một niềm vui khôn tả.

        Rồi gia đình được chia ruộng. Trước cách mạng, gia đình không có lấy một “tấc đất cắm dùi”, nay được chia 5 sào ruộng. Đấy là niềm vui vô bờ mà trước kia dù có trong mơ cũng không thể nào nghĩ đến. Cách mạng về đã cứu sống gia đình, cứu sống bao người dân xứ Vũ Sơn.

        Vốn ông ngoại làm nghề mộc, ông đóng cho cày, bừa và tậu hẳn cho một con bò (bằng tiền tiết kiệm, chắt chiu bao nhiêu năm của ông) để gia đình anh cày cấy. Còn niềm vui nào hơn! Còn niềm hạnh phúc nào hơn! cả mấy anh em đồng loạt đi hoạt động cách mạng: anh Ba làm chính trị viên xã đội dân quân, chị Năm đi làm giao thông, chị Sáu là thư ký hội phụ nữ xã, anh Hồng Nhị làm phân đoàn trưởng thiếu nhi...

        Lời ca tiếng hát luôn vang khắp thôn xóm, như “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...”, “Anh em ta trong đoàn quân du kích, cùng vác súng lên nào...” rồi “Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” khơi dậy lòng yêu nước thương nòi, rèn ý chí cách mạng kiên cường... đến tận bây giờ anh vẫn nhớ như in, như mọi việc vừa xảy ra ngày hôm qua vậy.

        Điều kiện kinh tế gia đình khấm khá lên nhiều, nhưng Cha Mẹ vẫn luôn nghiêm khắc răn dạy các con phải đi làm cách mạng cho giỏi và làm việc nhà cũng phải giỏi. Anh chị em đều nhìn nhau tự động sắp xếp công việc, răm rắp đâu vào đấy. Mọi người trong làng trong xứ đều nể trọng hai ông bà, coi ông bà là tấm gương sáng để mọi người noi theo, cả gia đình bên nội và bên ngoại của anh rất có uy tín trong xứ. Ông là người Cha nghiêm khắc nhưng độ lượng, bao dung. Bà là người Mẹ hiền từ, nhân hậu, chăm lo cho chồng con hết mình, không hề kêu ca phàn nàn khi gặp khó khăn, không quát mắng con cái bao giờ. Sự mẫu mực của người Cha, sự nhân từ của người Mẹ đã giúp cho các anh chị em của anh phương trưởng, đứng vũng trong cuộc sống.

        Niềm vui đến với xóm thôn chưa được bao lâu thì những khó khăn, gian khổ lại ập đến. Một lần nữa, Pháp lại trở lại gây hấn, xâm lược nước ta. Chiến sự xảy ra khắp nơi, súng đạn ì ầm, nổ chát chúa suốt ngày. Làng mạc ven biển bị đốt cháy, chiếc đầu máy xe lửa trong hầm xe lửa ở đèo Bình Đô cũng bị chúng thiêu cháy...

        Toàn dân lại đứng dậy kháng chiến theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch: “ Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ...”. Tiếng bom cảm tử của Ngô Mây chặn địch trên đường 19 từ Tây Nguyên xuống Bình Định đã dấy lên khí thế sục sôi của tuổi trẻ tham gia chiến đấu trả thù cho Ngô Mây.

        Anh đã xin phép gia đình và đoàn thể để được gia nhập Vệ Quốc Đoàn.

        Vậy là cuộc đời của cậu bé Hồng Nhị đã bước sang bước ngoặt mới, sang một trang mới. Cuộc sống xa gia đình và ở lứa tuổi 16 -17, không biết những gì sẽ chờ đón ở phía trước, và rồi anh có vượt được qua hay không.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2016, 09:16:42 am

BƯỚC VÀO CHẶNG ĐƯỜNG CHIẾN ĐẤU

   Ngày 25 tháng 5 năm 1952 là ngày đánh dấu bước ngoặt đầu tiên của cuộc đời anh. Đội thiếu niên của anh lựa ra được 10 người có chiều cao kha khá (trong đó có anh) để đi khám tuyển. Anh láu cá, về mượn đôi dép lốp của dượng Điều để đi vào cho tăng thêm chiều cao và không quên bọc thêm cục đá cho vào túi quần để tăng thêm cân nặng, nhưng tất cả những trò ấy của anh đã bị đội khám tuyển phát hiện. Anh làm sao “qua mắt” được họ, nhưng anh không bị trách cớ mà lại được trúng tuyển, trước tiên chính vì cái tinh thần hăng hái, quyết tâm tham gia chiến đấu của anh. Trúng tuyển xong là theo đơn vị ngay. Anh chỉ kịp viết mấy chữ để báo cho gia đình rồi gửi cho mấy người không trúng tuyển đợt này đem về cho gia đình và theo đơn vị lên đường luôn. Gia tài mang theo là một chiếc bát làm bằng sọ dừa già xin của dân và một đôi đũa tre tự vót. Anh được phát một bộ quần áo màu xám tro, được biên chế theo tiểu đội, trung đội... Và bắt đầu hành quân!

        Bài học đầu tiên sau khi nhập ngũ là học thuộc 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của Quân đội. Tới bây giờ anh vẫn nhớ như in. Anh nói:

        - Điều 1 của 10 lời thề mãi mãi in đậm trong anh, không bao giờ phai mờ. Đó là: “Hy sinh tất cả vì Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, sau này mới đổi lại là: “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

        Đã là người lính thì không sợ hy sinh, sẵn sàng hy sinh tất cả, không sợ chết. Có vậy mới hoàn thành được nhiệm vụ. Ý nghĩa sâu sắc của lời thề danh dự là như vậy!

        Các anh cựu binh còn phổ biến thêm kinh nghiệm cho các tân binh: khi nào ra trận, trước giờ nổ súng, lúc nào thấy run sợ thì cứ đọc lời thề danh dự thứ nhất là sẽ bình tĩnh liền, hết run sợ liền!

        Chặng đường hành quần đầu tiên của anh là đi từ Hoài Nhơn vào Phù Mỹ. Chặng đường chưa dài nhưng đây là thử thách đầu tiên đến với anh vì anh chưa hề đi bộ chân đất với đoạn đường dài như thế này bao giờ. Đêm đi, ngày nghỉ. Đến đêm thứ hai của cuộc hành quân thì chân anh đã mỏi nhừ, không muốn bước nữa. Đêm thứ ba đến Phù Mỹ, các anh vào ở nhờ nhà dân. Tiểu đội phân công, cắt cử nhau thay tua làm “đầu bếp”. Đến lượt anh, anh rất lo không hiểu phải làm thế nào để cho cơm không bị khê, bị sống, rồi nấu nướng thức ăn thế nào, tuy thức ăn chỉ là rau muống rồi cá kho mà thôi. Má Khương (các anh ở nhờ nhà má) chắc để ý thấy anh loay hoay từ lúc vo gạo, nhặt sạn, nghe chừng không ổn lắm. Má bảo:

        - Thôi con để đó, má giúp cho!

        Anh mừng quá. Má Khương chỉ làm một loáng là xong, cơm canh đã sẵn sằng, đâu vào đấy. Đúng lúc đó, tiểu đội cũng vừa tan học về. Cơm dẻo, canh ngọt., ai cũng khen. Anh không dám nói đấy là do má Khương nấu giúp, nhưng từ đấy anh đã học được cách nấu nướng và cũng trở thành một “đầu bếp” được xếp vào loại khá nhờ công chỉ bảo của thày giáo là má Khương.

        Hăm hở tòng quân là vậy, sự háo hức được làm anh lính Vệ quốc đoàn là vậy, nhưng chỉ qua thời gian ngắn đã thấy khí thế “cạn dần”. Tiếp theo là chuỗi ngày nhớ nhà, nhớ Cha Mẹ, nhớ các anh các chị... ập đến. Anh cũng mới chỉ là một trang thiếu niên, lần đầu tiên xa nhà. Làm sao mà tránh khỏi cái cảm giác lẻ loi, làm sao mà không nhớ quê, nhớ nhà cồn cào, da diết được chứ? Anh nhớ từng ngày đi hái chà là cùng các bạn khi có tiếng chim Tu hú báo hiệu. “Tu hú kêu là chà là chín. Tu hú nín là chà là xanh”. Mùa Tu hú kêu rồi, chà là trên núi chín nhiều lắm đây. Cứ nhớ có lần anh mải hái, hái được nhiều quá, không thể gánh nổi, phải đổ bớt đi để gánh cho vừa sức mà vừa gánh vừa tiếc rẻ. Phải chi mình gánh được nhiều hơn... Rồi lại nhớ đến những khúc mương nào có nhiều cá, nhiều lươn, nhiều ếch để đi câu, đi bắt, nhớ những thửa ruộng nào hay có đàn rẽ giun đến để đặt cạm, đặt bẫy, nhớ cả từng vạt cỏ ngon để dắt bò đến chăn..., nhớ từng chi tiết rất nhỏ mà thường ngày chẳng bao giờ để ý. Vậy mà bây giờ nó cứ ùa về, tràn ngập, sôi động... ôi, cái nỗi nhớ khi xa nhà!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2016, 11:01:14 pm
        Anh cùng mấy anh em khác nữa hay ra ngồi dưới gốc dừa nói chuyện với nhau để cho bớt nỗi nhớ nhà. Đồng chí Tiểu đội trưởng - người đã từng trải qua giai đoạn ấy, có kinh nghiệm rồi, rất hiểu tâm tư của các tân binh nên tổ chức ra các trò vui chơi giải trí để các tân binh vơi đi nỗi nhớ nhà. Một trong những trò ấy là thi hát. Bài hát “Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi. Là có mong chi đâu ngày trở về! Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui!...” ai cũng thuộc và ai cũng phải đứng lên hát đơn ca trước Tiểu đội để thi chấm điểm.

        Nỗi nhớ nhà được xua tan và phong trào ca hát văn nghệ của bộ đội đã lôi kéo, cuốn hút các tầng lớp thanh thiếu niên trong thôn tham gia. Những buổi biểu diễn văn nghệ với những chương trình có sự tham gia của thanh thiếu niên trong thôn bao giờ cũng đạt hiệu quả cao và khi tranh giải bao giờ cũng chiếm giải cao.

        Thời gian thấm thoắt trôi. Đã kết thúc việc huấn luyện tân binh. Các cán bộ nhận quân của các Trung đoàn chủ lực: 108, 803... đã về tổ chức nhận quân. Đại đội trưởng Bát, Chính trị viên Kim quý mến anh muốn giữ anh ở lại đơn vị khung lâu dài, nhưng anh nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chính trị viên Kim hỏi:

        - Vê đơn vị chiến đấu, em không sợ chết sao?

        - “Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi. Là có mong chi đâu ngày trở về! Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui!”... anh trả lời Chính trị viên bằng cách hát bài “Đoàn Vệ quốc quân”, còn Chính trị viên Kim thì ngồi nghe và lau nước mắt.

        Trước khi bổ sung về đơn vị mới, anh được về thăm nhà 5 ngày, thực ra chỉ được ở nhà có 3 ngày. Chính trị viên cho anh mượn đôi dép lốp để đi cho đỡ đau chân, cầm trên tay tờ giấy nghỉ phép có chữ ký của Đại đội trưởng Trần Bát mà anh mừng rỡ khôn tả. Anh cuốc bộ, đúng hơn là chạy bộ một mạch về nhà. Vê đến nhà thì trời vừa xẩm tối, cả nhà đang chuẩn bị ăn bữa tối, thấy anh về thì mừng vui khôn xiết Những lời thăm hỏi cứ ríu rít, tíu tít.. Mẹ thương anh định đi thổi cho anh nồi cơm khác có nhiều gạo hơn khoai vì nồi cơm của nhà đang dọn ra thì khoai là chủ đạo, còn gạo thì chỉ loáng thoáng vài hạt để cho khoai “cõng” thôi. Anh ngăn lại, bảo đời bộ đội chịu khó khăn gian khổ quen rồi.

        Cái sự khốn khó không phải chỉ xảy ra hồi bấy giờ mà nó đeo đẳng dân mình cho đến tận những năm 70, 80 sau này. Tôi còn nhớ có gia đình cũng có trường hợp xảy ra tương tự gia đình anh lúc bấy giờ, thương người đi xa về, Mẹ nấu một nồi cơm không độn ngô, khoai. Và cái câu mách Mẹ trong bữa cơm cứ làm tôi day dứt cho mãi đến tận bây giờ:

        - Mẹ ơi! Thằng cu Tí từ nãy tới giờ toàn ăn vã cơm thôi, Mẹ ạ!

        Cái sự đói kém nó khổ sở đến như vậy!

        Ba ngày ở nhà trôi qua rất nhanh. Anh trở lại đơn vị để chuẩn bị về đơn vị mới. Anh cùng gần 20 anh em tân binh khác được bổ sung cho Đại đội 104 thuộc Phòng Tham mưu Liên khu 5. Đơn vị đóng quân ở Nghĩa Hành - Quảng Nam.

        Vậy là tạm biệt mảnh đất Châu Trúc, mảnh đất in dấu ấn đầu tiên của cuộc đời các tân binh, mảnh đất thấm đậm tình nghĩa quân dân.

“Khi ta đến, đất chỉ là nơi ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn!”

        Đúng như vậy! Có biết bao điều tưởng như bình thường ta không nhận ra nhưng đến lúc chia ly mới thấy nó thiêng liêng đến nhường nào. Nghĩa tình với những người dân nơi đây khi lần đầu tiên anh thoát li gia đình, bà con nơi đây coi anh như người thân, ruột thịt của họ. Nghĩa tình của bà má Khương - người giúp đỡ anh, dạy anh trở thành một “đầu bếp” thực thụ. Rồi các cán bộ khung huấn luyện tân binh nữa: Đại đội trưởng Bát, Chính trị viên Kim, Tiểu đội trưởng Kính... những người từng chỉ bảo tận tình cho anh từng li từng tí một trong đời quân ngũ, coi anh như là người em ruột của mình. Làm sao anh có thể quên được? Anh không bao giờ quên được dù chặng đường phía trước còn dài, còn nhiều gian nan... Sẽ còn có nhiều má Khương, nhiều anh Bát, anh Kim, anh Kính... nhưng mảnh đất Châu Trúc đã để lại cho anh ký ức không bao giờ phai mờ!

        Đơn vị các anh hành quân đến ga Phú Mỹ và lên tàu hỏa về Bình Định - Quảng Ngãi, về nơi đóng quân ở Nghĩa Hành, huấn luyện chuẩn bị cho chiến dịch Đông Xuân 52 - 53, chuẩn bị đi chiến dịch Bắc Tây Nguyên 52 - 53.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2016, 11:04:44 pm
        Cuối tháng 12 năm 1952, đơn vị các anh rời Nghĩa Thắng vào đêm không trăng sao, trời tối đen như mực, người nọ phải bám lưng người kia để vượt qua Truông Ổi, rồi qua Mộ Đức, Đức Phổ, băng qua núi vào Hoài Nhơn quê anh. Khi đóng quân ở Hoài Châu, biết là anh đang ồ gần quê, Đại đội cho anh ghé về thăm nhà ở Hoài Sơn mấy tiếng đồng hồ. Lại được gặp lại Cha Mẹ, lại được gặp lại những người thân trong gia đình. Mới từng ấy thời gian thôi mà Cha Mẹ đã gày đi, già đi nhiều. Thương Cha Mẹ, thương các anh chị vô hạn mà không dám nói ra, chỉ đành nén lại trong lòng. Cuộc gặp gỡ bất ngờ này xảy ra rất nhanh, ào một cái là lại phải trở về đơn vị. Ra đi mà lòng anh trĩu nặng với bao điều trăn trở, vấn vương.

Mẹ Cha ngày một héo hon
Ra đi bỗng thấy mất con cay xè!

        Thương Cha quá, thương Mẹ quá mà không nói được nên lời!

        Từ Hoài Nhơn, đơn vị hành quân vào Phù Cát, qua đèo Bồ Bồ, lên Bình Khê. Trung đoàn 108 đánh đồn Cửu An nổ súng trước, Trung đoàn 803 đánh đồn Tú Thủy nổ súng sau. Chiến dịch mở màn thắng lợi giòn giã. Phát huy thắng lợi ban đầu, đơn vị tiếp tục tấn công tiêu diệt đồn Thượng An, khai thông đường 19 đi An Khê, đánh viện đường Hoàng Hoa Thám, đèo Mang Giang. Địch lo sợ, hoang mang không dám hành quân chiếm lại Tú Thủy, Cửu An nữa.

        Kết thúc chiến dịch, bộ đội ta đưa quân về Quảng Ngãi, mồ Hội nghị thi đua mừng công. Hội nghị tổ chức ở núi Dầu Rái - Đức Phổ. Các đơn vị nhanh chóng làm lán trại. Cũng tại đây, anh đã mắc căn bệnh sốt rét. Căn bệnh quái ác hành hạ anh cả ngày lẫn đêm, anh không thể làm gì được. Đồng đội thì đi vào rừng đốn cây, cắt lá về làm lán trại. Anh thì phải nằm lại một mình, chân tay run lập cập vì những cơn sốt rét ập đến. Có hôm, hổ còn lần mò đến rình ở đầu lán, để lại một đống nước dãi to tướng. Chắc không dám vào nhà, ông Ba Mươi đói khát thèm thức ăn quá, ngồi nhỏ dãi ra rồi cũng đành bỏ đi. Về sau, anh em rút kinh nghiệm, khi đi làm là đốt một đống lửa ở đầu lán cho yên tâm. Hổ vốn sợ lửa mà!

        Hội nghị mừng công kết thúc. Anh bị bệnh sốt rét hành hạ nên rất gày yếu nhưng vẫn bám theo đơn vị về đóng quân ở Phổ Phong.

        Đến Phổ Phong thì các anh nhận được tin Đại nguyên soái Xta-lin vừa qua đời. Nhớ đến mấy câu thơ của Tố Hữu:

        “Việt Nam có Bác Hồ
        Thếgiới có Xta-lin
        Việt Nam phải Tự do
        Thế giới phải Hòa bình
        Chúng con chiến đấu hy sinh
        Tấm lòng son sắt đinh ninh lời thề... ”

        Vậy là Thế giới mất đi một Đại nguyên soái. Nước Nga Xô-viết mất đi một nhà lãnh đạo kiệt xuất... Đơn vị đã tổ chức lễ truy điệu. Phút mặc niệm tưởng nhớ Đại nguyên soái đã bắn 5 phát súng SKZ.

        Chiến dịch đã kết thúc, số anh em gày yếu của đơn vị được cho đi bồi dưỡng sức khỏe. Anh Nhị cũng nằm trong số đó. Tất cả được đưa về an dưỡng ở Tiểu đoàn 45 đóng ở Phù Mỹ - Bình Định. Không hẹn mà gặp lại - các anh lại về lại nơi cửa biển Châu Trúc năm xưa, lại gặp lại các má, các em từ hồi anh mới khoác bộ quần áo của Vệ quốc đoàn. Các má già đi, mà ôi chao! các em gái đến tuổi dậy thì sao em nào cũng xinh tươi, mơn mởn, căng đầy sức sống. Ngày trước các anh dạy các em hát, các em hồn nhiên thế, mà bây giờ gặp lại, các em lại e lệ, đỏ mặt, thẹn thùng.

        Tuổi dậy thì biến đổi con người ta như có phép thân thông. Má đào ửng đỏ, ánh mắt long lanh như loáng nước, như sâu thẳm với những điều bí ẩn của Đại dương. Đôi môi mọng như trái bồ quân chín. Các cử chỉ bỗng dưng nhẹ nhàng, bước đi thấy uyển chuyển, mềm mại, giọng nói bỗng sâu lắng, thiết tha. Nhiều chàng trai Vệ quốc đoàn năm xưa bỗng dưng cũng thấy lúng túng, bỗng dưng cũng có những nỗi nhớ mơ hồ....

        Sức khỏe được hồi phục nhanh qua thời gian an dưỡng ngắn ngủi. Lại có những biên chế mới. Anh Hồng Nhị được bổ sung về Tiểu đoàn 365 (Tiểu đoàn lá mít) anh hùng thuộc Trung đoàn 803 chủ lực của Liên khu 5.

        Tôi hơi tò mò vì cái từ “Tiểu đoàn lá mít” của anh liền hỏi:

        - Anh Bảy à, sao lại gọi Tiểu đoàn 365 là Tiểu đoàn lá mít?

        - Cái tên đó là do nhân dân đặt cho. Bởi vì đội mũ lưới phải lấy lá mít giắt lên để ngụy trang. Lá mít khi khô, nó vẫn giữ được màu xanh. Nhân dân không biết phiên hiệu của Tiểu đoàn, chỉ thấy bộ đội đội mũ ngụy trang bằng lá mít thì gọi là “Tiểu đoàn lá mít” để phân biệt với các Tiểu đoàn khác. Tiểu đoàn đánh giặc thì giỏi, nhưng công tác dân vận thì chưa giỏi. Nhân dân gọi vậy cũng là vừa khen, vừa phê bình đó.

        - À, thì ra là vậy!

        Tiểu đoàn 365 được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1949 tại Hòn Đa - Tuy Hòa, Phú Yên. Đấy là một trong những Tiểu đoàn chủ lực mạnh của bộ đội Liên khu 5. sở trường chiến đấu của Tiểu đoàn là giỏi đánh công kiên, giỏi đánh vận động chiến, giỏi đánh bao vây, đánh chặn đầu, khóa đuôi, thọc sườn, tiêu diệt gọn từng bộ phận địch, bắt sống tù binh, thu vũ khí chiến lợi phẩm...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2016, 11:07:00 pm
        Anh Hồng Nhị được bổ sung về Tiểu đoàn 365 đúng vào dịp Tiểu đoàn đang gấp rút hoàn thành các bài tập đánh công đồn để chuẩn bị cho chiến dịch. Chua kịp thuộc hết tên anh em trong Tiểu đội, anh đã cùng mọi người ra ngay bãi tập. Anh được bổ sung vào tổ xung kích, được giao khẩu súng trường MAS có lưỡi lê.

        Bài tập đầu tiên cũng là bài tập rất quan trọng: vượt chiến hào địch bằng cầu “giả thiết”. “Giả thiết” là chiếc cầu được đan bằng tre, bắc ngang qua chiến hào. Chiến hào rộng khoảng 4-5 mét, sâu vài mét, có cắm chông và chằng dây thép gai ở dưới.

        Vượt cầu “giả thiết” là phải chạy thật nhanh để chiếm giữ đầu cầu. Có vậy mới hạn chế thương vong. Nếu không vượt cầu thật nhanh thì hoặc bị rơi xuống chiến hào, hoặc bị địch bắn ngay ở trên cầu. Vì vậy, lính xung kích phải vượt cầu “giả thiết” thật giỏi, sau đó phải biết đánh hầm ngầm bằng thủ pháo, lựu đạn, đánh địch phản xung phong, đánh giáp lá cà. Nghĩa là phải nhanh nhẹn, giỏi giang, quả cảm, kiên cường.

        Hồi đó trong quá trình huấn luyện đã có phương châm: một chiến sĩ phải biết sử dụng thành thạo nhiều loại vũ khí để rồi sau này có thể vận dụng vào thực tế chiến đấu.

        Để tập luyện đánh đêm, anh em đã có sáng kiến lấy đom đóm gắn lên đầu ruồi súng để ngắm bắn cho dễ.

        Tuy về Tiểu đoàn muộn màng, nhưng do sự cố gắng vượt bực, khi tổng kết huấn luyện, anh Hồng Nhị đã được tặng giấy khen.

        Ngày lên đường đi chiến dịch đã xáp gần. Tinh thần bộ đội rất phấn chấn. Âm vang của những câu hát hào hùng: “Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” rồi “Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi...” đã khích lệ quân sĩ. Ai nấy đều cảm thấy máu đang chạy lần rật trong huyết quản.

        Những ngày cuối tháng 12 năm 1953 là những ngày tiết trời se lạnh. Đêm thì tối đen như mực. Các anh được lệnh hành quân vào lúc nửa đêm, đi từ Mỹ Tài vào Phù Cát, lên phía Tây quốc lộ 1, vòng lại đi ra Hoài Nhơn. Đến Hoài Nhơn thì trời vừa sáng, đơn vị tạm nghỉ. Hoài Sơn là quê của anh rồi. Xứ Vũ Sơn - Bình Đê, nơi anh sinh ra và lớn lên đây rồi. Làng Căn Hội - nơi các anh tạm nghỉ lại ở ngay sát làng Hy Van của anh. Anh muốn xin phép chạy đáo qua nhà mấy phút thôi mà rồi lại không dám. Không thể để lộ việc đơn vị hành quân được. Anh đành phải nán lại, ghìm lại. Anh thầm nhủ: thôi, hẹn khi chiến dịch kết thúc bấy giờ sẽ xin đơn vị cho về thăm Cha Mẹ, thăm các anh chị. Cha Mẹ hãy thứ lỗi cho con, các anh chị hãy thông cảm cho em nhé!

        Khi trời tối sẫm, đơn vị lại tiếp tục hành quân. Tất cả vượt đèo An sang Đức Phổ - Quảng Ngãi, về hướng Ba-Tơ. Núi rừng Ba-Tơ trùng trùng điệp điệp. Căn cứ của đội du kích Ba-Tơ - cội nguồn của lực lượng vũ trang Liên khu 5 là đây. Như vẫn còn nghe được âm vang khúc quân hành của bài “Du kích Ba-Tơ”: “Ngày đêm mài sắt thành gươm súng. Ngày đêm rèn chí lớn vang vang chiến khu”... Ằm hưởng của bài hát tựa như tiếng kèn đồng giục giã, thôi thúc mọi người. Có cái gì đó rất thiêng liêng xảy ra ngay trong tâm hồn của từng người giúp mọi người quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Mục tiêu của chiến dịch là “Tập trung bộ đội chủ lực cho nhiệm vụ tấn công lên Tây Nguyên. Phải chiến thắng và thắng ngay từ trận đầu, kiên quyết đạt cho được mục tiêu đã đề ra”.

        Từ Ba-Tơ đến Mang Đen, đơn vị hành quân vào ban ngày, đi trong núi rừng âm u, qua các buôn làng của đồng bào dân tộc Ê-Đê. Đồng bào đã rời bồ vùng địch tạm chiếm, vào ở sâu trong rừng. Khó khăn, thiếu thốn nhiều vô kể. Thiếu muối thì bà con đốt cỏ tranh lên lấy tro ăn thay muối. Thiếu vải thì lấy vỏ cây che thân... Đói khát, khó khăn, khốn khổ như vậy, nhưng khi nghe tin bộ đội Cụ Hồ hành quân qua buôn làng là lập tức bà con đi bắt gà, hái bí đem cho “cái bộ đội ăn cho no cái bụng, cho mạnh cái chân, để lấy sức đánh tan giặc Pha-lăng (giặc Pháp)”. Tấm lòng của bà con đối với cách mạng, đối với Cụ Hồ thật thủy chung, son sắt làm sao!

        Đồn Mang Đen là tiền đồn của tuyến phòng thủ của địch ở phía Đông Bắc thành phố Kon Tum. Địch xây dựng đồn Mang Đen rất kiên cố: có lô-cốt, hầm ngầm, các tuyến giao thông hào và hàng rào dây thép gai. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 365 là phải tiêu diệt bằng được đồn Mang Đen. Đây là trận đánh mở màn cho chiến dịch, phải đảm bảo chắc thắng.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2016, 06:20:55 am
        Đêm ngày 23 tháng 1 năm 1954, đơn vị của anh đã hành quân đến nơi tập kết cuối cùng, chờ lệnh nổ súng.

        23 giờ 30 phút, đơn vị chủ công bắt đầu khai hỏa, tấn công đồn Mang Đen. Lực lượng mở đột phá khẩu đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ đánh vào trận nội đã gặp phải hỏa lực địch dày đặc. Gần sáng thì đơn vị của anh Hồng Nhị được lệnh xuất kích. Đơn vị vượt cửa mở, tấn công vào thì địch đầu hàng. Trận đánh mở màn cho chiến dịch đã giành thắng lợi vẻ vang.

        Tiểu đoàn 365 của anh lại nhận lệnh hành quân cấp tốc lên Kon Tum tham gia trận chiến mới. Dọc đường hành quân, các anh đã bắt được tên quan Một của Pháp làm tù binh, số là, tên quan Một của Pháp này chỉ huy lũ lính người Thượng chặn đường của ta, phục kích ta phía ngoài đồn Mang Đen, nhưng vì ta đã giải quyết xong đồn Mang Đen rồi, bọn lính người Thượng hốt hoảng chạy hết vào rừng, còn lại trơ khấc tên quan một của Pháp đang ngơ ngác chưa biết nên xử trí thế nào thì bị ta tóm sống.

        Âm vang chiến thắng đồn Mang Đen chưa kịp lắng thì đơn vị đã gánh chịu tổn thất. Chiều ngày 28 tháng 1, khi Tiểu đoàn hành quân đi Kon Rẩy thì bị máy bay trinh sát của địch phát hiện. Liền sau đó, bốn chiếc máy bay khu trục Hen-cát lao đến thả bom na-pan và bắn phá xuống đội hình hành quân. Một số anh em đã hy sinh khi chưa xáp trận. Đấy là một sự tổn thất vô cùng đáng tiếc.

        Đơn vị đã vượt qua sông Đắc Nghé, qua cầu Kon Rẩy, tiến về thị xã Kon Tum và triển khai đội hình chiến đấu ở vị trí cách Kon Tum 10 km.

        Đêm 30 Tết Giáp Ngọ là một đêm đầy ắp nỗi nhớ trong đời bộ đội của anh. Anh kể lại:

        - Đêm ấy, đêm mồng 3 tháng 2 năm 1954, tức đêm giao thừa của Tết Giáp Ngọ, mỗi người được nhận một thanh kẹo sô-cô-la (kẹo chiến lợi phẩm ta thu được) bằng ngón tay, để đến khi giao thừa chuyền cho nhau biết và ăn kẹo. Gọi là ăn, nhưng thực chất là ngậm trong miệng để cho nó tan ở lưỡi, thời gian kẹo tan càng lâu thì cảm nhận càng thấy ngon. Các anh phải ngủ ở dưới hầm để đề phòng đạn pháo 105 li của địch bắn phá. Lúc ấy là lúc rộn lên nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ Cha Mẹ, anh chị em đến cồn cào, da diết. Liệu Tết này Mẹ có mua pháo để đón Tết hay không? Tập quán đón Tết cổ truyền ồ quê anh là phải đốt pháo, nhà nào dù nghèo mấy đi chăng nữa cũng phải có pháo đốt để cho tiếng pháo nổ xua đuổi lũ tà ma ra khỏi nhà, xua tan đi những nghèo khổ, khó khăn, vất vả, buồn phiền trong năm cũ để đón cái may mắn, cái phúc, cái lộc đến nhà trong năm mới.

        Cha thường dặn Mẹ phải mua 5 quả pháo tống (pháo đùng). Khi cúng tất niên đốt 1 quả để đuổi tà ma ra khỏi nhà, để đón tổ tiên về nhà ăn Tết. Sáng mồng 1 đốt 1 quả để rước phúc, rước lộc về nhà. Tối hôm đó đốt 1 quả nữa. Mồng 2 Tết đốt 1 quả đón con cháu về chúc Tết phía bên nội và bên ngoại. Tối mồng 3 Tết đốt 1 quả và đốt hết số pháo tép còn lại để đưa tiễn tổ tiên. Nhà nào nghèo khó thì đốt như vậy. Nhà nào khá giả, giàu có thì đốt nhiều hơn...

        Tiếng pháo nổ đì đùng, đì đẹt, mùi thuốc pháo thơm thơm... Trẻ em xúng xính trong bộ quần áo mới được cất giữ suốt cả năm bây giờ mới được diện trong mấy ngày Tết, vui hớn hở... Không khí Tết cứ rộn ràng qua các lời chúc tụng mộc mạc, chân tình của người dân quê. Thật ấm cúng, vui vẻ biết bao!

        Giao thừa năm nay anh lại đang ngồi dưới chiến hào, ôm súng đợi giờ xuất kích. Miền quê xa xăm thân yêu kia không khí đón Tết như thế nào nhỉ? Chắc Cha Mẹ và các anh chi đang nhắc tới anh - đứa con xa nhà, nên anh thấy tai mình cứ nóng rần rật

        Hẹn mùa Xuân tới, mùa Xuân chiến thắng con sẽ về bên Cha Mẹ, em sẽ về bên các anh chi để đón một cái Tết thật vui vẻ, tưng bừng, đầm ấm và xum vầy!

        Giai đoạn sau Tết là giai đoạn có gạo ăn do dân công tiếp tế từ dưới đồng bằng lên, nhưng lương khô lại thiếu vì một thời gian dài bộ đội ta thiếu thốn quá đành phải sử dụng đến nó. Có cơm, có đường, có nước, có muối, có đạn - đó là 5 điều có rất cần thiết cho cuộc sống chiến đấu của các chiến sĩ. Vậy mà có lúc đơn vị bị thiếu hụt đến tận “4 có” (thiếu cơm, thiếu muối, thiếu đường, thiếu nước). Tuy bị thiếu hụt như vậy nhưng tinh thần chiến đấu của đơn vị không hề bị suy giảm.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2016, 06:22:35 am
        Sáng ngày mồng 7 tháng 2, đơn vị nhận lệnh hành quân hỏa tốc. Mặc cho máy bay địch đánh phá ác liệt, mặc đói khát, các chiến sĩ ta vừa đi, vừa chạy. Đến thị xã Kon Tum thì trời vừa xẩm tối. Tiểu đoàn tiếp tục nhận được lệnh hành quân đi An Khê, chuẩn bị đánh đồn Đắc Đoa.

        Đồn Đắc Đoa nằm trên trục đường 19 bis là vị trí quan trọng bậc nhất án ngữ bảo vệ hướng Đông Bắc thành phố Plây-cu và trục đường 19 - trục đường chiến lược Bình Định - Tây Nguyên. Đồn Đắc Đoa được 2 Đại đội lính Âu-Phi chốt giữ. Đồn xây dựng kiên cố, có lô- cốt, hầm ngầm cố thủ, nhiều tầng lớp hàng rào dây thép gai bao quanh. Phạm vi rào rất rộng, hình ngôi sao nên gầy nhiêu khó khăn cho ta khi sử dụng bộc phá đánh mở cửa đột phá khẩu. Đặc biêt, đồn Đắc Đoa còn được một Tiểu đoàn pháo 105 li ồ Biển Hồ yểm trợ. Trên sân bay Plây-cu thì luôn có một đội máy bay sẵn sàng cất cánh chi viện. Ta vây đánh đồn Đắc Đoa trong tình trạng không còn yếu tố bí mật, bất ngờ. Chính vì vậy khó khăn càng tăng gấp bội.

        Khi mở đột phá khẩu, các anh đã có sáng kiến dùng ống bộc phá dài gấp đôi ống thường, vửa mở nhanh hơn, thương vong cũng giảm hơn.

        Đại đội 212 phải tổ chức một Tiểu đội trinh sát thọc sâu lên hướng Biển Hồ để xác định vị trí trận địa pháo 105 li, tạo điều kiện để ta có thể tập kích về sau này.

        Tiểu đội trưởng trinh sát Thiện Tích dẫn đầu, anh Hồng Nhị đi sau cùng để cảnh giới phía sau. cả Tiểu đội luồn rừng, nghe theo tiếng nổ đề-pa (tiếng nổ đầu nòng) của súng ca-nông mà đi. Qua hai đêm luồn rừng mà vẫn không tìm ra được vị trí trận địa pháo. Tiểu đội nhận lệnh phải quay ngay về với đội hình của Đại đội 212 vì ngày đánh đồn Đắc Đoa đã đến rồi.

        Đêm 17 tháng 2 năm 1954. Đêm hôm đó là đêm Rằm tháng Giêng, trăng sáng vằng vặc. Lệnh tấn công đồn đã phát. Tiếng bộc phá mở đột phá khẩu nổ dồn dập. Các hàng rào dây kẽm gai lần lượt bị phá tan. 12 khẩu pháo 105 li ở buôn Plây cũng không bắn được phát nào vì chúng cũng bị ta tập kích. Trận đánh ban đầu như vậy là diễn ra thuận lợi, đúng theo kế hoạch, nhưng sau đó, bọn pháo 105 li ở Biển Hồ trở lại hoạt động, bắn cấp tập vào đội hình tấn công của ta. số lượng thương vong tăng vọt. Đại đội 211 chuyển hướng tấn công sang hướng của Đại đội 213 vì Đại đội 213 bị thương vong nhiều, sức đột kích giảm hẳn. Đại đội trưởng Đại đội 211 - anh Lê Công Khai mặc dù bị thương nát cả hai chân, anh vẫn dùng tay chống để bò lê theo đội hình tiếp tục chỉ huy mở đột phá khẩu, sau đó lại tiếp tục chỉ huy bộ đội đánh chiếm đàu cầu. Khi anh được đưa về Ban quân y dã chiến của đơn vị, anh đã trút hơi thở cuối cùng, anh dũng hy sinh, về sau, anh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang (Anh hùng Quân đội).

        Càng đánh vào trận nội, tình thế càng căng thẳng, cam go. Anh Hồng Nhị xách súng, ôm thêm một giỏ thủ pháo nữa lao thẳng vào tung thâm mặc cho đạn pháo bắn như mưa xung quanh người. Trong khói lửa ngút trời, qua ánh sáng của đạn vạch đường của địch bắn ra và nhờ ánh sáng trăng, anh đã phát hiện được các lỗ châu mai của lô-cốt. Anh rút chốt an toàn của quả thủ pháo để tống vào lỗ châu mai thì thấy địch thò cờ trắng ra đầu hàng. Anh báo to:

        - Địch đầu hàng rồi!

        Hơn 200 tên địch lúc nhúc từ các lô-cốt, các hầm ngầm cố thủ chui ra, hai tay giơ cao trên đầu, lần lượt đầu hàng.

        Mới chỉ cách đây ít phút thôi, đồn Đắc Đoa hệt như một con thú dữ lồng lộn trước lúc giãy chết. Đạn pháo 105 li, các loại hỏa lực trong đồn bắn ra như vãi trấu đã làm cho hơn 100 chiến sĩ ta bị thương vong, có 6 cán bộ Đại đội và 30 chiến sĩ hy sinh. Tổn thất thật lớn lao. Mối căm thù càng chất nặng. Đơn vị tổ chức mai táng cho các liệt sĩ rất cẩn thận, chu đáo và tổ chức lễ truy điệu rất nghiêm trang. Các anh đã không hề tiếc tuổi xanh, không hề tiếc cuộc sống của bản thân mình, vì sự nghiệp lớn mà coi cái chết nhẹ như lông hồng, chỉ mong muốn một điều là giải phóng cho đồng bào mình thoát khỏi ách áp bức, nô lệ. Các anh đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất Đắc Đoa này. Các thê hệ muôn đời sau luôn kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các anh. Sự hy sinh của các anh không phải là vô ích. Máu của các anh nhuộm thắm đất quê hương, giúp cho cuộc sống được thanh bình, yên ả, giúp cho cây trái bốn mùa đơm hoa kết quả, giúp cho tiếng cười trẻ thơ mãi trong trẻo, hồn nhiên. Các anh là BẤT TỬ!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2016, 06:24:28 am
        Vĩnh biệt các anh - những đồng đội, những người bạn chiến đấu, người bạn cùng chiến hào! Chúng tôi sẽ đi tiếp chặng đường của các anh định đi, định đến. Lý tưởng của các anh, chúng tôi sẽ quyết thực hiện bằng được. Mong các anh phù hộ độ trì cho chúng tôi - những đông đội của các anh hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, hoàn tất được những ước nguyên của các anh...

        Địch còn điên cuồng cho máy bay khu trục Hen-cát đến ném bom na-pan và bắn phá khu vực quanh đồn, nhưng chằng giải quyết được vấn đề gì, trừ việc làm chết mấy con bò của sở chè Đắc Đoa.

        Sau chiến thắng Đắc Đoa, Tiểu đoàn 365 được điều xuống đồng bằng Phú Yên, bí mật vào phía Nam Tây Nguyên. Tiểu đoàn đã tách khỏi đội hình của Trung đoàn, lặng lẽ hành quân xuống Bình Định, vào Phú Yên tác chiến. Phú Yên - nơi ấy là nơi cội nguồn của Tiểu đoàn 365! Tuy không được nằm trong đội hình của Trung đoàn, nhưng khi biết được sẽ trở về nơi cội nguồn, ai cũng phấn khởi, háo hức chiến đấu để giải phóng quê hương Phú Yên.

        Sau 5 ngày 5 đêm liên tục lội suối trèo đèo, xuyên rừng vượt núi, đơn vị về đến Bình Khê rồi tiếp tục vượt sông Côn (Bình Định) vào đất Đồng Xuân (Phú Yên). Tiểu đoàn đóng quân ở xã Xuân Phước - Suối cối.

        Sáng ngày 22 tháng 3, trong khi các cán bộ Tiểu đoàn đang nghiên cứu trận địa thì nhận được tin: có một Tiểu đoàn địch đang đi về hướng Xuân Quang - Suối Cối. Đúng là xua dê vào miệng hổ! Đội hình chiến đấu được biển khai ngay lập tức. Đại đội 211 có nhiệm vụ đánh chặn đầu, Đại đội 213 có nhiệm vụ đánh chặn đuôi, còn Đại đội 212 đánh tạt sườn. Địch lọt vào đúng thế trận của ta đã bày sẵn. Đại đôi 213 và 211 đánh chặn đuôi, chặn đầu. Đại đội 212 đánh tạt sườn. Đội hình địch như rắn bị chặt ra từng khúc, rối loạn, không thể nào chỉ huy nổi, mạnh tên nào tên nấy chạy tháo thân.

        Tiểu đội của anh Hồng Nhị vừa vượt qua được mấy nương sắn và đám cỏ cao vút đầu người thì gặp ngay phải con suối. Địch đã phát hiện ra các anh. Từ phía bên kia, chúng bám vào bờ suối, cố thủ, bắn trả quyết liệt. Chúng càu cứu cả pháo 105 li ở La Hai bắn chi viện. Đơn vị đã có thương vong. Đại đội trưởng Nhạ, Chính trị viên Bá đã hy sinh. Tổ trưởng tổ “tam tam” của anh Nhị là Xuân cũng hy sinh. Máy bay địch thì quần đảo chỉ điểm để cho trận địa pháo ờ La Hai bắn chi viện. Bọn “Hổ xám” - biệt danh của Tiểu đoàn 2 của địch được động viên cố thủ để chờ viện binh.

        Nhiều lần kêu gọi địch đầu hàng, nhưng chúng rất ngoan cố, tìm mọi cách chống trả. Trời đã đần chuyển về chiều. Tối đến nơi rồi, không thể để tình trạng này dây dưa mãi được. Tiểu đoàn ra lệnh dùng đạn “phóng bom” nã vào khu vực cố thủ của địch. Các công sự của chúng bị phá vỡ tan hoang. Ta tổ chức xung phong đánh giáp lá cà. Số địch sống sót giơ tay quy hàng. Ta bắt sống hơn 100 tên. Gần 200 tên bị tiêu diệt. Tiểu đoàn 2 ngụy lâm quân với biệt danh “Hổ xám” bị xóa sổ.

        Chiến thắng Suối Cối mang ý nghĩa rất lớn đối với nhân dân Phú Yên - Bình Định. Nhân dân phấn khỏi, sống trong không khí hào sảng, tích cực đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích để tiêu hao sinh lực địch, kìm chân bọn chúng tại Phú Yên - Bình Định, làm cho chiến dịch Át- lăng của địch ở vào thế sa lầy và ta chớp thời cơ tiêu diệt.

        Tuy nhiên, khi đánh trận Suối cối - Xuân Phước này ta cũng chịu những tổn thất Tổn thất không nhiều nhưng đau đớn: 4 cán bộ Đại đội, 8 cán bộ Trung đội và Tiểu đội - nhũng đảng viên ưu tú đã ngã xuống vì sự thắng lợi của chiến trận. Trong trận chiến, khi chính trị viên Bá hy sinh, anh Nhị và anh Tích đã tìm chỗ đặt anh nằm. Sau trận chiến, anh Nhị cùng các anh trong Tiểu đội tìm đến nơi đó thì bà con Xuân Phước đã chuyển thi hài anh Bá vào nghĩa trang của xã Xuân Phước rồi. Chính trị viên Bá là người luôn đi sâu đi sát, động viên các chiến sĩ, rất quý mến anh Hồng Nhị, dự kiến còn đưa anh vào đối tượng kết nạp Đảng. Anh mất đi, cả đơn vị tiếc thương anh - người đồng chí, đồng đội sống chân tình, đối xử với tất cả anh em, quan tâm tới anh em hệt như người chị cả quan tâm đến các em vậy.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2016, 02:39:50 pm
        Anh đã thành người con của Xuân Phước, vĩnh viễn nằm lại mảnh đất này. Nhân dân Xuân Phước coi anh như người thân, ruột thịt của mình.

        Các anh trong Tiểu đội đến nghĩa trang, đứng bên nơi anh yên nghỉ, ngả mũ chào người chính bị viên yêu quý, chào tất cả những đồng đội đã ngã xuống vì sự thanh bình của mảnh đất này, Tổ quốc này.

        Cũng đến tận lúc ngả mũ chào vĩnh biệt người chính trị viên, anh Nhị mới phát hiện ra mũ của mình có 5 lỗ do đạn của địch bắn thủng. Thật may mắn làm sao chúng chỉ làm thủng mũ thôi, còn đầu thì vẫn nguyên vẹn, không mất một sợi tóc nào!

        Đánh xong trận Suối Cối, đơn vị anh lại tức tốc hành quân phục kích địch trên đoạn đường La Hai đi củng Sơn. Sau một tuần mai phục không có kết quả, đơn vị anh lại di chuyển về Nam Phú Yên, đánh căn cứ Bàn Nham - Bàn Thạch. Căn cứ này do Tiểu đoàn khinh quân ngụy số 506 chốt giữ. Chúng bảo vệ phía Nam thị xã Tuy Hòa và con đường số 1 chiến lược đoạn Nha Trang - Tuy Hòa. 1 giờ sáng ngày 20 tháng 4 năm 1954 phát lệnh tấn công. Hỏa lực vòng cầu dồn dập chế áp địch. Bộc phá mở đột phá khẩu nổ rền vang. Anh Hồng Nhị ở Tiểu đội xung kích thuộc Đại đội 212 đánh vào trận nội rồi sau đó lại cơ động sang chi viện cho đơn vị bạn. Rồi lại có lệnh thu hết thương binh, liệt sĩ vì trời sắp sáng. Kết quả trận đánh - ta tiêu diệt được gần 200 tên địch, giải phóng cho 60 đồng bào bị địch giam cầm. Phía ta hy sinh 30 đồng chí. Trận đánh không giải quyết được dứt điểm, không làm chủ được chiến trường vì ta chủ quan, chưa dự kiến hết các tình huống sẽ gặp phải.

        Toàn cảnh trên chiến trường Việt Nam rất có lợi cho ta. Ở chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đang giành thắng lợi lớn. Chiến dịch Át-lăng của địch ở Phú Yên - Quy Nhơn bị sa lầy...

        Tiểu đoàn nhận lệnh hành quân cấp tốc lên phía Tây Phú Yên, chuẩn bị đánh Tuy Bình. Giải phóng xong Tuy Bình, đơn vị tiếp tục hành quân lên phía Tây Phú Yên để đánh đôn Buôn A-ê-riêng. Địch bỏ đôn Buôn A-ê-riêng, chạy lên Cheo Reo. Tiểu đoàn nhận lệnh quay về đồng bằng Phú Yên hoạt động.

        Khi về đến Tây Tuy Hòa, đơn vị nhận được lệnh lập tức chuẩn bị đánh tập kích thị xã Tuy Hòa và tiêu diệt cứ điểm Núi Sầm.

        Núi Sầm không cao, đứng độc lập ở cánh đồng Hòa Trị. Nó án ngữ và bảo vệ phía Tây thị xã Tuy Hòa. Đại đội 211 sẽ tập kích địch trong thị xã Tuy Hòa. Đại đội 213 làm nhiệm vụ dự bị.

        Đêm 20 tháng 6 năm 1954, đơn vị đánh thị xã phát hỏa trước. Đơn vị đánh Núi sầm nổ súng sau. Đơn vị đánh thị xã giành thắng lợi ròn rã. Đại đội 212 của anh Hồng Nhị khi nổ súng thì không còn yếu tố bất ngờ, hơn nữa lại nằm ở thế bất lợi vì địch chốt ở trên cao, nã súng xuống như mưa, việc mở đột phá khẩu gặp muôn vàn khó khăn. Đến nước này là phải dùng phương pháp cường tập đánh bộc phá. Tiểu đội xung kích của anh nằm áp sát chờ mở đột phá khẩu. Tiểu đội trưởng Phú đã bị thương. Tổ trưởng tổ “tam tam” (tổ ba người) Bổn cũng bị thương. Tiếng anh Bổn hô rất to:

        - Hồ Chủ Tịch muôn năm!

        - Hồ Chủ Tịch muôn năm!

        Sau này anh Bổn mới tâm sự

        - Mình phải gọi Bác Hồ vì thấy trận đánh ác liệt quá, chắc gì đã “thoát” nổi!

        Hai anh được băng bó và được cõng ra ngoài vòng hỏa lực. Tay của anh Nhị cũng bị trúng đạn địch, máu ra nhiều lắm. Anh Toàn trong tổ “tam tam” băng bó cho anh Nhị và hai anh em quyết tâm nằm chờ cửa mở. Đột phá khẩu chưa mở xong thì trời sắp sáng. Chần chừ ở lại là bất lợi. Trên cho lệnh lui quân.

        Sau trận đánh, ba anh: anh Phú, anh Bổn và anh Nhị phải về Trạm xá dã chiến của đơn vị ở Hòa Phong (Tuy Hòa) để điều trị vết thương. Tuy điều trị vết thương nhưng các anh lúc nào cũng như ngồi trên tổ kiến lửa, lúc nào cũng nhấp nhổm muốn trở về đơn vị chiến đấu. Rồi cuối cùng các anh cũng được ra viện, tức tốc đuổi theo đơn vị đang hành quân về phía Cheo Reo, chuẩn bị cho việc đánh đồn Bà Lá.

        Rồi lại có lệnh của Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu - đồng chí Nguyễn Chánh: “Đình chiến đến nơi rồi. Lúc này không để đổ thêm một giọt máu nào của chiến sĩ nữa!...” Tất cả mọi người nghe xong vừa mừng rỡ nhưng cũng vừa tiếc nuối, bởi vì ai cũng muốn đánh giặc, đuổi chúng ra khỏi vùng đất Phú Yên. Sau khi nghe đồng chí cán bộ chính trị giải thích, phân tích có lí có tình, mọi người mới thông suốt với chỉ thị của cấp trên.

        Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định đình chiến được ký kết. Điều đó đồng nghĩa với việc chấm dứt sự đổ máu của đồng bào, của các chiến sĩ của ta trên khắp các chiến trường.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2016, 02:40:46 pm
        Cũng sau ngày 20 tháng 7, đơn vị các anh hành quân về La Hai. Rồi tất cả các đơn vị của Tiểu đoàn từ Cheo Reo cũng kéo về. Tất cả gặp nhau tại La Hai. Thật là mừng vui khôn tả. Sau 7 - 8 tháng trời ròng rã hành quân, đánh giặc ở khắp nơi (từ Bắc Tây Nguyên đến Nam Tây Nguyên, rồi đến vùng đồng bằng Phú Yên...) bàn chân các chiến sĩ đã in dấu trên khắp nẻo đường, vượt qua bao nhiêu suối sâu, đèo cao, núi rừng hiểm trử..., đã chịu đựng biết bao ngày đêm gian khổ, ác liệt, sống chết cận kề bên hòn tên mũi đạn, biết bao ngày đêm đói khát với những cơn sốt rét hành hạ... Đã có biết bao người ngã xuống, vĩnh viễn nằm lại các chiến trường nơi các anh từng tham chiến... Nay về đây, gặp lại được nhau sau những ngày chiến đấu ác liệt, cam go... mọi người nhìn nhau, ai nấy đêu mừng mừng, tủi tủi. Mừng vì thấy nhau còn sống, còn khỏe. Bùi ngùi vì nhớ đến những đồng đội của mình đã không về. Thật xúc động, sâu lắng và đầy tình nghĩa...

        Vào những ngày cuối tháng 7 năm 1954, quân và dân tổ chức mít tinh chào mừng chiến thắng tại bãi cát cạnh sông La Hai. Ngày mít tinh chào mừng chiến thắng cũng là ngày phải chia tay với đồng bào Phú Yên. Tháng 5 năm 1954, tại Hòa Đa - Tuy An - Tiểu đoàn 365 đã được thành lập. Ngay từ những ngày đầu ra đời, Tiểu đoàn đã được bà con nhân dân quanh vùng che chở, đùm bọc. Nhân dân coi các chiến sĩ Tiểu đoàn như những người thân thương, ruột thịt của mình, đã chăm lo săn sóc, giúp đỡ tận tình, nhất là nhưng lúc khó khăn, gian nan. Tiểu đoàn lớn mạnh được như thế này là nhờ có công lao đóng góp thật to lớn của bà con nhân dân Hòa Đa - Tuy An - Phú Yên. Công lao ấy không phải chỉ ngày một ngày hai mà trả được, đặc biệt là nghĩa tình sâu nặng của bà con thì không thể nào trả nổi... Công ơn của đồng bào Phú Yên chúng tôi sẽ luôn mạng nặng, canh cánh bên lòng.

        Cũng theo điều khoản ký kết trong Hiệp định Giơ-ne- vơ, toàn bộ lực lượng vũ trang của ta phải tập kết ra miền Bắc trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày ký kết. Đấy là một sự xáo trộn lớn, nhất là về mặt tư tưởng, tình cảm của các chiến sĩ. Đơn vị đã tham chiến trên khắp các chiến trường Liên khu 5 với những chiến thắng vang dội, ròn rã, thắng “như chẻ tre”, giờ đây phải ngưng chiến, rồi lại phải xa rời mảnh đất Quê hương, xa những người thương yêu ruột thịt, xa đồng bào từng chở che, nuôi nấng mình suốt thời gian dài... Có điều gì đó như hụt hẫng, day dứt... Nhiều người không cầm được nước mắt. Gọi là tạm xa trong vòng 2 năm thôi. Nhưng 2 năm là tận hơn 700 ngày - lâu lắm, đằng đẵng lắm chứ. Mà rồi ai biết được những gì sẽ xảy ra trong vòng hơn 700 ngày ấy! Rất nhiều câu hỏi được đặt ra mà không tìm được câu trả lời.

        Về sau, tất cả anh em được sinh hoạt chính trị, được học tập, giải thích, được nghe lời kêu gọi của Bác Hồ gửi đồng bào miền Nam với nội dung: “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào  cả nước nhất định sẽ được giải phóng! Tôi tin chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt”... thì anh em mới thông suốt trong tư tưởng và đi tuyên truyền giác ngộ cho nhân dân thông suốt đường lối, chủ trương của Đảng và của Nhà nước.

        Rồi Tiểu đoàn hành quân ra Bình Định, về Mỹ Tài - Phú Mỹ chia tay bà con ở nơi đây - nơi Tiểu đoàn từng đóng quân, nơi thắm đậm tình quân dân cá nước. Sau đó Tiểu đoàn tiếp tục hành quân về Phù Cát, chuẩn bị tập luyện để tham gia diễu binh, diễu hành, biểu dương sức mạnh đoàn kết quân dân, chào mừng ngày Quốc khánh 2-9.

        Nằm trong đội hình của Trung đoàn 803, Tiểu đoàn 365 có niệm vụ ở lại khu tập kết 300 ngày ờ Liên khu 5 để đảm bảo cho nhân dân và các lực lượng vũ trang lần lượt xuống tàu đi tập kết. Trong thời gian ở lại khu tập kết, Tiểu đoàn phải giúp nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại mọi luận điệu phản động của địch nói xấu cánh mạng, xuyên tạc Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia rẽ mối đoàn kết quân dân...

        Sau lễ diễu binh ngày 2 - 9, Tiểu đoàn hành quân ra Quảng Ngãi, dừng chân ở Tam Quan Bắc một thời gian. Anh Hồng Nhị được phép vê thăm nhà. Thật không còn gì vui sướng bằng! Vậy là anh đã thực hiện đúng lời hứa với Cha Mẹ, với các anh chị trước lúc lên đường đi chiến dịch: “Con sẽ về thăm Cha Mẹ và các anh chị sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi!”.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2016, 02:41:56 pm
        Anh về tới nhà khi bóng chiều đã đổ, màn đêm nhẹ nhàng, lặng lẽ che phủ khắp xóm thôn. Gặp lại Cha Mẹ, gặp lại các anh các chị... bóng đêm bỗng như xua tan, trời như bừng sáng, cả nhà quây quần bên anh, sờ tay, nắn chân anh - người con, người em bằng xương bằng thịt đây rồi, không còn là trong mơ nữa, chính xác là anh đã trở về sau chiến dịch, sau bao nhiêu khói lửa đạn bom... thật rồi. Biết bao nhiêu hòn tên mũi đạn đã né tránh cho con, cho em mình để cho còn được nguyên vẹn trở về đây. Nhờ ơn Trời Phật, nhờ phúc ấm của Tổ tiên! Mẹ thắp nén nhang lên bàn thờ lầm ram khấn vái và cả nhà ngồi quay quần quanh bên anh nghe anh kể chuyện tham gia chiến dịch, đánh đấm như thê nào, nhất là nghe anh kể chuyện nhớ nhà nhớ Quê, nhớ tiếng pháo đầu Xuân năm mới ra làm sao. Rồi anh nói vê Hiệp định Giơ-ne-vơ, anh nói anh sẽ phải tập kết ra miền Bắc, phải xa Cha Mẹ, xa gia đình, xa tất cả những người thân yêu ruột thịt và động viên lại những người phải ở lại trong thời gian anh đi tập kết. Thời gian xa cách cũng chỉ hai năm mà thôi. Có đáng là bao đâu! Sau hai năm, khi thực hiện Tổng tuyển cử, khi đất nước thống nhất, anh lại về!

        Cả nhà nín lặng. Rồi Cha cất tiếng:

        - Con ra ngoài Bắc, cố gắng công tác cho tốt để được gặp Bác Hồ. Khi nào con gặp Bác, con nhớ chuyển lời của

        Cha cầu chúc cho Bác luôn luôn mạnh khỏe, sống lâu để đến ngày thống nhất đất nước, đồng bào miền Nam được đón Bác vào thăm.

        - Cha ơi! Con sẽ cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ để được gặp Bác, để gửi lời của Cha tới thăm Bác, Cha à! - anh hứa với Cha anh như vậy.

        Và đúng hơn 10 năm sau, vào năm 1966, anh đã thực hiện được lời. hứa với Cha anh, đã được gặp Bác Hồ sau khi anh bắn rơi máy bay của Mỹ, anh đã thưa với Bác lời nhắn nhủ của Cha anh đối với anh. Bác Hồ - vị lãnh tụ tối cao, kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, nhưng rất bình dị, lắng nghe và rất nhớ lời thưa của anh và quan tâm tới anh - người con của miền Nam tập kết cho tới mãi sau này.

        Tôi được biết, không chỉ Bác Hồ, mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng rất quan tâm đến những người con của miền Nam ruột thịt. Tận sau này, khi Đại tướng yếu mệt, đoàn phi công tiêm kích - Anh hùng lực lượng vũ trang do anh Lưu Huy Chao dẫn đầu đến thăm sức khỏe của Đại tướng, tôi có may mắn được đi theo, sau khi giới thiệu từng thành phần trong đoàn, Đại tướng có hỏi: “Vậy các phi công Anh hùng của miền Nam hôm nay ở đâu?”. Đúng thật! Hôm ấy vắng các anh: Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Văn Bảy, Lê Hải, Nguyễn Văn Nghĩa và mấy anh khác nữa... thật! Thế mới biết, các vị lãnh tụ, các lãnh đạo nhà nước nhớ về miền Nam, quan tâm đến miền Nam tới mức nào.

        Sau mấy ngày về thăm nhà, anh Hồng Nhị trở về đơn vị, tiếp tục hành quân ra Quảng Ngãi, đóng quân ở Thi Phổ - Mộ Đức để bảo vệ khu tập kết 300 ngày. Những ngày đóng quân ở Thi Phổ là những ngày thật thanh bình và cũng là những ngày thật gian nan. Thanh bình bởi vì không còn tiếng súng, tiếng đạn, nhưng gian nan bởi vì bà con nơi đây biết bao năm đã phải sống dưới sự đàn áp, bóc lột dã man của kẻ thù, đến nay mới được tự do, sao một lần nữa lại phải trở lại sống trong cảnh kìm kẹp của kẻ thù?

        Liệu sau hai năm, tình hình có sáng sủa hơn không? Kẻ địch có chấp hành theo đúng thời hạn của Hiệp định hay không? Đấy là những câu hỏi rất khó trả lời cho chính xác. Các anh em trong Tiểu đoàn phải đứng ra giải đáp thắc mắc của bà con, tuyên truyền vận động bà con để bà con thực hiện đúng đường lối đấu tranh của Đảng.

        Ngày 15 tháng 5 năm 1955 là ngày cuối cùng chấm dứt với khu tập kết 300 ngày. Tiểu đoàn 365 - “Tiểu đoàn lá mít” anh hùng là đơn vị làm nhiệm vụ đến phút cuối cùng xuống tàu.

        Ngày hôm ấy là ngày cả thành phố Quy Nhơn - Bình Định sống trong không khí náo nhiệt. Cờ đỏ sao vàng bay rợp trời. Trên khắp các đường phố, trên khắp các mái nhà đều cờ là cờ... Cờ trên tay các cụ, các mẹ, các em... Tất cả vẫy để tiễn đưa bộ đội đằng mình xuống tàu. Ai nấy đêu xòe, giơ hai ngón tay chỏ và giữa lên thành hình chữ V (biểu tượng của Vich-to-ria - chiến thắng và cũng là biểu trưng của thời gian xa cách chỉ hai năm mà thôi) “Những bàn tay vẫy những bàn tay”... vẫy đấy mà nước mắt lưng tròng, nước mắt chảy dài trên các gò má! Hẹn 2 năm! Hẹn 2 năm! Những đọt dừa quê Bình Định tựa như những ngọn bút, những ngọn giáo chĩa thẳng lên ừời cũng như thầm thì: “Hẹn hai năm!”... Ai đã từng chứng kiến cuộc chia tay lịch sử ấy trong đời hẳn mãi mãi không bao giờ quên. Nó như một dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm. Nó như một lời thề “dao chém đá”. Nó như một lời thề sắt son vĩnh viễn không bao giờ phai mờ!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2016, 04:41:49 pm
        Anh Hồng Nhị đâu có ngờ lần ấy là lần cuối cùng anh còn được gặp mặt đông đủ gia đình và đặc biệt là Cha Mẹ, anh Tuần và chú em út Nhơn.

        Sau khi các lực lượng vũ trang của ta tập kết ra Bắc, địch tráo trở, lật lọng, không chấp hành những điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỹ đưa quân vào miền Nam. Bọn ngụy quân ngụy quyền quay ra đàn áp, khủng bố, trả thù những người theo kháng chiến. Gia đình anh chịu những tổn thất đau thương thật lớn lao. Chúng biết anh tập kết ra Bắc, biết anh được đưa sang Xô cộng (Liên-xô), chỉ có điều chúng không biết được là anh được đưa sang đó làm gì mà thôi. Cả nhà anh đều tham gia hoạt động cách mạng nên luôn có tên trong “sổ đen” của bọn chúng. Vào năm 1967, khi chúng ập đến nhà, anh Ba (anh Nguyễn Văn Tuần) xuống hầm bí mật được đào trong nhà để ẩn nấp. Chúng thả lựu đạn cay xuống, kêu gọi anh đầu hàng. Anh không lên, chịu chết ngạt dưới hầm. Sau này, anh được chôn ngay trong vườn nhà.

        Tiếp đến là năm 1968, Mẹ anh - bà Trần Thị Chi khi canh gác cho cuộc họp của cán bộ, thấy địch càn vào làng, bà đã lừa địch, chạy đánh lạc hướng, giải thoát cho các cán bộ đang họp rút lui an toàn. Bọn địch bắt được bà, tra tấn dã man. Chúng trói chặt chân tay bà, thả dìm xuống giếng ngay trước sân nhà, rồi lại lôi lên tra tấn tiếp, bắt bà khai nơi ẩn nấp của cán bộ. Bà không hé răng nửa lời. Chúng lại tiếp tục dìm bà xuống giếng rồi lại lôi lên tra khảo. Biết rằng không thể khuất phục được bà, chúng vứt luôn bà xuống giếng. Người Mẹ miền Nam đã tỏ rõ lòng kiên trung với cách mạng. Sự hy sinh anh dũng của bà là tấm gương cho phong trào cách mạng của quê anh ừong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

        Anh nhận được tin nhà - những tin dữ như vậy - anh lặng người đi. Thôi, vĩnh viễn anh không bao giờ còn được gặp Mẹ, không bao giờ còn được gặp lại anh Ba nữa! Tổn thất lớn lao quá! Thương đau chất nặng quá! vẫn biết rằng tham gia cách mạng, kháng chiến là phải chịu hy sinh, mất mát nhưng không ngờ được những mất mát, tổn thất lớn lao như thế này lại liên tiếp giáng xuống đầu anh, gia đình anh.

        Anh không về viếng Mẹ, viếng anh được. Nỗi đau canh cánh bên lòng, chất nặng theo năm tháng. Sau này anh viết bài “Viếng Mẹ” với những lời bằng máu và nước mắt, như xé ruột xé gan. Tôi đọc bài của anh mà nước mắt cũng giàn giụa, không sao cằm nổi.

                                        “Con ra đi, hẹn hai năm trở lại
                                        Chân không dừng sao chẳng tới Hoài Nhơn
                                        Khắp mọi nẻo đường thấp cao dịu vợi
                                        Một niềm tin, sóng gió mãi không sờn...
                                        Tiễn con Mẹ xuống Bồng Sơn
                                        “Lụa vàng chữ ký”, đẫm sương năm nào (!)
                                        Mũ con vẫn giữ muôn màu
                                        Chộp chờn lấp lánh cánh sao đầu ghềnh
                                        Cầu như võng mắc im lìm
                                        Võng không đưa đẩy (con) cứ tìm tiếng ru
                                        Sững sờ ngọn núi “Vọng Phu”
                                        Đợi chồng xưa (đã) mỏi, bây giờ (Mẹ) chờ con
                                        Con đi sau trước vuông tròn
                                        Mang dòng sữa Mẹ lớn khôn từng ngày
                                        Mẹ rằng: Đời lắm chông gai
                                        Con nghe nhói tận đường bay lưng trời
                                        Mắt con nhằm địch không rời
                                        Vút trên đầu giặc, đẩy lùi bóng đen
                                        Ngày nắng ấm, trăng đêm lại sáng
                                        Chắc Mẹ đang bên võng trước sân
                                        Con đường cát trắng bâng khuâng
                                        Tìm theo lối cũ sạch trơn bóng thù
                                        Mong sao con được tạ từ
                                        Công ơn dưỡng dục nên người thành thân
                                        Mong sao con Mẹ được gần
                                        Bảy ngàn ngày mới một lần gặp nhau
                                        Nào ngờ đáy giếng thù  sâu
                                        Giêng sâu đã lấp  Mẹ  (tôi) đâu, (hỡi) đất dầy?
                                        Con quỳ viếng mộ chiều nay
                                        Nén hương con thắp, khói bay chết lòng
                                        Con đi vì nợ núi sông
                                        Con về lỡ muộnt Mẹ không kịp mừng
                                        Đêm nay nằm ở Gia Lâm
                                        Bỗng đâu bóng mẹ xa xăm đến gần
                                        Mẹ ôm con trọn vào lòng
                                        Giật mình, con gọi “Mẹ”. Vừng Hồng vừa lên!”


        Công lao sinh thành, dưỡng dục của Cha Mẹ thật lớn như Trời như Biển. "Công Cha như núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Ta làm bao nhiêu cũng không thể trả nổi công ơn ấy Anh chưa được chăm Cha Mẹ ngày nào nên nỗi đau càng tăng thêm gấp bội phần.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2016, 04:46:23 pm

        Có một nhà thơ đau cùng nỗi đau của anh đã viết tặng cho anh bài “Thương Mẹ”.

                                        “2 giờ rồi con không ngủ được
                                        Người Mẹ già nua chịu tra khảo đòn roi
                                        Thân xơ xác, mắt mỏi mòn trông đợi
                                        Quyết không khai, chúng giết mất Mẹ rồi
                                        Chưa hả dạ, lũ sói lang thả Mẹ
                                        Nơi giếng sâu, đâu có đất Mẹ nằm
                                        Chồng của Mẹ bao năm không trỏ lại
                                        Con Mẹ thì: Nợ nước chưa xong
                                        Tang của Mẹ ai người mang khăn trở
                                        Ai là người thắp cho Mẹ nén những...?
                                        Bao câu hỏi ngổn ngang con không sao lý giải
                                        Chỉ biết rằng con đau lắm Mẹ ơi
                                        Đau như thẻ Mẹ đẻ con Mẹ ạ
                                        Thắt ruột gan con, cái chết quá đau lòng...!
                                        Cuộc sống giờ đây được sáng trong
                                        Ai biết được lòng anh, người con trai của Mẹ
                                        Đã phải chịu bao đắng cay và mất mát
                                        Chẳng có gì bù đắp được cho anh
                                        Bầu trời giờ đây mãi mãi một màu xcmh
                                        Chỉ có anh...
                                        Không bao giờ còn gặp Mẹ!”


        Rồi em út của anh - em Nguyễn Văn Nhơn cũng bị địch sát hại. Chúng tạo ra vụ tai nạn giao thông giả, thực chất là đẩy anh trên xe ô-tô xuống vì chúng nghi anh trà trộn vào đội ngũ của chúng để thu thập tình hình. Hết anh đến Mẹ rồi đến em bị bọn địch sát hại như vậy, còn nỗi đau nào hơn, còn sự căm thù nào hơn đối với bọn giặc dã man kia. Không thể đội trời chung với bọn chúng được. “Căm hờn lại giục căm hờn. Máu kêu trả máu, đâu van trả đầu”. Thù này phải trả!

        Mẹ anh được truy tặng liệt sĩ. Cha anh trong thời kỳ Mỹ và quân chư hầu Pắc Chung Hy chiếm đóng Bình Định, bọn chúng đã bắt cha anh về giam ở Quy Nhơn, mặc dù lúc này ông rất yếu, không ăn uống gì được. Ngày đêm ông chỉ mong ngóng con trai về! Tháng 2 năm 1972, ông qua đời.

        Trở lại những ngày tập kết. Các anh lên tàu, quay hướng ra Bắc. Tàu kéo một hồi còi dài, tạm biệt cảng Quy Nhơn.

        Trên tàu, các anh nhận được lệnh vứt bỏ một số loại vũ khí xuống biển để cho tàu nhẹ nhõm và bảo đảm an toàn.

        Cảng Quy Nhơn xa dần, xa dần, mờ chìm trong sương đêm. Tất cả mọi người trên tàu đều có chung một tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung. Thế là phải xa Quê thật rồi...! Những gì trước kia còn vẩn vơ, mung lung thì nay đã là hiển nhiên... Con tàu nhằm thẳng hướng sao Bắc Đẩu, rẽ sóng lao đi... Nước mắt chảy dài trên gò má của mọi người...

        Sáng ngày 18 tháng 5 năm 1955 - tàu cập bến Sầm Sơn - Thanh Hóa.

        Các tầng lớp nhân dân Sầm Sơn - Thanh Hóa đủ mọi lứa tuổi cầm cờ, hoa đón tiếp những người con của miền

        Nam thành đồng. Khẩu hiệu, biểu ngữ, cờ, hoa... rợp trời, rợp cảng Sầm Sơn. Nhân dân miền Bắc đón tiếp các anh như đón tiếp những người con, người thân yêu, ruột thịt của mình vừa đi xa về làm cho các anh cũng vơi bớt phần nào nỗi nhớ nhà, nhớ Quê.

        Ngày hôm sau là ngày đơn vị tổ chức lễ trọng thể kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ. Tại buổi lễ long trọng này, mọi người trong đơn vị đồng tâm nhất trí hứa với Bác rằng: “Chúng cháu sẽ yên tâm công tác ở miền Bắc, ra sức xây dựng quân đội, làm hậu thuẫn cho đồng bào miền Nam đấu tranh...”.

        Rời Sầm Sơn, đơn vị các anh hành quân về Tĩnh Gia, vào ở chung với các nhà dân, làm công tác dân vận, giúp dân tăng gia sản xuất, chống giặc đói, giặc dốt... Trâu bò thiếu, những anh em khỏe xung phong đi kéo cày để những người khác yếu hơn cầm cày...

        Tình cảm quân dân ngày càng gắn bó. Nhân dân rất quý, rất thương bộ đội.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2016, 04:48:48 pm
        Từ năm 1956, quân đội ta đã có những bước thay đổi về tổ chức, đặc biệt là trang thiết bị. Đơn vị anh được trang bị các loại súng AK, CKC do Liên-xô sản xuất thay vào các loại vũ khí chiến lợi phẩm. Các loại súng mới được trang bị đường đạn đi rất căng, bắn rất chính xác. Trong phong tráo thi đua bắn giỏi, anh Hồng Nhị đã đoạt giải nhất khi bắn bia “lỗ châu mai” bằng súng AK Tổng số 15 viên đạn, bắn 3 loạt thì 14 viên trúng bia. Anh em trong đơn vị sáng tác kịp thời bài hát “Nguyễn Hồng Nhị bắn rất hay” để động viên phong trào thi đua. Tôi có hỏi anh:

        - Anh còn nhớ bài hát “Nguyễn Hồng Nhị bắn rất hay” không?

        - Lâu rồi không nhớ được cả bài nữa. Đấy là ở đợt thi đua bắn giỏi, anh em nó sáng tác kịp thời với các gương tiêu biểu trong phong trào thi đua để động viên tức thì mà. Chỉ còn nhớ mỗi câu là “Nguyễn Hồng Nhị bắn rất hay” thôi! - anh cười, trả lời.

        Ngoài việc thay đổi trang bị vũ khí, đơn vị còn được trang bị theo kiểu chính quy: từ quần áo, mũ, giày, chăn màn... đến tận cái bát ăn cơm, khăn rửa mặt. Tất cả đều thống nhất tăm tắp. Đội ngũ chỉnh tề, mọi thứ đều thống nhất nên trông đẹp mắt lắm, oai vệ lắm. Bộ đội cũng đã được thay đổi chế độ ăn ngày từ hai bữa thành ba bữa.

        Địa hình ở Thanh Hóa rất thuận lợi cho việc huấn luyện với các khoa mục chiến đấu tấn công, phòng ngự, phản công, vượt sông hồ, đầm lầy v. v.. nhưng thời tiết thì rất khắc nghiệt Nóng thì rất nóng, nhất là khi có gió Lào về. Gió thốc từng cơn nóng tựa như thổi lửa vào mặt. Trong nhà, ngoài trời... đều nóng gần như nhau. Ngột ngạt, nghẹt thở.... Mồ hôi lúc nào cũng ướt đằm đìa, nhễ nhại như tắm.

        Rét thì cũng lại rất rét. Cái lạnh buốt thấu đến tận xương, ở ngoài trời cũng rét, ở trong nhà cũng rét, nhất là khi có gió mùa về. Tường nhà khi ấy chẳng qua chỉ là những phên nứa, liếp nứa nên gió) lùa qua ù ù, tiếng rít lạnh buốt, nghe tiếng gió rít đã thấy sởn gai ốc lên rồi, rồi chân tay còn nứt nẻ nữa, khi nhúng vào nước lạnh thì đau buốt đến tận óc.

        Gian khổ, khó khăn như vậy nhưng đơn vị không hề nao núng. Các anh đã qua mùa huấn luyện, được cấp trên xuống kiểm tra đánh giá đạt kết quả giỏi toàn đơn vị.

        Thấm thoắt 2 năm đã trôi qua,, nhưng không hề thấy Hiệp thương giữa hai miên theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Bè lũ Ngô Đình Diệm cự tuyệt Hiệp thương Tổng tuyển cử. Được sự hỗ trợ của quan thày Mỹ, cỉhũng hò hét “Lấp sông Bến Hải! Bắc tiến!”. Chúng kéo máy chém đi khắp nơi tàn sát những người chúng cho là “Việt cộng” hoặc thân với “Việt cộng”. Miền Nam ngập tràm trong bể máu. Đau thương! Sôi sục căm thù! Các anh mong muốn có ngày được trở về Nam chiến đấu để giải phóng miền Nam.

        Anh nhớ lại lời nói của Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 - đồng chí Nguyễn Chánh đã nói với các anh trước khi xuống tàu lên đường tập kết ra Bắc:

        - Chúng ta nhất định sẽ trở về miền Nam bằng con đường trương cờ hòa bình lên để về, hoặc đạp lên xác quân thù mà về!...

        Sau 2 năm sống trên đất Bắc, các anh đã thấy rằng: đứng, con đường trở về miền Nam ruột thịt là phải đạp lên xác thù mà về! Lời của Chính ủy Nguyễn Chánh là lời tiên đoán. Và thực sự đúng như vậy!

        Đơn vị các anh lại hành quân từ Thanh Hóa vào Nghệ An để tham gia diễn tập khoa mục “Sư đoàn tác chiến trong quân binh chủng hợp thành”. Trong thời gian này ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ gồm có thành phần đại diện của các nước Ân Độ, Ca-na-đa, Ba Lan... đóng ở thành phố Vinh thường xuyên đi kiểm tra, soi mói xem ta có trang bị vũ khí mới cho quân đội không. Những việc làm của họ đã gây không ít khó khăn cho chúng ta.

        Sau khi kết thúc diễn tập, tổng kết xong cũng là lúc bước sang năm mới.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2016, 08:33:08 am
        Sang năm 1960, đơn vị có chủ trương xây dựng doanh trại chính quy, không ở sơ tán trong nhà dân nữa.

        Hành quân về Đô Lương, các anh tổ chức đi khai thác gỗ, làm gạch, ngói để xây dựng doanh trại.

        Bộ phận có nhiệm vụ khai thác gỗ là bộ phận nặng nhọc nhất và hiểm nguy nhất. Bởi phải vào tận trong rừng sâu chặt gỗ, phải tìm cách đưa, chuyển gỗ về doanh trại bằng các tuyến đường... Phải xuyên qua rừng, vượt qua thác ghềnh. Muốn đưa được gỗ ra sông Lam phải làm đường xuyên rừng, dùng voi kéo gỗ ra. Dòng sông Lam trông hiền hòa như vậy nhưng ở đầu nguồn nó có biết bao thác ghềnh hung dữ. Giai đoạn đầu, các anh chưa biết cách vượt thác, vượt ghềnh, cũng chưa biết, chưa thuộc vị trí các ghềnh thác nên một số bè đã bị vỡ. về sau, nhờ một số người dân sở tại giỏi nghề sông nước lại thuộc hết vi trí của mọi thác ghềnh đi cùng thì mọi chuyện mới suôn sẻ.

        Anh Hồng Nhị nằm trong tổ khai thác gỗ. Sau này nghĩ lại, anh vẫn giật mình vì mấy lần gặp may mắn thoát chết trong quá trình khai thác gỗ. Anh nói:

        - Có lẽ đấy là số may Trời cho và các đồng đội phù hộ thì mới được như vậy!

        Lần đi chặt gỗ là một ví dụ: khi chặt gỗ có hai tốp: tốp ở phia trên và tốp ở phía dưới. Tốp ở trên sau khi đốn cây xong, phải chặt thành từng đoạn, đẽo túm đầu gỗ của từng đoạn gỗ rồi báo cho tốp ở dưới biết, sau đó mới lao gỗ xuống. Nhưng lần ấy, khi chưa kịp đẽo túm đầu gỗ thì cả đoạn gỗ to tướng đã lạo thẳng xuống dưới. Không ai kịp hô hoán gì. Anh Nhị thuộc tốp đứng dưới, đoạn gỗ lao vùn vụt đúng chỗ anh đứng. Chẳng có cách gì để né tránh, nhưng may sao gần đến chỗ anh thì đoạn gỗ vấp vào tảng đá, cả đoạn gỗ nẩy lên cao, bay vù qua đầu anh. Ai cũng nghĩ chắc là anh “xong” rồi. Vậy mà lại thoát chết. Lại lần đi bè: vì chưa ai biết vị trí cụ thể của thác nên cứ thế lên bè là điềm nhiên cho xuôi dòng thôi. Nào ngờ tới gần thác, bè trôi như bay. Chắc mẩm phen này mọi người hết đường sống. Thế nhưng bè lại vấp vào tảng đá ngầm, hất tung anh Nhị lên ven bờ. Anh lại thoát chết lần nữa. Cho nên anh mới phát biểu như vậy. Tôi thì nói rằng: “Anh “cao số” thật đấy!”.

        Sau 3 tháng khai thác, số gỗ đã đủ để xây dựng doanh trại. Xưởng cưa hoạt động liên tục suốt ngày đêm, xẻ gỗ để cung cấp cho toàn đơn vị của Sư đoàn làm nhà.

        Vùng đồi trọc của khu vực Anh Sơn, Thanh Chương, Yên Thành .. mới ngày nào còn trơ trọi dưới cái nắng chang chang của Khu Bốn, không bóng người qua lại, thoắt cái, bao nhiêu dãy nhà ngói mọc lên đứng chen sát bên nhau. Nắng chiếu xuống các mái ngói hắt lên những quầng sáng đỏ hồng, sáng rực cả khu vực. Đêm về, điện sáng lung linh... như những ngôi sao sa xuống vùng đồi núi này, tạo nên khung cảnh hệt như trong những bức tranh rực rỡ muôn màu.

        Nhân dân địa phương nô nức đến tham quan, thăm nhà ở, rồi thăm các vườn rau của bộ đội trồng, trầm trồ khen ngợi tài năng của bộ đội ta, và tổ chức học tập làm theo tấm gương của bộ đội.

        - Bộ đội đã biến đồi sỏi đá thành nhà ngói, thành được vườn rau, ao cá... Bầy tui cũng phải học theo gương của bộ đội, phải làm như bộ đội thôi!

        Buổi liên hoan chia tay nhân dân ra ở doanh trại thật là cảm động. Một thời gian dài ở nhà dân, gắn bó với nhân dân, từ lúc còn ngỡ ngàng với những phong tục khác nhau của từng miền quê, tới lúc hòa nhập như người của địa phương, từ lúc chia sẻ cho nhau từng cái kim, sợi chỉ, bát nước chè xanh đến lúc tăng gia sản xuất làm ra lúa ngô, khoai sắn... Quân đội nhân dân! Đúng là quân đội của dân, từ nhân dân mà ra! Tinh đoàn kết gắn bó keo sơn! Vì dân mà chiến đấu! Vì dân mà hy sinh!

        Những câu hát trong đêm liên hoan vang lên sao mà thiết tha: “... Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi. Xóm làng tôi còn nhớ mãi. Các anh đi biết bao giờ trở lại? Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong!”... Tình cảm quân dân thật thắm thiết, thật nghĩa tình làm sao!..

        Anh lại chuyển biên chế về Đại đội trinh sát đặc công của Sư đoàn. Đơn vị anh chuyển đến có nhiệm vụ chuẩn bị “đi B” (vào miền Nam chiến đấu, chiến trường miền Nam được gọi là chiến trường B; chiến trường Lào được gọi là chiến trường C).

        “Đi B”! - hai tiếng ngắn ngủi thế thôi sao mà thiêng liêng, sao mà có sức hút lạ kỳ, nhất là đối với những người con của miền Nam tập kết ra Bắc. “Đi B” tức là được trở lại quê hương, chiến đấu để giải phóng quê hương, để giải cứu đồng bào mình trong đó, cứu những người thân yêu của mình khỏi cảnh rên xiết lầm than, khỏi xiềng xích, khỏi nhà tù, máy chém... của bè lũ Mỹ Ngụy. “Đi B” - đấy là trách nhiệm nặng nề, cao cả mà bất kể trong hoàn cảnh nào cũng phải hoàn thành bằng được, hoàn thành xuất sắc nhất! “Đi B” - hai từ như hai hồi chuông reo làm náo nức bao tấm lòng, như hai hồi kèn thúc dục làm nhộn nhịp bao con tim đầy nhiệt huyết! Đồng bào miền Nam ơi! Chúng tôi - những đứa con xa nhà nay đã có dịp trở về góp phần giải phóng quê hương dù cho phải đổ máu xương, phải hy sinh cả bản thân mình, chúng tôi cũng sẵn sàng!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2016, 08:36:28 am
        Thật háo hức, chờ đợi, mong ngóng từng ngày, từng giây, từng phút để được trở lại miền Nam, giải phóng miền Nam.

        “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước. Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước... ôi xương tan, máu rơi, lòng hận thù ngất trời...”. Những khúc ca hoành tráng đúng là những tiếng kèn xung trận thôi thúc bao thế hệ lên đường...

        Đại đội trinh sát đặc công của anh bước vào huấn luyện kỹ thuật đánh đặc công, kỹ thuật trinh sát, tập luyện các đòn đánh, các miếng võ hiểm, học cách sử dụng các loại vũ khí của Mỹ mới được đưa vào miền Nam trang bị cho quân đội Sài-gòn để sau này các anh về miền Nam chiến đấu có cơ hội sẵn sàng lấy vũ khí địch đánh địch.

        Trong đơn vị đã có một số người lên đường “đi B” rồi. Anh cũng chuẩn bị gấp gáp để chờ đến lượt mình: sắp xếp đồ dùng gọn ghẽ, nhẹ nhàng nhất. Đồ đạc cá nhân, anh gửi tặng lại cho các anh khác, số tiền phụ cấp ít ỏi hàng tháng, anh dành dụm để mua sách học tiếng Nga, tiếng Trung và mua các tiểu thuyết mà anh rất thích đọc, như “Đất nước đứng lên”, “Bất khuất”, “Vượt Côn Đảo”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Sông Đông êm đềm”, “Những người khốn khổ”... Phải giải tán cái “tủ sách trong ba-lô” ấy của anh, anh tiếc lắm, nhưng hoàn cảnh bấy giờ không thể làm khác được, không thể giữ lại được. Các giấy tờ khác như Bằng khen, Giấy khen... của anh, anh gửi lại người bạn đồng hương giữ hộ.

        Chỉ một thời gian ngắn thôi, nhưng Đại đội trinh sát đặc công của các anh đã đi khắp mọi miền của quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh. Nào vượt sông Cấm, chiếm cảng Cửa Lò, đánh phá Cửa Rào... Không đâu không có dấu chân của các anh - những đôi chân vạn dặm - những đôi chân chuẩn bị cho cuộc vượt Trường Sơn.

        Kết thúc thời gian tập luyện, anh được chính trị viên Đại đội - anh Dương Tấn Bộ, người đồng hương với anh cho anh nghỉ phép 10 ngày để đi thăm thú các nơi trước khi “đi B”. Mừng lo xen trộn lẫn lộn. Mừng vì được nghỉ, được đi đó đây. Lo vì không có tiền để đi được các nơi. Anh em trong Tiểu đội của anh đã đóng góp mỗi người một ít, giúp cho anh có được chuyến đi như ý.

        Những ngày anh được nghỉ, khi ở Hà Nội, anh đi bộ dạo quanh các phố, lững thững hàng giờ quanh Bờ Hồ, nhà hàng Thủy Tạ để đợi Rùa Thiêng của Hồ Gươm xem có nổi lên không. Rồi anh vào đền Ngọc Sơn rút quẻ, tiếp tục đến trước cổng Phủ Chủ Tịch, đứng rất lâu, hy vọng được thấy hình bóng Bác, muốn thưa với Bác những lời Cha dặn trước khi anh lên đường tập kết Đợi mãi, đợi hoài không được, anh về thăm gia đình người anh đồng hương - anh Trịnh Hồng Kỳ và ngủ lại ở đó. Gia đình anh chị đông con, khó khăn thiếu thốn nhiều, nhưng với sự cố gắng vượt bậc của anh chị cùng với sự quan tâm của nhà nước đối với cán bộ miền Nam tập kết, các con của anh chị đều được đi học và trưởng thành cả. Sau ngày miền Nam giải phóng - gia đình anh chi về Quy Nhơn sinh sống, và lần nào có điều kiện, anh Nhị đều ghé thăm gia đình anh chị Kỳ.

        Thời gian nghỉ phép vẫn còn. Anh đáp chuyến tàu Hà Nội - Hải Phòng đến thăm những người bạn cùng đi tập kết. Bạn anh hiện làm bảo vệ ở khu Sáu Kho - cảng Hải Phòng. Anh đã ngủ lại một đêm với anh Được - người bạn cùng quê để hàn huyên suốt đêm, từ những kỷ niệm thời niên thiếu, cùng nhau dùng súng cao-su (ná cao-su) đi bắn chim. Anh Nhị từng nổi tiếng một thời về chuyện sử dụng súng cao-su đi bắn chim cút. Hầu như con chim nào bị anh phát hiện là đều dính dạn của anh hết.

        Rồi anh đến trường học sinh miền Nam số 4 ở Hải Phòng thăm má Thạch - người cùng quê. Má Thạch có hai cô con gái học ở trường này. Nhiều người quý mến hai cô, anh cũng vậy. Sau này khi học dự khóa bay ỏ sân bay Cát Bi, chủ nhật nào anh cũng đến nhà má chơi. Má có ý muốn ghép cho anh với một cô con gái của má, nhưng như anh nói: “Duyên số không gặp nhau với con gái má!”.

        Anh lên tàu về Hà Nội, khi ngắm những cánh đồng lúa chín vàng rực lướt nhanh trên đường qua cửa sổ của tàu hỏa, anh mơ màng nghĩ đến ngày đất nước thống nhất, anh cũng ngồi trên con tàu thế này, chạy băng băng về quê. Cái cảm giác ấy sao mà xao xuyến, bâng khuâng. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray tạo một âm điệu đều đều, gió thổi qua ô cửa sổ như giúp anh đi vào cõi mơ...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2016, 08:39:17 am
        Con tàu rúc một hồi còi dài chuẩn bị qua cầu Long Biên làm anh bừng tỉnh. Tàu dừng ờ ga Hàng cỏ (nay là ga Hà Nội), anh xuống tàu, lững thững đi bộ ra khu tập thể của cán bộ miền Nam tập kết ở khu bờ sông, nhưng vì muộn giờ, cổng đã đóng, anh đành vào đồn công an trình bày và xin ngủ nhờ. Sáng hôm sau, anh công an còn lấy xe đạp chở anh ra tận bến xe Kim Liên. Cũng có thể, anh công an cũng làm động tác kiểm tra xem anh trình bày hôm trước có đúng hay không cũng nên.

        Trên chuyến xe khách đi Vinh, may mắn là anh gặp được anh Tân - người bạn đi cùng chuyến đã “bao trọn gói” cho anh về đến đơn vị (anh cũng chẳng còn đủ tiền tiêu khi lên xe).

        Về đến đơn vị, anh chưa kịp kể hết niềm vui của những ngày đi phép thì đơn vị đã triệu tập anh lên và thông báo là anh có tên trong danh sách đi học Trường sĩ quan Lục quân. Chính trị viên Dương Tấn Bộ nói:

        - Đi học cũng là nhiệm vụ Đảng giao. Phải tạm gác nguyện vọng “đi B” lại để yên tâm đi học sĩ quan, phục vụ quân đội lâu dài!

        Thôi, “quân lệnh như sơn!”. Anh đành phải phục tùng mặc dù chẳng vui vẻ, thoải mái tí nào. Anh cùng với 4 người nữa trong Đại đội về trường Lục quân khám sức khỏe, ôn văn hóa và dự kỳ thi tuyển học viên khóa 12 của nhà trường.

        Trường sĩ quan Lục quân trong kháng chiến chống Pháp có tên gọi là: “Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn”, sau khi hòa bình lập lại (sau năm 1954) được đổi tên là “Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam”. Nơi đây đã đào tạo ra nhiều sĩ quan tài năng, đức độ... đua về các đơn vị tỏa đi khắp các chiến trường Bắc, Trung, Nam... được bộ đội và nhân dân tin yêu, mến phục.

        Khóa của anh là khóa 12. Ngày 14 tháng 4 năm 1960, Thiếu tướng Lê Quang Hòa phát biểu khai giảng khóa học, dặn dò anh và các anh - những học viên thuộc khoa đào tạo sĩ quan chính bị viên Đại đội của trường:

        - Đã là học viên sĩ quan là phải mẫu mực trước ba quân. Song, học viên chính trị lại càng phải mẫu mực gấp bội!

        Anh nhớ như in lời dặn dò ấy và suốt đời anh luôn mẫu mực, đúng như những gì Chính ủy đã dặn dò, đúng như những gì anh đã được học, được đào tạo.

        Khí hậu ở vùng Sơn Tây thay đổi đến mấy mùa trong một ngày. Buổi chiếu nóng bức, khi chơi thể thao có thể cởi trần mà mô hôi vẫn chảy nhễ nhại. Buổi sáng thì trời lại lạnh, phải mặc áo ấm. Sương mù bao phủ khắp vùng, phong cảnh mờ mờ ảo ảo hệt như trong bức tranh thủy mặc.

        Con gái vùng Sơn Tây rất chất phác, thật thà, hồn nhiên, dễ thương. Tiếng nói ở vùng Sơn Tây cũng líu lo như chim hót. Tất cả những từ có thanh huyền thì đều nói thành thanh sắc. Ví dụ: “con bò vàng trên núi Ba Vì” thì lại nói là “con bó váng trên núi Ba Ví”... Đấy cũng là những điều ấn tượng làm cho anh khó quên.

        Ngoài việc học trên giảng đường, các anh còn phải học đội ngũ, duyệt đội ngũ. Nắng ở vùng Sơn Tây như đổ lửa xuống hàng quân ở ngoài bãi tập, các anh vẫn phải trong tư thế đứng “nghiêm” cả tiếng đồng hồ. Anh kể:

        - Tiếng hô “Nghiêm” nghe ngắn gọn vậy thôi, nhưng khi tập đứng nghiêm hàng giờ đồng hồ, trên đầu thì nắng đổ xuống như đổ lửa, dưới chân thì như dẫm vào nồi nước sôi... Đấy, bấy giờ mới thấm thìa hết cái từ đứng “nghiêm”!

        Tháng 7 qua đi cũng là lúc kết thúc khoa mục tập đi đều, đi nghiêm. Gần một tháng trời tập luyện dưới nắng hè của vùng Sơn Tây, da các anh đều đen sạm, tựa như “cột nhà cháy”, nhưng thân hình thì trở nên săn chắc, rắn rỏi hơn nhiều.

        Bước sang tháng 8 là tháng hợp luyện đội hình. Mà cái nắng tháng 8 được ví là “Nắng tháng Tám rám trái bưởi”. Nắng nóng của nó chẳng thua kém gì cái nắng nóng của tháng 7, mà có phần còn oi nồng hơn nhiều, nhưng anh cố vượt qua, luôn nghĩ đến ngày được đi duyệt binh, đi nghiêm qua lễ đài Ba Đình, được thấy Bác Hồ đứng trên đó vẫy chào đoàn quân. Liệu Bác có biết được rằng trong đoàn quân diễu qua lễ đài ấy có những người con của đồng bào miền Nam đang chào Bác. Bác mà biết được thì chắc Bác vui lắm.

        Thực ra, khi đơn vị các anh ở Nghệ An thì các anh đã được Bác đến thăm, nhưng vì thời gian quá ngắn, anh thì lại ở vị trí rất xa Bác, phần vì xúc động, phần vì bất ngờ, không nghĩ rằng Bác lại đến thăm đơn vị nên rất lâu sau anh vẫn thấy bâng khuâng như người nằm mơ vậy.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2016, 08:24:00 pm
        Đến lần này thì anh rất háo hức khi được chuẩn bị đi duyệt binh, rất háo hức khi nghĩ đến ngày mồng 2 tháng 9!

        Nhưng rồi anh từ đội hình chính thức lại phải chuyển xuống đội hình dự bị. Anh buồn lắm mà không biết làm thế nào, chỉ thầm mong làm sao vận may hãy đến với mình lấy một lần trong đời - một lần được đi duyệt binh này thôi!

        Thời gian trôi đi vùn vụt. Đã kết thúc một năm học! Rồi cái Tết cổ truyền của dân tộc đã đến. Những anh em quê ở miền Bắc thì được về nhà ăn Tết, còn anh em ở xa, không có gia đình thì nhà trường tổ chức cho đón Xuân tại trường với không khí chan hòa tình cảm Bắc Nam ấm cúng suốt những ngày Xuân.

        Ngày mồng hai Tết, anh diện bộ quần áo mới với bộ quân hàm học viên sĩ quan, đi thuê xe đạp để về Hà Nội thăm gia đình anh Ba Kỳ, sau khi xin phép và được sự đồng ý của nhà trường, ông chủ hiệu cho thuê xe đạp lại còn không lấy tiền thuê, nói rằng cho anh mượn không thôi, đấy coi như là món quà đầu Xuân tặng anh. Anh rất phấn khởi, vui phơi phới khi đạp xe về nhà anh Ba Kỳ... Cuộc gặp mặt của những người con miền Nam tập kết ra Bắc nhân dịp đầu Xuân mới được tổ chức tại khu tập thể mới đông vui làm sao, thân thiết làm sao, nhất là lại toàn bà con của xã Hoài Sơn nữa. Anh được anh Ba Kỳ giới thiệu và mọi người đến vây quanh anh chúc mừng, căn dặn anh phải học thật giỏi để xứng đáng với quê hương. Anh cảm động lắm và thưa rằng sẽ cố gắng học tập, rèn luyện để thỏa lòng mong mỏi của bà con!

        Vậy là đã cái Tết thứ 5 anh ăn Tết trên đất Bắc rồi và cái Tết này cũng là cái Tết đầu tiên anh ăn Tết ở Hà Nội. Sẽ còn bao nhiêu cái Tết đón Xuân trên đất Bắc nữa? Tết nào sẽ được đón tại miền Nam? Mùa Xuân nào sẽ đón Xuân tại quê hương Hy Văn, Vũ Sơn? Nỗi nhớ nhà, nhớ quê lại ập đến, nặng trĩu lòng.

        Rồi một chuyện thật bất ngờ xảy ra đến với anh. Tổng cục chính trị lập danh sách đưa xuống cho nhà trường tên tuổi các học viên của trường để đi khám sức khỏe, tuyển đi nước ngoài học lái máy bay! Anh cũng có tên trong danh sách ấy! Lọt qua 15 vòng khám, anh đã trúng tuyển trong danh sách đi học lái máy bay.

        Vậy là đời anh chuyển hẳn sang một bước ngoặt mới, một bước ngoặt không ngờ - bước ngoặt trong nhiều bước ngoặt đáng nhớ của cuộc đời anh. Từ một cậu bé lam lũ của làng quê, anh trở thành anh lính Vệ quốc đoàn, rồi trở thành bộ đội chủ lực của Liên khu, rồi lên tàu tập kết ra miền Bắc, rồi lại chuẩn bị trở vào Nam chiến đấu, rồi thành học viên Trường sĩ quan Lục quân, rồi lại được tuyển đi học bay, sang tận nước ngoài... Tất cả diễn ra như trong một bộ phim quay nhanh, nhanh đến không ngờ. Chắc chính anh cũng không thể biết được rồi số phận sẽ còn trao, còn đem đến cho anh những điều gì bất ngờ ở phía trước nữa.

        Tạm biệt Trường Lục quân, Trung sĩ Nguyễn Hồng Nhị mang nặng những kỷ niệm trong cuộc đời quân ngũ - cuộc đời của người lính bộ binh làm hành trang để bước sang một cuộc đời mới - cuộc đời của người lính bay - người lính canh trời!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2016, 08:28:14 pm
       
TRỞ THÀNH NGƯỜI LÍNH CANH TRỜI

        Số học viên của Trường sĩ quan Lục quân đợt đó trúng tuyển chỉ hơn 10 người. Tất cả được về sân bay Cát Bi - Hải Phòng - về Tiểu đoàn dự khóa 95 tập trung. Đại úy Xê - Tiểu đoàn trưởng phụ trách lực lượng dự khóa này. Tất cả được chia thành các lớp học tiếng Nga, tiếng Trung, chia thành các Tiểu đội để học quân sự và lấy các anh ở Trường Lục quân làm cán bộ nòng. Anh Hồng Nhị dược phụ trách một Tiểu đội. Tiểu đội anh phụ trách gồm những thanh niên trẻ, đang học Đại học hoặc là học sinh cấp 3. Đấy là lực lượng trẻ, khỏe, thông minh. Sau này rất nhiều người thành đạt, trở thành các Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, ví dụ như các anh: Nguyễn Xuân Cương là Giáo sư - Tiến sĩ Kỹ thuật Hàng không, Nguyễn Xuân Anh là Giáo sư - Tiến sĩ Kỹ thuật

        Quân sự... Tất cả các anh em trong Tiểu đội đều quý mến anh Nhị, đều coi anh như người anh trai của mình vậy. Khi học ở Liên-xô, anh Nguyễn Quang Tấn (sau này từng giữ chức vụ Trung đoàn phó kỹ thuật của Trung đoàn Không quân 931) đã viết tặng anh Nhị bài thơ với những lời chan chứa tình cảm:

                                    “Gửi đến tay anh ngọn lửa vàng
                                    Đốt lên tong rét lúc Xuân sang
                                    Sưởi lòng người sống xa tình Mẹ
                                    Ấp ủ ngàn năm tình Bắc - Nam
                                    Giữ lấy anh ơi ngọn lứa vàng
                                    Đốt lên cho sáng lúc Xuân sang
                                    Chập chờn trong lửa hình ai đó
                                    Có phải Quê ta phá rào làng
                                    Cầm lấy anh ơi ngọn lửa vàng
                                    Sưởi lòng cho ấm lúc Xuân sang
                                    Bao giờ gió rét không còn nữa
                                    Anh bước lên thang trở về làng
                                    Giữ lấy anh ơi ngọn lửa vàng
                                    Hy vọng ngày mai lửa sáng loang
                                    Cháy bùng Quê Mẹ, thiêu đồn giặc
                                    Gặp lại anh thêm với một nàng
                                    Bao giờ trở lại với miền Nam
                                    Anh nhớ đừng quên ngọn lửa vàng!


        Miền Nam là máu thịt của dân tộc Việt Nam. Những người con của miền Nam tập kết ra Bắc luôn được coi như những người thân, ruột thịt của đồng bào miền Bắc!

        Tất cả các học viên của lớp dự khóa tích cực học ngoại ngữ. Tốp của anh Nhị học tiếng Nga, và khi phát âm các chữ cái còn chưa chuẩn, các anh đã nhận lệnh về Hà Nội để làm thủ tục xuất cảnh đi Liên-xô. Vui mừng thật đấy mà cũng lo lắng ghê gớm đấy. Vui mừng vì sẽ được sang đất nước Liên-xô vĩ đại - thành trì của Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, nơi mình sẽ được học bay, được cất cánh lên trời, được trở thành phi công... Lo lắng vì đi học mà chữ nghĩa, tiếng tăm của nước bạn chưa hề biết gì thì liệu có học được hay không? Làm sao mà học bằng cái kiểu chỉ “khua chân múa tay” được. Gay go thật chứ chẳng phải chơi.

        Niềm vui, nỗi lo đan xen lẫn lộn... Vào một ngày nắng trải vàng khắp phố phường Hà Nội với những ngọn gió se se lạnh làm cho ta gợi nhớ đến những hương vị của cốm làng Vòng, của những bưởi, những hồng, những chuối chín trứng cuốc... những hương vị đặc trưng của mùa Thu đất Bắc - các anh lên tàu liên vận để đi sang nước bạn. Ngày ấy là ngày 29 tháng 10 năm 1961. Chuyến tàu liên vận Hà Nội - Bằng Tường kéo một hồi còi dài, tạm biệt Hà Nội rồi từ từ chuyển bánh về phía biên giới phía Bắc.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2016, 08:29:27 pm
        22 giờ ngày hôm đó, tàu đã đến ga Bằng Tường, các anh làm thủ tục chuyển tàu, sang tàu của Trung Quốc để tiếp tục khởi hành đi Bắc Kinh.

        Những bánh sắt nghiến trên đường ray đều đều tạo nên âm thanh khác lạ, với sắc thái riêng mà chỉ tàu hỏa mới có. Con tàu lao vun vút, băng qua những khu vực núi, đồi, triền ruộng... giống như ở vùng Lạng Sơn. Khu vực vùng biên của hai quốc gia đều có những nét tương đồng về mặt địa lý lẫn phương pháp canh tác và lối sống...

        Ngày 30 tháng 10 là ngày các anh được ăn bữa “cơm Tàu” đầu tiên. “Cơm Tàu, nhà Tây, vợ Nhật” - vẫn nghe người ta nói vậy. Nhà Tây, vợ Nhật thì chả biết thế nào, nhưng cơm Tàu thì có rất nhiều món, mà món nào cũng nhiều mỡ và có vị ngọt của đường, mà người Trung Quốc cũng lại không ăn nước mắm, chỉ ăn xì-dầu thôi...

        Tàu đến ga Quê Lâm. Cô phát thanh viên trên tàu nói tiếng Việt với giọng thật ngọt ngào, giới thiệu về lịch sử, địa lý và những cảnh đẹp của vùng Quế Lâm. “Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt và đã từng giải Bác qua đây đấy!” - giọng cô phát thanh viên trầm hẳn xuống, cảm động. Tất cả mọi người cũng nín lặng, nhìn phong cảnh bên ngoài mà nhớ, mà thương Bác quá!

        Rồi tàu qua Hoa Nam - quê hương của Mao Chủ Tịch là đây. Cô phát thanh viên tiếp tục giới thiệu về quê hương của Mao Chủ Tịch.

        Chẳng mấy chốc, tàu qua cầu Trường Giang, cầu Trường Giang là cây càu có hai tầng: tầng trên dành cho ô-tô, còn tầng dưới dành cho tàu hỏa. Trường Giang! Trường Giang!... Một trong những con sông hùng vĩ của đất nước Trung Hoa là đây! Anh ngồi nhìn qua cửa sổ và lại nhớ về miền sông nước của quê anh, nhớ lại những dòng sông trong suốt cuộc đời bộ binh anh đã trải qua...

        Gần 9 giờ sáng ngày mồng 1 tháng 11, tàu đến Bắc Kinh. Các anh được ra phố, được tận mắt chứng kiến sự hùng vĩ, kỳ vĩ của thủ đô Bắc Kinh. Ai nấy đều hầm trồ: “Thủ đô to quá!”.

        Đại sứ quán của ta ở Bắc Kinh đón đoàn của các anh về khách sạn Bắc Vĩ và chiêu đãi bữa cơm trưa. Bữa cơm thật thịnh soạn diễn ra trong không khí thật đầm ấm. Không khí vui vẻ, ấm cúng của bữa ăn làm cho các anh quên đi cái lạnh ở ngoài trời, làm cho các anh vơi bớt phần nào nỗi nhớ nhà, nhớ Quê hương, Đất nước. Các anh được đón tiếp như đón những người thân vừa đi xa về vậy.

        Các anh nghỉ lại Bắc Kinh 2 ngày, được đi tham quan Thiên An Môn, Cố Cung, đi Bách Hóa Đại Lầu... Anh không thể ngờ được rằng những điểm tham quan như vậy về sau này anh lại có dịp thăm lại không chỉ một lần.

        Chiều ngày mồng 4 tháng 11, các anh chị ở Đại sứ quán của ta tiễn các anh lên xe để các anh đi tiếp chuyến “hành binh xuất ngoại” xuyên từ ven bờ biển Thái Bình Dương đến tận Trung tâm Lục địa. Buổi tiễn đưa thật cảm động, bịn rịn làm sao! Các anh chị ở Đại sứ quán tiễn đoàn giống hệt như tiễn người nhà đi xa vậy. Quyến luyến, lưu luyến vô cùng!

        Vào cuối buổi chiều thì các anh đã lên tàu liên vận của Liên-xô đi tuyến Bắc Kinh - Mátx-cơ-va. Lần đầu tiên gặp gỡ, tiếp xúc với những người Nga, anh thấy các bác, các anh, các chị Liên-xô - người nào cũng to cao, nhưng rất hiền từ, đôn hậu. Anh thì cũng chỉ nhớ được duy nhất có một câu tiếng Nga, đó là “zờ-đờ rát-xờ tờ- vui-che!” (xin chào!). Biết các anh chưa thành thạo tiếng Nga, các bác, các anh các chị phục vụ trên tàu vừa nói vừa diễn tả bằng điệu bộ để các anh hiểu rằng phải giữ gìn vệ sinh ở trên tàu và không được mở cửa sổ vì ngoài trời rất lạnh.

        Tàu chạy về phía Mãn Châu Lí. Tuyết rơi trắng trời. Những “con ruồi trắng” bay khắp không gian, che phủ lên muôn vật. Cây cối, nhà cửa, vườn tược, đường xá... đều chìm trong màu trắng của tuyết. Lần đâu tiên nhìn thấy tuyết, ai cũng háo hức, ai cũng muốn được sờ được nắm bông hoa tuyết, muốn được cảm nhận cái cảm giác khi bông tuyết tan chảy trong lòng bàn tay mình thế nào, nhưng ngoài trời rét lắm, và con tàu thì cứ lao vun vút không dừng...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2016, 08:43:14 am
        Sáng ngày mồng 7 tháng 11, tàu đến ga Mãn Châu Lí. Sau bữa cơm sáng là các anh làm thủ tục nhập cảnh vào đất Liên-xô. 7 giờ 30 phút sáng, các anh ngồi nguyên trên tàu của Liên-xô, đợi Công an và Hải quan Liên-xô đến làm thủ tục nhập cảnh. Xong các thủ tục càn thiết, con tàu rùng mình, chuyển hướng chạy vê phía hồ Bai-can. Các anh được thưởng thức bữa “cơm Tây” lân đầu tiên trong đời. Súp bắp cải, bánh mì trắng, bánh mì đen, bơ, pho-mát, thịt bò, thịt cừu... đủ cả. Nhiều món đấy sao cứ bâng khuâng nhớ rau muống luộc chấm tương... ờ nhỉ, thảo nào mà có câu:

“Ta đi ta nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Ta đi ta nhớ quê hương
Nhớ canh rau muống, nhớ tương dầm cà!”.

        Nỗi nhớ đâu phải là thứ gì to tát đâu. Nó bắt đầu từ cái rất nhỏ, từ cái rất bình thường mà ngày ngày có thể ta ít chú ý đến. Chỉ đến khi ta đi xa, ta mới chợt nhận ra, mới nhớ đến da diết, đến cháy lòng. Tình yêu Quê hương Đất nước có lẽ cũng vậy, cũng từ những điều rất bình dị mà sâu nặng...

        Hồ Bai-can quả thực là to, rộng vô cùng. Đúng là hồ to nhất thế giới. Tàu chạy mãi, chạy hoài mà vẫn chẳng hết một phần hồ. Phía Bắc - Đông Bắc của hồ thì tuyết phủ trắng, mặt hồ nước cũng đóng băng lởm chởm, từng đống, từng đống như đồi núi nhấp nhô, trắng toát Phía Nam và Đông Nam của hồ thì nước lại trong veo, sâu thẳm. Các đàn chim đủ các chủng loại về đây săn bắt cá, bay lên hạ xuống tíu tít, rợp cả một góc trời, trông thật ngoạn mục.

        Ngày này cũng là ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Tàu lao vút qua những đường phố trang trí cờ hoa rực rỡ chào mừng ngày kỷ niệm.

        Tuyết vẫn rơi dầy! Đám trẻ con nô đùa trong tuyết lạnh, má em nào em nấy đều đỏ ửng, vui cười hồn nhiên, đúng như cảnh trên tiên giới vậy.

        Tàu chạy xuyên qua rừng tai-ga. Chỉ loài cây lá nhọn với sức sống mãnh liệt mới trụ lại được, mới chống chọi lại được với cái lạnh, với cái gió, với bão tuyết ở vùng Xi-bê-ri này. Những cây thông cao vút như những ngọn giáo chĩa thẳng lên trời, phủ đầy tuyết. Thi thoảng có một đợt gió thổi qua, tuyết trên các nhành cây lại rơi xuống bay mù mịt.

        Rừng! Rừng mênh mang! Tuyết! Tuyết bạt ngàn, trắng đến lóa mắt! Lại nhớ đến bài trong sách học văn: “Bạn hãy đến quê tôi vào một mùa Xuân nào đó, khi hoa mơ nở trắng trên cành, đỉnh núi A-la-tau tuyết phủ long lanh dưới ánh mặt trời!...”. Đây, chúng tôi đang đến đây, đến thật sự đây, không phải vào mùa Xuân mà là vào mùa Đông, không có hoa mơ nở trắng, mà là hoa tuyết phủ khắp nơi, khắp vạn vật với một màu trắng ngập tràn và hắt ánh sáng chói lòa...

        Các anh ai cũng ngồi sát cửa sổ để được ngắm tuyết, đặc biệt là vào bữa ăn, nhiều anh không ăn được pho-mát, chỉ ăn bánh bích-quy, uống nước chè đường và ngồi... ngắm tuyết thôi!

        Vì tàu được thay đầu máy đi-ê-zen từ ga cuối của hồ Bai-can nên tàu chạy nhanh hơn và không có bụi than. Sang ngày 11 tháng 11 thì tàu đến Mátx-cơ-va. Anh Nhị bỗng thốt lên câu thơ của nhà thơ Thanh Tịnh: “Ôi, Mạc- tư-khoa - Ga vũ trụ đầu tiên!”. Đúng, các anh đã bước chân đến thủ đô Mạc-tư-khoa - thủ đô của nên văn minh Xã hội Chủ nghĩa, thủ đô gắn với bao kỳ tích của bao thời kỳ chiến tranh, thủ đô của niềm tin và hy vọng.

        Các anh ở Đại sứ quán ta ra đón đoàn. Đồ đạc được chất hết lên xe và đoàn học viên các anh được ngồi trên xe đi tham quan một vài nơi trước khi lên tàu để tiếp tục cuộc hành trình. Hồng Trường (Quảng trường Đỏ) là đây. Kia là lăng Lê-nin, trường Đại học Lô-mô-nô-xôp. Các anh đứng trên đồi Lê-nin chiêm ngưỡng gần như toàn cảnh của nửa thành phố Mátx-cơ-va. Rồi xe đưa các anh qua đại lộ Gor-ki.

        10 giờ 15 phút, các anh lại lên tàu, lấy hướng về phía Nam vùng sông Đông.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2016, 08:46:31 am
        Sáng ngày 12 tháng 11, con tàu đưa các anh đến miền “Sông Đông êm đềm” của nhà văn Sô-lô-khôp. Đâu rồi nàng Ac-xi-nha? Đâu rồi chàng Gri-gô-ri? Đâu rồi những cô gái vạm vỡ, mập mạp gánh nước sông bằng những chiếc đòn gánh bằng gỗ được đẽo cong cong, vừa đi vừa nhún nhảy theo những làn điệu dân ca? Đâu rồi những chàng trai Cô-dăc để ria mép, đội mũ kê-pi lệch sang một bên để khoe mớ tóc đen lượn sóng và mặc áo choàng rộng, cưỡi ngựa chiến, huýt gió mộí cách ngang tàng?...

        Vùng đất thật rộng lớn, bằng phẳng, phì nhiêu, trù phú này được thiên nhiên hào phóng ban tặng cho người Nga. Đất mùn đen, tơi xốp, không cần dùng cuốc mà chỉ lấy tay thọc mạnh xuống cũng có thể sâu đên khuỷu tay. Đất xốp và tơi, màu mỡ như thê làm gì cây cối chẳng tốt tươi, hoa trái chẳng mỡ màng.

        Cày ruộng là phải cày bằng máy. Một xá cày (đường cày) đi đến mấy tiếng sau mới thấy quay lại. Gieo hạt lúa mì, rải phân, thuốc trừ sâu đều phải dùng máy bay (loại máy bay An-2). Khi thu hoạch lúa mì thì sử dụng máy gặt đập liên hợp. Con người được giải phóng tôi đa. Tất cả đêu dùng máy móc. Nêu không có máy móc thì với diện tích bạt ngàn như vậy, biết đến bao giờ mới gieo xong, mới gặt xong?

        Vào cuối buổi chiều thì tàu đến thành phô Rôx-tôp nằm ở bờ phía Bắc sông Đông. Sau khi xuống tầu, các anh được đón lên ô-tô, vượt qua cầu sông Đông, sang phía bờ Nam sông Đông, về thành phố Ba-tai-xcơ - về Trường Không quân Ba-tai-xcơ.

        Vậy là các anh đã kết thúc tốt đẹp chặng đường hành trình 12 ngày đêm bằng tàu hỏa, xuyên ngược từ Hà Nội lên biên giớ phía bắc, qua Đồng Đăng, sang Bằng Tường, ngược lên Bắc Kinh, qua Mãn Châu Lý, xuyên qua miền Xi-bê-ri hùng vĩ, về Mátx-cơ-va, xuôi xuống vùng sông Đông... Chuyến đi vòng từ Á sang Âu - chuyến đi đầu tiên dài nhất trong đời anh. Sau này, có thể anh còn có nhiều chuyến đi dài hơn, nhưng để khắc sâu trong ký ức của anh thì không chuyến nào bằng chuyến đi này được.

        Mà rồi cũng thật lạ, số phận còn bắt anh phải lặp đi lặp lại tuyến đường này đến tận mấy lần liền. Trong vòng 4 năm học tập ở Trường Không quân Liên-xô, thì có đến 3 lần anh tiếp tục đi, về theo chính tuyến đường ấy.

        Còn lúc này đây, các anh tạm nghỉ ngơi cốt hồi lại sức sau chuyến đi dài ngày để rồi còn làm quen đần với nơi đất khách quê người, để rồi thực hiện ước mơ cháy bỏng trong đời, biến nó thành hiện thực: trở thành phi công chiến đấu!

        Những gì đang chờ đón các anh ồ phía trước đây... Những khó khăn gian khổ sẽ dồn đến như thế nào đây... và các anh sẽ phải khắc phục, sẽ phải vượt qua nó thế nào đây?...

        Trường Không quân Ba-tai-xcơ nằm ở khu vực đồng bằng phía Nam sông Đông. Thành phô Rô-stôp cách trường hơn 30 km, thị trấn Ba-tai-xcơ ở ngay cạnh trường, chỉ cách 5 km thôi.

        Trong vòng khoảng hơn nửa tháng trời (từ ngày 13 đến ngày 29 tháng 11) các anh học điều lệnh, đội ngũ. Cũng vào thời gian ây, nhà trường đo may, phát đồng phục kiểu Liên-xô cho các anh: như quần áo mùa Đông, ủng da, áo khoác ngoài may bằng nỉ gọi là áo si-nhen với những hàng cúc đồng bóng loáng. Đội ngũ tập quay trái, quay phải theo điêu lệnh của Liên-xô. Buổi tối, trước khi đi ngủ phải đi đều khoảng vài trăm mét, vừa đi vừa hát những bài hành khúc. Đến giờ nghe kèn báo ngủ là phải đi ngủ.

        Sáng dậy, sau khi vệ sinh cá nhân xong, phải chải đầu gọn gàng, cạo râu sạch sẽ, xức nước hoa (chủ yếu là loại nước thơm cô-lô-nhơ bôi vào chỗ cạo râu để chống viêm chân râu), rồi tập họp đội hình, đi ăn sáng. Chăn màn phải gấp gọn ghẽ, ngay ngắn... Có thực hiện kiểm tra, nhận xét, có khen, có phê bình...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2016, 08:49:04 am
        Ngày 30 tháng 11, các anh chính thức lên lớp, học tiếng Nga.

        Trung tá Xô-cla-côp là người cao to, từng tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, trên trán có một cái bướu, dẫn các anh vào lớp, sắp xếp ngồi theo thứ tự và chờ giáo viên dạy tiếng Nga đến. Sau này, để phân biệt ông với các ông Trung tá khác, các anh đã gọi ông là ông “Trung tá bướu”.

        Giáo viên dạy tiếng Nga là cô Nhi-lô-va. Cô còn trẻ, có gia đình và có một cậu con trai. Cô rất quý mến học viên Việt Nam, dạy bảo rất tận tình, hướng dẫn các anh từng li từng tí, không hề quản ngày nghỉ, chỉ mong muốn các anh nhanh chóng làm quen và sử dụng thành thạo ngoại ngữ mới - ngoại ngữ tiếng Nga. Tiếng Nga là thứ tiếng được ví là thứ tiếng kết hợp giữa tiếng I-ta-lia và tiếng Tây-ban-nha. Đấy là ngôn ngữ của tình yêu và ngôn ngữ dành cho sự hùng biện. Đấy cũng là ngôn ngữ mà ngữ pháp cùa nó phức tạp nhất trong các ngôn ngữ. Chẳng thế mà đã có câu: “Mưa sa bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Nga!”.

        Để nhanh chóng nắm vững và nói giỏi tiếng Nga, “Trung tá bướu” thường xuyên khuyến khích và bắt các anh đi đến Câu lạc bộ. Đi đến để học nhảy, để làm quen với người Nga, nhất là với các cô gái Nga để được nói chuyện, được giao tiếp nhiều hơn, thì nói mới nhanh hơn, chuẩn hơn...

        Anh nhớ lại:

        - Đầu tiên là phải học phát âm chữ “A”. cả lớp phải đánh vần chữ “A”. Tất cả các nước trên thế giới dùng chữ la-tinh, chữ cái đầu tiên đều là chữ “A”. Chữ cái của tiếng Nga, chữ cái của tiếng Việt cũng là chữ “A”. Con người ta khi sinh ra, lúc cất tiếng khóc chào đời, âm thanh đâu tiên cũng là “A, a”.„ rồi khi nằm trong lòng Mẹ, nghe Mẹ ru cũng mấp máy “A, a”. Mọi khó khăn rồi cũng vượt qua được mà thôi!...

        Tháng đầu tiên là tháng học cách đặt câu, nói những câu đơn giản. Bước sang tháng thứ hai thì học câu phức tạp hơn, cô giáo “căn vặn” nhiều hơn. Rồi tiếp đến là giai đoạn vừa học tiếng Nga vừa học Toán. Giáo viên dạy môn Toán là Thiếu tá Ê-sôp. Thiếu tá hói đầu nên các anh gọi là “Thiếu tá hói”. Thày giảng dạy cũng rất nhiệt tình, có hôm giảng bài quên cả giờ nghỉ giải lao.

        Các ngày lễ, Tết - người Nga nghỉ không nhiều như bên mình. Tết dương lịch chỉ nghỉ 1 ngày. Ngày Tết cổ truyền của mình thì không được nghỉ, vẫn đi học bình thường. Các anh cũng cặm cụi học cả đêm cốt nhanh chóng nắm bắt kiến thức, đặc biệt là tiếng Nga để sang năm - năm 1962 sẽ được cất cánh lên trời.

        Vào tháng 3 dương lịch, tuyết bắt đầu tan. Chính lúc giai đoạn chuyển mùa này là lúc dễ bị cảm cúm, hắt hơi sổ mũi nhất. Cả lớp hầu như ai cũng bị, cũng phải bôi dầu “cù-là” liên tục. Mà cứ mỗi lần hắt hơi, theo phong tục của Nga là những người xung quanh phải nói: “Bút-che-zờ-đa- rôp!” - tức là: “Chúc sức khỏe!”. Thế là khi trò hắt hơi, cô giáo hắt hơi... các anh liên tục đồng thanh hô: “Bút-che- zờ-đa-rôp!” làm cho cô giáo cứ cười ngả cười nghiêng.

        Ba tháng học tiếng Nga trôi qua lúc nào không ai hay. Các anh phải chia tay với cô giáo Nhi-lô-va và thày Ê-sôp để bước vào học môn Lí thuyết bay.

        Phút chia tay với thày cô thật là lưu luyến, bịn rịn. Các anh vẫn mong muốn thày cô dạy các anh thật nhiều hơn nữa để các anh có thể học hỏi được nhiều hơn nữa, nhưng còn rất nhiều môn học chờ đợi các anh ở phía trước nên đành phải chia tay với môn học của thày cô.

        Giáo viên dạy môn Lí thuyết bay là Trung tá có cặp mắt nhỏ xíu, đục ngầu, đeo cặp kính trắng, trông rất dữ tướng. Ai cũng sợ ông khi ông kiểm tra bài. ông không chỉ hỏi một vấn đề mà xoáy hỏi nhiều vấn đề có liên quan, xung quanh câu hỏi ấy. Đặc biệt, trò nào mà đã bị điểm kém từ lần kiểm tra đầu tiên thì coi chừng, sẽ bị kiểm tra liên tục cho mà xem...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2016, 06:39:16 pm
        Đến đây thì tôi lại nhớ đến hồi chúng tôi học ở trường Pri-môr-xcơ Akh-tar-xcơ, gọi vắn tắt là Akh-ta-ri, có thày dạy môn Động cơ máy bay tên là thày Ret-kin. Tôi đã bị thày “trù”, bị truy gọi liên tục. số là có một lần, sau khi gọi tôi lên bảng hỏi bài, tôi trả lời trôi chảy, được điểm giỏi đàng hoàng (thời đó bên Liên-xô, khi chúng tôi học, chỉ có thang điểm: giỏi, khá, trung bình - tương đương với thang điểm: 5,4,3. Khi nhận được điểm dưới trung bình là hỏng bét rồi!). Sau khi tôi trở về chỗ ngồi, tôi với anh Võ Xuân Quang có trêu chọc nhau tí tẹo, cúi mặt xuống để cười và chỉ về phía thày, ý nói là thày phát hiện ra chuyện trêu nhau thì thày sẽ kỉ luật Ai dè, chắc là thày cho rằng tôi xấc xược, hỗn láo nên ngay ngày hôm sau có môn của thày, thày bước vào lớp, giở sổ điểm ra, lấy đầu bút chì chậm rãi dò tên học trò. Cái động tác của thày càng chậm chạp, càng từ từ bao nhiêu thì các trò càng căng thẳng bấy nhiêu. Rồi thày đọc tên tôi và tuyên bố: “Mặc dù ngày hôm qua tôi đã kiểm tra anh, anh đã trả lời đạt điểm giỏi, nhưng không phải vì thế mà hôm nay tôi không kiểm tra anh nữa! Mời anh lên bảng!”. Tôi bước lên. Anh em ở dưới nghĩ rang phen này tôi chết là cái chắc vì vừa mới kiểm tra hôm qua rồi thì hôm nay chủ quan không học hoặc chỉ học qua loa mà thôi. Không ngờ lần này tôi trả lời lại được điểm giỏi. 3 ngày sau lại đến môn của thày. Mọi người trong lớp cứ đoán già đoán non xem hôm nay thày có gọi tôi nữa hay không. Thày lại giở sổ, lại dò tên học trò một cách chậm rãi như để tăng thêm uy lực của thày và sự sợ hãi của trò, rồi lại điềm nhiên gọi tên tôi. Tôi lại trả lời trôi chảy. Có lẽ cũng đã “quá tam ba bận”, quất tôi đủ ba roi rồi nên ĩân sau thày không gọi tôi nữa, nhưng thi thoảng trong khi giảng, mắt thày vẫn lừ lừ liếc về phía tôi xem thái độ tôi đã “biết sợ” hay chua, ngâm nói rằng: cứ liệu thần hồn!

        Về sau này, anh Hà Quang Hưng có viết bài “Thày Ret-kin trả đũa!” để nói về chuyện ấy. Thưa thày! Thày hãy bỏ qua cho các trò, hãy đại xá cho các trò giống như em hồi đó, chỉ tếu táo tí thôi chứ chúng em bao giờ cũng tôn trọng, quý mến thày vì không có thày dạy thì làm sao mà chúng em nên người được, nhất là lại ở trong nghề bay nữa, sơ xẩy một tí là tan xương nát thịt như chơi! “Không thày đố mày làm nên!”. Chúng em hiểu sâu sắc lắm, thày ạ!

        Với học viên bay, với nghề bay, rất nhiều môn quan trọng đòi hỏi phải nắm thật vững như các môn: Lí thuyết bay, Cấu tạo máy bay, cấu tạo động cơ, Dẫn đường, Trang thiết bị trên máy bay, Thông tin liên lạc, sử dụng vũ khí, Khí tượng..., nhiều lắm... nghĩa là không có môn nào được xem thường, kể cả môn thể dục thể thao - cái môn khi tổng kết thày không cho điểm mà chỉ ghi: aĐã kiểm tra!”.

        Nếu tính tổng hợp tất cả các câu hỏi của các môn phải thi thì có lẽ phải đến hàng trăm hàng ngàn câu. Học để trả lời bằng tiếng Việt đã khó, trả lời bằng tiếng Nga thì khó gấp bội phần. Các anh lao vào học thâu đêm suốt sáng. Ông “Trung tá bướu” rất lo lắng về việc các học viên Việt Nam thức khuya, lỡ ra bị ốm, không học được nữa thì gay go nên ông hay kiểm tra đột xuất lắm. Tuy nhiên, anh em cũng đã cắt cử người “gác” ông, thấy bóng dáng ông là báo động sớm nên ông không bắt được việc các anh vi phạm giờ ngủ lần nào.

        Kết quả, qua kiểm tra, thi cử các môn, tất cả các anh trong đoàn của anh Nhị không ai phải thi lại. Vậy là phần học lí thuyết đã xong!

        Với tất cả các đoàn học viên bay, nhất là với các đoàn học viên bay của Việt Nam, nhà trường thường tổ chức những buổi đi “dã ngoại” - tức là đi trẩy, hái hoa quả giúp các nông trường, như trẩy táo, lê, nho... rồi thu hoạch dưa hấu, dưa bồ, cà chua v. v... Những ngày ấy là những ngày rất vui vì được ra ngoài đồng, làm những công việc đồng áng, hít thở không khí trong lành, ăn thoải mái mọi loại hoa quả mà mình thích, thứ nào cũng tươi ngon và được mang về nhà bao nhiêu tùy thích. Các nông trường viên - các bà Mẹ Nga - những người đã từng tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ hai rất quý mến các học viên Việt Nam. Các Mẹ coi các học viên Việt Nam như các con của mình, nhất là khi biết được các học viên đó sẽ về nước tham gia chiến tranh thì các Mẹ càng yêu quý gấp bội phần.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2016, 06:40:39 pm
        Mùa hè đến cũng là mùa của những bài bay thực hành. Ở đất nước Liên-xô, tháng 3 tháng 4 dương lịch là tháng tuyết tan. Ngày mồng 1 tháng 5 là ngày Quốc tế lao động cũng là ngày mà các nhành cây bắt đầu đâm chồi nẩy lộc và chỉ qua ba bốn ngày thôi là cây cối đã xanh rờn lá, rồi các loại hoa đua nhau nò rực rỡ. Mùi thơm của hoa táo, hoa lê, hoa anh đào... cùng các loài hoa dại tạo nên cả một thế giới hương thơm ngất ngây làm cho con người ta như thăng hoa và tan biến trong cái đại dương ngát hương ấy. Sức sống của các loài cây thật kỳ lạ. Chúng ấp ủ, chất nén sức sống suốt cả mùa Đông băng giá để rồi đợi khi tuyết tan, khi những tia nắng ấm đầu tiên rọi xuống là chúng bật dậy mãnh liệt... cảnh sắc thay đổi từng ngày, thậm chí từng giờ... thay đổi đến không ngờ.

        Trước khi bước vào những khoa mục bay thực tế, tất cả các phi công đều phải sát hạch qua bộ môn nhảy dù. Sau những giờ học phương pháp tiếp đất (nhảy từ các bậc xuống đất từ bậc thấp rồi đến các bậc cao đần, cao dần... để làm quen) thì đến tiết mục tập lái dù, phóng ghế dù. Đâu đấy xong xuôi rồi thì đến lượt máy bay (thường là loại máy bay An-2) chở từng tốp 6 người hoặc 8 người một lên đến độ cao 600 m hoặc 800 m để thực hành nhảy dù. Dù chính được đeo ở lưng. Dù phụ thì ôm trước bụng. Dù chính có dây đấu nối, móc vào dây cáp trong máy bay đảm bảo cho dù sẽ mở sau khi học viên nhảy ra khỏi máy bay. Nếu vì một lí do bất khả kháng nào đó mà dù chính không mở được (thực ra thì chưa bao giờ xảy ra cả) thì phải giật dù phụ. Khi nhảy dù, hai tay phải ôm lấy dù phụ ở phía trước bụng, đồng thời nắm chặt vòng chốt giật dù. Khi cần giật dù phụ, chỉ cần giật vung hai tay ra ngang vai là dù phụ sẽ bung ra. Nhưng một khi dù chính đã mở rồi thì không được phép mở dù phụ nữa, vì nếu dù phụ cũng mở thì hai dù sẽ xoắn vào nhau, rất nguy hiểm, bấy giờ cần phải tỉnh táo, nhanh chóng lấy dao (loại dao đặc biệt) cắt đứt dù phụ đi. Giả dụ, hai dù không xoắn vào nhau thì với lực nâng của cả hai chiếc dù lớn như vậy, biết đến bao giờ mới xuống được đến mặt đất, nhất là khi lại có gió thổi nữa thì chẳng thể biết được những gì sẽ xảy ra. Vì vậy, tất cả mọi động tác nhất nhất phải thuần thục và phải làm theo trình tự đúng như những gì đã học dưới mặt đất, không được phép “sáng tạo theo kiểu ngẫu hứng”, dễ toi mạng lắm!

        Vào một buổi sáng tháng 5, đoàn bay của anh Nhị lần lượt được máy bay An-2 “cõng” lên trời để thực hành môn nhảy dù. Anh Nhị nhớ lại:

       - Chuyến thực hành nhảy dù của anh do một Thiếu tá - huấn luyện viên kỳ cựu, đã từng nhảy hàng ngàn lần kiểu nhảy thường và nhảy biểu diễn đều đảm bảo an toàn hướng dẫn trực tiếp.

        Máy bay lên đến độ cao 600 m, ông Thiếu tá hô: “Tất cả chuẩn bị! Lần lượt nhảy từng người một!”

        Quên cả động tác đã được tập hàng ngày (vì khi tập dưới mặt đất thì tâm trạng khác, nhưng khi lên trời, nhìn qua cửa sổ máy bay thấy cao vời vợi, nhìn xuống đất thì thấy sâu hun hút, gió lùa qua tai ù ù thì tâm trạng lại khác hoàn toàn, nhất lại là lần đầu tiên quăng người ra khoảng không nữa!). Lẽ ra phải bước lao ra ngang cửa máy bay thì anh lại ôm dù lao xuống phía dưới bụng máy bay. Rất may là anh được an toàn. Sau chừng 1 đến 2 giây gì đó, dù chính đã mở, anh thấy mình treo dưới tán dù, lơ lửng giữa trời xanh. Nhìn quanh, anh thấy dù của các anh khác cũng đã mở. Các tán dù trông chẳng khác gì những chiếc nấm trôi lung liêng giữa trời xanh. Anh ngó xuống dưới đất để tìm vị trí chữ T - đấy là vị trí quy định để tiếp đất, được căng bằng vải trắng hình chữ T. Phải cố gắng lái dù cho tiếp đất vào khu vực ấy. Dù rơi với tốc độ 4-5 m/s nên các động tác tiếp đất phải chuẩn bị cho thật chuẩn: hai chân phải để bằng nhau, đầu gối hơi chùng một chút để khi tiếp đất không bị bong gân chỗ mắt cá chân hoặc không bị gãy chân.

        Tất cả các học viên bay sau khi đã nhảy dù thực tế xong đều được tặng mỗi người một chiếc “huy hiệu dù”... Đấy là chiếc huy hiệu mô phỏng hình chiếc dù màu trắng, hình bán nguyệt với những múi dù căng gió trên nền trời xanh rất đẹp mắt. Đeo “huy hiệu dù” trước ngực, ai cũng thấy hãnh diện vì như thế là bước đầu đã được đặt chân vào đời bay rồi!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2016, 06:47:56 pm
        Trung tuần tháng 6 năm 1962, những chuyến bay thực sự đã được tiến hành. Tổ bay của anh gồm 4 người: Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Đăng Kính, Lê Đình cảnh và Trần Thiện Lương. Giáo viên bay của tổ anh là Thiếu tá phi công cấp 1 Rô-pa-ep. Thày Rô-pa-ep đã từng ở trong đội bay biểu diễn với những động tác nhào lộn cao cấp trên loại máy bay thể thao Iak-18. Kỹ thuật bay của thày thì không chê vào đâu được.

        Và chuyến bay đầu tiên của anh được thực hiện. Mới ngày nào cậu bé ở xứ dừa Bình Định còn giỏi dùng súng cao-su (ná cao-su) đi săn chim cút, giỏi đi hái chà-là, hái sim, bắt cá... dưới mặt đất, dưới hồ ao, giỏi cưỡi trâu thì nay đã cưỡi máy bay, cất cánh lên trời với độ cao gấp hàng ngàn hàng vạn lần độ cao của cây chà-là, cây dừa... Giờ đây anh đã như chim - bay lượn trên không. Cánh bay hiện tại còn non nớt, nhưng nay mai đây thôi sẽ như những cánh đại bàng sải rộng trong không gian, diệt hết lũ cú diều để bảo vệ, giữ yên bầu trời quê hương.

        Nhũng chuyến bay đầu tiên, chủ yếu là giáo viên làm. Dần dà, các chuyến bay sau thì học viên làm từ ít đến nhiều và rồi sẽ đến giai đoạn học viên làm hết từ đầu đến cuối, giáo viên chỉ ngồi để làm nhiệm vụ bảo hiểm và cuối cùng sẽ là những chuyến bay đơn - bay không có giáo viên, một mình một máy bay vẫy vùng trong không trung.

        Trong tổ bay của anh, anh Lương là người nhỏ con hơn cả nên thày bay thường gọi anh bằng cái tên trìu mến là “cậu nhỏ”.

        Mỗi một lần nạp dầu cho máy bay có thể đủ cho 4 chuyến bay của 4 học viên. Chuyến bay của học viên thứ nhất hạ cánh, học viên ra khỏi buồng lái, học viên thứ hai vào buồng lái, bay tiếp. Thày bay chỉ ra khỏi buồng lái nghỉ giải lao, giảng bình sau khi kết thúc chuyến bay thứ hai.

        Giảng bình xong lại tiếp tục bay liên tục 2 chuyến rồi mới xuống để giảng bình. Cường độ làm việc của các thày dạy bay rất cao, rất căng thẳng, nhất là với các khoa mục bay có các động tác nhào lộn phức tạp, luôn phải chịu đựng “quá tải” lớn. Nhân đây cũng xin được giải thích về cụm từ “quá tải” (hay “gia trọng”). Đấy là lực tác động lên phi công. Khi bay trên ừời, nếu máy bay đang ở trạng thái bay bằng thì phi công chịu một lực đè lên người mình bằng 1 (nghĩa là “quá tải” hoặc “gia trọng” bằng 1) - tức là bằng đúng trọng lượng của mình. Có nghĩa là nếu bạn nặng 60 kg thì bạn đang chịu một lực đè lên người bạn bằng 60 kg. Khi bay nhào lộn với các động tác phức tạp, “quá tải” tăng lên có thể bằng 4, 5, 6, 7, 8,...tức là lực đè sẽ bằng trị số quá tải nhân lên với trọng lượng cơ thể.

        Khi “quá tải” lớn (ví dụ như bằng 6, 7, 8,...hoặc lớn hơn), máu trên đầu sẽ dồn hết xuống dưới, chân tay bỗng thấy nặng trịch, rất khó nhấc, mắt bị tối sầm lại, có thể có trường hợp còn bị ngất trong giây lát vì không có máu lên não. Vì vậy, các phi công phải mặc bộ quần áo đặc biệt gọi là “quần áo kháng áp” - nó bó chặt lấy đùi, chân tay và cơ thể của phi công (tùy theo bài bay, khoa mục bay ở từng độ cao mà chỉ mặc “quần kháng áp” hay phải mặc cả “quần áo kháng áp”).

        Các phi công thường xuyên phải rèn luyện để có thể chịu đựng được những “quá tải” lớn, vì trong chiến đấu, có rất nhiều động tác cơ động liên quan đến việc phải sử dụng “quá tải” lớn. Thực tế trong chiến đấu đã có phi công sử dụng đến “quá tải” bằng 9,10,11 - nghĩa là các động tác cơ động rất kịch liệt, thậm chí rất đột ngột mà cánh phi công chiến đấu chúng tôi thường nói đùa là “kéo cong cả máy bay”. Mà có lẽ cũng đúng thế thật. Mỗi loại máy bay cấu tạo chỉ tương xứng với từng loại “quá tải” cực đại, có nghĩa là “quá tải giới hạn” - vượt quá cái “quá tải giới hạn” ấy là đến “quá tải phá hoại”. Khi đến “quá tải phá hoại”, máy bay có thể bị bẻ gãy cánh, các bộ phận của máy bay có thể bị long rời ra.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2016, 08:03:40 am
        Tất cả các động tác nhào lộn, các kỹ thuật nhào lộn phải tập cho thật thuần thục, thật thành thạo. Các phi công phải điều khiển máy bay sao cho máy bay phải nghe theo mình, hoàn toàn bị mình thuần phục. Khi ấy phi công và máy bay gắn liền với nhau thành một khối mật thiết. Lúc đó không phải là máy bay bay mà chính là phi công bay. Đôi cánh của máy bay chính là đôi cánh của phi công để xải lượn trong không trung theo đúng ý của mình. Động cơ của máy bay là trái tim của người phi công. Vòng quay của động cơ hòa nhịp cùng nhịp đập của trái tím. Phi công có thể tự “vẽ” trên bầu trời những nét vẽ mà mình muốn, mình sáng tạo, hệt như ngọn bút cọ của người họa sĩ múa trên khung vải. Đạt được đến hình độ ấy thì thực sự là phi công giỏi.

        Làm chủ được các động tác nhào lộn đã khó, làm chủ được động tác tiếp đất hạ cánh còn khó hơn nhiều. Tiếp đất hạ cánh chỉ diễn ra trong khoảnh khắc nhưng là khoảnh khắc chết người. Tôi cứ suy nghĩ mãi cái câu của ông cha ta thường nói là: “Gần đất xa trời!”. Câu nói ấy hay dành cho những người sắp ra đi, về với thế giới bên kia, nhưng với phi công thì nó rất đúng với từng chuyến bay một, kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

        Tôi có cái may mắn là trở thành giáo viên bay từ rất sớm nên tôi đúc kết ra rằng: có 100 phi công thì cũng có 100 kiểu hạ cánh khác nhau, 100 kiểu tiếp đất khác nhau, chẳng ai giống ai cả.

        Lí thuyết thì dạy rằng, tùy theo chủng loại máy bay, trên đường lao xuống để hạ cánh, đến độ cao 10 m là bắt đầu kéo bằng để kết thúc động tác kéo bằng ở độ cao 1 m, cho máy bay bay bằng rồi từ từ tạo góc tiếp đất cho máy bay bằng hai bánh chính..

        Khi ngồi trên máy bay với tốc độ lao xuống hạ cánh khác nhau, góc nhìn đất của các phi công khác nhau (dù chỉ là 1 độ gần hơn hoặc xa hơn thôi) là đường hạ cánh đã khác nhau xa rồi. Ngay cùng một phi công cũng không phải hạ cánh chuyến nào cũng giống chuyến nào. Chuyến trước thì tiếp đất nhẹ nhàng (mà chúng tôi thường nói là đè lên kiến, kiến cũng không chết) thì ngay chuyến sau hạ cánh lại làn cái “rầm”, như “trời giáng”. Thế đấy!

        Thoạt đầu, anh Nhị xác định độ cao 1 m - (độ cao cho máy bay bay bằng để tiếp đất) không tốt Thày Rô-pa-ep liền cho anh ngồi lên chiếc mô-tô ba, chạy vòng quanh đường băng để thày chỉ cho anh biết thế nào là độ cao 1 m. Chính nhờ tính kiên trì của cả thày và trò trong việc học như vậy mà anh đã xác định rất tốt độ cao kéo bằng, cái độ cao mà anh vẫn gọi là cái “khoảnh khắc cuối cùng” ấy. về sau này, tất cả các chuyến hạ cánh của anh đều được thày khen.

        Tháng 7 là một tháng nóng nực. Cái nóng tràn về sân bay từ phía Đông Nam thổi lên. Đêm lại ngắn hơn ngày. 8 giờ tối rồi mà ngoài trời còn sáng lắm. Đấy là ở vùng sông Đông chứ nếu như ở vùng Lê-nin-grat (nay là Xanh Pê- tec-bua) thì từ ngày 23 tháng 6 cho đến hết tháng 7, nhìn chung đêm ngày sáng như nhau. Đêm vẫn ngồi ngoài trời đọc báo bình thường. Cái từ “đêm trắng” chính là như vậy..

        Cần phải đi ngủ sớm để dậy sớm, bay sớm, tránh cái nắng nóng. Thế là tất cả ai cũng phải lấy những chiếc rèm màu sẫm hoặc màu đen để che lên cửa sổ thì mới ngủ được.

        Ngoài việc chỉ dẫn, giảng giải tận tình cho các anh việc xác định độ cao kéo bằng, tư thế tiếp đất, thày Rô-pa-ep còn chỉ bảo rất cặn kẽ việc hạ cánh sao cho đúng khu vực chữ T. - tức là bên trái khu vực tiếp đất của máy bay theo quy định, người ta căng vải trắng (hoặc rải vôi trắng) hình chữ T. Chữ T nằm cách giới hạn đường băng (đường cất hạ cánh khoảng 200 m). Máy bay hạ cánh ngang chữ T là đạt điểm giỏi, vượt quá hay chưa đến khu vực chữ T thì không được điểm giỏi.

        Thày chỉ bảo cho các anh từng li từng tí một. Phải làm sao để tiếp đất thật nhẹ nhàng đúng khu vực ngang chữ T, không được “nhảy cóc”, rồi kỹ thuật xử lí khi bị “nhảy cóc” ra làm sao. Chính vì được hướng dẫn tỉ mỉ, chuẩn xác từng li một mà anh đã nắm vững được kỹ thuật bay, kỹ thuật hạ cánh và sau này dù bay trên các loại MiG- 17 hay MiG-21 anh cũng không bao giờ để xảy ra sai sót khi hạ cánh.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2016, 08:06:02 am
        Vào trung tuần tháng 7, đã có một số học viên được thả bay đơn (bay một mình, không có thày giáo ngồi ở buồng lái sau).

        Anh Nguyễn Bình là người được thả bay đơn đầu tiên của đoàn. Thời gian này, anh là Trưởng đoàn bay - thay cho anh Mai Bá Quát vì không đủ sức khỏe đối với công tác trên không, đã chuyển sang đoàn học thợ máy. Chuyến bay đơn đầu tiên của anh Nguyễn Bình là chuyến bay đơn đầu tiên của đoàn học viên Việt Nam nên bếp bay đã làm một chiếc bánh ga-tô để chúc mừng anh, cũng là để chúc mừng đoàn học viên Việt Nam nay mai đây sẽ có nhiêu người bay đơn như anh Bình.

        Hiệu trưởng Trường bay (tựa như Trung đoàn trưởng, và ồ đây cũng vẫn gọi ông là Trung đoàn trưởng) - Đại tá Vôn-côp - Anh hùng Liên-xô, từng tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, cựu phi công chiến đấu, có nhiêu cuộc không chiến với lực lượng Không quân Đức, đích thân đến bay kiểm tra anh Nguyễn Hồng Nhị để xem có thả anh bay đơn được hay không. Thày Rô-pa-ep lo lắng lắm, sợ rằng anh sẽ không giữ được bình tĩnh khi bay với người có chức vụ, cấp bậc cao như vậy, vì trông ông rất oai vệ, dữ tướng. Thực ra, khi ngồi vào buồng lái thì ông lại rất hiền.

        Sau khi mang dù, khoác dù vào người xong, kiểm tra khóa dù cẩn thận rồi, anh đứng nghiêm, báo cáo:

        - Báo cáo đồng chí Đại tá! Tôi, học viên Hồng Nhị đã sẵn sàng!

        Ông gật đầu nhận lời báo cáo của anh và ra hiệu cho anh lên buồng lái. Vào trong buồng lái, anh làm theo đúng tất cả mọi thứ tự đã được học, đâu vào đấy: từ việc móc khóa dây dù vào ghế ngồi đến việc bật các công-tắc chuẩn bị cho việc mở máy. Sau khi quan sát thấy mọi việc diễn ra bình thường, anh hô cho các đồng chí thợ máy biết:

        - Rời khỏi cánh quạt!

        Sau khi mở máy, kiểm tra tất cả các chỉ số báo hiệu qua các đồng hồ trong buồng lái xong, anh bấm nút đối không, liên lạc với đài chỉ huy:

-           20 xin cất cánh! (20 là số gọi của anh. Các phi công khi bay không gọi tên, mà mỗi người có một số gọi khác nhau, khi liên lạc phải gọi theo số gọi quy định ấy. Sau này, khi về Trung đoàn chiến đấu thì số gọi ấy còn thay đổi liên tục theo thời gian để đảm bảo bí mật.)

        Được phép cất cánh. Anh tăng cửa dầu, kiểm tra vòng quay động cơ, thả phanh cho máy bay chạy lấy đà, cất cánh. Máy bay nhẹ nhàng tách đất. Sau khi bay theo hàng tuyến đã định, anh thả càng, báo cáo xin về hạ cánh và giảm tốc độ để lao xuống hạ cánh. Máy bay tiếp đất êm ái, sau đó anh lăn về vị trí đỗ, dừng lại.

        Toàn bộ thời gian bay theo hàng tuyến bay chưa đầy 10 phút, nhưng thực sự là 10 phút vàng ngọc, 10 phút cho một quyết định quan trọng: có thể trở thành được phi công hay không, có thể trở thành được người lính canh trời hay không.

        Rồi tiếp tục, anh cho máy bay lăn tiếp vào vị trí cất cánh, xin phép cất cánh lần hai, rồi tiếp tục đến lần ba..., lần nào thứ tự động tác cũng y như chuyến bay đầu. Trong chuyến bay kiểm tra để thả đơn, có một chi tiết là thày kiểm tra sẽ tạo ra những sai lầm trong quá trình bay để xem học viên khắc phục những sai lầm ấy có được hay không, nhưng trong các chuyến bay của anh không thấy thày Hiệu trưởng tạo ra những sai sót mà thày chỉ ngồi im từ đàu đến cuối, chằng nói chẳng rằng. Anh rất lo, không hiểu ra làm sao cả. Không hiểu rồi mình có được thả bay đơn hay không, không hiểu rồi mình có trở thành phi công hay không? Anh lăn về vị trí ừên bãi đỗ, rồi tắt máy.

        Thày Hiệu trưởng xuống máy bay trước. Đợi khi cánh quạt dừng hẳn, anh mới trèo ra khỏi buồng lái và ký vào sổ bay do đồng chí thợ máy đem đến.

        Thày Hiệu trưởng Vôn-côp đứng nói chuyện với thày Rô-pa-ep của anh không biết những gì, anh không thể biết được, nhưng khi nói chuyện xong, thày Hiệu trưởng vẫy tay gọi anh Hồng Nhị. Anh chạy đến, đứng nghiêm, giơ tay chào:

-           Xin phép được nghe nhận xét về chuyến bay!

        Giây phút này là giây phút hồi hộp nhất của đời phi công. Bất kể với ai từng là học viên bay đều phải trải qua cái giây phút này - giây phút căng thẳng vô cùng. Tất cả mọi dây thần kinh đều căng tưởng chừng như đớt đến nơi. Một giây thôi nhưng có cảm giác như nó dài bằng cả thế kỷ. Một câu nói của thày kiểm tra lúc này có thể chắp cánh cho người học viên bay vút lên tận giải Ngân Hà mà cũng một câu nói của thày kiểm tra lúc ấy có thể chôn vùi học viên xuống tận chín tầng địa ngục. Đấy là: cho phép bay đơn hay là không được phép bay đơn!

        Ôi, bay đơn! Hai từ ấy thôi mà làm cho học viên bay khao khát đến nhường nào, mơ ước đến nhường nào, sung sướng, hạnh phúc đến nhường nào khi nhận được hai từ ấy.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2016, 08:08:05 am
        Thày Hiệu trưởng - Đại tá Vôn-côp ngắm nhìn anh và nói rất ngấn gọn. Giọng của ông như vẫn còn vang vọng đến tận bây giờ:

        - Chuyến bay không hề tồi! Tôi đồng ý thả cho cậu bay đơn!

        Nghe được những lời nhận xét ngắn ngủi ấy, anh muốn nhảy cẫng lên. Anh thấy người mình bỗng nhẹ bẫng, trôi bồng bênh trong niêm vui khôn tả. Vậy là ước mơ của anh đã trở thành hiện thực. Anh đã “vượt vũ môn”!Anh sẽ được một mình một máy bay cất cánh lên trời, chao liệng giữa không trung. Anh sẽ là người lính canh trời, là cánh chim đại bàng xải rộng đôi cánh bay của mình để bảo vệ Tổ quốc...

        Cho mãi tới lúc này anh mới cảm nhận thấy những giọt mồ hôi đang lăn thành dòng trên mặt mình. Rút khăn lau mồ hôi, anh bâng khuâng ngắm cảnh mặt trời đang khuất dần sau những rặng bạch dương, cảnh tượng trong chiều hoàng hôn sao mà đẹp lạ: từng đàn chim thanh thả nhịp cánh bay vượt qua ráng chiều vàng óng hướng về phía những làng quê bên bờ sông Đông thanh bình...

        Sau khi thuần thục những động tác bay đơn giản, các anh được các thày bay dạy các động tác bay phức tạp. Thày Rô-pa-ep thường nói:

        - Các động tác nhào lộn phức tạp - đấy là miếng võ của người phi công tiêm kích! Phải nắm thật vững, thật giỏi!

        Các bài bay với các động tác bay kỹ thuật phức tạp ở mặt phẳng ngang, mặt phẳng đứng, mặt phẳng nghiêng gồm có: lượn vòng 360 độ (vòng thúng), thắt vòng đứng (một thời gian dài động tác này còn có tên gọi là “vòng tử thần” hay “vòng chết”). Đấy là động tác kỹ thuật lượn vòng 360 độ nhưng không phải ở mặt phẳng ngang, mà là ở mặt phẳng đứng. Nếu như ở động lác lượn vòng 360 độ (vòng thúng) theo mặt phẳng ngang thì tốc độ vòng, độ cao và “quá tải” khi lượn vòng phải luôn giữ ổn định, thì các tham số ấy ở động tác “thắt vòng đứng” thay đổi liên tục. Đặc biệt, khi ở đỉnh ừên cùng của “thắt vòng đứng”, máy bay ở tư thế nằm ngữa, đầu phi công chúc xuống đất. ở tư thế này, phải các định thật chuẩn “đường chân trời” để giữ cho máy bay không bị nghiêng lệch (mà “đường chân trời” thì khi bay ở một vài chuyến đầu tiên trong đời bay, hầu như chưa có ai xác định được ngay), rồi phải kéo máy bay sao cho có “quá tải” vừa đủ, tốc độ đúng quy định, độ cao đúng quy định. Gọi là “vòng tử thần” hay “vòng chết” vì khi máy bay ở vào đỉnh điểm này, không cẩn thận thì máy bay rất dễ rơi vào trạng thái “thất tốc”, “xoáy ốc” và phi công đều hi sinh vì không nhảy dù ra được. Đến khi phi công Nhex-che-rôp là người thực hiện động tác này thành công vì đã tạo được tốc độ, độ cao, “quá tải” cần thiết, giữ được máy bay vượt qua đỉnh điểm - qua cái “điểm chết” ấy, thì động tác “thắt vòng đứng” được gọi là “Vòng thắt của Nhex-che-rôp”. Ngoài động tác “thắt vòng đứng”, còn có các động tác “thắt vòng nghiêng”, “vòng chiến đấu”, “lộn lên”, “lộn xuống”, “khoan ngang”, “khoan lên”, “khoan xuống”, “xoắn lên”, “xoắn xuống” V. V.

        Tất cả những động tác ấy, các phi công phải nắm vững và thực hành một cách thành thạo, thuần thục, khi thực hiện, phải “vẽ” được trong không trung những đường bay hoàn chỉnh. Tôi nói vậy bởi phi công phải cảm nhận được đường bay của mình, “nét vẽ” của mình, phải biết được các động tác thắt vòng của mình có tròn không, có lệch lạc, méo mó hay không thì mới là người nắm chắc kỹ thuật bay. Khi bay biểu diễn, các máy bay biểu diễn đeo những bình khói với những sắc màu khác nhau. Khi làm các động tác nhào lộn phức tạp, phi công biểu diễn ấn nút cho các bình khói làm việc và bấy giờ ta mới thấy rõ các hình thù mà các phi công “vẽ” ở trên trời nhờ các giải khói để lại. Đúng là như những giải lụa uốn mềm mại, uyển chuyển, nhiều hình dạng hệt như bài thể dục tự do được biểu diễn với que lụa vậy.

        Đấy đúng là “miếng võ của người phi công tiêm kích”. Sau này, khi không chiến với máy bay địch, những lúc khó khăn, anh lại nhớ đến lời thày Rô-pa-ep để thực hiện theo và giành chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2016, 07:37:13 pm
        Một động tác nữa mà tất cả các phi công đều phải biết và phải xử lí thật chuẩn xác nếu bị rơi vào trạng thái đó. Đấy là khi máy bay rơi vào trạng thái “xoắn ốc” (stô-por). Khi máy bay bị rơi vào trạng thái “xoắn ốc” (stô-por) là lúc đó máy bay không đủ tốc độ bay (tốc độ dưới mức cho phép), góc tấn của máy bay lại ồ quá mức tới hạn, cần lái lại không ở vào vị trí “trung lập”. Máy bay rơi vào trạng thái quay đảo (có thể sấp, có thể ngửa) như chiếc lá rơi với độ cao lên xuống thất thường, góc quay thất thường, tốc độ không ổn định... Độ cao mất rất nhanh... nhiều khi phi công không kịp nhảy dù, hy sinh cùng máy bay đâm xuống đất.

        Để cải ra khỏi “xoắn ốc” (stô-por) đòi hỏi phi công phải rất tính táo, các động tác xử lí phải thật chuẩn. Tùy theo từng loại máy bay mà với động tác này có thể được luyện tập mà cũng có thể không. Loại máy bay anh bay huấn luyện năm đầu tiên cho phép tập luyện với động tác “xoắn ốc” (stô-por) ấy. Đấy cũng là những động tác anh nhớ đời!

        Chính nhờ nắm vững kỹ thuật bay mà sau này trong những trận không chiến với lực lượng không quân Mỹ, anh đã giành được thắng lợi.

        Bước sang tháng 10 là tháng ở Ba-tai-xk bắt đầu có mưa. Những giọt mưa to, tròn, nặng... giáng xuống mặt đất gây lầy lội. Không thể cất hạ cánh ừong trạng thái bùn lầy được. Lại phải chờ đợi cho đến khi nào đường băng khô ráo mới tiếp tục huấn luyện. Cũng vào thời gian này là thời gian phải ôn tập lại lý thuyết để thì lấy bằng tốt nghiệp.

        Chuyến bay tốt nghiệp của anh nghe chừng thời tiết không ủng hộ anh thì phải. Khi anh cất cánh, là lúc “trời quang mây tạnh”, nhưng đến khi anh kết thúc các động tác bay từ không vực về thì trời đầy mây và gió mạnh nổi lên. Theo chỉ dẫn của Đài chỉ huy, anh đã đưa máy bay về hạ cánh an toàn. Kết quả của các môn thi tốt nghiệp: Thực hành bay: điểm 5, Lý thuyết bay: điểm 4. Tổng điểm thi quốc gia: bằng “xanh”! (Thời đó có “bằng đỏ” và “bằng xanh” - tức là đạt điểm “giỏi” và “khá” - tương ứng với bìa của bằng tốt nghiệp mang màu “đỏ” hoặc màu “xanh”).

        Mừng vui vì cá nhân mình đã tốt nghiệp trên loại máy bay đầu tiên, nhưng với cả đoàn bay thì niềm vui không được trọn vẹn vì có một số anh bị cắt bay do không nắm được kỹ thuật bay (nghĩa là kỹ thuật bay yếu), phải xuống học lớp thợ máy như: anh Bối, anh An, anh Tôn, anh Vì... Tất cả mấy anh em đó đều quý mến nhau, bây giờ lại phải chia tay nhau thì ai chẳng ngậm ngùi.

        Anh Mai Bá Quát vì lí do sức khỏe yếu, không bay được, anh Nguyễn Bình thay anh Mai Bá Quát làm đoàn trưởng đoàn bay, rồi đến cuối khóa học, anh Nguyễn Bình cũng thôi bay vì anh có một khối u ở trong đầu, nếu tiếp tục bay thì rất nguy hiểm nên anh đã được đưa về nước để điều trị. Đại sứ quán Vỉệt Nam tại Liên-xô đã cử anh Nguyễn Hồng Nhị thay anh Nguyễn Bình làm Trưởng đoàn bay MiG - đoàn bay MiG đầu tiên của các phi công Việt Nam ở Liên-xô tính từ thời đó.

        Sau khi nhận bằng tốt nghiệp khóa bay trên loại máy bay Iak-18, các anh được nghỉ mấy ngày để đi tham quan, thăm thành phố Rôx-tôp trên sông Đông, thăm các nông trường... Thời gian ở Ba-tai-xk là thời gian các anh được chứng kiến thế nào là tình hữu nghị Việt Nam -   Liên-xô và tận mắt thấy được cách đón tiếp nồng hậu của người Nga, cách sống chân tình, niềm nở, thân thiết của người Nga đối với những học viên Việt Nam như thế nào. Những cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh”, “Việt Nam - Điện Biên Phủ” thường xuyên được mọi người dân Nga hô vang với cả tấm lòng đầy nhiệt huyết. Hai dân tộc Nga - Việt tuy cách xa nhau về địa lí, nhưng những nét văn hóa tương đồng của hai dân tộc đã kéo xích hai dân tộc gần lại nhau. Người Nga thật hiền từ, nhân hậu, độ lượng... Tính cách Nga đã để lại nhiều dấu ấn không phai mờ không chỉ đối với đoàn bay của các anh mà còn đối với nhiều thế hệ học viên bay của Việt nam sau này. Các bà mẹ Nga, những người chị, người em của đất Nga đã chăm sóc, nuôi nấng các anh hàng ngày, các thày dạy bay đã truyền đạt mọi kinh nghiệm bay, mọi thuật bay để các học viên bay Việt Nam nắm cho vững, cho thuần thục, để một mai đây sẽ trải nghiệm, sẽ đứng vững và sẽ là người chiến thắng trong các trận không chiến khốc liệt...

        Những công ơn ấy không biết nói đến bao giờ cho đủ, và chẳng bao giờ quên! Không bao giờ được quên!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2016, 07:38:29 pm
        Tôi vẫn còn nhớ được câu nói từ thời đó: “Mỗi người Việt Nam có hai Tổ quốc: một là Tổ quốc Việt Nam, hai là Tổ quốc của Lê-nin vĩ đại!”. Cũng là để hiểu về sự bộc lộ tình cảm qua sự hình tượng hóa!

        Vào ngày 12 tháng 11 năm 1962, đoàn của các anh tạm biệt thành phố Ba-tai-xkvề nơi ở mới!

        Nghề bay cũng giống như những cánh chim trời, không dừng lâu ở một căn cứ nào mãi bao giờ, cứ đi hoài, đi miết. Có thể vẫn còn có cơ hội trở lại căn cứ cũ, nhưng cũng có thể không bao giờ còn có cơ hội trở lại nữa, mặc dù trong thâm tâm vẫn luôn mong ước có lấy dù chỉ một lần quay về nơi ỏ cũ.

        Tạm biệt Ba-tai-xk - mảnh đất gắn bó thời gian không dài nhưng lại để lại trong ký ức của những người lính bay những kỷ niệm sâu đậm nhất. Nơi ấy là nơi các anh đã vượt từ mặt đất vút lên trên bầu trời tựa như trong huyền thoại “cá chép vượt vũ môn để hóa rồng”. Những chuyến bay đầu tiên được cất cánh lên từ mảnh đất đó..., những chuyến bay đơn đầu tiên để khẳng định được rằng mình đã là phi công cũng xuất phát từ đó... Cuộc sống của người lính bay - người lính canh trời cũng khởi đầu từ đó. Vậy mà bây giờ phải chia tay! Tạm biệt! Tạm biệt! Hẹn sẽ có ngày trở lại! Cuộc chia tay sao mà bịn rịn, sao mà lưu luyến!...

        Cũng tại đây, các đoàn bay cũng chia tay nhau để đi về các ngả, các sân bay khác nhau. Đoàn do anh Cao Bá Giảng làm trưởng đoàn gồm 50 học viên thì về sân bay Zer-nô-grat để học bay trên loại máy bay trực thăng Mi-4. Đoàn của anh Võ Văn Xơng - trưởng đoàn cùng 20 người về sân bay Cras-nô-đar học bay trên loại máy bay ném bom Il-28. Đoàn do anh Nguyễn Hồng Nhị làm trưởng đoàn là đoàn đầu tiên và với số lượng đông nhất về sân bay Cu-sôp-xca-ia là nơi đào tạo phi công lái máy bay MiG-17, trực thuộc Trường Không quân Cras-nô-đar. Sân bay Cu-sôp-xca-ia là sân bay nằm trên vùng đồng bằng rộng mênh mông và trù phú. Các nông trường ở đây trồng chuyên canh lúa mì, ngô, hướng dương, các loại dưa: dưa hấu, dưa bở, dưa chuột..., nho và các vườn cây ăn quả như đào, lê mận... Các cánh đồng, các vườn cây đều rộng bát ngát. Khi thu hoạch lúa mì, ngô... đều phải dùng máy. Chỉ các loại quả như: đào, lê, nho, mận... thì mới thu hoạch bằng tay thôi.

        Ở sân bay Cu-sôp-xca-ia, những ngày nghỉ nếu muốn đi chơi - ra thị trấn và chợ Cu-sôp-xca-ia thì phải đi bộ cả chục cây số. Ngày nắng ráo thì bụi bốc mù mịt, còn những ngày mưa thì “đất rất mến người”, nó bám chặt vào giày, vào ủng... không thể đi được.

        Các anh nhanh chóng làm thủ tục nhập học. Thiếu tá Xap-lư-khin là người phụ trách khối học viên bay của Việt Nam, Cu-ba và Hung-ga-ri. Một Chuẩn úy chuyên nghiệp chuyên lo công tác hậu cần (lo về ăn, ở, trang phục, đi lại...). Chuẩn úy là người rất vui tính, nhân hậu. ông từng là chiến sĩ Hồng quân, tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.

        Loại MiG-17 của Liên-xô thời đó còn nằm trong danh sách MẬT, không được phổ biến rộng rãi nên các tài liệu, bài vở học tập đều phải quản lí theo nguyên tắc quản lí tài liệu mật, không được đem về nhà. Học xong ở lớp là phải cho vào trong chiếc hòm, khóa lại, đóng dấu xi, giao con dấu cho Tiểu đội trưởng giữ và hòm tài liệu thì gửi vào kho bảo mật của trường. Nếu muốn học thêm thì phải lên trường, mượn tài liệu để học tại trường. Đấy là vấn đề khó khăn khá lớn đối với đoàn của các anh trong chuyện học hành.

        Trong thời gian này, đoàn đã phải gánh chịu một tổn thất thật bất ngờ, thật không may, anh Trần Xuân Quê - một học sinh miền Nam tập kết, là học viên của đoàn được cử ra Ba-tai-xk vào lúc sáng sớm để giúp cho đoàn của anh Nguyễn Bá Địch mới sang. Anh Tràn Xuân Quế đã bị tai nạn giao thông, bị xe lửa cán và anh đã hi sinh.

        Đại sứ quán của ta đã cử người về trường làm lễ truy điệu cho anh Trần Xuân Quế và mai táng anh tại Cu-sôp-xca-ia. Anh em trong đoàn, các bà mẹ Nga và những người khác ở đây đi dự tang lễ rất đông. Không ai cầm được nước mắt! Anh Quế còn trẻ quá! Tuổi thanh xuân đang hừng hực sức sống như vậy mà đã phải nằm xuống vì một tai nạn không đâu, không đáng có. Thật tiếc thương! Nhà trường đã cho một chiếc máy bay MiG-17 cất cánh, lượn mấy vòng quanh nghĩa trang để tiễn biệt anh!

        Thôi, vĩnh biệt anh Trần Xuân Quế! Anh đã vĩnh viễn nằm lại nơi đất khách quê người! Anh hãy phù hộ cho tất cả các học viên Việt Nam bay thật giỏi, nhanh chóng tốt nghiệp để trở về quê nhà tham chiến, nhanh chóng giải phóng miền Nam quê hương anh! Mọi người vẫn luôn như thấy anh có mặt trong đội hình bay, trong đội hình chiến đấu! Hình bóng của anh - người con của quê hương miền Nam thành đồng luôn trong trái tim của mọi người!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2016, 07:40:32 pm
        Mùa Đông đã ập đến! Tuyết rơi ngập đồng ngập phố. Gió rét buốt hú suốt đêm ngày. Trên các mái nhà, băng đóng thành những vệt dài như các thạch nhũ rủ xuống trong các hang động. Ngồi ở trong lớp học, tuy đã mặc hết các loại quần áo ấm rồi mà khi viết, tay cầm bút vẫn cứ thấy run bần bật vì lạnh.

        Rồi giai đoạn học lí thuyết cũng kết thúc. Ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Không học xong lí thuyết, không nắm vững lí thuyết thì không thể nào bay được. Đấy là nguyên tắc cơ bản, bất di bất dịch.

        Các anh bắt đầu được ra sân bay tập buồng lái. Thật vui mừng, sung sướng và háo hức. Anh kể:

        - Tuổi 17 là tuổi đẹp nhất với thân hình đẹp nhất đối với mọi con người. Tuổi “bẻ gãy sừng trâu” cơ mà! Có lẽ chính vì vậy mà Tổng công trình sư Mi-côi-ăng đã thiết kế, chế tạo chiếc tiêm kích mang tên MiG-17 này. Có lẽ, đây là loại máy bay có hình dáng đẹp nhất thế giới. Dòng họ nhà MiG thì có nhiều: từ MiG-3... đến MiG-15,17,19, 21, 23, 25..., nhưng nhìn ngắm chiếc MiG-17 thì thấy nó không chê vào đâu được. Này nhé, dáng đứng của nó khi ồ dưới đất hệt như cô gái tuổi 17 đang đứng e ấp mà lại hãnh diện trước các chàng trai với thân hình mơn mởn, tròn căng sức sống ở tuổi dậy thì của mình. Khi lên trời thì dáng dấp e lệ đó biến mất hẳn, thay vào đó là tính cơ động uyển chuyển, nhanh nhẹn như một cánh én chao liệng trong thinh không khi mùa Xuân về... Đẹp lắm!

        Sau gần 1 tháng tập buồng lái, các anh đã nắm vững, đã thuần thục các động tác, đã thành thạo cách sử dụng các trang thiết bị rồi thì bắt đầu bước sang giai đoạn “chuẩn bị mặt đất”, kiểm tra, sát hạch một cách chặt chẽ sau đó mới chuyển sang giai đoạn thực hành bay.

        Cuối tháng 3, khi tuyết tan, các anh chuẩn bị cho cuộc nhảy dù. Đây là lần nhảy dù thứ hai của anh. Đã có kinh nghiệm của lần nhảy dù trước rồi, lần này anh và tất cả các anh hoàn hành chuyến nhảy rất tốt.

        Tất cả mọi việc chuẩn bị cho các cuộc bay sắp tới đều diễn ra hoàn hảo!

        Ngày mồng 10 tháng 4 năm 1963 là ngày bay huấn luyện đầu tiên được tổ chức và anh Nguyễn Hồng Nhị - như anh nói là người “khai bay” - cầm càn lái MiG-17 cất cánh lên bầu trời Liên bang Xô-viết bao la, hùng vĩ.

        Thày dạy bay MiG-17 là thày Đại úy A-mô-xôp, thày là người hiền từ, giản dị, khiêm nhường, thương yêu học viên hết mực. Thày không bao giờ nói to (trái hẳn với tính cách người Nga là hay nói to), không bao giờ quát mắng học viên dù rằng có lúc thày bị cấp trên phê bình vì chính học viên trong tổ thày phụ trách.

        Tổ bay của anh có 3 người: anh Nguyễn Hồng Nhị, anh Lê Đình cảnh - người con của đất Thanh Hóa, nhanh nhẹn, thông minh, học giỏi, nói tiếng Nga rất lưa loát, giúp đỡ anh em rất nhiệt tình. Anh Lê Đình cảnh là người đôn hậu. Thày giáo rất quý mến anh cảnh và anh em trong đoàn cũng vậy, rất quý mến anh.


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/01_zpstvqwt5ph.jpg)
Thày Amôxôp cùng các học viên bay của mình
(Nguyễn Đăng Kính, Lê Đình Cảnh, Thày Amôxôp, Nguyễn Hồng Nhị)

        Sau này, khi tốt nghiệp về nước, anh bị bệnh, phải thôi bay, không còn ở trong đội ngũ phi công chiến đấu nữa, anh trở thành sĩ quan tác chiến, gắn bó với các sân bay dã chiến trong khu Bốn - khu “túi bom” với cái chết luôn cận kề để giúp cho các cấp chỉ huy các trận không chiến. Sau khi rời khỏi quân ngũ, trong đội ngũ những người bay thì anh là người có đầu óc nhanh nhạy nhất khi tiếp xúc với cơ chế thị trường. Anh cũng là một trong những người có nhiều tâm huyết, đóng góp nhiều công sức, công lao trong việc đi tìm đồng đội, quy tập đồng đội -   các liệt sĩ về các nghĩa trang. Chuyện về anh thì nhiều, xin được có dịp nào đó thuận tiện, tác giả sẽ kể tiếp.

        Người thứ ba trong tổ bay của anh là anh Nguyễn Đăng Kính - người con của quê hương Nam Định, mang đậm bản chất của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, rất hiền lành, chân chất Thày A-mô-xôp rất quý anh.

        Trong quá bình bay, anh Nguyễn Đăng Kính bị ốm, phải đi viện mất một thời gian. Anh đã bị tụt lại so với kế hoạch đào tạo. Nếu không có sự nhiệt tình giúp đỡ của thày A-mô-xôp và sự cố gắng của bản thân anh, chắc anh đã không “đuổi kịp” chương trình bay và không tốt nghiệp được. Tất cả mọi người trong đoàn bay đã bay hết chương trình rồi, anh Kính vẫn còn “nợ” nhiều bài bay lắm. Thày A-mô-xôp phải đứng ra bảo lãnh với nhà trường, và thày trò đã cặm cụi bay hết chương trình để anh Kính được tốt nghiệp.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2016, 09:14:02 am
        Sau khi anh Nguyễn Đăng Kính tốt nghiệp trên loại máy bay MiG-17, anh cũng được chọn lựa để bay trên loại máy bay MiG-21 đợt đầu tiên cùng với anh Nguyễn Hồng Nhị. Sau 2 năm, các anh đã tốt nghiệp, trở về nước. Anh Kính cũng có những thời gian dài bay số 2 cho anh Nhị.

        - Tuy anh Kính có tác phong chậm, nhưng làm số 2 để bảo vệ đuôi cho số 1 thì chắc như đinh đóng cột, giúp cho số 1 hoàn toàn yên tâm, tín tưởng để tập trung vào việc tấn công địch. - anh Nhị nhận xét

        Anh Nguyễn Đăng Kính đã bắn rơi 6 máy bay của lực lượng Không quân Mỹ, được nhà nước trao tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”. Vậy là trong tổ bay của anh Nguyễn Hồng Nhị, thày A-mô-xôp có 3 học viên bay thì có 2 học viên được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” là anh Nguyễn Hồng Nhị và anh Nguyễn Đăng Kính.

        Vì lí do sức khỏe, anh Lê Đình cảnh sớm rời bỏ đội ngũ phi công chiến đấu, chứ nếu như anh vẫn ở trong đội ngũ chiến đấu thì với nghị lực, với trí thông minh, sáng tạo và lòng quả cảm của anh, tôi chắc anh cũng sẽ bắn rơi được nhiều máy bay địch và cũng sẽ được đứng trong đội ngũ những người Anh hùng. Nếu được như vậy thì tổ bay của anh sẽ “nhất quả đất” - nói như ngôn từ lớp trẻ hiện nay nói. Và thày A-mô-xôp sẽ vô cùng tự hào về các anh. Thày cũng sẽ rất vinh dự, hãnh diện. Ngay hiện tại, niềm vinh dự và có thể nói là vinh quang đến với thày cũng hoàn toàn xứng đáng - thày đã bỏ ra bao công sức để huấn luyện, đào tạo các anh, truyền đạt, sẻ chia cho các anh những kinh nghiệm bay, các kỹ thuật bay - các “miếng võ của phi công tiêm kích” để giúp các anh chiến thắng trong các trận không chiến. Còn niềm vui nào hơn, niềm vinh hạnh nào hơn, phần thưởng nào cao quý hơn đối với thày A-mô- xôp khi tổ bay do mình phụ trách có 3 học viên thì 2 học viên đã trở thành Anh hùng, trỏ thành những vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Và đương nhiên, các anh - những người học viên - những trò cũ của thày cũng luôn luôn nhớ đến công ơn của thày. “Không thày đố mày làm nên!” - người xưa từng nói vậy. Câu nói ấy càng đúng, đúng một cách tuyệt đối với trường hợp của các học viên bay! Các anh trong tổ bay của thày A-mô-xôp không bao giờ quên công ơn của thày, và mỗi chiếc máy bay do các anh bắn hạ, mỗi thành tích của các anh lập được, các anh đều thấy có công của thày ở trong đó!

        Trở lại ngày bay đầu tiên trên loại máy bay tiêm kích MiG.. Máy bay MiG-17 là loại máy bay tiêm kích phản lực chiến đấu chỉ có một người lái. Máy bay huấn luyện (máy bay có 2 buồng lái: học viên ngồi ở buồng lái trước, giáo viên ngồi ở buồng lái sau) là loại UMiG-15.

        Đúng 8 giờ ngày mồng 10 tháng 4 năm 1963 (giờ Matx-cơ-va), anh Nhị ngồi vào trong buồng lái, bật công tắc Vô tuyến điện liên hệ với Đài chỉ huy xin phép mở máy. Được phép mở máy, tổ trưởng máy bay đứng trên cầu thang máy bay đã giúp anh mở máy. Mở máy xong, sau khi kiểm tra các tham số của động cơ máy bay, các trang thiết bị trong buồng lái thấy tất cả đều tốt, đúng quy định, anh xin phép lăn ra và xin cất cánh. Chuyến bay đầu tiên chủ yếu là thày giáo thao tác và chỉ dẫn cho học viên. Anh Hồng Nhị kể lại:

        - Khi tăng hết cửa dầu, kiểm tra sự làm việc của động cơ xong, thả phanh ra là chiếc máy bay rướn hẳn về phía trước, chạy đà. Cái giây phút rời khỏi mặt đất bằng máy bay phản lực thật tuyệt diệu làm sao! Chiếc máy bay UMiG- 15 nhấc bổng hai thày trò lên không trung nhẹ tựa lông hồng. Nó vút lên cao, thoắt cái đã đạt độ cao 5000 mét rồi. Hai thày trò bay đến các không vực bay. Đến không vực nào thì thày chỉ cho trò biết tâm không vực đó, nói rõ đặc điểm của tâm không vực để nhớ, để cho những lần sau khi bay đến đó không bị lạc, đặc biệt là khi được bay đơn.

        Sau hơn 30 phút bay, qua 6 không vực bay, thày trò lấy hướng về sân bay hạ cánh, ở đây cũng xin được nói thêm về “không vực bay”. “Không vực bay” có thể hình chữ nhật với chiều dài mối cạnh từ 60,80 đến 100 km và có thể là hình tròn với bán kính là 30 đến 40 km. Tùy theo tính chất của từng bài bay mà có thể vào không vực hình chữ nhật hay không vực hình tròn. Các không vực đó đều được đánh số tử 1 trở đi. Khi cất cánh vào không vực, Chỉ huy bay trên Đài chỉ huy căn cứ vào tính chất bài bay và không vực nào còn trống (không có máy bay hoạt động) thì sẽ cho phép phi công bay vào không vực đó. Khi thày trò anh Hồng Nhị bay về sân bay, về hạ cánh, máy bay đã nhẹ nhàng đáp xuống đường băng rồi lăn về sân đỗ. Chuyến bay đầu tiên trên loại máy bay phản lực đã hoàn thành.

        Sau khi bàn giao máy bay xong, hai thày trò đi vào nhà nghỉ, vừa đi thày vừa giảng bình chuyến bay.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2016, 09:16:07 am
        Ở tất cả các sân bay huấn luyện của Liên-xô, khi nào có ban bay huấn luyện là đều có nhà ăn dã ngoại (được kéo bằng ô-tô) triển khai ngoài sân bay để phục vụ cho người bay bữa ăn nhẹ gồm có bánh ngọt, trứng gà luộc, bơ... và nước uống. Loại nước mà tất cả đều thích đấy là nước cơ-vát Thoạt đầu nó có vẻ khó uống, nhưng về sau càng uống càng “nghiện”. Đấy là loại nước giải khát, hạ nhiệt tuyệt vời!

        Mùa hè qua đi đồng nghĩa với việc kết thúc mùa bay huấn luyện. Đấy là mùa nghỉ phép của các giáo viên và đối với các học viên bay của đoàn bay cũng vậy. Thày trò tạm chia tay nhau, hẹn gặp lại sau kỳ nghỉ phép.

        Trưa ngày 25 tháng 9 năm 1963, tất cả anh em trong đoàn bay của anh xách va-li qùần áo cùng lên chiếc máy bay quân sự Il-14 (số 09) để bay từ Cu-sôp-xca-ia về Cra-snô-đar.

        Đến sân bay Cra-snô-đar, các anh gặp được các đoàn học viên học kỹ thuật với đủ các ngành nghề của nội trường và ngoại trường. Đoàn kỹ thuật phục vụ máy bay MiG thì anh Phạm Tâm và anh Mai Bá Quát phụ trách. Đoàn kỹ thuật phục vụ máy bay ném bom Il-28 do anh Võ văn Xơng phụ trách. Học viên của cả 3 đoàn đều được nghỉ phép. Vậy là tối hôm đó, tổng cộng số học viên của cả 3 đoàn có hơn 100 người cùng lên chuyến tàu hỏa chạy từ Cra-snô-đar về Matx-cơ-va.

        Sáng ngày 26 tháng 9, tàu đến Mat-xcơ-va thì đã có người của bộ phận đối ngoại Bộ quốc phòng Liên-xô và cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Mat-xcơ-va đón các anh tai ga và các anh được đưa đi làm thủ tục, lên tàu liên vận Mat-xcơ-va - Bắc Kinh - Hà Nội.

        Thấm thoắt vậy mà đã hai năm xa Tổ quốc. Hai năm đầy ắp những sự kiện đối với anh. Niềm vui lớn nhất là anh đã trở thành phi công lái máy bay tiêm kích phản lực chiến đấu. Anh mong cho thời gian nghỉ phép trôi thật nhanh. Anh mong cho mối quan hệ giữa “Anh cả” và “Anh Hai” của phe Xã hội Chủ nghĩa hòa thuận, sớm cải thiện những bất đồng về quan điểm để các anh sớm được quay trở lại trường, sớm được bay cho đủ chương trình học bay và kế hoạch bay sớm được hoàn thiện.

        Những ngày nằm trên tàu liên vận là những ngày anh suy nghĩ miên man đủ mọi thứ. Bao nhiêu chuyện được lục tung trong trí nhớ: nào chuyện ỏ trường, nào chuyện học, chuyện bay, nào chuyện khi trở về Tổ quốc thì sẽ đi đâu, sẽ thăm ai, làm gì... Nào chuyện khi trở lại trường thì sẽ mua quà gì, tặng làm kỉ niệm cho ai.Đúng là mọi chuyện cứ rối tinh rối mù trong óc!

        Anh nhớ lại:

        - Tàu đến ga Za-bai-can thì dừng lại để làm thủ tục xuất cảnh, sang ga Mãn-Châu-Lí của Trung Quốc. Đoàn trưởng vào nơi gửi tiền, rút lại số tiền của các anh khi đi qua đất Trung Quốc tiêu không hết để trao trả lại các anh.

        Ngày mồng 3 tháng 10 năm 1963, đoàn được Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh ra đón khi tàu về đến Bắc Kinh và đoàn được về nghỉ ngơi tại khách sạn Bắc Vĩ. Các anh nghỉ lại đó 3 ngày đợi tàu về Bằng Tường. Đêm nhớ Hà Nội không sao ngủ được. Tới nửa đêm còn nghe thấy tiếng rao của người bán kem ngoài đường phố với giọng rao như người ngái ngủ: “I mảo lẻng cưa!” (tức là một hào hai cái!), nghe mà buồn làm sao, nhớ quê làm sao... Chỉ mong cho trời mau sáng mà thao thức mãi trời không sáng cho!

        Sáng ngày mồng 6 tháng 10, đoàn của các anh lên chuyến tàu Bắc Kinh - Bằng Tường. Mờ sáng ngày mồng 9 tháng 10, tàu đến ga Bằng Tường, các anh chuyển sang tàu của Việt Nam để về Hà Nội...

        Ga Hàng Cỏ! Vào một ngày của tháng 9 cách đây 2 năm, các anh lên đường đi “xuất ngoại”. Sau 2 năm 1 tháng các anh lại trở về! Sân ga là nơi xảy ra những cuộc đón, đưa liên tục, thường xuyên. Tiếng cười, tiếng khóc cũng thường xuyên hiện hữu. Lại nhớ đến những câu thơ của Nguyễn Bính trong bài “Những bóng người trên sân ga”:

“Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ỏ chốn này!”

        Mọi người đều có những người thân đến tiễn rồi đón. Riêng anh, từ lúc đi cho đến lúc về cũng chỉ lủi thủi một mình. Gia đình thì ở cả trong Nam, ruột thịt thì chẳng có ai ở ngoài Bắc! Khi được đón về Trạm 93 (sau này đổi thành Trạm 66), mọi người đăng kí địa chỉ nơi nghỉ phép, tíu tít ghi quê quán, số nhà, đường phố... Đến lượt anh, anh đăng kí nghỉ lại Trạm 93 làm cho nhiều người ngạc nhiên.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2016, 09:19:51 am
        Đêm xuống! Trời đổ mưa! Tiếng mưa ở đất Hà Nội sao nghe cũng khác tiếng mưa ở bên kia? Có cái gì đó cứ miên man nhớ, cứ bồi hồi, thao thức... Sáng ra, chỉ còn có một mình, anh gọi xích-lô đi về phía Bờ Hồ, vào hiệu phở ăn hẳn 2 bát liền. Phở là món ăn đặc sắc, độc đáo của Hà Nội. Ai đến Hà Nội mà không đi ăn phở lấy một lần? Các khách nước ngoài khi bước chân đến Hà Nội còn phải tìm bằng được phở để ăn. Huống hồ... anh xa Hà Nội đã 2 năm, chỉ nghĩ đến phở là đã thấy thèm rồi, đằng này, ngửi thấy cả mùi vị của phở và hiệu phở thì ở ngay trước mặt, hỏi làm sao mà cưỡng lại được!

        Sau đó, anh ra khu tập thể ở bờ sông thăm gia đình anh chị Ba Kỳ. Anh Ba Kỳ từng là lãnh đạo của huyện Hoài Nhơn nên dù anh đã ra tập kết ở ngoài này rồi nhưng mọi tin tức ở phía trong Nam, anh vẫn nắm rất chắc. Anh nói lại cho anh Hồng Nhị biết bao nhiêu là tin tức trong vòng 2 năm xa quê, xa Tổ quốc. Có những tin còn quý hơn vàng: đó là Cha, Mẹ, các anh chị em của anh Nhị vẫn mạnh khỏe. Bọn tình báo Ngụy quỷ quyệt đã dò la biết tin anh đã tập kết ra Bắc, lại được xuất dương sang Nga-Xô. Chúng chưa biết anh sang đấy làm gì nên nhiều lần xộc đến nhà đe dọa Cha anh. Cha anh thì lại càng không biết, mà dù có biết đi chăng nữa thì cũng không đời nào nói cho bọn chúng hay, nên bọn chúng hậm hực đe dọa bắt ông đi tù.

        Hồi đó, những cán bộ tập kết khi có ai đó được trở lại miền Nam công tác thì chỉ được đem theo những lời nhắn nhủ của anh em tập kết với gia đình thôi, không được đem thư, vì khi chẳng may thư từ rơi vào tay bọn địch thì các gia đình sẽ gặp rất nhiều rắc rối, nguy hiểm.

        Gần một tuần lễ anh ở nhà anh Ba Kỳ tâm sự với anh đủ mọi thứ chuyện, anh còn định vào Nghệ An để thăm lại đơn vị cũ, thăm lại những nơi anh từng đóng quân, nhưng trong đó đang có lũ lụt nên anh không thực hiện được ý định của mình.

        Đầu tháng 11, các anh lại tề tựu đông đủ ở Trạm 93 để lên chuyến tàu Hà Nội - Bắc Kinh - Mat-xcơ-va.

        Cũng thật là chuyện hiếm có trong đời: chỉ trong vòng có mấy năm mà anh đã ba lần “rong ruổi” trên các chuyên tàu liên vận theo đúng một hành trình!

        Vê tới trường, các anh chuẩn bị và bắt tay ngay vào học lí thuyết cho năm cuối khóa MiG-17, rồi tiến hành chuẩn bị mặt đất.

        Năm cuối của khóa học bay trên loại MiG-17, các anh bay chủ yếu với những khoa mục ứng dụng cho chiến đấu như: không chiến, bắn, ném bom mặt đất...

        Các thày dạy bay tích cực truyền đạt những kinh nghiệm bay cho các anh, đặc biệt có một kinh nghiệm mà các thày thường nói với các anh là:

        - Khi về Việt Nam, khi bước vào chiến đấu, phải luôn luôn lưu tâm đối với cái trò “cắn ừộm” của phi công Mỹ, phải thật nhớ nhé, phải luôn lưu tâm nhé! (Các phi công chiến đấu của Liên-xô rất thấm đau cái chiến thuật cắn trộm của Mỹ mà họ quen gọi là “cắn đuôi”).

        Không quân Liên-xô và không quân Mỹ từng đụng độ với nhau trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Khi ấy, lực lượng không quân của Liên-xô sử dụng loại máy bay MiG- 15, còn không quân Mỹ thì sử dụng loại F-84.

        Sau này, khi Mỹ dùng lực lượng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, trong quá trình chiến đấu giữa không quân ta và không quân Mỹ, bọn phi công Mỹ cũng đã áp dụng cái chiến thuật “cắn đuôi” ấy.

        Cái trò “cắn đuôi” ấy là thế này: bọn địch cho một biên đội (thường là 4 chiếc), bay thấp để tránh bị ra-đar phát hiện và quần đảo ở hai khu vực loa cất hạ cánh (ở hai đầu sân bay). Khi máy bay ta cất cánh hoặc khi về hạ cánh, đặc biệt là sau khi chiến đấu, về hạ cánh - lúc ấy dầu liệu đã cạn, máy bay có thể còn bị thương, tốc độ khi vào hạ cánh nhỏ, cơ động kém nên chúng đuổi theo và bắn. Cũng có những trường hợp phi công ta sơ suất sau khi chiến đấu về, không cảnh giới đến nơi đến chốn, bị bọn địch áp dụng cái chiến thuật “cắn đuôi” ấy nên đã bị tổn thất đáng tiếc.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2016, 06:59:54 pm
        Sau này, ta tổ chức những Trạm quan sát bằng mắt (những tổ quan sát bằng mắt) ở ngay tại sân bay, ở hai đầu cất hạ cánh, cảnh giới giúp phi công, thông báo kịp thời mọi tình huống cho phi công biết thì chúng không còn làm gì được nữa!

        Thời đó, Đại sứ quán thường xuyên gửi các bản tin xuống cho các anh để giúp các anh cập nhật thông tin kịp thời, đặc biệt là tình hình Mỹ đầu tư cho không quân Ngụy Sài Gòn. Các anh chỉ nghĩ rằng chắc nay mai về nước, lực lượng đụng độ đầu tiên sẽ là đối đàu với không quân Ngụy Sài Gòn. Ai ngờ, thực tế các anh lại đương đầu với ngay lực lượng của thằng thày của Ngụy Sài Gòn - lực lượng không quân Mỹ.

        Tháng 7 ở Cusôp-xca-ia là tháng nóng vô cùng. Càng về trưa chiều, trời càng nóng bức, oi nồng. Giai đoạn này là giai đoạn các anh đang tập đánh mục tiêu mặt đất với các bài bay bắn đạn thật và ném bom thật trên trường bắn.

        Khi tiết trời càng nóng bức, ngột ngạt bao nhiêu thì không khí càng loãng bấy nhiêu, càng xuất hiện lắm “ổ gà trên không” bấy nhiêu, làm cho máy bay khi bay qua những “ổ gà” ấy bị thụt mạnh xuống, bị rung lắc, chao đảo.. Việc ngắm bắn khi máy bay bị chao lắc như vậy gặp rất nhiều khó khăn. Điểm ngắm dao động, chạy nhảy lung tung theo nhịp độ rung, độ lắc của máy bay, không ổn định tí nào. Mà “sai một li thì đi một dặm”! Điểm ngắm không ổn định thì khi bắn hoặc ném bom, đạn bom sẽ rơi chệch khỏi mục tiêu đến cả cây số! Các thày dạy bay đã truyền cho các anh những kinh nghiệm để khắc phục những khó khăn ấy. Kết thúc khoa mục ngắm bắn, ném bom trong điều kiện không khí nhiễu động mạnh vào ngày 20 tháng 7, tất cả các anh đều đạt loại khá, giỏi. Riêng anh Nguyễn Hồng Nhị là người bắn giỏi nhất với số lượng 16 viên đạn trúng bia.

        Khoa mục bay bắn, công kích mục tiêu mặt đất hôm ấy được tiến hành như sau: Vũ khí trên máy bay MiG-17 có 3   khẩu súng: 1 khẩu 37 li và 2 khẩu 23 li. Bốn viên đạn xuyên phá lắp cho khẩu 37 li, 12 viên đạn phá cháy lắp cho 2 khẩu 23 li (mỗi khẩu 6 viên). Độ cao bay đến mục tiêu (mục tiêu là một chiếc máy bay giả đỗ ở trường bắn) là 1500 mét. Góc bổ nhào không lớn hơn 40 độ, tốc độ vào bổ nhào không lớn hơn 800 km/h. Độ cao tối thiểu khi thoát li xong không thấp hơn 400 mét. số lần bổ nhào để bắn không quá 3 lần. Chỉ càn trúng mục tiêu 1 viên 37 li hay 1 viên 23 li là đạt yêu cầu. Anh Nhị vào bổ nhào công kích 2 lần, bắn 2 loạt! cả 16 viên đạn đều trúng mục tiêu!

        Tôi lại nhớ lại thuở nhỏ anh đã có biệt tài sử dụng súng cao-su (ná cao-su) đi bắn chim cút, dẽ giun... Hễ cứ con nào anh phát hiện được là con ấy dính đạn súng cao-su của anh. Rồi khi anh ở Tiểu đoàn 365 - Tiểu đoàn lá mít Anh hùng, khi tham gia Hội thao bắn giỏi - anh cũng đoạt giải nhất, được đưa vào bài hát: “Nguyễn Hồng Nhị bắn rất hay...”. Có lẽ anh đã có năng khiếu xạ kích chăng? Với tài năng như vậy, sau này mấy thằng phi công địch khi xáp trận với anh thì cứ “liệu thần hồn”!

        Sáng ngày hôm sau - ngày 21 tháng 7 năm 1964, trên trang báo “Tờ Chiến đấu” (“Bô-e-vôi lix-tôk”) - tương tự như một loại báo tường, phát nhanh các thông tin, sự kiện nóng hổi xảy ra trong ngày có dòng chữ màu đỏ với tít rất lớn:

       
“Hoan hô Nguyễn Hông Nhi - học viên bắn giỏi nhất!”

        Đọc những dòng chữ ấy, anh vui như mở cờ trong bụng. Các thày dạy bay liên tiếp đến bắt tay chúc mừng anh, khen ngợi anh. Đặc biệt, thày giáo của anh - thày A-mô-xôp thì rạng ngời niềm vui, rất tự hào với học viên của mình.

        Trong đời dạy bay của mình, thày đã từng dạy nhiều học viên bay người nước ngoài như: Hung-ga-ri, Cu-ba... nhưng chưa có người nào được như anh, được đăng tên trên “Tờ Chiến đấu” cả. Thày tự hào lắm chứ! Tự hào với các học viên và tự hào với các giáo viên khác nữa.

        Sang tháng 7 các anh luôn có cảm giác là thời gian đi quá nhanh và ngày kết thúc khóa học cũng ập đến quá nhanh. Chẳng lẽ cái giờ phút chia tay với sân bay Cu-sôp- xca-ia lại nhanh đến thế ư? Nhưng có ai níu kéo được thời gian đâu! Cái gì phải đến rồi sẽ đến! Anh nhớ lại:

        - Ngày kết thúc bay: chuyến bay chót của học viên Việt Nam hạ cánh nhẹ nhàng trên đường băng đất (trong không quân tất cả đều kiêng kị không nói “chuyến bay cuối cùng” mà chỉ nói là “chuyến bay chót”). Máy bay chạy xả đà để lại đằng sau một luồng khói bụi màu hồng. Tất cả các thành phần có mặt ngoài sân bay đều vỗ tay và nhất loạt hò reo phấn khởi: Hoan hô! Hoan...h...hô... !

        Ngày bay đã kết thúc trọn vẹn. Khóa bay đã kết thúc trọn vẹn. Đây là khóa bay đầu tiên của Liên-xô đào tạo cho Việt Nam các phi công tiêm kích phản lực chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2016, 07:01:46 pm
        Từ Đài chỉ huy, một chiếc pháo hiệu màu xanh bay vút lên không trung báo hiệu kết thúc ngày bay. (Theo nguyên tắc của ban bay: khi triển khai bay, bắt đầu bay là bắn một phát pháo hiệu màu đỏ, khi nào kết thúc bay là bắn một phát pháo hiệu màu xanh).

        Trên sân đỗ, các loại máy bay MiG-15, MiG-17 xếp thẳng hàng, vươn người về phía trước. Tất cả các thành phần trên sân bay: phi công, thợ máy, các thành phần phục vụ khác cũng xếp hàng thẳng tắp.

        Ông Trung đoàn trưởng - Hiệu trưởng trường bay đứng trước hàng quân phát biểu ngắn gọn, vừa chúc mừng sự thành công của khóa huấn luyện bay đã kết thúc tốt đẹp, vừa cám ơn tinh thần lao động tích cực của mọi thành phần đã đóng góp cho sự thành công ấy và nhắn nhủ với các anh - những học viên Việt Nam nay đã là các phi công Việt Nam khi về nước hãy nhớ Trường Cu-sôp-xca-ia.

        Ông lần lượt cài lên ngực áo bay của các anh mỗi người một chiếc huy hiệu bay của Liên-xô. Chiếc huy hiệu bay hình cánh én mạ màu vàng với một khoảng không màu xanh (tượng trưng cho trời xanh) ở giữa đôi cánh én. Các anh mới tốt nghiệp bay, mới là phi công thường, chưa được phân cấp nên chỉ được đeo huy hiệu bay không có số.

        Việc phân biệt cấp bậc bay của đội ngũ phi công như sau: nếu là phi công cấp 1 thì phi công ấy bay được trong thời tiết giản đơn, thời tiết phức tạp ban ngày và cả ban đêm (tức là 4 khí tượng), phi công cấp 2 là phi công bay được trong thời tiết giản đơn, thời tiết phức tạp ban ngày và thời tiết giản đơn ban đêm (tức là 3 khí tượng), phi công cấp 3 là phi công chỉ bay được ở thời tiết giản đơn và thời tiết phức tạp ban ngày (tức là 2 khí tượng). Còn các phi công chỉ mới bay trong thời tiết giản đơn ban ngày thôi giống như các anh khi đó thì là phi công không cấp.

        Ông Trung đoàn trưởng làm thủ tục kết thúc ngày bay cũng là kết thúc khóa bay thật đơn giản, ngắn gọn. Tất cả có vậy thôi! Tổ chức ngay tại sân đỗ máy bay, ngay sau khi ban bay kết thúc!

        Rồi ông đi bắt tay tạm biệt từng người một!

        Suốt hai năm trời ròng rã, ông là một người chỉ huy mẫu mực, luôn sâu sát giúp đỡ các học viên bay. Hình ảnh của ông đã in đậm trong tâm trí các anh. Dù các anh có đi đâu, có ở phương trời nào đi chăng nữa, dù thời gian có trôi qua bao nhiêu năm nữa thì các anh cũng vẫn luôn nhớ đến ông - đến người thày đã đem hết sức mình dạy dỗ các anh để các anh trở thành những phi công chiến đấu thực thụ.

        Trước khi lên xe rời sân bay, các anh tranh thủ mỗi người uống một ca nước cơ-vát uống cho đỡ khát, uống để nhớ hương vị của nước cơ-vát, nhớ đất Nga, nhớ những ngày sống trên đất Nga, mảnh đất thân thương như mảnh đất quê hương mình.

        Ngồi trên xe từ sân bay về nhà, các anh ngắm lại khu bay, đường băng, đường lăn, sân đỗ máy bay với những hàng máy bay xếp thẳng tắp khuất xa dần trong ráng chiều vàng. Bầu trời xanh trong chuyển dần sang màu sẫm. Bóng tối nhẹ nhàng buông. Ai cũng bâng khuâng, chìm trong nỗi nhớ đến nao lòng... Nhớ những cánh bay từng gắn bó với các anh trong suốt hai năm trời, nhớ tất cả các thành phần phục vụ từng đem hết sức lực, nhiệt tình phục vụ chu đáo cho từng chuyến bay, đảm bảo an toàn tuyệt đối..., nhớ đến cả mùi cỏ tươi hăng hăng, nhớ mùi dầu thải nồng nồng sau đuôi máy bay khi lăn về sân đỗ, tắt máy... Tất cả những gì ở ngày thường không để ý mấy thì sao bây giờ lại hiện lên rõ rệt, sắc nét đến thế...

        Các anh đồng thanh hát bài “Chuyến bay” để tạm biệt sân bay, tạm biệt những ngày bay trên bầu trời Cu- sôp-xca-ia.

        Vào những ngày đâu tháng 8, các anh tập trung ôn thi lí thuyết để qua kỳ thi sát hạch Quốc gia. Tất cả các anh thi đều tốt, đạt điểm cao.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2016, 07:03:45 pm
        Cũng vào những ngày đầu tháng 8 này, đã có một sự kiện xảy ra làm cho các anh sửng sốt. Đó là ngày mồng 5 tháng 8 năm 1964, không quân Mỹ đã tấn công, đánh phá một số mục tiêu dọc bờ biển Việt Nam. Lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam đã bắn hạ nhiều máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái của Hoa Kỳ là tên Trung úy An-va-ret.

        Nhà trường đã tổ chức mit-tinh phản đối Hoa Kỳ, đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt ngay hành động ăn cướp đó. Rất nhiều giáo viên bay đến gặp các học viên Việt Nam để chia sẻ tình cảm của mình và động viên mọi người học tập cho thật tốt để nhanh chóng về tham chiến, trả thù cho quê hương.

        Nhà trường tổ chức lễ phát bằng tốt nghiệp cho các anh nhân dip ngày Quốc khánh 2 tháng 9. Các anh được nhận bằng tốt nghiệp lái máy bay và mỗi người đều được trao tặng một chiếc huy hiệu có chữ v.u. ở giữa (đấy là hai chữ viết tắt của “Trường không quân quân sự” của Liên bang Xô-Viết).

        Thật vui sướng khi nhận được bằng tốt nghiệp! Thật vui vẻ khi tổ chức liên hoan chia tay với những tiết mục “cây nhà lá vườn”. Những bài hát Nga, những bài hát Việt, những điệu nhảy... làm cho không khí càng thêm náo nhiệt, tưng bừng, thấm đẫm tình hữu nghị...

        Mấy ngày nghỉ để chờ tàu liên vận cho chuyến lên đường về nước là mấy ngày mọi người đi tìm mua quà lưu niệm cho người thân. Thời đó, những món quà có giá trị cao là quạt “tai voi”, đài bán dẫn, bóng bán dẫn, mai-xo cho bếp điện, đồng hồ báo thức...

        Các anh lên ô-tô về thành phố Rôx-tôp, từ đó đi tàu về Matx-cơ-va. Nhà trường cử một đồng chí Đại úy đi theo đoàn lên tận Mat-xcơ-va giúp cho đoàn làm các thủ tục lên tàu liên vận.

        Đến Mat-xcơ-va, vẫn còn thời gian, sáng ngày 24 tháng 9, các anh được dẫn đi tham quan mấy nơi, đặc biệt là được vào lăng Lê-nin để viếng Lê-nin - vị lãnh tụ thiên tài của thế giới.

        Dòng người bước chầm chậm vào viếng Lê-nin. Vị lãnh tụ vĩ đại đang nằm đó như thiêm thiếp ngủ, như đang nghe “thánh thót Crup-xcaia đọc trong sách “Tình yêu và cuộc sống”!

        Các anh lần lượt đi vòng quanh thi hài của người lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân, của Cách mạng tháng Mười vĩ đại... lòng tràn ngập niềm tin vào sự thắng lợi của phe Xã hội Chủ nghĩa. Tiếng nói của Người như vẫn còn vang đâu đây khi Người đứng diễn thuyết trên Quảng trường Đỏ.

        Ra khỏi lăng, các anh đều có tâm trạng bần thần giống nhau. Đấy là không biết đến bao giờ mới lại được đến viếng Người lần nữa?

        Ngày 25 tháng 9, chuyến tàu liên vận chuyển bánh, chở các anh theo tuyến đường Mat-xcơ-va - Bắc Kinh - Hà Nội. Tuyến đường với những ga, trạm, với những cảnh vật vẫn như vậy, nhưng các anh thấy hình như tàu chạy nhanh hơn những lần trước. “Nước mã hồi” bao giờ cũng vậy thì phải!

        Khi tàu về đến Đồng Đăng và từ Đông Đăng về đến Hà Nội là các anh cảm nhận được ngay không khí sẵn sàng chiến đấu chống bọn xâm lược Mỹ. Khẩu hiệu chăng đầy đường. Dân quân hăng say luyện tập bắn máy bay... Tất cả những điều đó làm tăng thêm trách nhiệm của các anh - những phi công chiến đấu!

        Về đến Trạm 93 - Tổng cục chỉ thị cho các anh được nghỉ phép 15 ngày. Vậy là tình hình căng thẳng rồi. Mặc dù trời mua to nhưng tất cả các anh vẫn hối hả tranh thủ lên đường. Anh Nhị thì vẫn ở lại Trạm 93, thường xuyên về nhà anh Ba Kỳ để được biết tình hình ở quê nhà, được biết tình hình cách mạng diễn biến có nhiêu thuận lợi, nhưng bọn Mỹ-Ngụy đàn áp đồng bào miền Nam dữ dội, tàn bạo, dã man lắm.

        Tháng 11 năm 1964, tất cả các phi công và thợ máy đều tập trung về sân bay Gia Lâm để học chính trị.

        Ngày 16 tháng 12 năm 1964, tất cả các đoàn phi công và thợ máy học ở Liên-xô về được bổ sung vào biên chế của Trung đoàn Không quân 921 (Đoàn Không quân Sao Đỏ) đóng quân ở Đa Phúc (nay là Nội Bài). Đây là Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên của nước ta. Cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn rất vinh dự, nhưng cũng thấy trách nhiệm rất lớn lao.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2016, 08:11:29 am
        Suốt chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trải qua 4000 năm, cho đến nay mới có lực lượng Không quân. Bác Hồ từng giao nhiệm vụ: “Ngày xưa cha ông ta đã đánh thắng địch ở trên mặt đất, mặt nước. Bây giờ Bác giao cho các chú phải đánh thắng địch ở trên trời...”.

        Nhiệm vụ vô cùng nặng nề. Mở mặt trận trên không như thế nào? Làm thế nào để đánh thắng địch ở trên trời? Đấy là những câu hỏi rất hóc búa. Dưới mặt đất, mặt nước, ta đã kế tục, kế thừa những kinh nghiệm của cha ông để lại, đã phát triển đến đỉnh cao nghệ thuật đánh giặc xâm lăng - đó là trận Điện Biên Phủ. Đấy là địch dưới mặt đất. Còn địch ở trên trời thì sao? Chúng ta chưa hề có kinh nghiệm, đặc biệt lại là đối đầu với lực lượng Không quân Mỹ - một bọn ngang ngược, sừng sỏ, nhiều giờ bay, nhiều kinh nghiệm bay, trang bị vũ khí lại tối tân. Kinh nghiệm của các cuộc chiến với bọn Không quân Mỹ thì chỉ có ở chiến trường Triều Tiên ở những thập kỷ 50, khi đó vũ khí khác, tính năng khác và cũng chỉ các phi công Liên- xô mới đúc rút được chút kinh nghiệm mà thôi. Còn chúng ta?

        Không thể khoanh tay chờ đợi được. Đất của ta, trời của ta. Làm sao mà ta có thể để cho chúng ngang nhiên, ngông nghênh đến ra oai tác quái, tàn phá đất nước của chúng ta được. Cuộc đụng đầu lịch sử - mở mặt trận trên không là câu hỏi lớn, hóc búa, bắt mọi cấp, mọi người phải suy nghĩ ngày đêm.

        Tất cả các thành phần trong Trung đoàn từ phi công, thợ máy và mọi thành phần phục vụ đều sống trong phong trào thi đua sôi nổi, sục sôi khí thế: “phải bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu”, “bắn rơi tại chỗ”, “không để lỡ thời cơ cất cánh”, “không mang hỏng hóc lên không trung”... và nhiều, rất nhiều mục tiêu phấn đấu lắm.

        Tết cổ truyền của dân tộc - cái Tết Bính Ngọ đã tới. Các đơn vị phải trực ở vị trí sẵn sàng cao nhất. 100% quân số ở lại doanh trại. Có lẽ đây cũng là một cái Tết cổ truyền các anh được đón khi bầu trời miền Bắc còn thanh bình. Các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân liên tục đến thăm đơn vị, đến thăm lực lượng phi công của ta, thăm các thành phần bảo đảm của ta, xem máy bay...

        Đơn vị của của anh Đào Đình Luyện từ Trung Quốc đã về sân bay Đa Phúc trước. Đấy là đơn vị có các phi công có thời gian bay nhiều hơn, kinh nghiệm bay nhiều hơn.

        Đơn vị của anh Nguyễn Hồng Nhị từ Liên-xô về sau, bay ít hơn nên các anh về trước thường trao đổi, giúp đỡ các anh ở đoàn anh Nhị để cùng trưởng thành, cùng chung sức hoàn thành nhiệm vụ mở mặt trận trên không giành thắng lợi.

        Anh Nhị kể: Anh nhớ mãi đoàn văn công Quân khu Tây Bắc với những diễn viên nữ trong trang phục dân tộc Thái, vừa trẻ vừa xinh đẹp đến với hai Đại đội, cùng đón giao thừa và đón Xuân - mồng 1 Tết.

        Những câu hát trong bài “Xuân chiến khu” của nhạc sĩ Xuân Hồng như những lời nhắn nhủ, gửi trao cho các anh, thúc giục các anh phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao...” Xuân về... mừng anh bộ đội thêm một tuổi đời. Mừng anh thêm một tuổi quân, lập nhiều chiến công toàn dân đang mong!...”.

        Đúng! Các anh phải lập được nhiều chiến công, chiến công thật vang dội làm nức lòng nhân dân, xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng, của Bác Hồ.

        Tuy phải sẵn sàng chiến đấu, phải trực chiến nhưng lúc nào thời tiết tốt và tình hình đảm bảo có thể bay được là phải tổ chức bay ngay - bay để chống giãn cách, bay để nâng cao kỹ thuật bay.

        Với người bay, không phải là cứ bay xong một chuyến là có thể nghỉ mấy tháng sau hoặc năm sau rồi lại tiếp tục bay cũng được. Tùy theo số lượng giờ bay tích lũy của từng phi công, tùy thuộc vào cấp bay của từng phi công mà có quy định cụ thể phi công ấy được giãn cách bao nhiêu ngày bay. Quá ngày giãn cách quy định là phải bay hồi phục, phải bay kèm, bất luận anh ở cương vị nào, cấp bậc nào - nghĩa là phải ngồi vào buồng lái của học viên để cho người khác có đủ tiêu chuẩn ngồi ở buồng lái của giáo viên bay kèm. Không phải kèm như học viên mới vào bay, nhưng phải ngồi kèm vì hết thời gian quy định với các phi công -   trạng thái sinh hoạt trên không sẽ bị ảnh hưởng, các động tác, thao tác cũng không được nhuần nhuyễn như khi bay thường xuyên. Đặc biệt là động tác hạ cánh - có thể kéo bằng cao, kéo bằng thấp, hạ cánh thô, nhảy cóc... Nghĩa là không an toàn!

        Vì vậy, kể cả sau này, khi chiến tranh ác liệt xảy ra, chớp thời cơ có thể huấn luyện được (có khi chỉ trong vòng một tiếng, hơn một tiếng đồng hồ thôi) là cũng tổ chức bay lấy một vài lần chuyến cho phi công vững vàng hơn, kỹ thuật bay được thuần thục, nhuần nhuyễn hơn...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2016, 08:13:50 am
        Vào tháng 3 năm 1965, anh Hồng Nhị đã có được chuyến bay đầu tiên trên bầu trời miền Bắc thanh bình. Từ trên cao nhìn xuống quê hương miền Bắc lại nhớ về quê hương miền Nam, khao khát được sải cánh bay vút về miền quê thân yêu từng bao ngày mong ngóng. Nhìn thấy dòng sông Hồng chảy uốn lượn ồ dưới cánh bay lại nhớ đến dòng sông Đông êm đềm...

        Giai đoạn này là giai đoạn địch tăng cường cho máy bay trinh sát bay trinh sát các khu vực của ta từ Thanh Hóa trở vào đến khu vực Vĩnh Linh. Rõ ràng đây là triệu chứng địch sẽ đánh ta nay mai rồi.

        Đơn vị ngày nào cũng có báo động chiến đấu, xuất kích chiến đấu. Các phi công ở tuyến Trực ban chiến đấu ngày càng dạn dĩ, càng hăng hái muốn được tham chiến sớm.

        Và ngày mồng 3 tháng 4 năm 1965 đã đi vào lịch sử. Lực lượng không quân non trẻ đã viết tiếp những dòng oai hùng trong trang sử vàng oanh liệt của dân tộc. Không quân nhân dân Việt Nam đã mở mặt trận trên không thắng lợi. Biên đội Lan, Túc, Quỳ, Phương (Phạm Ngọc Lan, Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương) đã bắn hạ 2 máy bay Mỹ. Ngày mồng 3 tháng 4 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Không quân nhân dân Việt Nam.

        Ngay ngày hôm sau, ngày mồng 4 tháng 4, biên đội Hanh, Giấy, Huân, Năm (Trần Hanh, Phạm Giấy, Lê Minh Huân, Trần Nguyên Năm) đã phát huy chiến quả của ngày hôm trước, bắn rơi tiếp 2 chiếc F-105 được mệnh danh là “Thần sấm” của Không quân Mỹ.

        Chiến thắng của Không quân nhân dân Việt Nam đã làm rung chuyển Lầu Năm Góc, làm nức lòng nhân dân cả nước và quốc tế. Chính phủ Liên-xô thông báo là sẽ viện trợ cho Việt Nam 1 phi đội máy bay MiG-21 (loại máy bay tiêm kích vượt tiếng động) đầu tiên cho Việt Nam.

        Anh Nhị được lựa chọn, được cử làm trưởng đoàn sang Liên-xô chuyển loại từ MiG-17 lên MiG-21. Đoàn gồm 16 người, đều là những người đã từng bay và tốt nghiệp ở trường Cu-sôp-xca-ia.

        Thời gian chuẩn bị rất gấp. Ngày mồng 8 tháng 4 nhận lệnh. Ngày mồng 10 tháng 4 khăn gói lên đường.

        2 giờ 30 phút sáng ngày 12 tháng 4 năm 1965, đoàn tàu liên vận số hiệu M-l chuyển bánh theo hành trình Hà Nội - Bằng Tường.

        Ngày 14 tháng 4 đến Bắc Kinh và ngày 24 tháng 4 thì đến Mat-xcơ-va.

        Ngày 26 tháng 4, chuyến tàu hỏa từ Mat-xcơ-va đưa các anh về đến thành phố Cras-nô-đar.

        Nghỉ ngơi một ngày, ngày hôm sau, toàn đoàn của các anh lên gặp ban Giám hiệu nhà trường. Hiệu trưởng Rô-ma-nhen-cô và các hiệu phó bắt tay từng người một, hỏi thăm tình hình và động viên các anh phải cố gắng học. Tuy đã là phi công của loại máy bay MiG-17 rồi, nhưng khi chuyển loại lên loại máy bay MiG-21 là cả một vấn đề lớn vì đấy là loại máy bay vượt tiếng động, từ cấu tạo đến kỹ thuật điều khiển đều khác xa MiG-17. Thời gian học tập không nhiều, nhưng sẽ khó khăn hơn nhiều.

        Các anh phải ôn lại lí thuyết và thực hành bay trên loại máy bay MiG-17 mất gần 3 tháng. Từ tháng 8 năm 1965,   các anh học lí thuyết bay của máy bay MiG-21. Bước sang tháng 9 là tháng thực hành bay.

        Thày giáo bay - Thiếu tá Za-đe-ri-khin là người điềm đạm, ít nói nhưng rất tận tình chỉ bảo cho các học viên từng li từng tí một nên anh và các anh trong tổ bay tiếp thu rất nhanh. Anh cũng là người được thả bay đơn đầu tiên.

        Ngày 15 tháng 9 là ngày bay đầu tiên của các anh. Bước sang ngày 16, Phi đội phó - Thiếu tá Grie-vôi sau khi bay chuyến kiểm tra với anh xong, ông hài lòng và đề nghị Trung đoàn xuống bay kiểm tra.

        Ngày 21 tháng 9, Trung đoàn trưởng - Trung tá Va-xi- li-ep bay chuyến bay kiểm tra anh. Anh đã thực hiện tốt bài bay kiểm tra và ông hài lòng, phê chuẩn cho anh bay đơn trên loại máy bay MiG-21PFL..

        Ngày mồng 7 tháng 10 là ngày anh thực hiện bài bay với tốc độ lớn nhất và độ cao lớn nhất của MiG-21. Tốc độ = 2150 km/h (trị số Mách - M=2,05) và trần bay là 18.000 mét ở độ cao 18.000 mét, máy bay MiG-21 có thể cơ động chiến đấu được. Tuy nhiên, nó có thể lên đến độ cao hơn 20.000 mét, nhưng ở độ cao đó, tính năng cơ động rất kém, rất khó điều khiển và không thể tham chiến ở độ cao ấy được.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2016, 08:16:55 am
        Ngày 20 tháng 10, đoàn học kỹ thuật chuyển loại MiG-21 do anh Phạm Tâm phụ trách đã tốt nghiệp và lên đường về nước trước. Đoàn bay của anh Nguyễn Hồng Nhị đi đến sân bay Axtra-khan để tiến hành bắn thử loại tên lửa “Không đối không” điều khiển bằng tia hồng ngoại và loại tên lửa điều khiển bằng ra-đar.

        Tất cả các phi công bay trên loại máy bay MiG-21 ở Liên-xô, ai cũng được bắn thử tên lửa loại tự điều khiển bằng tia hồng ngoại và tên lửa điều khiển bằng ra-đar tại trường bắn Axtra-khan, bởi đấy là những loại vũ khí mà sau này phải sử dụng trong chiến đấu. Mục tiêu là chiếc máy bay không người lái - loại La-7.

        Sau khi tất cả đã thực hành xong bài bắn tên lửa ở trường bắn Axtra-khan, ngày 16 tháng 11 các anh bay trở lại Cras-nô-đar.

        Ngày 20 tháng 11, nhà trường tổ chức làm lễ tốt nghiệp cho đoàn của các anh. Các anh được nhận bằng tốt nghiệp, nhận huy hiệu phi công. Thay mặt đoàn bay, anh Hồng Nhị đứng lên cảm ơn các thày giáo bay, cám ơn tất cả các thành phần phục vụ đã đảm bảo cho những chuyến bay an toàn. Đoàn trở về Việt Nam nay mai sẽ lao vào cuộc chiến một mất một còn với lực lượng Không quân Mỹ. Đấy sẽ là cuộc chiến đầy thử thách, cam go nhưng hình ảnh đất nước Xô-Vỉết vĩ đại không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của những phi công đã được nhà trường đào tạo. Nhờ có Chủ nghĩa Xã hội, nhờ có các thày giáo dạy bay mà các anh đã trở thành các phi công. Sẽ luôn nhớ tới các thày giáo bay: Thiếu tá Rô-pa-ep, Thiếu tá A- mô-xôp, Thiếu tá Za-đe-ri-khin, Trung tá Xam-bô-rôp, Trung tá Va-xi-li-ep, Trung tá Cô-lô-men-xki, Trung tá Rê- đin, Thiếu tá Đub-rôp, Đại tá Von-côp, Đại tá Rô-ma-nhen- cô.„ và các thày khác nữa.

        Kính chúc các thày và gia đình luôn mạnh khỏe, luôn nhớ đến các học viên Việt Nam!

        Hy vọng sẽ có ngày trở lại trường để được gặp lại các thày, để được báo cáo thành tích chiến đấu trước các thày, trước nhà trường, để các thày và nhà trường tự hào về những phi công Việt Nam do các thày, do nhà trường đào tạo.

        Ngày 23 tháng 11 năm 1965, các anh lên đường về nước.

        Đoàn của các anh khi sang chuyển loại bay MiG-21 có 16 người thì chỉ có 12 người đạt tiêu chuẩn tốt nghiệp bay trên loại máy bay MiG-21. Đó là các anh:

        Nguyễn Hồng Nhị
        Nguyễn Đăng Kính
        Hoàng Biểu
        Đồng Văn Song
        Bùi Đức Nhu
        Nguyễn Văn Thuận
        Nguyễn Văn Lý
        Nguyễn Văn Thọ
        Tạ Văn Thành
        Phan Thanh Tịnh
        Nguyễn Văn Lung
        Vũ Ngọc Đỉnh

        Bốn anh: Nguyễn Kim Tu, Lưu Đức Sỹ, Hoàng Văn Kỷ và Trương Văn Cung vì lí do kỹ thuật không đáp ứng nên vẫn bay ở loại máy bay MiG-17.

        Vào lúc 8 giờ sáng, chiếc máy bay An-10 mang số hiệu 11120 chở các anh cất cánh từ Crax-nô-đar qua Mat-xcơ-va, lấy hướng về Xi-bê-ri.

        12 giờ trưa, máy bay hạ cánh xuống sân bay Ôm-xcơ để nạp nhiên liệu và các anh cũng ăn bữa trưa tại đó. Rồi máy bay tiếp tục cất cánh bay về Iêc-cut. 16 giờ, máy bay hạ cánh ở Iêc-cut và các anh nghỉ lại đấy một ngày.

        Ngày 25 tháng 11, máy bay cất cánh đến Bắc Kinh và hạ cánh ở Bắc Kinh lúc 5 giờ (theo giờ Bắc Kinh), và 9 giờ thì cất cánh về Việt Nam. Vì có máy bay Mỹ hoạt động ở khu vực phía Bắc của nước ta nên máy bay không bay tiếp mà phải hạ cánh xuống sân bay Trường Sa của Trung Quốc. Các anh được chiêu đãi bữa cơm trưa tại sân bay, sau đó máy bay cất cánh lấy hướng về sân bay Đa Phúc. Vào lúc 16 giờ 30, máy bay tiếp đất ở Đa Phúc, kết thúc cuộc hành trình bay dài chưa từng có.

        Các anh được chính phủ Liên-xô tạo điều kiện chuyên chở bằng máy bay, mang theo tất cả mọi “đồ nghề” bay (như quần áo bay, mũ bay, quần áo trung không, quần áo cao không..., mặc dù ở thời điểm đó, danh mục quần áo bay cao không, mũ bay cao không còn nằm trong danh sách bảo mật) để về nước là có thể bước vào trực chiến được ngay, chiến đấu được ngay.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2016, 04:05:16 pm
        Có lực lượng phi công MiG-21 về, sức chiến đấu tăng lên bội phần. Bây giờ, Không quân ta không chỉ đánh địch ở tầng thấp, tầng trung, mà đã có thể đánh địch ở tầng cao.

        Ta đã có vũ khí hiện đại. Ta đã có ý chí chiến đấu. Không thể không giành thắng lợi!

        Các anh được bổ sung về Trung đoàn 921, thành lập Đại đội 2 (về sau này thì tất cả những từ Đại đội được chuyển thành Phi đội) - Đại đội bay loại máy bay MiG-21 đầu tiên của Không quân ta.

        Cơ cấu tổ chức của Trung đoàn 921 hồi đó là: Trung đoàn trưởng Trần Mạnh, Chính ủy Chu Duy Kính.

        Anh Nguyễn Hồng Nhị được giữ chức Đại đội phó. Anh Nguyễn Duy Đài giữ chức Chính trị viên Đại đội.

        Ngày 26 tháng 11 năm 1965, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đến thăm đoàn phi công vừa đi học vê và giao nhiệm vụ chiến đấu cho đoàn ngay.

        Các máy bay được chuyên chở về, được lắp ráp và bay thử ngay tại sân bay Đa Phúc, sau đó là các chuyên gia Liên-xô bàn giao lại cho ta. Chưa có máy bay UMiG-21 (loại máy bay có 2 buồng lái) để huấn luyện, hồi phục kỹ thuật bay, các anh đã mạnh dạn đề nghị với Trung đoàn trưởng cho bay hồi phục, kèm nhau trên loại máy bay UMiG-15, sau đó bay đơn trên MiG-21. Trung đoàn trưởng đồng ý với phương án ấy. Kế hoạch bay hồi phục nhanh chóng được triển khai và chỉ trong vòng 5 ngày, tất cả 12 anh em phi công MiG-21 không ai còn giãn cách nữa, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu được giao.

        Thời kỳ này là thời kỳ địch thường sử dụng máy bay trinh sát bay ở độ cao từ 18.000 đến 20,000 mét. Bay ở độ cao đó, hỏa lực Phòng không của ta không thể với tới được, máy bay MiG-21 cũng bị hạn chế về tính năng cơ động. Vì vậy, muốn đánh được Không người lái, phải tính toán, phải hiệp đồng thật chặt chẽ giữa các thành phần, đặc biệt là phi công - dẫn đường (dẫn đường tiêu đồ ở sở chỉ huy và dẫn đường màn hình ở Trạm ra-đar).

        Chắc chắn anh Nguyễn Hồng Nhị không thể quên được cái ngày mang đậm dấu ấn trong đời bay của anh - ngày 25 tháng 1 năm 1966, anh là người đầu tiên Trực ban chiến đấu trên loại máy bay MiG-21, bấy giờ là chiếc máy bay số 04, loại MiG-21 PFL.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2016, 04:08:22 pm
 
NHỮNG TRẬN KHÔNG CHIẾN
VÀ NHỮNG KỶ NIỆM
KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

        Để trinh sát các mục tiêu của ta, địch dùng các loại máy bay có người lái và không người lái, bay ở độ cao 18.000 đến 20.000 mét. Máy bay có người lái là loại máy bay trinh sát U-2.Khi ta có tên lửa Phòng không “Sam-2” và có MiG-21 thì loại máy bay trinh sát U-2 chỉ bay đến biên giới rồi vòng ra. Địch chủ yếu sử dụng loại máy bay trinh sát không người lái BQM.

        Để bạn đọc hiểu được hơn về hai loại máy bay này, xin được cung cấp các tính năng của hai loại máy bay đó.

        Máy bay U-2 là loại máy bay trinh sát chiến lược, có người lái của Mỹ, nó có những tính năng như sau:

        - Thân dài: 15,20 m
        - Sải cánh: 24,30 m
        - Chiều cao: 3,90 m
        - Động cơ: 1 động cơ phản lực
        - Tốc độ lớn nhất: 900 đến 1000 km/h
        - Tốc độ trung bình: 720 đến 800 km/h
        - Độ cao lớn nhất: 22.780 m
        - Độ cao trung bình: 20.000 đến 21.000 m
        - Tầm bay xa nhất: 6000 km.
        - Bán kính hoạt động: 2800 km.

        Máy bay BQM-34 là loại máy bay trinh sát không người lái của Không quân Mỹ, sau này nó còn được cải tiến làm máy bay gây nhiễu, thả nhiễu. Nó có một số tính năng như sau:

        - Thân dài: 6,98 m
        - Sải cánh: 3,92 m
        - Chiều cao: 2,04 m
        - Tốc độ lớn nhất: 1138 km/h
        - Tốc độ trung bình: 700 đến 760 km/h
        - Độ cao lớn nhất: 21.000 m
        - Tầm bay xa nhất: 3000 km
        - Bán kính hoạt động: 1100 km.

        Từ ngày 25 tháng 1 đến ngày mồng 7 tháng 2, anh Hồng Nhị được cắt cử Trực ban chiến đấu liên tục để “phục đánh” máy bay trinh sát. Anh làm nhiệm vụ trực số 1, các số 2 thì thay tua nhau như anh Nguyễn Đăng Kính, anh Vũ Ngọc Đỉnh, anh Đông Vãn Song, anh Nguyễn Văn Thọ... (anh Nguyên Văn Thọ về sau đã hy sinh khi bay huấn luyện với động tác xuyên mây về hạ cánh. Máy bay của anh rơi gần thị xã Vĩnh Yên. Mgày ấy là ngày mồng 7 tháng 2. cả đơn vị tiếc thương anh vô cùng - một phi công trẻ của đoàn có rát nhiều triển vọng phát triển, rất nhiều hứa hẹn ở tương lai... Vậy mà đã phải từ bỏ đội ngũ quá sớm vì tai nạn bay!).

        Thường bao giờ vào thời điểm tháng 2, tháng 3 dương lịch là thời tiết diễn biến rất xấu, rất phức tạp. Mây dày đặc, độ ẩm lớn, mù đặc; tầm nhìn kém...Với phi công thì “sợ mù hơn là “sợ” mây bởi mây thì bao giờ cũng vẫn có chân mây - có cự li, khoảng cách cách mặt đất (dù là nhỏ), nhưng mù thì kéo sát từ mặt đất lên. Vì vậy, bay trong mù nguy hiem hơn bay trong mây nhiều.

        Hôm đoàn Anh hùng, Dũng sĩ của miên Nam ra thăm miền Bắc thì trời lại hửng. Đoàn đến thăm sân bay và anh Hồng Nhị đã được lệnh cất cánh, bay một chuyến chào mừng đoàn. Trong số Anh hùng, Dũng sĩ ấy có chị Tạ Thị Kiều và một số anh em khác nữa đã đến bắt tay, chúc mừng anh. Nghe các anh, các chị kể chuyện đánh Mỹ ở quê anh, có nhắc đến từ “bám thắt lưng địch mà đánh”, anh nghĩ ngay đến việc phải học tập các anh, các chị về cách đánh địch - đó là phải bắn gần, chắc ăn mới bắn.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2016, 04:13:00 pm
        Ngày mồng 4 tháng 3 năm 1966 là ngày đi vào lịch sử truyền thống của Không quân cũng là ngày đáng nhớ nhất trong đời anh. Ngày ấy, anh đã bắn rơi chiếc máỵ bay không người lái (KNL) trên độ cao 18000 mét.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/02_zpsohal7vgq.jpg)
Phi công tiêm kích MiG-21 Nguyễn Hồng Nhị

        Xin được trích lại nguyên văn những dòng nhật ký chiến đấu trong sổ nhật ký của anh:

        “Ngày mồng 4 tháng 3 năm 1966. Buổi sáng, trời nhiều mây thấp, nhưng đến trưa chiều quang mây, thuận lợi cho máy bay chụp ảnh tầng cao hoạt động. Đồng chí Trung đoàn trưởng trực tiếp gọi điện cho tôi và thông báo:

        - Hôm nay có tin tình báo cho biết sẽ có 1 U-2 và 1 KNL trinh sát chụp ảnh bay ra miền Bắc (từ miền Nam bay ra) nhưng chua biết sẽ chụp ảnh mục tiêu nào. Vậy cậu phải chuẩn bị tất cả các phương án đánh địch nghe!

        Đặt ống nghe vào máy, tôi giở bản đồ xem lại các phương án. Nếu U-2 vào thì chỉ có 1 phương án. Đó là biên giới Việt - Lào. Còn nếu là máy bay KNL thì nhiều phương án hơn. Đánh máy bay KNL dễ thì ít, nhưng khó thì nhiều. Dễ là máy bay KNL bay theo chương trình lập sẵn, không có đối kháng gì, nhưng cái khó nhất là thân hình nó nhỏ, khó phát hiện sớm. Khi phát hiện muộn, tốc độ tiếp cận lớn (hơn 1000 km/h) ta không kịp phóng tên lửa, dễ bị đâm vào nó hoặc xông lên trước nó. Bởi vậy chiến thuật của MiG-21 lúc đó là từng chiếc một nối nhau công kích một mục tiêu! Nếu chiếc đi đầu bị trượt thì đã có chiếc nối đuôi tiếp theo...

        Từ trong sở chỉ huy (SCH), đồng chí Chính ủy Trung đoàn gọi điện gặp tôi động viên:

        - Hôm nay gặp thời cơ, cậu bình tĩnh bắn cho chuẩn xác nhé!

        Tôi xác định lúc nào cũng phải bình tĩnh, lại được đồng chí Chính ủy động viên làm cho mình càng bình tình hơn. Tôi nhớ lại bài học hôm đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng xuống sân bay có ra lệnh báo động diễn tập cất cánh. Tôi lăn máy bay từ sân đỗ ra đường băng bị trượt ra ngoài cỏ, chính là do tôi hôi hộp, mất bình tĩnh. Đấy là bài học nhớ đời!

        Đồng chí Mại trực ban tác chiến SCH nhắc người lái (phi công) ăn trưa sớm để sẵn sàng cấp 1 vì hôm nay trời tốt sớm. Sau bữa ăn trưa, tôi ra đứng trước thềm nhà trực ban nhìn bóng mặt trời đã quấn tròn trong chân, đó là thời gian chụp ảnh có lợi: Tấm ảnh sáng đều, không bị bóng che bên nào. Tôi đang nhẩm lại phương án thì nghe tiếng hô “Cấp 1!” rất to của đồng chí Mại. Đồng chí nói giọng Nghệ An vừa to, vừa dõng dạc rất dễ nghe:

        - Một chiếc cao không cấp 1!

        Cái từ “Cao không” để cho tổ “mũ cao không” và thợ máy biết là phương án đánh “cao không”, mặc quần áo và đội mũ cao không.

        Mọi người trong phiên trực rất hối hả, răm rắp làm nhiệm vụ của mình. Tôi ngồi im trên ghế để đồng chí Ngãi - tổ trưởng mũ cao không đội cho tôi. Đồng chí báo:

        “Xong!”. Tôi chạy thật nhanh trèo lên buồng lái, trước tiên phải cài khóa dù, thứ đến là bật công tắc vô tuyến, ấn nút liên lạc với SCH. Tên mật (mật khẩu) mở máy lăn ra đường băng và cất cánh thời đó gọi là “Ấp Bắc”. Trong tai mũ bay của tôi vang lên tiếng “Âp Bắc” của đồng chí sĩ quan dẫn đường. Tôi lập tức vừa trả lời: “Rõ!”, vừa ấn nút khởi động động cơ. Tiếng động cơ kêu to dần, đồng thời vòng quay của rô-to cũng tăng lên tò 0 đến 60 % trong thời gian chưa đầy 45 giây. Tôi giơ tay trái lên ngang đầu để báo cho đồng chí tổ trưởng tổ thợ máy biết “rút chèn bánh”, cho máy bay lăn ra đường băng cất cánh! Máy bay cất cánh lấy độ cao đến 300 mét thì chỉ huy cho tôi hướng bay 270 độ và độ cao 5000 mét. Bay được 5 phút thì SCH cho hướng bay 210 độ và độ cao 8000 mét. Tôi bay được 5 phút, SCH lại cho hướng bay 90 độ và cho mở tăng lực lên độ cao 16.000 mét. Lúc này SCH cho hướng bay 150 độ rồi sửa lại 130 độ. Tiếp đó là khẩu lệnh “Bình Minh!” (đấy là lệnh cho mở ra-đar trên máy bay để sục sạo, tìm kiếm mục tiêu). Tôi báo cáo: “Đã phát hiện mục tiêu! Xin công kích!”. SCH trả lời: “Cho phép!”.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2016, 08:37:29 am
        Lúc này máu trong người như dồn hết về tim để cho tôi một sức mạnh kỳ diệu là bình tĩnh, chính xác và đưa mục tiêu vào tâm vòng ngắm - giữa chữ thập của máy ngắm PKI nhanh nhất, đồng thời ấn nút “bám sát mục tiêu” của ra-đar để xác định cự li bắn, còn động tác cuối cùng là ấn nút phóng tên lửa!

        Quả tên lửa hồng ngoại “K-13” vọt ra khỏi cánh máy bay và bay về phía trước tới mục tiêu! Tôi nhớ lại, nó giống như cái lần tôi bắn bia ồ trường bắn Axtra-khan!

        Trong mũ bay, tai hãy còn nghe tiếng kêu 0...0... của quả tên lửa thứ hai bắt được nhiệt của mục tiêu. Tôi lập tức ấn nút phóng quả thứ hai để đảm bảo chắc chắn là mục tiêu đã bị tiêu hủy. Tôi báo cáo về SCH:

        - Đã “uống bia” xong!

        Đó là tiếng lóng bí mật (mật khẩu) là đã phóng tên lửa. Đồng thời, SCH cũng thông báo là trên màn hình mục tiêu đã mất và cho tôi hướng bay về sân bay hạ cánh.

        Từ trên vùng ữời cao Quảng Ninh, tôi bay về sân bay Đa Phúc thật là nhẹ nhõm trong người bởi đã hoàn thành được công việc mà cả tập thể Trung đoàn giao phó, thực hiện được nguyện vọng khát khao của từ người chiến sĩ gác đường băng cho đến người chỉ huy lãnh đạo cao nhất của Trung đoàn, đó là: “Từ trận đầu, MiG-21 phải bắn rơi máy bay Mỹ!”. Hôm nay, tôi đã thực hiện được trọn vẹn mong ước đó!

        Mọi người biết tin, ra tận sân đỗ, tận chân cầu thang máy bay đón và chúc mừng!

        Tôi vô cùng cảm động! Đây là chiến công chung của Trung đoàn, tôi chỉ có công nhỏ bé đó là “ấn nút phóng quả đạn bay đi tiêu diệt mục tiêu” đem về trận đánh nhớ đời, đầu tiên của tôi trên bầu trời miền Bắc yêu thương!”.

        Sau trận đánh thắng lợi ngày mồng 4 tháng 3 năm 1966 Trung đoàn quyết định đưa loại MiG-21 vào chiến đấu, đánh địch ở tất cả các độ cao khác nhau, không phân biệt “cao không” hay “trung không”. Trong quá bình thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, sử dụng lực lượng MiG-21 với đội hình 2 chiếc là chủ yếu.

        Lực lượng phi công của MiG-21 bước sang giai đoạn trong cuộc đụng đầu lịch sử với Không quân và Không quân - Hải quân Mỹ đầy khó khăn, ác liệt. Về phía không quân Mỹ - đấy là một bọn giặc lái đầy tham vọng, hống hách, ngạo mạn. Chúng có thời gian bay tích lũy hàng ngàn giờ bay, được trang bị những kiến thức bay cơ bản với trang thiết bị, kỹ thuật, vũ khí tối tân, với số lượng áp đảo... nghĩa là: chúng chẳng gờm ai trên thế giới này! Chúng như lũ chó sói ở trên trời! Còn các phi công việt nam, chúng coi như những con cừu non, muốn “xơi tái” lúc nào cũng được! Đấy là chúng đã có phần nào gờm gờm, coi trọng Không quân ta đấy, chứ như thời anh Phạm Ngọc Lan đi đánh nhau, chúng chì coi những chiếc máy bay MiG-17 là “bầy muỗi mắt” mà thôi! Nhưng lịch sử luôn công bằng - “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng!”. Chúng ví chúng như cỗ xe vững chãi, nhưng cỗ xe của chúng không những nghiêng mà còn bị lật nhào!

        Thời các anh, tổng số giờ bay trên loại máy bay MiG- 21 chỉ có vài chục giờ thôi! Nói đến danh hiệu phi công, tôi phải diễn giải hơi dài dòng một chút là: số giờ bay tích lũy của từng phi công đánh giá đến “đẳng cấp” của phi công đó. Mới có tí giờ bay mà dám cả gan đối chọi với địch thủ có hàng trăm hàng ngàn giờ bay thì đúng là liều, và địch thủ coi cái số mới có tí giờ bay kia chẳng ra gì, coi như một trò đi dạo chơi bắn chim se sẻ. Bọn Không quân Mỹ đánh giá như vậy. Nhưng chũng đã lầm to! Vô cùng lầm! Chúng không đánh giá đúng đối thủ, bởi vậy chúng phải nhận lấy thất bại thảm hại là điều tất yếu!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2016, 08:38:23 am
        Khi bay vào đánh phá ở không phận miền Bắc Việt Nam, bọn Mỹ thường bay với đội hình lớn và rất lớn: 12, 24,36 chiếc và nhiều hơn. Ngược lại, các phi công của ta lên đối chọi với bọn chúng nhiều nhất là 4 chiếc, còn thường xuyên chỉ là 2 chiếc, thậm chí có khi chỉ 1 chiếc. Mỗi máy bay của bọn chúng, ví như trên máy bay F-4 (mang tên “Con Ma”) bao giờ cũng có 2 giặc lái. Còn máy bay MiG-17, MiG-19, MiG-21 của ta thì chỉ có 1 phi công thôi. Vậy là với đội hình bay của chúng, ví dụ 36 chiếc là có 72 tên giặc lái. Phía chúng ta: đội hình 2 chiếc MiG - chỉ có 2 phi công. Hãy làm một phép so sánh giản đơn: 2 chọi với 72 để xem lợi thế như thế nào? Ngạn ngữ có câu “lấy thịt đè người” thì chính là bọn Mỹ muốn như vậy. Nhưng đâu có dễ thế! Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của cha ông ta đã đúc rút rằng: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa!” - nghĩa là quân ít nhưng là quân tinh nhuệ, tinh binh thì còn quý hơn quân nhiều mà ô hợp. Đoàn của các anh với số lượng ít ỏi, đã đánh thắng địch với số lượng nhiều gấp bội, theo đúng truyền thống của cha ông, giành thắng lợi liên tục, đã là tấm gương sáng cho chúng tôi, lớp đàn em đi sau noi theo. Học tập kinh nghiệm của các thế hệ trước, anh Ngô Văn Phú - người trong đoàn bay của tôi, với tổng số giờ bay chỉ có 300 giờ, nhưng đã “một phát ăn ngay” - nói như ngôn từ của chúng tôi - bắn rơi tên Đại tá Kit- ting-giơ, chuyên viên không chiến của Lầu Năm Góc, hắn từng tích lũy được 7300 giờ bay. Có nghĩa là số giờ bay của anh Ngô Văn Phú chỉ bằng đúng số lẻ của phi công Kit-ting-giơ thôi! “Mọi sự so sánh đều khập khiễng”, nhưng không thể không có sự so sánh. Viết đến đây, tôi lại chợt nhớ đến một vế đối, vế đối ấy viết rằng: “Mi sinh tiên, tu sinh hậu. Tiên sinh bất nhược, hậu sinh trường!”, có nghĩa là lông mi có trước, râu có sau, nhưng lông mi cũng chỉ dài được đến thế thôi, còn râu thì có sau, nhưng dài hơn lông mi nhiều lắm! Tôi không dám đụng chạm đến các vấn đề khác, các vấn đề tê nhị qua vê đối này, chỉ dám nói rằng ở thế hệ các anh, ở thế hệ chúng tôi - những phi công tiêm kích phản lực chiến đấu không hề lấy giờ bay tích lũy ra để “khoe khoang”. Hãy chiến đấu! Hãy vì sự nghiệp chung! Không so đo, tính đếm! Bản thân mình không có nghĩa gì khi Tổ quốc cần, mình sẵn sàng hy sinh, “vui vẻ như cày xong thửa ruộng, ngả đầu trên liếp cỏ ngủ ngon lành!”. Vậy thôi!

        Sau trận anh bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái của Mỹ, một niềm vui bất ngờ và thật lớn lao đến với anh. Anh cùng với các anh phi công khác từng bắn rơi máy bay Mỹ được đến gặp Bác Hồ. Đây là lần thứ hai anh được gặp Người. Làn thứ nhất khi anh còn ở Sư đoàn bộ binh, đóng quân ở Nghệ An. Đấy là vào năm 1961, Bác đến thăm Sư đoàn, nói chuyện với bộ đội của Sư đoàn, nhưng lần ấy, anh ở xa, không được gần Bác. Còn lần này, anh cùng các anh: Nguyễn Nhật Chiêu, Trần Hanh, Lâm Văn Lích, Ngô Đức Mai, Phan Như Cẩn trực tiếp được ngồi cạnh Bác, nói chuyện với Bác, nghe Bác hỏi han, dặn dò. Anh đã làm được điều Cha anh đã căn dặn anh trước khi anh lên đường đi tập kết. Anh đã thưa với Bác lời chúc của Cha anh và lời dặn của Cha anh đối với anh. Ngắm nhìn Bác trong bộ bà ba nâu gụ cùng mái tóc, chòm râu bạc trắng và phong thái ung dung, thanh thản, ngồi cùng các anh tựa như một tiên ông ngồi cùng con cháu bình thơ, anh thấy lòng yên ả lạ thường. Vị Tổng tư lệnh tối cao của một dân tộc đang đối đâu với tên đế quốc khổng lồ, hung nô của thời đại đang ân cằn thăm hỏi, động viên các anh tựa như người Cha dặn dò các con của mình. Chính tò sự ung dung, thanh thản của Bác mà anh lao vào chiến trận không chút mảy may run sợ. Anh cùng các anh, cùng các đồng đội của các anh đĩnh đạc bước vào trận chiến, tự tin điều khiển những chiếc máy bay bé nhỏ, phóng những quả tên lủa trúng vào những “Thần sấm”, “Con Ma”... mặc cho số lượng chúng đông hơn gấp bội.

        Trong không chiến, có thể ta bắn rơi được địch, mà địch không làm gì được ta, nhưng cũng có thể ta bị địch bắn rơi mà ta lại không bắn rơi địch. Vì vậy cần phải có sự đánh giá về thắng, thua. Việc xác định trận đánh “thắng”, “thua” như sau: trận đánh mà ta bắn rơi địch, ta an toàn gọi là “trận đánh thắng”. Trận đánh mà ta không bắn rơi máy bay địch, lại để địch bắn rơi thì gọi là “trận đánh thua”. Nếu trong trận đánh mà cả hai bên đều bị bắn rơi thì tùy theo tính chất của trận đánh, tùy theo mức độ ác liệt để bảo vệ mục tiêu mà xác định “thắng” hay “thua”. Anh Nhị đã vấp phải trận đánh “thua” vào ngày 26 tháng 4 năm 1966 là như vậy: địch không rơi mà ta lại bị rơi, phải nhảy dù. Anh kể: “Trận đánh ngày hôm ấy với mục tiêu là tiêu diệt loại máy bay EB-66 (máy bay gây nhiễu ra-đar, tên lửa, cao xạ...).


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2016, 08:40:38 am
        Hôm đó bầu trời trong xanh, không có mây. Tôi tiếp thu và kiểm tra máy bay xong, đứng trên sân đỗ nhìn quanh bầu trời, tôi nghĩ: “Phải chuẩn bị đánh nhau!”. Đi vào nhà trực, tôi gọi Vũ Ngọc Đỉnh (bay số 2 - về sau anh Vũ Ngọc Đỉnh cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang) ngồi vào bàn ăn sáng (hôm nay nhà ăn cho ăn bánh cuốn), vừa ăn vừa hiệp đồng biên đội với nhau khi gặp địch. Ăn sáng xong thì SCH gọi điện gặp tôi và giao nhiệm vụ: “Hôm nay biên đội chuẩn bị đi đánh máy bay gây nhiễu EB-66, có máy bay F-4 bảo vệ EB!”. Tôi nói lại cho Đỉnh, quán triệt nhiệm vụ trên giao và chuẩn bị có thể phải “đối chọi” với tiêm kích địch.

        Sau khi ăn cơm trưa xong thì Đồng Văn Song ra thay trực cho Đỉnh để Đỉnh đi bay huấn luyện. Tôi với Song đã cùng một biên đội trực ban chiến đấu với nhau nhiều rồi. Hai anh em đang trao đổi về việc đánh máy bay EB-66 thì nhận được tín hiệu báo động: “2 chiếc trung không cấp 1!”. Chúng tôi chạy rất nhanh leo lên máy bay. Đồng chí tổ trưởng máy bay đã cho xe điện “APA” khởi động cung cấp đủ điện để khởi động động cơ (27,5 von). Tôi bật công tắc Vô tuyến điện (VTĐ) liên lạc với SCH và nhận được lệnh mở máy: “Ấp Bắc!”. Đồng chí tổ trưởng thợ máy giúp tôi mở máy và bật tất cả các công tắc cần thiết cho chuyến bay chiến đấu, đặc biệt chú ý công tắc “vũ khí” phải để ở chế độ “tự động”.

        Tôi và Song lăn ra đường băng và cất cánh bay về hướng Bắc theo số liệu của SCH chỉ dẫn. Bay qua Tuyên Quang, đi về hướng Cao Bằng thì SCH thông báo địch phía trước 30 km, độ cao 6000 mét. Đó là độ cao EB-66 thường bay. SCH báo tăng cường quan sát. Tôi và Song cùng phát hiện địch bên trái. Tôi báo cáo về SCH:

        - 513 phát hiện địch nhưng không phải EB!

        - Cho công kích! - SCH trả lời.

        Lúc này địch cũng đã phát hiện có MiG và bắt đầu lượn “vòng thúng” nối đuôi nhau để chống lại MiG. số 2 báo cáo:

        - Không nhìn thấy. “Số 1 ở đâu?”.

        Sở chỉ huy cho số 2 quay về, còn lại mình tôi rơi vào

        Cái “vòng thúng” của tiêm kích địch. Tình thế trở nên khó khăn và ác liệt! Song, cái tính cay cú của tôi, “cố đấm ăn xôi”, tìm xem “thăng EB” ở đâu? Hồi ấy mà bắn rơi được EB thì có giá trị lớn về tính thần cũng như về chiến thuật (cách đánh của MiG-21). Song tôi đâu có ngờ khi phát hiện có MiG đuổi đánh thì bọn tiêm kích vòng lại áp dụng chiến thuật “vòng thúng” và “đan chéo” để chống với MiG, tạo điều kiện cho thằng EB” chạy ừốn..

        Máy bay EB-66 là loại máy bay trinh sát và gây nhiễu điện tử của Không quân Mỹ, nó có một số tính năng như sau:

        - Thân dài: 22m85 m
        - Sải cánh 22,04 m
        - Chiều cao: 7,17 m
        - Động cơ: 2 động cơ phản lực
        - Tốc độ lớn nhất: 1050 km/h
        - Tốc độ trung bình: 700 đên 800 km/h
        - Độ cao lớn nhất: 13.700 m
        - Độ cao trung bình: 5.200 đến 8.000 m
        - Tầm bay xa nhất: 5280 km
        - Bán kính hoạt động: 2080 km.

        Vì khả năng cơ động và tự vệ của thằng EB-66 kém nên nó không dại gì mà không “cao chạy xa bay” khi bọn F-4 thông báo có MiG và nó cũng phải nhờ đến lực lượng tiêm kích F-4 bảo vệ.

        Máy bay của tôi bị địch bắn bị thương không điều khiển được. Hệ thống dầu đỏ (dầu tạo áp lực) không còn giọt nào (kim đồng hồ chỉ số “0”). Độ cao đồng hồ chỉ còn hơn 1000 mét (nhưng độ cao thật tới mặt đất chỉ độ mấy trăm mét, nhìn thấy cây và những hòn đá to, rõ lắm rồi). Không thể chần chừ được nữa! Tôi quyết định nhảy dù! ở đây là vùng đồi núi đá với cây lúp xúp, không có bãi bằng để có thể hạ cánh bụng được. Vô cùng tiếc chiếc máy bay! Ruột tôi đau như đứt từng khúc trước khi hai tay nắm vào vòng dây kéo để bắn ghế. Một tiếng nổ đẩy tôi cùng với ghế ngồi rời khỏi máy bay, đồng thời nắp buồng lái cũng chụp vào ghế che kín người để không bị dòng không khí và lửa cháy của máy bay táp vào phi công.(MiG-21 được sản suất đầu tiên thiết kế ghế - nắp buồng lái... rất chú trọng bảo vệ an toàn cho phi công khi bắt buộc phải nhảy dù. Nhưng sau này bạn đã cử chuyên gia sang Việt Nam nghiên cứu mấy trường hợp nắp buồng lái bị biến dạng và kẹt cứng làm cho ghế không rời phi công, có nghĩa là dù cũng không tự mở được, phi công đành chịu hy sinh. Bạn đã lập tức đổi ngay sang thiết kế mới: khi bắn ghế, nắp buồng lái không đậy vào người nữa, có nghĩa là khi kéo vòng bắn ghế thì nắp buồng lái tự động bay đi trước khi ghế phóng ra).


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2016, 09:15:43 pm
        Tôi chạm đất, người bị ngã làm cho lưng chạm vào đá, đau ê ẩm! Không thể đi được nhưng các bà dân quân người dân tộc, mặt hầm hầm bước tới chỗ tôi nằm, tay cầm con dao phát rẫy, lưỡi dao trắng phớ. Tôi thoáng nghĩ, nếu mình không gắng sức để đi thì các bà sẽ chém thật. Người dân tộc nói là làm! Họ đang cơn căm phẫn vì bom của máy bay Mỹ vừa ném xuống bản. Họ xem cái chứng minh thư của tôi ghi “quê Bình Định”... Họ tưởng tôi là phi công của Mỹ-Ngụy từ miền Nam bay ra đánh phá miền Bắc. Tôi nhờ một anh dân quân nam dìu tôi đi nhưng anh cũng chỉ nắm vào khuỷu tay tôi dựa vào để đi, còn tay kia anh vẫn cầm khẩu súng “kíp” lăm lăm nhả đạn bất cứ lúc nào! Hai tay tôi bị bẻ ra sau lưng kiểu trói cánh gà, còn 2 chân trói riêng từng chân, dây trói chùng đúng chỉ một bước đi chứ không thể chạy được. Lê bước gần một giờ thì đến bản. họ đua tôi vào một cái nhà sàn to để nằm nghỉ và bắt đầu tra hỏi: “Khẩu súng giấu ở đâu?” - vì khi họ lục trong túi áo da của tôi có cái dây và móc đeo súng ngắn (tôi mặc chiếc áo da bay của Liên-xô). Hôm ấy thật xúi quẩy là tôi không mang theo súng. Cái bệnh chủ quan của tôi bây giờ đành chịu trận... Khát nước quá, cổ họng khô khốc không nói được nữa nhưng tôi không dám xin nước, vì sợ họ cho uống nước “lá ngón” (nghe đâu người dân tộc thù ghét nhau hay dùng nước “lá ngón” để hãm hại). Tôi nghĩ bây giờ họ đang cơn căm thù giặc Mỹ mà họ tưởng mình là Không quân Mỹ-Ngụy, cho nên phải đề phòng.

        Trời tối không còn nhìn thấy rõ mặt. Nhiều người đòi đốt đuốc lên cho sáng, nhưng cũng có nhiều người ngăn lại vì sợ máy bay Mỹ đến. Vừa đói, vừa khát, tôi thiếp ngủ đi thì thấy giấc mơ cũng tràn đến còn in dấu “Đơn vị đã báo cho địa phương biết rồi! Và động viên tôi: “Cô gắng chịu khát một chặp nữa sẽ có nước uống!”. Tôi mừng quá, tỉnh dậy ngay. Tôi mở mắt ra thì thấy có nhiều người ngồi xung quanh, người quạt, người xoa bóp chân tay, lưng... Dây trói không còn nữa. Như vậy là bà con du kích đã biết tôi là phi công của ta rồi! Tôi mừng quá, cảm thấy lưng như hết đau, tôi xin ngồi dậy nhưng bà con không cho, bắt phải nằm.

        Nằm trên chiếc giường tre đau lưng quá tôi xin xuống nằm dưới đất. Bà con đem nước và cháo đến nhưng tôi không thể ngồi được. Tôi nằm và bà con bón cho tôi từng thìa cháo.

        Có tí nước vào bụng, người tỉnh dần lên. Xe trên tỉnh về đua tôi về nằm ở nhà Giao tế của Tỉnh, chờ xe của đơn vị lên đón về bệnh viện 108. Nhưng phải nằm chờ ở đó mất mấy ngày vì xe bị tắc đường chưa lên được. Những ngày đó địch tập trung đánh phá, cầu Gia Bảy bị hỏng. Tôi nằm bất động ở nhà Giao tế của Tình được anh chị em chăm sóc tận tình, đặc biệt là anh y sỹ Lãnh Hải Toàn, đêm đêm anh ngồi xoa bóp chỗ lưng đau bằng mật gấu, nhờ vậy mà không bị tụ máu. Ngày nào bà con trong bản cũng mang trứng, mật ong đến thăm tôi. Thật cảm động, nhưng tôi không nói được tiếng Mường, còn bà con cũng không nói được tiếng Kinh, chỉ nhìn nhau thương rơi nước mắt! 

        Nhà Giao tế của Tỉnh sơ tán ở tận trong một khu rừng già có nhiều cây to rậm rạp. Mỗi ngày được nghe 3 lần ve sầu kêu (9 giờ, 12 giờ và khoảng 17 giờ). Khởi đầu có một con kêu, tiếp theo thì hàng trăm hàng ngàn con kêu hoặc có khi còn đông hơn. Âm thanh, tần số véo von, trong đục, rè rè... hòa quyện vào nhau thành một thứ âm thanh nghe réo rắt trong tai gợi nhớ buồn vô tận.

        Tôi vô cùng nhớ đơn vị, nhớ đồng đội, nhớ chiếc máy bay MiG thân yêu. Tôi với nó đã cùng gắn bó trong trận không chiến vừa qua, nhưng không may đã phải vĩnh biệt nó. Thật buồn nhớ làm sao! Mỗi lần cơn buồn nổi lên, tôi lại đọc câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để làm vui phần nào: “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần!”... Đúng vậy! Trận thua ngày 26 tháng 4 là do cái “dại” của mình dẫn đến, do cái tính “cố đấm ăn xôi” đã mắc phải từ bé, từ cái thuở còn đi đánh nhau với bạn bè cùng chăn bò trên cánh đồng Trang. Đã thừa hiểu là MiG-21 không nên không chiến kiểu “vòng thúng” với “Phan tôm”... nhưng vẫn theo. Một lần dại đã để lại một bài học sâu sắc cho những trận không chiến sau không một lần lặp lại...”.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2016, 09:16:23 pm
        Quân chủng cho một chiếc trực thăng lên để đón anh về, nhưng thật rủi ro, chiếc trực thăng Mi-4 chưa đi đến Cao Bằng, mới bay tới Bắc Cạn thì đã bị các hỏa lực ở mặt đất bắn rơi. Thời ấy, trong lúc hỗn loạn, thật khó phân biệt được máy bay ta hay địch. Rất ít người nghĩ rằng ta có máy bay nên chuyện bắn nhầm xảy ra không chỉ một lần. Rất may là tổ bay và các bác sĩ đi theo đều an toàn.

        Đợi gần một tuần lễ sau, khi cầu Gia Bảy sửa xong thì đơn vị lên đón anh về bệnh viện 108. Về đến nơi, sau khi khám và chụp xương sống cho anh, mới phát hiện là anh đã bị xẹp 3 đốt sống. Việc chữa được cho lành lặn đã là khó khăn rồi chứ còn nói gì đến bay nữa. Các bác sĩ băn khoăn, lo lắng, còn anh Nhị thì bi quan vô cùng.

        Anh nghĩ, có lẽ thế là hết! Thế là phải chấm dứt đời bay, phải ôm hận vĩnh biệt bầu trời! Mà rồi mình có được lành lặn để đi lại được như người bình thường hay sẽ trở thành tàn phế?... Mồm miệng tự dưng thấy đắng ngắt! Buồn quá!

        Cuối cùng, bác sĩ Địch - trưởng khoa Không quân ở bệnh viện 108 đưa ra một phương án chữa trị. Bác sĩ nói với anh:

        - Ba đốt sống sẽ liền lại như cũ và có thể bay được, nhưng muốn vậy phải kiên trì chịu đựng trong vòng 3 tháng. Liệu anh có chịu được không?

        - Nếu bác sĩ chữa cho tôi bay được thì khổ cực đến đâu tôi cũng chịu được! - anh trả lời.

        Và anh đã phải nằm bất động trong một thời gian dài. Mọi cử động đều ảnh hưởng đến cột sống. Anh phải nằm trên chiếc giường có độ dốc đến 30 độ, hai vai buộc dây treo hai hòn gạch để giữ cho người không bị tụt xuống, hai chân cũng buộc hai cục gạch để kéo giãn đốt sống theo độ dốc của giường nằm.

        Anh kể lại:

        - Nằm bất động như vậy đúng là một cực hình. Một tuần trôi qua thấy dài lắm! Rồi nửa tháng. Rồi một tháng... Trời thì nóng bức, điện lúc có lúc không, chiếc quạt “tai voi” chạy mãi rồi cũng như không muốn làm việc nữa vì quá mệt, có lúc nó uể oải, quay lờ đờ trông đến thảm hại.

        Nghĩ đến chuyện có thể được bay trở lại, anh lại thấy mình như được tiếp thêm nghị lực, lại tiếp tục chịu đựng cảnh “tra tấn” kia.

        Bác sĩ Địch kiểm tra 3 đốt sống thấy có tiến triển tốt, bắt đầu cho anh tập đi trong nhà cho quen dần, hướng dẫn cho anh tập cúi xuống, ngửng lên nhẹ nhàng để chống bị xơ cứng về sau này.

        Anh tập theo sự hướng dẫn của bác sĩ Địch, sau gần một tháng kiên trì ngày qua ngày liên tục với các động tác quy định... chỉ cốt sao nhanh chóng được trở lại bầu trời, sau đó anh phải qua vòng “khám tuyển phi công”. Sau vòng khám tuyển, Hội đồng Giám định đã ghi: “Đủ điều kiện bay!”, cầm quyển sổ sức khỏe với dòng chữ “đủ điều kiện bay!”, anh vui sướng đến trào nước mắt! Vậy là con đường trở lại bầu trời vẫn còn rộng mở đối với anh. Anh lại được vẫy vùng trong không trung, lại được sát cánh cùng đồng đội, lại được chiến đấu để quét sạch lũ giặc trời, trả lại cho bầu trời sự yên bình, trả lại cho mặt đất sự yên lành, để rồi một mai - tất cả những ánh mắt của các Mẹ, các chị, các em... nhìn lên bầu trời đày chan chứa yêu thương.

        Duyên phận với bầu trời vẫn chua từ bỏ anh, còn bắt anh gắn kết với bầu trời nhiều nữa.

        Ngày 20 tháng 7 năm 1966, cầm tờ giấy xuất viện với dòng chữ ghi trong đó là: “Về đơn vị tiếp tục bay...” mà anh như có đôi cánh mọc sau lưng, mỗi bước đi thấy sao thật nhẹ lâng lâng. Lòng vui sướng không tả sao cho hết. Cám ơn bác sĩ Địch. Cám ơn chị Gái - người chị mà cả khoa Không quân ai cũng coi chị như người chị cả. Cám ơn các bác sĩ của khoa... Công ơn của các bác sĩ anh luôn ghi nhớ trong lòng. Anh sẽ mang theo trong từng chuyến cất cánh, từng trận không chiến... để lấy đó như nguồn lực, nguồn động viên lớn lao khi vào trận chiến. Mỗi chiếc máy bay do anh bắn hạ đều có công lao của các y bác sĩ ở trong đó.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2016, 09:18:37 pm
        Anh về đơn vị đúng vào thời điểm Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc ngày càng ác liệt. Không quân Mỹ tăng cường đánh phá các vùng ngoại vi Hà Nội như kho xăng Đức Giang, các nhà ga...

        Ở miền Nam thì Mỹ ồ ạt đổ thêm quân Mỹ và quân chư hầu...

        Lời kêu gọi của Bác: “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” như hồi kèn xung trận, thôi thúc trong tim từng người.

        Lực lượng của Không quân ta được phát biển mạnh.

        Toàn bộ MiG-17 chuyển giao hết cho Trung đoàn 923. Liên-xô viện trợ thêm cho ta loại MiG-21 F13, tuy cũ hơn loại PF, nhưng nó được trang bị một khẩu 30 li, 2 tên lửa “không đối không” và tính năng không chiến “đánh quần” không kém gì loại F-4 (Phan-tôm). Các chuyên gia bay, đội kỹ thuật lắp ráp máy bay của Liên-xô ở ngay gần Trung đoàn để giúp đỡ về mặt kỹ thuật rất kịp thời.

        Trung đoàn bay MiG-17 có một tổ chuyên gia Cu-ba huấn luyện cho chúng ta cách đánh mục tiêu ngoài biển - cách ném bom thia lia...

        Chúng tôi thân với các bạn Cu-ba từ hồi còn cùng học bay ở trường Cu-sôp-xca-ia. Các bạn Cu-ba với ta hệt như hai anh em ruột thịt trong một nhà, tuy hai đất nước ở hai bán cầu cách nhau nửa vòng Trái đất, nhưng gắn bó với nhau mật thiết vô cùng. Sự giúp đỡ, sự chi viện của các bạn Cu-ba đối với ta lớn lao vô cùng, quý giá vô cùng.

        Những khi gặp các bạn Cu-ba, nghe giới thiệu xong là bỗng dưng như thấy đã quen nhau từ rất lâu rồi, và nói chuyện với nhau rất tự nhiên, thoải mái mặc dù nhiều khi cứ phải khua chân múa tay vì ngôn ngữ bất đồng. Hai dân tộc cách xa nhau vậy mà sao lại thấu hiểu, đồng cảm với nhau đến vậy!

        Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đề nghị được cử những phi công tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu. Chính phủ ta chấp nhận và một lực lượng phi công lái MiG-17, MiG-21 cùng các bộ phận đảm bảo, chỉ huy, tham mưu, dẫn đường, kỹ thuật... đã sang tham gia huấn luyện và chiến đấu.

        Thật đáng trân trọng sự giúp đỡ nhiệt tình, có hiệu quả của các bạn Triều Tiên. Tinh thần giúp đỡ thật trong sáng. Tinh thần quốc tế của các bạn thật quý giá. Các bạn đóng quân ở sân bay Kép là chính. Tôi cũng có dịp cùng được trực vớí các bạn. Tuy ngôn ngữ bất đồng, không nói được tiếng của nhau nhưng rất hiểu nhau. Phi công bao giờ cũng hiểu nhau dễ hơn, thông hiểu nhau nhanh hơn. Các bạn đã chiến đấu hăng hái, hy sinh quên mình, sát cánh cùng các phi công Việt Nam chống lại lực lượng không quân Mỹ. Các bạn đã lập được nhiều chiến công, nhưng không phải là không có tổn thất. Tổn thất nào cũng đáng tiếc, cũng đau thương, nhưng với các bạn thì sự thương tiếc, thương đau hơn nhiều. Các bạn - những con người ở tận đẩu tận đâu vì nghĩa cả, dám chấp nhận hy sinh để giành giật lấy chiến thắng, giành lại cho bầu trời Việt Nam thanh bình thì còn gì cao quý bằng. Sự mất mát của các bạn còn gì tiếc thương bằng.

        Cũng trong giai đoạn này, lực lượng của ta phát triển khá mạnh, nhưng với lực lượng bay trên MiG-21 thì vẫn chưa có cách đánh cụ thể để đạt hiệu suất cao. Các phi công MiG-21 vẫn vào quần “vòng thúng” với địch và nhiều trận ta bị tổn thất.

        Khi anh Nhị được ra viện, bác sĩ cho anh về đơn vị nhưng bắt phải đi nghỉ an dưỡng 1 tháng. Anh bứt rứt vì tình hình đơn vị, muốn nhanh chóng được tham gia chiến đấu nên nài nỉ xin chỉ đi an dưỡng nửa tháng thôi! Cuối cùng, ý kiến của anh cũng được chấp nhận.

        Anh cùng với một số anh em khác được lên nghỉ ở khu nghỉ mát Tam Đảo, nhưng trước khi đi nghỉ, Trung đoàn trưởng Trần Mạnh căn dặn anh:

        - Cậu lên Tam Đảo nghỉ để lấy lại sức sau trận nhảy dù, song hãy cố gắng nghiên cứu đề xuất cách đánh của MiG-21, để sau khi đi nghỉ, về lại đơn vị, sẽ tổ chức “Quân sự dân chủ” thảo luận tìm cách đánh cho MiG-21!

        Vậy là tuy anh đi nghỉ, nhưng phải làm việc căng thẳng, nghiêm túc để tìm cho bằng được cách đánh phù hợp, hiệu quả cho MiG-21.

        Suốt thời gian nghỉ, mấy anh em thảo luận liên tục nhưng vẫn không “thoát” được khỏi những cách đánh cũ, vẫn cứ luẩn quẩn..

        Hết những ngày nghỉ, anh về đơn vị nhanh chóng hồi phục để tham gia trực chiến.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2016, 07:25:19 am
        Giai đoạn này là giai đoạn địch tích cực bay trinh sát tầng cao để chụp ảnh các mục tiêu xung quanh Hà Nội. Đấy cũng là dấu hiệu địch sẽ đánh lớn.

        Anh lại được lệnh xuất kích đi đánh KNL. Trận thứ hai này là trận nhầm mục tiêu (kể cả từ SCH). Anh phải hạ cánh xuống sân bay Bình Viễn của Trung Quốc vì hết dầu và mấy ngày sau khi đoàn của Trung đoàn phó Trần Hanh cùng với các tổ trưởng bộ môn (như thợ máy, đặc thiết...) sang Bình Viễn làm việc với bạn, kiểm tra chuẩn bị máy bay xong, anh mới lại cất cánh bay về căn cứ Đa Phúc.

        Ngày anh về đến Đa Phúc là ngày trời rất xấu: mây thấp, tầm nhìn kém - mọi tiêu chuẩn khí tượng đều không đảm bảo cho việc hạ cánh, nhưng không còn cách nào khác, anh vẫn phải xuống. Bình tĩnh, các động tác chuẩn xác... anh đã đưa máy bay về hạ cánh an toàn.

        Trung đoàn trưởng ra tận máy bay đón anh, ôm hôn thắm thiết. Suốt chặng đường chiến đấu của mình, anh luôn nhớ tới lời của Trung đoàn trưởng:

        - Cậu đã bình tĩnh, quả cảm, xử lí chính xác, cho nên người còn, máy bay còn về đây. Vậy phải giữ vững tinh thần, khí phách người lái máy bay chiến đấu để tiếp tục chiến đấu nhé!

        Lời nói ấy cũng là lời động viên, lời nhắc nhở của cấp trên đối với anh. Những lúc gian nan, những lúc gặp những tình huống khó khăn, bất trắc... anh lại nhớ lại lời nói ấy của Trung đoàn trưởng. Lời động viên, nhắc nhở ấy như tiếp thêm sức mạnh cho anh để anh vượt qua mọi trở ngại, gian truân.

        Thời kỳ này cũng là thời kỳ ta áp dụng cách đánh với biên đội lớn. MiG-21 sử dụng biên đội 2 chiếc xen kẽ với biên đội 4 chiếc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/03_zpsmmda04xy.jpg)
Biên đội chiến đấu: Nguyễn Hồng Nhị (số 1), Nguyễn Đăng Kính (số 2)
(Nguyễn Hồng Nhị ngồi trong buồng lái)

        Trận đánh ngày 19 tháng 12 năm 1966 là trận sử dụng biên đội 4 chiếc với MiG-21, Biên đội gồm: số 1 - Nguyễn Hồng Nhị, số 2 - Nguyễn Đăng Kính, số 3 - Vũ Ngọc Đỉnh, số 4 - Nghiêm Đình Hiếu. Biên đội cất cánh đến khu vực Vĩnh Yên thì gặp địch ở thế đối đầu. Biên đội vòng gấp bên trái bám theo địch. Biên đội của địch gồm hơn 20 chiếc gồm cả tiêm kích bom và tiêm kích đi yểm hộ. Khi phát hiện được máy bay MiG, chúng vứt bom và quần theo chiến thuật lượn “vòng thúng” để không chiến với MiG. Anh Vũ Ngọc Đỉnh nhanh chóng bắn rơi 1 chiếc F-105, anh Nguyễn Hồng Nhị bắn bị thương 1 chiếc khác (thằng F-105 bị anh bắn, bay lảo đảo như thằng say, lết về đến Thái Lan thì phải nhảy dù. Sau này, báo chí phương Tây đăng tin thì ta mới biết). Đấy cũng là trận đánh kết thúc năm 1966 với MiG-21 vì những ngày cuối tháng 12 là những ngày trời rất xấu, không thể bay, không thể xuất kích được. Tất cả đều ngồi “Quân sự dân chủ” bàn cách đánh.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2016, 07:27:40 am
        Giai đoạn đầu năm 1967 là giai đoạn ta chịu nhiều tổn thất. Qua những trận đánh ta chịu tổn thất này, ta đã “đoạn tuyệt” với cách đánh quần, với lối “vòng thúng” theo địch.

        Quyết định đánh theo lối đánh mới cho MiG-21 là quyết định táo bạo - đánh theo lối đánh chặn, thọc sườn, tạo đà, tạo thế, thọc sâu, đánh nhanh, rút nhanh. chọn đúng mục tiêu...

        Quyết định sáng suốt của Trung đoàn trưởng, trí tuệ của tập thể, sự hiệp đồng chặt chẽ của các thành phần, sự chỉ đạo kịp thời của cấp trên .... Tất cả những cái đó tạo nên s ức mạnh giành thắng lợi.

        Tìm được cách đánh đúng - hiệu suất chiến đấu tăng hẳn. Trong Trung đoàn đã xuất hiện nhiều phi công đánh giỏi, nhiều “sát thủ” ở trên không như các anh Nguyễn Ngọc Độ, Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc, Mai Văn Cương, Vũ Ngọc Đỉnh, Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Nhật Chiêu, Đồng Văn Song, Nguyễn Hồng Nhị...

        Bọn địch từ lúc xem thường Không quân ta, coi các máy bay MiG chỉ như “những con muỗi mắt”, tiếp đến phải “xóa sổ các máy bay MiG”, nhưng đều gặp phải những thất bại cay đắng. Chúng thực hiện những âm mưu xảo quyệt, hèn hạ, trong đó có việc tìm mọi cách sát hại phi công ta, các lực lượng, trang bị của ta ở dưới mặt đất và cả ở trên trời...

        Ví như trường hợp của anh Hoàng Đức Lộc, khi anh tham chiến trên vùng trời Thái Nguyên, máy bay của anh trúng đạn, anh phải nhảy dù. Biên đội 2 chiếc F-4 đã đuổi theo dù, dùng súng 20 li bắn theo. Một viên đạn đã sượt qua xương sọ của anh, bay đi mất một mảng, may là không chạm vào não nên anh còn sống. Anh được đưa về bệnh viện 108 điều trị, được các bác sĩ “vá” bằng một miếng mi-ca. Anh vẫn còn tiếp tục bay chiến đấu một thời gian nữa, mãi sau này mới thôi bay xuống công tác dưới mặt đất.

        Nói vậy để thấy đủ mức độ dã man, tàn bạo và hèn hạ của lũ Không quân Mỹ - một lũ không thể đội trời chung!

        Vào giữa năm 1967, Liên-xô viện trợ cho ta loại MiG- 21 mới với tính năng vượt trội hơn, vũ khí cũng nhiều hơn, đa dạng hơn. Lực lượng phi công cũng được bổ sung nhiều hơn. Vậy là sức chiến đấu của Trung đoàn đã lớn mạnh hơn.

        Cho đến giai đoạn này thì đã có nhiều phi công bắn rơi được 4 đến 5 chiếc máy bay địch rồi.

        Cuối tháng 6 năm 1967, những anh em bắn rơi 4 máy bay Mỹ được đơn vị phân công cho đi nghỉ mát, an dưỡng ở Tam Đảo, trong số đó có các anh Nguyễn Nhật Chiêu, Mai Văn Cương, Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Ngọc Xíu, Lê Trọng Huyên... nghĩa là đi đợt này khá đông, khá vui vẻ, hồ hồi, phấn khởi (khác hẳn với đợt đi nghỉ trước là đi nghỉ mà cứ vò đầu bứt tai tìm mãi không ra cách đánh).

        Chính trong đợt nghỉ này, anh đã gặp “cô sơn nữ” mà rồi sau này trỏ thành người đồng chí, người bạn đời của anh. Tôi sẽ kể sau.

        Thành tích chiến đấu của các anh cứ tăng dần theo năm tháng, theo những lần xuất kích. Cuối tháng 8 năm 1967, anh cùng với anh Nguyễn Đăng Kính xuất kích đi đánh bọn trinh sát RF-4. Các anh bay đến vùng trời Nghĩa Lộ thì gặp bọn chúng trên đường quay ra. Bọn địch cũng phát hiện được các anh. Chúng cơ động gấp hết sang trái lại sang phải, vẫn thấy các anh bám chặt phía sau. Chúng liền cắm xuống với góc bổ nhào lớn. Anh Hồng Nhị phán đoán kiểu gì chúng cũng phải kéo lên, chứ không thể cắm đần cắm cổ lao xuống mãi được. Anh lẩm bẩm ; “Tao không dại gì mà lao theo mày để đâm vào núi!”. Quả vậy, nó đã kéo lên. Chờ cho thằng địch ngóc lên, anh bình tính đua nó vào vòng ngắm và ấn nút phóng tên lửa, hạ thằng trinh sát chiến thuật RF-4 ngay tại chỗ. Tháng 9 năm 1967, biên đội Nguyễn Hồng Nhị, Đồng Văn Song đã bắn rơi RF và F-4. Tháng 10 năm 1967, anh tiếp tục hạ 1 chiếc RF khi bay cùng số 2 là Nguyễn Đăng Kính. Cho đến tháng 11 năm 1967 thì anh Hồng Nhị đã bắn rơi 7 máy bay địch. Trận đánh vào ngày mồng 7 tháng 11, đúng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga cũng là trận đánh đáng nhớ. Biên đội của anh: Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Đăng Kính đã không chiến với 6 tốp địch. Các anh đã áp dụng chiến thuật đánh nhanh, thọc sâu vào đội hình kéo dài của địch có lực lượng tiêm kích F-4 đi bảo vệ hai bên sườn đội hình. Anh xông thẳng vào biên đội của chúng, bắn dọc theo đội hình làm bọn F-4 bay dạt ra. Chớp thời cơ, anh lao ngay vào tốp thứ hai, hạ gục tại chỗ thằng F105, bắt sống giặc lái và anh Nguyễn Đăng Kính cũng tiêu diệt một thằng F- 4. Toàn bộ trận đánh ngày hôm ấy, anh ghi lại trong sổ nhật ký như sau:

        “Từ sân bay Gia Lâm về, trên đường đi, tổ lái máy bay trực thăng cố tình bay thật thấp, băng qua các nhà máy, xóm làng, các trận địa cao xạ, tên lửa và đến những cánh đồng lúa vừa chín tới, như cố tình trêu chọc chúng tôi: Đấy, những máy bay cường kích của Mỹ lọt vào ném bom phá và bom bi lỗ chỗ khắp nơi đấy. Các ông lái “vỉ ruồi” đã thấy chua?

        Cái nghề lái máy bay của chúng tôi nhạy cảm với việc trêu nhau lắm!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2016, 07:30:55 am
        Thật vậy, riêng lòng tôi cũng cảm thấy hổ thẹn vì những ngày tháng qua, bọn “vỉ ruồi” mình chưa hoàn thành nhiệm vụ. Sân bay để địch đánh phá hỏng nặng, phải chạy đến nhờ sân bay bạn để chiến đấu, nhưng “đánh đấm” cũng chưa tốt lắm. Anh em phục vụ mặt đất thì gian nan vất vả lắm, họ làm việc với tinh thần là tất cả để chiến thắng, nhưng mình đi đánh thì lại chưa thắng. Bà con  xung quanh căn cứ thì bị thiệt hại nặng nề về tài sản. Tính mạng nhân dân cũng có tổn thất. Nhưng họ có nề hà gì đâu, tiếng bom chưa ngừng là họ đã đổ xô ra ngõ chờ tiếng loa gọi là “đi sửa chữa sân bay cho bộ đội quần xanh”. Đặc biệt hôm nay về lại sân bay tôi lại càng thấy thấm thía điều đó hơn “thế nào là sức mạnh của quần chúng”. Càng thôi thúc lòng tôi, biên đội tôi là hôm nay phải cất cánh nhanh đi chiến đấu ngay bây giờ để rửa thù cho nhân dân, đền đáp lại công ơn của bà con làng xóm.

        Trả thù cho Thủ đô yêu quý!

        Chưa có máy bay để tiếp thu, chúng tôi đi dạo một lần qua đường lăn và đấy cũng là đường cất cánh chiến đấu chiều nay. Những mảng bê-tông còn mới nguyên, còn nồng mùi vôi vữa vừa đổ lấp những hố bom đêm qua. Đấy là mồ hôi, là xương máu của bà con xung quanh căn cứ, của đồng đội để lại ở mảng bê-tông này. “Hôm nay ta phải quyết giữ cho được!” - tôi nói với số 2 như thế.

        Ở căn hầm của SCH, mọi người làm việc hết sức điềm tĩnh. Bình tĩnh mà khẩn trương lạ. Đồng chí Chính ủy có cằm hơi nhọn, miệng hơi rộng, mắt sâu, cộng với những ngày cơ động ác liệt vừa qua trông đồng chí sút hẳn đi, lại bị căn bệnh dạ dày, kém ăn nữa. Lẽ ra đồng chí phải đi chữa bệnh, nhưng đồng chí nói:

        - Tao mà xa chiến đấu một ngày thì bệnh chỉ có thể nặng thêm lên mà thôi!

        Thế đấy! Đồng chí lấy việc lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu vượt lên tất cả, mà khỏe ra, mà thông minh sáng suốt. Đúng vậy, cứ nhìn vào đồng chí Chính ủy là như mình được chuyển thêm quyết tâm, khó khăn mấy cũng vượt qua. Tác phong lãnh đạo của đồng chí còn có một sự thuyết phục, gương mẫu cao nữa. Tôi mà gặp đồng chí Chính ủy thì không có ưu điểm gì mà không nói ra và cũng không có sai lầm, thiếu sót gì mà lại không bộc lộ...

        Bên cạnh đồng chí Chính ủy là đồng chí Trung đoàn trưởng có khuôn mặt hiền hậu nhưng nghiêm túc, có tác phong chỉ huy điềm đạm mà thẳng thắn. Lúc nào đồng chí cũng nhìn sâu vào bản chất quân thù mà đánh giá hành động của chúng để chỉ huy bộ đội mình chiến đấu.

        Trước tập thể thì hết sức dân chủ, chín chắn, nhưng trước cá nhân thì hết sức thẳng thắn, cương trực.

        - Yêu cầu hôm nay đánh một trận thắng tốt! Đó là yêu cầu cấp bách của đơn vị! - đồng chí nói ngắn gọn như thế rồi hạ lệnh cho chúng tôi đi tiếp thu máy bay.

        Đồng chí còn nắm chắc tính nết từng người lái trong đoàn nữa. Nếu như biên đội nào khác thì đồng chí còn nói nhiều hơn, nhưng đối với tôi cục mịch nói là làm, cũng có lúc nóng như Trương Phi, như rừng dừa Tam Quan nổi gió, mà cũng có lúc yên lành, mát mẻ như đầm ô Loan phẳng lặng.

        Mọi việc chuẩn bị xong, đang ngồi tán với ông bạn đồng hương trực ban sân bay thì được lệnh cất cánh. Vì đường lăn rộng chỉ có 16 mét nên không thể cất cánh đôi được, vì thế phải có động tác tập họp biên đội, nhưng Kính - số 2 hôm nay cũng có vẻ lanh lẹ hơn, chỉ trong khoảnh khắc là biên đội chỉnh tề trên đường đi gặp địch.

        Chúng tôi đi, đầy lòng tin tưởng quyết đánh quyết thắng, vì hôm nay là ngày tập trung sự chỉ đạo cao nhất từ trước đến nay.

        Ở SCH thường xuyên có đồng chí Chính ủy và Trung đoàn trưởng, có các cán bộ chính trị, tham mưu...

        Ở Bộ tư lệnh có sự chỉ đạo chặt chẽ nữa thì nhất định mình sẽ thắng.

        Trên đường đi chặn địch, lướt qua bao làng bản quê hương ruộng nương san sát, núi đồi nhấp nhô, những con sông như những sợi chỉ trắng ngoằn ngoèo trên thảm cỏ xanh. Tất cả những bức tranh tuyệt đẹp đó, tôi đã được ngắm nhiều lần, không bao giờ biết chán nó, nhưng nó cũng không thể nào làm cho tôi mất cảnh giác được.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2016, 08:28:17 pm
        Tiếng Trung đoàn trưởng trầm tràm cất lên trong tai nghe của tôi:

        - “Ruồi xanh” phía trước... độ,...km. Biên đội chuẩn bị chiến đấu!

        - Rõ! - tôi trả lời cũng dõng dạc để đáp lại tiếng nói điềm đạm của đồng chí Trung đoàn trưởng..

        - Phía trước, bên trái... km có 3 tốp, 5 tốp!... - tiếng số 2 phát hiện địch báo cáo.

        Và toàn bộ bọn chúng là 6 tốp. Chúng tôi chuẩn bị vào chiến đấu, đánh phủ đầu ngay từ đầu.

        Bọn chúng cũng phát hiện, tìm cách đối phó lại, nhưng muộn rồi! Chúng tôi đã bám sát đuôi chúng và bắn một quả tên lửa vào tốp tiêm kích đi hộ tống làm cho đội hình địch rối loạn, thằng nào cũng lo ngoặt gấp để tránh tên lửa. Chớp thời cơ, tôi tăng tốc độ xông thẳng lên đội hình địch, thực hiện chiến thuật “đánh nhanh, thọc sâu”, bắn rơi tại chỗ 1 F-105 (Thần sấm). Thằng giặc lái nhảy dù, bị bắt sống, số còn lại vội vàng quăng bom ngoài mục tiêu, tháo chạy.

        Tiếng Trung đoàn trưởng lại vang lên trong tai tôi:

        - Tất cả “Thắng lợi!” (Thoát ly, quay về!).

        Như thế là âm mưu của địch hôm đó định đánh vào sân bay chúng tôi một lần nữa lại phá sản hoàn toàn. Chúng tôi quay về an toàn. Người sung sướng đầu tiên bắt tay chúng tôi là anh em cơ vụ. Đó là thành tích của họ, thành tích to lớn thuộc về họ, rồi đến SCH Trung đoàn và cả căn cứ này. Bà con xung quanh thấy máy bay ta về, trên đài truyền thanh thông báo tin bắn rơi địch thì họ cũng nghĩ trong thành tích đó có sự đóng góp của bà con. Những thành tích đó là của tất cả chúng ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ kính yêu!”.

        Cuối năm 1967, nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, anh đã được Bác Hồ kính yêu tặng cho anh chiếc đồng hồ nữ khi biết anh đã lập gia đình. Đồng chí Chính ủy Trung đoàn nhận từ tay Bác đem về trao lại cho anh Nhị và nhắc lại lời Bác: “Bác gửi tặng chú Nguyễn Hồng Nhị chiếc đồng hồ này. Mong chú Nhị cố gắng hơn nữa, luôn xứng đáng là chiến sĩ của Thành đồng Tổ quốc!”. Chính ủy cũng nói thêm là Bác đã biết tin anh đã lập gia đình nên tặng chiếc đồng hồ nữ và Bác đồng ý cho cô Dậu được đeo chiếc đồng hồ này. Bác nói: “Chiến công bắn rơi máy bay Mỹ của chú Nhị là có công của cô ấy!”.

        Quá xúc động, anh Nhị đứng lặng đi rồi đưa hai tay đỡ lấy chiếc đồng hồ, tưởng như đang nhận tặng vật quý giá này từ tay Bác. Không còn sự cảm động nào hơn. Bác đã quan tâm đến anh như người Cha quan tâm đến con vậy. Công việc của Bác nhiều như vậy mà Bác vẫn nhớ đến những chi tiết rất nhỏ. Anh lại nhớ lại những giây phút được gặp Bác, nhớ lại những lời nói ôn tồn, âu yếm của Bác:

        - Cuộc chiến đấu của quân và dân ta còn lâu dài. Say sưa và quyết tâm chiến đấu là đúng. Nhưng các chú say sưa chiến đấu vẫn không được quên đến việc chăm lo cho hậu phương, cho hạnh phúc riêng của mình. Riêng chuyện này, các chú đừng học Bác.

        Rồi Bác nói tiếp:

        - Bác nghèo, Bác chả có gì cho các chú. Bác tặng mỗi chú một chiếc huy hiệu của Bác và Bác mời các chú ăn chuối, ăn kẹo. Chú nào ăn được bao nhiêu cứ ăn, ăn không hết được thì mang về! Các chú cứ đánh Mỹ cho giỏi, bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ là Bác khỏe, Bác vui!”.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/03a_zps5htwyu8s.jpg)
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong buổi gặp gỡ với các phi công đã từng bắn rơi máy bay Mỹ
(Anh Nguyễn Hồng Nhị ngồi hàng đầu ngoài cùng bên phải)

        Anh thầm hứa là phải sống sao cho xứng đáng với sự quan tâm của Bác, phải chiến đấu thật dũng cảm, bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ, làm cho Mỹ chóng thua để nhanh chóng giải phóng miền Nam, để đón Bác vào thăm đồng bào miền Nam ruột thịt trong đó có gia đình anh.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2016, 08:32:39 pm
        Anh lại được cử đi bay đề cao một thời gian ngắn. Anh rất muốn ở lại đơn vị để được tiếp tục chiến đấu, nhưng nhiệm vụ đã giao là phải chấp hành. Anh tâm sự với vẻ luyến tiếc:

        - Đang ở giai đoạn căng thẳng của cuộc chiến tranh ác liệt mà mình lại phải xa anh em thì thật tiếc vô cùng, lúc nào anh cũng muốn đồng cam cộng khổ với anh em nhất là vào thời điểm này khi cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân của Mỹ đang ở đỉnh điểm thì dù có phải hy sinh cũng không sợ. Mặt khác, anh muốn được chiến đấu để bắn rơi thêm một số máy bay Mỹ để kính dâng Bác Hồ, thực hiện trọn lời hứa với Bác.

        Cứ mỗi lần bắn rơi một máy bay của Mỹ thì Bác lại gửi tặng cho phi công một chiếc huy hiệu của Bác. Đấy là món quà của Bác và cũng là niềm tự hào của phi công. Nhìn lên ngực áo của phi công là có thể biết được thành tích của phi công đó rồi.

        Mùa khô năm 1968, ta tăng cường lực lượng vận chuyển hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Địch cũng ra sức đánh phá các tuyến đường của ta đặc biệt là từ khu Bốn trở vào, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Anh Nhị cùng một số phi công cơ động vào sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa (sân bay Thọ Xuân trong giai đoạn chiến tranh mang mật danh B-l).

        Kẻ địch thay đổi chiến thuật, thay đổi cách đánh liên tục. Ta cũng phải tìm ra những cách đánh mới, sáng tạo, linh hoạt... trong từng trận chiến. Một trong những số đó là cách thay đổi đội hình chiến đấu. Với MiG-21, đội hình chiến đấu quen thuộc thường là 2 chiếc, 4 chiếc. Đội hình đó có nhiều ưu điểm, nhưng có cái gì đó vẫn bị gò bó ở vị trí số 2. Sau những lần “Quân sự dân chủ” tìm cách đánh, đã đưa ra đội hình chiến đấu mới - đội hình 3 chiếc. Với đội hình này, số 2 vẫn là người yểm hộ cho số 1, số 3 ngoài việc cảnh giới cho cả biên đội còn là người hoạt động tự do hơn cả, được ví như vị trí “trung vệ thòng” trong bóng đá. Số 3 có thể bay cao hơn hoặc thấp hơn biên đội, có thể bay phía cánh trái hoặc cánh phải của biên đội, ờ cự li tùy ý - tức là ở khoảng cách hợp lý nhất. Khi gặp địch, cả số 1 và số 2 có thể đồng thời công kích và số 3 làm nhiệm vụ cảnh giới, bảo vệ cho toàn biên đội. Nhưng cũng có thể chính số 3 lại là người công kích vì sẽ gây bất ngờ cho địch bởi chúng bao giờ cũng nghĩ ta chỉ đi biên đội 2 chiếc, chỉ chăm chú đối phó với biên đội 2 chiếc thôi. Anh Nhị được giao nhiệm vụ bay ở vị trí số 3 đi đánh thử nghiệm đội hình 3 chiếc.

        Ngày mồng 1 tháng 8 năm 1968, biên đội 3 chiếc của các anh: Nguyễn Đăng Kính (số 1), Phạm Văn Mạo (số 2) và Nguyễn Hồng Nhị (số 3) xuất kích từ sân bay Thọ Xuân bay vào vùng trời Thanh Chương - Nghệ An. Hôm ấy trời đầy mây, khi SCH thông báo tình hình địch, số 1 và số 2 không phát hiện được địch. Anh Nhị phát hiện một biên đội máy bay F-8, báo cáo và xin phép vào công lách. Được phép công kích, anh từ trên cao lao xuống đánh, bắn rơi ngay 1 chiếc F-8. Loại máy bay F-8 là máy bay tiêm kích của Hải quân Mỹ. Nó có những tính năng như sau:

        - Thân dài: 16,61 m
        - Sải cánh: 10,87 m
        - Chiều cao: 4,80 m
        - Động cơ: 1 động cơ phản lực
        - Tốc độ lớn nhất: 1860 km/h
        - Tốc độ trung bình: 750 đến 800 km/h
        - Độ cao lớn nhất: 18.000 m
        - Độ cao trung bình: 1.500 đến 4.000 m
        - Tầm bay xa nhất: 2.000 km
        - Bán kính hoạt động: 640 km
        - Khả năng mang vũ khí: 2 đến 4 tên lửa “Không đối Không”, 4 khẩu 20 li, rốc-két

        Tính năng cơ động theo mặt phẳng ngang của F-8 rất tốt. Một thời gian khá dài lực lượng MiG-21 rất chật vật khi vào trận không chiến với F-8 và cũng đã từng bị chúng bắn rơi.

        Sau khi anh Nhị bắn cháy thằng F-8, anh kéo cao thoát li thì bị bọn khác đuổi theo. Máy bay của anh bị trúng đạn, anh phải nhảy dù xuống vùng rừng núi của huyện Thanh Chương. Tiếp đất, đi được một đoạn thì anh gặp một chú gấu chắc ăn nhiều mật ong, bị “say” mật, lăn kềnh dưới gốc cây, còn một con nữa đang bám ữên cây tiếp tục ăn mật. Anh rút súng ngắn, định “xử lí” chú gấu đó để lấy mật gấu xoa vết thương cho mình, nhưng sợ bắn nó không chết ngay thì còn nhiều hiểm họa hơn. Vì vậy, anh lại cất súng đi, mặc cho chú gấu nằm lại đó, anh xuôi dốc, lần theo dòng suối để ra bìa rừng. Đi được vài trăm mét thì anh gặp các đồng chí dân quân, du kích đến đón. Trời lúc bấy giờ u ám, mây vần vũ sắp mưa đến nơi, anh lại đang bị thương, đi dốc rừng rất khó khăn nên các anh du kích đã thay nhau cõng anh để thoát ra khỏi rừng cho nhanh. Về tới nhà dân, anh được mọi người lấy mật gấu xoa bóp vết thương và nấu cháo với mật ong cho anh ăn nên anh hồi sức khá nhanh.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2016, 08:39:12 pm
        Sáng hôm sau, người của lâm trường Thanh Chương đến đón anh, cùng anh đạp xe đạp về xã Thanh Phong. Rồi từ Thanh Chương, anh được chuyển về bệnh viện 108. Anh nằm điều trị ở bệnh viện 108 trong vòng 2 tuần, sau đó tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu.

        Tính cho đến giai đoạn này, anh đã bắn hạ 8 chiếc máy bay địch gồm các loại BQM-34, F-4, F-105, RF-101, RF-4C, F-8.

        Tháng 6 năm 1969, anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký tặng. Anh vui mừng khôn tả. Anh đã thực hiện được lời hứa với Cha anh, với quê hương anh, với đồng bào miền Nam ruột thịt Biết được tin này chắc gia đình mừng lắm, vợ anh chắc mừng lắm. Vinh dự thật lớn lao, thật tự hào và trách nhiệm cũng thật lớn. Anh thầm nhủ, mình không được tự kiêu, tự mãn, phải rèn luyện hơn nữa, phải cố gắng nhiều hơn nữa để xứng đáng với danh hiệu ấy, xứng đáng với lòng mong mỏi và sự quan tâm của Bác, xứng đáng với Quê hương thành đồng và truyền thống của gia đình.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/03b_zps86q1voul.jpg)
Danh hiệu cao quý được nhà nước phong tặng

        Niềm vui với anh chưa được bao lâu thì tin buồn đột ngột đến: Bác Hô muôn vàn kính yêu đã qua đời. Nhận được tín mà anh không còn tin vào tai mình nữa. Lẽ nào Bác lại ra đi đột ngột như vậy! Anh vẫn còn như thấy bóng dáng Bác vừa đến thăm bộ đội Không quân, ân cần hỏi han từng người, nhìn các phi công trực chiến giữa trời nóng bức với những bộ quần áo kháng áp bó sát người, Bác khen ngợi:

        - Các chú có tinh thần khắc phục khó khăn như thế là tốt. Trông thấy các chú trẻ khỏe, làm chủ những chiếc máy bay hiện đại của đất nước, Bác rất vui!

        Và Bác còn nói vui:

        - Các chú không đánh nhanh lên, đồng bào và du kích miền Nam đánh hết máy bay Mỹ đấy!

        Rồi anh nhớ đến cảnh tượng Bác quan tâm đến anh như thế nào, nhớ từng lần được gặp Bác, nhớ việc Bác gửi cho anh chiếc đồng hồ nữ khi biết anh đã lập gia đình. Anh vẫn biết cái quy luật đến với một đời người là “Sinh - Lão - Bệnh - Tử”, nhưng sao mà nó lại đến với Bác sớm thế? Bác mong muốn được vào thăm đồng bào miền Nam nhân ngày giải phóng thống nhất đất nước, đồng bào miền Nam đau đáu mong Bác biết bao ngày, bao năm trời ròng rã. Vậy mà... Giá như có phép màu, có thể đánh đổi được sức lực, và cả tính mạng của mình nữa để Bác sống, để Bác được đến với đồng bào miền Nam thì anh sẵn sàng đánh đổi ngay, nhưng làm sao mà cưỡng lại được quy luật của Đất Trời. Nước mắt anh chảy tràn và anh nấc lên: “Bác ơi!”


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2016, 07:51:16 am
        Anh được giao nhiệm vụ dẫn đầu biên đội bay tiễn Bác. Phải làm sao bay cho thật chuẩn xác, thật an toàn đúng vào ngày này, giờ phút này, cái giờ phút mà “đời tuôn nước mắt, ừời tuôn mưa” ấy... Chọn anh dẫn đội, lãnh đạo đã tin chắc vào sự thành công. Cái quan trọng lúc này không những chỉ phải giỏi về kỹ thuật bay mà còn phải giỏi về cả sự kiềm chế.

        Anh dẫn đầu đội hình 24 chiếc MiG bay trong giây phút trọng đại, thông qua Quảng trường Ba Đình với một đoạn đường chưa đầy 1.000 mét, thời gian chưa đến 2 phút, nhưng lại là những giây phút quyết định ghê gớm. Ai cũng muốn “bay thật chậm, thật lâu” như lời của nhạc sĩ Chu Đình Lợi viết trong bài “Chúng con bay viếng Bác” để cùng nhân dân cả nước và bạn bè Quốc tế tiễn biệt Bác, nhưng chuyến bay này không được phép để sai sót bất kể một điều gì dù là nhỏ nhất. Chỉ cần sai lệch một chút trên đoạn đường bay, chỉ cần nhanh chậm một vài phút, chỉ cần trong mắt nhòe chút nước mắt là cả dân tộc, cả đất nước...

        Những ngày bay luyện tập với đội hình bay tiễn Bác trên đỉnh sân bay là những ngày anh phải gồng mình lên để chịu đựng. Việc mở máy đồng loạt từng ấy chiếc máy bay theo thứ tự như thế nào, việc lăn ra đường băng ra làm sao rồi cất cánh, tập hợp đội hình thế nào là cả một vấn đề phức tạp trong hoàn cảnh lúc đó. Anh đã phải nén đau thương, đem hết nghị lực của mình ra để có đủ sức bay dẫn đội, dành những phút giây thiêng liêng để tiễn Bác đi xa.

        Anh đã mang theo chiếc đồng hồ Bác tặng cho để tăng thêm dũng khí, vượt qua sự yếu mềm của lòng mình, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trao cho.

        Chuyến bay tiễn biệt Bác, anh và đồng đội của anh thực hiện chuẩn xác, kết thúc an toàn. Khi tất cả đã về hạ cánh xong, anh òa khóc. Mọi sự dồn nén, tiếc thương Bác trong suốt những ngày qua, đặc biệt là trong chuyến bay tiễn Bác bây giờ mới vỡ òa trong tiếng nức nở của anh: “Bác ơi! Bác ơi!...”. Anh khóc không hề giấu diếm tình cảm của mình. Anh quý Bác, nhớ Bác, thương Bác quá!...

        Anh thầm hứa phải sống sao cho xứng đáng với danh nghĩa của người con miền Nam thành đồng, xứng đáng với lời hứa với Cha trước khi anh lên đường tập kết, xứng đáng với lòng yêu thương và sự quan tâm của Bác đối với anh.

        Cuộc chiến tranh bằng Không quân ra miền Bác ngày càng căng thẳng, ác liệt. Lực lượng Không quân ta cũng ngày càng trưởng thành.

        Sau khi điều chỉnh lại một số vị trí đóng quân của các Trung đoàn bay, đội hình tác chiến của Không quân được bô trí phù hợp và hoạt động của các loại máy bay có hiệu quả hơn. Lúc này Trung đoàn Không quân 925 đã chuyển từ sân bay Kép vê sân bay Yên Bái làm nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Tây Bắc. Trung đoàn Không quân 923 được điều động từ sân bay Hòa Lạc về sân bay Kép làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực Đông Bắc. Các đơn vị trực thăng được chuyển từ sân bay Gia Lâm về sân bay Hòa Lạc. Trong lúc đó, các sân bay Thọ Xuân, Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới được sửa chữa và kéo dài thêm để các máy bay tiêm kích cơ động vào làm nhiệm vụ trực chiến ở Quân khu 4 và để bí mật đưa MiG-21 vào phục kích đánh máy bay B-52. Để đối phó với các hoạt động của địch tại khu vực miền Trung vừa hẹp, vừa dài, Quân chủng xác định đưa MiG-21 vào là phù hợp hơn cả. Nhưng khó khăn đặt ra là hiện tại mới chỉ có Trung đoàn 921 sử dụng MiG-21, lại đang phải đảm đương nhiệm vụ nặng nề bảo vệ Thủ đô và các khu vực lân cận. Trong khi đó, lực lượng Trung đoàn 921 đang phân tán trên các sân bay từ Đa Phúc vào Thọ Xuân đến Vinh...

        Những tháng cuối năm 1971, tình hình trở nên khẩn trương hơn. Mật độ đánh phá của Không quân Mỹ ở khu vực vĩ tuyến 20 frở vào ngày càng ác liệt Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân đã đề nghị trên cho thành lập thêm một Trung đoàn bay sử dụng máy bay MiG-21 để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Ngày mồng 1 tháng 12 năm 1971, Bộ quốc phòng đã ra quyết định thành lập Trung đoàn Không quân chiến đấu 927.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2016, 08:03:02 am
        Thiếu tá Nguyễn Hồng Nhị - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Trần Ưng - Chính ủy, Thiếu tá Nguyễn Nhật Chiêu, Đại úy Nguyễn Văn Nhiên và Đại úy Nguyễn Đăng Kính - Trung đoàn phó, Đại úy Đinh Văn Dây - phó Chính ủy, Đại úy Nguyễn Văn Tỉnh - Tham mưu trưởng, Đại úy Nguyễn Trọng Yêng - Chủ nhiệm chính trị.

        Anh đã cùng với các cán bộ Trung đoàn và các thành phần khác nhanh chóng ổn định tổ chức, nhanh chóng chuẩn bị cho Trung đoàn bay huấn luyện và khẩn trương chuẩn bị vào trận.

        Trung đoàn đã bước vào trận chiến và đã chiến thắng Không quân hiện đại của đế quốc Mỹ. Trong suốt chặng đường chiến đấu của mình, dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của anh, Trung đoàn đã bắn rơi 43 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 1 chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52.

        Trung đoàn được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (tháng 12 năm 1979) và có 2 Đại đội được tuyên dương Đơn vị Anh hùng là Đại đội 3 và Đại đội 9 trong đó Đại đội 3 được tuyên dương 2 lần.

        Năm 1975, với “Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử, với cách đánh thần tốc, táo bạo, để giải phóng miền Nam. Anh Nhị được giao nhiệm vụ đi tiền trạm để chỉ huy bộ đội Không quân tiếp quản các sân bay, tiếp tục chiến đấu, phối hợp cùng các lực lượng bộ binh truy quét địch nhằm giải phông hoàn toàn miên Nam, thống nhất đất nước.

        Được trở về miền Nam - nơi quê hương ruột thịt mà anh từng bao ngày mong nhớ thật phấn khởi biết bao. Anh hăm hở lên đường biết rằng phía trước vẫn còn nhiều gian nan, hiểm nguy. Và anh đã nhiều lần gặp nguy thật, trong đó có lần đáng nhớ nhất là lần bay trên máy bay trực thăng vào sân bay Nha Trang, tổ tiền trạm của anh đã gặp nạn. Lực lượng bộ binh và Phòng không ở sân bay lầm tưởng đấy là máy bay địch trong quá trình tháo chạy nên đã bắn nhầm. Máy bay phải hạ cánh xuống khu vực đồi ven sân bay để kiểm tra. Khi cất cánh lại, về đến sần bay thì bị bắn rơi. Cú va đập mạnh làm cho tổ bay và anh lúc bấy giờ đang ngồi cùng tổ bay văng qua cửa kính ra phía trước. Mọi người cũng nhanh chóng thoát li khỏi máy bay. Chạy được một đoạn thì máy bay bốc cháy và nổ tung. Nó bắn lên trên không trung hệt như một quả cầu lửa rồi giáng xuống đất. Mọi người cố gắng chạy thật nhanh để thoát khỏi cái biển lửa ấy. May mắn là không ai bị thiệt mạng cả. Anh đã phải thốt lên:

“Đất Nha Trang là nơi định mệnh
Máy bay rơi, Thẩn Chết cận kề!”...

        Rồi các anh lấy ô-tô chiến lợi phẩm đi tiếp, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao dù còn có thể gặp nhiều gian nguy hơn nữa.

        Chặng đường của các anh nối hết các sân bay này đến sân bay khác, từ Phú Bài, đến Đà Năng, Phù Cát,

        Nha Trang, Phan Rang, Xuân Lộc - Trảng Bom rồi Sài Gòn, “Lục tỉnh” , hết trong đất liền rồi ra đến ngoài biển đảo Thổ Châu, Phú Quốc... Các anh đã góp phần cho lực lượng Không quân ta tham chiến trong chiến dịch này, đặc biệt là với Phi đội quyết thắng lấy máy bay A-37 của địch, cất cánh từ sân bay Phan Rang đi đánh Tân Sơn Nhất. Anh viết:

“Sân bay Phan Rang như bừng dậy
5 chiếc máy bay cất cánh rồi
Lại là dưới cánh toàn bom Mỹ
Bom Mỹ - phen này Ngụy được xơi!”.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/04_zpsbxawfbcb.jpg)
Các đồng chí lãnh đạo hạ quyết tâm cho trận tập kích sân bay Tân Sơn Nhất
Từ trái qua phải: Trần mạnh, Nguyễn Hồng Nhị, tư lệnh QCPK-KQ Lê Văn Tri, Hoàng Ngọc Diêu và Trần Hanh.

        Tháng 6 năm 1975, anh được cấp trên cho về thăm quê. Thật háo hức biết bao! Bao nhiêu năm xa quê rồi! Bao nhiêu năm ấp ủ thương nhớ, chờ mong! Quê có còn như xưa hay đã bị bọn Mỹ-Ngụy tàn phá hết rồi? Ai còn, ai mất? Thật ngổn ngang bao nhiêu câu hỏi trong lòng. Xe chở anh từ sân bay Cần Thơ về Bình Định mà anh tưởng mình là người mộng du.

        Quê anh thay đổi nhiều quá, anh không thể nhận ra lối về nữa. Lúc ra đi thì nhớ lối, mà lúc về sao lại lạc lối thế này, Quê ơi! Lỗi này có phải tại anh không? Ngồi trên xe mà anh cứ bần thần với bao ý nghĩ mung lung...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2016, 08:11:50 am
        Khi đến làng Cự Lễ - Bến Đá, thấy có hai mẹ con đang gồng gánh đi bên đường, anh bảo dừng xe lại, xuống hỏi đường. Anh không ngờ đấy lại là cô em út của mình cùng với đứa cháu gái đi chợ về. Anh đâu có nhận ra vì xa nhà đã từng ấy năm rồi còn gì. Cô em út của anh nhìn thấy anh thì reo ầm lên:

        - Ôi trời ơi! Anh Bảy! Anh không nhận ra em sao? Thật là bất ngờ, thật là mừng vui khôn xiết. Cuộc gặp gỡ bất ngờ sau bao nhiêu năm trời xa quê thật là lạ lùng. Mừng mừng, tủi tủi... Nước mắt... Tiếng cười... Tất cả cứ hòa trộn vào nhau... Thời gian như ngừng trôi... Không gian như trở về hư vô...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200012_zps9cy1wne6.jpg)
Sau hơn 20 năm xa cách, bốn chị em mới được gặp lại nhau: chị Nguyễn Thị Phòng (chị Năm), chị Nguyễn Thị Hoa (chị Sáu), anh Nguyễn Hồng Nhị (anh Bảy) và chị Nguyễn Thị Khuê (chị Tám).

        Cô em út líu ríu kể cho anh nghe biết bao nhiêu chuyện xảy ra từ ngày anh đi tập kết tới giờ... Thật biết bao là chuyện... Mừng vui vì quê hương đã được giải phóng, mừng vui vì đã được trỏ về quê, nhưng mất mát, đau thương đến với anh nhiều quá. Anh không còn được gặp lại Cha, Mẹ, không được gặp lại anh cả Tuần, không được gặp chú út Nhơn nữa... Anh ra viếng mộ Cha, Mẹ anh:

“Chiều nay con về thăm Ba, Má
Lớt phớt mưa rơi, nước mắt đầy
Từ buổi ra đi đường rong ruổi Ba,
Má thầm mong, lệ thấm đầy
Vượt muôn sương gió con về đây
Những mong nũng nịu trong lòng Má
Cho thỏa bao ngày vắng bóng Cha
Nhưng loài bán nước - những yêu ma
Đọa đày Ba, Má sớm đi xa
Chiều nay con quỳ bên đôi mộ
Trăm lạy Mẹ, Cha con đền đáp
Công dưỡng sinh thành có hôm nay!”
       Rồi anh đến mộ anh cả Tuần:

“Chiều nay em về để thăm anh
Cùng chung núm ruột đã sinh thành
Thù nhà, nợ nước đành li biệt... ”
       Đau thương, mất mát thật quá lớn, nhưng nhiệm vụ được giao đâu có nhỏ. Anh phải trở lại đơn vị, trở lại với nhiệm vụ của mình.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2016, 08:14:00 pm
        Để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới, trước tình hình phát biển mạnh mẽ của lực lượng Không quân, để bảo đảm chỉ huy tập trung các đơn vị Không quân ở phía nam, theo đề nghị của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, vào tháng 10 năm 1975, Bộ quốc phòng đã ra quyết định thành lập Sư đoàn Không quân 372. Ban chỉ huy Sư đoàn gồm: Trung tá Nguyễn Hồng Nhị - Sư đoàn trưởng, Trung tá Chu Mạo - Chính ủy, Trung tá Ngô Dy - phó Chính ủy, các phó Sư đoàn trưởng là Trung tá Lê Văn Nhã, Trung tá Hà Chấp, Trung tá Nguyễn Van Bảy.

        Sở chỉ huy Sư đoàn đặt tại Biên Hòa.

        Sư đoàn đã nhanh chóng tập trung lực lượng, thu hồi các máy bay chiến lợi phẩm, đưa vào khai thác, sử dụng. Tình hình biên giới Tây Nam lại có những diễn biến phức tạp. Bọn Khơ-me đỏ đã tổ chức nhiều lực lượng xâm lấn biên giới nước ta. Dưới sự chỉ huy của anh và Ban chỉ huy Sư đoàn, đơn vị đã hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam từ tháng 5 năm 1977, sau đó lại đưa một phần lực lượng cơ động ra phía Bắc - về sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

        Sư đoàn Không quân 372 của anh được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 12 năm 1979. Trong Sư đoàn có 3 Trung đoàn được tuyên dương đơn vị Anh hùng là Trung đoàn Không quân 935, 937 và 917, đặc biệt: Đại đội 4 bay của Trung đoàn 923 được tuyên dương 3 lần

        Tháng 8 năm 1982, có những sự chuyển đổi mạnh trong Quân chủng về công tác tổ chức. Anh Nguyễn Hồng Nhị được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. Bấy giờ anh đang mang quân hàm Đại tá. Anh cũng là người có “thâm niên” giữ chức Sư đoàn trưởng lâu nhất thời đó: đằng đẵng 10 năm trời và cũng là người Sư đoàn trưởng đầu tiên trong Quân chủng được phong hàm Thiếu tướng (vào năm 1985).

        Bất kể đơn vị nào do anh phụ trách, lãnh đạo, chỉ huy, anh cũng đều cùng với Ban chỉ huy và các cơ quan ban ngành phấn đấu hoàn thành thật tốt nhiệm vụ, đạt được những thành tích đáng kể và đáng nể.

        Tháng 2 năm 1987, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ra quyết định bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370, giữ chức Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân. Và rồi, hơn một năm sau, anh lại nhận quyết định chuyển công tác sang một môi trường mới, môi trường không liên quan gì đến súng ống, đạn dược...

        Quen cầm súng đánh giặc, quen chỉ huy trong quân đội, khi bước sang lĩnh vực mới - lĩnh vực hoạt động kinh tế, liệu anh có thể làm được những điều như khi anh còn ở quân đội hay không. “Thương trường là chiến trường”. Chiến trường ấy đang chờ đón những gì đối với người Anh hùng?


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2016, 08:23:41 pm
       
BƯỚC NGOẶT MỚI.
CHIẾN TRƯỜNG MỚI.
THÀNH CÔNG MỚI

        Năm 1988, anh nhận quyết định chuyển công tác sang môi trường mới - làm nhiệm vụ kinh tế.

        Thực ra, từ năm 1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 666/TTg thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một ngành kinh tế mới để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do điều kiện chiến tranh nên từ khi ra đời, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam thuộc sự quản lí trực tiếp của Bộ quốc phòng với 2 nhiệm vụ chính là phục vụ Quốc phòng và Hàng không dân dụng.

        Tháng 2 năm 1976, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 128/CP thành lập Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam được tổ chức theo Nghị định số 666/TTg, là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, nhưng về mặt tổ chức quản lí và chỉ đạo xây dựng, ngành Hàng không dân dụng vẫn trực thuộc Bộ quốc phòng nên ngành Hàng không dân dụng Việt Nam có 3 tính chất: phục vụ, kinh doanh và quân sự. Lúc đó, đội bay của Hàng không Việt Nam bao gồm các máy bay Il-18, Li-2, An-2, An-24, An-26, An-30, Iak-40. Sau khi thống nhất đất nước, có bổ sung thêm một số máy bay của Ngụy Sài Gòn.

        Tháng 6 năm 1988, từ cương vị Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng, anh sang đảm nhận vị trí Tổng cục phó. Tổng cục trưởng là anh Trần Mạnh đã nghỉ hưu, anh Hoàng Ngọc Diêu thay. Dưới thời anh Trần Mạnh làm Tổng cục trưởng kiêm Tổng giám đốc Hàng không dân dụng Việt Nam, ngành Hàng không đã có những bước chuyển biến từ bao cấp sang hạch toán kinh doanh rất táo bạo. Nhưng thời gian đó anh còn bị đơn độc trong tư duy đổi mới từ bao cấp sang hạch toán cho nên cũng gặp không ít trở ngại, khó khăn, thậm chí còn phải trả giá cho sự chuyển biến ấy. Anh Trần Mạnh là con người luôn suy nghĩ, sáng tạo, dũng cảm không lùi bước trước bất cứ trở ngại, khó khăn nào. Nhiều lúc Tổng cục trưởng tâm sự:

        - Tôi rất tin vào các anh em đã cùng chiến đấu và trưởng thành với tôi, những chiến hữu vô cùng tin cậy. Chẳng những họ chiến đấu giỏi, mà làm kinh tế cũng không tồi, bắn rơi máy bay Mỹ đã thiệt khó, kiếm được đồng tiền tự nuôi sống mình mà lại còn phát triển cũng là điều không dễ dàng. Con chim muốn bay cao phải có đôi cánh khỏe mạnh, một mình Tổng cục trưởng tài trời cũng không thể cất cánh nổi.

        Khi hỏi về anh Nguyễn Hồng Nhị - người sẽ thay thế anh sau này, anh Trần Mạnh chậm rãi:

        - Quy luật già nghỉ, trẻ thay là điều tất yếu không có gì thay đổi. Tôi đã nhiều lần báo cáo với cấp trên và nói với anh em: qua tuổi 60 là cho tôi nghỉ. Tôi hiểu Nguyễn Hồng Nhị. Đó là con người chịu trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Thời kinh tế làm ăn này càn có những con người như thế. Cậu ta còn có một lợi thế biết dùng người, đôn hậu, trọng thị với mọi người. Người chỉ huy có đầy đủ đức tính như thế là rất quý!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/05_zpsaxxjirad.jpg)
Tổng cục trưởng Trần Mạnh - nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn không quân 921 cùng các cán bộ của trung đoàn - từ phải sang: Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Ngọc Minh, Mai Bá Quát

        Tháng 12 năm 1988, anh thay mặt Tổng cục đi dự Hội nghị Quốc tế về Hiệp định Hàng không Bu-ca-ret tại Ba Lan. Đó là lần đầu tiên anh đi dự Hội nghị Quốc tế bàn về kinh tế Hàng không. Thật lắm khó khăn, cũng giống như người thợ cày nay bỏ cày, nhảy vào thành phố đi buôn vậy.

        Ngành Hàng không là ngành liên tục chuyển đổi cơ chế. Có lẽ cứ khoảng 2 năm là lại chuyển đổi một lần. Khi thì trực thuộc Hội đồng Chính phủ, khi thuộc Bộ giao thông vận tải và Bưu điện... Mỗi lần chuyển đổi như vậy là tư tưởng trong toàn ngành bị xáo trộn. Giữ được sự ổn định tư tưởng, nhất là giữ được an toàn cho mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động bay là nhiệm vụ không phải dễ.

        Các năm 1988, 1989, 1990 là những năm đầy gian lao, thử thách đối với ngành hàng không dân dụng nói chung và Ban lãnh đạo ngành nói riêng, nhưng nhờ có truyền thống chiến đấu và xây dựng của tập thể cán bộ, chiến sĩ của ngành, nhờ có ý chí quyết chiến quyết thắng và vượt khó của những con người mang trong mình bản chất “anh bộ đội Cụ Hồ”, ngành đã vượt qua được khó khăn và hoàn thành các chỉ tiêu nhà nước giao.

        Năm 1990 là năm đáng ghi nhớ nhất đối với các lực lượng của Hàng không dân dụng. Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định tách ngành Hàng không dân dụng ra khỏi Bộ quốc phòng, thực hiện việc chuyển ngành thành một đơn vị kinh tế quốc doanh.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2016, 08:25:51 pm
        Tổng cục trưởng Hoàng Ngọc Diêu được nghỉ hưu, anh Nhị được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng kiêm Tổng giám đốc hàng không dân dụng Việt Nam. Đây là một bước ngoặt rất mới đầy gian lao thử thách trong chặng đường đời đi theo cách mạng của anh. Đã có rất nhiều lời đồn đại rằng anh khó mà trụ và vượt qua được, đề nghị thay người khác thôi. Lãnh đạo cấp trên thì nói: “Cứ để cậu ta làm vài ba tháng xem sao, rồi sẽ thay!”. Nhận được những thông tín nghiệt ngã như vậy, anh không hề nao núng, vẫn vững bước để đi theo con đường đổi mới hoạt động kinh doanh mà Tổng cục trưởng Trần Mạnh đã xác định, giống như trong thời gian chiến tranh, khi anh Trần Mạnh là Trung đoàn trưởng đã đưa ra chiến thuật “đánh nhanh, thọc sâu” để anh thực hiện trong các trận không chiến vậy.

        Ngày rời bỏ đội ngũ, bỏ quân hàm - ai cũng có tâm trạng nặng nề. cả cuộc đời gần như gắn bó trong quân ngũ, nay bỗng dưng trỏ thành “dân thường”. Đã quen với bộ quân phục bao nhiêu năm, đến bây giờ các bộ quân phục, quân hàm... bị xếp lại, ai mà không khỏi nhung nhớ, bâng khuâng, day dứt... Bữa tối liên hoan chia tay với đồng đội, những bài hành khúc cứ vang mãi không thôi. “Đời mình là một khúc quân hành... Mãi mãi lòng chúng ta, ca bài ca người lính. Mãi mãi lòng chúng ta, hát mãi khúc quân hành ca!”. Đúng vậy, dù rằng các anh khoác áo dân sự nhưng chất các anh vẫn là những người lính cụ Hồ. Quân đội đã rèn luyện, đã hun đúc, đào tạo các anh thành những người chiến sĩ gang thép, những người chỉ huy mẫu mực, toàn năng... Truyền thống hào hùng ấy làm sao quên cho được! Có những anh hát mà giàn giụa nước mắt Xúc động vô cùng!

        Muốn hay không thì ngành Hàng không cũng phải nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước và toàn ngành phải thực sự chuyển mình, phấn đấu hết mình để hoàn thành nhiệm vụ ấy, để kịp sánh vai cùng bạn bè quốc tế trong thời gian ngắn nhất.

        Ngoài việc củng cố tổ chức, xây dụng lực lượng... hoàn thành kế hoạch kinh doanh, một nhiệm vụ không kém phần quan trọng được đặt ra từ năm 1989 là phải đẩy mạnh việc triển khai công tác phục hồi FIR Hồ Chí Minh và nâng cấp FIR Hà Nội.

        Vùng thông báo bay (Flight Information Region - viết tắ là FIR) là vùng trời mà tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) giao cho các thành viên chịu trách nhiệm trước ICAO về cung cấp dịch vụ không lưu và báo động. FIR có thể bao gồm cả vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia, có thể không bao gồm vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia. FIR Hồ Chí Minh (FIR Sài Gòn cũ) bao gồm cả chủ quyền quốc gia và vùng trời trên biển Đông. FIR Sài Gòn được hình thành từ Hội nghị Châu Á - Trung Đông tại Rôma vào tháng 2 và tháng 8 năm l959. Đến năm 1973 tại Hô-nô-lu-lu, Hội nghị không vận khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ nhất (RAN -1) có chút điều chỉnh nhỏ và đi vào hoạt động hữu hiệu của FIR Sài Gòn cho đến tháng 4 năm 1975. Cuối tháng 4 năm 1975, trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, ICAO đã đứng ra cùng các quốc gia trong khu vực đưa ra một dàn xếp tạm thời mà theo đó FIR Sài Gòn (phần trên biển Đông) được chia thành 3 vùng trách nhiệm lâm thời (AOR) do Thái Lan, Sinh-ga-po, Hồng-Kông quản lí và điều hành.

        Ba vùng trách nhiệm này được thực hiện từ 0001UTC ngày 28 tháng 4 năm 1975. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thành phố Sài Gòn được vinh dự mang tên là thành phố Hồ Chí Minh và cái tên FIR Sài Gòn cũng được mang tên FIR Hồ Chí Minh từ đó, song về mặt quản lí FIR thì ta chưa đủ điều kiện để khôi phục lại quyền quản lí trên vùng biển Đông.

        Tại Hội nghị không vận Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ hai (RAN-2) tại Sinh-ga-po năm 1983, ta cũng chua có đủ điều kiện, bởi vậy, Hội nghị đã thông qua Nghị quyết giữ nguyên hiện trạng.

        Cũng từ đó, nhà nước đã chỉ đạo và chi hàng chục triệu đô-la cho việc đầu tư trang thiết bị cho các trung tâm kiểm soát đường dài, trang thiết bị dẫn đường dọc theo đường bay, trang thiết bị tại các sân bay Quốc tế: Nội Bài, Đà Nằng, Tân Sơn Nhất như các hệ thống hạ cất cánh, hệ thống ILS, đài VOR/DME, các đường truyền số liệu, thoại trực tiếp với độ tin cậy gân như tuyệt đối, hệ thống Ra-dar với trung tâm xử lí EUROCAT đảm bảo cho mọi hoạt động bay an toàn, điều hòa nhanh chóng 24/24 giờ...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2016, 09:25:52 am
        Việc giành lại sự quản lí FIR Hồ Chí Minh là sự kiện quan trọng có ý nghĩa chính trị và mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.

        Tại Hội nghị không vận khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ ba (RAN-3) họp ở Băng-Cốc (Thái Lan) từ ngày 19 tháng 4 đến ngày mồng 7 tháng 5 năm 1993, Chính phủ đã quyết định cử anh Nguyễn Hồng Nhị với cương vị Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng làm trưởng đoàn, anh Đào Mạnh Nhương - Cục phó làm phó đoàn, anh Lưu Văn Lợi - một cán bộ có nhiều kinh nghiệm ngoại giao ở Ban biên giới của Chính phủ làm cố vấn cho đoàn. Ngoài ra, các thành viên khác của đoàn là các đại diện của các Bộ ngoại giao, Bộ quốc phòng và Cục Hàng không.

        Dự Hội nghị RAN-3 có 40 đoàn đại biểu đại diện cho 40 quốc gia, vùng lãnh thổ và 6 tổ chức Quốc tế. Tổng cộng có 366 đại biểu. Mục tiêu chính của Hội nghị là xây dựng kế hoạch không vận khu vực cho thời kỳ 10 năm (1993 - 2003). Các chủ đề chính được thảo luận và thông qua tại Hội nghị là: không lưu (ATS), thông tín dẫn đường (COM), khí tượng Hàng không (MET), không lưu (AIS) va sân bay (AOP).

        Đoàn của anh Nhị đến thủ đô Băng-Cốc sớm hơm một ngày trước khi khai mạc Hội nghị để tranh thủ gặp ông Chủ tịch ICAO và một số trưởng đoàn các nước có thiện chí với Việt Nam để phối hợp vận động các đoàn ủng hộ quan điểm của Việt Nam hoặc ít ra là họ cũng giữ vị trí trung lập.

        Tuần thứ nhất, Hội nghị diễn ra rất căng thẳng và phức tạp, tập trung chủ yếu vào vấn đề “không phận trên vùng biển Đông” (theo cách gọi của ICAO là “vùng biển Nam Trung Hoa). Tại ủy ban bàn về kế hoạch không vận, đường bay, ranh giới FIR (gọi tắt là ATS) của Hội nghị, có các nhân vật lãnh đạo của ICAO trung ương (Montreal), ICAO khu vực và các trưởng đoàn của các nước đầu có mặt dự ở ủy ban ATS láy. Sau những ngày thảo luận đã bộc lộ ra xu hướng “duy trì kế hoạch lâm thời như hiện tại”, - “hoạch định lại ranh giới FIR Hồ Chí Minh”, “‘hủy kế hoạch lâm thời, tái hoạt động FIR Hồ Chí Minh”, trong đó “hủy bỏ kế hoạch lâm thời, tái hoạt động FIR Hồ Chí Minh” là xu hướng quan trọng nhất. Nhưng ở xu hướng này, tính cả đoàn của ta thì tổng số chưa có đến 10 đoàn ủng hộ. Phần lớn các đoàn còn ngập ngừng, chưa muốn bộc lộ quan điểm của mình hoặc giữ trung lập, nếu bỏ phiếu, họ sẽ bỏ phiếu trắng. Cứ để tình hình này xảy ra thì vùng trách nhiệm lâm thời có thể còn kéo dài không biết đến bao giờ.

        Hội nghị (ủy ban ATS) tạm thời gác vấn đề FIR Hồ Chí Minh lại, chưa thảo luận tiếp. Đoàn ta nhân cơ hội đó tiến hành vận động sau hội trường (mà bây giờ có từ là vận động hành lang) để tranh thủ gặp một số trưởng đoàn các nước, gặp cả Chủ tịch Hội nghị để thuyết phục họ nên đứng về phía ta, tán thành việc “hủy bỏ kế hoạch lâm thời, tái hoạt động FIR Hồ Chí Minh”.

        Bước sang tuần lễ thứ hai của Hội nghị, trước ủy ban ATS, phái đoàn ta đã phản bác lại một cách mạnh mẽ đối với những lời lẽ phi lí của những ý kiến chống lại việc “hủy bỏ kế hoạch lâm thời, tái hoạt động FIR Hồ Chí Minh”, số đoàn ủng hộ ta có tăng lên, nhưng chưa chiếm được đa số. Ta tiếp tục vận động sự ủng hộ của các đoàn trong Hội nghị và đưa ra những phương án mềm dẻo hơn.

        Tuần lễ thứ ba - tuần cuối của Hội nghị, đoàn ta tạm gác lại phần phía Bắc mà tập trung giành lại phần phía Nam FIR Hồ Chí Minh. Ta vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo, kiên trì thuyết phục nhưng luôn giữ vững lập trường, nguyên tác. Cuối cùng, đa số các đoàn đại biểu đã ủng hộ đoàn ta, đồng ý chuyển giao phần phía Nam FIR Hồ Chí Minh cho Việt Nam. Phần phía Bắc FIR Hồ Chí Minh cũng đã thông qua được một thỏa thuận: thành lập nhóm làm việc đặc biệt với 13 nước và 2 tổ chức Quốc tế tiếp tục làm việc sau Hội nghị RAN-3 để sớm có kết luận trình cho Hội đồng ICAO họp vào cuối năm 1993.

        Ngày 19 tháng 5 năm 1993, sau khi nghe báo cáo của đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị RAN-3, Phó Thủ tướng Trần Đức Lương - trưởng ban chỉ đạo biển Đông - Trường Sa đã kết luận về kết quả của cuộc đấu tranh giành lại FIR Hồ Chí Minh như sau:

        “Nhất trí đánh giá rằng, đợt đấu tranh giành lại FIR Hồ Chí Minh và một số thành công thu được tại Hội nghị RAN-3 có ý nghĩa đặc biệt... Có được những thành công bước đầu quan trọng là nhờ sự chỉ đạo và công tác tổ chức rất công phu và cụ thể... Các thành viên và cố vấn của đoàn đã hợp đồng chặt chẽ với nhau và đã vận dụng các phương pháp vận động, đấu tranh linh hoạt nhằm thực hiện đúng sự chỉ đạo, chủ trương và phương án đã được cấp trên thông qua. Nhất trí với đề nghị của đoàn, biểu dương đồng chí Tôn Nữ Thị Ninh, cán bộ Bộ ngoại giao về những đóng góp xuất sắc của chị tại Hội nghị RAN-3...”.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2016, 09:27:22 am
        Đúng, đoàn của anh Nhị những ngày ở Hội nghị đã được sự chì đạo kịp thời của Chính phủ ta từ Hà Nội. đã được Đại sứ quán của ta tại Băng-Cốc tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn và các thành viên trong đoàn cũng cố gắng hết sức mình trong từng ngày họp. Sau mỗi ngày họp tại Hội nghị, có những vấn đề quan trọng, các anh phải làm việc cả buổi tối, thậm chí có những đêm phải làm việc đến 1-2 giờ sáng để thống nhất ý kiến trước khi đưa ra đấu tranh ở Hội nghị.

        Như vậy là sau 18 năm bền bỉ với nhiều cố gắng, nỗ lực của ngành Hàng không, cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ, sự giúp đỡ của các Bộ, Ban, Ngành... các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự giúp đỡ của các nhà lãnh đạo ICAO, đặc biệt là sự quan tâm của ông Chủ tịch Hội đồng ICAO và trực tiếp là Văn phòng ICAO Châu Á - Thái Bình Dương cùng với sự giúp đỡ quý báu của các nước thành viên như Bru-nây, Phi-lip-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan, Pháp, Oxtrây-lia, Niu-Di-lân... trên các lĩnh vực cung ứng thiết bị, đào tạo huấn luyện chuyên môn, Hàng không Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc để có thể hội nhập vào cộng đồng Hàng không Quốc tế.

        Đúng 0001UTC (giờ Quốc tế) ngày mồng 8 tháng 12 năm 1994, Hàng không dân dụng Việt Nam chính thức điều hành bay trên vùng FIR Hồ Chí Minh do phía Thái Lan chuyển giao.

        Việc Hàng không dân dụng Việt Nam tiếp nhận lại phần phía Nam của FIR Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế lẫn chính trị. Đây là sự kiện quan trọng không chỉ đối với ngành Hàng không, đối với ngành giao thông vận tải mà còn đối với cả đất nước.

        Sau khi quản lí và điều hành FIR Hồ c;hí Minh, số chuyến bay tăng từ trên 100 chuyến tới hơn 250 chuyến/ngày: Năm 1993, chỉ huy điều hành 65.902 chuyến bay. Năm 1994 số chuyến bay tăng lên 81.788 chuyến và năm 1995 là trên 100 ngàn chuyến.

        Vùng trời đã rộng mở. Với kết quả quan trọng này, Hàng không Việt Nam sẽ được chắp thêm cánh để bay xa. Nhắc tới chuyện này, anh tâm sự:

        - Hội nghị RAN-3 thực sự là một cuộc đấu tranh, đấu trí. Đoàn có 17 người thì được phân công từng nhiệm vụ cho từng người một. Tối nào cũng phải họp) để rút kinh nghiệm và để chuẩn bị ý kiến cho ngày hôm sau. Có hôm họp suốt đêm, đến tận 1 - 2 giờ sáng mới xong. Chính phủ chỉ đạo rất sát sao, kịp thời. Đại sứ quán của ta ở Thái lan giúp đỡ đoàn rất nhiệt tình. Đặc biệt, trong đoàn có chị Tôn Nữ Thị Ninh giỏi về Luật Quốc tế, giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp nên phản ứng rất nhanh, có những vấn đề Chủ tịch Hội nghị vừa đặt ra, chị đã phát biểu luôn. Nếu không nhanh nhậy như vậy, cứ phải hội ý rồi mới được phát biểu thì Chủ tịch Hội nghị sẽ bỏ qua và cho sang mục khác luôn, ta không còn thời cơ để đấu tranh nữa. Cho nên, công của chị Ninh lớn lắm. Cũng may là ông Chủ tịch ICAO sau khi biết anh là phi công- Anh hùng, đã bắn rơi nhiều máy bay của lực lượng Không quân Mỹ thì ông ấy rất có thiện cảm với anh và với đoàn của Việt Nam nên ủng hộ nhiệt tình lắm. Ngoài ra cũng có nhiều nước liên tục ủng hộ đoàn như Pháp chẳng hạn... Vì vậy ta đã giành được thắng lợi trong Hội nghị RAN-3 này.

        Sau khi mình giành giật lại FIR Hồ Chí Minh rồi, để phát triển ngành Hàng không cho kịp với tầm của khu vực và thế giới, anh đã mạnh dạn đề nghị thuê và mua các loại máy bay hiện đại của phương Tây theo phương thức thuê “khô” hoặc thuê “ướt” (thuê máy bay không thôi hoặc thuê máy bay và thuê cả tổ lái) và không khai thác loại máy bay Tu-134 nữa vì các máy bay thuộc thế hệ của Liên-xô mà ta đang sử dụng không đủ điều kiện và tầm bay. Hai vấn đề này cũng đã gây nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến không đồng ý. Nhưng rồi sau này thấy rằng tầm nhìn của anh hoàn toàn chính xác, tầm nhìn chiến lược của người chỉ huy.

        Sau nhiều lần tìm cách vượt qua lệnh cấm vận của Mỹ, tháng 1 năm 1992, Hàng không Việt Nam đã có chiếc Boeing-737-300 thuê của Công ty Tea Basel (Thụy Sĩ). Thời kỳ này, máy bay mà ta thuê của nước ngoài đều sơn trắng, chưa có phù hiệu (logo) của Vietnam Airlines nên ban đêm phải đậu ở ngoài nước.

        Việc thay đổi và phát biển đội máy bay của ta bằng những máy bay hiện đại thay cho những máy bay thuộc thế hệ của Liên-xô đã được thực hiện những bước cơ bản. Hàng không Việt Nam đã và đang khai thác nhiều loại máy bay hiện đại của các hãng Airbus, Boeing.. qua các hình thức thuê “khô”, thuê “ướt” hoặc mua đứt.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2016, 09:33:21 am
        Ngành vận tải Hàng không Việt Nam luôn luôn gặp phải sự cạnh tranh trực tiếp với nhiều hãng Hàng không có uy tín trong khu vực và thế giới. Nhằm vượt lên sự cạnh tranh đó và trụ vững trên thị trường, Hàng không Việt Nam đã tập trung cho lĩnh vực vận tải 4 hướng chính:

        - Đổi mới và phát triển máy bay hiện đại có trọng tải và tầm bay hợp lí.
        - Cải tiến nâng cao chất lượng công tác phục vụ, tiếp thị, dịch vụ nhà ga, sân bay.
        - Đào tạo mới và đào tạo lại lực lượng cán bộ quản lí.
        - Nâng cấp hạ tầng cơ sở sân bay, quản lí điều hành bay.

        Hòa trong công cuộc đổi mới toàn diện của cả nước, với Nghị định 242 / HĐBT ngày 30 tháng 6 năm 1992, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã thực hiện một bước chuyển đổi rất cơ bản để phù hợp với cơ chế của một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Sau gần một năm chuẩn bị, đến quý 2 năm 1993, sự hoạt động của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam mới thực sự vận hành theo mô hình mới. Cục Hàng không dân dụng Việt Nam với 21 đầu mối cơ sở trực thuộc được chia thành 3 khối: kinh doanh, sự nghiệp và hành chính. Việc sắp xếp lại tổ chức thực sự là một cuộc đổi mới trong ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. Sự thay đổi toàn bộ hệ thống tổ chức và quy trình hoạt động, cơ chế quản lí hạch toán toàn ngành của Tổng công ty cũ thành 21 đầu mối hạch toán và thu chi độc lập khác nhau đã nâng cao trách nhiệm của từng lĩnh vực, từng bộ phận trước yêu cầu phục vụ vận tải và hạch toán kinh tế.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200012a_zpsgqta7dtj.jpg)
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Việt Nam Nguyễn Hồng Nhị

        Hàng không dân dụng bản thân nó ngay từ đầu đã mang tính Quốc tế cao. Việt Nam trước và sau khi thừa nhận công ước Chi-ca-gô (ký ngày 7-12-1944 tại Mỹ) và trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế (ICAO) năm 1980 luôn có quan hệ gắn bó với ICAO, nhất là từ năm 1986 đến nay, ICAO và UNDP đã hỗ trợ Hàng không dân dụng Việt Nam một phần về tài chính thông qua các đề án như đề án nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là đào tạo nhân viên kỹ thuật quản lí. (ví dụ như đề án VIE 79/003 về đào tạo một sô kỹ sư cho ngành Hàng không, đề án VIE 82/004, VIE 82/005, VIE 87/030 về nâng cấp Trường Hàng không, đào tạo cán bộ quản lí, soạn thảo quy chế kỹ thuật, quy chế về không lưu, đề án VIE 89/016 về nâng cấp trang thiết bị và đào tạo nhân viên khí tượng hàng không, đề án VIE 88/023 về lập kế hoạch phát triển tổng thể của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam...).

        Vượt qua nhiều lực cản của tư tưởng bao cấp trì trệ, anh đã tạo được những bước quyết định trong cuộc cạnh tranh với các hãng Hàng không nước ngoài bằng việc hiện đại hóa phương tiện Hàng không từ mặt đất đến trên không, đồng thời cải tiến không khoan nhượng vấn đề dịch vụ hành khách. Hàng không Việt Nam đã có những bước tiến dài, đã chắp thêm cánh để bay xa. Từ khi giành lại FIR Hồ Chí Minh, Hàng không Việt Nam đã bay đến 3 Châu lục, 19 điểm quốc tế, 14 điểm trong nước, có 23 hãng Hàng không quốc tế bay đến Việt Nam, ký Hiệp định Hàng không với 40 nước, đặt 19 đại diện Hàng không Việt Nam ở các nước, tốc độ tăng trưởng đến 40 % năm, vận chuyển gấp 7 lần năm 1989. Chỉ tính năm 1995, riêng Hãng hàng không quốc gia Việt Nam đã nộp vào ngân sách nhà nước 302 tỷ đồng rồi.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2016, 09:21:56 pm
        Tôi tâm đắc với bài thơ “Viết tiếp trang Anh hùng” của nhà văn Thế Kỷ đã viết về anh:

                         “Tiếng hát Mẹ ru từ vành nôi Bình Định
                         Giọng à ơi còn vọng tự xa xưa
                         Chim đất gù, đọt măng vòi cong bịn rịn
                         Mống chiều mưa lắc rắc đập xơ dừa...
                         Ước mơ tuổi nhỏ đung đưa
                         Ngước nhìn, ngửa mặt ngọn dừa trên cao
                         Lớn lên vươn tới trời sao
                         Ngọn dừa dưới thấp bay vào mênh mông
                         Đường bay xưa đỏ từng không
                         Viết nên trang sử chiến công cmh hùng
                         Vượt qua bom đạn bão bùng
                         Tóc sương vừa phủ vừng hồng đã lên
                         Bô câu rợp ánh bình minh
                         Trời xanh mây trắng tầm nhìn mở ra
                         Chim Ưng thỏa sức bay xa
                         Năm châu bốn biển bao la tình người
                         Quang Trung đất Mẹ đây rồi
                         Trên mây vẫn nhớ từng lời ru xưa...
                         “Ầ ơi...
                         Công đâu công uổng công thừa
                         Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan
                         Công đâu công uổng công hocmg
                         Công đâu gánh nước Tam Quan tưới dừa... ”
                         Dừa đung đưa, Nôi đung đưa
                         Ước mơ tuổi nhỏ ngày xưa đã thành
                         Áo bay (đã) thay sắc lộ trình
                         Mà đường chưa hết gập ghình chông gai
                         Gập ghình của cái hôm nay
                         Khác xa với nỗi chông gai năm nào
                         Cánh bay sóng sánh ngàn sao
                         Ngọn dừa rợp mát vẫn cao ngang tầm
                         Gừng cay muối mặn đã từng
                         Lời nguyền sau trước vì dân đã nguyền
                         Mặc cho gió xoáy trăm miền
                         Cánh bay chẳng chút trùng triền, lung lay
                         Không hề sai lệch đường bay
                         Theo đường Bác vạch thẳng ngay một đường
                         Xưa chiến trường, nay thị trường
                         Đường băng sống chết dễ thường tử sinh
                         Thủy chung một dạ đinh ninh
                         Công ơn Đảng Bác, nghĩa tình nước non
                         Mùa Thu bốn tám vừa tròn
                         Trăm công ngàn việc vẫn còn thời gian
                         Đường bay ngày một thênh thang
                         Anh hùng lại viết tiếp trang Anh hùng...


        Với những đóng góp của cá nhân anh trong chiến đấu và xây dựng kinh tế, lịch sử phát triển ngành Hàng không dân dụng Việt Nam không bao giờ vắng tên anh - người Anh hùng phi công Nguyễn Hồng Nhị.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2016, 09:29:34 pm
       
ĐƯỜNG BĂNG DỊU ÊM

        Với những người làm nghề sông nước thì bến bờ là nơi trú ngụ, là điểm tựa an toàn, vững chắc nhất trong mọi bão giông, hiểm nguy... của những chuỗi ngày lênh đênh.

        Với đội ngũ phi công, dù muốn bay cao, bay xa đến đâu thì rồi cũng vẫn phải quay về với mặt đất thân yêu. Cất cánh, tách đất, rời đất... rồi kiểu gì cũng phải tiếp đất. Đường băng là nơi cho anh lấy đà lao vút vào trời cao, là nơi tạo cho anh cơ hội trải nghiệm, thực hiện những ước mơ cao cả của mình và cũng là nơi đón nhận anh về trong tâm trạng hào hứng, phấn khích hay u buồn, mệt mỏi...

        Gia đình đối với người phi công cũng đúng như đường băng kia. Nơi ấy là nơi tạo nguồn cảm hứng, là nơi chắp cánh những ước mơ cho anh, là chỗ dựa vũng chắc cho mọi bước chân anh trên mọi nẻo đường, là chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp của anh. Cho dù anh chói lòa trong hào quang hay bình dị như những con người bình dị nhất thì đấy chính là nơi anh hạ cánh, nơi anh luôn tìm được sự bình yên mặc cho bầu trời đầy bão giông với đủ mọi hiểm nguy rình rập.

        Cho đến bây giờ, tôi vẫn cho rằng tình yêu như là điều gì đó được sắp đặt theo số phận. Các bạn cứ thử suy từ chính các bạn ra mà xem. Anh Nguyễn Hồng Nhị - một chàng trai tận miền quê Bình Định lại gắn bó với một sơn nữ của miền sơn cước Tam Đảo! Lạ lùng chứ! Mà mối tình của họ cũng đặc biệt hiếm hoi!

        Số là, vào tháng 8 năm 1966, sau khi anh nhảy dù, đơn vị cho anh đi nghỉ an dưỡng trên núi, anh gặp chị - chị Nguyễn Thị Thanh Dậu khi ấy là y sĩ công tác tại trạm y tế Tam Đảo. Anh đã “để ý” đến cô y sĩ này - cô y sĩ hiền lành, chất phác, luôn vui vẻ và có tấm lòng nhân hậu, luôn nghĩ, luôn lo cho người khác, cho công việc của đoàn thể giao, như: tham gia công tác dân quân tự vệ, là Bí thư Chi Đoàn, ủy viên Ban chấp hành Phụ nữ thị trấn...

        Thời gian nghỉ ngắn thôi, nhưng anh cũng đã có những rung động, những xao xuyến, bâng khuâng riêng. Anh không thổ lộ chút gì hết, cho dù nhịp đập của con tím đã bắt đan xen những nhịp phách mới.

        Tháng 6 năm sau, anh cùng một số phi công của đơn vị lại có dịp lên nghỉ ở Tam Đảo. Thời đó, các phi công hay được nghỉ ở vùng núi vì khí hậu phù hợp, không khí trong lành, lại yên ả, thanh bình, gần đơn vị (chỉ cách 40 đến 50 cây số mà thôi). Mọi điều kiện rất phù hợp cho phi công lấy lại sức sau những ngày trực chiến căng thẳng. Những ngày nghỉ, anh khao khát muốn gặp cô y sĩ ở Trạm xá (anh chưa biết nhà cô ở đâu cả). Vậy là anh tạo ra sự xây sát khi chơi thể thao để xuống trạm xá nhờ y sĩ Dậu bôi thuốc, băng bó để có cớ gặp cô. Anh đi cùng với một số anh, trong đó có anh Nguyễn Nhật Chiêu (sau này trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Các anh đều giấu tên thật của mình, giấu cả quê quán của mình nữa. Anh Chiêu thì giới thiệu mình tên là Châu. Anh Nhị thì tự giới thiệu mình tên là Vĩệt, quê ở Bến Tre. Câu chuyện của các anh cũng cứ “tào lao” không ăn nhập đâu vào với đâu, nội dung câu chuyện cũng như vậy khi các anh đến trạm xá, và cũng chẳng rõ đâu là thực, đâu là hư, đâu là đùa, đâu là nghiêm túc nữa. Khi anh Nhị tự giới thiệu mình quê ở Bến Tre, cô y sĩ Dậu hồn nhiên đáp lại:

        - Vậy là tỉnh chúng em là tình kết nghĩa với tình Bến Tre nhà anh đấy! (mà thực tế hồi ấy thì đúng như thế thật). Như vậy là đồng hương rồi, đúng không anh? Nói rồi chị tủm tỉm cười.

        Và trong cuộc ừò chuyện này, chủ yếu anh Nguyễn Nhật Chiêu là nhân vật chính để nhân vật phụ - nhân vật quan trọng là anh Nguyễn Hồng Nhị đánh giá tình hình, tìm cách tiếp cận, tựa như trong biên đội bay, một anh làm nhiệm vụ “đánh lạc hướng” để cho đồng đội mình “tiếp cận, làm bàn”.

        - Cô tên là gì nhỉ? - anh Chiêu hỏi.

        - Dạ, em tên là Tam Sơn ạ! - cô y sĩ trả lời

        - Thế em có người yêu chưa? - anh Chiêu hỏi tiếp.

        - Em có gia đình rồi!

        - Chú ấy ở đâu?

        - Nhà em đi B ạ! (đi B tức là đơn vị bộ đội đi vào miền Nam chiến đấu).

        - Cô có cháu chưa?

        - Em có một cháu gái rồi!

        Chuyện bâng quơ thế thôi, nhưng trước đó các anh đã “trinh sát, nắm tình hình”, đã được chị Ca - cán bộ phụ trách nhà ăn của khách sạn Tam Đảo giới thiệu, cung cấp cho đầy đủ thông tín về cô y sĩ này rồi.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2016, 09:32:39 pm
        Nhớ lại lần gặp gỡ trên núi ấy, anh Nguyễn Nhật Chiêu nói:

        - Thời gian ấy tớ với “lão” Nhị cùng với một số anh em khác được đi nghỉ ở Tam Đảo (lúc vui chuyện, anh Chiêu hay gọi người khác bằng “lão”, cho dù người đó ít tuổi hơn anh nhiều). Anh em tớ đã gặp cô Dậu đi vác nứa ở rừng về, mồ hôi chảy ròng trên khuôn mặt đồ hồng, quần xắn cao, bước đi vững chắc lắm. “Lão” Nhị có cảm tình ngay...

        - Vậy đấy có thể gọi là “tình yêu sét đánh” được không anh?

        - Có lẽ gần như vậy. Các cụ thì chỉ nói rằng “phải lòng” thôi!

        - Vậy rồi sao nữa?

        - Vậy rồi bọn tớ xuống nhà cô Dậu. ông cụ bố cô Dậu rót nước ra mời. “Lão” Nhị thì chẳng nói năng gì, cứ uống nước thôi. Ông cụ rót bao nhiêu là uống hết bấy nhiêu. Buồn cười lắm!

        Có lẽ tâm trạng của chàng trai nào ở vào thời điểm đó cũng giống như tâm trạng của anh Nhị mà thôi. Cứ khoe mạnh dạn ở đâu đó, nhưng trong ngữ cảnh ấy thì lại cứ run run, sờ sợ. Cũng thật lạ về cái tâm trạng con người!

        Lần gặp gỡ ấy, anh Nhị có hỏi chị Dậu:

        - Nếu anh viết thư cho em thì em có nhận và có đọc không?

        - Em nhận và đọc chứ! Tình quân dân như “cá với nước” mà!

        Anh tặng chị chiếc bút máy “Kim Tinh” của Trung Quốc có khắc tên mình. Thời đó có trào lưu là hễ ai có bút máy là đều đến các thợ khắc bút để khắc tên mình hoặc những chữ như “Kỷ Niệm” hay là khắc chim, hoa, lá...gì đó lên thân chiếc bút. Thợ khắc bút cũng có mặt ở khắp nơi, khắc rất nhanh và rất đẹp với những nét khắc thật mềm mại, uyển chuyển, bay bướm...

        Thời gian sau chiến tranh thì số thợ khắc bút ở các thị xã, thị trấn, thành phố... không còn nữa. Bẵng đi mấy chục năm, vừa rồi tôi lại thấy thợ khắc bút ngồi ở Bờ Hồ. Tôi cho rằng đấy cũng là một điều rất hay, rất văn hóa và định bụng khi nào thuận tiện, tôi cũng đến nhờ khắc cho một chiếc để được sống lại kỷ niệm xưa.

        Vào cái thời anh Nhị tặng cây bút “Kim Tinh” cho chị phải nói rằng đấy là cả một sự kiện vì cây bút “Kim Tinh” rất quý, chỉ những ai đi công tác qua Trung Quốc thì mới mua được loại bút ấy. Hình dáng đã đẹp, các nét viết lại trơn tru, được sở hữu chiếc bút ấy là “oách” lắm rồi. Nước ta hồi đó thì chỉ có bút “Hồng Hà”, “Trường Sơn”... nhưng chất lượng chưa được cao.

        Anh tặng chị chiếc bút. Chị cũng lấy chiếc bút “Hồng Hà” có khắc tên của mình của mình ra để tặng lại anh. Vậy là từ đây, những chiếc bút sẽ là những giây tơ nối cho những tiếng lòng ngân vang, kéo gần sự xa cách. Những chiếc phong bì nhỏ nhắn và những con tem có cánh sẽ chắp nối tình cảm cho họ. Thần tình yêu chắc đang bay lượn quanh đâu đó, ngắm nhìn họ và mỉm cười ranh mãnh!

        Chị có xuống đơn vị thăm anh hai lần: lần thứ nhất là khi tiễn em trai mình là Nguyễn Dũng Chiến lên đường nhập ngũ và lần anh Trần Mạnh - Trung đoàn trưởng đi họp, ghé qua đón chị về Trung đoàn.

        Vậy là tình yêu thật sự đã đến với chàng trai Bình Định tập kết ra Bắc và cô sơn nữ người Tam Đảo.

        Anh viết trong nhật ký nói lên sự khao khát yêu nhau của thời trai trẻ: "... Em yêu anh giống như đất nắng hạn lâu ngày trông mưa. Anh yêu em giống như trời đang đổ cơn giông xua đi nắng hạn... Mình cũng không ngờ năm nay tình yêu lại đến. Tình yêu đến kể cũng rất bất ngờ nhưng đằm thắm. Nếu đã yêu thì phải quyết tâm nhen nhóm cho trọn vẹn kể cả đôi bên.

        Nhưng cũng tình yêu đến mới cảm thấy bận rộn nhiều hơn, sao mà bận rộn nhiều đến độ mình chua nghĩ đến bao giờ. Có phải chỉ riêng cá nhân mình hay là “ai” cũng thế?”

        Rồi đoạn khác anh lại viết: “Tình yêu đã sưởi ấm cho tôi thêm về tình cảm gia đình và luôn động viên tôi bắn rơi nhiều máy bay giặc Mỹ”...

        Anh cho biết:

        - Cô ấy yêu anh không phải là vì anh có tài bắn máy bay, mà là theo cô nghĩ hai tiếng phi công nó ừong sáng như “chiếc cốc pha lê” vậy, đó là người phi công chiến đấu - chiến sĩ canh trời mà! Chính tình yêu, sự cảm thông của cô ấy qua những lời thư nhắn gửi thiết tha đã “tiếp lửa”, tiếp thêm sức mạnh cho anh để cho anh cất cao đôi cánh bay của mình!

        Còn chị thì tâm sự:

        - Chúng tôi viết cho nhau nhiều, dù rằng thời gian rất eo hẹp và các điều kiện của cuộc sống bấy giờ rất khó khăn. Mỗi lần cầm thư anh là tôi phải xem ngày anh viết là ngày nào, xem để biết đến ngày ấy anh vẫn còn sống.

        Anh xa gia đình biền biệt, chiến trường anh chiến đấu lại vô cùng khắc nghiệt, gian nguy... Tôi chỉ muốn chia sẻ với anh bớt được chút khó khăn nào hay chút ấy. Tôi luôn cầu mong: dù anh bay đi đâu, đến đâu, chiến đấu ừong điều kiện khắc nghiệt thế nào, gian khổ đến mấy thì đến, miễn tránh được “hòn tên mũi đạn” để trở về. Nếu có phải hy sinh thì cũng phải hy sinh cho anh dũng. Tôi cũng đã chuẩn bị tinh thần là người vợ liệt sĩ suốt đời.

        Cô sơn nữ dịu hiền, chất phác ấy có tấm lòng thật nhân hậu.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 09:01:59 am
        Sau buổi gặp nhau lần thứ hai ở trên núi ấy, anh về báo cáo với tổ chức về câu chuyện tình cảm, “tình yêu tình báo” của mình. Với đội ngũ phi công, không phải cứ yêu ai là có thể lấy được người ấy. Nó cũng có nhiều lí do ràng buộc lắm. Phải điều tra, xem xét lí lịch, thẩm tra lại thân nhân... nghĩa là phải qua những bước thủ tục quy định chặt chẽ. Cũng đúng thôi, một mình anh trên trời - tài sản giao cho anh về giá bị kinh tế, chính trị và các giá trị khác nữa vô cùng lớn, không thể để xảy ra những sai sót, sai lầm đáng tiếc được.

        Đích thân Trung đoàn trưởng Trần Mạnh và Chính ủy Chu Duy Kính thay mặt đơn vị lên thăm gia đình và đặt vấn đề với gia đình, bố mẹ của chị Dậu.

        Chuyện tổ chức cưới xin cho anh cũng được bàn định, sắp xếp, tổ chức nhanh gọn. Tháng 5 anh về báo cáo tổ chức thì tháng 11 đơn vị đứng ra tổ chức lễ thành hôn cho anh chị.

        Chiến tranh tiếp diễn thế nào đi chăng nữa thì cũng vẫn phải tính đến chuyện gia đình, sinh cơ lập nghiệp. Anh còn nhớ hôm gặp Bác Hồ, Bác có dặn: “Học Bác cái gì thì học nhưng đừng học không lấy vợ!”.

        Gia đình và đơn vị đều nhất trí, thấy mọi chuyện cũng hợp lí nên hôn lễ được tổ chức trên khu nghỉ mát Tam Đảo.

        Hôm anh chị đi đăng ký kết hôn, đại diện đơn vị có các anh Nguyễn Công Lý, ủy ban nhân dân thị trấn Tam Đảo có Chủ tịch Phạm Văn Quảng, đại diện gia đình có ông bố - Nguyễn Văn Tác và cả hai anh chị đều ký vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của anh chị.

        Đám cưới thời chiến thật giản dị mà vui vẻ. Kẹo, chè, thuốc lá và những lời ca tiếng hát chúc tụng cô dâu chú rể. Anh chị tràn ngập ừong niềm vui, đắm say trong men say của tình yêu, nhưng họ cũng không ở với nhau được liên tục. Ngay trong “tuần trăng mật” ấy, mới chỉ đến hôm thứ hai, có nhiệm vụ chiến đấu, đơn vị đã cho xe lên đón anh lúc nửa đêm. Tam Đảo mùa ấy rất rét, ừời đầy mù sương, gió thổi lạnh buốt. Anh cỗi chiếc áo ấm để choàng cho chị, truyền lại hơi ấm cho chị trước khi lên xe về đơn vị nhận nhiệm vụ. Cuộc sống của người lính, nhất là người lính canh trời thực sự gian nan vất vả, luôn phải xa gia đình và luôn thèm khát hơi ấm gia đình. Từng chuyến xuất kích là từng chuyến thần kinh phải tập trung căng thẳng. Mọi chuyện diễn ra bất ngờ từng giây, tình huống thay đổi từng giây. Người phi công chiến đấu không những phải điều khiển máy bay thành thạo, điêu luyện, mà còn phải biết định hướng ở trên không, xác định được tình thế chiến trận, quyết định cách đánh, thời cơ tấn công, cách thức tấn công, tiêu diệt địch. Vừa là người lính chiến, vừa như người chỉ huy dàn nhạc ữên không, vừa như một dũng sĩ lại vừa như người nghệ sĩ... Phi công chiến đấu khác với những thành phần khác có lẽ là ở chỗ đó.

        Muốn hay không, dù căng thẳng đến mấy, trong anh vẫn có những khoảnh khắc ngắn ngủi xao lòng khi ngắm mặt trời chìm dần sau dãy núi, vẽ lên trời những rẻ quạt với những gam màu đậm nhạt khác nhau trong chiều tím hoàng hôn. Những làn khói lam mỏng manh, lãng đãng bay lên từ các mái nhà tranh trong thôn xóm gợi nhớ đến bữa cơm gia đình xum vầy. Anh thầm nghĩ không biết giờ này vợ mình đang làm gì, không biết đã vào bếp nấu cơm chưa. Thật thèm lắm những bữa cơm gia đình. Anh đứng tựa lưng vào chiếc máy bay MiG-21 thân yêu đã cùng với anh trực chiến hết ngày, nhìn lên dãy núi, nhớ da diết cô sơn nữ Dậu và anh khe khẽ hát: “Ai về sau dãy núi xanh lơ, nhắn rằng tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng long lanh và nụ cười thật quá xinh...”. “Nụ cười sơn cước” anh đã bắt gặp từ ngày đầu tiên ở trên Tam Đảo, đã in đậm trong tâm khảm anh, không thể phai mờ.

“Núi cao chi lẩm núi ơi
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương!”

        Nơi núi cao vời vợi, xa vời vợi kia, chị cũng nhớ anh không kém. Người xưa vẫn nói: “Thương gì bằng nỗi thương con. Nhớ gì bằng nỗi gái son nhớ chồng!”. Vừa mới cưới xong, mới ở với nhau được hơn một ngày đã xa cách sao mà không nhớ nhung khắc khoải! Những khi nghe tiếng máy bay trên trời, những lúc nhìn về phía sân bay, chị lại bần thần nhớ đến anh, nhớ từ buổi gặp đầu tiên đến lúc chia tay, nhớ cảnh anh cời áo khoác ra để khoác cho chị, truyền hơi ấm cho chị... Chị lại thầm mong anh được lành lặn trở về...


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 09:06:28 am
        Tình yêu đã giúp cho họ sức mạnh, giúp cho họ lòng tin vào tương lai, giúp cho họ vượt được mọi khó khăn, trở ngại, rút ngắn thời gian xa cách và luôn như được sống bên nhau.

        Chị đã từng viết cho anh bài “Trái tim đồng chí”:

                                    “Hai đứa yêu nhau chờ ngày hôn lễ
                                    Bỗng một chiều bom Mỹ dội quê hương
                                    Anh phải xa em lên đường đi chiến đấu
                                    Buổi tiễn đưa vàng nắng xế sườn non
                                    Trời xcmh hôm nay, trời của ta còn mờ lửa khói
                                    Em cũng lên đường theo bước chân anh
                                    Trên đầu em một ngôi sao sáng chói
                                    Như ánh mắt ngời sáng mãi long lanh
                                    Hai ngôi sao yêu thương thành ngôi sao đồng chí
                                    Dù anh bay đi, em có ở nơi nào?
                                    Hạnh phúc vẫn trọn trên tuyến đầu chống Mỹ
                                    Mãi ngời vui!"


        Năm 1969, bé gái Hồng Tâm ra đời. Niềm vui hạnh phúc nhân lên gấp bội phần. Sinh linh nhỏ bé kia đã làm họ ngập tràn trong nỗi hân hoan dù trước mắt còn biết bao khó khăn, gian khổ. Ngày chị sinh bé Hồng Tâm, nhận được tin mà anh không về được, anh chỉ biết viết cho chị:

                                    “Anh lại viết tiếp cho em
                                    Tình thơ vẫn dịu niêm
                                    Qua bao ngày mang nặng
                                    Bao ưởc mong lo lắng
                                    Hôm nay đã đến rồi
                                    Ngày sinh nỏ gian  nguy
                                    Nhưng anh vẫn xa biền biệt
                                    Nhớ thương em da diết
                                    Càng phải cố gắng hơn
                                    Tinh em vẫn là trên
                                    Em phải luôn nghĩ vậy!”.


        Chị vẫn ở lại đỉnh núi với ông bà ngoại, nuôi con. Anh vẫn đi chiến đấu với những chuyến xuất kích ngày càng cam go. Kẻ địch ngày càng xảo trá, càng tàn bạo thì mức độ ác liệt của từng chuyến xuất kích, từng trận không chiến càng tăng.

        Chị cũng từng tham gia cùng lực lượng dân quân du kích đi bắt giặc lái Mỹ nhảy dù, rơi xuống đỉnh Tam Đảo. Mất mấy ngày mấy đêm liền cơm nắm cơm đùm lung sục trong núi trong khi máy bay Mỹ cứ quần đảo liên tục trên đầu. Chắc chắn thằng giặc lái Mỹ vẫn ở đâu đây. Về sau anh chị em dân quân phát hiện ra nó đang nằm ở trên cây, giũa mấy chạc cây. Hắn bị tóm sống. Vì chị là y sĩ nện được phân công bảo vệ sức khỏe cho tên giặc lái từ khi bắt được nó cho đến khi bàn giao nó cho Tỉnh đội. Suốt dọc đường trong rừng núi, chị phải thường xuyên đi cạnh nó. Nó cao phải đến 2 mét, khi dẫn nó về Thị trấn Tam Đảo, phải kê sát hai chiếc giường vào cho nó nằm mà nó phải nằm vắt chéo thì mới vừa. To xác như vậy nhưng cũng nhát lắm, chắc chỉ hung hăng ở trên trời mà thôi. Lại nhớ đến bài của nhà thơ Tố Hữu:

                                    “O du kích nhỏ giương cao súng
                                    Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
                                    Ra thế, to gan hơn béo bụng
                                    Anh hùng đâu cứ phải mày râu!”


        Đúng! Anh hùng đâu cứ phải mày râu thật!

        Đến năm 1973, chú lính con Hồng Hưng tiếp tục ra đời. Anh Nhị cũng không ở nhà mà ở tận bên Liên-xô. Chị phải trông cậy vào sự trông nom, chăm sóc chu đáo của bà ngoại và của hai em Nguyễn Tiến Thắng, Nguyễn Thị Hồng Yên. Anh viết thư về động viên chị, động viên gia đình vượt qua những khó khăn, trở ngại.

        Cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng lực lượng Không quân của đế quốc Mỹ chấm dứt nhưng chưa kết thúc về toàn cục.

        Anh vẫn xa biền biệt Bé Hồng Tâm có những chiều ra đứng ngoài cổng, thấy bạn bè hàng xóm gọi bố, cũng học theo bạn hàng xóm, cũng gọi:

        - Bố ơi, về ăn cơm!

        Chắc ở nơi xa kia anh cũng thấy nóng ruột, hắt hơi... Khi biết chuyện ấy, anh nhớ con, nhớ gia đình vô kể, nhưng nghĩ rằng mình đâu bỗng chốc mà về được. Chiến tranh chưa kết thúc, mà với người lính chiến trong chiến trận thì phải luôn sẵn sàng... Anh xác định, động viên lại chị:

                                    “Nếu giữa đường anh không về nữa
                                    Thì em ơi, mỗi bữa cơm chiều
                                    Hồng Tâm đừng gọi bố về, nghe con
                                    Em cứ dạy cho con ngoan, con lớn
                                    Ngày huy hoàng sẽ đến cho em
                                    Trường Sơn một dải núi non
                                    Hồng Tâm có bố của con góp phần
                                    Cầu cho em vẫn hồng như trước
                                    Dù điểm sương mái tóc buông lơi!”.


        Miền Bắc đứng lên từ đống đổ nát của đạn bom, khôi phục xây dựng lại sẽ đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lời di chúc của Bác.

        Nền kinh tế thờỉ đó gặp muôn vàn khó khăn... Đói... Rét..


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 09:15:31 am
        Tam Đảo ngày ấy rét kinh khủng, nhà nào nhà nấy đều phải đốt củi sưởi ở giữa nhà, hầu như lửa cháy suốt ngày đêm mà vẫn không sao xua tan được cái giá lạnh. Rét ở miền núi thật đến buốt óc.. Nước đóng băng trên bề mặt các chum, vại đựng nước. Bé Hồng Tâm mới khoảng 3-4 tuổi, một buổi sáng ra múc nước, vướng mặt băng đóng ỗ trên, không thể múc được liền kêu toáng lên:

        - Thấy nước mà lại không múc được!

        Cũng là lạ. Lời con trẻ mang đầy sự ngạc nhiên... Đứng là bề mặt nước bị đóng một lớp băng dày khoảng vài ba phân thật Khi lớp băng bị đập, bé Hồng Tâm lại la tiếp:

        - Không biết ai ném đầy mảnh kính vào vại nước nhà mình nhỉ?

        Xa cách anh, chị vẫn cố nuôi dạy con cái, chăm sóc Mẹ già và hoàn tất mọi nhiệm vụ ở trạm xá để anh yên tâm công tác. Lâu lâu anh ào về, rồi lại hối hả đi. Thường thì có xe ô-tô của đơn vị chở anh về, nhưng cũng có những lần anh phải đạp xe đạp, đẩy ngược dốc về thăm gia đình.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200013_zpsvk8mlvip.jpg)
Anh chị và hai cháu Tâm, Hưng chuẩn bị về thăm quê nội

        Dốc Tam Đảo ngày ấy đường còn hẹp lắm, cây cối um tùm, rừng thông cao vút với tiếng réo vi vu suốt đêm ngày. Tiếng gà rừng còn gáy vang trong hẻm núi, chim chóc hót líu lo..., người đi đường rất ít nên con đường càng cảm thấy quạnh quẽ, hoang vắng.

        Từ chân suối lên thì chỉ có xuống đẩy xe đạp thôi chứ không thể ngồi mà đạp được. Từ nhà xuống thì xe nào cũng phải buộc một cành cây to ở đằng sau xe để giảm tốc độ lao của xe, nếu cành cây nào có ít là thì phải đặt thêm một hòn đá lên, không thì không loại phanh nào chịu nổi.

        Đẩy xe lên dốc thì càng đẩy càng mệt, mà mệt rồi thì thấy cái gì cũng nặng. Đã có íàn anh đẩy xe lên dốc, mệt quá, mấy cân dưa định đem về làm quà cũng đành phải “gửi lại” gốc cây ven đường, đến giày cũng phải tháo ra để ừeo vào ghi đông xe..., muốn có ai đó đi cùng làm bạn đường vừa đi vùa nói chuyện cho đỡ buồn, đỡ mệt mà cũng chẳng có... Chỉ có tình yêu với “động cơ đốt tim” mới làm cho con người ta vượt được hết thảy. Đúng là “tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua” như người xưa thường nói thật.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 07:24:20 pm
        Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh được điều động vào đó công tác nên anh cũng chuyển gia đình vào đó. Cũng là hợp lí, nhưng chật vật lắm anh mới đưa được gia đình đi vì bà ngoại rất khó tính, không muốn rời xa con, cháu. Tổ chức “điều đình” mãi, bà mới xuôi.

        Vậy là chị cùng các cháu và bà ngoại “hạ sơn, rời núi”.

        Bà ngoại vì nhớ thương hai cháu, không muốn rời xa nên cũng đành phải “hạ sơn”, vào Nam mấy tháng với các cháu.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/06_zpsacos5tl6.jpg)
Anh Nhị thăm lại mảnh đất đồn Đắc Đoa, nơi thấm đẫm máu xương đồng đội Tiểu đoàn 365, nay là Trường Mần Non ( ảnh chụp năm 1998 )

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/07_zpsd1llnpef.jpg)
Gặp mặt các cựu chiến binh tiểu đoàn 365 nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập tiểu đoàn (tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh)

        Khi vào Nam, chị được công tác ở bệnh viện của Quân chủng Phòng không - Không quân (từ năm 1976 cho đến 1979). Khi bệnh viện của Quân chủng chuyển ra ngoài Bắc, chị chuyển về công tác ở bệnh xá Sư đoàn Không quân 370.

        Lại tiếp tục những chuỗi ngày vất vả. Anh không mấy khi được ở nhà mặc dù mang tiếng công tác gần nhà. Cũng may, các cháu ngoan ngoãn, biết làm lụng các công việc giúp mẹ nên chị cũng đỡ được phần nào. Chúng lớn dần lên thì anh lại chuyển công tác xa đàn, lại “Bắc tiến” - ra Đà Nắng, rồi Thanh Hóa, Hà Nội và về Gia Lâm. Đúng cảnh chồng Bắc vợ Nam, thật như vợ chồng Ngâu, lâu lâu mới được gặp nhau. Anh chị chỉ thực sự gần nhau, chăm sóc cho nhau khi anh đã nghỉ hưu. Các cháu cũng đã trưởng thành, ngoan ngoãn và đều công tác phục vụ trong ngành Hàng không dân dụng Việt Nam, đã lập gia đình, sinh con đẻ cái. Gia đình anh đã là một gia đình lớn. Tiếng các cháu nô đùa ríu rít suốt ngày làm cho không khí luôn vui vẻ.

        Lần anh bị bệnh nặng phải nhập viện, chị lo lắng chăm sóc anh như người mẹ hiền chăm sóc cho con. Mọi người tưởng anh không qua được. Nằm trên giường bệnh, anh tâm sự với chị:

        - Theo cách mạng, anh đã được đi khắp nhiều miền kể cả tận chân trời góc biển xa xôi nhưng anh vẫn luôn như có em bên anh. Nay dù anh có đi xa, em cũng đừng buồn. Anh thương em lắm, thương vô cùng!

        Biết rằng anh đang xúc động, chị nói đùa cho anh vui:

        - Nào, vậy bây giờ anh cần gì để em chiều!

        - Thôi đừng giỡn nữa! - anh cười tủm tỉm.

        Nhắc đến chuyện của anh chị, tôi lại nhớ đến câu xưa:

“Vợ chồng là nghĩa tao khang
Xuống khe bắt ốc, lên ngàn hái dâu
Vợ chồng nghĩa nặng tình sâu
Thương nhau đến lúc bạc đầu vẫn thương!”.
       


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 07:27:16 pm
         
THAY CHO LỜI KẾT

        Tháng 5 năm 1998, anh nhận quyết định nghỉ u hưu. Một lần, vào dịp cuối năm, anh rủ tôi đi xem khu đất anh mua để lập trang trại. Tôi hỏi:

        - Anh định làm trang trại ở khu vực nào?

        - Thì ngay sau Sư đoàn thôi! Đi rồi sẽ biết!

        Sư đoàn đây là Sư đoàn Không quân 371. Mà khu vực Sư đoàn ở Sóc Sơn thì tôi biết rõ lắm. bao nhiêu thôn xã từng gắn bó với tôi hàng bao nhiêu năm trời như: Lạc Đức, Vệ Ninh, Bắc Phú, Dược Thượng, Dược Hạ, Đặc Tài, Hương Đình, Xuân Bách, Ấp Cút, Đông Lai, Quảng Hội, Gò Trai... Tôi không biết anh sẽ “cắm đất” ồ miền nào? Tôi đi theo anh, lòng vẫn băn khoăn, tự mình đặt ra nhiều câu hỏi cho mình mà cũng chưa tìm được câu trả lời. Rồi tôi cũng được anh chỉ cho mảnh đất anh định lập trang trại. Mảnh đất ấy ở ngay sau Tượng đài Không quân, thuộc khu lâm nghiệp cũ, nằm ngay trên đường đi ra đập Đồng Quang.

        Tôi đứng ngắm nhìn khu đất cằn cỗi, được ví là “chó ăn đá, gà ăn sỏi” ấy mà bần thần. Đất này thì chỉ có guột ở dưới cùng thông và bạch đàn ở trên là sống được thôi, lập trang trại kiểu gì nhỉ? Người lính già - vị lão tướng này bắt đầu mắc chứng lẩm cẩm rồi cũng nên? Tôi thầm hỏi, sau lại tìm được ngay câu trả lời cho mình: Sóc Sơn là nơi “tình đất tình người”, như lời trong bài hát của nhạc sĩ Chu Đình Lợi: “Sóc Sơn, nơi anh bay nối đất với bầu ừời. Nơi anh cất cánh và anh về hạ cánh. Nơi đường băng như bậc thang dốc đứng. Đón anh về và nâng cánh anh bay...”. Lời của bài “Sóc Sơn tình đất tình người” đã đề cập đến từng gắn bó với anh cả một thời trai trẻ, từ khi anh đi học bay ở Liên-xô về. Nơi ấy anh từng cất cánh biết bao lần, xuất kích đi chiến đấu. Từ nơi ấy anh đã chứng kiến biết bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn ừong suốt chặng đường chiến đấu của mình. Tinh nghĩa của biết bao con người từng nuôi dưỡng, cưu mang, động viên anh từng chuyến bay, chăm sóc anh từng ngày, yêu thương anh như người thân, ruột thịt của mình. Biết bao đồng đội của anh từng đổ sức lực, máu xương, mồ hôi, nước mắt. Biết bao người đã ngã xuống vì mảnh đất này... Cái nôi của Không quân là đây. Nơi đây, theo huyền thoại, sau khi đánh xong giặc Ân, Thánh Gióng đã ngồi nghỉ, rồi cưỡi ngựa sắt bay về trời. Người như hình tượng phi công đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam. Lớp lớp phi công đã trường thành trên đất này. Biết bao cán bộ lãnh đạo của các đơn vị Không quân, của Quân chủng Phòng không - Không quân trưởng thành từ đất này...

        Cái tình, cái nghĩa nặng như vậy, làm sao anh lại không quay về mảnh đất này được? Anh lại về đây sau bao nhiêu năm công tác ở nhiều đơn vị, sau bao nhiêu năm nếm trải những thăng trầm... Cũng cần phải có thời gian tĩnh lặng để nghỉ ngơi, thư thái, để suy ngẫm, để cảm thông... Anh về đây là về với đơn vị cũ. Đồng đội vẫn bên cạnh anh, vẫn sẵn sàng chia sẻ với anh khi vui, lúc buồn... để rồi cùng nhau hát mãi khúc quân hành...

        Tôi tự lí giải cho tôi. Tôi không muốn hỏi, đúng ra là không dám hỏi.

        Tôi lẳng lặng suy đoán, suy ngẫm... Mà rồi, đúng như vậy thật! Ngày 22 tháng 1 năm 1999, anh tiến hành việc khởi lập “Trang trại Hương Trời”!

        Cái tên “Trang trại Hương Trời” chắc anh cũng suy nghĩ, cân nhắc kỹ càng lắm rồi nên mới đặt như vậy.

        Để cho cây cối có thể sống được, xanh tốt được trên đất ấy đâu phải dễ. Đất ấy là đất thuộc về thông, bạch đàn, cỏ guột..., tóc là những cây quen “chịu kham, chịu khổ”. Đát ấy khi có mưa xuống, đất ướt ngay đấy rồi lại khô ngay đấy. Đất pha lẫn sỏi cát với bề dày chỉ ừên dưới một mét Tiếp ngay sau đó đã là đá ong rồi. Tôi từng ờ khu vực đó. Gia đình tôi cũng từng ở khu vực đó. Tôi đã từng gắng sức đào mấy mét vuông ao để thả cá rô-phi, mà chiều nay đào đến lớp đá ong, đào xuống tới phần mềm, thì trời tối, không thể đào thêm được nữa đành dừng lại, chiều ngày hôm sau bắt đầu đào tiếp thì những nhát xà-beng đầu tiên trổ xuống thật chối tay - cứng đúng như đá!


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 07:34:07 pm
        Phải qua chiều sâu chừng 40 đến 50 phân, đất mới có độ mềm, nhung chỉ được lúc sau, khi đang đà “thi công thuận lợi” thì ừời đã lại tối, lại phải dừng. Ngày hôm sau lại bắt đầu từ đầu, lại đánh vật từng phân đất một với đá ong. Chỉ có mấy chục mét vuông ao thôi, mà nói không ngoa, tay tôi vẫn còn “chai tay” cho tới lúc ngồi viết những dòng này mới ghê. Chính vì vậy tôi mới khâm phục, thông cảm với anh khi anh quyết định chọn lựa cái vị trí đó để làm “Trang trại Hương Trời” của anh.

        Phải tâm huyết lắm, phải ghê gớm lắm, phải cả gan lắm, liều lĩnh lắm mới dám làm như vậy. Bây giờ, có ai đến thăm, nhìn thấy cơ ngơi ấy thấy rất khoái chí, hầm trồ khen là “đắc địa” nhưng không thể hiểu thấu được những nỗi gian truân của gia chủ ở những ngày đàu “lập nghiệp”.

        Anh phải thuê người xúc đất cằn khô đi, mua đất nạc, đất màu mỡ về đổ vào từng hốc, từng hố để trồng cây. Nào vải, nào nhãn, nào xoài, nào mít.., thôi thì đủ thứ. Mà mỗi loại cây thì hố trồng lại cần độ rộng, độ sầu khác nhau. Có nghĩa là gần như cải tạo đất 100 %.

        Rồi anh liên hệ mua nhà sàn về dựng ở trang trại. Nhà sàn thì phải lên tận huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La để tìm, để đặt vấn đề mua và chuyên chở. Bản Cù (theo tiếng Mường là bản có trồng nhiều cây sấu) là nơi bán nhà sàn cho anh. Nói về nhà sàn, trông đơn giản thế thôi, nhưng thợ nào làm nhà sàn nào thì chỉ thợ ấy mới tháo, mới lắp mới dựng được nhà sàn ấy. Mỗi một ông thợ có một kiểu mộng khác nnhau. Thợ khác vào tháo là vỡ mộng, là hỏng ngay. Vậy nên, lại phải tìm đúng ông thợ cả đã dựng ngôi nhà ấy để nhờ tháo, lắp. Thợ cả ngôi nhà anh mua còn trẻ lắm, chỉ mới ngoài 30 tuổi, người mảnh dẻ và rất hiền đã đi theo về trang trại để lắp lại nhà sàn cho anh.

        Trung đoàn 921 cho anh mấy chuyến xe để chở nhà sàn về. Chuyến đi gian nan lắm vì phải vượt đèo, vượt núi. Vào thời gian ấy đường đâu có ra hồn đường, đầy những “ổ voi”, “ổ trâu”, đặc biệt là ở khu vực Đèo Cón. Ròng rã một ngày đẫy, từ mờ sáng đến tối mít, xe mới đưa được nhà sàn về trang trại. Hôm sau, thợ cả và các thợ phụ bắt tay vào dựng lại. Trong vòng vài ngày, ngôi nhà sàn đã đứng vững chãi, bề thế giữa trang trại.

        Ngày khánh thành nhà sàn là ngày vui bất tận. Đội văn nghệ của bản Cù vui vẻ tình nguyện thuê xe xuống trang trại. Thật hiếm khi vào thời ấy lại có một nhà sàn “mọc” sừng sững dưới khu vực miền xuôi. Thôi thì rượu cần, rượu nút lá chuối được vít, được rót liên tục, rót tràn trề. Thôi thì các bài “Qua miền Tây Bắc”, “Inh lả ơi”...cứ cất lên rộn ràng dường như không bao giờ ngớt. Vòng xòe luôn rộng mở, các bước chân nhún nhảy, các nhip tay múa uyển chuyển như không bao giờ ngừng. Ai nấy mặt mũi đều hồng hào, phấn khích trong men rượu, trong tình cảm ấm nồng của người miền ngược với người miền xuôi.... Sao mà gắn bó, sao mà thân thiết đến vậy!

        Và rồi, đất không phụ người. Những hàng cây dần dần lớn lên, xanh mát mắt. Đã ra dáng một nơi gần gụi với thiên nhiên, gắn bó với môi trường, nhất là sau khi có cơ quan bảo vệ động vật cứu hộ lập ngay ở đằng sau trang trại. Tiếng chim hót, tiếng vượn gọi nhau, tiếng khỉ hú... vang động cả khu vực. tưởng chừng như mình đang ở giũa rừng đại ngàn với những âm thanh sống động. Thật thanh thản, thư thái... bạn có thể hái các loại quả của các loài cây để ăn, có thể câu cá lên để nấu nướng, chế biến theo khả năng, theo sở trường của bạn để rồi cùng ngồi “đánh chén” vui vẻ. Ao rộng chừng 2.000 mét vuông, có thể bơi thuyền quanh ao dạo chơi, nghe tiếng cá quẫy, có khi có con còn phi vọt lên khỏi mặt nước như để chào mời.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200014_zps0jxjtzlq.jpg)
Mùa vải đầu tiên ở “ Trang trại Hương trời”. Anh chị cùng bà ngoại của hai cháu Tâm, Hưng cùng đi xem vải chín.

        Chủ trang trại là người hiếu khách. Khách khứa khi biết anh có mặt ở đó thì thường kéo đến thăm để có dịp hàn huyên giữa khung cảnh thiện nhiên tuyệt vời này.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2016, 07:43:41 pm
        Có một lần, vào tháng 12 năm 1999, nhà thơ Lệ Thu, nguyên là Đại biểu Quốc hội của tỉnh Bình Định ra Hà Nội họp đã tranh thủ lên thăm “Trang trại Hương Trời” và làm bài thơ “Én bạc” tặng anh như sau:

“Anh về bên ngọn đồi xưa
Trồng cây vải, nhó cây dừa quê hương
Ấm lòng giữa vạn tình thương
Vòng tay bè bạn, con đường thân quen
Thẫn thờ trước cảnh bon chen
Lặng nhìn thế sự sang hèn nắng mưa
Anh là con của quê dừa
Xa xôi ngàn dặm nắng mưa cõi người
Tháng ngày chẳng chút nghỉ ngơi
Bão dông dưới cánh vọng lời Mẹ ru
Hạ bao nhiêu máy bay thù
Một thời bão lửa, sương mù, mây đen
Con tim thắp sáng ngọn đèn
Trăng ngời Trang trại, gió len nhà sàn
Tượng đài in dấu thời gian
Hồn thiêng đồng đội hàng hàng diễu binh
Qua rồi mấy cuộc trường chinh
Còn đây hạt gạo trống tinh trên sàng
Từng tung hoành giữa thênh thang
Mỗi đường băng một Tam Quan đợi chờ
Ngàn trùng thương nhó ngẩn ngơ
Dòng sông quê mẹ tuổi thơ xa vời
Từng đôi cánh bạc nhẹ trôi
Ngàn năm đẹp với mây trời trong xanh!”...

        Khi lập trang trại, anh học cách cấy lúa, nuôi lợn, gà, ngan, ngỗng... rồi học cả cách làm tương. Một lần đến thăm anh, thấy anh đang ủ mốc, phơi tương thì tôi phục quá. Dân nhà quê như tôi với những công đoạn ấy thì không phải nói làm gì, quá bình thường, nhưng với anh - gần như cả đời, suốt từ bé chỉ cầm súng đánh giặc và làm công tác quản lí, chỉ huy mà đến bây giờ lại biết thuật làm tương thì thật lạ lùng, thật đáng khâm phục. Quả là đúng, “Quân đội là một trường đại học lớn”, ở đó họ được rèn luyện, nâng cao bản lĩnh, chí khí... và không có việc gì là không vượt qua được, đặc biệt đối với những con người từng trải qua trận mạc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200013a_zpscpw3agv0.jpg)
Gia đình anh Nguyên Hồng Nhị thật hạnh phúc

        Anh sống ở trong miền Nam là chính, thi thoảng anh lại ra trang trại. Những lần anh ra, bạn hữu, đồng đội của anh lại có dịp tìm đến hàn huyên. Ngôi nhà sàn lại náo nức, rộn rã tiếng nói cười, những lần gặp anh, thấy anh ung dung tỉa cây, làm vườn, vãi thóc cho gà ăn, tính tại càm cần câu ngồi bên bờ ao... tôi không thể nghĩ được đấy lại là một lão tướng từng xông pha bao phen trận mạc, từng là chiến sĩ bộ binh, từng là người lính canh trời cảm tử, oai hùng mà đài phương Tây từng liệt anh vào danh sách một trong những “sát thủ trên không”...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%20-%200010_zpsknhvc9wb.jpg)
Nhật ký chiến đấu của anh Nguyễn Hồng Nhị về trận đánh ngày 4-3-1966

        Số lượng máy bay Mỹ bị anh bắn hạ thế là đã nhiều, nhưng có lần tâm sự, anh vẫn xuýt xoa vì thời gian anh đi tập huấn, rồi lại sang Liên-xô mất mấy tháng đúng vào giai đoạn “cao điểm”, nếu anh ở lại chiến đấu ừong vòng mấy tháng ấy chắc sẽ bắn hạ thêm vài chiếc nữa. Nhưng mà thôi, chuyện ấy nói lại làm gì! Đất nước đã hòa bình, lịch sử đã lật sang trang mới. Bầu trời bây giờ đã yên bình, mây trắng đang nhởn nhơ, bồng bềnh trôi, không còn bóng dáng những điểm nổ đen sì với những tiếng gầm rít làm bẩn đục không trung. Nắng đã trải vàng mênh mang. Và gió, gió thổi mơn man, len lỏi, đùa nghịch giữa các đám mây trắng mang đủ hình thù khác nhau. Tiếng máy bay của Hàng không dân dụng vang đều đều, êm ả. Thảng hoặc, một biên đội MiG cất cánh, tiếng tăng lực làm rộn rã thinh không và gây lại nỗi nhớ xao xuyến về một thời oai hùng...

        Sau bữa trưa, vị lão tướng xuống nằm trên chiếc võng mắc dưới chân nhà sàn, đung đua nhè nhẹ. Tôi định hỏi chuyện, nhưng thấy anh đã lim dim. Có thể, arih đang nhớ lại cảnh mình xuất kích bay vút lên bầu ừời, hoặc giả nhớ lại những hình ảnh của đồng đội, bạn hữu... hoặc mơ về miền sơn cước, nơi anh có cuộc gặp gỡ đầu tiên với cô sơn nữ và mối tình lãng mạn, dịu êm ứong anh... cũng nên.

        Tôi lẳng lặng ngắm anh: khuôn mặt hiền, đôn hậu với mái tóc bạc phơ đang ánh lên niềm vui.

        Ngoài kia, nắng trải vàng như mật ong, tiếng thông reo vi vu ừong gió và một giọng chim khách hót lanh lảnh: “Khách, khách!”!

        Có lẽ, anh lại sắp có khách!

HẾT


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: tungngth trong 13 Tháng Bảy, 2016, 11:21:56 am
Lời đầu xin chân thành cảm ơn anh đã cất công số hóa nhiều cuốn sách hay về không quân anh hùng để lớp hậu sinh chúng tôi hiểu thêm về những đàn anh lớp trước!
Nhờ anh chỉnh lại tấm ảnh "Nhật ký chiến đấu của anh Nguyễn Hồng Nhị về trận đánh ngày 4-3-1966" hình như có nhầm lẫn.
Chúc anh luôn dồi dào sức khỏe và niềm vui.


Tiêu đề: Re: Thanh kiếm bầu trời
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2016, 02:50:07 pm
Cám ơn bác đã động viên và phát hiện ra lỗi.

Đã chỉnh sửa!

HẾT