Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2016, 03:38:53 AM



Tiêu đề: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2016, 03:38:53 AM
        
        - Tên sách: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
        - Tác giả: Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2008
        - Số hoá: Tuaans, Giangtvx

Lời giới thiệu

        Tôi xem hồi ký “Đường lên cơ quan Tổng hành dinh” Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh viết về cuộc đời binh nghiệp của mình, tôi rất ấn tượng về anh, tuổi rất trẻ bước vào cuộc đời đã phải nếm trải biết bao đau khổ hy sinh nhưng đầy tự hào về lòng yêu Tổ quốc.

        Tôi đã có dịp chung sống, một thời ở cơ quan tác chiến Bộ Tổng tham mưu, rồi thì anh ở cơ quan, tôi ra đơn vị chiến đấu, lại thường gặp nhau trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, gặp nhau trong nhiều cuộc diễn tập chiến dịch, trong nhiều cuộc hội thảo khoa học.

        Anh, mà cuộc đời là binh nghiệp, qua các trang hồi ký trải dài sóng gió máu lửa từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc, tôi càng hiểu thềm và rất yếu mến về tác phong tỉ mỉ, thận trọng, có một trí nhớ tuyệt vời của anh.

        Thật không nhiều lắm cán bộ có khả năng, được tín cẩn, củng có phần nào chút may mắn để được phân công, giao nhiệm vụ quan trọng, được chứng kiến nhiều thời khắc bàn thảo, chí đạo, chỉ huy chiến tranh mang tính lịch sử ở Tổng hành dinh.

        Anh được thử thách rèn luyện trong hoạt động bám sát theo dõi, đốc chiến ở những nơi, những lúc gay go quyết liệt của những cuộc chiến sinh tử.

        Trong anh, có thể nói là một kho tư liệu sống rất phong phú, đa dạng rất quý giá của người trong cuộc về chỉ đạo chiến tranh, về xây dựng - Quốc phòng toàn dân, Quân đội nhân dân. Đặc biệt vai trò của sự hiện diện cơ quan tác chiến và cùa anh trong các mốc mang tính lịch sử, những sự kiện lớn của cách mạng: chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch giải phóng Tây Bắc, Điện Biên Phù, Thượng Lào, mười hai ngày đèm Điện Biên Phủ trên không, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hai đầu đất nước...

        Anh Hoàng Nghĩa Khánh với cuộc đời binh nghiệp mang đậm nét là cán bộ tác chiến chuyền nghiệp.

        Những năm dài ở cơ quan cấp cao - Tổng hành dinh, nơi đào tạo giúp anh có nhận thức sâu, hiểu biết khá rộng, song anh vẫn giữ nếp sống giản dị, khiêm tốn, dề gần, trên quý, dưới thương.

        Hồi ký của anh là một của quý đáng được nghiên cứu, giúp ích cho việc giáo dục truyền thống quân đội, bồi dưỡng đào tạo cán bộ chuyên nghiệp, nhất là về tham mưu, tác chiến.

        Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/5%20-%200002_zps9svhm59g.jpg)              

Trung tướng NGUYÊN THỚI BƯNG          
Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng        
Phó Tổng tham mưu trưởng            



Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 11:52:53 AM
        
Lời nói đầu

        Nhiều bạn tôi trong quân đội đã viết hồi ký của mình và khuyên tôi viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ đời mình có gì đáng viết và viết để làm gì? Nên chưa viết được.

        Nay mọi việc công tư cơ bản đã xong, có thời gian tương đối nhàn rỗi, ôn lại chuyện cũ, nhớ lại một thời dĩ vãng mình đã qua và lưu lại cho con cháu, chắt, nội ngoại biết ông cha mình trước đây đã sống và chiến đấu như thế nào.

        Đến tuổi 75 tôi mới bắt đầu tự tay mình viết lại những dòng ghi nhớ cuộc đời đã qua. Tôi không biết viết văn, vì không phải là nhà văn. Củng có mấy lần có nhà văn gọi điện thoại, có lần gửi thư kèm theo đề cương nội dung yêu cầu đến phỏng vấn cuộc đời hoạt động của tôi. Nhưng tôi đã cảm ơn vì thấy bản thân không có vấn đề gì lớn cần viết sách hoặc đăng báo và bởi thấy sự đóng góp của cá nhân mình chỉ là một hạt cát trong biển cả mênh mông. Sức mạnh to lớn là của quân đội và nhân dân ta, nên không muốn nói cái gì riêng về mình. Tôi chần chừ mãi, đã 8 năm qua.

        Nay sang tuổi 83, tôi muốn để lại một chút kỷ niệm cho đơn vị cũ và những người thân, nên tôi nhớ gì tự tay viết nấy, cả cuộc đời tư và công tác phục vụ cách mạng, phục vụ quân đội.

        Tôi sẽ kể lại từ thời học sinh, bước vào phục vụ cách mạng, trong quân ngũ, từ người lính trở thành cán bộ, khi ở đơn vị chiến đấu, khi về công tác ở cơ quan. Từ những ngày trước khởi nghĩa, qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia. Ghi lại những kỷ niệm vui buồn không bao giờ quên, trong những ngày chung sống, chiến đấu và công tác với các bạn quốc tế, các nước láng giềng (Lào, Campuchia) và các bạn Trung Quốc, Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cu Ba...

        Tôi sẽ kể lại những điều mà tôi đã học được trong cuộc đời phục vụ quân đội.

        Lúc ở đơn vị cơ sở, tôi đã học tập được anh em cán bộ, chiến sĩ đồng đội, trong cuộc sống và chiến đấu.

        Thời gian công tác ở Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, tôi đã học tập được nhiều kinh nghiệm và tác phong công tác của các Thủ trưởng Cục trực tiếp và cán bộ đồng nghiệp trong cơ quan nhưng không thể nhớ và ghi lại hết.

        Trong cuốn “ghi nhớ” này, tôi chỉ có thể nhớ lại những hình ảnh và đức tính tốt đẹp của một số Thủ trưởng Bộ mà tôi đã được phục vụ trong từng thời gian hay nhiều lần tiếp xúc (có một số Thủ trưởng nay không còn nữa) mà tôi rất cảm phục. Tôi chỉ nêu lên những ưu điểm nổi bật mà tôi đã học tập được. Tôi không dám nhận xét đánh giá toàn diện, tài năng đức độ, vì tôi chí biết một thời gian không biết toàn bộ cuộc đời hoạt động của các đồng chí; còn khuyết điểm, nhược điểm thì không ai có thể tránh khỏi như Bác Hồ thường nói.

        Tuy rằng kể ra còn chưa đầy đủ và do khuôn khổ cuốn sách này, không thể kể ra hết với tất cả các Thủ trưởng Bộ khác.

        Trong thời gian công tác ở Bộ Tổng Tham mưu, tôi củng nhớ lại và suy nghĩ về một số sự kiện đã xảy ra mà tôi được biết. Nhưng với tư cách cá nhản, trước những vấn đề lớn đã và đang tiếp tục được tổng kết , tôi không thể nói ra hết được các chi tiết, về các sự kiện, nhân chứng.

        Tôi nhớ lại và nêu lên những suy nghĩ của cá nhân mình về một số chiến dịch do Bộ chỉ đạo mà tôi được tham gia học tập. Nhưng không nói cụ thể về chủ trương, sử dụng lực lượng, diễn biến chiến dịch, các trận đánh; vì đã trình bày rõ trong các bản tổng kết chiến lược, tổng kết các chiến dịch các trận đánh của Viện Lịch sứ Quân sự và của các cơ quan tổng kết.

        Do tuổi đã cao, sức khỏe có mặt hạn chế, tôi nhớ gì viết nấy nên không tránh khỏi nhầm lẫn về sự kiện, thời gian, địa danh, tên tuổỉ bạn bè, có thể bỏ sót nhiều việc đáng nói trong đời mình. Rất mong nhận được sự thông cảm, độ lượng, góp ý kiến bổ sung của bạn đọc.

        Cuốn sách này tôi đặt tên là “Đường lên cơ quan Tổng hành dinh”. Tuy là những việc ghi nhớ trong cả “cuộc đời’’ của tôi, hơn ba phần tư thế kỷ, nhưng nói về chiến đấu và công tác từ đơn vị cơ sở lên Tổng hành dinh thì chí là việc cống hiến rất nhỏ bé của tôi trong cuộc đời phục vụ quân đội và cách mạng.

        Nhân cuốn sách được ra mắt bạn đọc, tôi xin chân thành cảm ơn Đại tướng Lê Văn Dũng - Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; cố Đại tướng Văn Tiến Dũng - nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trần Văn Quang; Trung tướng Nguyễn Thới Bưng - nguyên Thứ trưởng Bộ

        Quốc phòng cùng nhiều vị tướng lĩnh trong Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tác chiến các thời kỳ, các đồng chí, đồng đội dã động viên, tham gia góp ý kiến. Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện hoàn chính bản thảo, cho ra mắt bạn đọc cuốn sách này vào dịp kỷ niệm 64 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

TÁC GIẢ        


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 11:55:16 AM

Chương một

THỜI NIÊN THIẾU VÀ NHỮNG NĂM THÁNG ĐẦU TRONG QUÂN NGŨ

        Tôi sinh ra tại làng Phổ Đông, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình tiểu tư sản, tiểu thương. Mẹ tôi bán hàng nhỏ ở chợ Vinh, trong cải cách ruộng đất xác định là dân nghèo thành thị. Từ nông thôn ra ở ngoại ô thành phố Vinh trong một xóm gọi tên “Yên Giang” - “một 'dòng sông bình yên”. Nhưng lại là một nơi không “yên bình” chút nào. Trong một xóm nghèo đa số là dân lao động, hàng ngày dân nghèo đụng chạm với một tay đội “cu lít” tên là “Bát Tạo”, nó đi về hoạnh họe đánh dân. Ai đi đường không tránh nó, nó hỏi biết tao là ai không? Dạ là “cụ Bát Tạo ạ”, nó nói “Bát Tạo” là “bạo tát” rồi vô cớ tát tai dân. Sau này vào năm 1944 - 1945 những cảnh chết đói đầy đường, hàng đoàn xe ba gác chở xác người từ thành phô" qua cầu Cửa Tiền ra xóm Yên Giang chôn vào nghĩa địa trước mặt nhà tôi (Cồn Đền). Những hình ảnh ấy bắt đầu để lại trong đầu óc tôi.

        Gia đình tôi vốn có chút ít học hành, cha tôi trước đây có học chữ Hán (không biết trình độ nào) nhưng dân làng thường gọi “ông Tú” và buổi giao thời “Hán Nho” thất thế, cũng học được ít tiếng Pháp, nên có thời gian làm thư ký Sở Địa chính (Cadastre). Nhưng tính tình cũng không ổn định nên khi làm, khi bỏ việc; đi giúp người ta ghi chép buôn bán gỗ miền ngược. Mẹ tôi con một gia đình cân thuốc bắc ở thành phố Vinh, hồi nhỏ cũng được học biết chữ quốc ngữ, bà con khen “con người hiền hậu sẽ để lại phúc lộc cho con cháu sau này”, tần tảo lo nuôi con ăn học.

        Giấy khai sinh của tôi khi vào học lớp đồng ấu (cours enfantin) là 10 tháng 6 năm 1926. nhưng cũng không biết ngày đó có phải là ngày sinh chính thức của tôi không? Vì hồi nhỏ có khi nghe cha mẹ tôi nói “nó phải khai thêm một tuổi mới đủ tuổi vào trường công”, có khi nói tuổi Dần, có khi nói tuổi Mão. Tên họ tôi từ khi khai sinh đến giờ là một “Hoàng Nghĩa Khánh”, giữ nguyên dòng họ, tổ tông “Hoàng Nghĩa”. Tôi chẳng có “bí danh” gì cả, vì chẳng có gì phải bí mật. Mà cũng chẳng có “pháp danh”, “giáo danh” gì cả, vì gia đình tôi không theo đạo nào. Hồi nhỏ có lần tôi nghe mẹ nói có một ông thầy “tướng số” nào đó xem “tử vi” cho tôi bảo là tôi có “số tốt” nên được “quý nhân phù trợ”! Có phải thế, nên có lần tôi đi thi xe đạp từ Vinh vào Hà Tĩnh để lấy bằng thể thao “Brevet d'Taudax”, hòng đi thi bằng cấp có được thêm điểm. Nhưng khi đi từ Hà Tĩnh về không có tiền ăn, đói lả nằm lăn ra đường bên núi Hồng Lĩnh. Có một ông đồn kiểm lâm chợ Củi dìu về nhà cho ăn ngủ tại nhà một đêm (bà vợ rất thương vi ông bà không có con). Cả đêm đó thầy tôi đi xe kéo tay suốt đêm dọc đường Bến Thủy, Hà Tĩnh tìm tôi không thấy. Đến 3 giờ sáng tôi tỉnh dậy lặng lẽ lấy xe đạp về nhà, vì sợ làm phiền ông bà mất giấc ngủ nên cả nhà không ai biết, mà dạo ấy đường dọc núi Hồng Lĩnh nhiều vụ cướp giết người lấy của, cũng may! Tôi cũng nhớ ông bà đồn kiểm lâm chợ Củi mà khi ra đi quên không một lời chào cảm ơn ân nhân của mình. Sau này nhiều lần qua đường Hồng Lĩnh nhớ lại cảnh cũ người xưa, tôi dừng xe đứng xuống đường nhìn ngôi nhà ở bến đò chợ Củi, chỉ còn thấy nền nhà nhưng không biết ông bà đó còn sống hay đã chết, bây giờ ở đâu?

        Trong những năm học trung học trường Thuận An ở Vinh mà hiệu trưởng là thầy Võ Thuần Nho (em ruột ông Võ Nguyên Giáp); có nhiều thầy học như cụ Hoàng Đức Thi, Trần Hậu Toàn... và nhiều thầy khác, hồi đó nghe nói là những thầy “ương ngạnh”, “cứng đầu” nên không được dạy ở trường công, hùn nhau mở trường tư. Ớ tuổi trưởng thành của tôi cũng đâ bắt đầu tiếp thu những chuyện “chống đốì nhà nước, quan Tây”, chuyền tay nhau đọc những sách về phong trào chống Pháp như cuốn “Nguyễn le patriote” “Nguyễn Ái Quốc”. Không nhớ ai viết, nhà xuất bản nào? Chắc nội dung xuyên tạc nhiều, nhưng nghe tên sách đã bắt đầu biết ông Nguyễn Ái Quỏc và tò mò thích đọc. Rồi cùng lớp học sinh thanh niên hồi đó có buổi tham gia cuộc tụ tập ném đá vào nhà hiệu bán vải của dân tư sản Ấn Độ da đen (do ức hiếp đánh các cô gái ở thôn quê ra thành phố làm đầy tớ cho cửa hiệu) ở đường Albert Sarraut. Một ngày tháng 4-1941 tôi theo cùng bạn bè lớp học “bãi khóa”, bỏ học, đi lên cổng chốt tham gia tụ tập chống việc xử bắn “Đội Cung”. Những ngày sau bị bọn phòng nhì “2e bureau” đến lớp dọa nạt, nhưng các thầy đã có ác cảm với “đầy tớ Tây”, cũng lờ đi cho qua chuyện.

        Tốt nghiệp với bằng thành chung “Diplome”, tôi bắt đầu chạy xin việc làm. Trong buổi giao thời “Pháp - Nhật” nên khó kiếm nghề nuôi thân. Tôi định lên dạy một trường tiểu học tư ở Nghĩa Đàn, bắt tay vào nghề mà bạn học lúc đó gọi là nghề “godautre” (gõ đầu trẻ). Nhưng cha mẹ tôi sợ “vùng rừng núi nước độc” chưa cho đi. Tôi lại tham gia vào “hội truyền bá quốc ngữ” và dạy ban đêm một lớp “bình dân học vụ” ở một ngôi chùa gần cầu Cửa Tiền.

        Vào một buổi sáng đầu tháng 4 năm 1945, tôi về nhà thấy một tờ báo của Mặt trận Việt Minh (Nghệ An) in bằng tay, không biết ai quẳng trên màn ở chiếc phản tôi ngủ, gần đường hẻm qua nhà. Tôi lén lút đọc thấy hay và giấu kín. Rồi sau đó vài ngày, tôi nhận được tiếp mấy tờ báo nữa. Từ đó tôi được bạn bè rủ đi tham gia đội tự vệ của xóm, vào “đội thanh niên cứu quốc” của Việt Minh. Do có trình độ văn hóa hơn thanh niên trong xóm, nên tôi được cử làm đội trưởng đội tự vệ xóm Yên Giang, cùng hăng hái tham gia đội bóng đá của xóm, buổi tôi đi dạy bình dân học vụ. Rồi đến một buổi sáng tháng 8 năm 1945 (23/8/1945) dòng người cuồn cuộn từ các làng ở nông thôn, ở chợ Tràng, già trẻ trai gái, tay cầm gậy, giáo, mác, vừa đi bộ vừa hô khẩu hiệu chống phát xít, vào thành phố Vinh. Đội tự vệ chúng tôi cũng tay cầm giáo mác gậy gộc cùng đoàn biểu tình đi qua Cửa Tiền vào tòa công sứ cũ của Pháp, vào thành nội. Nha Giám binh, kéo qua các đường phố Vinh (Boulevard Destenay, Marechal Foch...), xuống nhà máy Trường Thi, Bến Thủy, ... Ngày hôm sau cả thành phố treo cờ đỏ sao vàng, dự lễ ra mắt của chính quyền cách mạng mới thành lập (do ông Tài làm chủ tịch...). Các buổi tối đến các nhà tư sản lớn nghe đài phát thanh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (các chủ nhà đặt máy phát thanh ngoài cửa cho dân nghe) và tụ tập ở ngã Ba chợ Vinh nghe diễn thuyết, cùng nắm tay phải qua đầu hát các bài ca Cách mạng (Diệt phát xít...).

        Trong tiểu đội lúc này chỉ có gậy gộc, đại đao tự rèn, tôi và một vài đồng đội đêm đến trại hiến binh Nhật (chiếm đóng ở cửa hiệu Gô Đa) nhặt trộm các xắccốt, ghệt da, kiếm cũ của quân Nhật để lại về trang bị thêm cho tiểu đội. Cũng từ đó đội tự vệ cứu quốc của chúng tôi bắt đầu công khai hoạt động, chiều nào cũng vừa đi “một, hai” vừa hát “Tiến quân ca”., lên Cồn Đền tập quân sự.

        Có đêm đi tập trận giả với gậy tre vót nhọn và đại đao, nằm ép sát bờ sông Cửa Tiền, tập đánh chiếm lại tòa công sứ cũ (nay là cơ quan ủy ban Cách mạng).

        Từ một học sinh thuộc tầng lớp dân nghèo thành thị, sống ở xóm ngoại ô thị xã Vinh, học hành không được liên tục, nhưng nhờ các ông chú, ông cậu và họ hàng giúp đỡ, chỉ học tốt nghiệp được bằng thành chung. Trong phong trào Cách mạng được giác ngộ và đi theo con đường cứu quốc để giành độc lập tự do. Từ một học sinh vào đời trong đoàn thanh niên cứu quốc, đội tự vệ chiến đấu thành Vinh, rồi gia nhập vào hàng ngũ quân đội.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 11:58:56 AM
        
*

*       *

        Ngày 1 tháng 9 năm 1945, tôi gia nhập Quân chính cục, trụ sở đóng trong một nhà tư sản ở cổng Chốt, đồng chí Trần Văn Quang làm Quân chính Cục trưởng, sau đổi tên thành Vệ Quốc quân. Do nhu cầu trang bị cho bộ đội, tôi được chuyển sang một đội sản xuất lựu đạn do anh họ tôi là Phạm Mỹ Vinh làm quản đốc, binh công xưởng đặt trong nhà thờ Xã Đoài (bắc thị xã Vinh).

        Mấy tháng sau, tôi ngồi xem một công nhân lắp lựu đạn do không hiểu về kỹ thuật, sơ ý làm tụt cò lựu đạn, bị nổ đứt lìa cánh tay, còn tôi được gọi về lại Cục Quân chính. Với tính tò mò hòng đem kinh nghiệm ấu trì của mình nhồi thuốc súng để làm lựu đạn tặng đội tự vệ cũ của mình, bị cháy bỏng mặt, tay chân, phải nằm bệnh viện Vinh mất một tháng. Ra viện một thời gian tôi được giới thiệu đi học trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa một ở Sơn Tây, với tiêu chuẩn lúc đó là một học viên phải có bằng Thành chung trở lên.

        Vào đầu năm 1946, tôi từ giã gia đình, lần đầu tiên xa quê hương lên tàu hỏa ra Hà Nội để nhập học trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa một ở Sơn Tây.

        Thê là một cuộc sống mới lại bắt đầu! Một học viên của trường Võ bị chính qui đầu tiên của quân đội ta. Được rèn luyện 6 tháng trong một trường quân sự cách mạng, trước đây là trường sĩ quan cũ của quân đội Pháp, với những khu học xá đẹp trên một ngọn đồi ở ngã ba tỉnh lỵ Sơn Tây đi lên khu quân sự Tông (Hòa Lạc), do ông Hoàng Đạo Thúy làm Giám đốc và ông Trần Tử Bình làm Chính ủy.

        Tốt nghiệp trường Võ bị (cuối năm 1946) trong hoàn cảnh kháng chiến toàn quốc đã nổ ra. Chúng tôi được điều về Hà Nội vào một đêm mà trong thành phố đã có nhiều cuộc đụng độ quân sự. Tiếng súng, lựu đạn, pháo nổ khắp nơi. Sau đó, mỗi người chúng tôi được điều đi công tác ở các đơn vị tôi được điều về làm trung đội trưởng ở chi đội Đội Cung (sau này là trung đoàn 57 tiếp phòng quân) đóng quân trong doanh trại của quân Pháp cũ (gọi là Caserne Liautey) ở Bến Thủy, thị xã Vinh.

        Thời kỳ này Liên khu 4 chuẩn bị thành lập trường “Kháng chiến học hiệu”. Do được đào tạo từ một trường quân sự chính qui ra, một tháng sau tôi được điều động về khung trường “Kháng chiến học hiệu” đóng quân trong khu “thành nội” - thị xã Vinh để vừa bồi dưỡng cho cán bộ khung, vừa triệu tập học viên.

        Sau khi được thành lập, thầy trò “Kháng chiến học hiệu” hành quân lên đóng quân ở đồn khố xanh cũ ở xã Cát Văn huyện Thanh Chương để bắt đầu khai giảng. Nhà trường lúc đó chỉ có hai đại đội học viên do đồng chí Nguyễn Thanh Đồng, nguyên Chính ủy Liên khu 4 làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy. Có một cán bộ Trung Quốc tên là Trần Quang (nghe nói là một tiểu đoàn trưởng của giải phóng quân Trung Quốc ở Hoa Nam, bị đánh dạt từ Quảng Tây sang) và hai cán bộ quân sự Trung Quốc khác làm huấn luyện viên trường ở cấp đại đội, tôi làm trung đội trưởng huấn luyện một trung đội học viên.

        Là một huấn luyện viên được nhận xét là khá ở nhà trường, nên tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 10 tháng 2 năm 1947 (thời kỳ này Đảng đã lui vào hoạt động bí mật) do đồng chí Lê Trung - Chủ nhiệm Chính trị hiệu bộ và đồng chí Lê Cần - Chính trị viên trung đội giới thiệu. Qua 3 tháng, Trường Kháng chiến học hiệu bế giảng, đầu năm 1947 tôi được điều động về làm Đại đội trưởng Đại đội 83, tiểu đoàn 199 (sau này đôi phiên hiệu là tiểu đoàn 400) thuộc trung đoàn 103 Hà Tĩnh do đồng chí Tùng Lâm là Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Quang Minh là Chính ủy. Về làm đại đội trưởng với tuổi 20, dáng người thư sinh, trong khi một người đội khố xanh hơn tôi gần 10 tuổi làm quyền đại đội trưởng, phải hạ xuống làm đại đội phó, nên tôi bị thử thách nhiều với ông ta. Có lần ông rủ tôi cùng ông, hai người phi ngựa nước đại từ Chu Lễ lên Tân Ấp, xóm Cúc (gần biên giới Việt - Lào) hoặc trong những buổi thi bắn bia cùng đại đội. Nhưng dần dần tôi được anh em tín nhiệm và ông đại đội phó đó cảm phục.

        Đại đội cơ động nay đây mai đó, sống trong nhà dân trong tình cảm thắm thiết với đồng bào địa phương và sự chăm sóc chu đáo của các “bà mẹ chiến sĩ”. Mỗi lần đến làng dân mừng, mồi lần ra đi dân quyến luyến chia tay, tình cảm quân dân thắm thiết đúng như bài hát:

                “Các anh đi ngày ấy đã xa rồi

                Xóm làng tôi còn nhớ mãi...

                Các anh về tưng bừng trước ngõ

                Lớp lớp đàn con hớn hờ chạy theo sau,

                Mẹ già bịn rịn áo nâu

                Vui đàn con ở rừng sâu mới về..”


        Tình cảm quân dân như “cá nước”, tình nghĩa đồng đội cán bộ chiến sĩ chan hòa như anh em trong một gia đình. Rồi đến cuối năm 1947 tôi được đề bạt làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 400 (đồng chí Trần Mạnh Đàn làm tiểu đoàn trưởng, Mai Trọng Thường làm chính trị viên) và tiểu đoàn bắt đầu rời Hà Tĩnh vào Quảng Bình chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 12:01:32 PM
        Được bắt đầu rèn luyện trong các trận chiến đấu từ các trận đánh đồn Ba Đồn (Quảng Trạch), chống càn ở Cự Nẫm (BốTrạch) rồi vượt Liên U, Ba Rền (trên dãy Trường Sơn) vào chiến khu Quảng Ninh (anh em gọi là chiến khu Ruốc, vì thức ăn chỉ toàn rau tàu bay hay rau khoai lang nấu với ruốc Quảng Bình). Tiểu đoàn hành quân tiếp vào chiến khu Rợn - Bang - Đan Quế (Lệ Thủy). Với trận đánh đồn Phú Hòa, bắt sông tên đồn trưởng Pháp.

        Tiếp sau đấy, một trận đánh đồn bằng binh vận là đồn Mỹ Trạch, tôi được cử đi bắt liên lạc với ông đội Thời, chỉ huy phó đồn Mỹ Trạch (đồn trưởng là người Pháp). Đi đêm từ chiến khu ra, từ rừng xuống đồng bằng, nhân mối đưa tôi vào một nhà bỏ hoang, báo ở đấy chờ đội Thời để ra bắt liên lạc, bàn việc binh biến giết chỉ huy và lính người Pháp để cướp đồn. Tôi và một chiến sĩ ngồi chờ suốt ngày, không thấy đội Thời đến, thỉnh thoảng thấy các toán lính cả Pháp và người Việt đi tuần qua lại ngoài hàng rào, bắn vài phát đạn “đum đum”, hai tiếng nổ “tắc bọp”. Tôi và một chiến sĩ đi cùng vào buồng ẩn nấp của nhà bỏ hoang, đến tối không bắt liên lạc được với đội Thời, lại trở về chiến khu Bang trong đêm đó. Ngày hôm sau nhân mối báo tin, sở dĩ đội Thời không ra gặp được vì do tên đồn trưởng người Pháp giữ lại trong đồn không cho ra làng và hẹn hai hôm sau đưa tiểu đoàn đến bao vây đồn vào 12 giờ đêm, chờ khi nào trong đồn lính Việt mở cửa và bắn chết tên đồn trưởng, lính Lê dương người Pháp, thì đơn vị xông vào chiếm đồn. Nằm ép sát đồn chờ mãi đến 3 giờ sáng vẫn không thấy động tĩnh gì, sợ trời sáng hành quân về đường đồng bằng bị lộ, phải lui quân; nhưng khi cả đơn vị vừa vào tới bìa rừng thì 5 giờ sáng nghe tiếng súng nổ trong đồn. Cả đơn vị đứng nhìn về đồn Mỹ Trạch tiếc ngẩn ngơ. Đến ngày hôm sau đội Thời cùng 3 lính chạy về chiến khu, bảo là phục mãi đến 5 giờ sáng mới tiếp cận được nhà ngủ của tên đồn trưởng Pháp, bắn súng vào nhà và rút chạy thoát thân.

        Thế là một trận đánh đầu tiên bằng binh vận không thành công, do hiệp đồng không chặt chẽ, kế hoạch không tỉ mỉ!

        Tiểu đoàn 400 cơ động chiến đấu hầu khắp các huyện trong tỉnh Quảng Bình trong hơn một năm, khi đánh tập trung cao là tiểu đoàn thiếu đại đội, thông thường đánh từng đại đội, nhiều trận cấp trung đội! có đánh phục kích, chống càn, tập kích đồn và một trận đánh binh vận. Từ chiến khu rừng núi chiều tối “bôn tập” đánh địch ở đồng bằng, địch hậu, sáng sớm lại lui quân về chiến khu.

        Một năm trước (1947) làm đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, cơ động trong tất cả các huyện Hà Tĩnh (là một vùng tự do chưa có địch) chủ yếu là luyện quân và làm công tác dân vận. Bộ đội sống trong nhà dân, trong lòng dân, tình quân dân thắm thiết, trong những đêm tâm tình ngồi quanh rổ khoai lang nóng hổi, đọi cà muối và bát nước chè xanh.

        Hơn một năm (vào năm 1948) lăn lộn chiến đấu trong tỉnh Quảng Bình, địch tạm chiếm hầu hết đồng bằng, quân dân chính Đảng của ta ở chiến khu vùng núi rừng. Tiểu đoàn chiến đấu trong điều kiện xa dân, thiếu thốn vật chất, chủ yếu dựa vào khoai sắn, mì, tăng gia sản xuất tại chỗ. Thỉnh thoảng có cán bộ hay chị em phụ nữ lên họp, đèo cho bao gạo, túi mắm cá khô. Những tối về địch hậu hoạt động, chị em chèo thuyền từng tổ, từng tiểu đội, bí mật luồn về nông thôn ở địch hậu, trong không khí đầm ấm của các mẹ chiến sĩ, chị em Lệ Thủy (nơi gạo trắng nước trong) nhiều cô gái xinh đẹp trong bộ áo dài quần đen, tóc búi sau gáy, dúi cho bộ đội gói kẹo mè xửng, hộp kẹo bạc hà (Pastille Valda), bao thuốc lá Basto hay Cotab, với bữa cơm ngon, canh ngọt, cá tươi gạo trắng “thật tươi vô cùng!”. Những giọt nước mắt quyến luyến không rời tay nhau khi bước lên thuyền để trở về chiến khu.

        Hình ảnh cô gái Lệ Thủy từ đồng bằng gùi gạo lên chiến khu Rợn, qua khe suôi Bang bị pháo binh địch bắn tới, chết ngã giữa dòng suối, bao gạo chìm, túi ny lông bọc cá khô, gói kẹo trôi theo dòng nước cùng với màu đỏ của máu, thật cảm động và thương tâm biết chừng nào! Cho nên khi tiểu đoàn từ giã chiến trường Quảng Bình, hành quân ra đất Thanh Hóa, một buổi chiều trên đê sông Mã nhớ lại câu thơ:

                “Đất “Thanh” trông cảnh yên bình

                Không quên “Lệ Thủy” đang uỳnh uỳnh đạn bom.

                Lội suối “Bang” buổi chiều hôm

                Mảnh bom cắt đứt “mối tình bạn ta”.


        Người bạn gái xinh đẹp đầu tiên quê Lệ Thủy, đã không bao giờ còn gặp mặt lại nữa.

        Tiểu đoàn được lệnh hành quân trở về trung đoàn 103 Hà Tĩnh, rồi được điều động ra Thanh Hóa cùng một tiểu đoàn “của đại hội tập” Quân khu 4 (tiểu đoàn 353) và tiểu đoàn 375 (Quảng Bình) thành lập trung đoàn chủ lực đầu tiên của Liên khu 4 (đặt tên là trung đoàn Quang Trung, do đồng chí Tùng Lâm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Kiện làm Chính ủy). Tôi được đề bạt làm tiểu đoàn trưởng 400, đồng chí Trần Thanh Từ làm chính trị viên tiểu đoàn.

        Thế là qua 5 năm đầu trong quân ngũ, được sự bồi dưỡng của tập thể, rèn luyện trong thực tế, từ chiến sĩ tiểu đội tự vệ, chuyển thành cứu quốc quân, rồi chiến sĩ Vệ quốc quân, học viên trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, ra đơn vị làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, trưởng thành trong chiến đấu lên tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng của một đơn vị chủ lực đầu tiên của Liên khu 4. Từ một thanh niên yêu nước được Đảng (Đảng Cộng sản Đông Dương) giáo dục trở thành một đảng viên (10/02/1947), rồi được bồi dưỡng, bầu làm Bí thư chi bộ, Bí thư Tiểu đoàn ủy và Đảng ủy viên Trung đoàn 9.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 12:19:33 PM

Chương hai

CHIẾN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

        1. Tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn Quang Trung - Trung đoàn chủ lực đầu tiên cứa Liên khu 4

        Từ những ngày tiền khởi nghĩa, trang bị của tiểu đội tự vệ chỉ có gậy gộc, dao găm, 2-3 chiếc mã tấu, 1-2 cây gươm Nhật, quần áo tự do, tư trang riêng của từng người, ăn cơm nhà.

        Khi về làm Trung đội trưởng Trung đoàn 57 (Tiếp phóng quân) thì chính qui hơn, một tiểu đội có thêm 2-3 khẩu súng của Pháp để lại (mousqueton- Indochinois), ngoài ra có mìn giật dây, đại đao.

        Về làm đại đội trưởng, rồi tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 199 của một trung đoàn địa phương Hà Tĩnh (el03), thì trang bị đã khá hơn, một tiểu đội được 4-5 khẩu súng cũ, ngoài mìn, phóng lao còn có thêm bom ba càng. Đặc biệt trong đại đội có một khẩu súng máy 12,7 ly (anh em gọi là Đuxết), do tiểu đội trưởng Hồ Lý Nại giữ. Tôi còn nhở mãi tên họ và hình dáng của anh, một lính khố đỏ cũ được giác ngộ, tiến bộ, người to béo, ăn khỏe nhưng thiếu cơm nên lúc nào cũng kêu đói bụng. Một người hăng hái, chất phác, một mình vác cả khẩu “ Đu xết”, khi hành quân hay trong huấn luyện chạy băng băng, lại còn giúp đỡ anh em yếu mang theo bao ruột tượng gạo, ngô; có khi còn một tay giúp thêm anh nuôi xách sọt rau để được “ưu đãi” thêm cơm cháy. Thật đáng thương! Anh chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh!

        Tháng 8 năm 1947, từ Quảng Bình khói lửa, tiểu đoàn được điều động ra Liên khu 4 ở Thanh Hóa, thành lập trung đoàn chủ lực đầu tiên của Liên khu 4 được Thiếu tưởng Nguyễn Sơn đến thăm hỏi, động viên và cung cấp trang bị tốt hơn. Cán bộ có bộ đồ thống nhất vải phin màu xanh (mua từ địch hậu Liên khu 3 ra), chiến sĩ có quần áo vải sợi to nhuộm màu xanh lá cây. Vũ khí súng trường tiểu đội được 5-6 khẩu, mỗi trung đội có thêm khẩu Badôca, có trung đội còn có thêm khẩu súng máy (Mácxim hay Brơnô).

        Tiểu đoàn 400 hơn các tiểu đoàn khác có 2 con ngựa hồng mang từ Hà Tĩnh ra (nghe nói trước đây trưng thu của đồn điền Chu Lễ). Tiểu đoàn trưởng với bộ quần áo xanh, mũ ca lô xanh đội nghiêng, lưng đeo khẩu súng ngắn (côn bát) thỉnh thoảng ngồi trên lưng ngựa hồng, thong dong bên bờ đê sông Mã! nhiều khi nghĩ lại cũng buồn cười!

        Trong thời gian đầu, Trung đoàn Quang Trung mới thành lập, trong cuộc vận động “rèn cán chỉnh quân”, cán bộ cấp tiểu đoàn trưởng được tập trung trong một ngôi đền ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) nghe Thiếu tướng Khu trưởng Nguyễn Sơn giảng dạy các bài học quân sự (nuôi quân, cầm quân, cách đánh giặc...). Thời kỳ này tiểu đoàn trưởng được cấp một chiếc xe đạp Sterling mua ở địch hậu ra, học theo tác phong của Khu trưởng đi xe “cuốc” (ghi đông cong), đội mũ bê rê lệch... thỉnh thoảng sau mỗi buổi học, còn được đạp xe theo Khu trưởng về “Cầu Bố” (khi đó anh em còn gọi là Thủ đô kháng chiến của Liên khu 4) ăn uống trong một cửa hàng người Hoa kiều.

        Cuộc sống ở chiến trường gian khổ, nhưng tình thương yêu nồng thắm, ơ trên miền đất phía tây Quảng Bình khô cằn (như lời một bài thơ của Chính Hữu):

                “Nơi đây:

                ...đất cày lên sỏi đá...

                Áo anh rách vai,

                Quần tôi có vài miếng vá

                Miệng cười buốt giá

                Chân không giày

                Thương nhau tay nắm lấy bàn tay...”

        Ra đất Thanh Hóa, “vựa lúa của Khu 4” (vùng tự do, địch chưa chiếm đóng), những ngày đầu sướng thật! “Rèn cán, chỉnh quân”, huấn luyện bộ đội xong, tiểu đoàn lại bước vào chiến đấu ở Nga Sơn, Mai An Tiêm, vùng ven Phát Diệm. Cuộc thử lửa đầu tiên của trung đoàn chủ lực đầu tiên của khu 4. Vào giữa năm 1948, với những trận đánh địch trên núi đá, những đồn bốt ở đồng bằng trống trải không đạt được thắng lợi gì to lớn, nhưng cũng gây tiếng vang của một trung đoàn chủ lực, buộc địch phải rút một số đồn bốt ở Nga Sơn, bảo vệ trọn vẹn vùng tự do của tỉnh Thanh Hóa.

        Sau những trận ra quân đầu tiên của trung đoàn, Tiểu đoàn 400 cùng các đơn vị trong Trung đoàn lui quân về đóng ở huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa). Tiểu đoàn đóng quân từ Bồng Trung, Vĩnh Lộc, khu vực bến phà Kiêu được nhân dân đón tiếp niềm nở đoàn quân chiến thắng trở về! Các đoàn thể, chị em phụ nữ, các cháu thiếu nhi đến thăm hỏi các anh, các chú bộ đội, với các thùng kẹo, bánh, “chè lam Phủ Quảng” nối tiếng đất Thanh Hóa.

        Nghỉ ngơi tổng kết kinh nghiệm những trận đánh vừa qua, thu đông 1949 tiểu đoàn lại cùng các đơn vị trong trung đoàn hành quân theo đường Vĩnh Lộc - Cẩm Thủy vượt đèo đá sang đất Hòa Bình để tham gia “Chiến dịch Lê Lợi” do đồng chí Hoàng Sâm Tư lệnh Liên khu 3 làm chỉ huy trưởng chiến dịch, đồng chí Lê Trọng Tấn (nguyên Trung đoàn trướng Trung đoàn 209) làm phó. Trung đoàn Quang Trung chiến đấu ở nam sông Đà, Trung đoàn 209 ờ Bắc sông Đà thuộc tỉnh Hòa Bình - Phú Thọ để mở thông đường vận tải Nam - Bắc từ Thanh Hóa (Liên khu 4) qua Hòa Bình (Liên khu 3) lên Việt Bắc.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 12:23:15 PM
        Trên đường hành quân, tôi bị lên cơn sốt rét nặng, sốt 40 độ, phải nằm nghỉ tại trạm xá ở thị trấn Cẩm Thủy. Trong đêm đó một cô y tá ngồi bên cạnh đống lửa, bóp trán, săn sóc suốt đêm. Sau khi cho tôi uống mấy viên thuốc vàng và tiêm thuốc quinacrine. Mờ sáng hôm sau tỉnh dậy, thấy cô y tá thức suốt đêm nằm ngủ trên chiếc chiếu góc phòng, tôi lặng lẽ kéo cậu liên lạc dậy, mang balô ra đi đuổi theo kịp bộ đội, không một lời từ biệt cảm ơn và cũng không biết tên tuổi. Qua ánh lửa lờ mờ lúc tôi đang trong cơn sốt mê, chỉ nhớ cô gái mặt bầu bầu, trắng trẻo, giọng nói thỏ thẻ tiếng Huế.

        Tiểu đoàn hành quân qua một bản người Mường thuộc đất Cẩm Thủy, vượt đèo núi đá sang đất Hòa Bình đế vào tham gia chiến dịch với những trận đánh đầu tiên được giao là đánh 2 đồn “Khống”, “Khạng” ở biên giới hai tỉnh Thanh Hóa - Hòa Bình, rồi tiến ra diệt đồn Tử Nê trên đường 12 Hòa Bình. Hành quân đường dài khá vất vả, vai mang nặng, leo đèo đá, đầu người sau đụng chân người trước, trời mưa leo lên trượt xuống, từng bước một, vượt qua “đồi cọ”. Dũng Quí, đại đội trưởng Đại đội 83, một thanh niên đẹp trai dũng cảm, một “cây văn nghệ” của tiểu đoàn (sau này là Tiếu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng 400), đẩy vai tôi đi trước (vì tôi mới ốm dậy) và ngâm thơ động viên bộ đội, cao giọng:

        “Đèo Cọ cheo leo,

        Mỏm núi hiểm nghèo

        Anh ơi! Gớm đá tai mèo đau ghê!

        Mồ hôi đổ giọt dầm dề

        Bàn chân sưng đỏ tái tê

        Nhưng ta mơ đồn Tử Nê

        Sẽ tan như xác pháo !

        Lập công đầu trong chiến dịch họ Lê (Lê Lợi)...

         ...Hờ lơ...Hò lờ!..."


        Thế là mọi người vang tiếng cười, tiếng hò, hăng hái vượt lên, không kể mỏm đá nhọn, đèo cao.

        Tiểu đoàn đánh xong đồn “Khống”, “Khạng”, vượt qua đường 12 đánh đồn Tử Nê thì quân địch rút bỏ chạy, được lệnh trên cơ động xuống phía Đông theo đường 12 vào đánh đồn Chiềng Vang (thuộc huyện Vụ Bản), một bản lớn do tên phía tạo chỉ huy, có đồn trưởng người Pháp, trong một đêm chiên đấu, lần đầu tiên được trung đoàn cho phối hợp một phân đội súng phóng bom trợ lực. Từ trên đồi cao nhìn xuống đồn, phóng được 3 quả bom, 2 quả trúng vào đồn, một quả rơi ra ngoài hàng rào. Hết bom, dùng súng 12,7 ly bắn chĩa xuống đồn, xung kích leo thang vượt rào tre chông nhím (lúc đó chưa có bộc phá), không mở hàng rào vào chiếm đồn được. Địch bắn côi 81 ly lên đồi, đồng chí trung đội trưởng chỉ huy súng phóng bom ngồi hầm kề tôi bị hy sinh. Đến trời sáng bộ đội ta phải rút lui. Nhưng sáng hôm sau, địch ra xem thấy hố bom lớn, vì lần đầu tiên ta sử dụng súng “phóng bom”, nên sợ quá cũng phải phá đồn rút chạy vào rừng.

        Thế là đường 12 từ thị xã Hòa Bình đến huyện lỵ Vũ Bản không còn địch. Phía nam sông Đà được giải phóng, nối liền từ thị xã Hòa Bình (thuộc Liên khu 3) sang Cẩm Thủy, Thanh Hóa thuộc Liên khu 4, mở thông đường hành lang vận chuyển từ Khu 4 qua đồn Vàng, Vũ Ẻn, Lâm Thao - Phú Thọ lên Việt Bắc. Sau chiến dịch Lê Lợi, tiểu đoàn cùng các đơn vị trung đoàn Quang Trung lại được lệnh lui quân về hậu phương Thanh Hóa, đóng quân trên đất huyện Thọ Xuân, chuẩn bị tham gia thành lập Đại Đoàn 304, đại đoàn chủ lực thứ hai của Bộ Tổng Tư lệnh vào tháng 3 năm 1950.

        Tiểu đoàn 400 lại bước sang một thời kỳ mới, bước lên hàng ngũ của một binh đoàn chủ lực chính qui của quân đội, trong cuộc kháng chiến từ giai đoạn “cầm cự” chuẩn bị chuyển sang giai đoạn “phản công”. (Theo phương châm chiến lược xác định lúc bấy giờ).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:26:28 PM
        Tiểu đoàn 400 của Trung đoàn 9 Đại đoàn 304 chủ lực của Bộ Tổng Tư Lệnh

        Sau Đại đoàn 308, Đại đoàn 304 là binh đoàn chủ lực thứ hai của Bộ Tổng Tư lệnh được thành lập, do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm Đại đoàn trưởng và đồng chí Trần Văn Quang làm Chính ủy. Đại đoàn có 3 trung đoàn: Trung đoàn 66 Liên khu 3, Trung đoàn 57 của Nghệ An và Trung đoàn 9. Trung đoàn 9 lúc đó có Tiểu đoàn 375 từ Quảng Bình rút ra, Tiểu đoàn 353 thành lập từ Đại Hội tập Khu 4 và Tiểu đoàn 400 của Trung đoàn 103 Hà Tĩnh chiến đấu từ Quảng Bình ra làm nòng cốt xây dựng Trung đoàn Quang Trung (sau này đổi phiên hiệu là Trung đoàn 9 trong Đại đoàn 304).

        Tôi vẫn làm Tiểu đoàn trưởng, Bí thư Tiểu đoàn ủy và trung đoàn ủy viên Trung đoàn 9, đồng chí Đặng Tiệp - một trí thức hiền lành, tác phong cần cù, cụ thể, từng làm thư ký riêng cho đồng chí Vương Thừa Vũ, về làm Chính trị viên tiểu đoàn.

        Đại đoàn được thành lập, sau một thời gian xây dựng củng cố. Tình hình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã bước sang giai đoạn mới, sau khi quân dân ta đã giải phóng vùng biên giới phía Bắc từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Đình Lập. Trung đoàn 9 được lệnh hành quân lên biên giới để tiếp nhận vũ khí mới do Trung Quốc viện trợ, tham gia thu dọn chiến trường ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, đồng thời tăng cường làm công tác dân vận, trị an ở vùng mới giải phóng.

        Tiểu đoàn 400 là đơn vị hành quân đầu tiên. Tiểu đoàn bàn giao vũ khí lại cho đại đoàn để trang bị cho đơn vị khác, một tiểu đội chỉ mang theo 1-2 khẩu súng trường đế canh gác, trang bị dao, chủ yếu mang gạo, muối mắm để lên cung cấp cho bộ đội địa phương và đồng bào dân tộc ở biên giới.

        Đầu tháng 11 năm 1950, chúng tôi theo hướng đường đi chiến dịch Lê Lợi, nhưng không theo đường mòn, dốc núi, vách đá cũ mà theo đường cái rộng thênh thang đã được giải phóng, qua Kim Tân Nho Quan, dọc đường 12 lên Hòa Bình, vượt sông Đà, Đồn Vàng, Vũ En, Lâm Thao lên Sơn Dương - Bắc Cạn - Cao Bằng.

        Tiểu đoàn hành quân ngày đi, đêm nghỉ, rất hiên ngang hùng dũng, lá ngụy trang đầy người. Nhưng dọc đường, nhân dân, nhất là trẻ em cứ chê “bộ đội gì toàn gánh gồng, không có súng thì đánh chác gì được”! Chúng tôi đến các bản làng nghỉ đêm, dân đón tiếp không được niềm nở như khi làm nhiệm vụ chiến đấu, đóng quân ở vùng đông dân ở Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Thái độ dân ở dọc đường hành quân không nhiệt tình lắm, vì nhà chật chội mà gánh gồng, gạo mắm vừa ngốn ngang vừa hôi hám! Nên trong tiểu đoàn cũng có thanh niên tự ái đòi bỏ hàng ngũvề lại Thanh Hóa. Hành quân dọc đường số 3 từ Bắc Cạn lên Cao Bằng, gặp tù binh Âu - Phi lao động sửa chữa đường để cho xe ôtô đi lại. Tù binh Âu - Phi nhìn tiểu đoàn với con mắt ngạc nhiên, hơi khinh khỉnh. Vì có lẽ chúng thấy bộ đội gì mà nhếch nhác chỉ gánh gồng, không có súng mà lại đánh thắng chúng, những binh đoàn trang bị hùng mạnh! Nhiều tên thèm thuốc quá, gặp “đoàn quân gồng gánh” này cũng đứng nghiêm giơ tay chào “Capitaine-Cigarette” (Chào sĩ quan - Xin thuốc lá). Vừa hành quân xa, mang nặng, chân phỏng rộp, trước thái độ như thế, nhiều cậu văng tục “garét, garét, cái củ c...”.

        Tới thị xã Cao Bằng, anh em được Ban Quân quản cho nghỉ ngơi, tôi tới gặp đồng chí Trần Đàng Ninh (lúc đó là Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp) đang ở một bản ngoại ô, chỉ đạo công tác ổn định vùng giải phóng và quan hệ với Trung Quốc đê nhận hàng viện trợ.

        Tôi báo cáo tình hình tiểu đoàn và xin nhận nhiệm vụ, đồng chí Trần Đăng Ninh nói: “Các cậu ở khu 4 lên đây, hành quân xa mệt nhọc thế, nhiệm vụ tiếu đoàn bây giờ là nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe...” và đồng chí chỉ thị cho một cán bộ bảo dùng chiến lợi phẩm bồi dưỡng cho anh em.

        Được cấp phát đầy đủ, ngoài gạo, thịt tươi, vịt Hòa An, lại rất nhiều thùng đồ hộp (nào thịt hộp, cá hộp, đường, sữa, lại có cả kẹo sôcôla, cacao, thuốc lá, rượu Tây nữa...), cán bộ, chiến sĩ bao nhiêu mệt nhọc, ấm ức gần nửa tháng đều tiêu tan hết. Nhiều thanh niên gặp các cô gái Tày, gái Nùng mập mạp trong bộ quần áo xanh thẫm, càng nổi lên làn da trắng mịn với đôi má ửng hồng, lại càng mê tít, thì thầm với nhau: “đẹp hơn các o Khu Tư ta”. Có cậu đáp lại “rứa thì mi xin tiểu đoàn trưởng ở lại đây luôn, đừng quay về Khu Tư nữa”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:28:26 PM
        Một tuần sau tiểu đoàn tiếp tục hành quân qua Quảng Uyên, vượt đèo Mã Phục lên thị trấn Trùng Khánh (giáp biên giới Trung Quốc). Hàng đêm nhận các thùng súng đạn của quân giải phóng Trung Quốc chở xe ôtô sang. Bộ đội khuân vác vào các kho dự trữ trong hang đá và được cấp phát đủ các loại súng theo tiêu chuẩn trang bị của một tiểu đoàn, đủ súng trường Thất cửu (7.9), tiểu liên K50, trung liên, đại liên, súng cối 60-81 ly, thắt lưng, bao đạn da đầy đủ, lại cả quần áo xanh lá mạ vải Tô Châu, có chiến sĩ người nhỏ, mặc thùng thình nhưng vẫn ưng ý. Mọi người phấn khởi, trút hết gánh nặng ưu tư vừa qua. Sau đó được lệnh hành quân theo đường số 4 qua Đông Khê, Thất Khê và Lạng Sơn. Qua cầu Bản Trại, nhiều cô gái Nùng nhìn theo và bấm nhau cười khúc khích, làm nức lòng chiến sĩ, đôi chân rảo bước càng mạnh, nhưng lại muốn đi chậm, vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lại.

        Tới thị xã Lạng Sơn đông người, dân đón tiếp rất nồng hậu, tưởng là quân đã tham gia chiến dịch giải phóng biên giới, đánh bại các binh đoàn lê dương sừng sỏ của Âu - Phi (Lơ Pagiơ - Sáctông); có biết đâu đây là đội quân gồng gánh đi tiếp nhận vũ khí, mới “thay da đổi lốt”!

        Sau một thời gian ngắn làm công tác dân vận và bảo vệ trị an vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn, tiểu đoàn được lệnh hành quân về xuôi. Được trang bị vũ khí đầy đủ, trên đường hành quân, có đoạn đi bộ, có đoạn được đi nhờ ôtô về Tuyên Quang vào tháng 1 năm 1951.

        Một ngày ghi nhớ mãi suốt đời của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 400, cũng như cả Đại đoàn 304 là chiều tốì ngày 28 tháng 1 năm 1951, tại một khu rừng cà phê ở Tuyên Quang, tiểu đoàn trong đội hình toàn đại đoàn được đón Bác Hồ đến thăm và nói chuyện. Lần đầu tiên được gặp Bác Hồ, tiểu đoàn trưởng được ngồi bệt xuống đất hàng đầu nhưng cũng không nhìn rõ mặt Bác, vì trời đã mờ tối, ánh lửa củi đốt hai đầu bập bùng khi sáng khi mờ, ai nấy im phăng phắc khi Bác giang hai tay gạt xuống, ra hiệu ngồi im lặng và tôi nghe được câu đầu:

        “Hôm nay cha đến thăm con, Bác đến thăm cháu

        Không riêng là Chủ tịch nước đến thăm bộ đội...”


        Câu nói đó đậm tình thương bao la, tình cảm thắm thiết của Bác Hồ mà cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 304 còn ghi mãi trong tâm trí mình.

        Tôi chỉ nghe được câu nói đó của Bác, còn những lời nói tiếp sau của Bác, tôi cũng không nghe rõ và cũng không nhớ được gì, vì mắt cứ mải nhìn Bác từ đầu đến chân, ngồi xổm lên để nhìn cho rõ, rồi ngồi bệt xuống đất, cứ vỗ tay từng đợt theo mọi người...

        Sau ngày gặp Bác, Đại đoàn lại được lệnh hành quân cấp tốc xuống Vĩnh Yên đế tham gia chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Trung Du. Bộ đội mới được trang bị đầy đủ vũ khí nên khí thế sôi nổi, ai cũng hăm hở hăng hái ra trận. “Chân ướt chân ráo” mới hành quân đến tập kết ở một khu rừng gần Trạm Thản, Tam Dương. Nhận lệnh tối mai tiểu đoàn phải “bôn tập” (thuật ngữ khi đó gọi là chạy nhanh đến vị trí chiến đấu để tập kích địch). Tôi, tiểu đoàn trưởng và các đại đội trưởng, trung đội trưởng, một tiểu đội trinh sát đi ngay đêm đó để chuẩn bị chiến trường, cấp phó và chính trị viên ở lại chuẩn bị bộ đội, chiều hôm sau hành quân đến vị trí qui định. Chúng tôi, đội tiền trạm đi trước đến nghiên cứu trận địa phục kích đánh địch trên đoạn đường Vĩnh Yên đi Tam Đảo. Nhưng khi đó cũng chưa biết địch ở đâu, bạn quân ở đâu? sau khi phân chia khu vực bố trí, mỗi đại đội, trung đội đi nghiên cứu địa hình ở khu vực đơn vị mình sẽ bố trí. Tôi và một trung đội trưởng và một tố trinh sát, từ rừng thông ven đường cái đi xuống thị xã Vĩnh Yên thì gặp một toán địch, chúng vừa hô đứng lại vừa bắn tiểu liên liên tục, chúng tôi nằm sát xuống mặt đường, ruộng thấp hơn mặt đường nên đạn từng vệt sáng vọt qua đầu, chỉ có đồng chí trung đội trưởng nằm bên kia mép đường, khi nhảy sang bên này cùng chúng tôi không may bị một viên đạn xuyên qua bắp chân. Chúng tôi khi này cũng có súng tiểu liên băng tròn, nhằm theo vết ánh lửa của nòng súng địch bắn xôi xả lại. Trời tối đen như mực, hai bên không nhìn thấy nhau, chỉ dùng tiểu liên bắn vu vơ và ném vài quả lựa đạn. Rồi thấy địch dừng tiếng súng rút lui; chúng tôi cũng rút lui. anh em trinh sát lấy chăn vải mỏng mang theo khiêng đồng chí trung đội trưởng về trạm xá.

        Tồi hôm sau đội tiền trạm chúng tôi đón bộ đội vào vị trí. Đến nửa đêm nghe ở phía thị xã Vĩnh Yên đạn nổ khắp nơi, đặc biệt trên núi Đanh, quân ta đang tấn công dữ dội. Hôm sau, trong thị xã vẫn có tiếng súng lẻ tẻ suốt ngày có khi lại nổ dồn dập. Chờ một ngày không thấy địch đi qua, hôm sau tiểu đoàn được lệnh rút về vị trí cũ. Buổi chiều tôi trên đường về thì bị pháo địch trong thị xã bắn ra hướng tiểu đoàn đang hành quân. Chúng tôi đi sau bị pháo chặn trước đường đi, lần đầu tiên bị “pháo bầy” bắn dồn dập (batterie), tất cả nằm ép tại chỗ. Dứt tiếng pháo, chúng tôi lại theo tiểu đoàn hành quân về vị trí tập kết cũ.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:35:20 PM
        Sau chiến dịch, tiểu đoàn lại hành quân về “quê cũ”, hậu phương Thanh Hóa đóng quân ở huyện Thiệu Hóa.

        Thời kỳ này có đoàn cố vấn quân sự quân giải phóng Trung Quốc sang giúp các đại đoàn chủ lực. Cố vấn Đại đoàn 304 là “Chu sư trưởng”, cố vấn Trung đoàn 9 là đồng chí Triệu, cố vấn Tiểu đoàn 400 là đồng chí Cát - một tiểu đoàn trưởng quân giải phóng Trung Quốc. Các đồng chí cố vấn Trung Quốc qua chiến tranh chống Nhật, chống Tưởng lâu dài gian khổ, đất nước mới được giải phóng hơn một năm, các đồng chí là những chỉ huy quân sự trong các binh đoàn “Nam Hạ” giải phóng Vân Nam, Quảng Đông, rồi sang giúp quân đội Việt Nam luôn. Khi đó với tinh thần quốc tế cao nên rất nhiệt tình, tích cực giúp đỡ tiểu đoàn trong huấn luyện và đi sát bộ đội trong chiến đâu. Chúng tôi bắt đầu học tập kinh nghiệm chiến đấu của giải phóng quân Trung Quốc, huấn luyện đánh “bộc phá liên tục”, mở hàng rào dây thép gai đồn bốt địch. Học chiến thuật “nhất điểm lưỡng diện”, lý thuyết quân sự của Lâm Bưu (đánh đồn tập trung binh hỏa lực vào điểm chủ yếu và có một hai hướng hỗ trợ”, với đội hình “tứ tổ nhất đội”, “đầu nhọn đuôi dài”. Phải nói là bước sang thời kỳ này được Trung Quốc viện trợ vũ khí mới, có cố vấn Trung Quốc giúp đỡ nên tiểu đoàn có tiến bộ lởn. Quan hệ giữa ta và bạn cũng tốt. Bác Hồ thường nhắc nhở: “Các chú nay có cố vấn, có “cố” thì phải chiếu cố vật chất, lo bảo đảm sức khỏe cho các đồng chí đó. “Cố” rồi thì phải “vấn” là phải lo hỏi han học tập bạn. Chỉ “cố” mà không “vấn”, không được. Ngược lại chỉ vấn mà không cố (chiếu cố) bạn cũng không được”.

        Sau một thời gian không đầy một tháng, Tiểu đoàn 400 trong đội hình đại đoàn hành quân ra Ninh Bình tham gia chiến dịch ở Hà Nam Ninh mang tên chiến dịch Quang Trung vào tháng 6 năm 1951. Trong chiến dịch, Tiểu đoàn 400 được đánh một số trận, cả trận công đồn như trận Bụt Nổi, chống địch phản công chi viện từ Phát Diệm lên đường 1, bao vây 2 ngày diệt cao điểm núi Sậu và phối hợp Tiểu đoàn Cô Tô, Trung đoàn 66 đánh tàu chiến địch trên sông Ninh Bình,... tiêu diệt đồn Bụt Nôi đã cắt đứt tuyến chiếm đóng các đồn bốt địch từ Phát Diệm lên khu vực đường sô 1, buộc địch phải đưa quân ở Phát Diệm lên giải vây, bị tiểu đoàn đánh chặn ở nam sông Yên Thổ. Trong trận này tiểu đoàn đánh lui cả một trung đoàn địch tiến công lên định chiếm lại đồn Bụt Nổi, nối liền tuyến đường Phát Diệm lên đường số 1. Địch bị tổn thất nặng, phải rút quân về Phát Diệm nhưng khuyết điểm của tiểu đoàn là không tiêu diệt gọn được địch. Một kỷ niệm rất buồn là trên tuyến ngăn chặn phía trước của tiểu đoàn, đồng chí Bính - Đại đội trưởng Đại đội 83, một thanh niên 20 tuổi, quê Hà Tĩnh, người khỏe mạnh hăng hái trong huấn luyện, dũng cảm trong chiến đấu, một cán bộ rất có triển vọng bị địch bắn thủng bụng trong lúc đang đứng lên chí huy đại đội giữ vững trận địa, khi địch sắp xung phong vào bờ tre ngăn chặn của bộ đội ta. Được tin, tôi và Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Thượng Hiền chạy lên tại chỗ xem xét, đồng chí Bính chỉ nắm tay tôi nói được một lời “Em chết mất anh ạ!”. Tôi nắm chặt tay đồng chí Bính, ngồi tần ngần không nói lên lời, không cầm được nước mắt, trong lúc đại đội phó tiếp tục chỉ huy bộ đội đánh lui đợt xung phong đầu tiên của địch. Đồng chí chính trị viên kéo tay tôi đứng dậy nói “Thôi ta trở lại vị trí chỉ huy đề phòng địch tiếp tục đợt tấn công khác”. Tôi bảo hai chiến sĩ thay nhau cõng đồng chí Bính đưa về trạm cứu thương và tôi lom khom theo bờ ruộng về Sở chỉ huy tiểu đoàn, trong lòng thương tiếc vô cùng một cán bộ trẻ tuổi gan dạ.

        Trận núi Sậu, một trận đánh tiếp theo ác liệt, khó khăn khác của tiểu đoàn trong chiến dịch; là trận đánh một đồn địch trên dãy núi đá cao nhất, không chế cả huyện Yên Mô và kiểm soát cả đoạn đường số 1, từ ngã ba Ghềnh ra thị xã Ninh Bình. Đồn núi Sậu lại đóng trên dãy núi cao nhất của dãy núi đá (núi Sậu). Tiểu đoàn đã thành công trong trận đánh núi Sậu mà trong quyển lịch sử của Trung đoàn 9 và của Đại đoàn Vinh Quang (tập 1) cũng đã nói đến. Tiểu đoàn dùng hai đại đội bố trí bao vây vòng ngoài, Đại đội 83 trang bị gọn nhẹ, chủ yếu là tiểu liên bao vây sát chân núi Sậu, chỉ có một đường dốc đá nhỏ bị hỏa lực địch kiểm soát. Các tổ mang các gói bộc phá nhỏ, lựu pháo, leo dốc đá thẳng đứng, trèo lên trượt xuống. Hai khẩu cối đặt ở chân núi đá bắn cầu vồng lên đỉnh đồn địch thì nhiều quả lăn xuống nổ lưng chừng núi. Phân đội trợ chiến leo núi đá khiêng lên được hai khẩu đại liên đặt được trên một đỉnh đồi đối diện, có tác dụng bắn sang đồn địch, nhưng đạn bắn vào vách đá tóe lửa cũng khó trúng địch. Cứ thể bao vây lấn dần lên. Sở chỉ huy nhẹ của tôi chỉ nấp được 5 người trong một hốc đá dưới chân núi. Suốt một đêm, hai ngày chiến đấu căng thẳng, pháo địch không có nơi nào bắn chi viện tới, chỉ có máy bay (Hencát) bay vòng đi vòng lại nhưng không dám thả bom vì bộ đội đã áp sát, bắn súng đại liên trên máy bay xuống cũng không kết quả, thả mấy quả bom cháy (napan) thì tuột ra ngoài ruộng có một quả nổ trước hang đá sở chỉ huy tiếu đoàn. Không có cách cứu viện, sống trên núi đá không được ăn, thiếu nước, ta dùng loa kêu gọi, tối ngày thứ hai tất cả 48 tên địch trên đồn phải ra đầu hàng. Quân ta lên thu vũ khí, dẫn tù binh về trại tiếp nhận của đại đoàn.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:37:46 PM
        Là một trận đánh đồn địch ở núi đá, kết hợp bao vây vòng ngoài, vòng trong, vây địch cả ngày lẫn đêm. Vây lấn dần từng mỏm đá, kết hợp tấn công quân sự và địch vận, là một trận đánh hay của tiểu đoàn, nên sau đó có nhiều cán bộ của các nhà trường và đơn vị bạn đến rút kinh nghiệm.

        Chiến dịch Quang Trung kết thúc, tiểu đoàn lui quân về nam Thanh Hóa, Trung đoàn 9 về đóng quân ở huyện Yên Thành (bắc Nghệ An) để tổng kết và tiếp tục củng cố huấn luyện.

        Thời gian này có cố vấn quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sang giúp đỡ, trên Bộ Quôc phòng có tổ chức nhiều lớp chỉnh huấn chính trị. Trung đoàn 9 cử đồng chí Mai Trọng Thường (Chủ nhiệm chính trị trung đoàn) và tôi (tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 400) đi học lớp chỉnh huấn chính trị khóa đầu này. Tiểu đoàn 400 do đồng chí Dũng Quý thay tôi lên làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Thanh Từ lên làm Trung đoàn trưởng. Ra đi, đồng chí trung đoàn trưởng dặn “Các anh đi học lớp chỉnh huấn này để về làm cốt cán mở các lớp học trong trung đoàn”.

        Nhưng sau lớp học, chỉ có đồng chí Mai Trọng Thường được trở về đơn vị, còn tôi cùng đồng chí Trần Văn Nghiêm (Trung đoàn phó Trung đoàn 52 - Liên khu 3) vác ba lô về Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu.

        Với cương vị tiểu đoàn trưởng, trong 4 năm tiếp theo được tham gia chiến đấu ở bắc Liên khu 4 và Liên khu 3, trong các chiến dịch do Bộ chỉ đạo (chiến dịch Lê Lợi ở Hòa Bình, chiến dịch Trần Hưng Đạo và chiến dịch Quang Trung ở Hà Nam Ninh). Được rèn luyện và học tập nhiều kinh nghiệm chỉ huy trong chiến đấu thực tế. Cuộc đời hoạt động ở đơn vị với anh em cán bộ cấp dưới và chiến sĩ trong không khí đầm ấm như một gia đình, dù sao cũng là “một đầu gà” sinh hoạt đang sôi nổi hoạt bát với bộ đội, cơ động ở đồng bằng, nay đây mai đó, đi chiến đấu về gặp lại các bà mẹ chiến sĩ, các em nhỏ, sống ấm cúng trong nhà dân,... thì sau khi dự lớp chỉnh huấn chính trị phải về công tác làm “một đuôi voi” ở cơ quan Bộ, trong căn cứ địa xung quanh là rừng núi âm u. Thời ấy anh em thường “tán” với nhau “thích làm đầu gà, hơn đuôi voi

        Từ đơn vị chiến đấu lên cơ quan của Bộ Thống soái tối cao, cuộc đời binh nghiệp của tôi bước sang một bước mới.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:39:59 PM

        2. Những năm tháng đầu tiên ở Tổng hành dinh

        Bế giảng lớp chỉnh huấn chính trị ở vùng Chợ Chu (Việt Bắc, cuối năm 1951), Bác Hồ đến thăm lớp học. Lần thứ hai gặp Bác, với cử chỉ tác phong mà tôi không bao giờ quên.

        Ban phụ trách lớp học và tất cả học viên đón Bác trong một hội trường bằng tre lợp lá. Bác vào, lên bục mà chưa nói chuyện gì. Bác bảo: “Các chú không cảnh giác! Sao lại tập trung đông người trong một hội trường này, nếu máy bay địch đến bắn phá thì chạy ẩn nấp ở đâu?”, thế rồi Bác bảo tất cả đi ra rừng. Ban phụ trách lại tập hợp học viên ngồi ở một gốc đồi cọ, mời Bác đứng trên đỉnh đồi nói chuyện. Bác nhìn một lượt bên trái, bên phải rồi lại nói: “Tại sao lại để các học viên ngồi ở chân đồi, ngầng mặt lên nghe Bác nói chuyện, mỏi cả cổ, còn Bác lại đứng trên chỗ này?”, Bác hô: “Tất cả đằng sau quay”, rồi Người đi vòng xuống chân đồi và nói: “Bây giờ Bác bắt đầu nói chuyện, nếu có máy bay địch tới, thì nửa bên trái này (tay chỉ ngọn suối bên trái dưới lùm tre) các chú tản xuống khe suối bên trái ẩn nấp, nửa bên phải này các chú rẽ xuống bên phải”, rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện. Ý thức cảnh giác của Bác rất cao và tác phong nhanh nhẹn linh hoạt, lợi dụng giỏi địa hình, địa vật, giữ bí mật nghi binh, bảo đảm an toàn cho Bác và những người cộng sự xung quanh, tránh khỏi nhiều lần theo dõi lùng sục hòng ám hại Bác của những tên phản động, Việt gian trong cuộc đời cách mạng của Bác, cả khi ở nước ngoài và trong nước.

        Lớp chỉnh huấn giải tán, cán bộ mỗi người mỗi ngả trở về đơn vị, tôi vác ba lô về nhận công tác ở Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu. Thời kỳ này theo ý kiến của đoàn cố vấn Trung Quốc, cần củng cố cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Cục Tác chiến được tăng cường đồng chí Trần Văn Quang - nguyên Chính ủy Liên khu 4, Cục trưởng Cục Địch vận về làm Cục trưởng Cục Tác chiến; đồng chí Hà Văn Lâu nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 Thừa Thiên Huế về làm Cục phó và đồng chí Đỗ Đức Kiên làm Cục phó. Nhiều cán bộ ở các đơn vị chiến đấu cũng được điều dọng về Cục, trong đó có đồng chí Trần Văn Nghiêm nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 52 cùng học lớp chỉnh huấn chính trị với tôi. Nuôi tiếc “đời lính chiến đấu” phải trở về làm việc ở cơ quan, chúng tôi tự than vãn cho mình bây giờ trở thành “anh lính cậu”. Nhưng cùng may cho tôi, về Cục Tác chiến tôi được phân công vào tổ phái viên, chuyên đi xuống các đơn vị chiến đấu, thời gian ở cơ quan ít, làm cán bộ cơ động chạy nhiều nên khi đó anh em gọi là tổ GM (Groupement mobile) “Binh đoàn cơ động”.

        Bác Hồ bất ngờ thăm Sở Chỉ Huy Tác chiến

        Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tại căn cứ địa Việt Bắc, nhà làm việc của trực ban Tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu ở trên một quá đồi. Đó là một ngôi nhà nhỏ lợp tranh, xung quanh được vây bởi các tấm đan bằng nứa, hai phần ba nhà dùng làm phòng nghỉ ngăn một tấm phên bằng tre, một phần ba nhà làm phòng trực ban. Giường ngủ chung của cán bộ lại là một tấm dài, cũng làm bằng nứa còn bàn làm việc của cán bộ trực ban và tham mưu điện thì làm bằng tre. Trên bàn đặt hai máy điện thoại kiểu Trung Quốc có hộp da bao có quai đeo khi di chuyển (một máy để liên lạc báo cáo với cấp trên, một máy liên lạc với các Tổng cục và các cơ quan của Bộ Tổng Tham mưu). Liên lạc với các đơn vị bằng mật điện cơ yếu (không có đường dây điện thoại).

        Trong biên chế Cục Tác chiến thời kỳ này, trong Sở chỉ huy có một đồng chí phụ trách nhận gửi các mật điện qua cơ yếu (gọi là Tham mưu điện). Khi có điện đi hoặc điện đến thì đồng chí đó ghi nội dung vào sổ mật điện. Thông thường gửi điện qua Ban Cơ yếu thì có một đồng chí liên lạc chuyển. Khi có “mật điện khẩn” của Đại tướng Tổng Tư lệnh hay Tổng Tham mưu trướng gửi các đơn vị, thì bản thân đồng chí Tham mưu điện đó, đưa điện sang Cục Cơ yếu dịch xong chuyển sang đài phát của Cục Thông tin; khi đơn vị báo đã nhận đủ điện thì đồng chí Tham mưu điện mới về lại Sở chí huy. Lúc đó chúng tôi gọi là “ốp đài” (nghĩa là phải ngồi tại chỗ đôn đốc, kiểm tra đánh điện cho nhanh).

        Khoảng 5 giờ chiều một ngày mùa đông, mưa phùn, giá lạnh, tôi làm trực ban tác chiến của Cục Tác chiến; đồng chí Bùi Quang Liên làm tham mưu điện. Đang rảnh việc, chúng tôi ngồi bên bếp sưởi lửa và nướng sắn cùng hai cháu gái con đồng chí Cục phó Đỗ Đức Kiên là Minh Thi khoảng 4 tuổi và Minh cầm 3 tuổi. Nhìn ra chân đồi, tôi thấy một tốp ba người đang đi lên chỗ chúng tôi. Đi đầu là một người đội nón, khoác áo tơi (một kiểu áo mưa của nông dân Nghệ Tĩnh). Ngay tiếp sau là một ông lão tay chống gậy, mặc bộ quần áo lính, đầu trùm tấm vải thô nhuộm chàm, khoác một áo dạ capôt dài mà nhìn từ xa, cán bộ tác chiến chúng tôi biết đó là áo chiến lợi phẩm của chiến dịch Biên giới 1950. Trời lạnh nhưng ông cụ đi dép lốp cao su (có lẽ vì phải lội suôi), đi sau cùng là một đồng chí đeo túi vải. Khi tới gần, chúng tôi nhận ra người đi đầu dẫn đường là đồng chí Trần Sâm - Tư lệnh Liên khu 4 vừa ra Bộ nhận nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân lực. Thật đột ngột và quá bất ngờ khi đi đến gần thì thấy cụ già đó lại là Bác Hồ. Hai chúng tôi vội đứng dậy lúng búng mãi với câu chào “Thưa Bác”. Hai cháu bé ngơ ngác nhìn không biết ai và vẫn ngồi nướng sắn. Bác vào nhà, nhẹ nhàng ngồi xuống bên bếp lửa. Bác ôm hai cháu bé vào lòng, ấp trong áo khoác của mình. Bác hỏi một số vấn đề về tình hình chung, về tình hình làm việc của chúng tôi, rồi Bác ôn tồn nói: “Các chú làm việc vất vả, cuộc sống còn nhiều khó khăn thiếu thốn nhưng phải chú ý chăm sóc các cháu nhé”. Bác vuốt những ngón tay bé bỏng của Minh cầm, thơm trên mái tóc của Minh Thi và chào chúng tôi, rồi ra đi. Đồng chí Trần Sâm cho biết Bác vừa họp duyệt kế hoạch Đông Xuân 1952 - 1953 ở hội trường Tống Quân ủy. Biết bộ phận tác chiến ở trên này, Bác chỉ ghé thăm một chút. Bác cùng đồng chí bảo vệ xuống chân đồi, lội suối trong đêm tôi để về chỗ ở của Bác.

        Lúc đó hai cháu Minh Thi, Minh cầm mới đứng dậy nhìn theo, luyến tiếc vì phải rời đôi vòng tay ấm áp của Bác.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:42:10 PM
        Về cơ quan độ một tháng, tôi được lệnh cùng bộ phận đi đầu của Sở chỉ huy chiến dịch Hòa Bình (đánh địch mở cuộc tiến công ra chiếm thị xã Hòa Bình, đường số 6), do đồng chí Nguyễn Chí Thanh (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) và đồng chí Hoàng Văn Thái (Tống Tham mưu trưởng) phụ trách. Sau đó, tôi ở trong bộ phận tác chiến tiền phương của Sở chỉ huy chiến dịch Hòa Bình, do Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng.

        Trong lúc tướng Đơlátđơ Tátxinhi điều hết các binh đoàn cơ động (GM) ở đồng bằng Bắc Bộ ra mở cuộc hành quân chiếm đóng thị xã Hòa Bình và đường số 6, thì ở đồng bằng Liên khu 3 chỉ có các đồn bốt dày đặc của lực lượng bảo an ngụy quân. Lợi dụng sơ hở này, Bộ Tổng Tư lệnh điều Đại đoàn 320 (đồng chí Văn Tiến Dũng làm Đại đoàn trưởng) vượt sông Đáy và sông Hồng vào địch hậu; 1 trung đoàn của Đại đoàn 316 (Trung đoàn 98) vượt sông Thương vào Bắc Giang để tấn công tiêu diệt các đồn bốt ở địch hậu Liên khu 3; mở rộng các căn cứ và các khu du kích sau lưng địch.

        Khi các binh đoàn cơ động của quân Pháp bị giam chân ở vùng rừng núi, sau trận đánh đồn Tu Vũ (của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308) và trận Pheo (của Trung đoàn 102) tôi nhận lệnh đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mang một bức thư của Bộ Chỉ huy chiến dịch vào gặp đồng chí Văn Tiến Dũng (Đại đoàn trưởng 320) để đẩy mạnh hơn nữa tác chiến ở địch hậu. Chủ trương của Bộ chỉ huy là tiếp tục tiêu diệt các chi khu, quận lỵ, mở rộng vùng giải phóng sau lưng địch để phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính ở Hòa Bình. Làm cho địch càng bị động đối phó cả tuyến ngoài, tuyến trong (khi đó gọi là nội ngoại tuyến phối hợp), căng kéo diệt chủ lực địch và mở rộng căn cứ du kích.

        Trên đường vào địch hậu Liên khu 3, vượt qua sông Đà ban đêm, sáng hôm sau tôi ghé thăm đơn vị cũ (Tiếu đoàn 400), lúc này đang chiếm lĩnh trận địa, cắt đường, phục kích địch trên đường số 6, từ Pheo, thị xã Hòa Bình về Sơn Tây. Xem xét trận địa, ăn cơm nắm trưa với Tiểu đoàn trưởng Dũng Quí và Chính trị viên Nguyễn Thượng Hiền, tôi cuốc bộ đường 12 qua Vụ Bản rẽ về Kim Bảng - Hà Nam, vào Sở Chỉ huy Liên khu 3, do đồng chí Hà Kế Tấn làm Khu trưởng, đưa giấy giới thiệu để được cử người đưa vào địch hậu Liên khu 3.

        Được cơ quan giao Liên khu ủy cho nghỉ ở một làng nhỏ và chập tốì một cô nữ giao liên tuổi độ 19 - 20, mặc áo nâu quần đen xắn đến đầu gối, khăn mỏ quạ đi chân đất, vai đeo “tay nải” (có lẽ trong đựng đầy công văn) đến dẫn tôi đi vào địch hậu.

        Trên đường đi, vì giữ bí mật, cô ta chỉ hỏi tôi “có phải anh đi vào Đại Hoàng (Nam Định) gặp đơn vị 64 phải không? Đi bám theo em, không trời tốì dễ lạc đường đấy”. Tôi cũng lẽo đẽo theo sau, không hỏi gì hơn, mà hỏi chắc cô ta cũng giữ bí mật, không nói. Qua một con sông nhỏ (tôi không biết tên sông và bên đò gì) cô ta làm ám hiệu và một chiếc thuyền nan nhỏ, một cô lái đò mà trời tối không nhìn rõ mặt, dùng hai bàn chân chèo thuyền bập bềnh chỉ chở nổi hai người chúng tôi qua sông. Đến bờ sông bên kia, cô giao liên nhảy lên trước, thuyền chông chênh, cô kéo tay tôi lôi lên bờ.

        Vượt qua một cánh đồng rộng, khi đi trên bờ ruộng, khi đi ven làng, nhẹ nhàng đế chó không sủa, khi bằng qua ruộng nước đến mắt cá chân. Nhiều lúc cô giao liên phải dừng chờ tôi vì đôi dép cao su của tôi bị bám dưới bùn phải dừng lại lấy tay mò lên. Đến gần đường 21 (đoạn Phủ Lý về Nam Định), hai người phải nằm ép xuống ruộng một thời gian ngắn vì có xe ôtô địch chạy đi chạy lại trên đường. Thỉnh thoảng lại có ánh đèn pin chiếu sang hai bên đường (có lúc chiếu đến gần chỗ chúng tôi nằm), bọn lính đi tuần tra giữa đoạn hai đồn bốt địch đóng trên đường 21. Chờ đến khi thấy im lặng, cô giao liên bảo tôi nằm chờ, nhảy lên trước đi lại điều tra có động tĩnh gì không rồi quay lại gọi khẽ, kéo tay tôi đứng dậy nhanh chóng chạy băng qua đường cái. Chúng tôi lại tiếp tục đi qua đường bờ ruộng, có lúc phải chạy nhanh qua một đoạn đường làng, đến gần sáng thì cô giao liên đưa tôi tới một làng có rào tre, có cửa cũng bằng tre. Trong ngoài hàng rào, hai cô du kích và giao liên trao đổi ám hiệu nhận nhau, mở cửa cho chúng tôi vào. Cô giao liên đưa tôi vào một ngôi nhà nhỏ (không có người) giao tôi một gói xôi nếp, có miếng thịt muối, vừng đen, vài cọng rau cần muôi, bảo tôi chờ ở đây, nếu có địch tới thì vào buồng xuống cái hầm bí mật dưới một chõng tre, rồi cô đó biến mất.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:44:04 PM
        Ngày hôm sau, một mình tôi ở trong nhà, cái “xắc cốt” túi da (trong đó có quyển sổ tay và bức thư của Bộ Chỉ huy chiến dịch gửi đồng chí Văn Tiến Dũng) không rời khỏi vai. Khi nghe tiếng súng xa thì vẫn ngồi đấy, khi nghe tiếng súng gần nhà của bọn lính đi tuần thì lại tụt xuống hầm bí mật, vừa lọt một người ngồi, kéo nắp hầm lại. Khi yên tĩnh lại đẩy cửa hầm mò lên. Một ngày kéo dài, căng thẳng! mãi tới chập tối, cô giao liên quay lại mỉm cười nói: “Anh có mệt không, ta đi thôi!”. Tôi lại lẽo đẽo đi kịp theo chân cô giao liên trẻ tuổi thoăn thoắt bước, không hề ngoảnh cổ lại, không nói một lời, vào tối mùng hai tết, trong đêm chưa có ánh trăng trên đường đi im phăng phắc, trời tối đen. Thỉnh thoảng có vài loạt súng máy hay đạn cối nổ gần đường đi “do các đồn bốt ở gần bắn để trấn an”. Chó trong làng sủa lên từng hồi, rồi lại im lặng, chúng tôi vượt qua nhiều cánh đồng, ven theo nhiều làng, có mùi hương và không khí “Tết”, nhưng cả hai người chỉ được hưởng tết có lẽ là gói xôi nếp mà cô ta đưa tôi khi vào làng hôm trước. Lại đến một con sông nhỏ bí mật vượt qua như con sông đêm hôm trước, qua làng Yên Ninh, rồi đến làng Đại Hoàng (Nam Định) là đích cuối cùng của cuộc hành trình vào địch hậu. Đến đây, cô giao liên bàn giao tôi với một anh lính gác, bảo tôi: “Đây là bộ đội 64 đấy”, rồi cô ấy chào tôi và ra đi, tôi chỉ kịp một lời ngắn ngủi “cảm ơn cô!”.

        Lần đầu tiên, tôi đi lẻ một mình vào địch hậu với một cô giao liên trẻ, nhanh nhẹn, gan dạ, rất nhiệt tình và trách nhiệm cao với một “khách đưa đường”. Nhưng đối với con người thầm kín ấy, tôi thấy mến, thấy phục, nhưng không dám hỏi tên tuổi và sau này cũng không có dịp gặp lại nữa.

        Hình tượng ấy đã để lại mãi mãi trong ký ức tôi một hình ảnh rất đẹp, mà sau này trong một đoạn thơ, nhớ kỷ niệm “các buổi chiều” có câu:

                "... chiều chiều lại nhớ chiều chiều

                Trên đường địch hậu một chiều đón xuân...”


        Anh lính dẫn tôi vào một căn nhà trong làng Đại Hoàng, nói với tôi “nhà thủ trưởng đấy”. Tôi bước vào nhà trong ánh đèn dầu lờ mờ, thấy một người to nằm dài trên một tấm phản gỗ, đắp một chiếc chiếu ngắn, hai chân thò ra ngoài, đang ngáy khò khò. Nghe tiếng động, ông ngồi dậy ngơ ngác. Tôi đưa giấy giới thiệu. Ông ta xem rồi cười và nói “anh là cán bộ Bộ tổng à!...”, rồi gọi một cán bộ dẫn tôi sang một chỗ nghỉ ngơi, đến sáng mai sẽ bàn công việc. Ông ấy là Lê Ngọc Hiền, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Đại đoàn 320 và sau này là Cục trưởng Cục Tác chiến, Phó Tổng Tham mưu trưởng!

        Đồng chí cán bộ dẫn tôi sang nhà bên cạnh, cho tôi ăn đủ thứ (nào bánh chưng, giò lụa, các thứ kẹo, thuốc lá Cô-táp và còn hỏi có uống rượu không?), đồng chí đó bảo: “Đây là quà của nhân dân trong thành (thành phố Nam Định) gửi ra ủng hộ bộ đội ăn tết đấy. Cứ ăn đi rồi ngủ, mai làm việc với anh Hiền”.

        Đồng chí ấy là Lê Tiến Phục - Chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn 64, chị vợ khi đó là Trưởng ban Phụ nữ, sau này là Phó Chủ tịch thành phố Nam Định. Còn đồng chí Lê Tiến Phục sau này làm chuyên gia quân sự ở Lào, Thiếu tướng Cục trưởng Cục Chính sách Tổng cục Chính trị, một con người rất nhiệt tình, chất phác, một người bạn rất chân tình, thân thiết với tôi, cả hai ông bà nay đã qua đời.

        Ở lại Trung đoàn 64 hai ngày, vừa nghỉ ngơi, vừa báo cáo với Trung đoàn trưởng chỉ thị của Bộ (theo tinh thần thư Bộ Chỉ huy chiến dịch gửi Đại đoàn trưởng 320), tôi lại tiếp tục sang Thái Bình tới Sở chỉ huy Đại đoàn 320. Lần này không có giao liên, trung đoàn cử một chiến sĩ liên lạc, có súng bảo vệ đưa đi. Phải đi vòng lên phía bắc, một nơi an toàn (không có đồn địch) để vượt sông lớn, rộng, đồng chí liên lạc và tôi gói ba lô đồ đạc, cả quần áo ngoài vào một túi ni lông to buộc chặt, mặc quần đùi, nắm túi ni lông làm phao mới bơi qua sông được.

        Được dẫn vào gặp Đại đoàn trưởng 320 Văn Tiến Dùng trong một ngôi nhà nhỏ ở làng Đông Hưng, bên một cái hầm nổi đắp bằng đất cao gần đến trần nhà vì đất nước trũng, tôi đưa thư của Bộ Chỉ huy chiến dịch cho đồng chí Văn Tiến Dũng rồi báo cáo tình hình diễn biến chiến dịch Hòa Bình, chủ trương tiếp theo của Bộ Chỉ huy chiến dịch.

        Sau khi nghe tôi báo cáo, ngồi một lát, đồng chí Văn Tiến Dũng hỏi tôi: “Trên đường đi vào địch hậu lần này, cậu thấy thế nào?” Tôi kể lại chuyện cô giao liên trẻ tuổi dẫn đường, đồng chí Văn Tiến Dũng nói: “Nhân dân vùng địch hậu này, cuộc sống gian nan nguy hiểm, chiến đấu dũng cảm và có nhiều cháu giao liên gan dạ như thế...”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:46:49 PM
        Ở lại Đại đoàn bộ hai ngày đêm, hôm sau tôi đến Trung đoàn 48 nơi vừa bị bom và đồng chí Trung đoàn trưởng đã hy sinh, chỉ gặp đồng chí Chính ủy Nguyễn Anh Bảo (sau này là Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin, bị hy sinh do bom địch trên đường đi công tác vào Quân khu 4). Nắm tình hình chiến đấu của Trung đoàn 48 xong, tôi lại vượt sông Hồng sang Trung đoàn 64.

        Tôi đi theo dõi Trung đoàn 64 chiến đấu, tập kích vào thị trấn Phủ Lý, đánh đồn An Điền trên hữu ngạn đê sông Hồng và trận chổng càn “Amphibie”, khi các GM của địch đã rút ở Hòa Bình về. Lúc này địch tiến hành càn quét, để “líp” lại các căn cứ du kích ta vừa mở ra. Ở Thái Bình chúng tiến hành cuộc càn quét mang tên “Mercure”. Ớ Hà Nam địch tiến hành cuộc càn quét mang tên “Amphibie”. Sau cuộc càn quét, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tống Tham mưu trưởng điện gọi tôi về Bộ. Được hai chiến sĩ Trung đoàn 64 bảo vệ, tôi được trung đoàn tặng một khẩu súng tự động (Cácbin) chiến lợi phẩm, vượt sông Đáy trở về Cục Tác chiến (lúc này đóng ở một bản gần Chợ Chu).

        Từ một Tiểu đoàn trưởng chỉ huy chiến đâu, về công tác ở Bộ, lần đầu tiên, tôi được dự tổng kết học tập kinh nghiệm các chiến dịch lởn do Bộ chỉ đạo, chỉ huy, nên tôi mới bắt đầu hiểu biết một phần về chiến dịch:

        Để phát huy thắng lợi có ý nghĩa về chiến lược của chiến dịch giải phóng vùng biên giới Việt - Trung, Bộ đã chỉ đạo 3 chiến dịch liên tiếp trong năm 1951.

        - Chiến dịch Trần Hưng Đạo ở tuyến trung du Việt Trì - Vĩnh Yên - Bắc Giang (25/12/1950 đến 17/1/1951).

        - Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (từ 20/3 đến 7/4/1951) trên tuyến Phả Lại đến Uông Bí - Mạo Khê.

        - Chiến dịch Quang Trung tại các tỉnh đồng bằng (Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình) từ 28/5 đến 20/6/1951.

        Tuy có tác dụng một phần đẩy địch vào thế bị động đốì phó, nhưng cả 3 chiến dịch đều không đạt được mục đích chiến lược đề ra là làm thay đổi cục diện ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, do việc đánh giá so sánh lực lượng địch - ta không đúng; lại mở chiến dịch trên chiến trường trung du và đồng bằng, ta không kềm chế được hỏa lực phi pháo mạnh của địch.

        Đến chiến dịch phản công đánh địch tiến công ra thị xã Hòa Bình, lần này ta mới giành được thắng lợi to lớn, làm chuyến biến cục diện chiến trường:

        Tướng Đơlát tập trung các binh đoàn cơ động (GM) với 20 tiểu đoàn bộ binh, đủ cơ giới, có pháo binh, máy bay chi viện, mở chiến dịch ra đường 6 thị xã Hòa Bình để hòng thay đổi tình thế.

        Như lời Bác Hồ chỉ rõ: “...địch tự ra cho ta đánh, đây là cơ hội tốt cho ta...”, nên Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu chủ trương tập trung 3 đại đoàn (308, 312, 304) để bẻ gãy cuộc tiến công của địch; tiêu diệt hơn 7.000 quân tinh nhuệ của chủ lực địch. Đồng thời Bộ sử dụng Đại đoàn 320 ở nam bắc sông Hồng và Đại đoàn 316 ở nam bắc sông cầu (Bắc Giang) phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích, kết hợp tác chiến với nổi dậy, phá tề trừ gian, phát triển chiến tranh du kích ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, mở rộng các căn cứ du kích và các khu du kích, tiêu diệt hơn 15.000 tên địch, diệt và bức rút hơn 1.000 đồn bốt tháp canh.

        Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến của binh đoàn chủ lực với tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương.

        Kết hợp chặt chẽ giữa “nội ngoại tuyến”, trên một chiến trường rộng cả chủ lực ở vùng rừng núi và phối hợp với lực lượng địa phương đồng bằng Bắc Bộ.

        Sau cuộc chỉnh quân (học tập chính sách cải cách ruộng đất), giữa năm 1952 tôi lại cùng đoàn tiền trạm của Bộ Tổng Tham mưu hành quân lên Yên Bái, chuẩn bị mở chiến dịch giải phóng Tây Bắc.

        Trong lúc đang chuẩn bị đường sá, bắt đầu vượt sông Thao (qua bến Au Lâu), thì địch phát hiện chủ lực quân ta đang hành quân lên hướng Tây Bắc. Chúng lập tức mở cuộc hành quân lên Trạm Thản - Phú Thọ, Đoan Hùng, đánh vào căn cứ hậu phương Việt Bắc, hòng kéo chủ lực ta về, phá vỡ kế hoạch giải phóng Tây Bắc của ta. Bộ Chỉ huy chiến dịch điều động Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 hành quân cấp tốc về hướng Phú Thọ, phối hợp với các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích chặn đứng cuộc hành quân ) của địch lên Phú Thọ, Đoan Hùng (Tuyên Quang).

        Sở chỉ huy tiền phương của Bộ liền cử đồng chí Trần Mạnh Quỳ - Cục trưởng Cục Dân quân và một số cán bộ Cục Tác chiến và Cục Dân quân ở Sở chỉ huy cơ bản xuống lập sở chỉ huy nhẹ ở Phú Thọ, và cùng chỉ huy Trung đoàn 36 phối hợp với lực lượng địa phương đánh địch. Từ sở chỉ huy tiền phương của Bộ ở chiến dịch Tây Bắc, tôi được phái về gặp đồng chí Trần Mạnh Quỳ báo cáo ý định của Bộ chỉ huy chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 09:56:04 PM
        Sau khi đánh gãy cuộc hành quân này của địch với trận đánh lớn ở Trạm Thản, ngã ba Phú Hộ, địch phải rút về phòng tuyến Việt Trì. Sở chỉ huy nhẹ của Bộ trở về sở chỉ huy cơ bản ở hậu phương Việt Bắc, và tôi lại trở về cơ quan chiến dịch tiền phương ở Tây Bắc. Sau khi Trung đoàn 102 đánh đồn Pú Chạng và giải phóng khu Nghĩa Lộ, một bộ phận bộ đội ta truy kích địch lên Tú Lệ, Than Uyên, bộ phận chủ yếu cơ động về Quang Huy, Vạn Yên, Tạ Khoa để vượt sông Đà sang đánh địch ở Mộc Châu, Sơn La. Tôi hành quân đuổi theo cánh quân chủ yếu, đi bằng xe đạp vượt đèo Âu Lâu, Lũng Lô, dọc đường bộ đội công binh cùng thanh niên xung phong, dân công đang mở đường cho bộ đội hành quân. Trời mưa, đường lầy, bùn bám đầy bánh xe đạp, không lăn nối, đẩy xe lên, đường lầy trơn, xe trượt xuống. Thấy tôi vất vả, mồ hôi chảy đầm đìa, hai cô và một nam thanh niên xung phong hè vai giúp đỡ. Đây xe lên được tới đỉnh dốc thì không may, một cô thanh niên xung phong trượt chân ngã xuống dốc, đầu đập vào một tảng đá to, máu ở trán chảy thành dòng, thật tội nghiệp! Hai thanh niên khác băng đầu và dìu cô đi xuống chỗ mà họ đang lao động, đã bỏ cưốc xẻng giúp tôi. Tôi đứng tần ngần, buồn bã, rồi cột một cành cây có nhiều lá vào yên xe để giám tốc độ đẩy xe từ từ xuống dốc. Đây là một chiều buồn!

        Chiều hôm sau, tới bến phà Tạ Khoa, trong lúc chờ đợi vượt sông Đà, bên bếp lửa hồng tôi nhớ lại “các buổi chiều” ghi trong sổ tay mấy dòng, in dấu trong ký ức tôi:

                Nhớ lại các buổi chiều

                “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

                nhớ nàng “Lệ Thủy” một chiều “Suối Bang!”.

                Nhớ chiều tập kích “Chiềng Vang”

                Lửa thiêu, đồn cháy, rộn ràng lòng ta.

                Nhớ chiều, địch hậu Khu Ba

                Giao liên, cô ấy thật là đáng yêu!

                Chiều chiều lại nhớ một chiều

                Vác xe lội suối vượt đeo Âu Lâu

                Những chiều, nhớ lại, nơi đâu?

                Chiều thương, chiều nhớ, chiều sầu, chiều vui”.


        Tôi tiếp tục cuộc hành quân cùng bộ phận đi đầu của sở chỉ huy tiền phương chiến dịch, sau khi vượt sông Đà, sang ngã ba Cò Nòi tiến đánh Mộc Châu, rồi tiến lên bao vây tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Sơn La).

        Địch các nơi bị đánh rút chạy về co cụm ở Nà Sản, tô chức phòng thủ kiên cố, thành tập đoàn cứ điểm, hình thành hai tuyến vành khăn.

        Sau hai tháng chiến đấu, ta đã giải phóng một vùng rộng lớn, một vựa lúa của Tây Bắc (cả vùng đồng bằng Nghĩa Lộ - Tú Lệ - Than Uyên đến Sơn La) buộc địch phải co cụm ở Nà Sản để ngăn chặn quân ta phát triển lên Thuận Châu, Lai Châu.

        Về cuối chiến dịch, lực lượng ta cũng bị phân tán và mệt mỏi, sau một vài trận đánh thăm dò, Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc chủ trương kết thúc chiến dịch. Một bộ phận nhỏ ở lại củng cố vùng mới giải phóng, đại bộ phận chủ lực rút về sau để chấn chỉnh và tổng kết huấn luyện.

        Với so sánh lực lượng lúc đó, trước một tập đoàn cứ điểm mạnh của địch, nếu tiếp tục tiến công thì ta không thể giải quyết được mà lại bị thương vong tổn thất, hạn chế thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.

        Sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc, ta và bạn Lào thống nhất mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, đến bản Ban của Lào. Mục đích của chiến dịch này là giải phóng tỉnh Sầm Nưa, Thượng Lào, để nối liền các tỉnh Nghĩa Lộ, Sơn La của ta được giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc và giúp bạn xây dựng căn cứ địa kháng chiến của Trung ương Pa Thét Lào ở Sầm Nưa.

        Để chuẩn bị cho chiến dịch tiếp theo, tôi được cử chỉ huy trực tiếp một đại đội trinh sát của Bộ (do đồng chí Lộc làm Đại đội trưởng, đồng chí Nam Chính trị viên đại đội). Là một đại đội trinh sát của Bộ, nên được trang bị đầy đủ, mỗi cán bộ chiến sĩ có một tiểu liên; trung đội có trung liên, đại đội có súng cối 60-81 ly, đại liên. Đại đội trang bị một máy thông tin gọn nhẹ, quay tay có cơ yếu để liên lạc thẳng với Bộ Tổng tham mưu. Kỹ thuật, võ thuật của chiến sĩ được huấn luyện khá. Đại đội hành quân từ Nà Sản về Mộc Châu, vượt sông Mã (đầu nguồn chảy về Thanh Hóa) sang Mường Hung (đất Lào) trinh sát địa hình, nắm địch tình để chuẩn bị chiến dịch Thượng Lào.

        Đại đội trinh sát bất ngờ tập kích ngụy quân Lào ở Mường Hung, mấy đồn bốt nhỏ của địch trên bờ sông Mã bỏ chạy truy kích đến Mường Hét (một bản lớn ở Châu Phìa) cũng bỏ chạy, chúng tôi tiếp cận cụm địch đóng ở sân bay Noọng Khang (bắc thị xã Sầm Nưa) để triển khai kế hoạch chuẩn bị chiến dịch giải phóng Sầm Nưa.

        Sau khi trinh sát địa hình xung quanh thị xã Sầm Nưa, chúng tôi xây dựng một sa bàn trận địa phòng thủ của địch ở Sầm Nưa.

        Ngày 24 tháng 2 năm 1953 được điện của Bộ đón đoàn cán bộ Đại đoàn 308 tới nghiên cứu địa hình và kế hoạch tác chiến. Chúng tôi đón đoàn gồm có đồng chí Đại tá Cao Văn Khánh - Đại đoàn phó, đồng chí Hải (Hải râu) - Tham mưu trưởng; đồng chí Vũ Yên - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102, đồng chí Thái Dũng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, đồng chí Hồng Sơn - Trung đoàn trưởng 36, đồng chí Doãn Tuế Trung đoàn trưởng pháo binh đầu tiên của Bộ và một số cán bộ của quân báo, tác chiến đi cùng.

        Sau khi tôi trình bày đặc điểm địa hình và tình hình địch, đề xuất kế hoạch tác chiến và kế hoạch đi trinh sát thực địa trên sa bàn, chiều tối đoàn bắt đầu đi nghiên cứu địa hình ở phía đông thị xã.

        Trên đường đi gặp một toán địch phục kích, bắn trước mặt và cả hai bên, đoàn đi trinh sát nằm xuống đất. Đồng chí Cao Văn Khánh hô bằng tiếng Pháp “Đại đội 1 bên trái, đại đội 2 bên phải, bắn!” (Première compagnie à gauche, deuxieme compagnie à droite; feu!!), cả đoàn bắn trả lại bằng súng ngắn và tiểu liên. Bọn ngụy Lào biết tiếng Pháp, tưởng quân ta đông nên rút chạy. Thế là cả đoàn trinh sát lại tiếp tục đi vượt qua đường cái Sầm Nưa đi Mường Peun, Bản Ban, sang phía đông thị xã. Trời tờ mờ sáng đoàn leo lên một ngọn đồi, cây rậm, nhìn xuống thị xã rất rõ từng cao điểm, thấy cả lính trên đồn và dân đi lại trong phố. Sau khi giới thiệu tình hình chung, rút ra phía sau đồi nghỉ ngơi, trao đổi kế hoạch. Tối hôm sau cán bộ từng trung đoàn theo hướng dẫn của đội trinh sát, phân chia đi nghiên cứu riêng rẽ các hướng theo nhiệm vụ được phân công.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 10:03:38 PM

        Chiến dịch Sầm Nưa Thượng Lào! (tháng 4/1953)

        Các đơn vị bộ đội hành quân vào tập kết trên các hướng thì bị lộ, địch bắt đầu bỏ thị xã Sầm Nưa rút chạy. Bộ đội ta được lệnh lập tức chiếm lĩnh thị xã và đại bộ phận bám địch truy kích. Đại đội trinh sát chúng tôi đi trước dẫn đường cho bộ đội truy kích. Đến Mường Peun, quân ta (Đại đoàn 304) đánh địch ở Bản Ban xong, phối hợp với bộ phận Đại đoàn 308 và 312 đánh quân ở Sầm Nưa rút về. Bị đánh 2 đầu, chúng tán loạn vào rừng. Chiến dịch Sầm Nưa, Thượng Lào kết thúc thắng lợi. Quân ta truy kích trên một chặng đường dài 270 kilômét, giải phóng một vùng rộng lớn (toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phông Xa Lỳ), tăng cường sự đoàn kết kề vai sát cánh chiến đấu của liên quân Việt - Lào.

        Chính phủ kháng chiến, Trung ương Pathét Lào ra mắt tại thị xã Sầm Nưa. Dân Lào cả các bản Mèo xa xôi về dự lễ hội rất đông. Đến tối, các nơi mở hội múa “Lâm vông”, có cả đồng chí Kay Xơn (sau này là Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào) và đồng chí Xingcapo (Thứ trưởng Quốc phòng đại diện quân Pa thét Lào) cùng dự, múa rất đẹp. Tôi và một số anh em trinh sát cũng đi vòng quanh đống lửa múa theo.

        Ngày hôm sau, tôi và đại dội trinh sát hành quân trở về Tổng hành dinh.

        Sau một thời gian nghỉ ngơi củng cố huấn luyện bộ đội. Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chủ trương mở chiến dịch giải phóng tỉnh Lai Châu.

        Phát hiện bộ đội chủ lực ta (Đại đoàn 316) đang trên đường tiến quân lên Tây Bắc, ngày 20 tháng 11 năm 1953, địch cho quân nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ.

        Chúng cho đây là vị trí chiến lược rất quan trọng, có đồng bằng Mường Thanh, “vựa lúa” lớn nhất khu Tây Bắc, có đường sang Thượng Lào.

        Bộ Tổng Tham mưu lại phái một đại đội trinh sát (do đồng chí Lộc - Đại đội trưởng và đồng chí Nam Chính trị viên), cử tôi phụ trách chung, đi trước lên Mường Thanh nắm tình hình địch và chuẩn bị vị trí Sở chỉ huy của Bộ.

        Sau khi Bộ Chỉ huy quyết định thay đổi phương châm chiến dịch và sở chỉ huy chiến dịch chuyển tới khu vực Mường Phăng, tôi và đại đội trinh sát được lệnh chuyển xuống phía Nam, bám sát tình hình khu vực Hồng Cúm.

        Trong chiến dịch, vừa làm nhiệm vụ phái viên tác chiến, theo dõi hoạt động của Đại đoàn 304, vừa trực tiếp chỉ huy đại đội trinh sát của Bộ, bám địch khu vực Hồng Cúm. Trong quá trình vây hãm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Là phái viên của Bộ, tôi thường đi với đồng chí Nguyễn Cận và Hoàng Đan (Trung đoàn trưởng và Trung đoàn phó Trung đoàn 57) kiểm tra việc xây dựng đường giao thông hào cắt ngang khu vực Mường Thanh và Hồng Cúm xem giao thông hào có đúng kích thước không? Từng đoạn có đào hầm ếch để tránh bom và pháo địch không? Tôi còn được lệnh chọn một số đồng chí trong đại đội trinh sát của Bộ và của đại đoàn tổ chức huấn luyện các tổ “dũng sĩ”, ngày đêm bắn tỉa bọn địch, ra lấy dù tiếp tế của máy bay thả xuống, thu được cả dù và đồ hộp địch. Cho nên có nhiều buổi liên hoan nhỏ bằng đồ hộp của địch thả dù xuống.

        Có những lúc đại đội trinh sát bố trí vây địch, còn bắn từng đợt súng máy và súng cối để thu hút đạn địch bắn trả về phía mình, bảo đảm an toàn cho bộ đội đào giao thông hào và hầm ẩn nấp.

        Khi Đại đoàn 308 cơ động qua Thượng Lào, đánh địch giải phóng một phần lãnh thổ ở vùng Mường Khoa, Mường Ngòi để cô lập tập đoàn Điện Biên Phủ, đại đội trinh sát của Bộ và tôi đi cùng Đại đoàn 308.

        Khi đại đoàn rút về tiếp tục bao vây địch ở Mường Thanh, chúng tôi lại về tiếp tục làm nhiệm vụ ở Hồng Cúm (phía nam Mường Thanh).

        Sau khi tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tôi và đại đội trinh sát Bộ bám sát tàn quân địch ở Hồng Cúm chạy sang Lào để hòng gặp binh đoàn cơ động của ngụy Lào sang ứng cứu gọi là GML (Groupement mobile Laos). Bị đại đội trinh sát cùng một đơn vị của Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 bám đuôi đến đỉnh đèo Tây Trang, tàn quân địch hoảng hốt chạy tản ra hai bên rừng. Đơn vị cơ động của ngụy Lào được tin Điện Biên Phủ đã thất thủ, tàn quân ở Hồng Cúm đã tan rã không thể đón được nữa, nên chúng cũng rút lui luôn. Đại đội tiếp tục truy kích quân ngụy Lào, vượt qua sông Mường Khoa, qua đèo Calăngtáp xuống khe suối thì gặp một bộ phận của một tiểu đoàn Trung đoàn 148. Tiểu đoàn này do đồng chí Thưởng là tiểu đoàn trưởng nhưng chỉ gặp đồng chí Hoàng Lê bàn tiếp tục truy kích địch, thì tối đó điện của Bộ bảo cả đại đội trở lại Mường Thanh nhận nhiệm vụ mới (đại đội trinh sát Bộ, có mang theo một đài nhỏ gọi là đài Crosley, chạy máy phát điện nhỏ bằng quay tay).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 10:14:44 PM
        Về đến Mường Thanh, tôi nhận lệnh cả đại đội quay lại chuẩn bị chiến trường ở Luông Prabăng (vì lúc đó Bộ dự kiến sẽ mở chiến dịch tiếp theo giải phóng thủ đô Luông Prabăng và Thượng Lào). Được dự đám cưới đồng chí Cao Văn Khánh và chị Ngọc Toản tại hầm sở chỉ huy Đờ Cátxtơri (Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ) do đồng chí Trần Lương (tức là đồng chí Trần Nam Trung) - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chủ hôn và đồng chí Hiền - Cục trưởng Cục Địch vận dự. Bộ phái đồng chí Cao Văn Khánh (là người giỏi tiếng Pháp) có nhiệm vụ quan hệ với Pháp để trao trả thương binh nặng và một cô y sĩ người Pháp chở bằng trực thăng từ điện Biên Phủ về Viêng Chăn. Đại đội trinh sát được phát đầy đủ lương thực, thực phẩm (hàng chiến lợi phẩm) lên đường hành quân cấp tốc sang Thượng Lào. Đại đội này vẫn do đồng chí Lộc và Nam (Đại đội trưởng và Chính trị viên), tôi làm phái viên tác chiến phụ trách chuẩn bị chiến trường và trực tiếp chỉ huy đại đội.

        Cục 2 cử thêm đồng chí Thận (Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trinh sát của Bộ) giúp tôi làm phó.

        Chúng tôi vừa hành quân, vừa gặp đánh địch những tốp lẻ dọc đường, vừa làm công tác dân vận khi qua các bản Lào Lùm (ở đồng bằng), Lào Thênh ở lưng chừng núi và các bản Mèo trên đỉnh núi. Qua lại Mường Khoa, Mường Ngòi, Nậm Bạc, Sốp Vi, Sốp Chiếc, tới một bản Mèo trên đỉnh núi ở Luông Prabăng. Đây là một vị trí quan sát rất rõ và là một vị trí đặt sở chỉ huy tiền phương của Bộ để tấn công vào thị xã Luông Prabăng rất thuận lợi (có nhiều hang đá, hốc đá, quan sát rất tốt).

        Nhưng khi vào các bản người Mèo thì không thấy ai, dân sợ trốn lên rừng hết; không biết họ trốn đi đâu để bắt liên lạc. Chúng tôi đưa đài thông tin mang theo, mở làn sóng phát thanh ngụy quyền Lào, với các bài hát tiếng Lào, không biết nội dung bài hát gì. Với máy tăng âm và do núi đá, vọng tiếng rất to, nghe nhạc Lào hay, nên dần dần thấy các em nhỏ lác đác về nghe. Thu được nhiều tấm vải dù lụa chiến lợi phẩm màu đỏ của địch ở Điện Biên Phủ, anh em trinh sát xé ra cho mỗi em một miếng làm khăn quàng cổ (người Mèo rất thích khăn màu đỏ). Trẻ em dần dần về càng đông. Tiếp theo là các cô gái Mèo cũng lần lượt về tụ tập xung quanh đài thông tin nghe nhạc và nghe các bài hát tiếng Lào, vừa nghe vừa cười khúc khích. Thấy bộ đội Việt Nam hiền lành và cho các cô gái, trẻ em vải đỏ, các gói bánh quy, kẹo chiến lợi phẩm còn lại, nên sau đó các bà mẹ, bà già, các ông và cuối cùng là đám thanh niên cũng lần lượt về xem bộ đội, nghe hát, nghe nhạc. Thế là công tác dân vận Mèo bước đầu thành công, chúng tôi gặp các ông già làng, trưởng bản mời thuốc lá, mời bánh lương khô ngọt nên được dân cho vào nhà ở. Đại đội phân ra ở các nhà dân Mèo, từng tốp 4 - 5 người, nhà đông được 20 người. Đêm đó đốt lửa trại, bộ đội Việt Nam và dân các bản Mèo ngồi xung quanh, vừa vỗ tay vừa nhảy theo các điệu nhạc Lào. Sáng ngày hôm sau, dân làng cho ngô, cho củ su su rất to (vì khí hậu vùng cao lạnh, trồng trong các hốc đá nên rau củ to hơn ở đồng bằng Việt Nam nhiều). Dân lại còn mổ lợn ủng hộ bộ đội nữa và bộ đội thì cấp muối cho dân, đây là món quà, là hàng chiến lược rất quan trọng đối với dân Mèo vùng cao. Người này mang muối về khoe với người khác nên dân càng mang nhiều thứ ra cho bộ đội. Tình quân dân (bộ đội Việt Nam và dân Mèo Lào, cả Lào Thênh lên) trở nên đầm ấm. Ôm các em nhỏ vào lòng, tôi cảm hứng chợt nghĩ ra mấy câu thơ của người chưa hề biết làm thơ bao giờ:

                            “Chú từ Việt Nam, vượt suối băng đèo,

                            Đến đây gặp cháu, dân Mèo Mường Luông

                            Chú với cháu, không cùng dòng máu

                            Chưa hề gặp nhau, không cùng thứ tiếng

                            Gặp nhau sao quyến luyến lạ thường!

                            Phải chăng có một tình thưong

                            Thương cùng cảnh ngộ, chống phường thực dân.

                            Chú Pa thét, chú Việt Nam

                            Diệt thù giải phóng bản làng yên vui

                            Cho các cháu tung tăng múa nhảy

                            Cho lúa xanh phủ đầy nương rẫy

                            Việt - Lào sát cánh, nắm tay đời đời!...”


        Công tác dân vận đã thành công, công tác nắm tình hình địch và chuẩn bị chiến trường đang thuận lợi, có nhiều kết quả thì có điện khẩn tới: “Tình hình thay đổi, quân ta không cùng với bạn Lào mở chiến dịch giải phóng Luông Prabăng nữa, vì ta sắp ký hiệp định đình chiến ở Giơnevơ! Đại đội phải trở về Việt Nam”. Tôi phổ biến lệnh này, anh em sững sờ, vừa tiếc nhưng cũng vừa mừng. Tiếc vì nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường sắp hoàn thành, mừng vì do ta đại thắng ở Điện Biên Phủ buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ, hòa bình sẽ lập lại ở Đông Dương, miền Bắc sẽ được giải phóng.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 11:49:16 PM
        Nhưng thật đáng buồn, đáng tiếc, một sự đau lòng xảy ra, một tổn thất cho đại đội, cho tiểu đoàn trinh sát của Bộ Tổng Tham mưu và cũng là cho quân đội ta! Đồng chí Thận - Tiểu đoàn phó, một cán bộ trung kiên, dũng cảm, chân tình với bạn bè, với đồng đội được tất cả anh em trong đại đội mến phục, hy sinh trong lúc lau súng tiểu liên bị cướp cò, đạn xuyên từ cổ lên đỉnh đầu, trong một bản người Lào Lum trên bờ sông Nậm Sương. Chúng tôi tổ chức lễ truy điệu, cả đại đội và dân bản người Lào đông đủ tới dự, khóc như mưa khi vĩnh biệt đồng chí.

        Chỉ mượn được một con thuyền độc mộc, đại đội phân công tôi, đồng chí Nam Chính trị viên và 5 chiến sĩ bơi dọc sông Nậm Sương đưa thi hài đồng chí đến nơi an nghỉ cuối cùng trong một khu rừng cách bản đó không xa.

        Thật đau đớn và tiếc thay! đồng chí đã ngã xuống trước ngày ngưng tiếng súng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp. Với tinh thần quốc tế cao cả, đồng chí nằm lại trên đất bạn xa xôi một mình mà chắc đến bây giờ chưa ai đến thăm được.

        Đại đội trinh sát của Bộ sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trở về Tổng hành dinh được khen thưởng, mấy đồng chí được thưởng Huân chương Chiến công, trong đó có tôi.

        Về công tác ở cơ quan tham mưu chiến lược qua gần 4 năm, tôi được may mắn đi công tác ở các chiến dịch, ở các chiến trường nên vừa mở rộng được tầm hiểu biết về chiến lược, vừa được học tập kinh nghiệm qua các chiến dịch lớn (từ chiến dịch Hòa Bình đến chiến dịch giải phóng Tây Bắc, Sầm Nưa và Điện Biên Phủ).

        Đặc biệt với chiến dịch Điện Biên Phủ, sau 55 ngày đêm chiến đấu liên tục ác liệt đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm này.

        Đây là một thắng lợi vang dội toàn cầu. Như tác giả Jules Roy đã viết trong cuốn “Trận Điện Biên Phủ”, dưới con mắt người Pháp: Thắng lợi Điện Biên Phủ còn hơn cả Oa-téc-lô.

        Trong tác phẩm của đồng chí Lê Duẩn “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới” cũng đã đánh giá:

        “Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, thật xứng đáng được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch các nước thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”.

        Thắng lợi lịch sử ở Điện Biên Phủ buộc đế quốc Pháp phải ký kết hiệp định Giơnevơ 1954, hòa bình được lập lại ở ba nước Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được giải phóng.

        Chiến tranh đã tạm thời kết thúc, đất nước ta bước sang một giai đoạn mới.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2016, 11:57:00 PM

Chương ba

TỔ CHỨC CỤC TÁC CHIẾN VÀ CƠ QUAN
TỔNG HÀNH DINH CHỈ ĐẠO, CHỈ HUY TÁC CHIẾN
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC,
CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở VÀ
LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA

        1. Tổng hành dinh từ vùng núi rừng Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội

        Đi trên một chiếc xe tải, tôi cùng đội tiền trạm của Bộ Tổng tham mưu từ vùng Chợ Chu Bắc Cạn theo đường Đại Từ qua Tuyên Quang về Việt Trì, vượt sông Đà qua Sơn Tây về chuẩn bị một địa điểm cho cơ quan nhẹ của Bộ Tổng Tư lệnh ở ngoại ô bắc thị xã Hà Đông.

        Khi cơ quan Bộ đã tới nơi, một buổi chiều, đồng chí Hà Văn Lâu tham gia hội nghị Giơnevơ trở về, làm việc trong phái đoàn liên hiệp đình chiến, đến gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp. Khi đồng chí Hà Văn Lâu ra về, tôi được cử đi cùng, vào Hà Nội trong một chiếc xe du lịch màu đỏ hãng Citroen.

        Xe đi tới Ngã tư Sở thì có một ba-ri-e của đội quân cảnh Pháp chặn lại. Tên lính Pháp đứng sau, tên lính ngụy ra hỏi giấy tờ. Đồng chí Hà Văn Lâu đưa cho xem thẻ, thấy xe có cắm cờ của “Liên hiệp đình chiến”, tên lính ngụy ngoái cổ lại hỏi, tên lính Pháp gật đầu và cho xe đi.

        Xe qua Hàng Bột, phố Khâm Thiên với ánh đèn hai bên dãy phố sáng trưng (theo tôi cảm nhận lúc đó, của một người từ trong vùng rừng núi trở về thành phố). Người qua lại đông đúc, trong lòng tôi cũng thấy rộn ràng, vui sướng, sau 9 năm được trở lại Thủ đô Hà Nội.

        Xe vào đến cổng trụ sở ủy ban Liên hiệp đình chiến, lúc bấy giờ ở số 56 Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo), đồng chí Hà Văn Lâu bảo tôi vào ngủ cùng phòng đồng chí Việt Kỳ, một cán bộ quân sự trong ủy ban.

        Sau 3 ngày làm việc trong tổ quân sự của ủy ban Liên hiệp đình chiến, vào một buổi sáng (9/10/1954) chúng tôi bận quần áo thường phục ra đứng bên lề đường phố Hàng Bài (gần bờ Hồ) cùng nhân dân Hà Nội đón đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, do Anh hùng Nguyễn Quốc Trị đi đầu. Cả một rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội tay cầm những bó hoa nhảy lên vui mừng, tiếng hoan hô ầm vang, đón chào bộ đội chiến thắng trở về.

        Chiều hôm sau, ngày 10 tháng 10 năm 1954, tại sân vận động Cột Cờ (lúc đó gọi là Stade Mangin), trước hàng ngũ chỉnh tề của bộ đội và các đoàn đại biểu quần chúng, ủy ban quân quản Thủ đô (đồng chí Vương Thừa Vũ và Trần Duy Hưng) ra mắt đồng bào.

        Đồng chí Vương Thừa Vũ đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhật lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh. Tôi đứng phía sau khán đài cùng tổ quân sự của ủy ban Liên hiệp đình chiến và tổ bảo vệ an ninh để theo dõi tình hình về báo cáo Bộ.

        Ngày hôm sau, tôi được lệnh rời khỏi ủy ban Liên hiệp đình chiến về gặp đội tiền trạm của Bộ tổng tham mưu tại một cơ quan ngụy đối diện “Đồn Thủy” (sau này là cơ quan Bộ Tư lệnh Biên Phòng) để triển khai Sở chỉ huy của Bộ.

        Từ đó, các cơ quan Cục Tác chiến cùng Cục Thông tin liên lạc bắt đầu làm việc, theo dõi tình hình các đơn vị bộ đội, các cơ quan trung ương di chuyển từ căn cứ địa Việt Bắc về đồng bằng và thực hiện kế hoạch tiếp quản các vùng địch chiếm đóng trước đây.

        Ở cơ quan Tổng hành dinh mới, chúng tôi làm việc ăn ngủ tại chỗ. Trải chiếu nằm trên nền nhà, với một tấm ván vuông kê dùi làm bàn viết, chỉ có vài bàn gỗ ọp ẹp để đặt máy điện thoại, một cái ghế băng dài bằng gỗ để tiếp khách.

        Làm việc được vài hôm, các bộ phận từ Việt Bắc về ngày càng đông, cơ quan Bộ Quốc phòng lúc đầu định đóng quân ở Bạch Mai, nhưng sau đó quyết định về ở trong khu Thành Thăng Long - một di tích lịch sử, từ đó cho đến nay.

        Cục Tác chiến đóng trong “Khu A” một dãy nhà dưới chân “Lầu Công chúa”. Đồng chí Trần Văn Quang và các thủ trưởng Cục làm việc trên “Lầu Công Chúa”. Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu làm việc trên khu nhà của “Bệ Rồng”.

        Thời kỳ này tôi theo dõi các đơn vị tiếp quản khu Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, theo dõi tác chiến tiễu phỉ ở Đông Bắc, ở Đồng Văn, HoàngXuPhì - Hà Giang Đi kiểm tra, nắm tình hình các đơn vị của ta từ miền Nam, Campuchia, Lào ra tập kết ở miền Bắc. Sau gần 6 tháng tôi được cử đi học Trung văn ở thị xã Kiến An.

        Một sự kiện mới đến với tôi, là trước khỉ đi học ở Học viện quân sự Trung Quốc, tôi được về thăm nhà ở Vinh và tình cờ trong một lần đi chơi trên đường từ Vinh đi Bến Thủy thì gặp một cô giáo thành Vinh đi dạy học về nhà.

        Gặp nhau trò chuyện rồi rủ nhau đi chơi một hai lần, tâm sự với nhau vào một buổi tối ngồi trên bậc thềm nhà thờ Cầu Rầm, tâm tình hò hẹn “xe duyên kết tóc”. Đó là cô An, người bạn đời chung thủy với tôi đến nay, hơn nửa thế kỷ!. Tôi lên đường sang Nam Kinh (Trung Quốc) học quân sự ở một Học viện quân sự lớn của Giải phóng quân Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:15:10 AM
        Qua “thư từ, đi về”, cách nhau hàng nghìn dặm để tìm hiểu nhau, đến mùa hè năm 1957, về Việt Nam nghỉ phép, được sự đồng ý của Cục Cán bộ, chúng tôi tổ chức đám cưới hết sức đơn giản (chỉ có nước trà, đĩa kẹo, gói thuốc lá) tại một hội quán Hoa kiều ở Vinh.

        Đúng là vì “hữu duyên”, nên dù “thiên lý” cũng đã được “tương ngộ”!

        Đi sang Trung Quốc lần này là đoàn học viên quân sự Việt Nam gồm 18 cán bộ do Thượng tá Đặng Kinh - nguyên Cục phó Cục Tác chiến làm Trưởng đoàn. Đây là đoàn học viên quân sự đầu tiên ra nước ngoài học tập, trong điều kiện miền Bắc vừa mới được giải phóng vật chất còn nhiều thiếu thốn. Trước khi ra đi, Cục Cán bộ chỉ may cho mỗi cán bộ học viên hai bộ đồ xanh công nhân, một mũ vải (một bộ mặc trong người, một bộ cùng các thứ khác bỏ trong một túi vải trắng dày, có giây thắt nút, lúc này chưa có va ly). Từ ga Bằng Tường đi tàu hỏa đến ga Nam Kinh, cán bộ ta được cán bộ Học viện Quân sự Nam Kinh ra đón. Khi ngồi lên xe xong, cán bộ Trung Quốc hỏi các đồng chí còn đồ đạc gì nữa không? Chúng tôi trả lời chỉ gỏn gọn túi vải này thôi!

        Vào đến Học viện thì được cấp phát đủ thứ, nào vải đệm giường, quần áo bông và quân phục quân giải phóng Trung Quốc với quân hàm vải màu đỏ (màu quân hàm học viên quân sự).

        Sau 5 năm học tập ở Học viện quân sự Nam Kinh (một năm dự khóa, bốn năm chính khóa). Năm 1960 tôi trở về Cục Tác chiến với quân hàm thiếu tá, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của quân đội ta và nhận nhiệm vụ phó Phòng Tác chiến. Nhận công tác ở Cục Tác chiến, tôi đưa nhà tôi và con gái đầu lòng ra Hà Nội (ở số nhà 1 Văn Miếu).

        Công tác ở Cục mới được hơn 1 tháng thì xảy ra cuộc đảo chính của Coongle ở Lào (9/8/1960). Vào khoảng 2 giờ sáng của một ngày nào đó (mà tôi đã quên), có đồng chí liên lạc ra bảo tôi vào cơ quan có việc gấp. Tôi vào Sở chỉ huy thì được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi lên giao nhiệm vụ. Đồng chí Đại tướng nói: “Bộ giao cho cậu ngày mai đi máy bay sang Lào, tìm gặp đoàn cán bộ của anh Chu Huy Mân đang giúp quân Coongle để nắm tình hình về báo cáo Bộ, vì hiện nay Bộ không liên lạc được bằng điện đài...”. Đồng chí còn hỏi tiếp: “Nếu bị địch bắt thì cậu khai thế nào?”. Tôi trả lời là tôi khai làm y tá. Đồng chí cười và nói lại: “Cậu biết những thứ thuốc gì mà khai làm y tá?”. Tôi nói tôi biết các loại thuốc sốt rét như quinin chẳng hạn. Đại tướng vỗ vai tôi và bảo: “Thôi về chuẩn bị sáng mai đi, nhớ là phải thay quần áo Pathét Lào, không được mang theo sổ sách giấy tờ gì cả, chỉ hỏi tình hình rồi ghi nhớ trong đầu về báo cáo...”.

        3 giờ sáng, tôi về nói với nhà tôi là đi công tác vài ngày thôi, đạp xe vào Cục, thay bộ quân phục Pathét Lào, mũ lưỡi trai, khoác ba lô. Cục Bảo vệ cử đồng chí Tấn chuẩn úy đi theo (đồng chí Tấn sau này là trung tá Phòng Doanh trại C59B, hiện nghỉ hưu ở đường Cửu Long trong sân bay Tân Sơn Nhất).

        Hai người đi ô tô sang sân bay Gia Lâm, lên một chiếc máy bay của Liên Xô (Li 2), chỉ chở một xì téc xăng to dài cả khoang máy bay, bay sang sân bay Viên Chăn, viện trợ cho Lào theo ký kết của Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Phu Ma trước đây.

        Máy bay cất cánh từ Gia Lâm sang Lào. Nhìn xuống qua cửa kính máy bay đang bay trên đường số 7, cánh đồng Chum rộng bao la thì một phi công Liên Xô vỗ vai tôi chỉ bên trái thấy một máy bay sơn cờ sao nhiều cánh màu trắng (ký hiệu máy bay Tưởng Giới Thạch) đang bay cặp theo máy bay Liên Xô. Bất thình lình máy bay Liên Xô hạ tụt độ cao xuống, cặp đuôi máy bay có ký hiệu cờ “Tưởng Giới Thạch” vụt lên trước.

        Sợ bị bắn từ phía sau đuôi, máy bay “cờ Tưởng” tăng tốc độ bay sang Thái Lan, máy bay Liên Xô rẽ hướng đường số 13 rồi hạ thấp độ cao xuống sân bay Văng Viêng (một sân bay dã chiến của quân ngụy Lào ở bắc Viêng Chăn).

        Sau khi tôi xuống và bắt tay cảm ơn phi công, máy bay Liên Xô lại cất cánh bay tiếp về phía Viêng Chăn. Tôi và đồng chí Tấn hỏi thăm dân Lào rồi băng qua rừng vào một ngọn suối để bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam, theo chỉ dẫn của dân Lào.

        Tôi gặp được hai cán bộ là đồng chí Khanh ở Đoàn CP31 (cơ quan giúp Lào của Trung ương ta) và đồng chí Hòa (sau này là Trưởng đoàn chuyên gia quân sự tại lào). Hai đồng chí đó nằm trên mấy tàu lá chuối, bên cạnh một bếp lửa than củi còn cháy. Gặp nhau tay bắt mặt mừng vì là những người đã từng quen biết (đồng chí Khanh ở CP31 đường Lý Nam Đế mà tôi thường gặp khi sang họp; đồng chí Hòa là người cùng học với tôi 5 năm ở Học viện quân sự Nam Kinh). Tôi rất mừng là đã hoàn thành nhiệm vụ, bước đầu tìm bắt liên lạc được với người của ta. Hai đồng chí đó cũng rất mừng vì đang ở trong tình cảnh mất liên lạc với đồng chí Chu Huy Mân đi với quân Coongle, đang rút từ Viêng Chăn ra, mới tới Phôn Hồng (bắc thành phố Viêng Chăn), nay lại được gặp phái viên của Bộ.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:19:15 AM
        Sau khi nắm được toàn bộ tình hình của quân Coongle và kế hoạch của đoàn cán bộ quân sự ta đang giúp đỡ họ (tiến quân về hướng Salaphukhum - Mường Xủi để đánh chiếm Cánh Đồng Chum). Sáng hôm sau (như đã hẹn với phi công Liên Xô) chúng tôi trở ra sân bay Văng Viêng bay về Gia Lâm (Hà Nội) báo cáo tình hình với Bộ.

        Về Cục Tác chiến, nghe anh em nói, trong mấy ngày qua cũng có một trực thăng (MI4) do phi công của ta lái, bay sang Lào bắt liên lạc nhưng vì sương mù nên bay lạc sang bên kia sông Mê Kông (đất Thái Lan), phải hạ cánh bắt buộc xuống một cánh đồng đất Thái, đốt máy bay, rồi phi công và cán bộ ta vượt sông Mê Kông trở về đất Lào.

        Khoảng nửa tháng sau (1/1/1961), cũng vào khoảng 2-3 giờ sáng, tôi đang ngủ nghe tiếng gõ cửa (lúc này ở nhà riêng chưa có điện thoại), một đồng chí liên lạc đến gọi vào đi công tác gấp. Nhà tôi cũng ngồi dậy ngơ ngác và hỏi đi đâu mà dậy sớm thế; tôi chỉ trả lời “có lẽ lại đi công tác đột xuất 1-2 ngày như lần trước thôi”. Tôi vào Cục thì thấy cơ quan đã chuẩn bị sẵn quân phục Pathét Lào, trang bị đầy đủ hơn lần trước. Đồng chí Tấn bảo vệ đã chờ sẵn, ngoài ra còn có một tổ điện đài, cơ yếu 5 đồng chí cùng đi. Rút kinh nghiệm mất liên lạc giữa Bộ Tổng và bộ phận cán bộ ta giúp Coongle lần trước nên lần này tôi được mang theo một tổ điện đài để làm dự bị. Tôi nhận nhiệm vụ đi máy bay sang cánh đồng Chum để gặp đồng chí Chu Huy Mân (mang bí danh là Thao Chăn) và giúp đỡ về công tác tham mưu cho bộ phận cán bộ quân sự ta làm cố vấn cho Coongle.

        Chúng tôi đi ôtô sang sân bay Gia Lâm vào trạm của cơ quan viện trợ CP31, thì gặp đồng chí Võ Quang Hồ (thời gian này công tác ở Bộ Tư lệnh pháo binh), đang chỉ huy sắp xếp đạn pháo 105 ly và các hàng viện trợ khác cho quân Coongle để chở bằng máy bay.

        Chúng tôi ngồi chờ mấy chục phút rồi cùng xe chở hàng viện trợ ra sân bay để cùng đi một chuyến bay.

        Lần này không phải là máy bay kiểu Li2 chở xăng dầu như trước mà là một máy bay vận tải lớn hơn (IL14), chở bộ phận chúng tôi đi cùng số hàng viện trợ, phần lớn là đạn pháo 105.

        Lúc máy bay hạ cánh xuống sân bay Cánh Đồng Chum, một sân bay lớn lát ghi sắt. Cánh cửa mở, tôi bước xuống trước thì gặp đồng chí Chu Huy Mân trong trang phục quân Coongle (áo Canadien thắt bụng, mũ vải ...) ra tận chân thang máy bay đón. Tôi đứng nghiêm chào, đồng chí Mân bắt tay tôi rồi hỏi: “Có ai nữa không?” Tôi trả lời: “Chỉ có tôi và một số anh em thông tin”. Đồng chí mỉm cười nói: “Thế ra là Khánh tác chiến! Mình xem điện ông Văn nói, cử đồng chí Khánh sang giúp đỡ, tưởng là Cao Văn Khánh, nhưng Khánh tác chiến cũng tốt...”, rồi đồng chí Thao Chăn kéo tay tôi lên xe Jeep của đồng chí và vào rừng phía Bắc sân bay, vào chỗ làm việc của đồng chí.

        Trong mấy cái lán cành cây lợp lá và một cái tăng vải bạt nhỏ, với khoảng 4-5 người đi theo giúp việc và một tổ điện đài, đồng chí bảo tôi: “Bây giờ cậu giúp tôi công tác tham mưu và quan hệ với đại úy Đươn (sau này là đại tá Đươn)”. Đồng chí Thao Chăn trực tiếp làm việc với đại úy Coongle cũng ở trong lán cây và căng vải bạt ở một đồi bên cạnh.

        Trong lúc này thì quân Coongle đang đánh địch mở rộng về Phôn Xa Vẳn, một thị trấn nhỏ của Lào, là một chi khu quân sự của quân Phu Mi và truy lùng địch ở Cánh Đồng Chum chạy về thị xã Xiêng Khoảng.

        Đồng chí Thao Chăn bảo tôi đi cùng đại úy Đươn xuống kiểm tra tình hình ở Phôn Xa Vẳn. Tôi cũng được quân Coongle cấp cho một chiếc xe Jeep và một người tài xế lính Coongle. Tôi và đại úy Đươn làm việc ở Phôn Xa Vẳn bố trí lại lực lượng (trao đổi với nhau bằng tiếng Pháp), rồi lại quay về Cánh đồng Chum.

        Cơ quan đồng chí Thao Chăn ngày càng được tăng cường thêm nhiều cán bộ, đủ các ngành quân dân chính Đảng, các Tổng cục, nhà cửa được xây bằng gỗ đàng hoàng, do có cầu hàng không Gia Lâm - Cánh đồng Chum, tiếp tế bằng thả dù và máy bay hạ cánh sân bay Cánh đồng Chum cho cơ quan và các đơn vị của Coongle, PaThét Lào và của ta.

        Khi đồng chí Trung tá Thăng Bình ở Sư đoàn 316 về giúp đồng chí Thao Chăn, tôi được lệnh đồng chí Thao Chăn cùng một trung đội quân Coongle do trung úy Chẹng và trung úy Thiệp chỉ huy đi xuống thị xã Xiêng Khoảng, liên lạc với trung úy Khăm Bọn (một sĩ quan của Coongle) đã đưa quân xuống trước đánh chiếm thị xã Xiêng Khoảng. Cùng đi với tôi còn có một tổ điện đài cơ yếu để liên lạc với đài đồng chí Thao Chăn (vượt cấp liên lạc với cả đài của Bộ) và một khẩu đội pháo 105. Tôi còn có nhiệm vụ đưa ông Thao Tu (một thủ lĩnh rất có uy tín với người Mẹo) đi xuống để nắm chính quyền và dân ở Xiêng Khoảng (đa số dân ở đây là người Mẹo).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:23:11 AM
        Khi đoàn chúng tôi hành quân từ Cánh Đồng Chum tới cách thị xã Xiêng Khoảng 10 kilômét thì bị quân Coongle (lính của Khăm Bọn) đặt ba-ri-e chặn lại không cho vào thị xã, vì Khăm Bọn không muốn cho Thao Tu vào nắm dân Mẹo và muốn được quyền một mình nắm tỉnh Xiêng Khoảng (Khăm Bọn sau này trở thành phản động, bỏ Coongle theo lại với Phu Mi). Vì không muốn nổ súng chống lại, tôi bàn với trung úy Chẹng và trung úy Thiệp cùng trung đội quân Coongle ở lại, bố trí quân tại chỗ. Tôi và ông Thao Tu, có đồng chí Tấn bảo vệ, đi một xe Jeep vào thị xã gặp Khăm Bọn, nên bọn lính cho chúng tôi vào. Đi đến chỗ ở của Khăm Bọn (một ngôi nhà ngói gần chợ Xiêng Khoảng), lính gác vào báo cáo, chúng tôi chờ mãi ở cổng. Sau đó, Khăm Bọn bước ra với dáng vẻ còn loạng choạng từ trong phòng ngủ với một cô gái Lào gặp tôi (lúc đó vào khoảng 5 giờ sáng).

        Biết tôi, vì 1-2 lần làm việc với đại úy Đươn ở Cánh đồng Chum có gặp tôi ở đấy, nên sau khi tôi nói lệnh của ông Coongle và ông Thao Chăn, Khăm Bọn không thể từ chối và lệnh cho lính mở ba-ri-e đề trung đội của Chẹng - Thiệp vào thị xã, chiếm lĩnh khu trung tâm. Tôi đưa ông Thao Tu vào ở nhà tỉnh trưởng của tỉnh Xiêng Khoảng. Chiếm lĩnh thị xã Xiêng Khoảng 2 ngày, theo lệnh đồng chí Thao Chăn, tôi cùng trung đội của Chẹng - Thiệp, bộ phận điện đài cơ yếu và khẩu đội pháo 105 của tôi, bắt đầu phát triển, tiến công mở rộng khu chiếm đóng xuống Ta Viêng Tha Thơm, để cho bộ phận lính của Khăm Bọn ở lại giữ thị xã Xiêng Khoảng. Được tự do một mình chiếm cứ Xiêng Khoảng nên Khăm Bọn rất thích thú, vui vẻ tiễn đưa chúng tôi và trung đội của Chẹng - Thiệp xuất quân đi Ta Viêng, với nhiều vật chất làm quà mang theo.

        Trung úy Chẹng là một sĩ quan trẻ tuổi, có học thức, trực tiếp chỉ huy trung đội, trung thành với Coongle, quan hệ tốt với Việt Nam và Pathét Lào (bây giờ là Thiếu tướng của Quân đội nhân dân Lào).

        Trung úy Thiệp là một sĩ quan dù (đội bêrê đỏ lệch một bên, quần áo rằn ri), có tính tình thẳng thắn, có hơi ngang ngạnh nhưng dũng cảm, một mình lái xe Jeep đi trước có gắn khẩu đại liên (Trung úy Thiệp sau này là Đại tá, Cục trưởng Cục Công binh Bộ Tổng Tham mưu Lào). Cả hai người trước học trường sĩ quan Pháp đào tạo theo lối đánh của quân đội Pháp. Khi hành tiến xuống Ta Viêng Tha Thơm thì đội hình đi đầu là một xe Jeep gắn khẩu đại liên của Thiệp, vừa đi vừa bắn hai bên đường, một chiếc xe húc đi kèm, vừa chạy vừa mở đường (gạt cây đổ và chỗ sụp lở) tiếp sau là trung đội của Chẹng và bộ phận điện đài của tôi, sau cùng là khẩu đội 105. Khi bị địch đánh chặn dọc đường, quân Chẹng dừng lại, bắn 2 bên, pháo 105 chiếm lĩnh trận địa chi viện bắn vào sau đội hình địch, hoặc trên các đồi cao địch chiếm đóng. Quân của Chẹng vừa hành quân cơ giới vừa chiến đấu, đẩy quân Phu Mi và lính Mẹo phản động chạy tản lên các dãy núi cao.

        Ngày hành quân, tối dừng lại nghỉ thì quân lính của Chẹng - Thiệp ở trong bản ăn uống thả cửa.

        Nhưng chúng tôi (cả bộ phận điện đài và pháo) thì đóng lui phía sau trong rừng, điện đài chiếm đồi cao căng ăngten đánh điện báo cáo với đồng chí Thao Chăn. Chúng tôi không đóng quân trong bản cùng quân Chẹng - Thiệp vì một mặt đề phòng địch tập kích, một mặt khác cũng cảnh giác với quân Coongle, đề phòng có tên nào phản động nó lại “thịt” mình khi đang ngủ.

        Sau khi đánh chiếm Ta Viêng (12/1/1961), đoàn quân tiến xuống đánh Tha Thơm (18/1/1961). Ở đây địa hình núi đá, cửa ngõ xuống Pạc San, đường 13.

        Địch dựa vào hang đá chống cự. Quân của Chẹng phải dừng lại, đang tìm đường vòng vu hồi đánh vào sau dẫy núi đá thì một hôm vào buổi sáng thấy một toán quân từ hướng Tha Thơm tiến lên gặp chúng tôi, hai bên bắn nhau một hồi. Tôi nhìn thấy bên kia mặc quần áo Pathét Lào (không phải lính Phu Mi) hô cho bên này ngừng bắn. Một đồng chí chỉ huy của đội quân bên kia (quân Pathét Lào) tiến lên gặp tôi, thì té ra đồng chí Xom Xắc, đang dẫn tiểu đoàn 2 trong vòng vây từ Pạc San lên Cánh Đồng Chum qua Tha Thơm bị chặn đánh và vượt qua Tha Thơm tiến lên gặp quân của Chẹng. Đồng chí Xom Xắc người to, mập, nhưng mặt đã hốc hác, đeo một bao tượng đầy “bạc kíp”, nhưng đồng chí bảo bộ đội Pathét Lào mấy ngày nay không có gì ăn vì đi đến đâu cũng không gặp dân, có nhiều tiền mà chẳng mua được gì. Bộ đội của Chẹng san sẻ lương thực, thực phẩm cho Tiểu đoàn 2 Pathét Lào (vì bộ đội Coongle đi đến đâu đều có máy bay Liên Xô thả dù tiếp tế lương thực, thực phẩm dồi dào). Sau đó Tiểu đoàn 2 Pathét Lào tiếp tục hành quân về phía Cánh Đồng Chum để gặp chính phủ trung ương Pathét Lào đã lên đó hợp tác với quân Coongle (đồng chí Xom Xắc sau này là Tổng Tham mưu trưởng quân đội nhân dân Lào). Có lần gặp tôi trong bữa ăn cơm chung với đồng chí Trần Văn Quang và đồng chí Khăm Tày tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Lào ở Viêng Chăn, sau cuộc diễn tập chỉ huy của cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, đồng chí Xom Xắc kể chuyện nói: “Hồi đó không gặp Ai (anh) Khánh thì bộ đội tôi chết đói”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:26:15 AM
        Chúng tôi cùng đi với trung đội Chẹng một thời gian, giữa bộ đội Việt Nam (tôi và tổ điện đài, khẩu đội pháo) với trung đội Chẹng - Thiệp rất vui vẻ đoàn kết với nhau, chiến đấu mở rộng khu kiểm soát nam Xiêng Khoảng tới Tha Thơm. Chẹng - Thiệp và binh lính của họ thường gọi tôi là “quan năm” (Colonel Khánh), đồng chí Tấn bảo vệ được đề bạt là quan ba (Capitaine Tấn).

        Quân của Chẹng ở lại bảo vệ vùng mới được giải phóng nam Xiêng Khoảng, tôi được lệnh trở lại Cánh đồng Chum, gặp cơ quan anh Thao Chăn. Lúc này ở Cánh đồng Chum Phôn Xa Văn nhộn nhịp, máy bay lên xuống chở cán bộ đi lại và tiếp tế lương thực hàng ngày. Dưới đất thì ôtô tải, xe con (Jeep) chạy bụi mù trời, như là thủ đô của quân “Liên hiệp Pathét Lào - Coongle”. Cơ quan đồng chí Xu PhaNuVông và đồng chí Kay Xơn cũng lên làm việc ở Khang Khay. Tôi được phân công làm tham mưu cho đồng chí Thao Chăn một thời gian, thỉnh thoảng có đi lại báo cáo tình hình chiến sự trực tiếp với đồng chí Xu PhaNuVông và đồng chí Kay Xơn (Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước và Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào).

        Tôi sang Lào đợt này chiến đấu và công tác gần hai tháng, tóc râu bù xù (vì không có hiệu cắt tóc).

        Đến khi đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn sang làm việc với đồng chí Thao Chăn. Thời gian này đồng chí Hoàng Sâm lên thay đồng chí Thao Chăn (đồng chí Hoàng Sâm mang bí danh là Thông Đi).

        Đồng chí Lê Trọng Tấn đề nghị cho tôi về Cục Tác chiến để theo dõi tình hình Lào. Tôi trở về Cục cùng chuyến bay của đồng chí Lê Trọng Tấn.

        Gần hai tháng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Thao Chăn (Chu Huy Mân), các chuyên gia quân sự Việt Nam giúp đỡ quân Coongle và bạn Pathét Lào tác chiến mở rộng và củng cố khu vực Cánh Đồng Chum Xiêng Khoảng, một địa bàn chiến lược quan trọng ở bắc Đông Dương. Đây là thời gian dài nhất tôi được gần gũi đồng chí, tuy trước đây có biết và có làm việc với đồng chí trong từng thời gian ngắn, khi tôi là phái viên tác chiến xuống đơn vị của đồng chí.

        Đại tướng Chu Huy Mân là một vị tướng vừa chính trị, vừa quân sự, từng làm Chính ủy Trung đoàn 174, Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 316, Chính ủy quân khu Tây Bắc trong và sau kháng chiến chống thực dân Pháp, là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Tư lệnh Quân khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị sau chiến tranh. Đồng chí là một tướng lĩnh suốt hai cuộc kháng chiến, chuyên hoạt động ở những vùng rừng núi chiến đấu ác liệt, khó khăn gian khổ, thiếu thốn về vật chất, thời tiết khắc nghiệt, như ở biên giới, dọc đường 4 Việt Nam - Trung Quốc, ở Tây Bắc, ở chiến trường rừng núi Lào, ở Tây Nguyên...

        Đồng chí Chu Huy Mân còn là một người có tính kỷ luật cao, nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh cấp trên, quan tâm cấp dưới và đoàn kết giúp đỡ bạn (cả bạn Pathét Lào và quân Coongle) với giọng nói ôn tồn, điềm đạm thong thả nhưng chắc chắn, đồng chí bình tĩnh xử lý mọi việc và các tình huống khó khăn.

        Khi ở mặt trận Tây Nguyên về Hà Nội, có lần đồng chí Cao Văn Khánh nói chuyện với anh em: “Chiến trường Tây Nguyên ác liệt, gian khổ, nhưng có đồng chí Chu Huy Mân làm cho anh em càng vững lòng tin”. Có lần đồng chí sang chơi nhà ở của đồng chí Chu Huy Mân trong rừng Tây Nguyên, thấy buổi chiều đồng chí vẫn xắn quần cuốc đất trồng sắn, trồng rau, trồng cả những cây ăn quả lâu năm. Đồng chí Cao Văn Khánh nói: “Anh định trụ lại ở đây bao nhiêu lâu mà trồng những cây ăn quả này?”. Đồng chí bảo: “Kháng chiến trường kỳ mà! mình đi nơi khác thì chỉ huy khác đến dùng”. Đồng chí cũng là người phát động phong trào trồng sắn ở vùng rừng núi Tây Nguyên, giải quyết được lương thực cho bộ đội Tây Nguyên khi không có gạo và cung cấp được một phần cho các đơn vị từ miền Bắc vào Nam Bộ chiến đấu khi thiếu gạo trên đường hành quân qua Tây Nguyên...

        Về đến nhà, sum họp gia đình vui vẻ, vợ tôi nói khi tôi ra đi được độ năm ngày thì đồng chí Hải Châu (một cán bộ trong Cục Tác chiến) mang xe đạp và gói quần áo của tôi ra. Nhà tôi rất lo ngại, không hiểu sao lại giao quần áo lại, không biết đã xảy ra điều gì không may! Hỏi mãi nhưng đồng chí Hải Châu không nói đi đâu, chỉ nói chị yên tâm, không có gì xảy ra đâu. Sau này đồng chí Hải Châu thường lui tới thăm gia đình và qua các cán bộ (sang Cánh Đồng Chum) đi lại, về nói chuyện, dần dần cũng được tin tức nên yên tâm.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:30:07 AM
        Về công tác lại ở Cục Tác chiến một thời gian thì ta và bạn chủ trương mở chiến dịch Mường Sinh, Nậm Thà, để mở rộng vùng giải phóng Thượng Lào.

        Chiến dịch này do đồng chí Bằng Giang làm Tư lệnh, đồng chí Trần Độ làm Chính úy. Trong lúc cơ quan chiến dịch đang triển khai sở chỉ huy, đồng chí Đặng Kinh - Cục phó Cục Tác chiến và tôi được cử tới gặp Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến những chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh.

        Một buổi sáng, đồng chí Đặng Kinh, tôi và đồng chí Việt Kỳ (Trưởng phòng Tác chiến Quân khu Tây Bắc, được điều sang làm Trưởng phòng tác chiến Bộ chỉ huy chiến dịch) sang Gia Lâm để bay trên một chiếc máy bay nhỏ (AN2) sang Lào.

        Lần đầu tiên, máy bay AN2 do phi công ta lái bay sang vùng địch còn chiếm và núi rừng cao, thường có mây mù dày đặc nên trước khi lên máy bay đồng chí trung úy Tình (phi công chính) giao cho chúng tôi mỗi người một balô dù, đeo vào lưng và hướng dẫn cách rút dây dù tung ra, đề phòng trường hợp do địch bắn hay tai nạn mà máy bay bị rơi.

        Máy bay bay sang gần địa điểm Sở chỉ huy chiến dịch (nói là gần nhưng đi bộ cũng mất một ngày do có nhiều dốc núi cao). Trên bản đồ có ký hiệu sân bay dã chiến cũ, gần bản Mường Ải.

        Máy bay quay đi quay lại mấy vòng mới bắt dầu tìm ra hướng hạ cánh. Nhưng khi hạ cánh do gió quạt mạnh cũng làm tốc mái một ngôi chùa ở đầu đường băng. Máy bay hạ cánh xuống sân bay, do mưa lũ lâu ngày lại có chỗ dân đã trồng trọt nên máy bay chạy xóc như đi ngựa. Chúng tôi xuống máy bay đi tới sở chỉ huy chiến dịch thì trời đã tối.

        Sau khi làm việc với Bộ chỉ huy chiến dịch, đồng chí Đặng Kinh ra về bằng đường bộ, tôi ở lại làm phái viên theo dõi tác chiến. Chiến dịch diễn ra thuận lợi, quân ta giải phóng khu vực Mường Sinh (3/5/1962) và Nậm Thà (4/5/1962). Một bộ phận địch tan rã chạy về hướng Vieng Phu Kha Houisai, giáp biên giới Thái Lan.

        Tôi đi theo bộ phận truy kích địch đến Viêng Phu Kha vào ngày 6 tháng 5 năm 1962 thì quân ta được lệnh dừng lại, chiếm lĩnh đèo Viêng Phu Kha, không tiến ra Houisai, tránh đụng độ với quân Thái Lan và tàn quân thổ phỉ Tưởng đang ngăn chặn ở biên giới trong tình hình chính trị lúc này không lợi.

        Chiến dịch Nậm Thà kết thúc thắng lợi (8/5/1962). Đồng chí Cục phó Cục Tác chiến Đỗ Đức Kiên đi máy bay AN2 (cũng do đồng chí Tình lái) từ Hà Nội sang hạ cánh ở sân bay Nậm Thà gặp Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến kế hoạch củng cố vùng mới giải phóng, bố trí lại lực lượng của bạn, một bộ phận quân tình nguyện của ta rút về phía sau và tiến hành tổng kết chiến dịch. Sau đó đồng chí Đỗ Đức Kiên và tôi lên máy bay AN2 bay về Hà Nội.

        Trên đường bay, vừa bay khỏi bầu trời Nậm Thà thì một máy bay T28 của nguy Lào đuổi theo. Máy bay AN2 của ta không trang bị súng. Máy bay T28 của nguy Lào có súng bắn rốc-két. Đồng chí Tình phi công ta lái rất giỏi, hạ thấp độ cao tránh máy bay địch, có lần địch bắn hụt một quả rốc-két, không trúng máy bay ta mà lại trúng xuống một bản làng ở dưới đất, nhà dân bị cháy.

        Máy bay ta bay đến biên giới Việt - Lào (khu vực Điện Biên Phủ) thì máy bay địch quay trở lại. Máy bay ta bay theo đường Thuận Châu - Nà Sản về Hòa Bình, trên đường bay về gần thị xã Sơn Tây thì phía trước trời mưa to, mây đen nghịt, có chớp sáng lòe.

        Đồng chí Tình nói có mây điện (mây CB), nên lập tức quay đầu bay về hướng Phú Thọ hạ cánh bắt buộc xuống sân bay (đây cũng là một sân bay cũ, đã lâu không dùng). Dân thị xã và các làng xung quanh sân bay chạy ra bao vây máy bay và lúc đầu giữ chúng tôi lại nghi là máy bay của ngụy Lào sang hàng (vì trước đây có một máy bay của Coongle sang hạ cánh bất ngờ ở sân bay Bạch Mai).

        Mãi đến chiều mưa đã ngớt, máy bay AN2 lại bay về theo hướng Thái Nguyên, phải tránh mây điện, bay vòng về hướng Hải Dương, tới 6 giờ chiều mới hạ cánh tại sân bay Gia Lâm.

        Trong thời gian này, Bộ Tư lệnh không quân ta báo cáo không bắt liên lạc được với máy bay ta, sợ mất tích. Một cuộc hành trình bằng máy bay rất vất vả trong một ngày (đáng lẽ chỉ mất 2 giờ đồng hồ từ Nậm Thà về Hà Nội). Nhưng nhờ đồng chí Tình có trình độ lái giỏi, dũng cảm, bình tĩnh xử lý tình huống phức tạp, tránh được địch bắn và vượt qua tai nạn (Rất tiếc đồng chí Tình sau này trong một buổi bay biểu diễn AN2 ở không phận Hải Phòng bị tai nạn, máy bay rơi và đồng chí đã hy sinh).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:32:19 AM
        Tôi trở về Cục Tác chiến tiếp tục công tác, phụ trách theo dõi tình hình Lào. Khi bạn thực hiện hiệp định Giơnevơ đình chiến ở Lào (23/7/1962), thì cùng đồng chí Bình Sơn - Tham mưu phó Đoàn 959, chuyên gia quân sự ở Lào, đi điều chỉnh lực lượng và rút quân tình nguyện Việt Nam về nước.

        Khi địch phá hiệp định đình chiến với chính phủ Liên hiệp, gây chiến tranh trở lại tháng 4 năm 1963 thì tôi làm phái viên tác chiến, đi lại nắm tình hình các nơi xảy ra chiến sự ở Lào, trọng điểm là khu vực Cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng).

        Nhiều lần tôi đến Phôn Xa Vẳn, Cánh đồng Chum gặp đồng chí Nguyễn Hữu An, chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam phối hợp quân PaThét Lào, phòng thủ Cánh đồng Chum. Có khi đi với đồng chí Nguyễn Hữu An sang gặp đại diện chính phủ Trung Quốc, có trụ sở đóng ở thị trấn Phôn Xa Vẳn (nghe nói đồng chí này là một Tướng của Giải phóng quân Trung Quốc), để bàn kế hoạch bảo vệ Cánh đồng Chum - Phôn Xa Vẳn, qua đồng chí này để xin viện trợ trực tiếp cho bộ đội Pathét Lào và quân tình nguyện Việt Nam.

        Chiến tranh ở Lào ngày càng lan rộng, khu vực Cánh Đồng Chum, là điểm nóng ác liệt nên có thời gian ta và bạn mở các chiến dịch phòng ngự, phản công và có các đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn hoặc Nguyễn Đôn sang trực tiếp chỉ huy.

        Từ ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), tôi công tác ở Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu theo dõi chỉ đạo tiễu phỉ ở Đồng Văn - Hoàng Xu Phì và tổ chức tiếp đón bộ độ ta ở miền Nam quân tình nguyện ở Campuchia và ở Lào ra tập kết ở miền Bắc chấn chỉnh lực lượng củng cố phòng thủ bảo vệ miền Bắc. Sang năm 1955 đi học ở Học viện quân sự Nam Kinh (Trung Quốc). Năm 1960 trở về lại công tác ở Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu với chức vụ Phó Phòng Tác chiến. Mới hơn một tháng thì xảy ra đảo chính của quân Coongle ở Lào, tôi được lệnh sang công tác giúp bạn ở Lào - Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, Nậm Thà (Thượng Lào và Trung Lào).

        Thời gian này, từ 1960 thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, ở miền Nam bắt đầu chuyển sang đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, phong trào đồng khởi nổi dậy nhiều nơi, vì vậy Phòng Tác chiến của Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu chuyển sang thời chiến.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:35:50 AM

        2. Chấn chỉnh tổ chức cơ quan Tổng hành dinh tăng cường chỉ đạo, chỉ huy trong tình hình chiến tranh mở rộng trên cả ba nước Đông Dương

        Vào những năm 1963 - 1964 ở miền Nam Việt Nam, chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai đã phát triển đến đỉnh cao. Ở miền Bắc Việt Nam, địch đã tăng cường phá hoại bằng các biện pháp: xâm phạm không phận, thả biệt kích. Ở Lào, chính phủ liên hiệp bị phá vỡ, chiến tranh đã nổ ra trên toàn lãnh thổ. Ở Campuchia bọn phản động Lon Non đã tiến hành lật đổ chính phủ trung lập của Xihanúc.

        Cơ quan Tổng hành dinh đã chuyển sang chỉ đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang trong tình hình chiến sự đang lan rộng. Ở Cục Tác chiến, Phòng Tác chiến đã được tăng cường cán bộ, phát triển thành một Phòng B (theo dõi chiến trường miền Nam), tổ C trong Phòng Tác chiến tách ra thành Phòng C (theo dõi tình hình Lào). Tôi vẫn là Trưởng phòng tác chiến A (theo dõi các lực lượng vũ trang ở miền Bắc Việt Nam, làm kế hoạch chiến lược lâu dài và phòng thủ bảo vệ miền Bắc).

        Quan hệ với các đồng chí Trung Quốc và Liên Xô làm kế hoạch chiến lược do đồng chí Đỗ Đức Kiên, đồng chí Bùi Công Ái, đồng chí Nguyễn Quang Minh và tôi. Khi đồng chí Ái chuyển sang làm Phó phòng B, đồng chí Minh làm trưởng phòng chi viện chiến trường, thì tôi phụ trách làm kế hoạch chiến lược có sự giúp đỡ của đồng chí Hoàng Dũng (cán bộ tác chiến Phòng A).

        Kế hoạch chiến lược, do tình hình phát triển, được bổ sung qua các thời kỳ:

        Lúc đầu làm kế hoạch phòng thủ bảo vệ miền Bắc, với phương châm là “phòng ngự tích cực”, đối tượng tác chiến chủ yếu là quân Mỹ và tay sai, hướng tấn công chủ yếu là đổ bộ từ bờ biển Bắc Bộ, phối hợp từ Nam vĩ tuyến đánh ra.

        Giữa hai nước bạn (Trung Quốc và Liên Xô) có ý kiến khác nhau, nhưng ta xác định theo quan điểm và đặc điểm tình hình đất nước ta.

        Khi tình hình chiến sự ở miền Nam phát triển, ta đưa một bộ phận chủ lực vượt qua giới tuyến quân sự tạm thời để “chia lửa” với quân dân miền Nam. Đề phòng địch phản công ra nam Quân khu 4, kế hoạch chiến lược của ta có bổ sung, tập trung vào việc chuẩn bị đánh bại địch nếu chúng tiến công ra nam Quân khu 4. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Tham mưu phó Vương Thừa Vũ, thời gian này kiêm Tư lệnh Quân khu 4, tôi và một số cán bộ Cục Tác chiến và các cục khác trong Bộ Tổng Tham mưu đi nghiên cứu, triển khai kế hoạch và bố trí lực lượng ở Quân khu 4.

        Đồng chí Vương Thừa Vũ là một người chỉ huy có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, sâu sát thực tế và nghiên cứu sâu về các loại hình chiến thuật. Đồng chí đề xuất kế hoạch tác chiến bảo vệ khu vực, phát huy lực lượng tại chỗ, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương, huy động mọi lực lượng (chủ yếu là bộ đội địa phương và nhân dân du kích), để bảo vệ địa phương mình.

        Đồng chí Vương Thừa Vũ dẫn đầu đoàn cán bộ đi nghiên cứu địa hình và tiến hành luyện tập tại chỗ từ phía bắc (Cửa Lò, Cửa Hội, Cao Sơn, Thần Vũ, Hồng Lĩnh) đến phía nam Quân khu (rú Bung, Đồng Hới, Vĩnh Linh). Trọng điểm phía nam Quân khu 4 được củng cố, bố phòng chu đáo, làm bàn đạp và hậu phương vững chắc cho các đơn vị ta chiến đấu ở phía Nam giới tuyến...

        Viết tới đây tôi lại tưởng nhớ đến đồng chí Trung tướng Vương Thừa Vũ. Đồng chí là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 308. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, với những chiến công lừng lẫy, mà cả tướng tá Pháp cũng phải kính nể, đặt cho cái tên là “Vị tướng sắt thép”. Nhưng đồng chí lại là người rất hiền từ, thương yêu cán bộ cấp dưới.

        Hòa bình lập lại (sau năm 1955) đồng chí làm Tổng Tham mưu phó phụ trách chính về huấn luyện, nhưng có thời gian phụ trách cả tác chiến và nội bộ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu.

        Phụ trách công tác nội bộ Bộ Tổng Tham mưu trong những năm 1959 - 1960, vật chất thiếu thốn, lương thực khó khăn, nhưng đồng chí đã lo đến từng bữa ăn của cán bộ chiến sĩ cơ quan. Đồng chí đã đến tận nhà bếp động viên “anh chị em nuôi quân”, xem cân gạo có đủ tiêu chuẩn không? Chia có đều không? Dặn dò cẩn thận nấu cơm không bị cháy, để cơm ăn còn ít. Khi nhà ở tập thể bị “tắc nước” hoặc “mất điện”, đồng chí đã đến tại chỗ, cùng anh em doanh trại đôn đốc sửa chữa kịp thời.

        Phụ trách công tác nghiên cứu huấn luyện, mỗi khi phái viên tác chiến đi chiến trường về, đồng chí đều gọi lên nghe tình hình cụ thể từng trận đánh và suy nghĩ sáng tạo ra cách đánh của ta. Là một người đã từng trực tiếp chỉ huy chiến đấu có nhiều kinh nghiệm thực tế, đồng chí đã nghiên cứu cách đánh cho phù hợp khả năng trang bị của bộ đội và yêu cầu của chiến trường. Chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”, “Vây lấn, tấn phá triệt diệt...”, “Tác chiến bảo vệ khu vực”. Về kỹ thuật phá rào FR để công đồn (phóng từng đoạn dây có ống bộc phá để đồng loạt phá rào dây thép gai nhiều lớp) là công lao nghiên cứu tìm tòi của đồng chí. Đồng chí Vương Thừa Vũ thường nói với cán bộ “Mình chịu khó nghiên cứu, nghiên cứu phải tỉ mỉ, tìm cách đánh phù hợp, để anh em cán bộ chiến sĩ ở chiến trường đỡ hao tổn xương máu...”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 08:21:50 AM
        Thời gian vào làm Tư lệnh Quân khu 4, đồng chí đã đi sâu, đi sát nghiên cứu địa hình, leo núi cao trong trời mưa rét để chuẩn bị kế hoạch phòng thủ.

        Anh em còn nhớ hình ảnh đồng chí Vương Thừa Vũ bị đau dạ dày đã cắt bỏ còn một phần ba, ăn một lần không được nhiều, giữa bữa phải có gì lót dạ, khi chiếc bánh qui, khi củ khoai luộc cho đỡ đau dạ dày, nhưng đồng chí vẫn tươi cười và không bao giờ chịu dừng lại giữa dốc, khi cùng cán bộ leo núi nghiên cứu trận địa...”.

        Sau khi quân Mỹ tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam, ta vẫn chủ trương chiến lược tiến công, đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của quân Mỹ (vào mùa khô 1965-1966 và 1966 - 1967). Khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra Hà Nội, có lần gọi tôi đến nhà ở của đồng chí ở đường Lý Nam Đế, để nghe tôi báo cáo kế hoạch chiến lược phòng thủ cơ bản, xem có gì thay đổi trong thời gian đồng chí đi công tác ở chiến trường miền Nam. Đồng chí nói với tôi: “Trước đây ta chưa có kinh nghiệm về chiến tranh bảo vệ Tổ quốc” (mới có kinh nghiệm về chiến tranh giải phóng) nên nghe các ông bạn đề xuất “chiến lược phòng ngự tích cực”. Nay qua thực tiễn chiến trường ở miền Nam, quân Mỹ vào đến 30 vạn, cộng thêm lực lượng quân ngụy thì so sánh về quân sự nó mạnh hơn ta nhiều, nhưng ta vẫn kiên trì “chiến lược tiến công”, nên bước đầu đánh bại các cuộc phản công ồ ạt của Mỹ - ngụy. Các cậu làm kế hoạch tác chiến phải bám sát tình hình thực tiễn, kịp thời rút kinh nghiệm, không nên học tập dập khuôn, cứng nhắc theo cách nhìn cũ. Cần nghiên cứu lại kế hoạch chiến lược cũ và báo cáo lại với các Thủ trưởng Bộ và Quân ủy Trung ương...”. Đó là một lời chỉ giáo rất sâu sắc của một đồng chí lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược một cách toàn diện, lại là người luôn luôn sát thực tế, nhạy bén nắm bắt tình hình, quyết đoán kịp thời.

        Đối với tôi, một cán bộ được trưởng thành trong chiến đấu ở cấp tiểu đoàn, khi về cơ quan thì làm phái viên chạy đi chạy lại xuống đơn vị nhiều. Nay ở cơ quan tham mưu chiến lược, đây là một bài học lớn, được mở rộng tầm nhìn chiến lược, soi sáng cho công tác nghiên cứu chiến lược của mình.

        Tôi về báo cáo ý kiến của đồng chí Nguyễn Chí Thanh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) và Thượng tướng Văn Tiến Dũng (Tổng Tham mưu trưởng). Hai đồng chí vừa qua vì bận chỉ đạo công tác trước mắt chưa có thời gian chỉ đạo rà lại kế hoạch chiến lược cơ bản lâu dài nên sau khi nghe ý kiến đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đều đồng ý và chỉ thị cho cơ quan tác chiến nghiên cứu lại chiến lược cơ bản để báo cáo thông qua Quân ủy Trung ương.

        Sau này xác định lại: phương châm chiến lược quân sự trên các chiến trường (đang có chiến tranh) là “chiến lược tiến công”. Ở miền Nam là “tiếp tục chiến lược tiến công”. Ở miền Bắc, địch chưa tiến công bằng lục quân, nghĩa là chưa có địch trên đất miền Bắc, thì ta tiến công ai? Với tư tưởng chiến lược tiến công, nhưng khi địch tiến công ra miền Bắc ta vận dụng “chiến lược phản công”, tiến hành phản công và tiến công ngay từ đầu, cả về chiến dịch, chiến thuật và các trận chiến đấu), khi kẻ địch mới bước chân lên lãnh thổ miền Bắc. Tất nhiên tích cực phản công và tiến công phải kết hợp chặt chẽ với phòng ngự một cách vững chắc...

        Đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã góp ý kiến sâu sắc cho Quân ủy Trung ương nghiên cứu điều chỉnh chiến lược phù hợp với tình hình mới.

        Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một vị tướng “Quân sự - chính trị kiêm toàn”, là một đồng chí lãnh đạo có đạo đức cách mạng trong sáng, học và làm theo gương Bác Hồ “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

        Con người của đồng chí toát lên “Tư tưởng tiến công cách mạng”, kiên quyết tiến công chống kẻ thù và kiên quyết tiến công, đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân.

        Khi làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí đã ra sức lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, để xây dựng bản chất quân đội nhân dân “Một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Nhờ vậy đã nâng cao tinh thần chiến đấu và bản lĩnh chiến đấu của quân đội ta, góp phần cùng toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ chống thực dân Pháp.

        Khi hòa bình được lập lại, sau hiệp định Giơnevơ 1954, quân đội ta về tiếp quản Thủ đô Hà Nội và các thành thị của các vùng địch tạm chiếm, đồng chí đã kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng hòa bình hưởng lạc, công thần, chống ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, giữ vững kỷ luật, giữ bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, chấp hành nghiêm các chính sách vùng mới giải phóng trong khi vào thủ đô và các thành thị, nên được nhân dân càng mến phục, càng tin tưởng Đảng và chính phủ, tin tưởng chế độ mới.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 11:54:45 AM
        Tôi còn nhớ những buổi đồng chí nói chuyện với cán bộ quân đội ở Câu lạc bộ quân nhân hay ở hội trường Tổng cục Hậu cần, đồng chí đã phê phán thẳng thắn, nghiêm khắc trong mấy tiếng đồng hồ liền, một số cán bộ bị ảnh hưởng tư tưởng sinh hoạt tư sản, cả vợ con một số cán bộ cao cấp học đòi tác phong sinh hoạt, cách ăn mặc của giai cấp tư sản.

        Đồng chí là một đồng chí lãnh đạo “miệng nói tay làm” xắn quần quá đầu gối lội xuống ruộng bùn cùng nông dân, xuống ăn nằm với chiến sĩ, để cổ vũ động viên nông dân tăng năng suất trồng lúa và chiến sĩ tăng cường rèn luyện quân sự và học tập chính trị trong phong trào thi đua “Gió Đại phong, cờ Ba nhất”.

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí là một cán bộ quân sự cao cấp nhất vào miền Nam để cùng các đồng chí trong Trung ương Cục, Quân ủy Miền lãnh đạo chỉ huy quân dân miền Nam chiến đấu trong giai đoạn khó khăn nhất, lúc Mỹ mới đưa quân vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ, với khẩu hiệu chỉ đạo của đồng chí: “Tiếp tục tiến công, bám địch mà đánh, cứ đánh Mỹ đi thì sẽ tìm ra cách đánh Mỹ, quyết chiến và quyết thắng quân Mỹ xâm lược...”. Đồng chí đã đi sát xuống các đơn vị chiến đấu để giáo dục động viên bộ đội và bàn cách đánh Mỹ. Không ngồi ở trên cơ quan chỉ đạo mà bàn cách đánh.

        Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công của đồng chí đề ra, dưới sự lãnh đạo trực tiếp cua Trung ương Cục, đồng chí đã cùng với các đồng chí trong Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền, chỉ đạo và chỉ huy quân giải phóng và nhân dân miền Nam đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của quân Mỹ - ngụy, khi quân Mỹ đã đưa vào miền Nam gần nửa triệu quân.

        Tiếc thay! đồng chí đã từ trần sớm (mới tuổi 53) vì bệnh nhồi máu cơ tim khi chuẩn bị trở lại vào miền Nam để cùng quân dân miền Nam thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử Tết Mậu Thân (1968) đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ đến đỉnh cao...”.

        Về theo dõi công tác tác chiến ở miền Bắc Việt Nam: là Trưởng phòng tác chiến A, tôi vừa phụ trách nghiên cứu kế hoạch chiến lược, vừa giúp thủ trưởng cục, thủ trưởng Bộ theo dõi nắm tình hình củng cố phòng thủ và bảo vệ miền Bắc.

        Đây là một công tác thường xuyên, hàng ngày, với yêu cầu cao trong thời kỳ này là phải luôn bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cho cơ quan và toàn quân.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 11:58:02 AM
        Một việc đáng ghi nhớ trong thời gian này là sự kiện ngày 2 tháng 8 năm 1964

        Khoảng 19 giờ ngày 2 tháng 8 năm 1964, đồng chí Trần Văn Nghiêm (mới được đề bạt Cục phó) và tôi ngồi ở Sở chỉ huy, nghe trực ban tác chiến báo cáo là có một khu trục hạm của Mỹ đang đi vào hải phận của ta, vòng lên hướng đảo Cát Bà. Trực chỉ huy của Bộ Tư lệnh Hải quân, Tham mưu phó Đoàn Bá Khánh xin chỉ thị Bộ cách xử trí. Đồng chí Trần Văn Nghiêm báo cáo với thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, thường trực chỉ huy là Thiếu tướng Trần Quý Hai để xin chỉ thị. Đồng chí Tổng Tham mưu phó trả lời: “Ủa! cách xử trí như thế nào à? Tàu địch vào hải phận của ta thì phải đánh chứ còn chờ gì nữa?”, lập tức chúng tôi chuyển lệnh cho đồng chí Khánh trực chỉ huy Hải quân là Bộ đồng ý đánh. Hải quân ta cho hai tàu phóng lôi do đồng chí Khoái chỉ huy ra đuổi, tàu khu trục địch quay đầu chạy về phía nam. Vào hải phận tỉnh Thanh Hóa, ở đông đảo Hòn Mê, tàu phóng lôi ta phóng hai quả ngư lôi vào tàu địch nhưng bị trượt.

        Khu trục hạm Mỹ bắn tàu phóng lôi ta bị thương nặng một chiếc. Được tin này, chúng tôi báo cáo với đồng chí Tổng Tham mưu phó và đồng chí chỉ thị cho tôi xuống ngay Hải Phòng xem tình hình để rút kinh nghiệm... Sau khi gặp đồng chí Đoàn Bá Khánh nắm toàn bộ diễn biến và kết quả, tôi về báo cáo thủ trưởng Bộ, rồi 5 giờ sáng hôm sau tôi đi ôtô vào Sầm Sơn trực tiếp nghe các đồng chí hải quân báo cáo tình hình quan sát cuộc hải chiến ở trong hải phận ta vùng biển đông Hòn Mê. Tôi vừa về Bộ thì được gọi sang báo cáo tình hình với đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng vừa đi công tác về. Sáng ngày hôm sau (4/8/1964) tôi đi với đồng chí Tổng Tham mưu trưởng bằng máy bay trực thăng, hạ cánh xuống sân bay Kiến An đón đồng chí Tạ Xuân Thu, Chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân (đang điều trị ở bệnh viện trở về sở chỉ huy quân chủng), cùng bay ra căn cứ Hải quân ở Mũi Chùa (đông Tiên Yên) để nghe đồng chí Khoái và các thủy thủ báo cáo trận đánh tàu Mađốc của Mỹ. Đồng chí Văn Tiến Dũng không nói gì đến chủ trương của Bộ Tổng Tham mưu và của Hải quân về sử dụng tàu phóng lôi ta đánh khu trục hạm Mỹ.

        Đồng chí khen ngợi tinh thần dũng cảm của anh em và nói cần rút kinh nghiệm để lần sau chiến đấu tốt hơn vì tàu phóng lôi ta đuổi theo tàu địch mà bắn từ sau đuôi mục tiêu nhỏ hẹp nên ngư lôi phóng trượt bên mạn tàu. Nếu phóng lôi ta tăng tốc độ vượt nhanh lên quay đầu phóng vào chiếu ngang của tàu, mục tiêu to, dài thì ngư lôi sẽ trúng tàu, không làm cho nó chìm được thì tàu cũng bị thủng lỗ lớn, gây tổn thất cho chúng.

        Chiều hôm đó, máy bay trực thăng lại cất cánh từ Mũi Chùa bay về hạ cánh sân bay Kiến An cho đồng chí Tạ Xuân Thu về lại Sở chỉ huy Hải quân và bay thẳng về sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Ngồi trên máy bay, đồng chí Văn Tiến Dũng nói với tôi: “Về phần anh em thủy thủ tàu phóng lôi ra quân trận đầu rất dũng cảm, dám đuổi một khu trục hạm to lớn của Mỹ là đáng biểu dương khen thưởng, anh em sử dụng tàu chiến đấu chỉ bám đuôi mà không phóng ngư lôi vào bề ngang của mạn tàu địch là vì chưa có kinh nghiệm. Nhưng đứng về phía chỉ đạo của Bộ, chủ trương dùng tàu phóng lôi ta đánh tàu địch trong tình hình ta còn hạn chế, không để chiến tranh lan rộng ra miền Bắc, là sai lầm. Về cơ quan tác chiến của Bộ và của hải quân làm tham mưu cho Bộ không đúng, về tổ chức tác chiến của hải quân ta thì quá đơn giản...”. Tôi về nói lại với đồng chí Nghiêm và cả hai chúng tôi đều thấy rõ khuyết điểm và trách nhiệm của mình.

        Sáng hôm sau (5/8/1964), để chuẩn bị cho chiều họp Quân ủy kiểm điểm về sự kiện này (theo chỉ thị của Bộ Chính trị), đồng chí Trần Văn Nghiêm lấy sổ nhật ký chiến đấu, tôi ghi rõ từng giờ, phút, chúng tôi báo cáo tình hình, chỉ thị của thủ trưởng Bộ, ... đồng chí Nghiêm khen tôi “cậu ghi chép đầy đủ, rõ ràng, ta có khuyết điểm một phần nhưng không phải là tự ra lệnh và chuyển lệnh sai của thủ trưởng”. Tôi ngồi cùng trực ban tác chiến ở Sở chỉ huy theo dõi tình hình, thì khoảng 11 giờ trưa đồng chí Văn Tiến Dũng gọi điện thoại sang hỏi “Các cậu có nghe đài địch không? Nó nói là đêm qua (4/8/1964) tàu ta lại đánh khiêu khích tàu chiến Mỹ ngoài Hải phận quốc tế và Giôn xơn tuyên bố đánh trả đũa đấy! Lệnh ngay cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu”. Tôi ngơ ngác, bất ngờ quá! có tàu mình đánh tàu địch nữa đâu? Tôi vội vàng chuyển lệnh ngay, ưu tiên cho Quân chủng Phòng không, Hải quân, rồi đến các quân khu, các tỉnh ven biển phải vào báo động cấp 1 “sẵn sàng chiến đấu”. Sau đó tôi hỏi trực ban “Cục 2” (Quân báo), có nhận tin tức gì không? Khi đó trực ban cục 2 mới báo cáo là vừa bắt được đài BBC nói Giôn xơn vừa ra lệnh trả đũa vì tàu ta lại đánh tàu địch, nhưng Phòng 2 Hải quân nói không có tàu ta xuất kích.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:16:12 PM
        Khoảng 12 giờ 30 phút (5/8/1964) thì được báo cáo máy bay địch đã bắt đầu thả bom vào căn cứ Hải quân ở Bãi Cháy. Các đơn vị phòng không trên bờ và cao xạ 37 ly trên tàu ta đang đánh trả quyết liệt.

        Tiếp sau đó, độ 13 giờ lại được báo cáo quân dân Quảng Bình và Hải quân ta đánh trả máy bay địch đánh phá bến phà sông Gianh và thị xã Đồng Hới.

        Tại Sở chỉ huy tác chiến, đồng chí Nghiêm bỏ dở bản chuẩn bị báo cáo (để chiều báo cáo Quân ủy) cùng một số cán bộ khác chạy xuống nhà trực ban nắm tình hình. Sở chỉ huy tác chiến trở nên nhộn nhịp khác thường, khác cả đêm 2 tháng 8 năm 1964 trong trận hải chiến đầu tiên.

        Đến 13 giờ 30 phút, ngày 5 tháng 8 năm 1964 bắt đầu họp Quân ủy ở một phòng trên “Sân Rồng”, kiểm điểm về sự kiện tối 2 tháng 8 năm 1964. Đồng chí Nghiêm đang báo cáo diễn biến tình hình, đồng chí Trần Quý Hai báo cáo xen vào một vài ý kiến. Ở Sở chỉ huy trực ban tác chiến nhận được tin đầu tiên ta bắn rơi một máy bay Mỹ và bắt sống một giặc lái (trung úy An-va-rét). Tôi vội vã mang tin này lên báo cáo ngay. Tới cửa phòng họp, tôi dừng một tý để trấn tĩnh, nghe các đồng chí thủ trưởng đang hỏi “xoay” đồng chí Nghiêm. Đồng chí Song Hào đang đi lại có vẻ bực bội. Tôi “nhảy xổ” vào báo cáo tin mừng này.

        Hội nghị dừng lại, quay lại hỏi tôi dồn dập: “có đúng không? Có chắc không? Ai báo cáo? Có xác máy bay không? Bắt chắc phi công Mỹ không?...”. Tôi vừa mừng lại vừa lo. Nếu mà nhận báo cáo láo thì chết, có lẽ phải chui xuống đất mất! vừa đi vừa nghĩ, có lẽ mình hơi hấp tấp! nhưng vì hội nghị đang căng thẳng, có tin mừng này mà không báo cáo ngay thì cũng khuyết điểm.

        Về lại Sở chỉ huy, trực ban tác chiến lại báo cáo là đã nhận được tin ở Bãi Cháy lại bắn rơi 3 chiếc nữa, giặc lái đã đưa về Ban chỉ huy căn cứ Hải quân.

        Quân khu 4 lại báo cáo ra, ở Quảng Bình cũng bắn rơi một chiếc. Đang lo toát mồ hôi hột, tôi thấy nhẹ cả người. Tôi cũng hỏi lại trực ban tác chiến (như lời các đồng chí Quân ủy hỏi tôi) “có chắc không? hay là tin vịt”. Trực ban nói lần này thì “chắc như cua gạch rồi”.

        Tôi lại vội vàng hớt ha hớt hải chạy lên phòng họp báo cáo tin mới này. Thế là cả hội nghị cười ồ, dừng hẳn cuộc họp. Đồng chí Hai và đồng chí Nghiêm mặt tươi cười hẳn lên! Đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) lại máy điện thoại báo cáo trực tiếp với Bác, rồi với anh Thận (đồng chí Trường Chinh). Đồng chí Song Hào gọi điện thoại ngay đồng chí Hoàng Minh Thi (lúc này là Cục trưởng Cục Tuyên huấn), chuẩn bị đưa tin thắng lợi đầu tiên này của quân dân ta, của hải quân, phòng không ở Quảng Ninh, Quảng Bình, phát thanh trên đài tiếng nói Việt Nam kịp giờ phát thanh 18 giờ chiều nay. Đồng chí Hoàng Văn Thái lại vỗ vai tôi vừa cười vừa nói: “Thế là tốt rồi, anh em tác chiến nắm tình hình tốt, báo cáo kịp thời? Cậu về truyền đạt cho anh em các nơi nói Bộ rất mừng, khen ngợi tất cả anh em chiến đấu dũng cảm, thắng lợi, sẽ khen thưởng thích đáng. Anh em tác chiến tiếp tục theo dõi, nắm chắc tình hình và có tin gì mới lên báo cáo ngay nhé.”. Tôi ra về thư thái, nhẹ nhàng! không cập rập, vội vàng như khi lên báo cáo.

        Thắng lợi trong trận đầu hạ uy thế của không lực Hoa Kỳ, bắn rơi tại chỗ 7 máy bay địch, bắt sống một giặc lái làm nức lòng quân dân cả nước. Công đầu thuộc về các chiến sĩ Hải quân, phòng không, những người lính trực tiếp cầm súng ngẩng cao đầu bắn máy bay “siêu âm” hiện đại nhất của Mỹ. Nhưng tôi lại nghĩ, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng người chỉ huy sâu sát kịp thời xuống tận căn cứ Hải quân (Mũi Chùa) ngay trong ngày hôm sau để hướng dẫn anh em rút kinh nghiệm trận đánh đầu tiên với thái độ trầm tĩnh, khen ngợi động viên các thủy thủ của phân đội phóng ngư lôi. Đặc biệt là nhờ tính cảnh giác, nhạy bén, kịp thời ra lệnh cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu sau khi vừa nghe đài được tin Giônxơn tuyên bố trả đũa, trong lúc cả cơ quan tác chiến và Quân báo của Bộ Tổng Tham mưu chưa nắm được tin này. Lệnh báo động chiến đấu kịp thời đó của Tổng Tham mưu trưởng đã tác động ngay đến tinh thần sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị, đưa đến thắng lợi giòn giã trận đầu đánh trả máy bay địch.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:20:33 PM
        Tiếp sau đó, ngày 7 tháng 8 năm 1964, nghị quyết “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” đã được Quốc hội Mỹ thông qua, Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân trên miền Bắc Việt Nam. Sự kiện đêm 2 tháng 8 năm 1964 (đêm tàu phóng lôi ta đánh khu trục hạm Ma đốc Mỹ trong hải phận của ta), sự kiện đêm 4 tháng 8 sáng 5 tháng 8 năm 1964 (tàu Mỹ tự bắn các loại súng và pháo sáng ở đông đảo Hòn Ngư, Nghệ An dựng lên một cớ để vu cáo tàu ta tiếp tục đánh tàu địch) cũng là một bài học nhớ đời của tôi trong công tác ngành tham mưu tác chiến.

        Do sự suy nghĩ không chín chắn của chúng tôi, cán bộ tham mưu gần gũi của đồng chí Trần Quý Hai đã không kìm chế sự căm tức về khiêu khích trắng trợn của tàu chiến Mỹ trong hải phận của ta, không quán triệt chính sách của Đảng và Chính phủ ta trong lúc đó còn muốn hạn chế chiến tranh trong phạm vi miền Nam, đã báo cáo không rõ tình hình, đề đạt ý kiến không đúng (qua máy điện thoại ở nhà riêng) để thủ trưởng ra quyết định không phù hợp với tình hình chính trị lúc đó. Chúng tôi tự nhận khuyết điểm và chịu trách nhiệm chính về mình.

        Đồng chí Trung tướng Trần Quý Hai là một đồng chí chỉ huy có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trong những năm kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Bình Trị Thiên, là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 325. Hòa bình lập lại, đồng chí ra làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, rồi làm Tổng tham mưu phó. Khi đồng chí Hoàng Văn Thái vào công tác ở miền Nam thì đồng chí là Tổng tham mưu phó thứ nhất thường chủ trì sinh hoạt ở Bộ Tổng Tham mưu thay Tổng Tham mưu trưởng. Là một thủ trưởng tham mưu có đức tính rất kiên nhẫn, thận trọng, chín chắn xử lý mọi công việc, với tác phong rất tỷ mỉ mà anh em thường ca ngợi là đồng chí có trí nhớ từng “con số cụ thể” về quân số từng đơn vị, “số lượng” từng loại súng, bảo đảm vật chất từng kilôgam, đồng chí có tài tính nhẩm bằng miệng, tính toán con số (cộng, trừ, nhân, chia) rất nhanh, hơn cả cán bộ tác chiến (có trình độ văn hóa cao) theo dõi các đơn vị...”.

        Đồng chí Trần Quý Hai có trí nhớ tuyệt vời. Làm việc rất nghiêm túc. Cán bộ tác chiến trước khi lên báo cáo tình hình ta, phải chuẩn bị kỹ về con số.

        Đã có lần một cán bộ tác chiến lên báo cáo, về con số tình hình ta trước sau không thống nhất. Đồng chí mở sổ tay ghi chép nói “Ủa! tuần trước anh báo cáo con số này! sao chưa đầy 1 tuần lại thay đổi con số này?”.

        Tinh thần làm việc tỉ mỉ, cụ thể, nghiêm túc! Tinh thần tự học của đồng chí rất cao (mặc dầu sức yếu tuổi cao) là một tấm gương cho cán bộ tác chiến chúng tôi noi theo!

        Đồng chí đối xử với cán bộ cấp dưới có tình có nghĩa:

        Khi bố tôi bị bệnh mất ở Bệnh viện 354. Một hôm họp Thường vụ Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu (lúc này đồng chí làm Tổng Thanh Tra Quân Đội kiêm phụ trách nội bộ). Vào họp đồng chí Lê Cư - Bí thư Đảng ủy nói: “Hôm nay đồng chí Khánh bận làm tang lễ cho cụ thân sinh, có xin phép không dự họp Thường vụ được, Đồng chí Trần Quý Hai nói ngay: “Thế thì tạm hoãn họp Thường vụ vào Bệnh viện 354 để viếng cụ đã (mà đồng chí chưa hề biết và chưa gặp mặt bố tôi bao giờ). Ta tới dự lễ viếng, sau về họp Thường vụ cũng được”. Đồng chí Trần Quý Hai và các đồng chí ủy viên Thường vụ đến Bệnh viện 354 dự lễ viếng. Bức ảnh đồng chí đặt vòng hoa, thắp hương trước quan tài bố tôi đã để lại một hình ảnh lưu niệm, cho gia đình tôi rất cảm động, một tình cảm thân thương!

        Tuy rằng “đế quốc Mỹ đã có âm mưu từ trước và kế hoạch dùng không quân đánh phá miền Bắc rồi thì cho dù không có sự kiện ngày 2 tháng 8 năm 1964 thì chúng cũng có thể dựng ra sự kiện khác để vu cáo ta mà hành động. Như chúng đã dựng lên sự kiện đêm 4 tháng 8 sáng 5 tháng 8 năm 1964”. (Từ tháng 3/1964 Giôn xơn đã phê chuẩn kế hoạch Dexoto dùng tàu khu trục Mỹ tuần tiễu ở Vịnh Bắc Bộ. Ngày 17 tháng 4 năm 1964 Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch ném bom miền Bắc Việt Nam thông qua 94 mục tiêu đánh phá... Theo kế hoạch 34A).

        Nhưng một bài học, trong thời bình cần cảnh giác, lại cần phải thận trọng, đừng mắc âm mưu khiêu khích của địch, để tạo cớ cho kẻ thù gây ra chiến tranh, trong lúc ta chủ trương tranh thủ hòa bình để có thời gian và điều kiện thuận lợi xây dựng đất nước.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:25:16 PM

        Phòng tác chiến A bắt đầu phục vụ sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ:

        Sau đợt đánh bom “trả đũa” ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày 7 tháng 8 năm 1964 Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, máy bay thỉnh thoảng vi phạm vùng trời miền Bắc. Từ ngày 7 tháng 2 năm 1965 chiến tranh phá hoại diễn ra liên tục, leo thang từ Nam vĩ tuyến 20 ra toàn miền Bắc. Phòng A Cục Tác chiến tập trung vào công tác giúp thủ trưởng Bộ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân, của đế quốc Mỹ.

        Được sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, lực lượng phòng không, không quân ta phát triển nhanh, nhất là tên lửa phòng không.

        Đầu năm 1965, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị sang bàn với Trung Quốc viện trợ quân sự về vũ khí phòng không (xin 1 trung đoàn tên lửa phòng không “Hồng Kỳ”), ký kết về việc Trung Quốc đưa các đơn vị cao xạ, công binh sang giúp ta hiệp đồng chiến đấu phòng không và xây dựng công trình. Cùng đi với đồng chí Dũng có đồng chí Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Cục trưởng Cục 2 (Quân báo), tôi trưởng phòng A Cục Tác chiến, đồng chí Ngận cán bộ văn phòng làm phiên dịch và đồng chí Bảo bác sĩ, trưởng ban bảo vệ sức khỏe của Trung ương. Đoàn sang Nam Ninh được đồng chí Vi Quốc Thanh - Chủ tịch khu tự trị Choang tiếp và làm việc về hiệp nghị biên giới. Tới Bắc Kinh làm việc với Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc, đồng chí Dương Thành Vũ thông báo kế hoạch đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận. Chủ tịch Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu ân Lai, Nguyên soái Hạ Long,... gặp đoàn (có cả đồng chí đại sứ Trần Tử Bình tham dự) thông báo chính thức ý định viện trợ và chụp ảnh chung, chiêu đãi đoàn trước khi về nước.

        Về nước, chúng tôi khẩn trương triển khai kế hoạch hiệp đồng đã thống nhất giữa hai nước, chuẩn bị kế hoạch để triển khai bố trí các sư đoàn phòng không của Trung Quốc trên các tuyến đường bộ, đường sắt từ Trung Quốc sang, các binh đoàn công binh công trình làm đường và xây dựng hang hầm lô cốt theo hiệp nghị. Tổ chức hiệp đồng xây dựng các công trình phòng thủ ở Đặc khu Đông Bắc, dọc bờ biển Quân khu 3 và Thanh Hóa (Quân khu 4). Phòng A Cục Tác chiến là cơ quan trung tâm hiệp đồng các cơ quan của Bộ Quốc phòng và các đơn vị phòng không, công binh của Trung Quốc, đoàn kết thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả tốt. Cũng có vài vụ nhỏ xảy ra trong quan hệ khi Trung Quốc đang diễn ra “Cách mạng văn hóa” ảnh hưởng đến các đơn vị bộ đội Trung Quốc, nhưng được giải quyết êm thấm.

        Thời gian này, đi đôi với việc đánh trả không quân, hải quân địch, Phòng A Cục Tác chiến còn lo tăng cường công tác phòng thủ bảo vệ căn cứ hậu phương miền Bắc. Tôi và đồng chí Trung tá Dương Ngọc Lâm (đã hy sinh trong một tai nạn máy bay) được thủ trưởng Bộ và Cục giao chuyên trách nghiên cứu xây dựng các căn cứ của Trung ương, Chính phủ và Sở chỉ huy bí mật thời chiến của Bộ Quốc phòng. Ban chỉ đạo xây dựng căn cứ do đồng chí Trần Hữu Dực làm Trưởng ban, có đồng chí Phạm Chung - Phó văn phòng Trung ương và đồng chí Nguyễn Hữu Kháng - Cục trưởng Cục bảo vệ Trung ương (sau này là Thiếu tướng Bộ Công An) giúp việc. Bên quốc phòng, sau khi đồng chí Hoàng Văn Thái đi công tác miền Nam thì đồng chí Trần Quý Hai làm phó của Ban căn cứ Trung ương. Giúp đồng chí Trần Quý Hai ở Cục Tác chiến có tôi và đồng chí Dương Ngọc Lâm. Cục Bảo vệ - Tổng cục Chính trị có một tổ do một đồng chí trung tá trưởng phòng bảo vệ phụ trách, Cục Công binh do đồng chí cục phó (sau này là Tư lệnh công binh) Trần Bá Đặng và một trung đoàn công binh chuyên trách xây dựng.

        Các khu căn cứ được xây dựng trong các khu rừng bí mật ở một số tỉnh ở Tây Bắc và phía tây đồng bằng Bắc Bộ. Lợi dụng các hang đá lớn xây dựng đường hầm dài, có hang lớn có thể dùng họp Trung ương, Chính phủ...

        Tuy rằng chưa xảy ra chiến tranh lớn trên bộ, nên chưa sử dụng đến. Nhưng trong chiến tranh phá hoại cũng có một vài lần dùng để sơ tán cơ quan lãnh đạo và các cuộc họp bí mật trong tình hình không quân địch hoạt động mạnh ở Thủ đô Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:29:43 PM
        Nhớ lại một lần đưa Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đi sơ tán, làm việc tại một khu căn cứ đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với tôi. Đó là buổi sáng tháng 5 năm 1966 tôi vào cơ quan được đồng chí Đỗ Đức Kiên - Cục phó giao nhiệm vụ sang nhà anh Văn (Võ Nguyên Giáp) để đi công tác. Tôi và đồng chí Trung tá Dương Ngọc Lâm sang nhà anh Văn, được biết là Bộ Chính trị quyết định mời Bác sáng nay đến khu căn cứ... để bàn công việc. Không họp ở Hà Nội, vì Cục 2 báo cáo có tin sáng nay có thể địch oanh tạc vào trung tâm Hà Nội. Đồng chí Văn bảo tôi gọi thông tin đi cùng để liên lạc thường xuyên với trực ban tác chiến nắm tình hình. Đồng chí Niên - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thông tin đến gặp tôi nói đã phái một tổ thông tin mang theo dây điện thoại đi trước để nối dây tới chỗ làm việc và hỏi địa điểm nào? Tôi bảo cứ mắc dây điện thoại tới cơ quan huyện ủy X đến đó sẽ hay, nếu phải vào đường hầm thì kéo dây nối tiếp.

        Đồng chí Lâm ở lại chờ đồng chí Văn ăn sáng xong cùng đi. Tôi đi xe sang chỗ Bác ở, vừa tới “cổng đỏ” thì gặp xe đồng chí Kháng (Cục trưởng Cục Bảo vệ) bảo đi luôn, đoàn xe của các đồng chí Bộ Chính trị đi sau rồi. Chúng tôi đến cơ quan huyện ủy huyện X đã chuẩn bị sẵn sàng một bàn họp và chỗ nghỉ cho Bác và các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị khác (đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh); còn đồng chí Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn được phân công ở lại Hà Nội.

        Các đồng chí Bộ Chính trị họp riêng trong phòng họp huyện ủy. Tôi, đồng chí Kháng, đồng chí Lâm ngồi ở phòng ngoài đón nhận bộ phận rải dây thông tin đến (máy đã đặt sẵn trong phòng). Thỉnh thoảng đồng chí Văn lại ra hỏi tôi có tin tức gì không? Tôi báo cáo; xe thông tin chạy chậm hơn xe thủ trưởng, đến bây giờ chưa thấy tới. Tôi bảo đồng chí Lâm đi tìm đồng chí Niên (Tư lệnh thông tin). Một lúc sau thấy đồng chí Lâm và đồng chí Niên hớt ha hớt hải chạy tới báo cáo còn 3 kilômét nữa thì dây mới kéo tới nơi. Đồng chí Văn bỏ họp lại ra hỏi: “Các cậu làm gì chậm thế, Bác sốt ruột hỏi tin tức đấy?”. Khoảng 11 giờ 30 phút Bác về phòng nghỉ, tôi vào báo cáo với Bác và đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) ngồi bên cạnh cái giường gỗ, là đường dây liên lạc đã nối thông đến đây, Cục Tác chiến báo cáo tình hình vẫn yên ổn. Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Bộ Chính trị quyết, thì Bác thi hành đi tới đây, nhưng sao lại bỏ dân ở Hà Nội mà mình lại đi sơ tán ở đây, chạy giặc à? Thế dân ở Hà Nội địch đến thả bom thì sao?”. Đồng chí Vũ Kỳ báo cáo lại: “Các đồng chí Bộ Chính trị quyết định mời Bác lên đây để họp cho yên tĩnh. Còn ở Hà Nội dân đã có kế hoạch phòng không nhân dân rồi ạ!...” đồng chí Kháng vào báo cáo mời Bác vào ăn trưa, Bác vẫy tay bảo tất cả vào ăn! sang phòng họp của Bộ Chính trị vừa rồi, tôi thấy các đồng chí trong Bộ Chính trị (đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh) đã ngồi sẵn ở hai bên một bàn dài, đồng chí Vũ Kỳ kéo ghế mời Bác ngồi ở đầu bàn (ghế chủ trì cuộc họp) và cả chúng tôi những người đi theo cũng kéo ghế vào bàn ăn. Nhìn trên bàn thấy đặt mấy đĩa cơm nếp, gói giấy trắng san sẻ ra, mấy đĩa giò lụa... Bác hỏi ăn thế này à? Đồng chí Kháng vừa chỉ tay vừa báo cáo “thứ này là ở nhà mang theo, còn rau muống và nước rau luộc là hái ở vườn đây”. Bác nói “lúc nãy mình nghe mổ lợn kêu éc éc tưởng là huyện ủy làm thịt lợn để chiêu đãi “dân sơ tán này”, sao không thấy lòng lợn đâu cả nhỉ!”. Đồng chí huyện ủy đứng bên cạnh báo cáo: “Dạ! hôm nay hội phụ nữ họp ở đây, có làm thịt lợn cho chị em dân tộc ở xa về ăn trưa thôi ạ?”. Bác nói: “Ừ! thế thì được, cho các cô người dân tộc ở các bản xa về họp thì được, tưởng các chú mổ lợn chiêu đãi “dân sơ tán này” thì Bác không dám ăn đâu!”. Ăn cơm xong ra ngoài sân, đồng chí Vũ Kỳ nói: “Tôi không ngăn cản mà các ông làm thêm món thịt lợn bồi dưỡng thì bị Bác phê bình cho đấy?”.

        Trưa hôm ấy, trong bộ quần áo lụa “lĩnh đen” tay ống rộng, quần dài quá đầu gối, Bác cứ trằn trọc không ngủ. Thỉnh thoảng lại hỏi “Tình hình máy bay địch như thế nào? Sao ta ngồi mãi ở đây làm gì?”. Sợ Bác bắt về trong giờ cao điểm, chúng tôi mời Bác đi vào xem một đường hầm của Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng gần đó. Bác đi thoăn thoắt một lượt từ đầu cửa hang này đến cuối cửa hang gần 2 kilômét. Đến một hang rộng có nhũ đá là chỗ để hội họp (được khoảng 150 người), Bác ngồi trên một tấm đá khen các chú công binh cải tạo hang đá thành đường hầm và có chỗ họp rộng tốt; Bác lấy bao thuốc lá trong túi chia cho các chiến sĩ công binh, mỗi người một điếu thuốc, ngồi vây xung quanh Bác. Đến 3 giờ chiều, ra khỏi cửa đường hầm Bác bảo: “Thôi chú gọi xe ra đây về luôn, không đi lại cơ quan huyện ủy nữa, bây giờ máy bay địch không dám bắn phá nữa đâu”. Thế là cả đoàn lại trở về Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:36:54 PM
        Những lời nói và cử chỉ của Bác trong ngày hôm ấy tôi còn nhớ mãi! Vì ý kiến tập thể - Bộ Chính trị nên Bác phải đi sơ tán. Xa dân, Bác thấy không an tâm sốt ruột luôn hỏi thăm tình hình, lo lắng dân ở lại trong tình hình máy bay địch có thể đến bắn phá. Về địa phương thì không để làm phiền cán bộ, dân tại chỗ, tránh ăn uống lãng phí.

        Sáng ngày hôm sau, Cục 2 nhận được tin máy bay địch có thể ném bom Hà Nội. Chúng tôi lại được lệnh đưa Bác đi sơ tán. Lần này chỉ có tôi, đồng chí Lâm, đồng chí Hoàng (Thư ký đồng chí Võ Nguyên Giáp), đồng chí Kháng Cục trưởng Cục Bảo vệ Trung ương và đồng chí Vũ Kỳ đi theo Bác. Rút kinh nghiệm ngày hôm trước, sáng nay tôi mang theo một xe Uoát thông tin, có 2 tiêu đồ theo dõi phát tín hiệu hoạt động máy bay địch, vẽ lên một tấm bản đồ nhỏ.

        Chúng tôi đưa Bác đến Sở chỉ huy dự bị của Bộ Tư lệnh Phòng không, cách Hà Nội không xa lắm. Bác vào trong hang nằm nghỉ trên một tấm phản (thường của lính), mang theo cái đài bán dẫn thu tin để Bác nghe. Bác hỏi: “Sao hôm nay lại đi gần thế này? Mà chỉ có mình Bác, các chú khác không đi à?”. Chúng tôi báo cáo: “sơ tán gần nên mời Bác ra trước, các thủ trưởng khác sẽ ra sau, khi có tình hình gấp”. Thế nhưng Bác cũng không nằm nghỉ yên, đi ra ngoài cửa hang lại chỗ xe thông tin xem anh em tiêu đồ đang nghe tín hiệu và ghi đường bay địch trên một tấm bản đồ nhỏ miền Bắc. Bác ngồi xổm bên cạnh, xem khi biết (trên sơ đồ) máy bay địch chỉ hoạt động ở Thanh Hóa và trên biển, Bác cho anh em chiến sĩ tiêu đồ thuốc lá rồi bảo: “Thế này thì nó có bay vào Hà Nội đâu mà ta phải ngồi đây? Thôi đi về”. Thế là ngày thứ hai chúng tôi đưa Bác đi sơ tán về.

        Từ đó Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng một hầm phòng không tại chỗ nhà làm việc và ở của Bác để không cần phải đi sơ tán nữa.

        Từ sở chỉ huy trực ban Cục Tác chiến có máy điện thoại trực tuyến đến hầm phòng không của Bác và có loa nhỏ đặt trên phòng làm việc. Mỗi lần có tin máy bay địch tới Hà Nội thì trực ban tác chiến vừa phát loa báo tin chung cho dân Hà Nội máy bay địch cách Hà Nội 150, 100 kilômét, rồi 50 kilômét... ấn nút còi báo động đặt ở Nhà hát lớn và trên nóc nhà hội trường Ba Đình. Riêng với Bác, các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư thì có hệ loa riêng thông báo tin hoạt động máy bay địch và khi máy bay tới gần, thì qua hệ thống loa mời Bác xuống hầm phòng không. Xuống ngồi nghỉ dưới hầm, thỉnh thoảng qua máy điện thoại trực tuyến, nối tới hầm Sở chỉ huy Cục Tác chiến Bác hỏi tình hình. Có lần nghe còi báo yên rồi, không thấy báo cáo điện thoại trực tuyến mời Bác lên hầm, Bác lại hỏi ngay: “Sao không thông báo cho Bác lên hầm?”. Thông thường anh em trực ban sợ Bác phải lên xuống hầm mệt nên chờ máy bay địch bay đi thật xa mới mời Bác lên, vì cũng đã có lần vừa còi báo yên lại báo động ngay, do tốp máy bay khác đột ngột bay vào lại...

        Đầu năm 1968 tôi được phong quân hàm Thượng tá và được đề bạt làm Cục phó Cục Tác chiến, vẫn phụ trách làm kế hoạch chiến lược và theo dõi chiến trường A, Phòng A có thêm nhiệm vụ tổng hợp tình hình các chiến trường Đông Dương, nhất là chiến trường B lúc này quân Mỹ đã vào, chiến tranh cục bộ đang diễn ra khẩn trương ác liệt. Vì vậy hàng năm thường có phái đoàn cao cấp của Đảng và Nhà nước sang Trung Quốc và Liên Xô thông báo tình hình và yêu cầu viện trợ. Trong phái đoàn thường có một đồng chí Thứ trưởng quốc phòng hoặc Tổng Tham mưu phó (thông thường đồng chí Thứ trưởng Trần Sâm, có lần đồng chí Nguyễn Đôn hay Trần Quý Hai).

        Ở Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Tống Thái - Cục trưởng Cục Trang bị và tôi Cục phó Cục Tác chiến làm chuyên viên quân sự. Tôi làm báo cáo tổng hợp tình hình về âm mưu và hoạt động của địch trên các chiến trường chủ yếu là ở miền Nam và miền Bắc, thắng lợi của ta và nêu những khó khăn, chủ yếu là thiếu trang bị và đạn dược. Từ đó đề xuất yêu cầu viện trợ quân sự bổ sung hàng năm.

        Riêng đầu năm và giữa năm 1969, phái đoàn ta do các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đi hai lần sang Trung Quốc và Liên Xô. Dự họp chung ở Trung Quốc có đồng chí Chu Ân Lai (chủ trì) các đồng chí Khang Sinh, Trần Nghị,... Sau đó có họp riêng về đoàn quân sự hai nước để nghe cụ thể. Đầu năm 1969 các đồng chí Trung Quốc còn yêu cầu tổ quân sự của ta do đồng chí Nguyễn Đôn chủ trì, tôi báo cáo về tình hình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 cho thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu và các quân chủng, quân khu Bắc Kinh nghe tại “Điếu Ngư Đài”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:42:04 PM
        Dự họp chung ở Liên Xô có đủ các đồng chí Brê-giơ-nhép, Pốt-goóc-nưi, Kô-xư-ghin,... dự. Sau đó còn yêu cầu tổ quân sự đến tại chỗ làm việc của Nguyên soái Ghơ-rét-scô (Bộ trưởng Quốc phòng) và nguyên soái Za-kha-rốp (Tổng Tham mưu trưởng). Cơ quan Bộ Quốc phòng Liên Xô, khi đó là một tòa nhà cao tầng bên cạnh một đại lộ (không có tường che chắn và bãi xe rộng). Xe ôtô của tổ quân sự ta vào dừng sát cổng. Bước vào cửa có hai lính bảo vệ đứng hai bên, phía sau là một tượng đài, ở sau có cắm hai lá cờ lớn (quốc kỳ và quân kỳ). Chúng tôi vòng ra sau đi thang máy lên lầu 11. Cửa thang máy mở ra thì cũng có hai lính bảo vệ đứng hai bên cửa, một sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô đón và đưa chúng tôi vào phòng làm việc rất lớn của Nguyên soái Ghơ-rét-scô Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tổ quân sự của ta họp ngay tại bàn làm việc của Bộ trưởng, bên cạnh có một quả địa cầu to, cao 2 mét và đường kính cũng 2 mét. Nguyên soái (Ghơ-rét-scô quay tay một vòng quả địa cầu và cầm cây chỉ bản đồ, dừng lại ở chỗ có bản đồ Việt Nam và nói với Tổng Tham mưu trưởng Za- kha-rốp: “Bây giờ ta nghe các đồng chí Việt Nam báo cáo”. Đồng chí Tổng Tham mưu phó Nguyễn Đôn chú trì, tôi báo cáo tình hình quân sự về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, trong năm 1968 và đầu năm 1969, theo 3 phần:

        1. Tình hình chiến sự trên hai miền Nam Bắc.

        2. Những thắng lợi của ta trong thời gian qua.

        3. Những mặt khó khăn, hạn chế của ta để đi đến giành thắng lợi, từ đó làm cơ sở yêu cầu bạn viện trợ trang bị vũ khí thêm. Đồng chí Tống Thái báo cáo liệt kê các khoản mục cụ thể đề nghị bạn viện trợ.

        Đồng chí Nguyên soái Ghơ-rét-scô cầm tập giấy dày yêu cầu viện trợ của ta từ tay đồng chí Tống Thái, lật nhanh qua từng trang, liếc nhìn các mục yêu cầu viện trợ. Đồng chí ngoảnh mặt sang phải cười và nói đùa với đồng chí Tổng Tham mưu phó Nguyễn Đôn: “Đồng chí “tác chiến” báo cáo rõ là ngắn, nhưng đồng chí “phụ trách trang bị” báo cáo dài với nhiều trang đánh máy yêu cầu viện trợ thế này!”. Đồng chí Nguyên soái Bộ trưởng lại ngoảnh mặt sang bên trái đưa tập giấy yêu cầu viện trợ của ta và nói với đồng chí Nguyên soái Za-kha-rốp: “Đồng chí cầm về cơ quan Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu để viện trợ tối đa cho các đồng chí Việt Nam, theo khả năng của ta”.

        Một ngày trước khi phái đoàn Việt Nam về nước, có một đồng chí Liên Xô mang đến cho đoàn bản chấp thuận các khoản yêu cầu viện trợ kinh tế và quân sự của ta của Chính phủ Liên Xô do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cô-xư-ghin ký.

        Đồng chí Tống Thái được xem phần viện trợ quân sự của bạn cho ta và về phòng nghỉ của đồng chí Nguyễn Đôn tươi cười vui vẻ nói: “Bạn viện trợ quân sự cho ta rất tốt, đạt nhiều kết quả theo yêu cầu viện trợ của ta...”.

        Năm 1968 là năm thứ ba quân Mỹ và chư hầu đã vào miền Nam trên 50 vạn và hơn 1 triệu quân ngụy, nhưng bị thất bại lớn và bất ngờ qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân xuân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (Xuân 1968) đánh vào hầu hết các thành phố, thị trấn ở miền Nam Việt Nam, vào hang ổ ngụy quyền Sài Gòn, tiêu diệt nhiều sinh lực cao cấp Mỹ - ngụy, phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh của chúng, tạo nên bước ngoặt mới để tiến lên giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.

        Bộ Tổng Tham mưu đã thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tổ chức và điều hành cuộc tiến công và nổi dậy này một cách rất bí mật, tạo bất ngờ choáng váng cho địch khi tất cả miền Nam nổ súng đánh địch.

        Không chỉ đối với địch mà đối với ta (cả cán bộ cao cấp) cũng không biết. Cả thế giới cũng ngạc nhiên sửng sốt trước tin tức này. Khi phái đoàn Đảng và Chính phủ ta sang hội đàm với Trung Quốc và Liên Xô, họ đều khen ngợi sự tài tình tổ chức chỉ huy chu đáo của ta trong cuộc tập kích chiến lược táo bạo này.

        Nhưng về chỉ đạo thời gian hành động của ta, cũng có mặt chưa cụ thể, trong việc xác định thời gian nổ súng “ngày N giờ G” để đồng loạt tấn công (giờ giao thừa tối 30 theo Tết âm lịch năm đó ở miền Bắc và miền Nam chênh lệch 1 ngày).

        Về chỉ đạo chiến lược, gọi là “Tổng tiến công...”, nhưng kéo dài nhiều đợt (cả trong năm 1968 và đầu năm 1969). Những đợt sau đã mất yếu tố bí mật bất ngờ, địch đã hồi phục và điều quân về chi viện, đánh bật quân ta ra khỏi các thành phố, thị trấn, có nơi đẩy lùi quân ta ra khỏi vùng đồng bằng đông dân, buộc một số đơn vị chủ lực quân ta phải lui về biên giới Việt Lào và Campuchia gây cho ta nhiều tốn thất và nhiều khó khăn về tiếp tế hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:48:59 PM
        Năm 1968 và 1969 với tinh thần chiến đấu anh dũng của quân dân ta, lại được sự viện trợ lớn của Liên Xô và Trung Quốc nên ở miền Bắc đã đánh bại được bước đầu chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, chúng phải thực hiện chính sách “Phi Mỹ hóa chiến tranh”, rồi “Việt Nam hóa chiến tranh” có kế hoạch chi viện bằng hỏa lực hỗ trợ cho quân ngụy tiến công ra chia cắt đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn để cô lập lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Quân ủy Trung ương chủ trương kiên quyết bẻ gãy các cuộc tiến công của địch chủ yếu là trên hướng đường 9 - Nam Lào, vì ta có điều kiện sử dụng chủ lực ở miền Bắc Việt Nam vào, và gần hậu phương lớn, thuận lợi về bảo đảm hậu cần.

        Đầu năm 1970, Quân ủy cử một đoàn cán bộ vào phổ biến nghị quyết về chuẩn bị chiến trường cho Bộ Tư lệnh 559 và Bộ Tư lệnh B4 (Trị Thiên). Đoàn do đồng chí Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) dẫn đầu, đi cùng có đồng chí Cao Văn Khánh (Tư lệnh Binh đoàn 70), Hoàng Thế Thiện (vào nhận công tác Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 559) và tôi (Cục phó Cục Tác chiến). Vào Bộ Tư lệnh 559 gặp đồng chí Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh 559, Bộ Tư lệnh B4 cử đồng chí Dương Bá Nuôi (Tham mưu trưởng B4) ra cùng nghe phổ biến nghị quyết và dự kiến kế hoạch phản công, nếu địch tiến công ra ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược ở đường 9 - Nam Lào. Sau cuộc họp, đồng chí Dương Bá Nuôi đề nghị cho tôi cùng vào để báo cáo trực tiếp với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh B4 về nghị quyết Quân ủy Trung ương và dự kiến kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu (vì tôi nắm được ý định của trên).

        Được đồng chí Lê Quang Đạo (trưởng đoàn) đồng ý, sau khi báo cáo Bộ, tôi và đồng chí Dương Bá Nuôi theo đường dây cơ giới đi vào B4, đi trên một xe vận tải “Molotova” chúng tôi ngồi giữa các bao tải gạo chất đầy xung quanh thành xe. Dọc đường đi có máy bay C130 của địch bắn đuổi nhưng không trúng thân xe, có một vài viên bắn thủng các bao tải gạo vung vãi trên sàn xe. Qua ngầm Bản Đôn, máy bay C130 của địch thả pháo sáng và bom bi, nhưng xe vượt qua an toàn.

        Vào đến trạm giao liên cuối cùng của đường cơ giới, chúng tôi bắt đầu vác ba lô đi theo đường rừng vào sở chỉ huy B4 (lúc này rút ra đóng trên dãy Trường Sơn giữa biên giới Việt Nam - Lào). Trong thời điểm này, sau ba đợt tập kích vào Huế, địch đã phản công, nên Sở chỉ huy B4 và các đơn vị chủ lực của ta (f324) đều rút lên biên giới, có bộ phận rút sang tuyến 559 để được nhận tiếp tế gạo. Trên đường đi bộ, có nhiều đoàn dân công (người Pa Cô và cả các cô gái Huế) gùi gạo và ngô leo qua các “cổng trời” để tiếp tế cho bộ đội, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Vì bộ đội đông, đường xa, dốc đứng, gùi lên đỉnh Trường Sơn thì cũng “thất bát”, ăn vơi một số.

        Vào đến Bộ Tư lệnh B4, đồng chí Trần Văn Quang, Bí thư Khu ủy, Tư lệnh mặt trận Trị Thiên (B4) chủ trì họp có đông đủ các đồng chí trong Khu ủy và Bộ Tư lệnh (đồng chí Tư Minh, đồng chí Hưng, đồng chí Nam Long, đồng chí Hoàng Văn Thái (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 325), đồng chí Dương Bá Nuôi,...). Tôi báo cáo nghị quyết Quân ủy Trung ương và kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu, mọi người đều nhất trí và tin tưởng sẽ đánh bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Trong không khí rất phấn khởi vì thấy phương hướng đúng đắn của trên, sẽ giải quyết những khó khăn lớn, khi địch phản công đẩy lùi quân ta lên biên giới Việt Lào.

        Tiếp đó theo ý kiến các đồng chí trong cuộc họp, tôi báo cáo tình hình tổ chức lễ tang Bác Hồ ở Hà Nội (vì yêu cầu chiến đấu không có đồng chí nào ra dự). Tất cả các đồng chí đều vô cùng thương tiếc Bác, không khí trầm lặng, rơi nước mắt, đồng chí Dương Bá Nuôi khóc rưng rức. Đồng chí Trần Văn Quang động viên các đồng chí trong hội nghị “biến đau thương thành sức mạnh, đoàn kết nội bộ, ra sức chuẩn bị để giành thắng lợi trong kế hoạch tới...”. Sau cuộc họp đồng chí Trần Văn Quang cho hội nghị ăn chè nấu hạt ngô đỏ xay và đồng chí nói: “Hôm nay họp Khu ủy và Bộ Tư lệnh có cậu Khánh vào nên chiêu đãi món này là đặc biệt lắm đấy! Món ăn dự trữ chiến lược của bọn mình trong này đấy!”. Ngày hôm sau đồng chí Trần Văn Quang (bí danh Bảy Tiến) gọi tôi sang lán đồng chí ở và làm việc phát biểu ý kiến riêng của đồng chí về cuộc tổng tiên công nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 chung trên các chiến trường và riêng ở Huế, về đánh giá thắng lợi và khuyết điểm, về nhận định tình hình hiện nay và đề nghị chủ trương tới. Sau hơn 10 ngày làm việc nắm tình hình B4 với các đồng chí Mai Xuân Tần (Tham mưu phó), đồng chí Ái, đồng chí Phạm Đăng Lung (phòng tác chiến), tôi trở về Bộ được đồng chí Nam Long (Tư lệnh phó B4) tặng một ba toong bằng cây mây do tự tay đồng chí uốn để làm kỷ niệm.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:51:21 PM
        Trên đường về có đồng chí Nghị (cán bộ Cục Tác chiến), một đồng chí bảo vệ đi cùng tôi và có cả đồng chí Dương Bá Nuôi (đồng chí Trần Văn Quang cho ra Bắc nghỉ phép thăm gia đình). Khi qua một bãi đất trống rộng, cây sim thấp (ở vùng Cùa tỉnh Quảng Trị) thì bị hai trực thăng bay thấp tới phát hiện, tổ đồng chí Dương Bá Nuôi đi trước chạy nhanh tới ẩn nấp ở khe suối. Tổ 3 người của tôi đi sau phải ẩn nấp tại chỗ dưới một lùm cây sim, tay cầm một cành cây che đầu Hai trực thăng quần đi quần lại mấy vòng rất thấp (chúng tôi trông rõ cả giặc lái Mỹ, lưng trần da đỏ hỏn) không thấy gì, chúng bay đi. Về đến Hà Nội, đánh máy xong 12 trang về ý kiến đồng chí Bảy Tiến, Văn phòng bảo tôi lên báo cáo ngay với đồng chí Văn Tiến Dũng (đang nghỉ ở Tam Đảo). Đồng chí Dũng đồng ý những ý kiến đề xuất của đồng chí Bảy Tiến, bảo tôi về báo cáo với các thủ trưởng khác trong Bộ Tổng Tham mưu (tài liệu do đồng chí Cầm Văn Sinh lưu ở bảo mật Văn phòng Quân ủy).

        Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã nhận xét, bản kiến nghị của đồng chí Bảy Tiến (Trần Văn Quang) có nhiều ý kiến sâu sắc về đánh giá tình hình vừa qua, phán đoán chính xác tình hình sắp tới và đề xuất nhiều vấn đề đúng đắn, phù hợp với yêu cầu chiến lược mới...

        Đồng chí Thượng tướng Trần Văn Quang, mà tôi được biết từ khi tôi là “tự vệ Thành”, chuyển sang làm chiến sĩ, nhân viên Quân chính Cục ở Vinh mà đồng chí là Cục trưởng Quân chính. Khi tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 400, đồng chí làm Chính ủy Liên khu 4 rồi làm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 304. Đồng chí từng làm Cục trưởng Cục địch vận, rồi theo yêu cầu chỉ đạo chiến tranh qua giai đoạn “Tổng phản công”, được điều động sang làm Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

        Đồng chí có trình độ chính trị cao, tầm nhìn chiến lược rộng. Đồng chí đã bồi dưỡng cho cán bộ Cục Tác chiến chúng tôi nâng cao trình độ chiến lược, trong tình hình buổi đầu cán bộ Cục Tác chiến là những thanh niên học sinh, những cán bộ chiến thuật lên cơ quan tác chiến chiến lược, còn non nớt hay có thể nói là chưa hiểu biết gì về chiến lược.

        Đồng chí là thủ trưởng viết chữ rất đẹp, viết rõ ràng và cẩn thận nên đã “gò” và hướng dẫn kỹ càng cho cán bộ tác chiến trong khi thảo các văn kiện hay viết một bức điện và đã bồi dưỡng cho cán bó tác chiến cả về nghiệp vụ tham mưu.

        Với tác phong công tác cụ thể, tỉ mỉ, đồng chí thường kiểm tra phê bình những cán bộ làm việc “qua loa, đại khái”. Đồng chí thường nhắc nhở: “Mỗi cán bộ tác chiến không phải chỉ nắm tình hình tác chiến một cách chung chung mà phải đi sát đơn vị chiến đấu, tìm hiểu nắm chắc tình hình ta, cụ thể có nắm được cả đơn vị có đủ “xoong nồi nấu cơm, bát ăn và bữa cơm của chiến sĩ như thế nào”, trong hoàn cảnh bộ đội trong kháng chiến chống thực dân Pháp vật chất còn nhiều thiếu thốn, để xây dựng tác phong công tác tỷ mỉ, đi sâu sát cho cán bộ tác chiến”.

        Đồng chí lên làm Tổng Tham mưu phó khi hòa bình được lập lại sau hiệp định Giơnevơ 1954. Đến khi thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về đẩy mạnh đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị ở miền Nam, đồng chí là thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đầu tiên, là trưởng đoàn cán bộ quân sự được phái vào miền Nam, làm trưởng ban quân sự Miền.

        Vì sức khỏe yếu, đồng chí trở ra miền Bắc chữa bệnh một thời gian ngắn, lại trở vào miền Nam, khi bắt đầu tổ chức mặt trận B4 (Trị Thiên) làm Bí thư khu ủy, Tư lệnh B4.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (xuân 1968), đồng chí cùng các đồng chí trong Khu ủy, Bộ Tư lệnh B4 chỉ đạo quân dân Trị Thiên và thành phố Huế tiến công nổi dậy tiêu diệt nhiều sinh lực cao cấp Mỹ - ngụy trong thành phố, cắm cờ ở thành phố Huế làm chủ trong một tháng. Là thành phố nổi dậy đầu tiên, trụ vững trong thời gian dài nhất trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968...”


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:54:43 PM

        3. Tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào


        Trở về công tác ở Cục Tác chiến, tôi vừa theo dõi phục vụ Sở chỉ huy của Bộ chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân địch ở miền Bắc, vừa theo dõi chiến trường B5 (đường 9 - Khe Sanh) là nơi lực lượng Quân khu 4 và chủ lực Bộ ở miền Bắc phái vào hoạt động, do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo chỉ huy.

        Đúng như dự kiến trong kế hoạch của Bộ, tháng 2 năm 1971 quân ngụy Sài Gòn được sự chi viện bằng không quân của Mỹ tấn công ra đường 9 - Nam Lào để cắt đường vận chuyển chiến lược của ta. Chúng cho đây là yết hầu, cắt được cái “cổ họng” này thì ngăn chặn được đầu nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào, và các lực lượng của ta ở miền Nam sẽ bị chết đói. Bộ Tư lệnh chiến dịch phản công ở đường 9 - Nam Lào được thành lập do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Đồng chí Văn Tiến Dũng vào sau làm đại diện Quân ủy Trung ương, đồng chí Vũ Lăng, Hoàng Dũng, Nguyễn Tuyến giúp việc. Tôi được chỉ định làm Tham mưu phó tác chiến của Bộ Tư Lệnh chiến dịch. Trong lúc Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch đang được triệu tập, đồng chí Lê Trọng Tấn lệnh cho tôi, cùng một bộ phận nhỏ cán bộ tác chiến, cơ yếu thông tin đi trước vào chuẩn bị sở chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Tấn bảo tôi phải chuẩn bị gấp vì bốn ngày sau đó cơ quan và Tư lệnh chiến dịch sẽ vào họp Đảng ủy và triển khai lực lượng gấp (hành tiến chiến đấu vì là chiến dịch phản công phải đánh gấp không để địch vào sâu, phá hết kho tàng dự trữ của ta ở Đường 9 - Nam Lào). Bộ phận tiền trạm của tôi đi bằng 2 xe con (có một xe thông tin) và 2 xe tải, bộ phận hậu cần (C59) mang theo gạo, lương khô và mấy con lợn sống. Ngày đi, chiều đến vị trí dừng chân, thông tin cơ yếu triển khai làm việc báo cáo cho Tư lệnh của bộ phận đi sau.

        Đến đường đi đến Achoóc thì phải triển khai ngay Sở chỉ huy chiến dịch, bên trục đường. Có một sự tranh luận về xác định địa điểm Sở chỉ huy chiến dịch. Anh em tác chiến và tổ bảo vệ yêu cầu phải cách đường 2-3 kilômét vào rừng sâu để phòng địch oanh tạc bằng máy bay. Bộ phận thông tin do đồng chí Phạm Niên (Tư lệnh thông tin) thì yêu cầu đặt ngay sát đường cái đi Achoóc, cách xa đường không quá 500 mét, vì có trạm thông tin A72 ở đó, mới triển khai thông tin được.

        Bộ phận của Tư lệnh chiến dịch đi sau chỉ còn một chặng đường (1 ngày) nữa thì tới nơi. Ra đi đồng chí Tấn bảo sẽ đi ngay sau tôi 4 ngày, nhưng vì sốt ruột, đồng chí quyết định chỉ đi sau 2 ngày. Xe của bộ phận Tư lệnh lại tốt, đi nhanh hơn đoàn xe của tôi (có xe tải hậu cần đèo theo lượng thực và lợn nên đi chậm hơn). Một mặt khác bộ phận đi đầu của Binh đoàn 70 do đồng chí Hồng Sơn chỉ huy đã hành tiến tới gần địch, sở chỉ huy cần bắt liên lạc ngay. Vì vậy tôi đồng ý dặt Sở chỉ huy ngay gần trục đường (chỉ cách 500m). Anh em triển khai thông tin chặt cây làm lán, đào hầm dã chiến cho bộ phận Tư lệnh và Chính ủy là chính và một nhà lán trực ban tác chiến, còn lại là mắc võng nằm. Mới chuẩn bị được một ngày thì tối hôm sau bộ phận Tư lệnh vừa tới. Đồng chí Lê Trọng Tấn khen bộ phận tiền trạm của Sở chỉ huy đi nhanh, khẩn trương triển khai được Sở chỉ huy bắt liên lạc được với Binh đoàn 70 phía trước, nắm được tình hình địch - ta và liên lạc được về Bộ báo cáo tình hình kịp thời thông suốt.

        Đêm hôm đó, Đảng ủy chiến dịch họp luôn hạ quyết tâm chiến dịch.

        Chiến dịch tiến hành thắng lợi, lính dù ngụy bám càng trực thăng Mỹ mà rút chạy. Ta đánh bại cuộc tiến công lớn của Mỹ ngụy, bảo vệ an toàn các kho hàng chiến lược, bảo vệ thông suốt đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn.

        Sau chiến dịch, chúng tôi trở về cơ quan cũ làm tổng kết chiến dịch phản công đầu tiên có hiệp đồng quân binh chủng với một binh đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ (Binh đoàn 70), tấn công từ bắc Đường 9 phối hợp với Sư đoàn 324 của B4 đánh từ phía nam lên đường 9 và các đơn vị của Đoàn 559 chặn đầu.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 03:58:11 PM

        4. Tham gia chiến dịch tiến công Trị Thiên và đánh bại cuộc tập kích chiến lược băng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội - Hái Phòng

        Năm 1972, phát huy thắng lợi bước đầu đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, Quân ủy Trung ương chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam với 3 hướng chiến dịch: Chiến dịch Nguyễn Huệ do Đoàn 301 (chủ lực Nam Bộ ) tiến công ở Bình Long, An Lộc; chiến dịch Tây Nguyên tiến công ở Kim Tum, Pleiku; chiến dịch Trị Thiên là hướng chính tiến công chủ yếu ở Quảng Trị, Thừa Thiên vì có điều kiện thuận lợi hơn trong việc sử dụng các binh đoàn chủ lực ở miền Bắc, tiếp tế hậu cần bảo đảm hơn, lại gần hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam.

        Bộ chỉ huy chiến dịch Trị Thiên do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí lê Quang Đạo làm Chính ủy và một số đồng chí khác làm Phó Tư lệnh, Phó Chính ủy như các đồng chí Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Anh Đệ, Lê Tử Đồng, Hoàng Minh Thi,...

        Tôi được chỉ định làm Tham mưu phó tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch và một số các đồng chí các cơ quan Bộ tổ chức, cơ quan tham mưu chính trị, hậu cần của chiến dịch. Đồng chí Văn Tiến Dũng, ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng đại diện Quân ủy Trung ương bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch, có đồng chí Bùi Công Ái và Nguyễn Tuyến giúp đỡ. Đợt 1 chiến dịch ta giải phóng tỉnh Quảng Trị từ đường 9 đến sông Thạch Hãn một cách giòn giã. Nhưng vướng sông Thạch Hãn, bị tắc lại, không phát triển được xuống phía Nam sông để đánh về phía nam Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế. Nguyên nhân là lúc đầu có ý kiến nên lấy hướng Tây Nguyên là chính, đã điều động trung đoàn công binh vào để làm đường chiến dịch. Cuối cùng xác định lại hướng Trị Thiên là chính, điều trung đoàn công binh trở ra làm đường không kịp, nên trong thời gian chuẩn bị chiến dịch không làm đường vu hồi phía tây. Bộ đội cơ giới, pháo vượt sông ở bến phà Trắm (tây cầu Thạch Hãn khoảng 25km) bị tổn thất do máy bay địch thả đủ các loại bom, khống chế bến vượt suốt ngày đêm.

        Trong thời điểm này, ở trong Bộ Tư lệnh chiến dịch và ở ngoài cơ quan Tổng hành dinh có ý kiến khác nhau. Ở Tổng hành dinh chỉ đạo phải đánh vu hồi để tránh tổn thất do vượt sông đánh chính diện.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch thì đề nghị trong lúc địch còn hoang mang, chưa kịp tăng viện, cho dùng sức mạnh vượt sông Thạch Hãn qua cầu Quảng Trị để tranh thủ thời gian phát triển chiến dịch vào nam Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

        Dùng dằng mãi qua điện thoại, điện đài, không thể hiện rõ ý định, Bộ Tư lệnh chiến dịch cử tôi ra báo cáo Quân ủy Trung ương. Ngày 25 tháng 4 năm 1972 ăn cơm trưa xong từ Sở chỉ huy chiến dịch, tôi và một đồng chí bảo vệ đi bộ ra bến xe ôtô. Đến 6 giờ tối tôi đi một xe commăngca Liên Xô với 2 người lái và 1 bảo vệ đi ra Vĩnh Linh theo đường số 1 ra Hà Nội. Xe đi suốt đêm, 2 lái xe thay nhau lái, tôi nằm ngủ ở ghế sau cùng đồng chí bảo vệ. Qua các trọng điểm địch thường xuyên thả bom bắn phá và thả pháo sáng, Ở phà Quán Hầu, phà sông Gianh. Trên đường đi có nhiều đoạn do địch bắn phá và xe vận tải tranh nhau đi làm tắc đường, mãi đến 9 giờ sáng xe mới qua được phà Bến Thủy. Xe tiếp tục chạy một mạch đến 5 giờ chiều về tới Sở chỉ huy Bộ. Chưa kịp ghé thăm nhà tôi vào thẳng Sở chỉ huy gọi điện thoại báo cáo đồng chí Lê Trọng Tấn là đã tới nơi. Gặp đồng chí Vũ Lăng bảo: “Phải sang báo cáo, anh Văn đang chờ anh đấy”. Tới nhà đồng chí Văn mới được 5 phút, đang báo cáo dở, thì trực ban tác chiến gọi điện thoại tới nói: “Anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) gọi anh sang nhà riêng đường Hoàng Diệu để báo cáo ngay”. Anh Văn bảo “Thôi cậu sang báo cáo trước với anh Ba rồi quay lại báo cáo với tôi sau”. Tôi đi xe luôn sang nhà đồng chí Lê Duẩn (xe bám đầy bùn, bụi dọc đường). Đồng chí Bí thư bảo: “Đồng chí sang phòng bên cạnh, anh Ba đang chờ ở đấy”. Sau khi mở cửa, vừa đưa tay chào thì đồng chí Lê Duẩn kéo tôi ngồi xuống bên cạnh, trước một cái bàn có trải sân bản đồ Quảng Trị, Thừa Thiên, vẽ hình thái địch và các mũi tiến công của ta (do Cục Tác chiến cung cấp). Đồng chí Lê Duẩn nói ngay: “Cậu báo cáo tóm tắt tình hình thôi (tôi đã biết rồi), chủ yếu là ý kiến anh Dũng (Văn Tiến Dũng) và anh Tấn trong đó thế nào”? Tôi báo cáo vắn tắt khoảng 10 phút về ý định phát triển tiến công của chiến dịch mà địch chưa được tăng viện, đánh chiếm La Vang và thị xã Quảng Trị. Đồng chí Lê Duẩn đặt cả bàn tay xuống bản đồ trùm lên cả khu vực La Vang, thị xã Quảng Trị đến cầu Mỹ Chánh và nói ngay: “Tôi đồng ý, đánh ngay! Cậu về báo cáo anh Văn sáng mai họp Quân ủy” và quay lại gọi đồng chí bí thư bảo: “Đồng chí gọi điện thoại cho đồng chí Sáu Thọ là tôi đã nghe đồng chí Khánh ở mặt trận ra báo cáo rồi. Tôi đồng ý với các đồng chí ở trong đó, sáng mai mời anh Thọ sang họp Quân ủy Trung ương rồi sẽ đi...”, (đi hội nghị Pa-ri).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 04:02:16 PM
        Tôi trở lại nhà anh Văn. Vào nhà thấy cơm đã dọn sẵn. Anh Văn đứng dậy ra hỏi tôi: “ý kiến anh Ba thế nào?”, chị Hà (vợ anh Văn) nói: “ăn cơm xong làm việc được không?”. Tôi mở xắc cốt định lấy sổ ghi chép ra báo cáo, anh Văn cầm sổ của tôi đút vào xắc cốt và kéo tay tôi ra vườn hoa phong lan nói: “tác chiến các cậu, cứ hễ báo cáo là mở sách vở, bây giờ vừa đi cậu vừa báo cáo tôi nghe, dùng trí nhớ trong đầu mà nói...”. Tôi cũng chỉ báo cáo độ 15 phút về tình hình chiến dịch, ý kiến anh Dũng và Bộ Tư lệnh chiến dịch, ý kiến anh Ba Duẩn. Nghe xong anh Văn bảo: “Thế là được rồi, sáng mai họp Quân ủy Trung ương, cậu sang báo cáo anh Hai (Trần Quý Hai) triệu tập hội nghị”. Tôi định quay đi thì đồng chí còn kéo lại giới thiệu tên mấy loại hoa phong lan bằng tiếng Latinh (mà tôi chẳng biết hoa gì). Đồng chí nói: “Đây là những giỏ hoa năm ngoái tôi vào thăm sở chí huy, sau thắng lợi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, các cậu tặng... Đây là các dàn hoa phong lan mới của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên và anh em 559 mới gởi ra...”, rồi kéo tôi vào nhà bảo ăn cơm luôn, về gặp anh Hai sau. Tôi ngồi ăn cơm với anh Văn và chị Hà, cơm đã nguội, chỉ có đĩa giò lụa, đĩa thịt rang mặn với rau cải luộc và nước rau nhưng ăn thấy ngon lành vì bụng đã đói, việc báo cáo đã xong.

        Sáng ngày hôm sau (27/4/1972) vào họp Quân ủy Trung ương, có các đồng chí Bộ Chính trị (anh Ba Duẩn, anh Văn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh... Bộ Quốc phòng có anh Song Hào, Trần Quý Hai), đồng chí Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến và tôi dự để báo cáo. Vào cuộc họp anh Ba nói ngay: “Tối qua tôi đã nghe anh Khánh báo cáo ý kiến anh Dũng, anh Tấn trong đó, bây giờ để anh Khánh báo cáo lại các anh nghe...”.

        Anh Lê Đức Thọ ngẩng đầu lên nói: “À tôi tưởng Cao Văn Khánh ra báo cáo!”, anh Văn đỡ lời ngay: “Đây là Khánh tác chiến”, anh Ba nói “thôi báo cáo đi, cậu ấy nắm được tình hình đấy”. Tôi giăng bản đồ ra vừa báo cáo được khoảng 20 phút về tóm tắt tình hình, ý kiến anh Dũng và Bộ Tư lệnh chiến dịch... anh Ba nói cắt ngang khi tôi chưa hết lời: “Tối hôm qua tôi và anh Văn đã nghe rồi, tôi đồng ý, cứ thế mà 1àm...”. Anh Thọ đứng dậy vừa đi lại quanh bàn vừa nói: “Tối hôm qua tôi cũng nghe anh Ba nói đã nghe anh Khánh ra báo cáo, tôi tưởng là Cao Văn Khánh, tôi cũng đã nói nhất trí ý kiến với anh Ba và đồng ý để các đồng chí trong đó cho đánh ngay. Ngày mai tôi trở lại hội nghị Pari, anh vào bảo các đồng chí trong đó đánh mạnh lên, có thắng lợi lớn thì tôi ăn nói ở hội nghị mới có sức mạnh”, anh Ba quay lại hỏi: “Có ai có ý kiến gì khác không?”, anh Văn nói cũng đã nghe và đồng ý với ý kiến anh Ba. Các đồng chí khác cũng chỉ nói “thế là được...”, không ai có ý kiến khác nữa. Hội nghị chỉ trong khoảng một tiếng đồng hồ. Anh Ba nói “Nếu không có ý kiến gì khác thì anh Văn điện ngay cho anh Dũng và Bộ Tư lệnh chiến dịch biết ngoài này đã đồng ý, để các đồng chí tiến hành ngay... và cậu Khánh vào báo cáo ngay ý kiến tôi và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương...” Các đồng chí Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương ra về. Đồng chí Lê Đức Thọ vỗ vai tôi nói “Mai tôi lên máy bay đi Pari, cậu vào báo cáo các anh trong đó đánh mạnh lên để kết hợp quân sự với ngoại giao nhé...”. Đồng chí Văn kéo tôi và đồng chí Vũ Lăng ngồi lại trên ghế salông dài, anh Văn cầm sổ viết điện, viết ngắn: “Gửi anh Dũng+Tấn+Đạo, hội nghị Quân ủy, anh Ba và các đồng chí khác đồng ý kế hoạch của các anh. Cứ thế triển khai ngay. Khánh sẽ vào báo cáo cụ thể”. Đưa điện cho anh Lăng gởi và quay lại bảo tôi “Cậu vào báo cáo với các anh trong đó nhé”.

        Tôi ghé qua nhà ở khu 1A Hoàng Văn Thụ thấy nhà tôi đang chuẩn bị sơ tán. Trước đây cơ quan sơ tán ở Đức Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang, nay cơ quan về Hà Nội, thay đổi địa điểm sơ tán. Tối nay gia đình tôi ngồi chung xe tải của cơ quan đi sơ tán ở Lập Thạch Vĩnh Phú. Tối hôm qua khi tôi mới về nhà, mẹ con vui mừng. Nhà tôi nói “may quá có anh về, tối mai nhờ xe đưa mẹ con và bà (6 người) qua bến phà Chèm (một trọng điểm địch thả bom bắn phá ở Hà Nội) thì tốt quá. Nếu không, cả 6 người cùng đồ đạc chen chúc nhau với người của cơ quan trên một chiếc xe tải, máy bay địch đến thì không biết đường nào mà chạy...”. Tôi đang phân vân suy nghĩ chưa nói gì được, trưa nay ghé về nhà nói có lệnh phải đi ngay đây.

        Nhà tôi buồn bã cúi mặt xuống, bà ngoại và 4 đứa nhỏ ngơ ngác hỏi “Ba lại đi ngay à!”, tôi vội vã ăn cơm rồi vác balô ra đi, trong lòng áy náy vô cùng!

        Nghĩ thương vợ, 4 con nhỏ và bà già đêm nay đồ đạc lỉnh kỉnh đi sơ tán. Đường xe qua phà nguy hiếm, không biết làm thế nào? Một mặt khác trên đường đi vào mặt trận làm sao cho kịp trước ngày nổ súng đợt hai chiến dịch... trong lòng cũng rất rối bời!


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 04:39:59 PM
        Xe vào đến bãi xe, tôi leo các ngọn đồi vào Sở chỉ huy, qua phòng trực ban tác chiến gặp đồng chí Phạm Đăng Lung tươi cười bắt tay “tốt quá rồi, anh em lo lắng quá!”, tôi không kịp trả lời, quẳng balô lên bàn rồi leo ngay lên đồi Tư lệnh gặp đồng chí Doãn Tuế (Tư lệnh pháo chiến dịch), trên đồi đi xuống đang chống batoong giơ tay chào tôi “hoan nghênh đặc sứ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trở về, thôi cậu lên ngay các cụ đang chờ trên đó...”. Tôi thở hổn hển leo lên đỉnh đồi vào hầm chỉ huy báo cáo ngay kết quả cuộc họp ở Quân ủy với anh Dũng, anh Tấn, anh Đạo.

        Nghe xong các anh tươi cười bảo: “ở đây cũng đã nhận điện anh Văn, vừa họp triển khai chuẩn bị đợt tiến công mới, ra lệnh cho các đơn vị rồi, thôi cậu về nghỉ đi”. Tôi đưa cho đồng chí Tuyến (bí thư của đồng chí Dũng) chai rượu mơ và hai quả bưởi chị Kỳ (vợ anh Dũng) gởi vào làm quà nhân ngày sinh nhật tới của anh Dũng (1/5), trở về nhà hầm trực ban tác chiến lăn ra ngủ mê mệt.

        Sáng sớm hôm sau (29/4) dự họp giao ban, nghe các đơn vị bộ binh, pháo binh đã vào vị trí chiến đấu đầy đủ, cùng với các đồng chí Khiếu Anh Lân, đồng chí Hòa (cán bộ Học viện quân sự tăng cường vào Sở chỉ huy) nắm tình hình từng giờ để báo cáo với Tư lệnh. Đêm hôm đó quân ta bắt đầu tấn công vượt cầu Quảng Trị, đánh chiếm căn cứ La Vang và thị xã Quảng Trị làm chủ hoàn toàn trong ngày 30 tháng 4.

        Trưa 1 tháng 5 đồng chí Văn Tiến Dũng gọi lên nhà hầm của đồng chí Dũng. Đồng chí Tuyến mở chai rượu mơ, bóc sẵn 2 quả bưởi cùng đồng chí Tấn, đồng chí Đạo đồng chí Doãn Tuế uống chén rượu mơ, chúc mừng thắng lợi mở đầu đợt 2 và ngày sinh nhật đồng chí Văn Tiến Dũng.

        Ngày 2 tháng 5 năm 1972, đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy bước vào phòng hội nghị Pa-ri hội đàm với Kít-xinh-giơ, trong tư thế của người chiến thắng!

        Ngày 3 tháng 5 năm 1972, quân ta phát triển tiến công một mạch tới bắc cầu sông Mỹ Chánh (tiếp giáp tỉnh Thừa Thiên). Hà Nội chuyển ngay bằng điện thoại bức điện của đồng chí Lê Đức Thọ đánh từ Pari về chúc mừng thắng lợi.

        Bị cụm phòng thủ của địch ở cầu Mỹ Chánh chặn đường tiến công và con sông Mỹ Chánh cắt ngang là chướng ngại lớn (như khi vượt sông Thạch Hãn), bộ đội ta phải dừng lại. Trong lúc ta đang tiếp tục điều thêm lực lượng, phương tiện vượt sông và hậu cần bảo đảm thì Ngô Quang Trưởng (tư lệnh vùng 1) cho quân tiếp viện ra phản công quyết liệt, dưới sự chi viện mạnh mẽ của không quân Mỹ và pháo hạm cỡ lớn của tàu chiến Mỹ ngoài biển bắn vào. Cho nên bộ đội ta phải rút dần về bám trụ ở La Vang và thị xã Quảng Trị, củng cố tuyến phòng ngự ở bắc sông Thạch Hãn.

        Cuộc chiến đấu phòng thủ giữ thành phố cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm rất gay go ác liệt, để phối hợp với đấu tranh ngoại giao trên bàn hội nghị Pari. Thất bại trên chiến trường miền Nam, và bị ta đánh bại trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng Chạp 1972 buộc đế quốc Mỹ phải ký kết hiệp định Pa-rỉ (28/01/1973) rút quân về nước.

        Hai chiến dịch lớn (phản công 71, tiến công 72) do thủ trưởng Bộ và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và các Tổng cục trực tiếp chỉ đạo chỉ huy đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược: “Đánh cho Mỹ cút và tiến tới đánh cho ngụy nhào”.

        Tổng kết hai chiến dịch này, về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật có những bài học lớn:

        1. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971), Bộ Tổng Tham mưu dự báo đúng tình hình, chuẩn bị trước kế hoạch và lực lượng cơ động (B70) nên khi địch tiến công ra đường 9, ta kịp thời cơ động lực lượng ra tiến hành chiến dịch phản công ngay.

        2. Về chỉ đạo chiến dịch, ta đã điều động lực lượng, có đơn vị bảo vệ kho tàng của Đoàn 559 và một bộ phận Sư đoàn 31 chặn đầu, điều Sư đoàn 324 từ B4 ra đánh địch từ phía nam, đường 9 phối hợp với Binh đoàn B70 là hướng chủ yếu tấn công tiêu diệt địch từ phía bắc đường 9. Cho nên đội hình địch bị đánh từ ba phía, bị chia cắt, nên bị thiệt hại nặng phải rút lui mặc dầu có sự chi viện mạnh bằng pháo và không quân của Mỹ.

        Khi địch rút lui về căn cứ Khe Sanh (23/3/1971), Bộ Tư lệnh chỉ đạo kết thúc chiến dịch kịp thời, không tiếp tục tiến công vào Khe Sanh, một căn cứ mạnh của Mỹ ngụy, ta sẽ bị thương vong mà không giải quyết được.

        Đây cũng là nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch mở đầu chiến dịch phản công kịp thời và kết thúc chiến dịch đúng lúc.

----------------
1. Tác giả nhầm, đúng phải là Sư đoàn 2 - Giangtvx


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 04:45:15 PM
        Cũng như chiến dịch Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1952, ta kết thúc chiến dịch không phát triển tiến công nữa, khi địch đã co cụm thành tập đoàn cứ điểm mạnh ở Nà Sản là đúng, nếu tiếp tục tiến công càng bị tổn thất mà không giải quyết được.

        3. Trong chiến dịch tiến công chiến lược Trị Thiên (từ 30/3/1972 đến tháng 1/1973) là một chiến dịch kéo dài bằng nhiều đợt. Bộ Tư lệnh chiến dịch thay đổi ba lần Tư lệnh và Chính ủy (đồng chí Lê Trọng Tấn và Lê Quang Đạo ra nghỉ chữa bệnh, thì đồng chí Trần Quý Hai và đồng chí Song Hào vào thay. Đến cuối chiến dịch, đồng chí Lê Trọng Tấn lại vào làm Tư lệnh).

        Là một chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn, trong giai đoạn tiến công có tốc độ cao (đợt 1 trong 9 ngày từ 30/3 đến 09/4/1972 giải phóng bắc Quảng Trị; đợt 2 trong 6 ngày từ 27/4 đến 02/5), tiêu diệt tập đoàn phòng ngự của địch ở Đông Hà - Ái Tử - Quảng Trị - La Vang, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

        Đến đợt 3 trong 8 ngày từ 20 tháng 6 đến 27 tháng 6, phát triển tiến công vào sông Mỹ Chánh bị chặn lại.

        Từ đó địch tiến hành phản công, dưới sự chi viện mạnh của không quân và pháo hạm trên tàu của Mỹ bắn từ biển vào, quân ta phải dần dần rút lui về phòng ngự ở thành cổ Quáng Trị và nam sông Thạch Hãn.

        Trong giai đoạn phòng ngự từ 27 tháng 6 đến 31 tháng 1 năm 1973, ta kiên quyết phòng thủ giữ thành cổ (từ 28/6 đến 16/9/1972) trong 81 ngày đêm chiến đấu gay go quyết liệt.

        Qua chiến dịch này, Bộ đã tổ chức tổng kết rút ra 8 bài học quan trọng nhưng có 2 vấn đề lớn nhất là:

        1. Ta không coi trọng phòng ngự trong chiến dịch. Chiến dịch chiến lược Trị Thiên năm 1972 là chiến dịch tiến công. Nhưng sau đợt tiến công 1 và 2 (từ 30/01 đến 02/5/1972 ) trong 34 ngày giải phóng được tỉnh Quảng Trị, địch đã bắt đầu tập trung lực lượng tiến hành phản công quyết liệt, thì thực tế diễn biến đối phó của ta đã phải hình thành phòng ngự trong một thời gian dài, hơn 200 ngày (từ 27/6/1972- 21/01/1973), mà khi đó chưa khắng định là phải tổ chức chiến dịch phòng ngự.

        Về nghệ thuật chiến dịch tiến công phải kết hợp chặt chẽ với phòng ngự, phát triển tiến công phía trước phải đi đôi với củng cố thế trận phòng ngự bảo vệ vùng mới giải phóng phía sau.

        Chiến dịch tiến công phát triển đến một mức nào đó, căn cứ vào tương quan lực lượng, ta không còn đủ sức tiếp tục tiến công, thì phải kịp thời chuyển sang phòng ngự để bảo vệ vững chắc vùng lãnh thổ ta đã giải phóng. Cứ muốn tiếp tục tiến công nhưng không đủ sức thì tiến công cũng không được mà lại càng bị tổn thất.

        2. Phòng thủ giữ thành cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm, bị tổn thất thương vong lớn do yêu cầu chính trị đấu tranh ngoại giao phải giữ cho bằng được. Vì trong hội nghị Pa-ri ở thời điểm cao rất căng thẳng, quyết liệt để chuẩn bị vào ký kết ngừng bắn. Giữ được thành cổ Quảng Trị, tuy chỉ là một địa danh trên bản đồ, nhưng thế giới cho là ta vẫn giữ được cả tỉnh Quảng Trị.

        Về nghệ thuật quân sự, ta đã tổ chức phòng ngự đơn thuần, phòng thủ thụ động, không kết hợp được với tích cực phản kích, phản công sau lưng và hai bên sườn địch, cho nên các đơn vị phòng thủ ở “thành cổ” phải đơn độc đối phó với ba hướng tấn công của địch vào thành cổ.

        Về công tác tham mưu và tổ chức Sở chỉ huy, do cơ quan Bộ tổ chức lần đầu tiên, chúng tôi cũng rút được một số kinh nghiệm: Chuẩn bị chiến dịch phản công phải có nhiều phương án để đối phó, vì ta không chủ động như chiến dịch tiến công. Tổ chức cơ quan chiến dịch phản công phải nhanh chóng hình thành mới bảo đảm, điều hành nhanh chóng chiến dịch phản công, trong tình hình địch đang tiến hành tiến công mà chưa chiếm được những mục tiêu dự kiến và chưa chiếm lĩnh củng cố, phòng thủ giữ được các mục tiêu đó.

        Khác với Sở chỉ huy của chiến dịch tiến công (có thể chuẩn bị trước), Sở chỉ huy chiến dịch phản công phải dự kiến nhiều vị trí (địa điểm). Sở chỉ huy chiến dịch phản công sẽ triển khai trong quá trình địch hành quân, tiến công. Vì vậy không có điều kiện chuẩn bị trước, thông thường bước đầu xây dựng dã chiến, bảo đảm ưu tiên là thông tin liên lạc, với các đơn vị cấp dưới tham gia chiến dịch và với tổng hành dinh (cơ quan chỉ đạo cấp trên).

        Nhưng dù Sở chỉ huy chiến dịch tiến công (có chuẩn bị từ trước), hay Sở chỉ huy chiến dịch phản công (không có chuẩn bị từ trước) cũng phải được giữ bí mật và củng cố công trình dần dần mới bảo đảm sự ổn định, an toàn chỉ huy chiến dịch.

        Không nên làm như Sở chỉ chiến dịch Khe Sanh, mà đồng chí Doãn Tuế (sau này là Trung tướng Tổng Tham mưu phó) đã tổng kết bằng một câu “tiếu lâm”: “Đường đi như mạng nhện, ồn ào như họp chợ, điện sáng như sao sa! Thì chỉ tổ ăn bom!” Sở chỉ huy chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tuy triển khai gấp, gần trục đường cái, nhiều cơ quan ra vào nhưng vẫn bảo đảm được bí mật, an toàn là nhờ đã tránh được những khuyết điểm đó.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 04:47:51 PM
        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân (xuân 1968), buộc đế quốc Mỹ phải “xuống thang chiến tranh”, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đẩy quân ngụy tiến hành một cuộc hành quân lớn ra cắt đường vận chuyển chiến lược của ta.

        Lần đầu tiên ta sử dụng một lực lượng lớn chủ lực miền Bắc (Binh đoàn 701 với các đơn vị quân binh chủng (cả tên lửa phòng không, xe tăng, pháo lớn 130 ly, D74,...) tiến hành hai chiến dịch chiến lược lớn, tác chiến quân binh chủng hợp thành. Đó là chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971) và chiến dịch tiến công chiến lược Trị Thiên (1972), đã bước đầu đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

        Hai chiến dịch lớn này do đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy và các đồng chí khác tham gia Đảng ủy và làm cấp phó trong Bộ Tư lệnh. Nhưng có đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tăng cường sức mạnh chỉ đạo chỉ huy hai chiến dịch đó, giành thắng lợi lớn có ý nghĩa chiến lược.

        Đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng, nguyên là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 320 trong kháng chiến chống thực dân Pháp, một vị tướng chỉ huy cương quyết, táo bạo và linh hoạt, đã tổ chức những cuộc tập kích thọc sâu vào hang ổ quân phản động đội lốt Thiên chúa giáo ở Phát Diệm, làm lung lay hệ thống ngụy quyền ngụy quân, mà hồi đó cán bộ tác chiến chúng tôi ở Bộ đặt tên là chiến thuật “bôn tập” “nhảy dù” vào sâu trong lòng địch.

        Trong khi địch đưa các binh đoàn cơ động (GM) tiến công ra đường số 6 và thị xã Hòa Bình, đồng chí Văn Tiến Dũng chỉ huy cả Đại đoàn trang bi đầy đủ cả sơn pháo 75 ly, vượt sông Đáy, sông Hồng vào vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ dày đặc đồn bốt ngụy. Đồng chí đã tổ chức các trận đánh lớn, xây dựng các căn cứ du kích, khu du kích trong vùng địch tạm chiếm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá sập hệ thống ngụy quyền, xây dựng cơ sở chính quyền cách mạng của ta ở sau lưng địch, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch phản công lớn của ta ở Hòa Bình, tiêu diệt bộ phận và đánh bại các binh đoàn cơ động của quân đội Lê dương Pháp.

        Sau này, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, theo quyết định của Bộ Chính trị, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch quân binh chủng hợp thành, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột - Tây Nguyên, tạo thời cơ thuận lợi thực hiện giải phóng hoàn toàn miền Nam, sớm hơn một năm theo kế hoạch chiến lược dự kiến.

        Tiếp sau đó, đồng chí là Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cùng với đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa, Đinh Đức Thiện,... trong Bộ Tư lệnh chiến dịch, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

        Đồng chí Văn Tiến Dũng là một vị tướng chỉ huy đi sâu sát chiến trường, đơn vị, có tính quyết đoán nhưng trầm tĩnh, lại là một vị tướng tham mưu tối cao (Tổng Tham mưu trưởng), nghiên cứu sáng tạo, tổ chức thực hiện tài tình các chủ trương của Bộ Chính trị (như trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968). Một vị tướng tham mưu ghi chép công việc hàng ngày rất tỉ mỉ, cẩn thận, đầy đủ, cả trong công việc khi ở cơ quan Bộ Tổng tham mưu, khi ở mặt trận, hay khi xuống công tác ở các đơn vị, với chữ viết đẹp rõ ràng (có chỗ chú thích bằng mực đỏ), lưu lại được hàng chục cuốn sổ công tác dày, tạo thuận lợi cho đồng chí sau này chỉ đạo các bản tổng kết chiến lược của Bộ Chính trị qua các cuộc chiến tranh.

        Đó cũng là một điều, cán bộ tác chiến cần học tập trong công tác và nghiệp vụ tham mưu...

        Kết thúc chiến dịch tiến công Quảng Trị Thừa Thiên trở về Cục, cuối năm 1972 tôi được cử đi trong phái đoàn Đảng và Chính phủ thăm Trung Quốc.

        Đoàn do đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng dẫn đầu; Bộ Quốc phòng có đồng chí Trần Quí Hai và tôi được tham gia. Năm 1972 ta giành thắng lợi lớn trên toàn miền Nam và đánh bại cuộc tập kích chiến lược lớn bằng B52 trên bầu trời miền Bắc (Điện Biên Phủ trên không), buộc đế quốc Mỹ phải ký kết hiệp định Pa-ri và rút quân về nước.

        Trong năm này tuy đã hòa hoãn với Mỹ, sự giúp đỡ vật chất đã hạn chế nhiều, nhưng nhân dân Trung Quốc thì rất vui mừng trước những thắng lợi lớn của ta. Các đồng chí Trung Quốc trước đây thường nói: “Đất nước Trung Quốc bao la, là hậu phương vững chắc đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ...”. Nhân dân Trung Quốc có truyền thống hữu nghị với nhân dân Việt Nam. Lần này bạn tổ chức đón tiếp phái đoàn ta công khai rầm rộ. Hàng chục vạn nhân dân Bắc Kinh đón tiếp đoàn rất niềm nở nhiệt tình từ sân bay về đến chỗ nghỉ (Điếu Ngư Đài). Đoàn có đi thăm các tỉnh, ở đâu cũng được đón tiếp long trọng, như ở Thượng Hải gần một triệu người đứng hai bên lề đường đông nghịt, có nhiều bà mẹ bế con vẫy cờ đỏ sao vàng Việt Nam trên cửa sổ của các tầng lầu cao, trẻ con trèo lên các cành cây vẫy chào...


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 04:54:30 PM
        Đoàn còn đến thăm căn cứ địa Diên An cũ và cả nơi ở và làm việc của Mao Trạch Đông, Chu Đức... trong các nhà hầm ở Diên An (bây giờ là nhà lưu niệm). Đi thăm nhiều nơi, ở đâu đoàn cũng được nhân dân Trung Quốc (già, trẻ, gái, trai) đón tiếp nồng nhiệt biểu thị tình cảm và tình hữu nghị thắm thiết của nhân dân Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tính đến năm 1972, ta đã giành được thắng lợi quyết định “đánh cho Mỹ đã cút” và đang tiến tới “đánh cho ngụy nhào”. Phái đoàn Đảng và Chính phủ ta lần này sang cảm ơn Đảng, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc. Nhưng khi vào hội đàm, tiếp tục đề nghị bạn viện trợ để ta có thể tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng đất nước thì kết quả rất hạn chế.

        Mặc dầu vậy, chúng ta cũng không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Như trong một lời đáp từ: “Các đồng chí tiếp tục giúp chúng tôi, chúng tôi rất cảm ơn. Các đồng chí không tiếp tục giúp chúng tôi, chúng tôi cũng cảm ơn”.

        Chúng ta mãi mãi nhớ ơn các đồng chí cố vấn Trung Quốc. Sau cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống Nhật, đánh Tưởng, đất nước mới được giải phóng hoàn toàn chưa được một năm, những cán bộ giải phóng quân Trung Quốc chưa có thời gian đoàn tụ gia đình đã sang giúp quân đội ta về vật chất trang bị, về kinh nghiệm chiến tranh và huấn luyện bộ đội, nên đã góp phần giúp ta giành những thắng lợi lớn từ chiến dịch giải phóng Biên giới (1950) đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954).

        Chúng ta mãi mãi nhớ ơn các Sư đoàn phòng không quân tình nguyện giải phóng quân Trung Quốc đã giúp ta, kề vai sát cánh đánh trả cuộc chiến tranh bằng không quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ đường bộ, đường sắt từ Lạng Sơn đến Bắc Giang.

        Chúng ta cảm ơn các chi đội công binh giải phóng quân Trung Quốc đã sang giúp chúng ta xây dựng công trình phòng thủ từ Quảng Ninh đến Sầm Sơn, Thanh Hóa và xây dựng 11 tuyến đường bộ ở Việt Bắc và Tây Bắc.

        Chúng ta mãi mãi ghi nhớ công lao và thương tiếc các liệt sĩ giải phóng quân Trung Quốc đã hy sinh trong chiến đấu cũng như trong tai nạn lao động trên những công trình xây dựng đường sá, cầu cống và xây dựng công trình phòng thủ.

*

*       *

        Đi theo phái đoàn về nước, tôi trở về Cục Tác chiến. Nhân dịp đồng chí Lê Ngọc Hiền ở Bộ Tư lệnh Miền ra Hà Nội cũng về công tác ở Cục Tác chiến, tôi đề nghị đồng chí Lê Trọng Tấn cho tôi vào công tác ở Nam Bộ, vì tôi mới được hoạt động trong kháng chiến chống Pháp trước đây và trong chống Mỹ hiện nay, chỉ ở chiến trường từ Bình Trị Thiên và Trung Lào trở ra, chưa được vào Nam Bộ và Campuchia. Đồng chí Tấn đồng ý và nói tôi lên xin ý kiến anh Văn Tiến Dũng.

        Tôi lên gặp anh Văn Tiến Dũng ở Văn phòng Quân ủy, đề đạt nguyện vọng. Anh Dũng đồng ý và nói sẽ đề nghị Tổng cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Miền cho làm Sư đoàn trưởng một sư đoàn. Tôi rất phấn khởi vì sẽ được ra chiến đấu, học tập thực tế, không còn phải công tác ở cơ quan nữa.

        Nhưng sau đó, không rõ anh Lê Trọng Tấn trao đổi với anh Lê Đức Anh thế nào mà anh Lê Trọng Tấn lại phổ biến cho tôi là “cậu vào công tác ở Bộ Tham mưu Miền và chuẩn bị 1-2 ngày sau đưa anh Lê Đức Anh vào theo đường Trường Sơn”.

        Anh Lê Đức Anh vừa ra theo đường biển để báo cáo với Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị về tình hình địch thực hiện kế hoạch “lấn đất cắm cờ bình định cấp tốc” và kết quả đánh trả, tiếp tục tiến công của Quân khu 9. Nay anh Lê Đức Anh trở về lại miền Nam làm Tư lệnh phó Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Xe con của tôi đi trước dẫn đường vừa để bảo vệ xe con của anh Lê Đức Anh (Sáu Nam) đi sau chỉ có một bảo vệ đi cùng. Đến Bộ Tham mưu Miền vào một đêm tháng 1 năm 1973, cậu bảo vệ dẫn tôi tới một nhà âm, lợp lá trung quân và nói “thủ trưởng ở đây là nhà anh Lê Ngọc Hiền trước đây ở”.

        Sáng hôm sau, tôi gặp anh Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền nói với tôi: “Bây giờ cấp trên bảo anh tạm ở lại, công tác ở Bộ Tham mưu Miền”. Trong một buổi giao ban, anh Năm Ngà giới thiệu với mọi người: Anh Lê Ngọc Hiền trở về Cục Tác chiến thì nay anh Hoàng Nghĩa Khánh ở Cục Tác chiến vào công tác ở Bộ Tham mưu Miền, theo cách xưng hô Nam Bộ “Bảy Hiền” ra thì nay “Bảy Khánh” vào. Anh Năm Ngà đặt tên đầu cho tôi là “Bảy” mà tôi không biết. Nhưng phải là “Ba” mới đúng vì tôi chỉ có một chị gái đầu. Từ đó trở đi, anh em trong Nam gọi tôi là “Bảy Khánh” hoặc “anh Bảy”.

        Từ Tổng hành dinh lại về Tham mưu Miền, rồi ra làm Tham mưu trưởng của một quân đoàn ở Nam Bộ. Thế là tôi lại được ra đơn vị chiến đấu, nhưng không phải “đơn vị chiến đấu thực sự”, mà là Tham mưu trưởng của một quân đoàn chủ lực của Bộ chiến đấu trên đất miền Đông Nam Bộ. Từ đơn vị chiến đấu cơ sở (Tiểu đoàn trưởng) về công tác ở cơ quan Tổng hành dinh là một bước mới trong đời bộ đội của tôi.

        Về Cục Tác chiến trong một thời gian dài (1951- 1973) ở cơ quan, có nhiều thời gian đi về làm phái viên tác chiến ở các chiến trường miền Nam và Trung Thượng Lào. Đời làm phái viên tác chiến có cái hay là được đi sát đơn vị chiến đấu, tuy không được trực tiếp chỉ huy chiến đấu nhưng cũng được học tập kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Nhưng làm phái viên thì không có trách nhiệm rõ ràng, mà có khi cũng “quyền rơm, vạ đá” nếu phổ biến sai ý định cấp trên, và cuộc sống phái viên cũng vất vả!

        Đồng chí Doãn Tuế, một người hay nói “tiếu lâm” cũng đã đúc kết “tình cảnh” anh phái viên Bộ là các anh “đi kèm, ăn ghẹ, nói leo...” (đi kèm: đi nhờ xe ôtô vì không có xe riêng, ăn ghẹ: vào đâu có ăn là ngồi ăn ghẹ, vì đi lang thang không ổn định ở một bếp nào, nói leo: là cuộc họp nào cũng ghé vào, được dự cũng phát biểu nhưng không được chính thức vào kết luận, nghị quyết).

        Từ năm 1971 đến 1973 tôi được đi các chiến dịch có chức danh hẳn hoi, là tham mưu phó Bộ Tư lệnh các chiến dịch (chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Trị Thiên), nhưng vẫn là “quân số, đảng số” của Cục Tác chiến. Sau chiến dịch lại về Cục Tác chiến.

        Nay làm Tham mưu trưởng một quân đoàn là rời hẳn Cục Tác chiến (cơ quan tổng hành dinh), về một đơn vị chiến đấu.

        Cuộc đời bộ đội của tôi lại sang một bước mới.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:04:23 PM

        5. Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 trong các chiến dịch Phước Long - Dầu Tiếng - Chơn Thành - Xuân Lộc đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

         Tham mưu trưởng Quân khu 7 trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp bạn Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Pôn Pốt


        Từ Bộ Tổng Tham mưu vào công tác ở Bộ Tham mưu Miền (Quân giải phóng miền Nam). Khoảng 10 ngày, tôi đã đi bằng xe Honđa do một chiến sĩ lái xuống các phòng trong Bộ Tham mưu (Phòng Tác chiến, Phòng Quân báo,...). Gặp đồng chí Vũ Long ở Phòng Tác chiến (trước đây cùng công tác ở Cục Tác chiến) và đồng chí Tư Văn ở Phòng Quân báo (trước đây cũng công tác ở Cục 2 Bộ Tổng Tham mưu). Tôi nắm tình hình địch ở Nam Bộ, cụ thể ở miền Đông và nghiên cứu các đơn vị của ta, kinh nghiệm các trận đánh vừa qua. Tôi cũng đi xe sang Cục Chính trị Miền, gặp chị Hồ Thị Bi ở Phòng Chính sách (trước đây cùng ở khu tập thể 1A Hoàng Văn Thụ) và một số đồng chí ở Cục Chính trị để nghiên cứu về tình hình chính trị. Các cơ quan này đều ở trong rừng Lộc Ninh.

        Đi xa hơn ra phía Bắc, tôi cũng đến Cục Hậu cần Miền gặp đồng chí Bùi Phùng làm Cục trưởng (trước đây là Tham mưu phó Tổng Cục Hậu cần mà chúng tôi đã gặp làm việc ở Bộ), nắm tình hình tổ chức hậu cần khu vực, các binh trạm hậu cần. Tôi cũng đến Bộ chỉ huy xe tăng thiết giáp của Miền (ở Bù Đốp), nắm tình hình khả năng các đơn vị xe tăng thiết giáp của Miền. Tuy thời gian ngắn, nhưng bước đầu tôi cũng đã nắm được những đặc điểm về địa hình, về hoạt động địch, tình hình và khả năng tác chiến của ta.

        Trở về cơ quan Bộ Tham mưu Miền, gặp đồng chí Hoàng Cầm (Năm Thạch) Tư lệnh phó Bộ Chỉ huy Miền, tôi nhận nhiệm vụ đi trước xuống đường 7 ngang theo dõi tác chiến của Sư đoàn 9. Tôi đi xe Jeep do đồng chí Bảy Luận, một đội trưởng trinh sát của Miền lái.

        Trong thời gian theo dõi tác chiến ở Sư đoàn 9 cùng đồng chí Hoàng Cầm, thỉnh thoảng tôi lại sang bên kia Sông Bé nắm tình hình của Sư 7. Đó là thời gian sau khi nắm tình hình trên cơ quan Miền, tôi xuống các đơn vị nghiên cứu học tập kinh nghiệm thực tế chiến đấu.

        Sau khi trở về Bộ Chỉ huy Miền, nhận nhiệm vụ chính thức làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 41 , tôi và một số cán bộ tham mưu của Quân đoàn (có đồng chí Hiển - Trưởng Phòng Tác huấn và đồng chí Tư Đáng - Trưởng phòng Hành chính của Bộ Tham mưu Miền) xuống khu vực suối Bà Chiêm để bước đầu tập hợp các cơ quan của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4.

        Tới suối Bà Chiêm, đã có một số nhà tre lá do công binh Quân đoàn đã xây dựng, bộ phận đầu tiên của Quân đoàn (do tôi Tham mưu trưởng và đồng chí Ba Vinh - Tư lệnh phó phụ trách Cục Hậu cần Quân đoàn) tổ chức họp giao ban hàng ngày, tiếp nhận cán bộ của Bộ Chỉ huy Miền dần dần tăng cường cho cơ quan Quân đoàn. Sau khoảng nửa tháng thì cán bộ cơ quan Quân đoàn được tập trung đầy đủ theo biên chế, vị trí các cơ quan đã ổn định, tình hình thông tin liên lạc đã thông suốt nắm được các đơn vị trực thuộc của quân đoàn và liên lạc được với Bộ Chỉ huy Miền. Sau đó đồng chí Hoàng Cầm (Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy) xuống tổ chức họp Đảng ủy đầu tiên của Quân đoàn (Đảng ủy viên Quân đoàn có đồng chí Ba Vũ, Ba Vĩnh, Tư Thanh và tôi) để triển khai các mặt công tác.

        Tất cả các công tác Quân đoàn lúc này, tập trung chuẩn bị tốt cho trận ra quân đầu tiên của Quân đoàn là chuẩn bị mở chiến dịch giải phóng chi khu Đồng Xoài (theo quyết định của Bộ Chỉ huy Miền).

        Bộ Tham mưu chuẩn bị tài liệu về đánh chi khu quận lỵ, lập một sa bàn mô phỏng địa hình ở Đồng Xoài. Sau khi cán bộ cấp tiểu đoàn trở lên của hai sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9), bộ đội đặc công 429 và các lữ đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... học lý thuyết về cách đánh chi khu quận lỵ, sử dụng một trung đoàn (Trung đoàn 14) của Sư đoàn 7 thực hành diễn tập đánh một cứ điểm được xây dựng tại gần căn cứ Bà Chiêm cho cán bộ xem và rút kinh nghiệm.

        Sau tập huấn và xem diễn tập, Quân đoàn vạch kế hoạch đánh cứ điểm Đồng Xoài bằng binh chủng hợp thành, do Sư đoàn 7 đảm nhiệm, còn Sư đoàn 9 triển khai đánh địch tiếp viện trên đường 14 đoạn Phước Vĩnh lên.

        Tôi và một số cán bộ tham mưu đi trước chuẩn bị Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn ở bắc Đồng Xoài khoảng 7 kilômét và chuẩn bị kế hoạch trinh sát địa hình và điều tra địch ở cứ điểm chi khu Đồng Xoài (gọi là kế hoạch điều nghiên).

        Khi Tư lệnh đến, chúng tôi tổ chức cùng cán bộ Sư đoàn 7 và đoàn cán bộ của Tư lệnh đi tiếp cận nghiên cứu vị trí địch ở chi khu Đồng Xoài.

---------------
1. Thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1974.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:09:12 PM
        Trong lúc cơ quan và đơn vị đang chuẩn bị thực hiện phương án thì đồng chí Tư lệnh đi họp trên Bộ Chỉ huy Miền về phổ biến chủ trương của Bộ thay đổi, không cho sử dụng xe tăng, pháo 130 ly và chưa đánh chi khu Đồng Xoài, để dành đạn pháo, xe tăng cho các trận đánh quyết định sau.

        Chủ trương của Bộ và chỉ huy Miền giao đánh tiểu khu Bù Đăng và yếu khu Bù Na trước, để giải phóng một đoạn đường 14, cô lập chi khu Đồng Xoài và tiếp tục đánh sau.

        Quân đoàn được tăng cường Sư đoàn 3 của Miền do đồng chí Sáu Hưng làm Sư đoàn trưởng. Chủ trương của Quân đoàn dùng Sư đoàn 3 và một bộ phận binh chủng tấn công tiểu khu Bù Đăng, do Tư lệnh trực tiếp chỉ huy là hướng chủ yếu. Tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy Lữ đoàn đặc công (2 tiểu đoàn) và hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 cùng hai khẩu đội pháo 105 đánh yếu khu Bù Na và một vị trí (chốt) trên cây số 11 đường 14 giữa Bù Na - Đồng Xoài.

        Trong đêm 13 tháng 12 năm 1974 Sư đoàn 3 tấn công tiểu khu Bù Đăng. Hướng giữa một tiểu đoàn tăng cường hỏa lực của trung đoàn 12 tiêu diệt chốt địch ở cây số 11. Ở Bù Na sau khi dùng đặc công kỳ tập bị lộ, ta chuyển sang dùng 2 khẩu đội pháo 105 đánh cường tập, đến sáng địch rút chạy, bị ta tiêu diệt một trung đội và thu toàn bộ vũ khí đạn dược trong đồn (trong đó có nhiều đạn pháo 105 ly).

        Sáng ngày hôm sau, bộ đội ta truy kích địch dọc đường 14, tiếp tục diệt địch, chiếm đồn cây số 31, ngã ba đường 14 và cây số 6, tôi đi trên một ôtô “Molotova” cùng đồng chí Điều (cán bộ tác chiến) và một tố trinh sát bám đuôi bộ đội truy kích, ngược đường 14, cách ngã ba đường 14 đi Liêu Đức khoảng 15 kilômet thì gặp một bộ phận đồng chí Sáu Hưng (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3, đi xuống sau khi giải phóng Bù Đăng. Bộ phận đồng chí Sáu Hưng rải dây điện thoại từ Bù Đăng đi xuống và thông tin của bộ phận tôi kéo dây điện thoại từ Bù Na lên, bắt liên lạc, tôi báo cáo ngay bằng điện thoại cho Tư lệnh Hoàng Cầm về tình hình chiến đấu ở Bù Na, cây số 11 và dọc đường từ Đồng Xoài lên Bù Đăng đã thông, đường 14 được giải phóng.

        Sau đó bộ phận của đồng chí Sáu Hưng (Sư đoàn 3) và bộ phận đi cùng tôi vòng theo đường 6 lên hướng Phước Long, chuẩn bị đánh vị trí “Bùi Đốp lưu vong” giải phóng đường 14 và một đoạn đường từ ngã ba đường 6 và 14. Chi khu Đồng Xoài và tỉnh lỵ Phước Long bị cô lập, Bộ Chỉ huy Miền đồng ý cho đánh chi khu Đồng Xoài bằng binh chủng hợp thành.

        Sư đoàn 7 tiêu diệt xong chi khu Đồng Xoài, tỉnh lỵ Phước Long càng bị cô lập và tách xa sự chi viện bằng đường bộ của địch. Vì vậy Bộ đồng ý cho quân đoàn tập trung lực lượng đánh vào tỉnh lỵ Phước Long. Bộ phận do tôi phụ trách vòng về hướng đông nam núi Bà Rá, chuẩn bị Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn để mở cuộc tấn công giải phóng tỉnh lỵ Phước Long.

        Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tư lệnh Hoàng Cầm, ở Sở chỉ huy tiền phương, đồng chí Ba Vũ - Tư lệnh phó và tôi Tham mưu trưởng Quân đoàn, đồng chí Mười Thứ - Tham mưu trưởng Sư đoàn 7, chỉ huy các đơn vị tiến công chiếm tỉnh lỵ Phước Long vào sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975.

        Trận Phước Long có ý nghĩa như một đòn trinh sát chiến lược, tạo nên cục diện mới ở chiến trường, mở ra khả năng mới là quân giải phóng miền Nam có thể giải phóng các tỉnh ly, thành phố ở miền Nam Việt Nam mà địch không thể phản công chiếm lại được, làm cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm mở các chiến dịch, chiến lược lớn giải phóng miền Nam trong một thời gian tương đối sớm.

        Sau chiến dịch ra quân trận đầu thắng lợi lớn, các đơn vị Quân đoàn rút về căn cứ cũ. Cán bộ từ tiểu đoàn trở lên của Quân đoàn tập trung tiến hành tổng kết chiến dịch. Kết luận hội nghị tổng kết, đồng chí Tư lệnh nêu ra nhiều bài học về đánh tỉnh lỵ, và khen Bộ Tham mưu đã chuẩn bị hội nghị tổng kết nhanh gọn “chứ không như chiến dịch Bình Long An Lộc của Đoàn 301 trước đây đánh kéo dài, tổng kết cũng kéo dài mà đến nay chưa kết luận được”.

        Đánh Đồng Xoài trước hay đánh sau khi giải quyết xong Bù Đăng, Bù Na, lúc đó cũng có ý kiến khác nhau giữa đồng chí Trần Văn Trà và Bộ Tổng Tham mưu (như trong quyển hồi ký Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của đồng chí Trần Văn Trà, trang 162 - 165).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:12:40 PM
        Lúc đầu theo kế hoạch của Quân đoàn 4, được Bộ Chỉ huy Miền phê chuẩn ra quân trận đầu, Quân đoàn 4 sử dụng Sư đoàn 7 đột phá tấn công chi khu Đồng Xoài... Mọi công tác “điều nghiên”, chuẩn bị vật chất và các đơn vị đã cơ động đến vị trí tập kết, coi như công tác chuẩn bị chiến dịch đã xong. Đến khi đồng chí Trần Văn Trà ra miền Bắc họp Quân ủy Trung ương thì ý kiến Bộ Tổng Tham mưu không đồng ý sử dụng xe tăng, pháo binh 130 ly, D74 đánh Đồng Xoài trước, lý do là phải tiết kiệm đạn pháo xe tăng để sử dụng vào thời cơ sau này. Mặt khác Quân đoàn 4 ra quân trận đầu cần đánh chắc thắng nên không đánh một chi khu lực lượng địch mạnh như Đồng Xoài. Ý kiến giữa đồng chí Trần Văn Trà và các đồng chí Bộ Tổng Tham mưu trao đổi có khi căng thẳng. Đồng chí Trần Văn Trà thì cho rằng “Quân đoàn 4 chuẩn bị đầy đủ, khả năng có thể tiêu diệt địch ở Đồng Xoài và tiêu diệt lớn quân địch chi viện từ Phước Vĩnh lên, sẽ mở toang đường số 14 xuống uy hiếp Bình Dương. Nếu đánh Đồng Xoài sau thì mất yếu tố bí mật bất ngờ, sẽ dứt điểm khó khăn hơn và đảo lộn kế hoạch của Bộ Chỉ huy Miền trong mùa khô này”.

        Cuối cùng phải theo quyết định của Bộ Tổng Tham mưu, đồng chí Trần Văn Trà điện về Miền; đồng chí Lê Đức Anh triệu tập đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân đoàn phổ biến quyết định mới của Bộ Tổng Tham mưu phải chấp hành không có ý kiến gì khác nữa. Đồng chí Hoàng Cầm phổ biến cho Đảng ủy Quân đoàn, mọi người ngơ ngác, lại phải xoay chuyển lực lượng, xe pháo, nhất là mặt đảm bảo hậu cần và tổ chức trinh sát lại chiến trường, lập lại kế hoạch tác chiến mới. Chuyển hướng chủ yếu về chiến thuật, một trận đánh trong thời gian gấp đã là khó khăn.

        Nay chuyển hướng chủ yếu của chiến dịch ở địa hình rừng núi, địa bàn rộng lại càng khó khăn. Nhưng cán bộ, chiến sĩ quyết tâm ra quân trận đầu thắng lợi và khắc phục mọi khó khăn.

        Sau đó thực hành phương án mới đánh Bù Đăng, Bù Na trước rồi sau khoảng 10 ngày được dùng xe pháo đánh Đồng Xoài đã giành thắng lợi. Thời cơ thuận lợi phát triển đánh thị xã Phước Long, giải phóng một tỉnh lỵ đầu tiên, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Nhưng vì thắng lợi quá lớn, nên khi tổng kết chiến dịch không kết luận quyết tâm chiến dịch đánh Đồng Xoài trước (theo quyết định của Bộ Chỉ huy Miền) hay đánh Đồng Xoài sau (theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu) ai đúng ai sai? Các đồng chí lãnh đạo của Miền và của Bộ Tổng Tham mưu sau này cũng không ai đả động đến vấn đề này nữa.

        Sau này trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” ở trang 164 nêu: “Thực tiễn chiến trường đã chứng tỏ ý kiến của các anh ở B2 là đúng... (nghĩa là chủ trương của Miền theo trận đột phá mở đầu đánh Đồng Xoài là đúng). Đó là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

        Theo suy nghĩ của tôi, nếu thực hiện phương án đầu của Bộ Tư lệnh Miền, dùng Sư đoàn 7 và một số đơn vị đánh chi khu Đồng Xoài trước, đồng thời dùng một lực lượng khác (có thể là một bộ phận của Sư đoàn 3 hoặc lữ đoàn đặc công 429) đánh tiêu diệt chốt địch ở cầu 38, chiếm giữ ngã ba Liễu Đức. Ta có thể tiêu diệt địch ở chi khu Đồng Xoài, thì toàn bộ hệ thống địch trên đường 14 từ chi khu Bù Đăng đến Đồng Xoài sẽ tan rã (mà không cần đánh chi khu Bù Đăng, yếu khu Bù Na), tạo điều kiện cô lập địch ở thị xã Phước Long sớm hơn và ta có thể tập trung lực lượng giải phóng thị xã Phước Long nhanh hơn.

        Hội nghị tổng kết xong, Quân đoàn chuẩn bị chiến dịch giải phóng thị xã Tây Ninh để mở rộng căn cứ của Trung ương Cục. Sau khi đi trinh sát trận địa cùng đồng chí Hoàng Cầm về, nhận định Tây Ninh là một căn cứ tỉnh lỵ mạnh, lại có căn cứ núi Bà Đen khống chế nên chuyển ý định sang đánh hướng chi khu Dầu Tiếng, Chơn Thành.

        Sư đoàn 9 được giao nhiệm vụ tấn công chi khu Dầu Tiếng. Thời gian này Bộ Chỉ huy Miền tăng cường đồng chí Lê Ngọc Bì nguyên Sư đoàn trướng Sư đoàn 1 về làm Tham mưu phó Quân đoàn. Đồng chí Lê Ngọc Bì ở lại Sở chỉ huy cơ bản Quân đoàn, tôi được phái đi đốc chiến ở Sư đoàn 9 tấn công chi khu Dầu Tiếng.

        Sau khi giải phóng khu vực chi khu “Tri Tâm Dầu Tiếng”, thời gian này quân ta ở Tây Nguyên cũng vừa giải phóng xong thị xã Buôn Ma Thuột. Trong tình hình mới để chuẩn bị mở thông với vùng giải phóng Tây Nguyên và miền Trung, Quân đoàn 4 được tăng cường biên chế thêm Sư đoàn 341 từ Quân khu 4 vào (có đủ 3 sư đoàn bộ binh 7, 9, 341). Theo lệnh của Bộ và Bộ Chỉ huy Miền, Quân đoàn 4 cơ động bộ phận lớn gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 (thiếu một trung đoàn), các đơn vị binh chủng và cơ quan Quân đoàn do Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy sang hướng đường 20. Sư đoàn 7 tấn công tiêu diệt chi khu Định Quán, Bảo Lộc, Di Linh, sau đó cùng Sư đoàn 341 và các đơn vị binh chủng bao vây tấn công khu vực địch tập trung ở Long Khánh (Xuân Lộc), án ngữ phía đông bắc Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:18:37 PM
        Sư đoàn 9 và 1 trung đoàn của Sư đoàn 341 ở lại do Chính ủy Hoàng Thế Thiện và tôi phụ trách, tổ chức bao vây tấn công chi khu Chơn Thành và củng cố vùng mới giải phóng ở Tri Tâm, Dầu Tiếng. Sau khi đánh địch rút lui từ An Lộc chi khu Chơn Thành, đường 13 được giải phóng đến Thủ Dầu Một (Bình Dương). Sau đó bộ phận này cơ động sang bắc Xuân Lộc, bắc ngã ba Dầu Giây tập trung vào đội hình quân đoàn, chuẩn bị tiếp tục tấn công địch ở Long Khánh - Xuân Lộc “để mở cửa ngõ vào Sài Gòn”.

        Riêng Sư đoàn 9 được điều sang Binh đoàn 232 cùng Sư đoàn 3, Sư đoàn 5 để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến công từ hướng tây nam Sài Gòn.

        Thời gian này các đơn vị trên mặt trận Tây Nguyên đã đánh tan quân địch rút chạy từ Pleiku - Kon Tum về Tuy Hòa - Nha Trang, Quân đoàn 2 của ta đánh dọc theo đường số 1 mở toang vùng duyên hải đã tiến tới Bình Thuận. Xuân Lộc trở thành một “cánh cửa sắt” ngăn chặn các cánh quân phía bắc (Quân đoàn 2, Quân đoàn 4, một bộ phận Quân đoàn 3) tiến vào Sài Gòn. Địch tập trung ở đây toàn bộ lực lượng Quân đoàn 3 ngụy và các đơn vị tổng dự bị.

        Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 lúc này là phải tiêu diệt cho bằng được địch ở Xuân Lộc, để tạo điều kiện cho các cánh quân phía Đông (Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4) tiến quân giải phóng thành phố Sài Gòn theo quyết tâm của Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

        Quyết tâm giải phóng Xuân Lộc, nhưng cách đánh thế nào? Đó là một vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau. Lúc này Thượng tướng Trần Văn Trà - Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh tới Sở chỉ huy Quân đoàn 4 để dự họp Đảng ủy Quân đoàn xác định kế hoạch tấn công dứt điểm Xuân Lộc.

        Đêm trước ngày họp Đảng ủy Quân đoàn, đồng chí Trần Văn Trà (Tư Chi) sang lán của tôi chơi và hỏi “Tham mưu trưởng đã có ý kiến chuẩn bị phương án đánh Xuân Lộc thế nào?”. Tôi đứng dậy nhường chiếc võng của tôi cho đồng chí Trà ngồi ngả lưng, tôi ngồi trên ghế tre bên cạnh và báo cáo ý kiến cá nhân mình. Tôi trình bày: “tình hình Xuân Lộc bây giờ thành một khu vực địch co cụm rất mạnh. Hầu hết quân chủ lực Quân đoàn 3 địch tập trung phòng thủ ở đấy. Ở thị xã Biên Hòa bây giờ trống, chỉ có cơ quan Quân đoàn bộ Quân đoàn 3, đã có hiện tượng bắn nhau như hồi quân ta tấn công Quảng Trị, lực lượng chủ lực Quân đoàn 1 ngụy tập trung đối phó ngăn chặn ở La Vang thành cổ Quảng Trị, thì ở thành phố Huế cũng trống, lính ngụy cũng đã bắn nhau ở chợ Đông Ba, khi đó nếu ta có đường sá cơ động lực lượng từ phía tây có thể đánh chiếm thành phố Huế. Chiếm được thành phố Huế phía sau thì toàn bộ quân địch từ nam cầu Quảng Trị (nam sông Thạch Hãn)”, vào tới Huế quân địch bị đánh cả phía trước, phía sau sẽ tan rã. Ở đây Xuân Lộc sau 2 trận tấn công của ta, Bộ Tổng Tham mưu ngụy càng tăng cường phần lớn tổng dự bị (sư dù, thiết giáp, pháo binh) ra củng cố phòng thủ càng vững chắc và quyết tâm cố thủ đến cùng.

        Nếu ta lại tiếp tục tấn công vào Xuân Lộc là đánh vào một tỉnh lỵ lớn (lớn hơn thị xã Phước Long), địa hình phức tạp, có hệ thống công sự vòng ngoài kiên cố nhiều xe tăng thiết giáp hỗ trợ, nhiều trận địa pháo chi viện thì sẽ bị thương vong lớn, khó giải quyết.

        Trên đường số 1 từ Xuân Lộc đến thị xã Biên Hòa, vì dồn hết lực lượng ra Xuân Lộc nên bố trí chốt giữ đường lực lượng mỏng. Theo tin trinh sát, ở Trảng Bom chỉ có hai tiểu đoàn công binh, công sự dã chiến bố trí trong rừng cao su.

        Liên hệ với chiến dịch Biên giới bắc Việt Nam (1950), lúc đầu ta định tấn công vào Cao Bằng nhưng vì địch phòng thủ ở thị xã Cao Bằng mạnh nếu đánh sẽ bị thương vong lớn mà khó giải quyết nên sau ta chuyển sang tấn công vào Đông Khê, tiêu diệt được địch ở Đông Khê, buộc binh đoàn Lơ Pagiơ ở Lạng Sơn phải lên chi viện và đón binh đoàn Sác Tông ở Cao Bằng rút về, bộ đội ta phục kích đánh vận động tiêu diệt cả hai binh đoàn, bắt sống nhiều tù binh Âu Phi, trong đó có cả hai đại tá chỉ huy hai binh đoàn đó.

        Vì vậy ở đây tôi đề nghị không tiếp tục tiến công Xuân Lộc nữa, chọn điểm tấn công địch ở Trảng Bom (chỉ có 2 tiểu đoàn công binh địch), ta bố trí lực lượng mạnh phục kích đánh địch từ Xuân Lộc rút về chi viện cho Trảng Bom. Sau đó thừa cơ ta thọc vào chiếm thị xã Biên Hòa (Sở chỉ huy của Quân đoàn 3 nguy) và chốt giữ cầu Đồng Nai, chuẩn bị bàn đạp để tấn công vào nội đô Sài Gòn khi có lệnh.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:23:52 PM
        Điều kiện đánh vào Trảng Bom ta có thể cơ động xe M113, cả xe tăng trên đường tả ngạn bờ sông Bé và bố trí trận địa pháo binh phía tây Trảng Bom (vì thời gian này là mùa khô) và đồng chí Sáu Thịnh (lúc này phụ trách cụm hậu cần sông Bé, sau này là Thiếu tướng Tư lệnh phó, Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu 7) có lần nói với tôi: “nếu bộ đội tập trung hướng phía bắc Trảng Bom, thì đồng chí đó có thể cho thuyền trôi xuôi sông tiếp tế đạn dược các loại và lương thực vào hướng đó dễ hơn chở bằng ôtô theo đường 20 xuống Xuân Lộc...” Trong lúc nghe tôi trình bày, đồng chí Trần Văn Trà thỉnh thoảng gật đầu, không nói năng gì. Khi tôi trình bày hết ý kiến thì đồng chí đứng dậy nói: “Đó cũng là một phương án, sáng mai đồng chí báo cáo xem ý kiến hội nghị Đảng ủy như thế nào. Bây giờ tôi về nghỉ vì đi suốt ngày hôm nay tới đây mệt rồi!”.

        Trong cuốn hồi ký “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm” ở trang 254 đồng chí Trần Văn Trà cũng có ghi lại vắn tắt ý kiến của tôi trong hội nghị Đảng ủy: “Đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh - Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 sau khi phân tích gọn tình hình đề nghi bỏ Xuân Lộc đánh vào Trảng Bom rồi thọc sâu chiếm Biên Hòa...”.

        Sáng ngày hôm sau, họp Đảng ủy Quân đoàn, tôi chỉ báo cáo tóm tắt tình hình (không nói cụ thể như khi trình bày với đồng chí Trần Văn Trà tối hôm trước) và đề nghị phương án không tấn công vào Xuân Lộc nữa vì địch mạnh mà tiến công vào Trảng Bom, đánh quân viện hoặc rút lui từ Xuân Lộc về Trảng Bom, về Biên Hòa, tranh thủ thời cơ thọc vào chiếm thị xã Biên Hòa và chốt giữ cầu Đồng Nai...

        Sau đó, trong hội nghị có đồng chí phát biểu muốn tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là một trận đánh vang dội, trận đánh lần trước quân ta đã vào được tới dinh tỉnh trưởng... có ý kiến cho rằng nếu ta đánh xong Trảng Bom thọc vào được Biên Hòa chốt giữ được cầu Đồng Nai sớm, trong lúc các cánh quân khác (của 4 quân đoàn) chưa tới kịp, sợ lộ ý định tấn công vào Sài Gòn. Quân ta vào được thị xã Biên Hòa, chốt được cầu Đồng Nai sớm, lực lượng ta đơn độc đột xuất, có thể bị địch tập trung lực lượng phản công chiếm lại...

        Cuối cùng theo ý kiến của Tư lệnh, Đảng ủy kết luận: “Không tiếp tục tập trung tấn công đánh thẳng vào Xuân Lộc nữa mà tấn công vào cao điểm Núi Thị và quân địch đóng dọc đường Núi Thị đến ngã ba Dầu Giây, bao vây Xuân Lộc và bố trí lực lượng đón lõng nếu địch từ Xuân Lộc ra tiếp viện cho Núi Thị và tiêu diệt quân địch nếu từ Xuân Lộc rút về thị xã Bà Rịa...”.

        Thực hành quyết tâm này, ta tấn công địch ở Núi Thị và quân địch từ Núi Thị đến ngã ba Dầu Giây tiêu diệt được phần lớn trung đoàn 52 ngụy, nhưng quân ta cũng bị thương vong một số, do nhiều trận địa pháo ở Long Khánh (Xuân Lộc) có thể chi viện tới.

        Quân địch ở Xuân Lộc phải rút chạy, ta truy kích tiêu diệt được bộ phận nhỏ, còn bộ phận lớn chúng tháo chạy được tới thị xã Bà Ria, sau này vòng theo đường 15 co cụm lớn ở khu vực Biên Hòa (căn cứ Quân đoàn 3 ngụy cũ).

        Đến khi thực hành chiến dịch Hồ Chí Minh, mũi thọc sâu của Sư đoàn 7 tiến về Biên Hòa lại vấp phải quân địch mạnh chống cự (quân ở Xuân Lộc rút xuống Bà Rịa rồi vòng lên co cụm ở thị xã Biên Hòa), nên Quân đoàn 4 không thực hiện được ý định của Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vào trước cắm cờ ở Dinh Độc Lập, tiếp nhận sự đầu hàng của Tổng thống ngụy quyền.

        Đây cũng là một mối băn khoăn day dứt của các đồng chí lãnh đạo Quân đoàn 4 sau này.

        Cầu Đồng Nai và sông Đồng Nai là một chướng ngại lớn cho cánh quân phía đông (Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4), do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy. Khi tiến công vào Sài Gòn, nhờ có lực lượng đặc công, biệt động của Miền chiếm giữ được trước khi 2 Quân đoàn vượt qua, nếu không thì cả Sư đoàn 304/quân đoàn 2 và cả Sư đoàn 7/Quân đoàn 4 cũng không vào sớm hơn các cánh quân khác để chiếm Dinh Độc Lập. Nếu phải bắc cầu hay tổ chức vượt sông bằng phà (theo kế hoạch dự phòng của Chủ nhiệm công binh Quân đoàn - đồng chí Xuyên Khung) thì không thể “thần tốc” được!...

        Khi mũi thọc sâu của Sư đoàn 7 tiến công vào Sài Gòn, tôi và đồng chí Tư Hiệp (Phó Chính ủy Quân đoàn) cùng vào đến trưa 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2 thọc sâu vừa chiếm lĩnh Dinh Độc Lập. Đồng chí Tư Hiệp gặp đồng chí Hoàng Đan nhận bàn giao và tổ chức tiếp quản Dinh Độc Lập. Các đơn vị khác của Sư đoàn 7 chiếm một số mục tiêu quan trọng khác như trụ sở Bộ Quốc phòng, ngân hàng, đài phát thanh, tòa đại sứ Mỹ...


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:26:50 PM
        Tôi ngồi xe ôtô con (xe kiểu Bắc Kinh do đồng chí San lái, đồng chí Bình bảo vệ) đi thẳng tới biệt khu thủ đô (nơi Sư 9 vừa chiếm đóng) để chuẩn bị Sở chỉ huy của Quân đoàn. Đầu tiên tôi cho bộ phận thông tin và tác huấn vào đặt tạm Sở chỉ huy tại nhà Thiếu tướng Lâm Văn Phát (Tư lệnh biệt khu Thủ đô) và cơ quan tư pháp của biệt khu để kịp triển khai thông tin bắt liên lạc với các đơn vị thuộc Quân đoàn. Tôi trao đổi với đồng chí Võ Văn Dần (Ba Hồng) - Tư lệnh Sư đoàn 9 chuyển đi nơi khác để toàn bộ cơ quan Quân đoàn bộ sẽ đóng ở Biệt khu thủ đô (nay là Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh) để Quân đoàn làm nhiệm vụ quân quản thành phố. Chiều và đêm 30 tháng 4 năm 1975 tôi ngồi chiếc xe con “Bắc Kinh” theo hướng dẫn của một chiến sĩ biệt động đã hoạt động nội thành đi bắt liên lạc với bộ phận đồng chí Tư Hiệp đang tiếp quản Dinh Độc Lập và các đơn vị khác của quân đoàn đã vào nội đô Sài Gòn. Buổi chiều thì dân ùn ùn đông nghẹt đi trên đường và các vỉa hè, cờ mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (nửa xanh, nửa đỏ, sao vàng) đã được treo khắp trên các dãy phố hai bên đường, lính cảnh sát ngụy quyền đã tan rã bỏ chạy hết, thanh niên sinh viên Sài Gòn tự giác đứng các ngã ba đường làm nhiệm vụ điều khiển xe cộ, giữ gìn trật tự giao thông và ban đêm thì đường phố vắng tanh, vì dân chấp hành nghiêm chỉ lệnh giới nghiêm, thỉnh thoảng chỉ có vài xe quân sự đi lại, đèn điện vẫn rực sáng.

        Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, buổi giao ban đầu tiên của Bộ Tham mưu quân đoàn tại sở chỉ huy mới của Quân đoàn ở Biệt khu thủ đô để nắm tình hình thì Tư lệnh Hoàng Cầm và Chính ủy Hoàng Thế Thiện sau một đêm nằm ngủ tại Dinh Độc Lập tới. Từ đó sở chỉ huy chính thức của Quân đoàn 4 được thiết lập, phục vụ việc nắm tình hình và chỉ huy của ủy ban quân quản thành phố (Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Cầm là phó ban quân quan), các đơn vị Quân đoàn 4 được giao nhiệm vụ chính, quân quản thành phố...

        Đồng chí Thượng tướng Hoàng Cầm là một vị “tướng trận mạc”. Chỉ huy chiến đấu từ phân đội đến chỉ đạo chỉ huy binh đoàn chiến dịch. Một tướng lĩnh sống một cuộc đời giản dị, thân thiết với cán bộ cấp dưới, với chiến sĩ; thân mật, chân thành, thẳng thắn với bạn bè. Cuộc sống chiến đấu hơn nửa thế kỷ lăn lộn trên khắp các chiến trường ba nước Đông Dương, trên các mặt trận nóng bỏng nhất, với những chiến công lừng lẫy trong các trận quyết chiến “lịch sử”: chỉ huy Trung đoàn 209 Đại đoàn 312, tiến công chiếm sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng Đờ Cátxtơri (1954). Là Tư lệnh Quân đoàn 4 trong chiến dịch giải phóng tỉnh Phước Long (6/1/1975) giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Chỉ huy Quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào đánh chiếm các mục tiêu trọng điểm ở Sài Gòn thủ đô ngụy quyền (30/4/1975) và đến năm 1979 chỉ huy Quân đoàn 4 thọc sâu vào chiếm thủ đô Phnôm Pênh trong chiến dịch phản công chiến lược giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pôn Pốt.

        Đồng chí là một tướng chỉ huy có bản lĩnh kiên cường, sâu sát trong các trận đánh, bò vào sát hàng rào các căn cứ của địch, chiến đấu dũng cảm, để lại trên người nhiều thương tích...” Tình hình Sài Gòn được ổn định dần, cán bộ miền Nam ra tập kết ở miền Bắc trở về và một số các ngành ở miền Bắc tăng cường vào, nên bộ máy chính quyền từ thành phố đến các cấp quận huyện, phường xã được củng cố, an ninh trật tự được đảm bảo. Cơ quan Quân đoàn được lệnh chuyển về đóng quân tại khu Sóng Thần (căn cứ của sư đoàn thủy quân lục chiến Nam Triều Tiên), nhường căn cứ Biệt khu thủ đô cho Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

        Tại căn cứ Sóng Thần, ngoài các cơ quan quân đoàn bộ được bố trí ổn định dần, các lữ đoàn binh chủng cũng được củng cố doanh trại. Các Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 cũng đóng quân trong các doanh trại cũ của quân đội Mỹ - ngụy ở Củ Chi và Bình Dương. Riêng Sư đoàn 341 tiếp tục ở lại thành phố Sài Gòn vừa làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, vừa bắt đầu chấn chỉnh tổ chức huấn luyện bộ đội.

        Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, qua tham gia các chiến dịch năm 1971, 1972 tôi được Chủ tịch nước tặng thêm một Huân chương Quân công hạng ba, một Huân chương Chiến công hạng nhất. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh 1976 được tặng thưởng thêm một Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và một Huân chương Chiến công hạng nhất.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy và các đồng chí khác trong Bộ Tư lệnh chiến dịch (các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa, Đinh Đức Thiện, Lê Đức Anh) và đồng chí Lê Đức Thọ đại diện Bộ Chính trị, đã chỉ đạo chỉ huy trận đánh quyết định kết thúc thắng lợi rực rỡ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài gian khổ, quyết liệt vô cùng oanh liệt của nhân dân và các lực lượng vũ trang ta, chúng ta đã hy sinh nhiều xương máu và của cải vật chất mới giành được.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:29:04 PM
        Công lao vĩ đại của nhân dân và các lực lượng vũ trang ta đã ghi thêm vào truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm bảo vệ giang sơn đất nước.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc.

        Nắm vững tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đứng đầu là cố Tổng bí thư Lê Duẩn và Quân ủy Trung ương do đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bí thư, đã lãnh đạo tài tình, sáng suốt trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, nắm bắt thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm tổng tiến công chính xác, kịp thời, như điện của đồng chí Văn gởi các quân đoàn (7/4/1975): “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”.

        Công lao của đồng chí Võ Nguyên Giáp thật to lớn! Đồng chí là anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp có tầm nhìn chiến lược rộng, có tài tổng kết nhanh. Đồng chí chỉ đạo về chiến lược nhưng rất chú ý đến công tác tham mưu.

        Nhiều mật điện đồng chí tự tay viết và góp ý kiến sửa chữa rất cụ thể cho cán bộ của Cục Tác chiến khi đưa các bản chỉ thị hay bức điện để thông qua Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bí thư Quân ủy Trung ương.

        Trong chiến tranh, đồng chí chỉ đạo rất quyết tâm, táo bạo nhưng cũng cân nhắc kỹ tình hình, thận trọng, để giảm bớt thương vong cho cán bộ, chiến sĩ trong các trận đánh (như ý kiến đồng chí Trần Văn Trà khi phát biểu với một nhà báo).

        “Quyết tâm và chắc thắng”, “Quyết đoán và thận trọng”, đó là hai mặt không thể thiếu của người chỉ huy quân sự...”.

        Quân đoàn bước sang một thời kỳ mới, từ thời chiến sang thời bình, bắt tay vào xây dựng chấn chỉnh tổ chức theo biên chế mới, huấn luyện bộ đội theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu.

        Cán bộ tiểu đoàn trở lên, từng đợt tập trung ở quân đoàn do Bộ Tham mưu hướng dẫn học tập quân sự theo chế độ, có kiểm tra sát hạch, cho điểm, đã dấy lên một phong trào học tập sôi nổi.

        Trong căn cứ Sóng Thần, trước giải phóng địch tổ chức nơi cho binh lính ngụy theo đạo Thiên chúa và đạo Phật tới làm lễ, nhưng bị chúng phá tan hoang khi bỏ chạy. Bộ Tham mưu cho cải tạo thành một hội trường và một thư viện. Dãy nhà gia binh giữa hai nơi này được tu bổ thành một chiêu đãi sở và cũng là nơi cán bộ về ăn nghỉ học tập ở đó (gọi là A10).

        Theo chỉ đạo của Bộ Tham mưu, các đội quân nhạc, bóng chuyền, bóng đá được thành lập. Đội bóng chuyền phát huy truyền thống đến sau này đã trở thành một đội hạng A của toàn quốc, có năm giật giải vô địch. Đội quân nhạc được lựa chọn từ những người lính chiến đấu trẻ ở các đơn vị lên. Với các dụng cụ nhạc cũ, các kèn đồng nhặt trong kho và trong nhà thờ đạo thiên chúa, xây dựng trưởng thành đến nay, thành một đội quân nhạc có trình độ nhạc công khá, thường được các quận, các cơ quan đơn vị mời tới phục vụ trong các ngày lễ hội.

        Bộ Tham mưu Quân đoàn cũng phát động phong trào rèn luyện thể dục thể thao trong quân đoàn, tổ chức các cuộc biểu diễn, đồng diễn thể dục của các đơn vị, thi các khoa mục thể thao và tổ chức duyệt binh trong các ngày lễ, tại một sân vận động do công binh Quân đoàn xây dựng.

        Bộ Tham mưu cũng chủ trì tổ chức hội nghị tổng kết chiến dịch Hồ chí Minh do Bộ Tư lệnh chỉ đạo, có đại biểu các tỉnh, Bộ Tư lệnh, Bộ Tham mưu Quân khu 7 và Thượng tướng Trần Văn Trà tới dự. Theo chỉ đạo của Tổng cục Chính trị và Đảng ủy Quân đoàn, Bộ Tham mưu Quân đoàn tổ chức Đại hội Đảng bộ, bầu Đảng ủy Bộ Tham mưu và tôi lại được cử làm Bí thư Đảng ủy Bộ Tham mưu Quân đoàn.

        Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp, chuẩn bị đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Đảng bộ Bộ Tham mưu Quân đoàn tiến hành đại hội Đảng, tôi được bầu vào đoàn đại biểu của Đảng bộ với số phiếu cao nhất (100%) Tiếp sau đó tiến hành đại hội đảng bộ Quân đoàn và tôi cũng được bầu đi dự đại hội Đảng bộ toàn quân ở Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:32:04 PM

        Đi học ở Học viện quân sự Vôrôsilốp Liên Xô


        Giữa năm 1976, quan hệ hợp tác giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Liên Xô, tiếp tục thực hiện các hiệp định sau chiến tranh, quân đội ta lại cử một đoàn cán bộ cao cấp sang học ở Học viện Vôrôsilốp (Matxcơva). Đoàn gồm 10 cán bộ cao cấp do đồng chí Hoàng Minh Thảo - nguyên Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên làm trưởng đoàn, đồng chí Hoàng Minh Thi - nguyên Chính ủy Quân đoàn 1 làm phó, còn có các đồng chí Thiếu tướng Thái Dũng - Giám đốc Trường Sĩ quan Lục quân 1, các Đại tá Mạnh Quân - Cục trưởng Cục Quân huấn, Tống Trần Thuật - Phó cục trưởng Cục Quân báo, Anh Đệ - Cục trưởng Cục Quân lực, Sùng Lãm - Tư lệnh phó Quân khu 4, Kim Tuấn - Tư lệnh Quân đoàn 3. Quân đoàn 4 được cư hai người là đồng chí Bùi Cát Vũ (Ba Vũ) - Phó Tư lệnh và tôi Tham mưu trưởng Quân đoàn (bây giờ có 7 đồng chí đã mất là các đồng chí: Kim Tuấn hy sinh trong chiến đấu, đồng chí Hoàng Minh Thi trong một tai nạn máy bay trực thăng, các đồng chí Thái Dũng, Anh Đệ, Mạnh Quân, Ba Vũ và đồng chí Hoàng Minh Thảo đã từ trần vì bệnh, 3 người còn sống).

        Đoàn ra đi bằng xe lửa với bốn người một phòng, qua Bắc Kinh, Ulanbator Mông Cổ đến ga Matxcơva, được đại diện của Học viện ra đón đưa về nghỉ ở nhà khách Bộ Quốc phòng (chân đồi Lê Nin). Nhà có 11 tầng, mỗi đồng chí một phòng với thiết bị đầy đủ, nhưng ăn tại phòng ăn của khách sạn. Sau năm ngày, đoàn thấy từ chỗ nghỉ tới Học viện phải đi lại bằng ôtô đường xa, cái chính là mỗi ngày tiền ăn hơn hai rúp (trong khi đó lương chỉ có 90 rúp), lấy lý do “cơm Tây” không hợp khẩu vị, đoàn xin về một chiêu đãi sở của Học viện, một tầng lầu, gần Học viện đi lại chỉ mất có 5 phút. Mỗi buổi chiều đi học về, cá nhân hoặc tổ hai ba người cắp cặp ra phố vào cửa hàng lương thực mua bánh mì, thịt sữa... về nhà có bếp điện tự nấu ăn, có đồng chí còn mang theo cả mì tôm, nước mắm, bánh đa nem làm chả giò... Mỗi ngày ăn không hết một rúp, tiền thừa còn để mua quà về nhà, phổ biến mỗi người có một nồi áp suất...

        Sinh hoạt ở một nước xã hội chủ nghĩa thời đó còn chế độ bao cấp, hàng hóa dồi dào, thật thỏa mãn sau bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ. Quan hệ bạn bè trong quân đội và với dân Nga thật hữu nghị, thân mật, đối với chúng tôi đại diện cho một quân đội chiến thắng sau chiến tranh lần đầu tiên được sang học tập ở Liên Xô (tuy rằng trong chiến tranh cũng có nhiều đoàn sang học).

        Về nội dung học tập cũng dễ tiếp thu, vì chương trình học tập, bạn có sang nghiên cứu chiến trường ở miền Đông Nam Bộ và vận dụng một phần vào đặc điểm địa hình và hoàn cảnh của quân đội ta. Tất cả các cán bộ sang học đều đã được tham gia các chiến dịch trong cuộc tổng tiến công nổi dậy và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với qui mô tác chiến 5 Quân đoàn hợp đồng binh quân chủng, nên cũng nắm bắt được những kiến thức lý luận khoa học quân sự hiện đại Xô Viết trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

        Bản thân tôi sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, đã tham gia đoàn cán bộ quân sự Việt Nam đầu tiên qua học tập 5 năm ở Học viện quân sự Trung Quốc ở Nam Kinh. Bốn năm đầu chương trình học tập như ở học viện Frunae của Liên Xô, có cố vấn quân sự Liên Xô ở học viện, đến năm thứ 5 cuối cùng, Trung Quốc tiến hành chống “giáo điều chủ nghĩa”, cố vấn Liên Xô rút về nước, thì học tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông và kinh nghiệm chiến tranh kháng Nhật, đánh Tưởng, kháng Mỹ viện Triều của Trung Quốc.

        Lần này, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, tôi cũng được cử vào đoàn cán bộ quân sự cao cấp đầu tiên sang học ở Học viện quân sự Liên Xô.

        Học tập ở Học viện quân sự Trung Quốc về lý luận rồi được áp dụng và rèn luyện trong thực tế chiến đấu ở Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng. Nay lại được sang học tập những lý luận quân sự của một nền khoa học quân sự tiên tiến và những kinh nghiệm mới về chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nên tôi cũng tự thấy được mở rộng và nâng cao sự hiểu biết của mình lên một bước.

        Kết thúc lớp học, đoàn trở về Việt Nam bằng máy bay Tu154 từ Matxơva qua Bom Bay Ấn Độ về Hà Nội. Rồi chúng tôi mỗi người chia tay một ngả, về các đơn vị cũ.

        Đồng chí Ba Vũ và tôi lại trở về Quân đoàn 4.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 05:41:08 PM
        Chống các cuộc tấn công quân sự của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari ở biên giới Tây Nam

        Tôi trở về lại tiếp tục làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4.

        Năm 1977, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary gây chiến tranh lấn chiếm biên giới, chiến sự ngày càng lan rộng suốt dọc biên giới Tây Nam từ Bù Đốp - Lộc Ninh - Tây Ninh đến Châu Đốc - Hà Tiên. Chúng tàn sát đồng bào ta, phá hủy nặng nề mùa màng, chùa chiền, nhà cửa, bắt nhiều trâu bò...

        Nặng nề nhất là các vùng Lộc Ninh - Xa Mát (Quân khu 7), dọc kênh Vĩnh Tế - An Giang và Hà Tiên (Quân khu 9). Các đơn vị chủ lực của quân đoàn vừa giảm chính biên chế, có đơn vị vừa phân tán đi làm kinh tế, phải trở về làm nhiệm vụ chiến đấu ngăn chặn địch xâm lấn biên giới và bảo vệ nhân dân.

        Địch ngày càng tăng cường lực lượng, đưa 21 sư đoàn trong tổng số 25 sư đoàn của chúng ra biên giới, từ các cuộc xâm lấn khu vực mở rộng thành một cuộc chiến tranh biên giới trên toàn tuyến Tây Nam của Tổ quốc.

        Cho nên Bộ Tổng Tham mưu sử dụng cả hai quân đoàn (Quân đoàn 3 và 4) vào chi viện cho các lực lượng địa phương bảo vệ biên giới. Phía tây bắc thị xã Tây Ninh do Quân đoàn 3 ra phòng thủ, trọng điểm là khu vực Xa Mát. Phía tây của tỉnh Tây Ninh do Quân đoàn 4 ra ngăn chặn địch ở khu vực Mộc Bài - Bến Sỏi. Quân đoàn 4 lại chuyển một bộ phận vào thời chiến, sử dụng Sư 7, Sư 9. Sư 341 đang đi làm kinh tế cũng trở về làm nhiệm vụ chiến đấu. Bộ đội lại trang bị theo biên chế chiến đấu. Bộ Tham mưu truyền đạt lệnh báo động chiến đấu của Bộ Tư lệnh trong một đêm, các đơn vị cơ động ra vị trí chiến đấu.

        Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn do Tư lệnh Hoàng Cầm và tôi, Tham mưu trưởng cơ động tạm thời ra chợ Bến Cầu gần cửa khẩu Mộc Bài để chỉ huy các đơn vị.

        Sau khi ngăn chặn địch mở rộng xâm lấn vùng Mộc Bài - Bến Cầu, Quân đoàn được sự đồng ý của Bộ Tổng Tham mưu mở cuộc phản công hạn chế sang đất địch ở Bavét 1-2 đến Chipu. Sau đó, được lệnh của Bộ lại rút quân ngay về phòng thủ bên biên giới đất ta.

        Khi quân ta mở cuộc phản công hạn chế sang đất Campuchia, mới biết rõ thực trạng tình hình đất nước Bạn. Cánh đồng bỏ hoang, nhà cửa tan nát, chợ búa không còn, chùa chiền bị phá, một số dân bị giết, trẻ em bị bắt đi lính. Khẩu hiệu gây căm thù Duôn (Việt Nam) dán khắp nơi. Khi bộ đội ta rút về, dân Campuchia đòi đi theo vì sợ Pôn Pốt sát hại, ta khuyên họ ở lại làm ăn, cho một số lương thực nhưng bộ đội đi trước thì dân nối đuôi, xe bò, vai mang tay nải đi theo sau. Hơn 4 vạn nhân dân Campuchia theo bộ đội sang Việt Nam, được ta làm nhà tạm, ở phía sau, cho lương thực, giao đất làm ăn, một số thanh niên được Quân khu 7 lựa chọn đưa về đào tạo ở Suối Râm trở thành các đơn vị vũ trang cách mạng Campuchia và những cán bộ cốt cán của chính quyền cách mạng Campuchia sau này...

        Ngăn chặn đánh địch xâm lấn ở Tây Ninh, lúc đầu cả Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4 phạm sai lầm là dàn mỏng lực lượng be bờ. Hành động chiến thuật của địch là “địch tiến ta lui, địch lui ta đuổi, địch dừng ta quấy...”. Ta dùng sức mạnh pháo binh cấp tập thì địch rút, bắn vào chỗ trống. Có ý kiến phê bình là dùng búa đập ruồi. Ta bố trí nơi nào thì địch bu bám nơi đó. Về sau ta phải đánh vòng bên sườn và sau lưng địch thì bắt sống được địch hoặc chúng phải bỏ chạy tan rã. Nhưng vòng phía sau lưng địch thì thường bộ đội ta lại phải đánh sang đất Campuchia, mà trong thời điểm này về chính trị ta phải hết sức kềm chế.

        Có vòng sang đất địch thì lại phải nhanh chóng rút về ngay và xóa dấu vết. Không để chúng lợi dụng vu cáo ta xâm lược. Không lợi cho hoạt động của ta trên chính trường quốc tế, vì lúc này Việt Nam đã là một thành viên của Liên hiệp quốc.

        Tình hình ở biên giới Tây Ninh được tương đối ổn định thì tình hình ở Châu Đốc, Bảy Núi - Hà Tiên, địch lại hoạt động mạnh hơn, tiến sâu vào đất ta có nơi tới 10-15 kilômét. Ở Bảy Núi chúng chiếm cả một dãy núi Phú Cường, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức một mặt trận với lực lượng địa phương của Quân khu 9 và Sư đoàn 4 chủ lực Quân khu, tăng cường Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4. Đồng chí Võ Quang Hồ, Cục phó Cục Tác chiến xuống truyền đạt mệnh lệnh của Tổng Tham mưu trưởng chỉ định đồng chí Trần Văn Nghiêm (Hai Nghiêm) Tư lệnh phó Quân khu 9 làm Chỉ huy trưởng và tôi Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 làm Chỉ huy phó mặt trận. Sư đoàn 341 và các đơn vị tăng cường của Quân đoàn cơ động bằng xe ôtô theo đường bộ. Đồng chí Võ Quang Hồ và tôi đi trực thăng xuống trước ở huyện Long Xuyên - An Giang, họp Bộ Chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ và bàn kế hoạch. Sau đó đồng chí Võ Quang Hồ trở về Bộ, đồng chí Hai Nghiêm và tôi cùng cán bộ sở chỉ huy mặt trận đi ôtô xuống Bảy Núi để triển khai chỉ huy Sư đoàn 4 Quân khu 9 và một số đơn vị binh chủng của Quân đoàn 4 tăng cường tấn công địch ở Phú Cường (Tri Tôn) là hướng chủ yếu. Sư đoàn 341 đánh địch ở Hà Tiên. Đồng chí Hai Nghiêm và tôi là hai người bạn thân thiết từ sau lớp chỉnh huấn chính trị ở Việt Bắc (1951), vác ba lô cùng về nhận công tác ở Cục Tác chiến (ở Chợ Chu, Định Hóa). Cho tới ngày hòa bình trở về thủ đô Hà Nội thì đồng chí Nghiêm là Cục phó, tôi là Trưởng phòng Tác chiến. Vào B2 Nam Bộ thì hai người cùng gặp nhau công tác ở Bộ Tham mưu Miền. Nay cùng nhau làm chỉ huy trong một Bộ chỉ huy mặt trận, vừa là bạn, là đồng chí, đồng đội tâm đầu ý hợp, cùng ăn một mâm, cùng ngủ một nhà, cùng chỉ huy chiến đấu.

        Sau khi diệt địch ở Phú Cường, đuổi địch lui về đất Campuchia bên kia kênh Vinh Tế, Sư đoàn 341 tăng cường cho Quân khu 9 ở lại hoạt động một thời gian, giải thể Bộ chỉ huy mặt trận, tôi và một số đơn vị tăng cường của Quân đoàn 4 trở về đội hình Quân đoàn ở “Sóng Thần”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:18:55 PM

        Chuyển sang làm Tham mưu trưởng Quân khu 7 trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam

        Địch vẫn tăng cường lực lượng và hoạt động quân sự ở vùng biên giới Tây Nam nhưng không xâm lấn được sang đất ta. Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước của Bạn đã được thành lập, Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia được phục hồi, một số tiểu đoàn của lực lượng cách mạng Campuchia được xây dựng, một số cán bộ cốt cán của Campuchia được đào tạo ở Quân khu 7, cùng một số chỉ huy từ trong hàng ngũ của Khơme đỏ (như ông HengXomRin, Hunsen), được móc nối đưa về bên ta. Ta và bạn nhất trí làm lại “cuộc cách mạng lần thứ 2” ở Campuchia, tổ chức lật đổ bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xary, giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.

        Trong thời gian này, trong một cuộc họp Đảng ủy Quân đoàn 4 ở “căn cứ Sóng Thần”, đồng chí Chu Huy Mân - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến dự họp và sau đó phổ biển quyết định của Quân ủy Trung ương, đồng chí Tư Thanh - Chủ nhiệm chỉnh trị Quân đoàn 4 về làm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 7. Tôi - Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 về làm Tham mưu trưởng Quân khu 7. Đồng chí Tư Thanh và tôi còn được chỉ định là Đảng ủy viên Đảng ủy Quân khu 7.

        Từ một đơn vị chủ lực của Bộ đứng chân trên địa bàn Quân khu 7, trở về một quân khu, địa bàn rộng gồm 6 tỉnh và một thành phố lớn với ba thứ quân, mà bộ phận lớn lực lượng đang triển khai hoạt động ở biên giới.

        Bộ Tư lệnh Quân khu 7 lúc này rất đông đủ và mạnh, đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, các đồng chí: Đồng Văn Cống, Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà), đồng chí Nguyễn Văn Bứa (Hai Bứa), đồng chí Lương Văn Nho (Hai Nhã) là Tư lệnh phó và đồng chí Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) Tham mưu trưởng được đề bạt Tư lệnh phó khi tôi về làm Tham mưu trưởng, Phó Chính ủy có đồng chí Năm Thạnh, đồng chí Dương Cự Tẩm.

        Ở Bộ Tham mưu Quân khu 7 cũng có nhiều đồng chí từng là thủ trưởng cơ quan tham mưu Miền và các đơn vị chiến đấu trước đây của B2 như đồng chí Chín Như, Út Đặng, Năm Bích, Hiền Tràng là Tham mưu phó, tôi là Tham mưu trưởng mới được điều động tới.

        Vì tôi là Đảng ủy viên quân khu nên trong một cuộc họp hội nghị Đảng ủy mở rộng các đồng chí cử tôi kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ Tham mưu Quân khu.

        Về Bộ Tham mưu vừa được khoảng 5 ngày, chưa nắm bắt được tình hình chung toàn quân khu thì đồng chí Tư lệnh Trần Văn Trà gọi tôi lên chuẩn bị báo cáo để làm việc với đồng chí Ba (đồng chí Lê Duẩn). Đi cùng ôtô của đồng chí Trần Văn Trà sang nhà họp của Bộ Chính trị ở T78, thì thấy đồng chí Lê Đức Anh (Tư lệnh Quân khu 9), đồng chí Bảy Sỹ (Tham mưu trưởng Quân khu 9) đã có mặt. Đồng chí Lê Duẩn nói: “Tôi đã nghe Quân khu 9 báo cáo tình hình rồi, bây giờ Quân khu 7 báo cáo đi”. Đồng chí Trà bảo tôi căng bản đồ báo cáo tình hình địch, tình hình bố trí phòng thủ lực lượng của Quân khu. Sau đó đồng chí Trà báo cáo ý định sắp tới về giúp bạn Campuchia xây dựng lực lượng và giúp bạn mở rộng địa bàn hoạt động, sang đặt căn cứ trên đất bạn, khi có lệnh của trên.

        Đồng chí Lê Duẩn trầm ngâm suy nghĩ, xem đi xem lại bản đồ bố trí địch trên biên giới Campuchia và Việt Nam, nhìn ngược lên phía Phnôm Pênh, sờ tay lên biên giới Campuchia - Thái Lan, như có ý nghĩ lớn trong đầu óc của đồng chí. Sau đó đồng chí vừa thoa thoa tay trên tấm bản đồ Campuchia vừa nói:

        “Được, các đồng chí cứ về làm như thế, tôi sẽ ra bàn với Bộ Chính trị...”. Khi ngồi xe trên đường về Quân khu, đồng chí Trà nói với tôi: “Hình như ông Ba đang có ý đồ gì lớn đấy”. Tôi cũng có cảm nghĩ như vậy nhưng không dám nói ra.

        Công tác ở Quân khu thêm 4 - 5 ngày nữa thì đồng chí Trần Văn Trà lại gọi tôi lên bảo: “anh về chuẩn bị, chiều nay lên đây với tôi báo cáo với đoàn đại biểu quân sự Liên Xô vừa ở Hà Nội vào, về tình hình chiến tranh vừa qua ở miền Nam, địa hình thời tiết miền Đông, tình hình biên giới và lực lượng ta...”.

        Tôi hoảng quá, mình mới về Quân khu, chưa kịp nắm bắt tình hình, chưa biết “mô tê” gì mà lại phải báo cáo gấp với một đoàn quân sự cấp cao của Liên Xô (nghe nói là Tổng Tham mưu phó dẫn đầu), báo cáo không đạt, họ “vặn mình” thì sau sẽ bị Tư lệnh phê bình chê trách khi mới về nhận chức ở Quân khu.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:24:33 PM
        Cả trưa hôm đó tôi cặm cụi chuẩn bị, may cũng nắm được tình hình qua tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh (là vấn đề Bạn quan tâm nhất), tình hình địch hoạt động ở biên giới và lực lượng ta thì đã có “bài” chuẩn bị báo cáo với đồng chí Lê Duẩn trước mấy ngày. Đến 3 giờ chiều tôi lên gặp đồng chí Trà thì nghe nói là có 4 đồng chí Liên Xô, một Thứ trưởng quốc phòng. Khi đón đoàn Liên Xô chỉ có đồng chí Trà và tôi. Sau khi bắt tay vào làm việc ngay. Không có lời xã giao, không có giới thiệu (vì bạn mặc thường phục). Tôi báo cáo trong một tiếng đồng hồ, thỉnh thoảng đồng chí Trà lại xen vào bổ sung thêm vài ý.

        Bạn ngồi nghe, những cán bộ đi theo thì ghi chép, đồng chí trưởng đoàn thỉnh thoảng gật đầu, khi thì nói “Đa! Đa” (Được, vâng), khi thì nói “Kharasô” (tốt), nên tôi càng tự tin, báo cáo suôn sẻ.

        Đó là hai lần báo cáo “với đồng chí Lê Duẩn và với Liên Xô”. Như hai lần thử thách, hai lần “ra quân đầu tiên” của tôi khi vào “ghế” Tham mưu trưởng Quân khu 7, không bị “vấp váp” gì, và trong cương vị công tác mới thấy thuận lợi. Khi gặp đồng chí Trần Văn Trà thấy vẻ mặt tươi cười, có lần gọi chụp ảnh chung, có lần đồng chí bảo cùng đi ra ăn tiệc ở nhà khách.

        Khoảng 20 ngày sau khi về nhận công tác ở Quân khu, thì tôi được lệnh tổ chức một sở chỉ huy nhẹ lên chỉ huy các đơn vị của quân khu đánh địch ở vùng Cà Tum, do đồng chí Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) - Tư lệnh phó Quân khu làm Chỉ huy trưởng, tôi làm phó, phụ trách tham mưu, giúp tôi là đồng chí Út Đặng - Tham mưu phó Quân khu. Sau khi đánh địch rút khỏi Cà Tum, tôi đi cùng Sư đoàn 5 do đồng chí Chín Tùng, Sư đoàn trưởng và đồng chí Quang, Chính ủy sư đoàn và Sư đoàn 302 do đồng chí Nguyễn Văn Thược (Năm Thược) làm Sư đoàn trưởng, vòng lên đánh giải phóng MiMốt, mở đường móc nối một số cán bộ Khơme đỏ tiến bộ ở vùng 20, đồng chí Ngọc (cán bộ trinh sát Quân khu làm Bí thư cho đồng chí Lê Đức Anh) dẫn về tăng cường cho lực lượng cách mạng Campuchia. Giải phóng xong MiMốt, tôi đi trực thăng về Cà Tum bàn với đồng chí Út Thới chuyển sở chỉ huy sang Lộc Ninh để chuẩn bị tấn công lên hướng Snoul.

        Đồng chí Út Đặng được lệnh sang trước xây dựng cơ sở cho sở chỉ huy tiền phương. Tôi về doanh trại Quân khu ở Thành phố Hồ Chí Minh báo cáo tình hình và kế hoạch tới cho Tư lệnh mới của Quân khu 7 là đồng chí Lê Đức Anh (khi này đồng chí Trần Văn Trà ra Hà Nội nhận chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng).

        Đến Sở chỉ huy mới ở bắc Lộc Ninh khoảng 10 km, đồng chí Út Thới và tôi vẫn đi với nhau, trực tiếp điều hành Sư đoàn 5 và Sư đoàn 302 từ Mi Mốt đánh sang ngã ba Snoul. Quân khu tăng cường thêm Sư đoàn 303 (do đồng chí Năm Hưng làm Sư đoàn trưởng) đánh vòng phía sau Snoul. Giải phóng xong Snoul, đồng chí Út Thới bị đau dạ dày phải ra Bệnh viện 108 mổ điều trị một thời gian, đồng chí Năm Ngà (Phó Tư lệnh) lên thay đồng chí Út Thới trực tiếp chỉ huy, tôi vẫn phụ tá cho đồng chí Năm Ngà và đồng chí Út Đặng vẫn giúp tôi làm công tác tham mưu. Thời gian này Bộ Tư lệnh lại cử thêm đồng chí Hồ Quang Hóa vừa được điều động về làm Tư lệnh phó Quân khu, lên tăng cường chỉ huy ở Sở chỉ huy tiền phương Quân khu.

        Ba sư đoàn của Quân khu và một số đơn vị binh chủng tiếp tục tiến công đẩy lùi địch về thị xã Kratie, tôi đề nghị đồng chí Năm Ngà điều thêm lực lượng, cả lữ đoàn pháo cao xạ, pháo binh của Quân khu lên tăng cường và tiếp tục tấn công vào thị xã Kratie. Bộ Tham mưu Quân khu do đồng chí Chín Như và đồng chí Năm Bích ở Sở chỉ huy cơ bản, điều động lực lượng lên nhanh. Chúng tôi tổ chức hiệp đồng bao vây tấn công thị xã Kratie, cao xạ Quân khu bắn rơi tại chỗ một máy bay (T6) của địch, tên phi công nhảy dù rơi vào rừng sâu, là chiếc máy bay đầu tiên của địch bị bắn rơi và quân ta đánh chiếm thị xã Kratie, cũng là thị xã đầu tiên ở Campuchia được giải phóng.

        Cùng thời gian ấy, đồng chí Bảy Cống (quyền Tư lệnh Quân khu) lên phổ biến chủ trương mở chiến dịch phản công chiến lược của Bộ, giúp Bạn giải phóng Campuchia.

        Đồng chí Lê Đức Anh nguyên Tư lệnh Quân khu, nay làm Tư lệnh phó chiến dịch xuống Quân khu 9 để chỉ huy hướng tấn công phía Nam (gồm các đơn vị Quân khu 9 và Quân đoàn 2 + Lữ hải quân đánh bộ và tàu hải quân do đồng chí Giáp Văn Cương - Tư lệnh Hải quân chỉ huy). Đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh chiến dịch phản công chiến lược lần này, trực tiếp chỉ huy Quân đoàn 4, Quân đoàn 3 và các đơn vị của Quân khu 7, các đơn vị binh chủng xe tăng, pháo binh, đặc công, máy bay của không quân, tấn công vào thủ đô Phnôm Pênh để giải phóng toàn bộ lãnh thổ Campuchia.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:30:17 PM
        Giải phóng xong tỉnh Kratie, các đơn vị Quân khu 7 bắt đầu cùng các đơn vị bạn thực hành đồng loạt tổng tấn công. Hướng tây nam, lực lượng hải quân đánh bộ, đổ bộ chiếm hải cảng và thành phố Sihanoukville, Quân đoàn 2 và các lực lượng Quân khu 9 tấn công chiếm Takeo phát triển lên tây nam thủ đô Phnôm Pênh, vòng lên Pursat giải phóng vùng lãnh thổ phía tây nam Campuchia. Hướng đông bắc Campuchia, Quân khu 5 của ta với lực lượng 3 sư đoàn theo Đường 19 tấn công quân phản động Pôn Pốt, giải phóng các tỉnh đông bắc Campuchia Rattanakiry, Mônđunkiri, Stưngtreng đến Previhia. Hướng trung tâm là chủ yếu, Quân đoàn 4 do đồng chí Lê Nam Phong trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 7 thọc sâu bằng bộ binh cơ giới đánh chiếm tỉnh lỵ Soài Riêng, vượt sông Niêcluông, đánh chiếm thủ đô Phnôm Pênh. Sư đoàn 7 chiếm thủ đô Phnôm Pênh đã làm địch suy sụp nhanh chóng bị tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho các cánh quân khác đánh chiếm các mục tiêu quy định.

        Quân đoàn 3 tiến công chiếm Côngpông Chàm, Côngpông Chơnăng, Côngpông Thơm, phát triển theo đường 6 lên chiếm tỉnh lỵ Xiêm Riệp. Hướng bắc, các Sư đoàn Quân khu 7 không tổ chức vượt sông Mê Kông được để tiến lên đường 6 phối hợp với Quân đoàn 3, tiến công lên Xixôphôn và biên giới Campuchia - Thái Lan, mà phải vòng trở lại Côngpông Chàm, Côngpông Thơm lên Xiêm Riệp. Trung đoàn 16 của Sư đoàn 5 được tăng cường xe thiết giáp do đồng chí Đồng Văn Cống, Hồ Quang Hóa và tôi mang theo một xe thông tin cơ động, trong đêm vượt qua đội hình của Quân đoàn 3 ở Xiêm Riệp. Tôi có lại cầu Xiêm Riệp gặp đồng chí Khiếu Anh Lân - Tham mưu phó Quân đoàn và đồng chí Phú Chút cán bộ học viện quân sự làm phái viên của Bộ đi theo Quân đoàn 3, để hỏi tình hình. Sau đó cùng bộ phận đi đầu của Sư đoàn 5 tiến thẳng lên Xixôphôn trong ngày hôm sau (thời gian này đồng chí Lê Đức Anh xuống Quân khu 9, nên đồng chí Năm Ngà phải trở về Sở chỉ huy cơ bản của Quân khu 7 ở Thành phố Hồ Chí Minh thường trực chỉ huy).

        Đánh chiếm Xixôphôn, trong lúc một số lực lượng cơ quan Trung ương Khơme đỏ có Iêng Xary vừa rút chạy theo đường số 5 Phnôm Pênh - Pursat - Báttambang tới đây, để chạy sang Thái Lan. Cả đoàn xe này bị đánh tan rã bỏ rất nhiều ôtô đẹp, chạy bằng đường bộ sang Thái Lan và quẳng lại nhiều bó lớn hồ sơ tài liệu (trong đó có hộ chiếu của Iêng Xary).

        Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 7 đặt tại Xixôphôn, chỉ huy Sư 302 tiến lên chiếm Ốtđômiên Chay và sư đoàn 5 tiến về chiếm tỉnh lỵ Báttambang cùng sư đoàn 10 của Quân đoàn 3, có bộ phận phát triển về Pursat, phối hợp cùng lực lượng Quân khu 9 đánh lên.

        Giải phóng xong toàn bộ Campuchia, lực lượng Quân khu phụ trách các tỉnh Côngpông Thơm, Xiêm Riệp, Xixôphôn giúp Bạn củng cố vùng mới giải phóng, xây dựng chính quyền cách mạng và lực lượng vũ trang. Thời gian này Sở chỉ huy tiền phương đặt ở Xiêm Riệp, đồng chí Đồng Văn Cống và Hồ Quang Hóa lại về Sở chỉ huy cơ bản và đồng chí Năm Ngà lên thay ở Sở chỉ huy tiền phương.

        Một thời gian sau, Bộ phân công lại khu vực phụ trách giúp bạn. Các lực lượng Quân khu 7 đảm nhiệm từ Xiêm Riệp trở xuống Côngpôngthơm nối liền XaMát và biên giới lãnh thổ Quân khu 7. Quân đoàn 3 phụ trách Báttambang, Xixôphôn, Ốtđômiênchay.

        Tôi lên Xixôphôn tổ chức rút trung đoàn 14 sư 5 bố trí từ Poipét - Xixôphôn, gặp đồng chí Quốc Thước (lúc này là Tư lệnh phó Quân đoàn 3) bàn giao địa bàn Xixôphôn - Poipét cho Quân đoàn 3.

        Tôi trở về lại Xiêm Riệp thì bị đau dạ dày chảy máu. Trong lúc đó đồng chí bác sĩ sang khám, tiêm Vitamin K cầm máu và theo ý kiến đồng chí Năm Ngà sáng hôm sau quân y đưa tôi ra sân bay Xiêm Riệp đi máy bay về Tân Sơn Nhất, có xe đón sẵn ở sân bay đưa thẳng vào nằm bệnh viện Thống Nhất, mà gia đình tôi không ai biết.

        Gia đình tôi ở khu tập thể 1A Hoàng Văn Thụ, Hà Nội. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, vợ con cùng bà ngoại đi sơ tán cùng cơ quan ở các tỉnh xung quanh Hà Nội, tôi thường đi công tác ở các chiến trường, không thường xuyên ở nhà. Khi đi công tác trở về Cục Tác chiến ở Hà Nội thì tạt lên chỗ sơ tán thăm vợ con. Vợ tôi là người đảm đang công việc gia đình cho tôi được yên tâm đi công tác xa. Vừa lo cho 4 đứa con ăn học ở nơi sơ tán, nuôi nấng bà mẹ già. Có thời kỳ ở Nghệ An bị bom đạn ác liệt của máy bay Mỹ, cả ông bà nội cũng ra ở với gia đình tôi.Vợ tôi phải phục vụ ông bố tôi bị mù hai mắt. Có thời gian mấy đứa cháu con người em ruột tôi, cũng là một cán bộ quân đội hoạt động, chiến đấu ở chiến trường Lào, nên mẹ các cháu lại gởi ra Hà Nội nhờ bác giúp đỡ giữ hộ đi sơ tán. Cả tuần lo làm việc ở cơ quan nơi sơ tán, chiều thứ 7 vợ tôi lại phải đạp xe về Hà Nội mua hàng tem phiếu để chiều chủ nhật đạp xe lên chỗ sơ tán tiếp tế cho cả gia đình. Những ngày mùa đông giá buốt hay mưa phùn, với chiếc xe đạp đèo hàng nặng, đẩy lên xuống cầu phao bắc qua sông Hồng (lúc này cầu Long Biên đã bị bom Mỹ đánh sập) nên vợ tôi rất vất vả.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:33:00 PM
        Sau ngày miền Nam được giải phóng, nhờ sự chiếu cố của đồng chí Phùng Thế Tài và Cục Tác chiến, vợ và 4 con, cả bà ngoại được đi máy bay quân sự vào Thành phố Sài Gòn thăm tôi và Quân đoàn cho xe đi tham quan vùng mới giải phóng (Vũng Tàu, Đà Lạt...). Khi cả gia đình trở ra Hà Nội thì con trai út (Tuấn Anh) mới 5 tuổi, thích các chú bộ đội, đòi ở lại với tôi ở căn cứ “Sóng Thần”. Nhưng vì chiến tranh biên giới xảy ra, tôi lại phải trực ở sở chỉ huy tiền phương ở biên giới Tây Ninh, có thời gian dài ở mặt trận biên giới Quân khu 9, nên các chú bộ đội (chú Bình) ở sở chỉ huy cơ bản “Sóng Thần” giúp đỡ chăm sóc cháu, ăn ngủ chung với các chú bộ đội ở Bộ Tham mưu Quân đoàn.

        Khi tôi được diều động sang làm Tham mưu trưởng Quân khu 7 chiến đấu ở biên giới và trên đất Campuchia, đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân đoàn 4 còn chỉ thị cho cơ quan giúp đỡ chuyển gia đình tôi từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh, ở nhà số 10 Phan Kế Bính. Ngôi nhà này do Tư lệnh Hoàng Cầm ký quyết định cho gia đình tôi ở từ năm 1978 cho đến năm 2000.

        Gia đình tôi chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh, vợ tôi từ Viện Khoa học Việt Nam ở Nghĩa Đô Hà Nội, được chuyển công tác vào phân viện khoa học Việt Nam ở đường Mạc Đĩnh Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Được sự giúp đỡ của Bộ Tham mưu Quân đoàn 4 và sau này của Bộ Tham mưu Quân khu 7, nhà cửa, đồ dùng trong nhà mới được sắp xếp tạm ổn định, các cháu vừa mới được liên hệ học ở các trường, vợ tôi bắt đầu nuôi lợn bán thịt, nuôi gà bán trứng để đảm bảo cuộc sống. Thì bất ngờ tôi lại nhận được lệnh mới!

        Sau ngày tôi được chở máy bay về nằm bệnh viện Thống Nhất thì đồng chí Ký lái xe Jeep đi đường bộ về nhà báo tin tôi đã về nằm viện. Ngày hôm sau, 5 mẹ con vào bệnh viện thăm tôi, cũng chưa biết chuyện gì. Bốn ngày hôm sau, đồng chí Đồng Văn Cống quyền Tư lệnh Quân khu 7 vào bệnh viện thăm tôi. Đồng chí hỏi thăm sức khỏe tôi. Tôi nói là đã trở lại bình thường khỏe mạnh. Đồng chí cười và hỏi tôi, nếu thôi bệnh rồi thì có trở lại Sở chỉ huy tiền phương được không? Tôi trả lời là cho tôi về thăm gia đình một ngày, vì từ khi gia đình ở Hà Nội vào tôi chưa về nhà và chưa biết gia đình đã ổn định chỗ ở chưa? Đồng chí Bảy Cống cười và nói không phải một ngày mà vài ngày cũng được, vừa rút một tờ giấy từ trong túi áo trên, đưa cho tôi. Đó là quyết định bổ nhiệm do Đại tướng Võ Nguyên Giáp nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký. Một quyết định chung:

        - Bổ nhiệm tôi Tham mưu trưởng Quân khu 7 ra làm Cục trưởng Cục Tác chiến.

        - Bổ nhiệm đồng chí Tư Thanh, Chủ nhiệm chính trị lên làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 7.

        Thế là hai người cùng nhận quyết định chung từ Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 4 về cùng một lúc làm Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm chính trị Quân khu 7.

         Nay lại cùng một quyết định, một người vẫn được ở lại Quân khu 7, một người phải ra Bộ công tác!

        Tôi cầm tờ quyết định bổ nhiệm công tác mới, phân vân suy nghĩ, nếu mình nấn ná nằm lại bệnh viện điều trị thêm một thời gian nữa, trong lúc đối phương đang gây chiến tranh xâm lấn ở biên giới Bắc Việt Nam, sẽ bị hiểu nhầm là vì gia đình mới vào nên chần chừ chưa muốn ra! Ngày hôm sau tôi xin phép ra viện và về gia đình (ở số 10 Phan Kế Bính). Gặp vợ con lúc đầu tôi chưa dám nói thẳng là có quyết định thuyên chuyển ra Cục Tác chiến, sợ bị đột ngột vì cả gia đình vừa mới “chân ướt chân ráo” từ Bắc vào Nam. Nay tôi lại bỏ đi ra Bắc, mang tiếng “đem con bỏ chợ”. Tôi chỉ nói ra Hà Nội họp, công tác một thời gian. Tôi vào gặp Bộ Tư lệnh Quân khu 7 để báo cáo xin ra ngay Bộ nhận công tác. Sau khi ăn cơm thân mật với đồng chí Bảy Cống quyền Tư lệnh và đồng chí Dương Cự Tẩm - Phó Chính ủy, chiều xuống dự bữa cơm liên hoan chia tay với anh em trong Bộ Tham mưu Quân khu và bàn giao công việc của Bộ Tham mưu.

        Nhưng thật sự tôi về làm Tham mưu trưởng Quân khu hơn một năm, mà thời gian ở Sở chỉ huy cơ bản cả khi đi về cộng khoảng gần 2 tháng. Thời gian hơn 12 tháng là ở sở chỉ huy tiền phương Quân khu trên biên giới và trên đất Campuchia, công việc điều hành Bộ Tham mưu ở hậu phương vẫn do đồng chí Chín Như nắm, nên việc bàn giao công việc trước khi chia tay với Bộ Tham mưu cũng nhẹ nhàng, đơn giản.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:37:18 PM
        Tôi trở về nhà, ngày hôm sau nói thật với vợ con là tôi mới nhận quyết định ra Hà Nội làm Cục trưởng Cục Tác chiến. Lúc đầu mới nghe nói, vợ tôi sửng sốt, rồi trấn tĩnh lại được ngay, vì cũng đã nhiều lần bị nghe những tin đột ngột như thế, nay lại trọng tình hình bùng nổ chiến tranh biên giới phía Bắc, nên không dám có ý kiến gì thêm. Vợ tôi chỉ nói “anh bị chảy máu dạ dày chưa lành hẳn, mà phải đi ngay à?”.

        Tôi chỉ nói vì tình hình biên giới đang căng thẳng phải ra ngay. Tôi vội chuẩn bị đồ đạc, sáng hôm sau cùng đồng chí Ký (lái xe kiêm bảo vệ) đi máy bay ra Bộ công tác.

        Sau này đồng chí Lê Trọng Tấn có lần vào công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh, cùng chị Tấn đến nhà tôi chơi. Chị đến xem chuồng lợn của nhà tôi nghe vợ tôi giới thiệu kinh nghiệm nuôi lợn. Đồng chí Tấn trong lúc trò chuyện nói vui an ủi vợ tôi: “Tôi định cho cậu Khánh công tác ở Quân khu 7 lâu dài, nên mới bảo Hoàng Cầm giúp đỡ đưa gia đình vào. Nhưng sau lại phải ra Bộ công tác là do chiến sự nổ ra chứ không phải tại tôi đâu nhé”.

        Còn đồng chí Lê Đức Anh, một lần làm việc với anh Lê Ngọc Hiền và tôi ở nhà “con ó” cơ quan Bộ Tổng Tham mưu ở Tân Sơn Nhất, giờ nghỉ, anh Lê Đức Anh chỉ tay vào tôi cười nói: “Quân ủy điều cậu Khánh - Tham mưu trưởng quân khu ra Bộ mà mình Tư lệnh Quân khu không biết. Khi về Quân khu thì anh em nói Tham mưu trưởng đã bỏ về Bộ rồi, đi nhanh thật! Có lẽ gia đình ở Hà Nội nên có lệnh là đi ngay, không cần chờ báo cáo với Tư lệnh”. Tôi báo cáo “anh còn ở Quân khu 9, anh Bảy Cống giao quyết định bảo tôi phải đi ngay”. Anh Lê Ngọc Hiền - Tổng Tham mưu phó đỡ lời: Anh phê oan cậu ấy, cậu Khánh bị “tréo giò” đấy. Gia đình mới đưa vào Sài Gòn lại phải ra Bộ công tác. Khuyết điểm là do tham mưu dự đoán tình hình sai đấy!”. Anh Lê Đức Anh nói: “À ra thế! Tôi không biết đã đưa gia đình vào, bây giờ ở đâu? Có khó khăn gì không, để tôi bảo anh em Quân khu giúp đỡ...”.

        Tôi trở về Bộ công tác! Cuộc đời bộ đội của tôi gắn bó với Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu như là một vòng xoáy quanh Bộ Tổng Tham mưu. Nhưng vòng xoáy sau cao hơn vòng xoáy trước một nấc. Từ cấp tiểu đoàn trưởng về Cục Tác chiến là một cán bộ, một phái viên tác chiến. Sau khi đi học 5 năm ở Trung Quốc lại về Cục Tác chiến được lên cấp phó phòng, trưởng phòng rồi Cục phó. Từ Cục phó tác chiến ra đi, vào công tác ở Bộ Tham mưu Miền, làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, Tham mưu trưởng Quân khu 7, nay trở về lại Bộ Tổng Tham mưu làm Cục trưởng Cục Tác chiến.

        Hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường Campuchia trở về, tôi được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất và Nhà nước Campuchia tặng một Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất.

        Tôi lại từ đơn vị chiến đấu trở về Tổng hành dinh cuối tháng 2 năm 1979.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:40:11 PM

Chương bốn

TRỞ LẠI TỔNG HÀNH DINH,
LÀM CỤC TRƯỞNG CỤC TÁC CHIẾN TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI CHÍNH QUY,
RÈN LUYỆN CƠ QUAN THAM MƯU,
CỦNG CỐ PHÒNG THỦ, BẢO VỆ TỔ QUỐC

        Tôi về nhận công tác ở Cục Tác chiến trong tình hình quân của đối phương đã rút khỏi biên giới phía Bắc nước ta. Cán bộ trong Cục đang lao vào công tác nắm tình hình điều chỉnh lực lượng ta.

        Một số cán bộ do đồng chí Đại tá Lê Hữu Đức - nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến đang nghiên cứu tài liệu chuẩn bị làm tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược vừa qua. Tôi về cơ quan cũ, gặp anh em là những cán bộ cũ trước khi ra đi và một số cán bộ mới về, nhưng là những người đã quen biết. Mọi người cũng đã biết tôi về nhận công tác Cục trưởng.

        Đồng chí Võ Ngọc Đạo phụ trách công tác chính trị của Cục, đã bố trí cho tôi một phòng, vừa là phòng ngủ vừa là chỗ làm việc.

        Chiều hôm đó, tôi lên phòng làm việc của đồng chí Lê Trọng Tấn. Đồng chí đang bận họp với một số thủ trưởng, các đồng chí đó cũng đều biết tôi ra làm Cục trưởng Cục Tác chiến. Đồng chí Tấn bắt tay tôi và nói: “Khánh đã ra rồi à! Thôi về nhận công tác đi, cho Lê Hữu Đức tập trung vào công tác tổng kết”. Và vì bận họp nên đồng chí cũng không nói gì thêm nữa.

        Sáng hôm sau, tôi dự họp giao ban Cục, có đông đủ cán bộ trong Cục. Trước lúc đồng chí trực ban báo cáo tình hình, đồng chí Lê Hữu Đức chỉ nói: “Giới thiệu đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh nay ra làm Cục trưởng Cục Tác chiến thay tôi và bắt đầu làm việc từ hôm nay...”. Sau giao ban ra hành lang, gặp đồng chí Thiếu tướng Dimianhenco, cố vấn đầu tiên của Cục Tác chiến; hình như đồng chí ấy đã nghe tin và biết tôi sẽ làm Cục trưởng, cho nên sau khi đồng chí Đức giới thiệu “Đây là Cục trưởng mới...” thì đồng chí cố vấn vui vẻ bắt tay tôi và nói “Rất hân hạnh sẽ được hợp tác làm việc với đồng chí...” và chào: “Sẽ gặp lại”.

        Rồi đồng chí đó đi làm việc với tổ tổng kết của đồng chí Lê Hữu Đức.

        Sáng hôm sau, tôi dự họp giao ban Bộ do đồng chí Cao Văn Khánh - Tổng Tham mưu phó chủ trì. Dự giao ban, các thủ trưởng Cục khác cũng đã biết tin tôi về công tác ở Cục Tác chiến rồi, nên đồng chí Cao Văn Khánh đứng dậy kéo tôi đứng lên, giới thiệu tôi với cán bộ trong phòng họp “đây là tân Cục trưởng Cục Tác chiến”', mọi người vỗ tay hoan nghênh rồi bắt đầu giao ban Bộ.

        Tôi nhận bàn giao công tác mới ở Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cũng đơn giản như khi bàn giao công tác cũ ở Quân khu 7.

        Về công tác ở Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu thời kỳ này, đồng chí Lê Trọng Tấn đã được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng. Các Tổng tham mưu phó có:

        Đồng chí Lê Ngọc Hiền - Tổng tham mưu phó phụ trách tác chiến là một đồng chí đã từng làm Cục trưởng Cục Tác chiến, Tham mưu phó Miền, từng làm chỉ huy các mặt trận và thông thạo công tác ở Bộ Tổng Tham mưu. Đồng chí nắm rất chắc các chủ trương chiến lược, vì được dự nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Tinh thần công tác của đồng chí rất tích cực, khẩn trương. Đêm nào đồng chí cũng có mặt ở Sở chỉ huy Cục Tác chiến và đọc hết tất cả các mật điện của các quân khu, đơn vị gởi về Bộ. Tác phong công tác rất cụ thể, cán bộ tác chiến lên thông qua một bức điện với đồng chí có khi phải sửa chữa đi lại 3 - 4 lần.

        Đồng chí Phùng Thế Tài lúc đó phụ trách về công tác Quân chủng phòng không, không quân, hải quân, các binh chủng và xây dựng công trình. Đồng chí là một thủ trưởng rất xông xáo, miệng nói tay làm. Đồng chí là người tổ chức thực hiện rất giỏi và khẩn trương các lệnh của cấp trên, một “thủ trưởng đốc chiến” rất năng động, đôn đốc “quân và vật chất” trên tuyến đường Trường Sơn với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”, vào thật nhanh chiến trường giành toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

        Không quân phải luôn luôn có một trực thăng trực chiến, hễ có việc gấp, Tổng tham mưu trưởng giao, là đồng chí lên trực thăng đến ngay tại chỗ giải quyết công việc. Một số cán bộ rất sợ đồng chí khi bị “quạt”, nhưng đồng chí lại là người rất thương yêu cán bộ cấp dưới của mình, nóng gắt xong lại vui vẻ ngay nên cán bộ cũng rất mến.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:46:15 PM
        Đồng chí Đặng Kinh - Tổng tham mưu phó phụ trách về quân sự địa phương. Đồng chí có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh du kích trong địch hậu, với trận đánh nổi tiếng vào sân bay Cát Bi (1954), trực tiếp chỉ huy các đơn vị của B4, thọc sâu vào chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968).

        Với cuộc sống giản dị, khiêm tốn nhưng kiên trì tranh luận và giữ vững quan điểm chiến tranh nhân dân, trong thời gian có chuyên gia quân sự muốn ép ta học tập nặng về chính quy hiện đại, coi nhẹ kết hợp với chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích.

        Đồng chí Doãn Tuế nguyên là Trung đoàn trưởng pháo binh đầu tiên của quân đội ta; là Tư lệnh Bộ Tư lệnh pháo binh, đã từng làm Tư lệnh Pháo binh trong các chiến dịch chiến lược lớn. Về làm Tổng tham mưu phó phụ trách quân lực và nội bộ Bộ Tổng Tham mưu.

        Là một con người hiền từ, điềm đạm, tác phong tỉ mỉ; trong sinh hoạt gần gũi với anh em, ăn nói ôn tồn có khi hay “pha trò” cho vui, đoàn kết trong nội bộ.

        Đồng chí Cao Văn Khánh thời gian này là Tổng Tham mưu phó thứ nhất, là người thay thế Tổng Tham mưu trưởng điều hành giữ sinh hoạt trong nội bộ Bộ Tổng Tham mưu khi đồng chí Lê Trọng Tấn đi vắng.

        Tôi đã được gặp và phục vụ đồng chí trong chiến dịch Sầm Nưa (1953) và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954); chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), mà đồng chí là Tư lệnh B70; chiến dịch Trị Thiên (1972), mà đồng chí là Phó Tư lệnh chiến dịch. Là một người đồng chí, thủ trưởng mà tôi rất mến phục, tính tình khiêm tốn, hòa nhã, chỉ huy sâu sát đơn vị, vừa giỏi về nghệ thuật chiến dịch, vừa thông thạo về huấn luyện chiến thuật.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trong lúc đồng chí Tổng Tham mưu trưởng và các đồng chí Tổng Tham mưu phó khác ra chỉ huy các mặt trận, thì đồng chí là trợ thủ đắc lực của Tổng Tư lệnh, luôn có mặt ở Tổng hành dinh để giúp Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và đồng chí Võ Nguyên Giáp điều hành Bộ Tổng Tham mưu, truyền đạt và tổ chức thực hiện các chủ trương mệnh lệnh của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Như đánh giá của đồng chí Võ Nguyên Giáp đối với đồng chí Cao Văn Khánh trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, trang 306:

        “Đồng chí Cao Văn Khánh - Phó Tổng Tham mưu trưởng là một trí thức yêu nước, tham gia cách mạng từ tháng 8 năm 1945, anh Khánh là một cán bộ quân sự chỉ huy Đại đoàn 308 đánh những trận lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, từng là Tư lệnh B70 mặt trận Trị Thiên trong kháng chiến chống Mỹ, một con người hăng hái, trung thực, có kinh nghiệm chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, được bộ đội tin yêu...”.

        Tôi bắt tay vào nắm tình hình nội bộ Cục và tình hình địch - ta trên các quân khu biên giới. Sau một tuần công tác trên cơ quan Bộ, tôi xin phép đồng chí Tấn ký giấy giới thiệu cho tôi đi nắm tình hình các quân khu.

        Đầu tiên tôi lên Quân khu 1, gặp đồng chí Quang Trung - Tư lệnh và đồng chí Lê Thanh - Tham mưu trưởng nghe giới thiệu qua tình hình chung. Đồng chí Quang Trung nguyên Tư lệnh Quân khu 4 và B5, trước đây tôi đã nhiều lần gặp trong chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, mà Quân khu 4 là “cán xoong”, nơi địch tập trung đánh phá, hay trong những ngày chiến đấu ở B5. Đồng chí kéo tôi về nhà ở của đồng chí, bày la liệt trên bàn các mẫu đá, mô hình máy thủy điện nhỏ và một tấm bản đồ vẽ những con đường mới sẽ làm. Đồng chí chỉ nói sơ qua về tình hình chiến đấu vừa qua (vì đã có đồng chí Thanh - Tham mưu trưởng nói rồi), mà chủ yếu là nói kế hoạch xây dựng Quân khu sắp tới của đồng chí. Với giọng nói oang oang, say sưa, đồng chí nói: “Quân khu sẽ làm những con đường dọc, ngang này!... Không có đường để cơ động bộ đội thì không thể đánh thắng được... Nào là Quân khu 1, Cao Bằng, Bắc Cạn có những mẫu đá này! rất quý, rất quý! Xây dựng công trình cũng rất tốt, đắp đê kè cũng tốt! Mà xuất khẩu cũng quý! Phải tổ chức khai thác. Nào là ở Cao Bằng có nhiều khe suối này! Phải đắp đập làm thủy điện, tôi đặt ở Hà Nội làm máy thủy điện nhỏ, kiểu này, thắp sáng cho bộ đội, cho cả dân, sẽ điện khí hóa cả tỉnh Cao Bằng! Không có điện thì không phát triển kinh tế được. Lênin đã nói “Chủ nghĩa xã hội = chính quyền Xô viết + điện khí hóa mà”! “Kế hoạch 3Đ của tôi là: Đường + điện + đạm”. Quân khu 1 sẽ làm đường nhiều, sẽ điện khí hóa, sẽ nuôi trồng cho bộ đội cho dân có nhiều chất đạm...”. Đồng chí nói “thao thao bất tuyệt” vừa nói vừa vỗ đùi, mồ hôi ướt đẫm cả áo sau lưng.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:49:34 PM
        Về kinh nghiệm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đồng chí nói “kinh nghiệm của tôi phải làm kinh tế địa phương mạnh, xây dựng hậu phương tại chỗ mạnh. Tỉnh có nhiều tiểu đoàn địa phương mạnh. Vừa qua ít lực lượng, Bộ chi viện cho nhiều d (tiểu đoàn) nhưng toàn là tiểu đoàn mới tập trung lính mới. Đưa nhiều “dê non” (tiểu đoàn mới) lên đây không biết địa hình, không biết đánh giặc, các con “dê non” ấy chạy loanh quanh rồi biến đâu mất”!

        Đồng chí là cán bộ quân sự lão thành, vừa giỏi về quân sự vừa hăng say làm kinh tế. Trước đây trong chiến tranh phá hoại, vào công tác ở Quân khu 4, đã có lần đồng chí kéo tôi lên nhà ở của đồng chí dưới khe suối núi Đại Huệ, đồng chí nói về chống máy bay bắn phá của địch thì ít, vì tôi đã nghe tham mưu tác chiến giới thiệu, mà đồng chí nói về cách chọn giống cá trắm, nuôi cá trắm thế nào để đẻ con nhiều, chóng lớn. Rồi đồng chí đưa tôi ra xem một khe suối, đồng chí đã đắp chắn lại thành một hồ con, nuôi nhiều cá trắm. Buổi trưa đồng chí bảo công vụ bắt hai con to gần bằng hai bắp chân của đồng chí, một con rán vàng một con nấu canh chua mời tôi ăn cơm cùng đồng chí và cậu công vụ.

        Làm việc xong ở Quân khu, ngày hôm sau tôi với một cán bộ tác chiến Quân khu đi xe ôtô lên Cao Bằng, từ 6 giờ sáng mãi tới 10 giờ tối mới tới nơi, vì đường đi vấp đá ngổn ngang, nhiều đoạn bị phá hoại cắt đường, mới lấp lại. Tôi căng võng ngủ lại ở một lán chân đồi Sở chỉ huy tiền phương của Quân khu.

        Sáng hôm sau lên gặp đồng chí Đàm Văn Ngụy - Tư lệnh phó, phụ trách tiền phương giới thiệu tình hình, đồng chí nói: “Tôi nói ít để anh đi xem thì biết. Úi chà chà! Nó ác quá! Nó chết cũng nhiều! Nhưng nó phá cũng nhiều. Mấy năm nay Cao Bằng xây dựng được bao nhiêu, thì bây giờ nó phá hết. Nó ác thật!

        Anh đi xem thì biết!”. Đồng chí chỉ giới thiệu tình hình vắn tắt mấy lời đó thôi, mặc dầu cán bộ tác chiến đã trải một tấm bản đồ chiến sự to trên bàn, đặt bên cạnh một bản báo cáo viết tay. Nói xong đồng chí cán bộ tác chiến ngồi chung xe tôi đi xem thực địa. Không chờ ăn cơm trưa nữa (vì có lương khô mang theo), tôi chia tay đồng chí Đàm Văn Ngụy ra đi theo đường Hòa An ra Hà Quảng vào hang Pắc Bó.

        Đúng như lời đồng chí Đàm Ngụy nói, dọc đường ngổn ngang cột điện, cột dây thông tin bị quân của đối phương phá ngã gục hai bên đường, nhiều nhà gạch ngói họ chiếm đóng, khi đi họ đặt mìn phá sập chỉ còn nền nhà; nhiều trâu bò lợn gà chết thối trên đồng ruộng... Qua nhà đồng chí Dương Đại Lâm một chiến sĩ trong đội bảo vệ đầu tiên của Bác (sau này là Tư lệnh phó Quân khu Việt Bắc). Nhà bỏ trống, qua cầu gỗ mục nát vào Pắc Bó thì các bảng giới thiệu di tích lịch sử bị đạp gãy nằm xuống đất, nhiều tảng đá lớn nằm chặn trước cửa hang (nghe nói họ đặt mìn phá), nhưng di tích trong hang vẫn còn.

        Đến tối, tôi về thị xã Cao Bằng ngủ và ngày hôm sau đi theo đường số 4 qua Thạch An, Đông Khê. Xem lại khu vực Thạch An, mà xe tăng đối phương vượt biên giới vào đường số 4, đến sáng dân ta vẫn tưởng là xe tăng của ta. Ngủ ở Đông Khê, ngày hôm sau chúng tôi lại đi qua Thất Khê về Lạng Sơn.

        Nhớ lại trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giải phóng biên giới của ta (1950). Từ sau thắng lợi quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã chi viện cho ta về trang bị vũ khí và cử cố vấn sang phổ biến những kinh nghiệm quý báu của họ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngoài sự chi viện về vật chất, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc còn phái các đơn vị công binh sang giúp ta xây dựng công trình quốc phòng và đường cơ động, các sư đoàn phòng không sang cùng quân dân ta chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Công ơn của Đảng Cộng sản Trưng Quốc, nhân dân và giải phóng quân Trung Quốc, chúng ta không bao giờ quên! Tình hình hữu nghị chiến đấu giữa Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc và Quân đội nhân dân Việt Nam lúc đó thật khăng khít. Nhưng những gì mà tôi bắt gặp sau ngày 17 tháng 2 năm 1979 ở Cao Lạng đã làm phai mờ một phần những ấn tượng và hình ảnh tốt đẹp đó trong lòng chúng ta.

        Đi nghiên cứu các đường tiến quân và khu vực bố trí của đối phương xung quanh thị xã Lạng Sơn và khu chùa Tam Thanh, tôi tiếp tục về Hà Nội theo đường số 1, nghiên cứu các khu vực trận địa bố trí phòng thủ của ta ở Đồng Mỏ, Chi Lăng.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:53:30 PM
        Sau chuyển đi nghiên cứu tình hình Quân khu 1, tôi lại đi nắm tình hình Quân khu 2, qua Sở chỉ huy Quân khu ở cây số 18 nắm tình hình, rồi tôi đi thẳng lên khu mỏ Cam Đường cũng bị phá hoại, còn thị xã Lào Cai thì coi như bằng địa. Đứng trên đồi bên này quan sát sang bên kia Hồ Kiều thì thấy im lặng, chỉ thấy một số người đi lại, phố xá vẫn nguyên vẹn. Ban đêm vẫn có đèn điện.

        Ở Quân khu 2 về, tôi lại đi ra khu Đông Bắc, không có điều kiện và thời gian ra nghiên cứu các đảo, chỉ đi quan sát đường bộ, ra biên giới, trọng điểm là khu vực Móng Cái.

        Chặng đường đi nghiên cứu cuối cùng của tôi là vào Quân khu 4, kết hợp thăm bố, mẹ tôi và bà con ở Vinh. Sau gần một tháng đi nắm tình hình các quân khu, trở về Cục công tác, lên báo cáo với đồng chí Tấn, thì gặp đồng chí Khánh bí thư, đưa cho xem một biên bản của Văn phòng Chính phủ gởi sang, ghi buổi gặp giữa đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng và trưởng đoàn cố vấn Liên Xô Đại tướng Ôbaturốp.

        Trong đó đồng chí phàn nàn là: “Cán bộ quân sự Việt Nam chưa hợp tác chặt chẽ với các cố vấn Liên Xô, nêu ví dụ như đồng chí Cục trưởng mới Cục Tác chiến đã về nhận công tác một tháng chưa hề gặp cố vấn của Cục mình”.

        Tôi vào báo cáo với đồng chí Lê Trọng Tấn là được sự đồng ý của đồng chí, gần một tháng qua tôi đi nghiên cứu các quân khu, nên chưa gặp đồng chí Dimianhenco để làm việc, vả lại đồng chí đó còn bận tham gia tổng kết chiến tranh biên giới với đồng chí Lê Hữu Đức. Đồng chí Tấn nói: “Thôi được, rút kinh nghiệm về làm việc và từ nay cần quan hệ chặt chẽ với cố vấn Liên Xô”.

        Từ đó, giữa tôi và đồng chí Cố vấn Dimianhenco quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Thời gian đầu đồng chí còn được vào làm việc trong khu A, trong nhà làm việc của Cục, gặp gỡ nhau hàng ngày, có khi đồng chí còn vào cả phòng làm việc kiêm phòng ngủ của tôi để bàn công việc. Về sau, theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ta, cố vấn Liên Xô đến làm việc tại nhà khách Bộ Quốc phòng ở 28 Cửa Đông, thì tôi chỉ gặp một tuần một lần, các đồng chí cục phó, trưởng phòng, phân công tiếp hàng ngày bàn các chuyên đề.

        Đồng chí Thiếu tướng Dimianhenco, Cố vấn đầu tiên của Cục, là một người có trí thức, có lý luận, có kinh nghiệm về công tác tham mưu, xã giao khéo, tuy có tính áp đặt bắt mình làm theo đúng ý kiến đồng chí đề xuất. Có khi cũng tỏ thái độ bực bội với nhau, nhưng trong gần 3 năm đồng chí cũng đã giúp chúng tôi và cho cả Cục nhiều việc. Công việc nổi nhất mà đồng chí giúp Cục là công tác tham mưu trong việc tổ chức các cuộc diễn tập tham mưu 2-3 cấp có một phần thực binh, mở đầu là cuộc diễn tập ở đặc khu Quảng Ninh, rồi Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân khu 4, Quân khu 5 và một lần diễn tập chiến dịch Mb81 của cơ quan Bộ với 4 quân khu phía Bắc. Những cuộc diễn tập sau, thì đồng chí đã về nước, nhưng sự giúp đỡ của đồng chí với các cuộc diễn tập đầu tiên đã xây dựng được một nền nếp cho các cuộc diễn tập sau.

        Tuy rằng về nghệ thuật chiến dịch, cách đánh, sử dụng lực lượng, có những ý kiến không phù hợp với hoàn cảnh của ta, nhưng về mặt công tác tham mưu thì qua các diễn tập, cơ quan tham mưu các cấp (từ huyện - tỉnh - quân khu - Bộ) đã được tiến bộ một bước.

        Công việc nổi thứ hai của đồng chí Dimianhenco là đã giúp Cục biên soạn chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu để làm cơ sở ra lệnh báo động chuyển các trạng thái sẵn sàng chiến đấu, nâng cao ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cho cơ quan chỉ huy và các đơn vị. Tuy rằng, sau này tình hình phát triển phải bố sung thay đổi nhưng chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu đầu tiên (47QP) cũng đã làm nền giúp Cục dựa vào đó mà bổ sung phát triển.

        Trong quá trình quan hệ với nhau khi hết thời gian công tác rời khỏi Việt Nam, hai vợ chồng đồng chí đã để lại một tình cảm hữu nghị tốt đẹp với anh em trong Cục.

        Sau khi về nước đồng chí được phong quân hàm Trung tướng làm Tổng cục Trưởng Tổng cục phòng vệ dân sự của Liên Xô. Năm 1983 khi tôi đi nghỉ ở Bungari về qua Matxcơva gặp đồng chí Cứu (trước đây là phiên dịch), lúc đó học ở Học viện quân sự Liên Xô điện thoại nói tôi đến Matxcơva, thì đồng chí mời hai người tới nhà ăn cơm và nói: “Vì học tập được chiến tranh nhân dân Việt Nam, về công tác dân quân, nên về nước cấp trên bố trí đồng chí làm công tác phòng vệ dân sự của Liên Xô”.

        Năm 1986, khi tôi sang tham quan cuộc diễn tập chiến lược “Pháo đài 86” của Cu Ba, nghe các đồng chí chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cu Ba nói với đồng chí Dimianhenco (lúc này là Phó trưởng đoàn cố vấn kiêm Tham mưu trưởng của Liên Xô ở Cu Ba) là có tôi sang công tác ở Cu Ba, thì đồng chí đến tận chỗ ở của đoàn chuyên gia quân sự của ta ở Lahabana, mời tôi tới tham quan Sở chỉ huy của đoàn cố vấn Liên Xô và tới nhà riêng của hai ông bà ăn cơm. Đồng chí nói: “Có lẽ cũng nhờ học tập chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời gian tôi công tác ở Việt Nam, nên cấp trên lại cử tôi sang làm Cố vấn quân sự ở Cu Ba đây!”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 06:58:37 PM
        
*

*       *

        Trở lại công việc của tôi trong 2-3 năm đầu về Cục (1979-1981): ngoài việc quan hệ với cố vấn Liên Xô về công tác xây dựng cơ quan, huấn luyện diễn tập chiến dịch nói trên, việc chính là rút kinh nghiệm qua hai cuộc chiến tranh hai đầu biên giới, nghiên cứu bổ sung phương án phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Vừa nghiên cứu trên cơ quan Bộ, vừa đi xuống địa phương, đơn vị, thực địa kiểm tra và bàn việc bố trí lực lượng tại chỗ.

        Có một lần, tôi bố trí cho đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Văn Tiến Dũng và Tổng Tham mưu phó Đặng Kinh đi kiểm tra bố trí phòng thủ ở Quân khu 2. Tôi sử dụng một chiếc máy bay Mi8 thiết bị thông tin mới do Liên Xô viện trợ, để bố trí đồng chí Văn Tiến Dũng, đồng chí Đặng Kinh, tôi và đồng chí Sáng bảo vệ ngồi. Đồng chí Tuyến - Bí thư đồng chí Dũng ngồi riêng một chiếc trực thăng UH1. Đồng chí Dũng và đồng chí Đặng Kinh đồng ý đi thử chiếc trực thăng có thiết bị thông tin chỉ huy này.

        Máy bay cất cánh từ sân bay Gia Lâm lên Lai Châu làm việc với Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, nghỉ đêm tại đây, sáng hôm sau cả hai trực thăng bay lên Điện Biên Phủ, thăm lại các di tích lịch sử của chiến trường xưa. Sau khi ăn cơm trưa, hai máy bay cất cánh bay về Yên Bái để làm việc với Tư lệnh Quân khu 2 - đồng chí Vũ Lập đang chờ ở đấy.

        Nhưng khi trực thăng bay trên đỉnh núi Fansipăng thì bay vào một vùng mây trắng dầy đặc, không còn trông thấy gì nữa, mất địa tiêu, không nhận ra đường đi và đỉnh núi. Hai máy bay mất liên lạc bằng máy thông tin với nhau. Máy bay UH1 của đồng chí Tuyến nhỏ, nhẹ đi trước luồn qua vùng mây trắng dày đặc và bay về đến sân bay Yên Bái, cùng đồng chí Vũ Lập đón chờ đồng chí Văn Tiến Dũng. Máy bay Mi8, vì có thiết bị máy thông tin nặng, ngoài tổ lái lại thêm 4 người, trọng tải nặng, tổ lái cứ nâng cần mãi nhưng máy bay không lên nổi, độ cao đồng hồ báo dưới 1.000 mét. Máy bay cứ lẩn quẩn mãi trong mây mù mịt. Tổ lái toát mồ hôi. Đồng chí Sáng bảo vệ từ khoang tổ lái bước ra ghé tai tôi thì thầm: “Chết rồi anh ạ! Cứ luẩn quẩn thế này thì đâm vào núi mất?”. Đồng chí Dũng ngước mắt lên nhìn tôi hỏi: “Cậu Sáng nói gì đấy?”. Tôi báo cáo: “Máy bay không vượt qua nổi dãy Fansipăng, đề nghị cho quay lại Điện Biên Phủ”, đồng chí Dũng gật đầu. Tôi bước vào khoang lái, bảo tổ lái cho quay lại Điện Biên Phủ. Tổ lái cho máy bay quay đầu lại bay được chốc lát, thì tổ trưởng lái bảo hướng Điện Biên Phủ có mưa giông nên phải quay về hướng tây nam. Bay được khoảng 20 phút thì trông thấy lờ mờ dưới đất có đồng ruộng, có bản làng. Tổ lái vừa cười vừa nói “thấy địa tiêu rồi!”, tôi cũng thấy nhẹ cả người. Máy bay lượn mấy vòng, rồi từ từ hạ xuống một thửa ruộng bậc thang. Xuống mặt đất, mới biết đây là cánh đồng Than Uyên, các đồng chí huyện ủy cùng nhân dân ra đón và xem máy bay, vì chưa bao giờ có máy bay hạ cánh xuống đây. Đồng chí Bí thư huyện ủy mời đồng chí Dũng vào cơ quan nghỉ mai lại bay về Yên Bái. Nhưng đồng chí Dũng nói phải về Yên Bái chiều nay để làm việc, vì đồng chí Vũ Lập đang chờ ở đó. Tổ lái cũng nói với tôi phải về sân bay Yên Bái để tiếp xăng.

        Chờ gần một tiếng đồng hồ, nhìn lên trời thì cả bốn phía mây mù mịt. Tôi hỏi tổ trưởng lái máy bay, theo quyết tâm của thủ trưởng như thế, thì có cách nào bay về được Yên Bái không? Đồng chí tổ trưởng lái (mà tôi đã quên tên và sau này cũng đã hy sinh trong một tai nạn máy bay) nói: “Chỉ có cách là cất cánh lên cao, bay về hướng đông nam theo tín hiệu của đài phát thanh Mễ Trì, rồi đến chỗ nào đấy trời quang trông thấy mặt đất sẽ bay thấp quay ngược lên Yên Bái”. Tôi báo cáo ý kiến đó với đồng chí Dũng, đồng chí đồng ý. Máy bay cất cánh lên, bay cao về hướng Đông Nam để vượt các dãy núi ở vùng Than Uyên, Nghĩa Lộ, núi hướng đông này không cao như dãy Fansipăng. Bay được một thời gian cũng khoảng 40 phút, qua hết vùng mây dày đặc, lờ mờ thấy sông, thấy nhà ngói, thị trấn. Hạ thấp độ cao của máy bay, tổ lái chỉ cho tôi nhìn xuống ngã ba sông Thao, sông Lô, thấy thành phố Việt Trì và cầu Việt Trì rồi, nên quay lại hạ thấp độ cao bay ngược rất thấp theo dòng sông Thao lên lại sân bay Yên Bái thì trời đã gần tối.

        Đồng chí Vũ Lập và đồng chí Tuyến đang đứng chờ ở đó, đồng chí Vũ Lập vui mừng ôm choàng đồng chí Văn Tiến Dũng và quay lại nói với tôi: “Đồng chí đưa thủ trưởng đi mạo hiểm quá! (quay sang bắt tay đồng chí Đặng Kinh), à! Cả Tổng Tham mưu phó nữa! Cả hai anh liều thật ! Bọn mình sốt ruột quá, đứng chờ mấy tiếng đồng hồ mỏi cả chân, cứ nghe tiếng ù ù lại nghển cổ lên xem có phải trực thăng đến không!”.

        Làm việc ở Bộ Tư lệnh Quân khu 2 xong, sáng hôm sau tiếp tục cuộc hành trình bằng hai trực thăng, chúng tôi lại đưa thủ trưởng lên Cam Đường, Lào Cai làm việc. Những ngày tiếp theo, bay sang Hà Giang, rồi bay sang Lạng Sơn, về Đông Mỏ làm việc với Quân đoàn 5 (là Quân đoàn 14) rồi bay về Hà Nội an toàn.

        Qua cuộc hành trình này, tôi cũng tự kiểm điểm thấy trách nhiệm chuẩn bị kế hoạch và bảo đảm cho thủ trưởng đi công tác bằng máy bay không chu đáo. Tuy rằng chuyến đi về được an toàn và thủ trưởng hài lòng vì đã làm việc được với nhiều đơn vị, nghiên cứu được thực địa nhiều nơi đã bị đối phương bắn phá qua chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, nghiên cứu được nhiều trận địa phòng thủ của bộ đội ta gần biên giới.

        Tôi tự rút kinh nghiệm, sử dụng một phương tiện kỹ thuật mới phải tìm hiểu tính năng kỹ thuật của nó. Cứ tưởng máy bay mới là tốt, nên đề nghị sử dụng cho thủ trưởng đi, là lần đầu tiên dùng máy bay đường dài (mặc dù đã được Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân đồng ý). Sau hỏi lại chuyên gia Liên Xô, họ nói “trực thăng có thiết bị thông tin, nhiều máy móc nặng, chỉ dùng cho sĩ quan đi quan sát chỉ mục tiêu cho pháo binh, tên lửa, có thể dùng cho chỉ huy cấp chiến thuật (sư đoàn, quân đoàn) ngồi 2-3 người, sao lại dùng chở lãnh đạo cấp chiến lược, chở nhiều người, nhiều quà tặng cho các đơn vị? không đảm bảo an toàn!”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:01:36 PM

        Theo dõi phục vụ sự chỉ đạo tác chiến trên chiến trường Campuchia

        Chiến trường chính thời kỳ này là miền Bắc Việt Nam, nên tôi tập trung theo dõi phục vụ sự chỉ đạo tăng cường củng cố phòng thủ miền Bắc, trọng điểm là 3 quân khu biên giới (đặc khu Quảng Ninh, Quân khu 1, Quân khu 2). Công việc chính là nghiên cứu kế hoạch chiến lược phòng thủ, giúp thủ trưởng Bộ duyệt các kế hoạch của các quân khu, quân đoàn, binh chủng. Từng thời gian đưa các thủ trưởng Bộ hoặc bản thân cùng các cán bộ trong Cục đi xuống các đơn vị nắm tình hình thực hiện các kế hoạch Bộ đã thông qua.

        Nhưng chiến trường Campuchia cũng là một trọng điểm, nơi “nước sôi, lửa bỏng”. Sau cuộc phản công chiến lược giúp bạn giải phóng Campuchia, lập xong chính quyền cách mạng Campuchia từ Trung ương đến phum xã, chiến tranh vẫn chưa kết thúc, ta vẫn phải để lại một đội quân tình nguyện lớn. Hàng ngày vẫn phải chống các cuộc tập kích, phục kích địch ở nội địa và các cuộc phản công của chúng ở vùng biên giới rừng núi Campuchia - Thái Lan. Vì vậy, Bộ Quốc phòng tổ chức một Bộ Tư lệnh quân tình nguyện mạnh và một đoàn chuyên gia quân sự giúp bạn (Bộ Tư lệnh 719) do đồng chí Lê Đức Anh phụ trách. Cục Tác chiến cử một số đồng chí cán bộ thay nhau làm việc trong cơ quan Tham mưu Bộ Tư lệnh 719 (như các Cục phó Lê Duy Mật, Khiếu Anh Lân, Lê Quang San, Phú Chút, Minh Long). Ngoài ra Cục Tác chiến còn cử một bộ phận cán bộ trực ở Tân Sơn Nhất, làm cơ quan trung gian giữa Sở chỉ huy cơ bản Hà Nội và Phnôm Pênh.

        Theo dõi phục vụ sự chỉ đạo tác chiến, thời gian này, tôi ở Sở chỉ huy cơ bản Bộ ở Hà Nội để nắm tình hình chung, trọng điểm là tình hình biên giới phía Bắc, từng thời gian tôi đi nắm lại tình hình ở Campuchia, ở cơ quan 719 và đi các mặt trận, các quân khu (759 ở Stưng treng, 779 ở Cômpông Chàm, 479 ở Xiêm Riệp, Poi Pét, 979 ở Takeo CôCông). Mỗi năm hai lần tôi đi với đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, có khi đi cả với đồng chí Hoàng Văn Thái vào Tân Sơn Nhất và sang Campuchia dự tổng kết hoạt động quân sự mùa khô, bàn kế hoạch quân sự mùa mưa tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:06:37 PM

        Kinh nghiệm từ trận đánh của một đơn vị thuộc Mặt trận 479

        Có một lần vào mùa hè năm 1983, tôi đưa đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn đi sang Campuchia nghiên cứu kế hoạch tác chiến mùa khô 1983 - 1984. Khi trực thăng từ sân bay Tân Sơn Nhất bay sang hạ cánh ở sân bay quân sự Pôchengtông, đồng chí Lê Đức Anh ra đón đồng chí Lê Trọng Tấn về làm việc. Sau khi làm việc với Bộ Tư lệnh 719, tôi bố trí trực thăng đưa đồng chí Lê Trọng Tấn đi làm việc với các mặt trận và xuống các đơn vị. Cùng đi với Tổng Tham mưu trưởng, Bộ Tư lệnh 719 cử đồng chí Lê Duy Mật - Cục phó Cục Tác chiến và đồng chí Trần Ôn, cán bộ Phòng Tác chiến cùng đi. Tới Bộ Tư lệnh 479, sau khi nghe đồng chí Hồ Quang Hóa - Tư lệnh mặt trận báo cáo kế hoạch tác chiến đã được Bộ Tư lệnh 719 thông qua, đoàn tới thăm và nghe kế hoạch cụ thể của các đơn vị đóng quân ở Xixôphôn, Báttambang. Trở về Phnôm Pênh, đoàn tới Bộ Tư lệnh 979 nghe đồng chí Nguyễn Đệ (Ba Trung) - Tư lệnh Mặt trận 979 báo cáo, rồi bay đi Sihanoukville.

        Kết thúc chuyến đi công tác ở Campuchia, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn về Thành phố Hồ Chí Minh, rồi lên Học viện Lục quân Đà Lạt làm việc. Tôi được phép trở về thăm và nghỉ ở gia đình.

        Sáng hôm sau, tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất để cùng đi chung máy bay YAK40 ra Hà Nội, thì đồng chí Tấn hỏi tôi có nghe tin bộ đội 479 đánh sang đất Thái Lan không mà đài địch nó kêu? Tôi báo cáo là tôi có vào cơ quan tác chiến ở Tân Sơn Nhất nghe anh em nói bộ đội ta có đánh một căn cứ Khmer đỏ ở Nong Chang trên biên giới đất Thái, nhưng chưa rõ kết quả, mà khi ở Bộ Tư lệnh 479 anh đã nghe anh Hồ Quang Hóa báo cáo kế hoạch này đã được Bộ Tư lệnh 719 thông qua. Tình hình tưởng không có việc gì rắc rối xảy ra.

        Về Hà Nội được vài ngày, một buổi chiều đồng chí Văn Tiến Dũng gọi tôi sang nhà riêng nói: “Vừa qua anh đi với anh Tấn sang Campuchia, thông qua kế hoạch đánh địch trên đất Thái thế nào mà bây giờ nó kêu om sòm là quân Việt Nam lại xâm lược Thái Lan? Ở Matxcơva anh Ba (đồng chí Lê Duẩn), anh Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng) đang hội đàm về việc viện trợ với đồng chí Brê-giơ-nhép, đồng chí ấy nói: “Trong tình hình hiện nay, các đồng chí không nên đưa chiến tranh sang một nước thứ ba nữa...”. Anh Thận (đồng chí Trường Chinh) cũng điện thoại hỏi tôi, sao lại cho quân ta sang đất Thái? Kế hoạch đánh thế nào mà không báo cáo Quân ủy, tôi cũng không biết...? Tôi báo cáo lại tình hình chuyến di công tác với anh Tấn vừa qua và sự kiện đánh Nong Chang là kế hoạch của Bộ Tư lệnh 479 đã được Bộ Tư lệnh 719 thông qua, không phải anh Tấn thông qua kế hoạch này. Anh Tấn chỉ nói với Bộ Tư lệnh 479 kế hoạch đã được Bộ Tư lệnh 719 thông qua rồi thì các đồng chí cứ thi hành. Anh Tấn chỉ nhắc nhở: “Phải chuẩn bị chu đáo, thận trọng, đánh chắc thắng, tiêu diệt nhanh gọn, rút về...”. Anh Dũng bảo tôi: “Thế thì ngày mai cậu đi trực thăng xuống Đồ Sơn báo cáo với anh Thận, anh không bằng lòng về chuyện này đấy! để anh Thận điện sang anh Ba, anh Tô biết...”.

        Sáng hôm sau tôi đi trực thăng UH1 hạ cánh xuống sân bay nhỏ ở Đồ Sơn, Văn phòng Trung ương đã cho xe đón ở đây. Tôi vào khu nhà nghỉ của Trung ương ở khu trung tâm Đồ Sơn, báo cáo mọi sự việc với anh Thận. Anh Thận nói: “Các đồng chí quân sự chỉ đạo tác chiến bây giờ phải thận trọng, vì tình hình chính trị phức tạp và kinh tế ta đang gặp khó khăn.

        Bộ đội ta đánh sang đất Thái thế nào mà họ kêu rùm beng, động đến các đồng chí lãnh đạo ta đang bàn xin viện trợ ở Liên Xô. Nguyễn Cơ Thạch (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) đang ngồi bàn bên đất Thái. Kinh tế đang gặp khó khăn, dân đang đói vì thiếu gạo nghiêm trọng. Vừa qua bàn với Thái Lan, họ chịu bán gạo gửi gấp sang ta, chỉ có 5 vạn tấn gạo tấm thôi, thế mà nay họ đình lại, bộ đội Campuchia đánh sang đất Thái sao Quân ủy không biết. Tổng tham mưu trưởng sang nghe tình hình thế nào mà về không báo cáo với Quân ủy? Thôi, sáng ngày mai đồng chí vào Sài Gòn gặp anh Sáu Thọ (đồng chí Lê Đức Thọ) và anh Sáu Nam (đồng chí Lê Đức Anh) truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị là từ nay trở đi không được hành động như thế. Rồi khi anh Ba, anh Tô về sẽ họp kiểm điểm vấn đề này...”. Ngay chiều hôm đó, tôi đi trực thăng về Hà Nội và sang báo cáo ngay với anh Dũng. Anh Dũng chỉ thị ngày mai tôi phải đi máy bay vào Thành phố Hồ Chí Minh báo cáo sự việc này với anh Sáu Thọ và anh Sáu Nam. 10 giờ trưa ngày hôm sau, tôi vào cơ quan tác chiến ở sân bay Tân Sơn Nhất, gọi điện thoại Văn phòng Trung ương 2 ở T78 tại Thành phố Hồ Chí Minh xin gặp hai anh để báo cáo ý kiến anh Trường Chinh và Văn Tiến Dũng. Buổi chiều, khi vào cơ quan T78, đầu tiên gặp trước báo cáo với anh Sáu Nam. Anh Sáu Nam nghe, im lặng rồi nói chủ trương đánh địch ở đây, có anh Sáu Thọ đại diện Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo, anh sang báo cáo với anh Sáu Thọ, anh ấy cũng đang chờ nghe anh báo cáo đấy!”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:09:51 PM
        Tôi sang nhà bên cạnh gặp anh Thọ đang mặc bộ quần áo bà ba lụa vàng, phe phẩy cái quạt cầm tay, thấy tôi, anh gọi vào ngồi ở ghế salông nghe báo cáo. Tôi giở sổ đỏ đã ghi toàn bộ ý kiến anh Ba, anh Tô điện ở Matxcơva về, ý kiến anh Trường Chinh nói ở Đồ Sơn và ý kiến anh Dũng trước khi tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh. Nghe chưa hết bản báo cáo của tôi, anh Thọ có vẻ không bằng lòng, đứng dậy xếp quạt, tay phải cầm quạt, gõ đầu quạt vào bàn tay trái, vừa đi lại trong phòng, vừa nói: “Các anh tham mưu tác chiến biết tình hình mà cũng không báo cáo rõ cho các anh trên biết. Anh Tấn - Tổng tham mưu trưởng và anh, Cục trưởng Cục Tác chiến vào thông qua kế hoạch tác chiến, tại sao không báo cáo với Quân ủy lại đổ lỗi cho bọn này? Các anh cũng biết đấy, địch nó cứ ở biên giới bên đất Thái Lan, mà Thái Lan cho phép nó ẩn náu ở đấy, bắn pháo sang đất Campuchia làm thương vong bộ đội ta và dân Campuchia. Ta cứ ngồi thế mà chịu đòn à? Cứ nói đánh trên đất Campuchia thôi, thì đánh vỗ mặt làm sao bao vây tiêu diệt được nó, lại ăn pháo nó. Nó từ đất Thái bắn pháo sang đất Campuchia, thì ta bắn pháo sang tiêu diệt quân Khơme đỏ, có bắn vào quân đội và dân Thái đâu. Đánh vòng sang đất Thái một tí, chỉ để diệt Khơme đỏ mà Thái cho nó đóng quân ở đấy! Vì Thái cho Khơme đỏ đóng quân, để cảnh báo, họ còn che giấu quân Khơme đỏ trên đất Thái đánh tôi, thì tôi có quyền đánh trả và tôi còn đánh nữa đấy? Còn chuyện không để lại dấu vết, thì anh em đã cố gắng thu dọn chiến trường sạch trước khi lui quân. Nhưng có phải sân nhà mình đâu, mà bảo anh em phải quét cho sạch dấu vết được. Anh ra báo cáo lại cho các anh ngoài đó biết...”. Sự việc tôi cứ tưởng như thế là qua! Không ngờ, sau khoảng 10 ngày, đồng chí Ba Duẩn và đồng chí Tô đã về Hà Nội. Đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã ra Hà Nội, các đồng chí Bộ Chính trị họp bàn gì, mà một hôm trực ban tác chiến báo với tôi, là điện thoại Văn phòng Trung ương báo chiều nay anh sang gặp đồng chí Lê Đức Thọ tại nhà riêng (số 7 dường Nguyễn Cảnh Chân).

        2 giờ chiều hôm đó, tôi đến nhà riêng đồng chí Lê Đức Thọ qua phòng làm việc của đồng chí Ngọc (Bí thư đồng chí Thọ) bảo anh Sáu đang chờ anh trong đó. Tôi vào phòng của đồng chí Thọ, thấy đồng chí cũng trong bộ quần áo bà ba lụa vàng, đang ngồi trên một ghế salông. Đồng chí chỉ tôi ngồi ghế trước mặt, rồi đồng chí nói ngay một loạt: “Anh về báo cáo thế nào mà để các đồng chí trong Bộ Chính trị hiểu lầm nhau, làm tham mưu, làm Cục trưởng Cục Tác chiến phải báo cáo cho đúng sự thật, đừng che giấu khuyết điểm của mình, đừng bao che cho thủ trưởng mình, lại đổ lỗi cho tôi tự do cho quân sang đánh trên đất Thái Lan. Chính Tổng tham mưu trưởng, Cục trưởng Cục Tác chiến các anh sang thông qua kế hoạch rồi về lại nói không biết...”. Tôi vừa mở cặp, vừa giở sổ ghi chép lời nói của đồng chí nói với tôi ở T78 và những lời tôi báo cáo lại với đồng chí Văn Tiến Dũng (nguyên văn lời đồng chí Thọ nói), chứ không báo cáo với anh Trường Chinh (vì không được gọi để báo cáo). Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ không cho tôi báo cáo hết, mà cứ nói tiếp, tay trái vừa rút trong túi áo bà ba một tập điện đánh máy: “đây này, điện tôi gởi ra Bộ Chính trị, anh em cơ yếu có gởi Quân ủy Trung ương nói tình hình cụ thể, chủ trương đánh địch thế này!

        Đây này! Đây này! Sao lại nói không báo cáo, tự do chủ trương đánh sang đất Thái... Các anh Quân ủy không ai đọc, Cục trưởng Cục Tác chiến cũng không đọc à? Sao lại bảo không có báo cáo?...”, đồng chí cứ nói đi nói lại liên tục, tôi vừa cải chính thì đồng chí lại ngắt lời tôi và nói tiếp. Tôi ức quá nghẹn cả cổ, không nói lên lời được nữa, bỏ sổ vào cặp, ngồi thẫn người, nghe đồng chí phân tích tình hình, nói cả những việc trước đây trong hội nghị Pari, đồng chí đấu tranh với Kít-xinh-giơ thế nào, ý kiến của đồng chí thế nào, ý kiến chỉ đạo thế nào. Tôi đang căng đầu, nên cũng không hiểu được gì cả và cũng không còn nhớ gì nữa! Nói một hồi xong, đồng chí nói “thôi nhé! Về báo cáo lại với anh Tấn...”. Tôi đứng dậy chào ra về, qua phòng đồng chí Ngọc - Bí thư, tôi nói không hiểu sao hôm nay anh Thọ gọi tôi sang “quạt” một trận nên thân, tôi chìa quyển sổ ghi chép của tôi và nói “tôi định báo cáo nội dung tôi đã báo cáo với anh Dũng thế này, nhưng anh ấy không cho nói...”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:13:48 PM
        Đồng chí Ngọc cầm quyển sổ ghi chép của tôi và nói “anh Sáu nóng một tí thế thôi, để sổ đây, tôi xem và báo cáo lại với anh ấ...”.

        Hai ngày sau, anh Lê Duy Mật - Cục phó Cục Tác chiến ra Hà Nội gặp tôi. Tôi nói lại chuyện hôm tôi gặp anh Thọ. Anh Duy Mật nói “được rồi, tôi cùng đi với anh Tấn và anh lên Mặt trận 479, nghe anh Hóa báo cáo kế hoạch, việc đánh Noọng Chang là do Bộ Tư lệnh 719 thông qua, có phải anh Tấn thông qua đâu, tôi sẽ sang thăm anh Thọ và báo cáo lại”. Chiều hôm sau, anh Mật và tôi lại sang nhà riêng anh Thọ ở đường Nguyễn Cảnh Chân. Sau khi chào hỏi, anh Mật nói vắn tắt qua tình hình Campuchia gần đây, tôi nói tiếp “hôm trước anh không cho tôi báo cáo tình hình về chuyện đánh Noọng Chang, hôm nay có anh Mật đây, báo cáo thêm với anh”. Anh Mật báo cáo rõ thêm sự việc hôm cùng đi với anh Tấn và tôi lên Mặt trận 479. Anh Thọ mặt vẻ bình thường, không cáu giận như hôm trước, cầm quyển số đỏ ghi chép của tôi (mà tôi đã đưa cho đồng chí Ngọc khi ra về) trả lại cho tôi và nói: “Thôi được, mấy ngày tới, tôi sẽ đi nghỉ ở Đà Lạt, ghé qua gặp hỏi thêm các đồng chí trong đó...”.

        Mười ngày sau, tôi đang làm việc ở cơ quan Cục Tác chiến, thì đồng chí Bính, Trưởng phòng hành chính Bộ Quốc Phòng sang gặp đưa xem một bức điện của Ban Cơ yếu Trung ương (Phòng 6) chuyển sang Văn phòng Bộ Quốc phòng. Nội dung bức điện:

        “Gửi anh Hoàng Nghĩa Khánh, Bộ Quốc phòng.

        Tôi sang đây gặp anh em nói thì sự việc anh báo cáo là đúng. Báo lại để anh yên tâm.

Lê Đức Thọ”        

        Tôi cầm bức điện này lên đưa cho đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Văn Tiến Dũng đọc.

        Sự kiện này cũng để lại một dấu ấn trong đời làm công tác tham mưu tác chiến của tôi. Tuy không vấp phải một khuyết điểm gì nghiêm trọng qua sự kiện này, về công tác tham mưu tôi có ưu điểm ghi chép đầy đủ, báo cáo đúng sự thật với cấp trên, nhưng tự kiểm điểm, theo trách nhiệm của một Cục trưởng Cục Tác chiến, không nhạy bén trước tình hình chính trị, kinh tế của đất nước, không làm tròn vai trò tham mưu của mình đề đạt về tình hình khi nghe thủ trưởng thông qua kế hoạch. Ý thức đơn giản trước một sự kiện quan trọng có liên quan đến chính trị, nếu không nói là “quân sự thuần túy”. Khi tình hình chiến sự xảy ra, chỉ để nắm về diễn biến, kết quả trận đánh, mà không suy nghĩ đến hậu quả và ảnh hưởng của nó sau này.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 07:16:42 PM

        Theo dõi sự chỉ đạo quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn ở Lào

        Sau khi cách mạng Lào giành được thắng lợi hoàn toàn, thành lập Chính phủ liên hiệp, miền Nam cũng được giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất, quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, chỉ để lại một đoàn chuyên gia quân sự ở Bộ Quốc phòng Lào và một số tỉnh, trường học. Nhiều cán bộ và quân tình nguyện Việt Nam được Chính phủ Lào khen thưởng, tôi cũng được Nhà nước Lào tặng thưởng một Huân chương Itsala hạng nhất và một Huy chương “Anh dũng chống Mỹ” của Pathét Lào.

        Nhưng bọn phản động trong nước Lào, được sự giúp đỡ của các lực lượng phản động quốc tế, nhất là trong chiến tranh xâm lấn biên giới Bắc Việt Nam tháng 2 năm 1979, một quốc gia “láng giềng” cũng có âm mưu qua con đường viện trợ kinh tế, đưa quân sang giúp Lào xây dựng đường sá ở Bắc Lào, để khuất phục nước Lào theo quĩ đạo của họ và chia rẽ sự đoàn kết giữa Lào với Việt Nam. Theo đề nghị của Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ Lào, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam lại trở sang Lào, giúp quân đội Lào tiễu phỉ và đứng chân ở một số vùng trọng điểm. Hàng năm phái đoàn quân sự hai nước qua lại trao đổi đánh giá tình hình và kinh nghiệm. Theo yêu cầu của bạn, Bộ Tổng Tham mưu và Cục Tác chiến cử những phái đoàn từng thời kỳ sang góp ý kiến với bạn về xây dựng kế hoạch phòng thủ bảo vệ đất nước Lào và tiến hành các cuộc diễn tập liên minh chiến đấu.

        Tôi có lúc đi chung với thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, có lần dẫn đầu đoàn Cục Tác chiến sang giúp Bộ Tổng Tham mưu và trao đổi kinh nghiệm với Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu của bạn.

        Đầu năm 1983, được sự ủy nhiệm của Bộ Tổng Tham mưu, tôi phụ trách một đoàn cán bộ (gồm cán bộ Cục Tác chiến, Quân báo, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, Tham mưu, Tổng cục Hậu cần) sang giúp bạn tổ chức tập huấn về chiến dịch phòng ngự cho cán bộ các Cục của Bộ Tổng Tham mưu, một số cán bộ Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Chính trị Lào.

        Sau tập huấn, tiến hành diễn tập tham mưu hai cấp (Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu Bắc Lào và 2 sư đoàn) tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Tham gia diễn tập có đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đang giúp quân đội Lào. Sau cuộc diễn tập được đồng chí Khăm Tày, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Xom Xắc nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân dội nhân dân Lào chiêu đãi đoàn cán bộ Việt Nam, có đồng chí Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng sang tham dự.

        Bạn Lào đánh giá qua cuộc diễn tập đã nâng cao tri thức về nghệ thuật chiến dịch cho cán bộ quân sự Lào, nhất là về nghiệp vụ công tác tham mưu.

        Chuyên gia quân sự Liên Xô cũng khen cán bộ quân sự Việt Nam có trình độ khá và giúp Lào tập huấn và diễn tập có kết quả tốt. Cán bộ quân sự Việt Nam nói, thì cán bộ Lào mới làm, chứ trước đây chuyên gia Liên Xô cũng đã nhiều lần đề cập giúp đỡ cán bộ Lào tập huấn và diễn tập chiến dịch, nhưng cán bộ Lào không tiếp thu, chỉ học tập Liên Xô về kỹ thuật và nghiệp vụ tham mưu một phần ở cơ quan Bộ Tổng Tham mưu.

        Mùa thu năm 1983, theo sự thỏa thuận giữa hai Bộ Tổng Tham mưu, đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu do tôi phụ trách, thành phần lần này đông hơn (cơ quan C59, Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu và các Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Chính trị) sang tỉnh Uđomxay (Bắc Lào) để chuẩn bị cho cuộc diễn tập tham mưu hai cấp của Quân khu Bắc Lào, có một phần thực binh ở địa hình dã ngoại. Cuộc diễn tập này mang ký hiệu “HN83” (hữu nghị 83). Chỉ đạo cuộc diễn tập này về phía Việt Nam do Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn và đồng chí Phó Tổng tham mưu trường Phùng Thế Tài; về phía Lào do đồng chí Tổng tham mưu trưởng Xom Xắc và Phó Tổng tham mưu trưởng Chumaly phụ trách. Tham dự diễn tập còn có một số chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam do Thượng tướng Krivơda trưởng đoàn và một số chuyên gia quân sự Lào do đồng chí Thiếu tướng trưởng đoàn phụ trách.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 08:57:13 PM
        Thành phần tham dự diễn tập liên minh chiến đấu phía Lào do Tư lệnh Quân khu Bắc Lào Thiếu tướng Khămpha chỉ huy chung; phía Việt Nam do Đại tá Trần Ngọc Trai chỉ huy một Quân đoàn tình nguyện Việt Nam, ngoài ra còn có cơ quan 2 sư đoàn bạn, cơ quan tỉnh ủy và chỉ huy quân sự tỉnh Uđomxay, để phối hợp giữa quân tình nguyện Việt Nam, sư đoàn chủ lực Lào với bội đội địa phương dân quân du kích tỉnh Uđomxay. Cuộc diễn tập đã diễn ra an toàn tuyệt đối, với tình hữu nghị gắn bó Việt - Lào và quan hệ tốt với đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô ở hai nước Việt - Lào. Qua diễn tập, bạn đánh giá kết quả, nâng cao hiểu biết về hiệp đồng chiến đấu binh chủng hợp thành, rút kinh nghiệm về chỉ huy liên minh chiến đấu Việt - Lào, do bạn làm chỉ huy trưởng, đặc biệt lần diễn tập này đã đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng ủy chính quyền địa phương, các cơ quan tỉnh ủy, chính quyển nhân dân, cùng tham gia diễn tập, phát huy vai trò khả năng bộ đội địa phương và dân quân du kích Lào.

        Ngoài các cuộc diễn tập cùng cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Lào và Quân khu Bắc Lào, cuối năm 1983, quân đội ta và bạn Liên Xô (Quân khu Viễn Đông) còn tổ chức một cuộc diễn tập chiến dịch, chiến lược lớn với lực lượng quân binh chủng hợp thành (các quân khu Việt Nam từ Quân khu 4 trở ra, và 4 quân đoàn). Bạn Lào có thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu Lào và Quân khu Bắc Lào tham dự. Trong ngày diễn tập thông qua quyết tâm chiến dịch lớn ở hội trường T83 (của Bộ Tổng Tham mưu do Cục Tác chiến quản lý), ngoài các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam, có đại diện cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô, Tư lệnh Quân khu Viễn Đông Liên Xô, có Tổng tham mưu trưởng Lào (Thượng tướng Xom Xắc) và Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia cùng tham dự.

        Cuộc diễn tập này do Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam chỉ đạo, trực tiếp là Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Cục Tác chiến là cơ quan trung tâm hiệp đồng trong việc chuẩn bị phương án diễn tập, các mặt bảo đảm, điều hành cuộc diễn tập từ đầu đến cuối và tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm diễn tập.

        Năm 1984, sau khi quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia đồng loạt tiến công tiêu diệt 13 căn cứ của quân Pôn Pốt ở biên giới Thái Lan - Campuchia, chiến sự lại xảy ra ở vùng Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đối phương dùng hỏa lực, pháo với mật độ cao (hơn cả thời gian Mỹ ngụy phản công thị xã Quảng Trị năm 1972).

        Ở Lào, quân Thái Lan đánh chiếm 3 bản ở biên giới thuộc huyện Paklay tỉnh Sayabury.

        Tình hình biên giới phía Bắc từ sau tháng 2 năm 1979 đến 1986 là thời gian căng thẳng kéo dài, có khi ác liệt không kém thời điểm chiến tranh tháng 2 năm 1979. Bộ đội ta phải chịu đựng nhiều khó khăn, gian khổ, thiếu thốn về vật chất, tiêu hao sinh lực, xương máu. Tôi cũng như các thủ trưởng Cục và các cán bộ khác trong Cục Tác chiến, thường xuyên lên các chốt tiền tiêu quan sát trận địa, nắm tình hình, theo dõi tác chiến. Chúng tôi ít được “chia ngọt, xẻ bùi”, không “nằm gai, nếm mật”, mà cùng anh em “nằm hầm, nếm đạn pháo” của đối phương. Chúng tôi cùng ăn cơm chung với anh em với “bát canh toàn quốc” (nghĩa là canh chỉ là toàn là nước lõng bõng) với rau luộc và “nước chấm đại dương” (nghĩa là muối của biển lớn pha nước sôi).

        Thế nhưng lùi về sau vài chục cây số, ở các trạm hậu cần, ở các hậu cứ các đơn vị thì thực phẩm dồi dào do nhân dân ở địa phương gởi tới ủng hộ, vì đường sá đi lại khó khăn, núi cao rừng rậm, pháo địch chặn đường, nên bộ đội trên “điểm cao” trên “chốt biên giới” vẫn phải chịu thiếu thốn.

        Chính năm 1984 ấy, khi tôi lên nắm tình hình ở biên giới Vị Xuyên, ở chốt biên giới thì ăn uống quá thiếu thốn, về hậu cứ thì dồi dào, ăn uống thất thường, khi về Cục đi kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, chưa phát hiện gì.

        Khi tôi lên công tác ở biên giới huyện Tràng Định, Lạng Sơn thì có điện ở Cục gọi về gấp vào Bệnh viện 108 kiểm tra lại bệnh, tôi thắc mắc không biết bị bệnh gì mà phải về gấp thế. Về Bệnh viện 108 thì bác sĩ Dương, lúc đó là Chủ nhiệm khoa A1 nói tôi bị phát hiện trong nước tiểu có độ đường cao, cần kiểm tra lại và điều trị phòng biến chứng.

        Tôi nằm bệnh viện được 15 ngày, đường huyết không lên, hạ một ít, nhưng tôi xin ra viện, vì chiến sự đang căng thẳng. Bác sĩ Dương khuyên tôi ở lại chữa thêm, nhưng vì là Cục trưởng Cục Tác chiến, trong tình hình đang diễn ra xung đột quân sự lớn ở biên giới, nên bác sĩ buộc phải cho tôi ra viện. Từ đó bệnh tiểu đường của tôi lúc lên lúc hạ, kéo dài đến nay đã 25 năm (đến 2008).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2016, 09:01:48 PM

        Tổ chức phòng thủ biên giới

        Rút kinh nghiệm chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, ta ngày càng tăng cường phòng thủ bảo vệ miền Bắc. Thời kỳ này theo hiệp định Việt - Xô, được Liên Xô viện trợ nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại, lại có cố vấn Liên Xô giúp đỡ, nên kế hoạch phòng thủ bảo vệ miền Bắc có những quan điểm giải pháp khác nhau:

        Theo Đại tướng Ơbaturốp, Trưởng đoàn cố vấn Liên Xô đề nghị chiến lược phòng thủ là “phòng ngự tích cực”, bố trí lực lượng thành hai tuyến, mỗi tuyến có 3 dải phòng ngự cấp sư đoàn, tiền duyên phòng ngự cách biên giới khoảng 11 kilômét (ngoài tầm pháo của đối phương bắn từ bên kia biên giới).

        Ta học tập kinh nghiệm Liên Xô trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhưng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và giữ vững quan điểm phát huy truyền thống chiến tranh toàn dân của ta với chiến lược “tiến công làm chủ, làm chủ tiến công”. Ta bố trí tuy vẫn phân chia tuyến 1, tuyến 2, nhưng tổ chức phòng thủ các sư đoàn ở các vùng trọng điểm, chủ yếu ngăn chặn địch trên các trục đường chính từ bên kia bên giới sang. Xen kẽ giữa các khu vực phòng thủ của sư đoàn chủ lực là các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích bảo vệ cạnh sườn, đề phòng đối phương đánh vu hồi các khu vực phòng thủ sư đoàn. Phía trước tiền duyên phòng ngự vẫn tùy địa hình, cách biên giới khoảng 10 - 11 kilômét, nhưng tố chức thành “dải tác chiến phía trước”, không gọi là “dải bảo đảm” bằng lực lượng địa phương, dân quân du kích, chốt giữ các cao điểm khống chế và chủ động đánh ngăn chặn, phục kích, tập kích tiêu hao sát thương địch, trước khi vào tiền duyên phòng ngự của ta. Nói chung ta bố trí lực lượng phòng thủ mạnh giữ vững các khu vực trọng điểm, nhưng vẫn để lực lượng dự bị lớn ở các cấp để tiến hành phản kích, phản công và tiến công.

        Tôi phụ trách làm kế hoạch phòng thủ trong thời gian này cũng bị nhiều “sức ép”, nhưng theo sự chỉ đạo của đồng chí Tổng tham mưu trưởng và các thủ trưởng khác của Bộ Tổng Tham mưu, trao đổi thuyết phục cố vấn Liên Xô, có khi cũng trải qua tranh cãi gay gắt, nhưng cuối cùng bạn cũng đồng ý theo kế hoạch của ta. Việc bố trí 12 sư đoàn ở dãy 1 biên giới Bạn nhiều lần đề nghị mỗi sư đoàn có một tiểu đoàn xe tăng hoặc pháo binh tự hành (ZCY) và một tiểu đoàn ôtô vận tải. Bộ Tổng Tham mưu không đồng ý và đề nghị để số xe tăng, ôtô Liên Xô viện trợ bổ sung làm lực lượng dự bị. Một hôm tôi “mang cặp” đi theo Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn để làm việc với Đại tướng Ơbaturốp giải quyết “dứt điểm” vấn đề này. Ý kiến hai bên tranh cãi gay gắt, đồng chí Tấn phân tích nhiều về lợi hại và kiên quyết đề nghị để số xe tăng, ôtô đó làm lực lượng dự bị. Đại tướng Ơbaturốp cuối cùng nói một cách giận dữ: “Nếu các đồng chí không đồng ý bố trí các tiểu đoàn xe tăng và các tiểu đoàn ôtô cho các sư đoàn dải một biên giới, thì tôi không có lý do gì để đề nghị Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô viện trợ thêm xe tăng và ôtô cho các đồng chí. Các sư đoàn ở dải 2, các quân khu, quân đoàn và Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam, mỗi cấp đều có lực lượng dự bị một trung đoàn hoặc lữ đoàn xe tăng, một trung đoàn ôtô vận tải rồi, thì xin viện trợ xe tăng, ôtô nữa để làm gì?...”. Giờ nghỉ ra phòng uống nước, bên cạnh phòng họp, đồng chí Tấn nói với tôi: “Thôi, trở vào họp lại, tôi sẽ nói đồng ý bố trí 12 sư đoàn dải một biên giới, mỗi sư đoàn có một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn ôtô để đồng chí Ơbaturốp có lý do xin thêm viện trợ xe tăng và ôtô cho ta. Ta sẽ biên chế cho 12 sư đoàn đó một thời gian, sau sẽ rút dần về làm lực lượng dự bị...” Khi vào họp lại, đồng chí Tấn trả lời đồng ý kế hoạch của bạn, đồng chí Ơbaturốp đứng dậy ôm hôn đồng chí Tấn và nói “rất tốt, rất tốt, cảm ơn đồng chí!”. Thế là quân đội ta lại được viện trợ thêm một số lớn xe tăng, ôtô, kèm theo là nhiều phương tiện, phụ tùng dự bị thay thế. Nhưng một số cán bộ quân sự ta lại không hiểu, phê phán là “Bộ Tổng Tham mưu hữu khuynh, giáo điều! Chịu theo sự áp đặt, sức ép của cố vấn Liên Xô!”. Bố trí xe tăng và pháo lên tiền duyên phòng ngự thế, nếu đối phương tấn công, thì “bị nướng hết”. Phê phán Bộ Tổng Tham mưu tất nhiên trong đó có Cục Tác chiến, tay chân Bộ Tổng Tham mưu mà Cục trưởng Tác chiến là tham mưu trực tiếp của Tổng tham mưu trưởng.

        Mùa hè năm 1984, chiến sự diễn ra “nóng bỏng” ở Hà Giang. Bộ Tổng Tham mưu đã điều các sư đoàn của Quân khu 2, cả Sư đoàn dự bị chiến lược Quân đoàn 1 luân phiên tấn công nhưng không giải quyết được. Có đồng chí lãnh đạo cao của Chính phủ phê bình “bộ đội đánh nhỏ không được, thì đánh to (chiến tranh quy mô lớn xảy ra) thế nào được!”. Cũng có cán bộ quân sự cấp cao của ta hăng hái đề nghị “đưa Quân đoàn, cả xe tăng, máy bay, vòng sang đất đối phương mà tiêu diệt một trận cho ra trò, cứ be bờ như kiểu đánh quân Pôn Pốt ở biên giới Tây Nam năm 1977 - 1978, chỉ ăn đòn pháo của họ. Có phản công sang đất Campuchia như tháng 1 năm 1979 mới giải quyết được ,,. Đồng chí đó không nghĩ rằng đối tượng tác chiến này khác quân Pôn Pốt, dùng sức mạnh quân sự lúc này mà đánh thì không dễ thắng, mà chiến tranh lan rộng lại càng bất lợi về chính trị cho ta.

        Vì vậy Bộ Tổng Tham mưu, một mặt tăng cường phòng thủ, không cho đối phương mở rộng đất lấn chiếm ra vùng Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang.

        Trên các hướng khác, ta nâng đội hình phòng thủ của các sư đoàn của ta ở dải một lên dải tác chiến phía trước, chiếm trước các cao điểm khống chế. Những cao điểm đó, nếu ta chiếm trước, củng cố công sự vững chắc, thì đối phương cũng khó đánh, nếu để họ chiếm trước thì ta rất khó đánh chiếm lại.

        Lúc này lại có ý kiến phê bình Bộ Tổng Tham mưu sao lại đưa bộ đội chủ lực ta lên bố trí sát biên giới? Cố vấn Liên Xô cũng có ý kiến sao lại đảo lộn đội hình bố trí phòng phủ bảo vệ miền Bắc?

        Nhưng thực tế, nếu ta không đưa lực lượng mạnh lên bố trí gần biên giới, thì các nơi khác ở biên giới sẽ xảy ra nhiều “Thanh Thủy, Vị Xuyên nữa”. Điều chỉnh bố trí đội hình như thế này, cũng chỉ là “biện pháp tình thế” đối phó với đối phương tấn công lấn chiếm biên giới thôi, vì Bộ Tổng Tham mưu nắm được tình hình đối phương chưa chuẩn bị để có thể tấn công qui mô lớn. Nếu có triệu chứng đối phương tấn công lớn, thì ta điều chỉnh lại bố trí theo đội hình phòng thủ cơ bản.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 07:19:13 AM

        Huấn luyện diễn tập chiến dịch và quan hệ với các Cố vấn quân sự Liên Xô

        Đoàn cố vấn quân sự Liên Xô giúp quân đội ta toàn diện, nhiều mặt, về kế hoạch viện trợ trang bị, về tổ chức xây dựng lực lượng, về huấn luyện, tổ chức phòng thủ, về đảm bảo hậu cần kỹ thuật và cả công tác chính trị... giúp Cục Tác chiến chủ yếu công tác phòng thủ và huấn luyện diễn tập chiến dịch.

        Trong thời gian từ cuối năm 1979 đến 1985. Bộ Tổng Tham mưu đã tiến hành 19 cuộc diễn tập chiến dịch cấp quân khu, quân đoàn và 2 cuộc diễn tập chiến dịch chiến lược các lực lượng ở miền Bắc năm 1981 và 1983) và các cuộc diễn tập của Quân chủng Phòng không, Không quân chống các cuộc tấn công oanh tạc của không quân Mỹ. Tất cả những cuộc diễn tập đó đều do Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn làm Trưởng ban chỉ đạo (có các thủ trưởng các Tổng cục trong ban chỉ đạo) và tôi Cục trưởng Cục Tác chiến Trưởng ban tham mưu diễn tập. Đồng chí Lê Quang Sang, Cục phó phụ trách huấn luyện chiến dịch giúp tôi làm phương án diễn tập. Diễn tập các quân chủng Phòng không - Không quân có Cục phó Nguyễn Văn Ninh phụ trách Quân chủng ở Cục Tác chiến làm tham mưu, có sự giúp đỡ của các Cố vấn quân sự Liên Xô. Diễn tập đã tiến hành từ đặc khu Đông Bắc Quân khu 1, 2 vào đến Quân khu 4, 5, 7, 9.

        Hai cuộc diễn tập giúp bạn Lào cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Lào ở Viêng Chăn và cuộc diễn tập quân khu Bắc Lào. Một đoàn cán bộ được Tổng tham mưu trưởng chỉ định gồm Tác chiến, Văn phòng Quân lực, Cục Khoa học quân sự, Cục Dân quân, Cục Quản lý hành chính, các Tổng cục, một số cán bộ học viện quân sự cấp cao, do Cục Tác chiến chủ trì, như một “gánh hát” đi trước xuống từng quân khu để chuẩn bị cho ban chỉ đạo diễn tập.

        Qua các cuộc diễn tập đó, cũng có đồng chí phê phán là “học tập giáo điều! Đánh theo kiểu quân đội Liên Xô!”, có đồng chí nói: “tôi tập thế này nhưng tôi không đánh thế này!”. Các đồng chí đó phê bình có đúng một phần là trong phương án diễn tập lúc đầu ta có nặng về diễn tập chủ lực, nhẹ về sử dụng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong phòng ngự, sử dụng lực lượng dự bị của Bộ tiến hành phản công sớm để được khôi phục trận địa biên giới sớm, đánh thắng địch ngay từ tuyến đầu biên giới. Tất nhiên học tập lý luận quân sự của Liên Xô hay Trung Quốc và nước nào cũng vậy: Học tập lý luận phải áp dụng vào thực tiễn chiến trường, từng đối tượng không áp dụng một cách máy móc.

        Qua kết luận các cuộc diễn tập, cũng như hội nghị tổng kết hàng năm về huấn luyện diễn tập chiến dịch, thủ trưởng Bộ đều đánh giá, nhìn chung đạt kết quả tốt. Ta đã hiểu được phương pháp tổ chức tiến hành diễn tập chiến dịch, thực sự nâng cao trình độ, nghiệp vụ công tác tham mưu ở các cấp (từ Bộ Tổng Tham mưu đến cơ quan tham mưu các quân khu, quân đoàn, binh chủng, các tỉnh, các huyện). Qua các cuộc diễn tập đạt kết quả cao, đã gây nên một phong trào học tập sôi nổi, chỉ huy lo rèn luyện cơ quan mình.

        Qua diễn tập từ Bộ, Cục Tác chiến và các quân khu, đơn vị đều rút kinh nghiệm bổ sung vào phương án tác chiến của mình.

        Về nghệ thuật chiến dịch, phát huy truyền thống của quân đội ta, tác chiến kết hợp hai phương thức chiến tranh (chủ lực và địa phương) về sau ta dã lồng vào các phương án và bạn cũng đồng ý.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 07:22:31 AM

        Về quan hệ với các đồng chí Cố vấn quân sự Liên Xô, với quân đội Liên Xô và quân đội Cộng hoà Dân chủ Đức

        Trong 8 năm đầu tôi làm Cục trưởng Cục Tác chiến (1979 - 1986), qua 5 nhiệm kỳ Cố vấn Liên Xô giúp dỡ Cục Tác chiến. Cục Tác chiến còn thường được các trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô (Đại tướng Ơbaturop, Thượng tướng Krivơda, Thượng tướng Zaruzin) trực tiếp làm việc. Từ năm 1987 trở đi thì đoàn cố vấn quân sự Liên Xô rút dần về nước. Phải nói là các cố vấn quân sự Liên Xô tuy đôi lúc quan hệ với cán bộ quân sự Việt Nam có vấp váp mâu thuẫn do thái độ của các đồng chí muốn ta phải làm theo ý họ, nhưng nói chung các đồng chí đều có tinh thần quốc tế, có trách nhiệm cao, giúp đỡ ta nhiệt tình.

        Kết quả nổi bật nhất là nhờ các đồng chí đặt kế hoạch xây dựng lực lượng và đề nghị Chính phủ, Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô trong thời kỳ này đã viện trợ trang bị cho ta một khối lượng vũ khí nhiều nhất, so với các thời kỳ trước đây.

        Về các mặt khác (tổ chức biên chế huấn luyện, diễn tập...) các đồng chí cũng đã giúp ta nhiều ý kiến tốt. Trong hơn 8 năm công tác ở Việt Nam, khi ra về các đồng chí Cố vấn quân sự Liên Xô nói chung và riêng 5 đồng chí Cố vấn Cục Tác chiến đã để lại tình cảm hữu nghị thân thiết đối với cán bộ quân sự Việt Nam nói chung và Cục Tác chiến nói riêng.

        Đồng chí Đại tướng Ơbaturốp mà tôi thỉnh thoảng có tiếp xúc, là một người cộng sản kiên định, có tinh thần quốc tế cao cả, có trình độ quân sự giỏi toàn diện cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, kỹ thuật quân sự. Tuy có lúc tính nóng nảy và áp đặt độc đoán, nhưng là một vị tướng hiểu biết rộng về nghệ thuật quân sự, lại tự mình lái xe tăng và hiểu rõ tính năng các loại súng. Khi đồng chí từ giã Việt Nam về nước, trong một buổi chiêu đãi, đồng chí đã ôm hôn cán bộ Việt Nam, rơm rớm nước mắt và nói “Tôi về Liên Xô, nhưng một phần trái tim tôi vẫn để lại Việt Nam...”. Về nước làm Giám đốc Học viện quân sự Frunde, đồng chí rất quan tâm đến cán bộ quân sự Việt Nam học tập ở học viện, từ việc học tập đến nơi ăn ở. Ngày tết cổ truyền Việt Nam, đồng chí chỉ đạo cho Ban hậu cần Học viện phải chăm lo chu đáo về vật chất cho học viên Việt Nam. Đêm giao thừa, đồng chí đến đón giao thừa cùng học viên Việt Nam, cùng uống rượu và chúc mừng năm mới.

        Có lần tôi sang Liên Xô, gặp đồng chỉ Nguyễn Thuật, Phó tùy viên quân sự Việt Nam ở Liên Xô kể lại: “Năm 1988 nhân ngày sinh nhật đồng chí 70 tuổi, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh có gởi một hộp quà tặng phẩm. Đồng chí Ơbaturốp tới nhà tùy viên quân sự Việt Nam, có một Trung tá Liên Xô cùng đi.

        Khi đồng chí Thuật trao quà tặng, đồng chí giơ hai tay nhận, rồi đưa bàn tay phải đặt vào trái tim nói:

        “Nhờ đồng chí chuyển lời cảm ơn của tôi tới đồng chí Bộ trưởng Lê Đức Anh và các đồng chí Việt Nam và nói hộ rằng Ơbaturốp này, dù có phải đứng dưới chân tường vẫn hô “Đảng Cộng sản Liên Xô muôn năm!...” (trong tình hình lúc đó đang có khủng hoảng lớn trong Đảng Cộng sản Liên Xô, đe dọa khủng bố những người cộng sản lão thành kiên cường chống đường lối Goócbachốp và nguy cơ giải tán Đảng)”.

        Kỷ niệm 50 năm ngày Quốc khánh Việt Nam (2/9/1995), đồng chí là một trong những người Liên Xô được Nhà nước và quân đội ta mời sang Việt Nam dự lễ, nhưng vì điều kiện khó khăn, đồng chí không sang được, và tiếc thay! Sau năm đó đồng chí qua đời!

        Đồng chí Thượng tướng Krivơđa là Trưởng đoàn cố vấn quân sự thứ hai sang thay đồng chí Ơbaturốp, là một tướng quân sự chính trị kiêm toàn. Thái độ mềm dẻo, khiêm tốn. Tôi đã có nhiều lần gặp đồng chí để báo cáo tình hình tác chiến và trong các cuộc diễn tập. Đồng chí với giọng nói nhẹ nhàng, chân tình cũng đã giúp tôi nhiều ý kiến tốt trong công tác tham mưu và đánh giá các cuộc diễn tập.

        Về nước, đồng chí được đề bạt lên Đại tướng và làm việc ở Viện Lịch sử quân sự Liên Xô.

        Đồng chí Thượng tướng Zaruzin là Trưởng đoàn cố vấn quân sự thứ ba, cũng là Trưởng đoàn cố vấn quân sự cuối cùng ở Việt Nam. Đồng chí là một Anh hùng quân đội Liên Xô, đã qua chiến tranh Vệ quốc (1944 - 1945) và chiến tranh ở Afganistan. Đồng chí sang Việt Nam cũng xông xáo như đồng chí Ơbaturốp, đi khắp các đơn vị từ Bắc vào Nam, cả Lào và Campuchia. Đồng chí rất khiêm tốn, thường nói “tôi sang giúp các đồng chí một phần, nhưng chính là để học tập các đồng chí Việt Nam, vì các đồng chí đã đánh thắng Mỹ”. Có lần đồng chí nói “Quân đội Việt Nam rất anh hùng, nhưng rất dân chủ, khác với quân đội Liên Xô, lính thường sợ tướng, không dám đến gần, nhưng ở quân đội Việt Nam, tôi có lần thấy một người lính dám đến gần Đại tướng Lê Đức Anh trò chuyện và xin thuốc lá hút! Đó là một điều đặc biệt mà chúng tôi cần học!”. Sau khi đồng chí Zaruzin về nước, tôi nghe nói có một đồng chí Thượng tướng nữa (mà tôi chưa gặp mặt, không biết tên) tới thay làm trưởng đoàn, nhưng vừa sang thì bị dột tử do nhồi máu cơ tim; và cũng là kết thúc hệ thống cố vấn quân sự Liên Xô ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 07:25:59 AM

        Về 5 cố vấn trực tiếp Cục Tác chiến

        Đồng chí Thiếu tướng Dimianhenco, như đã nói ở trên, Cố vấn đầu tiên của Cục Tác chiến trong những năm 1979 - 1981, là một trí thức có trình độ đã giúp đỡ Cục Tác chiến xây dựng bước đầu về công tác tham mưu diễn tập và chế độ sẵn sàng chiến đấu. Cả hai vợ chồng đã có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh và đến thăm nhà riêng của tôi (số 10 Phan Kế Bính). Hai vợ chồng về nước đã để lại tình bạn bè thân thiết cho tôi và cả vợ con tôi. Khi sang gặp anh chị ở Matxcơva hay Lahabana Cu Ba, vợ đồng chí Dimianhenco còn nhờ hỏi thăm, nhớ tên “Bà An” (vợ tôi) và tên 1-2 đứa con tôi.

        Trong thời gian làm Cố vấn Cục Tác chiến, bản thân đồng chí nhiệt tình giúp tôi và còn đề nghị đồng chí Ơbaturốp và đồng chí Lê Trọng Tấn cho chúng tôi sang tham quan Liên Xô để về tổ chức diễn tập ở Việt Nam. Đầu năm 1980 tôi dẫn đầu một đoàn cán bộ tham mưu tác chiến (có các đồng chí Khiếu Anh Lân, Trần Bá Hào - Cục phó, Lê Quang San, Phú Chút, Trưởng phòng huấn luyện chiến dịch, khoa học quân sự đồng chí Cửu phiên dịch, đồng chí Nam Hồ, Tham mưu phó Quân khu 1, Đào Dũng, Tham mưu phó đặc khu Quảng Ninh,... cùng đi). Lúc đầu vào thăm Học viện quân sự Vôrôsilốp ở Matxcơva gặp đồng chí Viện trưởng giới thiệu tình hình, rồi xuống các khoa của học viện. Sau đó đoàn đi máy bay tới thăm Quân khu Zacapca, gặp tham mưu trưởng giới thiệu tổ chức sở chỉ huy của quân khu, rồi tham mưu trưởng đưa tới tỉnh Têbilitxi thăm một tập đoàn quân, do Trung tướng Tư lệnh tập đoàn ra sân bay đón và đưa đi tham quan diễn tập ở Ba Cu. Tập đoàn quân này tổ chức riêng một cuộc diễn tập cho đoàn xem rồi vào phòng diễn tập xem các mô hình, biểu đồ diễn tập để rút kinh nghiệm. Trước khi trở về Matxcơva, Tham mưu trưởng quân khu còn đưa đoàn đi thăm quê hương Stalin ở Grudia, được các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền Xô Viết địa phương đón tiếp nhiệt tình, mời thưởng thức cả rượu vang nổi tiếng chôn dưới đất nhiều năm. Đi theo đoàn hồi đó có một Trung tá người cùng quê với Stalin để chụp ảnh từ đầu đến cuối cuộc hành trình tham quan, rất thân mật, nhiệt tình mà tôi còn nhớ câu nói nhiều lần của đồng chí ấy thường nói: “esopaze” (lần nữa) là đã chụp xong, lại yêu cầu chụp thêm một lần nữa cho chắc, được ảnh đẹp. Từ quân khu xuống quân đoàn ra bờ biển Ba Cu, đến vùng rừng núi Grudia, các bạn Liên Xô cả già lẫn trẻ, cả nam lẫn nữ, cả tướng lẫn sĩ quan binh lính, đồng bào các dân tộc trong liên bang Xô Viết vui mừng đón tiếp, đoàn kết thân mật biết bao!

        Nhưng bây giờ đau đớn biết bao khi Liên Xô tan rã nhiều cuộc xung đột vũ trang, “huynh đệ tương tàn” đã diễn ra ở những nơi này...

        Đồng chí Thiếu tướng Semal là cố vấn thứ hai sang thay đồng chí Dimianhenco, là một con người có tính chất nông dân, thân hình vạm vỡ, chân thật và khiêm tốn, hai vợ chồng quê ở Ucraina, cha mẹ chết vì địch giết trong chiến tranh, chị ruột chết đói cũng trong chiến tranh, nên đồng chí nói rất thông cảm với nhân dân Việt Nam. Đồng chí đã từng làm tham mưu phó tác chiến Quân khu Ô-đét-xa, nên cũng đã giúp Cục về công tác tham mưu có kết quả. Đồng chí góp ý kiến được thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đồng ý, giúp Cục xây dựng một “Trung tâm huấn luyện diễn tập” gọi là T83, gồm một hội trường lớn, một hội trường nhỏ và 13 phòng trưng bày các bản mẫu về kế hoạch và văn kiện huấn luyện chiến dịch các Cục, các binh chủng. Rất tiếc các phòng học các Cục, các binh chủng nay không còn nữa.

        Đồng chí cũng đã từng công tác ở Cộng hòa Dân chủ Đức, nên đồng chí đề đạt cho Cục trưởng tác chiến và một số cán bộ sang tham quan Sở chỉ huy của quân đội Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức cũ).

        Được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, tôi lại dẫn đầu một đoàn cán bộ gồm các đồng chí phụ trách Sở chỉ huy Cục Tác chiến như đồng chí Tâm, đồng chí Ái, các đồng chí Phó tư lệnh thông tin, Viện trưởng Viện Kỹ thuật quân sự... sang Đông Đức tham quan cách tổ chức Sở chỉ huy diễn tập.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:06:18 AM
        Sang tới nơi có đồng chí Thượng tá Phan Trọng Ngự tùy viên quân sự và đồng chí Bắc (con đồng chí Lê Quang Đạo) đang học ở Đức làm phiên dịch. Ta sang chỉ yêu cầu xem cách tổ chức một sở chỉ huy diễn tập để vế rút kinh nghiệm xây dựng thiết bị “Trung tâm huấn luyện diễn tập chiến dịch của ta ở T83”. Nhưng không ngờ, khi mới sang tới nơi Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội Cộng hòa Dân chủ Đức trực tiếp đón và giới thiệu cả tình hình tổ chức quân đội của bạn. Sau đó đồng chí cho đi xem Sở chỉ huy thực của Bộ Quốc phòng có 7 tầng trên mặt đất và cả Sở chỉ huy 2 tầng hầm sâu dưới mặt đất hơn 50 mét, có đường hầm thông dưới lòng đất (nghe nói gần 100 kilômét) qua Thành phố Béclin, ra một cánh rừng ở ngoại ô thành phố, rồi thông tới một Sở chỉ huy dự bị thời chiến, cũng hai tầng hầm ngầm dưới đất. Chúng tôi nghe giới thiệu như thế, nhưng không đi theo đường hầm dưới thành phố Berlin, mà xem xong Sở chỉ huy ngầm ở Bộ Quốc phòng, lên ôtô đi ra tham quan Sở chỉ huy ngầm ở ngoại ô cũng mất mấy tiếng đồng hồ. Sở chỉ huy của Bộ Quốc phòng thật hiện đại quá sức tưởng tượng. Đi đâu cũng thấy máy tính, camera, cửa thông phòng này sang phòng khác bằng sắt mở tự động theo nút bấm có mã khóa, sinh hoạt trong đường hầm như trên mặt đất, có phòng ăn, phòng tắm, câu lạc bộ... Anh em nói với nhau: “Việt Nam, 100 năm nữa cũng không làm được như thế này”. Sau khi tham quan Sở chỉ huy ở Bộ Quốc phòng, chúng tôi lại được đưa đi tham quan Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh lục quân, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân, đi lên phía bắc thành phố Roctok tham quan Sở chỉ huy hải quân. Từ Bộ Quốc phòng ra đi, Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức cử Thiếu tướng Tư lệnh Phòng không Không quân cùng đi (vì đồng chí này đã được sang thăm Việt Nam sau ngày giải phóng miền Nam), nên đồng chí rất nhiệt tình.

        Khi gặp Đô đốc Hải quân, thấy đồng chí đó giới thiệu riêng với Đô đốc: “đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến này là Đại tá, nhưng là đại tá bốn sao, như bên mình là Tướng đấy”.

        Sau khi thăm Sở chỉ huy các quân binh chủng, đồng chí đó đưa đoàn cán bộ chúng tôi tới một tập đoàn quân, chỉ giới thiệu ở Sở chỉ huy độ nửa giờ, Tư lệnh tập đoàn quân hướng dẫn ra xem một sư đoàn diễn tập thực binh trong hơn một tiếng đồng hồ, từ báo động chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, đến sư đoàn triển khai dã ngoại chiếm lĩnh trận địa, sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn hoạt động náo nhiệt, xe tăng, xe bọc thép, xe xích chạy rầm rầm khói bụi mù trời như đánh thật... là một cuộc diễn tập tốn kém, nhưng chỉ để trình diễn cho chúng tôi tham quan học tập.

        Sau khi tham quan diễn tập một tập đoàn quân, chúng tôi lại được đi ôtô dọc bức tường và hành lang có hàng rào điện tử của bộ đội biên phòng Đức, ngăn cách giữa Đông và Tây Béclin. Cuối cùng được đi tham quan các đài tưởng niệm chiến thắng phát xít, tòa nhà Quốc hội và lên tháp truyền hình ngồi quay một vòng 360 độ ngắm toàn cảnh Đông Tây Béclin.

        Anh em nói với nhau, không ngờ các đồng chí cho xem tất cả “những bí mật quân sự của Đức”. Đồng chí Phan Trọng Ngự tùy viên quân sự nói “có lẽ là đoàn Cục trưởng tác chiến dẫn đầu, họ tin tưởng Cục Tác chiến, cơ quan tuyệt mật của Quân đội Việt Nam, nên cho đi xem hết như thế. Tôi ở đây gần hết nhiệm kỳ 3 năm, đón nhiều đoàn quân sự của ta sang thăm Đức, nhưng chưa bao giờ được đi tham quan nhiều nơi và những nơi bí mật như thế!”. Chúng tôi ra về, bạn còn tặng cho một số vật chất để về bổ sung vào thiết bị T83. Các bạn Đức đã để lại một tình cảm hữu nghị thân thiết trong lòng chúng tôi không bao giờ quên!

        Nhưng đến nay cũng thật rất tiếc là không còn “một Đông Đức, một quân đội hiện đại như thế nữa”, những người bạn Đức ấy, không biết ai còn, ai mất? Sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã!...

        Đồng chí Thiếu tướng Grunốp là Phó trưởng đoàn cố vấn Quân khu 2 về thay đồng chí Semal làm cố vấn thứ 3 của Cục Tác chiến. Cũng đã từng làm Tham mưu phó một quân khu ở Liên Xô. Đồng chí này tính tình vui vẻ, hay kể chuyện tiếu lâm Liên Xô, cũng khiêm tốn, thường nói “Tôi sang làm cố vấn cho các đồng chí, nhưng chính tôi lại phải học tập ở các đồng chí nhiều, vì khi tôi mới vào quân đội thì các đồng chí đã là cán bộ trung đoàn, sư đoàn trong chiến tranh rồi”. Trong thời gian chiến sự xảy ra ở Vị xuyên, đồng chí cũng thường yêu cầu đi theo cùng tôi lên Thanh Thủy, Vị Xuyên để rút kinh nghiệm chiến đấu thực tế, vì đồng chí nói đồng chí chưa qua chiến tranh, một mặt khác đã từng làm cố vấn Quân khu 2, cũng có tình cảm với bộ đội Quân khu 2 nên đồng chí muốn lên thăm anh em ở Quân khu 2. Nhưng vì bệnh sỏi thận nặng, nằm điều trị ở Bệnh viện 108 hơn 1 tháng không khỏi, vợ chồng đồng chí cũng rất tiếc phải rời khỏi Việt Nam sớm để về nước diều trị bệnh.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:08:25 AM
        Đồng chí Thiếu tướng Labrinhenco là cố vấn thứ 4 của Cục Tác chiến, một con người to cao vạm vỡ.

        Với thái độ hơi dè dặt, một mặt vì đồng chí cũng chưa có kinh nghiệm chiến đấu thực tế, sang Việt Nam thời kỳ này quân đội ta đã tiếp thu nhiều kinh nghiệm của các cố vấn trước rồi. Hình như đồng chí cũng cảm thấy “những bài bản” mà đồng chí định mang sang góp ý kiến với Cục Tác chiến, thì anh em Cục Tác chiến chúng tôi cũng đã biết rồi, đã làm được rồi, nên không có “bài” nào khác nữa. Hàng tuần tôi chỉ gặp đồng chí một lần hội báo tình hình để đồng chí đó báo cáo lại với trưởng phó đoàn cố vấn Liên Xô và có ý kiến gì của trưởng phó đoàn lại thông báo cho tôi, có việc góp ý kiến chung ở Bộ Tổng Tham mưu, có việc gì góp ý kiến riêng với Cục Tác chiến.

        Thời gian này tình hình chính trị trong nước Liên Xô cũng đang diễn biến phức tạp, trong quân đội Liên Xô về chế độ chỉ huy cũng đã bắt đầu có thay đổi, viện trợ quân sự cho ta giảm, có mặt hàng đã ngưng, nên cố vấn quân sự riêng của Cục Tác chiến và chung cả đoàn cố vấn ít phấn khởi hơn trước và giúp đỡ ta ít hiệu lực hơn trước.

        Đồng chí Thiếu tướng Obikhốt là cố vấn thứ 5, là cố vấn cuối cùng của Cục Tác chiến. Đồng chí này còn trẻ, tuổi khoảng trên 40, là một Tham mưu phó quân khu nhỏ (tỉnh) trong đại quân khu Viễn Đông. Đồng chí sang Việt Nam vào thời điểm Liên Xô đã bắt đầu có rối loạn về chính trị trong nội bộ Đảng và quân đội, kinh tế bắt đầu gặp nhiều khó khăn thiếu thốn.

        Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước ta bắt đầu thực hiện “đổi mới”. Nên đồng chí sang giúp Cục Tác chiến được rất ít, chỉ làm nhiệm vụ như một sĩ quan liên lạc giữa đoàn cố vấn quân sự Liên Xô với Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam. Đồng chí thường gặp tôi hay trưởng phòng tổng hợp của Cục Tác chiến nắm tình hình là chính để về báo cáo với trưởng phó đoàn cố vấn quân sự Liên Xô.

        Đồng chí thường phàn nàn buồn, vì đất nước đồng chí đã thay đổi, rất tiếc không giúp gì được cho các đồng chí Việt Nam, không giúp gì được Cục Tác chiến như các đồng chí cố vấn trước đây. Thời gian này theo hiệp định mới về lương của chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cũng như cố vấn quân sự trả bằng đôla cao hơn trước. Hai vợ chồng đồng chí ra về, chưa hết nhiệm kỳ (mới được hơn 1 năm). Khi ra về vì có tiền lương mới, nên mua được nhiều thứ hàng (có cả nhiều thùng mì tôm Việt Nam) và đồng chí đã thành thật nói với các cán bộ Cục Tác chiến khi ra tiễn chân (tôi vì bận đi công tác không ra tiễn chân được), vừa nói vừa rơm rớm nước mắt: “Đất nước chúng tôi bây giờ khó khăn lắm, thiếu thốn lắm! Tôi về không biết còn được ở lại trong quân đội Liên Xô nữa không?! Rất tiếc là tôi sang vào thời điểm không giúp gì được cho các đồng chí, xin tạm biệt, mong có ngày gặp lại!...” Dù khó khăn, dù các đồng chí Liên Xô không giúp được gì cho chúng ta nữa, nhưng tình hữu nghị giữa quân đội Việt Nam và quân đội Liên Xô, giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô, giữa các cố vấn Cục Tác chiến với chúng tôi vẫn in đậm trong trái tim chúng tôi. Chúng tôi nhớ mãi và cảm ơn Liên Xô mãi mãi! Chúng tôi cũng mong có ngày được gặp lại các bạn.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:12:35 AM
         
Chương năm

CÔNG TÁC Ở BỘ TỔNG THAM MƯU
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

        Đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, mở đầu thực hiện chính sách “đổi mới toàn diện” theo Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Vi tháng 12 năm 1986.

        Đại hội Đảng toàn quân năm 1986 là một sự kiện chính trị của quân đội ta và cũng là một sự kiện đáng ghi nhớ trong đời sống chính trị của tôi: Giữa năm 1986, đại hội Đảng toàn quân, tôi được bầu là một đại biểu quân đội đi dự Đại hội Đang toàn quốc.

        Nhưng tôi không dự đại hội được vì đi nghiên cứu học tập chiến dịch chiến lược “pháo đài 86” ở Cu Ba.

        Cuối năm 1986, tôi một mình đi một xe ra sân bay Nội Bài mà đồng chí lái xe cứ tưởng đưa tôi ra sân bay Nội Bài đi công tác như những lần trước. Tới sân bay gặp đồng chí tùy viên quân sự Cu Ba đã chuẩn bị đủ vé, giấy đăng ký, đưa tôi vào phòng đợi. Đồng chí hỏi tôi không có ai đưa tiễn đồng chí à? Tôi chỉ nói cho qua chuyện, anh em bận việc, không chờ máy bay cất cánh, đã trở về cơ quan rồi. Tôi tới sân bay Matxcơva vào ban đêm, được đồng chí Đôn Tự tùy viên quân sự Việt Nam và một tùy viên quân sự Cu Ba ở Liên Xô đón. Đồng chí tùy viên quân sự Cu Ba mời tôi về nhà khách Đại sứ quán Cu Ba, nhưng tôi cảm ơn và nói xin về Đại sứ quán Việt Nam, vì đã ở đó quen rồi, tôi không biết tiếng Tây Ban Nha về nhà khách Đại sứ quán Cu Ba bỡ ngỡ trong quan hệ. ở lại Matxcơva 3 ngày, tùy viên quân sự Cu Ba mua vé hạng nhất cho tôi bay từ Matxcơva sang Lahabana Cu Ba.

        Tới sân bay Lahabana (Hôxê Macti), khách vẫn ngồi trên máy bay, đồng chí trưởng máy bay vào phòng hạng nhất (chỉ có một dại sứ Cu Ba ở Liên Xô về nước và tôi) mời tôi xuống máy bay trước. Tôi xuống sân bay đã có đồng chí Bêtăngcua - Tổng tham mưu phó Cu Ba và một số cán bộ quân sự Cu Ba, đồng chí Trần Hải Phụng - quyền Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cu Ba (vì đồng chí Văn trưởng đoàn về phép), đồng chí Trí Anh tùy viên quân sự Việt Nam ở Cu Ba, đồng chí Vũ Văn Ba và một số chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cu Ba đón tôi ở cầu thang và đưa thẳng về một khách sạn 11 tầng ở Lahabana. Vì ở một mình buồn, về sau tôi xin về ở chung nhà nghỉ của đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam. Các đồng chí Cu Ba rất quan tâm chiếu cố đến cuộc sống, làm việc và đi lại của tôi trong thời gian ở Cu Ba. Đồng chí Trung tướng Ulixet - Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang cách mạng Cu Ba tiếp tôi lúc mới đến và trước khi ra về. Các đồng chí bố trí đi cùng tôi có 4 đồng chí sĩ quan Cu Ba (1 cán bộ tác chiến, 1 bảo vệ người da đen, 1 phiên dịch người Cu Ba đã học tiếng Việt ở Việt Nam, đặt tên Việt Nam là “Nam”, 1 lái xe chuyên lái xe đen “Traica” (xe dùng cho cấp Bộ trưởng Cu Ba).

        Tôi được nghe các Cục trưởng Bộ Tổng Tham mưu và thủ trưởng các quân binh chủng giới thiệu tình hình ở trong nhà làm việc của Bộ Quốc phòng Cu Ba và được đi tham quan các quân khu, các tỉnh (tất cả 12 tỉnh và đảo thanh niên Cu Ba), gặp tất cả các tổ chuyên gia quân sự ta ở các tỉnh Cu Ba.

        Đến tỉnh nào, các đồng chí bí thư kiêm chủ tịch tỉnh mà các đồng chí Cu Ba gọi là “Chủ tịch hội đồng phòng thủ tỉnh” tiếp đón nhiệt tình. Trong một cuộc míttinh kỷ niệm ngày thành lập quân đội ta khi tôi tới tỉnh Villaclara thì được ngồi ở Chủ tịch đoàn và mời tôi lên phát biểu nói chuyện tại cuộc mít tinh của tỉnh.

        Trong cuộc diễn tập “pháo đài 86”, một cuộc diễn tập chiến lược toàn quốc, toàn dân tham gia (mà các báo của Cu Ba đưa tin có 8 triệu người dân trong tổng số 10 triệu dân Cu Ba tham gia diễn tập trực tiếp và phục vụ diễn tập). Trong cuộc diễn tập đó, tôi cùng đi với đồng chí Văn trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cu Ba, tới các sở chỉ huy quân khu, một số tỉnh và một số đơn vị tham gia diễn tập. Có lần gặp cả đồng chí Phiđen Caxtơrô, hay đồng chí Raun Caxtơrô (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) trong một sở chỉ huy diễn tập. Các đồng chí lãnh đạo Cu Ba đó gặp chúng tôi bắt tay thân mật và hỏi ý kiến chúng tôi về đánh giá kết quả diễn tập.

        Sau khi dự họp tổng kết diễn tập và trước ngày lễ kỷ niệm 30 năm thành lập lực lượng vũ trang cách mạng Cu Ba, tôi bất ngờ được mời cùng đồng chí Văn trưởng đoàn chuyên gia quân sự và một số đồng chí chuyên gia quân sự Việt Nam ở Cu Ba, tới nhà khách Bộ Quốc phòng nhận “Huân chương Chiến thắng” của lực lượng vũ trang cách mạng Cu Ba, do Nhà nước Cu Ba tặng. Đồng chí Thượng tướng Clômé ủy viên Bộ Chính trị, Thứ trưởng thứ nhất Bộ các lực lượng vũ trang cách mạng Cu Ba trao Huân chương trong một buổi lễ long trọng này.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:17:14 AM
        Ngày hôm sau, dự lễ duyệt binh lớn tại quảng trường kỷ niệm ngày thành lập lực lượng vũ trang Cu Ba, tôi cũng được mời tới dự lễ và lại một lần bất ngờ nữa xảy ra là tôi được Cục trưởng Cục Đối ngoại Cu Ba đưa tôi lên ngồi hàng ghế thứ hai trên lễ đài, cùng với các Đại tướng, nguyên là các trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Cu Ba qua các nhiệm kỳ từ ngày cách mạng Cu Ba thắng lợi đến nay. Tôi cứ sợ mình ngồi nhầm vị trí, nhưng đồng chí Cục trưởng Cục Đối ngoại nói: “Đây là ghế ngồi của riêng đồng chí, chúng tôi đứng sau lễ đài chờ đồng chí, sau buổi lễ sẽ đưa đồng chí về nhà nghỉ”. Hàng đầu là các đồng chí Phiđen Caxtơrô, Raun Caxtơrô, Clomé và các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị khác của Đảng Cộng sản Cu Ba.

        Về sau hỏi đồng chí cán bộ tác chiến đi cùng, tôi mới biết sở dĩ tôi được đón tiếp trọng thể như thế, không phải là đón tiếp cá nhân Cục trưởng của tôi mà các đồng chí Cu Ba coi tôi là người đại diện Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, vì bận dự đại hội Đảng toàn quốc không sang thăm Cu Ba được, nên tiếp tôi với tiêu chuẩn của Tổng tham mưu trưởng.

        Các đồng chí Cu Ba rất kính trọng và khâm phục đồng chí Lê Trọng Tấn. Tôi nhớ lại một lần đồng chí Võ Quang Hồ có kể chuyện với tôi, sau ngày giải phóng miền Nam, đoàn đại biểu quân sự của ta sang thăm Cu Ba do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu (trong đoàn có đồng chí Lê Trọng Tấn, đồng chí Võ Quang Hồ, v.v... ). Một hôm đồng chí Phiđen Caxtơrô tiếp kiến đoàn, đồng chí ấy chỉ đồng chí Lê Trọng Tấn hỏi: “Có phải đồng chí Tấn là vị tướng chỉ huy đánh giặc giỏi nhất của Việt Nam không?”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp trả lời: “Vâng, đồng chí Tấn là một trong những tướng giỏi nhất của Việt Nam...”.

        Đồng chí Phiđen Caxtơrô nói tiếp: “Vậy thì đồng chí cho đồng chí Tấn sang giúp chúng tôi chỉ huy quân tình nguyện Cu Ba đang chiến đấu ở Angola...”.

        Nhưng thật choáng váng, 5 ngày trước khi tôi về nước, đồng chí Đại tá Nguyễn Trí Anh tùy viên quân sự mang một tin đau buồn đến cho đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam và tôi, là đồng chí Đại tướng Lê Trọng Tấn đã đột ngột từ trần sau một cơn bệnh hiểm nghèo. Mọi người cúi đầu, im lặng không nói nên lời. Chúng tôi đã gởi điện chia buồn về Bộ Tổng Tham mưu và gia đình của đồng chí.

        Ngày hôm sau, trên báo “Gramma” cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cu Ba cũng đăng trên trang đầu tin tức với đầu đề chữ lớn “Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tổng tham mưu trưởng quân đội, người anh hùng của nhân dân Việt Nam, đã từ trần”. Tôi cất giữ tờ báo đó và khi về Việt Nam đã đưa cho đồng chí Khánh (Bí thư đồng chí Tấn).

        “Vô cùng thương tiếc đồng chí Lê Trọng Tấn! là một thủ trưởng trực tiếp của tôi, qua những năm công tác ở Bộ Tổng Tham mưu, trong thời gian đồng chí làm Tổng tham mưu phó trực tiếp giúp bạn Lào và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam trong các chiến dịch Cánh Đồng Chum, Phôn Xa Vẳn. Khi tôi làm Tham mưu phó tác chiến các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và Trị Thiên (1971-1972) mà đồng chí là Tư lệnh chiến dịch, và trong chiến dịch Hồ Chí Minh (tháng 4/1975) mà đồng chí là Phó Tư lệnh chiến dịch kiêm Tư lệnh cánh Đông (gồm Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2).

        Đồng chí Lê Trọng Tấn là một người chỉ huy quân sự có đức có tài. Là một con người trung thực và nhân hậu. Tuy có lúc nóng tính, nói thẳng, nhưng cán bộ cấp dưới bị đồng chí phê bình lại cảm thấy thoải mái vui vẻ và kính phục, càng quý trọng thủ trưởng của mình. Đồng chí Lê Trọng Tấn là một vị tướng tài ba, người chỉ huy linh hoạt trong các chiến dịch chiến lược lớn, quyết đoán, xử lý các tình huống phức tạp.

        Đồng chí là người chỉ huy hai trận đánh vào sở chỉ huy đầu não của quân địch trong hai chiến dịch lịch sử: “Chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh”. Đó là trận đánh vào Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 1954, trận đánh quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là trận đánh vào cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn ở Dinh Độc Lập 30 tháng 4 năm 1975, trận đánh quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

        Với những chiến công lừng lẫy đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp trong một bài đăng trên báo Thanh niên viết: “Đồng chí Lê Trọng Tấn xứng đáng được tuyên dương hai lần anh hùng”.

        Đồng chí Lê Trọng Tấn còn là người chỉ huy trực tiếp quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và trong cuộc phản công chiến lược giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, là Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các lực lượng vũ trang chống quân xâm lược ở biên giới phía Bắc, củng cố phòng thủ bảo vệ Tổ quốc...”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:20:29 AM

        Nghiên cứu điều chỉnh chiến lược và làm lại kế hoạch phòng thủ bảo vệ Tổ quốc

        Tôi vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ Cục trường Cục Tác chiến. Sau khi báo cáo tình hình tác chiến với đồng chí Lê Đức Anh, Tổng tham mưu trưởng, mấy tháng sau đồng chí Đoàn Khuê ra làm Tổng tham mưu trưởng. Đồng chí Lê Đức Anh lên làm Bộ trưởng chỉ đạo tôi nghiên cứu lại kế hoạch chiến lược cơ bản cho phù hợp với tình hình mới.

        Thực hiện một cuộc điều chỉnh chiến lược lớn, bố trí lại lực lượng, một cách cân đối, để bảo vệ Tổ quốc, để phòng địch trên các hướng ở Việt Nam.

        Thực hiện đường lối “đổi mới” của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI để từng bước bình thường hóa trong quan hệ với Trung Quốc, việc đầu tiên ta làm là dãn lực lượng áp sát biên giới ở phía Bắc Việt Nam.

        Đồng chí Lê Đức Anh sau khi đi nghiên cứu tình hình tại thực địa ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang, đề ra chủ trương: “Ta không tiến hành tiến công các cao điểm đối phương đã chiếm trên đất ta nữa, mà tiến hành gọi loa, kêu gọi bên kia ngừng bắn và rút lực lượng về bên kia biên giới...”. Cuối cùng họ ngừng bắn, ta dãn lực lượng ra phía sau không chiếm những cao điểm khống chế đối đầu với họ nữa, rồi họ cũng rút dần lực lượng ra phía sau và về trên lãnh thổ của họ.

        Sau khi các đồng chí lãnh đạo mới của Đảng ta chủ động đề nghị gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để hội đàm ở Thành Đô (Trung Quốc), hai bên thỏa thuận ngưng tấn công nhau về quân sự và từng bước bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Ta thực hiện rút bộ phận lớn chủ lực trên 6 tỉnh biên giới phía Bắc ra phía sau. Bảo vệ 6 tỉnh biên giới phía Bắc giao cho bộ đội địa phương và dân quân tự vệ các tỉnh tự đảm nhiệm. Điều chỉnh bố trí lại các quân đoàn dự bị chiến lược của Bộ. Lực lượng phòng không không quân cũng điều chỉnh một số đơn vị về phía sau.

        Tăng cường phòng thủ trên các đảo ở quần đảo Trường Sa, bố trí thêm lực lượng và đài quan sát khí tượng thủy văn, xây dựng công trình ở một số đảo gần khu vực khai thác dầu khí để hợp pháp hóa chủ quyền vùng biển có tiềm năng lớn về dầu khí của ta.

        Thực ra kế hoạch điều chỉnh bố trí lực lượng ở biên giới phía Bắc đầu năm 1985, đồng chí Cục phó tác chiến Lê Phi Long đã đưa đồng chí Lê Đức Thọ đi nghiên cứu thực địa bố trí lực lượng ta ở các tỉnh biên giới. Khi về, đồng chí Lê Đức Thọ đã đề xuất ý kiến nên rút bớt lực lượng ra phía sau, để anh em, chiến sĩ ở trên các cao điểm đỡ khổ, vì thiếu thực phẩm, vì giá lạnh. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn cũng có chỉ thị cho tôi: “Cục Tác chiến xem, nên làm kế hoạch điều bớt lực lượng thế nào cho hợp lý mà vẫn bảo đảm sẵn sàng chiến đấu”.

        Đầu năm 1986, Cục Tác chiến đã chuẩn bị một kế hoạch điều chỉnh 12 sư đoàn đã nâng dội hình lên sát biên giới, rút trở lại phía sau, về trận địa dải một theo đội hình phòng thủ cơ bản (đề phòng đánh lớn) chỉ trừ một số đơn vị đã đóng chốt giữ các cao điểm quan trọng sát biên giới. Khoảng tháng 4 năm 1986, khi tôi báo cáo ý định này, đồng chí Tấn nói cơ bản đồng ý, nhưng thời cơ nào thì điều chỉnh để chờ theo dõi tình hình đã, vì trong thời gian này đối phương vẫn tiếp tục bắn pháo mạnh ở Thanh Thủy, Vị Xuyên và vẫn uy hiếp tấn công ở các nơi khác, như cao điểm 600-820 ở Tràng Định, Lạng Sơn.

        Đồng chí Tấn chỉ thị cho tôi lên báo cáo với đồng chí Văn Tiến Dũng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

        Khi tôi lên gặp đồng chí Văn Tiến Dũng báo cáo dự kiến kế hoạch này và ý kiến của anh Tấn, thì suy nghĩ một lúc anh Dũng nói: “Tôi cũng thấy kế hoạch bố trí lực lượng ở biên giới hiện nay không hợp lắm.

        Nhưng tình hình ở biên giới còn đang căng thẳng, đã gần đến đại hội Đảng toàn quân, toàn quốc, lực lượng ta bố trí đang tạm ổn định, ta thay đổi bố trí lực lượng trong thời gian này,... thì không hay lắm, cứ để yên bảo vệ đại hội Đảng họp xong sẽ hay...” Việc điều chỉnh bố trí lực lượng chiến lược vào đầu năm 1987 (sau Đại hội VI) là một chủ trương đúng đắn, vừa hợp thời!


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:24:13 AM
        
        Làm kế hoạch giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và chính quyền cách mạng của mình, để quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia từng bước rút quân về nước

        Năm 1989, ta mới thực hiện rút hết quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước, nhưng chủ trương này đã có từ trước. Năm 1979, khi tiến hành phản công chiến lược giúp bạn Campuchia giải phóng thoát khỏi nạn diệt chủng Pôn Pốt, ta định để lực lượng tình nguyện một thời gian rất ngắn, giúp bạn ổn định tình hình rồi rút quân về nước. Nhưng vì có thế lực hậu thuẫn ra sức giúp lực lượng tàn quân của Pôn Pốt đeo đẳng, giành giật với lực lượng cách mạng Campuchia, trong khi lực lượng cách mạng Bạn chưa đủ sức tiêu diệt chúng; đồng thời theo yêu cầu của Bạn, buộc ta phải để lực lượng lớn ở lại tiếp tục giúp Bạn trong một thời gian dài.

        Đến đầu năm 1984, sau khi quân tình nguyện ta phối hợp với bạn đã đánh tan các căn cứ của quân Pôn Pốt ẩn náu ở vùng biên giới Thái Lan - Campuchia, hai Bộ Chính trị của Đảng ta và bạn đã có bàn dự định tăng cường giúp bạn để quân tình nguyện Việt Nam từng bước rút về nước, với chủ trương “làm cho địch suy yếu, tàn lụi, làm cho bạn mạnh hẳn lên, để quân tình nguyện bàn giao cho bạn từng bước rồi rút quân về nước”.

        Tôi đi với đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Hoàng Văn Thái vào dự tổng kết mùa khô 1984 - 1985. Trong thời gian chuẩn bị hội nghị tổng kết các đồng chí Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái bàn riêng với đồng chí Lê Đức Anh, sau đó đồng chí Lê Trọng Tấn bảo tôi “ngày mai anh bay ra Hà Nội sang Văn phòng Trung ương xin xem văn bản hội đàm giữa anh Trường Chinh và đồng chí Bun Thong (ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của bạn) xem nội dung các đồng chí bàn về việc quân tình nguyện Việt Nam rút quân thế nào vào báo cáo với chúng tôi và làm kế hoạch từng bước rút quân tình nguyện Việt Nam về nước...”. Tôi ra đến Hà Nội, báo cáo việc này với anh Dũng, rồi nhờ Văn phòng Quân ủy điện sang Văn phòng Trung ương gặp đồng chí Nguyễn Khánh (lúc này là Chánh văn phòng Trung ương), đồng ý cho tôi mượn biên bản hội đàm giữa đồng chí Trường Chinh và đồng chí Bun Thong, sang ngồi ở một phòng bên cạnh đọc (không cho mang biên bản về Bộ Quốc phòng). Đọc xong đồng chí Nguyễn Khánh nói với tôi:

        Nếu muốn hiểu ý định cụ thể hơn, anh lên gặp đồng chí Bun Thong (hiện nghỉ ở nhà khách Trung ương ở Quảng Bá - Hồ Tây) để hỏi thêm chi tiết về ý định của đồng chí đó.

        Chiều hôm đó, tôi lên Quảng Bá được đồng chí Bun Thong tiếp và nói: “Lực lượng chúng tôi còn yếu, các bạn Việt Nam đã hy sinh xương máu nhiều, tốn kém nhiều, đã giúp cách mạng Campuchia tiêu diệt nhiều địch, chúng đã suy giảm nhiều hơn trước, nhưng so với chúng tôi thì cũng chưa mạnh hơn chúng. Anh em bộ đội Việt Nam phải ở Campuchia lâu, xa gia đình khổ cả vật chất và tinh thần. Vì vậy chúng tôi bàn với nhau, cố gắng hết sức mình, để tự lo việc của mình cho anh em Việt Nam được về nước càng sớm càng tốt, nhưng cũng phải làm từ từ, phải vài ba năm, rút rỗng một lúc thì Campuchia khó đấy...”.

        Nắm được tinh thần biên bản hội đàm giữa hai Bộ Chính trị (mà đại diện là đồng chí Trường Chinh và Bun Thong), sáng ngày hôm sau, tôi lại bay vào Tân Sơn Nhất báo cáo lại với ba anh (đồng chí Lê Trọng Tấn, đồng chí Hoàng Văn Thái, đồng chí Lê Đức Anh). Đồng chí Tấn chỉ thị cho tôi: “Thế thì anh chuẩn bị kế hoạch đi, để báo cáo hội nghị xin ý kiến rồi chúng tôi quyết định...”.

        Ngày họp tổng kết đầu tiên, gồm đông đủ thành phần, ngoài các thủ trưởng Bộ (anh Thái, anh Tấn), thủ trưởng Bộ Tư lệnh 719 (các anh Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Hai, Lê Khả Phiêu); Trưởng đoàn chuyên gia quân sự giúp Bộ Quốc phòng bạn (đồng chí Mai Xuân Tần...), cán bộ các cơ quan Văn phòng Bộ, Cục Tác chiến, Quân báo, tổ chức động viên của cơ quan Bộ Tư lệnh 719, các thủ trưởng quân khu phía Nam (Quân khu 5, 7, 9), các chỉ huy mặt trận quân tình nguyện ở Campuchia (Mặt trận 579, 779, 479, 979), thủ trưởng tiền phương các Cục Tác chiến, Quân báo, các binh chủng ở Campuchia. Trong một ngày rưỡi đầu tiên đó, chỉ nghe cơ quan Bộ Tư lệnh 719 báo cáo tổng kết tác chiến mùa khô 1984 - 1985. Trưa hôm sau, theo chỉ thị đồng chí Tấn, đồng chí Hoàng Dũng (Chánh văn phòng) tuyên bố chương trình chiều nay nghỉ họp, sáng mai họp hẹp thành phần ngoài các thủ trưởng Bộ và Bộ Tư lệnh 719, chỉ định một số thủ trưởng quân khu, thủ trưởng mặt trận và cơ quan Bộ. Buổi chiều, đồng chí Tấn nghe tôi báo cáo dự kiến kế hoạch, rồi bảo: “anh cứ báo cáo ý kiến như thế của cơ quan tác chiến, xem ai có ý kiến gì thì phát biểu, chúng tôi nghe, rồi tôi và anh Thái bàn với anh Sáu Nam, kết luận sau”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:27:25 AM
        Sáng hôm sau, trong cuộc họp thành phần hẹp theo quy định, cũng tại nhà “Con Ó”, cơ quan Văn phòng tiền phương Bộ Tổng Tham mưu ở Tân Sơn Nhất. Đầu tiên tôi báo cáo vắn tắt tinh thần biên bản hội đàm của hai đại diện Bộ Chính trị hai Đảng, ý kiến đồng chí Bun Thong. Tiếp sau, tôi báo cáo dự kiến việc rút quân tình nguyện Việt Nam, theo kế hoạch 5 năm, 2 bước (5 năm từ 1985 - 1990).

        Bước l: Cuối năm 1985 - 1987.

        - Quân tình nguyện Việt Nam mở các hoạt động quân sự tích cực, liên tục trong cả mùa mưa tới và mùa khô sang năm, tiêu diệt tàn quân Pôn Pốt còn lại.

        - Ra sức giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở, bảo đảm an ninh nội địa.

        - Giúp bạn và cùng bạn xây dựng hệ thống chướng ngại vật phòng thủ biên giới (ký hiệu K5) và các bàn đạp, căn cứ đóng quân cơ động ở các vùng trọng điểm trong nội địa.

        - Rút bớt những nhân viên ở các cơ quan giúp bạn, những đơn vị lẻ, những bộ phận không cần thiết phải tiếp tục ở lại để giảm nhẹ cơ quan và để gọn các đơn vị của các mặt trận quân tình nguyện.

        Bước 2: 1988 - 1990.

        -Thực hiện rút quân tình nguyện từng bước.

        Rút cơ quan Bộ Tư lệnh 719 về Tân Sơn Nhất (công khai là quân tình nguyện Việt Nam đã rút về nước). Chỉ để lại ở Sở chỉ huy tiền phương Phnôm Pênh ít người, rất nhẹ, trực tiếp chỉ huy việc rút quân.

        - Ở các mặt trận thì quân tình nguyện rút dần (nơi nào địch đã suy yếu, bạn đã tự đảm đương thì quân tình nguyện rút trước; nơi nào địch còn mạnh, bạn chưa đủ sức thì quân tình nguyện rút về sau). Các cơ quan mặt trận thì bộ phận nặng rút về trước về quân khu mình, bộ phận nhẹ ở lại tiếp tục chỉ huy rút sau. Các bộ phận lẻ rút hết, các bệnh viện, bệnh xá, kho tàng chuyển về hết... (cụ thể kế hoạch rút từng đơn vị, thời gian rút đơn vị nào trước sau, căn cứ vào tình hình lúc đó, các Bộ Tư lệnh mặt trận làm kế hoạch do Bộ Tư lệnh 719 phê duyệt).

        Đi đôi với kế hoạch rút quân tình nguyện này, đề nghị cơ quan chính trị làm kế hoạch lãnh đạo, kế hoạch công tác chính trị, kế hoạch tuyên truyền và nhất là kế hoạch dân vận ra sức giúp bạn xây dựng cơ sở, giáo dục quần chúng. Các cơ quan hậu cần, kỹ thuật làm kế hoạch bảo đảm hậu cần kỹ thuật cho việc rút quân tình nguyện Việt Nam và giúp bạn làm kế hoạch để đảm bảo cho lực lượng vũ trang mình, sau khi quân tình nguyện Việt Nam đã rút hết về nước.

        Sau khi tôi báo cáo xong, giờ nghỉ có đồng chí nói với tôi: “Cơ bản đồng ý kế hoạch đó, tình hình bây giờ đã khá hơn, không nên để quân tình nguyện ở lại lâu hơn nữa, ở lại càng lâu thì càng phức tạp thêm, rồi quan hệ nội bộ ta - bạn cũng dễ phát sinh vấn đề”. Nhưng cũng có đồng chí nói: “Kế hoạch rút quân vội như thế không đơn giản đâu! Làm không khéo thì quân ta lại phải trở lại thôi! Có khi lại phải làm lại từ đầu, giúp bạn làm lại cách mạng lần thứ ba nữa đấy!”.

        Buổi chiều họp lại, để nghe các đồng chí dự hội nghị phát biểu ý kiến, tôi ngồi ghi chép, thấy cũng ít người phát biểu. Chỉ có vài đồng chí phát biểu thêm tình hình địch, tình hình bạn ở khu vực mặt trận mình phụ trách. Chỗ thuận lợi, nơi khó khăn, nhưng nghe thì thấy khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Khi hết ý kiến tham gia vào kế hoạch rút quân, đồng chí Tấn kết luận “việc này chúng tôi sẽ bàn tiếp với anh Sáu Nam và Bộ Tư lệnh 719, chưa thể kết luận ngay bây giờ được, vì cũng chưa vội, chưa phải làm ngay... Bây giờ về các đồng chí tập trung vào việc chuẩn bị và thực hiện kế hoạch quân sự mùa mưa cho tốt. Có đánh thắng hơn nữa, làm cho địch bị tiêu diệt nhiều hơn nữa, cố gắng giúp bạn nhanh chóng mạnh hơn nữa, thì ta mới lui quân sớm được...”.

        Từ hội nghị đó về sau, tôi cũng không theo dõi Bộ Tư lệnh 719 và các Bộ Tư lệnh mặt trận tiếp tục làm kế hoạch rút quân như thế nào!

        Đến năm 1987, theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh sau khi làm kế hoạch và thực hiện kế hoạch điều chỉnh bố trí lực lượng lại ở Việt Nam, tôi đi với đồng chí Lê Đức Anh vào Thành phố Hồ Chí Minh để họp với Bộ Tư lệnh 719, các mặt trận các thủ trưởng quân khu phía Nam bàn về việc rút quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước.

        Trước ngày họp, đồng chí Lê Đức Anh chỉ thị tôi chuẩn bị để sang họp Văn phòng Trung ương 2 ở T78 (Thành phố Hồ Chí Minh) báo cáo kế hoạch điều chỉnh chiến lược chung và dự kiến kế hoạch rút quân tình nguyện ở Campuchia về nước.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:30:01 AM
        Một buổi chiều vào phòng họp ở T78, thấy có các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Đỗ Mười (tôi nhớ có cả đồng chí Phạm Hùng, không có đồng chí Lê Đức Thọ), bên quân đội có các đồng chí Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết. Trước khi họp, đồng chí Trí, Trưởng phòng kế hoạch treo bản đồ xong ra phòng bên cạnh, tôi được ở lại dự họp, tôi tưởng tôi được ở lại ghi chép ý kiến. Nhưng mở dầu, đồng chí Lê Đức Anh giới thiệu: “Đồng chí Khánh Cục trưởng Cục Tác chiến trước đây làm kế hoạch chiến lược, vừa qua giúp tôi làm kế hoạch điều chỉnh chiến lược, đề nghị các anh cho phép đồng chí đó báo cáo với các anh để các anh cho ý kiến kết luận. Các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị khác hôm nay không họp ở đây, thì đồng chí Khánh ở Hà Nội đã tới nhà riêng từng đồng chí để báo cáo xin ý kiến rồi...”. Đồng chí Nguyễn Văn Linh nói: “Được, được, đồng chí nắm được vấn đề thì cứ báo cáo đi”.

        Tôi được chỉ định báo cáo một cách bất ngờ, nhưng vì đã qua báo cáo nhiều lần với các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị ở Hà Nội, nên cũng “thuộc bài” và bình tĩnh báo cáo ngay. Trước hết báo cáo tóm tắt tình hình địch, ta hiện nay, chủ trương điều chỉnh chiến lược, việc thực hiện kế hoạch điều chỉnh bố trí lực lượng ở Việt Nam và kế hoạch dự kiến lần này rút quân tình nguyện ở Campuchia về nước. Tôi chỉ báo cáo gọn trong một tiếng đồng hồ. Nghe xong đồng chí Đỗ Mười chỉ nói: “Được, được, tôi đồng ý, tình hình bây giờ như thế, thì phải làm như thế là đúng!”. Hình như tôi nhớ không có ai nói gì thêm nữa, đồng chí Nguyễn Văn Linh đặt bút xuống nói: “Anh Sáu Nam và các anh bên Quốc phòng chuẩn bị kế hoạch điều chỉnh chiến lược như thế là tốt, là phù hợp với tình hình mới, các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị khác đã nghe và đồng ý, thì bây giờ ta kết luận nhé!... Đồng ý với kế hoạch đồng chí vừa trình bày, để về các đồng chí làm đi nhé?”. Hội nghị thông qua kế hoạch điều chỉnh chiến lược nhanh gọn.

        Ngày hôm sau vào hội nghị về Campuchia ở nhà “Nguyễn Cao Kỳ”, gần Văn phòng tiền phương Bộ Tổng tham mưu Tân Sơn Nhất. Vào họp đồng chí Lê Đức Anh chỉ nói: “Hôm qua họp Bộ Chính trị ở T78, đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư đã đồng ý thông qua kế hoạch điều chỉnh chiến lược, và kế hoạch rút quân tình nguyện ở Campuchia rồi, bây giờ chúng ta bàn việc thực hiện cho tốt thôi...”. Tôi báo cáo tóm tắt kế hoạch rút quân từng bước theo kiểu “cuốn chiếu”. Nhưng không để tôi nói hết (tôi mới báo cáo được khoảng 20-30 phút), thì đồng chí Sáu Nam cắt ngang nói “ một lèo các vấn đề cụ thể”, vừa khen đơn vị này, vừa chê đơn vị kia, vừa đi vừa nói, thỉnh thoảng lại xốc thắt lưng quần lên, đồng chí nói rành rọt, thuộc làu làu, từng tên đơn vị, từng người chỉ huy, từng địa danh (vì đồng chí đã chỉ huy trực tiếp chiến trường này gần 10 năm qua). Tôi cứ đứng trên bục, tay cầm que chỉ bản đồ, không nói gì thêm.

        Đồng chí Sáu Nam phát biểu mọi người cứ “gật gù” tỏ ý tán thành và sau đó một vài đồng chí phát biểu ý kiến đồng ý chủ trương của Bộ Chính trị và ý kiến “anh Sáu”, chỉ đề nghị trên cung cấp cho cái này, cái nọ thôi...

        Kế hoạch rút quân tình nguyện Việt Nam và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Campuchia về nước, thời gian này do đồng chí Thượng tướng Lê Ngọc Hiền làm Tư lệnh 719, đồng chí Thiếu tướng Khiếu Anh Lân, Thiếu tướng Minh Long - Trưởng phó đoàn chuyên gia quân sự giúp đỡ Bộ Tư lệnh 719 tổ chức thực hiện an toàn, thắng lợi toàn vẹn cả quân sự chính trị. Thực hiện kế hoạch vượt yêu cầu về thời gian 1 năm (rút hết quân vào cuối năm 1989, so với kế hoạch dự kiến của Cục Tác chiến mà tôi trình bày ở nhà “con ó” đầu năm 1985 là phải hết năm 1990.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:33:29 AM

        Thực hiện kế hoạch điều chỉnh chiến lược, rút quân tình nguyện ở Lào về nước

        Sau tháng 2 năm 1979, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở lại giúp bạn Lào với quân số khá lớn. Hàng năm hai Bộ Tổng tham mưu và đại diện hai Cục Tác chiến ta và bạn vẫn gặp nhau, trao đổi tình hình và kinh nghiệm cho nhau.

        Sau Đại hội VI, quan hệ hai bên vẫn giữ chặt chẽ như trước. Chúng tôi có lúc Cục trưởng, có lúc Cục phó tác chiến Vũ Cao, Phi Long, Đồng Thoại sang giúp bạn về tác chiến chống quân phản động Thái xâm lấn ở vùng Xaynhabury, hoặc giúp về kế hoạch nghiên cứu chiến lược, diễn tập “khu vực phòng thủ” tỉnh (thành phố), hoặc giúp bạn xây dựng thiết bị sở chỉ huy.

        Do tình hình mới, thực hiện chủ trương điều chỉnh chiến lược chung, đầu năm 1988, đồng chí Tổng tham mưu trưởng Đoàn Khuê cử tôi sang gặp Bộ Tổng tham mưu Lào để bàn thống nhất kế hoạch rút quân tình nguyện Việt Nam ở Lào về nước, sau khi đã có thỏa thuận giữa đoàn quân sự Lào do Thượng tướng Chumaly Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Thượng tướng Đoàn Khuê Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam, vào cuối năm 1987.

        Tôi sang gặp đồng chí Thượng tướng Ay - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tham mưu trưởng quân đội Lào, trình bày kế hoạch rút quân tình nguyện Việt Nam về nước trong năm 1989. Đồng chí Ay đón tiếp tôi rất nhiệt tình, tôi vừa làm việc ở Bộ Tổng tham mưu Lào, vừa bàn thống nhất với đoàn chuyên gia quân sự ta ở Lào (do đồng chí Hòa làm Trưởng đoàn, đồng chí Lạc phó đoàn, đồng chí Lộc phó chính trị) và các chỉ huy của các Sư đoàn 324, Lữ 176 quân tình nguyện. Làm việc ở Viêng Chăn xong, tôi đi trực thăng của Lào do phi công Lào lái, lên sân bay Văng Viêng gặp Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324 quân tình nguyện Việt Nam bàn kế hoạch. ngày hôm sau bay xuống Pạc San, các đồng chí bí thư và lãnh đạo tỉnh Bori Khămxây cùng Bộ Tư lệnh Lữ 176 đón về làm việc bàn kế hoạch thống nhất việc rút lữ đoàn, bố trí bộ đội Phathét Lào thay thế vị trí đóng quân của ta và kế hoạch tiễn đưa, giải quyết việc chuyển mồ mả đưa thi hài liệt sĩ ta về nước.

        Lúc đầu Bộ Tổng tham mưu Lào đề nghị không dùng từ “rút quân”, mà chỉ nói “điều chỉnh” lực lượng quân tình nguyện Việt Nam từ phía tây (ven sông Mê Kông) về phía đông (biên giới Lào - Việt Nam) thôi.

        Vì bạn sợ rút một lúc “hẫng”, nhiều nơi “bỏ trống” không có lực lượng Lào thay thế, quân phỉ có thể trở về hoạt động. Nếu làm như thế, không đúng thực hiện chủ trương đã thống nhất hai bên, rút dần, nhưng phải rút hết quân tình nguyện về nước.

        Sau khi bàn bạc thống nhất, Bộ Tổng tham mưu bạn đồng ý kế hoạch rút quân tình nguyện của ta và kế hoạch đó đã thực hiện đem lại kết quả tốt đẹp.

        Quân tình nguyện Việt Nam đã rút trên 3 hướng đường bộ: Sư đoàn 379 ở Thượng Lào về Điện Biên Phủ, Sư đoàn 324 bắc Viêng Chăn về Nghệ An, Lữ 176 ở Pạc San về Hà Tĩnh. Bạn Lào đã giúp ta chuyển hài cốt liệt sĩ về nước, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội tình nguyện mang theo những phương tiện vật chất (như gỗ làm nhà, làm giường cho bộ đội) để xây dựng doanh trại khi về nước và chuyển một phần của cải do bản thân đơn vị tăng gia sản xuất tại chỗ.

        Nhân dân, các cơ quan chính quyền địa phương, bộ đội Lào tổ chức lễ tiễn đưa lưu luyến quân tình nguyện Việt Nam về nước, trong mối tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào. Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào cũng hoàn thành kế hoạch rút quân về nước cùng một thời gian với quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia vào cuối năm 1989.

        Sau khi nghiên cứu điều chỉnh chiến lược, điều chỉnh bố trí lực lượng cân đối trong cả nước, giảm bớt biên chế và quân số bộ đội chủ lực phát huy, sức mạnh tổng hợp (quân dân chính đảng từng địa phương) theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan chỉ huy quân sự và công an làm tham mưu, do Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (thành) thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang trong tỉnh (thành) để tự bảo vệ địa phương mình”. Mỗi tỉnh (thành) xây dựng một khu vực phòng thủ vững chắc, là một “mắt xích” trong thế trận phòng thủ chung của cả nước.

        Ta có vận dụng kinh nghiệm về tăng cường tổ chức phòng thủ của Cu Ba, nhưng có khác với Cu Ba.

        Ở Việt Nam ta, ngoài Hội đồng Quốc phòng do Chủ tịch nước làm Chủ tịch hội đồng, để động viên và điều hành sức mạnh của cả nước củng cố quốc phòng bảo vệ tổ quốc. Về lãnh đạo và chỉ đạo các lực lượng vũ trang trong xây dựng, chuẩn bị đất nước đề phòng chiến tranh và chỉ đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang khi chiến tranh xảy ra, là Đảng ủy Quân sự Trung ương hay gọi là Quân ủy Trung ương (gồm các đồng chí ủy viên Trung ương trong quân đội) mà đồng chí Tổng bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là Phó bí thư Quân ủy Trung ương.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:37:48 AM
        Trong thời kỳ này, chúng ta cũng tăng cường xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), thống nhất sự lãnh đạo tập trung do đồng chí Bí thư tỉnh ủy (Thành ủy) là Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh (thành), đồng chí Phó chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (là Phó bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh), chỉ huy trưởng quân sự tỉnh là người chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang trong tỉnh theo nghị quyết và dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy quân sự tỉnh (thành).

        Cấp Quân khu của ta vừa chỉ huy các đơn vị chủ lực binh chủng trực thuộc quân khu, vừa chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương qua các Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (thành). Còn các quân đoàn dự bị chiến lược, các đơn vị quân binh chủng của Bộ tuy đứng chân trên địa bàn các quân khu, có kế hoạch hợp đồng thống nhất trong quân khu, nhưng do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy.

        Sau khi nghiên cứu điều chỉnh lực lượng, Bộ Tổng tham mưu tạm ngừng diễn tập chiến dịch, để nghiên cứu lại nghệ thuật chiến dịch của ta.

        Cục Tác chiến biên soạn lý luận phòng thủ khu vực đó xong, Tổng tham mưu trưởng tổ chức tập huấn cho các chỉ huy quân sự các Tư lệnh và tham mưu toàn quân, rồi tiến hành diễn tập thực nghiệm.

        Đầu tiên ta tổ chức diễn tập ở một tỉnh biên giới phía Bắc với phương án đề phòng đối phương tấn công đường bộ là chính để rút kinh nghiệm. Tiếp theo tổ chức diễn tập một thành phố đông dân ven biển với phương án đề phòng địch đổ bộ đường biển là chính, với lực lượng địa phương là chính, có sự chi viện của một sư đoàn chủ lực của Quân khu 3.

        Sau đó Bộ Tổng tham mưu tổ chức diễn tập lớn ở một khu vực phòng thủ của một tỉnh miền Trung, đề phòng địch đổ bộ đường biển kết hợp với đổ bộ đường không để thực hiện chia cắt chiến lược. Ta vẫn phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng là chính, nhưng có sự chi viện một phần của sư đoàn chủ lực, binh chủng của Quân khu 5, một số đơn vị phòng không và không quân của Bộ đứng chân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Trong cuộc diễn tập này, cũng có các cố vấn Liên Xô tham dự (nhưng không tham gia vào phương án diễn tập) và các quân khu cả nước, các tỉnh bạn trong Quân khu 5 cử cán bộ đến rút kinh nghiệm để về tiến hành diễn tập trong các tỉnh (thành) thuộc các quân khu trong cả nước.

        Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo tất cả các tỉnh (thành) trong cả nước, đã tiến hành diễn tập xong trong các năm 1987 - 1988, đơn vị diễn tập cuối cùng là Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó do Bộ Tư lệnh Quân khu tự chỉ đạo các tỉnh (thành) trong quân khu mình, có tỉnh (thành) tập lại lần thứ hai, có tỉnh tập lại lần thứ 3. Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức tổng kết việc xây dựng và diễn tập khu vực phòng thủ trong 5 năm. Trong các cuộc diễn tập do Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, Cục Tác chiến vẫn là cơ quan tham mưu trung tâm hiệp đồng. Trong các cuộc diễn tập do Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo, Cục Tác chiến vẫn cử cán bộ tới giúp đỡ Bộ Tham mưu Quân khu và theo dõi rút kinh nghiệm.

        Sau hơn 2 năm phục vụ các đồng chí lãnh đạo mới của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu trong thời kỳ Đảng thực hiện đường lối “đổi mới”, bản thân tôi trong nhận thức tư tưởng và trong công tác cũng tự cảm thấy có bước phát triển. Tôi cũng nắm bắt được tình hình phát triển mới của đất nước, quán triệt các nghị quyết của Đảng trong việc nghiên cứu chiến lược và làm kế hoạch bổ sung phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Với quan điểm “lịch sử, thực tiễn và phát triển”, tôi không phủ định những việc quá khứ theo chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo trước đây là sai cả.

        Căn cứ vào tình hình lịch sử lúc đó phải làm như thế là cần thiết, nhưng căn cứ vào tình hình hiện nay mà vẫn giữ quan điểm chủ trương lúc đó thì không còn phù hợp. Căn cứ vào tình hình thực tiễn hiện nay, phải làm như thế này; nhưng tương lai tình hình phát triển thì có khi cứ giữ chủ trương việc làm như hiện nay, lại là bảo thủ, không phù hợp nữa.

        Thực hiện đường lối chung của Đảng về “đổi mới”. Có lần tôi hỏi đồng chí Lê Đức Anh về “đổi mới quân sự”, chỉ mấy câu ngắn gọn đồng chí giúp tôi có nhận thức và quan điểm đúng về vấn đề còn quá mới mẻ. Đồng chí nói:

        “Cái gì trước đây làm đúng, thì nay cứ tiếp tục làm.

        Cái gì trước đây làm sai, thì nay phải sửa lại.

        Cái gì trước đây chưa làm, nay thấy cần phải làm thì bổ sung thêm.

        Cái gì trước đây làm theo tình hình lúc đó, nay thấy cần thì thay đổi cho phù hợp với tình hình mới”.



Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:47:07 AM
        Tôi tôn trọng và phục tùng các đồng chí lãnh đạo mới, cũng như các đồng chí lãnh đạo cũ, vì các đồng chí đều là những đồng chí lãnh đạo cấp trên, những thủ trưởng của tôi. Tôi suy nghĩ như thế và cứ làm việc như thế, dù vẫn tiếp tục cương vị công tác cũ hay thay đổi công tác khác. Tôi đã làm việc với các đồng chí lãnh đạo mới hơn 1 năm (1987-1988), công việc vẫn suôn sẻ và giữa năm 1988 tôi được đề bạt quân hàm Trung tướng (trong đợt đề bạt đầu tiên sau Đại hội Đảng VI của Đảng dưới sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo mới).

        Đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh là thủ trưởng mới cũng là thủ trưởng cũ của tôi. Khi đồng chí là Cục phó Cục Tác chiến thì tôi là một cán bộ của Cục Tác chiến. Tôi đã bảo vệ và đưa đồng chí đi dọc Trường Sơn từ Bắc vào Nam. Khi đồng chí là Tư lệnh phó Miền, thì tôi công tác ở Bộ Tham mưu Miền và Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền.

        Khi đồng chí là Tư lệnh Quân khu 7, thì tôi là Tham mưu trưởng Quân khu 7. Khi đồng chí là Tổng tham mưu trưởng, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì tôi là Cục trưởng tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, thuộc Bộ Quốc phòng. Đồng chí Lê Đức Anh có khi đồng ý việc tôi làm, nhưng cũng có khi đồng chí “không đồng ý” việc tôi làm, nhưng tôi chưa bị đồng chí phê bình nặng lời lần nào.

        Qua những năm tháng làm việc với đồng chí Lê Đức Anh, tôi cũng đã học tập nhiều về những chủ trương đúng đắn và tác phong công tác của đồng chí.

        Chủ trương “đổi mới về quân sự” về điều chỉnh chiến lược về xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành), là những vấn đề chiến lược quan trọng. Tác phong làm việc của đồng chí có tranh thủ ý kiến cấp dưới, nhưng có tính quyết đoán, đi sâu sát xuống đơn vị, lên tận các chốt tiền duyên, ra các đảo xa bờ để chỉ đạo tác chiến và phòng thủ.

        Đồng chí Đại tướng Đoàn Khuê, tuy trong 2 cuộc kháng chiến tôi không cùng ở chung một đơn vị và dưới quyền chỉ huy trực tiếp của đồng chí, nhưng đồng chí là một cán bộ lãnh đạo cấp cao so với tôi, nên cũng là một thủ trưởng của tôi, nói chung trong quân đội. Đồng chí cũng là một người mà tôi đã được nhiều lần tiếp xúc trước khi đồng chí về làm Tổng tham mưu trưởng, rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tôi nhớ lại khi ở Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, cùng một chuyến bay của đồng chí Đoàn Khuê ở Bộ Tư lệnh 719 ra Hà Nội nhận chức Tổng tham mưu trưởng. Biết tôi cùng ra, đồng chí bảo đồng chí Lộc (Văn phòng Bộ Tổng tham mưu) lên phòng chờ đợi chung ở sân bay gọi tôi sang phòng chờ “khách đặc biệt” ở nhà bên cạnh để tôi cùng đi ôtô với đồng chí ra tận cầu thang máy bay. Trong phòng chờ, đồng chí nói với tôi: “Tôi ra nhận công tác ở Bộ đây! Lần đầu tiên về Bộ công tác, tôi chưa biết “làm ăn” thế nào đây. Lên cơ quan chiến lược to quá, hà hà, công việc mới mẻ, mênh mông, không phải như một quân khu hè, anh ở Bộ Tổng tham mưu lâu rồi, khi ra Hà Nội anh giới thiệu cho tôi kỹ mọi tình hình công việc nhé!”. Khi ngồi cùng một dãy ghế đầu trên máy bay, đồng chí cũng tranh thủ hỏi tôi: “Hồi anh Tấn làm Tổng tham mưu trưởng công việc hàng ngày làm những gì?, anh Lê Đức Anh về làm Tổng tham mưu trưởng đã làm những việc gì? đã có gì thay đổi trong chế độ công tác, trong cung cách làm việc không?...”.

        Trong thời gian anh Đoàn Khuê làm Tổng tham mưu trưởng, là thủ trưởng trực tiếp của tôi, quan hệ giữa anh và tôi vẫn bình thường, nhiều việc về tác chiến anh đều hỏi ý kiến tôi trước. Có nhiều việc về chủ trương tác chiến anh thường qua tôi, bảo tôi lên báo cáo xin ý kiến anh Lê Đức Anh trước khi quyết định hay trả lời cho các đơn vị. Cũng như với đồng chí Lê Trọng Tấn trước đây, tôi thường đi với anh xuống các đơn vị, hay các cuộc diễn tập “khu vực phòng thủ” ở tất cả các tỉnh (thành). Khi vào Thành phố Hồ Chí Minh, cũng có lần anh đi với anh Lộc (Văn phòng), tới nhà tôi chơi để xem nhà tôi ăn ở thế nào, có khó khăn gì khi tôi xa gia đình, như anh chị Lê Trọng Tấn và các thủ trưởng Bộ khác.

        Viết tới đây tôi lại sực nhớ một số kỷ niệm, nghĩ lại cũng buồn cười, là chuyện vui mà cũng thân tình trong quan hệ giữa các thủ trưởng cấp trên với tôi.

        Khi quân đội ta thực hiện “chế độ một thủ trưởng”, có nhiều đồng chí Chính ủy lâu năm, không chuyển sang làm Phó chính trị mà làm Tư lệnh, như đồng chí Nguyễn Quyết Chính ủy Quân khu 3, chuyển sang làm Tư lệnh Quân khu 3.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:50:32 AM
        Sau khi diễn tập chiến dịch ở Quân khu 2, Bộ Tổng tham mưu thông báo sắp tới sẽ diễn tập ở Quân khu 3. Đồng chí Ngô Minh - Tham mưu phó tác chiến Quân khu 3 lên gặp tôi bảo “anh Quyết nói mời anh xuống trước bồi dưỡng cho cơ quan Quân khu và trình bày kinh nghiệm diễn tập của các Quân khu cho anh biết, vì anh nói lần đầu tiên diễn tập chính qui về chiến dịch, làm bỡ ngỡ lúng túng đoàn cố vấn Liên Xô họ cười cho!”. Tôi và một số anh em tác chiến tới Quân khu 3, cùng đồng chí Nguyễn Hữu Sở (Tham mưu trưởng Quân khu tổ chức 2 cuộc diễn tập thử ở Quân khu). Đồng chí Nguyễn Quyết không “đóng” vai Tư lệnh mà giao đồng chí Nguyễn Trọng Xuyến - Tư lệnh phó Quân khu đóng vai Tư lệnh Quân khu. Đồng chí ngồi xem rất chú ý ghi chép, cả những nội dung thứ tự phát biểu của Tư lệnh trong các tình huống. Về nhà nghỉ, đồng chí ngồi một mình mở sổ ra xem lại.

        Kết thúc diễn tập khi bình tập, đồng chí Lê Trọng Tấn biểu dương Quân khu tiến hành diễn tập tốt và bình điểm Tư lệnh Quân khu (là Tư lệnh trong diễn tập chiến dịch) đạt điểm 5 (điểm cao nhất). Giờ ra nghỉ đồng chí Ôbaturốp ôm hôn đồng chí Nguyễn Quyết và giơ ngón tay cái lên nói “đồng chí là chính trị quân sự kiêm toàn! Là Chính ủy, nay là Tư lệnh rất giỏi! Rất thông thạo trong khi hạ quyết tâm chiến dịch, là một Tư lệnh tuyệt vời!”, đồng chí Nguyễn Quyết nhìn tôi vui vẻ cười!

        Tôi nhớ lại một lần diễn tập ở Quân khu 4, đồng chí Hoàng Minh Thi - nguyên Cục trưởng Tuyên huấn, Chính ủy Quân đoàn 1, Chính ủy Quân khu 4 rồi làm Tư lệnh Quân khu 4. Khi Bộ chỉ đạo Quân khu tiến hành diễn tập chiến dịch ở Quân khu 4, trước ngày diễn tập chính thức, đồng chí gọi tôi sang nhà ở của đồng chí, bảo tôi ngồi xem đồng chí “diễn tập thử” để góp ý kiến. Đồng chí cũng nói “anh có kinh nghiệm theo dõi diễn tập của các quân khu ngoài kia, bây giờ mình cũng lần đầu tiên làm quân sự, diễn tập tham mưu chính qui đây, anh ngồi xem tôi “làm thử” có chỗ nào không đúng thì bảo nhé! không ngày mai ra hội trường họ cười mình đấy!”. Đồng chí mặc quân phục, quân hàm vai, mũ kêpi, lưng đeo súng ngắn (theo qui định trang phục trong diễn tập của Quân khu), tay cầm que chỉ bản đồ quyết tâm chiến dịch, đứng trước một tủ gương, miệng tuyên bố hạ quyết tâm, tay chỉ bản đồ để tập thử, vừa làm động tác vừa xem hình mình trong gương. Tôi ngồi bên cạnh với bát nước chè xanh, đĩa kẹo “cuđơ” (kẹo lạc cặp bánh đa, đặc sản Khu 4) do đồng chí bồi dưỡng để quan sát tác phong chỉ huy và giọng hạ quyết tâm của Tư lệnh chiến dịch. Bất ngờ đồng chí Dương Bá Nuôi (Tư lệnh phó Quân khu) tính hay vui đùa, ở đâu đến, xô cửa ập vào trông thấy, vội đóng cửa chạy ra vừa cười, vừa la to: “Bay ơi, vào mà xem, Tư lệnh Quân khu ta đang diễn tuồng Tướng Quảng Lạc xuất trận!!!...”. Đồng chí Hoàng Minh Thi vội chạy lại đóng cửa gài chốt và nói “Đồ con khỉ!”.

        Thế mà lúc bình tập Tư lệnh Quân khu (Tư lệnh chiến dịch cũng đạt điểm 5). Tối đến đồng chí cũng mời tôi lên nhà chơi vui cười ha hả: “Thành công một phần nhờ cậu đấy”, cũng lại tặng tôi một gói kẹo “cuđơ” và một giỏ quả hồng của vườn hồng núi Đại Huệ .

        Còn với đồng chí Đoàn Khuê, trước đó cũng nguyên là Chính ủy Quân khu 5, chuyển sang là Tư lệnh Quân khu. Trong cuộc hội nghị tổng kết các cuộc diễn tập từ Quân khu 4 trở ra, thông báo của Bộ sẽ tiếp tục diễn tập Quân khu 5, rồi Quân khu 7, Quân khu 9. Hội nghị chưa bế mạc, đồng chí xin phép đồng chí Lê Trọng Tấn cho về trước để chuẩn bị diễn tập.

        Đồng chí kéo tôi cùng vào Quân khu (ở Đà Nẵng) để giúp đồng chí tập thử trước. Đồng chí nói “Mình từ trước đến nay chỉ ở chiến trường, chỉ làm chính trị, không trực tiếp chỉ huy quân sự, các cụ bắt làm Tư lệnh nhưng chưa được học hành gì về quân sự, về tham mưu hiện đại. Với diễn tập tác chiến, mình chưa biết “mô tê” gì, đứng trước hàng chục cố vấn Liên Xô, làm sai, họ cười cho “mốc trọ”! Làm thế nào không được 5 thì điểm 4 cũng được, đừng để điểm 3, điểm 2 nhé!”. Tôi nói: “Anh đã tham quan diễn tập một quân khu rồi (Quân khu 4), lại dự tổng kết rồi, có Trần Bá Khuê - Tư lệnh phó Tham mưu trưởng, giỏi về tham mưu, phụ tá lo gì!”. Anh cười nói: “Nhưng cậu ở trong Ban chỉ đạo và tổ chức diễn tập phải “gà” mình với”.

        Khi bình tập anh cũng được Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn biểu dương nhiều và đạt điểm 5. Giờ nghỉ tôi nghe đồng chí Hoàng Văn Thái (lúc này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách cán bộ), nói riêng với đồng chí Tấn: “Này! Anh thấy các Chính ủy Quân khu chuyển sang làm Tư lệnh Quân khu, theo chế độ mới “một thủ trưởng” đều làm tốt cả đấy! Anh Đoàn Khuê có nhiều triển vọng đấy!”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:53:57 AM
        Sau đó anh Thái nói chuyện riêng gì với anh Tấn tôi không nghe, nhưng mấy ngày sau khi về Hà Nội, tôi thấy tên anh Đoàn Khuê trong danh sách cán bộ cao cấp đi học ở Học viện Vôrôsilốp Liên Xô, mà anh Vũ Lập làm đoàn trưởng, anh Đoàn Khuê làm Đoàn phó kiêm Bí thư chi bộ.

        Như vậy, anh Đoàn Khuê là một đồng chí lãnh đạo mới, là Tổng tham mưu trưởng mới, thủ trưởng mới trực tiếp của tôi, nhưng cũng là một thủ trưởng cũ như các thủ trưởng khác mà tôi đã nhiều lần tiếp xúc, cũng quan hệ thân tình đồng chí, thân tình cấp trên với cấp dưới.

        “... Viết tới đây tôi tưởng nhớ đến Đại tướng Hoàng Văn Thái. Theo tôi được biết thì đồng chí Đoàn Khuê là người được đồng chí Hoàng Văn Thái, trước đây là Tư lệnh Quân khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cùng hoạt động với đồng chí Đoàn Khuê nay làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách công tác cán bộ, đánh giá là một thủ trưởng có triển vọng làm công tác quân sự nên đã đề nghị Quân ủy Trưng ương bổ nhiệm đồng chí Đoàn Khuê Chính ủy Quân khu 5 sang làm Tư lệnh Quân khu 5.

        Đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách công tác cán bộ, toàn quân ai cũng khen là một đồng chí lãnh đạo đi sâu sát tìm hiểu khả năng từng cán bộ, cân nhắc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ một cách khách quan, chính xác, rất quan tâm đến cuộc sống riêng tư của cán bộ, rất chú ý nâng đỡ cán bộ cách mạng cũ trong quân đội.

        Đồng chí quan hệ chặt chẽ, khắng khít với Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, thường xuyên dự họp với đồng chí Lê Trọng Tấn trong công tác nghiên cứu chiến lược và khoa học quân sự và cùng Tổng tham mưu trưởng dự tất cả các cuộc họp tổng kết lịch sử, diễn tập quân sự.

        Mỗi lần đồng chí Lê Trọng Tấn đi công tác ở Campuchia để dự tổng kết hoạt động quân sự sau một mùa hoạt động, hay bàn kế hoạch tác chiến ở Campuchia, đồng chí không bao giờ vắng mặt.

        Đồng chí Hoàng Văn Thái là một lão thành cách mạng, là con người mẫu mực, nhiệt tình công tác, chân thành, khiêm tốn, giản dị và nhân hậu. Đồng chí rất quan tâm tới mọi chiến sĩ, cán bộ, với tinh thần trách nhiệm cao. Đồng chí là Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của quân đội ta, đã góp nhiều công sức xây dựng cơ quan Bộ Tổng tham mưu từ ngày mới thành lập 7 tháng 9 năm 1945 và ngành tham mưu toàn quân. Đồng chí ân cần chỉ bảo cán bộ khi thực hiện nhiệm vụ, bình tĩnh lắng nghe ý kiến cấp dưới, khuyên bảo chân tình và chưa bao giờ nóng gắt với ai.

        Với tác phong dân chủ và tính thuyết phục cao, đồng chí đã làm gương tốt trong cơ quan Bộ Tổng tham mưu và toàn quân đoàn kết, thương yêu nhau, cùng gánh vác những công việc nặng nề từ khi đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mới thành lập. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mặc dầu sức khỏe yếu nhưng đồng chí đã lăn lộn trên chiến trường Khu 5 và Nam Bộ với cương vị Tư lệnh Quân khu 5, Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và cả trong thời gian về sau, ở những cương vị khác đồng chí vẫn tích cực hoạt động đi sâu sát xuống đơn vị, trước khi đồng chí qua đời!


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:56:31 AM

        Những công tác chính trong thời kỳ “đổi mới”

        Tôi công tác ở Bộ Tổng tham mưu qua 5 năm “đổi mới”, phục vụ chỉ đạo của thủ trưởng Bộ hoàn thành một số công việc lớn, như:

        - Nghiên cứu điều chỉnh chiến lược và nghiên cứu bổ sung vào kế hoạch phòng thủ bảo vệ Tổ quốc được Bộ chính trị thông qua.

        - Tổ chức thực hiện việc điều chỉnh bố trí lực lượng ở Việt Nam, nghiên cứu kế hoạch và tổ chức thực hiện rút quân tình nguyện ở Campuchia và ở Lào về nước.

        - Nghiên cứu lý luận về tổ chức phòng thủ khu vực tỉnh (thành), giúp thủ trưởng Bộ tổ chức thực hiện diễn tập thực nghiệm ở tất cả các tỉnh (thành) trong cả nước và tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm. Qua đề tài này tôi đã được đồng chí Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng, xếp vào danh sách nghiên cứu đề tài này. Lúc đó có đồng chí Nguyễn Văn Lân là cán bộ Phòng Huấn luyện chiến dịch Cục Tác chiến giúp tôi chuẩn bị tài liệu (sau này đồng chí Nguyễn Văn Lân là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 3). Khi tôi ra báo cáo bảo vệ luận án với hội đồng nghiệm thu đề tài của Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng, bỏ phiếu 100 phần trăm và được Hội đồng khoa học Nhà nước cấp bằng học hàm Phó giáo sư năm 1990.

        Đầu năm 1998, tôi tháp tùng đồng chí Tổng tham mưu trưởng Đoàn Khuê đi thăm Cu Ba, chuẩn bị văn bản hiệp nghị để 2 Tổng tham mưu trưởng Đoàn Khuê và Tổng tham mưu trưởng Cu Ba Ulixết ký kết về hợp tác nghiên cứu “học thuyết xung đột cường độ thấp”. Tôi được chỉ định là tổ trưởng nghiên cứu của Việt Nam (gồm tôi, đồng chí Thanh - Cục phó quân báo và đồng chí Bùi Tấn Phụ - cán bộ Cục Tác chiến); phía Cu Ba có đồng chí Forfolio - Cục trưởng Cục Tác chiến và 2 đồng chí Cục Khoa học quân sự Cu Ba. Đề tài chuẩn bị xong được Tổng tham mưu trưởng Đoàn Khuê thông qua. Bên Cu Ba cử đoàn đồng chí Forfolio mang tài liệu sang trao đổi với chúng tôi vào năm 1989.

        Ngoài ra theo chức trách, tôi thường xuyên cùng Cục Tác chiến tổ chức theo dõi tình hình bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trên biên giới, bờ biển, hải đảo. Chỉ có một việc đáng tiếc xảy ra là năm 1988, nước ngoài cho quân chiếm một số đảo ngầm ở quần đảo Trường Sa, hai tàu vận tải hải quân của ta ra tiếp tế cho các đảo của ta đã có quân chiếm đóng thì bị tàu chiến hải quân nước ngoài bắn chìm, gây tổn thất lớn cho ta. Sự việc này do xử lý sai của Tư lệnh Hải quân vùng 4, bị Bộ trưởng phê bình nghiêm khắc. Cục Tác chiến tuy không bị khiển trách, nhưng chúng tôi cũng nhận một phần trách nhiệm về mình, do không được nắm chắc tình hình báo cáo Bộ, để có chỉ thị ngăn chặn kịp thời và chỉ đạo phương thức hoạt động tàu hải quân ta một cách linh hoạt khôn khéo hơn.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 08:58:38 AM

        Tham dự đại hội Đảng toàn quân, chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII

        Đầu năm 1990, Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu cơ quan Bộ Quốc phòng tiến hành đại hội và bầu đại biểu đi dự đại hội Đảng toàn quân, tôi là 1 trong 2 đại biểu được Đảng bộ Bộ Tổng tham mưu bầu với số phiếu cao.

        Giữa năm 1990, Đại hội Đảng toàn quân họp, tôi cũng được giới thiệu trong danh sách bầu cử đại biểu toàn quân để đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.

        Trong đại hội, đồng chí Lê Đức Anh tuyên bố danh sách các đại biểu các tổ để bầu ở đại hội. Lúc thông qua lần cuối cùng, trước khi đại hội tiến hành bầu cử, cũng có tên tôi. Sau đó 2 đại biểu đứng dậy xin rút danh sách (đồng chí Cục trưởng Cục Tổ chức và đồng chí Nguyễn Trọng Hợp - Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị), với lý do để tập trung phiếu cho các đồng chí khác ở Tổng cục. Lúc đó, tôi cũng có suy nghĩ, nên để mình trong danh sách bầu cử hay xin rút? Trong tư tưởng lúc đó cũng phân vân. Đại hội VI toàn quốc mình là đại biểu chính thức, nhưng vắng mặt, đi tham quan diễn tập ở Cu Ba. Đại hội lần này, mình cũng có kế hoạch đi Lào giúp bạn tổ chức tập huấn cho cán bộ Lào về khu vực phòng thủ, và tháng 12 năm 1990 lại đi Cu Ba theo lời mời của tổ nghiên cứu “học thuyết xung đột cường độ thấp” của Bộ Tổng tham mưu Cu Ba, đã được Tổng tham mưu trưởng Đoàn Khuê phê chuẩn. Danh sách đi Cu Ba có tôi và đồng chí Bùi Tấn Phụ đã được Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng thông qua và Bộ Tài chính đã cấp ngoại tệ mua vé máy bay và chi phí khác. Năm 1986, cũng vì lý do đi dự diễn tập “pháo đài 86” ở Cu Ba mà phải vắng mặt ở đại hội VI. Năm nay đã có kế hoạch đi trình bày về đề tài “Học thuyết xung đột cường độ thấp” với Cu Ba, theo hiệp nghị 2 Tổng tham mưu trưởng đã ký kết, nếu mình ở lại để hy vọng được bầu đi đại hội toàn quốc (mà chưa chắc đã trúng cử), thì sợ người ta cho mình là “hám danh, hám địa vị”, nên tôi giơ tay xin rút khỏi danh sách đề cử.

        Sau khi tôi xin rút khỏi danh sách, thì đồng chí Trần Văn Quang, đồng chí Trần Sâm ngồi dãy ghế phía trước quay lại nói: “Sao lại thế! Sao lại rút?”.

        Đồng chí Trần Sâm còn phê bình: “Thế là thiếu ý thức chính trị!”. Đồng chí Vĩnh, Tư lệnh Hải quân ngồi ghế sau cũng bấm vào vai tôi nói: “Sao lại rút, nên để danh sách thì hơn?...”. Trưa về Cục Tác chiến, nhiều anh em cán bộ như đồng chí Bùi Tấn Phụ, đồng chí Nguyễn Thông, Võ Ngọc Đạo... cũng xuýt xoa nói: “Tiếc quá! sao anh lại rút? Anh ở lại danh sách bầu cử, cũng có triển vọng trúng cử đấy! Nghe nói bản tham luận của anh ở đại hội được nhiều đại biểu khen đấy!...”.

        Buổi chiều sau khi bỏ phiếu bầu cử, ban kiểm phiếu đang làm việc, thì đồng chí Lê Đức Anh đi qua chỗ tôi ngồi hỏi: “Anh bị bệnh cao huyết áp à?”. Tôi trả lời: “Không ạ! Tôi chỉ bị bệnh tiểu đường thôi”.

        Đồng chí Lê Đức Anh nói tiếp: “Thế sao anh lại rút danh sách đề cử?...”.

        Sau đại hội một ngày, tôi cùng một số cán bộ Cục Tác chiến (đồng chí Đồng Thoại, Giang Hà, Nguyễn Tư Lạc...) sang giúp Bộ Tổng tham mưu Lào tổ chức tập huấn xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành). Mười ngày sau, tôi cùng đồng chí Bùi Tấn Phụ đi máy bay sang Cu Ba trao đổi về tài liệu nghiên cứu “Học thuyết xung đột cường độ thấp”, theo quyết định của Tổng tham mưu trưởng Đoàn Khuê.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:02:36 AM

        Làm công tác tổng kết ở Bộ Tổng tham mưu và nghiên cứu đề tài chiến lược cấp Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao

        Gần một tháng sau, khi tôi đi công tác ở Cu Ba về, một hôm sau khi dự giao ban Bộ, tại Sở chỉ huy Cục Tác chiến, đồng chí Đoàn Khuê (lúc này vẫn còn làm Tổng tham mưu trưởng), kéo tay tôi ngồi lại và nói: “Đồng chí Phi Long sang làm tổng kết Bộ Tổng tham mưu với đồng chí Lê Ngọc Hiền được một năm rồi, không hiểu sao đồng chí ấy lại xin thôi làm tổng kết và xin nghỉ hưu? Chiến tranh đã kết thúc gần 16, 17 năm rồi, mà Ban tổng kết lịch sử cứ kéo dài mãi, không biết khi nào hoàn thành việc tổng kết chống Mỹ? Anh Phi Long mà nghỉ, để lại cho anh Lê Ngọc Hiền, anh ấy tuy nắm tình hình Bộ Tổng tham mưu rất chắc vì ở lâu đã nắm được nhiều vấn đề cơ mật, nhưng anh ấy lại không tự tay viết, mà cơ quan tổng kết này không có anh Phi Long giúp anh Hiền, thì không biết kéo dài đến khi nào xong? Anh sang giúp anh Hiền, tranh thủ làm cho xong trong một thời gian ngắn nhất được không?”. Tôi trả lời: “Vâng được, nếu anh giao thì tôi làm? Thay tôi thì có anh Vũ Cao có thể làm Cục trưởng tác chiến được rồi. Vậy khi nào tôi bàn giao việc cho anh Vũ Cao để sang làm tổng kết?”. Anh Đoàn Khuê nói: “Nói thế thôi! để tôi còn bàn với Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu và xin ý kiến anh Sáu Nam đã! ...”.

        Một tuần sau, đồng chí Ngọc (Bí thư anh Sáu Nam) đến phòng làm việc của tôi, đưa xem một bản đánh máy quyết định điều tôi sang làm Trưởng ban tổng kết Bộ Tổng tham mưu, do đồng chí Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký tên (nhưng chưa ký).

        Đồng chí Ngọc nói với tôi: “Cục Chính trị Bộ Tổng tham mưu đưa quyết định này để anh Sáu Nam ký, nhưng anh Sáu đã xem, chưa ký và bảo đồng chí Ngọc xuống hỏi anh Khánh sức khỏe thế nào mà xin sang làm tổng kết. Anh Sáu nói: Đồng chí Khánh tưởng sang làm tổng kết thì khỏe hơn làm tác chiến à! Bảo Khánh cứ làm Cục trương Tác chiến một vài năm nữa rồi nghỉ cũng được...”.

        Khoảng một tháng sau, lúc này đồng chí Phi Long đã nghỉ hẳn, đồng chí Đoàn Khuê đã lên làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Lê Đức Anh lên làm Chủ tịch nước. Một hôm đồng chí Đoàn Khuê gọi tôi lên rồi nói: “Bây giờ anh bàn giao công việc cho anh Vũ Cao và sang làm trưởng ban tổng kết nha! Ông Hiền đang kêu, tại sao không cho Khánh sang giúp tôi, Phi Long đã về nghỉ rồi, bỏ bê công việc cho tôi một mình, thì làm sao được?”. Tôi nói: “Vậy tôi sẽ sang ngay, nhưng tôi cũng cố làm 1-2 năm nữa cho xong thôi, rồi tôi cũng xin nghỉ, nhưng đề nghị Trưởng ban tổng kết vẫn anh Phan Văn Cần làm, vì anh đó đã phụ trách trưởng ban lâu rồi, tôi chỉ làm chuyên môn giúp anh Hiền và anh Cẩn thôi, làm Trưởng ban thì phải lo nội bộ nữa, mệt lắm! Cho tôi vẫn sinh hoạt Đảng ở Cục Tác chiến, cho đến khi tôi xong công việc tổng kết, nghỉ hẳn...”. Anh Đoàn Khuê nói: “Thế cũng được, cũng như anh Lê Ngọc Hiền vẫn sinh hoạt ở Văn phòng Bộ Tổng tham mưu, mà chỉ đạo tổng kết...”.

        Tôi sang làm tổng kết của Bộ Tổng tham mưu và mấy ngày sau có quyết định do Đại tướng Đoàn Khuê Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký! “...Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh, Cục trưởng Cục Tác chiến nay sang làm nhiệm vụ Tổng kết Bộ Tổng tham mưu...

        Bổ nhiệm Thiếu tướng Vũ Cao (khi đó là Thiếu tướng), Cục phó Cục Tác chiến làm Cục trưởng Cục Tác chiến...”.

        Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng tham mưu phó Lê Ngọc Hiền và sự hợp tác của các đồng chí trong Ban tổng kết lịch sử Bộ Tổng tham mưu do đồng chí Phạm Văn Cẩn làm Trưởng ban, sau một năm, tôi viết xong bản dự thảo lần thứ nhất “Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước...” và tôi nhờ bộ phận máy tính phòng sở chỉ huy (đồng chí Sơn), đồng chí Thân và cô Hạnh (Ban hành chính) Cục Tác chiến giúp đỡ đánh vi tính, in, đóng sách gởi các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu và các đồng chí trong ban tổng kết để xin ý kiến sửa chữa và bổ sung.

        Hoàn thành bước đầu bản dự thảo tổng kết Bộ Tổng tham mưu vào năm 1993, tôi xin nghỉ hưu (đã làm đơn gởi các đồng chí Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Đào Đình Luyện, Tổng tham mưu trưởng, Bí thư Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu cơ quan Bộ Quốc phòng và gởi đồng chí Lê Ngọc Hiền, Phan Văn Cẩn. Tôi nhờ cô Hạnh đánh máy vi tính của Cục Tác chiến đơn xin nghỉ hưu và nhờ bảo mật văn thư Cục Tác chiến gởi các thủ trưởng.

        Mấy ngày sau, đồng chí Đào Đình Luyện gặp tôi hỏi: “Anh làm xong tổng kết chưa mà xin nghỉ. Đồng chí Lê Khả Phiêu hỏi tôi, đồng chí Khánh thôi làm tổng kết thì Bộ Tổng tham mưu bố trí công tác gì?”.

        Tôi nói: “Tôi đã viết bản dự thảo lần 2 xong rồi và đã gởi cho anh một bản xin ý kiến chắc anh bận chưa đọc à? Tôi cũng xin nghỉ hưu như anh Phi Long thôi!”.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:04:25 AM

        Làm chủ nhiệm đề tài chiến lược: Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp thế trận an ninh nhân dân để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

        Thời kỳ này theo quyết định của Hội đồng khoa học Nhà nước, Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường quyết định giao cho các Bộ làm để tài khoa học cấp Nhà nước, trong đó Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ được giao một chương trình nghiên cứu “Chiến lược quốc phòng an ninh”, do đồng chí Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Chủ nhiệm chương trình, đồng chí Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Đỗ Trình, Trung tướng Bộ Nội vụ Dương Thông - Trưởng ban nghiên cứu chiến lược nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Bộ Nội vụ trong Ban Chủ nhiệm chương trình. Trong “chương trình khoa học” này, có 15 đề tài được Bộ Quốc phòng phân chia cho Bộ Tổng tham mưu và các Cục cử cán bộ nghiên cứu. Cục Tác chiến được phân công 3 đề tài (xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp thế trận an ninh nhân dân - chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến - Chiến lược bảo vệ biển và quần đảo kết hợp với kinh tế biển...). Theo ý kiến của đồng chí Nguyễn Thới Bưng và đồng chí Vũ Cao giao cho tôi làm Chủ nhiệm đề tài “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp thế trận an ninh để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” ký hiệu là “KX09-07”. Còn 2 đề tài khác do Cục phó Nguyễn Văn Ninh, và đồng chí Trí, Trưởng phòng kế hoạch làm Chủ nhiệm đề tài.

        Trong bản quyết định danh sách các chủ nhiệm đề tài của chương trình khoa học, do Bộ trưởng Đoàn Khuê ký, thì tôi là Chủ nhiệm đề tài trên, Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định đồng chí Đại tá Nguyễn Xuân Thịnh (sau là Thiếu tướng) Cục trưởng Cục Tham mưu tổng hợp Bộ Nội vụ làm Phó chủ nhiệm đề tài.

        Trong Ban chủ nhiệm đề tài KX09-07 có đồng chí Đại tá Nguyễn Tự Lạc làm thư ký đề tài và đề tài này còn có 5 đề tài nhánh là:

        - Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, do đồng chí Phó tiến sĩ Đại tá Trần Độ, Cục Khoa học quân sự phụ trách.

        - Xây dựng thế trận an ninh nhân dân, do đồng chí Nguyễn Xuân Thịnh.

        - Phân vùng chiến lược do Thiếu tướng Phú Chút phụ trách.

        - Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành) do Đại tá Hoàng Xuân Lâm, Phó chủ nhiệm khoa Quân sự địa phương Học viện Quân sự cấp cao (sau này là viện phó Viện Chiến lược quân sự Bộ Quốc phòng) phụ trách.

        - Xây dựng hậu phương chiến lược, do Đại tá Giang Hà phụ trách (sau này là Trưởng ban tổng kết Bộ Tổng Tham mưu).

        Đề tài được nghiên cứu biên soạn trong 2 năm, qua 3 cấp hội đồng khoa học nghiệm thu (Hội đồng khoa học của Ban Chủ nhiệm chương trình KX09, Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng và Hội đồng khoa học Nhà nước).

        Năm 1994, Hội đồng khoa học cấp Nhà nước nghiệm thu đề tài có 11 đồng chí, do đồng chí Lê Minh Hương là Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm chủ nhiệm Hội đồng. Trong Hội đồng còn có các đồng chí Đặng Hữu - Bộ trưởng và một đồng chí Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, đồng chí Nguyễn Thới Bưng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Đặng Quân Thụy - Phó chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo - Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự, Thượng tướng Nguyễn Hữu An - Giám đốc Học viện cao cấp làm phản biện 1, một đồng chí Giám đốc Học viện công an Bộ Nội vụ làm phản biện 2. Trung tướng Dương Thông - Phó Tổng Cục trưởng An ninh Bộ Nội vụ, đồng chí... PTS chuyên viên Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Trung tướng Đỗ Trình - ủy viên Hội đồng kiêm Tổng thư ký. Ngoài ra còn một số khách mời, như đồng chí Giáo sư Đỗ Nguyên Phương - Phó giám đốc Học viện chính trị quốc gia (sau này là Bộ trưởng Bộ Y tế), đồng chí Đoàn Chương - Viện phó Viện Chiến lược quân sự, v.v...

        Sau khi tôi (Chủ nhiệm đề tài KX09-07) báo cáo tóm tắt đề tài, các phản biện 1, 2 và các đồng chí trong Hội đồng chất vấn, tôi đã trả lời bảo vệ luận án. Hội đồng họp riêng bỏ phiếu kín đề tài đạt tiêu chuẩn “xuất sắc” với 100 phần trăm số phiếu bầu.

        Đó là một thành công của tập thể Ban nghiên cứu đề tài khoa học “Cấp nhà nước KX09-07” của chúng tôi, có sự chỉ đạo nghiên cứu của Ban chủ nhiệm chương trình chiến lược quốc phòng an ninh “KX09”, sự giúp đỡ góp ý kiến của các đơn vị cơ sở (thủ trưởng và cán bộ Cục Tác chiến và Cục Tham mưu tổng hợp Bộ Nội vụ).


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:07:23 AM

        Trở lại làm công tác tổng kết của Bộ tổng tham mưu

        Sau khi hoàn thành nghiên cứu chương trình khoa học cấp Nhà nước “KX09-07” theo chỉ thị của đồng chí Bộ trưởng Đoàn Khuê và đồng chí Tổng tham mưu phó Nguyễn Thế Bôn phụ trách Tổng kết Bộ Tổng tham mưu (lúc này thay đồng chí Lê Ngọc Hiền nghỉ hưu), tôi và Thiếu tướng Hoàng Dũng nguyên Chánh văn phòng Bộ Tổng tham mưu giúp đồng chí Đại tá Giang Hà (lúc này thay đồng chí Phan Văn Cẩn - Trưởng ban Tổng kết lịch sử Bộ Tổng tham mưu nghỉ hưu) làm Chủ nhiệm Ban biên soạn đề tài “Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”.

        Thừa hưởng sự nghiệp của các đồng chí phụ trách tổng kết cũ (đồng chí Lê Ngọc Hiền - Phi Long - Phan Văn Cẩn) và tập thể cán bộ trong Ban tổng kết Bộ Tổng tham mưu, được sự chỉ đạo chặt chẽ của đồng chí Văn Tiến Dũng, dựa vào tài liệu dự thảo tổng kết lần thứ nhất, sau một năm biên soạn bổ sung, cuối cùng tài liệu đã được tập thể các thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu (các đồng chí Văn Tiến Dũng, Đoàn Khuê, Phạm Văn Trà, Nguyễn Trọng Xuyên, Trần Hanh, Lê Ngọc Hiền, Nguyễn Thế Bôn, Đỗ Đức, Phan Hàm, Cao Pha - nguyên Viện phó Viện Lịch sử quân sự) và một số thủ trướng các Cục đương chức thông qua, nghiệm thu đề tài.

        Sau đó, Ban tổng kết lịch sử Bộ Tổng Tham mưu tu chỉnh tài liệu, in phát hành gửi các quân khu, quân đoàn, binh chủng, các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, làm tài liệu nghiên cứu tham khảo để làm tổng kết công tác tham mưu cấp mình.

        Tham gia tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong 25 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 -2000)

        Sau khi hoàn thành tài liệu “Tổng kết Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, theo quyết định của đồng chí Trần Hanh Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi và đồng chí Nguyễn Tự Lạc lại có nhiệm vụ giúp đồng chí Giang Hà (Trưởng Ban Tổng kết Bộ tổng tham mưu) tiếp tục làm “Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong 25 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

        Viết dự thảo lần thứ nhất xong, in thành 2 tập.

        Đầu năm 1999, Thủ trưởng Bộ do đồng chí Thiếu tướng Trần Công Thìn, Phó Tổng tham mưu trưởng (phụ trách nội bộ và tổng kết) chủ trì mời một số cán bộ cao cấp phía Nam (các đồng chí Nguyễn Thới Bưng, Hoàng Cầm, Phan Hàm, Lê Phi Long, Khiếu Anh Lân, Minh Long, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Lê Nam Phong, Hoàng Dũng,...) tham dự và góp ý kiến.

        Sau cuộc họp lấy ý kiến của các cán bộ cao cấp phía Nam, giữa năm 1999, Thủ trưởng Bộ lại tổ chức họp ở Trạm 66 (Hà Nội) mời các Thủ trưởng Bộ cũ (đồng chí Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân, Lê Ngọc Hiền.

        Đỗ Đức, Nguyễn Thế Bôn), Nguyễn Đình Ước - Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự; các thủ trưởng cũ của Cục Tác chiến Lê Hữu Đức, Vũ Cao, Đồng Thoại, Nguyễn Văn Ninh, Phú Chút, Tổng cục phó Tổng cục 2, các Thủ trưởng các Cục đương chức và các đồng chí trong Ban tổng kết Bộ Tổng Tham mưu do Thiếu tướng Trần Công Thìn Phó Tổng tham mưu trưởng chủ trì để tham gia ý kiến vào tài liệu tổng kết.

        Sau khi đã được hai cuộc họp cán bộ cấp cao ở thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà Nội tham gia ý kiến vào bản thảo lần 2, về “Tổng kết Bộ Tổng Tham mưu trong 25 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, tài liệu này đã được Ban Tổng kết lịch sử Bộ Tổng Tham mưu tu chỉnh lại; Tổng tham mưu trưởng đã thông qua và phát hành vào năm 2001.

        Tôi về nghỉ hưu năm 1998, lại được Chủ tịch nước (gửi vào Thành phố) tặng thêm một Huân chương Độc lập hạng nhì.

        Từ đó đến nay, tôi trở lại cuộc sống đời thường, tham gia tích cực, là một thành viên trong Chi hội Cựu chiến binh (Chi hội 2) và là một đảng viên trong chi bộ A2 thuộc Đảng bộ phường Đakao - Quận 1 và đến năm 2007, tôi chuyển sang cư trú ở phường 4 - Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh.

        Thế là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một quân nhân trong 55 năm phục vụ Quân đội (1/9/1945 - cuối năm 1998), hoàn thành trách nhiệm một đảng viên Cộng sản Việt Nam trong hơn 60 năm phấn đấu trong hàng ngũ Đảng (2/1947 đến tháng 2 năm 2007), được nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng của Ban Tổ chức Trung ương.

        Bây giờ là một “công dân” trong cuộc sống “đời thường” tôi nguyện tiếp tục giữ vững truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, bản chất người đảng viên cộng sản trong những năm còn lại của cuộc đời. Cuộc đời còn có thể kéo dài, ngoài 80! Như nhiều đồng chí khác; phải cố gắng rèn luyện sức khỏe, để kéo dài tuổi thọ hơn nữa.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:09:25 AM
         
Đôi điều suy gẫm

        Qua hơn nửa thế kỷ phục vụ quân đội, từ người lính trở thành cán bộ chỉ huy, khi ở đơn vị chiến đấu, khi ở cơ quan tham mưu, biết bao việc làm đúng, có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những khuyết điểm. Nay hồi tưởng lại, không thể nào nhớ hết. Suy ngẫm qua cuộc đời bộ đội tôi rút ra vài điều sau đây:

        1 - Quán triệt đường lối nghị quyết của Đảng, bám sát tình hình thực tiễn, mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình

        Có thể có người nói: “Đó là nguyên tắc muôn thuở!”. Tôi suy ngẫm qua cuộc đời bộ đội của mình, viết điều đó lên hàng đầu. Vì với bản thân, ôn lại qua hơn 55 năm, những việc gì mình đã làm đúng, làm nên việc, cũng là nhờ nắm được điều đó. Ngược lại là phạm sai lầm.

        Tôi rất tâm đắc lời kết luận trong cuốn hồi ức “Niềm tin và lẽ sống” của Trung tướng Nguyễn Đệ (Ba Trung) nguyên Tư lệnh Quân khu 9 (trang 468) viết:

        “Niềm tin tạo nên lẽ sống và lẽ sống là kết quả tất yếu của niềm tin với Đảng anh minh...”.

        Tin ở Đảng, quán triệt các đường lối, chấp hành đúng đắn các nghị quyết của Đảng, là “lẽ sống”, là kim chỉ nam hành động, trong cuộc sống chiến đấu của mình...”.

        Tôi đọc cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, thấy ở trang 357 chương X (Những “dòng suy ngẫm” đầu tiên mà đồng chí nêu lên là chân lý tất yếu:

        “Kiên định mục tiêu cách mạng, vận dụng thế giới quan, quan điểm thực tiễn, phương pháp luận Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là bài học mang tính cách mạng và khoa học, có ý nghĩa to lớn của học thuyết quân sự việt Nam, trong thời đại Hồ Chí Minh. Làm đúng theo bài học đó thì thành công.

        Không làm theo bài học đó thì sai lầm, thất bại...”.

        Ở tầm vĩ mô đồng chí Võ Nguyên Giáp tổng kết về chiến lược, thì đó cũng là bài học quan trọng nhất, sâu sắc nhất!

        Ở một con người, một đảng viên, trong cuộc đời quân ngũ của tôi, từ chiến sĩ, tiểu đội trưởng tự vệ, hoạt động trong Đoàn thanh niên Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, trước khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, cho đến khi gia nhập Đảng, trưởng thành từ người cán bộ cấp thấp lên cao, thì điều đó cũng là điều suy ngẫm đầu tiên của tôi.

        Hơn 60 năm qua, cách mạng Việt Nam đã phát triển qua nhiều giai đoạn, Quân đội nhân dân Việt Nam đã qua các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình lãnh đạo của Đảng bên cạnh sự phát triển, thuận lợi cũng có bước thăng trầm gặp khó khăn. Khi chuyển chiến lược qua từng giai đoạn hay thực hiện đường lối “đổi mới” Đảng ta đều có các nghị quyết, chính sách thích ứng đối với từng thời kỳ.

        Tổ chức hay cá nhân, ở bất cứ cương vị nào, trong bất cứ thời kỳ nào, tình huống nào, khi thực thi nhiệm vụ nào cũng phải nắm vững điều đó!

        Nắm vững và vận dụng lại phải theo quan điểm “lịch sử, thực tiễn và phát triển”.

        Có những chủ trương và việc làm phù hợp với yêu cầu thực tiễn tình hình hiện tại; nhưng có thể không phù hợp và chưa thể làm, căn cứ vào tình hình khách quan lịch sử của quá khứ. Những chủ trương việc làm hiện tại, nhưng sau này tình hình phát triển, cũng có thể phải bổ sung thay đổi. Tính “phủ định tất cả!?” là sai, nhưng “bảo thủ giữ mãi” cũng là không đúng!

        Muốn nắm vững và vận dụng chủ trương chính sách của Đảng, phải ra sức học tập, học tập mãi. Học tập lý luận trên sách vở, lại phải học tập trong công tác thực tế, trong chiến đấu thực tế. Muốn trưởng thành, tiến lên là phải học tập không ngừng.

        Phải “tự học”, học cái hay của những người xung quanh mình, của thủ trưởng cấp trên và học tập kinh nghiệm các nước bạn. “Tự học”, tự rèn luyện mình là rất quan trọng. Ngoài việc tự nghiên cứu sách vở, báo chí, phải tự rút kinh nghiệm việc làm thực tế của mình, việc nào làm đúng, việc nào làm sai, để dần dần bớt việc làm sai và làm nhiều việc đúng.

        Học những cái hay của những người xung quanh, của Thủ trưởng cấp trên, cả về tri thức, cả về đạo đức, tác phong. Phải học tập những kinh nghiệm của bạn, nhưng với tinh thần độc lập, tự chủ, vận dụng sát vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước mình, tránh máy móc dập khuôn.

        Như lời dạy của Bác Hồ (tháng 4/1958, trong lễ bế mạc khóa 10 Trường Sĩ quan Lục quân): “... Cần mạnh dạn áp dụng những điều đã học được, nhưng phải áp dụng một cách thiết thực, thích hợp với hoàn cảnh của ta, chớ giáo điều, chớ máy móc...”.

        Học lý luận kết hợp với tổng kết thực tiễn để không ngừng nâng cao trình độ lý luận và khả năng công tác thực tiễn của mình...


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:13:42 AM

        2- Quan hệ đoàn kết với mọi người để sống thanh thản, hòa hợp trong mọi hoàn cảnh, môi trường, hoàn thành mọi nhiệm vụ!

        Hồ Chủ tịch đã dạy:

        “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

        Thành công, thành công, đại thành công”.


        Đó là đức tính cao đẹp nhất của Bác Hồ và cũng là kim chỉ nam vạch ra mọi chính sách, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tạo nên sức mạnh vĩ đại để hoàn thành mọi nhiệm vụ Cách mạng. Bác Hồ là “biểu tượng” của sự đoàn kết các tầng lớp, các dân tộc, của toàn dân, và quốc tế.

        Sự nghiệp cách mạng nói chung, “Đoàn kết” là yếu tố cơ bản để giành thắng lợi. Một con người cũng vậy:

        Không đoàn kết thì chẳng làm nên việc gì.

        Quan hệ trong xã hội cũng vậy: “Người với người là bạn”.

        Quan hệ trong nội bộ Đảng: “Phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

        Quan hệ trong gia đình: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”.

        Muốn đoàn kết được với mọi người, trong mọi hoàn cánh, thì trước hết bản thân phải có lòng chân thành, có tính vị tha, có thái độ khiêm tốn, kiên trì, nhiệt tình, cởi mở.

        Quan hệ trong xã hội: “Người với người là bạn”; nhưng khi những con người ấy đã thành “kẻ thù của nhân dân”, thì không còn là bạn nữa, Khi kẻ thù đó không còn hành động thù oán gì với nhân dân, thì ta có thể hợp tác như là “bạn”. “Ta đánh kẻ chạy đi, không bao giờ đánh kẻ chạy lại với ta...”.

        “Quan hệ cá nhân với đồng chí, đồng đội” là đoàn kết gắn bó cùng mục tiêu lý tưởng, thành thực, nhưng không thành kiến.

        Có người nhấn mạnh: “Đoàn kết nhưng phải đấu tranh”, không nên “dĩ hòa vi quý”. Nhưng không nên “Đấu tranh bằng đao to búa lớn”, mà đấu tranh phải có lý có tình, bảo vệ chân lý, giữ vững nguyên tắc, nhưng có thể bỏ qua những chuyện nhỏ nhặt thì “dĩ hòa vi quý” cũng là điều đúng.

        Sống với nhau có “nhân tâm”, có “tình nghĩa”:

        “Chữ “tâm” quý báu hơn vàng.

        Có “tình”, nhớ mãi hàng ngàn năm sau”.


        Có người vì lý do gì đấy, mà thành kiến với mình, nói nặng lời với mình, thậm chí căm ghét mình, thì cũng không nên vì thế mà “trả thù” lại, hoặc lánh né xa đi.

        Tôi không tán đồng ý kiến của đồng chí T... trong bài đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 30 tháng 7 năm 2000 có câu:

        “Dao đâm có lúc lành thương tích

         Lời nói đâm nhau hận suốt đời...”


         Tất nhiên lời nói “đâm nhau” của ai đó là “xấu”: nhưng cũng không nên vì thế mà “hận suốt đời”.

        Cũng không nên vì người có lời nói “đâm mình” thì mình phải nói “đâm lại”!

        Tôi rất phục có đồng chí lãnh đạo, bị kẻ xấu xuyên tạc, nói thế này, thế nọ, để nhằm hạ uy tín, giảm công lao của đồng chí đó đối với Đảng với nhân dân, nhưng:

        “Hữu xạ thì tự nhiên hương”

        “Dù ai nói ngả, nói nghiêng

         Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân!”.


        Đồng chí lãnh đạo đó vẫn vững vàng, tin tưởng ở Đảng, ở tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục cống hiến cho cách mạng đến trọn đời mình.

        Trong mỗi gia đình, quan hệ vợ chồng, con cái là quan hệ ruột thịt, cùng chung máu mủ thì giữ gìn đoàn kết là giữ gìn sự êm ấm, hạnh phúc gia đình.

        Không phải là “tề gia” để “trị quốc, bình thiên hạ”.

        Nhưng mỗi gia đình có hòa thuận, thì xã hội mới yên bình. Tất nhiên trong gia đình không xuề xòa, bỏ qua mọi chuyện làm ăn sai trái, bỏ qua “kỷ cương phép nước”, “cá mè một lứa”. Phải giữ nếp “thuần phong, mỹ tục”, “truyền thống dòng họ, tổ tiên”. Ông cha ta cũng thường khuyên răn:

        “Một sự nhịn, là chín sự lành...”

        “Chồng giận thì vợ làm lành,

        Miệng cười vui vẻ, rằng anh giận gì?...”


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:14:57 AM

        3- Tôn trọng tập thể, phát huy trí tuệ tập thể thì công việc làm mới đúng đắn; công tác nghiên cứu mới chính xác, toàn diện.

        Dù ở cương vị nào cũng vậy. Khi ở đơn vị chiến đấu hay ở cơ quan tham mưu, cá nhân đều sống, công tác và chiến đấu trong một tập thể, nên vừa phải làm tròn trách nhiệm cá nhân, vừa phát huy sự đóng góp ý kiến, trí tuệ của tập thể, thì mới hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình. Nếu chủ quan chỉ dựa vào khả năng của mình, đơn độc, cặm cụi tích cực làm, thì việc nhỏ cũng khó hoàn thành tốt đẹp.

        Ở cơ quan Tham mưu chiến lược, công tác nghiên cứu lại càng rộng lớn hơn, quan hệ với các cơ quan đơn vị trong quân đội và ngoài quân đội lại càng nhiều hơn. Vì vậy càng phải phát huy sự đóng góp trí tuệ và công sức của tập thể lớn hơn, mới làm tốt công việc của mình. Nhưng một mặt khác, lại phải đảm bảo nguyên tắc bí mật. Phát huy trí tuệ tập thể nào, bộ phận nào, hay một số cá nhân nào, liên quan đến phần việc nào trong công tác nghiên cứu. Không được bàn bạc tràn lan, quá rộng rãi với những người không liên quan, với những việc không liên quan.

        Nghiên cứu một vấn đề cụ thể, có khi phải bàn bạc lại nhiều lần, trong vài tuần, vài tháng. Từ dự thảo lần thứ nhất, có khi phải viết đi sửa lại vài ba lần, mới thành văn bản chính thức.

        Nghiên cứu một kế hoạch chiến lược hay một công trình, một đề tài lớn, có khi phải vài ba năm.

        Nghiên cứu với tập thể ở cấp trên (vĩ mô), rồi lấy thêm ý kiến của tập thể cấp dưới (vi mô) những phần liên quan. Có những công trình nghiên cứu xong, cần qua thực nghiệm ở đơn vị dưới, tổng kết lấy ý kiến tập thể rộng rãi, mới hoàn thành đề tài chính thức.

        Vì vậy phải đề cao trách nhiệm cá nhân, phải tôn trọng tập thể trong mọi lĩnh vực công tác.

        Công tác nghiên cứu của cơ quan Tham mưu chiến lược, vừa phải độc lập suy nghĩ, vừa phải phát huy trí tuệ tập thể. Phải khách quan, tránh chủ quan, phiến diện. Phải sáng suốt tiếp thu ý hay của người khác, tránh tự mãn, bảo thủ ý mình. Nghiên cứu phải chín chắn, thận trọng và kiên nhẫn, bền bỉ.


Tiêu đề: Re: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2016, 09:16:22 AM
        
        4- Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kịp thời nắm bắt tình hình, sâu sát th ực tế, khẩn trương, tỉ mỉ trong công tác. Đó là yêu cầu, là tác phong không thể thiếu của người cán bộ Tham mưu tác chiến.

        Cuộc đời bộ đội hay nhiệm vụ quân đội nói chung có ba chức năng: “Chiến đấu, công tác và sản xuất”, mà “chiến đấu” là chức năng chủ yếu. Cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu là yêu cầu trước tiên để đảm bảo chiến đấu thắng lợi. Dù ở đơn vị chiến đấu hay cơ quan cũng vậy, nhất là ở cơ quan tác chiến thì yêu cầu cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu là ý thức trách nhiệm, là tác phong công tác cấp thiết đối với mỗi cán bộ Tham mưu tác chiến. Cuộc đời bộ đội hơn 55 năm qua đã đem lại nhận thức sâu sắc điểu đó cho tôi.

        Trong chiến tranh, mặt đối mặt với kẻ thù, chúng ta không thể không cảnh giác sẵn sàng chiếu đấu.

        Trong hoàn cảnh hòa bình hiện nay, chủ trương của ta là “là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế”. Thực hiện chính sách “mở cửa” mở rộng quan hệ với các nước để xây dựng, phát triển kinh tế.

        Chúng ta bắt tay với các nước, kể cả những nước trước đây là thù địch với ta. Nhưng chúng ta vân phải luôn luôn nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, vì đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, không bao giờ thành tâm muốn ta mạnh lên mọi mặt. Chúng vẫn đang thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, xâm phạm biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo, quần đảo của ta. Chúng lợi dụng việc “mở cửa” quan hệ kinh tế với ta để luồn vào lũng đoạn, phá hoại nội bộ ta và tăng cường thực hiện âm mưu thâm độc đó của chúng.

        “Chúng ta bỏ qua quá khứ, nhưng đừng bỏ quên quá khứ”.

        Đối với các nước đã gây chiến tranh xâm lược hay các thế lực phản động đã có những âm mưu, hành động tàn bạo phá hoại đối với đất nước ta. Họ đã gây nhiều tội ác với nhân dân ta, thì những việc ấy, bây giờ ta “bỏ qua” không cần giữ hận thù với họ nữa.

        Chúng ta bắt tay với họ để bình thường hóa, hợp tác phát triển kinh tế, hai bên cùng có lợi.

        Nhưng đừng “bỏ quên” những bài học lịch sử, những kinh nghiệm xương máu của quá khứ. Đừng “bỏ quên” truyền thống hào hùng của dân tộc ta. Cần giáo dục cho thế hệ trẻ mãi mãi ghi nhớ những anh hùng, liệt sĩ, những bài học lịch sử của quá khứ, trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

        Trước những lời lẽ hay hành động trắng trợn đe dọa đến chủ quyền biên giới, hải đảo, đến an ninh đất nước ta, chúng ta cần phải xử lý bình tĩnh, không để “việc bé xé ra to” cho họ lãy cớ hoặc tạo cớ dùng sức mạnh gây xung đột vũ trang hay chiến tranh với ta. Chúng ta giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển kinh tế nhưng phải kiên quyết phản đối đừng để họ “lấn được đằng chân, sẽ lấn đến đằng đầu”. Có biện pháp tích cực ngăn chặn kịp thời những hành động phi nghĩa, phi pháp của họ.

        Vì vậy chúng ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác cách mạng và sẵn sàng chiến đấu, nhất là đối với các lực lượng vũ trang và các cán bộ Tham mưu tác chiến.

        Chúng ta phải luôn luôn nhớ lời dạy của Hồ Chủ tịch:

       “Lúc có địch cũng trấn tĩnh như khi không có địch. Lúc xa địch cũng nghiêm ngặt như khi gần địch”.

        Cũng có lúc Bác nhắc nhở:

       “Khi có địch thì ung dung đàng hoàng như khi không có địch. Khi không có địch vẫn phải cảnh giác sẵn sàng như khi có địch”.

        Để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, thì phải nhạy bén với tình hình, kịp thời nắm bắt tình hình.

        Muốn vậy phải thường xuyên theo dõi tình hình một cách chặt chẽ, không được một phút lơ là, một giây buông lỏng.

        Từ đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, cho đến khi chiến đấu, động tác quân sự nói chung và người Tham mưu tác chiến nói riêng, phải hết sức khẩn trương, hoạt bát. Phải tranh thủ thời gian từng giờ, từng phút để hành động quân sự nhanh chóng, vì thời gian lúc đó là “lực lượng”, thời gian là “sức mạnh”, thời gian là “thắng lợi”.

        Hành động phải khẩn trương, tác phong lại phải tỷ mỉ, cụ thể. Tính qua loa đại khái cũng là một trong những nguyên nhân đem đến sai lầm và thất bại.

*

*        *

        Cuộc đời bộ đội đã qua! Hơn 55 năm ấy một chặng đường dài! Biết bao chuyện vui, buồn, bao lần thuận lợi, nhiều lúc khó khăn, có lúc thành công, có khi vấp váp. Không sao nhớ hết và kể lại hết. Những dấu ấn đậm nét để lại trong đầu óc tôi, suy ngẫm lại có bốn điều đó.

        Điều cuối cùng (thứ tư) chắc ít khả năng vận dụng cho cán bộ đã nghỉ hưu, nhưng rất cần chú ý đối với cán bộ tham mưu tác chiến đương chức. Nhưng ba điều nói trên, còn có thể phải làm trong cuộc “đời thường” còn lại. Đó là điều tôi phải làm, phải nhớ và nhớ mãi...

HẾT