Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 05:12:32 am



Tiêu đề: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 05:12:32 am

(https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23265;image)

        - Tên sách: Bộ tham mưu Phòng không-Không quân trong chiến tranh
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2008
        - Số hoá: ptlinh, Triumf
        - Hiệu đính: Giangtvx
        
        Chỉ đạo nội dung:
        
        - BỘ THAM MƯU QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
        Thiếu tướng VÕ VĂN TUẤN Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân
        
        - BAN LIÊN LẠC BẠN CHIẾN ĐẤU BỘ THAM MUU
        Thiếu tướng LÊ HUY VINH Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân
        
        Ban biên tập:
        
        Chủ biên: Đại tá NGUYỄN TÂM TRINH
        Các ủy viên:
        - Đại tá giáo sư TRẦN BƯỞI
        - Đại tá HÀ VĂN CHẤP
        - Đại tá TRẦN LIÊN
        - Đại tá NGUYỄN BẮC


        
LỜI GIỚI THIỆU
       
        Hồi ký Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân trong chiến tranh ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân (22/10/1963 - 22/10/2008).
        
        45 năm xây dựng, chiến đâu và chiến thắng đánh dấu một chặng đường lịch sử vẻ vang đầy hào hùng của Bộ Tham mưu trong nửa cuối thế kỷ XX. Chiến tranh thấm thoắt đã lùi vào quá khứ, những người hiện còn sống không khỏi bồi hồi nhớ lại và tiếc thương bao đồng đội, đồng chí và bạn bè thân thiết đã ngã xuống và qua đời. Với tâm lòng tràn đầy nhiệt huyết, và trách nhiệm, lớp lớp cựu chiến binh tham mưu còn lại tuy tuổi cao, sức yêu, vẫn cố gắng ghi lại những ký ức, sâu sắc xúc động về một thời kỳ trận mạc đã qua, để cho ra đời tập hồi ký chiến tranh.
        
        Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, mà trực tiếp là Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, lần đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, một mặt trận đánh địch trên không đã được mở ra và giành được thắng lợi to lớn mang đầy ý nghĩa thời đại sâu sắc. Đọc hồi ký, chúng ta tự hào ôn lại những hành động anh hùng trong chiến tranh, lòng quả cảm và sự mưu trí, tinh thần tận tụy và sáng tạo của lớp lớp sĩ quan tham mưu Phòng không - Không quân đối với sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
        
        Hồi ký Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân trong chiến tranh mong góp một phần nhỏ bé bổ sung vào lịch sử xây dựng chiến đấu và chiến thắng của Quân chủng và Quân đội ta, để lại cho thế hệ sau những bài học kinh nghiệm bổ ích, vô cùng quý báu, góp phần củng cố và phát triển nghệ thuật tác chiến phòng không và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, động viên cổ vũ, giữ gìn và tô đậm thêm truyền thống của Bộ Tham mưu: "Trung thành vô hạn, mưu trí sáng tạo, tiên công kiên quyết, đoàn kết, hiệp đồng, hoàn thành nhiệm vụ".
        
        Ban liên lạc cựu chiến binh tham mưu xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với các tác giả đã dành thời gian quý báu và tâm huyết viết bài cho cuốn hồi ký này, trân trọng cảm ơn Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân cùng các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện và giúp đỡ để hồi ký được xuất bản.
        
        Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn, việc biên tập hồi ký không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong bạn đọc xa gần lượng thứ và đóng góp ý kiến phê bình.
        
BAN BIÊN SOẠN        


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 06:57:05 am
        
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CƠ QUAN THAM MƯU QUÂN CHỦNG
PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
       
Trung tướng Hoàng Ngọc Diêu                            
Nguyên Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ        
       
        1. Cơ quan tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân ra đời từ hai lực lượng Phòng không - Không quân hợp nhất ngày 22-10-1963.
        
        Sự ra đời của Quân chủng Phòng không - Không quân đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, gồm các binh chủng Cao xạ, Không quân, Tên lửa, Ra đa được trang bị hiện đại có trình độ khoa học kỹ thuật cao.
        
        Cơ quan tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân bắt đầu từ cơ quan tham mưu của Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân hợp nhất lại, về tổ chức là hai cơ quan ghép lại, chức trách nhiệm vụ chưa rõ nhất là cơ quan tham mưu cấp Quân chủng, vì thời kỳ đầu Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng trực tiếp lãnh đạo chỉ huy trực tiếp đến cấp trung đoàn "chỉ là đơn vị chiến thuật", nhưng Quân chủng có nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược: Là bảo vệ và quản lý vùng trời giúp Bộ Quốc phòng - Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo xây dựng thế trận phòng không nhân dân và lực lượng phòng không ba thứ quân, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu chiến lược - yêu cầu cơ quan Tham mưu Quân chủng phải có tầm chiến dịch - chiến lược để giúp Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân chủng làm tham mưu cho Bộ.
        
        - Trình độ cán bộ Tham mưu lúc đầu đa số từ bộ binh chuyển qua, bản lĩnh chính trị rất tốt, qua chiến đấu được rèn luyện, nhưng chưa đi sâu vào binh chủng, trình độ nghiệp vụ còn rất thấp; có một số ít học ở Liên Xô, Trung Quốc nhưng chưa qua chiến đấu phòng không - chỉ có một số đã trực tiếp chiến đấu pháo cao xạ ở chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng chỉ ở cấp tiểu đoàn, công tác tham mưu phòng không đơn vị lớn chưa có kinh nghiệm.
        
        - Phải đấu trí với một đối tượng tác chiến là không quân đế quốc Mỹ, một lực lượng mạnh và hiện đại nhất thế giới đã qua chiến đấu, âm mưu thủ đoạn hết sức thâm độc và xảo quyệt.
        
        2. Quá trình hình thành và phát triển.
        
        Quá trình hình thành và phát triển của ngành Tham mưu nói chung và Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân nói riêng là một quá trình vừa chiến đấu, vừa xây dựng khẩn trương có những bước nhảy vọt, từ thực tiễn trong chiến đấu mà trưởng thành lên, ngay tổ chức cũng từng bước hình thành phát triển đi đến hoàn chỉnh.
        
        - Lúc đầu ta chỉ có lực lượng pháo cao xạ, chưa có Không quân tiêm kích và chưa có tên lửa, các trận chiến đấu chỉ có lực lượng cao xạ cao nhất là cấp trung đoàn. Cấp sư đoàn, binh chủng chưa hình thành, đến năm 1965 - 1966 đã có đủ các binh chủng Cao xạ, Tên lửa, Không quân tiêm kích, đây là bước nhảy vọt về lượng và chất của lực lượng Quân chủng Phòng không - Không quân; cơ quan tham mưu của Quân chủng không thể giúp Bộ tư lệnh Quân chủng đi sâu lãnh đạo chỉ huy các binh chủng, yêu cầu phải có cơ quan Tham mưu đi sâu vào từng binh chủng để chỉ đạo về mặt tác chiến - huấn luyện binh chủng, đã hình thành tổ chức, Bộ Tham mưu chung có tham mưu trưởng Quân chủng và cơ quan Tham mưu các binh chủng: Không quân, Tên lửa, Ra đa có Tham mưu trưởng Không quân, Tham mưu trưởng tên lửa và chủ nhiệm ra đa.
        
        - Cuối năm 1967, lực lượng tên lửa, lực lượng không quân tiêm kích đã phát triển nhiều trung đoàn, yêu cầu đánh lớn, tác chiến phòng không hiệp đồng binh chủng đã xuất hiện nhất là bảo vệ các yếu địa lớn, các trục giao thông chiến lược - Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng không thể trực tiếp lãnh đạo chỉ huy đến cấp trung đoàn, Bộ Tham mưu cũng không thể một lúc nắm hàng chục đầu mối được do đó phải hình thành cấp sư đoàn và binh chủng.
        
        - 3 Bộ tư lệnh Binh chủng: Không quân, Tên lửa, Ra đa.
        
        - 4 Sư đoàn: Sư 361 (Hà Nội), Sư 363 (Hải Phòng), Sư 367 (cơ động), Sư 365 (đường 1 Bắc)
        
        Bộ Tư lệnh Quân chủng đã giải thể cơ quan Tham mưu binh chủng để tăng cường cán bộ cho cơ quan Tham mưu sư đoàn và Bộ Tư lệnh Bộ Tham mưu tổ chức hợp lại thành cơ quan giúp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng lãnh đạo chỉ huy chỉ đạo trở thành là cơ quan Tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược. Thời gian này Bộ Tham mưu Quân chủng được bổ sung nhiều cán bộ đã qua chiến đấu và đã đi sâu vào binh chủng, tổ chức được kiện toàn, chức trách nhiệm vụ rõ hơn các cơ quan binh chủng và sư đoàn đã hình thành và có sự phân cấp về lãnh đạo chỉ huy, có thể nói hệ thống Tham mưu của Quân chủng Phòng không - Không quân đã trưởng thành và lớn mạnh.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 06:58:00 am
        Năm 1967 tác chiến Phòng không đã có bước phát triển lớn, từ những trận đánh nhỏ, vừa vươn lên đánh những trận lớn, hiệp đồng binh chủng. Những đợt đánh trả địch tập kích Hà Nội, Hải Phòng đã có kế hoạch tác chiến thống nhất chỉ huy thống nhất trên một khu vực rộng lớn có nhiều mục tiêu bảo vệ, liên tục dài ngày và có những trận then chốt quyết định, đã xuất hiện những yếu tố có tính chất chiến dịch Phòng không. Đây là một sự tiến bộ toàn diện mà nổi bật là sự tiến bộ về trình độ tổ chức chỉ huy nói riêng và công tác tham mưu nói chung.
       
        Cuối năm 1967  đầu năm 1968  do yêu cầu đánh lớn để bảo vệ các yếu địa chiến lược và các trục đường giao thông chiến lược, chuẩn bị lực lượng tham gia tác chiến trong quân binh chủng hợp thành đều do Bộ Tham mưu trực tiếp tổ chức, yêu cầu phải sử dụng lực lượng lớn, hiệp đồng chiến dấu binh chủng cao, lực lượng tên lửa đã trưởng thành có nhiều trung đoàn đã qua chiến đấu, cán bộ tên lửa, cao xạ số lượng đủ, năng lực chỉ huy tốt, qua rèn luyện có kinh nghiệm chiến đấu, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng đã giải thể Bộ Tư lệnh Tên lửa, tổ chức của sư đoàn phòng không hỗn hợp tên lửa - cao xạ để giải quyết hiệp đồng giữa hai Binh chủng Cao xạ - Tên lửa, lực lượng chủ yếu của thế trận phòng không đất đối không, hai lực lượng vừa hiệp đồng tác chiến vừa yểm hộ cho nhau, còn Binh chủng Không quân đến năm 1967, tổ chức Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân chiến đấu và Lữ đoàn Không quân vận tải 919 đều trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, để tập trung lãnh đạo chỉ huy lực lượng Không quân tiêm kích, làm nhiệm vụ tác chiến phòng không là lực lượng cơ động và lực lượng chủ yếu không đối không.
       
        Hệ thống tham mưu Quân chủng lúc này lại có sự thay đổi tuy không lớn nhưng rất cơ bản là phải kiện toàn các cơ quan tham mưu của sư đoàn Phòng không hỗn hợp Tên lửa - Cao xạ để đủ sức giúp Đảng ủy và bộ Tư lệnh sư đoàn lãnh đạo chỉ huy thống nhất hai lực lượng, mỗi binh chủng có đặc thù riêng nhưng ở trong một cơ chế tổ chức sư đoàn đòi hỏi phải có những mặt thống nhất.
       
        Công tác tham mưu tổ chức hiệp đồng tác chiến chủ yếu hai lực lượng:
       
        Lực lượng đất đối không với lực lượng không đối không. Hình thức hiệp đồng chủ yếu là đánh ngoài khu vực. Tên lửa - Cao xạ đánh thì Không quân tiêm kích không đánh, Không quân tiêm kích đánh thì tên lửa - cao xạ không đánh và hiệp đồng theo thời gian đã phát huy cao độ tính năng của từng loại vũ khí và không hạn chế lẫn nhau.
       
        Trong chỉ huy sở Quân chủng có 2 bộ phận, bộ phận chỉ huy lực lượng Phòng không do Quân chủng trực tiếp chỉ huy, bộ phận chỉ huy không quân do Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân chỉ huy, Quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ và hiệp đồng chiến đấu. Sở chỉ huy Không quân ở bên cạnh sở chỉ huy Quân chủng có thể xem là một bộ phận của sở chỉ huy Quân chủng thông báo hiệp đồng rất chặt chẽ.
       
        Ngành tham mưu của Quân chủng nói chung và Bộ Tham mưu Quân chủng nói riêng đã trưởng thành và hoàn chỉnh, Bộ Tham mưu Quân chủng là cơ quan Tham mưu cấp chiến dịch - chiến lược đã giúp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân lãnh đạo chỉ huy các lực lượng trực thuộc Quân chủng và làm tham mưu cho Bộ xây dựng thế trận phòng không nhân dân, xây dựng lực lượng phòng không ba thứ quân, tổ chức hiệp đồng tác chiến, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đất đối không, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân đế quốc Mỹ, đỉnh cao là chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12 - 1972 trên bầu trời Hà Nội, đã đánh bại lực lượng B-52 không quân chiến lược của Hoa Kỳ, về mặt bảo vệ giao thông chiến lược và tham gia tác chiến phòng không trong Quân binh chủng hợp thành cũng có những bước tiến lớn, nhất là cuộc tiến công chiến lược năm 1972 mà hướng chủ yếu là chiến trường Quảng Trị và tổng tiến công nổi dậy xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh.
       
        Chúng ta là những cán bộ tham mưu của ngành Tham mưu Phòng không - Không quân nói chung và Bộ Tham mưu nói riêng, rất tự hào và phấn khởi nhìn lại quá trình hình thành và phát triển đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Những thành tích to lớn đó đều do có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo chỉ huy của cấp trên, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng qua các thời kỳ, của tập thể cán bộ, chiến sĩ Bộ Tham mưu, đã đoàn kết, phát huy tính sáng tạo, mưu trí với nghiệp vụ tinh thông, đã đưa ngành Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân từ một cơ quan tham mưu chỉ biết bộ binh đã đi sâu vào các binh chủng hiện đại, giúp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng phát huy được sức mạnh từng binh chủng và sức mạnh tổng hợp của thế trận Phòng không - nhân dân và sức mạnh Phòng không nhân dân, đã chiến thắng không quân đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:05:49 am
        
ĐÔI DÒNG TÂM SỰ
       
Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích              
Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng        
Quân chủng Phòng không - Không quân        
       
        Nhớ và ghi lại những ký ức về công tác tham mưu trong chiến tranh, tôi thực sự xúc động và thấy đây là một việc làm rất cần thiết, rất đáng trân trọng. Với tôi, gần trọn cuộc đời binh nghiệp phần lớn lại làm công tác đó nên bao nhiêu là sự kiện sâu sắc, đáng nhớ. Nhưng tuổi đời đã cao, trí nhớ đã giảm, sức khỏe không còn như cũ, nên chắc chắn không viết được nhiều, được dài nữa. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng thực dân Anh đã khởi hấn gây chiến tranh ở Nam Bộ, thì ngày 24-9-1945 tôi đã lên đường cùng đội quân Nam tiến, bỏ lại đằng sau bao điều thương nhớ đối với người thân yêu ruột thịt.
        
        Tiếp đó, năm 1953, tôi lại được điều ra miền Bắc và bắt đầu xây dựng lực lượng cao xạ pháo binh của quân đội, học tập rèn luyện xây dựng và đưa pháo vào chiến trường thử lửa. Làm tham mưu cao xạ, lăn lộn với chiến trường Điện Biên Phủ cho đến ngày kết thúc chiến dịch, năm 1954 tôi mới về thăm bố, thì bố đã qua đời. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi, công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc chưa thực hiện được bao nhiêu, thì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngày càng bức xúc. Sau những ngày tháng cùng độ Tư lệnh phòng không xây dựng và tiến hành đánh trả thắng lợi cuộc tập kích 5-8-1964 của không quân Mỹ - ngụy vào miền Bắc, tôi lại khăn gói ba lô lên đường.
        
        Tháng 10-1964, theo con đường mòn trên biển, sau 2 tháng ròng trở lại miền Nam. Xa miền Bắc, đằng đẵng 2 năm trời cùng Bộ chỉ huy miền nghiên cứu để chuyển pháo binh cơ giới cho chiến trường miền Nam, ngày 26-4-1966 trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, địch ném bom kho xăng Đức Giang, tôi lại được lệnh trở ra miền Bắc. Trong muôn vàn khó khăn của chiến tranh, vừa phải hết sức khẩn trương lại vừa phải tuyệt đối an toàn. Chuyến ra miền Bắc lần này thực hiện bằng con đường hợp pháp được đi bằng các loại xe sang trọng của Pháp sang Phnôm-pênh rồi bằng máy bay của hãng "Air France" của Pháp sang Quảng Châu từ Quảng Châu về Nam Ninh xuống sân bay Gia Lâm.
        
        Anh Phùng Thế Tài đem xe đến đón tôi và giao luôn nhiệm vụ làm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Thế là ở cương vị này, cuộc đấu trí, đấu lực giữa 2 cơ quan Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân miền Bắc và cơ quan chiến tranh của liên quân Mỹ - ngụy diễn ra từng ngày từng giờ hết cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đến thứ hai.
        
        Ngày 1-11-1968 và sau đó cuộc hội đàm bốn bên tại Pa-ri bắt đầu, không quân Mỹ - ngụy tạm ngừng đánh phá miền Bắc, chuyển hướng đánh phá tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh. Trên lại điều động tôi vào làm phó tư lệnh bộ đội Trường Sơn cho đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, cùng với Cục Phòng không do các anh Vũ Thành, Trần Trung Tín, Ngô Huy Biên phụ trách. Có thể nói cuộc chiến đấu giữa một bên là Mỹ sử dụng hết mọi lực lượng không quân các loại, chiến thuật chiến lược tung ra hết mọi thủ đoạn kỹ thuật công nghệ cao, tìm cách cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam. Còn bên ta là dùng mọi mưu trí và biện pháp đánh lại, duy trì và tăng cường không ngừng lực lượng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chiến trường miền Nam đánh thắng.
        
        Nếu như ở miền Bắc, hoạt động công tác tham mưu chủ yếu là mở mặt trận đối không đánh thắng mọi hoạt động tiến công đường không của Mỹ thì ở chiến trường 559 và chiến trường miền Nam, hoạt động tham mưu diễn ra toàn diện cả trên bộ, trên biển, trên không, vô cùng phức tạp. Trong khoảng thời gian này ta với địch đã diễn ra rất nhiều chiến dịch như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20-1 đến 15-7-1968 ), chiến dịch Đường 9 Nam Lào (30-1 đến 23-3-1971), chiến dịch Trị - Thiên (30-3 đến 27-6-1972). Tháng 5- 1972, khi đang chỉ đạo công binh mở tuyến đường 16 xuống An Lão, Bình Định, chuẩn bị cho công việc chuyển pháo phòng không 37mm vào sâu cùng với các pháo cơ giới hạng nặng, xe tăng, tôi được lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở về lại Quân chủng Phòng không - Không quân. Thế là sau ba lần vào miền Nam, tôi lại trở lại miền Bắc và trên cương vị Tham mưu trưởng, cùng với đội ngũ anh em tham mưu dày dạn kinh nghiệm canh trời, giữ nước. Cuộc tập kích của máy bay chiến lược B-52 của không quân Mỹ vào Hà Nội - Hải Phòng tháng 12-1972, và tiếp đó sau ngày ký kết hiệp định Pa-ri tháng 1-1973 cuộc tấn công lịch sử cuối cùng của Mỹ - ngụy tháng 4-1975 là những chặng đường hoạt động cuối cùng của tham mưu chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:06:48 am
        60 năm quân ngũ, 60 năm chiến đấu không mệt mỏi, 60 năm công tác tham mưu, góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, cùng chiến đấu với tôi, bao đồng đội, đồng chí đã ngã xuống, không còn nữa. Để bù lại những mất mát đó và cả những mất mát to lớn của dân tộc ta, việc chúng ta nhớ và ghi lại những kinh nghiệm chiến tranh là một điều rất đáng trân trọng. Trên các chặng đường làm công tác tham mưu mà tôi sơ lược kể qua trên đây, có khá nhiều điều kỷ niệm sâu sắc. Có một điều mà tôi tâm nguyện nhất trong công tác tham mưu là phải biết lắng nghe, phải coi trọng ý kiến của mọi người, là đừng bao giờ cho cái gì của mình cũng đúng cả. Binh pháp Tôn Tử có câu: 'Biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng" Bác Hồ đã dạy ta "Do bất biến ứng vạn biến".
       
        Tôi nhớ lại ngày 13-4-1966, máy bay địch bổ nhào đánh trực tiếp vào ga Yên Viên, khi đoàn tàu chở các xi téc xăng đang vào ga, tôi và đồng chí Vũ Khắc Long đứng giữa trận địa thấy đạn bắn lên toàn vuốt đuôi. Tìm ra mới biết đội hình bố trí của mình vẫn máy móc theo kiểu đánh máy bay ném bom bay bằng. Đánh xong và giải quyết thương binh tử sĩ xong, chúng tôi cùng trung đoàn quyết định co đội hình lại, tiểu cao bắn bổ nhào trực tiếp, trung cao đánh giai đoạn máy bay chuẩn bị bổ nhào, và hiệu quả ngày hôm sau, máy bay Mỹ đền tội ngay khi đánh vào cầu Đuống.
       
        Tháng 7-1970, địch ra sức bắn phá, khống chế các chân hàng vùng "cán xoong" Khu IV. Nó bắn vào cầu phao Bến Thủy, cầu phao hỏng, nó đánh cầu Cấm, cầu gẫy. Nó đánh một loạt vào các cầu Om, Truông Bồn. Đoàn cán bộ tham mưu thấy nó vào trong hỏa lực cao xạ mà chẳng sợ gì cả, cũng chẳng phải nó mạnh hơn mình. Cuối cùng lại do ta, do không ai lo bảo vệ cho cái lưng của chiến sĩ cả. Cùng đơn vị đoàn cán bộ tham mưu đề xuất ý kiến cứ mỗi đại đội dành riêng 1 khẩu bảo vệ cho 3 khẩu bắn, cả tiểu đoàn tập trung 2 đại đội đánh còn 1 đại đội bảo vệ anh em. Chính ủy quân chủng không đồng tình.
       
        Chúng tôi bảo các đồng chí theo tư lệnh chiến trường cứ thế mà làm. Kết quả máy bay không vào trong hỏa lực được và rơi liên tục. Tôi nói với trung đoàn trưởng Đoàn Minh, thực hiện rất sáng tạo, linh hoạt. Lúc này anh phải bắn rơi, còn mục tiêu tư lệnh phải chịu trách nhiệm. Trận đó, đoàn bắn rơi 2 chiếc tại chỗ, bắt sống giặc lái. Tôi mượn 1 chiếc xe đạp cùng mấy anh em trợ lý đi khảo sát vùng cầu Om, Truông Bồn, nghiên cứu cụ thể đường bay đánh của địch, bố trí lại đội hình của Trung đoàn 224 do đồng chí Mạnh Hùng và Hữu Tiệp chỉ huy, đánh liên tục mấy ngày, địch không vào nữa, giải phóng việc vận chuyển, chân hàng thông suốt.
       
        Ở Nam Bộ, nhiều lần B-52 ném bom rải thảm, cơ quan tham mưu theo dõi nắm chắc quy luật, thu thập đủ mọi triệu chứng tình hình, tránh các giờ địch đánh mỗi lần thực hành hành quân, vận chuyển, tiến hành ẩn nấp chu đáo. Một lần, đang hành quân tiếp nhận hàng của miền Bắc chuyển vào qua ừng cao su, trong đoàn bỗng có một người bỏ hàng chạy biến đi đâu không biết, lập tức sơ tán ngừng vận chuyển. Địch phán đoán phải hành quân nhiều ngày, mình rút xuống 2 ngày, nên đợt vận chuyển hàng an toàn tuyệt đối.
       
        Vào những năm 1967 - 1972, trên khu vực Vĩnh Linh, các tiểu đoàn tên lửa gặp khó khăn. Có lần Tư lệnh đã có lệnh hoãn không cho tên lửa đánh ban ngày. Cán bộ, chiến sĩ càng thêm ngại. Bộ Tham mưu cùng đơn vị nghiên cứu tập trung chọn khu vực địch bay vào, bố trí cả 2 tiểu đoàn tên lửa và mấy trung đoàn cao xạ, cả 23mm đánh, kết quả rơi 2 chiếc tại chỗ. Từ đó địch giãn cường độ đánh phá.
       
        Năm 1968, để chuẩn bị đánh lại miền Bắc lần thứ 2, địch liên tục phóng không người lái vào trinh sát, đoàn cán bộ tham mưu cùng đồng chí Trần Xanh, trung đoàn trưởng 236 đến từng người dân ở các khu vực đánh dấu cụ thể điểm nó bay qua, hình thành đường bay quy luật trên thực địa. Sau đó điều chỉnh đội hình đánh, cả tuần bắn rơi 7 chiếc, trong đó có 4 chiếc do tên lửa tiêu diệt.
       
        Tháng 12-1972, để đánh thắng trận tập kích chiến lược của địch bằng B-52 vào Hà Nội - Hải Phòng, vấn đề đặt ra của Bô Tham mưu là phải bảo đảm phát hiện chính xác B-52 trên nền nhiễu của chúng gây ra. Cử người xuống các đại đội ra đa quan sát nhiễu, xác định rõ cường độ, đường bay của chúng ở các trận địa bố trí ra đa khác nhau. Những vị trí bố trí chếch trên 45 độ so Với trực bay chính của B-52 là những trân địa phát hiện tốt. Việc kiến nghi điều chỉnh đội hình ra đa của Bô Tham mưu đã góp phần lớn vào việc phát hiện xa và chính xác các đợt đánh phá vào Hà Nội cuối tháng 12-1972.
       
        Tôi điểm ra đây một số ví dụ thực tiễn trong chiến tranh của cơ quan tham mưu. Biết địch đã là rất khó vì nó là khách quan. Nhưng biết ta lại bao gồm cả 2 mặt khách quan và chủ quan, càng khó hơn. Đào tạo và rèn luyện được một đội ngũ cán bộ tham mưu có phẩm chất cao, có bản lĩnh chiến đấu vững vàng có tri thức khoa học dồi dào lại có đầy đủ tác phong công tác sâu sắc, thực tiễn mưu trí chịu khó học hỏi là bài học rất quý báu. Chiến tranh là thử thách cao nhất, là Tham mưu trưởng lâu đời trong Quân chủng Phòng không – Không quân, nhưng điều đã làm được hoàn toàn nhờ dựa vào một đội ngũ sĩ quan như vậy trong chiến tranh. Tôi thật sự cảm ơn và hy vọng tương lai, Quân chủng cũng cố gắng xây dựng được một đội ngũ cán bộ tham mưu đầy tin cậy như vậy.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:16:12 am
NHỚ LẠI CÔNG TÁC THAM MƯU
PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN TRANH
       
Thiếu tướng Dương Hán                    
Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng        
       
        Quá trình tham gia cách mạng của tôi gắn bó máu thịt với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Vào quân đội, tôi chiến đấu và trưởng thành lên từ Đại đoàn bộ binh 308. Tôi bị thương trong chiến dịch Biên giới năm 1950 và được về làm trưởng phòng tác chiến đại đoàn.
        
        Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc. Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hòa bình được lập lại. Về đóng quân tại Thái Nguyên, tôi được cử đi Trung quốc học pháo cao xạ. Học xong về nước tôi được phụ trách xây dựng Sư đoàn phòng không 367 gồm hỗn hợp pháo cỡ 88mm, 37mm và 57mm.
        
        Sau sự kiện vịnh Bác Bộ ngày 5-8-1964 do đế quốc Mỹ gây ra và tiếp đó là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ xâm lược đối với miền Bắc, địch đã không từ một thủ đoạn nào tiến hành leo thang đánh phá, hòng ngăn chặn mọi sự chi viện của miền Bắc đối với chiến trường, ra sức phá hoại hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa. Tôi cùng cơ quan tham mưu Quân chủng lao vào nghiên cứu địch, tìm mọi biện pháp để bảo vệ miền Bắc. Lúc này tôi được bổ nhiệm về làm tư lệnh Sư đoàn phòng không 361 Hà Nội. Trước ngày xuống đơn vị, đồng chí Phùng Thế Tài gặp tôi và bảo: "Hãy nán lại, giúp tư lệnh làm phái viên đốc chiến các đơn vị cơ động đội hình mới ra quân, và bảo tôi: "Chừng nào lấy được đuôi máy bay Mỹ về nộp xong mới đi!". Tôi thật sự cảm động và phấn khởi.
        
        Làm xong nhiệm vụ đốc chiến một thời gian tôi về sư đoàn cùng các anh Văn Giang, Hoàng Văn Thiệm... củng cố sở chỉ huy, cơ quan tham mưu, và đặc biệt công tác nghiên cứu thủ đoạn đánh phá vừa qua của địch. Trên đội hình chiến đấu đã được bố trí sẵn, tôi gặp một khó khăn là Tư lệnh Quân chủng không cho phép Sư đoàn quyền được xê dịch bất cứ một đại đội pháo nào? Tôi thật sự băn khoăn với cơ quan tham mưu, thế này thì nó đánh hỏng mất cầu, mất yếu địa bảo vệ. Đội hình bố trí của cao xạ Hà Nội trước mắt chưa kết hợp được thế trận của pháo trung cao bắn máy bay bổ nhào với thế trận của pháo trung cao bắn máy bay bay bằng từ xa bay vào, mà pháo tiểu cao lại không ôm sát mục tiêu.
        
        Và thực tế đã diễn ra, ngày 29-6-1966. Từ 12 giờ 08 phút đến 12 giờ 30 phút, 24 F-105 của không quân chiến thuật Mỹ từ Thái Lan sang đến Yên Bái chúng hạ thấp độ cao bay xuống Việt Trì dọc sông Lô đến Tam Đảo nâng lên bổ nhào ném bom kho xăng Đức Giang, Hà Nội. Bị bất ngờ không đại đội nào bắn được. Trên bàn đánh dấu, ra đa chỉ bắt được địch từ Thái Lan đến Yên Bái sau đó mất mục tiêu. Còn một tình tiết nữa của công tác tham mưu là trước đó, Cục Tác chiến đã có gợi ý cho Tư lệnh về việc địch sẽ đánh 2 kho xăng Hà Nội và Thượng Lý Hải Phòng, Tư lệnh nhiều việc quên không nói với đơn vị. Gần 10 giờ sáng 29-6-1966, đồng chí trợ lý tác chiến Ninh Hữu Trác được phái xuống phổ biến cho Sư đoàn thì 12 giờ địch đã vào đánh. Bộ tư lệnh Hà Nội hoàn toàn bị bất ngờ, tôi lệnh điều một tiểu đoàn pháo 37mm sang bổ sung nhưng không kịp. Sau thất bại này, trên dưới trong nội bộ Bộ Tham mưu đều kiểm điểm rút kinh nghiệm, Bộ cử một phái đoàn do đồng chí Vương Thừa Vũ chủ trì xuống kiểm điểm với Quân chủng. Trong cuộc họp, tôi nhận trách nhiệm đã không hoàn thành nhiệm vụ, tội là về tôi, tôi không từ chối. Tôi xin có ý kiến, một cuộc tập kích của địch đã được Bộ nhận định trước mà phía Quân chủng không thực sự coi đó là một hoạt động chiến dịch, địch đánh ta bằng cường kích ở độ cao cao, tốc độ lớn, đường bay theo kiểu "nhảy cừu", bổ nhào trực tiếp, máy bay và khói bom lấp cả kính ngắm pháo thủ, mà ta không thay đổi bố trí ôm sát yếu địa bảo vệ, đánh bổ nhào như kiểu miền Nam bám thắt lưng địch mà đánh, nên không tiêu diệt được địch. Bộ tổng Tham mưu cũng nhất trí như ý kiến đóng góp của cơ quan tham mưu.
        
        Sau trận này, tôi thật sự ân hận, có tin tôi bị cách chức, nhưng đồng chí Tư lệnh lại giao cho tôi mở lớp tập huấn cho các đại đội pháo tiểu cao về kinh nghiệm chiến đấu. Kết thúc lớp học, tôi được đồng chí Tư lệnh gặp và đón về giao tôi làm sư trưởng Sư đoàn 367 cùng với Sư đoàn 361 bảo vệ Hà Nội.
        
        Địch tăng cường leo thang đánh phá, đặc biệt đối với các nhà máy công nghiệp như các nhà máy điện. Bằng thủ đoạn "nhảy cừu", mấy lần địch vào ném bom làm hỏng nhẹ Nhà máy điện Yên Phụ. Sau nhiều lần bị trên phê bình nặng, cơ quan tham mưu cùng Sư đoàn xây dựng một trận địa mới pháo tiểu cao bằng các hòm tên lửa trên Hồ Tây. Sau mấy lần tập kích bị bắn, địch bị thương và cuối cùng phải đền tội, tên giặc lái Giôn Mác Kên nhảy dù bị tóm gọn ở hồ Trúc Bạch.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:16:49 am
        Bước sang mùa hè năm 1972, để phối hợp với chiến trường miền Nam, ta mở chiến dịch Trị - Thiên (từ 30-3-1972 đến 27-6-1972). Bộ cử các đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Đạo, Cao Văn Khánh chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Tham mưu trưởng Hoàng Ngọc Diêu được cử làm tham mưu phòng không cho Bộ tư lệnh chiến dịch. Cùng lúc đó, Quân chủng thành lập sở chỉ huy tiền phương, tôi và đồng chí Nguyễn Xuân Mậu phụ trách có đủ các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần và Binh chủng Ra đa. Các đơn vị của Quân chủng tham gia chiến dịch gồm các sư đoàn 365, 367, 377. Nhiệm vụ Bộ giao là phải hợp đồng chiến đấu bảo vệ đội hình tấn công và phòng ngự của chiến dịch. Bộ cũng chỉ thị phải hết sức đề phòng Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom vào đội hình.
       
        Chiến dịch Trị - Thiên kết thúc, tôi được lệnh về Quân chủng, quan sát từng vệt bom rải thảm của B-52 trên đường 15, tôi hình thành một ý tưởng về một trận quyết chiến chiến lược giữa không quân Mỹ xâm lược với ta sẽ diễn ra ngoài vĩ tuyến 20, mà mục tiêu là các yếu địa trên miền Bắc. Về đến sở chỉ huy Quân chủng ở chùa Trầm, được nghiên cứu tài liệu cung tù binh bị bắn rơi ở Gia Lâm của Bộ, hiểu rõ hơn âm mưu sử dụng B-52 của Mỹ đánh vào Hà Nội. Sau khi trao đổi với cơ quan Bộ Tham mưu đề nghị Quân chủng họp, sớm ra nghị quyết của Đảng ủy về chuẩn bị kế hoạch đối phó với âm mưu tập kích của địch. Lúc này Bộ Tham mưu họp có các đồng chí Vũ Xuân Vinh, Đỗ Văn Loan, Lê Văn Thiêm. Cùng các đồng chí trong 3 Bộ tư lệnh Tên lửa, Không quân, Ra đa và các sư đoàn phòng không Hà Nội - Hải Phòng. Sau báo cáo của Bộ Tham mưu, các đơn vị tham gia ý kiến. Đồng chí Tư lệnh Lê Văn Tri hỏi: "B-52 sẽ đánh vào yếu địa nào?". Tất cả đều thống nhất Hà Nội là chủ yếu. Một vấn đề nổi cộm nhất là đối phó với nhiễu của B-52 với ra đa và tên lửa. Từ sau cuộc họp, cơ quan tham mưu các cấp đều tập trung tìm tòi và sau đó soạn thảo quy tắc bắn trong nhiễu của tên lửa, tiến hành huấn luyện rộng rãi cho các kíp chiến đấu.
       
        Cùng với thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam chiến dịch phòng không đánh bại trận tập kích bằng máy bay chiến lược B-52 trong 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội đã buộc đế quốc Mỹ ký kết hiệp định Paris 1-1973, rút khỏi miền Nam, lập lại hòa bình. Nó minh chứng cho sự đúng đắn của đường lối quân sự của Đảng ta. Đối với Quân chủng, trên lĩnh vực quân sự nó ghi lại một bước trưởng thành của công tác tham mưu phòng không.
       
        Bước sang năm 1973, tôi được nhận nhiệm vụ thành lập Tiểu đoàn 100 để tổng kết các nhiệm vụ quân sự của Quân chủng và kiến nghị ý kiến tham gia chiến dịch tổng tiến công giải phóng miền Nam. Đánh giá kết quả thực hiện 3 nhiệm vụ quân sự lớn của Quân chủng, 2 nhiệm vụ tác chiến bảo vệ các yếu địa miền Bắc và nhiệm vụ bảo vệ giao thông chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam được hoàn thành xuất sắc. Còn nhiệm vụ thứ ba, tham gia quân binh chủng hợp thành, giải phóng miền Nam này được đặt ra cực kỳ cấp bách.
       
        Mở rộng dân chủ, tranh thủ ý kiến đề xuất rộng rãi của gần 100 cán bộ đã qua thử thách, có rất nhiều ý kiến phương án sử dụng lực lượng, biện pháp tác chiến khác nhau. Cuối cùng Bộ Tham mưu kiến nghị Bộ Tư lệnh và Đảng ủy: Một là tăng cường lực lượng phòng không cho miền Nam, chủ yếu là tên lửa vác vai để phối hợp đánh bại chiến thuật trực thăng vận và chiến xa vận của Mỹ - ngụy, hai là tổ chức xây dựng cho 4 quân đoàn bộ binh mỗi quân đoàn một sư đoàn phòng không gồm các trung đoàn tên lửa, trung đoàn pháo phòng không các loại, và đưa bộ đội ra đa tiến sâu vào phía Nam để bảo đảm chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Văn Pháp - Chánh văn phòng đã chấp bút ghi lai báo cáo Bộ tổng Tham mưu và đã được Bộ đồng ý.
       
        Tôi là một trong các đồng chí tham mưu về pháo của Quân chủng qua các thời kỳ với các đồng chí Lê Văn Tri, Nguyễn Quang Bích, Hoàng Ngọc Diêu, Hoàng Văn Khánh. Chặng đường công tác tham mưu đè năng lên vai và để lại trong tôi khá nhiều sự kiện, nhiều ký ức đáng nhớ. Trong cuộc đụng đầu, đấu trí giữa một bên là Bộ chỉ huy quân sư Mỹ - ngụy, còn một bên là Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân, tôi nghiệm ra rằng: Làm công tác tham mưu phải biết phát huy và tận dụng cơ quan tham mưu một cách tối đa thì mới đạt được hiệu quả cao, ngược lai nếu không phát huy và phát huy tết là sẽ gặp khó khăn. Dễ hay khó về tham mưu tùy thuộc vào tình huống của chiến tranh xảy ra, nhưng xét đến cùng là lấy kết quả đạt được làm thước đo để phân định khó dễ. Một mình đơn thương độc mã không làm nổi, cùng với tôi có bao nhiêu đồng sự, đồng chí, đồng đội, nhân dân, và đặc biệt là một đội ngũ sĩ quan, nhân viên tham mưu đầy phẩm chất cách mạng, trang bị đủ kiến thức quân sự hiện đại luôn đáp ứng, dày dạn, mưu trí sáng tạo sâu sát, thực tiễn. Có như thế mới bớt phải ăn tiệc khan hàng ngày như trong chiến tranh phá hoại.
       
        Tuổi đã cao, sức khỏe đã giảm, lại bị thương tật, tôi khó nêu hết những kỷ niệm thực tiễn của tôi để gửi lại cho thế hệ tham mưu tiếp theo. Chỉ hy vọng cùng với các câu chuyện của bao đồng chí trong hồi ký phần nào góp ích với chúng ta. Tôi thực sự cảm động và vui mừng khi thấy các đồng chí Ban liên lạc cựu chiến binh tham mưu cho ra tập hồi ký này mà tôi nghĩ có lẽ hiếm có cơ hội nào ngoài chúng ta có được.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:22:25 am
        
MỘT KỶ NIỆM VỀ TÌNH HỮU NGHỊ
VIỆT - TRUNG TRONG KHÁNG CHIẾN
       
Đại tá Lê Văn Thiêm                        
Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng        
       
        Cuối năm 1965, đầu năm 1966, ta và bạn thỏa thuận Trung Quốc đưa các lực lượng pháo cao xạ vào Việt Nam "kháng Mỹ viện Việt". Đối với bạn, đây là dịp để lực lượng pháo cao xạ rèn luyện trong thực tế chiến đấu. Đội hình bố trí chiến đấu của các lực lượng pháo cao xạ Trung Quốc chủ yếu trên tuyến đường 1 Bắc, từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn (sau rút lại từ Bắc Giang đến Lạng Sơn) và trên tuyến từ Lào Cai đến Phú Thọ (sau rút lại từ Lào Cai đến Yên Bái). Tiếp sau đó lại triển khai thêm tuyến đường từ Thái Nguyên đến Kép. Hình thức và qui mô tổ chức lực lượng là chi đội, mỗi chi đội gồm 3, 5, 7 trung đoàn pháo cao xạ hỗn hợp chủ yếu là pháo cao xạ 57mm. Về thời gian cứ 6 tháng thay phiên một lần, mọi hoạt động chiến đấu của bạn đều được giữ bí mật, không đưa tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bạn tự lo liệu toàn bộ công tác hậu cần kỹ thuật và chịu sự chỉ đạo chiến đấu của Quân chủng PK-KQ về việc xác định các mục tiêu cần bảo vệ, thông báo tình hình chiến đấu chung, tình hình dịch, nhất là các âm mưu thủ đoạn chiến đấu mới của địch. Tôi lúc này là tham mưu phó, được giao nhiệm vụ giúp Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ dạo hoạt động chiến đấu của bạn. Ta tổ chức tổ sĩ quan liên lạc cạnh cơ quan chỉ huy chi đội của bạn để giữ quan hệ thường xuyên. Khoảng năm 1967, trong Bộ tư lệnh chi đội Yên Bái có ông Lô Khang Dân làm phó tư lệnh.
        
        Ông Lô Khang Dân có nhiều quan hệ với lực lượng phòng không Việt Nam. Thế hệ cán bộ học trường pháo cao xạ Thẩm Dương ở Đông Bắc Trung Quốc, và thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đầu tiên của Đại đoàn 367 ít nhiều đều biết ông Lô Khang Dân. Lô Khang Dân có trình độ văn hóa sơ trung (tương đương như trung học phổ thông của ta) đã sang chiến đấu ở Triều Tiên. Lúc cán bộ ta học ở trường pháo cao xạ Thẩm Dương năm 1953, ông Lô Khang Dân là phó chủ nhiệm hệ chiến thuật, sau đó lên chủ nhiệm hệ chiến thuật rồi phó bộ trưởng bộ huấn luyện (phó phòng huấn luyện). Ở Thẩm Dương, hàng tuần cán bộ trung cấp của ta được ông Lô Khang Dân giới thiệu về kinh nghiệm tác chiến phòng không ở Triều Tiên. Năm 1954 - 1955, ông Lô Khang Dân sang Việt Nam làm trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp ta xây dựng Đại đoàn 367. Năm 1956 khi tham gia đoàn đại biểu quân sự Việt Nam sang Trung Quốc tham quan học tập kinh nghiệm xây dựng quân đội chính qui, hiện đại, tôi gặp lại ông Lô Khang Dân ở Bắc Kinh, mang quân hàm trung hiệu (tức trưởng phòng cao xạ dã chiến). Ông đã giúp đỡ ta nhiều trong việc nghiên cứu các điều lệnh, giáo trình giáo lệnh chiến đấu, giới thiệu kỹ tài liệu nguyên tắc sử dụng pháo cao xạ trong chiến dịch chống đổ bộ (kháng đăng lục). Tài liệu này tôi đã sử dụng trong cuộc diễn tập chống đổ bộ đường biển lên đồng bằng Bắc Bộ năm 1962. Cuộc diễn tập qui mô lớn của Quân khu Tả ngạn do đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm đạo diễn, đồng chí Nam Long, Tư lệnh Quân khu Tả ngạn làm Tư lệnh chiến dịch. Tôi lúc ấy đang làm trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 224 được Bộ tư lệnh pháo binh điều động làm chủ nhiệm phòng không chiến dịch trong diễn tập.
        
        Thường lệ, hết nhiệm kỳ 6 tháng, ta tổ chức họp mặt tổng kết, khen thưởng Ở Hà Nội. Ta mời tư lệnh, chính ủy các chi đội về họp với Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Lần này tôi đề nghị với đồng chí Phùng Thế Tài và đồng chí Đặng Tính, ngoài tư lệnh và chính ủy chi đội Yên Bái mời thêm phó tư lệnh Lô Khang Dân. Buổi sáng họp tổng kết ở cơ quan ngoại vụ Bộ Quốc phòng, phố Lý Nam Đế, lúc ấy ở Trung Quốc đang có cao trào cách mạng văn hóa vô sản.
        
        Mở đầu cuộc họp, tôi đứng dậy nói: "Xin phép Bộ tư lệnh Quân chủng, cho tôi được giới thiệu một vị khách đặc biệt trong cuộc hội nghị hôm nay. Đó là đồng chí Lô Khang Dân, phó tư lệnh chi đội Yên Bái, năm 1953, đồng chí Lô Khang Dân là thầy dạy chúng tôi ở Trường pháo cao xạ Thẩm Dương. Năm 1954 - 1955 là trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp ta xây dựng Đại đoàn 367". ông Lô Khang Dân đứng dậy khiêm tốn nói: "Trước đây chúng ta là bạn học, nay chúng ta là bạn chiến đấu".
        
        Buổi tối, mời chiêu đãi ở nhà khách Bộ Quốc phòng 33 Phạm Ngũ Lão, có đồng chí Nguyễn Quang Bích ở Sư đoàn 361, đồng chí Hoàng Khải Tiến ỏ Sư đoàn 367 cùng dự. Ông Lô Khang Dân vui vẻ ôn lại kỷ niệm xưa, đưa ảnh gia đình tặng cho các bạn để lưu niệm.
        
        Ông Lô Khang Dân nay nếu còn sống thì tuổi cũng đã ngoài 90, là một chuyên gia về xây dựng, huấn luyện phòng không, có hiểu biết rộng, có kinh nghiệm thực tế có phương pháp lên lớp trình bày vấn đề khúc triết, mạch lạc, đầy sức thuyết phục. Chúng ta rất cảm ơn tình hữu nghị Việt Trung, đã góp phần vào việc xây dựng các lực lượng phòng không của ta trong chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 08:24:24 pm
        
SỰ KIỆN ĐÊM 16 THÁNG 4 NĂM 1972
       
Thiếu tướng Lê Huy Vinh                        
Nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân chủng        
       
        Là thành viên trong đoàn cán bộ Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân trong cuộc diễn tập tại Sư đoàn 363 phòng không. Đêm 16-4-1972 đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc về sự kiện trên. Tuy thời gian đã 36 năm trôi qua, nhưng với cách nhìn khách quan sẽ làm giàu thêm nghệ thuật tác chiến và công tác tham mưu phòng không - không quân, góp phần bảo vệ vùng trời Tổ quốc.
        
        Đôi nét về tình hình chiến sự đầu năm 1972.
        
        Lúc ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta đang bắt đầu bước vào giai đoạn cuối, trên chiến trường miền Nam, quân ta ào ạt mở những đợt tấn công mới. Ngày 30/3/1972, chiến dịch Trị - Thiên bắt đầu. Các lực lượng binh chủng hợp thành đã tấn công địch dữ dội và đánh chiếm được hàng loạt những vị trí then chốt, quan trọng phía bắc Quảng Trị, theo chỉ thị của cấp trên, Quân chủng Phòng không - Không quân đã đưa gần 4 sư đoàn phòng không, 50% lực lượng tên lửa phòng không tham gia chiến dịch 1972 (kể cả bảo vệ giao thông trên địa bàn cửa khẩu). Phòng không bảo vệ yếu địa Hà Nội và Hải Phòng cũng đã cử không ít lực lượng tham gia chiến dịch này. Trên mặt trận Trị - Thiên, lực lượng phòng không đã chiến đấu rất quyết liệt với máy bay địch, nhất là B-52 tích cực yểm trợ cho các đơn vị bộ binh, pháo binh tiến công tiêu diệt địch. Đợt 1 phòng không đã bắn rơi 86 máy bay, trong đó có 2 chiếc B-52.
        
        Trước tình thế nguy ngập của quân nguỵ, đế quốc mỹ buộc phải chủ trương Mỹ trở lại chiến tranh bằng không quân và hải quân. Để yểm trợ cho quân nguỵ hàng ngày Mỹ huy động bằng hàng trăm lượt máy bay B-52 đánh phá, ngăn chặn các mũi tiến công và pháo hạm của địch để bắn phá ven biển Quảng Bình, Vĩnh Linh. Vào thời điểm ấy, không quân Mỹ chưa đánh phá lại miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.
        
        Thế nhưng, vào lúc 3 giờ 00 đêm 10/14/1972 Mỹ bất ngờ sử dụng 50 máy bay, trong đó có 12 B-52 đánh phá khu vực Bến Thủy (thành phố Vinh). Ra đa của ta không phát hiện được B-52. Lúng túng trước thủ đoạn mới của địch, các đơn vị tên lửa chiến đấu không hiệu quả.
        
        Tiếp đến, vào lúc 2 giờ 30 phút ngày 13/4/1972, địch lại sử dụng 70 lần chiếc máy bay (có 6 B-52) đánh phá sân bay Thọ Xuân, Hàm Rồng (Thanh Hóa). Trung đoàn 236 tên lửa phát hiện được tín hiệu máy bay B-52, đã chuyển cấp sớm nhưng do vận dụng cách đánh không phù hợp nên cũng chưa bắn rơi được B-52.
        
        Tình hình lúc bấy giờ rất cấp bách. Bộ Tư lệnh Quân chủng đã nhận định: Địch sẽ tăng cường máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh phá rộng ra miền Bắc nên đã ra lệnh cho Bộ Tham mưu tổ chức một đợt "Diễn tập chống tập kích đường không bằng máy bay B-52 vào thành phố Hải Phòng" để rút kinh nghiệm cho việc tổ chức bảo vệ các mục tiêu trọng yếu của miền Bắc Quân chủng cử đoàn cán bộ xuống chỉ đạo diễn tập tại Hải Phòng. Tôi ở sở chỉ huy tiền phương vừa ra được cử tham gia, đoàn gồm có các sĩ quan, cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm chiến đấu. Sáng 15/4/1972, Đoàn chúng tôi khẩn trương lên đường.
        
        Hôm ấy, xuất phát từ sở chỉ huy dự bị của Quân chủng ở ngoại thành, Đoàn chúng tôi nhanh chóng xuyên qua trung tâm thành phố, vượt sông Hồng trên cầu phao. Dọc đường, chúng tôi thấy không ít phố phường, trường học, nhà máy còn những vết tích bom, đạn của giặc nhưng Thủ đô ta vẫn toát lên vẻ đẹp cổ kính và thơ mộng. Mọi hoạt động của đời sống thường nhật diễn ra bình thường. Người Hà Nội vẫn bình tĩnh, tự tin và rất cảnh giác.
        
        Sự kiện 16-4-1972 tại Hải Phòng.
        
        Theo kế hoạch diễn tập đã quy định: Đúng giờ "G" (01 giờ sáng) lệnh báo động diễn tập đã phát ra. Các đơn vị của Sư đoàn 363 đã nhanh chóng chuyển cấp xong và sẵn sàng nhận lệnh. Nhưng sau đó ít phút, đột nhiên có lệnh từ sở chỉ huy Quân chủng phát xuống: Hoãn diễn tập và chuyển sang sẵn sàng chiến đấu đánh máy bay địch. Đoàn chúng tôi cũng chuyển ngay sang làm nhiệm vụ đốc chiến.
        
        15 phút sau, 20 máy bay địch xuất hiện ở hướng Đông Nam thành phố và lao xuống đánh phá các trận địa phòng không Hải Phòng. Nhưng không nghe thấy tiếng bom nổ như mọi trận đánh trước đây. Các đơn vị báo cáo về sở chỉ huy Sư đoàn: Địch chỉ dùng tên lửa Shrike bắn phá các trận địa. Nhiều đồng chí trong đoàn chúng tôi có kinh nghiệm đối phó với B-52 trên chiến trường đều có chung một nhận định: Thật rõ ràng, đây là triệu chứng địch sẽ dùng B-52 đánh vào Hải Phòng đêm nay! Ý kiến đó lập tức được thông báo cho Sư đoàn để kịp thời chuẩn bị chiến đấu với B-52. Chỉ khoảng 15 - 20 phút sau, 60 lần chiếc máy bay (trong đó có 12 B-52) đã vào đánh phá khu vực An Dương và một số nơi khác ở Hải Phòng 1.000 đồng bào ta đã bị thương vong. Sáng ngày 16/4/1972 địch còn sử dụng hơn 100 lần chiếc máy bay chiến thuật vào tiếp tục đánh phá thành phố. Lúc này, Đoàn chúng tôi đã tổ chức đi xuống các đơn vị để theo dõi chiến đấu. Đến 16 giờ 00, chúng tôi được lệnh quay về sở chỉ huy Quân chủng. Đồng chí Trần Quốc Dương ở lại rút kinh nghiệm với Sư đoàn 363. Trên đường trở về, trong tâm trí của chúng tôi nặng trĩu bao suy tư, thế là, cuộc diễn tập không thành. Diễn tập đánh địch giả thì địch thật không hẹn lại đến. Thật hài hước? Về đến sở chỉ huy Quân chủng, chúng tôi nhận được thông tin: Vào lúc 10 giờ 16/4/1972 địch cũng đã cho 60 lần chiếc máy bay chiến thuật bay ở độ cao 10km, giả làm B-52, vào đánh kho xăng Đức Giang. Các lực lượng phòng không Hà Nội mắc lừa, chiến đấu không hiệu quả. Mục tiêu không bảo vệ được toàn vẹn.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 08:28:03 pm
        Không chỉ có vậy. Hậu quả của sự kiện đêm 16/4/1972 còn dẫn đến những "diễn biến trái chiều" khác. Sau khi đưa B-52 bất ngờ ra đánh phá các mục tiêu trên miền Bắc vào 3 đêm: 10, 13, 16/4/1972 với mục đích thăm dò, phản ứng và đã gây ra cho bộ đội và nhân dân ta những tổn thất, thương vong không nhỏ, các máy bay B-52 của địch đã bay trở về căn cứ.

        Chính vì vậy, các tướng lĩnh lầu Năm góc đã tỏ ra rất lạc quan và huênh hoang tuyên bố "bằng kỹ thuật điện tử tối tân, không lực Hoa Kỳ có thể "bịt mắt" toàn bộ hệ thống ra đa của Bác Việt. Có thể "vô hiệu hóa toàn bộ lực lượng phòng không đối phương" và "giờ đây, không lực Hoa Kỳ có thể ném bom bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ Bắc Việt Nam như đi dạo chơi vào chỗ trống!"...
       
        Chúng ta chẳng xa lạ gì với kiểu phát ngôn như vậy của các nhà quân sự phương Tây. Họ quen đánh giá đối phương bằng cái nhìn quá sùng bái kỹ thuật. Họ không thể và không bao giờ đánh giá được tài năng, trí tuệ và tinh thần dũng cảm của lực lượng phòng không – không quân Việt Nam. Cũng chính vì quan điểm trên mà Mỹ lại mắc phải sai lầm nghiêm trọng là đã đưa vào trận không tập đêm 16/4/1972 ở Hải Phòng. Làm căn cứ để lập kế hoạch cho cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc nước ta, tháng 12-1972, với mục đích giành thắng lợi lớn trong ván bài cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam. Hậu quả là họ đã chuốc lấy thất bại vô cùng nặng nề và lịch sử nước Mỹ đã phải ghi những trang đen tối!
       
        Vì sao các đơn vị chưa đánh thắng?

        Để bổ sung thêm nguyên nhân chủ yếu đã dẫn đến trận đánh trên chưa thành công. Trước hết các đơn vị trên đây bước vào trận chiến đấu, trong một tình huống rất bất ngờ, trước đó họ không nhận được một thông tin nào về dự báo sẽ có B-52 vào đánh phá mục tiêu bảo vệ. Thậm trí cả trên mạng tình báo trên không cũng không có thông báo, chỉ khi B-52 đã xuất hiện trong khu vực chiến đấu, các đơn vị mới phát hiện ra B-52 nên họ đã lâm vào thế bị động. Mặt khác đây là lần đầu tiên họ đối mặt với một đối tượng chiến lược có sức mạnh nhiều lần so với các loại máy bay mà họ đã từng chiến đấu sức mạnh của nó có nhiều nhưng tập trung nhất là: Gây nhiễu điện tử các loại cực mạnh và tên lửa Shrike tự dẫn chúng đã luôn cải tiến thay đổi kỹ thuật, chiến thuật, gây cho ta không ít khó khăn. Ngay như những ngày đầu của chiến dịch Trị - Thiên các đơn vị tên lửa của ta cũng chưa tìm ra cách đánh B-52 hiệu quả. Hơn nữa tính chất các trận đánh trên của địch là những đòn phản ứng chiến lược nên quy mô và đối tượng của địch có ưu thế hơn ta, còn các đơn vị của ta là những đơn vị chiến thuật. Trong tình huống trên để đánh bại kẻ địch giành thắng lợi chúng ta phải sử dụng sức mạnh của Quân chủng Phòng không - Không quân được chuẩn bị tốt hiệp đồng chặt chẽ, với lực lượng phòng không 3 thứ quân trong thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không nhất định chúng ta sẽ đánh thắng địch.
       
        Tiếng chuông cảnh báo.

        Khi ấy tình hình đã rất khẩn trương, lúc này Quân chủng Phòng không - Không quân cùng một lúc phải đảm nhiệm 3 nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng như: Bảo vệ các tuyến giao thông, vận tải ra tiền tuyến, yểm trợ cho các đơn vị binh chủng hợp thành chiến đấu trên mặt trận Trị - Thiên, bảo vệ hậu phương miền Bắc.
       
        Quân chủng đã chuyển hóa thế trận điều động các đơn vị 365, 363, sở chỉ huy tiền phương Quân chủng và sau này, cả Trung đoàn 274 tên lửa ra bảo vệ miền Bắc. Ngoài ra còn tổ chức thêm Sư đoàn 375 phòng không, một số trung đoàn cao xạ, tên lửa, điều chỉnh bố trí mạng lưới ra đa, cảnh giới của Binh chủng Ra đa... để phát hiện từ xa và đối phó kịp thời và các cuộc tập kích của B-52.
       
        Chuẩn bị cho cuộc quyết chiến, chiến lược trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, Quân chủng đã nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm chiến đấu với B-52 và phát động các đơn vị tích cực tìm đánh B-52. Vì vậy, kế hoạch phương án đối phó với cuộc tập kích B-52 từng bước được bổ sung hoàn chỉnh nên ta đã tạo được thế chủ động, giành thắng lợi trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972 lập nên chiến công Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972  làm đảo lộn cả tư duy quân sự của đế quốc Mỹ. Và đây cũng là bài học về sự lựa chọn đúng đắn nhiệm vụ chiến lược của Quân chủng Phòng không Không quân.
       
        Đoàn cán bộ tham mưu.
       
        Trong chuyến đi xuống Sư đoàn 363 phòng không, tuy chưa tổ chức được cuộc diễn tập nhưng cũng đã thu được những vấn đề quan trọng, hiểu được hoạt động của máy bay B-52, khả năng đối phó của các đơn vị và công tác đảm bảo chiến đấu của cơ quan tham mưu nhất là vấn đề nghiên cứu, phát hiện, dự báo, thông báo địch lúc này còn nhiều khó khăn ta chưa đi trước địch một bước được, đây là một yêu cầu rất cao, nhưng không thể khác được trong thực tế chiến đấu chúng ta cũng đã thành công trong công tác nghiên cứu phát hiện các thủ đoạn kỹ thuật nhiễu của địch như: QRC-160, nhiễu rãnh đạn, tên lửa của địch ALQ-71 WALLEY và các thủ đoạn chiến thuật, ngày nhảy cừu, bay thấp, đánh đêm, cơ động do đó ta đã bắn rơi nhiều máy bay và bắt sống giặc lái và đã đánh thắng cả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của địch. Đó là lãnh đạo đã biết phát huy trí tuệ của cơ quan và đơn vị.
       
        Tuy nhiên công tác nghiên cứu địch của ta còn nhiều nhược điểm: Thường các sự kiện đã xảy ra ta mới bắt đầu nghiên cứu, khi nghiên cứu ta chưa tập trung đầu tư, thời gian nghiên cứu kéo dài vì thế công tác nghiên cứu địch cần được tổ chức chặt chẽ từ nội bộ cơ quan tham mưu và bao gồm các cục có liên quan, viện kỹ thuật, học viện, nhà trường và các đơn vị làm nhiệm vụ chiến đấu xác định rõ chức năng nhiệm vụ, có cơ chế hoạt động, cải tiến phương pháp làm việc khoa học, đầu tư một cách thích đáng, có phương tiện và tư liệu để nghiên cứu, các cán bộ trợ lý được đào tạo bồi dưỡng trở thành các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao mới đáp ứng được yêu cầu của đơn vị có vị trí chiến dịch - chiến lược.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 08:51:41 pm
        
KỶ NIỆM VỀ TÊN LỬA CHIẾN ĐẤU
TÂY TRƯỜNG SƠN
       
Trung tướng Vũ Xuân Vinh                 
Nguyên Phó Tham mưu trưởng              
Quân chủng Phòng không - Không quân        
       
        Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, buộc Tổng thống Mỹ Giôn Sơn phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam, kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất.
        
        Tuy vậy, không quân Mỹ chưa từ bỏ âm mưu ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam Việt Nam. Chúng vẫn sử dụng lực lượng B-52 và AC-130 tập trung đánh phá ác liệt ra Nam Quân khu 4 và trên toàn tuyến cửa khẩu 559, nhất là ở khu vực Quảng Bình - Vĩnh Linh.
        
        Bước vào mùa khô 1970 - 1971, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận định: "Không quân địch sẽ tập trung đánh phá hành lang của cửa khẩu 559 đối diện với Trung, Hạ Lào và có thể dùng bộ binh kết hợp đánh phá chia cắt, triệt đường tiếp tế của ta cho miền Nam ở sát vùng giới tuyến".
        
        Quyết tâm của ta là phải bảo vệ bằng được tuyến vận tải chiến lược, đường Hồ Chí Minh. Theo chỉ đạo của bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ quyết tâm sử dụng Sư đoàn PK 367 làm lực lượng cơ động của Quân chủng ở Nam Quân khu 4. Sư 367 với 5 trung đoàn pháo cao xạ 224, 230, 280, 281, 284 và 2 trung đoàn tên lửa 237, 238, được giao nhiệm vụ: Phối hợp với lực lượng PK Quân khu 4 và lực lượng 559, kiên quyết bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch và chuẩn bị sẵn sàng, tham gia tác chiến bảo vệ binh chủng hợp thành ở giới tuyến.
        
        Tôi nhớ lại trước đó vào năm 1967, chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn tên lửa 238 đã được đưa vào Nam Quân khu 4 để rút kinh nghiệm đánh B-52. Bác đã nói: "Có vào hang cọp mới bắt được cọp". Nay với tinh thần cách mạng tiến công, ta quyết tâm, mạnh dạn đưa tên lửa băng qua đỉnh Trường Sơn, vượt sang đất bạn Lào để chiến đấu. Đó thật là một kỳ tích. Đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng đã phát biểu: "Chiến tranh ở miền Nam sẽ sớm kết thúc, nếu tên lửa không vượt Trường Sơn lúc này, thì không còn dịp nào nữa. Lịch sử sẽ phán xét chúng ta".
        
        Đảng ủy và Tư lệnh Quân chủng chủ trương sử dụng Trung đoàn tên lửa 238 có một số kinh nghiệm đánh B-52 vào chiến đấu trên đường 20, sẵn sàng vượt cửa khẩu sang đường 128 tỉnh Kham Muộn của bạn Lào, để đánh địch. Ta cần phải biết ơn Chính phủ Lào với tinh thần quốc tế cao cả sẵn sàng cho ta mượn đất đai, đường đi để đánh địch vì lợi ích cách mạng chung của 2 dân tộc. Còn Trung đoàn tên lửa 237 cơ động chiến đấu trên đường 15 mở đến sát tuyến đường 9, Sê-pôn (Lào).
        
        Bộ Tham mưu Quân chủng đã tổ chức 2 đoàn đi chuẩn bị chiến trường theo hướng trên.
        
        Đoàn thứ 1: Do tôi Vũ Xuân Vinh - Tham mưu phó Quân chủng phụ trách, gồm một số cán bộ tham mưu, kỹ thuật, hậu cần, bổ sung thêm đồng chí Bùi Quang Thận - Trung đoàn phó Trung đoàn 238 và đồng chí Trần Xuân Thu sĩ quan tham mưu của Đoàn 559 là hướng dẫn viên, có nhiệm vụ khảo sát chiến trường trên đường 20 và 128.
        
        Đoàn thứ 2: Do đồng chí Nguyễn Văn Hội - Phó tư lệnh Sư đoàn 367 phụ trách khảo sát thực địa hướng đường 15, 18 sang cả đường 9 đến Sê-pôn.
        
        Chúng tôi rất háo hức, phấn khởi được khảo sát con đường Trường Sơn hùng vĩ, mang tên Bác trên cả phía Tây và phía Đông, con đường lịch sử mà nhà thơ Tố Hữu đã mô tả:
        
"Trường Sơn, xẻ dọc, dọc ngang
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng"
       
        Đó thật là cả một hệ thống đường vận chuyển cơ giới mới khai phá vượt núi cao trùng điệp, mà đỉnh có chỗ mây mù che phủ quanh năm, ẩn mình trong rừng rậm nhiệt đới bạt ngàn màu xanh.
        
        Đường sá cheo leo, men theo sườn núi, một bên là vách đá vôi cao vút, một bên là khe vực sâu thẳm rợn người, thỉnh thoảng cắt ngang bởi những dòng suối cạn trơ nền đá nhưng vào mùa mưa thì nước dâng cao và chảy như thác.
        
        Hệ thống đường Trường Sơn dài hàng nghìn cây số, ngoài các trục chính chạy dọc Bắc Nam như đường 15, đường 14 ở bên phía Đông, bên kia phía Tây là đường 128, 129 chạy theo chiều dọc tỉnh Kham Muộn và Sa-van-na-khét của bạn Lào. Ngoài ra còn có các trục ngang nối liền Đông Tây qua các cửa khẩu của đường 10, 12, 16, 18, 20 và một hệ thống đường nhánh dày như màng nhện.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 08:59:48 pm
        Đường Trường Sơn đa số là đường đất đỏ thuộc loại đường quân sự làm gấp. Thời tiết Tây Trường Sơn chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11 . Vì vậy khi Đông Trường Sơn mưa thì Tây Trường Sơn khô và ngược lại.
       
        Đường mùa khô, khi vận chuyển đất đỏ tung bụi mù, nhưng vào mùa mưa thì lầy lội, tạo thành những ổ trâu, ổ voi, vũng ao nhỏ, rất khó khăn cho việc cơ động bằng cơ giới, nhất là khí tài tên lửa cồng kềnh. Mùa khô vận chuyển, các đoạn đường trống trải địch dùng B-52 - AC-130 đánh phá ngăn chặn ác liệt các nút giao thông vào giờ cao điểm. Ngoài ra địch còn dùng loại máy bay cường kích và máy bay trinh sát khống chế, săm soi ngày đêm trên toàn tuyến, khá căng thẳng.
       
        Đoàn khảo sát I chúng tôi có hơn 10 người phải đi bộ dài ngày, được nếm trải bao nỗi thử thách, gian khổ. Mỗi người mang một ba lô con cóc trên vai, một gậy Trường Sơn trong tay, một đôi giày vải vạn dặm dưới chân. Cứ thế mà trèo đèo, vượt suối, để khảo sát đường hành quân và chọn trận địa cho tên lửa. Vừa đi vừa nghiên cứu nên chỉ đi được ngót 20 cây số/ ngày. Thật là ấn tượng, khi đi trên đường 128 của nước bạn Lào, chúng tôi vượt qua những khu rừng săng lẻ bạt ngàn, bằng phẳng, cây cao tỏa bóng, thỉnh thoảng bị chia cắt bởi những dòng suối từ phía Tây đổ xuống. Bên bờ trên những cành cây cao, tua tủa những giàn phong lan rừng già, nhiều màu sắc tươi đẹp. Có lúc chúng tôi phải vượt qua một trọng điểm mà không quân địch mới đánh phá, ở đó hiện ra khúc rừng trơ trọi những thân cây đen cháy sém, còn khét lẹt mùi khói bom, dưới đất ngổn ngang những cành cây đổ gục, cạnh những đống tro tàn.
       
        Qua những bãi trống này, chúng tôi giục nhau vượt nhanh để tránh những chiếc máy bay trinh sát OV-10 thường bay dai như đỉa đói, dọc đường, soi mói mặt đất, hễ thấy mục tiêu là nó phóng ngay pháo khói, để gọi chỉ điểm cho máy bay cường kích đến thả bom, bắn phá.
       
        Có một đêm chúng tôi nghỉ tại binh trạm cửa khẩu Lao Bảo trên đường 9, biên giới giữa ta và Lào. Nơi đây thời kỳ Pháp thuộc là nơi giam giữ tù đầy các chiến sĩ cách mạng của ta. Khí hậu rất độc, anh em gọi là "Tọa độ sốt rét" vì có nhiều muỗi vằn gây sốt. Nơi đây còn là trọng điểm KQ địch hay đánh phá. Chúng tôi ở qua một đêm khá căng thẳng. Vì sự đe dọa thường xuyên của không quân địch, căng thẳng vì nhìn thấy cảnh bộ đội, thanh niên xung phong ốm nằm la liệt, vì bệnh sốt rét ác tính, đang hành hạ họ. Được binh trạm dành cho các hầm sâu kiên cố có tiện nghi, chúng tôi ngoài việc phải chống muỗi vằn công kích, còn phải đối phó với lũ chuột đói, liều lĩnh ban đêm chui cả vào màn, tấn công những ba lô mà chúng tôi gối đầu, hoặc kê chân, để cố lôi ra những bánh lương khô nhãn Trung Quốc rất hấp dẫn với chúng. Ban ngày, chúng tôi đi liên tục trên các đường có nhiều suối ngầm, nước xanh dục, nhiễm đầy chất lá han rừng độc hại, mà đôi chân không được dời đôi giầy vải, nên da chân chúng tôi dễ bị loét lở viêm nhiễm. Thường buổi tối ở các nơi nghỉ trong hầm, chúng tôi phải đốt lửa, hong khô giầy, rửa chân bằng nước sạch rồi dùng giẻ rách đốt, hun chân trong khói, cho khô da se vàng lại, thì mai mới đi tiếp được. Thế mà trong đoàn cũng có đồng chí Tôn, cán bộ hậu cần, khi về đôi chân cũng vẫn bị loét lở nhiễm trùng, chữa trị đến hàng tháng mới khỏi.
       
        Một đêm, chúng tôi trú chân ngủ ở hang Lùm Bùm, một hang độc lập trong dãy núi đá vôi trên đường từ 128 rẽ về đường 20. Hang to có 2 tầng, kín đáo, có lỗ thông hơi lên khoảng trời cao thoáng mát, với nhiều thạch nhũ có các hình thù khác nhau, có các lùm cây si xanh mọc lưng chừng rất tươi mát. Hang rộng đủ chứa được một đại đội. Nhiều đơn vị bộ đội và thanh niên xung phong vãng lai, đã từng' trú an toàn ở đây. Trước khi vào hang chúng tôi phải bước men theo bờ của các hố bom B-52 ngập nước trong vắt, tiện cho chúng tôi rửa sạch chân trước khi vào hang. Ở đây chúng tôi được hưởng một bữa cơm nóng ngon lành và đêm nay được thư giãn chút ít mặc dầu về khuya vẫn vang rền tiếng các loạt bom B-52 từ xa vọng về làm rung động cửa hang.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 09:02:41 pm
              Sáng hôm sau, chúng tôi phải rời hang Lùm Bùm từ sớm để kịp vượt ngầm Tà Lê mà theo quy luật độ 9 - 10h sáng, B-52 hay đến ném bom khu trọng điểm gọi là ATP (tức là khu vực cua chữ A, cây số 78, ngầm Tà Lê và đèo Phu la nhích ở cây số 68, cuối đường 20. Không may là gần về sáng có cơn mưa to đầu nguồn, lũ kéo về dữ dội tại ngầm Tà Lê, làm đứt và trôi mảng tre gỗ, nên không còn phương tiện qua ngầm. Tình thế buộc chúng tôi phải quyết tâm bơi qua ngầm trong nước lũ. Mọi người đều mặc quần áo lót, mở tấm ni lông to của cá nhân, bọc kín ba lô, vũ khí cá nhân rồi buộc chặt, tự tạo thành phao bơi, để vượt ngầm. Vì nước trôi nhanh, nên nơi xuất phát bơi phải lên phía đầu nguồn cách bến chính hơn 300m. Nước chảy xuôi về bến nhưng cách 200m có nhiều tảng đá ngầm đang gợn sóng, rất nguy hiểm. Đoàn cử đồng chí cán bộ công binh phụ trách bến ngầm, bơi sang trước để thăm dò và vừa làm mẫu, rồi đến đồng chí Thu cán bộ liên lạc 559 xung phong bơi tiếp sang bên kia và đón ở cuối dòng, sẵn sàng cứu những người bị trôi.
       
        Tôi động viên anh em bình tĩnh, dũng cảm, nhanh chóng lần lượt bơi sang hết.
       
        Cuối cùng chỉ còn đồng chí công vụ của tôi không biết bơi, rất lúng túng và lo lắng, phải nhờ 2 đồng chí công binh 559 ở bên phà, bơi kèm, dìu sang an toàn.

        May quá sang bên kia, cách bến ngầm vài trăm mét có một hang nhỏ, tôi động viên tất cả đoàn để nguyên quần áo lót, mang phao, ba lô nhanh chóng vào hang trú ẩn, tránh đợt bom B-52 có thể sắp xảy ra, vừa để nghỉ ngơi an toàn, tẩm bổ viên sâm, cho lại người. Sau đó ít lâu, đúng như dự kiến, một đợt bom B-52 đến đánh phá khu vực Lùm Bùm - Tà Lê, tiếng bom nổ rung động cửa hang làm mọi người đinh tai nhức óc.
       
        Bộ Tư lệnh 559 theo dõi sát sao chuyến đi của chúng tôi, sau khi nhận được báo cáo đoàn chúng tôi đã qua Tà Lê an toàn, mới yên tâm.
       
        Chúng tôi đi khảo sát tiếp hơn 80km dọc đường 20, từ đèo Phu la nhích (km 68 đường 20) qua ngầm Cà Roòn đến đèo Ba Thang, rồi qua Xuân Sơn xuôi về chỉ huy sở 559 tại khu vực Bến Quan.
       
        Đoàn của đồng chí Hội đi khảo sát đường 15 về cũng đã có mặt. Chúng tôi hội ý và báo cáo kết quả khảo sát tình hình đường sá và dự kiến trận địa tên lửa với Bộ tư lệnh Đoàn 559, nêu những khó khăn thực tế và xác định quyết tâm đưa tên lửa vào trận để đánh B-52 và AC-130, bảo đảm giao thông vận tải chiến lược. Tư lệnh 559 đồng chí Đồng Sĩ Nguyên biểu dương và hoan nghênh quyết tâm của bộ đội tên lửa và tích cực giải quyết một số đề nghị của chúng tôi, như cho công binh của đoàn giúp xây dựng một số trận địa, cải tạo đường cơ động cho tên lửa, chỉ thị cho các lực lượng 559, các binh trạm có liên quan, hiệp đồng chiến đấu và giúp đỡ chúng tôi trên một số mặt cần thiết.
       
        Sau đó, chúng tôi còn làm việc cụ thể với các cơ quan của 559, để Sư đoàn 367 có cơ sở hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến trên khu vực cửa khẩu mùa khô 70 - 71, báo cáo ra Bộ tư lệnh Quân chủng phê chuẩn, rồi thông báo lại cho Bộ tư lệnh 559. Đích thân anh Lê Văn Tri - Tư lệnh Quân chủng đã vào kiểm tra và bổ sung tại chỗ, phương án đánh B-52 tại Binh trạm 14 ở cuối đường 20, có mặt anh Trá - binh trạm trưởng, tôi và anh Hội cũng dự.
       
        Ở đây cần phải nói là quan điểm tác chiến phòng không của bộ tư lệnh 559 và Quân chủng có khác nhau.
       
        Quan điểm của Quân chủng là muốn bảo vệ mục tiêu được hiệu quả phải bắn rơi máy bay địch. Còn 559 không yêu cầu, nhất thiết lực lượng phòng không phải bắn rơi máy bay địch, cần chủ động tích cực đánh thế nào, để uy hiếp máy bay địch, bảo đảm vận chuyển hàng hóa được thuận lợi, là đạt yêu cầu.

        Vì vậy lực lượng tên lửa phòng không phải vận dụng, xử lý khéo léo, tế nhị thế nào cho đạt các yêu cầu trên.
       
        Xong các công tác chuẩn bị trước mắt, tôi trở về chỉ huy sở tiền phương. Thực chất chỉ là một bộ phận cán bộ cơ quan Quân chủng, bên cạnh chỉ huy sở 559, rất gọn nhẹ, để nắm tình hình báo cáo và nhận lệnh của cấp trên, truyền đạt xuống dưới. Tôi rất thú vị là giữa rừng Trường Sơn, dưới bóng của lùm cây cao kín đáo nhưng thoáng mát, có một tòa nhà 3 tầng. Tầng trên cùng là nhà trên mặt đất, bằng tranh, tre, nứa, lá phục vụ cho làm việc bình thường, tầng 2 sâu dưới mặt đất đến gần 2m có bố trí hầm trú ẩn, là nơi làm việc, khi báo động có máy bay trinh sát hay cường kích địch hoạt động, tầng cuối cùng sâu hơn nữa, có hệ thống hầm chữ A kiên cố liên kết với giao thông hào, để làm việc khi có máy bay B-52 uy hiếp.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 09:04:36 pm
        Chính ở nơi đây đồng chí chính ủy Đặng Tính đã từng dành thời gian đến thăm để động viên anh em.

        Tôi không quên thực hiện chức trách của Bộ Tham mưu đến thăm đội trinh sát nhiễu, đại đội 25 tại Vìn Cà Roòng, ở km 54 đường 20. Trạm này bố trí trên một quả núi cao, trèo lên cũng khá mệt, do anh Phan Huy Thuần làm đội trưởng. Nhiệm vụ của đội là phát hiện nghiên cứu quy luật gây nhiễu của địch, để phục vụ cho Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh 559, các đơn vị trên tuyến hàng lang, các binh trạm, các sư đoàn phòng không nắm địch tại chỗ. Chủ yếu là thông báo thời gian xuất hiện và hoạt động của B-52 và AC-130. Tôi giao nhiệm vụ cho đại đội trinh sát nhiễu, hiệp đồng chặt chẽ với Sư đoàn 367 nhất là với chỉ huy sở trung đoàn 238 và trung đoàn 237, khi cần đến tiểu đoàn tên lửa gần, để phục vụ cho nhiệm vụ đánh B-52 và AC-130. Anh em rất phấn khởi với nhiệm vụ mới và không quên chiêu đãi tôi những bát sâm rừng pha đường, rất bổ và mát, làm cho tôi nhanh chóng quên đi nỗi mệt nhọc khi leo núi cao để đến với anh em.
       
        Bộ tư lệnh 559 và các binh trạm đánh giá cao tác dụng của đội trinh sát nhiễu, trong việc báo động chính xác kịp thời việc xuất hiện B-52 và AC-130 để các đơn vị chủ động phòng tránh, vận chuyển và đánh địch hiệu quả.
       
        Bước vào mùa khô năm 1970-1971, vào tháng 10-11 - 1970 không quân địch hoạt động khá mạnh trên các cửa khẩu 559. Trên các trọng điểm đường 20, máy bay địch trinh sát ngày đêm, dùng B-52 ném bom ác liệt vào đèo Phu La Nhích, ngầm Tà Lê, Lùm Bùm, trên đường 128 và đường 9. Trung đoàn 238 nhận lệnh triển khai các tiểu đoàn 56, 81, 84 áp sát các trọng điểm trên đường 20, tại các trân địa km 10 - 15, km 68 và 74 chuẩn bị sẵn sàng vượt qua đường 128 đến đường Coong-le vào trân địa máy húc. Trung đoàn 237 gồm 3 tiểu đoàn 69, 82 và 83 cơ động theo trục đường 15 từ đầu đường 12 Quảng Bình đến Vĩnh Linh sẵn sàng cơ động thọc sâu theo đường 12 và đường 10, vượt sang Bắc Bản Đông trên đường số 9.
       
        Trong các tháng 11-12-1970 và tháng 1-1971 các tiểu đoàn tên lửa đã sẵn sàng chiến đấu, tích cực tìm cách đánh B-52 và AC-130. Nhưng anh em gặp rất nhiều khó khăn. Địa hình phức tạp, trận địa phần lớn chỉ đánh được 2 bệ, có nơi độ chênh của bệ và đài lớn, đạn phóng lên không rơi vào cánh sóng, mất điều khiển. Các tiểu đoàn phải cơ động nhiều, khí tài quăng quật trên đường quân sự làm gấp, làm cho các đồng hồ đo của các xe mất chính xác, mà không có phương tiện để hiệu chỉnh lại. Thường phải chiến đấu trong điều kiện tiểu đoàn đơn lẻ, không tập trung được nên hạn chế xác xuất tiêu diệt địch, dễ dàng bị tên lửa "Sơ rai", phản ra đa của địch, đánh phá chính xác. Ta phải chịu nhiều hy sinh, mất mát, nhưng anh em vẫn kiên cường bám trụ, tích cực đánh địch và đã đạt được kết quả nhất định. Tuy chưa có những trận thắng giòn giã, đánh rơi tại chỗ, nhưng đã từng bước uy hiếp và hạn chế được việc đánh phá của B-52 và AC-130, đẩy lùi từng bước hoạt động của chúng xuống phía Nam tuyến vận chuyển, tạo điều kiện cho các đợt vận chuyển đầu mùa khô vượt khẩu, đưa hàng vào Bắc – Nam đường 9 thêm thuận lợi. Bộ tư lệnh 559 đánh giá tốt và biểu dương khen thưởng thích đáng các đơn vị tên lửa.
       
        Sang tháng 1-1971 không quân địch tăng cường trinh sát đường 9 từ Khe Sanh đến Sê-pôn, B-52 hoạt động mạnh ở Nam, Bắc đường 9. Triệu chứng địch tấn công ra đường 9 Nam Lào ngày càng rõ rệt, Sư đoàn phòng không 367 được Bộ tư lệnh mặt trận đường 9 Nam Lào giao nhiệm vụ bảo vệ hậu phương chiến lược, trực tiếp với chiến dịch. Trung đoàn tên lửa 237, 238 được lệnh tiếp tục thọc sâu theo đường 12, 20 và đường 10 vượt sang Tây Trường Sơn để đánh B-52, AC-130, vừa đảm bảo giao thông vận chuyển vừa sẵn sàng bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành.
       
        Kết quả ngày 18-3-1971, tlều đoàn 69 thuộc Trung đoàn 237 tại trận địa Tà Păng phía Bắc đường 9 và Bản Đông đã giữ được bí mật, bất ngờ, kịp thời bắn rơi một chiếc B-52, yểm hộ đắc lực cho bộ binh, vào thời cơ then chốt của chiến dịch đường 9 Nam Lào, giải phóng Bản Đông.
       
        Sau này, vào tháng 3-1972, cũng trên tuyến vận chuyển chiến lược cửa khẩu 559, Tiểu đoàn 67 Trung đoàn 275 tên lửa của Sư đoàn 377 tại trận địa Máy húc 2, do nghiên cứu và chuẩn bị khá tốt, nên đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc AC-130, bảo đảm cho chiến dịch vận chuyển thực hành đợt "Tổng công kích" được thuận lợi, phục vụ cho chiến dịch Trị Thiên mở màn thắng lợi. Trên cửa khẩu các đơn vị tên lửa đã trả được món nợ với cấp trên là đã bắn rơi được 2 con "Át chủ bài" của không quân địch là B-52 và AC-130 vào thời cơ quyết định, góp phần của mình vào thắng lợi của các chiến dịch và vào trang lịch sử oai hùng của đường Trường Sơn huyền thoại. Hơn nữa, từ những kinh nghiệm thành công và thất bại của mình, cộng với kinh nghiệm chiến đấu của tên lửa trong chiến dịch Trị Thiên (3- 1972) đã rút ra được những bài học quý báu cho sự phát triển và trưởng thành của bộ đội tên lửa, nhất là góp phần nhất định vào thắng lợi vĩ đại của chiến dịch 12 ngày đêm mang tên "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:34:28 am
       
NHỮNG NĂM THÁNG TÔI LÀM CÔNG TÁC THAM MƯU
       
Thiếu tướng Phan Thái                       
Nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật       
       
        Tôi về làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 396, tổ chức huấn luyện chuyển binh chủng xong thì chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu... Tôi lại có quyết định chuyển về làm trưởng ban tác huấn Đoàn 367. Đây là lần đầu tiên tôi làm công tác tham mưu.
       
        Từ một anh lính bộ binh chuyển sang Binh chủng Cao xạ đã là một sự bỡ ngỡ khó khăn, nhưng tôi đã vượt qua, nắm bắt được kỹ thuật của thứ vũ khí mới này và tôi tin tưởng rằng với thứ vũ khí này, sẽ làm cho không quân của Pháp mất ưu thế. Vì từ trước tới lúc này, không quân Pháp có ưu thế tuyệt đối trên không. Bây giờ ta có cao xa pháo để trị máy bay đích, tinh thần bộ đôi sẽ lên rất cao... Và các sư đoàn bô binh của ta có thể chiến đấu ban ngày mở chiến dịch dài ngày hơn. Nhưng cái khó đối với tôi là chuyển về cơ quan tham mưu, một công tác mà trong 7 - 8 năm kháng chiến, tôi chưa hề đảm trách, nhất là công tác tham mưu ở binh chủng kỹ thuật chắc càng khó khăn hơn.
       
        Tôi bàn giao Tiểu đoàn 396 yêu quý của tôi cho anh Ngô Huy Biên làm tiểu đoàn trưởng mà trong lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò... và bỡ ngỡ

        Chưa kịp học hỏi tìm hiểu đối với công tác tham mưu, tham mẹo ra sao thì công tác chuẩn bị cho các đơn vị hành quân về tham dự chiến dịch Điện Biên Phủ đã cuốn hút cơ quan tham mưu lao theo, bản thân tôi cũng cùng anh em cơ quan tham mưu cuốn hút vào công việc, làm kế hoạch rồi tổ chức thực hiện, đôn đốc, theo dõi, phân công nắm tình hình, cứ như thế, hết đơn vị này hành quân rồi lại đến đơn vị khác hành quân trở về nước an toàn sau chặng đường 1.000km, kéo pháo vào rồi kéo pháo ra... thật là gian khổ, nhưng cũng rất hào hùng.
       
        Công tác tham mưu là như vậy! Chẳng ai dạy ai nhưng công việc cứ cuốn hút theo: Kế hoạch rồi lại tổ chức thực hiện. Qua đợt hành quân, tổ chức kéo pháo và chuẩn bị chiến đấu trước khi chiến dịch bắt đầu, cơ quan và cán bộ trong cơ quan trưởng thành lên rất nhiều, bản thân tôi hòa nhập với cơ quan rất nhanh và tự thấy mình trưởng thành cùng cơ quan, không cảm thấy bỡ ngỡ xa lạ như khi mới về.
       
        Theo phương châm mới: "Đánh chắc, tiến chắc", toàn mặt trận bước vào giai đoạn chuẩn bị với một quyết tâm mới, đảm bảo chắc thắng cho một chiến dịch dài ngày quy mô lớn!
       
        Theo kế hoạch này bộ phận tác chiến của chúng tôi phải chọn trận địa pháo cao xạ bố trí trên hai hướng: Hướng Đông Bắc, bố trí Tiểu đoàn 383 ở cánh đồng Na Lời, Quang Tum. Hướng Bắc bố trí Tiểu đoàn 394 ở cánh đồng Bản Tấu, Nà Hi. Sở chỉ huy Đoàn 367 đặt trên cao điểm 630, gần phía trận địa của Tiểu đoàn 383.
       
        Công tác tham mưu lúc này rất vất vả trong việc tìm trận địa, vì ở Điện Biên Phủ bốn bề là núi cao, nên tìm mãi mà không có trận địa nào phù hợp với những điều kiện như lý thuyết  đã được học: Trận địa pháo cao xạ phải tương đối bằng phẳng, không có góc che khuất v.v thực tế là phải căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu và đặc điểm địa hình để chọn trận địa cho phù hợp với thực tiễn... Cuối cùng trước ngày chiến dịch nổ súng, hệ thống trận địa của hai tiểu đoàn cao xạ đã được bố trí xong, cùng với chỉ huy sở Đoàn 367 và đài quan sát.

        Các cán bộ tham mưu tác chiến được phân công bố trí trực ban 24/24 giờ trong chỉ huy sở, một số được phân công trực tiếp xuống trận địa đại đội để kiểm tra công tác chuẩn bị xạ - kích, ngụy trang và sẵn sàng chiến đấu.
       
        Sau này, trong quá trình chiến dịch diễn ra tôi và anh em tham mưu tuy số người chỉ có mấy người, ngoài tôi còn có anh Mạnh Đàn, Trần Liên, Sơn, La Hiên, Hùng, Tế v.v... đã làm rất tốt công tác tham mưu chiến dịch, giúp đỡ đắc lực cho công tác chỉ huy của Đoàn... ai cũng cảm thấy mình trưởng thành nhanh chóng cùng với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, thắng lợi hoàn toàn, tôi lại được phân công làm trưởng ban Tổng kết chiến dịch đối với tác chiến của cao xạ pháo. Bản tổng kết này đến kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ tôi còn tìm thấy một bản duy nhất đánh máy bằng máy Remington không có dấu và in bằng thứ giấy bản mua ở chợ Nước Hai Cao Bằng lưu trữ ở thư viện Quân đội mang số: 22998, tôi xin phép thư viện Quân đội được phô tô một bản để tặng lại Quân chủng Phòng không - Không quân, vì tôi đã mất rất nhiều thời gian để tìm nó ở Quân chủng mà chẳng bao giờ tìm thấy.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:36:01 am
        Ban tổng kết gồm có tôi và một số các đồng chí tham mưu trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ như Trần Liên, Hoàng Hiên, Ng Sơn, Hùng... Ban Tổng kết có thuận lợi là đã cùng nhau tham dự chiến dịch, những tài liệu là do anh em tự lưu lại nhật ký tại chỉ huy sở nên rất cụ thể và chính xác. Hai tiểu đoàn 383, 394 trực tiếp chiến đấu cũng đã có bản sơ kết gửi lên, nên chúng tôi phân công nhau, ngày đêm đọc và viết nên chỉ sau 1 tháng là Ban báo cáo tổng kết đã có hơn 100 trang báo cáo với Ban chỉ huy Đoàn 367. Theo chỉ đạo của đồng chí Đoàn Phụng báo cáo phải nói cả ưu điểm lẫn khuyết điểm, nhất là vấn đề tư tưởng... dao động sợ chết... khi phải đối đầu trực tiếp với không quân địch và phải nêu những gương chiến đấu dũng cảm. Đồng chí Lê Văn Tri thì nói cần bổ sung về vấn đề vận dụng chiến thuật, những ấu trĩ lúc đầu và những trưởng thành trong quá trình chiến dịch. Vì lúc này chiến tranh chưa kết thúc cần phải làm tổng kết gấp, tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm ngay để sau đó phối thuộc một số các tiểu đoàn vào các sư đoàn bộ binh 304, 308, 312, 320 chuẩn bị cho các chiến dịch tiếp theo... nhưng sau đó thì chiến tranh kết thúc, một nửa đất nước được giải phóng...
       
        Những năm kháng chiến chống Pháp làm cán bộ đại đội rồi làm cán bộ tiểu đoàn, tôi không nghĩ mình sẽ là cán bộ tham mưu, một công tác mà tôi không quen và cũng không mấy ưa thích, cảm giác lúc đầu, nhưng từ khi về Đoàn 367 được giao nhiệm vu này và cho đến khi tôi nghỉ hưu có tới 40 năm liên tục tôi đảm nhận công tác tham mưu tai cơ quan chiến thuật, chiến dịch rồi đến cơ quan tham mưu chiến lược là Tổng cục Kỹ thuật tôi vẫn làm với nhiệt tình cháy bỏng và có hiệu lực. Quả thức công tác tham mưu là công tác rất hấp dẫn, đã làm quen rồi thì chẳng khác gì như nghiện thuốc lào... Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên. Có lẽ ở đây tôi đã gặp những người thầy và những người bạn đáng kính, đáng mến như anh Nguyễn Quang Bích, tôi và ông cũng có những kỷ niệm nho nhỏ.
       
        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lúc 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954 khi lá cờ quyết chiến quyết thắng của Quân đội ta phất cao trên hầm Đờ-cát-tơ-ri, ngay chiều hôm đó, đồng chí Đoàn Phụng, Nguyễn Quang Bích, tôi và đồng chí Tân Thông tin tổ chức thâm nhập trung tâm Điện Biên Phủ; khi vào hầm Đờ-cát-tơ-ri thấy có 2 khẩu súng ngắn đẹp quá, tôi và anh Bích liền bỏ 2 khẩu ra đổi làm kỷ niệm, chúng tôi đã cất vào bao súng của mình rồi nhưng nghĩ thế nào ông lại trả lại và đương nhiên tôi cũng phải làm theo! Ông là một người như vậy đó! Và sau này suốt thời gian công tác ở Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân ông là người động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác, không phải riêng tôi mà hình như tất cả các anh em khác cũng đều nhận được sự chăm sóc của ông như vậy, có thể nói ông là người mẫu mực để chúng tôi noi theo và kính mến ông!
       
        Cơ quan tham mưu do ông trực tiếp xây dựng đã trở thành một cơ quan nền nếp có tác phong khẩn trương luôn đáp ứng với tình hình tác chiến nóng bỏng trên không, vì đối tượng tác chiến là không quân địch, có tốc độ rất nhanh, nhất là những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Sai một ly đi một dặm nên bộ đội Phòng không - Không quân nói chung và cán bộ tham mưu trong chỉ huy sở nói riêng luôn phải trực ban nghiêm túc... trong thời bình rồi cũng vậy, giữa Thủ đô náo nhiệt, nhưng bộ đội Phòng không vẫn phải luôn trực chiến ngày đêm, như vậy là hy sinh tình cảm lớn lắm đấy! Anh em thường an ủi nhau, bộ đội Phòng không mà lại!
       
        Sau anh Nguyễn Quang Bích là vị tham mưu trưởng đáng kính ra, còn có anh Lê Huy Vinh làm tham mưu trưởng được anh em cảm phục và quý trọng, anh Vinh có tác phong sâu sát đơn vị, sâu sát anh em trong cơ quan nhất là bộ phận trực ban tác chiến.
       
        Anh Nguyễn Quang Bích là sáng lập viên Ban lien lạc bạn chiến đấu Đoàn B67 và đến hiện nay anh vẫn làm trưởng ban và vừa rồi thành lập Ban liên lạc pháo phòng không, anh Bích được tôn vinh làm trưởng ban. Dạo này sức khỏe anh Bích có giảm sút nhưng anh vẫn hăng hái nhận nhiệm vụ này. Anh Lê Huy Vinh cũng vậy anh đã nhiều năm làm trưởng ban bạn chiến đấu Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân. Có thể nói rằng do có các anh chủ trì nên Ban liên lạc có uy tín, anh em về họp đông vui, tình nghĩa, những người lính cao xạ từ 50 năm về trước khi gặp nhau sao mà thắm thiết... anh em cán bộ tham mưu qua chiến tranh ác liệt gian khổ vẫn rất tự hào vì cơ quan tham mưu có thâm niên lịch sử hào hùng.
       
        Riêng tôi tuy đã xa Quân chủng lâu rồi nhưng chẳng năm nào tôi bỏ qua các buổi họp mặt Ban chiến đấu Đoàn 367 và Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân, những người đã cùng tôi chiến đấu thực sự trong hai cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc ta.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:45:44 am
       
MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐÁNH MÁY BAY MỸ
BẢO VỆ HÀ NỘI TRONG CHIẾN TRANH
PHÁ HOẠI MIỀN BẮC NĂM 1967
       
Thiếu tướng Ngô Huy Biên                   
Nguyên Trưởng phòng tác chiến Quân chủng       
       
        Từ ngày 5-8-1964 tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 218 Quân chủng Phòng không - Không quân kiêm cụm trưởng cụm phòng không bảo vệ sân bay Nội Bài gồm: Trung đoàn 218 pháo 85; trung đoàn 228 pháo 57; 4 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 và 1 đại đội pháo tự hành 57.
       
        Đến tháng 5-1965, tôi được Bộ tư lệnh Quân chủng điều về làm trưởng phòng Tác chiến trong Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân.
       
        Thời gian này chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã mở rộng ra toàn miền Bắc (trừ Thủ đô Hà Nội). Nhiệm vụ của Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân rất nặng nề, vừa phải tham mưu cho Bộ tư lệnh Quân chủng xây dựng lực lượng nhất là lực lượng tên lửa phòng không và không quân mới phát triển, vừa phải nghiên cứu nắm rộng quy luật hoạt động của không quân địch, chỉ đạo tác chiến bảo vệ các tuyến giao thông đường 1 Bắc; đường số 5; đường 1 Nam và hoàn chỉnh kế hoạch bảo vệ Hà Nội khi chúng xâm phạm.
       
        Đến đầu năm 1967, đế quốc Mỹ đã leo đến nấc thang cao nhất là mở các đợt hoạt động trực tiếp ném bom đánh phá vào các mục tiêu quan trọng trong Hà Nội như sân bay Nội Bài, kho xăng Đức Giang, cầu Long Biên, nhà ga, nhà máy điện Hà Nội v.v...
       
        Để đánh bại các đợt đánh phá vào Hà Nội của không quân địch, Bộ Tham mưu Phòng không – Không quân mà trực tiếp là phòng Tác chiến, phòng Quân báo, phòng Thông tin, phòng Ra đa phải liên kết với nhau đề xuất các phương án bảo vệ các mục tiêu quan trọng của Hà Nội. Đất nước ta dài mà hẹp, từ hướng biển Đông hoặc hướng Tây chỉ cần vài phút là máy bay địch đã có thể bay tới Hà Nội. Để không bị bất ngờ khi không quân địch xâm phạm Hà Nội, vấn đề trước tiên là phải nắm vững các đường bay bay tới của địch, phòng Tác chiến đã phải kết hợp rất chặt chẽ với phòng Quân báo, Thông tin, Ra đa để bố trí một hệ thống trinh sát từ xa và đặt các đài quan sát mắt ở những địa điểm mà máy bay địch thường lấy làm địa tiêu để bay vào Hà Nội. Máy bay địch bay trên không tưởng chừng chúng muốn bay đường nào cũng được, nhưng không, chúng vẫn phải dựa theo những địa hình địa vật ở dưới đất làm địa tiêu và để hạn chế lực lượng bố trí của ta và phát hiện chúng.
       
        Sau một thời gian nghiên cứu đã xác định được những đường bay có tính quy luật của địch. Nếu từ hướng biển Đông đột nhập, chúng thường bay vào Thanh Hóa, qua dãy Tam Điệp đến Tuyên Quang, Việt Trì bay dọc theo đỉnh dãy Tam Đảo từ hướng Bắc đánh vào Hà Nội, hoặc qua cửa sông Đáy hay cửa Bà Lạt bay vào Hà Nội. Có lúc chúng bay tới vịnh Hạ Long, rồi theo đường 18 bay trên đỉnh dãy núi Yên Tử qua Bắc Giang, Bắc Ninh vào Hà Nội.
       
        Nếu từ hướng Thái Lan sang, chúng thường bay qua vùng Thượng Lào, qua miền Tây Thanh Hóa vào Hòa Bình, vượt qua dãy núi Ba Vì vào hướng Tây Hà Nội.
       
        Trên cơ sở nghiên cứu quy luật đột nhập của địch, ta đã bố trí hệ thống ra đa bắt mục tiêu từ xa trên các hướng và một hệ thống đài quan sát mắt và nghe tiếng động cơ tại các địa điểm mà máy bay địch thường bay qua, kịp thời báo cáo bằng vô tuyến điện về sở chỉ huy để ta chủ động vào cấp một.
       
        Trên từng mục tiêu cụ thể, cũng phải nghiên cứu thật cụ thể hướng bay vào đánh phá mục tiêu của địch để bố trí lực lượng cho phù hợp, nhất là lực lượng cao xạ pháo thường phải ôm sát mục tiêu bảo vệ. Ví như để bảo vệ Nhà máy điện Hà Nội, ta đã nghiên cứu và tìm ra được hướng đột nhập và đánh phá của địch nên ta đã bố trí lực lượng pháo cao xạ trực tiếp ôm sát mục tiêu kết hợp với lực lượng không quân và TLPK đánh địch từ xa rất sát hợp nên đã vừa bắn rơi được máy bay địch, vừa bảo vệ được mục tiêu. Căn cứ theo địa hình địa vật quanh Nhà máy điện Hà Nội, cơ quan tham mưu đã đề nghị BTL Quân chủng cho máy bay ta bay thử trên các hướng để có thể phát hiện được nhà máy từ xa. Nếu từ hướng Đông bay tới với độ cao bay là 4000m thì phát hiện mục tiêu rất khó vì bị hàng cây trên đường Yên Phụ che khuất. Nếu từ hướng Tây bay tới thì sau khi bay vượt qua dãy núi Ba Vì là đã có thể phát hiện được Nhà máy điện Yên Phụ từ xa vì hướng Tây là cả mặt nước Hồ Tây rộng lớn không có gì che khuất. Trên cơ sở đó ta đã bố trí lực lượng pháo cao xạ nhiều về hướng Tây như trận địa Nhật Tân; trận địa nổi pháo 37 trên Hồ Tây, đặc biệt là trận địa chốt pháo 57 trên khu nhà Bát Giác (phá đi, nay là trạm khách số 1 Trấn Vũ) bắn rất có hiệu quả.
       
        Cách nghiên cứu và bố trí như vậy nên đã có lần, khi có báo động ta đã chủ động lên đài quan sát xem quân ta bắn hạ máy bay địch khi chúng vào đánh Nhà máy điện Hà Nội v.v...
       
        Không quân Mỹ nhiều và mạnh. Chúng tưởng chừng có thể làm mưa làm gió trên vùng trời miền Bắc nước ta, đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá, nhưng cả hai lần dùng không quân đánh phá miền Bắc chúng đã thảm hại do vấp phải sức chống trả quyết hệt của quân dân ta, với trí thông minh và lòng dũng cảm, ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, kết hợp chặt chẽ lực lượng 3 thứ quân với các binh chủng của Phòng không - Không quân và có một Bộ Tham mưu rất sáng suoost và cần mẫn giúp Bộ Tư lệnh Quân chủng lãnh đạo chỉ huy các lực lượng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc đánh bại một lực lượng không quân nhà nghề của đế quốc Mỹ mà chúng cho là hùng mạnh nhất thế giới.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:47:21 am
        
NHỮNG THÁNG NGÀY NHỚ MÃI
       
Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh        
Nguyên cục phó Cục Tác chiến         
       
        Tháng 8 năm 1967  tôi được đề bạt từ tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 64 Trung đoàn 236 lên làm phó phòng Tác chiến - Bộ Tham mưu Quân chủng. Theo ý kiến cấp trên, anh Ngô Huy Biên, trưởng phòng phân công tôi theo dõi về hoạt động tác chiến của bộ đội tên lửa. Các anh thủ trưởng phòng Tâm Trinh, Trần Bưởi, Đặng Trình, Hà Chấp, Trần Liên và các cán bộ Bách, Đỉnh, Hùng, Phong... hết lòng giúp đỡ tôi. Sớm ngày đến tận khuya cả phòng vào làm việc tại sở chỉ huy ở trong hang Trầm, đêm về xóm núi ngủ nhờ ở nhà bà Rô. Thỉnh thoảng được về họp ở sở chỉ huy cơ bản Bạch Mai, hoặc xuống đơn vị.
        
        Bộ Tham mưu là một tập thể mạnh, làm việc hết mình, sống vui chan hòa. Tôi đã được nghe bài vè:
        
        "Tiền ông Bách
        Sách ông Khuê..."

        
        Tôi đã được gặp các ông Bách, Khuê thì quả đúng vậy làm việc rất hiệu quả.
        
        Vào những tháng cuối năm 1967, toàn phòng bận tíu tít vừa giúp Bộ tư lệnh xử trí tình huống phức tạp hàng giờ hàng phút, vừa dự thảo, đề đạt cấp trên cách đánh "tiêu diệt lớn" của bộ đội Phòng không – Không quân. Một số vấn đề thuộc phạm trù "chiến dịch phòng không", rất mới rất khó, đã được hình thành từ đây, làm tiền đề cho lý luận và thực tiễn chiến dịch phòng không cuối 1972.
        
        Một lần tôi được theo anh Tâm Trinh leo lên đỉnh cao của dãy núi Tam Đảo (đỉnh cao nhất 1.592m) thăm và làm việc với trạm ra đa - quan sát mắt ở đây. Cả đơn vị chịu ăn thiếu, mặc rét, xuyên rừng lên dốc xuống khe giữ máy, giữ gạo và thực phẩm khô, giữ nước sinh hoạt, để suốt ngày đêm theo dõi máy bay địch, báo cáo về tổng trạm nhanh, xa, chuẩn, đủ, không hề sai, sót, lọt, chậm. Tôi thật sự khâm phục thành tích thầm lặng của đơn vị ra đa trên đỉnh Tam Đảo.
        
        Khi tôi đến nhận công tác ở Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu (sau 4 tháng là quân số của phòng Tác chiến Quân chủng), tôi và các anh em khác đều luôn được sự ủng hộ, phối hợp nhịp nhàng của Bộ Tham mưu Quân chủng mà điển hình tuyệt đẹp là trận quyết chiến chiến lược đánh thắng B-52 cuối năm 1972. Tôi xin nhắc lại một sự kiện: Để tổ chức thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị là phải xác minh ngay tin B-52 đã bị bắn rơi tại chỗ, Cục Tác chiến phối hợp với Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân ngay trong đêm 18 tháng 12 năm 1972 thống nhất một kế hoạch được Bộ và Quân chủng duyệt. Tờ mờ sáng ngày 19 tháng 12 một máy bay lên thẳng Mi-8 chờ sẵn ở Bạch Mai chở 4 người: Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Lê Văn Tri, trợ lý Cục Tác chiến Nguyễn Văn Ninh, trưởng phòng Quân báo Quân chủng Lê Tư, bay đến Phủ Lỗ, Đông Anh... đậu xuống đám ruộng có xác chiếc B-52 đầu tiên bị bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam bắn rơi. Trong chốc lát máy bay cất cánh trở về kịp cho đồng chí Phùng Thế Tài bước vào phòng làm việc của Quân ủy Trung ương. Nơi đây Bộ Chính trị họp chờ nghe báo cáo.
        
        Tấm ảnh do Xưởng phim Quân đội ta ghi được này thật là một tư liệu lịch sử quý giá, đặc biệt đối với tham mưu chiến lược và chiến dịch.
        
        Năm tháng qua đi, xóa nhòa nhiều sự việc, nhưng với tôi những tháng ngày thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân không bao giờ quên mà nhớ mãi.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:01:24 am
       
NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY ĐẦU VỀ
BỘ THAM MƯU QUÂN CHỦNG
PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
       
Trung tướng Phan Thu                     
Nguyên cán bộ Bộ Tham mưu Quân chủng       
       
        Trong kháng chiến chống Pháp tôi ở Binh chủng Pháo binh, sau chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được điều về Phòng không, được làm việc và tham gia chiến đấu ở đó cho đến năm 1979. Tôi được về nghỉ hưu năm 1997; trong 47 năm binh nghiệp thì 25 năm tôi ở bộ đội PK và Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó tôi đã có 18 năm phục vụ tại Bộ Tham mưu của Quân chủng. Những năm tháng ở Bộ Tham mưu Quân chủng dưới sự chỉ của các Tham mưu trưởng Hoàng Ngọc Diêu, Nguyễn Quang Bích, Hoàng Văn Khánh... đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Phòng Huấn luyện, Phòng Khoa học quân sự rồi sau đó là Phòng Quân báo là những nơi mà tôi được trưởng thành qua nhiều đời trưởng phòng như các đồng chí Dương Hán, Quốc Dương, Trịnh Duy Hậu, Lê Tư, Đỗ Phúc... đã để lại trong tôi nhiều điều khó quên. Chức vụ đầu tiên tôi được giao ở Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân là trợ lý ra đa thuộc Ban Huấn luyện, sau đó là Phòng Huấn luyện. Nhiệm vụ của tôi là tổ chức và quản lý công tác huấn luyện ra đa trong toàn Quân chủng. Nhưng để đáp ứng được yêu cầu của chiến đấu, chúng tôi phải nghiên cứu các thủ đoạn chiến, kỹ thuật của Mỹ và cách đối phó lại các thủ đoạn đó, mà trong đó trọng điểm là các thủ đoạn gây nhiễu ra đa và sử dụng tên lửa Shrike (loại tên lửa bám theo cánh song ra đa ta của Mỹ). Để thực hiện được nhiệm vụ này, chúng tôi phải bám sát chiến đấu tại các đài ra đa và đài điều khiển tên lửa PK, chụp ảnh và nghiên cứu bản chất các dạng nhiễu cùng cách đối phó của ta để chống nhiễu, cũng như nghiên cứu những đề tài cải tiến ra đa góp phần chống nhiễu cho ra đa, tên lửa.
       
        Nhớ lại những ngày đầu về với Quân chủng Phòng không mở ra từ việc tham dự lớp chuyển binh chủng pháo Phòng không cỡ trung 88mm mà trực tiếp là loại ra đa pháo RZ-2, tôi muốn kể lại những ngày lịch sử đáng nhớ đó:
       
        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Trung đoàn 367 với 6 tiểu đoàn cao xạ 37mm bất ngờ xuất hiện, đã gây kinh hoàng cho lực lượng không quân của thực dân Pháp, phối hợp với hỏa lực của pháo binh khống chế sân bay, khiến máy bay của Pháp vô cùng hoảng sợ và góp phần tích cực vào thắng lợi của chiến dịch quan trọng này, quyết định sự cáo chung chiến tranh xâm lược nước ta của thực dân Pháp.
       
        Toàn miền Bắc được giải phóng, đòi hỏi phải bảo vệ không phận của Tổ quốc ở nhiều tầng cao khác nhau, nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng... Bộ Tổng tư lệnh đã sớm thấy yêu cầu này nên ngay từ khi chưa tiếp quản Hà Nội, Bộ đã có kế hoạch xây dựng lực lượng Phòng không quốc gia.
       
        Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, với sự giúp đỡ của Liên Xô, chúng ta được tiếp nhận một loại pháo Phòng không tầm trung cỡ 88mm. Số vũ khí này, do Đức quốc xã sản xuất, là chiến lợi phẩm chiến tranh mà Liên Xô đã thu được khi tiến quân vào giải phóng Berlin. Liên Xô đã giao cho ta loại vũ khí đó qua đường Trung Quốc, kể cả việc đào tạo đội ngũ cán bộ. Lớp học đào tạo cán bộ được tổ chức tại Trường Pháo binh của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc ở Thành phố Thẩm Dương.
       
        Vào mùa thu năm 1954, hàng trăm cán bộ từ cấp trung đoàn đến cấp trung đội được tuyển chọn trong toàn quân để đi học. Tôi và nhiều đồng chí khác cũng được vinh dự điều động từ Pháo binh, từ trường Lục quân về để được chuyển loại binh chủng. Chính số cán bộ này cùng với cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn cao xạ 367 đã từng lập công tại chiến dịch Điện Biên Phủ, sau này đã trở thành lực lượng nòng cốt góp phần cho sự phát triển của Quân chủng Phòng không - Không quân.
       
        Tôi nhớ rất rõ nhiều cán bộ trung đoàn bộ binh, pháo binh... với bộ quân phục còn chưa rũ hết khói bụi từ Chiến trường Điện Biên Phủ và từ nhiều chiến trường khác đã được điều động về để tham gia xây dựng bộ đội Phòng không quốc gia, như đồng chí Nguyễn Quang Tuyển sau này là trung đoàn trưởng đầu tiên của bộ đội tên lửa; đồng chí Đào Sơn Tây là trưởng phòng cao xạ đầu tiên của bộ đội Phòng không; đồng chí Dương Hán sau này là sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 367, rồi là Tham mưu phó quân chủng Phòng không - Không quân; đồng chí Nguyễn Cận sau này là trung đoàn trưởng Trung đoàn phòng không 250 (thời kỳ mà Trung đoàn 250 được trang bị pháo phòng không 88mm) v.v...


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:02:42 am
        Để chuẩn bị cho lớp học, tôi được cử hướng dẫn ôn tập một số kiến thức văn hóa để cán bộ có điều kiện tiếp thu các bài giảng về kỹ thuật của phòng không. Nhìn các đồng chí đã luống tuổi cặm cụi học, mồ hôi nhễ nhại, tìm hiểu các công thức lượng giác, các định luật của điện học... tôi vô cùng thán phục các đồng chí đó; trước đánh giặc đã giỏi nay được Quân đội giao cho học tập để làm chủ các phương tiện chiến tranh hiện đại vì sự nghiệp mới của đất nước, các đồng chí đó đã không quản vất vả, gian nan vượt qua vô vàn khó khăn để hiểu được các bài giảng.
       
        Pháo phòng không cỡ 88mm là loại pháo phòng không có trang bị khí tài điều khiển bắn, gồm máy chỉ huy và ra đa. Tổ chức học tập được chia làm 2 lớp: Lớp học về chỉ huy, về pháo và kỹ thuật bắn có hàng trăm cán bộ và lớp học về khí tài có 36 cán bộ. Riêng lớp học về khí tài, được chọn từ các đồng chí có trình độ văn hóa tương đối hơn, trong đó có 18 đồng chí học ra đa và 18 đồng chí học máy chỉ huy. Tôi được phân công học về ra đa và trực tiếp phụ trách chung lớp học về khí tài.
       
        Loại ra đa mà chúng tôi được đào tạo có tên là ra đa RZ-2 là loại ra đa pháo cao xạ mà quân đội Đức đã sử dụng trong đại chiến thế giới lần thứ 2 và cũng đã phát huy góp phần bắn rơi nhiều máy bay của quân đồng minh, bảo vệ bầu trời Berlin. Mười tám cán bộ được phân công học ra đa đều là những cán bộ sơ cấp, những người đầu tiên trong Quân đội ta được tiếp xúc với kỹ thuật ra đa. Chuyên gia Liên Xô của trường Pháo binh Thẩm Dương là người truyền đạt những kiến thức ra đa cho chúng tôi, thông qua 2 thầy người Trung Quốc là thầy Quách Bác Từ và thầy Lưu Hoa Huân. Lớp học được tổ chức khoảng 6 - 7 tháng (9/1954 - 3/1955).
       
        Sau khi kết thúc lớp học tại Thẩm Dương, tất cả chúng tôi cả pháo vả khí tài đều về nước, tiếp nhận vũ khí và được cấp trên điều động thêm quân số về đủ cho 3 trung đoàn phòng không để tổ chức chuyển binh chủng tại Vai Cày thuộc tỉnh Thái Nguyên do đồng chí Lê Văn Tri là người chỉ huy chung. Riêng lớp chuyển binh chủng ra đa phải tổ chức tại sân bay Bạch Mai thành phố Hà Nội để lợi dụng mạng điện thành phố và có máy bay để luyện tập. Nhóm cán bộ người Việt Nam được đi học ở Trung Quốc phải làm giáo viên cho lớp học chuyển binh chủng do tôi được phân công làm tổ trưởng giáo viên. Thầy Lưu Hoa Huân, người Trung Quốc được cử sang làm chuyên gia cho lớp học. Đồng chí Cao Phong và đồng chí Hoàng Văn Ngữ được điều về lãnh đạo lớp học. Học sinh lớp ra đa này gồm các cán bộ chiến sĩ lấy các sư đoàn bộ binh 304, 308 và từ nhiều đơn vị khác trong toàn quân, có trình độ văn hóa cao của Quân đội lúc bấy giờ, chọn mãi được 63 đồng chí. Đây là lớp ra đa đầu tiên của lực lượng phòng không và cũng là lớp ra đa đầu tiên của Quân đội ta được tổ chức tại Việt Nam. Lớp học khai giảng ngày 5/5/1955 và kết thúc ngày 15/9/1955.
       
        Trong lớp chuyển binh chủng này, có mấy sự việc mà chúng tôi nhớ mãi:
       
        1 - Do phải giữ bí mật về vũ khí trang bị và thành phố Hà Nội mới được giải phóng, chúng tôi chưa hề được cấp kinh phí cho việc chuẩn bị huấn luyện nên đã phải tự đi thu các dây điện bao quanh tường sân bay Bạch Mai, chôn cột điện, kẻo đường điện 3 pha vào 3 chiếc ra đa được đặt tại 3 vị trí khác nhau bên cạnh đường băng sân bay. Ra đa sau khi triển khai, đã được che kín xung quanh cho từng ra đa bằng cót như các vựa thóc khổng lồ, mọc lên giữa bãi rộng. Những công việc trên, chúng tôi không thuê ai và tốn rất ít tiền.
       
        2 - Do khí hậu nước ta nóng ẩm, các bộ phận chỉnh dòng của ra đa RZ-2 hầu hết đều dùng bán dẫn và đặt rất khít nhau trong các khối máy nên thường bị đánh lửa, dẫn đến điện bị chập mạch, nhất là các mạch điện cao thế, nên các ra đa đều không làm việc được. Thầy Lưu Hoa Huân đang rất lúng túng để xử lý tình hình này thì chúng tôi đã tìm cách tháo rời, kê đệm các bộ phận chỉnh dòng cao thế ra ngoài khối máy mới bảo đảm máy làm việc ổn định, bình thường. Trong thời gian này, đây quả thật là một công việc khó khăn khi mà kỹ thuật ra đa, siêu cao tần còn rất mới mẻ đối với nước ta.
       
        3 - Tôi không nhớ thời gian cụ thể, nhưng khoảng vào tháng 7/1955, lớp học chúng tôi được vinh dự đón Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến thăm. Cùng đi với Đại tướng có đồng chí Tạ Quang Bửu và còn có một cô con gái của Đại tướng tên là Võ Hồng Anh hồi đó còn rất nhỏ đi theo bám tay Đại tướng. Sau này tôi được biết Võ Hồng Anh là một trong hai người phụ nữ Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:03:59 am
        Tôi được phân công giới thiệu máy ra đa cho Đại tướng. Sau phần nói về tính năng chiến kỹ thuật của ra đa RZ-2, tôi định nói tiếp về nguyên lý làm việc thì đồng chí Tạ Quang Bửu đã giải thích luôn rất trôi chảy về nguyên lý làm việc của ra đa, những điểm khác nhau của ra đa và các loại máy thu phát thông tin thông thường; đồng chí Tạ Quang Bưu đúng là một nhà khoa học uyên bác, chúng tôi nhìn đồng chí đó với con mắt rất thán phục. Cuối cùng, tôi có trình bày với Đại tướng về tình hình ảnh hưởng của khí hậu nước ta đến chế độ làm việc của ra đa. Đại tướng nhắc nhở chúng tôi: "Phải chịu khó học tập để làm chủ các loại vũ khí trang bị hiện đại, biết cách sử dụng phù hợp với con người và điều kiện khí hậu nước ta; rồi đây, chúng ta còn sẽ được trang bị nhiều thứ hiện đại hơn thế này". Lời nói đó của Đại tướng đã thành hiện thực, chỉ vài năm sau Binh chủng Ra đa ra đời, một binh chủng kỹ thuật rất quan trọng của Quân chủng Phòng không - Không quân làm nhiệm vụ canh giữ rừng chắc bầu trời của Tổ quốc.
       
        4 - Chuẩn bị kỷ niệm 10 năm ngày Quốc khánh nước ta, bộ đội kẻo về sân bay Bạch Mai rất đông để luyện tập duyệt binh. Việc giữ bí mật và che chắn ra đa càng khó khăn, nhưng sân bay lại trở nên nhộn nhịp làm lính ra đa chúng tôi đỡ buồn vì chúng tôi rất ít được ra ngoài, tuy phố phường Hà Nội sau ngày giải phóng vô cùng tấp nập, luôn hấp dẫn chúng tôi. Ngày 2/9/1955 đến, một việc mà bây giờ nghĩ lại, chúng tôi cảm thấy ấu trĩ, nhưng hồi đó chúng tôi rất tự hào, với 3 chiếc ra đa RZ-2, chúng tôi được giao nhiệm vụ mở máy cảnh giới bầu trời bảo vệ cho cuộc mít tinh và duyệt binh ở Quảng trường Ba Đình, tuy loại ra đa này chỉ quan sát được phạm vi 42km. Nhưng dù sao, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, chúng ta cũng chưa có một phương tiện nào để cảnh giới trên không một cự ly xa như vậy.
       
        Thời gian đó, chúng tôi chưa hiểu thế nào là nhiễu điện tử đối với ra đa và khi chúng tôi luyện tập bắt mục tiêu thường rất dễ dàng, tín hiệu phản xạ của máy bay được nổi lên màn hình "Trong xanh củ lạc", không một gợn nhiễu nào, chỉ có nhiễu tiêu cực của phản xạ địa vật mà thôi.
       
        Một thời đã qua, cái thời mà ra đa RZ-2, loại ra đa đầu tiên của Quân đội ta, chỉ có khả năng bám sát mục tiêu bằng tay qua phương pháp bán tự động, nhưng chính phương pháp bám sát này đã là nguồn khêu gợi chúng tôi có những đề tài cải tiến cho các loại ra đa hiện đại hơn sau này như ra đa COH-9A, COH-4 do Liên Xô chế tạo để bắt mục tiêu bay thấp và chống nhiễu xung trả lời cho ra đa, đã góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Việc đó nhắc nhở chúng ta một điều là không nên coi thường cái thô sơ, cái mà kẻ địch không ngờ tới, có thể là cái có khả năng đối phó có hiệu quả cái hiện đại hơn của địch. Ngày nay, được tiếp cận với các loại ra đa, pháo Phòng không, tên lửa phòng không hiện đại hơn nhiều, chúng tôi không bao giờ quên cái buổi ban đầu làm chủ loại ra đa RZ-2, cũng như làm chủ loại pháo phòng không tầm trung 88mm, bước quá độ của lịch sử trang bị cho Quân đội ta. Các cán bộ chiến sĩ của ra đa RZ-2 có tổng cộng đến gần 100 người, sau này được điều động tham gia xây dựng nhiều chủng loại ra đa khác hoặc trở thành cán bộ chỉ huy, cán bộ quản lý các cấp từ cấp trung đoàn, sư đoàn, quân chủng, Bộ Quốc phòng. Tôi không bao giờ quên các đồng chí như đồng chí Nguyễn Việt Hải làm tiểu đoàn trưởng, rồi trung đoàn trưởng tên lửa; đồng chí Nguyễn Cường Sơn làm đại đội trưởng, rồi trung đoàn trưởng ra đa; đồng chí Vũ Ngọc Diệp làm tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, sư đoàn trưởng rồi phó tư lệnh, tham mưu trưởng Quân chủng; đồng chí Bùi Biếng - Trung đoàn trưởng pháo phòng không rồi Cục trưởng Cục Hậu cần; các đồng chí Nguyễn Văn Giáp, Đào Khánh làm trung đoàn trưởng rồi Phó tư lệnh Binh chủng ra đa... Nhiều đồng chí khác được quân đội bố trí lâu dài đi sâu vào kỹ thuật ra đa như các đồng chí Nguyễn Ngọc Linh, Hoàng Thế Kỳ, Hoàng Văn Khoa, Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Thanh Loan, Phạm Văn Viễn v.v... đã trở thành những chuyên gia ra đa giỏi của Quân chủng Phòng không - Không quân đứng vững ở các vị trí làm giáo viên Trường Phòng không, cán bộ nghiên cứu khoa học ở viện phòng không, cán bộ kỹ thuật của các trung đoàn, sư đoàn phòng không.
       
        Tất cả họ đều đã xứng đáng và không hổ thẹn là những người đầu tiên góp phần đặt nền móng cho ngành Ra đa của Quân chủng và là những người có đóng góp quan trọng cho việc xây dựng và phát triển của Quân chủng.
       
        Hôm nay, khi đã cập kè ở tuổi 80, được ôn lại một chặng đường của sự nghiệp quân sự của mình, bồi hồi nhớ lại các bạn bè đồng chí đã đi cùng mình trong chặng đường đó, hiện nay có người còn, có người đã mất mà lòng tôi cảm nhận niềm vui xen lẫn nỗi buồn trong muôn vàn kỷ niệm không bao giờ quên.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:31:57 pm
       
NHỮNG NGÀY Ở SỞ CHỈ HUY TIỀN PHƯƠNG
QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
TRONG CHIẾN DỊCH TRỊ - THIÊN NĂM 1972
       
Thiếu tướng Lê Huy Vinh                   
Nguyên Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng       
Quân chủng Phòng không - Không quân       
       
        Vào khoảng tháng 12 năm 1971, tôi đang công tác ở Sư đoàn phòng không 361 thì nhận được điện của Cục Chính trị, bảo đến 7 giờ tối lên gặp Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ, đúng giờ trên tôi có mặt, gặp anh Cao Xuân Việt Trưởng phòng Cán bộ, người Hương Khê, nói giọng Nghi Lộc đưa tôi sang gặp anh Nguyễn Xuân Mậu - Phó Chính ủy Quân chủng. Sau khi làm thủ tục nghi lễ xong anh bảo tôi ngồi cạnh, chậm rãi nói đại ý về tầm quan trọng của nhiệm vụ và Bộ Tư lệnh Quân chủng giao cho tôi làm phó giúp anh Dương Hán - Tham mưu trưởng, rồi anh lại hỏi tôi hơi chút hài hước: "Thế nào có đi được không?" Tôi đáp "Tôi đi được, đề nghị Bộ Tư lệnh cho tôi đi". Anh bảo "Ừ, thế về mà chuẩn bị rồi đi". Đi chiến dịch lần này tôi thấy cũng có nhiều thuận lợi, bởi tôi vốn xuất xứ từ bộ binh ở các đơn vị chủ công Trung đoàn 48 Thăng Long, Trung đoàn 42 trung dũng, sau hòa bình làm trưởng Ban Tác chiến sư đoàn, cùng anh Lương Hữu Sắt trưởng ban Pháo binh cắp cặp đi làm kế hoạch, vẽ bản đồ cho Tư lệnh và chính ủy hạ quyết tâm trong chiến đấu tiến công và phòng ngự, trường anh Hoàng Minh Thảo và trường tập huấn ở Sơn Tây của anh Lê Ngọc Han tham quan diễn tập thực binh cấp trung đoàn nên ít nhiều cũng còn cơ sở để tiếp thu cái mới trong chiến dịch Trị Thiên. Tôi phấn khởi lên đường trong chuyến đi này, tôi lại có dịp qua thành phố Vinh - Bến Thủy, Hồng Lệnh, nơi tôi đã từng sống những ngày gian khổ, đã để lại trong tôi những tình cảm đồng chí, đồng bào, chia sẻ củ khoai luộc, bát nước chè xanh, chúng tôi lại qua Hà tĩnh vượt lên đỉnh đèo ngang tranh thủ ngắm cảnh thiên nhiên, biển trời mênh mông, núi non hùng vĩ. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường sang bên này là đất Quảng bình một thời đạn bom, quê hương của mẹ Suốt anh hùng, xe qua Đồng Hới, Long Đại, lên đường 10, đi vài cây số nữa tạt vào trạm đỗ xe. Chúng tôi đi bộ qua 1 con suối nhỏ, nước chảy róc rách, đi vài trăm thước nữa lại gặp mộ 2 chiến sĩ bộ binh bị sốt rét ác tính cướp đi sinh mạng phải tạm nằm lại đây, tiếp tục đi khoảng năm trăm mét mới tới nơi. Sở chỉ huy tiền phương nằm trong rừng cây che phủ kín đáo, các cơ quan ở xung quanh, còn tôi cũng ở một lán nhỏ có công sự bảo vệ, cách mấy chục mét là lán của đồng chí Tâm Trinh. Sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, tôi liền lên báo cáo trình diện Bộ tư lệnh tiền phương. Sau đó trở về cơ quan gặp anh Dương Hán, anh Hán với tôi đã ở độ Tư lệnh Phòng không - Không quân Hà Nội trong năm 1966, giữa Tư lệnh và Tham mưu trưởng đã quen việc nên tôi bắt tay vào công tác ngay.
       
        Thời gian này đang trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, nhưng các lực lượng Phòng không - Không quân đã phải hoạt động tác chiến sớm hơn, nên cơ quan tham mưu cũng rất bận rộn, khẩn trương, các phương tiện thông tin lại bị hạn chế cần sử dụng trước giờ "G" của chiến dịch. Nên việc theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, và bảo đảm tác chiến cũng có khó khăn.
       
        Trước hết trên đường Trường Sơn, con đường vận chuyển chiến lược, máy bay địch đang đánh phá ác liệt, kể cả máy bay B-52 tập trung đánh phá vào các trọng điểm trên tuyến đường 12. Đặc biệt AC-130 được cải tiến trang bị có thêm pháo 40mm, có thiết bị hệ thống quan sát hồng ngoại, nên ban đêm địch phát hiện rõ các mục tiêu di động, điều khiển pháo bắn rất chính xác, nên xe của ta trên tuyến vận chuyển bị bắn cháy, thương vong nhiều, làm ách tắc giao thông, có thể ảnh hưởng đến kế hoạch chuẩn bị chiến dịch của ta. Trước tình hình đó Bộ Tư lệnh đã cho triển khai Trung đoàn tên lửa 275 thuộc sư đoàn 377 vào bảo vệ các tuyến đường trên, nhưng do địa hình hiểm trở, máy bay địch đánh suốt ngày đêm trên mỗi tuyến đường chỉ hành quân được 1 tiểu đoàn tên lửa, nhưng cũng bị địch đánh nhiều lần, lúc địch đánh trúng xe khí tài, lúc địch đánh trúng xe đạn, xe A càng kéo bị hỏng luôn. Nên tổ chức được 1 trận đánh phải mất hơn 1 tháng. Vì vậy, Bộ Tư lệnh Quân chủng cũng đề xuất để sử dụng không quân vào đánh AC-130 trong các tuyến đường trên. Binh chủng Ra đa cũng điều đại đội 45, đại đội 31 vào dẫn đường cho MiG-21 đánh, nhưng địch nó cũng tổ chức cảnh giới bảo vệ cho AC-130 hoạt động, nên khi MiG-21 của ta đã tiếp cận máy bay địch, nhưng chúng đã phát hiện được máy bay ta, AC-130 liền hạ độ cao nên ta cũng chưa đánh được.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:33:45 pm
        Lúc này cơ quan Tham mưu còn giúp cho Bộ Tư lệnh tiền phương triển khai sư đoàn 365 và sư đoàn 363B để bảo vệ các lực tượng của chiến dịch ở khu vực tập kết, lần này đi xuống Trung đoàn 274 có tôi và đồng chí Phạm Sơn trưởng phòng Huấn luyện, Trần Ngọc Lân, chúng tôi xuống trung đoàn bộ làm việc ít ngày sau đó đi xuống các tiểu đoàn hỏa lực, lúc này Phòng Khoa học quân sự xuống đưa K8-60 (ra đa pháo có bước sóng 3cm) để thử nghiệm chống nhiễu, sau đó đồng chí Phạm Sơn về, chúng tôi lại ra sở chỉ huy Sư đoàn 363B gặp anh Trần Nhẫn và Đinh Phúc Hải để nắm tình hình, xong báo về sở chỉ huy. Ngày 25/01/1972 đồng chí Văn Tiến Dũng đại diện Quân ủy trung ương ra lệnh cho Bộ tư lệnh tiền phương "Các lực lượng phòng không được phép tác chiến trong khuôn khổ chiến dịch", đây là một thuận lợi cho Tư lệnh tiền phương được quyền chủ động xử trí trong tình huống có nguy cơ không quân địch phát hiện đánh phá vào khu vực tập kết chiến dịch. Lúc này các sư đoàn 365 và sư đoàn 363B cũng đã ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Ngày 17/2, địch cho một số tốp máy bay ra hoạt động trên đường 10 và khu vực Nam sông Gianh, các lực lượng phòng không đã bắn rơi nhiều máy bay. E247 và E267 bắn rơi 5 chiếc, có 3 rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái. Chiến thắng này đã cổ vũ các lực lượng chiến dịch và nhân dân. Nhưng cũng rất tiếc là trước đó tiểu đoàn 88 đã bị đánh, cán bộ, chiến sĩ, một số thương vong, khí tài bị hỏng, đêm đó anh Hán bảo tôi xuống xem anh em giải quyết hậu quả, tôi xuống gặp Hà Sĩ Loan lúc đó là tham mưu phó trung đoàn ở đó, anh cho biết mọi việc đã giải quyết gọn, đến 10 giờ đêm chúng tôi về đến sở chỉ huy, nguyên nhân là do xử lý chậm. Sự việc trên lại một lần nữa nhắc những người chỉ huy Phòng không - Không quân, khi xử lý tình huống chỉ cho phép tính bằng giây. Ngày 27/2 một tin vui, tại trận địa máy Húc 2 d67 đã bắn rơi được AC-130, tuy không rơi tại chỗ nhưng đó cũng là 1 thắng lợi trong giao thông vận chuyển và đã giải tỏa được hàng trăm xe vận chuyển, chuẩn bị cho các chiến trường miền Nam.
       
        Để chuẩn bị cho các đơn vị phòng không hành quân vào khu vực tập kết, tôi, đồng chí Sĩ và một số đồng chí nữa đi xuống Sư đoàn 367, lúc đó sư đoàn 367 đóng tại Hoa Thủy, đến đây tôi lại gặp anh Đinh Đình Sành Tư lệnh, Hoàng Khoát - Chính ủy Sư đoàn, các anh vốn là những người bạn đã sống, chiến đấu với nhau ở sư đoàn 361 nên gặp lại nhau ở đây tình cảm, đầm ấm, không mất thời gian thủ tục hôm nay đoàn của anh Hoàng Ngọc Diêu, đại diện Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân bên cạnh Tư lệnh chiến dịch cũng xuống làm việc với sư đoàn. Sau khi làm việc xong anh Diêu kể câu chuyện vui, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, đó là câu chuyện "ông chủ tịch xã hỏi cung cô gái Vân Kiều". Anh kể xong mọi người cười vỡ bụng, sau khỉ làm việc với sư đoàn xong chúng tôi tiếp tục xuống các Trung đoàn pháo PK. Trước khi xuống các đơn vị pháo phòng không, tôi cũng đã biết Bộ Tham mưu đã rút kinh nghiệm, việc đưa đón các đơn vị vào A2 làm nhiệm vụ bảo vệ giao thông, bảo vệ vận chuyển, do không được chuẩn bị rút kinh nghiệm huấn luyện cách đánh nên nhiều đơn vị lúng túng, có đơn vị tổn thất, thương vong. Lần này chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, chỉ có Trung đoàn 241 đã chiến đấu ở Đường 9 - Nam Lào, còn lại các đơn vị lần đầu tiên tham gia chiến dịch nên Bộ Tham mưu đã tổ chức tập huấn cho cán bộ, hướng dẫn cho các đơn vị huấn luyện bộ đội: Cách đánh các loại máy bay khác nhau, xử lý linh hoạt trong các tình huống chiến thuật và nắm vững nguyên tắc chỉ huy, hiệp đồng với binh chủng, chúng tôi xuống khu vực Lê Ninh gặp đồng chí Cù, Trung đoàn trưởng 282 và đồng chí Bảo - Trung đoàn trưởng 280, sau đó ra Trung đoàn 230 đóng ở Cầm Ly gặp đồng chí Trân, Trung đoàn trưởng. Nhìn chung các đơn vị phòng không đã được chuẩn bị tốt, nhưng lần đầu mới tham gia chiến dịch nên còn chưa lường hết khó khăn, sau khi làm việc, đồng chí Trân đã mời đoàn ở lại liên hoan. Truyền thống ẩm thực của Phòng không - Không quân là "RTC", chúng tôi đã vui vẻ nhận lời. Sau chuyến đi này về sở chỉ huy tiền phương, chúng tôi lại được tin ngày 29/3 tiểu đoàn 67 tại trận địa máy Húc đã bắn rơi tại chỗ 1 AC-130, đây là một thắng lợi lớn trên đường Trường Sơn, giải phóng hàng trăm xe lên đường đi đến các chiến trường miền Nam.
 
        Ngày 30 tháng 3, Chiến dịch Trị - Thiên mở màn, còn tôi lại trên đường đi ra Bắc, sau cuộc diễn tập ở sở chỉ huy Sư đoàn 363 ít ngày mới trở lại sở chỉ huy tiền phương. Cùng đi còn có các anh Vũ Ý, Đinh Phúc Hải vào tăng cường cho sư đoàn 365, lần này chúng tôi theo đường 15, do máy bay địch hoạt động 24/24giờ, nên các phương tiện cơ giới chuyển sang chạy vào ban đêm. Anh em lái xe nắm rất vững quy luật hoạt động của máy bay địch trên tuyến đường này, ban ngày quân ta tranh thủ nghỉ ngơi, cuối chiều lúc mặt trời vừa lặn là xe ta lăn trên đường, tranh thủ còn nhìn thấy đường chạy nhanh hơn là đêm đi theo đèn gầm. Khi chạy qua nông trường Việt Trung, pháo hạm của địch bắn qua đầu sáng như pháo hoa, anh em chúng tôi nói đùa "Việc của mày mày bắn, việc của tao, tao đi" chả mấy chốc chúng tôi đã có mặt ở sở chỉ huy tiền phương, lúc này sở chỉ huy tiền phương đã chuyển ra thôn Văn Xá.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:35:25 pm
        Vào đến nơi tôi được biết, đợt 1 diễn ra từ 30/3 đến 9/4. Quân ta thắng lớn, giải phóng 2 huyện Do Linh và Cam Lộ, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, lực lượng phòng không toàn mặt trận bắn 86 máy bay trong đó có 2 B-52, được Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận xét hoàn thành nhiệm vụ, Sư đoàn 367 bắn rơi 23 chiếc, Sư đoàn 365 bắn rơi 15 chiếc, súng máy và A-72 đánh tốt chỉ 1 ngày bắn rơi 5 chiếc có 3 chiếc rơi tại chỗ, số còn lại là của phòng không mặt trận.
       
        Bước sang đợt 2, lúc này địch hoạt động mạnh hơn, có ngày chúng sử dụng gần 200 B-52 tập trung vào đánh ngăn chặn các mũi tiến công của quân ta và đánh vào phía sau để cắt chi viện của hậu phương chiến dịch.

        Các mũi tiến công của ta đã thọc sâu vào vùng mới giải phóng, còn lực lượng tên lửa do địa hình vùng mới giải phóng bom mìn nhiều, trận địa chưa được chuẩn bị nên đợt 2 chỉ có tiểu đoàn 64 cơ động được sang trận địa An Thinh cách Đông Hà 7km, lúc này chủ yếu các lực lượng pháo phòng không của trung đoàn 230, 241, 280, 284 súng máy, A-72 bám sát các sư đoàn bộ binh, cuộc chiến đấu đã diễn ra quyết liệt, bảo vệ cầu Quảng Trị của 1 khẩu đội của trung đoàn 280. Cả đại đội trưởng và anh em đã hy sinh bảo vệ được cầu cho các lực lượng phát triển vào bên trong giải phóng Đông Hà - Quảng Trị vào ngày 2/5/1972.
       
        Cơ quan tham mưu lúc này, trừ những đồng chí ở sở chỉ huy còn đâu đã xuống bám sát các đơn vị như Trưởng phòng Công binh nguyên liệu và anh em công binh xuống tiểu đoàn 64 hướng dẫn làm trận địa, rà phá bom mìn ở trận địa vùng mới giải phóng, đồng chí Phạm Sơn - Trưởng phòng Huấn luyện chuyển sang Tác chiến xuống các đơn vị tên lửa bàn cách chống nhiễu, các đồng chí La Văn Sàng, Thuận đều có mặt ở đơn vị. Lúc này địch cũng đánh vào hậu phương chiến dịch, và tăng cường chế áp các đơn vị tên lửa, lúc này tôi cùng một số đồng chí trong đó có cả đồng chí Thanh - Trợ lý công binh đi xuống các đơn vị pháo phòng không để bàn cách hiệp đồng chi viện hỏa lực, khi máy bay địch chế áp các lực lượng phòng không. Chúng tôi lúc này phải cuốc bộ mới đến được các đơn vị. Chúng tôi xuống Trung đoàn 218 đang triển khai ở nông trường Quyết Thắng để bảo vệ cơ quan chiến dịch, Trung đoàn vốn là 1 trong 4 trung đoàn pháo trung cao của Quân chủng điều vào Quân khu 4, đồng chí Sương - Trung đoàn trưởng, đồng chí An chính ủy, vốn biết nhau nên sau mấy ngày ở đây tôi thấy đơn vị ở lâu trong chiến trường nên rất có kinh nghiệm nằm vùng, quy luật hoạt động đánh phá của địch, nên tổ chức chiến đấu rất có nền nếp. Có cách đánh thích hợp, có trận địch đánh trận địa tiểu đoàn tên lửa, các đơn vị của trung đoàn đã bắn chi viện cho tiểu đoàn 86, buộc địch phải tán loạn bay đi, sau đó chúng tôi lại xuống tiểu đoàn pháo phòng không bảo vệ cầu Mỹ Đức của đồng chí Trần Hưng, vốn là cán bộ hóa học, chúng tôi đã ở đây hai ngày. Cũng thấy tổ chức chiến đấu của các đơn vị ở đây cũng rất tốt, kết hợp giữa chiến đấu với huấn luyện. Sau chuyến đi này, chúng tôi lại trở về sở chỉ huy tiền phương, ở đây cũng đã xảy ra một tình huống bất ngờ đó là: Tiểu đoàn 62 bắn rơi 1 máy bay, nhưng chưa bắt được giặc lái, địch đang tìm cách cứu nhau, trước hết chúng cho máy bay rải mìn vướng xung quanh khu vực tên giặc lái, nhưng mìn vướng lại rơi vào sở chỉ huy tiền phương của ta. Ta phải cho công binh thăm dò phá dỡ, nhưng mấy đêm sau, do chưa cứu được nhau, địch lại cho máy bay thả hơi ngạt nhẹ vào ban đêm. Lúc đó ở sở chỉ huy có đồng chí lấy cả nước tiểu để dấp khăn che mũi, còn chỗ tôi ở, đồng chí Chu Thái đã nhanh ý lấy bi đông nước đổ vào khăn mặt để che mũi chống ngạt. Mấy ngày sau đó, lệnh sở chỉ huy tiền phương trở ra để tập trung bảo vệ miền Bắc. Bộ Tham mưu còn để lại đồng chí Nguyễn Hữu Ích mới bổ nhiệm Tham mưu phó làm đại diện, những ngày ở sở chỉ huy tiền phương tôi đã thu lượm được nhiều kinh nghiệm quý về cách chỉ đạo, chỉ huy của Quân chủng về 3 nhiệm vụ chiến lược.
       
        Những vấn đề mà tôi nhận thức được là đặc điểm công tác tham mưu trong tác chiến binh chủng hợp thành có những đặc điểm khác với bảo vệ yếu địa vì không gian chiến dịch rộng, thời gian dài. Nhiệm vụ của lực lượng phòng không lại phải tác chiến sớm hơn trên tuyến giao thông chiến lược, chiến dịch và bảo vệ khu vực tập kết chiến dịch, lại ở xa hậu phương, giao thông không thuận lợi, tình huống chiến dịch lại diễn ra mau lẹ, đòi hỏi phải xử trí kịp thời, các phương tiện thông tin của ta đã thiếu thốn lại phải hạn chế sử dụng trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch. Bởi vậy công tác tham mưu chuẩn bị chiến dịch phải bao quát được mọi nhiệm vụ của Quân chủng, dự kiến được những tình huống cơ bản, có biện pháp đối phó, có lực lượng sử dụng, tổ chức hiệp đồng phải chặt chẽ cả phía trước lẫn phía sau về chỉ đạo các đơn vị hiệp đồng chặt chẽ ba thứ quân và nhân dân ở khu vực tác chiến mới tạo được sức mạnh đánh thắng địch để giúp cho Bộ Tư lệnh nắm được tình hình xử lý được kịp thời. Các trợ lý, cán bộ tham mưu đã có mặt ở các đơn vị như một chuyên gia đại diện cho cơ quan tham mưu cùng đơn vị nghiên cứu giải quyết tức thời những khó khăn cho đơn vị. Nhưng có những vấn đề lớn còn phải kết hợp giữa sở chỉ huy cơ bản và sở chỉ huy tiền phương mới giải quyết được, như vấn đề nghiên cứu B-52, vấn đề sử dụng lực lượng phòng không, nhất là tên lửa trong chiến dịch như thế nào cho hợp lý và nhiều vấn đề khác nữa. Nhờ bám sát thực tiễn, sơ kết, rút kinh nghiệm kịp thời làm đúng chức năng của mình, cơ quan Bộ Tham mưu đã giúp cho Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ đạo chỉ huy các đơn vị giành thắng lợi trong chiến dịch Trị - Thiên.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:38:38 pm
         
CÙNG CÁC ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP
ĐỐI PHÓ VỚI TÊN LỬA TỰ DẪN " SƠ RAI"  (SHRIKE) ĐỊCH
       
Thiếu tướng Hoàng Bát               
Nguyên Tiểu đoàn trưởng tên lửa       
       
        Tháng 3 năm 1968  tôi đang là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 62 Trung đoàn 236 nhận được lệnh bàn giao cho đồng chí Tô Ngồi để về Quân chủng làm trợ lý phòng Tác chiến Quân chủng. Đang ở đơn vị lên cơ quan công tác, lúc đầu còn bỡ ngỡ, nhưng được sự quan tâm giúp đỡ của các thủ trưởng phòng và anh em cán bộ trong phòng, tôi dần dần đã làm quen với công tác được giao.
       
        Tháng 6 năm 1968 tôi được giao nhiệm vụ vào tiền phương Quân chủng ở A2 (Quân khu 4) tham gia chiến đấu với các đơn vị ở đây. Tôi ở tổ tên lửa do đồng chí Nguyễn Tiến Thu - Phó phòng Huấn luyện phụ trách. Lúc đầu tổ có các đồng chí Thu, Bắc, Bát, Viễn, Bút. Qua một thời gian nghiên cứu, theo dõi nắm tình hình, thời gian này tên lửa của ta chủ yếu hoạt động ban đêm. Thủ đoạn hoạt động của máy bay địch đối với tên lửa ta là khi phát hiện được, chúng tập trung lực lượng đánh phá ác liệt vào trận địa hoặc nơi giấu quân. Mặt khác, chúng rất hay dùng thủ đoạn phóng "sơ rai". Nhiều tiểu đoàn đã bị "sơ rai" làm hỏng khí tài, thương vong người. Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 285 là tiểu đoàn có nhiều kinh nghiệm chiến đấu ở Hải Phòng, vào chiến trường A7 trận đầu tiên đã bị "sơ rai", đánh hỏng khí tài và thương vong.
       
        Biện pháp đối phó với "sơ rai" lúc này là: Khi phát hiện được "sơ rai", quay ăng ten một góc phương vị rồi hạ cao thế. Tâm tư cán bộ và chiến sĩ khi vào trận đánh rất lo lắng với việc đối phó với "sơ rai" địch, nhất là khi đã phóng đạn lên rồi xử trí như thế nào? Các tiểu đoàn thường động viên anh em "bình tĩnh" nhưng biện pháp cụ thể thì không đề ra được. Có đồng chí cán bộ tiểu đoàn đã chân thành tâm sự với tôi: "Tớ thà hy sinh chứ quyết không để mang tiếng dao động". Tham dự chiến đấu với anh em, tôi rất hiểu tâm tư của anh em. Tôi suy nghĩ: Phải có những biện pháp đối phó cụ thể, để giúp cho anh em xử trí kịp thời. Trong trường hợp ta đã phóng đạn lên, khi cần thiết phải bỏ đạn để đảm bảo an toàn cho người và khí tài để tiếp tục chiến đấu trận sau, chứ để hỏng khí tài, thương vong người phải một thời gian lâu mới ra chiến đấu được. Tôi gặp đồng chí Đoàn Huyên - Phó Tư lệnh Quân chủng đặt vấn đề: "Trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng có đồng ý cho anh em bỏ đạn để đảm bảo an toàn cho người và khí tài không?". Đồng chí Huyên trả lời: "Các cậu nghiên cứu cụ thể các trường hợp rồi báo cáo". Tôi về báo cáo với đồng chí Thu và tổ tên lửa xin được phép nghiên cứu. Đồng chí Thu đã dành thời gian cho tôi nghiên cứu viết tài liệu. Tôi tập trung tinh thần, tư tưởng để làm việc. Ban ngày thuận lợi, còn ban đêm tôi dùng chiếc đèn con Hoa Kỳ che bớt ánh sáng để viết (tránh máy bay địch hoạt động đêm).
       
        Xác định các loại máy bay địch phóng "sơ rai":

        Trong thời kỳ này ở chiến trường Quân khu 4 thường do máy bay hải quân Mỹ đánh phá. Các loại máy bay địch thường phóng "sơ rai"u là: A-4E, F-4, A-6. Nếu phóng loại "sơ rai" cũ AGM-45A (đường kính 203mm), chúng có thể phóng 1 - 2 quả. Nếu phóng loại "sơ rai" mới AGM-78 (đường kính 350mm) chúng thường phóng 1 quả.
       
        Thủ đoạn phóng "sơ rai" của địch.

        Thông thường địch dùng các thủ đoạn sau:

        - Các loại máy bay phóng "sơ rai" thông thường bay một hoặc hai chiếc, đường bay không ổn định, hay lượn vòng, bay cao khoảng 3 - 5km, không có nhiều. Sau khi phóng sơ rai xong mới phát nhiều sâu, phóng xong có nhiều lúc bay thẳng vào, nhưng cũng có lúc phóng sơ rai xong chúng lượn vòng ra xa.
       
        - Địch phóng nhanh với thời gian ngắn sau khi ta phát sóng (độ 5 - 10 giây).
       
        - Qua các trận chiến đấu thấy rằng loại A-4E và F-4 phóng tương đối nhanh hơn, còn loại A-6 phóng chậm hơn.
       
        - Thông thường địch phóng thẳng, nhưng cũng có trường hợp địch phóng cầu vồng. Địch phóng cầu vồng gây cho ta khó quan sát, phải hết sức chú ý trường hợp này. Thông thường loại sơ rai AGM-78 hay phóng theo kiểu cầu vồng.
         
(http://farm4.static.flickr.com/3528/3864475546_4abc75cfd5.jpg)
       
        Sau khi xác định các loại máy bay và thủ đạn phóng sơ rai của chúng, tôi suy nghĩ phải tính toán được khoảng cách thời gian ∆t và khoảng cách cự ly ∆D của sơ rai địch cách đài điều khiển tên lửa ta là bao nhiêu, ở thời điểm tên lửa ta gặp mục tiêu, có đảm bảo an toàn hay không trong các trường hợp:
       
        a)   Địch phóng sơ rai xong bay thẳng vào.

        - Ta và địch cùng phóng.

        - Ta phóng trước địch 3", 5", 8", 10".

        b)   Địch phóng sơ rai xong lượn vòng bay ra.

        - Ta và địch cùng phóng.

        - Ta phóng trước địch 3", 5", 8", 10".
       
        Dựa vào tốc độ máy bay địch, tốc độ sơ rai cự ly tên lửa của ta, bán kính lượn vòng bay ra của máy bay địch và cự ly an toàn cho đài điều khiển tôi tính toán cụ thể từng cự ly phóng, lập thành bảng, rồi từ đó rút ra 8 trường hợp xử trí cụ thể: Trường hợp nào bám sát đến cùng, trường hợp nào phải nâng đạn, rồi quay một góc phương vị và hạ cao thế.
       
        Sau khi hoàn thành tài liệu, thông qua tổ tên lửa (tổ tên lửa lúc này chỉ còn 3 đồng chí: Thu, Viễn và tôi. Đồng chí Bắc bị thương phải đi điều trị, đồng chí Bút có lệnh đi nhận công tác ở đơn vị) và lấy ý kiến các đơn vị, các đơn vị rất hoan nghênh. Tôi báo cáo đồng chí Đoàn Huyên - Phó Tư lệnh Quân chủng. Đồng chí Đoàn Huyên đồng ý cho phổ biến để các đơn vị thực hiện.
       
        Kết quả cụ thể:

        Tiểu đoàn 67 đêm 29-8 phóng quả 1 ở cự ly 21km, quả 2 cự ly 20km. Địch phóng "sơ rai" ở cự ly 19km. Ta phóng trước nên trắc thủ bình tĩnh bám sát đến cùng, 2 quả nổ tốt diệt 1 máy bay A-6 rơi tại chỗ. Sĩ quan điều khiển quay ăng ten, hạ cao thế, sơ rai nổ cách trận địa hơn 1km.
       
        - Tiểu đoàn 74 đêm 26-9 phóng 1 quả ở D=21,5km. Máy bay bay được 2km thì phóng sơ rai, trắc thủ bình tĩnh bám sát mục tiêu, đạn nổ tốt. Sau khi đạn nổ, quay ăng ten tương đương, "sơ rai" nổ cách xa.
       
        Các trường hợp khác, địch đã 6 lần phóng sơ rai vào các Tiểu đoàn 71, 74, 92, 94 nhưng các đơn vị đã phát hiện được sơ rai bằng tín hiệu ở trên màn hiện sóng của sĩ quan điều khiển và trắc thủ, hoặc phát hiện được bằng trạm quan sát mắt, chúng ta vẫn đánh được địch, gạt được "sơ rai" và đảm bảo được an toàn cho đơn vị.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:41:41 pm
        
BỘ THAM MƯU PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
       
Đại tá Nguyễn Tâm Trinh                    
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng        
       
        I. Ra đời và trưởng thành lớn mạnh trong chiến tranh.

        Ngày 01 tháng 4 năm 1953, Đoàn pháo cao xạ 367 ra đời, cơ quan tham mưu được tổ chức, đã góp phần vào việc chỉ huy chỉ đạo tiêu diệt máy bay thực dân Pháp, đánh thắng trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Ngày 3 tháng 3 năm 1955, Ban Nghiên cứu sân bay thành lập, tiếp đó đến tháng 1 năm 1959, chuyển thành Cục Không quân, cơ quan tham mưu không quân từng bước được hình thành, góp phần vào việc tổ chức chỉ huy, tiếp quản các sân bay, quản lý bay các máy bay các tổ giám sát quốc tế, xây dựng cơ sở bước đầu của không quân.
        
        Ngày 22 tháng 10  năm 1963, Quân chủng PK-KQ được thành lập. Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân được tổ chức. Trước âm mưu mở rộng chiến tranh của Mỹ - ngụy, Bộ Tham mưu đã góp phần vào việc chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến, xây dựng thế trận phòng không, sẵn sàng chiến đấu. Chiến thắng đánh trả cuộc tập kích bất ngờ của không quân Mỹ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đánh dấu hiệu quả công tác tham mưu thời gian hòa bình chuẩn bị.
        
        Từ năm 1965 đến 1975, trước yêu cầu phát triển của chiến tranh, cơ cấu tổ chức của Quân chủng ngày càng mở rộng, từ Binh chủng Cao xạ phát triển thêm các Binh chủng Ra đa, Tên lửa, Không quân, Hàng không dân dụng; từ các trung đoàn phát triển thành các bộ tư lệnh phòng không các khu vực, các lực lượng cao xạ quân khu, quân đoàn, quân chủng, địa phương, các chiến trường, Bộ Tham mưu Quân chủng đã từng bước nhanh chóng tăng cường về cơ cấu tổ chức, về phạm vi hoạt động và về chức năng nhiệm vụ.
        
        Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân trong chiến tranh trưởng thành lớn mạnh, là cơ quan quan trọng của Quân chủng có đủ các ngành kế hoạch, tác chiến, quân báo, quân lực, quân huấn, thông tin, khoa học quân sự, cao xạ chiến trường, khí tượng, dẫn đường hàng không dân dụng, công trình, cơ yếu, đối ngoại, các ngành bảo đảm hành chính, quân y, bảo mật, cảnh vệ và cơ quan Đảng - công tác chính trị.
        
        Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân giúp Đảng ủy, Bộ tư lệnh lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng của Quân chủng, làm tham mưu phòng không đối với Bộ, chỉ đạo các lực lượng phòng không ba thứ quân, làm nhiệm vụ quốc tế đối với Lào, Cam-pu-chia và liên minh quốc tế với Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô.
        
        Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng, được sự chỉ đạo chặt chẽ của bộ Tổng tham mưu và các cơ quan của Bộ, được sự giúp đỡ tận tình của các đơn vị, của địa phương, của nhân dân, luôn luôn nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực nghiệp vụ để làm tròn chức trách tham mưu của mình. Trong hoạt động, Bộ Tham mưu đã luôn luôn xoay quanh chỉ thị của Bác Hồ khi Người chỉ thị nhân ngày thành lập Bộ Tổng tham mưu ngày 7-9-1945, đó là: "Tổ chức huấn luyện quân đội cho giỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suất, bí mật, nhanh chóng kịp thời chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù bảo vệ thành quả cách mạng".
        
        Quán triệt chức năng tham mưu, được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, của Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ Tham mưu đã nêu cao trách nhiệm của mình trong công tác. Bộ Tham mưu nêu cao khẩu hiệu hướng xuống đơn vị hướng vào chiến trường tất cả cho mỗi trận đánh thắng lợi, tất cả để bảo vệ an toàn mục tiêu, tất cả vì miền Nam ruột thịt. Cán bộ tham mưu luôn luôn có mặt ở những nơi nóng bỏng, ở các trọng điểm đánh phá của địch, cùng đơn vị, cùng địa phương xử lý các tình huống chiến đấu. Cùng hành quân, cùng đứng trên trận địa, ở trong nước cũng như ở các nước anh em, trợ lý tham mưu góp phần hết sức mình cho mọi thắng lợi của trận đánh.

        Từ Ban tham mưu của pháo cao xạ trở thành Bộ Tham mưu Quân chủng gồm nhiều binh chủng, nhiều ngành nghiệp vụ, công tác tham mưu đã nâng lên tầm chiến dịch, chiến lược, nhằm hoàn thành cả ba nhiệm vụ chiến lược của Quân chủng: Bảo vệ mục tiêu yếu địa, bảo vệ giao thông vận chuyển và bảo vệ bộ đội binh chủng hợp thành chiến đấu.
       
        Từ cuộc chiến tranh ác liệt, bộ Tham mưu đã từng bước trưởng thành lớn mạnh, xây dựng nên truyền thống "Trung thành vô hạn, hy sinh dũng cảm, tích cực chủ động, mưu trí sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể" góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đánh thắng không quân đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:44:28 pm
       
        II. Cống hiến to lớn trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
       
        Trong lịch sử đánh giặc chống ngoại xâm của dân tộc ta từ trước đến nay, cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không chống không quân địch là một loại chiến tranh mới chưa từng có bao giờ. Cuộc chiến tranh bằng không quân của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc đã diễn ra trên diện rộng, không tiền tuyến, không hậu phương, không thời gian, từ phạm vi chiến lược đến phạm vi chiến thuật, bao gồm mọi mục tiêu kinh tế, quân sự, chính trị của cả nước. Hơn nữa, cuộc đọ sức lại diễn ra giữa một bên là lực lượng không quân đế quốc hùng hậu, trang bị kỹ thuật hiện đại và một bên là đất nước với một nền kinh tế thấp chưa có đủ trang bị cơ sở vật chất để chống lại chúng. Để đối phó với cuộc chiến tranh, Đảng ta, nhân dân ta với đường lối chiến tranh đúng đắn, với trí thông minh tuyệt vời, với lòng dũng cảm vô song, đã đánh bại hết mọi thủ đoạn của địch, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược. Trong sự nghiệp đánh thắng mặt trận đối không của nhân dân ta, Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân đã làm trợ thủ đắc lực cho Đảng ủy độ tư lệnh Quân chủng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược được giao.
       
        Trải qua 20 năm chiến tranh, Bộ Tham mưu đã đóng góp phần cống hiến của mình vào những hoạt động chiến đấu của Quân chủng, Quân đội và nhân dân ta. Trong phạm vi chức trách và nghiệp vụ của mình, Bộ Tham mưu có một số thành tích nổi bật sau đây:
       
        1. Bộ Tham mưu Quân chủng đã thường xuyên quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, nắm vững mối quan hệ khăng khít giữa hai miền Nam - Bắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
       
        Về nhận thức, luôn hiểu rõ vai trò và vị trí của miền Bắc là hậu phương lớn có ý nghĩa quyết định của sự nghiệp giải phóng miền Nam, về tư tưởng luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ trên các chiến trường khi có lệnh.
       
        Giúp Đảng ủy Bộ Tư lệnh chỉ đạo chiến đấu và xây dựng để làm tròn vai trò nòng cốt của Quân chủng trong cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không.
       
        Sớm kiến nghị kế hoạch toàn diện bảo vệ đất nước, xác định các mục tiêu trọng điểm cần bảo vệ, kế hoạch chuyển từ thời bình sang thời chiến, chủ động đề xuất kế hoạch chuyển lực lượng phòng không vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, giành chủ động, không để bị bất ngờ ngay từ trận đầu: Trận ngày 5-8-1964, đánh thắng ngay đợt đầu tiên khi không quân Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc 7-8/2 - 11/2/1965.
       
        Theo dõi và bám sát diễn biến trên các chiến trường kịp thời phát hiện âm mưu của địch, chủ động xây dựng kế hoạch phòng thủ, triển khai lực lượng phương tiện, tạo nên thế trận phòng không, đánh thắng địch bảo vệ mục tiêu, cảng, giao thông, chân hàng các đợt vận chuyển chiến lược.
       
        Đã tổ chức các sở chỉ huy tiền phương trên các hướng, tham gia chỉ đạo phòng không các chiến dịch đường 7, cánh đồng Chum, đường 9 Nam Lào, chiến dịch Quảng Trị, các hoạt động phục kích đánh AC-130 đường 559.
       
        Nắm vững và bám sát sư phát triển các điên chiến tranh trên hai miền đất nước, góp phần chuẩn bị và thực hành thắng lơi trân Điên Biên Phủ trên không - 12 ngày đêm tiêu diệt B-52 của địch; góp phần trực tiếp và chỉ đạo các lực lượng phòng không chiến trường hoàn thành thắng lợi tổng tấn công và nổi dậy trong mùa Xuân 1975, nhất là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
       
        Quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong nhận thức, tư tưởng và hành động xuyên suốt trong cả cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược đã giúp Đảng ủy Bộ tư lệnh chỉ đạo và chỉ huy có hiệu quả thực hiện vai trò nòng cốt của mình trong chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:45:31 pm
       
        2. Bộ Tham mưu Quân chủng: Nắm vững chức năng nhiệm vụ tham mưu cấp chiến lược và chiến dịch, không ngừng nâng cao trình độ quán triệt đường lối và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân.
       
        Đã đề xuất phương thức tác chiến phòng không đúng đắn của chiến tranh nhân dân Việt Nam, phát huy vai trò nòng cất của Quân chủng, đồng thời phát huy hết sức mạnh của lực lượng phòng không ba thứ quân, kết hợp chặt chẽ tác chiến phòng không tại chỗ rộng khắp với tác chiến cơ động phòng không vừa có bề rộng, vừa có trọng điểm, hình thành thế trận vững chắc đối phó với không quân địch.
       
        Luôn luôn phân tích đúng đắn các yếu tố khách quan, chủ quan, nắm chắc điều kiện, hoàn cảnh chiến trường Việt Nam, kiến nghị với Đảng ủy, Bộ tư lệnh chỉ đạo các đợt tác chiến (chiến dịch) phòng không thắng lợi chỉ đạo các binh chủng ra quân đánh thắng trận đầu ( 13-1-1959 của ra đa), (3 - 4/4/1965 của không quân), (24/7/1965 của tên lửa).
       
        Đề xuất với Đảng ủy - Bộ tư lệnh chỉ đạo linh hoạt chiến thuật của các binh chủng, đối phó kịp thời và hiệu quả với các thủ đoạn của địch, sáng tạo nhiều hình thức tác chiến phòng không (chốt, cơ động, đánh chặn, tìm diệt...), lập trận địa giả nhử địch để diệt địch (giây trời giả, trận địa giả, phát sóng giả...).
       
        Đặc biệt đối với những thay đổi về vũ khí và phương tiện công nghệ hiện đại của không quân địch, Bộ Tham mưu đã tập trung nghiên cứu, đề xuất kịp thời các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật đối phó hiệu quả, tiêu diệt địch, giảm tổn thất của ta (chống nhiễu các loại chống tên lửa, chống bom walley, chống lược...).
       
        Đối với công tác phòng không nhân dân, cơ quan tham mưu đã kiến nghị chỉ đạo hệ thống báo động phòng tránh, sơ tán, cứu hộ, triển khai lưới lửa tầng thấp của dân quân tự vệ.
       
        Từ kinh nghiệm thực tế trong cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không Bộ Tham mưu đã phát triển một bước nghệ thuật tác chiến phòng không của chiến tranh nhân dân, xây dựng hình thành nghệ thuật chiến dịch phòng không Việt Nam, xây dựng nên nghệ thuật về bảo vệ vùng trời cả về lý luận, về tư tưởng chỉ đạo, về tổ chức thực hiện.
       
        3. Bộ Tham mưu Quân chủng đã tích cực chủ động thu thập, tổng hợp, phân tích tình hình để tìm ra những kế sách đúng đắn chống lại chiến tranh phá hoại của không quân đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.
       
        Không quân đế quốc Mỹ với lực lượng hùng hậu và hiện đại về số lượng và trang bị kỹ thuật có hệ thống tàu sân bay, lại huy động các căn cứ của các nước chư hầu với nhiều thủ đoạn kỹ chiến thuật khác nhau đã ngày đêm đánh phá miền Bắc suốt 20 năm ròng rã. Bộ Tham mưu bằng phương pháp khách quan khoa học, phát huy trí tuệ tập thể nhạy bén phát hiện từ âm mưu chiến lược đến các thủ đoạn kỹ chiến thuật, từng giờ từng phút kiến nghị đề ra các kế sách đối phó lại chúng.
       
        Đã tìm mọi cách triển khai kế hoạch nắm địch, kiến nghị bố trí và triển khai các mạng ra đa, mạng quan sát, thường xuyên bám sát tin tức chiến trường, dựa vào địa phương, vào đơn vị, truy hỏi nghiên cứu tin tức giặc lái, trực tiếp có mặt ở các điểm nóng, các trọng điểm nghiên cứu các quy luật hoạt động của địch, kịp thời báo cáo Đảng ủy - Bộ tư lệnh có quyết tâm đúng đối phó với địch.
       
        Cán bộ tham mưu đã tích cực nghiên cứu để xác minh các phần tử về các thủ đoạn của địch từ triệu chứng đến đội hình bay (gián cách, cự ly, đội hình, tốc độ... góc bổ nhào, điểm ném bom, độ cao bay...) tìm ra nhược điểm của địch, kiến nghị cách đánh hiệu quả của các binh chủng (Cao xạ, Ra đa, Tên lửa, Không quân). Sau bất cứ một hoạt động lớn nhỏ nào của địch, Bộ Tham mưu đã nhạy bén tổng kết, đánh giá kịp thời, có phán đoán và hướng phát triển mới của địch, báo cáo Đảng ủy, Bộ tư lệnh.
       
        Đặc biệt, việc tổng kết tình hình gây nhiễu của địch và việc chống nhiễu hiệu quả, việc nghiên cứu hoạt động B-52 của địch trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 mà đỉnh cao là chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", Bộ Tham mưu đã được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.
       
        Với trí thông minh và lòng dũng cảm, các thế hệ cán bộ của Bộ Tham mưu đã tiến hành một cuộc đấu trí đầy mưu lược, kiên trì với mọi thủ đoạn gian xảo của địch khi có một thủ đoạn mới, một quy luật mới của địch kịp thời, tìm ra những chỗ yếu của địch, phát huy sáng tạo, đối phó lại chúng đã góp phần cho Đảng ủy, Bộ tư lệnh chỉ huy, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:16:44 am
       
        4. Bộ Tham mưu tuôn nắm vững quy luật phát triển của chiến tranh vào việc tổ chức xây dựng, huấn luyện và phát triển lực lượng, đáp ứng kịp thời ngày càng có hiệu suất cao cho chiến đấu.
       
        Với sự đánh phá ác liệt của địch, để kịp thời bảo đảm nhiệm vụ, Bộ Tham mưu chấp hành chỉ thị của trên đã có kế hoạch chủ động tổ chức, xây dựng và phát triển không ngừng lực lượng của Quân chủng. Từ 6 tiểu đoàn cao xạ trong chiến tranh chống Pháp, trải qua các thời điểm khác nhau, đã xây dựng Quân chủng gồm 3 Binh chủng Ra đa, Tên lửa, Không quân, các sư đoàn phòng không các khu vực, các trung đoàn, lữ đoàn phòng không cho các quân khu, quân đoàn, Bộ tư lệnh 559, hải quân, chiến trường miền Nam. Thế trận phòng không từ chỗ chỉ gồm một vài khu vực đã được tổ chức hoàn chỉnh ra cả nước, bảo vệ vững chắc các mục tiêu, bảo vệ hoàn chỉnh vùng trời của miền Bắc, chống lại mọi sự đánh phá của không quân địch.
         
        Về huấn luyện, đã góp phần chỉ đạo củng cố và mở rộng các trường, các đội huấn luyện, bảo đảm đào tạo, bổ túc kịp thời cho sĩ quan, hạ sĩ quan, kíp chiến đấu, người lái, nhân viên kỹ thuật các loại đáp ứng cho chiến đấu Trong huấn luyện, đã kết hợp chặt chẽ cơ bản với ứng dụng, thực sự thực tế, sát chiến trường, không ngừng cải tiến, đổi mới và nâng cao kỹ thuật và chiến thuật bảo đảm cho bộ đội đánh trả hiệu quả mọi cuộc tập kích của địch. Bộ đội cao xạ 7 ngày đã ra quân chiến đấu, ra đa 1 tháng, tên lửa 3 tháng khẩn trương và kịp thời đáp ứng với yêu cầu của chiến tranh.
       
        Đã thường xuyên tiến hành tổng kết, sơ kết các hoạt động chiến đấu, từ đó đã xây dựng hệ thống tài liệu các loại làm cơ sở cần thiết cho việc huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bộ đội.
       
        Qua tổng kết về cuộc chiến tranh nhân dân và chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1968) và lần thứ hai (1973), kiến nghị phương án tổ chức lực lượng phòng không trong biên chế các quân đoàn chủ lực, tổng kết thủ đoạn gây nhiễu trong hai cuộc chiến tranh, biên soạn điều lệnh, điều lệ tác chiến phòng không, các tài liệu về các cách đánh của tên lửa chống shrike, cách đánh B-52 là do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp quan trọng của tài liệu huấn luyện đánh B-52 của Quân chủng.
       
        5. Bộ Tham mưu Quân chủng đã nêu cao tinh thần đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, thắt chặt và củng cố mối quan hệ liên minh chiến đấu với các nước anh em.
       
        Bản thân Quân chủng đòi hỏi cơ quan tham mưu luôn luôn chủ động kiến nghị kế hoạch hiệp đồng để phát huy hết mọi khả năng các lực lượng, các binh chủng, hiệp đồng tác chiến trong các đợt hoạt động đánh phá của địch. Nhiều trận đánh tạo nên hiệu quả tiêu diệt địch của cả 4 binh chủng và lực lượng phòng không địa phương.
       
        Thường xuyên tăng cường cán bộ xuống đơn vị tham gia các chiến dịch binh chủng hợp thành (Cánh đồng Chum, đường 9 Nam Lào, Quảng Trị, đường 559) góp phần cùng đơn vị phát huy hết sức mạnh tổng hợp tiêu diệt địch, tổng kết rút kinh nghiệm chiến đấu.
       
        Đoàn kết tôn trọng chính quyền, gần gũi đoàn kết với nhân dân khu vực chiến đấu, sẵn sàng chia lửa với nhân dân, nhường cơm sẻ áo, cùng nhân dân đào núi, sửa đường, phá bom, vá đường băng, đào công sự, kéo xe, kéo máy, cứu thương, cứu sập, ngụy trang, bắt giặc lái. Nhớ một lần Bác Hồ vào sở chỉ huy Quân chủng, Người thấy khoảng đường bị ngăn gác cả hai đầu, dân đi làm phải lội theo đường mòn ruộng. Người đã nhắc nhở phải tôn trọng nhân dân, tạo đường mới thuận tiện cho dân, Bộ Tham mưu Quân chủng đã thấm thía thêm bài học về mối quan hệ quân dân sâu sắc.
       
        Trong mối quan hệ liên minh chiến đấu với các nước anh em Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô, Bộ Tham mưu đã luôn luôn là cầu nối tích cực chủ động giữa bạn với Đảng ủy, Bộ tư lệnh, nêu cao tinh thần yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa quốc tế chân chính cùng chung một chiến hào chống Mỹ, Bộ Tham mưu đã tranh thủ tối đa sự giúp đỡ và đóng góp của bạn; phát huy được hiệu quả chiến đấu của bạn, đồng thời cũng đã cùng bạn trao đổi kinh nghiệm qua các đọt hoạt động. Nhiều cán bộ tham mưu đã sẵn sàng hy sinh đảm bảo an toàn cho bạn, đã làm hết sức mình giúp bạn khi ở trận địa, xuống các trọng điểm. Bộ Tham mưu cũng đã góp phần giúp Bộ tư lệnh giới thiệu các kinh nghiệm chiến đấu phòng không cho Quân đội anh em sang tham gia học tập (các bạn xã hội chủ nghĩa, châu Phi, châu Mỹ La tinh) được anh em bạn bè hoan nghênh, ủng hộ, đồng tình.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:18:28 am
       
        6. Bộ Tham mưu Quân chủng đã chăm lo xây dựng cơ quan trưởng thành về mọi mặt, vững vàng về chính trị, tinh thông về nghiệp vụ nhằm làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh.
       
        Bộ Tham mưu Quân chủng là một tập thể cán bộ, chiến sĩ đoàn kết một lòng, được rèn luyện trưởng thành, đã phát huy cao độ trách nhiệm và khả năng của mình trong chiến tranh. Bộ Tham mưu luôn xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh và đã là lá cờ đầu thi đua của các cơ quan trong Quân chủng, thường xuyên được học tập tu dưỡng về quan điểm lập trường, về ý chí chiến đấu và năng lực nghiệp vụ.
       
        Bộ Tham mưu qua thực tiễn chiến tranh đã xây dựng nề nếp chế độ, tác phong công tác tham mưu giúp Đảng ủy Bộ tư lệnh nắm vững đích, nắm vững đơn vị, kịp thời hạ và điều chỉnh quyết tâm, giành thắng lợi. Mỗi cán bộ tham mưu đều thành thạo nghiệp vụ chuyên môn ngành mình và biết tiến hành các bước công tác tham mưu cụ thể như phát hiện, hiến kế, thực hành, rút kinh nghiệm, đề ra định hướng phát triển, làm báo cáo, tác phong sâu sát, chủ động, mưu trí, sáng tạo, đoàn kết là những phẩm chất được xây dựng trong cả quá trình chiến tranh. Bám theo xe pháo hành quân, lặn lội tháng trời hết đèo cao suối sâu tìm và bố trí trận địa, đứng trên đầu cầu, giữa trận địa, đi theo thuyền dân để tìm hiểu hoạt động của địch, cán bộ trợ lý tham mưu nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí đã trở thành thương binh, Bộ Tham mưu đã biểu lộ lòng trung thành vô hạn đối với đất nước, một lòng một dạ vì sự nghiệp công tác tham mưu.
       
        Nói về những cán bộ tham mưu, trong những năm chiến tranh, đồng chí Thượng tướng Phùng Thế Tài - nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã nêu: "Thần thiêng nhờ "bộ hạ", không có "bộ hạ" giỏi thì hỏng việc, thì thua, thần mất thiêng.". Đồng chí cố chính ủy, đại tá Đặng Tính trong một lần tổng kết đã nói: "Chính vì các đồng chí tham mưu đã có lòng yêu nước nồng nàn, đã có tinh thần hy sinh dũng cảm mà chiến thuật và công tác của chúng ta nở hoa kết trái, trận đánh của chúng ta đã giành thắng lợi!". Trong tựa đề cuốn lịch sử Bộ Tham mưu phòng không, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: "Bộ Tham mưu đã có những đóng góp xứng đáng vào sự phát triển lớn mạnh và những chiến thắng vẻ vang của bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược". Những lời đánh giá của các đồng chí lãnh đạo trên đây đã khẳng định vị trí và sự đóng góp của Bộ Tham mưu đối với Quân chủng.
       
        Nhìn lại chặng đường 55 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành tính từ ngày Quân đội ta có pháo cao xạ đến nay, Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Bên cạnh những thành tựu tổng quát đã nêu ở trên, trong phạm vi các lĩnh vực hoạt động cũng không tránh khỏi những thiếu sót ở các thời kỳ và ở các mức độ khác nhau, mà nổi lên là còn những tồn tại sau đây:
       
        - Việc quán triệt đường lối quân sự, tư tưởng chỉ đạo tác chiến có lúc có nơi chưa đầy đủ, tư tưởng kiên quyết tấn công tiêu diệt mục tiêu địch còn thiếu, còn chủ quan, khinh địch, đánh giá thấp thủ đoạn xảo quyệt và khả năng chúng đã dẫn đến bị động sai lầm phải chịu tổn thất.
       
        - Trình độ nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến dịch phòng không về cách đánh của các binh chủng trong Quân chủng còn hạn chế, chưa thật thành thục, phát huy và sử dụng các loại binh khí kỹ thuật, hiểu biết về khoa học quân sự, cách đánh hiệp đồng binh chủng còn kém. Cuộc đấu trí giữa ta và địch còn có gặp nhiều thử thách cam go. Chưa thật phát huy hết tiềm năng binh khí kỹ thuật và tinh thần để chiến thắng quân địch.
       
        - Phương pháp và tác phong công tác tham mưu chưa thành thạo, còn thiếu thực sự cầu thị, sát thực tiễn, có lúc lại máy móc bảo thủ, có trường hợp lại dao động, sợ địch dẫn đến tổn thất. Công tác sơ kết, tổng kết trong chiến tranh tiến hành chưa thật thường xuyên, kịp thời, để bổ sung cho chiến đấu.
       
        Trong cả chặng đường dài của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Bộ Tham mưu đã được thử thách từ những cái gì đã làm được và cả rất nhiều vấn đề còn tồn tại, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và sự chỉ huy của Bộ tư lệnh, sự chỉ đạo của Bộ, công tác hiệp đồng với bạn, sự giúp đỡ của nhân dân, Bộ Tham mưu đã làm tròn sứ mệnh của mình, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Các cán bộ của Bộ Tham mưu trong chiến tranh đã để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho thế hệ lớp cán bộ kế theo ngày thêm dày dạn, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của mình "Cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ bầu trời Tổ quốc thân yêu".


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:22:37 am
       
CHỈ HUY THAM MƯU KHÔNG QUÂN
       
Đại tá Hà Văn Chấp                         
Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng       
       
        Không quân Việt Nam sớm được Đảng, Nhà nước, Quân đội tổ chức, xây dựng. Đến năm 1964, đế quốc Mỹ dùng lực lượng không quân nhà nghề đánh ra miền Bắc nước ta, cuộc chiến tranh phá hoại bắt đầu. Lực lượng không quân non trẻ của ta cùng với lực lượng cao xạ tên lửa phòng không đánh trả ngay từ đầu và giành thắng lợi.
       
        Không quân Việt Nam được trang bị máy bay chiến đấu của Liên Xô và một số máy bay của Trung Quốc như:
       
        Không quân tiêm kích: MIG-17, MIG-19, MiG-21.
       
        Không quân vận tải, trực thăng các loại đều lần lượt đưa vào chiến đấu. Đội ngũ phi công và sĩ quan chỉ huy tham mưu các cấp được đào tạo cơ bản qua các học viện không quân Liên Xô, Trung Quốc. Cơ sở vật chất kỹ thuật, hậu cần, hệ thống sân bay được bảo đảm cho không quân hoạt động. Qua 15 năm chiến đấu với không quân nhà nghề của Mỹ, Không quân Việt Nam đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng mặc dù trong chiến đấu đã tổn thất rất lớn.
       
        Sau giải phóng miền Nam, đất nước được hoàn toàn thống nhất, Không quân Việt Nam được tiếp quản số lượng lớn máy bay của Mỹ và hệ thống kỹ thuật, căn cứ không quân của ngụy Sài Gòn. Lực lượng không quân Việt Nam được tổ chức thành Quân chủng Không quân gồm 3 sư đoàn không quân chiến đấu, lữ đoàn không quân vận tải, có đủ không quân tiêm kích, ném bom hiện đại, như F5, A37 lực lượng không quân vận tải nhiều loại như C-130, C-123 và nhiều trực thăng cơ động chiến đấu.
       
        Không quân Việt Nam trong cuộc chiến tranh phá hoại đã thực hiện không chiến với không quân Mỹ, tấn công vào đội hình ném bom của không quân Mỹ, bắn rơi và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Không quân Việt Nam đã thực hiện ném bom vào tàu chiến Mỹ, ném bom vào trận địa ra đa Mỹ, ném bom vào hang ổ Sảm Thông, Long Chẹng của ngụy Lào, ném bom vào Dinh Độc Lập ngụy Sài Gòn.
       
        Không quân Việt Nam đã tham gia tác chiến trong các chiến dịch binh chủng hợp thành, chi viện cho bộ đội lục quân, hải quân tấn công địch trong các chiến dịch tấn công, phản công và phòng ngự.
       
        Không quân Việt Nam đã thực hiện cơ động lực lượng, vận chuyển trang bị vũ khí cho các chiến trường, kể cả chiến trường sâu trong lòng địch, không có lực lượng yểm trợ.
       
        Không quân Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, Campuchia có hiệu quả.
       
        Không quân Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ cứu trợ, cứu nạn đối với nhân dân trên nhiều lĩnh vực nhất là vào mùa mưa bão, lũ lụt.
       
        Không quân Việt Nam đã phát triển lớn mạnh, thực hiện nhiều chức năng nhiệm vụ chiến đấu cơ động có hiệu quả cao. Hiệp đồng chiến đấu với nhiều đối tượng khác nhau, trên nhiều khu vực và chiến trường khác nhau.
       
        Qua quá trình hoạt động, chiến đấu của không quân trên đây đã nói rõ vai trò, tổ chức chỉ huy của cơ quan tham mưu không quân để ôn lại những năm tháng không thể nào quên được.
       
        Trước hết nói về sở chỉ huy, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân rất coi trọng tổ chức sở chỉ huy, từ sở chỉ huy cơ bản đến sở chỉ huy phía trước, sở chỉ huy cơ động. Tại các sở chỉ huy đều có 3 thành phần chủ yếu tham gia: Trung tâm chỉ huy của Tư lệnh, sở chỉ huy của không quân và tổng trạm ra đa của Binh chủng Ra đa. Mỗi cơ sở đều có người chỉ huy và các sĩ quan tham mưu đủ sức điều hành bộ đội chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng hỏa lực trong Quân chủng, tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng lục quân, hải quân trong các chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng của bộ chỉ huy mặt trận...
       
        Bộ Tham mưu Quân chủng và lớp lớp sĩ quan tham mưu của Quân chủng Phòng không - Không quân qua cuộc chiến tranh đã trở thành lớp sĩ quan chỉ huy tham mưu lành nghề, có trình độ tổ chức chỉ huy và điều hành bộ đội chiến đấu với hiệu quả cao, góp phần hoàn thành nhiệm vụ đánh bại không quân nhà nghề của Mỹ.
       
        Hệ thống chỉ huy tham mưu không quân được hình thành từ trung đoàn, sư đoàn đến Quân chủng Không quân; trưởng thành cùng nhịp điệu với Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân. Sĩ quan tham mưu không quân hầu hết đã được đào tạo ở các Học viện Không quân Liên Xô cũ, Trung Quốc. Các đoàn đào tạo phi công được trưởng thành song song. Từ trung đoàn đến sư đoàn, cơ quan tham mưu không quân được tổ chức hoàn chỉnh; đủ năng lực điều hành chỉ huy chiến đấu trên không, chỉ huy các nhiệm vụ ném bom và tham gia chiến đấu trong các chiến dịch lớn của binh chủng hợp thành.
       
        Sở chỉ huy không quân ở mặt đất là trung tâm chỉ huy chủ yếu của không quân tham gia chiến đấu và thực hiện hiệp đồng chiến đấu.
       
        Thiết bị chỉ huy chủ yếu trong sở chỉ huy là các đài ra đa dẫn đường không quân và đặc chủng thông tin đối không và ra đa hạ cánh, bảo đảm trực tiếp đối thoại với biên đội chiến đấu trên không. Sở chỉ huy không quân được thu tình báo liên lạc của tổng trạm ra đa và các đài ra đa khu vực. Do đó chỉ huy không quân trong quá trình xuất kích chiến đấu đến kết thúc trận đánh, trong dẫn đường máy bay ta chiến đấu, dẫn đường trên màn hiện sóng ra đa là tính chính xác cao, phi công tiếp cận, cơ động chiến đấu có hiệu quả.
       
        Cơ quan tham mưu không quân đã tổ chức sở chỉ huy cơ động rộng ở các chiến trường - Từ sở chỉ huy cơ bản, sở chỉ huy cơ động vào Khu 4, đầu tiên ở Nghi Lộc, Yên Thành, Diễn Châu, Đô Lương (Nghệ An), Cẩm Quang, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Lệ Thủy (Quảng Bình). Các đại diện không quân có mặt ở các mặt trận và cơ động suốt chiến trường miền Nam đến chiến dịch Hồ Chí Minh, ở chiến trường Campuchia...
       
        Nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Bộ Tham mưu Quân chủng. Tôi viết mấy nét hồi ký ở sở chỉ huy tham mưu làm kỷ niệm.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:29:41 am
       
KÝ ỨC THAM MƯU
       
Đại tá Nguyễn Bắc                         
Nguyên Phó Tham mưu trường Quân chủng       
       
        Giữa năm 1951, khóa 6 Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn bế mạc tại Trung Quốc. Theo chỉ thị của Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, trường tổ chức tiếp một lớp học về tham mưu.
       
        Tôi là một trong số 120 học viên được tuyển chọn vào học khoa Tham mưu này. Nội dung học tập là công tác tham mưu cấp chiến dịch - chiến lược và chiến đấu trong binh chủng hợp thành, chủ yếu là công tác tham mưu lục quân.
       
        Tháng 11 năm 1951, học xong phần lý thuyết tại trường, đại bộ phận học viên về nước, thực tập trên chiến trường, với cương vị tham mưu cấp trung đoàn, đại đoàn và Bộ tổng tham mưu. Từng tổ học viên xuống các đại đoàn 308, 312, 316 tham gia chiến dịch Hòa bình. Trong chiến đấu, một số học viên đã bị thương vong, ở trận đánh Tu Vũ, anh Trung Chính phải cưa chân (sau này, anh Chính được phong giáo sư, tiến sĩ sinh hóa, thầy thuốc ưu tú năm 1990 và là phó chủ tịch Hội sinh hóa Việt Nam); anh Trần Sinh đã hy sinh trong trận đánh Pheo - Hòa Bình trước tết năm 1952...
       
        Sau chiến dịch, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trực tiếp tổng kết công tác tham mưu với khoa Tham mưu; sau đó, quyết định điều động các học viên xuống các đơn vị và về cơ quan.
       
        Riêng bản thân tôi, ngoài những bài học thiết thực về công tác tham mưu, tôi còn tiếp thu được những bài học kinh nghiệm quý báu ở đồng chí Đặng Tính, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân trong những năm 1967 - 1970.
       
        - Tác phong sâu sát của Tư lệnh: Mặc dầu một chân bị tật, đi lại rất khó khăn, đồng chí vẫn thường xuyên xuống kiểm tra đơn vị, trận địa, dù ở trên cao hoặc xa đường cái lớn. Khi bị nhiễu vô tuyến tích cực QRC-160 của máy bay Mỹ làm trắng xóa màn hiện sóng, đài điều khiển, tên lửa không đánh được, một cán bộ lãnh đạo Quân chủng nhận xét: "Các anh bị nhiễu nặng tư tưởng, nên không dám đánh". Tuy có chỉ thị của Bộ, cấm cán bộ cấp cao vào trận địa khi đang chiến đấu nhưng Tư lệnh Đặng Tính vẫn xuống một tiểu đoàn tên lửa và ở hẳn một ngày, đêm trên xe chỉ huy cùng đơn vị và cơ quan tham mưu, cuối cùng đã tìm ra cách đánh hiệu quả. Lúc đó đồng chí mới rời trận địa, về Quân chủng để phổ biến và chỉ huy các đơn vị theo cách đánh mới.
       
        - Một trong những đức tính cần thiết của cán bộ tham mưu:

        Trong cuốn hồi ký "Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh" Stê-men-cô đã viết "Công tác tham mưu, cái nghề bạc bẽo". Stê-men-cô là một sĩ quan tham mưu chuyên nghiệp của Hồng quân Liên Xô, trưởng thành từ thiếu tá xe tăng lên tới Đại tướng chỉ trong một thời gian ngắn mà vẫn phải than thở: "công việc vất vả thuộc anh tham mưu, còn chiến thắng vinh quang thuộc người chỉ huy". Anh lính tham mưu Việt Nam cũng như vậy. Và còn hơn thế, khi giao ban hoặc trong hội nghị, nhiều thủ trưởng hay "quạt" cơ quan, thì Chính ủy Đặng Tính lại động viên chúng tôi "phàm là cán bộ tham mưu, thì phải lấy chữ nhẫn làm đầu". Nhẫn là kiên nhẫn, nhẫn nại, nghiên cứu sách vở tài liệu, sâu sát với đơn vị tìm hiểu địch, ta và mọi điều kiện khác, tổng hợp tình hình, đề xuất các cách đánh hay, phương pháp huấn luyện đạt hiệu quả cao.
       
        Nhẫn cũng có nghĩa là nhẫn nhịn, chịu đựng mọi ý kiến nhận xét của thủ trưởng, đơn vị, cơ quan bạn để "lọc thô, lấy tinh", cải tiến lề lối, tác phong làm việc được tốt hơn. Chính ủy còn "lẩy Kiều", an ủi chúng tôi:
       
"Đã mang lây nghiệp vào thân
Thì đừng trách lẫn trời gần, trời xa"
       
        - Viết theo khẩu khí của Tư lệnh: Khi tôi làm trợ lý tổng hợp của Quân chủng, đồng chí Đặng Tính đã nhắc nhở "Với trình độ văn hóa thì cậu hơn tôi. Nhưng viết các mệnh lệnh, chỉ thị, cậu phải bám sát ý định của Tư lệnh và viết theo khẩu khí của Tư lệnh. Trong công văn, không có từ "yêu cầu', "đề nghị", chỉ có Tư lệnh "quyết định", Tư lệnh "ra lệnh". Tất nhiên đã có đề xuất ý kiến kịp thời, chính xác của cơ quan và tư duy độc lập của Tư lệnh thì chỉ thị, mệnh lệnh mới "thiêng", đơn vị mới chấp hành nghiêm chỉnh.
       
        Tư lệnh lại tế nhị dặn tôi: "Mình sẽ chữa các bản viết của cậu, cứ từng lỗi, mình gạch 1 gạch ra ngoài lề, để cậu biết mà sửa lại". Dần dần, lỗi sửa ít đi, đến khi Tư lệnh xem mà không sửa; lúc đó, đưa công văn lên, Tư lệnh ký ngay, yên tâm với nội dung do tôi chấp bút...
       
        Tiếc thay! Đồng chí Đặng Tính, một con người "văn võ song toàn" lại hy sinh quá sớm, khi còn nhiều triển vọng phát triển hơn nữa. Trước khi chuyển công tác làm chính ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn, đồng chí đã trồng một cây nho trước nơi làm việc của Bộ tư lệnh Quân chủng. Khi đồng chí hy sinh, giàn nho che mát con đường vào nhà Bộ tư lệnh.
       
        Hàng năm, khi những lứa nho đầu mùa chín đỏ, chúng tôi hái vài chùm, đưa sang nhà đồng chí Tính, đặt lên bàn thờ thắp nén nhang, bày tỏ lòng biết ơn của những người "ăn quả nhớ người trồng cây" và kính phục công đức của đồng chí Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân giành thắng lợi vẻ vang...
       
        Trở về đời thường, cán bộ Bộ Tham mưu vẫn thường xuyên gặp nhau; như bác Võ Nguyên Giáp đã nói: "gặp được nhau bây giờ là quý lắm rồi", chúng tôi thăm hỏi nhau khi ốm đau, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, phúng viếng nhau khi qua đời.
       
        Hàng năm, cựu chiến binh Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân lại tổ chức họp mặt truyền thống, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân chủng và Bộ Tham mưu Quân chủng (22-10-1963), ôn lại một thời để nhớ; nhớ về thời chiến tranh đất đối không oanh liệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Quân chủng và Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân và cũng là thời kỳ đẹp nhất trong cuộc đời của từng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên Bộ Tham mưu Quân chủng trong chiến tranh...
       
        Bây giờ, nếu có người hỏi: "được trở lại thời trai trẻ, anh sẽ làm gì?". Tôi sẽ trả lời không một chút suy nghĩ, như một nhà thơ đã viết.

Nếu phải quay trở lại
Tôi vẫn đi đường này
       
        Đường này, nghĩa là con đường tiếp tục làm công tác tham mưu, cái nghề, muôn vàn thân thiết, đã gắn bó cả cuộc đời binh nghiệp của chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:38:58 am
       
ĐỒNG CHÍ NGUYỄN QUANG TUYÊN
VỚI BỘ ĐỘI TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG
       
Đại tá Nguyễn Tiến Thu                           
Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không       
       
        Đồng chí Nguyễn Quang Tuyến quê ở Hải Dương, hoạt động Cách mạng từ thời kỳ Tiền khởi nghĩa. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí làm huyện đội trưởng huyện Gia Lộc, sau chuyển sang bộ đội chủ lực làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 53 thuộc Trung đoàn 42, chiến đấu chống Pháp ở khu Tả Ngạn sông Hồng.
       
        Khi quân đội ta tiến hành xây dựng các đại đoàn chủ lực trực thuộc Bộ, đồng chí được điều động về làm trung đoàn trưởng e165 - Đại đoàn 312.
       
        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 được giao nhiệm vụ đánh thắng trận đầu tiên mở màn Chiến dịch tiêu diệt cứ điểm Him Lam, án ngữ phía Đông Điện Biên Phủ.
       
        Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Bộ Quốc phòng chủ trương điều động một số cán bộ ưu tú của các Đại đoàn chủ lực sang xây dựng các Quân, Binh chủng kỹ thuật.
       
        Các đồng chí Nguyễn Quang Tuyến - Trung đoàn trưởng 141, Trần Nhẫn - Tham mưu phó Trung đoàn 209 về Phòng không, đồng chí Đào Đình Luyện - Chủ nhiệm chính trị đại đoàn 312, đi xây dựng Trung đoàn không quân tiêm kích MIG-17.
       
        Khi Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Đại đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 367 gồm 3 trung đoàn 681 - 685 - 689, đồng chí Nguyễn Quang Tuyến được cử làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Xuân Mậu là Chính ủy Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 681.
       
        Năm 1956, đồng chí Nguyễn Quang Tuyến cùng các đồng chí Lê Văn Tri, Lê Mạnh Phổ là ba cán bộ Việt Nam đầu tiên được cử đi Liên Xô học tập về tên lửa phòng không tại Học viện Pháo binh Lê-nin-grát. Do có tư chất thông minh và biết tiếng Pháp, đồng chí Tuyến tiếp thu nhanh tiếng Nga và học tập giỏi về chuyên môn kỹ thuật tên lửa. Đồng chí còn học tập được tác phong công tác Tham mưu khoa học của các sĩ quan Quân đội Xô viết.
       
        Năm 1960 tốt nghiệp khóa học, về nước, đồng chí được cử làm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân.
       
        Đồng chí Tuyến là một cán bộ chỉ huy và tham mưu trưởng có tài, một cán bộ có đầu óc xây dựng và tổ chức giỏi. Đồng chí luôn hết lòng vì nhiệm vụ, lúc nào cũng say mê với công việc.
       
        Năm 1963, Quân chủng Phòng không cho xây dựng một khung cán bộ, chiến sĩ trung đoàn lấy bí danh là Đoàn 228B để chuẩn bị đi Liên Xô đào tạo thành trung đoàn tên lửa đầu tiên của Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Quang Tuyến được cử làm đoàn trưởng, đồng chí Phạm Đăng Ty làm chính ủy 228B.
       
        Cán bộ chiến sĩ của Đoàn 228B được chọn lọc kỹ lưỡng, nhiều đồng chí được điều động từ trường Đại học Bách Khoa và các cơ quan nhà nước sang. Cán bộ, chiến sĩ của đoàn được học tập về quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại ngữ, rèn luyện về thể lực, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
       
        Nhưng do những điều kiện chủ quan, khách quan lúc bấy giờ Đoàn 228B không đi Liên Xô nữa.
       
        Đầu năm 1965, Liên Xô viện trợ Tên lửa Phòng không CA-75 cho Việt Nam. Đây là loại tên lửa Quân đội Xô Viết đã bắn rơi máy bay trinh sát U2 của Mỹ.
       
        Quân chủng Phòng không - Không quân được giao nhận số vũ khí và điều động số cán bộ đã học tập về tên lửa phòng không ở Lê-nin-grát, Ka-li-nin, Ki-ép cùng số cán bộ chiến sĩ của Đoàn 228B và một số đơn vị khác tổ chức thành Trung đoàn 236 tên lửa đầu tiên, tiếp theo là Trung đoàn 238 và nhiều Trung đoàn khác.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:40:15 am
        Đồng chí Nguyễn Quang Tuyến được cử làm Trung đoàn trưởng e236, đồng chí Phạm Đăng Ty được cử làm chính ủy trung đoàn. Năm 1965, cả hai đồng chí đều được phong quân hàm Thượng tá.
       
        Sau khi nhận nhiệm vụ, đồng chí Nguyễn Quang Tuyến đôn đốc toàn trung đoàn phối hợp với các cơ quan cấp trên chuẩn bị cơ sở vật chất và làm việc với chuyên gia bạn nhanh chóng tổ chức các lớp huấn luyện cho các thành phần chỉ huy và chuyên môn kỹ thuật.
       
        Ngày 01/5/1965, tất cả các lớp đồng loạt ra quân bước vào huấn luyện với khí thế sôi nổi.
       
        Cán bộ, chiến sĩ toàn trung đoàn rất phấn khởi, hăng say học tập không quản ngày đêm. Bạn cũng nhiệt tình và tận tâm giúp đỡ ổn định. Khi mọi việc tổ chức của trung đoàn đã ổn định và các lớp huấn luyện do chuyên gia phụ trách đã đi vào nền nếp, Quân chủng lại điều động đồng chí Tuyến về làm Tham mưu phó Quân chủng kiêm trưởng phòng tác huấn tên lửa, còn gọi là Phòng 22, để lo việc tác chiến, huấn luyện và xây dựng các đơn vị tên lửa mới khác. Về quan hệ đối ngoại: Đồng chí được Bộ giao nhiệm vụ thay mặt Bộ làm việc với các chuyên gia Liên Xô về tên lửa.
       
        Đồng chí Tuyến cũng quan tâm xây dựng tổ chức Phòng 22. Số lượng cán bộ không nhiều nhưng đồng chí chọn những cán bộ có hiểu biết chung, hiểu biết về phòng không và tên lửa. Nhiều đồng chí giỏi tiếng Nga có thể trực tiếp làm việc với chuyên gia Liên Xô. Đồng chí còn chú ý xây dựng nề nếp công tác tham mưu của cơ quan, cho dịch các tài liệu: "Quy tắc bắn tên lửa CA-75" và "Giải thích quy tắc bắn tên lửa CA-75". Cơ cấu thành phần tổ chức cán bộ Phòng 22 có tính chất cơ bản là một cơ quan tham mưu thu nhỏ của Binh chủng tên tên được thành lập sau này cho thấy tầm nhìn xa của đồng chí Nguyễn Quang Tuyến.
       
        Khi Trung đoàn 236 ra quân chiến đấu, trong trận đánh đầu tiên ngày 24/7/1965, đồng chí Tuyến đi sát theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo mọi công tác chuyển binh chủng xong ra quân chiến đấu, đồng chí Tuyến luôn đi sát các đơn vị đến tận những nơi chiến đấu quyết liệt. Đồng chí luôn suy nghĩ tìm tòi cách đánh có hiệu suất chiến đấu cao nhất.
       
        Trong cuộc sống đồng chí rất giản dị, chan hòa với đồng chí, đồng đội, hướng dẫn tận tình cho trợ lý nhưng cũng rất khắc nghiêm khắc đòi hỏi nhân viên mỗi người phải hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mỗi khi chúng tôi cùng đồng chí đi khảo sát địa hình, xác định trận địa, bố trí tên lửa đánh chặn các đường bay của địch, đến địa phương nào trợ lý phải có sẵn bản đồ, còn trong sắc cốt, phải thường xuyên có la bàn, thước chỉ huy, bút chì màu... để đến nơi tác nghiệp được ngay.
       
        Đồng chí xuất thân từ cán bộ Bộ binh, được rèn luyện nhiều, leo đồi, lội suối rất giỏi. Những anh em trợ lý tuy trẻ hơn cả chục tuổi vẫn phải cố gắng hết sức mới theo kịp được đồng chí trong các chuyến đi công tác.
       
        Ngày 02/10/1966, đồng chí Nguyễn Quang Tuyến cùng với cán bộ Phòng 22 gồm các đồng chí Đại úy Nguyễn Như Sơn, Thượng úy Nguyễn Danh Mậu, Trung úy Nguyễn Xuân Minh, Trung úy Nguyễn Văn Đeng đi kiểm tra triển khai chiến đấu của Tiểu đoàn 92, Trung đoàn 278 tên lửa mới ra quân tại trận địa Mãn Đức - Hòa Bình. Khi đoàn cán bộ vừa xuống xe đi lên trận địa trên đồi thì tên lửa Sơ-rai của địch bắn xuống.
       
        Hai đồng chí Sơn và Đeng hy sinh tại chỗ. Đồng chí Tuyến bị một mảnh đạn tên lửa bắn vào đầu làm đồng chí không nói được và hầu như mất trí nhớ. Chúng tôi đến thăm đồng chí điều trị tại bệnh viện Phòng không - Không quân, hỏi đồng chí có biết ai không, đồng chí rơm rớm nước mắt cầm viên phấn viết tên chúng tôi lên mặt bàn.
       
        Anh chị em y tá ở bệnh viện kể rằng: Khi Đài tiếng nói Việt Nam phát thanh tin Bác Hồ mất, đồng chí ngồi khóc, nước mắt lã chã rơi.
       
        Sức khỏe đồng chí ngày cảng giảm dần sau gần hai chục năm bị thương tật nặng. Đồng chí đã ra đi vào cõi vĩnh hằng ngày 01/4/1985.
       
        Chúng tôi thương tiếc đồng chí, một con người có tài năng, đức độ, sống thanh bạch, suốt đời hy sinh tận tụy phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ của quân đội giao cho. Cả cuộc đời binh nghiệp xông pha trận mạc, vào sinh ra tử, đến cuối đời vẫn sống độc thân.         
        Chúng tôi, những cán bộ của Trung đoàn 236, của Phòng 22 đã từng công tác với đồng chí, tuy thời gian không nhiều đều mến phục tài đức của đồng chí, coi đồng chí là người anh cả đáng kính của mình.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:47:59 am
          
SỞ CHỈ HUY TIỀN PHƯƠNG QUÂN CHỦNG
TRONG CHIẾN DỊCH TRỊ - THIÊN NĂM 1972
       
Đại tá Phạm Sơn                          
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng        
       
        Bước vào không khí chung của toàn quân hướng vào chiến trường miền Nam, tháng 11-1971 Quân chủng đã tổ chức tập huấn quán triệt nhiệm vụ, động viên quyết tâm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tiến công chiến lược 1972 cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ đơn vị, cơ quan trong Quân chủng - phổ biến kinh nghiệm chiến đấu phòng không ở Nam Quân khu 4 và chiến dịch đường 9 Nam Lào.
        
        Đảng ủy Quân chủng đã quyết định đưa vào Nam Quân khu 4 và tham gia cuộc tiến công, 4 sư đoàn phòng không 363, 365, 367, 377 (14 trung đoàn cao xạ, 4 trung đoàn tên lửa, 2 đại đội tên lửa A72) một số đơn vị không quân, một số trạm đưa hậu cần, phương tiện kỹ thuật bảo đảm cho các lực lượng phòng không.
        
        Quân chủng cũng quyết định tổ chức sở chỉ huy tiền phương (TP) Quân chủng gồm:
        
        Tư lệnh TP: Hoàng Văn Khánh.

        Chính ủy TP: Nguyễn Xuân Mậu.

        Tham mưu trưởng TP: Dương Hán.

        Phó Tham mưu trưởng: Lê Huy Vinh
        
        Các cán bộ trợ lý của Bộ Tham mưu và các Cục trực tiếp giúp Đảng ủy Bộ Tư lệnh tiền phương nắm và chỉ huy kịp thời các lực lượng phòng không trực tiếp tham gia chiến dịch với quân số tinh biên chế, gọn nhẹ, có kinh nghiệm, hiểu chiến trường.
        
        11 giờ 30 phút ngày 30-3-1972 chiến dịch tiến công Trị - Thiên mở màn, các lực lượng phòng không tham gia đánh mạnh, đánh tốt, yểm hộ cho lực lượng tiến công quân binh chủng hợp thành. Từ 11 giờ 30 phút đến 14h các đại đội 1 2, đại đội 26, đại đội 27 (A72) đã bắn rơi 4 máy bay trên bầu trời chiến dịch. 18h30' tiểu đoàn 64 Trung đoàn 263 đã bắn rơi 1 máy bay trên Cam Lộ, động viên khí thế quân dân Quảng Trị mở màn tiến công chiến dịch. Các ngày tiếp theo, tên lửa, cao xạ, A72 đã kịp thời cơ động bám sát, bảo vệ các mũi tiến công đánh chiếm các khu vực (Mai Lộc, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Toàn v.v...). Chiều ngày 2 tháng 4 Tiểu đoàn 64 lập công xuất sắc đánh 3 trận bắn rơi 2 F4 và 1 B-52, Trung đoàn 274 đánh 7 trận, và ngày 4 tháng 4 Trung đoàn 236, Trung đoàn 274 đã đánh 9 trận bắn rơi 2 máy bay (có 1 B-52).
        
        Ngày 9 tháng 4 kết thúc đợt 1 chiến dịch. Ta đã giải phóng 2 huyện Cam Lộ, Gia Linh, diệt nhiều trung, lữ đoàn địch; lực lượng phòng không toàn mặt trận bắn rơi 86 máy bay, trong đó có 2 B-52. Không quân địch phản ứng quyết liệt, nhằm chặn các mũi tiến công của ta. Địch cũng tập trung đánh quyết liệt vào các trận địa phòng không, nhất là các trận địa tên lửa. Ngày 7 tháng 4 không quân địch đánh vào 7 trận địa tên lửa, làm 5 tiểu đoàn bị hỏng khí tài và một tiểu đoàn kỹ thuật bị hỏng một số đạn.
        
        Ngày 11 và 12 tháng 4 tiền phương Quân chủng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm, tìm nguyên nhân tổn thất và hướng khắc phục, chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch.
        
        Nguyên nhân tổn thất:
        
        * Chủ quan, không dự kiến địch tập trung đánh trả mạnh vào lực lượng phòng không với nhiều thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật phức tạp.
        
        * Địa bàn hẹp, đơn vị tập trung lớn, nhiều trận địa cao xạ tên lửa đã bị lộ, không giữ được kín đáo, bí mật, đơn vị A rút ra thì đơn vị B lại vào. Các trận địa tên lửa lại bố trí giãn cách quá gần nhau (có khi 2 - 3km) khó chi viện cho nhau, lúng túng trong cách đánh.
        
        * Có một số đạn phóng lên bị mất điều khiển chưa tìm ra nguyên nhân, hiệu quả thấp, lỡ thời cơ, bị địch đánh vào trận địa...


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 07:52:00 am
        Hội nghị cũng đề ra các biện pháp khắc phục, cơ động, bí mật, bố trí đội hình, cách đánh xạ kích để đối phó với các thủ đoạn kỹ chiến thuật của địch. Hội nghị thấy rõ thắng lợi to lớn của đợt 1 chiến dịch và chiến công của lực lượng phòng không trong chiến dịch, động viên mọi người quyết tâm chuẩn bị tốt để bước vào đợt 2 chiến dịch. Tiền phương Quân chủng quyết định kiện toàn củng cố lực lượng, bổ sung sửa chữa khí tài đạn, điều chỉnh lại lực lượng và đội hình phòng không trong chiến dịch, lập kế hoạch đưa tên lửa vượt sông sang Cam Lộ "vùng mới giải phóng". Việc bảo đảm cho tên lửa vượt cát ngầm, lầy lội, vượt sông trong lúc địch đánh phá khống chế gây khó khăn, ác liệt. Các trợ lý tiền phương Quân chủng cùng với đơn vị đến trước liên hệ tìm trận địa. Đồng chí Nguyễn Đức Định cán bộ phòng Khoa học Quân chủng đã hy sinh khi vượt sông.
       
        Đến trung tuần tháng 4 năm 1972, các lực lượng phòng không của chiến dịch đã được củng cố và điều chỉnh. Các cụm hỏa lực tập trung nhiều tầng, yểm hộ các mũi tiến công chiến dịch. Các cụm hỏa lực bảo vệ hậu phương chiến dịch cũng đã triển khai. Tất cả đã sẵn sàng bước vào đợt 2 chiến dịch.
       
        Ngày 27 tháng 4 toàn mặt trận đồng loạt nổ súng bước vào đợt 2. Không quân địch cũng tăng cường hoạt động, dùng nhiều thủ đoạn bắn phá kể cả sử dụng B-52 đánh phá ác liệt vào lực lượng tiến công, đồng thời tập trung lực lượng đánh vào lực lượng phòng không. Các lực lượng phòng không đã dũng cảm, ngoan cường chiến đấu, cản phá các đợt bắn phá của không quân địch.
       
        11 giờ 20 phút 27 tháng 4 Trung đoàn 267 bắn rơi 1 F4, 1 trực thăng. Trung đoàn 236 bắn rơi 1 F4, cao xạ bắn rơi 12 máy bay. Ngày 28 tháng 4 các lực lượng cao xạ đánh liên tục bắn rơi 5 máy bay.
       
        Ngày 30 tháng 4 Tiểu đoàn 64, tiểu đoàn 84 Trung đoàn 238 bắn rơi 2 F4 (d86 bắn chi viện d64).
       
        Các tiểu đoàn 8, 62, 64, đánh liên tục vào đội hình B-52, được công nhận bắn rơi 1 chiếc B-52, bảo vệ cho đội hình tiến công của các sư đoàn bộ binh 304, 308, 325. Trong khi đó Tiểu đoàn 68, 69 từ hướng Tây đường 9 phối hợp bắn rơi 1 B-52, Trung đoàn 267 bắn rơi 3 máy bay.
       
        18 giờ ngày 2 tháng 5, Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, kết thúc đợt 2 chiến dịch. Ta đã tiêu diệt tập đoàn phòng ngự mạnh của địch, giải phóng Quảng Trị với 30 vạn dân. Các lực lượng phòng không ta trong chiến dịch đã bắn rơi 59 máy bay các loại (có 2 B-52), bảo vệ an toàn các hướng tấn công và bảo vệ an toàn hậu phương chiến dịch. Ngày 5 tháng 5 trong SCH tiền phương Quân chủng đã tổ chức rút kinh nghiệm cả 2 đợt chiến đấu của lực lượng phòng không trong chiến dịch. Hội nghị biểu dương sự dũng cảm, kiên cường của các đơn vị tên lửa, cao xạ, nêu rõ hướng khắc phục về mọi mặt và chuẩn bị tốt hơn cho đợt 3 chiến dịch.
       
        Trong chiến dịch Trị - Thiên, lần đầu tiên Quân chủng Phòng không đã sử dụng một lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn phòng không tham gia tác chiến quân binh chủng hợp thành trong một chiến dịch - chiến lược quy mô lớn, thời gian dài, đã bắn rơi nhiều máy bay địch bảo vệ đắc lực cho quân binh chủng hợp thành bảo vệ giao thông hậu phương chiến dịch vững chắc, bảo vệ cả vùng mới giải phóng. Đặc biệt 16 giờ ngày 16 tháng 4, biên đội MIG-17 không quân ta từ sân bay dã chiến xuất kích đã đánh tàu chiến Mỹ ở Đông Quảng Bình thắng lợi. Các cơ quan tiền phương Quân chủng đã thực hiện bám sát đơn vị trong mọi tình huống, mọi thời gian, đôn đốc giúp đỡ hướng dẫn kịp thời cho đơn vị và giúp bộ Tư lệnh tiền phương Quân chủng chỉ đạo, chỉ huy kịp thời trong các giai đoạn chiến dịch. Cơ quan và SCH tiền phương Quân chủng chỉ huy, chỉ đạo kịp thời trong các giai đoạn chiến địch. Cơ quan và SCH tiền phương Quân chủng đã hoàn thành nhiệm vụ và góp phần vào kết quả chiến đấu của các đơn vị phòng không chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:33:09 pm
       
MẨU CHUYỆN QUANH SỞ CHỈ HUY QUÂN CHỦNG
       
Đại tá Nguyễn Văn Thân                     
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng       
       
        Tình huống trên không rất phức tạp, lại đột biến, rất khó phân biệt thật giả, địch ta. Điều tâm niệm lớn nhất của chúng tôi khi được tham gia vào kíp trực ban sở chỉ huy Quân chủng là phải rất cẩn trọng khi làm việc, chỉ sơ xẩy một chút thôi là có thể gây ra tai họa khôn lường. Có đồng chí nhiều năm lăn lộn trên chiến trường mà phải ngậm ngùi kết thúc cả cuộc đời binh nghiệp ở đây. Xin kể một câu chuyện.
       
        THẬT HAY GIẢ? ĐỊCH HAY TA?

        Sở chỉ huy K18 là sở chỉ huy Quân chủng được sử dụng nhiều nhất trong chiến tranh, đã được xếp hạng là di tích lịch sử. Đó là một hầm bê tông rất kiên cố, đã bị trúng bom vào nóc mà không hề suy chuyển. Nó gồm có hai phần: Một phần là sở chỉ huy Quân chủng, có một gian để chỉ huy không quân, phần kia là tổng trạm ra đa. Thuở ấy, trực sở chỉ huy là một đồng chí trong Bộ Tư lệnh hoặc Bộ Tổng tham mưu. Tổng trực ban do cán bộ cấp phòng của phòng Tác chiến và phòng Quân huấn đảm nhiệm, mỗi cặp hai người trực liền một tuần.
       
        18-12-1970, đêm đã khuya, cuối năm, trời rét đậm.
       
        Tôi làm tổng trực ban, vừa mới ở dưới hầm ngoi lên, chưa kịp mắc màn thì đồng chí trợ lý truyền lệnh đã chạy lên:
       
        - Thủ trưởng xuống ngay. Biệt kích tập kích vào CR38. (CR38 ở Cô Nội nay thuộc huyện Mai Châu, Sơn La).
       
        Vừa chạy vội xuống, tôi vừa hỏi:
       
        - Ai báo cáo?
       
        - Trực chỉ huy ra đa.
       
        - Mời sang đây gặp tôi ngay?
       
        Tôi thấy phân vân. Đêm 21-11-1970 bọn Mỹ dùng biệt kích đi máy bay trực thăng đổ bộ xuống ngoại vi thị xã Sơn Tây định cứu giặc lái. Từ đó đến nay mới có mấy ngày, đã xuất hiện một tình trạng xao xuyến. Đêm nào, sở chỉ huy cũng nhận được báo cáo: "Có tiếng trực thăng" từ khắp các nơi như Sơn La, Hòa Bình, Quảng Bình v.v... gọi về.
       
        Đồng chí trực sở chỉ huy ra đa sang đưa cho tôi bức điện cơ yếu của Trung đoàn ra đa 292. Xem điện, tôi phát hiện vấn đề và nói:
       
        - Điện đánh từ 5 giờ chiều, đến bây giờ đã qua 6, 7 tiếng đồng hồ, Trung đoàn ra đa 292 chưa có báo cáo gì thêm, chắc tình hình chưa có gì nghiêm trọng.
       
        Chợt nhìn lên bảng hoạt động ra đa, thấy đèn tín hiệu CR38 vẫn hoạt động đang nhấp nháy chứng tỏ đại đội này đang mở máy cảnh giới. Chúng tôi trao đổi và thống nhất với nhau chưa báo động sở chỉ huy và cũng chưa báo cáo lên Bộ vội, đồng chí trực chỉ huy ra đa tổ chức liên lạc vượt cấp trực tiếp xuống thẳng CR38 để thẩm định tình hình.
       
        Tôi gọi điện báo cáo với đồng chí H. Phó tham mưu trưởng, trực chỉ huy, rồi gọi tới đồng chí Tư lệnh. Tư lệnh chỉ thị:
       
        - Báo cho trực chỉ huy giải quyết.
       
        Tiếp đó tôi báo cáo với chính ủy, đồng chí hỏi ngay:
       
        - Quân số, vũ khí CR38 bao nhiêu?
       
        Vì đã biết tính của chính ủy, tôi đã có dự phòng nên vừa lấy số liệu ở đồng chí trực chỉ huy ra đa xong. Tôi báo cáo quân số, trang bị CR38 đến từng số lẻ. Chính ủy lệnh:
       
        - Cho anh em xông ra, bắt sống mấy tên biệt kích, lập công mới.
       
        Anh H xuống lệnh cho tôi:
       
        - Báo cáo ngay lên Bộ ?
       
        Vì chưa rõ ý định của thủ trưởng thế nào, tôi gọi sở chỉ huy Bộ, rồi đưa máy để thủ trưởng làm việc và giở sổ ra ghi chép.
       
        Một lát sau, sở chỉ huy ra đa gọi sang:
       
        - CR36 báo cáo: Buổi chiều có hai người dân đi săn, nghi là biệt kích giữ lại xác minh và đã thả họ ngay từ chiều rồi.
       
        Đây chỉ là một trong vô số tình huống mà kíp trực ban chúng tôi gặp, phải xử trí.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:35:42 pm
        
CÔNG TÁC THAM MƯU RAĐA
TRONG CHIẾN TRANH
       
Đại tá Trần Liên                                      
Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Ra đa        

        1. Xây dựng và triển khai mạng ra đa trinh sát trên không để quản lý vùng trời miền Bắc vừa được giải phóng.
        
        Năm 1954  kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nửa nước được giải phóng, cuộc cách mạng của dân tộc ta đứng trước 2 nhiệm vụ chiến lược là củng cố xây dựng miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
        
        Về phía lực lượng vũ trang là tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính qui ngày càng hiện đại, trong đó có việc xây dựng bộ đội ra đa trong Quân chủng Phòng không để bảo vệ chủ quyền trên không của miền Bắc vừa được giải phóng.
        
        Sau hơn 2 năm, gần 2.000 cán bộ được chọn từ các đơn vị trong toàn quân về bồi dưỡng văn hóa và huấn luyện chuyển binh chủng. Ngày 21-3-1958, Bộ Tổng tư lệnh quyết định tổ chức trung đoàn ra đa đầu tiên gọi là Trung đoàn Cần vụ đối không phiên hiệu là Trung đoàn 260 với biên chế 7 đại đội, trang bị mỗi đại đội một đài ra đa P8 và 3 đại đội quan sát mắt với 45 vọng. Trước mắt, đội hình bố trí cả ra đa và quan sát mắt là bao quanh Hà Nội với nhiệm vụ bảo đảm tình báo trên không cho các lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội - Hải Phòng và cho phòng không nhân dân các địa phương miền Bắc tổ chức phòng tránh. 0 giờ ngày 1-3-1959 các trạm ra đa được lệnh phát sóng làm nhiệm vụ.
        
        Từ đây, Quân đội nhân dân Việt Nam ta có mạng ra đa cảnh giới trên không để quản lý, bảo vệ vùng trời Tổ quốc Bộ đội ra đa lấy ngày 1-3 này làm ngày kỷ niệm truyền thống hàng năm của Binh chủng Ra đa Việt Nam.
        
        Với phương châm vừa xây dựng vừa chiến đấu, từ năm 1959 đến năm 1963, trên cơ sở các khí tài được Liên Xô và Trung Quốc chi viện, chúng ta tiếp tục xây dựng và triển khai thêm 2 Trung đoàn 290 và 292. Trung đoàn Cần vụ đối không 260 sau đổi thành Trung đoàn ra đa 291 lấy bí danh là Đoàn Ba Bể đảm nhiệm vùng trời trung tâm Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Trung đoàn 290 triển khai tháng 7-1960 biên chế 6 đại đội ra đa, lấy bí danh là Đoàn Sông Mã đảm nhiệm vùng trời phía Nam từ Thanh Hóa trở vào. Trung đoàn 292 ra đời tháng 7-1961 với bí danh Đoàn Tô Hiệu biên chế 4 đại đội ra đa đảm nhiệm vùng trời phía Tây và Tây Bắc Hà Nội.
        
        Thời kỳ này đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch 34A hoạt động quấy phá miền Bắc, sử dụng máy bay vận tải cánh quạt C47, C123 ban đêm bay vào vùng rừng núi của ta ở độ cao 2000 - 4000m để thả dù biệt kích. Trang bị khí tài ra đa của chúng ta lúc này mới chỉ có loại ra đa cảnh giới tầng trung sóng mét (P-8, P-10, 513K, 406...) và một số đài sóng dm (P-15 ) bắt thấp, do Liên Xô và Trung Quốc viện trợ. Các đài ra đa này thuộc hệ đèn điện tử, chưa có thiết bị chống sóng về địa vật cũng như chống nhiễu tích cực và tiêu cực; tầm phát hiện chủ yếu là mục tiêu tầng trung ở cự ly gần; đội hình bố trí thưa; trang bị mỗi đại đội mới chỉ có một đài ra đa. Trong điều kiện địa hình nước ta vừa dài vừa hẹp, rừng núi nhiều nên khả năng cảnh giới, quản lý vùng trời lúc này còn nhiều hạn chế. Chúng ta đã tập trung nghiên cứu nguyên lý truyền sóng điện từ, đi sâu tìm trận địa khắc phục góc che khuất và mở rộng mặt phản xạ để cánh sóng vươn xa hơn và thấp hơn. Chúng ta đã đưa đài ra đa 406 của Đại đội ra đa 21 lên núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) ở độ cao trên 1.000m, đưa ra đa ra Đồ Sơn, Sầm Sơn, lấy biển làm mặt phản xạ nhưng lại gặp khó khăn mới là sóng về địa vật nhiễu cả 360 độ. Để phân biệt sóng địa vật với mục tiêu, trắc thủ Đặng Quang Đại đã phải học thuộc tới gần 200 sóng về địa vật để phân biệt với sóng về máy bay, thật là gian khổ, khó khăn. Để bảo đảm thông tin thông báo nhanh trong điều kiện trang bị thông tin còn rất thô sơ và hạn chế, ta đã phải đào tạo báo vụ kiêm đánh dấu đường bay do ra đa truyền về để rút ngắn thời gian giữ chậm tình báo.
        
        0 giờ ngày 01-3-1959 ra đa của ta bắt đầu phát sóng làm nhiệm vụ thì 0 giờ ngày 03-3-1959, Đại đội 4 phát hiện được chiếc C-47 của địch từ biên giới Việt - Lào bay vào vùng rừng núi tây Thanh Hóa - Ninh Bình thả biệt kích, ra đa đã kịp thời phát hiện, thông báo nên toán biệt kích này đã bị quân dân Ninh Bình bắt gọn. Thời kỳ này, hệ thống ra đa đã cảnh giới chặt chẽ vùng trời, phát hiện máy bay địch xâm phạm, phục vụ cho các lực lượng cao xạ và dân quân tự vệ các địa phương phục kích bắn máy bay và tiêu diệt gọn các toán biệt kích địch thả ban đêm xuống miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:39:17 pm
        Nhận rõ âm mưu đế quốc Mỹ, đi đôi với mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, chúng sẽ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Ngày 22-10-1963, Bộ Quốc phòng ra quyết định hợp nhất bộ Tư lệnh Phòng không với Cục Không quân thành Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân bao gồm 3 binh chủng: Cao xạ, Ra đa, Không quân. Được bạn bổ sung thêm một số đài ra đa trong đó có loại sóng cm như 403, 843, P30, ta đã tổ chức thêm một số đại đội ra đa mới và bổ sung khí tài cho một số đại đội ra đa chốt. Trung đoàn ra đa 291 lúc này đã có 11 đại đội với 15 đài ra đa đã tăng cường và mở rộng thêm trường ra đa, bảo đảm cho các lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội - Hải Phòng. Mặc dù lúc này, không quân chiến đấu của ta chưa về nước, trang bị ra đa của ta chưa đảm bảo được nhiệm vụ dẫn đường cho máy bay nhưng với tinh thần tích cực tiêu diệt địch, Bộ Tư lệnh đã quyết đinh sử dụng chiếc máy bay T-28 của ngụy Lào sang hàng tháng 9-1963 (lấy bí danh là chiếc 963) cất cánh đánh chặn máy bay chở biệt kích của địch bị ra đa ta phát hiện ở Hòa Bình đêm 24 rạng sáng 25 tháng 5 năm 1964. Thời kỳ này Bộ Tổng tham mưu đã lệnh cho không quân không bay đêm để các lực lượng PK chủ động bắn khi phát hiện máy bay bay đêm. Bộ đội ra đa lúc này có hai nhiệm vụ: Là làm sao thông báo ngay cho các lực lượng PK không bắn máy bay đêm nay để khỏi bắn nhầm chiếc 963 lại phải bảo đảm ra đa dẫn đường chiếc 963 cất cánh an toàn và bắn hạ chiếc C123 địch đang bay vào. Ra đa bảo đảm dẫn đường lúc này chỉ có 1 đài ra đa P10 sóng mét và 1 ra đa P15 sóng dm của Đại đội ra đa 28, chưa có ra đa sóng cm và đo cao. Máy bay 963 lại không có máy trả lời địch - ta nên chỉ huy ra đa và sĩ quan dẫn đường KQ phải bàn cách bất ngờ cho 963 cất cánh, vừa lấy độ cao vừa bay thẳng tới mục tiêu và chỉ huy 963 thay đổi độ cao và phương vị để có thể phân biệt địch ta trên hiện sóng và dẫn 963 vào thế có lợi để phát hiện và công kích C123 hiệu quả. Chiếc 963 cất cánh vượt qua hỏa lực phòng không Hà Nội tới 60km rồi mới nghe tiếng pháo cao xạ nổ. Hai phi công Ba và Phước đã bắn hạ C123, thực hiện quyết tâm "dùng máy bay địch để đánh địch" trong trận này.
       
        Đầu năm 1966, được bạn chi viện thêm vũ khí, trang thiết bị như máy bay MiG-21, ra đa P30.35, PPB1 1 sóng cm... Quân chủng đã tổ chức Tiểu đoàn 300 huấn luyện sử dụng các khí tài mới và phát triển thêm các trung đoàn không quân và ra đa. Ngày 9-4-1966, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập thêm Trung đoàn ra đa dẫn đường 293 trang bị các loại đài P35, PPB11 đặc trách nhiệm vụ dẫn đường cho không quân, biên chế 7 đại đội ra đa. Qua thực tế chiến đấu, với địa hình đất nước ta hẹp, dài, rừng núi nhiều, trang bị của ta có hạn nên đội hình ra đa không thể bố trí có chiều sâu mà chỉ có thể bố trí theo tuyến và hướng. Mỗi trung đoàn ra đa phụ trách một hướng kiêm 2 nhiệm vụ, cả cảnh giới và dẫn đường. Ngay từng đại đội ra đa cũng phải kiêm nhiệm cả 2 nhiệm vụ cảnh giới và dẫn đường, tùy theo trang bị mà xác định nhiệm vụ chủ yếu và thứ yếu. Do đó, đến tháng 8-1966, lại phải chuyển trung đoàn ra đa dẫn đường 293 trở về nhiệm vụ vừa cảnh giới vừa dẫn đường; chuyển một số đại đội ra đa dẫn đường của Trung đoàn 293 về cho Trung đoàn 291 và nhận về 2 đại đội cảnh giới và một cụm quan sát mắt để phụ trách vùng trời phía Bắc và Đông Bắc Hà Nội. Từ đấy đến khi kết thúc chiến tranh ta đã trang bị cho các trung đoàn ra đa có cả đại đội ra đa cảnh giới và đại đội ra đa dẫn đường để kiêm nhiệm cả cảnh giới và dẫn đường. Mỗi trung đoàn ra đa đảm nhiệm một hướng như Trung đoàn ra đa 291 đảm nhiệm hướng Đông Nam (Nam đến Đông), Trung đoàn ra đa 293 đảm nhiệm hướng Đông Bắc (Đông đến Bắc), Trung đoàn ra đa 292 đảm nhiệm hướng Tây Nam (Nam đến Bắc), Trung đoàn ra đa 290 đảm nhiệm tuyến trước ở phía Nam.
       
        Thực tiễn tổ chức, bố trí đội hình và sử dụng lực lượng ra đa như trên đã đảm bảo cho bộ đội ra đa hoàn thành được nhiệm vụ cảnh giới bảo đảm cho các lực lượng phòng không ba thứ quân chủ động đánh địch cũng như cho lực lượng PKND tổ chức phòng tránh có kết quả suốt cuộc chiến tranh, đặc biệt là đảm bảo tình báo trên không cho các binh chủng Cao xạ, Tên lửa, Không quân thắng địch ngay từ trận đầu ra quân.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:41:40 pm
       
        2. Quán triệt tư tưởng tác chiến phòng không: "Tích cực tiêu diệt địch, giữ gìn bồi dưỡng lực lượng ta, càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành" Binh chủng Ra đa đã bảo đảm cho các lực lượng phòng không ba thứ quân thực hiện thắng lợi cả hai phương thức tác chiến; tác chiến tại chỗ rộng khắp của các lực lượng phòng không địa phương, dân quân tự vệ và tác chiến tập trung của các binh chủng chủ lực Cao xạ, Tên lửa, Không quân (Quân chủng PK-KQ), đánh thắng mọi thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch, chiến lược của không quân đế quốc Mỹ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch cũng như bảo đảm tình báo trên không cho phòng không nhân dân tổ chức báo động phòng tránh và sản xuất thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không của nhân dân ta chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.
       
        Sau thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" đưa quân Mỹ và chư hầu (Nam Hàn, Úc,...) vào tham chiến ở miền Nam đi đôi với "Chiến tranh cục bộ", ở miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.
       
        Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất: Từ ngày 7-2-1965 địch liên tiếp tổ chức các bước leo thang đánh phá ra miền Bắc ép dần vào trung tâm Thủ đô Hà Nội với các chiến dịch gọi là: "Mũi tên xuyên" rồi các đợt "Sấm rền". Chủ yếu Mỹ sử dụng máy bay chiến thuật của hai sư đoàn không quân chiến thuật bố trí ở Thái Lan và máy bay của hải quân trên các tàu sân bay dẫn từ ngoài biển Đông để đánh phá miền Bắc.
         
        Nổi bật nhất là cuối năm 1966 đầu năm 1967, để hỗ trợ cho hai cuộc phản công mà địch gọi là hai cuộc phản công chiến lược quy mô lớn để thực hiện chiến lược "Tìm diệt" ở miền Nam, đồng thời leo thang, mở rộng diện đánh phá ác liệt bằng không quân dọc tuyến hành lang miền Bắc nhằm vào trung tâm 6 hệ thống mục tiêu (điện lực, quân sự, giao thông, công nghiệp, nhiên liệu và giao thông vận tải với cường độ và quy mô lớn). Địch hoạt động cả ban ngày và ban đêm với nhiều thủ đoạn kỹ chiến thuật phức tạp như bay cơ động, bay nhiều tầng (thấp 200m - 500m), lẫn sau địa hình (147JSC không người lái), bay trinh sát cao 10.000m bằng U2, không người lái BQM 34, cao trên 20.000m tốc độ lớn 2M của SR71, cường kích bay độ cao 4000m - 6000m của không quân chiến thuật, bay cơ động và thấp 3000 - 4000m của máy bay hải quân, tập kích từ nhiều hướng, nhiều tầng, đánh nhiều mục tiêu cùng một lúc, nhưng nổi bật nhất là gây nhiễu điện tử trong và ngoài đội hình, cường kích đi đôi với phóng tên lửa tự dẫn thụ động (Shrike AGM 45A) đánh phá trận địa ra đa các loại của ta.
       
        Không quân địch đã leo thang đánh phá ra hầu như toàn miền Bắc, không chỉ mục tiêu giao thông vận chuyển mà cả các khu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp. Lực lượng phòng không - không quân ta cũng đã phát triển mạnh và triển khai trên toàn miền Bắc. Bộ tư lệnh Quân chủng không thể chỉ huy trực tiếp đến các trung đoàn hỏa lực trên các khu vực được nên đầu năm 1967, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập các Bộ tư lệnh Binh chủng Ra đa, Không quân, Tên lửa với các phiên hiệu là Sư đoàn 373, 371, 369 (24-3-1967) và các sư đoàn PK hỗn hợp. Từ đây, các binh chủng được tổ chức và lãnh đạo, chỉ huy, sát hợp với đặc thù của binh chủng mình. Để phát huy tính chủ động và nâng cao chất lượng chiến đấu trong chiến tranh. Bộ tư lệnh ra đa cũng gấp rút điều chỉnh đội hình, tổ chức mạng ra đa theo từng hướng bảo đảm cả nhiệm vụ cảnh giới và dẫn đường đưa các cụm quan sát mắt biên chế trực tiếp vào các trung đoàn ra đa, Bộ tư lệnh ra đa, tổ chức hệ thống thông báo tình báo tập trung (tổng trạm) nhất là hệ thống thông báo tình báo phân tán của từng trạm ra đa và trạm quan sát mắt đến đơn vị hỏa lực bố trí trong cùng khu vực.
       
        Năm 1967, địch mở liên tiếp các đợt đánh tập trung (tháng 8, 10, 11, 12) vào Hà Nội, Hải Phòng. Mỗi đợt kéo dài 4 đến 5 ngày liền với cường độ xuất kích cao nhất là tháng 10 năm 1967 tới 200 - 300 lần/chiếc/ngày phối hợp cả không quân chiến thuật, không quân hải quân và thủy quân lục chiến với các thủ đoạn chiến tranh điện tử phức tạp, kỹ thuật cao như:
       
        Gây nhiễu ngoài đội hình cường kích bằng EB-66 B/C, có trận tới 6 chiếc bay chế áp khu vực bao quanh Hà Nội, Hải Phòng (D = 100 - 150km). EB66 đến trước, phát nhiễu cùng một lúc tất cả các dải sóng "m, dm, cm" của ra đa và cả rãnh siêu cao tần VHF thông tin.
       


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:43:14 pm
        Gây nhiễu trong đội hình cường kích bằng cách mỗi máy bay đeo 1 - 2 máy gây nhiễu (QRC, ALQ) không quân chiến thuật đeo QRC160 đội hình "bàn tay xòe" phát nhiễu tích cực, máy bay hải quân đeo ALQ41, 51 phát nhiễu xung mục tiêu giả. Trong đội hình cường kích đều có máy bay chuyên đánh trận địa ra đa bằng tên lửa tự dẫn (AGM 145A) hoặc bom bi (CBU). Để phát hiện và thông báo địch trên không cho các lực lượng phòng không đánh địch và cho lực lượng PKND tổ chức báo động phòng tránh có hiệu quả, bộ đội ra đa đã phải vừa chiến đấu vừa rút kinh nghiệm, hết phiên trực ban mở máy chiến đấu lại chuyển sang huấn luyện tại chỗ. Kết hợp trinh sát địch bằng ra đa với quan sát mắt, kết hợp vận dụng chiến thuật với trang bị kỹ thuật của từng loại đài ra đa. Kết hợp tình báo xa chiến lược (Bộ Quốc phòng) với tình báo ra đa trực tiếp phát hiện để sớm phát hiện thông báo cho các lực lượng phòng không chủ động đánh địch và cho lực lượng PKND báo động phòng tránh kịp thời. Hầu hết các đợt đánh lớn của địch, ra đa đã bảo đảm cho các binh chủng Cao xạ, Tên lửa, Không quân đánh độc lập cũng như chiến đấu hiệp đồng tiêu diệt được nhiều địch. Nhiều đợt địch phải bỏ dở kế hoạch đánh phá. Có trận địch bị tên lửa và không quân ta đánh trúng chiếc chỉ huy, cả đội hình phải quay về. Ra đa đã bảo đảm cho tên lửa và không quân ta đánh vào máy bay gây nhiễu ngoài đội hình và cảnh giới chỉ huy (E/RB-66) để phá kế hoạch tác chiến điện tử và tổ chức trận đánh của địch. (Từ năm 1966-1968 tên lửa và không quân ta đã bắn rơi 4 chiếc E/RB-66). Ra đa đã bảo đảm dẫn đường cho không quân ta (MIG-17, 19, 21) từng loại đánh độc lập và đánh hiệp đồng, hiệu suất cao như tháng 12-1966, MIG-17 đánh 13 trận hạ 11 máy bay địch. Cả năm 1967, không quân ta đã hạ 115 máy bay địch, nhất là thời điểm tên lửa ta bị địch gây nhiễu nặng (ALQ-71).
       
        Tết Mậu Thân (1-1968) cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam đánh vào 30 thành phố và 70 thị trấn. Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ đã thất bại. Johnson đã chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đồng thời ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 200 Bắc nhưng vẫn tập trung đánh phá ác liệt giao thông vận chuyển chi viện của ta vào Nam ở Quân khu 4 nhất là trên đường Trường Sơn (559).
       
        Từ 1968 đến 1971, bộ đội PK-KQ đã vừa tăng cường lực lượng cho phía Nam để đánh địch bảo vệ giao thông vận chuyển chi viện miền Nam, vừa đánh địch tăng cường trinh sát ngoài vĩ tuyến 200 Bắc bằng máy bay KNL bay thấp (147 JCS, SRE16,...) và bay cao không tốc độ lớn của SR-71, vừa tranh thủ rút kinh nghiệm chiến đấu trong năm 1967 vừa qua, nâng cao chất lượng chiến đấu của các binh chủng.
       
        Bộ đội ra đa tranh thủ vừa trực ban, vừa rút kinh nghiệm, xây dựng quy trình thao tác kỹ thuật cho từng loại đài để bắt mục tiêu các tầng không thấp, cao, chống tên lửa tự dẫn và nhất là chống nhiễu điện tử của địch, chuẩn bị cho chiến đấu tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:45:04 pm
       
        Chiến tranh phá hoại lần 2:

        Từ năm 1965, Bác Hồ đã nhắc nhở Phòng không - Không quân phải chú ý đối tượng B-52, Bác đã nói: "Mỹ chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội" . Từ năm 1965, Quân chủng đã cơ động Trung đoàn tên lửa 238 vào Vĩnh Linh (Quảng Bình) để nghiên cứu đánh B-52. (Ngày 17-9-1967, Trung đoàn tên lửa 238 đã bắn hạ một B-52 ở Nam giới tuyến 170 Bắc, rơi ngoài biển). Từ năm 1970-1971, bộ đội ra đa cũng đã tăng cường lực lượng vào phía Nam. Đưa Trung đoàn ra đa 291 vào Quân khu 4, đưa đại đội 3 trinh sát nhiễu sát nhập vào Trung đoàn ra đa 290; mở đội hình ra đa sang phía Tây để nghiên cứu phát hiện B-52, bảo đảm dẫn đường cho MIG-21 ta đánh B-52 trên đường vận chuyển 559. Cơ quan tác chiến, khoa học quân sự và kỹ thuật các binh chủng và Quân chủng cũng đã tổ chức thành từng đoàn xuống các trận địa ra đa, tên lửa để nghiên cứu cách phát hiện và đánh B-52.
       
        Từ 30-3-1972, quân đội ta tiến công chiến lược trên khắp miền Nam từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cơ đồ Việt Nam hóa chiến tranh của Ni xon có nguy cơ bị thất bại hoàn toàn. Mỹ huy động không quân và hải quân chi viện quân ngụy ở miền Nam và đánh phá trở lại miền Bắc: 1400 máy bay chiến thuật (40% KQCT), 193 B-52 (45% B-52) và 14 tàu sân bay (CVA) (3/4 tàu hạm đội 7; điều 20 B-52 từ Mỹ sang Utapao, 12 F111 Tacklee (Thái Lan), 21 F4D từ Philippin sang Đà Nẵng; đưa 3 phi đoàn của thủy quân lục chiến vào Đà Nẵng và 6 hàng không mẫu hạm (CVA) vào biển Đông Việt Nam để thực hiện "Mỹ hóa chiến tranh bằng không quân"; dùng không quân làm hỏa lực chính để chi viện quân ngụy ngăn chặn ta tiến công Quảng Trị - Huế.
       
        Sau thất bại của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng không quân chiến thuật, không quân Mỹ đã không ngừng nghiên cứu cải tiến vũ khí, trang bị và thủ đoạn tập kích đường không, đặc biệt là mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào khu vực hỏa lực phòng không mạnh Hà Nội, Hải Phòng.
       
        - Về tên lửa tự dẫn chống ra đa AGM 45A đã cải tiến (AGM 45D) mở rộng cửa sóng và độ nhạy thu để đánh trúng cả ra đa quay tròn (6 vòng/phút của P35, P37) ở cánh sóng phụ và sử dụng tên lửa ARM 78, 79 có sức công phá mạnh hơn (chiến tranh phá hoại lần thứ nhất tháng 5-1967 địch đánh vào Hà Nội phóng 70 quả AGM 45A chỉ một quả trúng một đài ra đa pháo, và không đánh trúng P35, P37).
       
        - Về vũ khí không thả bom Walleye (VTTH) nữa mà bắt đầu chiếu và thả bom la-de khá chính xác vào cầu và công trình nhà máy...
       
        - Đặc biệt là thủ đoạn gây nhiễu điện tử với trang bị kỹ thuật cao và chiến thuật phức tạp hơn nhất là trong tổ chức đội hình B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Mỗi trận đánh bằng B-52 địch tổ chức như sau:
       
        - Trước khi B-52 vào 10-15 phút địch gây nhiễu ngoài đội hình bằng EB-66B/C/E. Từng chiếc bay khu vực có 1 - 2 chiếc F yểm hộ, khống chế ta ở 2 hướng Tây Nam và Đông Bắc cách biên giới phía Tây và bờ biển phía Đông 50 - 80km. Ở mỗi hướng địch dùng tới 2 - 3 EB-66 trang bị 15 máy trinh sát và 12 máy phát nhiễu trinh sát và phát nhiễu ra đa dải tần rộng và nhiễu thông tin rãnh siêu cao tần (VHF). EB-66 kết hợp với EC-121 cảnh giới phát hiện MIG và tên lửa của ta để chỉ điểm cho F cường kích đánh phá.
       
        - Đội hình B-52 có cường kích yểm hộ, đều đeo máy gây nhiễu (trong đội hình). B-52D,G trang bị tới 15 máy phát nhiễu tích cực dải tần rộng (40 - 10.500MHz) công suất lớn P = 100W gây nhiễu cả ra đa cảnh giới, dẫn đường, đài điều khiển tên lửa, ra đa MIG theo các chế độ chặn ngắm, quét và 2 máy nhiễu tiêu cực (ALE 24.27). (Mỗi máy ALE đeo 450 bó kim loại) và 1 máy thả pháo sáng ALE 20 để đối phó với tên lửa nhiệt của MIG ta.
       
        Loại F (F-4, F-105) yểm hộ cho B-52 thường bay trước và 2 bên sườn đội hình B-52, F-4 đến trước thả nhiễu tiêu cực: Phóng bom nhiễu tạo nên màn rộng 4 - 6km dài 30km để che hướng B-52 vào, F105G đeo "Shrike" (AGM 45D) trinh sát phát hiện chế áp tên lửa ta. Các máy bay (F) này đều đeo máy gây nhiễu được điều khiển tự động bằng vi xử lý công suất lớn ALQ/87, máy gây nhiễu 2 chức năng tạp và xung trả lời (ALQ/101) cũng như đeo máy gây nhiễu tiêu cực (ALE 24.27).


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:54:15 pm
        Cả đội hình B-52 này tạo một trường sóng gây nhiễu tổng hợp mạnh ra phía trước, cự ly 200 - 300km gây khó khăn cho các loại ra đa ta phát hiện chúng và khó phân biệt đâu là mục tiêu thật, giả, đâu là loại F, đâu là B-52 để hỏa lực đánh đúng đối tượng.

        Từ 6-4 đến 16-4-1972 địch mở chiến dịch "Line Backer I" sử dụng B-52 để chi viện quân ngụy ở Quảng Trị và leo thang đánh phá ra miền Bắc. Đêm 10-4 đánh ra Vinh, 13-4 đánh ra Thanh Hóa, 16-4 đánh ra Hải Phòng. Cả mạng ra đa cảnh giới và nhìn vòng của hỏa lực ta đều bị nhiễu nặng không phân biệt được mục tiêu loại F và B-52. Nhiều đơn vị bỏ lỡ thời cơ bắn, tốn nhiều đạn tên lửa nhưng chỉ bắn trúng loại F không bắn đúng B-52. Địch chủ quan, huyênh hoang tuyên bố: "Với kỹ chiến thuật nhiễu này, B-52 của chúng sẽ bay vào bất cứ chỗ nào như đi vào chỗ trống'!. Phía ta, toàn Quân chủng từ cơ quan tham mưu, kỹ thuật, khoa học quân sự cũng như các đơn vị chiến đấu các binh chủng ngày đêm lao vào chiến trường Quân khu 4 nơi đích đang liên tục sử dụng B-52 ban đêm đánh phá giao thông vận chuyển của ta để nghiên cứu tìm cách phát hiện và đánh B-52 trong nhiễu điện tử.

        Đài trưởng và trắc thủ ra đa đã vận dụng phát huy mọi tính năng kỹ thuật của đài, phát huy tính năng dải tần rộng của các đài P-35137 ~6 máy phát), dùng cánh sóng hẹp công suất lớn (PRB 1 1 . . . ) , tốc độ quét nhanh để phát hiện B-52 trong nhiễu tạp. Cùng với việc triển khai một số đài cũ của ra đa pháo và cảnh giới (COH GA, P.lo, 406, K.8.60) để mở rộng tần số phát hiện địch; đưa đơn vị trinh sát điện tử (C3 ) về phía trước..). Ta điều chỉnh đội hình ra đa cảnh giới sang phía Tây để có tham số đường bay > 450 phát hiện B-52 ở cánh sóng phụ và đuôi cánh sóng nhiễu của cả đội hình, thực hiện chiến thuật "Lấy xa bù gần, hai bên sườn bổ trợ chính diện" để phát hiện B-52 sớm và liên tục.

        Đêm 22-11-1972, hai tiểu đoàn tên lửa Trung đoàn tên lửa 263 bố trí ở Nghệ An được CR45 Trung đoàn ra đa 291 cung cấp phân tử nhìn vòng đã bắn rơi 2 B-52. Địch thú nhận một chiếc rơi ở Nakhon Pha non Thái Lan), chiếc thứ hai bị thương lết về Utapao (Thái Lan). Ở miền Nam ta giải phóng Đông Hà, thị xã Quảng Trị, chiếm Đắc Tô, Tân Cảnh ở Tây Nguyên, giải phóng Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Hiệp Đức (Khu 5) và Lộc Ninh. Ở Nam Bộ. Quân ngụy rất nguy ngập: Tại Hội nghị Pa-ri ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện đánh phá miền Bắc và rút hết quân Mỹ và chư hầu khỏi miền Nam. Ngày 22- 10- 1972 ta và Mỹ đã hoàn thành văn bản hiệp định. Ni-xơn tuyên bố ngừng đánh phá từ vĩ tuyến 20 Bắc trở ra, nhưng rồi lại tráo trở ép ta nhân nhượng một số điều khoản đã ký kết với âm mưu trì hoãn thời gian để tăng viện trợ quân ngụy và ngăn chặn ta chi viện cho miền Nam.

        Từ 23-10-1972, địch đánh phá trở lại miền Bắc, nhất là đánh phá giao thông vận chuyển nước ta ở vĩ tuyến 200B trở vào cùng với việc thả bổ sung thủy lôi vào cảng Hải Phòng.

        Từ 18-12-1972 đến 29-12-1972 , địch mở chiến dịch tập kích đường không chiến lược B-52 thứ 2 (Line Backer II) trọng tâm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:05:33 am
        Ngày 18-12-1972, hoạt động của không quân địch giảm đột ngột, bộ đội ra đa cảnh giác phán đoán địch sẽ có âm mưu hoạt động gì mới đây. Sở chỉ huy ra đa nhắc nhở các đơn vị cảnh giác tập trung phát hiện B-52 từ 18 giờ 15 phút, Trung đoàn ra đa 290 báo cáo: Phát hiện nhiễu, đại đội 3 trinh sát điện tử cũng báo cáo có nhiều B-52, CR 37 Trung đoàn ra đa 292 ở Tây Nguyên cũng báo cáo có nhiễu; P-12 CR45 Trung đoàn ra đa 291 phát hiện nhiễu. Đơn vị chủ động mở tăng cường P-35, đã phát hiện và bám sát đội hình B-52 từ Nam Lào lên, bắt đầu vượt qua vĩ tuyến. Đơn vị đã khẳng định B-52 sẽ bay vào đánh Hà Nội và báo cáo lên sở chỉ huy Binh chủng và Quân chủng . 19 giờ 34 phút đội hình B-52 có 20 máy bay chiến thuật yểm trợ đang vào Hà Nội 19h44'... Tiểu đoàn 78 Trung đoàn tên lửa 257 đã chủ động bắn vào tốp đầu, rồi Tiểu đoàn 59 Trung đoàn tên lửa 261 bắn tốp 2. Một B-52 rơi tại chỗ phù Lỗ) và khi địch bay ra, CR 47 đã thông báo cho Tiểu đoàn 51 Trung đoàn tên lửa 263 ở Nghệ An bắn hạ tiếp 1 B-52 nữa ở Khe Bố. Thế là ra đa đã phát hiện được B-52 trong nhiễu, thông báo cho các đơn vị hỏa lực (Không quân, Tên lửa) sớm 40 phút (cách Hà Nội 500km) để tên lửa và không quân ta chủ động bắn rơi B-52 tại chỗ ngay từ trận đầu của chiến dịch. Phát huy kết quả của kỹ chiến thuật chặng chiến tranh điện tử địch, bộ đội ra đa cũng như bộ đội hỏa lực đã liên tiếp phát hiện và đánh trúng B-52 suốt 12 ngày đêm của chiến dịch nhất là những trận điển hình như đêm 20 rạng 2 1112, bộ đội Phòng không - Không quân ta đã đánh trận tiêu diệt lớn (bắn rơi 6 B-52 trong số 93 ức vào đánh phá hay như đêm 26-12 đêm đầu của đợt 2, địch đã huy động 120 lượt chiếc B- 52 có 148 cường kích phối hợp đánh phá vào yểm hộ (có cả Fl 1 1 bay rất thấp) H: 200 - 300m) một lúc tập kích từ nhiều hướng vào đánh phá cả 10 mục tiêu của ta, nhưng đã bị ta bắn rơi tại chỗ 8 chiếc ngay trong 15 phút đầu.

        Trong chiến dịch Linebackern này, Mỹ đã huy động 740 l/c B-52 với 2123 l/c cường kích (có cả F111) với trang bị điện tử cải tiến hơn (máy phát nhiễu ALQ/87.94/100/101, tên lửa chống rađa AGM.45D, ARM 78....) đánh vào Hà Nội, Hải Phòng đã bị các lực lượng phòng không ba thứ quân bắn hạ 81 máy bay trong đó có 34 B-52 và 5 F111, đặc biệt là bộ đội tên lửa phòng không ta đã bắn hạ nhiều B-52 roi tại chỗ. Thắng lợi của chiến dịch chống tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của Mỹ ở miền Bắc cùng với thắng lợi của quân dân ta ở miền Nam buộc địch phải ký hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 27-1-1973.

        Chiến tranh nhân dân trên mặt trận đất đối không của quân và dân ta đã thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân hiện đại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.

        Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nửa nước được giải phóng (1954) với chủ trương xây dựng Quân đội thành Quân đội cách mạng chính quy và tương đối hiện đại, các binh chủng rađa cũng như cao xạ, không quân, tên lửa đều được bắt đầu tổ chức và xây dựng. Từ bộ đội cao xạ (cỡ nhỏ) đã tham chiến ở Điện Biên Phủ, còn các binh chủng khác đều mới bắt đầu tổ chức và chuyển binh chủng, nhưng đã phải lao ngay vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân hiện đại nhất lúc bấy giờ của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.

        Đây là cuộc chiến đấu hoàn toàn không cân sức, nếu so sánh tương quan lực lượng mà cụ thể nhất là về vũ khí trang bị kỹ thuật phòng không, đặc biệt trong lĩnh vực đấu tranh điện tử nhưng với "quyết tâm thắng giặc", quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân, với phương châm: Vừa chiến đấu vừa xây dựng, có gì đánh nấy bằng trí thông minh, mưu trí, sáng tạo trong cách đánh đi đôi với lòng dũng cảm, các lực lượng phòng không ba thứ quân mà nồng cốt là các binh chủng Cao xạ, Rađa, Tên lửa, Không quân của Quân chủng Phòng không - Không quân đều đã thực hiện được tư tưởng tác chiến "Tích cực tiêu diệt địch, giữ gìn bồi dưỡng lực lượng ta, càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành" góp phần xây dựng nghệ thuật quấn sự của chiến tranh nhân dân đất đối không của Quân đội ta./.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:09:35 am
      
ĐÔI ĐIỂU SUY NGẪM VỀ CÔNG TÁC QUÂN BÁO TRINH SÁT
PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN

Đại tá Lê Tư                              
Nguyên trưởng phòng Quân báo Quân chủng        

        Cuối năm 1957, tôi đang ở Trung đoàn 220, là Trưởng tiểu Ban Tác huấn, được điều về Ban Tác chiến Đoàn 367 (Bộ tư lệnh Phòng không), phụ trách trực ban SCH (Sở chỉ huy). Đầu năm 1960, tôi được phân công thay đồng chí Cao Phong làm Trưởng ban Trinh sát Phòng không. Bước đầu rất ngỡ ngàng, với tâm trạng:

        - Phần thì phấn khởi (được giao nhiệm vụ).

        - Phần thì lo lắng (vì chưa quen công tác!).

        Được sự động viên của các thủ trưởng, đồng chí Đoàn Phụng (lúc đó là chính ủy) ân cần hỏi: Đồng chí là đảng viên có nhớ lời dạy của Bác Hồ: ' Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên". Tôi không nói gì thêm, chỉ đứng nghiêm báo cáo rõ!

        Chiều đến, đồng chí Nguyễn Quang Bích (TMT) giao nhiệm vụ, dặn dò một số việc, cuối cùng đồng chí chỉ thị: Đồng chí trực ban ở sở chỉ huy đã theo dõi:

        Tinh hình địch gần đây hoạt động rất ráo riết... lợi dụng đêm tối cho máy bay lẻn vào miền Bắc, thả thám báo, biệt kích các vùng biên giới và ven biển. Có nhiều tốp ta phát hiện được, phối hợp lực lượng mặt đất tóm gọn, nhưng cũng có tốp bỏ sót, chúng xuống được mặt đất đang lén lút hoạt động!’

        Riêng về mặt phòng không, bộ đội Rađa ta mới triển khai, lực lượng bố trí còn mỏng, chưa có kinh nghiệm phát hiện mục tiêu, còn bỏ sót, bỏ lọt, đặc biệt có tốp hoang báo. Theo dõi trên bản đồ đánh dấu đường bay có những đoạn đứt quãng, có những đoạn đường bay xoắn tít rồi đứt quãng, lặp đi lặp lại nhiều lần, đặt vấn đề nghi vấn. Kiểm tra bằng cách: Hỏi địa phương, kiểm tra tiếng động (lúc nói có, lúc nói không!), kiểm tra phân biệt sóng về địa vật, hay phát hiện nhầm với đám mây tích điện v.v...

        Thay mặt Bộ tư lệnh giao nhiệm vụ cho đồng chí tổ chức đi trực tiếp để xác minh cụ thể, có kết luận và báo cáo! Một thử thách, một bài học đầu tiên bước vào nghề trinh sát! Tôi xác định trách nhiệm: Trước hết là quyết tâm đế hoàn thành nhiệm vụ: - Chính ủy đã căn dặn rồi!

        - Tham mưu trưởng nói rõ nhiệm vụ rồi!

        Tôi xin phép chuẩn bị để lên đường và đề nghị Tham mưu trưởng cấp giấy giới thiệu được làm việc với

        Bộ tư lệnh rađa để được mang các sơ đồ lưu đường bay phát hiện thời gian qua (nhất là những đường bay có nghi vấn) xin ý kiến nhận định và tổng trạm rađa, giấy giới thiệu đến các Ban chỉ huy quân sự tỉnh, thành có liên quan, đề nghị phối hợp nghiên cứu. Với thời gian bước đầu, tôi đề nghị: Đi một tháng với khu vực đồng bằng Bắc Bộ (chủ yếu là Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định) liên quan. Các đường bay đột nhập từ biển vào, dựa vào các cửa sông và các dãy núi, máy bay địch thường lợi dụng! Phương tiện tự túc (đi theo xe đò và đi bộ). Hành trình đầu tiên tôi xuống thành phố Hải Phòng gặp đồng chí Quang Hùng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 240 làm việc và xin được thêm đồng chí Huy (Trưởng ban Trinh sát) cùng đi, là người trợ thủ đắc lực, giỏi về nghiệp vụ. Như được tiếp thêm sức mạnh, bổ sung kế hoạch: Làm việc với thành đội Hải Phòng, tỉnh đội Kiến An, tỉnh đội Thái Bình, tỉnh đội Nam Định, cần đi xuống các huyện đội, xã đội, rồi được trực tiếp từng người dẫn ở các điếm canh đê, các ngư dân đi biển để khớp với thời gian, không gian, khu vực có xuất hiện đường bay trên sơ đồ, đối chiếu với tiếng động cơ, ánh đèn, những dấu vết, biểu hiện có hoạt động của máy bay địch hoạt động hay không.

        Phải qua nhiều địa điểm, gặp nhiều đối tượng để xác minh, có điểm khớp với thời gian, có tiếng động cơ (không biết có phải máy bay không?) có động cơ, có ánh đèn, trong khoảng thời gian đó không chính xác lắm. Vì không có đồng hồ so giờ có khớp không? Các tổ du kích trực chiến, các người canh đê (có lúc cũng ngủ gà ngủ gật!) ở những đoạn đường đèo, trong khoảng thời gian đó cũng có đoạn xe vận tải đi qua.

        Đối chiếu, sàng lọc, loại bỏ những tin thất thiệt thiếu chuẩn xác, tổng hợp từng khu vực, làm việc với tham mưu tỉnh đội để đối chiếu, xác minh. Vòng cuối, chúng tôi đến các vọng quan sát phòng không (nơi có tổ chức trực ban 24/24 giờ, có thường xuyên so giờ thử giây, nơi có phương tiện quan sát (ống nhòm, kính chỉ huy, la bàn v.v... được huấn luyện qua việc trinh sát tiếng động, phân biệt các loại động cơ) được bố trí trên các đồi cao như Phù Liễn, như đồi Bà, như Yên Tử, Đồ Sơn v.v... Vụ Bản (Liễu Hạnh) có bút tích ghi chép, có thời gian tương đối trùng hợp, có tiếng động cơ, có ánh đèn nhưng không phải máy bay mà là đoàn xe vận tải qua đèo! Khớp với thời gian rađa phát hiện đường bay có đoạn lòng vòng xoáy tít trên không trung ở khu vực có mây mưa dày đặc.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:13:11 am
        Qua tổng hợp, sau thời gian đi nghiên cứu, xác minh chúng tôi hoàn chỉnh về báo cáo Tham mưu trưởng:

        - Đường bay đúng chỉ có 1 đường bay từ biển vào cửa Bà Lạt và nơi ở Ninh Bình, còn các đường bay khác không chính xác. Có thể rađa phát hiện nhầm với sóng về địa vật, với các đám mây tích điện.

        Những tin tức do địa phương, các vọng quan sát báo cáo về theo quan sát bằng mắt, theo tiếng động, không khớp với thời gian (việc thử sóng, so giờ) rất hệ trọng.
       
        *Từ đó:

        - Bộ đội rađa, các kíp trắc thủ phải học thuộc địa hình (sóng về địa vật), hiểu biết và theo dõi chặt chẽ (đặc biệt là các vùng mây tích điện).

        - Các đơn vị trinh sát (quan sát mắt), các vọng quan sát tại chỗ (của các tiểu đoàn, trung đoàn cao xạ), các vọng quan sát xa.

        Học kỹ địa hình, phân biệt mục tiêu, phân biệt tiếng động, đặc biệt chấp hành nghiêm quy định thử sóng, so giờ theo hiệu lệnh và ký hiệu của Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam (thành nếp của bộ đội Phòng không).

        Hồi đó bên cạnh Bộ tư lệnh Phòng không có đoàn chuyên gia Liên Xô. Trước lúc lên đường về nước nhận nhiệm vụ mới, đồng chí trưởng đoàn Sti-Mên-Kô bắt tay chào tạm biệt. Đến lượt tôi, đồng chí chúc đồng chí Tư - Trưởng ban Trinh sát mới nhận nhiệm vụ, một công việc "mò kim đáy bể đồng chí hãy cố gắng, chúc đồng chí thành công!

        * Một cuộc hành trình nghiên cứu thực địa, nghiên cứu địa hình, nghiên cứu mục tiêu, yếu địa bảo vệ: (Thật là dịp may hiếm có).

        Thời điểm đầu năm 1963, lực lượng phòng không bố trí, bảo vệ mục tiêu trên toàn miền Bắc, tương đối hoàn chỉnh có lực lượng cao xạ trung cao, tiểu cao, súng máy cao xạ, có hệ thống rađa triển khai, bố trí khắp miền Bắc (từ Móng Cái đến Vĩnh Linh). Chưa có điều kiện đi đến nơi kiểm tra, hiệu chỉnh theo phương án tác chiến.

        Bộ tư lệnh chủ trương, cử đồng chí Tham mun trưởng Nguyễn Quang Bích dẫn đầu đoàn cán bộ tham mưu gồm tất cả các đồng chí trưởng phó ban và các chuyên gia đầu ngành đi trực tiếp nghiên cứu, kiểm tra thực địa, đến hầu hết các đơn vị phòng không đã bố trí trên toàn miền Bắc (từ Móng Cái cho tới Vĩnh Linh). Đến hầu hết các trận địa rađa, từng trận địa pháo, các sở chỉ huy, các vọng quan sát. Trực tiếp quan sát, xác định góc che khuất, đến từng trận địa pháo, đồng chí tham mưu trưởng cho báo động cho tình huống, thực tập, kiểm tra biên động cho hiệu chỉnh pháo, máy chỉ huy rađa, thực tế bắt mục tiêu, cho mở máy nổ xe pháo để kiểm tra thời gian báo động, kiểm tra động tác chỉ huy và kiểm tra quân số. Thực tế có mặt để đánh giá khả năng chiến đấu của từng đơn vị. Thời gian cả đi lẫn về hơn 1 tháng, rút ra bài học thực tế, đối chiếu với phương án tác chiến, có nhiều điểm cần bổ sung, có những điểm bổ sung trực tiếp, như hiệu chỉnh pháo, góc nhìn của vọng quan sát v.v..., sửa chữa ngay, có những việc sau kiểm tra về báo cáo Bộ tư lệnh sẽ có chủ trương bổ sung, khắc phục!

        * Riêng về mặt nghiệp vụ trinh sát thì bản thân tôi có một bài học rất lớn! Đối chiếu với bản đồ, hiểu cụ thể về địa hình, địa vật, mục tiêu yếu địa cần bảo vệ, địa hình địch có thể lợi dụng bay vào miền Bắc, mục tiêu, yếu địa nào địch có thể đánh phá. Chính bài học lớn đó, sau này trong thực tế chiến đấu và công tác vận dụng trong trực ban chiến đấu từ sở chỉ huy phòng không, Trong khi làm phương án tác chiến và khi xác định tin tức mới hình dung được mục tiêu địch đang hoạt động ở đâu? Địch đánh mục tiêu gì ? Thủ trưởng hỏi, có cơ sở để giải đáp một cách mạch lạc và nhanh chóng.

        Cuối tháng 10-1963 (22-10-1963) hai đơn vị Phòng không và Không quân sát nhập, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ ra đời, có Bộ Tham mưu và quyết định thành lập phòng Quân báo PK-KQ.

        Đơn vị, cơ quan phát triển, nhiệm vụ nặng nề hơn, yêu cầu hiểu biết về phần nắm địch để phục vụ chiến đấu và huấn luyện cho các binh chủng Không quân, Pháo cao xạ, Rađa, đặc biệt còn phải phục vụ cho chiến đấu quân binh chủng hợp thành. Trước ngày 5-8-1964, địch ra sức hoạt động, tiếp tục tung biệt kích thám báo, máy bay trinh sát trên không và ven biển ngày càng khẩn trương.

        Yêu cầu cung cấp về địch trước mắt và lâu dài, nhất là các số liệu, dữ liệu để làm phương án tác chiến, những phán đoán về chiến lược, chiến dịch có cơ quan cấp trên cung cấp, nhưng phần chiến dịch, chiến thuật, kỹ thuật thì cơ quan Quân chủng phải lo phục vụ cho trên và phục vụ cho đơn vị cấp dưới, là cơ quan nghiệp vụ đầu ngành.

        Trình độ hiểu biết về địch, chưa qua thực tế chiến đấu, công tác tổ chức nắm địch cũng mới triển khai.

        Hàng năm, ngành dọc (Cục Quân báo) có tập huấn nghiệp vụ, các đơn vị quân khu, quân đoàn, cơ quan đơn vị có bài bản, có thực tế qua chiến đấu trước đây và thực tế chiến tranh chống Mỹ ngụy ở miền Nam.

        Riêng về mặt trận trên không, tổ chức nắm địch trên không, hiểu biết về không quân của địch rất hạn chế.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:15:40 am
        Một thực tế lúc đó là chúng tôi rất lúng túng (lúc đó tôi là phó phòng, đồng chí Trần Trọng Thuyết - Trưởng phòng cũng rất lo lắng hoàn thành nhiệm vụ, nhất là những yêu cầu cho làm kế hoạch hàng năm, kế hoạch lâu dài và yêu cầu các phương án tác chiến (Quân chủng phải trình bày lên Bộ tổng Tham mưu).

        Trước yêu cầu bức xúc, đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng cho triệu tập cán bộ Phòng Quân báo để bồi dưỡng nghiệp vụ. Như đại hạn gặp mưa rào. Chúng tôi, trừ các đồng chí trực ban ở sở chỉ huy, có mặt đầy đủ. Đúng giờ có mặt ở phòng làm việc đồng chí chính ủy. Sau báo cáo theo điều lệnh, đồng chí cười rất thân mật, động viên toàn phòng, đồng chí cho biết tình hình, nhiệm vụ chung. Nhiệm vụ của Quân chủng mới sát nhập và nhiệm vụ của tham mưu quân báo:

        - Các đồng chí là: Tai mắt của Quân chủng!

        Tai phải tỏ!
        Mắt phải sáng!

        Riêng về địch, Bộ tư lệnh trước hết nghe các đồng chí báo cáo, các đồng chí không chỉ báo cáo với Bộ tư lệnh mà phải thông báo cho toàn đơn vị biết để đánh thắng.

        Tôi biết, nhiệm vụ các đồng chí rất khó khăn, nặng nề, nhưng chúng tôi tin ở các đồng chí làm được, làm tốt.

        - Yêu cầu trước hết phải có quyết tâm.

        - Phải đoàn kết (cơ quan mới hợp nhất).

        - Phải thi đua thực hiện nhiệm vụ.

        Chúng tôi trong Bộ tư lệnh rất nhiều việc, không chuyên trách như các đồng chí. Chúng tôi tin, giao cho các đồng chí làm tai mắt Bộ tư lệnh (đừng để tai lãng, mắt mờ (cười)).

        Rồi có thời gian, tôi cũng nghiên cứu với các đồng chí, hôm nay tôi chỉ góp ý với các đồng chí.

        Công tác nắm địch nói riêng và công tác tham mưu nói chung. Trước hết phải thấm nhuần các quan điểm:

     1. Quan điểm thực tiễn: Là quân báo, trinh sát là tai mắt của bộ đội, phải tai nghe, mắt thấy, tay sờ, chứng minh sự việc phải cụ thể, nghe qua chưa đủ, nhìn chưa rõ cần kiểm tra, nghe chưa rõ phải nói lại.

        - Dự đoán, dự kiến là một việc làm chưa qua kiểm chứng, yêu cầu dự đoán, dự kiến phải cao (ít nhất trên 50%) trên càng tốt nhưng không bao giờ tuyệt đối 100%.

        Trước khi quyết tâm, Tư lệnh thường hay hỏi lại nhiều lần là vì thế. Đánh giặc phải có nhiều phương án, ít ra phải vài ba phương án, qua thực tế chiến đấu mới kiểm chứng được dự đoán, phán đoán được bao nhiêu phần trăm, lấy kết quả để đánh giá mới đúng nhất.

      2. Quan điểm phát triển:

        Tình hình hôm nay với ngày mai, trận trước với trận sau, tháng trước và tháng sau, lâu dài hom phải bám sát tình hình, quá khứ là cơ sở để nhận định, đánh giá, phân tích, dự kiến cho tương lai.

        Công tác nắm địch, nghiên cứu địch, hiểu biết về địch không bao giờ đủ mà phải dự đoán, đón đầu. Trên cơ sở hiểu biết về địch, nghiên cứu phán đoán về địch chính xác để có quyết tâm, có phương án tác chiến đúng, huấn luyện bộ đội sát với thực tế, chuẩn bị bảo đảm cho kỹ thuật hậu cần, chuẩn bị về mọi mặt để bảo đảm cho chiến đấu thắng lợi. Binh pháp Tôn Tử đã nêu: 'Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng!”. Trái lại là thất bại.

        Những bài học vỡ lòng được trang bị, càng suy ngẫm trong thực tế công tác tham mưu: Quân báo - trinh sát. Từ năm 1960, qua 12 ngày đêm 1972 đến mùa xuân 1975 cho tới lúc về nghỉ hưu, càng suy ngẫm tôi càng thấy đúng. Thời bình, chuẩn bị cho thời chiến, chiến tranh đã qua hơn 30 năm, đất nước ta thay đổi từng giờ từng phút, mục tiêu, yếu địa bảo vệ phát triển, vùng trời, vùng biển càng vươn rộng, mục tiêu giao thông vận tải khác trước nhiều lắm.

        Binh khí kỹ thuật của Quân đội ta nói chung, Quân chủng Phòng không - Không quân nói riêng cũng phát triển về mọi mặt, yêu cầu hiểu biết về địch, đối tượng tác chiến trong tình hình khoa học kỹ thuật thế giới đã và đang phát triển ngày càng hiện đại, rất nhiều cái mới. Tôi nghi cần bám sát tình hình thực tiễn, trên quan điểm phát triển đế dự đoán, đón đầu cho nhiều phương án khả thi để có phương án tối ưu nhất. Bảo đảm cho chiến thắng tương lai.

        Trong chiến tranh ác liệt, công tác nắm địch cho chiến thắng ở mặt trận trên không đã là khó, nhưng có thực tế mọi hoạt động của địch xảy ra hàng ngày hàng giờ. Có nhân chứng vật chứng cụ thể.

        Trong thời bình, chiến tranh đã lùi xa, mọi hoạt động của địch không diễn biến cụ thể và ở xa ta. Việc nắm tình hình địch càng khó hơn. Việc nghiên cứu, tổng hợp, phán đoán càng khó chuẩn xác.

        Theo tôi nghĩ, cần suy ngẫm, vận dụng các bài học, các quan điểm trên, thời bình chuẩn bị cho thời chiến, có thòi gian càng dài để tìm hiểu, nghiên cứu nhiệm vụ bảo vệ, mục tiêu, yếu địa bảo vệ, nghiên cứu địa hình địa vật đang phát triển, nghiên cứu tình hình chiến tranh trên thế giới đang diễn ra, đối chiếu với chiến tranh đã qua. Tìm hiểu kỹ đối tượng tác chiến trên không về mọi mặt (kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch, chiến lược) để có dữ liệu cho huấn luyện chiến đấu sát với thực tế. Thời bình là thời gian chuẩn bị, kẻ địch chưa từ bỏ dã tâm xâm lược. Mọi âm mưu, thủ đoạn đang ngụy trang, chúng ta làm nhiệm vụ tai mắt của bộ đội Phòng không - Không quân, quyết tâm không để bộ đội bị bất ngờ, góp phần chiến đấu và chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:18:26 am
      
CÁN BỘ THAM MƯU PHÒNG KHÔNG
THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Đại tá Lưu Trọng Lân                    
Nguyên cán hộ tham mưu Quân chủng        

        Sau chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" cuối tháng 12 năm 1972, từ cương vị một trung đoàn trưởng ở dưới đơn vị, tôi được điều lên cơ quan Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân, làm Phó Phòng Cao xạ. Ngoài công việc bộn bề trong phạm vi Quân chủng, tôi còn được giao thêm nhiệm vụ nắm và theo dõi các lực lượng phòng không ở chiến trường phía Nam. Qua liên hệ với Phòng Quân lực và Cục Tác chiến, nhất là với các đoàn ở trong Nam ra, dần dà tôi đã nắm được những điều cơ bản về tình hình lực lượng và hoạt động của các đơn vị cao xạ trên các mặt trận Trị Thiên, Khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ và Đoàn 559. Việc có vẻ ít liên quan ấy không ngờ lại trở thành thuận lợi cho tôi, khi tôi được đi B công tác vào năm sau.

        Tháng 1 năm 1975, ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân ta đánh to thắng lớn. Báo đài đưa tin: "Ngày 6 tháng 1, quân giải phóng miền Nam đã làm chủ toàn tỉnh Phước Long. Tôi rất phấn khởi, nhưng thật ra, trong nhận thức khi đó, tôi chưa hiểu được gì nhiều về ý nghĩa của chiến thắng nói trên.

        Thế rồi tôi nhận được lệnh chuẩn bị đi B và may mắn làm sao, sáng 25 tháng 1 năm 1975, tại hội trường Quân chủng Phòng không - Không quân, chúng tôi được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và nói chuyện. Hôm ấy, Đại tướng nói không nhiều, nhưng phân tích tinh hình rất sâu sắc. Tôi còn nhớ những ý chính:

        "Sau Hiệp định Pa-ri, toàn bộ quân Mỹ đã cút khỏi nước ta. Nhưng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, được sự thông đồng của Mỹ, đã ngang nhiên xé bỏ hiệp định đã ký kết. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã họp, ra nghị quyết 21, khẳng định: "Nhân dân ta không có con đường nào khác là phải tiếp tục con đường bạo lực cách mạng để giải phóng hoàn toàn miền Nam1.

        Tuy vậy, một câu hỏi lớn được đặt ra: Nếu ta đánh mạnh, liệu đế quốc Mỹ có quay trở lại Việt Nam hay không? Đương nhiên, nếu Mỹ quay trở lại, nhân dân ta vẫn tiếp tục chiến đấu, nhưng cuộc kháng chiến sẽ khó khăn gian khổ và kéo dài hơn. Còn nếu Mỹ không quay lại nữa thì đó sẽ là thời cơ thuận lợi hết sức to lớn.

        Để giải đáp câu hỏi nói trên, chúng ta cần thăm dò thái độ của Mỹ, thông qua một đòn đánh thử. Đó là trận đánh Phước Long. Chỉ trong vòng một tuần lễ, toàn tỉnh Phước Long được hoàn toàn giải phóng. Quân ta đã diệt và bắt sống hơn 4.000 tên địch. Nguyễn Văn Thiệu làm rùm beng, kêu gào Mỹ can thiệp. Nhưng, Mỹ đã làm ngơ. Tổng thống Pho tuyên bố: "Quân Mỹ không thể quay trở lại Việt Nam được, vì quốc hội Mỹ không cho phép". Thế là rõ! Tình hình đã khác trước. Một khi đã rút ra, việc quay lại Việt Nam đối với Mỹ không còn dễ dàng. Qua đòn cân não Phước Long, Bộ Chính trị ta đã nắm được ý đồ và gân cốt của Mỹ. Thời cơ mới đã đến! Chúng ta phải đẩy nhanh cuộc chiến đấu ở miền Nam đi lên với tốc độ lớn hơn, bằng toàn bộ sức mạnh của mình. Phải tranh thủ giải phóng hoàn toàn miền Nam, trong thời gian ngắn nhất.

        Riêng với Quân chủng Phòng không - Không quân, các đồng chí phải luôn luôn sẵn sàng: Một mặt vẫn phải tiếp tục cảnh giác bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mặt khác phải ra sức góp phần tăng cường lực lượng tối đa cho cách mạng miền Nam, từng bước, nhưng hết sức khẩn trương, theo chỉ thị của Bộ".

        Lắng nghe lời đồng chí Tổng tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương, lòng chứng tôi vô cùng phấn chấn. Tối hôm đó đến thăm anh Lê Văn Tri - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, tại nhà riêng, tôi được anh nói rõ thêm tình hình và động viên: ”Cậu biết không? Sau trận Phước Long, mặc cho "tổng" Thiệu gào thét, bọn Mỹ vẫn đánh bài lờ. Không quân Mỹ đã không trở lại ném bom miền Bắc nước ta như chúng từng hăm dọa. Sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đóng tại Ô-ki-na- oa - Nhật Bản, vẫn án binh bất động tại chỗ. Tàu sân bay Interprise được lệnh rời Su-bích tiến vào biển Đông, nhưng sau đó đã ngoặt hướng, lặng lẽ chuồn sang ấn Độ Dương. Bọn Mỹ đang bỏ cuộc. Tình hình ở miền Nam sắp tới sẽ phát triển rất nhanh. Cậu được đi B kỳ này là một vinh dự rất lớn, cũng giống như hồi 1954 cậu được đi dự chiến dịch Điện Biên Phủ. Chắc chắn cậu sẽ gặp lại mẹ và các em ở Sài Gòn1 trong một ngày không xa". Anh giơ hai ngón tay, nói nhỏ: "Hai năm!".

----------------
1. Bố mẹ tôi vào Sài Gòn làm ăn từ những năm 40. Năm 1974 bố tôi mất. Còn lại mẹ và 3 em. Anh Lê Văn Trí là anh rể tôi.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:19:36 am
       
*

*          *

        Sáng 27 tháng 2 năm 1975, đoàn đi B chúng tôi, với đầy đủ thành phần của một sở chỉ huy tiền phương, gồm bốn cơ quan, do đại tá Trần Quang Hùng - Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân chỉ huy lên đường. Riêng bộ phận tác chiến chúng tôi có khoảng 15 anh em, do trung tá Phạm Sơn làm trưởng phòng và tôi thiếu tá - làm phó phòng, trực thuộc Bộ Tham mưu tiền phương Quân chủng, do trung tá - Tham mưu phó Lê Thanh Cảnh phụ trách.

        Sau Tết ất Mão khoảng nửa tháng, chúng tôi rời Hà Nội. Đoàn xe chứng tôi theo quốc lộ số 1 vào Quảng Bình. Khi qua phà Gianh, tôi bỗng nhớ về quê hương ở đây một thời bom đạn1. Cuộc chiến tranh phá hoại kéo dài nhiều năm bằng không quân của Mỹ đã tàn phá quê tôi đến hoang tàn. Biết bao dân làng của hai bờ Bắc - Nam đã ngã xuống vì sự sống còn của bến phà, trước sự đánh phá quyết liệt ngày đêm của máy bay Mỹ.

        Nhìn lên phía Tây, điệp trùng một dải Trường Sơn, mờ xa và huyền ảo trong ánh nắng chiều. Tôi hình dung con đường 15 quen thuộc, chạy dài dưới chân rặng Trường Sơn, giờ đây chắc đang thiếu vắng những đoàn xe vận tải tấp nập vào ra như vài ba năm trước.

        Qua Thanh Khê, chúng tôi vượt đèo Lý Hòa vào Đồng Hới, nghỉ đêm tại sân bay. Sáng hôm sau, chúng tôi đi tiếp vào Đông Hà, rồi rẽ phải, theo đường 9 lên hướng Khe Sanh. Khí trời lành lạnh. Xe chúng tôi đi trong gió thổi ngược chiều và trong khung cảnh nhộn nhịp của những đoàn xe ra trận. Những chiếc xe Hồng Hà chở quân, những chiếc xe Din kéo pháo, và những chiếc xe tăng tự hành... Nối đuôi nhau, xen kẽ, tung bụi mịt mù.

        Qua Tân Lâm, Đầu Mầu, nơi khúc quanh của đường 9, nhớ lại trận đánh xuất sắc của trung đoàn pháo cao xạ 230, thuộc sư đoàn 367 chóng tôi, hồi chiến dịch Trị Thiên, tại đây, bắn hạ bảy máy bay Mỹ, sắp đến địa phận huyện Hương Hóa. Những câu hát mà tôi rất thích: "Anh thắng trận miền tây Khe Sanh. Đồn Tà Cơn hôm nào bốc cháy. Đồi Động Tri"... của Huy Thục, bỗng rộn lên trong lòng tôi. Nó gợi lên hình ảnh những tên lính thủy đánh bộ Mỹ, 3 tháng trời bị giam chân trong cứ điểm Tà Cơn. Kiên trì vây hãm địch, tiến tới giải phóng toàn bộ thung lũng Khe Sanh là chiến công rất xuất sắc của quân giải phóng, để cho đường 9 thông suốt từ Cà Lư đến tận Bản Đông và đổ cho con đường vận tải chiến lược của chúng ta liền mạch, ở cả hai phía đông và tây Trường Sơn.

        Chúng tôi đi giữa vùng giải phóng tỉnh Quảng Trị, đã từng là chiến trường ác liệt nhất năm 1972, hôm nay thanh bình quá đỗi. Các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa của các sư đoàn phòng không 673 và 377 vẫn luôn trực sẵn sàng chiến đấu, nhưng trên bầu trời kia không còn bóng dáng những "pháo đài bay" B-52 của Mỹ đêm ngày đến "rải thảm", cùng hàng đàn hàng lũ máy bay cường kích A7, F4... thay nhau lồng lộn, bắn phá, ném bom... Đó đây, vẫn còn vết tích chiến tranh, còn những hố bom loang lổ, nhưng trước mắt tôi, những doanh trại bộ đội, nhà ở của đồng bào, các cửa hàng mậu dịch, trường học, trạm xá mọc lên san sát trên các ngọn đồi, ven những dòng sông, khúc suối. Đơn vị cơ quan nào cũng có cổng chào với dòng chữ in màu vàng trên nền đỏ "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Trên một số bãi, đậu la liệt những máy cày, máy kéo "mới ra lò", màu sơn còn đỏ chói. Lại còn nhiều máy ủi, máy xúc, sơn màu vàng rực của các đơn vị công binh Trường Sơn.

        Tuy nhiên, đó là dáng vẻ bên ngoài. Mấy hôm sau tôi được biết, bên trong khung cảnh bình yên ấy, vùng giải phóng Quảng Trị đang là một trong những điểm nóng tích cực chuẩn bị cho một trận quyết chiến chiến lược, kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi năm của dân tộc ta. Khắp nơi, dưới những tán rừng rậm, trong những nông trường cà phê xanh ngát, là cơ man những súng ống, đạn dược của đủ loại binh chủng hiện đại, cùng những kho hậu cần đầy ắp hàng hóa, trùm kín ni lông, đang ẩn mình, đợi chờ đến lượt đi về phương Nam.

---------------
1. Tôi quê xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, ở ngay bờ nam
bến phà Gianh.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:28:34 am
       
*

*           *

        Cơ quan tiền phương Quân chủng chúng tôi tạm thời đặt bên cạnh cơ quan sư đoàn phòng không 377, thuộc Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Sau khi triển khai xong sở chỉ huy, trừ một bộ phận nhỏ trực ban, hầu hết cán bộ chúng tôi được tung đi xuống các đơn vị cao xạ, tên lửa, rađa có mặt trong vùng, để nắm lại thực lực và công tác chuẩn bị hành quân.

        Đến trung đoàn 263, còn gọi là đoàn Quang Trung, đơn vị tên lửa phòng không duy nhất có mặt ở vùng giải phóng sau Hiệp định Pa-ri, chúng tôi ngỡ ngàng trước những khu doanh trại khang trang, xen lẫn những vườn rau xanh tốt trên những thửa ruộng bậc thang, cùng những vườn hoa sắc màu rực rỡ quanh các lán trại. Bộ đội ta đi đến đâu cũng giữ nếp sống lạc quan. Ban chỉ huy trung đoàn chiêu đãi chúng tôi một bữa cơm thật ngon, bằng những món ăn "rau nhà, gà vườn”,

        Trong phòng làm việc, anh Tích - Trung đoàn trưởng cho chúng tôi biết:

        "Vào một ngày cuối tháng 2 năm 1973, Thượng tướng - Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã đến thăm trung đoàn. Tổng Tham mưu trưởng căn dặn bốn điều mà chúng tôi còn nhớ mãi:

        1. Sẵn sàng chiến đấu cao để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Đối tượng tác chiến là không quân ngụy.

        2. Ra sức huấn luyện để nâng cao trình độ kỹ chiến thuật và khả năng hành quân cơ động trên mọi địa hình phức tạp.

        3. Sẵn sàng cơ động bất cứ lúc nào, đến bất cứ nơi đâu, trên toàn mặt trận phía Nam.

        4. Chăm lo nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho chiến sĩ".

        Anh Tích nói tiếp: "Hôm qua chúng tôi đã nhận được lệnh chuẩn bị hành quân vào Tây Nguyên. Đảng ủy, Ban chỉ huy trung đoàn đã họp, ra nghị quyết lãnh đạo và lên kế hoạch tổ chức thực hiện. Hôm nay được cơ quan Quân chủng đến, thật là dịp may cho chúng tôi. Anh Liễn - Chính ủy, và tôi sẽ báo cáo mọi việc. Sau đó mời các đồng chí xuống các đơn vị để nắm tình hình cụ thể thêm. Rất mong được sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan Quân chủng, tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ”.

        Từ đấy, chúng tôi phân công nhau, kẻ xuống Làng Vây, người trở ra Động Toàn, Cam Lộ, người đi ngược lên Tà Cơn, Nguồn Rào để đến với các tiểu đoàn hỏa lực và kỹ thuật tên lửa "SAM-II".

        Ở Tiểu đoàn 43, chúng tôi gặp Thượng úy Nguyễn Hải Đăng, một tiểu đoàn trưởng trẻ, đẹp trai. Đăng báo cáo: 'Đơn vị hiện có 26 xe các loại, đủ để cơ động toàn tiểu đoàn. Nhưng chúng tôi lo nhất là thiếu phụ tùng thay thế, đặc biệt là lốp dự phòng và càng kéo. Tinh thần cán bộ chiến sĩ rất cao, sắn sàng nhận nhiệm vụ bất cứ lúc nào. Có vài chiến sĩ bị sốt rét đang tiếp tục điều trị".

        Chúng tôi còn đến với hai trung đoàn pháo cao xạ 221 và 226. Hai đơn vị này đã nhận được lệnh đi B3 và B2. ở Trung đoàn 226, tôi gặp trung đoàn trưởng Trần Bảo Lược, bạn chiến đấu cũ, người dân tộc Tày, tính tình cởi mở, dễ mến. Anh Lược báo cáo:

        "Tổng quân số: 1054 cán bộ chiến sĩ. Biên chế: Ba tiểu đoàn pháo hỗn hợp 23mm, 37mm và 57mm. Có thêm ba bộ khí tài máy chỉ huy và rađa, 30 cơ cấu phóng tên lửa tầm thấp A-72, cùng 250 quả đạn. Xe cộ: 115 chiếc, đủ bảo đảm hành quân, nhưng thiếu phụ tùng dự trữ và kinh nghiệm đi đường, móc kéo pháo hay bị gãy.

        Những ý kiến đề xuất của các đơn vi lập tức được báo cáo lên Phó Tư lệnh Quân chủng: Đại tá Quang Hùng đã chỉ đạo các cơ quan kịp thời giải quyết, về công tác tham mưu, chúng tôi đã tìm đến cơ quan Bộ Tham mưu Đoàn 559 để nhờ giúp đỡ một số việc. Anh Trần Bút, bạn thân của tôi thời Điện Biên Phủ, đã giúp chúng tôi sao chép một số sơ đồ các tuyến đường có liên quan, để cấp cho các đơn vị hành quân. Trong các sơ đồ đều ghi rõ địa chỉ từng cung chặng, khoảng cách mỗi đoạn đường, đặc điểm địa hình, đường sá, vị trí các điểm tiếp xăng dầu... rất tỉ mỉ.

        Bộ Tư lệnh Đoàn 559 còn cấp cho mỗi đơn vị hành quân chúng tôi một số giấy giới thiệu, để liên hệ dọc đường. Phòng Thông tin do anh Hoàng Đình Quý phụ trách, hướng dẫn cho chúng tôi biết một số hệ thống đường dây, để khi đến các điểm dừng, nếu cần, chúng tôi có thể liên lạc được với nhau bằng điện thoại. Qua việc này, tôi vô cùng khâm phục việc tổ chức mạng thông tin liên lạc của Đoàn 559, hết sức chặt chẽ và có hiệu quả, trên cả một vùng rừng núi bao la, với phạm vi rất rộng, rất dài, vươn tới mọi chiến trường, trên khắp mọi hướng, mọi tuyến của đường mòn Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 09:34:26 pm
        Theo mệnh lệnh hành quân do Tham mưu phó Lê Thanh Cảnh phổ biến, lịch nhập tuyến của các đơn vị phòng không như sau:

        - Ngày 19 tháng 2, Trung đoàn 221 pháo cao xạ xuất phát, đi theo hướng Trường Sơn Đông.

        - Ngày 7 tháng 3, Trung đoàn 263 tên lửa xuất phát, đi theo hướng Trường Sơn Tây.

        - Ngày 25 tháng 3, Trung đoàn 226 pháo cao xạ xuất phát đi theo hướng Trường Sơn Tây.

        - Ngày 31 tháng 3, tiểu đoàn 8 rađa xuất phát, đi theo hướng Trường Sơn Đông.

        Sau khi tiểu đoàn 43, đơn vị hỏa lực đầu tiên của trung đoàn tên lửa rời Làng Vây, hai hôm sau, sở chỉ huy tiền phương của chúng tôi cũng "nhổ neo" lên đường. Anh Phạm Sơn được phân công đi cùng Trung đoàn tên lửa 263. Còn tôi, đi cùng xe với Tham mưu phó Lê Thanh Cảnh, theo hướng đông. Lái xe tên là Chiến, đồng chí công vụ tên là Cường.

        Xe chúng tôi qua Sa Trầm, Ly Tôn, ngã ba Lan Nam rồi tiến vào A Lưới. Một cảnh tượng nhức nhối đập vào mắt tôi. Lần đầu tiên tôi được hiểu thế nào là chất độc hóa học của Mỹ. Cả một cánh rừng bạt ngàn toàn những cây cao lớn, nhưng trụi lá trơ cành. Những hàng cây chết đứng cứ như chạy trốn về phía sau, khi xe chúng tôi tiến nhanh lên phía trước. Chiến khu A Lưới có nữ anh hùng Kan Lịch, người dân tộc Vân Kiểu. Nghe nói vùng này xưa kia sầm uất lắm. Vậy mà dưới bàn tay tàn bạo của giặc Mỹ, cây cối ở đây đang lụi tàn, cảnh vật biến thành một màu đen xám.

        Đang miên man suy nghĩ, tôi chợt nghe anh cảnh quay lại nói như reo: Ông Lân ơi! Buôn Ma Thuột giải phóng rồi!" Anh vặn to âm thanh chiếc đài bán dẫn để chúng tôi cùng nghe rõ. Trừ cậu Chiến cầm vô lăng, cả ba chúng tôi cùng vỗ tay đôm đốp: 'Trời ơi! Phấn khởi quá!" Bài xã luận của Báo Quân đội nhân dân về chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 11 tháng 3, được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi trên làn sóng nghe sao rạo rực lòng người.

        Chiếc xe 'com-măng-ca” của chúng tôi còn mới, chạy rất khỏe. Nó vượt hết mọi xe trên đường. Càng vào sâu, tôi càng thấy quang cảnh nhộn nhịp, tưng bừng của con đường ra trận. Núi rừng Trường Sơn có lẽ chưa bao giờ được chứng kiến cuộc ra quân hùng vĩ như ngày hôm nay. Tôi nhớ lại hồi mở chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ có một con đường 41, độc đạo, đưa 24 khẩu lựu pháo 105mm và 24 khẩu pháo cao xạ 37mm vào thung lũng Điện Biên. Còn năm nay, cả Đông và Tây Trường Sơn, cùng nhiều con đường khác nữa, đang cuồn cuộn những dòng xe, dòng tăng, dòng pháo, dòng tên lửa, hầu hết là những trang thiết bị hiện đại. Còn nhiều xe chở bộ binh của những quân đoàn chủ lực, xe chở những khoang thuyền vượt sông của công binh, rồi những đoàn xe hậu cần chở lương thực, thuốc men, quân trang, quân dụng, nối tiếp nhau, như thác đổ, chảy về Nam.

        Đường Trường Sơn năm nay mở rộng hơn trước nhiều. Để chuẩn bị đón thời cơ lớn, hàng vạn cán bộ chiến sĩ Trường Sơn đã gấp rút nâng cấp hàng ngàn ki- lô-mét đường ôtô đạt tiêu chuẩn cấp bốn. Cầu, cống, ngầm vượt sông đều được sửa chữa, tôn tạo. Những đoạn đường hiểm trở quanh co, đã được anh chị em công binh, thanh niên xung phong nắn lại cho thẳng hơn. Họ mở rộng vòng cua, hạ thấp triền dốc, bảo đảm cho mọi loại binh khí kỹ thuật nặng có thể hành quân. Phần lớn những con đường đều được rải đá cấp phối. Có tới 50 ki-lô-mét, từ đường 9 trở vào, đã được trải nhựa, xe chạy êm ru. Thắng lợi càng gần, ngoảnh lại, nhìn thấy công lao "xẻ dọc Trường Sơn” của bộ đội Trường Sơn thật vô cùng vĩ đại.

        Đến ngã ba đường 73, chúng tôi dừng xe. Một đoàn xe xích kéo những khẩu pháo nòng dài 122mm đang chuẩn bị rẽ vào lối đi Nam Đông. Một vị chỉ huy pháo binh nhìn tôi ngờ ngợ:

        "Lưu Trọng Lân phải không?" Tôi chợt nhận ra người bạn cũ hồi ở Việt Bắc năm 1952.

        "Hoàng Tuấn hả?" Không ngờ gặp cậu ở đây! Chúng tôi ôm chầm lấy nhau mừng rỡ. Tôi cho Tuấn biết hiện nay mình đang công tác ở Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân và đang trên đường vào Tây Nguyên. Tuấn cười, vẫn chiếc răng khểnh dễ thương như ngày nào.

        Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình trên chặng đường Trường Sơn Đông. Những địa danh A Sầu, Bù Lạch, Xưởng Giấy, A Vương, Trao, Bung... lần lượt lùi lại phía sau. Xe đi xuyên rừng, núi tiếp núi, có đoạn đường bằng, có đoạn cheo leo, xe chúng tôi lượn chênh vênh trên lưng chừng núi, bên đèo cao, bên vực thẳm. Những lúc ấy cảm thấy Trường Sơn kỳ vĩ lạ lùng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 09:36:25 pm
        Khi sắp qua bến Giàng, chúng tôi gặp một đơn vị pháo cao xạ 37mm đậu sát bên đường. Hỏi ra thì biết đó là Tiểu đoàn 106, thuộc Trung đoàn 545, Sư đoàn 377. Một cán bộ trạc tuổi 45. Thấy quen quen, tôi nhìn kỹ, hóa ra đó là Hà Văn Lực, người dân tộc Thổ, đại đội trưởng cũ của tôi trong chiến dịch Điện Biên. Lúc ấy tôi là đại đội phó. Tôi gọi tên anh. Anh quay lại, ngỡ ngàng: "Lân đấy à! Đã lâu lắm bây giờ mới gặp lại nhau. Lâu nay trung đoàn mình bảo vệ bến Giàng. Trung đoàn 227 của Nguyễn Văn Chí ở Bi Hiên, Trung đoàn 528 của ông Tùng Trố'5 ở A Lưới. Còn Trung đoàn 594 của cậu Chính, Trung đoàn 218 của cậu Toàn, hiện cũng đang di chuyển vào phía trong". Tôi lấy sổ tay ra ghi chép.

        Anh Lực nắm tay tôi thật chặt: "Thôi! Cậu đi mạnh khỏe! Đừng quên tớ nhé!" Tôi cười:

        "Quên làm sao được Hà Vãn Lực, đại đội trưởng xuất sắc nhất của trung đoàn pháo cao xạ 367 trong chiến dịch Điên Biên năm xưa".

        Một buổi chiều, xe đang chạy ngon trớn, bỗng cậu Chiến nói to:

    "Sắp hết xăng rồi, thủ trưởng ơi! Còn chạy được vài chục cây số nữa!" Anh Cảnh nói:

        "Yên tâm! Tớ đã nghĩ tới chuyện đó rồi. Trạm tiếp xăng cũng gần đây thôi".

        Đi được một quãng, xa xa chúng tôi thấy có hai nữ chiến sĩ đang đi tới. Một cô cầm chiếc cờ lê to. Một cô gánh trên vai toòng teng mấy chiếc ống nối, cái hình tròn, cái hình chữ T. Anh Cảnh bảo xe dừng lại:

        " Quân đường ống đây rồi! Các cô ơi! Cho chúng tôi hỏi..." Hai nữ chiến sĩ gọn gàng trong bộ quân phục, đầu đội mũ tai bèo, nhoẻn miệng cười khi nhìn thấy chúng tôi. Cậu Chiến buột miệng:

        "Hai thím giải phóng quân xinh quá!” - Chuyện trò bỗng nở như ngỏ rang giữa chúng tôi và hai cô gái trẻ. Cuối cùng chúng tôi hỏi đường đi đến trạm xăng. Cô gái cầm chiếc cờ-lê đưa tay chỉ:

        "Kìa! Chỗ có mấy chiếc xe Din đang chờ "ăn" xăng đấy!" Chúng tôi vui vẻ chia tay hai cô gái. Tại trạm tiếp nhiên liệu, cậu Chiến trình giấy. Xe chúng tôi được nạp xăng đầy thùng, còn thêm mấy can dự trữ. Xe lại bon bon lên đường.

        Tôi thật không ngờ khi được biết hàng chục vạn tấn xăng dầu, như những dòng suối nhỏ vô tận, ngày đêm âm thầm len lỏi trong những con đường ống có đường kính 200mm ấy, đã vượt ngàn trùng sông núi, băng qua những đỉnh núi cao ngất ở đường 12, đường 10, đường 18, chạy dọc theo chiều dài của Đông Tây Trường Sơn, vươn tới chiến trường, vào mãi tận Bù Gia Mập, miền Đông Nam Bộ. Xe chạy đến đâu, có xăng dầu phục vụ đầy đủ ngay đến đó. Kẻ địch quyết tâm phá, nhưng đã không có cách gì ngăn chặn được nỗ lực của chúng ta. Thật khó tưởng tượng nổi chiến công kỳ diệu của đội quân đường ống Trường Sơn!

        Chúng tôi đến Khâm Đức trong một ngày đẹp trời. Tin giải phóng Phước An, Kon Tum, Pleiku dồn dập bay tới. Rồi tin hàng vạn tên địch kinh hoàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên, đang bị quân ta đuổi và chặn đánh ở Cheo-Reo, Phúc- Túc. Niềm hân hoan tràn ngập trên ánh mắt mỗi người: đâu đâu cũng thấy xe ta đậu kín đường, kín bãi. Các quán ăn tấp nập người vào ra, cả bộ đội, cán bộ dân chính, cả đồng bào Kinh, Thượng, nhìn ai cũng vui như Tết.

        Từ Khâm Đức, chúng tôi còn phải đi hơn một trăm ki-lô-mét nữa để đến Đắc Công, ở ngay ki-lô-mét "không" đường 14B. Lẽ ra phải đi Sa Thầy, nhưng do Bắc Tây Nguyên đã được giải phóng, chúng tôi chuyển hướng đi Kon Tum. Trên đường nhựa trơn láng của đường 14, xe chúng tôi lướt nhanh qua Đắc Tô, một địa danh nổi tiếng.

        Bên đường, chúng tôi thấy một xe tải đổ kềnh, bốn bánh chổng lên trời, bẹp dúm. Được biết đó là xe từ Khâm Đức vào, đường xấu chuyển sang đường tốt, lái xe cho xe chạy quá nhanh nên mới xảy ra tai nạn. Đây là một kinh nghiệm mà sau đó chúng tôi đã phải phổ biến cho đội ngũ lái xe của mình. Thị xã Kon Tum vắng vẻ, đồng bào đang lục tục kéo về, rải rác trên các đường Hùng Vương, Trịnh Minh Thế.

        Anh Quang Hùng - Phó Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho chúng tôi phải liên lạc gấp với các đơn vị đi đầu của trung đoàn tên lửa 263 từ cánh Tây Trường Sơn xuống. Được giao nhiệm vụ này, tôi lập tức tìm đường tắt sang thẳng Sa Thầy. Ớ đây là khu vực ngã ba biên giới đường sá chằng chịt. Đến Nam Plây Khốc, khi đang lớ ngỡ tìm đường, tôi gặp một cán bộ đứng cạnh một chiếc xe con. Đến gần, tôi đang định hỏi anh đường ra Xê Sụ, thì chợt nhớ ra, tôi mừng rỡ:

        "Anh Phan Biên! Chính ủy Binh trạm 31...".

        "A! Nhớ ra rồi. Anh là Lưu Trọng Lân - Trung đoàn phố trung đoàn 227. Bây giờ anh đi đâu đây?".

        "Tôi đi ngược Trường Sơn Tây, đón đơn vị tên lửa".

        "À! mình vừa ở ngoài đó vào. Tiểu đoàn đi đầu của các ông có lẽ đang qua ngầm Xê ụ, chuẩn bị vượt đèo Ảm Pun. Nói rồi, anh Biên hướng dẫn đường đi cho tôi, tỉ mỉ. Được biết: Nay anh là chính ủy sư đoàn xe 471, phụ trách quãng đường này, vào tận B2. Sư đoàn anh cũng đang chuẩn bị đưa sở chỉ huy vào đứng chân ở Buôn Ma Thuột để chuẩn bị cho chiến dịch mới.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 09:42:14 pm
        Tôi gặp anh Phạm Sơn và Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 43 Trần Đăng Trạm ở chân đèo Ảm Pun lầy lội, sau mấy trận mưa đầu mùa. Phạm Sơn kể cho tôi nghe cuộc hành trình vượt Trường Sơn khá gian nan của tên lửa ta. Đường nói chung tốt, nhưng do khí tài tên lửa vừa cao, vừa dài, vừa nặng, rất cồng kềnh, nên khi vào cua hoặc lên xuống dốc, rất khó khăn. Càng kéo hỏng nhiều, thiếu đồ dự trữ thay thế, anh em đã nghĩ cách khắc phục để tiếp tục hành quân. Một số trường hợp hư hỏng khác đã được các trạm của Đoàn 559 giúp đỡ sửa chữa kịp thời. Việc đảm bảo hậu cần như: Gạo, lương khô, cá hộp, thịt hộp, xăng dầu cho các đơn vị, cũng được các binh trạm dọc đường phục vụ chu đáo. Anh em quân nhu ta rất cảm ơn hậu cần 559.

        Tôi nói với Phạm Sơn:

        - Anh Quang Hùng chỉ thị: Ông về sở chỉ huy tiền phương Quân chủng ở Pleiku để báo cáo tình hình. Trung đoàn 263 không dừng lại ở Tây Nguyên nữa mà vào thẳng B2 luôn. Đoàn nặng đi tiếp đường 14B. Đoàn nhẹ, gồm xe kéo đạn và cơ quan, rẽ Pleiku đi thẳng đường 14. Hai đoàn sẽ tập kết ở Đức Lập, chờ lệnh mới. Anh Phạm Sơn truyền đạt mệnh lệnh đó cho anh Tích, Trung đoàn trưởng 263. Sẵn có sơ đồ đã chuẩn bị, tôi trao cho anh Tích một bản, rồi dặn thêm: Bộ phận đi đường 14, qua vùng mới giải phóng, phải nhớ giữ vững kỷ luật về công tác dân vận và bảo đảm lái xe an toàn khi từ đường Trường Sơn sang đường nhựa. Bộ phận đi tiếp đường 14B cần hết sức chú ý khi qua các bến phà, như phà 10 ở ki-lô-mét 114, phà 4 Srê Pốc, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

        Tôi và anh Phạm Sơn lên xe về Pleiku. Sau khi sở chỉ huy tiền phương Quân chủng được đặt xong ở căn cứ sư đoàn không quân chiến thuật số 6 của ngụy cũ, anh Lê Thanh Cảnh được phân công đi trước vào B2, để tranh thủ đặt sớm mối quan hệ với cơ quan tiền phương Bộ ở địa điểm mới.

        Trong những ngày ở Pleiku, tôi xin phép dành một buổi dạo vòng quanh khu vực.

        Vào khu vực Bộ Tư lệnh quân đoàn II ngụy, tôi chứng kiến mọi thứ tan hoang, bề bộn. Bọn chung đã rút ngay trong lúc hoảng loạn, cuống cuồng. Trong các phòng làm việc, hồ sơ giấy tờ vứt tung tóe, máy điện thoại, máy chữ lăn lóc, ngổn ngang. Nhiều quyển sách Play Boy, tranh ảnh khỏa thân vương vãi.

        Bước vào một gian phòng, tôi thấy cơ man là huân chương, huy chương còn nằm trong hộp, mới toanh, chất đầy trong các ngăn tủ. Anh chiến sĩ đi cùng tôi, tiện chân, đạp mạnh lên một đống huân chương đã bị ai vứt xuống đất từ trước. Tôi tiếp tục đi loanh quanh thế nào, lọt vào một gian phòng đầy ắp những bản đồ quân sự. Vui mừng quá đỗi, tôi vội vàng lôi ra từng tập, xem xét. Bản đồ khắp các vùng, với đủ loại tỉ lệ khác nhau. Chẳng đủ sức mang nhiều tôi chọn ra được một bộ bản đồ đường sá toàn miền Nam, tỉ lệ 1/250.000.

        Tình hình chiến sự diễn biến mau lẹ. Quân ta thắng như chẻ tre. Tin tức đến dồn dập:

        - 26 tháng 3: Giải phóng Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.
 
        - 28 tháng 3: Giải phóng Quảng Nam.

        - 29 tháng 3: Giải phóng Đà Nẵng. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng kết thúc thắng lợi với sự xóa sổ hoàn toàn quân khu I và quân đoàn I hùng mạnh của quân ngụy. Đến ngày 3    và 4 tháng tư thì Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt cũng được giải phóng nốt. Anh Quang Hùng bảo tôi:

        - Thời cơ mở cuộc đại tiến công vào Sài Gòn sắp đến! Miền Nam sẽ được giải phóng sớm! Không phải kéo dài một năm nữa đâu, Lân ạ! Anh Tuấn1 đã có lệnh cho chúng ta chuẩn bị vào B2.

        Sáng ngày 9 tháng 4, đang đi trên đường Vạn Kiếp ở Bắc thị trấn Pleiku, tôi gặp xe của Tiểu đoàn 8 rađa vừa tới. Tiểu đoàn trưởng Trần Quang Sáng, người cao to khỏe mạnh, nước da ngăm đen, đang tìm đường đến tiền phương Quân chủng. Tôi dẫn Sáng về sở chỉ huy và nghe anh báo cáo với Phó Tư lệnh Quang Hùng:

        - Tiểu đoàn 8 gồm 4 đại đội rađa trinh sát, xuất phát từ Khe Sanh ngày 31 tháng 3, đi theo tuyến Tây Trường Sơn. Ngày 4 tháng 4 đến Khâm Đức, ngày 9 tháng 4 đến đây, gồm 47 xe, máy, đầy đủ an toàn. Theo kế hoạch cũ, do anh Hứa Mạnh Tài phổ biến, thì Tiểu đoàn 8 triển khai ở Tây Nguyên.

        Rồi hồn nhiên, anh hỏi:

        - Tây Nguyên giải phóng rồi! Chóng tôi đi đâu bây giờ thủ trưởng?".

        Anh Quang Hùng nhìn Sáng, cười vui vẻ, nói:

        - Mệnh lệnh tám chữ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa truyền đi khắp toàn quân: "Thần tốc - Táo bạo - Bất ngờ - Chắc thắng! Trên tinh thần đó, con đường của Tiểu đoàn 8 các cậu là hướng vào Sài Gòn đấy! vắt chân lên cổ mà chạy! Hôm nay nghỉ ở Pleiku. Ngày mai đi tiếp, để có mặt ở B2 trước 15 tháng 4. Đằng sau chúng ta là Quân đoàn I, được sự giúp đỡ của các sư đoàn xe Binh đoàn Trường Sơn cũng đang tăng tốc độ hành quân.

--------------
1. Tuấn là bí danh của Thượng tướng Văn Tiến Dũng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 04:29:32 am
        Chúng tôi đi tiếp vào Đức Lập. Ở đây, anh Phạm Sơn cử một trợ lý tên lửa nằm lại chờ Trung đoàn 263, còn tất cả tiếp tục cuộc hành trình. Đây là đoạn đường mà chúng tôi được phổ biến là còn nhiều mìn do địch để lại. Xe chỉ được chạy giữa đường. Đến Tuy Đức, chúng tôi bỏ đường 14, rẽ lối Bù Gia Mập - Bù Đốp về thẳng Lộc Ninh.

        Đến trạm tiếp đón, chúng tôi được hướng dẫn về cơ quan tham mưu phòng không B2 và được bố trí nơi làm việc bên cạnh sở chỉ huy Sư đoàn pháo cao xạ 77. Thật là may mắn, vì chúng tôi được sử dụng mọi cơ sở và phương tiện cần thiết của sư đoàn, để thiết lập ngay một sở chỉ huy cho tiền phương Quân chủng. Các anh Trần

        Trung Tín, Hai Sả, cán bộ chỉ huy sư đoàn, Thái Công Danh, Tham mưu trưởng đã hết sức nhiệt tình tạo điều kiện cho chúng tôi mọi thứ thuận tiện dễ dàng, ở đây tôi được gặp lại Phan Chiến Sĩ, Tôn Kỳ, hai trợ lý cũ của tôi hồi còn ở Quân chủng Phòng không - Không quân. Các anh được tăng cường cho B2 hồi đầu năm trước.

        Trong khi Phó Tư lệnh Quang Hùng, cùng Trưởng Phòng Tác chiến Phạm Sơn đi nhận nhiệm vụ trên Bộ chỉ huy Chiến dịch, thì chúng tôi ở nhà triển khai công việc sở chỉ huy.

        Tối hôm ấy, chúng tôi được nghe phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Anh Phạm Sơn cho tôi xem những ghi chép mà anh đã được cơ quan Cục Tác chiến hướng dẫn. Thời gian rất gấp rút. Chúng tôi phân công nhau xây dựng "Quyết tâm chiến đấu của lực lượng phòng không trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia định".

        Riêng tôi, nhờ đã sơ bộ nắm được toàn bộ lực lượng phòng không phía Nam trước đây, nay được thông tin thêm về những bổ sung mới, những chuyển dịch mới, tôi có thể dễ dàng thể hiện lên sơ đồ tác chiến vị trí các đơn vị phòng không, trong đội hình tiến công của các quân đoàn chủ lực, từ nắm hướng, xung quanh Sài Gòn.

        Nhớ lại hồi Điện Biên Phủ năm 1954, lực lượng phòng không chúng tôi tham gia chiến dịch chỉ có một trung đoàn pháo cao xạ 37mm và năm tiểu đoàn súng máy 12,7mm. Vậy mà hôm nay, trong trận đánh tổng lực vào sào huyệt cuối cùng của địch, lực lượng phòng không của chúng tôi - không tính gần ba chục trung đoàn cao xạ, tên lửa, rađa đang lằm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương miền Bắc và các vùng mới giải phóng từ Cam Ranh trở ra - lên tới: Bốn sư đoàn và lữ đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 57mm và 37mm trực tiếp nằm trong đội hình tiến công của các quân đoàn; một sư đoàn pháo cao xạ bảo vệ giao thông chiến dịch. Nếu tính cụ thể, tổng cộng tất cả có tới gần hai chục trung đoàn pháo cao xạ tham gia chiến dịch này.

        Đó là chưa kể ở mỗi sư đoàn bộ binh còn có trong biên chế những tiểu đoàn pháo 37mm và nhiều đơn vị súng máy cao xạ 12,7mm riêng.

        Tên lửa có một trung đoàn SAM-II bố trí ở bắc sông Bé và một tiểu đoàn tên lửa vác vai A-72 được chia làm nhiều mũi, đi cùng bộ binh và đặc công trên các hướng.

        Rađa có 1 tiểu đoàn, gồm 4 đại đội, bố trí từ Bắc Sông Bé đến Bắc Biên Hòa.

        Lực lượng phòng không tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn quả thật hùng hậu, thật sung sức. Đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị: 'Quân chủng phải gấp rút tăng cường lực lượng tối đa cho miền Nam".

        Về phía không quân địch, tuy ta vẫn phải đề phòng Mỹ can thiệp bằng máy bay chiến lược B-52, nhưng đối tượng tác chiến chủ yếu của bộ đội phòng không trong chiến dịch này là không quân chiến thuật ngụy. Lực lượng chúng có ba sư đoàn với hơn 1.000 máy bay các loại. Số máy bay tiêm kích, cường kích F-5, A-37 có hơn 100 chiếc, bố trí ở các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ. So với thời kỳ còn quân Mỹ ở Việt Nam, thật là một trời một vực, nhất là khi tinh thần của bọn phi công đã suy sụp, thi lực lượng so sánh ở mặt trận trên cao rõ ràng là có lợi cho ta rất nhiều. Tuy nhiên ta không thể chủ quan.

        Còn về nhiệm vụ của các đơn vị Phòng không - Không quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh được Bộ chỉ huy chiến dịch giao như sau:

        - Yểm hộ các binh đoàn làm nhiệm vụ bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch ở vùng ngoài thành phố.

        - Yểm hộ trực tiếp đội hình của các binh đoàn cơ giới thọc sâu. Bảo vệ các cầu phà quan trọng, trên đường hành tiến, nhất là các cầu Bông, cầu Xáng, cầu Biên Hòa, cầu Sài Gòn và phà Cát Lái.

        - Bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch trên các hướng, nhất là trên trục quốc lộ 1 và 13.

        - Phối hợp với pháo binh mặt đất khống chế sân bay Biên Hòa và Tân Sơn Nhất.

        - Sử dụng không quân tập kích những mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch đạt yếu tố táo bạo, bất ngờ.

        Riêng nhiệm vụ thứ năm, chúng tôi chỉ biết vậy, còn tổ chức thực hiện ra sao thì không được rõ.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 04:34:41 am
        Tất cả những tình hình và số liệu trên đây đều được chúng tôi thể hiện tổng quát lên sơ đồ tác chiến chiến dịch.

        Một buổi chiều trong căn lán nhỏ, khi tôi và anh Phạm Sơn đang cùng nhau hoàn chỉnh những chi tiết cuối cùng trên tấm sơ đồ "Quyết tâm chiến đấu", thì anh Quang Hùng bước vào. Bằng một giọng nghiêm trang, anh nói:

        - Tôi vừa ở Bộ tư lệnh chiến dịch về. Báo các cậu một tin quan trọng: Bộ Chính tri vừa điện vào cho phép chiến dịch này mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh".

        Phạm Sơn và tôi đứng bật dậy, nói như reo:

        - Thật thế hả anh? Ôi! Thích quá!

        - Chứ lại không thật à! Chính xác một trăm phần trăm!

        Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị ký tên đấy! Anh Tuấn trực tiếp phổ biến mà! Thôi! Cậu Lân nét chữ tốt, viết ngay tên bản đồ chiến dịch. Còn Phạm Sơn chuẩn bị cùng tôi lát nữa lên Bộ Tham mưu thông qua kế hoạch tác chiến.

        Lòng mừng vui khấp khởi, tôi nắn nót kẻ lên tấm sơ đồ cỡ lớn, một dòng chữ đậm: "Quyết tâm chiến đấu của bộ đội Phòng không - Chiến dịch Hồ Chí Minh".

        Tay cầm bút mà lòng tôi như trào một niềm vui khó tả. Ôi! Chiến dịch được mang tên Bác. Thật là hạnh phúc cho những ai được tham gia chiến dịch này. Tôi nghĩ: Đúng rồi! Còn gì hợp lý hơn việc lấy tên của Bác đặt cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Sáng 23 tháng 4, rời Lộc Ninh, Phạm Sơn và tôi mỗi người đi một hướng. Phạm Sơn đi đốc chiến ở trung đoàn tên lửa 263. Còn tôi đi hướng Quân đoàn 3.

        Theo đường liên tỉnh 17, quẹo sang lộ Trắng, vượt lộ Đỏ, qua suối Bà Chiêm, cầu Võ Tùng, tôi đến núi Ông, nơi trú quân của Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Chủ nhiệm phòng không Quân đoàn 3 là Trung tá Nguyễn Cần. Vừa thấy tôi, Nguyễn Cần hỏi ngay:

        - Phạm Sơn đâu? Tôi đáp:

        - Phạm Sơn xuống theo dõi Trung đoàn tên lửa 263. Còn mình được phân công sang đây với các cậu.

        - Ôi! Thế thì còn gì bằng! Mày với tao sẽ cùng vào Sài Gòn nhé!

        Đi vào công việc, Nguyễn Cần rút tấm sơ đồ trong cặp ra, giới thiệu cho tôi biết nhiệm vụ của pháo cao xạ, tên lửa tầm thấp A-72 trong đội hình Quân đoàn 3. Các Trung đoàn 232, 234, 593 và một đại đội tên lửa vác vai đã sẵn sàng, đang bám sát các Sư đoàn bộ binh 316, 320 và Sư đoàn 10 ở vị trí tập kết. Cần nói thêm: "Tớ cũng vừa đi thực địa, xuống các trung đoàn về đây. Khí thế lắm!".

        Nhìn ra, thấy anh Luân và anh Như, hai cán bộ của cơ quan tham mưu Quân chủng được tăng cường cho quân đoàn tuần trước, đang đi vào. Chúng tôi bắt tay nhau, chuyện trò vui vẻ.

        Chiều 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, từ phía Đông. Năm cánh quân của các Quân đoàn chủ lực 1, 2, 3, 4 và Binh đoàn 232 dồn dập tiến công quân địch từ 5 hướng. Quân đoàn 3 phụ trách hướng Tây Bắc: Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, Hóc Môn.

        Chiến sự trong 2 ngày đầu chiến dịch, qua quân đoàn thông báo, diễn ra trong thế thắng áp đảo của quân ta trên mọi hướng. Chiều 28 tháng 4, các quân đoàn chủ lực ta, cùng với bộ đội địa phương và lực lượng quần chúng nổi dậy đã bao vây chặt Sài Gòn. Tối hôm đó được tin thêm: Một phi đội A-37 do anh em ta lái đã ném bom khu để máy bay quân sự ở Tân Sơn Nhất. Tôi nghĩ ngay đến chàng phi công trẻ Nguyễn Thành Trung mà tôi mới gặp ở Lộc Ninh hôm nào. Sau đó là lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận.

        Đúng lúc ấy, tôi nhận được điện của anh Quang Hùng từ sở chỉ huy chiến dịch bên Cam Xe gọi xuống. Anh chỉ thị cho tôi tìm mọi cách bám sát bộ binh, để vào Sài Gòn thật nhanh, tìm địa điểm lập sở chỉ huy mới của Quân chủng tại Tân Sơn Nhất.

        Xe chúng tôi chạy về Chơn Thành, rồi rẽ phải, theo quốc lộ 13 đi xuống Bến Cát. Vừa đi được một quãng, chúng tôi bị một cây ba-ri-e sơn màu trắng đỏ, chặn ngang:

        - Bến Cát còn địch. Đề nghị các đồng chí quay lại! Đó là tiếng nói nghiêm túc của một chiến sĩ đội mũ tai bèo, đeo băng cờ Mặt trận. Không lẽ ngồi chờ, tôi đành bảo lái xe quay lại, mở bản đồ tìm lối khác. Thôi! Quay sang Đồng Xoài, rồi sẽ liệu.

        Đồng Xoài, một ngã 5 toàn màu đất đỏ. Cầy cối hai bên đường phủ kín một lớp bụi dày, chẳng còn màu xanh nữa. Cạnh ngã 5 có cắm một cột mốc to, treo chi chít những mũi tên chỉ đường. Xe nào qua đây không biết lối, cũng dừng lại để xem. Tôi đến gần, thấy một tấm biển hình mũi tên, ghi "367 đi tiếp Chơn Thành' Thế là Sư đoàn pháo cao xạ 367 đã đi qua đây, theo đội hình của Quân đoàn 1 rồi. Xe cộ của các đơn vị vẫn nối đuôi nhau đi về các ngả. Có một xe lạc hướng, vòng đi vòng lại. Tiếng người gọi nhau í ới. Đến bên một chiếc Jeep, tôi hỏi anh cán bộ ngồi trên xe. Anh là người của Quân đoàn 4, có việc trở ra Phước Long. Anh gợi ý tôi nên đi hướng Vĩnh An, gặp đường 22, về Tây Xuân Lộc, rồi theo đường 1 về Biên Hòa. Tôi nghĩ bụng lối này xa quá, nhưng chẳng còn đường nào khác, đành quyết định đi theo hưởng anh bạn vừa chỉ. Vừa đi vừa thắc thỏm, vì không có máy thu thanh nên tôi không biết các cánh quân đã vào đến đâu rồi?

        Xe qua Cầu Cây, đường trở nên xấu, vì là đường mới mở phục vụ chiến dịch. Bến phà Vĩnh An phía trước chật cứng hàng trăm xe chờ sang sông. Nhích mãi, nhích mãi, cố gắng len lỏi lắm, xe tôi mới sang được bên kia phà.

        Bỗng nghe hàng loạt đạn tiểu liên nổ giòn phía sau, tiếp theo là những tiếng hô: "Sài Gòn giải phóng rồi! Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng rồi! 'Tiếng la hét, tiếng reo mừng vang dội. Đạn liên thanh các cỡ nổ rầm trời. Chúng tôi cũng hò reo khản cổ. Những chiếc đài bán dẫn đâu đó vang vang tin chiến dịch toàn thắng.

        Chạy khoảng mươi ki-lô-mét, chúng tôi gặp đường 20. Thấy đường tốt, cậu lái xe mừng rơn: Đi lối nào thủ trưởng? Tôi cười: Nếu cậu muốn lên Đà Lạt nghỉ mát thì rẽ trái. Còn nếu muốn về Sài Gòn thì rẽ phải:

        - Thủ trưởng tuyệt quá! Đường lạ mà sao thủ trưởng thành thạo thế!

        - Cậu nên "khen" thắng MỸ ấy. Đó là nhờ bản đồ của nó vẽ quá chính xác đấy thôi!

        Đường tốt, xe chúng tôi lại bon bon. Đến Dầu Giây, gặp đường số 1, tôi cho xe chạy thẳng đến sân bay Biên Hòa. Đại tá Hoàng Ngọc Diêu, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ nhiệm Phòng không - Không quân chiến dịch cũng vừa có mặt ở đây. Theo chỉ thị của anh Diêu, sáng hôm sau, ngày 1 tháng 5, tôi đi tiếp về Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 04:36:51 am
        Xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa rộng thênh thang, có những đường vạch sơn phân tuyến. Thỉnh thoảng có những "con lươn” bằng bê tông chạy dài chính giữa. Xe từ phía ngoài vào vẫn không ngớt. Có nhiều xe chở cán bộ dân chính vào tiếp quản. Xe nào cũng cắm cờ Mặt trận nửa đỏ nửa xanh. Xe tôi cũng cắm cờ. Cánh tay tôi cũng đeo băng xanh đỏ. Cờ giải phóng phần phật tung bay trong gió. Ôi! náo nức và phấn khởi vô cùng.

        Chiến sĩ ta trẻ măng, ngồi trên xe, vẻ mặt ai cũng hân hoan. Một chiếc xe khác, hình như chở đoàn văn công, chạy cùng chiều, cả nam lẫn nữ đều đội mũ tai bèo, nhưng hất tung về phía sau. Những cô văn công xinh đẹp, với mớ tóc dài bổng bềnh bay trong gió, đang hát vang bài ca: "Tiến về Sài Gòn”.

        Cầu Đồng Nai, cầu Sài Gòn thật đẹp! và cả cầu Rạch Chiếc, vẫn còn nguyên vẹn cả. Tôi thầm nghĩ không biết có bao nhiêu chiến sĩ đặc công mình đã ngã xuống nơi đây, để cho đại quân ta tiến vào thành phố nhanh như cơn lốc? Hai bên xa lộ vắng vẻ. Nhưng trên đường thì đầy dẫy những áo quần, giày mũ của các sắc lính ngụy tháo chạy, vứt bỏ ngổn ngang. Có nhiều xe nhà binh vô chủ, đậu rải rác.

        Qua ngã tư Hàng Xanh, chúng tôi thấy người đông hẳn lên. Đồng bào thành phố, ăn mặc đủ kiểu, đứng chật ních trên vỉa hè, vẫy cờ, hoa chào các anh giải phóng. Trên các cổng nhà đều treo cờ, cả cờ Mặt trận và cờ đỏ sao vàng. Xen vào dòng xe ôtô của bộ đội là những chiếc xe gắn máy của dân thành phố chạy ngược xuôi. Lúc ấy, tôi chẳng nghĩ đến đường ngược chiều hay thuận chiều gì cả. Cứ thẳng đường dự kiến mà đi.

        Lẽ ra xe tôi cứ thẳng đường vào Tân Sơn Nhất, nhưng thoáng nghĩ đến dinh Độc Lập sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn, nơi Tổng thống Dương Văn Minh vừa tuyên bố đầu hàng quân cách mạng, tôi liền bảo lái xe rẽ sang cầu Thi Nghè, qua đường Hồng Thập Tư. Gặp đường Đinh Tiên Hoàng, xe ngoặt trái, rồi rẽ sang đại lộ Thống Nhất (Lê Du ẩn ngày nay). Đầu óc tôi bỗng bừng bừng khó tả khi trước mắt tôi hiện ra một tòa nhà đồ sộ. Tôi đoán đó là dinh Độc Lập. Trên đỉnh cột cao, lá cờ giải phóng đang tung bay, uốn lượn theo chiều gió. Đẹp đẽ làm sao! Tôi hình dung giữa lá cờ như có hình bóng Bác thân yêu đang giơ tay vẫy vẫy. Nhớ đến Bác, tôi lại nhớ đến hai câu thơ của Tố Hữu.

        "Miền Nam đang thắng mơ ngày hội.
        Rước Bác vào thăm thấy Bác cười”.

        Bây giờ khổng còn là mơ nữa. Cả miền Nam đang trong ngày hội lớn. Cả Sài Gòn như đang đón Bác trở về sau hơn 60 năm trời xa cách. Bến Nhà Rồng năm xưa tiễn Bác ra đi, hôm nay như đang được đón Bác trở về, giữa lòng mọi người, và trên đài vinh quang chói lọi. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc. Hẳn Bác rất vui lòng.

        Hai bên đại lộ và trong sân dinh Độc Lập, xe tăng, xe pháo đậu san sát. Bộ đội ta tràn ngập các vườn cây bãi cỏ bên ngoài và bên trong dinh. Rải rác có những bếp cơm của anh nuôi đang đỏ lửa. Thấy một đại đội 4 khẩu pháo cao xạ 57mm đang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, tôi đến bên thăm hỏi tình hình. Anh pháo thủ cho tôi biết đây là pháo của Tiểu đoàn 7, thuộc Trung đoàn 284. Tôi mừng quá, nói lớn:

        - Các cậu giỏi thật! Tiểu đoàn 7 cao xạ anh hùng của đường Trường Sơn, giờ đây đã có mặt giữa Sài Gòn.

        Tôi chào anh em pháo thủ, rồi lên xe hướng về Tân Sơn Nhất theo đường Lê Văn Duyệt.

        Đường Lê Văn Duyệt quá đẹp, người lại đông. Xe cứ nổ máy, nhích lên từng bước, chậm rì. Mỗi khi xe đứng, tôi tranh thủ nói chuyên với những người ở gần. Ai cũng thích tiếp chuyện với chúng tôi.

        Tân Sơn Nhất trước mặt rồi, nhưng vào cổng nào đây? Sau một lúc hỏi thăm đường, chúng tôi rời ngã tư Bảy Hiền rẽ về lãng Cha cả, để vào sân bay bằng cổng số 5 mà bà con gọi là cổng Phi Long. Nhìn sang hai bên đường tôi thấy mấy chiếc xe tăng T-54 của quân ta bị bắn cháy. Tôi lặng người, chạnh nghĩ: "Cho đến những phút cuối cùng của cuộc chiến tranh, trước giờ toàn thắng, vẫn còn những đồng đội của tôi tiếp tục ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc!”.

        Trình giấy, qua ba-ri-e do các chiến sĩ ta đứng gác, chúng tôi đi thẳng vào căn cứ sư đoàn 5 không quân ngụy. Doanh trại rộng thênh thang. Tôi đi vào gian sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh sư đoàn này. Vào phòng, một tấm mica dày cộm, to cao sừng sững đập vào mắt tôi. Thì ra đó là tấm sơ đồ đánh dấu đường bay, có ánh điện tỏa sáng giữa những lớp mica trong suốt. Toi đem so sánh nó với tấm mica đánh dấu đường bay của ta, mà chúng tôi thường gọi là bản đồ9x9và5x5ở các sư đoàn, thậm chí ở cả Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, nơi đã từng là cơ quan đối đầu với Bộ Chỉ huy tập đoàn không quân chiến lược Mỹ trong cuộc chiến 12 ngày đêm cuối năm 1972, thì thấy phương tiện chỉ huy của mình nhỏ bé, đơn sơ quá! Nhưng kỳ diệu thay, những cái bé nhỏ đơn sơ ấy đã lần lượt chiến thắng mọi phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất của kẻ thù.

        Các anh trên Bộ Tư lệnh, sau khi đến xem xét, đã quyết định cho đặt sở chỉ huy tạm thời của tiền phương Quân chủng tại đây.

        Đứng trên tầng thượng của tòa nhà, phóng tầm mắt ngắm nhìn quang cảnh Sài Gòn, lòng tôi lâng lâng tự hào, vinh dự là một sĩ quan Bộ Tham mưu Quân chủng PK-KQ được có mặt trong đoàn quân trở về giải phóng thành phố. Hướng về phía Tây Bấc, nhìn ra xa, xa mãi, tôi nhớ lại chặng đường hành quân vừa qua dọc theo chiều dài đất nước, trên dãy Trường Sơn hùng vĩ.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:28:19 pm
       
CÔNG TÁC THAM MƯU Ở QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN

Đại tá Lê cổ                                 
Nguyên sĩ quan Huấn luyện tên lửa Bộ Tham mưu       

        Tôi được điều về công tác tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân năm 1969. Trước đó tôi đã là sĩ quan tham mưu trung đoàn bộ binh trong kháng chiến chống Pháp, sau này là eBB93 sư đoàn 324 anh hùng. Khác với công tác tham mưu ở bộ binh, công tác tham mưu ở Quân chủng Phòng không - Không quân là binh quân chủng kỹ thuật, sĩ quan tham mưu nắm chắc binh khí kỹ thuật của ta và của địch mới làm tròn nhiệm vụ.

        Quân đội Mỹ được trang bị rất hiện đại, là đội quân xâm lược nhà nghề, rất thực dụng và nhạy bén về sử dụng binh khí kỹ thuật. Hôm nay địch sử dụng thủ đoạn này bị thất bại, ngày mai chúng đổi ngay thủ đoạn khác. Do đó, sĩ quan tham mưu ta phải vừa nắm vững binh khí kỹ thuật vừa phải bám sát diễn biến chiến trường kịp thời đề xuất, tham mưu cho Bộ tư lệnh và hướng dẫn kịp thời cho đơn vị.

        Hồi chiến tranh, Quân chủng đã tổ chức những đoàn cán bộ có trình độ và kinh nghiệm thực tiễn đi sát các đơn vị nghiên cứu địch để kịp thời chỉ đạo tác chiến. Đó là chủ trương rất đúng đắn, công tác tham mưu nhạy bén đã góp phần giành thắng lợi.

        Từ năm 1967, ta đã giải quyết được cách đánh máy bay không quân địch gây nhiễu dải bằng phương pháp 3 điểm (TT), bám sát được dải nhiễu của một chiếc máy bay gây nhiễu để tiêu diệt chúng.

        Nhưng từ tháng 4 đến tháng 5/1972, khi máy bay Mỹ mở đợt đánh phá lần thứ hai ra miền Bắc, địch thay đổi cách gây nhiễu dải trong đội hình. Chúng sử dụng máy gây nhiễu ALQ-87, ALQ-101 công suất lớn, cường độ nhiễu mạnh nên gián cách giữa các chiếc trong đội hình với biên độ rộng hơn (300 - 600m), nên việc chọn dải nhiễu để bám sát của trắc thủ tay quay như cũ không phù hợp. Thêm vào đó, trước đây mỗi tốp 4 chiếc máy bay chiến thuật có một chiếc gây nhiễu cho cả tốp, nay mỗi chiếc mang hai máy gây nhiễu dải, do đó đa số đạn tên lửa bắn lên vượt mục tiêu, xác suất diệt mục tiêu thấp. Thòi gian này, các đơn vị tên lửa Hà Nội đã bắn gần 100 quả tên lửa nhưng hiệu quả rất thấp, trái lại có 6 bộ khí tài bị tên lửa không đối đất (Shrike) của địch đánh hỏng.

        Các đoàn sĩ quan tham mưu của Quân chủng cùng với phòng tham mưu Sư đoàn 361 đi sát các phân đội phát hiện khuyết điểm ta và đã đề xuất biện pháp khắc phục hữu hiệu. Ta đã lắp lại đài quan sát mắt PA-00 hiệu chỉnh đồng bộ trục quang - trục điện. Sau đó, ngày 27/06/1972, tiểu đoàn 57 trung đoàn 261 đã bắn rơi chiếc F4E bằng cách phối hợp chặt chẽ giữa kíp chiến đấu đài điều khiển với PA-00. Rút kinh nghiệm trận này, các phân đội tên lửa đã đổi mới cách chọn dải và bám sát để bắn rơi nhiều máy bay địch. Đồng thời lúc này máy bay hải quân địch cũng giở thủ đoạn gây nhiễu xung trả lời mới, kết hợp nhiều mục tiêu giả, không ít đơn vị đã bắn vào mục tiêu giả.

        Đoàn sĩ quan tham mưu tên lửa của Quân chủng đã phát hiện được thủ đoạn này, dùng phương pháp phóng giả của đài điều khiển với quan sát mắt nên kíp chiến đấu tên lửa đã phân biệt được tín hiệu mục tiêu thật và mục tiêu giả để bắn rơi máy bay địch.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:29:14 pm
        Những năm 1968 - 1969, ở những nơi xa hỏa lực tập trung, thì máy bay địch sử dụng tên lửa không đối đất Shrike, sau này là AGM-78 (88) rất lợi hại. Hồi đó, tôi còn là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn hỏa lực của chiến trường Nghệ An. Qua hàng chục lần phát hiện tín hiệu tên lửa Shrike trên màn hiện sóng và một số lần tên lửa Shrike rơi cách trận địa lOOm trở ra. Chúng tôi tính toán ước lượng tốc độ của Shrike so sánh với tốc độ trung bình tên lửa của ta để lập bảng tính đối phó với tên lửa địch khi bắn. Tuy nhiên, điều kiện ở phân đội không có thời gian và phương tiện, may thay đoàn sĩ quan Bộ tham mưu Quân chủng trong đó có đồng chí Hoàng Bát cũng đang nghiên cứu vấn đề này đến theo dõi đơn vị. Chúng tôi trao đổi với nhau. Sau này (1969) tôi được điều về Bộ Tham mưu Quân chủng thì đồng chí Bát đã hoàn chỉnh dần tài liệu. Sau đó, nhờ Viện Kỹ thuật Quân sự sử dụng máy tính với hàng ngàn phép tính ở những cự ly bắn, độ cao mục tiêu khác nhau, đã lập bảng tính sẵn và viết thành quy tắc bắn máy bay địch trong điều kiện có sử dụng tên lửa Shrike. về sau nhiều đơn vị đã xử lý thành thạo bắn máy bay địch, diệt máy bay tại chỗ trong điều kiện chúng sử dụng tên ỉửa Shrike.

        Sĩ quan tham mưu Quân chủng trong các "gánh hát rong” đã thâm nhập các đơn vị nghiên cứu tìm cách đánh B-52 và dần dần bổ sung phương án đánh B-52, bảo vệ Hà Nội - Hải Phòng là cả một quá trình công phu.

        Kể từ 17/9/1967, lần đầu tiên tiểu đoàn 84 trung đoàn 238 bắn B-52 ở Vĩnh Linh đến tháng 10/1972, tên lửa phòng không đã bắn B-52: 110 trận được công nhận rơi 23 chiếc, nhưng chưa có chiếc nào rơi tại chỗ. Các sĩ quan tham mưu tên lửa đã theo chân các đơn vị vào đường 20, đường 12 biên giới Việt - Lào, mang ba lô, ruột nghé gạo, ăn cơm vắt, ngủ hầm để nghiên cứu cách đánh B-52. Lúc đầu ở Quảng Bình, Vĩnh Linh khi B-52 vào ném bom, dù cự ly xa hay gần, khi mở máy thu đài điều khiển tên lửa quay 360°, hướng nào cũng có nhiễu dải. Nhiều sĩ quan ở đơn vị, ngay cả một số sĩ quan trong đoàn của Bộ Tham mưu Quân chủng cũng cho rằng B-52 không mang nhiễu trong đội hình, không thể bắn bằng phương pháp TT. Sau khi chúng tôi ngồi cạnh kíp chiến đấu tên lửa theo dõi dải nhiễu di chuyển có quy luật trên cả 2 màn hiện sóng và xác định là nhiễu dải của B-52. Cho đến đêm 22/11/1972, Tiểu đoàn 43 và 44 ở Nghệ An thuộc trung đoàn 263 bắn trúng chiếc B-52, xác chiếc B-52 này rơi ở Na-khon-pha-nom (Thái Lan). Lần đầu tiên giới quân sự Mỹ đã phải thừa nhận tên lửa phòng không ta bắn hạ được B-52 của chúng. Đây là chiến công có ý nghĩa to lớn của công tác nghiên cứu dày công của bộ đội tên lửa phòng không, trong đó có sự đóng góp rất lớn của sĩ quan tham mưu Quân chủng. Nó mở ra khả năng tên lửa phòng không có thể bắn rơi B-52 tại chỗ và củng cố niềm tin cho bộ đội, bổ sung cho phương án đánh B-52 bảo vệ Hà Nội - Hải Phòng.

        Qua rút kinh nghiệm nhiều trận đánh và thông qua hội nghị tháng 10/1972, mà các Phòng Huấn luyện, Khoa học quân sự, Tác chiến đã đúc kết trong báo cáo trung tâm, tài liệu đánh B-52 đã được hoàn chỉnh. Tài liệu này đã được huấn luyện cho các đơn vị tên lửa phòng không ở Hà Nội - Hải Phòng và tổ chức luyện tập thật chu đáo. Từ chỗ các phân đội chỉ quen sử dụng phương pháp PC, nay đã quen với phương pháp TT, nhưng lại chỉ dùng máy thu dải nhiễu mà không phát sóng đài điều khiển. Khuynh hướng này đã được Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri chấn chỉnh. Thực tế chiến đấu cho thấy khi B-52 bay đến cự ly 32km trở vào thì cần phát sóng, thu tín hiệu mục tiêu để tăng xác suất tiêu diệt B-52 và hạ B-52 rơi tại chỗ.

        Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tên lửa phòng không đã bắn rơi 29/34 B-52, có 16 chiếc rơi tại chỗ, góp phần xứng đáng vào chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận thất bại có tính chất chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        Tóm lại, công tác tham mưu ở một binh chủng kỹ thuật như tên lửa phòng không thì việc tổ chức bộ phận sĩ quan cổ trình độ và kinh nghiệm thực tiễn với những gánh hát rong như vừa là chủ trương đúng đắn và có hiệu quả thiết thực.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:31:35 pm
        
MỐI QUAN HỆ "THẨN" THIÊNG NHỜ "BỘ HẠ"

Đại tá Hà Văn Chấp                        
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng        

        Tôi xin kể những kỷ niệm về mối quan hệ giữa người chỉ huy và cơ quan tham mưu Quân chủng trong những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Mối quan hệ đó là: Thần thiêng nhờ bộ hạ.

        Thần thiêng là muốn nói vai trò và thế thái của đồng chí Tư lệnh Quân chủng - đồng chí Phùng Thế Tài, sau đó là đồng chí Lê Văn Tri.

        Bộ hạ là nói rõ năng lực và trí tuệ của tập thể sĩ quan Bộ Tham mưu Quân chủng trong vai trò tổ chức và chỉ huy chiến đấu.

        Năm 1963, khi hợp nhất hai lực lượng là Phòng không và Không quân thành Quân chủng; Bộ Tham mưu ra đời là cơ quan quân sự cao nhất của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, có nhiệm vụ tổ chức chỉ huy chiến đấu và xây dựng lực lượng. Cơ quan tham mưu được tổ chức hoàn chỉnh ngay từ đầu, có đủ các phòng chức năng, khối tác chiến và khối bảo đảm chiến đấu.

        Cán bộ tham mưu hầu hết từ lục quân về, đa số là cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn đã qua chiến đấu 9 năm chống Pháp, ở chiến trường Trung, Nam, Bắc; đã qua huấn luyện đào tạo hệ chỉ huy tham mưu ở nhà trường, học viện trong và ngoài nước như Trung Quốc, Liên Xô (cũ); có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, năng lực tổ chức chiến đấu, làm tốt công tác tham mưu.

        Năm 1964, khởi sự cuộc chiến tranh phá hoại, không quân Mỹ bắt đầu đánh phá mục tiêu ở miền Bắc nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng, Bộ Tham mưu đã tỏ rõ vai trò tổ chức, chỉ huy chiến đấu của mình. Dưới sự điều hành của đồng chí tham mưu trưởng, các sĩ quan tham mưu chủ chốt làm nhiều phần việc quan trọng về kế hoạch tác chiến, chiến lược, kế hoạch xây dựng lực lượng tổ chức hệ thống sở chỉ huy, quy định chế độ trực ban, sẵn sàng chiến đấu; nghiên cứu khảo sát chiến trường, xác định mục tiêu quan trọng cần được bảo vệ kiểm tra và dự kiến tu sửa, xây dựng phát triển hệ thống sân bay, trận địa, lập kế hoạch phòng tránh sơ tán, ngụy trang, nghi binh. Cơ quan tham mưu hoạt động rất khẩn trương.

        Người tham mưu trưởng đầu tiên là đồng chí Nguyễn Quang Bích, là người rất am hiểu và có năng lực điều hành, hướng dẫn công tác tham mưu có hiệu lực.

        Các năm về sau lần lượt các đồng chí phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng là:

        Anh Hoàng Văn Khánh (thời gian ngắn).

        Anh Đỗ Đức Kiên (thời gian ngắn).

        Anh Hoàng Ngọc Diêu (lâu hơn cả).

        Có nhiều tham mưu phó phụ trách cao xạ, tên lửa, không quân, rađa, cán bộ trưởng, phó phòng và trợ lý chủ chốt được bổ sung, thay thế đầy đủ, phong phú. Cơ quan lãnh đạo của Đảng ủy Bộ Tham mưu được tăng cường. Guồng máy hoạt động của Bộ Tham mưu rất sôi nổi ngay từ đầu chiến tranh.

        Đồng chí Tư lệnh Phùng Thế Tài trực tiếp làm việc với Bộ Tham mưu và coi trọng ý kiến đề xuất của Bộ Tham mưu về bố trí điều chỉnh lực lượng, phán đoán, dự kiến tình huống có thể xảy ra. Sau những đợt đánh trả bắn rơi máy bay Mỹ. Đồng chí thường biểu dương Bộ Tham mưu là "bộ hạ” đắc lực.

        Không quân, hải quân Mỹ cùng đánh phá và leo thang đánh sâu ra phía Bắc, các đợt đánh phá của địch dày đặc hơn, thủ đoạn thâm độc, thay đổi cách đánh của không quân Mỹ, được Bộ Tham mưu phát hiện và có biện pháp xử lý, nhanh chóng, chủ động, kịp thời, không bị bất ngờ, do vậy các đợt đánh trả của các lực lượng cao xạ, tên lửa và không quân có hiệu lực, hiệu suất bắn rơi máy bay địch cao hơn.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:33:53 pm
        Từ năm 1970 - 1972 cuộc chiến tranh phá hoại diễn ra rất ác liệt, mức độ, quy mô, lực lượng không quân, hải quân Mỹ đánh phá mục tiêu sâu rộng hơn bắt đầu có những đợt đánh vào khu vực Hà Nội, Hải Phòng. Đồng thời ráo riết chuẩn bị mở chiến dịch tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, nhiều lần xuất hiện máy bay trinh sát chiến lược SR71.

        Đồng thời quân Mỹ cơ động lực lượng lớn ra giới tuyến mở chiến dịch Lam Sơn 79 đánh vào lực lượng ta ở đường số 9 - Nam Lào nhằm ngăn chặn đường vận chuyển của ta.

        Bộ Tham mưu Quân chủng được giao nhiệm vụ tăng cường điều chỉnh lực lượng lớn bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, chuẩn bị kế hoạch đánh trả cuộc tập kích đường không bằng máy bay B-52 của Mỹ.

        Đồng thời tổ chức chỉ đạo 3 sư đoàn phòng không 367, 377, 365 và một bộ phận máy bay MiG 21Bis cơ động vào phía Nam Quân khu 4 chuẩn bị tham gia tác chiến hiệp đồng quân binh chủng trong các chiến dịch phản công của Bộ.

        Bộ Tham mưu Quân chủng tăng cường chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu cao hơn, tổ chức sở chỉ huy tiền phương lúc đầu vào đóng quân ở Yên Thành - Nghệ An, sau đó cơ động vào Lệ Thủy - Quảng Bình do đồng chí Dương Hán chỉ huy, các thành phần trực ban tác chiến đều có đủ trực 24/24 giờ. Bên cạnh có sở chỉ huy không quân do đồng chí Nguyễn Phúc Trạch chỉ huy. Các sĩ quan tham mưu bám sát bộ đội, kiểm tra đốc chiến. Địch bắt đầu mở chiến dịch Lam Sơn 79.

        Các tổ đại diện của Quân chủng bên cạnh sở chỉ huy chiến dịch của Bộ được tổ chức nhanh chóng.

        Chiến dịch đường 9 Nam Lào có đồng chí Hoàng Văn Khánh tham gia Bộ Tư lệnh chiến dịch, Bộ Tham mưu có đồng chí Hoàng Ngọc Diêu, tác chiến có đồng chí Hà Văn Chấp và Nguyễn Văn Thân, một số trợ lý chủ chốt theo dõi chỉ đạo các sư đoàn, trung đoàn và không quân chiến đấu trong đội hình của mặt trận.

        Chiến dịch Cánh Đồng Chum Lào, Bộ Tham mưu cử đồng chí Lê Văn Thiêm làm chủ nhiệm phòng không tại mặt trận, có trực ban tham gia chiến dịch. Không quân có tổ chỉ huy bổ trợ cho máy bay IL 28 ném bom vào Sầm Thông Long Chẹn, Lào.

        Chiến dịch Trị Thiên (1972) Bộ Tham mưu tổ chức đại diện bên cạnh sở chỉ huy chiến dịch, anh Hoàng Ngọc Diệu phụ trách, có anh Trịnh Duy Hậu, Hà Văn Chấp, Nguyễn Đăng Tâng, Nguyễn Văn Chí và một số trợ lý chủ chốt tham gia theo dõi thực hiện kế hoạch tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa Sư đoàn 367, 377 với các sư đoàn, trung đoàn bộ binh chiến đấu phản công suốt chiến dịch.

        Trong các chiến dịch của Bộ, đồng chí Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri đều tham gia kế hoạch sử dụng lực lượng phòng không - không quân tác chiến với Bộ tư lệnh chiến dịch.

        Sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng và các tổ đại diện bên cạnh Bộ tư lệnh các chiến dịch của Bộ hoạt động rất có hiệu lực. Bộ đội phòng không chiến đấu hiệu quả cao, bắn rơi nhiều máy bay chiến thuật của Mỹ, bắn rơi cả máy bay B-52 được Bộ tư lệnh chiến dịch và các sư đoàn bộ binh hài lòng và biểu dương, lực lượng phòng không - không quân chi viện đắc lực cho bộ binh phản công thắng lợi.

        Sau thắng lợi các chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng, những cuộc họp rút kinh nghiệm các đợt chiến đấu lại thấy Tư lệnh Quân chủng có lúc cả Tư lệnh chiến dịch biểu dương cơ quan tham mưu bằng câu tục ngữ "Thần thiêng nhờ bộ hạ”.

        Đến chiến dịch 12 ngày đêm 1972, lực lượng phòng không - không quân đương đầu và đánh trả các đợt tập kích đường không bằng B-52 của Mỹ đã làm nên chiến công lớn - "Điện Biên Phủ trên không", bắn rơi nhiều máy bay B-52 của Mỹ. Đúng với tiên đoán của Bác Hồ khi Bác đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Bộ Tham mưu rất phấn khởi và tự hào đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Qua chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân nhà nghề của Mỹ có nhiều kinh nghiệm về tổ chức chỉ huy chiến đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân hiện đại và anh hùng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:39:48 pm
       
ĐƯA TÊN LỬA SANG TÂY TRƯỜNG SƠN ĐÁNH MÁY BAY AC-130

Đại tá Nguyễn Tiến Thu                       
Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không       

        Mùa khô năm 1971, theo quyết định của Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng của Đoàn 559 liên tiếp mở các chiến dịch vận chuyển lớn chi viện cho chiến trường miền Nam chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng chính: Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

        Theo lệnh của Quân chủng, Tiểu đoàn tên lửa 67, Trung đoàn 275 đang bảo vệ cửa khẩu đường 12, cơ động gấp sang tây Trường Sơn đánh máy bay AC-130.

        Ngày 19-12-1971, Tiểu đoàn 67 được Tiểu đoàn pháo cao xạ 119 bảo vệ vượt cửa khẩu đèo Mụ Giạ, qua trọng điểm 050, Siềng Phan - Pha-nốp xuống Lùm Bùm.

        Dọc đường hành quân địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn cao xạ 119 tích cực bảo vệ tên lửa đã bắn rơi 1 F4 ở Pắc-pha-năng.

        Tại Lùm Bùm, đơn vị vừa nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch chưa kịp triển khai chiến đấu, lại có lệnh hành quân ngay xuống đường 9, khu vực đường Máy Húc.

        Đường hành quân không ai biết, thời gian lại gấp chúng tôi quyết định lấy một xe Gát-66 đi ngay ban ngày để trinh sát đường xá và tìm nơi trú quân.

        Mới đi được một quãng đường đã bị ba-rie của binh trạm giữ lại và mắng cho một trận: "Các ông ở đâu đến mà chủ quan, liều mạng thế".

        Binh trạm chỉ cho đi đêm và lấn sáng, lấn chiều.

        Cuối cùng đơn vi cũng khắc phục khó khăn, nguy hiểm vượt qua các trọng điểm và đèo Văng Mu đến được nơi trú quân ở đường Máy Húc.

        Khu vực này có nhiều đồi cây lúp súp, nhiều vạt rừng xanh tốt, kín đáo có thể cất giấu khí tài, bố trí trận địa tên lửa phù hợp, đánh được AC-130 bay dọc theo tuyến vận chuyển từ bắc xuống nam đường 9.

        Suốt chặng đường hành quân dọc theo Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ xuống sát đường 9, chiều dài gần 200km, Tiểu đoàn 67 bị đánh 21 lần có 17 lần trúng đội hình, một số cán bộ chiến sĩ thương vong, xe cộ, khí tài bị đánh hỏng nhiều: Hỏng khối hoàn mã hệ phát lệnh xe tính toán, 1 cần cẩu, 3 bệ, 1 xe chở đạn TZM, cháy 1 xe téc chở xăng, mang đi 8 quả tên lửa thi bị cháy 2, hỏng 3. Chiếc xe Gát chở hàng Tết cho trung đoàn sang cho bộ đội bị AC-130 bắn cháy nên anh em Tiểu đoàn 67 và Tiểu đoàn cao xạ 119 năm đó không có Tết.

        Trong khi chờ đợi cán bộ kỹ thuật của trung đoàn đến sửa chữa khí tài và bổ sung thêm tên lửa, chúng tôi tổ chức đi bộ khảo sát địa hình, đường xá dọc theo đường 128 cắt đường 9, vùng Na-bo, Sê-pôn, Thà- khống, Bản Đông, dọc đường xuống Mường Noòng, trên đường la liệt chỗ nào cũng thấỵ xe cộ bị bắn cháy.

        Tiếp xúc với một số cán bộ binh trạm khu vực đường 9, các đồng chí bức xúc nói: "Dạo này AC-130 hoạt động dữ quá, xe cộ bị bắn cháy nhiều, binh trạm nào không có đường "lấn" thì không thể hoàn thành kế hoạch. Cao xạ 37mm của binh trạm không bắn tới AC- 130. Chúng tôi vô kế khả thi. Mong Bộ nhanh chóng đưa tên lửa sang".


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:40:59 pm
        Theo tư liệu của Đoàn 559: Máy bay AC-130 được trang bị pháo 40mm và 20mm, có máy quan sát hồng ngoại, khuyếch đại ánh sáng mờ nên phát hiện rõ mục tiêu di động trong đêm tối và điều khiển pháo bắn chính xác. Thời gian hoạt động trong đêm của AC-130 khoảng 2-3 lần, mỗi lần kéo dài từ 2 - 3 giờ bay, túc trực trên không từ đầu tuyến đến cuối tuyến, đặc biệt ở Nam Bắc đường 9, không một đoàn xe nào đi trên đường trống trải mà không bị phát hiện và tấn công. Chúng bay ở độ cao 3 - 4km, chủ yếu dùng pháo 40mm bắn xuống sát thương trên xe cộ. Các đội xe khi gặp máy bay AC-130, dù đã tắt đèn để chạy vẫn bị chúng phát hiện và bắn trúng. Trong số xe bị bắn hỏng có 60 đến 70% do AC-130 gây ra. Số lái xe thương vong từ 10 đến 20%.

        Tiểu đoàn 67 từ khi bố tri ở trận địa Máy Húc đã đánh hai trận đúng đối tượng AC-130 được Bộ tư lệnh 559 công nhận bắn rơi một chiếc nhưng không rơi tại chỗ.

        Đánh máy bay AC-130 không dễ. Ban ngày OV-IO lượn lờ nhòm ngó, ngụy trang sơ hở một chút là bị máy bay cường kích đến ném bom. Ban đêm nó được máy bay tiêm kích đi hộ tống, lùng sục tìm rađa tên lửa phát sóng để phóng "sơ-rai".

        Nhiều tiểu đoàn tên lửa trước đây đã sang Tây Trường Sơn và các tiểu đoàn tên lửa 68, 69 của Trung đoàn 275 cũng đã bị "sơ-rai1? bắn hỏng khí tài, nên cán bộ và kíp chiến đấu Tiểu đoàn 67 cũng rất ngại "sơ-rai", cả hai trận đánh AC-130 đều dùng phương pháp bắn đuổi.

        Đồng chí Thân, trung đoàn trưởng Trung đoàn 275 rất trăn trở về hai trận bắn đuổi của Tiểu đoàn 67, đã cùng một số cán bộ xạ kích giỏi của Quân chủng, sư đoàn, nhà trường trực tiếp xuống đơn vị gặp cán bộ tiểu đoàn và kíp trắc thủ trao đổi, bàn bạc dân chủ, thống nhất cách đánh trong trận tiếp theo, hướng dẫn cho đơn vị sử dụng phương pháp điều khiển, chế độ ngòi nổ phù hợp với đặc điểm đánh đối tượng AC-130 có tốc độ chậm, nhắc anh em về truyền thống đánh nhanh, đánh có chuẩn bị của đơn vị, cảnh giác đề phòng địch phóng "sơ rai", đưa mọi công tác chuẩn bị trực tiếp lên giai đoạn chuẩn bị trước, tận dụng các phần tử của đài rađa nhìn vòng, rút ngắn thời gian phát sóng của đài điều khiển, phóng nhanh khi phát hiện được mục tiêu...

        3 giờ sáng ngày 29-3-1972, Tiểu đoàn 67 chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu 4 bệ, 4 đạn, 3 rãnh, khí tài tốt. Kíp chiến đấu số 1 do đồng chí Lành - Tiểu đoàn phó chỉ huy, đồng chí Bá - Sĩ quan điều khiển, các trắc thủ: Chàng - cự ly, Bằng - phương vị, Dương - góc tà, phát hiện một AC-130 từ phía Nam đường 9 bay lên. Theo phương án đã chuẩn bị, tiểu đoàn phóng hai quả tên lửa, dùng phương pháp bắn đón, đạn có điều khiển tốt, nổ trùm lên mục tiêu. Máy bay AC-130 rơi tại chỗ, cách trận địa khoảng lOkm. Đồng chí Lành đến tận nơi kiểm tra thấy có 13 nhân viên phi hành đoàn đã bị chết.

        Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên gửi ngay điện xuống biểu dương, tặng thưởng Tiểu đoàn 67 một chiếc đài bán dẫn National, một xe quà lấy ở Binh trạm 41 và đề nghị lên trên tặng thưởng cho đơn vị Huân chương

        Quân công hạng Nhì. Tư lệnh mặt trận Trị - Thiên Lê Trọng Tấn, Bộ Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn 377 và nhiều đơn vị khác đã gửi điện chúc mừng đến Trung đoàn 275.

        Lần đầu tiên bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 ở Tây Trường Sơn, đối thủ nguy hiểm nhất của tuyến chi viện chiến lược. Choáng váng trước sự uy hiếp của tên lửa, máy bay AC-130 phải ngừng hoạt động trên một khu vực rộng lớn của cửa khẩu vào đến Bạc trong 15 ngày, tạo điều kiện cho đội hình xe tiến công cả ngày và đêm trên cả đường "kín" và đường "hở". Hiệu suất vận chuyển tăng từ 3 đến 4 lần so với trước.

        Con "Át chủ bài" AC-130 bị đánh gục, bộ đội Trường Sơn đẩy cuộc "Tổng công kích" lên một cao trào mới. Hơn 40 tiểu đoàn xe tiến công dồn dập cả ngày và đêm. Nhiều đội hình được lệnh chạy thẳng từ đầu tuyến đến cuối tuyến.

        Chiến công của Tiểu đoàn 67 bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 là rất xuất sắc. Đây cũng là chiến công chung của tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 275 đã đổ máu, mồ hôi, công sức, vượt qua bao khó khăn nguy hiểm để kiểm tra, sửa chữa khí tài, tiếp tế đạn phục vụ cho tiểu đoàn đánh thắng. Nhiều anh em đã anh dũng hy sinh.

        Chiến công của Tiểu đoàn 67 cũng góp phần quan trọng cùng các lực lượng vận chuyển của Đoàn 559 tăng cường, chi viện hiệu quả cho chiến trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, thắng lớn trên các hướng chiến dịch Trị Thiên - Bắc Tây Nguyên - Đông Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:45:13 pm
        
NHỮNG KHÓ KHẢN, TRỞ NGẠI VÀ Ý CHÍ QUYẾT CHIẾN CỦA BỘ ĐỘI KHÔNG QUÂN TRONG TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG NĂM 1972

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên                    
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng        

        Trong cuộc chiến với không quân Mỹ bảo vệ miền Bắc và Hà Nội, lực lượng không quân của ta từ một trung đoàn đã phát triển thành Binh chủng Không quân trong đội hình chiến đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân, bao gồm Binh chủng Tên lửa, Binh chủng Cao xạ, Binh chủng Rađa và Binh chủng Không quân.

        Trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại, 4 binh chủng luôn luôn đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể như anh em ruột thịt trong một nhà; có thể nói đây là một mối quan hệ hiệp đồng mẫu mực nhất trong chiến tranh với tinh thần thực sự thương yêu và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, chị ngã em nâng. Khi không quân gặp khó khăn, sân bay bị địch đánh phá, thời tiết xấu không cất cánh được thì bộ đội cao xạ, tên lửa dũng cảm đánh địch bảo vệ không quân. Khi bộ đội tên lửa, cao xạ bị đánh thì không quân tìm mọi cách bảo vệ trận địa tên lửa, cao xạ. Trong chiến đấu có những lúc bộ đội tên lửa gặp khó khăn do địch gây nhiễu nặng, không đánh được, bộ đội không quân đã tìm mọi biện pháp để bắn rơi máy bay gây nhiễu điện tử của địch, tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nhờ sự đoàn kết gắn bó và hiệp đồng chặt chẽ với nhau cho nên Quân chủng Phòng không - Không quân của ta đã đánh thắng kẻ địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần, mà đỉnh cao là trận Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy cuối năm 1972 tiêu diệt hàng nghìn máy bay Mỹ và rút ra nhiều bài học kinh nghiêm quý báu.

        Mỹ là một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực to lớn về quân sự - kinh tế và cũng là kẻ cổ đầu óc thực tế, cho nên trước khi bước vào trận quyết chiến trên không cuối cùng, Mỹ đã tính toán rất kỹ, chuẩn bị chu đáo, chúng đã gây cho ta không ít khó khăn, trở ngại, đặc biệt là đối với bộ đội không quân.

        Đêm 20-11-1971, phi công MiG-21 Vũ Đình Rạng đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn trở ngại, bắn bị thương nặng B-52 trên không phận đường Hồ Chí Minh ở miền Tây Quảng Bình. Đây là thắng lợi bước đầu của bộ đội không quân trong nhiều năm tìm kiếm và tiêu diệt máy bay chiến lược B-52 của Mỹ, nhưng đây cũng là một sự cảnh báo để Mỹ tìm mọi cách đối phó cao nhất với không quân ta, khi chúng mở ra chiến dịch tập kích đường không chiến lược của B-52 đánh phá Hà Nội...

        Trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", bộ đội không quân có 4 khó khăn lớn nhất làm ảnh hưởng đến hiệu quả chiến đấu như sau:

        Khó khăn lớn nhất mà không quân ta vấp phải là căn cứ cất hạ cánh. Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn máy bay chiến dịch, chiến thuật và cả B-52 đồng thời đánh phá ác liệt vào các sân bay của ta, làm cho ta không cất cánh được lên trời để ngăn chặn B-52. Sân bay là mục tiêu lớn, cố định Mỹ đã trinh sát đi lại nhiều lần cho nên ta rất khó bảo vệ.

        Khó khăn thứ hai của không quân là làm thế nào để phát hiện được chính xác B-52 từ xa trong điều kiện địch gây nhiễu rất nặng và cất cánh chiến đấu ban đêm thời tiết xấu. Khi cho B-52 đánh vào Hà Nội, địch đã tổ chức gây nhiễu mạnh nhất và đày đặc nhất làm cho rađa khó tìm ra được mục tiêu B-52 trên màn hiện sóng. Đây là khó khăn của cả rađa cảnh giới, dẫn đường, rađa điều khiển của tên lửa và rađa ngắm bắn trên máy bay ta.

        Khó khăn thứ ba của không quân, nếu ta cất cánh lên được thì làm thế nào để tiếp cận được B-52 trong điều kiện đội hình B-52 có các máy bay tiêm kích yểm hộ dày đặc. Khi dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Mỹ đã có kế hoạch yểm hộ rất chặt chẽ, bao gồm yểm hộ trực tiếp đi cùng B-52 và yểm hộ khu vực trên các vị trí mà ta bay lên để từ đó tiếp cận B-52. Không quân ta muốn đánh B-52 cách Hà Nội từ 80 km đến l00 km thì khi đội hình B-52 còn cách Hà Nội hơn 200km máy bay ta đã phải cất cánh và lấy độ cao lO.OOOm để tiếp cận đội hình bay của B-52. Khi ta bay lên được độ cao 3000m đến 4000m, cách B-52 khoảng 70km - 80km thì hàng chục rađa của hải quân Mỹ ở biển Đông chõ vào đã phát hiện được MiG, chúng lập tức thông báo cho các máy bay tiêm kích yểm hộ B-52 biết tọa độ của MiG để tổ chức ngăn chặn, không cho ta tiếp cận được B-52.

        Khó khăn thứ tư của không quân trong thời điểm chiến dịch phòng không cuối tháng 12, là tháng thời tiết xấu nhất, ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của không quân, nhất là ban đêm. Đối với địch, chúng không bị ảnh hưởng nhiều vì B-52 bay và ném bom theo hệ thống đài dẫn đường tính toán, và ném từ độ cao 8.000 - l0.000 m. Còn ta thì phải cất hạ cánh xuyên qua mây, không phải phi công nào cũng làm được và cũng không thể tung lên trời nhiều máy bay cùng một lúc. Đây cũng là một khó khăn khách quan mà không quân ta khó khắc phục.

        Bốn khó khăn trên gây cản trở cho không quân ta tưởng như không thể vượt qua. Nhưng với kinh nghiệm chiến đấu đã tích lũy và tinh thần hy sinh, dũng cảm cao của đội ngũ người lái và cán bộ, chiến sĩ trong toàn binh chủng, bộ đội không quân đã vì Hà Nội, vì Tổ quốc thân yêu mà vượt qua được. Ngay từ những ngày đầu của chiến dịch, không quân ta đã tìm mọi cách khắc phục và đã có mặt trên bầu trời, tuy chưa bắn được B-52 từ những giây phút đầu tiên như mong muốn, nhưng cũng đã làm cho địch phải phân tán đối phó, tạo ra những kẽ hở cần thiết để bộ đội tên lửa có điều kiện tiêu diệt B-52. Bộ đội không quân còn được giao nhiệm vụ đánh địch ban ngày cùng với bộ đội cao xạ, bảo vệ vững chắc các trận địa tên lửa trong 12 ngày đêm chiến dịch.

        Đêm 27 và 28-12-1972, phi công Phạm Tuân và phi công Vũ Xuân Thiều đã cất cánh bắn rơi được 2 B-52 từ sân bay vòng ngoài (Yên Bái) và sân bay dã chiến bí mật (Cẩm Thủy), là một nỗ lực to lớn. Không quân trong chiến dịch phòng không đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử: "Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 của Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Với thành tích khiêm tốn nhưng đầy khó khăn của không quân, tuy chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của binh chủng và của nhân dân cả nước nhưng cũng đã rút ra được nhiều bài học quý báu mà chúng ta mãi mãi trân trọng và ghi nhớ trong chiến dịch này.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:14:48 am
       
NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG "CÁN XOONG" KHU IV

Đại tá Lê Đức Khuê                    
Nguyên sĩ quan tham mưu Quân chủng        

        Khi địch tập trung đánh vùng "cán xoong” thì Trung đoàn 275 cũng đã thành là quân địa phương nên tình hình trên địa bàn cũng như địch tình chúng tôi nắm tương đối chắc hơn.

        Tháng 12 năm 1967 tôi ra Hà Nội dẫn Tiểu đoàn 68 lấy khí tài khôi phục từ A31 về. Trên đường qua phà Thiệu Hóa, tôi gặp Trung đoàn 234 cùng đi trên đường vào, có lẽ vào sân bay Vinh. Gặp đồng chí Cần, vốn là bạn thân từ lâu, tôi cởi mở bảo Cần: "Có hiểu rõ về đường không? Tớ vừa ra để kéo 68 vào đây". Đồng chí Cần bảo: "Mình có bản đồ rồi”. Tôi nghĩ: 'Đường trong chiến tranh thay đổi từng giờ, phải hết sức nhạy cảm”. Tôi bảo thêm: "Vào Vinh phải cẩn thận đấy”. Đồng chí Cần bảo: "Trung đoàn 57 mạnh lắm, không lo". Tôi đã trải qua các trung đoàn pháo- 37mm, 57mm, bây giờ ở tên lửa, thấy nói vậy trong lòng nghĩ: Chẳng có bài học nào hay hơn thực tiễn”. Tôi đứng chờ trên ngã ba Bôn, thấy xe tên lửa vào thì chặn lại hỏi: Nhớ đường chưa? "Rõ" và thế là cho đi. Hai hôm sau, chúng tôi đã tập kết tại Đông Hiếu rồi, chờ mãi mà không thấy đồng chí Cần vào. Quân Trung ương mới rời Thủ đô, hành quân chính quy, phải trinh sát cầu cống cẩn thận nên đi chậm.

        Không quân địch tích cực chuẩn bị chiến trường mới, có lẽ chúng phát hiện được ý định điều quân của chúng ta. Máy bay trinh sát hoạt động với cường độ cao, đặc biệt ngày 11/5/1968 lúc 12h30\ một A3J đã bay theo đường 38 qua sân bay Vinh. Đường bay này cách Tiểu đoàn 93 - 300m, cách Tiểu đoàn 68 là lOOOm, qua đội hình Trung đoàn 234. Lúc 16h30' ngày 11/5/68, 2 F4 bay theo hướng biển qua Phương Tích dọc đường 38, ngã 3 Nghi Văn và vòng về Truông Bồn ra biển. Không ngờ đây là hoạt động đầu tiên của địch mở trọng điểm mới tại ngã 3 Nghi Văn. Sau này hỏi lại nhiều người cũng biết hoạt động này nhưng không quan tấm. Tối đến, Sư đoàn 367 cho một xe con đưa đoàn cán bộ theo đường Nghi Vãn quay về Truông Bồn để xuống Vinh họp, trong khi đó đoàn cán bộ tiểu đoàn và trung đoàn đã tập trung tại Tiểu đoàn 91, trận địa Nghi Phong để chờ họp.

        Xe chở đoàn cán bộ đến Nghi Văn thì bị trúng bom từ trường. Toàn bộ đoàn hy sinh trong lúc tại Tiểu đoàn 91 tất cả cán bộ ngồi chờ mãi đến 1 giờ sáng mà không có tin tức gì. Hỏi sư đoàn thì được trả lời là đã đi lâu rồi. Nóng ruột quá, tôi triệu tập tất cả gồm: Tôi, đồng chí Thái Hiệp - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 69, Cao Biền - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 68, Khâm - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 93, Thị - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91. Vốn quen biết nhau đã lâu khi tôi làm việc tại phòng 22. Tôi phát biểu như sau: "Ớ đây chỉ có tôi là cán bộ trung đoàn, tôi xin nêu vấn đề như sau: Địch phát hiện ý định của ta nên đang chuẩn bị tập trung đánh phá để loại tên lửa ra khỏi khu vực Vinh, tạo nên một khu vực rộng gồm cầu Cấm, phà Phương Tích, Truông Bồn, phà Nam Đàn, Bến Thủy để ngăn chặn vùng "cán xoong", không cho các phương tiện giao thông vượt qua khu vực này. Hiện nay Trung đoàn 275 có 2 tiểu đoàn thì Tiểu đoàn 69 đang định kỳ năm, Tiểu đoàn 68 mới vào, tham số không ổn định. Đồng chí Khâm báo cáo xem tình hình khí tài như thế nào?", Đồng chí Khâm cho biết ngày mai không chiến đấu được vì mới cho xe đi lấy emu tại Đông Hiếu và phải qua phà Phương Tích đang bị phong tỏa không thể về trong đêm được. Đồng chí Thị - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91 cho biết khí tài chắp vá không đồng bộ, tham số luôn dao động không thể chiến đấu được. Như vậy toàn bộ khí tài không sẵn sàng chiến đấu, cần báo cáo sư đoàn nhưng trước hết đồng chi Khâm cần báo cáo kịp thời về trung đoàn cho tiểu đoàn sơ tán ngay, vì ngày mai chắc chắn địch sẽ đánh trả. đồng chí dùng tiếp sức của Tiểu đoàn 91 báo cáo ngay trung đoàn. Tuy nhiên không liên lạc được. Tôi nhắc lại nếu không được rút khỏi trận địa thì phải sơ tán đạn và kịp thời thông báo cho nhân dân để di chuyển đi xa.

        Tất cả thống nhất như thế và nhanh chóng trở về tiểu đoàn.

        Nghe nói khi về đến tiểu đoàn, đồng chí Khâm báo cáo xin ý kiến với trung đoàn trưởng thì được trả lời: Bất cứ giá nào phải ở lại để chiến đấu. Khi về đến SCH, tôi báo cáo sư đoàn toàn bộ tình hình. Đồng chí Phúc - Tham mưu trưởng về cao xạ là trực chỉ huy. Tôi nói bằng tiếng lóng: Thằng Khâm nhà ông Duệ bị "ốm nặng" các anh nên cho nó đi ra ngoài chữa bệnh (ý nói cho sơ tán). Ông Phúc nghe xong liền bảo: "Thằng Khâm là quân của ông Duệ có liên quan gì đến anh mà anh nói". Tôi bảo:  "Không liên quan nhưng chẳng thấy thế đành bảo bỏ qua à". Thật là giấu đầu hở đuôi, công việc chuẩn bi về thông tin là như vậy tất cả đều hướng ra biển và tha hồ nói, thế là các tàu chiến Mỹ với khí tài trinh sát điện tử hiện đại tha hồ thu tin tức đầy đủ.

        Thời gian trôi qua và tai họa đang đến 8h00 ngày 12/5/1968, Tiểu đoàn 93 đã hứng chịu nhiều đợt đánh phá đến 12h00, trên trung tâm trận địa chỉ còn lại mấy xác xe màu nâu đỏ ối sau khi đã cháy hết. Đáp lại, chỉ có tiểu đoàn cao xạ bảo vệ trực tiếp bắn lên nhưng không có kết quả. May thay, tiểu đoàn trưởng Khâm đã cho sơ tán hết đạn và thông báo cho nhân dân quanh xóm Nghi Trường sơ tán đi xa nên không có thương vong.

        Ngày hôm sau, theo dự kiến địch sẽ đánh Tiểu đoàn 68, chúng tôi cho sửa chữa hết sức nhưng vẫn không thể sẩn sàng chiến đấu được. Sư đoàn trưởng triệu tập tôi lên nhận lệnh, trước khi đi, tôi hội ý với chính ủy là hôm nay địch sẽ đánh Tiểu đoàn 68, anh tiếp tục báo cáo lên sư đoàn và xin cho Trung đoàn 234 tích cực yểm hộ cho Tiểu đoàn 68 nếu bị đánh, còn với Tiểu đoàn 68 nếu bị đánh mà khí tài vẫn hỏng, không đánh được thì có bao nhiêu đạn cho phóng hết và huy động cao xạ bắn mạnh vào.

        Tôi cùng với cậu liên lạc đi như chạy theo đường tắt và bơi qua sông để đến sư đoàn, nhưng lúc ấy chỉ huy sư đoàn đang giao ban. Tôi hô to xin được báo cáo khẩn cấp. Sư đoàn trưởng giơ tay hắt đi, bắt trực ban tiếp tục báo cáo. Hướng Vinh có tiếng pháo cao xạ bắn lên, linh tính báo cho tôi biết Tiểu đoàn 68 bi đánh rồi. Tôi rất bực tức nhưng đành chịu. Lại nhiều cán bộ và chiến sĩ hy sinh không đáng.

        Trên một chiến trường mới hình thành, công tác tham mưu có nhiều vấn đề cần nói và làm. Nhưng suy cho cùng chính là vai trò của người chỉ huy. Người chỉ huy có ý định tốt, luôn chỉ ra nhiều việc phải làm, nhưng quan trọng hơn lại là cấp dưới cần nắm chắc ý định và triển khai đúng mức. Không thể duy ý chí nhất là không nắm chắc được địch và thậm chí cả ta.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:18:51 am
        
LÀM THAM MƯU PHÁN ĐOÁN
TÌNH HUỐNG: 1, 2... KHẢ NĂNG?

Đại tá Lê Văn Thiêm                        
Nguyên Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ        
Nguyên Tham mưu phố chiến dịch                
Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng                 
(Thượng Lào) 1971 -1972                    

        Những năm 1970 - 1971, tác chiến của quân ta ở mặt trận Thượng Lào lúng túng, không có bài bản rõ ràng. Nhìn vào bản đồ chiến sự, chỉ thấy như củ khoai sọ, không có điểm, diện, hướng chính, hướng phụ.

        Bộ chủ trương giúp Bộ Tư lệnh Thượng Lào tổ chức một chiến dịch tấn công quân Thái ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, có "bài bản" để đưa quân ta trưởng thành lên, tạo điều kiện chuyển biến mạnh ở chiến trường.

        Anh Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng được phái sang chiến trường chỉ đạo tác chiến. Bộ chỉ thị các quân binh chủng cử cán bộ sang tăng cường cho chiến trường Lào: Tôi đang làm Hiệu phó Trường Sĩ quan Phòng không ở Sơn Tây, được lệnh của Quân chủng sau 2 tiếng đồng hồ phải có mặt ở Hà Nội để nhận nhiệm vụ đi chiến trường.

        Sau một thòi gian chuẩn bị, triển khai lực lượng, xác định 2 giờ là giờ G, Sư đoàn 312 là chủ công bắt đầu nổ súng đánh vào cứ điểm Pu Tâng ở trung tâm cánh đồng Chum do quân Thái chiếm đóng. Sở chỉ huy mặt trận theo dõi các đơn vị chấp hành lệnh nổ súng tiến công. Sau chừng nửa giờ, tình hình chiến sự ở dưới báo cáo lên, không rõ ràng lắm. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã có mặt đông đủ, đang cân nhắc đánh giá tình hình. Có mặt các anh Vũ Lập, Huỳnh Đắc Hương, Nguyễn Hữu An, Nam Hà, Dũng Mã.

        Ngoảnh lại phía sau thấy anh Lê Trọng Tấn khoác áo "Ba Lan" (trời khi đó rét đậm) đang nghe các ý kiến trao đổi. Bỗng anh Tấn bảo: "Thôi nhé, tôi hỏi Trưởng phòng Quân báo: Tình hình địch hiện nay thế nào? Dạ, báo cáo anh, có thể địch co cụm lại, cũng có thể rút lui... Anh Tấn bảo trưởng phòng Tác chiến: Ý kiến anh thế nào? Trưởng phòng Tác chiến ấp úng. Anh Tấn hỏi: Ý kiến Tham mưu trưởng Dũng Mã? Dạ, có khả năng... Anh Tấn bảo: Gọi sư đoàn trưởng 312 Hiền Trang - cầm máy nói chuyện: "A lô Tấn đây! Nghe rõ không. Địch bỏ chạy rồi đấy. Anh cho chuyển toàn bộ đội hình của sư đoàn sang truy kích địch. Xe tăng bật đèn sáng. Pháo binh chuyển lên chặn địch chạy về Sảm Thông. Toàn bộ đội hình ra khỏi công sự truy kích địch. Nếu anh để địch chạy thoát thì tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự và anh chịu trách nhiệm với lịch sử là đã để hơn 10 nghìn quân Thái chạy thoát". Nói xong anh Tấn ngoảnh lại nói với Bộ Tư lệnh chiến dịch: "Các anh theo dõi chấp hành lệnh ấy của tôi. Quả thật, địch đã bỏ chạy, chậm tí nữa thì chúng trốn vào rừng, cũng may là ta vẫn tiêu diệt và bắt sống được mấy nghìn".

        Trong buổi liên hoan sau thắng lợi, anh Lê Trọng Tấn lại chạm cốc với chúng tôi. Anh Tấn bảo: "Các cậu quen làm tham mưu phán đoán lúc nào cũng nói "nước đôi", ở thời cơ then chốt, người tham mưu phải khẳng định ý kiến của mình để giúp thủ trưởng nhanh chóng hạ quyết tâm. Tối hôm ấy, tớ cũng có nóng nảy, thôi xí xóa nhé!" Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Dũng Mã nói: "Theo anh, chúng tôi còn "méo mó nghề nghiệp", làm tham mưu lúc nào cũng phải phát biểu có nhiều khả năng. Đêm hôm ấy nếu không có nhận định nhanh chóng và quyết tâm chuyển hướng truy kích địch của anh thì đã lỡ thời cơ diệt địch. Xin cảm ơn anh đã cho chúng tôi một bài học sâu sắc khi làm tham mưu phán đoán tình hình và đề đạt quyết tâm với người chỉ huy”.

        Thật ra anh Lê Trọng Tấn cũng không có thông tin nào khác về tình hình. Nhưng do có kinh nghiệm chiến trường, hiểu đặc điểm của quân Thái trên chiến trường Lào, do có trách nhiệm cao, có tác phong quyết đoán nên ở thời cơ then chốt, đã nhanh chóng nhận định tình hình chính xác và đề ra quyết tâm đúng đắn.

        Trong chỉ huy quân sự cũng như trong một số ngành nghề khác, ở một số người có trách nhiệm cao, có kinh nghiệm, có tư duy phán đoán tốt như người công an hỏi cung, người thẩm phán xử án, người thầy thuốc chẩn đoán bệnh... có thể có "'giác quan thứ 6", có thể "linh cảm", phán đoán đúng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:21:44 am
        
ĐÔI ĐIỀU TÂM ĐẮC

Đại tá Nguyễn Đình Hậu                    
Nguyên Trưởng Phòng Quân lực Quân chủng        

        Hơn 10 năm phục vụ ở cơ quan tham mưu Quân chủng qua các cương vị trợ lý tác chiến, trợ lý Quân huấn, trưởng phòng Quân lực, Phó cục trưởng Cục Huấn luyện và Nhà trường, đối với tôi có nhiều dấu ấn và kỷ niệm khó quên. Dấu ấn sâu đậm nhất trong tôi, vẫn là niềm tự hào về một tập thể Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân đoàn kết gắn bó trên dưới một lòng, trung thành tuyệt đối, tận tụy và sáng tạo đã phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực thi nhiệm vụ, thực sự là cánh tay đắc lực của lãnh đạo và chỉ huy Quân chủng trong tác chiến huấn luyện và xây dựng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

        Cán bộ chủ trì của Bộ Tham mưu không chỉ là những người dày dạn có nhiều thành tích trong chiến đấu, mà còn là những người có tác phong sâu sát, nhạy bén, sống có đức độ, nên đã tạo được mối quan hệ gắn bó trong nội bộ. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan tham mưu PK-KQ qua các thời kỳ.

        Các cơ quan trong Bộ Tham mưu Quân chủng từ phòng Tác chiến, Quân huấn, Quân báo... đến các phòng Thông tin, Khí tượng, Công binh, Quân lực... và các đơn vị trực thuộc đều là những tập thể mạnh, có trình độ, có sự đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ trong thực thi nhiệm vụ cũng là một trong những ấn tượng sâu đậm trong tôi.

        Là người đã làm nhiệm vụ trợ lý tham mưu và cũng là người đã qua cương vị chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn tôi có 2 điều tâm đắc:

        1. Đã là cán bộ tham mưu thì bất luận ở cấp nào đều phải thể hiện mình là người có bản lĩnh vững vàng và tác phong tốt - cân nhắc suy nghĩ chín chắn trong mọi việc, mạnh dạn và chủ động đề xuất góp ý với người chỉ huy, không làm việc một cách máy móc, thụ động, người chỉ huy bảo gì làm nấy - đồng thời phải luôn sâu sát đơn vị, giải quyết mọi việc với ý thức thận trọng, chính xác. Đặc biệt, khi gặp trường hợp ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng chưa đúng, cần phải vì lợi ích chung mà khiêm tốn trình bày, lý giải và kiên trì thuyết phục.

        2. Muốn phát huy được khả năng và trách nhiệm của cơ quan, người chỉ huy phải chăm lo xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện - ngoài lập trường quan điểm và ý thức trách nhiệm, cán bộ nhân viên cơ quan phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có năng lực theo dõi chỉ đạo đơn vị tốt. Đặc biệt, phải có tác phong quần chúng sâu sát, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của cán bộ nhân viên thuộc quyền, tạo cho được sự đoàn kết, gắn bó trong nội bộ làm cho cơ quan thực sự là một tập thể thống nhất cao.

        Tôi nghĩ rằng 2 điều nêu trên là tiêu chí hàng đầu và là yếu tố có tính quyết định đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của một cơ quan tham mưu.

        Mừng kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Quân chủng PK-KQ anh hùng, xin có đôi lời trao đổi cùng bạn bè, đồng chí.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:24:56 am

 
TRINH SÁT NHIỄU TRONG CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

Trung tướng Phan Thu                 
Nguyên cán bộ tham mưu Quân chủng       

        Trinh sát nhiễu là một lĩnh vực của trinh sát điện tử mà Quân chủng PK-KQ đã sử dụng có hiệu quả để nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu.

        Trong chiến tranh phá hoại ra miền Bắc nước ta từ 1964 đến 1972, đế quốc Mỹ rất coi trọng thủ đoạn đấu tranh điện tử mà trọng điểm là gây nhiễu các loại rađa của ta. Thủ đoạn gây nhiễu của địch ngày càng tinh vi hơn. Từ thủ đoạn thuần túy gây nhiễu tiêu cực, địch đã kết hợp gây nhiễu tiêu cực và gây nhiễu tích cực. Từ thủ đoạn chỉ gây nhiễu ngoài đội hình để yểm trợ cho các máy bay vào trinh sát, đánh phá các mục tiêu nằm sâu trong đất liền, địch đã phát triển gây nhiễu trong đội hình phát ra từ các máy gây nhiễu được đeo dưới bụng máy bay và phối hợp gây nhiễu ngoài đội hình và gây nhiễu trong đội hình. Từ thủ đoạn gây nhiễu ngụy trang để che lấp mục tiêu, địch đã sử dụng thủ đoạn gây nhiễu xung trả lời, tạo mục tiêu giả để đánh lừa hoặc làm sai lệch tọa độ mục tiêu. Cường độ nhiễu ngày càng mạnh và thủ đoạn gây nhiễu ngày càng tinh vi phức tạp. Đỉnh điểm của thủ đoạn gây nhiễu của Mỹ, xảy ra khi chúng leo thang chiến tranh ờ nấc thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, ra bắn phá Hà Nội vào cuối năm 1967, đầu năm 1968, với thủ đoạn gây nhiễu rãnh đạn tên lửa.

        Cũng vào khoảng thời gian này, ngày 10/01/1967, đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ ký quyết định thành lập Đội nhiễu, với chức năng trinh sát nhiễu điện tử, do Không quân Mỹ gây ra, nghiên cứu phân tích nhiễu và chống nhiễu. Tình thế nào dẫn đến việc ra đời Đội nhiễu, một đơn vị KTQS chuyên ngành về tác chiến điện tử của nước ta?

        - Thứ nhất là do thủ đoạn gây nhiễu của Mỹ đã làm ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả chiến đấu của lực lượng PK của ta. Đây là đòi hỏi khách quan, và chính đó là điều kiện cần để ra đời của Đội nhiễu.

        - Thứ hai là từ đầu năm 1967, Liên Xô rất muốn sang chiến trường Việt Nam để tìm hiểu về nhiễu của Mỹ, có đề nghị với Chính phủ ta cho Liên Xô đưa sang Việt Nam một đoàn cán bộ khoa học của Trung tâm nghiên cứu đấu tranh điện tử của quân đội Liên Xô gồm 4 người do trung tá phó tiến sĩ Sha-ri-cốp dẫn đầu, có mang theo các thiết bị trinh sát điện tử và phân tích tín hiệu. Cuối năm 1967 khi đoàn chuyên gia Liên Xô về nước đã để lại cho ta đồng bộ tất cả các thiết bị đó. Đây là điều kiện đủ để Đội nhiễu ra đời.

        Một may mắn nữa đến với chúng ta, đó là do sau chuyến khảo sát nghiên cứu khoa học có kết quả về chiến tranh điện tử mà Mỹ sử dụng ở Việt Nam của đoàn cán bộ khoa học Liên Xô trong năm 1967, đến năm 1969 Liên Xô lại đưa sang Việt Nam một đoàn cán bộ khoa học thứ 2 do đại tá Kô-dơ-lốp dẫn đầu với nhiều thiết bị trinh sát điện tử và phân tích tín hiệu; ngoài ra còn có một số thiết bị trinh sát rađa làm việc ở dải sóng centimét để trinh sát hệ thống các thiết bị điện tử trên các loại máy bay của quân đội Mỹ. Điều này đã tạo thêm điều kiện đủ chúng ta phát triển Đội nhiễu thành Tiểu đoàn nhiễu, mang phiên hiệu là tiểu đoàn 8.

        Tháng 6/1967, khi máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang ở Hà Nội, Đội nhiễu đã bắt đầu mở máy làm việc, thu thập các tần số gây nhiễu của địch. Thành tích đầu tiên của Đội nhiễu là đã đo đạc được tham số của nhiễu rãnh đạn tên lửa, khẳng định thủ đoạn này của máy bay Mỹ, giúp cho các chuyên gia Liên Xô tìm nguyên nhân nhiễu rãnh đạn tên lửa, làm cơ sở để cải tiến chống nhiễu rãnh đạn thành công.

        Cuối năm 1968, Mỹ xuống thang chiến tranh, chỉ đánh phá từ vĩ tuyến 17 trở vào. Đề phòng địch có thể đánh trở lại, kể cả việc sử dụng máy bay B-52, BTL Quân chủng chỉ thị cho Đội nhiễu cơ động vào phía trong trinh sát tìm hiểu thêm về nhiễu của địch, đặc biệt đối với nhiễu của máy bay B-52 khi B-52 vào đánh phá đường vận chuyển 559. Lúc đó tôi là đội trưởng Đội nhiễu đã tổ chức một bộ phận gọn nhẹ, vào bố trí tại Vĩnh Nam, Vĩnh Linh, sau đó lên bố trí tại km 54 đường 20 bên cạnh trạm quan sát mắt 25 ở Cà-Ròn. Những đồng chí cùng đi với tôi, phải kể đến các đồng chí Đặng Đình Vinh, Hoàng Văn Khoa, Phan Huy Thuần, Lưu Công Hưng, Nguyễn Vãn Khảm...


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:26:50 am
        Nhiệm vụ đội trinh sát nhiễu ở Cà-Ròn được xác định như sau:

        1. Trực ban 24/24 tiếng đồng hồ trong ngày, phục vụ Bộ tư lệnh Quân chủng nắm tình hình trên không qua các thủ đoạn gây nhiễu và các tín hiệu VTĐ khác của máy bay Mỹ - Báo cáo qua máy 50W về Quân chủng, ban ngày 3 lần: 6 giờ, 9 giờ, 15 giờ và ban đêm 2 lần: 21 giờ và 3 giờ sáng.

        2. Nghiên cứu quy luật hoạt động về nhiễu của địch, dự đoán thời điểm máy bay B-52 ném bom để báo động cho các trọng điểm trên tuyến đường vận chuyển.

        3. Phục vụ các đơn vị trên tuyến đường như: Bộ tư lệnh -559, Binh trạm 14, Trung đoàn 280, Trung đoàn 290, Sư đoàn 367 và bộ phận trực của KQ ta, khi có triệu chứng máy bay B-52 vào đánh. Các thông báo này đồng thời được báo ngay về Quân chủng. Quân số Đội nhiễu cũng được tăng cường thêm 9 đồng chí của Không quân. Đó là Đại úy Lê Tiến Đức, Thiếu úy Đặng Quang Nhượng, 2 đồng chí chỉ huy không quân và 5 đồng chí thông tin. Tổng quân số của Đoàn công tác hỗn hợp này lên đến 30 người, được tổ chức thành một chi bộ ghép.

        Qua việc theo dõi, ghi chép và dùng phương pháp thống kê để phân tích, chúng tôi đã xác định được thời điểm xuất hiện máy bay B-52 được sớm từ 5 đến 10 phút, giúp cho việc sẵn sàng chiến đấu trên tuyến đường, báo động cho các lực lượng công binh, thanh niên xung phong đang sửa đường trên các trọng điểm vào nơi ẩn nấp và các đoàn xe ngừng qua các trọng điểm, nếu các đoàn xe đang trên trọng điểm hoặc mới ra khỏi trọng điểm thì phải nhanh chóng vượt xa các trọng điểm mà máy bay B-52 thường ném bom. Chúng tôi chỉ có thể thông báo, báo động đến các địa chỉ quy định, còn trách nhiệm báo động đến các trọng điểm thì các binh trạm sử dụng súng bắn theo dây chuyền.

        Tháng 10/1968, tôi được bổ nhiệm làm phó Phòng Khoa học quân sự -Bộ Tham mưu, tháng 9/1969, tôi được chuyển sang làm phó Phòng Quân báo và tháng 1/1970 được giao nhiệm vụ làm phó Phòng Quân báo kiêm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn nhiễu. Tiểu đoàn nhiễu, mang phiên hiệu là Tiểu đoàn 8, được BTL Quân chủng ra quyết định thành lập, do có các thiết bị được bổ sung, do hiệu quả trinh sát nhiễu và do yêu cầu của nhiệm vụ. Tiểu đoàn phó có các đồng chí Nguyễn Xuân Đại và Đặng Đình Vinh. Chính trị viên và chính trị viên phó tiểu đoàn là đồng chí Huỳnh Năm và đồng chí Tô Minh Thường. Tiểu đoàn 8 có 3 đại đội: Đại đội 52 bố trí trên đồi Phú Liễn - Kiến An; Đại đội 27 bố trí ở huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh; Đại đội 3 bố trí ở Cà-Ròn km 54 đường 20.

        Đại đội 3 là đại đội chủ lực của tiểu đoàn nên cán bộ tiểu đoàn thường xuyên thay nhau theo dõi chỉ đạo và cán bộ đại đội cũng luôn luôn được tăng cường. Cuối năm 1970, Đại đội 3 được lệnh cử một bộ phận cơ động gọi là bộ phận B5 do đồng chí La Văn Sàng phụ trách vào phối thuộc với BTL-559, trực tiếp nằm dưới sự chỉ đạo của Cục Tác chiến Phòng không do đồng chí Ngô Huy Biên làm cục trưởng, đã nhiều lần được Bộ tư lệnh 559 khen ngợi vì những kết quả thông báo chính xác thời điểm xuất hiện máy bay B-52 vào đánh các trọng điểm trên tuyến đường.

        Cũng trong mùa khô cuối năm 1970 đầu năm 1971, Tiểu đoàn tên lửa 84 trung đoàn 238 được đưa vào km 48 đường 20, phục kích đánh các tốp máy bay B-52 vào ném bom ngầm Tà-Lê, Đại đội 3 cũng đã phục vụ thông báo chính xác thời điểm máy bay B-52 xuất hiện để tiểu đoàn tên lửa 84 chuyển cấp mở máy bắt mục tiêu, Tiểu đoàn 84 đã bắt được máy bay B-52 ở cự ly 23km và cũng đã phóng đạn.

        Đại đội 52 và Đại đội 27 bố trí ở phía ngoài, trong thời gian này chủ yếu phục vụ Quân chủng đánh máy bay không người lái (KNL) nhờ các thiết bị trinh sát rađa POST-2M thu được các tín hiệu điều khiển của máy bay C-130 đối với máy bay KNL khi máy bay KNL rời khỏi rãnh phóng của máy bay C-130; cùng lúc đó Mỹ tăng cường cho mở thêm rađa trên hàng không mẫu hạm đã tạo nên những triệu chứng của việc xuất hiện máy bay KNL. Thời gian có thể thông báo sớm được khoảng 3 đến 5 phút trước khi máy bay KNL vào đến bờ biển, vì máy bay KNL bay thấp các rađa cảnh giới của ta rất khó phát hiện mục tiêu. Với thời gian như vậy cũng tạm đủ để lực lượng PK chuyển cấp và máy bay ta cất cánh sớm đến khu chờ, kịp đón bắn rơi máy bay KNL.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:27:42 am
        Ngoài kết quả hoạt động của các đại đội trinh sát thông qua các triệu chứng về nhiễu để báo động máy bay địch, các đại đội trinh sát nhiễu, với tư cách vốn là một cơ sở nghiên cứu khoa học nên đã thu thập, phân tích những tham số kỹ thuật của nhiễu giúp tên lửa góp phần vào việc chọn phương pháp thao tác của kíp trắc thủ để đánh địch trong điều kiện bị nhiễu nặng.

        Từ hiệu quả báo động máy bay địch thông qua các triệu chứng gây nhiễu, cuối năm 1971, các đại Đội nhiễu đã được đưa về phối thuộc với các trung đoàn rađa để góp phần bổ trợ cho việc phát hiện máy bay địch. Cụ thể Đại đội 52 được đưa về phối thuộc với Trung đoàn rađa 291; Đại đội 3 và Đại đội 27 được đưa về phối thuộc với Trung đoàn 290.

        Cuối năm 1972, khi Mỹ đưa máy bay B-52 ra tập kích chiến lược trong 12 ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng, Đại đội 3, lúc này do đồng chí Nguyễn Ngọc Lương làm đại đội trưởng, cũng đã thông báo về các triệu chứng địch có thể đánh lớn miền Bắc và trong trận đầu ngày 18/12/1972, máy bay B-52 vào đánh Hà Nội, Đại đội 3 cũng báo động sớm thời điểm có máy bay B- 52 vào và đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

        Sau khi hòa bình lập lại trên cả nước năm 1975 và biến động về tổ chức của Quân chủng PK-KQ tách thành 2 Quân chủng năm 1977, Đại đội 3 và Đại đội 27 được sử dụng để thành lập Tiểu đoàn 127 và biên chế về cho Quân chủng Không quân. Quân chủng Phòng không được bổ sung một số trang thiết bị về tác chiến điện tử, năm 1978 thành lập Tiểu đoàn 878 và năm 1984 thành lập thêm Tiểu đoàn 884.

        Đến ngày 30/4/1992, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Tác chiến điện tử và điều Tiểu đoàn 878 và Tiểu đoàn 884 từ Quân chủng Phòng không về trực thuộc Cục Tác chiến điện tử, Bộ Tổng tham mưu.

        Hiện nay, trong Quân chủng PK-KQ, Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu chỉ còn là cái bóng của chính mình trong Tiểu đoàn 127 hiện đang làm chức năng một trung tâm trinh sát kỹ thuật của Quân chủng. Hiện thân của Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu chỉ còn lại trong hội truyền thống các bạn chiến đấu cũ của Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu. Họ vẫn thường gặp mặt nhau hàng năm để ôn lại những ngày vất vả cùng nhau đứng trên mặt trận nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu.

        Đội nhiễu và Tiểu đoàn nhiễu chỉ tồn tại tròn 10 năm (1967 - 1977), trong 10 năm ngắn ngủi, Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mở ra một loại hình trinh sát của Quân chủng PK-KQ, loại hình trinh sát nhiễu. Kế thừa Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu là những đơn vị mang tên khác, hoặc vẫn trực thuộc Quân chủng hoặc đã chuyển sang đơn vị khác với nhiều nhiệm vụ khác nhau. Sự tồn tại của Đội nhiễu và Tiểu đoàn nhiễu là sự thật lịch sử. Nó thực sự là một tổ chức trong Bộ Tham mưu Quân chủng. Tôi không hiểu vì lý do gì mà trong các tài liệu biên niên sự kiện cũng như tài liệu lịch sử của Bộ Tham mưu Quân chủng không có một dòng nào nói về tổ chức này. Tôi rất khó giải thích cho anh chí em đã từng làm việc và phục vụ chiến đấu trong Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu là tại sao lại như vậy? Tuy nhiên, hiện nay họ đều là các thành viên trong Hội truyền thống Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu, họ đã không hổ thẹn và rất tự hào về những gì mà họ đã đóng góp cho Quân chủng.

        Chúng tôi rất mong, các nhà viết sử, cũng như các vị nhân danh, nhân chứng lịch sử khi nói về các sự kiện lịch sử trong những lễ kỷ niệm, có liên quan đến việc nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu, đừng quên sự tồn tại của một đơn vị trong đội hình chiến đấu của Quân chủng. Đó là Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:30:45 am
         
SỞ CHỈ HUY TIỀN PHƯƠNG QUÂN CHỦNG TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT

Đại tá Nguyễn Bắc                         
Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng       

        Sau khi giải phóng Sài Gòn, do đặc điểm tình hình mới, TL Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương vào trực tiếp chỉ đạo các công việc PK ở miền Nam qua SCHTP Quân chủng tại sân bay Tân Sơn Nhất, dùng UH1, A37 truy quét bọn phỉ FULRO ở Tây Nguyên, bọn tàn quân ngụy ở các đảo xa. Điều chỉnh lực lượng PK toàn miền Nam, tổng kết PK trong chiến dịch HCM, tiếp quản cơ sở KQ ngụy phân loại máy bay để sử dụng, thu hồi tài liệu, thiết bị kỹ thuật...

        Trong khi ta đang quản lý sân bay thì Sở chỉ huy Oét molen (Westmoeland) của ngụy bị cháy, không rõ địch đốt hay ta làm cháy. Là Phó phòng SCHQC, tôi có ý định tháo gỡ các thiết bị của SCH này về lắp ráp vào SCH K14 của Quân chủng đang xây mới SCH K14 do chuyên gia Liên Xô thiết kế, chuyên gia Hungari lắp. Đặt thiết bị TT của Hungari, nếu có thiết bị chỉ huy của Mỹ thì trình độ chỉ huy ở K14 rất hiện đại.

        Tư lệnh Lê Văn Tri coi như tổn thất lớn về chỉ huy PK-KQ, do để cháy SCH Oét Molen. Xin ý kiến Tư lệnh, tôi và đồng chí Vừng đến gặp đại tá Trịnh Hảo Tâm, Trưởng khối chỉ huy ngụy (như trưởng phòng SCH của ta) đang cải tạo ở trại Long Thành, để khai thác về SCH này.

        SCH Oét Molen nằm ngầm dưới Trung tâm đào tạo chỉ huy TM không quân ngụy trong sân bay Tân Sơn Nhất. Các báo cáo tình huống đều thể hiện trên màn hình, xử lý tình huống trên máy tính. Đối thoại trên máy vô tuyến điện đều được mã hóa và ép tiếng, có độ bảo mật cao. Vì vậy số nhân viên trong SCH không nhiều, diện tích nhỏ, hẹp, nhưng bảo đảm chỉ huy nhanh chóng chính xác, thuận tiện. SCH có đường dây thẳng với Lầu Năm góc, liên lạc được với BTL Thái Bình Dương, Hạm đội 7, các bộ chỉ huy trong khối SEATO, các lực lượng Mỹ, ngụy tại Lào, Campuchia. Được bổ trợ về chuyên môn của Trung tâm không ảnh (ảnh chụp trên không do máy bay trinh sát đưa về từ các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia) và trung tâm không lưu (thu thập các hoạt động trên không của các loại máy bay quân sự, dân dụng...), nên SCH Oét Molen có thể chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch, chiến thuật, có thể chỉ huy đánh phá các mục tiêu ở miền Nam, miền Bắc Việt Nam, Lào, Campuchia...

        Trịnh Hảo Tâm đã vẽ lại sơ đồ mặt bằng SCH Oét Molen, còn về các thiết bị trong SCH trình bày còn thiếu sót. Đ/c Vừng - Trợ lý đã từng học 3 lần tại Hungari về thiết bị CN hiện đại và cách sử dụng nên am hiểu kỹ hơn, nên bổ sung cho Hảo Tâm về vấn đề này. Chỉ tiếc các thiết bị trong SCH Oét Molen đã bị cháy, ta lại không có kinh phí để mua và đáng tiếc hơn, 3 đồng chí trợ lý Vừng, Nhân, Lệ đã học 3 lần về thiết bị chỉ huy hiện đại của nước bạn, mà không có “đất dụng võ”...

        Chiều 7/5/1975, chúng tôi được dự cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo Bộ và đại biểu các đơn vị chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Bộ gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an.

        Sau khi nói về tình hình, ý nghĩa, kết quả thắng lợi của chiến dịch, TTMT Văn Tiến Dũng đánh giá các lực lượng (xin nêu vắn tắt):

        - Các mũi tiến công, các đơn vị binh chủng hợp thành đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        - Không quân khắc phục mọi khó khăn, tham gia đúng thời gian của chiến dịch, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

        - Chỉ tiếc cho tên lửa tuy hành quân vất vả, nhưng lại không nổ súng chiến đấu. Nếu không có máy bay địch, chỉ cần phóng 1 - 2 quả tên lửa về phía Sài Gòn, cũng đã làm tròn nhiệm vụ.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhất trí với TTMT và nói thêm:

        - Vừa qua, mỗi lần giải phóng 1 tỉnh, các nhà báo muốn ca tụng là thắng lợi vĩ đại. Bộ Chính trị không đồng ý. Nhưng bây giờ dùng từ “vĩ đại” cho thắng lợi giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam là đúng tầm cỡ.

        - Chúng ta có lỗi với Bác Hồ, không thực hiện được ý nguyện của Bác muốn được vào miền Nam thăm đồng bào. Đến bây giờ giải phóng được miền Nam, thì Bác đã đi xa (Bộ trưởng nghẹn ngào nói về Bác, cả hội trường đều xúc động). Sau đó đồng chí Giáp tiếp tục nói.

        - Bây giờ ta phải bắt tay ngay vào xây dựng đất nước, xây dựng kinh tế. 10 năm nữa, các nước bạn đến thăm ta, họ sẽ không hỏi kinh nghiệm chiến tranh nữa, mà chỉ hỏi ta làm ăn ra sao? Đời sống có được nâng lên không?

        Về điều này, tôi thấy dự báo của Bác Giáp là chính xác. Ta nhớ năm 1985 (sau 10 năm từ 1975), đời sống nhân dân ta quá khó khăn, khốn cùng. Từ năm 1986 đến nay, ta có đường lối đổi mới, nên kinh tế mới đi lên như ngày nay.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:29:24 pm
       
TRƯỚC NGÀY 17 THÁNG 2 NĂM 1979
CHUYỆN XƯA NAY MỚI KỂ

Đại tá Quách Hải Lượng                       
Nguyên Trưởng phòng Tác chiến Quân chủng       

        Vào những năm 1978 - 1979, tôi được vinh dự làm Trưởng phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không. Nhiệm vụ nặng nề tôi lo lắm, cố gắng vận dụng các hiểu biết tác chiến của bộ đội phòng không được tích lũy trong những năm làm trợ lý tác chiến tên lửa và khoa học quân sự. Đồng thời dùng vốn hiểu biết Trung Quốc để “xuất kho” đóng góp vào nghiên cứu đối tượng tác chiến, lúc đó anh Hoàng Hiên, trưởng phòng Quân báo là người rất có kinh nghiệm nắm đối tượng tác chiến, rất hiểu biết, chúng tôi làm việc rất gắn bó với nhau. Có lúc anh Vũ Tư Trường - Trưởng phòng Khoa học quân sự cũng cho chúng tôi nhiều ý kiến hay.

        Mấy ngày trước 17-2-1979, Quân chủng triệu tập các lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn lên để phổ biến tình hình đối tượng tác chiến và phương án tác chiến. Ngày 16, khi hội nghị sắp kết thúc, Quân chủng được lệnh trên cho bộ đội về cấp 2. Tư lệnh Hoàng Văn Khánh và Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu yêu cầu trưởng phòng Tác chiến viết lệnh xuống các sư đoàn, chấp hành lệnh thủ trưởng Bộ, cho bộ đội về cấp 2. Trước lệnh trên phải chấp hành nghiêm, nhưng tôi phân vân quá, về cấp 2 thì có thể trở tay không kịp. Nghĩ trách nhiệm của một cán bộ tham mưu, tôi trình bày với Chính ủy Nguyễn Xuân Mậu, không nên về cấp 2, máy bay địch bay đến Hà Nội chỉ khoảng 7 phút bay. Chính ủy Mậu bặm môi suy nghĩ nói, lệnh của trên, phải chấp hành. Tôi nhắc lại ý kiến của mình lần nữa. Sau khi trao đổi với Tư lệnh Hoàng Văn Khánh, chính ủy Nguyễn Xuân Mậu bảo, đồng chí phải hỏi và xin ý kiến của Cục Tác chiến. Tôi thấy phải lập tức gọi điện lên trực ban Cục Tác chiến. Rất mong gặp anh Nguyên là cán bộ tham mưu Không quân là người quen nhau từ Quân chủng, tôi trình bày ý kiến không nên về cấp 2. Vì thân nhau, anh Nguyên nói: “Mặc xác anh, không đánh được thì phải chịu trách nhiệm, đây là lệnh anh Văn Tiến Dũng”. Chẳng biết làm thế nào, trong lúc lung túng, tôi đánh bạo hỏi, anh Dũng có ở Bộ không. Các anh Cục Tác chiến cho biết, sau khi ký xong lệnh, anh Dũng đi kiểm tra tình hình ở Cam-pu-chia rồi.

        Không còn chỗ dựa nào, đầu óc tôi nóng nực, cứ nghĩ đến trách nhiệm sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng Phòng không. Anh Mậu dịu đàng hỏi: “Thế nào rồi?”. Tôi báo cáo lại nội dung của Cục Tác chiến. Anh Mậu hỏi tiếp: “Thế ý đồng chí thế nào?. Tôi vẫn đề nghị không nên về cấp 2, nếu bộ đội mệt mỏi thì được nghỉ, họp hành và học tập tại trận địa. Sau một lát suy nghĩ anh Mậu quyết định: “Đồng chí phổ biến miệng, không viết ra giấy”. Tôi mừng hết chỗ nói trước một quyết định rất khéo của Chính ủy. Nhưng vào lúc này, anh Phạm Hồng Liên - Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng túm lấy tôi và yêu cầu đồng chí phải viết lệnh cho bộ đội về cấp 2 thì chúng tôi mới cho bộ đội đi phép được chứ, bảo không quân anh Luyện cũng cho bộ đội về cấp 2 rồi. Tôi vẫn kiên trì ý kiến và nghiêm túc giãi bày ý kiến với anh Hồng Liên.

        Thật không ngờ sau hội nghị, các đồng chí chỉ huy lãnh đạo, sư đoàn trở về đơn vị thì sáng ngày 17-2-1979 bùng nổ chiến tranh, trên toàn tuyến biên giới Trung - Việt,

        Sau đó do công việc nhiều nên cũng chẳng nghĩ đến chuvện cũ. Nhưng mỗi lần nhớ lại, tôi lại tự thấy sâu sắc 2 vấn đề. Đó là cán bộ tham mưu phải có tinh thần trách nhiệm thực sự và thực bụng, đồng thời cũng rất quý khi có chỉ huy sáng suốt. Bởi vậy bao giờ chỉ huy và tham mưu cũng gắn bó keo sơn với nhau.

        Đứng về mặt tinh thần, hồi đó chỉ huy lãnh đạo và chỉ huy Quân chủng và các sư đoàn thấy yên lòng về việc Quân chủng không về cấp 2 trong khi toàn quân về cấp 2.

        Trong nhiều năm, tôi đắn đo, không muốn nói chuyện này ra vì e đụng chạm đến nhiều người, mặt khác có thể bị dư luận cho là mình khoe khoang. Thời gian trôi qua đã lâu, đã trở thành chuyện lịch sử, nay mạnh dạn nói lên một kỷ niệm sâu sắc của mình trong thời phục vụ tác chiến của Quân chung. Chủ yếu là muốn nêu vấn đề mối quan hệ giữa tham mưu và chỉ huy.

        Chuyện kể với lòng thành thật. Mong được chút nào cảm thông của anh em đồng chí trong Quân chủng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:34:56 pm
  
MỘT SỐ MẨU CHUYỆN

Đại tá Lê Cổ              
Nguyên sĩ quan Huấn luyện tên lửa
Bộ Tham mưu Quân chủng      

        1. Tình cảm của người Tư lệnh với sĩ quan tham mưu:

        Hồi công tác ở Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân (QC PK-KQ), tôi thường được đi công tác với Phó tư lệnh Quân chủng - Thiếu tướng, giáo sư Đoàn Huyên. Ngày ấy, Bộ Tham mưu thường điều xe con - GAT 69 đít tròn (4-5 chỗ ngồi) cho cấp tư lệnh đi công tác. Riêng đồng chí đoàn Huyên yêu cầu cho xe đít vuông, đi được nhiều người hơn, như vậy có nhiều trợ lý tham mưu được đi cùng.

        Đầu tháng 10/1971, Quân chủng tổ chức Bộ Tư lệnh tiền phương, sở chỉ huy tiền phương đặt ở khu vực rừng núi nam Quảng Bình, ở sâu trong rừng. Để giữ bí mật, xe phải để ngoài bìa rừng, người xuống xe đi bộ khoảng 3 km vào sở chỉ huy. Các đồng chí khác có công vụ, y bác sĩ mang hộ đồ đạc, tư trang. Riêng đồng chí Đoàn Huyên vẫn mang ba lô trên lưng đi bộ, mồ hôi nhễ nhại, vừa đi vừa tranh thủ trao đổi công việc, có khi cánh trợ lý tham mưu chúng tôi có dịp thổ lộ tâm tư tình cảm với cấp trên. Có lần một đồng chí trợ lý mới cưới vợ ở Hà Nội mà chưa có nhà ở. Hết đợt công tác, đồng chí Phó tư lệnh đã chỉ thị cho cơ quan cán bộ sắp xếp cấp cho đồng chí này một căn hộ ở Hà Nội.

        2. Ai vào Rào Khế - Rào Trù (Địa danh nơí đặt SCH tiền phương Quân chủng):

        Sở chỉ huy tiền phương bố trí trong rừng nhiều cây cổ thụ, có nhiều loại phong lan, các loại lan rừng ở đây vừa đẹp, vừa vương vấn hương thơm dễ chịu bên cạnh chiếc võng dã chiến bên dòng suối trong xanh thật nên thơ sau những giờ công tác và chiến đấu căng thẳng.

        Cán bộ từ Hà Nội vào tiền phương công tác ai cũng tìm bằng được một giò phong lan. Đồng chí Tưởng - Một sĩ quan tham mưu mê chơi phong lan, đã có sáng kiến làm 2 vườn lan. Vườn lan trước sân là loại lan thường. Khách quý vào cố năn nỉ thì cũng chỉ tước đoạt 1 giò ở đó. Còn lan quý hơn được treo giấu ở vườn sau kín đáo hơn.

        Bởi vậy anh em mới có câu Ai vào Rào Khế, Rào Trù, mà xem Quân chủng lu bù phong lan. Sau đó ít lâu, nhân một đợt lực lượng PK ta thắng lớn, Tư lệnh Quân chủng mới sửa lại là: "Ai vào Rào Khế, Rào Trù, mà xem Quân chủng lu bù chiến công", để lại một kỷ niệm đến bây giờ.

        3. Ai mất vệ sinh hơn ai:

        Ở Bộ Tham mưu Quân chủng PK-KQ trong những năm chiến tranh, công tác luôn luôn bận rộn, khẩn trưởng. Đồng chí Tô Ngội nghiện thuốc lá nặng nên 2 ngón cái và ngón trỏ bàn tay phải lúc nào cũng bị nhựa thuốc lá bám thành màu nâu đen. Hồi đó không đủ thuốc điếu mà phải hút thuốc vấn. Do bận nên đồng chí thường mặc bộ quần áo cháo lòng. Có lần từ Hà Nội đi xe đến SCH tiền phương, xong việc trở ra Hà Nội, ngồi xe trên đường 15 làm gấp, bụi đất mù mịt, bụi bám khắp người chỉ chừa mắt, miệng vì đeo khẩu trang. Lần đó về cơ quan ở Hà Nội, một hôm chưa kịp giặt giũ lại có lệnh cùng với "gánh hát rong" của Bộ Tham mưu vào lại Quảng Binh. Bộ quần áo chiến trường lại được mặc tiếp lên đường.

        Đồng chí Lê Đức Khuê dáng người trắng trẻo, đẹp trai - trai Hà Nội mà! Trên tay lúc nào cũng cầm một quyển sách nghiên cứu, nên đã có câu "Tiền ông Bách, sách ông Khuê". Đồng chí Khuê thường chê đồng chí Ngội là mất vệ sinh. Tuy vậy, đồng chí Khuê lại hay cảm cúm, ho sụt sịt, nên Tô Ngội phản công ngay: Kẻ ở bẩn thế mà chẳng mấy khi đau ốm, còn anh chàng tự xưng sạch sẽ lại ốm đau luôn. Ai mất vệ sinh? và tặng luôn cho đồng chí Khuê một hộp dầu cao Sao vàng.

        4. Tào tháo đại náo Quách tiên sinh...

        Lần đó "gánh hát rong" chúng tôi vào công tác ở đất Lệ Thủy - Quảng Bình vào mùa cấy. Chúng tôi tạm trú trong nhà dân, thấy nhân dân bắt được nhiều ốc bươu. Tại Hà Nội mỗi lần la cà đến gánh bún ốc ở Cửa Nam ăn tô bún với vài con ốc thòm thèm, ở đây ốc bươu to béo ngậy, nhiều vô kể.

        Hôm ấy, chị chủ nhà xách về cho 1 giỏ ốc, cho vào ngâm nước gạo. Đáng lẽ ngâm kỹ vài bữa, nhưng hôm đó phải di chuyển đi nơi khác, nên tối đó hái lá bưởi trong vườn luộc hẳn một nồi ốc bươu.

        Đồng chí Quách Hải Lượng vừa ăn, vừa khen ngon, làm một hơi, 4 anh em ăn hết vèo nồi ốc. Đêm ấy Quách tiên sinh bị tào tháo đuổi, sáng ra người hốc hác. May nhờ mấy viên Sulfaganidan mang theo hóa giải được, nên mới có chuyện "Tào Tháo đại náo Quách tiên sinh".


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:38:41 pm

        5. Các chú bộ đội tài thật:

        Đêm 15 rạng 16/04/1972, sau khi tài liệu đánh B- 52 được hoàn chỉnh, 'gánh hát rong' chúng tôi đã đến huấn luyện cho các đơn vị Hà Nội - Hải Phòng. Bộ tư lệnh tổ chức diễn tập đánh B-52 cho Hải Phòng. Sở chỉ huy Quân chủng phát tình huống giả định theo đường vô tuyến mạng B2 để sở chỉ huy sư đoàn 363 thu và xử trí.

        Nhóm sĩ quan Tham mưu Quân chủng chúng tôi nghỉ ở nhà dân cạnh sở chỉ huy trung đoàn 238. Dự kiến 4h30 sáng 16/04/1972 tình huống diễn tập bắt đầu. Trước khi đi ngủ, chúng tôi mượn ông chủ nhà cái đồng hồ báo thức để chuông reo đánh thức chúng tôi 4 giờ dậy ra sở chỉ huy. Bất ngờ lúc 23h ngày 15/04/1972, Bộ Tổng tư lệnh thông báo có B-52 sẽ đánh Hải Phòng theo tin mật. Nghe còi báo động ở sở chỉ huy, chúng tôi choàng dậy, chạy ra sở chỉ huy thì nhận lệnh từ sở chỉ huy Quân chủng hoãn diễn tập và chuẩn bị chiến đấu. Lúc 3 giờ ngày 16/04/1972, có 270 chiếc máy bay Mỹ trong đó có 9 B-52 ném bom Hải Phòng. Do các đơn vị PK Hải Phòng không có kinh nghiệm bắn B-52 bằng phương pháp TT nên gần 100 quả tên lửa phóng lên mà không rơi chiếc nào.

        Sau đó ông chủ nhà hỏi chúng tôi, tình hình thế nào mà bom đạn nổ nhiều thế. Chúng tôi thưa với cụ là máy bay Mỹ đã ném bom thành phố. Ông cụ vừa rót nước chè mời chúng tôi uống vừa luôn mồm nói: "Các chú bộ đội tài thật, các chú đã biết trước địch vào ném bom từ hôm qua".

        6. Tên lửa CA-75M có thể bắn rơi B-52 tại chỗ?

        Tên lửa PK ta bắt đầu bắn B-52 từ ngày 19/9/1967 tại Vĩnh Linh, cho đến tháng 10/1972 ta đã đánh 110 trận được công nhận bắn rơi 23 chiếc, nhưng chưa có chiếc nào rơi tại chỗ.

        Nhớ lời Bác Hồ dặn "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua". Toàn Quân chủng Phòng không - Không quân nhất là tên lửa phòng không gấp rút chuẩn bị.

        Ngày 27/10/1972 Đảng ủy Quân chủng ra nghị quyết, trong đó có câu "kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ”. Một đồng chí Phó tư lệnh nói với tôi "Tên lửa phòng không chưa bắn rơi B-52 tại chỗ, coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ”.

        Lúc bấy giờ những kế hoạch tác chiến đánh B-52 bảo vệ Hà Nội đều được trao đổi và tham khảo ý kiến đoàn chuyên gia Liên Xô bên cạnh Bộ tư lệnh Quân chủng. Tôi đem vấn đề này trao đối với Bạn. Một số chuyên gia cho rằng B-52 với 8 động cơ phản lực, bay ở độ cao trên 10 km, đạn tên lửa ta diệt máy bay bằng mảnh nhỏ, không thể bắn rơi B-52 tại chỗ được, bởi vì B-52 không thể rơi thẳng đứng xuống đất mà có quán tính với tốc độ đang bay. Tôi biết tiếng Nga nên trao đổi trực tiếp tiếng Nga với Bạn. Khái niệm rơi tại chỗ của ta là: Máy bay rơi trên đất Việt Nam, ta thu được mảnh xác máy bay, tiêu diệt hoặc bắt sống được giặc lái..., các chuyên gia Liên Xô nhún vai có vẻ không tin.

        Trong trận Điện Biên Phủ trên không tên lửa PK đã bắn rơi 29/34 chiếc B-52 có 16 B-52 rơi tại chỗ.

        Trong phương án tác chiến bảo vệ Hà Nội, theo ý chuyên gia thì hướng công kích chủ yếu là Đông Nam, vì phía đó đồng trũng, hỏa lực ta mỏng. Ta đề nghị hướng chủ yếu là Tây Bắc và hướng phụ là Tây Nam. Sau nhiều ngày nghiên cứu, bạn có vẻ căng thẳng và nói: "Chúng tôi vì xương máu nhân dân Việt Nam mà phát biểu". Sau này trong buổi lễ mừng thắng lợi, Trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô trong lời chào mừng đã nói "Tên lửa của Liên Xô giúp đỡ cho Việt Nam trao đúng những bàn tay vàng của chiến sĩ tên lửa phòng không Việt Nam".

        7. Tình bạn chiến đấu máu lửa Việt - Xô:

        Ngày 19/08/1972, Tiểu đoàn tên lửa 72, trung đoàn 285 bảo vệ đường 1 Bắc đã xuất sắc bắn rơi tại chỗ chiếc RF-4C. Lúc 12 giờ 25 phút cùng ngày, máy bay địch đánh trúng trận địa tiểu đoàn. Chuyên gia Liên Xô Bun-đi-cốp Khi-ri-tô-nốp đang sửa chữa khí tài, bị thương nặng. Mặc dù đã kịp thời cấp cứu, kể cả anh em trong đơn vị tiếp truyền máu, nhưng vết thương quá nặng, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Sau này thư của mẹ đồng chí là bà Bu-di-cô-va Na-dê-rơ-va viết cho đơn vị rất xúc động, đau buồn trước cái chế của con trai yêu quý, nhưng cũng rất đỗi tự hào vì con bà đã cống hiến cuộc đời cho tương lai tươi sáng của Việt Nam.

        Trong cuộc chiến tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã được Đảng Cộng sản, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Liên Xô và Trung Quốc hết lòng ủng hộ kịp thời và có hiệu quả cả vật chất, tinh thần và máu xương. Chúng ta không bao giờ quên tình hữu nghị quốc tế cao cả của các nước bạn đã dành cho chúng ta.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:42:26 pm
       
MỸ SỬ DỤNG CTĐT ĐỂ ĐỐI PHÓ CÁC LỰC LƯỢNG PK-KQ TỪ NĂM 1964 - 1972

Trung tá La Văn Sàng                 
Nguyên cán bộ tham mưu Quân chủng       

        Cách đây hơn 40 năm, do thất bại trong cuộc Chiến tranh Cục bộ ở miền Nam, Mỹ đã sử dụng không quân từng bước leo thang đánh phá miền Bắc, hậu phương lớn của miền Nam, nhằm ngăn chặn chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam.

        Ngày 5-8-1964, đánh dấu ngày mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc.

        Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã sử dụng lực lượng không quân, kể cả máy bay ném bom chiến lược B-52 tổ chức đánh phá liên tục ngày đêm và chúng đã tuyên bố sẽ đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá.

        Ý đồ của Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc làm cho nền kinh tế kiệt quệ, đồng thời ngăn chặn chi viện cho cách mạng miền Nam, ý đồ đó hoàn toàn bị phá sản.

        Ngược lại, không quân Mỹ bị lực lượng quân dân miền Bắc, nòng cốt là lực lượng PK-KQ đã gây cho chúng tổn thất nặng, buộc chúng xuống thang đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở vào từ 1-4-1968 đến 1-11-1968 (giai đoạn 1). Hàng ngàn máy bay các loại bị bắn rơi, bị thương, nhiều giặc lái bị tiêu diệt, bị bắt làm tù binh.

        Trong quá trình sử dụng không quân, từng bước Mỹ đã thực hiện CTĐT từ thấp đến cao để đối phó lại các lực lượng PK-KQ của ta. Tùy thuộc vào các mục tiêu đánh phá, lực lượng bảo vệ các mục tiêu, quy mô trận đánh để chung sử dụng CTĐT bảo vệ sao cho có hiệu quả lực lượng không quân vào đánh các mục tiêu của đối phương.

        - Tổ chức trinh sát điện tử.

        Trinh sát điện tử là một phần rất quan trọng của CTĐT, do đó không phải khi nào tổ chức trận đánh mới tổ chức cho trinh sát điện tử mà trước đó đã tổ chức trinh sát điện tử một cách toàn diện các mục tiêu của đối phương.

        Trước khi đánh phá miền Bắc bằng không quân, Mỹ đã tiến hành trinh sát điện tử ngày đêm suốt dọc bờ biển miền Bắc Việt Nam, từ trên không, các vùng biên giới, hải đảo, các hướng từ miền Nam - Lào - Thái Lan bằng EB-66, EC-121, hạm tàu, EB-66B, EK-A38, sau này dùng U2 tầng cao (TSQH), không người lái (KNL).

        - Tổ chức gây nhiễu điện tử.

        Sự phát triển của nhiễu điện tử từ ngày 5-8-1964 đến tháng 12-1972 là từ đơn giản tới phức tạp. Thời gian đầu sử dụng nhiễu tiêu cực, mục tiêu giả phục vụ hoạt động cho không quân thả biệt kích, nhằm đối phó rađa cảnh giới...

        Khi tên lửa phòng không của ta xuất hiện, ra quân trận đầu đánh thắng không quân Mỹ, thi không quân Mỹ được trang bị các loại máy gây nhiễu để đối phó lại lực lượng phòng không của ta như: Nhiễu xung trả lời, mục tiêu giả của hải quân, nhiễu tạp tích cực của không quân đối với rađa dẫn đường, cao xạ, tên lửa, rađa phòng không, nhiễu thông tin liên lạc, đối không...

        Từ cuối năm 1966 đến cuối năm 1972, xuất hiện máy gây nhiễu rãnh mục tiêu, nhiễu rãnh đạn dưới dạng nhiễu tạp, có cường độ nhiễu lớn, có ảnh hưởng rất lớn đến khí tài tên lửa khi phát sóng bắt mục tiêu, và đạn bị mất điều khiển... Máy gây nhiễu loại ALQ-71, ALQ- 87 có công suất lớn, dải tần số gây nhiễu rộng, bao trùm hết các dải tần số của khí tài được trang bị cho Quân chủng PK-KQ (tên lửa, rađa, cao xạ, không quân, dẫn đường, tiếp sức, đối không).

        Trong thời kỳ này các máy bay không quân chiến thuật Mỹ được trang bị máy gây nhiễu tích cực, lúc đầu là máy gây nhiễu QRC-160A và hình thành đội hình bay QRC, đội hình mật tập. Tiếp đến được trang bị máy gây nhiễu ALQ-71, ALQ-87 có công suất và dải tần đã nêu ở trên. So với đội hình bay QRC thì việc không quân chiến thuật được trang bị máy gây nhiễu ALQ-71, ALQ-87, đội hình trong một tốp được giãn rộng hơn. Máy bay hải quân được trang bị máy gây nhiễu xung trả lời, mục tiêu giả loại: AQL-41, AQL-51, AQL-100.

        Nhìn chung, không quân chiến thuật Mỹ được trang bị các máy gây nhiễu trong đội hình đã được cải tiến về cường độ nhiễu, dải tần số cũng được mở rộng, các loại nhiễu gây nhiều khó khăn cho lực lượng phòng không của ta.

        Việc sử dụng nhiễu tiêu cực cũng thay đổi (về thủ đoạn và mật độ sử dụng...)

        Theo lời khai của giặc lái từ tháng 8-1967, mỗi máy bay cường kích, tiêm kích được trang bị từ 2 - 3 máy gây nhiễu loại ALQ-71, ALQ-87.

        Đầu tháng 10-1968, tiểu đoàn tên lửa (Tiểu đoàn 88 trận địa Tó, Đông Anh) Trung đoàn 274 phát hiện nhiễu tạp có hiện tượng "sủi bọt nhiễu" ở cửa xung sóng chờ ở mạch bắt rãnh đạn. Từ tháng 12-1967 đến ngày 31-3-1968, các đơn vị tên lửa chính thức bị nhiễu rãnh đạn do máy gây nhiễu ALQ-71 gây ra. Loại máy này được trang bị trên máy bay cường kích không quân.

        Từ ngày 28-12-1967 đến ngày 2-1-1968, đội trinh sát nhiễu (Bộ Tham mưu) cũng thu được tần số fM = 3196 MC (tương ứng với tần số gây nhiễu rãnh đạn của địch), và độ rộng phổ nhiễu Delta = 94 - 130 MC.

        Qua theo dõi từ ngày 15-12-1964 đến ngày 19-12- 1967, Tiểu đoàn 88 tên lửa bị nhiễu rãnh đạn rất nặng, cùng thời gian này một số đơn vị khác cũng bị nhiễu tương tự.

        Trong những ngày này, Tiểu đoàn 88 có đánh một số trận trong điều kiện địch gây nhiễu tạp (ALQ-71) nhưng không đạt kết quả, vì rãnh đạn bị nhiễu rất nặng, mạch bắt không làm việc, đạn mất điều khiển rơi xuống đất.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:44:16 pm
        Cùng thời gian này Tiểu đoàn 44 ở trận địa Thanh Oai bắn 2 quả đạn bám vào dải nhiễu của EB-66 (đạn tự hủy). Vì lúc này ta chưa phân biệt được đâu là nhiễu trong đội hình và dải nhiễu ngoại đội hình.

        Trước tình hình địch sử dụng nhiễu dải có cường độ lớn, đầu tháng 6-1967, Quân chủng họp để rút kinh nghiêm, nghiên cứu đánh địch trong điều kiện có nhiễu dải và nhiễu xung trả lời và kết hợp cơ động.

        Trong giai đoạn này, do ảnh hưởng của nhiễu ALQ- 71, hiệu quả xạ kích tên lửa thấp, đạn rơi xuống đất nhiều, nên Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ đạo, ngoài tìm và sử dụng phương pháp bắn 3 điểm khi có nhiễu tạp, Cục Kỹ thuật kết hợp với các chuyên gia Liên Xô nghiên cứu khắc phục nhiễu rãnh đạn làm mất điều khiển đạn rơi xuống đất.

        Qua nghiên cứu ta nhận thấy nhiễu ALQ-71 có dải tần số gây nhiễu rộng bao trùm cả tần số trả lời của đạn và mục tiêu của tên lửa CA-75 do Liên Xô chế tạo.

        Nhiễu ALQ-71 làm cho mạch bắt tên lửa không làm việc, cửa sóng chờ bám sát không bắt được tín hiệu đạn, hoặc bắt nhầm vào tín hiệu nhiễu của địch. Mạch bắt K72 hệ tọa độ không còn khả năng hoạt động khi mức điện áp APY-I của K56 tăng từ 4.8V - 5.2V nữa. Do đài không bắt được tín hiệu trả lời của đạn nên đạn mất điều khiển rơi xuống đất.

        Nhiễu ALQ-71 làm cho việc xác định tọa độ góc của tên lửa không ổn định dẫn đến không ổn định về lệnh điều khiển. Sự không ổn định của tọa độ rãnh đạn tăng lên rất nhanh khi có nhiễu ở trạng thái gần quá tải và quá tải máy thu rãnh đạn. Lúc này do lệnh điều khiển không ổn định, đưa đến xác suất tiêu diệt mục tiêu giảm rõ rệt gây ra đạn rơi xuống đất.

        Qua nghiên cứu nguyên nhân, hậu quả của nhiễu ALQ-71 đối với khí tài tên lửa CA-75, chúng ta đã có phương pháp khắc phục về kỹ thuật như sau: Thay đổi tần số của đài và đạn như: T, T1, T2 ngoài tần số TH của đài. Trong phạm vi dải tần của ăng ten. Khi thay đổi tần số T2 thì mức độ bị nhiễu của đài giảm một cách rõ rệt, điện áp mức APY-I của K56 của một số rãnh đã giảm từ -5.2V xuống còn -3.8V trong phạm vi bắt được của đài, và đài có khả năng bắt được tín hiệu đạn và có điều khiển.

        Điều chỉnh tần số của đạn từ TH đến T, T1, T2, theo từng bộ đài điều khiển.

        Điều chỉnh tăng công suất đạn tên lửa từ trên 20w đến 80w. Nâng cao tỷ số tín hiệu trên nhiễu tạp ở đầu vào máy thu tăng tính chất ổn định, thay một bộ phận (DP-15.

        Cho nối đất thiên áp K72 để tăng độ nhạy mạch bắt K72 khi đánh địch trong điều kiện có nhiễu dải AQL- 71 (AQL-87).

        Thu hẹp dải thông tần máy thu để hạn chế phổ nhiễu, nâng cao tỷ số tín hiệu trên nhiễu tạp ở đầu vào.

        Nghiên cứu mạch tự động khống chế tức thời hệ số khuyếch đại MAPY cho K56 để chống nhiễu tức thời.

        Nghiên cứu mắc mạch hạn chế và lọc nhiễu ở K56, nhằm hạn chế quá tải máy thu và giải quyết được bắt tín hiệu đạn của tên lửa.

        Nghiên cứu đưa điện áp APY ở K56 xe tính toán sang xe điều khiển để tiện kiểm tra cường độ nhiễu tạp. Khi chiến đấu tạo điều kiện cho SQĐK và tiểu đoàn trưởng hạ quyết tâm cho trận đánh nhanh chóng.

        Kết quả nghiên cứu đã giải quyết cơ bản chống nhiễu cho rãnh đạn và kịp thời đưa vào phục vụ chiến đấu trong tình hình địch tăng cường sử dụng nhiễu ALQ-71 và ALQ-87.

        Từ đây các trận đánh sau này, tên lửa đã không còn rơi xuống đất khi địch vẫn gây nhiễu tạp ALQ-71 và ALQ-87. Nên hiệu quả tên lửa đánh tiêu diệt mục tiêu trong nhiễu được nâng lên rõ rệt trong các đơn vị.

        Sau đợt tập huấn rút kinh nghiệm phương pháp bắn và cải tiến khí tài cho bộ đội tên lửa đánh máy bay không quân chiến thuật gây nhiễu trong đội hình thi từ ngày 12-8-1967, lần đầu tiên Tiểu đoàn 63 dùng phương pháp bắn 3 điểm bám sát vào dải nhiễu bắn rơi một chiếc RF4C trong một tốp 2 chiếc.

        Tiếp đến ngày 17-4-1967, Tiểu đoàn 46 bắn rơi một chiếc RF4C bằng phương pháp 3 điểm trong nhiễu dải dày đặc.

        Đầu tháng 10 và tháng 11-1967, trong các đợt đánh phá của địch, số máy bay bị bắn rơi bằng phương pháp 3  điểm đã tăng lên.

        Từ lúc không quân địch sử dụng nhiễu tạp trong đội hình (ALQ-71) cuối nãm 1966 đầu năm 1967 và đưa vào sử dụng rộng rãi trong tháng 5-1967 cho không quân chiến thuật, cho đến khi tên lửa ta nghiên cứu bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên ngày 12-8-1967 ở Tiểu đoàn 63 bằng phương pháp bắn 3 điểm phải mất thời gian là khoảng 3 tháng,

        Trong đợt tháng 8-1967, khi tên lửa bị nhiễu dải ALQ-71, chưa sử dụng cách đánh bằng phương pháp 3 điểm thì trung bình bắn 19 quả đạn tên lửa mới diệt được 1 máy bay. Nhưng đến tháng 10 và tháng 11-1967 đánh không quân địch bằng phương pháp 3 điểm, số đạn tiêu diệt mục tiêu đã giảm xuống còn 6.2 - 7.1 quả đạn tiêu diệt được 1 máy bay.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:49:04 pm
 
SỞ CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN CAO XẠ TRONG CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đại tá Nguyễn Mạnh Đàn                 
Nguyên cán bộ Tham mưu Quân chủng       

        Chấp hành mệnh lệnh chiến dịch của Bộ Tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ, toàn trung đoàn cao xạ 367 vượt bao gian khố hy sinh, với sự giúp đỡ của Đại đoàn 312, kéo pháo vào kéo pháo ra giấu quân ở khu vực tập kết an toàn. Cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 367 được tổ chức nghỉ ngơi lấy lại sức, ngày đêm tập trung kiểm tra hiệu chỉnh lại pháo, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

        Trong thời gian quý báu đó, để chuẩn bị cho nhiệm vụ mới, trung đoàn cử một tổ cán bộ tham mưu đi nghiên cứu địa hình, chuẩn bị chiến trường bao gồm:

       - Tìm trận địa ban đầu cho các đại đội của các Tiểu đoàn 383 và 394.

       - Tìm vị trí đặt sở chỉ huy trung đoàn.

       - Tìm đường để đưa bộ đội vào chiếm lĩnh bằng xe kéo khi có lệnh triển khai chiến đấu.

        Tôi được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng tổ trinh sát địa hình, đêm đêm lần mò từng mỏm đồi, bãi cây rậm rạp, tìm trận địa cho các đơn vị Tiểu đoàn 383 phía Đông Bắc và Tiểu đoàn 394 phía Bắc. Công việc tuy khó khăn vất vả, song cuối cùng cũng xác định được các vị trí của các đại đội và đường kéo pháo vào chiếm lĩnh.

        Việc quan trọng và khó khăn nhất là vị trí để đặt Sở chỉ huy trung đoàn.

        Yêu cầu của Sở chỉ huy trung đoàn cao xạ là tổ chức cho được mạng thông tin chỉ huy từ trung đoàn đến các tiểu đoàn, và từ sở chỉ huy trung đoàn đến sở chỉ huy Đại đoàn 351, sở chỉ huy trung đoàn phải quan sát được mọi hoạt động của các đại đội và mọi hành động xâm phạm của Không quân địch.

        Điện Biên Phủ là một lòng chảo, chung quanh đều là núi cao bao bọc, cây cối rậm rạp, rất khó khăn để đạt đủ các yêu cầu thỏa mãn cho sở chỉ huy trung đoàn cao xạ.

        Qua mấy ngày đêm leo núi vất vả, cuối cùng chúng tôi phát hiện một ngọn đồi không cao lắm, nằm trước dãy núi cao phía Bắc Điện Biên Phủ. Ngọn đồi này đã bị pháo bắn và bom phá tan hoang, cây cối đổ và cháy ngổn ngang. Chúng tôi leo lên đỉnh đồi thì bất ngờ thấy nó thỏa mãn mọi yêu cầu của sở chỉ huy mà chúng tôi mong muốn. Vừa mừng, song vừa lo vì đây là ngọn đồi trống trải, cháy trụi rất dễ lộ, chúng tôi phán đoán là địch đã trinh sát kỹ địa hình và phát hiện đây là ngọn núi nguy hiểm đối với chúng, cho nên chúng đã dùng pháo và bom phát quang để đối phương không thể sử dụng được.

        Tương kế tựu kế, chúng tôi thấy đây là nơi bất ngờ nhất mà ta phải lợi dụng để đặt sở chỉ huy trung đoàn, song điều quan trọng là phải có tổ chức thật nghiêm túc công tác giữ bí mật cả ngày lẫn đêm, không được để lộ một dấu hiệu gì thay đổi trên địa hình của quả đồi.

        Báo cáo với đồng chí chỉ huy trung đoàn Nguyễn Quang Bích, được đồng chí nhất trí đặt sở chỉ huy tại đây, cao điểm 630, và cho bộ đội xúc tiến triển khai hệ thống hầm hào. Đất đào lên phải tập trung đổ xuống hố bom và ngụy trang kỹ càng. Mọi hoạt động đều tổ chức dưới hầm được ngụy trang cẩn thận. Đêm đến, không được dùng đèn để khỏi lộ ánh sáng ra ngoài, phải tuyệt đối không dùng đèn pin.

        Từ sở chỉ huy trên cao điểm 630 này bảo đảm quan sát suốt cả chiều sâu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tính từ Bắc Him Lam đến Hồng Cúm, từ khu trung tâm sân bay Mường Thanh đến sân bay Hồng Cúm. Mọi hoạt động của Không quân địch đều được phát hiện kịp thời, do đó sở chỉ huy đã phục vụ tốt cho việc chỉ huy bộ đội.

        Từ sở chỉ huy còn có thể nắm được mọi hoạt động của các đại đoàn bộ binh, các khu vực trận địa của pháo binh ta, tạo điều kiện cho hiệp đồng chiến đấu. Từ đó cao xạ đã bảo vệ an toàn cho bộ binh và pháo binh trong cả chiến dịch. Cũng từ sở chỉ huy, chúng tôi theo dõi được mọi hành động chiến đấu, xạ kích của các đại đội cao xạ, kịp thời chỉ đạo rút kinh nghiệm chấn chỉnh những thiếu sót và phổ biến cho các đơn vị nhanh chóng nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội cao xạ, táo bạo và bí mật, bất ngờ sử dụng cao điểm 630 làm sở chỉ huy Trung đoàn 367 trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ là một yếu tố quan trọng đã bảo đảm cho việc chỉ huy trung đoàn cao xạ lần đầu ra trận.

        Suốt cả thời gian chiến dịch không có một quả đại bác hay một quả bom nào rơi vào sở chỉ huy, bảo đảm sở chỉ huy tuyệt đối an toàn và liên tục chỉ huy chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:18:56 am
       
NHỚ LẠI HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG KHOA HỌC QUÂN SỰ QUÂN CHỦNG PK-KQ NHỮNG NĂM 1966 - 1968

Đại tá Nguyễn Văn Thụ                         
Nguyên trưởng phòng Khoa học Quân sự Quân chủng       

        Tháng 10-1963 lực lượng Không quân hợp nhất với lực lượng phòng không thành Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Tổ chức khoa học quân sự của Cục Không quân chuyển thằnh Phòng Khoa quân sự Quân chủng PK- KQ. Đồng chí Trần Hậu Tưởng giữ nguyên chức trưởng phòng. Phòng có 20 người được tổ chức biên chế theo 4 bộ phận:

        - Nghiên cứu chiến thuật có 4 cán bộ trung cấp.

        - Nghiên cứu kỹ thuật có 5 kỹ sư KQ.

        - Tổ thu hồi máy bay có 5 sĩ quan.

        - Văn thư, hành chính và kho có 5 người.

        Tháng 5/1966, Quân chủng điều tôi - về thay đống chí Tưởng đi công tác. Đồng chí Chính ủy Đặng Tính, đồng chí Tham mưu trưởng Hoàng Văn Khánh giao tiếp thêm những nhiệm vụ nặng nề cho phòng Khoa học quân sự, bao gồm:

        1. Nghiên cứu và rút ra bài học về không quân địch vào xâm phạm vùng trời và đánh các mục tiêu.

        2. Tìm hiểu kỹ và phân tích các loại mục tiêu mà kẻ địch đã trinh sát tới và tìm cách đánh phá. Nghiên cứu, tìm hiểu kỹ thực lực lực lượng phòng không chúng ta để đóng góp ý kiến cách sử dụng vào tác chiến.

        3. Thu hồi các máy bay địch bị bắn rơi, bao gồm tất cả trang thiết bị và vũ khí.

        4. Tổ chức trưng bày ở trong nhà các loại khối trang thiết bi và một bãi lớn trưng bày xác máy bay, ta thu được để các cán bộ, đơn vị về nghiên cứu hiện vật.

        Với bốn nhiệm vụ được giao, lực lượng của Phòng còn quá mỏng. Vì vậy, ngay sau đó đồng chí Chính ủy đã duyệt đề nghị của đồng chí Tham mưu trưởng tăng cường lực lượng cho Phòng Khoa học quân sự. Sau khi bổ sung, Phòng Khoa học quân sự có 66 đồng chí, gồm:

        - 5 cán bộ trung cấp về chiến thuật.

        - 21 kỹ sư, trong đó có Phó tiến sĩ Kiên.

        - Thành lập Đội thu hồi máy bay địch có 26 người do đồng chí Thắng làm đội trưởng, được trang bị 3 ôtô "Gat" 63.

        - 12 đồng chí văn thư, hành chính, bảo tàng, phiên dịch.

        - Đồng chí Đỗ Văn Phúc trung đoàn phó 275 được điều về làm phó phòng Khoa học quân sự.

        Tiểu đoàn 8 nhiễu, trinh sát trên không trực thuộc phòng Khoa học quân sự (trước đây trực thuộc Tham mưu trưởng) vẫn do đồng chí Lê Sĩ Học phụ trách. Đến 1967 Cục Tình báo điều đồng chí Học về Bộ Quốc phòng thì đồng chí Đại úy Phan Thu - Trợ lý nghiên cứu nhiễu về phu trách d8.

        Phòng Khoa học quân sự được phân chia thành nhiều tổ, nhóm phụ trách từng chuyên ngành:

        - Nhóm nghiên cứu về lực lượng PK-KQ của ta:

        + Lúc đó có 5 sư đoàn phòng không (361, 363, 365, 367, 377) + 8 trung đoàn tên lửa 236, 238, 274, 275, 278, 257, 268 tên lửa TQ, 1 sư đoàn không quân 371, trung đoàn 919 không quân cánh quạt, bố trí ở 15 sân bay: Vinh, Đồng Hới, Sao Vàng, Gia Lâm, Cát Bi, Kiến An, Kép, Nội Bài, Miếu Môn, Hòa Lạc, Yên Bái, Mường Thanh, Na Sản, Bạch Mai, Tông và một số sân bay cỏ.

        + Các mục tiêu địch hay trinh sát: Các công trình giao thông đường bộ, bến phà, đường sắt, bến cảng, kho tàng, khu vực quân sự, nơi đóng quân, các cơ sở văn hóa, các thành phố lớn, nhỏ cạnh mục tiêu giao thông, khu vực quan trọng cấp quốc gia, khu kinh tế, văn hóa, chính trị... Mỗi mục tiêu đều phải được phân tích đánh giá về tầm quan trọng và nguy cơ có thể bị địch xâm phạm, đánh phá, do lực lượng PK-KQ của ta có hạn nên không thể bố trí dàn trải, vi vậy phải dựa trên đánh giá phân tích mục tiêu để bố trí lực lượng bảo vệ thường xuyên hoặc lực lượng cơ động đến bảo vệ.

        - Nhóm nghiên cứu về không quân đế quốc Mỹ vào đánh phá Việt Nam.

        Máy bay địch có thể xuất hiện bất cứ thời gian nào, bất kể ngày hay đêm. Chứng có thể bay theo tốp nhỏ, đơn lẻ để trinh sát mục tiêu, trinh sát khí tượng bằng F- 105, F-4, SR-71, gây nhiễu bằng máy bay như EB-66. Địch có thể bay vào theo đội hình, có nghi binh, yểm trợ, có máy bay tấn công. Tùy theo mục tiêu lớn, nhỏ mà đội hình bay lớn nhỏ khác nhau. Mỗi loại máy bay làm nhiệm vụ gì thì trang bị vũ khí thích hợp, như không chiến thì trang bị tên lửa Sparrow, Sidewinder, và các loại súng pháo. Trên máy bay tiêm kích F-4, A-4, F-105, F-8 có kèm theo cả thiết bị gây nhiễu. Để đánh phá các mục tiêu mặt đất, máy bay được trang bị tên lửa Shrike đánh vào trận địa tên lửa, rađa của ta. Ngoài ra địch còn sử dụng các loại bom phá, bom xuyên, bom bi, bom dứa, bom từ trường, "rốckét", các loại dùng để đánh phá tất cả các loại mục tiêu.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:20:43 am
        Khi địch vào đánh mỗi loại- mục tiêu, thì thủ đoạn hành động của chúng cũng rất xảo quyệt, thể hiện ở hướng bay, bay cao, thấp, tốc độ bay, chiến thuật bay. Như ngày 3 - 4/4/1965, địch bất ngờ dùng lực lượng máy bay lớn, từ hạm đội ngoài biển các căn cứ sân bay miền Nam theo nhiều hướng vào đánh cầu Hàm Rồng, với đội hình bay có cường kích, đột kích, có máy bay yểm trợ, yểm hộ, có máy bay tiêm kích, trinh sát, có máy bay nghi binh, là đội hình bay hoàn chỉnh vào từ Ghép, Nam Ngạn đến vùng trời Hà Nam. Máy bay địch mang theo nhiều vũ khí hiện đại, hòng phát hiện mục tiêu, dùng thủ đoạn bay thấp từ xa để tránh sự phát hiện của rađa và các trạm quan sát của ta rồi đột nhiên vọt cao, hình thành đội hình vào tấn công mục tiêu.

        Với sự phán đoán đúng kẻ địch, Quân chủng đã kịp thời cơ động e228 đến bố trí sẵn cùng dân quân địa phương phục kích đánh địch khi còn cách xa mục tiêu, bắn rơi và bắn bị thương nhiều máy bay địch, làm rối loạn đội hình bay của địch. Đồng thời, Bộ Tư lệnh Quân chủng ra lệnh 2 biên đội máy bay lần đầu xuất trận, xông vào không chiến, hạ rơi F-8, F-105 tại chỗ. Tiếp sang ngày thứ 2 (4/4/1965), thực hiện hiệp đồng quân dân, không chiến đánh rơi cả F-4 và làm một số loại máy bay khác bị thương, làm tan rã đội hình, địch phải rút chạy ra biển vào Nam. Trong cả 2 ngày, quân dân ta đã đánh rơi tại chỗ 8 máy bay Mỹ gồm có: F-8, F-105, F-4, AD-6, bảo vệ mục tiêu, quân dân ít thương vong, các biên đội của ta bay về hạ cánh an toàn. Được Bác Hồ khen Không quân ra quân đánh thắng trận đầu, quân dân ta rất phấn khởi, tin tưởng.

        Với các trạm rađa, các trạm quan sát, đã có khẩu hiệu cho binh chủng “Địch đến biết", không để sót lọt một mục tiêu nào. Kịp thời thông báo cho bộ đội ta vào cấp I , có thời gian chuẩn bị, sẵn sàng chủ động đánh địch, bảo đảm dẫn đường cho máy bay các loại của ta tiêu diệt địch.

        Cứ mỗi lần máy bay địch vào đánh phá mục tiêu hoặc xâm phạm vùng trời, ta đều đăng ký tỉ mỉ vào sổ, vẽ lên bản đồ, để đưa ra giao ban hàng ngày, nghiên cứu và kết luận về địch và cách tác chiến của ta, đánh giá những ưu, khuyết điểm và rút kinh nghiệm. Việc đăng ký được thực hiện liên tục, ngày ngày tháng tháng, lặp đi lặp lại nhiều lần khi địch bay vào đánh một loại mục tiêu để rút ra quy luật hoạt động của chúng xâm phạm vùng trời của ta từ đó có chủ trương, chủ động sử dụng lực lượng đánh thắng, bảo vệ vững chắc những mục tiêu quan trọng của đất nước.

        - 3 ví dụ ta biết chắc địch, nắm chắc lực lượng của ta, sử dụng để đánh chắc thắng:

        + Tiểu đoàn 18 Trung đoàn pháo cao xạ 212 cơ động bố trí bảo vệ Đáp Cầu, chỉ huy trung đoàn nắm được đường bay của địch vào đánh mục tiêu, đã bố trí các đại đội pháo cao xạ 37mm và một số tiểu đội súng máy 12,7mm, phục kích đánh khi địch hạ thấp độ cao và thả bom mục tiêu thì nổ súng đúng chỗ hiểm, máy bay địch rơi tại chỗ: 4 F4 ở đồng ruộng Tiên Sơn, Bắc Ninh. Bom, súng vẫn còn trong thân máy bay, địch chưa kịp sử dụng. Đây là trận đánh rơi nhiều máy bay của pháo 37mm tiểu đoàn 18, nổi tiếng trong toàn quân, được cấp trên tuyên dương, trao cờ quyết chiến, quyết thắng.

        + Tiểu đoàn tên lửa, Trung đoàn 236 bố trí bảo vệ mục tiêu vòng ngoài Hà Nội, mở máy bắt và bám mục tiêu, ấn nút 2 quả tên lửa bay lên gặp mục tiêu nổ ngay khi địch đang vòng tránh bị áp suất và mảnh bắn vào, rơi tại chỗ F-105 ở vùng Văn Điển, Nam Hà Nội. Trong thân máy bay còn mang tên lửa Shrike và pháo chưa kịp sử dụng. Đây là trận đánh đặc sắc, bắn rơi máy bay mang tên lửa Shrike còn nguyên vẹn loại này chuyên dùng để đánh vào tên lửa ta. Ngay thời điểm đó, Bộ Tổng tham mưu đã cử cán bộ xuống nghiên cứu và đề nghị Bộ tuyên dương khen thưởng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:22:08 am
        + Khi chỉ huy phát hiện được địch bay từ cửa Đông Nam Ba Lạt và 1 tốp lớn bay theo hướng Đông Bắc Cát Bà, chỉ huy đoán địch sẽ đánh vào mục tiêu sân bay Kép nên ra lệnh cho 2 biên đội (có biên đội đồng chí Tịnh chỉ huy) xuất kích bay đến vùng hiệp đồng không chiến, biên đội MiG-17 của đồng chí Tịnh hướng vào tốp máy bay AD-4 cường kích của địch là loại máy bay có tính năng và tốc độ ưu việt hơn MiG-17. Khi gặp địch, Tịnh cho biên đội lượn vòng trong của AD-4, chiếm lợi thế và xạ kích. Khi AD-4 lướt qua thì biên đội nhanh chóng tăng tốc bám máy bay địch xạ kích vào nách lưng, máy bay địch bi bắn bất ngờ, rơi tại chỗ. Lần lượt cả 4 máy bay MiG-17 đánh rơi AD-4 của hải quân Mỹ ở vùng Chủ Lục Ngạn. Ta thu được máy bay, toàn bộ trang thiết bị và bắt được giặc lái nhảy dù xuống đất. Cả 2 biên đội xung kích và yểm trợ về hạ cánh ở Kép an toàn tuyệt đối. Đây là trận đánh thắng rất xuất sắc, vừa đánh tan đội hình lớn tấn công 2 hướng vào đánh mục tiêu, vừa đánh tan xác 4 máy bay AD-4 ở hạm bay vào. Sau trận đánh, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng cùng Tư lệnh Phòng không Phùng Thế Tài dùng trực thăng bay lên Kép rút kinh nghiệm trận đánh không chiến, biểu dương, tuyên dương từ chỉ huy trưởng Đào Đình Luyện, 2 biên đội lái, cùng các cá nhân tham gia trận đánh.

        Các chiến công, chiến lệ đều được ghi vào lưu chiểu cho người sau noi gương.

        Việc nghiên cứu không quân địch và tìm hiểu về lực lượng của ta, phòng Khoa học quân sự tuy nghiên cứu còn ít ỏi, nhưng đã đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu của tập thể lớn Quân chủng, giúp cho Tư lệnh và Tham mưu trưởng phán đoán đúng kẻ địch, đề ra chủ trương, quyết sách sử dụng lực lượng PK đánh thắng địch.

        Nghiên cứu máy bay và các hiện vật thu hồi ỏ máy bay địch.

        1. Thu hồi máy bay địch.

        Địch dùng máy bay đánh lan tỏa ra miền Bắc thì bị ta bắn rơi cũng đến hàng trăm chiếc như trận Hàm Rồng ta chở về động cơ F-8, F-105, thu trận Đáp Cầu 2 máy bay AD-4, về lắp ráp được thành hình 1 chiếc AD-4. Vũ khí Spaưow, Sidewinder, pháo Vulcal, 30mm, nhiều mảnh bom và trang thiết bị. Thu F-105 gãy nhiều bộ phận nhưng tên lửa Shrike gần như còn nguyên vẹn. Thu động cơ máy bay AD-4 và trang thiết bị máy bay và thiết bị giặc lái ở trận không chiến ở Chũ, Lục Ngạn. Thu 1 máy bay không người lái gần như nguyên vẹn, dù vẫn còn mắc trong lưng máy bay ở bờ sông Hồng, làng Hải Bối. Thu ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh rất nhiều bom bi, bom dứa, bom từ trường, gồm cả vỏ bom, một số "lắc" vàng ghi số hiệu giặc lái, đèn, máy tín hiệu, và rất nhiều loại trang bị.

        Nhiều mảnh máy bay và động cơ máy bay ta thu về lắp ghép thành 20 chiếc máy bay như F-8, F-105, AD-4, F-4, không người lái... tất cả có 8 loại. Rất nhiều bảng khối điện tử tên lửa Shrike, máy bay không người lái, súng Vulcal 4 nòng, 1 khẩu 30mm, súng ngắn, dao, bản đồ, ống nhòm, máy tín hiệu, cờ xin ăn, ký hiệu máy bay, Plắc vàng, dù máy bay không người lái, dù giặc lái, mũ bay, trang phục bay của giặc lái...

        Những máy bay, trang thiết bị thu được, Quân chủng cho lập chỗ trưng bày cạnh Quân chủng ở gần "Hăng ga" sân bay Bạch Mai. Những động cơ, thiết bị nhỏ, trưng bày trong 1 nhà dài 70m rộng hơn l0 m. Lập 1   kho để những loại thiết bị nhỏ gần Quân chủng, 1 kho lớn ở gần chùa Trầm để các thiết bị, vũ khí còn tương đối nguyên vẹn. Việc trưng bày và lưu giữ hiện vật để phục vụ công tác nghiên cứu được thuận tiện và cho các đơn vị, cơ quan bạn khi cần đến nghiên cứu hiện vật có sẵn.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:24:04 am

        2. Nghiên cứu các tài liệu, hiện vật có sẵn.

        Phòng đã lập 5 nhóm cán bộ kỹ sư:

        - Nhóm kỹ sư nghiên cứu cơ khí máy bay.

        - Nhóm nghiên cứu thiết bị máy bay.

        - Nhóm nghiên cứu đặc thiết, máy điện tử, máy gây nhiễu.

        - Nhóm nghiên cứu về trang bị giặc lái, gồm dù + thiết bị nhảy dù.

        - Nhóm nghiên cứu về các loại vũ khí trên máy bay.

        Nhiều hiện vật thu được, kết hợp đối chiếu với các tài liệu máy bay địch do Cục Tình báo cấp, với các tài liệu do các bạn Liên Xô, Hung-ga-ry, CuBa giúp cho ta mà nghiên cứu được: Tính năng, tác dụng, sức cơ động của các loại máy bay trinh sát, gây nhiễu như không người lái, Shrike, F-105, E-66, EB-66,... nghiên cứu được loại gì thì thông báo cho đơn vị để ứng dụng ngay vào tác chiến. Như cao xạ trung đoàn 280 bảo vệ ở Bến Thủy, một vùng cơ động trận địa rộng lớn vòng quanh mục tiêu. Từ vòng trong cạnh Bến Thủy đến vòng ngoài phía Nam, Tây Hồng Lĩnh, phía Bắc, Tây, Đông có đồi núi liền nhau từ Thanh Chương, Đại Huệ, Sông Cấm Cửa Lò, nhiều chỗ bố trí đón lõng đánh địch từ xa, đã đánh rơi tại chỗ và bắn bị thương nhiều máy bay địch. Có F105 thả bom từ trường lần đầu tiên vào vùng dân cư và trận địa pháo phía Tây Nam Hồng Lĩnh, trong đó có nhiều quả chưa nổ. Phòng Khoa học quân sự cử đồng chí Tài kỹ sư quân giới vào nghiên cứu. Đang bò vào gần tới quả bom nhỏ thì bom nổ đúng vào người, đồng chí Tài hy sinh. Có thể lúc đó đồng chí mang theo dao nhíp, chìa khóa, hoặc khóa thắt lưng có kim loại đến gần bom gây kích thích cho từ trường nổ. Đồng chí Chân bí thư Đảng ủy Bộ Tham mưu đã cử cán bộ vào lập bia chôn cất rất cẩn thận, ghi công liệt sĩ và tinh thần dũng cảm của đồng chí Tài. 

        Các bom bi, bom dứa, bom phá, bom xuyên đã được trưng bày ở bảo tàng, thu được nhiều băng, khối tên lửa Shrike tương đối nguyên vẹn, còn đang trong giá móc của F-105, do tên lửa trung đoàn 236 bắn rơi. Nhờ có nó, các kỹ sư lắp ráp các băng khối tên lửa Shriké đã thu được gần giống tên lửa Shrike mới thu về. Ta nghiên cứu được cách bắn của Shrike ở màn rađa tên lửa thì tự động quay lệch cánh sóng tên lửa của ta vào vùng không có dân, để Shrike nổ vào khoảng trống. Từ thành công này, một chuyên gia trẻ của Liên Xô đã làm luận án tiến sĩ chống Shrike của địch.

        Nghiên cứu được các luồng máy bay bay thấp, các máy bay gây nhiễu, tránh bắt mục tiêu của rađa ta, buộc địch phải bay cao qua những vùng núi khuất, cửa biển. Ta thả bóng khí tượng có độ cao tương ứng, địch buộc phải bay cao. Ngoài rađa trinh sát, ta còn nghiên cứu lập rất nhiều trạm quan sát bằng kính viễn vọng nên rađa phát hiện địch ở cự ly xa, kịp thời cho lực lượng phòng không vào cấp I. Địch dùng ARC-45 và anten gây nhiễu mành mành nặng cho tên lửa. Tên lửa nhờ có trạm quan sát viễn vọng, thông báo địch vào gần đến cự ly bắn của tên lửa, mở máy bắt mục tiêu và phóng đúng thời cơ, máy bay địch rơi và bị thương rất nhiều. Đến khi địch gây nhiễu toàn màn của tên lửa và không quân ta, ta đã có nhiều biện pháp đánh thắng chúng, như trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, tất cả dân quân, cao xạ, tên lửa không quần, đều đánh dập đầu, B-52, F-111, F-4, từng tốp giặc lái cúi đầu bước vào cư trú ở khách sạn Hintơn Hà Nội.

        Tiểu đoàn 8 nhiễu thu các tin máy bay địch trên không, thu tất cả bước sóng gây nhiễu của địch, so đồng chí Phan Thu - Đại úy, Tiểu đoàn trưởng là người chuyên nghiên cứu nhiễu về phụ trách đơn vị. D8 có đủ trang thiết bị, máy móc để nghiên cứu, phục vụ cho Phòng Tác chiến, Phòng Trinh sát, Phòng Thông tin, phục vụ cho Phòng Khoa học quân sự để nghiên cứu.

        Các hiện vật máy gây nhiễu ARC-45, anten LQ-71 của địch cũng như các khối bảng chương trình điện tử của máy bay không người lái, tên lửa Shrike, tên lửa Sparrow, Sidewinder, với các thiết bị điện tử trên máy bay địch được nghiên cứu phục vụ kịp thời cho tác chiến; những tài liệu ghi chép được lưu bảo mật, để sử dụng vẻ sau.

        Phòng Khoa học quân sự đã làm việc với Trường Đại học Bách khoa nhờ các thiết bị thí nghiệm để thí nghiệm ARC-45, lập trình của máy bay không người lái. Do phần nghiên cứu của ta còn hạn chế, được sự đồng ý của cấp trên, nhờ tùy viên quân sự Liên Xô mang hiện vật về nước nghiên cứu, kết quả được đến đâu thông báo kịp thời nhanh cho ta đến đấy.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:26:00 am

        2. Giao lưu nghiên cứu giữa ta và các bạn thuộc phe XHCN

        Máy bay và hiện vật thu được của địch rất quý và giá trị, được trưng bày để ta nghiên cứu đánh địch, nhưng đồng thời cũng rất quý đối với các bạn tùy viên quân sự các nước thuộc phe XHCN. Một số nước bạn đã đến nghiên cứu: 1 đồng chí cấp tướng của Hung-ga-ry sang thăm Việt Nam cùng tùy viên quân sự Đại sứ quán Hung-ga-ry đến thăm bảo tàng. Đồng chí được mời đi xem bãi trưng bày ngoài trời, rồi về thăm gian trưng bày trong nhà. Đồng chí hỏi nhiều về hiện vật, có đồng chí Hùng - kỹ sư TT giới thiệu. Sau khi xem, đồng chí phát biểu cảm tưởng là rất bất ngờ, đồng chí nghĩ rằng Việt Nam bắn rơi được nhiều máy bay đich nhưng rơi thì tan xác, có đâu mà thu về được nhiều như thế. Có F-8, F-105, F-4, A-4, AD-4, không người lái..* xếp đúng hình dáng, thành từng loại trưng bày ở bãi lớn. Đồng chí thốt lên: "Bất ngờ, bất ngờ quá". Xem xong các hiện vật trưng bày trong nhà, đồng chí muốn xin plắc vàng ghi số hiệu giặc lái. Được sự đồng ý của Chính phủ trao tặng hiện vật, đồng chí mừng lắm. Đồng chí tặng lại một album về quân đội Hung-ga-ry, một ống nhòm, một địa bàn, khẩu súng lục báng làm bằng đuy-ra nhẹ.

        Đồng chí Milan, tùy viên quân sự Cu Ba đến nghiên cứu hiện vật nhiều lần. Khi xem gian trưng bày trong nhà, thấy có nhiều vũ khí, trang bị, động cơ máy bay... đồng chí gợi ý muốn xin cờ có viết chữ xin tha tội chết, một lá cờ xin ăn và một máy phát tín hiệu báo tin cho Mỹ nơi địa điểm máy bay rơi để gọi cấp cứu. Đồng chí cũng kể cho ta về 4 đại úy Cu Ba tình nguyện lên 4 máy bay MiG-17, mang đủ vũ khí, bom, bay rất thấp trên mặt biển Cu Ba, đến gần mục tiêu đột nhiên bay vọt lên cao, quay đầu ngắm rồi đâm thẳng vào đội hình 4 tàu chiến của Mỹ, làm chìm ngay 1 chiếc, 2 chiếc bị thương nặng. Xong trận đánh, đoàn máy bay bảo vệ của Mỹ mới bay đến chỉ huy và hộ tống 2 tàu chiến hạm bị trọng thương rút chạy về Bắc Mỹ. Bốn phi công cảm tử đã trọn lời hứa với Tổ quốc Cu Ba thân yêu, không còn trở về nữa và từ đó vùng vịnh Cu Ba không còn bóng tàu chiến hạm của kẻ xâm lược.

        Bạn Cu Ba cung muốn tìm hiểu sức chiến đấu của máy bay ta. Tôi được Quân chủng cho phép báo cho bạn biết ta có nhiều máy bay cánh quạt AN-2, Li-2, IL-14 và phản lực MiG-17. Đồng chí Milan báo cho ta biết Cu Ba cũng có những loại đó giống hệt Việt Nam. Cu Ba đã cải tiến MiG-17 mang thùng rốc két; Li-2, IL-14 mang 2 bom lớn hơn 50kg và xẻ nơi phía sau để đặt giá bắn súng. Đồng chí đã tặng luôn các tài liệu cải tiến máy bay, Cu Ba đã cử cán bộ kỹ thuật sang giúp ta cải tiến được máy bay; Tuy thời gian rất ngắn, ta đã cải tiến xong loại An-2 mang 2 thùng rốc két. An-2 một tầng cánh do đồng chí cẩn lái, thực tập bay bắn trong 1 tuần cho kết quả tốt.

        Tại vùng biển Sầm Sơn - Ba Làng, ta phát hiện thường có tàu biệt kích. Quân chủng cử đồng chí Phan Huyến - Trạm trưởng Gia Lâm đặt chỉ huy sở dã chiến trên ôtô, đi vào Sầm Sơn phát hiện tàu biệt kích. Quân chủng lệnh cho đồng chí Cần xuất kích bay thấp đến biển Sầm Sơn tiếp cận mục tiêu. Đồng chí Phan Huyến ra lệnh đánh, đồng chí cẩn bám chắc mục tiêu và phóng 2 thùng rốc két thẳng vào 1 tàu biệt kích, làm tàu chìm nghỉm. Một vài tên lính sống sót bơi vào bờ, nộp mạng cho dân quân áp tải vào nhà tù. An-2 trở về an toàn. Cũng tương tự, MiG-17 do đồng chí Dị và Bảy bay rất thấp đánh tàu biệt kích lớn vùng biển Đồng Hới. Bom, rốc két, pháo 30mm đều phát huy tác dụng, tiêu diệt ngay tàu biệt kích lớn và toàn bộ quân địch, một vài tên lính sống sót cũng chết đuối dần trên biển vì tàu ờ ngoài khơi, rất xa đất liền. Năm 1968, Li-2 và IL-14 cũng đi đánh mục tiêu, thả bom ờ Thừa Thiên - Huế.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:26:55 am
        Bạn Trung Quốc có rất nhiều người đến thăm nhiều lần nơi trưng bày máy bay và các hiện vật của máy bay Mỹ. Khi đài phát thanh TTXVN thông báo quân ta bắn rơi máy bay Mỹ ở nơi nào đó, Phòng Khoa học Quân sự lại chuẩn bị cho bạn đến thăm, đi xem nơi địch đánh phá và chỗ máy bay rơi. Thường Quân chủng giao cho Phòng Khoa học Quân sự cử cán bộ dẫn bạn đi thăm hiện trường. Bạn thường chú ý những loại vũ khí và trang bị của giặc lái mang theo. Có lần khi nghiên cứu ở Bảo tàng Khoa học quân sự, bạn xin mũ bay giặc lái và Bộ Tư lệnh Quân chủng đồng ý tặng, ngoài ra còn tặng 1 súng Vulcal 4 nòng gồm cả bệ và máy nạp đạn tự động, một số bom bi, bom dứa, bom từ trường, đèn tín hiệu, plắc số hiệu giặc lái, cờ xin tha tội chết, cờ xin ăn, các mảnh ký hiệu từ xác máy bay có cờ Mỹ, một số khối rời máy bay như động cơ, cơ cấu điều khiển, càng... bạn rất phấn khởi, ký vào giấy tặng hiện vật, ngay sau đó mang phương tiện đến chở hiện vật về Trung Quốc.

        Bạn Liên Xô là người viện trợ cho ta vũ khí, máy bay, tên lửa, và cử cả cố vấn, chuyên gia về máy bay, tên lửa sang giúp ta. Bộ Quốc phòng giao cho Quân chủng khi có tin lực lượng phòng không bấn rơi máy bay địch ở đâu, ta phải cử cán bộ dẫn bạn (tùy viên quân sự, cán bộ nghiên cứu) đến nơi địch đánh phá. Bạn chụp ảnh và nghiên cứu sơ bộ, giúp ta nghiên cứu nhiều vấn đề kỹ thuật. Những hiện vật không có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam, ta chuyển cho bạn mang về Liên Xô có đủ phòng thí nghiệm và chuyên gia giỏi thực hiện. Nghiên cứu xong mảng nào, bạn lại nhiệt tình thông báo kết quả ngay cho ta để phục vụ cho tác chiến. Ví dụ như các khối gây nhiễu ARC45, anten ALQ-71...; các bảng, khối điện tử tên lửa Shrike, Sidewinder, Sparrow rất nhiều khối lập trình trong máy bay không người lái. Một số hiện vật đòi hỏi thời gian nghiên cứu dài hơn như nhiều loại đặc thiết, động cơ, thân, cánh... Thời kỳ này, bạn giúp ta rất nhiều tài liệu thiết thực ứng dụng trong tác chiến.

        Quân chủng đã báo cáo Bộ Quốc phòng tặng cho bạn Liên Xô: một máy bay không người lái gần như còn nguyên (có hơi méo mó ở cánh và đuôi do máy bay rơi), còn dù ở trên lưng; một tên lửa Shrike gần như còn nguyên; nhiều bảng, khối tên lửa Spaưow, Sidewinder; nhiều đồng hồ đặc thiết, nhiều khối ở các loại máy bay và trang bị giặc lái... Bạn rất quý, đưa máy bay đến chở hiện vât về nước. Ban rất tin tưởng và phấn khởi nói với Bộ Quốc phòng và Quân chủng: Liên Xô viện trợ vũ khí cho Việt Nam đánh Mỹ, và Việt Nam lại viện trợ những hiện vật quý, giúp cho công tác nghiên cứu, hiện đại hóa quân đội Liên Xô.

        Việc phối hợp nghiên cứu giữa bạn và ta rất quan trọng. Việc nghiên cứu của ta tuy hết sức cố gắng đạt được nhiều kết quả tốt nhưng còn rất hạn chế, vì ta không có những phòng thí nghiệm, không có những chuyên gia được đào tạo chuyên sâu, ta chỉ dựa vào hiện vật thu được kết hợp với tài liệu ta có mà nghiên cứu. Bộ Tư lệnh PK-KQ bày tỏ lòng cảm ơn đến tất cả các bạn đã giúp đỡ ta.

        Trong phạm vi viết này tôi chỉ ghi được vẫn còn rất nhiều vấn đề, các tài liệu phòng nghiên cứu đã được ứng dụng trong tác chiến phòng không chưa nêu hết được trong này. Tôi cố gắng nhớ lại các sự kiện cách đây 42 năm nên có chỗ quên ngày, tháng, quên tên người. Hiện nay các cán bộ khoa học quân sự thời kỳ đó còn lại rất ít, tuổi đã cao (đều trên 80 tuổi), rất nhiều người bạn đã vĩnh viễn rời xa chúng ta, rất tiếc là họ đã mang theo mình những tư liệu sống chôn vùi dưới đất. Tôi rất mong có những cuộc họp mặt các đồng nghiệp, một số ít những người còn lại, để thu thập những tư liệu, tài liệu quý giá, biên soạn thành bản hồi ký đầy đủ hơn, phản ánh chân thật các sự kiện để lưu lại cho các thế hệ sau kế tiếp nhiệm vụ.

        Tôi rất mong được các bạn đọc và góp ý thêm tư liệu cho hoạt động của Phòng Khoa học quân sự thời kỳ 1966- 1968.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:28:40 pm
         
THAM KHẢO LỜI KHAI CỦA MỘT GIẶC LÁI MỸ

Đại tá Chu Thái                        
Nguyên cán bộ tham mưu Quân chủng        

        Đầu năm 1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược trên khắp chiến trường miền Nam Việt Nam. Trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của bọn Ngụy quân, Ngụy quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ buộc phải Mỹ hóa trở lại cuộc chiến tranh bằng lực lượng không - hải quân hiện đại. Chúng tập trung lực lượng không quân, hải quân và cả B-52 đánh tập trung ổ ạt vào các chân hàng, kho tàng, đầu mối giao thông quan trọng của ta từ Vĩnh Linh, Quảng Bình đến Bến Thủy - Nghệ An, Hàm Rồng - Thanh Hóa, nhằm hạn chế cuộc tiến công của ta.

        Khác với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ dùng sức mạnh không quân và cả B-52 hành động nhanh chóng và quyết liệt mà không leo thang từng bước. Không quân địch phát huy triệt để các vũ khí, khí tài trang bị vừa mới cải tiến, đặc biệt là chiến tranh điện tử để nâng cao hiệu quả đánh phá và hạn chế thiệt hại của chúng.

        Quân và dân miền Bắc đã đánh trả kiên cường, bắn rơi một số máy bay địch nhưng chủ yếu là do pháo phòng không và không quân ta bắn rơi. Còn các đơn VỊ tên lửa phòng không, lực lượng rất quan trọng trong chống chiến tranh phá hoại thì hầu hết đều lúng túng trước những thủ đoạn nhiễu điện tử của địch. Từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5 năm 1972, bộ đội tên lửa phòng không đã đánh tới 200 lần cấp tiểu đoàn, tiêu thụ hàng trăm quả đạn mà chỉ bắn rơi 30 chiếc, chưa có chiếc nào rơi tại chỗ. Hầu hết tên lửa phóng lên đạn đều vượt qua mục tiêu, tự hủy, hiệu suất chiến đấu giảm sút rõ rệt.

        Đặc biệt đêm và ngày 16 tháng 4 năm 1972, Mỹ đã sử dụng tới 270 lần/chiếc máy bay các loại, trong đó có 9 B-52 ném bom rải thảm vào thành phố Hải Phòng. Bộ đội tên lửa phòng không Hải Phòng đã phát huy hỏa lực đánh trả địch quyết liệt, phóng tới 93 quả đạn tên lửa nhưng không có chiếc nào rơi tại chỗ. Có đơn vi còn bị địch đánh trả, gây thương vong về người và hỏng hóc nặng về khí tài, trước thủ đoạn gây nhiễu của địch.

        Cùng ngày 16-4, từ 9 giờ đến 10 giờ, không quân Mỹ còn sử dụng 60 lần/chiếc máy bay không quân chiến thuật, bay ở độ cao trên 7km gây nhiễu điện tử rất nặng. Bộ đội rađa báo là B-52 vào đánh Hà Nội, Trung đoàn tên lửa 261, 257 đã phóng tới 36 quả đạn, nhưng đạn đều vượt qua mục tiêu, tự hủy.

        Cán bộ Bộ Tham mun đã trực tiếp xuống các tiểu đoàn tên lửa chiến đấu tìm hiếu tình hình, leo lên các đồi cao xung quanh Hà Nội để theo dõi quỹ đạo đạn và kết quả xạ kích, nhận thấy đạn đều vượt qua mục tiêu rồi tự hủy.

        Sau nhiều trận đánh không rơi, đạn tự hủy nhiều, một số cán bộ chiến sĩ bộ đội tên lửa đã có những biểu hiện lo ngại, thiếu tin tưởng, nhất là cán bộ mới còn rất trẻ, thiếu kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Lại còn những biểu hiện nghi ngờ về số đạn tên lửa Liên Xô giúp ta mới được nhập vào Việt Nam có gì nhầm lẫn không?

        Bộ tư lệnh Quân chủng đã nêu ra một số biện pháp cấp bách: Phát động toàn Quân chủng tập trung nghiên cứu những thủ đoạn mới về nhiễu điện tử của địch, tìm ra các biện pháp khắc phục, kiên quyết đánh bại mọi thủ đoạn của chúng. Đi đôi với việc xây dựng ý chí quyết tâm, Bộ Tham mưu Quân chủng đã cử nhiều cán bộ giỏi xuống giúp các đơn vị chiến đấu, đế rèn luyện nâng cao trình độ thao tác cho các kíp chiến đấu đánh địch trong điều kiện nhiễu điện tử phức tạp nhất.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:29:59 pm
        Về mặt kỹ thuật cần được kiểm tra chặt chẽ, rà soát lại toàn bộ tần số đồng bộ làm việc giữa đài và đạn tên lửa. Sự ảnh hưởng tác động về nhiễu giữa trận địa nọ với trận địa kia trong cùng một khu vực. Hệ số làm việc về cánh sóng ngòi nổ vô tuyến của từng quả đạn. Cuối cùng ta đề nghị chuyên gia Liên Xô giúp ta lắp ráp thêm bộ phận kính ngắm quang học T3K (PA-OO) đặt trên nóc xe thu phát (PA) để khi địch gây nhiễu điện tử nặng, phức tạp, ta sẽ sử dụng kính ngắm quang học để đánh. Mọi công việc đang được triển khai rất khẩn trương thì Phòng Khoa học quân sự, Phòng Tên lửa và một số phòng của Cục Kỹ thuật nhận được bản tin của Phòng Quân báo thông báo:

        Giữa tháng 5 năm 1972, không quân địch vào đánh các mục tiêu ở Tây Nam Hà Nội, Trung đoàn pháo phòng không 233 bảo vệ khu công nghiệp Cao - Xà - Lá đã bắn rơi tại chỗ 1 F4. Tên thiếu tá giặc lái đã bị bắt sống ở khu vực Kim Giang. Với câu hỏi của ta được đặt ra, hắn đã khai về trang thiết bị nhiễu điện tử và đội hình bay đối với phi đội của chúng. Hắn khai: Trước những năm 1972, mỗi phi đội 4 chiếc máy bay của chung tôi chỉ được trang bị một máy gây nhiễu QRC- 160 cho chiếc đi đầu, bay ở giữa, để che giấu đội hình của cả tốp 4 chiếc. Vì vậy chúng tôi phải bay với gián cách hẹp, chiếc nọ chỉ cách chiếc kia 80m đến 120m. Trắc thủ tên lửa của ta chỉ cần bám sát giữa dải nhiễu thì đạn tên lửa bay giữa hai máy bay có gián cách từ 40m đến 60m, đủ khả năng cho cánh sóng ngòi nổ vô tuyến của đạn làm việc (giới hạn cánh sóng ngòi nổ vô tuyến của đạn làm việc < 8Om). Khi cánh sóng ngòi nổ vô tuyến tích đủ 8 xung sẽ kích cho đầu đạn tên lửa nổ, các mảnh đạn văng ra như hình chóp nón, chụp lấy máy bay để phá hủy, nên có khi một quả đạn bắn rơi 2 chiếc máy bay địch là có cơ sở khoa học.

        Hắn khai tiếp: Đến đầu năm 1972, chúng tôi đều được trang bị các loại máy bay gây nhiễu ALQ-87 hoặc ALQ-101 có cường độ và công suất gây nhiễu lớn hơn QRC-160. Mỗi máy bay chúng tôi đều được trang bị từ một đến hai chiếc loại này. Đội hình bay của chúng tôi đã được mở rộng, gián cách bay giữa chiếc nọ cách chiếc kia nới rộng tới 300 - 600m. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân mà hàng trảm đạn tên lửa đã phóng lên trong hơn tháng qua đều vượt qua mục tiêu và tự hủy. Nếu trắc thủ tên lửa ta cứ bám sát giữa dải nhiễu như năm 1967, 1968 thì gián cách giữa đạn và máy bay địch đã có khoảng cách từ 150 - 300m, vượt quá khả năng cánh sóng ngòi nổ vô tuyến của đạn làm việc (vì chỉ trong giới hạn 80m trở vào) nên không kích đạn tên lửa nổ, mà đạn sẽ vượt qua mục tiêu, tự hủy. Đây là bài học đắt giá phải trả, vì ta đã dừng lại và dùng cách đánh cũ, kinh nghiệm cũ từ năm 1967 + 1968 nên đã không bắn rơi tại chỗ máy bay địch.

        Cũng qua lời khai của giặc lái kết hợp với kính quang học lắp trên xe thu phát (HA-OO), ta nhận thấy nếu trắc thủ quang học T3K ngắm vào chiếc thứ nhất trong tốp kể từ trái sang phải ở cự ly 30 - 40km thì trắc thủ tên lửa trong xe điều khiển sẽ phải căn vào 1/5 dải nhiễu, chiếc thứ hai là 2/5, chiếc thứ ba là 3/5 và chiếc thứ tư là 4/5 của dải nhiễu. Từ đó kết hợp giữa kíp chiến đấu trong xe điều khiển với kíp trắc thủ T3K trên xe thu phát đã bám sát chính xác vào từng chiếc máy bay địch để diệt chúng. Các trận chiến đấu của ta lại giành thắng lợi giòn giã, liên tục bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch. Nếu chỉ đơn thuần dùng PA-OO để đánh thôi thì không đánh được vì máy bị dao động nhiều, không ổn định, đạn không được điều khiển.

        Bài học này đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm về công tác nghiên cứu địch. Ngày nay khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, đòi hỏi công tác nghiên cứu phải nắm địch thường xuyên, liên tục vững chắc bằng nhiều nguồn tin tức khác nhau, kể cả tài liệu tham khảo của tù binh địch.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:32:12 pm
     
NHỮNG TRẬN ĐÁNH CHÌM TÀU BIỆT KÍCH MỸ NGỤY TRÊN BIỂN ĐÔNG CỦA MÁY BAY AN-2

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên             
Nguyên Tham mưu phó Quân chủng       

        Đầu năm 1966, Mỹ - ngụy đã dùng tàu biệt kích cỡ nhỏ tốc độ nhanh, xâm nhập vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An để thả người nhái ra miền Bắc Việt Nam. Tàu biệt kích thường hoạt động từ nửa đêm về sáng và được sự yểm hộ của máy bay và tàu chiến Mỹ trên biển Đông. Tàu biệt kích hoạt động ngoài tầm hỏa lực của pháo bờ biển và có tốc độ nhanh, hải quân khó đánh. Cho nên lúc đó Bộ đã giao cho Quân chủng Phòng không - Không quân dùng máy bay để tiêu diệt chúng. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, Tư lệnh Phùng Thế Tài và Tham mưu trưởng Quấn chủng Hoàng Ngọc Diêu đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn Không quân vận tải 919 và phòng Không quân Bộ Tham mưu nghiên cứu để đánh tàu biệt .kích trên vùng biển Thanh Hóa từ Sầm Sơn đến Hòn Mê. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Trung đoàn trưởng 919 Khúc Đình Bính và phòng Không quân Bộ tham mưu do đồng chí Lê Vãn Thọ làm Trưởng phòng và đồng chí Hòa Chấp Phó phòng, Ban dẫn đường đã trực tiếp nghiên cứu phương án dùng máy bay vận tải An-2 để đánh tàu biệt kích ban đêm trên biển gần là thích hợp nhất, vì An-2 có tốc độ nhỏ 120 - l8Okm/h, người lái đã bay đêm và cực thấp rất giỏi. Tổ bay của đồng chí Phan Như Cẩn đã bay phun thuốc trừ sâu cho rừng thông Nghệ An, từng bay thấp sát ngọn thông và kéo theo cả cành thông về hạ cánh an toàn. Qua đề xuất của Trung đoàn 919 và phòng Không quân Bộ tham mun, Tư lệnh Quân chủng đã giao nhiệm vụ đánh tàu biệt kích cho phi đội An-2. Đây là nhiệm vụ rất mới mẻ, chưa từng làm bao giờ, lại tiến hành trên vùng biển mà Không quân và Hải quân Mỹ khống chế hoàn toàn nên gặp không ít khó khăn, trở ngại trong công tác chuẩn bị và hiệp đồng chiến đấu với Hải quân và Binh chủng Rađa mà trực tiếp là đồng chí Tâm Trinh, đổng chí Liên, Không quân đã bố trí Sở chỉ huy phía trước để dẫn đường cho An-2 tại đại đội Rađa cảnh giới 19 ở Quảng Xương - Thanh Hóa, do đồng chí Vũ Đức Bình trợ lý dẫn đường Quàn chủng làm nhiệm vụ dẫn chính. Tại sở chi huy tiền phương (C19) tổ chức thu tình báo từ hai mạng, mạng thứ nhất từ rađa 402 của Hải quân để phát hiện và bám sát tàu biệt kích, mạng thứ hai từ rađa cảnh giới C19 để bám sát và dẫn máy bay An-2 của ta. Khi An-2 cất cánh và bay đến khu vực phải tuyệt đối giữ bí mật, từ Gia Lâm đến dãy núi Tam Điệp tiếp tục hạ độ cao để tiến vào khu vực chiến đấu. Từ sân bay Gia Lâm đến dãy núi Tam Điệp, An-2 tự bay theo đường bay đã chuẩn bị trước và sở chỉ huy Quân chủng chịu trách nhiệm dẫn đường, khi cần thiết (do đồng chí Chuyên trợ lý dẫn dường Quân chủng chịu trách nhiệm dẫn chính). Sau khi vượt qua dãy núi Tam Điệp, sẽ do đồng chí Bình ở SCH đặt tại C19 dẫn đường trực tiếp An-2 vào khu vực chiến đấu. Biên đội đánh tàu biệt kích của An-2 gồm 2 chiếc, một chiếc thả pháo sáng và một chiếc đánh. Sau hơn một tháng làm công tác chuẩn bị, đêm 7-3-1966 biên đội Cẩn + Ngoan lần đầu tiên xuất kích đã đánh chìm tàu biệt kích của ngụy trên vùng biển Sầm Sơn - Thanh Hóa. Trận này do đồng chí Ngoan thả pháo sáng và đồng chí Cẩn đánh.

        Đêm 13 rạng sáng 14 - 3 - 1966, Biên đội Huấn + Ngoan xuất kích lần thứ hai tiếp tục đánh chìm chiếc tàu biệt kích thứ 2 của ngụy trên vùng biển Thanh Hóa (gần Hòn Mê). Trận này đồng chí Ngoan thả pháo sáng đồng chí Huân đánh. Sau khi bị đánh chìm 2 tàu, tháng 5, 6, 7 - 1966 không thấy tàu biệt kích địch hoạt động.

        Đêm 13 rạng sáng 14-8-1966 tàu biệt kích xuất hiện trở lại. Biên đội Cẩn + Thúc xuất kích và tiếp tục đánh chìm chiếc thứ 3 của địch. Trong vòng 6 tháng địch cho 3 tàu biệt kích xâm nhập ra miền Bắc (khu vực Sầm Sơn) đều bị Không quân ta đánh chìm.

        Chiến công đánh chìm 3 tàu biệt kích của địch trên vùng biển Thanh Hóa lúc đó không vang dội bằng việc bắn rơi hàng trăm máy bay hiện đại của không quân Mỹ nên cũng ít người biết đến. Riêng tôi ỉà một trong những người may mắn được tham gia thì mãi mãi ghi nhớ và không bao giờ quên, vì nó có những khía cạnh rất độc đáo Việt Nam, mà có thể trả lời cho thế giới hiểu thêm. Tại sao Việt Nam lại có thể thắng được Mỹ.

        An-2 là loại máy bay cổ lỗ sĩ của Liên Xô chế tạo dùng ở các nông trường, làm nhiệm vụ gieo hạt, rải phân, phun thuốc trừ sâu, nhưng khi được giao cho người Việt Nam thì đã trở thành một loại vũ khí lợi hại không kém gì hạm đội của địch. Khía cạnh thứ 2 theo tôi suy ngẫm: Việc đánh chìm 3 tàu biệt kích của địch tuy số lượng không nhiều nhưng nó góp phần làm thất bại âm mưu tổ chức thả người nhái ra hoạt động phá hoại miền Bắc. Khía cạnh thứ 3 là việc đánh giá công lao chưa được thỏa đáng. Sau hơn 40 năm Nhà nước ta đã xét khen thưởng, truy tặng nhiều chiến công, riêng tổ bay An-2 làm nhiệm vụ chỉ được đồng chí Phan Như Cẩn là anh hùng, còn nhiều đồng chí khác chiến đấu, trong tổ chức chỉ huy chưa được nhắc đến thỏa đáng. Trên đây là một số trận đánh mà tôi nhớ và có ghi chép chính xác.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:37:01 pm
       
CHÚNG TÔI TIẾP QUẢN SÂN BAY ĐÀ NẴNG

Đại tá Nguyễn Bắc                         
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng       

        Trong cuộc họp từ ngày 30/9 - 8/10/1974, Bộ Chính tri hạ quyết tâm chiến lược hoàn thành giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976.

        Căn cứ Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng ngày 9/11/1974 Bộ Tham mưu chuẩn bị 2 kế hoạch:

        Al: Kế hoạch sử dụng lực lượng Phòng không - Không quân chiến đấu trên cả nước (chủ yếu miền Nam).

        A2: Kế hoạch chiến đấu Phòng không - Không quân ở miền Bắc.

        Đồng thời Bộ Tham mưu tổ chức bộ phận tiền phương Quân chủng đi B theo chỉ thị của Quân chủng. Tổng số bộ phận này khoảng gần 700 người, là tổ chức tiền phương có quy mô lớn nhất, thời gian dài nhất từ trước tới nay của Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong đó, quân số của Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng có 120 người, gồm cả bộ phận thông tin của Trung đoàn 26 và công binh của Trung đoàn 28, Các cơ quan Quân chủng, các binh chủng Không quân, Rađa đểu tổ chức bộ phận tiển phương riêng: Chuẩn bị đi B 2 năm 1975, 1976.

        Ngày 15/2/1975 SCH tiền phương Quân chủng bắt đầu hành quân. Đầu tháng 3/1975 đến Tà Cơn, Sở chỉ huy tiền phương bố trí trong khu vực Sư đoàn 377 thuộc Bộ tư lệnh 559.

        4 - 25/3/1975: Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng.

        21 - 26/3/1975: Chiến dịch Thừa Thiên Huế thắng lợi.

        29/3/1975: Ta giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng.

        18/3/1975: Bộ Chính trị hạ quyết tâm hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975.

        31/3/1975: Bộ Chính trị hạ quyết tâm "giành thắng lợi hoàn toàn, tốt nhất trong tháng 4/1975 trước mùa mưa. Tư tưởng chỉ đạo: Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng.

        Tối 28/3/1975, Sở chỉ huy tiền phương bắt đầu cơ động, chia làm 2 bộ phận, phần lớn lúc hướng hành quân theo đường Trường Sơn triển khai ở Plâycu, bên cạnh cơ quan chỉ huy phòng không chiến dịch do Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Hoàng Ngọc Diêu phụ trách trực thuộc Bộ tư lệnh chiến dịch binh chủng hợp thành. Một bộ phận nhỏ Sở chỉ huy tiền phương do tôi (Nguyễn Bắc) theo đường 1 vào thành phố Đà Nẵng.

        Tiếp quản, điều hành sân bay Đà Nẵng:

        6 giờ sáng 29/3/1975, chúng tôi tới Đà Nẵng, thành phố trong tình trạng náo loạn, dày đặc bọn lính ngụy thất trận, súng ống quân trang vứt đầy đường, người dân hốt hoảng, bị cướp bóc, kêu la, tìm đường rời khỏi thành phố.

        Tôi vào Sở chỉ huy Sư đoàn 1 Không quân ngụy do Chuẩn tướng Phan Thú Tiêu chỉ huy. Trên bàn làm việc, còn cốc sữa đang uống dở, chiếc mũ Kêpi còn không kịp mang, giấy tờ sổ sách vứt tung tóe, tên chỉ huy vội lên trực thăng bay ra biển. Cạnh bãi để máy bay, có hàng trăm ô tô, xe máy của bọn ngụy để lại, nhiều xe vẫn còn nổ máy.

        Khoảng 10 giờ cùng ngày, đồng chí Hoàng Ngọc Diêu gặp 2 trưởng đoàn của tiền phương Quân chủng (Bộ Tham mưu do đồng chí Bắc phụ trách, Cục Chính trị do đồng chí Tiếu phụ trách) giao nhiệm vụ điều hành sân bay Đà Nẵng:

        - Nhanh chóng tiếp thu sân bay Đà Nẵng, kiểm kê tài sản, máy bay thu hồi, sửa chữa các phương tiện kỹ thuật, máy bay, khẩn trương chuyển loại cho phi công, ta dùng máy bay địch để đánh địch.

        - Nhanh chóng nghiên cứu hệ thống trận địa PK bảo vệ TP Đà Nẵng mới giải phóng, giúp sư đoàn PK 375 triển khai chiến đấu, thay cho sư đoàn PK 673 tiến vào phía Nam theo Quân đoàn 2.

        - Khôi phục hoạt động sân bay, nhanh chóng mở cầu đường bay Đà Nẵng - Huế - Hà Nội, Đà Nẵng - Buôn Mê Thuột - Plâycu và ngược lại chuyên chở cán bộ ra Bắc vào Nam công tác, chiến đấu, vận chuyển đạn dược, thuốc men, lương thực... chi viện cho chiến trường.

        Hàng ngày, 16 giờ giao ban, sau đó tôi dùng điện cơ yếu báo cáo công việc về SCH cơ bản Quân chủng và xin ý kiến chỉ đạo của Quân chủng.

        - Trưa ngày 29/3, từ sân bay Phú Bài, 1 Mi-8, sau đó 1 IL18 chở cán bộ, nhân viên KQ đến sân bay Đà Nẵng, khôi phục hệ thống thông tin liên lạc, điện nước, xăng dầu, trạm dẫn đường ở bán đảo Sơn Trà...

        - Ngày 5/4, cầu hàng không đã mở tuyến Hà Nội - Huế, Hà Nội - Đà Nẵng vào sau đó từ Đà Nẵng, các chuyến bay lên các sân bay ở Tây Nguyên.

        Việc thu hồi các máy bay UH1 nằm trên núi, dưới ruộng, lúc đầu do các phi công ngụy giác ngộ lái về sân bay Đà Nẵng. Có một lần, anh Phạm Ngọc Lan và tôi ra kiểm tra sân bay, một phi công ngụy thấy anh Lan chăm chú quan sát UH1, đến gần anh nói: "Nếu ông muốn lái, tôi xin hướng dẫn", anh Lan xua tay, bước lên máy bay bay một vòng rồi nhẹ nhàng hạ cánh. Người phi công này tấm tắc khen: 'Các ông không có UH1 mà đã lái được ngay thì giỏi quá:. Anh ta không biết là năm 1970 có 1 người lái ngụy tên là Hùng do ta cài vào, đã cướp UH1 ở sân bay Biên Hòa, một số người lái của ta đã được Quân chủng chọn học sử dụng do anh Hùng huấn luyện. Có lẽ ý tưởng của Quân chủng sẽ tiếp tục "dùng máy bay địch đánh địch” đã manh nha từ thời kỳ đó.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:38:41 pm
        - Sáng 1/4, tôi đưa đồng chí Vũ Xuân Vinh, Tư lệnh sư đoàn phòng không 375 vào gặp đồng chí Nguyễn Chánh - Phó tư lệnh Quân khu 5 để báo cáo nhiệm vụ của sư đoàn PK tại Đà Nẵng. Đồng chí Phó tư lệnh Quân khu 5 đã phổ biến tình hình, nhiệm vụ quân sự nói chung, nhiệm vụ phòng không nói riêng vùng mới giải phóng.

        Đà Nẵng là Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn nhất, cũng là căn cứ hải, lục, không quân lớn nhất của ngụy ở miền Trung. Sau giải phóng, TP Đà Nẵng còn gần 11 vạn quân ngụy tan rã tại chỗ, gần 3 ngàn ngụy quyền cải tạo tại chỗ, 2 ngàn cảnh sát, 7 ngàn người làm việc cho CIA, 2 vạn rưỡi gái điếm, hàng chục vạn người thất nghiệp, phạm pháp, mắc các bệnh xã hội...

        18/4/1975, toàn bộ lực lượng phòng không 375 đã bố trí sẵn sàng chiến đấu, sở chỉ huy sư đoàn đặt tại Phước Tường, nơi trước là Trung Tâm hồi lực của quân ngụy.

        3/4/1975, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân chủng vào Đà Nẵng kiểm tra tình hình. Sau khi báo cáo tôi đưa Bộ tư lệnh Quân chủng và một số thủ trưởng cơ quan lên bán đảo Sơn Trà. Trên đỉnh núi, 2 rađa bị địch đốt cháy rụi. Vòm che khí tài do quá cao địch không kịp phá hủy. Vòm làm bằng chất liệu tổng hợp, bảo vệ ảnh hưởng mọi thời tiết, nhưng không ảnh hưởng tới việc phát sóng của rađa, giữ vững chất lượng của khí tài nên chạy liên tục 24/24 giờ.

        8/4/1975, đồng chí Nguyễn Thành Trung lái F5 ném bom dinh độc lập của ngụy, rồi hạ cánh ở sân bay Phước San.

        9/4/1975, đồng chí Khúc Đình Bính đưa Nguyễn Thành Trung về Đà Nẵng yêu cầu chúng tôi nuôi dưỡng, bảo vệ đồng chí Trung, chờ làm nhiệm vụ đặc biệt.

        16/4/1975, Quân đoàn 2 giải phóng Phan Rang, bắt sống tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy.

        17/4 một cán bộ cục 2 đưa 2 tên này ra sân bay Đà Nẵng, yêu cầu chúng tôi đưa ra Hà Nội gấp, để cấp trên khai thác kế hoạch phòng thủ chiến lược đối với Sài Gòn nhằm bổ sung kịp thời kế hoạch chiến dịch của ta. Chỉ trong thời gian ngắn, máy bay lập tức cất cánh bay.

        Vài ngày sau đó, chúng tôi rất đau đớn tiếp nhận thi hài đồng chí Bùi Đăng Tự - Tư lệnh sư đoàn PK 673 bị du kích ta bắn nhầm ở khu vực Tuy Phong, Ninh Thuận. Đồng chí Tự nguyên là Tư lệnh Sư đoàn PK 363 bảo vệ Hải Phòng, là 1 cán bộ có đức, có tài, được mọi người yêu mến. Thi hài đồng chí Tự được chuyển bằng máy bay về an táng tại Hà Nội.

        20/4/1975, 1 IL-18 vào Đà Nẵng chở một số phi công và thợ máy để huấn luyện chuyển loại A37.

        16 giờ 40 phút ngày 28/4/1975, Phi đội Quyết thắng 5 chiếc A37 do đồng chí Nguyễn Văn Lục chỉ huy, Nguyễn Thành Trung dẫn đường, cất cánh từ căn cứ Phan Rang, bay ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất làm cho sân bay bị tê liệt hoàn toàn, Phi đội Quyết thắng trở về thắng lợi, an toàn.

        Mũi tiến công đường không của Phi đội Quyết thắng, phối hợp với 5 mũi tiến công binh chủng hợp thành của các quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tạo sức mạnh áp đảo, buộc ngụy quyền trung ương Sài Gòn phải tuyên bố đầu hàng vô điểu kiện hồi 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

        Trong một tháng tại thành phố Đà Nẵng mới giải phóng (29/3 đến 30/4/1975) với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm cao, tổ công tác sân bay Đà Nẵng cùng các lực lượng bạn đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc tại chỗ và chi viện trực tiếp cho chiến trường, chủ yếu cho chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam.

        Bảo đảm an toàn trong việc tiếp quản, quản lý sân bay Đà Nẵng, thu hồi, sửa chữa, khôi phục các loại máy bay vào hoạt động, mở các đường bay ra Bắc, đi Tây Nguyên, tạo điều kiện cho các phi công huấn luyện chuyển loại máy bay của địch chuẩn bị cho chiến đấu.

        Cùng với Quân khu 5 và sư đoàn phòng không 375, triển khai hệ thống phòng không kết hợp lực lượng PK của sư đoàn với lực lượng phòng không địa phương bảo vệ vùng mới giải phóng.

        Trong quá trình chi viện cho chiến dịch Hồ Chí Minh, không quân vận tải đã thực hiện 163 chuyến bay, chuyên chở 4250 cán bộ, chiến sĩ, vận chuyển 120,7 tấn vũ khí, thiết bị (trong đó có 48 tấn đạn pháo cho xe tăng) hàng tấn bản đồ thành phố Sài Gòn, ảnh Bác Hồ, băng cờ, biểu ngữ, truyền đơn, thuốc men..., đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:42:15 pm
     
ĐOÀN CÔNG TÁC ĐÁNH B-52

Đại tá Lê Đức Khuê                     
Nguyên cán bộ tham mưu Quân chủng       

        Trung đoàn 238 đã vào Vĩnh Linh hơn 1 năm nhưng chưa tổ chức được trận đánh B-52 nào. Trong buổi giao ban của Quân chủng Phòng không - Không quân tháng 6 năm 1967, Tư lệnh Quân chủng đã quyết định cử một đoàn cán bộ do đồng chí Hoàng Văn Khánh, Phó Tư lệnh Quân chủng vào trực tiếp chỉ đạo trung đoàn để nắm tình hình và giúp giải quyết những khó khăn.

        Đoàn cán bộ gồm chủ yếu là của cơ quan tham mưu Quân chủng. Đồng chí trưởng đoàn cử tôi - phó phòng 22  làm tham mưu trưởng cho đoàn.

        Nhiệm vụ trước tiên tôi phải làm là chuẩn bị bản đồ 1/100.000 khu vực tác chiến và nắm chắc các trọng điểm phải đi qua theo chặng đường hành quân đã chọn.

        Tôi và đồng chí Huệ trợ lý trinh sát cố nắm chắc quy luật hoạt động và đánh phá, ngăn chặn giao thông của địch, từ phà Bến Thủy trở vào, đặc biệt từ Đèo Ngang qua đất Quảng Bình đến Vĩnh Linh. Từ đó đề nghị cách đi, giờ xuất phát, giờ nên qua các trọng điểm.

        Khi đến nông trường Phú Quý (Việt - Trung), chúng tôi chú ý đến trọng điểm ngầm Đá Mài và giờ địch kiểm soát thường vào lúc 16 giờ 00. Vì vậy, tôi đề nghị nên đi sau 16 giờ 00, tức là sau khi thấy máy bay trinh sát vũ trang bay qua thì đoàn nên xuất phát ngay. Tuy nhiên, một số đồng chi có ý kiến nên đi sớm vì đường xa và còn phải qua phà Quán Hầu. Thế là chúng tôi lên đường trước 16 giờ 00.

        Vượt qua ngầm Đá Mài và xe đương chạy trên đường ra hướng Đồng Hới dọc theo dãy triền đồi mới trồng sắn đã trơ trụi. Sẵn cảnh giác, tôi phát hiện được 2 F4 bay từ Long Đại theo đường 15 ra Đá Mài. Thế là mọi người nhanh chóng rời xe chạy tản vào hai bên ruộng sẵn. Còn tôi và lái xe cố gắng cho xe dạt ra cạnh đường, sửa lại ngụy trang và ẩn nấp. May thay máy bay địch bị thu hút bởi hỏa lực của đại đội cao xạ bố trí gần đó bắn lên nên không phát hiện được chúng tôi. Kinh nghiệm đầu tiên khi qua vùng trọng điểm mà không chú ý nắm quy luật hoạt động của địch là như vậy.

        Vào đến Vĩnh Linh, cảm giác đầu tiên là thấy cường độ hoạt động của địch rất cao và liên tục. Đêm nào đơn vị cơ động cũng gặp tổn thất do địch đánh phá, tuy nhiên hoạt động của nhân dân Vĩnh Linh vẫn thấy bình thường, trẻ em vẫn chơi bời vui vẻ khi trên đường đi học về. Khi họ nắm vững quy luật hoạt động của địch thì họ cảm thấy như ai làm việc của người ấy.

        Chúng tôi vào Vĩnh Linh đúng lúc chiến dịch Cồn Tiên đương ở lúc cao điểm. Hàng ngày trung bình có 3 đợt B-52 ném bom rải thảm dải phân cách để đẩy lùi sự tiếp cận của bộ đội ta vào sát cứ điểm Cồn Tiên. Trung đoàn 238 vẫn tích cực chuẩn bị trận địa ở đội 4 để nhanh chóng đánh trận đầu.

        Tối 30/8/1967, Tiểu đoàn 84 được lệnh vào cấp I, theo chỉ thị của trên, tiểu đoàn phát sóng nhưng không bắt được B-52, lại bắt phải F. Thông thường khi trên thông báo có B-52 đều chính xác nhưng đêm ấy B-52 không bay ra.

        Trước tình hình trên, việc hạ quyết tâm tiếp tục ở lại để chiến đấu hay rút ra để chuẩn bị trận địa khác là vấn đề hết sức gây cấn. Một cuộc họp chớp nhoáng của Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 238. Cơ quan tham mưu chỉ đạo đánh B-52 cũng hội ý chớp nhoáng. Có 2 ý kiến tất nhiên là ở lại tiếp tục chiến đấu hoặc rút lui chuẩn bị trận khác.

        Việc rút lui là một quyết tâm phải có lý lẽ rất xác đáng và có tính thuyết phục. Cần hiểu được hết tính năng của hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra, chúng hoạt động theo nguyên lý đơn xung nên chỉ cần 1 sơ hở nhỏ chúng đã phát hiện được tín hiệu của ta và định vị được vị trí. Tuy nhiên, hiểu được như thế không đơn giản, có người còn cho là quá đề cao địch.

        Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 238 là kiên quyết ở lại chiến đấu vì chưa bị lộ. Đoàn công tác cố gắng thuyết phục nhưng không thể thay đổi được và đồng chí trưởng đoàn tuy là Phó Tư lệnh nhưng khi trung đoàn đã phối thuộc Quân khu IV chỉ huy nên đành xem kết quả như thế nào. Riêng chúng tôi là những thành viên tuy đã thấy hậu quả sẽ xảy ra nhưng đành chịu đứng nhìn sự việc sắp xảy ra và cho rằng lý do không đánh được kéo dài chính là ở đây.

        7 giờ 30 phút ngày 31/8/1967 một máy bay F100F bay rất thấp sục sạo trên khu vực nghi ngờ. Tiểu đoàn pháo 37mm bảo vệ trận địa tên lửa luôn bám sát chặt chiếc máy bay trinh sát này. Khi chiếc máy bay trinh sát vừa bay ra khỏi vùng trinh sát thì từng tốp F4 với đội hình tập trung 4 chiếc bàn tay xòe có dẫn đường của đài Tacan đến tọa độ nhất định thả hàng ỉoạt bom xuống trận địa. Cuộc ném bom tọa độ rải ra rất đều trên toàn bộ mặt bằng của đội 4. Bên trong trận địa còn 1 mình đồng chí Dũng hói, đồng chí nhanh chóng chạy đi chạy lại ngụy trang những chỗ bị bom hất tung ra bị lộ. Sau mỗi loạt bom chiếc F100F bay vòng lại kiểm soát kết quả. Khi chiếc F100F vừa bay thẳng, một loạt đạn đồng loạt bắn lên, chiếc máy bay bị cuốn theo làn đạn bốc cháy. Tên giặc lái cố nâng độ cao bay ra hướng Đông, nhưng chưa đến Vĩnh Mốc, 2 tên giặc lái nhảy dù ra, máy bay trực thăng của địch từ bờ Nam bay ra kịp thời bốc cướp mất giặc lái. Chiếc F100F rơi khiến trận tập kích bằng tọa độ phải bỏ dở.

        Tiểu đoàn 84 rút ra tương đối an toàn, tiểu đoàn cất giấu để chuẩn bị đánh trận khác. Không hiểu về vấn đề này, sau này trung đoàn đã rút được kinh nghiệm gì? Ngày 17/9/1967 tại trận địa đội 3 nông trường Quyết Thắng, Trung đoàn 238 đã đánh trận đầu tiên vào đúng đối tượng B-52 và đã được công nhận bắn rơi 2 chiếc, cũng sau đấy chiến dịch Cồn Tiên kết thúc. Được tin chiến dịch kết thúc, chúng tôi đề nghị SCH trung đoàn nên trở về Vĩnh Chấp nhưng trung đoàn cũng không nghe và trả lời rằng: Chúng tôi cần ở lại tổng kết. Đoàn có ý kiến nên về Vĩnh Chấp là vì: Sau chiến dịch, không quân địch thường tổ chức đánh quét 2 bên đường giao thông để sát thương bộ đội trên đường rút khỏi mặt trận. SCH Trung đoàn 238 nằm sát đường 15 nên dễ bị địch đánh trúng.

        Kết quả là: 9 giờ 00 ngày 19/9/1967, máy bay B-52 ném bom phát quang rải thảm dọc đường 15, một loạt bom rơi vào đúng sở chỉ huy. May thay đoàn công tác vừa xuống hầm kịp nên không ai bị thương vong. Riêng

        Đại đội 10 của trung đoàn có một số bị thương vong trong khi đi cứu chữa và giải quyết hậu quả.

        Tại vùng chiến tranh ác liệt, sống chết luôn kề bên, có thê lúc này đang tranh cãi, nhưng chốc nữa đã xa nhau vĩnh viễn rồi. Những lúc ấy ai dám nói lên được sự thật, được đúng ý nghĩ của mình, dù có lúc bạn muốn tránh xa cũng không được. Suy cho cùng nếu không mạnh dạn nói đúng ý nghĩ của mình với động cơ hết sức xây dựng, có khi bạn sẽ phải chuốc lấy hậu quả, lúc ấy hiểu ra thì đã quá muộn.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:44:49 pm
      
TRUNG ĐOÀN 238 Ở CHIẾN TRƯỜNG VĨNH LINH

Đại tá Nguyễn Văn Khuyến              
Nguyên cán hộ tham mưu Quân chủng        

        Trung đoàn tên lửa 238 chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của thủ trưởng Bộ và Bộ Tư lệnh Quân chủng, tổ chức các đoàn cán bộ đi nghiên cứu đường hành quân qua cầu phà, các trọng điểm đánh phá mà trung đoàn sẽ vượt qua. Hành quân cuốn chiếu, từng tốp khí tài, xe máy bệ đạn, các tiểu đoàn cao xạ và tiểu đoàn kỹ thuật, lần lượt vượt qua các trọng điểm. Ngày 5/4/1966 Tiểu đoàn 84 là đơn vị cuối cùng đến vị trí tập kết an toàn.

        Tiểu đoàn 81 có đủ điều kiện chiến đấu nhưng không được giao nhiệm vụ diệt B-52.

        Sau khi đến vị trí tập kết, thường vụ, chỉ huy trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 81 tổ chức đi tìm trận địa và nghiên cứu quy luật hoạt động của B-52. Nhờ có cậu bé chăn trâu dẫn lên đồi cao để quan sát đội hình B-52 đánh ở Tây Cồn Tiên, cán bộ và kíp chiến đấu tận mắt nhìn rõ đội hình bay của B-52 theo đội hình bàn tay lệch, giãn cách tốp cách nhau 3-4 phút. Mỗi lần bay ra đánh thường bay theo đội hình lớn 9 chiếc.

        Ngày 10/4/1966, Tiểu đoàn 81 triển khai chiến đấu ở trận địa dã chiến đập La Ngà gần Hồ Xá, đối diện với dốc Miếu.

        9 giờ 30 phút ngày 11-4-1966, tiểu đoàn trực ban phát hiện nhiều tốp mục tiêu độ cao trên l0 km, đường bay ổn định nghi có B-52 ra đánh.

        Tiểu đoàn trưởng Phạm Sơn lệnh cấp 1: Tốp thứ nhất bay vào cách khoảng 40km, đài điều khiển bắt được một tốp 3 chiếc, tốc độ 220m/s, độ cao trên l0 km, tín hiệu to và rõ, không có nhiễu trong đội hình, bám sát tự động (AC), tiểu đoàn trưởng xin tiêu diệt, đồng chí Phạm Sơn báo cáo trung đoàn trưởng, được trả lời chờ, thế là mấy phút sau loạt bom B thứ nhất nổ ở tây Cồn Tiên trên 18km, khoảng 3-4 phút sau các tốp B thứ hai, thứ ba ra đánh, tiểu đoàn đề nghị đánh (điều kiện xạ kích tốt) được sở chỉ huy trung đoàn trả lời chờ. Không được đánh để đánh tập trung (lúc này Tiểu đoàn 83 khí tài hỏng) và bố trí sau Tiểu đoàn 81 lớn hơn l0 km, loạt bom thứ hai, thứ ba nổ tiếp. Thế là yếu tố bí mật bất ngờ đánh B của Tiểu đoàn 81 đã qua đi, thời cơ tiêu diệt B độc nhất vô nhị không còn vì ở chiến trường Vĩnh Linh, địa hình rất phức tạp. Công tác bảo đảm kỹ thuật rất khó khăn, hệ số chiến đấu cao nhất mới có 50% tiểu đoàn sẵn sàng, điều kiện bố trí địa hình đánh tập trung không có.

        Trong mấy năm Trung đoàn 238 ở chiến trường Vĩnh Linh chẳng có trận nào đánh tập trung, danh từ đánh tập trung chỉ là ngụy biện để chữa cháy cho tổ chức chỉ huy khô, cứng, thiếu linh hoạt nên Tiểu đoàn 81 mới mất thời cơ tiêu diệt B. Đài điều khiển đã phát sóng, tần số bị lộ, yếu tố bí mật bất ngờ không còn. Sau khi Tiểu đoàn 81 bỏ qua cơ hội tiêu diệt B, địch tăng cường hoạt động trinh sát, dùng pháo hạm, máy bay cường kích đánh trận địa tên lửa, cao xạ, gây cho ta tổn thất. Chính trị viên tiểu đoàn và trợ lý tác chiến hy sinh, một số cán bộ chiến sĩ bị thương. Đồng thời máy bay cường kích của hải quân đánh Tiểu đoàn 85, khí tài hỏng.

        Theo kế hoạch mặt trận Trị - Thiên mở màn chiến dịch, pháo binh của ta bắn dồn dập vào Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Hà, Khe Sanh. Mặt trận lệnh cho Trung đoàn 238 chưa đánh được B thì chỉ đánh máy bay cường kích và máy bay trinh sát để bảo vệ cho hậu phương chiến dịch.

        Ngày 10-5-1966 Tiểu đoàn 81 bắn rơi 2 máy bay AD6.

        Ngày 22-5-1966 Tiểu đoàn 81 bắn rơi 2 máy bay L19.

        Sau khi bị Tiểu đoàn 81 bắn rơi 4 chiếc, máy bay trinh sát OV-IO và LI9 của địch không dám bay hoạt động ở Vĩnh Linh và Quảng Bình trong một thời gian dài.

        Tôi nhớ lại cuộc chiến đấu của Trung đoàn 238 trên chiến trường Vĩnh Linh rất quyết liệt và phức tạp. Nó không những thử thách lòng dũng cảm gan dạ vô bờ, mà nó còn đòi hỏi những chiến binh sự sáng suốt, bản lĩnh, trí tuệ vững vàng và thông thái mới chiến thắng được kẻ địch. Chiến tranh đã qua đi, giữa bom rơi đạn nổ, không biết sợ là cái gì, nay nghĩ lại, điều đọng lại trong tôi tấm lòng yêu nước là cao hơn cả.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:16:14 am
         
CÂY RỪNG TRƯỜNG SƠN ĐÃ CỨU CHÚNG TÔI THOÁT CHẾT

Đại tá Lã Đình Chi                   
Nguyên Tiểu đoàn trưởng tên lửa       

        Sau khi trinh sát điện tử, đế quốc Mỹ thu được tần số làm việc của đài điều khiển tên lửa phòng không của ta, ngay tức khắc chúng đã chế tạo ra loại tự dẫn bay tới mục tiêu, có tên gọi tên lửa sơ rai. Hết sức nhạy bén và thức thời vì chúng có điều kiện công nghiệp hiện đại. Trên tên lửa sơ rai có bộ phận thu năng lượng cánh sóng của ta phát ra, năng lượng này được chuyển sang bộ phận tự động điều khiển theo tâm cánh sóng để bay tới mục tiêu. Tâm cánh sóng là nơi có năng lượng cao nhất, càng xa đường phân giác của cánh sóng năng lượng càng giảm dần, phát sóng sục sạo mục tiêu không có chiến thuật tinh vi, tên lửa sơ rai sẽ bay đúng đến trung tâm đài điều khiển.

        Tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh giao cho Bộ Tham mưu điều một tổ vào chiến trường, vừa nghiên cứu địch vừa giúp Tiểu đoàn 69 Trung đoàn 237 đánh B-52.

        Đoàn gồm có 3 người, Tô Ngội, Nguyễn Xuân Minh, Lã Đình Chi. Đồng chí Nguyễn Văn Thân được điều lên Bộ làm cán bộ đốc chiến của Bộ. Xe chạy một ngày từ Hà Nội đến Hà Tĩnh nghỉ, để động viên nhau mạnh khỏe trên đường dài, ai cũng góp chuyện vui. Nhưng vui nhất là anh Tô Ngội, trên người anh luôn có bảy túi kể cả khẩu súng ngắn. Mỗi lần lên xuống xe anh cứ đếm đủ bảy túi là anh yên tâm lên xe. Trong đó có một túi đựng gạo, nhưng bên trong không phải là gạo, bên ngoài cứ thấy từng khúc một. Anh em hỏi đây là túi gì, anh trả lời đây là túi khoai lang, có bảy củ cứ ăn hết là biết mình đã đi được một tuần, mình hay bị táo bón, trên đường đi công tác nó giúp tôi rất tốt.

        Trên đất Hà Tĩnh, Quảng Bình nghe anh kể nhiều chuyện, chuyện: "Chú bộ đội dám ngửi mồm con bọ”,... chuyện "chú bộ đội ăn gì trong màn có khói mà không mời bọ",... Đến Quảng Bình, chúng tôi đến sở chỉ huy của Sư 367 ở bản Troóc. Đồng chí Hoàng Vãn Khánh - Phó Tư lệnh Quân chủng gặp mặt và nói tình hình ở tiền phương cho chúng tôi nghe. Trước khi nói chuyện, đồng chí bảo, tôi có nhận được điện từ Quân chủng là có các đồng chí đến, trong đó có đồng chí tên là Chi, tôi cứ tưởng là Chi tư lệnh hóa ra là Chi chứ không phải là Tri. Tôi cười thầm nghĩ Tư lệnh thật khéo động viên.

        Ngày hôm sau xe chạy trên đường Trường Sơn chúng tôi mới nắm được, dạo ấy địch thường xuyên cho máy bay trinh sát suốt ngày nếu phát hiện thấy xe chạy hoặc người làm đường là chúng gọi điện cho máy bay oanh tạc đến đánh ngay. Xe tiếp đạn tên lửa trên đường Trường Sơn thật vô cùng khó khăn.

        Khi xe chạy trên đoạn đường gần đến cổng Trời, lúc lên dốc người hơi ngửa vể phía sau, núi rừng, gió mát đã làm cho người ta quên hẳn nhọc nhằn, chỉ còn thấy tâm hồn thật thảnh thơi, bay bổng, tôi ghi lại kỷ niệm bằng mấy câu thơ:

Đã đến Cổng Trời gió gió ơi!
Ai làm ta mát giữa mây trời
Giúp em gánh đất ngay bên vực
Dáng em thon thả lẫn chơi vơi.

        Gần tối, chúng tôi gặp một nhóm thanh niên xung phong đang thu dọn cuốc xẻng về nơi nghỉ ngoi. Chúng tôi hỏi nơi nghỉ nhờ, các cô bảo, lán của chúng em ở xa lắm, dốc lắm, các anh muốn nghỉ cứ xin mời, Chúng tôi hỏi sao lán làm xa thế, các cô bảo làm gần đường để nó đánh cho mà chết à. Đêm mà chúng phát hiện thấy ánh đèn ô tô, ngay tức khắc máy bay oanh tạc đến đánh tơi bời.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:17:22 am
        Quả thật quá dốc xa, ai không bám sát người dẫn đường nếu bị lạc sẽ không biết đi đường nào vì rất lắm lối đi. Đến nơi ở, chúng tôi đợi mãi không thấy anh Tô Ngội, anh em bàn nhau định cử người đi đón anh. Nhưng lắm lối đi như thế biết đón đường nào, đành quyết cứ để anh tự tìm đến.

        Đến giờ đi ngủ vẫn không thấy anh Tô Ngội về. Sáng hôm sau, anh em ra mặt đường để lên xe đi tiếp, leo dốc theo lối đi rõ nhất, đi khoảng 15 phút thấy anh Tô Ngội đang đứng giữa lối đi. Anh em hỏi tối qua anh ngủ ở đâu, anh trả lời, mình không tìm thấy anh em đành đứng tựa gốc cây cứ thế mà ngủ.

        Chúng tôi vừa thấy thương anh vừa thấy buồn cười cho một nhà quân sự. Tự nhiên trong tôi xuất hiện một cảm nhận, thanh niên xung phong làm đường Trường Sơn phải chịu đựng gian khổ không kém gì anh bộ đội Trường Sơn.

        Trận địa Tiểu đoàn 69 nằm cạnh đường 18 cách ngã ba từ đường Hồ Chí Minh khoảng 6km. Trận địa được cây cao rừng Trường Sơn che kín hoàn toàn. Triển khai xong chúng tôi làm việc ngay với kíp chiến đấu xe điều khiển. Để chống tên lửa sơ rai, tôi thống nhất với đồng chí Đông là sĩ quan điều khiển của tiểu đoàn: Khi vào cấp I, tôi ngồi sau anh, nếu phát hiện sóng sục sạo mục tiêu, tôi sẽ dập hai đầu gối vào hông anh, anh phải lia ăng ten đi một chút rồi tắt ăng ten, thấy tôi dập hai đầu gối vào hông anh hai cái với nhịp độ nhanh hơn, anh lại mở ăng ten sục sạo tiếp.

        Qua 6 lần vào cấp I, hiệp đồng giữa tôi và đồng chí Đông vẫn thực hiện tốt. Một hôm có đồng chí Nguyễn Văn Thân xuống, khi vào cấp I đồng chí ngồi cạnh tiểu đoàn trưởng.

        Kẻng báo động vào cấp I... Tiểu đoàn trưởng phát lệnh sục sạo mục tiêu... Đồng chí Đông mở ăng ten phát sóng sục sạo mục tiêu theo tọa độ tiểu đoàn trưởng đã chỉ thị. Chưa thấy mục tiêu đồng chí Đông vẫn say sưa sục sạo. Tôi đập 2 đầu gối vào hông đồng chí đến mấy lần đồng chí vẫn không tắt ăng ten. Một tiếng nổ rất đanh ngay trên xe điều khiển. Khí tài mất điện, kết quả là mấy tiêu đồ viên nằm dưới hầm chữ A chưa được lấp kỹ đất đã hy sinh, một đồng chí trắc thủ máy nổ ra tiếp dầu đúng lúc sơ rai nổ cũng bị hy sinh.

        Tôi hỏi đồng chí Đông, tại sao mọi ngày cậu thực hiện tốt việc tắt mở ăng ten theo tín hiệu của mình sao nay cậu không làm? Đông trả lời: Anh ơi! nay có cấp trên xuống theo dõi, nếu tắt mở ăng ten theo tín hiệu của anh sợ cấp trên bảo chúng em là bảo mạng sợ địch.

        Tôi nói ngay, muốn đánh được địch trước hết phải sống bằng cách làm vô hiệu hóa chiến thuật của địch mới đánh được chúng. Anh Đông giương đôi mắt to hơn nhìn tôi, cả hai không nói gì thêm.

        Thời bấy giờ có nhiều đổng chí chưa hiểu sâu hay kết luận vội vàng nên anh em sợ là phải, thật tai hại thay. Nhưng hôm ấy, nếu các đồng chí ấy hiểu rõ đồng chí Thân là người trí, dũng, không hay kết luận vội vàng, chắc các đồng chí ấy không mắc sai lầm như vậy.

        Hôm ấy tên lửa sơ rai của địch vào đúng trung tâm đài điều khiển nhưng khi bay tới chỗ xe điều khiển đã chạm vào cây cao làm nổ ngay phía trên xe điều khiển nên mảnh bắn xuống hầm của các tiêu đồ viên nằm gần cửa lên xuống của xe điều khiển khoảng bốn mét.

        Sau này, tôi gặp anh Thân tôi nói vui, tôi vói anh hút chết vì hôm ấy anh làm cấp trên xuống ngồi cạnh tiểu đoàn trưởng, anh chỉ cười, còn tôi đến bây giờ nhắc đến chuyện xưa tôi thấy không vui, vì tôi nghĩ rằng những người ngoài không hiểu hết cho rằng họ hút chết vì có"thầy có".

        Cây rừng Trường Sơn cứu mình thoát chết, nhưng thấm thìa bài học, chưa nắm chính xác đã kết luận vội vàng, thật là tai hại khôn lường. Cuộc sống cũng đã cho thấy Hồ đồ thường hay ăn quả".


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:20:15 am
               
“LẦN DẪN ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN CỦA TÔI”
TRÊN BÀN TRÒN SỞ CHỈ HUY QUÂN CHỦNG 20-9-1965

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên               
Nguyên Tham mưu phó Quân chủng        /i]

        Cuối năm 1960, lớp học dẫn đường ở sở chỉ huy đầu tiên của ta gồm 6 người được cục Không quân gửi sang Trường Hùng - Cao cấp Nam Uyển, Bắc Kinh, Trung Quốc học tập. Sau khi tốt nghiệp tiếp tục đi thực tập ở Sư đoàn 7 Không quân của bạn và tháng 10-1963 về nước. Năm 1964 tôi được Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân giao nhiệm vụ mở lớp dẫn đường ở sở chỉ huy đầu tiên trong nước với số lượng 25 học viên. Còn 5 đồng chí Kính, Ngũ, Liên, Thức và Tuấn được điều sang Mông Tự để chuẩn bị thành lập trung đoàn Không quân 921. Ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, tôi được phân công làm nhiệm vụ dẫn đường dự bị tại sở chỉ huy Chùa Trầm và sau đó tiếp tục làm nhiệm vụ dẫn đường trên hiện sóng rađa ở đại đội 29, đầu nam sân bay Bạch Mai. Sau 2 trận đầu không quân ta bắn rơi máy bay F-8 và F-105 của Mỹ ở Hàm Rồng. Mỹ có biện pháp đối phó tích cực hơn và có ý đồ bóp chết Không quân non trẻ của ta trên bầu trời miền Bắc. Dựa vào thế mạnh của Không lực Hoa Kỳ là chúng có nhiều máy bay hiện đại và hơn hẳn ta về mọi mặt như tốc độ lớn nhất của F-8, F-105 và F-4 có thể đạt được 1.800 đến 2.l00 km/h (vượt tiếng động). Còn tốc độ lớn nhất của MiG-17 chỉ được 1.180km/h (chưa vượt tiếng động). Người lái máy bay Mỹ tham gia chiến đấu ở Việt Nam thường có giờ bay từ 1.000 giờ trở lên, còn máy bay của ta chỉ mới bay được 200 đến 300 giờ. Máy bay Mỹ mang được nhiều dầu và có máy bay tiếp dầu trên không, có thể không chiến hàng tiếng đồng hồ, còn người lái của ta chỉ không chiến tối đa 10 phút. Máy bay Mỹ có vũ khí tối tân hơn như tên lửa không đối không hồng ngoại, tên lửa điều khiển bằng rađa vào pháo, còn MiG-17 của ta chỉ có 3 khẩu pháo 23 và 37mm. Dựa vào những số liệu như trên cho nên lúc đầu người Mỹ rất coi thường MiG-17 của ta, xem MiG-17 là “con muỗi mắt” không đáng kể và có ý đồ nhử ta ra phía Nam Hà Nội 70 đến l00 km hòng bóp chết không quân non trẻ của ta trước khi chúng dùng cường kích đánh phá Hà Nội và khu vực lân cận. Chính vì thế sau khi chiến thắng trận đầu, Không quân ta gặp nhiều khó khăn, vấp váp, mặc dù người lái của ta rất dũng cảm, không sợ hy sinh, chiến đấu hết mình vì tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của Bác Hồ. Tỉ lệ thắng, thua giữa ta và địch gần như bằng nhau, địch thì dựa vào số đông và sức mạnh của vũ khí, còn ta thì dựa vào sự dũng cảm của người lái và tổ chức chỉ huy dẫn đường từ mặt đất. Từ tháng 5-1965 đến 19-9-1965 tôi làm nhiệm vụ dẫn đường trên hiện sóng rađa, với chức năng dẫn kịp thời và chính xác giai đoạn tiếp địch (khi cách địch 30km trở vào), còn toàn bộ trận đánh do dẫn đường sở chỉ huy quán xuyến và đề nghị người chỉ huy quyết định. Sau trận đánh tuy có bắn rơi được địch nhưng ta cũng hy sinh một hai người lái, tôi lại thương tiếc và suy nghi: “Nếu cứ tiếp tục đà này thì chẳng bao lâu ta sẽ hết vốn, Mỹ có hàng nghìn máy bay còn ta lúc đó chỉ mới có 30 chiếc MiG-17, dù cho chiến đấu có tỉ lệ tổn thất bằng nhau đi nữa thì ta cũng sẽ bị hết trước như ý đồ đen tối của chúng”. Từ ý nghĩ trên đã thúc giục tôi phải nghiên cứu tìm tòi phương án và cách dẫn đường tốt nhất để tạo điều kiện cho người lái đánh được địch nhưng ta được an toàn hoặc tổn thất ít nhất thì mới phát triển và duy trì được cuộc sống chiến đấu lâu dài. Mặt khác ra sức rèn luyện nghiệp vụ dẫn đường như tính nhẩm nhanh, ước lượng chính xác và tập luyện khẩu lệnh rõ ràng, chính xác và ngắn gọn để khi dẫn không xảy ra sai lệch và vấp váp, đặc biệt là rèn luyện ý chí vững vàng khi gặp tinh huống khó khăn, trở ngại, tự xác định cho mình một trách nhiệm cao, dám làm dám chịu trách nhiệm, không ỷ lại và dựa dẫm cấp trên.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:20:38 am
Ngày 19- 9-1965 đồng chí Trần Quang Kính đi Kép rút kinh nghiệm, tôi được gọi vào trực sở chỉ huy, đồng chí Vũ Đức Bình thay tôi trực rađa. Nhiệm vụ của ngày hôm đó được Tư lệnh Ọuân chủng giao cho Không quân là hiệp đồng chặt chẽ với pháo cao xạ, để bảo vệ công trường đang xây dựng sân bay. Lúc 7 giờ 30 phút sáng 20 tháng 9 năm 1965 nhận được tin địch tiếp tục vào đánh sân bay Kép. 7 giờ 50 phút địch xuất hiện ở phía Đông, Quân chủng lệnh cho Biên đội Lan, Chiêu, Trí, Độ ở sân bay Nội Bài vào cấp 1 và cất cánh. Theo phương án cũ đã chuẩn bị, sau khi cất cánh Tây Đông cho biên đội vòng trái hướng bay 30° lên Hiệp Hòa, Bố Hạ rồi từ đó dẫn xuống chặn đánh địch ở khu vực Đông Nam sân bay Kép. Khi lệnh cho biên đội vào cấp 1, tôi mạnh dạn đề nghị thay đổi phương án dẫn đường, cất cánh Tây Đông vòng trái giữ độ cao thấp dưới l000 m bay lên Trung Giã, Thái Nguyên. Đến Thái Nguyên cho 1 biên đội lên cao 3.000 đến 4.000m hướng bay 360° lên hướng Chợ Mới (Bắc Cạn) và từ Chợ Mới ta bất ngờ dẫn xuống Kép đánh địch, nếu ta bay từ Nội Bài đi ra thẳng Hiệp Hòa và Bố Hạ thì sẽ bị địch phát hiện trước, ta không thể đánh được mà có khi còn bị tổn thất vì lúc đó chỉ có sân bay Nội Bài là có MiG trực ban chiến đấu cho nên đánh Kép địch luôn luôn chú ý quan sát theo dõi ta từ hướng Nội Bài ra. Thấy phân tích có lý được thù trưởng chấp thuận phương án của tôi đề xuất, tôi phấn khởi và tự tin dẫn theo phương án đã định. Quá trình cất cánh từ Nội Bài lên Chợ Mới anh Lan biên đội trưởng chấp hành nghiêm túc mọi khẩu lệnh từ sở chỉ huy Quân chủng. Khi biên đội bay đến Chợ Mới độ cao 150° về hướng Bố Hạ - Kép, bay hướng 180° được khoảng 1 phút thì phát hiện một tốp địch từ Kép lên Bố Hạ, tốc độ 850km/h tôi đoán là tốp tiêm kích yểm hộ nhưng chưa phát hiện ta cho nên tốc độ của chúng chưa tăng (mà giữ ờ tốc độ trung bình 850km/h), tôi yêu cầu rađa bám sát và đồng chí Bình ở hiện sóng theo dõi dẫn tiếp máy bay ta. Khi cách địch 50km tôi đề nghị thủ trưởng cho vứt thùng dầu phụ và tăng tốc độ từ 800 lên 900 đến 950km/h (lớn hơn tốc độ bay của địch từ 50 đến l00 km/h). Khi cách địch 20km tốc độ của ta đạt 900km/h, đồng chí Bình ở hiện sóng báo tạm mất mục tiêu, tôi nhanh chóng tính toán và cho hướng bay 130° và thông báo địch bên phải phía trước 15km, độ cao 3.500m. Sau khi thông báo khoảng 30 giây, biên đội báo cáo đã phát hiện địch cách ta 20km. Với độ cao và tốc độ lúc đó ta hơn hẳn địch cho nên biên đội nhanh chóng lao vào công kích, anh Chiêu bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4 và biên đội của ta bắn bị thương 1 chiếc khác, chiếc F-4 còn lại tháo chạy ra hướng biển, biên đội 4 MiG-17 về hạ cánh an toàn sân bay Nội Bài. Đây là trận đánh tốt, bắn rơi tại chỗ F-4, nhưng ta không bị thương vong. Sau trận đánh, ngày 21 tháng 9 năm 1965 anh Phạm Ngọc Lan thay mặt biên đội xuống sở chỉ huy Quân chủng rút kinh nghiệm. Lần đầu tiên trong đời và sau hơn 5 tháng tham gia dẫn đường tôi được anh Lan bắt tay và cảm ơn dẫn đường đã dẫn rất tốt, tôi rất cảm động và mãi mãi ghi nhớ câu cảm ơn của anh Lan cho đến tận bây giờ. Sau trận ngày 20 tháng 9 năm 1965 tôi được cấp trên giữ lại trực ban chiến đấu ở sở chỉ huy Quân chủng (không trực ở rađa nữa) và cũng sau trận này ngành dẫn đường do đồng chí Lê Liên làm trưởng ban đã có một quyết định mới là đồng hóa nghiệp vụ trong ngành: “Đã là sĩ quan dẫn đường thì phải học tập để dẫn được trên hiện sóng rađa và cả trên bàn tròn sở chỉ huy”. Riêng bản thân tôi sau trận 20 tháng 9 năm 1965 đã cổ vũ động viên tôi rất lổm, với nhiệm vụ mới tôi ra sức học tập, nghiên cứu trau dồi nghiệp vụ để bảo đảm dẫn đường tốt trong mọi tình huống được người lái tin tưởng và cấp trên tín nhiệm, chỗ nào khó khăn được cấp trên điều đến và tôi đều cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại tôi đã cùng các đồng chí sĩ quan dẫn đường khác trong ngành dẫn bắn rơi hơn 320 máy bay Mỹ gồm 19 kiểu loai khác nhau. Riêng tôi đã trực tiếp dẫn đường cho người lái bắn rơi 86 chiếc gồm 14 kiểu loại khác nhau. Trong lịch sử của ngành dẫn đường Quân chủng Phòng không - Không quân trang 57 và 58 có ghi nhận trận 20 tháng 9 năm 1965 là một trận dẫn đường tốt, nhưng đối với tôi là trận đầu thể hiện được lòng mong muốn của mình cho nên mãi mãi ghi khắc sâu vào tâm trí là không bao giờ quên.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:24:01 am
       
SƯ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG 673

Đại tá Nguyễn Mạnh Đàn                   
Nguyên Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 673       

        Để từng bước tổ chức chiến trường theo yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, ngày 29 tháng 3 năm 1973, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Sư đoàn Phòng không 673 trực thuộc Quân khu Trị - Thiên, và rút Sư đoàn Phòng không 367 về trong biên chế của Quân đoàn 1 - Binh đoàn cơ động chiến lược đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Sư đoàn Phòng không 673 gồm có 5 trung đoàn cao xạ hỗn hợp , 23mm, 37-2 mm, 57mm và 1 trung đoàn tên lửa phòng không CA-75.

        Lực lượng của Sư đoàn được bố trí trên các hướng chiến đấu của các sư đoàn bộ binh bảo vệ vùng giải phóng, sẵn sàng ngăn chặn các đợt tiến công lấn chiếm vùng giải phóng của quân ngụy.

        Nhiệm vụ của Sư đoàn 673 là sẵn sàng chiến đấu cùng các lực lượng vũ trang của Quân khu Trị - Thiên đánh bại mọi cuộc hành quân lấn chiếm và các đợt tập kích của không quân địch, bảo vệ an toàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bảo vệ các tuyến giao thông và các hệ thống phòng thủ chiến dịch của Quân khu, góp phần bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân vùng giải phóng.

        Đội hình của Sư đoàn 673 kéo dài từ cửa Việt - Đông Hà theo đường 9 lên Hướng Hóa và theo đường 14 đến A Sầu - A Lưới. Một trong nhiệm vụ quan trọng của Sư đoàn 673 là tiêu diệt máy bay trinh sát, không để chúng phát hiện hệ thống bố trí của Quân khu trên tuyến trực tiếp tiếp xúc với địch.

        I. Tổ chức đánh máy bay trinh sát không người lái (KNL):

        Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1973, địch thường xuyên tăng cường sử dụng máy bay trinh sát nhiều kiểu loại, ở nhiều độ cao khác nhau và theo nhiều hướng xâm phạm vùng giải phóng từ A Sầu - A Lưới theo đường 14 ra Hướng Hóa và theo đường 9 ra đến Đông Hà - Cửa Việt hoặc ngược lại. Các trung đoàn cao xạ đã nhiều lần nổ súng, song không kết quả, nguyên nhân vì phát hiện chậm không bắn kịp, hoặc máy bay bay qua rồi bắn đuổi theo.

        Qua nghiên cứu tình hình, vì Sư đoàn 673 ở trên tuyến đầu của miền Bắc, mọi tin tức thu được qua mạng Bl, thường là chậm từ 1 - 2 phút, nên không thể thông báo cho các đơn vị kịp bắt mục tiêu và đón đánh máy bay địch.

        Bộ tư lệnh Sư đoàn kiên quyết tìm mọi biện pháp nhằm khắc phục khó khăn, báo động kịp thời để cho đơn vị có thời gian bắt mục tiêu đón đánh máy bay địch, đánh bại thủ đoạn trinh sát của địch.

        Sư đoàn tổ chức hội nghị cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trung đội để phổ biến kế hoạch và bàn bạc dân chủ xác định quyết tâm tiêu diệt máy bay không người lái bay thấp của địch. Theo kế hoạch đó, Sư đoàn tổ chức hệ thống đài quan sát mắt kèm theo có phương tiện thông tin 2W liên hoàn báo động máy bay địch từ A Sầu - A Lưới đến Đông Hà - Cửa Việt. Đồng thời cử cán bộ có kinh nghiệm xuống trực tiếp đến đại đội hướng dẫn huấn luyện, nghiên cứu đường bay địch và bố trí trận địa đón đánh máy bay KNL tốt nhất, bảo đảm các đơn vị trực ban đánh máy bay KNL phải luôn sẵn sàng, cảnh giác, ngồi sẵn sàng trên mâm pháo, khi có lệnh là chủ động bắt mục tiêu và tiến hành xạ kích tiêu diệt ngay máy bay địch.

        Kết quả cụ thể, sau một tháng huấn luyện và chuẩn bị chu đáo, ngày 9-9-1973, bằng một điểm xạ pháo 37- 2mm của Đại đội 3, Tiểu đoàn 143, Trung đoàn 223, đã bắn rơi tại chỗ máy bay KNL ở A Sầu - A Lưới.

        Mỹ ngụy vẫn ngoan cố cho máy bay KNL vào trinh sát vùng giải phóng với những thủ đoạn khác nhau, thay đổi hướng, thay đổi thời gian, song với tinh thần quyết tâm cao và kế thừa kinh nghiệm của đơn vị trước, các trung đoàn liên tục lập công bắn rơi máy bay KNL ở Đồng Tri... chiếc KNL rơi tại chỗ gần thị xã Đông Hà còn nguyên vẹn, Sư đoàn đã báo cáo lên Quân khu xin đưa ngay ra Quân chủng để nghiên cứu thu thập tài liệu. Cho đến đầu năm 1974 toàn Sư đoàn đã bắn rơi 5 máy bay trinh sát KNL được Quân khu và Bộ khen ngợi và tặng nhiều phần thưởng.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:26:48 am

        II. Sư đoàn trong đội hình Quân đoàn 2.

        Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Quân đoàn 2.

        Quân đoàn 2 được thành lập mang tên Binh đoàn Hương Giang gồm có các Sư đoàn 324, 325, 304, Sư đoàn Phòng không 673 và các lữ đoàn pháo binh, tăng, công binh... trung đoàn thông tin và các đơn vị chuyên môn khác. Quân đoàn có nhiệm vụ tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn, được trang bị gọn nhẹ, đồng bộ và mạnh, có khả năng đảm nhiệm một hướng chiến dịch lớn.

        Quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn tổ chức, hội nghị cán bộ từ cơ sở trở lên để phân tích đặc điểm tình hình của các đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến bảo vệ mục tiêu, nhưng yếu về mặt tác chiến cơ động trong đội hình binh chủng hợp thành. Từ đó đề ra phương hướng nâng cao sức cơ động chiến đấu của toàn sư đoàn, lấy việc nâng cao trình độ tác chiến hiệp đổng binh chủng là chính, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, quản lý bộ đội của cán bộ từ trung đoàn xuống đến đại đội. Yêu cầu đề ra là phải đánh giỏi trong đội hình tập trung trung đoàn, tiểu đoàn và cả khi chiến đấu độc lập phân tán đến trung đội, đại đội, đánh giỏi cả ban ngày, ban đêm, đánh cả mục tiêu trên không, mục tiêu mặt đất, mặt nước, đánh trong tiến công, phản công...

        Để thực hiện yêu cầu trên, Sư đoàn đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cán bộ từ cơ sở, lớp huấn luyện cho các thành phần chuyên môn và cuối cùng Sư đoàn tổ chức cuộc diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật. Nội dung cuộc diễn tập là: "Trung đoàn cao xạ chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành với sư đoàn bộ binh tiến công trong hành tiến". Tham gia cuộc diễn tập, ngoài đơn vị thực binh ra, có cán bộ cao xạ từ đại đội trở lên của toàn Sư đoàn và của các tiểu đoàn cao xạ các sư đoàn bộ binh.

        Đợt huấn luyện và diễn tập đã đạt được tiến bộ về mọi mặt, được Quân đoàn đánh giá cao, và là tiền đề để bảo đảm cho các lực lượng phòng không của Sư đoàn 673 và của toàn Quân đoàn cùng mọi lực lượng của Quân đoàn 2 lập nên thành tích xuất sắc trong cuộc tấn công chiến lược giải phóng miền Nam - Thống nhất đất nước.

        III. Diễn biến hoạt động của Sư đoàn trong chiến dịch.

        13 giờ ngày 25 tháng 3 năm 1975, Quân đoàn 2 và lực lượng của B4 đã giải phóng hoàn toàn Quảng Trị - Thừa Thiên, cờ đỏ sao vàng bắt đầu tung bay trên cột cờ thành cổ Huế. Trung đoàn cao xạ 243 và 284 triển khai đội hình bảo vệ Huế, đề phòng máy bay địch đến ném bom phá hoại thành phố và ngăn chặn ta tiến vào giải phóng Đà Nẵng.

        Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và mệnh lệnh của Tổng tư lệnh, Quân đoàn 2 nhanh chóng tiến công phối hợp với các lực lượng Quân khu 5 giải phóng Đà Nẵng, phá vỡ âm mưu co cụm của quân ngụy.

        Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức đánh chiếm các địa bàn để sẵn sàng tham gia tiến công Đà Nẵng bằng hai hướng:

        - Hướng thứ nhất theo đường 1 đánh chiếm đèo Hải Vân mở đường đánh thẳng vào Đà Nẵng từ phía Bắc.

        - Hướng thứ hai theo đường 14 đánh vào Đà Nẵng theo phía Tây Bắc.

        Trung đoàn cao xạ 284 hiệp đồng với sư bộ binh 325 tiến công theo đường 1. Bộ tư lệnh phân công tôi đi với Trung đoàn 284.

        Ở hướng đường 1, Sư đoàn 325 đánh chiếm Phước Tường, đèo Phú Gia. Địch chống cự quyết liệt, máy bay từ Đà Nẵng hên tục xuất kích và pháo binh địch từ Lăng Cô, Hải Vân dồn dập đánh chặn đội hình tấn công của Sư đoàn 325, đã bị cao xạ và pháo binh Quân đoàn đánh trả quyết liệt.

        Đến chiều thì ta đã đánh chiếm được Lãng Cô mở đường tiến công lên đèo Hải Vân.

        Bộ phận chỉ huy nhẹ của Sư đoàn 673 đi cùng phó tư lệnh Sư đoàn cũng vừa đến cầu Lăng Cô, gặp sư bộ binh 325 trao đổi tình hình và hiệp đồng kế hoạch tấn công lên đèo Hải Vân. Tôi quay lại gặp tiểu đoàn trưởng Vượng (Tiểu đoàn 15 Trung đoàn 284 nắm tình hình thấy các đại đội cao xạ đang triển khai bảo vệ cầu Lăng Cô dồn đội hình tiểu đoàn lên khắp hai bên đầu cầu. Trong khi đó thì mũi đi đầu của Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 đang tiến công lên đèo Hải Vân. Tôi hỏi đồng chí Vượng: ‘Sao chưa triển khai đại đội cao xạ tiến lên đèo Hải Vân theo bộ binh?f.Tiêu đoàn trưởng Vượng báo cáo: "Các xe đều chưa đủ xăng để tiến lên đèo". Tôi ra lệnh: "Tập trung xăng tất cả các đại đội sao cho đủ xăng cho 1 đại đội tiến kịp đội hình của bộ binh. Các đại đội khác đợi xe tiếp xăng lên nạp đủ sẽ tiến theo sau".

        Xong, tôi dẫn đầu đại đội đi trước tiến lên đèo Hải Vân, Sư đoàn 325 đánh chiếm đỉnh đèo và tiếp tục tiến công sang sườn phía Nam, chiếm kho xăng Liên Chiểu, cầu Nam Ô, đánh vào thành phố Đà Nẵng, vượt cầu Trịnh Minh Thế đánh sang chiếm bán đảo Sơn Trà.

        Các đại đội của Tiểu đoàn 15 Trung đoàn 284 trong đội hình tấn công trong hành tiến, sang bán đảo Sơn Trà bố trí chiến đấu bên sườn phía Tây bán đảo, phát hiện các tàu chiến đang cứu quân ngụy chạy ra cửa biển, tôi ra lệnh dùng đạn xuyên bắn chìm hai tàu diệt hàng trăm tên địch.

        Quân đoàn 2 phối hợp với lực lượng Quân khu 5 đã nhanh chóng đánh chiếm Đà Nẵng, làm chủ Khu liên hợp phòng thủ trọng yếu của địch, mở toang đường tiến quân vào giải phóng miền Nam.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:29:46 am
     
ĐI LÀM BINH YẾU ĐỊA CHÍ

Đợi tá Nguyễn Tâm Trinh                             
Nguyên Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Rađa       

        Tốt nghiệp lớp sĩ quan tham mưu của Bộ năm 1948, tôi với ba đồng chí nữa, đều là cán bộ của lò lửa Bình - Trị - Thiên gặp đồng chí Hoàng Văn Thái nhận nhiệm vụ làm binh yếu địa chí vùng Gia Sàng, Đồng Hỷ, Thái Nguyên, lúc này là giáp ranh với vùng tạm chiến. Nhận đủ giấy tờ, tôi được cử làm tổ trưởng dẫn anh em đi. Mỗi người tùy theo khả năng của mình, người thì túi sách quần soóc, người thì bao gạo quằng vai, người thì mũ phớt dép lê, tất cả đều tự túc. Từ Định Hóa, Thái Nguyên, qua quán Vuông, quán Ông già, chúng tôi đi bộ đến Đại Từ, Bờ Đậu và bắt đầu triển khai công tác. Ngày lững thững đi, mỗi anh một khu vực, tối gặp nhau vào nhà dân ăn ngủ. Tay không đi làm binh yếu địa chí, chẳng có mảy may một mảnh bản đồ nào, liệu mà vẽ đủ địa hình, địa vật, núi đồi, cây cỏ, làng mạc, phố xá, thị trấn. Đo thì bằng bước chân, ước lượng độ cao bằng mắt, so sánh với cây cột, thước thì bằng dây que dọc đường, tên núi tên làng dựa vào cái miệng hỏi dân. Lúc thì nam dân quân, lúc thì nữ dân quân dẫn đi. Ngày đi vẽ, mỏi đâu nghỉ đấy, tối về châu đầu vào nhau dưới ngọn đèn dầu tổng hợp, vào tờ giấy dán to bằng trang báo. Mấy ngày đầu, mỗi anh vẽ 1 tỷ lệ, tối đến thật là khó xử lý, may mà 4 chúng tôi đều là cán bộ có trình độ lớp 7 và tú tài nên cũng dễ. Đã từng chiến đấu, gian khổ, ác liệt nên mưa gió chẳng nề, đói no đều chịu, lại chẳng anh nào có người yêu, gia đình nào nên hăng hái nhiệt tình sung mãn. Vẽ dọc đường số 3 đến ngày thứ năm thì đến sát huyện Đồng Hỷ. Nghĩ bụng còn 2 ngày nữa thì xong việc về báo cáo thì một chuyện chẳng lành xảy ra. Đang cùng nhau tạm dừng bên cạnh cầu Gia Bẩy thì một dân quân mang súng kíp đến gặp và mời về gặp Ban chỉ huy quân sự huyện. Chúng tôi trình giấy tờ giới thiệu của Bộ ủy nhiệm đi vẽ, được các đồng chí mời uống nước, ăn khoai, ăn mía và cứ thế ngồi ngủ gà ngủ gật cho đến hết đêm. Và cuối cùng đến gần sáng, đồng chí trưởng ban quân sự thông báo là các đồng chí bị bắt. Đôi co với nhau một lúc, các đồng chí nói các anh là gián điệp đi điều tra vùng giáp ranh cho địch. Và hai ngày liền chúng tôi được dồn vào cái chuồng bò, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chúng tôi trao đổi với nhau, chung quy cũng là do cái tiếng trọ trẹ khu tư mà chết thôi. Ngày làm bạn với ruồi, đêm chung chăn với muỗi, cơm không có, chỉ được mấy củ khoai, sắn với cái tuổi 19, 20 mà mới có mấy hôm, anh nào cũng rộc người đi, có anh đã mọc râu ria lún phún, trông thật thiểu não. Thuở ban đầu kháng chiến, chẳng có điện thoại điện tín gì cả. Chúng tôi thanh minh đi thanh minh lại và được các đồng chí nhiễu mắng, hù dọa, chỉ còn cách chờ. Đến ngày thứ tư kể từ lúc bị bắt, sau khi huyện cử người chạy bộ, mang giấy tờ của chúng tôi lên hỏi Bộ, mới xác minh là đoàn do Bộ cử đi, lúc đó chúng tôi mới được thả, tôi động viên anh em làm tiếp cho xong nhiệm vụ đến Đồng Hỷ rồi ra về báo cáo Bộ.

        Gặp lại anh Hoàng Văn Thái, chúng tôi trải rộng tấm giấy đó ghi binh yếu địa chí để trình bày, kèm theo 2 tập phụ lục thuyết minh. Đồng chí Hoàng Văn Thái xúc động nói: Thay mặt Bộ, tôi thành thực biểu dương bốn đồng chí, làm tham mưu nó khó thế, không chỉ đòi hỏi trình độ kiến thức, mà nó còn đòi hỏi cả tinh thần dũng cảm, chịu đựng của con người, mấy hôm bị giam ăn đói, mặc rét, mai các đồng chí được ăn cho lại người” .

        Bốn chúng tôi nếu còn sống chắc sẽ nhớ mãi lần đi làm binh yếu địa chí trong đời lính của mình. Tiếc thay, ba đồng chí cùng đi nay không còn nữa, các đồng chí ấy đã hy sinh anh dũng ở các mặt trận khác nhau. Tháng 9 năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, tôi được giao làm binh yếu địa chí tuyến đường 15 mới mở, từ Bãi Sang, Hòa Bình đến phà Địa Lợi, Hương Khê - Hà Tĩnh, nhưng may mắn là không phải đi bộ mà được đi bằng xe díp soóc. Sau này, khi ở cương vị Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Rađa, tôi vẫn quen thuộc với cái nghề tần tảo đi tìm trận địa suốt cả chiều dài, chiều rộng của đất nước, trong rừng sâu, trên đèo cao, cho đến hầu như khắp các hải đảo lớn của Tổ quốc: Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Phú Quý, Phú Quốc và Thổ Chu, Hòn Khoai, Côn Đảo. Ngày nay, khi chiến tranh đã kết thúc, nhớ lại những kỷ niệm xưa, chắc chắn chẳng có một ai làm chỉ huy quân sự mà không một lần ngó đến bản đồ quyết tâm của mình, một kết quả tất yếu của công tác tham mưu binh yếu địa chí.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:44:48 pm
       
KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN VỀ THÔNG TIN

Trung tá Nguyễn Đình Núi             
Nguyên trợ lý thông tin Quân chủng       

        Truyện về "Núi tiếp sức".

        Ở Quân chủng Phòng không - Không quân, bảo đảm thông tin liên lạc cho tác chiến đánh máy bay Mỹ hầu như lấy phương tiện VTĐ tiếp sức P-405 là chủ yếu. Bởi nó có nhiều ưu điểm đạt được yêu cầu tác chiến đặc chủng. Nói đến VTĐ tiếp sức P-405, đã nhiều người biết đến Nguyễn Đình Núi làm chuyên gia đắc lực cho chủ nhiệm thông tin Quân chủng và Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân anh hùng. Mọi người thường yêu mến gọi cái tên kép "Núi tiếp sức" vì tiếp sức gắn liền với Núi và Núi cũng nặng nghĩa tình với tiếp sức. Núi đã sử dụng nó như một vũ khí sắc bén để quật ngã quân thù góp phần vào chiến công vĩ đại của Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Từ năm 1964 đến 1990, Núi đã gắn bó lăn lộn với Quân chủng, đi khắp chiến trường. Đã một thời vừa là thầy của chiến sĩ thông tin, vừa là thợ lần lượt theo bước ra quân vói các trung đoàn tên lửa 236, 238, 257, 274, 261, 263, 275, 278, 285, 276 và 277. Và các sư đoàn: 361, 363, 365, 367, 377. Dẫu có khiêm tốn thì trận địa các đơn vị trên cũng lần lượt được đến và đến nhiều lần cùng với Tư lệnh Quân chủng và các cơ quan Bộ Tham mưu.

        Tôi hiểu biết P-405 như các sĩ quan điều khiển tên lửa phòng không, phi công lái máy bay chiến đấu.

        Tôi tự hào rằng mình đã táo bạo khai thác hết tính năng của máy P-405 phục vụ cho từng yêu cầu tác chiến phòng không rất hiệu quả.

        Tôi cho rằng đó là kỹ thuật phục vụ cho chiến thuật cũng là nghệ thuật quân sự mà riêng thông tin Phòng không - Không quân làm được.

        1. Việc thứ nhất: Khai thác 2 kênh thoại.

        Vì đặc điểm tác chiến PK-KQ sử dụng vũ khí hiện đại kỹ thuật giành giật đối đầu với địch từng giây phút. Cho nên từ người chỉ huy đến trắc thủ nói và làm phải rất chuẩn xác rất nhanh.

        Từ đó yêu cầu bảo đảm thông tin thành 2 kênh 1 chiều ngược nhau.

        Kênh 1 dùng cho chỉ huy tức là chỉ thị mục tiêu, lệnh chuyển cấp. Lệnh tiêu diệt mục tiêu...

        Kênh 2 dùng cho báo cáo của cấp cơ sở. Người thực hành bắn, việc thi hành mệnh lệnh, kết quả chiến đấu và yêu cầu cấp trên...

        Hai kênh này song song ở SCH cấp dưới có sĩ quan nhận lệnh và sĩ quan báo cáo. Ớ SCH cấp trên gọi là sĩ quan phương hướng.

        Bởi vậy VTĐ tiếp sức có 2 kênh thoại khai thác cả 2. Kênh 1 dùng cho chỉ huy. Kênh 2 dùng để báo cáo.

        2. Hình thức này đối với đơn vị rađa đặc biệt ra đa dẫn đường cho không quân chiến đấu.

        Vì rằng sĩ quan dẫn đường muốn dẫn cho máy bay ta gặp địch (gặp máy bay địch) thì phải biết: 1 là hướng địch bay tới, 2 là cự ly địch và ta, 3 là độ cao của địch và ta. Vì vậy người dẫn đường luôn gọi cho rađa sục sạo và đo chính xác cung cấp các số liệu yêu cầu để dẫn đường.

        Ngoài ra việc thông báo từ chỉ huy sở đại đội ra liên tục đến tai người vẽ đường bay (tiêu đồ). Như vậy rõ ràng là 2 yêu cầu song song. Năm 1969 tôi đề xuất ý định đưa tiếp sức xuống 10 đại đội rađa dẫn đường cho Sở chỉ huy Quân chủng và các sân bay Đại đội 26, Đại đội 45 về Sở chỉ huy Quân chủng, Đại đội 53 về sân bay Nội Bài. Đại đội 52 với sân bay Yên Bái, Đại đội 46 với sân bay Kiến An, Đại đội 50 về Kép... Cho đến nay vẫn tồn tại giữ nguyên giá trị rất có hiệu quả.

        3. Ghép đường truyền kết hợp với Đàỉ tiếng nói Việt Nam có công suất lớn phát tín hiệu cho máy bay ta bị mất phương hướng.

        Năm 1970 cuộc chiến bước vào giai đoạn ác liệt. Máy bay ta nhiều khi vì quần nhau với giặc, mất phương hướng, bị lạc. Đồng chí Nguyễn Tân - chủ nhiệm thông tin Quân chủng giao nhiệm vụ cho tôi giải quyết việc này. Tôi đã đề xuất: Dùng máy phát Đài tiếng nói Việt Nam phát tín hiệu tìm kiếm. Tôi đến Mễ Trì đặt vấn đề nhờ Đài phát thanh cho mượn 01 máy phát công suất 4kw và kích tín hiệu từ sở chỉ huy Quân chủng qua đài tiếp sức nối đường truyền với máy phái thanh trên tần số 57m, phát bài ca "Cao xạ pháo Việt Nam”. Kết quả tất cả máy bay ta đều nhận được tín hiệu đề phòng khi hỏng la bàn vô tuyến điện và mất liên lạc với mặt đất. Năm 1972 địch đánh trúng Đài phát thanh Mễ Trì việc này mới dừng lại.

        4. Khai thác kênh báo.

        Năm 1966, 1967: Trước yêu cầu đường truyền cho Nha khí tượng để cho ngành khí tượng dự báo cho không quân ta hoạt động. Tôi đã đề xuất cho tiếp sức để khai thác máy thu phát truyền chữ ghép với đài P405. Kết quả 5 năm lấy tín hiệu từ Nha khí tượng và đài điện báo Trung ương về Sở chỉ huy Quân chủng đạt yêu cầu tốt phục vụ đắc lực cho ngành khí tượng dự báo.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:47:23 pm

        5. Dùng kênh báo ghép tải ba ngoài để làm dây điều khiển xa trạm VTĐ sóng ngắn.

        Năm 1965 - 1975, Quân chủng có 1 trạm phát Bạch Mai và 1 trạm phát ở Tiên Phương. Năm 1966 có thêm một số xe P103, P118 có công suất 150w lập nên trạm phát cơ động (12 xe ở xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Tây), cách xa Sở chỉ huy Quân chủng 20km.

        Tôi được đồng chí Tân giao nhiệm vụ nghiên cứu và giải quyết. Tôi mạnh dạn cho ghép tải ba ngoài 0-313 tăng dung lượng kênh báo + 2 kênh báo của đài bằng 8 kênh điều khiển cho 8 máy phát công suất 150w (tức là 8 maníp gõ truyền qua 8 kênh của P-405 tới đầu kia điều khiển 8 máy phát chạy). Liên lạc với 8 đơn vị giữ bí mật an toàn cho mạng vô tuyến điện sóng ngắn. Truyện này có giá trị lắm vì chưa có nơi nào làm được, ngay cả Trung đoàn 205 Bộ tư lệnh thông tin cũng chưa áp dụng.

        6. Khai thác dải sóng đề xi mét.

        Thiết kế xe P-405 có 2 bộ thu, phát dải sóng mét và dải sóng đề xi mét.

        Bình thường chỉ cần dải sóng mét (M) cũng đủ phục vụ, còn bộ thu phát đề xi mét (Đ) làm dự bị, bảo đảm độ vững chắc của phương tiện này ít khi mất thông tin liên lạc.

        Năm 1972, khi đế quốc Mỹ dùng B-52 đánh phá ác liệt. Chiến trường Khu 4 trở nên nóng bỏng, Quân chủng Phòng không - Không quân được lệnh đưa tên lửa vào đánh địch từ xa. Tháng 6 năm 1972, 2 tiểu đoàn 63 và 64 của Trung đoàn 236 vào tận Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh nghiên cứu đánh địch.

        Khi phát hiện B-52 bay gần tới trận địa khoảng 35 - 40km thông tin tiếp sức tự nhiên thấy nhiễu ồn ào không liên lạc được. Nghe dưới báo lên như vậy. Tôi và kỹ sư Nguyễn Tài Hướng xuống tận nơi nằm chờ hàng ngày ở trận địa 63, quả thực có thật. 1 lần, 2 lần vẫn vậy. Anh Hướng bàn với tôi, cho anh em triển khai dải sóng "Đ". Sau vài lần thì thấy cường độ nhiễu giảm hẳn từ 100% còn 10%.

        Suy ra rằng B-52 phát nhiễu tích cực đã chùm lên dải sóng (M) làm liệt thông tin của ta.

        Cho nên ta đánh B-52 phải chủ động dùng dải sóng "Đ". Từ đó lập tức tôi báo cáo với đồng chí phó chủ nhiệm thông tin Lê Quang Lung. Lệnh cho các đơn vị triển khai đồng loạt.

        Kết quả cuối tháng 12 khi Mỹ dùng B-52 đánh ra Hà Nội, Hải Phòng thì quân ta đã sẵn sàng và chúng ta đã chủ động bảo đảm thông tin cho chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" thắng lợi kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

        "Vỏ quýt dày có móng tay nhọn", cùng với kỹ thuật tên lửa "chống nhiễu” để lộ nguyên hình B-52 thi ngành thông tin liên lạc cũng biết sử dụng phương tiện của mình để chống nhiễu bảo đảm cho ta đánh liên tục tiêu diệt nhiều máy bay địch.

        7. Tổ chức các trạm chuyển tiếp.

        Trong nghệ thuật quân sự tác chiến phòng không - không quân "Cơ động và hiệp đồng" là rất phức tạp.

        Đáp ứng yêu cầu chiến đấu cơ động, giãn đội hình mở rộng chiến trường. Để phát huy hiệu quả VTĐ tiếp sức bản thân tôi trực tiếp khảo sát các điểm cao và đặt trạm chuyển tiếp ở đỉnh 1.200 m Ba Vì, 900 m ở Tam Đao, 1000 m ở Yên Tử.

        - Trạm Ba Vì liên lạc với các đơn vị phía Tây Bắc và đồng bằng.

        - Trạm Tam Đảo liên lạc với các đơn vị từ Tuyên Quang - Lạng Sơn.

        - Trạm Yên Tử, bảo đảm liên lạc với địa bàn Quân khu Quảng Ninh - Hải Phòng.

        Ba điểm cao tam giác này đã phủ sóng liên lạc toàn bộ chiến trường đồng bằng và sông núi Bắc Bộ. Những năm 1970 đến tháng 6 năm 1972 lực lượng của Quân chủng dồn sâu vào chiến trường Khu 4 gồm có các sư đoàn 361, 365, 367, 371 không quân và 363 để tham gia chiến dịch Quảng Trị và bảo vệ giao thông đường 559. Trước yêu cầu to lớn này, Chủ nhiệm thông tin Quân chủng được phép Tham mưu trưởng Quân chủng cho tổ chức thêm 2 trạm giữa (chuyển tiếp), thực hành đi khảo sát và tổ chức ở cao điểm 1000 m Bù Mum huyện Như Xuân - Thanh Hóa và cao điểm 1044 Đèo Ngang huyện Kì Anh - Hà Tĩnh. Bảo đảm liên lạc từ s ở chỉ huy cơ bản của Quân chủng ở Hà Nội với Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng ở đường 10 Quảng Binh và Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng liên lạc với các đơn vị: 365, 367, 363, 236 và 371 cùng các sân bay: Đồng Hới - Quảng Bình, sân bay Con Cuông - Nghệ An.

        Những năm này Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng liên tục cơ động. Lúc ở Tân Kỳ - Nghệ An, lúc ở Đại Huệ - Kim Liên - Nghệ An, lúc ở Đông Hiếu - Nghệ An và đường 10 Quảng Bình.

        Bởi vậy trạm Bù Mum (Thanh Hóa) trở thành tổng đài tiếp sức (Trung tâm chuyển tiếp) giống như tổng đài hữu tuyến điện, đơn vị nào khi cần chuyển tiếp thì Bù Mum sẵn sàng giải quyết. Trạm đã triển khai tới 11 hướng liên lạc lớn nhất chưa bao giờ có. Trung đoàn thông tin 26 đưa cả Đại đội 14 do đồng chí Phạm Văn Phình trực tiếp chỉ huy. Lúc này cảm thấy rằng Khu 4 là chiến trường của Quân chủng Phòng không - Không quân. Một chặng đường lịch sử vẻ vang của Quân chủng, có sự đóng góp của ngành thông tin liên lạc trong chiến tranh.

        Thưa bạn đọc, hơn 40 năm đã trôi qua, chuyện thì nhiềụ, hôm nay còn sống nhớ lại những chặng đường, bước chân đã đi, quyết tâm của việc đã làm sao thấy mình phi thường đến thế. Những lúc bom rơi, đạn nổ trèo đèo, lội suối xông xáo trên trận địa đã bao lần hút chết tưởng như vẫn còn hằn sâu trong trí nhớ và thành kỷ niệm không quên.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:49:45 pm
       
NHIỄU B-52 - HIỆU QUẢ BỘ ĐỘI TÊN LỬA ĐÁNH B-52 Ở HÀNH LANG 559, QUẢNG BÌNH, NGHỆ AN, THANH HÓA, HẢI PHÒNG VÀ 12 NGÀY ĐÊM B-52 ĐÁNH VÀO HÀ NỘI

Trung tá La Văn Sàng                   
Nguyên cán bộ Tham mưu Quân chủng       

        Theo lòi khai của giặc lái, trên mỗi chiếc B-52 được trang bị từ 13 - 15 máy gây nhiễu tích cực các loại và một số máy thả nhiễu tiêu cực và máy phóng nhiễu bằng rốc két, ngoài ra còn có bom nhiễu M-121. Trong kíp bay có sĩ quan điện tử phụ trách hệ thống thiết bị điện tử trên B-52 để xử lý kịp thời các tình huống xảy ra.

        Ngoài ra khi B-52 ném bom các mục tiêu đối phương còn được phối thuộc các lực lượng không quân, đội hình máy bay chiến đấu chiến thuật gây nhiễu trong đội hình nhiễu giả B-52 và nhiễu ngoài đội hình, nhiễu tiêu cực, nhiễu mục tiêu giả, nhiễu hạm tàu... Tạo ra cường độ nhiễu trên một hướng, một khu vực trên diện rộng ngụy trang cho B-52 vào ném bom các mục tiêu. Thủ đoạn gây nhiễu tổng hợp này đã có hiệu quả khi B- 52 đánh Hải Phòng ngày 16-4-1972.

        Không quân Mỹ tin vào thủ đoạn gây nhiễu tổng hợp sẽ làm tê liệt hệ thống phòng không đối phương. Do đó, Mỹ chủ quan tuyên bố:

        Với chiến tranh điện tử, không quân Mỹ có thể bịt mắt toàn bộ hệ thống rađa Bắc Việt và có thể vô hiệu hóa toàn bộ hệ thống tên lửa Phòng không - Không quân của đối phương. "Giờ đây không quân Mỹ có thể ném bom vào bất kỳ mục tiêu nào trên lãnh thổ Bắc Việt Nam như đi vào chỗ trống" và họ cũng khẳng định: B-52 là "bất khả xâm phạm", "B-52 chỉ có thể bị rơi do thời tiết, hoặc do trục trặc kỹ thuật, chứ quyết không thể bị hỏa lực của bộ đội Phòng không - Không quân Bắc Việt bắn rơi được".

        Không quân Mỹ dựa vào chiến tranh điện tử, xem nhiễu điện tử là lá bùa hộ mệnh, giúp không quân chiến thắng lực lượng Phòng không - Không quân đối phương. Mỹ còn cho rằng "nước Mỹ chúng ta mạnh đến mức trong vấn đề Việt Nam, từ thất bại không bao giờ thuộc về phía chúng ta",

        Đẻ chuẩn bị tốt nhiệm vụ đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Bộ tư lệnh Quân chủng tổ chức cho tập huấn, rút kinh nghiệm các trận đánh R-52 của các đơn vị ở tuyến đường 559 ở chiến dịch Trị - Thiên và cả ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng, chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971, chiến dịch Trị - Thiên 1972...

        Qua tổng kết rút kinh nghiệm, chỉ đạo về đội hình chiến đấu là tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu (hướng địch có khả năng vào), đội hình có chiều sâu, hình thành nhiều tuyến, có lực lượng chốt, bố trí phải đảm bảo tập trung hỏa lực cùng đánh trên một đường bay từ 2 - 3 tiểu đoàn và có điều kiện chi viện cho nhau, tạo được P sao cho cường độ của nhiễu giảm, và các đơn vị đều chi viện đánh được trong điều kiện có nhiễu.

        Ngoài biện pháp chống nhiễu bằng cách bố trí đội hình đã nêu ở trên, Quân chủng đã tập huấn cho các các kíp chiến đấu thành thục sử dụng 2 phương pháp bắn của tên lửa khi địch gây nhiễu tạp và nhiễu xung đó là  phương pháp bắn đón nửa góc và phương pháp bắn 3 điểm hoặc kết hợp 2 phương pháp bắn trên khi có điều kiện (từ 3 điểm chuyển sang phương pháp bắn đón nửa góc, hoặc ngược lại).


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:51:22 pm
        Chọn thời cơ phát sóng bắt mục tiêu.

        Mở máy thu cho bám sát dải nhiễu (phân biệt dải nhiễu trong đội hình và ngoài đội hình, nhiễu các loại F giả B-52)... phân biệt tín hiệu mục tiêu B-52.

        Chọn và xác định phương pháp bắn. Tại sao bộ đội tên lửa đánh B-52 ở đường 559 Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An đạt hiệu quả thấp, còn tên lửa đánh B-52 vào Hà Nội hiệu quả chiến đấu rất cao, B-52 rơi tại chỗ nhiều... Đó là do:

        - Tên lửa đánh B-52 ở đường 559, Quảng Bình... theo kết quả nghiên cứu giặc lái B-52 cho biết trang bị hệ thống điện tử trên B-52 khi vào đánh Hà Nội không khác gì trang bị điện tử trên B-52 khi đánh vào đường Hồ Chí Minh (đường 20), Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng.

        Nhưng điểm khác nhau cơ bản khi B-52 đánh vào khu vực các mục tiêu này là lực lượng Phòng không - Không quân bảo vệ mạnh, yếu khác nhau, do vậy Mỹ sử dụng chiến tranh điện tử ở 2 kha vực này cũng khác nhau.

        Khi B-52 đánh vào đường 559, Quảng Bình, qua trinh sát điện tử biết được lực lượng Phòng không - Không quân nhất là tên lửa đưa vào đây rất hạn chế vì đường xấu, trận địa bố trí cho tên lửa không đạt yêu cầu, số lượng tên lửa ít, và thường bố trí một trận địa chỉ được từ 1 - 2 bệ phóng tên lửa. Khí hậu khắc nghiệt cũng ảnh hưởng đến hệ số sẵn sàng chiến đấu.

        Khi tên lửa vào cấp 1 sẩn sàng chiến đấu thì giảm phát sóng để sục sạo bắt mục tiêu vì ở đây là đất hoạt động của không quân địch, nếu phát hiện có tên lửa hoạt động địch tập trung bắn phá, ném bom, bắn shrike, bom laze vào trận địa. Do đó tên lửa ở đây không được bộc lộ lực lượng, mà chỉ mở máy thu, thu để phân biệt dải nhiễu, giữa dải nhiễu B-52, dải nhiễu của sư đoàn giả B-52, dải nhiễu ngoài đội hình của EB-66, hạm tàu. Nếu xác đinh được dải nhiễu B-52 thì cho bám sát, và phương pháp bắn là dùng phương pháp bắn 3 điểm là chính vì cường độ nhiễu rất lớn (chủ yếu là thủ đoạn gây nhiễu tạp ngắm, chặn rãnh đạn tên lửa và mục tiêu...), nên hiệu quả xạ kích giảm.

        Ngoài ra có một số trận địa bố trí vòng ngoài, còn B-52 hoạt động tuyến trong, vì vậy khi tên lửa bắt được mục tiêu B-52 và bắn, thì lúc này B-52 đã ném bom xong và trên đường cua vòng ra, tạo ra P lớn nên hiệu quả tiêu diệt mục tiêu cũng thấp.

        Tóm lại so sánh lực lượng giữa ta và địch trong điều kiện ở đây bộ đội tên lửa của ta còn hạn chế nhiều mặt nên đã hạn chế hiệu quả đánh tiêu diệt B-52 của bộ đội tên lửa. Nhưng chính điều này khiến cho địch rất chủ quan khi sử dụng lực lượng lớn B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Thủ đô Hà Nội và đã thất bại nhục nhã.

        B-52 đánh vào Hà Nội bị tên lửa đánh tiêu diệt với số lượng lớn, rơi tại chỗ nhiều, bắt sống và tiêu diệt nhiều giặc lái...

        Trong chiến dịch 12 ngày đêm, địch đã sử dụng B-52 đánh vào Hà Nội, không quân địch đã sử dụng tối đa chiến tranh điện tử để phục vụ cho B-52 vào đánh Hà Nội như: Nhiễu B-52 trong đội hình có cường độ nhiễu rất mạnh, được biên chế một sĩ quan điện tử để sử dụng các thiết bị điện tử có trên B-52.

        Nhiễu sư đoàn giả B-52 trong đội hình.

        Nhiễu tiêu cực của F4E (từ 4c - 8c F4E) và trước trận đánh từ 10 - 15 phút (tạo hành lang nhiểu tiêu cực dài từ 10 - 70km, độ cao dải nhiễu tiêu cực từ 3 - 5km).

        Nhiễu trong đội hình cường kích.

        Nhiễu của sư đoàn đi bảo vệ.

        Phóng shrike vào các trận địa tên lửa, rađa dẫn đường, các sân bay...

        Cho máy bay cường kích vào trước ném bom các trận địa tên lửa, cao xạ...

        Nhiễu hạm tàu.

        Nhiễu EB-66 ngoài đội hình ở các khu vực: Biển Đông, Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc với số lượng lớn EB-66. Tất cả tạo thành một nguồn nhiễu tổng hợp khi B-52 vào đánh Hà Nội. Theo địch thì với nguồn nhiễu này có thể che lấp mục tiêu B-52 trên nền hiện sóng của tên lửa, làm cho tên lửa bị mù mà không bắt được mục tiêu B-52.

        Trên đây là âm mưu của địch sử dụng chiến tranh điện tử để phục vụ B-52 đánh vào Hà Nội.

        Trong thực tế ta đã nắm được âm mưu chiến lược này của địch nên ngay từ đầu, Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã chỉ đạo từ tháng 8-1972, Quân chủng tổ chức tập huấn rút kinh nghiệm đánh B-52, giả B-52 ở Sư đoàn 363 Hải Phòng.

        Tháng 10-1972, hội nghị sơ kết chiến đấu của bộ đội tên lửa đánh địch trong nhiễu. Đánh B-52 của Trung đoàn 238 từ năm 1967 ở Vĩnh Linh, đến các đơn vi của Trung đoàn 275, trong những năm 1968 - 1971 trên đường hành lang, đặc biệt những kinh nghiệm của Trung đoàn 236, Trung đoàn 274, trong khu vực Quảng Bình, Vĩnh Linh và Nghệ An giữa và cuối năm 1972.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:52:54 pm
        Từ những kinh nghiệm thu được cách đánh B-52 ờ các đơn vị. Phương châm chỉ đạo tác chiến của Quân ủy vận dụng vào tác chiến phòng không, bộ đội tên lửa thực hiện cách đánh tiêu diệt, đánh tập trung, từng bước hoàn chỉnh cách đánh, tận dụng mọi phương tiện, đánh bằng nhiều phương pháp đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất.

        Trước tình hình địch gây nhiễu tạp nặng phải sử dụng phương pháp bắn 3 điểm, và phải nghiên cứu thật tỉ mỉ để có cách đánh phù hợp.

        Tích cực vận dụng phương pháp đánh 3 điểm trong nhiễu tạp, song khi phát sóng thấy mục tiêu thì phải chuyển ngay phương pháp đánh bắn đón nửa góc, vì phương pháp này xác suất tiêu diệt mục tiêu cao.

        Ta đã chủ động bố trí đội hình chiến đấu cho các lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội nên khi B-52 vào đánh Hà Nội, yếu tố bất ngờ dùng thủ đoạn nhiễu tổng hợp bảo vệ B-52 không còn nữa. Cường độ nhiễu đã bị phân tán, có thể một hướng nào đó bị nhiễu nặng song các đơn vị tên lửa ở các hướng khác, 2 bên sườn, phía trước, phía sau có thể bắt được tín hiệu mục tiêu B-52 trên nền nhiễu...

        Trong thực tế B-52 đánh vào Hà Nội trong 12 ngày đêm tháng 12-1972, hầu hết các đơn vị tên lửa đều bắt được mục tiêu trên nền nhiễu tạp ở cự ly 40km, phổ biến là từ 26 - 24km.

        Trắc thủ tên lửa đã phân biệt chính xác tín hiệu mục tiêu B-52 và tín hiệu mục tiêu của các loại sư đoàn đi bảo vệ B-52. Phân biệt được dải nhiễu B-52 và dải nhiễu giả B-52. Dựa vào độ cao của B-52 (từ 10 - 12km), đường bay ổn định, dải nhiễu ổn định, kết hợp với chỉ chuẩn HA00, CoH-9A.

        Ngay từ đêm đầu tiên tên lửa phòng không đã hạn chế được cường độ nhiễu tạp của địch gây ra, đánh thắng trận đầu bằng phương pháp bắn đón nửa góc, bắn rơi B-52 bắt sống giặc lái.

        Trong thời gian 12 ngày đêm B-52 đánh vào Hà Nội, hầu hết các tiểu đoàn tên lửa đều bắt được tín hiệu B-52 trên nhiễu tạp với tỷ lệ 12/13 tiểu đoàn trên màn hiện sóng tên lửa.

        Từ đó các đơn vị đều sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc, có trận còn bám sát được tự động, nên xác suất bắn tiêu diệt mục tiêu B-52 rơi tại chỗ rất cao.

        Trong chiến dịch 12 ngày đêm B-52 đánh vào Hà Nội, các đơn vị tên lửa đánh 53 trận bắt được mục tiêu B-52 ở cự ly 40km trở vào. Tiểu đoàn 94 ở Tam Sơn trung bình bắt được mục tiêu B-52 từ 27 - 18km. Tiểu đoàn 93 ở Phú Thụy có 1 lần bắt được mục tiêu B-52 ở cự ly từ 27 - 20km. Tiểu đoàn 77 ở Chèm đánh 9 trận và bắt được tín hiệu B-52 trên màn hình hiện sóng tên lửa ở cự ly từ 31 - 16km. Trung bình bắt được tín hiệu B-52 trên màn hình hiện sóng tên lửa ở cự ly từ 26 - 24km. Trong các trận đánh vì bắt được tín hiệu B-52, nên đa số là sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc, trong đó có 6 trận bám sát mục tiêu bằng tự động. Do bắt được tín hiệu mục tiêu B-52, lại sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc nên xác suất tiêu diệt mục tiêu của tên lửa càng lớn, bắn rơi B-52 tại chỗ, đã đánh tan sự ngông cuồng, ngạo mạn của địch từ chỗ sử dụng B-52 vào đánh phá Hà Nội như đi dạo chơi, nay đã trở thành đi vào nơi tử địa không có đường ra.

        Kết thúc chiến dịch 12 ngày đêm B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số vùng phụ cận, các lực lượng phòng không nòng cốt là Quân chủng Phòng không - Không quân đã bắn rơi được 81 chiếc máy bay các loại của không quân chiến lược, chiến thuật của Mỹ, phần lớn bị tên lửa bắn rơi tại chỗ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 chiếc F-111 (cánh cụp, cánh xòe)... buộc Mỹ phải kết thúc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân một cách nhục nhã.

        Việc Mỹ sử dụng chiến tranh điện tử để bảo vệ lực lượng không quân chiến thuật, chiến lược đánh phá miền Bắc đã cho ta bài học: Chiến tranh càng phát triển, ngành khoa học kỹ thuật quân sự công nghệ cao càng phát triển, chiến tranh điện tử cũng phát triển, nên người chỉ huy các cấp ở các cương vị từ cấp chiến thuật, chiến dịch, nhất thiết phải hiểu biết chiến tranh điện tử và tìm hiểu mọi biện pháp đối phó lại đối phương có hiệu quả nhất.

        Trong chiến dịch 12 ngày đêm B-52 đánh vào Hà Nội, tuy khả năng kỹ thuật chiến tranh điện tử của ta có hạn, song chúng ta bằng sự thông minh đã hóa giải được mặt mạnh của kỹ thuật nhiễu điện tử tổng hợp của địch bằng chiến thuật kết hợp với kỹ thuật, bố trí đội hình chiến đấu tên lửa đánh bọc lót cho nhau, đã đánh tan âm mưu của địch sử dụng B-52 đánh vào Hà Nội trong tháng 12-1972.

        Đây là bài học được đúc kết qua chiến đấu, rút kinh nghiệm từ các trận đánh B-52 không thành công ở chiến trường Quân khu 4... Quảng Bình, cuối cùng Quân chủng PK-KQ chúng ta đã giành chiến thắng mà địch không sao hiểu nổi.

        Đã hơn 35 năm "Điện Biên Phủ trên không", nhưng còn âm vang mãi chiến dịch 12 ngày đêm (18/12/1972 - 30/12/1972) quân và dân ta đánh thắng B-52 đánh vào Hà Nội và bài học thất bại của không quân Mỹ sẽ còn mãi nhớ đời.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:56:07 pm
       
MỘT TRẬN NGHI BINH LỪA ĐỊCH

Đại tá Chu Thái                       
Nguyên cán bộ Tham mưu Quân chủng       

        Dưới cái nắng gay gắt giữa mùa hè năm 1965, mảnh đất Ba Vì Hà Tây như một chảo lửa hun nóng những bộ khí tài tên lửa đang ẩn nấp chờ địch tại bìa rừng Võ Khuy, Ngọc Nhĩ và Yên Kỳ để đón đánh một đường bay địch thường vào đánh Việt Trì và Lâm Thao - Phú Thọ.

        15 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7, Tiểu đoàn 63 và 64, Trung đoàn tên lửa 236 đã phóng những quả tên lửa đầu tiên trên bầu trời miền Bắc bắn rơi 1 F4C bắt sống tên đại úy phi công Ri-Soóc Pôn-Cơn.

        Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân nhận định: 'Tên lửa phòng không ta xuất hiện là một hiểm họa và là mối đe dọa trực tiếp đối với bọn giặc lái Mỹ. Chúng sẽ cay cú và nhất định tìm cách đánh trả đũa đối với bộ đội tên lửa".

        Bộ tư lệnh đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tham mưu và Trường Sĩ quan Phòng không thực hiện ý định: "Nghi binh lừa địch, cài bẫy nhử địch" đến đánh hai trận địa tên lửa mới ra quân ở Võ Khuy, Ngọc Nhĩ và Yên Kỳ, Bất Bạt để lực lượng cao xạ bảo vệ tên lửa đánh một trận tiêu diệt lớn khi chúng đến đánh trả đũa.

        Bộ Tham mưu đã giao nhiệm vụ cho Phòng Khoa học quân sự do đại úy Lê Văn Vọng chỉ huy cùng một số cán bộ khác lên Trường Sĩ quan Phòng không cấp tốc chế tạo hai bộ khí tài và tên lửa giả làm bằng tre và cót, quét màu đúng như tên lửa thật (lúc đó gọi đùa là Ra-cót thay cho từ ra-két).

        Bộ tư lệnh cũng đã ra lệnh cho Tiểu đoàn 63, 64 Trung đoàn 236 bí mật rứt khỏi trận địa. Tiểu đoàn 63 về bảo vệ Hà Nội còn Tiểu đoàn 64 cơ động về sân bay Tông, trận địa Kim Đái - Tung Thiện để có thể đánh địch khi chúng vào đánh trả đũa hai trận địa cũ.

        Ngay sáng 25 tháng 7 hai bộ khí tài và tên lửa giả được chế tạo xong đã đưa vào thay thế hai bộ khí tài và tên lửa thật ở trận địa Võ Khuy, Ngọc Nhĩ và Yên Kỳ, Bất Bạt.

        Toàn bộ lực lượng pháo cao xạ đi bảo vệ tên lửa phòng không ra quân gồm Trung đoàn pháo phòng không 224 100 ly, Trung đoàn 234 pháo 57 ly, Trung đoàn 241 súng máy phòng không cơ giới AM - 14,5 ly loại 4 nòng cùng các tiểu đoàn pháo phòng không độc lập 37 ly của Quân chủng và Trường Sĩ quan Phòng không đã được bí mật nằm lại, ngụy trang kín đáo để sẵn sàng nổ súng đánh địch, khi địch vào đánh hai trận địa giả.

        Chiều ngày 26 tháng 7 địch liên tục cho máy bay trinh sát không người lái BQM-34A và máy bay trinh sát RF-101 từ phía Tây Nam bay khu vực Ba Vì lên Việt Trì, Phú Thọ. Cụm cao xạ do đồng chí Lê Văn Thiêm - Tham mưu phó Quân chủng trực tiếp chỉ huy ra lệnh không được bắn, chờ thời cơ đánh lớn. Tiểu đoàn tên lửa 64 ở trận địa mới Kim Đái, Tùng Thiện, Hà Tây chỉ trong vòng 16 phút đã bắn rơi một máy bay trinh sát không người lái BQM-34A ở độ cao 18km và một chiếc RF-101 bay thấp. Bộ tư lệnh không quân ở khu vực Thái Bình Dương đã phán đoán, hai trận địa tên lửa phòng không của ta vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ.

        Đúng như dự đoán, chiều 27 tháng 7 năm 1965, không quân địch đã huy động hơn 50 máy bay các loại, đánh phá quyết liệt thành 4 đợt vào hai trận địa nRa Cót" của ta nhằm biến hai trận địa này trở thành những đống sắt vụn.

        Cán bộ, chiến sĩ pháo cao xạ của Trung đoàn 224, 234, 237 các tiểu đoàn pháo 37 ly của Quân chủng và Trường Sĩ quan Phòng không đã nằm phục kích mấy ngày trên các ngọn đồi trọc, nắng nóng như thiêu như đốt, lá ngụy trang ngày thay mấy lần mà vẫn khô ráo cũng không thấy địch vào đánh lớn.

        15 giờ 15 chiều 27-7 giữa lúc mặt trời từ hướng Tây chiếu thẳng vào các trận địa cao xạ, cũng là lúc địch lợi dụng hướng mặt trời bay rất thấp bổ nhào từ đỉnh Ba Vì, Lưỡi Hái đánh phá dữ dội vào hai trận địa "Ra Cót” của ta ở Chùa Ghề và Ngọc Nhĩ.

        Trúng kế của ta rồi! Thời cơ diệt địch đã đến, lệnh của đồng chí Lê Văn Thiêm từ sò chỉ huy tiền phương lệnh cho các trung đoàn tập trung hỏa lực đánh trên các hướng chủ yếu, Tây, Tây Bắc và Tây Nam. Cán bộ, chiến sĩ cao xạ hừng hực khí thế đánh địch.

        Trên một phạm vi không gian hẹp, hơn một trăm nòng pháo và súng máy phòng không của ta thi nhau nhả đạn. Lưới lửa tầng cao tầng thấp đan xen nhau dày đặc bủa vây hết tốp này đến tốp khác. Ngay 15 phút đầu tiên của trận đánh hai máy bay F105 của không quân địch đã bị bốc cháy.

        Bị bất ngờ và tổn thất nặng chúng nhanh chóng thay đổi thủ đoạn, bay thật thấp, tấn công từ nhiều hướng và phân công một số tốp vào đánh các trận địa phòng không 100 ly.

        Ta đã nhanh chóng điều chỉnh hỏa lực đánh địch tất cả các hướng và giành phần lớn hỏa lực súng máy phòng không 14,5 ly bảo vệ các trận địa pháo 100 ly. Sau khi điều chỉnh hỏa lực, địch bay vào hướng nào cũng bị đánh quyết liệt, bay thấp cũng bị diệt.

        Trận đánh kéo dài tới 40 phút, cao xạ đã bắn rơi 5 máy bay địch diệt. Bộ Tham mưu đã thực hiện đúng ý định của trên: "Nghi binh, cài bẫy, nhử địch, đánh một trận tiêu diệt, tiêu diệt lớn máy bay địch".

        Tuy bị thất bại nặng và rất cay cú với lực lượng phòng không của ta, nhưng ngay sáng hôm sau nhiều đài phát thanh của phương Tầy và Hoa Kỳ đã đưa tin: "Chiều 27-7-1965 không lực Hoa Kỳ đã tấn công phá hủy hoàn toàn 12 giàn phóng tên lửa của Bắc Việt Nam”.

        Còn về ta đợt hoạt động của bộ đội tên lửa và pháo cao xạ từ 24 đến 27-7 là một đợt hoạt động hiệp đồng tuyệt đẹp "đánh được địch, bảo vệ được ta”, Nghi binh lừa địch là một bài học sâu sắc về mặt nghệ thuật làm tiền đề cho các đợt hoạt động của bộ đội tên lửa trong suốt thời kỳ chống Mỹ và ngày càng được bổ sung phong phú hơn.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 09:58:35 pm
     
ĐI ĐỐC CHIẾN TRONG CHIẾN TRANH

Đại tá Nguyễn Tâm Trinh                              
Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Bình chủng Rađa       

        Kiểm tra quán triệt quyết tâm tác chiến, nắm sát thực tế tìm các biện pháp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đơn vị là một nội dung quan trọng của cơ quan tham mưu. Là người sĩ quan tham mưu, suốt mấy năm chiến tranh tôi đã rất nhiều lần thực thi nhiệm vụ này. Chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ đang ngày càng quyết liệt. Chúng ngày đêm đánh phá các mục tiêu, hậu phương miền Bắc, hòng ngăn chặn nguồn chi viện người, của cho tiền tuyến miền Nam. Hệ thống các mục tiêu quân sự từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20 đều bị đánh phá, trong đó có các trận địa phòng không, rađa, sân bay. Sáng ngày 17- 7-1966, theo lời kêu gọi quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Bác Hồ, tôi được lệnh vào Vĩnh Linh - Quảng Bình kiểm tra đốc chiến, với cương vị là phó tư lệnh - tham mưu trưởng binh chủng. Chiếc xe gát 69A mới toanh của chúng tôi gồm 5 người lên đường. Vượt phà Bến Thủy, xe chúng tôi bỏ đường 1, chạy theo đường 15. Đường xe ven sườn các đồi, chẳng còn cái cầu nào nguyên vẹn, xe vượt qua các bến ngầm, đôi lúc chạy vào các đường mới làm hoặc rẽ vào các đường tránh, xe cần mẫn theo các đường xế, đường tránh, bến ngầm. Chạy được 2 ngày 3 đêm, chúng tôi đến sở chỉ huy Trung đoàn rađa 290, trung đoàn ở tuyến đầu của đội hình chiến đấu của Quân chủng. Dưới hầm ngầm và địa đạo mới đào nằm bên đường 22, khu vực Kỳ Lâm, chúng tôi lần lượt nghe báo cáo tình hình của trung đoàn, hỏi kỹ hệ thống trận địa dự bị và các quy định được bắn và không được bắn địch của các trung đoàn rađa. Hỏi đến đâu, chúng tôi trao đổi lại những gì mới quy định của Quân chủng và một số kinh nghiệm của các đơn vị phía Bắc. Thật khó khăn khi có vấn đề gì của trung đoàn xin ý kiến đoàn mà phải thỉnh thị Tư lệnh Quân chủng vì phương tiện thông tin duy nhất là điện đài 15w. Mà mỗi bức điện đi về phải mất thời gian hàng ngày. Đó là cái bức xúc đầu tiên của cái nghề đi đốc chiến. Chúng tôi rời trung đoàn, đi sâu dần vào vùng đánh phá phía Nam của địch. Chiếc xe phải ngụy trang hàng ngày, vừa chạy vừa quan sát thăm dò diễn biến tình hình đường sá phía trước, lúc thì thấy pháo sáng treo lơ lửng, lúc thì thấy khách bộ hành dạt ra 2 bên đường, lúc lại thấy im ắng không người qua lại. Và quả nhiên, chúng tôi đã bị F4 ngó nghiêng quét pháo vào thùng xe, lốp bị bẹp và xe đổ lật sang đường, may mà người vô sự. Sống dã chiến 1 ngày dựa vào dân, vào bạn xe cùng đường, khắc phục xong xe lốp, con tuấn mã tiếp tục bò lên phía trước. Cái điều thứ hai của nghề đốc chiến là phải tự mình thu vén được càng nhiều càng tốt để tự giải quyết lấy mọi sự cố trên đường, chẳng còn ỷ lại vào ai được.

        Chúng tôi vào trận địa C12 rađa ở gần sân bay Đồng Hới lúc phiên ban trực đêm của đại đội kết thúc. Một lát sau chiếc xe gát của trung đoàn gồm đồng chỉ chính ủy và trung đoàn phó cùng đến. Đại đội rađa 12 bố trí ở khu vực Bắc thị xã Đồng Hới, từ ngày địch đánh phá miền Bắc đã nhiều lần bị đánh, lúc thì hỏng máy nổ, có trận bị thương vong, có lần địch đánh cả vào trận địa phân đội sung máy 14,5mm bảo vệ rađa. Đại đội ngụy trang kín đáo, nằm gọn giữa thôn Lộc Đại, hầm hào, giao thông dày đặc. Nhìn từ ngoài, chẳng ai biết là có trận địa rađa đang ngày đêm phát sóng cảnh giới vùng trời. Phối hợp với đoàn kiểm tra của trung đoàn, chúng tôi gặp trực tiếp các trắc thủ, điện công, tiêu đồ, nắm và quán triệt giúp đỡ chiến đấu cho cán bộ đại đội và các kíp chiến đấu ở sở chỉ huy cũng như ở trận địa sung máy. Điều ngại nhất của chúng tôi là ai cũng thấy lo nếu trận địa bị phát hiện, địch ném bom thì điều nguy hại nhất là nhân dân sẽ bị thương vong lớn, thiệt hại khó lường hết được. Chúng tôi hội ý với trung đoàn và trao đổi với Ban chỉ huy đại đội, với ý định là phải có kế hoạch đề phòng chu đáo. Chúng tôi chia nhau cùng đại đội đi kiểm tra gấp 2 trận địa dự bị trong số trận địa của trung đoàn đã quy định với ý định là sớm cơ động. Trung đoàn báo cáo là đại đội đã cùng thôn có kế hoạch hàng ngày sơ tán người già, phụ nữ, trẻ con và có kế hoạch ẩn nấp hầm hố chu đáo khi có máy bay địch. Tuy vậy, chúng tôi cũng chưa thật sự an tâm, kéo nhau ra kiểm tra trận địa 4 khẩu 14,5mm nằm cạnh, cách rađa 50m về phía cầu Lộc Đại, góc bắn về phía Nam bị cản bởi cây cối, chỉ bắn được các hướng khác. Chúng tôi cùng với các xạ thủ thay nhau thực hiện phương án xạ kích, phát hiện ra nhiều nhược điểm như góc cấm bắn và độ cao bắn, góp phần với từng xạ thủ, mới biết anh em mới vào lính, huấn luyện còn sơ đẳng, trong đó có đến gần nửa là lính tuyển ở làng mới vào.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:49:36 am
        Ở trọn với Đại đội 3 ngày đêm, hoàn thành xong nhiệm vụ kiểm tra, giúp đỡ chiến đấu, kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị, kế hoạch giải quyết thương vong, kế hoạch hiệp đồng với địa phương, trận địa chính, dự bị... với cán bộ và chiến sĩ đại đội, thậm trí trực tiếp sửa chữa nhỏ các hệ hiện sóng, dây trời của đại đội. Chúng tôi báo cáo xin ý kiến Quân chủng và chuẩn bị đi tiếp vào Vĩnh Linh kiểm tra giúp đỡ Đại đội rađa 11. 16 giờ chiều ngày thứ tư ở đại đội, 1 tốp 2 chiếc A4D từ biển bay vào, ràn rạt sát trận địa, giữa lúc máy rađa P10 của đại đội đang trực. Đại đội ra lệnh báo động và lệnh cho phân đội 14,5mm phát hỏa. Khi 2 chiếc A4D vòng lại, các pháo thủ đồng loạt nhả đạn, chiếc A4D đi sau bốc khói trúng đạn và hạ thấp độ cao. Tiếng hô, tiếng gào của trận địa và dân quân trong làng: "Máy bay cháy rồi, rơi rồi...!".

        Chưa kịp ăn cơm tối, chúng tôi cùng Ban chỉ huy đại đội và đoàn kiểm tra trung đoàn nhanh chóng họp, biểu dương trung đội súng máy, rút kinh nghiệm đợt hoạt động của địch. Một vấn đề đặt ra khá gay cấn là: "trận địa đã lộ chưa? Có di chuyển trận địa không?". Có ý kiến đồng ý, có ý kiến không, có ý kiến ngày mai lại phục kích bắn tiếp máy bay! Đoàn đốc chiến chung tôi rút kinh nghiệm các lần đại đội rađa Tây Bắc và Thanh Hóa bắn máy bay bảo vệ trận địa, sau khi dân chủ trao đổi với đoàn kiểm tra, trung đoàn đưa ra quyết định khẩn trương thu hồi máy, di chuyển sang trận địa mới ở Chánh Hòa cách vị trí hiện nay l0 km, trong phạm vi giữ kín liên tục trường rađa của trung đoàn. Nói xong, mọi việc bắt đầu hành động, giao 1 máy tiếp tục duy trì lịch trực ban được phân công ở đại đội, để kíp chiến đấu gọn, còn lại thu quân cơ động về địa điểm mới. Cho đến 3 giờ sáng, trận địa rút xong, ngụy trang lại như cũ. Đồng chí chính ủy trung đoàn cùng tôi và đồng chí chính trị viên đại đội, thân hành đến nhà đồng chí thôn trưởng bàn bạc việc sơ tán toàn bộ dân, chỉ để lại 1 tốp dân quân giữ làng và chống cháy và phải hoàn thành xong trước sáng. Cả thôn Lộc Đại chuyển mình đi khỏi làng một cách triệt để. Riêng đại đội rađa cử một đồng chí máy nổ tên là Nguyễn Xuân Phong quê ở Thủy Nguyên ở lại để trông coi cái máy nổ hòng cùng toàn bộ quân tư trang và dụng cụ của anh em.

        Rời khỏi trận địa chính lúc tờ mờ sáng, sau khi đã tỉ mỉ cùng thôn trưởng kiểm tra người trong xóm ở lại trong các hầm trú ẩn kiên cố, bụng bảo dạ, đời người lính rađa thật là gian truân vất vả, nhân dân trong cuộc chiến tranh già trẻ, nam nữ đều thật khó khăn muôn phần.

        Đến đúng 10 giờ, 1 tốp mục tiêu xuất hiện do máy rađa P10 của đại đội phát hiện ở cự ly 90km hướng vào phương vị tọa độ của đại đội. Mấy phút sau, đài quan sát đỉnh đầu của đại đội báo cáo. Chúng tôi chia nhau ra trận địa pháo thủ 14,5mm để quan sát và nắm tình hình. Một đồng chí nữ dân quân hớt hải từ Lộc Đại chạy về báo cáo: Anh Phong máy nổ bị bom hy sinh rồi", Hỏi kỹ thêm, cô dân quân cho biết, bom thả chi chít cháy hết nhà, người không ai việc gì, bà con sơ tán, chưa ai về làng. Tôi hội ý chớp nhoáng và cử đoàn kiểm tra trung đoàn quay về Lộc Đại nắm tình hình và giải quyết hậu quả, ổn định tình hình tư tường của nhân dân, từng bước giải quyết sinh hoạt trở lại của dân. Đến chiều, thi hài của chiến sĩ Phong được chuyển về và được tổ chức an táng tại Chánh Hòa trong niềm tiếc thương vô hạn của anh em và nhân dân.

        Ở lại thêm hai hôm nữa theo lệnh của Quân chủng và sau khi rút kinh nghiệm, đánh giá tình hình, củng cố thêm quyết tâm chiến đấu của anh em, chúng tôi tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ. Điều thứ ba được rút ra từ việc đốc chiến là vai trò và trách nhiệm của người đốc chiến, đúng hay sai không những lệ thuộc vào thực tế tình hình, nhưng còn do trình độ và khả năng kinh nghiệm hoạt động độc lập của người sĩ quan trong chiến đấu. Làm sĩ quan tham mưu thì việc thay mặt cơ quan tổng hành dinh đi xuống đơn vị tiến hành đốc chiến là một nhiệm vụ tất yếu. Sĩ quan tham mưu trước hết và quan trọng nhất là đã trải qua thực tế, trực tiếp chiến đấu, có thắng, có thua, được tôi luyện, trở về làm tham mưu cho chỉ huy, mới góp phần hiệu quả đối với chiến đấu. Làm sĩ quan tham mưu quả thật không dễ chút nào.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:52:04 am
         
ĐẢM BẢO THÔNG TIN CHO BỘ ĐỘI TÊN LỬA RA QUÂN
ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU

Đại tá Nguyễn Tài Hướng                       
Nguyên trưởng phòng Thông tin Quân chủng       

        Đầu năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đánh phá ra miền Bắc Việt Nam ngày càng quyết liệt. Trước tình hình đó một cụm tác chiến phòng không mới được hình thành và triển khai chiến đấu ở khu vực Suối Hai tỉnh Hà Tây gồm có các trung đoàn pháo cao xạ 224, 234 và 220. Trung đoàn rađa 291 và Trung đoàn tên lửa phòng không 236 của Quân chủng Phòng không - Không quân. Ngoài ra còn có các lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ huyện Bất Bạt, Quảng Oai, Tùng Thiện cùng tham gia.

        Nhiệm vụ của cụm phòng không này là thực hiện một trận hiệp đồng đánh theo phương thức tác chiến mới là: 'Tên lửa đánh trước, đánh xong bí mật cơ động sang vị trí khác và đưa dàn tên lửa giả làm bằng cót vào trận địa cũ để nhử địch vào đánh trả đũa, tạo cơ hội cho các cụm pháo phòng không với hỏa lực mạnh tập trung cùng với hỏa lực phòng không địa phương bảo vệ tên lửa đánh trận tiêu diệt lớn các loạt máy bay địch". Đảng ủy và Bộ tư lệnh hết sức quan tâm, bên cạnh Bộ tư lệnh và các cơ quan của Quân chủng còn có đại diện của Bộ Tổng tham mưu, đại diện chuyên gia Liên Xô, đại diện của Trung ương và UBND tỉnh Hà Tây tham dự. Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định thành lập một SCH tiền phương Quân chủng bên cạnh SCH Trung đoàn tên lửa 236 để tiện cho việc chỉ huy trận đánh. Trung ương và ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây cũng quyết định thành lập một SCH tiền phương của tỉnh bên cạnh SCH tiền phương của Quân chủng Phòng không - Không quân để chỉ đạo và chỉ huy các lực lượng phòng không bảo vệ bộ đội tên lửa, các lực lượng công an tỉnh và dân quân tự vệ làm nhiệm vụ an ninh, cấp cứu cứu thương tại chỗ.

        Từ những ngày đầu hình thành cụm tác chiến phòng không, Phòng Thông tin Quân chủng Phòng không - Không quân đã cử cán bộ đi khảo sát trận địa, đội hình chiến đấu của các lực lượng, vị trí đặt SCH và triển khai hệ thống thông tin liên lạc đồng thời nắm tình hình thông tin của các đơn vị để xây dựng kế hoạch bảo đảm thông tin liên lạc đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu của Quân chủng sát với thực tế hơn.

        Căn cứ vào ý định và quyết tâm tác chiến của Bộ tư lệnh Quân chủng, dựa vào thực lực biên chế trang bị quân số của mình và khả năng hỗ trợ của Bộ tư lệnh thông tin cũng như tận dụng mọi khả năng của các cơ quan đơn vị bạn có thể tận dụng được, Phòng Thông tin đã nghiên cứu xây dựng kế hoạch bảo đảm thông tin liên lạc cho trận đánh báo cáo Tham mưu trưởng Quân chủng phê duyệt và quyết đinh.

        Để triển khai kế hoạch bảo đảm thông tin liên lạc đã được phê chuẩn tại SCH tiền phương của Quân chủng. Quân chủng đã giao cho Trung đoàn 26 thông tin tổ chức một đại đội thông tin tổng hợp với dấy đủ trang bị, phương tiện và lực lượng dưới sự chỉ đạo của Phòng Thông tin khẩn trương tổ chức thực hiện. Đoàn cán bộ của Phòng Thông tin Quân chủng được cử đi làm nhiệm vụ trên gồm các đồng chí: Nguyễn Thành Lân - trợ lý thông tin VTĐ báo, đồng chí Nguyễn Đình Núi - trợ lý thông tin VTĐ tiếp sức và đồng chí Lương Văn Học - trợ lý thông tin HTĐ. Ngoài ra cơ quan thông tin Quân chủng cũng tiến hành một cuộc họp bàn về công tác tổ chức và triển khai thông tin hiệp đồng tác chiến với các đơn vị có liên quan.

        Vì vậy việc đảm bảo thông tin phục vụ trong suốt quá trình chiến đấu từ ngày 23/7/1965 - 27/7/1965 dưới mưa bom đạn lửa, trong điều kiện cơ động tác chiến khẩn trương phức tạp cũng có những lúc ở hưởng này, đơn vị có trục trặc khó khăn, nhưng đã xử lý linh hoạt khắc phục kịp thời không để mất liên lạc, lỡ thời cơ chiến đấu. Đặc biệt đối với những đơn vị chủ lực ở hướng chủ yếu. Vì vậy thông tin luôn luôn được đảm bảo thông suốt vững chắc kịp thời phục vụ cho Quân chủng chỉ huy trận đánh liên tục chiến thắng giòn giã, và đơn vị nào cũng bắn rơi máy bay địch. 8 máy bay các loại của không quân đế quốc Mỹ đã bị bắn rơi có nhiều chiếc rơi tại chỗ, đặc biệt tên lửa của Trung đoàn 236 ra quân trận đầu đã đánh giỏi giành thắng lợi lớn, tiêu diệt 3 máy bay địch, nên từ đây ngày 24-7 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của bộ đội tên lửa Phòng không Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:54:52 am
       
MỘT NGÀY ĐÁNG NHỚ Ở NGHI KIỂU - NGHI VĂN - NGHỆ AN

Trung tá Lê Đình Duật                               
Nguyên cán bộ tham mưu Quân chủng       

        Bước sang năm 1966, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã mở rộng ra toàn hậu phương miền Bắc. Địch tập trung đánh phá giao thông từ Khu 4 trở vào để ngấn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Các trọng điểm và các nút giao thông bị máy bay Mỹ đánh phá quyết liệt gây rất nhiều khó khăn cho việc vận chuyển lương thực và vũ khí của ta cho chiến trường.

        Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 61 tên lửa phòng không Đoàn Sông Đà được lệnh cơ động vào Khu 4 đánh địch bảo vệ giao thông. Đây là vinh dự lớn song cũng là một thử thách đối với tiểu đoàn. Với quyết tâm đánh địch bảo vệ giao thông và trả thù cho nhân dân Khu 4, đặc biệt là cho các em học sinh trường Hương Phúc - Hương Khê và Thạch Thanh, Thạch Hà - Hà Tĩnh bị máy bay Mỹ ném bom giết hại. Đêm 21-1-1966 (tức mùng 2 Tết năm At Tỵ), tiểu đoàn qua Hàm Rồng vào Nam Thanh Hóa. Sau một thời gian làm quen với địa bàn và nghiên cứu thủ đoạn hoạt động của địch tiểu đoàn đã hành quân cơ động và đánh địch liên tục; nhiều trận đánh thắng giòn giã làm cho không quân địch lo sợ phải thay đổi chiến thuật hoạt động; đêm ngày 9-2-1966, tại trận địa Phú Diễn, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa, tiểu đoàn đã phóng hai quả đạn diệt cả tốp 2 máy bay Mỹ.

        Điển hình là ngày 7-3-1966, tại trận địa Quỳnh Thắng, Quỳnh Lưu, Nghệ An tiểu đoàn đã đánh một trận xuất sắc phóng một quả đạn tiêu diệt cả tốp 2 chiếc, trong đó có chiếc máy bay Mỹ thứ 900 và 901 bị bắn rơi trên miền Bắc.

        Sau những trận đánh này, máy bay địch thực sự bị bất ngờ, do bị tổn thất nặng nên hoạt động của chúng giảm đi nhiều, sau các trận đánh thắng của tiểu đoàn, có khi hai ba ngày sau trên cả khu vực không có máy bay địch hoạt động. Đấy là thời cơ tốt cho giao thông vận chuyển hoạt động. Trên đường hành quân chúng tôi gặp từng đoàn, từng đoàn xe tải phủ kín bạt và xanh rờn lá ngụy trang nối đuôi nhau chạy vào phía Nam. Nhiều đồng chí lái xe nói với chúng tôi: "Lâu lắm rồi nay mới có ngày hội giao thông như thế này đấy". Đó là lời nói thật lòng của những người tham gia vận tải. Song với chúng tôi đấy là một lời khen, một lời động viên để đơn vị chiến đấu tốt hơn.

         Tiểu đoàn tiếp tục hành quân sâu vào tuyến trong và liên tiếp đánh thắng nhiều trận khác. Sau trận thắng ngày 10-5-1966 tại nông trường 20 tháng 4 - Hà Tĩnh, tiểu đoàn được lệnh bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn để hành quân cấp tốc ra Bắc bảo vệ Hà Nội.

        Ngày 24-5-1966, tôi được giao nhiệm vụ dẫn đoàn xe kéo 3 rơ moóc ăng ten và một xe cần cẩu hành quân đi trước với chỉ thị ngắn gọn: 'Đi đường chú ý bảo đảm an toàn đề phòng bị địch đánh dọc đường! Khi qua sang đất Nghệ An đi tiếp đến ngã ba Nghi Kiều - Nghi Văn sẽ có người đón và dẫn vào trận địa mới”. Đoàn xe hành quân an toàn đến địa điểm hẹn. Chúng tôi dừng lại chờ người dẫn đường nhưng chờ lâu không thấy, tôi cử người đi theo hai đường rẽ đi tìm cũng không gặp người đón. Lúc đó đằng đông trời đã hửng sáng, không thể chần chừ ở đây được, tôi quyết định cho đoàn xe đi tiếp. Sau đó tôi khẳng định là đã bị lạc hướng. Trời ngày càng sáng dần, không thể hành quân tiếp nên tôi cho đoàn xe dừng nép vào một đoạn đường làng có lũy tre xanh, cách ngã ba gần l0 km.

        Chỉ sau ít phút một số đồng bào trong làng chạy ra động viên chúng tôi và yêu cầu phải ngụy trang vì ở đây máy bay địch bay liên tục và rất thấp. Khi phát hiện thấy gì khả nghi là chúng bắn phá ngay. Tình thế đã gấp gấp, đoàn xe lại toàn xe to mà lũy tre chỉ che khuất được một bên và một phần chiều dài của đoàn xe; bên kia là cả một cánh đồng trống trải bà con địa phương mới gặt lúa, rạ còn phơi từng đống, từng mô trên mặt ruộng và cả trên đường.

        Trước tình thế như vậy, tôi quyết định phải ngụy trang cả đoàn xe bằng rơm rạ thì mới an toàn. Tôi xin phép bà con trong làng cho sử dụng số rơm rạ ở gần để ngụy trang. Bằ con vui vẻ đồng tình. Tôi cho xe cần cẩu quay cần lại 180° và hạ thấp xuống đất rồi cho một số anh em xuống ruộng bốc rạ chuyền lên cho số anh em ở trên rải hết lên nóc xe ôtô, xe cần cẩu và cả rơ moóc, đổng thời rải lên mặt đường trước và sau đoàn xe kéo dài thêm 15m. Thấy chúng tôi ít người một số bà con cũng tham gia giúp chúng tôi ngụy trang. Nhờ vậy mà chúng tôi ngụy trang xong thì trời vừa sáng. Nhìn đoàn xe và cả đoạn đường đã biến thành khu vực phơi rơm, rạ sau ngày mùa. Tôi thấy yên tâm! Tôi yêu cầu các đồng chí lái xe nghỉ ngơi và trú ẩn gần đoàn xe để có tình huống cần thì xử lý cho kịp thời... Còn anh em sơ tán vào làng, đào hầm trú ẩn cá nhân ờ nơi thuận tiện quan sát và sẵn sàng hành động khi tình huống xấu xảy ra.

        Cả ngày hôm ấy tôi rất lo vì chỉ một sai sót nhỏ nào đó mà địch phát hiện được là chúng bắn phá thì hậu quả khó lường. Rất may là sau 4-5 lần máy bay trinh sát vũ trang của địch quần đảo săm soi bay qua đều không phát hiện ra đoàn xe. Nhờ vậy mà bảo đảm an toàn tuyệt đối.

        Tối ngày 25-5-1966, đơn vị cử người tìm và đón chúng tôi về khu vực trận địa mới.

        Trước khi đi chúng tôi chia tay với bà con trong lằng, mọi người ra tiễn chúng tôi rất ân tình và quyến luyến. Nhiều người khen "Các anh có một cách ngụy trang che mắt địch đơn giản mà hiệu quả! Thật sáng tạo! .

        Đã hơn 40 năm mà tôi không sao quên được kỷ niệm này.

        Nhớ mãi những người đồng đội cùng tôi hành quân năm ấy.

        Nhớ mãi tình cảm của bà con nơi ấy dành cho chúng tôi để cho Tiểu đoàn 61 có nhiều trận đánh thắng lợi giòn giã hơn sau này.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:58:16 am
      
HAI LẦN ĐI CÔNG TÁC BẰNG MÁY BAY QUÂN SỰ
       
Đại tá Phan Văn Toản                              
Nguyên trợ lý tác huấn cao xạ                          
Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân        

        Chiều 22/12/1972 sau bốn ngày đêm dùng B-52 đánh phá Hà Nội bi thất bại nặng nề (từ 18/12 đến 21/12 đã có 15 chiếc B-52 bị bắn rơi, trong đó có 10 chiếc rơi tại chỗ). Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân nhận định và chỉ đạo: Đánh vào Hà Nội địch đã bị thất bại nặng, B-52 rơi tại chỗ nhiều, giặc lái bị chết và bắt sống cũng nhiều. Đêm 22/12 địch có thể giãn ra chuyển hướng đánh Hải Phòng. Chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân chủng là phổ biến kinh nghiệm đánh B-52 cho Sư đoàn phòng không 363 và chỉ đạo Sư đoàn phòng không 363 cũng đánh rơi máy bay B-52 tại chỗ. Vào lúc 9 giờ sáng ngày 22/12 điện của Bộ Tổng Tham mưu thông báo: Đêm 22/12 địch sẽ dùng máy bay B-52 đánh Hải Phòng, nhiều tin tức dồn dập khác chuyển đến Sư đoàn phòng không 363 làm cho không khí chuẩn bị đánh B-52 vừa khẩn trương vừa căng thẳng. Đứng lúc đó tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân - Tổng hành sinh đánh B-52 - đã quyết định cử đoàn cán bộ tham mưu tác huấn gồm các đồng chí Nguyễn Xuân Minh - Phòng Tác huấn tên lửa, Phan Văn Toản - Phòng Tác huấn cao xạ, Nguyễn Đắc Thuần - Phòng Quân báo và đồng chí Chu Thái - Phòng Khoa học quân sự khẩn trương đáp máy bay xuống sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 363 để truyền đạt mệnh lệnh của Tư lệnh và phổ biến kinh nghiệm đánh B-52 của bộ đội phòng không Hà Nội cho các đơn vị tên lửa, cao xạ bảo vệ thành phố Hải Phòng.

        Lần đầu tiên trong đời lính và cũng là lần đầu tiên với tính chất quan trọng của chiến dịch, Quân chủng Phòng không - Không quân đã sử dụng máy bay cho đoàn cán bộ tham mưu đi đốc chiến. Khi nhận nhiệm vụ chúng tôi cũng ý thức được tầm quan trọng và tính chất khẩn trương của nó, nhanh chóng mang cặp tài liệu lên đường, không kịp ăn cơm chiều. Bốn anh em ngồi trên chiếc xe đít vuông GA3-69 đi qua các trọng điểm đánh phá: Đài phát thanh Mễ Trì, sân bay Bạch Mai, phà Khuyến Lương... xa xa hướng về phía Tây Bắc có nhiêu tiếng súng phòng không cùng với tiếng bom rền dội đến, liên tục giục giã chúng tôi tăng nhanh tốc độ. Đến đoạn đê Tư Đình chuẩn bị rẽ vào sân bay Gia Lâm thì hàng loạt đạn pháo phòng không các loại bủa vây trên vùng trời sân bay chặn đánh chiếc máy bay "không người lái” bay qua; thế nhưng khi đến sân bay thi anh em lái chiếc AN-2 đã có mặt đầy đủ sẵn sằng nổ máy cất cánh. Chiều về mùa đông, trên đường cái lớn lác đác vài người đi lại, đất đai khô cằn, cây lá trơ trụi... với độ cao máy bay khoảng 50 mét lảng vảng những làn khói lam chiểu từ những làng quê nóng bỏng chiến tranh, chúng tôi nhìn rất rõ các ụ súng, các trận địa phòng không san sát như thiên la địa võng... Họ dơ tay, phất cờ, họ ngắm bắn... biết rằng họ tranh thủ thời cơ có máy bay ta để luyện tập, nhưng trong chúng tôi vẫn lo "những tên bay đạn lạc" lỡ có điều gi thì sẽ không hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng mà cấp trên đã giao.

        Đến sân bay Cát Bi khoảng 7 giờ tối, chúng tôi được đón về sở chỉ huy Sư đoàn 363 và do được thông báo trước nên cuộc họp phổ biến kinh nghiệm được tiến hành ngay. Chúng tôi đã trao đổi nhiều vấn đề như hợp đồng giữa Phòng không và Không quân, giữa lực lượng phòng không chủ lực với bộ đội phòng không địa phương, đặc biệt sử dụng pháo l00 mm đánh B-52 và giành riêng chuyên đề ưu tiên số 1 sử dụng bộ đội tên lửa đánh B-52, tập trung vào những động tác kỹ thuật giúp trắc thủ phát hiện và bắt được mục tiêu trong nhiễu, giúp người chỉ huy có cơ sở tin tưởng mạnh dạn đánh, đánh độc đáo sáng tạo mà chỉ có bộ đội Việt Nam lần đầu tiên sử dụng tên lửa SAM-2 đánh thắng B-52.

        Sau đó chúng tôi phân công người vào sở chỉ huy, người xuống các đơn vị hỏa lực tên lửa, cao xạ đem những kinh nghiệm xương máu - quý như vàng - đến với các đồng chí, đồng đội đang nóng lòng chờ đợi, quyết tâm cùng với Hà Nội đánh thắng B-52 trên bầu trời Hải Phòng thân yêu.

        Ngay đêm ấy - đúng như nhận định của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân từ 4 giờ 30 phút đến 5 giờ 25 phút địch đã sử dụng máy bay cường kích đánh vào nhà máy Xi măng, Sở dầu, cầu quay An Dương, sân bay Cát Bi. Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng lại được kinh nghiệm quý báu đánh B-52 của các đơn vị bạn, mà trực tiếp là các sĩ quan tác huấn của Bộ Tham mưu ngồi bên cạnh đã giúp cho kíp chiến đấu của tên lửa động tác "Bắt mục tiêu", theo thứ tự mở máy thu nhiễu B-52, chọn giải nhiễu B-52, phối hợp với đài 2 để thống nhất giải, phân biệt tốp tiêm kích đi yểm hộ và tốp B-52 thật, tìm độ súng mục tiêu trong nhiễu, thống nhất các màn giữa các trắc thủ, chọn thòi cơ phát sóng thích hợp.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:05:20 am
        Trong các phân đội cao xạ, chúng tôi đã giúp tính được các phần tử bắn chặn (H = D.sin e) trên từng đường bay, thiết lập được đường dây thông tin chỉ huy bắn từ sở chỉ huy trung đoàn đến các phân đội pháo l00 mm (trước đó giao khoán cho từng phân đội đánh) và đã liên kết được mạng thông báo phần tử địch từ rađa, vọng quan sát, các đơn vị tên lửa... đã giúp cho các phân đội pháo l00 mm có cơ sở tin tưởng đánh, không còn ám ảnh coi thường thứ vũ khí cũ kỹ của Đại chiến lần thứ 2.

        Xong trận đánh, trời đã sáng, gió và mưa phùn rét đậm thấu xương, chúng tôi định quay lại sân bay Cát Bi, nhưng đường băng đã bị địch đánh hỏng, đành phải theo con đường 5 gian khổ trở về. Tuy phải thức trắng đêm, bom đạn ác liệt nhưng trong lòng mỗi chúng tôi phấn chấn lạ thường, vừa giúp đơn vị đánh thắng vừa suy ngẫm đến cuộc chiến đấu còn tiếp tục với lòng tin sắt đá nhất định sẽ đánh thắng không quân đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

        Lần đi công tác máy bay thứ II:

        Cuối quý II năm 1973 tôi lại có dịp theo đoàn cán bộ Quân chủng Phòng không do đồng chí Đại tá Dương Hán, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân dẫn đầu, chuẩn bị đề cương báo cáo Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về 12 ngày đêm chiến đấu chống cuộc tập kích đường không chiến lược của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng... Đây là lần thứ hai tôi được đi công tác bằng máy bay, nhưng không phải chiếc AN-2 ngụy trang bí mật lướt trên đường không lắm ổ gà, mà là chiếc chuyên cơ IAK.40 kiêu hãnh hiên ngang chở đại tướng và đoàn cán bộ cấp cao của Bộ Tổng Tham mưu, của Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân cũng cất cánh tại sân bay Gia Lâm và hạ cánh xuống sân bay Cát Bi trong một tư thế của những người góp phần làm nên chiến thắng đầy vinh quang bảo vệ bầu trời Tổ quốc.

        Lần đi trước lo lắng đến phận sự người sĩ quan tham mưu vừa đốc chiến, vừa phổ biến kinh nghiêm, vừa tổ chức huấn luyện tại trận địa, uốn nắn từng khẩu lệnh, từng động tác để giúp đơn vị đánh thắng; thì lần này lo lắng hơn, trách nhiệm nặng nề hơn, phạm vi ảnh hưởng của chiến thắng B-52 vượt ra ngoài tầm của Quân chủng Phòng không - Không quân, vẫn là người sĩ quan tham mưu ấy, nhưng với cái nhìn mới - tổng quát và toàn diện hơn - khoa học và thực tiễn - kinh nghiệm và bài học... làm cho đề tài đánh thắng B-52 có sức hấp dẫn kỳ lạ và những nét độc đáo về nghệ thuật quân sự của cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ.

        Trong 2 ngày và 3 đêm làm việc không biết mệt mỏi, có đêm thức trắng, buồn ngủ... chúng tôi nghiêm túc khẩn trương dồn hết tâm lực để trả lời những câu hỏi, những gợi ý mà Đại tướng đặt ra cho đoàn cán bộ Quân chủng Phòng không - Không quân về cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ vào miền Bắc Việt Nam. Đó là một cuộc tập kích chiến lược bằng không quân hoặc như Đại tướng gợi ý: Các nhà quân sự Liên Xô thì nói: Đây là một cuộc tập kích chiến lược bằng không quân; các nhà quân sự phương Tây thì cho đây là cuộc oanh tạc chiến lược bằng không quân. Đại tướng giải thích tuy cách nói có khác nhau về từ ngữ quân sự, xong khái niệm về nội dung đểu giống nhau ở chỗ:

        - Tập kích chiến lược.

        - Tấn công chiến lược.

        - Oanh tạc chiến lược.

        Từ thực tiễn của cuộc tập kích chiến lược trong 11 ngày 12 đêm cuối tháng 12/1972, Đại tướng đã đặt câu hỏi trong tương lai nếu đế quốc Mỹ lại gây ra cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta thì hoạt động của không quân đế quốc Mỹ sẽ theo quy luật nào; Đại tướng lại gợi ý - Hoặc là đánh theo cách leo thang rồi kết thúc bằng tập kích chiến lược - Hoặc tập kích chiến lược ngay từ giờ phút đầu tiên ồ ạt, bất ngờ, chớp nhoáng nhằm giành ưu thế về chiến lược, tạo điều kiện kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn trên thế mạnh.

        Đại tướng đề cập đến nhiều vấn đề như chiến dịch phòng không của Quân chủng Phòng không - Không quân, rồi như sực nhớ đến những ngày huy hoàng của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1953; Đại tướng suy nghĩ đến sự xuất hiện 1 kiểu chiến tranh bằng không quân; sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch phòng không Việt Nam trong cuộc chiến tranh đất đối không của lực lượng phòng không ba thứ quân.

        Sau chiến dịch, cơ quan tham mưu căn cứ vào những tư tưởng chỉ đạo tác chiến trên của Đại tướng đã tiến hành tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho lớp lớp người kế tục sự nghiệp bảo vệ bầu trời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:06:15 am
       
ĐÊM QUẢNG TRỊ

Trung tá La Văn Sàng                   
Nguyên cán bộ Tham mưu Quân chủng       

        Trung tuần tháng 4-1972, tôi được cử đi công tác với Cục Kỹ thuật tiền phương ở Quảng Bình.

        Nhiệm vụ là xuống Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 236 tham gia chiến đấu, chụp ảnh, quay phim ghi lại các dạng nhiễu trên màn hình hiện sóng của sĩ quan điều khiển (SQĐK) và trắc thủ để cùng cơ quan, đơn vị nghiên cứu, tìm biện pháp đối phó, hạn chế đến mức tối đa hiệu quả các loại nhiễu của địch đối với tên lửa, rađa và không quân ta.

        Sáng ngày 13-4-1972, lúc 6 giờ 45 xe xuất phát từ Hà Nội, không khí tết xuân Nhâm Tý vẫn còn, lúa xuân xanh tốt, hàng cây bên đường cũng đã xanh lại sau những lần đánh phá của không quân Mỹ vào giao thồng để ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Chiều đến Thanh Hóa nghỉ lại.

        Do địch pháo kích từ hạm vào Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình nên xe phải đi vào ban đêm.

        Suốt mấy ngày ngồi xe, người rất mệt trong đó có nguyên nhân là đường 15B và 22 quá xấu, bộ đội ta thường gọi là đường bò lăn, vì ngồi trong xe không cẩn thận cũng dễ ngã lăn ra sàn xe...

        Tối 14-4-1972, đến tiền phương Cục Kỹ thuật ở Phú Hòa, nghỉ lại và chuẩn bị xuống đơn vị.

        Trước khi chiến dịch Trị - Thiên mở màn, lực lượng tên lửa phòng không đã bố trí thành 3 tuyến: Tuyến 1 là Trung đoàn 236, áp sát những bến vượt ở thượng lưu sông Bến Hải, phía sau Trung đoàn 236 là Trung đoàn 274, tiếp sau đó là Trung đoàn 267.

        Ngày 19-4-1972, tôi xuống Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 236, đơn vị được chọn làm mũi thọc sâu, vượt qua sông Bến Hải vào đất Quảng Trị. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là hiệp đồng chiến đấu bảo vệ các đơn vị bạn tiến công giải phóng Quảng Trị.

        Tôi còn nhớ, trên đường xuống đơn vị từ Phú Hòa đi Vĩnh Chấp, dọc đường máy bay địch thường xuyên trinh sát, bắn phá nên vừa đi vừa dừng lại để ẩn nấp, mãi gần 6 giờ chiều mới đến nơi tập kết đơn vị.

        Đối với Tiểu đoàn 64, đợt công tác này coi như tôi may mắn được gặp lại những người thân đã xa nhau lâu ngày. Vì ở Hà Nội, Tiểu đoàn 64 thường chiến đấu bảo vệ phía Tây Nam Hà Nội, cửa ngõ Thủ đô. Do tôi là trợ lý cơ quan ở Bộ Tham mưu, nên thường xuyên được xuống đơn vị tham gia chiến đấu và công tác. Cùng các đồng chí nghiên cứu đề xuất chọn phương pháp bám sát mục tiêu cho tên lửa trong điều kiện địch gây nhiễu.

        Người đầu tiên tôi gặp là đồng chí tiểu đoàn trưởng Phạm Trương Uy và các đồng chí trong Ban chỉ huy, kíp trắc thủ, SQĐK. Mọi người đang rất phấn khởi và khẩn trương chuẩn bị hành quân vượt sông Bến Hải tham gia trận đánh sắp tới. Lúc này đơn vị tập kết tại nông trường Việt - Xô, cách sông Bến Hải không xa vì điểm vượt sông cạn là Bến Than do công binh chọn sẵn.

        Một đêm đáng ghi nhớ nhất trong đời bộ đội của tôi. Đêm đầu tháng, trăng lúc tỏ lúc mờ, ngồi trên xe xích vượt sông tim tôi hồi hộp sung sướng muốn trào nước mắt. Không vui sao được, sau bao nhiêu năm chiến đấu hy sinh gian khổ nay mới được đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng này.

        Xa xa nhìn về phía Đông Hà, thỉnh thoảng vang lên tiếng đại bác tầm xa, tiếng súng cầm canh của địch đang co cụm, cố thủ Thành cổ Quảng Trị. Pháo sáng địch bắn treo lơ lửng trên không, vụt sáng, vụt tắt như báo hiệu ngày tàn của quân Mỹ - ngụy.

        Cuộc vượt sông Bến Hải của đơn vị được an toàn, sau khi qua sông, cả đơn vị tiếp tục hành quân theo cọc tiêu chỉ đường của công binh. Đi chệch ra khỏi hàng cọc tiêu chỉ đường, có thể bị dính bom, mìn địch cài lại mà bộ đội công binh ta chưa phá hết. Có những đoạn đường khó đi phải có người cầm đèn pin đi trước dẫn đường. Càng đi sâu vùng đất Quảng Trị mới giải phóng, càng thấy sự tàn phá của chiến tranh hủy diệt. Không gian đầy chết chóc, không một tiếng gà gáy, không một tiếng chó sủa. Trong ánh trăng mờ tỏ chỉ thấy ngút ngàn cỏ tranh, lau lách; xa xa trong màn đêm chỉ nhìn thấy một vài khóm chuối, khóm tre. Xóm làng tan hoang, đổ nát, một vùng đất chết được mệnh danh là hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:07:55 am
        Song để bù lại cho sự điêu tàn hoang vắng đó, thỉnh thoảng xuất hiện một vài đội viên du kích vùng ven, đang tuần tra và chỉ đường cho đơn vị.

        Đến gần 3 giờ sáng, đơn vị đã chiếm lĩnh trận địa (Hải Thinh - Do An - Quảng Trị). Trong quá trình chiếm lĩnh trận địa có 1 xe xích vướng mìn nổ, một đồng chí bị thương nhẹ, không ai hy sinh. Trận địa này trước đây có lẽ là khu vườn của dân vì xung quanh còn những khóm tre, một số cây ăn quả còn sống sót đang bắt đầu nảy mầm, hồi sinh lại.

        Toàn đơn vị khẩn trương triển khai khí tài, kiểm tra chức năng sẵn sàng chiến đấu, củng cố trận địa, ngụy trang, phòng chống bom bi và kiểm tra phương án chiến đấu. Trận địa vừa chiếm lĩnh nhưng xung quanh vẫn còn có một số xác lính ngụy chưa kịp chôn, quân trang, quân dụng, gạo sấy khô, mỳ ăn liền còn vứt vương vãi đó đây.

        Mấy hôm đó, đài báo có gió mùa về, kéo theo mưa phùn và rét nhẹ, do đó việc đơn vị chiếm lĩnh trận địa, ngụy trang, chuẩn bị chiến đấu cho đến thời điểm này đều diễn ra thuận lợi.

        Từ ngày 24 và 25-4-1972, đơn vị tiếp tục củng cố công sự, hầm cá nhân, ngụy trang trận địa, nghiên cứu đường bay B-52, quy luật hoạt động của không quân địch trên khu vực Quảng Trị. Tổ chức trực ban sẵn sàng chiến đấu. Mở máy thu nhiễu, nghiên cứu các dạng nhiễu, xác định các loại F bảo vệ B-52 (trong đội hình), nhiễu của EB66, nhiễu hạm tàu (ngoài đội hình), phân biệt giữa nhiễu B-52, các loại F và của EB66, hạm tàu với nhiễu của R-52.

        Toàn đơn vị hạ quyết tâm đánh thắng ngay trận đầu, trên mảnh đất Quảng Trị vừa được giải phóng, bảo vệ các đơn vị bạn trong diễn biến chiến dịch.

        Chiều 27-4-1972, đơn vị được lệnh vào cấp 1, sẵn sàng chiến đấu. 15 giờ mở máy thu nhiễu bám sát các tốp B-52. Trong xe chỉ huy SQĐK cũng như các xe khác trong kíp chiến đấu khẩn trương báo cáo tất cả đã sẵn sàng, mọi người căng thẳng, hồi hộp, sẵn sàng chờ lệnh của người chỉ huy, quyết đánh thắng trận đầu để hỗ trợ cho chiến dịch giải phóng Quảng Trị.

        Đến 16 giờ 57 phút được lệnh từ sở chỉ huy tiền phương, đánh vào tốp B-52 bằng phương pháp 3 điểm (phương pháp T.T) bám vào dải nhiễu và bắn 2 quả đạn tên lửa, đạn có điều khiển tốt. Sau đó SCH thông báo đã tiêu diệt được một chiếc B-52, đồng thời cho biết khi tên lửa bắn lên tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị đều reo hò phấn khởi, tạo khí thế chiến đấu cho bộ đội tham gia chiến dịch.

        Tiếp đến 19 giờ 57 phút, đơn vị lại được lệnh đánh tốp B-52 nữa, vừa đánh xong đơn vị được lệnh thu hồi khí tài, tiếp tục hành quân trong đêm di chuyển đến trận địa mới ở An Phú, Do An, Quảng Trị.

        Sau khi tên lửa ta đánh vào các tốp B-52, ngay sáng hôm sau (28-4-1972) địch tăng cường trinh sát trên không và đánh săm soi suốt ngày đêm, tạo cho tình hình chiến đấu rất căng thẳng và ác liệt. Song được sự chỉ huy chỉ đạo trực tiếp của Bộ tư lệnh tiền phương, đơn vị vẫn tiếp tục giữ vững tinh thần, ngụy trang trận địa và sẵn sàng chiến đấu cao.

        Trong 2 ngày 28 và 29-4-1972 vừa cơ động chiếm lĩnh trận đia, vừa triển khai khí tài sẵn sàng chiến đấu, mở máy thu nhiễu, nghiên cứu thủ đoạn gây nhiễu của địch. Sau khi bị tên lửa ta đánh, địch đã phản ứng điên cuồng, sử dụng các máy bay trinh sát, các loại F, đánh phá quần đảo suốt ngày đêm, song trận địa tên lửa vẫn không bị lộ.

        Chiều 30-4-1972, lệnh vào cấp 1, đến 16hl5' bắt mục tiêu một tốp B-52, ta phóng 2 quả đạn tên lửa nhưng đạn không điều khiển được vì phóng nhầm vào tốp F giả B-52.

        Ngày hôm sau địch lại cho máy bay trinh sát vũ trang đánh xăm và đánh trúng vào trận địa, gây tổn thất cho đơn vị. Khi bị địch phát hiện đánh vào trận địa, toàn đơn vị đã dũng cảm xông vào dập lửa, cứu các dồng chí bị thương, tổ chức kéo khí tài sơ tán. Anh em không ngại hy sinh, quên mình trước bom đạn của quân thù.

        Những ngày sau đó, đơn vị được lệnh rút về tuyến sau để củng cố, bổ sung quân số, sửa chữa khí tài, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới của Quân chủng.

        Đã hơn 30 năm trôi qua, nhưng những kỷ niệm trong những năm tháng sống chiến đấu bên những người bạn, người đồng chí trong Tiểu đoàn 64, đơn vị anh hùng còn sống mãi trong tôi. Đêm vượt sông Bến Hải trở về giải phóng quê hương, những đợt công tác xuống đơn vị, những chiến công của người lính và những mất mát trong chiến tranh, lúc nằm nghỉ tạm dưới gầm xe chờ lũ giặc trời đến để tiêu diệt...

        Dù cho năm tháng có qua đi, song những hình ảnh, những kỷ niệm về tình bạn, tình đồng chí, đồng đội vẫn ghi đậm trong tôi mãi mãi không phai mờ...


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:21:35 pm
       
NHỚ MÃI MỘT CHUYẾN BAY

Đại tá Chu Thái                   
Nguyên cán bộ — Bộ Tham mưu       

        Sáng 22 tháng 12 năm 1972, đã bước sang ngày thứ năm máy bay B52 Mỹ ném bom rải thảm vào Hà Nội.

        Đã hơn 7 giờ sáng mà trời vẫn còn tối, bởi lớp mây mù bao phủ trên khắp bầu trời miền Bắc. Trời rét đậm và lất phất mưa vì đợt gió mùa đông bắc vừa mới tăng cường vào tối hôm trước.

        Trong thành phố, vẫn còn những đám cháy lớn, khói đen bốc cao ngùn ngụt bởi các đợt bom B52 vừa mới rải thảm vào lúc nửa đêm về sáng.

        Khoảng gần 8 giờ, sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ nhận được thông báo từ Bộ Quốc phòng: Theo nhận định của Bộ Tổng tham mưu, từ 18 đến 21 tháng 12 địch đánh vào Hà Nội, bộ đội PK-KQ và lực lượng phòng không địa phương, dân quân tự vệ đánh tốt đã hạ gục tới 15 chiếc B52 và 13 máy bay chiến thuật. Bọn giặc lái B52 rất hoang mang, chúng rất sợ bay vào tọa độ lửa Hà Nội. Để ổn định tinh thần bọn giặc lái, đêm nay địch hoạt động sẽ giãn ra xa, chúng sẽ sử dụng B52 đánh vào thành phố Hải Phòng.

        Chúng tôi gồm 4 cán bộ Bô tham mưu Quân chủng PK-KQ có nhiệm vụ đáp máy bay xuống ngay Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng để phổ biến những kinh nghiệm đánh thắng B52 và máy bay chiến thuật của bộ đội phòng không Hà Nội mấy ngày vừa qua cho bộ đội tên lửa và pháo cao xạ thuộc Sư đoàn Phòng không 363, bảo vệ thành phố Hải Phòng.

        Bộ Tư lệnh Quân chủng đã lệnh cho Bộ Tư lệnh Phòng không 363 triệu tập các cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn tên lửa, cán bộ trung đoàn, đại đội pháo cao xạ cùng cán bộ tham mưu của sư đoàn, 15 giờ có mặt tại Sư đoàn để nghe phổ biến kinh nghiệm chiến đấu của Hà Nội.

        Không quân đã chuẩn bị một máy bay An-2 tại Gia Lâm, khi chúng tôi sang là cất cánh đi Hải Phòng được ngay. Xe con chở chúng tôi vào trung tâm thành phố Hà Nội, cảnh nhà cửa, cây cối đổ nát tan hoang, đi qua phố nào cũng gặp những người đội khăn tang, khóc thương những người thân của mình vừa mới qua đời do bom B- 52 tàn sát đêm qua.

        Có những chỗ còn đang tập trung đào bới, cẩu những mảng bê tông và xúc những đống gạch vụn để moi những người ở dưới hầm lên cấp cứu, hồi sức và băng bó. Chúng tôi không cầm được nước mắt trước những cảnh tang thương man rợ do B-52 Mỹ đã ném bom rải thảm xuống Hà Nội trong mấy đêm qua.

        10 giờ 30, chúng tôi đến đầu cầu phao Bác cổ, nhưng không kịp vì cầu đã được dỡ từ lúc 10 giờ sáng để đi sơ tán.

        Chúng tôi cho xe chạy theo dọc bờ sông Hồng để xuống bến phà Khuyến Lương. Nhờ có lá cờ ưu tiên mà chúng tôi đã vượt hết đoàn xe này đến đoàn xe khác, xuống đến bến phà Khuyến Lương thì thấy hàng chục xe đã được điều động sắp hàng kín đường xuống phà. Cũng may bến Khuyến Lương có hai phà liên tục hoạt động, nên chúng tôi chỉ chờ khoảng 20 phút đã được sang sông.

        Xe chạy với tốc độ nhanh. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã nhìn thấy sân bay Gia Lâm. Từ trên bờ đê nhìn vào sân bay vẫn thấy nhiều đám khói mù mịt, những chiếc máy bay vận tại hỏng nát đang cháy dở dang, các hang ga sửa chữa máy bay đều đổ nát hoang tàn.

        Đường vào sân bay còn chi chít những hố bom do B-52 rải thảm mấy đêm qua. Chúng tôi đành bỏ xe, trèo qua tường, vượt qua những đống sắt thép, xi mãng, gạch vụn đổ nát, thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy một vài quả bom chưa nổ, găm trên đường băng của sân bay.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:23:37 pm
        Sân bay Gia Lâm lúc này vắng tanh vắng ngắt, chỉ nhìn thấy những đám cháy, đám khói mù mịt và mùi dầu, mỡ cháy khét lẹt. Mỗi lần địch vào đánh Hà Nội thế nào cũng có những tốp vào khống chế sân bay, nếu có máy bay ta xuất hiện trên đường băng là ném bom hoặc đã xuất kích thì bám đuôi bắn hạ. Chúng tôi chạy gần đến đầu đường băng; nghe có tiếng gọi: “Các đồng chí đi Hải Phòng phải không?”. Một đồng chi sĩ quan trực ban ra đón chúng tôi đưa vào hầm chỉ huy, chiếc hầm được xây khá chắc chắn. Ở đây chúng tôi thấy kíp lái sẵn sàng, quần áo bay đã mặc chỉnh tề. Ngay sau đó, từ sở chỉ huy sân bay Trung đoàn 919 đã ra lệnh cho kíp thợ sử dụng một xe tải kéo chiếc An-2 từ hầm cất giấu ra đường băng và một tốp chiến sĩ, người chổi, người cẩm xẻng, cầm xô ra quét đường băng. Chỉ trong vòng 10 phút, đoạn đường băng phía trước An-2 đã sạch băng. Chiếc An-2 nổ máy, cánh quạt quay tít, chúng tôi được lệnh lên máy bay, nhưng lại một sự cố mới xuất hiện, cửa máy bay bị vênh do chấn động của bom nên đóng không khít được. Chỉ một lúc sau tổ thợ đưa cho đồng chí lái phụ một thanh sắt dài khoảng 2 mét, rộng hơn cánh cửa và một bó dây điện và dận cần ghì chặt thanh sắt và buộc kỹ vào cửa.

        Máy bay được lệnh cất cánh, đồng chí lái quay lại phía chúng tôi nói: ‘Ta đi thôi các đồng chí ạ”. Chiếc máy bay rung nhẹ, từ từ lăn bánh, rồi lao vun vứt về phía trước để lấy tốc độ cất cánh. Máy bay lên ổn định thì sở chỉ huy mặt đất báo lên: “Có máy bay địch”. Nhạy bén với tình huống, đồng chí lái cho máy bay hạ thấp độ cao, chúng tôi nhìn rõ phố Như Quỳnh, rồi các rặng phi lao trên dọc đường 5 lướt qua. Bay qua phố Kẻ Sặt thì những chùm đạn súng máy của dân quân đỏ rực từ mặt đất bắn lên, bay xa phía trên mũi máy bay. Chúng tôi trao đổi với nhau, có khi không chết vì đạn Mỹ mà lại ăn đạn của dân quân vì trình độ nhận dạng phân biệt máy bay địch của anh em ta chưa thành thạo. Đồng chí lái lập tức cho chiếc An-2 bay cao hơn một chút, để tránh khả năng sát thương của súng máy và súng trường.

        Bay thêm khoảng 15 phút nữa, chúng tôi dần dần nhìn rõ ngọn đồi Thiên Văn - Phù Liễn - Kiến An. Sau đó đường băng sân bay Kiến An đã hiện rõ trước mắt. Mọi người trên máy bay rất mừng nhìn thấy các phát pháo hiệu xanh bắn lên, báo cho biết đường băng an toàn cho phép hạ cánh. Chiếc An-2 lập tức hạ thấp độ cao, tốc độ giảm dần để tiếp đất, nhưng chỉ một loáng sau mọi người lại nhìn thấy một phát pháo hiệu đỏ bay ngang trước mặt, đồng chí hoa tiêu hét to: “Cớ địch bấm đuôi ” Máy bay khựng lại thì một loạt đạn rốc két vượt qua đầu chúng tôi, đạn nổ khói mù mịt ngay đoạn đường băng trước mặt, 2 chiếc F4 bay rất thấp, rẹt qua đầu với tốc độ rất nhanh. May quá, chiếc An-2 dừng hẳn trên đường băng an toàn. Cửa máy bay vừa mở, tôi ngoái lại dặn với đồng chí lái: “Thôi bay đì, chiều mai 16 giờ quay lại đây đốn chúng mình về Hà Nội". Lập tức chúng tôi nhảy xuống đường băng và chạy vội tới một hố bom gần nhất để ẩn nấp. Một loạt bom nổ ngay cuối đường băng, đất đá rào rào bay trên đầu, bom nổ xong tai chúng tôi ù đặc, quần áo người nào người ấy đầy bùn đất trắng xóa. Cũng rất may không ai bị thương.

        Đứng dậy chúng tôi đã thấy ngay một chiếc PA3- 63 đứng cạnh hố bom. Đồng chí sĩ quan phụ trách xe vừa thét vừa ra hiệu cho chúng tôi lên xe ngay, chiếc xe nhanh chóng rời khỏi đường băng và đi tới chiếc hầm nằm ngay sát cạnh sở chỉ huy của sân bay.

        Khoảng mấy phút sau, một chiếc GA3- 63A đến đón chúng tôi để đưa về sở chỉ huy Sư đoàn 363. Các đồng chí thủ trưởng sư đoàn và vài cán bộ cơ quan ra đón hết sức xúc động. Đồng chí Bùi Đăng Tự- Tư lệnh sư đoàn nói ngay: “Chúng tôi theo dõi chiếc An-2 của các cậu từng giây từng phút, địch đánh hơi rất nhậy, nó luôn bám sát các cậu mà không hạ được các cậu, quả thật các cậu giỏi quá! Các cán bộ quân chính toàn sư đoàn đang ngong ngóng chờ các cậu trong hội trường, trừ một số tiểu đoàn trưởng tên lửa, đại đội trưởng cao xạ theo lệnh Quân chủng vê làm công tác chuẩn bị chiến đấu từ lúc 17 giờ, nhưng không sao, chúng tớ đã cố cách, đem kình nghiệm của các cậu đến từng đơn vị trước khi B-52 đánh".


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 07:25:15 pm
        Vẫn giữ nguyên những bộ quần áo lem luốc trên mình, chúng tôi vừa bước vào hội trường, đồng chí Tư lệnh sư đoàn đã giới thiệu ngay: “Xỉn giới thiệu với các đồng chí, đây là các đồng chí trợ lý Bộ tham mưu Quân chủng vừa bay một chuyến bay đầy dũng cảm, mang kinh nghiệm đánh B-52 từ Hà Nội đã đến được với chúng ta" . Tiếng vỗ tay cả hội trường vang lên không dứt.

        Vào đề luôn, chúng tôi phổ biến ngay những quy luật và thủ đoạn đánh phá của B52, đặc biệt nhấn mạnh những điểm yếu “cốt tử” mà chúng đã bộc lộ rõ trong mấy đêm qua.

        Mặc dù nhiễu điện tử rất nặng, bằng nhiều phương tiện gây nhiễu khác nhau, nhưng ta tích cực phát song ngắt quãng, tín hiệu B-52 nhiều lúc vẫn nổi lên trên nền nhiễu. Dải nhiễu của B-52 sáng hơn, đậm đặc hơn va tính ổn định rất cao so với giải nhiễu của các loai máy bay, chiến thuật và khi vào gần khoảng hơn l0 km thì tách dải. Khi ta phóng proc giả, dải nhiễu B-52 ít thay đổi, còn máy bay chiến thuật đi bảo vệ R-52 bỏ chạy, dải nhiễu biến thiên rất nhanh vì chúng cơ động cả về góc tà, góc phương vị.

        Về chiến đấu của bộ đội tên lửa phòng không, trước tiên là phải dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, vận dụng linh hoạt phương pháp bắn, chế độ bám sát. Phát sóng đúng thời cơ từ 35 km trở vào, thấy được tín hiệu mục tiêu B- 52 phải vận dụng phương pháp bắn, chế độ bám sát tốt nhất để bắn rơi B-52 tại chỗ. Bắn đón, bắn đuổi, bắn khi chúng lượn vòng là lúc tín hiệu mục tiêu B-52 dễ nổi lên trên nền dải nhiễu để ta đánh tiêu diệt. Trước khi bắn phải triệt để sử dụng RPK giả để phân biệt B-52 thật - giả, khi thấy tín hiệu B-52 thực hiện đánh bồi, đánh nhồi để tiêu diệt chúng.

        Về pháo cao xạ, chủ yếu đánh máy bay chiến thuật nhất là chúng đánh xen kẽ giữa hai đợt đánh phá của B52 vào ban đêm và đánh ban này nhằm khống chế các đầu mối giao thông, đánh phá các sân bay, trận địa tên lửa và ra đa. Pháo 100 ly tích cực tham gia đánh B52 trong tầm hỏa lực của mình. Ban đêm cần tận dụng đánh bằng khí tài, kết hợp với tay quay. Đối với loại máy bay bay thấp, cực thấp như F-111A thì tận dụng các loại súng máy phòng không 14,5 ly, pháo 23 ly, tạo màn đạn đón lõng các đường bay đã dự kiến. Ban ngày phải vận dụng linh hoạt phương pháp bắn, kết hợp cả khí tài và tay quay.

        Điều quan trọng nhất để bắn rơi tại chỗ được các loại máy bay địch, nhất là B52 phải có lòng quyết tâm thật cao, bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí sáng tạo trong cách đánh, nhất là người chỉ huy và kíp chiến đấu.

        Cuối cùng, đồng chí Tư lệnh sư đoàn đã chỉ thị cho các cán bộ trung, tiểu đoàn và cán bộ cơ quan nhanh chóng về ăn cơm và phân công nhau xuống từng đơn vị phổ biến những kinh nghiệm Hà Nội ngay cho các kíp chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa, đại đội cao xạ. Còn đoàn trợ lý chúng tôi cũng đã được Bộ tư lệnh sư đoàn chiêu đãi một bữa cơm thân mật thời chiến, nhưng có đủ thịt gà, rau tươi do chính bàn tay các đồng chí chăn nuôi, trồng trọt và chăm bón. Sau đó chúng tôi đã theo các trung đoàn xuống các tiểu đoàn tên lửa, đại đội cao xạ trực tiếp hướng dẫn và huấn luyện cho các kíp chiến đấu với phương châm: Địch chưa đến tranh thủ huấn luyện, địch đến là đánh được ngay.

        Đúng như dự đoán của Bộ Tổng tham mưu, đêm 22 tháng 12 năm 1972, địch đã sử dụng 24 máy bay B-52 và 270 lượt/chiếc máy bay chiến đấu chiến thuật vào đánh Hải Phòng. Do làm tốt công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu và vận dụng kịp thời những kinh nghiệm chiến đấu nóng hổi của bộ đội Phòng không Hà Nội, đêm 22 tháng 12 năm 1972, bộ đội Phòng không Hải Phòng đã bắn rơi 2 máy bay B-52 và 1 chiếc máy bay chiến đấu chiến thuật của Mỹ.

        Sáng sớm 23 tháng 12, đồng chí Bùi Đặng Tự thông báo cho chúng tôi biết một tin sốt dẻo: Các đài phương Tây vừa đưa tin, chiều 22-12, không lực Hoa Kỳ đã bắn hạ chiếc chuyên cơ chở Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Võ Nguyễn Giáp xuống thị sát mặt trận Hải Phòng. Chúng có ngờ đâu chính chiếc chuyên cơ ấy là chiếc An-2 đã chở đoàn trợ lý Bộ tham mưu Quân chủng PK-KQ chúng tôi xuống công tác tại Hải Phòng. Đây là phán đoán sai lầm của tình báo Mỹ.

        Chuyến bay của chúng tôi từ Hà Nội xuống Hải Phòng ngày 22 tháng 12 năm 1972, là chuyến bay đột xuất trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Hà Nội - Hải Phòng trong 12 ngày đêm, đã để lại cho mỗi người chúng tôi những kỷ niệm sâu sắc mà mãi mãi không bao giờ quên.


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:23:50 pm
         
BÀI CA THAM MƯU

Đi qua hai cuộc chiến tranh,
Thời gian quá nửa với ngành tham mưu,
Già rồi, an nghỉ cảnh hưu
Viết đôi câu chuyện để lưu lại đời.
Tham mưu biết rõ ta - người,
Mới mong phần thắng nằm nơi tay mình.
Quyết tâm, kế hoạch phân minh,
Nhờ dày chuẩn bị tận tình công phu,
Lựa chiều ứng biến thời cơ,
Luôn luôn giữ vững nước cờ tiến công.
Tham mưu tác chiến phòng không,
Đừng quên cái nghiệp hiệp đồng nhiều bên.
Thắng thua là lẽ tất nhiên,
Đánh xong tổng kết truy nguyên rõ ràng.
Tìm ra cho được điều cần,
Bổ sung kế hoạch cho lần đánh sau.
Hai lần địch đánh hỏng cầu,
Lần ba nó phải cụt đầu mất đuôi.
Tham mưu có mặt tận nơi,
Thời cơ, trận địa kịp thời chỉnh ngay,
Mưu sâu, chí lớn gan dày,
Luôn luôn đáp ứng yêu cầu chỉ huy.
Lúc thắng phải tính lúc nguy,
Có nhiều phương án tính suy kỹ càng,
Chiến thuật hay mà nhát gan,
Thương vong thất bại hận mang suốt đời.
Thần thiêng nhờ bộ hạ tài,
Luôn nâng trí thức, trau dồi tác phong,
Đã đành tập thể lập công,
Công đầu luôn thuộc anh hùng tham mưu.

Đại tá Tâm Trinh          
Nguyên Tham mưu phó Quân chủng

TÂM SỰ

Gửi bạn Cựu chiến binh

                 Mong đất nước bền vững ngàn năm
                 Mong Đảng ta trong sáng mãi.

                 Đời người lính - Một thời rong ruổi,
                 Khắp chiến trường Nam Bắc Đông Tây.
                 Tuổi xế chiều suy ngẫm đó đây,
                 Tóc bạc trắng mắt mờ chân chậm.
                 Dù đôi lúc nhớ quên lẩn thẩn,
                 Vẫn khắc sâu hai chữ tình thân.
                 Gìn giữ mãi nghĩa tình đồng đội,
                 Dù thế sự bể sâu biến đổi,
                 Vẫn đinh ninh tạc dạ ghi lòng,
                 Sáng ngời một tấm gương trong,
                 Nguyên trọn vẹn một đời trung nghĩa.
                 Bạn hữu xa gần đồng tâm suy nghĩ,
                 Sức đang còn ta cống hiến - tiếc chi!
                 Vì nghĩa lớn không nghĩ suy hơn thiệt,
                 Dẫu cuộc đòi có đôi khi oan nghiệt,
                 Dù đó đây còn nhức nhối đáng buồn,
                 Lẽ thường trong cuộc sống bon chen,
                 Tin mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp.

                 Cứ vui lên! Cho tới ngày vĩnh biệt,
                 Nghĩa tình này giữ lại con em.
                 Cuộc sống sẽ êm đềm hạnh phúc
                 Bạn ơi! Ta sống vinh, quyết không sống nhục!


Xuân Mậu Tỷ - 2008                
Nguyễn Đình Hậu                
Đại tá Nguyên Trưởng phòng Quân lực  
Quân chủng Phòng không - Không quân
 


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:32:39 pm
BÁC

                 Cuộc đời của Bác, trước sau,
                                  nặng giàu thủy chung tình nghĩa,
                 Trải dặm trường, nếm đủ, mặn, nhạt, chua cay,
                 Bác đặt đường ray, cho con tàu lăn bánh,
                 Bác làm lá chắn, che giá lạnh, cho hạt nảy mầm.
                 Bác tạo bóng râm cho vườn cây nảy lộc,
                 Bác - Một công bộc sống giữa đời thường,
                 Đem tình thương vun trồng nhân cách,
                 Bác như cây tùng, cây bách, như mạch
                                  nước ngầm chảy mãi không ngơi.
                 Gạn đục, khơi trong mát cho đời,
                                  ngọt lời dầy trang sách,
                 Cuộc đời Bác trong sạch, thanh cao,
                                  dạt dào đầy nhựa sống,
                 Qua nhiều biến động, vẫn lồng lộng không mờ.
                 Bác có một ham muốn ước mơ theo sát cuộc đời,
                                                            cứu dân, cứu nước,
                 Bác gieo trồng mầm nhân, thu về quả đức,
                 Bác - Một con người mẫu mực, có một không hai,
                 Bảy mươi chín mùa xuân, một thiên tài
                                                     Hồ Chí Minh bất tử.
Đại tá Lê Hỷ           
Nguyên cán bộ tham mưu


[size=140pt]ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP NGƯỜI ANH CẢ CỦA QUÂN ĐỘI TA[/size]

                           Đại trí, đại nhân thật vẹn đầy,
                           Tướng tài kiệt xuất hiếm xưa nay,
                            công hiển hách lừng vang dội,
                           Nguyên là nhà giáo đất rồng bay.
                           Giáp cốt dường như từ thiên tạo,
                           Người như đại thụ vút trời mây,
                           Anh minh trung nghĩa lòng bác ái,
                           Cả nước ghi ân đức cao đầy.
                           Của báu địa linh Phong Nha Động,
                           Quân tướng tình thâm sánh danh thầy,
                           Đội ngũ kiên cường theo chân Bác,
                           Ta về mừng thọ thỏa lòng thay.
Đại tá Lê Hỷ                  
Nguyên cán bộ Tham mưu Quân chủng


Tiêu đề: Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:53:38 pm
        
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/Bo%20TMPKKQ%20-%200436_zps3xmfgiuo.jpg)

MỤC LỤC

TTNỘI DUNGTác giả
1Lời giới thiệuBan Biên tập
2Sự hình thành và phát triển của cơ quan tham mưu QC PKKQ Hoàng Ngọc Diêu
3Đôi dòng tâm sự.Nguyền Quang Bích
4Nhớ lại công tác tham mưu phòng không trong chiến tranh.Dương Hán
5Một kỷ niệm về tình hữu nghị Việt - Trung trong kháng chiến.Lê Văn Thiêm
6Sư kiện đêm 16 tháng 4 năm 1972.Lê Huy Vinh
7Kỷ niệm về tên lửa chiến đấu Tây Trường Sơn.Vũ Xuân Vinh
8Những năm tháng tôi làm công tác tham mưu.Phan Thái
9Một số kinh nghiệm đánh máy bay Mỹ bảo vệ Hà Nội trong chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1967.Ngô Huy Biên
10Những ngày tháng nhớ mãiNguyễn Văn Ninh
11Nhớ lại những ngày đầu về Bộ Tham mưu QC PKKQ Phan Thu
12Những ngày ở sở chỉ huy tiền phương QC PKKQ trong Chiến dich Tri - Thiên năm 1972.Lê Huy Vinh
13Cùng các đơn vị nghiên cứu biện pháp đối phó với tên lửa tự dẫn "Sơrai" (Shrike) của địch.Hoàng Bát
14Bộ Tham mưu PK KQ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.Nguyễn Tâm Trinh
15Chỉ huy tham mưu không quânHà Văn Chấp
16Ký ức tham mưuNguyễn Bắc
17Đổng chí Nguyễn Quang Tuyến với bộ đội tên lửa phòng khôngNguyễn Tiến Thu
18Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng trong Chiến dịch Tri - Thiên năm 1972.Phạm Sơn
19Mẩu chuyện quanh sở chỉ huy Quân chủng.Nguyễn Văn Thân
20Công tác tham mưu rađa trong chiến tranh.Trần Liên
21Đôi điều suy ngẫm về công tác quân báo trinh sát phòng không - không quân.Lê Tư
22Cán bộ tham mưu phòng không tham gia Chiến dich Hồ Chí MinhLưu Trọng Lân
23Công tác tham mưu ở Quân chủng Phòng không - Không quânLê Cổ
24Mối quan hệ "thần" thiêng nhờ "bộ hạ".Hà Văn Chấp
25Đưa tên lửa sang Tây Trường Sơn đánh máy bay AC-130.Nguyễn Tiếu Thu
26Những khó khản, trở ngại và ý chí quyết chiến của bộ đội không quân trong trận Điện Biên Phủ trên không nãm 1972.Nguyễn Văn Chuyên
27Những ngày đầu tiên trên chiến trường "Cán Xoong" Khu IV.Lê Đức Khuê
28Làm tham mưu phán đoán tình huống: 1,2... khả năng?Lê Văn Thiêm
29Đôi điều tâm đắcNguyễn Đình Hậu
30Trinh sát nhiễu trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc MỹPhan Thu
31Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng tại sân bay Tân Sơn NhấtNguyễn Bắc
32Trước ngày 17 tháng 2 năm 1979 - chuyện xưa nay mới kể.Quách Hải Lượng
33Một số mẩu chuyện.Lê Cổ
34Mỹ sử dụng CTĐT để đối phó các lực lượng PK-KQ từ năm 1964 - 1972.La Văn Sàng
35Sở chỉ huy trung đoàn cao xạ trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.Nguyễn Mạnh Đàn
36Nhớ lại hoạt động của Phòng Khoa học quân sự Quân chủng PK-KQ những năm 1966 - 1968Nguyễn Văn Thụ
37Tham khảo lời khai của một giặc lái Mỹ.Chu Thái
38Những trận đánh chìm tàu biệt kích Mỹ -ngụy trên biển Đông của máy bay An-2.Nguyên Văn Chuyên
39Chúng tôi tiếp quản sân bay Đà Nẵng.Nguyễn Bắc
40Đoàn công tác đánh B-52.Lê Đức Khuê
41Trung đoàn 238 ở chiến trường Vĩnh LinhNguyễn Vãn Khuyến
42Cây rừng Trường Sơn đã cứu chúng tôi thoát chết.Lã Đình Chi
43"Lần dẫn đường đầu tiên của tôi" trên bàn tròn sở chỉ huy Quân chủng 20-9-1965Nguyễn Văn Chuyên
44Sư đoàn Phòng không 673Nguyễn Mạnh Đàn
45Đi làm binh yếu địa chíNguyễn Tâm Trinh
46Kỷ niệm không quên về thông tinNguyễn Đinh Núi
47Nhiễu B-52 - Hiệu quả bộ đội tên lửa đánh B-52 ở hành lang 559, Quảng Binh, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng và 12 ngày đêm B-52 đánh vào Hà Nội.386La Văn Sàng
48Một trận nghi binh lừa địchChu Thái
49Đi đốc chiến trong chiến tranh.Tâm Trinh
50Đảm bảo thông tin cho bộ đội tên lửa ra quân đánh thắng trận đầu.Nguyễn Tài Hướng
51Một ngày đáng nhớ ở Nghi Kiều - Nghi Văn - Nghệ An.Lê Đình Duật
52Hai lần đi công tác bằng máy bay quân sự.Phan Văn Toản
53Đêm Quảng Trị.La Văn Sàng
54Nhớ mãi một chuyên bay.Chu Thái
55Bài ca tham mưuTâm Trinh
56Tâm sựNguyễn Đình Hậu
57BácLê Hỷ
58Đại tướng Võ Nguyên Giáp người anh cả quân đội taLê Hỷ
59Người canh giữ bầu trờiĐỗ Văn Phúc

BẢNG GIẢI THÍCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

a   Tiểu đội
b   Trung đội
c   Đại đội
d   Tiểu đoàn
e, 1   Trung đoàn, lữ đoàn
f   Sư đoàn
QĐ   Quân đoàn
QK   Quân khu
BĐ   Binh đoàn
QC   Quân chủng
PK-KQ   Phòng không - Không quân
QC H.Q   Quân chủng Hải quân
MBCL   Máy bay chiến lược
MBCT   Máy bay chiến thuật
xc   Cao xạ
Radar   Rađa
BCTL   Binh chủng Tên lửa
KQ   Không quân
TCPK   Tác chiến phòng không
CDPK   Chiến dịch phòng không
TCĐT   Tác chiến điện tử

PPK 37mm   Pháo phòng không 37 milimét
SCH   Sở chỉ huy
SCHTP   Sỏ chỉ huy tiền phương
CQTM   Cơ quan tham mưu
BTL   Bộ Tư lệnh
PK   Phòng không
KQTK   Không quân tiêm kích
KHQS   Khoa học quân sự
TMT   Tham mưu trưởng
CPC   Campuchia
TTLL   Thông tin liên lạc
KNL   Không người lái
VTĐ   Vô tuyến điện
CTĐT   Chiến tranh điện tử

HẾT