Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 02:08:36 PM



Tiêu đề: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 02:08:36 PM
      
        - Tên sách : Một thời ở Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam
        - Nhà xuất bản : Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản : 2007
        - Số hóa : Giangtvx

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan-3.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan0002-2.jpg)



Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 06:52:58 PM
        
LỜI GIỚI THIỆU

        Tôi rất vui mừng và xúc động được cầm trên tay bản thảo cuốn sách tập hợp những ký ức của những đồng chí đã từng trực tiếp làm công tác đảng, công tác chính trị tại chiến trường Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên trong suốt cuộc kháng chiến chông Mỹ, cứu nước cho đên ngày toàn thắng.

        Với tâm huyết của người trong cuộc, các đồng chí đã ghi chép lại những kỷ niệm sâu sắc nhất của bản thân, của đồng chí đồng đội trong những ngày tháng đáng nhớ nhất. Cuốn sách viết về những sự thật lịch sử, những người thật, việc thật rất phong phú ở chiến trường với cách thể hiện chân thực, có chiều sâu khá hấp dẫn, từ đó toát lên những tình cảm sâu nặng ruột thịt Bắc - Nam, niềm lạc quan cách mạng và tình đồng chí, đồng đội trong những khó khăn gian khổ và ác liệt nhất.

        Đó là giá trị nổỉ bật của cuốn sách.

        Là một chiến sĩ trưởng thành trong các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị giữa chiến trường khói lửa B2, nên khi đọc cuốn sách, từng trang, từng bài đã cuốn hút tôi. Có thể nói rằng cuốn sách không chỉ phục vụ cho bạn đọc hôm nay mà còn rất cần cho các thế hệ mai sau. Chúng ta có thể tìm thấy ở đây bài học lớn và rất sâu sắc về việc xây dựng "quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ”, trong đó nổi bật là vai trò của Cục Chính trị B2 đã góp phần xứng đáng dấy lên phong trào “Dũng sĩ diệt Mỹ", sôi sục trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại.

        Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Cục Chính trị B2) có thế nói là Tiền phương của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trên một chiến trường giữ vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng.

        Tập sách này giúp chúng ta hiểu rõ hơn và nhớ lại những hình ảnh từ thuở ban đầu, nhớ những cán bộ chính trị của các đơn vị miền Nam tập kết ra Bắc được trở về Nam chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam đã được giao nhiệm vụ thành lập cơ quan chính trị đầu tiên của Ban Quân sự Miền (1961). Khi được Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền (1963) thì Tống cục Chính trị đã cử một số đông cán bộ của các cơ quan trong Tổng cục Chính trị như Tuyên huấn, Tổ chức, Cán bộ, Bảo vệ, Chính sách, Địch vận, cùng với số phóng viên báo chí, nhà văn, phóng viên quay phim, nhiếp ảnh, văn công... đi gấp vào Nam để sát cánh với các đồng chí tại chiến trường nhanh chóng xây dựng một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh của Cục Chính trị tại chiến trường B2.

        Nhớ lại và suy ngẫm, chúng ta hết sức tự hào về một thời kỳ vô cùng oanh liệt và rất tuyệt vời của dân tộc ta, của quân đội ta trong thế kỷ XX, đó là thời kỳ đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

        Với tình cảm của người chiến sĩ B2, tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách: "Một thời ở Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam (B2)" với các đồng chí và đông đảo bạn đọc.
                            
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2007        

Đại tướng LÊ VĂN DŨNG                          
Bí thư Trung ương Đảng                          
Chủ nhiệm Tổng cục Chính tri Quân đội nhân dân Việt Nam


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 06:58:07 PM
        
TRỞ VỀ NAM QUYẾT TÂM DIỆT THÙ
GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG

LÊ VĂN TƯỞNG        
       
        Nhận lệnh về Nam

        Học văn hóa được nửa năm, vừa học xong lớp 6/10, tôi và một số anh trong lớp học được Tổng cục Chính trị triệu tập dự hội nghị nghe phổ biến tình hình sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong hội nghị này còn có các anh Đào Sơn Tây, Trần Hải Phụng, Nguyễn Hoài Pho, Đỗ Vọng...

        Anh Ba Lê Duẩn phổ biến tình hình thời sự trong và ngoài nước, tình hình cách mạng miền Nam và sau đó phổ biến Nghị quyết 15: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân" và "theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân".

        Tiếp theo Nghị quyết 15, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam (chỉ thị ngày 31/l/1961).

        “Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng; ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh ở đô thị; tạo điều kiện và nắm mọi thời cơ chuẩn bị đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam".

        Tôi còn nghe anh Ba Duẩn nói:... "Đánh sao cho Mỹ đừng vào, nếu Mỹ vào nó có sức ỳ như tảng đá. Muốn bật được tảng đá ấy phải có cách xeo đúng chỗ yếu của nó giống như nông dân Đồng Tháp Mười xeo gốc tràm lụt vậy" Đại tướng Võ Nguyên Giáp vạch trần âm mưu phản bội Hiệp định Giơnevơ, phân tích ý đồ chiến lược của Mỹ - ngụy tại miền Nam Việt Nam.

        Anh Hoàng Văn Thái cũng đến dự và nói về "Biện chứng pháp quân sự" để trang bị thêm lý luận cho anh em.

        Được nghe phổ biến tình hình chung và Nghị quyết 15, anh em rất phấn khởi.

        Vài ngày sau, chúng tôi được Tổng cục Chính trị triệu tập Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chính thức phổ biến lệnh của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cho một số đồng chí về lại miền Nam chiến đấu (năm 1961, Trung tướng Song Hào thay Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).

        Tôi có nêu nguyện vọng xin trở lại tỉnh Tân An là chiến trường quen thuộc của tôi thời chống Pháp. Nhưng Trung tướng Song Hào nói: Quân ủy Trung ương dự kiến phân công anh về Nam làm công tác chính trị, tham gia công tác quản lý cán bộ về B2 chiến đấu và góp phần tổ chức các cán bộ khung cấp trung đoàn sắp tới nên anh không thể xin về Tân An được.

        Mấy bữa sau, chúng tôi đến bộ phận tổ chức của Tổng cục Chính trị để gửi lại Huân, Huy chương và làm thủ tục cần thiết.

        Đồng chí thiếu tá Ích hỏi tôi:

       - Được phân công về Nam chiến đấu, anh có ý nghĩ gì không? Bệnh đau khớp của anh đỡ chưa?

       Nghe anh Ích hỏi, tôi không hài lòng, nên nói với anh:

       - Anh đã biết tôi là người miền Nam, nay được lệnh về Nam chiến đấu mà lại hỏi như vậy, tôi không trả lời. Nếu anh hỏi, ngày mai có lên đường về Nam được không, thì tôi trả lời anh.

        Nhân đó, tôi cũng nói với anh: "Anh đừng nói tôi đau khớp nhé. Tôi đã hết đau rồi?" (thực tế lúc ấy, tôi vẫn thường xuyên mang băng bằng thun hai đầu gối).

        Đoàn Phương Đông vượt Trưởng Sơn vào Nam

        Trước ngày lên đường, đoàn họp tại Câu lạc bộ sĩ quan Bộ Tổng tham mưu. Anh Trần Văn Quang nêu ý kiến nên chọn cho đoàn một mật danh.

        Cán bộ trong đoàn đề xuất mật danh của đoàn là Đoàn Phương Đông nhằm ghi dấu sự kiện Liên Xô vừa phóng thành công tàu vũ trụ Phương Đông 1 đưa phi công vũ trụ Gagarin lần đầu tiên bay vào khoảng không vũ trụ (12/4/1961).

        Trước Đoàn Phương Đông đã có các đoàn cán bộ hồi hết vào Nam nhưng là đoàn ít người như đoàn anh Tăng Thiện Kim, đoàn anh Ba Trần, đoàn anh Phong Ba...

        Đặc biệt Đoàn Phương Đông có số lượng đông nhất, gần 600 người, đánh dấu bước ngoặt quan trọng. Quân ủy Trung ương chấp hành Nghị quyết 15, tổ chức cán bộ hồi kết quy mô lớn để phối hợp với cán bộ bám trụ miền Nam xây dựng cơ quan quân sự miền Nam và các quân khu, tổ chức các trung đoàn chủ lực đầu tiên đáp ứng tình hình cách mạng miền Nam theo nhận định của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:05:38 PM

        Bộ chỉ huy Đoàn Phương Đông gồm: - Thiếu tướng Trần Văn Quang - Trưởng đoàn.

        - Đại tá Trần Đình Xu - Tham mưu trưởng.

        - Thượng tá Lê Văn Tưởng - phụ trách chính trị.

        - Đồng chí Mười Kiên - phụ trách hậu cần.

        - Trung tá Lê Văn Xai - phụ trách thông tin liên lạc.

        Trước khi đi, Tổng cục Chính trị yêu cầu cán bộ chủ chốt đổi tên để giữ bí mật khi về Nam. Thường các anh chọn tên vợ hoặc tên con ghép với thứ hay họ của mình để thành tên mới (bí danh).

        - Anh Trần Đình Xu lấy tên mới là Ba Đình.

        - Anh Đào Sơn Tây là Tư Khanh.

        - Anh Nguyễn Văn Quảng là Năm Phòng.

        - Tôi, Lê Chân, lấy tên con trai đầu lòng của tôi.

        Trước ngày đoàn xuất phát, anh Quang phân công tôi vào Nghệ An, Hà Tĩnh bắt liên lạc với Tiểu đoàn tiền trạm của anh Hai Lâm (Lê Văn Nhỏ) để nhằm tổ chức cầu vượt sông Bến Hải. Tiểu đoàn anh Hai Lâm đi mở đường. Anh Hai Lâm cho biết chưa vượt qua Bến Hải được, mà đóng quân phía bờ bắc Bến Hải thì pháo phía Nam bắn qua chịu không nổi.

        Tôi về báo cáo lại chỉ huy đoàn, anh Quang báo lên Quân ủy và Bộ Quốc phòng để xin ý kiến.

        Bộ Quốc phòng lệnh cho đoàn mở hướng sang Lào. Do vậy đoàn chia làm mấy bộ phận nhỏ và lần lượt xuất phát.

        Đoàn chúng tôi rời Hà Nội ngày 7/5/1961. Tôi còn nhớ lúc xe đến Thanh Hóa nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát thanh liên tục các ca khúc kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Điệu nhạc, lời ca hùng tráng làm nức lòng các chiến sĩ mùa thu trên đường hồi kết, về lại chiến trường xưa. Ngủ lại Hà Tĩnh một đêm, sáng hôm sau xe đưa đoàn tiếp đến Quảng Bình. Tại đèo Mụ Giạ phía bắc Quảng Bình, sát biên giới Lào, đoàn chia làm nhiều toán bắt đầu đi bộ.

        Hôm dừng chân ở Lằng Khằng (thuộc tỉnh Khăm Muộn của Lào, ngang Quảng Bình), tôi liên lạc với đồng bào địa phương để mua một con heo cỏ. Ở đây đồng bào nuôi heo thả vào rừng và chỉ bán heo đực. Mặc dù hỏi kỹ như thế nhưng anh Ba Đình ngại vi phạm chính sách nên cự nự quá cỡ.

        Anh Tư Khanh vai bếp trưởng, Đoàn Hùng phụ đào gò mối làm lò quay. Củi rừng không thiếu. Anh Tư Khanh hỏi:

       - Sao anh Tưởng? Anh Ba Đình rầy rà quá?

       Tôi nói:

        - Không sao đâu, anh cứ nấu nướng, tôi hỏi kỹ rồi không vi phạm gì cả.

        Vậy mà nấu nướng xong, mời anh Ba Đình, anh vẫn không ăn.

        Đến Na Phi Lăng, đoàn nhận gạo tiếp tế từ máy bay thả xuống. Mỗi người vô đầy "ruột tượng" 5 kilôgam để ăn dần đến trạm kế tiếp. Lúc bấy giờ chưa có lương khô, mỗi người đi được cấp:

        - 1 kilôgam nước nắm cô đặc.

        - 1/2 kilôgam mì chính (bột ngọt).

        - 1 kilôgam đường cát.

        Đi cùng đoàn có bác sĩ, y tá và cơ số thuốc cần thiết dùng cho đoàn. Tôi còn mang theo tài liệu mật mã của Trung ương gửi vào Xứ ủy (nặng khoảng 1 kilôgam), anh Tư Khanh phụ trách mấy người mang tiền.

        Đoàn chia làm ba đoàn nhỏ (mỗi đoàn gồm hai đại đội). Tôi và anh Tư Khanh đi chung một đội.

       Anh Ba Đình đi chung với mấy anh dự kiến đi về các quân khu như các anh Đỗ Vọng, Nguyễn Hoài Pho, Nguyễn Văn Tư, Hải Phụng (Trần Lương)... Anh Tám Xai đi cùng nhóm thông tin liên lạc của anh.

        Đi sâu vào đất Lào thuộc tỉnh Xavẳnnakhẹt, thị trấn Mường Phìn vừa được bộ đội Lào giải phóng, một vài nơi cháy, khói còn lên nghi ngút.

        Hành trình của đoàn thật gian khổ vì đây là chuyến đi đông người đầu tiên, lương thực các trạm dọc đường cung cấp không đủ, bản thân anh em Ở trạm cũng thiếu, nhiều đoạn chưa thông, vừa trinh sát mở đường vừa đi. Từ Mường Phìn vượt qua ngọn đồi thấp, hôm sau vượt núi Pehai là núi cao nhất trong chặng này. Từ sáng sớm lên dốc đến khoảng 9 giờ, tôi mở đài nghe tin tức. Tôi kêu anh Tư Khanh vượt lên đi gần tôi để nghe tin tức và nghe Trần Khánh hát.

        Anh nói:

        - Ôi, leo mệt thấy mồ mà còn cố nghe hát càng thêm mệt! Một hôm tôi được bố trí ở nhà hai cha con ông cụ người Lào, có cô con gái độ chừng mười tám, mười chín tuổi.

        Ông cụ có cây gậy bằng tre rừng nhiều đốt, chỗ tay cầm cong tự nhiên rất đẹp; thật đắc dụng cho người lớn tuổi trèo đèo vượt suối.

        Nhân lúc thay quần áo sau khi tắm suối lên, tôi lấy chiếc quần ngắn ra dấu xin đổi cây gậy.

        Ông cụ hiểu ý lại lấy cây gậy trao cho tôi và nhận cái quần ngắn ra vẻ thích thú.

        Trong lúc tôi chải tóc, cô gái đứng nép bên vách nhìn theo hình như lạ lắm. Tôi đưa chiếc lược cho cô và ra dấu bảo cô chải tóc của cô. Cô gái làm theo tỏ ra vui mừng. Tôi tặng luôn cho cô chiếc lược.

        Cây gậy Trường Sơn năm ấy tôi vẫn giữ kề bên mình cho đến bây giờ. Tre rừng lên nước vàng óng, cây gậy là kỷ vật của thời vượt Trường Sơn gian khổ hào hùng, nhìn gậy lại nhớ đến hai cha con cụ già người Lào tốt bụng năm xưa.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:06:53 PM
        Đường đi quanh co theo địa thế thiên nhiên, khi lên cao, lúc xuống thấp, trạm bố trí dọc đường đi những chỗ có suối để lấy nước dùng trong sinh hoạt thường ngày.

        Sông Xê Băng Hiêng rộng mà không sâu lắm, đến huyện ly Xê Pôn chia làm hai nhánh: nhánh hướng lên đông bắc trên đất Lào ngang vùng Bến Hải (Quảng Trị); nhánh đông nam xuôi về tây bắc Khe Sanh.

        Ở sông Xê Băng Hiêng có mấy chiếc thuyền độc mộc đủ sức chở chín đến mười người, đồng bào hỗ trợ đoàn qua sông, nhất là bộ phận thông tin, bộ phận vũ khí.

        Đã vào mùa mưa hơn một tháng, măng le và măng tre rừng có nhiều (loại tre rừag không gai, dao lóng, giống như cây luồng ngoài Bắc hoặc tre lục bình trong Nam).

        Rau rừng và măng là nguồn lương thực thiên nhiên góp phần đắc lực nuôi sống bộ đội Trường Sơn mọi thời kỳ.

        Sông Xê Mang Khang hẹp hơn sông Xê Băng Hiêng, rộng chừng vài mươi mét. Bình thường dân có thể đi qua được nhưng lúc đoàn đến đây phía trên nguồn có mưa lớn nên nước tràn về, dâng cao. Anh em ở trạm có đi thuê giùm voi để giúp thồ hàng qua sông nhưng nước hơi sâu và chảy xiết giữa các gộp đá ngầm nên voi không đi được.

        Cuối cùng anh em công binh dùng dây dù cột vào dây mây rừng để lội kéo qua dòng nước chảy xiết, cột hai đầu dây vào gốc cây ở hai bên bờ để giúp anh em nương theo lúc lội qua sông.

        Anh Năm Phòng quê Ở Vĩnh Cửu (Đồng Nai) không biết bơi nên cẩn thận lột dép xâu lại rồi quàng lên cổ lúc nương theo dây vượt qua sông (Năm Phòng tức Nguyễn Văn Quảng sau này là Chính ủy Sư đoàn 9, Phó chính ủy Quân khu 8, Tư lệnh Quân đoàn 4). Anh Tám Xai ỷ mình biết lội, đủ sức "qua cầu"' nên cứ để nguyên dép qua sông. Rủi cho anh, nửa chừng trượt chân thế nào đó mất chiếc dép bên chân trái.

        Bên này sông anh Tám Xai cười, chọc anh Năm Phòng là "cục đá miền Đông", ngầm ý rớt đâu cũng chìm.

        Sang bên kia sông, Tám Xai xé ống quần quấn bàn chân thay dép. Năm Phòng nói:

        - Ngày xưa cô Tấm quê mùa nhưng ăn Ở hiền lành, nên rủi mất chiếc giày mà duyên may trở thành hoàng hậu. Thời nay giữa Trường Sơn thơ mộng, anh Tám mất dép trở thành thủ lĩnh "Đại cái bang!".

        Anh Tám trừng mắt nhìn Năm Phòng nói:

        - Mày cười trên đau khổ của tao hả mậy!

        - Anh em cười ồ, quên cái vất vả lúc vượt sông.

        Đến trạm liền kế, Năm Phòng ngoại giao với anh em xin cho Tám Xai đôi dép khác. Không rõ Tám Xai có nối lại cái ống quần đã xé không?

        Nhân nói về anh Tám Xai và anh Năm Phòng, lại nhớ thêm câu chuyện "tiền trảm hậu tấư".

        Hôm đến A Roi, tây bắc tỉnh Quảng Nam, con ngựa trợ chân của anh Quang thiếu ăn, thiếu chăm sóc, ốm đi không nổi. Người xưa nói "Trường đồ tri mã lực" (đường dài mới biết sức ngựa). Lẽ thông thường là như vậy nhưng hành trình vượt Trường Sơn thật gian lao, lương thực dành cho người còn không đủ thì lấy đâu bồi dưỡng cho ngưa. Điều kiện hành quân lại khẩn trương không có thì giờ chăm sóc nên trong trường hợp này, sức chịu đựng của ngựa không kham nổi. Không còn cách nào khác, Tám Xai và Năm Phòng quyết định "tiền trảm hậu tấư' vì lúc đó anh Quang đã vượt trước, không chung một cung đường.

        Chiều hôm ấy, Năm Phòng đến chỗ anh Quang. Năm Phòng kể:

        "Anh đang ngồi nghỉ trên nhà sàn cạnh bếp hun muỗi, râu ria xanh rì, có lẽ mấy ngày không cạo, chân lại sưng to vì bị rắn lục chạm. Mặt rám nắng, sạm đen, trông anh tôi liên tưởng đến các vị "Hảo hán Lương Sơn Bạc" trong truyện Thủy hử. Vừa thấy tôi (Năm Phòng) anh nói:

       - To gan! Sao dám xẻ thịt con ngựa của tớ!

        Tôi nói:

        - Thưa anh, tôi đến để báo cáo với anh đây, nhưng ai lại nhanh hơn "người trong cuộc" báo với anh sớm vậy?

        Anh Quang nói:

        - Là thủ lĩnh mọi chuyện xảy ra đều phải biết chứ? Này, đến báo cáo mà có đem thịt ngưa theo không đấy?!

        - Thưa anh, "tang chứng, vật chứng" có đầy đủ đây ạ!".

        Trong bài viết "Đoàn Phương Đông vào Nam" anh Quang kể:

        "Đúng ngày kỷ niệm Điện Biên Phủ 7/5 (1961), chúng tôi lên đường... Sau 2 ngày đi ô tô đến đèo Mụ Giạ, đoàn chia làm nhiều bộ phận bắt đầu đi bộ. Khi đi trên đất ta, lúc đi trên đất Lào, Campuchia với rất nhiều gian nan, vất vả. Hầu hết trang bị mang theo mọi người đều vất bỏ, chỉ giừ lại bốn thứ: bao gạo, bi đông nước, bật lửa, vũ khí.

        Khổ nhất là cái đói. Các trạm giao liên mới triển khai có trạm chỉ cấp gạo hoặc sắn cho chúng tôi đủ ăn một hai ngày đường, có trạm lo ăn cho bản thân chưa đủ lấy gì cấp cho đoàn.

        Một lần, đoàn nghỉ trưa ở một bản dân tộc Giá Rai ở ngã ba biên giới Việt - Lào - Campuchia. Anh em mang cơm nắm ra ăn. Theo phép lịch sự, tôi mời gia đình cùng ăn. Họ ăn thật? Chúng tôi đành ôm nhau ngủ, chịu đói. Ông chủ nhà tinh ý, vác cần câu chạy ra suối, câu được hơn một chục con cá, ông nướng cá kêu chúng tôi dậy, bảo: "Cá đây, chúng mày ăn đi". Sau đó nhà còn ít sắn khô, ông vét hết bắt chúng tôi nhận.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:07:36 PM
        Đến trạm giao liên Đắc Trưng, quá mệt mỏi tôi đề nghị trạm cho nghỉ vài ngày. Trạm chỉ có gạo cấp cho chúng tôi đi đường, còn ở lại thì chỉ có sắn. Sắn rất nhiều. Anh em tha hồ đào sắn để nướng, để luộc.., lại được trạm cho hai con trâu giết thịt bồi dưỡng. Thế là hết người này đến người khác nằm la liệt vì bị say sắn, bị "Tào tháo đuổi", bị sốt rét ập đến... Vài ngày sau đoàn lên đường vào Kon Tum, đành để lại gần 50 người đi sau.

        Từ Kon Tum trở vào, đoàn chia làm hai bộ phận: Một số theo đường 14 đi về phía tây thẳng vào Nam Bộ. Tôi (Trần Văn Quang) và gần chục đồng chí đi về hướng đông, vừa đi vừa làm việc với lãnh đạo Lâm Đồng và Khu 6.

        Căn cứ của các khu đều nằm ở trong rừng sâu núi cao, khí hậu khắc nghiệt, nước lạnh buốt, anh em hàng tháng mới xuống núi tắm một hai lần...

        Đoàn anh Quang được trạm Đắc Trưng chiêu đãi, bồi dưỡng nên được ăn thịt trâu miễn phí, ngược lại đoàn của tôi (Lệ Văn Tưởng) và Tư Khanh mua trâu của dân, trả tiền đàng hoàng nhưng chẳng ăn được miếng thịt nào...

        Số là hôm đến tây Lâm Đồng, anh em trong đoàn nhờ ông trưởng trạm tên là Ma Thân mua giùm một con trâu trong đàn trâu do dân nuôi thả lan ở rừng với giá 2.000 đồng - dân giúp bắt trâu và cột néo vào gốc cây ven rừng. Con trâu to và khá hung hăng.

        Ông trưởng trạm rất khó tính, anh em trong đoàn nói mãi ông mới đồng ý cho bắn hai phát súng để hạ con trâu.

        Ba cán bộ tác chiến đều là xạ thủ có hạng ở sư đoàn, anh nào cũng muốn ra tay nhưng tự dàn xếp với nhau, cuối cùng đồng chí Xuyến được giao nhiệm vụ xạ thủ.

        Anh Tư Đức phụ trách tài vụ trong đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ cùng mấy cậu nữa đi mua trâu về xẻ thịt.

        Tôi và anh Tư Khanh nằm đợi, tưởng tượng các món thịt trâu nướng, thịt trâu xáo măng, ăn một ít, một ít dành đi đường!

        Nằm đợi mỏi mòn, tranh thủ chợp mắt chốc lát để sáng sớm lên đường. Đến hai giờ sáng anh Tư Đức về báo lại: cậu xuyến bắn không trúng vào đầu con trâu mà trượt vào bả vai, con trâu lồng lên, bứt dây chạy vào rừng tìm mãi không bắt lại được.., giờ không biết tính sao! (vì đã trả tiền và bắn trâu bị thương).

        Thấy gương mặt anh Tư Đức ỉu xìu tôi nói: "Người ta giao trâu cho mình, giúp cột trâu vào gốc cây coi như việc bán trâu đã xong rồi, mình bắn không chết, làm trâu bị thương chạy mất thì mình chịu chứ chẳng lẽ đòi tiền lại à?!

        Thế mới biết, cái gì vào đến bụng rồi mới chắc ăn là vậy!

        Đoàn anh Hai Bứa vào sau, tìm gặp chúng tôi anh kể: "Con trâu đoàn anh mua bắn bị thương chạy vào rừng, trạm tìm bắt lại được vào giao cho chúng tôi (đoàn Hai Bứa) xẻ thịt - ông trưởng trạm cho biết đoàn các anh trả tiền rồi nên ông không nhận nữa và bảo chúng tôi tìm các anh để hoàn số tiền 2.000 đồng”.

        Thời ấy cán bộ, chiến sĩ thật trung thực, trong sáng, rất đáng quý.

        Cũng từ cung đường này trở vào, lương thực mỗi ngày thêm khó khăn. Anh em phải ăn độn rau rừng, măng tre. Măng tre rừng ăn dễ say, phải luộc bỏ nước đầu. Theo kinh nghiệm của người đi trước, say măng có thể uống mật ong hoặc thuốc Bl với đường cát để giải độc.

        Đồng bào miền cao thường trồng mè bao quanh nương rẫy vì mè thường có sâu, voi rừng thấy sâu rất sợ nên không dám càn vào rẫy phá hoại. Thời kháng chiến chống Pháp tôi tham gia khóa đào tạo đại đội trưởng tại miền Đông nên biết điều này. Cần vụ của anh Đào Sơn Tây và anh Tư Thành lựa rau không kỹ còn sót lá mè báo hại mấy anh bị "Tào Tháo đuổi" ngủ không được.

        Đến trạm Phước Long do anh Hai Phong (Hai Nghỉ) phụ trách. Trạm cũng hết gạo nên mỗi đại đội chỉ được phát 90 lon vét bồ nấu ăn đỡ đói, anh em được phát thêm trái bắp khô loại để giống, phải ngâm nước rồi ăn dặm thêm chống đói.

        Trong khi tôi và anh Ba Đình vào làm việc với Tỉnh ủy Phước Long thì anh Năm Phòng và một số anh em khác trong đoàn tổ chức tiệc trà mừng đã tới được miền Nam. Anh Năm Phòng đề nghị tất cả hướng về miền Bắc cảm ơn đồng bào đã nuôi dưỡng sáu, bảy năm qua. Tôi ít hút thuốc nên còn để dành được hai bao thuốc Thăng Long cùng góp vào tiệc trà. Thời điểm ấy mà được uống trà Ba Đình, hút thuốc Thủ đô, Thăng Long thì tuyệt vời, anh em tạm quên cái đói khi vừa về tới địa đầu Nam Bộ.

        Trong bài viết "Đoàn Phương Đông vào Nam" do anh Trần Văn Quang kể, Văn Thành ghi có đoạn:

        "Ngày 27 tháng 8 năm 1961 bộ phận cùng đi với tôi vào đến Nam Bộ, tiếp đến là những anh khác. Cuối năm 1961, người cuối cùng của Đoàn Phương Đông mới vào đến cà Mau...".


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:08:14 PM

*

*         *

        "Trong khi chờ Hội nghị Trung ương Cục, anh Linh giao cho tôi (Trần Văn Quang) cùng với anh Ba Bường, anh Hai Xô triển khai gấp cơ quan lãnh đạo, chỉ huy (về quân sự) của Trung ương Cục, tuyển tân binh để thành lập hai trung đoàn chủ lực của Miền, chuẩn bị điều kiện đẩy mạnh hoạt động đấu tranh vũ trang của Miền với quy mô lớn".

        Đoàn Phương Đông vào đến đồi 300 chiến khu Đ, căn cứ của Xứ ủy nghỉ dưỡng khoảng hai tuần. Lúc này lương thực đang thiếu, ăn cháo thường xuyên, có hôm phải ăn rau rừng đỡ đói. Anh Hai Xô (Hai Già) là ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Trung ương Cục phụ trách hội đồng cung cấp (hậu cần) cho Xứ ủy nỗ lực rất lớn để giải quyết lương thực cho bộ đội. Tiêu chuẩn 6 kilôgam gạo/tháng/người.

        Những ngày ở đây tôi và bác sĩ Khiết dù đang bệnh cũng tham gia đi Đất Cuốc tải gạo về căn cứ. Dịp này bảo vệ có bắn được con voi xẻ thịt ăn mấy ngày. Thịt voi lành, đang đói như thế mà ăn thịt voi no vẫn không hề gì.

        Cầu Mã Đà là một cây rừng to, dài mười mấy mét, nằm vắt ngang qua suối Mã Đà, có hôm đói bụng đi qua cầu run chân, tôi và anh Khiết phải nương nhau qua cầu.

        Xứ ủy mở hội nghị để phổ biến tình hình cách mạng miền Nam, cán bộ chủ chốt Xứ ủy và các quân khu về dự. Thời điểm này chuẩn bị đổi Xứ ủy thành Trung ương Cục.

        Trước khi về Nam, cán bộ phụ trách Đoàn Phương Đông được Trung ương dặn dò: Khi vào Nam, thực tế cần gì báo ra Trung ương giải quyết.

        Chính vì vậy, khi dự hội nghị Xứ ủy, tôi và anh Ba Đình có phát biểu lặp lại ý này. Không ngờ gặp phản ứng của vài anh bám trụ trong này. Phản ứng vì lẽ trước đây, đôi lần các anh có đề đạt yêu cầu xin cấp vũ khí thích hợp để giải quyết chiến trường nhưng cấp trên chưa đồng ý. Nay nghe chúng tôi phát biểu như trên, các anh không hài lòng.

        Sau hội nghị anh Quang họp đoàn và nhắc nhở chúng tôi: Từ nay các anh không được nói những điều chưa biết chắc chắn, điều quan trọng là phải nắm chắc tình hình tại chỗ, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của anh em, nhất là tại các quân khu, tại các chiến trường trọng điểm.

        Lúc này anh Ba Đình được phân công phụ trách cơ quan tham mưu của Ban Quân sự Xứ ủy, tôi phụ trách chính trị. Anh Tư Khanh phụ trách hậu cần. Các anh Nguyễn Văn Tư về Quân khu 7, anh Đỗ Vọng về Quân khu 8, anh Nguyễn Hoài Pho về Quân khu 9, anh Trần Hải Phụng, anh Ngọc Lộc về Khu Sài Gòn - Gia Định (T4).

        Cùng về Phòng Chính trị của Ban Quân sự Xứ ủy với tôi có các anh:

        - Tư Thành phụ trách tuyên huấn Phòng Chính trị.

        - Năm Phòng phụ trách cán bộ.

        - Ba Đoàn (Đoàn Cẩm Thính) phụ trách tổ chức.

        - Đoàn Hùng phụ trách bảo vệ.

        Từ tháng 10 năm 1961, thực hiện ý kiến chỉ đạo của anh Quang, tôi phân công cán bộ Phòng Chính trị về Khu 7 và T4 (Sài Gòn - Gia Định) đi xuống chiến trường để tìm hiểu tình hình cụ thể.

        Trước đó, giữa tháng 9 năm 1961, lực lượng vũ trang Quân khu 7 đánh tiêu diệt tiểu khu Phước Thành của thiếu tá tỉnh trưởng Nguyễn Minh Mẫn đã tạo không khí phấn khởi toàn quân khu. Thắng lợi quân sự này càng có ý nghĩa lịch sử khi Trung ương Cục vừa thành lập và lần đầu tiên xóa sổ hẳn một tỉnh trong hệ thống ngụy quyền miền Nam.

        Anh Quang phân công tôi cùng các anh trong Phòng Chính trị đi dự hội nghị đánh giá chiến thắng Phước Thành.

        Dịp này tôi gặp các cán bộ chủ chốt trụ lại tại miền Đông như các anh Mai Chí Thọ, anh Hai Phong. Bấy giờ anh Mai Chí Thọ là Bí thư Phân khu ủy miền Đông, anh Tám Xuyến là Tư lệnh, anh Hai Phong là Tham mưu trưởng, anh Tư Việt Hồng là Chính ủy.

        Tham gia một số hoạt động có tính chiến lược đốí với lực lượng vũ trang giải phóng

        Tổ chức hội nghị về công tác đảng, công tác chính trị đối với lực lượng vũ trang giải phóng.

        Từ tháng 10 năm 1961, sau khi có ý kiến chỉ đạo của anh Trần Văn Quang - Phó trưởng ban quân sự Xứ ủy, cán bộ của Phòng Chính trị được phân công đi xuống các quân khu, các chiến trường trọng điểm để nắm tình hình.

        Anh em đi chiến trường về, kết hợp tình hình thực tế nắm được và dựa vào tài liệu từ Bắc mang vào về đường lối cách mạng Việt Nam, tình hình cách mạng miền Nam để xây dựng "Đề cương công tác đảng, công tác chính trị, trong Quân giải phóng" (cơ sở là Nghị quyết 15 và chỉ thị của Bộ Chính trị về nhiệm vụ trước mắt của cách ínạng miền Nam tháng 1 năm 1961).


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:09:03 PM
        Nội dung đề cương gồm một số ý chính:

        + Tổ chức bộ máy đảm nhận công tác chính trị trong lực lượng vũ trang Miền và các quân khu.

        Phương châm tư tưởng.

        - Xây dựng tư tưởng giai cấp công nhân.

        - Xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ.

        - Chống tư tưởng tư sản, phong kiến, địa chủ.

        - Chống ảnh hưởng tiểu tư sản.

        - Tranh thủ tiểu tư sản tiến bộ và địa chủ kháng chiến...

        Lúc này, cơ quan Trung ương Cục chuyển về Lò Gò - xóm Giữa (tỉnh Tây Ninh).

        Tôi xin ý kiến anh Hai Hậu (Trần Nam Trung), Thường vụ Trung ương Cục, tổ chức hội nghị về công tác đảng, công tác chính trị đối với Quân giải phóng (Hội nghị cấp Miền, các quân khu về dự).

        Phân công anh Tư Thành phụ trách tuyên huấn của Phòng Chính trị sang trình bày với anh Hai Văn (Phan Văn Đáng), Thường vụ Trung ương Cục phụ trách tổ chức giáo dục xin thông qua nội dung đề cương sẽ triển khai học tập trong hội nghị.

        Anh Tư Thành báo cáo với Thường vụ Trung ương Cục một buổi, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục góp ý về quan điểm tranh thủ các thành phần trí thức tiểu tư sản và địa chủ tiến bộ vì Trung ương Cục đang chủ trương củng cố mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Để có thêm cơ sở hoàn chỉnh cho Đề cương công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, những tháng đầu năm 1962, cán bộ Phòng Chính trị tiếp tục đi xuống các chiến trường trọng điểm để nắm bắt tình hình thực tế và ghi nhận tâm tư tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, số cán bộ còn lại tập trung lo chuẩn bị Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam lần thứ nhất.

        Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được tổ chức từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1962, có khoảng 100 đại biểu đủ mọi thành phần xã hội tôn giáo, dân tộc về dự.

        Sau đại hội, Đề cương công tác đảng, công tác chính trị lại được báo cáo với Thường vụ Trung ương Cục. Sau khi nghe đầy đủ đề cương, anh Hai Văn nói:

       - Theo đề cương này thì không những cánh quân sự học mà tất cả cán bộ, chiến sĩ các cơ quan của Miền cũng tham gia học.

        Anh Hai Văn hỏi thêm:

        - Tài liệu có sẵn hay các anh tự biên soạn?

        Anh Tư Thành trả lời:

        - Căn cứ vào tài liệu từ Bắc mang vào kết hợp tình hình thực tế trong đợt thâm nhập chiến trường.

        Anh Tư Thành về báo lại; Thường vụ Trung ương Cục đồng ý thông qua Đề cương công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, đồng ý cho tổ chức hội nghị.

        Giao Phòng Chính trị in tài liệu học tập cung cấp đủ cho đại biểu tham dự hội nghị.

        Khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1962, lần đầu tiên cấp Miền tổ chức Hội nghị về công tác đảng, công tác chính trị đối với lực lượng vũ trang. Đại biểu các quân khu 6, 7, 8, 9 và Khu Sài Gòn - Gia Định đều về dự.

        Hội nghị được tổ chức tại Trường Huấn luyện tân binh Nam Bộ ở Lò Gò, chiến khu Dương Minh Châu. Chỗ này thời chống Pháp là căn cứ của chị Năm Bi (tức Hồ Thị Bi). Hội trường làm bằng cây rừng, lợp lá trung quân dưới tán những cây dầu, cây dó rợp bóng mát.

        Văn nghệ phục vụ lớp học cũng chỉ là kể chuyện vui trong chiến đấu, chuyện tiếu lâm hò lờ đối đáp. Anh em dự hội nghị còn nhớ đồng chí Tám Tùng, nguyên Chính ủy bộ đội Tây Đô và đồng chí Ngọc Lộc, Chủ nhiệm Chính trị Khu Sài Gòn - Gia Định giúp vui bằng hoạt cảnh "Trâu chém lộn". Chân quê vậy thôi mà cả hội trường cười đến nôn cả ruột. Lúc bấy giờ văn công chuyên nghiệp và điện ảnh còn "mỏng lắm".

        Hội nghị đạt kết quả tốt, phát huy được tác dụng trên chiến trường. Cán bộ chính trị trong Quân giải phóng được củng cố thêm lập trường tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác.

        Khoảng tháng 2, tháng 3 năm 1963, thực hiện chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Cục, Phòng Chính trị Miền mở đợt chỉnh huấn cho các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần theo Đề cương công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang như ý kiến của anh Hai Văn lúc thông qua đề cương.

        Cán bộ ba cơ quan trên lần lượt dự các đợt tập huấn do đồng chí Tư Thành, Trưởng ban Tuyên huấn Phòng Chính trị Miền báo cáo, tôi góp phần giải đáp thắc mắc hoặc giải thích mở rộng thêm trong các buổi học...


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:10:20 PM
     
CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN[

Đại tướng LÊ VĂN DŨNG        

        - Dạ, thưa cô Ba, con định chuyến nay xin cô Ba cho con nhập ngũ vô bộ đội chủ lực.

        Cô Ba nhìn tôi ái ngại, nói:

        - Coi bộ mày nhỏ con quá đi bộ đội sao được.

        Tôi nhìn cô Ba, rồi nói cứng:

        - Nhỏ thì con làm việc nhỏ. Bộ đội thiếu gì việc, cô Ba. Rồi con cũng sẽ lớn chứ bộ.

        Cô Ba là Bí thư chi bộ xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre quê tôi. Hồi đồng khởi, mọi người gọi là cô Ba Thắng (trong tập thể chi ủy: Đồng, Tâm, Cường, Quyết, Thắng). Cô là chi ủy viên đảm trách phụ vận cùng đội quân tóc dài Phong Mỹ nổi dậy nhập vô đội quân của bà Định làm kẻ địch run sợ. Rồi những năm sau đồng khởi cô vẫn chỉ huy chị em phụ nữ bí mật kéo lên thị xã, bất ngờ giương cờ, biểu ngữ, biểu tình chống Mỹ - Diệm. Vậy mà bây giờ, đứng trước mặt tôi là một cô Ba hiền hậu như một người mẹ.

         Người Giồng Trôm quê tôi nghèo lắm, bởi đồng chua nước mặn. Diện tích canh tác thì ít, dân số lại đông. Vì bát gạo làm ra không đủ nuôi sống, nên thường phải chống xuồng đi làm thuê, làm mướn. Có người kiếm được chén gạo, củ mì mang về nuôi vợ, nuôi con; cũng không ít người bị chìm xuồng rồi bỏ xác. Cậu tôi, ông Lê Văn Chắc và anh Nguyễn Văn Điển con bác Năm tôi cũng tha phương cầu thực mãi Long An, Bạc Liêu để kiếm sống, rồi cũng gửi xác quê người. Tía tôi làm tá điền cho địa chủ, sau này thoát khỏi cảnh làm thuê và mua được ít ruộng. Cái nghèo cứ đeo đẳng mãi suốt đời người dân quê tôi. Nhưng hễ nói đến Mỹ - Diệm thì hầu hết ai cũng thù ghét, ai cũng muốn tham gia việc gì đó cho cách mạng để góp phần đánh đuổi bọn xâm lược.

        Ngày 1 tháng 1 năm 1963, chiến thắng Ấp Bắc vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước. Ở Nam Bộ dấy lên phong trào "Thi đua với ấp Bắc giết giặc lập công" và phát động thanh niên lên đường nhập ngũ. Không khí tòng quân ở Bến Tre như một cơn lốc cuốn hút, thôi thúc tôi tham gia vào quân đội.

        Ngày tuyển quân ở Giồng Trôm thật nô nức. Thanh niên đến tuổi trưởng thành kéo nhau đi khám tuyển. Tôi chỉ cân nặng được 38 cân, nhưng bù lại mọi tiêu chuẩn khác tôi đầy đủ, nên vẫn trúng tuyển. Tôi về khoe ngay với cô Ba:

        - Cô Ba nè, con được đi bộ đội rồi đó. Vậy mà cô Ba chê con nhỏ thó.

        Tôi kể cho cô Ba chuyện ở nơi khám tuyển, chuyện anh cán bộ tuyển quân phỏng vấnlamf tôi hồi hộp quá:

        - Đi bộ đội là gian khổ lắm đó, có khi còn hy sanh cả tính mạng. Mà đi là tuốt luốt luôn, hổng có được về nhà đâu nghen.

        Tôi trả lời:

        - Dạ thưa, tui xác định đi là đi. Các đồng chí đừng lo tui bỏ trốn. Khổ mấy tui cũng ráng chịu. Ở nhà tui chỉ còn ông già và đứa em gái. Tui hứa với các đồng chí là tui sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

        Thế là hàng dừa xanh nghiêng mình bên dòng kinh xanh, mái nhà lá đơn sơ nép mình dưới bóng lá của quê hương Phong Mỹ xa dần.., bao thân thương, bao kỷ niệm tuổi thơ của tôi gửi lại. Trước mặt là con đường cách mạng đầy chông gai gian khó đang chờ tôi phía trước. Hồi đó tôi chỉ nghĩ đi bộ đội tham gia cách mạng để giết giặc giải phóng quê hương, rồi về làm ăn chứ đâu có ngờ 5 năm sau (1968) tôi trở thành cán bộ chính trị quân đội, để rồi hơn 30 năm sau nữa Đảng trao cho tôi nhiệm vụ nặng nề: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Tôi được bổ sung vào tiểu đội trinh sát bộ binh, đến đầu năm 1964 được cử làm tổ trưởng, năm 1965 được giao tiểu đội phó, rồi tiểu đội trưởng. Tháng 9 năm 1965 sau một thời gian rèn luyện, chiến đấu tôi được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam. Cuối năm 1965, khi tiểu đội trinh sát rút lên tiểu đoàn, tôi ở lại làm tổ trưởng tổ liên lạc đại đội. Sang đầu năm 1966 tôi được bổ nhiệm đại đội phó đại đội 12 tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:10:52 PM
        Đầu năm 1968 đơn vị "xuống đường" đợt một, tôi bị thương phải đi bệnh viện điều trị. Sau khi ra viện lại tiếp tục về đơn vị cũ chiến đấu. Nhưng làn bị thương sau của đợt "xuống đường" đợt hai nặng hơn, nên mãi đầu tháng 5 năm 1968 mới xuất viện. Trở về thì ban chỉ huy đại đội 12 đã được klện toàn đầy đủ. Tiểu đoàn xếp tạm cho tôi làm chính trị viên phó 2 của đại đội. Hồi đó tôi cũng nghĩ, đây chỉ là nhiệm vụ tạm thời để rồi khi có điều kiện lại trở về vị trí đại đội phó, chứ tôi nào có biết làm cán bộ chính trị.

        Những năm sau này, khi đã là cán bộ chính trị thực sự, nghĩ lại sự kiện trên tôi cho rằng lẽ nào là cái duyên, cái cớ để cấp trên chuyển tôi sang chính thức làm cán bộ chính trị. Và đúng như vậy, tôi nhớ mãi vào một ngày cuối tháng 6 năm 1968, nhân một cuộc chỉnh huấn chính trị tại trung đoàn, trong một căn lán nhỏ ở rừng sâu, anh Lâm Văn Chắn, Chính ủy trung đoàn gọi tôi lên giao nhiệm vụ. Anh Chắn hồi đó khoảng gần bốn mươi tuổi, người cao, da trắng, nói năng mực thước. Trông anh ra dáng một trí thức hơn là người lính chiến. Giọng anh nhỏ nhẹ:

        - Căn cứ vô năng lực và phẩm chất của Dũng, Đảng ủy trung đoàn đã quyết định bổ nhiệm chính trị viên đại đội 6, tiểu đoàn 2...

        Nghe anh giao nhiệm vụ, tôi toát mồ hôi, vừa lo, vừa hoảng. Trời đất qủy thần ơi, từ ngày đi bộ đội có làm chính trị bao giờ? Mấy tháng làm chính trị viên phó 2 tạm thời cũng chỉ làm ba cái báo tường, truyền thanh nội bộ của đại đội, chứ biết gì "chính trị, chính em". Tôi ngại quá liền báo cáo:

        - Báo cáo anh Ba, tôi không làm được đâu. Từ ngày đi bộ đội tôi đâu có làm chính trị. Làm chính trị viên là phải làm bí thư chi bộ. Tôi lại không học hành gì hết trơn hết trọi. Tôi không làm nổi đâu, anh Ba giao cho người khác đi.

        Tôi nói xong, nghĩ lại thấy ân hận vì sự phản ứng khá bộc trực trước chính ủy trung đoàn. Nhưng dẫu sao tôi cũng nói ra được tâm trạng của mình.

        Anh Ba Chắn vẫn điềm tĩnh, nhìn vào mắt tôi trìu mến:

        - Đảng ủy ôã bàn bạc và cân nhắc rất kỹ, thấy đồng chí có năng khiếu và có thể làm được nên mới giao nhiệm vụ.  Anh ngừng một lát như để tiên lượng cảm nhận của tôi, rồi nói tiếp. - Việc gì cũng thế, trước chưa biết làm, nhưng vừa làm, vừa học rồi sẽ làm được hết. Hồi cậu mới vô bộ đội có ai dạy làm đại đội phó, vậy mà cậu làm được, lại còn làm tốt nữa. Làm cán bộ chính trị cũng như làm cán bộ quân sự thôi. Chỉ có điều phải gần gũi, sâu sát anh em hơn, phải gương mẫu hơn để anh em noi theo; phải xây dựng chi bộ và làm công tác phát triển Đảng...

        Anh Ba động viên và hướng dẫn tôi khá ân cần, tỉ mỉ. Một là nể ảnh, hai nữa tôi thấy ảnh nói cũng có lý. Có ai dạy mình làm trinh sát đâu, rồi mình cũng làm được, lại còn làm tới cán bộ trung đội, đại đội nữa chớ. Chỉ có điều, từ trước tới nay, tụi cán bộ quân sự chúng tôi rất khâm phục cán bộ chính trị, bởi họ có trình độ văn hóa, chính trị và điều quan trọng nhất họ như linh hồn của đơn vị. Bởi thế, chúng tôi cho rằng phải giỏi như thế nào đó mới làm được cán bộ chính trị. Chính vì vậy mà tôi hoảng khi được giao nhiệm vụ này.

        Gần đây, tôi có gặp lại anh Ba Chắn và có hỏi ảnh hồi đó thấy tôi thế nào mà ại điều tôi sang làm chính trị? ảnh cười cười nói: "Thì thấy mày cũng hiền và có chút năng khiếu... Nhưng cái chín là do yêu cầu nhiệm vụ". Thì ra đôi khi cũng chỉ là cái cớ đó mà làm cuộc đời con người ta có thể rẽ ngoặt sang mộ hướng khác. Chính cái ngoặt đó làm mình thay đổi, và nó cũng chính là điểm nhấn, suất đời không bao giờ quên được.

        Sau một hồi nghe anh Ba giải thích chỉ bảo, tôi đồng ý nhận nhiệm vụ nhưng thực tình cũng còn nhiều băn khoăn lắm.

        Tôi mang nỗi niềm tâm sự với anh Huỳnnh Chiến Công, chính trị viên phó đại đội 6 nơi tôi mới nhận công tác. Anh Công lật cái nón tai bèo ra sau gáy, để lộ cái đầu hói của mình rồi chậc lưỡi:

        - Mày cứ làm tới đi. Cái gì chưa biết đã có anh em, lo gì.

        Sau chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, đại đội 6 bị trúng bom B.52 của địch thương vong nhiều. Tư tưởng của bộ đội có hoang mang, dao động. Nằm trên võng, tôi suy nghĩ đến không ngủ được. Làm thế nào để kiện toàn tổ chức, củng cố lại tư tưởng cho bộ đội? Làm thế nào để lấy lại sức mạnh chiến đấu cho đơn vị? Bao nhiêu thách thức đặt ra, mà lời giải đáp còn ở phía trước. Với cương vị là bí thư chi bộ, tôi bàn với chi ủy và thống nhất quan điểm trước hết phải kiểm điểm đánh giá sâu sắc trong chi bộ, sau đó ra hội nghị quân chính và cuối cùng là quần chúng chiến sĩ; đồng thời cùng nhau xác định một số nội dung chính cần nhấn mạnh trong khi kiểm thảo. Tôi đề nghị chi ủy để anh Huỳnh Chiến Công giúp tôi dự thảo nghị quyết chi bộ, bởi anh là người nắm chắc tình hình đơn vị.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:11:58 PM

        Anh Công chuẩn bị khá công phu và chu đáo. Trên chiếc bàn ken bằng những cây gỗ nhỏ ở trong rừng, anh ngồi phân tích và giải thích cho tôi những điểm then chốt, những vấn đề cần lưu ý nhấn mạnh. Tôi hỏi anh những điều chưa nắm chắc và bổ sung một số nội dung, chủ yếu là phần phương hướng. Tôi trao đổi với anh cả phương pháp tổ chức một cuộc họp chi bộ như thế nào cho đúng nguyên tắc. Anh ân cần hướng dẫn tôi chu đáo.

        Trong cuộc đời chiến đấu của tôi đã gặp biết bao đồng đội dìu dắt, giúp đỡ và chỉ bảo... Anh Huỳnh Chiến Công cũng là một trong những người làm tôi nhớ suốt đời. Mặc dù là cán bộ chính trị trước tôi, lại là người cũ của đơn vị, nhưng ảnh không bao giờ tỏ ra kèn cựa, hoặc ý này, ý khác. Ngược lại, ảnh giúp đỡ tôi như người anh. Thực tình bài học làm cán bộ chính trị của tôi một phần là ở nơi ảnh. Ảnh có cái đầu trọi láng. Những khi hành quân, nóng quá ảnh lật cái nón tai bèo ra, anh em vội bẻ cành cây che lấy cái đầu nhẵn bóng của anh, rồi bảo: "ông định làm mục tiêu cho máy bay nó ném bom à?”

        Thế rồi trong một khu rừng hoang mạc, rộn tiếng chim và ngát hương hoa dại, các đảng viên của chi bộ kê dép, hoặc gốc cây ngồi bên một chiếc bàn để sinh hoạt. Lần đầu tiên trong đời, Ở cương vị bí thư chi bộ tôi điều khiển cuộc họp. Chu cha, sao hồi hộp quá trời. Tim tôi đập chả khác gì khi bước vào trận đánh đầu tiên ở Sở cao su Đất Thịt, xã An Nhơn, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định. Anh Công khích lệ tôi bằng ánh mắt nhìn tin tưởng. Tôi cũng lấy lại bình tĩnh bằng cái xoay người cho ngay ngắn trên chiếc ghế ghép bằng hai ây gỗ và "mở màn" "vào trận". Lúc đầu tôi còn bám sát vă bản chuẩn bị, nhưng sau càng nói càng hăng, lại còn dừ lại nhấn mạnh, phân tích những chỗ quan trọng (sau này khi làm cán bộ chính trị lâu năm, nghĩ lại cái buổi đầu tiên điều khiển họp chi bộ này, mới hiểu cùng với sự trưởng thành của quân đội, bản thân mình cũng được trưởng thành).

        Cuộc họp chi bộ lần đầu tiên do tôi điều khiển thành công. Tôi không bao giờ quên được những ý kiến đóng góp, bổ sung và phân tích của đại đội trưởng, của chính trị viên phó đại đội Huỳnh Chiến Công và các đảng viên trong chi bộ. Bài học đầu tiên tôi nhận thức được là dự thảo nghị quyết mới chỉ là những nét chính mang tính chất chủ quan của người bí thư. Sau khi được chi bộ đóng góp, bổ sung bản nghị quyết mới hoàn chỉnh đầy đủ và sâu sắc. Nó như một bản tổng hợp trí tuệ, sự hiến kế của tập thể. Mà cũng chính vì vậy nghị quyết trở thành sản phẩm của tập thể, ai cũng thấy trách nhiệm của mình trong việc đưa nghị quyết trở thành hiện thực.

        Sau này khi đã trải qua và hoàn thành các cương vị lớn hơn nhưng trong tâm trí tôi không bao giờ quên được đại đội 6 tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1, nơi bắt đầu sự nghiệp làm công tác đảng, công tác chính trị của tôi; đó cũng chính là nơi dạy tôi những bài học đầu tiên của người cán bộ chính trị quân đội. Ở đó, lời anh Ba Chắn, Chính ủy trung đoàn vẫn là hành trang giúp tôi hoàn thành mọi nhiệm vụ: "Việc gì cũng thế, trước chưa biết làm, nhưng vừa học, vừa làm, rồi sẽ làm được hết". Cũng từ bài học đó tôi thấm thía một điều: Công tác đảng, công tác chính trị là công tác của mọi cán bộ đảng viên, ít nhất cũng ở cương vị mình phụ trách. Ai là đảng viên, sĩ quan đều phải có ý thức làm công tác đảng, công tác chính trị, dù chưa được giao nhiệm vụ chuyên trách. Nếu đã có ý thức đó thì không có việc gì khó cả. Đó cũng là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng tư tưởng chính trị trong quân đội.

        Mỗi lần về thăm quê hương, tôi không khỏi bồi hồi xúc động, lặng người trước hàng dừa xanh nghiêng mình soi bóng những hình ảnh cô Ba, hình ảnh những người dân Phong Mỹ tần tảo sớm khuya, vươn lên trong bão táp cách mạng giữ cho mảnh đất quê hương bình yên hạnh phúc... Quê hương nghĩa nặng tình sâu chính là điểm tựa, là dòng máu, nguồn động lực giúp trái tim tôi ủ nóng tình yêu quê hương đất nước; giúp tôi cùng đồng đội vững bước trên con đường cách mạng. Kỷ niệm xưa không bao giờ phai nhạt như bản tỉnh ca quê hương luôn vang lên trong tim tôi: "Ai đứng như bóng dừa. Tóc dài bay trong gió".

Nhà văn BÙI THANH MINH ghi       


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:13:46 PM
       
NHỮNG CUỘC ĐỌ SỨC LỚN NHẤT Ở MIỀN NAM

VĂN PHÁC       

        Đầu năm 1965, tôi vào tới chiến trường B2 Nam Bộ giữa lúc Bộ Tư lệnh miền Nam và các cơ quan đang bị cuốn hút theo bước phát triển mới sau chiến thắng vang dội "Bình Giã". Vừa đặt chiếc "ba lô con.cóc" xuống, ngay hôm sau tôi được dự cuộc họp mở rộng của Bộ Tư lệnh Miền với các đồng chí phụ trách các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và một số cán bộ trung, cao cấp từ A (miền Bắc) vừa được bổ sung về. Tôi được anh Hai Chân (Lê Văn Tưởng) dẫn tới hội trường bằng xe đạp theo đường mòn. Sắp Tết rồi, đi tới đâu cũng gặp mai vàng nở rộ. Tôi thật không ngờ rừng Nam Bộ lại bằng phẳng, lại đẹp như vậy và càng lạ mắt khi tới hội trường đồng thời là Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Miền. Đó là một ngôi nhà lớn làm bằng cây rừng, mái cũng lợp bằng một loại lá rừng rất dày, đốt không cháy, chống được bom na-pan được bộ đội đặt tên là "lá trung quân". Bàn ghế cũng toàn bằng những thân cây ghép lại. Bốn xung quanh không có vách, rất thoáng đãng với những tấm bản đồ chiến sự cỡ lớn treo trên dây. Ngoài ra là hàng dãy những chiếc điện thoại màu đen nằm trên những cái giá cũng bằng thân cây đặt ở một góc hội trường.

        Đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với cái tên mới là anh Sáu Di chủ trì cuộc họp. Đồng chí nêu ra hai vấn đề lớn nhất để mọi người góp ý kiến với Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.

        Một là: Chủ lực ta đã thắng ngụy keo đầu, vậy làm cách nào chồm lên đánh quy hẳn quân chủ lực ngụy.

        Hai là: Quân xâm lược Mỹ đã vào, ta làm cách nào nắm vững quyền chủ động trên chiến trường để đánh thắng cả ngụy, đánh thắng cả Mỹ. Đồng chí vui vẻ nói thêm: Đó là những vấn đề rất mới, rất khó đấy các đồng chí ạ? Nhưng dù khó mấy chúng ta cũng phải tìm mọi cách làm bằng được, chứ sao?...

        Câu nói đúng lúc hun nóng mọi người. Tư lệnh Trần Văn Trà (tên thường gọi là anh Tư Chi) khơi mào tiếp: "Đúng là ta mới thắng ngụy keo đầu, nói cụ thể hơn là ta mới diệt được chiến đoàn ngụy (đơn vị chiến thuật của nguy cỡ tiểu đoàn) ngoài công sự. Nay phải thừa thắng xông lên, phải làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường có lợi cho ta. Vì vậy tôi đề nghị ta không chủ quan, phải chuẩn bị kỹ, mạnh dạn tập trung lực lượng diệt cho được tiểu đoàn ngụy trong công sự vững chắc thì quân ngụy sẽ mất hết chỗ dựa về chiến thuật. Các đồn, bốt khác của ngụy trên toàn chiến trường rung động hết. Ta càng có điều kiện thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích, chống phá bình định của địch, mở rộng vùng giải phóng. Tới lúc đó Mỹ vào tới đây ta càng rảnh tay đọ sức với Mỹ.

        Những ý kiến khêu gợi của đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Văn Trà như một luồng gió khua động cả khu rừng. Cuộc thảo luận bùng nổ tức thì. Nhiều người tán thành mở ngay chiến dịch. Nhưng có một số ý kiến lại bác bỏ thẳng thừng, cho rằng chủ lực ta còn mỏng, sử dụng phải thận trọng, lúc này dùng chủ lực đánh vào công sự vững chắc là phiêu lưu, khéo mất cả chì lẫn chài? Lại có ý kiến muốn chủ lực của Miền phải tập trung vào tập luyện, chuẩn bị đương đầu với Mỹ vì đối tượng tác chiến chính của ta là Mỹ rồi. Lời qua tiếng lại rất rôm rả, đôi lúc còn bốp chát, gay gắt. Bộ Tư lệnh phải dừng lại hội ý. Lúc sau họp lại, tất cả đều nhất trí với kết luận của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là phải mở chiến dịch tiếp tục, giáng cho quân ngụy những đòn đau hơn, kinh hoàng hơn chiến dịch Bình Giã làm cho chúng đã khốn đốn càng thêm khốn đốn.

        Sau một hồi bàn cãi tiếp về phương án chiến dịch c thể, mọi người nhất trí với Bộ Tư lệnh Miền trình với Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục cho mở chiến dịch "Đồng Xoài" là đúng với ý chí và ý nguyện của mọi người. Đồng Xoài là một chi khu quân sự của nguy thuộc tỉnh Phước Long, là một cứ điểm trọng yếu trong hệ thống phòng thủ từ xa của ngụy Ở phía bắc Sài Gòn, nằm trên trục đường 14, chạy thẳng tới Tây Nguyên thông ra hậu  phương lớn. Địch bố trí ở chi khu quân sự Đồng Xoài một lực lượng rất mạnh.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:16:11 PM
        Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhấn mạnh thêm: Đây là chiến dịch lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta chọi nhau với chủ lực của ngụy. Đây cũng vừa là một trận công kiên lớn đầu tiên ta đánh địch trong công sự vững chắc (cỡ tiểu đoàn tăng cường) vừa bố trí diệt viện của địch trên đường 14. Đánh thắng chiến dịch này là ta bắn một mũi tên trúng hai đích: vừa là diệt ngụy, vừa là dằn mặt quân viễn chinh Mỹ. Vì vậy ta phải tập trung cao độ về lãnh đạo, chỉ đạo, về vật chất, tinh thần tư tưởng quyết tâm đánh thắng giòn giã chiến dịch này.

        Còn vấn đề thứ hai, chuẩn bị đánh Mỹ, thắng Mỹ thế nào? Mọi người cũng nhất trí với đồng chí Nguyễn Chí Thanh là Bộ Tư lệnh Miền và các cơ quan cần chuẩn bị kỹ thêm, sẽ thảo luận sâu sắc và cụ thể vào một buổi khác. Bây giờ hãy lo cho chiến dịch này đã? Ngay sau đó một ban chỉ huy chiến dịch được thành lập gồm các vị tướng đánh công kiên giỏi thời chống Pháp: Đồng chí Lê Trọng Tấn (Ba Long), Tư lệnh phó Miền làm chỉ huy trưởng chiến dịch. Đồng chí Trần Độ (Chín Vinh), chính ủy. Đồng chí Hoàng Cầm (Năm Thạch), chỉ huy phó kiêm tham mưu trưởng chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà), Tư lệnh Khu 6, chỉ huy phó chiến dịch. Đồng chí Lê Văn Tưởng (Hai Chân), chủ nhiệm chính trị chiến dịch. Tôi được đồng chí Nguyễn Chí Thanh phân công theo dõi sát quá trình diễn biến của chiến dịch.

        Theo đúng kế hoạch, đêm 10 rạng ngày 11 tháng 5 năm 1965 chiến dịch Sông Bé - Phước Long mở màn (sau gọi là chiến dịch Đồng Xoài). Để bảo đảm chắc thắng, chiến dịch chia làm 2 đợt.

        Đợt 1, Ban chỉ huy chiến dịch dùng Trung đoàn 2 của Miền tấn công chi khu quân sự Phước Bình ở nam thị xã, nhằm ngay từ đầu cô lập bọn địch trong thị xã Phước Long. Do được chuẩn bị kỹ nên trận đánh diễn ra nhanh, gọn, tiêu diệt và làm chủ chi khu, diệt và bắt trên 100 tên địch.

        Đợt 2, bắt đầu từ ngày 9 tháng 6 năm 1965 với trận đánh then chốt là tiêu diệt và chiếm giữ cứ điểm Đồng Xoài. Cứ điểm Đồng Xoài được ngụy xây dựng rất kiên cố, vững chắc và do một lực lượng mạnh đóng giữ mà dân địa phương gọi là bọn "râu kẽm" dữ dằn lắm, lại có thêm 2 chi đội cơ giới, 2 khẩu pháo 105 ly yểm trợ.

        Trận đánh diễn ra ác liệt hơn nhiều trận đánh Phước Bình, kéo dài suốt từ đêm, qua ngày mãi chiều ngày 10 tháng 6 năm 1965 mới tiêu diệt hoàn toàn quân địch trong công sự. Ngày hôm sau, địch đổ quân tiếp viện cách Đồng Xoài 3km. Trung đoàn 1 Quân giải phóng phục sẵn, diệt gọn tiểu đoàn 1 trung đoàn 7 ngụy, bắt 87 tên. Chiến dịch kết thúc thắng lợi, vượt yêu cầu. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Văn Trà có cơ sở để nhận định rằng: Trong chiến dịch Đồng Xoài chủ lực Quân giải phóng đã có bước trưởng thành về đánh công kiên, đã tiêu diệt đơn vị tiểu đoàn ngụy trong công sự vững chắc, mở ra khả năng mới là chủ lực ta có thể tiêu diệt được bất kể căn cứ chi khu nào khác ở chiến trường Nam Bộ, đánh dấu sự sụp đổ của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam.

        Chiến dịch Đồng Xoài vừa chấm dứt, mọi người chưa kịp xả hơi đã phải tập trung ngay vào việc đối phó với quân Mỹ ùn ùn đổ vào miền Nam. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh bận làm việc tối ngày với các cơ quan và đơn vị chiến đấu. Ngoài ra đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Trần Văn Trà, đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Thị Định còn cùng một số cán bộ chia nhau xuống tận đơn vị cơ sở và địa phương. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã dành nhiều thời gian trò chuyện cởi mở với cán bộ và chiến sĩ ở nhiều đơn vị chủ lực, nghe anh em nói đánh Mỹ khác với đánh ngụy thế nào? Đồng chí Trần Văn Trà xuống sát vùng ven đô, gần những vùng đóng quân của Mỹ tìm hiểu kỹ những cuộc hành quân của địch và kinh nghiệm đối phó của địa phương. Đồng chí Nguyễn Thị Định đi bàn bạc với Tây Ninh, với Đặc khu Sài Gòn về chuẩn bị lực lượng các đoàn thể tiến hành đấu tranh chính trị trực tiếp của quần chúng với quân đội Mỹ. Qua những cuộc tiếp xúc sâu sát của các đồng chí lãnh đạo ở các đơn vị cơ sở và địa phương đều thấy nổi lên một số băn khoăn thắc mắc mới: Cấp ủy và nhân dân lo là ta đã thắng ngụy rồi, vậy có thắng được Mỹ không? Ta với Mỹ ngôn ngữ bất đồng vậy đấu tranh chính trị với Mỹ thế nào? Cán bộ và chiến sĩ đều hỏi ta đánh bằng cách nào để thắng Mỹ? Đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn nhắc mọi người, những thắc mắc đó là tất nhiên. Lúc này không có thắc mắc gì mới lạ! Nhưng lúc này không đợi giải quyết xong hết thắc mắc mới đánh. Phải khẩn trương lên, phải chuẩn bị kỹ về mọi mặt, phải vừa chạy vừa xếp hàng mới kịp đối phó với những cuộc hành quân lớn của Mỹ. Và ngay trong thời gian ta đang mở chiến dịch Đồng Xoài, Bộ Tư lệnh Miền đã nhận được tin mật là Ca-bốt Lốt, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã hộc tốc bay về Mỹ cấp báo tình hình nghiêm trọng ở miền Nam và xin viện trợ đột xuất. Cùng lúc đó, tướng Oét-mo-rơ-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam cũng lớn tiếng đòi tăng quân để có đủ nhiều điều kiện thắng bằng sức mạnh quân sự của Mỹ Ở miền Nam. Lúc này ở Mỹ, nội bộ giới cầm quyền chia làm hai phái: phái diều hâu và phái bồ câu! Phái diều hâu gồm những tướng lĩnh, những chính khách Mỹ bảo thủ hiếu chiến, tiêu biểu là Oét-mo-rơ-len. Tướng Oét và Tồng thống Giôn-xơn là cùng một giuộc. Nên chỉ sau chiến dịch Bình Giã kết thúc 1 ngày, ngày 9 tháng 3 năm 1965 Giôn-xơn quyết định điều 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến từ Ô-ki-na-oa (Nhật) vội vã đổ lên Đà Nẵng. Tiếp đó, tới ngày 1 tháng 4 năm 1965 Giôn-xơn họp Hội đồng.an ninh quốc gia quyết định 9 điểm trong đó chấp nhận đề nghị của tướng Oét tăng lực lượng chiến đấu của Mỹ vào miền Nam, tạo điều kiện cho Oét dùng sức mạnh quân sự đánh bại Quân giải phóng miền Nam trong một thời gian ngắn.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:17:53 PM
        Vì vậy đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Văn Trà thường nhắc chúng tôi phải theo dõi sát mọi động thái quân sự của Mỹ ở nước Mỹ và ở chiến trường để Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền có chủ trương và biện pháp đối phó kịp thời. Trong việc này, cơ sở mật của ta nằm tận cơ quan chóp bu ngụy quyền Sài Gòn đã phục vụ rất kịp thời và có hiệu quả. Toàn bộ kế hoạch chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam do tướng Oét vạch ra, vừa ráo mực, đã có ở Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền; trong đó, Oét đã vạch ra kế hoạch chiến lược 3 giai đoạn để mưu tìm chiến thắng. Mỗi giai đoạn đặt rõ trọng tâm trọng điểm:

        Giai đoạn l: Từ giữa đến cuối năm 1965, Mỹ đặt trọng tâm vào việc triển khai quân và chuẩn bị kế hoạch phản công quân sự trên các hướng và trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và Khu 5.

        Giai đoạn 2: Vào mùa khô 1966-1967, Mỹ sẽ mở các cuộc phản công quân sự để giành lại quyền chủ động đã bị mất về tay Việt cộng, đồng thời tiến hành bình định.

        Giai đoạn 3: Từ giữa đến cuối 1967, quân Mỹ hoàn thành việc tiêu diệt Quân giải phóng và căn cứ kháng chiến của ta. Mỹ bắt đầu rút quân giao cho ngụy truy quét nốt Việt cộng và bình định.

        Kế hoạch của tướng Oét được phe hiếu chiến cho là hoàn hảo và khen tướng Oét hết lời; vì không có ai trong bọn họ dám cả quyết với vài ba cuộc phản công lớn trong hai năm mà trọng điểm là cuộc phản công mùa khô 1966-1967, Mỹ sẽ giải quyết xong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam.

        Được tin này, Bộ Tư lệnh Miền họp bàn rất kỹ, sau đó đồng chí Trần Văn Trà điện báo cáo ngay với Trung ương Cục và Quân ủy Trung ương xin mở Hội nghị Quân ủy Miền mở rộng để ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn chiến lược mới.

        Để bảo đảm bí mật căn cứ của Miền, Bộ Tư lệnh chỉ đạo mở Hội nghị ở rẫy sản xuất của các cơ quan tại một vùng giáp biên giới Cam-pu-chia. Ở đây có cả ruộng, rẫy của dân, rải rác ở ven rừng. Các đại biểu được giao liên đưa đến vào ban đêm, sáng ra đã vào gọn cả trong rừng. Chỗ họp là một căn nhà nhỏ để anh chị em các cơ quan đến phiên ra làm rẫy có chỗ ăn nghỉ. Hội nghị hoàn toàn không dùng bàn ghế, mà ngồi võng. Mỗi người một võng, trong nhà và những cây rừng xung quanh nhà không thiếu chỗ mắc võng. Chỉ cần hai cái cọc là xong, các đại biểu họp ở võng, ngủ luôn ở võng rất thuận tiện, chẳng phải giường, chiếu thêm lỉnh kỉnh. Đây cũng là cái nếp sinh hoạt trong thời chiến ở rừng miền Nam. Ai đi chiến đấu đi công tác, đi đâu cũng đều có cái võng bên mình. Các đại biểu nói vui là Tổng thống Mỹ thì họp Hội đồng an ninh quốc gia Ở bang Tếch-dát để bàn chiến lược xâm lược miền Nam, còn cụ Sáu Di (đồng chí Nguyễn Chí Thanh) thì mở Hội nghị quân sự cấp cao toàn Miền ở "bang rẫy" bằng võng để quyết đập tan xác quân xâm lược Mỹ, lịch sử lắm.

        Trong hội nghị những vấn đề nóng bỏng về địch, về ta đều được Bộ Tư lệnh nêu rõ để hội nghị đi tới thống nhất một ý chí đánh Mỹ. Cuộc bàn cãi về địch lần này sôi động ngay từ đầu xoay quanh vấn đề: "Ta đánh Mỹ khác đánh ngụy thế nào? Và ta đánh bằng cách nào để thắng Mỹ?".

        Những cánh võng đều đụng đậy vì các đại biểu đều nhấp nhổm muốn nói: Cái khác của Mỹ thì dễ nhận thấy, ai cũng nói được. Còn một vấn đề rất mới và rất lớn mà cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đều thắc mắc là: "Ta đánh Mỹ bằng cách nào để thắng được Mỹ" thì nhiều đại biểu còn ngắc ngứ, có ý chờ "bí quyết" của trên! Tuy nhiên trong đánh giá về địch nảy ra ý kiến khác nhau về đánh giá bộ binh Mỹ. Một số đồng chí chỉ huy chưa chạm trán với Mỹ thì phản ánh chiến sĩ ta có hai cái ớn: Một là ớn bom đạn ác liệt hơn, hai là ớn lính Mỹ to con hơn, chiến sĩ ta khó hạ gục nó khi đánh giáp lá cà. Thắc mắc này được các đồng chí đã đọ súng trực tiếp với quân viễn chinh Mỹ cung cấp nhiều kinh nghiệm sốt dẻo. Các đại biểu này khẳng định bọn lính Mỹ chỉ dềnh dàng to xác thế thôi, nhưng khi đụng trận với ta nặng về chúi đầu trong công sự bắn bừa bãi và kêu cứu ỏm tỏi, không có yểm trợ của phi pháo là tháo chạy nhanh lắm!

        Còn một kinh nghiệm nóng hổi nữa cũng được hội nghị rất chú ý, là khi ta đã đụng quân Mỹ rồi thì phải sáp ngay vô mà đánh quyết liệt, đánh giáp lá cà với nó là chắc ăn. Chớ để có khoảng phân cách giữa Mỹ và mình thì chỉ tổ xơi bom đạn của nó, dễ toi mạng lắm? Vì vậy chỉ cần trên cho thêm lực lượng, cho thêm súng bén thì bộ đội ta bảo đảm đánh thắng bộ binh Mỹ!

        Trước khi thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn chiến lược mới, đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tóm tắt và kết luận hội nghị. Đồng chí hoan nghênh những đóng góp tích cực của các đại biểu, nhờ trí tuệ tập thể đã giải quyết được nhiều vấn đề. Nhưng còn một vấn đề chúng ta còn mắc nợ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về thắc mắc "Ta đánh Mỹ bằng cách nào để thắng được Mỹ" thì chúng ta còn "cà lăm"1 chưa trả lời được rành mạch, dứt khoát, tuy đã có một số kinh nghiệm đánh Mỹ sốt dẻo ban đầu rất đáng quý. Rồi đồng chí cất giọng nói to hơn là muốn đánh cách gì thì cách, tôi đề nghị việc quan trọng bậc nhất lúc này chưa phải là cách đánh gì, mà phải làm cho tất cả mọi người, mọi cấp, kể cả trong quân đội và ngoài nhân dân đều không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ đã! Làm cho mọi người đều thấy lính Mỹ to nhưng không to gan bằng bộ đội ta, cổ vũ mọi người hãy làm theo kinh nghiệm sốt dẻo của những đơn vị đã đọ súng với Mỹ. Đơn vị nào, địa phương nào, cá nhân nào có gan dám đánh Mỹ, không sợ Mỹ cứ sáp vô mà đánh, bám thắt lưng Mỹ mà đánh sẽ tìm ra cách đánh Mỹ tốt nhất, có hiệu quả nhất!

------------------
1. "Cà lăm" là nói lắp.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:18:44 PM
        Đồng chí Nguyễn Chí Thanh cũng nhất trí phải khẩn trương xây dựng lực lượng gồm ba thứ quân. Cả chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải phát triển cả về số lượng và chất lượng. Riêng bộ đội chủ lực ở miền Đông, một mình Sư đoàn 9 chưa đủ mà phải khẩn trương xây dựng thêm 1, 2 sư đoàn nữa. Quả đấm chủ lực phải mạnh hơn mới đủ sức chống chọi lại các cuộc phản công lớn của địch, trước mắt là mùa khô 1965-1966.

        Ngay trong hội nghị này Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền phát động phong trào thi đua mới "Tìm Mỹ mà đánh, thấy nguy là diệt". Chính câu nói "Bám thắt Iưng Mỹ mà đánh" của đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ đây đã trở thành khẩu hiệu hành động rất phổ biến trong phong trào thi đua quyết thắng của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất mùa khô 1965-1966 của quân viễn chinh Mỹ nổ ra đúng như Bộ Tư lệnh Miền đã nắm được trước, cuộc hành quân được gọi là cuộc hành quân "tìm và diệt" với mục tiêu là tìm diệt một bộ phận chủ lực Quân giải phóng mà họ nói bằng hình tượng là "bẻ gãy xương sống của Việt cộng".

        Mục tiêu quan trọng khác là "tìm và diệt" cơ quan đầu não của Đặc khu Sài Gòn - Gia Định, phá nát căn cứ địa đạo kháng chiến Củ Chi, cùng lúc bình định vành đai, để bảo đảm an toàn cho sào huyệt của chúng ở Sài Gòn.

        Để chắc ăn, trong cuộc hành quân này, Mỹ dùng lực lượng quân viễn chinh Mỹ là chính gồm toàn bộ Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ", toàn bộ trung đoàn xe tăng và xe bọc thép khoảng 600 chiếc với 100 khẩu pháo hạng nặng yểm trợ ngày đêm. Cuộc hành quân tập trung vào sáu xã vùng Củ Chi - Bến Cát mà Mỹ gọi là vùng "tam giác sắt".

        Mở đầu, Mỹ ra oai bằng bom, đạn của phi pháo. Trên một diện tích khoảng 70km2, quân và dân sáu xã Củ Chi và vùng Hố Bò huyện Bến Cát phải hứng chịu mỗi ngày khoảng 5.000 trái, làm nhà cửa của nhân dân bị đổ nát tanh bành, hàng nghìn héc-ta ruộng lúa và vườn cây của đồng bào bị hủy hoại. Sau đó Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" chia thành mấy cánh quân núp sau xe tăng bung ra lùng sục tưởng như chúng sắp "ăn gỏi" Đặc khu Sài Gòn - Gia Định đến nơi. Nhưng vùng "đất thép" Củ Chi đâu phải là nơi dễ tung hoành của bọn "Anh cả đỏ". Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Quân và dân Sài Gòn đã phòng bị, sẵn sàng đương đầu với từng cánh quân của Mỹ.

        Cánh quân đi "tìm và diệt" Sư đoàn 9, có phát hiện ra mấy chỗ khả nghi nhưng đều vồ hụt. Mặc dù 1 trung đoàn của Sư đoàn 9 được cử đến phốì hợp với quân và dân Sài Gòn vẫn ở quanh đấy, nhưng đơn vị này không dùng cách đánh chọi trâu với bọn "Anh cả đỏ" mà thu mình giấu quân, ém kỹ một nơi, chuẩn bị sẵn sàng bất thình lình áp vào tập kích quyết liệt làm địch không kịp trở tay. Đánh xong, quân lại rút nhanh về giấu quân, ém kỹ một nơi, rồi lại chờ thờ cơ đánh tiếp. Cánh quân Mỹ đi phá đường hầm địa đạo thì lùng sục đào bới hoài không tìm ra một cửa hầm, một bóng du kích nào. Ngày thì im ắng vậy, nhưng đêm đến là nỗi kinh hoàng cho địch. Chỗ nào có quân Mỹ là có tiếng súng nổ, những chiến sĩ bắn tỉa thoắt hiện, thoắt ẩn vào đường hầm làm cho bọn Mỹ nơm nớp rất sợ bị bắn tỉa.

        Còn cánh quân Mỹ đi hỗ trợ bình định thì vấp phải cuộc đấu tranh chính trị trực diện của đạo quân tóc dài. Các mẹ, các chị tay trong tay kéo ra đường ngang nhiên cản xe bọc thép, giơ cao các khẩu hiệu tiếng Anh đòi Mỹ chấm dứt càn quét, chấm dứt ném bom, bắn pháo, hô hào lính Mỹ về nhà không gây tội ác với người Việt Nam.

        Lúc đầu lính Mỹ cũng hung hăng giơ súng hù dọa, các bà, các chị không sợ, không chịu lùi bước, quân Mỹ phải chịu không dám đàn áp nhân dân.

        Cuộc hành quân lớn đầu tiên của Mỹ tuy gây cho ta những thiệt hại, nhưng chẳng đạt được mục tiêu nào dù nhỏ. Quân dân Đặc khu Sài Gòn - Gia Định đã đập tan cuộc phản công lần thứ nhất của Mỹ ở trọng điểm miền Đông Nam Bộ. Và từ trong cuộc đọ sức lớn đầu tiên ở ngay cửa ngõ Sài Gòn, trong phong trào thi đua chung toàn miền Nam "Tìm Mỹ mà đánh, thấy ngụy là diệt", nổi lên một phong trào thi đua mới là thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", đã xuất hiện nhừng gương chiến đấu diệt Mỹ kiên cường, nổi bật là gương diệt Mỹ của xã đội trưởng du kích xã Đức Lập, huyện Củ Chi Phạm Văn Cội và toàn đội du kích của anh đã đeo bám địch, đêm nào cũng diệt được Mỹ, người nào cũng diệt được Mỹ, ai cũng quyết tâm giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", không ai sợ Mỹ cả!

        Trong tổng kết chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã rút ra 10 bài học đánh Mỹ rất nóng hổi là: Dám đánh Mỹ, không sợ Mỹ thì ai cũng có thể diệt được Mỹ; vũ khí gì cũng có thể diệt được Mỹ; ở đâu cũng đánh được Mỹ; đánh thắng được tất cả các binh chủng của Mỹ, bộ binh, xe tăng, máy bay, đại bác; đánh Mỹ bằng vũ trang, bằng chính trị, binh vận...

        Cuộc thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" đã nhanh chóng thành phong trào rộng lớn của toàn chiến trường miền Nam và câu nói nổi tiếng "Ra ngõ gặp anh hùng" cũng từ phong trào này mà ra...


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:19:09 PM
        Sau thất bại cuộc phản công lần thứ nhất (1965-1966), Đại sứ Ca-bốt Lất lại tất tả bay về Hoa Thịnh Đốn để bẩm báo khẩn cấp. Tướng Oét-mo-rơ-len lại rên rỉ đòi tăng quân, tăng phương tiện chiến tranh hòng tìm được chiến thắng bằng quân sự. Giới hiếu chiến ở Nhà Trắng và Lầu Năm Góc vào hùa, gây áp lực trong chính phủ và quốc hội Mỹ. Giôn-xơn lại vội vã họp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định cấp tốc tăng thêm quân vào miền Nam. Con số đầu tiên từ 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến đầu tháng 3 đoàn và những tuần sau, tháng sau còn nhiều tiểu đoàn, lữ đoàn Mỹ tiếp tục đổ vào thêm. Đi đôi với việc tăng quân, Mỹ cũng vội điều chỉnh cân đối về chiến lược. Chiến lược "tìm diệt" trong cuộc phản công lần thứ nhất được điều chỉnh thành chiến lược "hai gọng kìm", ở miền Nam là chiến lược "tìm diệt" và "bình định", ở miền Đông Nam Bộ là cuộc hành quân lớn nhất kể từ khi quân Mỹ đổ vào miền Nam. Mỹ đã tung vào cuộc hành quân này hầu như toàn bộ các sư đoàn bộ binh thiện chiến nhất, là Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ", Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới", Lữ đoàn dù 173 tới 45.000 quân với toàn bộ Lữ đoàn thiết giáp 11 tới 3.000 chiếc, với 300 đại bác hạng nặng và 300 trực thăng. Không kể máy bay phản lực ở các sân bay miền Nam, cò những "thần sấm", "con ma" từ Hạm đội 7 và máy bay chiến lược B.52 từ đảo Gu-am vào rải thảm... Lực lượng lần này lớn gấp đôi, gấp ba so với cuộc phản công lần thứ nhất vào Đặc khu Sài Gòn - Gia Định. Vì vậy Mỹ cũng đặt ra những mục tiêu cao nhất cho cuộc hành quân này là: Tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng; tiêu diệt cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của Miền (bao gồm Trung ương Cục Miền, Bộ Tư lệnh Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam), đồng thời đẩy mạnh bình định tranh thủ con tim khối óc của người dân...

        Cuộc hành quân này được giao cho tướng ba sao Soa- man chỉ huy, Soa-man vội đặt tên cho cuộc hành quân là "Gian-xơn Xi-ty". Gian-xơn Xi-ty chỉ là một thị trấn nhỏ Ở bang Ken-sas xa xôi chẳng có tiếng tăm gì, nhưng đó là nơi ở của vợ con ông ta! ông ta còn hy vọng chiến dịch này sẽ là một kỷ niệm khó quên cho vị danh tướng của nước Mỹ!

        Với những mục tiêu cực kỳ quan trọng của cuộc hành quân nên Mỹ đã triến khai từng bước rất thận trọng. Ngay từ đầu mùa khô, Mỹ đã cho máy bay rải chất độc làm chết cây, rụng lá khắp rừng miền Đông. Mỹ thả rất nhiều toán biệt kích thám báo để thăm dò. Căn cứ vào những động thái của địch trên chiến trường, lại được cơ sở mật của ta cung cấp toàn bộ kế hoạch cuộc hành quân của Mỹ đánh vào căn cứ địa của Miền, qua nghiên cứu, Bộ Tư lệnh Miền nhận định đây là một cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ và đây là một cuộc đọ sức lớn nhất giữa quân Mỹ Quân giải phóng miền Nam.

        Biết vậy rồi nhưng ta làm cách nào để đánh bại được địch. Ta lại đang có nhừng khó khăn không dễ khắc phục. Căn cứ của Miền rộng nhưng đều là rừng, hầu như không có dân, không có bộ đội địa phương và dân quân du kích. Lực lượng chủ lực nhìn đi nhìn lại chỉ có Sư đoàn 9 và Trung đoàn bảo vệ căn cứ. Vì vậy rất cần có thêm lực lượng để có bộ phận bám sát, cầm chân địch để Sư đoàn 9 rảnh tay đánh những trận then chốt, quyết định. Ta còn nắm chắc được con bài tủ của Mỹ trong cuộc phản công này, là dùng sức mạnh yểm trợ tối đa của pháo bầy, xe tăng bầy làm chỗ dựa cho bộ binh Mỹ. Cuộc hành quân Ất-tơn-bo-rơ của Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu cũ gần đây đã cho ta kinh nghiệm đó.

        Trong cái khó, ló cái khôn. Trước tình hình nóng bỏng tột độ ở chiến trường, Tư lệnh Trần Văn Trà đã cùng tập thể Bộ Tư lệnh và các cơ quan tìm ra nhiều giải pháp mới rất sáng tạo. Ngoài việc điện xin Trung ương cho thêm lực lượng, nhất là cho thêm nhiều súng B.40, B.41 chống tăng và lệnh điều một vài trung đoàn ở quân khu lên, Bộ Tư lệnh Miền và cả Trung ương Cục tách hẳn ra một bộ phận nhỏ, di chuyển đến một nơi khác để bảo đảm lãnh đạo chung, bộ phận lớn ở lại bám trụ, tổ chức thành những huyện, những xã, những đơn vị chiến đấu hẳn hoi, lựa  chọn những cán bộ, chiến sĩ, nhân viên đã qua chiến đấu gia nhập vào những đội du kích và đặc biệt là lấy tự nguyện vào đội diệt xe tăng địch bằng súng B40, B41. Việc tổ chức này được tất cả các anh chị em kể cả bên cơ quan Trung ương Cục hưởng ứng nhiệt liệt. Chỉ một thời gian ngắn các huyện, các xã, các đội du kích đã được thành lập xong trong khắp căn cứ với những tên gọi gắn với những tên địa phương rất quen thuộc như huyện Rầm Đuông, Sóc Mới; huyện Suối Mây; huyện Xa Mát; huyện Lò Gò - Bến Rạ; huyện Xóm Giừa, huyện Châu Thành, huyện Cà Tum, huyện Sóc Ky, huyện Bà Chiêm, huyện Bà Hảo; huyện Tà Đạt... Huyện nào cũng tổ chức được những đội du kích mạnh đều đã kinh qua chiến đấu, đều xung phong tự nguyện và được tập trung rèn luyện đêm ngày. Từ lúc này, phong trào thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" từ Đặc khu Sài Gòn đã nổi lên trong khắp căn cứ của Miền. Ai cũng muốn ở lại, muốn được vào đội du kích được tham gia chiến đấu trong thời cơ diệt Mỹ hiếm có này. Một nữ Việt kiều yêu nước Ở Cam-pu-chia, xin mãi mới được về nhập ngũ, rất phấn khởi được phân về làm chị nuôi ở Cục Chính trị Miền đến lúc này cũng năn nỉ xin cho vào đội đu kích, không được cầm súng chiến đấu thì cho làm y tá; cứu thương cũng được, xong trận này lại về làm chị nuôi như cũ. Cháu gái Tường Anh, cô liên lạc viên 17 tuổi "bẻ gãy sừng trâư' mếu máo gặp tôi xin ở lại, xin nhận một khẩu B40, chứ không muốn theo chỉ huy sở cơ bản đến một nơi an toàn. Đây là một thành công lớn, như một phép lạ đặc biệt trong tổ chức chiến đấu của cơ quan "R" trong kháng chiến chống Mỹ, đã biến không thành có, biến ít thành nhiều, biến yếu thành mạnh.

        Mọi việc chuẩn bị đối phó của ta được triển khai rất khẩn trương, rất bí mật, địch không hay biết gì cả.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:20:38 PM
        Trước ngày N, Mỹ dùng máy bay chiến lược B.52 từ đảo Gu-am bay vào ném bom rải thảm suốt đêm, từ 6 giờ chiều hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Tiếp là những đợt máy bay phản lực "Thần sấm", "Con ma" từ Hạm đội 7 nối tiếp nhau nhào vô giội đủ các loại bom khoan, bom bi, bom cháy...

        Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty bằng bộ binh bắt đầu từ 22 tháng 2 năm 1967. Việc đầu tiên của quân Mỹ dùng toàn bộ Lữ dù 173 đổ bộ xuống giáp biên giới Cam-pu-chia để chặn đường rút của ta sang đất bạn. Tiếp theo là các lữ của Sư đoàn 1 Anh cả đỏ hình thành một vòng vây rộng hai sườn từ tây sang đông căn cứ, từ lộ 22 vòng sang lộ 4, bọc chặt lấy căn cứ Dương Minh Châu. Quân Mỹ đã chắc mẩm sắp vớ được mẻ lưới to. Để làm yên lòng giới hiếu chiến ở Nhà Trắng và Lầu Năm Góc và để lừa mị nhân dân Mỹ trước thế trận đó, tướng Oét đã vội hí hửng lên giọng rằng: "Chiến thắng của chúng ta đang đến gần. Quân đội Mỹ không thể bị đánh bại. Những người con thân yêu của nước Mỹ sắp được về nhà trong khúc khải hoàn ca hùng tráng và được đón tiếp trong vòng tay nồng ấm của những người thân"!

        Sau khi lập xong vòng vây, quân Mỹ làm nốt bước cuối cùng của cuộc hành quân là tiến vào vùng ruột căn cứ địa của Miền. Ngày bắt đầu là 18 tháng 3 năm 1967, Mỹ dùng Sư đoàn bộ binh 25 "Tia chớp nhiệt đới" hình thành các cánh quân theo sau xe tăng bầy của Lữ đoàn thiết giáp 11, thọc sâu vào các trọng điểm mà Mỹ đinh ninh là các vị lãnh đạo Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền đang ở đó.

        Bọn lính Mỹ còn mang theo còng số 8 để nếu bắt được nhấn vật quan trọng nào thì còng ngay lại và cho lên trực thăng chở thẳng về Sài Gòn không được chậm trễ. Từ địa bàn xuất phát, bầy xe tăng Mỹ chạy phăng phăng như vào chỗ không người. Các đội diệt tăng của ta kiên trì đợi cho chúng đến thật gần mới nổ súng. Ngay từ loạt đạn đầu, mỗi phát B40 phóng ra là một chiếc xe tăng bị hạ gục. Hàng loạt xe tăng đi đầu bốc cháy dữ dội. Những chiếc sau khựng lại. Bộ binh Mỹ nhốn nháo, gọi đại bác, máy bay ến cứu. Quân ta vội lánh xuống hầm, dứt bom pháo lại ngoi lên trực sẵn Ở các vị trí chiến đấu. Bầy xe tăng lại bò vào, nhưng nhiều chiếc không thoát chết bởi đạn B40, B41, của các đội du kích cơ quan rất tài ba và dũng cảm. Đây có lẽ là bất ngờ lớn nhất của các nhà cầm quân Mỹ trong cuộc hành quân này. Họ những tưởng dùng xe tăng bầy là phá nát căn cứ địa kháng chiến của Miền trong chốc lát nào ngờ lại dậm chân tại chỗ. Họ càng không biết lực lượng nào đã cản nổi bước tiến xe tăng bầy của Mỹ. Họ vẫn đoán già, đoán non chỉ có thể là Sư đoàn 9 Nam Bộ!

        Thật ra Sư đoàn 9 không ở đó nhưng vẫn bám sát mọi hoạt động của các đơn vị quân Mỹ. Sư đoàn 9 vẫn không theo lối đánh chọi trâu, mà nhè chỗ sơ hở của Mỹ, thình lình sáp vô đánh nhanh, diệt gọn từng đơn vị Mỹ. Ngay trước khi quân Mỹ mở đợt thọc sâu vào căn cứ địa của "R", Trung đoàn 2 của Sư đoàn 9 đã tập kích mãnh liệt vào cứ điểm Đồng Pan ở ngã ba đường 22, là địa bàn xuất phát của địch, diệt trên 400 tên địch, phá hủy gần 200 xe cơ giới các loại. Tiếp theo là Trung đoàn 3 cũng của Sư đoàn 9 cùng tổ chức trận đánh vào cánh quân ở hậu cứ chiến dịch của địch ở Bàu Bàng diệt cả 100 xe cơ giới, làm chết và bị thương rất nhiều lính Mỹ. Cùng thời gian ấy, bộ đội đặc công bí mật tiếp cận vào đánh trúng sở chỉ huy chiến dịch của địch ở Dầu Tiếng.

        Trong hoàn cảnh ấy, quân Mỹ vẫn được lệnh tiếp tục thọc sâu, sục kỹ. Dần dà, lính Mỹ cũng tới được mấy ngôi nhà bỏ trống, nhặt nhạnh được ít tài liệu vương vãi. Xe tăng cũng khui được vài ngách hầm, nơi cất giấu phim quay, phim chụp ảnh của Điện ảnh Quân giải phóng. Tất cả được trực thăng Mỹ đem về mở cuộc triển lãm rất rùm beng ở Sài Gòn.

        Nhưng với binh hùng, vũ khí bén như vậy mà tướng Soa-man chỉ làm được đến thế là không thể tha thứ. Tướng Oét-mo-rơ-len đùng đùng nổi giận, cách chức tướng Soa-man ngay giữa chiến dịch. Danh tướng bỗng thành bại tướng. Bại tướng Soa-man cũng phải buột miệng than thở: "Chúng ta đến đây mà không giết được một tên "Việt cộng" nào và không tìm thấy gì thì thật là tưng hửng... ".


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:21:20 PM
        Trảm tướng giữa trận, làm cho cấp dưới và binh sĩ Mỹ càng hoang mang chán ngán. Một lính Mỹ ở mũi thọc sâu, bị bỏ xác lại căn cứ còn mang trong mình lá thư viết cho vợ chưa kịp gửi: "Chiến sự thế nào, em theo dõi chắc đã biết. Anh đang ở đó. Đã năm ngày rồi không được tắm. Anh chỉ mong chóng hết tám tháng còn lại của đời lính để cởi bỏ áo khuy đồng và mũ sắt trả lại cho chính phủ, để về làm một người thứờng dân Mỹ sống bên em...".

        Cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ, càng kéo dài, càng thọc sâu, càng bị mắc kẹt. Mũi thọc sâu, với chiến thuật xe tăng bầy đã làm mồi cho các dũng sĩ diệt xe tăng Mỹ bằng súng B40, B41 của các đội du kích cơ quan. Vòng vây hẹp bên trong, vòng vây rộng bên ngoài bị Sư đoàn 9 và các đơn vị khác chọc thủng, chặt đứt thành nhiều khúc, kẻ đi bao vây lại bị vây lại, bị cô lập ở nhiều chỗ.

        Loay hoay mãi không tiến được đành phải lui. Để bảo tồn lực lượng, tướng "Oét" lệnh cho mũi thọc sâu tạm dừng lại củng cố, còn các cánh quân vòng ngoài dồn lại từng cụm. Lúc này, nhất cử nhất động của Mỹ đều không qua được mắt Bộ Tư lệnh và các cơ quan của Miền. Các đơn vị Mỹ dồn đến đâu đều bị bám đánh đến đó. Cuối cùng ở hướng đông địch dồn cục thành cụm lớn ở trảng Ba Vũng, tây bắc Suối Ngô giáp với vùng căn cứ của Bộ Tư lệnh Miền. Ta phán đoán có thể địch co cụm về đây củng cố để tiếp tục cuộc hành quân hỗ trợ cho mũi thọc sâu đang bị mắc kẹt trong căn cứ, hoặc đây là nơi địch cụm lại để rút khỏi cuộc hành quân vô vọng này. Trong khi đó ngày 30 tháng 3 địch lại đổ thêm 2 tiểu đoàn Mỹ xuống trảng Ba Vũng và đổ 1 tiểu đoàn xuống trảng Ba Chân ở gần đó.

        Tư lệnh Trần Văn Trà và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Miền hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt cụm quân Mỹ này làm cho cuộc hành quân lớn của địch sớm ngã ngũ. Đồng chí Ba Long (Lê Trọng Tấn), Tư lệnh phó của Miền được phân công trực tiếp chỉ đạo trận đánh then chốt của chiến dịch.

        Ngay trong đêm 31 tháng 3 rạng sáng 1 tháng 4 năm 1967, Sư đoàn 9, có pháo binh của "R" yểm trợ, tập trung lực lượng tập kích mãnh liệt suốt đêm đến 6 giờ sáng tiêu diệt xong cụm địch lớn ở trảng Ba Vũng. Bọn địch báo về Sài Gòn ây là trận đánh ác liệt nhất trong cuộc hành quân Gian-xi-ty. Không những thế đây còn là trận góp phần chôn vùi bộ cuộc phản công chiến lược lớn nhất mùa khô 1966-1967 của địch.

        Hôm sau tôi xuống thăm đơn vị vừa tham gia đánh trận Ba Vũng (tây bắc Suối Ngô), được đọc bốn câu thơ trên tờ bích báo của đại đội như sau: "Miền Nam ta có hai mùa, Một mùa nắng, một mùa mưa.

                                                 “Miền Nam Mỹ có hai mùa,
                                                 Một mùa thất bại, một mùa thua"...


         Chiến sĩ ta tài thật, vừa đánh xong đã có thơ liền. Mà sự thật đã rõ ràng như vậy.

        Sự thật là cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất (mùa khô 1965-1966) Mỹ đã không tìm diệt được Đặc khu Sài Gòn - Gia Định, mà còn bị mắc kẹt trong đường hầm địa đạo Củ Chi. Đến cuộc phản công chiến lược lần thứ hai (mùa khô 1966-1967), Mỹ mở cuộc hành quân lớn nhất, mưu tìm chiến thắng bằng quân sự để chấm dứt chiến tranh, nhưng lại là đỉnh cao thất bại của Mỹ về quân sự. Còn cuộc phản công lần thứ 3 theo kế hoạch của tướng Oét chưa kịp nổ ra, đã bị cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam mùa Xuân năm 1968 nhấn chìm, buộc Tổng thống Giôn-xơn phải xuống thang, phải thay đổi chiến lược "Chiến tranh cục bộ", phải rút quân đội Mỹ về nước trong tâm trạng ê chề của kẻ bại trận chứ không phải trong khúc khải hoàn ca hùng tráng như tướng Oét-mo-rơ-len và giới hiếu chiến Mỹ hằng mơ tưởng.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:23:32 PM

     ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH Ở CHIẾN TRƯỜNG

TÁM TRÂN        

        Một ngày cuối tháng 8 năm 1964, tôi có việc bận ở tòa soạn, nên về nhà muộn. Hồi đó, tôi đã từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội chuyển sang phụ trách Báo Quân đội nhân dân. Vào khoảng giữa trưa, bỗng một đồng chí liên lạc hối hả đến đưa tôi một công văn hỏa tốc, trong đó chỉ có mấy dòng ngắn, gọn của đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị hẹn 14 giờ tôi vào gặp anh có việc gấp. Tôi vừa ăn trưa vừa phỏng đoán mãi việc gấp đó là việc gì.

        Nhà tôi ở giữa phố Lý Nam Đế, kề ngay cửa ngõ Tổng cục Chính trị. Tôi đã vào cơ quan sớm, trước giờ hẹn, ít phút sau anh Mậu đến. Anh hỏi tôi lúc chưa kịp ngồi:

        - Anh Thanh đã nói gì với cậu chưa?

        Tôi sửng sốt trả lời:

        - Chưa ạ!

        Quả thật, từ ngày đồng chí Nguyễn Chí Thanh thôi làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ra chuyên trách mặt trận nông nghiệp, tôi rất ít gặp anh. Tôi sốt ruột hỏi lại anh Mậu:

        - Anh Thanh nói về việc gì hả anh?

        Anh Mậu cười. - Mình nói để cậu biết nhưng phải "bem" [1] tuyệt đối. Ngay về xóm nhà anh cũng phải ngậm miệng, đại sự quốc gia mà để lộ ra là chết bỏ bố cả lũ.

        Anh nhìn ra cửa, không thấy ai qua lại, mới nói tiếp:

        - Chắc cậu cũng chưa biết anh Thanh đã được phân công thay mặt Bộ Chính trị vào trực tiếp lãnh đạo chiến trường. Anh đề nghị chọn một số cán bộ đi cùng đợt này, trong đó có cậu đấy. Đã có quyết định của Quân ủy Trung ương đây rồi. Hôm nay tôi mời cậu vào là để phổ biến nhiệm vụ đó!

        Anh chuyển sang hỏi thăm sức khỏe, về việc thu xếp cho vợ con trước khi đi và trao đổi ý kiến về người phụ trách thay tôi ở Báo Quân đội nhân dân.

        Mấy hôm sau tôi được triệu tập dự một lớp học đặc biệt. Số cán bộ được tập trung đi B lần này lớn nhất từ trước đến nay, phần lớn là từ cấp tá trở lên; cán bộ đơn vị chủ lực gồm đủ mặt các anh tài của bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công và đủ cả cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, v.v... Buổi kết thúc, lớp học được Bộ Chính trị đãi một bữa tiệc mặn tại nhà khách Bộ Quốc phòng ở số 33 phố Phạm Ngũ Lão. Cũng là một buổi kết thúc rất đặc biệt. Có gần đủ mặt các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy. Trung ương đến dự. Đồng chí Phạm Hùng đến trước tiên, tiếp theo là các đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Lê Quang Đạo,.Phạm Ngọc Mậu, v.v... Mọi người xúm quanh vào các anh trò chuyện. Bác đến đúng giờ hẹn, chúng tôi bật dậy vô cùng xúc động vì sự có mặt của Bác. Với dáng điệu ân cần, Bác giơ tay làm hiệu ngồi xuống, Đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng lên mời Bác nói chuyện với anh em. Bác nhìn mọi người rồi quay sang hỏi anh Văn:

        - Có cơm chưa?

        - Có rồi ạ.

        - Có cơm rồi thì vào ăn đã, ăn rồi nói gì thì nói, thế mới là ăn nói, phải không các chú?

        Mọi người vui vẻ vào phòng ăn. Bác đi một vòng xem xét thức ăn và chỗ ngồi của chúng tôi đâu vào đấy, rồi Bác mới trở về chỗ của mình. Bác lại chỉ vào đồng chí Võ Nguyên Giáp:

        - Bây giờ đề nghị đồng chí Văn hô "Xung phong”.

        Anh Văn đứng dậy vui vẻ nói:

        - Tối hôm nay là buổi liên hoan với các đồng chí được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cử đi làm nhiệm vụ ở chiến trường. Vậy theo lệnh của Bác, tất cả "Xung phong".

        Đợi chúng tôi ăn xong rồi, Bác mới nói chuyện. Bác phân tích cặn kẽ thắng lợi vừa qua, diễn biến tình hình sắp tới nhất là ở miền Nam. Bác so sánh những đặc điểm của hai cuộc kháng chiến chống thực dân cũ trước đây và chống thực dân mới ngày nay. Bác dặn chúng tôi phải gương mẫu, phải đoàn kết, phải sâu sát quần chúng, phải thật lòng thật dạ yêu thương giúp đỡ đồng bào, phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bác ngừng lại hỏi chúng tôi:

        - Nhiệm vụ chính của các chú là gì?

        Một đồng chí ngồi gần Bác đứng lên trả lời trôi chảy.

        Bác hài lòng nhấn mạnh thêm:

        - Nhiệm vụ chính mà Trung ương và Quân ủy giao cho các chú là phải quyết tâm đánh thắng, không được chủ quan khinh địch, lơ là mất cảnh giác.

        Đến đây, Bác ngoảnh sang đồng chí Tố Hữu: "Yêu cầu đồng chí Tố Hữu ngâm lại hai câu thơ hồi sáng nay tiễn Tổng thống Mô-đi-bô Cây-ta" (chắc là Bác đọc sáng nay).

        Đồng chí Tố Hữu bị gọi bất thần, nhưng đáp ứng kịp thời:

                                            "Tiễn đưa nhớ buổi hôm nay,
                                            Bạn về chúc bạn ngày ngày thành công".


        Bác sửa lại chữ "về" bằng chữ "đi".

        Rồi Bác đọc lại cả câu: "Bạn đi chúc bạn ngày ngày thành công"..

----------------
1. "bem": B.M, bí mật.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:24:50 PM
        Trong buổi liên hoan đặc biệt, hiếm có này, riêng tôi cứ thấp thỏm vì sao một nhân vật quan trọng như đồng chí Nguyễn Chí Thanh lại vắng mặt ở đây. Tôi lẻn đến hỏi anh Mậu. Anh Mậu ghé vào tai tôi nói nhỏ:

        - Ông Thanh đã đi bằng đường đặc biệt, vào tới trong đó an toàn rồi, đang điện ra giục các cậu vào gấp đấy. Còn vào làm gì, kể cả cậu, tới trong đó, anh Thanh sẽ giao nhiệm vụ cụ thể.

        Vài ngày sau, chúng tôi được lệnh lên đường. Để bảo toàn lực lượng, chúng tôi được chia ra nhiều tốp nhỏ và mỗi tốp đi theo một đường khác nhau. Lúc đó chiến trường đang cần một số cán bộ bộ đội chủ lực có kinh nghiệm vào gấp để xây dựng quả đấm chủ lực của Miền, nên phần lớn đi bí mậ theo đường biển, về sau này thành tên gọi là đường HỒ Chí Minh trên biển. Tốp năm người chúng tôi cũng được làm một cuộc hành quân mạo hiểm theo đường biển. Sau bảy ngày, bảy đêm, con tàu bé nhỏ của chúng tôi chẳng khác gì một chiếc lá tre lênh đênh giữa đại dương, chất đầy vũ khí, thuốc nổ trong khoang, thêm năm cán bộ đi cùng, đổ bộ trót lọt vào cửa sông Cổ Chiên thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ đó, chúng tôi chuyển sang đường giao liên trên bộ, lặn lội cả tháng trời ròng rã mới tới trạm đón của R (tên gọi tắt của cơ quan Trung ương Cục ở B2). Chúng tôi được đưa về Cục Chính trị Miền. Ngay sáng hôm sau, anh Hai Chân (Lê Văn Tưởng) đưa chúng tôi sang gặp anh Thanh ở Bộ chỉ huy Miền gần đấy. Lần đầu tiên tôi được đi xe đạp trong rừng miền Nam. Rừng rất bằng phẳng, cây thưa, nên cứ theo đường mòn mà đạp rất ngon lành.

        Anh Thanh đang làm việc, niềm nở ra đón chúng tôi vào nhà. Anh vui vẻ giới thiệu ngôi nhà xinh xắn do các đồng chí vệ binh dựng lên rất nhanh để anh vừa làm việc, vừa ngủ ngay bên hầm trú ẩn. Tôi chú ý đến những khác lạ của ngôi nhà. Mái nhà lợp bằng một thứ lá được đặt tên là lá "trung quân". Anh Hai Chân cho biết tất cả các nhà của cơ quan R đều lợp bằng lá trung quân, vì nó chịu được mưa nắng, bom na-pan thả trúng cũng không cháy. Cột nhà là những cây ngành ngạnh, không sợ mối mọt. Nhà để trống bốn bề, vì ở miền Nam cả đời không có gió bão, nên anh Thanh muốn để vậy cho thoáng. Bàn làm việc của anh bằng cây, có thêm một chiếc võng ni-lông mắc vào hai cây cột. Anh ngồi đu đưa trước võng và bắt đầu bằng việc xưng tên:

        - Các cậu này! Vào đây vui thật, mỗi người đều được đặt một tên mới, được phong "thứ" nữa. Nguyễn Chí Thanh bây giờ tên là Sáu Di đấy nhé. Cái tên này cũng có lai lịch để rồi nói sau. Từ nay cấm tiệt gọi tên cúng cơm, các cậu cũng vậy, đều đặt tên mới và gọi bằng thứ.

        Anh vui vẻ giới thiệu anh Trần Văn Trà - Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền (tức Tư Chi). Anh Lê Trọng Tấn - Tư lệnh phó (tức Ba Long). Anh Lê Đức Anh - Tham mưu trưởng (tức Sáu Nam), v.v... Một cuộc đặt tên cho chúng tôi diễn ra sôi nổi ngay tại nhà anh. Tôi vốn họ Trần, thấy chưa có ai nhận thứ tám, nên xin đặt tên mình là Tám Trần.

        Sau đó, phần quan trọng trong buổi gặp đồng chí lãnh đạo cao nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam là nghe anh nói về tình hình và nhiệm vụ của chiến trường, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người.

        Trước hết anh hỏi chúng tôi trên đường đi có theo dõi chiến thắng Bình Giã không? Cũng nhờ Tổng cục Chính trị phát cho mỗi người một cái đài Pa-na-sô-ních của Nhật Bản nên không đến nỗi ú ớ lắm. Sau khi nghe chúng tôi trả lời, anh sảng khoái nhận định: Đây là đòn đầu tiên, trung đoàn chủ lực của ta diệt chiến đoàn nguy ngoài công sự Nhưng ta còn phải vượt lên, có nắm đấm chủ lực lớn hơn, mạnh hơn, đủ sức diệt gọn cả tiểu đoàn chủ lực ngụy trong công sự, mới hòng xoay chuyển nổi tình hình. Anh càng nói càng say sưa, hút thuốc lá liên tục. Anh nhắc đi nhắc lại nhiệm vụ cần kíp trước mắt là phải có phong trào chiến tranh nhân dân mạnh, đánh mạnh địch bằng cả "hai chân, ba mũi", làm cho địch khốn đốn trăm bề, không ngóc đầu dậy nổi. Bỗng anh nắm chặt bàn tay giơ cao trước mặt chúng tôi:

        - Nhớ là phải có quả đấm chủ lực mạnh mới mong nắm chắc phần thắng trong tay. Chính vì vậy mà Trung ương và Bộ Chính trị cho chúng ta vào đây để cùng các đồng chí trong này hoàn thành nhiệm vụ đó.

        Sau khi giao nhiệm vụ cho từng người đâu vào đấy vui vẻ, anh đưa chúng tôi đi dạo quanh một lượt. Khi đi ngang qua nhà bếp, một cô gái đen giòn chạy ra đon đả:

         - Thưa anh Sáu, đây là mấy chú vừa ở ngoài về hẻn? Tôi bật cười về cách xưng hô của cô, cô gọi đồng chí Nguyễn Chí Thanh là anh rất tự nhiên, còn bọn tôi thì được tôn là chú.

        Anh Thanh cười, bắt chước giọng Nam Bộ:

        - Ừ, mấy chú vừa "dô" đó. Hôm nay nhà bếp làm món gì tươi đãi khách nghen!

        Ngay tại đó, đồng chí Thuận, bác sĩ riêng của anh Thanh kể cho chúng tôi nghe câu chuyện vui về "chị nuôi" này.

        Buổi đầu tiên anh Thanh về Bộ chỉ huy Miền, anh lững thững đi dạo, tiện đường ghé thăm nhà bếp. Người đầu tiên anh gặp là cô "chị nuôi". Anh vui vẻ hỏi trước: "Cô tên chi?", cô trả lời gọn: "Em tên Hường". Anh hỏi tiếp: "Thứ mấy?", "Thưa thứ năm". Anh Sáu thân mật đưa tay ra: "Xin chào chị nuôi Năm Hường nhá?". Năm Hường hỏi lại: "Anh mới "dô" hả?".

        - Phải.

        - Anh thứ mấy?

        - Thứ sáu.

        Mấy bữa sau, tuy Năm Hường biết rõ anh Sáu là thủ trưởng "bự" nhất rồi cô vẫn cứ quen miệng gọi anh Sáu và cũng trong lúc ấy cô lại gọi chú Tư Chi, chú Ba Long và cả chú Tám Trần nữa?

        Còn anh Thanh thì khen hết lời Năm Hường có tính hồn nhiên của người Nam Bộ, nên khi cô gọi anh là anh Sáu anh gật đầu cười vui vẻ hưởng ứng.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:25:29 PM
        Sau chiến thắng Bình Giã, đồng chí Nguyễn Chí Thanh lại cùng tập thể Bộ chỉ huy Quân giải phóng Miền ráo riết chuẩn bị chỉ đạo việc chuẩn bị chiến dịch mới. Mọi người đều tâm đắc với lời nhắc nhở chí lý của đồng chí Chính ủy Quân giải phóng miền Nam là "thỏa mãn dừng lại lúc này là có tội, phải thừa thắng xốc tới, quyết tâm đập tan chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của địch". Chính ủy Nguyễn Chí Thanh đã có nhiều đóng góp biến tư tưởng chỉ đạo chiến lược đó thành ý chí và hành động của cán bộ và chiến sĩ trên chiến trường. Vì vậy chỉ sau chiến dịch Bình Giã mấy tháng, vào trung tuần tháng 5 năm 1965, lại nổ ra chiến dịch lớn Đồng Xoài, lớn về mục đích yêu cầu, lớn về lực lượng tham gia, vè thời gian kéo dài của chiến dịch. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập, các anh Ba Long (Lê Trọng Tấn), anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) trực tiếp đôn đốc kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị tham chiến. Chính ủy Nguyễn Chí Thanh và Tư lệnh Trần Văn Trà ở chỉ huy sở cơ bản chỉ huy chung các hướng toàn Miền phối hợp với Đồng Xoài.

        Chiến dịch Đồng Xoài diễn ra trên địa bàn tỉnh Phước Long, không xa lắm về hướng bắc Sài Gòn. Chiến dịch lịch sử này đã tạo khả năng chiến đấu mới của chủ lực Miền và gây nỗi kinh hoàng mới cho ngụy quân, ngụy quyền. Trong chiến dịch này, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn chủ lực ngụy trong công sự vững chắc. Khi được tin này, cả chỉ huy sở cơ bản reo lên ầm ĩ. Anh Tư Chi vội vã hướng dẫn thảo điện báo cáo với Trung ương và Trung ương Cục. Anh Thanh thưởng cho mỗi người có mặt một điếu thuốc lá để mừng chiến thắng. Trong khi đó lại càng vui về tin quân và dân Khu 5 thắng lớn trong trận Ba Gia Ở Quảng Ngãi. Trong khí thế chiến thắng dồn dập trên khắp các chiến trường, ngay hôm sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh ngồi viết một mạch bài báo lấy tựa đề là "Ba Gia gọi Đồng Xoài" phân tích sâu sắc về hai chiến thắng vang dội này, với bút hiệu Trường Sơn. Bài báo đã được Đài phát thanh Giải phóng phát đi phát lại nhiều lần và gây được sự chú ý đặc biệt của cả dư luận trong nước và ngoài nước.

        Trong bài báo đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu bật một nhận định có ý nghĩa chiến lược của chiến thắng Ba Gia - Đồng Xoài cùng với thắng lợi đánh phá tơi bời chiến lược bình định gom dân lập ấp chiến lược của địch là biểu hiện sự phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" cua Mỹ, ngụy. Chiến thắng Ba Gia - Đồng Xoài chứng tỏ quân và dân miền Nam đã giành quyền chủ động trên chiến trường. Sau đó ít ngày, chính Mắc Na-ma-ra, BỘ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng phải công khai thú nhận: "Quyền chủ động trên chiến trường đã thuộc về tay Việt cộng". Sau đó, đồng chí còn viết tiếp một số bài nổi tiếng khác nêu ra nhiều ý kiến mới và sự phân tích sâu sắc như bài "Mỹ giàu nhưng không mạnh". Đối phương thừa nhận đồng chí Nguyễn Chí Thanh là một trong những đối thủ rất khó chịu của họ Ở Việt Nam. Còn đồng chí Nguyễn Chí Thanh rất quan tâm nắm bắt những âm mưu và hành động dù lớn, dù nhỏ của Mỹ.

        Tôi nhớ mãi một buổi tối đầu tháng 3 năm 1965, anh gọi tôi lên hỏi: "Chú có nghe tin gì vừa rồi không?". Tôi chưa kịp trả lời, anh nói ngay:

        - Các đài phương Tây vừa đưa tin hôm nay Mỹ đã cho hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến từ Ô-ki-na-oa đổ bộ vào Đà Nẵng rồi. Chắc nó còn tiếp tục đổ tiếp quân Mỹ vào nữa. Chú báo ngay cho bên tham mưu theo dõi sát, nắm kỹ tình hình, để Bộ chỉ huy Miền có cơ sở bàn biện pháp chủ động đối phó.

        Tôi nhìn lên tấm lịch treo ở cột nhà. Hôm đó là ngày 9 tháng 3 năm 1965. Trong buổi giao ban hôm sau ở chỉ huy sở, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra tập thể Bộ chỉ huy bàn và đi đến kết luận là phải chuẩn bị thật tốt, bảo đảm chắc thắng như trong chiến dịch Đồng Xoài, đồng thời phải chuẩn bị ngay cuộc đọ sức trực tiếp với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Sau đó anh đã dành nhiều thời gian đi xuống đơn vị chiến đấu và cơ sở gặp gỡ, trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân để mong tìm ra câu trả lời cho những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra, đặc biệt là việc xây dụng quyết tâm đánh Mỹ trong bước chuyển từ chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Hồi đó đồng chí Nguyễn Chí Thanh năm mươi tuổi, còn khỏe, rất xông xáo. Phương tiện đi lại duy nhất là xe đạp. Lại thường phải đi đêm, nhưng anh đạp chẳng thua kém gì chúng tôi. Bộ đồ hành quân quen thuộc của anh thường là bộ bà ba đen hoặc nâu, chiếc mũ tai bèo, một đôi bết ngắn để chống rắn choàm cạp và một khẩu súng ngắn bên sườn.

        Đến thăm một đơn vị chủ lực miền Đông, anh đã ngồi nói chuyện tay đôi rất lâu với chiến sĩ Ma Văn Thắng, người đã diệt được tên Mỹ đầu tiên trong trận đầu diệt Mỹ của đơn vị này tại Đất Cuốc. Anh Thanh hỏi Thắng:

        - Chú thấy đánh Mỹ có gì khác với đánh ngụy?

        - Có khác, Mỹ có súng bén, có nhiều máy bay, đại bác hơn ngụy.

        - Thế sao đơn vị mình vẫn diệt được Mỹ?

        - Vì ta có tinh thần cao, ta cũng có súng tốt, lại có nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn Mỹ.

        - Thắng nói thật nhé, lần đầu nhìn thấy lính Mỹ, chú ớn không?

        - Lúc đầu cũng ớn, thấy nó to cao, lông lá đầy ngưc, nhưng sau thấy nó vận động khù khờ quá, cháu bớt sợ, nổ liền mấy phát nó ngã ngay.

        Anh Thanh gặp một chiến sĩ khác chưa có dịp đánh Mỹ:

        - Có dám đánh Mỹ không?

        - Dám đánh ạ?

        - Có sợ bom, đạn Mỹ không?

        - Em không sợ? Má em đã bị pháo bầy của Mỹ bắn chết giữa lúc đang cấy ở ruộng. Em chỉ mong trả thù cho má!


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:25:54 PM
        Cơ sở xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ bắt nguồn từ đây. Những khẩu hiệu "Tìm Mỹ mà đánh, thấy ngụy là diệt", "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh" không phải bỗng dưng mà có, mà cũng bắt nguồn từ tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, từ thực tế cuộc sống mà ra, được cô đúc lại và biến thành ý chí và hành động của toàn thể các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam thời đó. Phần đóng góp nổi bật nhất của đồng chí Nguyễn Chí Thanh ở chiến trường là ở chỗ đó.

        Cuối năm 1965, được sự chỉ đạo của Trung ương và Trung ương Cục, Quân ủy Miền triệu tập hội nghị mở rộng do đồng chí Nguyễn Chí Thanh chủ trì, để bàn gấp những vấn đề cấp bách đối với "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử này không làm ở chỉ huy sở của R, mà bí mật chuyển ra rẫy sản xuất của cơ quan. Rẫy này nằm ở gần biên giới, rất quang quẻ, thoáng mát. Thỉnh thoảng đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra rẫy kết hợp vừa làm việc vừa nghỉ ngơi. Anh em vệ binh làm cho anh một cái nhà nhỏ giữa mấy khóm chuối, chung quanh là những hàng dừa, đu đủ, mía, vừa dọn cỏ, vun đất mới đỏ chói, trông rất vui mắt. Hội nghị Quân ủy Miền đã làm việc tại ngôi nhà này.

        Mở đầu hội nghị, anh Tư Chi (Trần Văn Trà) và anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) trình bày tỉ mỉ diễn biến, kết quả và kinh nghiệm sốt dẻo qua những trận đầu tiên của Sư đoàn 9 của ta đọ sức với quân Mỹ.

        Hội nghị rất mừng vì Sư đoàn 9, sư đoàn chủ lực đầu tiên của Miền mà đồng chí Hoàng Cầm là Sư đoàn trưởng, đã đánh tốt và tiến bộ nhanh. Nhưng khi đi sâu vào nội dung chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ và những vấn đề mới về chiến dịch, chiến thuật của ta, thì có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề "đánh Mỹ khác đánh ngụy thế nào?". Cuộc tranh luận kéo dài sôi nổi suốt cả ngày. Cuối cùng đều nhất trí với kết luận của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ Ở miền Nam đã sụp đổ hoàn toàn và Mỹ đã chuyển thành cuộc "Chiến tranh cục bộ". Ở miền Nam. Quân Mỹ đã lên tới 20 vạn tên. Mắc Na-ma-ra đang rêu rao về chiến lược hai gọng kìm: "tìm diệt" và "bình định". Chúng đang chuẩn bị tung ra cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) tập trung vào hai hướng chủ yếu là miền Đông Nam Bộ và Khu 5 nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực ta, giành lại thế mạnh về quân sự, hỗ trợ cho bình định có trọng điểm của chúng. Đối với thắc mắc "đánh Mỹ khác đánh ngụy thế nào?", đồng chí cũng nói thẳng vào vấn đề, không giấu giếm: "Thú thật với các đồng chí, hội nghị này chưa có đủ thực tiễn để giải đáp đầy đủ thắc mắc này. Đó là một vấn đề lớn rất quan trọng, tất cả chúng ta đều phải tìm được câu trả lời tốt nhất theo cương vị của mình. Nhưng theo tôi, cái cốt lõi bây giờ là dám đánh và quyết thắng Mỹ không đã. Các chiến sĩ mà tôi gặp đã tỏ thái độ dứt khoát, còn những người chỉ huy và lãnh đạo cần tỏ thái độ thế nào? Xin các đồng chí về đơn vị cùng bàn với chiến sĩ hãy cứ đánh, quyết tâm đánh Mỹ đã, đánh rồi ta sẽ tìm ra cách đánh Mỹ tốt nhất cả về chiến dịch, chiến thuật và chiến đấư". Cuối cùng đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhấn mạnh nhiệm vụ của công tác chính trị, tư tưởng lúc này là xây dựng cho được quyết tâm đánh Mỹ, quyết tâm đập tan kế hoạch phản công mùa khô 1965-1966 của địch. Trước khi kết thúc, Hội nghị Quân ủy Miền nhất trí phát động phong trào dám đánh và quyết thắng Mỹ với những khẩu hiệu đầy sức sống đã thành câu nói cửa miệng của quần chúng: Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt, bám thắt lưng Mỹ mà đánh, v.v...

        Không mấy chốc phong trào giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt ngụy" khởi đầu từ T4 (Đặc khu Sài Gòn - Gia Định) nhanh chóng phát triển thành cao trào rộng lớn toàn Miền không sức gì cản nổi.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:26:23 PM
        Nhiệm vụ nặng nề của chiến trường đã làm đồng chí Nguyễn Chí Thanh xuống sức. Đầu năm 1967, anh được BỘ Chính trị triệu tập ra Hà Nội bàn chiến lược chung của cả nước và kết hợp kiểm tra sức khỏe.

        Sau chiến thắng vang dội của quân và dân ta trong chiến dịch Gian-xơn Xi-ty của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ, đồng chí Nguyễn Chí Thanh điện vào Bộ chỉ huy Miền cho anh Hoàng Cầm và tôi mang tài liệu ra báo cáo, làm việc xong lại vào.

        Chúng tôi về tới Thủ đô Hà Nội giữa lúc Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại, không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc hàng ngày.

        Mặc dù công việc khẩn trương, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vẫn dành thời gian cho chúng tôi gần gũi gia đình.

        Một ngày đầu tháng 7 năm 1967, đồng chí Nguyễn Chí Thanh gọi tôi và anh Cầm vào làm việc ở Tổng cục Chính trị. Anh báo kế hoạch trở về B2 và nói rõ thời gian cụ thể là ngày 7 tháng 7 năm 1967 anh sẽ đi trước với bác sĩ Thuận bằng đường riêng. Một tuần sau anh Cầm và tôi đi tiếp theo đường cũ của chúng tôi. Tối ngày 6 tháng 7 năm 1967, tôi và vợ tôi đến thăm anh và chị Cúc là vợ anh. Hai anh chị rất vui vẻ tiếp chúng tôi. Anh cho biết sức khỏe của anh rất tốt, không có vấn đề gì. Tôi cũng nghĩ như thế.

        Sáng ngày 7 tháng 7 ăm 1967, tôi vào Tổng cục Chính trị làm việc với anh Song Hào như đã hẹn. Tôi bước lên cầu thang thì thấy anh Hào đang từ trên gác vội vã đi xuống. Nhìn thấy tôi, anh nói ngay:

        - Anh Thanh phải cấp cứu rồi. Ta vào Viện quân y 108 ngay xem thế nào.

        Tôi giật thót người, đứng sững lại ít phút, rồi mới chạy vội ra xe. Khi qua nhà anh, thấy chị Cúc đang đứng thờ thẫn ở sân, tôi rẽ vào hỏi chị:

        - Tình hình của anh thế nào chị?

        Chị lắc đầu:

        - Nguy lắm. Tôi vừa ở dưới ấy về, các bác sĩ không muốn tôi ở luôn dưới đó. Anh cho tôi đi cùng với.

        Tôi đưa chị ra xe.

        Khi tới nơi, các đồng chí lãnh đạo và nhiều người khác đứng đông chật ở cửa buồng mổ. Bên trong chỉ có hội đồng bác sĩ đang làm việc. Không khí nặng nề quá. Tôi lách qua đám đông nhìn vào, thấy anh Thanh đang nằm trên bàn mổ để bơm ô-xy vào người.
        Tôi quay ra thì đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa đến. Một bác sĩ đưa anh một áo choàng trắng. Anh vào một lúc lâu khi ra anh ngập ngừng nói với một số đồng chí đứng gần đó.

        - Anh em bác sĩ rất cố gắng, nhưng khó lắm rồi.

        Vừa lúc ấy, bác sĩ Thuận ra, len tới ôm lấy tôi nói trong nước mắt:

        - Chúng ta mất anh Thanh rồi!

        Lúc đó là 8 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 7 năm 1967.

        Bệnh nhồi máu cơ tim đã cướp mất đồng chí Nguyễn Chí Thanh của chúng ta, trong lúc sự nghiệp cách mạng và kháng chiến rất cần những nhà chiến lược xuất sắc toàn diện và những người lãnh đạo tài, đức toàn vẹn như anh.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:27:35 PM

MỘT LẦN GẶP ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

Đại tướng LÊ VĂN DŨNG       

        Ngày 27 tháng 11 năm 1965, sau khi Trung đoàn 1 chúng tôi tiêu diệt gọn Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 ngụy tại làng 14, sở cao su Dầu Tiếng, Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thì được lệnh rút quân về khu vực căn cứ Dương Minh Châu đóng quân ở hai bờ sông Sài Gòn. Tiểu đoàn 3 chúng tôi đứng chân ở bến Nha Thức trong một khu rừng già gần chân núi Cậu. Bến Nha Thức là bến vượt sông Sài Gòn của giao liên đưa đón cán bộ và bộ đội từ căn cứ Dương Minh Châu đến Chiến khu Đ và ngược lại. Hiện nay khu vực này nằm trong lòng hồ Dầu Tiếng. Bến Nha Thức nằm trong tầm pháo của địch ở Dầu Tiếng, Bến Cát Lai Khê, tỉnh Bình Dương và Dương Minh Châu thuộc tỉnh Tây Ninh.

        Đầu giờ chiều ngày 25 tháng 12 năm 1965, đại đội trưởng thông báo có thủ trưởng cấp trên đến thăm. Đại đội 12 chúng tôi tập trung ra một khu đất trống là hội trường dã chiến, có hai dãy ghế làm bằng những cây gỗ đường kính 8cm dài 3m được ken lại, mỗi ghế là bốn cây gỗ mỗi dãy là 15 hàng ghế, Ở giữa để khoảng trơng độ một mét đi lại, phía trên là một chiếc bàn cũng được ghép những cây gỗ nhỏ bằng ngón tay để đùng cho cán bộ mỗi khi lên lớp.

        Chúng tôi vừa tập hợp xong thì một đoàn cán bộ khoảng bảy, tám người, đi đầu là đồng chí Hoàng Thế Thiện - Phó chính ủy, kiêm Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 9 (chúng tôi biết đồng chí Hoàng Thế Thiện vì một vài lần đồng chí đến thăm đại đội). Đi sau đồng chí Phó chính ủy là một người dong dỏng cao, nước da ngăm đen, đôi mắt sâu, rất sáng. ông mặc bộ quần áo bà ba màu xanh Ô liu, đội mũ nan có trùm vải dù nguy trang, đi đôi dép râu. Đoàn không đi theo đường lớn dẫn vào đơn vị mà đi một lối mòn nhỏ vào thẳng đại đội chúng tôi. Đại đội 12 là một tập thể chiến đấu dũng cảm đã lập thành tích xuất sắc trong trận đánh ở làng 14 Dầu Tiếng, diệt và bắt được nhiều tù binh địch nên sư đoàn chọn đại đội 12 để đoàn đến thăm và kiểm tra các mặt. Đoàn đến thẳng đại đội, không qua tiểu đoàn, không qua trung đoàn. Các đồng chí đi đến chỗ đơn vị tập trung. Đồng chí đại đội trưởng chạy lại phía đồng chí Hoàng Thế Thiện. Đồng chí Hoàng Thế Thiện chỉ sang người mặc quần áo bà ba đã đứng tuổi. Đại đội trưởng hiểu ý liền quay sang người mặc áo bà ba: Báo cáo Thủ trưởng! Đơn vị đã tập trung đông đủ, kính mời Thủ trưởng nói chuyện!

        Người mặc áo bà ba liền bước lên phía chiếc bàn không có ghế ngồi và tự giới thiệu:

        - Tôi là Sáu Di, hôm nay thay mặt Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền đến thăm các đồng chí.

        Rồi đồng chí hỏi anh em chúng tôi một cách mộc mạc và chân thành:

        - Đồng chí nào tuổi từ hai mươi lăm trở xuống giơ tay?

         Hầu hết đại đội giơ tay.

        Chúng tôi tuổi đời mười chín đôi mươi, trừ cán bộ đại đội tập kết về tuổi lớn hơn.

        Đồng chí Sáu Di nói:

        - Như thế là đại đội các đồng chí đều là thanh niên cả. Đồng chí nào quê ở đồng bằng sông Cửu Long giơ tay.

        Hai phần ba đại đội giơ tay.

        Đồng chí hỏi tiếp:

        - Các đồng chí ai quê ở Đông Nam Bộ giơ tay.

        Một số cánh tay giơ lên.

        Đồng chí Sáu Di nói rất giản dị:

        - Như vậy đại đội các đồng chí chủ yếu là anh em ở Nam Bộ.

        Sau đó hỏi tiếp:

        - Các đồng chí có bao nhiêu người có vợ?

        Một vài cánh tay giơ lên.

        - Thế đồng chí nào có vợ và đã có con?

        Lại một hai đồng chí giơ tay.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:28:13 PM
        Đồng chí nói:

        - Số có gia đình và có con cũng ít.

        Đồng chí Sáu Di hỏi ba điều về tuổi tác, về địa phương và hoàn cảnh gia đình của cán bộ và chiến sĩ đại đội. Sau đó đồng chí đột ngột hỏi:

         - Các đồng chí học được những vấn đề gì về quân sự, chính trị?

        Anh em giơ tay, đồng chí chỉ định từng người, chứ chúng tôi không được trả lời tập thể. Có khi đồng chí chỉ người ngồi hàng đầu, có khi đồng chí chỉ người ngồi ở giữa và có khi đồng chí chỉ người ngồi hàng cuối. Đồng chí Sữa, người cùng thôn với tôi cũng được hỏi. Đồng chí Sữa trả lời:

        - Thưa Thủ trưởng, chính trị chúng em học được 10 bài cách mạng Việt Nam.

        Đồng chí Sáu Di lại hỏi:

        - Bài một đồng chí học là gì?

        - Thưa Thủ trưởng, bài một về con người và đất nước Việt Nam!

        - Thế đồng chí hiểu thế nào?

        - Thưa Thủ trưởng, đất nước Việt Nam ta giàu và đẹp, dân tộc Việt Nam ta cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc ngoại xâm sâu sắc.

        Đồng chí Sáu Di chỉ tôi đứng lên rồi hỏi:

        - Thế học kỹ thuật, thì các đồng chí học những gì?

        Tôi trả lời:

        - Thưa Thủ trưởng, chúng em học ngữ đại kỹ thuật.

        - Ngũ đại kỹ thuật là những môn gì?

        - Thưa Thủ trưởng, ngũ đại kỹ thuật là bắn súng, đâm lê ném lựu đạn, công sự ngụy trang và gói buộc thuốc nổ.

        Tôi nói xong, đồng chí khen: Tốt! Và đồng chí hỏi tất cả mọi người:

        - Các đồng chí học đất nước Việt Nam rồi, bây giờ tôi hỏi những con sông lớn từ Bắc vào Nam là nhưng con sông nào?

        Nhiều cánh tay giơ lên, đồng chí chỉ một người đứng lên nói:

        - Thưa Thủ trưởng, Việt Nam ta nếu tính từ Bắc vào Nam thì có những con sông lớn: sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Gianh, sông Bến Hải, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Đà Rằng, sông Đồng Nai, sông Bé và hệ thống sông Cửu Long ạ.

        Đồng chí khen anh em trả lời tốt và có hệ thống. Rồi đồng chí giải thích:

        - Sông lớn là sông không những có chiều rộng mà phải có chiều dài, chảy qua nhiều nước, nhiều tỉnh, như sông Hồng, sông Cửu Long. Các đồng chí thấy không, gọi là sông Bé mà đâu có bé, nó chảy qua nhiều tỉnh rồi nhập vào sông Đồng Nai trước khi đổ ra biển phải không?

        Khi đồng chí Sáu Di hỏi bờ biển Việt Nam dài bao nhiêu ki-lô-mét, thì nhiều người trả lời trật. Đồng chí liền giải thích, bờ biển của Việt Nam chạy dài từ Móng Cái đến Hà Tiên dài hơn 3.200 cây số.

        - Thế các đồng chí đã học lịch sử Việt Nam mình chưa? Đồng chí nào cho biết vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất?

        Nhiều người tranh nhau trả lời. Có người nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, đồng chí xua tay:

        - Tôi hỏi người anh hùng dân tộc nào trong lịch sử chống ngoại xâm cơ mà?

        Một vài người nói: Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo Đồng chí nói:

        - Đúng, các vị anh hùng dân tộc đó cũng rất đặc biệt, nhưng tôi muốn hỏi các đồng chí anh hùng dân tộc nào vừa đặc biệt lại vừa độc đáo, tiêu biểu cho các thời đại?

        Tôi mạnh dạn đứng lên nói:

        - Thưa Thủ trưởng, đó là Quang Trung có phải không ạ?

        - Vì sao?

        - Quang Trung từ Tây Sơn, Bình Định hành quân thần tốc ra Thăng Long, đại phá 20 vạn quân Thanh vào đúng dịp Tết Nguyên Đán ạ.

        Nghe tôi nói xong, đồng chí gật đầu: "Đúng! Đúng! Đúng!". Rồi đồng chí giải thích:

        - Quang Trung đưa quân tới Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp. Biết quân Thanh dự định trong ngày 6 tháIlg Giêng âm lịch sẽ từ Thăng Long xuất quân, ông hạ lệnh cho quân sĩ ăn Tết trước và tuyên bố. "Ngày mùng 7 sẽ vào Thăng Long mở tiệc ăn Tết khai hạ!'. Mờ sáng ngày mùng 5 nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm đồn Ngọc Hồi - một trong những đồn lũy quan trọng nhất của quân Thanh được phòng thủ kiên cố. Quang Trung cho hơn 100 voi tiến trước, quân Thanh không địch nổi, bỏ đồn xéo lên nhau mà chạy. Chiến thắng lịch sử đại phá 20 vạn quân Thanh diễn ra cực kỳ nhanh chóng và mãnh liệt. Chiến thắng vĩ đại ấy được xây dựng trên tinh thần chiến đấu quả cảm của quân sĩ, nhiệt tình tham gia ủng hộ của nhân dân và thiên tài quân sự xuất sắc của Quang Trung.

        Mọi người chú ý, lắng nghe những lời đồng chí giải thích. Nói rồi, đồng chí quay sang nói như tâm sự: "Các đồng chí ăn cơm có no không?", "Có thiếu muối không?". Anh em thưa, có lúc cũng khó khăn do địch khống chế các cửa khẩu, tiếp tế không kịp, nhưng thường xuyên ăn đủ no.

        Đồng chí bảo:

        - Chiến trường các đồ gần vựa thóc lớn là đồng bằng sông Cửu Long cung cấp lương thực cho chiến trường Nam Bộ, kết hợp chi viện ở miền Bắc vào. Nhưng miền Bắc chủ yếu chi viện súng đạn chứ lương thực chưa nhiều đâu Đôi khi vận chuyển không kịp là do địch ngăn chặn chứ lương thực mình không đến nỗi thiếu. Mình vẫn đủ gạo cung cấp cho bộ đội. Còn muối, bờ biển mình dài, đồng chí nào kể cho tôi nghe một vài đồng muối ở Nam Bộ?


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:28:50 PM
        Lúc đó anh em chúng tôi chỉ biết sơ sơ mấy đồng muối Ở Phan Thiết, Ba Tri, Bình Đại kéo dài đến chân núi Lớn, Bạc Liêu.

        Đồng chí nói:

        - Như vậy, muối mình không thiếu, gạo mình không thiếu phải không?

        Bất ngờ đồng chí hỏi:

        - Các đồng chí có lãng phí không?

        Mấy anh em chúng tôi nhanh nhảu:

        - Báo cáo Thủ trưởng chúng em cũng rất tiết kiệm vì nhân dân mình còn nghèo.

        - Các đồng chí nói chỗ này là chưa đúng. Tôi đi đường thấy có nơi bộ đội vẫn bỏ lại cơm vắt, có nơi muối rơi vãi dọc đường. Nhân dân nlình còn nghèo mà các đồng chí lãng phí là có lỗi với dân.

        Đồng chí hỏi đến mặc:

        - Ai có hai bộ quần áo giơ tay?

        Đại bộ phận có từ hai bộ trở lên, có người hai bộ nhưng có bộ rách còn may vá lại được. Đồng chí nói:

        - Hiện nay đại bộ phận các đồng chí là hai bộ, vải của mình thô, chiến trường thì ẩm ướt cho nên các đồng chí phải biết giữ gìn làm sao có đủ mặc, đủ ấm, có võng, màn chống muỗi.

        Đồng chí Sáu Dì hỏi tiếp:

        - Sau mỗi trận đánh các đồng chí về huấn luyện được bao nhiêu ngày?

        Tôi đứng lên trả lời:

        - Sau mỗi trận đánh có từ bảy đến mười ngày luyện quân rút kinh nghiệm, sau đó lại ra chiến trường đánh tiếp Kết thúc mỗi mùa chiến dịch thì đơn vị rút về củng cố, xây dựng huấn luyện khoảng hai tháng lại bắt đầu một chiến dịch mới ạ.

        - Sau một trận đánh, sau một chiến dịch phải luyện quân, rút kinh nghiệm bình chỉ huy, bình chiến đấu là tốt.

        Đồng chí khen những việc làm đó. Dừng một lát, đồng chí Sáu Di nói với đồng chí Hoàng Thế Thiện cho gọi hai người trẻ nhất trung đoàn là Nguyễn Văn Thắng (15 tuổi) con của anh Ba Hà, chính trị viên phó tiểu đoàn và Nguyễn Văn Trừ (15 tuổi), chiến đấu rất dũng cảm có huân chương. Khi Thắng và Trừ đến, đồng chí Sáu Di ân cần bắt tay, hỏi thăm sức khỏe, tình hình chiến đấu. Nhưng tôi nhớ nhất đồng chí Sáu Di hỏi Thắng:

        - Mình có đánh thắng Mỹ không?

        - Thưa Thủ trưởng, mình đánh thắng ạ!

        - Tại sao? Cậu giải thích cho mình nghe.

        - Thưa Thủ trưởng, em đi tải gạo thấy bộ đội mình nhiều lắm, súng lớn ba bốn người khiêng, nhất định mình thắng Mỹ.

         Lúc này anh Ba Hà và một số cán bộ trung đoàn đã có mặt. Quay sang Nguyễn Văn Trừ, đồng chí hỏi:

        - Theo cậu, mình có đánh thắng được Mỹ không?

        - Dạ, thưa Thủ trưởng, thắng ạ.

        - Vì sao mình thắng Mỹ, cậu nói tôi nghe coi?

        - Dạ, thưa Thủ trưởng, chiến tranh của mình thuộc chiến tranh chính nghĩa được toàn dân ủng hộ và tham gia kháng chiến. Hai, chiến tranh Việt Nam là chính nghĩa nên được nhân dân thế giới ủng hộ thì mình nhất định thắng, Mỹ nhất định thua.

        Đồng chí Sáu Di quay sang anh Ba Hà nói:

        - Ông Hà thấy không, lính "Triều đình" Ở tiểu đoàn bộ đâu được huấn luyện, đâu được giáo dục đến nơi, đến chốn nên trình độ chính trị còn non. Cậu Trừ là lính chiến đấu, được học tập rất kỹ nên trình độ khác hẳn. Ta thắng Mỹ không phải nhiều súng đạn, cuộc chiến tranh của ta chính nghĩa, cái đó quyết định để dân tộc Việt Nam mình thắng giặc Mỹ xâm lược.

        Cuối buổi nói chuyện đồng chí Sáu Di kêu hai chiến sĩ trẻ đứng hai bên chụp ảnh kỷ niệm.

        Tôi xin nói thêm, sau đó vài năm anh Trừ hy sinh trong chiến đấu, anh Thắng chuyển về đơn vị biệt động Sài Gòn, chiến đấu rất dũng cảm và đã hy sinh oanh liệt.

        Cuối cùng đồng chí Sáu Di nói, đại ý:

        - Hôm nay thay mặt Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền, tôi đến thăm đại đội 12 để tìm hiểu đời sống sinh hoạt, hoàn cảnh gia đình, tình hình học tập quân sự, chính trị của cán bộ, chiến sĩ đại đội. Tôi rất hài lòng về tinh thần hăng say học tập, ý chí vươn lên, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của các đồng chí. Tôi hoan nghênh thành tích của đại đội 12, mong rằng các đồng chí tiếp tục phát huy truyền thống, lập nhiều chiến công mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho.

        Mấy ngày sau, chúng tôi được đại đội trưởng thông báo đồng chí Sáu Di chính là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, hiện tại là Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam.

        Tôi không ngờ một vị Đại tướng, một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, của quân đội mà ra tận chiến trường gặp gỡ chiến  sĩ như vậy Vị trí đóng quân của đại đội tôi nằm trong tầm  pháo của địch, chúng có thể bắn đến bất cứ lúc nào.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:30:08 PM
         Sau này, khi trưởng thành tôi có điều kiện tìm  hiểu, nghiên cứu những bài viết, bài nói của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tôi càng cảm phục và mến mộ đồng chí. Trước khi chạm trán với Mỹ, Đại tướng có chủ trương tất cả các đơn vị bộ đội chủ lực đưa trinh sát, đơn vị nào không có trinh sát thì đưa một bộ phận bộ đội xuống các địa phương học dân quân, du kích, xem họ đánh Mỹ thế nào để rút kinh nghiệm mà đánh. Khi Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam nhiều người băn khoăn: Liệu ta có đánh được Mỹ không và đánh bằng cách nào ? Đại tướng Nguyễn Chí Thanh giải thích thắc mắc ấy bằng câu nói rất đơn giản: Chưa biết đánh Mỹ thì hãy đánh Mỹ đi, cứ đánh rồi khắc tìm ra cách đánh.

        Nghĩ lại lời của Đại tướng tôi thấy không có gì chúng ta không biết mà chúng ta chỉ chưa biết mà thôi. (Lời nói đã trở thành phương châm hành động của tôi: Cứ làm rồi sẽ biết cách làm). Câu nói của Đại tướng không chỉ đúng trong đánh Mỹ mà trong cuộc đời mình cũng thế. Cái gì cứ làm rồi sẽ làm được. Đại tướng còn nói: Chúng ta biết đánh Mỹ, thì chúng ta khắc biết cách thắng Mỹ. Muốn hạn chế phi pháo của Mỹ, đồng chí chỉ đạo cách đánh cho Quân giải phóng chúng tôi: Bám thắt lưng Mỹ mà đánh.

        Đánh giá về địch năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho rằng: Việc Mỹ ồ ạt đưa vào miền Nam gần 20 vạn quân viễn chinh trong năm 1965, có nghĩa là Mỹ đã phải thú nhận là 50 vạn quân nguy không còn có thể đương đầu với cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam nước ta. Như thế cũng có nghĩa là chiến tranh nhân dân ở miền Nam nước ta đã thắng "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, trong giai đoạn mà chúng lấy quân ngụy làm chỗ dựa chủ yếu.

        Từ câu hỏi: Làm thế nào để quân và dân miền Nam đánh thắng mấy chục vạn quân Mỹ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phân tích một cách sâu sắc và khẳng định chắc chắn rằng ta hoàn toàn có thể thắng Mỹ, với những lý do :

        Một là, quân Mỹ được trang bị hiện đại, bảo đảm hậu cần của chúng rất tốt, nhưng qua thử lửa với Quân giải phóng ở Vạn Tường, Plây Me, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Đất Cuốc Chúng ta thấy rõ quân Mỹ hoàn toàn ở thế bị động, không những chúng không thể tiến công mà trái lại đang bị ta tiến công liên tục. Vì vậy, quân Mỹ đã thua đậm một số trận đầu ra quân là điều tất nhiên, không có gì khó hiểu cả.

        Hai là, quân Mỹ là quân đội có nhiều binh chủng hợp thành, có nhiều phương tiện cơ động. Nhưng vì tinh thần chúng kém, vì chiến tranh nhân dân và các lực lượng vũ trang của ta có tinh thần tiến công mạnh, có trình độ chỉ huy khá hơn Mỹ, có nghệ thuật quân sự riêng biệt, có sự chỉ huy chiến lược, chiến thuật chủ động sáng tạo và độc đáo hơn Mỹ. Trên một chiến trường như miền Nam nước ta, với địa hình ấy, thì việc huấn luyện, trang bị, cách đánh của Mỹ theo các điều lệnh tác chiến và huấn luyện của chúng chẳng khác nào "lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kial', do đó lục quân Mỹ không thể thoát khỏi bị động. Mặc dù lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam không coi thường quân địch, nhưng nhất định quân xâm lược Mỹ sẽ bị tiêu hao và tiêu diệt.

        Ba là, bộ chỉ huy quân đội Mỹ đang vướng một loạt vấn đề chưa và không thể ổn định, như chiến lược đánh nhanh hay đánh lâu dài? Chiến thuật tức là cách đánh thế nào là phù hợp? Do đó trên cả một loạt vấn đề về tổ chức, trang bị, huấn luyện, các tướng Mỹ còn đang phân vân về chiến thuật thực tế chứng tỏ không những về chính trị và chiến lược mà cả về chiến thuật Mỹ cũng đang khủng hoảng. Vì vậy, dù Mỹ có tăng thêm bao nhiêu quân mà không giải quyết được chiến lược và chiến thuật thì chúng cũng không thể nào tránh khỏi thất bại.

        Cuối cùng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khẳng định: Chỉ trong vòng chín tháng, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 15 nghìn quân Mỹ, trong đó có hàng chục đại đội, mấy tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt. Điều đó chứng tỏ khả năng của chiến tranh nhân dân, của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam có đủ sức đánh và đánh thắng quân Mỹ. Những phân tích và nhận định đó đã tạo thêm lòng tin cho quân và dân miền Nam tiến lên, kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

        Trong bài "Lửa chiến tranh nhân dân đốt cháy mùa khô giặc Mỹ", Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lấy bút danh Trường Sơn, có một câu tôi rất tâm đắc: "Không có lực lượng cơ động nào nhanh hơn lực lượng tại chỗ". Quân tại chỗ là nền của chiến tranh nhân dân. Quân Mỹ cơ động bằng trực thăng, bằng cơ giới, xe tăng thiết giáp nhưng cũng không thể nhanh hơn lực lượng tại chỗ đã cài sẵn thế trận. Trong chiến dịch Gian-xơn Xi-ty, Bộ Chỉ huy Miền, cơ quan Bộ Chỉ huy Miền cũng tổ chức du kích, cả chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều đánh kiểu du kích; thì đúng là thiên la địa võng đối với quân Mỹ, làm cho chúng không kịp trở tay và chịu thất bại thảm hại.

        Chỉ trong một thời gian ngắn trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên chiến trường miền Nam, với một tầm nhìn chiến lược và với một phương pháp tư duy khoa học, chính xác, luôn luôn bám sát thực tiễn, gắn chặt giữa thực tiễn với lý luận, dùng lý luận soi sáng thực tiễn, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đánh giá kịp thời và chính xác về địch trong những năm từ năm 1965 đến nàm 1967, đã góp phần rất quan trọng để Bộ Chính trị và Bác Hồ hạ quyết tâm trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển lên một bước mới, chuẩn bị cho việc tiến lên giành thắng lợi quyết định.

        Hình ảnh đồng chí Nguyễn Chí Thanh - một vị Đại tướng vô cùng giản dị, vô cùng thân thiết, những kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc đầy tình người, tình đồng chí, những cử chỉ ân cần, săn sóc, những lời động viên, khuyến khích, chỉ dẫn, giáo dục của đồng chí luôn in đậm trong lòng cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Với tôi, dù chỉ một lần được gặp Đại tướng, nhưng lần ấy là một kỷ niệm sâu sắc, mãi mãi không bao giờ mờ phai trong ký ức cuộc đời.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:31:49 PM
       
NHỚ VÀ NGHĨ VỀ NAM BỘ - "B2"

TƯ TIÊN       

        Thời niên thiếu tôi đi học trường làng. Học sách giáo khoa tôi chỉ biết: Nước Việt Nam có hình cong như chữ "S", kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, được chia thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Tôi lại được nghe bố mẹ kể rằng: Ở làng tôi có một số người nhà nghèo, ham cờ bạc, khi mang công mắc nợ cùng đường phải ký "Công-tờ-ra" với Sở Mộ phu đi Nam Kỳ. Chuyện đi Nam Kỳ làm phu cạo mủ cao su cho Tây ghê rợn lắm !... Rừng thiêng nước độc lao dịch cực hình, đã đi thì khó trở về. ông nội tôi là một trong số những người như vậy. Đến nay con cháu chỉ lấy ngày ông đi "mồng 8 tháng Giêng" để cúng giỗ. Ấn tượng đầu tiên của tôi về xứ Nam Kỳ xa xưa là như vậy...

        Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta không gọi là Nam Kỳ nữa. Chữ "Kỳ" được đổi thành chữ "Bộ" để phân biệt thời nô lệ mất nước với thời đã giành lại được độc lập tự do (tôi tự nghĩ như vậy). Ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi lúc này là ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp núp bóng quân Anh, Ấn trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

        Với khí thế sục sôi, thanh niên tình nguyện Nam tiến để hợp lực cùng đồng bào chiến sĩ Nam Bộ chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào tình nguyện Nam tiến có tới hàng triệu con người. Không thể chia phần cho tất cả, nên cũng có kẻ ở người đi... Tôi là người không được may mắn như nhiều bạn khác nên phải ở lại. Chẳng bao lâu nữa, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chiến tranh lại diễn ra ngay trên đất Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội - Thủ đô của cả nước. Thế là tất cả mọi người đều xung trận...

        Cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chín năm sau giành được thắng lợi. Với Hiệp nghị Giơ-ne-vơ tạm thời phân chia hai miền, tập kết quân đội để chờ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Quân dân miền Bắc được đón tiếp các cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc. Từ lâu nghĩ về miền Trung, miền Nam của Tổ quốc tôi chỉ hình dung trong cái vòng cong của hình chữ "S"; nay được tay bắt mặt mừng với những con người đại diện cho đồng bào chiến sĩ miền Trung, miền Nam ra tập kết, xúc động biết bao khiến tôi không cầm nổi nước mắt.

        Khi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bội ước phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam; miền Bắc lại có phong trào Nam tiến lần thứ hai. Lần này tôi được vào tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên "B3". Tôi vẫn chưa được đến với đồng bào chiến sĩ Nam Bộ "B2". Tôi ước mơ có dịp đi đến tận cùng đất nước để tận mắt nhìn thấy mũi Cà Mau, mảnh đất thiêng liêng mà mình đã từng ấp ủ trong tim từ thời niên thiếu...

        Bị thất bại thảm hại sau 20 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai buộc ký Hiệp định Pa-ri. Lúc này tôi được cấp trên giao nhiệm vụ dẫn đoàn cán bộ vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ - "B2". Mong ước của tôi đã được toại nguyện. Tôi cùng anh em hăm hở lên đường. ước gì lúc này mình biến thành mũi tên để bay nhanh đến đích. Đang phấn chấn trong lòng, bỗng nhiên có chuyện đột xuất. Mẹ tôi bất ngờ lâm bệnh nặng hôn mê bất tỉnh. Lòng tôi lại rối như tơ vò. Theo kế hoạch, ngày mai đã lên đường. Tôi phụ trách, nắm toàn bộ kế hoạch công tác của ngành trong giai đoạn mới và kế hoạch dẫn đưa đoàn cán bộ hành quân miền Nam tiến. Người thay thế tức thời lúc này không dễ gì chuẩn bị kịp. Trước tình hình đó, tổ chức cũng hơi khó xử. Tôi nói: Nhiệm vụ cách mạng dù hoàn cảnh nào cũng có lúc thử thách hy sinh. Lúc này Tổ quốc là trên hết? Tôi có thể tự thu xếp công việc gia đình để thực hiện đúng kế hoạch đã định. Tổ chức cũng thấy yên lòng với quyết tâm của tôi. Trước tình hình nước sôi lửa bỏng của đất nước, anh em chúng tôi ngồi trao đổi tâm tình với nhau bên giường mẹ đang hấp hối. Tất cả đều nhất trí, động viên tôi lên đường và hứa hẹn: Việc chăm lo cho mẹ ở nhà chúng em xin gánh vác chu toàn. Mong anh yên tâm lên đường thuận buồm xuôi gió. Tôi chào mẹ lần cuối cùng. Mẹ ơi! Con vì nghĩa nặng tình sâu với dân với nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam nên phải xa mẹ vào lúc này, mong mẹ hiểu và tha thứ cho con! Mẹ tôi không nói được nữa, nhưng nước mắt cứ trào ra. Anh em chúng tôi mọi người đều khóc, hòa chung với dòng nước mắt của mẹ. Thế là tôi đã vượt qua được một thử thách đau lòng để lên đường. Sau này tôi nhận được điện báo tin: Mẹ đã qua đời sau khi tôi ra đi được một tuần...


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:32:34 PM

        Trải qua gần ba tháng hành quân bộ, từ Đông Trường Sơn vượt qua Tây Trường Sơn, rồi từ Tây Trường Sơn lại trở về Đông Trường Sơn, cuối cùng cả đoàn đã vào tới đích. Đặt chân lên đất Nam Bộ "B2", tôi thấy nhiều điều mới lạ. Từ cảnh vật đến con người, sao nó cứ vời vợi, bâng khuâng... Tôi nhớ đến lời Bác Hồ: "Miền Nam đi trước về saư' - "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi"... Bác Hồ vởi miền Nam cũng như cả nước với miền Nam... Sông có thể cạn, đá có thể mòn... Song không một sức mạnh nào có thể ngăn cách được tình cảm ruột thịt Bắc - Nam...

        Đi sâu vào đất Lộc Ninh, trước mặt bỗng xuất hiện một rừng cây... Anh em reo lên: ôi! Rừng cao su đây rồi... Những hàng cây thẳng tắp, giữa mùa khô lá rụng cành trơ. Những dải đất ba-dan đỏ ngầu phủ kín cỏ cây ven đường giống như một lớp sơn màu gạch. Mắc võng nằm nghỉ dưới gốc cây sao su, tôi chợt nhớ lời bố mẹ nói ngày nào, mà hình dung thấy sự lam lũ vất vả thời xa xưa của những người phu cạo mủ. Nghĩ đến ông nội, tôi bùi ngùi thương cảm: ông ơi? Người ta đã vùi lấp ông ở nơi nào? Để cháu tìm đến với ông cho đỡ cô quạnh? Thầm nghĩ trong óc mà nước mắt cứ tuôn trào...

        Buổi ra mắt đầu tiên với các đồng chí đồng đội ở Nam Bộ "B2", anh phụ trách buổi tiếp đón hỏi tôi: Anh Tiên là anh thứ mấy trong gia đình? Tôi thưa: Nếu chỉ tính con trai thì tôi là trưởng, dưởi tôi còn bốn chú em nữa. Tính cả con gái thì trên tôi còn hai người chị.

        Anh phụ trách nói: Theo tính cách của Nam Bộ thì anh có chị Hai, chị Ba... Còn anh là thứ Tư. Nam Bộ không có "trưởng" hay "cả" và không phân biệt trai hay gái, người con đầu là thứ hai... Xin được giới thiệu anh là anh "Tư". Đấy là thủ tục nhập tịch của tôi khi tới chiến trường Nam Bộ "B2" và từ đó tôi được anh em đồng chí đồng đội gọi là anh "Tư", đôi khi để tránh trùng lặp thứ tự với các anh em khác cũng là thứ "Tư" thì anh em cũng dùng cả "thứ" và "tên" gọi tôi là anh "Tư Tiên". Được mang cái tên anh "Tư" hay "Tư Tiên" tôi cảm thấy mình gắn bó với Nam Bộ "B2" như anh em trong nhà. Tôi tự thấy yêu mình hơn Từ đó, mỗi khi viết văn, viết báo, tôi cũng lấy bút danh là "Tư Tiên" để giữ lấy kỷ niệm chiến trường thắm đậm tình thương nhớ.

        Những ngày công tác ở chiến trường Nam Bộ "B2", khi thâm nhập vào các xóm, ấp, ăn ở trong nhân dân, hoặc khi xuống các đơn vị chung sống cùng đồng chí đồng đội, trong giao tiếp ứng xử nghe những tiếng xưng hô: cụ Hai, ông Hai, bà Hai, bác Hai, dì Hai, cô Hai, cậu Hai, anh Hai, cô út cậu út, thật là đầm ấm như con một mẹ, anh em một nhà, chung sống với nhau thuận hòa, ưu ái, chia ngọt sẻ bùi, sống chết bên nhau... Tôi rất ngưỡng mộ cách thức biểu hiện tình cảm của đồng bào, đồng chí Nam Bộ "B2"...  Sao nó hiền hòa, gợi thương, gợi nhớ đến thế... Khi nóng nó có thể đem lại luồng gió mát cho con người, khi lạnh nó lại sưởi ấm lòng người, khiến người ta có thể dễ quên đi nỗi buồn phiền, để tâm hồn mình thanh thản... Người ta dễ xua tan đi nỗi tức giận trong lòng để đến với nhau bằng tình vị tha độ lượng, như cây cao bóng cả che mát cho đời.

        Biết ơn tổ tiên ông cha ta, đã mang dòng huyết thống của cha Lạc Long Quân với mẹ âu Cơ, sinh con cùng một bọc, chia nhau xuống biển, lên non để xây dựng nên cơ đồ Đất Việt có hình cong như chữ "S" biết ơn tư tưởng Đại đoàn kêt của Bác Hồ kính yêu, để lớp lớp cháu con ngày nay có được nếp sống "đẹp" tuyệt trần: kết hợp hài hòa giữa cá nhân với cộng đồng, trong cái "nôi" của mẹ bọc trăm con. Không thấy có sự phân chia cách biệt thái quá nào giữa những người con với gia đình, giữa họ hàng với làng nước. Đó là bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và phát huy, để tôn cao hơn nữa lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam trước nhân loại.

Tháng 11 năm 1998         


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:34:03 PM
       
TÔI TRỞ VỀ NAM

TRƯƠNG THÀNH HỶ       

        Năm 1954 tập kết ra Bắc, chúng tôi được tập trung về Tổng cục Chính trị. Quân đội chưa có ngành điện ảnh, nên lần lượt anh em điện ảnh trong Nam ra chuyển về xưởng phim thuộc Bộ Văn hóa. Chỉ còn là một nhóm nhỏ gồm Vũ Ba, Phạm Tranh, Việt Hiền, Đoàn Tý và tôi ở lại quân đội công tác cho Bảo tàng Quân đội, các báo Hình ảnh quân đội và Quân đội nhân dân.

        Năm năm sau, năm 1959, quân đội mới thành lập xưởng phim và tôi được trở về công tác ngành quay phim, nghề cũ của tôi. Ban giám đốc Xưởng phim phân công quay phim tư liệu. Phim tư liệu nhằm vào những đề tài còn bí mật chưa được đưa ra công khai, đòi hỏi người quay phim có phẩm chất, đồng thời biết giữ bí mật. Những anh em còn trẻ không mấy gì thích loại đề tài này.

        Thế là tôi lần lượt đi Lào hết đợt này đến đợt khác. Khi thì đi phụ quay cho anh Như Ái, về sau tôi đi độc lập. Bộ đội Việt - Lào giải phóng Cánh Đồng Chum, địch núng thế, ta phát huy thắng lợi giải phóng tỉnh Văng Viêng. Tôi được phép nhận về nhửng chiến lợi phẩm thuộc ngành chuyên môn như máy chiếu và phim 16mm.

        Từ năm 1961, Sư đoàn 338 trở thành hậu cứ huấn luyện, tập kết và tổ chức đưa anh em trở về miền Nam. Địch gọi đây là căn cứ "biệt kích 338". Xưởng phim Quân đội tổ chức một đoàn làm phim về các hoạt động của sư đoàn này, gồm anh Trần Việt - đạo diễn Trưởng đoàn, Phùng Đệ và tôi quay phim, đồng chí Tấn lái xe. Làm phim này quả thật không thú vị gì. Đây là hậu phương lớn lo người, lo của cho tiền tuyến lớn, chuyện quốc gia đại sự bí mật chết người. Từ quay phim, tráng phim đến thành phẩm đều có bảo vệ đi kèm từng công đoạn một. Hết đoàn này tập trung huấn luyện lên đường về Nam lại đến đoàn khác. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều đến thăm đoàn, từ bác Tôn Đức Thắng, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Phạm Hùng.

        Do nhu cầu công tác, đồng chí Trần Việt được rút về nhận phim khác. Còn lại tôi, Phùng Đệ và Tấn lái xe phải lẽo đẽo theo hoài. Tự nhiên, dù không muốn, trong con người tôi vẫn tích lũy quá nhiều "bí mật quốc gia", cứ đà này thì còn lâu mới có điều kiện về Nam!

        Tháng 10 năm 1962, nhân kỷ niệm 45 năm Cách mạng tháng Mười Nga, Liên Xô gửi tặng Hải quân nhân dân Việt Nam một đội hải thuyền. Tư liệu đặc biệt này lại đến tay anh Bằng và tôi. Nhưng đây cũng là duyên may cho tôi khi được bố trí đi trên chiếc hải thuyền chiến lợi phẩm do dân quân du kích miền Nam bắt từ tay giặc Pháp và được gặp Trung tướng Trần Văn Trà. Tôi đã nhiều lần hân hạnh gặp và thu hình ảnh Trung tướng tại Sư đoàn 338, khi đồng chí đến thăm và tiễn đưa các đoàn quân bí mật trở về Nam. Chưa kịp chào hỏi thì đồng chí đã hỏi ngay:

        - Xưởng phim Quân đội đã cử đội quay nào vào Nam chưa?

        - Thưa đồng chí, Xưởng phim đã chọn 5 đồng chí người miền Nam đưa đi đào tạo và đã lên đường cùng với bên dân sự do anh Hiền Liên (Cao Thành Nhơn) và Trần Nhu, căn cứ vào thời gian xuất phát thì nay đã đến.

        - Riêng đồng chí Hỷ, đồng chí có muốn đi không?

        Câu hỏi trúng ngay "tim đen" của tôi rồi, tôi tranh thủ dịp may hiếm có, khi tàu chạy trên vịnh Hạ Long đã đề đạt với Trung tướng một số vấn đề về công tác tổ chức điện ảnh cho Quân giải phóng miền Nam và nhờ đồng chí có ý kiến với Tổng cục Chính trị để tôi được đi mà không ràng buộc vì tư liệu quốc gia.

        Sau chuyến đi hải quân về ít lâu, một hôm, Chi ủy và Ban giám đốc Xưởng mời tôi lên. Bước vào phòng, tôi đã thấy các đồng chí ngồi đầy đủ cả. Đồng chí Bí thư phổ biến cho đồng chí Trần Anh Trà và tôi: một người về Quân khu 5, một người về Nam Bộ. Tôi đã đoán trước nội dung buổi họp nên không có gì ngạc nhiên.

        Thế là công tác ở Xưởng phim Quân đội chỉ được ba năm, tôi đã âm thầm rời xưởng không một lời chào hỏi tiễn đưa với những người đáng bậc thầy, bậe đàn anh, có người ít tuổi hơn nhưng tài năng sắc sảo tôi thường lưu ý học tập. Sau khi chiến tranh kết thúc, không bao giờ tôi gặp lại anh Bằng vì anh đã hy sinh trên chiến trường Quảng Trị năm 1972.

        Những năm tháng tuy ngắn ngủi ở Xưởng phim Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng thắm thiết tình đồng chí và thật quý giá cho trình độ nghề nghiệp của tôi. Số nhà 17 Lý Nam Đế, Xưởng phim Quân đội nơi tôi và anh em phát triển nghề nghiệp, và cũng chính là cái nôi cho Xưởng phim Quân giải phóng B2 mà tôi phụ trách sau này.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:35:07 PM

CHÚNG TÔI VÀO B2

NGÔ THẾ KỶ       

        Một buổi sáng đầu tháng 5 năm 1966, tôi được anh Hoàng Minh Thi, Cục trưởng Cục Tuyên huấn mời lên gặp. Anh cho tôi biết tôi được cử đi B, vào B2, tức là vào Cục Chính trị Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, hliện đang ở miền Đông Nam Bộ. Tôi làm trưởng một đoàn gồm sáu phóng viên báo chí, thông tấn. Chúng tôi vào B để đáp ứng yêu cầu của chiến trường đang và sẽ còn phát triển.

        Anh Thi hỏi tôi có gì khó khăn không? Tôi trả lời: Tôi đi được, không có gì khó khăn. Anh bảo tôi cứ chuẩn bị đi bộ vượt Trường Sơn, nhưng anh sẽ xin cho tôi đi theo anh Nguyễn Chí Thanh đã vào B2 mấy năm nay, hiện đang ở ngoài này và lại sắp vào trong ấy. Nhưng ý định này không thành.

        Nhận nhiệm vụ mới, tôi rất xúc động. Thế là tôi sắp xa Phòng biên tập phát thanh Quân đội nhân dân, nơi tôi công tác bảy năm nay.

        Tất nhiên xúc cảm sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn là tôi sắp xa vợ và các con tôi. Vợ tôi công tác ở Cục Nghiên cứuBộ Tổng tham mưu, mới ba mươi tuổi nhưng sức yếu. Chúng tôi có hai con trai, đứa lớn lên chín, đứa bé lên năm. Vì chiến tranh phá hoại, các cháu phải sơ tán khỏi Hà Nội, được trại trẻ của Tổng cục Chính trị chăm sóc.

        Có lần vợ tôi hỏi: Bao lâu nữa thì gia đình lại được đoàn tụ? Điều này tôi cũng đã tự hỏi và tìm cách trả lời. Tôi nói: Mỹ chưa từng tham gia một cuộc chỉến tranh nào quá ba năm. Anh hy vọng, sau ba năm chúng ta lại sống bên nhau. Sự thực là sau tròn mười năm, tôi mới trở về.

        Cuối tháng 5 năm 1966, tôi vào Sư đoàn 338 ở Thanh Hóa để luyện tập chuẩn bị vượt Trường Sơn. Anh em cùng tôi vào B2 cũng đã đủ mặt: Nguyễn Duy Khải, Đỗ Công Viện, Lê Minh, Mai Bá Thiện (phóng viên báo), Nguyễn Văn Năng, Nghiêm Hà (phóng viên nhiếp ảnh) và đồng chí Trạch, quân y sĩ.

        Hàng ngày chúng tôi đeo ba lô, tập hành quân. Ba lô mỗi ngày thêm trọng lượng và hành trình ngày một thêm dài.

        Đầu tháng 6, Tổng cục Chính trị cho xe đưa chúng tôi lên đường. Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Tổng cục Chính trị, của Cục trưởng Tuyên huấn Hoàng Minh Thi. Cũng như tất cả các xe khác ở thời kỳ ấy, xe chúng tôi đêm đi ngày nghỉ. Ban đêm xe phải dùng đèn gầm, chỉ chiếu lờ mờ một đoạn đường ngắn. Đêm nào cũng vậy, khắp trời vang tiếng máy bay, tiếng bom, tiếng súng phòng không. Đồng chí Quyên, lái xe của chúng tôi thật giỏi, nhiều đoạn xe đi trên miệng hố bom. Ban ngày tuy xe là mục tiêu của máy bay địch nhưng dân Khu 4 vui lòng dành nhà mình cho chúng tôi vào nghỉ.

        Thế rồi các trọng điểm, mấy nơi còn gọi là cửa tử, chúng tôi cũng lần lượt vượt qua: phà Ghép, phà Bến Thủy, đèo Ngang, phà Ròn, phà Gianh, phà Quán Hầu, phà Long Đại...

        Đến miền Tây Vĩnh Linh thì xe quay ra và chúng tôi bắt đầu vượt Trường Sơn bằng đôi chân của mình.

        Đêm đầu tiên ở đường Trường Sơn là một đêm đầy ấn tượng. Chúng tôi được đưa đến một khu rừng rậm để ăn ngủ ở đấy. Theo ngôn ngữ của đường Trường Sơn thì đây là "bãi khách". Trời mưa rả rích và tối như mực. Chúng tôi khoác ni-lông, bấm đèn pin, dùng dao găm để chặt cây và dây rừng dọn chỗ mắc võng, che ni-lông làm chỗ ngủ. Loay hoay cả tiếng đồng hồ mới dọn xong cái ổ của mình, chúng tôi chuyển sang nấu cơm ăn bữa đêm nay và nắm cơm cho cả ngày mai. Trời mưa nặng hạt hơn. Chúng tôi mò mẫm kê bếp, kiếm củi, mở đường xuống suối tìm chỗ vo gạo lấy nước rồi thổi cơm. Bếp ướt, củi ướt. Cái gì có thể dùng để nhóm lửa được đều được mang ra sử dụng: sách vở, quai dép cao su dự trữ... Cuối cùng rồi cũng có cơm ăn, tuy sống nhăn sống nhở.

        Đi được hai ngày thì đồng chí Năng ngã trẹo chân phải ở lại chạy chữa rồi đi sau. Một tuần sau, y sĩ Trạch chảy máu dạ dày phải quay ra Bắc. Rất may là cùng đi với đoàn chúng tôi có một tổ cán bộ vào công tác trong Bộ Chỉ huy Miền, trong đó tôi có một người bạn là bác sĩ Bùi Tiến Đông. Anh đã tận tình chăm sóc sức khỏe cho đoàn chúng tôi suốt cuộc hành trình.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:36:29 PM
        Những ngày vượt Trường Sơn là những ngày liên tục băng đèo, trèo núi, lội suối, vượt sông. Có chặng suốt một ngày chỉ qua được một con đèo. Chúng tôi đi trong mùa mưa nên suốt ngày ướt, đường lầy lội. Tội nghiệp Nghiêm Hà. Có hôm anh trượt chân ngã, một chiếc dép văng xuống vực Anh phải leo dốc đá tai mèo bằng một chân đi dép một chân trần. May buổi tối đến chặng nghỉ, anh được trạm cho một chiếc dép.

        Trước mắt chúng tôi, khó khăn còn nhiều, dọc đường nhiều muỗi, nhiều vắt. Mỗi người chúng tôi phải chuẩn bị một bọc muối để gỡ vắt cho nhanh, như những người thợ cấy có bọc vôi để gỡ đỉa. Có một số nơi còn có ruồi vàng đất đau như kim tiêm, vết đốt trở thành mụn nhọt. Mỗi ngày mỗi người chúng tôi được ăn bảy lạng gạo. Suốt cuộc hành trình không hôm nào thiếu gạo. Nhưng thức ăn chỉ có nước mắm cô đặc, ruốc thịt nhưng thịt ít mà muối thì nhiều. Dọc đường cố kiếm thêm một ít măng hoặc rau tàu bay.

        Một niềm vui không nhỏ đối với chúng tôi là, vì đoàn chúng tôi là một đoàn nhỏ nên Ở nhiều chặng chúng tôi được vào nghỉ trong trạm. Ngoài trời mưa tầm tã, chỗ nghỉ của chúng tôi thật là một thiên đường. Chúng tôi có chỗ ngủ khô ráo, nhiều trạm cho chúng tôi củi, có nơi còn cho chúng tôi cả rau và thịt thú rừng săn bắn hoặc bẫy được. Chúng tôi rất cảm động trước tình đồng chí, đồng đội.

        Một niềm vui nữa là khi gặp dân ở ven đường, chúng tôi thường được báo trước về những dịp này bằng tiếng hót hoặc bóng dáng của những con chim cu gáy, loại chim thường sống gần các nương rẫy. Gặp dân, chúng tôi cảm thấy mình lại được hòa vào xã hội, vào cộng đồng. Và một niềm vui thực tế hơn là chúng tôi có thể dùng một số thứ đã chuẩn bị sẵn theo kinh nghiệm của những người đi trước, như cặp tóc, đá lửa, quần áo... để đổi cho dân lấy con gà, con vịt, nải chuối, quả dưa... Đây thực sự là bữa tiệc của chúng tôi trên dãy Trường Sơn. Nhưng đây cũng là dịp hiếm hoi, vì để giữ bí mật, đường đi thường tránh xa những nơi có dân cư sinh sống.

        Thật không may, khi vừa đến địa phận Khu 6 thì tôi bị ốm. Sau này tôi mới được biết là anh em lo tôi chết, vì có lúc tôi đã hôn mê và tay đã "bắt chuồn chuồn". Anh em đưa tôi vào một bệnh xá. Đoàn để anh Lê Minh ở lại chăm sóc tôi, còn anh em tiếp tục hành quân. Tôi rất cảm động trước sự chu đáo của anh em. Mặt khác, tôi rất lo vì nghe mong manh đây là vùng đất khó khăn nhất của đường Trường Sơn. Lương thực, thực phẩm, thuốc men từ miền Bắc vào thì đến đây đã gần hết, mà từ Nam Bộ đưa ra đến đây cũng không còn mấy. Nhưng tôi lại gặp khá nhiều bất ngờ. Đầu tiên là việc các anh bố trí cho tôi ở cùng với ban chỉ huy bệnh xá. Từ ít lâu nay, ở đây đã quan hệ được với Cam-pu-chia nên lương thực, thực phẩm, thuốc men đủ dùng. Thuốc lá thơm cũng không thiếu. Ở đây, lần đầu tiên tôi được ăn chè nấu bằng sữa hộp và chuối tây. Nhân viên trong bệnh xá nhiều anh chị là người dân tộc. Có mấy anh săn bắn rất giỏi nên chúng tôi thường xuyên được ăn thịt thú rừng. Khoảng sau mươi hôm thì tôi ra viện và cùng anh Lê Minh tiếp tục lên đường vào Miền.

        Cuộc sống Trường Sơn thật là hào hùng và có biết bao điều cao cả, nhưng ở đây cũng không tránh khỏi những chuyện đau thương.

        Chúng tôi đi trên những cây số cuối cùng của đường Trường Sơn và một ấn tượng không bao giờ quên: những nấm mộ của các đồng chí hy sinh vì bom đạn giặc, vì bệnh tật mà nằm lại vĩnh viễn trên dải Trường Sơn.

        Trước đây tôi đã từng nghĩ, nếu đi B thì thích nhất là được vào Nam Bộ. Ở đây có "miền Đông gian lao mà anh dũng", có thành phố Sài Gòn, có sông Tiền, sông Hậu cùng cả vùng châu thổ mênh mông, có những người dân với những tính cách đáng quý.

        Thế là tôi bây giờ đã được toại nguyện. Sau khoảng ba tháng đi đường, trung tuần tháng 10 năm 1966, chúng tôi đã đặt chân lên đất miền Đông Nam Bộ.

        Chúng tôi đã đến trạm liên lạc của Cục Chính trị Miền. Nghe có nhiều tiếng bom, tiếng pháo cách đây không xa, hỏi ra được biết địch đang mở cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ. Tuy vậy, không khí ở đây rất bình thản.

*

*         *

        Khi viết những dòng này, tôi hình dung lại từng khuôn mặt của sáu người bạn cùng vào B2 với tôi cách đây hơn 30 năm: Nguyễn Văn Năng, phóng viên nhiếp ảnh đã hy sinh ngoài mặt trận khi đang làm nhiệm vụ. Nghiêm Hà, phóng viên nhiếp ảnh bị đạn giặc cướp mất của anh nửa bàn tay trong Tết Mậu Thân năm 1968. Nguyễn Duy Khải thì vợ chồng phải chia tay nhau sau những năm xa cách. Mai Bá Thiện, phóng viên báo Quân giải phóng miền Nam
       
       Việt Nam qua đời năm 1996 vì căn bệnh hiểm nghèo. Căn bệnh này có liên quan gì đến chất độc hóa học mà quân thù thả xuống những vùng anh đã đi qua? Đỗ Công Viện, sau giải phóng miền Nam về công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương, nay đã nghỉ hưu. Còn Lê Minh, con người "trên từng cây số" chí cốt với tôi, thì ngay sau ngày đất nước thống nhất đã trở về với người bạn đời rất đỗi thân thương ở quê hương Thanh Hóa, theo lời hẹn trước lúc lên đường.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:38:00 PM
                          
TÔI ĐI B

BÙI VĂN SƠ        

        Ra đi lần này khác hẳn thời đánh Pháp vì nửa nước đã hòa bình. Mỗi người đã có một tổ ấm riêng. Bản thân tôi lúc ấy đã có vợ và hai con nhưng các con đều còn nhỏ, bà con thân thuộc thì đều ở xa... Nỗi day dứt nhất của tôi khi ấy là hai đứa con quá thơ dại, và cũng chẳng biết bao giờ tái ngộ? Một bên vai là nợ nước, một bên vai là nghĩa vụ làm chồng làm cha... Nhưng được cái may, là tôi có người vợ hiền có thái độ đúng mực; tuy có bịn rịn, nhưng tỏ rõ quyết tâm nuôi con khôn lớn.

        Khi chia tay tạm biệt, tôi chỉ có đôi vần ca dao mộc mạc, dặn lại vợ con:

                                 "Xem trong thiên hạ xưa nay,
                           Muôn mai sum họp, ngày rầy chia phôi
                                 Dù rằng Nam - Bắc đôi nơi
                           Nhớ nhau, mình hãy lựa lời dạy con"

        Hôm tạm biệt người thân, vợ chồng tôi có mời hai anh bạn cùng ngành, cùng binh chủng, lại cùng đi B một ngày, ra ăn bữa cơm thân mật. Sau này tôi biết tin, anh Mùi vào Khu 5, anh Thận vào Khu 6, tôi vào Khu 7. Nhưng rồi cả hai anh đều vĩnh viễn ở lại chiến trường.

        Hôm ấy, cả đoàn Hà Nội, gồm: "khung cán bộ cho sư đoàn và nhân viên kỹ thuật" của pháo, xe tăng, chi viện cho chiến trường Nam Bộ và Trung Bộ, tập trung để lên xe tại Cửa Đông, phố Lý Nam Đế. Hồi đó, chúng tôi đều ăn vận quần xanh, áo sơ mi trắng như đi lịch xa. Bốn xe ca, biển dân sự, từ từ chuyển bánh về hướng Nam. Cuộc tiễn đưa rất cảm động, nhân dân Hà Nội đều thầm hiểu: "Bộ đội đi B". Tôi có làm mấy câu thơ:

                                 “Hôm nay tạm biệt Thủ đô
                           Hôm nay tạm biệt Tháp Rùa thân yêu
                                 Xe ca chuyển bánh đều đều
                           Phô phường thầm mến nhìn theo bóng mình
                                 Đã rằng hai chữ. Tử - Sinh
                           Ra đi giữ trọn nghĩa tình Bắc - Nam".


        Đoàn xe đi đến Ninh Bình thì bị trục trặc, phải vào huyện đội Gia Khánh nghỉ tạm để điện về Bộ Tổng tham mưu xin đổi chiếc xe khác. Gần sáng thì xe tới, chúng tôi đi tiếp vào huyện Yên Định (Thanh Hóa), tập hành quân mang vác nặng và làm công tác tổ chức. Hàng ngày, chúng tôi cho gạch vào ba lô con cóc tập vượt đèo, lội suối. Chúng tôi chỉ tập được vài tuần lễ là lên đường, lần này thì đi bằng đôi chân "vạn dặm" nhưng có thêm chiếc gậy "Trường Sơn" do từng người tạo theo ý thích.

        Mấy đêm đầu qua Quảng Bình thì còn nằm ở nhà dân, từ khi đến làng Ho, bên này bờ sông Bến Hải thì thay đổi quần áo, giày dép, sao mũ.., trở thành anh Giải phóng quân miền Nam và từ đó hoàn toàn ngủ rừng, mọi dấu vết của miền Bắc đều phải xóa bỏ (để lại hoặc gửi về gia đình, đây là kỷ luật thật nghiêm khắc).

        Mỗi người tự chọn cho mình một cái tên dễ nhớ để làm quen dần trong giao tiếp. Lúc ấy, quân ta tức cảnh:

                                 “Hôm qua Quân đội nhân dân
                           Sáng nay thành Giải phóng quân anh hùng
                                 Ba lô "con cóc" trên lưng
                           Đi làm nghĩa vụ non sông đang chờ".


        Cảnh sinh hoạt cũng nên thơ: "Quần vợ, mũ con, gạo lon, cơm ống, nhà trống, giường treo, "ỉa mèo", leo dốc, hành quân cấp tốc, đi vượt thời gian...".

        Đường Trường Sơn thời kỳ này mới mở, nhiều đoạn đường chưa có dấu chân người, anh chị em giao liên cắt rừng theo bản đồ, nhiều khi mệt quá, lính ta nổi cáu với người dẫn đường, nên mới có câu: "Đường giao liên dài theo đất nước, cứ đi đừng có than vãn, cũng không ai giải quyết ngắn lại được đâu?". Đi trong rừng rậm, nên ngày đi đêm ngủ, thời kỳ này địch chưa đánh phá, chỉ đôi chỗ có biệt kích, giao liên trinh sát nếu có nghi vấn thì cắt rừng đi hướng khác.

        Đoàn chúng tôi vào "Ông Cụ", bí danh của Trung ương Cục miền Nam, vì vậy phải ròng rã suốt bốn tháng trời leo dốc trèo đèo, lội suối vượt sông để vào mảnh đất "Thành đồng" của Tố quốc.

        Đi vào đúng mùa mưa nên lính ta rất gian truân. Tối đến trạm, thực chất là một khu rừng mà đơn vị được giao liên phân cho để làm nơi ăn ngủ tạm một đêm. Anh em đi chặt cây làm cọc mồi mắc võng, lợp tấm tăng để ngủ, và làm ba cái chạc gác chiếc ba lô. Trời đổ mưa, cái lo nhất là nấu cơm mà củi ướt. Nhiều khi còn phải đem xuống suối rửa cho bớt bùn thì củi mới cháy; và cái lo nữa là vắt, phát hiện được hơi người thì chúng nhao nhao lao tới, bám vào cổ chân, tay để hút máu, muốn cho nó rời khỏi da chỉ nước là dùng thuốc chống vắt đã làm sẵn (gồm xà phòng và muối).

        Đi đến địa phận tỉnh Quảng Nam, đoàn trưởng Lâm Quang Bảy, bị sốt rét ác tính đã lâu nhưng cứ gắng gượng theo đoàn, đêm ấy phải nằm lại vĩnh viễn nơi này? Vì tình cảm đồng đội, vả lại anh là người chỉ huy, nên anh em chúng tôi dừng lại một ngày để đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng, trên một đỉnh đồi cao. Sau đó, chúng tôi phải hành quân vượt trạm cho kịp, mỗi người cũng phải thêm tiêu chuẩn gạo cho đủ cơ số đến trạm thứ ba mới được phát tiếp.

        Cực nhất là ăn đói thiếu chất, vì suốt bốn tháng ròng rã mà chỉ có hai "cóng" ruốc muối từ Bắc đưa vào, mỗi ngày chỉ có hai miệng lon sữa bò gạo mà suốt ngày trèo đèo lội suối, hao tổn khá nhiều ca-lo. Với người nhiều tuổi và cuộc sống đã qua gian khổ thì dần dần cũng tạm thích nghi và cố gắng vượt qua, nhưng với lớp trẻ thì xuống sức trông thấy, nhiều anh em mới nửa đường đã phải nằm lại trạm, nhiều anh do sốt rét rừng liên miên, da vàng bủng, chân tay teo tóp chỉ còn da bọc xương; số không nhỏ nằm lại vĩnh viễn trên đường.

        Lửa thử vàng, gian nan thử sức, lúc này chúng tôi thường nhắc nhau: "Ta phải đi bằng đầu, chứ không phải bằng đôi chân" và cái tốt cái xấu trong con người cũng là lúc nó bộc lộ, chẳng phân biệt tuổi tác, cấp chức...

        Nhiều người nhường cơm cho bạn, mang vác giúp nhau, võng cáng nhau cùng tới đích.., càng gian nan, tình thương yêu càng thắm đượm; nhưng cá biệt cũng có người phạm lỗi. Một hôm qua bản dân tộc người Giá Rai, đoàn cho đổi một số quần áo lót dự trữ để lấy sắn (mỳ) cho anh em ăn thêm đỡ đói. Có một vị cán bộ đã giấu đi một ít cho cá nhân, khi phát hiện chính xác, tôi đã "rỉ tai", đến bây giờ gặp lại ông bạn vẫn còn ngượng. Có một lần vượt sông Mã Đà tôi bị sốt, đoàn mua bò giết thịt cải thiện, anh Tư Tuyến thay đoàn trưởng đã ưu tiên phát cho tôi một quả tim bò, giao cho một cậu đem về cho tôi. Sáng hôm sau, anh Tuyến kể lại thì mới vỡ lẽ là cậu ta thèm quá đã ăn mất.

        Tôi còn nhớ chuyện đồng chí Hoàng Thiên, là cán bộ tiểu đội của trung đội chúng tôi, trong khi "tán ăn" Thiên hứa khi nào về tới căn cứ sẽ đãi tôi một bữa thịt heo (lợn rừng) thả phanh. Sau này Thiên là Dũng sĩ diệt Mỹ vào hạng có tên tuổi ở vùng Sóc Ky. Khi tôi xuống đơn vị gặp Thiên, Thiên thu xếp nơi ăn nghỉ cho tôi xong là đi vào rừng, khoảng hai giờ sau đã đem về một đùi lợn rừng yêu cầu chị em cấp dưỡng nấu nướng rồi gọi hai cậu nữa ra khiêng một con lợn gần một tạ về đãi chúng tôi. Thiên chỉ nói ngắn gọn: "Đã hứa là làm".

        Lại nói đến hôm đặt chân tới trạm cuối cùng, chúng tôi được ăn một bữa cơm với cá khô rán và củ cải luộc (đây là đặc sản của lính miền Đông Nam Bộ lúc bấy giờ - cá khô mua từ Biển Hồ Cam-pu-chia sang). Tôi cũng tự mình nấu hai "ăng-gô" cơm, ăn xong lên võng nằm mà có cảm tưởng như bụng mình có nguy cơ vỡ ra mất! Sáng hôm sau thì tôi  được anh em trong Phòng Bảo vệ an ninh Quân giải phóng ra đón về. Gặp lại anh em đồng nghiệp, nhất là số bạn đã vào trước tôi, thật là mừng vui khôn tả và biết chắc mình đã vượt qua chặng đường gian nan nguy hiểm...

Tháng 7 năm 1997        


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:43:41 PM
       
MỘT CHUYẾN VÀO NAM

NGUYỄN VĂN KHẢ       

        Tháng 3 năm 1964, tôi và anh Nguyễn Văn Tôn, cán bộ công tác tại Cục Bảo vệ được lệnh vào chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ (B2).

        Các đồng chí thủ trưởng Cục Bảo vệ lúc đó nói với hai chúng tôi là do yêu cầu gấp của chiến trường, các đồng chí thu xếp bàn giao công việc và làm công tác tư tưởng với gia đình trong phạm vi 15 ngày để đi vào Nam. Các đồng chí không phải tập đeo gạch, leo núi, mà đi bằng một con đường khác, khi đi các đồng chí sẽ biết. Là cán bộ bảo vệ, Cục không phải dặn gì thêm. Cố gắng giữ gìn sức khỏe và làm công tác ổn định tư tưởng cho gia đình để lên đường được thanh thản.

        Cả hai chúng tôi nhận nhiệm vụ một cách nhẹ nhàng và bàn giao công việc với đơn vị rất nhanh. Về gia đình, với vợ con thì không khó khăn lắm; tôi đã nói rõ với vợ về việc đi vào Nam chiến đấu. Nhưng với mẹ tôi, tuổi đã gần bảy mươi, tai điếc khá nặng (bố tôi mất từ lúc tôi mới năm tuổi), mẹ tôi ở vậy nuôi tôi và chỉ có một mình tôi, tôi rất thương mẹ và đắn đo, suy nghĩ mãi không biết nên nói với mẹ như thế nào để mẹ đỡ nghĩ ngợi. Tôi nói rằng: "Con được cấp trên cử đi sang nước bạn học mấy năm nữa nên lại phải xa mẹ, xa vợ con". Nói như vậy vì tôi đã học ở Liên Xô mấy năm, về nước cuối năm 1962.

        Tôi thật không ngờ về người mẹ của mình. Bà nói rằng "Con nói không đúng rồi! Con vừa đi học ở nước bạn về Nhà nước đang cần đánh giặc để giải phóng miền Nam. Thời đánh Tây, con đi tám, chín năm trời, mẹ ở nhà có một mình vẫn được. Nay con có đi xa, nhưng có vợ, có con con ở nhà với mẹ, với bà là tốt quá rồi. Con cứ đi, đi cho "chân cứng đá mềm", đánh hết giặc rồi trở về, chắc rằng lúc đó mẹ chưa chết đâu?".

        Tôi lặng người không biết nói gì nữa. Tôi ôm lấy mẹ mà nước mắt của tôi cứ chảy ra, tôi càng thương mẹ tôi. Cảm ơn mẹ, một người mẹ tuyệt vời!

        Vào một buổi tối của tháng 4 năm 1964, chúng tôi được báo ngày hôm sau xuống tàu đi vào Nam. Đồng chí thuyền trưởng hướng dẫn và dặn dò chúng tôi những điều cần thiết cho người đi tàu biển. Đúng 12 giờ trưa ngày hôm sau, chúng tôi bước xuống tàu, tạm xa miền Bắc thân yêu đi vào chiến trường mà ở trong đó nhân dân và biết bao chiến sĩ, cán bộ chúng ta chịu đựng gian khổ, gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm và biết bao nhiêu đồng bào đồng chí đã hy sinh trong đấu tranh cách mạng.

        Ngồi trên tàu, một thủy thủ đã nói với tôi rằng: Với chiếc tàu này, nếu người ngoài nhìn vào bảo là tàu đánh cá cũng được, tàu buôn cũng được và nếu phán đoán là tàu chiến thì cũng không sai.

        Nhìn biển rộng mênh mông, càng xa bờ càng thấy mình quá bé nhỏ trước biển khơi. Chỉ còn thấy mặt nước, chân mây, biển trải rộng với nhiều màu sắc khác nhau theo thời gian trong ngày. Và chiều tối là một khoảng không gian rộng vô cùng với một màu tím đen thẫm đẹp tuyệt vời!

        Khi ở vị trí tập kết, qua tìm hiểu chúng tôi được biết từ năm 1962 đến năm 1964, chúng ta đã có mấy chục chuyến tàu chở vũ khí vào chiến trường. Từ tàu gỗ nhỏ, tàu gỗ lớn hơn đến tàu sắt nhỏ và giờ đây là tàu khoảng 100 tấn. Việc đưa vũ khí vào Nam bằng tàu biển là rất khó khăn nguy hiểm, nhưng nếu vào được 50% là một thắng lợi lớn. Mỗi chuyến đi có kèm theo đưa hai, ba cán bộ vào chiến trường và thường là những đồng chí có yêu cầu đi gấp. Bằng mọi cố gắng cao nhất, dù tình huống nào cũng không để lộ đường vận chuyển, không lộ phương tiện vận chuyển, không lộ bến tiếp nhận.

        Phương tiện bảo đảm cho một chuyến đi của chúng tôi còn rất nghèo nàn, chỉ có một cái la bàn, một hải đồ 1/1 000 000 và thước đo góc. Bao nhiêu thứ cần thiết nữa thì chúng ta không có.

        Qua hai giờ trên biển, tôi thấy người bắt đầu nôn nao say sóng. Bốn, năm tiếng sau thì say sóng thật sự, người choáng váng, nhức đầu, nòn mửa. Mệt quá, vẫn nôn, nôn hết, nôn ra mật xanh, mật vàng, không còn gì để nôn nhưng cứ há mồm cho nước chảy ra và sau cùng là ra một ít máu.

        Các đồng chí có kinh nghiệm trên tàu đến xem, xác định do nôn oẹ nhiều quá, họng bị căng ra và chảy máu ở các vi ti huyết quản nên không ngại gì cả. Đi thêm một, hai ngày nữa thì sẽ hết nôn oẹ.

        Chuyến tàu của chúng tôi đã đi được năm ngày bốn đêm, tuy gặp rất nhiều tàu buôn, tàu đánh cá ngoài khơi xa nhưng không gặp một trở ngại nào. Tàu cũng tốt. Các đồng chí thủy thủ nói rằng cho đến giờ phút này thì đây là  một chuyến thông đồng bén giọt. Khi tàu bắt đầu đi vào biển miền Nam thì cũng là lúc có điện của cấp trên cho biết trên đường tàu đi vào sẽ gặp hai tàu của địch đi tuần tiễu, cần theo dõi sát để xử lý phù hợp. Vào đến khu vực ngang với hải phận phía Nam, người tôi đã trở lại hoàn toàn tỉnh táo. Tôi suy nghĩ rằng đây là một hoạt động vận chuyển rất độc đáo cho cách mạng Việt Nam.

        Suốt một thời gian dài chúng tôi đi trên hải phận quốc tế Bất ngờ, từ ngoài khơi, tàu phóng vào khoảng giữa Ở một điểm nào đó mà địch không nghĩ tới để đi đến đích đã định.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:44:31 PM
        Mọi người trên tàu chuẩn bị rất khẩn trương để sẵn sàng ứng phó chuẩn bị chiến đấu. Chúng tôi được phổ biến thêm là: Khi gặp địch, phải hết sức bình tĩnh và hoàn toàn theo lệnh của thuyền trưởng. Nếu gặp địch tới gần, xét thấy tàa của ta không đi vào được nữa thì cho xuồng xuống biển và chúng tôi xuống đó có người bơi đưa vào bờ. Các thủy thủ sẽ ở lại chiến đấu để bảo vệ tàu.

        Sau này tôi được biết rằng ở trong tàu chúng tôi đi có ba tấn thuốc nổ, trường hợp nguy hiểm nhất, ta không còn cách nào để bảo vệ tàu nữa thì sẽ cho nổ khối tấn thuốc đó và phá hủy tàu luôn.

        Thực tế trên con đường biển này cũng đã xảy ra một vài trường hợp như vậy. Mọi người trên tàu mong cho trời yên biển lặng, không gặp địch để vào bến được an toàn... Bỗng đồng chí thuyền trưởng thông báo phát hiện có hai ánh sáng đèn phía trước... Đúng rồi, hai ánh sáng đèn đó đang đi thẳng về phía tàu của chúng tôi. Ngay lập tức, đồng chí thuyền trưởng đến chỗ chúng tôi và nói dự kiến là tàu của ta cứ tiếp tục đi thẳng đường đến một độ nào đó mà tàu tuần tiễu địch có thể sắp phát hiện đường đi của tàu ta (tàu ta không bật đèn) thì ta sẽ rẽ ngang để tránh chúng. Đồng chí vừa nói đến đấy, một thủy thủ vào báo cáo là hai tàu địch đã rẽ vòng sang hai bên. Thuyền trưởng lên quan sát và quyết định mở hết tốc lực đi thẳng vào hướng đã định nhưng mọi người vẫn theo dõi hai tàu của địch. Đi một quãng xa, hai tàu địch vòng lại đi vào theo hướng tàu ta. Đúng lúc này có một cơn gió mạnh, sóng đánh trùm lên tàu của ta, tàu địch nhẹ hơn nên dập dềnh... địch không phát hiện được mục tiêu. Thế là thoát! Mọi người thở phào nhẹ nhõm vì qua được một tình huống hiểm nghèo.

        Tàu tiếp tục đi. Các thủy thủ cho biết không lâu nữa là chúng ta đến bến, đến khu vực đã định và thuyền trưởng cho đánh tín hiệu nhưng không thấy trong bờ trả lời! Lúc đó là vào khoảng ba giờ sáng, nếu bắt được tín hiệu, ra đón tàu vào, mọi việc bốc xếp hàng xong xuôi, cất giấu tàu rồi trời mới sáng.

        Vào giờ này, nhìn ra biển thấp thoáng đã có những con thuyền đánh cá của dân ra khơi... Bỗng dưng tàu bị chựng lại, đáy tàu kêu lạo xạo. Mắc cạn rồi! Từ hôm bắt đầu đi đến nay, quan sát thuyền trưởng, chúng tôi thấy đồng chí rất bình tĩnh trước những tình huống khó khăn, nhưng lần này thấy anh bồn chồn lo lắng. Anh cho tàu lùi lại nhưng không thoát được bãi cạn... Trên một vùng biển rộng không xa bờ lắm, một chiếc tàu nổi chềnh ềnh, nếu trời sáng thì làm sao mà giấu được kẻ địch, đến nước này thì thật là gay go.

        Thấy tàu mắc cạn, một số thuyền đánh cá của dân lùi ra xa hơn mà không dám đến gần, có lẽ là họ không hiểu là tàu gì, tránh xa để khỏi bị liên lụy phiền phức... Nhưng có một chiếc thuyền đánh cá ở gần hơn lảng vảng đến gần. Một đồng chí thủy thủ gọi to: "Xin bác cho chúng cháu hỏi thăm". Chiếc thuyền vẫn từ từ đi ngang, không lui ra xa mà cũng chẳng đến gần tàu. Đồng chí thủy thủ khác giọng Nam Bộ lại gọi to: "Xin cho chúng cháu hỏi thăm bác ơi!"... Thuyền mới đi tới gần tàu. Khi nhìn rõ có hai người đàn ông, một người trạc gần sáu mươi tuổi và một người khoảng bốn mươi tuổi, anh thủy thủ nói: "Tàu chúng cháu chở chiến lợi phẩm bị mắc cạn, nhờ bác cho biết đây là đâu và làm thế nào để ra khỏi nơi này".

        Ông già hỏi lại là các chú ở đâu tới mà giờ này đến đây để bị mắc cạn? Không chờ trả lời, ông già nói luôn là tôi biết rồi, cho tôi gặp chú chỉ huy. Chúng tôi mừng nhưng còn nghi ngại. Ai cũng theo dõi từng cử chỉ của ông già. Đồng chí thuyền phó, người Nam Bộ đến gặp ông già và ông nói ngay: "Tôi thấy tàu mắc cạn, thấy im lặng, tôi đoán ngay là tàu của ta từ ngoài Bắc, tàu của Bác Hồ đưa vào. Nếu tàu của bọn nguy thì chúng làm ầm lên và bắn súng gọi nhau để cứu trợ. Bây giờ các chú nghe tôi, trương ngay lá cờ ba sọc lên, đề phòng trời sáng mà ta chưa ra khỏi chỗ này, máy bay của nó đi qua sẽ không chú ý tới. Những gì nặng ở trên tàu các chú đưa xuống một số thuyền của chúng tôi, tôi cho gọi bà con đến. Khi đồ nặng bớt đi, tàu sẽ nổi lên, tôi sẽ dẫn các chú ra lạch để vào bờ. Khi ra lạch, các đồ nặng lại đưa lên tàu trả các chú. Cần phải làm nhanh, nếu trời sáng thì dễ lộ lắm, nguy hiểm".

        Ông già nói thêm: "Chúng tôi là dân ở trong ấp chiến lược nhưng lòng tôi không ở ấp chiến lược đâu? Những thuyền mà chúng tôi gọi đến cũng có một vài tên chỉ điểm của Mỹ - nguy; không gọi họ đến thì họ sẽ đi báo cho địch. Gọi họ đến, họ không đi đâu được. Sẽ nói với họ rằng đây là tàu chở chiến lợi phẩm. Sau khi xong, chúng tôi sẽ giám sát họ cả buổi đánh cá ngày hôm nay. Chiều về họ có báo cho địch, kẻ thù chả làm gì được các chú nữa. Các chú cứ an tâm đi?".

        Qua được chỗ cạn rồi, ông già và một số thuyền khác dẫn tàu đi vào lạch. Đi một quãng, nghe chừng đã ổn, các hàng nặng Ở các thuyền của dân lại đưa lên tàu. Chúng tôi cảm ơn đồng bào và đi tiếp được một đoạn đường dài thì bắt được liên lạc trong bờ, gặp người ra đón và vào bến an toàn. Tàu vào bến thì trời đã sáng rõ. Ai cũng mừng và vui sướng. Thế là lại thoát một tình huống hiểm nghèo nữa và lần này chính là do lòng dân, dù là dân địch gom vào ấp chiến lược nhưng vẫn là dân Cụ Hồ.

        Tôi ở chiến trường Nam Bộ tất cả là 14 năm tròn, tính từ ngày vào chiến trường cho đến khi lại trở về công tác tại Cục Bảo vệ Tổng cục Chính trị (tháng 3 năm 1978). Biết bao nhiêu kỷ niệm ở chiến trường đánh Mỹ, nhưng chuyến đi vào Nam là kỷ niệm sâu sắc của đời tôi.

        Dù đã 34 năm trôi qua mà tôi vẫn nhớ chuyến đi vào Nam như là mới xảy ra. Quên sao được con tàu không số với những thủy thủ gan dạ, vững vàng, tinh tường, khôn khéo lái con tàu tránh được bao hiểm nguy vào bến an toàn. Điều lắng đọng nhất là lần đầu gặp những người dân Nam Bộ, và chính họ, trong đó nổi bật là một ông già chí cốt với cách mạng, với nghĩa tình sâu đậm, sự tỉnh táo  nhạy bén đã cứu con tàu thoát khỏi tình huống tưởng chừng không thể vượt qua.

Ngày 14 tháng 11 năm 1998       


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:47:19 PM
        
RỜI XUÂN MAI ĐI B

NGÔ ĐẠT TÀI        

                                                 Sông Bùi lùi lại, đồi quay mặt
                                                 Cây nghển đầu cao ngóng dõi theo
                                                 Thôi nhé quê hương! Xin tạm biệt,
                                                 Ra đi không khỏi nhớ nhung nhiều!

                                                 Xe nuôt đường dài, cát bụi bay.
                                                 Bâng khuâng một dải vắt lưng mây.
                                                 Ánh nhìn xa lạ mà thân thiêt
                                                 Không cả mỉm cười, không vẫy tay1.

                                                 Người tưởng rằng đây những chuyến hàng
                                                 Nghĩa tình gang thép gửi vô Nam
                                                 Biêt đâu xe chở lòng son sắt
                                                 Mệnh nước ngời trong phận kín thầm.

                                                 Nốí tiếp đoàn xe chuyển gập ghềnh,
                                                 Rừng đồi đồng ruộng, biển mông mênh,
                                                 Bên phà, cửa đập, bao cồn cát,
                                                 Khúc khuỷu, gồ ghề, đèo chênh vênh.

                                                 Hướng Điền, cuồn cuộn suôí trong veo,
                                                 Vun vút xa xa núi cõng đèo
                                                 Từ giã "vạch", "sao", vui đón nhận:
                                                 Ba lô con cóc, mũ tai bèo.

                                                 Khuất đi những cột khói thanh bình
                                                 Trước mắt lóe dần lửa chiên chinh.
                                                 Núi tiếp nhau cao, khe tiếp thẳm,
                                                 Bướm trêu chiên sĩ lượn quanh mình.


Tháng 4 năm 1962        

------------------
1. Để đảm bảo bí mật cho chuyến đi.

        



Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:52:35 PM
       
TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG VÔ!

(1963)

BÙI ĐỨC THÌNH       

Trạm Lảng Ho
                                                Điểm mút đường vô "trạm Làng Ho"
                                                Một cung núi dựng, suốí quanh co.
                                                Giã từ "Sao vạch", vui đón nhận.
                                                Quần vợ, áo con, gạo, nước lon!

Qua Bến Hải !
                                                 Dòng nước biêc cá tung tăng
                                                 Khởi nguồn "Bên Hải" chảy xuôi dòng
                                                 Gợi nhớ "Cửa Tùng" đau chia cắt
                                                 Bài ca hy vọng" thúc giục lòng!

Đại ngàn
                                                 Rừng thọ nguyên sinh đên ngút ngàn
                                                 Rộn ràng chim hót, vượn hú vang
                                                 Khoe sắc ngàn hoa hương lan tỏa
                                                 Đây cảnh "tiên bồng", thật là sang.

Mưa rừng
                                                 Gặp cảnh mưa rừng, thật băn khoăn
                                                 Lo được bữa ăn, lo chỗ nằm
                                                 Mò mẫm kéo tăng, tìm cọc phụ
                                                 Củi ướt bếp treo, cơm sống nhăn.

Vượt dôc
                                                 Vượt dãy Trường Sơn cả trăm ngày
                                                 Qua bao nhiêu dốc cũng chẳng hay
                                                 Nhữug ngọn núi cao vài ngàn mét
                                                 Leo lên, tụt xuông, rất hăng say.

Hiểm họa
                                                 Vượt núi cao, qua bao thử thách
                                                 Bao rập rình, đói ăn, rồi vắt
                                                 Muỗi, rắn, ruồi vàng, sốt rét rừug
                                                 Cây đổ lạc rừng nhiều kiểu chêt...

Thảo nguyên
                                                 Qua hêt rừng già gặp thảo nguyên
                                                 Mênh mông đồng cỏ cảnh thiên nhiên
                                                 Đường đi trên tuyên như rộng mở,
                                                 Nhanh bước chân ta, mau tới Miền!

 Đưỏng vô
                                                 Đường vô Khu 6 còn xa xa
                                                 Hàng ngoài không tới, "Cụ" chưa ra,
                                                 Cá khô, gạo mục - ngày qua tháng
                                                 Cảm phục, mến thương chiên sĩ ta.

Đến B2
                                                 Đường vào Định Quán đất miền Đông
                                                 Vượt La Ngà vào đất chiến công,
                                                 Mã Đà sơn cước" lời truyền tụng
                                                 Rừng thiêng nước độc thử thách lòng.

Chiên khu B
                                                 Qua Sông Bé đên trạm tiền phương
                                                 Ở trạm Suôí Bồ gặp đồng hương,
                                                 Bao chuyện Thái Bình, chuyện chiên đấu,
                                                 Bùi ngùi, lưu luyên nhớ quê hương.

Rừng cao su
                                                Rừng cao su xanh, thấy đây rồi,
                                                 Nhớ câu thơ ấy, bao cuộc đời
                                                 Mỗi, góc rừng kia bao sô phận,
                                                 Hàng cây thẳng tắp tận chân trời!

Đích đến
                                                 Ca khúc khải hoàn tự ngắm ta,
                                                 Toàn thắng, được rồi. Phải tính ra,
                                                 Trân trọng những gì mà có được!
                                                 Đó là xương máu đồng đội ta.



Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:54:26 PM
       
SỐNG TRONG RỪNG MIỀN ĐÔNG

CHÍN VlNH       

        Rừng miền Đông có những cái lạ mà rừng miền Bắc không thấy có. Thứ nhất là rừng rất hiền, tôi cảm thấy vậy ở miền Bắc việc ngủ rừng khó khăn lắm, vì rất nhiều côn trùng, ở đây cũng có côn trùng nhưng cứ chỗ nào hơi bằng phẳng, trải một đám lá hay tấm ni-lông là có thể yên trí nằm ngủ. Có những vùng vắt cũng nhiều. Nhưng ở miền Đông nói chung ít phải nằm đất vì có cái võng rất tiện lợi. Võng bằng vải ni-lông gói gọn chỉ bằng hai nắm tay, giắt ở thắt lưng. Tới đâu thì mắc vào cây, ngủ thoải mái. Nắm được kỹ thuật thì mắc và tháo võng rất nhanh. Buổi đầu chưa thạo, tôi cũng lúng túng và đã có lần bị ngã võng. Nằm võng ở rừng miền Đông tôi xem là một cái thú.

        Tiếp đến là cây trái. Nằm ở một cái lán, tôi thấy mái lợp lá nhưng cứ như lợp ngói rất đẹp mắt. Sau hỏi ra mới biết đó là lá trung quân. Có người còn nói nguồn gốc tên gọi đó. Hồi Gia Long bị Tây Sơn đánh đuổi chạy vào rừng đã dùng lá này lợp chòi mà lẩn trốn, về sau làm vua đã nhớ đến công che nắng che mưa của lá cây này nên đã phong là lá "trung quân". Tôi nghĩ cũng là một sự thêu dệt thôi. Nhưng điều thú vị là khi khô, lá này khó bắt lửa. Nó lại có màu tươi rất bắt mắt. Dùng lợp nhà, với đặc điểm đó, lá này hợp hơn nhiều loại lá khác. Nằm võng êm ái, dưởi mái lá nâu tươi của căn nhà gỗ, giữa khuôn rừng xanh rờn êm ả phảng phất gió kể cũng là sang.

        Rừng miền Đông có nhiều trái dại: bưởi, ổi, bòng bong, dâu da.., rất sẵn và cứ như những thứ giải khát trời bày sẵn cho ai đi rừng. Có thứ gọi là trái gùi, thân dây leo mà rất sai quả, cỡ như quả trứng gà có xơ có cơm. Trái chín vào đầu mùa mưa, hái về gọt vỏ, lấy xơ và cơm quậy với đường thành thứ nước giải khát đặc sản, vị chua chua ngọt ngọt đem mời khách ai cũng mê. Về sau có kinh nghiệm chế biến, chúng tôi đã hái thật nhiều, dỡ cơm của quả ra đánh thành nước, cô lại cho vào chai dùng dần.

        Rừng có lắm thứ hoa, nhiều nhất là mai vàng. Quanh chỗ chúng tôi gần như một rừng mai. Trước một tháng, cây nào còn xanh lá, anh em trèo lên tuốt sạch rồi tưới nước, có thể pha cả nước giải, là cách thúc cây nẩy nụ tập trung đón Tết. Hoa mai vừa đẹp vừa sang. Được đứng giữa một rừng mai bừng bừng hoa nở lòng ta cũng thanh thản, trong sáng hơn.

        Rừng cũng đầy phong lan. Nhưng anh em tôi rất thú chơi phong lan đai châu. Đó là tên gọi quen miệng nhưng ý nghĩa nguồn gốc thì mỗi người nói một cách. Người gọi là phong lan đai châu vì hình dáng chuỗi hoa rừng từ ba tấc đến nửa thước dài, cánh hoa trắng đốm đỏ hồng, lung linh trong gió xem ra còn đẹp hơn, sang hơn cả chuỗi ngọc. Đâu có hoa thì cả cánh rừng sực nức hương thơm. Trời càng nắng hương càng ngát. Đâu dễ tìm ra được thứ hoa đủ cả hương sắc như vậy.

        Đã là rừng thì có gỗ, gỗ rừng miền Đông có phần dễ chế tác Cơ quan đều đã cất nhà, làm hầm có lót ván. Nhà cũng gọn gàng, chỉ cần đủ chỗ làm việc và mắc võng. Về sau sách vở, tài liệu tăng lên lại có thợ mộc cưa xẻ nên đã chế ra một thứ giá sách đa năng. Thường nhật là giá để sách, để tài liệu. Khi cần di chuyển thì ghép thành cái hòm (rương), lúc cần dùng có thể làm thành chiếc tủ gỗ. Có sẵn gỗ, sẵn thợ, các vật dụng bằng gỗ cứ sinh sôi theo nhu cầu, hóa cồng kềnh dần.

        Rừng miền Đông có bụi le rất kín đáo và măng le thì ăn ngon, được nhiều người thích. Thú rừng cũng nhiều thứ. Có voi, hổ, nai, trâu rừng, v.v.., cũng có cả giống hoẵng ngoài Bắc mà trong này gọi là con mễn. Nó giống hệt hươu nhưng bé hơn, chỉ khoảng mười ký. Thịt mễn nấu cháo ăn thì vừa ngon vừa bổ. Con giọc, thịt không ngon. Khi làm thịt giọc trông rất kinh vì cạo sạch lông nhìn cứ như đứa trẻ.

        Các loại chim thì nhiều lắm. Tại đây tôi mới biết và mới hiểu từ anh em thường nói là đi "săn thịt" nghĩa là săn thú lấy thịt. Anh em thích dùng súng thể thao, vì súng AK tiếng nổ to, dễ bị lộ nên bị cấm. Có những tay thiện xạ với súng thể thao vẫn hạ được gấu, nai, hươu, lợn rừng.

        Có lần tôi mang khẩu súng thể thao, đạn dư dật để bắn tiêu khiển hơn là đi săn. Tự biết bắn xoàng nên tìm chim để bắn. Anh em thấy thế nói: "Thủ trưởng lãng phí đấy.  Một phát đạn bắn chim thì có trúng nữa cũng chỉ một lạng thịt là nhiều. Chúng tôi đặt mục tiêu một phát đạn phải có chục ký, ít ra thì cũng là con giọc, con mễn gì đó". Quanh chuyện đi săn cũng có nhiều điều rắc rối. Có cậu đi lạc đường phải ngủ rừng hoang sau khi loanh quanh tìm không ra đường về. Sáng dậy mở mắt ra lại thấy chị nuôi đang vo gạo ngay cạnh. Cũng có lúc bắn nhầm nhau đau đớn là có trường hợp cá biệt bị trúng đạn. Anh Tư Nguyện, Bí thư Tỉnh ủy Bình Long đã kể chuyện một cậu đi săn mà con mồi cướp mất súng: "Anh ta bắn con hươu, con mồi bị thương chạy. Anh đón đường dang tay ra bắt. Cánh tay vẫn toòng teng khẩu súng. Con mồi lao tới và móc luôn vào dây đeo súng. Nó càng hoảng và mang luôn cả khẩu súng phóng vào rừng. Thế là đi săn mà không được thú lại bị tước cả súng".


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:55:03 PM
        Có lần chúng tôi đến một căn cứ mới, vệ binh đến trước đã bắn được một con gấu. Hôm ấy được một bữa thịt gấu. Anh em ưu tiên dành cho thủ trưởng (là tôi) được món chân gấu.

        Tôi cũng có nghe đồn trong các món sơn hào hải vị có món chân gấu này ngon và cực kỳ bổ. ăn chân gấu đúng là ngon hơn chân giò nhiều, mùi vị lại rất thích. Nhưng vốn không sành ẩm thực nên tôi bất lực không tả nổi. Về sau tôi còn có dịp ăn thịt cò ngẳng - loại cò giống con chim cút. Thịt cò ngẳng cũng ngon như vậy.

        Còn con cheo, trông giống con mễn, nhỏ bằng con mèo. Vốn có câu "nhát như cheo" nên săn nó có lúc chẳng cần bắn. Bắn không trúng cũng có khi bắt được cheo vì nghe tiếng nổ nó sợ nằm lăn ra đấy, ngất đi, chỉ việc đến lượm. Tuy vài cân thịt thôi nhưng hôm nào được đãi cháo cheo thì khỏi phải bàn, ăn rồi còn ngon mãi.

        Song ở đâu và lúc nào cũng vậy, cuộc sống có hai mặt. Ở rừng miền Đông bên những điều thú vị hiếm thấy thì bệnh sốt rét ở đấy cũng ghê lắm, gọi là sất rét ác tính. Có lúc số anh em tân binh ở miền Bắc bổ sung vào, chỉ một nửa là có thể đưa xuống các đơn vị chiến đấu, còn phải nằm điều trị sốt rét một thời gian. Bấy giờ bác sĩ Nguyễn Thiện Thành đã tìm được phương pháp chữa sất rét và phục hồi sức khỏe rất hiệu nghiệm, và anh đã được thưởng huân chương vì công lao này. Thanh niên đang tuổi hai mươi mà lúc khiêng tới trạm xá chỉ còn da bọc xương, nằm bất động, chỉ còn chừng ba mươi ký. Anh Thành đã dùng In-su-lin liều nhỏ tiêm, hay chữa bằng huyết thanh đẳng trương làm anh em ăn được rất nhanh. Có anh em một ngày ăn chục bát cơm vẫn đói, phải thêm nửa nải chuối. Với sức ăn như vậy, người lên sức, lên ký cũng nhanh, có cậu rời trạm cân được năm mươi ký.

        Ở rừng ngày ấy chúng tôi rất ngại rắn độc. Có nhiều thứ lắm nhưng ngại nhất là rắn chàm ngoặp. Thân nó nhỏ, ngắn chỉ độ ba bơn mươi phân, di chuyển chậm chạp. Nhìn lờ đờ thế mà đụng tới là bị nó mổ ngay. Nó mổ trúng chân là lập tức qụy xuống, không chữa chạy kịp thời là chết! Tiếng dữ rộn cả miền. Tôi đã viết một bài báo gọi rắn này là "ông ba bước", tức là bị nó mổ phải thì bước ba bước là qụy thôi. Có một anh ở Cục Chính tn đêm nằm ngủ để dép Ở dưới chân, buồn đi giải thả chân quờ dép thì bị nó đớp Phải đưa đi cấp cứu ngay nhưng cũng nằm điều trị đến hàng tháng. Một cậu cán bộ tuyên huấn to khỏe bảnh trai cũng bị rắn cắn, chữa trị xong không ra hồn người nữa. Là loài rắn cực độc lại có nhiều, sơ ý là bị với nó ngay. Rắn lục cũng không hiếm. Người bảo là rắn độc, kẻ bảo là hiền chỉ thích bắt chuột, cho nên có lần tôi thấy nó bò lên mái lều cũng để vậy. Nếu nó bắt chuột thật thì hay quá. Có rắn hổ mà ngoài Bắc gọi là cạp nong. Có loại thân cứ khoanh trắng khoanh đậm thì đến ghê. Có lúc nhìn rắn bò bên cạnh lại mơ màng nghĩ là hầm mình chuyển động. Đánh đuổi chúng cũng không dễ, hễ động là chúng trườn xuống dưới thanh lá. Đành phải nghĩ rằng: "thì hãy sống chung với chúng mày vậy!". Tuy thế, với kẻ đồng phòng này mình cũng phải cảnh giác thường trực, vì nó mà trườn ra mình sơ ý là bị mổ ngay. Số bị rắn cắn khá nhiều nhưng nhờ cấp cứu kịp và các bệnh viện có đủ thuốc từ ngoài Bắc gửi vào và có kinh nghiệm chữa trị. Mỗi người vượt Trường Sơn vào đều mang theo thuốc chống rắn và chữa rắn cắn. Có thứ thuốc anh em gọi là "da tây" tức là da con tê giác. Lần tôi đi Khu 6, anh em cho một miếng bằng bàn tay. Đưa về tôi sẻ cho mỗi người một mảnh bằng đồng xu. Bị rắn cắn, đặt miếng da vào vết cắn nó sẽ bám chặt và hút hết nọc độc ra, rất linh nghiệm. Các loại côn trùng ở rừng cũng chẳng thiếu và con nào cũng ngoại cỡ. Rết thì đủ cả, dài cả hai mươi phân. Cuốn chiếu thì dài hơn hai mươi phân, đen trùi trũi, mình bằng ngón chân cái. Bọ cạp cũng lắm. Ai lỡ đụng phải đuôi nó thì bị nhức nhối khổ sở một ngày một đêm mới đỡ chút ít. Ông Tấn treo áo ở vách hầm, không may bị bọ cạp chui vào mà không hay, ông lấy áo mặc đã bị một trận, la trời. Trong các loại kiến thì đáng kiềng nhất là kiến bò nhọt. Hễ đánh hơi mồi là nó kéo tới đen nền nhà. Nằm võng vô tình chống chân vào chúng là bị đốt ngay, nọc nó làm nhức nhối khó chịu không kém. Trị loại kiến không gì bằng dầu hỏa, cứ phun dầu là chúng lẩn hết. Có lúc không có dầu hỏa, anh em phun nước bọt thấy cũng có kết quả nhưng mất thì giờ hơn.

        Mối rừng cũng dữ dội lắm, cứ từng đống một dọc đường đi. Càng mối giống như càng cua, nhỏ nhưng rất sắc. Có lần chị Ba Định đi họp về giữa đêm tốí, đang đi thì chị hét lên, chân giãy cuống quýt. Chiếu đèn pin vào mới hay chị bước vào đống mối càng. Các cháu cùng xúm vào gỡ cho chị. Càng mối cắn cứ găm chặt vào da thịt. Cứ dứt con mối ra là đứt cả da thịt. Chân chị Ba đẫm máu.

        Lại một lần anh Nguyễn Chí Thanh bị sốt. Bác sĩ cho cặp nhiệt độ thì có cao, nhưng bắt mạch và làm các khám nghiệm khác thì không rõ có hiện tượng bệnh tật gì, cho uống thuốc giảm sốt vẫn không có kết quả. Cứ thế đến hai ba hôm. Sau anh em có kinh nghiệm ở rừng bảo anh Thanh vén áo lên xem, thì ra có ve bám vào chỗ hiểm cắn. Nó vốn mình dẹt như hạt cốm đã qua cối giã, nay mình đầy máu cũng căng tròn như hạt đỗ. Gỡ ve ra cũng phải biết cách: Lấy cái díp nung nóng rồi cặp vào nó một lát là nó nhả ra ngay và vết cắn tự lành. Nếu gỡ bằng tay thì không được, nếu cạy nó ra thì cái vòi vẫn còn đó, gây ngứa và nhức nhối cả năm. Tôi bị ve cắn ở trán, không có kinh nghiệm gạt nó ra và đã bị nhức nhối đến cả năm trời. Loại ve này thích cắn vào chỗ da mềm, chúng cứ nhè vào những chỗ kín nên rất khó phát hiện.

        Có một giai thoại Tây bị ve cắn. Hắn là chủ đồn điền cao su, bị sốt liên miên, thuốc gì cũng chẳng được. Vợ nó đi lễ cầu xin thần thánh phù hộ cũng không xong. Nó bèn thông báo ai chữa được cho nó khỏi sốt, sẽ được thưởng. Có người phu cao su biết là nó bị ve cắn, anh bảo cho gặp riêng thằng Tây, bảo nó cởi hết quần áo ra xem, anh xức dầu cù là vào tay mình rồi đặt vào chỗ con ve. Bị dầu nóng thì ve nhả ra, thằng Tây hết sốt, bình thường trở lại,  nhưng vẫn không biết là bị ve cắn. Anh phu được nó thưởng như đã hứa, nhưng không cho nó hay vì sao nó sốt.

        Rừng miền Đông Nam Bộ dù ai chỉ sống với nó một, hai năm cũng đã có bao nhiêu chuyện muốn nói. Và tôi cũng như mọi người, điều đọng lại sâu sắc nhất là những năm tháng đầy gian khổ và hy sinh ấy, con người vẫn lạc quan yêu đời với những ngày tháng sống cùng thiên nhiên, chim muông, động vật hoang dã, quý hiếm, kể cả những con vật dữ dằn nhất.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:56:42 PM
        
NHỮNG NĂM THÁNG Ở B2

TƯ KỶ        

        Cuối năm 1966, vào đến Cục Chính trị tôi được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng Tuyên huấn Miền. Trưởng phòng là anh Lê Đình Lệ, từng công tác ở Ban liên lạc đình chiến sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, nay lấy bí danh là Tư Trực. Anh phân công tôi phụ trách khối tuyên truyền, thông tấn, báo chí, trong đó trực tiếp phụ trách tờ báo Quân giải phóng của Miền. Ở đây, tôi gặp những anh em quen biết cũ. Anh Phạm Phú Bằng vốn là phóng viên Báo Quân đội nhân dân nay là phóng viên báo Quân giải phóng của Miền với bút danh Phạm Hồi. Anh Nguyễn Ngọc Tấn, nhà văn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội với tên mới là Nguyễn Thi, cây bút chủ lực của Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng. Vài hôm sau, khi vào Bộ Chỉ huy Miền, tôi gặp anh Văn Phác, bây giờ có tên mới là Tám Trần. Anh từng là Bí thư của anh Nguyễn Chí Thanh, nay phụ trách Văn phòng Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền.

        Đi xem căn cứ của phòng, cũng như của các phòng bạn và của cục, tôi có ấn tượng rất sâu sắc về những căn hầm chữ A vững chắc. Những căn nhà xinh xắn dưới tán cây rừng, cột kèo thẳng thắn, được cắt gọt gọn ghẽ, liên kết với nhau hoặc bằng những cái chốt xuyên qua những lỗ khoan vừa vặn, hoặc bằng nhừng mối buộc bằng mây óng ả. Đặc biệt mái nhà được lợp bằng những tấm lá kết rất khéo, dùng khá bền và khó cháy, gọi là lá "trung quân". Giường, bàn, ghế được làm bằng gỗ, tre, nứa nhưng chắc chắn và đẹp mắt. Trước nhiều căn nhà là những cụm, những giò phong lan nhiều loại. Ban nào cũng có chuồng gà và phòng thì có một chuồng lợn với những con giống lai được đưa ra từ vùng địch tạm chiếm. Tất cả phải chăng là những biểu hiện của tinh thần kháng chiến lâu dài cho đến thắng lợi hoàn toàn, của một cuộc chiến đấu lạc quan, đàng hoàng, chững chạc, với một trình độ văn hóa kháng chiến rất cao, rất đẹp! Tất cả những công trình nói trên đều do anh chị em trong cơ quan tự làm lấy. Mỗi đơn vị đều được trang bị khá đầy đủ cuốc xẻng, dao, cưa, khoan tay, v.v...

        Cuối mùa khô 1966-1967, Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ thi đua toàn Miền được tiến hành. Tôi được cử đi dự để góp phần vào công tác tuyên truyền, thông tin báo chí về đại hội. Đối với tôi, đây là dịp tốt để tôi tiếp cận với thực tế chiến trường. Qua mấy dòng này, tôi không kể về đại hội mà chỉ ghi lại một vài kỷ niệm cá nhân.

        Một buổi sau khi làm việc ở hội trường đại hội về, anh chị em nhà báo chúng tôi mắc võng ngồi nói chuyện với nhau trong một căn nhà lá. Bỗng anh Ba Thắng, Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Miền đến thăm. Anh vừa hỏi chuyện tôi về đường Trường Sơn, về những anh em ở Cục Cán bộ - nơi anh công tác trước khi về miền Nam, vừa xem xét chiếc võng của tôi, chiếc võng bằng vải bạt dày đã cùng tôi vượt Trường Sơn vào đây. Khi đại hội kết thúc, tôi được cử làm phái viên xuống Sư đoàn 7, đi ngay từ địa điểm đại hội. Đi được khoảng một giờ đồng hồ thì một đồng chí liên lạc của Cục đi xe đạp theo kịp tôi. Anh đưa cho tôi một chiếc võng ni-lông mỏng nhẹ và cho biết là do anh Ba Thắng gửi cho tôi. Tôi rất xúc động. Nhân đây tôi xin kể lại một câu chuyện khác xảy ra sau đó vài ba năm. Nhận được quà từ miền Bắc gửi vào, Cục Chính trị Miền phát cho mỗi cán bộ trưởng, phó phòng một chiếc đồng hồ Đức. Tôi được nhận một chiếc. Một buổi lên họp ở trên Cục, giờ nghỉ, anh Hai Lê, Chủ nhiệm Cục Chính trị đến hỏi chuyện tôi. Anh nhìn chiếc đồng hồ tôi đeo rồi nói: "Sao, anh em lại phát cho anh đồng hồ loại này à? Để tôi nói anh em đổi cho anh chiếc đồng hồ có lịch". Khi buổi họp kết thúc thì lời hứa của anh Hai Lê cũng được thực hiện.

        Trở lại chuyện Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ thi đua. Đại hội kết thúc, mọi người từng tốp, từng tốp theo đường dây giao liên trở về các đơn vị. Có lúc dọc đường, máy bay  trực thăng Mỹ sà xuống rất thấp nhòm ngó rồi nhả đạn. Bác Đinh Thúy, nhà nhiếp ảnh lão thành của Thông tấn xã Giải phóng đã hy sinh trong chuyến đi này.

         Trong cuộc chiến tranh giữa ta và Mỹ - ngụy, địch  không có hậu phương an toàn và hậu phương của ta cũng  luôn bị địch đánh phá. Không ít lần, máy bay của địch vào  sâu hậu phương của ta, chiếc thì bay cao yểm trợ, chiếc thì  bay thấp hoặc hạ cánh hoặc thả người xuống chộp bắt cán  bộ, chiến sĩ ta đang qua trảng hoặc cánh đồng, eòn ném  bom bắn phá là thường xuyên.

        Tôi nhớ mãi một đêm khoảng tháng 3 năm 1969. Do dùng trực thăng bắt được một chiến sĩ của ta, địch biết được vị trí căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền. Chúng dùng B52 oanh tạc. Từ chập tối, cuộc oanh tạc bắt đầu. Mỗi đợt là 3 chiếc ném bom rải thảm, đợt sau cách đợt trước khoảng 30 phút đồng hồ. Cuộc oanh tạc kéo dài suốt đêm, mờ sáng hôm sau mới kết thúc, cả thảy 27 đợt với 81 lần chiếc B52 ném bom. Sáng ra, 2 chiếc máy bay trực thăng đến quan sát nhòm ngó. Bãi bom vẫn còn nóng hổi và khét lẹt. Những đường đạn thẳng căng được phóng lên. Một chiếc bị hạ, chiếc kia chuồn thẳng. Trong chiếc máy bay địch bị bắn rơi, bên cạnh hai tên phi công Mỹ chết là quyển hồi ký của Khrút-xốp xuất bản ở Mỹ bằng tiếng Anh và những chiếc còng số 8, hẳn là chúng định dùng để lượm những "Việt cộng" còn sống sót sau cuộc oanh tạc đại quy mô vô tiền khoáng hậu đêm hôm qua. Chúng đâu có thể tưởng tượng trong đêm hôm đó, chúng tôi ngồi trong các căn hầm chữ A, uống trà, nhấm nháp lạc rang chuyện trò với nhau. Sau mỗi đợt bom, chúng tôi nhô lên khỏi cửa hầm gọi hỏi thăm nhau. Cuối cùng, qua suốt cuộc oanh tạc của địch, chỉ có một đồng chí hy sinh. Tinh thần, tâm lý chúng tôi vẫn vững vàng mà tiêu biểu là các đồng chí vệ binh đã bắn chính xác, hạ máy bay trực thăng Mỹ.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:57:33 PM
        Về mặt ác liệt mà nói, chiến trường Đông Nam Bộ nếu không nói là hơn thì cũng không kém chiến trường nào. Nhưng về hậu cần (trừ Khu 6 và vùng Bà Rịa) lại tương đối khá. Có những đợt chúng tôi thiếu gạo nhưng lại ăn độn bằng đỗ xanh. Có một quãng thời gian ngắn năm 1970, chúng tôi không có đủ lương thực, mỗi người mỗi ngày chỉ có một lon gạo. Các đồng chí lãnh đạo Cục Chính trị Miền đã phải tính đến nước xem tài sản của Cục thứ gì có giá trị để đem bán lấy tiền đong gạo nuôi đơn vị. Nhưng thật may, rừng miền Đông, nguồn thực phẩm lại khá phong phú. Hồi đó, gần căn cứ chúng tôi có rất nhiều chim, người địa phương gọi là "gà đẫy", vì nó có một cái túi ở trước ngực. Chúng đi kiếm ăn rất xa, có người nói tận Biển Hồ ở Cam-pu-chia. Chúng để dành những con cá, bỏ vào cái túi, mang về tổ nuôi con. Đó là nguồn bổ sung thực phẩm của chúng tôi trong những ngày thiếu gạo. Thịt loại chim này lại có mùi cá, nhưng khi khó khăn, chúng tôi lại không phải là những người khó tính.

        Hàng năm, cứ đến cuối mùa mưa là chúng tôi càng bận rộn. Năm nào cũng vậy, đến mùa khô Bộ Chỉ huy Miền đều tổ chức chiến dịch hoặc đợt hoạt động trên toàn Miền.

        Và chiến dịch nào cũng vậy, Bộ Chỉ huy Miền cũng lập Sở chỉ huy tiền phương của Bộ để chỉ huy sư đoàn, các binh chủng, các trung đoàn chủ lực trực thuộc tiến hành chiến dịch. Trong phần lớn các chiến dịch này, tôi đều được cử đi Sở chỉ huy tiền phương của Bộ.

        Kỷ niệm sâu sắc nhất là chiến dịch mùa khô 1972. Tôi được cử làm phái viên xuống Trung đoàn 209 thuộc Sư đoàn 7 trong suốt chiến dịch. Trên đường ra mặt trận, vì còn là cuối mùa mưa nên có ngày hầu như suốt cuộc hành trình, chúng tôi phải lội nước. Rất thương anh em chiến sĩ, nhất là ở các đơn vị trực chiến. Vai mang vác nặng thế mà khi nghỉ, không có một mỏm đất nhô lên mặt nước để anh em đặt vũ khí, hành lý xuống, ngay cả khi ăn cơm.

        Trung đoàn tác chiến ở ven đường 22, khu vực Xa Mát, Thiện Ngôn. Tôi, có khi xuống tiểu đoàn, đại đội, nhưng thường là anh Việt Hồng, Trung đoàn trưởng (sau này là Thiếu tướng Phó tư lệnh Quân khu l) yêu cầu tôi ở Sở chỉ huy trung đoàn. Đây là những ngày đêm tôi chia sẻ với cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu những gian khổ hy sinh trong các công việc liên tục: hành quân, đào hầm hố, canh gác, tuần tra, chiến đấu trong hoàn cảnh ở hầm, cơm nắm, thiếu ngủ, đạn bom của máy bay cường kích, máy bay lên thẳng, của các giàn đại bác, của biệt kích, của bộ binh và xe tăng thiết giáp địch. Tôi chia sẻ với anh em niềm vui khi chiến thắng và nỗi buồn khi có đồng đội hy sinh. Ngay Sở chỉ huy trung đoàn cũng mấy lần bị máy bay oanh tạc và pháo giặc đánh trúng. Tôi đã cùng anh em chôn cất các đồng chí hy sinh, trong đó có đồng chí Phó tham mưu trưởng trung đoàn. Và chính ở đây, người em họ gần của tôi là Ngô Quý Linh, trợ lý quân lực của Trung đoàn đã hy sinh. Bản thân tôi cũng mấy lần cách thế giới bên kia trong gang tấc. Có một lần máy bay địch thả một quả bom trúng cửa hầm tôi đang trú ẩn. Nhưng thật may, nó đã không nổ. Tổn thất gian nan như vậy, song cái chính là niềm phấn khởi: Trong chiến dịch Trung đoàn 209 đã hoàn thành nhiệm vụ và có bước trưởng thành dài.

        Đầu năm 1973, do thắng lợi của Hội nghị Pa-ri, Hiệp định hòa bình được ký kết, tôi được cử làm một cán bộ trong đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở trại Đa-vít ngay trong thành phố Sài Gòn đang còn bị Mỹ - nguy kiểm soát. Đoàn sẽ do máy bay lên thẳng của Mỹ đưa từ sân bay Lộc Ninh. Chúng tôi dự kiến các tình huống xấu có thể xảy ra và định cách đối phó. Tình huống xấu nhất là địch xé lẻ đoàn chúng tôi, đưa mỗi nhóm lên mỗi chiếc trực thăng đến mỗi nơi khác nhau với âm mưu nham hiểm. Chúng tôi hứa với nhau dù hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều giữ vững khí tiết và tư thế của người chiến sĩ cách mạng chiến thắng.

        Đến ngày giờ quy định, chúng tôi có mặt ở sân bay Lộc Ninh. Trong khi chờ máy bay trực thăng, chúng tôi vẫn phải cảnh giác, sẵn sàng đối phó nếu địch lật lọng cho máy bay chiến đấu đến oanh kích. Điều này đã từng xảy ra trong một dịp chúng ta trao trả tù binh Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng rồi đã thấy xuất hiện những máy bay lên thẳng trên nền trời phía Sài Gòn bay lại. Chúng lần lượt đỗ xuống đường băng. Các phi công Mỹ xuống, mở cửa máy bay. Từ đây cho đến suất thời gian ở Ban Liên hợp quân sự bốn bên trong trại Đa-vít, tôi có một cảm giác rất lạ. Chúng ta và Mỹ - ngụy trước đây hễ xuất hiện đối diện nhau là nổ súng, bây giờ gặp nhau là để đối thoại, để làm việc, để đấu tranh với nhau bằng các biện pháp khác.

        Chúng tôi lên máy bay. Các máy bay lần lượt rời khỏi đường băng và bay về phía Sài Gòn. Tôi nhìn xuống: Những cánh rừng xanh thẳm, những con đường, những dải hố bom B52 dài dằng dặc, những khoảnh rừng vàng úa vì chất độc hóa học, rồi những cánh đồng, những thôn ấp, thị xã Thủ Dầu Một, những cây cầu đi vào Sài Gòn, rồi thành phố Sài Gòn xe cộ tấp nập. Nhưng máy bay lại chưa hạ độ cao, còn lượn mấy vòng quanh bầu trời bắc Sài Gòn. Về sau chúng tôi được biết lúc đó sân bay Tân Sơn Nhất còn chưa được sẵn sàng ít phút sau, đoàn máy bay lần lượt hạ xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Xung quanh bãi đáp, những tên lính ngụy mũ sắt, quần áo rằn ri, lăm lăm súng M16 Mỹ nòng chĩa chếch lên trời. Chúng tôi xuống máy bay lên xe buýt đi vào trại Đa-vít, vốn là một doanh trại của quân Mỹ trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất.

        Sự có mặt Đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đứng đầu là tướng Trần Văn Trà rất quen thuộc với đồng bào Sài Gòn và Đoàn quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa do tướng Lê Quang Hòa là Trưởng đoàn, tại giữa thành phố Sài Gòn là thêm một minh chứng hùng hồn về thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân cả nước ta, mặc dù địch ra sức xuyên tạc, bưng bít.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:58:04 PM
        Trong những ngày chúng tôi ở trại Đa-vít, địch hết sức hạn chế sự tiếp xúc của chúng tôi với nhân dân. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp nhận được tình cảm của đồng bào đối với cách mạng qua ánh mắt, nụ cười và những cử chỉ kín đáo của bà con những khi chúng tôi, mặc dù chỉ bằng ô tô, đi trên các đường phố Sài Gòn.

        Trong dịp miền Bắc trao trả cho Mỹ đợt đầu tiên những phi công Mỹ bị bắt, tôi được lãnh đạo Đoàn cho phép ra gặp gia đình nhưng với danh nghĩa một thành viên bộ phận của Đoàn miền Nam cùng bộ phận của Đoàn miền Bắc, bộ phận của phía Mỹ - nguy và Ủy ban Quốc tế ra Hà Nội chứng kiến cuộc trao nhận tù binh Mỹ. Các anh ở Đoàn miền Bắc đã điện ra Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu để báo cho gia đình tôi. Chúng tôi ra Bắc trên một chiếc máy bay C130 của Mỹ. Từ trên máy bay nhìn xuống miền Bắc thân yêu, xuống thành phố Hà Nội quê hương, lòng tôi bồi hồi không sao tả xiết, máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Cơ thể tôi có một nhược điểm cứ đi máy bay là tai bị ù nhức, người bị say choáng váng. Vừa xuống máy bay, tôi được một đồng chí quen dẫn tới một căn phòng nhỏ. Bước đến cửa phòng, tôi nhìn thấy nhà tôi và hai cháu. Làm sao mà nói hết được nỗi mừng vui của chúng tôi khi được gặp nhau sau bảy năm xa cách trong chiến tranh khốc liệt? Song chúng tôi không nói chuyện được nhiều với nhau vì đông đảo bạn bè hỏi han tíu tít. Thằng con lớn của chúng tôi lại bị sốt. Các bè bạn tất bật đánh gió cho cháu. Anh Kinh Chi, Cục trưởng Cục Bảo vệ, bảo gia đình chúng tôi ra trước nhà để anh chụp cho mấy kiểu ảnh. Tôi cười hỏi: "Tôi đang trong vai thành viên của phái đoàn miền Nam, anh không ngại phía Mỹ - ngụy la lối sao?". Anh cười đáp: "Kệ cha chúng nó!". Thế là chúng tôi cười vang và đi ra chụp ảnh. Tôi cũng không có thì giờ về thăm lại căn hộ của gia đình mình ở ngay bên kia sông Hồng, trên đường Điện Biên Phủ. Chúng tôi bịn rịn chia tay nhau với niềm tin ngày tái ngộ không còn xa lắm.

        Công tác được khoảng hai tháng không may tôi bị đau bụng dữ dội do viêm tắc ống dẫn mật. Mặc dù được dùng mấy thứ thuốc, có thứ quý hiếm do các anh trong hai phái đoàn đàm phán của ta tại Hội nghị Pa-ri mang từ Pháp về nhưng tôi vẫn chưa khỏi bệnh. Tôi buộc phải kết thúc những ngày Ở trại Đa-vít, ra căn cứ để chữa bệnh và công tác.

        Sau khi bộ đội Miền giải phóng hoàn toàn tỉnh Phưởc Long ít lâu, một buổi đơn vị tôi đang tu sửa lại doanh trại và vun xới vườn rau thì có các anh lãnh đạo Miền đến thăm. Anh Bảy Cường (tức đồng chí Phạm Hùng), Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Miền cười hỏi: "Các đồng chí định ở đây lâu dài hay sao mà chăm chút cẩn thận dữ vậy" Chúng tôi linh cảm có những sự kiện trọng đại sắp diễn ra.

        Quả nhiên sau đó ít hôm, tôi được triệu tập vào Bộ Chỉ huy Miền nghe phổ biến riêng về chiến dịch lớn sắp tới, chiến dịch giải phóng miền Nam. Các anh giao cho tôi dự thảo lệnh động viên toàn thể các lực lượng tham gia chiến dịch. Lòng tôi bồi hồi xúc động vô cùng. Sẽ khác Mậu Thân năm 1968, lần này nhất định chúng ta sẽ giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tôi ngồi vào bàn và dự thảo văn kiện lịch sử này. Tay tôi run lên khi viết dòng chữ: "Nhất định chúng ta sẽ cắm cao lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của Hồ Chủ tịch trên nóc Dinh Độc Lập, sào huyệt cuối cùng của bè lũ Mỹ - ngụy". Sau vài hôm, tôi rất phấn khởi được tin bản dự thảo đã được thông qua, chỉ sửa chữa thêm bớt đôi chút, trong đó có thêm một ý của anh Bảy Cường: "Với khí thế Trường Sơn chuyển mình, Cửu Long dậy sóng".

        Trong chiến dịch này, tôi được cử làm phái viên đến Quân đoàn 3, tác chiến trến hướng tây bắc Sài Gòn. Chúng tôi đi giữa ban ngày đến Sở chỉ huy Quân đoàn. Đất Củ Chi bị Mỹ - ngụy san ủi hoang hóa mênh mông, không còn cây cao, chỉ có cỏ lau sậy và những cụm cây xấu hổ lúp xúp. Đến một chỗ có dân ở, chúng tôi được cô bác mời ăn dưa hấu. Trong đời, chưa khi nào tôi ăn dưa hấu thấy ngon mát như vậy. Trời nắng nóng, miệng khát khô và lòng dân "đất thép".

        Tôi có mặt ở Sở chỉ huy Quân đoàn vào đêm Sư đoàn 320 đánh căn cứ Đồng Dù - Củ Chi. Trận đánh dứt điểm và toàn quân đoàn tiến về Sài Gòn thì mờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn chuyển cho tôi bức điện của Cục Chính trị Miền gọi tôi về căn cứ để nhận nhiệm vụ mới.

        Trong lòng, tôi rất muốn đi cùng đơn vị đang tiến đánh Sài Gòn, nhưng vì kỷ luật, tôi bắt buộc phải trở lại căn cứ của Cục Chính trị Miền. Tôi có mang theo một chiếc đài thu thanh nhỏ. Vừa đi đường tôi vừa nghe đài Sài Gòn. Đến Bến Củi thì tôi nghe được lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, Tổng thống nguy quyền. Cũng y như hồi ở căn cứ của Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị ở Việt Bắc khi nghe tin ta tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm của Pháp Ở Điện Biên Phủ, lần này tôi cũng không sao nén nổi xúc động, tôi và đồng chí bảo vệ ôm chầm lấy nhau mà khóc.

        Khi về đến căn cứ thì toàn bộ cơ quan đang chuẩn bị hành quân về tiếp quản các cơ sở của Tổng cục Chiến tranh chính trị của quân ngụy tại thành phố Sài Gòn được giải phóng. Sau đó ít lâu, tôi thực hiện được mong ước của vợ chồng tôi khi tôi đi B: Trở về Hà Nội đoàn tụ gia đình qua thành phố Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:59:13 PM
       
MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

MAI CHIẾN THÁI       

        Cũng như biết bao đồng đội khác, trong đời ít ai có được may mắn công tác và chiến đấu ở một đơn vị từ đầu đến cuối. Tôi đã phải kinh qua nhiều đơn vị và công việc khác nhau và ở đâu tôi đều cảm thấy sự đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau đầy ắp tình đồng chí, đồng đội, tình người. Nhưng đơn vị gây ấn tượng sâu sắc nhất, sống và làm việc đẹp nhất đối với tôi, đó Ià Phòng Tuyên huấn Cục Chính trị thuộc Bộ Chỉ huy Miền - B2.

        Khi quân xâm lược Mỹ ồ ạt kéo quân vào miền Nam và Ieo thang chiến tranh miền Bắc nước ta, cũng là lúc Đoàn 707 - đoàn cán bộ miền Bắc tăng cường cho chiến trường miền Nam do anh Lê Nam Phong, nay là Trung tướng, làm Trưởng đoàn đã có mặt ở căn cứ địa của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng Miền đóng ở Tây Ninh - Đông Nam Bộ.

        Với cái lạ lẫm vùng căn cứ kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ, cách đồn bốt Mỹ - nguy không xa lắm, với sự háo hức của một cán bộ trẻ mới tốt nghiệp khóa đào tạo cán bộ trung cấp chính trị ở Học viện Quân chính Bộ Quốc phòng, tôi được bổ sung về Phòng Tuyên huấn.

        Ở đây tôi được sống và làm việc trong vòng tay thân tình ưu ái của các anh các chị đã công tác từ nhiều năm trước. Trong hoàn cảnh chiến tranh, Phòng Tuyên huấn lúc bấy giờ có quy mô bề thế, có đủ các ban tuyên truyền, giáo dục, văn nghệ, ban trị sự Báo Quân giải phóng, ban tư liệu, bình xã luận Báo Quân giải phóng kiêm phục vụ đài phát thanh, văn công, điện ảnh, văn thư bảo mật, nhà in, điện đài minh ngữ...

        Một guồng máy cả mấy trăm con người gồm những cán bộ, chiến sĩ khắp ba miền quy tụ về đây, đặc biệt có các cô, các cháu ở các tỉnh thuộc các khu 7, 8, 9 và Sài Gòn - Gia Định như Hai Hải, Minh Khai, Văn Nga, Mỹ Dung, Ngọc Hóa, Kim Thanh, Lý Chí Nguy... đã vượt qua vòng vây kìm kẹp của Mỹ - ngụy lên chiến khu tham gia kháng chiến, cũng có mặt trong Phòng Tuyên huấn. Dù thân gái dặm trường, Thúy Nga, Phương Thịnh, Vinh, Hồng Xuân đã vượt hàng ngàn cây số Trường Sơn kề vai sát cánh với các "đấng nam nhi" tuyên huấn.

        Như những con ong chăm chỉ, theo sự phân công của tổ chức, người làm việc ở căn cứ, người xuống cơ sở hay ra phía trước, vừa phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu, vừa phải tự lo lấy cuộc sống hàng ngày.

        Ở Phòng Tuyên huấn có cái lý thú là sau một ngày làm việc vất vả, tối đến, phát huy sở trường của mình, vài ba anh em xuống suối câu cá, bốn năm anh em vào rừng đi săn. Trong đội săn bắt ít khi thiếu vắng các "cây thiện xạ" đầy kinh nghiệm như các anh Hai Hùng, Hai Nhã, Ba Rêu và mỗi khi bắn được thú lớn, quy mô cải thiện không bó hẹp ở Phòng Tuyên huấn mà trở thành "ngày hội", bạn bè các phòng bạn đến chung vui. Chúng tôi lại có dịp ôn chuyện hậu phương, chuyện gia đình quê hương.

        Qua mấy đời trưởng phòng như anh Tư Trực, anh Sáu Tòng rồi anh Ngô Thế Kỷ.., mọi việc ở Phòng Tuyên huấn diễn ra nhịp nhàng, không ồn ào, nhưng đầy khí phách và đạt hiệu quả cao.

        Hơn bốn mươi năm sống, công tác và chiến đấu trong quân ngũ, có thể nói đây là thời điểm bom đạn ác liệt nhất, sinh hoạt thiếu thốn, gian khổ nhất và cũng là thời kỳ sóng gió nhất. Chúng tôi thường tâm sự với nhau, đã ở R (căn cứ địa B2) thì phải chấp nhận chung sống với bom B52, chất độc hóa học và sốt rét ác tính. Nhưng theo tôi đây là thời kỳ đẹp nhất, thời kỳ đáng ghi nhớ nhất về tình đồng chí, đồng đội, tình người. Suốt thời gian dài, cả chục năm không hề có phân biệt trong Nam hay ngoài Bắc, không phân biệt vì cấp bậc địa vị, không cậy tuổi tác và sự cống hiến, không phân cách bởi đơn vị đóng quân ở vòng trong hay vòng ngoài.

        Tất cả, tất cả cùng một ý chí, một tấm lòng vì công việc. Ai cũng thầm mong cho những chuyến đi ra phía trước của đồng chí mình được trở về an toàn, ai cũng vui mừng reo lên sau mỗi đợt máy bay B52 ném bom mà vẫn nghe có tiếng gọi nhau ở hầm bên cạnh báo hiệu cho sự an toàn. Và đã bao lần nghẹn ngào trước sự hy sinh của bao đồng nghiệp ra đi mà không bao giờ trở về, biết bao các cô, các chú, các cháu nhỏ bị bom đạn Mỹ - nguy cướp mất cuộc sống!

        Ngần ấy năm công tác ở Phòng Tuyên huấn phải thấm trải bao nỗi buồn, vui, mất mát, những thương đau trước sự hy sinh thầm lặng của hàng ngũ với những người cầm bút, những người phục vụ... ấy vậy mà bao giờ lương tâm cũng giục giã mọi người phải có dũng khí, phải vươn lên làm tròn nhiệm vụ ở tiền tuyến lớn để rút ngắn khoảng cách với hậu phương lớn. Hiếm thấy có sự bon chen, cơ hội, vị kỷ trong cuộc sống. Ở đây chân lý "mình vì mọi người và mọi người vì mình" được thể hiện thật đậm nét.

        Có lẽ với những con người như thế, với tâm hồn trong sáng như thế, với cách đối nhân xử thế đầy tình nghĩa như thế đã chắp cánh cho anh chị em trong Phòng Tuyên huấn chúng tôi vượt lên tất cả làm tròn nhiệm vụ của một "lính chiến" ở tiền tuyến lớn.

        Tuy đã xa đồng chí, đồng đội nhưng tôi vẫn nhớ như in những hình ảnh đẹp của một thời công tác, chiến đấu ở Phòng Tuyên huấn Cục Chính trị B2. Xin ghi lại vài nét mộc mạc của một thời để nhớ.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 09:00:24 PM
        
NHỮNG NĂM THÁNG Ở CỤC CHÍNH TRỊ MIỀN

NGUYỄN VIẾT TÁ        

        Từ khi tôi được điều về công tác ở Cục Chính trị Miền vào tháng 10 năm 1962 cho đến khi Cục giải thể vào đầu năm 1976 tính ra cũng được gần 14 năm. Biết bao nhiêu kỷ niệm đối với đơn vị, với đồng chí, đồng đội và các thủ trưởng trong cơ quan.

        Chuyện được điều về Cục cũng là một kỷ niệm khó quên đối với tôi. Không biết ai giới thiệu, sau mấy lần nhận điện của anh Hai Chân rồi anh Hai Hậu, anh Bảy Mai, Chính ủy Trung đoàn 2 kêu tôi lên nói: "Anh muốn giữ em ở lại trung đoàn nhưng không thể trái lệnh hai anh, thôi em bàn giao công việc theo đường giao liên về R".

        Từ khu A (Chiến khu Đ) về khu B, tôi chưa hình dung được "R" Ở đâu, và đinh ninh đó cũng rừng sâu thăm thẳm như khu A. Còn mấy chục bạc, tôi mua mấy gói trà "Con cọp" chiêu đãi giao liên và anh em cùng đi. Không ngờ chỉ mấy bước chân, từ Xóm Giữa đến Sóc Thiếc, tôi được dự Hội nghị công tác đảng, công tác chính trị các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam và cũng là bắt đầu được công tác ở Cục Chính trị Miền (lúc đó chưa gọi là Cục mà là cơ quan chính trị của Ban Quân sự Miền).

        Người gây ấn tượng mạnh đầu tiên đối với tôi là anh Hai Hậu (Trần Lương - Trần Nam Trung), lúc đó chưa gọi là chính ủy mà là phụ trách công tác đảng, công tác chính trị Quân giải phóng miền Nam Viêt Nam (anh Hai Chân - Lê Văn Tưởng phụ trách cơ quan chính trị Miền). Anh em cán bộ trong cơ quan kháo nhau về chuyện anh Hai Hậu gặp chiến sĩ Quân giải phóng hỏi có biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp là ai không, chiến sĩ mau mắn trả lời tướng Giáp cũng như tướng Ty (ngụy). Do đó anh đề nghị tăng cường giáo dục chính trị cho các lực lượng vũ trang giải phóng. Phải chăng qua lời đề nghị của anh Hai Hậu, Trung ương Cục chấp thuận cho Ban Quân sự Miền tiến hành Hội nghị công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Với gương mặt phúc hậu, tính tình điềm đạm, thái độ luôn cởi mở trong công việc cũng như lúc sinh hoạt vui chơi văn nghệ, anh Hai Hậu rất được cán bộ, chiến sĩ mến phục.

        Cuối năm 1962, từ thủ trưởng đến cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan chính trị mới có chừng vài chục người nhưng đã triển khai đầy đủ các mặt tuyên huấn, tổ chức, cán bộ, bảo vệ, dân vận, văn công, điện ảnh. Chuẩn bị cho Hội nghị công tác đảng, công tác chính trị, các mặt khác đều có bài bản ở miền Bắc mang về. Về công tác dân vận, anh Nghề được phân công chuẩn bị báo cáo, rất lo chưa biết làm gì, anh Hai Chân lệnh anh xuống Bàu Cỏ, vùng giáp ranh giữa ta và địch chỉ có một ít dân, tìm hiểu tình hình về chuẩn bị. Và rồi đâu cũng vào đó.

        Có một chuyện vui. Cơ quan điều về một số nữ. Anh Hai Chân biết có năm, bảy đồng chí chưa lập gia đình nên chỉ thị không ai được "đụng chạm" đến chị em để tập trung xây dựng cơ quan. Tôi xuống may cờ "đảo chính" ở Xưởng quân trang Miền, Võ Trần Nhã về thâm nhập vành đai diệt Mỹ ở Bình Mỹ, Thanh Giang về công tác quê Bến Tre. Nhờ đó cả ba đều xây dựng gia đình. Nhưng rồi dần dà chị em hầu hết đều tác thành với cán bộ trong cơ quan.

        Sau Hội nghị công tác đảng, công tác chính trị các lực lượng vũ trang giải phóng mỉền Nam, cơ quan chuyển về lại căn cứ ở vùng Trảng Chiên, sát biên giới Việt Nam  Cam-pu-chia. Anh Hai Chân gọi tôi lên phân công phụ trách tờ tập san Quân giải phóng. Tôi thưa khi còn ở miền Bắc không được học một trường quân sự hay chính trị chính quy nào, nên chỉ xin nhận làm trợ lý tuyên truyền như hồi còn ở Sư đoàn 338 Nam Bộ. Nhưng rồi tôi lại gắn với nghề báo cho đến kết thúc chiến tranh.

        Đầu năm 1963, chiến thắng Ấp Bắc làm nức lòng quân dân cả nước, đặc biệt đối với cán bộ, chiến sĩ cũng như đồng bào miền Nam, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long, giải tỏa được tâm trạng lo ngại về trực thăng địch tung hoành như trước. Một hôm, sau bữa cơm, anh em tuyên huấn bàn luận rất sôi nổi về ý nghĩa của chiến thắng Ấp Bắc. Tôi chợt nghĩ ở miền Bắc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phát động phong trào thi đua "Đại phong", "Ba nhất" rất sôi nổi và hiệu quả nên đề nghị anh Tư Thành (phụ trách tuyên huấn) ở miền Nam nên có phong trào thi đua Ấp Bắc trong các lực lượng vũ trang miền Nam. Anh em đều nhất trí đề nghị báo cáo Ban Quân sự Miền phát động phong trào thi đua Ấp Bắc. Anh Tư báo cáo lên với anh Hai Chân, anh Hai báo cáo anh Bảy Tiến (Phó ban Quân sự Miền) và được chấp nhận. Anh Tư nói với tôi: "Đồng chí đề nghị thì đồng chí dự thảo Hiệu triệu thi đua Ấp Bắc để đưa lên thông qua Ban Quân sự Miền". Sau khi được anh Bảy Tiến thông qua, anh Hai Chân sai tôi cầm bản Hiệu triệu thi đua qua Ban Tuyên huấn R để phát trên đài, nhưng chỉ phát công khai nội dung, còn không được phát Ban Quân sự Miền. Qua gặp anh Năm Quang (Trần Bạch Đằng), anh nói đồng chí về báo cáo anh Hai tôi chịu trách nhiệm đưa lên công khai Ban Quân sự Miền. Về nhà, chờ cả tuần chưa thấy đài Hà Nội phát, anh Hai Chân sốt ruột sai tôi báo cáo với anh Hai Hậu có gì bất trắc không. Rất may dọc đường tôi nghe đài Hà Nội đã phát rất nhiều lần Hiệu triệu thi đua Ấp Bắc của Ban Quân sự Miền (lúc đó chưa gọi là Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam). Lúc đầu mới có một mình tôi được phân công đi giao ban ở Ban Quân sự Miền về báo cáo lại tình hình và đưa tin viết bình luận chiến sự trên chiến trường miền Nam gửi qua Thông tấn xã và đài Giải phóng phát. Lần đầu tiên, anh Tư Trực, Trưởng phòng Tuyên huấn giao viết một bài bình luận, tôi chưa hiểu bình luận ra sao đề nghị anh chỉ cách viết, anh Tư nói: "Mình cũng chưa viết bao giờ, cấp cho cậu cái đài, cứ nghe đài Hà Nội, Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa bình thế nào mà làm theo". Khi được giao viết xã luận tôi cũng viết như bình luận, anh Chín Vinh kêu tôi hỏi có biết viết văn officielle (chính luận) không, tôi dạ và mò mẫm viết. Khoảng đầu năm 1965, cánh Tư Hội, Ngô Thế Kỷ, Hồ Văn Sanh, Mai Chiến Thái, Ngô Vi ân lần lượt về tăng cường thành lập bộ phận A5, tôi học thêm được nhiều, cùng các anh viết bình luận, xã luận, thông cáo quân sự và các bài chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Miền. Tôi nhớ có lần, anh Tư Trực được Bộ Chỉ huy Miền phân công viết một bài chỉ đạo mang tính chiến lược với chủ đề "Tấn công và nổi dậy là quy luật tất yêú của cách mạng miền Nam". Anh Tư bệnh, giao tôi viết để anh chữa xong đưa lên thông qua Bộ Tư lệnh. Tôi phải tập trung tìm tư liệu và viết trong 10 ngày đêm, anh Mười Khang (Đại tướng Hoàng Văn Thái) trực tiếp thông qua, lấy bút danh của anh là Nam Hải, đưa qua Đài phát và đăng trên Tập san Tiền phong, Báo Giải phóng và Báo Quân giải phóng. Qua phục vụ bài viết có tính chỉ đạo chiến lược của anh Mười, được sự góp ý của anh, tôi thấy mình có bước trưởng thành khá lớn.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 09:01:31 PM
        Trong các đợt hoạt động mùa khô và có lúc cả mùa mưa, Cục Chính trị thường phân công một số cán bộ trợ lý và cả các đồng chí văn nghệ đi phục vụ Bộ Chỉ huy tiền phương, xuống các đơn vị, chiến trường ở B2 (Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên) thu thập tư liệu phục vụ công tác chuyên môn và công tác tuyên truyền.

        Riêng tôi, đã được phân công làm phái viên chính trị tham gia các trận đánh đồn Bổ Túc, sau đó là đồn Trại Bí, đồn Tà Păng Ro Bon của Trung đoàn 1, thị trấn Bến Súc của Trung đoàn 2, phục vụ tiền phương Bộ Chỉ huy Miền trong Mậu Thân năm 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

        Về công tác tuyên huấn, nhất là công tác báo chí, tuyên truyền trên báo, đài, anh Sáu Di (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), các anh Chín Vinh, Tám Trần rất quan tâm và tham gia trực tiếp viết những bài chỉ đạo hoạt động vũ trang của Bộ Chỉ huy Miền rất sắc sảo.

        Nhắc lại những năm tháng ở Cục Chính trị Miền, tôi lại bồi hồi nhớ đến nhiều đồng chí đã hy sinh tại chiến trường cũng như tại cơ quan. Riêng Phòng Tuyên huấn đã có đến hơn 20 liệt sĩ. Chỉ trong hai trận địch dùng máy bay B52 ném bom rải thảm xuống căn cứ ngày 31 tháng 10 và ngày 5 tháng 11 năm 1972, Phòng Tuyên huấn đã truy điệu 8 liệt sĩ. Thương tâm nhất là mẹ con cô Dung và cháu Hằng đã ra đi, khi cô Dung đặt niềm hy vọng miền Nam sắp giải phóng sẽ được về Sài Gòn, cháu Hằng sẽ được gặp ông bà ngoại. Thực hiện chủ trương của Ban liên lạc truyền thống Cục Chính trị Miền, Trần Hàm Ninh đã bỏ công sức trong mấy năm lên danh sách 103 liệt sĩ của Cục trong 14 năm chống Mỹ, cứu nước. Có thể còn được anh chị em bổ sung thêm.

        Từ năm 1965, Cục Chính trị phân công các anh Hồ Văn Sanh, Tư Hội, Mai Chiến Thái và tôi thay nhau đi giao ban bên Bộ Chỉ huy Miền. Một thời gian ngắn, Tư Hội được phân công về làm Phó chính ủy Viện quân y K71. Đến đầu năm 1973, anh Bảy Sanh vào Sài Gòn tham gia Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; năm 1974, Mai Chiến Thái đi theo đoàn anh hùng, chiến sĩ thi đua ra miền Bắc, còn lại mình tôi đi giao ban ở Bộ Chỉ huy Miền.

        Ngày 26 tháng 4 năm 1975, tôi được lệnh của Cục Chính trị đưa đội điện đài minh ngữ đi trên một chiếc com-măng-ca xuống tiền phương Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh phục vụ công tác tuyên truyền trên đài. Đài minh ngữ điện công khai không qua mật mã nên rất bị địch phát hiện địa điểm, lâu nay thường phải đặt xa cơ quan chỉ huy vài chục ki-lô-mét. Lần này được lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch cho đặt gần để đưa tin thật nhanh, kịp động viên chiến đấu. Vừa sắp xếp xong chỗ ở cho anh em, anh Sáu Tòng (Nguyễn Văn Tòng), Cục phó Cục Chính trị gọi tôi lên bảo thảo ngay Thông cáo của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam. Dưới ánh điện, tôi viết đến đâu, anh Sáu Tòng sửa ngay đến đó, đưa lên Bộ Chỉ huy chiến dịch thông qua và chuyển ngay qua đài Giải phóng để phát. Sau này tôi mới biết đây là Thông cáo của Bộ Chỉ huy chiến dịch nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận tấn công vào hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy ở trung tâm Sài Gòn.

        Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Sở chỉ huy tiền phương Bộ Chỉ huy chiến dịch, cái đài tôi mang bên hông phát tin Tổng thống nguy Dương Văn Minh đề nghị bàn giao chính quyền. Cùng lúc đó, tôi thấy một cán bộ đặt một cái đài khác trên bàn của Bộ Chỉ huy chiến dịch đang phát tin ấy. Đồng chí Bảy Hồng (Phạm Hùng), Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch đứng dậy và nói to: “Không có bàn giao gì cả, chỉ có đầu hàng vô điều kiện, điện ngay cho các cánh tiếp tục chiên đấu cho đên lúc đich đầu hàng”.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tại Sở chỉ huy tiền phương Bộ Chỉ huy chiến dịch, cán bộ phục vụ được Bộ Chỉ huy chiêu đãi một tiệc nhẹ. Tôi nhớ chỉ có rượu bia. Vinh dự cho tôi được cụng ly với Chính ủy Phạm Hùng, được đồng chí bảo vệ chụp hình, nhưng tiếc rằng không nhận được. Dù sao đây cũng là một kỷ niệm không thể nào quên về ngày toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.


Tiêu đề: Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 09:03:12 PM
        
VỀ CỤC CHÍNH TRỊ QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

BÙI ĐÌNH BẢNG      

        Sau khi tham gia chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, tôi được rút về học khóa đào tạo cán bộ chính trị trung cấp tại Trường trung, sơ H12. Nhà trường bấy giờ đặt ở một khu rừng rậm phía bắc tỉnh Tây Ninh, bên cạnh sông Vàm Cỏ, vùng Lò Gò, Xóm Giữa, giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Kết thúc khóa học tưởng rằng được trở lại đơn vị cũ tiếp tục chiến đấu; phần đông anh em cùng khóa học gấp rút chuẩn bị quân tư trang để trở lại đơn vị. Mỗi người một nơi, khắp các chiến trường, các tỉnh. Riêng bốn anh em tôi: Bảng, Thanh, Toan quê Thái Bình, anh Châu quê Hải Dương được Ban lãnh đạo nhà trường giữ lại và trao quyết định về nhận công tác tại Cục Chính trị Bộ Chỉ huy Miền. Nhận quyết định, ngay ngày hôm sau bốn anh em ba lô trên vai đi bộ theo dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia về căn cứ Rừng Le gần Cà Tum, nơi đây là trạm đón tiếp của Bộ Chỉ huy Miền, cũng nằm sát biên giới. Thời gian này, chiến trường miền Nam nhất là Miền Đông Nam Bộ, bắc Sài Gòn rất ác liệt Sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ - ngụy liên tục nống ra càn quét, đánh phá vùng căn cứ Tây Ninh, đến sát biên giới. Chúng rải chất độc hóa học, dùng bom phát quang và bom xăng đốt trơ trụi cây rừng, phá căn cứ và kho tàng của ta. Căn cứ Cục Chính trị Bộ Chỉ huy Miền lúc này phải chuyển về khu vực Suối Đá Bằng, vùng Móc Câu, Mỏ Vẹt. Chờ đợi ngoài trạm khách vài ngày sau tôi được bổ sung vào công tác ở Phòng Chính sách của Cục. Phòng Chính sách cũng mới được tách ra từ Phòng Tổ chức theo nhu cầu phát triển của chiến trường, nên cũng còn nhiều khó khăn. Cả phòng chỉ có hơn chục cán bộ, được chia làm hai ban: ban theo dõi công tác thương binh hệt sĩ, gọi tắt là Ban Thương binh; ban theo dõi công tác khen thưởng gọi là Ban Khen thưởng. Bếp ăn có một nuôi quân, một quản lý. Có một tiểu đội vệ binh vừa làm công tác bảo vệ vừa phục vụ. Trưởng phòng là anh Mười Hưng; anh Tám Hưng, Trưởng ban Khen thưởng; cán bộ theo dõi khen thưởng có anh Ba Cởi Phạm Lam; tôi và anh Võ Thành Đô. Cứ mỗi đợt mở chiến dịch hầu hết số cán bộ đều xuống đơn vị, đi theo các mũi các hướng để nắm tình hình, đôn đốc việc chấp hành chính sách thương binh, liệt sĩ và khen thưởng.

        Lương thực, thực phẩm thời kỳ này toàn Miền gặp không ít khó khăn. Cuối năm 1968, cả năm 1969 sang đầu năm 1970, Mỹ - ngụy tập trung lực lượng, tăng cường xe tăng, pháo binh, không quân kết hợp với bộ binh nống ra càn quét, phản kích quyết liệt, lập thành vành đai trắng để bảo vệ Sài Gòn, cắt đứt nguồn tiếp tế của ta từ đồng bằng lên, từ Tây Nguyên vào và các cửa khẩu ven biên giới Cam-pu-chia sang. Cơ quan của Miền cũng chung cảnh mua được gì cấp nấy, mua được bao nhiêu cấp bấy nhiêu, lương thực thiếu phải ăn độn đủ thứ. Nhớ lại có thời kỳ ăn toàn đậu xanh, trong bữa ăn có giá đậu xanh, chả rán đậu xanh, canh hầm đậu xanh, cơm cũng nấu bằng đậu xanh, đến bừa xuống nhà ăn, mùi đậu xanh bốc hơi nồng nặc đã thấy rùng mình. Khổ nhất là những anh sốt rét, ngửi mùi đậu xanh càng sợ. Thực phẩm trong bữa ăn chủ yếu là tự túc bằng đủ mọi cách, săn bắn, đánh lưới, câu cá, sản xuất rau xanh, lấy măng rừng để cải thiện và duy trì đời sống cho cơ quan. Cứ như vậy, ngày làm việc, đêm đi kiếm ăn, cán bộ và chiến sĩ đều phải thay nhau làm. Cuộc sống thiếu thốn đủ thứ, gian khổ cũng nhiều, đi chiến trường chiến đấu ác liệt, bệnh sốt rét có cơ hội hoành hành. Anh em thường nói vui "ai chưa sốt rét thì chưa phải là Quân Giải phóng". Vì vậy sốt rét rừng bình thường như cơm bữa không ai thoát khỏi. Đang ngồi làm việc, ngáp vài cái, thế là cơn sốt rét từ đâu kéo đến đùng đùng, rét run cầm cập rồi lại nóng, nóng như có lửa đốt, ít phút sau cắt cơn sốt lại vào bàn làm việc tiếp. Cuộc sống và công tác thời chiến là như vậy, không có ai kêu ca phàn nàn gì. Cuộc sống vẫn vui tươi đầy tự hào và tin tưởng. Cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan hội tụ đủ các miền Bắc - Trung - Nam, đủ mọi lứa tuổi, già có, trẻ có nhưng sống chan hòa như anh em một nhà, vui buồn no đói có nhau.

        Gần bảy năm sống và công tác ở Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam, trong chiến tranh ác liệt, bao ký ức, bao kỷ niệm mang theo suốt cuộc đời tôi.

HẾT