Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 09:24:37 PM



Tiêu đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 09:24:37 PM
        
        Tên sách: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc
        Tác giả: Hoàng Minh Thảo (?)
        Nhà xuất bản: Quân Đội Nhân Dân.
        Năm xuất bản: 2004
        Số hóa: ptlinh, meofmaths.
        Hiệu đính: Giangtvx

LỜI GIỚI THIỆU

        
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tiến trình dựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi cuộc chiên tranh, mỗi giai đoạn, thời kỳ đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giải phóng và bảo vệ đất nước. Lịch sử tiến hành các cuộc chiến tranh yêu nước, chính nghĩa chống ngoại xâm của dân tộc ta là lịch sử của những cuộc chiến tranh nhân dân. Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân.
        
        Thắng lợi của nhân dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quôc vừa qua là thắng lợi của đường lối quân sự đúng đắn của Đảng. Đường lối ấy vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội vào điều kiện thực tế của Việt Nam, kế thừa và phát triển truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới.
        
        Lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đã ghi nhận rằng: Nghệ thuật quân sự là một nhân tố quan trọng trong chiến tranh. Nhân dân Việt Nam thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng ý chí quật cường mà còn là sự kết hợp chặt chẽ ý chí với tài trí sáng suốt, thông minh, đánh bằng mưu kế-thắng bằng thế thời. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là bước phát triển mới cả về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Nghệ thuật quân sự Việt Nam đạt tới đỉnh cao vừa hàm chứa tính hiện đại của cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX, vùa mang nét đặc trưng nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc.
        
        Biết bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu vô cùng anh dũng, cục kỳ thông minh và trí tuệ đã để lại một di sản tinh thần, một di sản đạo đức vô giá, một di sản nghệ thuật quân sự phong phú. Những di sản có giá trị lý luận và thực tiễn đó, kể cả truyền thống quân sự ưu việt cần được trân trọng giữ gìn nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong điều kiện mới, góp phần xây dưng, củng cố vững mạnh nền quốc phòng toàn dân theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng trong công cuộc xây dưng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
        
        Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Narn, Nhà xuất bản quân đội nhân dân cho ra mắt cuốn “Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc” dựa trên những nội dung chính của những kết quả nghiên cứu vừa được công bố trong những năm qua của Thượng tướng-giáo sư Hoàng Minh Thảo.
        
       Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.        


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN        


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2016, 04:06:48 PM
   
PHẦN THỨ NHẤT
       
DI SẢN NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA TỔ TIÊN
       
        Nghiên cứu về chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ XVIII, có thể phân các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh thành hai loại, đó là các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nghệ thuật quân sự trong giai đoạn này vì thế cũng bao gồm cả nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang, nghệ thuật quân sự của chiến tranh giải phóng và nghệ thuật quân sự của chiến tranh giữ nước. Sự hình thành và phát triển liên tục kế tiếp nhau và đan xen nhau của các loại hình đó đã đưa đến sự hình thành và phát triển mạnh mẽ, đặc sắc của một nền nghệ thuật quân sự Việt Nam mà chúng ta đã thừa kế, vận dụng.
       
        “Nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh…”
       
        Các cuộc chiến tranh trong lịch sử của dân tộc ta diễn ra trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng những chiến công hiển hách của Tổ tiên ta đều có những biểu hiện tương đối thống nhất của một nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh độc đáo, ưu việt.
       
        “Chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó còn phát triển những tinh hoa đó đến một trình độ mới trong điều kiện lịch sử mới. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã từng bao phen anh dũng đứng dậy chống nạn ngoại xâm, giữ gìn độc lập cho đất nước. Trong các cuộc đấu tranh vũ trang đó, dân tộc ta đã có những sáng tạo kiệt xuất về tài thao lược.”1.
       
        Trước nạn ngoại xâm, dân tộc ta không có con đường nào khác là con đường đứng lên cầm vũ khí chống quân thù. Nhưng quân xâm lược là một kẻ địch có lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Để đánh bại một kẻ địch như vậy, Tổ tiên ta đã biết tìm sức mạnh trong khối đoàn kết toàn dân. Còn phải sáng tạo ra cách đánh như thế nào để đánh thắng địch.
       
        Đất nước ta không rộng, người nước ta không đông, địch là một nước lớn, người nhiều của nhiều. Cho nên để giữ gìn đất nước, yêu cầu của dân tộc ta là phải đánh quyết liệt, phải thắng oanh liệt, phải lập nên những chiến công vang dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm tan rã ý chí xâm lược của chúng.
       
        Do điều kiện lịch sử trước đây, nền nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Tổ tiên ta không thoát khỏi sự ràng buộc và hạn chế ý thức hệ phong kiến, nhưng từ đời này qua đời khác, nó cũng đã được xây dựng tương đối toàn diện.
       
        Đặc điểm nền nghệ thuật đó là:
       
        1. Nghệ thuật đó không những chỉ đạo lực lượng vũ trang, mà còn chỉ đạo nhân dân vũ trang kết hợp với lực lượng vũ trang.
       
        Nghệ thuật do không chỉ dựa vào quân đội, mà dựa vào dân chúng và quân đội để giành chiến thắng. Toàn dân đánh giặc, điều đó đã được nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử ta chứng minh. Nhân dân không những cất giấu lương thực, thực hành "thanh giã” gây cho địch nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực, mà còn trực tiếp giết giặc. Ở nước ta, "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, thiếu niên, phụ lão cũng đánh, những điều đó đã có từ ngàn xưa.
         
        Nêu lên điểm đó, nhà quân sự vĩ đại Trần Quốc Tuấn có nói: "Cả nước góp sức chiến đấu nên giặc phải bó tay". Theo nhà sử học thế kỷ thứ XIX Phan Huy Chú thì "đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh "[/i]2.
       
        Với lực lượng vũ trang của cả nước, lực lượng vũ trang các địa phương kết hợp với thổ binh, hương binh, dân binh và dân chúng, sức mạnh của toàn dân, toàn quân được phát huy đến độ cao để diệt giặc.
       
        2. Trong điều kiện ta là một nước đất không rộng, người không đông, phải đánh thắng những quân đội xâm lược lớn mạnh, dân tộc ta đã tạo nên một nghệ thuật mà Tổ tiên ta gọi là "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu trị mạnh, lấy đoản chống trường".
       
        Trong nhiều cuộc chiến tranh, quân và dân ta đã đánh địch cả ở trước mặt và sau lưng, đánh địch tại chỗ, không những tiêu diệt sinh lực địch mà còn làm tan rã quân xâm lược về tổ chức và về tinh thần, không những đánh tập trung mà còn đánh phân tán, dùng nhiều cách đánh, đánh những đòn oanh liệt làm cho địch gãy xương sống, nát xương sườn. Tổ tiên ta coi trọng việc dùng lực lượng một cách hợp lý, nhằm đạt hiệu lực cao, như Nguyễn Trãi nói: "sức dùng có nửa, công được gấp đôi". Không những biết giành thắng lợi quân sự quyết định mà còn có biện pháp để củng cố những thắng lợi đó.
       
        Câu ca dao từ ngàn xưa:
       
               "Nực cười, châu chấu đá xe
        Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng”.

       
có thể nói lên phần nào đặc điểm này.

------------
1. Võ Nguyên Giáp - Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970 tr 43.

2. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, bản dịch. Nhà xuất bản Sử học. Hà Nội, 1961, tr 6.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 05:24:54 AM
        3. Nghệ thuật đó xây dựng trên cơ sở một tinh thần yêu nước rất cao, một tinh thần quật cường bất khuất, tự lập tự cường rất mạnh, trên cơ sở tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh, nên có sức sống mãnh liệt, có tinh thần tích cực chủ động rất cao. Nền nghệ thuật đó biết phát huy những chỗ mạnh mọi mặt của mình nhất là chỗ mạnh về tính chất chính nghĩa, về ý chí bất khuất kiên cường của dân tộc, về chất lượng mọi mặt của quân đội, để đánh quân địch vào chỗ chúng yếu, lúc chúng yếu. Nhiều nhà quân sự nổi tiếng thời xưa thường nhấn mạnh cách đánh chủ động linh hoạt, nhử người đến, chứ không để người nhử, cách đánh vu hồi, bao vây chặt chẽ để tiêu diệt gọn, tiến công liên tục, dồn địch vào thế bị động chịu đòn, không có cách nào thoát khỏi bị tiêu diệt.
       
        4. Nghệ thuật đó rất sáng tạo, độc đáo, rất xuất sắc, tinh vi, rất mưu trí và linh hoạt:
       
        “Ông cha ta ngày trước có nhiều sáng tạo về cách đánh giặc, không có sáng tạo đó, không thể giữ được nước, không thể giành lược tự do "1.
       
        “Anh dũng và thông minh là hai yếu tố tạo nên súc mạnh của dân tộc ta trong chiến đấu chông ngoại xâm“2.
       
        Tổ tiên ta biết dựa trên yếu tố chính nghĩa, trên tinh thần yêu nước nồng nàn và chiến đấu anh dũng của quân và dân, phát huy mọi cái mạnh của ta trong điều kiện ta chiến đấu trên đất nước mình, đánh bại những đạo quân xâm lược từ xa đến, mà sáng tạo ra cách đánh của ta, buộc địch phục tùng ý chí của ta, buộc địch đánh theo cách đánh có lợi cho ta, không cho địch đánh theo cách đánh sở trường của chúng.
       
        Nguyễn Huệ nói: "Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít"3.
       
        Trong chỉ đạo chiến tranh, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh: “Phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà ứng biến cho đúng"4.
       
        Ngô Thời Nhiệm, một tướng giỏi của Nguyễn Huệ, cho rằng là một người tướng giỏi phải biết "lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ"5.
         
        Sức sáng tạo của dân tộc ta thể hiện ở chỗ, không phải chỉ có quân đội đánh giặc, mà là cả nhân dân và quân đội cùng đánh. Ta yếu mà ta đánh thắng đó cũng là sáng tạo. Sự nỗ lực chủ quan phi thường của toàn dân tộc, sức sống mãnh liệt của nền nghệ thuật đó cũng nói lên sức sáng tạo này.
       
        Nền nghệ thuật đó dựa trên cơ sở đánh giá địch ta một cách bình tĩnh, hiểu địch, hiểu ta một cách sâu sắc.
       
        Trần Quốc Tuấn cho rằng: "Nếu thấy quân giặc tràn sang như gió như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được"6.
       
        Nguyễn Trái nói: "Tri kỷ tri bỉ, năng nhược năng cường”7. Nghĩa là biết người biết ta, có thế yếu, có thế mạnh.

---------------
1. Lê Duẩn - Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1969, tr.2.

2. Lê Duẩn - Cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta. Tạp chí Quân đội nhân dân, số 12 năm 1960 tr.5.

3. Tây Sơn bang giao íập. Dẫn trong "Tim hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ" của Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1971, bản in lần thứ hai, tr.344.

4. Việt sử thông giám cương muc, Tập V, bản dịch, tr. 100.

5. Ngô gia văn phái - Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1964, tr.342.
    
6. Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr. 99.
    
7. Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, bản dịch, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội,
1962, tr. 115.




Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 05:30:08 AM
        Tổ tiên ta đã không nao núng vì sức mạnh tạm thời của địch, không bị uy hiếp vũ bão bên ngoài của chúng. Những nhà quân sự thời xưa của ta hiểu rõ ta không phải chỉ có yếu, mà còn có mạnh, hơn nữa có những chỗ mạnh rất cơ bản; còn địch, không phải chỉ có mạnh, mà còn có yếu, những chỗ yếu trí mạng tất yếu; đồng thời cũng thấy rõ những chỗ và lúc địch yếu, ta mạnh để có những chủ trương chiến lược thích hợp.
       
        Nhìn bao quát cả cuộc chiến tranh, Tổ tiên ta không sợ địch, tin tưởng mình có thể đánh bại địch. Trong việc xử trí tình huống chiến lược cụ thể thì không khinh địch, đánh giá đúng mức sức mạnh ban đầu của quân xâm lược: lúc quân địch còn mạnh thì ta hành động rất thận trọng, nhưng khi địch đã trở thành yếu lại hành động rất táo bạo. Trước thanh thế lớn lao của quân Thanh tiến vào xâm lược nước ta, lời phân tích của Ngô Thời Nhiệm sau đây nêu rõ được phần nào điều đã nói trên: “Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích, của nước Tấn đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất gì”1, (chúng tôi nhấn mạnh T.G).
       
        Trên cơ sở đánh giá đúng đắn tình thế khách quan, biết địch biết ta một cách đúng đắn, Tổ tiên ta đã phát huy đến mức độ cao nỗ lực chủ quan, phát huy đến độ cao trí tuệ của mình, tìm ra trăm phương nghìn kế, khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ và đã lập nên những chiến công kỳ lạ. Đó cũng chính là điều kiện làm cho tính sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đạt đến trình độ rất cao, câu nói của Nguyễn Trãi có thể nêu rõ điều đó:
       
        “Có lẽ nhiều tai nạn chính là cái gốc để dựng nước, mà sự băn khoăn lo lắng cũng là cái nền đề mở ra nghiệp thánh.
       
        Trải biến cố nhiều thì trí lự sâu.
        Lo công việc xa thì thành công kỳ.
        Đế vương nổi lên, ai cũng thế này”2.
       
        Yếu có thể đánh mạnh, ít đánh nhiều là do tinh thần dũng cảm, dám đánh và sau đó là biết đánh: đánh mai phục, lừa địch vào sâu, toàn dân đều đánh, v.v.
       
        Có thể nêu lên một số nội dung chính của nền nghệ thuật đó thành 3 vấn đề lớn như sau:
        A. Chỉ đạo quân sự.
        B. Địch vận.
        C. Đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao.

--------------------
1. Ngô gia văn phái, tài liệu đã dẫn, tr. 342.
       
2. Nguyễn Trãi. Chí Linh sơn phú.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 05:38:03 AM
        
A - CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ
       
        1. Trong chỉ đạo tác chiến về chiến lược, chiến thuật, dân tộc ta đã từng có kinh nghiệm tốt về đánh lâu dài:
        
        Xét thực tiễn diễn biến của nhiều cuộc chiến tranh thắng lợi có thể thấy rõ Tổ tiên ta không bao giờ đi chệch khỏi mục đích quân sự cuối cùng là tiến công tiêu diệt địch trên đất nước ta. Nhưng Tổ tiên ta cũng không hề tách mục đích cần đạt đó với điều kiện khách quan là lúc đầu lực lượng quân sự địch mạnh, ta yếu.
        
        Trước quân địch lớn mạnh, các nhà quân sự ta đã biết tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi khi cuộc chiến tranh mới bắt đầu nhằm bảo toàn lực lượng tranh thủ thời gian, tạo nên thế có lợi cho ta, làm địch suy yếu, bồi dưỡng lực lượng ta, rồi từng bước tiêu diệt quân địch mà giành thắng lợi trong chiến tranh.
        
        Trong chiến tranh tự vệ, trước thế tiến công mạnh mẽ của quân địch có ưu thế về số lượng. Tổ tiên ta đã tránh không dốc toàn bộ lực lượng để hòng phân thắng bại, giành thắng lợi nhanh chóng ngay buổi đầu, mà đã biết thực hành rút lui chiến lược, có gan rút bỏ kinh đô, cho địch vào sâu mà tiêu hao địch. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ nhất, trước ý định của vua Trần quyết chiến với địch trong điều kiện không có lợi ở gần biên giới, tướng Lê Phủ Trân đã can rằng: “Làm như vậy thì chỉ như những người dốc hết túi tiền để đánh nốt tiếng bạc mà thôi"1, và khuyên "hãy nên lánh đi”2. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chủ trương “Nguyên binh khí nhuệ đương hưng, kịp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy”3. Do đó quyết định rút khỏi Vạn Kiếp, rút khỏi kinh thành. Nhận xét về chủ trương rút bỏ Thăng Long của Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Huệ đã đánh giá "Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiên cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng…”4.
        
        Nhưng rút lui chiến lược của Tổ tiên ta có những nét độc đáo. Đất nước ta không rộng, chiều sâu không lớn, nếu cứ rút mãi thì sẽ không còn đất để mà rút, phải tự hãm mình vào thế bị động nghiêm trọng. Trong chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã chặn đứng địch ở phía nam, trong khi ở phía bắc thì chỉ huy chủ lực rút lui từng bước. Trong cuộc chiến tranh này cũng như nhiều cuộc chiến tranh tự vệ khác, khi chủ lực rút lui, quân địa phương vẫn ở lại phối hợp với thổ binh, dân binh, hương binh đánh địch tại chỗ, thực hiện rút phía trước nhưng đánh mạnh phía sau lưng địch. Tóm lại, trong quá trình rút lui vẫn tiến công tích cực. Trong lịch sử dân tộc, cũng có những nhà cầm quân không biết tiếp thu nghệ thuật đúng đắn đó của dân tộc, nên đã bị thất bại; trong chiến tranh chống quân Minh dưới thời Hồ, trận quyết chiến thất bại ở Đa Bang, rồi chỉ rút chạy dài mà không tích cực tiến công địch, đã đưa cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta đến thất bại.
        
        Thừa nhận sự cần thiết rút lui chiến lược, biết cách rút lui đúng đắn và có lợi, các nhà quân sự ta còn thông thạo trong việc tạo nên điều kiện để chuyển sang quật trả lại địch những đòn quyết liệt, biết vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc quân sự cổ điển "Dĩ dật đãi lao" tức là lấy nhàn chờ mệt, lấy mạnh chờ yếu, lấy sung sức chờ hao mòn. Trong quá trình phòng ngự, rút lui, không những đã liên tục tiêu hao địch, buộc địch phải chịu ảnh hưởng không lợi của khí hậu và địa hình nước ta, hãm chúng vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, mà còn biết buộc địch rải quân ra (như Trần Quốc Tuấn) hoặc làm cho địch sơ hở phạm sai lầm (như Nguyễn Huệ) tức là tạo nên một thế chiến lược khiến cho địch từ mạnh trở thành yếu, tự bộc lộ nhược điểm, để diệt đội quân xâm lược lớn mạnh.
        
        Để đạt tới mục đích đó, các nhà quân sự ta thường dùng hai cách: Một là, khi địch đã rải quân, ta đi từ thắng lợi nhỏ, vừa, đến thắng lợi lớn, tạo nên bước ngoặt trong chiến tranh. Trong trường hợp này, Tổ tiên ta đã tỏ ra biết nắm quy luật phát triển của địch trong chiến tranh. Trong quá trình ta phản công, quân địch bị tiêu diệt từng bộ phận ngày càng lớn hơn, đến một mức nào đó, khi nhưng đạo quân nào đó bị tiêu diệt, thì đoàn quân xâm lược to lớn của địch bắt đầu tan rã (như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên). Khi chưa tạo ra được bước ngoặt chiến lược Tổ tiên ta biết đánh địch một cách vừng chắc. Khi thì lấy ít thắng nhiều, khi thì lấy nhiều thắng ít, tiêu diệt tiêu hao địch, tạo ra từng bước chuyển biến, nhưng chủ yếu vẫn là lấy ít thắng nhiều. Nhưng sau khi bước ngoặt diễn ra, lại táo bạo lấy ít đánh nhiều, dốc lực lượng thường không nhiều của mình đánh vào toàn bộ quân địch với số lượng còn to lớn nhưng chất lượng đã suy sụp mà giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh tự vệ. Hai là, địch tuy chưa rải quân nhưng có sơ hở nên ta thực hành chia cắt địch ra từng mảng, giáng những đòn mãnh liệt vào chỗ hiểm nhất của địch, đánh vào trung tâm đầu não của chúng khiến cho địch choáng váng, kinh hoàng, rối loạn, tê liệt, (như Nguyễn Huệ đánh quân Thanh). Từ những cuộc chiến tranh thắng lợi đó có thể thấy rằng ngay trong khi rút lui chiến lược, các nhà quân sự ta luôn luôn nhằm vào mục đích phản công tiêu diệt địch, tích cực tạo điều kiện để chuyển sang phản công chiến lược. Trong phản công chiến lược đã sáng tạo ra cách đánh tiến công lần lượt hoặc đồng thời, tiến công từ nhỏ đến lớn hoặc đánh một đòn quyết định.
        
--------------        
1, 2. Việt sử thông giám cương mục, tập V, tr.34.

3. Thiên nam ngữ lục.
        
4. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Ngô Tất Tố. Nhà xuất bản Mai Lĩnh, Hà Nội, 154, tr.531.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 05:38:19 AM
Trong chiến tranh giải phóng, Tổ tiên ta đã thực hiện chiến lược đánh lâu dài một cách khác. Trong điều kiện dân tộc ta sống dưới sự thống trị của phong kiến nước ngoài và bè lũ tay sai, các nhà yêu nước ngày xưa đã nắm được khá chính xác tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, thấy rõ thế và lực của địch và ta, lãnh đạo dân tộc vùng lên khởi nghĩa, thực hành liên tục tiến công địch cho đến khi đánh đổ hoàn toàn nền thống trị của chúng. Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành chiến tranh giải phóng lâu dài. Trong quá trình đó, về chiến lược ta không ngừng tiến công địch trong nhiều năm liền (không kể thời gian đình chiến) với quy mô ngày càng to lớn cho đến thắng lợi hoàn toàn. Còn địch thì không ngừng phản công hòng tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa và khôi phục nền thống trị của chúng. Chúng nhiều lần tăng thêm quân đội từ chính quốc nhưng thế phản công chung của chúng không ngừng sút kém; chúng ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự cho đến khi chịu thất bại hoàn toàn. Trên chiến trường, quá trình giao tranh giữa ta và địch diễn ra theo hình thái: ta tiến công và phản công đánh tan các cuộc phản công và tiến công của địch cho đến thắng lợi hoàn toàn.
        
        Khi mới bắt đầu đứng lên tiến công địch, tuy thế chính trị và chiến lược trên những mặt nào đó có lợi cho ta không lợi cho địch, nhưng lực lượng quân sự địch nhiều hơn ta. Trong điều kiện đó các nhà quân sự ta đã cho biết “chờ thời cơ để lừa khi địch mỏi mệt, giấu mũi nhọn và bít ánh sáng" buộc địch phải đánh lâu dài, ngày càng tiêu hao, suy yếu; còn ta có thể tránh thủ thời gian xây dựng, mở rộng lực lượng vũ trang và chỗ đứng chân của mình. Do đó mà tạo nên thời cơ chiến lược có lợi giáng cho địch những đòn quyết định, trong những năm sau của cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài.
        
        Khởi nghĩa Lam Sơn và nhiều cuộc khởi nghĩa khác của dân tộc ta trong lịch sử đã sáng tạo ra một kinh nghiệm quý báu: Trong thế chính trị và chiến lược chung có lợi ích cho ta, không lợi cho địch ở một số mặt, có thể tạo thành ưu thế cục bộ mà tiến công địch, phát triển tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn cục, giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng lâu dài.
        
        Có thể nói hình thái phát triển của những cuộc chiến tranh tự vệ và giải phóng đã nói trên như sau:
        
        Thời Lý: Phòng ngự chiến lược tích cực, phản công chiến lược.
        
        Thời Trần: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược.
        
        Thời Tây Sơn: Rút lui chiến lược, phản công chiến lược.
        
        Thời Lê: Liên tục tiến công chiến lược từ nhỏ đến lớn (có 2 năm đình chiến).
        
        Thời Hồ: Phòng ngự, rút lui.
        
        Trong bốn cuộc chiến tranh thắng lợi trên, nhờ biết tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không lợi, tiến lên quyết chiến trong điều kiện có lợi, Tổ tiên ta đã đưa chiến tranh lâu dài đến thắng lợi hoàn toàn. Ngược lại, trong chiến tranh thời Hồ, do bị buộc phải quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi cho ta mà lợi cho địch, không biết bảo toàn chủ lực trong tình hình địch mạnh, ta yếu, dốc sức để phân thắng bại ngay từ đầu, kết quả là chủ lực tan vỡ. Do không nắm vững được quy luật chỉ đạo chiến tranh tự vệ theo chiến lược đánh lâu dài của thời Lý, thời Trần, nên bị thất bại là điều tất yếu.
        
        Đáng chú ý là các nhà quân sự của ta nghiên cứu, tham khảo Tôn Tử, nhưng không theo quan điểm "thắng nhanh" của Tôn Tử. Binh pháp Tôn Tử cho rằng "việc dùng binh, chỉ nghe nói có tốc quyết vụng về, chứ không thấy có lâu dài, khôn khéo; chiến tranh lâu dài mà có lợi cho quốc gia là việc không thế có". Biết đánh lâu dài, điều đó chứng tỏ tinh thần độc lập sáng tạo của Tổ tiên ta.
        
        Chính sách "Ngụ binh ư nông" (nghĩa là đặt binh ở nông thôn) được thi hành ở nước ta từ khá sớm, nhất là từ thời kỳ Lý, Trần trở đi. Chính sách đó nhằm bảo đảm có số quân tập trung của triều đình đến mức cần thiết và hợp lý, giảm một phần nào đóng góp của nhân dân và tiêu dùng của nhà nước, bảo đảm có sức sản xuất để đánh lâu dài. Điều quan trọng hơn nữa là với chính sách đó, ngoài việc bảo đảm có quân đội tập trung, còn tổ chức nên những đội dân binh (hương binh, thổ binh) bảo vệ các thôn, ấp, đánh địch tại chỗ. Thời Lê lại phát triển đến chính sách "vừa đánh giặc vừa cày ruộng" nhằm bảo đảm xây dựng "chỗ đứng chân” để từ đó tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước. Đó là những điều kiện rất quan trọng để có thể đánh lâu dài.
        
        Đánh lâu dài rõ ràng là một kinh nghiệm quý báu của dân tộc ta. Khi thì đánh đòn phủ đầu trước, khiến địch phải tiến quân trong thế bị động, rồi chặn đứng địch trên tuyến thuận lợi đã chuẩn bị sẵn, chuyển sang quật trả địch (Lý). Khi thì cho địch vào thật sâu, buộc địch rải quân, rồi chọn thời gian, địa điểm tốt, đánh địch từng trận đến khi tiêu diệt toàn bộ (Trần). Khi thì lập chỗ đứng chân quần nhau lâu dài với địch, rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch (Lê). Khi thì chủ động rút, nhân sơ hở của địch, điều động chủ lựe từ xa tới, chiến thắng địch trong một trận thần tốc (Tây Sơn)…Hình thức nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nội dung là một: tránh quyết chiến với địch trong điều kiện không lợi, làm cho địch từ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh phải chuyển sang đánh lâu dài, đợi cho địch từ mạnh trở thành yếu, lực còn nhiều nhưng thế đã yếu, số lượng còn đông nhưng chất lượng đã kém; còn ta thì giữ gìn và bồi dưỡng được lực lượng, tiến lên đánh cho địch một đòn hoặc nhiều đòn quyết chiến chiến lược liên tiếp, tiêu diệt phần lớn hay toàn bộ quân địch, giành thắng lợi to lớn. Điều đáng chú ý là, trong quá trình đánh lâu dài như vậy, các nhà quân sự ta đã biết chớp thời cơ có lợi chuyển sang giáng cho địch những đòn mãnh liệt, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn.

        Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta, tư tưởng, đường lối chung về chiến lược là đánh lâu dài, vì quân xâm lược thường mạnh hơn quân ta lúc đầu. Nhưng căn cứ vào các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau về các mặt của cuộc chiến tranh mà tình hình lâu dài có khác nhau. Cũng có cuộc chiến tranh, giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 05:51:27 AM
   
        2. Trong nhiều cuộc chiến tranh, các nhà quân sự thời xưa đã biết khéo léo vận dụng hai cách đánh: đánh phân tán và đánh tập trung, tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại quân địch.
       
        Biết kết hợp cách đánh nhỏ của dân chúng và các lực lượng vũ trang địa phương nhỏ bé với cách đánh tập trung lớn của quân đội triều đình là một sáng tạo quan trọng của Tổ tiên ta.
       
        Trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta lực lượng vũ trang tập trung của ta bao giờ cũng kém xa địch về số lượng và ở một mức độ nhất định, cũng kém địch về trang bị kỹ thuật, vật chất, nhất là trong thời kỳ đầu của chiến tranh. Để đánh thắng một quân giặc mạnh hơn, ta không thể chỉ đánh bằng riêng các lực lượng vũ trang tập trung được, mà phải đánh bằng tất cả tinh thần và vật chất của dân tộc ta, của toàn thể nhân dân ta. Tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược đã thắng lợi trong lịch sử nước ta đều là những cuộc chiến tranh mà toàn thể dân tộc ta, toàn thể nhân dân ta gián tiếp và trực tiếp cùng các lực lượng vũ trang của mình đánh giặc.
       
        Trong nhiều triều đại, tổ chức lực lượng vũ trang không phải chỉ có quân đội của triều đình. Tuy tên gọi khác nhau, cách tổ chức cũng có điều khác nhau, song thường có 3 cấp lực lượng rõ rệt: quân tập trung của triều đình gọi là du quân, đại quân; quân ở các địa phương (quân do các chính quyền địa phương tổ chức và quản lý hoặc quân của các vương hầu nhưng chịu sự chỉ huy của triều đình) tuỳ từng thời mà gọi là quân các lộ, quân các đạo; và dân binh còn gọi là thổ binh hoặc hương binh. Quân tập trung của triều đình thường làm nhiệm vụ cơ động trong cả nước. Quân ở các địa phương có trách nhiệm giữ các lộ, các đạo, các thành quan trọng, còn dân binh thì bảo vệ các thôn ấp.
       
        Nhờ biết tổ chức lực lượng một cách rộng rãi và hợp lý như vậy, cho nên dân tộc ta, đã có thể thực hành vừa đánh phân tán, vừa đánh tập trung, vừa đánh nhỏ, vừa đánh lớn. Và chính nghệ thuật biết vận dụng khéo léo các hình thức đánh phân tán và tập trung như vậy, đã cho phép huy động được lực lượng to lớn của toàn dân và các lực lượng vũ trang ở các cấp để tiêu diệt địch. Cách đánh nhỏ, phân tán của dân chúng và quân đội, đã từng có một địa vị và tác dụng rất lớn trong lịch sử dân tộc ta. Triệu Quang Phục dùng cách đánh "đột xuất ra cướp lương thực, cầm cự lâu ngày, làm cho quân giặc mệt mỏi, trong 3, 4 năm không hề đối diện chiến đấu"1 đã làm quân Lương vô cùng khốn đốn, sức cùng chí nản. Thời Trần, các đội dân binh cùng dân chúng đã làm quân Nguyên nhanh chóng mất sức tiến công. Thời Lê nghĩa quân Lam Sơn lúc lên phía bắc, thoắt quay về nam, khi xuất hiện ở đông, lúc đánh úp ở tây, nên với quân số ít, đã từng đánh tan nhiều cuộc tiến công càn quét có khi đông đến hàng chục vạn quân Minh.
       
        Cách đánh lớn, tập trung của quân đội triều đình (quân chủ lực) đã từng lập nên những chiến thắng oanh liệt: Bạch Đằng, Chương Dương, Vạn Kiếp, Xương Giang, Ngọc Hồi, Đống Đa … Đáng chú ý là cách đánh tập trung của quân đội ta thời xưa cũng có đặc điểm rất Việt Nam, phù hợp với điều kiện đất không rộng, người không đông. Đó là những cách đánh mà nhà nước quân sự thời xưa gọi là "xuất kỳ bất ý", là "công kỳ vô bị" là đánh bằng kỳ binh, phục binh, tức là những cách đánh không bộc lộ mục tiêu, không đối trận với địch, mà dựa vào điều kiện nhân dân ủng hộ mà phát huy đến độ cao tính bất ngờ, giáng những đòn rất mạnh, giải quyết trận đánh rất nhanh "sấm ran, chớp giật" như Nguyễn Trãi nói.
       
        Trong triều đại, Tổ tiên ta đã nhiều lần vùng lên, bắt đầu khởi nghĩa ở một số địa phương, tiến hành đánh du kích, cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng nhằm lật đổ ách thống trị của nước ngoài, khôi phục quyền làm chủ của dân tộc. Về quân sự, ta đã từ đánh du kích, đánh nhỏ, tiến lên đánh tập trung với quy mô ngày càng lớn. Việc phát triển từ đánh du kích lên đánh tập trung đã cho phép dân tộc ta giành được thắng lợi to lớn và quyết định trong việc chiến tranh, giải phóng lâu dài. Cuộc chiến tranh của Triệu Quang Phục chống quân Lương đã chứng minh rõ ràng điều đó và cuộc chiến tranh giải phóng thời Lê có thể xem là một điển hình thành công của dân tộc ta trong lịch sử thời xưa về việc vận dụng khéo léo đánh du kích và đánh tập trung.
       
        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc, Tổ tiên ta đã nhiều lần biết kết hợp khéo léo đánh phân tán và đánh tập trung. Trong chiến tranh giải phóng, sau khi đã từ đánh phân tán mà phát triển lên đánh tập trung, Tổ tiên ta đã biết kết hợp hai cách đánh đó, nhờ đó mà phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân (thời Lê). Trong chiến tranh tự vệ có những lần dân ta dựa vào lực lượng quân đội đánh tập trung quy mô lớn, mà giành những thắng lợi vang dội, như Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu mà phá kế hoạch xâm lược của nhà Tống; Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Tình hình đó không tách rời khỏi sự chỉ huy tài tình biết nhằm nơi địch sơ hở mà nhanh chóng giáng đòn mãnh liệt, quyết định, không tách rời khỏi sự ủng hộ to lớn nhiều mặt của nhân dân. Nhưng nhìn chung thì trước kẻ thù lớn mạnh đang xâm lược nước ta, việc kết hợp cách đánh của quân đội triều đình (quân chủ lực) với cách đánh nhỏ của quân đội của địa phương và của dân chúng, cho phép dân tộc ta phân tán, tiêu hao, làm suy yếu quân địch tạo ra điều kiện thuận lợi cho quân đội tập trung tiêu diệt quân địch nhờ đó mà nhiều lần chiến thắng oanh hệt. Nhiều triều đại đơn thuần dựa vào quân đội tập trung, nhất là khi lại phạm sai lầm về chỉ đạo chiến lược đã bị thất bại (An Dương Vương, Lý Phật Tử, Hồ Quý Ly).
       
        Đưa đánh du kích lên tập trung, kết hợp đánh tập trung và đánh du kích, là một kinh nghiệm sáng tạo của dân tộc ta. Kinh nghiệm chiến tranh thắng bại của nhiều triều đại hoặc ngay trong bản thân một số triều đại, đã chứng minh tính chất quan trọng của sự kết hợp đó.
       
        Sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Bôn (Lý Bí) đã để lại cho ta ba bài học lịch sử khác nhau: Bài học thành công lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa khôi phục nền độc lập; bài học thất bại gần mất hết nghiệp nước hhi lấy mạnh chọi mạnh theo chiến lược dốc túi đánh nhanh thắng nhanh chống lại quân phong kiên xâm lược Trần Bá Tiên (nhà Lương); sau đó phải lui quân về Hưng Hóa để tổ chức lại đội ngũ mưu tính cuộc kháng chiến lâu dài, giao binh quyền cho Triệu Quang Phục chuyển sang không trực diện đánh ban ngày với địch mà đêm đêm bí mật tổ chức đánh úp (tập kích) tiêu diệt địch, lấy lương thực vũ khí của địch để đánh lâu dài đến khi nhà Lương bị quét sạch, đó là bài học thứ ba, bài học thành công.
       
-----------------
1. Lĩnh nam trích quái, bản dịch, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1960, tr. 37.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 06:00:38 AM
       
        3. Tư tưởng chỉ dạo tác chiến về chiến lược chiến thuật của tổ tiên ta có nhiều điều rất tiến bộ.
       
        a) Trong việc chỉ đạo chiến lược chiến thuật. Tổ tiên ta đã biểu lộ một tinh thần tích cực, chủ động tiến công rất mãnh liệt.
       
        Trong chiến tranh tự vệ, tinh thần đó biểu hiện trong các hoạt động chiến lược của quân đội nhà Lý (Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu phá các cuộc xâm lược của nhà Tống), quân đội nhà Trần (trong cả ba cuộc chiến tranh, nhất là trong các trận phản công chiến lược); và trong cuộc hành binh táo bạo và thần tốc đại phá quân Thanh của quân đội Tây Sơn thì tinh thần đó được phát huy đến độ cao.
       
        “Ngồi đợi giặc đến, không bằng đánh trước làm nhụt nhuệ khí của gìặc”1.
       
        Trong chiến tranh giải phóng, tinh thần đó biểu hiện trong khắp các cuộc khởi nghĩa của dân tộc ta, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh thời Lê.
       
        Tinh thần tích cực chủ động tiến công rất mãnh liệt đó không tách rời khỏi lòng yêu nước nồng nàn, chí kiên cường bất khuất của dân tộc ta.
       
        “Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải luôn luôn chông giặc ngoại xâm đế bảo vệ độc lập, tự do, sự sống còn của mình, cho nên có tinh thần tụ vệ rất mạnh. Chính trên cơ sở của tinh thần tụ vệ mạnh mẽ đó đã nảy sinh ra cách đánh giặc của người Việt Nam. Không phải là ngẫu nhiên mà trong lịch sử nước ta, mỗi khi dân tộc ta vùng dậy chống ngoại xâm, là chỉ tiến công chừ không phòng ngư, tiến công kẻ xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Tiến công là chiến lược, còn phòng ngự chỉ là sách lược”2.
       
        b) Về thực tế cũng như về lý luận, trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh tự vệ, nghệ thuật chỉ đạo tác chiến Tổ tiên ta đều chú trọng tránh chỗ mạnh của địch, giành chỗ lợi cho mình, lấy cái mạnh của mình tìm chỗ yếu của địch mà đánh. Do đó, sức mạnh của địch không dùng được, lực lượng lớn của địch không phát huy hết sức mạnh, không đạt được hiệu quả cao. Trái lại ta thì dùng mọi sức mạnh của ta một cách thích hợp, có thể tiến công tiêu diệt địch ở mọi nơi, mọi lúc với quy mô khác nhau.
       
        Nói chung, Tổ tiên ta thừa nhận công thành là "hạ sách" và nhấn mạnh đánh bất ngờ, mai phục, đánh úp.
       
        “Đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không xuồng, gây nên cuộc đời vô sự”3.
       
        “Lấy yếu thắng mạnh, tiến công khi giặc không chuẩn bị, lấy ít đánh nhiều, thường mai phục, ra kỳ binh”4.
       
        Trên thực tế chỉ đạo chiến lược chiến thuật, các nhà quân sự ta, biết cắt địch ra từng mảnh, tiêu diệt địch từng bộ phận, đánh bại địch từng bước. Trong dân gian từ xưa thường có câu "bẻ đũa không bẻ cả nắm", "đánh rắn phải dập nát đầu”, những câu đó nói lên tư tưởng cắt địch ra từng mảnh, đánh vào những chỗ hiểm yếu nhất của địch để tiêu diệt chúng.
       
        Quán triệt những tư tưởng trên, các nhà quân sự của ta thông thường biết:
       
        Lợi dụng những sơ hở, những chỗ yếu của địch. Do nhận thức được địch có những chỗ yếu về nhiều mặt, nhất là những chỗ yếu trí mạng do tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược đẻ ra. Các nhà quân sự thời xưa một mặt phát hiện những chỗ yếu của chúng để lợi dụng, mặt khác khoét sâu sơ hở và nhược điểm đó của địch rồi giáng những đòn mạnh mẽ.
       
        “Đánh mà muốn lấy được phải đánh vào chỗ giặc không giữ, nếu quân địch lấy quân các nơi tăng cường cho Nghệ An, thành ta khó đánh, trái lại các nơi khác, thì địch sơ hở, chi bằng chi quân đi đánh các nơi khác, khiến Nghệ An bị hãm vào thế cô lập, tức khắc giặc phải hàng. Các bậc tướng giỏi đời xưa tránh chỗ thực, công chỗ hư…”5.
       
        “Binh đánh vào đâu như lấy đá gieo vào quả trứng. Phàm lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát”6.
       
        “Nuôi uy chứa sức, đợi đánh tan viện binh thì thành phải hàng, làm một được hai”7.
       
        Cuộc tiến công Chương Dương, Tây Kết, trận đánh thuyền lương Trương Văn Hổ, cuộc tiến quân của Lê Lợi vào Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình-Thuận Hóa, cuộc hành binh táo bạo của Nguyễn Huệ ra Thăng Long đều là những trận chiến thắng nêu rõ sự lợi dụng khéo léo sơ hở và nhược điểm của địch của Tổ tiên ta.
       
        Tạo nên sơ hở cho địch, làm cho địch bộc lộ chỗ yếu bằng nhiều biện pháp tích cực khác nhau, như nghi binh, tỏ ra yếu, che giấu ý định của mình, đưa địch vào những địa điểm bất lợi, v.v. Các nhà quân sự ta đã làm cho địch nhận định sai lầm, chủ quan, khinh thường đối phương, hành động sai lầm, do đó tự bộc lộ sơ hở, nhược điểm. Những cuộc xuất kích trên tuyến sông Cầu của Lý Thường Kiệt để tiêu hao liên tục đội kỵ binh thiện chiến của Quách Quỳ; Trần Quốc Tuấn kéo quân kỵ binh cơ động của quân Nguyên rời khỏi thành Thăng Long để tiêu diệt dọc đường; việc gửi thư cho Liễu Thăng trước khi viện binh Minh vượt biên giới; các trận đánh kéo địch vào trận địa mai phục Chi Lăng, v.v. Và một khi địch có sơ hở bộc lộ chỗ yếu, các nhà quân sự ta biết tập trung lực lượng bất ngờ giáng những đòn mãnh liệt địa tiêu diệt chúng.
       
        Trong điều kiện nước ta là một nước đất không rộng, người không đông mà phải đánh những đạo quân xâm lược lớn mạnh, Tổ tiên ta đã biết huy động toàn dân cùng với lực lượng vũ trang tập trung đánh giặc, tạo nên một sức mạnh to lớn. Mặt khác muốn phát huy tác dụng to lớn của lực lượng vũ trang tập trung thường kém xa địch về số lượng, Tổ tiên ta đã có nghệ thuật biết dùng lực lượng vũ trang đó với một hiệu lực lớn nhất để đánh bại một kẻ địch đông hơn và thiện chiến. Tư tưởng chỉ đạo của nghệ thuật đó được Nguyễn Trãi nêu lên một cách xuất sắc: "Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi "8.

--------------
1. Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, bản dịch, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1960, tr. 30.

2. Lê Duẩn, Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đì đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1969, tr. 30.

3. Trần Quốc Tuấn, Binh thưyếu lược.

4. Nguyễn Trãi, Bình ngô đại cáo. Chiến thuật cổ đại thường chia ra, chinh và kỳ: bộ đội đánh theo chính là chính binh, đánh theo kỳ, là kỳ binh: đánh trước mặt địch, đánh dàn trận với địch, đánh theo cách đánh thông thường là đánh theo chính, đánh sau lưng địch, đánh bất ngờ, đánh theo cách đánh đặc biệt là đánh theo kỳ. Phối hợp khéo léo chính và kỳ, thay đổi khéo léo chính và kỳ là một yêu cầu trong chỉ huy quân đội thời xưa.

5, 6. Nguyễn Trãi. Lam Sơn thực lục.

7. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, tài liệu đã dẫn, tr. 56.

8. Nguyễn Trãi. Lam Sơn thực lục.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 06:07:28 AM
        Chính vì vậy mà nét sáng tạo trong nghệ thuật quân sự dân tộc của ta là không những Tổ tiên ta biết lấy nhiều đánh ít mà còn biết lấy ít đánh nhiều: khi cần thiết thì tập trung quân có số lượng lớn hơn địch để tìm diệt chúng; khi thì biết dùng những đạo quân có chất lượng cao, có sức chiến đấu lớn để tiêu diệt những đạo quân đông hơn của địch trong những thời cơ thuận lợi. Có thể nói rằng những chiến thắng oanh liệt nhất trong những cuộc chiến tranh thắng lợi đều là những trận lấy ít thắng nhiều: Vạn Kiếp, Chúc Động-Tốt Động, Chi Lăng-Xương Giang, Ngọc Hồi-Đống Đa.
       
        Để đạt được yêu cầu đó, Tổ tiên ta đã rất chú trọng đến nhân tố chất lượng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang. Nhiều nhà quân sự của ta ngày xưa xem nhân tố chính trị, tinh thần, đoàn kết nhất trí đồng cam cộng khổ cùng với nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi, sự tinh nhuệ của quân đội, là những nhân tố rất cơ bản quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trần Quốc Tuấn nói: “Binh quý về tinh, không quý về nhiều”1.
       
        Nguyễn Trãi đã đánh giá như sau về sức mạnh của quân đội nhà Hồ và nghĩa quân Lam Sơn:
       
        “Quân mạnh hay yếu không cứ ở nhiều. Quân của nhà Hồ trăm vạn người trăm vạn lòng, mà quân của tôi bất quá vài mươi vạn, nhưng ai cũng một lòng”2.
       
        Nguyễn Huệ thì nói: "Còn như quân lính thì cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều".
       
        Trong khi Hồ Quý Ly luôn luôn lo lắng "làm thế nào để có trăm vạn quân thì địch nổi giặc Bắc" mà rút cuộc vẫn bại trận.
       
        Để tăng sức mạnh của lực lượng vũ trang, Tổ tiên ta biết: “Vỗ nuôi sĩ tốt, vời đón hiền giả, thu dụng nhân tài, sửa rèn khí giới, luyện tập binh tượng, dạy bảo những phương pháp ngồi, dậy, tiến, lui, lại hun đúc bằng những điều nhân nghĩa, khiến ai ai cũng hết lòng thành, thân với kẻ trên, chết cho người trưởng". Cho nên Nguyễn Trãi nói: “Đem quân ấy ra đối phó với địch, thì kẻ nào theo ý hướng ta sẽ sống, kẻ nào trái ý hướng ta sẽ chết".
       
        Trái lại điều trên, nhà Hồ đặt trọng tâm việc nâng cao sức chiến đấu của quân đội vào đúc súng "thần công" đóng thuyền "cổ lâu', tức là cải tiến vũ khí.
       
        Thắng lợi của 4 cuộc chiến tranh và thất bại của nhà Hồ, những lời nói của những nhà quân sự đánh thắng và của Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, đã nêu lên khá rõ kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta: vũ khí và số lượng là quan trọng, nhưng quyết định là con người và chất lượng.
       
        Tư tưởng tích cực tiến công, phát huy mọi chỗ mạnh của mình nhằm mọi chỗ yếu của địch mà đánh, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ, vừa đến lớn, đã được vận dụng trong thực tế hết sức cơ động, linh hoạt, mưu trí bằng nhiều cách đánh tài tình, sáng tạo, đánh trước mặt và đánh sau lưng, đánh phân tán và đánh tập trung, đánh bằng tiến công quân sự và bằng tiến công binh vận, đánh vào tất cả các mục tiêu, đánh bằng nhiều phép đánh độc đáo.
       
        Những cách đánh thiên biến vạn hóa đó, là những cách đánh vượt ra ngoài cách đánh thông thường của các binh pháp cổ đại. Trên cơ sở của tinh thần anh dũng quả cảm đã sản sinh ra những cách đánh thông minh linh hoạt, phát huy được mọi tài năng, sở trường của ta, mà hạn chế được mọi khả năng, sở trường của địch. Quân kỵ binh Mông Cổ rất cơ động, giỏi đánh ngoài thành luỹ, trên đồng nội, đã từng phát huy đến cao độ sở trường của họ trên nhiều chiến trường. Nhưng, trước những cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta thời Trần, đã không thể phát huy được lối đánh sở trường đó, như Nguyên Sử đã thừa nhận, trên đất nước Đại Việt "quân và ngựa Mông Cổ đã không thi thố được tài năng nào". Quân Minh thông thạo công thành và giữ thành, vẫn không thoát khỏi bị tiêu diệt hết đạo quân này đến đạo quân khác ngoài thành luỹ.
       
        Những trận đánh trên các đường giao thông thủy bộ, đánh vào các căn cứ an toàn, đánh vào các cơ quan đầu não của địch vừa tiêu diệt sinh lực, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh (xe, thuyền, vũ khí) và cơ sở vật chất khác (lương thực); những trận hạ thành bằng vây hãm quân sự kết hợp với tiến công binh vận, làm tan rã tổ chức và tinh thần của địch, những phép đánh như đục thuyền, dùng cọc gỗ và lợi dụng thủy triều để phá hủy quân địch, v.v. đều chứng tỏ dân tộc ta đã sáng tạo ra nhiều cách đánh phong phú, độc đáo kết hợp chặt chẽ anh dũng và thông minh, khiến cho quân và dân ta có thể giành và giữ quyền chủ động ở độ cao, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chịu đòn. Những cách đánh cơ động mưu trí đó, không những đã không cho địch phát huy được sở trường của chúng mà còn buộc địch phải đánh theo cách đánh có lợi cho ta, phải phục tùng ý chí của quân và dân ta. Do đó, chúng đánh ta thì đánh không trúng, không tiêu diệt nổi quân ta; quân ta đánh thì đánh rất trúng, đánh tiêu diệt chúng. Các cách đánh phản công mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, các cách đánh mai phục bất ngờ của Lê Lợi, cách hành binh thần tốc, táo bạo đánh úp của Nguyễn Huệ là những cách đánh chứng tỏ địch không cách nào đối phó nổi.
       
        Sử thân Ngô Sĩ Liên đã nói như sau về trận đánh của Lý Thường Kiệt: “Hơn mười vạn quân hoành hành đi sâu vào nước người, đánh tan quân 3 châu gần như dễ bẻ cành khô; khi ở đấy thì không ai dám đương đầu, lúc rút về thì không ai dám theo sau”3. Trong Hoàng Lê nhất thống chí có nêu rõ nhận định của địch đối với nghĩa quân Tây Sơn là ẩn hiện như thần, "tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên".
       
        Nhờ sự chỉ đạo chiến tranh tài tình, nhờ tư tưởng chiến lược chiến thuật đúng đắn, cộng với chất lượng cao của quân đội và nhiều trường hợp biết dựa vào dân, Tổ tiên ta đã nhiều phen đánh bại, thậm chí hoàn toàn tiêu diệt những đội quân xâm lược về số lượng đông hơn quân đội tập trung của ta, nhiều khi đến mấy lần.
       
------------
1. 2. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, tr. 51, 57.

3. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch. Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1961, tập IV, tr. 195.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 09:29:06 AM
       
B - ĐỊCH VẬN
       
        Đi đôi với việc phát huy những chỗ mạnh của mình về mặt quân sự, Tổ tiên ta đã biết phát huy cao độ yếu tố chính nghĩa của cuộc chiến tranh đang tiến hành, để đánh vào kẻ xâm lược phi nghĩa. Tiêu biểu nhất là cuộc chiến tranh đời Lê; Nguyễn Trãi đã đặt vấn đề địch vận lên một vị trí rất cao, tiến hành rất kiên nhẫn và có hệ thống chiến lược "đánh vào lòng người" như đã nêu lên trong "Bình Ngô sách" từ ngày đầu tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
       
        Xuất phát từ tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn" và nhận rõ tác dụng quyết định của "lòng người" trong chiến tranh, các nhà quân sự thời Lê hiểu rằng, một mặt phải đánh thật mạnh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch thì mới làm địch suy yếu và mau suy sụp về tinh thần; một mặt khác khoét sâu chủ yếu trí mạng về tinh thần của quân đội xâm lược chiến đấu xa nhà, xa nước đứng trước cả một dân tộc đang chống lại. Phối hợp hai mặt tiến công đó, vừa đánh tiêu diệt lực lượng vật chất của địch vừa tiến công vào tinh thần chiến đấu của chúng, Tổ tiên ta dã buộc hàng chục vạn tên địch phải hạ vũ khí xin hàng, làm tan rã về tổ chức và tinh thần cả một quân đội xâm lược lớn mạnh. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trài tổng kết:
       
                “Bỉ chí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong.
                Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất"
1.
       
        Nghĩa là: địch đã chí cùng lực kiệt bó tay chờ chết, ta tìm cách đánh vào lòng người, không đánh trận mà giặc phải khuất phục. Ở đây nổi bật lên cái ý, dùng chính nghĩa sáng tỏ để đánh địch.
       
        Những văn kiện địch vận của Nguyễn Trài có sức thuyết phục mạnh mẽ nêu bật tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng của dân tộc ta và tính chất phi chính nghĩa trong chiến tranh xâm lược của nhà Minh, nêu rõ sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta và mâu thuẫn xâu xé nội bộ địch nhằm mục tiêu làm tan rã tinh thần chiến đấu của chúng, đưa chúng đến chỗ hàng phục ta, trong điều kiện bị hãm vào thế nguy khốn về quân sự. Đánh bằng quân sự càng mạnh, quy mô càng lớn, thì đánh bằng binh vận cũng ngày càng mạnh, với quy mô càng lớn.
       
        Với lý lẽ sáng ngời trên cơ sở của sự thật, những văn kiện địch vận đó đã đi sát các đối tượng vận động (quân Minh và quân ngụy), đi sát tình huống chiến lược, chiến thuật ta, vừa nêu lên tinh thần khó khăn, tuyệt vọng, thất bại của địch vừa chỉ ra lối thoát cho chúng, và khẳng định ý chí kiên quyết tiêu diệt địch của quân và dân ta, lại vừa nói rõ chính sách khoan hồng của dân tộc ta đối với tù, hàng binh.
       
        Trong thư gửi Phương Chính, một tướng nhà Minh, Nguyễn Trãi vạch ra như sau: “Nước người nhân dịp nhà Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội (ý nói nhà Minh mượn tiếng thương dân sống khổ mà đánh kẻ có tội để cứu dân-T.G), kỳ thực là làm việc bạo tàn, lấn cướp nước ta, bóc lột dân ta, thuế nặng, hình nhiều, vơ vét của quý, dân mọn các làng không được yên sống. Nhân nghĩa lại làm thế ư? Nay ở nước người, dân oán, thần giận, kế tiếp có đại tang, thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ (ý nói dùng vũ lực, đánh nhau không thôi-T.G), ham thích xâm lược nơi xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi”2. Rồi ông chỉ rõ cho tướng sĩ nhà Minh:
       
        “Kế của ngài ngày nay không gì bằng cởi giáp nghỉ binh, ngồi nhàn mà nhận hàng, đó là thượng sách. Thế tuy là may cho bọn tôi cùng ngài, mà cũng là may lớn cho vạn dân thiên hạ vậy”3.
       
        Khi gần 10 vạn quân Minh bị vây khốn trong các thành, tổng binh Minh là Vương Thông chờ mong viện binh, hy vọng được giải vây rồi phản công tiêu diệt nghĩa quân, Nguyễn Trãi đã phân tích như sau:
       
        “Trước đây lòng mưu giả trá, mặt thác giảng hòa, rồi cứ đào hào đắp luỹ, ngồi đợi viện…Hiện nay phương bắc có kẻ địch Thiện Nguyên (một tướng thuộc dòng dõi nhà Nguyên, chiêm giữ miền Bắc Trung Quốc, vẫn đang chống lại nhà Minh-T.G), trong nước có mối lo các xứ Tầm Châu (chỉ khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc ở Quảng Tây chống lại nhà Minh-T.G), một khu Giang Tả (nay thuộc Giang Tô, Trung Quốc-T.G) không tự giữ xong, huống còn mưu toan cướp nước khác ư? Các người không hiểu sự thế bị người đánh thua, 1ại còn  chực dựa uy Trương Phụ (lúc đó Vương Thông thường phao tin Trương Phụ là tướng tài đã từng thắng nhà Hồ sẽ sang, định dựa vào oai phong của Trương Phụ để uy hiếp nghĩa quân ta-T.G), thế là đại trượng phu chăng?...Sự thế ngày nay, dẫu cho thượng vị (chỉ vua Minh-T.G) có đem quân đến nữa cũng chỉ chóng chết mà thôi, huống là Trương Phụ tự đến nạp xác thì sao đáng nói...Nay sức hết kế cùng, quân nhọc lính mệt, trong thiếu lương thực ngoài không viện binh, bám hờ khu nhỏ mọn, nghỉ tạm thành chơ vơ, đó không phải là như thịt trên thớt, cá trong nồi ư?”4.

-----------------
1. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, tr. 70.

2. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, tr. 22.

3. Nguyễn Trãi.Tài liệu đã dẫn, tr. 20.

4. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, tr. 48, 49.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 09:35:40 AM
        Cuối cùng ông khái quát như sau: “Nay tính kế các ông, xét có 6 điều phải thua:
       
        - Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết, quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.
       
        - Xưa Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân nhà vua đóng giữ, nếu viện binh đến, thì tất cả phải thua; viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.
       
        - Ở nước các ông, quân mạnh ngựa tốt, nay sống cả ở miền Bắc đề phòng trị quân Nguyên không dõi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.
       
        - Động dụng can qua, hàng năm đánh dẹp, dân sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.
       
        - Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình thêm biến. Đó là điều phải thua thứ năm.
       
         - Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới cùng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc; quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt kham khổ, tự chuốc lấy bại vong. Đó là điều phải thua thứ sáu.
       
        Nay giữ cái thành cỏn con để chờ 6 điều thất bại, ta lấy làm tiếc cho các ông lắm. Cổ ngữ có câu: “Nước xa không thể cứu được lửa gần”, giờ viện binh có đền cũng có ích gì cho sự bại vong?”

       
        Đối với tướng sỹ ngụy, Nguyễn Trài khêu gợi tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc: “Người xưa có câu nói: "Quạ đi lại về quê cũ cáo chết quay đầu về núi”, cầm thú còn thế, huống nữa là người? Các người vôn đều là người dân Tây Việt dòng dõi nhà quan. Trước nhân nhà Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, các người có người thân bị hãm ở tặc đình, có người thì danh bị buộc ở ngụy chức, đó là thiên không dừng được nào phải do ở bản tâm đâu…Bọn các người nếu biết sửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận, hoặc ở làm nội ứng hoặc ra để cũng đầu hàng thì không những rửa mối hổ thẹn ngày trước mà cũng được phần soi xét về sau. Ta không nói lời lại ăn lời, nếu các ngươi lại còn tiếc tham ngụy chức, chống cự vương sư thì khi hãm thành tội các ngươi tất nặng hơn giặc Ngô đấy”1.
       
        Chính sách đối với quân giặc ra hàng cũng đã được quy định rõ:
       
        “Tướng giặc đã hàng mảy may cũng không được xâm phạm. Bất cứ tội to tội nhỏ đều xóa cho hết”2.
       
        “Quan quân đã hàng, vợ con quyến thuộc cùng là tài vật đều bảo toàn hết cả, không chút thiệt hại”3.
       
        Đối với tướng sỹ ngụy đã ra hàng:
       
        “Ra ngoài thành cùng ta hòa thân, thì ta sẽ coi các ngươi như tình anh em ruột thịt, chẳng những là bảo đảm tính mạng vợ con mà thôi…”4.
       
        Còn đối với tướng sĩ nhà Minh thì:
       
        “Nếu muốn rút quân về nước ta sẽ sửa sang cầu cống, chuẩn bị thuyền bè, thủy lục hai đường, tùy theo ý muốn, bảo đảm đưa khỏi ra bờ cõi không phải lo gì”5.
       
        Việc kết hợp chặt chẽ tác chiến và địch vận đã làm cho Tổ tiên ta phát huy được sức mạnh chính trị của mình, tiết kiệm được xương máu, giành được thắng lợi to lớn trong chiến tranh.
       
        Kết quả là "thành giặc các nơi, mũi nhọn không dính máu mà tự mở". Hàng vạn quân địch ra hàng, rất nhiều người đã tham gia hàng ngũ nghĩa quân, giúp cho quân đội phát triển nhanh. Hàng vạn quân Minh đã mở cửa thành, dâng thành cho nghĩa quân, có những tướng lĩnh đã đứng hẳn về phía chính nghĩa giúp quân và dân ta trong công tác vận động thuyết phục các tướng lĩnh Minh khác cũng như giúp nghĩa quân tin tức quân sự và cách chế tạo chiến cụ để đánh bại quân Minh.
       
        Ở những thời khác, tuy công tác địch vận chưa được tiến hành một cách đầy đủ như thời Lê, nhưng ít nhiều cũng đã có những tác dụng nhất định trong việc làm tan rã tinh thần chiến đấu của quân xâm lược (thời Lý, Trần và Nguyễn Huệ, v.v.).
       
        Trước Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cũng đã có chủ trương đánh bằng địch vận-nhưng chưa coi trọng như Nguyễn Trãi, chưa thành một vấn đề chiến lược như trong thời Nguyễn Trãi. Trần Hưng Đạo cũng đã biết lợi dụng mâu thuẫn giữa người Hán và người Mông Cổ trong quân Nguyên mà lôi kéo những tướng sỹ người dân tộc Hán trong quân đội nhà Nguyên.
       
        Một vụ điển hình là vụ Triệu Trung: Một tướng người Hán trong quân Nguyên đã ra hàng quân ta và tham gia đạo quân Trần Nhật Duật, đã góp phần đánh tan đoàn quân tiên phong của đạo quân Toa Đô tại trận Hàm Tử năm 1285.
       
------------------
1. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh lệnh tập, tr. 4-42.

2, 3. Nguyễn Trãi. Lam Sơn thực lục.

4, 5. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, tr. 43, 50.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 08:53:24 PM
          
C - ĐẤU TRANH VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO

        Để dựng nước và giữ nước, để giành và giữ nền độc lập dân tộc, nhìn chung cả quá trình mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta trước kẻ thù hung bạo, dùng vũ lực áp đặt ách thống trị, đã không đi chệch con đường đúng đắn duy nhất đã chọn: con đường cầm vũ khí đấu tranh quyết hệt một mất một còn với địch. Chưa đạt tới mục đích độc lập dân tộc, chưa thực hiện quyền làm chủ hoàn toàn đất nước mình thì Tổ tiên ta quyết nắm chắc vũ khí trong tay, quyết đánh quyết thắng. Chính đi theo con đường đó, mà Tổ tiên ta đã sáng tạo một nghệ thuật chỉ đạo đúng đắn, một nghệ thuật biết khởi sự và giỏi tiến hành chiến tranh đồng thời biết kết thúc chiến tranh và giữ vững thắng lợi của chiến tranh đó một cách có lợi nhất cho đất nước, dân tộc, một khi mà các mục tiêu cơ bản của chiến tranh đã đạt được. Đó là nghệ thuật giành, giữ vững, củng cố quyền làm chủ đất nước của một dân tộc kiên cường bất khuất, người không đông, quân đội không nhiều, đất nước không rộng, mà phải chiến thắng những quân đội xâm lược của một nước phong kiến lớn mạnh.
        
        1. Trong các cuộc chiến tranh, dân tộc ta đã kiên quyết đánh những đòn rất mạnh, tiêu diệt những lực lượng rất quan trọng của địch, thậm chí nhiều khi tiêu diệt toàn bộ đoàn quân xâm lược trên đất nước ta, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, do đó mà quét sạch quân địch khỏi bờ cõi, giành lấy độc lập dân tộc.
        
        Thường xuyên đương đầu với một nước phong kiến lớn mạnh xâm lược, Tổ tiên ta đã chiến đấu rất quyết liệt, đánh bại ý chí xâm lược của chúng bằng cách liên tục và triệt để tiêu diệt địch trên đất nước ta, khiến cho kẻ địch lớn mạnh phải chịu khuất phục, tuy còn khả năng nhưng ý chí xâm lược đã tan rã khiến chúng không những bọn quan quân, tướng sĩ đã từng tiến vào nước ta khiếp vía, run sợ, mà ngay cả bọn cầm đầu triều đình ở chính quốc cũng phải chịu thua.
        
        Hai lần quân Tống xâm lược là hai lần quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt đánh cho chúng không còn chỗ đứng chân trên đất nước ta; chỉ đến mức đó thì nhà Tống mới chịu thua hẳn. Ba lần quân và dân ta thời Trần đã tiêu diệt trên dưới chín mươi vạn quân Nguyên thì đế quốc Đại Nguyên mới chịu "bãi binh". Phải sau 10 năm đọ sức quyết liệt với nhà Minh, tiêu diệt và làm tan rã trên nửa triệu quân Minh, vua Minh mới buộc phải ra lệnh "rút quân về nước". Nguyễn Huệ chỉ có tiêu diệt trong một trận thần tốc hai mươi vạn quân Thanh, mới khiến cho triều đình Thanh vứt bỏ mộng tưởng thống trị nước ta.
        
        Để đạt tới mục tiêu quét sạch địch ra khỏi nước ta, đập tan ý chí xâm lược của chúng, Tổ tiên ta tùy hoàn cảnh cụ thể đã dùng hai cách: hoặc là tiêu diệt toàn bộ quân địch, thu hồi toàn bộ đất đai của ta (Trần, Nguyễn Huệ); hoặc là trong những điều kiện nhất định, tiêu diệt đại bộ phận, đặc biệt là tiêu diệt những đạo quân chủ lực tinh nhuệ nhất, xương sống của đoàn quân xâm lược, đặt bộ phận còn lại vào nguy cơ bị tiêu diệt, rồi hạ tối hậu thư cho chúng phải nhanh chóng lui quân (Lý, Lê); địch rút đến đâu ta tiến đến đó (Lý, Lê); đối với bọn ngoan cố chống cự lại thì quyết tiêu diệt, cho đến khi thu hồi toàn bộ đất đai (Lý).
        
                “Chúng đã sợ chết xin hòa, thực thà cầu sống;
                Ta muốn toàn quân làm cốt, ngơi nghỉ dừng chân.”

        
        Điều đáng chú ý là, khi cho phép một bộ phận địch còn lại rút khỏi nước ta, Tổ tiên ta không những nhằm mục tiêu trước mắt của cuộc chiến tranh đang tiến hành, mà còn nhằm vào lợi ích lâu dài của dân tộc, như Nguyễn Trãi đã viết:
        
        “Thần vũ không giết, đức lớn hiếu sinh. Nghĩ đến kế lâu dài của nước nhà, tha ngay 10 vạn hàng binh”.
        
        2. Tổ tiên ta đã biết khéo léo kết hợp đấu tranh vũ trang rất kiên quyết với đấu tranh ngoại giao rất mềm dẻo sau khi đã giành được thắng lợi to lớn quyết định trên chiến trường, sau khi quân địch bị thất bại nặng nề mà thực chịu thua, nhằm củng cố và mở rộng thành quả đấu tranh.
        
        Trong những cuộc chiến tranh thắng lợi, vấn đề "đánh" và "đàm" đã được Tổ tiên ta nhận thức một cách đúng đắn và giải quyết một cách đúng đắn và sáng tạo. Luôn sẵn sàng đánh, đánh đến thắng lợi hoàn toàn, đánh hết trận này, đánh xong với kẻ thù này là chuẩn bị đánh trận khác, đánh kẻ thù khác nếu chúng dám xâm lược. Đó là quan điểm chiến lược nhất quán của dân tộc ta. Mặt khác Tổ tiên ta cũng tỏ ra mình hiểu người, biết dùng biện pháp đàm phán kết hợp được tính cứng rắn về nguyên tắc và tính mềm dẻo về sách lược để củng cố và mở rộng thành quả của đấu tranh vũ trang.
        
        Có đánh có đàm, trên cơ sở đánh thắng oanh liệt mà chủ động đẩy mạnh hoạt động ngoại giao khôn khéo, điều đó đã được thể hiện trong những cuộc chiến đấu nói trên. Kinh nghiệm lịch sử của Tổ tiên chứng tỏ phải có những chiến thắng oanh liệt, những trận đánh tiêu diệt lớn thật vang dội, cổ vũ đến cao độ nhiệt tình yêu nước của nhân dân ta, nâng cao tin tưởng thắng lợi hoàn toàn của quân và dân ta khiến toàn quân toàn dân dốc sức đánh bại hoàn toàn quân địch, mà địch thì suy sụp tinh thần chiến đấu, không thể không chịu thua trước thảm họa quân sự của chúng, đó là thời cơ có lợi để Tổ tiên ta tiến hành ngoại giao với địch. Tuỳ theo so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng triều đại, Tổ tiên ta đã biết áp dụng hai cách vừa đánh vừa đàm và đánh thắng rồi đàm.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 09:00:02 PM
         Sau chiến thắng của trận phản công trên sông Cầu tiêu diệt phần lớn chủ lực tinh nhuệ của quân Tống, tuy quân địch còn trên đất nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang gặp tướng chỉ huy quân xâm lược để đặt điều kiện lập lại hòa bình giữa hai nước: Quân Tống rút lui toàn bộ đất nước ta. Quách Quỳ, tướng chỉ huy quân Tống, lúc đó chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc tiếp tục đánh thì nhất định bị tiêu diệt hoàn toàn, hoặc nhận điều kiện rút quân thì bảo tồn được bộ phận sinh lực còn lại, giữ được tính mạng của bản thân. Trong điều kiện nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn là rõ ràng, khẩn cấp, Quách Quỳ đã chọn con đường thứ hai, lập tức rút quân, ngay trước khi triều đình Tống ra lệnh bãi binh. Thời Lê, trong mười năm chiến tranh giải phóng, đã có nhiều lần vừa đánh vừa đàm như vậy. Như sau lần đánh bại cuộc tiến công càn quét của 10 vạn quân Minh ở vùng huyện Khôi nhằm tranh thủ thời gian để củng cố lực lượng chuẩn bị tiếp tục đánh, hai bên đã đàm phán đi tới tạm hòa hoãn trong hai năm. Sau chiến thắng vang dội Chi Lăng-Xương Giang, đập tan cố gắng cao nhất cuối cùng của nhà Minh, Lê Lợi-Nguyễn Trãi lại tiếp tục đàm phán với Vương Thông, buộc 10 vạn quân địch còn lại phải đầu hàng và được phép rút quân về nước, trước khi vua Minh có lệnh bãi binh.
       
        Còn thời Trần, thời Nguyễn Huệ, chỉ sau khi đã giành thắng lợi hoàn toàn bằng những chiến công hiển hách, tiêu diệt gần hoàn toàn quân xâm lược, nhà Trần và Nguyễn Huệ mới chủ động tiến hành hoạt động ngoại giao với các triều đình Nguyên và Thanh.
       
        Như trên đã nêu, dù vừa đánh vừa đàm, hay là đánh rồi đàm, Tổ tiên ta tỏ ra nắm vững quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường nước ta và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao. Đó là biểu hiện của sự kết hợp đúng đắn giữa ý chí kiên cường bất khuất và nhãn quan trông xa thấy rộng có lòng căm thù sâu sắc quân địch, lại biết đánh giá đúng sức mình, sức người. Nhà sử học Phan Huy Chú đã bình luận như sau mối quan hệ giữa chiến thắng quyết định và hoạt động ngoại giao thời Lý:         

        “Việc biên giới ở đời Lý được trả lại đất rất nhiều.
       
        Bởi vì, trước thì có oai thắng trận, người trung châu (ý chỉ đoàn quân Tống xâm lược nước ta-T.G) hoảng sợ, đủ làm cho nhà Tống phải phục, sau thì sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung càng thêm khéo léo. Cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người phương Bắc phải khuất, mà thế lực của Nam Giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biệt qua thế cường thịnh của thời bấy giờ”1(chúng tôi nhấn mạnh-T.G).

       
        Cho nên biện pháp ngoại giao không phải được thực hiện với tinh thần sợ hãi quân địch lớn mạnh hơn mình, mà với thế của kẻ chiến thắng, của một nước đã đánh bại quân thù xâm lược.
       
        Tinh thần trên thể hiện rõ trong lời Nguyễn Trãi nói với Lê Lợi và các tướng lĩnh của nghĩa quân sau khi tiêu diệt viện binh địch tại Chi Lăng-Xương Giang: “Tình hình quân giặc trong lúc này, mình phá vào sào huyệt ăn gan uống máu để rửa mối thù sâu không phải là một sự khó khăn. Nhưng thần trộm e, như vậy sẽ kết mối thù với triều Minh quá sâu. Vì sự trả thù, vì sự vớt lấy thể diện của một nước lớn, Minh chúa tất lại phái binh sang, như thế cái vạ binh đao biết đến bao giờ cho dứt được. Chi bằng ta nên thừa lúc này, kẻ thù lâm vào thế cùng mà cùng họ hòa hiếu để tạo phúc cho cả sinh linh hai nước”2.
       
        Với nội dung bảo đảm giành độc lập hoàn toàn của dân tộc, hoạt động ngoại giao đó đã được tiến hành dưới nhiều hình thức nhằm buộc địch chịu thua mà không "mất mặt", như tạo điều kiện cho quân bại trận rút về, chịu phong vương, nhận triều cống, nhận trao trả tù binh, v.v. để đặt lại quan hệ bình thường giữa hai nước.
       
        Trên cơ sở của cái "oai thắng trận", cuộc đấu tranh về mặt ngoại giao giữa ta và địch vẫn không kém phần gay go quyết liệt có lúc rất căng thẳng. Như nhà Trần đã kiên quyết bác bỏ toàn bộ 6 điều của nhà Nguyên, tuy rằng trong cuộc đấu tranh ngoại giao đó, phía bên Nguyên đã rút lui từng bước rút bỏ một số điều kiện, cho đến lúc cuồl cùng phải bỏ hẳn các điều kiện xâm phạm chủ quyền nước ta.
       
        Trong nhiều trường hợp (thời Lý - Tây Sơn) cuộc đấu tranh ngoại giao mang tính chất một cuộc tiến công tích cực để khuếch trương chiến quả của đấu tranh vũ trang, tiêu biểu là cuộc đấu tranh thời Lý buộc Tống thừa nhận Đại Việt là một nước riêng biệt, chứ không phải làm một quận, cũng không phải là một chư hầu của Tống; thừa nhận vua nước Đại Việt là quốc vương chứ không phải là "Giao Chỉ quận vương".
       
        Điều đáng chú ý là Tổ tiên ta không hề có ảo tưởng đối với "thiện chí" của quân xâm lược, chưa triệt để đánh bại chúng thì chưa có thể có độc lập dân tộc. Sau năm năm chiến tranh, Lê Lợi, tạm hòa hoãn với quân Minh chỉ là để chuẩn bị tiếp tục chiến đấu quyết liệt hơn. Đến năm thứ mười của cuộc chiến tranh, khi 8 vạn quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị quân ta vây hãm ở Xương Giang có ý trá hàng, Lê Lợi-Nguyễn Trãi đã không chấp nhận mà kiên quyết tiêu diệt chúng toàn bộ. Có như vậy mới có điều kiện buộc quân Vương Thông ở Đông Quan phải thực sự đầu hàng. Các triều đại chỉ đặt quan hệ bình thường với quân địch sau khi đã hoàn toàn đánh bại các cuộc xâm lược của chúng.
       
----------------
1. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, Bang giao chí, bản dịch, tập IV, tr. 196.

2. Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn trích dẫn trong Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào giải phóng đất nước vào đầu thế kỷ XV. Nhà xuất bản Khoa học, Hà Nội, 1969, tr. 240.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2016, 09:04:31 PM
       
NHỮNG KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH
       
        Trong chiến tranh, đường lối chính trị và quân sự là rất cơ bản; nó quyết định việc chỉ đạo chiến tranh và giành thắng lợi trong chiến tranh.
       
        Để thực hiện đường lối, chủ trương chiến tranh, cần có sự chỉ đạo cụ thể về phương pháp và các cách thức để tiến hành chiến tranh. Đó là sự chỉ đạo về nguyên tắc thực hành chiến lược.
       
        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, sự chỉ đạo về nguyên tắc chiến lược-những vấn đề cụ thể về chiến lược-có rất nhiều cái hay và rất phong phú. Đi sâu, nghiên cứu để tổng hợp, phân tích các loại kinh nghiệm vô cùng phong phú, quý báu của lịch sử chiến tranh là một điều cần thiết.
       
1. VẤN ĐỀ TIẾN CÔNG VÀ PHẢN CÔNG
       
        Tiến công và phản công là vấn đề chủ chốt trong chiến tranh. Vì chỉ có tiến công và phản công mới giành được thắng lợi trong chiến tranh. Nhưng tiến công chiến lược và phản công chiến lược như thế nào? Yêu cầu phải đạt được những gì? Lúc nào, thời cơ nào thì thực hành tiến công và phản công chiến lược? Tiến công và phản công chiến lược lần lượt trên từng hướng chiến lược hay đồng thời trên toàn tuyến? Đó là một nghệ thuật trong chỉ đạo chiến tranh.
       
        Nghiên cứu vấn đề này, cần nắm vững một điểm cơ bản có tính chất bản chất là sự so sánh lực lượng và so sánh về thế và lực của hai bên. Trên cơ sở đó mà nghiên cứu các điều kiện cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng cho thích hợp.
       
        Bộ chỉ huy chiến tranh phải căn cứ vào tình hình so sánh lực lượng, vào thế và lực giữa hai bên địch, ta trên chiến trường và của cả hai quốc gia mà quyết định một cách linh hoạt và sáng tạo.
       
        Lý Thường Kiệt có thể phản công ngay lập tức ở trên hướng tiến công chủ yếu của địch, đánh ngay vào đạo quân chủ yếu của địch đang thực hành tiến công, là do tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, là do thế và lực giữa hai bên không chênh lệch nhau. Ngoài vấn đề thế và lực ra thì trình độ tác chiến của quân đội và nghệ thuật chỉ đạo của bộ chỉ huy cũng rất quan trọng. Đó là tính năng động chủ quan trong lãnh đạo, chỉ huy và hành động của cán bộ chỉ huy và của chiến sĩ. Quân đội nhà Lý là một quân đội thiện chiến, đã được rèn luyện trong chiến tranh nhiều năm và thường đánh thắng trận. Lý Thường Kiệt lại là một nhà chỉ huy thao lược có ý chí, có quyết tâm và có tài.
       
        Về nhân dân và tình hình xã hội thì được phát triển và vững mạnh trong một nước độc lập; nhân dân hăng hái, đoàn kết, quyết tâm đánh giặc, giữ nước.
       
        Trong khi đó, bên nhà Tống thì đang có nguy cơ bị xâm lược ở phía bắc. Trước và sau khi quân Tống đánh nước ta thì các nước Liêu, Hạ, Kim đều có đánh Tống (1004 Liêu đánh Tống, 1038 Tây Hạ đánh Tống, 1125 Kim đánh Tống). Về nội bộ thì triều đình nhà Tống có nhiều mâu thuẫn, chém giết lẫn nhau giữa phái Vương An Thạch và Lã Huệ Khanh: nền chính trị hủ bại suy đồi, nhân dân có nhiều oán ghét.
       
        Trần Hưng Đạo khi phân tích tình hình thời đại đó cũng đã nói là lúc này nhà Lý có thế lực mạnh (Trần Quốc Tuấn trả lời nhà vua khi bị ốm).
       
        Do sự so sánh lực lượng cụ thể giữa hai bên ở trên chiến trường, và tình hình chính trị, kinh tế, quân sự của hai quốc gia cộng với trình độ tác chiến của hai quân đội, sự chỉ huy của hai bộ chỉ huy mà xem xét điều kiện và thời cơ phản công.
       
        Lý Thường Kiệt thực hành phản công sớm và thành công, nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh trong vài ba tháng là do đã có những điều kiện cụ thể, những nhân tố thắng lợi nhanh của cuộc chiến tranh đó.
       
        Đến thời đại Trần Hưng Đạo, việc thực hành phản công chiến lược có khác với Lý Thường Kiệt. Đó là do điều kiện của cuộc chiến tranh của thời nhà Trần có khác với thời nhà Lý.
       
        Một điều kiện giống nhau là nhà Lý và nhà Trần đều đã là một nhà nước độc lập, có nhân dân đoàn kết quyết tâm đánh giặc giữ nước. Nền kinh tế đã được tổ chức và phát triển. Nền chính trị cũng được tương đối ổn định. Quân đội đã được tổ chức, được huấn luyện tinh nhuệ, đã thành một quân đội chính quy của một nhà nước. Điều kiện khác nhau là đối tượng chiến tranh không giống nhau. Quân nhà Nguyên mạnh hơn quân nhà Tống.
       
        Trước một quân địch mạnh như thế, Trần Hưng Đạo đã không thể phản công nhanh và sớm như Lý Thường Kiệt được. Ông phải rút lui từng bước, xoay chuyển thế trận, nhử địch vào sâu, phân tán quân địch, làm cho địch bị tiêu hao, mệt mỏi, tạo điều kiện để tiêu diệt từng bộ phận quân địch, dần dần thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra thế lợi thế mạnh cho ta, đưa địch vào thế bất lợi, thế yếu, rồi mới thực hành phản công, tiến hành tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược đi đến giành thắng lợi quyết định và thắng lợi hoàn toàn. Trần Hưng Đạo đã đề ra phương châm lấy "ngắn trị dài", "lấy nhàn trị nhọc".


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:44:09 PM
        Trần Hưng Đạo phản công chậm hơn Lý Thường Kiệt mấy tháng, nhìn chung thì cũng là nhanh. Lý Thường Kiệt phản công và giành thắng lợi trong vài tháng. Trần Hưng Đạo phản công và giành thắng lợi trong 6-7 tháng.
       
        Đến Quang Trung thì cuộc phản công lại sớm hơn và giành thắng lợi nhanh hơn. Khoảng 2 tháng, Quang Trung đã giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để. Cuộc phản công chính vào Thăng Long giành thắng lợi quyết định thì chỉ khoảng một tuần lễ.
       
        So sánh tình hình và lực lượng hai bên thì quân của Quang Trung là một đội quân mạnh, rất tinh nhuệ, đã đánh trăm trận trăm thắng, trình độ đánh công thành giỏi, nghệ thuật đột phá chiến dịch và bao vây vu hồi chiến dịch cao. Nhân dân đoàn kết, quyết tâm, được rèn luyện và có kinh nghiệm, truyền thống đấu tranh vũ trang.
       
        Về quân nhà Thanh là một đội quân xâm lược, tinh thần kém và các mặt đều kém hơn đạo quân chủ lực của Quang Trung. Về triều đình nhà Thanh thì ngày càng suy yếu. Đối ngoại thì có nhiều cuộc xung đột, chiến tranh với các nước láng giềng. Trong nước thì nhân dân có nhiều bất mãn. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên. Từ đời Càn Long thứ 35 đến đời Quang Tự thứ 14 (1721-1888) có tới hàng vài chục cuộc khởi nghĩa.
       
        Trong điều kiện nhà nước và quân đội của hai bên như thế nên Quang Trung đã thực hành phản công sớm và giành thắng lợi nhanh chóng.
       
        Trong lịch sử chiến tranh nước ta thì đây là một cuộc phản công mạnh nhất, nhanh nhất, giành thắng lợi nhanh nhất và rất oanh liệt.
       
        Bên cạnh những cuộc phản công sớm và giành thắng lợi nhanh thì trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có những cuộc phản công chậm, kéo dài. Đó cũng là do so sánh lực lượng, so sánh thế và lực.
       
        Năm 544 Lý Bôn khởi nghĩa vũ trang thành công, năm 545 nhà Lương lại phái Dương Phiên đem quân sang xâm lược. Lý Bôn và Triệu Quang Phục rút lên núi và về vùng nông thôn đồng bằng để đánh du kích tiếp tục duy trì cuộc kháng chiến. Triệu Quang Phục tiến hành đánh du kích trong vài năm, rồi dần dần phát triển lên đánh tập trung và tới năm 548 (trong 3 năm: 545 đến 548) mới thực hành phản công chiếm lại Long Biên, giải phóng được đất nước.
       
        Cuộc chiến tranh du kích lâu dài của Lê Lợi phải mấy năm sau mới tiến hành phản công cục bộ và cho tới năm 1426, tức là 8 năm sau, mới thực hành phản công chiến lược quyết định, và một năm sau, tức 1427 thì giành được thắng lợi hoàn toàn. Trong phản công và tấn công, Lê Lợi không những chỉ phản công và tiến công bằng quân sự, bằng quân chủ lực và quân du kích, mà Lê Lợi còn phản công và tiến công bằng binh vận địch vận.
       
        Trong thời kỳ thực hành phản công chiến lược cục bộ từ Nghệ An, hai đòn phản công quân sự và địch vận đã hỗ trợ nhau và đã thu được thắng lợi. Tướng giặc ở Trà Long (Nghệ An) đã hàng nghĩa quân Lam Sơn.
       
        Đến thời kỳ tổng phản công, đại quân của Lê lợi đánh ra ngoài Bắc-đánh vào trận địa chủ yếu, trận địa cuồl cùng của địch ở vùng xung quanh Đông Đô-thì đòn tiến công địch vận vẫn đi sát đòn tiến công quân sự-hai đòn hỗ trợ nhau, và phát huy thắng lợi tốt.
       
        Tổng tư lệnh quân địch là Vương Thông cùng 5 vạn quân đã hàng ở Đông Đô (Hà Nội) và các thành luỹ khác cũng đầu hàng hàng loạt.
       
        Trên đây là những cuộc phản công và tiến công có nhiều vẻ khác nhau và đều thành công. Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có cuộc chiến tranh vì phản công quá sớm, đánh tập trung quyết chiến quá sớm nên không thành công.
       
        Sau khi Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thành công chưa được bao lâu thì lại phải chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược mới của nhà Hán do Mã Viện chỉ huy.
       
        Nước ta mới được độc lập, quân đội chưa được tổ chức huấn luyện thành một quân đội mạnh, tinh nhuệ. Trong tình hình đó, đánh tập trung, phản công, quyết chiến ngay là chưa phù hợp. Đó là nguyên nhân làm cho cuộc kháng chiến không thành công.
       
        Trước sự so sánh lực lượng như thế, dân tộc ta đã có cách đánh thích hợp và giành được thắng lợi. Lý Bôn, Triệu Quang Phục đã biết đánh du kích, phân tán địch, tiêu hao, tiêu diệt nhỏ quân địch, giữ gìn, bồi dưỡng, phát triển lực lượng của ta từng bước, dần dần làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra thế mạnh, tạo ra thời cơ, điều kiện để tiến lên đánh tập trung rồi thực hành phản công, đạt được tiêu diệt chiến lược, giành thắng lợi quyết định về chiến lược và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
       
        Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thực hành đánh du kích rồi tiến lên đánh tập trung, rồi thực hành phản công cục bộ, từng bước, từ Biên giới đến Điện Biên Phủ và cuối cùng giành được thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước. Những cuộc phản công này nằm trong tình hình của một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển trong cả nước. Nó được sự hỗ trợ đắc lực của các hướng tiến công và phản công khác trong cả nước của một cuộc chiến tranh nhân dân. Vì thế mà sức mạnh của các cuộc phản công đã được tăng lên gấp bội. Quân địch bị cuộc chiến tranh nhân dân bao vây chia cắt trong cả nước, nên bị suy yếu và căng mỏng. Do đó mà không tập trung được sức mạnh để đối phó có hiệu quả.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:45:58 PM
        Cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa vĩ đại nhất, phát triển cao nhất và phong phú nhất trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc ta. Trong một xã hội hiện đại, phát triển cao như ngày nay thì cuộc chiến tranh có rất nhiều yếu tố phức tạp và rất phong phú. Sự vận động của chiến tranh không đơn giản như trước kia. Sự so sánh lực lượng, so sánh thế và lực giữa hai bên cũng nhiều cái phức tạp; phải tính đến nhiều yếu tố. Do đó mà nghệ thuật phản công và tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân ta có những sự phát triển mới rất phong phú và sáng tạo trong một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển rất cao. Ta tiến hành đồng thời đánh du kích và đánh tập trung, đánh địch cả ở các vùng và các tuyến, tiến hành phản công và tiến công liên tục, ở các quy mô nhỏ, vừa và lớn, trên nhiều hướng khác nhau, và đồng loạt, đều khắp trên toàn tuyến cả quân sự và chính trị; kết hợp giữa phản công, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng ở chiến trường với sự phản công, tiến công chính trị của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược, chống bọn cầm quyền hiếu chiến.
       
        Trên đây là sự vận động và phát triển của nghệ thuật phản công và tiến công trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.
       
        Dân tộc ta đã có một nghệ thuật phản công và tiến công phát triển muôn màu muôn vẻ, tài giỏi và thắng lợi. Sự muôn màu muôn vẻ đó, chứng tỏ Tổ tiên ta đã biết căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Điều này cũng chứng minh một khía cạnh trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi là "điều kiện tồn tại và vận động của sự thật". Sự vật không ra đời một cách ngẫu nhiên mà phải có điều kiện cụ thể mới xuất hiện được. Cũng cùng một sự vật, ở không gian, thời gian này nó xuất hiện một cách khác; ở một không gian, thời gian khác thì nó lại xuất hiện một cách khác. Cho nên việc chỉ đạo chiến tranh phải rất linh hoạt và sáng tạo; không có thể rập khuôn máy móc.
       
        Mục đích của phản công và tiến công chiến lược là đánh những đòn tiêu diệt lớn, tiêu diệt chiến dịch và chiến lược, có ý nghĩa về chiến dịch và chiến lược, làm thay đổi sự so sánh lực lượng, thay đổi thế và lực trên chiến trường, làm thay đổi tình thế, tạo ra sự chuyển biến cục diện, tạo ra bước phát triển mới trong chiến tranh, tạo ra những bước ngoặt trong chiến tranh, tạo ra bước ngoặt quyết định, bước phát triển nhảy vọt, giành thắng lợi quyết định và thắng lợi hoàn toàn.
       
        Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Nguyên lần thứ 2 năm 1285, đòn phản công thứ nhất của Trần Hưng Đạo tiêu diệt và đánh tan đạo quân của Toa Đô, phá vỡ một thế trận, một cánh ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ của quân xâm lược nhà Nguyên, làm cho Thoát Hoan bị cô lập ở Thăng Long, lực lượng quân xâm lược bị suy yếu, thế trận không dựa được vào nhau, tinh thần và ý chí bị lung lay. Cuộc phản công đó thắng lợi đã phát triển thế chủ động của quân ta, động viên tinh thần, ý chí của quân dân ta, mở rộng địa bàn chiến lược của quân ta, tạo ra thế đứng có lợi để bao vây Thăng Long. Cuộc phản công đó đã tạo ra sự chuyển biến cục diện, tạo ra điều kiện thuận lợi để thực hành cuộc phản công thứ 2.
       
        Cuộc phản công thứ 2 tức cũng là một đòn tiến công chiến lược tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan, tập đoàn chiến lược chủ yếu của địch ở giữa Thăng Long và Chương Dương, là một đòn tiêu diệt chiến lược quyết định, giành thắng lợi quyết định rồi tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
       
        Về hướng tiến hành phản công và đối tượng, mục tiêu tác chiến, Trần Hưng Đạo đã chọn hướng địch sơ hở, chọn đạo quân yếu ở ngoài thành quách mà đánh trước. Những yếu tố trên có thể bảo đảm cho việc chắc thắng. Đạt được thắng lợi bước đầu rồi, tạo được thế lợi rồi thì có thể tiếp tục tiến đánh các đạo quân mạnh hơn, lớn hơn ở những địa bàn chiến lược quan trọng hơn.
       
        Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi-Nguyễn Trãi đã thực hành tiến công và phản công từ nhỏ đến lớn, từ tiêu diệt chiến thuật, chiến dịch đến tiêu diệt chiến lược, rồi đến tiêu diệt chiến lược quyết định. Đó cũng là quy luật chung của một cuộc chiến tranh du kích, phát triển từ nhỏ đến lớn, từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung. Thời kỳ phản công có ý nghĩa là sau khi đã di chuyển đội quân chủ yếu vào Nghệ An (1424), lập căn cứ địa mới ở đó. Nghĩa quân Lam Sơn đã chọn chỗ địch yếu, sơ hở, cô lập; về phía ta thì có nhân dân vững mạnh làm chỗ dựa vững chắc để thực hành những trận phản công có ý nghĩa chiến lược để giành thắng lợi bước đầu làm cơ sở tốt cho các bước phát triển sau.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:47:30 PM
        Phân tích đúng tình hình địch, ta trong so sánh lực lượng, so sánh thời và thế nên sau khoảng một năm mở những cuộc phản công và tiến công liên tiếp, nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi lớn, toàn diện, giải phóng được Tân Bình (Quảng Bình), Thuận Hóa và đẩy quân địch ở khu vực Nghệ An chuyển hoàn toàn vào thế phòng ngự, co hẹp địa bàn chiếm đóng của địch vào một vùng đồng bằng nhỏ bé. Vùng căn cứ của ta được mở rộng từ Thuận Hóa ra tới Thanh Hóa, lực lượng vũ trang được phát triển nhanh chóng. Đó là những thắng lợi chiến lược rất quan trọng, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, tạo ra điều kiện thuận lợi cho nghĩa quân tiến ra Bắc.
        
        Sau khi tiến ra Bắc, đòn phản công đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng về chiến lược là trận tiêu diệt chiến lược trong chiến dịch Chúc Động-Tốt Động 1426. Trận này nghĩa quân đã tiêu diệt 5 vạn quân trong đạo quân 10 vạn của Vương Thông chiếm đóng khu vực Đông Đô (Hà Nội) và lân cận, đánh qụy tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược, buộc địch chuyển sang phòng ngự hoàn toàn về chiến lược trong cả nước, tạo điều kiện cho nghĩa quân tiến lên đánh một đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng đất nước.
        
        Sau thắng lợi chiến dịch Chúc Động-Tốt Động, bộ chỉ huy nghĩa quân thấy rằng thế và lực giữa ta và địch đã có sự chuyển biến về căn bản, quân địch đã suy yếu hẳn. Chủ lực của địch không thể chọi được với chủ lực của ta ở cả ngay hướng chúng còn tương đối mạnh. Còn về quân ta thì đã trưởng thành nhanh chóng, đã lớn mạnh về các mặt, đã là một đội quân thiện chiến. Căn cứ vào tình hình trên, bộ chỉ huy nghĩa quân thấy đã có thời cơ và điều kiện để đánh những đòn quyết chiến chiến lược quyết định.
        
        Thời kỳ giành thắng lợi cuối cùng đã mở ra: Quân ta có thể giao chiến được với đội quân chủ lực của địch và có thể tiêu diệt được đội quân đó. Những nhận định và chủ trương này dẫn tới cuộc quyết chiến chiến lược, tiêu diệt đạo quân cứu viện chủ yếu của quân xâm lược nhà Minh do Liễu Thăng chỉ huy ở Chi Lăng và Xương Giang (Bắc Giang), giành được thắng lợi hoàn toàn cho cuộc chiến tranh giải phóng.
        
        Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Tống và nhà Thanh, Lý Thường Kiệt và Quang Trung lại thực hành phản công vào hướng tiến công chủ yếu của địch, đánh vào ngay đạo quân mạnh nhất của địch, tiêu diệt được đạo quân đó và giành được thắng lợi chiến lược quyết định một cách nhanh chóng. Đó cũng là do sự so sánh lực lượng, so sánh về thế và lực giữa hai bên, so sánh về trình độ tác chiến của quân đội và tài chỉ huy của hai bên.
        
        Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh, dựa theo quy luật chung của một cuộc chiến tranh giải phóng phát triển từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung, quân đội ta cũng thực hành phản công cục bộ, bắt đầu ở những hướng quân địch yếu, cô lập trước, sau mới đến chỗ quân địch tương đối mạnh và mạnh.
        
        Cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mỹ có nhiều điểm khác với tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta trước đây. Những điểm khác đó là những điều kiện về nhân dân, về quân đội, về Nhà nước, về xã hội, về Đảng lãnh đạo, về tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, về tình hình trong nước ta, trên thế giới và trong nước Mỹ, điều kiện về thời đại, v.v.
        
        Trên cơ sở những yếu tố đó, mà nghệ thuật tiến công và phản công của lực lượng vũ trang nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược phát triển rất phong phú, sáng tạo, muôn màu, muôn vẻ trong một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển cao, độc đáo của Việt Nam, có nhiều cái mới trong thời đại ngày nay. Ta có thể phản công và tiến công ở các hướng khác nhau, đánh với tất cả mọi đối tượng, mục tiêu, cả quân Mỹ và quân ngụy, cả với những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân Mỹ, đánh cả ở nông thôn và thành thị, đánh ở các hướng khác nhau và có thể đồng loạt trên nhiều hướng, có thể phản công và tiến công ngay từ đầu cuộc chiến tranh và ngày càng phát triển mạnh trong các giai đoạn sau: phản công và tiến công bằng cả quân sự, chính trị, binh vận, địch vận, ngoại giao và hoạt động quốc tế.
        
        Qua những thực tế chiến tranh trên đây, vấn đề chọn hướng, mục tiêu, đối tượng phản công và tiến công cũng có rất nhiều hình vẻ, rất phong phú linh hoạt.
        
        Đây lại là vấn đề "điều kiện tồn tại và vận động của sự vật".
        
        Tuy một sự vật có nhiều hình vẻ, có chỗ giống nhau và khác nhau. Nhưng sự vật vận động là có quy luật. Quy luật đó là sự vận động của bản chất của sự vật, là điều kiện cụ thể tạo thành sự vật đó. Bản chất của sự vật thế nào, các điều kiện, nhân tố hình thành sự vật như thế nào, thì nó sẽ biểu hiện ra đúng như bản chất và điều kiện tồn tại của nó.

        Muốn thực hành phản công và tiến công thì phải tổ chức các chiến dịch phản công và tiến công để tiêu diệt quân địch, tiêu diệt các tập đoàn chiến dịch, chiến lược của địch; vừa tiêu diệt lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của địch, vừa phá vỡ thế trận của địch, giành dân, giải phóng đất đai. Nội dung và yêu cầu của phản công và tiến công là phải tiêu diệt được lực lượng lớn của địch, tiêu diệt được tập đoàn chủ yếu của địch và cơ quan chỉ huy cao cấp của địch, chiếm lĩnh được trận địa của địch, giành được dân về ta, giải phóng được đất đai. Có thế phản công và tiến công mới giành được thắng lợi to lớn, thắng lợi quyết định.
       
        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, phản công và tiến công có muôn màu, muôn vẻ, rất phong phú, linh hoạt, sáng tạo và đã phát triển tới một trình độ, một nghệ thuật cao.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:49:49 PM
       
2. VẤN ĐỀ RÚT LUI VÀ PHÒNG NGỰ
       
        Trong chiến tranh, có phản công, tiến công và cũng có rút lui và phòng ngự.
       
        Đối với quan điểm cách mạng, quan điểm đấu tranh triệt để thì rút lui và phòng ngự, chỉ là tạm thời, là sách lược, là chuẩn bị điều kiện cho phản công và tiến công. Vì phòng ngự là không có thể tiêu diệt được quân địch. Lý Bôn, Triệu Quang Phục rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi chuyển sang phản công và tiến công. Trần Hưng Đạo rút lui để nhử địch vào sâu, phân tán quân địch, làm cho địch mệt mỏi, sa vào thế bị bao vây khốn quẫn, rồi chuyển sang phản công và tiến công. Lê Lợi nổi dậy tiến công địch, rồi có lúc phải tạm rút lui sâu vào vùng núi ở phía bắc Thanh Hóa, sau lại chuyển sang tiến công, Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm, rút lui về núi Tam Điệp, chuẩn bị cho Quang Trung ra phản công chiếm lại Thăng Long.
       
        Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Pháp lần thứ 2 (1945-1954) quân ta cũng từ các thành thị rút về nông thôn đồng bằng và rừng núi, rồi chuyển sang phản công và tiến công.
       
        Đó là những cuộc rút lui cần thiết, trước một quân địch còn tạm thời mạnh hơn, mà chưa đủ sức tiêu diệt chúng, ngăn chặn hẳn chúng lại, hoặc đánh bật chúng ra khỏi đất nước. Đứng về mặt hành động chiến lược thì là rút lui. Nhưng về mặt chiến đấu và chiến dịch thì vẫn có tiến công và phản công. Quá trình rút lui vẫn là quá trình chiến đấu tiêu hao và tiêu diệt nhỏ quân địch. Điểm này thể hiện rõ nét nhất là ở cuộc chiến tranh thời nhà Trần và trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp lần thứ 2.
       
        Rút lui trong các cuộc chiến tranh này là rút lui tích cực, chứ không phải là rút lui đơn thuần, rút lui một cách tiêu cực. Rút lui là một hình thức khác của việc xoay chuyển thế trận; tìm một thế trận khác có lợi hơn; nhường địch một bước làm giảm sức mạnh của chúng, đưa chúng vào một thế bất lợi hơn để ta chuẩn bị điều kiện tốt hơn rồi mới quyết chiến với địch mà tiêu diệt chúng.
       
        Về phòng ngự thì có phòng ngự trong cuộc chiến tranh thời Lý và thời Trần.
       
        Lý Thường Kiệt đã tổ chức phòng ngự ở sông Như Nguyệt (sông Cầu) và Trần Quang Khải đã tổ chức phòng ngự ở vùng Nghệ An. Hai trận phòng ngự này là phòng ngự tích cực chứ không phải là phòng ngự đơn thuần, phòng ngự tiêu cực, mà Lý Thường Kiệt và Trần Quang Khải đã hoàn thành được nhiệm vụ của phòng ngự là ngăn chặn được quân địch, tiêu hao được quân địch, rồi chuyển sang phản công tiêu diệt quân địch.
       
        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có trận chiến phòng ngự đơn thuần tiêu cực và đi đến thất bại. Đó là trận chiến phòng ngự trận địa tiêu cực của Hồ Quý Ly, dựa vào thành Đa Bang trên bờ phía nam sông Hồng. Kết quả là không thể tiêu diệt được quân địch và cũng không thể chống đối nổi với quân xâm lược nhà Minh và bị thất bại, bị mất nước.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:51:31 PM
       
3. VẤN ĐỀ TIÊU DIỆT CHIẾN LƯỢC VÀ NGHỆ THUẬT QUYẾT CHIẾN
       
        Trong chiến tranh, vấn đề tiêu diệt chiến lược là vấn đề hết sức quan trọng. Tiêu diệt đối phương, đè bẹp sự kháng cự của đối phương, buộc đối phương phải nhận sự thất bại. Đó là yêu cầu cao nhất của chiến tranh, để đạt mục đích cao nhất của chiến tranh là giành thắng lợi chiến tranh. Tiêu diệt đối phương, có tiêu diệt nhỏ, vừa và lớn, có tiêu diệt chiến thuật, tiêu diệt chiến dịch và tiêu diệt chiến lược. Các mức tiêu diệt đó đều quan trọng, nó bồi bổ, bổ sung cho nhau và tạo điều kiện cho nhau, tạo thành một sức tiêu diệt địch rất rộng rãi, rất mạnh. Nhưng trong các mức đó thì tiêu diệt chiến lược là quan trọng nhất. Tiêu diệt chiến lược làm cho sự so sánh lực lượng giữa hai bên thay đổi một cách nhanh chóng, tạo ra thế chiến lược mới, tạo ra sự chuyển biến cục diện chiến tranh, tạo ra thắng lợi chiến lược, thắng lợi chiến lược quyết định trong chiến tranh. Đánh tiêu diệt là một yêu cầu bức thiết để giành thắng lợi trong chiến tranh. Đánh tiêu diệt nhỏ, vừa, lớn là một quá trình phát triển dần dần từ nhỏ đến lớn, từ lượng đến nhất.
       
        Tiêu diệt chiến lược là một chuyển biến về chất trong quá trình vận động và phát triển của chiến tranh.
       
        Tiêu diệt chiến lược không những chỉ tiêu diệt một lực lượng lớn, quan trọng của địch trong một thời gian ngắn mà còn tiêu diệt và đánh bại từng tập đoàn chiến lược, từng đạo quân của địch. Các tập đoàn chiến lược, các đạo quân là những lực lượng cốt cán, là những tổ chức cốt cán của lực lượng vũ trang để tiến hành chiến tranh, để tiến hành các đòn đánh quyết liệt, quyết định trong chiến tranh. Tiêu diệt chiến lược của địch, đánh bại tổ chức chiến dịch, chiến lược của địch, đánh bại các ý đồ, kế hoạch chiến lược của địch, đánh bại nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược của địch, và trên cơ sở đó mà đánh bại ý chí kháng cự của địch. Muốn tiêu diệt chiến lược phải tổ chức các chiến dịch lớn, và các chiến dịch có tính chất quyết chiến về mặt chiến lược.
       
        Chủ lực của hai bên, các tập đoàn chiến lược, đương đầu giao chiến với nhau, đối chọi với nhau một cách quyết liệt. Cuộc đối chọi quyết liệt đó diễn ra dưới hình thức quyết chiến chiến lược. Quyết chiến chiến lược là một cuộc đấu tranh gay gắt nhất, quyết liệt nhất, cao nhất, giải quyết mâu thuẫn lớn nhất, tập trung nhất trong chiến tranh.
       
        Quyết chiến chiến lược là một cuộc thử thách lớn nhất, một cuộc thử thách toàn diện các mặt trong chiến tranh, là một sự thử thách về tài tổ chức và nghệ thuật chỉ huy; là một sự thử thách về ý chí, là một sự đối chọi quyết liệt nhất của hai bên tham chiến. Muốn giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong chiến tranh thì cần thiết phải tiến hành quyết chiến chiến lược để tiêu diệt chiến lược quyết định. Quyết chiến chiến lược là một thành phần tinh đặc nhất trong sự cấu thành của chiến tranh, là một nhân tố rất quan trọng trong vận động của chiến tranh, là một sự vận động có tính quy luật trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển của chiến tranh.
       
        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược thường xuất hiện và diễn ra một cách phổ biến vào thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến và chiến tranh giải phóng.
       
        Lý Thường Kiệt đã tiến hành quyết chiến chiến lược trên chiến tuyến sông Cầu để tiêu diệt chiến lược quyết định mà giành được thắng lợi trong chiến tranh. Lý Thường Kiệt chỉ thực hành một cuộc quyết chiến chiến lược cũng giành được thắng lợi chiến tranh. Quyết chiến chiến lược và tiêu diệt chiến lược của Lý Thường Kiệt được sự hiệp đồng và hỗ trợ rất đắc lực của nhiều trận đánh nhỏ và vừa. Các trận đánh đó đạt được mục đích tiêu hao địch một cách rộng rãi và thực hiện được tiêu diệt chiến thuật và chiến dịch, tạo điều kiện tốt cho việc chuẩn bị quyết chiến để tiêu diệt chiến lược.
       
        Trần Hưng Đạo, qua từng trận đánh nhỏ đạt tiêu hao và tiêu diệt chiến thuật, rồi tiến lên tổ chức một số chiến dịch, đạt được tiêu diệt chiến dịch và chiến lược, rồi trên cơ sở những thắng lợi đó mà tiến hành quyết chiến chiến lược, đạt được tiêu diệt chiến lược quyết định, giành được thắng lợi cho chiến tranh, hoặc giành được thắng lợi cơ bản, thắng lợi quyết định cho chiến tranh. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), Trần Hưng Đạo đã tổ chức một trận quyết chiến tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan, tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược, ở giữa Thăng Long và Chương Dương. Sau một chiến dịch lớn đã tiêu diệt và đánh tan đạo quân Toa Đô trên sông Hồng, từ bến Hàm Tử đến cửa sông Luộc, giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, đập gãy một thế trận của địch làm cho Thoát Hoan ở Thăng Long bị cô lập. Sau trận Hàm Tử, quân địch bị suy yếu một bước quan trọng, lâm vào thế bị động lúng túng. Nắm được thời cơ có lợi, Trần Hưng Đạo liền tổ chức một trận quyết chiến Chương Dương-Thăng Long nhằm tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan. Trận quyết chiến này đã thành công, giành thắng lợi chiến lược quyết định, tạo ra điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc tiếp tục tiêu diệt và đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:53:07 PM
        Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), Trần Hưng Đạo cũng đã tổ chức hai trận quyết chiến chiến lược; một trận ở Bạch Đằng, tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi và một trận ở vùng Vạn Kiếp, tiêu diệt và đánh tan đạo quân Thoát Hoan. Hai trận này đã thành công rực rỡ và hai trận này đã chấm dứt hoàn toàn và vĩnh viễn mưu đồ xâm lược của triều đình phong kiến nhà Nguyên đối với nước ta.
       
        Trận Bạch Đằng là một trận đã thể hiện được trình độ chỉ huy cao và nghệ thuật chỉ huy tài của bộ chỉ huy quân đội nhà Trần. Việc nắm địch, phán đoán địch được chính xác, biết được ý đồ rút lui của địch. Việc chọn mục tiêu, đối tượng tiến công cũng rất đúng. Tập trung lực lượng đánh đạo quân rút trước, đánh đạo quân đang vận động trên đoạn đường rút lui xa có nhiều khó khăn trước. Diệt được đạo quân này một cách nhanh gọn sẽ tạo điều kiện tốt cho việc tiêu diệt tiếp đạo quân thứ hai. Nếu không đồng thời tiêu diệt được cả hai đạo quân trong cùng một lúc thì cũng tập trung lực lượng tiêu diệt gọn một đạo quân yếu trước. Sau đó sẽ tiếp tục tiêu diệt các đạo quân khác. Về thế trận thì chọn được khu vực quyết chiến có lợi. Trong khu vực quyết chiến lại biết cải tạo địa hình, tổ chức lại chiến trường, nhử địch vào cạm bẫy, làm cho địch đang mạnh hóa thành yếu đột ngột, không kịp và không có cách xử trí đối phó, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt địch một cách dễ dàng. Về sử dụng lực lượng thì đã cơ động đúng lúc lực lượng dự bị chiến lược đứng chân ở địa bàn cơ động tập trung về hướng tiến công chiến lược có lợi nhất, có điều kiện phát triển thuận lợi nhất. Tập trung lực lượng vào hướng đó thì có thể giành được thắng lợi to lớn. Thắng lợi chiến lược đó đạt được thì sẽ tạo ra điều kiện rất thuận lợi cho bước phát triển tiếp theo. Do có trình độ và nghệ thuật chỉ huy cao cường nên trận Bạch Đằng là một trận thắng lợi rất đẹp, một trận thắng lợi rất oanh hệt.
       
        Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nghĩa quân Lam Sơn, sau một thời gian dài tiêu hao và tiêu diệt nhỏ và vừa quân địch, đến năm 1426, Lê Lợi-Nguyễn Trãi mới có điều kiện tổ chức các chiến dịch lớn, thực hiện viện tiêu diệt chiến lược đối với quân địch.
       
        Chiến dịch Chúc Động-Tốt Động là một chiến dịch lớn thực hiện việc tiêu diệt chiến lược, giành thắng lợi chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng buộc quân địch phải chuyển vào thế phòng ngự hoàn toàn về chiến lược trên toàn tuyến. Sau chiến dịch này, một thời kỳ mới, một tình thế mới, một thời cơ mới đã mở ra-Thời kỳ đánh những đòn quyết định để giành thắng lợi hoàn toàn. Đòn quyết định mới đó là trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng sang cứu viện cho Vương Thông. Tình hình lúc này đặt ra cho bộ chỉ huy của Lê Lợi-Nguyễn Trãi nhiều vấn đề phải xử trí. Nguyễn Trãi đã nắm được bản chất của tình hình chiến tranh trong thời kỳ này. Ông đã nắm được mâu thuẫn chính của chiến tranh trong thời kỳ này. Ông đã nói rõ cho Vương Thông rằng hắn chỉ còn trông chờ vào Liễu Thăng để mà sống thoi thóp trong vòng vây mà thôi, và một khi nghĩa quân Lam Sơn đã tiêu diệt được đạo quân ứng cứu của Liễu Thăng thì Vương Thông chẳng khác gì như cá đã bỏ trong giỏ.
       
        Nhận thức và phân tích được tình hình một cách chính xác và khoa học như thế, bộ chỉ huy nghĩa quân đã quyết định tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ, quyết tâm tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng. Bộ chỉ huy nghĩa quân đã tập trung mọi sự cố gắng để tổ chức và thực hành trận đánh quyết định này một cách rất chu đáo, cẩn thận. Trận quyết chiến này đã giành được thắng lợi vẻ vang, đã kết thúc và xóa sạch được ách thống trị nước ngoài.
       
        Cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước do Quang Trung lãnh đạo quyết chiến diễn ra tương đối độc đáo. Quyết chiến không diễn ra sau một quá trình ngắn của các trận tiêu diệt nhỏ như thời Lý Thường Kiệt, nó không diễn ra sau một quá trình nhử địch vào sâu, tiêu hao tiêu diệt nhỏ và vừa quân địch trong một thời gian ngắn như thời Trần Hưng Đạo. Nó cũng không diễn ra sau một thời gian dài hàng mấy năm như thời Lê Lợi. Quyết chiến ở thời đại Quang Trung diễn ra rất nhanh, trong một thời gian đặc biệt ngắn. Quyết chiến không trải qua một số bước chuẩn bị mà xuất hiện cùng lúc với việc phát động cuộc chiến tranh chống xâm lược và cũng kết thúc luôn cả cuộc chiến tranh.
       
        Nguyên nhân gì đã sinh ra sự việc này?
       
        Đó cũng là do điều kiện cụ thể của hai bên tham chiến. Quân của Quang Trung giỏi hơn quân của Tôn Sĩ Nghì về trình độ kỹ thuật, chiến thuật và chỉ huy, về tinh thần và quyết tâm. Quân của Quang Trung là một đội quân rất tinh nhuệ, rất thiện chiến, một đội quân dày dạn chiến đấu, có rất nhiều kinh nghiệm chiến tranh, một đạo quân trăm trận trăm thắng, đặc biệt là có trình độ sở trường đánh vào chỗ mạnh nhất của đối phương. Đó là trình độ đánh công thành. Đặc tài này, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi không có được đầy đủ như Quang Trung. Quang Trung lại có tài tạo ra thời cơ và biết lợi dụng thời cơ có lợi nhất để giành thắng lợi tốt nhất.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:55:09 PM
        Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp của nhân dân ta ở thời đại Hồ Chí Minh cũng phát triển từ tiêu diệt nhỏ, vừa rồi đến lớn, trải qua một quá trình phát triển lâu dài.
       
        Năm 1950, quân ta đã mở chiến dịch Biên giới, tiêu diệt tập đoàn chiến dịch của địch, giành thắng lợi chiến dịch quyết định, tạo ra thắng lợi chiến lược, giải phóng một khu vực rộng lớn từ Cao bằng xuống qua Lạng Sơn, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự, phát triển thế chủ động tiến công của quân ta. Sau cục diện Biên giới, và tiếp theo một số các chiến dịch tấn công khác, thế và lực của quân ta ngày càng phát triển, càng mạnh. Quá trình phát triển này là một quá trình chuẩn bị cho bước phát triển mới mạnh hơn.
       
        Đến Đông-Xuân 1953-1954 ta chủ động tiến công địch trên khắp các chiến trường và đặc biệt là mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một trận quyết chiến chiến lược, thực hiện việc tiêu diệt chiến lược đối với địch, cùng với các trận tiêu diệt nhỏ và vừa trên toàn bộ chiến trường, giành thắng lợi chiến lược quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), giải phóng một nửa đất nước.
       
        Chiến tranh là một cuộc đấu tranh quyết liệt nhất. Chiến tranh vận động và phát triển bằng một quá trình đối chọi nhau quyết liệt giữa hai bên tham chiến. Quá trình đối chọi đó đứng về mặt đấu tranh vũ trang mà nói, là quá trình tiêu diệt lẫn nhau giữa hai lực lượng vũ trang; đánh tiêu diệt là cái lõi của chiến tranh. Đánh tiêu diệt vận động bằng hình thức quyết chiến.
       
        Quyết chiến là một hình thức thể hiện cao nhất, tập trung nhất của đánh tiêu diệt, quyết chiến là một khâu giải quyết mâu thuẫn, là một quá trình phát triển, là một bước chuyển biến của chiến tranh, là một cái khâu then chốt của cái chuỗi chiến lược. Mục đích và yêu cầu toàn diện và cao nhất của đánh tiêu diệt và quyết chiến là tiêu diệt được từng bộ phận lực lượng quan trọng của địch, phá vỡ được thế trận của địch, chiếm lĩnh được trận địa của địch, giành được dân về ta và giải phóng được đất đai.
       
        Trong chiến tranh, đánh tiêu diệt và quyết chiến có nhiều màu, vẻ rất phong phú, rất linh hoạt. Đánh tiêu diệt có tiêu diệt nhỏ, vừa và lớn và cũng có cả tiêu hao (về ý nghĩa chiến lược). Mỗi thứ đều có vai trò, vị trí, tác dụng của nó và bồi bổ, hỗ trợ lẫn nhau. Mỗi thứ đều có tầm quan trọng của nó. Nhưng tiêu diệt lớn là quan trọng nhất, có tác dụng quyết định nhất trong chiến tranh, vì nó làm thay đổi cơ bản, làm chuyển biến về chất trong chiến tranh, giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong chiến tranh. Chiến tranh cũng như các sự vật khác, có rất nhiều mâu thuẫn, nhiều loại mâu thuẫn. Có thứ mâu thuẫn nhỏ, có thứ mâu thuẫn lớn, có thứ mâu thuẫn chủ yếu, có thứ mâu thuẫn thứ yếu. Có giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu thì mới giải quyết chiến tranh được triệt để. Đánh tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược là giai đoạn phát triển cao trong quá trình vận động của những mâu thuẫn trong chiến tranh, là giai đoạn giải quyết mâu thuẫn cao nhất, quyết liệt nhất trong chiến tranh.
       
        Trong điều kiện cụ thể nào đó, việc đánh tiêu diệt nhỏ, vừa và tiêu hao lớn, rộng rãi cũng có thể tạo nên chuyển biến về chất, tạo được thắng lợi chiến lược.
       
        Tiêu diệt nhỏ và vừa chỉ gây được chuyển biến về lượng nhưng cái số lượng về "lượng" đó to đến một mức nào đó, cái lượng đó xảy ra ở trong một hoàn cảnh, điều kiện nào đó thì cũng gây ra được chuyển biến về chất.
       
        Đánh tiêu diệt nhỏ và vừa vào các mục tiêu, đồi tượng quan trọng nhất của địch, lại đánh đồng loạt vào tất cả mọi nơi, vào tất cả các mục tiêu, đối tượng quan trọng nhất của địch, tuy là từng nơi thì nhỏ, nhưng nhìn chung cả toàn cục thì cũng là lớn, cũng  tác động lớn.
       
        Tung toàn bộ lực lượng hoặc phần lớn lực lượng ra đánh tiêu diệt nhỏ và vừa, đánh vào phần lớn các mục tiêu đối tượng quan trọng nhất cũng là có ý nghĩa, có tính chất của quyết chiến. Cho nên quyết chiến cũng diễn ra một cách rất linh hoạt và phong phú, có nhiều hình thức, nhiều màu vẻ.
       
        Quyết chiến vào lúe nào, thời cơ nào cũng có nhiều biểu hiện khác nhau. Đánh sớm như Quang Trung và Lý Thường Kiệt, đánh muộn một chút như Trần Hưng Đạo, một thời gian lâu mới đánh như Lý Bôn, Triệu Quang Phục và Lê Lợi-Nguyễn Trãi, các thời cơ quyết chiến trên đều giành được thắng lợi.
       
        Thời cơ quyết chiến là một điều rất quan trọng, có quan hệ đến thắng bại của chiến tranh. Vì thế phải xét đến điều kiện giữa địch và ta một cách rất kỹ càng, chính xác, cụ thể là vấn đề tương quan lực lượng giữa hai bên, sự so sánh về thế và lực giữa hai bên; tính năng động trong chỉ huy của hai quân đội, v.v.
       
        Về hướng quyết chiến và đối tượng quyết chiến cũng có nhiều vẻ, Lý Thường Kiệt và Quang Trung đánh ngay vào hướng tiến công chủ yếu của địch, vào ngay đạo quân chủ yếu của địch, vào ngay bộ thống soái của địch. Trần Hưng Đạo, Lê Lợi-Nguyễn Trãi thì đánh vào hướng địch yếu trước, và đạo quân yếu trước, sau mới đến đạo quân mạnh nhất của địch. Chiến dịch Biên giới (1950) cũng đánh vào chỗ địch tương đối yếu trước, rồi tiến lên đánh vào quân địch tương đối mạnh hơn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:56:55 PM
        Về kiểu thức quyết chiến thì có thể đánh những đòn tập trung, tiêu diệt lớn trên từng hướng, cũng có thể đánh nhiều đòn nhỏ, tiêu diệt vừa, phân tán trên nhiều hướng. Hai phương thức trên phải căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng cho thích hợp. Nếu có điều kiện tập trung đánh lớn, thì chiến tranh giải quyết sẽ nhanh hơn.
       
        Về cách thức quyết chiến thì có thể đánh từng bộ phận, hoặc có thể liên tục kế tiếp, hoặc có thể đồng loạt đánh vào nhiều mục tiêu trên nhiều hướng, v.v. Có thể đánh một đòn hoặc nhiều đòn.
       
        Lý Thường Kiệt và Quang Trung chỉ đánh một đòn. Các cuộc chiến tranh khác thường đánh nhiều đòn. Lê Lợi đánh diệt bộ phận. Trần Hưng Đạo đánh các đòn tương đối liên tục kế tiếp nhau.
       
        Về sử dụng lực lượng trong quyết chiến, trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta thì thường là ít hơn so với địch. Trận Chi Lăng-Xương Giang, quân Lê Lợi khoảng 5 vạn, quân Liễu Thăng 10 vạn. Trận Thăng Long, quân Quang Trung 10 vạn, quân Tôn Sĩ Nghị 20 vạn. Các trận của Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên, quân nhà Trần cũng thường ít hơn quân Nguyên. Câu nói của Trần Hưng Đạo “lấy ngắn trị dài" có nhiều ý nghĩa: quân ít đánh thắng quân nhiều cũng có ý nghĩa đó.
       
        Trong lịch sử chiến tranh, lực lượng sử dụng trong quyết chiến của hai bên thường là xấp xỉ nhau. Có rất nhiều trận quyết chiến bên quân ít thắng bên quân nhiều một cách oanh liệt. Thắng lợi của quyết chiến không phải chỉ quyết định ở quân số, mà còn quyết định vào nhiều nhân tố khác. Có những nhân tố chủ yếu hơn quân số.
       
        Về hình thức quyết chiến thì có đánh vận động-đánh ngoài công sự và đánh công thành-đánh trong công sự. Trần Hưng Đạo và Lê Lợi tổ chức các trận quyết chiến bằng cách đánh vận động để giai quyết chiến tranh. Quang Trung thì đánh công thành để giải quyết chiến tranh. Ngày xưa, trình độ phát triển của xã hội còn thấp. Chiến tranh vận động tương đối đơn giản hơn, vì thế vận dụng một hình thức tác chiến cũng có thể giải quyết được chiến tranh (một hình thức đây là nói một hình thức chủ yếu, ngoài ra còn có các hình thức khác bổ trợ). Ngày nay, tình hình phức tạp hơn, chiến tranh thường giải quyết bằng nhiều hình thức tác chiến; phải đánh cả ngoài công sự và trong công sự và còn nhiều điều phức tạp khác nữa.
       
        Quyết chiến là một nghệ thuật và là nghệ thuật rất cao. Đánh tiêu diệt và quyết chiến trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta có nhiều kiểu cách khác nhau, nhiều màu vẻ rất phong phú, linh hoạt và sáng tạo. Nghệ thuật quyết chiến đã phát triển lên một trình độ cao, có những trận quyết chiến tài giỏi.
       
        Lịch sử chiến tranh trên đây đã chứng minh chiến tranh có quy luật chung và quy luật riêng; có những nguyên tắc cơ bản và có những điểm phát triển. Nhận thức chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh phải vững chắc và hết sức linh hoạt, sáng tạo, không cứng đờ, dập khuôn máy móc. Trong cái muôn màu muôn vẻ đó, thì màu nào cũng thắng, vẻ nào cũng thành. Đó là do biết vận dụng phương pháp chiến tranh phù hợp với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể khác nhau của mỗi cuộc chiến tranh.
       
        Lửa to phải 10 thùng nước, hoặc 100 gáo nước, lửa nhỏ chỉ cần một phảy quạt cũng đủ để dập tắt.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 04:59:35 PM
       
4. VẤN ĐỀ THẾ TRẬN CHIẾN LƯỢC
       
        Thế trận chiến lược là sự thể hiện cụ thể của chủ trương, quyết tâm và kế hoạch chiến lược, là sự bày binh bố trận để tiến hành tác chiến, tiêu diệt quân địch.
       
        Thế trận chiến lược triển khai trên một khu vực chiến lược rộng lớn, hoặc trên quy mô phạm vi cả nước. Thế trận chiến lược là sự tổ chức triển khai chiến đấu của nhiều loại lực lượng vũ trang, của nhiều binh chủng, của nhiều đơn vị với quy mô khác nhau của nhiều loại lực lượng đánh địch và đánh địch bằng nhiều hình thức chiến thuật, nhiều cách đánh, nhiều thủ đoạn phương thức chiến dịch, chiến lược khác nhau, có nhiều hướng, nhiều tuyến nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều mục tiêu, đối tượng quân địch với nhiều quy mô, yêu cầu khác nhau để đạt tới thắng lợi có ý nghĩa về chiến lược.
       
        Thế trận chiến lược hình thành là căn cứ vào sự phán đoán, phân tích tình hình địch, ta. Căn cứ vào mục đích, yêu cầu nhiệm vụ tác chiến, căn cứ vào địa hình, v.v.
       
        Thế trận chiến lược là một tổ chức rất phức tạp. Nó thể hiện trình độ và nghệ thuật tổ chức và chỉ huy của cơ quan tham mưu và bộ chỉ huy cao cấp.
       
        Thế trận đúng sẽ bảo đảm một phần quan trọng cho sự thắng lợi. Thế trận hay là một thế trận có thể tiêu diệt được nhiều địch, đánh bại được ý đồ và kế hoạch tác chiến của địch. Muốn thế thì ngoài việc tiêu diệt tiêu hao địch rộng rãi ở trên toàn thế trận ra, còn cần tiêu diệt được lực lượng nòng cốt của địch tham gia giao chiến, tức là những đơn vị lớn của địch, tập đoàn chiến dịch và chiến lược chủ yếu của địch. Thế trận chứa đựng hai quân đội, chứa đựng sự hoạt động của hai quân đội luôn luôn đấu tranh với nhau. Vì thế mà thế trận luôn luôn biến hóa. Bộ chỉ huy bày thế trận và điều khiển thế trận cần làm thế nào giữ được chủ động từ đầu đến cuối, giữ được thế mạnh, thế có lợi và phát huy được cao thế mạnh để nhử địch vào thế bất lợi, thế bị động khốn quẫn có lực nhiều mà yếu. Có thế mới có thể tiêu diệt địch nhanh gọn, đánh một số trận then chốt, trận quyết định để giành thắng lợi lớn .
       
        Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) trong thế trận chung trên phạm vi cả nước, Trần Hưng Đạo đã tổ chức được một trận quyết chiến có thế trận rất đẹp, tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan ở Chương Dương và Thăng Long. Chiến dịch lớn này có nhiều thế trận hiệp đồng hỗ trợ nhau rất chặt chẽ, ăn ý, tạo được thời cơ, điều kiện cho nhau rất hay; có thế nhử, thế đánh, thế nổi, thế chìm. Vây hãm thủy trại Chương Dương là thế nhử. Diệt địch ở giữa Chương Dương và Thăng Long là thế đánh. Hai thế trên đây là thế nổi. Lực lượng bí mật phục sẵn ở gần thành Thăng Long để đợi thời cơ khi đạo quân Thoát Hoan tiến ra khỏi thành Thăng Long đi cứu Chương Dương, bỏ thành Thăng Long sơ hở thì hiệp đồng cùng các thế khác bất ngờ đánh chiếm Thăng Long là thế chìm.
       
        Thế trận này là một thế trận tạo thời cơ, có rất nhiều mưu mẹo, là một chiến dịch đánh bằng mưu. Sự thống nhất giữa thế và thời trong chiến dịch rất đẹp. Đặc điểm thế trận của Trần Hưng Đạo, là mưu sâu, thế hiểm.
       
        Trong cuộc kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn, ở vào giai đoạn cuối (1427) Lê Lợi đã bày một thế trận rất đẹp, thế trận có hướng chủ yếu, hướng thứ yếu hướng phối hợp; có hướng tiến công, hướng phòng ngự, hướng vây hãm. Trên hướng chủ yếu lại có khu vực tập trung lực lượng, khu quyết chiến. Thế trận cũng có tuyến một là các lực lượng tham chiến đợt đầu và tuyến hai là lực lượng dự bị tham gia đợt sau, lại còn lực lượng hậu bị, bổ sung.
       
        Sau trận Chúc Động-Tốt Động (1426), 10 vạn quân của Vương Thông bị tiêu diệt 5 vạn, còn lại 5 vạn co về phòng ngự cố thủ trong thành Đông Đô. Một số thành khác cũng lâm vào tình hình khốn quẫn đó, Vương Thông đã phải cầu cứu xin thêm quân tiếp viện. Triều đình nhà Minh buộc phải phái quân sang cứu Vương Thông. Hai đạo quân cứu viện sang cứu Vương Thông tiến vào đường Lạng Sơn và Hà Giang. Bộ chỉ huy nghĩa quân nhận định: quân ở trong thành không mạnh, quân viện mới là vấn đề quyết định tình thế trong lúc này. Mối mâu thuẫn chủ yếu của thời kỳ này là những đạo quân cứu viện. Trong hai đạo quân cứu viện thì đạo quân Liễu Thăng là quyết định nhất. Nhưng muốn bảo đảm cho việc tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng phải có cái thế hỗ trợ chung.
       
        Do nhận định, phân tích chính xác, bộ chỉ huy nghĩa quân đã triển khai được một thế trận trên quy mô chiến lược cả nước một cách đúng đắn. Hướng đánh đạo quân Liễu Thăng là hướng chủ yếu, tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ, thực hành tiến công tiêu diệt. Hướng đánh đạo quân cứu viện thứ hai của địch do Mộc Thạnh chỉ huy tiến vào đường Hà Giang là hướng đánh viện thứ yếu. Cách đánh ở hướng này là đánh ngăn chặn, không cho Một Thạnh tiến tới được Đông Đô để liên lạc với Vương Thông. Hướng vây hãm Vương Thông ở Đông Đô cũng là hướng thứ yếu. Hướng này thực  hành cách đánh vây hãm không cho Vương Thông đánh ra ngoài để liên lạc được với Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Còn các hướng khác là hướng phối hợp, thực hành vây hãm và địch vận, không cho địch chạy thoát, tập trung về Đông Đô và bức hàng quân địch ngay tại chỗ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:01:44 PM
        Thế trận là ý đồ tác chiến, là biểu hiện cụ thể bằng sự bố trí lực lượng. Căn cứ vào một số bài viết của Nguyễn Trãi và một số tài liệu khác (các tài liệu này cũng không có đủ số liệu), căn cứ vào tư tưởng và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của bộ chỉ huy nghĩa quân, căn cứ vào thế trận lúc bấy giờ, ta có thể nghiên cứu về lực lượng và cách bố trí, triển khai lực lượng của nghĩa quân để hình thành thế trận chiến lược của chiến cục mùa Đông năm 1427. Quân chủ lực của nghĩa quân có khoảng 5-6 vạn người. Quân các lộ (quân địa phương) khoảng 10 vạn.
       
        Trong một cuộc chiến tranh giải phóng có nhiều tính chất nghệ thuật thì quân địa phương và dân quân có tác dụng rất lớn. Trong điều kiện công cụ chiến tranh giữa hai bên không chênh lệch nhau mấy về chất lượng, về trình độ kỹ thuật thì tác dụng của dân quân, của địa hình lại càng lớn. Do đó mà quân địa phương và dân quân trong thời nhà Trần và thời Lê Lợi đã phát huy được vai trò rất lớn, đã phát huy được sức mạnh của một cuộc kháng chiến có nhân dân tham gia. Căn cứ vào lực lượng trên, ta có thể phán đoán việc triển khai lực lượng trong thế trận như sau:
       
        Ở hướng chủ yếu có thể có khoảng hơn 3 vạn đến 4 vạn, gồm cả lực lượng dự bị chiến lược và được sự hỗ trợ của quân địa phương. Ở hướng đánh ngăn chặn đạo quân Mộc Thạnh có khoảng 1 vạn quân cùng với quân địa phương và nghĩa binh. Ở hướng vây hãm Vương Thông có thể có khoảng 1 vạn cùng với quân địa phương và dân binh. ở hướng này có thể huy động được nhiều quân địa phương và dân binh, vì là một vùng đông dân và quân chủ lực của Lê Lợi cũng đã hoạt động ở đó tương đối lâu và đã đánh thắng nhiều trận lớn.
       
        Còn các hướng phối hợp khác, chủ yếu là dùng cách đánh bao vây, địch vận thì chỉ có một số ít quân chủ lực làm nòng cốt, còn chủ yếu là dùng quân địa phương và dân binh để có thể tiết kiệm binh lực ở hướng không quan trọng mà tập trung được vào hướng quan trọng. Trong khi đó thì bộ tham mưu của Lê Lợi vẫn tiếp tục tuyển mộ thêm quân sĩ và gấp rút huấn luyện để làm quân hậu bị bổ sung và phát triển thêm quân đội.
       
        Ở đây có một vấn đề rất khó cho nghĩa quân là quân ít mà phải đánh với một đội quân đông, lại nhiều mục tiêu đối tượng cùng xuất hiện trong cùng một lúc. Cái giỏi là vẫn phân tán, kiềm chế chia cắt được quân địch trên toàn chiến trường lại tập trung được vào hướng chủ yếu, biết dùng cách đánh khác nhau để tiêu diệt từng bộ phận địch rồi tiêu diệt toàn bộ quân địch.
       
        Ở trên hướng chủ yếu lại có khu quyết chiến. Hướng tiến công chủ yếu tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng là từ Lạng Sơn đến Bắc Ninh, những khu vực đánh tiêu diệt chủ yếu, khu vực tập trung lực lượng (khu quyết chiến) có thể là từ Chi Lăng (Đồng Mỏ) cho tới Xương Giang (Bắc Giang).
       
        Trong các tài liệu chưa thấy nói đến chữ quyết chiến, chưa thấy có lý luận về "khu quyết chiến". Nhưng căn cứ vào sự bố cục lực lượng vào sự triển khai thế trận, ta có thể phân tích về hướng chủ yếu và thứ yếu, về khu quyết chiến ở trên hướng chủ yếu.
       
        Trong khoảng 5-6 vạn quân chủ lực, thì phần lớn là bố trí từ Bắc Ninh đến Chi Lăng. Ý định tác chiến và kế hoạch tác chiến là định đánh một trận quyết định ở Chi Lăng và không cho địch tiến qua Xương Giang (Bắc Giang) để tiến về Đông Đô. Cần phải hiệp đồng với thế trận mai phục ở Chi Lăng mà chặn đứng quân địch ở lại Xương Giang vì nếu địch tiến qua đường Xương Giang về tới Bắc Ninh thì tình thế sẽ có rất nhiều khó khăn. Và địch đã tới được Bắc Ninh thì có thể bắt đầu liên lạc được với Vương Thông ở Đông Đô. Vì thế trước khi bố cục thế trận đánh Liễu Thăng, bộ chỉ huy nghĩa quân đã quyết định phải đánh chiếm cho được thành Xương Giang. Trình độ đánh thành của nghĩa quân không được khá lắm, nhưng với ý nghĩa chiến dịch và chiến lược của thành Xương Giang nên nghĩa quân quyết tâm hạ cho được thành đó và việc này phải mất hàng tháng mới làm được. Ngoài việc phải chiếm lấy thành Xương Giang để chặn quân địch lại ở đó làm cho địch không có một đầu mối trung gian để nối liền với Vương Thông, không có một bàn đạp trung gian để tiến về Đông Đô (một đầu cầu chiến lược để tiến về Đông Đô), bộ chỉ huy nghĩa quân còn bố trí một lực lượng tổng dự bị chiến lược ở mạn sông Thương để cơ động về hướng Xương Giang, chi viện cho lực lượng ở tuyến 1, đồng thời đề phòng ngăn chặn Vương Thông nếu hắn phá vỡ được vòng vây ở Đông Đô chạy về hướng Xương Giang.
       
        Thế trận ở hướng chủ yếu như thế là tương đối chặt chẽ, vững chắc và linh hoạt. Có thế trận mai phục ở Chi Lăng, có thế chặn đầu về chiến dịch và chia cắt về chiến lược, có lực lượng dự bị ở sát ngay tuyến ngăn chặn để quyết tiêu diệt địch.
       
        Chiến sự diễn biến tương đối đi đúng theo đường hướng của thế trận. Thế trận không đứng yên, nó luôn luôn biến hóa trong quá trình đấu tranh của hai quân đội và có những thế mới xuất hiện.
       
        Bộ chỉ huy nghĩa quân đã làm chủ được thế trận, đã điều khiển được thế trận, dẫn dắt sự biến hóa đi vào được đúng thế trận và đã thành công rực rỡ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:03:48 PM
        Căn cứ vào thế trận trên đây, vào ý định và quyết tâm của bộ chỉ huy nghĩa quân và căn cứ vào diễn biến chiến sự, có thể đi sâu một bước để nghiên cứu và phân tích kỹ hơn nữa về thế trận, tìm ra những điểm cụ thể trong thế trận, phân tích các thành phần cấu thành thế trận. Điểm quan trọng nhất trong các thành phần của thế trận là khu vực tập trung lực lượng để tiêu diệt địch một cánh quyết định, đánh những trận then chốt.
       
        Khu vực tập trung đó khái quát lên là khu quyết chiến. Khu quyết chiến là hạt nhân của thế trận. Quyết định việc tiêu diệt tập đoàn chiến dịch và chiến lược chủ yếu của địch là ở khu quyết chiến. Muốn tiêu diệt tập đoàn chiến dịch, chiến lược chủ yếu của địch ở khu quyết chiến thì phải đánh một số trận then chốt, quyết định cho việc tiêu diệt đó. Sự vận động của sự vật cũng như sự vận động của chiến tranh có rất nhiều thành phần đấu tranh với nhau, nhiều mặt đấu tranh với nhau; có rất nhiều mâu thuẫn. Phải tập trung giải quyết những khâu mấu chốt chính, tập trung vào chỗ nào, lúc nào, thành phần nào gay gắt nhất quyết liệt nhất thì mới quyết định được sự chuyển biến căn bản của sự vật. Nếu cứ phân tán, chỗ nào cũng giải quyết thì giải quyết không được triệt để.
       
        Trong thế trận ở khu quyết chiến, trên hướng chủ yếu này, trận Chi Lăng là một trận then chốt thứ nhất, là hiệp đầu quyết định cho việc tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng. Sau trận Chi Lăng, quân địch bị tiêu diệt một bộ phận quan trọng về sinh lực và cơ quan chỉ huy, làm cho đội hình địch rối loạn, thế trận của địch tan vỡ, tinh thần địch hoang mang, chúng phải cố chạy xuống Xương Giang. Trận Xương Giang là một trận then chốt thứ hai, quyết định việc tiêu diệt hoàn toàn đạo quân Liễu Thăng.
       
        Do có thế trận đúng, hiểm và hay nên các bước tác chiến đều hoàn thành nhiệm vụ và đòn quyết chiến tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng đã thành công, giành được thắng lợi hoàn toàn cho cuộc kháng chiến. Chiến cục này là một chiến cục có thế trận trên phạm vi cả nước. Thế trận này là một thế trận rất phức tạp. Các thế trận có mối liên hệ bên trong về chiến lược rất chặt chẽ, có sự liên hệ về tình huống chiến lược chứ không phải chỉ có liên hệ về mặt kế hoạch. đặc biệt của thế trận là sự hỗ trợ của các thế tạo điều kiện cho thế chủ yếu là rất quan trọng. Mỗi thế cũng phải hành động cùng một lúc, nhiệm vụ rất nặng nề và phải hoàn thành cho được nhiệm vụ chung một cách hoàn hảo. Nhìn trận đồ này như là xem một bức tranh tuyệt đẹp, có nhiều màu sắc tươi sáng, phong phú và sinh động.
       
        Trong cuộc phản công ra Thăng Long, thế trận của Quang Trung triển khai để đánh vào một mục tiêu tập trung. Nhưng thế trận rất mạnh, hiểm, kín và chắc. Thế trận này là một thế trận có nhiều thế, các thế có mối quan hệ hữu cơ trong một thế tổng hợp chung, hiệp đồng, hỗ trợ nhau rất chặt chẽ, ăn ý.
       
        Thế đánh ở một mặt chính là một thế mạnh, thế chủ yếu, gồm nhiều mũi, có đánh thẳng vào mặt chính trận địa của địch, có đánh vào sườn trận địa của địch, hiệp đồng, hỗ trợ nhau chặt chẽ.
       
        Thế chủ yếu-hướng chủ yếu, đánh thẳng vào Thăng Long có ba mũi, ba thế nhỏ. Cánh đánh theo đường số 1 vượt qua Hạ Hồi. Ngọc Hồi có hai mũi. Hai mũi đó có sự hiệp đồng với nhau trong cánh đó. Cánh đánh theo đường số 6 vào Khoảng Thượng-Đống Đa chỉ có một mũi. Cánh này đánh vào sườn địch, hiệp đồng và cùng hỗ trợ với cánh ở đường số 1. Cánh này (cánh đường số 6) chỉ có một mũi-một đạo quân. Nhưng một mũi đó cũng lại có thể chia làm hai mũi nhỏ, để tự bản thân nó có sự hiệp đồng. Hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Mũi đánh vào Lục Đầu là thế chia cắt quân địch ở Thăng Long với Hải Dương, là thế vây chặt và là thế yểm hộ sườn phải (phía đông) cho đạo quân chủ lực của Quang Trung đánh vào Thăng Long và cũng là một thế để yểm hộ cho mũi đánh lên Phượng Nhỡn. Mũi đánh vào Phượng Nhỡn (Hà Bắc) là thế vây chặn xa, chặn quân địch rút chạy và chặn quân cứu viện từ Nam Quan xuống.
       
        Thế trận của Quang Trung có một đặc điểm nổi bật là có sức tiến công mạnh, có sự kết hợp chặt chẽ giữa đột phá với bao vây vu hồi, có cái hình dáng của một thế trận bao vây tiêu diệt quân địch. Để đánh những đòn bất ngờ, mãnh hệt, Quang Trung thường hoàn chỉnh thế trận trong quá trình thực hành tiến công. Thế trận của Quang Trung thể hiện tư tưởng tiến công tiêu diệt rất kiên quyết, rất triệt để...
       
        Trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta có một thế trận rất hay, vô cùng phức tạp và phong phú. Nó phát triển tới một đỉnh cao trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:05:09 PM
        Thế trận đó là một thế trận của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển tới một đỉnh cao. Thế trận này là một thế trận thiên la địa võng. Nhân dân ta đã bày được một thế trận trong cả nước: thế trận của mọi người dân, mọi lực lượng (quân sự và chính trị), mọi thứ quân (chủ lực, địa phương và dân quân du kích) mọi thứ vũ khí, mọi phương pháp chiến tranh, mọi biện pháp đấu tranh. Nhân dân ta đã đánh địch ở khắp mọi nơi, cụ già, em bé cũng đánh địch, cũng thành một thế trận, cũng thành một mũi tiến công, một người cũng thành 3 mũi giáp công. Nhân dân ta đánh địch ở ngay trong sào huyệt của nó, đánh địch ở cả trên không, dưới đất dưới nước. Quân địch ở đâu cũng bị đánh, bị đánh ở trước mặt, bị đánh ở sau lưng. Thế trận này làm cho hơn một triệu quân với hàng ngàn máy bay, xe tăng của Mỹ, ngụy cùng 4-5 nước chư hầu tham chiến đều không cựa quậy được, bị bao vây, trói chặt và bị tiêu diệt và bị thất bại từng bộ phận, từng bước, đi dần tới thất bại hoàn toàn. Thế trận này làm cho địch không thể xoay xở được, không thể đánh theo ý muốn của chúng được, không thể đánh theo cách đánh của chúng được, làm cho địch quân đông vũ khí nhiều mà hóa ít. Thế trận này làm cho lực ta tăng lên gấp bội, thế ta biến hóa vô cùng.
       
        Thế trận này tạo cho ta những điều kiện vô cùng thuận lợi muốn đánh địch ở đâu, lúc nào, cách gì tuỳ ta lựa chọn. Do có thế trận đó mà ta luôn luôn chủ động điều động địch, làm cho địch phải phân tán, căng mỏng, mệt mỏi, sa vào thế trận của ta, rồi bị tiêu diệt. Thế trận của ta là một thế trận tiến công địch một cách tổng hợp toàn diện. Nó có một sức mạnh rất lớn, một sức dẻo dai rất bền, lại rất vững chắc, sâu hiểm, sắc nhọn. Thế trận trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nựớc hiện nay của nhân dân ta là một thế trận rất phong phú, rất mạnh, rất hay và đã phát triển tới một đỉnh rất cao. Nó kế thừa những kinh nghiệm, tinh hoa của dân tộc ta, tiếp thu kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cách mạng thế giới và phát huy lên một trình độ mới của thời đại ngày nay.
       
        Qua nhiều kiểu cách của thế trận và sự vận động phong phú của thế trận có thể đi sâu thêm một bước để nghiên cứu về bản chất của thế trận. Thế trận là vấn đề tình huống và thời cơ để tiêu diệt địch. Bày thế trận và điều khiển thế trận là tạo ra được tình huống và thời cơ có lợi để tiêu diệt được tập đoàn chiến lược, chiến lược chủ yếu của địch một cách hay nhất, đẹp nhất. Sự vận động của thế trận là sự vận động của tình huống và thời cơ, là sự vận động của thế quyết chiến. Thời cơ là vấn đề quan trọng nhất trong sự vận động của thế trận. Thế trận và thời cơ có mối liên hệ bên trong rất khăng khít với nhau, là một sự thống nhất về chất. Điều khiển thế trận để tạo ra được tình huống và thời cơ là tính năng động và chủ động trong sự chỉ huy. Giữ được chủ động trong suốt cả quá trình biến hóa của thế trận là vấn đề rất quan trọng trong sự chỉ huy để tạo ra được tình huống và thời cơ có lợi nhất để tiêu diệt địch.
       
        Các dẫn chứng chiến tranh trên đây đã nói lên nhiều đặc điểm khác nhau muôn màu muôn vẻ về thế trận trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta. Thế trận của Quang Trung rất mạnh, mạnh như gió gào, thác đổ. Thế trận của Lê Lợi-Nguyễn Trãi mềm mại, nhẹ nhàng, nhưng rất vừng trãi, dẻo dai như núi nhọn, sông dài. Thế trận của Trần Hưng Đạo sâu hiểm như rừng rậm, cây dày. Quang Trung đánh trận như cưỡi ngựa múa đao. Lê Lợi đánh trận như đánh cờ chọn nước. Trần Hưng Đạo đánh trận như tìm mồi đặt bẫy.
       
        Qua lịch sử chiến tranh trên đây, Tổ tiên ta đã xây dựng được một nghệ thuật về thế trận rất hay, rất đẹp; mỗi thời một vẻ, mỗi người một vẻ.
       
        Thế trận là một vấn đề rất phức tạp, là một vấn đề tương đối khó, là một nghệ thuật cao trong chiến tranh.
       
        Thế trận chứa đựng, thể hiện hầu như toàn bộ nội dung của chiến dịch, của chiến tranh.
       
        Bày được thế trận đúng, hay đã khó nhưng điều khiển thế trận lại còn khó hơn. Được rèn luyện trong một quá trình đấu tranh vũ trang lâu dài, dân tộc ta đã có một nghệ thuật muôn màu muôn vẻ về thế trận, có nhiều thế trận rất hay, rất đẹp, rất phong phú, linh hoạt sáng tạo và đã phát triển tới một trình độ cao.
       
        Ngày nay chúng ta cần tiếp thu, học tập một cách nghiêm túc để vận dụng sáng tạo và nâng cao lên hơn nữa, làm phong phú kho tàng nghệ thuật chiến tranh và khoa học quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:06:41 PM
       
5. NGHỆ THUẬT ĐỘT PHÁ VÀ BAO VÂY VU HỒI
       
        Đột phá, bao vây vu hồi là một hình thức của thế trận, là sự thể hiện thế trận về mặt cách đánh.
       
        Đột phá, bao vây vu hồi là một thủ đoạn hành động của các binh đoàn (các phân đội) trong tác chiến tiến công tiêu diệt địch, là một cách đánh của các đơn vị bộ đội, các lực lượng vũ trang.
       
        Yêu cầu của tác chiến là tiêu diệt địch một cách kiên quyết nhanh gọn và triệt để. Muốn thế thì phải đánh thẳng vào đội hình của địch, xuyên thủng được đội hình của địch, cùng một lúc vây địch lại không cho địch chạy thoát và chia cắt địch ra nhiều mảnh không cho dồn cục lại, rồi tiêu diệt cho nhanh chóng sạch gọn.
       
        Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, chiến dịch nào, trận chiến đấu nào kết hợp được chặt chẽ giữa đột phá mạnh (đột kích) với bao vây vu hồi chặt thì tiêu diệt địch được nhanh, gọn, triệt để, và lực lượng ít cũng tiêu diệt được lực lượng nhiều.
       
        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, Quang Trung là người có trình độ cao, có đặc tài về nghệ thuật đột phá và bao vây vu hồi. Trận Phú Xuân (Huế) và trận Thăng Long là hai trận điển hình xuất sắc về nghệ thuật đột phá và bao vây vu hồi. Trong chiến dịch này, Quang Trung đã đánh vào chỗ mạnh nhất, cứng nhất và quan trọng nhất của địch. Ông đánh ngay vào bộ chỉ huy, bộ thống soái của địch, diệt ngay bộ chỉ huy đó cùng với tập đoàn chiến lược chủ yếu của nó, ở trong thành quách. Ba yếu tố trên (diệt bộ thống soái, diệt tập đoàn chiến lược chủ yếu, diệt trong thành quách) làm cho cuộc chiến tranh giành được thắng lợi rất nhanh. Thường Quang Trung chỉ đánh một đòn quyết chiến là giành được thắng lợi chiến tranh.
       
        Nguyên nhân của thắng lợi có nhiều mặt. Trước tiên là tinh thần và quyết tâm của quân đội của Quang Trung rất cao, tư tưởng tiến công rất kiên quyết, tư tưởng đánh tiêu diệt rất triệt để. Đội quân của Quang Trung là một đội quân dày dạn chiến đấu, có kinh nghiệm, trình độ và nghệ thuật tác chiến giỏi. Quang Trung là người chỉ huy có tài năng kiệt xuất. Về trình độ và nghệ thuật tác chiến thì Quang Trung rất giỏi về đánh công thành, đánh tiêu diệt các tập đoàn lớn của địch ở trong thành quách. Điều quan trọng là không cho địch nhạy thoát và không cho quân địch ở ngoài đến cứu viện.Muốn thế phải đột phá và bao vây vu hồi. Đột phá cũng phải nhiều mũi, nhiều hướng, bao vây vu hồi cũng phải có gần, có xa, nhiều tầng, nhiều lớp.
       
        Trong chiến dịch Thăng Long, Quang Trung thực hành đột phá trên hai hướng: hướng theo đường số 1 qua Hạ Hồi Ngọc Hồi và hướng theo đường số 6 vào Khương Thượng-Đống Đa. Bản thân mỗi hướng cũng có nhiều mũi, cũng có bao vây của bản thân mũi đó. Trong hai mũi đột phá vào Thăng Long thì mũi đánh vào Khoảng Thượng lại có tác dụng là một mũi bao vây, đánh vào sườn so với mũi chính đánh thẳng theo đường số 1 là đạo đại quân do chính Quang Trung thân chinh chỉ huy.. Về bao vây vu hồi thì có vu hồi ở gần Lục Đầu và vu hồi xa ở Phượng Nhỡn.
       
        Chiến dịch Phú Xuân có vu hồi gần ở Phú Xuân và vu hồi xa ở gần sông Gianh. Hai thành phần đó (đột phá và bao vây vu hồi) kết hợp, hiệp đồng được chặt chẽ với nhau thì làm cho quân địch bị diệt ngay ở trong thành, không thể nhạy thoát được và quân ngoài muốn đến cứu cũng không được. Trong chiến dịch Thăng Long, thế trận đột phá và thế trận vu hồi đã hiệp đồng được với nhau chặt chẽ, yểm hộ, tác động lẫn nhau. Hai mũi đột phá mạnh có tác dụng quyết định tiêu diệt đạo quân Tôn Sĩ Nghị. Hai mũi đột phá này được sự hiệp đồng yểm hộ và hỗ trợ bằng hai mũi vu hồi: một mũi vu hồi gần và một mũi vu hồi xa.
       
        Mũi vu hồi gần đánh vào Lục Đầu và vùng Hải Hưng có nhiệm vụ chia cắt Thăng Long với Hải Hưng, tiêu diệt và ngăn chặn quân địch ở Hải Hưng không cho về tiếp ứng cho Thăng Long và không cho quân ở Thăng Long chạy về hướng Lục Đầu, đồng thời cũng để hư trương thanh thế, yểm hộ cho hướng Thăng Long và cũng là một thế yểm hộ cho mũi vu hồi xa ở Phượng Nhỡn. Mũi vu hồi xa đánh vào Phượng Nhỡn vừa có ý nghĩa chiến dịch và chiến lược. Nhiệm vụ của nó là diệt quân địch rút chạy về Nam Quan, đồng thời có nhiệm vụ diệt và ngăn chặn vòng ngoài, không cho địch từ Nam Quan sang cứu viện cho quân địch ở Thăng Long. Mũi này đã đánh tan quân rút lui của Tôn Sĩ Nghị. Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật bao vây của Quang Trung là khép rất kín thế bao vây là vu hồi rất xa, là bao vây hai vòng (bao vây kép). Nghệ thuật bao vây này có hình thức của hợp vây chiến dịch và hợp vây chiến lược.
       
        Trong nhiều chiến dịch tiến công, Quang Trung đã vận dụng cách đánh đột phá kết hợp với bao vây vu hồi một cách thành thạo, nhuần nhuyễn, có một trình độ cao, ông rất có tài về đánh thành, về đột phá công sự vững chắc. Phần lớn các trận thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đều là đánh thành như đánh thành Bình Định, thành Gia Định (Sài Gòn), thành Phú Xuân (Huế), thành Thăng Long.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:07:51 PM
        Về kỹ thuật đánh thành và chiến thuật đánh thành của Quang Trung tài liệu còn ít, chưa sưu tầm được hết, sự hiểu biết về vấn đề này còn ít. Căn cứ vào một ít tài liệu, có thể đề ra một số vấn đề nghiên cứu về kỹ thuật đánh thành, thì Quang Trung đã sử dụng thang ván để vượt thành, con lăng con cúi, khiên mộc để chống tên nỏ và thuốc súng để diệt sinh lực và phá tường thành, v.v. Về sử dụng các phương tiện này thì có thể tập trung vào các mũi công phá chủ yếu, để phá vỡ sự chống cự và vỏ cứng (tường thành, công sự) của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đột phá. Về chiến thuật thì đột phá nhiều hướng mũi. Trong trận Thăng Long, khi địch đang phải tập trung đối phó với hướng Ngọc Hồi ở trên đường số 1 , thì mũi tiến công theo đường số 6 của Đô Đốc Long đánh ngay vào Khương Thượng rồi phát triển tiến công chọc sâu ngay vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị, đánh vỡ ngay thế trận của địch, làm cho quân đội của Tôn Sĩ Nghị bị hỗn loạn, Bộ tham mưu và bản thân Tôn Sĩ Nghị cũng không còn cách đối phó và phải tháo chạy.
       
        Đánh công thành, đột phá là một chiến thuật khó, là một nghệ thuật cao. Quang Trung có sở trường, có tài năng về môn này. Do đó mà ông có quyết tâm cao, tin tưởng vào việc tiêu diệt, tin vào chắc thắng và thắng lợi nhanh chóng.
       
        Trong cuộc chiến tranh đời nhà Trần, trình độ đánh công thành còn yếu. Cách đánh đột phá vào thành quách chưa phát triển. Về bao vây vu hồi thì có một số trận, có trình độ cao. Trận Chương Dương-Thăng Long (1285), mũi đánh vào thành Thăng Long là một mũi vu hồi rất đẹp. Mũi đó là một thế trận về thời cơ nằm trong thế trận chung. Mũi đó có mối liên hệ chặt chẽ với mũi (hướng) chính; lợi dụng thời cơ khi mũi chính tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch mà trong thành Thăng Long sơ hở thì kịp thời đánh vào hậu phương, vào sau lưng địch để hiệp đồng với hướng chính, tạo ra thắng lợi chung to lớn. Trận Bạch Đằng (1288), Trần Hưng Đạo đã bao vây chặt được đạo quân Ô Mã Nhi, tiêu diệt toàn bộ đạo quân đó và bắt sống tướng chỉ huy Ô Mã Nhi. Cách bao vây ở đây, ngoài các cánh quân ở hai bên bờ sông và ở thượng lưu ra, thì còn có một thế trận bao vây bằng hàng rào cọc lim ở miền hạ lưu sông Bạch Đằng cùng với một số binh lực nhỏ. Hàng rào ngăn chặn cọc lim này là thế chặn đầu, lại vừa là một thế bao vây ở mặt đầu đạo quân của địch; nó nằm trong thế trận bao vây chung. Trận tiến công phục kích với thế bao vây chặt bằng mưu sâu này rất đẹp-Nó đã giành được thắng lợi vẻ vang.
       
        Trong cuộc chiến tranh giải phóng thời Lê Lợi, chiến cục mùa đông 1427 có một thế trận bao vây chiến lược rất lớn, phức tạp, nhưng rất hay nên đã tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng và đạo quân Vương Thông.
       
        Bao vây, vu hồi ở đây không phải chỉ là trong phạm vi chiến dịch, đánh vào một mục tiêu chiến dịch, một khu vực chiến dịch mà là đánh vào nhiều mục tiêu, đối tượng chiến dịch, trong một thế trận chiến lược chung, trên một địa bàn chiến lược rộng lớn.
       
        Trong thế trận bao vây chiến lược chung, có mấy thế trận bao vây cục bộ. Thế trận bao vây đạo quân Vương Thông ở trong thành Đông Đô-Nhiệm vụ của thế trận này là không cho Vương Thông chạy thoát ra khỏi thành đi về hướng Hà Bắc, hoặc đi về hướng Vĩnh Phú, để sau khi tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng thì sẽ dụ hàng hoặc là đánh tiêu diệt. Thế trận bao vây này tương đối đơn giản. Thế bao vây ở hướng chính đánh đạo quân Liễu Thăng có phần phức tạp hơn. Bao vây ở đây có bao vây mai phục diệt địch ở Chi Lăng, có chặn đuôi phía Lạng Sơn, và cắt đường lương thảo, chặn đoàn quân tiếp viện. Thế chặn đầu thì có mũi chặn trực tiếp của chiến dịch ở Chí Lăng. Ngoài ra còn có mũi chặn đầu xa, có ý nghĩa chiến lược ở Xương Giang. Mũi chặn đầu ở Xương Giang vừa là thế chặn đầu, vừa là thế chia cắt chiến lược giữa đạo quân Liễu Thăng với đạo quân Vương Thông ở Đông Đô. Do có thế bao vây chặt chẽ, kín chắc, nhiều tầng như thế nên Lê Lợi đã chia cắt được Liễu Thăng với Vương Thông; cô lập được Vương Thông, và khép chặt được Liễu Thăng mà tiêu diệt ở trên hai khu quyết chiến Chi Lăng và Xương Giang. Ở khu quyết chiến Chi Lăng, Lê Lợi không tiêu diệt hết được đạo quân Liễu Thăng. Số còn lại tháo chạy về Xương Giang. Nhờ có mũi chặn đầu- mũi bao vây trước mặt ở Xương Giang nên đã chặn được đạo tàn quân đó lại, tạo điều kiện tốt cho lực lượng ở các hướng khác cơ động đến bao vây tiêu diệt nốt.
       
        Lịch sử chiến tranh trên đây chứng tỏ thế trận tốt là một thế trận có thế đột phá và bao vây vu hồi tốt. Hai thành phần này là hai thế trận của một thế trận chung, có mối liên hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một sức mạnh chung, thành những mũi đánh mạnh, sắc, nhọn, hiểm, vào toàn bộ đội hình của địch, vào tất cả mọi bộ phận của đội hình địch, không cho địch có điều kiện cơ động, xoay chuyển thế trận, không cho địch có điều kiện chống đỡ, đối phó hoặc tháo chạy mà phải chịu để bị tiêu diệt hoàn toàn.
       
        Đột phá là một nghệ thuật rất khó, nhưng bao vây vu hồi cũng không phải là giản đơn, là một vấn đề rất phức tạp. Có nhiều hình thức và kiểu cách bao vây vu hồi. Vấn đề rất quan trọng là bao vây được kín, chắc, làm cho địch ra cũng không được mà vào cũng không được; bao vây được đúng chỗ, đúng lúc. Có thế mới tiêu diệt gọn được quân địch. Bao vây vu hồi có thể hình thành trước khi tiến công hoặc vừa tiến công, đột phá vừa hình thành bao vây vu hồi. Đột phá, bao vây vu hồi là một thủ đoạn tác chiến rất cần thiết và rất hay. Thủ đoạn này đã được phát triển phong phú, nhiều kiểu cách trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:09:38 PM
       
6. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG
       
        Xây dựng lực lượng là một vấn đề rất cơ bản trong chiến tranh. Có lực lượng quân sự mới có thể tiến hành chiến tranh được. Cái cơ sở, cái nguồn của lực lượng quân sự là ở nhân dân. Chiến tranh giải phóng, chiến tranh chống xâm lược là dựa vào sức mạnh của nhân dân. Các cuộc chiến tranh giải phóng và chống xâm lược của dân tộc ta ở những thế kỷ trước tuy do giai cấp phong kiến lãnh đạo nhưng cũng được nhân dân ủng hộ và tham gia, vì họ nêu được ngọn cờ độc lập dân tộc. Một cuộc chiến tranh giải phóng, chống xâm lược của một nước nhỏ chống lại một nước lớn thì điều kiện nhân dân tham gia là vô cùng quan trọng, là quyết định. Việc tổ chức và xây dựng lực lượng trong một cuộc chiến tranh như thế thường là chia ra mấy thứ quân, thường là có ba thứ quân cơ bản:
       
        - Quân chủ lực (quân trung ương, hay quân triều đình).
       
        - Quân địa phương (quân các lộ hay quân các vương hầu).
       
        - Dân binh (nghĩa dũng quân hay hương binh).
       
        Việc tổ chức các thứ quân như trên thể hiện được quy luật của việc tổ chức lực lượng vũ trang trong một cuộc chiến tranh chống xâm lược, thể hiện được bản chất của một cuộc chiến tranh có tính chất nhân dân. Đội quân tập trung đặt dưới sự chỉ huy của cơ quan chỉ huy tối cao, cơ động tác chiến trên phạm vi cả nước là đội quân chủ lực. Ở từng khu vực, có lực lượng vũ trang của các lãnh tụ địa phương. Ở từng thôn, xã thì nhân dân đứng dậy đánh địch. Đó là lực lượng vũ trang rộng rãi trong nhân dân.
       
        Trong cuộc chiến tranh đời nhà Trần, khi quân triều đình rút lui, xoay chuyển thế trận, thì quân các lộ và hương binh đánh địch ở các nơi, cả miền núi và miền xuôi cùng nhân dân làm nhà không vườn trống. Do đó đã làm cho địch bị tiêu hao, mệt mỏi, không vơ vét được lương thực, của cải làm cho quân lính địch tinh thần chán nản. Tình hình này tạo điều kiện thuận lợi cho quân chủ lực và tất cả các lực lượng vũ trang tiêu diệt địch.
       
        Trong cuộc chiến tranh của nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân nhiều nơi đã hưởng ứng với nghĩa quân nổi dậy đánh địch bằng cách này cách khác. Khi quân chủ lực của nghĩa quân đến đánh địch ở đâu thì quân các lộ và nghĩa dũng quân đều có phối hợp, hiệp đồng tác chiến. Số lượng quân chủ lực của nghĩa quân không nhiều. Các đạo quân chủ lực đi tác chiến ở các hướng so với địch thì rất ít. Nhưng do cơ sự phối hợp, hiệp đồng của quân địa phương và dân binh nên nghĩa quân vẫn có đủ sức mạnh để đánh địch, giành được thắng lợi rực rỡ.
       
        Nguyễn Trãi đã nói đại ý là nghĩa quân Lam Sơn có quân tinh nhuệ, quân các lộ và quân nghĩa dũng. Thời cổ cũng đã có câu: "Ngụ binh ư nông" và câu: "Vừa cày ruộng, vừa đánh giặc". Do tổ chức được các thứ quân như thế, tổ chức được lực lượng vũ trang rộng rãi như thế, nên sức mạnh của chiến tranh được nhân lên gấp bội, đánh địch được khắp mọi nơi, dàn được thế trận trong cả nước, đưa địch vào một vòng vây trùng điệp. Tổ chức được các lực lượng quân sự, các thứ quân như trên thì có một sức mạnh rất lớn, có một nguồn vô tận.
       
        Cuộc chiến tranh nghệ thuật của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thời đại Hồ Chí Minh, đã thể hiện được cao nhất, toàn diện nhất về ý nghĩa và tính chất này.
       
        Ngoài Việc tổ chức các thứ quân ra, thì việc tổ chức lực lượng vũ trang thành các binh chủng và thành các đơn vị tác chiến cũng rất quan trọng. Trong lực lượng vũ trang cần tổ chức các đơn vị tác chiến để thực hành các trận đánh có ý nghĩa về chiến dịch và chiến lược.
       
        Căn cứ theo yêu cầu của tác chiến căn cứ vào khả năng và căn cứ vào sự phát triển của chiến tranh mà tổ chức các đơn vị tác chiến lớn, vừa hoặc nhỏ. Giai đoạn đầu của chiến tranh, trong thời kỳ đánh du kích thì đơn vị tác chiến thường là nhỏ, rồi tiến dần lên các đơn vị vừa và đến giai đoạn cuối của chiến tranh trong thời kỳ đánh tập trung, vận dụng chiến lược phản công và tiến công, đánh những đòn tập trung thì có thể tổ chức các đơn vị lớn.
       
        Trong cuộc chiến tranh mà bên kháng chiến đã có một nhà nước, đã có một quân đội tập trung, chính quy thì có thể tổ chức ngay được những đơn vị vừa và lớn.
       
        Quy luật giành thắng lợi triệt để trong chiến tranh là quy luật của tiêu diệt chiến lược. Đó là quy luật có tính chất phổ biến. Có tiêu diệt chiến lược, tiêu diệt chiến lược quyết định mới giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để trong chiến tranh. Tiêu diệt chiến lược càng lớn, càng có ý nghĩa quyết định thì thắng lợi càng nhanh. Trong một hoàn cảnh, điều kiện nào đó, tiêu diệt nhỏ và tiêu hao chiến lược lớn rộng rãi cũng có thể giành được thắng lợi chiến lược. Nhưng lúc nào, thời cơ nào thì thực hành tiêu diệt chiến lược là phải căn cứ vào sự so sánh lực lượng giữa hai bên, căn cứ vào thế và lực của hai bên mà quyết định, không thể theo ý muốn chủ quan. Muốn tiêu diệt chiến lược thì cần tổ chức các đơn vị lớn hoặc tương đối lớn để tổ chức các chiến dịch, thực hành đánh tiêu diệt các đơn vị chiến dịch và chiến lược của địch, giành thắng lợi chiến dịch, chiến lược và thắng lợi chiến lược quyết định. Các đơn vị này là các đạo quân, các tập đoàn chiến lược, các đơn vị chiến lược phụ trách từng hướng chiến lược, từng địa bàn chiến lược. Nó là lực lượng để tổ chức các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:12:44 PM
        Trần Hưng Đạo đã tổ chức các đơn vị chiến lược và các tập đoàn chiến lược để thực hành phản công và tiến công chiến lược. Trên các hướng tiến công chiến lược của quân địch, Trần Hưng Đạo đều tổ chức các đạo quân lớn, nhỏ, để đánh ngăn chặn quân địch, còn đại quân thì bố trí địa bàn cơ động để chuẩn bị tạo thời cơ phản công.
       
        Khi phản công, các đạo quân được triển khai trên một số hướng, bắt đầu phản công trên từng hướng rồi liên tục, kế tiếp ở hướng khác. Đạo đại quân thì dừng chân ở địa bàn chiến lược cơ động, sẵn sàng di chuyển về hướng chủ yếu để đánh đòn chiến lược quyết định.
       
        Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), Trần Hưng Đạo dàn một đạo quân ở hướng Lạng Sơn, một đạo quân ở hướng Quảng Yên, một đạo quân ở hướng Nghệ An để chặn đánh các mũi tiến công của địch, còn đại quân thì thời kỳ đầu tập trung ở hướng Lạng Giang-Vạn Kiếp. Khi bắt đầu phản công thì đạo quân của Trần Nhật Duật thực hành phản công trên hướng sông Hồng, tiêu diệt và đánh tan đạo quân Toa Đô. Cuộc phản công thứ nhất trên hướng quan trọng này đã tạo điều kiện, thời cơ cho cuộc phản công thứ hai. Cuộc phản công thứ hai do tập đoàn chiến lược chủ yếu của Trần Hưng Đạo đảm nhiệm, lúc đó đóng ở hướng Ninh Bình-Thanh Hóa, thực hiện việc tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan (tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược) ở Chương Dương-Thăng Long, giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến.
       
        Đến cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), Trần Hưng Đạo cũng bố trí các đạo quân để đánh địch trên các hướng tiến quân của chúng. Đại quân bố trí ở địa bàn cơ động. Khi bắt đầu phản công, đạo quân thứ nhất của nhà Trần đánh tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi ở sông Bạch Đằng. Sau đó đạo quân thứ hai đánh kế tiếp luôn đạo quân Thoát Hoan ở vùng Vạn Kiếp.
       
        Trong cuộc chiến tranh giải phóng thời Lê Lợi, đến giai đoạn phản công chiến lược (1426), đội quân chủ lực đã được phát triển, Lê Lợi cũng tổ chức các đơn vị chiến lược-các đạo quân-tung ra hoạt động, tiến vào địa bàn chiến lược chủ yếu của quân nhà Minh để tác chiến tiến công tiêu diệt địch. Các đạo quân đó hoạt động ở trên một số hướng chiến lược, địa bàn chiến lược, ở miền Bắc và xung quanh Đông Đô.
       
        Đạo quân thứ nhất gồm khoảng trên 3.000 quân hoạt động ở vùng Sơn Tây, Ninh Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang. Nhiệm vụ của đạo quân này là tiêu diệt địch và mở rộng vùng giải phóng ở phía tây Đông Đô, vùng tây Bắc Bộ, lập một bàn đạp dể bao vây và tiến công Đông Đô, đồng thời dàn một thế trận để chặn đường tiếp viện của địch từ Vân Nam sang.
       
        Đạo quân thứ hai gồm khoảng 4.000 quân hoạt động ở vùng Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang. Nhiệm vụ của đạo quân này là tiêu diệt địch và mở rộng vùng giải phóng ở phía đông và bắc Đông Đô, vùng đông, đông bắc và vùng nam của Bắc Bộ, ngăn chặn quân Minh từ Nghệ An, Thanh Hóa rút về Đông Đô bằng đường sông Hồng và chặn quân tiếp viện từ Quảng Tây sang.
       
        Đạo quân thứ ba gồm khoảng 2.000 quân hoạt động ở phía nam thành Đông Đô. Còn đại quân của Lê Lợi thì đóng ở vùng Thanh Hóa.
       
        Các đạo quân này cùng với quân các lộ (quân địa phương) và nghĩa dũng quân (dân binh) đã hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược, tiêu diệt địch, giải phóng được nhiều vùng đất đai rộng lớn, mở rộng, phát triển được lực lượng kháng chiến và đã tạo ra được thế trận có lợi để tiến hành cuộc quyết chiến cuối cùng đạt thắng lợi vào mùa đông 1427. Chiến cục mùa đông 1427, trên cơ sở thắng lợi đã giành được trong một năm phản công vào năm 1426, bộ tham mưu nghĩa quân cũng tổ chức các đơn vị chiến lược, tập đoàn chiến lược để đánh những đòn chiến lược quyết định.
       
        Ở Đông Đô, có đơn vị chiến lược bao vây Vương Thông. Ở Lào Cai có đơn vị chiến lược đánh ngăn chặn đạo quân Mộc Thạnh từ Vân Nam sang. Ở Chi Lăng và Xương Giang có tập đoàn chiến lược chủ yếu đánh tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng.
       
        Thời Quang Trung, trong chiến dịch tiến công Thăng Long, Quang Trung cũng đã tổ chức và triển khai được các đơn vị chiến lược, các tập đoàn chiến lược tác chiến trên nhiều hướng.
       
          Tập đoàn chiến lược chủ yếu-đại quân gồm ba đạo quân-phụ trách hướng tiến công chủ yếu, đánh thẳng vào Thăng Long. Các hướng khác do các đơn vị chiến lược khác phụ trách, cùng hiệp đồng tiến công ở bên sườn, sau lưng và đường rút chạy của địch.
       
        Qua những dẫn chứng chiến tranh trên đây, có thể thấy trong các cuộc chiến tranh trước kia, để tiêu diệt chiến lược khác nhau thì có thể tổ chức các đơn vị chiến lược và tập đoàn chiến lược. Các đơn vị chiến lược và tập đoàn chiến lược mới có khả năng đánh tiêu diệt lớn, giải phóng và giữ vững những địa bàn chiến lược. Trên chiến trường cả nước có tổ chức được một số đơn vị chiến lược và tập đoàn chiến lược mới có thể căng địch, phân tán địch ra trên các hướng, mới có thể tiến công địch trên nhiều hướng, tiến công địch một cách liên tục kế tiếp, tiêu diệt chiến lược quân địch một cách dồn dập, làm cho địch xoay xở không kịp, không kịp hồi phục, lực lượng bị suy yếu một cách nhanh chóng, gây nên sự thay đổi so sánh lực lượng một cách nhanh chóng có lợi cho ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:15:57 PM
        Vấn đề quan trọng là tiến công chiến lược một cách liên tục kế tiếp, hướng này kế tiếp hướng khác hoặc tiến công đồng thời ở trên nhiều hướng đạt được tiêu diệt chiến lược một cách dồn dập, liên tục, tạo ra thời cơ liên tục, tạo ra thời cơ mới, thời cơ sau lớn hơn thời cơ trước, thắng lợi sau lớn hơn thắng lợi trước. Tiến công nhiều hướng, nhưng vẫn có thể tập trung được một số đơn vị chiến lược thành lập tập đoàn chiến lược chủ yếu vào hướng trọng điểm để đánh những đòn có tính chất quyết định. Có nhiều đơn vị chiến lược, tập đoàn chiến lược, tiến công địch trên nhiều hướng một cách kế tiếp hoặc đồng thời mới có sự phối hợp chiến trường, có sự hỗ trợ lẫn nhau, tạo được thời cơ cho nhau để tiêu diệt địch một cách dễ dàng, nhanh, gọn. Tổ chức được nhiều tập đoàn chiến lược mới có lực lượng được dài hơi, dai sức và linh hoạt. Các tập đoàn chiến lược có thể dàn ra tuyến trước trên một số hướng thành một thê đội tác chiến, hoặc có thể dàn ra phía trước một vài tập đoàn chiến lược thành thê đội 1 còn một tập đoàn lớn thì để ở tuyến sau làm thê đội 2, khi có thời cơ hoặc có tình huống mới sử dụng.
       
        Tổ chức hai thê đội chiến lược thì việc sử dụng lực lượng và hành động tác chiến có thể được chủ động và linh hoạt hơn, hơi sức sẽ vững bền hơn, dẻo dai hơn. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) thời nhà Trần, trong bố trí chiến lược của Trần Hưng Đạo, có thể nêu ý kiến là thế trận chiến lược đó do hai thê đội chiến lược dàn quân trên các hướng chiến lược tổ chức thành. Tập đoàn chiến lược Trần Nhật Quật đánh đạo quân Toa Đô ở trên sông Hồng và một số đơn vị khác là thê đội 1. Đại quân của Trần Hưng Đạo đóng ở Ninh Bình-Thanh Hóa là thê đội 2.
       
        Sau khi thê đội 1 tiêu diệt và đánh tan dạo quân Toa Đô, tạo ra được thời cơ chiến lược mới, thì Trần Hưng Đạo liền sử dụng thê đội 2 chiến lược tiến ra, đánh đạo quân Thoát Hoan ở Thăng Long, Chương Dương, dứt điểm về chiến lược. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), thê đội 1 chiến lược đánh địch ở Bạch Đằng và Vạn Kiếp, thì đại quân (thê đội 2) vẫn còn đóng ở tuyến sau trên địa bàn chiến lược cơ động của Thái Bình và Hải Hưng. Sau khi đã tạo ra được thời cơ chiến lược, Trần Hưng Đạo liền tung thê đội 2 ra tăng cường cho thê đội 1 ở các hướng Bạch Đằng và Vạn Kiếp để kiên quyết tiêu diệt triệt để quân thù.
       
        Thời cơ sử dụng thê đội 2 chiến lược của Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến lần thứ ba có sớm hơn trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, nhưng là đúng thời cơ.
       
        Việc sử dụng thê đội 2 chiến lược cũng rất linh hoạt, vừa có thể là đội dự bị, vừa có thể là thê đội 2, có thể có hai tính chất, làm cả hai nhiệm vụ.
       
        Trong cuộc chiến tranh thời Lê Lợi, năm 1426, ba đạo quân tiến ra miền Bắc Bộ để hoạt động là có tính chất thê đội 1 chiến lược. Còn đại quân của Lê Lợi đóng ở Thanh Hóa là có tính chất thê đội 2 chiến lược.
       
        Chiến cục mùa đông 1427, các đạo quân của Lê Hoa, Đông Đô, Chi Lăng có tính chất là thê đội 1, còn đại quân của Lê Lợi đóng ở Bắc Ninh thì vừa có tính chất là một đội tổng dự bị chiến lược, vừa có tính chất là thê đội 2 chiến lược. Trong thực tế sử dụng thì đạo đại quân đó có tính chất là đội tổng dự bị chiến lược.
       
        Tổ chức nhiều tập đoàn chiến lược và bố trí được thành 2 thê đội là một vấn đề rất quan trọng để tiến công địch được toàn diện, hên tục làm cho định đối phó bị động, xoay xở khó khăn, suy yếu nhanh chóng mà ta thì chủ động, linh hoạt, bền sức, dẻo dai, nhưng trong một điều kiện hoàn cảnh nào đó, thì tổ chức một thê đội chiến lược cùng đánh tiêu diệt chiến lược lớn quyết định, giành được thắng lợi chiến tranh một cánh nhanh chóng. Thực tiễn này đã thể hiện ở thời Quang Trung. Quang Trung thường chỉ sử dụng tập đoàn chiến lược chủ yếu thành một thê đội chiến lược, đánh một đòn quyết chiến chiến lược là thực hiện được tiêu diệt chiến lược giành được thắng lợi chiến lược quyết địinh. Trận Thăng Long là một điển hình về vấn đề này.
       
        Tổ chức lực lượng nhỏ, vừa, lớn đánh tập trung hay phân tán cũng phải vận dụng rất linh hoạt, phải có tất cả các quy mô, kiểu cách. Mỗi cái đều có tác dụng, ý nghĩa của nó, không một thứ nào thay thế được tất cả. Mỗi thứ phải bồi bổ, bổ sung cho nhau. Phải vận dụng tổng hợp, toàn diện. Sức mạnh lớn là ở chỗ tổng hợp, toàn diện. Trong phân tán có tập trung. Vừa có nhỏ lại vừa có lớn, nhưng cái trọng điểm vẫn là có tính chất quyết định. Có tập trung lực lượng, chỉ huy thống nhất, công cụ tiến bộ thì năng suất mới cao.
       
        Có tập trung lực lượng, tập trung đấu tranh vào giải quyết những khâu mấu chốt nhất mới giành được thắng lợi quyết định, mới thúc đẩy sự vật phát triển nhanh chóng. Việc tổ chức, xây dựng và sử dụng lực lượng chiến lược là một vấn đề rất cơ bản, rất quan trọng trong chiến tranh. Nó là cơ sở cho việc chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:18:11 PM
        Qua các diễn biến về lịch sử chiến tranh trên đây có thể đề ra một vấn đề về quy luật chiến tranh.
       
        Chiến tranh luôn luôn phát triển, không một cuộc chiến tranh nào giống một cuộn chiến tranh nào.
       
        Chiến tranh phát triển rất phong phú, muôn màu muôn vẻ có nhiều điểm rất khác nhau.
       
        Nhưng chiến tranh vận động là có quy luật. Người ta vẫn có thể nhận thức được chiến tranh, học tập được các kinh nghiệm khác nhau của chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh theo quy luật của nó. Chiến tranh cũng như các sự vật khác, vận động là có quy luật; có quy luật chung và quy luật riêng.
       
        Quy luật của chiến tranh là sự vận động có tính chất bản chất của chiến tranh.
       
        Chiến tranh là sự đối chọi giữa hai quân đội, giữa hai quốc gia, hai tập thể quốc gia hoặc hai tập đoàn xã hội. Sự diễn biến và kết quả của sự đối chọi đó (chiến tranh) như thế nào là do nhân tố chính sau đây:
       
        1. Sức mạnh của hai bên tham chiến (vật chất và tinh thần, cả nhân dân và quân đội) .
       
        2. Tài năng lãnh đạo, chỉ huy của cơ quan lãnh đạo (gồm cả đường lối chiến tranh và khả năng thực hiện đường lối đó) và trình độ tác chiến của quân đội.
       
        Chiến tranh không thể thoát khỏi hai nhân tố cơ bản trên đây. Hai nhân tố trên cấu thành sự vận động của chiến tranh. Sự vận động của chiến tranh chính là sự vận động của hai nhân tố trên. Đó cũng là điều kiện tồn tại và vận động của chiến tranh. Đó là sự vận động có tính bản chất của chiến tranh. Tìm hiểu quy luật chung của chiến tranh để chỉ đạo chiến tranh chính là tìm hiểu sự vận động của hai nhân tố cơ bản của chiến tranh trên đây.
       
        Sức mạnh của hai bên tham chiến đối chọi nhau là sự quan hệ về so sánh lực lượng hai bên tham chiến. Sự so sánh về lực lượng vật chất và yếu tố khách quan của chiến tranh. Sự chỉ đạo, tính năng động chủ quan là yếu tố chủ quan của chiến tranh.
       
        Lực lượng so sánh giữa hai bên chênh lệch nhau nhiều thì chiến tranh có thể diễn ra một cách khác. Lực lượng so sánh không chênh lệch nhau mấy thì chiến tranh có thể diễn biến một cách khác. Đó là căn cứ vào yếu tố khách quan của chiến tranh mà nói. Nhưng chiến tranh còn phụ thuộc vào cả yếu tố chủ quan nữa, tức là sử chỉ đạo chiến tranh của cơ quan lãnh đạo và trình độ tác chiến của quân đội. Đó là tính năng động chủ quan trong chiến tranh.
       
        Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, chế độ xã hội tốt đẹp, đoàn kết được toàn dân, phát huy cao độ được tinh thần chiến đấu của nhân dân và quân đội; sự chỉ đạo chiến tranh tài tình, trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang tài giỏi là những nhân tố chủ quan của chiến tranh, là sức mạnh cực kỳ to lớn của chiến tranh, là sức mạnh có tính chất quyết định. Lực lượng vật chất yếu nhưng lực lượng tinh thần mạnh thì sức mạnh tổng hợp vẫn mạnh. Lực lượng vật chất mạnh, nhưng lực lượng tinh thần yếu thì sức mạnh tổng thợp cũng sẽ yếu, hoặc không mạnh.
       
        Đường lối chính trị, chế độ xã hội, sự chỉ đạo chủ quan có khả năng biến tinh thần thành sức mạnh vật chất rất to lớn có tính chất quyết định thắng bại của chiến tranh.
       
        Sức mạnh vật chất là một thành phần cơ bản của chiến tranh. Nó vận động cùng một nhịp, cùng trong một khối thống nhất với sức mạnh tinh thần của chiến tranh.
       
        Nhận thức, nghiên cứu chiến tranh, tìm hiểu quy luật của chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh không thể tách rời hai nhân tố cơ bản đó ra được. Chỉ có tổng hợp hai nhân tố đó thành một khối thống nhất, có sự tác động lẫn nhau để nhận thức quy luật của chiến tranh, nhận thức sự vận động của chiến tranh thì mới có thể chỉ đạo chiến tranh một cách đúng đắn được.
       
        Lịch sử chiến tranh của dân tộc ta có những sự diễn biến rất khác nhau. Có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian rất ngắn. Có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn. Có cuộc chiến tranh giành thắng lợi trong một thời gian dài, v.v. Những diễn biến trên đây đều vận động trong một quy luật chung là quy luật của sự so sánh lực lượng và sự chỉ đạo chiến tranh. Những cuộc chiến tranh thời cổ ở nước ta, trong một xã hội mà nền kinh tế còn thuần thất-kinh tế nông nghiệp-các nhân tố chính trị và xã hội cũng chưa phức tạp; công cụ chiến tranh còn đơn giản, phương tiện cơ động, phương tiện thông tin còn thô sơ, thì chiến tranh thường kết liễu bằng một số cuộc quyết chiến tuy cũng có những cuộc chiến tranh kéo dài vì có một số điều kiện khác.
       
        Ngày nay, trong thế giới công nghiệp phát triển cao, những nhân tố quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội có nhiều phức tạp, công cụ chiến tranh phát triển cao, phương tiện cơ động và phương tiện thông tin tiến bộ thì chiến tranh diễn ra cũng phức tạp hơn. Một nước lực lượng vật chất yếu đánh bại một quân đội xâm lược có lực lượng vật chất mạnh thì chiến tranh thường diễn ra lâu dài hơn.
       
          Chiến tranh thời cổ, có thể giải quyết bằng một hình thức tác chiến (vận động chiến), hoặc đánh công thành (trận địa chiến). Chiến tranh ngày nay có thể phải giải quyết bằng nhiều hình thức tác chiến (cả đánh du kích, đánh vận động và đánh trong công sự-đánh trận địa…).
       
        Trên đây là những vấn đề quy luật có tính chất tổng quát của chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:20:03 PM
         
*

*       *

        Về nguyên tắc chỉ đạo chiến lược, chiến tranh cũng vận động có quy luật. Muốn giành được thắng lợi trong chiến tranh thì phải phản công và tiến công.
       
        Phòng ngự chỉ là cục bộ và tạm thời. Phòng ngự đơn thuần là con đường chết. Đó là quy luật rất cơ bản của sự vận động của chiến tranh.
       
        Quy luật của phản công và tiến công cũng căn cứ vào thế và lực của hai bên, và căn cứ vào sự chỉ đạo chủ quan của hai bên. Phản công và tiến công không thể vận động ra ngoài quy luật này.
       
        Căn cứ vào các yếu tố, điều kiện trên, phản công và tiến công có thể vận động theo một số quy luật. Phản công và tiến công có thể từ nhỏ đến vừa rồi đến lớn (cuộc chiến tranh thời Lê Lợi). Phản công và tiến công cũng có thể từ vừa đến lớn (cuộc chiến tranh thời Trần Hưng Đạo). Phản công và tiến công có thể bắt đầu đánh lớn ngay (cuộc chiến tranh thời Quang Trung). Phản công và tiến công có thể bắt đầu từ hướng quân địch yếu trước rồi đến hướng quân địch mạnh sau (Lê Lợi và Trần Hưng Đạo). Phản công và tiến công cũng có thể bắt đầu ngay từ hướng quân địch mạnh (Lý Thường Kiệt, Quang Trung).
       
        Các tình huống chiến lược về phản công và tiến công trên đây tuy có khác nhau, nhưng phản công và tiến công vẫn vận động có quy luật. Phản công và tiến công trong các cuộc chiến tranh của các thời kỳ trên xuất hiện được và đều giành được thắng lợi. Nhưng sự xuất hiện về vận động của mỗi cuộc phản công và tiến công có khác nhau. Đó là do điều kiện tồn tại và vận động của nó có khác nhau.
       
        Ở thời Hai Bà Trưng, phản công có xuất hiện, nhưng không tồn tại được. ở thời Lý Bôn, Triệu quang Phục, phản công có xuất hiện, rồi bị thủ tiêu sau đó lại xuất hiện và cuối cùng tồn tại được.
       
        Một sự vật nào nảy sinh được là do có điều kiện cho nó ra đời; có nhưng nhân tố hình thành sự vật đó. Những điều kiện tồn tại của sự vật như thế nào, những nhân tố hình thành sự vật như thế nào thì sự vật xuất hiện như thế. Đó cũng là quy luật tồn tại và vận động của sự vật.
       
        Sự phản công và tiến công trong cuộc chiến tranh thời Lê Lợi xuất hiện từ nhỏ đến vừa rồi đến lớn và ở hướng quân địch yếu trước rồi mới đến hướng quân địch tương đối mạnh, cuối cùng đến hướng quân địch mạnh là phù hợp với quy luật của phản công và tiến công trong cuộc chiến tranh đó. Vì về so sánh lực lượng thì quân đội của Lê Lợi ít hơn quân đội của quân xâm lược nhà Minh nhiều.
       
        Nhưng về mặt chính trị, về tinh thần kháng chiến của nhân dân và quân đội, về chỉ đạo chủ quan của bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn, thì quân dân ta thời bấy giờ mạnh hơn hẳn quân xâm lược. Nghĩa quân Lam Sơn có cái thế mạnh hơn quân xâm lược. Do đó mà Lê Lợi thực hành phản công và tiến công được. Nhưng phản công và tiến công phải tiến hành theo một cách phù hợp với thực tiễn chiến tranh đó, phù hợp với điều kiện cụ thể đó.
       
        Nếu cơ quan chỉ đạo chiến tranh không chủ trương phản công và tiến công và không tổ chức phản công là không nắm hết được thực tiễn của chiến tranh, không nắm được quy luật của chiến tranh. Nhưng nếu đi ra ngoài thực tiễn và điều kiện cụ thể của chiến tranh là không phù hợp với quy luật. Không phù hợp với quy luật thì phản công và tiến công không thể tồn tại và vận động được.
       
        Trong cuộc chiến tranh do Quang Trung lãnh đạo phản công và tiến công xuất hiện khác với cuộc chiến tranh do Lê Lợi-Nguyễn Trãi lãnh đạo.
       
        Đó cũng là do thực tiễn chiến tranh thời Quang Trung khác thời Lê Lợi. Do điều kiện cụ thể của cuộc chiến tranh. Quang Trung thực hành phản công lớn ngay và ở hướng quân địch mạnh nhất, cũng là phù hợp với thực tiễn chiến tranh phù hợp với quy luật của phản công và tiến công trong cuộc chiến tranh đó. Về so sánh lực lượng, thì sức mạnh chiến tranh của Tây Sơn không yếu hơn Tôn Sĩ Nghị, mà là tương đương với Tôn Sĩ Nghị. Về chỉ đạo chủ quan thì Quang Trung giỏi hơn Tôn Sĩ Nghị. Do đó mà có thể đánh lớn ngay được và đánh ngay vào được nơi quân địch mạnh nhất.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:21:37 PM
        
*

*       *

        Phản công và tiến công thể hiện tư tưởng quân sự cách mạng. Phản công và tiến công là nhân tố chủ yếu của thắng lợi trong hoạt động chiến tranh và cũng là quy luật của thắng lợi trong chiến tranh.
        
        Quy luật thắng lợi của phản công và tiến công là quy luật của đánh tiêu diệt.
        
        Đánh tiêu diệt như thế nào để giành thắng lợi? Thắng lợi trong chiến tranh có thể nhanh và có thể chậm.
        
        Về so sánh lực lượng và về chỉ đạo, nếu đánh tiêu diệt được lớn, tiêu diệt được những tập đoàn chiến dịch và chiến lược quan trọng của địch, ở những hướng chiến lược quan trọng thì thắng lợi có thể nhanh (Quang Trung, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo).
        
        Nếu đánh tiêu diệt được nhỏ, phải qua nhiều trận tiêu diệt nhỏ, dần dần tiến lên đánh tiêu diệt được lớn thì thắng lợi sẽ chậm hơn (Triệu Quang Phục, Lê Lợi).
        
        Đó là những quy luật cơ bản của tiến công và phản công để giành thắng lợi trong chiến tranh. Quy luật cơ bản nhất của tiến công và phản công là quy luật của đánh tiêu diệt chiến lược. Quy luật giành thắng lợi chiến tranh cũng là quy luật của đánh tiêu diệt chiến lược. Tóm lại quy luật cơ bản nhất của chiến tranh là quy luật đánh tiêu diệt chiến lược hoặc đánh tiêu diệt có ý nghĩa chiến lược.
        
        Ngoài những quy luật cơ bản đó ra, chiến tranh cũng có thể vận động theo một số quy luật khác. Trong điều kiện nào đó đánh tiêu diệt nhỏ và vừa cũng có thể giành được thắng lợi trong chiến tranh và cũng có thể giành được thắng lợi tương đối nhanh. Chiến tranh tổng hợp rất nhiều những nhân tố rất phức tạp.
        
        Chiến tranh là sự đấu tranh toàn diện về cả quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa của hai quốc gia, hai tập đoàn đối địch.
        
        Sức mạnh tổng hợp, toàn diện của chiến tranh biểu hiện tập trung nhất trong sự đối chọi của hai lực lượng vũ trang. Nhưng lực lượng vũ trang không thể thoát ra khỏi cải nền của kinh tế và chính trị của chiến tranh.
        
        Ngày xưa trong một xã hội nông nghiệp, ảnh hưởng của kinh tế và chính trị đối với hoạt động quân sự rất quan trọng nhưng sự quan trọng đó không lớn không thật nhạy bén như trong một xã hội công nghiệp-Chính trị và kinh tế bao giờ cũng là cái nền, là cơ sở của quân sự-Ngày nay, trong một xã hội công nghiệp phát triển, trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa đang phát triển mạnh mẽ, sự giác ngộ của nhân dân quần chúng đã có một trình độ cao; sức mạnh của nhân dân đã có một tác động lớn đến mỗi hoạt động của xã hội thì tác động của chính trị và kinh tế đối với toàn bộ quá trình hoạt động quân sự là rất lớn. Sự tiến công chính trị của nhân dân quần chúng không quân xâm lược làm cho sức mạnh tổng hợp của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân chống xâm lược tăng lên rất lớn. Sự tiến công chính trị của nhân dân đối với chính phủ phản động ở trong nước đế quốc gây ra chiến tranh xâm lược; sự tiến công chính trị của nhân dân thế giới đối với nước đế quốc xâm lược, làm cho sức mạnh của chiến tranh xâm lược suy yếu đi nhiều.
        
        Cuộc chiến tranh đế quốc xâm lược hao người tốn của gây nên sự khốn quẫn, suy thoái của nền kinh tế trong nước đế quốc cũng làm cho sức mạnh của chiến tranh xâm lược suy yếu đi nhiều.
        
        Do những nhân tố toàn diện của chiến tranh tác động mạnh vào hoạt động quân sự mà những điều kiện giành thắng lợi của chiến tranh trở nên rất phức tạp. Dù sao, quy luật cơ bản của thắng lợi trong chiến tranh vẫn là phương hướng cần nắm vững. Trên cơ sở quy luật cơ bản đó mà tích cực triệt để khai thác cáe điều kiện khác trong chiến tranh.

*

*       *
     
        Muốn giành được thắng lợi trong chiến tranh thì phải đánh tiêu diệt; đánh tiêu diệt lớn-tiêu diệt chiến dịch và tiêu diệt chiến lược.
       
        Quy luật của đánh tiêu diệt là quyết chiến-quyết chiến chiến dịch và quyết chiến chiến lược.
       
        Có quyết chiến mới có thể tiêu diệt được triệt để quân địch, có tiêu diệt lớn, tiêu diệt triệt để quân địch mới giành được thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi triệt để. Đánh phân tán, không kiên quyết thì không có thể tiêu diệt được quân địch, không có thể tiêu diệt lớn, tiêu diệt triệt để được quân địch. Để quyết chiến cần tổ chức các tập đoàn chiến dịch, chiến lược tổ chức các chiến dịch và các chiến dịch lớn ở trên một số hướng chiến lược quan trọng.
       
        Truyền thống và những kinh nghiệm quý báu về khởi nghĩa chiến tranh và nghệ thuật quân sự của ông cha ta trong lịch sử đã được dân tộc ta kế thừa, vận dụng, phát triển và đã lập nên những chiến công lớn trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những truyền thống-di sản quý báu đó ngày nay vẫn được Đảng ta, quân và dân ta tiếp tục vận dụng và phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:38:16 PM
       
PHẦN THỨ HAI
       
TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
       
       
I. DÂN LÀ GỐC CỦA MỌI XÃ HỘI
       
        Lấy dân làm gốc đã trở thành hòn đá tảng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Sau những năm bôn ba tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tìm ra chân lý: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình"1.
       
        Từ chân lý đó, Người xác định: Mọi tiến trình cách mạng của dân tộc phải là của dân, do dân tiến hành và mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân. Theo quan điểm của Người: Dân vừa là mục tiêu để thực hiện cách mạng, vừa là động lực của cách mạng. Người nói: "Nước lấy dân làm gốc, quần chúng là gốc của cách mạng, cách mạng cũng như chiến tranh cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng cách mạng"2.
       
        Năm 1923, khi Người bí mật rời nước Pháp, trong thư để lại cho các đồng chí bạn, Người nói rõ mục tiêu của mình là: "Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập "3.

        Trên đường trở về nước, dừng chân ở Trung Quốc, theo dõi thực tế kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, Người khái quát: Trước họa xâm lăng; nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là kiên quyết tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, phát triển và củng cố mặt trận dân tộc chống xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, tăng cường lực lượng kháng chiến. Mà nhiệm vụ lịch sử của cơ quan lãnh đạo kháng chiến là phải: “Đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đối với việc động viên và tổ chức nhân dân”4.
       
        Khi về nước, Người triệu tập ngay Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (10-5-1941), một hội nghị đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của đảng ta. Theo đề nghị của Người, ngày 19-5-1941, Hội nghị quyết định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam-Độc lập-Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh), với mục tiêu là nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.
       
        Mặt trận Việt Minh ra đời thực sự đã trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng cách mạng Việt Nam và khẳng định quan điểm lấy dân làm gốc trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
       
        Cũng trong lần về Tổ quốc đầu tiên này, năm 1941, trong kính cáo đồng bào, Người kêu gọi toàn dân tộc:
       
        “Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi”5.
       
        “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề…"6.
       
        Là lãnh tụ của Đảng, của cách mạng, với một sức truyền cảm hiếm có, Người khơi dậy lòng yêu nước và truyền thống bất khuất của dân tộc:
       
        “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”7.
       
        Nêu cao lòng tự hào dân tộc, Người tự tay viết diễn ca về lịch sử Việt Nam: "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"8.
       
        Khi Mặt trận Việt Minh ra đời, Người viết: "Mười chính sách của Việt Minh" để cho dân hiểu, dân biết, dân tham gia và ủng hộ cách mạng.
       
        Vào thời điểm quan trọng, quyết định vận mệnh của Tổ quốc, trong thư gửi đồng bào cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa Người kêu gọi:
       
        “Hỡi đồng bào yêu quý!

        Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến.

        Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

        Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đua nhau tiến bước giành quyền độc lập.

        Chúng ta không thể chậm trễ.

        Tiến lên! Tiến lên Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”
9.
       
        Như vậy, chỉ hơn bốn năm sau, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh đã được triển khai đến hầu khắp đất nước. Để đến tháng 8 năm 1945, khi thời cơ đến, tình hình Chiến tranh thế giới thứ hai chuyển biến nhanh chóng với sự đầu hàng của quân đội Nhật trước Hồng quân Liên Xô và Đồng minh, tạo nên cơ hội lớn cho cách mạng Việt Nam, thì quần chúng mà nòng cốt là Mặt trận Việt Minh đã lớn mạnh và sẵn sàng thực hiện sứ mệnh lịch sử tiến hành Tổng khởi nghĩa và thực hiện Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ lầm than, lập nên nước Việt Nam-Dân chủ-Cộng hòa.
       
        Khi Tổ quốc lại lâm nguy, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người viết: "Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"10.

--------------
1, 2. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 10.

3. Hồ Chí Minh. Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 1, tr. 192.

4. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 101.

5, 6. Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.3, Sđđ, tr. 197, 198.

7. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t.3, tr.221, 205.

8. Hồ Chí Minh. Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội. NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.71.

9. Xem bản bút tích lưu tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

10. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd. 1995, t.4, tr.480.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 05:46:35 PM
        Đứng trước nguy cơ thực dân Pháp trở lại chiếm nước ta một lần nữa, Người khẳng định: Dân tộc Việt Nạm nay bị đặt trước hai đường: Một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nô lệ hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập. “Không! Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại nô lệ nữa. Dân tộc Việt Nam thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do" và kêu gọi: "Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất"1.
        
        Chiến tranh nhân dân Việt Nam là của dân, do dân và vì dân, Hồ Chí Minh tin tưởng chắc chắn rằng: "Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch"2.
        
        Trả lời các nhà báo nước ngoài về triển vọng của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của nhân dân ta, Người nói: "Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam tỏ cho ta biết rằng: 1. Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ"3.
        
        Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân", “Quân tốt, dân tốt. Muôn sự đều nên. Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"4.
        
        Lực lượng cách mạng nòng cốt của dân lúc này là các đội dân quân du kích và vệ quốc quân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
        
        Trong thư gửi Hội nghị dân quân Toàn quốc (1948) vừa biểu dương những thành tích, vừa phê bình nhắc nhở những khuyết điểm của dân quân du kích, Người nêu lên những việc phải làm:
        
        “1. Thiết thực tổ chức và thiết thực huấn luyện dân quân du kích từng làng. Lấy dân quân du kích làng làm nền tảng; đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly.
        
        2. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ và tin tưởng vào lực lượng của ta, tin tưởng vào vũ khí thô sơ của ta.
        
        3. Phối hợp thật chặt chẽ với vệ quốc quân.
        
        4. Làm cho mỗi đội viên hiểu rõ các nhiệm vụ vẻ vang của họ.
        
        5. Làm cho họ hiểu rõ chiến thuật du kích là: phải luôn luôn giữ quyền chủ động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn khuấy rối phá hoại địch, phải cộng những thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to.
        
        6. Phải thực hành tự cấp tự túc bằng cách thiết thực, bằng cách tăng gia sản xuất.
        
        7. Phải thực hành những điều đó bằng cách thi đua”5.
        
        Người luôn luôn động viên nhân dân, chỉ rõ con đường để vượt mọi trở ngại khó khăn, đi tới chiến thắng. Người luôn cổ vũ chiến công, thành tích thi đua kháng chiến của noi tầng lớp nhân dân trên mọi lĩnh vực. Chính Người đã thường xuyên nuôi dưỡng, động viên, biến tinh thần yêu nước thành hành động cách mạng bằng việc phát động các phong trào thi đua yêu nước. Từ các phong trào thi đua này mà nhờ đó đã phát huy đến cao độ sức mạnh của mỗi người, của mọi người thêm yêu nước, thêm tự hào để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Thơ của Người đã trở thành khẩu hiệu:

                “Người người thi đua,

                Ngành ngành thi đua,

                Ta nhất đinh thắng,

                Địch nhất định thua”.

        
        Người khen ngợi mọi cá nhân, mọi tập thể với những thành tích đã đạt được, đồng thời còn khuyên nhủ, nhắc nhở tránh chủ quan, thỏa mãn. Ngay sau chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ lịch sử, ngày 8-5-1954, Người đã gửi thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc. Người nhắc nhở: "Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình"6.
        
        Đúng như dự liệu của Người: Còn đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh. Cả nước lại bước vào cuộc đọ sức mới. Đế quốc Mỹ tiếp tục can thiệp vào Đông Dương, phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, gây chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh ra cả nước. Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng…, dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn"7.
        
        Trên diễn đàn thông tin quốc tế, đăng trên báo Thời mới (Liên Xô), Người viết: "Nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, kiên quyết đứng vững trên tiền tuyến của phong trào đấu tranh vĩ đại của nhân dân toàn thế giới chống đế quốc Mỹ... Dù chúng phái thêm bao nhiêu quân đội, đế quốc Mỹ xâm lược nhất định cũng sẽ hoàn toàn thất bại. Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi vẻ vang. Miền Nam Việt Nam nhất định sẽ được giải phóng. Nước Việt Nam nhất định sẽ được hòa bình, thống nhất"8.

----------------
1. Hồ Chí minh. Toàn tập, Sđd,1995, t.4, tr.484.

2, 3. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t.5, tr.366, 409, 410.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 366, 409, 410.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 416.

6. Hồ Chí Minh. Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr.295.

7, 8. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t 11 , tr. 470, 493.



Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 06:02:08 PM
        Lúc Mỹ tập trung đánh phá miền Bắc với những vũ khí tối tân nhất hòng hủy diệt cả nền văn minh dân tộc, Người lại khẳng định: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!"1.
       
        Người kêu gọi: "Nhân dân ta rất anh hùng. Đường lối ta rất đúng đắn. Chúng ta có chính nghĩa. Chúng ta có chí kiên cường, quyết chiến, quyết thắng. Chúng ta có sức mạnh vô địch của toàn dân đoàn kết và được cả loài người tiến bộ đồng tình và ủng hộ"2.
       
        Từ khởi nghĩa vũ trang đến chiến tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc. Bởi chính nghĩa là bản chất tốt đẹp của con người. Đó chính là sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân. Toàn dân đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, quyết tâm đồng lòng dám đánh và quyết đánh quân xâm lược và tay sai, không sợ khó, không sợ khổ, không sợ chết thì sẽ biết đánh và tìm ra cách đánh thì mới có sức mạnh. Điều cốt lõi là dám đánh, quyết đánh. Dám đấu tranh thì mới có đấu tranh, có kháng chiến. Có đấu tranh, có kháng chiến thì mới thoát khỏi ách lầm than, nô lệ, có độc lập, tự do.
       
        Nhưng để đạt được điều đó, Người nêu rõ: "Trước khi khai chiến là lúc đương định kế hoạch chiến tranh", phải xem xét “Chính sách của chính phủ đối với dân chúng. Đối với dân, chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết, cải thiện đời sống cho dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa... Có như thế dân chúng mới đoàn kết xung quanh chính phủ, mới vì quyền lợi thiết  thân của mình mà hy sinh sống chết giết giặc. Có như thế thì dù tình thế nguy khốn đến bậc nào, dân chúng không sợ hãi gì hết mà cố sức quyết chiến, quyết thắng"3.
       
        Chiến tranh nhân dân chính nghĩa, dù nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, đều có thể thắng kẻ thù hung bạo, lớn mạnh về vật chất; rất ít khi chiến tranh chính nghĩa thất bại, thất bại chỉ là tạm thời. Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong một cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng"4.
       
        Quan điểm biện chứng của Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng là khoa học. Người nhận thức được quy luật vận động của sự vật, quy luật phát triển của sự vật. Sự vận động, phát triển trong đấu tranh đã được Người nhìn nhận dưới nhãn quan của một nhà văn hóa lớn của dân tộc, của thời đại về giải quyết mâu thuẫn.
       
        "Đảng ta theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta không những nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan rằng:

        Tuy nay châu chấu đấu voi,

        Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra.

       
        Sự thật đã chứng tỏ rằng "voi" thực dân đã bắt đầu lòi ruột, mà bộ đội ta đã trưởng thành như con hổ oai hùng.

        Dù lúc đầu sức địch mạnh như vậy, sức ta yếu như vậy, mà ta vẫn gan góc kháng chiến, vẫn tranh được nhiều thắng lợi, và tin chắc ta sẽ tranh được thắng lợi cuối cùng. Đó là vì ta có chính nghĩa, vì quân ta dũng cảm, dân ta đoàn kết và quật cường, vì ta được nhân dân Pháp và phe dân chủ thế giới ủng hộ. Mà cũng vì chiến lược ta đúng"5.
       
        Đây là sự phân tích về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Hồ Chí Minh, rất cách mạng và khoa học. Cái khó khăn lớn nhất của cuộc kháng chiến lúc bấy giờ là lực lượng của ta quá nhỏ bé so với thực dân Pháp, cái chính là thua kém về vật chất kỹ thuật. Vậy là, ta phải có thời gian và tìm cách để chuyển hóa lực lượng, giải quyết mâu thuẫn ấy. Nhưng ta hơn địch ở ý chí tinh thần của dân tộc đang tiến hành kháng chiến trường kỳ, chính nghĩa chống xâm lược, ta đã phát động được cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Sự phân tích đó thể hiện rõ tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hồ Chí Minh đã nói, khi cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới"6.
       
        Hồ Chí Minh đã phát huy sức mạnh chiến tranh chống xâm lược là sức mạnh chính nghĩa, nên có thể khai thác, huy động triệt để sức mạnh tiềm năng của nhân dân, tính quật cường bất khuất, sự đoàn kết toàn dân và truyền thống tài thao lược của dân tộc.
       
        Lấy dân làm gốc, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vừa là điều kiện tiên quyết vừa là luận điểm cơ bản, xuyên suốt trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Khi làm việc với cán bộ, Người thường căn dặn: Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Bởi vậy chúng ta phải thực hiện cho đúng lời dạy của Người trong thời bình cũng như trong chiến tranh.
       
        "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân"7.
       
        "Bao nhiêu quyền hạn đều của dân"8.
       
        "Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm"9.
       
        “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân, thì phải hết sức tránh"10.
       
        “Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân...”11.
       
        “Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công vô tư".
       
        "Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ.
       
        Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta... Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận"12.
       
        Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ. Phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công.
       
        "Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự"13.

 ---------------
1, 2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t.12, tr.108, 374.

3. Q.Th: “Binh pháp Tôn Tử”, Báo Cứu quốc ngày 17-9-1946.

4. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, 1995, t.5, tr.80.

5. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, 1995, t.6, tr. 163, 164.

6. Hồ Chí Minh. Những bài viết và nói về quân sự, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, t.2, tr.371.

7, 8. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 16.

9, 10. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 223.

11. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 90, 490.

12. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđđ, t. 6, tr. 90, 490.

13. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 323.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 06:13:06 PM
       
II. CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, TIẾN TỚI ĐÁNH TIÊU DIỆT CHIẾN LƯỢC.
       
        Hồ Chi Minh luôn khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân. Bởi Người đã tìm ra được chân lý giản đơn và thiết thực: "Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự. Muốn có lực lượng thì phải có tổ chức. Muốn tổ chức thành công thì phải có kế hoạch, có quyết tâm"1. Từ đó trong phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh, Hồ Chí Minh luôn lấy chính trị làm nền tảng. Ngay sau khi về nước, mùa đông năm 1944, khi đi kiểm tra tình hình Cao-Bắc-Lạng, Người đã ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa và phân tích: "... Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến nên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên"2.
       
        Sau đó Người đã ra chỉ thị về tổ chức quân sự: Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại phân tán quá. Bây giờ nên tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Người đề ra những nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động trong "Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" như sau:
       
        1. Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. NÓ là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung phần lớn vũ khí để lập  ra đội chủ lực.
       
        Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.
       
        2. Đối với các đội vũ trang địa phương: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
       
        3. Về chiến thuật: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.
       
        Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.
       
        Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam"3.
       
        Đây chính là đường lối cơ bản xây dựng lực lượng vũ trang trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân. Người còn căn dặn thêm; "Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của đội phải lấy Chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo"4.
       
        Chiến tranh của ta là chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược Trong điều kiện lấy yếu đánh mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều thì phải phát động chiến tranh nhân dân. Lịch sử dân tộc ta cho thấy chiến tranh nhân dân của ta phát triển rất sớm. Tổ tiên ta đã biết dựa vào sức mạnh của toàn dân để tiến hành kháng chiến chống xâm lược thắng lợi.
       
        Trần Hưng Đạo từng nói: “Khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước".
       
        Nguyễn Trãi viết: "Dựng gậy làm cờ, bốn phương dân càng tập hợp. Rượu hòa nước, dưới trên đều một bụng cha con. Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo".
       
        Hồ Chí Minh thì khẳng định:
       
        Nhân dân là bức tường đồng xung quanh Tổ quốc.
       
        Phương pháp luận lãnh đạo chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh là: “dân là chủ”, “lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”5, “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”6.
       
        Đoán trước được cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp sẽ lan rộng ra cả nước, Người viết chỉ thị: "Công việc khẩn cấp bây giờ" và Người đề ra phương hướng: "Tổ chức du kích khắp nơi. Tăng gia sản xuất khắp nơi".
       
        Từng bước xây dựng lực lượng, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Về đường lối chiến tranh nhân dân, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vị trí chiến lược của dân quân tự vệ và du kích, Người viết: "Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã"7.

---------------
1. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 392.

2. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 132.

3. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 507 - 508.

4. Hồ Chí Minh. Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr.152-153.

5. Hồ Chí Minh. Sđd, NXB. Quân đội nhân dân, 1970, tr.20.

6. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.20.

7. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t.5, tr.132.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 07:47:06 PM
        "Học tập được kinh nghiệm của thế giới là nếu không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức, Việt Minh đề ra nhiệm vụ tổ chức các đội du kích vũ trang. Ngay từ năm 1944, Việt Minh đã bắt đầu cuộc CHIẾN TRANH DU KÍCH chống lại quân đội Nhật và Pháp…Các đội du kích phát triển nhanh chóng và trở thành QUÂN ĐỘI GIẢI PHÓNG nhân dân (Vệ quốc quân). Việt Bắc… trở thành một thứ "đất thánh" của cuộc cách mạng dân tộc...”(77). Người viết bài "Việt Bắc quyết thắng", trong đó có đoạn: "Việt Bắc sẵn điều kiện để đánh thắng. Điều kiện tuy sẵn, nhưng phải chuẩn bị đầy đủ mới thắng được... Chúng ta có ba lực lượng quân sự: Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Vệ quốc quân phải lo đánh trận để tiêu diệt địch... Bộ đội địa phương phải phụ trách đánh những trận vừa vừa và phải chuẩn bị chiến trường sẵn sàng khi vệ quốc quân đánh trận to ở địa phương mình. Dân quân du kích là một lực lượng rất rộng rãi, khắp cả nước... Nó như một tấm lưới rộng mênh mông, bao trùm cả nước. Hễ giặc Pháp và Việt gian bước chân đến đâu, là mắc phải lưới đó ngay"1.
       
        Phương pháp luận lãnh đạo chiến tranh của Hồ Chí Minh là kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Trong quá trình phát triển cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi bộ đội chủ lực là lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh chính quy, là lực lượng cơ động trên những địa bàn quan trọng của các chiến trường. Nó có nhiệm vụ tiêu diệt quân chủ lực của địch, cùng với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân đẩy mạnh cuộc đấu tranh mọi mặt trong vùng địch kiểm soát, giáng những đòn tiêu diệt lớn vào lực lượng quân sự của địch, giải phóng đất đai, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, đánh bại ý chí xâm lược của địch, giành thắng lợi triệt để cho chiến tranh.
       
        Năm 1949, Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập Bộ đội địa phương. Tháng 8 năm đó Đại đoàn 308, đại đoàn chủ lực đầu tiên được thành lập, có nhiệm vụ đi tiên phong trên con đường vận động chiến. Tiếp đó, năm 1950, Đại đoàn 304, 312, 316 và các trung đoàn độc lập ra đời. Đây là dấu hiệu khẳng định sự phát triển từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, tiến tới thực hành đánh tiêu diệt chiến lược quân địch. Để tiêu diệt được Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (19t54), nơi địch có 17 tiểu đoàn quân tinh nhuệ thuộc 3 binh đoàn của Pháp, quân ta cũng phải sử dụng tập trung một lực lượng gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc 4 đại đoàn chủ lực.
       
        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi hoạt động của quân và dân ta trên các chiến trường đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, ta đã khẩn trương tích cực xây dựng lực lượng,. ra sức tạo ra một lực lượng cơ động mạnh tạo nên so sánh lực lượng có lợi cho ta.
       
        Từ sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (khóa III), ta ra sức tạo thế và lực, vừa tác chiến vừa xây dựng và tạo thời cơ mới.
       
        - Năm 1973: Thành lập Quân đoàn 1.

        - Năm 1974 : Thành lập Quân đoàn 2, Quân đoàn 4.

        - Năm 1975: Thành lập Quân đoàn 3.
       
        Bằng cách binh đoàn chủ lực, trong chiến cuộc mùa Xuân năm 1975, ta đã có đủ sức căng lực lượng cơ động của địch ra hai đầu Nam-Bắc chiến tuyến. Quân đoàn 2 kìm giữ địch ở Tây Bắc Huế-Đà Nẵng và Quân đoàn 1 là tổng dự bị chiến lược ở Bắc sông Bến Hải. Quân đoàn 4 kìm giữ địch ở Bắc Sài Gòn, buộc địch phải lâm vào thế phòng ngự bị động và sơ hở ở Tây Nguyên. Sau đó ta đã sử dụng quả đấm chủ lực mạnh, giáng một đòn chí mạng vào nơi hiểm yếu của địch ở Buôn Ma Thuột. Địch ở Tây Nguyên bị phá vỡ, tạo ra một cục diện chiến tranh mới, đẩy địch vào thế hỗn loạn về chiến lược và đi xuống con đường suy sụp nhanh chóng.
       
        Kế tiếp chiến thắng Tây Nguyên, với sức mạnh của năm quân đoàn, ta đã liên tục tiến công và tiến công tiêu diệt chiến lược Bộ thống soái của địch ngay tại sào huyệt của chúng ở Sài Gòn.
       
        Phải đánh tiêu diệt chiến lược mới giành được thắng lợi; tiêu diệt chiến lược nhỏ thì giành thắng lợi nhỏ, tiêu diệt chiến lược lớn thì giành thắng lợi lớn; tiêu diệt chiến lược cả Bộ thống soái của địch mới giành được thắng lợi triệt để, trọn vẹn, kết thúc chiến tranh.
       
        Đánh tiêu diệt là nguyên tắc chỉ đạo tác chiến dược Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người dạy: "Trừ diệt lực lượng của địch là điều kiện có thể quyết định thắng lợi. Đối với một người, làm thương tổn mười ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn một ngón tay. Về quân sự cũng vậy, đánh bại mười sư đoàn không bằng trừ diệt một sư đoàn. Dù ở thế thủ hay thế công ta cũng phải dùng mọi phương pháp tiêu diệt lực lượng của địch quân"2.

---------------
1. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3 - C7/21

2. Xem: "Quyết tâm chiến đấu vì chính nghĩa", Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 07:58:04 PM
        Khi ta tiêu diệt chiến lược tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (1954) thì mới giành được thắng lợi giải phóng một nửa đất nước. Đến mùa Xuân 1975, kế tục sự nghiệp của Hồ Chí Minh và thực hiện tư tưởng quân sự của Người, ta đã tiến công tiêu diệt chiến lược Bộ thống soái của địch ngay tại sào huyệt của chúng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thì đã giải phóng được hoàn toàn đất nước và thống nhất Tổ quốc.
       
        Từ các hiện tượng chiến tranh cổ kim, Đông Tây, chúng ta đã tìm ra được quy luật của chiến tranh.
       
        Quy luật của chiến tranh là phải đánh tiêu diệt chiến lược thì mới giành được thắng lợi. Tiêu diệt chiến lược là tiêu diệt cả lực lượng chiến lược và giải phóng địa bàn chiến lược. Phải tiêu diệt lực lượng chiến lược, vì lực lượng là công cụ chủ yếu để tiến hành chiến tranh; giải phóng địa bàn chiến lược là để giữ vững thành quả của thắng lợi và đập tan ý chí của kẻ địch.
       
        Trong lịch sử Việt Nam, Lý Thường Kiệt có tiêu diệt được Quách Quỳ thì mới giữ vững được Thăng Long; Trần Hưng Đạo khi chưa tiêu diệt được lực lượng chiến lược của địch, nên phải tạm thời rút khỏi Thăng Long. Đến khi Trần Quang Khải tiêu diệt Thoát Hoan, Trần Nhật Quật tiêu diệt Toa Đô thì nhà Trần mới giải phóng được đất nước. Lê Lợi-Nguyễn Trãi có tiêu diệt được Liễu Thăng thì trong đàm phán mới buộc được Vương Thông rút quân về nước.
       
        Với tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở vào giai đoạn quyết liệt nhất, Người cũng đã sớm đề ra chiến lược để đi đến kết thúc chiến tranh là: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Thực hiện tư tưởng của Người, quân và dân ta đã thực hành đánh tiêu diệt quân Mỹ có ý nghĩa chiến lược như trong năm 1972 ở Lộc Ninh, Kontum, Quảng Trị, giải phóng được một số địa bàn có tính chất chiến lược. Cùng với việc tiêu diệt chiến lược trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", diệt B52 ở Hà Nội và Hải Phòng, tuy chưa tiêu diệt chiến lược hoàn toàn đối với quân Mỹ, nhưng ta đã buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa ri và rút quân. Giai đoạn: "Đánh cho Mỹ cút" về cơ bản đã thực hiện được.
       
        Trong chiến cuộc mùa Xuân 1975, ở chiến dịch Tây Nguyên, quân ta có tiêu diệt được Quân đoàn 2 ngụy thì mới giải phóng được Tây Nguyên. Quân đoàn 2 và Quân khu 5 của ta có tiêu diệt được Quân khu I của định thì mới giải phóng được Huế-Đà Nẵng. Cuối cùng trận quyết chiến chiến lược trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ta có tiêu diệt chiến lược lực lượng địch ở Sài Gòn gồm toàn bộ Bộ thống soái của ngụy thì mới giải phóng hoàn toàn đất nước, hoàn thành vẻ vang chiến lược mà Hồ Chí Minh đề ra: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Câu nói đó là văn chương triết lý dân dã nhưng nó còn bao hàm cả một đường lối chiến lược và phương thức tiến hành chiến tranh cho một dân tộc trước họa xâm lăng của kẻ thù mạnh hơn mình.
       
        Còn trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai Hồng quân Liên Xô không những tiêu diệt chiến lược để giải phóng hoàn toàn Liên Xô mà còn đánh sang cả nước Đức, đánh đến tận sào huyệt của Hitle, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít, giải phóng một nửa nước Đức và Châu Âu. Khởi nghĩa trong chiến tranh cũng phải tuân theo quy luật tiêu diệt chiến lược. Khởi nghĩa cũng phải có tiêu diệt chiến lược và tiêu diệt được cơ quan đầu não của địch thì khởi nghĩa mới giành được thắng lợi. Vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cổ kim, Đông Tây để tìm ra quy luật.
       
        Qua lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên, bằng thực tiễn đấu tranh cách mạng và chỉ đạo chiến tranh, Hồ Chí Minh đã khái quát thành lý luận. Cuộc chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân chính nghĩa thống xâm lược, để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đó là cuộc chiến tranh tiến bộ được toàn thể nhân dân trong nước và loài người có lương tri tiến bộ ủng hộ. Sức mạnh của cuộc chiến tranh dó là sức mạnh chính trị, tinh thần của sự đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh dạo thống nhất của Đảng và Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
       
        Chiến tranh nhân dân là chiến tranh của toàn dân, nên lực lượng vũ trang phải là ba thứ quân với phương pháp luận lãnh đạo chiến tranh và kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Phải tiếp thu truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Vận dụng nghệ thuật quân sự với tinh trần tích cực chủ động và sáng tạo. Muốn thắng địch thì phải tiêu diệt địch, tiêu diệt chiến thuật, chiến dịch và chiến lược. Cuối cùng phải tiêu diệt chiến lược mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Tiêu diệt chiến lược chủ yếu là tiêu diệt đạo quân chiến lược của địch. Vì nó là công cụ chủ yếu của chiến tranh. Tiêu diệt đạo quân đó là tiêu diệt cả Bộ chỉ huy, Bộ thống soái của nó, đầu não đội quân đó thì thắng lợi mới hoàn toàn triệt để như đại thắng mùa Xuân 1975. Nước ta là một nước nhỏ, quân đội nhỏ chống lại một quân đội lớn đi xâm lược, phải qua một quá trình đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ rồi mới đến tiêu diệt lớn, tiêu diệt chiến lược hoặc tiêu diệt có ý nghĩa chiến lược như chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) và ba đòn chiến dịch trên bộ Quảng Trị-Tây Nguyên-Đông Nam Bộ tạo thành một đòn chiến lược trên bộ. Cùng với một đòn chiến lược trên không, "đòn Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội, Hải Phòng đánh bại B52 của địch năm 1972 thì mới giành được thắng lợi. Lịch sử chiến tranh đánh đuổi địch ra khỏi đất nước của Ngô Quyền-Lý Thường Kiệt-Trần Hưng Đạo-Quang Trung là như vậy.
       
        Có đánh bại ý chí xâm lược của địch bằng việc tiêu diệt Liễu Thăng thì Lê Lợi-Nguyễn Trái mới ký hòa ước cho Vương Thông rút quân về nước. Hồ Chí Minh sau khi tiêu diệt Pháp ở Điện Biên Phủ thì mới ký hòa ước cho Pháp rút khỏi miền Bắc nước ta. Thắng lợi cao nhất là việc Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai đánh sang tận nước địch, bắt địch phải đầu hàng. Còn trong thời đại Hồ Chí Minh, quân dân ta đã đánh vào Sài Gòn tiêu diệt chiến lược và buộc Bộ thống soái địch phải đầu hàng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:01:51 PM
       
       
III. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ: CÁCH ĐÁNH THÍCH HỢP-MỘT PHƯƠNG CHÂM CHIẾN LƯỢC TRONG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG VÀ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG
       
        Hồ Chí Minh từ một người con yêu nước của dân tộc Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, trở thành nhà cách mạng kiệt xuất, nhà văn hóa lớn của thời đại. Trí tuệ của Người là sự kết tinh truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, là sự kết hợp những tinh hoa từ các nền văn hóa Đông-Tây, Kim-Cổ.
       
        Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình". Người quyết tâm thực hiện cho bằng được ý nguyện là: "Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập"1.
       
        Từ đó tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được hình thành trên những cơ sở lý luận về thực tiễn cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết: "Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trong các tác phẩm quân sự, các bài nói, bài viết của Người, mà còn thể hiện trong thực tiễn chỉ đạo khởi nghĩa và chiến tranh, trong đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng và Nhà nước do Người lãnh đạo . Tư tưởng ấy còn được thể hiện trong lực lượng quân sự hết sức phong phú, sáng tạo của các đồng chí lãnh đạo của Đảng-những học trò trung thành của Người và của đồng bào và chiến sĩ cả nước trong cuộc chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của dân tộc"2.
       
        A. KHỞI NGHĨA VŨ TRANG
       
        Từ thực tiễn cách mạng, tuân theo luận điểm Lênin: "Không có lý luận cách mạng, thì không có phong trào cách mạng", nên ngay khi về nước năm 1941, đồng thời với việc lãnh đạo cách mạng, Người đã trực tiếp biên soạn và chỉ đạo biên soạn nhiều tác phẩm lý luận, nghệ thuật quân sự có giá trị nhằm bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong buổi đầu cách mạng.
       
        "Con đường giải phóng” là tác phẩm đầu tiên trong số đó, Người xác định cuộc khởi nghĩa vũ trang sẽ nổ ra ở Việt Nam phải là một cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc, do toàn dân tiến hành, lấy công nhân và nông dân làm lực lượng chủ yếu.
       
        "Con đường giải phóng" đặt vấn đề tổ chức mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất rộng rãi kể cả ba nước Đông Dương cùng chống kẻ thù thung và nêu lên những kinh nghiệm khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử nước ta và cácnước trên thế giới.
       
        Trong tác phẩm này, Người nói rất rõ rằng: Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy, dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền. Đó là cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc làm quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại. Tác phẩm cũng nêu lên những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc ở nước ta khi:
       
        1. Lực lượng đế quốc thống trị lung lay bối rối không đủ sức giữ địa vị của chúng như trước nữa.
       
        2. Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng. Dân chúng đói khổ, căm tức tới cực điểm, quyết hy sinh nổi dậy tranh đấu với đế quốc đến cùng vì hiểu rằng ngồi yên cũng chết.
       
        3. Có một chính Đảng cách mạng lãnh đạo, chính Đảng ấy phải có một đoàn thể cách mạng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy.
       
        Trong tác phẩm, Người còn phân tích về những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương trong lúc này là chưa chín muồi.
       
        Vừa chuẩn bị lý luận, vừa tiến hành lãnh đạo tổ chức cách mạng, tháng 5-1941, Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị lần thứ tám của Đảng. Hội nghị đã đề ra chiến lược cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này là chuyển hướng từ hình thức đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh vũ trang và chuẩn bị lực lượng cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang.
       
        Để "tạo lực" và "tạo thế" cho cuộc khởi nghĩa vũ trang trong cả nước, theo đề nghị của Người ngay sau Hội nghị lần thứ tám, ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Các tổ chức trong Mặt trận đều tổ chức thành hội cứu quốc, trong đó có Đội tự vệ cứu quốc Việt Nam. Đây là nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng, là một trong những sáng tạo kiệt xuất của Người về vấn đề "tạo lực" cho sự nghiệp khởi nghĩa vũ trang của dân tộc.
       
        Chính Người đã trực tiếp chỉ đạo việc phát triển Mặt trận Việt Minh và phong trào tự vệ cứu quốc. Đội du kích Bắc Sơn được thành lập trước đó, nay đổi tên thành Cứu quốc quân cho phù hợp với nhiệm vụ mới. Đến cuối năm 1941, Mặt trận Việt Minh và các đội vũ trang được thành lập ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn và từng bước phát triển ra khắp các địa phương trong cả nước.

-----------------
1. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, 1995, t. 1 , tr. 192.

2. Võ Nguyên Giáp. Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.192.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:07:17 PM
        Do nhu cầu cấp thiết về vấn đề huấn luyện quân sự, trong thời kỳ này, Người đã tự tay biên soạn hoặc chỉ đạo biên soạn một số tài liệu như: Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Trung Hoa, Kinh nghiệm du kích Pháp, Phép dùng binh Tôn tử, Sách dạy làm tướng của Khổng Minh. Đây là những tác phẩm lý luận cơ bản đầu tiên xác định chiến thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang là chiến thuật du kích và lực lượng vũ trang nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
        
        Từ những tổ chức quần chúng rộng rãi, vững chắc mà xây dựng và phát triển thành những tổ chức chính trị, bán vũ trang và vũ trang với phương châm "người trước rồi súng sau”, "chính trị trọng hơn quân sự". Sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22-12-1944, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này, là một bước nhảy vọt về chất để “tạo lực" cho cách mạng Việt Nam, đã được thực hiện phương châm ấy.
        
        Song song với việc "tạo lực", việc "tạo thế" xây dựng căn cứ địa cách mạng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược quân sự Hồ Chí Minh. Khi bàn về vấn đề này, Người nói: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang cách mạng, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ"1.
        
        Trong tác phẩm "Con đường giải phóng", Người cũng chỉ rõ: Khi du kích đã khá đông thì phải có căn cứ địa... Du kích dùng nơi đó làm chỗ đứng chân, tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng. Từ đó Đảng ta đã ra sức xây dựng các căn cứ địa Việt Bắc, các khu du kích và căn cứ du kích trong đó đường giao thông liên lạc giữa các căn cứ địa phải ra sức giữ cho vững. Những căn cứ địa ấy là những bàn đạp cho cuộc tổng khởi nghĩa. Đây là nhân tố bảo đảm cho cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi.
        
        Vừa "tạo lực", vừa "tạo thế" trong tiến trình phát triển của cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng "thời cơ". Có những thời điểm khá thuận lợi như đầu năm 1943, quân đội Xô viết thắng lợi ở Stalingrat và chuyển sang phản công trên khắp các mặt trận; mâu thuẫn Nhật-Pháp ngày càng trở nên gay gắt; nhân dân ta bị hai tầng áp bức bóc lột, oán ghét Nhật-Pháp, tinh thần cách mạng ngày càng sôi sục. Trước tình hình đó Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng có nhận định: lúc này mới chỉ ở “vào tình thế khẩn cấp" và "chuẩn bị khởi nghĩa". Đến mùa Đông năm 1944, sau thắng lợi ở Vox Nhai, Cao-Bắc-Lạng sẵn sàng phát động khởi nghĩa vũ trang. Đang trong tình trạng căng thẳng và chờ đợi ngày giờ phát động cuộc chiến tranh du kích, thì Hồ Chí Minh về nước.
        
        Sau khi kiểm tra tình hình Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa vì: "Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao-Bắc-Lạng mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong toàn quốc, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục”, "Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự". Chủ trương sáng suốt của Người đã tránh cho Cao-Bắc-Lạng những tổn thất lớn.
        
        Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới đang bước vào giai đoạn cuối, Nhật đảo chính Pháp. Tiếng súng đảo chính của phát xít Nhật vừa nổ thì lập tức tiếng súng chống Nhật cứu nước của các lực lượng vũ trang và nhân dân cũng vang lên. Đảng ta kịp thời ra Chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát động cao trào chống Nhật, cứu nước làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa một khi có đủ điều kiện.
        
        Trong lúc này, chiến tranh thế giới sắp đến hồi kết thúc. Phát xít Đức đầu hàng Đồng minh. Hồng quân Liên Xô tiến công vào đội quân Quan Đông của Nhật; sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn tính từng ngày. Những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho tổng khởi nghĩa được đề ra trong tác phẩm "Con đường giải phóng" đã có. Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo trong bối cảnh Người bị bệnh nhưng hết sức khẩn trương. Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp rằng: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"2., "Tích cực thì nắm được thời cơ, không tích cực thì thời cơ không chờ mình"3. Hồ Chí Minh đã vận dụng "lực-thế" và đặc biệt lúc này là nghệ thuật "thời cơ” một cách tài tình, nên đã đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thắng lợi nhanh chóng, ít tổn thất. Người theo dõi rất sát tình hình, ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô phát động cuộc tiến công đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu. Ngày 13-8-1945, Hồng quân đánh vào trung tâm Mãn Châu. "Thời cơ đã chín muồi", biết quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh vào 12 giờ trưa ngày 13-8-1945 thì 11 giờ đêm hôm đó Người đã cùng với Tổng bộ Việt Minh phát lệnh khởi nghĩa của ủy ban khởi nghĩa.

        Cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra khi quân Nhật đã mất hết tinh thần và sức chiến đấu, và lúc đó quân Đồng Minh chưa kịp tiến vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Đó là thời cơ thuận lợi nhất mà Người đã chọn để đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công và lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi quân Đồng minh vào. Nếu khởi nghĩa nổ ra chậm, khi quân Đồng minh đã vào và Chính phủ thân Đồng minh được lập ra thì ta khó bề xoay sở. Sau ngày 2-9-1945, khi quân Đồng minh vào ta đã có vị thế là một quốc gia độc lập-nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Chính phủ ra đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật như những khách mời tạm thời. Vận dụng thế thời trong tổng khởi nghĩa của Cách mạng Tháng Tám 1945 thật là tuyệt vời.
       
        Đó là nghệ thuật "thế", "thời" trong tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám. Thắng lợi của tổng khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám chứng minh sự sáng tạo, đúng đắn về nghệ thuật tạo lực-tạo thế và sự lựa chọn thời cơ của Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc. Thể hiện rõ phương pháp luận lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang là:
       
        - Đảng lãnh đạo trực tiếp là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.
       
        - Lấy dân làm gốc, đoàn kết toàn dân xung quanh mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy sức mạnh của toàn dân.
       
        - Chính trị quyết định đường lối quân sự, dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng.
       
        - Nắm vững thời cơ trên nguyên lý "lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều'.
       
        - Vận dụng nghệ thuật "thế, thời" một cách chuẩn xác.

-------------
1. Xem Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.367.

2. Võ Nguyên Giáp. Những chặng đường lịch sử, NXB Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 203.

3. Báo Nhân dân, ngày 8-5-1960.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:15:18 PM
               
        B. CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG
       
        1. Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược
       
        Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời không được bao lâu, thì buộc phải đứng trước những cơn thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Thực dân Pháp theo chân Đồng minh lăm le xâm lược nước ta một lần nữa. Cả nước ta lại phải bước vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp lần thứ hai. Khi quân và dân ta thực hiện trường kỳ kháng chiến, thì những vấn đề về lý luận quân sự về khởi nghĩa vũ trang vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Hồ Chí Minh tiếp tục viết những vấn đề lý luận, phương pháp luận về chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc để trang bị cho đảng viên, cán bộ và quần chúng. Ngoài các lời kêu gọi nhân dân, thư gửi đồng bào… Người có những chỉ đạo sát sao về những hành động cụ thể chống lại kẻ thù xâm lược, Người còn dành nhiều thời gian và tâm sức viết những vấn đề làm cơ sở tư tưởng và lý luận cho chiến lược kháng chiến. Trong số đó phải kể đến những luận văn quân sự của Hồ Chí Minh đăng trên báo "Cứu quốc" với các bút danh Q. Th và QT nhan đề như: "Hình thức chiến tranh ngày nay", "Chiến đấu vì chính nghĩa", "Chiến lược của quân ta và Pháp", "Phương pháp tác chiến"... Các luận văn quân sự này giới thiệu những tinh hoa quân sự thế giới, đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn của quân và dân ta trong hơn một năm kháng chiến và kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc. Chính những tác phẩm này đã bổ sung kho tàng lý luận và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
       
        Trong các bài báo đó, về tính chất của chiến tranh, Hồ Chí Minh phân tích: "Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau cả ở trên không, cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được"1. Về chiến lược quân sự, Người nhận định chiến lược của Pháp là chiến lược tiến công bằng sức mạnh của vũ khí và phương tiện hiện đại, đánh chớp nhoáng để chiếm cứ thật nhanh, hòng "nuốt trôi nước ta". Chúng định tiêu diệt quân chủ lực ta, ra tay khủng bố, chém giết, hòng bắt ta phải khuất phục. Bởi vậy, vấn đề quan trọng hơn hết là "làm thế nào bảo tồn cho được lực lượng, để chờ thời cơ diệt địch quân". 
       
        Người viết Chỉ thị "Công việc khẩn cấp bây giờ" để chỉ đạo kháng chiến cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân: "Ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: Cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ.
       
        Dù địch thua đến 99%, nó cũng ráng sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam, thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang… Nhưng ta phải hiểu: Lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn "chớp nhoáng" đó, thì "địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng"2.
         
        Để giải đáp những vấn đề chiến lược quân sự trước toàn dân, Người nói: "Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại. Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến, để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn, cho đến ngày tổng phản công, để quét sạch lũ chúng"3. Phân tích bằng hình tượng: “hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai hòn cùng vỡ, hai cái trứng cùng chọi nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái cứng một cái mềm thì khi chọi nhau một cái mới còn… Pháp có xe tăng đại bác, thì ta phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì ta kéo dài. Nhất định ta thắng!”4. "Địch có tàu bay, tàu bò, tàu thủy nhưng nó có chừng nên nó muốn đánh chớp nhoáng. Sét đánh không trúng, chớp soi không thấu thì hết cơn sấm sét là yên. Nhưng trong khi sấm sét thì ghê gớm lắm. Nó có thể dùng viện binh để đánh ta. Nó có thể đánh tràn, nhưng số viện binh đó không thể tập trung vào một nơi… Nếu nó rải từ Nam Quan đến Cà Mau cũng chẳng làm gì được ta, ta càng dễ đánh... Ta trường kỳ kháng chiến thì ta thắng lợi… nó lấy vũ lực ta không sợ. Nó lấy chính trị, ta không mắc mưu. Nó lấy kinh tế phong tỏa thì ta lấy kinh tế ta đánh nó. Ta tăng gia sản xuất. Ta lợi hơn nó là nó không thể kéo dài được, mà ta thì có thể kéo dài"5.
       
        Bằng những hình tượng giản dị, lời nói dân dã, Người đã nhanh chóng truyền cảm được tư tưởng kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện đến mọi tầng lớp nhân dân để từ đó chuyển thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.
       
        Trường kỳ kháng chiến theo quan điểm Hồ Chí Minh là lấy thời gian để chuyển hóa lực lượng kiến tạo thời cơ trong sự vận động, không phải là kéo dài chiến tranh. Thực hiện nguyên lý truyền thống của dân tộc là: lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều.

------------------
1. Q.Th: "Hình thức chiến tranh ngày nay", Báo Cứu quốc, ngày 20-9-1946

2. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Sđd, t. 4, tr. 433.

3. Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.

4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 55-56, 58.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:20:27 PM
        Người giải thích: "Kháng chiến phải trường kỳ, vì đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài và phải có sự chuẩn bị về toàn diện của toàn dân. Chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ rằng: giặc Pháp, so với ta, là một kẻ địch khá mạnh, chúng lại có Mỹ và Anh giúp. Giặc Pháp là "vỏ quít dày", ta phải có thời gian để mà mài "móng tay nhọn", rồi mới xé toang xác chúng ra"1. Trong thời gian này, Người trú ở Hang Bòng (Tuyên Quang) để lãnh đạo cuộc kháng chiến của dân tộc. Khác với các nhà hiền triết, Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp thế giới vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng cam cộng khổ cùng dân tộc để làm cách mạng.Với nhãn quan chiến lược sâu sắc, Người đã cùng với Trung ương Đảng đề ra đường lối kháng chiến ngay từ những ngày đầu đầy cam go với một niềm tin tất thắng. Đức thánh hiền Hồ Chí Minh cũng giống như các đức thánh hiền khác nhưng Người còn chủ trương phải đấu tranh, dấn thân vào cuộc đấu tranh, cùng nhân dân đấu tranh và lãnh đạo nhân dân đấu tranh để xóa bỏ mọi áp bức bóc lột, đem lại tự do hạnh phúc thực sự cho nhân dân.
       
        Người tin tưởng: "Chiến lược ta đúng. Ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà”.
       
        "Đảng và Chính phủ ta đã nhận cuộc kháng chiến có ba giai đoạn:
       
        - Giai đoạn thứ nhất, thì ta cốt giữ vững và phát triển chủ lực. Giai đoạn này từ ngày 23-9-1945 đến hết chiến dịch Việt Bắc, Thu-Đông 1947.
       
        - Giai đoạn thứ hai, thì ta tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Giai đoạn này từ sau chiến dịch Việt Bắc 1947 đến nay.
       
        - Giai đoạn thứ ba, là tổng phản công"2.
       
        Từ cách phân chia thành các giai đoạn như vậy, Hồ Chí Minh chỉ đạo kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng, đảm bảo tính hiện thực, chắc thắng như lời khẳng định của Người: "Kháng chiến ắt phải gay go, phải trường kỳ, nhưng chắc chắn sẽ thắng lợi"3.
       
        Người phân tích về những giai đoạn đầu:
        "1. Trong giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công này, du kích chiến là chính. Vì vậy, dân quân phải phát triển mạnh, nhất là trong vùng địch tạm chiếm.
       
        2. Kháng chiến của ta là nhân dân chiến tranh. Vì vậy dân quân du kích cần phải hoạt động mạnh, phát triển mạnh, và phối hợp chặt chẽ với Vệ quốc quân"4.
       
        Người căn dặn: "Trường kỳ kháng chiến có liên hệ mật thiết đến việc chuẩn bị tổng phản công. Kháng chiến trường kỳ nên chuẩn bị tổng phản công cũng phải trường kỳ"5.
       
        Trong mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến Người vẫn thường nhắc nhở, động viên, đôn đốc và phân tích: "Cuộc thắng lợi to về ngoại giao đầu năm và cuộc thắng lợi to về quân sự cuối năm 1950 là chứng cớ rõ rệt.
       
        Đã tổng phản công chưa?
       
        Chúng ta vẫn đang chuyển mạnh sang tổng phản công chứ chưa phải đã thực hiện tổng phản công. Phải hiểu rõ chữ chuẩn bị chuyển mạnh sang…
       
        Khi nào chuẩn bị thật đầy đủ thì sẽ tổng phản công. Chuẩn bị càng đầy đủ, thật đầy đủ, thì thời giờ tổng phản công càng mau chóng, tổng phản công càng thuận lợi. Chúng ta không nên hấp tấp, vội vàng, không nên nóng nảy, sốt ruột "6.
       
        Đứng trước một cuộc chiến lớn của dân tộc như vậy, trí tuệ của Người luôn tỏa sáng, vững vàng đem lại niềm tin cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiến lên phía trước, Người căn dặn:
       
        "Quân đội, nhân dân, cán bộ, tất cả mọi người, tất cả mọi ngành đều phải ra sức thi đua chuẩn bị cho đầy đủ. Bao giờ chuẩn bị đầy đủ thì chúng ta sẽ tổng phản công và lúc đó tổng phản công nhất định sẽ thắng lợi"7.
       
        Người tin tưởng rằng, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi vào giai đoạn quyết định-giai đoạn tổng phản công. Nhưng đến khi nào thì tổng phản công. Đó là vấn đề tạo lực tạo thế và chọn thời cơ trong phương pháp luận lãnh đạo chiến tranh của Hồ Chí Minh.
       
--------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.6, tr. 164-165.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.6, tr. 164-195.

3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 313. 598.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6. tr. 65.

6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr.165-166.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:26:21 PM
       
        Tạo lực
       
        - Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân.
       
        Dân quân tự vệ lúc đầu là tổ chức vũ trang quần chúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc xây dựng và chỉ đạo, đến tháng 3-1947 được tổ chức lại trở thành lực lượng vũ trang địa phương. Đến cuối năm 1947 lực lượng dân quân tự vệ đã phát triển tới gần ba triệu người.
       
        Bộ đội địa phương chính thức được hình thành từ cuối năm 1948 theo chỉ thị "Xây dựng bộ đội địa phương và dân quân" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, sau đó là Sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương với quy mô cấp đại đội và tiểu đoàn. Bộ đội địa phương là lực lượng cơ động của địa phương và là nguồn bổ sung xây dựng bộ đội chủ lực.
       
        Từ cuối năm 1949, Đại đoàn 308 được thành lập cùng với các Trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ, các trung đoàn trực thuộc liên khu. Bước vào Thu Đông 1950 ta có thêm Đại đoàn 304 và cho đến cuối 1951 ta xây dựng thêm năm đại đoàn chủ lực nữa. Đây là bước phát triển có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta.
       
        - Dựa vào dân, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi thi đua ái quốc để biến ưu thế chính trị, tinh thần thành lực lượng vật chất, biến đường lối quyết tâm kháng chiến của Đảng thành hành động chiến đấucách mạng của toàn dân tộc.
       
        Tạo thế
       
        - Ra sức xây dựng hậu phương, căn cứ địa ngày càng vững mạnh, toàn diện. Biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta.
       
        - Liên minh chặt chẽ với Lào và Campuchla, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế.
       
        - Xây dựng cách đánh, làm thất bại từng bước chiến lược quân sự của địch.
       
        Sau thắng lợi của cuộc phản công lớn ở Việt Bắc(1947) đánh bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của quân địch, vùng sau lưng chúng bộc lộ nhiều sơ hở, chúng ta đã ra sức đẩy mạnh chiến tranh du kích tại đó, khiến cho chúng lâm vào thế "tiến thoái lưỡng nan" ngày càng bị sa lầy sâu hơn trong cuộc chiến tranh xâm lược.
       
        Đến chiến dịch biên giới 1950, ta đã từng bước giành được thế chủ động mở cuộc tiến công quy mô cấp đại đoàn (sư đoàn) đạt được hiệu quả tiêu diệt địch lớn giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Tại chiến dịch này, Hồ Chủ Tịch đã trực tiếp tham gia chỉ đạo và vạch ra ý đồ tác chiến là "Nhử thú dữ vào tròng-khép vòng lưới thép" tiêu diệt chúng. Nhờ cách đánh hay, mưu kế giỏi nên ta đánh Đông Khê mà được cả Thất Khê và Cao Bằng, Lạng Sơn. Hệ thống phòng tuyến đường số 4, vành đai khép chặt biên giới mà địch đã dày công xây dựng bị phá vỡ tan tành. Từ đó, căn cứ địa cách mạng của ta được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa và mở thông ra thế giới.
       
        Sau đó ta mở ba chiến dịch ở vùng trung du và đồng bằng. Tuy dùng lực nhiều, nhưng hiệu quả lại kém là do việc chọn hướng tiến công chiến lược thưa phù hợp . Bởi đấy là nơi địch còn mạnh và chúng phát huy được sức mạnh của hỏa lực và sức cơ động.
       
        Đến năm 1952, cũng chỉ với lực lượng như vậy, nhưng ta chọn hướng núi rừng Tây Bắc để tiến công thì đã mở ra một hướng chiến lược mới, hoàn toàn có thể phát huy được sức mạnh tiềm ẩn của ta về mọi mặt. Ta đã thực hiện đúng phương châm hoạt động: tích cực, chủ động, cơ động linh hoạt và nguyên tắc tác chiến: đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt. Chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh của Bộ chính trị và Hồ Chủ Tịch. Nhờ đó, chiến dịch Tây Bắc 1952 đã thu được thắng lợi to lớn. Uy hiếp tuyến phòng thủ của địch ở Thượng Lào làm cho vành đai phòng thủ của địch ở đồng bằng Bắc Bộ không còn tác dụng ngăn chặn chủ lực ta tràn xuống miền Trung và miền Nam Đông Dương.
       
        Thời cơ
       
        Sau 7 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã bị thiệt hại hơn 30 vạn binh lính và sĩ quan. Các kế hoạch Đácgiăngliơ, Bôla, Pinhông, Rơve, Tátxinhi theo nhau bị phá sản. Người Pháp lúc nào cũng như phải làm lại từ đầu. Cuộc chiến tranh không trận tuyến của thế trận chiến tranh nhân dân làm cho quân Pháp mệt mỏi, suy yếu. Chính phủ Pháp dựng lên đổ xuống 17 lần. Năm viên cao uỷ và sáu viên tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương lần lượt bị triệu hồi. Trước những thất bại liên tiếp ở Đông Dương, dư luận Pháp ngày càng chán ngán cuộc chiến tranh này. Một cuộc thăm dò dư luận (vào tháng 5-1953) cho thấy chỉ có 15% số người được hỏi muốn tiếp tục cuộc chiến tranh, khiến Chính phủ Pháp phải tìm một lối ra trong danh dự.
       
        Ngày 7-5-1953 với sự thỏa thuận của Mỹ, Thủ tướng Pháp Rene Maye đã cử tướng Nava sang cầm đầu đạo quân ở Đông Dương. Cho dù lực lượng quân Pháp có chiếm ưu thế về số lượng so với ta (45 vạn/40 vạn) nhưng bức tranh do viên tư lệnh này vẽ ra là khá ảm đạm và phiêu lưu.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:30:31 PM
       
        Mưu kế
       
        Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc năm 1952 như là điểm then chốt mở ra những khả năng mới về chiến lược. Về phía ta, chủ trương mở nhiều hướng tiến công về phía tây vừa tránh được chỗ mạnh khi địch đang tập trung lực lượng lớn ở đồng bằng, vừa phát huy được sở trường của ta, vừa phân tán lực lượng cơ động của địch. Như vậy ta có thể giải phóng được Tây Bắc, Bắc Tây Nguyên, cùng với bạn giải phóng Thượng-Trung và Hạ Lào, mở rộng căn cứ du kích ở Campuchia, tạo điều kiện tiến quân vào Nam đồng bằng Bắc Bộ tuy không phải tập trung chủ lực lớn cũng có thể giải phóng được.
       
        Về phía địch, mặc dù đang ở trong thế bị sa lầy bị động, nhưng với bản chất ngoan cố và dã tâm sâu xa, thực dân Pháp câu kết với Mỹ vẫn coi Tây Bắc là ngã tư chiến lược quan trọng phục vụ cho chính sách xâm lược của chúng ở Đông Nam Á. Bởi vậy, Nava từ sau khi nhận chức (tháng 12-1953) đã quyết định "tập trung cuộc phòng ngự Tây Bắc vào căn cứ không quân-lục quân Điện Biên Phủ hòng "nghiền nát" chủ lực ta tại đây.
       
        "Tương kế, tựu kế" cuộc đọ đầu lịch sử giữa ta và địch đã diễn ra ở Điện Biên Phủ.
       
        Thế trận
       
        "Căng địch ra mà đánh-trói địch lại mà diệt" đó chính là mưu kế chiến lược, là cách đánh Hồ Chí Minh. Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân, cuộc đấu tranh toàn diện trên các mặt trận sau lưng địch ở Nam Bộ, Trung Bộ đến đồng bằng Bắc Bộ đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng căn cứ du kích và ghìm giữ nhiều lực lượng địch. Đồng thời cuộc tiến công của ta ở các mặt trận Lai Châu Phong Xa Lỳ, Luông Prabăng-Trung-Hạ Lào, đến miền Đông và Đông Bắc Campuchia đã căng địch ra, tiến tới cô lập hơn nữa ở điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Mưu kế này của Hồ Chí Minh được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rõ, Người đã thể hiện rất tài tình và thành công trong việt phân tán lực lượng cơ động của địch; đánh địch trên khắp chiến trường Đông Dương, mà chính tướng Nava cũng phải thú nhận rằng hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp đã bị phân chia ra các chiến trường Đông Dương. Và khi tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng cơ động không thể tập trung lớn để đối phó được nữa.
       
        Dưới lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng" của Hồ Chủ Tịch, quân đội ta đã kiên cường chiến đấu với phương châm "đánh chắc, tiến chắc", bằng các chiến thuật mưu trí dũng cảm, vừa đột phá, vừa vây lấn từng bước tiến tới "trói địch lại mà-diệt". Với niềm tin tưởng sâu sắc, trong tháng 4-1954, khi tiếp nhà báo Bớcsét, Người nói về diễn biến trận Điện Biên Phủ: "lật ngửa chiến mũ trên bàn, đưa mấy ngón tay quanh vành mũ, Người nói: Đây là rừng núi, nơi có lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được, tuy có thể mất một ít thời gian"1.
       
        Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã giáng một đòn quyết định, đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký kết Hiệp định Giơnevơ, giải phóng được một nửa đất nước, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp lần thứ hai ở nước ta. Tuy vậy, Người ra lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ cả nước hãy đề cao cảnh giác, thắng lợi giành được mới chỉ là bước đầu bởi: "Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn chết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí... Chúng ta phải ra sức khôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng của ta về mọi mặt, để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta"2.
       
--------------------
1. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.353.

2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t.7, 1996, tr. 322-323


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:38:20 PM
         
        2. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước
       
        Đấu tranh tổng tuyển cử
       
        Từ sau năm 1954, cách mạng Việt Nam lại bước sang một thời kỳ mới. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và trở thành căn cứ địa chung của cả nước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã lên cao. Nhưng chúng ta lại phải chống lại kẻ thù mới là đế quốc Mỹ được thực dân Pháp tiếp tay và chuyển giao khi cút khỏi Việt Nam. Người chỉ rõ: "Điện Biên Phủ là một thất bại đau đớn cho thực dân Pháp, càng là một thất bại nhục nhã cho bọn can thiệp Mỹ. Vì Mỹ định ra kế hoạch Nava, đã giúp tiền bạc và vũ khí để thực hiện kế hoạch ấy... Thế là Mỹ dần dần trở nên kẻ địch chính của quân đội và nhân dân ta"1, "Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được… Chúng ta phải tỉnh táo đề phòng, phải kiên quyết chống âm mưu đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp vào Đông Dương"2.
       
        Trong bối cảnh lúc này, Người nhắc nhở: “Chúng ta phải cảnh giác đối với âm mưu của bọn gây chiến; vì chủ nghĩa đế quốc hãy còn, thì còn có nguy cơ chiến tranh”, “Trong khi nhận định có khả năng thực hiện thống nhất bằng phương pháp hòa bình ở Việt Nam ta, chúng ta cần phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ một nửa đất nước ta và chúng đang chuẩn bị chiến tranh; vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cờ hòa bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao đề phòng và cảnh giác”3.
       
        Sự thực Mỹ ngày càng can thiệp vào Đông Dương, dùng bọn tay sai phá hoại tổng tuyển cử tự do như Hiệp định Giơnevơ đã quy định. Trước tình hình đó Người viết thư kêu gọi đồng bào cả nước: "Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất"4.
       
        Trước tình hình mới của đất nước, nhiệm vụ mới của cách mạng cũng được đặt ra. Tại Hội nghị Trung ương Đảng, tháng Tám 1955, Đảng ta đã xác định kẻ thù cụ thể và trước mắt của chúng ta là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai và đề ra nhiệm vụ cho cách mạng: "Muốn thống nhất nước nhà điều cốt yếu là phải ra sức bảo vệ miền Bắc đồng thời phải giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam".
       
        Trong lúc ở miền Bắc, nhân dân ta bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, mang lại quyền lợi chính trị, kinh tế thiết thực cho nhân dân lao động, tạo nên nguồn sức mạnh mới, nâng cao tiềm lực kinh tế và quốc phòng thì ở miền Nam, Mỹ-Diệm áp đặt một chế độ thống trị thực dân kiểu mới với những hình thức kìm kẹp, đàn áp hết sức khốc liệt. "Quần chúng không còn con đường nào khác hơn là phải vùng lên, một sống một chết với bọn Mỹ-Diệm", trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng đã họp tháng 1-1959 để quyết định đường lối cách mạng ở miền Nam.
       
        Trong lời khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những ý kiến chỉ đạo: trong khi xác định đường lối và phương pháp cách mạng ở miền Nam, phải đặt miền Nam Việt Nam trong cách mạng chung của cả nước và cách mạng nước ta trong cách mạng thế giới. Người phân tích: Ta giương cao ngọn cờ hòa bình vì rất có lợi cho ta. Nhưng hòa bình không phải là không chuẩn bị lực lượng, nếu ta tổ chức chính trị cho tốt, khi cần vũ trang sẽ không khó5.
       
        Sau đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 đã thông qua Nghị quyết xác định: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ, phương pháp cách mạng miền Nam là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và dự kiến khả năng cách mạng miền Nam có thể phát triển thành một cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ"6.
       
        Như vậy, sau những năm tháng chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh, hướng tới hòa bình thống nhất nước nhà thì đế quốc Mỹ ngày càng lộ rõ bản chất xâm lược phản động của chúng, muốn chia cắt lâu dài đất nước ta, hòng biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của chúng, làm bàn đạp để uy hiếp tiến công miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa, thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng.
       
        Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, cách mạng miền Nam thừa thắng xốc tới đẩy nhanh phong trào Đồng Khởi, miền Bắc tập trung xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa.

------------------
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.287-288, 429-430.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr.198.

5. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.57-96.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 08:53:54 PM
        
        Hai nhiệm vụ chiến lược
        
        Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960) của Đảng, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích của Đại hội Đảng lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà.
        
        Đại hội ra Nghị quyết nhất trí với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng giai đoạn mới: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà1.
        
        Tư tưởng về xây dựng căn cứ địa và hậu phương cách mạng của Hồ Chí Minh cũng đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết của Đảng, thấm nhuần lời dạy của Người: “Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Cho nên mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc và miền Nam"2. Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt trong tiến trình cách mạng thống Mỹ cứu nước nhằm tạo "thế" và "lực" chung cho cả nước, là niềm tin cho tương lai của toàn dân tộc, là vị thế để cho ta có điều kiện giữ vững và tăng cường đoàn kết với các nước anh em, dựa vào phe xã hội chủ nghĩa và phát huy cao nhất những điều kiện thuận lợi của sự ủng hộ quốc tế, của thời đại, để từ đó làm cơ sở vững chắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam, thực hiện cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
        
        Đường lối quân sự của Đảng lấy tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh làm nòng cốt đã đưa "thế" và "lực" của cách mạng Việt Nam lên một sức mạnh mới.
        
        Trên miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu được thực hiện. Nhân dân miền Bắc ra sức phấn đấu đưa đất nước từ một nền nông nghiệp lạc hậu tiến lên nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp, công nghiệp ngày càng hiện đại, văn hóa và kỹ thuật tiên tiến. Về xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Quân đội ta phải là một quân đội nhân dân, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại"3.
        
        "Trang bị kỹ thuật thì phải tiến lên, nhưng sinh hoạt của bộ đội phải gần dân, đừng tách rời dân. Phải nhớ rằng chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, quân đội ta là quân đội nhân dân"4. Người thường nhắc nhở bộ đội luôn luôn nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và mức hiểu biết về khoa học kỹ thuật. Phải giữ gìn kỷ luật một cách rất nghiêm túc. Nâng cao cảnh giác, giữ gìn bí mật, luôn luôn sẵn sàng đập tan mọi âm mưu nham hiểm của định"5.
        
        Đồng thời với việc đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố quốc phòng toàn dân Đảng ta chú trọng tăng cường sức mạnh của lục quân, xây dựng bộ đội phòng không và phát triển không quân, hải quân; xây dựng chính quy hóa, tiến tới hiện đại hóa quân đội; bảo đảm có đầy đủ thành phần các binh quân chủng có sức chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam; trước mắt ra sức bổ sung xây dựng lực lượng vũ trang miền Nam. Để tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam, việc mở đường Trường Sơn và các đoàn vận tải quân sự Bắc Nam (Đoàn 559, 759) được thành lập.
        
        Đánh thắng chiến tranh đặc biệt
        
        Ở miền Nam, nhân dân sôi sục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai với những hình thức hết sức phong phú, sáng tạo. Từ cuộc khởi nghĩa ở Trà Bồng (8-1959) đến "Đồng khởi" ở Bến Tre (1-1960), phong trào khởi nghĩa từng phần đã lan rộng ra vùng rừng núi Tây Nguyên và nông thôn miền Trung Trung Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ sở chính trị, các căn cứ địa ở khắp toàn miền được từng bước xây dựng và phát triển. Từ thế giữ gìn lực lượng, cách mạng miền Nam đã chuyển sang thế tiến công, hình thái khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ đã dẫn tới những cuộc tiến công quân sự ngày càng phổ biến. Lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương đã có bước phát. triển nhảy vọt. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (12-1960) đã tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (8-1961) là bước kế thừa và phát triển những kinh nghiệm đầy sáng tạo từ Mặt trận Việt Minh và Cứu quốc quân trong kháng chiến chống Pháp, đánh dấu sự hình thành hoàn chỉnh sự chỉ huy thống nhất ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

--------------
1. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t.20, tr.57-96.

2. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.21 , tr.486, 495-656.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.189.

4. Hồ Chí Minh: Những bài viết và Nói về quân sự, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, t.2, tr.354.

5. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.181.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:12:45 PM
        Đến lúc này “thế và lực" của cách mạng ở miền Nam không ngừng phát triển mạnh mẽ, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào cuộc khủng hoảng kéo dài có nguy cơ sụp đổ. Với viện trợ Mỹ, chiến lược "tố cộng, diệt cộng" mà bọn tay sai Ngô Đình Diệm đưa ra nhằm đàn áp tiêu diệt phong trào cách mạng của nhân dân ta bị phá sản. Thất bại này đã buộc Aixenhao phải rời khỏi Nhà Trắng, thay vào đó, tập đoàn Kennơđi-Giônxơn thắng cử lên cầm quyền ở Mỹ trong nhiệm kỳ 1961-1964. Hòng cứu vãn cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, Mỹ đã vận dụng "Chiến tranh đặc biệt' ở miền Nam, trong đó dùng quân ngụy làm lực lượng chủ yếu, Mỹ giữ vai trò cố vấn chỉ huy. Từ đó Mỹ-Diệm triển khai thực hiện rộng rãi trên toàn miền Nam chiến tranh gom dân lập "ấp chiến lược” nhằm triệt phá tận gốc cơ sở chiến tranh du kích với kế hoạch bình định trong 18 tháng.
       
        Nhưng trước sức mạnh của cách mạng miền Nam với những chiến thắng Phước Thành (miền Đông Nam Bộ), Tây Nguyên và đặc biệt là chiến thắng Ấp Bắc đã gây một tiếng vang lớn trong phong trào cách mạng của cả nước và trên thế giới. Nhân sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trước khí thế quật cường của nhân dân, thì chiến thuật mới và vũ khí mới nhất của Mỹ cũng phải thua"1. Người biểu dương quân và dân miền Nam kiên quyết chiến đấu để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. Người kêu gọi nhân dân miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chữ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam…  Người nhắn nhủ nhà cầm quyền Mỹ: "Tổng thống Kennơđi phải hiểu lịch sử. Lịch sử đã chứng tỏ rằng một khi dân tộc đã đoàn kết nhất trí đấu tranh giành độc lập tự do, thì nhất định họ sẽ thắng lợi"2.
       
        Trong phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”, từ thực tiễn hoạt động ở các địa phương, ta đã phát hiện ra: ấp chiến lược mạnh ở vòng ngoài, sơ hở ở bên trong, ta đã bí mật đưa lực lượng vào bên trong sẵn sàng phối hợp với lực lượng quân sự, chính trị bên ngoài, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào. Dùng lực lượng vũ trang đánh tiêu diệt đồn bốt và lực lượng càn quét rồi trụ lại tạo điều kiện cho quần chúng nổi-dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Chính phủ Mỹ cảm thấy nguy cơ bị thất bại, đã làm cuộc đảo chính lật đổ anh em Diệm-Nhu với hy vọng ổn đình được tình hình để đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược. Cùng lúc này Kennơđi bị ám sát, Phó Tổng thống Giônxơn lên thay, tiếp tục cuộc "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam và hung hăng hơn nữa là mở rộng các hoạt động phá hoại ra miền Bắc.
       
        Trước tình hình đó, tháng 3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Người chỉ rõ: Mỹ và tay sai đã đến bước đường cùng. Chúng càng đánh càng thua, càng thua càng bí. Người khẳng định cánh giải quyết đúng đắn nhất đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam là chấm dứt sự can thiệp của đế quốc Mỹ, rút quân đội và vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam để công việc nội bộ của miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo tinh thần cương lĩnh của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Người còn nhấn mạnh: nếu đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai liều lĩnh động đến miền Bắc thì chúng sẽ bị thất bại thảm hại. Nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng, các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta, nhân dân Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ sẽ phản đối chúng. Tư tưởng này của Người đã trở thành chân lý mà phải tới 9 năm sau đế quốc Mỹ mới hiểu ra chân lý đó sau những thất bại nặng nề.
       
        Khi Nói chuyện với các nhà báo nước ngoài, Người phân tích: "Đế quốc Mỹ và tay sai" cũng giống như con cáo đã bị mắc kẹt hai chân trong bẫy, mà còn muốn nhảy vào một cái bẫy khác. Về việc "đưa chiến tranh ra miền Bắc", Mỹ và bọn bù nhìn của Mỹ nên hiểu rằng nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có đủ sức mạnh và sẵn sàng chiến đấu, lại có nước bạn hùng cường giúp đỡ và những lực lượng hòa bình trên thế giới nhiệt tình ủng hộ"3. Về cuộc chiến tranh ở miền Nam, Người Nói: "Đế quốc Mỹ xem miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm "chiến tranh đặc biệt" để đàn áp các dân tộc khác. Vì vậy cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi là để tự giải phóng mà cũng là một cống hiến vào cuộc đấu tranh giải phóng của các đần tộc châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và nhất là ở Đông Nam Á, để tự vệ chống lại sự xâm lược của bọn đế quốc hiếu chiến, đặc biệt là đế quốc Mỹ"4.
       
        Đúng như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách của Giônxơn cũng giống như Kennơđi là nhằm giúp đỡ "Chính phủ Việt Nam cộng hòa giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh của họ chống lại mưu đồ của cộng sản được sự chỉ đạo và hậu thuẫn từ bên ngoài"5. Bằng cách tiếp tục tăng cường viện trợ, huấn luyện cho chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt". Tiến xa hơn nữa Giônxơn chính thức phê chuẩn kế hoạch về hoạt động bí mật chống phá miền Bắc. Kế hoạch này bộc lộ rõ sau “sự kiện vịnh Bắc Bộ", để lấy cớ thông qua Quốc hội Mỹ cho phép Giônxơn giành được đặc quyền sử dụng lực lượng Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

---------------
1. TL viết trên Báo Nhân dân, ngày 1-2-1963.

2. Hồ Chí Minh: Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội. NXB. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.252.

3. Báo Nhân dân, ngày 10-6-1964.   

4. Báo Nhân dân, ngày 11-9-1964.

5. Mc Namara: Nhìn lại quá khứ, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.113.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:18:15 PM
        Ngày 5-8-1964 không quân Mỹ mở đầu cuộc tập kích đường không đầu tiên ra miền Bắc đã bị lực lượng phòng không đánh trả đích đáng, bắn rơi 8 máy bay, bắt sống một giặc lái. Sau đó Mỹ đẩy mạnh kế hoạch ném bom đường vận tải Trường Sơn nhằm cắt đứt chi viện của hậu phương lớn, củng cố vị trí Mỹ và phái hữu ở Lào hòng cô lập cách mạng miền Nam.
       
        Trong khi đó trên chiến tranh miền Nam, cuộc tiến công Đông-Quán 1964-1965 và Hè-Thu 1965 mà đỉnh cao là các chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đã làm làm cho chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị phá sản, kế hoạch Giônxơn-Mc Namara bị thất bại. Các đòn tiến công với sức mạnh của ba thứ quân kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đã đánh bại quân ngụy trên khắp chiến trường miền Nam, đẩy chính quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng. Còn ở miền Bắc, các hoạt động phá hoại của không quân Mỹ bị quân và dân ta giáng trả mãnh liệt bắn rơi và bắn hỏng hơn 2000 máy bay Mỹ và bắt sống hàng trăm giặc lái. Đến giữa mùa Hè 1965, mặc dù Mỹ từng bước đẩy cuộc "chiến tranh đặc biệt" tới đỉnh cao, vượt quá mức dự kiến ban đầu, nhưng cũng chỉ chuốc thêm những thất bại ngày càng nặng nề. Để cứu vãn sự thất bại của chiến tranh đặc biệt, Mỹ buộc phải đưa quân Mỹ vào để tiến hành “chiến tranh cục bộ”. Ngày 8-3-1965 Mỹ đã đưa hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ vào Đà Nẵng. Đây là những đơn vị chiến đấu của Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, nhân tố cho một cuộc chiến tranh cục bộ, minh chứng cho sự thất bại của "chiến tranh đặc biệt" đã rõ ràng. Cách mạng miền Nam ngày càng vững vàng trên thế chủ động.
       
        Đánh thắng chiến tranh cục bộ
       
        Qua hơn 6 tháng (từ 5-8-1964) ném bom miền Bắc, Mỹ không ngăn chặn được nhân dân miền Bắc chi viện cho miền Nam. Các cuộc tiến công của quân và dân miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ trận Bình Giã (1964) đến trận Ba Gia, Đồng Xoài thì Mỹ thấy "chiến tranh đặc biệt" thực sự phá sản. Cuộc tiến công Hè-Thu 1965 của quân và dân ta ở miền Nam đã đẩy hơn 50 vạn quân ngụy do Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ huy vào thế suy yếu nghiêm trọng.
       
        Nhưng do bản chất hiếu chiến. vì lợi ích chiến lược toàn cầu, mặc dù bị thua đau, Mỹ vẫn không chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Tập đoàn Giônxơn lại có Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ cho phép Tổng thống có toàn quyền hành dộng, nên dù có khó khăn trên chiến trường Đông Dương, Mỹ vẫn ngoan cố và phiêu lưu, đẩy cuộc chiến tranh đặc biệt" lên mức cao hơn là "chiến tranh cục bộ".
       
        Giônxơn quyết định đưa một bộ phận quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam. mà trước đó ngày 8-3-1965 Mỹ đã đưa hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ vào Đà Nẵng, từng bước đưa quân các nước chư hầu vào tham chiến, đồng thời tăng cường đánh phá miền Bắc bằng hải quân và không quân.
       
        Trước tình hình leo thang chiến tranh cực kỳ nguy hiểm của Mỹ, ngày 2-3-1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 của Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xác định miền Bắc là hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hội nghị quyết định chuyển toàn bộ nền kinh tế trên miền Bắc từ thời bình sang thời chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh ban sắc lệnh luật động viên thời chiến.
       
        Hưởng ứng lời kêu gọi "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cao trào cách mạng tiến công mới bùng lên trong cả nước.
       
        Ở miền Bắc, tâm sức và việc làm của mọi người dân tất cả vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước "mỗi người làm việc bằng hai”, vì miền Nam ruột thịt.
       
        Ở miền Nam "Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt" đã trở thành khẩu hiệu hành động ở khắp các địa phương. Đến giữa năm 1965, khi đạo quân viễn chinh Mỹ hùng hổ kéo vào miền Nam thì ta đang hình thành thế bố trí chiến lược vững chắc và đang ở thế thắng, thế chủ động. Trên cơ sở đó trong Hội nghị Trung ương 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn"1.
       
        Tại Hội nghị, Người Nói: "Chúng ta phải đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ; tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy phá tan ngụy quyền. Cụ thể là: đánh bại ý đồ bình định của địch ở Tây Nguyên, đồng bằng và xung quanh Sài Gòn"2. Người chỉ rõ: "Phải tính mặt nghịch, mặt khó do địch gây ra; đồng thời phải thấy Mỹ cũng có khó khăn không phải muốn làm gì thì làm”3. Đó là vì đối với Mỹ đây vẫn là một cuộc chiến tranh hạn chế, phương châm của ta là "hạn chế cuộc chiến tranh của địch và thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó. Người chỉ thị: “Động viên toàn dân đoàn kết chống Mỹ, biến Nghị quyết của Đảng thành sức mạnh hành động. Quyết đánh Mỹ, ta nhất định thắng"4. Nắm vững tư tưởng tiến công của Đảng và Bác Hồ, các Đảng bộ miền Nam đã hạ quyết tâm: Cứ đánh, dám đánh thì sẽ tìm ra cách đánh để thắng Mỹ.

-----------------
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1988, tr.150.

2, 3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội , 1988, tr. 150.

4. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, quyển 15, Hồ sơ H25, C4/19.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:26:20 PM
        Chiến thắng Núi Thành (28-5-1965), lần đầu tiên, lực lượng vũ trang ta diệt gọn một đại đội Mỹ trên chiến trường miền Nam. Trận Núi Thành là trận mở đầu thắng lợi, tuy có quy mô không lớn nhưng đó là bài học kinh nghiệm đánh Mỹ để từ đó phát triển một khẩu hiệu hành động: Tìm Mỹ mà diệt.
       
        Sau Núi Thành đến tháng 10-1965 trận Plâyku-Iađrăng nổi tiếng, lần đầu tiên trên chiến trường ta tiêu diệt 1 tiểu đoàn Mỹ của Sư đoàn kỵ binh bay số 1-một phát minh mới nhất của Mỹ trên thế giới.
       
        Trong một Hội nghị cán bộ của Đảng, phân tích chỗ mạnh và chỗ yếu của quân Mỹ. Hồ Chí Minh nói: "Đời sống của một tên lính Mỹ, nào bánh, thịt, thuốc lá, kẹo cao su đủ thứ, một tên lính Mỹ đi đánh so với một tên lính ngụy tốn gấp 15 lần… Lính Mỹ to xác, trang bị đủ thứ, kềnh càng, nặng nề; còn quân giải phóng của ta tuy nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn… Ta thấy chỗ mạnh của nó, vũ khí của nó mới, tiền của nó nhiều nhưng ta cũng biết những khuyết điểm của nó mà là khuyết điểm lớn, cơ bản"1. Người nhấn mạnh: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân. Tư tưởng quyết đánh, biết đánh và biết thắng của Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp lại được phát huy sáng tạo trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
       
        Các trận đánh phủ đầu quân Mỹ với chiến thắng Núi Thành, Vạn Tường, Bầu Bàng-Dầu Tiếng và khách sạn Mêtrôpôn tỏ rõ quân và dân miền Nam hoàn toàn có thể đánh bại được đội quân viễn chinh Mỹ ở ngoài căn cứ, ở nông thôn, đồng bằng, miền núi và ở cả trong đô thị.
       
        Bị thiệt hại nặng bởi những trận đánh phủ đầu giữa năm 1965 Mỹ cho rằng vì mùa mưa xứ nhiệt đới, quân đội của chúng chưa phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật và sức cơ động, nên chúng quyết định mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 trên hướng trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và khu V.
       
        Nhân dân ta quyết tâm thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch trong cuộc họp Bộ Chính trị (9-1964) khi quyết định đẩy mạnh hoạt động của bộ đội chủ lực ở Nam Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên: “Ta phải đánh lâu dài 10 năm đến 20 năm, phải đề phòng địch có hành động điên cuồng dù chúng bị cô lập phải có kế hoạch phòng khi đột biến. Miền Nam phải mở rộng chiến tranh du kích, xây dựng chủ lực thành quả đấm mạnh, gọn, nhanh”2. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc hiểm hóc, linh hoạt, với phương châm "tìm Mỹ mà diệt, bám lấy thắt lưng địch mà đánh, còn cái lai quần vẫn đánh", kết hợp chặt chẽ với những "quả đấm" của chủ lực và những trận đánh kiên cường, quân và dân ta đã đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 của địch.
       
        Giữa lúc này cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của quân và dân miền Bắc cũng diễn ra ác liệt. Miền Bắc tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không chưa từng có trong lịch sử. Toàn dân đánh máy bay địch, vừa phòng tránh để sản xuất, xây dựng kinh tế phục vụ quốc phòng, chi viện cho miền Nam, vừa tham gia chiến đấu.
       
        Trong chiến lược chiến tranh nhân dân phòng không này, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến lực lượng nòng cốt là bộ đội phòng không và không quân. Người còn trực tiếp đến từng đơn vị để xem xét động viên. Sự sáng suốt của Người là ngay từ năm 1965, Người đã cho tổ chức bộ đội tên lửa phòng không để đến năm 1972 ta mới có "Điện Biên Phủ trên không" ở Hà Nội, Hải Phòng, đánh bại cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch, buộc Mỹ phải rút khỏi miền Nam.
       
        Đến thăm đoàn không quân Sao Đỏ, Người căn dặn: “Tổ tiên ta từ xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông trên biển... Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi, trách nhiệm ấy trước hết là của các chú"3.
       
        "Vừa qua địch chủ quan bay thấp nên ta bắn được. Lần này nếu địch đánh lại, nó sẽ thay đổi thủ đoạn. Địch cũng biết rút kinh nghiệm, ta cũng phải biết rút kinh nghiệm. Chú ý từ việc ngụy trang máy bay đến cách đánh. Các chú hãy học tập quân giải phóng miền Nam: phát huy lối đánh gần, bám thắt lưng địch mà diệt chúng"4.
       
        Đến thăm đoàn xung kích và đại đội I, đoàn Tam Đảo phòng không đang chuẩn bị đi chiến đấu bảo vệ tên lửa ra quân trận đầu, Người căn dặn: "Phải làm sao đánh tiêu diệt được chúng. Vừa qua súng của ta không phải ít nhưng chưa đánh tiêu diệt được... Không phải ta thiếu cảnh giác. Vấn đề là ở chỗ tinh thần con người phải truyền qua súng, tức là phải làm sao phải có kỹ thuật giỏi... Muốn bắn trúng, bắn rơi máy bay, ngay từ loạt đạn đầu tiên, phải tập luyện thật công phu. Có bắn trúng, bắn rơi ngay từ loạt đạn đầu thì mới bắn rơi được tại chỗ. Những yêu cầu đó liên hệ mật thiết với nhau. Bắn trúng từ loạt đạn đầu tiên, bắn rơi tại chỗ sẽ tiết kiệm được đạn… Bộ đội phòng không không quân có nhiều binh chủng hợp thành, lúc đánh phải hiệp đồng cho tốt… phải tin tưởng vững chắc là ta nhất định thắng, Mỹ nhất định phải thua... Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mỹ có lắm súng. nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay "B" gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đánh là nhất định thắng"5.
       
----------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.14.

2. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, Hồ sơ H25, C4/19.

3. Người cha thân yêu, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr.114.

4. Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, t.2, Sđd, tr.381.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 466-467.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:36:22 PM
        Đối với cả nước, Người ra lời kêu gọi (ngày 17-7-1966): “Gần đây, giặc Mỹ điên cuồng leo thang thêm một bước rất nghiêm trọng: chúng bắn phá ngoại ô Hà Nội và Hải Phòng. Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú bị thương nặng, giãy giụa một cánh hung tợn trước hơi thở cuối cùng"1.
       
        “Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ? Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”2.
       
        Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, quân và dân miền Bắc đã kiên cường chiến đấu, bình tĩnh chủ động đánh trả các đợt tiến công của không quân và hải quân địch. Điển hình trận đánh lập thành tích kỷ niệm ngày sinh nhật Bác 19-5-1967, các lực lượng phòng không ba thứ quân phối hợp với bộ đội tên lửa và không quân đã bắn rơi tại chỗ 10 máy bay Mỹ. Với chiến công này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất cho quân và dân Hà Nội và gửi thư khen ngợi. Người còn gửi lẵng hoa, tặng quà và cả tiền tiết kiệm cho bộ đội phòng không có thêm tiền uống nước trong những ngày chiến đấu nắng nóng. Sự quan tâm của Bác đã làm xúc động sâu sắc cán bộ, chiến sĩ, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng.
       
        Trên chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị đã đề ra 6 phương châm tác chiến chiến lược cho Đông-Xuân 1966-1967 là:
       
        1. Mở các chiến dịch vừa và lớn dưới hình thức tiến công hoặc phản công tiêu diệt lớn quân địch.
       
        2. Đẩy mạnh chiến tranh du kích lên trình độ cao, tiêu hao phân tán, ghìm chân địch đập tan các cuộc càn quét, đánh bại âm mưu bình định của chúng, uy hiếp các đô thị.
       
        3. Đánh phá các căn cứ hậu cần kho tàng, sân bay, bến cảng.
       
        4. Triệt phá các đường giao thông thủy bộ quan trọng của địch, tạo thế chia cắt, bao vây địch, buộc chúng phải đi vào phòng ngự.
       
        5. Đẩy mạnh hoạt động ở đô thị, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
       
        6. Tác chiến kết hợp với binh vận làm tan rã ly khai, gây binh biến trong hàng ngũ địch.
       
        Chiến trường đã được chuẩn bị, trên cơ sở thế trận tiến công được củng cố vững chắc, quân và dân ta chủ động bước vào Đông-Xuân 1966-1967 với một niềm tin vào sức mạnh to lớn.
       
        Còn với địch, sau thất bại cuộc phản công mùa khô 1965-1966 và Hè Thu 1966, Mỹ quyết định tăng quân lên gấp đôi: khoảng 389.000 tên Mỹ và quân chư hầu có 52.000 tên của Nam Triều Tiên, Ôxtrâylia, Niu Dilân và các phương tiện chiến tranh hùng hậu. Mỹ quyết định mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai mùa khô 1966-1967 với các cuộc hành quân vào miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Bộ. Điển hình là cuộc hành quân Gianxơn Xity nhằm đánh chiếm chiến khu Dương Minh Châu để tiêu diệt cơ quan đầu não và chủ lực ta trong kế hoạch “tìm diệt" của chúng.
       
        Đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã kiên trì thực hiện phương châm 3 bám: cán bộ bám dân, dân bám làng xã chiến đấu và sản xuất, bộ đội và du kích bám địch để đánh, đồng thời vận dụng linh hoạt thế trận chiến tranh nhân dân ba thứ quân, ba mũi giáp công, tìm ra nhiều cách đánh phong phú như: bám địch đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ; bí mật thọc sâu tiêu diệt địch; tiến công kết hợp với chốt; tiến công kết hợp với bao vây công kích, v.v. Kết quả Mỹ-Ngụy đã thất bại cả về quân sự và chính trị trong kế hoạch "tìm diệt" của chúng, buộc phải lui về thế phòng ngự.
       
        Sau khi đập tan cuộc hành quân Gianxơn Xity, lợi dụng thời cơ địch đang lúng túng bị động về chiến lược, ta liên tiếp mở nhiều đợt hoạt động tiến công địch trên khắp các chiến trường từ Nam Bộ đến khu V. Điển hình trong thời gian này là chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã dùng mưu kế lừa địch, lợi dụng ý định "tìm diệt" của chúng để điều chúng đến nơi ta lựa chọn tiêu diệt. Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, ta đã dùng mưu lừa được 1 lữ đoàn Mỹ và 1 lũ đoàn thiếu quân ngụy ra nơi ta định dử để đánh bại chiến lược "tìm diệt" của Mỹ. Kết quả ta đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 173 Mỹ-lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ rất e ngại tiến sâu vào khu căn cứ của ta.
       
        Đến cuối năm 1967, quân ta đánh lớn ở La Vang, Đông Hà (Trị Thiên), làm chủ các địa bàn vùng ven Sài Gòn-Gia Định và chiến thắng Đắc Tô I đã mở đầu tạo đà cho cuộc tổng tiến công mùa Xuân 1968.
       
        Như vậy, Mỹ-Ngụy từ thế chuẩn bị phản công buộc phải quay về phòng ngự bị động trên hai hướng chính: xung quanh Sài Gòn và Trị Thiên.

-------------
1. Hồ Chí Minh: Vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.282.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t.12, tr.108.



Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:39:53 PM
        Từ tình hình đó tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp nhận định: "Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược và đi đến quyết định "động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc đấu tranh của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".
       
        Mục tiêu tổng công kích, tổng khởi nghĩa là: Dùng đòn nghi binh thu hút giam chân lực lượng chiến lược ở đường 9, Khe Sanh để đánh đòn tiến công chiến lược vào các thành phố, thị xã trên toàn miền, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở nông thôn và đô thị. Mở đầu cho tổng công kích tổng khởi nghĩa lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn. Thời gian tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa được chọn vào dịp Tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968, đây là thời gian có nhiều yếu tố bất ngờ nhất với địch.
       
        Từ đêm 30 rạng 31-1-1968, các lực lượng vũ trang cách mạng đồng loạt tiến công đánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, căn cứ quân sự, cơ quan đầu não của Mỹ-ngụy, đã tiêu diệt nhiều sinh lực và phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Quần chúng nổi dậy đập tan bộ máy chính quyền trên nhiều vùng nông thôn rộng lớn, bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt địch, mở rộng vùng giải phóng. Thắng lợi lớn của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ ngay khi có mặt của gần nửa triệu quân Mỹ và chư hầu với gần một triệu quân ngụy cũng phải lúng túng, bất lực đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam không điều kiện từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, buộc phải rút một lực lượng lớn quân Mỹ và các quân chư hầu về nước. Nhân chào mừng thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Người chỉ rõ: "Thắng lợi đầu xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi. Không có gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hòan toàn của giặc Mỹ và tay sai"1. Ngay lúc đó, với nhãn quan chiến lược vô cùng sáng suốt, Người nhận định: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi nó thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội"2. Đó là lời căn dặn của Người với đồng chí Tư lệnh quân chủng phòng không-không quân khi Người được báo cáo về tình hình chiến đấu đầu năm 1968.
       
        Người còn khẳng định thêm: Mỹ thua đã rõ ràng... Tuy vậy đế quốc Mỹ chết thì chết, nết không chừa, chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược… 31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng". Bị thất bại thảm hại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam, chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ đã rơi vào đường hầm không lối thoát. Song chúng vẫn ngoan cố hiếu chiến ra sức tăng cường quân ngụy và duy trì một bộ phận quan trọng quân Mỹ ở miền Nam hòng kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược với hình thức chiến lược mới gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh".
       
---------------
1. Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967. Tài liệu lưu trữ Viện LSQSVN.

2. Xem Tạp chí LSQS tháng 12-1987.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:47:43 PM
     
        Đánh thắng "Việt Nam hóa chiến tranh"
       
        Đánh cho Mỹ cút
       
        Bị thất bại sau đòn tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tập đoàn cầm quyền ở Mỹ thêm phân hóa và dao động. Giônxơn đành phải tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ hai và đồng thời ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nước Mỹ mất lòng tin khi sự có mặt của hơn 50 vạn quân Mỹ và gần một triệu quân ngụy mà cũng không bảo đảm an toàn cho Sài Gòn, Huế thì cuộc chiến tranh này không thể thắng được. Do đó phải tìm phương thức khác để rút quân Mỹ về nước một cách danh dự và chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pari.
       
        Về phía ta, tuy giành được thắng lợi trong đợt đầu của cuộn tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là rất lớn và có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Nhưng tiếp đến tiến công đợt 2, do bị mất các yếu tố bất ngờ, nên mặc dù rất cố gắng mà hiệu quả chiến đấu vẫn bị kém đi. Đây cũng là bài học do chưa nắm vững được quy luật về khởi nghĩa trong chiến tranh. Hơn nữa tổng khởi nghĩa đã không diễn ra, trong khi đó vẫn kéo dài tiến công vào các đô thị, bỏ lỏng vùng nông thôn. Khi địch tập trung phản kích quyết liệt, ta bị tổn thất lớn, vùng giải phóng bị thu hẹp, nhiều cơ sở bị lộ, bị vỡ, thế chiến tranh nhân dân bị suy giảm. Lực lượng chủ lực phần lớn phải tạm ra đứng chân vùng biên giới Lào và Campuchia. Riêng ở Khe Sanh quân ta thắng lớn, quân Mỹ phải rút chạy. Điều đó chứng tỏ quân Mỹ không thể chiếm lĩnh được một số địa bàn vùng rừng núi xa căn cứ, xa các đô thị. Nhân dịp này Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi: "Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa"1 .
       
        Nhận rõ kẻ thù, những khó khăn và thuận lợi của ta, nhân ngày 20 tháng 7, Người ra "Lời kêu gọi" đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất trên thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn"2 .
       
        Đúng như Người đã nhận định, đế quốc Mỹ rất xảo quyệt, miệng nói "hòa bình", "thương lượng" nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta.
       
        Kế nhiệm Giônxơn tháng 1-1969, Tổng thống Mỹ Níchxơn vội vàng thay thế chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" đã bị phá sản bằng một chiến lược mới gọi là "Răn đe thực tế".
       
        Ở Việt Nam, Níchxơn chủ trương vừa leo thang chiến tranh về chiến thuật, chiến dịch để "răn đe", vừa xuống thang bằng cách rút dần quân Mỹ, mà nuôi dưỡng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".
       
         “Việt Nam hóa chiến tranh” thực chất là sử dụng quân ngụy với vũ khí, trang bị và chỉ huy của Mỹ, tập hợp liên minh phản động khu vực, làm cho ta suy yếu, tiêu diệt cách mạng Việt Nam, từng bước rút quân về nước, nhưng phải giành được thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh bằng thương lượng theo điều kiện của Mỹ.
       
        Ở miền Bắc, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá, nhưng tình hình chiến sự vẫn còn căng thẳng, nhân dịp này, Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt… Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyệt chiên quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta. thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi"3 .
       
        Qua một năm chiến đấu quyết liệt, thực tế cách mạng đã bổ sung và hoàn thiện hơn về lý luận cách mạng, nhân dịp đầu xuân 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào và chiến sĩ cả nước:
       
                “Năm qua thắng lợi vẻ vang,
                Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
                Vì độc lập vì tự do,
                Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
                Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào,
                Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn”.

       
        Bài thơ Xuân của Người vừa là lời nhắn nhủ chiến lược tới đồng bào cả nước, vừa thể hiện tư tưởng nhất quán về phương sách giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng.

----------------
1. Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.489.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.373-374.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t.12, tr. 407, 426.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:53:04 PM
        Khi thấy sức khoẻ ngày càng giảm sút, không thể đi thăm đồng bào miền Nam được nữa, Người đã yêu cầu bố trí để Người được gặp các đoàn đại biểu cán bộ, đồng bào và chiến sĩ miền Nam. Trong các buổi gặp đó, Người đã có lời dặn dò mang tính chiến lược:
       
        “… Phải nhanh chóng củng cố phát triển cơ sở chính trị, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông hội, công đoàn ở nông thôn và thành thị. Trong chống phá âm mưu bình định của định, phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân trên ba vùng chiến lược. Phải xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cho mạnh. Lực lượng bổ sung chưa kịp thì cũng phải huấn luyện cho tinh, phải quan tâm đến việc ăn ở phòng bệnh cho bộ đội. Phải trên cơ sở củng cố và phát triển các đoàn thể nhân dân mình phát triển chiến tranh nhân dân rộng rãi, chống phá bình định, giữ và làm chủ nông thôn. Phải báo cáo kịp thời, chính xác, chỉ huy chỉ đạo phải đi sát dưới"1 .
       
        “… Phải làm tốt nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, coi đó là "nhiệm vụ hàng đầu”. Phải xây dựng quân đội có chất lượng cao, tiết kiệm sức người sức của. Bộ đội phải hết lòng giúp dân tham gia củng cố hậu phương vững mạnh. Cán bộ cố gắng học tập và luôn luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng. Toàn thể cán bộ chiến sĩ phải nhớ rằng chỉ khi nào quét sạch hết giặc Mỹ ra khỏi đất nước, đánh đổ bọn Việt gian bán nước, thì nhân dân ta mới có hòa bình và tự do thực sự”.
       
        "… Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi thì lực nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực...”2 .
       
        "Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng, nhưng chúng còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta"3 .
       
        “… Bất cứ tình huống nào cũng phải bám phắc lấy dân, dựa vào dân để mà tồn tại. Đó là cái chìa khóa của mọi thắng lợi"4 .
       
        Lâm bệnh nặng, Người còn để lại Di chúc dặn dò:
       
        "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

                Còn non, còn nước, còn người
                Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dụng hơn mười ngày nay!

       
        Dù gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất; đồng bào Nam Bắc nhất định sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc"5 .
       
        Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, qua đời. Nhưng tư tưởng quân sự của Người trong đường lối chiến lược kháng chiến của Đảng và Nhà nước do Người lãnh đạo còn tỏa sáng mãi. Tư tưởng ấy đã tiếp tục được thể hiện trong hoạt động hết sức phong phú, sáng tạo của các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội và của đồng bào chiến sĩ cả nước, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
       
        Tháng 1-1970 Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 18 họp đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn mới là: “Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam; làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo chuyển biến trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước”6 .
       
        Sau đó, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương đã họp (4-1970) thống nhất hành động tạo thành một liên minh chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, do vậy đã có sự phối hợp trên các chiến trường toàn Đông Dương đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ ngụy sang Lào và Campuchia, làm thất bại âm mưu đánh vào căn cứ hậu cần của ta. Điển hình trong năm 1971 ta đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở đường 9-Nam Lào và cuộc hành quân "Toàn thắng 171" Đông Bắc Campuchia, giáng những đòn chí mạng vào âm mưu của Mỹ định dùng quân ngụy Sài Gòn làm nòng cốt mở rộng chiến tranh trên bán đảo Đông Dương.
       
------------------
1. Người cha thân yêu, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr. 60-61.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t. 12, tr. 455.

3. Báo Quân đội nhân dân, ngày 23-5-1969.

4. Vũ Kỳ: Bác Hồ viết di chúc, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 75.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 490.

6. Xem Nghị quyết Trung ương lần thứ 18 (khóa III) của Đảng, tháng 1-1970.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:56:28 PM
        Sau khi giành được thắng lợi trên chiến trường Đông Dương trong hai năm 1970-1971, để tạo điều kiện kết hợp chặt chẽ hơn nữa đấu tranh quân sự với chính trị, ngoại giao, ta đã quyết định mở cuộc tiến công chiến lược 1972 trên toàn miền Nam nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng, thay đổi cục diện cuộc chiến tranh ở miền Nam.
       
        Trong cuộc tiến công chiến lược này, ta chủ trương kết hợp ba đòn chiến dịch có ý nghĩa chiến lược: tiêu diệt địch trên chiến trường lựa chọn; tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn chống phá bình định; đấu tranh chính trị ở thành thị, kết hợp đấu tranh quân sự-chính trị-ngoại giao, giành thắng lợi chiến lược ở miền Nam.
       
        Về quân sự, ta tiến hành đồng thời các chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên ba hướng: đường số 9-Trị Thiên, bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu là đường số 9-Trị Thiên, cùng các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng ven biển khu V, hình thành một cuộc tổng tiến công toàn miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng.
       
        Đối với miền Bắc, Mỹ trắng trợn vi phạm điều cam kết ngừng ném bom bắn phá và các hành động chiến tranh khác, đánh phá đường vận chuyển chiến lược của ta. Hơn nữa chúng còn đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt" ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Campuchia.
       
        Về phía ta, tuy thắng lợi lớn trên các chiến trường ba nước Đông Dương trong năm 1971, nhưng chưa có chuyển biến gì lớn trên chiến trường chính miền Nam nước ta. Mặc dù còn gặp một số khó khăn về bố trí lực lượng và tổ chức chiến trường, nhưng ta đã có những cố gắng vượt bậc, quyết tâm giành thắng lợi. Bởi vậy cuộc chạy đua giữa ta và địch trong năm 1972 là một cuộc đọ sức có ý nghĩa quan trọng để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến một bước ngoặt quan trọng.
       
        Trên chiến trường miền Nam, địch phán đoán và chờ ta tiến công vào dịp Tết Nhâm Tý (1972). Nhưng ta lại tỏ ra không có hoạt động gì lớn.
       
        Đột nhiên, ngày 30-3-1972, quân ta đồng loạt nổ súng tiến công dồn dập vào tuyến phòng thủ của địch ở đường số 9 bắc Quảng Trị, bắc Tây Nguyên, đông Nam Bộ, tiếp đó là đồng bằng ven biển khu V và đồng bằng sông Cửu Long.
       
        Cuộc tiến công chiến lược này bắt đầu với ba chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy mô tương đương cấp quân đoàn, cùng một lúc đột phá mãnh liệt vào phòng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch trên ba hướng chiến lược.
       
        Địch hoàn toàn bị bất ngờ về thời điểm, hướng chủ yếu và cả quy mô, cường độ cuộc tiến công của ta.
       
        Trên hướng chủ yếu, chiến dịch tiến công Trị Thiên, ngay sau ba ngày mở đầu chiến dịch, ta đã đập vỡ hoàn toàn vỏ cứng của tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Bằng cường độ tiến công mãnh liệt, liên tục nhiều đợt, với sự phối hợp của các hướng khác sau gần ba tháng, quấn ta đã làm chủ một vùng rộng lớn từ Đông Hà-Ái Tử, La Vang, nam sông Thạch Hãn đến bắc sông Mỹ Chánh, uy hiếp Huế-Đà Nẵng.
       
        Trên hướng phối hợp, chiến dịch bắc Tây Nguyên, đây là khu vực mà địch phán đoán sẽ là hướng tiến công chính của ta trong năm 1972. Quyết tâm chiến dịch của ta là chưa đột phá ngay vào tuyến phòng thủ mà kéo địch ra ngoài để tiêu diệt chúng trong vận động. Trước đó ta giả làm một con đường cách Bắc thị xã Kon Tum khoảng 30 km để nghi binh thu hút địch. Sau đó ta bí mật mở một con đường quân sự làm gấp vòng về phía đông Đắc Tô. Vào thời điểm phối hợp với hướng chính Trị Thiên, ta bất ngờ tiến đánh Đắc Tô-Tân Cảnh từ phía đông là nơi địch sơ hở ít phòng bị nên chỉ trong vòng 1 ngày ta đã chiếm được Đắc Tô-Tân Cảnh. Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, ta tiêu diệt được một căn cứ trung đoàn tăng cường có sở chỉ huy nhẹ sư đoàn trên tuyến phòng thủ vững chắc của địch. Phát huy thắng lợi, tiếp đó ta giải phóng được một vùng rộng lớn bắc Kon Tum, tạo thế đứng cho chủ lực của ta trên cao nguyên.
       
        Gần như đồng thời với bắc Tây Nguyên, ta mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông Nam Bộ. Đây là một hướng phối hợp quan trọng. Lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ ta tiến hành một chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng quy mô lớn cấp quân đoàn tăng cường với một không gian rộng gồm 4 tỉnh: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương thuộc hướng phòng ngự chủ yếu của địch ở miền Đông Nam Bộ. Với cách đánh linh hoạt, nghi binh tạo thế trên đường số 22 để hướng chủ yếu đột phá chi khu Lộc Ninh, đánh điểm, diệt viện trên đường số 13, chốt chặn kết hợp với vận động tiến công…, ta đã đập tan tuyến phòng thủ phía trước trên vòng cung bắc Sài Gòn dọc biên giới, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng khu vực có ý nghĩa chiến lược, tạo thế đứng chân cho chủ lực miền, uy hiếp hướng phòng thủ của địch ở phía bắc Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 09:58:52 PM
        Cùng với ba đòn chiến dịch lớn là các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng ven biển khu V và đồng bằng Nam Bộ, Mỹ-Ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, sụp đổ từng mảng, suy yếu nghiêm trọng.
       
        Lúng túng, bị động, Mỹ dùng cả không quân, hải quân trở lại đánh phá quyết liệt cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Việc "Mỹ hóa" này càng cho thấy sự thất bại của "Học thuyết Níchxơn". Những cố gắng về ngoại giao của Mỹ tưởng chừng như thuận lợi, nhưng cũng chẳng đạt được gì trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân miền Nam, cũng như sự chi viện ngày càng có hiệu quả của quân và dân miền Bắc.
       
        Bị thua đau, từ tháng 5-1972, Níchxơn đã ra lệnh mở chiến dịch không quân Lainơbếchcơ I (tiền vệ) dùng B52 trút hàng ngàn tấn bom đạn hòng ngăn chặn sự chi viện mạnh mẽ của miền Bắc cho miền Nam. Ta có chỉ thị nghiên cứu cách đánh loại máy bay này. Đến tháng 9-1972, tài liệu "Cách đánh B52" sau nhiều lần bổ sung, hoàn chỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của bộ đội. Đặc biệt ngày 22-11-1972, ta bắn hạ một B52 ở tây Nghệ An, máy bay rơi gần căn cứ Utapao (Thái Lan). Tuy không bắn rơi máy bay tại chỗ, nhưng lý thuyết sáng tạo bước đầu đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
       
        Thực hiện âm mưu đen tối, Mỹ ráo riết chuẩn bị thành lập bộ chỉ huy hợp nhất không quân chiến lược bao gồm căn cứ Utapao (Thái Lan), căn cứ Anđécxơn (Giam) tập trung quá nửa số B52 của không quân Mỹ và căn cứ Subích (Philippin) bố trí máy bay tiếp dầu, trinh sát gây nhiễu điện tử...
       
        Cuối cùng với hy vọng của một kẻ hiếu chiến, tàn bạo, nhiều tiền của, Mỹ liều lĩnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng hạn chế thắng lợi của ta, buộc ta phải chấp nhận điều kiện của Mỹ trong đàm phán, kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ.
       
        Ngày 18-12-1972 Níchxơn ra lệnh bắt đầu chiến dịch Lainơbếchcơ II, dùng máy bay chiến lược B52 và máy bay cường kích F111 tiến công Hà Nội. Trên vịnh Bắc Bộ có năm tàu sân bay đang hoạt động.
       
        Từ đó cho đến suốt 12 ngày đêm, Mỹ huy động gần 200 máy bay chiến lược B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật các loại đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Hơn 10 vạn tấn bom đạn trút xuống các trường học, bệnh viện, các khu phố đông dân... đã gây nên tội ác chồng chất đốt với nhân dân ta.
       
        Quyết đánh và quyết thắng, với những cách đánh mưu trí, dũng cảm, sáng tạo của hệ thống lưới lửa gồm những tên lửa phòng không, súng pháo phòng không các loại, có sự phối hợp của không quân và dân quân tự vệ với một mạng lưới trinh sát của rađa được bố trí bất ngờ, hiểm hóc, kết hợp giữa hiện đại và thô sơ, vừa tối ưu, vừa rất Việt Nam, chỉ trong 12 ngày đêm, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay hiện đại thuộc không quân chiến lược và không quân chiến thuật Mỹ phần lớn rơi tại chỗ, trong đó có 34 máy bay chiến lược B52 chiếm tỷ lệ tổn thất tới gần 18% là vượt quá sức chịu đựng về chiến lược của Mỹ.
       
        Ở đây ta lại thấy tầm nhìn xa trông rộng rất sáng suốt của Hồ Chủ Tịch trong lãnh đạo quân sự. Năm 1964 Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc, thì năm 1965 Hồ Chủ Tịch đã cho tổ chức bộ đội tên lửa phòng không, Người thấy được tầm quan trọng của hỏa lực đường không của địch trong điều kiện chiến tranh mới. Sau các năm 1967-1969 bộ đội tên lửa phòng không tập đánh B52. Có một ít kinh nghiệm nên đến năm 1972, khi địch tập trung B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng thì ta mới có đủ kỹ thuật đánh thắng B52 được.
       
        Chiến công hiển hách này xứng đáng với tầm vóc được gọi là một trận "Điện Biên Phủ trên không", tên do chính báo chí phương Tây đưa ra.
       
        Uy thế của không lực Hoa Kỳ bị sụp đổ. Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" cùng với những thắng lợi to lớn của ba đòn tiến công trên bộ có ý nghĩa chiến lược năm 1972 đã buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ và quân các nước chư hầu Mỹ ra khỏi Việt Nam. Sau 18 năm kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã thực hiện được lời dạy của Bác Hồ kính yêu là "Đánh cho Mỹ cút". Còn quân chủ lực của ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên so sánh lực lượng mới có lợi cho ta.
       
        Từ những đòn tiêu diệt có ý nghĩa chiến lược như vậy làm cho ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị đập tan.
       
        Ngày 23-3-1973 Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ. Trên đất nước ta quân đội xâm lược nước ngoài cơ bản bị quét sạch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 10:01:02 PM
       
        Đánh cho ngụy nhào
       
        Hai tháng sau Hiệp định Pari, Bộ Chính trị họp mở rộng nhận định tình hình: Tuy quân Mỹ đã rút, nhưng lực lượng quân sự Mỹ vẫn có mặt trong khu vực: Đông bắc Thái Lan, Guam, Philippin và trên Hạm đội 7. Mỹ lại đang chi viện ồ ạt để quân ngụy mạnh lên, hòng đẩy lùi cách mạng, thực hiện miền Nam trở thành một nước phụ thuộc Mỹ. Đối tượng tác chiến lúc này là quân ngụy. Phương châm tác chiến ở miền Nam là kết hợp đánh chính quy và đánh du kích, tác chiến với binh vận, chiến đấu với xây dựng, tiêu diệt gắn với giành dân, xây dựng cơ sở. Nhiệm vụ quân sự của miền Bắc là kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăng cường chi viện miền Nam và giải quyết các vấn đề quân sự ở Lào và Campuchia.
       
        Trong lúc này, bản chất phản động và ngoan cố của địch ngày càng lộ rõ. Chúng đang ra sức thực hiện một kế hoạch "bình định" dưới chiêu bài "tái thiết nông thôn" nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng, khống chế quần chúng, lấn chiếm vùng giải phóng, phá thế "da báo", khủng bố các gia đình kháng chiến. Do đó khả năng thành lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần, thực hiện hòa bình, hòa hợp dân tộc là không thể thực hiện được.
       
        Về phía ta lúc này cũng không ít khó khăn, nhiều đơn vị thiếu quân số, đạn dược, lương thực vì không kịp bổ sung. Có xuất hiện tư tưởng hữu khuynh muốn nghỉ ngơi, ảo tưởng, thậm chí có nơi sợ đánh trả địch là vi phạm Hiệp định Pari.
       
        Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã họp mở rộng (tháng 5-1973) đề ra chủ trương: Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý. Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch. Nhờ đó, nhìn chung trên toàn chiến trường miền Nam, trước sức phản công và tiến công của quân và dân ta, các hoạt động của địch dần bị chững lại và lâm vào thế bị động, chúng không xóa được thế "da báo", mà sức chiến đấu bị giảm sút rõ rệt. Thế bố trí chiến lược của chúng bị phân tán, căng kéo, khó có thể đối phó được cuộc tiến công lớn của ta.
       
        Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 của Đảng, con đường cho cách mạng miền Nam đã được khẳng định: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình huống nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công".
       
        Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt, chặn đứng được phần lớn các cuộc 'bình định" lấn chiếm của quân ngụy. Ở nhiều nơi đã khôi phục được thế đứng trước ngày ký Hiệp định Pari như khu V, VIII, IX. ở Tây Nguyên, ta không những quét sạch các cứ điểm địch còn cố đóng trong vùng giải phóng, mở rộng hoàn chỉnh khu căn cứ vùng giải phóng mà còn mở rộng hành lang nối liền với Nam Bộ.
       
        Hậu phương lớn miền Bắc dồn sức người sức của ra tiền tuyến. Các đơn vị được bổ sung quân số và binh chủng kỹ thuật. Đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn được thông suốt; hàng vạn tấn đạn dược vũ khí, xăng dầu đã tới chiến trường tiếp thêm sức mạnh cho chiến tranh nhân dân miền Nam tăng lên gấp bội. Khi Mỹ rút đi, ta càng mạnh, thế và lực của cách mạng miền Nam lúc này mạnh hơn bao giờ hết. Bây giờ còn lại là vấn đề thời cơ.
       
        Đầu năm 1974, Bộ Chính trị họp mở rộng bàn kế hoạch nắm bắt thời cơ cho cách mạng miền Nam. Các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt tư tưởng quân sự của Người đã đánh giá rất chính xác về tình thế cách mạng lúc này: Thế giới đang ở thế cân bằng, Mỹ muốn quay trở lại Việt Nam cũng không phải dễ, ngay cả trong trường hợp ta đánh mạnh phá được "thế cân bằng" trên chiến trường. Vấn đề là phải đẩy mạnh đấu tranh toàn diện, phát huy thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao, tạo ra thời cơ, khi đã có thời cơ thì phải nắm ngay giành thắng lợi.
       
        Cách mạng Việt Nam lại bừng lên trong một khí thế mới. Các cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương liên tiếp được mở ra để chỉ đạo, lãnh đạo cho từng bước phát triển của cách mạng.
       
        Tạo lực
       
        Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo kế hoạch vận chuyển cho chiến trường cả mùa mưa 1974 và mùa khô 1974-1975; hoàn chỉnh các mạng đường chiến dịch và chiến lược, phát triển đường ống dẫn dầu xuống phía Nam; xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ dọc đường 559 và trong các vùng giải phóng; hoàn thành kế hoạch tuyển quân năm 1974 và đợt 1 năm 1975; đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, củng cố bộ đội chủ lực, nhất là khối chủ lực cơ động chiến lược.
       
        Để tạo nên so sánh lực lượng có lợi cho ta, chúng ta đã tổ chức thành lập các quân đoàn: Quân đoàn 1 (24-10-1973), Quân đoàn 2 (17-5-l974), Quân đoàn 4 (20-7-1974), được triển khai vững chắc từ Trị Thiên đến Nam Bộ, đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang nhân dân ta. Công tác tư tưởng quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng cũng được tiến hành trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhằm tổ chức động viên mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân tiến lên giành thắng lợi cuồl cùng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 10:04:04 PM
       
        Tạo thế
       
        Năm 1974, tình hình diễn biến trên chiến trường đã phát triển ngày càng có lợi cho ta. Các cuộc hành quân lấn chiếm của địch đều bị đánh bại nên đã thưa dần. Chúng phải quay về lo giữ các vùng xung yếu. Nhiều đồn bốt nhỏ phải rút chạy, co cụm lại quanh các căn cứ lớn. Thế bị động của địch diễn ra phổ biến trên khắp các chiến trường. Giữa tháng 7-1974, ta mở cuộc tiến công vào phòng tuyến vòng ngoài của địch suốt từ Trị Thiên đến Nam Bộ giành được thắng lợi ở Nông Sơn, Tiên Phước, Minh Long (khu V), giải phóng Đắc Pét, Iusúp, Măng Bút, Măng Đen (Tây Nguyên), Tánh Linh (khu VI), Nha Bích, Tống Lê Chân (Đông Nam Bộ), bị thua đau, địch không còn đủ sức phản kích chiếm lại.
       
        Nổi bật là chiến thắng Phước Long ngày 6-1-1975, một đòn trinh sát có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Lần đầu tiên ở miền Nam, một tỉnh nằm ngay gần Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng. Nó đánh dấu một bước suy sụp mới của quân ngụy, chúng không còn khả năng phản kích đánh chiếm lại một địa bàn ngay trên tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn-Gia Định. Nó còn chứng tỏ Mỹ không có khả năng trở lại can thiệp bằng quân sự ở miền Nam, khi người phát ngôn Nhà Trắng tuyên bố. "Tổng thống Pho không có ý định vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc hội Mỹ) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam".
       
        Chiến thắng Phước Long là một nhân tố mới để Hội nghị Bộ Chính trị (mở rộng - đang họp) điều chỉnh lại quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam với yêu cầu cao hơn: Hướng tiến công chiếu lược chủ yếu là Nam Tây Nguyên, mục tiêu mở đầu là Buôn Ma Thuột; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng của cuộc tiến công trong năm 1975. Bộ Chính trị ra Nghị quyết lịch sử: "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam để tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc". Cả nước ra trận, tất cả vì miền Nam ruột thịt.
       
        Thế trận
       
        “Căng địch ra mà đánh-Trói địch lại mà diệt" đó là mưu kế chiến lược đánh định bằng các binh đoàn chủ lực trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao mà Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành công đánh trận quyết chiến Điện Biên Phủ trong chiến cục Đông-Xuân 1953-1954 bằng cách phân tán địch ra khắp chiến trường Đông Dương. Nay các học trò trung thành và xuất sắc của Người đã vận dụng mưu kế chiến lược đó trong điều kiện mới bằng cách "căng địch ra hai đầu chiến tuyến" làm cho địch bị sở hở quãng giữa để ta tiêu diệt.
       
        Trong chiến cục Xuân 1975, thế trận chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu Nam-Bắc chiến tuyến (ở Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn) để hở quãng giữa (miền Trung và Tây Nguyên). Ta kìm giữ địch ở Huế-Đà Nẵng bằng Quân đoàn 2 và Quân đoàn 1 là tổng dự bị chiến lược ở đằng sau Quân đoàn 2. Ta cũng kìm địch ở Sài Gòn bằng Quân đoàn 4, đứng chân ở phía Bắc Sài Gòn. Do ta bố trí ba quân đoàn như thế ở hai đầu Nam-Bắc chiến tuyến, nên địch cũng đặt Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến là lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó.
       
        Địch thường xuyên và tập trung mọi chú ý vào Quân đoàn 2 của ta ở phía tây thành phố Huế, Quân đoàn 1 của ta ở bờ bắc sông Bến Hải và Quân đoàn 4 của ta ở phía bắc, tây bắc Sài Gòn. Đó là các tập đoàn chiến lược có ảnh hưởng tới sự sống còn của chúng. Còn ở Tây Nguyên ta chỉ có một tập đoàn chiến dịch gồm 2-3 sư đoàn thì địch chỉ chú ý một cách vừa phải.
       
        Khi địch đã bị kìm giữ chặt ở Huế và Sài Gòn, ta điều Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 vào Tây Nguyên một cách đột ngột. Ở Tây Nguyên, từ một tập đoàn chiến dịch bỗng nhiên trở thành một tập đoàn chiến lược gồm 5 sư đoàn (các sư 10, 320, 316, 968), Sư 3 Sao Vàng quân khu V và các trung đoàn độc lập cùng bộ đội địa phương các tỉnh.
       
        Đây là thế trận mạnh, hay và hiểm hóc. Tây Nguyên sơ hở và yếu, trở thành nơi hiểm yếu, khi ta chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu mở đầu thì trận đột phá tiến công trở thành một cú điểm huyệt.
       
        Ngay trên chiến trường Tây Nguyên, ta lại dùng mưu kế lừa địch bằng các hoạt động nghi binh như: mở đường ở phía bắc hướng vào thị xã Kon Tum, bí mật di chuyển Sư 10 và Sư 320 từ Kon Tum về Buôn Ma Thuộc nhưng để lại toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc; cắt đường 19, 21 để cô lập Plâyku, Kon Tum với các tỉnh ven biển miền Trung. Đồng thời ta sử dụng Sư 968 đánh nghi binh vào phía Nam Plâyku. Bởi vậy địch cho rằng ta sẽ tiến công vào KonTum-Plâyku và Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở đó.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 10:14:08 PM
       
        Thời cơ
       
        Thế trận đã giăng tạo ra tình huống chín muồi là thời cơ hành động. Thời cơ để ta hạ quyết tâm "tiến công Buôn Ma Thuột theo phương án địch chưa phòng ngự dự phòng" đã đến.
       
        Với sức mạnh của ba sư đoàn tăng cường, ngày 10-3-1975 quân ta từ bốn phía tiến công Buôn Ma Thuộc nhằm vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và những mục tiêu quan trọng. Sau hai ngày chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây, giải phóng Buôn Ma Thuộc.
       
        Bị mất Buôn Ma Thuộc, Sư đoàn 23 ngụy sẽ phải đi phản kích chiếm lại. Nhưng đường 14 đã bị ta cắt. Sư đoàn 23 ngụy muốn phản đột kích chỉ còn cách chuyển quân bằng máy bay trực thăng. Thực hiện mưu kế lừa địch, buộc chúng phải đổ quân vào nơi ta dự kiến. Thế trận đã bầy, vừa bủa vây vừa hành tiến chỉ trong 5 ngày Sư đoàn 23 ngụy cơ bản bị xóa sổ, hy vọng cuối cùng của địch bị dập tắt.
       
        Diễn biến chiến dịch đến đây đã xảy ra đột biến. Địch hết các biện pháp (đánh phản kích của Sư đoàn 23 bị thất bại, trong khi đó các lực lượng cơ động chiến lược đang bố trí ở Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn bị bó chân không thể đi ứng cứu được), Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên với hy vọng mong manh cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung. Ở Plâyku-Kon Tum địch vội vã rút chạy theo đường số 7 một cách hỗn loạn "tùy nghi di tản". Quân ta cả chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã kịp thời chặn đánh và truy kích tiêu diệt toàn bộ số quân rút chạy trên đường số 7 đến tận thị xã Tuy Hòa. Thừa thắng trên đường số 21, quân ta phát triển xuống đồng bằng, giải phóng các tỉnh từ Phú Yên tới Nha Trang, Cam Ranh.
       
        Với khí thế chiến thắng ở Tây Nguyên, biến thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược, ngày 21-3-1975 ta mở kế tiếp chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Quân ta được lệnh tiến công thọc sâu vào các căn cứ của địch, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy của quần chúng. Địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách nhanh chóng, liên tiếp ta giải phóng từ Huế-Đà Nẵng đến Bình Định. Sau hai chiến dịch kế tiếp nhau, hệ thống phòng ngự của địch ở miền Trung và Tây Nguyên đến tận Khánh Hòa đã sụp đổ hoàn toàn. Diễn biến của các sự kiện này càng làm sáng rõ một quy luật và một nguyên lý mà Hồ Chí Minh đã viết:
     
          “Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
     
           Gặp thời một tốt cũng thành công".

       
        "Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực”.
       
        Nguyễn Trãi cũng từng nói: "Được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy; sự vật thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay". "Bỏ chỗ vững, đánh chỗ chắc, bỏ chỗ thực, đánh chỗ hư thì sức dùng một nửa mà công được gấp đôi".
       
        Còn Trần Hưng Đạo nói: "Bỏ chỗ thực đánh chỗ hư, đó là cái diệu của việc binh".
       
        Sau hai chiến dịch Tây Nguyên và Huế-Đà Nẵng, ta mở chiến dịch chiến lược thứ ba-chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là đòn chiến lược thứ ba, đòn quyết chiến chiến lược để giải phóng Sài Gòn và giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc .
       
        Để chuẩn bị mở chiến dịch Hồ Chí Minh, ta có một đợt hoạt động đêm để địch không kịp tổ chức phòng ngự và ta có điều kiện điều động, bố trí lực lượng.
       
        Trên đà chiến thắng từ tháng 4-1975 nhân dân cả nước đã sống trong những ngày hết sức sôi động và hào hùng. Các binh đoàn chủ lực của ta hành tiến với khí thế 'thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng". Ngày 9-4 ta đập tan cánh cửa thép Xuân Lộc phía đông Sài Gòn. Ngày 16-4 giải phóng Ninh Thuận, quần đảo Trường Sa. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ngày càng quyết liệt. Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu-17 giờ ngày 26-4-1975, năm cánh quân của ta gồm 4 quân đoàn chủ lực và đoàn 232 trong thế bao vây Sài Gòn, từ vị trí xuất phát tiến công được lệnh vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Với sức mạnh của 15 sư đoàn, 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975 xe tăng của ta tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ Bộ thống soái của địch. Ở các tỉnh miền tây Nam Bộ, lực lượng vũ trang ta cùng nhân dân nổi dậy tiến công quét sạch địch. Đến ngày 2-5-1975 thì bộ máy ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam hoàn toàn tan rã và sụp đổ.
       
        Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân 1975. Hoàn thành nhiệm vụ chiến lược thiêng liêng mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" giải phóng miền Nam-thống nhất đất nước-kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc.

*

*       *
       
        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng cách mạng tiên tiến và sáng tạo. Tư tưởng quàn sự đó dựa vào sức mạnh của quần chúng, của nhân dân lao động và sự vận động, phát triển của chiến tranh, vào thực tiễn đấu tranh vũ trang của hai bên đối địch với quan điểm biện chứng.
       
        Người đã vận dụng phương pháp về lãnh đạo chiến tranh, biết kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.
       
        Lúc đầu chiến tranh ta còn nhỏ bé nên Người chủ trương chiến tranh du kích là chính. Đến lúc chuẩn bị tổng phản công Người chủ trương thành lập các đại đoàn (sư đoàn) để đánh tập trung, đánh lớn. Đến kháng chiến chống Mỹ, sức mạnh không quân của Mỹ là con chủ bài, thì Người đã theo kịp thời đại tổ chức ra không quân, hải quân và phòng không để đối phó với lực lượng không quân hùng mạnh của địch, một yếu tố ngày càng trở nên có tính chất quyết định trong chiến tranh hiện đại công nghệ cao ở các nước có trình độ hiện đại tinh xảo. Đặc biệt trong lực lượng phòng không, Người đã cho tổ chức tên lửa phòng không và chính nó đã làm nên "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 10:20:39 PM
       
IV. ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ-NGOẠI GIAO NHẰM PHỐI HỢP VỚI ĐẤU TRANH QUÂN SỰ
       
        Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta thường phải chống lại những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình. Từ đó nghệ thuật quân sự truyền thống của chúng ta thường vận dụng nguyên lý: Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Bởi vậy biểu hiện của chiến tranh nhân dân phải là toàn dân, toàn diện, như Hồ Chí Minh đã khẳng định:

        "Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được"1 .
       
        Tư tưởng quân sự của Người luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa, đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của toàn dân kết hợp với sức mạnh của thời đại, tiến công vào kẻ địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế văn hóa tư tưởng.
       
        Phối với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị cũng là hình thức cơ bản cốt lõi của chiến tranh nhân dân. Bởi theo Người: "Chiến tranh chỉ là thủ đoạn để đạt được mục đích chính trị"2 .
       
        Đường lối chính sách của Đảng, của Mặt trận mà Hồ Chí Minh dày công vun đắp nhằm phát triển rộng rãi lực lượng chính trị để lãnh đạo và tập hợp quần chúng đấu tranh với địch dưới nhiều hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp được diễn ra ở khắp nơi.
       
        Đấu tranh chính trị của ta là làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích kháng chiến nhằm giành và giữ nền độc lập dân tộc để nhân dân ta có thể sống trong hòa bình, hạnh phúc, tự do; từ đó động viên tinh thần toàn dân kháng chiến, tổ chức xây dựng lực lượng kháng chiến, làm phân tán lực lượng đối phó của địch; thực hiện binh địch vận, làm tan rã lực lượng của địch nhằm phối hợp với sự phát triển trên mặt trận quân sự. Tuỳ theo tình hình cụ thể mà tiến hành đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự song song hay coi trọng hình thức nào.
       
        Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược phối hợp chặt chẽ với các mặt trận quân sự, chính trị trong chiến tranh. Nhìn chung trong chiến tranh nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: "Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến"3 , để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị.
       
        Các mặt trận đấu tranh ngày càng rõ nét từ sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
       
        Chúng ta ở trong tình thế hết sức khó khăn: Bộ máy Nhà nước, lực lượng, quân đội còn non trẻ, tài chính kiệt quệ, dân ta bị nạn đói khủng khiếp đe doạ, các đảng phái phản động hoành hành, Pháp âm mưu bắt tay với Tưởng và đưa quân theo chân quân Đồng Minh-Anh, Ấn tiến vào Nam Bộ.
       
        Vận mệnh Tổ quốc lúc này như "ngàn cân treo sợi tóc". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Trung ương Đảng dẫn dắt dân tộc vượt qua những thác ghềnh hiểm họa, Người đã thể hiện thiên tài trên tất cả các mặt hoạt động: chính trị, quân sự ngoại giao, kinh tế, văn hóa tư tưởng.
       
        Khi đối phương chủ trương gây chiến muốn cướp nước ta một lần nữa, Người tìm mọi cách ngăn chặn, cố gắng đẩy lùi cuộc chiến tranh.
       
        Tháng 2-1946, Hồ Chí Minh gặp tướng Pháp Raun Xalăng, Người nói rõ: "chúng tôi muốn sống tự do, muốn có những quan hệ rộng hơn nữa về văn hóa (với nước Pháp). Nhưng chúng tôi phải làm chủ trên đất nước chúng tôi"4 .
       
        Người gửi thư cho Tổng thống Mỹ Truman yêu cầu nước Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, bức thư có đoạn viết: “...mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để cho nền độc lập và sự hợp tác đó có lợi cho toàn thế giới!”5 .
       
        Nhưng chính quyền Pháp và Mỹ vẫn làm ngơ trước những yêu cầu chính đáng và thiện chí của nhân dân ta.
       
        Tình hình đất nước ngày càng nguy kịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mau chóng cùng với Thường vụ Trung ương Đảng ở Hà Nội quyết định chủ trương "hòa để tiến", dẫn đến việc ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 giữa Việt Nam và Pháp.
       
        Tiếp đến các cuộc thương thuyết Việt-Pháp tại Pari, Hồ Chủ Tịch luôn tỏ rõ thiện chí hòa bình và nguyện vọng bình đẳng thân thiện của nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp. Đồng thời Người cũng kiên trì khẳng định lập trường đòi hỏi về những vấn đề cơ bản là độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
       
        Trong thời gian ở Pháp, Người đã gặp nhiều yếu nhân, đảng phái, đoàn thể, nhiều tổ chức, nhà báo Pháp và quốc tế để nói rõ quan điểm hòa bình, độc lập thống nhất của nhân dân Việt Nam; muốn hữu nghị đoàn kết với tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Bức màn bưng bít của chủ nghĩa đế quốc vây quanh nước Việt Nam mới bị phá vỡ. Việt Nam đã được thế giới biết đến. Nhân dân Việt Nam càng thêm bạn, bớt thù. Dù ở trong hay ngoài Hội nghị, Người đều gạn chắt lấy cơ hội hòa bình, chí ít cũng là hòa hoãn dù là nhỏ nhất. Nhưng thực tế cho thấy nhà cầm quyền Pháp cố tình để cho cuộc thương thuyết bị tan vỡ.

--------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4. tr. 298.

2. Q.Th: "Đặt kế hoạch tác chiến", Báo Cứu quốc, ngày 7-6-1946.

3. Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 204.

4. Báo Quân đội nhân dân, ngày 14-3-1986.

5. Giôdép A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr 148.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 10:27:52 PM
        Khả năng chiến tranh bùng nổ trên quy mô toàn quốc ngày càng tăng, Chủ tịch Hồ chí Mih đã ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, nhờ đó đã giành thêm cho ta thời gian tối thiểu để củng cố lực lượng trước một cuộc chiến tranh gần kề.
       
        Chuẩn bị về nước, Người nói với các đồng chí cùng đi: "Dầu có được một hòa ước với Chính phủ Pháp, con đường của nhân dân ta để giành độc lập, tự do thật sự cũng phải là con đường chiến đấu”1
       
        Khi không còn con đường nào khác là phải dùng chiến tranh chính nghĩa để chống lại chiến tranh phi nghĩa, Người đã kêu gọi toàn quân, toàn dân quyết chiến đấu với thắng lợi cuối cùng. Trong thư "Gửi đồng bào Nam Bộ", Người khích lệ tinh thần quyết chiến: "Thà chết tự do hơn sống nô lệ"2. Nam Bộ thì ra sức kháng chiến, Trung Bộ và Bắc Bộ thì ra sức giúp đồng bào Nam Bộ và ra sức đề phòng. Người còn phân tích với đồng bào rằng, cần phân biệt giữa nhân dân Pháp với thực dân Pháp và căn dặn: "Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù, tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước".
       
        Ngay sau khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo tăng cường hơn nữa các hoạt động tiến công chính trị-ngoại giao. Người gửi thư, điện đến Quốc hội, Chính phủ nhân dân Pháp, Người tiếp các đại diện Anh, Mỹ, Trung Quốc và phóng viên thông tấn báo chí quốc tế. Người vạch rõ: Chính sách "phản bội các thỏa hiệp", chính sách "việc đã rồi" và chính sách vũ lực mà các đại diện Pháp ở Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã bắt buộc nhân dân Việt Nam phải võ trang tự vệ. "Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà"3.
       
        Người cho rằng: "Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc nhắn sẽ mất hết và sẽ biến khỏi cõi Á châu”4. Người vẫn kiên trì đề nghị chấm dứt chiến tranh: Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này, hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc.
       
        Giữa vòng vây đế quốc, tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vẫn vang đi khắp năm châu, tạo thành một mũi tiến công có ý nghĩa chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
       
        Kết hợp với tác chiến, địch vận làm tan rã lực lượng địch cũng là một mũi giáp công rất quan trọng nhằm phối hợp chặt chẽ với sự phát triển của mặt trận quân sự. Hồ Chí Minh nói: “sách quân sự có câu: Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng địch là nhờ địch vận". Người rất coi trọng chính sách khoan hồng nhân đạo với tù binh và binh lính bỏ hàng ngũ địch theo ta.
       
        Với binh lính Pháp, Người khuyên nhủ: "Giữa các bạn và chúng tôi, không có thù ghét gì cả, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà bọn thực dân phản động khơi ra những xung đột. Lợi lộc chỉ họ hưởng, chết chóc thì các bạn cam chịu, những huy chương thắng trận thì về phần bọn quân phiệt. Nhưng đối với các bạn và gia đình các bạn, chỉ là sự đau khổ khốn cùng"5. Người kêu gọi binh lính Pháp: "Trở lại với chúng tôi, các bạn sẽ được tiếp đãi như bạn của chúng tôi"6.
       
        Người còn gửi thư tới những thân nhân Pháp có người nhà đi lính sang Việt Nam, trong đó có đoạn "... Tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh mến Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau”7. Người kêu gọi các bà mẹ Pháp: "... hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những sự hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hòa hợp giữa các con em chúng ta. Và các bà sẽ nhận được tấm lòng biết ơn của người con không chỉ của thanh niên Pháp mà cả của thanh niên Việt Nam"8.
       
        Với lính ngụy, Người nói rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ và kêu gọi: "Ngụy binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến”9.
       
        Sau này, trong cuộc kháng chống Mỹ cứu nước Người còn viết nhiều bài báo để làm công tác địch vận, như bài: "Thư gửi binh sĩ thuộc chính quyền miền Nam" ký tên Chiến sĩ, Người viết: "Chắc anh em đều có lương tâm với Tổ quốc. Vì bị đế quốc Mỹ và lũ tay sai lừa bịp và bắt ép mà anh em cầm súng chống lại đồng bào. Nếu từ nay giác ngộ, quay về với nhân dân, thì anh em cũng xứng đáng với Tổ quốc"10.
       
        Trước tính chất khốc liệt của cuộc chiến tranh và âm mưu xảo quyệt tàn ác của kẻ địch, Người căn dặn các đồng chí Phạm Hùng và Hoàng Văn Thái khi vào miền Nam chiến đấu: " Trong chống phá âm mưu bình định của địch, phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với chính trị, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân cả ba vùng chiến lược”11.
       
        Mũi giáp công, binh, địch vận đã góp phần không nhỏ làm tan rã lực lượng địch đã giúp đắc lực cho đấu tranh quân sự của ta.
       
----------------
1. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C15/23.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 27-28.

3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.118, 119.

5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 483.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 303, 304.

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 303, 304.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 306.

10. Báo Nhân dân, ngày 14-1-1994.

11. Xem: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam-Bộ Quốc phòng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 403.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2016, 10:46:29 PM
        Đấu tranh chính trị-ngoại giao Hồ Chí Minh còn là sự kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước, là nét đặc sắc về sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị-ngoại giao của dân tộc ta. Như đầu thế kỷ XV, trong cuộc chiến tranh giải phóng cứu nước của nghĩa quân Lam Sơn chống lại quân Minh, Nguyễn Trãi cho rằng chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh giải phóng cứu nước là chính nghĩa và tin tưởng rằng chính nghĩa thuộc về nhân dân-chính nhất định thắng tà.

                "Rút cuộc, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn,

                Lấy chí nhân mà thay cường bạo"
.
        
        “Vì thế một khi cờ nghĩa mới phất, bốn phương nổi dậy như ong, mà giặc Ngô liền bị bại diệt”1.
        
        “Bởi chúng chỉ biết cướp nước bằng bạo mà không biết vỗ về bằng ân. Tuy ta lấy đại nghĩa mà được lòng người nhưng cũng bởi trời chán ghét giặc mà phó thác cho ta vậy”2.
        
        Ông cũng khẳng định các điều thua của quân nhà Minh trong lá thư dụ Vương Thông:
        
        "Nay tính hộ ông thì có sáu điều phải thua:
        
        -Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cơ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.
        
        -Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.
        
        -(Ở nước các ông) quân mạnh ngựa tốt, nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không dõi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.
        
        -Luôn động can qua, liên tiếp đánh đẹp, người sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều thua thứ tư.
        
        -Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến. Đó là điều thua thứ năm.
        
        -Nay ta dấy binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng vừa đánh giặc, quân sĩ trong thành thì đều mệt mỏi, tự chuốc diệt vong. Đó là điều phải thua thứ sáu”3.
        
        Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống dân tộc, Người còn phát huy sức mạnh của thời đại. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Người luôn tranh thủ được nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Báo chí trong nước và quốc tế luôn là những diễn đàn đấu tranh chính trị và ngoại giao của Người. Trong bài "Nói và nghe dân Mỹ chống chiến tranh", Người viết: Đế quốc Mỹ ra sức gây chiến song nhân dân Mỹ thì muốn hòa bình... Ý dân là ý trời. Đế quốc Mỹ làm trái ý dân, ý trời, cho nên chúng sẽ bị thất bại"4. Trong bài "Hai mươi năm đấu tranh thắng lợi của cách mạng Việt Nam" đăng trên Báo Thời Mới (Liên Xô), Người viết: "Nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, kiên quyết đứng vững trên tiền tuyến của phong trào đấu tranh vĩ đại của nhân dân toàn thế giới chống Đế quốc Mỹ"5. Trong bài "Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân dân Việt-Mỹ", Người viết: "Mặt trận này tuy chưa xây dựng về hình thức, nhưng thực tế đã hình thành bằng hành động về tinh thần… Nhân dân Mỹ đã giác ngộ, họ đang vùng dậy đấu tranh chống bọn hiếu chiến Mỹ, nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua"6.
        
        "Mặt trận số 1 chống đế quốc Mỹ là Việt Nam.
        Mặt trận số 2 ở ngay tại nước Mỹ”7.
        
        Như một "Quân trung từ mệnh tập", Người viết thư trả lời Tổng thống Mỹ L.Giônxơn: "Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, phá hoại hòa bình và chống lại loài người... Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam, thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Chính phủ Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải thừa nhận mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; phải để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ cửa mình"8. Đến thư trả lời Tổng thống Mỹ R.Níchxơn, Người khẳng định: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình"9.
        
        Trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Người hết sức chú trọng chỉ đạo mặt trận chính trị-ngoại giao, một mặt trận nhằm cô lập và phân hóa kẻ thù, thức tỉnh lương tri, kêu gọi loài người tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Mặt khác, Người đặc biệt quan tâm xây dựng khối liên minh đoàn kết chiến lược trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Việt Nam-Lào-Campuchia. Người còn hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc, Người coi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa là sự nghiệp của chính mình, vừa là góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình chống chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, Người viết bài: "Tình hữu nghị vô sản thắng lợi" đăng trên Báo Tin Tức (Liên Xô) trong đó có đoạn viết: "Bọn thực dân Pháp, trước khi cút về nước, đã dâng miền Nam nước chúng tôi cho bọn đế quốc Mỹ và bọn này cố biến miền Nam nước chúng tôi thành thuộc địa và căn cứ quân sự của chúng.

        Như vậy là ở Đông Nam Châu Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồ của mặt trận dân chủ và hòa bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh"10.
       
        Đến tận những giờ phút cuối đời, trong Di chúc thiêng liêng, Người đã để lại niềm tin tất thắng cho toàn dân tộc:
       
        "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.
       
        Đó là một điều chắc chắn".
       
        “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

                Còn non, còn nước, còn người,
 
                Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

       
        Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà"11.
       
        Trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta phải chống lại hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Từ kinh nghiệm truyền thống dân tộc "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều', Người đã khéo lợi dụng mâu thuẫn phân hóa kẻ thù, nhằm vào kẻ thù chính. Người chủ trương "vừa đánh, vừa đàm", "đánh là chủ yếu đàm là hỗ trợ", lấy "thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi cho chính trị", thắng lợi chính trị sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn"12. Kết quả của Hội nghị Giơnevơ và Hội nghị Pari về Việt Nam là những minh chứng về sự phối hợp giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh.
       
--------------
1, 2. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.198.

3. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 134.

4. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, HG-C5/23.

5. Xem: Báo Nhân Dân các ngày 24-10-1956, 24-10-1965, 19-8-1966 và 22-3-1967.

6, 7, 8, 9. Xem : Báo Nhân Dân các ngày 24-10-1956, 24-10-1965, 19-8-1966 và 22-3-1967.

10. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 301.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12. 1996, tr. 509, 498-499.

12. Xem: Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 204.



Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:15:33 PM
               
V. YÊU QUÝ-TRỌNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN TÀI
       
        Gắn liền với cách mạng của dân tộc, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục, giác ngộ quần chúng, đem sức mạnh của quần chúng thực hiện mục tiêu của cách mạng.
       
        Trong khối đại đoàn kết toàn dân, Người dành sự quan tâm đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Người thường nhấn mạnh: "Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta"1.
       
        Từ rất sớm Hồ Chí Minh-Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm, chăm sóc, đào tạo các thế hệ thanh niên yêu nước nhiệt huyết với cách mạng. Người đã chọn lọc những người ưu tú làm hạt nhân, chuẩn bị các nhân tố quan trọng cho việc thành lập một chính đảng ở Việt Nam.
       
        Hồ Chí Minh hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1924, làm nhiệm vụ của Quốc tế cộng sản. Trong thời gian này, Người được cụ Phan Bội Châu khâm phục và tin tưởng giao cho các đầu mối cơ sở của Cụ. Nhiều người con ưu tú của đất nước được Người kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925) như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong. Người còn tranh thủ tối đa các điều kiện có thể để cử cán bộ đi học quân sự ở Liên Xô và Trường quân sự Hoàng Phố nơi Người tham gia giảng dạy. Cũng tại Quảng Châu, năm 1926, Người khéo tổ chức ra Trường huấn luyện chính trị và nó được xem là một phân hiệu của Trường quân sự Hoàng Phố. Tại đây nhiều cán bộ do Người lựa chọn được trang bị kiến thức cơ bản về chính trì và quân sự đã trở thành những nhà cách mạng ưu tú như: Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng… Từ lớp người này đến lớp người khác, Người chăm lo đào tạo nhân tài cho đất nước.
       
        Khi tình hình thế giới và Đông Dương phát triển ngày càng có lợi cho ta, năm 1941, tại một địa điểm gần biên giới Việt Trung, Người mở lớp cấp tốc huấn luyện đào tạo nhiều cán bộ cho công cuộc giải phóng đất nước. Tài liệu bài giảng cho lớp huấn luyện này về sau được in thành cuốn sách "Con đường giải phóng". Người trở về nước trong khi tình hình thế giới đang ở giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Còn trong nước tình thế cũng rất khẩn trương. Mặc dù vậy với nhãn quan nhìn xa, trông rộng, để chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho cách mạng, Người đã cử các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Vũ Nam Long, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo... đi học Trường quân sự ở Liễu Châu-Trung Quốc. Trước khi đi học các đồng chí được Người căn dặn: Phải học tập sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí hiện có của các nước trong phe Đồng minh, của cả đối phương nữa. Sẽ đến lúc mình phải sử dụng tới2.
       
        Là lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đào tạo, yêu quý và trọng dụng nhân tài, song Người luôn luôn nhấn mạnh việc tu dưỡng đạo đức là gốc. Bởi chính Người là một tấm gương tiêu biểu cho đạo đức cách mạng. Người rất coi trọng tài năng, vì phải có tài năng, có tri thức mới hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhưng theo Người: "Có tài mà không có đức là hỏng”. Người chỉ rõ đạo đức của chúng ta là đạo đức mới, đạo đức cách mạng; nó tiếp thu, kế thừa truyền thống đạo đức dân tộc như "Lòng yêu nước, thương dân", “tinh thần tương thân, tương ái", v.v..
       
        Đánh giá những cống hiến cách mạng, trước hết, Người xem đạo đức cách mạng là cái gốc, là nền tảng của người cách mạng.
       
        Người nhấn mạnh: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?"3.
       
        “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang"4.
       
        Đối với công tác cán bộ, Người chỉ rõ: "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"5.
       
        “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ... đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước"6.
       
        Với sự uyên bác và độ lượng, Người biết rằng các chí sĩ, các nhà khoa học hàng đầu đều có lòng yêu nước, chân thành, đức độ, trọng danh dự và lẽ phải. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Người đã cảm hóa được nhiều nhân tài cho đất nước như các ông: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh. Tiếp đến là các nhà khoa học: Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Lương Đình Của, thiếu tướng anh hùng giáo sư Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của Bazôca Việt Nam đã làm khiếp vía kẻ thù trên mặt trận. Các vị đó đều là những người con yêu nước của dân tộc, dám từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để đi theo kháng chiến, có đóng góp rất lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

        Trên thế giới cũng có những hiện tượng tương tự như vậy: Nga có V.Ramencô, Cuốcsatốp. Nhờ đó Nga có thể tuyên bố: Tên lửa của Nga có thể đi đến bất cứ một nơi nào và "chọc thủng" bất kỳ hệ thống phòng thủ nào hiện có. Còn Trung Quốc có: Tiền Học Sâm (từ Mỹ về), Vương Kiến Xương (từ Đức về) Tiền Tam Cường (từ Pháp về), họ đều là những nhân tài chế tạo ra vệ tinh, tên lửa, vũ khí hạt nhân làm nên sức mạnh quân sự cho đất nước họ.
       
        Yêu quý, trọng dụng và phát triển nhân tài là nội dung cốt lõi về con người và sử dụng con người trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
       
        Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, vừa xây dựng một xã hội ngày càng giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, vừa phải sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần phải có quyết sách về việc sử dụng nhân tài và đào tạo nhân tài cho đất nước.

----------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 237.

2. Bác của chúng ta, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 85, 86.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t. 5, tr.252-253.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t. 9, tr.283.

5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr.283, 276.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:18:26 PM
       
*

*       *

        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống  đánh giặc giữ nước của dân tộc, kết hợp và tiếp thu những tinh hoa quân sự của thế giới, lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh để giải phóng dân tộc bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng.
       
        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được hình thành phát triển trong quá trình hoạt động và đấu tranh cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành cơ sở của đường lối quân sự của Đảng ta, đưa cách mạng Tháng Tám đến thành công và hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến thắng lợi.
       
        Ngày nay xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Muốn làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phải ra sức phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa, giáo dục lối sống lành mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời cũng phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ vững an ninh, củng cố quốc phòng, phát triển nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.
       
        Về an ninh, chúng ta không để xảy ra bạo loạn lật đổ, ly khai, đề cao cảnh giác chống diễn biến hòa bình. Muốn vậy phải làm cho dân thực sự tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bằng cách ta phải thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cho tốt, Đảng ở cơ sở, chính quyền ở cơ sở phải gắn chặt với dân. Dân với Đảng và chính quyền cơ sở là một. Phải giáo dục sâu sắc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bằng thực tiễn cuộc sống. Nêu cao gương "người tốt, việc tốt" như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường quan tâm. Đồng thời phải chăm lo đến đời sống của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt việc xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi để cho dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, có nhà ở, được học hành.
       
        Mặt khác phải chống thoái hóa biến chất, tham nhũng, tự diễn biến. Có như vậy thì bọn cơ hội phản động chính trị khó bề hoạt động, lôi kéo dân, kích động dân.
       
        Lấy dân làm gốc đó là nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đó cũng là cơ sở truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như Trần Hưng Đạo đã từng nói: "khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”1.
       
        Về quốc phòng, chúng ta phải thường xuyên xây dựng và củng cố lực lượng quân sự, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp xảy ra chiến tranh.
       
        Chiến tranh ngày nay là chiến tranh vũ khí công nghệ cao; chiến tranh bằng hỏa lực và điện tử; bằng hỏa lực đường không, bằng tên lửa kết hợp với tiến công của lục quân cơ giới. Không quân và tên lửa có nhiều ưu việt: nó khắc phục được mâu thuẫn giữa hỏa lực với địa hình và thống nhất được tình huống với thời cơ; nó đánh vào chỗ nào cũng được, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian; nó đánh rất nhanh và hỏa lực rất mạnh, cơ động thay đổi rất bất ngờ.
       
        Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ta là cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược, vẫn phải lấy tinh thần làm cơ sở, vẫn phải là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống dân tộc tài thao lược, phải có mưu kế và thế trận. Ta kém địch về vũ khí thì phải vận dụng phương châm lấy hiện đại thông thường có một ít tinh xảo đánh lại hiện đại tinh xảo với truyền thống 'lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, tinh thần và ý chí con người vẫn có vai trò là quyết định. Chiến tranh ngày nay vẫn là chiến tranh nhân dân ba thứ quân kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Cái mới khác trước là tác chiến trên không trên bộ. Kẻ đi xâm lược thường dùng máy bay và tên lửa để đánh đối phương và chi viện cho bộ đội ở mặt đất. Và cuối cùng phải chiếm lĩnh được mặt đất mới giải quyết được chiến tranh. Ta phải tìm một phương pháp mới, trong điều kiện mới để đánh bại quân xâm lược. Đó là phương pháp luận bộ-không. Ta phải đánh mạnh cả trên bộ và trên không, đánh tiêu diệt ở trên bộ và đánh đau ở trên không, địch bị thiệt hại nhiều, bị lún sâu vào sa lầy, không hy vọng vào thắng lợi thì chúng mới bị đánh bại về ý chí xâm lược.
       
        Tinh thần tư tưởng bao giờ cũng là cơ sở của sức mạnh chiến đấu. Dám chiến đấu, quyết chiến đấu thì sẽ tìm ra cách đánh thích hợp để chiến đấu và chiến thắng. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh dường như một kho tàng vô tận và quý báu để chúng ta không ngừng nghiên cứu bổ sung để rút ra được những bài học thực tiễn trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng chiến đấu chống lại bất kỳ kẻ xâm lược nào.
       
--------------
1. Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, t. 2, tr. 79.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:21:20 PM
        
PHẦN THỨ BA

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN TRANH
GIẢI PHÓNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
       
        
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
       
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam bao gồm nghệ thuật chỉ đạo điều hành chiến tranh của cơ quan lãnh đạo tối cao, nghệ thuật tác chiến ở tầm chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến đấu.
        
        Từ khi có Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam có bước phát triển mới, trong đó đặc biệt là trình độ và nghệ thuật tác chiến. Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ròng rã 30 năm đã hội tụ đủ những nội dung để chúng ta có một nền nghệ thuật quân sự hoàn chỉnh. Tuy vậy việc nghiên cứu, tổng kết và phát triển nghệ thuật quân sự ngày nay vẫn phải được tiếp tục.
        
        Đến nay, chúng ta có thể nêu lên những nét đặc sắc nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
        
        Nghệ thuật của chiến tranh chính nghĩa, toàn dân, toàn diện, lâu dài với ý thức tự lực tự cường cao:
        
        Trong chiến tranh sức mạnh của một dân tộc, của một quân đội không chỉ là sức mạnh của vũ khí trang bị và tác chiến quân sự, mà còn là sức mạnh chính nghĩa, toàn dân, toàn diện của cả một dân tộc với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Đó chính là sức mạnh to lớn nhất, quyết định nhất của mọi cuộc kháng chiến. Chính nghĩa là cái gốc sức mạnh chính trị của chiến tranh. Toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực tự cường từ yếu đến mạnh, từ nhỏ đến lớn là cái gốc sức mạnh vật chất của chiến tranh. Mối quan hệ giữa các yếu tố đó là biện chứng, cái này là tiền đề cho cái kia và thúc đẩy nhau phát triển. Cả hai cái gốc đó đều phải có, phải vững thì thắng lợi mới trở thành hiện thực.
        
        Xét về góc độ ấy, nghệ thuật quân sự chính là nghệ thuật khai thác, tập hợp sức mạnh một cách cao độ và triệt để. Nhờ có sức mạnh ấy mà các cuộc kháng chiến của ta đã được sự giúp đỡ rất nhiều của bạn bè quốc tế, cả về vật chất và tinh thần. Thiếu điều đó, chúng ta hẳn sẽ khó khăn hơn trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn, thô sơ chọi với hiện đại là quy luật phổ biến của mọi cuộc chiến tranh mà chúng ta đã tiến hành. Ứng với quy luật ấy phải có nghệ thuật tạo sức mạnh, chuyển hóa tương quan lực lượng địch, ta để giành thắng lợi. Nghệ thuật quân sự đó đã khơi dậy được truyền thống hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, lòng yêu nước, yêu tự do độc lập của nhân dân, cùng đứng lên với tinh thần "giặc đến nhà, đàn bà, trẻ già đều đánh".
        
        Quân và dân ta đã đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay dù là thô sơ nhất, đánh giặc bằng cả sức mạnh chính trị tinh thần trên mọi lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, văn hóa... Đem sức ta mà giải phóng cho ta, đó là thể hiện ý thức tự lực tự cường của dân tộc. Nhưng vì ta đi từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh. từ thô sơ đến hiện đại, nên điều kiện để chuyển hóa sức mạnh là vô cùng quan trọng. Một trong những điều kiện ấy là nhân tố thời gian. Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều phải kéo dài hàng chục năm mới đi đến thắng lợi, từ thắng lợi giải phóng nửa nước đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước.
        
        Nghệ thuật dám đánh, biết đánh và biết thắng:
        
        Dám đánh giặc, nhất là dám đánh những kẻ lớn mạnh hơn mình gấp bội, dựa trên cơ sở biết địch, biết ta, hiểu rõ đối phương ở nhiều góc độ một cách toàn diện là nghệ thuật quân sự truyền thống của quân và dân ta. Có dám đánh thì mới có thể tìm ra cách đánh và đánh thắng. Ngay từ buổi đầu dựng nước, hào khí Diên Hồng, hội nghị Bình Than, lời đồng thanh quyết đánh thể hiện bằng hai chữ “Sát Thát" đã ăn vào da thịt người chiến binh vẫn còn đó, nó đã trở thành dòng máu của các thế hệ Việt Nam.
        
        Khi quân đội nhân dân ta mới được thành lập, còn nhỏ bé, trang bị thô sơ, đã phải đương đầu với đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp xâm lược. Trong 9 năm kháng chiến, do nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến tranh tài tình của Đảng ta và Bác Hồ, chúng ta đã xây dựng được lực lượng chủ lực tương đối mạnh, bên cạnh đó là lực lượng hùng hậu gồm bộ đội địa phương và dân quân du kích. Với nghệ thuật phân tán chia cắt địch trên khắp các chiến trường trong toàn quốc, chúng ta đã điều một bộ phận quan trọng lực lượng địch đến chiến trường rừng núi, Điện Biên Phủ, để thực hành trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Chọn địa bàn tác chiến chiến lược chính xác, với sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý, có hiệu quả cao của các chiến trường khác trong cả nước, nên đã tạo được thế chiến lược rất thuận lợi cho ta. Chủ lực địch thì phân tán như bàn tay xòe thành 5 ngón, còn lực lượng ta thì tụ lại như bàn tay nắm chặt thành quả đấm quyết định tại chiến trường Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:22:51 PM
        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta cũng lại là một cuộc chiến tranh không cân sức. Một lần nữa dân tộc ta quân đội ta lại phải lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, với tinh thần quyết đánh quyết thắng. Vì thế quân đội đã trưởng thành vượt bậc, về chất lượng cũng như trình độ tác chiến. Những đơn vị chủ lực mạnh ra đời, thực hiện được quy mô tác chiến hợp đồng binh chủng, quân chủng. Lực lượng ba thứ quân đã hình thành vững chắc trên nền thế trận chiến tranh nhân dân. Với nhiều hình thức chiến thuật phong phú linh hoạt ra đời với thắng lợi liên tiếp của nhiều chiến dịch ở các loại hình đạt hiệu quả cao, ta đã lần lượt đánh bại từng nấc thang chiến tranh, từng chiến lược của Mỹ-ngụy.
       
        Cả hai cuộc kháng chiến nổi bật lên một vấn đề độc đáo, đó là nghệ thuật coi trọng tư tưởng đánh thắng đối phương bằng mưu kế và thế thời; là nghệ thuật đánh bằng mưu mẹo, không dùng lực để chọi lực, cứng chọi cứng mà phải kết hợp cả trí và lực, cứng và mềm nhằm đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận và tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch. Việc tổ chức và sử dụng lực lượng trong những chiến dịch cụ thể nhất là trong chiến cuộc mùa Xuân 1975 thể hiện rất rõ nghệ thuật điều động địch ra hai đầu chiến tuyến, tạo sơ hở về chiến lược ở quãng giữa miền Trung để ta tổ chức đòn tiến công đầu tiên đạt hiệu quả cao. Chiến dịch Tây Nguyên với trận đột phá khẩu Buôn Ma Thuộc, giành thắng lợi chiến lược quan trọng, đã làm vỡ toang một mảng chiến trường, đi đến làm rung chuyển toàn bộ thế trận, làm suy giảm lực lượng địch và nhất là đánh một đòn mạnh vào ý chí và tinh thần quân đội Mỹ-ngụy.
       
        Có được thế trận chiến lược tuyệt đẹp như mùa Xuân 1975, có được lực lượng mạnh ở những hướng chiến lược, mục tiêu chiến lược quan trọng là cả một quá trình tạo thế, tạo lực ta, phá thế địch, tiêu hao lực lượng địch. Quá trình chuyển hóa để lực lượng ta ít hóa nhiều, nhỏ hóa lớn, yếu hóa mạnh phải trải qua nhiều năm chiến đấu rất công phu gian khổ của quân và dân ta. Khi đã hội đủ các yếu tố cơ bản: thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì đòn chiến lược kết thúc chiến tranh được thực hiện. "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", là thể hiện nghệ thuật chiến thắng. Quân và dân ta đã thực hiện thành công tư tưởng chỉ đạo ấy của Bác Hồ. Quả nhiên khi Mỹ đã rút quân về nước, khi kẻ xâm lược đã bị đánh bại về các biện pháp và ý chí, khi chủ đã bị thất sủng thì tớ cũng phải quy hàng.
       
        Nghệ thuật của cách đánh giàu trí tuệ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật và nghệ thuật:
       
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong những cuộc kháng chiến vừa qua là nghệ thuật sử dụng nhuần nhuyễn 5 đặc điểm cơ bản sau: Một là, đối tượng tác chiến trong chiến tranh là thế lực hùng mạnh nhất hoàn cầu, một cuộc chiến tranh của số ít chống lại số nhiều, yếu chống lại mạnh. Hai là: sự trưởng thành của quân đội từ thô sơ đến hiện đại, luôn phải lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, không chỉ là lấy sức mạnh của vũ khí mà còn kết hợp được cả sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân để thắng địch. Ba là, địa hình Việt Nam có những hiểm hóc, chi phối rất nhiều đến việc tổ chức sử dụng lực lượng và các phương pháp tác chiến của cả hai phía. Bốn là, cách đánh Việt Nam mang đậm dấu ấn cách đánh truyền thống phương Đông, trọng mưu hơn trọng lực. Năm là, trên nền cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng ba thứ quân để chiến đấu mà cách đánh hình thành phong phú, linh hoạt, sáng tạo.
       
        Trang bị vũ khí và kỹ thuật quân sự là một trong những yếu tố quyết định phương thức, thủ đoạn tiến hành chiến tranh. Mỗi khi đối phương sử dụng những loại vũ khí nào hoặc cách đánh nào là buộc ta phải có những vũ khí và cách đánh lại chúng một cách hữu hiệu.
       
        Kỹ thuật quân sự tác động rất mạnh đến tâm lý chiến đấu của người lính. Để giải quyết những khó khăn trên, một mặt chúng ta đã tìm cách hạn chế sức mạnh của binh khí kỹ thuật của đối phương, chủ yếu là bằng cách tìm ra quy luật hoạt động tác chiến của đối phương, ta đã sáng tạo ra những cách đánh có hiệu quả dựa trên nguyên lý kỹ thuật kết hợp với chiến thuật; vũ khí kết hợp với tinh thần. Mặt khác, ta đã triệt để lợi dụng những yếu tố địa hình, thời tiết, khí hậu, phát huy triệt để cách đánh tổng hợp của cả ba thứ quân trong mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch cụ thể. Khả năng thiên biến vạn hóa về mặt chiến thuật của ta đã buộc địch phải bị động, sa lầy trong trận đồ bát quái mà ta đã bày đặt sẵn, bị ta nghi binh, lừa và điều động vào những địa bàn tác chiến và thời điểm tác chiến bất lợi cho chúng. Mọi nỗ lực tột bậc của Mỹ ở cả hai chiến trường miền Nam và miền Bắc, dù ở trên bộ, trên không trên biển cũng đều bị phá sản. Điều đó chứng tỏ tính có hạn của kỹ thuật quân sự cao khi gặp phải đối phương có nghệ thuật quân sự giỏi.
       
        Chúng ta thắng Mỹ không chỉ bằng kỹ thuật, mà còn bằng nghệ thuật; không chỉ bằng phần cứng mà còn bằng cả phần mềm. Điều kỳ diệu này, chỉ có một dân tộc luôn vì chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do", vì chính nghĩa, giàu trí tuệ mới làm được.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:25:46 PM

*

*       *
       
        Bối cảnh quốc tề và trong nước hiện nay có nhiều thay đổi, tình hình diễn biến hết sức phức tạp và mau lẹ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới đã đưa đến những tiến bộ vượt bậc trong đời sống kinh tế-xã hội, đem lại cho con người chất lượng sống cao hơn trước đây gấp nhiều lần. Xu hướng hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa nhiều nước đang trở thành xu thế của thời đại. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn mưu toan chống lại chủ nghĩa xã hội, lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, gây chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang ở nhiều nơi. Điều này càng đòi hỏi nền nghệ thuật quân sự của chúng ta phải được nâng lên để đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
       
        Nghệ thuật quân sự của chúng ta ngày nay không thể thoát ly được nền nghệ thuật quân sự truyền thống với những quy luật đã từng vận động trong chiến tranh và được chiến tranh giải phóng dân tộc kiểm chứng. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay, nghệ thuật quân sự hàm chứa một nhiệm vụ rất quan trọng là tham gia vào việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ vững hòa bình và ổn định chính trị, phát triển kinh tế đất nước.
       
        Để tiếp tục có một nền nghệ thuật quân sự luôn phát triển vững chắc, cần dựa trên một số tư tưởng chỉ đạo cơ bản sau:
       
        Nắm vững quy luật chiến tranh:
       
        Quy luật phổ biến của nước nhỏ chống lại nước lớn là lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao vẫn luôn tác động đến nền nghệ thuật quân sự. Vì lẽ đó nền nghệ thuật quân sự vẫn phải quán triệt sâu sắc tư tưởng xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng ba thứ quân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cách đánh toàn dân, toàn diện với ý chí tự lực tự cường, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
       
        Trước một đối phương mạnh hơn ta về tiềm lực vật chất kỹ thuật, về kinh tế và quân sự thì khả năng có thể là đánh kéo dài. Chỉ có như vậy ta mới giành được ưu thế. Phải làm cho đối phương bị sa lầy, còn ta thì chuyển hóa được lực lượng, tìm được cơ hội giành thắng lợi trong những thời điểm có lợi nhất thì mới giành được chiến thắng. Đối phương bao giờ cũng muốn đè bẹp chúng ta trong một thời gian ngắn nhất bằng sức mạnh cao nhất. Nếu đánh bại được ý đồ đó thì khả năng ta đánh thắng chúng sẽ là hiện thực.
       
        Nghệ thuật quân sự cần phải giải quyết tốt nguyên lý: tiến hành chiến tranh du kích toàn dân thì địch không thể đánh bại được, nhưng chỉ tiến hành chiến tranh du kích thì khó có thể đánh bại được địch. Do vậy, phải kết hợp tốt cả hai loại hình chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy mới có khả năng giành thắng lợi. Vận dụng sự kết hợp này không thể rập khuôn máy móc, mà phải chủ động, sáng tạo. Muốn vậy, những người lãnh đạo và thực hành chiến tranh phải có quan điểm biện chứng, có phương pháp luận khoa học, nắm được quy luật chiến tranh và luôn biết sáng tạo trong lãnh đạo để tìm cách giải quyết mâu thuẫn trong thực tiễn chiến tranh.
       
        Phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự trong điều kiện mới:
       
        Nghệ thuật quân sự trong thời bình chứa đựng những nội dung mới so với nghệ thuật quân sự trong chiến tranh. Nhiệm vụ đặt ra cho nghệ thuật quân sự ngày nay là phải được phát triển vượt bậc về trình độ khoa học công nghệ trong quân sự và nghệ thuật tác chiến trong điều kiện chiến tranh mới, để chống lại vũ khí công nghệ cao. Những cuộc chiến tranh vừa qua cho thấy phương tiện chiến tranh phát triển nhanh chóng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến thay đổi rất mau lẹ. Đó là tác chiến linh hoạt, nhanh, gọn, dựa vào sức mạnh vũ khí và tính "tinh khôn" của vũ khí là chính. Để đối phó với thực tế ấy, nghệ thuật quân sự cần phải chú trọng vào cải tiến trang thiết bị vũ khí và kỹ thuật quân sự. Lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ phải được nâng cao trình độ tác chiến và sử dụng vũ khí theo xu hướng hiện đại hóa.
       
        Việc xây dựng thực lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị, huấn luyện bộ đội theo hướng chính quy, hiện đại trong tình hình kinh tế nước ta hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, cho nên cần phải có sự thống nhất cao về nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới ở cấp vĩ mô mới có thể biến khả năng thành hiện thực được.
       
        Ngoài ra, cũng phải rất chú ý đến việc xây dựng bản lĩnh chính trị, khả năng chiến đấu của quân sự. Đó là tố chất hàng đầu trong phẩm chất người quân nhân. Trong đó cũng phải đặc biệt chú ý đến việc xây dựng phần mềm-tố chất căn bản của người lính để hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện chiến tranh rất phức tạp và đa dạng. Phần mềm đó được hiểu là nghệ thuật mà chỉ con người khi đấu trí trong chiến tranh mới thể hiện rõ. Nếu phần mềm được trang bị đầy đủ thì họ sẽ có lòng tin và khả năng chiến đấu tốt.
       
        Mưu cao, kế sâu, mẹo hiểm đều là những biểu hiện cụ thể của tài thao lược, trí thông minh, lòng dũng cảm trong nghệ thuật quân sự. Đó là thể hiện tài trí của cả người chiến sĩ và người chỉ huy cần phải có. Đánh địch bằng mưu kế, thắng địch bằng cả thế và thời là truyền thống vẫn cần được phát huy triệt để trong điều kiện mới để thích ứng với những loại chiến lược và chiến tranh kiểu mới như: "Chiến thắng không cần chiến tranh" hoặc "Cuộc chiến tranh không có mùi khói súng".
       
        Tin tưởng vào tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc và tài nghệ quân sự, cũng như tinh hoa truyền thống của dân tộc, chúng ta nhất định sẽ bảo vệ vững chắc đất nước để xây dựng thành một nước giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:28:40 PM
        
NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG
       
        Diễn biến của cuộc chiến tranh cũng như một cuộc khởi nghĩa vũ trang là quá trình diễn ra những cuộc đọ sức giữa những lực lượng đối địch trên một khoảng không gian và trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến kết quả chung cuộc là phân định bên thắng, bên bại, kết thúc cuộc khởi nghĩa vũ trang hoặc cuộc chiến tranh đó. Đây cũng là quá trình vận động của nhân tố lực lượng trong nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng. Sử dụng lực lượng thích ứng hay không thích ứng với những điều kiện cụ thể, khách quan trong đấu tranh giữa hai bên đối địch, điều đó quyết định sự phát huy hay suy giảm hiệu quả của lực lượng.
        
        V. I. Lênin đã chỉ rõ vai trò và vị trí của nghệ thuật sử dụng lực lượng trong khởi nghĩa vũ trang và trong chiến tranh. Lênin đã nói, chìa khóa của chiến thắng nằm ở chỗ: "Có ưu thế áp đảo trong giờ phút quyết định, ở điểm quyết định". Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng".
        
        Nhìn lại các cuộc chiến tranh mà quân và dân ta đã tiến hành để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, có thể thấy rõ nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong quá trình lịch sử quân và dân Việt Nam đã đánh thắng nhiều đạo quân xâm lược đông và mạnh hơn mình gấp bội. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của thắng lợi là chúng ta đã nắm vững và vận dụng linh hoạt quy luật về tổ chức và sử dụng lực lượng.
        
        Để tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính nước ta, khi bắt đầu chiến tranh, kẻ thù luôn tập trung ưu thế về lực lượng quân đội và trang bị, vũ khí. Những đạo quân xâm lược lúc đầu chủ yếu gồm quân sự chính quy của chính quốc, rồi sau đó tùy theo phạm vi lãnh thổ mà chúng chiếm đóng được, cùng với thời gian của sự chiếm đóng đó, chúng tổ chức ngụy quyền và xây dựng ngụy quân làm lực lượng hỗ trợ. Trong mọi trường hợp, nòng cốt của lực lượng địch vẫn là đạo quân viễn chinh.
        
        Trước kẻ thù đông hơn, mạnh hơn, cực kỳ hung hăng và thâm hiểm, để tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tổ tiên ta đã theo dòng thời gian hàng ngàn năm lịch sử xây dựng nên một nền nghệ thuật quần sự Việt Nam độc đáo, trong đó có nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng kết hợp chặt chẽ với thế và thời đưa sức mạnh toàn dân tộc ra đánh giặc.
        
        Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống quân sự của tổ tiên, Đảng ta đã đưa nền nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung, nghệ thuật sử dụng lực lượng nói riêng lên một bước phát triển mới.
        
        Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, sự phát triển của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 của ta trên cả nước đã đưa đến cục diện Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch và của ta, nơi tất yếu phải diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa hai bên. Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định chính xác đây chính là nơi và là lúc quyết định số phận của kế hoạch Na-va, quyết định thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược và của toàn cuộc kháng chiến. Chính vì thế, những cố gắng cao nhất của toàn quân, toàn dân đã được huy động để giành toàn thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Các chiến trường trên cả nước đã tác chiến phối hợp nhịp nhàng với Điện Biên Phủ, theo một chủ trương chiến lược, một kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất. Bị cầm giữ và chịu đòn ở khắp các nơi chúng dừng chân hay điều quân đến, Na-va không còn khả năng tăng viện cho lực lượng của chúng tại Điện Biên Phủ, nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược định đoạt số phận cuộc chiến tranh xâm lược của chúng tại ba nước Đông Dương.
        
        Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, lực lượng kháng chiến đã được huy động và chiến đấu trên không gian cả nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, được tổ chức thành ba thứ quân phối hợp tác chiến chặt chẽ, hình thành lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị hỗ trợ nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, cuộc đấu tranh của nhân dân ta vượt quá không gian đất nước, diễn ra trong bối cảnh thế tiến công mạnh mẽ của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, được những lực lượng cách mạng và cả nhân loại tiến bộ cổ vũ, giúp đỡ. Tại điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, sức mạnh của quân đội ta được đặt trên nền tảng thế nước, thế thời đại, được sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng và nhiều nhân tố cơ bản thuận lợi khác nhân lên gấp bội. Lực lượng của chúng ta đã chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng của định tại nơi quyết định là chiến trường Điện Biên Phủ, vào lúc quyết định là những tháng đầu năm 1954-thời điểm diễn ra hội nghị Giơ-ne-vơ bàn về cuộc chiến tranh Đông Dương. Chính vì thế, sau khi quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của định tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đã được ký kết, dẫn đến kết quả một nửa nước Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:29:57 PM
        Cuộc Tổng tiến công và nôi dậy Xuân 1975 đánh dấu một đỉnh cao mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam mà nghệ thuật sử dụng lực lượng là một yếu tố rất cơ bản. Vào lúc đó quân đội ta đã có những binh đoàn cơ động lớn với các thành phần binh chủng kỹ thuật hiện đại, nhất là các binh đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh, phòng không, có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang ta đã nâng lên trình độ tác chiến hợp đồng quân, binh chủng hiện đại cỡ quân đoàn và cụm quân đoàn. Các khối quân chủ lực của ta-những quả đấm thép-đã đứng vững chân trên những địa bàn chiến lược then chốt, có khả năng cơ động nhanh chóng để đánh vào những điểm yếu mà sơ hở trong hệ thống phòng ngự của địch. Đồng thời, chúng ta lại có sẵn những quả đấm thép khác là lực lượng dự bị chiến lược đặt trên tư thế sẵn sàng nhận lệnh bước vào chiến đấu khi giờ quyết định đã điểm.
       
        Trong khi đó, tại vùng địch kiểm soát chúng ta đã xây dựng được một hệ thống cơ sở chính trị sâu rộng ở trong tư thế sẵn sàng nổi dậy. Cũng ngay trong lòng địch, chúng ta đã duy trì và phát triển các lực lượng vũ trang địa phương được trang bị ngày càng tốt hơn và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, đồng thời ém sẵn nhiều đơn vị đặc công, biệt động. Trong thế trận chiến tranh nhân dân, sức mạnh của bộ đội chủ lực, của lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị của quần chúng kết thành sức mạnh tổng hợp to lớn làm nghiêng cán cân lực lượng về phía ta. Vấn đề được đặt ra là sử dụng lực lượng đó để chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng địch vào lúc và nơi quyết định, nhằm phá vỡ một mảng xung yếu trong thế trận phòng thủ của kẻ thù, dẫn đến đập tan toàn bộ thế trận đó.
       
        Thời cơ chiến lược đã xuất hiện vào đầu Xuân 1975. Sau khi quân đội viễn chinh Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, trước thế tiến công của ba dòng thác cách mạng trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đế quốc Mỹ phải đối phó với hàng loạt vấn đề gay cấn cả về đối nội lẫn đội ngoại. Đây là những sợi dây buộc chân, trói tay chính quyền Oa-sinh-tơn, khiến chúng khó có thể trở lại dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới tại miền Nam Việt Nam để cứu vãn chế độ ngụy quyền Sài Gòn trước nguy cơ sụp đổ. Sau khi "Mỹ cút" ngụy quyền, ngụy quân mất chỗ dựa quân sự của đạo quân viễn chinh Mỹ, lâm vào tình trạng bối rối về tinh thần, đảo lộn về thế trận và suy yếu về lực lượng, nên càng lún sâu trong thế bị động chiến lược. Trong khi đó, eác đơn vị chủ lực ngụy lại bị dàn mỏng trong thế trận “phòng thủ diện địa" nặng ở hai đầu và sơ hở ở quãng giữa, các lực lượng dự bị chiến lược của chúng vừa phải đối phó với quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam, vừa bị đặt trên tư thế sẵn sàng đối phó với những cuộc đảo chính âm ỉ trong nội bộ ngụy quyền. Chiếc chăn đã ngắn lại hẹp, bị Mỹ-ngụy co kéo để cố che kín cả đầu lẫn chân thì lại để hở sườn. Chỗ hở sườn đó là địa bàn Tây Nguyên.
       
        Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã phân tích chính xác thời cơ chiến lược đó và hạ quyết tâm lịch sử giải phóng miền Nam. Chiến trường Tây Nguyên vừa là địa bàn xung yếu vừa là nơi sơ hở của thế trận địch, được chọn làm hướng tiến công chủ yếu, trong đó Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu. Đánh vào Buôn Ma Thuột, chúng ta đã điểm đúng tử huyệt của thế trận phòng thủ của địch trên toàn chiến trường Tây Nguyên. Ở đây, lực lượng chủ lực của ta đã được tập trung với ưu thế áp đảo về số lượng. Trong khi đó, quân địch ở Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập. Lực lượng của địch ở Tây Nguyên và trên khắp chiến trường bị ta căng ra và giam chân ở mọi nơi, khiến chúng không còn khả năng ứng cứu cho Buôn Ma Thuộc. Vì vậy trong trận mở đầu chiến dịch, chúng ta đã tập trung được ưu thế lực lượng đánh đúng vào nơi quyết định, vào lúc quyết định tại chiến trường. Lực lượng đã chiếm ưu thế lại được yếu tố bất ngờ, cách đánh tài giỏi tinh thần dũng cảm và kỹ thuật chiến đấu của cán bộ và chiến sĩ ta nhân lên gấp bội để trở thành áp đảo, nên đã đè bẹp nhanh chóng sự kháng cự của địch, phá vỡ một mảng xung yếu trong thế trận phòng thủ Tây Nguyên của chúng, buộc địch phải rút khỏi vùng cao nguyên chiến lược này, mở đầu cho sự sụp đổ “dây chuyền" của toàn bộ thế trận địch ở miền Nam.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:35:58 PM
        Nắm vững thời cơ chiến lược lớn đã tới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm "với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm"1. Bộ Chính trị đã đánh giá chính xác tình hình thế giới, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường và đã chọn chính xác lúc và nơi quyết định để tập trung lực lượng mở trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc thắng lợi chiến tranh: lúc là những ngày cuối tháng 4 năm 1975; nơi là sào huyệt cuối cùng của Mỹ-ngụy tại Sài Gòn. Đấy cũng là thời gian và mục tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Lực lượng mà chúng ta tung vào cuộc là lực lượng cả nước với những quả đấm thép là các binh đoàn chủ lực đã đứng chân và tác chiến ở chiến trường, cùng với những binh đoàn chủ lực từ miền Bắc hành quân thần tốc vào chiến trường. Lực lượng chiếm ưu thế áp đảo đó tiến công đúng vào lúc quyết định và nơi quyết định, trở thành "sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát" (Nguyễn Trãi-Quân trung từ mệnh tập), đánh những trận "sấm vang chớp giật, trúc trẻ tro bay”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.
       
        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, cùng với nghệ thuật tập trung lực lượng chiếm ưu thế áp đảo vào các trận quyết chiến, điểm vào đúng những tử huyệt của địch trong những thời điểm quyết định, lực lượng của chúng ta đã cơ động thần tốc kịp thời, tận dụng được thời cơ để giành thắng lợi lớn và từ đấy lại tạo ra những thời cơ mới. Sự cơ động thần tốc đã nhân sức mạnh của những quả đấm thép trên chiến trường và cả sức mạnh của những lực lượng nổi dậy trong lòng địch lên gấp bội, tạo nên sự phối hợp tuyệt đẹp, đẩy Mỹ-ngụy đến chỗ hoang mang cùng cực và sụp đổ cả về ý chí lẫn tổ chức kháng cự. Như Ang-ghen đã chỉ rõ, "tốc độ vận động nhanh có thể bù đắp sự thiếu quân bởi vì nó cho phép tiến công địch khi chúng chưa kịp tập trung binh lực. Cũng giống như trong thương mại có câu: "Thời giờ là vàng bạc", trong chiến tranh cũng có thể nói: "Thời giờ là bộ đội"2.
       
        Đúng là trong quá trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, bằng cách đánh thần tốc, lực lượng của ta được nhân lên với mỗi giờ mỗi ngày trôi qua, trong khi đó, lực lượng của kẻ địch lại bị thời gian xô đẩy tới tấp không sao gượng dậy được và cứ theo thời gian mà tan rã từng mảng để cuối cùng đi đến sụp đổ hoàn toàn.

*

*       *
       
        Trong bài diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm lần thứ 10 thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng đã chỉ rõ: "Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã thắng vì sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa. vì chúng ta dám đánh và biết đánh, biết thắng, càng đánh càng mạnh, tạo được lực lượng vượt trội hơn, đủ sức đánh bại đối phương, đè bẹp ý chí xâm lược của địch”3.
       
        Trong lĩnh vực "biết đánh" rất phong phú đó, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã vận dụng tài tình sáng tạo, đúng quy luật và nâng lên một đỉnh cao mới nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng được kế thừa của tổ tiên ta.
       
        Trong lịch sử, dân tộc ta luôn luôn phải chống lại những kẻ thù xâm lược có đông quân, lắm súng, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn ta, có khi gấp nhiều lần. Trong tình hình đó nếu không biết đánh giá địch, ta cho đúng thì làm sao dám đánh, dám chấp nhận cuộc chiến đấu không cân sức với quân thù, từ đó tìm ra con đường dẫn tới chiến thắng.
       
        Để đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch, chúng ta đã luôn luôn vận dụng đúng đắn quan điểm tổng hợp, đánh giá sức mạnh của địch và của ta không chỉ dựa vào số lượng quân đội, vũ khí, phương tiện vật chất, mà xem xét toàn diện các mặt quân sự, chính trị , kinh tế và văn hóa, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, điều kiện trong nước và trên thế giới... Trong kháng chiến chống Mỹ, đế quốc Mỹ mạnh hơn ta gấp hàng trăm, nghìn lần về kinh tế, về số lượng và chất lượng vũ khí, kỹ thuật quân sự. Nhưng chúng ta mạnh hơn hẳn chúng về chính trị, về tinh thần của nhân dân và quân đội, về chất lượng lực lượng vũ trang, về khoa học nghệ thuật quân sự. Chính vì vậy Đảng ta khẳng định ngay từ đầu: "Mỹ giàu nhưng không mạnh", và hạ quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
       
        Trong chiến tranh giải phóng, lúc đầu ta còn yếu hơn địch về vật chất. Muốn mạnh hơn địch để thắng địch, phải qua một quá trình chuyển hóa làm cho ta ngày càng mạnh lên, địch ngày càng yếu đi. Vì vậy phải đánh lâu dài, ta càng đánh càng mạnh, cuối cùng đủ sức áp đảo quân địch, giành thắng lợi.

---------------
1. Trích: Điện số 956KT ngày 1 tháng 4 năm 1975 của Bộ Chính trị gửi Trung ương cục và các đồng chí đại diện Bộ Chính trị tại mặt trận Sài Gòn.

2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tiếng Nga, xuất bản lần thứ hai, t 9, tr. 495.

3. Lê Duẩn. Thiên anh hùng ca vĩ đại, Tạp chí Cộng sản, số tháng 5-1985, tr. 8.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:39:15 PM
        Trong chiến tranh, phải đánh thắng địch về quân sự. Vì vậy phải tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch về quân sự. Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của nhân dân ta chống xâm lược là chính nghĩa nên có sức mạnh của toàn dân. Lực lượng vũ trang tập trung của ta lúc đầu thường ít hơn quân xâm lược. nhưng ta vẫn duy trì và phát triển được cuộc kháng chiến là nhờ có sức mạnh của chiến tranh nhân dân, của toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Lực lượng vũ trang được tổ chức thành ba thứ quân nên có thể phát huy sức mạnh đánh địch ở khắp nơi, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị càng tạo thành sức mạnh tổng hợp rất lớn. Thực tiễn của các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của nhân dân ta vừa qua đã chứng minh: thế dựa vào dân là thế vững nhất, sức mạnh của nhân dân là sức mạnh to lớn nhất, trí sáng tạo của nhân dân là vô tận. Cho nên nghệ thuật tổ chức, xây dựng lực lượng của chúng ta trước hết là nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng của chiến tranh nhân dân, đi từ xây dựng cơ sở chính trị mà xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân cân đối và đồng bộ.
       
        Trong nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng, trong khi đánh giá đúng mức vai trò của số lượng lực lượng vũ trang, chúng ta hết sức coi trọng yếu tố chất lượng. Tổ tiên ta xưa kia đã từng vận dụng đúng đắn quan điểm xây dựng quân đội "cốt ở tinh nhuệ, không cốt nhiều”. Khi sử dụng, lúc thì lấy ít đánh nhiều, khi thì tập trung lực lượng ưu thế lấy nhiều đánh ít, nhưng nói chung đều sử dụng một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất, "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi”, (Nguyễn Trãi-Lam Sơn thực lục). Nghệ thuật sử dụng lực lượng của ta còn luôn luôn đi đôi với nghệ thuật làm suy yếu lực luống của địch, khơi sâu chỗ yếu và hạn chế chỗ mạnh của chúng.
       
        Nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng lực lượng của chúng ta là sử dụng lực lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với thế và thời. Chúng ta coi lực lượng là yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh giành thắng lợi, nhưng sức mạnh không phải chỉ tùy thuộc vào bản thân lực lượng mà còn phụ thuộc vào thế và thời cơ mà lực lượng ấy được sử dụng. Lẽ đương nhiên là phải có lực lượng đủ mạnh thì mới tạo nên hoặc tận dụng được thế và thời cơ có lợi, nhưng một khi có thế tốt và được sử dụng đúng thời cơ thì sức mạnh mà lực lượng đó tạo ra sẽ vượt xa sức mạnh ban đầu của bản thân nó. Đúng như Nguyễn Trãi đã nói, "được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn..." (Quân trung từ mệnh tập). Ví như một đội đặc công, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, với thế mạnh của lối đánh luồn sâu, ém sẵn, bí mật, bất ngờ, khi tập kích một sân bay địch có thể làm nên chuyện mà bình thường phải sử dụng từng trung đoàn, sư đoàn không quân ném bom mới làm nổi. Cho nên có thể nói nghệ thuật quân sự Việt Nam luôn luôn là nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ đê sử dụng lực lượng có lợi nhất, phát huy được sức mạnh lớn nhất và đạt tới hiệu quả cao nhất.
       
        Trong nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng của ta, còn nổi lên vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng chủ lực để hình thành những quả đấm mạnh, giáng những đòn tiêu diệt lớn quân địch, đặc biệt là vào giai đoạn cuồl của chiến tranh.
       
        Trong chiến tranh giải phóng, lực lượng ta lúc đầu còn nhỏ nên phải đánh lâu dài, phải thắng địch từng bước, đánh bại địch từng bộ phận, vừa đánh vừa xây dựng, phát triển lực lượng về mọi mặt; đến khi lực lượng ta dần dần mạnh lên mới có khả năng đánh tập trung, thực hiện các đòn tiêu diệt lớn. Cùng với sự phát triển của chiến tranh, lực lượng vũ trang tập trung của ta được tổ chức với quy mô ngày càng lớn, đồng thời thế trận chiến tranh nhân dân của ta cũng phát triển ngày càng sâu rộng, cài xen vào thế trận của địch, buộc địch phải phân tán đối phó, phòng ngự bị động, không thể tập trung được lực lượng lớn để tiến công có hiệu quả.
       
        Đến giai đoạn cuối chiến tranh, ta tiến hành tiến công chiến lược và tổng tiến công chiến lược kết hợp với nổi dậy của quần chúng để giành thắng lợi quyết định thì trên cơ sở chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, phải tổ chức các tập đoàn chiến dịch và tập đoàn chiến lược đứng chân trên các địa bàn trọng yếu, hình thành những quả đấm mạnh trên nhiều hướng chiến lược. Những quả đấm đó, trên nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp và vững chắc, cho phép ta thực hành các trận tiến công đồng thời hoặc gối đầu hay kế tiếp liên tục trên toàn chiến trường, làm cho địch bị động đối phó ở nhiều nơi, không điều động được lực lượng đi ứng cứu lẫn nhau; gây nên sự đổ vỡ "dây chuyền" trong thế trận chiến lược của địch, làm xuất hiện những tình huống chiến lược và thời cơ chiến lược mới nối tiếp nhau, tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi nhanh chóng, dồn dập và ngày càng lớn.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:42:15 PM
        Trong kháng chiến chống Pháp, ta mới có khả năng tổ chức được một tập đoàn chiến lược nên chỉ mở được từng chiến dịch riêng rẽ trên từng hướng chiến lược riêng rẽ; các hướng chiến lược khác chỉ có sự phối hợp bằng các hoạt động tác chiến hoặc chiến dịch nhỏ mà kết quả thắng lợi chỉ có giá trị về chiến dịch, ít có giá trị về chiến lược. Năm 1950, ta mở chiến dịch Biên giới; đầu năm 1951 mới mở chiến dịch Trần Hưng Đạo rồi tiếp đến chiến dịch Hoàng Hoa Thám, sau đó là chiến dịch Quang Trung, nhưng đó đều là những chiến dịch, chưa làm thay đổi được cục diện chiến trường. Đến Đông-Xuân 1953-1954, ta cũng chỉ tập trung được một tập đoàn chiến lược mở chiến dịch Điện Biên Phủ mà không có tập đoàn chiến lược thứ hai ở đồng bằng Bắc Bộ; ở các hướng chiến lược khác, ta cũng mới tổ chức được một vài tập đoàn chiến dịch nhỏ. Do đó thắng lợi chiến lược có phần bị hạn chế.
       
        Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, với những điều kiện mới của tình hình trong nước và trên thế giới, việc xây dựng, phát triển lực lượng và sự chỉ đạo chiến lược của ta có bước phát triển cao hơn. Tới một giai đoạn phát triển nhất định của chiến tranh, ta đã tổ chức được nhiều tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch, đứng chân và cài thế sẵn trên các hướng chiến lược trọng yếu trên toàn chiến trường. Trong chiến cuộc Xuân-Hè 1972, ta đã tổ chức được một tập đoàn chiến lược đứng chân ở phía bắc trận tuyến của địch ở Quảng Trị; một tập đoàn chiến dịch mạnh đứng chân ở phía nam trận tuyến của địch ở phía tây Sài Gòn; và một tập đoàn chiến dịch nhỏ đứng giữa trận tuyến của địch tại Tây Nguyên. Khi cuộc tiến công chiến lược được phát động thì các tập đoàn chiến lược và chiến dịch này đồng thời hành động với sự phối hợp của chiến tranh nhân dân rộng rãi, sâu hiểm trên toàn chiến trường, cả trước mặt và sau lưng địch. Tình thế đó buộc địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó một cách lúng túng, dẫn đến trận tuyến của chúng bị phá vỡ ở một số nơi, không sao hàn gắn được.
       
        Đến đầu năm 1975, việc tổ chức, chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng tiến công chiến lược đạt tới quy mô lớn hơn trước nhiều. Để chuẩn bị cho chiến cuộc Xuân 1975, ta đã xây dựng được hai tập đoàn chiến lược và một tập đoàn chiến dịch mạnh, đồng thời có lực lượng tổng dự bị chiến lược hùng hậu. Tập đoàn chiến lược thứ nhất gồm một quân đoàn và một số sư đoàn đứng chân ở hướng chiến lược Huế-Đà Nẵng. Tập đoàn chiến lược này đã kéo được hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược của địch (sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn dù) ra Huế và Đà Nẵng rồi giam chân chúng ở đó, làm cho bộ chỉ huy địch không còn nắm được trong tay lực lượng dự bị mạnh. Tập đoàn chiến lược thứ hai gồm một quân đoàn cùng một số sư đoàn, đứng chân ở phía tây-bắc Sài Gòn. Đó là chiếc búa sẵn sàng đập vào đầu địch, khiến địch luôn luôn phải cảnh giác đề phòng.
       
        Tập đoàn thứ ba là một tập đoàn chiến dịch mạnh gồm một số sư đoàn đứng chân ở quãng giữa trận tuyến địch là Tây Nguyên.
       
        Ngoài ba tập đoàn lực lượng đó ra, Bộ Tổng tư lệnh của ta còn nắm trong tay lực lượng dự bị chiến lược mạnh gồm một quân đoàn, đồng thời có nguồn hậu bị dồi dào sẵn sàng được động viên.
       
        Do tổ chức được các tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch mạnh đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yếu suốt chiều dài trận tuyến như thế, nên khi cuộc tổng tiến công chiến lược được phát động thì các hướng đều có thể đồng thời hành động, hoặc gối đầu nhau, hoặc kế tiếp nhau một cách liên tục.
       
        Cách tổ chức, bố trí lực lượng như vậy làm cho ta nắm vững được quyền chủ động chiến lược. Ta lại có mưu kế hay, lập thế trận tốt, giỏi nghi binh lừa địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:47:46 PM
       
NGHỆ THUẬT LẬP THẾ TRẬN
       
        Nghệ thuật lập thế trận, một nội dung rất quan trọng của nghệ thuật quân sự, đã ra đời từ rất sớm trong lịch sử chiến tranh. Nó cũng được nghiên cứu và vận dụng khá phổ biến ở các nước phương Đông từ nhiều thế kỷ qua.
       
        Ở Việt Nam, trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược lớn từ trước tới nay, thời nào cũng vậy, dân tộc ta luôn luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh. So sánh lực lượng ban đầu thường là bọn xâm lược có số quân đông hơn ta, có khi gấp nhiều lần. Để đánh thắng chúng, ngoài việc tính toán chuẩn bị về lực lượng, tinh thần và tiềm lực kinh tế quân sự của đất nước, dân tộc ta luôn luôn phải nghiên cứu vận dụng nghệ thuật đánh giặc thích hợp, trong đó có nghệ thuật lập thế trận.
       
        Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ vừa qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội vào thực tiễn nước ta, kế thừa kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc đồng thời tiếp thụ những kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới, đưa nghệ thuật quân sự của chiến tranh cách mạng Việt Nam phát triển lên những đỉnh cao mới; trong đó, nghệ thuật lập thế trận đã có nhiều biểu hiện phong phú, sáng tạo. Trong điều kiện phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nghệ thuật quân sự của ta đã thành công xuất sắc trong việc lập thế trận, nên với lực lượng ít hơn địch, đã tạo ra sức mạnh áp đảo quân địch, giành thắng lợi. Nghệ thuật lập thế trận đã thực sự trở thành một bản lĩnh sở trường, một kinh nghiệm có tính chất truyền thống của quân và dân ta, một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
       
       
I. THẾ TRẬN LÀ GÌ?
       
        Thế trận là thế bố trí lực lượng, sắp xếp triển khai đội hình và tổ chức, thiết bị chiến trường trên một đia hình tác chiến nhất định đối trước quân địch, theo mưu kế tác chiến của ta.
       
        Nghệ thuật lập thế trận, theo binh pháp thời xưa thì gọi là phép bày binh bố trận. Đó là khoa học về tìm chọn phương án tối ưu trong việc bố trí, sắp xếp đội hình tác chiến phù hợp với những điều kiện khách quan trên chiến trường, nhằm thực hành tác chiến chiến lược, chiến dịch hay từng trận chiến đấu. Bố trí thế trận giỏi, điều khiển thế trận tài thì với lực lượng ít có thể thắng kẻ địch có số lượng đông hơn, có khi đông hơn mình gấp bội. Lực lượng mạnh, thế trận hay thì thắng lợi càng lớn. Ngược lại, có lực lượng mạnh mà bố trí thế trận tồi thì trước một đối phương có lực lượng kém nhưng có thế mạnh, vẫn lâm vào thế bị động, đối phó lúng túng, phạm sai lầm, dẫn đến hao binh tổn tướng và thất bại. Trong lịch sử đấu tranh vũ trang từ xưa tới nay đã không hiếm trường hợp một đội quân nhỏ đứng trên chỗ hiểm, lại khéo bày binh bố trận, giỏi điều khiển tình huống chiến đấu, đã thắng oanh liệt những đội quân đông hơn.
       
        Thế trận mang tính chất tổng hợp. Nó được hình thành trên cơ sở của nhiều yếu tố và sự tác động lẫn nhau giữa những yếu tố đó. Những yếu tố cơ bản là: lực lượng và hình thái bố trí của địch; lực lượng của ta; điều kiện địa hình và thiết bị chiến trường; nghệ thuật lập thế trận và tổ chức, chỉ huy của ta, v.v.
       
        Thế trận có thể sớm hình thành đầy đủ, trong đó toàn bộ đội hình của các lực lượng tham gia được triển khai ngay từ đầu. Thế trận cũng có thể hình thành dần từng bước trong quá trình tác chiến. Nhưng nói chung thế trận không đứng im mà luôn luôn vận động, biến hóa từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc tác chiến. Thế trận là một yếu tố giữ vai trò quyết định đối với diễn biến của tình huống chiến đấu.
       
        Thế trận và thế có mối quan hệ khăng khít với nhau. Trong cuộc đấu tranh giữa hai bên đối địch, thế là hình thái tạo ra điều kiện thuận lợi cho bên này và khó khăn cho bên kia trong việc phát huy sức mạnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra cho mình. Thế là kết quả của một quá trình đấu tranh làm chuyển biến so sánh lực lượng giữa hai bên, là kết quả sự vận động tổng hợp của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, vật chất và tinh thần, lực lượng và thế trận… Trong đó thế trận là một yếu tố rất cơ bản để hình thành thế, tạo ra thế có lợi nhằm đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình .
       
        Trong một cuộc chiến tranh, thường có rất nhiều thế trận khác nhau. Mỗi hình thức tác chiến có thể là một thế trận. Người ta thường chia ra thành thế trận chiến lược, thế trận chiến dịch và thế trận chiến đấu.
       
        Xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân, trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ vừa qua, đảng ta đã tổ chức xây dựng được một thế trận rộng lớn trên phạm vi cả nước: thế trận chiến tranh nhân dân. Trong thế trận chiến tranh nhân dân đó, thế trận chiến dịch và chiến đấu của ta phát triển hết sức phong phú, độc đáo và rất lợi hại.
       
        Thế trận chiến tranh nhân dân của ta là thế trận đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy1 tiến công với nổi dậy, kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, kết hợp tiêu diệt địch với làm chủ, làm chủ với tiêu diệt địch... trong một cuộc đấu tranh toàn diện trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong thế trận đó, mỗi người dân là một chiến sĩ giết giặc, cứu nước, mỗi làng xã, mỗi địa phương là một pháo đài phòng giữ vững chắc, tiến công mạnh mẽ; sức mạnh tại chỗ của mỗi địa phương và sức mạnh của cả nước được phát huy đến mức cao khiến cả nước trở thành một mặt trận thống nhất, mỗi địa phương là một trận địa tiến công tiêu diệt kẻ thù.

------------------
1. Ngày nay được gọi là: kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực-B.T.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 04:57:15 PM
        Thế trận chiến tranh nhân dân tạo ra cho quân và dân ta thế chủ động tiến công địch, bao vây, chia cắt, giam chân địch, căng mỏng chúng ra mà đánh ở mọi nơi, trong mọi lúc, đồng thời tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch ở nơi hiểm yếu, nơi địch sơ hở, trên chiến trường ta lựa chọn. Chính dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân đã bày sẵn mà năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam hòng tạo ra bước ngoặt căn bản về so sánh lực lượng có lợi cho chúng, quân và dân ta ở miền Nam vẫn giữ vững và không ngừng phát triển thế tiến công quân địch.
       
        Giặc Pháp và giặc Mỹ tuy có số quân đông, được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, lại chiếm giữ được một số vùng và địa bàn chiến lược, nhưng đụng vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta, chúng đều đã thất bại. Cả giặc Pháp lẫn giặc Mỹ đều sa vào thế trận không có lợi cho chúng: càng đánh chúng càng bị hãm vào thế phòng ngự bị động, bị bao vây chia cắt, chỗ mạnh của chúng bị kiềm chế, chỗ yếu của chúng bị khoét sâu, muốn tập trung mà phải phân tán, có quân đông mà vẫn thiếu, vẫn sơ hở, liên tiếp bị tiêu hao và tiêu diệt.
       
        Cậy có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự của một nước có số dân đông, có kỹ thuật hiện đại, đế quốc Mỹ đã dốc mọi khả năng chúng có thể huy động hòng phá vỡ thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Chúng đã đưa số quân của chúng lên tới mức gấp gần 10 lần số quân của ta. Những thành tựu mới nhất về vũ khí kỹ thuật chiến tranh, chỉ trừ vũ khí hạt nhân, đã được chúng sử dụng vào chiến trường Việt Nam. Nhưng tất cả những cố gắng đó không giúp chúng thoát khỏi thế bị động, thế phòng ngự. Như các tướng lĩnh Mỹ đã thú nhận, khi quân Mỹ ở chiến trường miền Nam đạt tới con số cao nhất thì cũng là lúc số quân phải làm nhiệm vụ phòng thủ có tỷ lệ đông hơn số quân cơ động tới 8 lần.
       
        Thế trận chiến tranh nhân dân của ta vô cùng nguy hiểm đối với kẻ thù, song lại tạo điều kiện rất thuận lợi cho lực lượng chủ lực cơ động của ta luôn luôn có khả năng đánh địch trên thế mạnh. Thế trận chiến tranh nhân dân là cái nền vững chắc cho tổ chức các thế trận chiến đấu, chiến dịch và tác chiến chiến lược để thực hành quyết chiến, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi quyết định cho toàn cuộc chiến tranh.
       
        Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, thế trận chiến tranh nhân dân đã tạo cơ sở cho ta bố trí nhiều thế trận tác chiến chiến lược rất hay, rất độc đáo. Thế trận tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vừa là thế trận tiếp tục phát triển thế chủ động về chiến lược của ta, vừa là thế trận đập tan cuộc phản công chiến lược bằng kế hoạch Na-va của Pháp-Mỹ, giành thắng lợi quyết định, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chứng thực dân Pháp. Thế trận trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam xuân 1968 đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật đánh bất ngờ, đánh hiểm của quân và dân ta. Thế trận tiến công chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã đạt tới đỉnh cao của việc làm chuyển biến nhanh nhất so sánh lực lượng giữa ta và địch về mặt chiến lược, của nghệ thuật tiến công thần tốc.
       
        Nghệ thuật lập thế trận chiến dịch của ta đã đạt được nhiều thành công trong việc xây dựng và điều khiển thế trận chiến dịch tiến công. Thế trận chiến dịch của chiến tranh nhân dân trong hai cuộc kháng chiến vừa qua của quân và dân ta chủ yếu là thế trận chiến dịch tiến công. Cũng có một số chiến dịch được tiến hành bằng thế trận phản công như chiến dịch Đường số 9-Nam Lào. Thế trận chiến dịch phòng ngự cũng có nhưng rất ít.
       
        Thế trận chiến dịch tiến công được thể hiện cụ thể ở việc chuẩn bị và thiết bị chiến trường, bố trí lực lượng, sắp xếp đội hình theo phương án tác chiến đã định, lựa chọn các hướng tiến công và định các bước, các giai đoạn của chiến dịch, dự kiến và chuẩn bị đối phó với các tình huống phát triển trong chiến dịch. Trong thế trận chiến dịch, hình thành những thế khác nhau như thế công, thế vây, thế cắt, thế kìm, thế diệt, trong các thế đó lại có trạng thái của thế nổi và thế chìm. Trong thế trận chung của một chiến dịch tiến công, có thể hình thành một số hoặc toàn bộ các thế đó. Một thế trận càng gồm đầy đủ các thế đó bao nhiêu thì càng tạo cho ta có sức mạnh áp đảo địch bấy nhiêu. Nói chung, thế trận chiến dịch tiến công của ta bao giờ cũng có thế công, thế diệt và đây là những thế cơ bản nhất. Vì có tạo được thế công, thế diệt mới bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch, giành thắng lợi cho chiến dịch.
       
        Các thế của một thế trận có quan hệ hữu cơ với nhau. Có thế công, thế cắt, thế vây, thế kìm mới tạo được thế diệt. Thế diệt càng mạnh, càng được phát huy tốt và sớm thì càng có tác động nhanh tới các thế khác. Nhìn chung trong một thế trận, nếu các thế đều vận động, phát triển tốt, kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau thì sức mạnh và tính vững chắc của chiến dịch tiến công càng được nhân lên gấp bội, có khi không lường hết được. Vì vậy, trong nghệ thuật thế trận, cần coi trọng vai trò của các thế, củng cố giữ vững và phát triển các thế trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Làm được như vậy thì thế trận mới mạnh và vững, bảo đảm mỗi chiến dịch đều có thể “sức dùng một nửa mà công được gấp đôi", như tổ tiên ta đã từng vận dụng thành công trong các cuộn đánh Tống, diệt Nguyên, trừ Minh và phá Thanh thuở trước.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:00:04 PM
       
II NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ LẬP THẾ TRẬN
       
        Khi lập thế trận chiến dịch hay thế trận chiến đấu, đều phải xuất phát từ các căn cứ: tình hình địch, tình hình ta, điều kiện khí tượng-thủy văn, địa hình và tình hình nhân dân, tức là các điều kiện trước đây thường gọi là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Đó là những yếu tố cơ bản để lập thế trận trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào. Nắm vững những yếu tố đó để lập thế trận và đặt kế hoạch tác chiến đã trở thành một nguyên tắc của bất cứ nền khoa học quân sự nào, ở bất kỳ thời đại nào.
       
        Nghiên cứu để nắm vững các yếu tố nói trên là điều mà ai cũng thấy được là cần thiết và phải làm. Nhưng phân tích một cách toàn diện, khách quan, khoa học các yếu tố đó, phát huy được tác dụng tổng hợp của chúng để tạo nên thế trận hay lại là một nghệ thuật rất cao.
       
        Khi nghiên cứu các yếu tố tạo thành thế trận, cần vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, phân tích cụ thể, toàn diện, sâu sắc từng yếu tố trong mối liên hệ với các yếu tố khác và trong sự vận động có tính quy luật của chúng, xem xét tác động tổng hợp của các yếu tố đó đối với chiến dịch hay trận chiến đấu để có quyết tâm chính xác và vạch ra cách đánh cụ thể; từ đó định ra cách bố trí thế trận phù hợp, bảo đảm cho cách đánh. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu tổng hợp các yếu tố, lại phải tìm ra trong từng trường hợp cụ thể, yếu tố nào nổi lên hàng đầu và có tác dụng chủ yếu trong việc bố trí thế trận và trong nghệ thuật đánh địch. Cho nên, phải nắm vững và nghiên cứu toàn diện các yếu tố, nhưng lại phải thấy đầy đủ vị trí, tác dụng của từng yếu tố trong những điều kiện cụ thể.
       
        Dưới đây là nội dung của một số yếu tố và sự vận dụng các yếu tố trong nghệ thuật lập thế trận.
       
        1. Yếu tố về địch.
       
        Biết địch một cách đầy đủ, sâu sắc là một yếu tố rất cơ bản để lập thế trận. Biết địch không phải chỉ cần biết số quân, vũ khí, trang bị, cách bố trí của chúng, mà còn phải biết rõ mặt chất lượng, tinh thần, kỷ luật, trình độ tác chiến, sở trường, chỗ mạnh, chỗ yếu và cả tính nết người chỉ huy của chúng. Đặc biệt là phải biết rõ âm mưu, thủ đoạn và quy luật hành động của địch. Có như vậy mới có cơ sở chính xác để đánh giá thế trận của địch có gì mạnh, yếu, khi bị ta đánh thì cả thế và lực của địch sẽ biến đổi thế nào.
       
        Biết địch là để đánh địch. Biết chỗ mạnh của địch là để tìm cách phá cái mạnh, biết chỗ yếu là để khoét sâu cái yếu của chúng, lấy cái mạnh của ta đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Do đó, trong việc tìm hiểu địch phải hết sức tỉnh táo, khách quan, không để địch đánh lừa, song phải luôn luôn có ý chí, quyết tâm tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi trong cuộc đọ sức, đọ tài với chúng. Từ đó mới có sự quan sát tinh tường, phán đoán sắc bén, phát hiện ra những sai lầm của địch hoặc tìm cách lừa địch, bố trí thế trận có thật có giả, dẫn địch đến chỗ phạm sai lầm để đánh bại chúng.
       
        Có thể lấy trận Can xảy ra năm 216 trước công nguyên làm thí dụ về điều đó. Tướng Ha-ni-ban chỉ huy quân Các-ta-giơ có 5 vạn quân, hạ trại cố thủ ở cánh đồng gần thành Can. Đối thủ của Ha-ni-ban là tướng Va-rôn chỉ huy quân La Mã có gần 7 vạn quân. Cậy có số quân đông, Va-rôn bố trí đội hình thành thế trận tập trung dày đặc có chiều sâu để đột phá bằng sức mạnh vào quân Các-ta-giơ. Với con mắt tinh tường và tài suy xét sắc sảo, Ha-ni-ban đã đánh giá đúng thế mạnh về đột phá của đối phương, đồng thời cũng phát hiện được sai lầm của đối phương là bố trí thế trận quá dày đặc trên chính diện hẹp nên khó cơ động và dễ bị bao vây từ hai bên sườn. Ha-ni-ban đã bố trí thế trận hình móng ngựa lồi về phía địch với lực lượng vừa đủ chống với lực lượng đột phá của địch, còn lực lượng mạnh thì bố trí ở hai bên sườn để cơ động bao vây vu hồi, đánh vào sau lưng quân địch và phá vỡ thế trận của chúng. Kết quả là chưa trọn một buổi, quân Các-ta-giơ ít hơn đã đánh bại hoàn toàn quân La Mã có số lượng đông gần gấp rưỡi, diệt 40.000, bắt 10.000 tên địch mà chỉ bị thương vong 6.000 người.
       
        Thắng lợi của quân Các-ta-giơ là thắng lợi của nghệ thuật biết địch, biết mình, thắng lợi của nghệ thuật lập thế trận tài giỏi.
       
        Trong lịch sử chiến đấu chống xâm lược của dân tộc ta, các võ công oanh liệt Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa... đều là những thắng lợi của mưu sâu kế hiểm trong nghệ thuật lập thế trận của tổ tiên ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:04:47 PM
        Thế trận tiêu diệt gọn 10 vạn quân Minh do Liễu Thăng chỉ huy là một trong những điển hình của nghệ thuật lập thế trận sâu hiểm mà mạnh của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trước. Đây là trận đánh diễn ra trong thời kỳ kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Lúc đó quân địch đã bị bao vây và đang cụm lại cố thủ trong các sào huyệt của chúng. Để tiếp ứng cho đạo quân chiếm đóng, nhà Minh tổ chức một đội quân viễn chinh lớn chia làm hai đạo tiến vào nước ta theo hai đường: một đạo do Liễu Thăng chỉ huy gồm 10 vạn tên tiến sang theo đường Quảng Tây; một đạo do Mộc Thạnh chỉ huy gồm 5 vạn tên, tiến sang theo đường Vân Nam. Với lực lượng cố thủ còn khá đông và vẫn chiếm giữ nhiều địa bàn chiến lược quan trọng, nhà Minh hy vọng với 15 vạn quân mới sang sẽ có thể tiến hành một cuộc phản công chiến lược, trong đánh ra ngoài đánh vào để chuyển bại thành thắng.
       
        Như vậy, thế của địch không phải không có mặt mạnh; so sánh lực lượng xét về quân chủ lực tập trung thì địch có số lượng đông hơn ta. Song về cơ bản, địch đã ở thế yếu, thế thua không sao cứu vãn nổi. Bọn địch đang bị vây hãm không đủ sức phá vỡ vòng vây, bọn mới kéo sang chỉ hùng hổ bên ngoài. Mộc Thạnh vừa tiến vừa thăm dò; đối với đạo quân này, ta có thể kìm giữ chúng rồi tiêu diệt sau. Còn Liễu Thăng thì hung hăng kiêu ngạo, nắm trong tay một đạo quân lớn, nhưng như bộ thống soái nghĩa quân đã vạch rõ, Liễu Thăng tiến quân sâu vào nước ta sẽ không thể không bị “hãm vào thế trong miệng cọp".
       
        Nghĩa quân quyết định lập thế trận "vây thành diệt viện" trên quy mô chiến lược, tập trung lực lượng chủ yếu tiêu diệt đạo quân lớn nhất, mạnh nhất của địch do Liễu Thăng trực tiếp chỉ huy từ đường Quảng Tây tiến vào nước ta. Thế trận lập ra để tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng được Nguyễn Trãi gọi là thế trận "phục binh giữ hiểm đập gãy tiên phong". Nếu so sánh lực lượng quân chủ lực tập trung thì trong trận này, địch có 10 vạn, còn nghĩa quân có 5 vạn. Nhưng thế trận của ta là lấy thế mạnh đánh địch đông mà yếu, tận dụng thế hiểm của địa hình, liên tục tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng các trận mai phục, tiến lên tiêu diệt hoàn toàn quân địch.
       
        Như ta đã biết, nghĩa quân đã liên tiếp tiêu diệt từng bộ phận quân Liễu Thăng bằng các trận Chi Lăng, Cần Trạm, Xương Giang. Trong các trận Chi Lăng, Cần Trạm ta dựa vào thế hiểm của địch để lập thế trận mai phục tiến công. Trong trận Xương Giang, ta lập thế trận bao vây quân địch đã ở thế bị cô lập, tướng mất, quân thua sau mấy trận liên tiếp. Kết quả là với nghệ thuật nắm địch, phân tích chính xác mặt mạnh, mặt yếu của địch, nắm vững tính nết của từng tên tướng chỉ huy của chúng, nghĩa quân Lam Sơn đã lập thế trận giỏi, dùng 5 vạn quân ta diệt 10 vạn quân địch gồm cả các tướng lĩnh chỉ huy của chúng.
       
        Ngày nay, nguyên tắc phải "biết địch" không khác nhưng nghệ thuật nắm địch và phán đoán về địch thì đã phát triển rất nhiều.
       
        Trong chiến dịch, biết địch không chỉ hạn chế trong phạm vi địa bàn tác chiến mà còn phải biết địch từ gốc, tức là hiểu sâu cả âm mưu, chủ trương chiến lược, thủ đoạn tác chiến cũng như quy luật hành động của địch tại chiến trường. Như vậy ta mới có đầy đủ cơ sở để phán đoán và dự kiến được đường đi, nước bước của địch, từ đó mà bày mưu tính kế, bố trí thế trận hiểm hóc để tiêu diệt chúng.
       
        Cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở đường số 9-Nam Lào của địch bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1971 , nhưng do nắm chắc âm mưu và chủ trương chiến lược của địch nên ta đã sớm phán đoán trước ý đồ của chúng mở cuộc hành quân này. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1970, ta đã tiến hành công tác chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng và hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến dịch. Vì vậy, trước khi quân địch bắt đầu hành quân vượt biên giới Việt-Lào, ta đã cùng với các lực lượng bạn triển khai xong thế trận. Kết quả là cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch nhằm đánh phá hậu cần, cắt đường tiếp tế chiến lược của ta, đã bị đánh bại hoàn toàn.
       
        Trong chiến dịch Sa Thầy ở mặt trận Tây Nguyên tháng 10-11 năm 1966, ta đã nắm vững quy luật hoạt động của quân Mỹ là: mỗi khi phát hiện lực lượng của ta, chúng thường dùng trực thăng đổ quân "nhảy cóc" vào phía sau lưng ta hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng của ta. Từ đó, ta đã bố trí thế trận ở khu vực sông Sa Thầy, tiến hành nghi binh lừa địch, dụ chúng vào những khu quyết chiến ta đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt chúng. Kết quả là trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt 2.400 tên địch (có hơn 2.000 Mỹ), góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của giặc Mỹ.
       
        Những ví dụ trên cho thấy: biết địch càng rộng, càng sâu, càng cụ thể, chính xác bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho ta có cách đánh hay, lập thế trận tốt và điều khiển được địch để tiêu diệt chúng dễ dàng, thuận lợi bấy nhiêu.
       
        Đi đôi với biết địch, còn phải chú ý không để địch biết ta, kể cả những điều ta biết được về chúng. Phải triệt để giữ bí mật và dùng mọi biện pháp nghi binh, ngụy trang để bưng tai, bịt mắt địch, hướng chúng vào những hoạt động sai lầm và qua đó bộc lộ thêm những sơ hở, những chỗ yếu khiến ta có điều kiện nhanh chóng tiêu diệt chúng.
       
        Trong chiến tranh hiện đại, việc nắm địch chính xác, kịp thời càng trở nên quan trọng và phức tạp. Ngày nay các phương tiện vô tuyến điện được sử dụng rộng rãi trong các lực lượng vũ trang, cuộc chiến đấu trên làn sóng điện, được gọi là chiến tranh vô tuyến điện tử, đã và đang phát triển mạnh. Để biết đầy đủ về địch, cần sử dụng tốt các phương tiện trinh sát điện tử kết hợp chặt chẽ với các biện pháp nắm địch cổ truyền. Có như vậy mới có khả năng nắm địch kịp thời, biết địch đầy đủ, chính xác và có biện pháp tốt để phá trinh sát địch, giữ bí mật của ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:11:27 PM
        
        2. Yếu tố về ta.
        
        Biết ta là một yếu tố cơ bản quyết định việc hình thành thế trận. Biết ta là để tổ chức, sắp xếp, bố trí lực lượng đúng, nhằm phát huy được sở trường chiến đấu và sức mạnh cao nhất của các lực lượng vũ trang ta.
        
        Nắm tình hình ta phải đầy đủ, chính xác cả về số lượng và chất lượng trên các mặt: tinh thần, tư tưởng, tổ chức, trang bị, vũ khí, trình độ tác chiến của tất cả các lực lượng, nhất là trình độ lãnh đạo, chỉ huy của cán bộ các cấp. Trên cơ sở đó đánh giá một cách thật khách quan chỗ mạnh, chỗ yếu và khả năng tiêu diệt địch của từng lực lượng, từng đơn vị. Nắm cho được thực chất tình hình ta về mọi mặt đúng với yêu cầu đó là cả một nghệ thuật.
        
        Nắm tình hình ta có nội dung rất phong phú và phải trải qua một quá trình, trong đó người chỉ huy triển khai toàn bộ các hoạt động đối với đơn vị: nuôi quân, quản lý, giáo dục rèn luyện bộ đội, tổ chức chỉ huy đơn vị công tác, chiến đấu. Đó cũng là quá trình cán bộ, chiến sĩ cùng nhau chung sức xây dựng đơn vị, đoàn kết gắn bó với nhau, hiểu nhau, trên dưới một lòng, tin tưởng lẫn nhau, hiệp đồng ăn ý, cùng nhau khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.
        
        Nghệ thuật nắm tình hình ta còn thể hiện ở chỗ ngay trong quá trình luyện quân đã xây dựng và tăng cường từ sự nhất trí về tư tưởng, quyết tâm, phương châm tác chiến, vận dụng chiến thuật, kỹ thuật đến sự hòa hợp về tâm tư, tình cảm trong sinh hoạt hàng ngày của bộ đội.
        
        Như vậy, nắm tình hình ta không phải chờ đến lúc ra quân mới làm. Tất nhiên khi bước vào chiến đấu, cần nắm chắc lại một lần nữa tình hình về mọi mặt, xem xét những vấn đề mới phát sinh, những vấn đề còn tồn tại mà quá trình rèn luyện chưa kịp giải quyết, những vấn đề phải đến khi ra quân mới có điều kiện đánh giá như: lực và thế của ta thế nào, chỗ nào còn yếu cần khắc phục; những mặt cần thiết phải giải quyết? So sánh giữa thế ta và thế địch ra sao? v.v.
        
        Năm 1789, vua Quang Trung từ Phú Xuân tiến quân ra bắc đánh quân Thanh, khi dừng lại ở Thọ Hạc (Thanh Hóa) làm lễ "thệ sư" (một hình thức động viên quân sĩ) đã truyền cho nghĩa quân tinh thần quyết chiến quyết thắng và niềm tin mãnh liệt. ông ra lệnh: "Bớ chư quân! Phàm ai bằng lòng chiến đấu thì hãy vì ta giết sạch quân giặc. Nếu ai không muốn thì hãy xem ta giết vài vạn người trong một trận. Đó không phải là chuyện lạ đâu”. Sách Lê quý ký sự mô tả quang cảnh lúc đó như sau: "Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đổi màu. Rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp đường ra bắc”. Vốn tự mình xây dựng, rèn luyện quân đội, Quang Trung nắm quân rất chắc và hết lòng tin tưởng vào tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội. Song ngay trong quá trình hành quân ra bắc (khoảng một tháng), bằng những cố gắng lớn lao Quang Trung không ngừng tiếp tục bổ sung, chấn chỉnh, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của quân đội, tạo nên những điều kiện chính trị, quân sự cần thiết để chiến thắng quân địch bằng những đòn tiến công sấm sét.
        
        Với nghệ thuật luyện quân và cầm quân tài giỏi, với lòng tin sắt đá ở quân đội thuộc quyền mình, Quang Trung khẳng định mạnh mẽ: "Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh" (Hoàng Lê nhất thống chí), và hạ quyết tâm dứt khoát: đánh tan quân giặc, giải phóng thành Thăng Long trước ngày mồng sáu tháng giêng để ngày mồng bảy sẽ mở tiệc mừng chiến thắng giữa kinh thành.
        
        Sở dĩ Quang Trung nắm quân chắc, điều khiển quân giỏi là do ông có quan điểm đúng đắn về xây dựng quân đội: "Quân đội chỉ cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”, và thắng bại trong chiến tranh "không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít" (Tây Sơn bang giao tập).
        
        Trên cơ sở nắm vững chất lượng, bản lĩnh chiến đấu của quân đội cùng với tài nghệ chỉ huy của mình, trong suốt cuộc đời chinh chiến lúc vào nam, khi ra bắc, hết dẹp Trịnh, Nguyễn đến diệt Xiêm, phá Thanh, lần nào Quang Trung cũng bày được thế trận lợi hại và cũng chỉ bằng một trận quyết chiến đã tiêu diệt và đánh bại quân thù có số lượng lớn hơn mình gấp bội.
        
        Phương pháp đánh giá so sánh lực lượng giữa ta và địch một cách tổng hợp, cả thế và lực, cả số lượng và chất lượng... là nét nổi bật, xuyên suốt của lý luận khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nó xuất hiện từ rất sớm. Tổ tiên ta xưa kia vận dụng phương pháp ấy tuy còn thô sơ nhưng đã có những thành công xuất sắc. Ngày nay, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã nắm vững và phát huy phương pháp đó lên một trình độ mới. Phương pháp ấy rất khác biệt với học thuyết về "binh số” (ưu thế về số lượng) của nhiều nhà lý luận quân sự nước ngoài thời xưa cũng như thời nay.

        Trong lịch sử phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam, Tổ tiên ta có lý luận khác với thuyết dùng binh của Tôn Tử: "Gấp mười thì mới vây diệt được địch" còn "ít mà đánh địch đông thì không tránh khỏi bị địch diệt và bắt làm tù binh". Tổ tiên ta khẳng định: "Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi". Tất nhiên từ xưa tới nay, lý luận quân sự Việt Nam cũng rất coi trọng số lượng. Chúng ta không đánh giá thấp mặt mạnh của những kẻ địch xâm lược có số lượng đông, có trang bị vũ khí nhiều và hiện đại hơn ta. Để khắc phục chỗ mạnh đó của địch, dựa vào tính chất chính nghĩa của chiến tranh, chúng ta động viên toàn dân tham gia giết giặc thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ. Lực lượng cầm vũ khí được tổ chức, huấn luyện, trang bị thích hợp, được chuẩn bị chu đáo, có tinh thần quyết đánh và biết đánh thắng địch.
       
        Do đó, khi nghiên cứu tình hình ta, phải tính toán đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng, song trên cơ sở số lượng nhất định, bao giờ cũng phải xem trọng yếu tố chất lượng, lấy chất lượng cao của ta thắng số lượng đông của địch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:23:15 PM
       
        3. Một số yếu tố địa lý quân sự.
       
        Trước đây ta thường gọi yếu tố này là "thiên thời, địa lợi". Ngày nay, qua quá trình phát triển của khoa học quân sự, các hiểu biết về trời, về đất đối với quân sự đã được tổng hợp lại thành môn khoa học về địa lý quân sự.
       
        Mỗi trận đánh, mỗi phiến dịch bao giờ cũng diễn ra trong không gian và thời gian cụ thể nhất định. Muốn bố trí thế trận, không thể không dựa vào một yếu tố cơ bản là yếu tố địa lý quân sự. Do đó, phải nghiên cứu cụ thể các điều kiện địa lý tác động đến quân sự để vận dụng cách đánh và bố trí thế trận cho phù hợp.
       
        a) Khí tượng-thủy văn:
       
        Khí tượng-thủy văn là những hiện tượng trong thiên nhiên diễn ra có quy luật như: mưa nắng, nóng lạnh, gió bão, sương mù, băng tuyết, hạn, lụt, thủy triều… Các hiện tượng trên ít nhiều đều có tác động trực tiếp tới hoạt động quân sự. Trong việc bố trí thế trận, phải hết sức tránh tác hại do các hiện tượng tự nhiên gây ra cho ta, đồng thời nghiên cứu lợi dụng nó để tăng cường thế trận của ta, làm yếu thế trận của địch.
       
        Trước đây, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đều đã lợi dụng yếu tố thủy văn, bày trận trên sông Bạch Đằng để đánh thắng thủy quân của giặc. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, chúng ta cũng thường lợi dụng đêm tối, sương mù để triển khai thế trận tiếp cận địch, để bày trận tập kích, phục kích và cũng thường lợi dụng thời tiết mùa khô để tổ chức các chiến dịch tiến công.
       
        Muốn lợi dụng thiên nhiên, phải nắm cho được quy luật của thiên nhiên và hành động đúng với quy luật đó mới tận dụng được thế lợi do thiên nhiên tạo ra để bày thế trận tiêu diệt.
       
        b) Địa hình:
       
        Địa hình là một yếu tố cơ bản chi phối trực tiếp tới thế trận. Thế trận không thể tách khỏi địa hình. Ta phải nghiên cứu các mặt lợi hại của địa hình, khai thác, cải tạo địa hình, tận dụng thế hiểm của địa hình để tăng thêm sức mạnh và tính vững chắc cho thế trận của ta. Ở Việt Nam có rất nhiều loại địa hình: rừng núi, đồng bằng, làng mạc, sông ngòi, ven biển, thành phố, thị xã... mỗi loại có đặc điểm riêng. Mỗi loại địa hình có nhiều dạng khác nhau, mỗi địa bàn lại thường có nhiều loại địa hình xen kẽ với nhau.
       
        Chiến đấu ngày nay không chỉ diễn ra trên mặt đất mà cả ở trên không, trên mặt nước và dưới nước. Song giữ vai trò quyết định là chiến đấu trên mặt đất. Bởi vì chiến đấu trên không, trên biển nếu không có chỗ dựa trên mặt đất thì cũng không có thế vững và không có lực chi viện mạnh. Tất nhiên trong chiến tranh cũng có những trận chiến đấu và chiến dịch độc lập trên biển, trên không, nhưng thắng lợi của chiến tranh cuối cùng cũng phải giải quyết trên mặt đất.
       
        Chúng ta rất coi trọng yếu tố địa hình và đã rất sáng tạo trong việc lợi dụng thế lợi của địa hình để bày trận. Trong Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đầu năm 1953, Trung ương Đảng phân tích hình thái chiến trường toàn quốc và chỉ rõ: đại bộ phận quân địch tập trung ở Bắc Bộ nên các chiến trường khác có nhiều sơ hở; ở Bắc Bộ, lực lượng địch lại tập trung lớn ở đồng bằng. Trong tình hình chiến trường đồng bằng có nhiều thuận lợi cho địch, chúng ta chỉ có thể giành và giữ được xu thế lực lượng và chủ động tiến công địch trong điều kiện tác chiến ở rừng núi. Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng đã xác định phương hướng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên những hướng xung yếu; từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho ta diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Nắm vững phương hướng chiến lược đó, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng xác định chủ trương tác chiến Đông-Xuân 1953-1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở (Tây Bắc Việt Nam) và phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở hướng đánh địch ở Lào; đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh vào vùng tự do của ta, đi đôi với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Khi phát hiện quân ta tiến lên Tây Bắc, địch vội cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Sau khi đã cân nhắc thận trọng, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn tiêu diệt tập đoàn cứ điểm quan trọng này.
       
        Ở Điện Biên Phủ, địch có lực lượng mạnh và tổ chức phòng ngự chặt chẽ, nhưng có nhiều bất lợi về mặt địa hình. Về phía ta, ta có thể lợi dụng địa hình vùng núi cao bao quanh lòng chảo Điện Biên Phủ để xây dựng thế trận lợi hại, khống chế, bao vây chặt quân địch để tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:25:50 PM
       
        4. Yếu tố nhân dân.
       
        Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "... thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết"1.
       
        Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo là chiến tranh nhân dân. Trong suốt cuộc chiến tranh cũng như trong mỗi chiến dịch, mỗi trận chiến đấu, bao giờ cũng có sự tham gia về nhiều mặt của nhân dân. Yếu tố nhân dân đã trở thành một yếu tố quyết định trực tiếp đối với toàn bộ quá trình và kết cục của chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu. Yếu tố nhân dân có quan hệ và tác động về nhiều mặt tới các lĩnh vực của nghệ thuật quân sự, trong đó có thế trận. Chính vì vậy, thế trận của ta có một đặc điểm nổi bật là tính nhân dân; nghệ thuật lập thế trận của ta luôn luôn coi trọng việc phát huy yếu tố nhân dân trong bố trí thế trận.
       
        Yếu tố nhân dân tạo cho chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu của ta có sức mạnh hết sức to lớn về lực và thế, góp phần làm thay đổi về căn bản so sánh lực lượng giữa lực lượng vũ trang ta với quân xâm lược. Với sự tham gia, phối hợp, giúp đỡ của nhân dân, một đại đội, tiểu đoàn của ta có thể đương đầu với từng trung đoàn, sư đoàn địch.
       
        Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua cho thấy, khi đã hình thành phong trào toàn dân đánh giặc, khi đã có lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân hợp đồng chiến đấu chặt chẽ với nhau thì về chiến lược, chiến dịch và trong từng trận chiến đấu, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta có thế trận rất mạnh và lợi hại, cài xen vào trận tuyến của địch và vây chặt lấy địch, tạo ra các thế mạnh như thế công, thế vây, thế cắt, thế kìm, thế diệt và thế nổi, thế chìm. Thế trận đó càng khoét sâu mâu thuẫn của địch giữa tập trung và phân tán, giữa tiến công và phòng thủ, làm cho thế trận của địch có nhiều nhược điểm, sơ hở. Còn ta thì do có yếu tố nhân dân, ta thực hiện được sự thống nhất chặt chẽ giữa tác chiến tại chỗ và tác chiến cơ động, đánh địch kịp thời bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào, làm cho lực lượng cơ động của ta có thể chủ động và nhanh chóng đánh vào những nơi hiểm yếu và sơ hở trong thế trận chiến lược, chiến dịch của địch. Phát huy được yếu tố nhân dân trong nghệ thuật lập thế trận, lực lượng vũ trang ta khi còn thưa đủ sức tập trung thành đơn vị lớn cũng như khi đã mạnh, đều có thể bố trí thế trận có lợi để tiêu diệt địch. Lực ta càng mạnh thì thế trận của ta càng lợi hại.
       
        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh điều này. Dựa vào sức mạnh của toàn dân của cả nước, các binh đoàn chủ lực cơ động của ta đã đồng thời triển khai tiến công địch trên toàn tuyến từ Trị-Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng đến Tây Nguyên, từ Xuân Lộc Biên Hòa đến Tây Nam Sài Gòn và suốt tuyến đường số 4 từ Sài Gòn đến Cà Mau. Các binh đoàn chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương hình thành thế trận tiến công rộng lớn và tạo nên lực lượng tiến công tổng hợp với thế tiến công thần tốc, mạnh mẽ, hiểm hóc, nhanh chóng phá vỡ và làm đảo lộn tuyến phòng thủ chiến lược của địch, khiến lực lượng chúng đông mà ở đâu cũng bị cắt, bị kìm, không thể tập trung được lực lượng đủ mạnh để ứng cứu cho nhau.
       
        Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay, chúng ta phải tiếp tục không ngừng củng cố, tăng cường thế trận toàn dân đánh giặc trên cả nước cũng như ở từng địa phương và cơ sở, không ngừng củng cố, phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ, cả bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ. Những việc đó chỉ có thể làm được khi ta có cơ sở chính trị vững mạnh trong nhân dân, khi nhân dân được giáo dục, chuẩn bị tốt cả về tinh thần, ý chí chiến đấu và về tổ chức tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Hoạt động xây dựng và tác chiến của quân đội có quan hệ mật thiết với việc củng cố, tăng cường thế trận toàn dân đánh giặc. Quân đội càng làm tốt nhiệm vụ là nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, càng hiệp đồng và phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang quần chúng và nhân dân trong xây dựng và chiến đấu thì càng có điều kiện thuận lợi để phát triển lực lượng của mình và bố trí thế trận mạnh để đánh địch.
       
        Nắm vững tình hình nhân dân, góp phần bồi dưỡng sức dân và phát huy khả năng to lớn của nhân dân tham gia đánh giặc là một yếu tố tạo thành sức mạnh lớn lao của thế trận chiến đấu, thế trận chiến dịch và cho toàn cuộc chiến tranh. Đó là một trong những yếu tố cơ bản quyết định thắng lợi, là một nội dung sáng tạo trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta.

--------------
1. Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr. 168.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:30:27 PM
         
III. NHỮNG YÊU CẦU CỦA THẾ TRẬN
       
        Bày trận có mục đích cao nhất là tạo thế lợi cho mình, phá thế của địch, tiêu diệt và đánh bại đối phương, giành thắng lợi trong chiến tranh, chiến dịch và chiến đấu.
       
        Thế trận là một bộ phận của việc tổ chức và thực hành một hình thức tác chiến cụ thể nên phải đáp ứng yêu cầu của nghệ thuật vận dụng cách đánh của hình thức tác chiến đó.
       
        Vì vậy, muốn bố trí thế trận tốt, trên cơ sở những căn cứ chung về tình hình địch, tình hình ta, địa hình, thời tiết, tình hình nhân dân… còn phải dựa vào tính chất, nhiệm vụ, cách đánh và mưu kế của chiến dịch hay trận chiến đấu.
       
        Nói chung mỗi thế trận đều cần đạt được những yêu cầu chính sau đây:
       
        1. Ưu thế về sức mạnh.
       
        Bày trận là nghệ thuật tạo thế. Thế ở trong một thế trận, một mặt do bản thân sức mạnh của các lực lượng tham gia thế trận, mặt khác do mưu kế bố trí lực lượng khôn khéo mà tạo nên. Bởi vậy vận dụng mưu kế để tạo thế là cái lõi của nghệ thuật bố trí thế trận. Có mưu hay kế giỏi thì dù lực lượng ít vẫn có thể tạo nên nhiều thế tốt, và thế tốt sẽ làm cho sức mạnh được nhân lên gấp bội. Có như vậy mới tiêu diệt được địch, mới giải quyết được một vấn đề có tính quy luật là "mạnh được yếu thua". Cho nên yêu cầu đầu tiên, quan trọng nhất của việc lập thế trận là tạo ưu thế sức mạnh.
       
        So sánh lực lượng giữa hai bên đối địch trong từng trận hay trên toàn cục đều có trạng thái cơ bản là một bên mạnh, một bên yếu hoặc hai bên ngang nhau. Bất kể tình hình so sánh lực lượng thế nào, ta đều phải đánh thắng. Nếu lực lượng ta chưa mạnh hơn hoặc tương đương với địch thì ta phải tạo được sức mạnh hơn địch để đánh thắng chúng. Nếu ta đã mạnh thì phải làm cho ta càng mạnh thêm để giành thắng lợi cao nhất. Vì vậy, yêu cầu của việc bố trí thế trận là phải làm sao phát huy được cao nhất sức mạnh của ta, khắc phục mặt yếu của ta, đồng thời hạn chế chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng, buộc chúng phải chiến đấu trong thế yếu, thế không thuận lợi.
       
        Để thực hiện tốt yêu cầu này, trong việc bày mưu tính kế, trước hết thường phải cân nhắc rất kỹ việc chọn hướng (mục tiêu) tác chiến, chọn khu vực quyết chiến để đánh đòn quyết định tiêu diệt địch. Tùy theo sự so sánh lực lượng giữa ta và địch, việc chọn hướng và khu vực quyết chiến có thể theo nguyên tắc như sau:
       
        - Nếu lực lượng ta mạnh hơn địch, có thể đánh vào nơi địch mạnh.
       
        - Nếu lực lượng ta tương đương với địch, có thể đánh vào nơi địch tương đối mạnh.
       
        - Nếu lực lượng ta yếu hơn địch, thường đánh vào nơi địch sơ hở (yếu hoặc tương đối yếu).
       
        Song, dù lực lượng so sánh thế nào, việc chọn hướng tiến công chủ yếu và khu vực quyết chiến cũng đòi hỏi trình độ nghệ thuật rất cao. Hướng chủ yếu thường nên chọn vào nơi hiểm yếu của địch, đánh mạnh vào đó sẽ làm cho thế trận địch lung lay hay có thể sụp đổ hoàn toàn. Chọn nơi hiểm yếu đồng thời là nơi địch tương đối yếu và sơ hở thì thắng lợi sẽ càng nhanh hơn, dễ dàng hơn.
       
        Thực tiễn chiến đấu cho thấy, nơi hiểm yếu, chỗ sơ hở của một bên nào đó không phải chỉ do bản thân bên đó gây ra mà còn do thế trận của đối phương tạo nên nửa. Thế trận của Mỹ-ngụy trong chiến tranh vừa qua có nhiều sơ hở, nhiều nơi hiểm yếu vì nó đụng đầu với thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Cho nên lập thế trận giỏi không những phải chọn đúng hướng chủ yếu, khu vực quyết chiến mà còn phải tạo cho ta nhiều khả năng lựa chọn. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước các cuộc tiến công chiến lược của ta, Mỹ-ngụy đều lúng túng và phạm sai lầm khi phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta. Bởi vì trước thế trận chiến tranh nhân dân trùng điệp của ta, ở đâu chúng cũng thấy bị uy hiếp, có khả năng bị ta tiến công, cả ở phía trước, bên sườn hay phía sau lưng.
       
        Có xác định được đúng khu vực quyết chiến để đánh đòn quyết định thì mới hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch hay chiến đấu. Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch hay cả cuộc chiến tranh nói chung, hai bên tham chiến bao giờ cũng đi đến chỗ đưa lực lượng chủ yếu của mình ra đối chọi với đối phương. Cuộc chiến lúc đó sẽ diễn ra quyết liệt nhất, và cuối cùng thắng bại của trận chiến đấu, chiến dịch hay toàn cuộc chiến tranh là do cuộc đọ sức đó quyết định. Thông thường cuộc chiến đấu đó diễn ra trên hướng chủ yếu nên khu vực quyết chiến thường thống nhất với hướng chủ yếu. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự, quân đội ngày càng có sức cơ động cao nên hướng tác chiến và so sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi, chuyển hóa nhanh chóng. Trong chiến tranh hiện đại, để thực hiện được việc đánh đòn quyết định trên khu vực quyết chiến, cần phải tổ chức đội dự bị mạnh, có sức cơ động cao thì mới đối phó với các tình huống được chủ động và kịp thời.
       
        Trong một chiến dịch hay một trận chiến đấu, lực lượng ta có thể lớn hơn, bằng hoặc kém địch. Nhưng nhất thiết phải bảo đảm tập trung lực lượng ưu thế trên hướng chủ yếu và cho trận then chốt quyết định. Vì vậy nghệ thuật chọn hướng chủ yếu và khu vực quyết chiến để đánh trận then chốt, có quan hệ trực tiếp đến việc tổ chức, sắp xếp lực lượng sao cho thế trận giành được ưu thế sức mạnh. Đi đôi với tập trung lực lượng ưu thế, phải tìm được thế đánh có lợi thì mới phát  huy được ưu thế đó, làm tăng hơn nữa sức mạnh của ta.
       
        Thế trận của ta buộc địch tuy đông mà phải phân tán, bị tiêu diệt, hao mòn, mệt mỏi, có lực lượng mạnh nhưng vẫn bộc lộ nhiều sơ hở. Ta thì tập trung được lực lượng đúng vào chỗ có lợi thế để đánh vào thế trận bị căng mỏng của địch. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trên địa bàn từ Trị-Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Tây Nguyên… tới Sài Gòn, lực lượng ta và địch không hơn kém nhau bao nhiêu. Song do phát huy được sức mạnh của thế trận chiến lược chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, khéo lập thế trận chìm, nổi kết hợp với thế trận kìm địch, chia cắt địch, nên ta đã tạo được sức mạnh hơn địch, đánh đòn đầu tiên điểm trúng huyệt ở Buôn Ma Thuột dẫn đến việc đẩy nhanh sự sụp đổ của địch trên toàn chiến trường.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:34:05 PM
       
        2. Thế chủ động.
       
        Giành và giữ được thế chủ động trong suốt quá trình chiến tranh, chiến dịch hay trận chiến đấu luôn luôn là một yêu cầu hàng đầu đối với cả hai bên tham chiến. Bên nào “giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ”1.
       
        Thế trận chỉ có ưu thế sức mạnh thôi thì thưa đủ bảo đảm giành thắng lợi. Còn phải có cả thế chủ động nữa mới phát huy được ưu thế sức mạnh để diệt địch.
       
        Nội dung của thế chủ động trong thế trận bao gồm: chủ động lựa chọn chiến trường, bố trí thế trận, chủ động lựa chọn thời cơ tiến công, triển khai các phương pháp và thủ đoạn tiến công, thực hiện các bước của chiến dịch hay trận chiến đấu theo kế hoạch đã đề ra. Trong thế chủ động đó, các lực lượng phải hiệp đồng, phối hợp tác chiến chặt chẽ, phải tạo được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia chiến dịch hay trận chiến đấu.
       
        Để giành thế chủ động, hai bên đều cố gắng phát hiện lực lượng, ý định hành động của nhau và tìm mọi cách đánh lừa để gây cho đối phương bị bất ngờ, đối phó lúng túng. Thực tiễn chiến đấu chỉ rõ một bên dù mạnh và khôn khéo đến đâu cũng khó giành được toàn bộ quyền chủ động về mình và tước đoạt hết của đối phương mọi khả năng chủ động chống trả. Ví dụ, bên bị bao vây dù đã ở thế rất hiểm nghèo vẫn có khả năng chủ động thực hiện các trận phản kích để phá vây hoặc tiêu hao, tiêu diệt đối phương. Bởi vậy, dù đã giành và giữ được thế chủ động rồi vẫn không bao giờ được chủ quan, coi thường khả năng phản kích của địch.
       
        Để giành và giữ thế chủ động trong thế trận, cần chú ý mấy yêu cầu sau đây:
       
        - Thế trận phải kín đáo, vững vàng, có điều kiện tập trung và cơ động lực lượng.
       
        - Phải hình thành được thế chia cắt, bao vây, kìm giữ, nghi binh, ngăn chặn các hành động chống trả của địch, điều khiển địch theo mưu kế của ta, đẩy chúng vào thế bị cô lập, bị động đối phó, buộc địch phải đánh theo ý định của ta.
       
        - Trong quá trình hình thành thế trận và quá trình tác chiến, phải tăng cường các hoạt động nghi binh lừa địch, kết hợp với các hoạt động tập kích của đặc công, pháo binh, không quân... gây cho địch những thiệt hại bất ngờ và buộc chúng phải đối phó lúng túng.
       
        - Phải thấy trước những khó khăn và dự kiến mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra trong quá trình tác chiến để chuẩn bị sẵn các biện pháp khắc phục. Tất nhiên không ai có thể lường hết được tất cả những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong cuộc đọ sức mất còn giữa hai bên đối địch. Nhưng giỏi lập thế trận thì có thể gạn lọc bớt những tình huống phức tạp làm cho tình huống diễn biến đơn giản hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho ta nhanh chóng đánh bại kẻ địch.
       
        Gạn lọc tình huống là một việc làm rất công phu, đòi hỏi phải bố trí một thế trận khá phức tạp. Thế trận càng công phu, phức tạp bao nhiêu thì diễn biến tác chiến sẽ giản đơn bấy nhiêu. Điều đó không có gì là mâu thuẫn: Vì nếu dự kiến được hết các tình huống phức tạp và có chuẩn bị sẵn sàng biện pháp đối phó, nếu bố trí được thế trận chặt chẽ, khiến quân địch nếu sa vào đấy sẽ không thể tự do hành động mà buộc phải hành động theo ý định của ta, thì như vậy tình huống diễn biến sẽ giản đơn hơn, yêu cầu xử trí ít phức tạp hơn, và do đó ta càng có điều kiện giành và giữ thế chủ động để đánh thắng quân địch nhanh chóng, dễ dàng hơn.
       
        Trong chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, ta đã lập một thế trận không những có khả năng tiến công địch ở Buôn Ma Thuột mà còn chia cắt, kìm chân địch trên toàn chiến trường Tây Nguyên, tạo thế đánh các loại địch phản kích và cả thế đánh địch rút chạy. Đó là một thế trận rộng lớn được chuẩn bị công phu và phức tạp, nhưng chính nhờ vậy mà ta đã loại trừ được những khả năng bất ngờ do địch gây ra.

-----------------
1. Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, t.1, tr. 137.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:36:49 PM
       
        3. Thế tiến công, đánh hiểm, đánh nhanh, đánh tiêu diệt.
       
        Như đã nói ở trên, mục đích của bày trận là tạo thế có lợi cho mình, phá được thế địch để tiêu diệt chúng. Nếu thế trận của ta đã có ưu thế sức mạnh và có thế chủ động, thì đương nhiên để phá thế trận địch và tiêu diệt địch, còn phải tạo thế tiến công, đánh hiểm, đánh nhanh, đánh tiêu diệt.
       
        Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch, để thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch, giải phóng hoặc bảo vệ đất đai, bảo vệ nhân dân, người ta thường phân chia các nhiệm vụ cụ thể của từng bước chiến đấu, từng giai đoạn chiến dịch: nhiệm vụ trước mắt, nhiệm vụ tiếp sau, nhiệm vụ phát triển, v.v. Trong các nhiệm vụ nói trên, lại phân chia cho các lực lượng chiến đấu, các binh chủng trên các địa bàn, các hướng khác nhau, như hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, hướng phối hợp… hoạt động ở chính diện hoặc bên sườn, phía sau hoặc ở ngay trong lòng địch.
       
        Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch, tất cả các lực lượng tham gia tác chiến, phục vụ tác chiến, dù làm bất cứ nhiệm vụ gì, vào lúc nào, cũng đều nằm trong thế trận chung và dựa trên sức mạnh của toàn thế trận để thực hiện nhiệm vụ của mình. Do đó mặc dù là thành phần lực lượng nào, làm nhiệm vụ gì, bản thân từng lực lượng cũng phải quán triệt tư tưởng tiến công và tích cực hành động tiến công địch. Thế tiến công đối với thế trận không những phải thể hiện ở thế tiến công chúng của toàn bộ các lực lượng, mà từng bộ phận, từng hướng cũng phải có thế tiến công. Có như vậy mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia tác chiến.
       
        Trong bố trí thế trận, nếu tạo được ưu thế sức mạnh và nắm được quyền chủ động là đã có cơ sở để tạo thế tiến công. Song thế tiến công có hình thành được hay không, có thể trở thành thế tiến công nhanh, mạnh, có hiệu suất tiêu diệt địch lớn hay không cũng còn tùy thuộc vào nghệ thuật vận dụng cách đánh, nghệ thuật bố trí thế trận kìm chân địch, cô lập địch.
       
        Trong các trận chiến đấu, các chiến dịch giành được thắng lợi giòn giã, thế trận thường bao gồm những thế như: thế vây, thế cắt, thế kìm, thế tiến công, thế diệt. Trong các thế nói trên, có một số được thể hiện rõ ràng, cụ thể ngay trong việc bố trí lực lượng đối chọi với địch. Đó có thể gọi là thế nổi. Có một số thế địch không thấy được, nhưng nếu chúng hành động hoặc khi cuộc chiến diễn ra đến lúc nào đó thì mới xuất hiện. Đó gọi là thế chìm, thế ém trước, thế mai phục. Ngoài ra cũng có những thế đặc biệt lợi hại có thể gọi là thế hiểm, sâu, dài, sắc, nhọn…Ví dụ, thế bố trí đánh ngay được vào chỗ hiểm yếu của địch, hoặc dùng đơn vị tinh nhuệ (đặc công) luồn sâu, ém sẵn, bất ngờ xuất hiện đánh vào cơ quan chỉ huy đầu não, kho tàng, binh khí kỹ thuật của địch… Một thế trận gồm đủ các thế như trên là một thế trận hay, tạo điều kiện cho ta tiến công lợi hại, đánh địch cả phía trước, phía sau, bên sườn, tiêu diệt địch mau chóng và gọn ghẽ.
       
        Muốn lập được thế trận như vậy, phải triệt để tận dụng yếu tố bí mật, bất ngờ trong quá trình triển khai thế trận. Địch bao giờ cũng tìm mọi cách phát hiện, chống phá từ lúc ta chuẩn bị cho đến lúc kết thúc chiến dịch, chiến đấu. Ta phải tìm mọi biện pháp khắc phục, có khi phải tiếp tục tạo thế trong quá trình tác chiến. Thực tế cho thấy, trong nhiều chiến dịch, để tạo được thế hay ta phải tranh chấp quyết liệt với dịch. Giải quyết được tốt điều đó, ta sẽ làm rung chuyển thế địch, dẫn tới làm sụp đổ hoàn toàn thế trận của chúng. Tuy nhiên phải kiên quyết giữ vững thế trận đã tạo lập để thực hiện cho được mưu kế của chiến dịch, chiến đấu.
       
        Những kinh nghiệm về lập thế trận với đầy đủ các thế mạnh như trên đã phát triển ngày càng phong phú qua thực tiễn các chiến dịch Biên giới, Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp, các chiến dịch Đường số 9-Nam Lào, chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, và một số chiến dịch khác nữa.
       
        Trong chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, thế trận đã được tổ chức khá rộng lớn với nhiều thế rất lợi hại. Thế trận Tây Nguyên càng thêm phần lợi hại trong sự bố trí phối hợp chặt chẽ với thế trận chiến lược nói chung, với các thế trận của ta ở Trị-Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng, ở xung quanh Sài Gòn. Các thành phần của thế trận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và tác động lẫn nhau, hợp thành một thế trận hoàn chỉnh, vừa vững mạnh và sắc nhọn.
       
        Thế trận đó có những nét nổi bật như:
       
        -Thế vây, cắt: vừa vây, cắt chiến lược giữa chiến trường Tây Nguyên với các chiến trường khác; vừa vây, cắt chiến dịch giữa bắc với nam Tây Nguyên. Các thế đó đều phát huy tốt tác dụng đã làm cho quân địch ở Tây Nguyên bị cắt ra thành nhiều khu vực và nhiều cụm. Từng cụm, khu vực lại bị vây, cắt, bị cô lập.
       
        - Cùng với thế vây, cắt, ta đã tạo được thế kìm, hãm quân địch ở bắc Tây Nguyên, làm cho chúng bị giam chân, trói tay, đồng thời phải đối phó lúng túng với các đòn tiến công nghi binh của ta. Nên địch có lực lượng mà không phát huy được, lại bị suy yếu, hao mòn.
       
        Các thế vây, cắt kìm, hãm đã tạo ra cho ta thế chủ động hoàn toàn, còn địch thì bị dồn vào thế ngày càng bị động. Kết quả là với thế trận hay, mưu kế giỏi, ta đã thực hành tiến công như vũ bão; phương án dự kiến đánh chiếm Buôn Ma Thuột trong thời gian 5-7 ngày đã được thực hiện chỉ trong 30 giờ. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, thế trận của địch vỡ rất nhanh. Quân địch ở nam Tây Nguyên số bị diệt số chạy trốn, quân cứu viện định đến cứu đồng bọn thì lại phải kêu kẻ cần được cứu đến cứu mình. Quân địch ở bắc Tây Nguyên hoang mang, tập đoàn chủ yếu của chúng chỉ mới nếm đòn nghi binh phối hợp của ta, đã vội vàng tháo chạy mà cũng không thoát.
       
        Thực tiễn cho thấy, trong chiến dịch Tây Nguyên từ Đức Lập qua Buôn Ma Thuột đến Phước An, Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng, từ Công Tum, PLâycu ra Bình Khê, sân bay Gò Quánh và từ Cheo Reo đến Củng Sơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, sân bay Thành Sơn... các thế trận của ta đều phát huy được quyền chủ động và thế tiến công dũng mãnh.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:39:39 PM
       
IV. MƯU KẾ VÀ THẾ TRẬN
       
        Mưu kế được thể hiện cụ thể trong ý định, chủ trương, kế hoạch tác chiến và trong toàn bộ quá trình lập thế trận, điều khiển thế trận. Thế trận sâu hiểm phản ánh mưu cao, kế giỏi.
       
        Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trước đây đều biết rõ mỗi khi ta tiến công ở đâu đều lập thế trận bao vây, chia cắt và tập trung lực lượng ưu thế đánh vào nơi hiểm yếu của chúng. Nhưng khi vào trận chúng vẫn không thể biết ta vây thế nào, cắt ở đâu tập trung lực lượng ra sao. Đó là vì ta có mưu cao, kế giỏi trong khi lập thế trận.
       
        Muốn đạt tới mưu cao, kế giỏi trong chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, phải trải qua sự nghiên cứu tổng hợp về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí của hai bên trên chiến trường; có kết luận đúng về chỗ mạnh, chỗ yếu, về âm mưu, thủ đoạn, quy luật hoạt động và phương thức tác chiến của địch. Trên cơ sở đó mà lập mưu kế tiêu diệt, đánh bại địch.
       
        Bày thế trận là có mưu kế và mưu kế bày thế trận cũng là mưu kế chung của chiến dịch. Nghiên cứu các yếu tố về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí trên chiến trường để lập mưu kế cũng là nghiên cứu các yếu tố để bày thế trận. Mưu kế và thế trận là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Nghiên cứu nội dung của mối liên quan đó là điều hết sức cần thiết để nâng cao trình độ mưu kế trong lập thế trận, điều khiển thế trận.
       
        1. Mưu kế giải quyết sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan.
       
        Trong một trận chiến đấu, một chiến dịch hay toàn cuộc chiến tranh, bao giờ cũng có hai yếu tố khách quan và chủ quan. Khách quan là những hiện tượng thực tế về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí của hai bên trên chiến trường. Chủ quan là những cái thuộc về nhận thức của con người đánh giá tình hình khách quan, từ đó định ra quyết tâm, chủ trương, kế hoạch tác chiến. Có mưu kế giỏi là nắm được quy luật khách quan và biết cách làm cho chủ quan chuyển biến phù hợp với thực tế khách quan.
       
        Trong đấu tranh vũ trang, nếu có lực lượng hơn địch mà đánh thắng địch thì đó là một việc làm theo chiều thuận, biểu hiện sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan: giữa ý muốn chủ quan đánh thắng và tình hình thực tế khách quan lực lượng mình đã mạnh hơn lực lượng định. Tuy nhiên chiều thuận hay sự thống nhất đó giữa hai mặt khách quan và chủ quan cũng mới chỉ có trong phạm vi so sánh lực lượng lúc ban đầu. Trong quá trình tác chiến, so sánh lực lượng có thể thay đổi và tạo nên điều kiện khách quan mới khiến cho bên mạnh có thể trở thành yếu và ngược lại, do nỗ lực chủ quan, trình độ mưu kế của hai bên khác nhau.
       
        Hai người đánh cờ, lúc đầu có số lượng quân ngang nhau, xếp quân giống nhau, nhưng kết quả là người thắng, kẻ thua. Người thắng là người có mưu kế hay, lập thế trận tài và điều quân giỏi. Trong đấu tranh vũ trang, cũng có lúc lực lượng hai bên ngang nhau, nhưng khác với đánh cờ, ngay từ đầu hai bên không xếp quân giống nhau mà mỗi bên đều có mưu kế riêng để bố trí thế trận. Trong điều kiện đó, thắng được địch đã là hay rồi.
       
        Thực tiễn hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta vừa qua cho thấy, có rất nhiều trường hợp ta và địch có lực lượng không cân xứng nhau. Địch có số quân đông, có khối lượng vật chất, trang bị lớn và hiện đại. Ta có số quân ít, vật chất, trang bị kém. Nhưng ta lại thắng địch. Đó mới là cái hay trong cái hay, cái hay do nghệ thuật mưu kế tạo ra. Đây là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận và thực tiễn đối với nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện phải chuẩn bị sẵn sàng để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống các kẻ thù xâm lược có quân đông, súng nhiều.
       
        Nhìn chung thì dùng nhỏ thắng lớn là có mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan. Muốn giải quyết mâu thuẫn đó, không có cách nào khác là phải phát huy nỗ lực chủ quan rất cao, phát huy tính năng động cách mạng, tính sáng tạo trong nghệ thuật quân sự. Một nội dung cụ thể của nỗ lực chủ quan đó là nâng cao trình độ mưu kế, đánh thắng địch bằng trí thông minh.
       
        Dùng mưu kế để giải quyết mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan thực chất là sự tính toán khoa học các điều kiện khách quan chủ quan để có chủ trương hành động thật chính xác. Phải xem xét, phân tích hàng loạt điều kiện về địch, ta, địa hình, hình thái bố trí của hai bên, qua đó mà xác định cái gì khó khăn nhất ta phải và có thể khắc phục hay hạn chế được, cái gì có lợi ta cần tận dụng để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của mình. Trên cơ sở đó, tính toán giải quyết lần lượt toàn bộ các mâu thuẫn, xác định chủ trương chính xác và kế hoạch khôn khéo để giành thắng lợi.

        Muốn giải quyết các vấn đề trên, cần nắm vững hai khâu cơ bản là: mưu kế trong việc bày thế trận và vận dụng cách đánh. Bày thế trận là để thực hiện các cách đánh và muốn thực hiện cách đánh lại phải dựa trên thế trận. Cho nên mưu kế phải tính toán tới những chuyển biến của thế trận do cách đánh tạo nên và sự phát triển của cách đánh do tác động của sự chuyển biến thế trận. Cả hai khâu cơ bản nói trên cùng phát triển, hỗ trợ, tạo thế cho nhau sẽ làm cho các lực lượng tham gia chiến dịch chiến đấu phát huy sức mạnh hơn địch và đánh bại chúng.
       
        Mưu kế giải quyết được tất hai khâu cơ bản trên chính là một yếu tố quyết định sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan, làm cho ta tuy ít hơn địch nhưng lại trở thành mạnh hơn địch để thắng chúng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:43:16 PM
       
        2. Mưu kế giải quyết các mâu thuẫn giữa ta và dịch.
       
        Trong chiến đấu vũ trang, mâu thuẫn giữa địch và ta diễn ra rất phức tạp, có mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, có mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu…
       
        Quá trình giải quyết các mâu thuẫn lại diễn ra trong nhiều loại tình huống: có tình huống then chốt, tình huống then chốt quyết định và những tình huống phụ không có ý nghĩa quyết định. Tình huống này được giải quyết lại phát sinh tình huống mới. Quá trình xuất hiện và giải quyết các tình huống thường là những điều kiện để xuất hiện thời cơ. Mâu thuẫn cứ như thế diễn ra và nảy sinh, phát triển, nhưng không có mâu thuẫn nào giống mâu thuẫn nào, không có tình huống nào giống tình huống nào.
       
        Các mâu thuẫn nảy sinh, phát triển không phải ngẫu nhiên mà theo những quy luật nhất định, nên con người có thể nắm được, dự kiến những khả năng, điều kiện phát sinh và hình thức biểu hiện của nó. Từ đó mà phát huy nỗ lực chủ quan, bày mưu tính kế, tạo điều kiện cho nó xuất hiện, hoặc ngược lại hạn chế không cho nó nảy sinh. Có những tình huống không thể dự kiến được hết, nhưng người chỉ huy có mưu kế giỏi phải biết đề phòng và sẵn sàng đối phó khi nó xảy ra. Có mưu kế giỏi thì khi giải quyết mâu thuẫn, có thể dự kiến được hết các tình huống và chủ động khắc phục tình huống khó khăn, tạo ra thời cơ, nắm thời cơ để giành thắng lợi Ngược lại mưu không hay, kế không giỏi thì mâu thuẫn đã không giải quyết được mà còn phát triển thêm, tình huống xuất hiện càng phức tạp, khó khăn, chiến dịch, chiến đấu bị bế tắc hoặc thất bại.
       
        Trong đấu tranh vũ trang, mâu thuẫn chủ yếu thường là mâu thuẫn giữa các tập đoàn lực lượng chủ yếu của hai bên. Trong chiến dịch xuân 1975 ở Tây Nguyên, mâu thuẫn chủ yếu thứ nhất là mâu thuẫn giữa lực lượng của quân và dân ta ở Tây Nguyên với lực lượng dự bị cơ động chiến dịch, chiến lược của địch ở đồng bằng và các chiến trường khác có thể được điều đến (gồm sư đoàn bộ binh 22 của quân đoàn 2 và sư đoàn dù tổng dự bị của địch). Mâu thuẫn lớn thứ hai là mâu thuẫn giữa lực lượng ta ở nam Tây Nguyên với tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên. Ta giải quyết hai mâu thuẫn trên bằng cách cắt đường và khống chế sân bay, không cho lực lượng cơ động của địch tới Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột; mặt trận Huế-Đà Nẵng đánh phối hợp, kìm giữ sư đoàn dù của địch ở Đà Nẵng.
       
        Vì vậy có mưu hay kế giỏi là biết khôn khéo tính toán các điều kiện, khả năng để giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn. Phải dự kiến cho hết các tình huống chiến dịch, chiến đấu có thể diễn ra, xác định tình huống nào là cơ bản, then chốt, gây khó khăn lớn nhất cho ta, để tập trung tìm cách giải quyết thích hợp. Thực tiễn đã chứng minh, sau khi ta đã xác định được các mục tiêu, cách đánh và phương pháp tiến công tiêu diệt địch thì mâu thuẫn mới, tình huống khó khăn, nguy hiểm có thể nảy sinh thường là kẻ địch sử dụng lực lượng cơ động các cấp, nhất là lực lượng tổng dự bị chiến lược, để phản kích hòng làm thay đổi cục diện trên chiến trường có lợi cho chúng.
       
        Để giải quyết mâu thuẫn giữa hai tập đoàn chủ yếu của ta và của địch đối chọi nhau, cần có mưu kế trong việc bày thế trận và gạn lọc tình huống.
       
        Mưu hay, kế giỏi là kết quả của việc nắm chắc tình hình địch, ta, địa hình, hình thái bố trí của hai bên, từ đó có những quyết định thật khôn khéo về lập thế trận. Thế trận đó phải làm sao địch không đoán được khu vực ta quyết định tiêu diệt chúng hoặc đến khi đoán được thì đã quá muộn không sao đối phó được nữa. Mưu kế trong lập thế trận còn phải thể hiện ở chỗ không để bị mắc mưu địch, không để có sơ hở mà địch có thể lợi dụng để phá thế trận ta.
       
        Một thế trận tốt là một thế trận bố trí sao cho có thể loại trừ được những tình huống gây khó khăn trở ngại lớn nhất cho ta. Tình huống là sự vận động của mâu thuẫn giữa khách quan và chủ quan, giữa địch và ta. Mục đích của việc lập thế trận là tạo các khả năng, điều kiện để thống nhất khách quan với chủ quan. Do đó, bố trí thế trận để thực hiện được mưu kế, gạn lọc tình huống, loại trừ tình huống nguy hại, thì như vậy là một thế trận rất phức tạp nhưng tình huống diễn biến sẽ giản đơn. Tuy nhiên, nói gạn lọc tình huống không có nghĩa là không cần chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống đột xuất có thể xảy ra.
       
        Kinh nghiệm chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975 đã chứng minh điều đó. Ý định của Bộ chỉ huy chiến dịch là cô lập các lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột để tiêu diệt chúng. Tình huống lớn có thể xảy ra là địch dùng lực lượng mặt đất và đổ bộ đường không để ứng cứu và phản kích. Phải loại trừ được tình huống này thì mới bảo đảm thực hiện được ý định của chiến dịch. Mưu kế định ra là loại trừ các khả năng địch tăng viện đường bộ, bằng cách dùng lực lượng của sư đoàn bộ binh 3 và trung đoàn 95 đánh cắt giao thông và chặn đường số 19, trung đoàn 25 chặn đường 21 làm cho sư đoàn 22 địch không thể đi tăng viện cho Tây Nguyên đồng thời dùng sư đoàn bộ binh 320 đánh cắt, chặn đường số 14 làm cho tập đoàn chủ yếu của địch ở KonTum, Plâycu không sao đi ứng cứu được cho Buôn Ma Thuột.
       
        Để hạn chế khả năng địch tăng viện bằng đường không, ta đã dùng trung đoàn đặc công tập kích, chiếm sân bay Hòa Bình, và dùng tên lửa phòng không A72 khống chế không cho máy bay C130 địch hạ cánh. Như vậy, địch chỉ còn khả năng dùng máy bay lên thẳng để tăng viện. Với khả năng này, lực lượng tăng viện của địch sẽ yếu hơn, ta có thể dễ dàng đối phó. Tuy nhiên để đề phòng các tình huống khác có thể xảy ra, ta vẫn chuẩn bị sẵn sàng lực lượng của sư đoàn bộ binh 320 để cơ động đối phó và giao nhiệm vụ cho sư đoàn bộ binh 10 (thiếu) sau khi đánh Đức Lập xong thì lập tức cơ động về hướng đông-bắc Buôn Ma Thuột, sẵn sàng đánh quân tăng viện bằng máy bay lên thẳng của địch.
       
        Chiến dịch đã diễn biến đúng như mưu kế của ta: sau khi mất Buôn Ma Thuột, quân địch đã dùng máy bay lên thẳng chở quân tăng viện vào đúng nơi ta dự kiến nên chúng vừa đổ quân thì lập tức bị sư đoàn bộ binh 10 tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:47:48 PM
       
        3. Mưu kế trong điều khiển thế trận và đối chọi tình huống.
       
        Thế trận vận động, biến hóa do hoạt động của hai bên đối địch, do sự vận động của cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Sự vận động của yếu tố chủ quan, một phần là do mưu kế và sự điều khiển thế trận của ta quyết định. Sự vận động của yếu tố khách quan thường là do địch đối phó gây ra.
       
        Để thực hiện được mục đích của chiến dịch, tiêu diệt và đánh bại kẻ địch thì việc chủ động điều khiển thế trận vận động, biến hóa theo mưu kế định sẵn là thuận lợi nhất. Muốn vậy phải điều khiển thế trận phát triển một cách nhịp nhàng, ăn ý, đạt hiệu suất chiến đấu cao Điều khiển thế trận là căn cứ vào tình hình diễn biến chiến đấu mà điều chỉnh, bố trí lại lực lượng, bổ sung phương pháp, thứ tự tiến công, vận dụng các cách đánh thích hợp để thực hiện mưu kế, ý định đã đề ra.
       
        Chiến đấu là cuộc đọ sức sống còn, được mất. Dù ta có mưu kế tài giỏi đến đâu cũng không thể bắt kẻ thù phải ngoan ngoãn, bó tay khuất phục ngay được. Với tinh thần quyết chiến quyết thắng của ta và sự chống trả quyết liệt của địch, tình huống có thể diễn ra như ta đã dự kiến hoặc cũng có thể xuất hiện bất ngờ, nguy hiểm, làm đảo lộn thế trận, nhất là khi cuộc chiến bước vào giai đoạn quyết định ở khu vực quyết định. Vì vậy, quá trình điều khiển thế trận là quá trình phải đối chọi tình huống.
       
        Nếu tình huống diễn biến đúng như ta dự kiến thì việc xử trí không có gì khó khăn lắm. Song nếu tình huống xuất hiện ngoài dự kiến thì đấy là một khó khăn, trở ngại khách quan lớn. Ta phải xem xét kỹ và tập trung trí tuệ, sức lực để đối phó, nhất là những tình huống bất ngờ, nguy hiểm. Để xác định đúng phương hướng xử trí tình huống, phải cân nhắc giữa tình huống mới xuất hiện và nhiệm vụ tác chiến đang thực hiện, tình hình và khả năng của ta, từ đó xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu để giải quyết cho phù hợp. Đối chọi tình huống là một quá trình xử trí, dẫn dắt, điều khiển tình huống để tạo ra tình huống lớn chín muồi. Tình huống lớn chín muồi là mâu thuẫn phát triển đến cực điểm, đến độ phải chuyển hóa. Mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa hai tập đoàn chiến dịch hay chiến lược chủ yếu của ta và của địch. Giải quyết được mâu thuẫn này thì sự vật sẽ chuyển hóa, cục diện trên chiến trường sẽ ngã ngũ, tức là thắng lợi hay thất bại. Do đó tình huống lớn chín muồi chính là thời cơ chiến dịch hoặc chiến lược để đưa tập đoàn chiến dịch, chiến lược của ta ra đánh trận then chốt quyết định, tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, giành thắng lợi.
       
        Kinh nghiệm cho thấy, tình huống xuất hiện thường có hai mặt: một mặt gây khó khăn cho ta, mặt khác cũng tạo ra khả năng đưa đến thời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt địch. Tuy nhiên tình huống xuất hiện chưa hẳn đã dẫn tới thời cơ thuận lợi ngay, mà còn phải dẫn đến tình huống khác rồi mới tạo thời cơ thuận lợi cho ta. Do đó, trong quá trình điều khiển thế trận, xử trí, đối chọi tình huống, có khi phải căn cứ vào trạng thái địch, ta mà khêu gợi, dẫn dắt tình huống để tạo thời cơ có lợi.
       
        Chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975 đã cho ta một số kinh nghiệm về xử trí, đối chọi tình huống.
       
        Để tạo thuận lợi cho khu vực quyết chiến đánh trận then chốt quyết định, Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề nghị với cấp chỉ đạo chiến lược tìm cách giữ chân sư đoàn dù là lực lượng tổng dự bị của địch ở Huế và Đà Nẵng, để sau khi ta đánh Buôn Ma Thuột xong mới cho nó đến. Kết quả là ta đã hãm được sư đoàn dù, và khi nó bung ra được đến đèo Phượng Hoàng thì đã muộn. Lúc này là tình huống thuận lợi tạo cho ta thời cơ tập trung tiêu diệt lực lượng dự bị chiến lược của địch.
       
        Sư đoàn bộ binh 320 bố trí thế trận cắt đường số 14, nhưng chưa đến thời điểm hoạt động thì địch cho tiểu đoàn 1 trung đoàn 45 sục ra thăm dò. Trước tình huống đó, sư đoàn 320 phải lùi bước, cả một sư đoàn mạnh phải giấu mặt trước một tiểu đoàn địch, tránh đụng độ để khỏi lộ bí mật chiến dịch.
       
        Sau khi toàn chiến dịch đã lập thế trận xong, địch đã đánh hơi thấy sự chuẩn bị của ta nhưng chưa phán đoán được ý định của ta, nên đưa quân sục sạo thăm dò. Bộ chỉ huy chiến dịch liền chủ trương cho sư đoàn 320 thực hành liên tiếp hai trận tiêu diệt cát cứ điểm Chư Xê và Cẩm Gia để đánh lạc hướng phán đoán của địch. Địch đã hoàn toàn bị bất ngờ khi ta tiến công Đức Lập tiếp đó tiến công Buôn Ma Thuột khiến cho chúng không kịp trở tay đối phó. Đúng như Nguyễn Trãi đã viết: “người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời, thế mà thôi. Được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời, không thế thì mạnh hóa ra yếu, yếu lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay" (Quân trung từ mệnh tập).
       
        Giữa mưu kế và thế trận có mối quan hệ hữu cơ. Đó là ý định và biện pháp giải quyết mâu thuẫn và là sự đối chọi tình huống, dẫn dắt tình huống, tạo thời cơ thuận lợi nhất cho chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:49:54 PM
       
*

*      *

        Trong hai cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, quân và dân ta đều phải chống lại những kẻ thù có số lượng quân đội tập trung đông và trang bị mạnh hơn ta gấp bội. Nhưng cả hai lần chống xâm lược đó chúng ta đều dùng thế trận chiến tranh nhân dân và các phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân để đánh thắng giặc. Ta đã phát triển lực lượng vũ trang cả ba thứ quân. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, kết hợp tác chiến chính quy hợp đồng binh chủng với chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân ở địa phương và ở cơ sở, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, vừa đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, vừa tập trung lực lượng cơ động hùng mạnh giáng cho địch những đòn tiêu diệt lớn trên những địa bàn trọng điểm. Trong tương lai dù kẻ thù xâm lược có số quân đông, có trang bị mạnh hơn nữa thì thế trận chiến tranh nhân dân của ta vẫn là sức mạnh vô địch.
       
        Ngày nay chúng ta có điều kiện xây dựng lực lượng ba thứ quân tốt hơn và bố trí thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh hơn. Trong các lực lượng vũ trang, không những lực lượng chủ lực cơ động được trang bị tương đối hiện đại và hiện đại, được huấn luyện tác chiến hợp đồng quân chủng, binh chủng quy mô lớn, mà các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện đến dân quân, tự vệ ở các thôn xã, phố phường, công trường, nông trường, xí nghiệp cũng được kiện toàn tổ chức, được trang bị và huấn luyện tác chiến tốt hơn. Đi đôi với tăng cường trang bị, chúng ta có kế hoạch tăng cường tuyến phòng thủ, thiết bị địa hình, xây dựng các loại trận địa, công trình quốc phòng ở các địa phương. Sức mạnh chiến đấu của chiến tranh nhân dân được tổ chức chặt chẽ sẽ bảo đảm cho chúng ta đánh thắng bất cứ kẻ thù xâm lược nào.
       
        Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đặt ra trước chúng ta nhiều vấn đề lớn về xây dựng thế trận trong phạm vi cả chiến lược, chiến dịch và chiến đấu.
       
        Hiện nay các lực lượng vũ trang địa phương và dân quân, tự vệ đã tổ chức và chuẩn bị sẵn thế trận, chuẩn bị các phương án tác chiến ngay trên địa bàn của địa phương, trên các tuyến phòng thủ của đất nước. Bộ đội chủ lực cũng sẵn sàng làm lực lượng nòng cốt trong thế trận toàn dân đánh giặc. Do đó, ngay từ đầu cuộc chiến tranh nếu nó nổ ra, quân và dân ta đã có thể hợp đồng ba thứ quân đánh tiêu diệt quân địch ngay từ khi chúng mới đặt chân lên đất nước ta ở biên giới, ven biển và hải đảo, tiến công kiên quyết, phòng ngự ngoan cường, đánh chặn, đánh chia cắt, đánh vào sườn, phía sau địch, tiêu diệt thật nhiều quân địch, bảo vệ đất đai của Tổ quốc. Thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh là cơ sở để xây dựng các thế trận chiến dịch, chiến đấu lợi hại trên các địa bàn tác chiến. Với thế trận như vậy, các lực lượng vũ trang nhân dân ta có thể đồng thời tiến hành các đòn đánh tiêu diệt trong các khu vực quyết chiến đã chọn sẵn.
       
        Trong việc lập thế trận, trước đây ta đã có sở trường vận dụng nghệ thuật bao vây, chia cắt, cô lập địch, ngăn chặn, kiềm chế kết hợp với tiến công đột phá kiên quyết, liên tục và thực hiện các đòn đánh hiểm, đánh bất ngờ... Ngày nay ta có thể phát huy sở trường đó tới tới mức cao hơn và hoàn chỉnh hơn nhiều, cả trong tiến công, phản công và phòng ngự.
       
        Với kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, các lực lượng vũ trang ta sẽ ngày càng được tăng cường cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật thích hợp, được bổ sung những cán bộ và chiến sĩ có trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật và bản lĩnh chiến đấu không ngừng được nâng cao. Con người là yếu tố quyết định nhất trong chiến tranh, trong việc vận dụng nghệ thuật quân sự. Với con người mới xã hội chủ nghĩa, với sức mạnh mới về tổ chức, trang bị của lực lượng vũ trang, nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật lập thế trận của ta nói riêng nhất định sẽ phát triển lên những đỉnh cao mới. Vận dụng vào thực tiễn chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nó sẽ tạo nên sức mạnh thần kỳ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:55:27 PM
       
NGHỆ THUẬT CHỈ HUY TÌNH HUỐNG
       
        Chỉ huy tình huống là một vấn đề rất quan trọng trong chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch và chiến đấu. Nó đòi hỏi người chỉ huy phải có bản lĩnh kiên cường, tài năng mưu trí sáng tạo. Nếu chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch và chiến đấu là một nghệ thuật thì chỉ huy tình huống là một biểu hiện đặc sắc của nghệ thuật ấy.

*

*       *
       
        Muốn chỉ huy tình huống được tốt, trước hết cần làm rõ tình huống và chỉ huy tình huống là gì?
       
        Tình huống là tổng thể những hiện tượng, trạng thái và hoạt động của hai bên đối chiến, diễn ra trong không gian, thời gian nhất định, trong những điều kiện nhất định về đia hình, thời tiết, khí hậu…
       
        Chiến tranh, chiến đấu tất yếu biểu hiện ra bằng tình huống và vận động thông qua tình huống. Tình huống diễn ra không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người nhưng cũng không phải là bất kỳ, mà diễn ra có quy luật, do nỗ lực chủ quan của hai bên đối chiến trên chiến trường trong không gian và thời gian cụ thê. Nó là sự vận động tổng hợp của cả lực và thế cùng nhiều yếu tố khác. Nó thường phản ánh tập trung sự đối chọi quyết liệt khẩn trương giữa hai lực lượng đối địch. Nó tạo thuận lợi và đem lại điều kiện thành công hoặc gây khó khăn: thất bại cho mỗi bên. Sự phát triển của tình huống có ý nghĩa rất quan trọng, có khi quyết định kết cục của một giai đoạn hay toàn bộ trận chiến đấu, chiến dịch, cuộc chiến tranh. Tình huống diễn ra liên tiếp cả trước, trong và sau chiến đấu. Quan trọng và phức tạp nhất thường là những tình huống diễn ra trong chiến đấu với những biểu hiện muôn hình muôn vẻ. Có tình huống chiến đấu, tình huống chiến dịch và tình huống chiến lược. Có tình huống chung và có tình huống riêng về từng mặt, từng bộ phận, từng cấp, diễn ra trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mang tính chất quyết liệt, khẩn trương nhiều hay ít, tạo thuận lợi hay khó khăn: do địch, ta hay điều kiện tự nhiên gây ra, đã được tính trước hay ngoài dự kiến, v.v.
       
        Chỉ huy tình huống là một quá trình thực hành dự kiến, xây dựng, dẫn dắt, hạn chế, gạn lọc, xử trí và đối chọi tình huống.
       
        Đó là sự vận động tổng hợp của mưu kế, thế trận, lực lượng, biện pháp, trước hết nhằm làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo thế và thời cơ thuận lợi, tổ chức thực hiện thành công những đòn then chốt và then chốt quyết định trong thời gian quyết định, ở địa điểm quyết định, bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ trương và ý định đã đề ra, giành toàn thắng cho trận chiến đấu, chiến dịch hay chiến tranh. Chỉ huy tình huống là một nghệ thuật rất cao. rất sinh động, phức tạp trong nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch và chiến đấu.
       
        Chỉ huy tình huống không phải chỉ đơn giản là xử trí tình huống. Nếu ngồi chờ tình huống xẩy ra rồi mới đối phó thì sẽ bị động. Người chỉ huy giỏi phải chủ động tác động vào điều kiện khách quan để xây dựng và dẫn dắt tình huống phát triển thuận lợi cho mình, bất lợi cho địch. Đặc biệt phải tạo ra được tình huống thuận lợi cho các trận đánh then chốt. Muốn vậy phải có chủ trương, ý định tác chiến đúng đắn, có mưu kế hay và phải giỏi bố trí đội hình, lập thế trận.
       
        Ý định tác chiến vạch ra mục tiêu ta cần đạt tới, đối tượng ta định tiêu diệt, địa điểm ta sẽ tiêu diệt chúng, trận địa, địa bàn ta cần chiếm lĩnh hoặc giữ vững, thứ tự hành động của các đơn vị, v.v. Quân địch mà ta cần tiêu diệt trong một chiến dịch hay trận chiến đấu thường là tập đoàn chủ yếu của địch trong chiến dịch hay trận chiến đấu dó. Đó là lực lượng trụ cột của địch trong phòng ngự hoặc là mũi nhọn sức mạnh của chúng trong tiến công. Địa bàn, trận địa mà ta cần chiếm lĩnh thường là địa bàn, trận địa có vị trí hiểm vếu tạo nên tính vững chắc trong phòng ngự hoặc tạo điều kiện hình thành sức đột kích mạnh trong tiến công. Tiêu diệt được quân địch đó, ở địa bàn đó, ta sẽ nhanh chóng giành được thắng lợi
       
        Để thực hiện được ý định tiêu diệt quân địch tại nơi mà ta đã lựa chọn, cần có mưu kế. Muốn có mưu kế hay, phải hiểu rõ quân địch, nắm vững điều kiện địa hình, thời tiết... hiểu rõ khả năng, sở trường của quân ta. Từ chỗ hiểu biết chính xác về địch, về địa hình, về ta mà bày mưu đặt kế để đánh địch sao cho có lợi nhất. Phải đặt ra và giải đáp hàng loạt câu hỏi: đánh vào quân địch nào thì có thể tiêu diệt và đánh bại được chúng? Phải phân tán, kìm hãm, chia cắt, ngăn chặn địch như thế nào? Đánh địch vu hồi, tăng viện, ứng cứu, phản kích ở đâu? v.v.
       
        Trong chiến dịch Biên giới 1950, ý định của ta là đánh địch ở Đông Khê để cô lập địch ở Cao Bằng, kéo viện binh của chúng ở Lạng Sơn lên để tiêu diệt, sau đó sẽ tiêu diệt nốt quân địch ở Cao Bằng, giải phóng vùng biên giới.
       
        Trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 ý định của ta là phân tán địch ra Trung Lào và giam chân dịch ở đồng bằng để tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 05:59:46 PM
        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ý định của ta là cô lập địch ở Tây Nguyên để tiêu diệt chúng, giải phóng Tây Nguyên trước.
       
        Trong chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, ta hãm địch ở Plâycu. chia cắt địch giữa Plâycu và Buôn Ma Thuột, chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển miền Trung, tạo điều kiện để ta đánh địch ở Buôn Ma Thuột được thuận lợi.
       
        Đó là những dẫn chứng rất sinh động về tài nghệ xây dựng, tạo nên tình huống thuận lợi cho ta, hãm địch vào thế bất lợi.
       
        Sau khi đã định được mưu kế rồi thì đến bước lập thế trận, bố trí đội hình.Ta lập thế trận trong thế trận chung của chiến tranh nhân dân phát triển cao, do đó thế trận của ta rất hiểm hóc, vững chắc. Ta có thể đánh địch ở khắp nơi, cả trước mặt và sau lưng địch, bằng nhiều hình thức rất phong phú. sáng tạo và có hiệu lực. Trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, quân và dân ta luôn luôn đánh địch trên thế chủ động tiến công làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ. Vì vậy, thế trận của ta là thế trận xé nát quân thù, có sức mạnh vô cùng to lớn mà không một kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi. Chính trong thế trận chung đó của chiến tranh nhân dân, ta tạo nên thế trận lợi hại cho từng chiến dịch, từng trận chiến đấu. cho phép ta xây dựng và dẫn dắt tình huống một cách thuận lợi.
       
        Lập được thế trận rồi là bước vào cuộc chiến đấu. Chiến đấu diễn ra là thế trận vận động, mưu kế được phát huy. Thế trận vận động làm nảy sinh tình huống. Tình huống diễn biến là kết quả của sự đấu lực, đấu trí quyết hệt giữa hai bên đối chọi nhau. Tình huống phát triển, chuyển hóa là những mâu thuẫn trong đấu tranh được giải quyết. Tình huống đẻ ra tình huống, và cứ như thế diễn ra liên tục, kế tiếp nhau cho đến khi kết thúc cuộc chiến, phân rõ thắng bại.
       
        Mưu kế, thế trận hay, dở thế nào. phải đợi lúc thực sự vào cuộc chiến, tình huống diễn biến, chuyển hóa mới có thể đánh giá được.
       
        Điều khiển, chỉ huy tác chiến là lúc hoạt động sôi nổi nhất, sáng tạo nhất của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy. Chỉ huy tác chiến là thực hành mưu kế, điều khiển thế trận, phát huy lực lượng và cách đánh, cũng tức là dẫn dắt tình huống, xử trí tình huống, đối chọi tình huống.
       
        Người chỉ huy và cơ quan chỉ huy có cao tay hay không, có bản lĩnh hay không, điều đó được biểu hiện tập trung ở nghệ thuật chỉ huy tình huống.

*

*      *
       
        Như trên đã phân tích, chỉ huy tình huống là một hệ thống các hoạt động của người chỉ huy, từ việc suy nghĩ, dự kiến tình huống khi nó chưa xảy ra, định mưu kế: lập thế trận, tính toán kỹ lưỡng thứ tự hành động của ta và khả năng đối phó của địch, phán đoán các hành động của địch và dự kiến cách đối phó của ta để xây dựng, dẫn dắt tình huống cho đến việc xử trí các tình huống khi cuộc chiến đã nổ ra. Tiến trình đó diễn ra như trong một cuộc đánh cờ.
       
        Trong chỉ huy tình huống, điều rất quan trọng và cũng là điều nổi bật có tính nghệ thuật là xây dựng, dẫn dắt, điều khiển tình huống, hạn chế, gạn lọc tình huống và đối chọi tình huống.
       
        Đó là nghệ thuật tạo ra tình huống ban đầu thuận lợi, nghệ thuật điều khiển quân địch, buộc địch phải đánh theo ý định của ta, đưa địch vào thế trận ta đã bày sẵn, tạo ra được tình huống theo mưu kế của ta để tiêu diệt địch.
       
        Trong chiến dịch Kontum xuân-hè 1972 ở chiến trường Tây Nguyên, ta đã điều được lữ đoàn dù ngụy thuộc lực lượng tổng dự bị của địch ra phía tây-bắc thị xã Kontum để tiêu diệt và giam chân chúng ở đó, tạo điều kiện thuận lợi cho trận đánh then chốt Đắc Tô-Tân Cảnh giành thăng lợi.
       
        Vì sao ta dụ được quân dù ngụy ra ngoài thị xã Kontum? Vì ta khéo nghi binh, lừa địch. Ta biết rằng lúc này các đơn vị chủ lực cơ dộng của quân ngụy còn đang hung hăng và chủ quan. Hơn nữa, khu vực tây-bắc thị xã Kontum có một địa thế rất lợi hại: nếu quân ta có một hoạt động gì ở đó vào thời điểm đó thì nhất định quân địch sẽ ra. Ta đã khêu vào đúng chỗ địch tất phải ứng cứu.
       
        Tình huống ban dầu của chiến dịch Kontum xuân-hè 1972 là kéo quân dù ra khu vực tây-bắc thị xã Kontum và giam chân, tiêu diệt chúng ở đó, tạo diều kiện thuận lợi cho ta đánh Đắc Tô-Tân Cảnh. Như vậy khi ta đánh Đắc Tô-Tân Cảnh địch sẽ không có lúc lượng phản kích, nếu có thì lực lượng đó cũng rất yếu. Một khi địch không có quân tiếp viện phản kích thì trận đánh của ta dễ thành công và thành công nhanh chóng, gọn ghẽ. Thực tế trên chiến trường đã diễn ra đúng như vậy.
       
        Trong chiến tranh hiện đại, lực lượng vũ trang hai bên đối chiến có số quân đông, hỏa lực mạnh, sức cơ dộng cao nên tình huống chiến đấu diễn ra rất nhanh chóng, bất ngờ, rất khẩn trương và phức tạp.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:10:31 PM
        Làm thế nào để tình huống diễn ra ít bất ngờ và bớt phức tạp để đánh thắng địch nhanh chóng và dễ dàng hơn? Đó là vấn đề hạn chế tình huống, gạn lọc tình huống, làm cho tình huống thuận lợi phát triển, tình huống khó khăn bị loại trừ hoặc giảm bớt, tình huống bất ngờ ngoài dự kiến của ta ít xảy ra; làm cho địch không thể tự do đối phó, không thể hành động theo ý muốn của chúng.
       
        Ta phải phán đoán dự kiến những tình huống nào sẽ xảy ra khi cuộc chiến bắt đầu. Trước đòn tiến công thứ nhất và các đòn tiếp sau của ta, địch sẽ phản ứng như thế nào, chúng có những khả năng gì để đối phó lại? Với mỗi cách đối phó của địch, tình huống sẽ diễn biến như thế nào? Trong đó những tình huống nào là then chốt, có thể làm xoay chuyển cục diện trên chiến trường, có quan hệ đến thành bại của chiến dịch, chiến đấu? Đối với những tình huống gây khó khăn, nguy hiểm lớn nhất cho ta thì phải suy nghĩ tìm cách hạn chế, gạn lọc không cho nó xảy ra hoặc nếu xảy ra thì chỉ gây khó khăn cho ta ở mức thấp nhất.
       
        Trong chiến dịch Tây nguyên xuân 1975, tình huống khó khăn nhất có thể xảy ra khi ta bắt đầu tiến công là quân địch ở đồng bằng ven biển miền Trung từ Quy Nhơn và Nha Trang theo hai con đường số 19 và số 21 đi ứng cứu cho Plâycu và Buôn Ma Thuột. Đi theo tình huống đó là việc địch vận chuyển tiếp tế từ hậu phương chiến lược của chúng ở đồng bằng cho Tây Nguyên cũng bằng hai con đường ấy. Tóm lại  tình huống gay cấn nhất cho ta là địch nối liền được đồng bằng với Tây Nguyên bằng đường bộ.
       
        Nếu ta cô lập được quân địch ở Tây Nguyên với quân địch ở đồng bằng, không để cho đồng bằng nuôi sống Tây Nguyên bằng đường bộ nữa thì quân địch ở Tây nguyên sẽ rất nguy ngập vì bị cắt mất cái dạ dày. Hoàn toàn trông chờ vào đường không, chúng chỉ có thể sống thoi thóp mà thôi.
       
        Trên cơ sở dự kiến, phân tích như vậy: ta quyết định tìm cách loại trừ tình huống địch sử dụng hai con đường bộ số 19 và số 21 để đưa quân đi ứng cứu và vận chuyển tiếp tế cho Plâycu và Buôn Ma Thuột. Thực hiện ý định đó, ta đã sử dụng một lực lượng tương đối mạnh và có kinh nghiệm đánh giao thông để cắt đứt và khống chế hai con đường số 19 và số 21. Khi chiến dịch vừa nổ ra, quân ta đã hoàn toàn làm chủ hai con đường ấy. Sư đoàn bộ binh 22 ngụy cùng các liên đoàn bảo an, các đoàn vận tải của địch đành chịu nằm chết gí ở các đoạn đèo An Khê và đèo Phượng Hoàng nhìn Plâycu và Buôn Ma Thuột bị vây hãm trong tình trạng ngắc ngoải. Việc ngăn chặn, loại trừ được khả năng địch ứng cứu, tiếp viện bằng đường bộ đã tạo cho ta những điều kiện vô cùng thuận lợi để nhanh chóng đánh chiếm Buôn Ma Thuột và sau đó đánh tan mọi cố gắng phản kích bằng đường không của địch, hãm chúng vào thế bị động, lúng túng, cuối cùng buộc địch phải rút chạy khỏi Plâycu và Kontum trong cơn hoảng loạn. Đó là kinh nghiệm thành công về vấn đề hạn chế: gạn lọc, loại trừ những tình huống nguy hại nhất.
       
        Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới phía bắc nước ta tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc thường vận dụng các mũi xuyên sơn. vòng sau (vu hồi) kết hợp với tiến công chính diện. Những mũi đó có thể gây khó khăn cho ta, nhưng vì là lực lượng nhỏ, không có xe tăng. cơ giới, pháo binh chi viện, hậu cần tiếp tế chỉ bằng mang vác đi bộ, nên không mạnh và không chiến đấu được dài ngày. Chúng ta cần dự kiến và tìm mọi cách hạn chế, loại trừ tình huống địch vòng sau đó, hoặc nếu tình huống đó diễn ra thì kiên quyết đánh bại quân địch. Chúng ta có nhiều khả năng làm tốt việc này, vì ta có chiến tranh nhân dân, có lực lượng vũ trang tại chỗ rộng khắp và được chuẩn bị sẵn. Các trận đánh bại những mũi xuyên sơn, vòng sau của địch ở Minh Tâm, Hoàng Tung (Cao Bằng), Khánh Khê, Na Dương (Lạng Sơn)... tháng 2 năm 1979 đã chứng minh điều đó.
       
        Trong tác chiến, muốn giành dược chủ động thì phải điều khiển, dẫn dắt tình huống ban đầu phát triển sang các tình huống tiếp sau có lợi cho ta, bất lợi cho địch.
       
        Trong chiến dịch Kontum xuân-hè 1972, ở bước thứ nhất, ta đã dụ được lữ đoàn dù của địch ra phía tây-bắc thị xã Kontum để tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng từng tiểu đoàn của chúng. Tình huống được dẫn dắt sang bước thứ hai: ta lại điều dược sư đoàn bộ binh 23 của địch ra đường số 14 ở đoạn Plâycu đi Kontum và đoạn Kontum đi Tân Cảnh để tiêu hao, tiêu diệt và giam chân chúng ở đấy. Như vậy ta đã dẫn dắt tình huống thành công, tạo ra điều kiện hết sức thuận lợi để đánh đòn quyết định vào Đắc Tô-Tân Cảnh.
       
        Trong quá trình dẫn dắt tình huống, phải đối chọi tình huống. Đây là giai đoạn đấu trí rất khẩn trương và quyết liệt giữa ta và địch.
       
        Đấu tranh vũ trang là hai bên đấu trí, thi tài với nhau. Ai cao tay hơn thì người ấy sẽ giành được quyền chủ động. Ta có thể dẫn dắt quân địch đi theo tình huống mà ta lựa chọn nhưng cũng có thể địch không đi theo tình huống ấy. Trong tác chiến, việc xảy ra những tình huống ngoài dự kiến của ta là lẽ thường. Ngay trong những tình huống diễn ra theo sự dẫn dắt của ta, ta cũng phải đối chọi quyết liệt; còn những tình huống diễn ra không theo ý định của ta thì ta càng phải đối chọi quyết liệt hơn.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:13:08 PM
        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sự đối chọi tình huống chiến lược của ta thật sắc sảo. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, ta đã sử dụng hai cụm lực lượng tác chiến ở hai đầu Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện thuận lợi cho tập trung lực lượng đánh dứt điểm ở Tây Nguyên trước. Nghệ thuật dẫn dắt tình huống chiến lược của ta ở đây là căng quân địch ra hai đầu dể phá thế địch ở giữa, giam chân địch khiến chúng không còn lực lượng đi tăng viện, ứng cứu cho chiến trường Tây nguyên và cũng không thể ứng cứu lẫn nhau giữa các chiến trường. Phân tán địch về chiến lược là một nghệ thuật dàn thế về chiến lược, nhột nguyên tắc quan trọng trong chỉ đạo chiến lược, nhất là đối với một kẻ địch có số quân đông. Muốn thế phải có lực lượng tại chỗ mạnh kết hợp với lực lượng cơ động bố trí một cách thích hợp và có lợi nhất.
       
        Khi đòn Tây Nguyên sắp dứt điểm mà địch không có lực lượng dự bị chiến lược đến ứng cứu thì ta tiếp tục đánh đòn gối đầu ở Huế-Đà Nẵng. Đây là một phương thức ưu việt của nghệ thuật thực hành các đòn chiến lược. Đến khi ta giải phóng Tây Nguyên trong tình hình quân địch tháo chạy hỗn loạn thì lại xuất hiện một tình huống chiến lược mới. Ta đã bắt mạch quân địch rất trúng, thấy rõ sự suy sụp về thế, về lực và cả về tâm lý-tinh thần của chúng. Trong tình huống này, nghệ thuật đối chọi chiến lược của ta là mạnh dạn thay đổi quyết tâm, từ tiến công chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược, rút ngắn kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm xuống còn một năm. Đó là vì ta đã tạo được thời cơ, sớm nắm bắt được thời cơ và kiên quyết tranh thủ thời cơ chiến lược để giành thắng lợi lớn.
       
        Đòn chiến lược thứ hai đánh vào Huế-Đà Nẵng bằng phương thức gối đầu thành công thì lại nảy sinh một tình huống chiến lược mới. Sự đối chọi chiến lược của ta lúc này là quyết tâm giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam trước mùa mưa năm 1975, thứ không phải kéo dài đến hết năm 1975.
       
        Để thực hiện quyết tâm mới, đối chọi tình huống chiến lược mới đó, ta phải thực hành đòn chiến lược thứ ba bằng phương thức kế tiếp. Đòn chiến lược thứ ba đánh vào Sài Gòn này có tính chất kế tiếp, nhưng chưa thực hiện được kế tiếp một cách liên tục. Do đó ta phải thực hành các hoạt động tác chiến đệm bằng những chiến dịch nhỏ và trận chiến đấu ở vòng ngoài Sài Gòn làm cho địch không kịp hồi phục, chấn chỉnh lại lực lượng, không kịp điều động lực lượng, tổ chức lại phòng ngự. Trong khi đó, ta cơ động lực lượng ở Tây Nguyên và ở Huế-Đà Nẵng và hướng Sài Gòn.
       
        Lúc này thời cơ lớn về chiến lược đang phát triển thuận lợi. Bộ chỉ huy ta quyết định sử dụng lực lượng tổng dự bị chiến lược. Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của ta rõ ràng hơn hẳn địch về mặt sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Về tổ chức, quân ngụy Sài Gòn có hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược thành hai đơn vị, hai tổ chức. Ta thì có cả một quân đoàn tổng dự bị chiến lược, thành một đơn vị, một tổ chức chặt chẽ. Về sử dụng, quân ngụy đưa sư đoàn dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược ra làm một nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, thực hành phản kích định chiếm lại cứ điểm cỡ tiểu đoàn là Thượng Đức. Còn sư đoàn lính thủy đánh bộ địch dùng để bảo vệ Huế. Đó là một sai lầm nghiêm trọng của chúng về sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Còn ta thì sử dụng một quân đoàn tập trung vào thời điểm quyết định về chiến lược. Lực lượng tổng dự bị chiến lược được sử dụng đúng với vị trí và ý nghĩa của nó: lực lượng đó lại nằm trong tay bộ chỉ huy tối cao, được sử dụng một cách rất chủ động, gặp tình huống chiến lược nào cũng đối chọi được.
       
        Trong chiến tranh, sự đối chọi quyết định nhất là tung lực lượng vào đánh đòn quyết chiến cuối cùng, chắc thắng để hoàn thành dứt điểm cuộc tổng tiến công chiến lược, giải quyết thắng lợi cuộc chiến tranh. Trong đòn chiến lược thứ ba này sự đối chọi tình huống chiến lược của ta là tập trung toàn bộ lực lượng kể cả lực lượng tổng dự bị chiến lược, bảo đảm có ưu thế sức mạch áp đảo quân địch để đánh đòn quyết định cuối cùng, nhanh chóng đè bẹp hoàn toàn quân địch, kết thúc chiến danh thắng lợi.
       
        Như chúng ta đã biết, trong chiến dịch Kontum xuân-hè 1972, ở đợt một ta đã dẫn dắt tình huống và đối chọi tình huống tốt. nên đã giành được thắng lợi ở Đắc Tô-Tân Cảnh. Sang đợt hai, vì không đối chọi tình huống tốt nên ta không đánh dứt điểm được thị xã Kontum.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:17:22 PM
        Đến chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975, nghệ thuật đối chọi tình huống của ta đã có bước phát triển rõ rệt. Sau khi cắt đứt các đường số 19, 21 và 14, ta thực hành tiến công vào quận lỵ Đức Lập và thị xã Buôn Ma Thuột. Ta phán đoán địch sẽ sử dụng sư đoàn bộ binh 23 (thiếu) đổ bộ bằng máy bay lên  thẳng xuống phía đông Buôn Ma Thuột trên đường số 21 để phản kích ứng cứu cho Buôn Ma Thuột và ngăn chặn quân ta tiến xuống Nha Trang. Từ nhận định đó, ta đã nhanh chóng cơ động sư đoàn bộ binh 10 vừa đánh Đức Lập xong về dừng chân ở phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Đúng như ta dự kiến, sau khi mất Buôn Ma Thuột, địch liền cho sư đoàn bộ binh 23 đến ứng cứu. Sư đoàn 10 của ta đã được chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với tình huống đó và đã xóa sổ sư đoàn bộ binh 23 của địch.
       
        Sự đối chọi tình huống sau khi ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột diễn ra thuận lợi là do trước đó ta đã có một sự đối chọi tình huống khá phức tạp. Trước khi ta nổ súng đánh Buôn Ma Thuột, địch cho trung đoàn 45 thuộc sư đoàn 23 ra phía bắc Buôn Ma Thuột để thăm dò. Một sư đoàn của ta đã phải tránh né một tiểu đoàn của địch để giữ bí mật ý định chiến dịch. Để kéo trung đoàn 45 của địch trở lại Plâycu, ta cho một sư đoàn (thiếu) tiến công mạnh phía tây-nam thị xã Plâycu. Đòn đó tỏ ra rất có hiệu quả. Trung đoàn 45 của địch phải tức tốc quay về Plâycu để đối phó với đòn tiến công của ta. Sự đối chọi tình huống này đã thành công.
       
        Sự đối chọi tình huống thứ ba trong chiến dịch Tây Nguyên là tình huống quân địch rút chạy khỏi Plâycu và Kontum theo đường số 7. Tình huống này diễn ra ngoài dự kiến của ta. Nhưng ta đã đối chọi thành công nhờ có thế trận tốt. Sư đoàn bộ binh 320 của ta đứng chân ở một vị trí rất cơ động trên đường số 14 giữa Plâycu và Buôn Ma Thuột: từ đó, sư đoàn có thể tiến đánh ra các hướng Buôn Ma Thuột, Plâycu, Cheo Reo, đường số 7 hoặc đường số 21. Vì vậy, khi quân địch vừa rút chạy khỏi Plâycu theo đường số 7 thì sư đoàn 320 đã kịp thời cơ động ra hướng đó và chặn đánh được ngay.
       
        Trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xârn lược ở biên giới phía bắc nước ta tháng 2 năm 1979, trên hướng Lạng Sơn ta đã dự kiến phải chiến đấu quyết liệt với địch ở khu vực cầu Khánh Khê-Văn Quán trên đường số 1B. Từ dự kiến đó, ta đã ngoan cường ngăn chặn, đánh bại các đợt tiến công của địch từ Đồng Đăng ra Khánh Khê. Không vượt qua được trận địa của ta, quân địch phải vòng theo hướng Khánh Khê. Biết rõ mũi vòng sau đó rất lợi hại, ta đã kịp thời điều động lực lượng đến đánh bại quân địch ở Khánh Khê, bẻ gãy mũi vòng sau nguy hiểm của địch. Ở Cao Bằng, phán đoán quân địch có thể đánh vào thị trấn Nguyên Bình và tiến công đánh chiếm mỏ Tĩnh Túc, ta đã kịp thời cơ động lực lượng của bộ đội biên phòng và bộ đội địa phương phối hợp cùng dân quân xã Minh Tâm đánh bại mũi tiến công đó, bảo vệ được Nguyên Bình và Tĩnh Túc. Dân quân xã Minh Tâm đã có công lớn đánh tiêu hao, tiêu diệt, quần lộn với địch, giam chân địch, tạo điều kiện cho các lực lượng khác đến phối hợp tiêu diệt chúng.
       
        Dẫn dắt tình huống và đối chọi tình huống là nhằm tạo ra thời cơ thuận lợi, nhất là thời cơ đánh trận then chối và then chốt quyết định. Nội dung chính, yêu cầu chính, cái đích chính của chỉ huy tình huống cũng là ở chỗ đó.
       
        Chiến dịch không có trận then chốt thì không thể thắng lợi được. Muốn đánh thắng trận then chốt thì phải tạo ra thời cơ. Thời cơ là kết quả của sự đấu tranh giải quyết tình huống giữa hai bên. Thời cơ chính là tình huống thuận lợi đã phát triển đến độ chín muồi, là mâu thuẫn phát triển đến độ cao và có điều kiện giải quyết. Thắng trận then chốt là mở được cái khóa để giải quyết mâu thuẫn, để chuyển hóa tình huống; làm chuyển biến cục diện trên chiến trường.
       
        Thời cơ trận then chốt xuất hiện là đã đạt được một phần quan trọng ý định và mục đích của chỉ huy tình huống, nhưng lúc này toàn bộ ý định tác chiến vẫn chưa phải đã thực hiện được. Chỉ huy tình huống phải tiếp tục xây dựng, dẫn dắt tình huống, tạo ra tình huống thuận lợi mới, bảo đảm chu đáo các điều kiện dể đánh trận then chốt thắng lợi nhanh chóng, giòn giã. Trận then chốt thắng lợi là tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định cho chiến dịch. Trận then chốt thắng lợi càng lớn thì chiến dịch chuyển biến càng tốt.
       
        Trong tình huống đánh địch ở trong căn cứ của chúng, khi ta kéo được lực lượng cơ động của địch ra ngoài để tiêu hao, tiêu diệt và giam chân chúng ở đó thì ta đã có thời cơ để đánh vào cứ điểm, vào căn cứ của địch. Cũng có trường hợp kéo được lực lượng cơ động của địch ra ngoài rồi nhưng vẫn chưa có thời cơ để đánh vào căn cứ mà phai tiếp tục dẫn dắt tình huống, tạo thời cơ hoặc thúc đẩy cho thời cơ chín hơn nữa. Ví dụ có thể đánh tiếp một đòn để cắt đường giao thông, làm cho căn cứ của địch mà ta định tiến công bị vây hãm, cô lập hơn nữa. Như vậy khi ta tiến công, địch không còn khả năng phản kích, ứng cứu, quân địch bị tiến công sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt hoặc buộc phải đầu hàng: thắng lợi của ta sẽ chắc chắn hơn, nhanh gọn hơn.
       
        Trong tình huống đánh dịch ở ngoài công sự, việc tiếp tục dẫn dắt tình huống, tạo thời cơ có thể là đưa địch đi xa căn cứ của chúng hơn nữa, vào những nơi địa hình hiểm trở, làm cho địch hoàn toàn bị cô lập, các trận địa pháo cố định không thể chi viện đắc lực, xe tăng của địch hoạt động khó khăn, địch không thể đưa quân đến tăng viện ứng cứu hoặc nếu có thì ta cũng dễ đối phó và có khả năng tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:25:41 PM

*

*      *
       
        Trong chiến tranh tình huống diễn biến, chuyển hóa rất nhanh chóng, phức tạp, muôn hình muôn vẻ. Tình huống sinh ra tình huống, thời cơ đẻ ra thời cơ. Vì vậy, người chỉ huy phải rất linh hoạt, sáng tạo để điều khiển, dẫn dắt tình huống, dẫn dắt thời cơ. Tình huống được dẫn dắt một cách khôn khéo thì thời cơ càng chín muồi hơn và tác chiến càng giành được thắng lợi lớn hơn.
       
        Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý về chỉ huy, xử trí tình huống. Ví dụ, trong cuộc kháng chiến chống Minh,  trước tình huống viện binh cua nhà Minh kéo sang, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng, tạo điều kiện bức Vương Thông phải hàng. Kết hợp với đòn quân sự, hai ông chủ trương dùng đòn chính trị-ngoại giao để kết thúc thắng lợi chiến tranh. Trong thư gửi Vương Thông lúc đó đang bị vây hãm ở Đông Quan, với lý lẽ sắc bén và đanh thép, Nguyễn Trãi đã tính hộ kẻ địch "sáu điều phải thua"1. Đòn tiến công chính trị đó đã phát huy mạnh mẽ kết quả của chiến thắng quân sự, và có sức mạnh không nhỏ góp phần tạo nên thế uy hiếp và áp đảo Vương Thông, buộc y phải chịu thua xin lui binh, ta không cần tốn thêm xương máu để công phá thành Đông Quan mà vẫn đạt tới toàn thắng.
       
        Chỉ huy tình huống là một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa then chốt, quyết định trong chỉ huy tác chiến cả trong chiến đấu, chiến dịch và chiến lược. Đó là một công việc khó khăn, phức tạp, phải qua nhiều bước như dự kiến, xây dựng, dẫn dắt, hạn chế, gạn lọc, xử trí, đối chọi tình huống; phải làm nhiều việc như nắm tình hình, phán đoán tình huống; xác định quyết tâm đặt mưu kế, lập thế trận, tổ chức sử dụng lực lượng, tiến hành các biện pháp giải quyết từng tình huống để giành thắng lợi, v.v.
       
        Mỗi bước, mỗi việc cũng như cả quá trình chỉ huy tình huống đều đòi hỏi ở người chỉ huy một ý chí và năng lực rất cao. Quán triệt đường lối quân sự của Đảng, ý định của cấp trên, người chỉ huy phải có lập trường đúng đắn, ý chí chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, quan điểm và phương pháp xem xét khoa học, năng lực tổ chức giỏi. Trong bất cứ tình huống nào, dù khó khăn đến mấy, người chỉ huy cũng phải làm chủ tình huống, chủ động, bình tĩnh, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết và quả đoán, năng động và sáng tạo, nhạy bén và khẩn trương, thận trọng và chín chắn, kiên trì nguyên tắc nhưng xử trí linh hoạt, nắm vững nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự cần thiết, khéo tổ chức, biết phát huy tới mức cao nhất sức mạnh tổng hợp của cơ quan và đơn vị, của các lực lượng…
       
        Vì vậy, người chỉ huy phải luôn luôn rèn luyện bản lĩnh, nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội, quán triệt đường lối, tư tưởng quân sự của Đảng, tổng kết những kinh nghiệm của bản thân và học hỏi những kinh nghiệm chiến đấu rất phong phú qua các cuộc chiến tranh, các trận chiến đấu ở trong nước và trên thế giới, cả xưa và nay, để không ngừng nâng cao trình độ và nghệ thuật chỉ huy của mình.
       
-------------------
1. Nguyễn Trãi. Quân trung từ mệnh tập, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1961, tr. 49-50.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:36:20 PM
 
MƯU KẾ CHIẾN TRANH
VÀ CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU-ĐÔNG 1950
       
        Chiến tranh là một quá trình đọ sức quyết liệt về lực lượng và đấu tranh gay go về trí tuệ giữa hai bên tham chiến. Hành động của mỗi bên đều chịu sự chi phối của những quy luật chung của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang, cũng như những quy luật riêng của từng kiểu loại chiến tranh và quy luật đặc thù của từng cuộc chiến tranh cụ thể. Người nào hành động phù hợp với quy luật thì sẽ chiến thắng, kẻ đi ngược lại quy luật thì phải hứng chịu thất bại. Nói một cách khái quát, trong chiến tranh, ai mạnh hơn, thông minh hơn sẽ thắng. Giỏi hành động bằng mưu kế là một trong những biểu hiện của sự thông minh khôn khéo trong chiến tranh.
        
        Mưu kế chiến tranh là những phương sách, biện pháp, thủ đoạn được dùng trong cuộc chiến nhằm đánh lừa đối phương, điều khiển hành động của đối phương theo ý định của mình, đưa đối phương vào thế trận mình đã bày sẵn, từ đó buộc đối phượng phải phạm sai lầm. tạo yếu tố bất ngờ để đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình. Mưu kế thường cho phép dùng lực lượng ít hơn mà chiến thắng được đối thủ có lực lượng đông hơn, thậm chí cả trong những tình thế hiểm nghèo. Cái tinh vi trong hành động bằng mưu kế là đạt tới thành công bằng cách làm cho đối phương tự họ tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình hủy diệt chính bản thân họ.
        
        Trong lịch sử quân sự thế giới, ngay từ thời cổ đại đã có nhiều nhà quân sự nhờ giỏi sử dụng mưu kế mà đánh thắng địch thủ có lực lượng đông hơn mình. Chiến công của Ê-pa-mi-nông-đát trong trận Lóc-to-ra (năm 371 trước Công nguyên) cũng như thắng lợi của Ha-ni-ban trong trận Can (năm 216 trước công nguyên) là những ví dụ cụ thể1.
        
        Trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải nhiều lần đánh trả những kẻ thù xâm lược có quân đông hơn, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn mình gấp nhiều lần. Trong các cuộc chiến tranh không cân sức đó, để lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nhân dân ta đã phát huy cao độ trí thông minh, óc sáng tạo để vận dụng mưu kế trong đánh giặc, và đã đạt được những thành công xuất sắc. Chỉ cần nhắc lại trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng đầu năm 939: Với việc khôn khéo lợi dụng quy luật thủy triều lên xuống để xây dựng bãi cọc ngầm giữa lòng sông Bạch Đằng với việc bố trí trận địa mai phục thích hợp, dùng mưu kế nhử địch vào rồi bất ngờ phản kích quật lại chúng, Ngô Quyền đã chỉ huy những đội thuyền chiến nhỏ hơn và ít hơn địch mà hủy diệt được phần lớn hạm đội Nam Hán khi nó vừa từ biển xâm nhập vào nước ta.
        
        Trong Binh thư yếu lược, một tác phẩm quân sự nổi tiếng của dân tộc ta, có đoạn nói về dùng mưu kế đánh giặc như sau: "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó; hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"2. Về thực tiễn cũng như lý luận, mưu kế chiến tranh đã sớm trở thành một nội dung quan trọng của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lĩnh vực chiến lược và chiến thuật, và ngày nay cả trong lĩnh vực chiến dịch nữa.
        
        Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước của nhân dân ta trong thời đại lịch sử mới, Đảng ta đã dựa trên cơ sở học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội, đúc kết kinh nghiệm chiến đấu phong phú của quân và dân ta, kế thừa truyền thống quân sự quý báu của tổ tiên, tham khảo kinh nghiệm quân sự trên thế giới để xác định một tổng thể các nguyên tắc của nghệ thuật quân sự nhằm chỉ đạo mọi hành động tác chiến của lực lượng vũ trang. "Mưu trí, linh hoạt, bí mật, bất ngờ" là một trong những nguyên tắc chỉ đạo đó. Nguyên tắc này mở ra một phạm vi rộng lớn cho cán bộ chiến sĩ ta ra sức sáng tạo, tìm tòi và sử dụng nhiều mưu kế hay, nhiều cách đánh thiên biến vạn hóa để giành thắng lợi trên chiến trường.
        
        Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần chỉ rõ phải biết dùng mưu kế lừa địch trong chiến tranh. Trong tác phẩm Cách đánh du kích, Người viết: “Lừa gạt quân giặc. Làm cho chúng mắt mù tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng", "... lúc nhằm đánh vào chỗ nào, mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông, đánh phía tây", "giả làm quân thù, kéo vào thành rồi đánh úp", "... tìm cách dụ quân giặc, đánh lừa quân giặc vào bẫy để phục kích”3, v.v.

        Nghe theo lời dạy của Người, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các lực lượng vũ trang ta đã thường xuyên vận dụng mưu kế chiến tranh, với những hình thức, biện pháp rất linh hoạt và có hiệu quả như: nghi binh bằng cách chuẩn bị và thực hành tác chiến hay cơ động bộ đội trên hướng phụ để đánh lạc hướng địch; tung tin giả dùng phương tiện kỹ thuật để nghi binh, lừa địch; chăng gài cạm bẫy và dụ địch vào đó; cải trang đánh địch; làm trận địa giả, vũ khí giả, v.v. Những mưu kế đó được cán bộ chiến sĩ ta sử dụng một cách thông minh khéo léo trên cơ sở tính toán, cân nhắc nhiều mặt: nhiệm vụ chiến dịch chiến đấu; khả năng của ta; mạnh, yếu của địch; địa hình thời tiết ở khu vực tác chiến, v.v.
       
        Trong các mưu kế nói trên, hành động nghi binh đánh lạc hướng địch đã được bộ chỉ huy các cấp của ta vận dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều chiến dịch và trận chiến đấu. Nó nhằm thu hút lực lượng và sự cố gắng của địch vào một hoặc một số hướng khác với hướng tác chiến chủ yếu của ta. Trong mọi trường hợp, nó đều nhằm phân tán, dàn mỏng lực lượng địch, nhất là lực lượng cơ động chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng chủ yếu giáng đòn quyết định trên chiến trường lựa chọn. Chiến dịch Biên giới là một ví dụ sinh động về vấn đề này.

--------------
1. Trong trận Lớc-tơ-ra (Hy Lạp) ngày 5 tháng 8 năm 371 trước công nguyên, 7.500 quân Thi-vơ do Ê-pa-mi-nông-đát chỉ huy đã đánh thắng 11.000 quân Xpác-tơ do Clê-ôm-brốt chỉ huy.
        Trong trận Can (I-ta-li-a) ngày 2 tháng 8 năm 216 trước công nguyên, 50.000 quân Các-ta-giơ do Ha-ni-ban chỉ huy đã đánh tan 69.000 quân La Mã do Va-rôn chỉ huy.
        
2. Binh thư yếu lược, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 183.
        
3. Hồ Chí Minh. Những bài viết và nói về quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, t. 1, tr.138-154.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:47:19 PM

*

*       *
       
        Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng ta quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai biên giới phía bắc từ Cao Bằng đến Thất Khê, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc nối thông đường liên lạc quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa. Trong chiến cuộc thu đông 1950, Đông Bắc được chọn là hướng chính, Tây Bắc là hướng nghi binh; các chiến trường khác đều tăng cường hoạt động để phối hợp với chiến trường chính.
       
        Trong “Huấn thị về chiến dịch Cao-Bắc-Lạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Để thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận ấy phải kiên quyết dũng cảm trăm phần trăm, các chiến sĩ các khu, các mặt trận khác phải ra sức thi đua giết giặc, lập công để hết sức tiêu diệt địch, khiển chế địch, không cho phép chúng tiếp viện mặt trận Cao-Bắc-Lạng”1. Huấn thị của Người đã xác định một trong những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự là: phối hợp nỗ lực của các hướng và chiến trường thứ yếu với nỗ lực của tập đoàn chủ yếu hành động trên hướng chủ yếu. Tư tưởng chủ đạo của Người là: nắm vững quyền chủ động tác chiến, phân tán giam chân lực lượng địch, buộc địch phải đánh theo ý định của ta mà không được tự do hành động, nhằm mục đích "không cho phép chúng tiếp viện mặt trận Cao-Bắc-Lạng". Chỉ thị đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt mọi kế hoạch tác chiến của ta trong thu-đông 1950.
       
        Đến cuối mùa hè năm 1950, lực lượng dự bị chiến lược trong tay bộ tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương có 10-12 tiểu đoàn cơ động, trong đó vai trò ứng chiến nhanh chóng trên các chiến trường được ủy thác cho 7 tiểu đoàn dù. Lực lượng dự bị chiến lược đó phần lớn được tập trung ở Bắc Bộ, chỉ có 4 tiểu đoàn dù được bố trí ở Nam Bộ và Trung Trung Bộ. Tổng chỉ huy Pháp dự tính khi cần thiết có thể điều động 4 tiểu đoàn dù đó cùng với 2-3 tiểu đoàn bộ binh từ miền nam Đông Dương ra tăng viện cho chiến trường phía bắc.
       
        Nhằm thực hiện mục tiêu đánh lạc hướng quân địch, phân tán lực lượng dự bị chiến lược của địch để chúng không thể tiếp viện lớn cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng, mưu kế của Bộ Tổng tư lệnh ta là: trước khi mở chiến dịch trên hướng chủ yếu ở mặt trận Đông Bắc, cần tiến hành một số cuộc tiến công và hoạt động nghi binh trên một số hướng khác ở chiến trường miền bắc. đồng thời đẩy mạnh hoạt động đánh địch của lực lượng vũ trang ta ở Trung Bộ và Nam Bộ. Bằng cách đó ta sẽ buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược, nhất là các tiểu đoàn dù, ra đối phó ở các hướng thứ yếu, không thể tập trung lực lượng tiếp viện cho mặt trận chính.
       
        Đến giữa tháng 8 năm 1950 tình báo Pháp xác định lực lượng của đối phương có hai khối lớn bộ đội chủ lực chính quy: khối thứ nhất và là khối chủ yếu có 6-7 trung đoàn bộ binh, trong đó có sư đoàn 308 thiện chiến, đứng chân ở mặt trận Đông Bắc; khối thứ hai và là khối quan trọng, có 7-8 trung đoàn bộ binh, trong đó có sư đoàn 304 mới thành lập bố trí trên khu vực Chợ Bến-Thanh Hóa. Ngoài ra còn có một cụm thứ yếu gồm 2 trung đoàn bộ binh hoạt động ở mặt trận Tây Bắc. Lúc đầu địch phán đoán ta có ý định mở cuộc tiến công chủ yếu vào Cao Bằng. Bộ tổng chỉ huy Pháp tuy có lo ngại trước sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực ta, nhưng họ tin rằng ưu thế quân sự vẫn thuộc về quân đội Pháp.
       
        Thực hiện kế hoạch do Rơ-ve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, đề ra; bộ tổng chỉ huy địch ở Đông Dương đã có ý định rút quân khỏi Cao Bằng để tránh thế phân tán lực lượng, đồng thời tập trung lực lượng mở cuộc tiến công đánh chiếm Thái Nguyên. Lạng Sơn và Thái Nguyên sẽ trở thành hai trụ cột chính trong trận tuyến phòng ngự chiến lược mới của thực dân Pháp. Nhưng kế hoạch của họ chưa kịp triển khai thực hiện thì các lực lượng vũ trang ta đã phát huy quyền chủ động tác chiến, tiến hành một loạt cuộc tiến công.
       
        Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1950, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Pa-thét Lào đang tiến công thắng lợi dọc sông Mã trên đoạn Xiềng Khọ-Xốp Hào, hai tiểu đoàn của ta vây hãm địch ở Sầm Tợ và phát triển tiến công trong vùng. Liên quân Lào-Việt tạo nên một sức ép mạnh đối với toàn khu vực Sầm Nưa. Ngày 4 tháng 9, tổng chỉ huy quân Pháp phải thả một tiểu đoàn dù xuống Sầm Nưa.

--------------
1. Hồ Chí Minh. Những bài viết và nói về quân sự, t. 1 , tr. 433.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 06:55:28 PM
           Từ tháng 8 năm 1950, trên mặt trận Tây Bắc ta tiến hành một chiến dịch nghi binh rầm rộ bằng cách; tăng cường trinh sát, địch vận ở khu vực Lào Cai; tổ chức diễn tập lớn ở Yên Bình xã với các đơn vị mang mật hiệu của sư đoàn 308; dùng hàng trăm thuyền bè và nhiều đoàn dân công vận chuyển lương thực đạn dược lên hướng Lào Cai... Trước tình hình đó, bộ Tổng chỉ huy Pháp lại phán đoán có thể cuộc tiến công chính của ta trong thu-đông đã chuyển sang hướng Lào Cai, Tây Bắc. Ngày 23 tháng 8, họ mở cuộc hành binh "cái kén" cho nhiều tiểu đoàn thọc ra vùng tự do của ta ở Phú Thọ để thăm dò và phá kế hoạch tiến công thu đông của ta, nhưng bị bộ đội dịa phương và dân quân đánh thiệt hại hàng trăm tên, đến ngày 3 tháng 9, quân địch phải vội vã rút lui.
       
        Ngày 12 tháng 9 năm 1950, bốn ngày trước khi chiến dịch Biên giới mở màn, một trung đoàn chủ lực của ta cùng với lực lượng vũ trang địa phương nổ súng tiến công vào Bắc Hà, một cứ điểm quan trọng của địch ở phía đông Lào Cai, khiến cho bộ Tổng chỉ huy Pháp càng tin chắc rằng phán đoán của họ là đúng.
       
        Đúng vào lúc địch bất ngờ nhất, sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta tiến công cứ điểm Đông Khê. đánh trận mở màn chiến dịch. Đánh Đông Khê là đánh vào nơi địch tương đối yếu nhưng lại là vị trí rất quan trọng trên tuyến Cao Bằng-Lạng Sơn. Mất Đông Khê, địch buộc phải cho quân đi ứng cứu, tạo cho ta thời cơ thuận lợi tiêu diệt chúng trong tác chiến vận động.
       
        Trước tình huống đó, bộ tổng chỉ huy quân Pháp quyết định tổ chức lực lượng ứng cứu cho Đông Khê đồng thời rút quân khỏi Cao Bằng để tránh bị tiêu diệt. Ngay chiều ngày 10 tháng 9 trong khi một tiểu đoàn dù được lệnh chuẩn bị nhảy xuống Đông Khê thì tại Lạng Sơn, một binh đoàn tác chiến cũng được thành lập để tiến lên Thất khê. Cả hai lực lượng này đều có nhiệm vụ ứng cứu cho Đông Khê và yểm trợ cho quân ở Cao Bằng rút về. Nhưng sáng ngày 18, địch chưa kịp hành động thì ta đã hoàn thành việc tiêu diệt cứ điểm Đông Khê. Bộ tổng chỉ huy Pháp đành phải ném tiểu đoàn dù xuống Thất Khê, như một thành phần của binh đoàn tác chiến mới thành lập. Binh đoàn này gồm 4 tiểu đoàn Âu-Phi do viên trung tá Lơ Pa-giơ chỉ huy, có nhiệm vụ tiến lên Đông Khê để đón cụm quân ở Cao Bằng được lệnh rút về. Ngày 21 tháng 9 một tiểu đoàn bộ binh được không vận đến Cao Bằng để tăng thêm lực lượng cho cụm quân ở đây tổ chức rút lui.
       
        Trong lúc này, ở mặt trận Tây Bắc, ta đánh tan địch ở Bắc Hà, đuổi đánh chúng trên đường tháo chạy về Xi Ma Cai; đồng thời bao vây uy hiếp mạnh thị xã Lào Cai. Sợ Lào Cai bị tiêu diệt, địch vội vã điều từ Sài Gòn ra một tiểu đoàn dù để ném xuống thị xã này.
       
        Cũng vào dịp này, tại phía nam đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng vũ trang ta hoạt động mạnh hẳn lên, tiến công hàng loạt vị trí địch, đánh phá giao thông, diệt tề trừ gian. Bộ chỉ huy Pháp phải cấp tốc đưa đến Phát Diệm một tiểu đoàn dù để củng cố phòng ngự và ngăn chặn sự tan rã của khối ngụy binh ở khu vực này.
       
        Ở Trung Trung Bộ lực lượng vũ trang ta cũng hoạt động mạnh và đều khắp. Tiểu đoàn dù, lực lượng cơ động độc nhất của địch tại chiến trường này, đã bị xé lẻ ra thành nhiều mảnh để ném vào Bình-Trị-Thiên, Liên khu V và cả vào rừng núi Tây Nguyên nữa. Nó đã bị tiêu hao nặng và không còn khả năng tập trung lại để tiếp ứng cho chiến trường chính.
       
        Từ tháng 5 đến giữa tháng 9 năm 1950, chiến trường Nam Bộ tương đối yên tĩnh. Đột nhiên, bước vào tuần lễ cuối của tháng 9, các lực lượng vũ trang ta chuyển sang tiến công và hoạt động rất mạnh, thu hút về phía mình các tiểu đoàn cơ động của địch trên chiến trường này. Trước sức uy hiếp mạnh của bộ đội chủ lực ta trên tuyến Bến Cát-Thủ Dầu Một, bộ chỉ huy quân Pháp buộc phải tung vào Dầu Tiếng một tiểu đoàn dù để bám giữ lấy vùng cao su quan trọng đó.
       
        Hoạt động tiến công mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang ta trên khắp các chiến trường từ nam đến bắc đã phân tán, căng kéo địch đến cực độ và đặt bộ tổng chỉ huy Pháp trước một tình thế gay cấn. Trong tay họ chỉ còn một tiểu đoàn dù ở Sài Gòn và 2 tiểu đoàn bộ binh ở Bắc Bộ. Mà tình hình lúc này ở Lào Cai, Sầm Nưa, Phát Diệm, Thừa Thiên, Dầu Tiếng không cho phép rút về bất cứ một tiểu đoàn dự bị cơ động nào.
       
        Tuy đã phải vứt bỏ ảo tưởng đánh chiếm Thái Nguyên để xây dựng thế trận phòng ngự chiến lược mới, nhưng trước tình hình nguy ngập ở biên giới Đông Bắc, tổng chỉ huy quân Pháp cũng phải cố vét lực lượng dự bị còn lại tổ chức một cuộc tiến công lên thị xã Thái Nguyên, với hy vọng kéo chủ lực ta về giao chiến ở đây để đỡ đòn cho biên giới, lực lượng này gồm 1 tiểu đoàn dù điều động từ Sài Gòn ra, 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lực lượng tổng dự bị và 2 tiểu đoàn bộ binh khác rút từ tay bộ chỉ huy Pháp tại chiến trường Bắc Bộ.Ngày 29 tháng 9, các đơn vị bộ binh theo đường bộ và đường sông tiến lên Thái Nguyên. Ngày 1 tháng 10, tiểu đoàn dù cũng được thả xuống thị xã này. Cùng ngày, trên mặt trận Đông Bắc, binh đoàn Lơ Pa-giơ từ Thất Khê tiến đến phía nam Đông Khê thì bị chặn đứng. Ngày 3 tháng 10, binh đoàn Sác-Tông cũng vội vã rút khỏi Cao Bằng.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 07:04:13 PM
        Đây là thời điểm hết sức quan trọng của cuộc chiến. Sau chiến thắng Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: có thể địch sẽ cố chiếm lại Đông Khê để giữ vững Cao Bằng, hoặc phải đánh lên để đón quân ở Cao Bằng rút về. Người vạch ra mưu kế tác chiến của ta là "nhử thú dữ vào tròng" để "khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng.
       
        Đúng vào lúc bộ tổng chỉ huy Pháp sử dụng hết lực lượng dự bị chiến lược của họ thì Bộ Tổng tư lệnh của ta quyết định tập trung lực lượng chủ lực ở mặt trận Đông Bắc tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông tại khu vực Đông Khê. Cụm quân địch ở Thái Nguyên thì giao cho các lực lượng vũ trang tại chỗ bám đánh, tiêu hao và giam chân chúng tại đấy.
       
        Cho đến lúc đó, các tướng tá Pháp dựa theo "kinh nghiệm” của họ và với căn bệnh cố hữu "chủ quan, khinh địch", vẫn tin rằng tập đoàn chủ lực của đối phương chưa có khả năng tiến hành tác chiến chính quy trên quy mô lớn, và nếu đối phương có "liều lĩnh" đụng độ với quân viễn chinh Pháp trong một cuộc chiến tranh vận động chính quy thì 8 tiểu đoàn "thiện chiến” của Pháp ở khu vực biên giới sẽ thừa sức đánh bại từ 15 đến 18 tiểu đoàn chủ lực của Việt Nam. Trên phạm vi chiến lược, tổng chỉ huy quân Pháp cho rằng mình đã phân phối đúng đắn lực lượng và phương tiện cho các viên chỉ huy chiến trường để họ đủ sức đối phó với các hành động của đối phương. Tuy vậy, để được yên tâm hơn, sau khi suy tính, cân nhắc kỹ, ông ta quyết định rút tiểu đoàn dù từ Sầm Nưa về Hà Nội. Tiểu đoàn này đã bị kiệt sức sau một tháng bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào-Việt bám đánh liên tục.
       
        Tình huống đã diễn ra đúng như mưu kế tác chiến của ta. Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950, tại dãy núi Cốc Xá và điểm cao 477 trong khu vực Đông Khê, các đơn vị chủ lực của ta đã giáng đòn quyết định, vận động tiến công tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông gồm 8 tiểu đoàn, trong đó có 5 tiểu đoàn cơ động thiện chiến vào bậc nhất của địch, với toàn bộ ban tham mưu của chúng.
       
        Chiều ngày 8 tháng 10 năm 1950, trước sự kêu cứu của quan quân địch tại các vị trí còn lại trên biên giới Đông Bắc, tổng chỉ huy quân Pháp đành ném nốt xuống Thất Khê tiểu đoàn dù cuối cùng vừa điều từ Sầm Nưa về và mới chỉ được nghỉ ngơi có vài ngày chưa kịp lại sức. Song trước thế tiến công và sức ép mạnh của quân ta, từ ngày 10 đến ngày 23 tháng 10, quân địch lần lượt rút chạy khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn đến Đình Lập, An Châu về sát Tiên Yên.
       
        Ở mặt trận Thái Nguyên, quân địch bị đánh thiệt hại nặng, ngày 10 tháng 10 phải tháo chạy khỏi thị xã. Trên mặt trận Tây Bắc, trước sức tiến công của ta, ngày 2 tháng 11 địch buộc phải rút khỏi Lào Cai, sau đó liên tiếp bị đánh bật khỏi Sa Pa, Phong Thổ. Ngày 6 tháng 11 chúng cũng buộc phải rút khỏi thị xã Hòa Bình.
       
        Cuộc tiến công chiến lược thu-đông 1950 của ta, trong đó có chiến dịch Biên giới, đã giành được thắng lợi hết sức to lớn. Thắng lợi đó như Chủ tịch Hồ Chí Linh đã chỉ rõ, là do: "Trung ương lãnh đạo sáng suốt. Các cấp địa phương chỉ đạo đúng đắn. Các cơ quan quân, dân, chính đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, hành động nhất trí”; "Chiến sĩ ta rất hăng hái, anh dũng..."; "Nhân dân ta rất tốt... nồng nàn yêu nước, hăng hái hy sinh"; “Giặc chủ quan khinh địch, không ngờ ta mạnh như vậy và tiến bộ nhanh như vậy, nên chúng hớ hênh không đề phòng cẩn thận"1.
       
        Bộ tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã bị hoàn toàn bất ngờ về ý đồ chiến lược của ta, về quy mô rộng lớn của cuộc tiến công, về sức mạnh và khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta trên chiến trường chính. Đặc biệt họ đã hoàn toàn bất ngờ trước diễn biến mau lẹ của trận vận động tiến công của ta, chỉ trong 4 ngày, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1950, đã tiêu diệt gọn hai binh đoàn Âu-Phi thiện chiến, đẩy họ đến thảm bại không lường trước được. Nắm trong tay những lực lượng lớn, được trang bị vũ khí tốt hơn hẳn đối phương, có khả năng cơ động cao, nhưng bộ tổng chỉ huy Pháp đành đóng vai những "khán giả" bất lực, tận mắt chứng kiến các binh đoàn thiện chiến nhất của mình bị diệt vong mà không có cách gì để cứu vãn.
       
        Thực ra họ còn có thể làm gì được nữa khi ngay từ đầu đã mắc phải mưu kế của đối phương, đã hành động theo sự điều khiển của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, lần lượt tung hết các đơn vị dự bị chiến lược ra khắp các chiến trường Đông Dương, trước khi diễn ra những tình huống quyết định trên chiến trường chính. Khi đã tung đi rồi, họ lại không thể thu về khi cần thiết, vì các lực lượng đó đã bị đối phương giam chân, tiêu hao tiêu diệt từng phần. Kế sách cuối cùng của họ là ném 5 tiểu đoàn còn lại lên Thái Nguyên hòng co kéo chủ lực của đối phương, đỡ đòn cho biên giới, cũng chỉ là cố gắng tuyệt vọng đã nhanh chóng tiêu tan trước một thế trận chiến tranh nhân dân vô cùng hiểm hóc.

        Thất bại của địch trong thu-đông 1950 là do Bộ tổng chỉ huy quân Pháp đã liên tiếp phạm những sai lầm. Những sai lầm ấy không phải họ ngẫu nhiên mắc phải mà là những sai lầm tất yếu của nền nghệ thuật quân sự tư sản lỗi thời trong một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, phải đương đầu với nền nghệ thuật quân sự vô sản tiên tiến và ưu việt của một dân tộc bất khuất. kiên cường và dày dạn kinh nghiệm chống xâm lược, vấp phải một thế trận chiến tranh nhân dân vô địch. Những sai lầm và thất bại ấy, đế quốc Mỹ sau này vẫn tiếp tục phải hứng chịu, mặc dù chúng giầu hơn, mạnh hơn rất nhiều và đã dày công rút tỉa những bài học từ thất bại của thực dân Pháp và nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược khác trên thế giới. Và bất cứ kẻ xâm lược nào khác dù hung hăng và xảo quyệt đến đâu cũng sẽ phải lặp lại những sai lầm và thất bại ấy, nếu chúng liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược Việt Nam.
       
--------------
1. Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói về quân sự, t. 1, tr. 443.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 07:10:17 PM
 
MƯU KẾ VÀ THẾ TRẬN
TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC
ĐÔNG-XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
       
        Ba mươi năm đã qua nhưng bài học thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nóng hổi trong trái tim chúng ta và mang tính thời đại sâu sắc. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã nói: "Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công"1. Điện Biên Phủ còn là tiếng sét kinh hoàng giáng vào mọi mưu toan gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác hòng thôn tính nước ta.
       
        Ngày nay, nhìn lại chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trong cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng ta, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, đồng thời kế thừa những tinh hoa về tài thao lược, ý chí quật cường của dân tộc trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.
       
        Để tìm hiểu thêm sự đúng đắn, tài giỏi, trong việc chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng dẫn tới chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, không thể không kể đến nghệ thuật mưu kế và thế trận đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo. Mưu kế và thế trận là những yếu tố rất quan trọng của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chỉ huy nói riêng.

*

*      *
       
        Cuối năm 1953-đầu năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch đã có những chuyển biến quan trọng có lợi cho ta. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của chúng ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Để đánh bại chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp gây ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, với sức mạnh tổng hợp của khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông. Toàn dân ta đã nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ: "Bất kỳ đàn ông đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước"2. Khắp nơi đều xây dựng lực lượng kháng chiến, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một trận địa đánh giặc kiên cường. Trên cơ sở đó, thế trận chiến tranh nhân dân đã được xây dựng và phát triển ngày càng vững mạnh và rộng khắp trên cả nước.
       
        Các lực lượng vũ trang ta, từ chỗ lúc đầu mới là những đơn vị nhỏ bé, trang bị thô sơ, sau tám năm kháng chiến đã trưởng thành nhanh chóng, với ba thứ quân ngày càng lớn mạnh. Các đại đoàn chủ lực đã ra đời và được tôi luyện, thử thách trong chiến tranh. Sự phối hợp giữa ba thứ quân cùng với phong trào toàn dân đánh giặc ngày càng chặt chẽ. Với những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta, từ chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947, chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950, các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (Hà-Nam-Ninh) năm 1951, chiến dịch Hoà Bình Đông-Xuân 1951-1952 đến các chiến dịch Tây Bắc Thu-Đông 1952, Thượng Lào Xuân 1953, với thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ trên cả ba nước Đông Dương, thế chủ động trên chiến trường đã thuộc về ta.
       
        Trong khi đó thực dân Pháp ngày càng sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Quân đội viễn chinh Pháp và quân đội tay sai phải chịu nhiều tổn thất nặng nề, khu vực chiếm đóng của chúng ngày càng bị thu hẹp, quân lính mệt mỏi, tinh thần ngày càng sa sút. Mâu thuẫn thuộc về bản chất của một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ngày càng bộc lộ. Đứng trước cuộc chiến tranh "bẩn thỉu” kéo dài và hao người tốn của đó, nước Pháp ngày càng lâm vào tình thế khủng hoảng trầm trọng.
       
        Hình thái chiến trường Đông-Xuân 1953-1954 đã có những thay đổi lớn. Vùng tự do và căn cứ du kích của ta đã trải rộng từ biên giới Lạng Sơn-Cao Bằng-Hà Giang-Lào Cai, bao gồm hầu hết miền Tây Bắc (chỉ trừ Nà Sản và Lai Châu) tới vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, từ nam phần Trung Bộ tới bắc Tây Nguyên. Nhiều căn cứ địa cách mạng xen kẽ với địch từ cực nam Trung Bộ tới miền tây Nam Bộ. Những làng và cụm làng kháng chiến mọc lên chi chít ngay ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với tình trạng đó, bộ tham mưu quân Pháp đã phải gọi tấm bản đồ thể hiện hình thái chiến trường đồng bằng Bắc Bộ là bản đồ "lên sởi".

---------------
1. Hồ Chí Minh. Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 253.

2. Hồ Chí Minh. Những bài viết và nói về quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, t.1, tr. 222.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:20:02 PM
        Đánh giá tình hình quân sự lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định:
       
        “BÊN ĐỊCH: ... Lực lượng địch bị tiêu hao nhiều (tính đến tháng 11 năm 1953, độ 32 vạn). Quân số Âu-Phi ngày càng thiếu. Trên chiến trường chính, địch càng bị động. Mới đây, địch cố thọc ra vùng tự do ở Liên khu 3 và một vài nơi ở bờ biển Liên khu 4, nhưng thế của địch căn bản vẫn là bị động”.
       
        “Tuy vậy, hiện nay lực lượng địch vẫn còn mạnh. Ta không được khinh địch…”
       
        “BÊN TA: … Từ thu Đông năm 1950. ta đã thắng to trong bảy chiến dịch và đã nắm được chủ động trên chiến trường chính. Ta đã giải phóng phần lớn vùng Tây Bắc to rộng. Phong trào du kích lên mạnh khắp các nơi”.
       
        “Những đợt chỉnh quân về chính trị và kỹ thuật có kết quả tốt. Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về số lượng và chất lượng"1.
       
        Lúc này, thực dân Pháp với sự tăng cường can thiệp của đế quốc Mỹ bằng viện trợ quân sự ngày càng tăng, âm mưu tiếp tục kéo dài và mở rộng chiến tranh tìm cách giành lại thế chủ động trên chiến trường hòng chuyển bại thành thắng và chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh. Cử Na-va sang thay Xa-lăng làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, chính phủ La-ni-en hy vọng có thể xoay chuyển lại cục diện của chiến tranh.
       
        Hòng thoát khỏi thế phòng ngự bị động và thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, Na-va đề ra một kế hoạch chiến lược mang đầy tham vọng: xây dựng lực lượng cơ động chiến lược lớn hơn lực lượng cơ động chiến lược của đối phương để chuyển sang tiến công làm chuyển biến tình thế, đẩy mạnh xây dựng quân ngụy để đảm nhiệm việc chiếm đóng các địa phương, tạo điều kiện tập trung quân Âu-Phi xây dựng lực lượng cơ động chiến lược. Na-va dự định chỉ trong vòng 18 tháng sẽ giành lại thế chủ động chiến lược.
       
        Na-va phán đoán có ba hướng chiến lược có thể bị ta uy hiếp là: đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc Việt Nam-Thượng Lào và miền Nam Đông Dương. Ông ta nhận định: đồng bằng Bắc Bộ là một địa bàn xung yếu có thể là hướng tiến công chính của chủ lực đối phương. Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào là vùng rừng núi mà phòng ngự của Pháp có nhiều sơ hở, nhưng đối phương không thể mở những cuộc tiến công quy mô lớn và dài ngày do địa hình hiểm trở và khó khăn trong việc giải quyết hậu cần kỹ thuật. Miền Nam Đông Dương là khu vực mà lực lượng chủ lực của đối phương chưa có nhiều, nhưng lực lượng của Pháp cũng yếu hơn so với ở đồng bằng Bắc Bộ, lại bố trí phân tán. Ở đây có vùng Tây Nguyên xung yếu nối liền với Hạ Lào và chiến trường Nam Bộ; nếu chủ lực đối phương mở cuộc tiến công lớn ở vùng này thì có khả năng gây ra đảo lộn lớn trong thế trận của hai bên. Từ những nhận định đó, Na-va vạch ra kế hoạch tác chiến gồm hai bước. Bước một: trong Đông-Xuân 1953-1954, tránh giao chiến toàn bộ với các đơn vị chủ lực cơ động của đối phương; ở phía bắc vĩ tuyến 18, giữ thế phòng ngự chiến lược; ở phía nam vĩ tuyến 18: thực hành tiến công nhằm chiếm đóng tất cả các vùng tự do của đối phương nhất là Liên khu 5 và vùng Hậu Giang Nam Bộ. Bước hai: sang Đông-Xuân 1954-1955, khi lực lượng cơ động chiến lược của Pháp đã được xây dựng đủ mạnh thì tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực đối phương trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.
       
        Theo phương hướng đó, mùa thu 1953 thực dân Pháp tăng viện ngay cho quân viễn chinh 12 tiểu đoàn lấy từ Pháp, Bắc Phi và rút từ Triều Tiên về. Na-va quyết định rút quân khỏi Nà Sản (Tây Bắc) và cố sức tập trung được 84 tiểu đoàn cơ động; riêng ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn, chiếm hơn 50 phần trăm lực lượng cơ động của Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương. Theo lệnh quan thầy, ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại ra “dụ” tổng động viên, bắt hàng chục vạn thanh niên vào lính để mở rộng quân ngụy.
       
        Tháng 9 năm 1953, Bộ chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng ta họp bàn về chủ trương tác chiến Đông-Xuân 1953-1954. Hội nghị đã khẳng định sự đúng đắn của phương hướng chiến lược mà Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Đảng đã vạch ra, và xác định chủ trương tác chiến trong Đông-Xuân 1953-1954 là: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Bộ Chính trị nhận định: lúc này địch tập trung cao độ quân chủ lực để tác chiến với ta ở đồng bằng; chiến trường đồng bằng có nhiều thuận lợi cho địch, đánh lớn vào đồng bằng chỉ có thể thu được những thắng lợi có hạn, không thay đổi được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thể bị tiêu hao. Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên hướng đó, mặc dù có khó khăn rất lớn về tiếp tế, nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở các chiến trường sau lưng địch để tiêu hao và giam chân địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.

---------------------
1. Hồ Chí Minh. Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tr. 145-147.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:25:08 PM
        Phương hướng chiến lược và chủ trương tác chiến mà Đảng đề ra trong Đông-Xuân 1953-1954 là sự thể hiện của mưu kế chiến lược: căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt, giữ vững quyền chủ động đánh địch trên cả hai mặt trận trước mặt và sau lưng địch, phối hợp các chiến trường trên phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn chiến trường Đông Dương, tạo thời cơ để tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch trên chiến trường ta lựa chọn vào thời gian thích hợp.
        
        Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Nắm vững phương hướng chiến lược của Đảng, quán triệt một nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự là "mưu trí, linh hoạt bí mật, bất ngờ", chúng ta đã thực hiện thành công nhiều biện pháp nghi binh lừa địch như: chuẩn bị hành quân, tác chiến; di chuyển bộ đội; tung tin giả... để đánh lạc hướng địch. Kết quả là đã làm cho địch phán đoán lầm ý định của ta. Trong khi bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp còn đang thăm dò, mò mẫm xem đại bộ phận quân chủ lực ta đang tập trung và triển khai tác chiến về hướng nào, thì Na-va nhận được tin tình báo cho rằng ta đang chuẩn bị tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ với lực lượng của các sư đoàn 320, 308, 312, 304 và có thể cả một bộ phận của sư đoàn 316. Thế là Na-va quyết định hành động trước. Ông ta ra lệnh cho các cấp dưới "phải ra tay trước, phải hành động sớm hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận. Khẩu hiệu là giành quyền chủ động..."1. Hè-Thu năm 1953. quân Pháp đã mở hàng chục trận càn quét trong vùng chúng tạm chiếm ở Bắc Bộ, Bình-Trị-Thiên, Nam Bộ; mở cuộc tiến công lớn mang tên “chiến dịch Hải âu” đánh ra tây-nam Ninh Bình và địa đầu Thanh Hóa. Nhưng chúng đã không giành được một thắng lợi nào đáng kể, lại còn bị các lực lượng vũ trang địa phương và một bộ phận chủ lực của ta tiêu hao, tiêu diệt một phần không nhỏ.
        
        Tháng 11 năm 1953, Na-va nhận được tin tình báo cho biết: một bộ phận chủ lực của ta đang hành quân lên hướng Lai Châu: quân tình nguyện Việt Nam và quân đội Pa-thét Lào đang chuẩn bị tiến công ở Trung Lào; bộ đội chủ lực của ta ở Liên khu 5 ráo riết chuẩn bị tiến vào Tây Nguyên... Na-va đã thấy rõ hướng tiến công chủ yếu của ta không phải là đồng bằng Bắc Bộ như ông ta đã phán đoán, nên phải bị động thay đổi kế hoạch. Từ giữa tháng 11, Na-va vội vã cho 6 tiểu đoàn Âu-Phi tinh nhuệ nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ, đồng thời trước sức uy hiếp của ta, ông ta quyết định rút quân chiếm đóng khỏi Lai Châu, vừa để tránh bị tiêu diệt vừa có thêm lực lượng tăng cường cho Điện Biên Phủ. Na-va cũng điều động binh đoàn cơ động số 2 và 2 tiểu đoàn độc lập tăng cường cho hướng Trung Lào. Như vậy ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng, điều một bộ phận quân chủ lực của chúng lên Tây Bắc và Trung Lào.

        Kế hay nhất là kế điều địch và quan trọng nhất là điều lực lượng cơ động chiến lược của địch. Đó là nghệ thuật rất cao trong nghệ thuật chỉ huy nhằm thực hiện phương hướng chiến lược của ta: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, phân tán lực lượng địch để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do của ta. Dùng mưu kế để lừa địch, điều địch, phân tán lực lượng địch rồi bất ngờ nhằm vào nơi sơ hở, hiểm yếu của địch để đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đó là nét nổi bật của nghệ thuật mưu kế và thế trận trong Đông-Xuân 1953-1954. Thực hiện phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" mà Bộ Chính trị đã đề ra, chúng ta đã điều động được địch theo ý định của ta, căng địch ra mà đánh, buộc chúng phải phân tán lực lượng, đối phó lúng túng, còn ta thì nắm chắc khối chủ lực để tùy theo tình hình diễn biến trên chiến trường mà xử trí một cách hết sức chủ động, linh hoạt.
        
        Để tiếp tục đánh lạc hướng phán đoán của địch và phân tán khối chủ lực cơ động của chúng ra các chiến trường khác, tạo điều kiện cho việc tập trung lực lượng và chuẩn bị tiến công của ta ở Điện Biên Phủ, cuối tháng 12 năm 1953, ta tiến công địch ở Trung Lào, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở chiến trường này, rồi thừa thắng phát triển tiến công xuống Hạ Lào. Cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1954, ta tiến công quét sạch địch ở bắc Tây Nguyên, giải phóng thị xã Kontum. Cuối tháng 1 năm 1954, quân đội ta cùng với bộ đội Pa-thét Lào mở đợt tiến công ở Thượng Lào, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu mà địch mới xây dựng để nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Ta thừa thắng phát triển lên phía bắc giải phóng Phông-xa-lỳ, nối liền khu giải phóng của cách mạng Lào với Tây Bắc Việt Nam. Địch buộc phải điều ngay lực lượng cơ động tăng cường cho Luông Pha-băng hòng giữ cho thế trận của chúng ở Thượng Lào khỏi sụp đổ.
        
        Ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình-Trị-Thiên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội chủ lực của các quân khu cũng đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, đánh trả mãnh liệt các cuộc càn quét của địch, với phương châm đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao sinh lực địch, mở rộng căn cứ du kích của ta, thu hút và giam chân chủ lực địch để phối hợp với chiến trường chính.

-------------------
1. Hăng-ri Na-va. Đông Dương hấp hối, Nhà xuất bản Plông, Pa-ri, 1958


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:36:41 PM
        Như vậy, đến tháng 2 năm 1954, hình thái trên toàn chiến trường đã có những chuyển biến quan trọng. Vùng giải phóng của ta mở rộng hơn, vùng địch tạm chiếm bị thu hẹp nhiều trong thế cài xen giữa địch và ta, ta đứng chân ở những vị trí khá then chốt và thuận lợi cho việc tiến công địch. Nó phản ánh thế trận của ta đã phát triển vững chắc trên tất cả các địa bàn chiến lược. Kế hoạch Na-va đã bắt đầu bị phá sản. Số quân cơ động với 44 tiểu đoàn mà Na-va cố gắng tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ nay chỉ còn 20 tiểu đoàn. Mâu thuẫn cố hữu giữa giữ đất và cơ động, giữa phân tán và tập trung của mọi quân đội xâm lược ngày càng bộc lộ sâu sắc. Sự rệu rã, mệt mỏi, mất tinh thần của đội quân đánh thuê và tay sai là mầm mống thất bại không thể tránh khỏi của địch.
       
        Với phương pháp suy nghĩ chủ quan, siêu hình, đánh giá thấp đối phương của học thuyết quân sự tư sản phản động, Na-va liên tiếp mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Trong khi lực lượng cơ động chiến lược của ông ta đang bị ta căng ra khắp Đông Dương, đang lâm vào thế bị động đối phó thì Na-va vẫn mơ tưởng tới một cuộc tiến công chiến lược. Na-va quyết tâm tập trung quân cơ động ở năm địa điểm lớn là: Điện Biên Phủ, đồng bằng Bắc Bộ, Luông Pha-băng, Xê-nô và Tây Nguyên. Na-va quyết định chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Ông ta chủ trương tăng thêm lực lượng để biến Điện Biên Phử thành một "con nhím" khổng lồ, một cái bẫy để thu hút rồi nghiền nát chủ lực của ta.
       
        Tương kế tựu kế để đánh địch là một kinh nghiệm hay của ông cha ta. Sách Binh thư yếu lược nói "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó: hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; ... lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"1. Địch chọn Điện Biên Phủ làm nơi thu hút lực lượng ta hòng đánh quỵ chủ lực ta, rồi phát triển tiến công đánh chiếm các vùng chiến lược của ta trên toàn chiến trường Đông Dương. Về phía ta thì tuy có khó khăn về vận chuyển tiếp tế, song tác chiến ở vùng rừng núi này căn bản có lợi cho ta, phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta. Cách đối phó bị động của địch đã trúng kế của ta: chúng đã bị điều đến nơi ta có khả năng và thế lợi để tiêu diệt chúng; ở đó ta có hậu phương rộng lớn. Các lực lượng dự bị chiến lược của ta được lệnh bí mật điều lên khép chặt địch vào thung lũng Mường Thanh. Khí thế tiêu diệt giặc, tinh thần quyết chiến quyết thắng đã dâng cao. Nhân dân ta ở vùng tự do, vùng mới giải phóng, vùng sau lưng địch đã dồn sức người sức của cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị chiến trường, bảo đảm hậu cần của chúng ta đã được tiến hành với cố gắng cao nhất.
       
        Đắc chí với những tính toán cho kế hoạch chiến lược lâu dài, Na-va ra sức đôn đốc củng cố Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố vào bậc nhất Đông Dương, một "pháo đài bất khả xâm phạm". Các quan chức và tướng lĩnh cao cấp của cả Pháp lẫn Mỹ đều hết sức tán dương chủ trương quyết chiến của Na-va và huênh hoang: cái “tập đoàn cứ điểm đáng sợ" này sẽ là "một Véc-đoong2 thứ hai ở Viễn Đông".
       
        Với nhận định chủ quan cho rằng đối phương khó có đủ sức tiến công vào Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va cho quân đổ bộ vào Tuy Hòa, mở đầu chiến dịch Át-lăng, một bộ phận chủ yếu trong kế hoạch chiến lược của ông ta. Quân và dân Liên khu 5, quán triệt phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng, chỉ để lại một bộ phận nhỏ đối phó với địch, còn đại bộ phận vẫn tiến công lên Tây Nguyên là hướng quan trọng mà địch tương đối sơ hở. Để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân ta đánh mạnh ở khắp các chiến trường khác. Na-va tiếp tục dấn sâu vào thế bị động. Sau khi buộc phải phân tán lực lượng lần thứ hai ở Trung Lào, ông ta lại phải bị động phân tán lực lượng cơ động lần thứ ba ở Hạ Lào, lần thứ tư ở Tây Nguyên và lần thứ năm ở Thượng Lào. Ở đồng bằng ta cũng đánh mạnh, giam chân địch ở khắp nơi. Nhưng khi thấy cuộc tiến công của ta trên chiến trường Thượng Lào dừng lại ở Mường Sài và Luông Pha-băng, Na-va vội cho là "sức tiến công của đối phương đã đạt đến điểm cao nhất", liền tiếp tục đợt hai của chiến dịch Át-lăng, cho quân đổ bộ vào Quy Nhơn.

        Một cuộc đọ mưu, đọ sức quyết liệt đã diễn ra với sự nỗ lực cao nhất của ta và của địch. Thế trận của ta lúc này phát triển rất thuận lợi. Ta có thế hiểm trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên toàn chiến trường, nhờ đó mà thực hiện được mưu lừa địch và kế điều địch, căng địch ra mà đánh cả ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược là rất hiểm, rất bất ngờ đối với một kẻ địch vốn rất chủ quan, ỷ vào binh khí kỹ thuật, đánh giá thấp đối phương. Địch định dùng mưu lừa ta, ta lại dùng mưu của nó để lừa lại nó. Trong cuộc đọ sức ở Điện Biên Phủ, ta có nhiều khó khăn nhưng ta hoàn toàn có thể khắc phục được những khó khăn đó bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, bằng nghệ thuật chỉ đạo chiến lược và tổ chức, chỉ huy chiến dịch tài giỏi. Bộ đội chủ lực của ta lại phát huy được sở trường và khả năng tác chiến trên địa bàn rừng núi. Trúng kế của ta, lực lượng cơ động chiến lược của địch bị căng ra khắp các chiến trường Đông Dương, bị trói chân trói tay và bị tiêu hao, tiêu diệt, không sao ứng cứu được cho nhau và cũng không có khả năng ứng cứu cho Điện Biên Phủ bị cô lập.
       
----------------
1. Binh thư yếu lược, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 183.

2. Véc-đoong (Verdun), một tỉnh của nước Pháp. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), quân Pháp đã phòng ngự và đánh tan quân Đức ở đây.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:39:52 PM
        Như vậy, sự phát triển của thế trận chung trên toàn chiến trường đã tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi cho ta tập trung một bộ phận lớn lực lượng chủ lực cơ động tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Song để đạt được mục tiêu ấy, nghệ thuật quân sự còn phải giải quyết thành công nhiều vấn đề về tổ chức, chỉ huy chiến dịch.
       
        Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương, với tổng số quân là 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của địch, với trên 40 khẩu pháo, 10 xe tăng, được sự chi viện của 80 phần trăm lực lượng không quân của Pháp ở Đông Dương. Chúng bố trí trong 49 cứ điểm, tổ chức thành 8 cụm, mỗi cụm là một hệ thống hỏa lực nhiều tầng có thể yểm hộ đắc lực cho nhau.
       
        Vì vậy, chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch tác chiến hợp đồng binh chủng có quy mô lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta phải sử dụng phương pháp tác chiến trận địa, tiến hành một loạt các trận đánh kế tiếp nhau để giải quyết những cứ điểm và cụm cứ điểm rắn chắc trong một hệ thống phòng ngự có chuẩn bị và tổ chức chặt chẽ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là "đánh chắc thắng”, phương châm tác chiến chiến dịch của ta đã được thay đổi rất kịp thời và chính xác từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang “đánh chắc tiến chắc”, dù phải khắc phục nhiều khó khăn. Bộ đội ta phải có tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao, phải sử dụng sáng tạo cách đánh: kết hợp đột phá chính diện trên nhiều hướng với thọc sâu chia cắt, bao vây chặt, kiên quyết bóp nghẹt nguồn tiếp tế duy nhất của địch bằng đường không, giành thắng lợi từng bước, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, kiên quyết thọc thẳng vào trung tâm chỉ huy của địch, giành thắng lợi hoàn toàn.
       
        Ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta nổ súng tiến công mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong đợt đầu chúng ta đã tập trung sức mạnh hợp đồng binh chủng đánh chiếm các cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo là những vị trí kiên cố vào bậc nhất của địch ở phía bắc và đông-bắc. Mất ba trung tâm đề kháng quan trọng che chở cho tập đoàn cứ điểm, quân địch bị một đòn choáng váng, và nỗi kinh hoàng nhanh chóng lan từ Điện Biên Phủ đến các sở chỉ huy địch ở Hà Nội và Sài Gòn, báo hiệu sự thất bại cua chúng là không thể tránh khỏi. Nhưng địch vẫn còn trên một vạn quân và hơn ba chục vị trí, phần lớn đều nằm tập trung giữa cánh đồng Mường Thanh. Trên địa hình bằng phẳng, địch có thể phát huy ưu thế về pháo binh, xe tăng, máy bay.
       
        Với quyết tâm cao và cách đánh mưu trí sáng tạo, quân ta tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai, đột phá các cao điểm khống chế ở khu đông tập đoàn cứ điểm, đồng thời đưa lực lượng thọc sâu đánh chiếm sân bay cắt đứt dạ dày của địch, chia cắt địch giữa phân khu nam và phân khu trung tâm, siết chặt quân địch trong vòng vây lửa của một hệ thống chiến hào ngang dọc dài hàng trăm ki-lô-mét. Phát huy hiệu quả của cách đánh gần, bắn ngắm trực tiếp, pháo binh ta với số lượng ít hơn đã hoàn toàn áp đảo pháo binh, xe tăng địch, điều mà kẻ địch hoàn toàn bị bất ngờ và không sao hiểu nổi. Sự xuất hiện và hiệu lực của pháo binh ta đã gây nên mối kinh hoàng cho giặc Pháp ở Điện Biên Phủ đến nỗi ngay trong đêm đầu tiên ta mở cuộc tiến công, viên trung tá chỉ huy pháo binh địch đã phải tự sát vì thấy mình bất lực. Còn bộ binh ta, với những cách đánh hết sức dũng cảm, sáng tạo như đánh lấn, bắn tỉa, vây hãm quân địch cả ở mặt đất và trên không, cài xen áp sát địch… đã làm cho địch càng thêm khốn quẫn, trận địa phòng ngự của chúng ngày càng thu hẹp, hỏa lực và khả năng tiếp tế, ứng cứu bằng không quân của địch trở thành vô hiệu.
       
        Trước tình hình nguy ngập của Điện Biên Phủ, hy vọng được đế quốc Mỹ cứu nguy bằng kế hoạch ném bom "Diều hâu” cũng đã tiêu tan, Na-va chỉ còn cách ra lệnh cho Đờ Ca-xtơ-ri mở một đường máu tháo chạy về phía tây. Nhưng đã muộn! Chiếc thòng lọng đã xiết chặt vào cổ chúng. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ta đã mở đợt công kích cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngọn cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tung bay trên nóc sở chỉ huy địch. Tướng Đờ Ca-xtơ-ri và toàn bộ tham mưu địch bị bắt sống, gần một vạn quân địch còn sống sót đã đầu hàng. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng hết sức vẻ vang.

*

*       *
       
        Chiến thắng đông-xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh hùng hồn rằng Đảng ta không những có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, mà còn đạt tới trình độ rất cao trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự cách mạng, trong đó có nghệ thuật mưu kế và lập thế trận.
       
        Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỷ XX. Từ sau Điện Biên Phủ, nhân dân ta lại viết tiếp những trang sử huy hoàng mới với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với chiến thắng tháng 2 năm 1979 đánh bại quân bành trướng Trung Quốc xâm lược.
       
        Với tinh thần quật cường bất khuất và tài thao lược được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử, ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:46:34 PM
       
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
       
        Điểm lại lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu, giao chiến với biết bao kẻ thù xâm lược trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần dám đánh đã ăn sâu vào máu thịt của mỗi người dân nước Việt, truyền từ đời này sang đời khác. Bởi, trước hết họ hiểu được giá trị của độc lập tự do, họ đã nếm trải nỗi cay đắng của người làm nô lệ, dân nước thuộc địa. Tất nhiên, ý thức giải phóng và tự giải phóng ấy chỉ có thể được phát huy dưới ngọn cờ chính nghĩa và được phát huy triệt để hơn khi cuộc cách mạng và chiến tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhưng cái gốc chính là ý thức dân tộc, ý thức của những người dân mà lịch sử của nó rất độc đáo: Nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế kém phát triển, nước nhỏ luôn phải đương đầu với những thế lực xâm lược lớn hơn mình gấp bội, cả về số lượng và chất lượng vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự. Chiến tranh và hòa bình, chiến đấu và xây dưng đối với dân tộc ta gần như đan xen trong hàng ngàn năm lịch sử.
       
        Tinh thần và ý chí dám đánh là điều cũng có thể hiểu được vì nếu họ không tự bảo vệ thì họ sẽ mất tự do, nhưng điều không dễ cắt nghĩa là ở chỗ vì sao trong cuộc chiến tranh ấy họ có thể đánh bại được những kẻ xâm lược khổng lồ, hiện đại bậc nhất nhì thế giới.
       
        Nghiên cứu nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng nhằm góp phần giải đáp những vấn đề trên.

*

*      *
       
        Xét về bản chất, mọi cuộc chiến tranh mà quân xâm lược gây ra đối với dân tộc Việt Nam đều là phi nghĩa, nhằm cướp đi nền độc lập tự do mà dân tộc ta đã giành được trong hàng ngàn năm lịch sử. Chúng muốn nô dịch, khuất phục nhân dân ta làm nô lệ cho chúng. Nhưng thực tế lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đã khẳng định chân lý bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Vì thế, nền độc lập tự do ấy luôn luôn được giữ vững bằng tinh thần dám đánh, biết đánh và biết thắng, bằng ý chí nghị lực, bằng sự nỗ lực phi thường, bằng cuộc kháng chiến chính nghĩa, bằng sức mạnh của cả một dân tộc chưa một lần chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào.
       
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam không tự nhiên hình thành. Nó là kết quả của truyền thống lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Nó là kết tinh chủ yếu của những yếu tố sức mạnh chính trị tinh thần, quan điểm đường lối lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của cách đánh Việt Nam. Nghệ thuật quân sự mang đậm dấu ấn truyền thống bởi sự kế thừa đồng thời chứa đựng yếu tố hiện đại bởi sự phát triển sáng tạo trong quá trình đấu tranh để chiến thắng.
       
        Cuộc kháng chiến chống Mỹ có liên quan chặt chẽ với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Mỹ vào Việt Nam thực chất là thay thế Pháp. Khi chủ nghĩa thực dân cũ thất bại thì chủ nghĩa thực dân mới được thay thế để khuất phục dân tộc nhỏ bé này. Tính kế thừa và phát triển của hai cuộc kháng chiến này thể hiện khá rõ trong 3 lĩnh vực: chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.
       
        Mặc dù quân đội Mỹ thế chân quân đội Pháp trận chiến trường Việt Nam, trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh có hiện đại hơn, phương thức quy mô tiến hành chiến tranh có phát triển nhưng cuộc chiến tranh mà hai quân đội tiến hành đều cùng mục đích và bản chất là xâm lược phi nghĩa. Nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhưng đặc biệt có kế thừa những kinh nghiệm nóng hổi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi nghiên cứu, nhận thấy nội dung nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có những điểm tương đồng với những cuộc kháng chiến khác đồng thời thấy được sự phát triển mới về chất của nó.
       
        Có rất nhiều yếu tố chi phối đến sự hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng. Trong đó nổi lên những yếu tố hết sức cơ bản sau: Một là, tương quan so sánh lực lượng địch, ta. Hai là, đối tượng tác chiến, phương thức thủ đoạn tác chiến. Ba là, khả năng đạt tới mục tiêu.
       
        Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, xét một cách tổng thể trên bình diện chiến lược chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh trong điều kiện địch mạnh hơn ta về trang bị vũ khí, kỹ thuật, về số lượng quân chủ lực, chính quy tham chiến trên chiến trường chính. So với quân Pháp, quân Mỹ có những điểm mạnh hơn hẳn, nhất là nghệ thuật tác chiến ở quy mô binh chủng hợp thành. Sức mạnh kinh tế là bệ đỡ để cho quân đội Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh với quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh xâm lược. Mỹ hy vọng với sức mạnh to lớn về vật chất kỹ thuật như vậy sẽ đè bẹp được tinh thần đấu tranh của dân tộc nhỏ bé vừa thoát ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm với nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, khi trên cơ thể còn đầy vết thương chiến tranh, sức lực chưa có điều kiện hồi phục (!). Mỹ hy vọng trong cuộc chạy đua vũ trang này kẻ có kinh tế mạnh, lắm tiền nhiều của sẽ thắng. Nhân dân Việt Nam lại phải một lần nửa chấp nhận cuộc chiến tranh chống xâm lược trong điều kiện ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn. Đó là hoàn cảnh bắt buộc đã từng diễn ra từ nhiều cuộc chiến tranh trước đây giờ lại lặp lại trong cuộc chiến tranh này.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:48:50 PM
        Tuy có những điểm giống nhau nhưng quân đội Mỹ đang là đế quốc hùng mạnh lúc đó. Với bản chất của chủ nghĩa đế quốc nhưng là chủ nghĩa thực dân mới nên những phương thức, thủ đoạn tác chiến và tiến hành chiến tranh của Mỹ đã có bước phát triển xa so với quân đội Pháp. Việc đó cũng là do vũ khí phương tiện tiến hành chiến tranh thay đổi, phát triển. Mức độ quy mô chiến tranh rộng lớn hơn, tính chất chiến tranh ác liệt hơn, kể cả sự nham hiểm cũng như sức tàn phá và hủy diệt của nó. Tư tưởng khai hóa văn minh được núp dưới vỏ bọc “mị dân" tinh vi hơn nhiều, không chỉ đánh bằng đòn quân sự, Mỹ còn đánh ta bằng đòn tâm lý chiến, ngoại giao, kinh tế vặn hóa. Một kiểu chiến tranh toàn diện trên toàn bộ đất nước ta. Một cuộc chiến tranh rất hiện đại với sức hủy diệt chưa từng có sau chiến tranh thế giới thứ hai. Mỹ muốn dùng khoa học kỹ thuật, quân sự hiện đại, sức mạnh của vũ khí hiện đại để hủy diệt, để khuất phục dân tộc Việt Nam.
       
        Trong quá trình thực hiện chiến tranh, mục tiêu chiến lược cuối cùng của bất kỳ kẻ xâm lược nào cũng đều nhằm khuất phục dân tộc Việt Nam.
       
        Thực dân Pháp muốn bóp chết thành quả cách mạng Việt Nam ngay trong trứng nước; ngay sau khi lời Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch còn nóng hổi; khi bản Hiệp định sơ bộ ngày6 tháng 3 năm 1946 giữa ta và Pháp còn chưa ráo mực. Thực dân Pháp đâu có nghĩ rằng chúng phải sa lầy ở Việt Nam 9 năm rồi mới rút khỏi cuộc chiến tranh trong tư thế kẻ bại trận. Mỹ cũng vậy, đã có mặt tại Việt Nam ngay từ khi thực dân Pháp còn đang chiếm đóng. Khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Mỹ đâu nghĩ đến tình huống phải giam chân, phải sa lầy ở chiến trường miền Nam hàng chục năm trời. Có thể bài học thất bại của Pháp đã giúp Mỹ tỉnh táo hơn đôi chút; Mỹ cố chia chiến tranh thành từng giai đoạn, ứng phó với nó là những mục tiêu chiến lược cụ thể. Với những nấc thang chiến tranh vừa chủ động định sẵn, vừa bị động hình thành trong quá trình tiến hành chiến tranh, Mỹ rất tin vào khả năng giành thắng lợi của mình. Một cuộc chiến tranh qua mấy đời tổng thống leo thang chiến tranh từ thấp đến cao cũng không cứu vãn được kết cục "ngã đau” của các nhà lãnh đạo Lầu năm góc.
       
        Nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân dân, chính nghĩa, cách mạng và tiến công, thể hiện quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân.
       
        Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ độc đáo trước hết bởi đó là một cuộc chiến tranh nhân dân. Muốn có cuộc chiến tranh như vậy thì bản chất cuộc đấu tranh đó phải là chính nghĩa-giành độc lập tự do cho nhân dân, giải phóng họ khỏi ách áp bức của đế quốc Mỹ-Diệm. Cuộc đấu tranh ấy là không ngừng, luôn lấy tiến công làm tư tưởng chủ đạo, tiến công địch một cách toàn diện. Để giải quyết những mâu thuẫn về tương quan so sánh lực lượng địch, ta, về khả năng cơ động, về hỏa lực, về trang bị vũ khí kỹ thuật, về mục tiêu cần phải đạt tới và khả năng thực tế… cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân trên cái nền móng vững chắc là thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân. Đường lối và phương châm kháng chiến của ta là: Chiến tranh chính nghĩa toàn dân, toàn diện, kháng chiến lâu dài tự lực cánh sinh. Ta không thể bắt đầu cuộc kháng chiến bằng việc đánh to hoặc chỉ có độc nhất hình thức tác chiến chính quy mà phải từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy và đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn hai hình thức tác chiến này trong thế trận chiến tranh nhân dân. Và cũng chỉ có thế trận chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân mới tạo điều kiện để chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy phát huy hết sức mạnh "tự có"-sức mạnh nội tại của nó.
       
        Những quan điểm và tư tưởng này tưởng chừng như không có gì mới vì đã từng tồn tại trong thực tế lịch sử. Nhưng đến thời đại Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những nội dung của nó đã có sự biến đổi sâu sắc về chất. Sự phát triển đó đã đáp ứng được yêu cầu của cuộc kháng chiến đối với một đối tượng mới, hùng mạnh như Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam tuy sống dưới hai chế độ nhưng đều là dân một nước, cảnh chia cắt chỉ là tạm thời. Việc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đâu chỉ là nhiệm vụ của nhân dân miền Nam. Trái lại, nhân dân miền Bắc với tư cách là thành trì xã hội chủ nghĩa, là hậu phương lớn họ đã góp phần quyết định việc giành độc lập dân tộc, thống nhất giang sơn. Đã có lúc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, hậu phương giờ lại thành tiền tuyến. Sự khác nhau chỉ là cách thức tiến hành chiến tranh. Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể ấy nếu nghệ thuật quân sự không hàm chứa những tư tưởng quan điểm trên chắc khó có thể giành được thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:51:20 PM
        Ông cha ta đã từng tổng kết: toàn dân đồng lòng, cả nước góp sức, khoan thứ sức dân làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng vậy. Tư tưởng và quan điểm trên chính là cơ sở thực tiễn để mong muốn trở thành hiện thực. Chỉ có sức mạnh nhân dân mới có đủ khả năng "dời non lấp biển". Chỉ có thế trận chiến tranh nhân dân mới căng kéo, phân tán, chia cắt địch thành từng mảng, làm cho địch đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu, cơ động mà bị động, không tập trung được lực lượng và sức mạnh vào chỗ mà chúng muốn. Nghệ thuật quân sự còn độc đáo là ở chỗ kết hợp chặt chẽ yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại. Toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, đàn bà đàn ông, người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia. Đánh giặc bằng tất cả những gì có được trong tay dù là vũ khí thô sơ nhất. Đánh giặc bằng lòng dũng cảm, sức chịu đựng phi thường trước mọi gian khổ, hy sinh. Đánh giặc bằng sức mạnh của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tất cả yếu tố đó có thể được coi là truyền thống. Kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy trên quy mô chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến đấu. Đi từ chiến tranh du kích lên chính quy, để cuối cùng đánh bằng tác chiến binh chủng hợp thành, lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, lấy nghệ thuật thắng kỹ thuật, lấy sức mạnh tổng hợp thắng sức mạnh cục bộ.
       
        Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ coi trọng tư tưởng đánh thắng đối phương bằng mưu kế và thế, thời.
       
        Do phải giải quyết những mâu thuẫn về số lượng quân, trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự, mà cách đánh trong nghệ thuật quân sự mang đậm dấu ấn của ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn. Thành công lớn của nghệ thuật quân sự là sự đảo ngược thế trận, thay đổi tương quan lực lượng, tạo thời cơ thuận lợi, đòn tổng hợp quân sự, chính trị, ngoại giao… kết thúc chiến tranh thắng lợi vào thời điểm có lợi nhất.
       
        Muốn vậy, vấn đề là cần phải "trường kỳ kháng chiến" để có thời gian chuyển hóa yếu thành mạnh, ít thành nhiều, tìm được những hình thức tác chiến thích hợp. Chiến tranh phải kéo dài, cuộc kháng chiến phải gian khổ, phải đi từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ đến hiện đại, từ yếu đến mạnh, ít đến nhiều. Song nghệ thuật tác chiến cơ bản vẫn là thiên về đánh bằng mưu mẹo, không dùng lực chọi lực, cứng chọi cứng mà kết hợp cả trí và lực, cứng và mềm.
       
        Đạt được điều đó chính là biết lừa địch vào kế và thế của ta. Chỉ khi nào nắm được quy luật hoạt động tác chiến của địch, biết được điểm mạnh, yếu, sở trường, sở đoản của địch mới có thể lừa được chúng. Từ đó giành quyền chủ động điều khiển được đối phương, đẩy chúng vào thế bị động.
       
        Cả ba chiến dịch khởi đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ: chiến dịch Bình Giã (từ 2-12-1964 đến 7-3-1965), chiến dịch Đồng Xoài (từ 10-5 đến 22-7-1965) và chiến dịch Ba Gia-Bắc Quảng Ngãi (từ 29-5 đến 20-7-1965) đều thắng lợi giòn giã. Một trong những nguyên nhân cơ bản là do thực hành được cách đánh chiến dịch chính xác: Đánh điểm diệt viện, đánh địch ngoài công sự là chính. Cách đánh đó không mới vì nó đã từng được áp dụng khá triệt để trong kháng chiến chống Pháp, nhưng đánh Mỹ có nhiều điểm khác. Quân Mỹ có sức cơ động cao hơn, căn cứ phòng thủ kiên cố vững chắc hơn, có kỹ thuật tác chiến hiện đại và linh hoạt hơn. Đánh điểm diệt viện trong thời kỳ đầu cuộc chiến tranh giải phóng là chủ trương chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và lối đánh thích hợp đúng đắn, là yếu tố cơ bản trong nghệ thuật làm chuyển hóa từng bước tương quan lực lượng chiến đấu. Nó là một bộ phận của nghệ thuật lấy ít đánh nhiều, nhỏ thắng lớn về lực lượng vũ trang tập trung, yếu chống mạnh về binh khí kỹ thuật hiện đại và bảo đảm vật chất hậu cần tiếp tế. Quá trình thực hành chiến dịch là quá trình vận dụng chiến thuật trước đã từng có như phục kích, tập kích… và sáng tạo nên những hình thức chiến thuật mới như vận động tiến công kết hợp chốt…
       
        Cuối những năm 1965 đầu năm 1966 giữa ta và địch lúc này có sự chênh lệch lớn về số quân tập trung, trang bị kỹ thuật hiện đại, cũng như về tiềm lực kinh tế quân sự. Đặc biệt lúc này chúng ta mới thực sự đánh Mỹ. Lần đầu tiên chạm trán với quân Mỹ ở quy mô hiệp đồng quân binh chủng hiện đại mà đối phương tiến hành. Các chiến dịch PlâyMe (Tây Nguyên) từ 19-10 đến 26-11-1965, chiến dịch tiến công Bầu Bàng-Dầu Tiếng (Đông Nam Bộ) từ 1-11 đến 27-11-1965, chiến dịch tây Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) từ 20-2 đến 20-4-1966, chiến dịch Sa Thầy (Tây Nguyên) từ 18-10 đến 6-12-1966, chiến dịch Đắc Tô (bắc Tây Nguyên) từ ngày 3 đến 23-11-1967… liên tiếp và đan xen nhau đã giải đáp được câu hỏi trên. Bước đầu chúng ta có cơ sở thực tiễn để trả lời câu hỏi: Ta có thể đánh được Mỹ và thắng được Mỹ không? Trong mùa khô 1965-1966 và 1966-l967, ta đã đánh bại quân Mỹ không chỉ trong loại hình chiến dịch tiến công mà cả chiến dịch phản công. Đây được coi là những trận chạm trán nẩy lửa, trực tiếp với quân Mỹ nhưng được bắt đầu bằng những trận đánh quân ngụy để thu hút quân cơ động Mỹ đến ứng cứu.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:53:58 PM
        Chiến dịch PlâyMe (Tây Nguyên) từ 19-10 đến 26-11-1965 là chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực mặt trận Tây Nguyên, chiến dịch đầu trực tiếp đánh quân Mỹ trên chiến trường miền Nam trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của chúng. Chiến dịch diễn ra trên một không gian rộng khoảng 1.600 km2 (từ Bầu Cạn-PlâyMe đến Đức Cơ-Ia Đrăng). Ta thực hiện vây điểm, đánh viện; trước đánh ngụy, sau diệt Mỹ; kéo quân Mỹ ra xa căn cứ của chúng, đi sâu vào các vùng núi hiểm trở để tiêu diệt địch. Với cách đánh chiến dịch “Vây điểm diệt viện" ta đã chọn PlâyMe là điểm vây để nhử quân Mỹ đến. Ta chọn thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Pông (cách Plây Me khoảng 25 km về phía tây) làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt và lực lượng kỵ binh không vận Mỹ lần đầu tiên xuất hiện ở Tây Nguyên. Trận này ta tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân Mỹ đầu tiên.
       
        Trong chiến dịch này, mưu hay của ta là mưu lừa địch, kế giỏi của ta là kế nhử quân Mỹ vào đúng điểm quyết chiến ta chọn. Điều ấy thể hiện một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch của ta trong cuộc thử sức đầu tiên với quân chiến đấu Mỹ trên quy mô tác chiến chiến dịch.
       
        Đến chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng (Đông Nam Bộ) tháng 11-1965, ta thực hiện phương án đánh điểm ở chi khu Dầu Tiếng để kéo viện ra diệt. Trong chiến dịch này có hai trận then chốt. Trận tập kích Bầu Bàng, tiêu diệt quân Mỹ, mở màn chiến dịch. Ta thắng nhanh gọn, giòn giã giành được thế chủ động chiến dịch ngay từ đầu đánh địch ngoài công sự. Lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng tập trung sư đoàn vào một trận tập kích với điều kiện thời gian chuẩn bị chiến đấu gấp, đánh ban ngày với đối tượng mới là quân Mỹ.
       
        Chiến dịch này là chiến dịch tiến công đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, trước hết là đánh vào đối tượng quân chiến đấu Mỹ thuộc lực lượng được đánh giá là tinh nhuệ nhất của các sư đoàn bộ binh Mỹ trong lúc chúng đang trong thế ra quân "tìm diệt" rất hung hăng. Điều đáng chú ý mà nghệ thuật tập trung lực lượng đánh những trận then chốt, nhất là trận tập kích rất táo bạo vào đội hình địch ở Bầu Bàng. Cách đánh về chiến thuật cũng rất sáng tạo và linh hoạt: Tập kích quy mô lớn vào quân địch tạm dừng trú quân và phục kích-vận động tiến công vào quân địch đang hành quân di chuyển.
       
        Nét đặc sắc của nghệ thuật đánh Mỹ là biết dùng mưu hay, kế hiểm để kéo quân Mỹ đến chiến trường ta đã lựa chọn, đưa chúng vào sâu trong thế trận hiểm hóc của ta, phá thế trận của địch, điều hành linh hoạt việc chuyển hóa thế trận của ta, buộc chúng phải chấp nhận giao chiến ở những nơi bất lợi cho chúng một cách bị động. Ta đã xây dựng nên một thế trận mà ở đó có thể đánh được địch ở cả trước mặt và sau lưng, tổ chức khu quyết chiến, nhử địch vào đó và tạo ra tình huống và thời cơ tiêu diệt chúng. Ta thường tập trung đánh quân Mỹ ở ngoài công sự, xa căn cứ, như thế ta sẽ thực hiện được nghệ thuật "điệu hổ ly sơn".
       
        Nghệ thuật đó còn là nghệ thuật điều quân địch theo mưu kế của ta, buộc không phải giao chiến với ta ở địa bàn mà chúng không muốn, ta lợi còn chúng bất lợi. Điều này, nhiều nhà quân sự Mỹ đã phải thừa nhận chúng bị động về cách đánh, bị ta điều khiển nhiều hơn.
       
        Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã tạo nên một tình thế mới trên chiến trường. Những chiến dịch liên tiếp sau đó như chiến dịch Quảng Trị năm 1972, chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972, chiến dịch Lộc Ninh-Bình Long năm 1972 đều nổi bật lên tính chủ động tiến công, chủ động điều khiển thế trận địch, ta trong tác chiến chiến lược, chiến dịch. Dự báo sát tình huống chiến lược cũng như chiến dịch. Trên cơ sở đó chọn hướng địa bàn mở chiến dịch bằng những trận then chốt chiến dịch rất trúng đích ngay từ đầu. Nghệ thuật lừa địch, điều động quân Mỹ ra chiến trường Khe Sanh cũng là giỏi. Ở đó ta có lợi thế về địa hình và cơ động tập trung được lực lượng hơn địch ở thời khắc quyết định chiến dịch. Bị quân ta vây hãm khốn quẫn và bị tiêu hao, bị sát thương nặng, cuối cùng các đơn vị sừng sỏ của quân đội Mỹ gồm lính thủy đánh bộ và kỵ binh bay phải tháo chạy khỏi Khe Sanh để tránh một "Điện Biên Phủ” như tổng thống Mỹ lo ngại.
       
        Ở chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972, địch cũng bị ta nghi binh, lừa, tha hút sự chú ý của chúng về KonTum để ta tổ chức đánh Đắc Tô-Tân Cảnh trước. Vì lừa địch nên việc đánh Đắc Tô-Tân Cảnh của ta diễn ra khá thuận lợi và đạt kết quả khá triệt để.
       
        Trong xử trí các tình huống chiến dịch, ý định và kế hoạch tác chiến của ta dự kiến trước với thực tế diễn biến chiến sự trên chiến trường khá ăn khớp. Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tránh chỗ cứng đánh chỗ mềm, đó là cách đánh được vận dụng khá nhuần nhuyễn trong cả chiến lược và chiến dịch. Nó được xem như miếng võ hiểm mà phải mất thời gian khá lâu, bằng nghệ thuật khá tinh xảo và luôn biến hóa thì mới thắng được đối phương.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 08:56:57 PM
        Cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, với trận đột phá khẩu Buôn Ma Thuột cho thấy nghệ thuật đấu trí đấu lực về chiến lược giữa ta và địch đã phát triển cao, làm cho địch không nhận ra chiến dịch mở màn sẽ là cao nguyên miền Trung, hay là Tây Nguyên, do vậy chúng không thể dự kiến nổi khả năng ta chọn Buôn Ma Thuột làm điển đột phá đầu tiên. Đó là cả một quá trình "lao tâm khổ trí" của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, các nhà chỉ đạo chiến tranh và cán bộ chiến sĩ. Thành công của chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 và các chiến dịch kế tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, nghệ thuật quân sự mà trong đó đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật "phát triển đến trình độ cao": Tạo được thế chiến lược, chiến dịch và chiến đấu; tạo được thời cơ, tập trung lực lượng-sức mạnh quyết định hơn địch vào hướng, địa bàn ta đã lựa chọn để đè bẹp được địch. Đánh vào một điểm yếu chí tử rung toàn bộ hệ thống phòng ngự chiến lược địch, làm đảo lộn thế chiến lược địch, là cách đánh được hình thành rất công phu, được chắt lọc từ kinh nghiệm của biết bao cuộc kháng chiến, bao chiến dịch và bao nhiêu trận chiến đấu.
       
        Cách đánh chiến lược trong nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là dùng chiến tranh nhân dân tác chiến cài xen kẽ với địch, buộc địch phải phân tán, chia cắt, phải bị động đối phó khắp nơi. Trên cơ sở đó mà chủ động nhử địch, điều địch đến nơi ta muốn. Mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, chiếm đóng và cơ động là mâu thuẫn cố hữu mà quân xâm lược không thể giải quyết được. Khoét sâu mâu thuẫn đó chỉ có thể bằng việc tiến hành cuộc chiến tranh du kích phát triển rộng khắp trong thế trận chiến tranh nhân dân, phải phát triển lối đánh cả chính quy và du kích, đánh bằng ba thứ quân, bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều đòn. So với cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn đánh nhỏ, đánh du kích có ngắn hơn. Giai đoạn đánh chính quy ở trình độ thấp xuất hiện sớm hơn, vì ta có quân đội chính quy và kinh nghiệm tác chiến chính quy. Thực tế cho thấy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều loại hình tác chiến mới đã xuất hiện ở quy mô chiến dịch (chiến dịch phản công, tiến công và phòng ngự).
       
        Chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-Xơn Xi-ty (từ ngày 22-2-1967 đến 15-4-1967) đã đánh bại cuộc hành quân lớn nhất trong suốt quá trình nửa triệu quân Mỹ tham chiến ở miền Nam Việt Nam, nhằm tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và sư đoàn 9 bộ đội chủ lực Miền. Trong chiến dịch phản công này, về lực lượng so sánh hai bên, số lượng chủ lực ta chưa bằng 1 phần 3 lực lượng địch, kém hẳn địch về pháo binh, ta lại không có thiết giáp và không quân. Để phản công đánh trả cuộc hành quân quy mô lớn như vậy, ta đã khéo tổ thức các cơ quan quân, dân, chính, Đảng thành những đơn vị du kích, tự vệ, bộ đội địa phương đánh địch tại chỗ và rộng khắp tạo nên thế chiến tranh nhân dân ở địa bàn hầu như không có dân để phân tán căng kéo địch. Ta khéo sử dụng chủ lực tác chiến ở vòng ngoài tạo những quả đấm mạnh tập trung bên sườn và sau lưng, tiêu diệt và gây thiệt hại cho các cụm quân Mỹ. Thế chiến tranh nhân dân do ta tạo nên ở địa bàn không có dân là điều bất ngờ lớn đối với địch. Đó là nét đặc sắc về nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng chiến dịch phản công của ta.
       
        Trong năm 1971, nổi bật lên thắng lợi của chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của quân ngụy Sài Gòn trên chiến trường Đường số 9-Nam Lào, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch phản công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
       
        Chiến dịch này diễn ra giữa hai khối chủ lực tương đối mạnh-cả hai bên đều được trang bị hiện đại hoặc tương đối hiện đại diễn ra trên một khu vực chiến trường rất nhạy cảm về chính trị, đều gần hậu phương của mình. Lực lượng ta-kể cả khối chủ lực cơ động và Lực lượng tại chỗ đều đã triển khai sẵn.
       
        Đây là chiến dịch khởi đầu thời kỳ quân đội ta mở các chiến dịch đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đây không phải là sự kế tiếp chiến dịch phòng ngự mà chỉ có kết hợp với phòng ngự về chiến thuật (chốt chặn), là nghệ thuật lập thế ta phá thế địch, kết hợp rất nhịp nhàng và hiệu quả giữa hai lực lượng: chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ trên địa bàn rừng núi thưa dân. Với phương pháp tác chiến hay là vừa vây hãm vừa bẻ gãy từng cánh quân địch để chủ động kết thúc chiến dịch một cách đúng lúc. Hai chiến dịch phản công đầu tiên ấy thật là độc đáo. Nó đã đánh bại chiến lược tiêu diệt của Mỹ, làm cho hy vọng thắng lợi của Mỹ thật xa vời.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:00:24 PM
        Sau những chiến dịch này, ta đã buộc địch rơi vào tình thế mà chúng không muốn: phòng ngự, không dám tiến công ra ngoài phòng tuyến, chuyển vào phòng ngự chiến lược. Nhất là việc Mỹ rút hết quân cả bộ binh và không quân. Sau năm 1972 và nhất là năm 1973 và năm 1974 ta đã ở vào thế chủ động tiến công, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng và phòng ngự ở sông Thạch Hãn. Đây là những điều kiện rất cơ bản để năm 1975 ta tổ chức thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Ở quy mô chiến thuật (đánh điểm diệt viện, đánh địch trong công sự kiên cố, đánh địch đang vận động, bao vây tiến công liên tục, vận động tiến công kết hợp chốt chặn...). Đáng chú ý là bao giờ cũng kết hợp với quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều mức độ khác nhau. Cách đánh chính quy và bằng lực lượng chủ lực là chủ yếu nhưng phải có bộ dội địa phương và dân quân du kích hỗ trợ thì các đòn chính quy mới có hiệu quả.
       
        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đối tượng tác chiến chiến dịch rất phức tạp. Ngoài quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn còn có các đội quân chư hầu được sự yểm trợ trực tiếp rất lớn của hỏa lực không quân, hải quân Mỹ. Mặt khác, do vũ khí trang bị phương tiện kỹ thuật quân sự phát triển mà hình thức tác chiến, cách đánh chiến dịch cũng rất phong phú linh hoạt. Trong giai đoạn nào của chiến tranh thì ta vẫn phải kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy. Nhưng đòn cuối cùng vẫn phải dùng lực lượng chủ lực làm quả đấm quyết định. Chiến lược chung của ta phải trên nền của chiến tranh du kích mới có thể thắng lợi được. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng diễn ra rất phù hợp với nguyên lý đó, theo đúng quy luật đó.
       
        Bước sang thời kỳ chống Mỹ, có những giai đoạn cả hai miền đều có chiến tranh. Đối tượng tác chiến thay đổi. Quân đội và nhân dân ta không chỉ phải đương đầu với một lực lượng, một quân đội Mỹ, quân ngụy mà có nhiều lực lượng khác, quân đội khác dưới sự nuôi dưỡng của Mỹ. Chủ nghĩa thực dân mới thay thế chủ nghĩa thực dân cũ cũng có nghĩa là loại hình chiến tranh, phương thức thủ đoạn tiến hành chiến tranh, quy mô chiến tranh, điều kiện chiến tranh đã có sự thay đổi lớn.
       
        Trên cơ sở xác định rõ đối tượng, chỉ ra bản chất của cuộc chiến tranh, Đảng và Bác Hồ đã kịp thời chỉ đạo quân đội thay đổi cách đánh cho phù hợp với đối tượng tác chiến, thích nghi với đặc điểm chiến trường, dân cư, địa lý, chính trị-xã hội. Việc tổ chức lại các đơn vị cấp chiến lược, chiến dịch, chiến đấu để tác chiến có hiệu quả trước thế bố trí chiến lược của quân Mỹ và quân ngụy được thực hiện kịp thời. Ở quy mô chiến lược, tư tưởng chỉ đạo về cách đánh của Bác Hồ và Đảng ta là đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch. Tư tưởng ấy được quán triệt rất sâu sắc trong quá trình chiến tranh. Chúng ta đã lần lượt đánh bại ba chiến lược chiến tranh lớn của Mỹ: chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến lược chiến tranh cục bộ và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Mỗi lần thay đổi chiến lược là mỗi lần Mỹ lại yếu thế và lực đi một phút. Bởi lẽ chiến lược sau nỗ lực hơn chiến lược trước nhưng đều sinh ra trong thế bị động nên các chiến lược ấy gặp rất nhiều mâu thuẫn không thể dễ dàng giải quyết được.
       
        Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 đã để lại cho chúng ta những bài học về chiến lược rất sâu sắc trên cả hai khía cạnh thành công và chưa thành công. Điều đáng chú ý là qua sự kiện này Trung ương Đảng, Bác Hồ cũng như toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta thấy được khả năng thắng Mỹ-ngụy là hiện thực, nhưng phải giữ vững nguyên tắc: không nôn nóng đốt cháy giai đoạn; cần phải tìm được cách đánh thích hợp hơn, nhất là hội đủ những điều kiện khách quan và chủ quan cho thắng lợi chiến lược. Bác có viết:
       
        "Đầu xuân năm nay, quân và dân miền Nam anh hùng đã tiến công địch liên tục, đều khắp, đánh rất giỏi, thắng rất to.
       
        Giặc Mỹ đã thua nặng. Nhưng chúng vẫn chưa bỏ dã tâm xâm lược, chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta.
       
        Vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ, ngụy thất bại hoàn toàn, cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng"1.
       
        Với đòn tiến công và nổi dậy Xuân 1968 ta chưa đánh bại hoàn toàn được ý chí xâm lược của Mỹ nên chúng vẫn còn ở trên đất nước ta. Muốn đuổi được Mỹ phải đánh mạnh đánh đau. Tư tưởng chiến lược rất sâu sắc của Bác Hồ đã đi vào thực tiễn chiến đấu. Sự hình thành nhiều binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược, sự phân chia chiến trường, tổ chức và sử dụng lực lượng vũ trang hợp lý trên cơ sở nghiên cứu cách bố trí lực lượng chiến lược của địch nặng hai đầu, sơ hở quãng giữa để ta lựa chọn địa bàn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu mở màn cho cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 là kết quả quá trình vận dụng tư tưởng chỉ đạo cách đánh của Trung ương Đảng và Bác Hồ.
       
-----------------------
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 774.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:04:44 PM
        Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, bằng công sức trí tuệ của tập thể các "công trình sư" chúng ta đã thiết kế được thế trận chiến lược sắp đặt mưu kế khoa học hợp lý, tạo nên thời cơ chiến lược vô cùng quan trọng. Nhìn một cách tổng thể dễ dàng nhận thấy chủ lực cơ động của ta chiếm ưu thế hơn địch ở chỗ ta tự do cơ động và chủ động tiến công, còn địch phải phân tán ra chiếm đóng và chiếm giữ, phòng thủ ở các địa bàn chủ yếu. Hơn thế lực lượng tiến công của ta cũng ưu thế hơn địch.
       
        Mưu của ta là căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến, tạo nên quãng giữa sự sơ hở và mỏng yếu.
       
        Đầu chiến tuyến phía Bắc gồm Huế và Đà Nẵng. Ở đó ta và địch đều tập trung lớn lực lượng. Đầu chiến tuyến phía Nam là Sài Gòn-thủ đô của địch. Ở đây hai bên cũng đều tập trung quân của mình tương đối lớn. Điều đáng lưu tâm là với nghệ thuật bày binh bố trận tài tình ta đưa được một quân đoàn ém sẵn bên nách Sài Gòn chừng 50-60km. Làm được điều đó coi như ta đã gí súng được vào gáy đối phương. Cho đến giờ cũng nhiều binh gia: nhà quân sự còn khó cắt nghĩa cho sự kiện thật kỳ lạ và lý thú trên. Bởi, về nguyên tắc quân sự, để cho đối phương tạo nên tình huống trên là không thể chấp nhận được.
       
        Tạo được thế trận chiến lược "đòn gánh nặng hai đầu” Bắc-Nam, tất nhiên quãng giữa miền Trung phải sơ hở. Ở đây địch chỉ còn lại lực lượng của quân khu 2, quân đoàn 2 thật mỏng, yếu. Sau khi lập được thế trận lợi hại, ta chủ trương tổ chức đòn chiến lược thứ nhất nhằm phá vỡ quãng giữa chiến tuyến của địch. Đánh vào đây thật hiểm xét theo cả chiều ngang và chiều sâu, làm cho thế trận chiến lược của địch bị phá vỡ nhanh chóng, tạo nên thế chia cắt chiến lược vô cùng lợi hại. Địch không thể ứng cứu được nhau vì bị ghìm chân ở 2 đầu Bắc, Nam. Vì thế khi ta ra đòn chiến lược thứ 2 kế tiếp liên tục thì địch không còn thời gian và lực lượng để tổ chức đối phó có hiệu quả.
       
        Vấn đề đột phá chiến dịch mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng. Vì đó là việc "vạn sự khởi đầu nan". Thắng hay bại trận này có tác động tâm lý rất lớn với cả hai bên tham chiến.
       
        Trước khi đánh Buôn Ma Thuột vẫn có hai loại ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho là nên đánh PlâyCu, bởi đây là đầu não quân sự với sở chỉ huy tiền phương của quân khu 2 và quân đoàn 2 ngụy Sài Gòn, nếu đánh vào đó mà thắng lợi thì tự khắc các nơi khác địch cũng sẽ tan rã. Đó là sự thật, nhưng so với Buôn Ma Thuột, PlâyCu là căn cứ mạnh hơn, khó có thể thắng địch dễ dàng vì lực lượng của địch tập trung ở đây khá đông. Muốn bao vây PlâyCu cũng khó bởi địa hình, nhất là khó hình thành được mũi vu hồi hiểm hóc từ phía đông sang, bởi địch bố trí lực lượng dày đặc từ PlâyCu đến Kon Tum. Trái lại Buôn Ma Thuột là căn cứ quân sự ở trong đô thị, so với PlâyCu, yếu hơn nhiều. Lực lượng địch tập trung ở đây chỉ có một trung đoàn bộ binh, trung đoàn pháo, trung đoàn xe tăng thiết giáp, mấy tiểu đoàn bảo an. Đây chỉ là hậu cứ của sư đoàn 23 ngụy, nhưng lại là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế quan trọng của cao nguyên miền Trung. Từ đây có thể phát triển đòn tiến công chọc xuống đồng bằng ven biển Nha Trang để cắt ngang đồng bằng ven biển miền Trung uy hiếp phía bắc Sài Gòn mạnh hơn. Từ cao nguyên miền Trung này đánh vào bắc Sài Gòn cũng thuận lợi. Đánh Buôn Ma Thuột, ta có thể bao vây ở cả 4 mặt, ta có thể tổ chức thực hiện được những đòn tiến công hiểm với cách đánh táo bạo bất ngờ, triển khai lực lượng dễ hơn vì địa hình thuận lợi. Ngoài ra, đầu năm 1974 sau khi giải phóng Ya Súp cánh cửa ở bắc Buôn Ma Thuột coi như đã được mở sẵn.
       
        Đòn Buôn Ma Thuột đã tạo ra sự bùng nổ chiến thuật, đột biến chiến dịch đưa đến sụp đổ dây chuyền và phá vỡ chiến lược làm đảo lộn thế chiến lược của địch. Đòn Buôn Ma Thuột không những chỉ rung động Tây Nguyên, không những buộc địch phải rút chạy khỏi PlâyCu, rút bỏ Tây Nguyên để lui về giữ vùng ven biển miền trung mà còn có tác động toàn bộ thế chiến lược của địch. Thừa thế, quân ta truy đuổi và tiêu diệt hết quân địch rút chạy, đánh chiếm các tỉnh ven biển miền Trung, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi, tạo ra thế chiến lược uy hiếp Sài Gòn.
       
        Buôn Ma Thuột đã làm được một điều hay là: Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi.
       
        Trong cuốn sách “Tường trình của một quân nhân”, tướng Oét-mo-len, tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở Việt Nam viết: "sự sụp đổ ở Nam Việt Nam bắt đầu từ lúc tướng Phú ra lệnh mà không ai giải thích nổi là phải rút tức khắc khỏi các tỉnh Kon Tum và Plây Cu”1 và "Bằng cách tập trung ở cao nguyên Trung phần-nơi mà Tướng Giáp từ lâu trong các bài viết của mình đã coi là chìa khóa để giải quyết "vấn đề Nam Việt nam"-Quân Bắc Việt Nam dễ dàng đánh thọc sườn phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam và quân đội Nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, sự sụp đổ của quân bảo vệ, cho dù họ có nhiều kinh nghiệm hơn và được sự lãnh đạo tốt hơn mức người Nam Việt Nam đã có, là điều có thể đoán trước được”2.

--------------
1,  2. A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân), NXB Daubleday and Company inc Garden City, New York 1976-Thư viện Quân đội sao lục năm 1978, bản đánh máy.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:06:45 PM
        Để có được một Buôn Ma Thuột, một Tây Nguyên thắng lợi to lớn như vậy là cả một quá trình chuẩn bị vô cùng công phu của quân và dân ta dưới sự chỉ đạo tài tình khoa học của bộ thống soái tối cao. Phải lừa được địch, điều được địch một cách chủ động. Bằng những hoạt động tác chiến cụ thể, bí mật khôn khéo ta đã thực hiện thành công nghệ thuật nghi binh ở cả tầm chiến lược chiến dịch và chiến đấu. Điều ấy khẳng định một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật biết đánh.
       
        Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở cả ba chiến trường: Trị-Thiên, Đông Nam Bộ và Bắc Tây Nguyên đã giành được thắng lợi to lớn. Cùng với việc đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ ở miền Bắc, ta đã giành thắng lợi to lớn về quân sự và thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao… để cuối cùng là bản Hiệp định Pa-ri đã được ký. Nếu trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ta đã rất hiểu Mỹ cả về thế và lực, đồng thời đã làm lung lay ý chí của Mỹ thì đến thời điểm này ta đã đánh thắng Mỹ-hoàn thành một phần nhiệm vụ quan trọng mà lịch sử và Bác Hồ chỉ dẫn cả về tư tưởng và cách đánh chiến lược: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Ta đã đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" khi Mỹ đã leo thang đến mức cao nhất, làm đảo lộn thế chiến lược của Mỹ ở miền Nam, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri. Trong đó phải đặc biệt kể đến đòn thắng lợi chiến lược đối với không quân Mỹ cuối năm 1972. Chiến thắng đó đã có tác dụng quyết định đến việc ký Hiệp định Pa-ri. Điều đó chứng tỏ thắng lợi quân sự trên chiến trường đã góp phần quyết định thắng lợi về chính trị, ngoại giao trên bàn hội nghị.
       
        Nét độc đáo của nghệ thuật quân sự không chỉ là những cách đánh cụ thể mà nó bao hàm cả tư tưởng chỉ đạo thông qua tư duy chiến lược trong đó có nhận định, phán đoán và dự báo, hoạch định mục tiêu, giới hạn cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể cho mỗi chiến dịch và trận đánh. Đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch là tư tưởng được quán xuyến rất sâu sắc trong nghệ thuật quân sự. Đánh cho Mỹ cút, đó cũng là mục tiêu của cách mạng, của cuộc kháng chiến. Mục tiêu ấy dựa trên tư duy khoa học về so sánh lực lượng địch ta. Đạt mục tiêu ấy là đánh trúng và đánh đúng chỗ yếu chí tử của đối phương là nghệ thuật hay, giỏi. Nếu đặt mục tiêu cao hơn hay thấp hơn cũng có nghĩa là đánh sai, đánh không trúng và sẽ phải trả giá vì nghệ thuật kém. Mỹ cút ngụy ắt nhào.
       
        Trên cơ sở thắng lợi về quân sự trên thực tế chiến trường mà dự báo khả năng kết thúc thắng lợi chiến tranh có nhiều cơ sở khả thi hơn, sớm hơn dự kiến ban đầu. Quả nhiên năm 1973, chúng ta đã liên tiếp giành thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam trong những điều kiện mới thuận lợi hơn trước đó. Trên cơ sở của các đòn tạo thế, nghi binh lừa địch, điều động địch, ta tập trung được lực lượng để đánh đòn then chốt kết thúc thắng lợi chiến dịch. Quân đội ta có bề dày về nghệ thuật chiến dịch với những "đường nét” rất đặc sắc ở các loại hình tiến công, và phản công. Trong hàng chục chiến dịch lớn nhỏ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thấy bộ đội ta trưởng thành rất nhanh về cách đánh chiến dịch. Sau vài chiến dịch đầu, bộ đội ta từ quen đánh Mỹ đến có khả năng thắng Mỹ rồi liên tiếp thắng Mỹ trong nhiều chiến dịch gối đầu nhau ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Đó là do ta đã vận dụng sáng tạo cách đánh truyền thống, triệt để lợi dụng yếu tố địa hình tự nhiên để hạn chế khả năng cơ động và sức mạnh hỏa lực địch, nhất là việc bày đặt thế trận đưa địch vào kế và thế của ta.
       
        Muốn thắng địch trong hoàn cảnh luôn phải "ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn" thì hình thức chiến thuật phải rất linh hoạt và phong phú. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thấy hàng chục hình thức chiến thuật mang đậm nét truyền thống nhưng đã tiếp cận được cách đánh hiện đại-đánh bằng trí tuệ cao ra đời. Từ thực tiễn đánh Mỹ-ngụy mà sáng tạo nên những chiến thuật phù hợp với địa hình, thế trận và thực lực quân sự của ta. Ứng với các chiến thuật của địch như trực thăng vận, thiết xa vận nhảy cóc... của Mỹ là những chiến thuật mới của ta được hình thành. Vừa đánh vừa rút kinh nghiệm để xây dựng hoàn chỉnh cách đánh trong đó yếu tố chiến thuật rất được đề cao.
       
        Cách đánh trong nghệ thuật quân sự xét ở góc độ nào đó chính là cách đánh của cả một dân tộc, bằng sức mạnh tổng hợp của cả nước, toàn dân. Có nghĩa là lực lượng vũ trang không chỉ đánh bằng súng đạn, vũ khí mà còn bằng cả đòn chính trị... một cách đánh giàu trí tuệ. Đấu tranh chính trị tuy không nằm trong nghệ thuật tác chiến nhưng đó cũng là một trong những đòn chiến lược vô cùng lợi hại mà trong suốt những năm đánh Mỹ, Đảng ta, quân và dân ta thực hành rất có hiệu quả, nhất là những năm đầu chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:13:54 PM
        Đầu những năm 70, khi tương quan lực lượng địch, ta trên chiến trường miền Nam còn quá chênh lệch, nhất là lực lượng vũ trang sau cuộc kháng chiến chống Pháp còn rất ít về số lượng bộ đội chủ lực tập trung, trang bị vũ khí còn rất thô sơ thì đấu tranh chính trị ở nhiều địa bàn, trong những hoàn cảnh cụ thể lại chiếm ưu thế và có vai trò nòng cốt.
       
        Đấu tranh chính trị là cuộc đấu tranh khá độc đáo, sáng tạo trong kháng chiến chống Mỹ, nó trở thành lực lượng, một mũi đấu tranh trực diện, có sức mạnh lớn và tạo nên phong trào Đồng khởi với “đội quân tóc dài" làm nòng cốt. Qua đó khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của phụ nữ miền Nam cũng như phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Cuộc đấu tranh chính trị ấy cũng tuân theo quy luật khởi nghĩa từng phần của chiến tranh cách mạng. Đó là khởi nghĩa từng phần ở Khu 5 tiến lên đồng khởi ở Bến Tre. Cuộc đấu ấy cũng mang tính nghệ thuật cao bởi hình thức đấu tranh chính trị rất phong phú, nó được đòn quân sự, lực lượng vũ trang nhỏ bé hỗ trợ. Tất nhiên, đấu tranh chính trị lúc đầu chủ yếu nhằm vào đối tượng tay sai của Mỹ: bọn Diệm-Nhu, bọn quan lại cường hào '”kiểu mới" ở địa phương để đem lại quyền lợi thiết thân cho nông dân, cho quần chúng cách mạng-chỗ dựa của lực lượng cách mạng luôn trung thành với Đảng và làm cách mạng đến cùng.
               
        Càng những năm sau đó phong trào đấu tranh chính trị, các hình thức đấu tranh chính trị càng gắn liền và hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh vũ trang. Trong kháng chiến chống Mỹ, khái niệm “hai thân ba mũi", “ba mũi giáp công" đã ra đời. Nó là biểu hiện của sự chỉ đạo chiến tranh tài giỏi của Đảng ta trong nghệ thuật đánh địch. Đánh bằng nhiều cách, nhiều mũi, nhiều lực lượng. Quá trình chuyển hóa từ lấy đấu tranh chính trị làm trọng sang lấy đấu tranh vũ trang làm nòng cốt, đấu tranh chính trị là kết hợp, hỗ trợ là thực tiễn sinh động để giúp chúng ta có những nhận định trên. Tính biện chứng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự chính là lựa chọn mục tiêu đấu tranh và phương pháp, hình thức đấu tranh một cách thích hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Năm 1968, ở huyện Ba Tri (Bến Tre) đội quân tóc dài làm binh vận lấy gọn 50 đồn bốt địch. Năm 1972, lấy được 125 đồn bốt địch. Năm 1975, đội quân chính trị đã lên tới 30.000 người. Trong 2 ngày 30-4 và 1-5-1975, 100 đồn bốt địch bị san phẳng. Đấu tranh chính trị đã có lúc tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn cản được bước tiến quân của những đoàn xe tăng vô hiệu hóa vũ khí của đối phương
       
        Mưu lược chiến tranh của ta là phát động một cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Lấy chiến tranh du kích để tiêu hao địch, làm cho địch dần dần yếu đi mà ta thì mạnh dần lên để phát triển thành chiến tranh chính quy rồi kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy đánh các đòn tiêu diệt quyết định để giành thắng lợi. Vận dụng quy luật chiến tranh vào cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể hình thành nguyên lý: Tiến hành chiến tranh du kích toàn dân thì địch không thể đánh bại được, nhưng chỉ có chiến tranh du kích thì khó có thể đánh bại địch. Phải kết hợp hai loại hình chiến tranh này thì mới có thể giành được thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng không thoát ly quy luật ấy và điều đó cũng cắt nghĩa trong khi tác chiến quân đội hiện đại như vậy, nghệ thuật quân sự vẫn được hình thành và phát triển rực rỡ bởi cách đánh của ba thứ quân, với sự kết hợp chặt chẽ của ba yếu tố Lực, Thế, Thời. Các yếu tố địa hình, thời tiết, khí hậu, nhân dân, chính nghĩa, chính trị tinh thần vẫn được chú trọng và khai thác một cách triệt để.
       
        Nghệ thuật quân sự được hình thành từ nhiều yếu tố, nói một cách khác là sự tổng hợp của nhiều nghệ thuật mà trong đó có nghệ thuật nghi binh.
       
        Sau cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng thừa nhận: "Nhờ nghiên cứu phương pháp và thói quen có thể dự đoán được của Mỹ, mà đối phương đã vạch ra kế hoạch nghi binh và phân tán chiến lược của địch nông cạn và chủ quan hơn"1 và “chiến lược của địch thể hiện sự thống nhất và gắn bó”2.
         
        Nghi binh rất đắc dụng trong hoàn cảnh tương quan lực lượng địch ta đang có lợi cho địch, bởi nó có thể góp phần tích cực vào việc chuyển hóa yếu thành mạnh, đồng thời làm hạn chế, giảm sức mạnh của đối phương. Nghi binh cũng là một nội dung của mưu kế lừa địch, nó có thể đưa đến hiệu quả: “Sức dùng một nửa (mà) công được gấp đôi”3. Đó là việc đánh lừa địch bằng hành động hoặc bằng cách ngụy trang nhằm làm cho địch phán đoán sai về ý định, hướng đánh, lực lượng sử dụng và những hành động khác của ta, che giấu nội dung thực sự trong kế hoạch, điều khiển địch hành động theo ý ta, làm chúng bộc lộ lực lượng và tạo sự bất ngờ trong tác chiến4.

-----------------
1, 2. Bộ Quốc phòng Mỹ: Tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Nam, trang 6 và 7.

3. Nguyễn Trãi, Toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976.

4. "Định nghĩa Thuật ngữ quân sự”, Bộ môn thuật ngữ quân sự, phát hành năm 1979


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:16:38 PM
        Nhờ coi trọng nghệ thuật nghi binh trong cả chiến lược, chiến dịch và chiến đấu mà nhiều thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thành hiện thực. Phải thông qua nhiều trận chiến đấu, chiến dịch cụ thể nghi binh mới đạt tới tầm "nghệ thuật". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sau một loạt trận đánh với Mỹ từ năm 1964 đến năm 1967, ta đã bước đầu có được những kinh nghiệm đánh quân Mỹ. Lừa được chúng không phải dễ. Trận Đắc Tô năm 1967, ta đã thành công khi sử dụng các chốt phòng ngự nghi binh "kéo" dồn địch lên các khu vực dự kiến tác chiến để các đơn vị lớn đứng chân ở nơi khác vận động đến tiêu diệt. Có thể xem hành động nghi binh trong trận này khá bài bản và điều đáng nói là qua trận này ta đã sáng tạo nên một hình thức chiến thuật mới: Vận động tiến công kết hợp chốt.
       
        Nói về nghi binh chiến lược thì cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 là một ví dụ điển hình về sự hoàn hảo, có tác động quyết định giành bất ngờ cho cuộc tổng công kích và nổi dậy. Những chiến dịch như chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1972, chiến dịch Nguyễn Huệ (Lộc Ninh-Bình Long năm 1972), Tây Nguyên năm 1975 đã thành công lớn, bắt đầu từ việc tổ chức đánh trận then chốt mở màn chiến dịch, như Buôn Ma Thuột... có tác động rất tích cực đến chiến dịch và chiến lược.
       
        Như vậy việc tạo nên lực lượng lớn, tạo sức mạnh tối đa thậm chí hơn hẳn đối phương ở những hướng, khu vực tác chiến quan trọng trong mỗi chiến cuộc phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Tham gia một cách có hiệu quả vào nhiệm vụ đó chính là nghệ thuật nghi binh. Trong chiến tranh thế giới thứ II quân Đức đã tập trung được lực lượng áp đảo (7- 1) làm lao đao các lực lượng đồng minh trong cuộc phản công chớp nhoáng hay Hồng quân Liên Xô cũng đã thành công không ít trong các chiến dịch của mình để đạt được mục đích tập trung lực lượng, là nhờ vào các hoạt động nghi binh một cách tổng hợp. Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể xem Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên, cuộc kháng chiến thống Pháp có thể xem chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với chiến dịch Điện Biên Phủ là những bài học phong phú, bởi sự kết hợp rất tài tình cách đánh truyền thống và hiện đại thông qua nghi binh chiến lược và chiến dịch. Thế mới biết nghi binh lợi hại đến nhường nào, bởi nếu thành công nó tạo nên sự bất ngờ, thế chủ động trong tác chiến mà ai cũng biết: Giành được bất ngờ và chủ động là giữ được mạch sống của tác chiến.
       
        Trong lịch sử vấn đề này được tổng kết ở nhiều vị tướng giỏi đời xưa như "Đánh bằng chính binh, thắng bằng kỳ binh". Phải chăng trong tác chiến đòn vu hồi thường có tác dụng quyết định giành thắng lợi bất ngờ trước đối phương dù chúng có thể mạnh hơn mình nhiều lần.
       
        Dự kiến tình huống, gạn lọc tình huống, hạn chế tình huống, dẫn dắt tình huống và đối chọi tình huống là những biểu hiện khá cụ thể của nghệ thuật quân sự.
       
        Đó cũng là một nghệ thuật chỉ đạo điều hành chiến tranh. Bất cứ ở quy mô tác chiến nào dự kiến được hầu hết các tình huống có thể xảy ra thì sẽ chủ động trong đối phó. Một khi đã phân tích lựa chọn, dự báo được những tình huống chủ yếu thứ yếu, khả năng xảy ra đến đâu, nhất là lại tìm được cách triệt tiêu các tình huống xấu nhất thì nhất định tìm được giải pháp tối ưu nhất cho thắng lợi và khả năng thắng lợi càng hiện thực hơn.
       
        Năm 1967, trên cơ sở dự kiến 3 khả năng (tình huống) có thể xảy ra, Nghị quyết Trung ương đã ra đời vào tháng 1-1968. Mặc dù tiến công và nổi dậy Xuân 1968, còn có những hạn chế về mục tiêu và phương pháp hành động nhưng thắng lợi bước đầu của nó mang ý nghĩa chiến lược to lớn-rút lui dần sự dính líu trên bộ của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
       
        Khi dự kiến các tình huống này Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm thực hiện cho được khả năng 1, sẵn sàng đối phó với khả năng 2. Khả năng 3 tuy khó có thể xảy ra nhưng cũng phải đề phòng, tất cả những nhận định ấy hoàn toàn sát với thực tế diễn biến chiến sự sau đó, vì thế sau sự kiện này chúng ta càng thêm chủ động tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ với niềm tin tưởng thắng lợi.
       
        Không phải đến cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nghệ thuật quân sự mới thể hiện được một cách đánh đầy sáng tạo, độc đáo kết hợp được nghệ thuật và kỹ thuật. Trong lịch sử chống ngoại xâm hàng ngàn năm qua, gần đây nhất là cuộc kháng chiến chống Pháp, điều này đã được thể hiện khá sâu sắc Cuộc kháng chiến chống Mỹ càng giúp ta nhận rõ hơn nhận xét này. Có 5 đặc điểm chi phối đến cách đánh trên. Một là, đối tượng tác chiến trong chiến tranh là thế lực hùng mạnh nhất hoàn cầu, một cuộc chiến tranh của số ít chống lại số nhiều, cái yếu chống lại cái mạnh. Hai là, sự trưởng thành của quân đội là từ thô sơ đến hiện đại, luôn phải lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, không thể chỉ lấy sức mạnh của vũ khí để thắng địch. Ba là, địa hình Việt Nam có những điểm độc đáo chi phối rất nhiều đến việc tổ chức sử  dụng lực lượng và các phương thức chiến tranh của cả hai phía, nhất là khả năng cơ động đường bộ trong tác chiến. Bốn là, cách đánh Việt Nam thời sau ảnh hưởng rất nhiều cách đánh truyền thống, phương Đông, trọng mưu hơn trọng lực. Năm là, trên nền cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc lấy lực lượng 3 thứ quân làm nòng cốt mà cách đánh hình thành rất phong phú.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:19:37 PM
        Xét cho cùng kỹ thuật quân sự trang thiết bị và vũ khí trong chiến tranh phát huy tác dụng đến đâu không chỉ là được con người tạo ra mà còn do người sử dụng nó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Một mặt, cách đánh Việt Nam nhằm hạn chế tối đa khả năng sát thương, tác dụng kỹ thuật của nó bằng nhiều biện pháp từ đơn giản đến hiện đại thấp. Kết hợp giữa nhiều phương pháp đơn giản để tạo nên tính phức hợp hiệu quả của kỹ thuật để chống lại kỹ thuật hiện đại cao của Mỹ. Ví như, chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích phát triển cao giam chân các binh đoàn cơ động của địch sẽ đương nhiên hạn chế sức cơ động của địch và tăng cường sức cơ động của ta bằng tác chiến tại chỗ. Như thế là ta cũng đã dùng nghệ thuật để hạn chế kỹ thuật (khả năng cơ động) của địch một cách hữu hiệu.

        Cách đánh du kích, cách đánh đặc công cũng hạn chế tác dụng của tác chiến điện tử của địch.
       
        Vì ta có lực lượng tại chỗ khắp nơi, có thể làm chiến tranh khắp nơi, tức là khả năng cơ động có ở khắp nơi. Cơ động yếu tố quan trọng của lực lượng được giải quyết bằng chiến tranh nhân dân với ba thứ quân thật sự là "giải pháp chiến thuật" độc đáo! Ở chừng mực nào đó, giải pháp ấy đã cắt nghĩa cho nhận xét, hiện đại thấp có thể thắng hiện đại cao trong những hoàn cảnh cụ thể của chiến tranh, khi nào họ tìm ra được đối sách thích hợp.
       
        Nhờ có cơ động được, không bị giam chân thì mới tập trung được lực lượng ở những nơi mình muốn. Nếu bị hạn chế hoặc triệt tiêu yếu tố này thì đối phương coi như đã bị động và thất bại. Có nhiều chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã dự kiến được địch phản kích và ứng cứu thế nào. Ngay từ đầu chiến dịch và trận đánh “kịch bản” được xây dựng khá hoàn hảo và trong thực tế kịch bản đó đã diễn ra khớp với dự kiến ấy.
       
        Lợi dụng phương tiện hiện đại-trực thăng không vận, quân Mỹ gần như có thể đổ bộ ở bất cứ nơi nào chúng muốn, không bị lệ thuộc vào địa hình và thời tiết. Như vậy khả năng cơ động của Mỹ là lớn và ưu việt nhưng đã bị hạn chế, nếu ta dự đoán đúng điểm đổ quân của Mỹ thì với thế trận đã bày sẵn, quân Mỹ vừa chạm chân xuống đất liền bị đánh. Mặt khác nếu tổ chức đánh lớn, khả năng chuyển quân của Mỹ cũng không thể nhanh và nhiều như lực lượng có sẵn tại chỗ. Do vầy, cách giải quyết ấy đều là biện pháp bị dộng, chủ yếu là ứng cứu. Đó cũng là một điểm mà nghệ thuật quân sự của ta đã đánh trúng quân Mỹ.
       
        Những hạn chế khách quan và chủ quan của nghệ thuật quân sự về trang bị kỹ thuật trong chiến tranh được "bù đắp" kịp thời bằng nghệ thuật tác chiến trong mỗi trận đánh, chiến dịch cụ thể cũng như nghệ thuật chỉ đạo điều hành chiến tranh ở tầm chiến lược.
       
        Một trong những nấc thang chiến tranh cao nhất mà đế quốc Mỹ đã thực hiện là cuộc tập kích bằng không quân và hải quân chiến lược ra miền Bắc trong năm 1972. Đây là cuộc đối chọi rất quyết liệt về kỹ thuật, ý chí và tài năng. Thua, thắng keo này sẽ ảnh hưởng lớn đến tiến trình và kết cục chiến tranh. Cuộc chiến tranh ấy, Mỹ đã sử dụng kỹ thuật quân sự hiện đại nhất lúc bấy giờ. Đó là máy bay B52 với hỏa lực hủy diệt rất mạnh. Sự bao vây phong tỏa đường biển bằng hải quân gồm tầu chiến, ngư lôi hiện đại. Có thể xem đây là sự leo thang về kỹ thuật, về cường độ, về quy mô và tính chất tàn bạo trong chiến tranh cao nhất của Mỹ. Trong hoàn cảnh đó ta không thể lấy cứng chọi cứng, lấy hiện đại chống hiện đại, mà phải kết hợp giữa cứng và mềm, giữa thô sơ và hiện đại của nghệ thuật và phát huy hết tính năng tác dụng kỹ thuật vũ khí ta có được. Kỹ thuật chống máy bay B52, chống chiến lược phong tỏa biển của Mỹ mà ta tiến hành tỏ ra hữu hiệu, bởi ta nắm vững quy luật tác chiến của địch, hơn thế trong khi sử dụng tên lửa cũng như các hỏa lực phòng không, cũng như các loại kỹ thuật chống phong tỏa biển ta không ngừng thay đổi hình thức chiến thuật, luôn sáng tạo những kỹ thuật mới. Cái gọi là “Điện Biên Phủ trên không" và “Thế trận chiến tranh nhân dân trên biển” chính là sự kết hợp của nhiều cách đánh trong một chiến dịch, nhiều loại vũ khí kỹ thuật chiến thuật theo một phương án tác chiến thống nhất, nhiều lực lượng trong một quyết tâm vào mục đích cụ thể. Không có kỹ thuật tinh vi hiện đại nào có thể hoàn thiện đến mức không có nhược điểm, hạn chế. Chỉ có điều kỹ thuật càng hiện đại thì việc phát hiện những hạn chế của nó khó hơn và ít hơn.
       
        Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 cũng như cuộc chiến tranh trên biển của đế quốc Mỹ ra miền Bắc vì thế được xem là sự nỗ lực cao nhất từ hai phía tham chiến, có tác dụng quyết định “trọng lượng” tiếng nói của cả ta và địch trên bàn Hội nghị Pa-ri trong những tháng đầu năm 1973. Mỹ đặt nhiều hy vọng vào đòn chiến lược này, còn ta thì quyết tâm đánh bại đòn chiến lược đó. Phải thừa nhận, lúc đó về kỹ thuật chống B52 của ta cũng đã khá hiện đại nhờ sự giúp đỡ của bè bạn. Song ta thắng Mỹ trong chiến lược này là vượt quá sức tưởng tượng của nhiều người trong đó có nhiều chuyên gia kỹ thuật quân sự nước ngoài.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:24:54 PM
        Phải chăng trong chiến tranh cần tính đến sự lợi hại của yếu tố nghệ thuật trong sử dụng lực lượng và sử dụng vũ khí, kỹ thuật. Nó chứng tỏ khả năng làm chủ vũ khí kỹ thuật của con người Việt Nam trong chiến tranh. ở hoàn cảnh càng khó khăn thì sự thông minh, trí sáng tạo, mưu trí, khôn ngoan càng bộ lộ rõ. Không chỉ là tinh thần và nghị lực mà phải có cả trí tuệ, tri thức khoa học kỹ thuật trong cuộc chiến tranh hiện đại này. Không chỉ có phần cứng mà cả phần mềm cũng được huy động.
       
        Không chỉ một lần mà đế quốc Mỹ đã hai lần đánh phá ra miền Bắc bằng không quân và hải quân. Ngày 5-8-l964 địch đã dùng không quân hiện đại bắn phá vùng ven biển miền Bắc nước ta, dùng hải quân uy hiếp bao vây vùng biển miền Bắc nước ta. Ngay trong trận đầu ta đã thắng chúng bằng trang bị kỹ thuật thấp nhưng với tinh thần chiến đấu rất anh dũng. Bài học trận đầu bao giờ cũng có giá trị sâu sắc cho những trận tiếp sau. Kinh nghiệm đánh Mỹ đầu những năm 70 là tiền đề cho thắng lợi ở đầu những năm 80.
       
        Tướng Goóc-gia-da, phó tổng tham mưu trưởng phụ trách kế hoạch và tác chiến của không quân Mỹ đã phải thừa nhận: "Bắc Việt Nam đã phát triển được lực lượng phòng không giầu kinh nghiệm nhất thế giới. Rõ ràng họ có nhiều kinh nghiệm hơn bất kỳ lực lượng nào trong việc phóng tên lửa đất đối không để hạ máy bay. Họ cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh chặn tích cực theo điều khiển từ mặt đất. Họ đã phát triển được lực lượng phòng không dày dạn và chiến đấu có hiệu quả không kém hệ thống phòng không của bất kỳ nước nào".

*

*      *
         
        Nghiên cứu nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng và nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung có thể rút ra mấy bài học sau:
       
        Chính nghĩa:
       
        Nghệ thuật quân sự là nghệ thuật chỉ đạo và chỉ huy đấu tranh vũ trang, nghệ thuật của chiến tranh. Chính nghĩa là Cái gốc, là bản chất chính trị của nghệ thuật quân sự. Nhờ đó mà cuộc kháng chiến nhận được sự ủng hộ của nhiều người, cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến mới có thể huy động sức mạnh của cả một dân tộc, của thời đại.
       
        Chính nghĩa là tiến bộ, là phù hợp với lòng người, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Chính nghĩa là sức mạnh, sức mạnh đó không chỉ là sức mạnh tinh thần trong chiến tranh, nó sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, thành sức mạnh của nghệ thuật: cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc. Ấy là sức mạnh của sự đoàn kết, sức mạnh dời non lấp biển.
       
        Sức mạnh chính trị tinh thần và sức mạnh đoàn kết toàn dân:
       
        Có chính nghĩa, chiến đấu cho chính nghĩa nên phát huy được sức mạnh chính trị, tinh thần, của toàn dân tộc.
       
        Dân tộc ta có truyền thống kiên cường bất khuất chống ngoại xâm. Truyền thống ấy được kế thừa liên tục từ đời này sang đời khác, như dòng sông chảy mãi chẳng bao giờ ngừng. Sức mạnh ấy tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam yêu nước. Nó được khai thác triệt để mỗi khi đất nước có họa xâm lăng, dưới ngọn cờ chính nghĩa, được đoàn kết lại thành sức mạnh to lớn nhấn chìm tất cả lũ giặc ngoại xâm. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta sáng ngời chân lý chính nghĩa "Không có gì quý hơn độc lập tự do" nên nó chứa đựng sức mạnh chính trị tinh thần vô cùng to lớn, nó đoàn kết được không chỉ dân tộc Việt Nam mà cả sự ủng hộ vô tư, hết mình của bè bạn trên toàn thế giới, gặp nhau ở lòng yêu chuộng tự do độc lập .
       
        Tài trí:
       
        Mưu cao, kế sâu, mẹo hiểm là những biểu hiện cụ thể của tài thao lược, trí thông minh, lòng dũng cảm trong nghệ thuật quân sự. Có tài mới biết tổ chức, sắp xếp sử dụng lực lượng để đấu tranh, để xử trí các tình huống khó khăn phức tạp, giải quyết các mâu thuẫn trong đấu tranh; lựa chọn mục tiêu, dự kiến tình huống, gạn lọc loại trừ tình huống; biết cách giải quyết hài hòa mối quan hệ tạo nên sự thống nhất giữa con người và vũ khí, giữa tinh thần và vật chất, giữa nghệ thuật và kỹ thuật. Càng trong điều kiện khó khăn, ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn thì tài thao lược càng được đề cao, là ưu thế hàng đầu của nghệ thuật quân sự mà bất kỳ nước nào, quân đội nào cũng phải tổng kết và phát huy cao trong điều kiện hoàn cảnh mới.
       
        Quy luật chiến tranh:
       
        Nghệ thuật quân sự phải phục tùng quy luật chiến tranh. Đi đúng quy luật, vận dụng đúng quy luật sẽ giành thắng lợi. Vì thế, nghệ thuật quân sự còn hàm chứa nội dung của những quy luật tác chiến của cả hai bên tham chiến. Nghệ thuật quân sự Việt Nam đã giải quyết đúng nguyên lý: Tiến hành chiến tranh du kích toàn dân thì địch không thể đánh bại được, nhưng chỉ tiến hành chiến tranh du kích thì khó có thể đánh bại được địch. Phải kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy mới có khả năng giành thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:29:50 PM
        Trong đấu tranh cách mạng cũng như trong chiến tranh nghệ thuật quân sự không thực hiện một cách cứng nhắc, dập khuôn các quy luật hay nguyên lý, nguyên tắc, trái lại nó luôn đạt được tính chủ động sáng tạo. Muốn vậy những người lãnh đạo và thực hành chiến tranh phải có quan điểm biện chứng, có phương pháp luận khoa học, nắm được quy luật chiến tranh, luôn sáng tạo trong lãnh đạo và biết cách giải quyết mâu thuẫn trong lãnh đạo chiến tranh. Ví dụ, thực hiện phương châm chiến lược "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" là đúng quy luật, là cách đánh chiến lược đầy tính sáng tạo để rồi sức dùng một nửa mà hiệu quả gấp đôi, để rồi không cần đánh đòn quân sự nữa mà Mỹ bọn tay sai của chúng vẫn tan rã.
       
        Ý chí và tinh thần chiến đấu luôn là cái gốc cho mỗi hành động của con người. Khi điều ấy đã lụi tàn sa sút, rệu rã, khi lý tưởng đã bị lung lay, khủng hoảng thì sức mạnh nội tại, sức mạnh tự thân sẽ bị triệt tiêu. Điều đó chứng tỏ nghệ thuật quân sự Việt Nam đã vận dụng đúng quy luật của cuộc chiến tranh mà Bác Hồ đã chỉ dẫn trước đó hàng nửa thập kỷ.
       
        Quy luật ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn, hiện đại thấp đánh hiện đại cao không chỉ là hoàn cảnh của chiến tranh mà đã trở thành quy luật chung của chiến tranh ở Việt Nam trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Nắm vững quy luật ấy để vận dụng trong thực tiễn xây dựng quân đội và nền nghệ thuật quân sự Việt Nam là chiếc chìa khóa quan trọng của thắng lợi.
       
        Kế thừa:
       
        Một trong những quy luật của chiến tranh của xã hội là quy luật kế thừa. Có kế thừa mới có phát triển và phát triển sáng tạo. Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ không tách rời nghệ thuật quân sự Việt Nam và đặc biệt nghệ thuật quân sự ở cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngay trước đó.
       
        Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ không thoát ly những vấn đề chung như chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, kháng chiến toàn dân toàn diện, thế trận cài xen kẽ với địch, đánh địch bằng 3 thứ quân, bằng sức mạnh tổng hợp. Trên cơ sở đó chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến đấu có những bước phát triển mới về chất. Đó là trình độ lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh ở tầm chiến lược, nhất là sự phát triển vượt bậc về nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh giải phóng, về các hình thức chiến thuật. Nhờ đó mà cuộc kháng chiến chống Mỹ mới giải quyết được vấn đề then chốt là kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến gian khổ vào thời điểm có lợi nhất.
       
        Mặc dù đối tượng tác chiến, quy mô tính chất chiến tranh cũng như hoàn cảnh khách quan và chủ quan có sự thay đổi lớn nhưng những kinh nghiệm được đúc kết bằng thực tiễn đấu tranh phải trả giá bằng xương máu đã giúp cho dân tộc ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với những bước đi vững chắc hơn.
       
        Sự trưởng thành của ngày hôm nay nhất định phải trên nền thành công cũng như chưa thành công của ngày hôm qua. Điều đó không hề khó hiểu. Nhưng sự thành công của nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ chính là sự kế thừa chọn lọc và có những bước phát triển mới đầy sáng tạo.

*

*      *
       
        Kinh tế phát triển trên cơ sở khoa học công nghệ phát triển đang là những hiện tượng nóng bỏng của những cuộc chạy đua kinh tế trên thế giới hiện nay. Hòa bình, hợp tác hữu nghị cùng phát triển đang là xu thế hiện thực của các nước trên thế giới. Bên cạnh đó việc chạy đua vũ trang ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển cũng vẫn là nguy cơ của những xung đột cục bộ, của những cuộc chiến tranh dưới các dạng thức mới, kể cả những hình thức chiến tranh không có khói súng.
       
        Nghệ thuật quân sự thời bình chứa đựng những nội dung mới so với nghệ thuật quân sự trong chiến tranh, khi đất nước còn tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Nghệ thuật quân sự nhằm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện quốc tế và trong nước có những biến động hàng giờ hàng ngày cũng vì thế mà đòi hỏi phải được phát triển vượt bậc không chỉ là trình độ khoa học công nghệ, trong quân sự, mà cả nghệ thuật tác chiến trong điều kiện chiến tranh (nếu có thể xảy ra) với vũ khí công nghệ cao.
       
        Những đòi hỏi khắt khe của những phương thức tiến hành chiến tranh mà kẻ địch áp dụng đối với nhiều nước trên thế giới trong những thập kỷ qua cho thấy: Do phương tiện chiến tranh phát triển nhanh chóng (vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự); do tính chất, quy mô chiến tranh thay đổi lớn mà sự hủy diệt, tính nguy hiểm của nó đối với nhân loại, môi trường càng cao. Để đối phó với hoàn cảnh ấy, thực tế ấy, nghệ thuật quân sự càng không thể chỉ dừng lại ở việc có thực lực quân sự bằng xây dựng sức mạnh vũ khí, trang bị, quân đội chính quy hiện đại mà còn phải chú ý cả phần mềm, trong đó nghệ thuật chống lại các cuộc chiến tranh đa dạng. Trên nền truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, nghệ thuật quân sự Việt Nam vẫn lấy quán triệt tư tưởng mềm chọi cứng, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Loại trừ chiến tranh là thượng sách và cũng là nghệ thuật cao. Đã chiến tranh thì địch phải sa lầy ở Việt Nam. Trong khi chúng ta còn đang đẩy lùi 4 nguy cơ có thể xảy ra, thì nghệ thuật quân sự càng có ý nghĩa trên góc độ phát huy triệt để nhất sức mạnh tổng hợp, toàn dân toàn diện trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:33:37 PM
        
VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO
CHIẾN TRANH CỦA ĐẢNG TA
TRONG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
VÀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN
       
        Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc Pháp và Mỹ là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh sáng tạo của Đảng ta.
        
        “Giành chính quyền đã khó, giữ được chính quyền còn khó gấp bội". Trên tinh thần đó của Lê-nin, việc xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là điều kiện tiên quyết để thực hiện được hai nhiệm vụ chiến lược mà nghị quyết Đại hội VII đã đặc biệt nhấn mạnh. Đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
        
        Có nhiều vấn đề thuộc về kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh, được tổng kết sau hai cuộc chiến tranh. Nhưng không thể vận dụng một cách cứng nhắc khuôn mẫu, khiên cưỡng và áp đặt. Vận dụng cần linh hoạt, sáng tạo. Kế thừa cần chọn lọc.
        
        Một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh với biết bao khó khăn chồng chất, với những cản trở không nhỏ của các tư tưởng bảo thủ, chủ quan duy ý chí, giáo điều, thỏa mãn trước những thắng lợi và kinh nghiệm, cộng thêm cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đã làm cho chúng ta vấp váp nhiều, đau đớn nhiều. Sau nhiều năm lần mò hướng đi mới, cách làm ăn mới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, Đảng ta vẫn vững vàng chèo lái con thuyền vượt sóng gió để hôm nay xã hội đang có bước chuyển mình, khởi sắc đáng mừng.
        
        Với những biến đổi vô cùng sâu sắc của đời sống kinh tế, chính trị xã hội trên thế giới hiện nay, cần nhận thấy rằng còn chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động thì chưa thể hết chiến tranh. Chiến tranh là thuộc tính, là phương tiện làm giàu của chúng, là bản chất chính trị của chúng. Bằng nhiều âm mưu thủ đoạn khác nhau như lật đổ chính quyền, gây rối, bạo loạn, gây chiến tranh xung đột cường độ thấp, diễn biến hòa bình, "chiến thắng không cần chiến tranh”, chủ nghĩa đế quốc đang mưu toan phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa và khống chế các nước dân tộc chủ nghĩa. Bởi vậy, các dân tộc đều phải củng cố sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự của mình để bảo vệ đất nước.
        
        Ta đã có sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân vũ trang toàn dân, truyền thống toàn dân đánh giặc. Đó là bảo bối quý báu. Vấn đề giờ đây là phát huy như thế nào trong hoàn cảnh lịch sử mới.
        
        Chịu tác động của không khí sôi động của chính trị thế giới, một thế giới nóng bỏng bởi những mâu thuẫn, không ít người đã thiếu tỉnh táo và thiếu bản lĩnh vững vàng, thiếu kiên định. Còn nhiều người mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế. Chỉ thấy đối thoại mà không thấy được rằng chủ nghĩa đế quốc đang luôn luôn tiến công chúng ta về mọi mặt, bằng mọi hình thức, thủ đoạn; dùng sức mạnh nước lớn để uy hiếp và khống chế các nước nhỏ như Áp-ga-ni-xtan, Ni-ca-na-goa, Pa-na-ma, Pa-lét-xtin. Có thể trước hết chúng gây rối, bạo loạn, khi không thực hiện được bằng biện pháp chính trị, tư tưởng chúng sẽ dùng biện pháp quân sự để đạt mục đích chính trị. Chiến tranh và kế tục của chính trị. Cần kiên quyết chống lại mọi biểu hiện tư tưởng lơ là và mất cảnh giác, coi nhẹ nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang và quốc phòng toàn dân. Tình hình của nhiều nước trên thế giới hiện nay đã giúp chúng ta tỉnh táo để rút ra nhiều bài học bổ ích.
        
        Xây dựng lực lượng vũ trang phải trên cơ sở thực lực của nền kinh tế và hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Thoát ly khỏi điều kiện thực tế ấy là thiếu quan điểm biện chứng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nói: “xây dựng quân đội nhân dân chính quy và ngày càng hiện đại; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị”1. Có nghĩa là, để thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân phải xây dựng lực lượng vũ trang đủ sức mạnh và xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện cả chính trị, tinh thần, kinh tế quốc phòng để bảo vệ đất nước. Lực lượng vũ trang phải xây dựng, phát triển hoàn chỉnh cả ba thứ quân và vũ trang toàn dân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; cả lực lượng quân đội thường trực và lực lượng dự bị.
        
        Về bộ đội chủ lực phải xây dựng theo hướng chính quy ngày càng hiện đại, từ trang bị vũ khí đến huấn luyện để có thể thực hành tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng trong các chiến dịch có quy mô lớn. Trước mắt, tuy ta có khó khăn, nhưng phương hướng chiến lược phải chú ý đến tổ chức và trang bị của quân chủng hải quân và không quân, chú ý đến trang bị cần thiết cho lục quân, sao cho bộ đội chủ lực đủ sức đánh những đòn lớn bảo vệ những địa bàn chiến lược trọng yếu.
        
        Việc trang bị cho bộ đội địa phương cũng cần được nhanh chóng cải tiến để nâng cao sức mạnh chiến đấu, nhất là phát huy khả năng tác chiến sở trường trong thế trận chiến tranh nhân dân.

---------------
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 78.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:39:02 PM
        Phát huy sức mạnh của lực lượng dân quân, tự vệ trong thời bình là rất quan trọng. Dân quân tự vệ vừa là lực lượng trụ cột bảo vệ tại chỗ vừa là lực lượng quan trọng cùng với các lực lượng khác, chủ động góp phần tích cực bảo vệ an ninh trật tự xã hội, bảo vệ cuộc sống yên bình, nếp sống tốt đẹp của nhân dân.
       
        Ngày nay, ta có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều để củng cố và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh cả về tổ chức, trang bị và có thời gian, cơ sở vật chất tốt hơn trong huấn luyện. Kinh nghiệm thực tế cho thấy đặc thù của những nước nhỏ chống trả sự xâm lược của nước lớn, trong tương quan lực lượng khác xa nhau cả về trang bị và số lượng quân, thì việc tiến hành chiến tranh nhân dân mới phát huy được sức mạnh tổng hợp. Một mâu thuẫn rất gay gắt là một nước nhỏ phải chiến thắng một nước lớn xâm lược. Giải quyết mâu thuẫn đó là phải phát động một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với một sức mạnh tổng hợp lớn.
       
        Đó cũng là một quy luật của các cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược phi nghĩa.
       
        Trong lịch sử nước Việt Nam, Trần Hưng Đạo đã nói: “Phải bớt dùng sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn"1. Trong “Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"2. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước lấy dân làm gốc” và Đảng ta phát huy tinh thần, tư tưởng đó bằng việc tiếp tục giương cao ngọn cờ yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội để huy động sức mạnh “toàn dân đánh giặc".
       
        Nghệ thuật chiến thắng quân xâm lược là nghệ thuật chiến tranh nhân dân đánh địch bằng mọi vũ khí, với nhiều cách đánh thông minh sáng tạo của toàn dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, ngay từ những ngày đầu đánh Pháp: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu nước, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức, chống thực dân Pháp, cứu nước"3.
       

       
   
        Với những hình thức không phải là bạo lực, hình thức hợp pháp và bất hợp pháp, đấu tranh chính trị gắn liền với đấu tranh quân sự, từ nông thôn đến thành thị, ở đâu địch cũng bị đánh. Đó là nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân và nghệ thuật thắng giặc bằng sức mạnh tổng hợp, được Đảng ta phát triển sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.Nghệ thuật chiến tranh của Việt Nam đã làm phong phú kho tàng Mác-Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng, đóng góp tích cực vào phong trào các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô dịch thực dân đế quốc.
       
        Có một nguyên nhân quan trọng và chủ yếu nhất để chúng ta thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ là do trong chiến tranh, các cấp ủy đảng đã giữ vững vai trò lãnh đạo chính trị, tư tưởng và quân sự đối với lực lượng vũ trang. Vì thế mà Đảng đã huy động được sức mạnh, sức người, sức của toàn dân đánh giặc và thắng giặc. Sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở là ngọn cờ tập hợp toàn dân đánh giặc và huy động mọi lực lượng để đánh giặc. Vì vậy, toàn dân tự nguyện tham gia kháng chiến với hào khí rất cao, tạo nên sức mạnh tổng hợp vô cùng to lớn. Trên cái nền ấy, nền nghệ thuật quân sự Việt Nam đã đạt được những bước nhảy vọt về chất. Những khuynh hướng buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, coi nhẹ công tác quốc phòng là làm sa sút sức mạnh của lực lượng vũ trang và sức mạnh quốc phòng. Như vậy, sức mạnh của quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân phải luôn gắn liền với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng.
       
        Xây dựng lực lượng vũ trang không chỉ đơn thuần một mục đích bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang còn là lực lượng xung kích trong lĩnh vực xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm giàu cho đất nước. Những nơi nào khó khăn, gian khổ nhất, những công trình trọng điểm của đất nước đều cần đến họ, một tổ chức có chỉ huy, có kỷ luật chặt chẽ.
       
        Khi có chiến tranh họ là người lính xung trận. Trong xây dựng hòa bình, họ cũng có thể là những mũi xung kích trong xây dựng kinh tế và làm công tác vận động quần chúng. Đó cũng là công cuộc xây dựng hòa bình để chuẩn bị cho đất nước khi có chiến tranh và xây dựng một hậu phương vững chắc toàn diện.
       
        Vấn đề quân đội tham gia làm kinh tế, tự tạo vốn nuôi mình đang được đặt ra như một lẽ đương nhiên. Đối với nước ta khi nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thì vấn đề này càng có ý nghĩa thiết thực.

-------------------
1. Việt sử thông giám cương mục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
 
2. Nguyễn Trãi. Toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 77.

3. Hồ Chí Minh. Tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội 1980, tr. 374.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:42:32 PM
        Việc giảm quân đội thường trực tăng cường quân dự bị cũng là nhằm thực hiện mục tiêu "quân cần tinh, chứ không cần đông". Đó là xu hướng chung của mọi quân đội trên thế giới hiện nay. Đó cũng là cơ sở để tăng cường sức mạnh lực lượng vũ trang bằng việc không ngừng tăng cường chất lượng chính trị, kỹ năng chiến đấu và cải tiến trang bị vũ khí.
       
        Một tổ chức quân đội gọn nhẹ mà hiệu quả cao chỉ có được khi biết kết hợp nhặt chẽ giữa kỹ thuật với nghệ thuật. Bộ đội địa phương mới thực hiện được nhiều cánh đánh phong phú, đánh từ nhỏ đến lớn, ở đâu địch cũng bị đánh, đánh cả trước mặt và sau lưng; chúng không phát huy được sức mạnh ban đầu và lâu dài, sa sút tinh thần và ý chí. Cuối cùng, bộ đội chủ lực sẽ đánh đòn then chốt quyết định thắng lợi. Nâng cao nghệ thuật tác chiến trong chiến tranh, đánh bằng sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, bằng mưu trí, thông minh, sáng tạo là rất cần thiết, là tư duy mới hiện nay.
       
        Các cuộc chiến tranh chống xâm lược thắng lợi của dân tộc ta trước kia, cũng như hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vừa qua, là những sáng tạo lớn về tư tưởng quân sự, về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cũng như về phương pháp luận.
       
        Chiến tranh ngày nay đặt ra nhiều vấn đề rất nóng bỏng. Để giải quyết mâu thuẫn giữa nhỏ thắng lớn là phải tăng cường chất lượng quân đội thường trực, phải đồng thời tăng cường chất lượng quân dự bị và dân quân, tự vệ. coi trọng đặc biệt việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Toàn dân có trách nhiệm tham gia xây dựng trực tiếp hoặc gián tiếp lực lượng vũ trang. Với tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin "nhân dân là người làm nên lịch sử”, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng thì việc tổ chức ngày hội quốc phòng toàn dân cũng mang ý nghĩa đó. Các cấp ủy đảng và chính quyền cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động toàn dân tham gia xây dựng quốc phòng với nhiều hình thức phong phú. Trang bị những kiến thức tối thiểu, phổ biến về quân sự, về ý thức bảo vệ tham gia xây dựng quân đội, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho nhân dân, là rất cần thiết. Việc đưa chương trình huấn luyện quân sự, huấn luyện quân dự bị vào nội dung chính khóa bắt buộc trong các trường phổ thông trung học, đại học, chính là nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, nhằm chuẩn bị tốt "đầu vào" cho quân đội. Phải giữ vững được truyền thống nhân dân mãi mãi là "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
       
        Thực trạng xã hội gần đây cho thấy hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ" có phần bị phai nhạt. Đây đó, một số hiện tượng tiêu cực của bộ đội đã làm tổn hại đến uy tín của anh bộ đội. Đó là một vấn đề xã hội đáng báo động. Cần nâng cao trình độ chính trị tư tưởng, trình độ nhận thức, trình độ khoa học kỹ thuật, khoa học quân sự, tăng cường kỷ luật, tính chính quy, kỷ luật, nhằm xây dựng quân đội cách mạng chính quy ngày càng hiện đại đủ sức mạnh đê bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
       
        Thiết nghĩ, muốn xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, cần quán triệt tốt một số vấn đề cơ bản:
       
        Một là, phải thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, trước hết là xây dựng sự vững vàng về chính trị tư tưởng, xây dựng bản chất của một quân đội nhân dân, một quân đội cách mạng, giữ vững những đức tính cao đẹp của “Anh bộ đội Cụ Hồ" gắn bó máu thịt với nhân dân. Thể hiện sự chărn lo ấy từ việc định ra chủ trương chính sách đến sự thực hiện thiết thực từ Trung ương đến cơ sở. Quan tâm thiết thực đến việc bồi dưỡng ý chí chiến đấu, ý thức kỷ luật, sự đoàn kết gắn bó quân đội. Cải tiến trang bị kỹ thuật phù hợp với khả năng của đất nước và cách đánh của ta. Bồi dưỡng kỹ năng chiến đấu, đồng thời chăm lo đời sống tinh thần vật chất và chăm lo hậu phương của các lực lượng vũ trang trong thời bình, cũng như thời chiến. Sức mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân là sức mạnh tập trung của nhân dân được tổ chức theo yêu cầu của đấu tranh vũ trang. Đó là nòng cốt để phát huy sức mạnh toàn dân đánh giặc.
       
        Hai là, phải thiết lập phương án và luôn hoàn chỉnh phương án chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, động viên thời chiến về nhân lực, kinh tế, công nghiệp và phương án chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến. Có phương án tiến hành chiến tranh và các phương án tác chiến. Các phương án ấy phải thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân và của tất cả các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng của cả nước. Phát huy vai trò, tác dụng của từng thứ quân trong sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, với một nghệ thuật đúng đắn, sáng tạo. Có nghĩa là: "Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không được tự giới hạn trong những phương thức thông thường để tiến hành chiến tranh. Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp mọi nơi. Đó là phương thức duy nhất, nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng được một dân tộc lớn"1.
       
        Ba là, phải không ngừng hoàn chỉnh pháp luật và thực hiện nghiêm minh pháp luật bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật là công cụ bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân được thực hiện trong thực tế bảo đảm sự công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ. Tinh thần tự nguyện tự giác của nhân dân chỉ được phát huy và có hiệu lực thông qua pháp luật xã hội chủ nghĩa và thể chế Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
       
------------------
1. Ăng-ghen, Lê-nin, Xta-lin. Bàn về chiến tranh nhân dân, NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 27.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:44:24 PM
       
TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG ĐƯỢC NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
       
        Nghệ thuật quân sự thuộc loại nhân tố chủ quan năng động trong tổng thể các nhân tố tạo thành sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân. Nó góp phần rất tích cực làm cho tiềm năng của các nhân tố chính trị, tinh thần và cơ sở vật chất kỹ thuật... biến thành sức mạnh hiện thực to lớn, hòa tạo nên nguồn gốc chiến thắng trên chiến trường.
       
        Nói đến nghệ thuật quân sự là nói đến các nội dung tổ chức, chuẩn bị và tiến hành đấu tranh vũ trang, là sử dụng lực lượng, phương tiện; tìm mọi cách đánh; tạo lập thế trận và chuyển hóa thế trận; tạo thời cơ và hành động đúng thời cơ trên các lĩnh vực chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, trong các hoàn cảnh và điều kiện khác nhau của chiến tranh, trước một đối tượng tác chiến (kẻ địch) nhất định.
       
        Nền nghệ thuật quân sự Việt Nam hình thành và phát triển từ hơn 4.000 năm đánh giặc và giữ nước của dân tộc. Nó là nền nghệ thuật quân sự của chiến tranh chính nghĩa, cả chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, với nét đặc trưng truyền thống lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Người Âu Lạc từ thuở xa xưa (221 trước Công nguyên) đã đánh thắng 50 vạn quân Tần xâm lược. Ngô Quyền đã tiêu diệt đội quân Nam Hán xâm lược (năm 938) trên sông Bạch Đằng bằng đội quân chính quy của nhà nước Đại Việt độc lập vừa mới ra đời. Dưới sự thống lĩnh của Lý Thường Kiệt, quân và dân Đại Việt đã hai lần đánh thắng quân Tống. Trần Hưng Đạo với đội quân “phụ tử chi binh" đánh thắng quân Nguyên Mông-kẻ thống trị hàng loạt nước châu Á, châu Âu lúc bấy giờ. Lê Lợi-Nguyễn Trãi đã đánh bại đạo quân Minh xâm lược trong cuộc chiến tranh giải phóng phát triển từ khởi nghĩa. Vua Quang Trung kiệt xuất đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh trong khoảng 10 ngày với lực lượng kém chúng 3 lần. Nghệ thuật quân sự lấy ít thắng nhiều của dân tộc ta đã phát triển với chất lượng mới bằng những thắng lợi oanh liệt trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đánh bại những đội quân xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thế giới đông nhất và được trang bị hiện đại nhất. Đó là những nấc thang đi tới đỉnh cao chói lọi của sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của dân tộc ta.
       
        Song nghệ thuật quân sự thuộc lĩnh vực hoạt động thực tiễn của Nhà nước, quân đội và nhân dân, của các tướng lĩnh nhằm thực hiện các tư tưởng và quan điểm quân sự của Đảng, vận dụng sáng tạo các thành tựu khoa học quân sự, kỹ thuật quân sự, tìm ra phương pháp tác chiến, phương án tác chiến tối ưu, phù hợp với khả năng và điều kiện lịch sử của đất nước để để đảm bảo chiến thắng. Trước yêu cầu mới, nội dung mới của nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và sẵn sàng tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc thì nghệ thuật quân sự đòi hỏi phải phát triển đáp ứng. Đó là một vấn đề rộng lớn cần có sự đóng góp của nhiều trí tuệ.
       
        Xây dựng, tổ chức lực lượng phải phù hợp với nghệ thuật quân sự.
       
        Nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc là nghệ thuật của "toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt" trong điều kiện mới. Vì thế, Đảng ta trong Nghị quyết Đại hội lần thứ VI chủ trương tiếp tục "xây dựng quân đội nhân dân chính quy và ngày càng hiện đại, xây dựng dân quân, tự vệ và lực lượng dự bị". Điều đó có nghĩa là xây dựng cả ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, làm cho chúng trở thành lực lượng vũ trang nhân dân hùng hậu với những yếu tố mới của sức mạnh chiến đấu, trong sự kết hợp với lực lượng chính trị rộng lớn của quần chúng nhân dân.
       
        Việc xây dựng cả ba thứ quân tinh nhuệ và hùng hậu đáp ứng sự phát triển mới của nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc là đánh địch bằng sức mạnh lớn nhất của toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu biểu là sự kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực ngay từ dầu, tạo thành sức mạnh tổng hợp giáng cho kẻ địch những đòn chí mạng khi chúng đặt chân xâm lược nước ta.
       
        Phát triển mới của nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc còn có nét nổi bật là thực hiện những đòn chiến lược ngay từ thời kỳ đầu cũng như trong quá trình chiến tranh nhằm đập tan những đòn chiến lược của địch và giáng những đòn mạnh vào tập đoàn lực lượng mạnh của địch, có thể ngay trong thời kỳ đầu chiến tranh. Yêu cầu mới này của nghệ thuật quân sự đặt ra vấn đề xây dựng những binh đoàn, liên binh đoàn bộ đội hợp thành mạnh và lực lượng hậu bị chính quy hùng hậu. Những binh đoàn, liên binh đoàn này cùng với lực lượng hậu bị có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao sẽ đủ sức tiến hành liên tiếp các đòn chiến lược cũng như đập tan các đòn chiến lược của địch nối tiếp nhau trên các chiến trường, các hướng chiến lược quan trọng. Đương nhiên, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ cũng phải có sự phát triển tương ứng để cùng nhau tham gia đánh địch và hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội chủ lực, tạo điều kiện để các binh đoàn, liên binh đoàn chủ lực thực hiện các đòn chiến lược…


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:45:52 PM
        Những nội dung của nghệ thuật quân sự còn đặt ra nhiều vấn đề về tổ chức, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, nâng cao hơn nữa sức mạnh chiến đấu của ba thứ quân, phản ánh đầy đủ sức mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Lựa chọn và xác định hình thức và quy mô tổ chức các binh đoàn chiến lược, binh đoàn chiến dịch-chiến lược, các binh đoàn, đơn vị chiến thuật của bộ đội chủ lực; hình thức và quy mô tổ chức các đơn vị bộ đội địa phương cho phù hợp để phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân trên các chiến trường. Phải đổi mới công tác huấn luyện chiến đấu nói chung, đổi mới công tác quản lý và huấn luyện lực lượng hậu bị nói riêng thế nào cho tốt để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, động viên kịp thời khi có chiến tranh.
       
        Sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang được tạo thành bởi sự kết hợp biện chứng giữa số lượng và chất lượng của con người và vũ khí, kỹ thuật cùng cơ sở vật chất bảo đảm. Chất lượng con người kết hợp với chất lượng vũ khí, kỹ thuật được tổ chức chặt chẽ và phù hợp trên cơ sở của một số lượng nhất định là yếu tố cơ bản quyết định để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nâng cao sức mạnh của từng người đi đôi với nâng cao hiệu lực của các loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật và phương tiện vật chất bảo đảm; đồng thời phải phát triển tổ chức thích ứng với điều kiện mới phát huy được đầy đủ sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang.
       
        Đấu tranh vũ trang hiện đại trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc với những tính chất quyết liệt, gay go, phức tạp đòi hỏi cán bộ và chiến sĩ phải có những phẩm chất chiến đấu, chất lượng của con người, của lực lượng vũ trang nằm trong thể thống nhất về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả thực hiện, giáo dục xã hội chủ nghĩa, nghĩa vụ và quyền lợi bảo vệ Tổ quốc của mọi công dân, chính sách xã hội trong quá trình kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của các tổ chức Đảng và Nhà nước đối với toàn dân. Mặt khác, nó là thành quả đào luyện công phu, toàn diện về ý thức, kỷ luật và kỹ năng chiến đấu trong lực lượng vũ trang. Vì vậy phẩm chất chiến đấu cao của cán bộ và chiến sĩ là sản phẩm của sự hoạt động không mệt mỏi và sự chăm lo hết lòng của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Đương nhiên, các tổ chức Đảng trong quân đội có trách nhiệm trực tiếp to lớn. Trách nhiệm này có hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự đổi mới công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị cũng như đổi mới công tác huấn luyện chiến đấu.
       
        Vũ khí, trang bị, kỹ thuật cùng cơ sở vật chất bảo đảm có vai trò rất quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nó cũng ảnh hưởng sâu xa đến sự vận dụng và phát huy nghệ thuật quân sự.
       
        Việc cải tiến chất lượng, vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang đòi hỏi ngày càng hiện đại, đáp ứng những nội dung mới về chức năng, nhiệm vụ tác chiến của từng thứ quân, từng quân chủng, binh chủng, từng lực lượng; phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý của đất nước và lý luận, quan điểm nghệ thuật quân sự của ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
       
        Phương hướng trang bị cho ba thứ quân là vừa hiện đại, vừa tương đối hiện đại, vừa thô sơ; vừa có cơ giới vừa có mang vác và mang vác hiện đại. Tuy nhiên trang bị cho quân đội những vũ khí, phương tiện ngày càng hiện đại là xu hướng tất yếu. Có một số loại vũ khí rất phù hợp với tổ chức lực lượng vũ trang ta, phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay, phù hợp với địa hình nước ta và cách đánh của ta. Khoa học kỹ thuật ngày nay đã giải quyết được nhiều mâu thuẫn trong bản thân chiến đấu mà trước kia chưa giải quyết được, thí dụ như: tên lửa chống tăng mang vác có điều khiển, tên lửa phòng không vác vai tự dẫn, pháo phản lực nhiều nòng và ít nòng,... Những loại vũ  khí này vừa nhẹ nhàng vừa có uy lực lớn, sức công phá mạnh lại có xác suất trúng cao. Những loại vũ khí này có thể trang bị cho cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Các loại súng phản lực vác vai có sức công phá lớn lại càng phù hợp với cách đánh gần của ba thứ quân, như B.40, B.41 và cao hơn B.41. Dân quân, tự vệ cũng có thể sử dụng cách loại súng này…


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:47:40 PM
        Trong chiến tranh nhân dân hiện đại, không quân là quân chủng có sức mạnh lớn. Nó có nhiều tính ưu việt cần phát huy đầy đủ như có sức cơ động cao, tốc độ lớn, tầm hoạt động xa, vừa có uy lực mạnh, hành động bất ngờ và khống chế được một không gian rộng. Ở địa hình rừng núi có thể tổ chức những đơn vị máy bay lên thẳng và máy bay lên thẳng vũ trang để làm đội dự bị, cơ động lực lượng, các đội chống tăng. Những đơn vị này có thể bất ngờ tác chiến vào sâu phía sau lưng địch; đồng thời vừa đột phá tiền duyên phòng ngự địch vừa đánh vào chiều sâu; vào phía sau đội hình phòng ngự của đối phương làm cho chúng phải đối phó ở khắp mọi nơi và không đâu được an toàn. Nghệ thuật quân sự hiện đại của chiến tranh nhân dân yêu cầu phát triển không quân một cách thích hợp. Vì bất cứ một quân chủng, binh chủng nào cũng cần phải có sự chi viện của không quân và hiệp đồng với không quân.
       
        Nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cũng dự báo trước những phát triển mới của đấu tranh vũ trang trên vùng biển và tác chiến bảo vệ hậu phương chiến lược. Điều đó đặt ra yêu cầu phát triển và hoàn thiện quân chủng hải quân và quân chủng phòng không.
       
        Có tổ chức, biên chế thích hợp thì sẽ phát huy được chất lượng của con người và vũ khí, kỹ thuật, biến sức mạnh của từng người và sức mạnh của vũ khí kỹ thuật thành sức mạnh tổng thể. Cần hết sức chú trọng tính thiết thực và tính hiệu quả của tổ chức, biên chế.
       
        Đối với dân quân, tự vệ, biên chế, tổ chức cần gắn liền với tổ chức sản xuất cơ sở, kết hợp huấn luyện với sản xuất một cách chặt chẽ linh hoạt và thiết thực. Chú trọng huấn luyện kỹ năng chiến đấu cơ bản và phương pháp tác chiến trên địa hình tại chỗ với trang bị hiện có; kết hợp lãnh đạo, chỉ huy dân quân, tự vệ với lãnh đạo chỉ huy sản xuất một cách hữu cơ… Quy mô tổ chức của bộ đội địa phương phải thích hợp với yêu cầu tác chiến của địa bàn. Bộ đội địa phương cũng tiến lên theo hướng hiện đại, vừa cần có khả năng đánh tập trung tốt, vừa cần có khả năng đánh độc lập của các đơn vị nhỏ tốt; thuần thục cả tác chiến phòng ngự và tiến công trên địa hình của địa phương trong các tình huống có thể xảy ra. Trong những hướng, tỉnh, thành phố quan trọng, tổ chức bộ đội địa phương phải đáp ứng yêu cầu tổ chức và thực hành những trận đánh lớn.
       
        Bộ đội chủ lực là tổ chức cao của lực lượng vũ trang nhân dân. Nó là những quả đấm mạnh để làm chuyển biến cục diện chiến trường, cục diện chiến tranh. Vấn đề đặt ra là, tổ chức nó như thế nào để phù hợp với nhiệm vụ mà nó đảm nhiệm, phù hợp với yêu cầu phát triển nghệ thuật quân sự của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
       
        Chiến tranh, cuối cùng là phải đánh lớn và đánh được mọi kẻ địch trong mọi loại hình tác chiến trong mọi hình thức chiến thuật. Tổ chức những binh đoàn bộ đội hợp thành như quân đoàn mới có khả năng độc lập mở những chiến dịch lớn, hay đảm nhiệm tác chiến ở một hướng chiến lược. Trong tác chiến, bộ đội chủ lực cần hình thành những tập đoàn chiến dịch và tập đoàn chiến lược, gồm nhiều quân đoàn, liên kết với nhau nhằm bảo đảm tổ chức các đòn chiến lược nối tiếp nhau, tạo nên thắng lợi dây chuyền, tiến tới đòn quyết chiến, giành thắng lợi quyết định và đánh bại những đòn chiến lược quyết định của địch.
       
        Sức mạnh chiến thắng của ta là sức mạnh của cả ba thứ quân trên cơ sở chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Vì ta là một nước nhỏ đánh với đội quân xâm lược của một nước lớn. Bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ cùng với nhân dân là cái nền cho bộ đội chủ lực tác chiến. Bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ tạo thế, đi đến tạo lực cho bộ đội chủ lực. Không có các thứ quân khác giam chân, phân tán, tiêu hao, tiêu diệt quân địch, thì bộ đội chủ lực không có ưu thế và không thể tự do hành động để đánh những đòn tập trung tiêu diệt lớn khi thời cơ xuất hiện, đánh tan, đánh bại quân địch cũng như làm phá sản các thủ đoạn, biện pháp tác chiến chiến lược của địch, đi đến kết thúc chiến tranh một cách trọn vẹn. Thí dụ như chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh…


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:51:23 PM
       
        Xác định cách đánh có hiệu lực cao:
       
        Đó là nghệ thuật tìm chọn và xác định phương pháp, thủ đoạn, mục tiêu, nhằm tập trung lực lượng để đánh chiếm và thực hiện tiêu diệt lớn, tiêu diệt gọn, đánh tan rã lớn, đánh bại quân địch, phá vỡ đội hình tác chiến của địch, phá vỡ ý định tác chiến của chúng. Cách đánh là lĩnh vực sáng tạo cụ thể, linh hoạt.
       
        Trong hoàn cảnh phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, ông cha ta đã vận dụng nhiều cách đánh hay, có hiệu quả cao. Chúng ta thấy nổi lên mấy nét lớn cần nghiên cứu phát huy trong điều kiện mới:
       
        - Chia địch ra, giam địch lại mà đánh: Khi xâm lược nước ta, địch thường dùng quân đông, vũ khí nhiều, tập trung ưu thế để đánh nhanh. Để thắng được giặc, ta thường phát huy khả năng tác chiến của ba thứ quân đánh địch ở khắp nơi, cả đằng trước mặt địch và đằng sau lưng địch, buộc địch phải chia lực lượng ra đối phó, muốn tập trung mà buộc phải phân tán và bị vây hãm, tiêu hao, suy nhược. Cuối cùng ta tập trung chủ lực đánh đòn tiêu diệt lớn. Như Trần Hưng Đạo nói: "Ta thì chụm, địch thì chia làm mười, thế mà lấy mười mà đánh một, thế thì quân ta nhiều mà quân địch ít"1.
       
        - Đánh hiểm: là đánh địch từ nhiều phía cả trước mặt, sau lưng, bên sườn và nhất là đánh vào nơi hiểm yếu trong đội hình tác chiến của địch. Đánh vào nơi hiểm yếu sẽ làm cho thế trận địch rung chuyển, tan vỡ, hoặc buộc phải phản ứng bị động, bộc lộ sơ hở để ta tập trung sức đánh đòn tiêu diệt lớn. Như Nguyễn Trãi nói: "Bỏ chỗ vững, đánh chỗ hở, tránh chỗ chắc, đánh chỗ hư, như thế thì sức dùng một nửa công được gấp đôi"2.
       
        - Đánh tiêu diệt: là tiêu diệt lớn và đánh tan rã lớn những đạo quân, những tập đoàn lực lượng chủ chốt của địch. Trong điều kiện nhỏ đánh lớn, ít đánh nhiều, phải đánh tiêu diệt mới chóng chuyển hóa được lực lượng ta, địch, tạo nên so sánh lực lượng có lợi cho ta: Đánh tiêu diệt là đánh cả vào thể xác và tinh thần quân địch, khiến chúng phải suy sụp nhanh. Có thể nêu lên vài thí dụ trong lịch sử như sau
       
        Lý Thường Kiệt đã chặn giữ 20 vạn quân Tống ở địa bàn bắc sông Như Nguyệt, chia cắt hai cánh quân thủy, bộ của chúng, quần cho chúng nhược rồi tổ chức đòn phản công chiến lược, đánh tiêu diệt, đánh tan đạo quân chủ chốt của giặc trên bộ.
       
        Trần Hưng Đạo đã đưa đạo quân Nguyên-Mông khổng lồ vào địa hình nhiều đầm lầy, sông ngòi, khiến sở trường tác chiến bằng kỵ binh của chúng không phát huy được mà còn bị vây hãm, tiêu hao đến nguy hiểm. Trần Hưng Đạo tiến hành vây hãm thủy trại Chương Dương, một điểm hiểm yếu trong thế trận giặc, buộc chúng phải đưa quân từ Thăng Long ra ứng cứu. Ta vừa tiêu diệt quân địch đi ứng cứu bằng cách đánh vận động; vừa lợi dụng sơ hở đánh úp thành Thăng Long, nơi tập trung quân của giặc và buộc giặc tan vỡ, tháo chạy.
       
        Đứng trước tình thế 15 vạn binh nhà Minh chia làm hai cánh ùn ùn kéo vào, với 10 vạn quân của Vương Thông trong nội địa sẵn sàng phản kích đón quân viện, Lê Lợi-Nguyễn Trãi đã hạ quyết tâm, tiến hành vây hãm quân Vương Thông; chặn giữ cánh quân Tây Bắc của Mộc Thạnh; tập trung lực lượng tiêu diệt cánh quân mạnh 10 vạn viện binh của Liễu Thăng trên hướng Đông Bắc là một thế hiểm để đánh. Cánh quân Liễu Thăng bị tiêu diệt, ta không phải đánh mà Mộc Thạnh phải rút quân, Vương Thông xin hàng.
       
        Quang Trung cùng một lúc bằng nhiều mũi, trên nhiều hướng bất ngờ tiến công vào toàn thế trận của quân Thanh, đánh thẳng vào Thăng Long, đầu não của địch, khiến địch không kịp trở tay, tan vỡ nhanh chóng.
       
        Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp ta đã kéo khối chủ lực cơ động của địch ra năm hướng cánh xa nhau, để tập trung sức tiêu diệt ở Điện Biên Phủ, buộc địch phải ký hiệp định đình chiến, giải phóng nửa nước. Cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã căng toàn bộ chủ lực địch ra hai đầu chiến tuyến, buộc địch phải sơ hở ở Tây Nguyên và ven biển miền Trung để ta tổ chức chiến dịch mở màn chắc thắng Buôn Ma Thuột, điểm yếu và hiểm yếu của cả chiến trường. Ta chiếm được Buôn Ma Thuột làm đảo lộn thế trận địch, dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền của chúng, v.v…
       
        Như vậy, nếu tập trung lực lượng chủ lực đánh trúng vào điểm hiểm yếu trong đội hình tác chiến của địch thì có thể từ sự thắng lợi mang ý nghĩa chiến thuật tạo nên hiệu quả về chiến dịch và tiến tới phá vỡ quân địch về chiến lược.

----------------
1. Trần Hưng Đạo. Binh thư yếu lược, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 218.

2. Nguyễn Trãi. Toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tr. 59.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:55:07 PM
       
        Xây dựng thế trận vững chắc, lợi hại:
       
        Xây dựng thế trận là một vấn đề cơ bản của nghệ thuật quân sự; một nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân hiện nay.
       
        Thế trận là hình thái bố trí lực lượng, tổ chức hệ thống trận địa, căn cứ và thiết bị chiến trường tạo ra điều kiện để lực lượng vũ trang nhân dân hành động theo đúng ý định của ta, hãm lực lượng của đối phương vào trạng thái và hình thái ta mong muốn. Trong quá trình chiến tranh, thế trận phản ánh thực chất và xu thế phát triển của sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân nói chung, của lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng.
       
        Thế trận của ta là thế trận chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Nó là sự liên kết hữu cơ giữa lực lượng chiến đấu của toàn dân và quân đội nhân dân, giữa chuẩn bị và thực hành tác chiến của dân quân, tự vệ ở từng làng bản, xí nghiệp, khu phố, cơ quan trường học với sự chuẩn bị và thực hành tác chiến của bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực trên từng hướng, từng địa bàn và trên phạm vi toàn quốc. Đó là thế trận làng, nước thế trận chiến tranh nhân dân trong cả nước.
       
        Lập thế trận là xác định và tìm ra biện pháp để các lực lượng của ta có vị trí đứng chân thích hợp, có nhiều điều kiện phát huy đầy đủ hiệu lực để hoàn thành nhiệm vụ tác chiến, có xu thế phát triển thuận lợi. Để lập thế trận vững chắc, cần nắm vững mấy vấn đề sau:
       
        - Trước hết, cần nắm vững tình hình địch, hiểu rõ và dự kiến sát đúng phương hướng, thủ đoạn tác chiến cụ thể của địch nếu xảy ra tác chiến trên từng địa bàn. Đó là điều kiện rất quan trọng để bố trí lực lượng và phương tiện, xác định đội hình tác chiến phù hợp nhất của ta, dự kiến các tình huống có thể xảy ra một cách đúng đắn và có dự kiến xử lý với từng tình huống. Có như vậy mới giành chủ động từ đầu.
       
        - Lập thế trận, ta luôn gắn với phương án dự kiến phá thế trận địch, thực hiện các yêu cầu về cách đánh của ta. Phải cài thế và tạo thế đánh được cả phía trước mặt, bên sườn và sau lưng địch; chia cắt, dàn mỏng đội hình tác chiến địch. Dự kiến những điểm yếu của đội hình địch, những tình huống sẽ diễn ra và tạo thành hình thế cài xen vào đội hình địch. Thế trận cài xen kẽ là một thế trận vô cùng lợi hại, thế trận đánh gần. Nó làm cho địch phải căng mỏng ra khắp nơi, phải phân tán khối lực lượng chủ lực, đông mà hóa ít và luôn luôn bị động. Còn ta thì tập trung và giữ được chủ động để tự do hành động; khối chủ lực của ta có thể chủ động tìm chỗ hiểm và đánh vào chỗ hiểm của địch. Một quân đội ít địch với một đội quân đông, nếu không có thế trận cài xen kẽ của chiến tranh nhân dân thì khó mà thắng được. Thế trận càng hiểm hóc thì tình huống diễn ra càng giản đơn, xử trí càng dễ dàng.
       
        - Cần vận dụng mưu kế trong lập thế. Tích cực vận dụng rộng rãi các thủ đoạn nghi binh lừa địch, khoét sâu mâu thuẫn của địch; dụ, nhử, điều động địch theo dự kiến của ta để tạo ra sơ hở của địch và đánh chúng ở địa bàn ta có thuận lợi hơn, ở nơi ta có chuẩn bị chắc.
       
        Cần giữ bí mật tuyệt đối các phương án của thế trận và thủ đoạn chuyển hóa thế trận của mình.
       
        Bất cứ loại đấu tranh nào cũng cần đến mưu kế. Mưu kế là suy nghĩ đầu tiên, là bước đầu của quyết tâm và kế hoạch. Ít địch nhiều, nhỏ thắng lớn thì yếu tố mưu kế càng quan trọng. Trong trăm ngàn mưu kế, cái hay nhất là nhử địch vào kế của ta.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:56:57 PM
       
        Tích cực tạo ra thời cơ và hành động kịp thời:
       
        Thời cơ là một yếu tố rất quan trọng của nghệ thuật quân sự. Hành động đúng thời cơ sẽ tạo được hiệu quả tác chiến lớn, giành và giữ được quyền chủ động trên chiến trường.
       
        Thời cơ là cơ hội thuận lợi nhất, tốt nhất, là tình huống chín muồi nhất diễn ra trong một thời điểm nhất định, trong một không gian nhất định. Trong thời điểm ấy tình hình cho ta những điều kiện thuận lợi nhất để hành động đạt hiệu quả cao. Nguyễn Trãi nói: "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy”1. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: "Lạc nước hai xe đành bỏ phí. được thời một tốt cũng thành công"2.
       
        Thời cơ không tự nhiên đến, mà do kết quả sự nỗ lực chủ quan của ta hành động phù hợp với quy luật và điều kiện khách quan tạo nên. Thời cơ trong tác chiến xuất hiện chủ yếu do thắng lợi của tác chiến, phản ánh sự thay đổi so sánh thế và lực ta, địch, có lợi cho ta. Vì vậy thời cơ có thể tạo ra trên cơ sở việc sử dụng đúng lực lượng, lập thế trận hiểm, điều hành chuyển hóa thế trận linh hoạt; thực hiện các yêu cầu của cách đánh và xử trí các tình huống diễn biến chính xác.
       
        Muốn hành động đúng thời cơ thì cơ quan lãnh đạo chỉ huy cần có khả năng phân tích tình hình, dự kiến được thời cơ, nắm đúng thời cơ khi nó xuất hiện trên cơ sở những dự kiến chính xác; đồng thời luôn luôn hình thành các phương án hành động; luôn nắm chắc thực lực, nhất là lực lượng dự bị và có hệ thống truyền tin thông suốt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là một mẫu mực về tạo, nắm thời cơ và hành động đúng thời cơ. Ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột là điểm đúng huyệt của thế trận chiến dịch, đồng thời cũng là đánh trúng nơi hiểm yếu của thế trận chiến lược địch. Vì vậy, sự bùng nổ chiến thuật đã tạo ra thời cơ cho ta hành động gây đột biến chiến dịch; sự đột biến chiến dịch lại tạo ra thời cơ để ta hành động phá vỡ chiến lược của địch trong một thời gian ngắn hơn dự kiến nhiều.
       
        Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc nắm thời cơ, hành động đúng thời cơ của thời kỳ đầu chiến tranh, nhất là những ngày đầu là rất quan trọng. Nếu ta nắm đúng ý định và hành động xâm lược của địch ngay từ lúc nó triển khai, thì ta có thể đánh trả kịp thời và có thể gây tác động lớn về chiến dịch hoặc chiến lược đối với địch.
       
        Cho nên cách đánh của ta là đánh bằng mưu và bằng thế, và nghệ thuật chiến thắng trong tác chiến của ta là nghệ thuật về kết hợp lực, thế và thời, nghệ thuật về sử dụng lực lượng, tạo thế trận, tạo ra thời cơ và hành động đúng thời cơ.
       
        Trước những điều kiện mới và trước sự phát triển rất cao của chiến tranh nhân dân hiện đại, nghệ thuật quân sự trên đây phải được hoàn thiện hơn nữa với chất lượng mới, phản ánh sức mạnh mới của chế độ xã hội chủ nghĩa, của nghệ thuật toàn dân đánh giặc, nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Điều đó đòi hỏi có sự góp sức nghiên cứu của nhiều người, nhiều cơ quan trên tất cả lĩnh vực có liên quan. Trước hết, xây dựng cho được hệ thống đồng bộ về lý luận và cơ chế tổ chức thực tiễn chuẩn bị cho toàn dân và cho lực lượng vũ trang những tiền đề vững chắc để nghiên cứu và vận dụng nghệ thuật quân sự với hiệu quả lớn nhất.
       
-----------------
1. Sách dẫn trên tr. 116-117.
2. Hồ Chí Minh. Nhật ký trong tù, NXB Phổ thông, Hà Nội, 1971, tr. 27.


Tiêu đề: Re: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quố
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 09:59:26 PM
        
MỤC LỤC
       
PHẦN THỨ NHẤT
        Di sản nghệ thuật quân sự của Tổ tiên
        
PHẦN THỨ HAI
        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
        
PHẦN THỨ BA
        Nghệ thuật quân sự trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ Quốc.           Nghệ thuật quân sự Việt Nam-truyền thống và hiện đại.
        Nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng.
        Nghệ thuật lập thế trận.
        Nghệ thuật chỉ huy tình huống.)
        Mưu kế và chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950.
        Về thế trận trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ.
        Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
        Vận dụng nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta vào việc xây dựng lực lượng vũ trang và Quốc phòng toàn dân.
        Tổ chức lực lượng nhìn từ nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
        
HẾT