Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 03:18:52 AM



Tiêu đề: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 03:18:52 AM
        
        - Tên sách: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
        - Tác giả: Nguyễn Công Huy
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Lao Động
        - Số hóa: Giangtvx

        - Thông tin thêm: Là  một đồng đội của Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Công Huy kể lại những năm tháng của người anh hùng trong cuộc đọ sức với không lực Mỹ .

        Nguyễn Công Huy cũng là thành viên trong diễn đàn, có nickname là Phicôngtiêmkích. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trong các topic mà ông thành lập và chủ trì. Có thể trao đổi trực tiếp với tác giả ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=29092.0

        MỤC LỤC

        - Lời giới thiệu
        - Lời mở   
        - Trở thành học viên bay
        - Trung đoàn chiến đấu và hoạt động của các phi công bay đêm   
        - Tham chiến trong "Chiến dịch 12 ngày đêm"   
        - Ngôi sao không tắt   
        - Lời khép   
 
Xin trân trọng giới thiệu

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/Bia%20-%200003_zpsfjzur4u4.jpg)


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2024_zpshgce2vpj.jpg)


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%206_zpskxs2eppo.jpg)
Phi công anh hùng liệt sĩ Vũ Xuân Thiều
       


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 09:46:37 AM
         
LỜI GIỚI THIỆU

                Trải mấy ngàn năm trong suốt chặng đường  lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có biết bao trận đánh - những trận quyết chiến chiến lược, đều giành được những thắng lợi vẻ vang.

        Các trận chiến trên đất liền, trên sông, trên biển với những chiến công vang dội còn lưu truyền mãi cho ngàn đời sau như trận đánh bại quân Nam Hán do Hoàng Thao cầm đầu (năm 938) của Ngô Quyền, trận đánh bại quân Tống trên sông Như Nguyệt (1077) của Lý Thường Kiệt, đánh tan quân Nguyên - Mông (1288) do Ô Mã Nhi cầm đầu của nhà Trần trên sông Bạch Đằng, trận Chi Lăng - Xương Giang (1428) đại phá quân Minh do Liễu Thăng - Mộc Thạch chỉ huy của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, trận đại phá quân Thanh ở Đống Đa - Ngọc Hồi, đánh thẳng vào Tổng hành dinh của Tôn Sĩ Nghị ở Tây Long Cung (1789) của Quang Trung, trận quyết chiến chiến lược đánh bại thực dân Pháp, bắt sống tướng Đờ Cát Tơ Ri ở Điện Biên Phủ (1954) của Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

        Và, lần đầu tiên trong lịch sử, mặt trận trên không đã được mở. Bộ đội Phòng Không - Không Quân - một lực lượng non trẻ của Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã biết kế thừa và phát triển đến trình độ cao những tính hoa quân sự truyền thống của cha ông, được sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, trực tiếp là Quân ủy Trung Ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, sự yêu thương đùm bọc và giúp đỡ của nhân dân, đã lập nên những chiến tích phi thường.

        Đỉnh cao của những chiến tích ấy là đã đánh bại cuộc tập kích đường không chủ yếu bằng máy bay ném bom chiến lược B - 52 - loại "siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm" của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác vào cuối tháng 12 năm 1972, làm nên chiến thắng "Điên Biên Phủ trên không" huyền thoại trong vòng 12 ngày đêm.

        Tác giả cuốn "Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử" coi những dòng viết của mình như nén tâm nhang và như sự tri ân tưởng nhớ Anh hùng liệt sĩ Vũ Xuân Thiều cùng các liệt sĩ phi công khác - những người đã xếp lại những đôi cánh bay của mình trong các trận không chiến, góp phần giành lại cho bầu ười Tổ quốc sự yên bình.

        Tác giả cũng muốn được chia sẻ và biết ơn đến tất cả các lớp phi công đã từng bỏ bao sức lực, trí tuệ của mình cho các chuyến bay, cho các trận chiến vì sự thắng lợi, vì sự nghiệp chung, dù ở bất kỳ cương vị nào cũng chỉ coi mình như những người lính canh trời, quyết không để bầu trời bị kẻ thù xâm lấn.

        Trong những trận chiến giành quyền làm chủ bầu trời, có biết bao tấm gương hy sinh quên mình chưa được nhắc đến, đặc biệt là với đội ngũ phi công bay đêm. Tác giả muốn góp một phần nhỏ để bạn đọc hiểu thêm về đội ngũ phi công bay đêm với những chiến công, với sự gian lao, vất vả và sự hy sinh thầm lặng của họ trong cuộc chiến tranh khốc liệt, khi kẻ thù muốn đưa đất nước ta trở về "thời kỳ đồ đá"...

        Trong chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", lực lượng đánh đêm chi có hơn chục phi công, trong khi các sân bay lại bị địch đánh phá ác liệt, đường băng, đường lăn vỡ nát, xung quanh còn đầy rẫy bom thù, nhưng đội ngũ phi công bay đêm vẫn chấp nhận khó khăn, đối mặt với hiểm nguy, cất cánh chia lửa với các lực lượng phòng không khác để đánh địch, góp phần giành thắng lợi, vẻ vang...

        Viết về người Anh hùng liệt sĩ - phi công Vũ Xuân Thiều không thể không viết đến các đồng đội, đồng chí của Anh - những phi công bay đêm, đánh đêm khác đã từng sống, từng chiến đấu cùng với người Anh hùng suốt cả trong giai đoạn dài kể từ ngày đi học bay đến ngày thành phi công chiến đấu của Trung đoàn Không quân chiến đấu. "Một cây làm chẳng nên non". Người Anh hùng liệt sĩ là mối dây liên lạc mật thiết để bạn đọc hiểu thêm các đồng đội của Anh.

        Với nhiệm vụ đánh B - 52, trận đánh đêm 20 tháng 11 năm 1971 của Vũ Đình Rạng - người đầu tiên giáp mặt và bắn trọng thương "siêu pháo đài bay B - 52" đã khẳng định: phi công bay đêm có thể hạ gục được B - 52.

        Trận đánh đêm 27 tháng 12 năm 1972 của Phạm Tuân như đã "trả được món nợ" của Không quân khi bắn rơi tại chỗ B - 52, và trận đánh đêm 28 tháng 12 năm 1972, Vũ Xuân Thiều đã lập nên kỳ tích sáng ngời tấm gương Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng...

        Để có được một chuyến bay, nhất lại là một chuyến bay chiến đấu cất cánh được lên trời, phải có biết bao nhiêu thành phần phục vụ, đảm bảo cho chuyến bay ấy mới có thể hoàn thành nhiệm vụ.

        Trong khuôn khổ cuốn sách này, tác giả xin chỉ được nói đến đội ngũ phi công, chủ yếu là phi công bay đêm, đánh đêm bay trên loại máy bay MIG - 21.

        Trong quá trình tìm hiểu, khai thác các tư liệu có liên quan đến nội dung cuốn sách này, tác giả đã nhận được sự cổ vũ, động viên và sự nhiệt tình giúp đỡ của nhiều thành phần. Xin được bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình anh Vũ Xuân Thiều và các anh phi công tiêm kích chiến đấu - những đồng đội, đồng chí và bạn hữu của anh Vũ Xuân Thiều.

        Cuốn sách có thể còn có nhiều khiếm khuyết. Rất mong bạn đọc góp ý. Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ       


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 09:55:42 AM
       
LỜI MỞ

        Tháng 4 năm 1965 ở trường Đại học Bách khoa đã xảy ra một sự kiện đặc biệt. Đó là 10 chàng trai - 10 sinh viên của trường có lệnh nhập ngũ vào Quân chủng Phòng Không - Quân để được đi đào tạo thành những người lái máy bay - những phi công tiêm kích chiến đấu.

        10 chàng trai sinh viên đó là:

        Vũ Xuân Thiều - sinh viên năm thứ ba

        Trần Ngọc Nhuận - sinh viên năm thứ ba

        Nguyên Phú Đức - sinh viên năm thứ haí

        Đặng Xây - sinh viên năm thứ hai

        Trần Thông Hào - sinh viên năm thứ nhất

        Hoàng Quốc Dũng - sinh viên năm thứ nhất

        Doãn Thắng - sinh viên năm thứ nhất

        Phạm Văn Vịnh - sinh viên năm thứ nhất

        Nguyễn Văn Phúc - sinh viên năm thứ hai

        Nguyễn Tiến Sâm - sinh viên năm thứ nhất

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%203_zpsgs4lwej2.jpg)
10 phi công chiến đấu MIG-21 sinh viên trường đại học Bách Khoa Hà Nội

        Trong số 10 sinh viên này, có Vũ Xuân Thiều và Nguyên Phú Đức là cùng học lớp Vô tuyến điện thuộc khoa Điện. Tất cả các anh đều học xong năm thứ nhất, thứ hai, còn anh Thiều, anh Nhuận thì đã học hết năm thứ ba rồi.

        Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa thời bấy giờ là thày Hoàng Xuân Tùy, Bí thư Đảng ủy là thày Bùi Nguyên Cát đã tổ chức chiêu đãi bữa cơm trưa thân mật, gặp mặt 10 sinh viên của mình để động viên và chia tay các trò trước khi sang Liên-Xô học tập. Số lượng các sinh viên của trường Đại học Bách khoa nhập ngũ không phải là ít, nhưng số "xếp bút nghiên theo việc đao cung" hơn nữa lại là những người sẽ trở thành các phi công - những người lính canh trời thì chỉ có đợt này là đợt đầu tiên (của trường, của cả đất nước) và là đợt rầm rộ nhất.

        Và 7 năm sau, một trong số 10 chàng trai sinh viên ấy đã lập nên kỳ tích: bắn rơi máy bay ném bom chiến lược B - 52 "siêu pháo đài bay" của lực lượng Không quân Mỹ và đã anh dũng hy sinh. Chàng trai sinh viên ấy là Vũ Xuân Thiều - sinh viên lớp Vô tuyến điện.

        Năm 1994, Vũ Xuân Thiều đã được truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%204_zpseud3ffkq.jpg)

        Các sinh viên khác trong nhóm 10 người cùng nhập ngũ ngày ấy đã chiến đấu ngoan cường trong chiến tranh, đã bắn hạ máy bay của lực lượng Không quân Mỹ, góp phần giữ yên bầu trời. Khi rời khỏi đội ngũ phi công - đội ngũ của những người lính canh trời, họ đã tiếp tục học tập và đảm nhận những cương vị trọng trách của các tổ chức ngoài quân đội. Ví dụ: anh Nguyên Phú Đức từng giữ cương vị Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Du lịch Việt Nam, anh Nguyễn Tiến Sâm (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) từng giữ chức Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải, Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Việt Nam, anh Đặng Xây từng đảm nhận cương vị Giám đốc Công ty bao bì xuất nhập khẩu, anh Trần Ngọc Nhuận về công tác ở Viện Chiến lược Bộ giao thông vận tải, anh Doãn Thắng từng giữ chức Tham tán công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Nga và chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Cộng hòa Séc. Anh Trần Thông Hào từng giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Không quân Nha Trang, Hiệu trưởng trường Trung Cao Không quân, rồi về Cục Khoa học Công nghê Môi trường Bộ Quốc Phòng, anh Hoàng Quốc Dũng là Trưởng khoa Phòng không Không quân ở Học viện quân sự cấp cao...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:18:39 PM
        Vũ Xuân Thiều đã để lại những kỷ niệm, những dấu ấn khó phai mờ trong ký ức của mọi người. Và đồng chí, đồng đội, bạn hữu... nói về Xuân Thiều như sau:

        Nguyễn Phú Đức - người cùng nhập ngũ, cùng bay năm đầu tiên của đời học viên bay với Vũ Xuân Thiều:

        Thiều bị cái hay nôn mửa. Chuyến bay trên chiếc máy bay vận tải Li - 2 bay từ Kras - nô - đar về Akh -ta - ri, Thiều nôn ghê lắm. Hôm sau khi bay đi xem địa hình, Thiều còn nôn kinh khủng hơn. Hôm bay trở lại Kras – nô -  đar để khám sức khỏe, ngồi lên máy bay là Thiều đã nôn rồi. Khi khám sức khỏe xong, đi ăn trưa, sau bữa ăn trưa vừa ra khỏi nhà ăn, nhác thấy bóng chiếc Li - 2 đậu ở ngoài sân đỗ là ngay lập tức, Thiều ngồi thụp xuống, nôn thốc nôn tháo!...

        Đặng Xây - cựu phi công bay đêm cùng Đại đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều:

        Thiều vóc dáng mảnh khảnh, sức khỏe không đuợc tốt lắm, hay nôn mửa, nhưng được cái dù rằng đã học đến hết năm thứ ba Đại học rồi mà sống vẫn rất chan hòa cùng anh em, không hề khoe khoang, hợm hĩnh.

        Nguyễn Xuân Phong - người cùng đoàn bay năm đầu tiên trên loại máy bay Iak-18a với Vũ Xuân Thiều:

        Đấy là một gã đầu to. (Mà quả thực đầu Thiều to thật, cỡ mũ phải lớn thì mới đội vừa đầu!). Tóc hung vàng. Rất hay nhận được thư với phong bì màu xanh, trên đó ghi dòng chữ:

                                      "Em gửi cho anh
                                       Chiếc phong bì màu xanh
                                       Màu uớc mơ hy vọng..."

        Tính tình thẳng thắn, ít nói, nhưng nói rất chắc chắn. Học giỏi nhưng tính trầm nên không nổi trội.

        Mà không biết có phải là “điềm gở" không, trong những ngày của "12 ngày đêm", Thiều lại gửi tôi một hộp gồm có thư từ và ảnh nhờ mang về Hà Nội chuyển cho gia đình. Tôi đã chuyển và mấy ngày sau thì Thiều hy sinh!


        Hà Quang Hưng - đồng đội cùng đoàn bay MiG- 21 khóa 3 với Vũ Xuân Thiều:

        Đây là một con người trí thức, dáng dấp rất "trai Hà Nội" - sống hòa đồng, hiền hậu, thông minh. Một con người sống bằng nội tâm. Tư cách thì vừa như thanh niên thành phố, lại như thanh niên huyện hoặc người Bí thư Đoàn.

                ...

        Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Cốc - (người từng bắn rơi 9 máy bay Mỹ):

        Lực luợng bay đêm là lực lượng đặc biệt, được chuẩn bị đặc biệt và đã lập chiến công đặc biệt trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không". Thiều là người rất hiền, tận tình giúp đỡ mọi người, chân tình như một người chị cả vậy!

        Vũ Đình Rạng - phi công cùng đoàn bay MiG- 21 khóa 3, cùng đại đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều và là người đầu tiên giáp mặt và bắn trọng thương "siêu pháo đài bay B-52" đêm 20 tháng 11 năm 1971:

        Đấy là một con người điềm tĩnh, sống chan hòa, giúp đỡ anh em đến nơi đến chốn trong học tập, nhưng không có sự nổi trội trong hoạt động bề nổi.

        Nguyễn Công Huy - phi công từng ở cùng trung đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều:

        Ấn tượng của tôi khỉ gặp Thiều là Xuân Thiều có đầu to quá khổ, mái tóc "rễ tre" mọc ngang bướng đâm tủa ra với màu hung vàng như dây đồng. Khi cắt tóc cho Thiều, tôi vẫn đùa: "Không cẩn thận, để tóc vụn của Thiều bắn vào mắt thì chỉ có mù!". Và có lẽ, Thiều có biệt danh Thiều “dây đồng" từ đấy. Trong đội ngũ bay đêm thì anh Trần Thông Hào lại có bộ tóc đen như mun, nên có biệt danh Hào "dây chì".

        Vai Xuân Thiều rộng, hông lại nhỏ, tôi ví như "chiếc đàn ghi-ta dựng ngUỢc!". Mà Thiều chơi ghi-ta thì cũng buồn cười lắm: cứ phập phừng...phập phừng... Chẳng vậy mà khi viết "Phác thảo về các phi công đoàn bay M1G-21 khóa 3", tôi đã phác thảo chân dung Thiều như sau:

                                      Chàng hiệp sĩ dây đồng
                                      Chơi đàn tựa bật bông
                                      Trời Sơn La xanh thẳm
                                      Mãi mãi ghi chiến công!


        Nguyễn Hữu Khoán - nguyên Trưởng Tiểu ban Quân lực Trung đoàn Không quân 921:

        Chúng ta phải cám ơn Vũ Xuân Thiều, cám ơn những người như Vũ Xuân Thiều. Các anh đã hy sinh để giành lại sự yên bình. Sự hy sinh của các anh có ý nghĩa lớn lao lắm chứ!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:23:18 PM
        Trần Anh Mỹ - phi công bay đêm của Trung đoàn Không quân 927:

        Khi biên chế về trung đoàn 927, anh Thiều là trung đội trưởng của tôi.

        Tôi chưa thấy ai cẩn thận như anh Thiều bao giờ. Mỗi lần nhận được thư người yêu, anh không bóc thư như những nguời khác mà lấy kéo cắt theo mép phong bì, đọc xong lại xếp cẩn thận vào trong một chiếc hộp. Trước ngày anh hy sinh, mấy anh em ngồi chơi tú-lơ-khơ với nhau. Cứ ván nào anh Thiều về bét là anh ấy lại nói: "Vậy là tao lại cầm chắc cái bằng liệt sĩ rồi!". Chẳng rõ đấy có phải là "điềm gở" không?. Ngày hôm sau, anh ấy bay đến sân cơ động và rồi từ sân bay cơ động ấy, anh xuất kích, hy sinh trong trận đánh trên bầu trời Sơn La


        Trần Ngọc Nhuận - người cùng học Đại học bách khoa, cùng nhập ngũ và cùng bay với Vũ Xuân Thiều trong nhiều năm kể từ ngày bay năm đầu tiên của đời bay:

        Thiều là một trong số ít phi công chiến đấu có dáng dấp thư sinh nhất. Thày I-va-nôp - giáo viên bay trên loại máy bay MIG-17 là người khá cục cằn, hay chửi mắng học viên, nhưng lại luôn ưu ái, quý mến anh chàng học viên trắng trẻo, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ chịu này. về ý thức kỷ luật, tinh thần học tập, rèn luyện thì Thiều cũng luôn là người gương mẫu.

        Ngược lại với vẻ bề ngoài ấy thì tính cách của Thiều lại là người rất có bản lĩnh, khá lì.

        Trong khi thực hành các bài bay huấn luyện xạ kích, Thiều thường xử lí khá táo bạo, quyết liệt, kết quả luôn luôn đạt điểm tối ưu.

        Trần Thông Hào - người cùng học Đại học Bách khoa, cùng nhập ngũ, cùng bay với Vũ Xuân Thiều trong nhiều năm, cùng Đại đội bay đêm:

        Thiều là nguời rất tốt bụng, trung thực, thẳng thắn, bảo vệ cái đúng đến cùng.

        Là người sống rất có văn hóa, không thích kiểu "đao to búa lớn" mà góp ý với ai thường tế nhị hoặc trao đổi, góp ý, nhận xét riêng chỉ khi có hai người với nhau.


        Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Lan - người phi công đầu tiên bắn hạ máy bay Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa ngày 3 tháng 4 năm 1965:

        Lực lượng phi công bay đêm của ta tuy ít, nhưng bọn Mỹ luôn phải suy nghĩ và tìm cách đối phó. Các phi công bay đêm đã làm nên điều rất đáng tự hào. Xuân Thiều là một phi công rất có kỷ luật, sổng có văn hóa, đối xử với nhau rất có tình.

        Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đăng Kính - một trong những cán bộ Đại đội đầu tiên khi thành lập Đại đội bay đêm:

        Thiều là phi công dũng cảm, kiên nghị, rất hăng hái, muốn đánh trận.

        Hoàng Biểu - cựu cán bộ, cựu phi công bay đêm của Đại đội bay đêm:

        Thiều là một con người sống tình cảm, nghiêm túc trong cả chuyện chung lẫn chuyện riêng. Chấp hành nghiêm mọi nghị quyết, đặc biệt nghị quyết đánh B-52 và đã thực hiện đúng những gi đã ghi trong nghị quyết.

        Bùi Doãn Độ - phi công bay đêm của Đại đội 5:

        Anh Thiều là người hiền lành, chân thật, nhưng rất có quyết tâm tiêu diệt địch.

        Nguyễn Khánh Duy - phi công bay đêm của Đại đội 5:

        Anh Xuân Thiều là con người tuyệt vời, là người rất cẩn thận, tôn trọng, nâng niu tình cảm. Khi nhận được thư, không bao giờ bóc mà lấy kéo cắt mép phong bì. Có những bức thư anh còn cẩn thận sao chép ra một quyển sổ riêng nữa kia.

        Trần Cung - cựu phi công bay đêm của Đại đội 5:

        Thiều tiếp thu nhanh, là người trầm tính, có tính kiên trì, sẵn lòng giúp đỡ đồng đội.

        Trung thành và dũng cảm.


        Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phi công vũ trụ Phạm Tuân - người bắn hạ B-52 trong trận đánh đêm 27 tháng 12 năm 1972:

        Lực lượng đánh đêm của ta mỏng, nhiều lúc không đuợc sử dụng một cách mạnh dạn. Xuân Thiều là một phi công dũng cảm.

        Nguyễn Văn Quang - cựu phi công bay đêm của Đại đội 5:

        Bay đêm là một hoạt động thầm lặng. Khi vào bay đêm thì mới hiểu hết tính chất phức tạp của nó. Bản thân phi công bay đêm phải vượt qua đuợc chính mình để rèn bản lĩnh, chờ thời cơ.

        Xuân Thiều là người có chất nhân văn cao. Một người có tri thức, sống có văn hóa.


        Vũ Thị Kim Bình - em gái của Vũ Xuân Thiều:

        Tháng 12 năm 1972, lúc đó tôi đang học ở trường Bưu điện Matx-cơ-va, nhận được tin anh hy sinh, tôi không thể nào tin được. Trước đó tôi đã đến thăm các anh Vũ

        Ngọc Đỉnh, Nguyễn Văn Cốc... ở Mô-nhi-nô. Tôi đã mơ lúc: anh sẽ được cử sang đó học thì vui biết mấy... Nhưng tất cả vẫn chỉ là ước mơ, và vì không thể tin được rằng anh không còn nữa, nên nhiều tháng sau, khi đang ngồi trên giảng đường, tôi vẫn tưởng tượng rằng anh sẽ đột ngột xuất hiện ở cửa lớp, mỉm cười vẫy tay ra hiệu đợi tôi ngoài hành lang, giống như bốn năm về trước anh đã đột ngột đến đón tôi ở Đan Phượng... Và, mãi mãi điều đó chỉ là giấc mơ!...

        Dù sao tôi nghĩ anh Thiều đã sống một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa. Anh đã thực hiện được ước mơ từ bé của mình: lái máy bay tiêm kích. Anh đã sống hết mình với tình yêu của mình: tình yêu đất nước, gia đình, bạn gái, và rất yêu bầu trời!...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:43:35 AM

TRỞ THÀNH HỌC VIÊN BAY

        Vũ Xuân Thiều là người con thứ 7 trong gia đình. Trên Thiều có các chị, các anh: Vũ Thị Kim Thịnh, Vũ Xuân Thăng, Vũ Thị Kim Quy, Vũ Xuân Quang, Vũ Thị Kim Ngân và Vũ Thị Kim Nhu. Sau Thiều còn 3 người em nữa là Vũ Thị Kim Anh, Vũ Thị Kim Bình và Vũ Hữu Nghị.

        Ông bố của Thiều - ông Vũ Xuân Sắc là người ở An Trạch, Hải An, Hải Hậu, Nam Định. Thời trẻ, ông rời quê lên thành phố Nam Định trọ học. Quý mến chàng trai quê An Trạch với tính tình hiền hậu, khôi ngô, thông minh... ông bà chủ nhà đã gả con gái của mình là Vũ Thị Vượng cho chàng trai trọ học ấy. Vậy là chàng trai trọ học và cô con gái chủ nhà đã nên duyên vợ chồng. Ông sắc và bà Vượng tổ chức lễ cưới khi bà Vượng vừa tròn 17 tuổi. Một năm sau - cô con gái đầu lòng Vũ Thị Kim Thịnh ra đời.

        Rồi ông Sắc rời Nam Định lên Hà Nội học ở trường Bưởi. Công việc gia đình một mình bà Vượng chăm lo, xoay sở. Bà lẳng lặng thu xếp mọi việc: chăm con, lo miếng cơm manh áo cho chồng yên tâm đèn sách. Rồi các con cứ lần lượt thi nhau ra đời, thi nhau ăn, thi nhau lớn... Bà như hình bóng "con cò lặn lội bờ sông", tần tảo tháng ngày không hề hé răng kêu ca nửa lời, hết mực yêu chồng, thương con.

        Thời gian học ở trường Bưởi, ông Sắc đã sớm được giác ngộ lí tưởng cách mạng, nên dù đang đi học ông đã là một thành viên tích cực tham gia rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng. Vì vậy, khi ông đang học Tú tài phần hai, ông đã bị mật thám Pháp và chính quyền bảo hộ trục xuất khỏi Hà Nội. Ông buộc phải trở lại Thành phố Nam Định, về Nam Định, dù bị quản thúc nhưng ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng dưới sự dìu dắt của các cụ Nguyên Lương Bằng, Đặng Viết Châu...

        Một thời gian sau, phần vì lo cho ông Sắc đã bị mật thám Pháp theo dõi, có tên trong sổ đen, đang bị quản thúc nên hoạt động sẽ có nhiều khó khăn, phần vì Đảng cũng cần phải có nguồn tài chính để hoạt động nên tổ chức đã động viên ông Sắc chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực kinh doanh để lấy tiền giúp Đảng và các đồng chí hoạt động.

        Vợ chồng ông Sắc - bà Vượng chuyển sang làm kinh tế - mở cơ sở dệt vải, làm đũi.

        Cơ sở sản xuất của ông bà vừa là nguồn cung cấp kinh tế cho Đảng, vừa là nơi nuôi giấu các cán bộ của Đảng như các cụ Đặng Xuân Khu, Nguyễn Lương Bằng...

        Từ năm 1942 - 1943, khi Phát xít Nhật đem quân vào Đông Dương, mọi hoạt động đều bị ngừng trệ, cơ sở sản xuất vải, đũi của ông bà cũng đóng cửa. Ông bà không làm kinh tế nữa mà chuyển sang hoạt động trong "Hội truyền bá Quốc ngữ" rồi đi lên chiến khu tiếp tục hoạt động.

        Đầu năm 1945, ông Sắc được cử đi dự Đại hội Quốc dân được tổ chức ở Tân Trào để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

        Tháng 2 năm 1945, Thiều ra đời. Lý do đặt tên là Thiều - có lẽ có phần nào gắn với tên của anh ngay trên Thiều là Vũ xuân Quang với câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du: "Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi" chăng? Cũng chẳng ai khẳng định được ý tứ sâu xa của ông bà khi đặt tên cho Thiều, nhưng dầu sao "Thiều Quang" vẫn có nghĩa là "ánh sáng đẹp". Anh Quang là "ánh sáng" rồi thì Thiều là "đẹp". Và năm 1945, vận mệnh của đất nước cũng bắt đầu xoay chuyển theo hướng tốt đẹp.

        Khi chiến tranh bùng nổ, ông Sắc đi theo kháng chiến, bà Vượng đưa các con về quê. Đến cuối năm 1946 thì bà Vượng lại bồng bế, dắt díu các con lên thuyền, ngược Nho Quan đi theo kháng chiến. Cụ Nguyễn Lương Bằng đã tổ chức đưa gia đình lên chiến khu. Cả nhà được đưa lên một chiếc xe ô tô "đít vịt" do ông Đóa lái đến Hòa Bình. Từ Hòa Bình lên Tuyên Quang là phải đi theo đường thủy. Đến cây số 7 của Tuyên Quang thì thấy có một số gia đình cùng lên chiến khu đã đợi nhau ở đấy. Họ tập trung lại cùng nhau và cùng tạm trú trong một nhà kho. Dọc hai bên đường có rất nhiều bom đạm các loại chất thành từng đống. Không khí chiến tranh bao trùm khắp các thôn làng. Bà Vượng bế Thiều trên tay, rồi dắt díu các anh các chị của Thiều. Tất cả vây quanh bà, lo âu, sợ sệt. Không sợ sệt sao được khi tất cả các anh chị tuổi đều còn nhỏ, chưa nếm mùi bom đạn bao giờ mà nay thấy cơ man nào là bom xung quanh, lại ở một nơi lạ nước lạ cái, chẳng bóng dáng người quen thuộc nào, rừng rú thì um tùm, núi non trùng điệp, quạnh hiu...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:45:53 AM
        Một thời gian sau thì cả nhà lại xuống mảng, trôi theo dòng sông Gâm đi Chiêm Hóa, về phố Chinh. Hồi bấy giờ, anh Thăng mới lên 8 thôi, nhưng không biết anh đã học được ở đâu và cũng không biết ai đã dạy anh nữa mà anh đã biết hát bài "Nụ cười Sơn cước", rồi "Sơn nữ ca"... Có lẽ, trong khung cảnh núi rừng xanh ngút ngàn với những dốc cao vời vợi, những con đường nhỏ quanh co ẩn mình trong lau sậy, chìm trong mù sương cùng những đêm rừng sáng bừng lên dưới ánh trăng... đã làm anh sớm cảm nhận được chất thi vị của thiên nhiên và chất men say của những lời ca nốt nhạc chăng.

        Anh Thăng còn nhớ, khi Thiều lên 2 tuổi, hoặc hơn 2 tuổi một chút gì đó, Thiều bị một mụn nhọt rất to ở đằng sau lưng hành hạ.- Mụn nhọt mọc ở vị trí ấy được gọi là "hậu bối", nó khá nguy hiểm, có trường hợp còn bị thiệt mạng vì nó. Thiều sốt nóng hầm hập mấy ngày liền. May mắn sao rồi sau cũng khỏi.

        Rồi gia đình lại dắt díu nhau chuyển về Tân Phong, Hạ Hòa, Phú Thọ. về Phú Thọ thì anh em Thiều có điều kiện được đi học chứ ở vùng Chiêm Hóa thì vô cùng khó khăn, học hành sao được. Thời đó có lẽ là mới manh nha mô hình lớp mẫu giáo. Thiều được đi học lớp của cô Sâm và cô Bình. Hai cô rất quý mến và thương đàn em nhỏ của lớp mình phụ trách. Lớp học chi là nhà tranh vách nứa nhưng có các giao thông hào đào xung quanh để khi có máy bay địch đến đánh phá thì các em còn được nhanh chóng chạy ra các hầm ẩn nấp, đảm bảo an toàn. Thời ấy, máy bay oanh tạc của Pháp thường xuyên bay lượn trinh sát và đánh phá các cơ sở của ta ở chiến khu. Trên Tuyên Quang đã có những lớp học bị chúng bắn, ném bom và đã có những em học sinh bị sát hại. Những cô bé, cậu bé còn thơ ngây, non dại... đã bị những mảnh bom, mảnh đạn ấy cắt đứt tuổi thơ. Cô Sâm, cô Bình rất lo lắng cho các em học sinh của mình, các cô cố bảo vệ, che chở các em như gà mẹ xòe cánh chở che cho đàn con của mình trước sự đe dọa của lũ cú diều.

        Cũng ở đất Phú Thọ này, có lần anh Thăng trèo lên cây hồng để trẩy hồng ném xuống. Không hiểu do Thiều vồ hụt hay vấp ngã khi đuổi theo quả hồng mà bị gãy xương đòn. Thiều khóc váng lên. Anh Thăng cũng khóc, phần vì thương em, phần vì sợ. Cũng may mắn làm sao, ở gần đấy có ông lang chuyên chữa về bênh xương, khớp... tên là ông Lý Mạc. Thiều được đưa đến nhà ông. Ông đã bó xương cho Thiều và chiếc xương đòn của Thiều đã lành, không để lại di chứng gì.

        Cách mạng Tháng Tám thành công. Ông Sắc tham gia ủy ban hành chính tỉnh Nam Định, phụ trách công tác tuyên truyền và là một trong những người tham gia lãnh đạo của tỉnh Nam Định. Thời gian Toàn quốc kháng chiến, ông được giao nhiệm vụ ủy viên Ban kinh tế của Trung ương Đảng, lên chiến khu xây dựng căn cứ và nhận trọng trách thành lập nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo. Ông liên tục được giao các nhiệm vụ Cục phó Cục tiếp tế vận tải, Cục phó Cục Bách hóa, Cục trưởng Cục bông vải sợi rồi Tổng giám đốc Tổng công ty dệt may Việt Nam.

        Ông Sắc đi hoạt động cách mạng, mọi việc nhà vẫn chỉ một mình bà Vượng sắp xếp, thu vén. Thời gian gia đình chuyển lên chiến khu, ngoài việc chăm lo    việc nhà, bà còn tham gia công tác Phụ nữ. Sau này, bà đã được Hội liên hiệp Phụ nữ tặng danh hiệu "Người Phụ nữ mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" vì những công lao, đóng góp, cống hiến của bà đối với đất nước. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, gia đình bà đã có 4 người con tham gia quân đội, trong đó có một người là liệt sĩ.

        Sau ngày Thủ đô được giải phóng, gia đình Xuân Thiều theo cơ quan bố về sống ở Hà Nội. Bấy giờ, gia đình có đầy đủ một tiểu đội: 12 thành viên gồm: bố, mẹ và 10 người con. Thu nhập của hai ông bà không đáng bao nhiêu, dù lúc này ông Sắc đã giữ chức Cục phó. Bà Vượng thì chỉ là một nhân viên của cửa hàng giao tế, phải lo lắng, tính toán đủ mọi thứ. Mười người con, mà các con lại đang ở tuổi ăn tuổi lớn! Ăn mặc có thể còn thiếu thốn, nhưng không thể để các con thiếu học được. Vậy là phải tìm đủ mọi cách để có thêm thu nhập. Gia đình sẵn có chiếc máy may, mấy chị em trong nhà tranh thủ mọi lúc để người may, người đi trả hàng. Thời gian nghỉ hè, mấy anh em trai cũng chia nhau đi tìm việc, người thì xuống cảng làm phu khuân vác, người thì đi kéo gỗ thuê... còn mấy chị em gái thì may, trông trẻ, tính toán thuê... Chỉ riêng cậu em út, cậu Vũ Hữu Nghị vì còn nhỏ nên được "ưu tiên" không phải làm gì thôi. Chính vì vậy mà con cái trong gia đình không ai bị gián đoạn trong việc học tập và tất cả các anh chị em đều miệt mài trong việc học, coi trọng việc học là công việc hàng đầu.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:40:16 AM
        Sau này, cả 10 anh chị em đều tốt nghiệp Đại học, trong đó có 5 người là Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%205_zpskg7eywbv.jpg)
GIA ĐÌNH VŨ XUÂN THIỀU
(Thiều đứng thứ hai từ trái sang)

        Nhớ lại thuở ấu thơ, nhớ lại cái thời gian khổ và những kỷ niệm về Vũ Xuân Thiều, cô em gái anh - Vũ Thị Kim Bình - người có nhiều thời gian gắn bó với anh trai mình nhất, cho biết:

        "Khi gia đình ở Phú Thọ, anh Thiều hơn tôi 6 tuổi. Mẹ tôi kể lại - khi sinh tôi ra, mẹ bảo anh đến xem mặt em bé, anh đã kêu lên: "Eo ôi! Sao em bé lại đỏ hon hỏn như thế?". Nhà tôi tản cự, ở trên một quả đồi, hàng ngày các anh chị đi học, anh ở nhà chơi với tôi và với một con chó tên là Bốp. Các anh chị ngoài việc học còn nhận giã gạo, may quần áo quân nhu. Có một lần, anh Thiều nghịch, lấy chiếc nồi đồng úp lên đầu tôi. Vì trán tôi dô nên lúc lấy nồi ra thì không thể lấy được, mọi người lớn trong nhà lại đi vắng hết, chỉ còn có mấy chị em, lo sợ đến phát khóc, may mà có ông bạn của bố đến chơi, thấy thế liền tìm cách lấy ra hộ. Đó là một kỷ niệm thật khó quên mà các chị Thịnh, chị Quy vẫn thường hay nhắc lại.

        Về sau này, khi đã về đến Hà Nội, nhà tôi thuê hết tầng dưới của căn nhà số 15 Lê Văn Hưu. Đó là một ngôi nhà có cổng dài phía bên hông và có sân bên trong. Chị em chúng tôi thường chơi ở sân đấy. Lúc đó anh Thiều đã bắt đầu mê chơi mô hình máy bay rồi. Anh thường làm mô hình máy bay rồi thả cho bay là là trong ngõ và trên vỉa hè dưới gốc cây cơm nguội to, cao... Anh thường có bạn đến chơi đá bóng trong cổng. Đôi lúc, để tôi khỏi lè nhè đòi chơi, anh cho tôi đứng bắt gôn cho đỡ vòi vĩnh. Nhiều hôm, sau khi mưa, anh dắt tôi sang nhà hàng xóm (nhà số 11 Lê Văn Hưu) ở đó, trong cổng nhà có vũng nước mưa. Anh cắt tấm bìa, gấp làm thuyền, gắn xà phòng vào đuôi thuyền, thả cho chạy lòng vòng trong vũng nước. Tôi rất thú vị khi được tham gia những trò chơi đó với anh vì anh không coi tôi là "nhóc con", mà coi tôi như một người bạn. Nhưng đôi lúc trò chơi bị gián đoạn bởi có một cậu bé bằng tuổi tôi thôi nhưng vì rất tinh nghịch nên bị nhốt ở trên gác, thành thử cậu bé có vẻ tức tối, tìm mọi cách để phá đám. (và cũng chẳng ai ngờ được, 18 năm sau, cậu bé tình nghịch ấy lại trở thành "ông xã" của Bình).

        Các anh chị tôi chênh lệch tuổi nhau không nhiều, sàn sàn như nhau nên đối xử với nhau rất thân thiện. Hàng ngày, sau khi ăn tối xong, làm xong hết việc nhà, mọi người lại cùng chơi đùa trong sân. Tôi thường không được tham gia vì còn nhỏ quá, nhưng vì tính hay khóc nhè và đòi chơi cho bằng được nên nhiều lúc các chị thường tắt hết đèn, giả làm ma để dọa tôi. Tôi còn nhớ, hồi đó, các anh chị hay chơi trò "quân xanh", "quân đỏ", rồi trò trốn tìm... cùng với các anh con bà chủ nhà. Nhà tôi bấy giờ tròn 10 anh chị em, 2 anh chị lớn thoát ly, còn lại là 8 anh chị em. Tôi 6 tuổi, còn em Nghị thì vừa mới ra đời nên tôi và em Nghị không phải làm gì. Còn lại 6 anh chị thì được mẹ lập cho bảng phân công công việc dán ở giữa nhà. Mỗi người đi học một buổi, buổi còn lại phải làm việc nhà: dọn dẹp, lau chùi nhà cửa, nấu cơm, may gia công quần đùi (vì mẹ làm ở cửa hàng giao tế nên nhận hàng về may để có thêm thu nhập). Tối đến, tất cả ngồi vào bàn học bài. Bố mẹ vào tối thứ Bảy hay đi xem phim ở rạp Tháng Tám, đôi lúc có cho tôi đi theo. Đó thực sự là những phút giây hạnh phúc đối với tôi khi tôi được đi một tay nắm bên bố, một tay nắm bên mẹ, vừa đi vừa nhìn ông Trăng đi theo mình từng bước...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:44:58 AM
        Mùa hè, khi được nghỉ hè thì tất cả các anh chị đều đi làm thêm để kiếm tiền mua sách vở, chuẩn bị cho năm học mới. Tôi nhớ những bữa cơm ở nhà tôi: một nồi cơm to đặt trên chiếc ghế để cạnh bàn, thức ăn chủ yếu là rau, dưa... Ghế chỉ có mấy chiếc nên để giành cho người lớn ngồi (hồi đó, ông ngoại cùng sống chung ở nhà tôi). Tất cả anh chị em chúng tôi đều đứng xung quanh bàn ăn, mỗi người được phát một chiếc bát to, cho cơm và rau dưa vào đó, tiêu chuẩn chỉ có vậy thôi, ăn cái "vèo" là hết. Chiếc bàn ăn lịch sử đó in đậm trong tâm khảm của chị em chúng tôi: nó có màu đen, vuông, bằng gỗ lim, cũ kỹ. Nó có thể được kéo ra thành hai nửa rồi đặt thêm vào một tấm gỗ ở giữa, lại ghép lại để thành một chiếc bàn lớn dùng những khi lễ Tết có đông người hơn.

        Chiếc bàn đó ở với gia đình tôi suốt cho đến năm 2002 - khi mẹ tôi mất. Nó đã chứng kiến biết bao nhiêu sự kiện của gia đình tôi từ năm 1956 cho đến khi mẹ tôi mất. Đó vừa là bàn ăn, vừa là bàn học của cả nhà. Vào những ngày cuối hè, tất cả anh chị em chúng tôi đều quây quần quanh chiếc bàn để bọc sách, vở, dán nhãn vở... chuẩn bị cho năm học mới thật là náo nhiệt, vui vẻ. Những đêm Trung Thu, chị Ngân khéo tay thường cắt, tỉa những quả bưởi rồi bôi phẩm xanh phẩm đỏ lên, trông thật vui mắt. Tất cả đều được bày xen lẫn với những quả hồng ngâm, ngắm đẹp lắm. Một mâm quả đến là to cùng với những tràng hoa giấy nhiều màu sắc sặc sỡ do cả nhà cùng chung tay làm, được căng ngang căng dọc đã để lại ấn tượng sâu đậm trong tôi cho đến tận bây giờ. Đêm không đèn nến, chỉ có ánh trăng trên bầu ười chiếu sáng mảnh sân nhỏ - ánh sáng thật dịu dàng lung linh. Tôi ngồi trong lòng mẹ, cạnh mâm cỗ, các anh chị thì nô đùa, chạy nhảy xung quanh. Không khí mới ấm áp, xum vầy, hạnh phúc biết bao!.

        Sau này, khi chuyển lên phố Đặng Dung, tôi đã học lớp Một, anh Thiều thì tham gia Câu lạc bộ mô hình máy bay, làm nhiều mô hình máy bay rất đẹp, hay thả trên hè phố. Phố Đặng Dung hồi ấy thơ mộng lắm: phố vắng vẻ, hai bên đường có những cây cơm nguội và cây sọ khỉ cao vút. Mùa hè đến, lá cây rụng đầy hai bên đường, tiếng ve kêu râm ran suốt ngày. Mấy anh em chơi thả máy bay bên lề đường. Tôi đoán, chắc là lúc đó anh Thiều đã có ước mơ trở thành phi công rồi. Anh không chơi khăng, chơi đáo như những đứa trẻ khác. Trong trí nhớ của tôi, anh chỉ chơi đá bóng và mô hình máy bay mà thôi. Tính tình anh điềm đạm, nói năng nhỏ nhẹ, dí dỏm và hay quan tâm đến các em. Anh có nhiều bạn thân, trong đó có các anh học sinh miền Nam tập kết thường đến nhà tôi chơi và nhiều khi cũng cùng ăn cơm với cả gia đình. Các anh cùng học, cùng chơi với nhau suốt cả ngày. Đến tận bây giờ, như anh Minh - sau khi đã trở về Nam chiến đấu, sau bao năm xa cách, anh vẫn nhớ, tìm lại gia đình, nhắc lại những kỷ niêm cũ, vẫn thân tình như xưa.

        Ở Đặng Dung, việc nấu cơm đã có bà nội giúp đỡ, nhưng anh chị em chúng tôi vẫn phân công nhau làm việc nhà. Tôi nhớ, có một buổi trong tuần, việc nấu cơm đến lượt anh Thiều và tôi đảm nhận, nhưng anh biết tính tôi vốn lười nhác nên anh chỉ yêu cầu tôi đóng mùn cưa, còn anh sẽ lo hoàn toàn mọi công việc còn lại. Anh đã nấu rất nhanh và ngon.

        Anh chị em tôi cứ thế lớn dần lên. Anh Thiều vẫn học giỏi và vẫn mơ ước trở thành phi công. Từ khi anh học lớp Tám, trên mỗi cuốn vở của anh đã thấy xuất hiện những chiếc máy bay phản lực ở góc trên cùng bên phải. Hồi đó anh học ở trường cấp 3 Nguyễn Trãi (trường buổi sáng là trường Nguyễn Trãi, buổi chiều là trường Chu Văn An). Hàng ngày đi học trên đường Phan Đình Phùng giữa hai hàng cây sấu cao thẳng tắp, hoa sấu trắng rụng đầy đường với mùi hương thơm chua chua ngan ngát, chắc anh đã có những giây phút thả hồn theo những giấc mơ bay vút lên ười cao... Đến khi anh học lớp Mười, khi khám tuyển, anh bị trượt ở vòng quay thử. Sau lần đó, sáng sáng anh đều lên sân thượng tập thể dục. Anh nói với tôi rằng anh phải tập quay đầu để không bị chóng mặt trong đợt khám tuyển sau. Anh nhất định thực hiện được ước mơ của mình. Sau đó anh thi đỗ vào Đại học Bách khoa, vào khoa Vô tuyến điện. Anh đã bắt đầu có những bạn gái. đến chơi nhà. Mỗi khi có chị nào đó đến chơi, anh thường dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị cốc chén uống nước sạch sẽ, ngăn nắp, chu đáo lắm. Hồi đó đã có mấy chị "để ý" đến anh, trong đó có cả các bạn gái của chị Anh - người em gái liền kề với anh. Trong tâm trí của tôi, anh không đẹp trai lắm nhưng rất đàn ông: tóc cứng hơi dựng lên, lông mày hơi xếch, dáng đi khoan thai, lưng hơi gù một chút nhưng đĩnh đạc, tính tình điềm đạm, ít nói, mà nói chuyên nhẹ nhàng, dí dỏm, có duyên, nhưng chưa bao giờ tôi thấy anh giới thiệu ai là người yêu cả. Năm 1965, chiến tranh lan ra đến miền Bắc, tôi sơ tán về Đan Phượng - Hà Tây ở với chị dâu cả. Anh Thiều đang học năm thứ 3 trường Đại học Bách khoa và đã trúng tuyển phi công. Chủ nhật đó anh đạp xe về Đan Phượng thăm tôi. Hai anh em đi chợ mua sắm mọi thứ cận thiết về nấu cơm. Trong căn bếp nhỏ lợp mái tranh, anh đã hướng dẫn cho tôi cách đun bếp bằng rơm và chỉ bảo tôi cách nấu tôm:

        - Em không được đậy vung khi đun.

        - Vì sao vậy anh?

        - Vì nếu đậy vung thì sẽ có mùi khai của tôm, sẽ khó ăn!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 07:46:41 AM
        Hai anh em nói chuyện với nhau nhiều lắm, chủ yếu là anh dặn dò tôi, dặn đủ điều. Đến chiều, anh lại đạp xe về Hà Nội và một tuần sau đó tôi cũng về. Tôi và em Nghị đến trường Bách khoa để tiễn anh lên đường nhập ngũ..."

        Xuân Thiều đã "trốn" gia đình, đi khám nghĩa vụ quân sự, và chỉ khi trúng tuyển đợt đào tạo phi công do Quân chủng Phòng không - Không quân tuyển, anh mới báo tin cho gia đình biết. Khi gia đình biết tin thì cũng đã cận ngày Thiều cùng 9 anh em khác của trường Đại học Bách khoa hợp nhất cùng các đoàn khác ở các nơi cùng trúng tuyển chuẩn bị tập trung về đơn vị. về đơn vị một thời gian ngắn để học chính trị, học nội quy và các quy định trong Quân đội xong, tất cả sẵn sàng lên đường. Ai cũng háo hức mong chờ, thấp thỏm... với nhiều niềm vui, nỗi lo... khác nhau.

        Ngày 22 tháng 6 năm 1965, cả đoàn nhận được lệnh lên tàu Liên vận đi sang Liên Xô để học tập. Theo thông báo, tàu sẽ rời ga Hàng cỏ (nay là Ga Hà Nội) lúc 11 giờ 30 phút, nhưng có lẽ vì lí do bảo vệ an ninh và nhiều lí do khác nữa nên tận 4 giờ chiều tàu mới chuyển bánh. Cũng vì vậy mà trên sân ga vắng bóng người đưa tiễn. Các chàng sinh viên nay đã các tân binh, mỗi người mỗi tâm trạng khác nhau... trong khung cảnh kẻ ở, người đi... Người ở lại phải gánh chịu những nỗi vất vả, gian truân không chỉ trong cuộc sống thường ngày với miếng cơm, manh áo mà còn phải vật lộn trong cuộc chiến tranh tàn khốc nữa. Bom rơi, đạn nổ... biết thế nào mà lường!

        Người đi chắc chắn sẽ đến nơỉ thanh bình, yên ổn đến với thành trì của phe Xã hội Chủ nghĩa - một đất nước tươi đẹp như trong mơ. Chỉ cần thấy thoáng qua những thước phim trên màn ảnh hoặc qua những tấm bưu thiếp, những bài báo, qua đài Tiếng nói Việt Nam... là đã có thể tưởng tượng ra được đất nước của người "Anh Cả" bao la, hùng vĩ... đến nhường nào rồi.

        Đoàn tàu Liên vận rú còi, khởi hành lên phương Bắc. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray tạo ra âm thanh nặng nề, đều đều, đơn điêu đến khó tả. Không ai bảo ai, người nào cũng cố nhìn kỹ những hình ảnh của Quê hương, cố lưu lại trong tâm khảm mình những hình ảnh nguyên vẹn cùng những kỷ niệm trước khi rời Tổ quốc. Nay mai đây, biết đâu lúc trở về, những hình ảnh này không còn được như bây giờ nữa. Trong chiến tranh, mọi chuyên đều có thể xảy ra lắm chứ.

        Cố ghi nhận những hình ảnh của Quê hương, Đất nước chạy dọc hai bên đường. Cố ghi lại những khuôn mặt người dân Việt trên đường lên biên giới để rồi chính những hình ảnh, những hình bóng, những khuôn mặt ấy cùng với những người thân thương của mình sẽ là nguồn động viên lớn lao trong học tập, trong thời gian xa Quê hương...

        Hầu như không ai nói với ai nhiều, nhưng chừng như ai cũng có chung luồng ý nghĩ khi xa quê.

        Tàu dừng lại ở ga Đồng Đăng hơn một tiếng đồng hồ để làm thủ tục xuất cảnh. Vậy đây đã là nơi cuối cùng giáp biên giới Tổ quốc rồi!. Chẳng bao lâu nữa Quê hương sẽ ở lại phía sau, ngày càng xa vời... Đằng trước đã là nước bạn - đất nước Trung Quốc - "Anh Hai" của phe Xã hội Chủ nghĩa... Điều gì đó cứ xốn xao trong lòng. Điều gì đó đang xảy ra ngay trong mình mà sao khó nói, khó tả...

        Rồi tàu rời Đồng Đăng lúc gần 11 giờ đêm. Khi đến đúng biên giới, tàu dừng lại ở đó một phút như để chia tay với Quê hương và để lấy đà đi tiếp chặng đường xa. Tất cả mọi người trong toa tàu không ai bảo ai đều thò đầu, thò tay ra ngoài vẫy chào những người dân của mình đang sinh sống ở biên giới. Phút chốc, bỗng thấy mọi người sao mà thân thương đến lạ. Bỗng thấy sao mà yêu, mà quý mọi người đến thế. Bỗng thấy sao mà xúc động, mà nao lòng đến vậy. Quê hương ơỉ! Đất nước ơi! Vậy là phải chia tay, phải rời xa rồi! Chúng tôi đi đây! Đi để học tập, để rèn luyện, để sớm trở về góp phần nhỏ bé của mình bảo vệ, dựng xây Đất nước này. Chúng tôi sẽ không hề tiếc sức lực, không hề tiếc cả bản thân mình, quyết giữ cho Đất nước được thanh bình, cho những người dân miền biên ải này được yên ổn làm ăn. Chúng tôi sẽ làm mọi thứ để sau này có dịp gặp lại, lại thấy những khuôn mặt từng gặp hôm nay rạng ngời trong hạnh phúc.

        Loa phóng thanh trên tàu truyền đi bản nhạc với tiếng đàn bầu réo rắt. Ôi! Tiếng đàn bầu huyền diệu! "Cung thanh là tiếng Mẹ, cung trầm là giọng Cha...". Đàn chỉ có một dây thôi mà sao biểu lộ được mọi cung bậc với mọi âm vực... Đàn như hút hồn người vào thế giới âm thanh mê hoặc!. Tiếng đàn bầu réo rắt trong đúng khung cảnh giữa biên giới lúc sắp xa quê này sao mà thao thiết, sao mà khuấy động lòng người. Lòng ai cũng rưng rưng. Lại nhớ đến những câu thơ trong bài thơ "Tống biệt hành". Nhưng không! Chúng tôi đi để rồi "đủ lông đủ cánh" bay lượn trở về bảo vệ cho bầu trời thanh bình, cho bầu trời mãi mãi xanh trong, không vẩn đục bóng thù, cho tiếng đàn bầu ngân vang mãi trong thinh không, cho tâm hồn lắng lại, thư thái... giao hòa cùng đất trời!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 09:19:03 PM
        Chào nhé! Chào Đất Mẹ thân yêu! Chúng con lên đường đi tiếp đây. Chúng con đi với sự sôi nổi, hăng say đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ để tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, để rồi khi chúng con trở về sẽ như những cánh đại bàng giữ yên Đất Mẹ!. Đất Mẹ luôn là nơi tiếp sức cho chúng con và là nơi đón nhận chúng con với sự yêu thương. Chúng con hứa sẽ học thành tài, sẽ trở thành những dũng sĩ canh trời!.

        Nhớ lại, cũng chỉ cách đây 20 năm thôi, khi quân đội ta mới ra đời với số lượng ít ỏi và trang bị vũ khí còn thô sơ mà đã "đánh Đông, dẹp Bắc" thật oai hùng. Anh Vũ Như Ngữ - phi công của Đại đội 5 bay đêm có viết bài báo tường với những dòng như sau:

                                     "Quân đội ta ngày ấy
                                      Toàn là dân cầy cấy
                                      Ba tư người cả thẩy
                                      Vũ khí chỉ bằng gậy
                                      Mà đánh đâu được đấy
                                      Pháp run như cầy sấy..."
[/center]

        Đương nhiên, vũ khí không phải "chỉ bằng gậv" mà súng ống không được hiện đại như bây giờ, chỉ súng pạc hoọc, mút-cơ-tông, tiểu liên... mà liên tiếp giành thắng lợi ở Nà Ngần, Phay Khắt... Và hơn 20 năm sau - các chàng tân binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam đang trên tàu liên vận đây đã là những người được đi học, đi đào tạo để nắm vững khoa học kỹ thuật hiên đại - lái máy bay tiêm kích chiến đấu!.

        Một sự so sánh nho nhỏ như vậy để có thể thấy được sự trưởng thành của Quân đội ta, sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang nhanh chóng đến nhường nào.

        Phát huy truyền thống của cha ông, của những lớp đàn anh đi trước, chắc chắn lớp lớp đàn em đi sau sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang, không để các lớp trước phải phiền lòng.

        Tàu tiếp tục lăn bánh. Bây giờ đã là đất bạn - đất nước Trung Quốc! Khu vực gần biên giới thì đồng ruộng, con người của bạn không khác xa mình mấy nhưng càng đi xa lên phương Bắc, đồng ruộng thấy ngày càng rộng lớn, cách canh tác cũng khác ta, ví dụ như nông dân nước bạn cày ruộng bằng ngựa chẳng hạn, rồi hệ thống tưới tiêu chạy nhằng nhit khắp đồng, người người trồng cấy đông như trẩy hội vậy...

        Càng đi càng thấy nước bạn trồng rất nhiều hoa trúc đào hai bên đường, rồi trong công viên, ở các nơi công cộng... Hoa nở rực rỡ, sặc sỡ trên nền trời xanh và xa xa là núi cao vời vợi. Cảnh tượng chẳng khác nào bức tranh thủy mặc. Phong cảnh thật hữu tình. Qua dòng Trường Giang, dòng Dương Tử thấy thuyền buồm nhiều vô cùng, mọi hoạt động nhộn nhịp mà nên thơ lắm.

        Ngày 25 tháng 6 thì tàu đến Bắc Kinh. Cả đoàn về nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ và buổi tối hôm đó được đi tham quan thành phố, tận mắt thấy quảng trường Thiên An Môn rộng lớn. Ai cũng trầm trồ vì sự kỳ vĩ của nó.

        Ngày hôm sau, tàu tiếp tục chuyển bánh qua Diên An ngược lên phía biên giới Trung - Xô. Thảo nguyên, thảo nguyên bao la, chạy dài tít tắp đến tận chân trời. Đồng cỏ xanh rờn, rồi những đàn cừu, đàn ngựa số lượng đông vô kể. Phải thấy được tận mắt thì mới hiểu thế nào là dân du mục. Tàu chạy khá nhanh vì đường sắt của bạn rộng hơn của ta. 5 giờ 30 phút sáng đã đến Mãn Châu Lý. Làm thủ tục xuất cảnh... Thay tàu... Rồi sang đất Liên Xô... Tất cả được ăn bữa "cơm Tây" đầu tiên với dụng cụ thìa, dĩa, với bánh mì, bơ, súp... Phải làm quen với kiểu ăn Tây để rồi mấy năm sau sẽ liên tục gắn bó với nó. Phải làm quen để rồi mà sử dụng thành thạo các vật dụng: thìa, dao, dĩa... Phải làm quen để rồi sau này chính: bơ, pho-mát, bánh mì... là những thức ăn chính nuôi sống mình. Nói chung, tất cả làm quen cũng khá nhanh.

        Con tàu Liên vận lao vun vút. Đường sắt của Liên xô rộng hơn cả đường sắt của Trung Quốc nên tàu phi với tốc độ lớn lắm. Cảnh vật cứ trôi vùn vụt qua khung cửa sổ...

        Những cánh rừng thông, rừng lá nhọn... xuất hiên. Xi-bê-ri là đây. Vùng đất mênh mông đầy khoáng sản là đây. Sang đây thấy cái gì cũng to - từ con người đến cảnh vật, đâu đâu cũng vậy. Thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây sự trù phú, đất đai rộng lớn (nếu như Sa - Hoàng không bán mất mỏm A-las-ca thì đất nước Liên Xô nằm ở cả ba châu lục), khí hậu lại ôn hòa nên con người cũng hào phóng, nhân hậu. Rừng... rừng mênh mang. Tàu chạy với tốc độ cả trăm cây số/giờ mà chạy mãi vẫn chẳng thấy hết rừng. Ven những vạt rừng là đủ mọi loài hoa dại đua nhau khoe sắc, khoe hương hệt như trong cảnh thần tiên...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 09:23:39 PM
        Tàu lao về hướng hồ Bai-can - hồ nước ngọt lớn và sâu nhất thế giới đã hiện ra. Tàu chạy sát mép nước tưởng chừng như thò tay ra là có thể vớt được làn nước trong xanh như ngọc bích của nó. Các chàng thủy thủ trên tàu đánh cá hát vang những bài ca của ngư dân. Cảnh tượng thanh bình quá, yên vui quá. Xa xa thấy có chiếc thuyền câu đứng lặng lẽ như trong câu thơ của bài thơ "Thu điếu" vậy:

        "Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo"

        Đúng, chẳng cứ chiếc thuyền câu, mà kể cả một con tàu chạy ở hồ Bai-can thì cũng vẫn thấy bé tẻo tèo teo như thường vì hồ quá rộng lớn. Tàu chạy nhanh như vậy mà đi vòng quanh có một phần hồ mất cả ngày trời!

        Ngày 2 tháng 7, tàu đến Matx-cơ-va. Thủ đô của quê hương đất nước Xô-viết đây rồi. Tất cả xuống tàu, nhưng vì lí do giữ bí mật nên cả đoàn không ai được tiếp xúc với người lạ, kể cả người Việt Nam đang sinh sống ở bên ấy. Vì vậy mọi người đều dè dặt, né tránh việc chào hỏi, làm quen, mặc dù ở chốn "đất khách quê người" rất muốn có người quen.

        Đoàn được đi dạo trên Quảng Trường Đỏ (còn được gọi là Hồng Trường). Quảng trường được lát đá. Những viên đá đã gắn với bao sự kiện lịch sử của đất nước vĩ đại này. Còn như thấy đâu đây âm vang những bước chân của những đoàn quân duyệt binh và tiến thẳng ra mặt trận thời chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Ngôi sao bằng đá ru-bi đỏ trên đỉnh tháp Crem-li đang sáng lóng lánh, kỳ ảo, oai hùng - ngôi sao từng được đưa vào lời hát "... Đẹp thay rực rỡ ngôi sao đỉnh tháp Crem-li tỏa ánh huy hoàng. Ngôi sao rực chiếu bao niềm tin. Bạn ơỉ Mạc-tư-khoa thành phố hòa bình!"... Quả đúng là một thành phố hòa bình với khung cảnh thật yên bình!

        Hai ngày sau, tất cả đoàn về đến trường Kras- nô-đar. Ở đó đã có những phi công lớp đàn anh đợi đón. Tay bắt mặt mừng... Người ở nhà vừa sang, người đang bay ở đất bạn... ai cũng hoan hỉ, chào hỏi nhau tíu tít. Thôi thì đủ thứ: nào tình hình ở quê hương ra làm sao, nào đi đường có mệt không, nào đã quen với cách sinh hoạt ở đất nước bạn chưa, nào bay bò có khó không, tiếng tăm học có dễ không, học thế nào, thày dạy ra làm sao, nào những lời khuyên nhủ, động viên... Thật huyên náo!

        Khi xa quê hương đất nước, thấy được người dân tộc mình đã quý rồi, đằng này lại gặp những người đồng chí, đồng đội, những người anh trong cùng một nghề bay nữa thì quý mến biết nhường nào.

        Những ngày đầu tiên trên đất Nga này cũng đã có những kỷ niệm khó quên. Sáng Chủ nhật 14 tháng 7 năm 1965, Thiều rủ Nhuận đi phố Pri-mô Akh-ta-ri SƯU tầm tem chơi để gửi về cho em. Với trình độ ba năm tiếng Nga học ở Đại học Bách khoa mà hai chàng chẳng thể nào diễn đạt được ý muốn mua các bộ tem chơi đã đóng dấu (vì ở đây toàn tem mới) cho cô bưu điện xinh đẹp hiểu. Bí quá, hai chàng vừa nói, vừa chỉ trỏ, ra hiệu. "Chứng tôi muốn"... "Chúng tôi muốn"... rồi tay phải nắm lại, đấm bôm bốp vào lòng bàn tay trái. Thế là cô gái trố mắt, kêu toáng lên chạy vào gọi sếp. Một phụ nữ đứng tuổi đi ra, nhìn chằm chằm hai chàng trai người Châu Á. Hai chàng này cũng khá nhạy cảm, biết rằng ra hiệu như ban nãy có gì đó không Ổn, bèn lấy giấy bút ra vẽ một con tem có đóng dấu, bên cạnh đặt một dấu chấm hỏi. Bà ta hiểu ngay và chỉ về cuối phố, nơi có ki-ôt bán các loại tem đó. Đồng thời bà cũng không quên dặn rằng đừng bao giờ ra hiệu như ban nãy với bất kì cô gái nào nữa vì nó có ý bậy bạ, không tốt. về nhà, hai chàng mới biết và tái mặt vì ra hiệu như thế là có ý muốn gạ gẫm tục tĩu.

        Vài ngày sau là cả đoàn bước vào học lí thuyết luôn. Vừa học lí thuyết, vừa học tiếng Nga. Đoàn được nhà trường cho ghép vào học cùng với đoàn các anh sang trước (có 11 người) gồm:

        Phạm Đình Tuân
        Hoàng Cống
        Ngô Văn Phú
        Nguyễn Cát A
        Phạm Văn Mạo
        Trần Cung
        Lê Văn Trạng
        Lương Văn Luân
        Phan Công Ưởng
        Bùi Thanh Tiền
        Nguyễn Kim Viên

        Thời gian học lí thuyết (của loại máy bay Iak-18a) là 3 tháng. Đầu tháng 10 bắt đầu bước vào thực hành bay. Tổ bay không phân chia cố định mà xáo trộn theo thời gian thực hành bay, chia đi chia lại nhiều lần.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2016, 09:25:21 PM
        Hôm đầu tiên bay chuyến cảm giác, Xuân Thiều bay trước và sau là đến lượt Trần Ngọc Nhuận. Phải nói rằng chuyến bay cảm giác là chuyến bay đáng nhớ nhất trong đời bay vì lần đầu tiên anh được mở máy, được cùng thày cất cánh lên không trung, lần đầu tiên được chiếm lĩnh độ cao, lần đầu tiên thấy được mình giữa mây trời hoàn toàn chủ động. Có thể cách nhìn nhận của mỗi người về mỗi góc độ có khác nhau một chút, nhưng tâm lí chung thì hầu như không khác nhau là mấy. Sau này rồi sẽ còn có nhiều chuyến bay đáng nhớ nữa như chuyến bay đơn đầu tiên, chuyến bay nhào lộn với các động tác phức tạp đầu tiên, chuyến bay chặn kích đầu tiên, chuyến bay bắn đạn thật đầu tiên, chuyến bay kiểm tra phê chuẩn tốt nghiệp v.v, nhưng với chuyến bay cảm giác - chuyến bay thực sự đầu tiên của một con người chưa hề biết gì về bầu trời mà lại lên trời thì không bao giờ quên được. Các thày dạy bay mỗi người mỗi tính, mỗi nết. Có thày thì chỉ bảo cho rất cặn kẽ, từng tí từng li một, lại nói năng nhẹ nhàng, nhất là các động tác ở chuyến bay đầu tiên để cho học viên biết cảm giác thế nào là bay, thế nào là máy bay... không hề kéo giật đột ngột, mạnh mẽ. Cũng có thày thì ngay sau khi cất cánh là làm các động tác đột ngột, nhào lộn với quá tải lớn ngay theo kiểu... "dằn mặt", cốt để cho học viên phải biết sợ ngay từ đầu, biết thế nào là lễ độ, là sự răn đe...

        Chuyến bay đầu tiên của Vũ Xuân Thiều có lẽ đã được "phủ đầu" như thế. vốn tạng người không thật khỏe, chỉ mới sơ qua vài lần "kéo đẩy" của thày thôi là Thiều đã "mặt xanh nanh vàng" ra rồi. Khi về hạ cánh, thày dạy bay ra khỏi buồng lái một lúc rồi mà Thiều vẫn ngồi im trong đó. Đến lượt mình tiếp thu máy bay để bay chuyến tiếp theo, Nhuận chạy ra xem cơ sự thế nào. Bấy giờ mới thấy Thiều đứng dậy, tay bịt mồm, cố leo xuống máy bay, chạy vội ra xa một đoạn rồi cúi xuống nôn ồng ộc. Trước đó thì Thiều đã nôn trong buồng lái rồi. Thày giáo bắt Nhuận phải đi xách nước, lấy giẻ, chui vào buồng lái để lau dọn "sản phẩm" của Thiều. Mùi của các chất nôn mửa bốc lên làm Nhuận cũng suýt nôn đến mấy lần. Thiều vẫy Nhuận ra, nói nhỏ:

        - Mày bảo ông ấy (là ông thày dạy bay) kéo vừa thôi, đừng làm các động tác nhào lộn nữa kẻo mày cũng cóc chịu được đâu! Mà có lẽ tao chẳng bay được đâu, mày ạ!

        Và Nhuận đã chủ động đề nghị ngay với thày:

        - Đây là chuyến bay cảm giác. Đề nghị thày chỉ dẫn cho tôi bay bình thường chứ đừng làm động tác nhào lộn nhé!

        Ông thày gật đầu. Có lẽ thày cũng đã cảm thấy ân hận với chuyến bay vừa rồi với Thiều, và thực ra cũng không chịu được mùi nôn mửa bốc lên trong buồng lái. Nếu lần này mà Nhuận cũng nôn nữa thì chắc gì thày đã kìm chế được, mà cũng theo đà... nôn theo trò!

        Tuy thày làm các động tác có vẻ nhẹ nhàng, không giật, không tạo quá tải lớn như khi bay với Thiều, nhưng đến lúc xuống đất thì Nhuận cũng vẫn chẳng chịu nổi, vẫn bị nôn như thường.

        Nhân đây phải nói đến vấn đề "quá tải". Có lúc, có người gọi là "gia trọng". Thực chất thì đấy là lực tác động lên phi công. Khi bay trên trời, nếu trạng thái máy bay bay bằng thì phi công chịu một lực đè (quá tải) lên người bằng đúng trọng lượng của mình - tức là: nếu bạn cân nặng 60 kg thì lúc ấy bạn phải chịu một lực đè lên người bạn là 60 kg. Khi bay nhào lộn với các động tác phức tạp thì quá tải sẽ tăng lên: có thể bằng 4, 5, 6, 7, 8,...Ví như, nếu quá tải bằng 4 thì lực đè lên bạn sẽ bằng 4 lần trọng lượng cơ thể bạn. Khi kéo với quá tải lớn, máu trên đầu sẽ bị dồn hết xuống dưới cơ thể bạn. Mắt bạn tối sầm lại (vì máu ở não có ít), chân tay bỗng nặng trịch, không thể nhấc lên được. Chính vì vậy, người ta phải chế ra "bộ quần áo kháng áp", mặc vào để bó chặt chân, chặt bụng, cho máu không dồn xuống quá nhiều, để số lượng máu còn đủ nuôi não, không bị sây sẩm mặt mày, không bị ngất ở trên trời.

        Không phải phi công nào cũng chịu được mọi quá tải ngay một lúc. Cái chính là phải rèn luyện để thích ứng dần. Và cũng không phải máy bay nào cũng chịu được mọi quá tải vì nếu quá đi thì chính máy bay cũng bị phá vỡ. Ví dụ như với máy bay MIG-21 - quá tải tạo ra sự phá vỡ máy bay là bằng 12. Lúc ấy thì kết cấu của máy bay không còn bền vững nữa, cánh sẽ rời ra, các bộ phận khác cũng rạn vỡ...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:07:21 AM
        Vậy mà trong chiến đấu, đã có những phi công kéo quá tải đến 9,10,11. Ví dụ, anh Hoàng Quốc Dũng khi làm động tác "lộn xuống" để đuổi theo bắn thằng F-4, anh đã kéo đến quá tải bằng 11. Anh bắn cháy thằng F-4 ấy, nhưng sau rồi anh cũng phải đi nằm viên. Anh bị chảy máu tai vì quá tải lớn quá. Hoặc như anh Nguyễn Văn Lung, khi đi chiến đấu về, thấy trạng thái anh có vẻ "ngơ ngơ", đồng đội đã "thử" anh bằng cách giơ quả khế ra trước mặt anh và hỏi:

        - Ăn kẹo không?

        - Chua lắm! - Anh trả lời

        Vậy là rõ rồi. Mời anh đi đến quân y để khám. Và rồi anh cũng phải đi nằm viện. Cũng giống hệt anh Hoàng Quốc Dũng, anh đã bị chảy máu tai.

        Trở lại với đoàn bay. Cả đoàn bay trên loại máy bay Iak-18a ở sân bay Akh-ta-ri với thời gian không được lâu. Khi có đoàn bay do anh Đinh Tôn làm đoàn trưởng bay trên loại máy bay L-29 (loại máy bay phản lực tốc độ dưới tốc độ siêu âm) bay ở Akh-ta-ri thì cả đoàn chuyển về sân bay Nô-vô-chi-ta-rôp để bay. Sân bay Nô-vô-chi-ta-rôp là sân bay đất. Loại máy bay Iak-18a có thể hoạt động ở đó bình thường được.

        Đên sân bay Nô-vô-chi-ta-rôp, đoàn bay được bổ sung thêm một số học viên nữa. số là sau một thời gian học, các bạn Liên Xô lại tố chức khám lại sức khỏe, khám cho cả đoàn đang học kỹ thuật (thợ máy) và lựa chọn được thêm 11 người chuyển lên học bay. Số đó gồm các anh:

        Lê Minh Dương
        Nguyễn Thanh Quý
        Phạm Tuân
        Nguyễn Văn Ngọc
        Trần Cao Thăng
        Nguyễn Văn Hùng
        Nguyễn Xuân Thư
        Nguyễn Văn Hợp
        Trần Hồng Thái
        Trương Công Thành
        Đoàn Đình Thanh

        Thời gian bay ở sân bay Nô-vô-chi-ta-rôp cũng xảy ra nhiều chuyện vui lắm. Gọi là sân bay đất, nhưng lớp cỏ mọc khá dày. Sân bay và các vùng phụ cận sân bay rất rộng, bằng phẳng, lại có nhiều đống mối đùn. Loài thỏ đồng sinh sống ở đó và loài thỏ lại hay đào hang ở các ụ mối đó để cư trú. Mà giống thỏ đã đẻ thì đẻ mắn vô cùng. Cư dân của chúng khá đông đảo. Chúng hay ngồi trên ụ mối, dỏng tai lên nghe ngóng động tĩnh. Hễ máy bay nổ máy, rú ga hoặc lăn qua là chúng chạy biến vào hang hoặc chạy rất nhanh núp vào những bụi cây lúp xúp mọc ở gần đó. Vậy là có một lần, anh Phạm Tuân thấy một chú thỏ đang đứng ngơ ngác trên ụ mối, anh liền phi ra đuổi. Các thày dạy bay vô cùng ngạc nhiên, nhún vai, ngơ ngác nhìn nhau vì từ xưa tới giờ chưa hề thấy ai chạy đuổi được thỏ cả. Vậy mà bây giờ lại có một học viên Việt Nam lao đuổi thỏ thì lạ lùng thật. Các thày chăm chú theo dõi xem sự thể sẽ diễn ra thế nào. Tuân "mắm môi mắm lợi đuổi", còn chú thỏ thì chạy "bán sống bán chết". Khi đến cánh đồng lúa mì, chú thỏ không biết chạy đi đâu nữa đành liều phi vào đó và bị Phạm Tuân tóm sống, xách tai mang về. Các thày dạy bay lại được phen ngạc nhiên hơn và chuyên đuổi bắt thỏ của học viên Việt Nam thành chuyện được kể mãi ở đấy.

        Rồi lại còn trò đi tát cá nữa. Gần sân bay, vào mùa hè thường có trại hè được tổ chức ở đấy (trại hè Nô-vô-chi-ta-rôp), có một con sông nhỏ (thực chất chỉ là một ngòi nước nhỏ uốn lượn ngoằn ngoèo) chảy qua. Các học viên Hung-ga-ri và Việt Nam hay ra đấy câu cá. Số học viên Hung-ga-ri thì câu bằng cần câu máy, có tay quay dây câu, rồi các loại mồi câu theo kiểu hiện đại lắm. Họ lấy cớ đi câu để "câu" gái Nga thôi vi cậu nào cũng có một cô gái Nga ngồi bên cạnh cả, còn các học viên Việt Nam ta thì không, đi câu là để lấy cá về chén thật. Mà đã là trò đi câu thì lâu lâu mới giật được một con, sốt ruột lắm. Thế là các bậc đàn anh (như anh Đình Tuân, anh Hoàng Cống, anh Công Ưởng...) đầu têu nhảy xuống sông, đắp chặn hai đầu, xong rồi dùng mọi phương tiện như xô, chậu, hoặc bất kỳ thứ gì có thể tát nước được là huy động xuống tát nước hết. Các bạn Hung-ga-ri đang ngồi câu, thấy nước cứ cạn dần như có phép lạ, rồi chẳng mấy chốc trơ đáy và các bạn Việt Nam thì hồn nhiên nhảy xuống bắt cá. Họ chẳng hiểu ra làm sao, ngạc nhiên lắm. Tiếp tục "phát huy hiệu quả", ta lại đắp chặn tiếp đoạn tiếp theo, lại tát, lại bắt. Các bạn Hung-ga-ri "trơ mắt ếch", chẳng còn chỗ nào mà "hành nghề", đành hậm hực bỏ đi nơi khác.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:08:35 AM
        Số lượng cá bắt được là khá nhiều, các anh đem về đưa vào bếp ăn để cho các đầu bếp chế biến, còn một số thì đem về nhà để nấu ăn thêm. Có lần, đang xì xụp đánh chén thì có đội trực ban đi kiểm tra khu ở của các học viên đến. Thế là mọi nồi niêu, bát đĩa phải tống hết vào trong gầm giường, phủ vải ga giường trùm sát sàn nhà và các học viên ta đứng nghiêm phăng phắc chào đoàn kiểm tra. Các vị trực ban Nga thấy rõ ràng có mùi thức ăn ở trong phòng nhưng chẳng thấy thứ gì lộn xộn cả, đâu đấy vẫn ngăn nắp thì thôi, cũng gật đầu chào và đi kiểm tra nơi khác.

        Cũng thật hú vía chứ!. Bấy giờ mà bị bắt quả tang việc tự nấu nướng, ăn uống ở tại phòng ở thì rầy rà lắm, sẽ bị nhà trường kỉ luật nặng chứ chẳng phải chuyện đùa!

        Mà rồi hầu như các đoàn học viên bay về sau này, đoàn nào cũng có cái trò "cải thiện" ấy thì phải. Chẳng phải là các bạn Nga nuôi nấng không chu đáo hay đói kém gì đâu mà thực chất chỉ là bày trò cho "vui một tí" như mò trai mò hến về nấu cháo hay đi bứt ngọn rau sam, rau cải... về luộc ăn rồi trêu chòng nhau mà thôi. Học viên bay thì cũng một dòng kiểu học trò, xếp loại đứng sau quỷ, sau ma, cho nên có mấy cái trò ấy cũng không lấy gì làm ngạc nhiên.

        Tới trung tuần tháng 7 năm 1965 thì cả đoàn lại trở lại sân bay Akh-ta-ri để rồi chuẩn bị chuyển đến sân bay Ku-sôp bay loại máy bay MiG-17.

        Thời gian học lí thuyết bay trên loại máy bay MiG-15 và MiG-17 cũng rất nhanh. Tất cả phải bay trên loại máy bay MiG-15 trước, vì chỉ loại máy bay MiG-15 mới có máy bay huấn luyện hai buồng lái: buồng lái phía trước dành cho học viên, buồng lái phía sau dành cho giáo viên), còn các loại máy bay chiến đấu thì chỉ có một buồng lái thôi. Đến giai đoạn bay trên loại máy bay MiG-17 thì tổ bay được sắp xếp đã khá ổn định. Trần Ngọc Nhuận, Trần Hóa và Vũ Xuân Thiều được biên chế vào cùng một tổ bay dưới sự dẫn dắt của thày dạy bay là I-va-nôp.

        Thày I-va-nôp là một giáo viên còn trẻ, sống độc thân - một con người khá cục cằn trong khi bay, hay cáu gắt và chửi bậy (đương nhiên còn kém thày Bug-rôp của đoàn bay L-29 về sau này từng được mênh danh là "Thần sấm chửi"), nhưng lại không muốn gò ép các học viên bay trong việc ôn tập, thực hành mặt đất.

        Vào những ngày sương mù giăng dày đặc quanh sân bay, tầm nhìn xấu là những ngày các học viên bay phải thay nhau ngồi tập trong buồng lái: tập xử lí hỏng hóc và các sự cố đặc biệt xảy ra ở trên không, ôn luyện các động tác của bài bay cho thành thục. Thiều không hút thuốc lá nên Hóa và Nhuận "cắt cử" Thiều ngồi tập trong buồng lái với thời gian nhiều hơn (cốt là để thày I-va-nôp đứng từ xa quan sát vẫn thấy các học viên của mình ngồi tập trong buồng lái) còn Hóa và Nhuận lỉnh ra khu vực cho phép hút thuốc để rít thuốc cho thoải mái.

        Với phi công, nhất là với các học viên bay thì việc ngồi tập, ôn luyện trực tiếp trong buồng lái là rất quan trọng. Phải luyện tập sao cho mọi động tác của mình đạt đến mức độ "tự động hóa" mới được (cũng như đã là phi công thì kể cả khi đang ngủ say lúc nửa đêm, bị gọi dậy hỏi công thức tính lực nâng của máy bay thì phải nói cái phắt - chính xác 100% luôn). Bởi khi bay ở trên trời, phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà các động tác tập ở dưới mặt đất đạt được 10 phần thì lúc ấy chưa chắc đã đạt được 8 hoặc 9 phần, mà có thể còn thấp hơn thế nhiều.

        Một trong các động tác phải tập thật thuần thục, tập đến độ phải đạt được mức tiêu chuẩn "tự động hóa" là động tác thoát ra khỏi "xoắn ốc" (s-tô-por). Nếu xử lí không chuẩn, để máy bay rơi vào "xoắn ốc tự do không điều khiển" thì phi công thường phải nhảy dù, mà có khi còn không kịp dẫn đến tai nạn mất cả người lẫn máy bay. Khi máy bay rơỉ vào trạng thái "xoắn ốc tự do không điều khiển" - máy bay sẽ liên tục thay đổi hướng quay (theo chiều kim đồng hồ và ngược lại). Chu kỳ quay cũng không rõ ràng, tốc độ quay thay đổi đột ngột. Với loại máy bay MiG-17 - tốc độ lao xuống có thể đạt đến 300 mét/giây. Máy bay xuất hiện sự va đập, lắc giật rất mạnh theo cả trục dọc lẫn trục ngang. Quá tải tác động lên phi công cũng thay đổi liên tục theo cả quá tải dương lẫn quá tải âm. Nếu không chọn đúng thời điểm và các động tác tác động vào cần lái và bàn đạp (pê-đan) không chuẩn thì khó mà thoát ra được khỏi "xoắn ốc". Khi ấy, nếu còn đủ độ cao thì phải nhảy dù, bỏ máy bay ngay, bằng không thì sẽ cùng máy bay lao thẳng xuống đất, kèm theo một tiếng nổ và một cột khói đen bốc tít lên trời cao!...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:09:44 AM
        Luyện tập trong buồng lái với động tác ấy phải tính bằng hàng chục đến hàng trăm lần. Trần Hóa và Trần Ngọc Nhuận vốn hay thèm thuốc nên hay bỏ tập, lỉnh đi hút thuốc nên có lần phi đội trưởng - thày Brat- chi-côp kiểm tra trực tiếp từng người một, thày đánh giá chỉ mình Thiều đạt yêu cầu, còn Hóa và Nhuận không đạt. Thày bắt Hóa và Nhuận phải tập thêm và giao nhiệm vụ cho Thiều phải giám sát thay cho thày.

        Và cũng chính ở cái trạng thái "xoắn ốc" ấy mà Trần Ngọc Nhuận suýt nữa thì bỏ mạng trên loại máy bay MiG-17 khi bay nhào lộn ở không vực bay số 2.

        Hôm ấy, Nhuận phải bay 3 chuyến đều vào không vực số 2 để luyện tập động tác "xoắn ốc". Đối với không vực này, Nhuận chưa bay vào đấy bao giờ, chưa quen các địa tiêu trên mặt đất. Tâm của không vực là nông trang Ku-zơ-min-xcơ trông rất khó phân biệt với các làng Nga khác. Vậy là Nhuận bay lệch tâm không vực đến 30 - 40 km về phía Bắc. Theo lí thuyết thì các thông số cơ bản trước khi vào "xoắn ốc" phải là: tốc độ đồng hồ theo máy bay không được nhỏ hơn 230 km/h, độ cao không quá 11.500m, tốc độ lên cao không nhỏ hơn 5m/s, đồng thời máy bay phải bay ở tâm không vực và với những người mới làm động tác này thì nên vào từ bên trái vì nó ổn định hơn do phù hợp với chiều quay của tua-bin động cơ máy bay. Thế nhưng Nhuận lại vào "xoắn ốc" với các thông số khác hẳn: tốc độ 205 km/h, tốc độ lên cao bằng 2m/s, độ cao bay là 12.200m và vào động tác từ bên phải (do sợ bay lệch tâm không vực nên làm vậy để cố kéo máy bay bay gần vào tâm không vực). Vậy là, khi vừa mới thu cửa dầu về vị trí nhỏ, đánh ắc phải, cần lái lật cánh và đạp kịch pê-đan đổi hướng thì máy bay đã rất đột ngột thất tốc, đổ đầu, lật cánh và lập tức rơi ngay vào trạng thái "xoắn ốc tự do". Sau mấy lần giật đổi hướng, máy bay vừa liệng vừa chúi đầu lao xuống cực nhanh. Phía trước là mặt đất quay cuồng. Nhuận thao tác đến bốn, năm lần cố đưa máy bay thoát ra nhưng không được. Càng ngày máy bay lao xuống đất càng gần. Nhuận gần như bất lực và quyết định phải nhảy dù, bỏ máy bay. Khi đã làm các động tác chuẩn bị cho việc nhảy dù xong, chỉ còn động tác giật cần màu đỏ nữa thôi thì bỗng dưng thấy đồng hồ chân trời thoáng "chậm lờ đờ" như sắp dừng. Nhuận vội buông cần giật dù, vồ lấy cần lái, đánh ắc trái, ắc phải, về giữa, cùng lúc hai chân cũng đạp pê- đan kịch trái, kịch phải, về cân bằng. Vừa kết thúc các động tác thì máy bay cũng đồng thời đổ cánh đổi chiều, quay trái... Máy bay vẫn tiếp tục lao xuống, nhưng có chậm lại và ngay sau đó thì nó giật giật thân, lúc lắc cánh rồi từ từ ngóc đầu lên, ngừng quay. Vậy là đã thoát ra được "xoắn ốc"! Độ cao chỉ còn chưa đầy 400m, cái chết chỉ còn trong tích-tắc. Và trong tích-tắc ấy cũng là cái sống! Sự sống còn chỉ tính bằng giây! Nhà trường đã rút kinh nghiệm rất nghiêm túc cả từ phía học viên, cả từ phía thày dạy bay lẫn phía tổ chức bay của nhà trường. Nhuận tâm sự với Thiều khá nhiều. Và càng ngẫm càng thấy thấm thìa việc chuẩn bị dưới mặt đất quan trọng đến nhường nào. Sau này có xuất hiện cụm từ "quán tưởng". Ấy là lúc đó bạn ngồi tựa như ngồi thiền, nhưng không phải là thiền mà là để tưởng tượng ra tất cả mọi thứ tự cho mọi động tác khi phải thực hiện. Đó cũng là một cách tập mới đối với nhiều lĩnh vực và hiệu suất cũng cao.

        Trong những giờ tập luyện, đặc biệt trên mô hình máy bay tập có điều khiển bằng hệ thống điện tạo cảm giác như đang bay thật (tơ-rê-na-giơ) ở bộ môn công kích mặt đất, so với các anh em trong tổ bay, Thiều thường đạt điểm cao vì bắn chính xác.

        Sau này, khi bay vào trường bắn (pô-li-gôn) để bắn đạn thật, nhiều chuyến Thiều khai hỏa (bắn) ở cự li tối thiểu, khi thoát li, luồng khí từ sau máy bay thổi cát bụi bay mịt mù. Đã có lần, thày chỉ huy ở trường bắn sợ Thiều bắn vào xe chỉ huy của mình nên phải đánh xe chạy vọt ra khỏi khu trường bắn. Những chuyến bay tập không chiến cũng vậy, Thiều thường áp sát, tựa như chiến thuật của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam "bám sát thắt lưng địch mà đánh, không cho chúng nó thoát".

        Thấm thoắt chẳng mấy chốc mà đã kết thúc chương trình bay trên loại máy bay MiG-17. Thời gian trôi đi nhanh thật. Đoàn bay của Thiều đã chuyển sang học lí thuyết để chuyển loại bay trên loại máy bay MỈG-21.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 07:50:34 PM
        Khi học bay trên loại máy bay MiG-21, tất cả về bay ở sân bay Kras-nô-đar. Ở đó có cả đoàn bay L-29 do anh Đinh Tôn làm đoàn trưởng được lựa chọn 24 người chuyển bay thẳng từ L-29 lên MiG-21. Đó là các anh:

        1.   Đinh Tôn - đoàn trưởng
        2.   Đào Minh Châu - đoàn phó
        3.   Nguyên Văn Khánh
        4.   Nguyễn Ngọc Hưng
        5.   Nguyên Văn Quang
        6.   Vũ Đình Rạng
        7.   Lê Toàn Thắng
        8.   Nguyễn Tuấn Ngòi
        9.   Nguyên Tiến Sâm
        10.   Lê Thanh Đạo
        11.   Nguyên Đức Soát
        12.   Nguyễn Văn Nghĩa
        13.   Nguyễn Hồng Mỹ
        14.   Đặng Xây
        15.   Bùi Văn Long
        16.   Vũ Như Ngữ
        17.   Trần Việt
        18.   Phạm Thành Nam
        19.   Nguyễn Công Huy
        20.   Hà Quang Hưng
        21.   Lương Thế Phúc
        22.   Phạm Phú Thái
        23.   Võ Xuân Quang
        24.   Nguyên Học Hải

        Hai đoàn bay gộp lại với nhau thành một đoàn bay MiG-21. Đến thời gian đó, đấy là khóa đào tạo các phi công bay MiG-21 lần thứ ba đối với học viên Việt Nam. Đoàn gồm có 36 người, về sau, trong quá trình bay, các anh Đào Minh Châu, Nguyễn Học Hải và Võ Xuân Quang không bay được trên loại máy bay MiG- 21 vì lí do sức khỏe và lí do kỹ thuật nên các anh lại chuyển xuống bay trên loại máy bay MiG-17. Đoàn bay MiG-21 khóa 3 còn lại 33 chiến sĩ.

        Máy bay MiG-21 thời đó, và cho đến cả bây giờ cũng vậy vẫn là loại máy bay có tốc độ hạ cánh lớn nhất. Nó có thể bay đến độ cao (trần bay thực tế) 18 km, tốc độ tối đa là 2150 km/h (trị số Mách (M) = 2,05), đeo 2 quả tên lửa không đối không (sau này là 4 quả), thêm 2 khẩu súng 23 li dưới thân. Nhiệm vụ chính của nó là nhiệm vụ tiêm kích đánh chặn các mục tiêu ở trên không, nhưng cũng có thể làm được nhiệm vụ cường kích - đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước. Khi đó, nó có thể đeo được 1000 kg bom, hoặc 2 bình rôc-két (sau này là 4 bình). Nó thật dũng mãnh, đẹp như một con tuấn mã. Và 33 chàng trai của đoàn bay khóa 3 đã chinh phục được "con ngựa chiến" ấy. Bay được trên loại máy bay MiG-21 quả thực là rất đáng tự hào. Cho đến tận bây giờ, tuy có nhiều loại máy bay mới với nhiều tính năng khác nhau, nhiều ưu việt khác nhau, nhưng khi nghe tiếng tăng lực của máy bay MiG-21 lúc cất cánh vẫn thấy rất “người lớn" và cái cảnh nó tách đất, lao vút vào trời xanh vẫn thấy thật oai hùng biết bao!

        Chương trình huấn luyện bay được dồn nén đến tối đa. Các khoa mục bay được hoàn tất chóng vánh. Và vào tháng 11 năm 1967, cả đoàn đi về vùng biển Lý Hải, đến trường bắn Axt-ra-khan để thực hiện những bài bắn tên lửa cảm giác và bắn máy bay không người lái (dùng loại máy bay La-7 làm mục tiêu. Giá trị mỗi một chiếc La-7 thời bấy giờ vào khoảng 500-700 ngàn rúp một chiếc). Nhiều học viên Việt Nam đã dùng tên lửa không đối không bắn rơi các mục tiêu ấy ví dụ như các anh Trần Ngọc Nhuận, Lê Thanh Đạo, Lê Toàn Thắng, Hoàng Quốc Dũng...

        Trong quá trình bay bắn tên lửa không đối không cũng có những sự cố trục trặc xảy ra, như chuyến bay của anh Nguyên Đức Soát, sau phi phóng tên lửa, động cơ máy bay bị tắt máy. Anh đã mở máy lại ở trên không và về hạ cánh an toàn... Những ngày ở trường bắn là những ngày rất sôi động bởi kết thúc những khoa mục ở trường bắn cũng có nghĩa là sắp kết thúc khóa học. Ai cũng náo nức, mong ngóng cái ngày tốt nghiệp ấy, mong ngày về nước đến càng sớm càng tốt.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:24:40 PM
        Rồi thấm thoắt đã đến cái Tết của năm 1968. Vậy là đã qua 3 mùa xuân, 3 cái Tết đón bên đất Nga rồi. Tất cả những cái Tết Việt Nam bên xứ Nga đều được đón một cách trang trọng. Không có hoa đào thật thì ta làm hoa đào giấy, rồi cũng có mâm ngũ quả, rồi cũng chăng đèn, kết hoa... đủ cả. Tất cả đều cố gắng tạo hương vị quê nhà cho vơi bớt đi nỗi nhớ quê trong những ngày Tết đến, xuân về. Trong những ngày ấy, Trần Ngọc Nhuận - "thi sĩ" của đoàn đã viết:

"Chiều nay xuân đến quê ta
Bâng khuâng những đứa con xa nhớ về
Trời Nga băng tuyết tái tê
Một cành đào giấy hoa khoe sắc hồng
Ngày vui bỗng ấm căn phòng
Dường như xuân tự biển Đông đã vào!"

        Dư âm Tết vẫn còn, nhưng nhiệm vụ bay thì không thể quên được. Tuyết rơi dày, phủ lên vạn vật một màu trắng tinh khôi. Gió thổi lạnh buốt. Màu trắng của tuyết làm cho ta lóa mắt, và khi bay trên trời thật khó xác định được địa hình, địa vật, được đâu là tâm không vực bay để thực hiện các động tác nhào lộn. Tuyết băng cũng làm cho việc hạ cánh phức tạp hơn ngay từ việc xác định đường lao xuống lấy tầm hạ cánh, rồi xác định độ cao kéo bằng, tiếp đất... Thiều đã có một chuyến hạ cánh kinh khủng. Lao xuống hạ cánh với tốc độ lớn hơn bình thường, vừa tiếp đất xong thì máy bay nhảy dựng lên, lệch hướng sang bên phải đường băng chừng 30 độ, rồi cắm đầu xuống đất. Băng tuyết bốc lên bụi mù, trùm kín cả máy bay. Còi báo động rú. Xe cứu hỏa, xe cứu thương phi ra ngoài đường băng làm nhiệm vụ cấp cứu. May mắn làm sao, Thiều không hề bị sây sát tí gì. cất hạ cánh vào mùa Đông khi có tuyết rơi, đặc biệt khi trời lạnh quá, hơi nước đóng thành lớp băng mỏng trên đường băng thì sẽ tạo ra độ trơn trượt. Ngay chạy ô tô trên đường cao tốc, gặp phải tình huống ấy, nhiều xe ô tô cũng quay ngang, quay dọc tạo thành những cú va chạm liên hoàn kia mà.

        Rồi chương trình đào tạo học viên bay MiG-21 khóa 3 cũng kết thúc. 33 anh em đã tốt nghiệp ở trường Kras-nô-đar, đã trở thành các phi công lái loại máy bay MiG-21- loại máy bay tiêm kích phản lực chiến đấu siêu thanh hiện đại nhất thời bấy giờ.

        Vì nhu cầu của nhiệm vụ, ở nhà yêu cầu nhà trường cho các anh Đinh Tôn, Lương Thế Phúc, Phạm Phú Thái và Hà Quang Hưng về nước trước, số anh em còn lại tiếp tục ở lại để bay huấn luyện thêm khoa mục bay thời tiết phức tạp và học lí thuyết về bay đêm. Đến tháng 4 năm 1968, kết thúc hoàn toàn mọi công việc và 29 anh em về đợt sau, gồm:

        1.   Nguyên Văn Khánh
        2.   Nguyễn Ngọc Hưng
        3.   Nguyễn Văn Quang
        4.   Vũ Đình Rạng
        5.   Lê Toàn Thắng
        6.   Nguyễn Tuấn Ngòi
        7.   Nguyên Tiến Sâm
        8.   Lê Thanh Đạo
        9.   Nguyễn Đức Soát
        10.   Nguyễn Văn Nghĩa
        11.   Nguyên Hồng Mỹ
        12.   Đặng Xây
        13.   Bùi Văn Long
        14.   Vũ Như Ngữ
        15.   Trần Việt
        16.   Phạm Thành Nam
        17.   Nguyễn Công Huy
        18.   Phạm Đình Tuân
        19.   Trần Thông Hào
        20.   Nguyên Phú Đức
        21.   Trần Ngọc Nhuận
        22.   Trần Cung
        23.   Nguyên Cát A
        24.   Vũ Xuân Thiều
        25.   Ngô Văn Phú
        26.   Phạm Văn Mạo
        27.   Hoàng Quốc Dũng
        28.   Trần Hóa
        29.   Nguyên Ngọc Thiên


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2016, 08:27:53 PM
        Trước khi về nước, nhà trường tổ chức cho các phi công trẻ đi tham quan, giao lưu với một nông trường ở Bru-khô-vet-scaia.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%209_zpsenc6piqn.jpg)
Vũ Xuân Thiều cùng các em thiếu nhi ở trại hè của sân bay Nôvôghitarốp
(Thiều ngồi sahamhf sau, đầu tiên bên trái)

        Bru-khô-vet-scaia chính là tâm không vực bay số 4. Tất cả anh em ai cũng được bay nhiều ở không vực ấy, biết đấy là tâm không vực mà đã bao giờ đến được tận nơi đâu. Bây giờ thì cả đoàn đã được đến Bru-khô-vet-scaia thực sự rồi, không phải là cảnh ở trên ười nhìn xuống đất nữa, mà rõ ràng là đi trên mặt đất của nông trường.  

        Nông trường tổ chức đón tiếp rất trọng thị và chiêu đãi bữa tiệc tổ chức ở ngoài trời theo đúng nghi lễ truyền thống và tính cách Nga mới thịnh soạn làm sao.

        Bữa tiệc diễn ra rất vui vẻ, nhưng đến gần cuối, khi biết được đây là những phi công trẻ sắp về nước để tham gia chiến đấu thì không khí bữa tiệc bỗng chùng hẳn xuống. Nhiều bà mẹ Nga khóc vì xót thương các phi công trẻ như thế này mà nay mai đây thôi sẽ phải lao vào cuộc chiến khốc liệt, đầy máu lửa, chết chóc. Các bà mẹ Nga muốn giữ các phi công trẻ lại đất Nga để được sống trong khung cảnh hòa bình, nhưng không một ai đồng ý cả. Khá nhiều anh em trong đoàn cũng sụt sịt, mắt cũng đỏ hoe, bịn rịn chia tay với những bà mẹ Nga - những bà mẹ thật bình dị, chất phác, hiền từ, nhân hậu... chẳng khác gì những người mẹ đẻ của chúng ta. Tất cả anh em trong đoàn đều hứa sẽ vượt qua được chiến tranh, sẽ trở lại thăm đất Nga.

        Xe chuyển bánh để trở về trường. Mọi người trên xe gần như đồng thanh: "Tạm biệt! Hẹn gặp lại!". Các bà mẹ Nga vừa khóc, vừa vẫy tay tiễn biệt.

        Tạm biệt trường Không quân Kras-nô-đar. Tạm biệt vùng sông Đông êm đềm. Tạm biệt thày, cô, bạn bè. Tạm biệt tất cả! Hẹn ngày gặp lại. Đúng, chỉ là hẹn ngày gặp lại! Lên đường về nước sau khi tốt nghiệp đâu có phải đồng nghĩa với việc vĩnh biệt trường, dù biết rằng số phi công trẻ này có người sẽ phải vĩnh viễn xếp lại đôi cánh bay của mình trong những trận không chiến!

        Hẹn ngày gặp lại đồng nghĩa với việc những học trò của trường, của các thày cô sẽ vượt được cuộc chiến tranh máu lửa để chiến thắng trở về, để được báo công, trả ơn đào tạo, dạy dỗ của các thày cô!

        Hẹn ngày gặp lại cũng đồng nghĩa với lời hứa trước các thày rằng chúng em sẽ xứng đáng với công lao dạy dỗ của các thày, xứng đáng với lòng mong mỏi của nhà trường!

        Hẹn ngày gặp lại! Hẹn ngày gặp lại! Và thế nào chúng em cũng sẽ quay trở lại!

        Tất cả lại lên tàu Liên vận và con tàu Liên vận lại lao vun vút chở số phi công trẻ về nước. Tâm trạng của mọi người đều có cái gì đó vừa rất bịn rịn, vừa rất háo hức, và rất nhiều điều thật khó tả.

        Thiều ngồi ngắm nhìn những cánh đồng, những cánh rừng Nga mênh mang rồi tiếp đến là thảo nguyên trải dài vô tận, tít tắp tận chân trời... lướt qua cửa sổ mà cứ trầm ngâm, vốn dĩ đã là người ít nói, những ngày trên tàu Liên vận Thiều lại càng ít nói hơn. Có lẽ chàng trai Hà Nội này đang mường tượng lại cảnh gặp gỡ khi trở về Đất nước thân yêu, gặp lại những người thân sau bao ngày xa cách.

        Trải qua 10 ngày 11 đêm, vào trung tuần tháng 4  năm 1968, các phi công trẻ đã về đến quê nhà. Ngay từ những giây phút đầu tiên khi đặt chân lên biên giới Tổ quốc, đội ngũ phi công trẻ đã chạm ngay với hơi thở của chiến tranh, đã hiểu thế nào là sự khắc nghiệt, sự dữ dội, ác liệt và sự tàn nhẫn của nó. Nay mai đây thôi, những ai sẽ là người đầu tiên giáp mặt với kẻ thù, ai sẽ là người lập được chiến công đầu tiên, và... liệu có ai phải ngã xuống không?

        Chiến tranh! Chiến tranh! Lại là cuộc chiến giữa trời, không chiến hào, không nơi ẩn nấp, máy bay không biết dừng, không biết bay giật lùi, chỉ có tiến công. Đúng, chỉ có tiến công! Cuộc chiến không chấp nhận những kẻ hèn nhát! Trong ngôn từ của đội ngũ phi công này không có từ hèn nhát! Chúng tôi đã có lời thề trước lúc lên đường, trước lúc qua biên giới của Tổ quốc khi đi học và bây giờ đã đến lúc thực hiện lời thề ấy!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:07:19 AM
 
TRUNG ĐOÀN CHIẾN ĐẤU VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC PHI CÔNG BAY ĐÊM

        Sau khi về nước, tất cả anh em được tranh thủ về thăm nhà mấy hôm. Mấy ngày ở nhà thôi nhưng cũng đã làm vơi, làm dịu đi bao nhiêu nỗi nhớ thương của những tháng năm xa cách. Trở lại đơn vị, số phi công trẻ này được biên chế ngay về các Đại đội chiến đấu. Hồi đó Trung đoàn Không quân 921 có 2 Đại đội bay. Các phi công ữẻ được phân chia cho 2 Đại đội như sau:

        Đại đội 1 gồm các anh:

        Phạm Thanh Ngân
        Mai Văn Cương
        Nguyễn Văn Cốc
        Nguyễn Văn Lý
        Đặng Ngọc Ngự
        Hoàng Biểu
        Nguyễn Văn Minh

        Là các anh cán bộ Đại đội, Trung đội và các phi công lớp đàn anh. số phi công được bổ sung về có:

        Hà Quang Hưng
        Phạm Phú Thái
        Nguyễn Văn Khánh
        Phạm Thành Nam
        Trần Hóa
        Hoàng Quốc Dũng
        Nguyễn Phú Đức
        Bùi Văn Long
        Nguyễn Ngọc Thiên
        Lê Thanh Đạo
        Nguyễn Hồng Mỹ
        Nguyễn Văn Quang
        Đặng Xây
        Phạm Văn Mạo
        Vũ Đình Rạng

        Các cán bộ Đại đội, trung đội và số phi công cũ của Đại đội 2 gồm các anh:

        Lê Trọng Huyên
        Vũ Ngọc Đỉnh
        Đồng Văn Song
        Bùi Đức Nhu
        Nguyên Văn Lung
        Nguyên Đăng Kính
        Nguyễn Văn Thuận

        Và các phi công được bổ sung cho Đại đội là:

        Đinh Tôn
        Lương Thế Phúc
        Nguyễn Đức Soát
        Nguyễn Tiến Sâm
        Nguyễn Văn Nghĩa
        Trần Việt
        Ngô Văn Phú
        Nguyễn Ngọc Hưng
        Trần Ngọc Nhuận
        Phạm Đình Tuân
        Nguyên Tuấn Ngòi
        Lê Toàn Thắng
        Nguyễn Công Huy
        Nguyễn Cát A
        Trần Cung
        Vũ Xuân Thiều
        Trần Thông Hào
        Vũ Như Ngữ

        Khoảng cuối tháng 7 năm 1968, do nhu cầu phát triển lực lượng và yêu cầu của nhiệm vụ, trung đoàn biên chế thêm một Đại đội nữa là Đại đội 3 (sau này là Đại đội 5). Các phi công của hai Đại đội 1 và 2 được điều một số sang Đại đội 3. và Đại đội 3 (Đại đội 5 sau này) gồm:

        Đinh Tôn - Đại đội trưởng

        Nguyễn Đăng Kinh - Đại đội phó
        Chính trị viên là Phan minh Thành
        Chính trị viên phó là Nguyễn Văn Thành

        Đại đội được biên chế 3 Trung đội bay như sau:

        Trung đội 1:

        Hoàng Biểu - Trung đội trưởng
        Phạm Văn Mạo
        Đặng Xây
        Nguyễn Văn Quang

        Trung đội 2:

        Nguyên Văn Minh - Trung đội trưởng
        Trần Cung
        Vũ Đình Rạng
        Trần Thông Hào
        Nguyễn Hồng Mỹ

        Trung đội 3:

        Nguyễn Văn Thuận - Trung đội trưởng
        Vũ Xuân Thiều
        Nguyễn Công Huy
        Nguyễn Cát A
        Trần Ngọc Nhuận

        Nhiệm vụ của Đại đội 3 là huấn luyện bay đêm để tham gia trực chiến ban đêm, đánh đêm, tuy nhiên vẫn phải tham gia trực ban chiến đấu ban ngày cùng với lực lượng của các Đại đội 1 và 2.

        Vậy là các phi công mới ra trường thực sự đã trở thành lính chiến. Cuộc đời sinh viên của các anh như Vũ Xuân Thiều, Đặng Xây, Trần Thông Hào... đã lật sang trang khi bước vào đời bay, thành học viên bay, giờ đây lại lật tiếp sang trang khác nữa: từ đời của học viên bay sang cuộc đời của các phi công chiến đấu, đặc biệt lại là các phi công đánh đêm...

        Quãng đường chiến đấu còn dài, chiến tranh chưa xác đinh cụ thể ngày nào sẽ chấm dứt... Một điều hiển nhiên ai cũng hiểu rằng càng ngày mức độ ác liệt sẽ càng tăng lên, càng ngày sẽ càng nhiều gian nan, vất vả, càng ngày càng phải tốn nhiều tinh lực để giành giật lấy sự yên bình cho bầu trời.

        Các anh đã xác định được điều ấy. Và ai nấy cũng thấy già trước tuổi rất nhiều!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:08:47 AM
        Bay đêm! Hoạt động đêm có nghĩa là ngày nghỉ, đêm bay, và các phi công của Đại đội 3 đã có tên gọi đùa vui là "họ hàng nhà vạc"!

        Bay ngày và bay đêm có rất nhiều đặc điểm khác nhau. Cũng là cất cánh, bay lên bầu trời rồi về hạ cánh, nhưng chuyến bay đêm so với chuyến bay ngày khác xa nhiều lắm. Đầu tiên là công tác tổ chức bay. Để triển khai cho ban bay đêm, ngoài việc triển khai các đài, trạm, lực lượng phục vụ như ban ngày ra, còn phải triển khai hệ thống đèn (đèn chiếu, đèn đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ...). Nếu bay ngày có thể tổ chức được đến dăm chục, một trăm hoặc hơn trăm lần chuyến thì bay đêm chỉ được mấy chục lần chuyến mà thôi. Bay ngày có thể bay được với biên đội 2 chiếc, 4 chiếc, 6 chiếc, 12 chiếc, 36 chiếc... nhưng bay đêm thì chỉ "thũng thẵng" từng chiếc một là chính. Các phi công bay ngày nhìn thấy nhau bằng mắt thường, có thể bay biên đội "mật tập" -   cánh sát cánh, cùng nhau bay nhào lộn với các động tác phức tạp... thì bay đêm không thể làm thế được.. Biên đội bay đêm phải giữ cách xa nhau hàng trăm, hàng ngàn mét. Không thể nhìn thấy nhau bằng mắt thường được mà phải giữ đội qua màn hình ra-đa trên máy bay. Biên đội giữ nhau qua sự hiển thị bằng "vạch trên", "vạch dưới" ở màn hình. Qua những vạch ấy, số 2 có thể biết được số 1 của mình cách mình bao nhiêu, ở cao hơn mình, thấp hơn mình hay ở cùng độ cao với mình. Mà thực ra, không mấy khi xuất kích biên đội đi chiến đấu, hầu như chỉ bay một mình mà thôi. Khi bay ngày, các phi công có thể điều khiển máy bay nhào lộn với các động tác phức tạp theo mặt phẳng ngang, mặt phẳng đứng hay mặt phẳng nghiêng với gia trọng lớn, còn bay đêm, các động tác không thể cơ động mãnh liệt như thế được, không thể bay theo các bài bay với các động tác "thắt vòng đứng", "thắt vòng nghiêng", "lộn xuống", "khoan lên"... như bay ban ngày được. Bay ngày, có thể bay ở độ cao cực thấp (mà anh em phi công vẫn quen gọi là "mò cua bắt ốc") tức là bay sát trên địa hình, cách địa hình chỉ khoảng mươi mét thôi, nhưng ban đêm thì không. Phi công bay ngày có thể bay thấp, bay theo vật chuẩn, tự "lần" về sân bay để hạ cánh, thì phi công bay đêm không thể bay thấp và "lần mò" như vậy được vì không thấy rõ mặt đất. Phi công bay đêm phải bay theo đồng hồ là chính, hầu như tất cả đều lấy đồng hồ làm chủ đạo. Mà rồi, không phải là không có những trường hợp bị "cảm giác sai" để rồi dẫn đến tai nạn bay đâu. Không quân thế giới cũng từng xảy ra những vụ việc như vậy. Này nhé, khi bạn đang bay trên biển, trên đầu bạn là cả trời sao lung linh, và dưới cánh bay của bạn - mặt biển bằng lặng, không gợn sóng, phản chiếu cả bầu trời sao lung linh ấy. Chỉ bay một lúc thôi, nếu không tình táo, không kiểm tra mọi tham số qua các đồng hồ, không tin vào đồng hồ (đặc biệt là "đồng hồ chân trời", đồng hồ độ cao...) thì bạn sẽ không biết đâu là trời, đâu là biển nữa, lạ kỳ là tất cả những trường hợp rơi vào trạng thái "cảm giác sai" hầu như không ai tin vào đồng hồ cả, ai cũng cho là đồng hồ chỉ sai chứ không phải là mình đang ở trạng thái sai. Và... vậy là... lẽ ra bạn phải kéo cần lái để đưa máy bay lên trời thì bạn lại làm ngược lại - ấn cần lái đưa máy bay... xuống biển!

        Con chim bói cá có thể lao xuống nước bắt cá, sau đó lại bay vọt lên khỏi mặt nước, lao vào không trung được. Còn máy bay của bạn nếu như đã lao xuống nước rồi thì thôi... "thịt với xương tim óc dính liền" và mãi mãi yên nghỉ dưới đáy Đại dương, đầu quân vào đội ngũ của Long Vương!

        Trở lại với chuyện bay đêm. Bay trên trời đêm đã phức tạp. Cất hạ cánh, nhất là hạ cánh vào ban đêm còn phức tạp hơn nhiều. Nếu như bạn cất cánh vào ban ngày, bạn hoàn toàn quan sát thấy giới hạn (ngang, dọc) của đường cất hạ cánh, thấy được đường chân trời, thấy được máy bay bay lên với góc độ bao nhiêu, thấy được đường xuống của máy bay cao hay thấp, điểm tiếp đất xa hay gần thì những điều ấy thực sự là khó khăn và phi thực tế đối với bay đêm.

        Cất cánh vào ban đêm ư? Tất cả phải lấy chuẩn hướng theo giới hạn của hàng đèn dọc hai bên đường cất hạ cánh, theo đồng hồ lên xuống, theo đồng hồ chân trời... Chỉ đồng hồ mà thôi!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:11:20 AM
        Hạ cánh cũng gần như vậy. Giới hạn ngang, giới hạn dọc của đường cất hạ cánh là những hàng đèn. Khu vực ở độ cao kéo bằng và điểm tiếp đất của máy bay thì được trợ giúp bằng các đèn chiếu dưới mặt đất (có 3 chiếc đèn chiếu bố trí dọc theo lề đường cất hạ cánh, ở các cự ly khác nhau và góc chiếu sáng cũng khác nhau). Hệ thống đèn pha trên máy bay, nhất là máy bay MiG-21 thì không giúp được bao nhiêu. Nhưng đấy là với điều kiện bay hoàn toàn bình thường, yên ổn, không bị địch đánh phá, không vướng víu gì... Bạn có thể ung dung đưa máy bay lướt vào vùng đèn chiếu (lao vào vùng sáng thì đúng hơn) để hạ cánh, ung dung lăn máy bay về sân đỗ theo hàng đèn chạy dọc theo đường lăn...

        Về sau này, có một thời gian dài, khi chuẩn bị cho những chuyến bay đêm, để hỗ trợ cho phi công xác định giới hạn của đường cất hạ cánh - dọc theo hai bên đường cất hạ cánh được chôn các đuôi bom, đổ cát vào trong đó xong đổ dầu vào, đốt lên thành những đuốc lửa. và các phi công bay đêm đã bay ở sân bay Kép như vậy đấy.

        Có khá nhiều trường hợp khi về hạ cánh cũng bị "cảm giác sai". Ví dụ như khi bạn lao xuống sau vòng 4 về hạ cánh, bạn thấy hàng đèn cứ bị lệch, càng nghiêng để sửa thì càng thấy lệch hơn. Bạn tăng cửa dầu, bay lại vòng hai thì cái cảm giác kia mất hẳn, về hạ cánh bình thường. Và chuyện ấy đương nhiên chẳng phải chỉ có mình bạn bị. vấn đề là ở chỗ nếu không xử lí một cách tỉnh táo thì sai lầm càng về sau càng lớn hơn và rồi không thể sửa chữa nổi nữa.

        Dù bay đêm gặp nhiều khó khăn, trắc trở hơn bay ngày, nhưng có lắm khi có những cảnh tượng nên thơ mà phi công bay ngày không thể nào gặp được và có lẽ cũng không tưởng tượng ra được. Đấy là những chuyến bay cất cánh vào đúng lúc trăng lên, vào những đêm trăng tròn. Mặt trăng thật dịu dàng, tròn như một chiếc đĩa ngọc khổng lồ, nhè nhẹ tỏa sáng - thứ ánh sáng thật mềm mại, dịu êm... chuyển động thướt tha. Trong đêm trăng, bầu trời như chiếc áo gấm khổng lồ được gắn ngàn vạn viên ngọc kim cương lấp lánh, nhấp nháy...

        Trăng lên, bạn bắt gặp những tầng mây nguyên thủy ngàn vạn năm vẫn còn ngơ ngẩn giữa không trung và vạt mây mỏng manh, bay lơ lửng trong tầng không tựa như tấm khán voan của ai đó đánh rơi giữa trời còn vấn vương mùi hương, chập chờn trong gió...

        Dưới mặt đất, ánh trăng loang đến đâu, vạn vật sáng bừng lên đến đó tựa như được dát bạc, từng mảng sáng, tối với những gam màu tương phản tạo nên bức tranh huyền ảo, thần diệu...

        Trên mặt nước, ánh trăng như rắc bột kim loại quý lên đó làm cho mặt sông, mặt hồ, mặt biển ngời rực lên, làm tăng thêm độ rộng, độ mông mênh, mung lung... Các đợt sóng gợn lăn tăn như có ngàn vạn con rắn màu vàng, màu bạc đang đùa rỡn nhau trên mặt nước vậy.

        Ngắm nhìn những cảnh ấy, không thể không thêm yêu quê hương, đất nước. Trong lòng bỗng dưng thấy ngân vang bản tình ca không lời...

        Làng xóm, quê hương, cỏ cây vạn vật của đất nước mình sao mà yêu, mà quý, mà thân thương đến thế. Càng hận thù những kẻ muốn phá vỡ, tiêu hủy những tuyệt tác của thiên nhiên kia. Và quyết phải bảo vệ, quyết phải giữ gìn từng tấc đất, tấc trời, không thể để cho bất kỳ kẻ ngoại xâm nào xâm phạm, tàn phá nó được.

        Những đêm không trăng sao khi bay vào trời đêm thì u ám hơn, buồn tẻ hơn, nhất là khi bay làm nhiệm vụ phải giữ bí mật, hạn chế liên lạc qua vô tuyến. Bầu trời mịt mùng rộng lớn đến khôn cùng và con người cũng cảm thấy bé nhỏ vô cùng. Mình bỗng dưng thấy mình không là gì cả so với vũ trụ bao la kia. Nhớ lại lần phi công vũ trụ Gor-bat-cô (sau này ông đã cùng bay với Phạm Tuân) trong buổi gặp gỡ với các học viên Việt Nam, sau khi ông kể nhiều chuyên về chuyến bay vào vũ trụ, ông dừng lại và hỏi xem ai có ý kiến gì không. Một học viên đã hỏi:

        - Thưa đồng chí, khi bay vào vũ trụ, đồng chí thấy ngại điều gì nhất?

        - Sự cô đơn! - Ông trả lời ngay. Ở trên đó cả ngày và cả đêm luôn thấy thiếu hụt và lẻ loi, ngay cả việc liên lạc với mặt đất cũng phải tiết kiệm từng lời. Ở đó, nói nhiều sẽ trở thành xa xỉ.

        Có lẽ cũng vì vậy mà sau này trên tàu vũ trụ đã được thiết kế thêm chỗ để có thêm người bay, người bạn đồng hành để cho đỡ cô quạnh chăng? Nhưng với phi công MiG-21 và với loại máy bay MiG-21 thì dù muốn hay không cũng chỉ có một thân một mình mà thôi.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 08:57:36 PM
        Trong trời đêm tối tăm, mênh mang ấy tiềm ẩn biết bao nhiêu là rủi ro, bao nhiêu là hiểm họa. Sẽ xử lý ra sao đây khi máy bay có trục trặc, xử lý ra sao đây khi xuất hiện những hiện tượng bất thường của thời tiết, của bao điều bất ngờ khác nữa... Một mình ngồi trong buồng lái với ánh sáng màu đỏ phản chiếu ra từ các bảng đồng hồ, các công tắc... với tiếng động cơ lọt thỏm, mất hút giữa thinh không thì đúng, cũng thấy mình cô đơn thật. Ai đó đã tàng thốt lên "Một mình trong vũ trụ. Với hành trình cô đơn" thì có lẽ cũng không sai là mấy. Gặp khi thời tiết "trở trời" - những đám mây giông đùn lên, chớp sáng lóa, nhằng nhịt, bầu trời bị tan vụn ra thành muôn vàn mảnh khác nhau với các hình thù kỳ quái khác nhau. Với các đám mây đó, muốn bay cạnh chúng thì ít nhất cũng phải ở cự li hơn 10 km, và muốn bay qua giữa hai đám mây như vậy thì khoảng cách tối thiểu giữa hai đám mây cũng phải lớn hơn 20 km may ra mới đảm bảo được an toàn. Nhưng, khi ở những cự li đó, máy bay đã “cảm nhận" được hơi lạnh thấm vào thân mình đã run rẩy với những độ rung lắc bất thường rồi. và khi những tia chớp xuất hiện, trong tai nghe lấp tức thấy những tiếng "lẹt xẹt". Bạn hãy cứ tưởng tượng một mình bạn đang ở giữa trời đêm, bạn thấy quanh bạn là những tia chớp sáng lóa, nhằng nhit. Bầu trời lúc thì sáng đến lòa mắt, lúc lại tối om, máy bay thì rung lắc theo nhiều hướng khác nhau, run rẩy trong hơi lạnh thì những cảnh trong phim kinh dị cũng còn kém xa. Vậy nhưng, các phi công bay đêm đánh đêm vẫn phải đương đầu với những hiểm họa ấy khi bay đi làm nhiệm vụ.

        Còn nhớ, khi bay ngày, lúc đi chiến đấu về, biên đội của Anh hùng Nguyễn Nhật Chiêu đã vô tình lao vào đám mây giông, máy bay của các anh bị chao đảo, lắc giật hầu như không điều khiển được nữa (vì những dòng nhiễu động không khí quá lớn). Máy bay rơi xưống mấy ngàn mét độ cao. May mà thoát ra được an toàn. Rồi trường hợp của anh Nguyễn Tuấn Ngòi khi "chui" qua đám mây tương tự như vậy trở về hạ cánh. Hạ cánh xong mới thấy máy bay mình bị tróc hết sơn, vỡ cả đèn trên nách cánh, trông hệt như con cá lóc bị đánh vẩy. Cho nên không thể xem thường trời mây được.

        Trình độ kỹ thuật của phi công không phải ai cũng như ai, mà rất khác nhau. Trình độ kỹ thuật ấy được phân chia theo cấp. cấp ấy được thể hiện trên huy hiệu bay mang hình cánh én (mạ màu vàng) đeo trên ngực. Khuông màu xanh ở giữa cánh én màu vàng ấy tượng trưng cho khoảng trời xanh, ở giữa khoảng trời xanh ấy có thể không có con số nào, hoặc có số 1, số 2 hay số 3. Đấy là cấp bậc của phi công. Nếu số 1 thì người đeo huy hiệu bay ấy là phi công cấp 1 - người bay được trong điều kiện 4 khí tượng (tức là bay ban ngày ở thời tiết giản đơn và thời tiết phức tạp, bay được cả ban đêm với thời tiết giản đơn và thời tiết phức tạp). Phi công cấp 2 là người bay dược ở thời tiết giản đơn và phức tạp ban ngày, đồng thời bay được ở thời tiết giản đơn ban đêm. Phi công cấp 3 là người bay được ở thời tiết giản đơn và thời tiết phức tạp ban ngày. Còn chưa có cấp hiệu nghĩa là phi công đó chỉ mới bay được ở thời tiết giản đơn ban ngày mà thôi.

        Việc phong cấp bậc kỹ thuật phi công phải qua những đợt sát hạch, kiểm tra với những bài bay tương xứng và theo trình tự. Nếu không đủ các điều kiện xứng đáng với danh hiệu phi công cấp 1 thì hạ xuống thành danh hiệu phi công cấp 2. Qua một thời gian phấn đấu bay đủ các hạng mục bài bay, kiểm tra đạt tiêu chuẩn thì lại được nâng lên thành danh hiệu phi công cấp 1. Việc nâng cấp, chuyển cấp đối với các danh hiệu kỹ thuật phi công khác cũng xảy ra tương tự như vậy.

        Nước ta chưa có danh hiệu "Phi công Công Huân", nhưng ở một số nước khác đã có danh hiệu này. Đương nhiên, các tiêu chuẩn để đạt được danh hiệu ấy phải cao hơn, khắt khe hơn, và huy hiệu Phi công Công Huân cũng khác hơn để dễ nhận biết hơn.

        Lịch sinh hoạt của phi công bay đêm khác với lịch sinh hoạt của phi công bay ngày, bởi thời gian bị đảo ngược nhau: lúc anh ngủ thì tôi đi bay, lúc anh bay thì tôi lại ngủ. Các phi công bay ngày luyện tập thể thao vào buổi chiều, còn với các phi công bay đêm thì lịch ấy lại vào buổi sáng. Thảng hoặc, vào thời gian không có ban bay ngày và ban bay đêm nào thì hai lực lượng này cùng giao lưu thể thao, chủ yếu là trên sân bóng chuyền và bóng rổ. Đội ngũ phi công không được chơi bóng đá. Các môn thể thao rèn luyện chính là: đu quay, đu vòng, bóng chuyền, bóng rổ, xà, tạ, bóng bàn... (lớp phi công trẻ sau này có điều kiện hơn thì chơi ten-nit).


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 09:00:01 PM
        Các cây cầu công của bóng chuyền trong đội ngũ phi công bay đêm có Đinh Tôn, Phạm Tuân, Đặng Xây, Vũ Như Ngữ, Trần Thông Hào, Hoàng Biểu, Nguyễn Ngọc Thiên...

        Cây chuyền hai xuất sắc có Vũ Đình Rạng. Đình Rạng không chi là cây chuyền hai của Đại đội mà còn là của Trung đoàn, về sau này từng được giao nhiệm vụ phụ trách đội bóng chuyền của Quân chủng nữa.

        Phạm Tuân về sau nổi trội với sức bật cao và những cú đập mạnh như trái phá. Anh từng được gọi nhập vào đội tuyển quốc gia đi thi đấu ở các nước bạn.

        Xuân Thiều thì chẳng nằm trong tốp công, cũng chẳng trong tốp chuyền hai hay Li-be-rô ở bóng chuyền hiện đại, chỉ tham gia cho "nhúc nhắc chân tay" thôi, nhưng nhiệt tình lắm, mà một khi hai tay đã lên gân với 10 ngón tay xòe ra như ôm gọn cả quả bóng chuyền để "truy" sang bên đối phương, mồm nói: "Này! Này!" thì quả bóng ấy chỉ có phi ra ngoài vạch vì lực quá mạnh.

        Các trận bóng chuyền với đội ngũ bay ngày hay với đội ngũ bay đêm cũng vậy, khi đã vào sân thì cho dù ít người hay nhiều người tham gia vẫn cứ cay cú, ăn gian như nhau.

        Phần thưởng cho trận thi đấu thì có gì đâu: nếu đội thắng sau khi kết thúc trận đấu, cười hể hả, tung tẩy ra về để tắm giặt rồi lững thững đến nhà ăn, nghênh ngang ngồi đợi đội thua đến thì trong khi đó đội thua phải cởi lưới, rửa bóng cho sạch (nếu như thi đấu vào trời mưa hoặc bóng bị bẩn chẳng hạn) đem cất đi. Khi đến nhà ăn phải múc nước vào từng ca (thường là nước chè xanh), cho đủ lượng đường vào nước theo đúng yêu cầu của từng người bên thắng, bê nước đến cho từng người trong đội thắng và phải lễ phép nói: "Vì trình độ chúng em kém cỏi, chúng em thua, xin mời các anh thắng uống nước ạ!". Chỉ thế thôi nhưng mà cay cú lắm. Trận sau thế nào cũng phải tìm mọi cách để thắng lại, hoặc không thì bên thua bắt phải chia sẻ, sắp xếp lại lực lượng kỳ cho tương xứng rồi mới chơi.

        Sau này thì còn nhiều trò biến tấu mà bên đội thắng bày ra để "hành hạ" bên đội thua như: bắt phải chui qua lưới, chui qua ghế... thì cái sự cay cú kia còn tăng hơn nhiều!,

        Trong đội ngũ phi công của đoàn bay MiG-21 khóa 3, nếu đã nói đến cay cú thì lập tức, ai cũng nghĩ đến anh Trần Việt. Bên anh mà đã bị thua thì anh tìm mọi cách bắt đánh đến kỳ thắng mới thôi. Còn nhắc đến "ăn gian" ngoài sân bóng thì không ai vượt được anh Lê Thanh Đạo. Chỉ cần sao nhãng một tí không để ý đến tỉ số trận đấu là anh có thể "ăn gian" vài quả có lợi về phía bên anh luôn. Mà anh lại còn rất "điềm tĩnh" khiêu khích bên đối phương bằng cái kiểu đọc tỉ số của anh nữa mới ghê. Chẳng thế mà anh đã được "phác thảo" thế này:

Đừng tin cái miệng ông cười
Ông "ăn gian" dễ gấp mười thằng ngay
Ông Huyên còn phải ném giày
Ông Ngự xé bóng, là tay chẳng vừa

        (Anh Lê Trọng Huyên và anh Đặng Ngọc Ngự là hai cán bộ của Trung đoàn và của Đại đội, nhưng khi vào sân bóng thì cũng vẫn "bằng vai" như các cầu thủ trong sân, "ức" về cái chuyện "ăn gian" quá nên có những phản ứng để phản đối như vậy).

        Được cái, dù "ăn gian", dù cay cú đến mấy đi chăng nữa, tức bực đến mấy đi chăng nữa, nhưng khi đi tắm (các phi công thời đó cùng tắm ở bể nước chung) là lại nhận hết khuyết điểm, lại cười xòa với nhau, xí xóa hết!

        Tất cả đều sống hết mình như vậy. về sau này, khi đã rời khỏi đời bay, về hưu với đời thường rồi, các phi công ngày xưa vẫn "lôi" các chuyên ấy ra trêu nhau để cười cho thoải mái. Sống được như vậy kể cũng hiếm mà cũng khó.

        3 Trung đội của Đại đội 3 được tổ chức vào bay đêm theo kiểu "cuốn chiếu": Trung đội 1 của anh Hoàng Biểu (các Trung đội viên gồm Phạm Văn Mạo, Đặng Xây và Nguyễn Văn Quang) vào bay trước, sau đó đến Trung đội 3 của anh Nguyễn Văn Thuận (các Trung đội viên gồm Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Cát A, Nguyễn Công Huy và Trần Ngọc Nhuận) rồi mới tiếp đến Trung đội 2 của anh Nguyễn Văn Minh (các Trung đội viên gồm Trần Cung, Trần Thông Hào, Vũ Đình Rạng và Nguyễn Hồng Mỹ). Lí do không bay theo thứ tự Trung đội 1 đến Trung đội 2 rồi Trung đội 3 bởi vì anh Hoàng Biểu và anh Nguyễn Văn Thuận đã từng là phi công bay đêm, có kinh nghiệm bay đêm nên dẫn dắt Trung đội sẽ có nhiều thuận lợi hơn.

        Giáo viên bay đêm của Trung đoàn hồi ấy có anh Phạm Ngọc Lan, anh Hoàng Biểu và các đồng chí chuyên gia Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2016, 09:02:15 PM
        Vậy là, tính từ tháng 8 năm 1964, Mỹ đã sử dụng lực lượng Không quân ném bom miền Bắc Việt Nam và liên tục tiến hành những bước leo thang chiến tranh.

        Đến ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố xuống thang và ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Bộ đội Không quân cùng các lực lượng dân quân và nhân dân đã nhanh chóng sửa chữa gấp sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa). Cuối tháng 6 năm 1968 ta đã đưa một lực lượng MIG- 17 và MIG-21 vào đó làm nhiệm vụ Trực ban Chiến đấu, tổ chức đánh địch trên vùng trời Nghệ An - Hà Tình, phối hợp cùng với các lực lượng phòng không mặt đất bảo vệ tuyến giao thông của Quân khu Bốn.

        Tranh thủ những thời gian yên ắng, ta tranh thủ huấn luyện nâng cao kỹ thuật cho các thành phần chỉ huy, đảm bảo cho bay, sẵn sàng đối phó với những tình huống căng thẳng, phức tạp diễn ra trong thời gian tới.

        Cũng trong những giai đoạn này, Không quân Mỹ tích cực sử dụng máy bay không người lái để bay trinh sát các cơ sở, các tuyến đường vận chuyển của ta và nhiệm vụ đánh không người lái cũng là nhiệm vụ quan trọng.

        Tuy là Đại đội bay đêm, nhưng lực lượng phi công của Đại đội vẫn có nhiệm vụ tham gia Trực ban Chiến đấu và xuất kích chiến đấu ban ngày cùng với các lực lượng của các Đại đội khác trong Trung đoàn.

        Ngày 1 tháng 8, biên đội 3 chiêc gồm Nguyên Đăng Kinh, Phạm Văn Mạo và Nguyễn Hồng Nhị xuất kích từ sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa (hồi đó sân bay Thọ Xuân mang mật danh Bl) vào khu vực Đô Lương - Nam Đàn của tỉnh Nghệ An. Đây là trận đánh đầu tiên của Đại đội ở chiến trường khu Bốn. Biên đội của ta đã không chiến với biên đội F-8 của địch. Anh Nguyễn Hồng Nhị đã bắn rơi 1 chiếc F-8, nhưng sau đó máy bay của anh cũng bị trúng đạn, anh đã phải nhảy dù.

        Hơn 2 tuần sau, biên đội Đinh Tôn, Nguyễn Văn Minh cũng xuất kích chiến đấu từ sân bay Thọ Xuân, được dẫn dắt vào khu vực Đô Lương không chiến với biên đội F-4 của địch và anh Nguyễn Văn Minh đã bắn rơi 1 chiếc máy bay F-4.

        Sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa là sân bay cơ động được đón tiếp nhiều biên đội Trực ban Chiến đấu nhất và cũng là căn cứ để xuất kích chiến đấu vào hoạt động ở các khu vực thuộc khu Bốn nhiều nhất. Giai đoạn ấy, hầu như địch làm chủ bầu trời từ khu Bốn trở vào. Các sân bay ta ở Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới... thường xuyên bị đánh phá. Máy bay của ta bay vào trong đó chỉ cần bay với độ cao hơi cao một chút là bị phát hiện và tên lửa đối không Ta-los của địch từ Hạm đội ngoài biển Đông bắn lên liền Cũng đã có mấy trường hợp máy bay ta bị trúng tên lửa Ta-los, phi công phải nhảy dù rồi. Ta gặp rất nhiều khó khăn khi cơ động đến các sân bay ở phía trong đó. Cũng vì vậy, hầu hết những chuyến xuất kích chiến đấu đều được tổ chức từ Thọ Xuân.

        Sang tháng 9 (19 tháng 9), biên đội Đinh Tôn, Vũ Đình Rạng xuất kích từ sân bay Thọ Xuân bay vào khu vực Đô Lương - Nghệ An để không chiến với biên đội 4 chiếc F-8 của địch. Trong trận này, Vũ Đình Rạng đã bị bắn rơi, phải nhảy dù.

        Vài ngày sau, biên đội Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Cát A xuất kích từ sân bay Đa Phúc lên đánh chặn máy bay không ngứời lái và Đại đội phó Nguyễn Đăng Kính đã bắn rơi chiếc máy bay không người lái ấy trên bầu trời Thanh Hóa.

        Cũng ở tháng 9 này, sau một thời gian gấp rút bay huấn luyện ban đêm, Đại đội 3 đã tổ chức Trực ban Chiến đấu ban đêm. Phiên Trực ban Chiến đấu ban đêm được tổ chức trực ở sân bay Đa Phúc, và phi công Trực ban Chiến đấu ban đêm ở phiên trực đầu tiên này là Đặng Xây.

        Tuy đã tổ chức Trực ban Chiến đấu ban đêm, nhưng không phải vì vậy mà các phi công Đại đội 5 không tham gia trực chiến ban ngày, họ vẫn tiếp tục làm nhiệm, vụ tham gia cùng các phi công của các Đại đội bay ngày khác cùng xuất kích chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:31:52 AM
        Ngày 26 tháng 10, biên đội Nguyên Đăng Kính, Vũ Xuân Thiều xuất kích từ sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa được dẫn vào khu vực Đô Lương - Nghệ An. Sở chỉ huy thông báo có 2 chiếc F-4 bay thấp theo hướng từ Cửa Lò vào. Lúc ấy, trạm chỉ huy bằng mắt ở trên núi Đại Huệ thông báo tiếp rằng chúng từ Cửa Lò vào, đến cầu cấm đã lấy hướng bay về phía Nam. Sở chỉ huy lệnh cho biên đội lấy hướng 150 độ, nhưng vì nghe thông báo của trạm chỉ huy ữên núi Đại Huệ về hướng bay của địch nên số 1 Nguyễn đăng Kính chủ động bay hướng 180 độ và tăng tốc độ bay. Hôm ấy mây Cu khoảng 6-7 phần (mây Cu là loại mầy đống và nếu chia bầu trời ra làm 10 phần thì hôm ấy lượng mây Cu chiếm 6-7 phần), đáy mây là 800 m, đỉnh mây là 4000 m, sau khi lấy hướng 180 độ thì phát hiện thấy 2 chiếc F-4 bay từ phía trái qua phải, ở cự li chừng 4-5 km. Biên đội bật tăng lực để tiếp cận. Khi bay vào mây, Xuân Thiều đã lạc mất đội, Sở chỉ huy dẫn cho Thiều về trước. Nguyên Đăng Kính tiếp tục bám theo biên đội F-4. Khi đang ngắm bắn tên bay số 2 thì bỗng nó đảo chiều, chuyến cánh sang phía bên kia. Nguyễn Đăng Kính ngắm luôn thằng bay số 1 và ấn nút phóng tên lửa. Thằng bay số 1 cháy bùng, lao thẳng xuống, rơi ở địa phận Hương Khê - HàTĩnh. Thằng F-4 bay số 2 cắm đầu cắm cổ chạy mất hút.

        Sau khi hạ cánh về, rút kinh nghiêm. Thiều rất áy náy vì chuyện lạc mất đội vừa rồi. Thực ra, với lượng mây như vậy và sau khi lao qua các đám mây, khi bay ra cũng khá khó khăn khi tìm đội. Trong các trận không chiến, việc giữ được đội hình từ đầu đến cuối trận cũng rất khó khăn và hầu như khi điểm lại, số lượng mất đội cũng khá nhiều. Sau này, anh Nguyên Đăng Kinh nhớ lại: Thiều rất hăng hái mong được tham chiến, rút kinh nghiệm rất nghiêm túc và có tiến bộ nhiều.

        Sau khi Trung đội 1 đã huấn luyện bay đêm xong, đã vào trực chiến ban đêm được thì vào tháng 12 năm 1968, Đại đội tổ chức bay huấn luyện ban đêm cho Trung đội 3 của anh Nguyễn Văn Thuận với các Trung đội viên là Nguyên Cát A, Vũ Xuân Thiều và Nguyễn Công Huy.

        Trung đội 3 có 4 Trung đội viên thì anh Trần Ngọc Nhuận sớm rời bỏ đời bay để về tiếp tục học Đại học vì lí do sức khỏe. Anh bị bệnh viêm hành tá tràng rồi chảy máu dạ dày (tức là cả một hệ thống đường tiêu hóa như hệ thống đường bộ của Cục đường bộ - Bộ giao thông vận tải ấy) đều có vấn đề. Còn lại có 3 Trung đội viên. Trung đội trưởng Thuận là người chơi vi-ô-lông khá hay. Khi còn học bay ở bên Nga, anh đã từng lên sân khấu biểu diễn. Anh muốn tất cả các Trung đội viên của anh cũng phải biết chơi loại nhạc cụ này - cái nhạc cụ mà anh em vẫn gọi đùa là "nhị Tây" ấy. Trong đoàn bay MiG-21 khóa 3 thì anh Trần Cung là người kéo nhị rất giỏi, hình như hồi ở nhà, anh đã từng ở trong đội văn nghệ của xã thì phải. Vậy là Đại đội bay đêm có cả người chơi "nhị Tây", người chơi "nhị Ta". Công Huy thì tay chân cứng quèo vì chơi xà chơi tạ nhiều nên tìm cách "phá bĩnh", không học. Xuân Thiều thì nói sẽ chơi ghi-ta. Và Xuân Thiều vác ghi-ta ra chơi thật, cứ "phập phừng... phập phừng..." với những giai điệu chẳng giống ai và tiếng "phập phừng" cũng chẳng giống ai, Còn lại anh Nguyễn Cát A thì lúc ngắm bàn tay Cát A, anh Thuận chi còn nước... lắc đầu! Anh Cát A từng được mệnh danh là người có "ngón tay thần". Anh kể, từ hồi nhỏ, khi cùng một số người nữa đi khiêng giúp tấm gỗ lim cho ai đó, khi hạ tấm gỗ xuống, vì hiệp đồng với nhau không chuẩn, người buông tay trước, người buông tay sau nên anh Cát A bị gỗ đè ngay vào ngón tay trỏ của bàn tay trái. Ngón tay tòe ra, máu chảy lênh láng. Sau khi được cầm máu bằng những sợi thuốc lào, tuy khỏi, nhưng ngón tay không còn tròn trịa nữa mà đầu ngón tay lại bẹp giống như đầu con rắn. Khi anh giơ ngón tay ra giả vờ mổ mổ vào đứa cháu thì nó sợ quá, khóc thét lên. Từ đó, anh hay giấu ngón tay ấy đi. Một lần, nhân lúc anh ngủ, Công Huy ngắm nghía "ngón tay thần" của anh rồi lẳng lặng lấy bút mực vẽ theo đường rãnh sẹo, rồi vẽ mồm, vẽ mắt trông thật không khác gì đầu rắn. Khoái chí về thành quả của mình, Huy gọi mấy anh khác đến để chiêm ngưỡng cái tác phẩm ấy. Tất cả các anh trông thấy vậy đều cười phá lên. Có lẽ, cái biệt danh "ngón tay thần" xuất xứ từ đấy. Anh Cát A tỉnh dậy, thấy vậy thì bực lắm, nhưng khi nhìn vào ngón tay mình, chính anh cũng phải phì cười rồi nói: "Cái thằng!". Vậy là Công Huy không bị mắng nữa. Mà riêng anh Nguyễn Cát A thì cũng có đến lắm giai thoại lắm cơ! Ví dụ như chuyện ngáy chẳng hạn. Anh được cái là ngủ rất nhanh và ngáy cũng không giống ai, kể cả về tần suất, về biên độ dao động và về âm lượng. Nói chung, khi anh đã "cất tiếng" là tất cả ba người - từ Trung đội trưởng đến các Trung đội viên còn lại ở trong phòng phải thức giấc hết. Thế là dép, giày và tất cả những thứ gì có thể ném được sang phía giường của Cát A là được huy động để ném hết. Anh cũng chi "giữ im lặng" trong vài giây thôi rồi đâu lại vào đấy. Một lần, Trung đội trưởng Thuận khua Thiều và Huy dậy:

        - Các cậu dậy họp Trung đội!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:35:01 AM
        Xuân Thiều và Công Huy lồm cồm chui ra khỏi màn, chưa hiểu đầu đuôi xuôi ngược ra làm sao thì Trung đội trưởng nói luôn:

        - Tớ nghĩ ra rồi! Ta ném giày dép chẳng qua chỉ thức tình nó được tí thôi. Gốc gác là nó bị viêm họng. Có viêm họng thì mới gây ra ngáy. Bây giờ là phải chữa tận gốc! Huy đâu?

        - Có ạ!

        - Cậu xuống bếp ăn, xin lấy ca muối!

        - Nhưng khuya thế này, chắc bếp ăn khóa cửa mất rồi!

        - Thì tìm cách vào mà lấy!

        Công Huy cầm ca uống nước, đi xuống nhà bếp. Quả nhiên, nhà bếp đã khóa thật. Lần mò một lúc thì Huy cũng chui được vào trong bếp, xúc được lưng ca muối mang về. Anh Thuận bốc ngay lấy một nắm, thả vào miệng anh Cát A, nói:
 
        - Thế này mới chữa được viêm họng!

        Anh vừa nói xong thì Cát A lại cất tiếng ngáy đến "khực" một cái. Bao nhiêu muối trong miệng anh bắn hết ra xung quanh. Trung đội trưởng Thuận ngao ngán lắc đầu:

        - Vậy là y học bó tay! Bây giờ chỉ còn nước khiêng "cụ" ra ngoài sân bóng chuyền mà thôi!

        Sân bóng chuyền thì ngay cạnh đấy. Ba anh em khiêng Cát A ra đặt giữa sân bóng chuyền thật. Suốt cả quá trình khiêng "cụ" đi, tiếng ngáy vẫn vang lên đều đặn, không hề ngớt tí nào. Khoảng chừng nửa đêm, trời mưa to, giường chiếu của anh Cát A ướt hết cả, bấy giờ anh mới tỉnh dậy, thấy mình ở ngoài sân bóng chuyền thì anh phi vào nhà, la hét, quát tháo ngậu xị lên. Nhưng cũng từ hôm đó, anh đâm ra rất "ý tứ". Đến giờ đi ngủ, anh vẫn lảng vảng ngoài hành lang hoặc ra phòng họp ngồi đọc báo chán chê, cốt để cho mấy anh em trong phòng ngủ trước đã. Nghĩ cũng thương anh thật, nhưng rồi khi anh về, cho dù chúng tôi đã ngủ cả rồi, tới lúc anh "cất tiếng" thì chúng tôi cũng vẫn phải dậy như thường. Chúng tôi đành chịu đựng, mãi rồi cũng quen. Đôi lúc vắng anh, vắng tiếng ngáy của anh lại thấy... nhơ nhớ. Đấy chỉ là một chi tiết nhỏ thôi, chứ kể về anh thì còn nhiều lắm, dài lắm...
 
        Vậy là ý định của Trung đội trưởng Nguyễn Văn Thuận muốn cho các Trung đội viên của mình chuyển sang lĩnh vực khai thác "nhị Tây" đã không thành. Công Huy thì vẫn cứ ra bãi xà, bãi tạ chơi, Xuân Thiều thì thi thoảng vác ghi-ta ra "phập phừng", và Cát A thì chẳng chơi bộ môn nào hết, lâu lâu lại lấy "ngón tay thần" ngoáy mũi một cái!.

        Khoảng chừng tháng 2 - tháng 3 năm 1969, Đại đội đã tổ chức cho Trung đội 1 làm nhiệm vụ Trực ban Chiến đấu ban đêm tại sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa.

        Đa phần các thành viên của Đại đội đi cơ động vào Thọ Xuân, số còn lại ở nhà (tức là ở căn cứ chính ở Đa Phúc) vẫn tham gia bay ngày, Trực ban Chiến đấu ngày. Mọi liên hệ với các thành viên đi cơ động đều qua điện báo ở Sở chỉ huy hoặc gọi qua đường tiếp sức. Thư từ của các thành viên đi cơ động thì những người ở nhà chịu trách nhiệm gói ghém cẩn thận và hễ có ai chuyển sân ra, chuyến máy bay vào thì phải gửi vào cho anh em ở trong đó. Những việc quan trọng, gấp gáp thì ra bưu điện, "đánh dây thép" vào. Còn nhớ, vào hồi tháng 5 năm 1969, khi gia đình anh Trần Cung báo tin là anh đã có con trai thì anh em cũng mừng cho anh lắm vì anh chị xây dựng gia đình với nhau đã lâu mà chưa hề "có tin vui". Bao nhiêu năm mong ngóng chẳng thấy gì, anh em vẫn trêu đùa, gán cho anh cái tên "phó mài"! Nay nhận được tin vui đặc biệt thế này mà anh lại đang ở trong sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa thì phải tìm mọi cách để anh biết mà mừng, mà khao. Và Công Huy cùng với Xuân Thiều từ sân bay Đa Phúc đã đạp xe ra bưu điện (bấy giờ sơ tán tận ngoài Thá) đánh bức điện vào Thọ Xuân cho anh Trần Cung với nội dung như sau:

"Vợ Cung đã đẻ con trai
Và Cung hết chức "phó mài" từ đây!"

        Nhận được điện báo, anh Cung vừa mừng, vừa buồn cười, vừa cả bực mình, vừa thấy thương cả mấy đồng đội đã "lọ mọ" đánh điện cho mình.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2016, 08:38:29 AM
        Đến chuyện của Đại đội trưởng Đinh Tôn cũng vậy, khi anh ở Thọ Xuân, thì vợ anh lại lần đến Đa Phúc thăm anh. Chẳng gặp được nhau và ngày hôm sau chị đành phải ra về. Cũng trong ngày ấy, anh Đinh Tôn nhận được bức điện:

Anh Tôn yêu quý của em ơi!
Đuờng băng em đã quét sạch rồi
Anh về hạ cánh đi anh nhé
Chớ có thả càng, hạ bụng thôi!

        Nhận điện xong, anh Đinh Tôn cứ dẫm chân, nhể phù phù, miệng than: "Ôi trời! Mấy cái thằng quậy quá trời!". Cuộc sống thời chiến cũng có những cái thi vị riêng của nó đấy chứ!

        Đầu tháng 7, biên đội Nguyễn Văn Minh, Trần Cung xuất kích từ sân bay Đa Phúc lên đánh chặn máy bay không người lái. Chiếc máy bay không người lái này bay từ hướng Đông Nam vào, trinh sát dọc tuyến đường 5, khu vực cầu Đuống, cầu Long Biên, khu vực Bạch Mai và dọc tuyến đường 1 Nam. Sở chi huy dẫn biên đội vào lần thứ nhất không phát hiện được mục tiêu. Loại máy bay không người lái là loại máy bay có kích thước nhỏ, lại bay thấp (thường chỉ 200 m trên địa hình) nên rất khó phát hiện. Lần thứ 2, sau khi được dẫn với góc độ có lợi hơn, biên đội đã phát hiện được mục tiêu. Số 1 Nguyễn Văn Minh vào công kích nhưng bắn không trúng liền lệnh cho số 2 vào công kích tiếp, số 2 Trần Cung đã bắn hạ mục tiêu. Chiếc máy bay không người lái này rơi ở khu vực Tô Hiệu - Thường Tín.. Đấy là chiếc máy bay thứ 3.300 của Không quân Mỹ bị quân và dân ta bắn hạ.

        Đến trung tuần tháng 7, biên đội Hoàng Biểu, Phạm văn Mạo xuất kích từ sân bay Đa Phúc lên đánh chặn máy bay không người lái và Đại đội phó Hoàng Biểu đã bắn rơi chiếc máy bay không người lái trên vùng trời Nghĩa Đàn - Nghệ An.

        Và cũng trong năm 1969 này, Đại đội 3 được đổi phiên hiệu thành Đại đội 5.

        Có những đêm mùa hè, dù đang là thời kỳ chiến tranh nhưng không gian bỗng dưng rất tĩnh lặng, thanh bình. Ba phi công bay đêm của Đại đội 5 ôm phao ra tắm ở hồ nước đằng sau hầm sơ tán (nói là phao cho oai chứ thực ra đấy chỉ là chiếc xăm của bánh sau máy bay MiG-21, bơm căng lên, có thể nằm lênh đênh trên mặt hồ được. Gọi là hồ mà thực chất cũng chẳng phải là hồ, tương truyền đấy là vết chân ngựa của Thánh Gióng trước khi Người bay về trời sau khi đã hoàn thành sứ mạng đánh đuổi giặc Ân, giữ yên bờ cõi) để vừa tắm vừa hàn huyên . Cũng ở hồ này, đã có lần, ba anh em chui vào trong cống thoát nước của hồ để bắt cá, nhưng càng chui vào sâu, cống thoát nước càng hẹp dần, kiểu này nếu cứ cố chui tiếp thì chắc là tắc tị, người mắc kẹt ở đó không thể ra nổi chứ chẳng chơi. Cá với mú! Thế là lại đành bò giật lùi, người nọ nối theo người kia chui ra. Ra đến nơi mới thở phào, nhẹ nhõm. Công Huy là người ít tuổi hơn, nhưng lại hay "chọc" các bậc đàn anh. Khi nằm trên hồ, Huy hỏi các ông anh Thông Hào và Xuân Thiều:

        - Các ông nghĩ gì khi nằm trên mặt nước thế này mà ngước nhìn lên trời xanh trong cái khung cảnh chiến tranh này?

        - Hãy hỏi "dây đồng" ấy! - Hào nhỏ nhẹ.

        Xuân Thiều trầm ngâm trong giây lát rồi lên tiếng:

        - Làm trai đứng ở trong trời đất!...

        Câu nói bỏ lửng thế thôi, nhưng thế là đã hiểu rồi. Chàng "hiệp sĩ dây đồng" này muốn mượn ý của người xưa để nói về chí khí của mình đây.

"Mang thân đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông..."

        hoặc:

"Làm trai không lập nên công trạng
Cũng thẹn khi nghe chuyện Võ Hầu..."

        Một vài đêm thanh bình như vậy giữa cuộc chiến tranh mà Mỹ dùng Không quân đánh phá ra miền Bắc để biến miền Bắc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa trở về "thời kỳ đồ đá" quả thật là hiếm hoi. Sau này, và mãi mãi về sau này không bao giờ còn có những đêm thanh bình, yên ả với ba chàng phi công bay đêm như vậy nữa. Mỗi người đã mỗi nơi: Nguyễn Công Huy vì thị lực kém không thể bay đêm được phải chuyển sang Đại đội bay ngày. "Thân vạc, thân cò" còn lại là Trần thông Hào và Vũ Xuân Thiều. Cùng một bầu trời đấy, nhưng mỗi người mỗi nhiệm vụ rồi. Đánh ngày có gian nan, vất vả của đánh ngày. Đánh đêm có gian nan, khốn khó của đánh đêm. Cùng trong một Trung đoàn, chỉ khác biên chế đánh ngày hoặc đánh đêm thôi, chỉ cách nhau có mây bước chân thôi mà gặp nhau đã khó. "Cánh đánh ngày" thì dậy từ 3 - 4 giờ sáng, ra sân bay, chuẩn bị, tiếp nhận máy bay, vào trực chiến từ 5 giờ sáng tới 5 - 6 giờ chiều mới "rút ban". "Cánh trực đêm" thì ngày phải ngủ để 4 - 5 giờ chiều ra sân bay chuẩn bị, tiếp thu và trực cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Gặp nhau chỉ í ới mấy phút khi giao ban "ngày" và "đêm" mà thôi. Làm gì còn có thời gian để gặp nhau, để hàn huyên nữa. Theo dõi, quan tâm đến nhau là chỉ còn cách nhìn lên bảng phân công trực chiến, thấy xem tên ải, tên ai ở đó để yên lòng.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 04:54:14 AM
        Lắm khi, với lực lượng bay ngày, có tên ở trên bảng trực đấy, nhưng người lại đã ở sân bay khác rồi. Ví dụ như: cất cánh ở sân bay Đa Phúc (nay là sân bay Nội Bài) lên, đánh một trận, sân bay lại bị bọn F-4 phong tỏa, bắt buộc phải bay về sân bay khác để hạ cánh. Cái chuyện sáng ra ăn cơm ở Đa Phúc, trưa ăn cơm ở Yên Bái, tối ăn cơm, ngủ ở Thọ Xuân không phải là chuyện hiếm và lạ lùng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2015_zpsovg1ajhf.jpg)
Tổ bay trên loại máy bay Mig 17
Từ trái sang: Vũ Xuân Thiều, Trần Hóa, Trần Ngọc Nhuận

        Với lực lượng đánh đêm, chuyện ấy không phải là không xảy ra, nhưng so với lực lượng đánh ngày thì ít hơn.

        Cũng từ năm 1970, các phi công bay đêm của Đại đội 5 được giao nhiệm vụ chính: cơ động vào khu Bốn (trên các sân bay từ Thọ Xuân đến Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới...) để tham gia chiến đấu góp phần bảo vệ sự vận chuyển trên tuyến đường 559 và đánh B-52 trên vùng trời Bình Trị Thiên và đường 9, Nam Làọ.

        Vào thời gian tháng 8 năm 1970, Đại đội trưởng Đinh Tôn, Đại đội phó Hoàng Biểu, các phi công Đặng Xây, Vũ Đình Rạng đã tham gia vào đoàn nghiên cứu cách đánh B-52 ở chiến trường khu Bốn, do Phó Tư lệnh Không quân chủ trì.

        Phải nói rằng, ngay từ ngày 12 tháng 4 năm 1966, khi lần đầu tiên Mỹ sử dụng "siêu pháo đài bay B-52" ra đánh phá miền Bắc ở đèo Mụ Giạ - Quảng Bình, Bác Hồ đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức cho bộ đội Không quân "tìm cách đánh cho bằng được B-52". Đến cuối năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư Lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bác lại khẳng định:

        "Sớm muộn gì rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua...

        Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội!".

        Suốt trong thời gian từ năm 1966, Quân chủng đã cử nhiều đoàn cán bộ, nhiều đơn vị tên lửa, không quân vào chiến trường khu Bốn nghiên cứu cách đánh B-52. Đặc biệt, tháng 4 năm 1972, khi tiến hành chiến dịch "Lai-nơ-bêch-cơ" leo thang đánh phá miền Bắc lần thứ hai, Mỹ đã sử dụng B-52 trút hàng vạn tấn bom đạn vào các mục tiêu ở miền Bắc, ta đã nghiên cứu sâu thêm về B-52 và đến tháng 9 năm 1972, về cơ bản, phương án đánh máy bay "siêu pháo đài bay B-52" đã hoàn thành và đến ngày 24 tháng 11 năm 1972 đã được Tổng Tham mưu trưởng Văn tiến Dũng phê duyệt.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 04:58:57 AM
        Khi sản xuất B-52, nó đã được quảng cáo rùm beng:

        "B-52 là siêu pháo đài bay thượng đẳng, là thần tượng của Không lực Hoa Kỳ, là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu thế giới, là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ (gồm tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân và máy bay ném bom chiến lược)...

        B-52 trút bom như mưa. Tiếng bom rơi xé không khí, gầm rít ghê gớm như giông bão. Một phi vụ B-52 có thể hủy diệt cả một khu vực rộng lớn. Một tốp 3 chiếc B-52 sẽ biến một diện tích hơn 2 cây số vuông thành bình địa... Không một sinh vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê gớm của bom B-52. Đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tính thần, bởi vì họ cảm thấy hoàn toàn bị bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm của B-52 mà họ không có cách gì chống đỡ nổi".

        Vào tháng 6 năm 1965, Mỹ đã sử dụng 30 máy bay B-52 cất cánh từ căn cứ trên đảo Gu-Am bay vào "rải thảm" vùng căn cứ của ta ở Long Nguyên huyện Bến Cát, cách Sài Gòn 50 km. Cùng với việc rắc bom là việc rải những tờ truyền đơn in hình máy bay B-52 đang rắc bom với những lời đe dọa hãi hùng nhằm đánh một đòn cân não, làm nhụt ỷ chí chiến đấu của nhân dân ta.

        Mỗi khi đi ném bom, máy bay B-52 thường bay theo đội hình lớn, tối thiểu là một tốp 3 chiếc, trung bình là 6 tốp, cao nhất có thể lên tới 31 đến 33 tốp. Đi kèm B-52 là một lực lượng máy bay tiêm kích các loại yểm hộ như F-4, F-8, F-105 bay ở phía trước, phía sau và hai bên sườn cách B-52 từ 18 đến 20 km để tạo thành "hàng rào không thể chọc thủng".

        Ở chiến trường Việt Nam, Không quân Mỹ đều sử dụng các loại máy bay B-52 đã được cải tiến nhiều lần (gồm 4 loại: B-52 D, F, G, H) để tăng số lượng bom mang theo và tăng khả năng tác chiến điện tử.

        Tính năng kỹ chiến thuật cơ bản của B-52 (loại B-52 G, H) như sau:

        Tổ bay = 6 người
        Sải cánh = 56,39 m
        Chiều dài = 49,05 m
        Chiều cao = 12,40 m
        Trọng lượng cất cánh lớn nhất = 221.350 kg
        Tốc độ lớn nhất = 960 km/h
        Tốc độ trung bình = 820 km/h
        Trần bay = 16.765 m
        Độ cao bay thông thường = 10.000 m - 13.000 m
        Tầm bay xa = 12.000 km (với B-52 G) và 16.000 km (với B-52 H)
        Vũ khí: đeo được 18 đến 30 tấn bom, có thể mang 12 đến 20 quả tên lửa hành trình (tàng hình) ACM, có 4 khẩu pháo 20 li hoặc 1 khẩu pháo 20 li 6 nòng.

        B-52 còn được trang bị 12 đến 16 máy gây nhiễu tích cực, 21 bộ thiết bị phóng nhiễu tiêu cực, 12 bộ thiết bị gây nhiễu hồng ngoại, tên lửa chống ra-đa HARM và các hệ thống quan sát vô tuyến truyền hình, quan sát hồng ngoại, hệ thống dẫn đường từ vệ tinh, hệ thống quan sát quang điện tử, ra-đa cảnh giới và máy tính điện tử...

        B-52 có thể bay liên tục trong vòng 9 tiếng đồng hồ không cần tiếp dầu. Nếu được tiếp dầu trên không, chúng còn có thể bay xa hơn (ví dụ từ đảo Gu-Am đến Hà Nội là 10.000 km rồi quay trở về) hoặc có thể vượt được chặng đường 18.000 đến 21.000 km.

        Có thể thấy rằng, B-52 chẳng khác gì con khủng long kềnh càng ở trên trời. Nó rất dễ bị các phi công MiG "xả thịt" khi bay đi đánh phá vào ban ngày. Vì vậy, chúng chỉ dám hoạt động vào ban đêm, nhưng cũng rất gờm lực lượng phi công bay đêm, đánh đêm của ta. Chỉ vùng từ khu Bốn trở vào, khi lực lượng phòng không của ta còn quá mỏng, và đặc biệt là lực lượng không quân tiêm kích chưa vươn xa được nên đôi khi chúng cũng dám nghênh ngang đi đánh vào ban ngày.

        Để che giấu, để ngụy trang, gây khó khăn cho các trạm ra-đa của ta trong việc phát hiện B-52, chúng sử dụng một hệ thống nhiễu điện tử cực mạnh. Hệ thống gây nhiễu cùng một lúc tác động lên một dải tần số của ra-đa đối phương khiến ra-đa hoàn toàn mất mục tiêu để tạo thành cái "áo giáp điện tử vững chắc", che giấu toàn bộ lực lượng tiến công, biến mỗi chiếc B-52 thành một "máy bay tàng hình". Với các phương tiện trinh sát điện tử hiện đại, Mỹ đã nắm được tất cả các dải tần số của các đài trạm thông tin vô tuyến và các đài trạm ra-đa của ta (từ sóng mét đến sóng cen-ti-mét).

        Loại nhiễu tích cực (nhiễu bằng sóng điện tử) được phát ra từ những chiếc máy bay EA-6A, EB-66B, EC-121. Chúng được gọi là những “nhà máy điện tử di động trên không" và chúng thường bay ở vòng ngoài, cách Hà Nội, Hải Phòng khoảng 60 đến 100 km trên hai hướng Đông - Tây để gây nhiễu mạnh từ xa gọi là nhiễu ngoài đội hình. Nhiễu tích cực còn được phát đi từ những máy bay F-4, F-105, A-6, A-7 và ngay từ bản thân mỗi chiếc B-52 bay trong đội hình tiến công, tự che giấu cho mình, cho đội hình bay, gọi là nhiễu trong đội hình.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 05:02:01 AM
        Với loại nhiễu tiêu cực - loại nhiễu dùng hàng triệu triệu sợi kim loại màu trắng bạc cực mỏng, cực nhẹ- nhẹ như tơ, bay ra từ những quả bom do các máy bay F-4 bay trong đội bình phía trước và ngay cả từ bụng B-52 thả xuống, bay lơ lửng, giăng kín bầu trời tạo thành một hành lang nhiễu dày đặc, tựa như một bức tường khổng lồ cao từ 5 đến 7 km vắt qua thung lũng sông Hồng, chắn ngang mọi cánh sóng ra-đa của ta. Đặc biệt, trong những đêm tháng 12 năm 1972, bầu trời Hà Nội yên bình bỗng đầy máy bay và đầy nhiễu loạn.

        Khi bị gây nhiễu, màn hiện sóng của các trắc thủ, của sĩ quan điều khiển giống như màn hình máy vi tính mỗi khi bị nhiễu điện tử bỗng nhiên rối loạn hoàn toàn. Nhiễu trắng xóa màn hiện sóng, che lấp mọi tín hiệu phản xạ khiến cho việc phát hiện tín hiệu mục tiêu không thể thực hiện được.

        Ngoài ra, chúng còn dùng thủ đoạn giả B-52 - đấy là những tốp máy bay F-4, F-111 bay với tốc độ ổn định bằng tốc độ của B-52 và cũng bay ở độ cao 9000 đến 10.000 m như máy bay B-52. Khi chúng bay thàrih từng tốp 4 chiếc một và bay thật sát nhau (đội hình mật tập) và cũng phát nhiễu thì trên màn hiện sóng cũng xuất hiện một dải nhiễu to hệt như nhiễu của B-52, rất dễ lầm tưởng tốp máy bay tiêm kích ấy là B-52.

        Nhưng, "vỏ quýt dày có móng tay nhọn". Ta đã tổ chức nghiên cứu cách đánh của B-52 để từ đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của nó, rồi qua những cuộc "Quân sự dân chủ" bàn bạc cách đánh, qua những lần rút kinh nghiệm các trận đánh... đã xây dựng được phương án cụ thể để đánh loại: "siêu pháo đài bay" này.

        Các phi công bắt đầu say mê bước vào tập luyện từng giai đoạn: phát hiện thế nào, có cần mở ra-đa hay không, mở ở cự li bao nhiêu là vừa, bay tránh lực lượng tiêm kích yểm hộ ra làm sao, tiếp cận thế nào là có hiệu quả nhất, ngắm bắn thế nào, cự li nào thì phóng tên lửa, phóng 1 quả hay 2 quả, (riêng việc phóng 1 quả hay 2 quả cùng một lúc cũng có rất nhiều ý kiến phân tích, tranh luận là phóng 1 quả liệu có rơi tại chỗ hay không, phóng 2 quả có chắc ăn hơn không, bởi theo lí thuyết thì phóng 2 quả cùng một lúc xác suất chưa chắc đã cao hơn phóng từng quả môt, vì quả sau có khi lao ngay vào quả trước, theo nhiệt của quả trước...) Rồi thoát li ra làm sao, về hạ cánh thế nào khi trận chiến ác liệt với cường độ nhiễu nặng như vậy không thể chỉ huy được và sân bay bị đánh phá, đường băng, đường lăn đều bị hư hỏng nặng...về sau, đã ra nghị quyết đánh B-52. Tất cả thống nhất chấp hành theo đúng tình thần của nghị quyết.

        Bước sang năm 1971, Đại đội liên tục tổ chức huấn luyện và Trực ban Chiến đấu ban ngày, ban đêm cho cả 3 Trung đội tại sân bay Đa Phúc. Đồng thời, để nhanh chóng phát triển lực lượng, một số phi công từ các Đại đội khác được bổ sung cho Đại đội bay đêm để gấp rút lập kế hoạch huấn luyện đêm. Số phi công đó gồm:
      
        Phạm Tuân
        Nguyên Ngọc Thiên
        Vũ Như Ngữ
        Bùi Doãn Độ
        Nguyễn Khánh Duy
        Đặng Vân Đình
        Nguyễn Đức Chiến
        Lưu Văn Hinh
        Trần Anh Mỹ
        Trần Văn Năm

        Các phi công bay đêm của Đại đội 5 đã được bổ sung lực lượng, đồng thời cũng được bổ sung nhiệm vụ. Đó là phải tham gia chiến đấu bảo vệ tuyến đường Hồ Chí Minh, rồi tham gia chiến dịch đánh Quảng Tri và nhiệm vụ đánh B-52 bằng được.

        Vào trung tuần tháng 4, Đại đội trưởng Đinh Tôn cơ động vào sân bay Anh Sơn (bấy giờ mang mật danh B-4) và chiều 13 tháng 4 xuất kích từ sân bay Anh Sơn lên khu vực Hương Khê - Hà Tĩnh đánh chặn máy bay trinh sát ov -10. Loại máy bay trinh sát này là loại máy bay nhỏ, có tốc độ bay nhỏ và có tính năng cơ động rất tốt. Đôi khi, chúng có động tác nhào lộn rơi như chiếc lá để đánh lừa đối phương, để đối phương tưởng đã bắn roi được chúng rồi, để chúng có cơ hội thoát ra khỏi cuộc chiến. Vậy nhưng, trong cuộc  không chiến vào lúc hoàng hôn này, chúng đã không lừa được Đinh Tôn, chúng đã bị anh hạ gục trên đất Hương Khê - Hà Tình. Trận này được đánh dấu như trận mở màn cho lực lượng đánh đêm trên loại máy bay MiG-21.

        Trong năm 1971 này, lực lượng phi công đánh đêm của Đại đội 5 đã có cơ hội tiếp xúc, giáp mặt với B-52. Đầu tiên phải nói đến chuyến xuất kích của Đại đội trưởng Đinh Tôn từ sân bay Đồng Hới - Quảng Bình (hồi đó mang mật danh B-5).


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:50:32 PM
        Việc chuẩn bị đón nhận máy bay vào trực ở sân bay Đồng Hới diễn ra rất kỳ công. Đồng Hới là sân bay nằm ngay sát biển. Địch trinh sát liên tục và đánh phá liên tục vì có lẽ chúng đã "đánh hơi" thấy việc ta sẽ cơ động vào đó để vươn đánh xa hơn, và một khi đã có MiG cơ động vào đó thì các hoạt động của B- 52 cũng sẽ gặp nhiều nguy hiểm hơn. Địch cứ đánh, ta lại sửa gấp, cứ liên tục như vậy diễn ra ngày ngày. Đoàn của anh Phạm ngọc Lan vào để triển khai, thực hiện quyết tâm của ta: phải cơ động được vào Đồng Hới, phải xuất kích chiến đấu từ sân bay Đồng Hới. Thời kỳ đó là thời kỳ mưa nhiều, sân bay thì lầy lội, địch thì rải các loại bom phá, bom bi nên mặt đường băng lở lói tựa như người bị rỗ mặt vậy. Sở Chỉ Huy tiền phương rất sốt ruột, anh Trần Hanh trực ở đó gọi điện kiểm tra liên tục:

        - Tình hình sức khỏe của cháu độ này thế nào?

        - Mấy ngày nay cháu bị sốt, bị thủy đậu, mặt bị rỗ nhiều quá. Nó quấy khóc suốt thôi.

        (Nội dung trao đổi có nghĩa là: tình hình sân bay thế nào?/ Sân bay bị địch đánh phá, đường băng bị nhiều hố bom./ Trời lại mưa liên tục)

        Vài ngày sau lại có điện:

        - Tình hình mặt mũi cháu thế nào rồi?

        - Cũng khô ráo rồi!

        - Cậu chuẩn bị đón mấy cô em gái mình nhé!

        - Các cô ấy bao nhiêu tuổi?

        - 17,18 gì đó!

        - Để làm gì thế?

        - Chúng lớn rồi thì phải tạo điều kiện cho chúng đi lấy chồng chứ!

        - Vâng, sẵn sàng, 17,18, 19, 20, 21 đều được cả. Càng vui!

        (Nội dung có nghĩa là: đường băng khô ráo rồi thì chuẩn bị tiếp thu các loại máy bay MiG-17, MiG- 21 để chuẩn bị cho chiến đấu)

        Và Đại đội trưởng Đại đội 5 Đinh Tôn đã chuyển sân từ sân bay Đa Phúc cơ động vào sân bay Đồng Hới.

        Tất cả các máy bay chuyển sân vào khu vực phía trong thuộc khu Bốn đều phải giữ bí mật qua vô tuyến, không được phép liên lạc suốt từ lúc cất cánh đến tận lúc hạ cánh. Dọc đường hành trình, qua các điểm kiểm tra được xác định trước, chỉ được phép bấm vào nút phát của vô tuyến 1 tiếng "cạch", hoặc 2 tiếng "cạch" theo đúng hiệp đồng.

        Chuyến ấy, anh Đinh Tôn bay vào bị lệch sang phía Tây đường bay, nghe tiếng "cạch" rồi mà anh Phạm Ngọc Lan đứng trên Đài chỉ huy không nhìn thấy máy bay đâu. Sợ Đinh Tôn đi lệch quá xa, anh Lan đành "liều" hỏi qua đối không:

        -  Ai vừa bấm nút đấy?

        - 216!

        Biết đấy là anh Đinh Tôn, anh Lan lệnh cho tất cả các thành phần ở trên đài chỉ huy phải quan sát xem máy bay ta đang ở đâu. Phút sau, đã phát hiện được máy bay ta, anh Lan lệnh cho bật đèn đường băng và chỉ huy cho anh Tôn quay lại, vào hạ cánh.

        Sau chuyến hạ cánh của anh Đinh Tôn, trời lại tiếp tục mưa tầm tã. Kiểu mưa này là kiểu mưa không thể tạnh ngay được. Phải tính đến việc sơ tán máy bay thôi. Và 3 Trung đội dân quân đã được huy động, vừa làm đường vừa kéo máy bay vào khu vực đường sắt cũ của Đồng Hới. Ở đó, nền đường tương đối cứng, hơn nữa lại có thành ta-luy ngay bên cạnh, nên lực lượng công binh chăng, kéo lưới ngụy trang cũng thuận tiện hơn.

        Máy bay vào nơi sơ tán, ngụy trang xong xuôi thì xuất hiện chiếc máy bay không người lái bay dọc đường băng. Chiều đến, lại xuất hiện tiếp một chiếc máy bay trinh sát RF quần đảo trên khu vực sân bay, nhưng chúng không hề phát hiện được nơi ta cất giấu máy bay. Sự phối hợp khéo léo, ăn ý giữa các thành phần quân dân và lực lượng công binh đã tạo nên kết quả bất ngờ, thật tuyệt vời.

        Mưa vẫn tiếp tục kéo dài thêm 2 ngày nữa, tới ngày thứ 3 mới tạnh ráo, trời mới thấy hửng nắng. Ngoài Sở chỉ huy, anh Trần Hanh sốt ruột lại điện hỏi:
 
        - Mấy ngày nay em gái mình ở đâu mà không thấy ca hát gì cả?

        - Cô ấy nhớ nhà, khóc nhiều lắm, vừa rồi động viên mãi nên mặt mới tươi tỉnh lên được một chút. Đêm nay nếu anh đồng ý thì cho tham gia 1 tiết mục văn nghệ.

        - Vậy cậu gửi em gái mình ở đâu thế?

        - Ở Sơ manh-ĐỜ phe!

        - Ừ, nếu tươi tỉnh thì đồng ý cho hát!

        (Nội dung cuộc trao đổi là: mấy ngày nay tình hình ra làm sao mà không tổ chức trực?/ Vì mưa nhiều, bây giờ trời mới hửng/ Có thể tổ chức trực đêm nay được nếu cấp trên đồng ý./ Máy bay được giấu ở đâu?/ Ở đường sắt (tiếng Pháp - Sơ manh Đờ phe là đường sắt - anh Trần Hanh và anh Phạm Ngọc Lan đều biết tiếng Pháp)/ Vậy đêm nay có thể xuất kích đấy!)


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:54:08 PM
        Đến chiều tối ngày 4 tháng 10, máy bay được kéo ra sân bay chuẩn bị cho trực chiến. Trước đó, vào khoảng 2-3 giờ chiều, một biên đội 4 chiếc F-4 bay dọc sân bay Đồng Hới, ném 8 quả bom xuống sân bay, 4 quả nổ ngay, còn 4 quả rơi gần ngay Đài chỉ huy thì nằm chờ nổ.
Tất cả kíp trực đã hoàn tất công tác chuẩn bị, sẵn sàng chờ lệnh. Vào lúc 19 giờ, có lệnh cho anh Đinh Tôn vào cấp 1 và sau đó là khẩu lệnh:

        - Ấp Bắc! Cờ Hồng! (mở máy, cất cánh)

        19 giờ 13 phút, máy bay rời đất và anh Đinh Tôn được dẫn vào khu vực chiến đấu, phát hiện được 2 chiếc B-52 ở thế đối đầu nên không thể đánh được, phải quay về sân bay Thọ Xuân hạ cánh.

        Tuy chưa bắn được B-52 nhưng trận xuất kích vừa rồi đã gieo được niềm tin vào khả năng dẫn đường sẽ dẫn được MiG bắn rơi B-52. Sau trận ngay 4 tháng 10, sân bay Đồng Hới bị địch trinh sát và đánh phá dữ dội. Trạm ra-đa C-41 cũng bị địch phóng tên lửa gây hỏng hóc. Các lực lượng của ta lại tập trung sửa gấp sân bay, sửa ra-đa tiếp tục chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tiếp diễn nay mai.

        Suốt giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 11, sau trận đánh của anh Đinh Tôn, sân bay Đồng Hới đã bị lộ, phương án đánh B-52 phải nghiên cứu, tính toán lại rất công phu và rất chặt chẽ. Phải chọn sân bay cơ động có đủ điều kiện giữ bí mật cho việc cất giấu máy bay, bí mật cất cánh, cự li đến khu chiến không được quá xa. Phải tổ chúc chỉ huy bổ trợ được trang bị đầy đủ để chỉ huy bổ trợ khi máy bay ta bay thấp vào khu chờ trong điều kiện bay thấp ban đêm. Phải đảm bảo chế độ giữ bí mật nghiêm ngặt trước khi lên đường đến đài bổ trợ. Mọi liên lạc giữa các đài trạm với Sở chi huy tiền phương Binh chủng chỉ được phép dùng theo mật ngữ mới đặt ra.

        Và sân bay Anh Sơn (mang mật danh B-4) được chọn làm sân cơ động để đánh B-52. Khi máy bay cất cánh, giai đoạn đầu từ sân bay Anh Sơn đến khu chờ Tân Ấp, đường bay ở gần núi cao (dãy Trường Sơn phía Tây và núi Đại Huệ - Hồng Lĩnh phía Đông), phi công phải tự bay thấp theo số liệu đã tính toán trước, không được phép liên lạc để đảm bảo bí mật.

        Chuyến bay rất dễ mất an toàn, rất khó khăn đối với phi công bay đêm ở khu vực núi non hiểm trở như thế này, nhưng với quyết tâm đánh B-52, tất cả đều chấp nhận sự mạo hiểm.

        Nếu như chi cần bay cao một chút, tuy đảm bảo an toàn, nhưng địch sẽ phát hiện được máy bay ta ngay, chúng sẽ gây nhiễu đối không và tổ chức đối phó, ta không thể đánh được địch mà còn bị tổn thất nữa là đằng khác. Kinh nghiệm của một số trận đánh ngày đã cho chúng ta áp dụng vào những trận đánh đêm.

        Vũ Đình Rạng đã cơ động đến sân bay Anh Sơn.

        Sân bay Anh Sơn là sân bay ngắn hẹp, với cự li 1.800 m chiều dài và 27 m chiều rộng, có được trang bị đèn dạ hàng và đèn chiếu phục vụ cho bay đêm.

        Vào đêm 20 tháng 11, có 2 chiếc MiG-21 Trực ban chiến đấu ở 2 sân bay. Đại đội phó Hoàng Biểu trực ở sân bay Vinh và Vũ Đình Rạng trực ở sân bay Anh Sơn.

        19 giờ 30 phút, phát hiện có B-52 vào. Sở Chỉ Huy B-3 (đóng tại Đô Lương) lệnh cho Hoàng Biểu xuất kích, lấy độ cao lên 8.000 m đến 10.000 m, bay vào khu vực Tân Ấp, đèo Mụ Giạ, giữ độ cao 10.000 m. Địch phát hiện, trận đánh không thành, anh Hoàng Biểu bay về hạ cánh ở sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa.

        Mục đích chuyến bay này nhằm đánh lạc hướng địch, cốt để cho địch vẫn tưởng như mọi đêm trước đó, khi ta không đánh được thì máy bay ta quay về sân bay căn cứ Đa Phúc hạ cánh và không xuất kích lần thứ hai nữa.

        Điều này tạo yếu tố bất ngờ cho lần xuất kích tiếp theo.

        20 giờ 30 phút, sau khi nhận được tin tình báo và phán đoán địch sẽ đánh đường 20, Sở Chỉ Huy đã cho Vũ Đình Rạng đang trực ở sân bay Anh Sơn vào cấp 1.

        20 giờ 41 phút, máy bay xuất kích vào khu chờ Tân Ấp đúng theo phương án đã được duyệt.

        Sau 8 phút cất cánh và im lặng tự bay, dẫn đường chính trên bàn tiêu đồ Nguyên Văn Chuyên bắt đầu phát tín hiệu liên lạc và dẫn Vũ Đình Rạng tiếp cận B-52. Khi mục tiêu còn cách 18 km ở phía trước, Vũ Đình Rạng nhận được lệnh mở ra-đa trên máy bay. Sau đó Vũ Đình Rạng báo cáo đã phát hiên được mục tiêu ở phía trước, cách 11 km. Tất cả Sở chỉ huy nín lặng chờ đợi, hồi hộp và xúc động.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2016, 08:56:51 PM
        Khi máy bay B-52 nằm trong khoảng cách 2,5 km và máy bay ta đạt tốc độ tối ưu, Vũ Đình Rạng ấn nút phóng tên lửa vào chiếc B-52 đi đầu rồi kéo cao, thoát li. Khi quan sát thấy một chiếc B-52 khác, Vũ Đình Rạng đưa máy bay mình tiếp cận mục tiêu, bám sát đến cự li cho phép, phóng nốt quả tên lửa thứ hai rồi thoát li về sân bay Anh Sơn, hạ cánh an toàn.

        Trận đánh của Vũ Đình Rạng tuy không bắn rơi được B-52 tai chỗ, nhưng sau này địch phải thừa nhận có một B-52 bị bắn trọng thương, phải về hạ cánh bắt buộc ở sân bay U-đon (Thái Lan) mà không về được U-ta-pao.

        Sau đêm 20 tháng 11 năm 1971, máy bay B-52 chỉ dám hoạt động từ nam đường 9 trở vào. Từ khu vực đường 9 trở ra đến khu Lùm- Bùm, Ta-lê-phu- nhich, đèo Mụ-Giạ... chúng không dám mò ra nữa. Ban ngày chỉ có loại máy bay F-4 hoạt động, ban đêm có thêm loại AC-130 đánh phá chốt Bản Đôn. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho ta vận chuyển tiếp tế cho chiến dịch trên cung đường từ đường 12, 20 cho đến đường 9.

        Trận đánh này cũng là chiến công đầu tiên của Không quân ta đánh đối tượng B-52. Nó khẳng định: Không quân ta hoàn toàn có thể tiêu diệt được thần tượng "pháo đài bay bất khả xâm phạm".

        Nhiều phi công bay đêm của Đại đội 5 đã liên tục mai phục, xuất kích để tiêu diệt B-52 như các anh Đinh Tôn, Hoàng Biểu, Đặng Xây, nhưng chưa lần nào "săn" được chúng. Chừng như chúng sợ "vía" các anh nên lần nào các anh xuất kích là chúng chạy từ sớm, hoặc khi các anh cơ động vào trực chiến trong các sân bay Vinh, Anh Sơn... không hề thấy bóng dáng B-52 bén mảng cả trong thời gian dài. Thời gian ấy, trong Đại đội đã có câu: "Biểu "Xê-Pôn", Tôn "đường 9"... nghĩa là, các anh hoạt động chiến đấu ở các khu vực ấy quá nhiều. Có thể, kẻ địch không tường tận dung mạo các anh, nhưng dò qua sóng đối không, nghe giọng nói của các anh Đinh Tôn, Hoàng Biểu, Đặng Xây... là chúng có thể phán đoán được đấy là những con người như thế nào rồi và chúng cũng đã gờm lắm rồi! Biết đâu (mà cũng có thể lắm chứ) các   anh cũng nằm trong trường hợp tương tự như Anh hùng Liên Xô – phi công huyền thoại Pô-cơ-rư-skin trong cuộc chiến tranh Vệ Quốc Vĩ Đại, mỗi khi người Anh hùng ấy cất cánh là bọn Đức lại thông báo: "Chú ý! Chú ý! Có Pô-cơ-rư-skin ở trên trời!".

        Số phi công của Đại đội 5 đi cơ động làm nhiêm vụ mai phục để săn B-52 nhiều nhất có Đại đội trưởng Đinh Tôn, Đại đội phó Hoàng Biểu, các anh Đặng Xây, Vũ Đình Rạng, Đại đội phó Nguyễn Đăng Kính, Trần Thông Hào... rồi Trần Cung, Vũ Xuân Thiều, sau này thì các anh Phạm Tuân, Nguyễn Ngọc Thiên, Bùi Doãn Đô, Nguyên Khánh Duy, Nguyên Đức Chiến, Đặng Vân Đình...

        Thực ra, tổng số các phi công đánh đêm không có nhiều. Lực lượng tham gia trực chiến và tham chiến trong những giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Mỹ
sử dụng Không quân đánh phá ra miền Bắc chỉ có khoảng chục phi công đánh đêm mà thôi.

        Lực lượng mỏng, nhiệm vụ lại rất nặng nề, nhưng trách nhiệm trước Đảng, trước Bác Hồ, trước nhân dân đã giúp cho các phi công Đại đội 5 không hề chùn bước trước khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

        Năm 1972 thực sự là một năm khó khăn, gian khổ. Sự ác liệt, khốc liệt của cuộc chiến tranh tăng từng ngày một.

        Ngay từ những tháng đầu năm, Đại đội đã cùng Trung đoàn cơ động vào sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa đóng quân, làm nhiệm vụ tác chiến ở vùng trời khu Bốn, đồng thời sẵn sàng chi viện cho Trung đoàn Không quân 927 ở sân bay Đa Phúc.

        Cũng ngay từ đầu năm năm 1972, một Trung đoàn Không quân tiêm kích nữa đã ra đời. Đó là Trung đoàn Không quân 927. Lực lượng của Trung đoàn Không quân 921 được san sẻ sang Trung đoàn Không quân 927 kể cả số phi công bay ngày và phi công bay đêm. Trong số phi công bay đêm chuyển sang Trung đoàn Không quân 927 có Vũ Xuân Thiều, Nguyên Ngọc Thiên...
 
        Tuy biên chế là người của 927, nhưng đặc biệt là những giai đoạn cuối của năm 1972, các phi công bay đêm, đánh đêm vẫn sinh hoạt chung, vẫn như người của Đại đội 5.

        Số lần xuất kích chiến đấu ngày càng dày hơn, những trận không chiến cũng xảy ra thường xuyên hơn, cuộc chiến đấu ngày càng phức tạp hơn. Mỹ dựa vào vật chất kỹ thuật, vào tiềm lực kinh tế, quốc phòng, dùng trăm phương ngàn kế tạo yếu tố bất ngờ trong từng trận, từng đợt chiến đấu hòng đánh vào ý chí, quyết tâm chiến đấu của ta, gây nên những tổn thất lớn cho ta. Mỗi trận đánh, mỗi trận không chiến - thủ đoạn của chúng đều thay đổi. Chúng đã từng cử "Chuyên viên không chiến" của Lầu Năm Góc sang tham chiến nhiều trận không chiến để nghiên cứu, phân tích cách đánh của các lực lượng tiêm kích của ta, phân tích cách đánh của lực lượng Không quân của chúng để rồi tìm cách đối phó. Nhưng rồi, cũng chính "Chuyên viên không chiến" ấy đã bị anh Ngô Văn Phú bắn hạ trong một trận không chiến.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:39:00 AM
        Cuộc sống, nề nếp sinh hoạt của đội ngũ phi công cũng bị xáo trộn theo những cuộc cơ động hết sân bay này đến sân bay khác. Bom đạn Mỹ không để cho bất kỳ sân bay nào của ta được yên ổn quá lâu. Chúng đánh liên tục, ban ngày đánh rồi, ban đêm lại đánh tiếp, đánh không theo quy luật nào. Chuyên phải cất cánh ở đường băng ngắn hẹp, cất hạ cánh ở cả đường lăn, xung quanh còn đầy hố bom, hố đạn... đều là chuyên bình thường đối với tất cả các lực lượng phi công.

        Cứ mỗi mùa Xuân đến, tâm hồn ai cũng thấy rạo rực, vạn vật cũng cựa mình, đổi sắc... cho dù bom đạn vẫn nổ, cuộc chiến vẫn ngày càng cam go. Đất trời vẫn rực sắc khi Tết đến, Xuân về. Những cây, những cành bị mảnh bom, mảnh đạn phạt cụt vẫn đâm chồi, nẩy lộc, vẫn đơm hoa, hé nụ. Nắng vẫn mơn man và mưa Xuân vẫn lất phất bay lẫn trong những làn khói bom lởn vởn. Nhà nhà vẫn gói bánh chưng, tiếng lợn vẫn kêu eng-éc trong ngõ xóm và đâu đó vẫn vang lên những tiếng pháo nổ đì đùng. Cứ đánh giặc, cứ đón Xuân, phong thái người Việt vẫn cứ đĩnh đạc, ung dung.

        Từng ấy năm sống cuộc đời học viên bay là từng ấy năm đón cái Tết xa nhà. Khi trở về nước là bước vào cuộc chiến ngay, lứa phi công đoàn bay MiG-21 khóa 3 hầu như cũng chẳng ai được về đón Tết với gia đình. Biết bao nhiêu xúc cảm xáo trộn trong những ngày Xuân. Ai đó trực ở căn cứ chính, ai đó trực ở sân bay cơ động, ai đó sẽ xuất kích chiến đấu, và rồi biết đâu cũng có ai đó không về ... trong mùa Xuân này.

            Những ngày Tết là những ngày xum vầy của tất cả các người thân trong gia đình, nhưng chiến tranh đã làm gián đoạn, đã ngăn cách những cuộc vui gặp gỡ ấy. Biết bao người thân ở hậu phương lo lắng, chờ đợi, ngóng trông...

        Nhưng rồi ta vẫn tin rằng sẽ có mùa Xuân gần đây thôi, rất gần đấy thôi sẽ là mùa Xuân đoàn tụ, mùa Xuân ngập tràn niềm vui...

        Công Huy đã viết bài "Mồng một, em ơi! Đừng so thêm đũa nữa!" vào đúng dịp mùa Xuân năm 1972 này:

                Bữa cỗ đầu năm
                Em ngồi vào mâm
                Lẳng lặng so thêm đôi đũa
                Ngóng nhìn ra cửa
                Tiếng bước chân đâu cũng ngỡ anh về!
                Em chạy ra hè
                Mắt đăm đắm ngó phương trời xa vợi
                Năm nào cũng đợi
                Năm nào cũng trông Mà không!

                Em ơi, đừng khóc nữa!
                Anh hẹn em Xuân mai
                Khi đào nở tưrì
                Anh sẽ về cùng Xuân đoàn tụ
                Anh sẽ về trong thương yêu ấp ủ
                Anh sẽ về, mãi chẳng cách xa
                Xuân năm nay
                Thêm năm nữa xa nhà
                Thêm năm nữa, miền Nam đổ máu
                Thêm năm nữa
                Anh còn chiến đấu
                Thêm năm nữa
                Em còn so thêm đũa đợi chờ
                Em ơi! Tin yêu anh cứ đợi
                Năm sau sẽ tàn lửa khói
                Năm ấy cỗ mừng Xuân mới
                Hẳn có anh cầm đôi đũa em so
                Nâng lên
                Như nâng trái cam mới bói đầu mùa
                Nâng lên
                Như nâng tay em ngày cưới
                Nhớ không em?
                Ngày ấy - cũng mùa Xuân!


        Cuộc chiến tranh ngày càng mở rộng, lan khắp miền Bắc, ngày càng có nhiều mục tiêu bị đánh phá. Các sân bay hầu như không sân nào còn nguyên vẹn - từ sân căn cứ chính đến tất cả các sân bay cơ động. Đường băng, đường lăn đều bị đánh liên tục, đánh đi đánh lại cả ngày lẫn đêm. Bê tông vỡ nát, các tấm ghi thì dựng ngược, cong vênh hết. Các phi công ta phải cất hạ cánh với đường băng ngắn hẹp, cất hạ cánh ở ngay trên đường lăn và phải sử dụng tên lửa bổ trợ khi cất cánh (loại K-99). Đeo hai quả phía sau máy bay, khi lăn ra vị trí cất cánh, sau khi bật tăng lực, máy bay đã có đà thì ấn nút khởi động tên lửa bổ trợ. Lực đẩy của hai quả tên lửa bổ trợ cùng với lực đẩy của tăng lực cộng lại sẽ lớn hơn cả trọng lượng máy bay nên máy bay gần như được "nhấc bổng" lên ngay tắp lự. Phi công bay ngày còn dễ xác định chiều rộng, chiều dài đường cất hạ cánh, nhưng điều ấy đối với phi công bay đêm thì thật khó xác định vì rất nhiều chuyến sau khi xuất kích về, sân bay tối om, không đèn đóm, chỉ huy cũng lại không nốt, hạ cánh lắm lúc phụ thuộc vào may rủi, hố bom hố đạn chi chít xung quanh, biết đâu mà né tránh. Rồi lại còn tình hình thời tiết có ủng hộ hay không nữa. Không phải chuyến xuất kích nào thời tiết cũng đảm bảo cho tiêu chuẩn bay phù hợp với trình độ của phi công. Nhưng không thể không xuất kích chiến đấu. Phải chấp nhận sự mạo hiểm, phải đối mặt với hiểm nguy để cất cánh và để về hạ cánh. Có những giai đoạn, có những chuyến xuất kích biết rằng chỉ có thể cất cánh mà không thể về hạ cánh được vì thời tiết rất xấu, nhưng không thể từ chối nhiệm vụ được giao mà bằng cách nào cũng phải hoàn thành.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:40:36 AM
        Cuộc sống vất vả như vậy không phải chỉ đối với mỗi thành phần phi công mà đối với mọi thành phần khác sự vất vả cũng chẳng kém. Những vấn đề cần thiết thì rất nhiều, nhưng cần lắm là nước. Trực căng thẳng, vất vả, sau mỗi chuyến xuất kích là mồ hôi mồ kê nhễ nhại, việc tắm rửa đâu có thoải mái như bây giờ. Nước phải chia nhau từng chậu, thậm chí từng ca một. Nước giếng cạn thì gạn nước ruộng, nước hố bom và "tiêu chuẩn" của mỗi người cũng chỉ được lấy một chậu là cùng, muốn tắm giặt thế nào thì tùy, chỉ có ngần ấy thôi. Vậy là thời ấy mới có cái sáng kiến là tắm khô: lấy tay xoa xoa, vo ghét thành từng viên rồi búng đi. Khăn nhúng nước lau qua một lần thế là sạch rồi. May mắn làm sao mà suốt cả giai đoạn chiến tranh không ai bị mắc bệnh ngoài da.

        Các phi công bay đêm, đánh đêm đã trực chiến nhiều, xuất kích chiến đấu cũng nhiều, nhưng chưa ai bắn rơi được máy bay địch. Không phải không có tư tưởng muốn được trực chiến ban ngày để được xuất kích chiến đấu ban ngày, cùng các phi công bay ngày, đánh ngày để lập công. Nhưng lực lượng bay đêm vẫn được giữ gìn vì nhiệm vụ trọng đại hơn: nhiệm vụ đánh B-52.

        Khi cơ động vào các sân bay dã chiến trong khu Bốn (các sân dã chiến cơ động trong đó có Vinh, Đồng Hới, Anh Sơn, Gát... nhưng Trực ban Chiến đấu ở sân bay Vinh là nhiều hơn cả, sau đó là đến Anh Sơn) đã được giao nhiệm vụ đánh B-52 ở Nam khu Bốn, khu vực Đường 9, Nam Lào... chi viện cho chiến trường. Nhiệm vụ giao cho các phi công trực chiến: phải bay vào đến chiến trường, nếu hết dầu ở đâu thì nhảy dù ở đó.

        Cuối tháng 2 năm 1972, Đại đội phó Hoàng Biểu đã có chuyến bay cảm tử. Anh cơ động vào sân bay Vinh. Sân bay Vinh bấy giờ là sân bay đất với kích thước chiều dài 2.000 m và chiều rộng là 30 m được lu nền, được trang bị hệ thống đèn dạ hàng dã chiến ở hai bên đường băng rất thưa và có khi chỉ sáng được có một bên đường băng. Thời gian đó trực ở Sở Chỉ Huy tiền phương là Phó tư lệnh Binh chủng Không quân Trần Mạnh và Trần Hanh, trực Sở chỉ huy ở Vinh là anh Phạm Ngọc Lan, dẫn đường chính là anh Tạ Quốc Hưng. Tư lệnh Binh chủng Không quân Đào Đình Luyện và Chính ủy Hoàng Phương bay vào giao nhiệm vụ cho trực chỉ huy ở Vinh. Khi đi kiểm tra đường băng, Chính ủy Hoàng Phương nói với Phạm Ngọc Lan rằng: "Hôm nay ta mở mặt trận Quảng Trị. Không quân ta phải bay vào đó. Đây là chuyến bay cảm tử. Bằng cách nào cũng phải cất cánh!"

        Vì hai anh Phạm Ngọc Lan và Hoàng Biểu đều từng là những phi công bay đêm với nhau, từng hiểu nhau, nên hiệp đồng giữa người trực chỉ huy và người trực chiến rất chóng vánh và chặt chẽ.

        Anh Phạm Ngọc Lan thông báo cho anh Hoàng Biểu biết các sân bay đã triển khai sẵn sàng đón tiếp khi về hạ cánh. Sân bay Vinh vẫn là sân bay chính thức, sân bay Anh Sơn là sân bay dự bị (trực ở sân bay Anh Sơn là anh Nguyên Nhật Chiêu).

        Anh Hoàng Biểu nắm vững mọi tình hình và tiếp thu trực chiến.

        Chế độ trực sẵn sàng chiến đấu tại sân bay Vinh là trực ngay dưới cánh máy bay, thời gian chưa có lệnh báo động chuyển cấp thì có thể nằm nghỉ ngay trên chiếc cáng cứu thương đặt cạnh máy bay. Khoảng gần 1 giờ sáng thì có lệnh chuyển cấp. Máy bay của anh Hoàng Biểu được đeo hai thùng dầu phụ, đường băng thì lại ngắn, cất cánh là một vấn đề nan giải, phải rất cố gắng và liều nhấc máy bay cho tách đất ở tốc độ nhỏ mới được. Hôm ấy trời rất xấu, tầm nhìn kém và mây xệ xuống rất thấp. Máy bay tách đất một cách khó nhọc, khi bay chưa đến độ cao thu càng thì đã chui vào mây. Sở Chỉ Huy lệnh cho Hoàng Biểu lấy độ cao lên 8.000 m (thông thường, theo phương án là phải đi rất thấp và phải giữ bí mật liên lạc qua đối không, nhưng lần này lại khác, Sở Chỉ Huy dẫn ngay từ đầu bằng các khẩu lệnh qua đối không và cho lấy độ cao luôn). Tính toán theo thời gian thì đã gần đến Đường 9 Hoàng Biểu nhận được lệnh:
 
        "Bật tăng lực, lấy độ cao lên 14.000m và vòng 2 vòng ở độ cao này vẫn giữ nguyên chế độ tăng lực, sau xuống độ cao 6.000 m vòng tiếp rồi xuống độ cao 2.000 m vòng tiếp một vòng nữa và lấy độ cao bay ra".


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 07:43:23 AM
        Sau khi lấy độ cao đến 14.000 m vòng hai vòng xong, xuống các độ cao 6.000 m và 2.000 m vòng tiếp theo như mệnh lệnh đã giao, anh được dẫn về, nhưng theo những hướng bay rất zich-zăc. Anh biết mình đã bị máy bay tiêm kích F-4 của địch đuổi theo và đã được Sở chỉ huy dẫn tránh F-4. Anh được dẫn về đến khu vực Hồng Lĩnh thì cho xuyên xuống, hạ cánh trực tiếp tại sân bay Vinh. Ở sân bay Vinh, đèn chiếu được triển khai ở cả hai đầu Nam và Bắc nhưng vì thời tiết quá xấu, anh Hoàng Biểu chỉ thấy được ánh sáng ở phía trên mây thôi, xuyên đến hai lần mà không thấy đường băng nên không cách gì hạ cánh được đành phải quay về sân bay Anh Sơn để hạ cánh. Khu vực sân bay Anh Sơn cũng không có gì khả quan hơn sân bay Vinh cả. Anh xuyên đến lần thứ hai cũng vẫn không hạ cánh được. Dầu liệu đã cạn. Anh nhận được lệnh của Sở chỉ huy kéo lên đến độ cao 3.500 m, bay về phía Yên Thành - Nghệ An để nhảy dù. Anh đã phải rời bỏ chiếc máy bay đã hết dầu, nhảy dù xuống đất Yên Thành, tiếp đất trên ruộng khoai rồi lần mò đến được sân của Hợp tác xã. Tại đây, anh được đón tiếp (sau khi đã trình bày và đưa các giấy tờ liên quan đến phi công) và được đưa về Sở Chi Huy ở Đại Huệ. Đến Sở Chỉ Huy, anh được Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương gặp gỡ, động viên. Anh vẫn nhớ lời của các thủ trưởng khi gặp gỡ anh:

        - Đây là chuyến bay cảm tử mà đồng chí đã được giao và đã được thực hiện. Ngày nay ta đã mở mặt trận Quảng Trị. Đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và hãy chuẩn bị tinh thần sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới!

        Hoàng Biểu đã hiểu rõ nhiêm vụ và tầm quan trọng của nó hơn ai hết. Những lần xuất kích đi vào tuyến trong, từ trên nhìn xuống có lúc thấy lửa rực cháy suốt cả một cung đường thì biết rằng cả đoàn xe vận tải của mình đã bị địch bắn chay rồi. Tiền tuyến đang rất cần sự vận chuyển chi viện. Bọn B-52 và C-130 lại hoạt động rất ngang nhiên vì chúng biết chúng ! đang làm chủ bầu trời mà. Lực lượng phòng không của ta không hề có, nên chúng "ra oai tác quái" ghê lắm. Chính vì vậy mà bằng bất kỳ giá nào Không quân ta cũng phải xuất kích. Và y như rằng, mỗi lần máy bay ta xuất kích, bọn C-130 và B-52 lại chạy dạt ra, không dám hoạt động, quấy nhiễu đến cả tuần lễ liền. Địch chỉ dám dùng pháo kích bắn phá các tuyến đường vận chuyển của ta mà thôi.

        Anh Phạm Ngọc Lan nhớ lại, sau chuyến xuất kích của Hoàng Biểu, Bộ tư lệnh mặt trận Quảng trị đã gửi điện cám ơn với nội dung: nhờ có sự có mặt của bộ đội Không quân trong ngày mở chiến dịch mà không quân địch trong vòng gần một tuần lễ không dám hoạt động, tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho chiến dịch.

        Nhiệm vụ đánh B-52 đối với các phi công bay đêm ngày càng cấp bách, phải bằng mọi cánh đánh bằng được B-52 của Mỹ, không thể để chúng ném bom vào miền Bắc, nhất là Hà Nội. Đấy là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Vì vậy, trong bất kỳ điều kiện khí tượng nào, hoàn cảnh khó khăn nào lực lượng Không quân cũng phải có mặt cùng với các lực lượng Phòng không khác tham chiến, phải tiêu diệt chúng, chí ít thì cũng ngăn cản được các cuộc tiến công, các trận đánh phá của chúng.

        Để đánh B-52, ta đã áp dụng nhiều chiến thuật khác nhau. Trong quá trình tham chiến với các trận không chiến ban ngày, chiến thuật "bay thấp, kéo cao" và sử dụng lực lượng nghi binh hấp dẫn để tạo yếu lố bí mật, bất ngờ cho tốp đánh chính đã đạt được những hiệu quả nhất định. Ta cũng đã thử áp dụng chiến thuật ấy cho một số trận đánh đêm, nhưng hiệu suất không cao, có trận còn không có hiệu quả.

        Đầu tháng 3, Phạm Tuân và Đặng Vân Đình cùng tham gia kíp trực đêm. Đặng Vân Đình có nhiệm vụ thu hút địch để tạo điều kiện cho mũi đánh chính của Phạm Tuân. Vào lúc 20 giờ 47 phút, Đặng Vân Đình được lệnh vào cấp 1, mở máy, cất cánh bay vào khu vực Quan Hóa - Thanh Hóa. Sau khi lấy độ cao lên đến 6.000 m, Vân Đình vòng tại chỗ để đánh lạc hướng địch, giúp cho Phạm Tuân bay ở độ cao 1.500 m đến 2.000 m bất ngờ vọt lên diệt tốp chính (là B-52). Đình vòng ở khu vực đó gần 10 phút, sau đó được dẫn về hạ cánh. Khi máy bay đã đối chuẩn đài để về sân bay đi được gần 2 phút, Sở chỉ huy lại dẫn Đình quay lại, tiếp tục vòng ở độ cao 6.000 m. Đình phát hiện thấy những chớp lửa ở phía trước nhưng không nghĩ rằng bọn tiêm kích địch sử dụng tên lửa đối đầu. Khi vòng đến vòng thứ hai thì bọn chúng đã bám được vào phía sau Đình và bắn tiếp. Vân Đình nghe thấy cái "Rầm", biết rằng máy bay mình đã trúng đạn. Máy bay quay lộn. cần phải nhảy dù ngay. Đình đẩy vào nắp buồng lái để ấn người xuống sau đó giật cần phóng ghế dù.

Trong trời đêm, cái cảm giác rơi từ độ cao 6.000 m xuống cho đến lúc dù mở mới thấy thật căng thẳng, thời gian mới thấy sao mà lâu. Dù chính đã mở, rồi người và dù mắc trên cành cây cao. Vân Đình tháo túi NAZ-7 (túi cấp cứu đặt toong ghế dù trang bị những thứ cần thiết để đảm bảo cho phi công sau khi nhảy dù có thể tự ứng cứu được), thả xuống và bám theo dây của NAZ-7, tụt xuống đất. Trong ánh sáng trăng mờ ảo, Đình lần theo dòng suối để tìm đường ra bìa rừng. Khi leo lên nằm trên các cành cây của khóm luồng (các cành cây dày tạo ra một tấm đệm dày có thể nằm ữên đó được) trong rừng, Đình nghe như có tiếng động như của đoàn tàu hỏa, nghĩ rằng tuyến đường sắt chắc ở gần đâu đây, nhưng không phải vậy - đấy chính là tiếng của thú rừng kêu.

        Tới sáng thì Vân Đình lần được tới đường mòn, tìm gặp được dân, được dẫn về nhà Trưởng Bản, rồi lực lượng tìm kiếm cũng đến đón Đình về.

        Suốt thời gian tìm gặp được dân, đến lúc được dẫn về nhà Trưởng bản đợi gặp lực lượng tìm kiếm là cả một câu chuyên dài mà lúc nào đó thuận tiện, tác giả xin được kể lại, chi tiết hơn.
         
        Chỉ biết rằng, những lần gặp nguy nan là những lần được trải nghiệm về tình cảm quân dân, để được thấu hiểu sự đùm bọc, che chở của nhân dân đối với bộ đội lớn lao đến nhường nào, để rồi càng hiểu cái nghĩa vụ, trách nhiệm của mình phải chiến đấu ra sao để đáp lại tình cảm ấy của nhân dân, để rồi hiểu rằng mình phải sẵn sàng hy sinh cả cuộc sống của mình để giành giật lại tất cả chỉ cốt cho những người dân vô tội có được cuộc sống yên bình. Thấu hiểu được điều đó, mình thấy mình càng cứng cáp hơn, trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn. Và, sự tôi luyện trong chiến đấu ngày càng làm cho bản lĩnh mình vững vàng hơn và càng sáng danh "anh bộ đội Cụ Hồ" hơn.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:52:37 PM
       
THAM CHIẾN TRONG “CHIẾN DỊCH 12 NGÀY ĐÊM”

        Đến đầu tháng 10 năm 1972, cục diện chiến tranh Việt Nam có những chuyển biến quan trọng. Ở miền Nam, quân và dân ta tiếp tục gi¬ành thắng lợi lớn. Mỹ vừa phải triệt thoái các đơn vị bộ binh, vừa phải "Mỹ hóa" trở lại bằng Không quân và Hải quân để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", ngăn chặn cuộc tiến công của ta. Cuộc chiến tranh phá hoại nhằm ngăn chặn và phong tỏa lần thứ hai đối với miền Bắc không đạt được mục tiêu mà giới cầm quyền Mỹ mong muốn. Chiến tranh tiếp tục kéo dài, tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước Mỹ. Nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới kịch liệt lên án và đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Viêt Nam. Cuộc bầu cử Mỹ sắp đến gần. Cuộc đàm phán ở Pa-ri kéo dài gần bốn năm vẫn chưa có hồi kết... Tất cả những điều đó buộc Ních- xơn phải cử Kít-xinh-giơ đến Pa-ri để nối lại cuộc thương lượng và chấp nhận bản dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" do phái đoàn ta đưa ra. Hai đoàn đàm phán đã thống nhất lộ trình "thời gian biểu" đi đến kết thúc chiến tranh ở Việt Nam là ngày 22 tháng 10 năm 1972 sẽ ký tắt bản Hiệp định tại Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 1972 sẽ ký chính thức ở Pa-ri và cuối tháng 3 năm 1973 Mỹ sẽ phải rút quân về nước.

        Ngày 12 tháng 10 năm 1972, Kít-xinh-giơ từ Pa-ri về Mỹ. Nhờ có bản dự thảo Hiệp định và những giải pháp cụ thể trong tay, Ních-Xơn và Kít-xinh-giơ đã tung tin lừa bịp dư luận "hòa bình đã ở trong tầm tay", "chiến tranh sắp vãn hồi" để lôi kéo, tranh thủ cử tri Mỹ ữong bầu cử.

        Ngày 7 tháng 11 năm 1972, Ních-Xơn được tái cử Tổng thống nhiệm kỳ lần thứ 2. sau khi thắng cử, Ních-xơn tiếp tục dây dưa không ký tắt và ký chính thức vào bản Hiệp định mà các bên đã thỏa thuận, muốn kết thúc chiến tranh bằng sức mạnh bom đạn.

        Thực hiện mứu đồ đen tối của Ních-Xơn, Lầu Năm góc đã chuẩn bị một kế hoạch tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu quan trọng trên miền Bắc. Cuộc tập kích chiến lược này mang tên Lai-nơ-bêch-cơ 2 (tạm dịch là "Tiền vệ" hay "Cứu bóng trước khung thành") nhằm đánh hủy diệt, khủng bố, làm tê liệt ý chí quyết chiến quyết thắng của dân tộc ta, buộc ta phải khuất phục và chấp nhận những điều kiện mà chúng đưa ra ở Hội nghị Pa-ri.

        Và, 20 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1972, Ních-Xơn đã ra lệnh mở cuộc tấn công lớn bằng pháo đài bay B- 52 vào miền Bắc nước ta, khởi đầu "Chiến dịch Lai-nơ- bêch-cơ 2" - một chiến dịch ném bom lớn nhất trong lịch sử. Mỹ đã dùng Không quân chiến lược làm lực lượng chủ yếu của cuộc tiến công theo hình thức một cuộc tập kích chiến lược, chớp nhoáng, mục tiêu chính là đánh vào Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng.

        Có thể lấy các số liệu tổng hợp trong vòng 12 ngày đêm cuối năm 1972 để thấy được sự ác liệt thế nào trong những ngày đêm ấy:

        Đêm 18  rạng ngày 19 tháng 12:

        90 lần máy bay B-52, 163 lần máy bay chiến thuật của Mỹ tổ chức tập kích liên tiếp 3 đợt vào Hà Nội và các vùng phụ cận.

        Ngày và đêm 19  tháng 12;

        Ban ngày: 98 lần chiếc máy bay chiến thuật của Không quân và Hải quân Mỹ đánh phá Gia Lâm, Bạch Mai, Mễ Trì, Yên Bái...

        Ban đêm: 87 lần chiếc B-52,172 lần chiếc máy bay chiến thuật (có 22 chiếc F-lll) đánh 3 đợt vào Đông Anh, Yên Viên, Mễ Trì và Bắc Giang...

        Ngày và đêm 20  tháng 12:

        Ban ngày: 66 lần chiếc máy bay chiến thuật của Mỹ đánh phá cẩm Phả, Đông Anh, Yên Viên và các sân bay Yên Bái, Hòa Lạc..

        Ban đêm: 93 lần chiếc B-52,164 lần chiếc máy bay chiến thuật (có 26 chiếc F-lll) đánh phá Yên Viên, Gia Lâm, nhà máy điện Cao Ngạn (Thái Nguyên), thị xã Bắc Giang, Tân Lạc (Hòa Bình), Cẩm Thủy (Thanh Hóa).

        Máy bay F-4, F-105 lùng sục, đánh phá các trận địa tên lửa.

        Ngày và đêm 21  tháng 12:

        Ban ngày: 180 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá ga Hàng cỏ, Sở Công an Hà Nội, cầu Phủ Lý và đánh 6 đợt vào khu vực thị xã Thanh Hóa.

        Ban đêm: 24 lần chiếc B-52 đánh 1 đợt vào Bệnh viện Bạch Mai, An Dương, các ga Giáp Bát, Văn Điển, Hàng Cỏ.

        30 lần chiếc F-4, F105 và F-lll đánh Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi, An Lão (Kiến An).

        Ngày và đêm 22 tháng 12:

        Ban ngày: 56 lần chiếc máy bay chiến thuật của Không quân Mỹ đánh phá các mục tiêu: ga Kép, thị xã Bắc Giang, thành phố Việt Trì, thị xã Vĩnh Yên.

        Ban đêm: 24 lần chiếc B-52, có 30 chiếc máy bay chiến thuật hộ tống tập trung đánh khu vực Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây, Bắc Giang.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:55:41 PM

        Ngày và đêm 23 tháng 12:

        Ban ngày: 50 lần chiếc máy bay chiến thuật của Không quân Mỹ đánh Hà Nội, Hà Tây.

        Ban đêm: 33 lần chiếc B-52 đánh Đồng Mỏ và Bắc Giang, 30 lần chiếc F-4 và F-105,11 chiếc F-lll đánh Yên Viên, Giáp Bát, Đa Phúc, Sơn Đồng, Hà Nội và các sân bay Đa Phúc, Yên Bái.
 
        Hướng biển có 7 máy bay chiến thuật của Hải quân đánh Hải Phòng.

        Ngày và đêm 24 tháng 12:

        Ban ngày: 44 lần chiếc máy bay chiến thuật Không quân Mỹ đánh phá Thái Nguyên, Hà Bắc.

        Ban đêm: 33 lần chiếc B-52 đánh khu gang thép Thái Nguyên và ga Kép, Bắc Giang.

        39 lần chiếc Không quân chiến thuật yểm hộ đánh sân bay Kép, Vĩnh Tuy, Hà Nội.

        Ngày và đêm 26 tháng 12:

        Ban ngày: 52 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ vào đánh phá Đông Anh và các trận địa tên lửa.

        Ban đêm: từ 22 giờ 5 phút - 105 lần chiếc B-52, 120 lần chiếc máy bay chiến thuật tập trung đánh Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên, trong đó 66 lần chiếc B-52 đánh Hà Nội, 18 lần chiếc B-52 đánh Hải Phòng và 21 lần chiếc B-52 đánh Thái Nguyên.

        Ngày và đêm 27 tháng 12:

        Ban ngày: 104 lần chiếc máy bay chiến thuật của Không quân và Hải quân Mỹ đánh phá Mễ Trì, Văn Điển, Đông Anh, Thường Tín, Đan Phượng, Hoài Đức, Đồ Sơn, cầu Thượng Lý.

 
Ban đêm: 54 lần chiếc B-52 đánh phá Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm và Đồng Mỏ, 72 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh xen kẽ vào Hà Nội, Vĩnh Phú, Yên Bái, Hà Bắc, Quảng Yên, Hải Phòng.

        Ngày và đêm 28 tháng 12:

        Ban ngày: 139 lần chiếc máy bay chiến thuật của Không quân và Hải quân Mỹ đánh phá ngoại vi Hà Nội, Hưng Yên, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Hà, Thường Tín, Xuân Mai, Mỹ Đức. Đặc biệt, có 12 lần chiếc B-52 đánh lại khu vực Quảng Bình và nhiều máy bay chiến thuật đánh vào Quân khu Bốn.

        Ban đêm: 48 lần chiếc B-52 đánh Gia Lâm, Đông Anh, 12 lần chiếc B-52 đánh Đồng Mỏ, 50 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh sân bay Kép, Yên Bái, Gia Lâm và nhà máy điện Cao Ngạn (Thái Nguyên), thành phố Hải Phòng.

        Ngày và đêm 29 tháng 12:

        Ban ngày: 36 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá nhà máy điện Cao Ngạn, Đồng Hỷ và cây số 4 Bắc Thái Nguyên.

        Ban đêm: 60 lần chiếc B-52 đánh 3 khu vực: gang thép và Trại Cau, Đồng Mỏ, Kim Anh, 70 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh các khu vực khác.

        Trong chiến dịch này, Mỹ đã trút ồ ạt trên 8 vạn tấn bom xuống 5 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Việt Trì, Vinh; 17 tỉnh: Hà Tây, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hải Hưng, Quảng Ninh, Yên Bái, Bắc Thái, Lạng Sơn, Nghệ An, Hòa Bình, Sơn La, Nam Hà, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và khu vực Vĩnh Linh gồm trên 300 xã, 14 thị trấn và 11 thị xã. Nhưng, địa bàn chủ yếu địch đánh phá trong chiến dịch ném bom này là Hà Nội và Hải Phòng.

        Riêng Hà Nội, trong 12 ngày đêm, chúng đã huy động 1000 lần chiếc máy bay, trong đó có gần 500 lần chiếc B-52. Chúng đã trút 4 vạn tấn bom phá hủy nhiều khu dân cư như: Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ, bệnh viện Bạch Mai, khu vực xã Yên viên, Gia Lâm, Đông Anh, Văn Điển, Giáp Bát, Đài phát thanh Mễ Trì... 353 điểm dân cư, kinh tế, văn hóa, y tế... bị đánh phá làm cho 2380 người chết và 1355 người bị thương. Ở 4 quận nội thành và 4 huyện ngoại thành, nhiều điểm đã bị đánh đi đánh lại hàng chục lần như cầu Long Biên, cầu Đuống, khu vực xã Yên Viên, nhà máy điện Yên Phụ, xã Uy Nỗ...

        Bom đạn của Mỹ không làm lung lay được ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Sức mạnh của chúng ta được nhân lên gấp trăm lần khi chúng đụng đến nhân phẩm, danh dự của chúng ta - đánh vào Thủ đô Hà Nội. Cả nước sục sôi, bừng bừng khí thế quyết đánh và quyết thắng cuộc tập khích chiến lược của đế quốc Mỹ.

        Bầu trời miền Bắc Việt Nam đã trở thành một lưới lửa phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều hướng, đánh địch mọi lúc mọi nơi, gây cho Không quân Mỹ những nỗi kinh hoàng, khiếp sợ.

        Trong bài "Thảm kịch của cuộc hành quân Lai- nơ-bêch-cơ 2" được đăng trên tạp chí "Không quân", Đa-na Đren-cô-xki viết:

        "Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ 2" hầu như hoàn toàn do Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Hoa Kỳ đảm nhiệm, là một thảm họa cho phi công và là một tiền lệ nguy hiểm cho tương lai. Hậu quả của cuộc hành quân này là một số lớn B-52 bị bắn hạ một cách không thương tiếc, và nhiều phi công bị thương tật, chết hoặc bị bắt sống".


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Sáu, 2016, 08:57:13 PM
        Các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh đều được đưa đến trại giam mà chúng gọi là "Khách sạn Hin- tơn". Tất cả đều có tâm trạng giống nhau. Và ta hãy nghe nhũng lời của một số phi công trong rất nhiều các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh khi tham gia "chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ 2":

        Trung tá Giôn-Ha-ri ĩ-u-nin, lái chính, bị bắt tại Hải Hưng:

        "Ở sân bay U-Ta-Pao, không khí bao trùm là lo lắng và sợ hãi. Bởi vì chúng tôi phải đi vào những nơi nguy hiểm nhất. Bởi vì nhiều máy bay B-52 hàng ngày không trở về. Bởi vì cứ như thế này thì ai cũng sẽ đến lượt phải chết. Chết trong đêm tối. Chết bi thảm. Chết vì mục đích không thể hiểu nổi".

        Thiếu tá Giêm Con-đân, bị bắt ngày 27 tháng 12:

        "Trước hôm tôi tham gia chuyến bay cuối cùng, trên báo Quân đội Mỹ "Sao và Vạch" có đưa tên một số B-52 bị bắn hạ từ 18 đến 24 tháng 12. Chuyến bay nào cũng có máy bay không trở về. Thật là đáng sợ! Không khí bao trùm căn cứ An-đec-xơn là không khí căng thẳng. Không cười, không đùa, không nói to... Ai nấy đều lo lắng. Không khí căng thẳng này tăng lên từng ngày một".

        Đại úy R.Tô-mat Sim-xơn, bị bắn hạ đêm 28 tháng 12:

        "Máy bay chúng tôi trúng tên lửa SAM. Chỉ huy chẳng ra lệnh gì cả. Tôi nghe thấy hai tiếng "búp", "búp", biết rằng hai thằng ngồi trên ca-bin nhảy dù rồi. Tôi liền nhảy dù theo, chẳng kịp gọi thằng ngồi sau. Vừa luống cuống cởi dù thì tôi bị bắt. Lạy chúa! Tất cả diễn ra chừng 15 phút, - 15 phút kinh hoàng nhất đời tôi!".

        Quân chủng Phòng không - Không quân trong 12 ngày đêm chiến dịch ấy đã thực sự làm nòng cốt đánh bại cuộc tiến công đường không chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ ra miền Bắc.

        Suốt trong thời gian chiến dịch ấy, các phi công bay đêm giống như các phi công cảm tử của Đội bay cảm tử, bằng bất kỳ giá nào cũng phải cất cánh, bằng bất kỳ giá nào cũng phải tiêu được bằng được B-52. Trình độ kỹ thuật bay của các phi công bay đêm bấy giờ chưa được cao, tiêu chuẩn bay còn rộng, hầu hết là 300 / 3000, một số còn 400 / 4000 (tức là tiêu chuẩn kỹ thuật chỉ được phép hoạt động khi đáy mây thấp nhất là 300 mét, tầm nhìn thấp nhất là 3000 mét, hoặc đáy mây thấp nhất là 400 mét, tầm nhìn thấp nhất là 400 mét mới được bay) nhưng không hề ai để ý, quan tâm lớn đến chuyên ấy. Có nhiều chuyến xuất kích chiến đấu, khi cất cánh lên, thời tiết đã xấu lắm rồi, biết rằng khi về sẽ không thể hạ cánh nổi, phải bỏ máy bay, nhảy dù, nhưng không một ai chùn bước trước khó khăn, vẫn đưa được máy bay lên trời, vẫn đi chiến đấu. Ví dụ như trận của phi công Vũ Đình Rạng xuất kích vào đêm mưa phùn, gió bấc, vừa thu càng xong thì máy bay chui luôn vào mây. Anh được dẫn vào khu vực Mộc Châu - Sơn La để đánh chặn B-52. Không gặp địch, anh quay về hạ cánh, xuyên xuống đến lần thứ tư vẫn không thể hạ cánh được, bởi mây quá thấp, tầm nhìn quá kém, xuyên qua vị trí đài gần rồi, đồng hồ chỉ độ cao trên máy bay chỉ về con số 0 rồi mà vẫn không phát hiện thấy đường băng ở đâu cả. Dầu liệu chỉ còn có 200 lít. Sở Chỉ Huy cho lấy hướng bay về Hòa Lạc, kéo lên độ cao 3500 m để nhảy dù. Đình Rạng nhảy dù trong màn mưa. Mưa làm ướt hết dù, Rạng tiếp đất xong, lấy dù phủ lên người, nằm ở ngoài ruộng cả đêm cho đến lúc sáng sớm khi có người đi chợ phát hiện được anh, anh mới được đón về bệnh viện Hoài Đức rồi được đưa về đơn vị chiến đấu.

        Không chỉ có Vũ Đình Rạng mà Nguyên Đức Chiến - một phi công mới bước vào bay đêm năm 1971 cũng có chuyến xuất kích tương tự. Chiến cất cánh đi săn B-52 nhưng không gặp địch, khi quay về sân bay hạ cánh thì thời tiết quá xấu, xuyên đi xuyên lại mãi ở giữa khu vực của hai dãy núi Tam Đảo và Ba Vì vẫn không thấy được địa tiêu. Tới lần phát hiện được khu vực sông Đà, thấy được dòng sông Đà thì dầu liệu cũng vừa cạn. Đức Chiến phải kéo lên lấy độ cao và nhảy dù.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:29:00 AM
        Rồi chuyến xuất kích của Trần Thông Hào cũng đầy gian nan. Chuyến xuất kích của Trần Thông Hào cách chuyến xuất kích của Vũ Đình Rạng với thời gian chừng vài tuần sau đó. Đêm ấy là đêm gió mùa Đông Bắc gây mưa dày hạt và tầm nhìn rất xấu. Trần Thông Hào và Bùi Doãn Độ trực ở đầu Đông sân bay Đa Phúc. Nhận định địch đánh vào Hải Phòng, Sở chỉ huy cho Thông Hào chuyển cấp, cất cánh. Vì mưa, tầm nhìn xấu và gió to nên Thông Hào phải lăn về đầu Tây để cất cánh Tây ' Đông. Những ai thấy Hào xuất kích đều nghĩ rằng chắc "chỉ có đi mà không có về". Không gặp địch, Hào quay về Đa Phúc hạ cánh nhưng không thể hạ cánh được, phải quay về sân bay Kép để tìm cách hạ cánh. Tại khu vực sân bay Kép lúc này trời cũng mưa tầm tã. Sở chỉ huy đành dẫn Hào xuyên từ phía Đông Bắc xuống. Đến ngang Kép, khi máy bay xuyên đên độ cao 200 m vẫn không ra khỏi mây. Liều ấn máy bay xuống thêm một chút nữa, tuy mây chỉ còn loáng thoáng, nhưng lại thấy phía dưới là núi, may nhác thấy ánh sáng ở khu vực Bắc Giang và nhà máy phân đạm Hà Bắc, Hào liền vòng về đấy với ý định nếu có phải nhảy dù thì cũng có phần nào yên tâm hơn. Không dám cho máy bay xuống bay thấp hơn nữa, vòng đến Bắc Giang thì may sao thấy được hàng đèn ở sân bay Kép. Trần Thông Hào lấy hướng bay về phía đó ở độ cao 150m. Đột nhiên, máy bay chui vào đám mưa rào. Mưa rất to, kính phía trước máy bay bị nhòa hết, không nhìn thấy gì rõ nét. Thông Hào xuống hạ cánh theo cảm giác giữa hai hàng đèn. Áng chừng đã đến độ cao kéo bằng, Thông Hào kéo bằng máy bay và nghe tiếng "kịch" - máy bay đã tiếp đất. Tiếp đất xong, thả dù giảm tốc, nhưng lượng mưa vẫn không hề giảm, xung quanh mờ mịt, Thông Hào không thể nhìn được gì, sợ lăn tiếp sẽ rất nguy hiểm nên đành tắt máy, báo cáo để cho xe ứng cấp ra kéo máy bay vào sân đỗ.

        Điều kiện cất hạ cánh trong những giai đoạn này thực sự khắt khe đối với đội ngũ bay đêm. cất cánh khó khăn một thì hạ cánh khó khăn gấp mười. Không kể đến chuyện đường băng bị đánh hỏng, vỡ nát và đầy hố bom xung quanh không biết sẽ lao xuống đó lúc nào, chỉ nói riêng đến chuyên dầm trong mưa gió mịt mùng tìm cách hạ cánh mà không hề có hệ thống đèn chiếu sáng, không có chỉ huy thì đủ thấy kinh khủng đến nhường nào.

        Và, suốt trong thời gian này, ta bị hỏng mất 4 chiếc máy bay khi đi chiến đấu về hạ cánh. May mắn là tất cả các phi công vẫn nguyên vẹn, vẫn tiếp tục trực chiến, xuất kích chiến đấu được.

        Ngay đêm 18 tháng 12, đá có 2 chuyến xuất kích chiến đấu và cả hai chuyến đều bị trục trặc khi về hạ cánh. Đêm ấy Phạm Tuân trực chiến ở đầu Tây sân bay Đa Phúc. Máy bay chiến thuật F-lll đánh trong vòng hai đợt, phá hỏng quá nửa đường cất hạ cánh. Khi Phạm Tuân nhận lệnh chuyển cấp, mở máy, lăn ra chuẩn bị cho cất cánh thì đạn vẫn nổ chi chít quanh máy bay. Sau khi tách đất, Phạm Tuân cố gắng kéo lên nhanh để vòng qua Hà Nội. Bay đến khu vực Sơn Tây thì Tuân nhận được lênh vứt thùng dầu phụ. Khi lấy độ cao lên đến 4000m ở khu vực Hòa Bình, Phạm Tuân phát hiện thấy những hàng đèn trên thân các- máy bay B-52. Tuân vòng lại, lấy độ cao và bật ra-đa trên máy bay mình thì lập tức, bọn B-52 tắt luôn đèn và lũ máy bay tiêm kích F-4 đi bảo vệ B-52 quay vào máy bay Tuân, phóng tên lửa. Cơ động zic-zăc tránh bọn F-4, cũng mất mục tiêu B-52, Phạm Tuân vòng tiếp hai vòng ở vùng Mộc Châu - Sơn La sau đó quay về sân bay Đa Phúc hạ cánh. Thời điểm đó, đài chỉ huy của sân bay Đa Phúc đã bị đánh hỏng nên không thể liên lạc được, pháo phòng không của ta bắn lên dữ dội vì trong trời đêm, lại vào đúng thời điểm máy bay địch đánh phá ác liệt như vậy, biết phân biệt rõ rệt làm sao được đâu là ta, đâu là địch. Vậy là, nghe thấy tiếng máy bay là phải bắn. Không thể không bắn được. Trong ánh sáng trăng và vào đúng thời điểm một chiếc B-52 bị bắn cháy, rơi ở Phủ Lỗ, lợi dụng ánh sáng đó cộng với đèn pha trên máy bay, Phạm Tuân lao xuống hạ cánh. Tiếp đất xong, thì nghe cái "Rầm". Biết có vấn đề, Tuân tắt máy, bóp phanh, nhưng cũng chẳng giải quyết được gì. Máy bay đã lao xuống hố bom, quay ngược lại 180 độ. Phạm Tuân lấy chân đạp vào phần mảnh nắp buồng lái đã vỡ cho rộng hơn , rồi bỏ mũ bay bỏ áo da, lần lượt tống ra ngoài và chui ra khỏi buồng lái.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:30:03 AM
        Trước đó, anh Trần Cung trực ở sân bay Hòa Lạc cũng đã xuất kích trong tình trạng tương tự. Sân bay bị đánh phá, các tấm ghi lát trên đường cất hạ cánh bong hết và cong queo, dựng ngược lên, đặc biệt là ở phần cuối đường băng. Anh Trần Cung phải cố kéo cho máy bay tách đất sớm, ở tốc độ nhỏ. Sau khi tách đất, Trần Cung được dẫn về phía Nam, sau lại vòng ngược về phía Bắc để đánh bọn B-52 đang vào Hà Nội. Khi được thông báo mục tiêu phía trước, cách 25 km, Trần Cung bật tăng lực để tăng tốc độ và bật ra-đa trên máy bay mình. Sau khi bật ra-đa, thoáng thấy mục tiêu cách mình 15 km tiếp đó là cả màn hình ra-đa bị nhiễu dày đặc, không thể phát hiện được mục tiêu chính. Ngay lúc đó, các máy bay tiêm kích chiến thuật F-4 đã quây lấy Trần Cung và bắn tên lửa. Sở chỉ huy lệnh cho cơ động tránh bọn F-4. Lúc này, anh đã bay về đến phía Tây Hà Nội. Hỏa lực của các loại súng phòng không cùng với tên lửa phòng không của ta bắn lên dày đặc, sáng rực cả một khoảng ười. Anh Trần Cung nhận được lệnh về sân bay Đa Phúc hạ cánh. Thời điểm đó, đài chỉ huy cất hạ cánh (đài K-5) tại sân bay Đa Phúc đã bị đánh hỏng nên không thể liên lạc được. Sở chỉ huy cho anh Cung về sân bay Kép hạ cánh. Sân bay Kép cũng đã bị đánh và đài chỉ huy cất hạ cánh tại sân bay Kép cũng đã bị phá hủy, không thể liên lạc được. Trần Cung tiếp tục nhận được lệnh vòng về sân bay Gia Lâm để hạ cánh, nhưng tại Gia Lâm, sân bay cũng vừa bị địch đánh phá xong, hệ thống ánh sáng của đường băng không còn nguyên vẹn, không khắc phục kịp, nên Trần Cung một lần nữa lại phải vòng về Đa Phúc để hạ cánh. Máy bay anh bay đến đâu thì hỏa lực phòng không nhằm vào anh bắn đến đấy vì có ai biết đấy là anh đâu, cũng giống như chuyến của Phạm Tuân thôi.

        Về đến Đa Phúc, sau vòng 4, sau khi bật đèn pha để hạ cánh thì hỏa lực phòng không thôi không bắn nữa. Anh cố gắng cho máy bay tiếp đất và sau khi tiếp đất xong thì thả dù giảm tốc đồng thời tắt máy luôn. Máy bay lao chồm qua một số hố bom cỡ nhỏ, sau rồi dừng lại ngay trước một hố bom lớn. Anh Trần Cung nhảy ra khỏi buồng lái được khoảng vài phút thì thấy có một chiếc máy bay lao xuống hạ cánh. Rồi có hai vệt lửa sáng chạy dọc theo đường băng trước khi máy bay lao xuống hố bom. Thì ra đấy là máy bay của Phạm Tuân. Khi hạ cánh, do lực va chạm mạnh nên hai quả tên lửa không đối không đã "nhảy" ra khỏi bệ treo, trà sát trên mặt đường băng tạo ra vệt lửa mà Trần Cung đã thấy. Anh Trần Cung vội chạy lại phía máy bay vừa hạ cánh thì thấy Phạm Tuân đang đạp nắp buồng lái để chui ra.

        Trần Cung và Phạm Tuân dò dẫm vượt qua bãi bom bi và được đón về Sở chỉ huy để rút kinh nghiệm.

        Vũ Xuân Thiều và Vũ Đình Rạng được điều động ra trực thay tại sân bay Gia Lâm. Vũ Xuân Thiều nhận lênh xuất kích, cất cánh đi diệt B-52 nhưng lần này không diệt được. Cho đến giai đoạn ấy, ta vẫn áp dụng chiến thuật "bay thấp, kéo cao". Chiến thuật ấy áp dụng cho đánh ngày và đánh một số loại máy bay khác thì tạo được yếu tố bí mật bất ngờ, nhưng với B- 52, chúng bay ở độ cao 9000 m đến 10.000 m mà ta bay ở độ cao 1500 đến 2000 m ở hướng đối đầu rồi bật tăng lực, kéo vòng lên thì khi phát hiện được B-52, máy bay ta tuy ở vị trí có lợi (tức là ở vào bán cầu phía sau), nhưng vì còn thấp hơn địch đến 2.000 m, 3.000 m và tốc độ sau khi kéo lên không còn đủ để tiếp cận, máy bay bị "treo" rồi thì không thể đánh được. Thiều đã phát hiện được mục tiêu, nhưng máy bay đã bị "treo", tốc độ đã nhỏ, lại bị bọn tiêm kích F-4 đi bảo vệ B-52 tấn công nên đành phải quay về hạ cánh. Đêm hôm Xuân Thiều hạ cánh ở Gia Lâm cũng vất vả, vì cứ đi đến đâu là bị lực lượng phòng không "nện" đến đấy. Lần thứ nhất, sau khi đối chuẩn đường băng, hệ thống đèn đường băng vừa bật sáng thì lại bị một loạt bom của B-52. Đèn đóm tắt ngấm. Lần thứ hai, trên vòng tuyến thì bị hỏa lực phòng không của ta "vây", sau vòng bốn, đối chuẩn đường băng xong, hệ thống đèn đường băng vừa kịp lóe lên thì sân bay lại bị địch đánh bom. Đèn đóm lại tắt ngấm. Phải vòng đến lần thứ ba, Xuân Thiều mới xuống hạ cánh được. Tiếp đất xong là phải tắt máy rồi rời khỏi máy bay, chạy vào nơi trú ẩn ngay vì địch lại tiếp tục đánh phá. Anh Trần Văn Năm - một phi công bay đêm trực chỉ huy đêm hôm ấy nhớ lại:

        Tôi đứng chỉ huy trên nóc lô-cốt ở cuối đường băng mà áo sống bị bay như ữong cơn bão vì sóng kích của bom dội đến, phải bám chặt vào chiếc dây thép quanh lan can trên nóc lô-cốt mới đứng vững được. Mà cũng mãi về    sau, một anh trực thông tin mới đưa cho tôi chiếc mũ   sắt, bảo phải đội vào không thì mảnh bom nó phạt mất đầu. Bom nổ rền, đạn bắn kín trời. Lo cho Thiều quá, không biết rồi máy bay có bị trúng đạn, có xuống hạ cánh được hay không. May mà Thiều đã xuống được an toàn.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:31:41 AM
        Tất cả mọi chuyến xuất kích ban đêm đều gian nan!

        Về sau này thì không phải chỉ mỗi mình Xuân Thiều bị "treo", không thể đánh B-52 được, mà Bùi Doãn Độ cũng bị cảnh tương tự như vậy vào lần xuất kích đêm 21 tháng 12.

        Lần ấy Độ được dẫn về phía Tây, lên đến độ cao 4.000m thì phát hiện được bọn B-52 bay đối đầu. Phát hiện bọn chúng về ban đêm nhờ có hàng đèn của bọn chúng bật để bay đội hình. Độ bật tăng lực, kéo lên, khi ấy B-52 cũng lượn vòng, vẫn thấy được hàng đèn, nhưng vì chênh lệch độ cao quá lớn và tốc độ máy bay mình còn quá nhỏ (tốc độ đồng hồ của Độ bấy giờ chỉ gần 500 km/h). Độ bật ra-đa của máy bay mình lên với ý đồ nếu bám sát được thì cứ thử phóng tên lửa, nhưng ra-đa vừa bật lả bọn B-52 tắt đèn luôn, chẳng còn phát hiện gì được nữa, đành phải quay về.

        Rạng sáng ngày 22 tháng 12, Nguyễn Khánh Duy trực chiến ở sân bay Kép, nhận được lệnh xuất kích. Máy bay của Duy trực đeo hai thùng dầu phụ để tăng thời gian hoạt động ở trên không. Khánh Duy được dẫn vào khu vực Thái Nguyên, vòng ở đấy rất nhiều vòng để tìm mục tiêu nhưng không phát hiện được gì.

        Pháo phòng không của ta bắn lên dữ dội vì lầm tưởng máy bay Duy là máy bay địch đang hoạt động. Đây là chuyến xuất kích với thời gian bay trên không lâu nhất trong các lần xuất kích của Duy. Chuyến bay kéo dài đến tận 40 phút. Duy được dẫn về Kép hạ cánh an toàn. Sau này, các anh em trêu Duy là phi công bay "câu giờ" giỏi nhất.

        Rút kinh nghiêm các trận đánh, các lần xuất kích mà ta chưa đánh được mặc dù đã thấy B-52, ta đã thay đổi chiến thuật. Phải cất cánh từ các sân bay phía ngoài, ở các sân dã chiến, không sử dụng cách “"bay thấp kéo cao" nữa mà chủ động lấy độ cao, chủ động giữ tốc độ có lợi, không bật ra-đa sớm, tích cực phát hiện bằng mắt, công kích bằng mắt...

        Trực chiến!... Báo động chuyển cấp!... Xuất kích chiến đấu!... Những việc ấy xảy ra lặp đi lặp lại liên tục trong suốt thời gian cuối tháng 12. Tranh thủ những lúc rảnh rỗi xen kẽ giữa các lần báo động, các phi công vẫn ghi nhật ký, vẫn viết thư về cho gia đình, cho người thân. Mà không phải lần viết nào cũng kết thúc trọn vẹn. Rất nhiều dòng nhật ký phải bỏ dở, nhiều bức thư phải ngắt quãng giữa chừng vì có lệnh báo động, vì phải xuất kích chiến đấu. Vũ Xuân Thiều cũng có lần viết dở như vậy. Bức thư ấy được viết vào 21 tháng 12: "Bố mẹ thân yêu! Trải qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề của mọi người vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình...". Bức thư viết dở dang vì Thiều đã nhận lệnh báo động vào cấp, cất cánh. Và bức thư ấy đã mãi mãi để dở dang như vậy vì Thiều không còn thời gian để viết nữa.

        Xuân Thiều chuyển máy bay vào trực tại sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa. Các phi công bay đêm, đánh đêm khác cũng đi cơ động khắp các sân bay phía ngoài. Có những sân bay chuẩn bị cho trực chiến mà đúng ra không thể gọi là sân bay được, ví dụ sân bay Phú Thọ chẳng hạn. Đấy là một khu vực đất nện, chưa được lu nén kỹ, cỏ còn mọc dày. Ta vẫn quyết định đưa máy bay lên đó trực chiến để tạo yếu tố bất ngờ. Nguyễn Đức Chiến đã nhận nhiệm vụ lên đó trực. Phương án cất cánh sẽ dùng tên lửa bổ trợ K-99. Đức Chiến đã lên đến sân bay, đã đi kiểm tra mọi noi, chuẩn bị cho phương án cất cánh, nhưng việc cẩu máy bay lên bị trục trặc, máy bay bị hỏng nên không trực ở đó được nữa.

        Phải nói rằng, suốt trong cuộc chiến tranh, ta đã sáng tạo ra những cách đánh, cách tổ chức đánh thật tài tình. Một trong những cách ấy là dùng máy bay trực thăng Mi-6 cẩu máy bay MiG-21 đi khắp nơi để sơ tán, để đến những sân bay dã chiến. Ví như cẩu máy bay MiG đi cất giấu trong vườn cà-phê để ngụy trang, cẩu đến các sân bay ngắn hẹp để tổ chức Trực ban Chiến đấu... Các kỹ sư, thợ máy của ta đã chế tác ra bộ giá đỡ máy bay để cho Mi-6 nâng, cẩu các máy bay MiG-21 của ta đến những nơi cần đến. Bọn Mỹ dùng mọi phương tiện trinh sát, tìm kiếm, nhưng sao mà phát hiện ra được cái chiến thuật ấy của ta.

        Rồi Xuân Thiều lại từ sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa cất cánh ra sân bay Đa Phúc. Sân bay bị địch đánh hỏng nên phải cất cánh từ đường lăn. Anh Trần Đức Tụ - sỹ quan dẫn đường tại Sở chỉ huy Thọ Xuân cho biết, trước khi ra sân bay, Thiều còn tạt vào Sở chỉ huy xin gọi điện thoại cho người thân (vì bấy giờ chỉ ở Sở chỉ huy mới có được đường dây gọi đi các nơi), sau đó ra sân bay , cất cánh. Mấy ngày sau thì Xuân Thiều chuyển máy bay vào trực ở sân bay Cẩm Thủy - Hòa Bình (thời đó sân bay Cẩm Thủy mang mật danh XB-90).


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 08:34:48 AM
        Địch sử dụng các loại nhiễu tích cực và tiêu cực với cường độ cao và luôn tạo các mục tiêu giả để đánh lừa, đánh lạc hướng sự phát hiện của ta. Đêm 21 tháng 12, Nguyễn Khánh Duy xuất kích đánh B-52, nhưng thực ra đấy là tốp mục tiêu giả nên lại phải quay về.

        Suốt thời gian ấy, Vũ Đình Rạng "mai phục" mấy đêm liền ở sân bay Miếu Môn để săn B-52 nhưng không xuất kích được vì không có cơ hội. Đến sáng ngày 27 tháng 12, sau khi cơ động đến Miếu Môn, Trần Việt tiếp thu chiếc máy bay mà Vũ Đình Rạng vừa trực đêm hôm 26 xong, (giai đoạn ấy, cái chuyện trực ngày, trực đêm bàn giao cho nhau cùng trực trên một máy bay là chuyện bình thường) thì nhận được lệnh vào cấp 1. Trần Việt mở máy, cất cánh từ Miếu Môn, được dẫn về phía Tây sân bay, gặp biên đội 2 chiếc F-4, lập tức lao vào không chiến và bắn rơi một chiếc. Chiếc còn lại tháo chạy mất tăm mất tích. Sau trận không chiến, Trần Việt về sân bay Đa Phúc hạ cánh. Sân bay Đa Phúc bị bom đạn cày xới nát hết nên Việt phải xuống hạ cánh phía bên phải đường băng, về sau này, Trần Việt được anh em trong đoàn bay viết tặng cho mấy câu thơ mà anh rất khoái chí:

Vài ngày nữa là chiến tranh kết thúc
Chiến công này sử sách mãi còn ghi
Thật "hạn nặng" cho thằng bay F-4
Trời Miếu Môn gặp anh Bảy làm gì!

        Anh Bảy đây là anh Bảy Việt. Chiếc máy bay F- 4 bị Trần Việt bắn rơi là chiếc máy bay của lực lượng Không quân Mỹ bị Không quân ta bắn hạ cuối cùng (ban ngày) trong cuộc chiến tranh.

        Khi Trần Việt hạ cánh xong, lăn về thì Phạm Tuân lăn ra để cất cánh. Tuân phải lăn vòng vèo để tránh các hố bom trên đường băng nên xông ra ngoài cỏ. Thợ máy phải kéo máy bay vào kiểm tra, sau đó Tuân mới tiếp tục lăn ra cất cánh về sân bay Yên Bái.

        Trước đó, vào ngày 26, Phạm Tuân nhận lênh bay cơ động lên sân bay Yên Bái nhưng vì thời tiết xấu nên phải quay lại, hạ ở Đa Phúc.

        Sau khi bay lên Yên Bái, Phạm Tuân vào trực chiến ngay. Hôm ấy thời tiết rất xấu - trời đầy mây, đáy mây chỉ khoảng 300m, đỉnh mây chừng 1.000 đến 1.500 m. Khu vực Yên Bái bấy giờ khá tĩnh iặng, không hề có bóng dáng máy bay địch hoạt động, nhưng Sở Chi Huy thông báo sẽ có đợt đánh phá của địch vào khoảng 22 giờ. Vì vậy, tất cả lực lượng trực chiến đều trong trạng thái chờ đợi, căng thẳng và rất sẵn sàng.

        22 giờ 15 phút, Phạm Tuân nhận được lệnh vào cấp 1 và cất cánh ngay. Tuy không được phép sử dụng Vô tuyến điện, cốt để đảm bảo bí mật, nhưng vừa lên khỏi mây, Tuân thấy một biên đội F-4 bay ngay phía trước nên phải báo cáo về Sở chỉ huy. Sở chỉ huy ra lệnh:

        - Phải tránh F-4! Tất cả tập trung cho đánh B-52!

        Phạm Tuân được dẫn vòng về phía Bắc để tránh F-4, sau đó vòng về hướng Tây Nam, lên độ cao 4000m, tốc độ bay 950 km/h, vượt qua một tốp F-4 nữa, quay về phía Nam. Khi lên đến độ cao 5000 m thì được thông báo B-52 cách 150 km, rồi 80 km. Sau khi thông báo đến lần thứ 3, Phạm Tuân vứt thùng dầu phụ và tăng lực lấy độ cao.

        Đến độ cao 7000 m, với tốc độ bay 1000 km/h, Tuân phát hiện được hai dãy đèn. Đấy chính là đèn của B-52. Tuân báo cáo về Sở chỉ huy và vòng bám ' phía sau. Sở chỉ huy thông báo cự li đến mục tiêu còn 12 km, rồi 10 km. Tuân bay với tốc độ vượt tiếng động, tập trung quan sát, tiếp cận mục tiêu, không cần để ý đến lực lượng F-4 đi bảo vệ B-52.

        Đến cự li phóng tên lửa, Phạm Tuân ấn nút phóng. Hai quả tên lửa từ hai bên cánh bay vụt ra kéo theo vầng sáng chói lòa. Phạm Tuân kéo máy bay vọt lên, thoát li, lật ngửa máy bay, thấy điểm nổ ở phía dưới. Thoát li khỏi cuộc chiến trong màn lửa của pháo phòng không ta bắn dày đặc và tên lửa phòng không sáng rực trời. Tuân phát hiện thấy núi Tam Đảo, biết mình vừa vượt qua phía Tây Bắc núi Ba Vì, lại phát hiện thấy nhiều đèn của bọn F-4 đang quần đảo nên quyết định giảm độ cao, về hạ cánh.

        Bay về sân bay Yên Bái, xuyên xuống đến độ cao 300 m, đã ra khỏi mây rồi nhưng không hề thấy một ánh đèn. Rừng núi tối sẫm gây cảm giác lo lắng, sợ sệt. Máy bay đã bay qua đài xa rồi mà vẫn không thấy đường băng đâu. Thật may, khi bay đến khu vực giữa đài xa và đài gần (cự li cách đường băng gần 3000 m) thì đèn đường băng bật sáng. Lao xuống với tốc độ lớn, Tuân thu nhanh cửa dầu, máy bay chìm ngay xuống. Phi công bay đêm Đặng Vân Đình trên đài chỉ huy cất hạ cánh bấy giờ phải hô kéo lên đến mấy lần, máy bay mới nhấc được lên và vào đường băng, tiếp đất an toàn.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:48:50 PM
        Trong lúc thoát li, Phạm Tuân phát hiện thấy vẫn còn nhiều máy bay B-52 nên báo cáo liên tục về Sở chỉ huy. Sở chỉ huy lệnh cho Nguyễn Khánh Duy vào cấp và cất cánh sau chuyến xuất kích của Phạm Tuân 10 phút.

        Đêm đó, Khánh Duy đang ở trong hầm để máy bay tại sân bay Kép. Khi nhận lệnh trực chiến, rồi vào cấp 1, Nguyễn Khánh Duy còn đang tính toán xem sẽ cất cánh từ đâu được vì đường băng đã bị bom đánh nát cả rồi thì nhận được lệnh phải cất cánh từ đường ngang. Đường ngang là đoạn đường dùng để kéo dắt máy bay từ ngoài sân đỗ vào trong hầm, hệ thống đèn chiếu sáng vừa thưa lại vừa chi có mỗi một bên phải là sáng thôi. Thật là khó khăn chồng chất lên khó khăn. Khánh Duy thầm nghĩ, những lần đi chơi với người yêu, mình toàn để người yêu đi bên trái
mình vì nơi ấy gần tim hơn, yên tâm hơn, nếu hệ thống đèn ở bên trái mà sáng được thì có phải mình cũng thấy vững dạ hơn không, tựa như cạnh mình có người yêu mình vậy. Nhưng bằng mọi cách phải cất cánh. Máy bay lấy đà, lao đi. Đường chạy đà cho máy bay cất cánh quá ngắn, máy bay đã chớm ra đến mép cỏ, gần đến mương nước rồi. Duy cố kéo cho máy bay tách đất ở tốc độ nhỏ.

        Sau khi cất cánh, Khánh Duy được dẫn vào vùng chiến nhưng không gặp được B-52 vì nhiễu rất nặng và sau khi bọn B-52 bị Phạm Tuân tấn công, chúng đã tắt hết đèn đóm trên máy bay. Sở chỉ huy dẫn Duy vào đến cự li cách mục tiêu 10 km, nhưng không phát hiện được gì hết. Duy nhận được lệnh thoát li vì thời điểm ấy Duy cũng đã bay vào khu vực tác chiến của tên lửa Phòng không rồi. Sở chỉ huy cho Khánh Duy về sân bay Kép để hạ cánh. Sân bay Kép lại tiếp tục bị bọn F-lll đánh bom. Nguyên Khánh Duy phải về sân bay Đa Phúc hạ cánh.

        Thời tiết hôm đó rất xấu. Khi lao xuống đến độ cao đồng hồ bằng 0 vẫn không thấy đường băng đâu. Khói bom dày đặc như mây mù làm cho tầm nhìn đã kém lại càng kém. Đường băng đã bị đánh nát gần hết. Duy nhận được lệnh phải tính toán sao cho máy bay tiếp đất cách đường băng khoảng 400 mét phía ngoài đất thì may ra mới đảm bảo được an toàn vì ở giữa đường băng là hố bom rất to. Vì lao xuống với tốc độ lớn, máy bay cứ "bồng" lên, ấn mãi không thấy nó chìm xuống tí nào. Khánh Duy tiếp đất ở phía ngoài đường băng chừng 200 mét. Tiếp đất xong thì "mắm môi mắm lợi" vào phanh, rồi tắt máy... Máy bay dừng lại cách miệng hố bom chỉ 50 mét. Duy ra khỏi máy bay, đến ngồi cạnh hố bom đang tính không biết nên đi về hướng nào thì nghe tiếng gọi "Duy ơỉ!" văng vẳng như từ ở một nơi rất xa xăm nào đó vọng về. Thì ra đấy là tiếng gọi của Trần Anh Mỹ, phi công bay đêm nhưng hôm đó trực ở Đài chỉ huy cất hạ cánh. Mỹ đem xe đạp của anh chị nuôi ở bếp bay đi đón Duy. Ngồi sau xe đạp mà Khánh Duy nghĩ cũng buồn cười: thằng phi công Mỹ thì được đón bằng xe trâu, còn mình thì được phi công Mỹ (Trần Anh Mỹ) đón bằng xe đạp. Trong chiến dịch 12 ngày đêm, Duy cũng là một trong những người tham gia trực cho đến tận ngày kết thúc chiến dịch.

        Trong số chuyển sang bay đêm, đánh đêm vào năm 1971 thuộc lực lượng đoàn bay của Khánh Duy thì Duy là người may mắn hơn cả. Trực nhiều, cơ động nhiều, xuất kích cũng nhiều chuyến, gặp không ít gian nan nhưng vẫn trở về nguyên vẹn. Có lẽ, đấy là cái duyên với bầu trời. Duyên phận, duyên nợ với bầu trời không phải ai cũng như ai. Với người này thì phận phải mãi mãi gắn bó với bầu trời, người kia thì mang nợ với bầu trời mãi mãi, người khác thì lại luôn có duyên với bầu trời..., càng ngẫm càng không biết phải giải thích thế nào cho thỏa đáng cả.

        Trở lại với chuyến bay của Phạm Tuân, sau khi về đến sân bay rồi, Tuân vẫn còn hồi hộp, lo lắng: không biết mình có bắn hạ được B-52 không. Tất cả mọi người cũng cùng trong trạng thái hồi hộp như Tuân nên hầu như không ai ngủ được. Gần sáng, sau khi nhận được thông báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện chúc mừng và Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam truyền đi bản tin buổi sáng thông báo Không quân ta chính thức bắn rơi B-52, tất cả hân hoan trong niềm vui khôn tả. Vậy là Không quân ta đã thực hiện được sứ mệnh của mình: bắn rơi B-52, đã "trả được món nợ" bấy lâu nay vẫn canh cánh bên lòng.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:52:08 PM
       
NGÔI SAO KHÔNG TẮT

        Anh Hoàng Biểu nhớ lại, khoảng chiều ngày 23 hoặc 24 gì đó, Vũ Xuân Thiều cơ động vào sân bay Cẩm Thủy. Ngay sau đó, sân bay bị địch đánh nát, nhưng máy bay của ta vẫn nguyên vẹn, không bị sao cả vì ta đã kịp thời kéo đi sơ tán. Lực lượng sửa chữa gấp sân bay làm việc cật lực mấy ngày liền mới san lấp xong các hố bom, lu nèn lại đường cất hạ cánh, nhanh chóng tổ chức Trực ban Chiến đấu. Mấy ngày đợi sửa gấp sân bay là mấy ngày anh Hoàng Biểu và Vũ Xuân Thiều phải ở trong chiếc lều bạt căng phía cuối vườn của một nhà bác người dân tộc Mường. Mấy ngày ấy là mấy ngày hai anh em tâm sự với nhau rất nhiều chuyện, từ chuyện chung đến chuyện riêng, từ chuyên buồn đến chuyên vui... đều được chia sẻ với nhau.

        Những lúc nghe đài, vẳng tiếng hát của bài "Đôi bờ", hoặc "Cây thùy dương", hay một làn điệu dân ca Nga...cũng như vào những giờ phút tĩnh lặng hiếm hoi giữa những đợt đánh phá, nhất là vào lúc chiều tà, khi ánh sáng cứ mờ nhạt dần và những làn sương giăng mỏng manh nhẹ như những làn khói bay bảng lảng, bồng bềnh, vấn vương với cái lạnh se se thì Thiều lại cảm thấy bâng khuâng... rồi nỗi nhớ nhà, nhớ những người thân yêu lại trỗi dậy. Nỗi nhớ thoạt đầu tựa như sợi gió vô tình thoảng qua, dịu ngọt, êm ái, tiếp đến là sự cồn cào, ào ạt như những đợt sóng bạc đầu xô vào bờ cát. Nỗi nhớ Mẹ, nhớ những người chị gái, những người em gái, nhớ người bạn gái đang ở tít phương trời xa xôi... sao mà da diết. Nỗi nhớ không thể lấy gì đo đếm được. Nó làm ta day dứt, bồn chồn...

        Nỗi nhớ càng tăng gấp bội khi lâu lâu mới nhận được thư. Không nhớ nhung sao được khi mường tưởng lại cảnh mình đã gặp gỡ cô bạn gái xinh đẹp, nhí nhảnh mà cũng nghịch ngợm một cách dễ thương... lần đầu tiên trên khu nghỉ mát Tam Đảo thế nào, rồi hồi hộp khi mỗi lần nhận thư, đọc thư của bạn gái ra sao... Từ đất Nga xa vời vợi kia em có nhớ anh da diết như anh đang nhớ em thế này không...

        Hồi đó, Xuân Thiều và Thông Hào thường để chung quần áo và đồ đạc vào trong chiếc thùng đựng đầu tên lửa vì không có đủ cho mỗi người mỗi chiếc. Thi thoảng Xuân Thiều lại soạn lại thư từ, soạn lại ảnh của người yêu, đưa cho Thông Hào xem ảnh rồi lại cất vào một hộp riêng, và rồi nỗi nhớ thương lại ào đến, lại xao xuyến, bâng khuâng... Nỗi nhớ niềm thương ngày càng chất dầy, chất nặng theo năm tháng cách xa.

Mây bay mây chẳng chia trời
Cách xa đâu phải riêng đôi chúng mình
(Giờ còn gian khổ hy sinh
Hết đêm anh, sẽ đến bình minh em!)
Bầu trời ngày đấy hay đêm
Cứ xanh như mắt bên thềm trông mây
Thương em những lúc chia tay
Anh đi, nghe đất vần xoay phập phồng
Rồi xa tít tắp tầng không
Vẫn nuôi khát vọng, ước mong xum vầy
Bầu trời có lúc không mây
Còn anh - chưa vợi lại đầy nhớ em!

        Nỗi nhớ thật dịu êm, thật da diết. Dám chắc rằng, ở nơi xa xôi kia cũng có một người con gái nhớ về Thiều cũng cồn cào, xốn xang chẳng kém gì Thiều nhớ về người con gái ấy.

        Những người yêu nhau bao giờ chẳng nhớ về nhau như vậy. Hình bóng thân thương, ánh mắt, tiếng cười... luôn vẫn như đâu đây thôi, không thể xa mờ.

        Em sẽ là nguồn động viên lớn lao khi anh bước vào trận đánh. Anh sẽ thấy không bao giờ lẻ loi khi bay một mình trong bầu trời đêm vì anh biết rằng vẫn có một người luôn nhớ đến anh và anh cũng nhớ thương người ấy với nỗi nhớ thương cháy bổng...

        Nỗi nhớ thương đằm thắm dần lắng lại. Không khí sửa chữa gấp đường băng chuẩn bị cho chiến đấu kéo ta về với hiện tại và sự háo hức chờ cho sửa xong đường băng, chờ xuất kích chiến đấu lại ùa đến... Đêm 28 tháng 12, Xuân Thiều vào trực chiến và xuất kích chiến đấu từ sân bay Cẩm Thủy. Sở chỉ huy của sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa chịu trách nhiệm dẫn Xuân Thiều giai đoạn đầu sau cất cánh rồi sẽ bàn giao cho Sở chỉ huy ở Mộc Châu. Bấy giờ, kíp trực dẫn đường tại Sở chỉ huy ở Thọ Xuân - Thanh Hóa gồm: dẫn chính là Trần Đức Tụ, dẫn phụ là Trần Xuân Mão. Nhiệm vụ dẫn Xuân Thiều tiếp cận mục tiêu giao cho Sở chỉ huy tai Mộc Châu. Sở chỉ huy của Mộc Châu dẫn Thiều đến cách mục tiêu 40 km thì không dẫn được nữa vì bị nhiễu nặng, không tìm được tín hiệu. Lúc đó, Sở chỉ huy tại Thọ Xuân - Thanh Hóa lại phát hiện được mục tiêu và tiếp tục dẫn Xuân Thiều. Đại đội trưởng Đại đội bay đêm Hoàng Biểu - người chỉ huy cất hạ cánh tại sân bay Cẩm Thủy cho hay: khi chuyển cấp, mở máy để chuẩn bị cất cánh, anh có nhắc Thiều:

        - Máy bay chạy đà đến khi nào cần phải cho tách đất thì tôi sẽ ra khẩu lệnh "Cho tách đất!". Bấy giờ phải cố kéo máy bay lên vì đường băng ngắn lắm.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Sáu, 2016, 07:54:17 PM
        Xuân Thiều đã lăn ra, cất cánh, tách đất ổn định. Dẫn vào lần thứ nhất, không phát hiện được. Sở chỉ huy cho vòng lại, dẫn lần hai và thông báo vị trí mục tiêu liên tục. Không thấy Thiều nói gì, đến cự li 5 km, thấy im một tí rồi nghe tiếng Thiều:

        - Tôi thấy rồi!

        Tất cả hồi hộp chờ đợi, nhưng rồi là cả một sự im lặng vĩnh viễn...

        Về trận đánh của Vũ Xuân Thiều, có nhiều bài báo đề cập đến, nhưng có lẽ để chi tiết hơn cả, xin được trích bài viết của Thượng tá Trần Xuân Mão, người từng là sĩ quan dẫn đường trực ở Sở chỉ huy tại sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa và đêm 28 tháng 12 ấy, anh trực phụ cho anh Trần Đức Tụ:

        "Đêm 18 tháng 12 năm 1972, Mỹ mở chiến dịch tiến công đường không chủ yếu bằng máy bay chiến lược B-52 vào Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng nhằm cứu vãn những thất bại trên chiến trường miền Nam và tạo thế mạnh trên bàn đàm phán ở Pa-ri. Trong chiến dịch này, Mỹ huy động 193 máy bay chiến lược B-52, gần 1000 máy bay chiến thuật hiện đại như F-4, F-lll cất cánh từ các sân bay trên đất Thái Lan, Gu-Am, trên các tàu sân bay của Hạm đội 7.

        Để bảo vệ đội hình của máy bay B-52, Mỹ dùng các thủ đoạn tác chiến điện tử với cường độ cao, trên một diện rộng, tiến hành gây nhiễu trong đội hình và sử dụng các máy bay EB-66 gây nhiễu ngoài đội hình, thả nhiễu tiêu cực với cường độ lớn, sử dụng máy bay tiêm kích làm nhiệm vụ yểm hộ trong và ngoài đội hình của B-52, sử dụng máy bay cường kích đánh phá các trận địa ra-đa, tên lửa, các sân bay của ta.

        Trong thời gian từ 18 đến 27 tháng 12 năm 1972, Không quân ta đã cất cánh nhiều lần, nhưng không tiếp cận được đội hình của B-52. Đêm 27 tháng 12, đồng chí phi công Phạm Tuân mới bắn rơi được một chiếc B-52. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi trong chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972 và cũng là chiếc B-52 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi kể từ khi chúng ra đánh phá miền Bắc.

        Thắng lợi to lớn này đã làm tăng thêm niềm tín vào khả năng bắn rơi máy bay B-52 bằng máy bay tiêm kích MiG-21.

        Ngày 28 tháng 12 năm 1972, tại Sở chỉ huy tiền phương (K-12), Quân chủng tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh do đồng chí Lê Văn Tri và đồng chí Chính ủy Hoàng Phương chủ trì. Tại đây, toàn thể cán bộ có mặt đã được vinh dự đón đồng chí Đại tướng-Bộ trưởng Bộ quốc phòng xuống dự. Đồng chí Võ Nguyên Giáp khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Không quân đã mưu trí, dũng cảm bắn rơi pháo đài bay B-52 của Mỹ và chỉ thị cho Không quân phải tích cực nghiên cứu, nắm chắc các thủ đoạn mới của địch, tổ chức nhiều trận đánh thành công hơn nữa. sau đó, các đồng chí lãnh đạo trong Bộ tư lệnh và các cán bộ Phòng Tham mưu, Chính trị họp bàn xây dựng Quyết tâm chiến đấu trong những đêm tới. Ta nhận định: sau thất bại đêm 27 tháng 12, không quân Mỹ sẽ tăng cường đánh phá ác liệt hơn, đặc biệt đánh phá các sân bay xung quanh Hà Nội như Đa Phúc, Gia Lâm, Kép, Hòa Lạc, Miếu Môn, Yên Bái. Do đó, tổ chức chiến đấu cất cánh từ các sân bay đó sẽ vô cùng khó khăn. Để tạo được yếu tố bất ngờ và đánh địch từ xa, phải tổ chức cất cánh từ các sân bay vòng ngoài. Sân bay được chọn là sân bay Cẩm Thủy. Đây là một sân bay dã chiến, thuộc địa phận của nông trường 26 tháng 3 (thuộc huyện Thạch Thành - Thanh Hóa). Sân bay đất, có kích thước hẹp (dài 1600 mét, rộng 30 mét). Sân bay nằm trong vùng núi, tĩnh không hạn chế, chỉ cho phép cất, hạ cánh ở một đầu đường băng. Sân bay cũng mới bị máy bay B-52 ném bom làm đường băng hỏng nặng, đã được Tiểu đoàn công binh và dân quân địa phương sửa chữa gấp và đang được ngụy trang cẩn thận. Sở Chỉ Huy ở Thọ Xuân - Thanh Hóa (Bl) được tăng cường lực lượng, phương tiện từ Quân chủng vào, được giao nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy chiến đấu ở vòng ngoài. Sở chỉ huy phải chuẩn bị phương án, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị có liên quan, đặc biệt với Đại đội ra-đa dẫn đường 26 đóng tại Vĩnh Lộc - Thanh Hóa để phát hiện địch từ xa, dẫn máy bay ta cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy lên đánh địch. Bộ tư lệnh Binh chủng quyết định chọn phi công Vũ Xuân Thiều của Đại đội đánh đêm thuộc Trung đoàn 927 chuyển sân vào sân bay Cẩm Thủy trực chiến. (Đồng chí Vũ Xuân Thiều thuộc quân số Trung đoàn 927 mới được chuyển về Đại đội đánh đêm của Trung đoàn 921).


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:32:45 AM
        15 giờ 30 phút, mọi công việc đã được chuẩn bị xong. Đồng chí Trần Mạnh báo về Sở chỉ huy Binh chủng đề nghị cho máy bay cất cánh. Đồng chí Trần Hanh nắm lại tình hình thời tiết, tình hình hoạt động của địch hiện tại rồi ra lệnh cho sở Chỉ Huy Trung đoàn 927 chuyển sân. Để giữ được bí mật tuyệt đối cho trận đánh, Sở Chỉ huy quy định sau khi cất cánh ở sân bay Đa Phúc, phi công bay ở độ cao thấp 200 m và bay dọc theo đường quốc lộ 1A đến thị xã Ninh Bình, sau đó vòng về sân bay hạ cánh. Quá trình bay chuyển sân không liên lạc vô tuyến.

        Sau khi máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Cẩm Thủy, Sở chỉ huy BI tăng cường trực ban để thường xuyên nắm địch, chuẩn bị cho trận đánh.

        Theo tin tình báo chiến lược, từ 21 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút đêm 28 tháng 12, có 60 lần chiếc B-52 hoạt động.

        21 giờ, đồng chí Trần Hanh lệnh cho mở ra-đa C-26 và C-22 (C-26 đóng ở Vĩnh Lộc - Thanh Hóa; C-22 đóng ở Mộc Châu) để theo dõi, phát hiện địch từ xa.

        21 giờ 22 phút, ra-đa đo cao của Đại đội 26 phát hiện 3 máy bay B-52 ở Nam sông Mê Công (Đông Nam Pạc-Xan 65 km), độ cao 12.000 m.

        21 giờ 28 phút, phát hiện tốp B-52 thứ hai (02) ở Đông Nam Pạc-Xan 90 km, tiếp đó là tốp B-52 thứ ba (03). Đồng chí Trần Mạnh chăm chú theo dõi từng mũi chì xanh đánh dấu đường bay B-52 trên bản đồ. Đồng chí nói:

        - Đấy là các tốp B-52 vào đánh Hà Nội!

        Đồng chí chỉ thị cho sĩ quan quân báo, dẫn đường theo dõi chặt các tốp này. Ba tốp B-52 từ Nam sông Mê Công (Thái Lan) đang bay về phía Bắc, dọc theo phía Tây biên giới Việt - Lào. Đại đội ra-đa báo về ở hướng Tây Nam có hai rải quạt nhiễu tích cực, cường độ hai, đồng thời xuất hiện một số tốp tiêm kích địch ở khu vực sầm Nưa. Đồng chí sĩ quan dẫn đường tính toán xong và đề nghị cho máy bay cất cánh. Đồng chí Trần Mạnh đồng ý và lệnh cho phi công Vũ Xuân Thiều cất cánh.

        Theo phương án chiến đấu đã được sĩ quan dẫn đường hiệp đồng từ trước, sau khi máy bay cất cánh lấy được độ cao 200 m, phi công Vũ Xuân Thiều bóp ống nói ba lần báo cho Sở chỉ huy.

        Sĩ quan dẫn đường lệnh cho đồng chí Thiều vòng phải, hướng bay 290 độ, độ cao 5000 m, tốc độ 900 km/h. Trên bảng tiêu đồ, vị trí máy bay ta được chiến sĩ tiêu đồ đánh dấu bằng đường chì màu đỏ, đang hướng về phía biên giới Việt - Lào. Kíp trực ban dẫn đường bận rộn hơn bao giờ hết: người thường xuyên liên lạc với sĩ quan chỉ huy Đại đội ra-đa, người ghi thời gian, người tính toán đường bay của máy bay ta, địch trên bảng tiêu đồ. Bỗng chiến sĩ tiêu đồ nói to lên:

        - Báo cáo, xuất hiện hai tốp mục tiêu mới, mỗi tốp bốn chiếc, độ cao 7500 mét ở trước mũi đường bay của máy bay ta!

        Đồng chí Trần Mạnh nói đây là hai tốp tiêm kích vào dọn đường và chỉ thị cho sĩ quan dẫn đường dẫn máy bay ta bay tránh, đồng thời lấy độ cao cao hơn độ cao của tiêm kích địch. Đồng chí Trần Đức Tụ dẫn máy bay ta vòng trái, hướng bay 270 độ, tăng lực lấy độ cao 12.500 mét. Sĩ quan chỉ huy ra-đa báo về: cường độ nhiễu ở hướng Tây rất nặng, máy bay B-52 đang bay vào khu vực có nhiễu sóng địa vật nên không phát hiện được tín hiệu của B-52.

        Đồng chí Trần Mạnh chi thị cho sĩ quan dẫn đường sơ bộ xác định vị trí của B-52 theo từng thời gian. Ta nhận định đội hình B-52 bay từ Nam sông Mê Công (Thái Lan) lên, khi đến Sầm Nưa sẽ vòng lên Mộc Châu, tiến vào đánh Thủ đô Hà Nội. Đồng chí dẫn đường đề nghị dẫn tiêm kích ta vào chặn đánh B- 52 sau điểm vòng.

        21 giờ 52 phút 30 giây, Sở chỉ huy BI (Thọ Xuân) lệnh cho đồng chí Thiều vòng phải, hướng bay 360 độ, tốc độ 1200 km/h, độ cao 12.500 mét. Tiếp đó, Sở chỉ huy thông báo cho đồng chí Thiều vị trí mục tiêu ở bên trái 50 độ, 15 km, rồi 30 độ, 10 km. Đồng chí Thiều vẫn chưa phát hiện được B-52. Sở chỉ huy dẫn Thiều thay đổi hướng bay 320 độ, rồi 270 độ để đề phòng địch thay đổi đường bay.

        21 giờ 57 phút, đồng chí Trần Xuân Mão, sĩ quan dẫn đường trên hiện sóng ra-đa phát hiện một tín hiệu lạ trên nền nhiễu trắng đục. Bằng kinh nghiệm của mình, anh khẳng định đó là B-52, anh lập tức lệnh cho đồng chí Thiều vòng phải gấp, hướng bay 90 độ. Trên bảng tiêu đồ, vị trí B-52 đã được chiến sĩ Tiêu đồ đánh dấu. Sĩ quan dẫn đường báo cáo với đồng chí Mạnh là địch đã thay đổi đường bay, có khả năng B- 52 sẽ bay ngược lên Sơn La, sau vòng xuống đánh Hà Nội để tránh tiêm kích ta.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:35:26 AM
        21 giờ 58 phút, sau khi đạt được hướng bay 90 độ, đồng chí Thiều phát hiện bên trái, phía trước một dãy đèn nhấp nháy đang bay vào, đó là đèn tín hiệu của B-52. Anh báo cáo:

        - 046 phát hiện quạ đen bên trái 90 độ, 10 km.

        Và anh ép độ nghiêng, lao về phía địch.

        Ta chủ trương: khi phi công tiếp cận, ngắm bắn, không mở ra-đa trên máy bay để B-52 không phát hiện được MiG bám đuôi. Đồng chí Thiều bám sát và xác định cự li phóng tên lửa bằng quan sát mắt theo đèn tín hiệu của máy bay B-52.

        Nhận được báo cáo của đồng chí Thiều cả Sở chỉ huy ai nấy đều cảm thấy phấn khởi. Đồng chí Trần Mạnh nhắc Thiều:

        - 046, bật công tắc bắn loạt, kiên quyết tiêu diệt địch!

        - Nghe rõ! - Thiều trả lời.

        Một phút sau, Sở chỉ huy BI hỏi đồng chí Thiều:

        - 046, công tác tốt không?

        Không nghe Thiều trả lời. Sở chỉ huy lại gọi tiếp:

        - Sông Mã gọi 046! Sông Mã gọi 046!

        Nhưng đều không liên lạc được. Mọi cán bộ, chiến sĩ tại Sở chỉ huy tim như ngừng đập. Đồng chí Trần Mạnh nét mặt trầm lại, với kinh nghiêm của người đã từng chỉ huy gần trăm trận đánh, ông hiểu điều gì đó có thể đã xảy ra. Ông chỉ thị cho ra-đa tăng cường sục sạo phát hiện máy bay ta và lệnh cho sĩ quan Tác chiến báo về sở chỉ huy Binh chủng.

        Tại Sở chỉ huy Binh chủng, đồng chí Trần Hanh chỉ thị cho các đơn vị mở ra-đa theo dõi, nhưng đều không thấy. Đồng chí Trần Hanh nói chuyện với đồng chí Trần Mạnh và thống nhất nhận định rằng phi công Vũ Xuân Thiều đã bắn B-52 ở cự li gần, do tốc độ quá lớn không kịp thoát li, anh dã lao thẳng vào đội hình B-52 và đã anh dũng hy sinh".

        Trận chiến giữa trời đêm diễn ra thật nhanh, thật ngắn ngủi. Và Vũ Xuân Thiều đã làm nên điều phi thường, đã là tấm gương sáng ngời của Chủ nghĩa Anh hùng cách mạng.

        Sáng hôm sau, khi Công Huy bay chuyển từ sân cơ động về hạ cánh ở sân bay Đa Phúc với tâm trạng còn đang phấn khích về chiến công của Phạm Tuân đêm hôm trước thì sau khi hạ cánh xong, nhận được ngay tin Vũ Xuân Thiều hy sinh. Đứng ở ngoài sân bay, tay giữ phong thư của Thiều mà nước mắt Huy cứ trào ra, ướt đẫm khuôn mặt vốn đã hốc hác trong thời gian tham gia chiến dịch nay trông lại càng hốc hác hơn. Vậy là bức thư đã không bao giờ đến được tay người nhận nữa. Vậy là mọi chuyện bỗng chốc chỉ còn là kỷ niệm. Mới đây thôi, hai anh em còn cùng trong một Trung đội bay đêm, rồi Huy sang Đại đội đánh ngày, Thiều ở lại Đại đội đánh đêm. Cùng một trung đoàn mà đã thấy cách biệt khi người thì hoạt động ban ngày, người lại hoạt động ban đêm. Mới hôm rồi Thiều còn gửi lại cho Huy chiếc áo len của Huy hôm Huy đưa cho Thiều mặc cho đỡ rét, và Thiều cũng mới viết cho Huy xong, tế nhị "thúc giục" chuyện Huy gắn bó với cô sơn nữ. Vậy mà những dòng chữ kia bỗng nhiên đã là những dòng chữ cuối cùng... Vậy mà bây giờ đã âm dương cách biệt...

        Thư của người yêu Thiều gửi về, Thiều không bao giờ được đọc nữa và người yêu của Thiều cũng vĩnh viễn không bao giờ nhận được thư Thiều nữa.

        Sững, sờ đứng ngoài sân bay với nước mắt giàn giụa trên mặt, Huy không thốt lên được một lời nào cả. Sự mất mát đến đột ngột quá. Và rồi, khi trở về căn cứ, Huy đã lẳng lặng ghi vào đằng sau chiếc phong bì:

Chiều chiều mây phủ Sơn La
Nhớ thương bạn, nước mắt và lộn cơm!

        Một ngày sau, anh Phạm Ngọc Lan đã được cử đi Sơn La. Khi đến xã Tạ Khoa, huyện Yên Châu - Sơn La, anh đã gặp anh Phạm Đức Thuận , đại úy - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bộ binh đang đóng quân ở Cò Nòi. Các anh đã đến tận hiện trường xem xét và tìm cách bảo vệ hiện trường. Phía bên kia đồi là xác của B-52 với những mảnh vỡ cháy xám đen. Phía bên này đồi là MiG-21. Anh Phạm Ngọc Lan đã bàn giao cho anh Thuận mọi công việc và đề nghị anh Thuận cho quân bảo vệ hiện trường và quay về báo cáo Binh chủng.

        Anh Phạm Ngọc Lan đã nhận xét và đến tận bây giờ anh vẫn nói: "Thiều đã "húc" vào B-52!". Thiều đã vào trận đánh với tinh thần cảm tử, quyết tiêu diệt bằng được B-52 mới thôi. Một vết thương sâu ở phía sau gáy Xuân Thiều do mảnh của chiếc B-52 văng vào bởi anh bắn quá gần để chắc chắn tiêu diệt được kẻ thù đã làm anh không kịp thoát ra sau công kích.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 06:37:40 AM
        Xuân Thiều đã thể hiện ý chí sẵn sàng hi sinh thân mình, quyết bắn rơi tại chỗ bằng được "pháo đài bay" của đế quốc Mỹ bằng tinh thần cảm tử và quyết tử để lấy lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân, độc lập thống nhất cho Tổ quốc, và Vũ Xuân Thiều cũng đã làm rạng danh cho dòng tộc họ Vũ cùng quê hương Hải An.

        Trong "Lời tuyên dương công trạng của nhà nước với Vũ Xuân Thiều (ở trang 440, cuốn Anh hung lực lượng vũ trang nhân dân - tập 6) có ghi:

        "Chiến công của Vũ Xuân Thiều bắn rơi B-52 đã khích lệ tinh thần chiến đấu của toàn Quân chủng, góp phần làm phong phú thêm cách đánh B- 52 của đế quốc Mỹ - có lực lượng yểm hộ mạnh - của Không quân ta. Đồng thời là một kinh nghiệm về cách chỉ huy, dẫn đường máy bay ta đánh đêm. Ghi thêm một chiến công vào trang sử chiến đấu của bộ đội Không quân.

        Chiến công của Vũ Xuân Thiều đã góp phần làm thất bại hoàn toàn đợt tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay chiến lược B-52 vào Hà Nội và Hải Phòng... kéo dài 12 ngày đêm, buộc chúng phải ký kết Hiệp định Pa-ri về Việt Nam".

        Vũ Xuân Thiều đã hành động giống như các Anh hùng phi công Liên Xô: Gax-te-lô, Ta-la-li-khin... trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại - cảm tử và quyết tử.

        Xuân Thiều đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Thi hài Vũ Xuân Thiều được đưa về an táng ở nghĩa trang Bố Ẩn của Sơn La. Ngày đưa Thiều về nghĩa trang là một ngày lạnh giá. Mùa Đông ở Sơn La sương xuống rất nhiều, rất đậm và rét buốt. Sáng sớm, khi trời chưa sáng tỏ, bà con các dân tộc đã phải đi xuống chợ. Bóng dáng những người đi chợ cứ mờ mờ, ảo ảo trong sương mù. Thấy có thi hài liệt sĩ chuyển vào nghĩa trang, bà con không ai bảo ai đều rẽ vào nghĩa trang để dự lễ mai táng.

        Đội danh dự bồng súng đứng hai bên huyệt. Không khí buồn thương, trang nghiêm. Anh Lê Tuấn Quyền, - cán bộ thuộc Phòng chính sách Quân khu Tây Bắc, phụ trách công tác thương binh - liệt sĩ ra khẩu lệnh:

        - Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, chiến sĩ lái máy bay chặn đánh B-52 đã anh dũng hy sinh trên bầu trời Sơn La.

        - Để tiễn biệt đồng chí! Bồng súng, chào!

        Thi hài Vũ Xuân Thiều từ từ được đưa xuống huyệt. Những người tiễn biệt Thiều không ai cầm được nước mắt. Sương đọng trên các lá cây cũng rơi lộp bộp, buồn bã...

        Vậy là một phi công tiêm kích đã xếp lại đôi cánh bay của mình trong trận không chiến để bảo vệ cho bầu ười và mặt đất được yên bình. Vậy là trong đội hình bay đã vắng bóng một đôi cánh đại bàng. Vậy là đồng chí đồng đội mất đi một người bạn chiến đấu. Vậy là gia đình mất đi một người thân. Vậy là một người yêu đã mất người yêu. Chiến tranh đã tàn nhẫn chia cắt lứa đôi đang độ yêu nhau đằm thắm nhất... Anh đã về nơi vĩnh hằng, về với hư vô trong sự tiếc thương của bao người.

        Sau khi hạ huyệt, đắp mộ cẩn thận xong, thắp hương cho Thiều, Lê Tuấn Quyền tiếp tục ra khẩu lệnh:

        - Vĩnh biệt liệt sỹ Vũ Xuân Thiều! Phút mặc niệm bắt đầu!

        Chàng trai của đất Hà thành đã nằm lại nơi núi rừng Sơn La khi anh vừa tròn 27 tuổi. Anh đã ngã xuống trước ngưỡng cửa bình minh - trước những ngày chiến tranh kết thúc. Tiếng suối reo, tiếng gió ngàn sẽ ru anh trong giấc ngủ vĩnh hằng. Chim rừng sẽ cất tiếng líu lo hót cho anh nghe. Những cánh hoa ban trắng muốt sẽ được rắc trên mộ anh với mùi hương thơm ngát. Sương rừng lãng đãng cùng với mây ngàn sẽ đưa anh vào những giấc mơ nhẹ nhàng, yên ả. Anh sẽ được các vòng tay của đồng bào các dân tộc miền Tây Bắc này che chở, ôm ấp. Anh hãy về bên bếp lửa nhà sàn, về với vòng xòe khi tiếng hát "Inh lả ơi..." cất lên, về với điệu sáo Mèo, khèn Mèo gọi bạn tình, về với buổi ném Còn, ném Pao của người Thái, người Mông...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 10:01:17 PM
        Anh không cô đơn đâu! Không ai để anh cô đơn đâu! Dù anh xa Mẹ, xa các anh chị, xa các em, các đồng đội của anh, nhưng ở đây, anh đã có đồng bào, đã có các dân tộc chăm sóc cho anh. Tấm lòng người miền núi luôn rộng mở. Người miền núi đôn hậu, hiền hòa, chất phác, quý người... Bữa rượu nào, .theo phong tục, trước khi uống chén đầu tiên là phải rót một chút qua vai trái xuống đất. Mọi người làm thế là để tưởng nhớ những người đã mất, tưởng nhớ anh đấy.

        Và chúng tôi, những đồng đội của anh không bao giờ quên được anh. Anh vẫn luôn cùng chúng tôi trong những ban bay huấn luyện, trong những chuyến xuất kích, trong những lúc vui, lúc buồn...

        Anh và các anh khác như Nguyễn Ngọc Thiên, Trần Hóa, Phạm Thành Nam, Phạm Đình Tuân, Bùi Văn Long, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Văn Mạo... vẫn luôn luôn bên cạnh chúng tôi, vẫn cùng bay cùng đội hình, cùng cất cánh bay đi canh giữ đất trời...

        Đêm 29 tháng 12, Bùi Doãn Độ trực chiến tại sân bay Kép nhận lệnh vào cấp, xuất kích từ đường ngang của sân bay Kép lên tìm B-52 nhưng không gặp. Khi quay về bay ở độ cao 4500 m, Sở Chi Huy thông báo có địch bay từ phía phải qua trái. Độ phát hiện thấy ánh đèn chớp chớp liền bật tăng lực, ép theo, lại không thấy nữa đành tắt tăng lực, giảm độ nghiêng thì ngay bấy giờ lại phát hiện thấy máy bay địch. Đấy không phải là B-52 mà là loại F-4. Độ bật tăng lực, kéo gấp, bằng mắt thường nhìn thấy được cả ánh lửa trong buồng đốt của động cơ thằng F-4, Độ ấn nút phóng tên lửa, phóng 2 quả liền sau đó kéo thoát li trái. Lúc lật lại, thấy thằng F-4 mang độ nghiêng và lao xuống với góc bổ nhào khoảng 30 độ. Bùi Doãn Độ kéo cao, thoát li về hạ cánh ở sân bay Đa Phúc. Thằng F-4 rơi ở địa phận tỉnh Phú Thọ.

        Đây là chiếc máy bay cuối cùng của Không lực Hoa Kỳ bị Không quân ta bắn hạ (ban đêm) trong cuộc chiến tranh leo thang đánh phá ra miền Bắc và trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" này.

        Tổng kết lại, trong khoảng thời gian 11 ngày và 12 đêm (từ đêm 18 đến đêm 29 tháng 12 năm 1972) Mỹ đã cho xuất kích 663 lần chiếc B-52 (riêng Hà Nội 417 lần chiếc) và gần 2000 lần chiếc máy bay chiến đấu chiến thuật các loại, trút hơn một vạn tấn bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác trên miền Bắc. Nhưng kết quả, Mỹ đã phải trả giá đắt: 81 máy bay đã bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc "siêu pháo đài bay B-52" (16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-lll, hàng chục phi công Mỹ bị bắt làm tù binh. Tỉ lệ máy bay B-52 Mỹ đã bị tổn thất gần 18% tổng số máy bay B- 52 của Mỹ có ở Đông Nam Á. Đây là tổn thất Mỹ đã không chịu đựng nổi buộc Tổng thống Mỹ Ních-Xơn vào đúng 7 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1972 phải tuyên bố ngừng ném bom từ Bắc Vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp Chính phủ ta tại Pa-ri bàn việc ký Hiệp định.

        Đầu năm 1973, Đại đội 5 được bổ sung thêm 14 phi công mới tốt nghiệp Trường Không quân Liên-xô, gồm:

        Đinh Trọng Kháng
        Bùi Quốc Tế
        Cao Văn Tiến
        Tạ Văn Sửa
        Nguyễn Văn Dương
        Lại Quốc Việt
        Nguyễn Văn Đậu
        Nguyễn Văn Miên
        Đoàn Thanh Cần
        Nguyễn Hồng Nga
        Nguyễn Văn Mịch
        Bùi Văn Tập
        Nguyễn Huy Đãng
        Vương Hữu Quý

        Đại đội đã nhanh chóng tổ chức cho số phi công mới này bước vào bay huấn luyện đêm và ngày. Lực lượng chiến đấu của Đại đội nói riêng, của Trung đoàn và của Quân chủng Phòng không - Không quân nói chung đã trưởng thành, ngày càng lớn mạnh. Đội ngũ phi công bay đêm đã nỗ lực tập trung chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, sẵn sàng cùng các lực lượng bay ngày, đánh ngày bảo vệ vững chắc đất trời của Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 10:07:51 PM
        Trở lại Sơn La, không biết có phải do số phận sắp đặt hay không mà ở trường nội trú Bế Văn Đàn của tình Sơn La có một cô học trò là Bế Kim Hương cùng một bạn học nữa đi học qua nghĩa trang, thường xuyên đến thăm mộ Thiều. Hầu như ngày nào đi học về sớm, Hương và bạn cũng đều tạt vào nghĩa trang, đến với Thiều. Việc ấy diễn ra đều đặn, tự nhiên như số phận đã giao cho Kim Hương nhiệm vụ như vậy suốt mấy năm ròng, từ khi Hương còn học lớp 6, lớp 7 cho đến khi Xuân Thiều được đưa về xuôi.

        Và vào các ngày giỗ Thiều, tuy gia đình đã chuyển từ Sơn La về Thái Nguyên, Hương vẫn tìm đến gia đình để viếng Thiều, năm nào mà bận quá, không đến được thì Hương nhờ chị của Hương đến viếng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2016_zpsgb81wnfz.jpg)
Bế Kim Hương viếng mộ Vũ Xuân Thiều
(Người đúng đầu tiên bên trái)

        Vũ Xuân Thiều đã nằm ở mảnh đất Sơn La từ năm 1972. Và rồi rừng núi cũng không giữ anh được mãi. Cũng đến lúc anh phải về xuôi. Nơi ấy có Mẹ già, có các anh chị em... của anh đang ngày đêm ngóng trông anh...

        Năm 1995, Xuân Thiều được đón từ Sơn La về Hà Nội. Lên đón Thiều có anh Vũ Xuân Thăng, chị Vũ Thị Kim Quy, chú em Vũ Hữu Nghị, cháu Hiếu; đồng đội có anh Trần Việt...

        Chủ tịch tình Lê Bình Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Tòng Thị Phóng đã chỉ thị cho các cơ quan, ban ngành phải tổ chức tiễn người Anh hùng Vũ Xuân Thiều cho thật chu đáo, trang trọng.

        Chị Hà Thị Chăm - Phó giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa X kể lại: Hôm đưa anh Thiều về xuôi, trời rét lắm. Các thành phần đưa tiễn anh gồm lực lượng bộ đội, các em thiếu nhi và rất nhiều bà con nhân dân tình Sơn La, đông lắm... Tất cả đều lưu luyến, không ai muốn đưa anh đi, bởi anh đã ở với bà con Sơn La cũng lâu rồi, thành người con của tỉnh Sơn La rồi.

        Không khí thật trang nghiêm. Chủ tịch Tỉnh Lê Bình Thanh đọc lời điếu trong lễ tiễn đưa anh về xuôi và tôi được giao nhiệm vụ "tháp tùng" anh Vũ Xuân Thiều về Hà Nội. Khi về đến Hà Nội - về nghĩa trang Văn Điển thì đã gần 8 giờ tối. Lực lượng đón anh ở đây cũng rất đông. Rất nhiều các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và các cán bộ thuộc các cơ quan của Quân chủng Phòng không Không quân đã đứng chờ sẵn để đón anh Thiều rồi. Tôi thay mặt lãnh đạo và bà con nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La phát biểu với những lời thật chân tình, nói lên tình cảm của nhân dân tình Sơn La biết ơn và quý trọng anh Thiều ra sao, bin rịn không muốn chia tay anh trong buổi lễ tiễn đưa như thế nào. Anh đã về đây, về gần gũi với gia đình hơn, nhưng nhân dân tỉnh Sơn La sẽ thương nhớ anh nhiều hơn, tưởng nhớ đến anh nhiều hơn...

        Anh đã về xuôi, về với mảnh đất anh từng gắn bó cả một thời trai trẻ, gắn bó với gia đình, trường lớp và bạn hữu, nhưng chắc anh cũng không thể quên mảnh đất nơi anh đã nằm lại hơn 20 năm trời.

        Anh không thể quên được tình cảm của bà con miền Tây Bắc, đặc biệt là bà con tỉnh Sơn La giành cho anh. Anh đã đi rồi, nhưng "ngôi nhà" của anh ở nghĩa trang Bố Ân vẫn giành cho anh ở nơi trang trọng với hàng chữ như những ngày anh từng ở đây:

        Liệt sĩ Anh hùng LLVTND
        Vũ Xuân Thiều
        Sinh ngày 7-2-1945
        Quê: Hải An, Hải Hậu, Nam Hà
        Đã diệt pháo đài bay B-52
        Giặc Mỹ trên vùng trời
        Sơn La và hy sinh.


        Anh vẫn được chăm sóc để "ngôi nhà" của anh không lạnh lẽo. Anh vẫn có nơi để anh nghỉ ngơi khi anh lên thăm lại đồng đội, hàng xóm của anh, thăm lại bà con nhân dân tình Sơn La.

        Anh không bao giờ lẻ loi.

        Bà con nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La vẫn quý mến anh, vẫn giành cho anh những tình cảm yêu thương thắm thiết nhất. Và những ngày gần đây thôi, tên anh sẽ được đặt cho một con đường của Thị trấn Mộc Châu.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Sáu, 2016, 10:09:45 PM
        Vào năm 1994, khi các phi công cùng với các gia đình phi công của đoàn bay MiG-21 khóa 3 tổ chức trở lại thăm Trung đoàn, thăm các nơi từng sống, từng gắn bó một thời thì anh Trần Ngọc Nhuận - người từng ở cùng Trung đội bay đêm với Vũ Xuân Thiều có viết bài "Chiều Đa Phúc", tưởng nhớ các liệt sĩ phi công:

                          Chiều nay anh đưa em về đây
                          Thăm mảnh đất Trung du một thời khói lửa
                          Những hố  bom xưa dẫu không còn nữa
                          Chỉ một vùng đồi cỏ guột ngắt xanh
                          Mấy dáng thông quen, lá vẫn biếc cành
                          Vẫn tiếng gà gô gáy dồn bên sườn núi
                          Bao kỷ niệm tháng năm dào dạt tới
                          Để một chiều thương nhớ những chàng trai
                          Ôi!
                          Tiếng cười vui còn ngân đến hôm nay
                          Từng giọng nói âm vang căn hầm nhỏ
                          Ơi những phi công tuổi đôi mươi ngày đó
                          Những Thiên thần bằng xương thịt của ta
                          Lần cuối cùng đã cất cánh bay xa!...

                          Chiều nay anh đưa em về đây
                          Nơi ngày xưa cũng có chiều bình lặng
                          Cũng có chiều rạo rực bản tình ca
                          Cũng có chiều có Anh mong ngóng lá thư xa
                          Bởi cũng có Em chậm ngày chưa viết
                          Ở nơi đó Em đâu có biết
                          Chỉ mấy phút sau, Ai có thể không về
                          Cứ mỗi lần xuất kích bay đi...
                          Chiều nay ta đưa nhau về đây
                          Nơi vĩnh biệt những người đồng đội
                          Những phi công tuổi thanh xuân phơi phới
                          Vẫn rụt rè chưa dám hỏi lời "yêu"
                          Vừa nhận thư Em, chưa đọc hết mọi điều
                          Đã đem trọn Tình Yêu vào trận đánh
                          Giữa trời cao, Anh tiến công dũng mãnh
                          Tan tác bóng thù, Anh cũng mãi đi xa...
                          Chiều nhớ thương ơi những đồng đội chúng ta
                          Những Tuân, Hóa, Thiên, Thiều,
                          Khánh, Hưng, Long, Nam, Mạo

                          Chiều nay ta đưa nhau về đây
                          Thăm mảnh đất Trung du một thời khói lửa
                          Những hố  bom xưa dẫu không còn nữa
                          Mặt đất bốn mùa hoa nở hương say
                          Hãỵ ngắm trời cao trong từng dáng mây bay
                          Thấy bóng Các Anh hóa thân vào Bất Tử
                          Có phải Các Anh vẫn đội hình trên đó
                          Vẫn nguyện làm Cận Vệ giữa trời xanh
                          Để mãi ngàn năm Đất Mẹ yên bình!


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:18:59 AM
       
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2017_zpsiznzlws1.jpg)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm hỏi mẹ Vũ Xuân Thiều và gia đình

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2018_zpsjj5am8a8.jpg)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thắp hương viếng Vũ Xuân Thiều

        Tên người Anh hùng liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã được đặt cho một đường phố thuộc thị trấn Sài Đồng, quận Long Biên - Hà Nội, tại thị trấn này cũng có trường phổ thông cơ sở mang tên Vũ Xuân Thiều.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2019_zpsljy1gnwq.jpg)
Đường phố mang tên Anh hùng Vũ Xuân Thiều

        Thành phố Nha Trang cũng đặt tên Vũ Xuân Thiều cho một đường phố của mình.

        Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều cũng được ghi trên danh bia Tổ quốc ghi công tại khu tưởng niệm của nhiều địa phương tại phường Quan Thánh, quận Ba Đình - Hà Nội, tại thị trấn Sài Đồng quận Long Biên, tại nghĩa trang Bố Ấn - Sơn La, tại đền thờ liệt sĩ huyện Hai Hậu...


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:29:03 AM
        Nhân dịp kỷ niệm 35 năm chiến thắng chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", theo sáng kiến của nhà sử học Dương trung Quốc với phong trào "Mỗi người một giọt đồng tạc tượng danh nhân", bằng sự sáng tạo và lao động miệt mài, nghệ sĩ họa sĩ điêu khắc Tạ duy Đoán đã hoàn tất tác phẩm của mình trong một thời gian ngắn. Đó là bức tượng của liệt sĩ phi công Anh hùng Vũ Xuân Thiều (bức tượng bán thân, bằng đồng, có kích thước tương đương như người thật). Bức tượng đã được trao tặng cho gia đình Xuân Thiều, một bức trao tặng cho Quân chủng Phòng không - Không quân và được trưng bày tai bảo tàng Quân chủng Phòng không - Không quân.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2020_zpsit0jvwqb.jpg)
Gia đình liệt sĩ Vũ Xuân Thiều với họa sĩ điêu khắc Tạ Duy Đoán (tác giả tác phẩm tượng Vũ Xuân Thiều)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nguyen%20Cong%20Huy/a0%2021_zpslzmljmvo.jpg)
Nhà sử học Dương Trung Quốc trong buổi lễ trao tặng tượng đồng liệt sĩ phi công Anh hùng Vũ Xuân Thiều

        Đấy chính là sự tri ân với liệt sĩ, với tấm gương Anh hùng, dám hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

        Khi tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ Không quân dựng trên đỉnh núi thuộc địa phận của Sư đoàn Không quân 371 đóng quân được khánh thành, nhiều đoàn thể, đơn vị, nhiều gia đình và cá nhân đã thường xuyên viếng thăm. Tượng đài đã để lại dấu ấn sâu đậm về sự hy sinh cao cả của các thế hệ phi công và các thành phần phục vụ, đảm bảo cho các trận chiến trên không, cho các chuyến bay. Đấy cũng là nơi giáo dục truyền thống cho các thế hê trẻ với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời, bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa. Công Huy đã viết bài "Nói với con" với những lời nhắn nhủ:

                Bố đưa con đến dưới tượng đài
                Nơi tưởng niệm các Anh hùng, Liệt sĩ
                Nơi có biết bao người yên nghỉ
                Người có danh
                Và cả vô danh
                Trên đầu con
                Thăm thẳm cao xanh
                Chan hòa nắng,
                Thanh bình,
                Yên ả
                Cây óng biếc, mượt mà sắc lá
                Giữa không gian tĩnh lặng đến không ngờ
                Con biết chăng, mảnh đất này năm xưa
                Bom đạn xới, bập dầm trong khói lửa
                Những ngày ấy sục sôi bao trang lứa
                Rất nhiều người cùng trạc tuổi như con
                Dám gạt đi mọi ước vọng cá nhân
                Chấp nhận hy sinh, giữ yên vui Đất Mẹ
                Nếu không có những người như thế
                Người có tên
                Và không tên trên bảng đá này
                Thì cả con, cả bố hôm nay
                Đâu được đứng dưới tượng đài Chiến thắng
                Bố muốn nói với con điều sâu lắng
                Học đi con!
                Học nữa,
                ĐỂ LÀM NGƯỜI!


        Công ơn của những người đã hy sinh thân mình, đã ngã xuống để cho mặt đất, bầu trời được yên lành, thanh bình mãi mãi không bao giờ quên và không ai được phép quên lãng. Họ đã về với hư vô, nhưng chừng như họ vẫn còn đâu đây, vẫn luôn được nhắc tới như vẫn đang sống cùng chúng ta vậy.


Tiêu đề: Re: Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Sáu, 2016, 08:34:36 AM
        
LỜI KHÉP

        Có một sự so sánh khá thú vị: Nếu tính các phi công bay đêm của Trung đoàn Không quân 921 thì lớp bay đêm đầu tiên có các anh: Phạm Ngọc Lan, Hà Văn Chúc, Hoàng Biểu, Nguyễn Văn Thuận... Khi chuyển sang đánh ngày thì anh Phạm Ngọc Lan (trong biên đội Lan, Túc, Quỳ, Phương) đã là người đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ vào ngày 3 tháng 4 năm 1965 trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa, và ngày ấy trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Quân chủng Phòng Không - Không Quân. Đêm 29 tháng 12 năm 1972, anh Bùi Doãn Độ - lứa phi công bay đêm thuộc lớp đàn em đã bắn rơi chiếc máy bay F-4 của Không quân Mỹ (về ban đêm) trên bầu trời Phú Thọ và trở thành người phi công bắn chiếc máy bay Mỹ cuối cùng trong cuộc chiến tranh Mỹ sử dụng lực lượng Không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh ấy, các phi công có liên quan đến bay đêm, đánh đêm đã được nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang như các anh Phạm Ngọc Lan, Hà Văn Chúc, Đinh Tôn, Nguyễn Đăng Kính, Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều..., nhưng còn những phi công bay đêm, đánh đêm khác như Hoàng Biểu, Đặng Xây, Vũ Đình Rạng... thì trong tâm tưởng của rất nhiều người từ lâu rồi các anh cũng đã thực sự là những người Anh hùng.

        Để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với lực lượng Phòng Không - Không Quân, cụ thể là đối với phi công, phải xem xét đến việc có bảo vệ được mục tiêu được giao hay không đã. Ví dụ, nhiệm vụ được giao là phải bẻ gãy, ngăn cản các đợt tấn công của Không quân địch, không cho chúng bắn phá, ném bom vào mục tiêu A (hoặc B) chẳng hạn. Nếu các phi công của ta xuất kích, đánh chặn, địch, bắt chúng phải quẳng bom từ xa để chạy tháo thân, để không một quả bom, không một viên đạn nào rơi xuống mục tiêu A (hoặc B) cả, thì nhiệm vụ của ta đã hoàn thành, mặc dù không bắn roi được chiếc máy bay địch nào. Đương nhiên, nếu trong trận không chiến ấy, vừa bắn rơi được máy bay địch lại vừa bảo vệ được mục tiêu được giao thì thật là xuất sắc. Nhưng nếu chỉ mải miết tấn công địch để cố bắn roi chúng mà mục tiêu cần bảo vệ lại bị đánh phá tan tành thì thử hỏi thành tích bắn rơi máy bay kia so với mục tiêu cần bảo vệ, bên nào sẽ nặng hơn bên nào?

        Một chuyến xuất kích của các anh đi làm nhiệm vụ chi viện cho mặt trận dưới mặt đất tuy không bắn hạ được máy bay địch, nhưng ngược lại, không quân địch không dám hoạt động đến cả tuần lễ hoặc lâu hơn thì có xứng đáng đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc hay không. Suốt cả thời gian địch không dám hoạt động, các lực lượng bộ binh ta ở dưới mặt đất đã triển khai, đã làm nên bao chuyện bất ngờ cho chiến dịch.

        Vậy nên, khi nói đến những người chưa được phong Anh hùng, nhưng các hành động của họ đã là những hành động Anh hùng và họ được coi là những người Anh hùng trong tâm tưởng của mọi người, mọi thế hệ thì cũng hoàn toàn là xứng đáng và không có gì là quá đáng cả. Và, Đại đội 5 (Phi đội 5 sau này) không kể đến thành tích bắn rơi máy bay địch khi tham gia Trực ban chiến đấu ban ngày mà chỉ tính riêng đến việc tham gia bảo vệ tuyến đường Hồ Chí Minh, tham gia chiến dịch đánh Quảng Trị và trong chiến dịch " Điện Biên Phủ trên không" đã bắn rơi "siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm B-52" và bắn trọng thương "siêu pháo đài bay B-52" khác cũng đã hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu Anh hùng, cho dù chưa được Nhà nước phong tặng.

        Trong chặng đường chiến đấu, xây dựng và phát triển của mình, Đại đội 5 bay đêm cũng đã phải gánh chịu những tổn thất, mất mát trong chiến trận, trong khi bay làm nhiệm vụ như các anh Nguyễn Ngọc Thiên, Vũ Xuân Thiều, Phạm Văn Mạo, Nguyên Văn Đậu, Vương Hữu Quý...

        Dù các anh không còn đứng trong đội ngũ, các anh đã xếp lại những đôi cánh bay của mình, nhưng trong tâm khảm của tất cả đồng đội, đồng chí và bạn hữu - các, anh vẫn như còn đâu đây, vẫn như ngày nào, không có gì đổi thay và nỗi nhớ thương các anh vẫn nặng trĩu, luôn canh cánh bên lòng. Các anh mãi mãi vẫn là những ngôi sao lặng lẽ tỏa ánh sáng lung linh trên bầu trời - những ngôi sao không tắt!

        Các anh là Bất Tử!

        Xin được trích bài thơ của Nguyễn Thị Hồng Yên - người vợ của một đồng đội của các anh và cũng là người đồng chí công tác cùng Quân chủng Phòng không - Không quân của các anh viết nhân ngày giỗ của anh Vũ Xuân Thiều (năm 2007):

                Có một Phi công Liệt sĩ Anh hùng
                Từng sống ở ngôi nhà 21 phố  Đặng Dung
                Anh đã lập chiến công
                Trong chiến dịch "Điện biên phủ trên không"
                35 năm về trước
                Tình yêu mãnh liệt với Quê hương, Đất nước
                Đã tiếp sức cho anh
                Một con người bình dị
                Lập nên chiến tích phi thường

                Siêu pháo đài bay
                Thần tượng của Lầu năm góc
                Đã bị anh hạ gục trong phút chốc
                Xác cháy tan tành
                Trên bầu trời Sơn La
                Sự hy sinh quên mình của anh
                Góp một phần cho chiến thắng
                Cho Thủ đô yêu dấu
                Cho đất nước hòa bình
                Cho hai miền Nam - Bắc
                Thắm sắc đào, mai
                Cho hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc
                Cho bầu trời mãi yên bình, trong vắt

                Và suốt 35 năm qua
                Tôi vẫn thấy bóng dáng người anh hùng
                Tóc hoe vàng
                Nụ cười hiền hậu
                Bình thản đi, về trên phố Đặng Dung


        Vâng, đúng vậy! Người Anh hùng của chúng ta bước những bước thật thanh thản sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm cao cả đối với Quê hương, Đất nước.

        Đâu đó vang lên bài hát "Không quân Việt nam" của cố nhạc sĩ Văn Cao:

                " Ôi phi công danh tiếng muôn đời
                Nhìn xa phi trường Việt nam
                Không quân nhân dân cánh bay rợp trời..."

        Ngoài công viên, các em nhỏ đang nô đùa, chạy nhảy tung tăng với những khuôn mặt ngây thơ, rạng ngời niềm vui khôn tả, và những tiếng cười thật trong trẻo.

        Một đàn bồ câu trắng bất ngờ bay vút vào khoảng không xanh thẳm, thanh bình, chan hòa sắc nắng...

        Hà Nội vào Thu!...

HẾT