Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2016, 08:18:39 AM



Tiêu đề: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2016, 08:18:39 AM
        - Tên sách: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
        - Tác giả: Lưu Trọng Lân
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2002
        - Số hoá: ptlinh, Đánh đông dẹp bắc
        - Hiệu đính: Giang tvx






        “Dù đế quốc Mỹ lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay,từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”

LỜI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH              
Tại Quân chủng Phòng không Không quân        
(ngày 19 tháng 7 năm 1965)
               
     



LỜI TỰA        
CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
       

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/1%20-%200004_zpsr8w1arjf.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/1%20-%200005_zps7sqpqpjz.jpg)

       Tháng 12 năm 1972, Tổng thống Nixơn đã huy động lực lượng không quân mạnh nhất của Mỹ - máy bay B52 - mở cuộc tập kích chiến lược chưa từng có, nhằm tàn phá Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng, tàn sát quân và dân ta với quy mô lớn.

        Với hành động bạo ngược ấy, Nixơn muốn buộc Việt Nam phải đầu hàng, phải chấp nhận những điều sửa đổi có lợi cho Mỹ trong hiệp định đã được thỏa thuận.
        
        Một sự bất ngờ mà Mỹ không hề lường đã diễn ra. Lực lượng phòng không và không quân ta cùng với quân và dân đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược của Mỹ, gây cho chúng những tổn thất hết sức nặng nề, buộc chúng phải chấm dứt hành động ngông cuồng, phải ngồi lại bàn đàm phán, ký kết hiệp định Pa-ri với những điều khoản đã thỏa thuận, không có chút thay đổi nào.
        
        Chiến thắng vang dội của quân và dân ta trên bầu trời Hà Nội, chiến thắng được mệnh danh là "Điện Biên Phủ trên không" sẽ mãi mãi sáng ngời trong sử sách, chính là chiến thắng của tinh thần quyết chiến quyết thắng, không gì quý hơn độc lập và tự do, của tinh thần thông minh và trí tuệ đặc biệt của dân tộc Việt Nam, đối với khối lượng sắt thép và đô la khổng lồ của đế quốc Mỹ. Con người đã thắng vũ khí; Chí nhân đã thắng tàn bạo; Chính nghĩa đã thắng phi nghĩa.

        Tập sách "Điện Biên Phủ trên không" của đồng chí Lưu Trọng Lân đã góp phần làm rõ chân lý ấy.


Hà Nội, tháng 5 năm 2001            
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP        



        
LỜI GIỚI THIỆU
       
        Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, dân tộc ta đã phải trải qua biết bao khó khăn, gian khổ, mất mát và hy sinh, đồng thời cũng đã lập nên biết bao chiến công hiển hách. "Điện Biên Phủ trên không" là một trong những chiến công như thế.
      
        Vào tháng 10 năm 1972 lẽ ra giữa ta và Mỹ đã đi tới một hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như đã thỏa thuận, nhưng phía Mỹ đã bội ước, đưa máy bay chiến lược B52 đến ném bom Hà Nội, Hải Phòng.
      
        Mưu đồ của Tổng thống Ních-xơn và tập đoàn hiếu chiến Mỹ là dùng sức mạnh của B52, con chủ bài cuối cùng, để ép ta trên bàn đàm phán, hòng buộc ta phải chấp nhận những điều kiện áp đặt của họ.
        
        Nhưng, cuộc tập kích chiến lược ồ ạt và tàn bạo bằng B52 của Mỹ đã thất bại nhục nhã. Trên 80 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có hơn 30 chiếc là B52, cùng nhiều phi công Mỹ bị bắt. Bị tổn thất quá nhiều về máy bay chiến lược, không ép được ta bằng thế mạnh, lại bị nhân dân trong nước Mỹ và trên thế giới phản đối kịch liệt, Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt không điều kiện cuộc tập kích, phải chịu thua trên bầu trời Hà Nội, để rồi sau đó buộc phải chấp nhận thêm cuộc thua trên bàn đàm phán ở Pa-ri.

        Hiệp định Pa-ri đã được ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết sẽ không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước...

        "Mỹ cút" tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhân dân ta tiến lên đánh cho "ngụy nhào". Miền Nam nước ta được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, kết thúc trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

        Đã 30 năm kể từ ngày quân dân ta đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, nhưng vẫn còn nhiều người trong nước và trên thế giới chưa hiểu tại sao nhân dân Việt Nam thắng được không quân chiến lược Mỹ. Nhiều bạn trẻ trong những dịp "về nguồn" đã nêu khá nhiều câu hỏi xoay quanh sự kiện đánh thắng B52.

        Đồng chí Lưu Trọng Lân, nguyên là Phó trưởng phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân đã dày công nghiên cứu, sưu tầm và trên cơ sở những tư liệu xác thực, khá phong phú, đã đưa ra những lời giải đáp sáng sủa trong cuốn sách mang tên: "Điện Biên Phủ trên không" - chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam, góp phần giúp bạn đọc hiểu thêm về lý do tại sao quân dân ta đánh thắng được cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ tháng 12 năm 1972.

        Tập sách bổ sung khá nhiều nội dung bổ ích cho những bài đã viết và cho những quyển sách đã xuất bản về chiến thắng của trận đánh đất đối không lịch sử này. Với cách trình bày theo lối vấn đáp, tác giả Lưu Trọng Lân đã tập trung bám sát vào những vấn đề mà người đọc trong và ngoài quân dội quan tâm, do đó tập sách khá sinh động và hấp dẫn.

        Tôi thực sự đã bị nội dung của tập sách cuốn hút một mạch từ đầu chí cuối.

        Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng sưu tầm, biên soạn, nhưng tập sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Mong được bạn đọc góp ý, bổ sung để tập sách đầy đủ hơn khi tái bản.

        Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2001.        
Thiếu tướng, Giáo sư ĐOÀN HUYÊN              
Nguyên Phó tư lệnh                        
Quân chủng Phòng không - Không quân            
kiêm Tư lệnh Binh chủng Tên lửa.              


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2016, 04:03:24 PM
       
LỜI NÓI ĐẦU
       
        Trong những năm qua, tôi may mắn được nhiều lần đến các cơ quan, đơn vị, các xí nghiệp, nhà trường, giao lưu và nói chuyện về lịch sử, truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội với thế hệ trẻ thành phố Hồ Chí Minh, cả trong và ngoài quân đội, nhân những ngày lễ lớn của dân tộc.
       
        Qua những lần tiếp xúc ấy, tôi cảm nhận các bạn trẻ nắm khá tốt những vấn đề cơ bản có liên quan đến các sự kiện lịch sử, như chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chiến thắng Tết Mậu Thân năm 1968, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972, đại thắng mùa Xuân năm 1975. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tôi cũng lắng nghe được nhiều ý kiến thắc mắc khá lý thú, những lời đề nghị chân thành mong được giải thích sâu hơn về các sự kiện. Để đáp ứng yêu cầu đó, tôi dự định viết vài cuốn sách với hy vọng trả lời những thắc mắc nói trên của cácbạn trẻ.
       
        Ở đây tôi chỉ xin đề cập đến "Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm" (Chú thích: Thực tế diễn ra: 11 ngày, 12 đêm, nhưng nếu tính cả ngày 18 tháng 12 là thời điểm cả ta và địch đều chuẩn bị, thì phải kể là 12 ngày, 12 đêm. Thí dụ ở căn cứ Guam, địch đã chuẩn bị máy bay, bom đạn từ sáng sớm, 12 giờ trưa B52 đã bắt đầu cất cánh.) của quân dân ta đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm 1972, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không".
       
        Với hàng loạt câu hỏi được đặt ra, rải rác, nhiều khía cạnh, tôi đã hệ thống lại và cố gắng đi sâu nghiên cứu để tìm ra lời giải đáp. Có thể chưa thỏa mãn được yêu cầu và chắc chắn còn nhiều thiếu sót, nhưng qua cuốn sách này tôi xin mạnh dạn cung cấp đến bạn đọc, nhất là các bạn trẻ, những điều lý giải về hai vấn đề quan trọng sau đây:
       
        1. Nguyên nhân vì sao quân dân ta đánh thắng được không quân chiến lược B52 của Mỹ.
       
        2. Ý nghĩa lớn lao của chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta và ý nghĩa quốc tế của nó.
       
        Đây là hai vấn đề lớn và khá phức tạp. Để giúp bạn đọc dễ hình dung, tôi xin lần lượt trình bày những điều cần giải đáp dưới dạng câu hỏi và trả lời.
       
        Xin chân thành cảm ơn các cơ quan, các tướng lĩnh, bè bạn đã giúp tôi nhiều ý kiến bổ sung quý báu, cung cấp cho tôi nhiều tư liệu cần thiết phục vụ cho việc biên soạn tập sách này.
       
        Rất mong quý bạn đọc cho lời nhận xét và góp ý thêm.

TÁC GIẢ       


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2016, 04:11:55 PM
               
VÌ SAO TỔNG THỐNG MỸ NÍCH-XƠN ĐƯA
KHÔNG QUÂN CHIẾN LƯỢC B52 NÉM BOM
HÀ NỘI, HẢI PHÒNG CUỐI THÁNG 12 NĂM 1972
       
        Câu hỏi 1: Nghe nói từ tháng 10 năm 1972 giữa Việt Nam và Mỹ đã có một bản thỏa thuận ngừng bắn. Tại sao sau đó Mỹ lại đưa B52 ném bom Hà Nội?
       
        Đáp: Từ đầu tháng 3 năm 1972, theo lệnh của Tổng thống Ních-xơn, tác giả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Không quân và Hải quân Mỹ đã sử dụng hỏa lực tối đa (pháo binh và máy bay) để hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn trên mọi mặt trận ở miền Nam nước ta.
       
        Sang tháng 4, với kế hoạch mang tên "Cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ I, Mỹ lại tiến thêm một bước, đưa B52 đến ném bom Vinh, Thanh Hóa, Hải Phòng và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra toàn miền Bắc, với mức độ hết sức khốc liệt. Trong nhiều tháng trời cuộc hội đàm ở Pa-ri lâm vào bế tắc.
       
        Để mở lối thoát cho cuộc đàm phán, trong cuộc họp kín ngày 8 tháng 10 ở biệt thự Lê-giê (Chú thích: Biệt thự Lê-giê của họa sĩ Fernand Léger tặng Đảng Cộng sản Pháp. Đảng Cộng sàn Pháp cho phái đoàn ta mượn làm nơi họp riêng với phía Mỹ.), phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chủ động đưa ra một bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam" (Chú thích: Nội dung bản dự thảo đã được Bộ Chính trị thông qua, trước khi Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ sang Pa-ri.). Sau hơn bốn ngày thương lượng, phía Mỹ đã chấp thuận những nội dung chính trong văn bản dự thảo do phía ta đưa ra và lấy đó làm cơ sở cho việc đàm phán giữa đôi bên, đồng thời thỏa thuận với ta một thời gian biểu cho việc ký kết và đi tới chấm dứt chiến tranh. Những thỏa thuận đó là:
       
        - Ngày 18 tháng 10 năm 1972: Mỹ chấm dứt ném bom trên bộ và ngừng rải mìn phong tỏa các cảng của miền Bắc Việt Nam.
       
        - Ngày 20 tháng 10: lễ ký tắt giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ (Kissinger) được tiến hành ở Hà Nội.
       
        - Ngày 26 tháng 10: lễ ký kết hiệp định chính thức giữa bốn bên tham chiến (Chú thích: Bốn bên là: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam cộng hòa.) tại Pa-ri.
       
        - Ngày 27 tháng 10: ngừng bắn trên toàn cõi Việt Nam, hòa bình ở Việt Nam được vãn hồi.
       
        Nhưng rồi phía Mỹ lại yêu cầu ta cho lùi thời gian biểu (21 tháng 10 ngừng ném bom, thả mìn; 24 tháng 10 ký tắt; 30 tháng 10 ký chính thức; 31 tháng 10 chấm dứt chiến tranh). Với thiện chí, phái đoàn ta chấp thuận lời đề nghị đó của Mỹ.

        Một tuần lễ sau, vào ngày 20 tháng 10, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận được thư của Tổng thống Ních-xơn (Richard Nixon) khẳng định:
       
        "Hiệp định coi như đã hoàn tất. Hãy tin vào chúng tôi là có thể ký kết được hiệp định như thời gian biểu đã thỏa thuận" (Chú thích: Hồi ký của Ních-xơn: The memoirs of Richard Nixon, Grosset Dunlop, NewYork, 1978).
       
        Vậy mà sau đó, lúc bản hiệp định chỉ còn chờ chữ ký để trở thành hiện thực thì Nhà Trắng lại ngang ngược phản lại những điều đã giao ước.
       
        Kít-xinh-giơ bỏ chuyến bay đến Hà Nội, thông báo trì hoãn ngày ký kết và ngày ngừng bắn, rồi đổ tại Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống chính quyền Sài Gòn, không chịu ký.
       
        Thực ra, chuyện Nguyễn Văn Thiệu ngúng nguẩy, làm mình lảm mẩy, phản ứng kịch liệt với quan thầy Ních-xơn là điều có thật. Tuy nhiên mọi người đều thừa hiểu rằng "cái đuôi" Thiệu, cũng như anh em Diệm -Nhu trước đây, làm sao có thể chống lại được "cái đầu” của ông chủ Mỹ (Chú thích: Có lần Ních-xơn nói với Kít-xinh-giơ: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được". Hen ri Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Nxb Fayard, Paris, 1979.).
       
        Vừa để khỏi bị mang tiếng là bỏ rơi "đồng minh”, vừa để gây sức ép tối đa buộc phía ta phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ, một âm mưu cực kỳ hiểm độc đã hình thành trong bộ óc hung bạo của Tổng thống Mỹ Ních-xơn: Đưa B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, dùng sức mạnh hủy diệt của B52 làm áp lực để buộc Hà Nội phải quỳ gối. Đó là lý do của sự bội ước trắng trợn của Mỹ sau ngày 20 tháng 10 năm 1972, mà về sau chúng ta mới rõ thêm.
       
        Ngày 23 tháng 10, không quân Mỹ ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20, bắc Thanh Hóa, trở ra. Đây lại là trò lừa bịp mới nhằm làm cho thiên hạ tưởng lầm rằng Mỹ thiện chí. Thực chất của việc Mỹ không đánh phá phía bắc vĩ tuyến 20 nữa là để dồn lực lượng máy bay, bom đạn, khống chế quyết liệt tuyến giao thông vận chuyển của ta trên vùng "cán xoong", một địa bàn nhỏ hẹp, thắt lại giữa bản đồ đất nước, từ Nghệ An đến Vĩnh Linh. Mặt khác là để thu hút, lôi kéo lực lượng phòng thủ của ta từ Hà Nội vào Quân khu 4.
 
        Không thể đợi chờ và nín nhịn được nữa trước sự bội ước và thủ đoạn tráo trở của Hoa Kỳ, ngày 26 tháng 10 Chính phủ ta ra tuyên bố công khai lên án sự quay quắt lật lọng của Nhà Trắng. Người phát ngôn của Chính phủ ta, trước đông đảo các nhà báo quốc tế ở Pa-ri đã lên tiếng tố cáo: "Hòa bình đã ở đầu ngọn bút", nhưng chính phủ Mỹ đã trở mặt, phản lại những điều đã thỏa thuận. Dư luận Mỹ và thế giới xôn xao.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2016, 04:16:17 PM
        Bị ta vạch mặt, Kít-xinh-giơ buộc phải tổ chức họp báo. Vốn là một kẻ gian ngoan, để che giấu âm mưu đen tối một mặt Kít thừa nhận nội dung của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra là đúng, mặt khác ông ta lại ỡm ờ thanh minh và lập lờ tuyên bố: "Thưa quý bà, quý ông! Sau mười năm diễn biến, cuộc chiến tranh đã đến hồi kết thúc. Chúng ta tin rằng Hòa bình đang ở trong tầm tay".
       
        Thủ đoạn xảo trá của Kít-xinh-giơ, thông qua màn khói "Hòa bình trong tầm tay" vậy mà đánh lừa và trấn an được dư luận Mỹ. Một cú lừa thật ngoạn mục. Niềm hi vọng của nhân dân Mỹ lại được hâm nóng: Chiến tranh ở Việt Nam sắp chấm dứt. Con em họ sắp được trở về. Kết quả là những lá phiếu tín nhiệm của cử tri lại dành cho Ních-xơn (Chú thích: Bằng thủ thuật nói trên, Ních-xơn đã thắng đối thủ Mắc Ga-vơn với 61% số phiếu. Mắc Ga-vơn đã gọi: "Ních-xơn là tên gian dối! Ních-xơn là tên lừa bịp".).
       
        Sau khi mọi việc được trót lọt, phần thắng trong cuộc bầu cử đã nắm chắc trong tay, trong khi chuẩn bị tiến hành một cuộc ném bom xuống thủ đô Hà Nội, Ních-xơn cho Kít-xinh-giơ bay sang Pa-ri họp tiếp với nhiệm vụ trì hoãn và gây bế tắc hội nghị.
       
        Dặn dò trực tiếp chưa đủ, khi Kít-xinh-giơ đã đến thủ đô nước Pháp, Ních-xơn còn bảo Chánh văn phòng Hen-đơ-men (H.R.Handerman) gọi điện mật nhắc nhở thêm: "Cần tránh những điều gì tỏ ra là chúng ta phá vỡ thương lượng. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải là do phía Hà Nội gây ra. Trong bất cứ trường hợp nào phía chúng ta cũng không được tỏ ra là bên có sáng kiến chấm dứt thương lượng" (Chú thích: Theo Hồi ký của Ních Xơn)
       
        Những ngày của tháng 11 năm 1972 ở thủ đô nước Pháp, Kít-xinh-giơ đã gây ra lắm điều rắc rối cho hội nghị và liên tiếp giở trò "gắp lửa bỏ tay người". Ông ta đòi sửa 69 điều trong những điều mà hai bên đã thỏa thuận hồi tháng 10, lại đòi miền Bắc cùng rút quân, đòi miền Nam phải là một quốc gia riêng. Phía ta không nghe thì Kít đổ tội cho ta là thiếu thiện chí, là cản trở cuộc hội đàm tiến triển.
       
        Trong cuộc họp ngày 24 tháng 11, Kít-xinh-giơ hăm dọa: nếu các ông không tỏ ra biết điều, Tổng thống chúng tôi buộc sẽ ra lệnh ngừng đàm phán và tiếp tục các hành động quân sự mà hậu quả sẽ khó lường”.
       
        Ngày 6 tháng 12, Kít-xinh-giơ lại dọa dẫm: nếu cuộc thương lượng bị tan vỡ thì chiến tranh sẽ tiếp diễn với cường độ mạnh hơn. Đến lúc đó cuộc chiến tranh sẽ thay đổi tính chất, cuộc thương lượng cũng sẽ thay đổi tính chất. Mỹ sẽ không bàn bạc về hiệp định này nữa (Chú thích: Theo sách: "Cuộc đàm phán Pa-ri về Việt Nam” - Nguyễn Thành Lê -Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 1999).
       
        Ngày 7 tháng 12, Ních-xơn gửi điện mật báo cho Kít-xinh-giơ: "Chúng ta sẽ ném bom dữ dội Bắc Việt, nhưng sẽ không thông báo cho công chúng biết trước", và chỉ thị Kít-xinh-giơ vẫn phải tỏ ra mềm dẻo, tiếp tục "giữ cầu" đàm phán thêm một thời gian nữa. Thật là quỷ quyệt hết chỗ nói.
       
        Để có thể đi đến ký kết hiệp định hòa bình, trong những ngày này, phía ta đã có nhiều nhân nhượng, nhưng cũng có những điều không thể nào nhân nhượng nổi. Cuối cùng đến ngày 13 tháng 12, cuộc đàm phán hoàn toàn bế tắc, phải dừng lại.
       
        Cố vấn Lê Đức Thọ nhìn thẳng vào mặt Kít-xinh-giơ cảnh báo: "Các ông gieo gió ắt phải gặp bão". Hôm đó Cố vấn Lê Đức Thọ lên máy bay về Hà Nội, còn ông Kít-xinh-giơ bay về Oa-sinh-tơn.
       
        Trước khi rời Pa-ri, trước các nhà báo ở sân bay Oóc li (Orly), Kít-xinh-giơ lớn tiếng tố cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phá vỡ thương lượng (!?).
       
        Ngày 14 tháng 12, giống như một ung nhọt bị vỡ, dã tâm đen tối và thầm kín bấy lâu của Ních-xơn mở bung ra. Ông ta chính thức ra lệnh: "Hải quân tiếp tục rải thủy lôi phong tỏa các cảng và các cửa sông Bắc Việt. Không quân bắt đầu cuộc tiến công bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng".
       
        Y lệnh tổng thống, theo một kế hoạch chiến dịch được Lầu Năm Góc chuẩn bị hết sức chu đáo, tỉ mỉ từ trước (Chú thích: Kế hoạch tuyệt mật này được thông qua ngày 30-11-1972, với sự tham gia bàn bạc của tổng thống Ních-xơn, cố vấn Kít-xinh-giơ, Bộ trưởng Quốc phòng Le-dơ (Laird), Thứ trưởng Quốc phòng Hây-gơ (Hang) và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (Mo-rơ) Moorer.), các tàu chiến Mỹ tiến hành việc thả thủy lôi, còn các phi công chiến lược ở Gu-am và U-ta-pao thì chuẩn bị sẵn sàng, để đến ngày 18 tháng 12 (theo giờ Hà Nội) lái những chiến oanh tạc cơ khổng lồ ầm ầm lao tới Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
       
        Chiều 18 tháng 12, chiếc máy bay chở Cố vấn Lê Đức Thọ hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Chỉ mấy giờ sau, những loạt bom đầu tiên của B52 Mỹ đã dội xuống Hà Nội.
       
        Màn kịch "hòa bình trong tầm tay" của mưu sĩ Kít-xinh-giơ có thể lừa bịp được ai đó, nhưng với nhân dân Việt Nam, một dân tộc dạn dày chống giặc ngoại xâm và vốn có tinh thần cảnh giác truyền thống thì không dễ bị đánh lừa. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng, nhờ vậy đã bước vào cuộc chiến đấu một cách hoàn toàn chủ động và đã giáng cho không quân chiến lược Mỹ đòn thất bại nặng nề nhất.
       
        Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (Washington Post), dưới dòng tít lớn "Đợt ném bom khủng bố nhân danh hòa bình" viết: "Thất bại này buộc Tổng thống Ních-xơn và cố vấn của ông ta phải chấp nhận trở lại những điều khoản mà cách đây ba tháng họ đã bác bỏ".
       
        Lẽ ra nếu Ních-xơn không tráo trở lật lọng, không phá vỡ những "thỏa thuận tháng 10", không ra lệnh tiến công Hà Nội, Hải Phòng bằng B52 thì ông ta có thể thua trong danh dự. Làm ngược lại, ông đã bị thua trong bi thảm tột cùng.

        Đó là hệ quả tất yếu của một âm mưu bẩn thỉu hiếm có trong lịch sử.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2016, 04:23:11 PM
                     
SỰ CHÊNH LỆCH LỰC LƯỢNG TO LỚN GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ
TRONG CUỘC ĐỐI ĐẦU QUYẾT LIỆT TRÊN VÙNG TRỜI HÀ NỘI, HẢI PHÒNG
 CUỐI THÁNG 12 NĂM 1972
       
        Câu hỏi 2: Để tiếng hành cuộc tập kích chiến lược đường không đánh vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972, Mỹ đã sử dụng sức mạnh tối đa. Vậy so sánh lực lượng giữa ta và Mỹ lúc đó như thế nào ?
       
        Đáp: Đây là một sự chênh lệch lực lượng hết sức to lớn, khó tưởng tượng nổi. Cán cân sức mạnh vật chất, kỹ thuật nghiêng hẳn về phía Mỹ. Cụ thể là:
       
        A. Lực lượng quân sự được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc (Chú thích: Nhà Trắng (The White House): trụ sở nhà cầm quyền Mỹ. Lầu Năm Góc (The Pentagon ): trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ) huy động vào chiến dịch tập kích, mà họ gọi là cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II (Linebacker II) (Chú thích: Linebacker: được dịch là "Tiền vệ" hoặc "Người cứu bóng trước khung thành". Chiến dịch Linebacker I: từ 6-4-1972 đến 22-10-1972. Chiến dịch Linebacker II: từ 18-12-1972 đến 29-12-1972.), gồm có:
       
        - Gần một nửa số máy bay chiến lược B52 của toàn  nước Mỹ (193 trên tổng số 400 chiếc). Thực tế xuất kích: 663 lần chiếc.
       
        - Gần một phần ba số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 trên tổng số 3.041 chiếc). Thực tế xuất kích: 3.920 lần chiếc.
       
        - Một phần tư số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6 trên tổng số 24 chiếc), cùng nhiều tàu chỉ huy - dẫn dường, tàu khu trục, tàu tên lửa, tàu ra-da, tàu bảo vệ, tàu cấp cứu tàu sửa chữa. . . của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương.
       
        Đó là chưa kể 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số lượng lớn những máy bay phục vụ khác như: máy bay gây nhiễu điện tử từ xa, máy bay trinh sát có người lái không người lái, tầng thấp, tầng cao, máy bay chỉ huy, dẫn đường, liên lạc, cấp cứu...
       
        Chỉ tính riêng không quân chiến thuật đã bằng tổng lực lượng của hai nước mạnh nhất châu Âu hồi đó gộp lại (Anh Quốc: 600 chiếc, Tây Đức: 500 chiếc).
       
        Số máy bay chiến lược, chiến thuật được Mỹ đưa vào cuộc tập kích lần này đều là những thứ vũ khí vào loại hiện đại bậc nhất thời ấy, phần lớn được cải tiến hoàn hảo hơn nhiều so với thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), gồm các loại:
       
        - Máy bay chiến lược: B52 D, B52 G.
       
        - Máy bay chiến thuật: F111a, F4 D-E-J (thay F4C, F8), F105G (thay F105F), A4E, A6A, A7 (thay A4).
       
        - Máy bay gây nhiễu điện tử từ xa: EA6A, EB66 B-C D-E, EC121
       
        - Máy bay tiếp dầu trên không: KC 135
       
        - Máy bay trinh sát có người lái tầng thấp: RF4C, RA.5C.
       
        - Máy bay trinh sát không người lái tầng thấp: 147 SB-SC-SK, 147 SRE (trinh sát đêm).
       
        - Máy bay trinh sát có người lái tầng cao: SR71 (Chú thích: SR71: bay cao 30 ki-lô-mét, bay nhanh hơn 3 lần tốc độ âm thanh.)
       
        - Máy bay trinh sát không người lái tầng cao: BQM34A
       
        - Tên lửa không đối đất: ngoài loại Sơ-rai (Shrike AGM45) còn thêm loại Xtenđơ (Standard AGM78), hiện đại hơn, tầm phóng xa hơn.
       
        - Tên lửa nhử mồi Gờ-rin Quây (Green Quail): phóng từ đuôi B52, để thu hút tên lửa tìm nhiệt K13 của MIG21.
       
        - Thiết bị gây nhiễu điện tử: được cải tiến với công suất lớn hơn, cường độ mạnh hơn, tính chất phức tạp hơn, như ALQ87, ALQ100, ALQ101, ALE29, ALR18, QLT13, ALQ76.
       
        - Hệ thống điều khiển bom la de: ngoài loại ZOT, còn thêm loại mới KNAI hiện đại hơn.
     
        Căn cứ xuất phát của các loại máy bay Mỹ:
       
        Máy bay chiến lược B52 cất cánh từ căn cứ En-đơ-xơn (Anderson) trên đảo Gu-am giữa Thái Bình Dương và căn cứ U-ta-pao ở Thái Lan.
       
        Máy bay chiến thuật các loại cất cánh từ 6 sân bay ở Thái Lan (U-đon, U-bon, Tắc-li, Cò-rạt, Na-khon Pha-nol, Nậm Phong) và từ 6 tàu sân bay (Enterprise, America, Ranger, Kitty Hawk, Oriskany, Saratoga) đậu rải rác trên một khu vực rộng gọi là trạm Yân-ki (Station Yankee) ở Biển Đông, từ đông Thanh Hóa đến đông Đà Nẵng (Chú thích: các sân bay ở miền Nam Việt Nam không trực tiếp tham gia kế hoạch Linebacker II).
       
        Ngoài ra, tất cả các căn cứ hậu cần, kỹ thuật của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á như căn cứ Cờ-lác (Clark), Su bích (Subic) ở Phi-lip-pin, cộng thêm căn cứ Ô-ki-na-oa ở Nhật Bản đều được sử dụng để phục vụ tối đa cho trận đại oanh kích này.
       
        Tóm lại, đây là một cuộc huy động lực lượng to lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, tính đến lúc ấy, cho một trận tập kích chiến lược đường không.
       
        Để chỉ huy chung hai căn cứ En-đơ-xơn và U-ta-pao, Lầu Năm Góc đã cấp tốc thành lập một bộ chỉ huy lâm thời, do tướng Vốt (John Vogt) làm tư lệnh, đóng ở U ta-pao. Bộ chỉ huy này đặt dưới quyền của Bộ chỉ huy Không quân chiến lược và Bộ Quốc phòng Mỹ. Cả một guồng máy chiến tranh khổng lồ, nằm trong tay Tổng thống Ních-xơn, người duyệt kế hoạch và là tổng tư lệnh tối cao.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 12:26:24 AM
        
        B. Về phía ta:
        
        Cuối năm 1972, bộ đội Phòng không - Không quân ta cùng một lúc phải đảm đương ba nhiệm vụ rất nặng nề: vừa tiếp tục tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở mặt trận phía Nam, bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, vừa phải bảo vệ giao thông vận chuyển trên địa bàn Quân khu 4 và trên tuyến cửa khẩu vượt Trường Sơn, đồng thời phải luôn luôn sẵn sàng đánh trả một cuộc tập kích đường không quy mô lớn của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.
        
        Lực lượng phòng không ta buộc phải xé nhỏ ra để đáp ứng các yêu cầu chiến lược nói trên.
        
        Vùng trời Hà Nội, Hải Phòng lúc ấy được bảo vệ bằng một lực lượng thấp hơn nhiều so với thời kỳ cao điểm trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất diễn ra trước đó 5 năm.
        
        Lực lượng tên lửa bảo vệ Thủ đô của chúng ta khi bước vào chiến dịch chỉ có không tới 10 tiểu đoàn. Trước và sau đêm Nô-en tăng thêm vài tiểu đoàn nữa, được bổ sung từ nơi khác đến.
        
        Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng lực lượng của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc, đường 1 bắc, đường 1 nam cộng tất cả lại cũng chỉ được khoảng 15 trung đoàn.
        
        Lực lượng Dân quân Tự vệ của Hà Nội, ngoài 4 trung đội pháo cao xạ 100 ly, còn có gần 200 trận địa súng tầm thấp, từ súng trường, tiểu liên, trung liên đến đại liên 12,7 ly, 14,5 ly.
        
        Máy bay tiêm kích (Chú thích: Máy bay tiêm kích: máy bay đánh chặn hoặc săn đuổi máy bay đối phương trên bầu trời, khác với máy bay cường kích chuyên đánh phá mục tiêu mặt đất.) MIG 21, loại có tính năng vượt trên tầm cao của B52, có vài trung đoàn, nhưng số phi công có khả năng bay đêm lại không nhiều.
        
        Lực lượng ra-đa cảnh giới và dẫn đường cũng chỉ có non ba chục đại đội, được bố trí rải khắp miền Bắc.
        
        Lực lượng của ta chỉ có vậy. Tình hình có thể nói là "căng như dây đàn”, nhưng khả năng chỉ đến đó, dù muốn thêm nữa cũng không được, "lực bất tòng tâm".
  
        Trong khi căn cứ xuất phát của máy bay Mỹ là những phi trường siêu hạng, những hàng không mẫu hạm khống lồ, thì căn cứ của không quân ta, số lượng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Trừ Nội Bài là sân bay cấp I, còn lại là những sân bay cấp II, cấp III thậm chí là những sân bay dã chiến mà đường băng làm bằng đất nén.
        
        Về mặt chất lượng, tuy chúng ta đã có ra-đa п35, máy bay MIG 21, tên lửa SAM 2, pháo cao xạ 57 và 100 ly được điều khiển bằng máy chỉ huy K6-60, K6-19 và ra-đa COH9, là những thứ khá hiện đại do Liên Xô giúp, nhưng chưa phải là hiện đại nhất. Trong lúc đó phía Mỹ đã tung ra phần lớn những gì hiện đại tối tân nhất của họ.
        
        Cơ quan đầu não chiến dịch của ta là Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, đặt sở chỉ huy trong một hang đá gần Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 12:30:29 AM
        Trong căn phòng Sở chỉ huy không lấy gì làm rộng, dưới ánh sáng đèn nê-ông chạy bằng máy nổ, có khi được thay thế bằng những chiếc đèn măng sông, cùng những chiếc đèn bão ám khói, tù mù, các sĩ quan phương hướng của ta vẫn liên tục ghi chép, vẫn truyền được mọi mệnh lệnh từ trên xuống và nhận được mọi báo cáo từ dưới lên; các nam nữ "tiêu đồ viên (Chú thích: Tiêu đồ viên: nhân viên đánh dấu đường bay.) vẫn thu được những tín hiệu "tích tà, tích tà”, từ trên không trung vọng về để ghi lại chính xác những mũi tên xanh đỏ (Chú thích: Mũi tên xanh (hoặc đen) chỉ đường bay của không quân địch; Mũi tên đỏ chỉ đường bay của không quân ta.) lên tấm bản đồ đánh dấu đường bay bằng mi-ca; người chỉ huy Quân chủng vẫn có thể nhìn thấy được đầy đủ các tốp B52 từ khi chúng còn ở cách xa Hà Nội ngoài 300 ki-lô-mét để kịp thời ra lệnh báo động và giao nhiệm vụ chiến đấu cho các binh chủng, các sư đoàn. Ở Sở chỉ huy Binh chủng Không quân, các sĩ quan dẫn đường vẫn liên tục "đàm thoại" với các chiến sĩ lái máy bay trên trời - dù đôi lúc có khó khăn - đưa họ vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích địch, tiếp cận B52, thậm chí cho đến lúc các phi công xin phép ấn nút phóng tên lửa tiêu diệt kẻ thù, vẫn không ngừng liên lạc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/5%20BD_zps7uz6ppc7.jpg)
Căn cứ xuất phát và đường bay của B52 cùng máy bay chiến thuật Mỹ vào đánh Hà Nội - Hải Phòng
(Tháng 12 năm 1972)
       
        Rạng sáng ngày 21 tháng 12, lời biểu dương quân dân Thủ đô đánh giỏi thắng to trong đêm 20 của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, qua Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân, vẫn được truyền đi toàn văn xuống khắp các đơn vị, làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ.

        Ở đây không có máy tính điện tử hỗ trợ. Tất cả mọi tính toán phục vụ người chỉ huy đều được giải quyết thông qua những bộ óc thông minh, lanh lợi của các sĩ quan quân báo, tác chiến, thông tin, các cán bộ kỹ thuật, các sĩ quan dẫn đường... mắt quầng thâm vì thiếu ngủ. Chính cái cơ quan chỉ huy hết sức khiêm nhường và không mấy qui mô bề thế ấy, cùng một lúc đã phải đương đầu với hàng loạt sở chỉ huy hết sức hiện đại của các tập đoàn không quân chiến lược, chiến thuật của quân đội Mỹ, mà đằng sau chúng là những cơ quan chỉ huy cấp trên SAC, TAC, JCB (Chú thích: SAC (Strategic Air Command): Bộ chỉ huy không quân chiến lược. TAC (Tactical Air Command): Bộ chỉ huy không quân chiến thuật. JCS (Joint Chief of Staff): Hội đồng tham mưu Liên quân (giống như Bộ Tổng Tham mưu của ta).) và Lầu Năm Góc còn nhiều lần hiện đại, tối tân hơn nữa.
        
        Căn cứ vào những số liệu về địch, ta nói trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: so với lực lượng phòng thủ, lực lượng phi công của Mỹ rõ ràng chiếm ưu thế hơn hẳn, có thể nói là áp đảo, với sự chênh lệch hết sức to lớn về vũ khí, trang bị kỹ thuật. Chính Ních-xơn, trong cuốn sách nhan đề "Không còn những Việt Nam nữa” (Chú thích: "Không còn những Việt Nam nữa": "No more Vietnams", Richard Nixon -Arbor House, New York - 1985.) cũng đã viết: "Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam...". Đúng vậy! Đây là một cuộc chiến không cân sức (Chú thích: Đương nhiên đây chỉ mới là sự so sánh lực lượng về phương diện vũ khí, kỹ thuật, chưa nói đến sức mạnh của ý chí, trí tuệ của con người Việt Nam, của chiến tranh nhân dân Việt Nam mà các chương sau sẽ đề cập đến.). Một số người dạo ấy đã rất phân vân lo lắng, không tin chúng ta có thể thắng nổi B52 của Mỹ.
        
        Tình hình đó đặt ra trước quân dân miền Bắc nước ta, nhất là Quân chủng Phòng không - Không quân một thử thách cực kỳ to lớn.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 12:38:35 AM
     
SỨC MẠNH CỦA KHÔNG QUÂN CHIẾN LƯỢC B52
       
        A. Điểm mạnh nhất của B52. Khó khăn lớn nhất của ta. Cách khắc phục.
       
        Câu hỏi 3: Sức mạnh thực tế của B52? Chỗ nào là điểm mạnh nhất và gây cho ta nhiều khó khăn nhất (Nhiễu điện tử? Hỏa tiễn Sơ-rai? Máy bay F111A?) Ta đã khắc phục những khó khăn đó như thế nào (Cuốn cẩm nang bìa đỏ? Gánh hát rong?)
       
        Đáp:
       
        a) Những lời quảng cáo uy hiếp tinh thần đối phương:

       
        Máy bay B52 bây giờ không còn là ghê gớm nữa, nhưng khi mới ra đời, nó đã từng được quảng cáo: "B52 là siêu pháo đài bay, pháo đài bay thượng đẳng, là thần tượng của không lực Hoa Kỳ; là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu thế giới; là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ (tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược)... B52 trút bom như mưa. Tiếng bom rơi xé không khí, gầm rít ghê rợn như dông bão. Một phi vụ B52 có thể hủy diệt cả một vùng rộng lớn. Một tốp 3 chiếc B52 sẽ biến một diện tích hơn 2 ki-lô mét vuông thành bình địa... Không một sinh vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê gớm của bom B52. Đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần, bởi vì họ cảm thấy hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm của B52 mà họ không có cách gì chống đỡ nổi".
       
        Với sức mạnh khủng khiếp ấy, một sức mạnh có thật, để đe dọa ta, ngày 18 tháng 6 năm 1965, Mỹ đã cho 30 chiếc B52 từ đảo Gu-am bay vào "rải thảm" (Chú thích: "Rải thảm": ném bom kiểu rải thảm (carpet-bomb). Một đợt "rải thảm" của một tốp 3 chiếc B52 có sức tàn phá bằng một trận oanh tạc của 30 đến 40 máy bay cường kích.) vùng căn cứ của ta ở Long Nguyên, huyện Bến Cát, cách Sài Gòn 50 ki-lô-mét về phía bắc. Kèm theo là những lá truyền đơn in hình một chiếc B52 đang rắc bom, với những câu hăm dọa hãi hùng, dường như để giáng một đòn cân não lên tinh thần chiến đấu của nhân dân ta. Nhiều bạn bè trên thế giới lúc đó đã lo lắng cho số phận cuộc kháng chiến của Việt Nam.
       
        b) Sức mạnh thực tế của B52? Đâu là chỗ mạnh nhất?
       
        Kể ra những lời quảng cáo trên đây quả cũng không ngoa lắm.
       
        - B52 là loại pháo đài bay khổng lố, có uy lực rất lớn. Thân hình nó cao hơn 12 mét, dài hơn 49 mét, sải cánh hơn 56 mét, nặng trên 200 tấn.
       
        - B52 có 8 động cơ phản lực, nhờ vậy có thể mang được hơn 100 quả bom với tổng trọng lượng xấp xỉ 30 tấn, nghĩa là gấp khoảng 10 lần một máy bay cường kích F4 (Chú thích: Một chiếc B52D mang 84 quả bom trong khoang bụng và 24 quả đeo dưới cánh: với tổng trọng lượng 27 tấn.) .
       
        - B52 có tầm bay cao tới 20 ki-lô-mét, ném bom ở độ cao 17 ki-lô-mét, hiệu quả nhất là từ 9 đến 11 ki-lô-mét. Nó có thể bay xa nhiều ngàn ki-lô-mét không phải tiếp dầu (Chú thích: Một chiếc B52 đã được bay thử (không mang bom) từ căn cứ Ô-ki-na-oa (Nhật Bản) đến căn cứ Tô-rê-giôn (Tây Ban Nha) trên một chặng đường 20.000 ki-lô-mét. Chuyến bay kéo dài 21 giờ 52 phút, không phải tiếp dầu trên không.). B52 lại còn được máy bay tiêm kích bảo vệ rất chặt chẽ. Mỗi khi đi ném bom, B52 bay tối thiểu một tốp (3 chiếc), trung bình sáu tốp (18 chiếc), cao nhất có thể lên tới 31 hoặc 33 tốp (93 đến 105 chiếc). Đi kèm B52 là một lực lượng rất đông máy bay F4 hộ tống, trước, sau và hai bên sườn, cách B52 từ 18 đến 20 ki-lô-mét, tạo thành một "hàng rào không thể chọc thủng", chặn đứng mọi sự tiến công của máy bay MIG, để bảo vệ cho đội hình B52 an toàn khi bay vào, cũng như khi bay thoát khỏi vùng trời đối phương.
       
        - Để khống chế từ đầu hoạt động của không quân ta, những máy bay "cánh cụp cánh xòe" F111 được giao nhiệm vụ đến trước B52, bay thật thấp để tránh ra-đa phát hiện rồi bất ngờ lao vào ném bom các sân bay.
       
        Trong quá trình chiến dịch tập kích, cả ngày lẫn đêm, nhiều tốp máy bay chiến thuật của Mỹ gồm F111 ,F105, F4, A6, được phân công chế áp các trận địa ra-đa, cao xạ và tên lửa, bằng bom và bằng hỏa tiễn (cũng tức là tên lửa) không đối đất rất quyết liệt, nhằm triệt tiêu hỏa lực phòng không của ta, đồng thời tiếp tục đánh phá các sân bay, nhất là các đường băng cất, hạ cánh.
       
        - Khi vào đánh miền Bắc nước ta, B52 hoàn toàn bay đêm để loại trừ mọi khả năng quan sát bằng những ống kính nhìn xa của các đài quan sát dưới đất, của các trận địa pháo tầm cao và khả năng nhìn trực tiếp của các phi công MIG.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 12:45:22 AM
        Tuy nhiên, sức mạnh của không quân chiến lược Mỹ trong đợt tập kích này không chỉ ở tính chất ồ ạt của cuộc hành binh với số lượng lớn máy bay B52, máy bay tiêm kích, cường kích được đưa vào sử dụng, cùng với khối lượng bom đồ sộ và với thủ đoạn lợi dụng màn đêm, mà còn ở - đây là điều chủ yếu nhất - hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh (trong cùng một lúc, tác động lên mọi dải tần số của ra-đa đối phương, khiến cho ra-đa đối phương hoàn toàn mất mục tiêu), tạo thành cái "áo giáp điện tử" vững chắc, một "tấm màn điện tử" che giấu toàn bộ lực lượng tiến công, biến mỗi chiếc B52 thành một "máy bay tàng hình" đúng nghĩa, trước mắt các chiến sĩ ta.
       
        Điều làm cho ta gặp khó khăn nhiều nhất chính là ở đó. Viên tướng Giôn Mai-ơ (John C.Mayer), Tư lệnh Không quân chiến lược Mỹ đã từng nói: "Chúng ta coi chiến tranh điện tử là con đường sống còn của không lực Hoa Kỳ". Chính vì vậy, nhiễu điện tử đã trở thành thủ đoạn chủ yếu nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm.
       
        Trong trận "không tập đại qui mô" này, khối lượng khổng lồ về máy bay và bom đạn, của hai căn cứ cách xa nhau hàng ngàn cây số, cùng với tính năng siêu việt của các phương tiện điện tử, đã được bộ máy chiến tranh Mỹ tổ chức và điều hành một cách hết sức chặt chẽ, chính xác theo một chương trình vạch sẵn, biến tất cả các yếu tố tổng hợp ấy trở thành một lực lượng tiến công mạnh mẽ chưa từng thấy. Họ tin tưởng một cách chắc chắn rằng cuộc "hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II" nhất định thắng.
       
        c) Nhiễu điện tử đã gây khó khăn cho chúng ta như thế nào
       
        Với các phương tiện trinh sát hiện đại, không quân Mỹ đã nắm được tất cả các dải tần số của những máy móc thông tin vô tuyến và các đài ra-đa của ta, từ sóng mét đến sóng xen-ti-mét.
       
        Bằng kỹ thuật điện tử tối tân, nền công nghiệp quân sự khổng lồ của Mỹ đã trang bị cho không quân của họ những máy gây nhiễu điện tử được chế tạo hết sức tinh vi, có công suất rất lớn, liên tục được cải tiến (Chú thích: Mỗi B52 mang trong mình nó 16 máy phát nhiễu tích cực, với dải tần rộng từ 100 đến 10.000 mê-ga-héc; 2 máy gây nhiễu tiêu cực, 2 máy thu tần số ra-đa của đối phương, không kể những ra-đa dẫn đường, ra-đa phát hiện mục tiêu, ra-đa ngắm bắn, ra-đa ngắm ném bom hết sức tinh xảo.) để làm nhiễu loạn toàn bộ hệ thống thông tin và vô hiệu hóa tất cả các đài ra-đa của đối phương, từ ra-đa cảnh giới đến ra-đa điều khiển tên lửa, ra-đa ngắm của pháo cao xạ, ra-đa dẫn đường cho máy bay và ra-đa ngắm bắn của phi công MIG.
       
        Nhiễu có nhiều loại:
       
        Nhiễu tích cực: là nhiễu bằng sóng điện tử phát ra từ những chiếc máy bay EA6A, EB66B, EC121 thường được gọi là những "nhà máy điện tử di động trên không" bay ở vòng ngoài, cách Hà Nội, Hải Phòng khoảng 60 đến 100 ki-lô-mét trên hai hướng đông, tây, để gây nhiễu mạnh từ xa, gọi là nhiễu ngoài đội hình. Nhiễu tích cực còn được phát đi từ những máy bay F4, F105, A6, A7 và từ bản thân mỗi chiếc B52 bay trong đội hình tiến công, tự che dấu đội hình bay, gọi là nhiễu trong đội hình.
       
        Nhiễu tiêu cực: là hàng triệu triệu sợi kim loại màu trắng bạc cực mỏng, nhẹ như tơ, bung ra từ những quả "bom" (Mỗi quả "bom" này mang 450 bó nhiễu. Mỗi bó bung ra hàng triệu, hàng triệu sợi kim loại.) do các máy bay F4 đến trước và cả từ bụng của B52 thả xuống, bay lơ lửng, giăng kín bầu trời, tạo thành một hành lang nhiễu dày đặc. Nó giống như một bức tường khổng lồ, cao từ 5 đến 7 ki-lô-mét, dày từ 1 đến 2 ki-lô-mét, dài từ 40 đến 70 ki-lô-mét, vắt qua thung lũng sông Hồng, chắn ngang mọi cánh sóng ra-đa của ta.
       
        Trong những đêm tháng 12 năm ấy, bầu trời bình yên của Hà Nội bỗng trở thành một vùng trời đầy máy bay và đầy nhiễu loạn.
       
        Màn hiện sóng của các trắc thủ, của sĩ quan điều khiển, giống như màn hình máy vi tính, mỗi khi bị nhiễu điện tử các loại tấn công, bỗng nhiên rối loạn hoàn toàn. Các dạng nhiễu cứ quét đi quét lại, đan chéo nhau, lồng vào nhau, rối tinh rối mù lên. Nhiễu trắng xóa cả màn hiện sóng, che lấp mọi tín hiệu phản xạ, khiến cho các chiến sĩ ta hết đường nhìn thấy tín hiệu mục tiêu.
       
        Địch lại còn gây nhiễu giả B52. Những chiếc máy bay F4 hoặc F111 bay thành từng tốp, cũng bay thăng bằng, tốc độ ổn định, ở độ cao khoảng 10 ki-lô-mét giống như B52. Đặc biệt là 4 chiếc trong từng tốp bay sát gần nhau, cùng phát nhiễu, tạo thành một dải nhiễu to trên màn hiện sóng khiến các trắc thủ ta tưởng lầm đó là dải nhiễu B52.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 01:13:19 PM
        Nhiễu điện tử của không quân Mỹ đã gây cho ta những khó khăn hết sức to lớn. Hậu quả là trong những ngày đầu thiếu kinh nghiệm, bộ đội Phòng không - Không quân và nhân dân ta đã phải chịu nhiều tổn thất, hy sinh; đặc biệt là giữa tháng 4 năm 1972:
        
        - 3 giờ sáng ngày 10 tháng 4: 12 chiếc B52 cùng 38 máy bay chiến thuật ném bom Vinh, Bến Thủy ( Nghệ An).
        
        - 2 giờ 30 sáng ngày 13 tháng 4: 6 chiếc B52 cùng 64 máy bay chiến thuật ném bom Hàm Rồng, Thọ Xuân (Thanh Hóa).
        
        - 3 giờ sáng ngày 16 tháng 4: 9 chiếc B52 cùng 261 máy bay chiến thuật ném bom Hải Phòng (máy bay chiến thuật tiếp tục đánh phá cả ngày hôm sau).
        
        Trong ba đêm đó, ra-đa của ta phát hiện B52 rất khó khăn vì bị nhiễu nặng, còn tên lửa thì không bắn rơi được chiếc B52 nào.
        
        - 9 giờ sáng ngày 16 tháng 4, địch cho 60 máy bay chiến thuật bay vào vùng trời Hà Nội, trong đó có nhiều chiếc F4 bay cao 10 ki-lô-mét gây nhiễu giả B52. Ra-đa ta hoang báo: "B52 bay vào Hà Nội”. Ba chục quả đạn tên lửa được phóng lên những tốp F4 giả B52 ấy, nhưng không có chiếc nào rơi. MIG-21 của ta cất cánh tìm diệt "B52" nhưng bị lũ F4 tiêm kích khống chế quyết liệt nên được lệnh phải quay về.
        
        Ngày 16 tháng 4, hàng trăm đồng bào ta ở Hải Phòng bị bom Mỹ sát hại, kho xăng Đức Giang của Hà Nội bị thiêu hủy phần lớn. Một thực tế quá đau lòng! Đó là những ngày nặng nề nhất của bộ đội Phòng không - Không quân, đặc biệt là đối với những đơn vị tên lửa đã từng ghi đậm chiến công cùng quân dân miến Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968).
        
        Nhà bình luận Gờ-rin Út (Green Wood) nhận xét1: "Những trận ném bom của B52 giữa tháng 4 năm 1972, nhất là trận đánh vào Hải Phòng, đã làm mê mẩn các nhà vạch kế hoạch Mỹ".
        
        Hí hửng trước thắng lợi đó, các tướng lĩnh Lầu Năm Góc đã đưa ra những lời tuyên bố chắc như đinh đóng cột: "Bằng kỹ thuật điện tử, không lực Hoa Kỳ có thể bịt mắt toàn bộ hệ thống ra-đa của Bắc Việt; có thể vô hiệu hóa toàn bộ hệ thống phòng không của đối phương" , "Giờ đây không quân Mỹ có thể ném bom vào bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ Bắc Việt Nam", "như đi dạo chơi vào chỗ trống. Họ khẳng định: "B52 là bất khả xâm phạm", "B52 chỉ có thể bị rơi do thời tiết, hoặc do trục trặc kỹ thuật chứ quyết không thể bị bắn rơi vì hỏa lực của bộ đội phòng không - không quân Bắc Việt".
        
        Họ hợm hĩnh, họ huênh hoang bởi vì họ quá tin vào khả năng tuyệt đối của nhiễu điện tử mà họ coi là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ, là sức mạnh siêu phàm, là lá bùa màu nhiệm giúp họ chiến thắng.
        
        Báo chí Mỹ có dịp nhắc lại câu nói ngạo mạn của Kít-xinh-giơ: "Nước Mỹ chúng ta mạnh đến mức trong vấn đề Việt Nam, từ "thất bại" không bao giờ thuộc về phía chúng ta".
        
        Thế nhưng, thực tế diễn ra trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng trong những đêm cuối tháng 12 năm 1972 đã hoàn toàn trái với mong đợi của những con "diều hâu" Mỹ. Ra-đa của ta không bị mù. Thông tin liên lạc của ta không bị gián đoạn. Hệ thống phòng không của ta không bị vô hiệu hóa. Ngược lại, cuối cùng quân dân ta đã giáng cho không quân chiến lược, chiến thuật Mỹ một đòn choáng váng.
        
        Thế giới lạ lùng. Kẻ thù sửng sốt. Tuần báo Hàng không (Hoa Kỳ) coi đây là: "Một cuộc chiến tranh phản điện tử quy mô lớn đầu tiên trên thế giới". Trong cuộc chiến tranh điện tử ấy, phe phản công (Việt Nam) đã thắng phe tiến công (Mỹ).

-------------
1. John T.Green Wood : "Cuộc chiến tranh Việt Nam", Nxb. Solamander, London, 1979


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 01:33:45 PM
        
        d) Vậy bằng cách nào ta chống được nhiễu điện tử, chỗ mạnh nhất của không lực Hoa Kỳ? Nghe nói có một cuốn "Cẩm nang bìa đỏ" và một "Gánh hát rong" đã giúp bộ đội tên lửa ta bắn rơi được nhiều B52?
        
        Đây không chỉ là thắc mắc của các bạn trẻ Việt Nam. Có một viên tướng già người Mỹ tên là Uy-liêm Xmit ( William Smith ) nguyên là trợ lý của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh xâm lược Việt Nam, cách đây không lâu, vào ngày 23 tháng 6 năm 1997, cũng đã từng đặt câu hỏi tương tự với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Bằng cách nào Việt Nam đối phó được những vũ khí hiện đại của Mỹ?"
        
        Đại tướng của chúng ta đã trả lời, đại ý: Việt Nam là một dân tộc có ý chí bất khuất hàng ngàn năm. Quân đội nhân dân Việt Nam là một đội quân anh hùng, thông minh và sáng tạo. Chúng tôi đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, do dân, vì dân nên chúng tôi đã thắng.

        Bây giờ xin trở lại lời đáp cho câu hỏi: "Làm sao ta thắng được nhiễu điẹn tử của Mỹ?"
                      
        Vấn đề rất phức tạp, chỉ có thể nói một cách đơn giản: bộ đội Phòng không - Không quân ta, không đầu hàng trước thủ đoạn gây nhiễu của địch, đã hạ quyết tâm "vạch nhiễu tìm thù”, một quyết tâm đã trở thành huyền thoại trong thời đánh Mỹ.
        
        "Vạch nhiễu tìm thù" là trong tình trạng nhiễu dày đặc che kín cả màn hiện sóng, các dạng nhiễu xanh lè đủ loại nhảy nhót, đan chéo vào nhau, nhập vào rồi lại tách ra, rối loạn như mớ bòng bong ấy, các trắc thủ phải làm sao phân biệt được: đâu là nhiễu của các máy bay điện tử phát từ xa tới, đâu là nhiễu tiêu cực của những sợi kim loại giăng kín khắp bầu trời, nhiễu của máy bay tiêm kích đi kèm bảo vệ B52, nhiễu của các máy bay chiến thuật nghi binh làm "B52 giả" và đâu là nhiễu của "B52 thật", để đặt "đường ngắm" chính xác vào đấy mà điều khiển quả đạn tên lửa đi đúng hướng.
        
        Nói thì đơn giản như vậy, nhưng thực tế khó khăn phức tạp vô cùng. Đó là cả một quá trình tìm tòi, mò mẫm, với biết bao hy sinh tổn thất để tìm cho được những chỗ mạnh, chỗ yếu của địch mà nghĩ ra cách đối phó. Có không ít trường hợp, trong khi các trắc thủ ta đang mải mê "tìm thù trong nhiễu” thì một loạt bom Mỹ trùm lên trận địa, hoặc một quả đạn hỏa tiễn không đối đất lao trúng vào đài. Nhưng, mỗi lần máu đổ là một lần có thêm kinh nghiệm, mà bài học đầu tiên là ý chí tiến công, dám phát sóng tìm địch, không sợ hỏa tiễn Sơ-rai của chúng, đi đôi với những biện pháp sáng tạo, nhằm phát hiện được kẻ thù sau màn nhiễu. Trong một cuộc họp rút kinh nghiệm chiến đấu ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Lê Văn Tri đã xúc động phát biểu với các cán bộ, chiến sĩ: "Thay mặt Bộ Tư lệnh Quân chủng, tôi thiết tha kêu gọi các đồng chí hãy tích cực phát sóng đánh địch”. Lời kêu gọi ấy thực sự đã cổ vũ cán bộ chiến sĩ Phòng không nâng cao tinh thần chiến đấu, bình tĩnh dũng cảm đối mặt với kẻ thù.
        
        Trước hết nói về bộ đội ra-đa cảnh giới và dẫn đường: ở đây có một điều có vẻ trái ngược. Những nét đẹp nên thơ của bản đồ đất nước: "Mắt nhìn ra biển Đông bao la, lưng dựa vào Trường Sơn hùng vĩ" lại là những điều gây ra không ít khó khăn cho các trắc thủ ra-đa.
        
        Từ mặt biển, máy bay của Hạm đội 7 có thể bay rất thấp để tiếp cận đất liền. Từ những sân bay bên đất Thái, máy bay chiến thuật và chiến lược của Mỹ cũng dễ dàng lợi dụng cả một dải núi cao che khuất để bất ngờ ập tới. Trong hình tình đó, muốn "Tổ quốc không bị bất ngờ" và muốn phục vụ kịp thời, chính xác cho các binh chủng bạn (Cao xạ, Tên lửa, Không quân) chiến đấu thắng lợi, bộ đội ra-đa chúng ta đã phải khắc phục muôn vàn khó khăn, gian khổ.
        
        Học tập tinh thần kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa, các chiến sĩ ra-đa lắm lúc cũng đã phải dùng sức người đưa máy lên chiếm lĩnh những ngọn núi cao giữa rừng già Tây Bắc, hoặc có khi phải tháo rời từng bộ phận của khí tài, dùng đôi vai để khiêng vác, gùi thồ các khối máy móc nặng nề leo ngược dốc Trường Sơn để "vươn dài cánh sóng".

        Bộ đội ra-đa còn táo bạo đưa những cỗ máy, với nhưng giàn ăng-ten đồ sộ, ra đặt giữa các cánh đồng trống trải, không xa lắm mép biển của đồng bằng Bắc Bộ, để "hạ thấp tầm nhìn".
        
        Những vọng quan sát của bộ đội ra-đa, bố trí ở những nơi đèo heo hút gió, giữa lưng chừng núi trên biên cương hoặc giữa chốn mù khơi ngoài hải đảo, mà cuộc sống vật chất ở đó trăm bề thiếu thốn, kết hợp với đội trinh sát nhiễu của Quân chủng Phòng không – Không quân trên một đỉnh núi phía tây Quảng Bình cũng đã góp phần phát hiện máy bay địch, kể cả B52, từ những khoảng cách rất xa.

        Gian khổ, khó khăn chồng chất không làm sờn lòng các chiến sĩ. Họ đã coi "đơn vị là nhà", "màn hiện sóng là trận địa". Nguyễn Văn Giằng, đài trưởng ra-đa của Tiểu đoàn 8, Trung đoàn H93 đã từng nói lời tâm huyết: "Màn hiện sóng là hình ảnh thu nhỏ của Tổ quốc" một câu nói nặng tình nặng nghĩa với đất nước thân yêu (Chú thích: Với những thành tích xuất sắc, đồng chí Nguyễn Văn Giằng đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973.).
       
        Vì Tổ quốc, các chiến sĩ ra-đa không chịu khuất phục trước đạn bom và những quả tên lửa Sơ-rai của địch. Từ trên màn hiện sóng, qua nhiều ngày tháng nghiên cứu tìm tòi, cuối cùng họ đã tóm được kẻ thù và lôi nó ra khỏi màn nhiễu (Chú thích: Trắc thủ Đỗ Công Hoa thuộc Đại đội 12, Trung đoàn H90, là người đầu tiên của Binh chủng Ra-đa nhận diện được tín hiệu B52 trong màn nhiễu.). Hầu hết máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời miền Bắc nước ta, từ các máy bay chiến thuật đến máy bay chiến lược B52, từ độ thấp một vài trăm mét đến độ cao trên 10 ngàn mét (Chú thích: Kể cả máy bay có người lái trinh sát tầng cao SR71 , bay ở độ cao 30 ngàn mét, bay nhanh gấp 3 lần tốc độ âm thanh.), đều bị bộ đội ra da phát hiện, để kịp thời báo về trung tâm hoặc để dẫn đường cho không quân ta bay lên tìm diệt máy bay địch.
 
        Trong những năm chiến tranh, bộ đội ra đa đã phục vụ rất đắc lực các binh chủng bạn lập nên biết bao chiến công xuất sắc, từ chiến thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964, trận giáp mặt đầu tiên giữa bộ đội phòng không và hải quân ta với không quân Mỹ, đến những thành tích ra quân đánh thắng trận đầu của bộ đội không quân ngày 3 tháng 4 năm 1965, của bộ đội tên lửa ngày 24 tháng 7 năm 1965 và cuối cùng là chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" oanh liệt.
       
        Còn nhớ trong buổi giao ban tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân sáng 19 tháng 12 năm 1972, sau trận thắng giòn giã đầu tiên của chiến dịch, Tư lệnh Lê Văn Tri, bằng những lời giản dị, đã biểu dương Binh chủng Ra-đa: "Đêm qua các đồng chí làm ăn rất tốt, đã phát hiện địch sớm, xác định đúng đối tượng B52 khi chúng đang bay vào Hà Nội. Binh chủng Ra-đa đã giúp Bộ Tư lệnh Quân chủng hạ quyết tâm chính xác, kịp thời đưa toàn Quân chủng vào chiến đấu. Kết quả là ngay từ trận đầu chúng ta đã bắn rơi 3 B52 Mỹ".
       
        Có thể nói bộ đội ra-đa đã "mở đường thắng lợi" cho các lực lượng phòng không - không quân trên toàn miền Bắc trong suốt chiến dịch 12 ngày đêm, tạo điều kiện cho các binh chủng bạn liên tiếp lập công và chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 01:44:20 PM
       
        đ) Quá trình chống nhiễu và thắng nhiễu của bộ đội Tên lửa:
       
        Hành trình gian khổ và đầy sóng gió ấy bắt đầu từ cuối năm 1965 đến đầu năm 1966 khi không quân Mỹ lần đầu tiên gây "nhiễu ngoài đội hình". Những chiếc máy bay EB66, EC121 phát nhiễu điện tử từ xa che chở cho máy bay cường kích vào đánh. Nhiễu trắng xóa các màn hiện sóng trên đài điều khiển của ta. Tuy nhiên, hồi ấy cường độ nhiễu còn nhẹ, các trắc thủ ta vẫn còn nhìn thấy tín hiệu mục tiêu trên nền nhiễu để diệt được máy bay địch bằng cách đánh tối ưu: phương pháp điều khiển "nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu".
       

        Nhưng sang đầu năm 1967, không quân địch lại tung ra thủ đoạn mới, gây "nhiễu trong đội hình". Bản thân mỗi máy bay đi trong đội hình tiến công đồng loạt phát nhiễu. Tất cả cộng lại giống như một "chùm nhiễu" khổng lồ, vô hình, cực mạnh, chĩa thẳng về phía các ăng-ten ra-đa của đối phương. Màn hiện sóng của ta, như những ô cửa sổ nhỏ, bỗng bị che lấp bởi những tấm màn kẻ sọc với nhiều dải nhiễu, lớn nhỏ, đậm nhạt khác nhau, đan xen vào nhau, dày đặc, che lấp hoàn toàn tín hiệu máy bay. Những chiếc máy bay bỗng trở thành vô hình trước mắt các trắc thủ.
       
        Trong hơn nửa năm trời của năm 1967, bộ đội phòng không - không quân, nhất là các tiểu đoàn tên lửa SAM2, ngày đêm vật lộn với đạn bom, cùng biết bao khó khăn gian khổ mà bắn mãi vẫn không trúng, không rơi máy bay địch.

        Rồi trong gian khó, cứ "bám trụ" mãi cái màn hiện sóng bé nhỏ ấy, anh em ta đã nghiên cứu vận dụng thành công phương pháp chống lại thủ đoạn gây "nhiễu trong đội hình" bằng một cách khác. Đó là phương pháp điều khiển "không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu”.
       

        Nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu để bắn đã là khó. Giờ đây không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu mà vẫn hạ được máy bay địch, đúng là khó tin, nhưng đó là sự thật. Tính ưu việt của bộ khí tài Liên Xô cùng với trí thông minh của các chiến sĩ Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu ấy. Ngày 11 tháng 8 năm 1967, Tiểu đoàn 63 hạ tại chỗ một chiếc RF4C bằng phương pháp "không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu". Lập tức một cuộc họp rút kinh nghiệm được tiến hành ngay tại trận địa, do Phó tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp chủ trì. Những bài học nóng hổi ấy đã được kịp thời phổ biến rộng rãi và biên soạn thành tài liệu. Sau đó là một cuộc tập huấn 7 ngày về cách đánh mới cho tất cả các kíp chiến đấu trong toàn Binh chủng Tên lửa. Máy bay Mỹ lại liên tiếp bị hạ (Chú thích: Riêng ngày 27 tháng 10, tên lửa của Hà Nội bắn rơi 5 máy bay, đều bằng phương pháp "không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu".). Tháng 10 và tháng 11 năm 1967 là hai tháng quân dân Thủ đô ta "được mùa gặt hái" những máy bay Mỹ rơi và giặc lái Mỹ bị bắt sống.
       
        Thế rồi không bao lâu sau, có thể nói là rất nhanh, vào giữa tháng 12 năm 1967 không quân Mỹ lại thay đổi thủ đoạn gây nhiễu, một thủ đoạn mới nguy hiểm hơn, làm cho đạn tên lửa ta hễ rời bệ phóng là bị mất điều khiển, dẫn tới kết quả đáng buồn: đạn rơi xuống đất. Một số quả rơi trúng nhà dân.
       
        Trong những ngày này Bác Hồ rất lo lắng. Từ ngôi nhà sàn, Bác cho mời Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Đặng Tính lên gặp Bác, báo cáo tình hình. Bác yêu cầu Quân chủng phải tìm cách khắc phục tình trạng đạn tên lửa rơi và phải bồi thường thỏa đáng cho các gia đình bị thiệt hại.
       
     
        Cán bộ các cấp từ Quân chủng, Binh chủng, đúng hơn là từ Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu, Cục Nghiên cứu Khoa học Quân sự và Viện Kỹ thuật Quân sự của Bộ Quốc phòng, cho đến các cán bộ cấp trung đoàn, tiểu đoàn ngày đêm mất ăn mất ngủ để tìm cho ra nguyên nhân vì sao đạn tên lửa của ta bị mất điều khiển.
       
        Có ý kiến cho rằng do địch sừ dụng một loại nhiễu mới. Cũng có người đặt vấn đề phải xem ngay trong cái đầu của cán bộ có "nhiễu tư tưởng" không? (tức là có dao động tinh thần trước cuộc chiến đấu quá ác liệt hay không?)
       
        Được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư lệnh Binh chủng (Tư lệnh Đoàn Huyên, Chính ủy Trương Công Cẩn, Phó tư lệnh Hoàng Văn Khánh), Trung đoàn trưởng Trung đoàn H36 Trần Xanh (Chú thích: Đồng chí Trần Xanh, sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không.) và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 62 Hoàng Bát (Chú thích: Đồng chí Hoàng Bát, người có công đầu nghiên cứu phương pháp chống lại thủ đoạn gây "nhiễu trong đội hình" cũng như trong việc tìm ra nguyên nhân đạn rơi. Sau này ông là Thiếu tướng, Chủ nhiệm Phòng không Học viện cao cấp.) cùng với kíp chiến đấu đã tập trung mọi cố gắng nghiên cứu ngay trên màn hiện sóng, trận địa sinh tử của họ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 01:49:28 PM
        Đi đôi với việc nghiên cứu này còn có sự tìm tòi gian khổ của các sĩ quan tham mưu, các cán bộ nhân viên kỹ thuật trên những bộ khí tài và trên quả đạn. Cuối cùng nguyên nhân đạn rơi đã được làm sáng tỏ. Đó là do nhiễu rãnh đạn, thứ nhiễu lợi hại của địch tác động lên rãnh điều khiển đạn của ta.
       
        Các biện pháp khắc phục được đề ra và thông qua Bộ Tư lệnh Quân chủng. Tuy nhiên, đây là một công việc khó khăn. Cán bộ nhân viên kỹ thuật của Quân chủng và Binh chủng, do Trưởng phòng kỹ thuật tên lửa Đỗ Đức Dục phụ trách, phối hợp với nhóm "nghiên cứu nhiễu" của Viện Kỹ thuật Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng lại cùng các chuyên gia Liên Xô vùi đầu nghiên cứu, tìm cách cải tiến các bộ phận trong đài điều khiển và trong quả đạn. Trong lần thứ nghiệm, đài điều khiển đã bắt được tín hiệu của đạn. Viên đạn ngoan ngoãn vút lên, bay vào quỹ đạo tìm đến mục tiêu. "Rồng lửa Thăng Long" lại quật ngã những "Con ma" (Chú thích: "Con ma” (Phantom) tên gọi loại máy bay F4. Ngày 11 tháng 2 năm 1968, tên lửa Hà Nội bắn rơi tại chỗ 1 chiếc RF4C. Ta thu được 1 máy "gây nhiễu rãnh đạn kiểu ALQ87.) Mỹ. Bác Hồ rất mừng vui.
       
        Một lần nữa, trong cuộc đối đầu "kỹ thuật với kỹ thuật", "trí tuệ với trí tuệ", một cuộc chiến thầm lặng, kín đáo, nhưng hết sức quyết liệt với không quân Mỹ, ta đã thắng.
       
        Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ( 1965-1968) của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta đã bị đánh bại. Bốn năm sau, ngày 6 tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ lại gây ra cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc, với vũ khí và phương tiện chiến tranh được cải tiến hiện đại hơn trước nhiều.
       
        Những máy gây nhiễu thế hệ mới của không quân Mỹ ra đời đã làm cho bộ đội phòng không - không quân ta lại một phen nữa lúng túng. Ngoài hỏa tiễn không đối đất Sơ-rai, còn thêm loại mới Xtenđơ (Standard). Bom điều khiển bằng tia la-de (Laser) được áp dụng rộng rãi với độ trúng đích rất cao. Nhiều công trình của ta bị địch phá hủy. Hàng loạt cầu lớn bị đánh sập, trong đó có những cầu bắc qua sông Hồng, sông Mã như Long Biên, Hàm Rồng (Chú thích: Cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, trong suốt 4 năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ vẫn đứng vững, chưa hề một lần bị bom Mỹ đánh sập.). Đối với bộ đội phòng không - không quân, khó khăn càng thêm chồng chất.
       
        Giống như hai đô vật trên sàn đấu thay nhau thi thố những ngón đòn, mỗi lần không quân địch đưa ra một thủ đoạn mới để vô hiệu hóa vũ khí của chúng ta (nhiễu ngoài đội hình rồi nhiễu trong đội hình, sang nhiễu rãnh đạn) thì ngay sau đó chúng ta đi sâu nghiên cứu địch, tìm cách cải tiến khí tài, bổ sung sửa đổi cách đánh, huấn luyện thao tác cho kíp chiến đấu kết hợp với việc điều chỉnh thế bố trí trận địa, để chiến thắng chúng.
       
        Lần này cũng vậy. Từ một phát hiện của ống kính nhìn xa đặt trên nóc đài thu phát, thấy quả đạn ta khi bay lên tìm máy bay địch, cứ chui vào khe giữa hai chiếc, vượt qua mục tiêu rồi vọt thẳng lên cao và tự hủy, chúng ta đã tìm ra nguyên nhân: do địch giãn rộng đội hình bay, kết hợp tăng số lượng và công suất máy gây nhiễu. Ta lại cải tiến khí tài thêm một bước, đổi mới phương pháp bám sát mục tiêu, kết hợp ra-đa với kính quang học, nhờ đó đã đạt kết quả đáng phấn khởi. Những ngày hè gian nan trôi qua. Sang mùa thu năm 1972, Thủ đô lại "được mùa" máy bay Mỹ rơi.
       
        Mỹ có "vỏ quít dày" thì Việt Nam có "móng tay nhọn". Cùng với vũ khí và kỹ thuật hiện đại của Liên Xô, trái tim, khối óc và bàn tay của các chiến sĩ Việt Nam đã trị được các loại vũ khí rất hiện đại, với những thủ đoạn kỹ - chiến thuật rất tinh vi và nguy hiểm của kẻ thù.
     
        Mỗi một kinh nghiệm chống nhiễu thành công và không thành công của Hà Nội - kể từ năm 1966 - đều được Quân chủng phổ biến ngay cho các đơn vị phòng không, không quân toàn miền Bắc vận dụng. Nhờ đó, đã góp phần quan trọng cho việc xuất hiện hàng loạt chiến công xuất sắc, trong đó có những chiến công bắn rơi pháo đài bay Mỹ trên các chiến trường:
       
        - Ngày 17 tháng 9 năm 1967, trung đoàn tên lửa H38, trên đất thép Vĩnh Linh, bắn rơi chiếc B52 đầu tiên (Chú thích: Trên cơ sơ kinh nghiệm chống nhiễu thành công của Hà Nội bắn rơi tại chỗ 1 chiếc RF4C trước đó hơn 1 tháng.)
       
        - Ngày 18 tháng 3 năm 1971, Trung đoàn H37 bắn rơi một B52 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.
       
        - Ngày 2 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn H36 bắn rơi chiếc B52 đầu tiên trong chiến dịch Quảng Trị...


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 01:59:55 PM
        Mỗi một chiến công nói trên là kết quả của biết bao sức lực, mồ hôi và xương máu, tuy chưa hạ được B52 rơi tại chỗ, nhưng đều mang ý nghĩa bài học kinh nghiệm rất có giá trị, cả lý thuyết lẫn thực hành, góp phần rất quan trọng vào việc hoàn thiện cách đánh B52 sau này.
       
        Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không – Không quân đã cử những đoàn cán bộ giỏi (Chú thích: Gồm 2 đoàn cán bộ tên lửa, 1 đoàn cán bộ ra-đa, 1 đoàn cán bộ thông tin, 1 đoàn cán bộ không quân.) lặn lội vào các chiến trường ác liệt nhất: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, đường Trường Sơn, đến với các trận địa ra đa, tên lửa, vào buồng máy ngồi cạnh các trắc thủ, sĩ quan điều khiển để cùng nghiên cứu nhiễu trên "thực địa". Các dạng nhiễu khác nhau hiện ra trên màn hiện sóng được các anh vẽ lại trên "giấy trắng mực đen”. Có khi hình ảnh diễn biến của những trận đánh B52 thể hiện trên màn huỳnh quang còn được ghi lại bằng quay phim, chụp ảnh. Trong lịch sử chiến đấu của bộ đội phòng không, không quân những hình vẽ, những tấm ảnh (được đóng thành tập an-bum), những thước phim về các dạng nhiễu nói trên là những di sản hết sức quý báu.
       
        Tất cả những điều rút ra từ thực tế chiến trường về cách đánh máy bay các loại của địch đã được cơ quan Tham mưu Quân chủng đem ra phân tích, tổng kết lại, viết thành tài liệu, những tài liệu thực sự trở thành "cẩm nang"1 cho bộ đội phòng không - không quân ta hồi ấy.
       
        Trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, máy bay Mỹ đủ loại chiến lược, chiến thuật, tốp nhỏ, tốp lớn, bay thấp, bay cao, "Bê" giả, "Bê" thật - tất cả đi trong màn nhiễu, đã bị các đơn vị ra-đa ta phát hiện với tỷ lệ rất cao (93% B52, 86% F111...). Đó là nhờ, ngoài thế bố trí trận địa khôn khéo, bộ đội ra-đa còn được huấn luyện kỹ càng theo cuốn cẩm nang "Quy trình bắt B52 trong nhiễu”.
       
        Không chỉ gây nhiễu với các loại ra-đa, kỹ thuật điện tử của không quân Mỹ còn tấn công cả những máy móc thông tin vô tuyến của ta, trên tất cả các băng sóng, không bỏ sót một tần số nào. Nhưng nhờ tích cực áp dụng các biện pháp khắc phục rất thông minh, theo hướng dẫn của tài liệu "Cách chống nhiễu thông tin", bộ đội phòng không - không quân ta, trong suốt 12 ngày đêm đã duy trì được thông tin liên lạc thông suốt trên các mạng thông báo, báo động và chỉ huy, ở tất cả mọi hướng, từ Quân chủng lên Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu và xuống các sư đoàn, thậm chí đến tận các trung đoàn, để khi cần, Bộ Tư lệnh Quân chủng có thể chỉ huy vượt cấp (Chú thích: Trưởng phòng Thông tin Quân chủng Nguyễn Tân cùng các sĩ quan chuyên môn đã nghiên cứu thành công việc vận dụng làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam và tận dụng các đường dây của Bưu điện để hỗ trợ có hiệu quả cho hệ thống thông tin của Quân chủng trong suốt 12 ngày đêm.)
       
        Về cuốn “Cẩm nang bìa đỏ":
       
        Cuốn sách mang tên "Cách đánh B52 của bộ đội tên lửa", in rô-nê-ô trên những tờ giấy giang, loại giấy đen đúa, mộc mạc, với một tờ bìa màu đỏ bọc ngoài, được gọi là cuốn "Cẩm nang bìa đỏ”. Tuy hình thức không đẹp, nhưng giá trị cuốn sách lớn vô cùng. Chỉ dày 30 trang đánh máy, nhưng nó là kết quả của cả một quá trình xây dựng hết sức gian khổ, công phu, mà những nét đầu tiên đã được phác thảo ngay từ giữa chiến trường máu lửa Vĩnh Linh và Hà Nội năm 1967.  Đây là một công trình khoa học tập thể, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu của nhiều đơn vị, trong nhiều năm, nhất là từ đầu năm 1972, khi Tư lệnh Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phó tham mưu trưởng Quân chủng Vũ Xuân Vinh (Chú thích: Đồng chí Vũ Xuân Vinh sau này chuyển công tác lên Bộ Quốc phòng, giữ chức Cục trưởng Cục Đối ngoại 15 năm, cấp hàm Trung tướng. Khi về hưu, ông tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, phụ trách công tác Đối ngoại.) nhiệm vụ chỉ đạo biên soạn, hoàn chỉnh gấp tài liệu về cách đánh B52 cho bộ đội tên lửa.
       
        Tập tài liệu có giá trị này gắn liền với tài trí và công lao xuất sắc của hàng loạt sĩ quan có trình độ kỹ thuật, chiến thuật giỏi, dày dạn trong chiến đấu như: Nguyễn Sinh Huy, Tô Ngội, Chu Thái, La Văn Sàng, Vũ Lai Trường, Lê Cổ, Nguyễn Xuân Minh, Trần Ngọc Lân, Quách Hải Lượng... (thuộc Tổ Nghiên cứu – Biên soạn của Bộ Tham mưu, do Nguyễn Sinh Huy phụ trách) và của Trần Xanh, Hoàng Bát, Hoàng Bảo, Tạ Đình Liên... (thuộc Tổ Nghiên cứu - Biên soạn của Sư đoàn phòng không B61 , do Trần Xanh phụ trách).
       
        Tài liệu này đã được đưa ra bàn bạc kỹ lưỡng tại một hội nghị hết sức quan trọng ngày 31 tháng 10 năm 1972 (sau này thường gọi là Hội nghị tháng 10). Hôm ấy vào cuộc họp, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri nói ngay: "Tôi vừa lên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp về. Tình hình hết sức khẩn trương. Mọi vấn đề khác phải tạm thời gác lại. Hội nghị này chỉ tập trung thảo luận và thống nhất cách đánh B52 của bộ đội tên lửa mà thôi. Trong lần họp này, ngoài sự có mặt của các cán bộ cấp quân chủng, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các cơ quan, còn có nhiều trắc thủ, sĩ quan điều khiển thuộc các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực. Với kinh nghiệm chiến đấu thực tiễn, họ đã có nhiều ý kiến bổ sung hết sức quý báu.

--------------
1. Cẩm năng là túi gấm, chứa nhiều những điều mách bảo kỳ diệu (tích xưa của Trung Quốc)


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2016, 02:04:58 PM
        Nó đây này:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Sachdo.jpg)



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2016, 02:57:15 AM
        Hội nghị tháng 10 đã mang đến cho mọi người một niềm tin: chúng ta có thể bắn rơi tại chỗ B52 Mỹ.
       

        Góp phần quan trọng vào thành công của cuốn “cẩm nang bìa đỏ” còn có sự tham gia tích cực của Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự Hoàng Đình Phu, một số cán bộ của Viện, như Trần Thức Vân, Nguyễn Kim Huê, Hồ Công Châu, Thái Kim Nguyên (Chú thích: Nhà nước ta đã tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho Quân chủng Phòng không - Không quân và Viện Kỹ thuật Quân sự về thành tích nghiên cứu chống nhiễu điện tử của không quân Mỹ.)... cùng với sự hỗ trợ chí tình của các bạn Liên Xô.
       
        Sau chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không", một tổ cán bộ tham mưu do Phó tham mưu trưởng Quân chủng Dương Hán phụ trách, được phân công lên báo cáo với Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về thành tích bắn rơi B52. Nghe xong báo cáo, Đại tướng hỏi:
       
        - Trước chiến dịch 12 ngày đêm, hai trung đoàn H57 và H61 đã đánh B52 bao giờ chưa?
       
        Trưởng phòng Tác huấn tên lửa Nguyễn Sinh Huy (Chú thích: Đồng chí Nguyễn Sinh Huy, sau này là Thiếu tướng, Hiệu trưởng Học viện Phòng không.) trả lời: chưa lần nào ạ! và trao cho Đại tướng xem cuốn "Cẩm nang bìa đỏ”. Nâng niu cuốn sách trên tay, sau một thoáng suy nghĩ, Đại tướng đã nêu lên một nhận xét rất quan trọng:
       
        - Như vậy là không nhất thiết cứ phải đã trải qua chiến đấu bộ đội ta mới đánh thắng được kẻ địch. Một trong những yếu tố quyết định để chiến thắng là phải có cách đánh tốt và được huấn luyện chu đáo.
       
        Mấy hôm sau, ở hội trường Quân chủng Phòng không - Không quân, trước đông đảo cán bộ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giơ cao cuốn "Cẩm nang bìa đỏ” và nói: "Chúng ta thắng được B52 Mỹ là do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp hết sức quan trọng của cuốn sách này".
       
        Còn câu chuyện "Gánh hát rong" cũng là điều có thật. Nhưng đây không phải là Đoàn Văn công Quân chủng hay những đội văn nghệ quần chúng chia nhau đi ca hát phục vụ các chiến sĩ. Sau khi cuốn "Cẩm nang bìa đỏ” ra đời, tháng 10 năm 1972, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân và Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội đã cho thành lập các đội huấn luyện lưu động mà thành viên phần lớn là các sĩ quan đã từng tham gia biên soạn cuốn sách. Họ giống như những người thầy đến với các tiểu đoàn tên lửa ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng. . . để trực tiếp truyền đạt hướng dẫn cách đánh B52 cho các kíp chiến đấu. Đội này đi hết đơn vị này đến đơn vị khác, nên được anh em gọi vui một cách trìu mến là "Gánh hát rong".
       
        Chính nhờ cuốn "Cẩm nang bìa đỏ" và "Gánh hát rong" nói trên, mà đêm 22 tháng 11 năm 1972, Trung đoàn tên lửa H63 ở Nghệ An đã khắc phục được nhiễu, bắn hạ một chiếc B52, rơi ở Na-khon Pha-nom trên đất Thái Lan (các phi công Mỹ nhảy dù thoát chết). Với sự chứng kiến của phóng viên báo chí, được hãng UPI nhanh chóng loan tin, sự kiện này buộc Mỹ phải công nhận.
       
        Trước đây, mỗi lần bay vào miền Bắc nước ta, các phi công B52 đều được cấp chỉ huy dặn dò: nếu bị trúng đạn, hãy tìm mọi cách bay ra biển hoặc hướng về những cánh rừng già bạt ngàn phía tây. Máy bay rơi, phi công dễ được cứu thoát. Ngoài ra đó là cách tốt nhất để phủ nhận tang chứng và để cho những bí mật của các trang thiết bị tối tân trong máy bay B52 không lọt vào tay Bắc Việt Nam và Nga Xô.
       
        Lần này viên phi công Mỹ tìm cách hướng về sân bay U-ta-pao với hy vọng được thả mình trên đất Thái. Cuối cùng vì bị thương quá nặng, chiếc B52 đã rơi khi mới chớm vượt qua biên giới Thái - Lào khi còn cách U-ta-pao 640 ki-lô-mét (Chú thích: Một số tài liệu ghi nhầm là 64 ki-lô-mét.)
       
        Đây là lần đầu tiên B52 Mỹ bị phơi xác giữa ban ngày ban mặt và cũng là lần đầu tiên Mỹ chịu thừa nhận B52 của họ bị SAM2 Bắc Việt bắn rơi.
       
        Đối với chúng ta, chiến công này đã khẳng định giá trị thực tiễn của cuốn sách "Cẩm nang bìa đỏ", đồng thời khẳng định khả năng: "Tên lửa SAM2 của ta có đủ điều kiện bắn rơi tại chỗ B52 Mỹ .
       
        Thực tế cho thấy trong chiến dịch 12 ngày đêm, có những đơn vị tuy chưa một lần "chạm trán" với B52 như trung đoàn H57, Trung đoàn H61, nhưng bước vào chiến dịch, nhờ vận dụng tốt cách đánh của cuốn "Cẩm nang bìa đỏ" cộng thêm kinh nghiệm đánh máy bay chiến thuật của bản thân đơn vị trước đây, đã đánh rất giỏi, bắn rất trúng, hạ rất nhiều pháo đài bay, đặc biệt có nhiều chiếc rơi tại chỗ.
       
        Ngay từ cuối tháng 11 năm 1972, nhìn thấy kết quả huấn luyện của các kíp chiến đấu, đồng chí NguyễnVăn Điển, Trung đoàn trưởng Trung đoàn H57 và Trần Hữu Tạo, Trung đoàn trưởng Trung đoàn H61, đã tin tưởng báo cáo với Tư lệnh Sư đoàn Trần Quang Hùng: "Đến giờ phút này, có thể nói đơn vị chúng tôi đã có đủ khả năng đánh thắng B52 Mỹ".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2016, 03:04:38 AM
        Trung tướng Lê Văn Tri, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, đã phát biểu: "Việc tìm ra cách đánh B52 là cả một quá trình, là công lao tập thể, từ các cơ quan trên Bộ, từ Bộ Tư lệnh và các cơ quan Quân chủng, Binh chủng xuống đến các đơn vị cơ sở. Nhưng trước hết đó là công lao của các anh em ngồi trong ca-bin (Chú thích: ca-bin: buồng máy.) trước màn hiện sóng, là các trắc thủ (Chú thích: Trắc thủ: chiến sĩ có nhiệm vụ đo lường khoảng cách hoặc định vị mục tiêu. Ở bộ đội tên lửa, "trắc thủ tay quay" là những người cuối cùng lái quả đạn tới đích.) và sĩ quan điều khiển, các cán bộ chỉ huy cùng các cán bộ nhân viên kỹ thuật, bất chấp đạn bom, kiên trì lấy buồng máy và màn hiện sóng làm trận địa. Bằng vũ khí hiện đại của Liên Xô, với vốn kiến thức được trang bị từ ghế nhà trường, cùng trí thông minh và lòng dũng cảm, họ đã góp phần quyết định sáng tạo nên những cách đánh có hiệu quả".
       
        Trong việc xây dựng lực lượng vũ trang, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu đã ưu tiên dành cho Quân chủng Phòng không - Không quân những quân nhân ưu tú. Hầu hết các chiến sĩ lái máy bay, những sĩ quan điều khiển, các cán bộ kỹ thuật của không quân, tên lửa, pháo cao xạ, ra-đa đều là học sinh cấp ba, sinh viên hoặc kỹ sư. Trắc thủ tên lửa, trắc thủ ra-đa phần lớn cũng là sinh viên hoặc học sinh trung cấp. Họ là con em của cả hai miền Nam Bắc, được học tập và đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, trở thành những "ông Tú", "ông Cử" và được tuyển chọn vào quân đội. So với mặt bằng dân trí lúc đó, trình độ học vấn như vậy là rất cao (Chú thích: Số kỹ sư, thợ kỹ thuật trung cấp hồi ấy chiếm tỷ lệ hơn 20% tổng số cán bộ các loại của toàn Quân chủng.). Đây là sự tập trung trí tuệ rất lớn của Quân đội ta.
       
        Ngoài trí thông minh và lòng dũng cảm, các trắc thủ của ta còn có những cặp mắt tinh tường và đôi tay nghề thuần thục. Cùng với con mắt "nhìn xuyên" màn nhiễu, bàn tay họ khi "vê" những vòng quay bám sát mục tiêu, điều khiển đường bay của quả đạn tên lửa, dù trong đạn nổ bom rơi, vẫn rất nhẹ nhàng, đều đặn, chuẩn xác (Chú thích: Ở đây có vai trò của trợ lý tham mưu Quân chủng Nguyễn Xuân Minh. Đồng chí là một trong những người có công lao huấn luyện thành công đội ngũ trắc thủ tên lửa hồi ấy. Sau này, đồng chí là Đại tá Hiệu trưởng trường Trung cấp Kỹ thuật Quân chủng Phòng không.). Có thể nói sự mềm mại của đôi bàn tay của người trắc thủ thật là tuyệt vời, điêu luyện đến mức kỹ xảo mà có người đã ví với đôi bàn tay của nghệ sĩ dương cầm. Đương nhiên mọi sự so sánh đều khập khiễng.
       
        Ông trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô - Thiếu tướng Khiu-pe-nen (Chú thích: Anatôli Ivanôvích Khiupenen, sau này là Thượng tướng quân đội Liên Xô. Sau khi về hưu ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh nước Cộng hòa Liên bang Nga.) đã từng phát biểu với Bộ Tư lệnh Quân chủng: "Trao vũ khí tên lửa cho các bạn Việt Nam là trao nó cho những bộ óc sáng tạo và những bàn tay vàng".
       
        Grin Út (J. T. Green Wood) nhận xét: "Tất cả những chiến thuật gây nhiễu điện tử, bằng nhiều biện pháp, bằng đủ loại khí tài hiện đại nhất của không lực Mỹ đã thất bại (Chú thích: J.T. Green Wood, Máy bay ném bom chiến lược B52 trong vai trò chiến thuật, Nxb Solomander, Lon don, 1973.)
       
        Trong cuốn sách "Cuộn chiến tranh không quân ở Đông Dương" do Trung tâm nghiên cứu Coóc-nen (Mỹ) xuất bản có lời đánh giá nổi tiếng của giáo sư Nây Si-hen (Neil Seehan): "Thắng lợi của người Việt Nam là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”.
       

        Tóm lại với ý chí kiên cường và đầu óc sáng tạo, chúng ta đã thắng được thủ đoạn gây nhiễu điện tử, chỗ mạnh đáng gờm nhất của không quân Mỹ. (Chú thích: Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" của Việt Nam gợi nhớ một câu ghi ở điều 9 trong Kinh Thánh: "Sự thông minh cao hơn mọi thứ vũ khí".)


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2016, 03:09:59 AM
       
        Câu hỏi 4: Phần trên có nói đến một loại hỏa tiễn không đối đất rất lợi hại của Mỹ. Ta đã chống lại thủ đoạn của nó bằng cách nào?
       
        Đáp:

       
        Đó là loại hỏa tiễn mang tên Sơ-rai (Shrike) ký hiệu AGM45, thường trang bị cho máy bay F105F-G, hoặc F4D, có thể phóng ở cự ly 48 ki-lô-mét và loại Xtenđơ (Standard) cải tiến từ Sơ-rai ký hiệu AGM78, thường trang bị cho máy bay A6A, có thể phóng từ 72 ki-lô-mét. Một thời, loại hỏa tiễn không đối đất này đã gây cho chúng ta khá nhiều tổn thất. Bộ đội ra-đa, tên lửa không ngại bom, mà lúc đầu rất ngán Sơ-rai, cũng giống như các chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn thời đánh Mỹ, rất ngán máy bay AC130 bắn đạn 40 ly.
       
        Sơ-rai có đầu tự dẫn, hoạt động theo nguyên tắc "tự động điều khiển theo bức xạ sóng điện từ". Nói một cách đơn giản là: khi nó phát hiện được cánh sóng ra-đa của ta, phi công Mỹ liền phóng hỏa tiễn Sơ-rai vào cánh sóng đó. Quả Sơ-rai cứ theo trục cánh sóng của ta mà lao xuống. Nếu ta không có biện pháp đối phó hữu hiệu thì nó sẽ rơi trúng đài ra-đa của ta, hoàn toàn chính xác.
       
        Phải qua nhiều lần rút kinh nghiệm, ở nhiều đơn vị, chúng ta mới tìm được chỗ yếu của Sơ-rai để tìm ra cách đối phó.

        Tuy nhiên cái khó là làm sao vừa "gạt" được Sơ-rai lại vừa kịp đưa tên lửa ta diệt được máy bay địch. Nếu"gạt" sớm một chút thì không diệt được máy bay. Nếu xử trí chậm một li là bị "dính" ngay Sơ-rai của nó. Điều này đòi hỏi người sĩ quan điều khiển phải hết sức bình tĩnh, dũng cảm. Chúng ta hãy hình dung tình huống hai quả đạn tên lửa (địch-ta) đang di chuyển ngược chiều nhau, trong cùng một cánh sóng, với tốc độ cực nhanh, chỉ trong vài tích tắc nữa, hỏa tiễn địch sẽ đâm trúng vào đài, nếu tinh thần không vững, làm sao có thể sáng suốt phán đoán, cân nhắc và xử trí chính xác và có hiệu quả được.
       
        Binh chủng tên lửa có nhiều sĩ quan điều khiển giỏi, trong đó có 9 người trở thành anh hùng (Ngô Văn Tác, Đặng Minh Chức, Nguyễn Xuân Đài, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Văn Phiệt, Phạm Trương Uy, Kiều Thanh Tịnh, Nguyễn Trường Xuân, Lê Hồng Thịnh). Nhiều người trong số họ đã xử trí thành công tình huống gặp Sơ rai. Riêng Lê Hồng Thịnh, một sĩ quan điều khiển gan dạ của Tiểu đoàn 81, Trung đoàn H38, trong trận chiến đấu ngày 6 tháng 7 năm 1967 ở Vĩnh Linh, do quyết tâm tiêu diệt bằng được máy bay địch, anh đã chậm tay một chút. Tuy chiếc F4 bốc cháy trên bầu trời nhưng quả Sơ-rai của địch đã kịp lao trúng đài điều khiển, Lê Hồng Thịnh, kỹ sư Lê Quốc Lượng hy sinh. Một số cán bộ chiến sĩ khác bị thương, trong đó có Tiểu đoàn trường Phạm Sơn, Đại đội trưởng Ngô Huynh (Chú thích: Đồng Chí Ngô Huynh, sau này là Thiếu tướng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không.).
       
        Trong những đêm tháng 12, máy bay Mỹ đã phóng rất nhiều hỏa tiễn không đối đất xuống các trận địa tên lửa ở Hà Nội, Hải Phòng, nhưng hầu hết các sĩ quan điều khiển tài giỏi của ta, bằng động tác xử trí hết sức thông minh và táo bạo, vừa vô hiệu hóa được vũ khí lợi hại của các máy bay chiến thuật vừa lập chiến công hạ nhiều pháo đài bay Mỹ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2016, 03:15:06 AM
       
        Câu hỏi 5: Máy bay F111 "cánh cụp cánh xòe”  (Chú thích: F111 khi xòe cánh, bay tốc độ bình thường (220 đến 250 mét/giây); khi cụp cánh, bay tốc độ cao (trên 300 mét/giây) được Mỹ khoe là hết sức tối tân (ultra modern), không thể bị bắn hạ. Tại sao nó lại bị ta bắn rơi với tỉ lệ cao ?
       
        Đáp: F111 là máy bay cường kích rất hiện đại, hơn hẳn F4, F105, A6, A7... So với các loại trên, nó có tốc độ bay lớn hơn, lượng bom mang nhiều hơn (gấp 5 lấn loại F4). Đặc biệt F111 có lắp thiết bị tự động khống chế độ cao, do đó có thể bay rất thấp (đến 50 mét) trong mọi thời tiết, trên mọi địa hình, kể cả vùng rừng núi một cách dễ dàng. Đây là loại máy bay ưu việt, được mệnh danh là "kẻ đột nhập thần kỳ" với nhiều lợi thế: bay nhanh, bay thấp, giỏi luồn lách, rất khó phát hiện, rất khó bắn trúng. Giá một chiếc F111A bằng 15 triệu đô la Mỹ, đắt tiền hơn cả B52.
       
        Biểu tượng in trên thân máy bay là một thanh kiếm cắm thẳng đứng. Từ lưỡi kiếm xòe ra hai cánh chim đại bàng. Bên dưới là một tấm lá chắn và một dòng chữ "TACTICAL AIR COMMAND" (Bộ chỉ huy Không quân chiến thuật). Bọn phi công F111 rất hãnh diện về biểu tượng này của chúng.
       
        Thế nhưng, trong những đợt tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng, 5 chiếc F111A đã bị bắn rơi, trên tổng số 48 chiếc được huy động. Tỷ lệ bị bắn rơi là 5/48 tức hơn 10%, một tỷ lệ quá cao mà Mỹ không thể ngờ tới.
       
        Vậy chúng ta đã hạn chế những điểm mạnh của máy bay F111 như thế nào để đạt được thành tích cao như thế?
       
        Theo kinh nghiệm đánh máy bay thấp, có người lái và không người lái của giặc Mỹ mấy năm trước, phục kích "đón lõng” (Chú thích: Đón lõng: đón đường đi quen thuộc của kẻ thù.) là biện pháp hay nhất. Để "đón lõng" có hiệu quả, phải phán đoán đúng đường bay F111 sẽ bay qua.
       
        Trên suốt đoạn đường bay dự kiến đó, dân quân, tự vệ các địa phương đã bố trí những trận địa phục sẵn của các loại súng, pháo tầm thấp, từ pháo cao xạ 37 ly đến súng trường. Thủ đô Hà Nội hồi ấy có gần 200 trận địa "đón lõng" như thế.
       
        Điều cần thiết trước hết là phải đặt những đài quan sát xa, thật xa phía trước, ở đó có những người "lính canh trời" ngày đêm âm thầm làm nhiệm vụ. Hệ thống đài quan sát của Quân chủng Phòng không - Không quân, cộng thêm các đài của các địa phương, hình thành một mạng quan sát có thể nói là dày đặc quanh Hà Nội. Khi phát hiện được F111 (nhìn thấy bằng mắt, nghe tiếng động cơ) (Chú thích: Tuy ban đêm, nhưng do F111 bay rất thấp, nên các đài quan sát nhiều lúc vẫn nhìn thấy bóng dáng của nó lướt qua, kèm theo tiếng động cơ gầm rít dữ dội.) các trinh sát viên phải lập tức thông báo ngay, bằng thông tin vô tuyến hoặc hữu tuyến. Có khi chùm vết đạn vạch đường của đơn vị phía trước bắn lên lại chính là sự báo hiệu cho các đơn vị phía sau kịp thời nổ súng.
       
        Còn phải đề ra chế độ trực chiến thật chặt chẽ: tất cả các nòng súng, nòng pháo quay về một hướng định sẵn, đạn lên nòng, sẵn sàng kéo cò, đạp cò, hễ nhận được thông báo và có lệnh là bắn ngay. Hàng loạt lưới lửa tung lên, dựng thành một màn đạn có chiều sâu, chặn đứng đường bay của F111. Trong hàng ngàn vạn viên đạn cỡ nhỏ ấy, chỉ cần một viên trúng chỗ hiểm, thì cho dù hiện đại mấy F111 cũng phải rơi.
       
        Một thiếu tá phi công Mỹ bị bắn rơi ở Hà Nội đã thú nhận: "Lưới lửa tầm thấp dày đặc của các ông thật đáng sợ? Một viên đạn cỡ 7,6 mi-li-mét từ khẩu súng trường bắn lên có thể gây tai họa cho máy bay phản lực chẳng khác gì một quả đạn tên lửa SAM".
       
        Trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, 5 chiếc F111 đã bị chính lực lượng phòng không tầm thấp bắn hạ. Vài thí dụ cụ thể; đêm 20, tự vệ nông trường Thanh Hà, Hà Tây, bằng 44 viên đạn 12,7 ly đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F111A. Đêm 22, tự vệ của ba nhà máy thuộc quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng từ trận địa Vân Đồn, bằng 116 viên đạn 14,5 ly cũng hạ tại chỗ 1 chiếc F111A nữa ở Lương Sơn.
       
        Thế là bằng cách đánh sáng tạo, bằng lưới lửa tầng thấp rộng khắp của lực lượng phòng không ba thứ quân, chúng ta đã trị được chỗ mạnh của loại máy bay chiến thuật hiện đại nhất của không quân Mỹ hồi đó.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2016, 03:20:35 AM

        Những điểm yếu của B52:
       
        Câu hỏi 6: Phải chăng B52 Mỹ chỉ có chỗ mạnh mà không có chỗ yếu Những điểm yếu của B52 là gì? Ta đã lợi dụng chúng ra sao ?
       
        Đáp:
Người xưa đã từng nói: "Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. Muốn thắng địch, trước hết phải đánh giá chính xác sức mạnh của chúng, không đề cao, không hạ thấp, nhìn rõ chỗ mạnh để tìm cách chống lại, đồng thời thấy hết chỗ yếu để tìm cách trị nó.
       
        Như trên đã nêu, B52 là pháo đài bay (Chú thích: Pháo đài bay: tên gọi chung các loại máy bay ném bom cỡ lớn.) chiến lược vào loại ưu việt nhất của Mỹ thời ấy. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh đáng nể, B52 còn có những nhược điểm rất cơ bản.
       
        B52 to xác, kềnh càng, phải bay thăng bằng để ném bom, đường bay và tốc độ ổn định. Độ cao ném bom có hiệu quả của B52 là trên dưới 10 ki-lô-mét, rơi đúng vào tầm bắn lý tưởng của SAM2 và trong tầm hoạt động tốt của MIG 21. Chính vì thế, khi vào đánh Hà Nội, Hải Phòng, mặc dầu đã được che giấu kỹ sau màn nhiễu dày đặc, B52 đâu dám bay ban ngày, vì chúng sợ trở thành mồi ngon cho SAM và MIG (khí tài SAM2 có gắn hệ thống quang học, phi công MIG 21 có thể ngắm bắn B52 bằng mắt thường).
       
        B52 hồi đó chưa mang tên lửa hành trình. Nó chỉ có những quả bom nằm trong bụng và đeo dưới cánh. Để đến ném bom một khu vực mục tiêu có chiều sâu, những anh chàng khổng lồ này bắt buộc phải bay qua vùng hỏa lực nhiều tầng của đối phương mà nhiều giặc lái Mỹ đã gọi là "tọa độ lửa", là "vùng trời chết chóc", không thể tránh được.
       
        Nhiễu điện tử mà không quân Mỹ gây cho ta có cường độ rất mạnh, nhưng nó chỉ mạnh về phía trước, khi đang bay vào phía mục tiêu. Còn khi ở trạng thái bay chếch, bay ngang, bay ra, hoặc lúc vào gần thì phía hông, phía sườn, đằng đuôi và phía dưới bụng của nó lại yếu tạm gọi là những "góc chết", những "khu mù" mà có người đã ví là "gót chân Asin" (Chú thích: "Gót chân A-sin" (Achilles' heel): A-sin, vị anh hùng thần thoại nổi tiếng thời cổ Hy Lạp, người "không thể bị tổn thương" trừ nơi gót chân. Ông đã chết vì bị trúng một mũi tên độc vào đúng gót chân, trong cuộc chiến thành Tơ'roa.). Nhiễu điện tử là sản phẩm của họ, Mỹ thừa hiểu điều đó, nhưng không thể nào khắc phục hoàn toàn được. .. .
       
        Bay trong đêm tối, để khỏi đụng vào nhau, những chiếc B52 và máy bay tiêm kích đều phải bật đèn báo hiệu. Mỗi B52 có 7 đèn trên lưng. Hai bên đuôi có 2 đèn màu vàng. Ở hai đầu mút cánh cũng có đèn, cánh trái 2 đèn đỏ, cánh phải 2 đèn xanh, đều rất sáng.
       
        Những điểm yếu trên đây của B52 Mỹ lại là những điều thuận lợi đối với ta. Bộ đội ta đã tìm cách khoét sâu chính những sơ hở của địch để đánh bại chúng. Còn cách lợi dụng ra sao, có rất nhiều điều lý thú, ở đây không thể nói hết được, chỉ xin nêu vài thí dụ:
       
        - B52 bay thăng bằng, đường bay rất ổn định, khác với đường bay rất linh hoạt của các máy bay chiến thuật. Khi gặp trường hợp nghi ngờ F4 đóng giả B52, chiến sĩ ta chỉ cấn làm động tác "phóng tên lửa giả", kiểu đấm nhứ để thăm dò. Nếu đúng là F4 thì chúng lập tức nháo nhào cơ động tránh tên lửa, đường bay trở nên mất ổn định. Trên màn hiện sóng của chiến sĩ ta, qua các dạng nhiễu, chúng lộ nguyên hình là những chú "Bê" giả. Mà đã là "Bê" giả thì ta không đánh, để dành đạn mà đánh "Bê" thật.
       
        - Còn việc lợi dụng những "khu mù”? Biết rằng "khu mù” là hướng nhiễu nhẹ nhất trên đường bay tới của B52, chúng ta đã nghiên cứu một đội hình chiến đấu của ra-đa, tên lửa thật khôn khéo, đưa một số đơn vị vào bố trí ở hướng địch có "khu mù”, đồng thời tận dụng khả năng mọi loại khí tài, tạo thành một thế liên hoàn chặt chẽ, sớm phát hiện địch từ xa, ở mọi hướng, để có thể kết hợp đánh "vỗ mặt", đánh "tạt sườn" với đánh "tập hậu", để bắn rụng pháo đài bay.
       
        - Nhiễu của không quân Mỹ dù rất nặng, nhưng khi biểu hiện thành từng dải nhiễu trên màn hiện sóng của các chiến sĩ ta, chúng không thể nào không để lộ ra những đặc trưng điển hình của từng loại máy bay. Dựa vào những quy luật đó, anh em ta đã phân biệt được B52 với F4 để nhằm đúng đối tượng mà ra đòn tiêu diệt.
       
        - Lợi dụng việc B52 bật đèn, các phi công ta sau khi được sở chỉ huy mặt đất dẫn đến khu vực B52, từ xa đã có thể nhìn thấy những hàng đèn liên tục nhấp nháy, nhờ đó xác định được vị trí, hướng bay của B52 để nhanh chóng tiếp cận. Rồi cũng căn cứ vào đèn để ước lượng cự ly phóng tên lửa. Trong những đêm 26 và 27 tháng 12 năm 1972, các chiến sĩ lái Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều đã vận dụng xuất sắc kinh nghiệm này của Vũ Đình Rạng trên vùng trời tây Trường Sơn mùa đông năm trước.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:20:01 PM
        Đối với tên lửa SAM2 cũng vậy. Ống kính quang học với bội số nhìn xa lớn, đặt trên đài thu phát, đôi lúc cũng nhìn rõ đèn của B52, qua đó hỗ trợ cho kíp trắc thủ xác định đúng tọa độ của B52 trên màn hiện sóng.
       
        Mỹ ca ngợi, khoe khoang B52 là bất khả xâm phạm (inviolable), nhưng sự thật không phải như thế. Sau khi hàng loạt pháo đài bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội trước lễ Giáng sinh 1972, báo Thế giới (Le Monde) của Pháp đã loan tin thắng lợi của Bắc Việt Nam với dòng tít lớn "Những con quái vật điện tử không còn là bất khả xâm phạm nữa (Les monstres électroniques ne sont plus intouchables), kèm theo tấm hình một chiếc B52 Mỹ đang rắc bom.
       
        Bọn hiếu chiến Mỹ vì quá kiêu căng nên đã trở thành mù quáng. Họ tuyệt đối hóa ưu thế của các phương tiện điện tử. Họ không chịu hiểu rằng đứng trước họ là một đối thủ luôn luôn biết tìm tòi và có khả năng tìm thấy những chỗ yếu của họ, từ đó sáng tạo ra những biện pháp thích hợp để vươn lên giành chiến thắng.
       
(http://i258.photobucket.com/albums/hh261/quansuvietnam/LoiHochutich.jpg) 
 
Bản viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp giới thiệu cuốn sách
       
(http://i258.photobucket.com/albums/hh261/quansuvietnam/Vonguyengiap1.jpg)       
       
(http://i258.photobucket.com/albums/hh261/quansuvietnam/Vonguyengiap2.jpg)


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:29:24 PM
      
        C- Những khó khăn của ta và cách khắc phục:
        
        Câu hỏi 7: Trong chiến dịch 12 ngày đêm, tình trạng thiếu đạn tên lửa khá trầm trọng. Chúng ta đã khắc phục ra sao
        
        Đáp: Chiến dịch đánh trả cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng là một trận đánh lớn, dài ngày, đương nhiên nhu cầu tiêu thụ đạn rất lớn, nhất là đạn tên lửa SAM2. Trong nhiệm vụ đánh B52, theo quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thì "lực lượng chủ yếu đánh B52 là tên lửa và không quân. Tên lửa là chủ yếu nhất”. Phần lớn gánh nặng đánh thắng pháo đài bay Mỹ dồn lên vai bộ đội tên lửa. Vì vậy, vấn đề làm sao có đủ đạn tên lửa để chiến đấu trở thành một đòi hỏi hết sức. gắt gao.
        
        Sự viện trợ của Liên Xô cho ta về vũ khí phòng không, trong đó có đạn SAM2 về sau có phần hạn chế. Vì lẽ đó chúng ta phải tận dụng số lượng đạn "tồn kho". Sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ( 1965 -1968), bộ đội tên lửa ta còn khoảng vài ngàn quả đạn. Một phần trong số đó đã được lắp ráp và nạp nhiên liệu để sẵn sàng chiến đấu nhưng chưa dùng tới. Năm tháng trôi qua, thời hạn sử dụng của đạn không còn. Anh em ta thường gọi đó là những viên đạn "quá đát" (quá hạn sử dụng).
        Một điều đáng nói nữa là tốc độ lắp ráp đạn tên lửa còn chưa đảm bảo yêu cầu cho một chiến dịch lớn.
        
        Vào những đêm tháng 12 năm 1972, có tiểu đoàn hỏa lực đã rơi vào tình trạng giữa chừng "trắng bệ", nghĩa là trên các bệ phóng không còn đạn, trong khi máy bay địch vẫn tiếp tục kéo vào. Anh em lái xe chở đạn cực kỳ dũng cảm, chầu chực ở các bãi lắp ráp, được quả nào là tranh thủ vượt đạn bom lao về đơn vị. Đạn về đến nơi, lập tức được nạp vào bệ phóng, chưa ấm chỗ đã lao đi tìm diệt B52. Các tiểu đoàn hỏa lực thỉnh thoảng lại nhận được chỉ thị qua điện thoại từ trung đoàn: "Khách đến còn nhiều, chú ý tiết kiệm gạo” Giữa đêm 20 tháng 12, tình trạng căng thẳng đến nỗi từ Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã gọi điện chỉ thị Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân phải tìm mọi cách giải quyết đủ đạn cho các tiểu đoàn tên lửa.
        
        Khó khăn to lớn như vậy, bộ đội ta đã khắc phục bầng cách nào?
        
        Xin nêu mấy biện pháp chủ yếu sau đây:
        
        1. Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu quyết định: "Tên lửa chỉ được dành để đánh B52"; "Điều gấp đạn tên lửa từ Quân khu 4 ra tăng cường cho Sư đoàn Phòng không Hà Nội .
        
        2. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân chỉ thị cho các đơn vị tên lửa phải "hết sức tiết kiệm đạn”. Thí dụ lẽ ra đánh 3 quả để bảo đảm xác suất tiêu diệt máy bay thì chỉ đánh 2 quả. Yêu cầu các tiểu đoàn trưởng phải cân nhắc trước khi hạ lệnh phóng, không chắc ăn thì không đánh.
        
        3. Cải tiến và nâng cao năng suất tổ chức lắp ráp đạn tên lửa ở các tiêu đoàn kỹ thuật.
        
        4. Phục hồi những viên đạn quá thời hạn sử dụng.
        
        (Hai biện pháp 3 và 4 được thực hiện từ trước khi xảy ra trận đánh 12 ngày đêm)
        
        Đầu tiên, xin nói về những viên đạn quá tuổi: theo quy định của quân đội các nước trên thế giới, đạn quá thời hạn sử dụng, nếu không có biện pháp "kéo dài tuổi thọ" thì nhất thiết phải hủy, bởi vì nếu đem ra chiến đấu sẽ không an toàn.

        Kéo dài niên hạn cho đạn tên lửa là một việc hết sức phức tạp, chúng ta không có kinh nghiệm. Nhưng trong hoàn cảnh của một đất nước nghèo, thiếu thốn mọi thứ, lẽ nào quân đội ta lại để cho hàng ngàn quả đạn như thế bị hủy bỏ.

        Rồi "cái khó làm ló cái khôn", dựa vào tài liệu của quân đội bạn, cán bộ kỹ thuật ta đã đi sâu nghiên cứu và đã thực hiện thành công "quy trình lắp ráp ngược", tức là làm ngược lại quá trình lắp ráp.
        
        Trước hết là lấy hết nhiên liệu ra, rửa sạch các khoang chứa, sấy thật khô, rồi dùng thiết bị đặc biệt kiểm tra độ chịu đựng áp suất cao của từng khoang. Tiếp theo là tháo rời tầng đuôi, đầu đạn, cánh lái, xếp gọn tất cả vào thùng, xong cặp chì lại y như mới (Chú thích: việc kéo dài tuổi thọ cho đạn tên lửa được thử nghiệm thành công tại một tiểu đoàn kỹ thuật, ở Hà Nội, sau đó thực hành rộng rãi ở nhiều nơi. ).
        
        Bằng cách ấy, ngành Kỹ thuật tên lửa phòng không đã kéo dài tuổi thọ cho toàn bộ số đạn "quá đát" nói trên thêm được 48 tháng, có nghĩa là mỗi viên đạn "thọ" thêm 4 năm. Các cán bộ chiến sĩ tài giỏi của ngành Kỹ thuật tên lửa chúng ta đã làm sống lại và trả về cho Tổ quốc hàng ngàn viên đạn SAM2, một tài sản rất lớn.
        
        Quý hóa vô cùng. Chính những quả đạn ấy đã góp phần bắn rụng pháo đài bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội - Hải Phòng những đêm cuối tháng 12 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:40:17 PM
        Về tình trạng lắp ráp chậm:
       
        Khi chuyển từ Liên Xô sang, các quả đạn tên lửa đều ở trạng thái tháo rời. Từng bộ phận đều được sắp xếp gọn gàng trong những thùng kín. Chúng sẽ được các đơn vị kỹ thuật, thường gọi là "Tiểu đoàn 5", lắp ráp lại, kiểm tra hệ thống điện và vô tuyến điện đầy đủ, xong nạp chất đốt, trước khi chuyển đến các tiểu đoàn hỏa lực. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, tốc độ lắp ráp của các tiểu đoàn 5 nói chung đã phục vụ được yêu cầu chiến đấu lúc ấy.
       
        Nhưng, để đối phó với cuộc tiến công ồ ạt của không quân chiến lược Mỹ, kéo dài nhiều ngày đêm như trong chiến dịch B52 Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng, trong điều kiện các công đoạn lắp ráp được tiến hành ở nhiều dịa điểm phân tán cách xa nhau (Chú thích: Bố trí các bãi lắp ráp đạn tên lửa ở xa nhau là để giảm tổn thất nếu bị Mỹ ném bom.), thì tốc độ lắp ráp bình thường như trước không thể nào đáp ứng nổi. Vấn đế đặt ra là phải cải tiến quy trình. thao tác, để làm sao trong một ngày đêm có thể cung cấp được một số lượng đạn tên lửa nhiều hơn.
       
        Trước kia, để lắp ráp một quả đạn, theo quy trình cũ các chiến sĩ phải mất rất nhiều thời gian. Qua nhiều ngày đêm cùng anh em trong đơn vị tìm tòi, Tiểu đoàn trưởng kỹ thuật Dương Quảng Châu, người anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, đã đề ra sáng kiến mới: nạp nhiên liệu sẵn, lắp ráp đạn ngay trên xe kéo đạn và hợp lý hóa một số động tác kỹ thuật, được Tư lệnh Binh chủng Đoàn Huyên và Cục trưởng Kỹ thuật Quân chủng Lương Hữu Sắt rất hoan nghênh và đã sớm cho tiến hành thử nghiệm ngay tại tiểu đoàn kỹ thuật của Dương Quảng Châu, ở Hải Phòng. Kết quả thành công tốt đẹp: năng suất lắp ráp đạn trong một ngày đêm tăng lên gấp đôi. . .
       
        Thế mà khi bước vào chiến dịch, trước sức "ngốn" đạn ngoài mức dự kiến, các tiểu đoàn kỹ thuật của Hà Nội lại bị một phen lúng túng, không sao bảo đảm cung cấp đủ đạn cho các tiểu đoàn chiến đấu, như đã nói ở trên.
       
        Cục Kỹ thuật Quân chủng được lệnh: tăng gấp lực lượng chuyên môn cho các tiểu đoàn 5, để cho mỗi tiểu đoàn có thêm một dây chuyền lắp ráp. Mỗi dây chuyền lại còn được bổ sung quân số để tăng ca, tăng kíp, giúp cho cán bộ chiến sĩ có điều kiện thay nhau làm việc và nghỉ ngơi. Tuy thế, cường độ làm việc ở các tiểu đoàn 5 vẫn vô cùng căng thẳng. Các trận địa hỏa lực từng giờ từng phút đang chờ đạn của Tiểu đoàn 5. Ai nấy đều gầy rộc đi, mắt trũng sâu, thâm quầng vì mỏi mệt và thiếu ngủ.
       
        Cục Hậu cần Quân chủng liền cho mở kho, xuất đường, sữa, thịt hộp, lương khô... vốn là tiêu chuẩn dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ đi B để bồi bổ sức khỏe cho các anh em các tiểu đoàn kỹ thuật. Cả những viên thuốc làm dịu thần kinh, chống cơn buồn ngủ cũng được gửi đến tận tay chiến sĩ.
       
        Nhờ những biện pháp tích cực nói trên, tình trạng lắp ráp đạn không theo kịp yêu cầu chiến đấu đã cơ bản được giải quyết
       
        Còn việc bắn tiết kiệm đạn, bộ đội tên lửa đã thực hiện ra sao?.
       
        Trước hết xin nêu một dẫn chứng: ở Tiểu đoàn 57 trong trận đánh hồi 5 giờ sáng đêm 20 rạng ngày 21, khi từng tốp B52 đang nối tiếp nhau bay vào thì trên các bệ phóng chỉ còn 2 quả đạn. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt (Chú thích: Đồng chí Nguyễn Văn Phiệt được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dàn ngày 3-9-1973. Đến năm 1999 là Trung tướng, Phó Tư lệnh chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân.) hạ quyết tâm đánh "quả một", nghĩa là mỗi lần dùng một quả.
       
        5 giờ 09 phút, quả thứ nhất rời bệ, hạ 1 chiếc B52.
       
        5 giờ 19 phút, quả thứ hai, quả đạn cuối cùng trên các bệ phóng, vút lên, hạ thêm 1 B52 nữa. Chiếc này rơi xuống gần Núi Đôi, Vĩnh Phú.
       
        Thế là trong tình hình khan hiếm đạn, bộ đội tên lửa ta đã phải bắn từng phát một và đã lập chiến công kỳ diệu "mỗi viên đạn một quân thù". Đặc biệt ở đây "quân thù" là những siêu pháo đài bay.
       
        Còn những thí dụ khác cũng không kém phần lý thú:
       
        Đêm 26 tháng 12, Tiểu đoàn 79 cũng chỉ bằng một quả đạn đã hạ tại chỗ 1 chiếc B52 rơi ở Sơn La.
       
        Riêng ở Tiểu đoàn 77 đã diễn ra ba trận đánh xuất sắc. Hồi 4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 19, Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn đã cho phóng 2 quả, hạ 1 B52 rơi ở xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Đêm sau, 20 tháng 12, lúc 20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn 77 lại hạ thêm 1 B52 nữa rơi ở Vạn Thắng, Ba Vì, cũng bằng 2 quả đạn. Sau đó đến 5 giờ sáng, Tiểu đoàn trường Văn lại cho phóng tiếp 2 quả đạn cuối cùng, diệt thêm 1 B52 nữa, rơi xuống thị xã Phúc Yên.
       
        Như lời của một viên tướng không quân Mỹ, do hãng UPI phát đi từ Băng Cốc hồi giữa tháng 11 năm 1972, nói rằng: "Nếu Bắc Việt bắn rơi được một chiếc B52 trị giá 9 triệu đô-la này mà có bằng cớ, chúng ta coi như họ đánh chìm được một tàu chiến Mỹ", thì chỉ riêng Tiểu đoàn 77, với chiến công bắn rơi tại chỗ 3 chiếc B52, đã đạt được ý nghĩa "đánh chìm" 3 tàu chiến Mỹ, mà chỉ bằng 6 quả đạn tên lửa SAM2 (Chú thích: Tiểu đoàn 77, thuộc Trung đoàn H57, bắn rơi 4 B52 (có 3 chiếc rơi tại chỗ) được phong danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973.).
       
        Sau đêm Nô-en, vào chiều 26 tháng 12, giữa thanh thiên bạch nhật bỗng thấy vút lên một vệt khói dài. Tên lửa của đơn vị nào bắn đây? Sao lại dám vi phạm mệnh lệnh của Bộ "chỉ dành tên lửa để đánh B.52"? (B52 vào Hà Nội chỉ có bay đêm). Thì ra đó là Tiểu đoàn 72 thuộc Trung đoàn H85 của Hải Phòng mới được điều lên tăng cường cho Thủ đô. Do "chân ướt chân ráo" chưa nắm vững quy định, khi phát hiện một tốp F4 lao vào Hà Nội, bất chấp khả năng địch sẽ đánh trả đũa, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt vẫn quyết định phóng đạn. Một chiếc F4 rơi tại chỗ . Nhở chiến công này, Tiểu đoàn 72 được cấp trên miễn tội.
       
        Dường như để "tạ lỗi", đêm 27, vào lúc 23 giờ, Tiểu đoàn 72 đã đánh một trận thật xuất sắc, cũng bằng 2 quả đạn, quật ngã một pháo đài bay giữa lòng Hà Nội. Xác của chiếc B52 rơi ngay xuống đường Hoàng Hoa Thám và giữa làng hoa Ngọc Hà, chỉ cách trung tâm Quảng trường Ba Đình không đầy 600 mét. Một nhà nhiếp ảnh đã chớp thời cơ, thu được hình ảnh chiếc pháo đài bay đang bùng cháy giữa trời đêm. Tấm ảnh thật đẹp, được ca ngợi như là một tác phẩm nghệ thuật hiếm có.
       
        Năm 1973, ông Xô-lô-rép, Đại tá chuyên gia Phòng không Liên Xô nói với chúng tôi: "Việt Nam nghèo nên phải đánh theo cách của con nhà nghèo, nhưng Việt Nam vẫn thắng, bởi vì các bạn Việt Nam rất thông minh, rất sáng tạo”. Gần đây, một nhà chiến lược Mỹ nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Nếu dân tộc Việt Nam chỉ anh hùng không thôi thì chắc chắn Việt Nam đã bị khối lượng sắt thép khổng lồ của chúng tôi đè bẹp. Nhưng vì dân tộc Việt Nam thông minh quá nên Mỹ đã chịu thua".
       
        Việc bộ đội phòng không khắc phục muôn vàn khó khăn để có đủ đạn tên lửa đánh thắng B52 Mỹ, suy ra, cũng là từ cái đầu óc sáng tạo của người Việt Nam chúng ta vậy.
       
        Có điều rất đáng tiếc là giá như hồi ấy, bộ đội tên lửa ta có được thêm nhiều đạn hơn, được bắn theo qui tắc xạ kích, được "đánh bồi", "đánh nhồi", mỗi lần bắn thêm vài ba quả, thì kết quả bắn rơi B52 chắc sẽ còn lớn hơn nhiều.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:45:59 PM
 
        Câu hỏi 8: Ngoài việc cung cấp đủ đạn tên lửa, vấn đề bảo đảm chất lượng cho các bộ khí tài SAM2 sẵn sàng chiến đấu cũng gặp nhiều khó khăn. Ngành Kỹ thuật tên lửa phòng không của ta đã khắc phục bằng cách nào
       
        Đáp: Tên lửa là một viên đạn lớn. Muốn đưa được quả đạn nặng hàng tấn ấy lên trời nhất thiết phải có thuốc phóng và bệ phóng. Tuy nhiên, ngoài ra còn cần phải có thêm những máy móc hiện đại, gồm nhiều bộ phận hết sức tinh vi, với chức năng dò tìm, bắt mục tiêu, tính toán phần tử và điều khiển đường đạn, để bảo đảm cho viên đạn bắn trúng máy bay địch. Tất cả các máy móc ấy tập hợp lại trong một chiếc xe lớn, giống như bộ não của tiểu đoàn hỏa lực, gọi là đài điều khiển, thành phần quan trọng nhất của bộ khí tài SAM2.
       
        Trong những năm chống Mỹ, Việt Nam được Liên Xô giúp đỡ xây dựng hàng chục trung đoàn tên lửa SAM, với đầy đủ khí tài đạn dược và bệ phóng, bao gồm cả cơ số dự bị. Nhưng, ngay từ khi mới ra quân, bộ đội tên lửa phòng không đã trở thành đối tượng tiêu diệt của không quân Mỹ. Máy bay của chúng đã dùng đủ loại đạn bom liên tục tiến công các trận địa tên lửa của ta. Những đợt bom phá, bom phát quang, bom nổ chậm với sức công phá lớn và những loạt bom bi quái ác trùm lên trận địa, những quả đạn hỏa tiễn Sơ-rai nổ trúng đài ra-đa, đài điều khiển, không phải là trường hợp hiếm xảy ra. Đi đôi với tổn thất đau thương về sinh mạng, chúng ta còn chịu những thiệt hại đáng kể về vũ khí, khí tài.
       
        Ngoài ra, trong những lần di chuyển trận địa, trong các cuộc hành quân đường dài, những cỗ xe, cỗ máy liên tục bị dằn xóc bởi các "ổ gà”, những chỗ gập ghềnh, lồi lõm trên mặt đường, cũng gây nên nhiều chấn động ảnh hưởng đến độ chính xác của các bộ phận máy móc và linh kiện điện tử bên trong (Chú thích: Ở đây không đi sâu nói về chiến thuật cơ động của bộ đội tên lửa ta.).
       
        Giống như một chiếc đồng hồ bình thường, chỉ cần một chi tiết bị trục trặc là cả chiếc đồng hồ ngừng hoạt động. Một tiểu đoàn tên lửa phòng không cũng vậy. Toàn bộ hệ thống vận hành phức tạp của nó không cho phép bất cứ một hư hỏng nhỏ nào tồn tại. Một đoạn ống dẫn sóng bị thủng vì bom bi, một cánh ăng-ten bị mảnh bom làm sứt mẻ, một khối linh kiện bị hỏa tiễn Sơ rai xé nát, một đầu dây điện bị đứt rời trong lúc hành quân... đều có thể dẫn tới sự tê liệt của cả tiểu đoàn hỏa lực.
       
        Mặt khác, khó khăn khôn lường còn đến với chúng ta từ việc không quân Mỹ liên tục đổi mới chất lượng vũ khí tiến công. Mỗi lần kẻ thù thay đổi thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật, nhằm vô hiệu hóa vũ khí của ta là mỗi lần kíp chiến đấu trên xe điều khiển phải tìm tòi thay đổi cách đánh, đồng thời cũng yêu cầu các kỹ sư, những cán bộ công nhân viên kỹ thuật các loại (trung cấp sơ cấp điện, vô tuyến điện, điện từ, cơ khí...) lao vào nghiên cứu cải tiến khí tài lên một bước, để chống lại chúng bằng trình độ kỹ thuật cao hơn.
       
        Không chỉ có thế, tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, số lượng dự trữ, phụ tùng thay thế không mấy dồi dào, lại dần dà bị hao mòn cạn kiệt trong chiến tranh cũng làm cho mức độ căng thẳng tăng lên gấp bội, nhất là đối với các chiến trường xa như ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, dọc đường Trường Sơn, trên địa bàn Quân khu 4.
       
        Trước những gian nan chồng chất ấy, đội ngũ kỹ thuật viên tên lửa của Quân chủng Phòng không - Không quân, từ các công trường, xưởng, trạm của Cục Kỹ thuật, đến các phòng, ban kỹ thuật của các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đã lăn xả vào cuộc chiến đấu sinh tử, bám sát chiến trường, bám sát trận địa, âm thầm khắc phục mọi khó khăn, sửa chữa và làm sống lại hàng chục, hàng chục "lần bộ khí tài" trả về cho đơn vị (Chú thích: Có những bộ khí tài bị địch đánh hỏng không chỉ một lần.).
       
        Có khi anh em thợ đã phải "vá" ống dẫn sóng bị thủng bằng phương pháp gò, hàn mà có lẽ không có nơi nào trên thế giới áp dụng. Có lúc họ phải dùng dây kéo một thanh gỗ - với kích thước vừa khít - bên trong lòng ống dẫn sóng, để "vuốt thẳng" những chỗ bị bom đạn Mỹ làm móp méo, hoặc đôi khi phải sửa chữa những cuộn biến thế bị cháy bằng một máy quấn dây thủ công. Có trường hợp khó khăn đến mức, cùng một lúc cả 4 tiểu đoàn trong một trung đoàn đều bị địch đánh hỏng khí tài. Các kỹ sư cùng anh em thợ đã phải đi thu gom, lượm lặt những thứ còn lại, đưa về trạm sửa chữa lưu động, để dồn lắp, phục hồi cho được một bộ khí tài hoàn chỉnh, đồng bộ, nhờ đó phục vụ đơn vị bắn rơi pháo đài bay Mỹ, như trường hợp ở Trung đoàn H38 ở Vĩnh Linh năm 1967.
       
        Trong Binh chủng Tên lửa phòng không có một bộ khí tài được coi là đặc biệt nhất, do "tuổi tác cao niên" với hơn 13 ngàn giờ chạy máy và bởi một lý do hi hữu khác: bị ngâm mình mấy ngày đêm liền trong nước lũ phù sa sông Hồng trong trận lụt tháng 7 năm 1971. Một số ý kiến đề nghị hủy bỏ. Nhưng theo quyết tâm của Quân chủng và của Sư đoàn B61 thì bằng mọi giá phải cứu lấy bộ khí tài này. Sau khi nước rút, anh em đã bắt tay nạo vét bùn, tháo gỡ từng bộ phận, lau chùi sạch sẽ đến tận từng chi tiết, đem sấy khô rồi đưa về xưởng tiến hành đầy đủ mọi động tác kỹ thuật cần thiết khác. Cuối cùng, sau nửa năm trời, bộ khí tài đã được "cải tử hoàn sinh". Bằng bộ khí tài "già nua" nhất và "ốm yếu" nhất Quân chủng ấy, Tiểu đoàn 57 thuộc Trung đoàn H61 đã lập nhiều chiến công xuất sắc, trong đó có chiến công bắn rơi 4 B52 Mỹ.
       
        Bước vào cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, không quân Mỹ đánh phá miền Bắc vô cùng quyết liệt. Tổn thất của quân dân ta nói chung và của bộ đội tên lửa nói riêng là rất lớn. Để phục vụ cho các đơn vị chiến đấu trên một địa bàn trải dài từ Lạng Sơn đến giới tuyến Vĩnh Linh, ngành Kỹ thuật Tên lửa phòng không đã đứng trước những khó khăn có lúc tưởng chừng không vượt qua nổi.
       
        Còn nhớ trong một công văn của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân gửi các đơn vị và cơ quan, Phó tư lệnh Nguyễn Văn Tiên đã chỉ thị một cách nghiêm khắc: "Phải chống tư tưởng coi công tác bảo đảm kỹ thuật là việc riêng của ngành Kỹ thuật, phải chấm dứt tình trạng kéo dài và chậm trễ trong việc sửa chữa khí tài; Cục kỹ thuật phải đẩy nhanh tốc độ phục hồi số lượng đạn tên lửa quá niên hạn và các bộ khí tài hư hỏng, khẩn trương đáp ứng yêu cầu của mặt trận phía trước và cả cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng”.
       
        Chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh, ngành Kỹ thuật tên lửa đã huy động toàn lực, phối hợp chặt chẽ với các ngành bạn trong Quân chủng, tranh thủ sự chi viện của các cơ quan trên Bộ như Cục Nghiên cứu Khoa học Quân sự, Viện Kỹ thuật Quân sự (nhất là của Viện Kỹ thuật Quân sự do ông Hoàng Đình Phu làm Viện trưởng), vừa ra sức cải tiến hợp lý hóa tổ chức sản xuất, vừa gia tăng cường độ lao động, làm việc ngày đêm, nhờ đó đã hoàn thành được một khối lượng rất lớn về công tác sửa chữa, phục hồi vũ khí, khí tài cho các đơn vị.
       
        Tất cả các tiểu đoàn hỏa lực đứng chân trên mặt trận Hà Nội, Hải Phòng, trước khi bước vào chiến dịch đều đã nhận được những bộ khí tài có chất lượng tốt. Bằng chứng là trong chiến dịch 12 ngày đêm, 29 pháo đài bay Mỹ đã bị bộ đội tên lửa bắn rơi, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ.
       
        Có thể nói sự đóng góp của cán bộ nhân viên ngành Kỹ thuật Tên lửa vào chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" là rất xuất sắc.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:50:59 PM
 
        Câu hỏi 9: Việc đánh B52 của Không quân ta cũng gặp không ít khó khăn. Vậy bộ đội không quân đã làm gì để có được chiến công xuất sắc của hai anh hùng Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều
        
        Đáp: Không kể tương quan lực lượng quá chênh lệch, trong cuộc đọ sức 12 ngày đêm, Không quân ta còn gặp nhiều khó khăn to lớn khác:
        
        Đối với MIG bay đêm, phương tiện duy nhất để tìm thấy kẻ thù là ra-đa. Thế nhưng trên mỗi chiếc B52 có tới hàng chục máy gây nhiễu tự động, với hệ thống tần số choán hết dãy tần số của các đài ra-đa dẫn đường cũng như ra-đa ngắm bắn của phi công ta.
        
        Để đối phó với MIG tiến công từ phía sau, ở phần đuôi mỗi B52 đều có lắp một khẩu súng máy 12,7 ly luôn luôn sẵn sàng nhả đạn. Lại còn 6 hỏa tiễn "nhử mồi" Gờ-rin Quây (Green Quai) rất lợi hại. Nếu tên lửa K13, loại tìm nhiệt, của ta phóng vào B52 mà gặp hỏa tiễn nhử mồi, thì đường đạn sẽ bay chệch sang luồng nhiệt thu hút của nó.
        
        Để triệt tiêu mọi hoạt động của không quân đối phương, như phần trên đã nói, không quân Mỹ đã tổ chức một lực lượng lớn máy bay tiêm kích F4, hình thành một "bức rào cản di động" bảo vệ đội hình bay của B52. Ngoài ra, trước khi B52 đến Hà Nội khoảng 30 phút, những chiếc F111A bay rất thấp đã đến ném bom phá hủy hai đầu đường băng của các sân bay, khiến cho máy bay ta không còn đường cất cánh. Tiếp theo là những chiếc F4 khác đến lượn vòng khống chế vùng trời trên sân bay để sẵn sàng bắn rơi bất kỳ chiếc MIG nào cất cánh bay lên.
        
        Có lẽ vào lúc này, những con "diều hâu" trong Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đang nhớ lại những giờ phút huy hoàng của Không quân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hồi cuối thế chiến thứ hai, khi hàng trăm pháo đài bay B29 và rất nhiều máy bay chiến thuật, bằng những đợt bom dữ dội, đã dập tắt mọi khả năng cất cánh của hàng ngàn máy bay tiêm kích Nhật Hoàng.
        
        Ngày 19 và 20 tháng 12 năm 1972, các hãng thông tin và báo chí Mỹ tung tin: "MIG của Bắc Việt đã bị hoàn toàn tê liệt". Về phía ta, một câu hỏi được đặt ra từ trước: "ở vào điều kiện không quân Mỹ hầu như chiếm lĩnh bầu trời, ra-đa ta bị nhiễu nặng, trong không gian mênh mông tối đen mù mịt, MIG của ta làm sao cất cánh bay lên, làm thế nào chọc thủng được cái "vỏ thép" dày đặc của lũ F4, làm sao tìm được B52, tiếp cận được nó để nổ súng chính xác?"
        
        Câu trả lời là: bằng những cố gắng phi thường, không quân ta đã vượt qua tất cả, để cuối cùng MIG vẫn tồn tại, vẫn cất cánh chiến đấu và lập công xuất sắc.
        
        Đầu tiên phải nói về cách đánh: trước kia, do chưa có điều kiện "tiếp xúc" với B52, chưa hiểu được thủ đoạn chiến thuật của chúng, cho nên không quân ta chưa có được cách đánh phù hợp. Khoảng đầu năm 1971, theo chỉ thị của Phó tư lệnh Quân chủng phụ trách Không quân Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh Binh chủng Không quân Đào Đình Luyện và Phó tư lệnh Binh chủng Trần Mạnh (Chú thích: Đồng chí Trần Mạnh, cán bộ chỉ huy xuất sắc của Không quân nhân dân Việt Nam, là Phó tư lệnh Quân chủng Không quân, rồi Tư lệnh Binh đoàn 919 (khỏng quân vận tải) rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam từ năm 1979.), một đoàn nghiên cứu cách đánh B52 gồm các sĩ quan tham mưu tác chiến, quân báo, dẫn đường và một số phi công có kinh nghiệm, do Phó trung đoàn trường Trung đoàn CH21 Nguyễn Nhật Chiêu (Chú thích: Đồng chí Nguyễn Nhật Chiêu được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 12 năm 1973.) chỉ huy lên đường vào Quảng Bình. Từ các điểm cao trên đỉnh Trường Sơn, các anh quan sát bằng mắt, lắng nghe bằng tai, mọi hoạt động của lũ pháo đài bay và của những chiếc F105 hộ tống. Các anh tìm hiểu quy luật hoạt động của địch, nghiên cứu khả năng khống chế của ra-đa và tên lửa của Mỹ từ trên các chiến hạm lởn vởn ngoài biển Đông.
        
        Một phương án dùng MIG 21 đánh B52 được vạch ra và được Quân chủng chấp thuận, với yêu cầu về giữ bí mật hết sức nghiêm ngặt. Sau khi cất cánh phải bay thật thấp để tránh ra-đa từ các tàu chiến phát hiện. Các trạm ra-đa của ta phải thực hiện những quy ước về mật hiệu cất cánh và dẫn đường thật chặt chẽ, phải tổ chức nghi binh cho khôn khéo. . .

        Trong lần xuất kích đêm 4 tháng 10 năm 1971 , phi công Đinh Tôn (Chú thích: Đồng chí Đinh Tôn, một trong những phi công tài giỏi nhất của không quân ta, chiến đấu rất dũng cảm, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 12 năm 1973.) đã phát hiện được B52, nhưng do ở thế bất lợi nên được lệnh phải quay về. Đến đêm 20 tháng 11 năm 1971, phi công Vũ Đình Rạng lại được giao nhiệm vụ tìm đánh B52. Anh cất cánh từ một sân bay ở Nghệ An. Được sự dẫn đường của ra-đa và Sở chỉ huy mặt đất, anh bay thấp dọc Trường Sơn vào khu vực B52 đang hoạt động. Còn cách dịch 50 ki-lô-mét, anh vút lên cao tiếp cận mục tiêu. Rạng đã nhìn thấy 3 chiếc B52 với những hàng đèn trên lưng, bên cánh, trên đuôi. Vào đến khoảng cách 2000 mét, anh chọn chiếc đi đấu và ấn nút phóng tên lửa.
        
        Chiếc B52 bốc cháy, bay về hướng tây và đáp khẩn cấp xuống một sân bay ở Thái Lan. Gần đây theo tiết lộ của một cựu thiếu tá phi công Mỹ, Ralp Welterhalm, thì chiếc B52 này hôm ấy không thể về được căn cứ U-ta-pao, mà phải hạ cánh bắt buộc xuống sân bay chiến thuật Na-khon Pha-nom. Nó đã bị phế bỏ ngay sau đó vì bị thương quá nặng.
        
        Khiếp sợ trước sự tấn công uy hiếp của MIG21, suốt một tuần lễ sau đó, không một chiếc B52 nào dám bén mảng đến vùng trời "cửa khẩu" Trường Sơn (Chú thích: Cụm "Cửa khẩu" Trường Sơn (cửa ngõ thông sang nước bạn Lào) gồm các con đường 12, 20, 10, 16 xuất phát từ Quảng Bình, vắt qua đỉnh Trường Sơn đi sang phía tây và đường 18 bắt đầu từ ki-lô-mét 43 đường 10.). Hàng ngàn xe vận chuyển của ta tranh thủ vượt cung, tăng chuyến, đưa hàng vào mặt trận phía Nam ngoài mức kế hoạch. Song, điều quan trọng hơn là qua trận đánh của Vũ Đình Rạng, không quân ta đã xác định được cách đánh B52 và khẳng định: MIG 21 của ta có thể bắn được B52 Mỹ. "Phương án năm cánh sao", tức là kế hoạch đánh địch trên 5 hướng để bảo vệ Hà Nội của Binh chủng Không quân được hình thành và đã sớm được hoàn chỉnh trước khi bước vào trận đánh lớn nhiều ngày.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:56:50 PM
        
        Thế còn những khó khăn cụ thể khác, Không quân ta đã khắc phục băng cách nào
        
        - Địch nhiều ta ít thì ta đánh lối du kích, dùng tốp nhỏ chiếc lẻ quần nhau với địch, với khẩu hiệu "một người, một máy bay vẫn tiến công", cực kỳ dũng mãnh, "tả xung hữu đột" giống như hành động "nắm thắt lưng địch mà đánh" của Quân giải phóng miền Nam.
        
        - Địch đánh hỏng đường băng chính, ta dùng đường băng phụ. Đường băng phụ hỏng, ta dùng đường lăn. Đường lăn hỏng, thì ta cất cánh từ các sân bay dã chiến, vòng ngoài. Mặt khác, tuy không có khẩu hiệu "địch đánh, ta sửa ta đi" như trên đường Trường Sơn, nhưng ở những sân bay miền Bắc lúc ấy cũng có một quyết tâm tương tự: "Địch phá, ta sửa ta bay". Bộ đội công binh của Quân chủng, được sự trợ giúp của đông đảo nhân dân các địa phương lân cận, mỗi lần đường băng bị bom phá nát, lập tức tổ chức ngay việc san lấp các hố bom, dọn sạch đất đá trên đường băng cho máy bay ta cất cánh (Chú thích: Sở dĩ sửa gấp đường băng được thực hiện nhanh chóng là nhờ bộ đội và dân công đã có kế hoạch hiệp đồng từ trước, đã chuẩn bị sẵn sàng vật liệu (cát, đá xi măng, tấm đan bêtông, ghi sắt) và mọi thứ dụng cụ (từ xe xúc, xe ủi, xe lăn đến xe bò, xe ba gác, quang gánh, ky sọt, xẻng cuốc...) đầy đủ. Còn có những nhóm văn nghệ đến biểu diễn, động viên tại chỗ.).
        
        - Có khi máy phát điện sân bay bị đánh hỏng, hệ thống đèn đường băng tắt. Ngay lập tức, anh chị em dân quân cùng bộ đội trực chiến cầm đuốc (Chú thích: Đuốc làm bằng ống nứa, ống nhôm, đựng giẻ tẩm dầu, thắp lên rất sáng. Mỗi người cầm đuốc có một hầm cá nhân bên cạnh.) lao ra, bất chấp hiểm nguy, đứng thay vị trí những ngọn đèn để làm chuẩn cho máy bay ta thấy đường hạ cánh.
        
        - Máy bay trinh sát của địch "chà đi xát lại" dò tìm vị trí máy bay ta, thì ta tổ chức ngụy trang MIG thật kín đáo. Có lúc chúng ta còn dùng máy bay lên thẳng loại lớn, ban ngày "cẩu" MIG đi giấu nơi xa, tối đến trả MIG về lại sân bay để sẵn sàng chiến đấu.
        
        - Máy bay tiêm kích F4 bảo vệ B52 rất đông, tầng tầng lớp lớp, thì các phi công ta đột nhập từ phía sau hoặc từ bên sườn rồi bất ngờ tăng tốc thọc sâu, vượt qua đầu bọn F4, đuổi kịp B52 mà tấn công.
        
        - Bị địch phóng tên lửa thì bằng những động tác khôn khéo điêu luyện, các anh kịp thời lần lượt né tránh.
        
        Cuối cùng bằng tinh thần quả cảm và tài trí tuyệt vời các phi công ta đã bắn rơi được B52 Mỹ, như Phạm Tuân đêm 27 và Vũ Xuân Thiều đêm 28 tháng 12 năm 1972.
        
        Riêng trường hợp Vũ Xuân Thiều, cất cánh từ một sân bay dã chiến ở Thanh Hóa, đến vùng trời Sơn La, khó khăn lắm anh mới lọt qua được hàng rào máy bay tiêm kích F4 để đến gần một tốp B52, từ phía sau. Chiếc đi đầu đã lọt vào đường ngắm. Căn cứ những chiếc đèn trên thân B52, anh đã xác định được cự ly bắn, nhưng để chắc ăn, Thiều quyết định phóng tên lửa K13 ở khoảng cách thật gần. Câu nói cuối cùng của Thiều gọi về Sở chỉ huy: "Thăng Long! Thăng Long! Tôi đã bắn cả 2 quả tên lửa. B52 chỉ bị thương nhẹ. Xin phép được tiêu diệt". Rồi cùng với chiếc MIG thân yêu mang số hiệu 5.124, Vũ Xuân Thiều lao thẳng vào chiếc pháo dài bay Mỹ . . . Và anh đã hy sinh (Chú thích: Phạm Tuân và liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).
        
        Trong 12 ngày đêm với 24 lần xuất kích, các chiến sĩ lái MIG đã diệt 7 máy bay địch, trong đó có 2 pháo đài bay B52. Thật là kỳ diệu!
        
        Ngoài ra, phi công ta còn có thành tích đáng khâm phục nữa là bằng những cánh bay MIG ít ỏi, các anh đã dũng mãnh lao vào đêm tối, xông thẳng vào đội hình dày đặc của máy bay tiêm kích Mỹ, buộc chúng phải quay ra đối phó, đội hình bay rối loạn, khiến cho cường độ nhiễu của chúng giảm đi, để lộ ra hình thù B52 trên màn hiện sóng, tạo điều kiện cho các trắc thủ tên lửa ta nhìn thấy đối tượng chính mà tiêu diệt (Chú thích: Trong 12 ngày đêm, phi công ta với nhiều lần xuất kích, đã 8 lần phá vỡ, làm rối loạn đội hình của máy bay tiêm kích địch.).
        
        Bộ Tổng Tham mưu đánh giá trong chiến dịch này, bộ đội không quân ta rất tài giỏi, đã góp phần rất tích cực vào chiến thắng rực rỡ "Điện Biên Phủ trên không".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:05:00 PM
       
        Câu hỏi 10: Trong cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm 1972, giặc Mỹ chủ yếu dùng máy bay B52, ném bom ở độ cao 10 ngàn mét. Vậy bộ đội cao xạ của ta đã chiến đấu như thế nào
       
        Đáp: Bộ đội cao xạ ra đời rất sớm, từ hồi kháng chiến chống Pháp, đã lập chiến công vẻ vang trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 (Chú thích: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội cao xạ bắn rơi 62 máy bay Pháp, hầu hết của Mỹ giúp Pháp, góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến dịch.). Sang thời kỳ chống Mỹ, bộ đội cao xạ đã đóng vai trò nòng cốt trong toàn bộ lực lượng phòng không - không quân. Nhờ ở tính chất gọn nhẹ, cơ động linh hoạt, hiệu suất chiến đấu cao, bộ đội cao xạ đã được phát triển rất nhanh, có mặt ở khắp các chiến trường, trên mọi miền đất nước (cả Bắc và Nam) và lập thành tích xuất sắc.
       
        Chỉ riêng trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bộ đội cao xạ đã hạ 3.073 máy bay các loại, trên tổng số 4.181 chiếc bị bắn rơi trên miền Bắc, chiếm tỷ lệ 73%.
       
        Mắc Ga-vơn, thượng nghị sĩ Mỹ, đã từng cay đắng thú nhận: "Chúng ta đã chịu tổn thất nhiều phi công lành nghề và máy bay hiện đại ở Bắc Việt Nam. Có trận không lực Mỹ đã bị pháo phòng không đối phương bắn hạ cùng một lúc 3 chiếc máy bay đắt tiền cùng 3 phi công loại giỏi để chỉ đổi lấy một chiếc cầu nhỏ bé".
       
        Có thể đưa ra đây một thí dụ để chứng minh lời nói trên đây của ông nghị Mắc Ga-vơn : trưa ngày 17 tháng 10 năm 1967, chỉ trong 5 phút, 5 đại đội pháo cao xạ 37 ly của Tiểu đoàn 18, thuộc Sư đoàn B65 ở Hà Bắc, đã bắn rơi 5 chiếc F105D của Mỹ (có 4 chiếc rơi tại chỗ) trong khi cầu Đáp Cầu vẫn được bảo vệ hoàn toàn nguyên vẹn.
       
        Tuy nhiên, trong cuộc đánh trả các đợt tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, khi mà "Tên lửa và Không quân đóng vai trò chủ yếu, Tên lửa là chủ yếu nhất", như Kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã xác định, thì bộ đội Cao xạ được giao nhiệm vụ: chủ yếu đánh máy bay chiến thuật, gồm các loại trinh sát hoặc ném bom, để trực tiếp bảo vệ những mục tiêu trọng yếu nhất.
       
        Sau đêm 20 tháng 12, theo chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng từ Tổng hành dinh, lực lượng cao xạ của Thủ đô chỉ để lại một trung đoàn để bảo vệ nội thành, còn lại hơn hai chục đại đội pháo đi tăng cường bảo vệ các trận địa tên lửa.
       
        Được trang bị nhiều loại súng, pháo khác nhau, từ súng máy 12,7 ly; 14,5 ly đến các cỡ pháo 20 ly, 23 ly, 37 ly, 57 ly, 85 ly và 100 ly (Chú thích: Pháo cao xạ 100 ly: có tầm bắn hiệu quả tới độ cao hơn 10.000 mét. được điều khiền bằng máy chỉ huy K6-19M và ra đa COH-9A khá hiện đại.) trong chiến dịch 12 ngày đêm, bộ đội Cao xạ của Quân chủng và các quân khu đã hình thành một mạng lưới tầm thấp rộng khắp, và cả tầm trung, có thể đánh địch từ mọi hướng, từ xa đến gần, ở các độ cao từ 10.000 mét trở xuống.
       
        Chính lưới lửa tầm thấp của cao xạ đã diệt 5 chiếc F111A, trên tổng số 48 chiếc được huy động, đạt tỷ lệ rất cao = 10% như trên đã nói. Còn lưới lửa tầm trung, tuy ít ỏi cũng đã góp phần đánh trả pháo đài bay.
       
        Tổng cộng thành tích chiến đấu 12 ngày đêm, các chiến sĩ súng máy và pháo cao xạ đã bắn rơi 39 máy bay trên tổng số 81 chiếc của toàn chiến dịch, chiếm tỉ lệ 48%, góp phần tích cực bảo vệ các trận địa tên lửa cùng các mục tiêu quan trọng của Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng. Đó là những con số hết sức có ý nghĩa.
       
        Rồi đây, dù trong chiến tranh ngày càng hiện đại với vũ khí công nghệ trình độ ngày càng cao, không quân địch vẫn không thể loại bỏ được thủ đoạn bay thấp tránh ra-đa, bao gồm cả máy bay trinh sát có người lái, không người lái, máy bay ném bom, máy bay lên thẳng, máy bay nhỏ tốc độ chậm và tên lửa hành trình.
       
        Vì vậy vai trò của bộ đội cao xạ, cũng như những bài học kinh nghiệm của lực lượng bắn máy bay tầm thấp trong chiến dịch 12 ngày đêm đối với nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Tổ quốc, hiện tại và tương lai vẫn còn nguyên giá trị.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:12:52 PM
         
MẤY VẤN ĐỀ CHỈ ĐẠO ĐÁNH B52!
       
        Câu hỏi 11: Dùng B52 ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng là âm mưu thầm kín của tổng thống Ních-xơn, là kế hoạch tuyệt mật của Mỹ. Ta có bị bất ngờ không? Sự chỉ đạo của các cấp chiến lược, chiến dịch? Vai trò của cơ quan Quân báo và bộ đội Ra-đa trong chiến dịch 12 ngày đêm ra sao
       
        Đáp:  a) Trước hết xét về chiến lược:
       
        Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ đầu năm 1968, đã từng đưa ra lời dự báo khi Người nói với Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài (Chú thích: Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (từ 10-1963 đến 8-1967), sau lên làm Tổng Tham mưu phó. Từ 1974, ông là Tổng Tham mưu phó phụ trách các quân, binh chủng trong lực lượng vũ trang.): "Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua"... "ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
       
        Tháng 6 năm 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Lê Quẩn, đã ra nghị quyết nhấn mạnh: "Đế quốc Mỹ đã trắng trợn gây lại chiến tranh phá hoại trên miền Bắc nước ta với mức độ quyết liệt hơn nhiều so với trước... nhân dân ta phải luôn luôn vững vàng, phải tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống” (Chú thích: Trích "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975", Bộ Quốc phòng -Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - Hà Nội, 1988.).
       
        Trước đó, vào ngày 5 tháng 4 năm 1972, khi tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra sôi sục, Quân ủy Trung ương (Chú thích: Quân ủy Trung ương: Cơ quan Đảng lãnh đạo cao nhất trong Quân đội ta, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư.) đã chỉ thị cho Quân chủng Phòng không -Không quân và các quân khu: "Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc". Cuối tháng 11 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại nhắc nhở, nhấn mạnh: "Đế quốc Mỹ có thể liều lĩnh dùng B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng".
       
        Ngày 24 tháng 11, Tổng Tham mưu trương Văn Tiến Dũng cùng các Tổng tham mưu phó Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài đã xuống thông qua và phê chuẩn Kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không - Không quân, một kế hoạch mang tầm vóc chiến dịch, một chiến dịch phòng không được tiến hành chủ yếu bằng lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, lấy Quân chủng Phòng không - Không quân làm nòng cốt.
       
        Sau khi ký duyệt, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh: "Phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị trước ngày 3 tháng 12 năm 1972". Sau đó, ông còn chỉ thị thêm: "Trước ngày Ních-xơn nhận chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng. Các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ... Phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B52 mà tiêu diệt".
       
        Có thể nói sử chỉ đạo của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, cùng tập thể cơ quan chiến lược của Quân đội ta, đối với Quân chủng Phòng không – không quân trong suốt quá trình chuẩn bị và cả trong chiến dịch 12 ngày đêm (mà trên đây chỉ là vài thí dụ) là hết sức nghiêm túc, chặt chẽ, đóng vai trò vô cùng quan trọng, tạo điều kiện cho Quân chủng Phòng không – không quân cũng như quân dân toàn miền Bắc đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ.
       
        Đầu tháng 12, trước khi xảy ra chiến dịch lịch sử, với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Lê Quẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - không quân, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày những nét chính về kế hoạch đánh B52, về công tác chuẩn bị của Quân chủng. Sau khi nghe báo cáo, Tổng Bí thư đánh giá cao nội dung bản kế hoạch, biểu dương Quân chủng đã tích cực đẩy mạnh công tác chuẩn bị chiến đấu, ông nhấn mạnh: "Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng đưa B52 ném bom Hà Nội. Quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng Phòng không - không quân, phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng".
       
        Như vậy là về phương diện chiến lược, Việt Nam đã không hề bị bất ngờ trước mưu kế thâm độc của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:17:20 PM
       
        b) Về mặt chiến dịch:
       
        Trên cơ sở những nhận định và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã sớm hoàn thành Bản kế hoạch chiến dịch đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tài liệu hướng dẫn về cách đánh B52. Theo đó, công tác chuẩn bị mọi mặt (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật) đã được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc điều chỉnh đội hình chiến đấu, triển khai sở chỉ huy dự bị các cấp, huấn luyện các kíp chiến đấu, công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm, công tác bảo đảm vũ khí, khí tài, bảo đảm cơ sở vật chất, song song với việc tổ chức kiểm tra đôn đốc hết sức chặt chẽ từ trên xuống dưới, đến từng trận địa, là những công việc quan trọng nhất, đều đã được cơ bản hoàn thành đúng thời gian quy định.
       
        Có một thành công quan trọng trong việc chống "ảo tưởng hòa bình" xin được nhắc đến. Vào giữa tháng 10 dù không được phổ biến rộng, nhưng những tin tức về một bản thỏa thuận ngừng bắn đang bị rò rỉ ra ngoài. Thủ thuật tung hỏa mù của mưu sĩ Kít-xinh-giơ không chỉ gây ảo giác rộng rãi ở Mỹ mà còn lan tỏa đến Việt Nam. Tiếp theo là việc Ních-xơn, Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, một thủ đoạn thâm độc của Mỹ, càng làm cho hình ảnh con chim bồ câu trắng tượng trưng cho hòa bình như đang bay lại gần hơn. Một số cán bộ cơ quan Nhà nước và đồng bào Hà Nội ở những nơi sơ tán, lẻ tẻ kéo nhau về. Đây đó người ta thì thầm to nhỏ: "Sắp sửa đình chiến rồi? Chiến tranh sắp kết thúc rồi?
       
        Những diễn biến nói trên phần nào đã tác động tới một bộ phận cán bộ chiến sĩ Phòng không - Không quân ta. Thêm nữa, theo chủ trương của cấp trên, một đơn vị tên lửa của Hà Nội được lệnh cho anh em thay nhau về phép để chuẩn bị "đi B" sẵn sàng đáp ứng với khả năng chuyển biến của tình hình mới, càng làm cho bụng dạ cán bộ chiến sĩ thêm băn khoăn.
       
        Tâm lý "xả hơi" bắt đầu chớm nở. Thế là "ảo tưởng hòa bình" đã len lỏi vào đội ngũ những người cầm súng. Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân quyết nghị: tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị ngắn trong toàn lực lượng. Chính ủy Hoàng Phương và Phó chính ủy Nguyễn Xuân Mậu trực tiếp chỉ đạo đợt sinh hoạt chính trị quan trọng này. Tư lệnh Lê Văn Tri cũng đã phát biểu với cán bộ: "Trong bước đường cùng, thế nào Mỹ cũng đưa B52 ném bom Hà Nội. Chúng sẽ không bao giờ chịu thua một khi chúng chưa tung hết con bài cuối cùng là B52. Chúng ta phải chuẩn bị thật sẵn sàng".
       
        Sau đợt sinh hoạt chính trị ấy, cán bộ chiến sĩ đã hiểu rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù và nhận thức đầy đủ hơn về tình hình nhiệm vụ. Toàn Quân chủng, từ trên xuống dưới thống nhất một quyết tâm: "Cảnh giác cao nhất! Sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu tàn bạo của đế quốc Mỹ".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:23:11 PM
        Có người lại hỏi thêm: "Ta không bị bất ngờ về chiến lược và chiến dịch, nhưng về cái thời điểm B52 Mỹ từ Gu-am và U-ta-pao bay đến Hà Nội đêm 18 tháng 12, ta có bị bất ngờ không? Vai trò của bộ đội ra-đa và cơ quan Quân báo như thế nào"
        

        Trước khi trả lời câu hỏi trên đây, xin được nhắc lại một vài sự kiện đặc biệt của quá khứ:
        
        - Ngày 7 tháng 12 năm 1941 , quân đội Nhật Hoàng đã giáng cho quân đội Mỹ một đòn khủng khiếp ở cảng Trân Châu, "một tiếng sét giữa trời quang", trận thất bại nặng nề nhất của quân đội Mỹ trong thế chiến lần thứ hai. 5 trạm ra-đa của quân đội Mỹ đã hoàn toàn bị bất ngờ trước sự xuất hiện của 6 hàng không mẫu hạm, cùng 183 máy bay các loại của quân đội Nhật. Kết quả là 188 máy bay Mỹ bị diệt, 13 tàu chiến bị loại khỏi vòng chiến đấu, gần 2.000 binh lính và sĩ quan Hoa Kỳ chết.
        
        - Ngược lại, trong hai ngày 6 và 8 tháng 8 năm 1945, các trạm ra-đa của nước Nhật lại để lọt 2 chiếc pháo đài bay B29 của Mỹ, để chúng bay vào gieo thảm họa nguyên tử xuống đầu nhân dân hai thành phố Hi-rô-si ma và Na-ga-da-ki, khi mà nước Nhật đã đứng trên bờ vực thẳm của chiến bại.
        
        - Quân đội Ai Cập ngày 5 tháng 6 năm 1967 cũng bị choáng váng trước sự tiến công ào ạt của hàng trăm máy bay Ít-xra-en trong cuộc tập kích mang tên Focus. Ra-đa Ai Cập không phát hiện được kẻ thù xâm nhập vùng trời đất nước. Hệ thống sân bay và trận địa tên lửa phòng không Ai Cập bị tê hệt. 300 chiếc MIG21, MIG19, TU 16... bị phá hủy trên sân bay, 25 trạm ra-đa bị xóa sổ.
        
        - Còn đối với ta, trong đêm 18 tháng 12, khi hàng đàn B52 bay vào Hà Nội, quân dân miền Bắc đã không bị bất ngờ, sớm phát hiện địch từ xa và đã chủ động đánh địch ngay từ đầu.
        
        c) Vậy dựa trên cơ sở nào chúng ta phán đoán được thời điểm không quân chiến lược Mỹ mở đầu đợt tập kích là đêm 18 tháng 12 năm 1972?
        
        Quân đội Mỹ dù hiện đại đến đâu, dù tổ chức chặt chẽ đến mấy, cũng không sao tránh khỏi những sơ hở và lộ liễu. Công tác nắm địch của ta (cơ quan Quân báo của Bộ và của Quân chủng) đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc nghiên cứu, phát hiện những triệu chứng, những nguồn tin từ đối phương. Thí dụ ngày 16, ta nắm được tin hai tàu sân bay Enterprise và Saratoga đang tiến vào Biển Đông, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên 6 chiếc (con số cao nhất từ trước đến nay); nhiều máy bay tiếp dầu trên không KC135 cũng đang được bổ sung đến Phi-lip-pin. Rồi lại có tin Lầu Năm Góc đã cho thành lập cấp tốc một cơ quan chỉ huy để điều khiển chung hai căn cứ không quân chiến lược ở Gu-am và U-ta-pao.
        
        Phân tích những thông tin trên, cán bộ quân báo của ta đã đi đến nhận định: "Sắp đánh lớn đến nơi rồi. Việc B52 đánh vào Hà Nội chỉ còn là ngày một ngày hai nữa thôi?" Vấn đề còn lại là làm sao phán đoán được chính xác ngày nào chúng sẽ bắt đầu hành động.
        
        Lại phải tiếp tục theo dõi tình hình trong ngày 18 tháng 12:
        
        Buổi sáng: lúc 5 giờ, tàu sân bay America neo đậu ở đông Đà Nẵng điện hỏi cấp trên: "Trực thăng hôm nay làm nhiệm vụ cấp cứu ở đâu?"
        
        Buổi trưa: vào lúc 10 giờ 15 và 11 giờ 46 phút, 2 máy bay không người lái bay thấp vào trinh sát Hà Nội, Hải Phòng.
        Một máy bay trinh sát khác (RF4C) khi bay qua Hà Nội, điện về căn cứ: "Thời tiết Hà Nội bảo đảm cho không quân hoạt động
        
        Buổi chiều:
        
        Bộ Tổng Tham mưu thông báo cho Quân chủng tin kỹ thuật (Chú thích: Tin kỹ thuật là tin khai thác được thông qua nghiệp vụ kỹ thuật, do cơ quan Tình báo của Bộ Tổng Tham mưu tổng hợp từ nhiều nguồn tin khác nhau. (Tuy biết B52 cất cánh, nhưng chưa biết mục tiêu tiến công của chúng): "32 chiếc B52 đã cất cánh từ Gu-am, lúc 12 giờ". Trực ban Binh chủng Ra-đa tổng hợp tình hình trong ngày, báo cáo với Phó tư lệnh, Trực chỉ huy Quân chủng Nguyễn Quang Bích: "Hôm nay hoạt động của không quân địch giảm đột ngột". Trừ 3 máy bay trinh sát qua Hà Nội, Hải Phòng, không phận bắc vĩ tuyến 20 hoàn toàn yên tĩnh. Từ vĩ tuyến 20 trở vào không có tốp máy bay nào trên bản đồ đánh dấu đường bay, ngoài 2 tốp B52 hoạt động bên kia tây Trường Sơn. Ra-đa toàn binh chủng không có máy nào bị nhiễu quấy phá".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:32:09 PM
         Ngay sau đó, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp dưới sự chủ trì của Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Hoàng Phương. Tư lệnh Lê Văn Tri nhận định? "Hoạt động của không quân địch giảm đột ngột là dấu hiệu không bình thường. Tổng hợp các nguồn tin trong ngày, chúng ta có thể khẳng định: Đêm nay địch sẽ đánh lớn vào Hà Nội. Có khả năng B52 sẽ đánh từ chập tối”.
       
        Cuối buổi họp ngắn gọn ấy, Bí thư Hoàng Phương kết luận, "Thường vụ Đảng ủy hoàn toàn nhất trí với nhận định của đồng chí Tư lệnh. Cuộc chiến đấu đêm nay sẽ rất quyết liệt. Phải động viên bộ đội kiên cường chiến đấu quyết tâm bắn rơi B52 Mỹ ngay từ trận đầu...".
       
        Trở về phòng Sở chỉ huy, Phó tư lệnh Nguyễn Quang Bích, gọi điện thông báo cho các sư đoàn, binh chủng nhận định của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh, chỉ thị những việc phải làm. Sau đó, ông nhắc thêm trực chỉ huy Binh chủng Ra đa: "Bộ đội Ra-đa phải quản lý không phận thật chặt, quyết không để lọt mục tiêu, nhất là hướng tây bắc!".
       
        Thời điểm B52 tiến công Hà Nội như vậy đã được Quân chủng Phòng không - Không quân khẳng định rõ là; đêm nay, 18 tháng 12. Tình hình tối hôm ấy diễn biến như sau:
       
        - 18 giờ: sau một ngày hoàn toàn yên tĩnh, các đài ra-đa cảnh giới của ta bỗng đồng loạt thông báo có hiện tượng nhiễu với cường độ ngày càng tăng. Hiện tượng này dự báo cho biết sắp có một đợt hoạt động lớn của không quân địch.
       
        - 18 giờ 15 phút: tổng trạm ra-đa nhận được thông báo vượt cấp của đại đội 37: có những tốp F111 xuất hiện trên vùng trời phía bắc Sầm Nưa.
       
        - 18 giờ 30 phút: từ hai hướng tây bắc và đông bắc Bắc bộ bắt đầu có nhiễu ngoài đội hình của máy bay EB66.
       
        - 18 giờ 50 phút: bộ đội phòng không – không quân được lệnh chuyển vào cấp một, cấp sẵn sàng chiến đấu cao nhất.
       
        Tại Sở chỉ huy Quân chủng, Tư lệnh Lê Văn Tri, Chính ủy Hoàng Phương, các Phó tư lệnh Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Quang Bích, cùng kíp trực ban gồm: Tham mưu phó Vũ Xuân Vinh, Trưởng phòng Tác chiến Lê Thanh Cảnh, Trưởng phòng Quân báo Lê Tư, Trưởng phòng Thông tin Nguyễn Tân, Trưởng phòng Cao xạ Đinh Nhẫn, Trực ban khí tượng Đoàn Văn Quảng, Trực ban trưởng Sở chỉ huy Nguyễn Bắc, cùng tất cả sĩ quan trực ban của các cục Chính trị, Kỹ thuật, Hậu cần đều có mặt đầy đủ
       
        Tại Sở chỉ huy Binh chủng Không quân, Tư lệnh Đào Đình Luyện, Phó Tư lệnh Trần Mạnh, và ở Sở chỉ huy Binh chủng Ra đa, Tư lệnh Bùi Đình Cường, Tham mưu phó Hứa Mạnh Tài cũng đều sẵn sàng ở vị trí chỉ huy.
       
        - 19 giờ: Đại đội 16 ra-đa phát hiện có nhiễu B52. Kíp trắc thủ đã kịp thời thông báo những tọa độ đầu tiên của kẻ thù khi nó đang bay lên phía Thượng Lào (Chú thích: Những tốp B52 từ Gu-am, khi đến đông nam Đà Nẵng được hệ thống dẫn đường LORAN đặt ở bán đảo Sơn Trà hướng dẫn bay tiếp sang vùng trời nước Lào để vào Bắc Việt Nam.).
       
        Vài phút sau, từ Sở chỉ huy quân chủng, tín hiệu "333”, tín hiệu báo động B52 cho toàn thể lực lượng Phòng không - Không quân, được bàn tay các báo vụ viên phát đi trên làn sóng điện.
       
        - 19 giờ 15 phút: ở Đại đội 45 ra-đa, bằng một sự khẳng định hết sức dũng cảm, dứt khoát và đầy trách nhiệm, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích báo cáo với Đại đội trưởng phán đoán của mình: "B52 đang bay vào Hà Nội" (Chú thích: Nhớ lại trưa ngày 16-4-1972, ra-đa ta hoang báo: "B52 bay vào Hà Nội", một sai lầm tai hại, khiến bộ đội ra-đa từ đó hết sức lo lắng, đắn đo mỗi lần thông báo về B52.). Nhận được thông báo của Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần, Trung đoàn trưởng Trung đoàn H91 ra-đa Đỗ Văn Năm, sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, đã nhanh chóng báo cáo về Trung tâm tin tức cực kỳ hệ trọng đó. Với sự cẩn trọng cao nhất, Tham mưu phó Binh chủng Ra-đa Hứa Mạnh Tài lập tức liên lạc thẳng với Đại đội 45, trực tiếp hỏi lại Đài trưởng Nghiêm Đình Tích. Sau khi bảo đảm chắc chắn rằng B52 đang bay vào Hà Nội, Tham mưu phó Hứa Mạnh Tài liền báo cáo lên Bộ Tư lệnh Quân chủng. Quân chủng báo cáo lên Tổng hành dinh. Cục Tác chiến phát lệnh báo động cho Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
       
        Ở trên độ cao hơn 3 vạn phút (Chú thích: Phút (foot): đơn vị đo chiều dài của Anh, Mỹ. Một phút bằng 0,3048 mét. Ba vạn phút bằng 9.144 mét.) hàng đàn pháo đài bay B52 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, như những bầy thú dữ, xé màn đêm bay vào Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:46:29 PM
         Tại Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không B61, trực chỉ huy Nguyễn Đình Sơn giao nhiệm vụ chiến đấu cho từng đơn vị. Các trung đoàn trưởng tên lửa, cao xạ đã nhận đủ mệnh lệnh của sư đoàn. Tất cả những bệ phóng, những nòng pháo đang quay về hướng địch.
       
        Giống như một chiếc bẫy đã gài, một dây cung đang chờ bật, quân dân toàn miền Bắc đã sẵn sàng. Cán bộ chiến sĩ toàn Quân chủng Phòng không – Không quân đã sẵn sàng!
       
        19 giờ 44 phút, quả đạn tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78, thuộc Trung đoàn H57, do Nguyễn Chấn làm Tiểu đoàn trưởng, rời bệ phóng, mở đầu cuộc "nghênh tiếp dữ dội" (violent welcome) trên bầu trời Thủ đô "Thăng Long". Hàng loạt những "con rồng lửa" tiếp theo của các tiểu đoàn 57, 59, 73, 94 bay vút lên trời, cùng những chiếc MIG 21, trước đó đã rời đường băng, lao vào đội hình pháo đài bay giặc.
       
        Đó là câu trả lời đanh thép của quân dân ta giáng trả hành động tráo trở, tàn bạo của Mỹ, là bức thông điệp viết bằng ý chí bất khuất của nhân dân ta đáp lại bức công hàm láo xược kiểu "tối hậu thư (ultimatum) của Chính phủ Hoa Kỳ gửi Chính phủ ta chiều 18 tháng 12 (Chú thích: Bức công hàm được trao cho ông Võ Văn Sung, Tổng đại diện Chính phủ ta tại Pháp. Nội dung đặt điều kiện: "Nếu Bắc Việt Nam không chịu đàm phán nghiêm chỉnh, thì trong vòng 72 giờ nữa, Mỹ sẽ ném bom trở lại bắc vĩ tuyến 20".). Nó thể hiện khí phách anh hùng của dân tộc Việt Nam quyết không chịu đầu hàng trước bất cứ kẻ thù hung bạo nào.
       
        - 20 giờ 13 phút, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thăng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 59, thuộc Trung đoàn H61, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đã ấn nút phóng đưa quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm, lao trúng đích, hạ tại chỗ chiếc B52G, xuất phát từ căn cứ Gu-am, rơi xuống cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay thuộc huyện Sóc Sơn - Hà Nội). Đây là chiếc B52 bị hạ tại chỗ đầu tiên trên đất nước ta, cũng là chiếc B52 bị bắn rơi và rơi tại chỗ đầu tiên của chiến dịch, là chiến công đầu xuất sắc của quân dân Thủ đô (Chú thích: Trên thế giới cho đến nay, ngoài Việt Nam chưa có nước nào hạ được B52 của Mỹ.).
       
        Đêm hôm ấy, quân dân ta lập chiến công vang dội, bắn rơi 3 pháo đài bay Mỹ (Chú thích: Theo tin UPL (Mỹ) và BBC (Anh) phát lúc 6 giờ 30 phút sáng 19 tháng 12, ngoài 2 chiếc B52 rơi tại chỗ, còn 1 chiếc bị thương nặng về rơi ở biên giới Thái - Lào.).
       
        Nhà Trắng và Lầu Năm Góc sững sờ, choáng váng. Quân dân miền Bắc đã hoàn toàn giành thế chủ động. Hà Nội của chúng ta đã không bị bất ngờ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:49:56 PM
       
        Câu hỏi 12: B52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng từ hướng nào tới là ý đồ bí mật của Bộ chỉ huy Mỹ. Làm sao ta phán đoán đúng hướng tiến công của chúng để từ đó bố trí đội hình chiến đấu thích hợp
       
        Đáp: Trong cuộc đối đầu giữa Việt Nam và Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng, rõ ràng không quân Mỹ ở thế chủ động tiến công, còn ta thì ở thế phòng thủ thụ dộng. Chúng ta không biết trước được kế hoạch của địch sẽ đánh mục tiêu nào, vào giờ nào, từ hướng nào tới? Hơn nữa, có người còn cho rằng cả bốn phương tám hướng trên trời, máy bay địch có thể bay đến bất kể từ hướng nào cũng được.
       
        Thực ra không phải hoàn toàn như thế. Mặc dầu không quân địch chủ động đánh ta, nhưng trong thế chủ động của nó bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố bị động bên trong. Nếu ta không thụ động bó tay và biết khai thác, lợi dụng những chỗ yếu ấy, chắc chắn sẽ tìm ra được cách chống lại.
       
        Trải qua những năm tháng chiến đấu với không quân Mỹ, chúng ta thấy rằng trước mỗi trận đánh, bao giờ địch cũng cho máy bay vào trinh sát, như trinh sát mục tiêu tiến công, tìm hiểu sự bày binh bố trận của đối phương, nghiên cứu hướng đột nhập, thăm dò khí tượng...Phân tích những đường bay của máy bay trinh sát, chúng ta có thể sơ bộ phán đoán được hướng bay vào của đợt tập kích sắp tới. Đương nhiên là ta vẫn phải cảnh giác với thủ đoạn nghi binh đánh lừa của chúng.
       
        Thêm nữa, dù bay ở trên trời không có vật gì cản trở, nhưng không quân địch vẫn phải dựa vào địa hình, địa vật bên dưới, như một dãy núi, một ngã ba sông...là những địa vật mà sóng phản xạ của ra-đa quan sát địa hình trên máy bay dễ phân biệt nhất, đề làm điểm kiểm tra.
       
        Từ đó, chúng ta đã phán đoán được các hướng tiến công chủ yếu của B52 đối với Hà Nội và đối với Hải Phòng.

        Thực tế diễn ra trong 12 ngày đêm cho thấy sự phán đoán của Quân chủng Phòng không - Không quân đã đạt mức độ chính xác rất cao.
       
        Không quân chiến lược Mỹ đã bị thua đau trước hỏa lực tập trung và đúng hướng của bộ đội Phòng không - Không quân ta. Nếu chúng ta phán đoán sai, khiến cho việc bày binh bố trận không hợp lý thì chắc chắn không thể đạt được chiến công to lớn như thế.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 09:28:06 AM
       
        Câu hỏi 13: Điều gì quyết định nhất buộc tổng thống Mỹ Ních-xơn phải chịu thua trong chiến dịch ném bom Hà Nội
       
        Đáp: Để trả lời chính xác câu hỏi nêu trên, thiết nghĩ nên đưa ra lời tự thú của chính Tổng thống Ních-xơn viết trong cuốn hồi ký của ông ta: "Nỗi lo sợ của tôi trong những ngày này không phải là do những làn sóng phản đối và phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là ở mức độ tổn thất về máy bay B52 quá nặng nề”.
       
        Khi cho tiến hành cuộc "hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II”, Ních-xơn tin tưởng một cách chắc chắn rằng bầy quái vật của ông sẽ nuốt chửng Hà Nội. Ngay một số báo chí Mỹ, lúc cuộc tiến công mới bắt đầu cũng đã vội vã tung tin và phác họa nên một bức tranh hãi hùng: "Hà Nội sẽ là một khu vực chết", "Những ai may mắn còn lại sau trận bom hủy diệt thì đó là những kẻ sống sót (survivor)". Họ còn lên tiếng hăm dọa: "Những nhà lãnh đạo Bắc Việt sẽ phải đứng trước một bản án nghiêm khắc dành cho kẻ chiến bại", "Hà Nội sẽ không còn cách lựa chọn nào khác là phải chấp nhận các yêu cầu của Mỹ".
       
        Thế nhưng, chiến dịch ném bom tàn bạo do Ních-xơn phát động đã phải trả giá với con số tổn thất về B52 ngoài sức tưởng tượng của ông ta: 34 máy bay chiến lược đã bị bắn rơi trên tổng số 193 chiếc được huy động, cùng 47 máy bay chiến thuật bị hạ.
       
        Nhà Trắng và Lầu Năm Góc nhiều phen chết lặng đi vì khủng khiếp trước con số máy bay bị bắn rơi quá nhiều. Nhưng tình hình lại càng tồi tệ hơn đối với Mỹ, bởi lẽ ngoài những chiếc B52 có đi không về, còn bao nhiêu chiếc nữa bị thương nặng phải nằm liệt nhiều ngày để sửa chữa, thậm chí có những chiếc không thể phục hồi (Chú thích: Theo Đơ-rên-cao-xki (Drenkowski) viết trong tạp chí "Không quân Mỹ" số 7-1987: Có 9 B52 về được U-ta-pao nhưng do hỏng nặng, cả 9 chiếc không còn bay được nữa.). Nền công nghiệp quân sự Hoa Kỳ, dù mạnh đến đâu cũng không sao sản xuất kịp để bù lại nổi trong thời gian ngắn.
       
        Ngoài ra, đi đôi với tổn thất về máy bay, phía Mỹ còn chịu thêm tổn thất về người lái. Trong quân đội, người lái máy bay được coi là sinh lực cao cấp. Để đào tạo được một phi công, đặc biệt là phi công máy bay chiến lược B52, phi công F111, loại lính "con cưng", phải tốn khá nhiều năm tháng và bạc tiền. Chỉ hơn 10 ngày, không quân Hoa Kỳ đã có nhiều phi công bị bắt, chết và mất tích. Mỗi phi hành đoàn có 6 người. 1 B52 rơi là có 6 phi công phải nhảy dù hoặc chết theo máy bay.
       
        Thêm nữa, phần lớn những phi công bị chết và bị bắt ấy, đều là những phi công thuộc loại kỳ cựu, có giờ bay rất cao, có tên có hơn 6.000 giờ bay, la cái vốn hết sức quý của Mỹ. Các trường huấn luyện của không lực Hoa Kỳ dù tài giỏi đến mấy cũng không thể nào nặn ra đủ số phi công để bổ sung cho kịp.
       
        Thông thường trong chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỷ lệ tổn thất về máy bay của phe tiến công là khoảng một vài phần trăm. Thế mà trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng trong những đêm cuối năm 1972, tỷ lệ tổn thất về máy bay chiến lược Mỹ lên tới trên 17 phần trăm, một tỷ lệ có thể nói là khủng khiếp. Tổng thống Ních-xơn đã phải chịu thua và bỏ cuộc, phải gửi công hàm cho Chính phủ ta không phải với cái giọng trịch thượng, láo xược kiểu tối hậu thư như lần trước - mà với lời lẽ ôn hòa, đề nghị nối lại cuộc thương lượng ở Pa-ri, để cuối cùng phải chấp nhận những nhượng bộ cực kỳ cay đấng.
       
        Có người nói sở dĩ Ních-xơn chịu ngừng ném bom và ký hiệp định với những điều khoản có lợi cho Việt Nam chính là do phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ. Xin trả lời: Không hẳn là như vậy?


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 09:33:49 AM
        Vô cùng biết ơn sự đóng góp to lớn của bè bạn bốn biển năm châu trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ đã hết lòng ủng hộ nhân dân ta, bằng những cuộc xuống đường rầm rộ, những cuộc hội thảo và lên án gay gắt, bằng phong trào đốt thẻ quân dịch, trả thẻ quân dịch, từ chối đi lính sang Việt Nam, diễn ra ở hầu khắp các thành phố, các trường đại học và cao đẳng Mỹ (Chú thích: Trong đó có Clintơn (W.J Clinton) sinh viên khoa Luật trường Đại học Iân (Yale), về sau là Tổng thống Hoa Kỳ.).
       
        Người dân Mỹ không muốn con em họ tiếp tục chết, không muốn phải nai lưng đóng góp cho cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam nhiều hơn nữa.
       
        No-mơn Mo-ri-xơn (Norman Morrison), theo đạo Quây cơ (Quaker), người con dũng cảm của nước Mỹ văn minh, ngày 2 tháng 11 năm 1965 tự thiêu mình trước Lầu Năm Góc để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược, đã trở thành bất tử trong trái tim nhân dân Việt Nam (Chú thích: Còn có 15 công dân Mỹ khác tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam như cụ bà Hen-ga Héc-dơ (Helga Alice Hertz) tự thiêu ở Detroit, anh Rô giơ La Poóctơ (Roger Laporte) tự thiêu trước trụ sở Liên Hiệp Quốc, Chị Xilin Grancoxki...).
       
        Cám ơn mục sư Lu-thơ Kinh (Martin Luther King) (Chú thích: Lu-thơ Kinh đã bị kẻ thù ám hại.) nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng thế giới, người đứng hàng đầu trong phong trào phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
        Cám ơn ông Oan-tơ Líp-men (Walter Lippmann), nhà bình luận chính trị kỳ cựu Mỹ, đã mạnh mẽ phê phán: "Cuộc chiến tranh của Mỹ gây ra ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh mất lòng dân nhất trong lịch sử. Nó đã khiến cho lương tâm người Mỹ nổi giận".
       
        Chúng ta cũng rất biết ơn những phóng viên quả cảm như Đê-vít Hen-bớc-xtem (David Halberstam), Pi-tơ Ác nét (Peter Arnett), Xten-li Các-nâu (Stanley Karnou)), Nây Si-hen (Neil Sheehan )... từ chiến trường Việt Nam trở về đã viết những bài báo nóng bỏng tính thời sự, chân thực, tố cáo với nhân dân Mỹ và cả thế giới về cuộc chiến tranh ích kỷ, tàn bạo do nhà cầm quyền Mỹ gây ra ở Việt Nam.
       
        Cám ơn ông Đây-ni-en En-bớc (Daniel Ellsberg), một học giả nổi tiếng, với quyết định sáng suốt và táo bạo, đã "đánh cắp" bộ "Tài liệu mật của Lầu Năm Góc" (The Pentagon Papers) dày 7.000 trang và tung lên trên tờ "Nữu ước thời báo" (New York Times) để thông báo cho đồng bào ông và nhân dân thế giới thấy rõ bản chất phi đạo lý và triển vọng không lối thoát của cuộc chiến tranh này.
       
        Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên hình ảnh vô cùng xúc động của 34 chị em phụ nữ Mỹ đã tự trói mình, ngồi suốt một ngày 13 tháng 4 năm 1971 trước Nhà Trắng, cùng hình ảnh sôi động của một triệu người dân thủ đô Oa-sinh-tơn rầm rộ xuống đường ngày 2 tháng 5 năm ấy, thét vang những khẩu hiệu phản đối nhà cầm quyền Ních-xơn kéo dài cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
       
        Cám ơn tất cả các bạn sinh viên, thanh niên, phụ nữ, các ngài dân biểu, thượng nghị sĩ, các nhà báo, nhà văn, nhà luật học thuộc nhiều chính kiến, nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau trên đất nước Mỹ và trên khắp quả địa cầu đã góp phần thức tỉnh nhân dân Mỹ và phần lớn nhân loại, góp phần hạn chế hành động đẩy mạnh chiến tranh của chính phủ Hoa Kỳ.

        Tuy nhiên, yếu tố quyết định dập tắt cuồng vọng xâm lược trong những cái đầu "diều hâu" ở Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và trong Quốc hội Mỹ lại được định đoạt từ phía nhân dân ta, ngay trên chiến trường Việt Nam, từ chiến thắng oanh liệt Tết Mậu Thân năm 1968, đến các chiến thắng to lớn ở Đường 9 Nam Lào năm 1971, ở Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và cuối cùng là chiến thắng lẫy lừng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972.
       
        Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 22 tháng 12 năm 1972, khi đến thăm Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân, đã nói: "Đế quốc Mỹ dùng con bài B52 để ép ta, hòng bắt chúng ta phải khuất phục. Nhưng, các đồng chí đã dạy cho chúng một bài học đích đáng. Giờ đây chúng ta đang ép lại chúng nó. Chiến công của các đồng chí quý lắm! Có giá trị lắm!". Bác Đồng đã đặt một nụ hôn nồng ấm lên vầng trán đáng yêu của một nữ chiến sĩ thông tin, dường như qua đó gửi gắm tình cảm thân thiết của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đến với bộ đội phòng không - không quân anh hùng.
       
        Nửa đêm 29 tháng 12, mặc cho Bộ Tư lệnh Không quân chiến thuật đề nghị xin thêm thời gian để tiến hành phi vụ cuối cùng giải cứu mấy tên phi công Mỹ đang đánh tín hiệu cấp cứu giữa rừng già Tây Bắc, nhưng Ních-xơn vẫn ra lệnh chấm dứt cuộc oanh kích và hôm sau, lúc 7 giờ 30 phút sáng, ông ta tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. "Một bước thụt lùi thảm hại" như báo chí phương Tây nhận xét, nấc thang cuối cùng dẫn tới việc Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc Việt Nam ngày 15 tháng 1 năm 1973, trước khi gục đầu chịu thua trên bàn thương lượng ở thủ đô nước Cộng hòa Pháp ngày 27 tháng 3 năm 1973.
       
        Rõ ràng con số tổn thất quá lớn về máy bay chiến lược B52 là lý do chính khiến người cầm đầu nước Mỹ phải chấp nhận thất bại. Sau đó là vụ Oa-tơ-ghết (Watergate) bẩn thỉu - đặt máy nghe lén điện thoại - như một đòn bồi tiếp chí mạng đã đưa Ních-xơn xuống "nấm mồ chính trị". Số phận hẩm hiu đã dành cho "bạo chúa" Ních-xơn bước đường cùng bi thảm nhất. Một ngôi sao sáng tắt ngỏm trên bầu trời nước Mỹ (Chú thích: sau khi về hưu, Ních-xơn đã sống trong chuỗi ngày nhục nhã và chết trong sự rẻ rúng, khinh miệt của người đời.) để lại một di sản xấu xa nhất trong lịch sử 200 năm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 09:40:38 AM
   
        Câu hỏi 14: Để đạt được chiến công tuyệt vời nói trên, có chăng một quyết tâm về "chỉ tiêu bắn rơi B52" ngay từ đầu trong kế hoạch tác chiến của ta? Kết quả thực hiện "chỉ tiêu" như thế nào
       
        Đáp: a) Chỉ tiêu về tỉ lệ bắn rơi B52:
       
        Thực tế là cho đến đầu năm 1972, trong những phương án đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không - Không quân, tuy đều đã có những yêu cầu về hiệu suất chiến đấu từng trận, từng ngày, nhưng chưa có điểm nào nói đến chỉ tiêu về tỷ lệ bắn rơi B52 chung cuộc.
       
        Người phát hiện ra thiếu sót đó lại chính là Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, trong những ngày Đại tướng trực tiếp làm việc với Trường phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không - Không quân Lê Thanh Cảnh (Chú thích: Đồng chí Lê Thanh Cảnh, người trực tiếp dự thảo bản kế hoạch đánh B52 của Quân chủng Phòng không - Không quân.), tại Đồ Sơn, giữa tháng 5 năm 1972. Một hôm, lúc đang nghe Lê Thanh Cảnh báo cáo toàn bộ công tác chuẩn bị đánh B52 của Quân chủng, đột nhiên Đại tướng hỏi; "Cậu cho mình biết tỉ lệ B52 bị bắn rơi: mức độ nào thì Mỹ chịu đựng được và tiếp tục cuộc ném bom, mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển; mức độ nào khiến Mỹ không chịu nổi, phải thua?”
       
        Lúc đó Lê Thanh Cảnh không thể trả lời. Trong cuốn hồi ký của anh về sau có đoạn ghi: "Khi nghe Đại tướng hỏi câu ấy, tôi như bị lạc vào chốn rừng sâu, bởi vì đó là điều mà tôi chưa hề nghĩ tới bao giờ".
       
        Phải mất hàng tuần lễ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Tham mưu trưởng Quân chủng phụ trách tên lửa Vũ Xuân Vinh, được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (Chú thích: Do Xô-kô-lốp chuyên gia bên cạnh Tham mưu trưởng Quân chủng Phòngkhông - Không quân chỉ đạo.), vật lộn với biết bao công thức toán học phức tạp cơ quan tác chiến Quân chủng đã tìm ra được 3 đáp số:
       
        - N1: (tỷ lệ mà Mỹ chịu được) bằng 1 đến 2 phần trăm.
       
        - N2: (tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển) bằng 6 đến 7 phần trăm.
       
        - N3: (tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc) bằng trên 10 phần trăm.
       
        Hôm sau, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri mang kết quả lên báo cáo với Tổng tư lệnh. Đại tướng hỏi:
       
        - Vậy Quân chủng nhận con số nào? Dường như đã dự kiến trước, Tư lệnh Lê Văn Tri thưa:
       
        - Báo cáo Đại tướng, bằng mọi cách chúng tôi phải loại trừ N1, quyết tâm phấn đấu đạt N2 và vươn tới N3.
       
        Hoan nghênh quyết tâm của Bộ Tư lệnh Quân chủng! Sau lời khích lệ, động viên, Đại tướng chỉ thị:
       
        Để thực hiện chỉ tiêu mong muốn, Quân chủng phải làm tốt hai việc: Khẩn trương hoàn thành kế hoạch đánh B52, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, để dựa vào đó mà hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Gấp rút hoàn chỉnh các tài liệu về cách đánh B52 để lấy đó mà huấn luyện cho bộ đội thật thành thạo (Chú thích:Những tư liệu trên đây rút từ sổ tay ghi chép của Đại tá Lê Thanh Cảnh, nguyên Trưởng phòng tác chiến Quân chủng Phòng không - Không quân.).
       
        Chấp hành chỉ thị của Tổng Tư lệnh và mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng Phòng không - không quân đã dồn mọi cố gắng, chạy đua với địch, chạy đua với thời gian và đã sớm hoàn thành mọi việc trước khi trận đánh bắt đầu (Chú thích:Được biết, trước đó Bộ Tổng Tham mưu cũng đã có "Phương án đánh B52" với tầm rộng lớn hơn, để chỉ đạo quân dân toàn miền Bắc)


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 09:44:08 AM
       
        b) Kết quả thực hiện "chỉ tiêu bắn rơi B52" trong chiến dịch 12 ngày đêm:
       
        Nhiều nhà nghiên cứu đã coi đây là một kết quả hết sức đáng ngạc nhiên:
       
        Ngay đêm đầu tiên (18 tháng 12) với chiến công bắn rơi 3 B52, chúng ta đã đạt tỉ lệ 3/193 (Chú thích:3/193: Tử số là số B52 rơi. Mẫu số là tổng số B52 được huy động trong chiến dịch 12 ngày đêm) tức 1,1%.
       
        Sang đêm thứ hai (19 tháng 12), 2 B52 bị hạ, cộng cả 2 đêm là 5 chiếc, đạt tỉ lệ 5/193, tức 2,6% (có nghĩa là chúng ta đã loại trừ N1).
       
        Đêm thứ ba (20 tháng 12) 7 B52 bị bắn rơi (Chú thích:Đêm 20-12, Hà Nội phóng 35 đạn tên lửa, diệt 7 B52, đạt xác suất cao: "5viên đạn, 1 quân thù". Đêm 21 tháng 12, 24 B52 đánh Hà Nội, tên lửa hạ 3 chiếc, đạt hiệu suất kỷ lục: 3/24 tức 12,5%). Cộng 3 đêm là 12 chiếc, đạt tỉ lệ 12/193, tức 6,2%. Mới 3 đêm chúng ta đã "đạt N2".
       
        Từ căn cứ Óp-phớt (Offut) bên kia Thái Bình Dương, tướng Giôn Ma-yơ (John Meyer) Tư lệnh Không quân chiến lược Mỹ, cuống lên vì B52 rơi quá nhiều đã gọi điện sang Thái Lan cho tướng Vốt (John Vogt) chỉ huy lực lượng hợp nhất của hai căn cứ Gu-am và U-ta-pao, thúc giục: "Trời ơi! Phải làm một cái gì đó để chấm dứt tình trạng này đi chứ?" (Chú thích:Jerrold L.Schecter và Nguyễn Tiến Hưng: Từ Tòa Bạch ốc đến Dinh Độc Lập, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh, 1995.).
       
        Chắc chắn giờ đây "Nhà Trắng đang rung chuyển".
       
        Đêm thứ chín (26 tháng 12), 8 B52 bị hạ, nâng tổng số lên 26 chiếc, đạt tỉ lệ 26/193 tức 13,5%. Thế là chúng ta đã "vượt N3".
       
        Đến đêm cuối cùng (29 tháng 12), tổng số B52 bị hạ lên tới 34 chiếc, đạt tỉ lệ 34/193, tức 17,6%. Chỉ tiêu N3 bị bỏ xa.
        Nửa đêm hôm ấy Ních-xơn chấp nhận thua cuộc và ra lệnh chấm dứt cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II.
       
        Như vậy là bằng sự nỗ lực phi thường, quân dân miền Bắc, mà nòng cốt là Quân chủng Phòng không -Không quân, đã liên tiếp lập công, liên tiếp phấn đấu đạt và vượt mức chỉ tiêu. Số lượng B52 bị bắn rơi tăng lên vùn vụt, một sự gia tăng đáng sợ về tốc độ tiêu diệt máy bay chiến lược, khiến báo chí Mỹ và phương Tây phải kêu lên:
       
        - "Những pháo đài bay Mỹ giống như những giàn hỏa thiêu, cháy sáng rực trời Hà Nội" (báo Sao và Sọc (Stars and Stripes) - Mỹ).
       
        - "Với tốc độ này, chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ không còn B52 ở Đông Nam Á để tiếp tục cuộc chiến đấu”, (báo Lực lượng vũ trang (Armed Forces) - Mỹ).
       
        - "Với mức độ thiệt hại như vừa qua thì chẳng cần là một thiên tài toán học cũng thấy ngay rằng: rút cuộc Mỹ sẽ mất hết B52". (báo Tuần tin tức - Mỹ).
       
        - Hãng Roi-tơ (Reuters) Anh, ngay ngày 29 đã đưa tin: "Các nhà quan sát quân sự ở Oa-sinh-tơn ước tính rằng với mức độ 33 chiếc bị hạ trong vòng 10 ngày qua, thì chỉ 3 tháng nữa, B52 Mỹ sẽ bị tuyệt chủng.
       
        Tiến sĩ Ga-bri-en Kôn-câu (Gabriel Kolko), trong cuốn "Giải phẫu một cuộc chiến tranh" (Chú thích:Gabriel Kolko: Anatomy of a war, Nxb Pantheon Books. New York, 1985) viết: "Mỹ chính thức thừa nhận 15 B52 bị bắn rơi, nhưng một số nhân vật của Lầu Năm Góc lại thừa nhận không chính thức rằng tổng số B52 bị mất là gần bằng con số của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra. Ngay cả với con số mà Mỹ công bố thì tỉ lệ tổn thất về B52 gần 10% trong 10 ngày cũng đã là một con số quá cao, không thể nào chấp nhận được".
       
        Có người nói: những con số của Mỹ công bố bao giờ cũng chính xác cơ mà. Tôi cho đó là một ý kiến chủ quan. Trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, số lượng "Cộng quân" bị quân Mỹ và quân đồng minh tiêu diệt thường được tính bằng phương pháp "đếm xác" từ trên máy bay lên thẳng hoặc bằng cách đếm những vành tai người mà các lính Mỹ hoặc các chiến hữu của họ cắt được ở những người dân Việt Nam bị chúng giết. Việc đó đã từng làm cho thế giới ghê tởm và nghi ngờ về độ chính xác của những con số do người Mỹ đưa ra.
       
        Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam và trên "đường mòn Hồ Chí Minh", phía Mỹ cũng đã từng thổi phồng chiến tích của các phi công về số lần mục tiêu bị bom Mỹ phá hủy. Có mục tiêu bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Mỗi lần như vậy đều được máy bay trinh sát chụp ảnh và được tính là thành tích, kể cả những mục tiêu là trận địa pháo giả, tên lửa giả, ra-đa giả, xe vận tải giả, kho tàng giả... Mặt khác Mỹ lại tìm cách giảm bớt con số thiệt hại của không quân họ một cách quá lộ liễu, khiến ngay người Mỹ cũng phải nghi ngờ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 09:51:44 AM
        Giôn Van Đây-cơ (John M.Van Dayke) trong cuốn "Chiến lược vì sự sống còn của Bắc Việt" đã vạch trần thủ đoạn đó như sau: "Để đỡ mất uy tín, khi công bố, Mỹ đã cố tình giảm thiểu số máy bay rơi do bị vũ khí phòng không Bắc Việt bắn hạ, đồng thời gia tăng số lượng máy bay rơi bởi tai nạn và vì những lý do khác. Từ đó, người ta buộc phải đặt dấu hỏi là tại sao máy bay Mỹ lại kém an toàn và được quản lý tồi đến thế" (Chú thích:John M.Van Dayke: Norrh Vietnams Strategy for Survival, Pacific Books, California. 1972.).
       
        Trong chiến dịch 12 ngày đêm, như ông Kôn-câu đã dẫn chứng ở trên thì con số máy bay Mỹ bị bắn rơi do phía ta (Việt Nam Dân chủ cộng hòa) đưa ra, gồm 34 B52, với 47 máy bay chiến thuật, rõ ràng là những số liệu đáng tin cậy. Và đó mới thực sự là những con số kinh hoàng, làm đảo lộn mọi toan tính ngông cuồng của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, khiến cho Tổng thống Mỹ Ních-xơn không có con đường nào khác là phải chịu thua.
       
        Nhân đây xin nói rõ thêm về trận "đo ván" đêm 26 tháng 12: Bị tổn thất nặng nề trong đợt một, sau đêm Nô-en, Mỹ quyết tâm dốc sức tối đa vào cuộc chiến.
       
        Sau 36 giờ lấy cớ nghỉ Nô-en để chấn chỉnh lực lượng, Ních-xơn và các tướng lĩnh Lầu Năm Góc quyết định ra một đòn sấm sét, tập trung lực lượng, đánh thật mạnh, thật nhanh, đánh ào ạt từ nhiều hướng, vào nhiều mục tiêu trong một thời gian ngắn, hòng buộc Hà Nội phải "đo ván". Họ coi đây là một trận "cứu nguy”
       
        Báo "Sao và Sọc" của Mỹ bình luận: "chưa bao giờ có nhiều tấn bom như vậy được ném xuống một khu vực nhỏ hẹp như vậy, trong một thời gian ngắn như thế”.
       
        Báo "Không lực Hoa Kỳ (US Air Forces) dẫn lời một viên tướng Mỹ: "Chỉ trong vòng 15 phút, với 113 máy bay B52 và 220 máy bay chiến thuật (Chú thích:Con số của ta: đêm 26-12, Mỹ tung ra cùng một lúc 105 pháo đài bay, trong đó có 66 chiếc đánh Hà Nội, 21 chiếc đánh Thái Nguyên, 18 chiếc đánh Hải Phòng.), không quân Mỹ đã thực hiện một cuộc oanh tạc tập trung nhất trong lịch sử .
       
        Nhớ lại thời điểm cuối đại chiến thế giới lần thứ hai, ngày 24 tháng 5 năm 1945, Mỹ đã huy động 520 máy bay chiến lược B29 và ngày 2 tháng 8 huy động tới 855 chiếc B29 để hủy diệt Tô-ki-ô, thủ đô Nhật Bản. Tuy số lượng pháo đài bay Mỹ tiến công Tô-ki-ô rất lớn, nhưng thời gian kéo dài cả ngày đêm. Còn ở Hà Nội, Hải Phòng, số lượng máy bay chỉ có 113 chiếc B52 và 220 máy bay chiến thuật, nhưng trận oanh kích chỉ diễn ra trong 15 phút (thực tế là gần 1 giờ đồng hồ). Do đó việc coi đây là trận oanh tạc tập trung nhất trong lịch sử, như viên tướng Mỹ nói, là một nhận xét đúng sự thật.
       
        Đêm ấy, Mỹ muốn đánh gục Hà Nội bằng cố gắng cao nhất. Nhưng thật đắng cay cho Mỹ, đó lại là đêm Mỹ thua đau nhất: 8 B52 bị bắn hạ, trong đó có 4 chiếc rơi tại chỗ (Chú thích:Riêng Hà Nội bắn rơi 5 B52 (4 chiếc rơi tại chỗ đều là chiến công của tên lửa Hà Nội).). Đây là trận đánh mang tính quyết định, có giá trị như một cú "nốc ao" khiến cho chàng lực sĩ Hoa Kỳ khó lòng gượng dậy, để đến đêm 29 tháng 12 thì gục hẳn. Số phận cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II thực sự đã được định đoạt từ đêm 26 tháng 12 này.
       
        Có người hỏi tại sao Ních-xơn không đưa B52 từ những nơi khác đến để tiếp tục cuộc ném bom? Xin thưa:
       
        Ních xơn thừa hiểu ngoài Đông Nam Á, không quân Hoa Kỳ còn có 200 chiếc B52 nữa đang nằm tại các sân bay ở Mỹ và châu Âu, ông ta muốn điều lực lượng B52 từ những nơi đó đến Việt Nam lắm. Nhưng rõ ràng đây là một việc làm bất khả thi, vì chiến lược toàn cầu của Mỹ không cho phép. Như phần trên đã nói, B52 là một trong bộ ba vũ khí chiến lược của đế quốc Mỹ. Rút B52 từ Mỹ và châu Âu sang Đông Nam Á thì có khác gì Mỹ tự rút ruột mình, tạo thành một lỗ hổng trong cán cân chiến lược toàn cầu hết sức nguy hiểm. Do đó Ních-xơn đã không dám làm, kể cả sử dụng vũ khí hạt nhân (Chú thích:Đã có lúc vào ngày 21 tháng 4 năm 1972, Ních-xơn đã đặt vấn đề "sử dụng bom hạt nhân” ném xuống Hà Nội. Nhưng sau đó Ních-xơn phải từ bỏ mưu toan điên rồ ấy.) và cuối cùng đành phải quyết định chấm dứt ném bom (Chú thích:Về phía ta, sau đêm 26-12, hàng trăm quả đạn tên lửa từ Quân khu 4 đã được đưa ra tăng cường cho Hà Nội. Đến đêm 28 số lượng đạn SAM2 có thể nói là ở mức dồi dào).
       
        Không phải bỗng nhiên mà Cơn-oen, Tham mưu trưởng Không lực Mỹ đưa ra lời thú nhận: "Lực lượng phòng không của Bắc Việt là lực lượng đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà phi công Mỹ chưa bao giờ gặp phải".
       
        Báo Phơ-răng Phuốc (Frank Furt ) của Cộng hòa Liên bang Đức bình luận: "Các đơn vị phòng không của Bắc Việt đã làm cho các phi công của Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ khiếp vía kinh hồn".
       
        Kit-xinh-giơ, cố vấn số một của Ních-xơn, đồng tác giả của âm mưu đầy tội ác, cũng phải thú nhận: "Không lực Hoa Kỳ đã vấp phải một hệ thống phòng không có hiệu lực nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, với kỹ thuật hiện đại, chống lại được kỹ thuật hiện đại của Mỹ".
       
        Tu-lơ, Phó đô đốc Hải quân Mỹ, trước thất bại hiển nhiên của trận tập kích bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, đã phải thẳng thắn nói lên sự thật: "Sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ đã bị tê liệt (paralysed) trước sức mạnh kỳ lạ của người Bắc Việt Nam".
       
        Hồi giữa tháng 12 năm 1972, Hây-gơ (Alexander Haig), một viên tướng hung hăng, trợ lý an ninh của Tổng thống Mỹ, đã đưa ra một lời tuyên bố ngạo mạn: "Chỉ có một cú sốc ào ạt (a massive shock ) mới làm cho Bắc Việt Nam chấp nhận những điều dành cho kẻ chiến bại”. Nào ngờ kết quả lại không giống như mong muốn của Hây-gơ. Và chính tỷ lệ khủng khiếp về máy bay chiến lược bị Hà Nội bắn rơi mới là "cú sốc thật sự đối với Mỹ.
       
        Cũng qua đây, chúng ta thấy rõ việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân tìm ra 3 con số về tỷ lệ bắn rơi B52, để lấy đó làm chỉ tiêu phấn đấu, một nội dung chưa hề được đề cập tới trong các kế hoạch đánh B52, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trước đó, là một sự chỉ đạo thật sáng suốt, cũng như việc Quân chủng Phòng không -Không quân đã tổ chức chiến dịch phòng không, thắng lợi giòn giã, thực hiện vượt mức chỉ tiêu đề ra, là rất tài giỏi.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 09:58:48 AM
       
        Câu hỏi 15: Việc đánh B52 đã được Bác Hồ chỉ đạo từ rất sớm và được Bác thường xuyên quan tâm như thế nào
       
        Đáp: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ có tầm nhìn xa trông rộng, trên mọi lĩnh vực. Có người đã từng ca ngợi Hồ Chí Minh là "nhà tiên tri". Riêng trong việc chỉ đạo đánh B52 thì con mắt nhìn xa trông rộng của Bác quả là kỳ diệu.
       
        Ngay từ khi Đại tá Phùng Thế Tài vừa mới nhận chức Tư lệnh Bộ đội Phòng không (1962), Bác Hồ đã hỏi ông: "Chú đã biết gì về máy bay B52 chưa?", câu hỏi khiến Đại tá Phùng Thế Tài lúc ấy thật sự lúng túng, bởi vì ông chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ loại máy bay này.
       
        Nhớ lại hồi chống Pháp, trong một chuyến sang Liên Xô, Bác Hồ đã trực tiếp đề nghị Thống chế Xta-lin giúp cho Việt Nam một đơn vị pháo bắn máy bay. Hồi đó không quân Pháp làm chủ bầu trời Đông Dương, còn bộ đội ta thì chỉ có những khẩu súng trường, súng máy tầm thấp. Nhờ Liên Xô trang bị vũ khí và Trung Quốc giúp huấn luyện, một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly đầu tiên của Quân đội ta được thành lập, mang tên Trung đoàn B67, đơn vị đã lập công xuất sắc, bắn rơi nhiều máy bay địch (52 chiếc trên tổng số 62 chiếc bị bắn rơi) góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
       
        Bước sang thời kỳ đánh Mỹ, khi mà bộ đội phòng không chỉ mới có pháo cao xạ và ra-đa, chính Bác Hồ lại đặt vấn đề với Liên Xô chi viện cho Việt Nam vũ khí Tên lửa phòng không. Chính phủ Liên Xô lúc này do ông Cô-xi-ghin làm Thủ tướng. Một trung đoàn Tên lửa SAM2 đầu tiên ra đời, mang phiên hiệu Trung đoàn H36.
       
        Ngày 18 tháng 6 năm 1965, đế quốc Mỹ cho 30 chiếc B52 từ đảo Gu-am giữa Thái Bình Dương bay vào "rải thảm" khu căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát. Đây là lần đầu tiên B52 được sử dụng ở Việt Nam. Giặc Mỹ muốn dùng con ngáo ộp B52 để hăm dọa chúng ta.
       
        Nhưng chỉ một tháng sau, ngày 19 tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt nhân dân Việt Nam đã lên tiếng trả lời bọn xâm lược: "Dù đế quốc Mỹ lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay "Bê" gì đi nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà đã đánh là nhất định thắng!" Lời Bác thiêng liêng như lời sông núi. Ý nghĩa sâu sắc trong lời Bác gọi thấm sâu vào mọi trái tim của nhân dân Việt Nam.
       
        "Phải đánh thắng B52!" Mối quan tâm của Bác, cũng là nỗi lo canh cánh trong lòng của mỗi cán bộ Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.
       
        Ngày 24 tháng 7 năm ấy, Trung đoàn tên lửa H361 ra quân đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F4C Mỹ trên bầu trời Hà Tây. Hôm sau lại hạ tại chỗ thêm 1 máy bay trinh sát không người lái BQM34A ở độ cao 19 ki-lô-mét.
       
        Bộ Tư lệnh Quân chủng hết sức vui mừng vì đây là hai chiến công đầu xuất sắc của bộ đội tên lửa Việt Nam. Ngoài ra nó còn mang ý nghĩa đặc biệt: Khả năng tên lửa Việt Nam trị được B52 Mỹ đã ở trong tầm tay. Chiếc LBQM34A bị hạ ở độ cao 19 ki-lô-mét, trong khi độ cao ném bom tối đa của B52 chỉ đạt tới 17 ki-lô-mét và độ cao ném bom hiệu quả chỉ có từ 9 đến 11 ki-lô-mét.
       
        Bác Hồ đã gửi thư khen quân dân Hà Tây đánh giỏi. Hai tiểu đoàn tên lửa trực tiếp lập công (Tiểu đoàn 63 và 64) được Chủ tịch nước ký quyết định tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng ba.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:02:38 AM
         Ngày 12 tháng 4 năm 1966, Mỹ lại cho 9 chiếc B52, cũng từ đảo Gu-am đến ném bom đèo Mụ Gịa, miền tây tỉnh Quảng Bình. Ít lâu sau, B52 đánh rộng đến Vĩnh Linh, phía bắc giới tuyến 17 với mức độ ngày càng dữ dội. Đại tá Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân được mời lên gặp Bác. Bác dặn: "Máy bay B52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú Phòng không - Không quân".
       
        Thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, Quân chủng Phòng không - Không quân đề nghị Bộ Tổng Tham mưu cho đưa một trung đoàn tên lửa vào Vĩnh Linh, nơi B52 Mỹ ngày đêm gieo tội ác. Ý kiến đó được Bác rất hoan nghênh. Bác nói với Tư lệnh Quân chủng: "Các chú muốn bắt cọp phải vào hang".
       
        Vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, qua nhiều tháng kiên trì "tàng hình rình mồi” (Chú thích:tàng hình rình mồi: ngụy trang thật kín đáo để phục kích đánh B52.) giữa đất thép Vĩnh Linh, Trung đoàn tên lửa SAM2 mang tên H38 đã bắn rơi được chiếc B52 đầu tiên ngày 17 tháng 9 năm 1967.
       
        Tin vui bay về Hà Nội. Bác liền viết thư khen đồng bào, chiến sĩ Vĩnh Linh bắn rơi B52 Mỹ. Tiểu đoàn 84 của Trung đoàn H38 được Bác tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì.
       
        Vào một buổi tối mùa xuân năm 1968, tại ngôi nhà sàn, Bác Hồ lại nói với đồng chí Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo như đã nói ở phần trên: "Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội” .
       
        Nhìn vẻ mặt trầm ngâm của Bác, đồng chí Phùng Thế Tài thầm đoán có lẽ trong giây phút này Bác Hồ đang nghĩ tới cảnh Hà Nội, Hải Phòng sẽ bị máy bay Mỹ tàn phá và khả năng quân dân ta sẽ đánh thắng không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Thủ đô.
       
        Một bản kế hoạch mang tên "Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng" của Quân chủng Phòng không - Không quân được hình thành ngày 27 tháng 2 năm 1968, tuy còn đơn sơ nhưng đã chứa đựng những nội dung rất cơ bản.
       
        Rồi từ những kinh nghiệm nóng hổi của các chiến trường, bản kế hoạch đầu tiên ấy liên tục được sửa chữa, bổ sung, để đến năm 1972, Quân chủng có thêm những "Phương án tháng 5", "Phương án tháng 7", "Phương án tháng 9", cuối cùng là "Phương án tháng 11", bản kế hoạch đánh B52 hoàn chỉnh nhất (Chú thích:Phương án tháng 9 được Tư lệnh Lê Văn Tri mang lên báo cáo trực tiếp với Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vào cuối tháng 9 năm 1972. Phương án tháng 11 được Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng ký duyệt ngày 24-11-1972.).
       
        Trên cơ sở bản kế hoạch đó, Quân chủng Phòng không - Không quân đã cùng cả miền Bắc lao vào một cuộc chuẩn bị hết sức khẩn trương, để đến tối 18 tháng 12, bước vào trận chiến đấu một cách rất đàng hoàng, chủ động, một sự chủ động tuyệt vời bắt nguồn từ tầm nhìn thông tuệ và sự chỉ đạo sáng suốt, minh mẫn của cấp chiến lược, của Bộ thống soái tối cao - Bộ Chính trị, trước hết là của Bác Hồ kính yêu.
       
        Trải qua 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng và tài giỏi, quân dân Hà Nội, Hải Phòng đã làm nên một "Điện Biên Phủ trên không" lừng lẫy, buộc giặc Mỹ phải “chịu thua trên bầu trời Hà Nội" đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo trước đó 5 năm.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:10:42 AM
       
        Câu hỏi 16. Đạị tướng Võ Nguyên Giáp trong quá trình chỉ đạo đánh B52?
       
        Đáp: Lúc Bác Hồ còn sống, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những người thường xuyên được gần gũi Bác. Mỗi một quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Bộ Chính trị Trung ương Đảng có liên quan đến lực lượng vũ trang cả nước, đều được Đại tướng, với tư cách là Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng - Tổng Tư lệnh tổ chức thực hiện.
       
        Sau khi Bác Hồ qua đời, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, công việc chỉ đạo các chiến trường Nam - Bắc nói chung, cũng như trong việc chỉ đạo đánh thắng B52 ở Hà Nội, Hải Phòng nói riêng, của Đại tướng vẫn như vậy. Ở đây chỉ xin nêu một số sự kiện lớn, cụ thể, diễn ra trước và trong chiến dịch 12 ngày đêm:
       
        a) Thời gian trước chiến dịch:
       
        - Tháng 2 năm 1968, lường trước khả năng Mỹ, đến một lúc nào đó, có thể đưa máy bay B52 ra ném bom phía bắc vĩ tuyến 20, Quân ủy Trung ương đã ra chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân nhanh chóng xây dựng kế hoạch tác chiến bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và sớm cử cán bộ vào chiến trường Quân khu 4, tìm hiểu địch, nghiên cứu cách đánh cho từng binh chủng. Quân chủng Phòng không - Không quân đã nghiêm chỉnh thực hiện chỉ thị của Bí thư Quân ủy như phần trên đã nêu.
       
        - Đầu tháng 6 năm 1971, sau khi chủ trì một cuộc họp quan trọng của Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cho mời Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân Lê Văn Tri và Hoàng Lương lên nghe chỉ thị trực tiếp: "Máy bay B52 Mỹ đang hoạt động ngày càng tăng ở chiến trường miền Nam. Đến mức độ nào đó chúng sẽ đánh rộng ra các tỉnh phía Bắc, không loại trừ Thủ đô Hà Nội. Quân chủng Phòng không - Không quân phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó với khả năng này".
       
        - Ngày 5 tháng 4 năm 1972, sau khi các chiến dịch ở miền Nam (Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ) mở màn, Đại tướng chỉ thị cho Tư lệnh Lê Văn Tri: "Sắp tới Mỹ có thể cho không quân, kể cả không quân chiến lược B52 đánh phá trở lại miền Bắc". Ngay ngày hôm sau, Đảng ủy Quân chủng nhận được văn bản chỉ thị của Quân ủy Trung ương, về việc đưa cả miền Bắc vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu.
       
        Thực tế của những ngày sau đó đã diễn ra đúng như nhận định của cấp chiến lược: Mỹ cho B52 ném bom Vinh, Thanh Hóa, Hải Phòng và máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội.
       
        - Tháng 5 năm 1972, như phần trước đã trình bày, Đại tướng yêu cầu Quân chủng xác định chỉ tiêu bắn rơi B52, gấp rút hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến và tài liệu hướng dẫn cách đánh B52, để cho bộ đội chuẩn bị và luyện tập. Đó là những ý kiến chỉ đạo hết sức sáng suốt.
       
        Tháng 11 năm 1972, trong một cuộc họp quan trọng, dài ngày, với sự có mặt của các Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần (Chú thích:Quân đội ta lúc này chưa có Tổng cục Kỹ thuật. Công tác kỹ thuật do Tổng cục Hậu cần kiêm nhiệm.) cùng Tư lệnh, Chính ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tham gia thảo luận, góp nhiều ý kiến bổ sung và chính thức kết luận những điểm chính của bản kế hoạch đánh B52 của Quân chủng, như nhận định mục tiêu bảo vệ chủ yếu, hướng đánh chủ yếu, quyết tâm sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu. . . Cuối buổi họp, Đại tướng nhấn mạnh: "Âm mưu của Mỹ cho B52 đánh Thủ đô Hà Nội, linh hồn của cuộc kháng chiến, sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô”.
       
        Giữa đêm 22 tháng 11, Trung đoàn H63 tên lửa ở Nghệ An lập thành tích đặc biệt, hạ 1 chiếc B52 rơi ở Na-khôn Pha-nom (Thái Lan), buộc Mỹ phải công nhận. Đại tướng vui mừng điện xuống Quân chủng khen ngợi trung đoàn H63 và chỉ thị phổ biến ngay kinh nghiệm này cho các đơn vị khác, đặc biệt là cho các đơn vị tên lửa ở Thủ đô và Hải Phòng. Ngoài ra, để tiện việc liên lạc trực tiếp khi cần, Đại tướng đã cho lập "đường dây nóng" từ Tổng hành dinh xuống thẳng Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không Hà nội (tức là Sư đoàn B61). Trong kháng chiến chống Mỹ, vị trí Tổng hành dinh, Sở chỉ huy tối cao của lực lượng vũ trang của ta đặt tại "Nhà Con Rồng", giữa thành Hà Nội. Từ nơi đây Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các chiến trường, các quân khu, các quân, binh chủng trong toàn quốc.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:20:24 AM
       
        b) Trong thời gian chiến dịch
       
        Đêm 18 tháng 12, đêm mở đầu trận tập kích chiến lược của Mỹ, tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thức trắng theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu. Khi nhận được tin Tiểu đoàn tên lửa 59 bắn rơi chiếc B52 đầu tiên ở Phù Lỗ và tin quân dân huyện Kim Anh bắt được giặc lái B52, Đại tướng đã trực tiếp yêu cầu Tư lệnh Trần Quang Hùng và Chính ủy Sư đoàn B61 Trần Văn Giang kiểm tra lại thật kỹ lưỡng. Sau khi nghe báo cáo bảo đảm chính xác, Đại tướng quay sang thông báo tin vui cho các ủy viên Bộ Chính trị đang có mặt, gồm các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng... Rồi qua "đường dây nóng", Đại tướng biểu dương cán bộ chiến sĩ Sư đoàn Phòng không Hà Nội, đặc biệt là bộ đội Tên lửa đánh giỏi lập công đầu xuất sắc.
       
        Giữa đêm 20 tháng 12, một số tiểu đoàn tên lửa sắp hết đạn. Tình hình đó đến tai Tổng Tư lệnh, ông liền trao đổi với Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân tập trung mọi nỗ lực giải quyết, đồng thời nhắc nhở: "Đạn tên lửa chỉ được dành để đánh B52". Đêm ấy Hà Nội thắng lớn. Quân ta bắn rơi 15 máy bay, trong đó có 7 B52 và 2 F111. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng đã phát đi lời động viên làm nức lòng quân dân Thủ đô, quân dân cả nước: "Từng giờ, từng phút Bộ Chính trị, Quân ủy, Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của Hà Nội. Đồng bào cả nước đang hướng về Hà Nội. Nhân dân thế giới đang hướng về Hà Nội. Vận mệnh Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội. . . "
       
        Ngày 22 tháng 12 năm 1972, nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội, Đại tướng xuống thăm Tiểu đoàn 77, thuộc Trung đoàn 257, đơn vị tên lửa đã hạ tại chỗ 3 B52 Mỹ trong mấy đêm vừa qua. Đại tướng siết chặt tay Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn và các cán bộ chiến sĩ, vui vẻ biểu dương chiến công của tiểu đoàn: "Các đồng chí đánh giỏi lắm. Chỉ trong một trận đánh đêm 20, Tiểu đoàn 77 đã bắn rơi tại chỗ 2 B52. Đó là một chiến công rất xuất sắc. Chiến công của các đồng chí làm cho Bộ Chính trị rất yên tâm và tin tưởng..."
       
        Cùng ngày, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng cũng đã xuống thăm Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân.
       
        Ngày 23 tháng 12, Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống trận địa súng máy Vân Đồn, nơi các nam nữ xạ thủ của Liên đội Tự vệ Hoàn Kiếm - Hai Bà Trưng vừa hạ chiếc F111A đêm trước. Trong gió lạnh mùa đông, trên trận địa còn vương mùi khói súng, giữa vòng vây của các chiến sĩ, Bác Tôn và Đại tướng thân mật khen ngợi các chiến sĩ đã lập công xuất sắc bắn rơi máy bay "cánh cụp cánh xòe" của Mỹ.
       
        Sáng ngày 25, Bộ Tư lệnh Quân chủng nhận được chỉ thị của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Có 3 việc phải tranh thủ làm nhân dịp lễ Nô-en:
       
        1/- Tổ chức thật tốt việc rút kinh nghiệm chiến đấu.
       
        2/- Tiếp tục khắc phục mọi khó khăn bảo đảm đủ đạn cho các đơn vị tên lửa.
       
        3/- Tạo điều kiện cho MIG 21 bắn rơi B52.
       
        Và cũng trong buổi sáng hôm đó, Đại tướng và Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài trực tiếp xuống dự hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu của Binh chủng Không quân, lắng nghe ý kiến phát biểu của các chiến sĩ lái máy bay. Sau những chỉ thị ngắn gọn, Đại tướng động viên: "Không quân anh hùng của chúng ta nhất định phải có tên trong danh sách những đơn vị bắn rơi B52 Mỹ".
       
        Sáng ngày 27, sau khi biểu dương quân dân Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong đêm 26 đánh giỏi thắng lớn, bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có 8 B52 (4 chiếc rơi tại chỗ), Đại tướng đến thăm Khâm Thiên, khu phố đông dân giữa lòng Hà Nội vừa bị máy bay B52 rải bom tàn sát. Nhìn nét mặt của Đại tướng, bà con Khâm Thiên nhận thấy ở ông niềm xúc động sâu sắc, vừa căm giận, vừa xót xa. Quay về Đại bản doanh, gọi điện cho Quân chủng Phòng không - Không quân, Đại tướng kêu gọi: "Hãy biến đau thương thành sức mạnh, đánh tốt hơn nữa, bắn rơi nhiều B52 hơn nữa, để trả thù cho đồng bào Khâm Thiên, đồng bào Hà Nội". Cùng ngày, Bác Tôn Đức Thắng cũng đến thăm Khâm Thiên, Chủ tịch Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm bệnh viện Bạch Mai và khu phố Gia Lâm.
       
        Đêm 27, Hà Nội hạ 5 pháo đài bay. Lúc 23 giờ, Tiểu đoàn tên lửa 94 của Trung đoàn H61 bắn hạ 1 chiếc, rơi xuống Quế Võ, Hà Bắc. Ba phút sau, bầu trời Hà Nội bừng sáng lên vì 1 chiếc pháo đài bay vừa bị Tiểu đoàn 72 (thuộc Trung đoàn H85 của Hải Phòng mới tăng cường cho Hà Nội) bắn trúng, bốc cháy rừng rực như một bó đuốc lao xuống làng hoa Ngọc Hà, ven đường Hoàng Hoa Thám (Chú thích:Đó là chiếc B52G, xuất phát từ Gu-am. Viên phi công do hốt hoảng đã không kịp ấn nút thả bom, do đó khi máy bay rơi xuống đất, số bom vẫn còn nguyên.). Cùng lúc, tin vui từ trên không trung báo về: Phạm Tuân, phi công MIG 21, cất cánh từ sân bay Yên Bái đã bắn rơi 1 B52 trên vùng trời Hòa Bình.
       
        Đại tướng gọi điện biểu dương thành tích của Hà Nội, đặc biệt là chiến công đầu của Không quân.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:26:04 AM
        Ngày 28, Đại tướng Tổng tư lệnh lại đến với Tiểu đoàn 79, đơn vị đã hạ tại chỗ 1 B52 đêm trước. Đại tướng phân tích cho các chiến sĩ thấy rõ thất bại nặng nề của địch trong những ngày qua. Ông nói: "Cho đến hôm nay chúng ta đã bắn rơi 31 máy bay B52 của Mỹ. Ở Đông Nam Á chúng có 200 chiếc, bị mất 31 chiếc, tức là 15%. Không quân chiến lược mà tỉ lệ tổn thất lên tới 10-15% là rất cao, không thể nào chịu đựng nổi...". Tôi chuyển lời khen ngợi của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đến toàn thể cán bộ chiến sĩ phòng không - không quân, đặc biệt đến bộ đội tên lửa anh hùng của chúng ta. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đánh giá cao chiến công của các đồng chí, đã quyết định sẽ đề nghị Quốc hội tuyên dương công trạng của Quân chủng một cách xứng đáng vào một ngày sắp tới (Chú thích:sau chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không” một buổi lễ tuyên dương công trạng đã được Nhà nước tổ chức trọng thể tại Hà Nội)
       
        Rời Tiểu đoàn 59, Đại tướng ghé xem đống xác pháo đài bay Mỹ ở làng hoa Ngọc Hà. Tại đây, Đại tướng gặp Thiếu tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Hai người trò chuyện vui vẻ. Bà con vây quanh ngắm nhìn hai vị tướng, trìu mến, hân hoan. Một thiếu phụ bước tới cầm tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giọng nói ngắt quãng, xúc động, nghẹn ngào: "Lần đầu được gặp Đại tướng, tôi rất vinh dự. Bọn Mỹ tàn ác lắm. Chúng gây ra biết bao tội ác cho nhân dân ta. Nhưng chúng tôi không sợ chúng nó đâu. Phải diệt hết chúng nó đi".
       
        Sau đó, Đại tướng lên xe đến thăm Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân. Tổng Tư lệnh hồ hởi nói với các cán bộ: “Quân xâm lược đã ngấm đòn. Ních-xơn sắp phải bỏ cuộc... Những đêm sắp tới, các đơn vị hãy thừa thắng bồi tiếp cho giặc Mỹ những đòn đau hơn”. Rồi Đại tướng vui vẻ tuyên bố: "Cho phép tên lửa các cậu bắn thoải mái, không phải "bắn phát một nữa”, trong tiếng cười vang, rộn ràng phấn chấn của mọi người trong Sở chỉ huy.
       
        Đại tướng nói riêng với các cán bộ trong Bộ Tư lệnh Quân chủng: Hôm nay, Mỹ đã gửi công hàm cho Chính phủ ta, với lời lẽ ôn hòa, chấp nhận nối lại cuộc đàm phán ở Pa-ri và thông báo sẽ chấm dứt ném bom 36 giờ sau khi nhận được công hàm trả lời của Chính phủ ta.
       
        Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri báo cáo với Tổng Tư lệnh: đạn tên lửa của Quân khu 4 tăng cường cho Hà Nội đã được bổ sung đầy đủ cho các đơn vị, có thể nói là dồi dào không phải lo chạy gạo từng bữa như mấy ngày qua nữa. Đại tướng gật đầu cười phấn khởi.
       
        Đêm hôm ấy, Đại tướng ở lại với kíp chiến đấu của Sở chỉ huy Quân chửng Phòng không - Không quân. Các chiến sĩ cảm thấy rất vui sướng về sự có mặt của Tổng Tư lệnh bên cạnh họ trong những giờ phút quan trọng này.
       
        Dừng lại trước các tấm bản đồ lớn bằng mi ca, Đại tướng dõi theo những đường chì đánh dấu đường bay của các chiến sĩ "tiêu đồ", lắng nghe những lời báo cáo của các sĩ quan tham mưu, những mệnh lệnh của các cán bộ chỉ huy Quân chủng. Thỉnh thoảng Đại tướng hỏi Trưởng phòng Quân báo Lê Tư về tình hình địch, Trưởng phòng Tác chiến Lê Thanh Cảnh về tình huống chiến đấu, về số lượng đạn tên lửa hiện còn hoặc ra những chỉ thị cần thiết cho Tư lệnh Lê Văn Tri.
       
        Đêm 28 chỉ còn 30 chiếc B52 đến Hà Nội, nhưng chỉ đánh vòng ngoài. Đúng là Ních-xơn đã ngấm đòn và đang kiệt sức. Không quân ta lập công xuất sắc lần thứ hai. Người phi công quả cảm Vũ Xuân Thiều diệt 1 B52 trên vùng trời Sơn La và hy sinh anh dũng. Hai giờ sau, tên lửa Hà Nội diệt thêm 1 B52 nữa. Đó là chiến công của Tiểu đoàn 78. Từ Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân, Đại tướng đã kịp thời biểu dương bộ đội không quân và tên lửa Thủ đô.
       
        Đêm 29 tháng 12, Tiểu đoàn 79, đơn vị tên lửa vừa được Đại tướng đến thăm hôm trước, đã bắn rơi chiếc B52 cuối cùng của toàn chiến dịch vào lúc 23 giờ 16 phút, không đầy một giờ đồng hồ trước khi Ních-xơn ra lệnh chấm dứt hoàn toàn cuộc oanh kích vào đúng lúc nửa đêm.
       
        Sáng 30 tháng 12, sau khi người cầm đầu Nhà Trắng tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã cho phát đi bản Thông cáo chiến thắng của chiến dịch 12 ngày đêm, nhiệt liệt biểu dương chiến công của các lực lượng, các địa phương và các quân, binh chủng.
       
        Cả nước hân hoan. Đồng bào miền Nam mừng rơi nước mắt. Bè bạn năm châu ca ngợi chiến thắng oanh liệt của Việt Nam. Các hàng thông tấn và báo chí phương Tây đều gọi đây là chiến thắng "Điện Biên phủ trên không.
       
        "Điện Biên Phủ trên không" gợi nhớ Điện Biên Phủ 18 năm về trước. Xuân hè năm 1954, tại Sở chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng, trong cương vị Bí thư Đảng ủy và Chỉ huy trưởng Mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp theo dõi, chỉ huy từ đầu đến cuối chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
       
        Mùa đông năm 1972, tại Đại bản doanh "Nhà Con Rồng" ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội, trong cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh, Đại tướng cũng đã theo dõi, chỉ đạo từ đầu đến cuối trận đánh lịch sử 12 ngày đêm (đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng). .
       
        Như vậy là ở cả hai chiến dịch lớn, Điện Biên Phủ (dẫn tới việc ký kết Hiệp nghị Giơ-ne-vơ) và "Điện Biên Phủ trên không" (dẫn tới kết quả Hiệp định Pa-ri) bên cạnh vai trò lãnh đạo tài giỏi của Bộ Chính trị - Quân ủy Trung ương, đều có vai trò nổi bật của Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người đứng đầu kính mến của Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:29:17 AM
       
        Câu hỏi 17: Nghe nói trong Binh chủng Tên lửa của ta có một trung đoàn "ba lần anh hùng”. Đó là đơn vị nào? Thành tích của trung đoàn ấy có liên quan gì đến việc đánh thắng B52?
       
        Đáp: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Quân đội ta có 7 trung đoàn tên lửa phòng không được tuyên dương Đơn vị anh hùng, nhưng không có trung đoàn nào được tuyên dương lần thứ hai.
       
        Tuy nhiên, huyền thoại về một trung đoàn tên lửa "ba lần anh hùng" lại là điều có thật.
       
        Nhớ lại vào giữa năm 1965, lần đầu tiên, giặc Mỹ cho B52 ném bom hủy diệt một căn cứ hậu cần của ta ở Bến Cát rồi đánh rộng ra khắp miền Nam. Mười tháng sau, ngày 12 tháng 4 năm 1966, B52 Mỹ leo thang ra miền Bắc, ném bom đèo Mụ Giạ, miền tây Quảng Bình. Tiếp theo là những đợt đánh phá liên tục của lũ pháo đài bay xuống khu vực Vĩnh Linh, cực nam Quân khu 4.
       
        Không để cho B52 Mỹ ngang nhiên gây tội ác và cũng là để tìm cách trị nó, một trung đoàn tên lửa SAM2 đã được lệnh lên đường vào Vĩnh Linh, tuyến lửa. Đó là Trung đoàn H38, biệt danh Đoàn Hạ Long.
       
        Lúc này không quân, hải quân Mỹ đánh phá Quân khu 4 vô cùng ác liệt. Ra đi từ tháng 6 năm 1966, vừa đi vừa đánh địch, mãi đến đầu năm 1967, các tiểu đoàn hỏa lực của Trung đoàn H38 mới đến được Vĩnh Linh. Nhưng cả 4 tiểu đoàn đều lần lượt bị máy bay Mỹ gây thiệt hại nặng nề.
       
        Máy móc nào bị hỏng, cán bộ nhân viên kỹ thuật đã ra sức dồn lắp, sửa chữa. Khí tài nào không phục hồi được nữa, anh em lại được lệnh vượt đạn bom, kéo khí tài hỏng hành quân ra Bắc đổi khí tài mới.
       
        Trên mảnh đất nhỏ hẹp của Vĩnh Linh, những trận địa tên lửa của Trung đoàn H38 trở thành mục tiêu số một mà giặc Mỹ quyết tâm xóa sổ. Bom đạn và hỏa tiễn không đối đất của đủ loại máy bay chiến thuật, chiến lược từ trên trời dội xuống. Đạn pháo tầm xa, pháo bầy, cả pháo cực nhanh 40 ly từ các căn cứ pháo binh Mỹ ở phía nam sông Bến Hải bắn sang, từ các tàu tuần dương ở ngoài biển bắn vào, cả ngày và đêm, cực kỳ khốc liệt (Chú thích:Theo thống kê, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đối với miền Bắc, Vĩnh Linh, Quảng Bình là hai nơi chịu đựng bom đạn nặng nề nhất.).
       
        Nhờ được nhân dân Vĩnh Linh kiên cường, nhất là anh chị em công nhân nông trường Quyết Thắng hết lòng giúp đỡ, như đào đắp hầm hào, xây dựng trận địa, ngụy trang che giấu vũ khí, khí tài, với khối lượng hết sức to lớn, nên Trung đoàn H38 vẫn tồn tại, vẫn kiên trì bám trụ, để vào một ngày tháng 7, lần đầu tiên sau khi phát sóng, các trắc thủ đã "chộp" được con ngáo ộp Mỹ trên màn huỳnh quang.
       
        Đại tá Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân, sau cả tháng trời lặn lội trên các trận địa Vĩnh Linh, ngủ chung hầm, ăn chung bữa với chiến sĩ, khi trở về Hà Nội đã phát biểu trước Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng những lời hết sức xúc động:
       
        "Tôi có thể nói mà không sợ quá lời rằng: cán bộ chiến sĩ Trung đoàn H38 là những người xứng đáng "ba lần anh hùng". Điều này được thể hiện:
       
        - Đưa được cả một trung đoàn tên lửa, với những cỗ khí tài đồ sộ, những bệ phóng cồng kềnh, vượt qua bom đạn ác liệt, qua một chặng đường dài với biết bao đèo cao, dốc hiểm, hành quân đến được Vĩnh Linh là "một lần anh hùng".
       
        - Cả một trung đoàn tên lửa ấy đã phải giấu mình trong tầm phi pháo địch, nhưng vẫn trụ vững hàng trăm ngày đêm trên một vùng đất mà nếu ta bốc lên một nắm, bất cứ ở nơi đâu cũng có thể nhìn thấy những mảnh đạn, mảnh bom. Đây cũng là nơi báo chí Mỹ và phương Tây đã nhiều lần đưa tin: "không quân Mỹ đã xóa sạch những giàn tên lửa của Bắc Việt". Đó là "hai lần anh hùng".
       
        - Và "lần thứ ba anh hùng" là: cán bộ chiến sĩ Trung đoàn H38 đã khắc phục muôn vàn khó khăn phức tạp về kỹ thuật, chiến thuật, đã mưu trí sáng tạo, quyết tâm phát sóng tìm địch, để cuối cùng nhận diện được B52 Mỹ trên màn hiện sóng, ghi được những dấu hiệu đầu tiên vô cùng quí báu về một loại kẻ thù mới, còn xa lạ với chúng ta. (Lúc này Trung đoàn H38 chưa bắn rơi được B52).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:35:11 AM
         Cuối cùng Chính ủy Đặng Tính kết luận: "Trung đoàn H38 xứng đáng "ba lần anh hùng". Nhưng để cho cán bộ chiến sĩ H38 gặp quá nhiều khó khăn như vậy là trách nhiệm thuộc về chúng ta. Ngay từ bây giờ, Quân chủng và Binh chủng phải khẩn trương có biện pháp, nhanh chóng cử cán bộ vào Vĩnh Linh, chỉ đạo, giúp đỡ Trung đoàn H38 vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ bắn rơi cho được B52 Mỹ".
       
        Sau đó không lâu, chấp hành chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, một đoàn cán bộ của Binh chủng Tên lửa, gọi là "Đoàn công tác B do Phó tư lệnh Binh chủng Hoàng Văn Khánh làm trưởng đoàn mang theo những kinh nghiệm sốt dẻo của các đơn vị tên lửa Hà Nội, cấp tốc lên đường vào Vĩnh Linh. Trước khi đi, đoàn được Chính ủy Đặng Tính căn dặn thêm: "Quyết tâm của Quân ủy Trung ương là dù khó khăn đến mấy cũng phải bắn rơi cho được B52, từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm, để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đối phó với B52 trong tình huống phức tạp hơn sau này".
       
        Được sự chỉ đạo của "Đoàn công tác B", trong hoàn cảnh bị "sứt mẻ", Trung đoàn H38 đã phải dồn ghép lực lượng - người và vũ khí khí tài - tập trung bảo đảm cho một tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu. Đó là Tiểu đoàn 84.
       
        Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tiểu đoàn tên lửa 84, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên, đã bắn rơi 2 chiếc B52 trên vùng trời sông Bến Hải.
       
        Nhận được điện của "Đoàn công tác B” gửi ra, mặc dầu đêm đã khuya, Tư lệnh Quân chủng Phùng Thế Tài cũng "đánh bạo" gọi điện lên Bác Hồ, để trực tiếp báo cáo với Bác kính yêu tin vui này.
       
        Ngay hôm sau, Bác Hồ đã gửi thư khen đồng bào, chiến sĩ Vĩnh Linh:
       
        "Bác rất vui lòng được tin ngày 17 tháng 9 năm 1967, Vĩnh Linh đã lập công xuất sắc, lần đầu bắn rơi hai máy bay B52 của giặc Mỹ.
       
        Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đặc biệt gửi lời khen đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Vĩnh Linh đánh giỏi, bắn trúng, chiến thắng vẻ vang. Vĩnh Linh xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
       
        Đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Vĩnh Linh hãy phát huy truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu và sản xuất, giành nhiều thắng lợi hơn nữa.

       
Chào thân ái và quyết thắng       
       
Bác Hồ                       
       
        Tiểu đoàn 84 còn được Bác ký quyết định tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn H38 được Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15 tháng 1 năm 1976.
       
        Trên đây là câu chuyện sáng ngời phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ” của một trung đoàn tên lửa "ba lần anh hùng” và con đường gian khổ dẫn tới chiến công bắn rơi chiếc B52 đầu tiên.
       
        Ý nghĩa của chiến công này thật to lớn. Bấy lâu nay, một bài toán khó; "Làm sao bắn rơi được B52 Mỹ?" được đặt ra trước Bộ Tư lệnh cùng cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân, hôm nay đã có lời giải đáp: Máy bay B52 Mỹ đã bị tên lửa SAM2 của Việt Nam bắn rơi. Qua chiến công ngày 17 tháng 9 năm 1967, chúng ta có thể khẳng định: "Tên lửa SAM2 của ta hoàn toàn có đủ điều kiện bắn rơi được pháo đài bay B52 của Mỹ” .
       
        Những bài học đổi bằng xương máu của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn H38 (Chú thích:Trong chiến đấu ác liệt Trung đoàn H38 có 396 liệt sĩ.) đã được "Đoàn công tác B" đúc kết lại, dày 29 trang giấy viết tay, mang tên "Bản tổng kết đánh B52 ở Vĩnh Linh", một tài liệu rất quý giá, góp phần làm cơ sở cho việc biên soạn bản "Kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội - Hải Phòng" ra đời sau đó 5 tháng, bản kế hoạch "tiền thân" cho những bản kế hoạch tiếp theo, những phương án đánh B52 ngày càng hoàn chỉnh của Quân chủng Phòng không - Không quân.
       
        Cũng có thể nói: chiến công của Trung đoàn H38 ngày 17 tháng 9 năm 1967 là một trong những chiến công mở đầu cuộc hành trình đi tới chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không oanh liệt của quân dân ta tháng 12 năm 1972 (Chú thích:Sau chiến công mở đầu của Tiều đoàn 84 ngày 17 tháng 9 năm 1967, trong những năm tiếp theo, bộ đội tên lửa ta trên các chiến trường (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Linh, đường Trường Sơn, chiến dịch Quảng Trị) đã bắn rơi thêm nhiều B52, qua đó, góp thêm nhiều kinh nghiệm quý báu cho trận đánh 12 ngày đêm sau này. . .)


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:41:03 AM
     
CÚ "SỐC Ồ ẠT" TRỞ THÀNH CÚ "NỐC AO" THẢM HẠI
(Đêm 26 tháng 12 năm 1972)


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/DBP%20-%200086_zpskua0jnhx.jpg)
     


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:47:01 AM
       
        Câu hỏi 18: Trong chiến tranh hiện đại, cụ thể là trong cuộc chiến đấu đất đối không cuối tháng 12 năm 1972 ở Hà Nội, Hải Phòng, có hay không vai trò của chiến tranh nhân dân.
       
        Đáp: Để tiến hành cuộc tập kích quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã huy động đến mức cao nhất sức mạnh ưu việt của nền công nghiệp quân sự Mỹ, với những chiếc máy bay hiện đại nhất, cùng khối lượng đạn bom khổng lồ, và những phương tiện chiến tranh điện tử tối tân nhất.
       
        Bên ta tuy thua kém hơn, nhưng cũng có ra-đa cảnh giới và dẫn đường Pê 35 (п 35), có máy bay tiêm kích MIG 21, tên lửa SAM2, pháo cao xạ 100 ly và 57 ly do máy chỉ huy K6-19 và K6-60 điều khiển.
       
        Rõ ràng đây là một cuộc đụng đầu quyết liệt giữa vũ khí, kỹ thuật rất hiện đại của Mỹ, với vũ khí, kỹ thuật hiện đại của Việt Nam (Chú thích:Hầu hết do Liên Xô trang bị). Có lẽ vì vậy mà có người cho rằng trong bối cảnh của một cuộc chiến đấu trên bầu trời như thế, vai trò của chiến tranh nhân dân không thể nào phát huy được như trong một cuộc chiến đấu trên mặt đất. Vậy sự thật ra sao?
       
        Thực tế là trong chiến dịch 12 ngày đêm năm ấy, ở Hà Nội và Hải Phòng đã diễn ra hình ảnh rõ nét nhất của một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không cực kỳ sôi động.
       
        Mỗi lần máy bay địch kéo đến từ xa, ở Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân, tức Sở chỉ huy chiến dịch, trên tấm bản đồ lớn bằng mi-ca, những cây bút chì dầu trong tay các chiến sĩ đánh dấu đường bay, liên tục ghi những đường bay tiến công của giặc. Những đường chì màu đen, giống như một bàn tay xòe rộng của tử thần, nhích dần từng bước, hướng về trung tâm thành phố (Chú thích:Trong đời tôi, đây là ấn tượng không bao giờ quên. Lúc ấy Sở chỉ huy trung đoàn tôi cũng ghi được những đường bay như thế). Một mệnh lệnh được phát ra từ người chỉ huy cao nhất: "Báo động B52! Sẵn sàng chiến đấu".
       
        Còi báo động của thành phố rú vang từng hồi. Từ các loa phóng thanh trên mọi nẻo phố phường truyền đi tiếng nói điềm tĩnh, dõng dạc của chị phát thanh viên: "Đồng bào chú ý. Đồng bào chú ý. Máy bay địch cách Hà Nội một trăm cây số". Lực lượng vũ trang về vị trí chiến đấu mọi người dân chạy về nơi ẩn nấp. Cả thành phố sẵn sàng.
       
        Khi những chùm bom hủy diệt của kẻ thù sắp rơi xuống thì cũng là lúc những chiếc MIG rời đường băng, những quả đạn tên lửa rời bệ phóng, những chùm đạn cao xạ các cỡ vút lên chặn đánh máy bay thù.
       
        Không chỉ có máy bay, tên lửa có thể vươn tới độ cao trên 10 ngàn mét, chúng ta còn có rất nhiều những khẩu pháo, khẩu súng tầm thấp của bộ đội, của tự vệ, của dân quân, bố trí khắp nơi, trên các ngọn đồi, mỏm núi, ven sông, trên những nóc nhà cao tầng, trong đồng, ngoài bãi, hình thành một mạng lưới dày đặc, rộng khắp, nhiều tầng đón đánh kẻ thù bay vào từ mọi hướng, từ xa đến gần. Nhiều chiếc máy bay hiện đại F111A, A6A, bay thật thấp để tránh bị ra-đa phát hiện, cuối cùng cũng phải đền tội bởi lưới lửa tầm thấp thiên la địa võng của quân dân ta (Chú thích:Viên thiếu tá phi công John Gaudeous, sau mấy lần thoát chết đã khiếp đảm thốt lên: "Bay vào vùng châu thổ sông Hồng, chúng tôi đã gặp phải một lưới lửa nhiều tầng, trên tất cả mọi độ cao. Bay thấp thì bị đạn cao xạ bắn. Bay độ cao trung bình thì lại bị tên lửa SAM và máy bay MIG truy đuổi".).
       
        Vốn là mảnh đất thiêng liêng của hậu phương lớn, Hà Nội bỗng trở thành "Thăng Long chiến địa". Ở đây mỗi người dân đều trở thành chiến sĩ. Trong tiếng đạn bom rung trời chuyển đất và trong đổ nát tan hoang, người ta bỗng thấy xuất hiện những tốp thanh niên nam nữ lao nhanh về các trận địa phòng không, giúp bộ đội tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang, khắc phục hậu quả; các bà mẹ tay xách, nách mang những rổ trái cây, những ấm nước chè xanh đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên các pháo thủ. Giữa các ngôi nhà sụp đổ, cạnh những đống lửa đang bốc lên rừng rực, bóng các anh công an áo vàng, những chị em y tá, cứu thương, những đội viên dân phòng xuất hiện. Họ hối hả đào bới, cứu những người bị sập hầm, băng bó, chữa ngạt cho những người bị nạn, cứu những căn nhà bị cháy, hoặc tháo gỡ những quả bom chờ nổ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:51:13 AM
        Sân bay MIG, trận địa tên lửa, trận địa cao xạ là những mục tiêu tiến công ngày đêm của không quân Mỹ. Chúng muốn triệt phá những đường băng, xóa sổ những chốt thép kiên cường trên mặt đất. Nhưng mỗi khi sân bay và trận địa ta bị bom Mỹ cày xới thì phút chốc đã có ngay những lực lượng cứu trợ của nhân dân các xã lân cận kéo đến, không nề nguy hiểm, phối hợp với bộ đội công binh, nhanh chóng san lấp các hố bom, sửa chữa các đường băng, ụ pháo để cho máy bay ta lại tiếp tục cất cánh, cho đạn tên lửa và đạn cao xạ của ta lại vạch trời đêm lao đi tìm diệt máy bay Mỹ.
       
        Ấn tượng nhất là hình ảnh pháo đài bay Mỹ bùng cháy giữa trời.
       
                "Một vầng lửa lớn dần rồi sa xuống.
                Đèn Hà Nội tắt, nhưng bầu trời rực sáng.
                Chúng tôi nhìn rất rõ, không sai.
                Chính nó đấy! Bê Năm Hai!"


(Trích thơ chiến sĩ: Nguyễn Huy Hùng)         
       
        Cả Hà Nội sáng lòa trong ánh lửa. Đó đây thấp thoáng những cánh dù rơi. Lập tức hàng chục, hàng trăm người từ các hầm trú ẩn vọt ra, đa số là dân quân trai gái ngoại thành, bà con các thôn xã lân cận, có cả những thiếu niên, những cụ già, kẻ gậy người dao, rầm rập kéo nhau đi lùng bắt giặc lái. Một cảnh tượng thật hào hùng của một trận đánh "hiệp đồng binh chủng" tuyệt đẹp diễn ra giữa đất trời Thủ đô Hà Nội.
       
        Bên cạnh khung cảnh tấp nập, rộn ràng khí thế ấy còn có biết bao cán bộ, công nhân viên thầm lặng bám máy, bám đài, bám bệnh viện, cửa hàng... để giữ vững thông tin liên lạc thông suốt và bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu về điện, nước, y tế, lương thực, thực phẩm cho cuộc chiến đấu của thủ đô.
       
        Không thể không nói đến một mặt trận khác cũng không kém phần quan trọng, đó là hình ảnh toàn dân làm công tác giao thông vận chuyển chi viện cho chiến trường, ngay cả trong những ngày Hà Nội - Hải Phòng liên tục bị Mỹ ném bom. Từ các kho hàng viện trợ khổng lồ ở thành phố Cảng, những đoàn xe vẫn nối đuôi nhau vượt hàng trăm ki-lô-mét dọc đường Năm lên Hà Nội, để rồi từ đó đi tiếp về hướng nam.
       
        Thật khó có thể ngờ rằng dưới những đợt B52 "rải thảm", vắt qua sông Đuống, sông Hồng vẫn có 5 chiếc cầu phao và 1 chiếc cầu treo sừng sừng, cùng những chuyến phà ngày đêm qua lại, giữ vững mạch máu giao thông.
       
        Bộ đội công binh cùng lực lượng bảo đảm cầu phà, những thanh niên nam nữ của Hà Nội, mặc đạn bom, mặc cái rét cắt da giữa mùa đông lạnh buốt, vẫn kiên cường bám phà, bám cấu phục vụ cho những đoàn xe qua sông. Theo thống kê thì trung bình có tới 2.500 chuyến xe ô tô vượt sông trong một ngày đêm hồi đó.
       
        Họa sĩ Nguyễn Đức Thọ, cán bộ của Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, đã ghi lại một hình ảnh đẹp qua một bức tranh sơn dầu nổi tiếng: trên cầu phao Chương Dương của Hà Nội, những chiếc xe kéo đạn tên lửa đang sang sông về trận địa. Cận cảnh là hình ảnh mấy anh bộ đội và một nữ dân quân, vai đeo súng, đang áp giải ba tù binh phi công Mỹ, đầu và tay quấn băng, đang đi qua cầu để về "khách sạn Hin-tơn". Bên cạnh là một phóng viên đang quay phim. Tuy là tác phẩm nghệ thuật nhưng bức tranh đã thể hiện được một mảng thực tế sinh động của cuộc chiến tranh nhân dân trong 12 ngày đêm năm ấy.
       
        Đêm 18 rạng ngày 19 có một thời điểm làm cho đồng bào miền Nam nín thở, bè bạn gần xa hồi hộp lo âu. Đó là khoảnh khắc Đài Tiếng nói Việt Nam ngừng phát sóng. Một loạt bom "rải thảm" đã trùm lên khu vực Đài phát sóng Mễ Trì. Giặc Mỹ muốn bóp chết tiếng nói chính nghĩa của chúng ta. Chúng muốn khóa miệng không cho chúng ta tố cáo tội ác của chúng. Nhưng, nhờ phương án chuẩn bị sẵn, cán bộ công nhân viên của ta đã nhanh chóng sử dụng đài dự phòng thay thế, để sau đúng 9 phút, tiếng nói của các phát thanh viên lại tiếp tục vang lên, truyền đi tin chiến thắng. Đêm 18 tháng 12 quân dân miền Bắc thắng lớn, bắn rơi 3 B52 Mỹ, có 2 chiếc rơi tại chỗ. Được nghe lại tiếng nói thân thương của Đài miền Bắc, nhận được tin chiến thắng từ Thủ đô xa xôi vọng về, đồng bào miền Nam thở phào, nhẹ nhõm, phấn chấn lạ thường.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 10:56:10 AM
        Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri, sau này kể lại: "Hai phái đoàn của ta ở Pa-ri, khi nghe tin Hà Nội bắn rơi chiếc B52 đầu tiên đã reo mừng, sung sướng đến phát khóc (Chú thích:Nguyễn Thị Bình: Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam - Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội -2001. Bà Nguyễn Thị Bình nguyên là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
       
        Mấy ngày sau, bà con miền Bắc, lần theo tần số máy thu thanh, bỗng nghe tiếng nói sôi nổi của Đài Tiếng nói Việt Nam truyền lại bài xã luận của Thông tấn xã Giải phóng: "Mấy hôm nay nhiều người Sài Gòn không ngủ được. Không ngủ được vì căm thù giặc Mỹ, không ngủ được vì tinh thần dân tộc rực cháy trong tim... Lửa miền Bắc khêu lửa miền Nam. Lửa Hà Nội thiêu cháy pháo đài bay giặc, lửa Sài Gòn bùng lên mãnh hệt. Lửa đốt cháy kho bom thành Tuy Hạ, lửa chụp xuống đầu quân giặc ở Tân Sơn Nhất... Sài Gòn nguyện cùng Hà Nội, miền Nam nguyện cùng miền Bắc quyết chiến và quyết thắng!".
       
        Đánh thắng B52 Mỹ không chỉ có nhân dân Hà Nội, Hải Phòng và nhân dân miền Bắc, mà còn có cả sức mạnh chung tay tiếp sức của đồng bào Sài Gòn, của bà con ruột thịt miền Nam, của thế trận cả nước cùng đánh giặc. Bài xã luận tha thiết, hùng hồn của Thông tấn xã Giải phóng vượt qua muôn trùng sông núi, đến với đồng bào chiến sĩ Thủ Đô giữa đất trời khói lửa, nghe sao rạo rực cả tâm hồn.
       
        Trong những ngày đêm sôi động ấy, bộ đội phòng không Hà Nội không thể nào quên hình ảnh những nam nữ nghệ sĩ văn công, tay đàn tay sáo, chia nhau tỏa xuống các trận địa, mang lời ca tiếng hát phục vụ các chiến sĩ bên bệ phóng, cạnh mâm pháo nóng bỏng đạn bom. Có những diễn viên không chuyên của Sư đoàn phòng không Hà Nội, đầu còn quấn băng, tay chống nạng, đã nén đau thương vì mới đêm qua đồng đội mình vừa ngã xuống vẫn hát vang bài ca quen thuộc "Pháo ta bảo vệ Ba Đình"... Đêm 18 tháng 12, một loạt bom B52 đã cướp đi sinh mạng của 10 nam nữ diễn viên trong Đội văn nghệ nghiệp dư của Sư đoàn phòng không B61. Cũng không thể nào quên dược những anh chị em phóng viên báo chí, những nhà quay phim, nhiếp ảnh can trường, xông xáo, mà chúng ta mãi mãi biết ơn họ về những dòng tin, những trang báo nóng hổi tính thời sự về những thước phim (Chú thích:Như hai bộ phim Hà Nội, cuộc đọ sức 5 ngày đêm" và “Hà Nội - Điện Biên Phủ” của nhà quay phim và đạo diễn nổi tiếng Phạm Khắc (nghệ sĩ nhân dân, Anh hùng lao động).) và những tấm hình mang chứng tích thời đại vô giá (Chú thích:Quân chủng Phòng không - Không quân có những phóng viên xông xáo dũng cảm đã ghi được nhiều hình ảnh có giá trị như Xuân Át, Xuân Mai, Minh Huệ, Thủy Nông, Sông Châu...)
       
        Cả những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ... bằng sự rung động của trái tim, đã viết nên những áng văn, những vần thơ, những khúc ca, sáng tác những điệu múa, những bức tranh ngợi ca chiến thắng lẫy lừng của dân tộc. Và đây nữa giọng nói thân thương truyền cảm của những phát thanh viên, bằng nhiều thứ tiếng, ngày đêm truyền đi tin chiến sự và những bài bình luận cháy bỏng lòng người (Chú thích:Như Việt Hà, Trần Phương, Kiên Cường, Nguyễn Thị Tuyết Mai,  Thu Hương, Phương Chi, Hoàng Yến, Kim Cúc...).
       
        Bên cạnh thành tích chiến đấu, Hà Nội còn có thành tích đáng tự hào về công tác phòng tránh, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Những ai đã và từng sống ở thủ đô thời ấy, chắc còn giữ mãi ấn tượng sâu sắc về một hệ thống hầm hào trú ẩn được dựng lên khắp phố phường. Đặc biệt là những chiếc hầm tròn có nắp bằng bê tông, rải rác mọi nơi, bảo đảm cho bất kỳ ai đang đi trên đường, hễ có báo động là có thể dễ dàng tìm thấy nơi ẩn tránh. (Chú thích:Hà Nội lúc ấy có 63 vạn hố trú ẩn cá nhân.)
       
        Một số khách nước ngoài từng ở Việt Nam trong những ngày khói lửa, đã nhận thấy trên gương mặt người Hà Nội hiện lên vẻ điềm tĩnh lạc quan và niềm tự tin đáng khâm phục. Phóng viên Mỹ Rai-bâu viết trên tờ "Tin nhanh": "Nét mặt của họ có một vẻ đẹp tự nhiên, một vẻ bình tĩnh thư thái mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào khác".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:01:39 AM
         Ngày đó, Hà Nội có 60 vạn dân. Trước khi xảy ra trận không kích của Mỹ, chính quyền thành phố đã tổ chức sơ tán được khoảng 30 vạn người. Sau đêm 18 tháng 12, đêm đầu tiên B52 "rải thảm", lệnh sơ tán khẩn cấp và triệt để được loan đi, những dòng người đông nghịt hối hả rời thành phố. Kẻ đi bộ, trên vai trĩu nặng ba lô hoặc gồng gánh. Có người gánh cả con thơ trong một đầu thúng. Người thì đi xe, đủ thứ xe có thể tận dụng: xe đạp, xe xích lô, xe bò, xe ba gác. Có một số người may mắn, nhất là các cụ già, em nhỏ, được sắp xếp đi trên những chiếc xe tải, xe ca, và cả những chiếc tàu điện Hà Nội-Hà Đông.
       
        Họ tỏa về các vùng nông thôn, tìm đến vòng tay đùm bọc, che chở, cưu mang của bà con các làng quê giàu lòng nhân nghĩa. Tuy không khí vội vã, nhưng hàng chục vạn người đã ra đi trong trật tự và an toàn (Chú thích:Tính cả trước và sau đêm 18 tháng 12, Hà Nội đã tổ chức sơ tán được gần 50 vạn người.). Những người ở lại hoàn toàn có thể yên tâm bám trụ Thủ đô và sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu sinh tử với quân thù. Chính nhờ sơ tán và phòng tránh tốt mà chính quyền thành phố Hà Nội đã làm giảm thiểu sự tổn thất về người do địch gây ra trong 12 ngày đêm đến mức thấp nhất.
       
        Theo tính toán của nhà sử học Mỹ Oét-đơn E  Brao (Chú thích:Oét-đơn E  Brao (Weddon A Brown), National University publicatio Kenicatpress -New York, 176.), giáo sư lịch sử Viện Bách khoa Viếc-gi-nia thì "Cuộc tập kích đã có thể làm chết đến 13.000 dân thường Việt Nam". Nhưng, thực tế số thương vong của đồng bào ta trong 12 ngày đêm đã được hạn chế rất nhiều và chỉ bằng 1/3 con số được tính toán có khoa học nói trên. Và đó cũng là một khía cạnh thành công của cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh bảo vệ Thủ đô.
       
        Báo Pháp "Thế giới" (Le Monde) đã từng viết: "Đối diện với quân đội Mỹ là cả một dân tộc kiên quyết như quả núi đá, có một tâm hồn cao thượng đáng khâm phục, một tinh thần dũng cảm vô song không hề biết sợ trước bất kể kẻ thù nào".

        Chính cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra (Robert Mc Namara) cũng phải thừa nhận: "Những cuộc ném bom hủy diệt của Mỹ đã không thể nào tiêu diệt được ý chí của cả một dân tộc".
       
        Giô-rít I-van, đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của Hà Lan nhận xét: "Đã từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh, nhưng tôi chưa thấy ở nơi nào trên thế giới mà cả dân tộc kết thành một khối cùng đánh giặc như ở Việt Nam".
       
        Niu-tơn (Newton), nhà bác học lừng danh đã từng nói câu nổi tiếng cách đây bốn thế kỷ: "Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng cả trái đất này lên". Với ý nghĩa tương tự, chúng ta có thể khẳng định rằng: Trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không được phát triển lên đến đỉnh cao, với cả một cao trào toàn dân đánh máy bay Mỹ, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân làm công tác giao thông vận chuyển, toàn dân hợp tác và giúp đỡ bộ đội chiến đấu, cộng với trí thông minh và lòng dũng cảm vô song, chính là điểm tựa, là đòn bẩy, là chiếc chìa khóa vạn năng và cũng là cái gốc của mọi bí ẩn, đã giúp cho quân dân ta lập nên chiến tích thần kỳ "Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:13:15 AM
        
TỘI ÁC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
TRONG CUỘC TẬP KÍCH CHIẾN LƯỢC BẰNG B52
VÀO HÀ NỘI, HẢI PHÒNG
       
        Câu hỏi 19: Tội ác của Mỹ trong chiến dịch ném bom Hà Nội Hải Phòng cuối năm 1972 như thế nào?
        
        Đáp: Cuộc tập kích bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm 1972 là một cuộc ném bom hủy diệt vô cùng man rợ. Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếC B52 (Chú thích:Phía Mỹ công bố 729 phi vụ, gồm 340 phi vụ từ U-ta-pao, 389 phi vụ từ Gu-am.) và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật dội xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc nước ta hơn 1001 ngàn tấn bom. Riêng Hà Nội, với 444 lần chiếc B52 cùng nhiều máy bay chiến thuật, bằng 10 ngàn tấn bom (Chú thích:Bằng quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma (Mỗi quả tương đương 10.000 tấn thuốc nổ TNT). Ních-xơn muốn biến Hà Nội thành một "Hi-rô-si-ma không cần bom nguyên tử”.). Chúng đã hủy diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga; giết chết 2.368 dân thường và làm bị thương 1.355 người khác
        
        Ta-go (Rabindranath Tagore), nhà thơ lớn, nhà "Nhân đạo vĩ đại của Ấn Độ, người từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi là "Đại văn hào mà cả thế giới đều kính trọng”, đã có một câu nói nổi tiếng: "Con người một khi trở thành thú thì còn ác hơn cả loài thú". Ních-xơn, Tổng thống Mỹ là một con "người-thú" như thế. Là một kẻ tàn bạo, cuồng sát, từng coi Tơ-ru-man (Truman) người đã ra lệnh ném 2 quả bom nguyên tử xuống đầu nhân dân Nhật Bản năm 1945 là "vị tổng thống dũng cảm nhất nước Mỹ"; kẻ bằng cái giọng hợm hĩnh và hống hách cực độ đã từng tuyên bố vào năm 1968 rằng: "Người Bắc Việt Nam cần phải hiểu là Ních-xơn đây sẵn sàng làm bất cứ việc gì để chấm dứt chiến tranh... hãy đừng làm cho tôi nổi giận và nên nhớ rằng tay tôi đang đặt trên nút phóng tên lửa hạt nhân... Nếu không, trong vòng hai hôm, Hồ Chí Minh phải có mặt ở Pa-ri để cầu xin hòa bình", thì nay, một lần nữa Ních-xơn lại tự thú nhận một cách trơ trẽn rằng: "Điều phân biệt tôi với Giôn-xơn là tôi có gan dùng sức mạnh của con bài B52 "
        
        Lễ Giáng sinh năm đó, mỉa mai thay, Ních-xơn vẫn cùng vợ đi đến nhà thờ. Ông ta cũng lầm rầm đọc kinh Phúc âm trước tượng Chúa, nhưng ngay hôm sau, 26 tháng 12, Ních-xơn đã cho B52 rải những chùm bom ác nghiệt xuống Hà Nội, gieo tai ương thảm khốc xuống các khu dân cư yên lành như Khâm Thiên, Yên Viên, Gia Lâm, Uy Nỗ... Trong hồi ký của mình, Ních-xơn kể lại: "Tôi đã đích thân ra lệnh tiến hành cuộc ném bom lớn nhất xuống các mục tiêu ở Hà Nội, Hải Phòng vào đêm 26 tháng 12" (Chú thích:Tốp B52 rải gần 90 tấn bom xuống Khâm Thiên vào lúc 22 giờ 47 đêm 26 tháng 12 năm 1972).

        Đêm hôm ấy, Khâm Thiên, một khu phố có mật độ dân số đông nhất Hà Nội, đã bị một loạt bom B52 trùm kín cả chiều dài hàng ki-lô-mét. 2265 ngôi nhà bị phá sập, 287 người chết và 290 người bị thương.
        
        Tôi đã ghé qua Khâm Thiên vào buổi chiều sau cái đêm thảm sát đáng nguyền rủa ấy. Ở phía ngoài, con đường lớn chỉ bị nứt nẻ vài đoạn với ba căn nhà bị sập. Nhưng ở bên trong, đằng sau dãy phố chính ấy là cả một vùng trải dài hàng cây số đổ nát tan hoang. Những hình ảnh thương đau đập vào mắt tôi, nhức nhối. Khu phố đông dân gốm phần lớn là nhà ở của bà con lao động nghèo, đã bị một loạt bom "rải thảm" của B52 Mỹ biến thành bình địa. Hố bom chi chít, cùng với gỗ, đá, gạch, ngói vụn nát ngổn ngang. Một cụ già tóc bạc trắng, hai tay ôm đầu, ngồi yên lặng trước ngôi nhà thân yêu, kết quả của một đời chắt chiu, dành dụm, giờ dây chỉ còn mấy cây cột gãy đổ. Một bà mẹ, đôi mắt mọng sưng, lôi ra từ trong đống đổ nát những vật kỷ niệm còn sót lại của đứa con trai vừa bị bom Mỹ cướp đi mạng sống. Trong khói lửa chưa tan, nhiều nhóm người hối hả đào bới, tìm kiếm thi thể người thân. Đây đó vang lên những tiếng than khóc não ruột, xé lòng.
        
        Về sau, tôi được biết thêm ở đây có căn nhà số 22 của chị em Lan và Phượng. Cả hai đều là sinh viên, chị sinh viên năm thứ ba, em năm thứ nhất. Bố mẹ và gia đình đều đã đi sơ tán. Đêm 26 tháng 12, một trái bom Mỹ đã biến căn nhà ấy thành một hố sâu. Không còn gì hết ngoài một tập sách cháy dở và một vài mảnh áo bông thấm máu của hai chị em Lan và Phượng.

---------------
1. Dễ dàng nhận thấy sách in thừa 1 số 0. Vì nếu là 100 ngàn tấn thì:
         100.000 / số phi vụ = 100.000 / (729 + 3920) = 21 tấn/ phi vụ. Nghĩa là mỗi máy bay trung bình chở 21 tấn bom, quá lớn so với máy bay ngày ấy. 



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:17:19 AM
        Còn có gia đình ông Đoan, khi bom B52 nổ, ông bà bị chết vùi ngay dưới chân cầu thang. Hai cô con gái của ông bà kịp chạy xuống hầm. Nhưng cửa hầm sập và một ống nước gần đó bị vỡ. Nước tuôn như xối vào căn hầm nhỏ. Hai chị em thét lên kinh hãi và bằng đôi tay nhỏ yếu của mình, cuống cuồng đào bới. Nhưng khối nước vô tình cứ dâng lên, dâng lên mãi cho đến khi toàn bộ căn hầm bị nước ngập đầy.
       
        Ở thôn Gia Thụy, Gia Lâm có gia đình bác Hiển, chỉ trong một trận bom, cả nhà 10 người, chết 9. Gia đình bác Quốc bị một quả bom cướp đi sinh mạng của bà mẹ già cùng đàn cháu thơ.
       
        Tại thị trấn Yên Viên có một chiếc xe ca đang chở khách. Bom B52 đã biến chiếc xe ca thành một đống sắt bẹp dúm. Nhiều người chết và bị thương nặng. họ lần lượt được đưa ra khỏi xe. Chỉ còn một cô gái trẻ bị thương ở cánh tay, máu chảy lênh láng. Còn đôi chân thì bị kẹp cứng giữa hai chân ghế, không sao rút ra được. Các anh công an, dân phòng đã dùng đến xà beng để cạy gỡ, nhưng cuối cùng vẫn bó tay. Giữa cảnh đêm khuya rùng rợn ấy, tiếng kêu la đau đớn, tuyệt vọng của cô gái còn kẹt lại trong xe, cứ vang lên não nuột từng hồi cho đến khi hoàn toàn lịm tắt.
       
        Trước đó bốn hôm, vào lúc 2 giờ 38 phút rạng sáng 22 tháng 12, bệnh viện Bạch Mai một cơ sở y tế dân sự vào loại lớn nhất miền Bắc hồi ấy cũng đã bị B52 Mỹ dội bom. Tòa nhà chính của bệnh viện đổ sập, đè lên những căn hầm, trong đó có rất nhiều bệnh nhân và nhân viên y tế đang ẩn nấp. Ban lãnh đạo bệnh viện đã làm đủ mọi cách mà đành bất lực.
       
        Không có chiếc xe cẩu nào đủ sức nhấc nổi khối bê tông và gạch đá khổng lồ ấy. Tiếng kêu khóc từ trong lòng đất vang lên yếu ớt, nghe như từ cõi xa xăm vọng về. Các bác sĩ, y tá đã phải dùng những ống cao su nhỏ, luồn qua những khe nứt để bơm sữa xuống cho những người bị nạn. Sau đó nhiều người đã chết vì ngạt, vì đói hoặc vì chấn thương.
       
        Có một câu chuyện đau lòng mà báo chí hồi đó đã đưa tin. Một đôi trai gái, đều là bác sĩ của bệnh viện Bạch Mai, đã chuẩn bị ngày hôn lễ. Thiếp mời dự tiệc cưới đã gửi đến tất cả bè bạn. Vậy mà, đêm nay, những quả bom độc ác của Nich-xơn đã cướp đi mạng sống và hạnh phúc của hai người.
       
        Em Đặng Thị Hà, 16 tuổi, học sinh lớp 10 ở khu phố Gia Lâm, đã bị bom Mỹ giết hại ngay trong đêm 18. Cha em, ông Đặng Văn Phúc đã làm bài thơ khóc con bằng những lời thống thiết:

                "Cha khóc con bằng máu trái tim
                Sao nó lại giết con,
                                             Hà ơi! Sao thế?
                Dấu hỏi lớn xoáy vào lòng cha, đau xé!"

       
        Và còn biết bao chuyện thương tâm khác nữa. Nhân dân ta căm hờn đến nghẹn cổ khi nghĩ đến những kẻ luôn khoe mình là văn minh nhất thế giới, "nhân quyền" nhất thế giới, lại đem ưu thế tuyệt đối của sức mạnh không quân, dội đau thương tang tóc lên đầu một dân tộc khác (Chú thích:Không chỉ tàn sát người Việt Nam, trong 12 ngày đêm năm 1972, máy bay Mỹ còn ném bom, phóng tên lửa vào cả những cơ quan đại diện ngoại giao, những Đại sứ quán (Pháp, Ấn Độ, Cu-ba, Ai Cập, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, An-ba-ni, Cam-pu-chia...).
       
        Ném bom vào bệnh viện Bạch Mai, rắc bom xuống những khu phố, thị trấn, làng mạc đông dân như Khâm Thiên, Gia Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ, An Dương hoàn toàn không phải là sự nhầm lẫn của không lực Hoa Kỳ mà là ý đồ đen tối của nhà cầm quyền Mỹ. Bên cạnh những mục tiêu quân sự, kinh tế cần phải hủy diệt, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc còn có âm mưu đánh vào những mục tiêu dân sự, nhằm gây tổn thất, thương vong lớn về sinh mạng, làm cho tinh thần dân ta khiếp đảm, lòng dân ta hoang mang. Chúng hy vọng một bộ phận dân chúng sẽ đứng lên gây áp lực, phản đối chính quyền ta đã không chịu nghe theo lời Mỹ, buộc Mỹ phải ném bom rồi đổ trách nhiệm cho nhà cầm quyền Hà Nội. Rõ ràng đây là một âm mưu chính trị, vừa thâm độc vừa bạo tàn. Nhưng đế quốc Mỹ đã lầm to. Tội ác của chúng trong những ngày tháng chạp năm 1972 đã không làm cho quân dân ta nao núng, ngược lại chỉ làm tăng thêm lòng căm thù và quyết tâm chiến đấu của quân dân ta mà thôi.
       
        Thực tế diễn ra trong chiến dịch 12 ngày đêm đã chứng minh điều đó.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:28:37 AM
       
         Câu hỏi 20: Hành động man rợ của Ních-xơn và phe lũ đã bị nhân dân thế giới lên án ra sao
       
        Đáp: Gieo gió ắt gặt bão, hành động tàn bạo, man rợ của Mỹ đã bị cả loài người có lương tri phẫn nộ lên án. Năm mươi chính phủ (kể cả những nước đồng minh của Mỹ ở châu Âu), 15 tổ chức quốc tế và nhiều nghị sĩ trong Hạ viện, Thượng viện Mỹ đã kịch liệt phê phán Ních-xơn.
       
        Ông Oét-đơn Ây Brao (Weddon A Brown) Giáo sư lịch sử Viện Bách khoa Viếc-gi-nia (Virginia) Mỹ, trong cuốn sách "Chiếc trực thăng cuối cùng kết thúc vai trò của Mỹ ở Việt Nam" đã viết:
       
        "Trước mắt toàn nhân loại, hình ảnh của nước Mỹ thật là đen tối. Bạn bè của Mỹ trong Hạ nghị viện Ca-na-đa đã coi hành động này là rất xấu xa và họ đã đồng loạt bỏ phiếu phản đối Mỹ".
       
        Tờ báo Pháp "Thế giới" (Le Monde) gọi các cuộc ném bom của Mỹ là "hành động kinh tởm, có thể sánh với các cuộc ném bom tàn sát của phát xít Hít-le".
       
        Một tờ báo Nhật Bản nhận xét: Mỹ là "tên khổng lồ mù quáng". Một bản tin ở Ác-hen-ti-na (Argentina) đã gọi các cuộc không tập của Mỹ là "hành động diệt chủng".
       
        Tổng thư ký Liên hiệp quốc Van-hem (Kurt Waldheim) lên tiếng tỏ ý "bất bình". Còn Giáo hoàng Pôn II (Paul II) thì bày tỏ "đau đớn sâu sắc trước con số quá lớn những nạn nhân do Mỹ gây ra".
       
        Thủ tướng Thụy Điển, ông Ô-lốp Pan-mơ (Olop Palme) vạch trần "Tội ác của Mỹ có thể so sánh với các cuộc tàn sát man rợ nhất của bọn Đức quốc xã trong đại chiến thế giới lần thứ hai".
       
        Thủ tướng Tây Đức Bơ-ren (Willy Brandt) giữ thái độ im lặng ngoại giao, nhưng trong khi nói chuyện với bạn bè, ông đã phê phán cuộc ném bom của Ních-xơn là "kinh tởm và không thể hiểu nổi".
       
        Chủ tịch Công đảng Anh Roi-gien-kin (Royjenkins), bạn gần gũi của Mỹ, cũng gọi cuộc ném bom bằng B52 xuống Hà Nội là "hành động mất lòng người nhất trong lịch sử gần đây".
       
        Vừa từ châu Âu trở về, ông Cốp-pơ (De Lon Cooper)Giáo sư trường Đại học Brown (Mỹ), người vừa được giải Nô-ben về vật lý đã thông báo rằng "ở Việt Nam, Mỹ đang tự biến thành những tên Đức quốc xã".
       
        Mọi người còn nhớ chị Giên Phôn-đa (JaneFonda)  (Chú thích: Jane Fonda, ngôi sao sáng Hollywood, giải Oscar 1971, người đứng cạnh nhân dân Việt Nam chống cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.) nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng Mỹ đã từng khóc như mưa trước tội ác của Mỹ ở Việt Nam: "Tôi đau cho nỗi đau mất mát của nhân dân Việt Nam, cho nỗi đau mất mát của chính đất nước tôi, một nước tự cho là văn minh giờ đây có nguy cơ trở lại thời kỳ hoang dã”.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:30:38 AM
         Có một người đồng lõa với Ních-xơn trong kế hoạch dùng B52 hủy diệt Hà Nội, những năm về sau, có lẽ bị cơn ác mộng Việt Nam ám ảnh và do lương tâm bị cắn rứt, đã viết lên những chương sám hối trong cuốn hồi ký của ông ta. Đó là tiến sĩ Kít-xinh-giơ, cố vấn an ninh của tổng thống Mỹ, cố vấn đặc biệt đoàn đàm phán của chính phủ Hoa Kỳ tại hội nghị Pa-ri. Trong cuốn hồi ký nhan đề "Những năm tháng ở Nhà Trắng” (Chú thích: Hen ri Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Nxb Fayard, Paris, 1979.), Kít-xinh-giơ kể về quá trình dẫn đến cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II, sự thất bại thảm hại của nó, nỗi nhục của nước Mỹ, sự phẫn nộ của mọi người trên thế giới và trong nước Mỹ đối với Ních-xơn và ông ta.
       
        Trong hồi ký, Kít-xinh-giơ liệt kê ra hàng loạt những thí dụ về sự lên án ấy. Sau đây là những đoạn trích dẫn khá thú vị:
       
        "Báo Mặt trời Ban-ti-mo" nhận xét: "Đây là sự kết thúc của một "trò chơi chữ" ở Việt Nam, ám chỉ câu nói "Hòa bình đã ở trong tầm tay" của tôi đưa ra để xoa dịu dư luận và đánh lạc hướng Hà Nội sau khi có thỏa thuận tháng 10".
       
        "Thời báo Niu Yoóc" đặt câu hỏi: "Chủ trương ném bom Hà Nội là một sự lừa dối hay là sự thơ ngây của chính quyền?" và phê phán; "Bằng hành động này, Ních-xơn đã làm cho nền văn minh của nước Mỹ sụp đổ. Nước Mỹ có nguy cơ trở lại thời kỳ đồ đá, trở thành đất nước của những kẻ dã man".
       
        "Tờ Bưu điện thành Lu-i", dưới tiêu đề "Sự điên khùng mới ở Việt Nam” có đoạn viết: "Mỹ càng ném bom thì sự phẫn nộ của dư luận càng tăng. Nhiều người tin rằng chính phủ Mỹ đang cố tình sát hại hàng loạt dân thường trong một chiến dịch khủng bố hết sức bừa bãi”.
       
        "Báo “Quả cầu Bô-xtơn" tố cáo: "mưa bom B52 tiếp tục gây thêm chết chóc mỗi ngày".
       
        "Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn" cho rằng: "Đây là những cuộc ném bom khủng bố”.
       
        "Báo Tin hàng ngày Si-ca-gô" nhận xét: "Đưa máy bay B52 "rải thảm" lên đầu người dân Thủ đô Hà Nội là điều sỉ nhục đối với mọi người trên trái đất".
       
        "Thời báo Lốt An-giơ-lét": "Đây là tội ác gieo rắc chết chóc và kinh hoàng không thể tha thứ được và là hành động bất chấp mọi lý trí”.
       
        Kít-xinh-giơ viết tiếp:
       
        "Những dẫn chứng trên đây chẳng qua chỉ là vài thí dụ. Trong thực tế, tôi đã nhận được một số lượng thư không thể đếm xuể, phản ứng một cách gay gắt, từ các bạn bè đến các công dân đầy phẫn nộ".
       
        "Những lời buộc tội hành vi phi đạo lý và lừa dối cứ bao vây lấy tôi trong cả thời gian dài. Tính từ man rợ là một từ được nhiều người tặng tôi nhất". Trong quốc hội thì sự phê phán cũng tăng theo thời gian. Thượng nghị sĩ Ma-xki nhận xét: "Chiến dịch ném bom là sai lầm và nguy hại". Nghị sĩ Da-vít đe dọa: "Sẽ kêu gọi Quốc hội cắt ngân sách". Nghị sĩ Sác-bơ nguyền rủa: "Ních-xơn là kẻ không còn lý trí". Nghị sĩ Men-xphin (Chú thích: lên án: "Đây là chiến thuật man rợ của thời kỳ đồ đá". Nghị sĩ Le-xta ví: "Cuộc ném bom bằng B52 là cuộc truy lùng của ma quỷ". Còn nghị sĩ Ken-nơ-đi thì khẳng định: "Chiến dịch ném bom dịp Nô-en làm nổi giận lương tâm tất cả mọi người".
       
        Đó là trong nội bộ nước Mỹ, còn đối với thế giới, Kít-xinh-giơ kể thêm:
       
        "Sự phê phán của các nước cũng rất quyết liệt. Các chính phủ Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Phần Lan, Bỉ... đều lên tiếng phản đối và phê phán hành động của chúng tôi là thất nhân tâm, là không thể bào chữa được. Quyết liệt nhất là chính phủ Thụy Điển. Họ đã so sánh chúng tôi với phát xít Hít-le...".
       
        Búa rìu dư luận tới tấp dồn Ních-xơn, Kít-xinh-giơ và phe lũ vào chiếc ghế của những kẻ bị cáo lớn nhất thời đại.
        Những điều Kít-xinh-giơ viết ra trong tập hồi ký kể trên là những lời tự thú đáng để cho mọi người suy ngẫm.
       
        Hàng chục năm đã trôi qua, nhưng nỗi đau của nhân dân Việt Nam vẫn còn đó chưa nguôi. Những lời nguyền rủa hành động tội ác diệt chủng của bè lũ Ních-xơn năm nào như vẫn còn nhắc nhở mọi người trên trái đất hãy cảnh giác.
       
        Bản chất của chủ nghĩa đế quốc vẫn không hề thay đổi. Lòng dạ của những người cầm đầu nước Mỹ, mà đằng sau lưng họ là những nhà tài phiệt, những tay lái súng, những ông trùm sản xuất, buôn bán vũ khí và phương tiện chiến tranh, những ông vua dầu lửa vẫn không hề lương thiện hơn chút nào. Sự kiện Kô-xô-vô (Kosovo) cùng với hành động diệt chủng nhân danh "can thiệp nhân đạo”, "bảo vệ nhân quyền" của Mỹ và NATO giáng xuống đầu nhân dân Nam Tư trong suốt 78 ngày đêm đầu năm 1999, một lần nữa, là lời cảnh báo khẩn thiết cho tất cả mọi dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:32:21 AM
          
ĐÔI ĐIỀU BÊN LỀ CUỘC CHIẾN ĐẤU
       
        Câu hỏi 21: Trên thân mỗi chiếc B52 đều có in hình một tấm phù hiệu Không quân chiến lược Mỹ. Nội dung của tấm phù hiệu ấy nói lên điều gì?
       
        Đáp: Đêm 18 tháng 12, người đầu tiên báo cáo tin chính xác về chiếc B52 bị tên lửa ta bắn trúng rơi xuống Phù Lỗ là Võ Công Lạng, Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa H61. Ra đi từ sở chỉ huy, sau hàng giờ lặn lội, vượt qua những nơi vừa bị bom Mỹ tàn phá, xe của anh đã đến được cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ. Cả một đống xác máy bay khổng lồ đang cháy dở báo cho anh biết chắc đó là B52 rồi. Nhưng để bảo đảm chắc chắn hơn, anh soi đèn pin cố tìm cho được một cái gì đó dặc trưng của pháo đài bay Mỹ. Và diều anh mong đợi đã đến! Trên một mảnh vỏ máy bay anh phát hiện: một tấm phù hiệu màu sắc sặc sỡ. Nhìn kỹ, thì thấy trên đó vẽ một quả đấm sắt, ba tia chớp, một cành nguyệt quế cùng một hàng chữ STRATEGIC AIR COMMAND. Nhờ biết đôi chút tiếng Anh, Lạng hiểu ngay đó là Bộ chỉ huy Không quân chiến lược. Anh muốn cắt lấy tấm phù hiệu ấy, nhưng với con dao găm nhỏ bé không làm sao cắt được, nên anh lại phải tiếp tục đi tìm. Bỗng một tấm nhãn kim loại nhỏ bằng tấm nhãn vở học trò, đập vào mắt anh, trên đó có ghi chữ "Aircraft Model B52G". Võ Công Lạng sướng run người lên, vội vàng rút dao găm, cạy lấy tấm nhãn hiệu, đút túi, mang về.
       
        Kết quả chuyến đi của Võ Công Lạng làm náo động cả Sở chỉ huy. Trung đoàn trường Trần Hữu Tạo, cầm tấm nhãn B52G trên tay, trong nỗi niềm xúc động, anh thông báo chiến công đầu vẻ vang cho toàn trung đoàn, sau đó báo cáo lên Sở chỉ huy Sư đoàn B61. Chính ủy Sư đoàn Trần Văn Giang, Tư lệnh Sư đoàn Trần Quang Hùng quá đỗi mừng vui, bằng đường dây nóng, báo cáo tin B52 rơi tại chỗ lên Tổng hành dinh và Sở chỉ huy Quân chủng.
       
        Thế là B52 Mỹ đã bị SAM2 của ta bắn rụng giữa bầu trời Thủ đô. Mấy ngày sau trên một tờ báo Hà Nội có đăng ảnh một nữ dân quân, trẻ khỏe, chân mang dép lốp vai khoác súng trường, đang đạp lên tấm phù hiệu biểu tượng của Không quân chiến lược Mỹ. Nhiều người thắc mắc về những hình vẽ trên tấm phù hiệu ấy, nhưng không ai giải thích được rõ ràng.

        Mãi về sau khi nghe bọn giặc lái khai ra mới biết: Quả đấm sắt tượng trưng cho tinh thần kỷ luật sắt thép của quân đội Mỹ; ba tia chớp thể hiện sức mạnh ghê gớm của B52; còn cành nguyệt quế, theo truyện thần thoại Hy Lạp, tượng trưng cho chiến thắng và vinh quang.
       
        Những ai yếu bóng vía nhìn thấy những quả đấm sắt và tia chớp ấy chắc phải sởn da gà. Nhưng với nhân dân Việt Nam thì những thứ đó làm sao hù dọa được Hà Nội, Hải Phòng... đã dám đương đầu với B52 Mỹ và đã kéo cổ chúng từ độ cao 10 ngàn mét xuống tận đất đen.
       
        Dưới bàn chân mang dép lốp của cô dân quân Việt Nam, thần tượng của Không lực Hoa Kỳ, những thứ gọi là siêu đẳng, bất khả xâm phạm, là biểu tượng của kỷ luật nghiêm minh, của sức mạnh khủng khiếp, của chiến thắng và vinh quang... tất cả đều trở thành lố bịch.
       
        Chiến thắng, vinh quang không thuộc về những kẻ xâm lược, bạo tàn.
       
        Chiến thắng và vinh quang thuộc về quân dân anh hùng của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:41:53 AM
       
        Câu hỏi 22: Khi bắt được phi công Mỹ, ngoài súng đạn và trang bị cá nhân, ta còn thu được một lá cờ, gọi là "cờ xin ăn”. Lá cờ đó ra sao?
       
        Đáp: Chắc hẳn mọi người còn nhớ tấm hình chụp một cô du kích Việt Nam bé nhỏ, súng cầm tay, đang áp giải một phi công Mỹ cao lớn. Dưới tấm ảnh có kèm bốn câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu:

                "O du kích nhỏ giương cao súng
                Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
                Ra thế! To gan hơn béo bụng
                Anh hùng đâu cứ phải mày râu"

       
        Tấm hình này được phổ biến rộng rãi trên báo chí nhiều nước. Đặc biệt ở Cu-ba, nó được phóng to nhiều lần, dựng trên các quảng trường lớn, gây ấn tượng rất sâu sắc. Viên phi công trong tấm ảnh đó là Rô-bin-xơn (Robinson), bị bắn rơi ở huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ngày 20 tháng 9 năm 1965. Vừa chạm đất chưa kịp chạy trốn, Rô-bin-xơn đã bị hàng chục người Việt Nam, cả nam lẫn nữ xông vào bắt sống.
       
        Mọi thứ trong người hắn đều bị tịch thu: trước hết là máy liên lạc cấp cứu, tiếp theo là súng ngắn, băng đạn, dao găm, đèn pin, phao bơi, bông băng cá nhân, thuốc chống muỗi, chống vắt, kim chỉ, lưới bắt cá, lưỡi câu sách hướng dẫn tự cứu (trường hợp rơi xuống biển hay lạc vào rừng sâu. . . ) và cả sách Kinh Thánh. Đặc biệt còn có một mảnh vải lụa mỏng, cỡ 20x40cm, in cờ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, bên dưới có in những hàng chữ nhỏ li ti. Đó là lời thỉnh cầu của viên phi công, nếu bị bắt thì xin được cho ăn, cho ở, được che chở, bảo vệ. Những câu chữ ấy được in bằng nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Hoa, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia, Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia... .
       
        Hôm ấy các chiến sĩ dân quân và bà con trong xóm vây quanh anh cán bộ xã đội, cạnh đó là Rô-bin-xơn ngồi ủ rũ, nghe anh đọc những câu tiếng Việt in dưới lá cờ. Khi nghe đến câu: "Nhờ quý ông giúp đỡ cho tôi được về nước, chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông” , thì mọi người bỗng cười phá lên. Có những cô gái ôm nhau cười ngặt nghẽo. Tên giặc lái không hiểu gì, cúi gằm mặt, lấm lét. Có lẽ hắn chưa nhận thức được một điều đơn giản nhất: chính quyền Mỹ đưa hàng triệu quân sang đây bắn giết dân thường, cho hàng ngàn máy bay đến ném bom tàn sát người vô tội, mặc nhiên đã biến mỗi người dân hiền lành của đất nước này trở thành một chiến sĩ kiên cường chống giặc cứu nước.
       
        Làm gì có chuyện ai đó lại đi giấu giếm, che chở cho những kẻ vừa dội bom lên đầu mình, giúp đỡ đưa nó về nước để được chính phủ Mỹ đền ơn.
       
        Nực cười hơn nữa là trong những câu xin xỏ của phần tiếng Việt, chúng chỉ cầu xin "quý ông", còn "quý bà" thì chúng không nhắc tới. Và đó là lý do làm cho các chị em ôm nhau cười. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, chính các "quý bà" đã cùng các "quý ông" dân quân tự vệ bắn rơi biết bao máy bay, tóm cổ biết bao phi công Mỹ. Thú vị thay, người dẫn độ Rô-bin-xơn từ xã lên huyện hôm nay, lại không thuộc phái mày râu, mà chính là cô Trần Thị Kiên Lai, "o du kích nhỏ" của xã Phúc Trạch kiên cường.
       
        Trong chiến dịch 12 ngày đêm, phái nữ Việt Nam cũng lập thành tích xuất sắc, phối hợp chiến đấu với bộ đội bắn rơi nhiều máy bay kể cả máy bay F111 và bắt sống nhiều giặc lái, trong đó có nhiều giặc lái B52 của Không quân chiến lược Hoa Kỳ.

        Bàn chân của các nữ dân quân ta cũng đã từng phẫn nộ đạp lên những lá "cờ xin ăn" nhục nhã ấy. Để giới thiệu rõ hơn, xin dẫn ra đây đoạn lời ghi bằng tiếng Anh:
       
        "I am a citizen of the United States of America. I do not speak your language. Misfortune forces me to seek your assistance in obtaining food, shelter and protection. Please take me to someone who will provide for my safety and see that I am returned to my people. My government will reward you”. .
       
        Và sau đây là đoạn ghi bằng lời Việt:
       
        "Tôi là người Mỹ. Tôi không nói được tiếng Việt. Gặp bước không may tôi phải nhờ quý ông giúp đỡ kiếm thức ăn, chỗ ở và nhờ bảo vệ tôi. Rồi tôi muốn nhờ quý ông đưa tôi về nước. Chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông”.
       
        Trong buổi gặp gỡ một phái đoàn Mỹ tại nhà khách Chính phủ ta tại Hà Nội ngày 23 tháng 6 năm 1997, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói với ông Mắc Na-ma-ra (Robert Mc Namara), cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ rằng: "Mỹ không thắng được ở Việt Nam vì Mỹ không hiểu Việt Nam". Do không hiểu Việt Nam nên Mỹ đã liên tiếp phạm sai lầm và liên tiếp thất bại.
       
        Qua cái lá "cờ xin ăn" xấu xa và trơ trẽn này người ta cũng thấy rằng Mỹ chẳng hiểu gì về đất nước và con người Việt Nam cả. Mỹ thua trong toàn bộ cuộc chiến tranh cũng như thua trong đợt tập kích bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng năm 1972 là điều dĩ nhiên.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:44:09 AM
        
         Câu hỏi 23: Một vài tờ báo đưa tin: có những nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu cải tiến thành công bộ phận nâng cao tầm bắn cho tên lửa SAM2, nhờ đó mới hạ được B52 của Mỹ. Độ chính xác của nguồn tin đó?
        
        Đáp: Nguồn tin trên hoàn toàn không có cơ sở. Sự đóng góp của các nhà khoa học quân sự Việt Nam, của các chuyên gia Liên Xô cùng cán bộ nhân viên kỹ thuật. của Quân chủng Phòng không - Không quân trong quá trình cải tiến khí tài tên lửa SAM2 để chống nhiễu, chống hỏa tiễn Sơ-rai, hoặc để tránh tình trạng đạn tên lửa ta bị mất điều khiển, rơi xuống đất... là vô cùng đáng trân trọng. Năm lần cải tiến lớn đã góp phần không nhỏ nâng cao hiệu suất chiến đấu và hạn chế tổn thất cho bộ đội tên lửa, đã được ghi nhận như là những chiến công (Trong việc giúp Việt Nam cải tiến tên lửa SAM2 qua quá trình chiến đấu với không quân Mỹ, các chuyên gia Liên Xô như Tổng công trình sư Sáp-cun , kỹ sư trưởng tên lửa Sa-pen-cô là những người có công lao rất lớn.). Tuy nhiên, việc cải tiến để nâng tầm bắn cho SAM2 thì không hề có.
        
        SAM2 là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Surface - To Air Missile Type 2" (Tên lửa đất đối không kiểu 2) do phương Tây đặt ra để gọi một loại tên lửa của Liên Xô, mang tên Đờ-vi-na, tên của một dòng sông Nga. Tên lửa Đờ vi na ký hiệu CA-75M, cải tiến từ SAM1 được Liên Xô trang bị cho Việt Nam từ đầu năm 1965.
        
        Bản thân SAM2, tự nó đã có tính năng bắn tới độ cao 27 ki-lô-mét, độ xa 34 ki-lô-mét, vượt hơn hẳn tầm bay cao của B52 Mỹ. Ngay SAM1 cũng đã có thừa khả năng đó.
        
        Dẫn chứng cụ thể là ngày 1 tháng 5 năm 1960, một máy bay trinh sát tầng cao kiểu U2 của Mỹ (Tổng thống Mỹ lúc này là Ây-xen-hao (Eisenhouer), do phi công Pau-ơ (Gay Powers) lái, cất cánh từ một sân bay ở Pa-kít-xtan, xâm nhập bầu trời Thủ đô Mát-xcơ-va, đã bị tên lửa SAM1 của Liên Xô bắn hạ trên vùng trời Xvéc-lốp (Sverdlovsk ) ở độ cao 20 ki-lô-mét.
        
        Còn ở Việt Nam thì ngay từ ngày đầu ra quân, tên lửa SAM2 của ta, cụ thể là Tiểu đoàn 64, Trung đoàn H36, ngày 26 tháng 7 năm 1965 đã hạ tại chỗ một máy bay trinh sát không người lái BQM 34A của Mỹ ở độ cao 19 ki-lô-mét trên bầu trời Hà Tây. Hoặc như ngày 7 tháng 2 năm 1966, tại Hà Nội, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn H38 cũng bắn rơi tại chỗ một chiếc BQM 34A ở độ cao 20 ki-lô-mét. Bác Hồ đã trực tiếp đến xem phòng trưng bày xác chiếc máy bay này. Và còn nhiều trường hợp khác nữa.
        
        Ở đây xin được nói thêm về uy lực của SAM2. Đầu đạn tên lửa SAM2 chứa một khối lượng thuốc nổ bằng 200 ki-lô-gam TNT, có sức công phá rất mạnh. Khi viên đạn bay lên, còn cách mục tiêu 60 mét, hiệu ứng vô tuyến sẽ kích thích đầu đạn tự nổ. Nếu gặp đạn SAM2, cùng một lúc phải chịu đựng sức dồn ép cực mạnh của sóng xung kích, sức nóng hàng ngàn độ của một quả cầu lửa bùng lên, với số lượng 12 ngàn mảnh đạn phóng ra, pháo đài bay B52 của Mỹ dù rất to xác nhất định cũng phải rơi.
        
        Qua những thí dụ kể trên, chúng ta thấy rõ việc cải tiến nâng cao tầm bắn cho tên lửa SAM2 là không cần thiết, mà trong thực tế là không hề diễn ra. Đây là sự hiểu lầm đáng tiếc của một vài nhà báo (Có thể nhầm lẫn với việc cải tiến nâng tầm bắn cho một loại tên lửa đất đối đất của Binh chủng Pháo binh.). Một lần nữa chúng tôi xin được cải chính.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:46:04 AM
        
        Câu hỏi 24: Có một người Việt xa quê hương đã hiến kế đánh B52. Sự việc cụ thể ra sao?
        
        Đáp: Đây là một câu chuyện xúc động về một người Việt xa quê, sinh sống ở nước Anh mà chúng tôi tin rằng đó là một nhà khoa học. Với tấm lòng luôn hướng về Tổ quốc, sau nhiều ngày nghiên cứu, ông đã hoàn thành một tài liệu gọi là "Hiến kế đánh máy bay B52", dày 16 trang đánh máy. Phần chủ yếu của tài liệu mang đề "Mìn trên không chống oanh tạc cơ B52".
        
        Tài liệu được ông gửi về nước qua đường Bộ Ngoại giao. Ngày 20 tháng 9 năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân nhận được một công văn "Thượng khẩn" của Thiếu tướng Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện, kèm theo tài liệu hiến kế nói trên.
        
        Nội dung tài liệu được tác giả trình bày rất cụ thể. Theo hình vẽ, đó là một quả mìn treo dưới một quả khinh khí cầu, với kích thước được hướng dẫn rất chi tiết và vẽ bằng bút màu. Tiếp theo, tài liệu trình bày cách bố trí những quả khinh khí cầu trên không, ở hướng B52 bay vào.
        
        Phần kết luận tác giả viết: "ưu điểm của lưới khinh khí cầu nằm ở sự bất ngờ của nó và ở tính chất toán học của lưới. Sẽ không có chiếc B52 nào thoát khỏi, do nơi chúng bay mau, khó xoay trở quanh co. Thêm nữa, khinh khí cầu lại hoàn toàn vô hình đối với ra-đa của Mỹ".
        
        Qua câu chữ của tác giả, chúng tôi nghĩ rằng ông gốc là người con của miền Nam. Tiếc thay cho đến bây giờ chúng tôi vần không biết được họ tên của ông để giới thiệu lên trang sách này.
        
        Thiếu tướng Đinh Đức Thiện dặn dò trong công văn: "Nếu có điều nào chưa rõ thì các anh gửi thư lên chỗ tôi, tôi sẽ chuyển qua Bộ Ngoại giao nhờ hỏi lại. Nếu thấy cần thiết, mời vị ấy về trao đổi cụ thể, vào lúc nào đó thì các anh cũng cho biết để nhờ Bộ Ngoại giao có thể mời về được”.
        
        Nhưng rất tiếc là trong thời gian này, tình hình đất nước diễn biến rất khẩn trương, bộ đội phòng không không quân vừa chiến đấu ở phía trước, vừa sẵn sàng chiến đấu ở phía sau, lại vừa phải ra sức chuẩn bị mọi mặt để đối phó với âm mưu mới phức tạp của Mỹ, cho nên, mặc dầu rất cảm kích và biết ơn tấm lòng của một người con đất Việt, tuy ở nơi đất khách quê người, vẫn quan tâm sâu sắc đến vận mệnh đất nước, Bộ Tư lệnh Quân chủng vẫn đề nghị Thiếu tướng Đinh Đức Thiện chuyển tài liệu này cho cơ quan trên Bộ có điều kiện hơn để nghiên cứu.
        
        Chuyện đó rồi cũng qua đi, vì được biết "lưới mìn khinh khí cầu" có chỗ khó thực hiện. Vào năm 1967, Quân chủng Phòng không - Không quân cũng đã từng thả khinh khí cầu chặn máy bay địch bay thấp, dây thả bóng ngắn, vài ba ki-lô-mét mà còn khó khăn. Giờ đây chặn B52 ở độ cao 10 ki-lô-mét, việc đó rõ ràng quá khả năng của chúng ta.
        
        Dầu sao, qua câu chuyện này, chúng ta cũng hiểu thêm tấm lòng hướng về Tổ quốc của bà con người Việt ở nước ngoài, mong muốn được góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 11:54:25 AM
        Đã từ lâu lắm, cách đây hơn 80 năm, phong trào yêu nước của đồng bào ta ở nước ngoài đã hình thành ở Pháp, vào thời điểm xuất hiện các nhà yêu nước Việt Nam lỗi lạc; Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc.
       
        Phong trào đặc biệt sôi nổi vào mùa xuân năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Pháp dự hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô (Fontainebleau). Những cuộc nghênh tiếp trọng thể, những buổi gặp gỡ thân tình giữa Cụ Hồ với đại biểu các giới trí thức, công nhân đã gắn bó tình cảm tha thiết của bà con ta ở nước ngoài đối với vận mệnh của Tổ quốc, từ đó, cho đến suốt cả 30 năm sau.
       
        Từ khi hai phái đoàn đàm phán của hai miền Nam-Bắc nước ta sang dự Hội nghị Pa-ri năm 1969, kiều bào ta ở Pháp, phối hợp với bạn bè Pa-ri, đã tổ chức những cuộc đón tiếp tưng bừng, sau đó là những cuộc mít tinh, hội thảo, họp báo ủng hộ Việt Nam chống Mỹ liên tiếp diễn ra suốt trong nhiều năm.
       
        Không chỉ ở Pháp, hoạt động của các tổ chức người Việt còn lan rộng sang nhiều nước khác như Mỹ, Ca-na-đa, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Bỉ, Ý, Anh, Tây Ban Nha... Mỗi bước thăng trầm của cuộc kháng chiến ở quê hương đều có tấm lòng cùng sự hỗ trợ tinh thần, vật chất hết sức quý báu của đồng bào ta ở nước ngoài.
       
        Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam càng kéo dài, phong trào nhân dân thế giới phản đối đế quốc Mỹ càng bùng lên mạnh mẽ. Những bài hát Việt Nam, những khẩu hiệu ủng hộ Việt Nam vang lên trên nhiều thành phố ở Tây Âu, Bắc Âu và Bắc Mỹ. Những lá cờ đỏ hoặc nửa đỏ nửa xanh, có ngôi sao vàng ở giữa, được giương cao trong các cuộc mít tinh, diễu hành, đông hàng ngàn, hàng vạn người, chật ních các quảng trường, kéo dài trên nhiều đại lộ. Tất cả những hoạt động đó của bạn bè quốc tế đều có sự góp phần tích cực của các tổ chức người Việt và bà con người Việt yêu nước ở các nước nói trên.
       
        Những giọt nước mắt của đồng bào xa xứ đã từng âm thầm nhỏ xuống khi Bác Hồ qua đời. Niềm âu lo của bà con khi Tổng thống Ních-xơn cho ném bom Hà Nội, Hải Phòng cho đến khi nghe tin B52 Mỹ liên tiếp bị bắn rơi và tin Mỹ phải chấm dứt ném bom bỗng òa lên thành nỗi vui sướng tột cùng, thể hiện qua ánh mắt hân hoan, qua những nụ cười rạng rỡ và cả những dòng lệ tuôn rơi vì vui mừng và hạnh phúc.
       
        Trong khi đó ở Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu, kẻ đã van xin Mỹ "ném bom cho tan nát miền Bắc", đã hí hửng vui mừng trước cuộc ném bom của B52 hủy diệt Hà Nội. Một tờ báo Pháp mô tả sự bỉ ổi của Thiệu là: "xấu hổ hơn cả sự xấu hổ".
       
        Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, trong không khí tưng bừng của ngày hội lớn giữa thủ đô Pa-ri, đông đảo kiều bào ta cùng bè bạn năm châu bốn biển đổ dồn về Trung tâm Hội nghị quốc tế Klê-be (Kléber). Cả rừng người, rừng cờ hoa rực rỡ. Mọi người hân hoan chúc mừng hòa bình ở Việt Nam và hoan nghênh thắng lợi tuyệt vời của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán ở Pa-ri.
       
        Nói sao cho hết tấm lòng của đông đảo đồng bào ta ở hải ngoại. Dù ở phương trời nào, dù mang nhiều quốc tịch khác nhau, bà con ta vẫn luôn luôn tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, tự hào mình là con em đất Việt vẫn luôn luôn hướng về Tổ quốc, trước đây trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như hiện tại và tương lai trong công cuộc "xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:22:45 PM
 
        Câu hỏi 25: Gần đây ở Mỹ có người nói: Việt Nam đã đối xử vô nhân đạo với các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh. Sự thật có đúng như vậy không?
       
        Đáp: Trước hết cần hiểu rằng: những kẻ mà nhân dân ta gọi là giặc, giặc lái, đại diện cho một chính quyền hiếu chiến như tập đoàn Ních-xơn, cho quân đi xâm lược, gieo tội ác lên đầu nhân dân ta bằng bom đạn hủy diệt, kể cả những thứ mà luật pháp quốc tế cấm sử dụng như chất độc hóa học, bom bi, bom na-pan, với cuồng vọng dùng sắt thép để khuất phục một dân tộc, kẻ đó hoàn toàn không đủ tư cách để nói chuyện với chúng ta về nhân đạo, nhân quyền.
       
        Hãy nghe Oan-tơ Cô-li, trung tá sĩ quan điện tử trên chiếc B52D xuất phát từ U-ta-pao, bị bắn rơi đêm 22 tháng 12 năm 1972, nói: "Ném bom Hà Nội, địa chỉ thiêng liêng nhất của người Việt Nam chẳng khác gì mang bom dội xuống Oa-sinh-tơn, thủ đô của người Mỹ (Trích "Sự kiện và Nhân chứng" số 517)
       
        Còn đây là lời thú tội của Ri-sớc Giôn-xơn, thiếu tá hoa tiêu trên chiếc B52G, xuất phát từ Gu-am, bị bắn rơi đêm 18 tháng 12: "Hàng loạt nhà ở, trường học, bệnh viện, chợ búa của Hà Nội bị bom B52 Mỹ tàn phá. Tôi thực sự đau lòng và lấy làm nhục vì đã tham gia cuộc ném bom hủy diệt này (Trích "Sự kiện và Nhân chứng" số 517 ra ngày 23 tháng 12 năm 1999.)".
       
        Nhân dân ta có quyền căm giận giặc Mỹ bạo tàn. Nhưng với truyền thống văn hóa bốn ngàn năm, với tấm lòng nhân ái cao cả, nhân dân ta đã đối xử hết sức nhân đạo với những kẻ thù dã bị bắt làm tù binh. Nhiều người Hà Nội còn nhớ một buổi sáng tháng 10 năm 1967, trên hồ Trúc Bạch thơ mộng của Thủ đô đã diễn ra hình ảnh những người dân Việt Nam, mặc dầu máy bay Mỹ đang lồng lộn trên đầu, vẫn dũng cảm lao ra giữa hồ nước để kéo vớt viên thiếu tá phi công Mỹ sắp bị chết chìm; đưa lên bờ, rồi đưa vào bệnh viện (Đó là Giôn Mác-kên (John Mc Cain) lái chiếc A4E ném bom nhà máy điệnYên Phụ, bị Tiểu đoàn tên lửa 61 bắn rơi ngày 16-10-1967).
       
        Các bệnh viện ở Hà Nội đã chứng kiến biết bao cử chỉ cao thượng của các bác sĩ, nhân viên y tế Việt Nam, nén chặt lòng căm phẫn, để ra sức cứu chữa cho những phi công Mỹ bị thương lúc nhảy dù.
       
        Từ trên trời rơi xuống, chưa kịp hoàn hồn vì sợ và vì cái lạnh khủng khiếp, chúng đã phải giơ tay lên trời để dân quân ta bắt sống. Liền sau đó là những người dân mà thân nhân họ vừa bị bom Mỹ giết hại, với ánh mắt rực lửa căm thù, xông tới tên giặc như muốn băm vằm nó ra làm trăm mảnh. Nhưng, ngay lập tức đã có những cánh tay dang rộng của các chị, các anh cán bộ xã kịp thời ngăn chặn lại.
       
        Đó là ở bên ngoài. Còn khi đã vào trại giam, họ được đối xử ra sao?
       
        Thời đánh Mỹ, Hà Nội có một trại giam đặc biệt nằm trên đường phố Hỏa Lò, là nơi giam giữ những tù binh Mỹ, gọi là trại Hỏa Lò. Chính những tù binh phi công Mỹ dã đặt cho nó cái tên khá mỉa mai: "Khách sạn Hin-tơn" (Khách sạn Hintơn (Hillton Hotel): khách sạn năm sao nổi tiếng ở Mỹ.). Trong những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc nước ta, nhất là vào những ngày cuối năm 1972, "Khách sạn Hin tơn" thường xuyên tấp nập những vị khách không mời mà đến: các phi công của Không lực Hoa Kỳ. Họ là những quân nhân thuộc các binh chủng khác nhau trong Quân chủng Hải quân, Quân chủng Không quân (gồm không quân chiến lược, không quân chiến thuật); cấp bậc từ trung úy đến đại tá, với đủ loại màu da: da trắng, da đen, da nâu, da đỏ, da vàng, phần đông là người gốc Mỹ, ngoài ra còn có những người gốc Anh, gốc Đức, Ý, Nhật, Mê-hi-cô...
       
        Hầu hết họ là những phi công lão luyện, có tay nghề cao. Điển hình như Giêm Cát-lơ, thiếu tá anh hùng Không lực Mỹ, phi công kỳ cựu từ đại chiến thế giới lần thứ hai, được ca ngợi là con chim ưng vàng, người lái thần thoại, phi công có sáu giác quan. Hoặc như Ri-sớc Giôn-xơn, viên phi công B52 đầu tiên bị ta bắt, đã có trên 6.000 giờ bay. Nhiều phi công hàm đại tá cũng đã sớm có mặt trong trại giam này. Một số tên tự khai là họ đã được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, như huân chương Quốc phòng, huân chương Hải quân, huân chương Không quân, huân chương Phi hành gia xuất chúng, huy chương Chữ thập đỏ, Ngôi sao bạc, Trái tim hồng... do đã đạt được nhiều chiến tích xuất sắc (mà chắc chắn trong đó có không ít những "chiến tích" dội bom tàn sát đồng bào ta).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:25:36 PM
        Khi mới vào trại giam, mỗi tù binh được cấp ngay chăn màn, quần áo (bộ quần áo kẻ sọc) (Từ đó có cái tên của một bộ phim Cộng hòa Dân chủ Đức « Những phi công trong bộ quần áo ngủ" (Les pilotes en pyjàma)), khăn mặt, bàn chải, xà phòng, gương lược, dao cạo râu... Họ được ở mỗi người một căn buồng thoáng mát, có hộp loa phóng thanh gắn ở góc tường. Trong hoàn cảnh chung hết sức khó khăn của nhân dân ta, cán bộ, chiến sĩ của trại ăn uống rất kham khổ, nhưng chúng ta đã cố gắng dành cho họ những bữa ăn tươm tất.
       
        Hàng ngày, Ban chỉ huy trại đã tổ chức cho các tù binh Mỹ một nếp sinh hoạt bình thường: tập thể dục, đánh bóng chuyền, chơi bi-a, đánh bài, xem phim, đọc sách báo, nghe ra-đi-ô, nhắn tin hoặc viết thư về cho gia đình. Qua loa phóng thanh, họ được nghe tiếng nói truyền cảm, dịu dàng của Thu Hương (Nữ phát thanh viên Thu Hương được binh lính Mỹ đặt tên là Ha-na (Hannah).) trong chương trình dành cho binh sĩ Mỹ, của Đài tiếng nói Việt Nam. Họ thường được thưởng thức những bản giao hưởng tuyệt vời của các nhà soạn nhạc thiên tài thế giới, như Bi-tô-ven (Beethoven), Sô-panh (Chopin), Mô-da (Mozart), Ba-sơ (Bach)... được nghe giới thiệu về nền văn hóa và truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam ta.
       
        Dần dà những nhận thức và tâm lý sai lạc của họ, do từng bị đầu độc bởi những lời tuyên truyền dối trá từ bên nước Mỹ, đã được điều chỉnh lại.
       
        Họ còn được đưa đi xem các nhà bảo tàng. Sau khi xem Bảo tàng Quân đội, một trung tá phi công Hải quân tâm sự với cán bộ ta: "Chúng tôi không thể không kính trọng một dân tộc có lịch sử lâu đời và oanh liệt đến thế". Rồi anh ta cười hóm hỉnh: "Ít nhất đến đây chúng tôi cũng được an ủi vì nước Mỹ chúng tôi không phải là nước đầu tiên thua Việt Nam". Vào xem Bảo tàng Mỹ thuật, một thiếu tá không quân nói: "Nước các ông còn nghèo về vật chất, song tài sản tinh thần, kho tàng văn hóa nghệ thuật thì thật giàu có vô cùng".
       
        Trại còn giúp cho các tù binh Mỹ tự làm báo, ra tờ tạp chí do họ đặt tên: "Đường băng mới" (The New Runway). Họ chia nhau viết bài với đủ loại thơ ca, tường thuật, bình luận, vẽ tranh châm biếm và phân công nhau trình bày, trang trí. Tranh châm biếm bọn họ thường vẽ là hình ảnh méo mó của những vị tai to mặt lớn của chính quyền và quân đội Mỹ với những lời chú thích hết sức chua cay.
       
        Trong trại giam có hai viên đại úy không quân chơi với nhau rất thân. Cả hai đã từng là giáo viên âm nhạc trước khi chuyển sang nghề bay. Đó là Giôn Cô-lin có giọng hát hay và khỏe và Uy-liêm Pớc-kin, chuyên đệm đàn phong cầm cho Cô-lin và các bạn cũng hát trong những giờ sinh hoạt. Vào những dịp lễ Giáng sinh, Ban chỉ huy trại đã cho chăng đèn kết hoa rực rỡ, có ông già và cây thông Nô-en, có cả Chúa hài đồng nằm trong máng cỏ, để cho các tù binh Mỹ được chúc mừng năm mới và cầu Chúa ban phước lành. Trong bữa ăn Nô-en, bọn họ còn được thường thức mỗi người một đĩa thịt ngỗng quay (Thịt ngỗng quay (roast goose) món ăn truyền thống của người Mỹ trong dịp mừng Chúa giáng sinh.) truyền thống của dân Mỹ. Điều đó đã khiến họ rất ngạc nhiên và thú vị. Về sau, chúng tôi được biết đây là theo chỉ thị của Chủ tịch Hố Chí Minh. Từng đi nhiều nơi trên thế giới, am hiểu phong tục tập quán của nhiều nước, nhiều dân tộc, cộng với lòng nhân ái sâu sắc Bác Hồ rất quan tâm nhắc nhở cán bộ ta phải luôn luôn đối xử tử tế với tù binh.
       
        Đại úy Noóc-len Đô-tơ-ri, lái F105D, bị thương nặng cả hai tay, đáng lẽ phải cưa bỏ, nhưng các bác sĩ Việt Nam đã giúp cho đôi tay của anh ta trở lại lành lặn bình thường. Giờ đây, chính anh đã có thể dùng bàn tay khéo léo của mình để cắt những hình trang trí (chim bồ câu, thánh thần, tiên nữ...). Anh ta vui vẻ nói: "Tôi mãi mãi ghi sâu trong trái tim mình tấm lòng cao quý của các bác sĩ và y tá Việt Nam. Người Việt Nam các ông có đủ tất cả các đức tính mà các dân tộc khác phải khâm phục".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:29:12 PM
        Có một đại úy phi công của Hải quân Mỹ khi mới vào trại giam tỏ ra rất kiêu căng. Thái độ kiêu ngạo của những phi công Mỹ, xét cho cùng, cũng là điều hợp lô-gích. Họ là phi công của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đất nước hùng mạnh nhất thế giới, là những vị con trời, cứu tinh cho một quốc gia nhỏ bé (Việt Nam Cộng hòa) đang bị "Cộng sản Bắc Việt xâm lăng". Hơn nữa, không giống những người lính bộ binh dưới mặt đất chuyên làm nhiệm vụ bắn giết, họ bay trên trời cao, tiến hành một cuộc "chiến tranh sạch sẽ", bằng những ngón tay ấn nút, nhẹ nhàng như bấm một cây bút bi. Bom rơi, người chết, họ không nhìn thấy. Trong quân đội Mỹ, họ thuộc hàng những kiêu binh, những người lính "quí tộc”. Mặc dầu đã vào trại Hỏa Lò, một số không ít phi công tù binh Mỹ vẫn còn mang tâm lý đó. Gặp cán bộ ta, một phi công không chịu chào: "Tôi không biết chào người Việt Nam. Ở Sài Gòn, nếu gặp tôi, Nguyễn Cao Kỳ (Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn trước đây.) phải chào tôi trước đấy". Thế mà sau đó, qua những điều được giảng giải và tai nghe mắt thấy trong trại giam, anh ta dần dần thay đổi thái độ. Từ đó, gặp ai anh cũng vui vẻ chào.
       
        Một đại úy không quân nói: "Ồ! Chỉ huy Trại cũng gánh nước tưới rau, cũng đánh bóng chuyền, chơi vật cùng chiến sĩ. Ở quân đội Mỹ làm gì có chuyện đó . Anh ta đặc biệt xúc động khi nhìn thấy các chị cấp dưỡng nhỏ bé, với mấy chiếc xe đạp cũ kĩ mà vẫn bảo đảm cho mọi bữa ăn của họ luôn luôn được kịp thời, chu đáo.
       
        Một thiếu tá không quân khi được phỏng vấn: "Vào đây anh có bị tra tấn, hành hạ gì không" đã trả lời: "Ở Mỹ, tôi và các bạn tôi đã qua hai tuần lễ huấn luyện ở "Trường tự cứu". Mỉa mai thay! Những điều được học ở trường và cuốn sách "Hướng dẫn tự cứu chẳng giúp ích gì cho tôi cả, bởi vì, khi vừa nhảy dù xuống đất, chúng tôi đã thấy ngay các bà, các ông bao vây xung quanh. Vừa nghe họ hô to hai tiếng “hen xấp (Hands up: Giơ tay lên!)?" là chúng tôi đã: phải vội vã đưa hai tay lên trời. Điều mỉa mai hơn hết là khi còn học ở trường, chúng tôi đã bị những người đóng giả Việt cộng đánh cho khá đau, dù là đánh giả, nhưng ở trong trại này điều đó không hề xảy ra. Cái hòm tra điện duy nhất và những chiếc roi gân bò mà tôi được nhìn thấy lại chính là ở "Trường tự cứu bên Hoa Kỳ (Những dẫn chứng về các phi công Mỹ trên đây trích từ báo Quân đội nhân dân, các số ra ngày 2-8 đến 15-8-1969, trong bài phóng sự nhiều kỳ: "Những bằng chứng biết nói")”
       
        Đối với tù binh Mỹ, chúng ta đã dành cho họ sự đối xử tốt như vậy, tuy nhiên có một điều là chúng ta không cho họ có quyền bắt tay chúng ta. Một trung tá không quân nói: "Các ông sẵn sàng tha thứ tất cả, duy chỉ có cái bắt tay... Lúc đầu chúng tôi rất tự ái. Không ngờ bàn tay của chúng tôi lại bị các ông căm giận và khinh bỉ đến thế. Nhưng về sau chúng tôi đã nhận ra: một sự căm giận và khinh bỉ rất dễ hiểu. Các ông không bắt tay, nhưng đối xử với chúng tôi vẫn hết sức độ lượng".
       
        Gần đây ông Chuck Searcy, một cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, về sau làm Giám đốc điều hành Hội luật gia của bang Georgia, trong một chuyến sang thăm Việt Nam đã nói với các phóng viên: "Ban đầu chúng tôi rất e ngại. Nhưng qua tiếp xúc, chúng tôi vô cùng cảm kích trước thái độ rộng lượng của người Việt Nam. Sang đây chúng tôi cảm thấy được tha thứ và được sống trong sự ấm áp của tình người".
       
        Thái độ đối xử độ lượng, khoan hồng của người Việt Nam chúng ta ở mọi thời đại luôn luôn ngời sáng một chủ nghĩa nhân văn cao cả: "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam là như thế.
       
        Ai đó muốn làm cho nhân dân Mỹ hiểu sai về thái độ nhân đạo của Việt Nam, hãy đọc kỹ lời đánh giá sau đây của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra: "Thất bại của Mỹ ở Việt Nam phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa của dân tộc này"(Sách đã dẫn: "Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam" của Mắc Na-ma-ra.)
       
        Thiết nghĩ, có thể coi đây là lời đáp chí lí cho những ai cố tình xuyên tạc sự thật.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:37:16 PM
       
        Câu hỏi 26: Cụm từ "Điện Biên Phủ trên không" xuất hiện từ đâu và có từ bao giờ?
       
        Đáp: Mùa hè năm 1954, quân dân ta đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Nhân dân thế giới biết đến Điện Biên Phủ như là chiến thắng kết thúc cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thực dân xâm lược Pháp, là một chiến thắng quyết định, dẫn tới kết quả của hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève), trong đó các bên cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào - Cam-pu-chia; 30 vạn quân viễn chinh Pháp phải rút hoàn toàn khỏi Đông Dương; các nước Đông Dương sẽ tiến hành tổng tuyển cứ tự do để tiến tới thống nhất nước nhà...

        Nhân loại còn biết đến Điện Biên Phủ như là một "Oa-téc-lô ((waterloo) một địa danh ở Bỉ. Tại đây ngày 18-6-1815, đại quân của Na-pô-lê-ông Bô-na-pác (Napoléon Bonaparte) bị liên quân Anh-Phổ đánh bại, dẫn đến sự sụp đổ của đế chế Na-pô-lê-ông.) của thế kỷ 20", là "hồi chuông báo tử của thực dân Pháp trên khắp quả địa cầu", là "ngọn hải đăng trên biển cả", là "ánh đèn pha chiếu sáng con đường đi của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới", là "ngọn roi thức tỉnh các dân tộc thuộc địa", là "niềm hy vọng to lớn, là sự phục hồi danh dự và phẩm giá cho hàng triệu con người đang sống trong nô lệ và lầm than (Trích thư các nhà lãnh đạo, các chính khách lớn của các nước chúc mừng và ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam.)". . .
       
        Bước sang thời kỳ chống Mỹ, Điện Biên Phủ năm 1954 đã được nối tiếp bằng nhiều "Điện Biên Phủ" khác, trong đó có một "Điện Biên Phủ" hết sức oanh liệt diễn ra trên bấu trời Hà Nội mà báo chí thường gọi là "Điện Biên Phủ trên không”.
       
        Vậy cụm từ "Điện Biên Phủ trên không" xuất hiện từ bao giờ?
       
        Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi được nghe nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Tuyên kể lại: đêm 26 tháng 12 năm 1972, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên thắng lớn. Trong không khí hồ hởi, ngay sáng hôm sau, 27 tháng 12, tại phòng giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam (58 Quán Sứ, Hà Nội), Tổng Giám đốc Trần Lâm thông báo: "Đêm qua bộ đội ta bắn rơi 8 B52. Riêng Hà Nội diệt 5 pháo đài bay, có 4 chiếc rơi tại chỗ. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương các đơn vị lập công và ra lời kêu gọi: "Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn còn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn "Điện Biên Phủ" ngay trên bầu trời Hà Nội, Thủ đô thân yêu của chúng ta".

        Lời của Đại tướng đã tạo cho nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc. Ý nghĩ sáng tác một bài hát mang tên "Hà Nội - Điện Biên Phủ" bỗng lóe lên trong trí óc anh. Ngay đêm hôm đó, trong căn hầm của Đài Tiếng nói Việt Nam giữa lòng Thủ đô rực lửa chiến đấu, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng tuôn chảy trên trang giấy, dưới ngòi bút của Phạm Tuyên: "B52 tan xác cháy sáng bầu trời. Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời. "Rồng" ta lao vút. . . Một trận Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng. Hà Nội ơi! ... Sáng 28 tháng 12, cầm bản nhạc trên tay, Phạm Tuyên đến tòa soạn báo Nhân dân. Bài ca "Hà Nội - Điện Biên Phủ" của anh liền được đăng trên báo Nhân dân và được phát hành ngay sáng 29 tháng 12. Và cũng trong ngày hôm ấy, khi chiến dịch 12 ngày đêm còn đang tiếp diễn, trong chương trình "Tiếng hát gửi về Nam" của Đài Tiếng nói Việt Nam, bài hát đã được phát đi trên làn sóng điện, để rồi những ngày tiếp theo, nó được tung đi muôn phương, đến với bạn bè năm châu, bốn biển.
       
         "Hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội" - lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - "Một Điện Biên nay vùi mộng xâm lăng, Hà Nội ơi" - lời trong bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên - phải chăng là những gợi ý đầu tiên cho sự ra đời của cụm từ đặc biệt "Điện Biên Phủ trên không"?
       
        Thực tế diễn ra là sau cuộc thua mang tính quyết định trên bầu trời Hà Nội, cũng giống như sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 - đế quốc Mỹ đã buộc phải ký kết Hiệp định Pa ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, cam kết tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, chấp nhận rút hoàn toàn quân viễn chinh Mỹ và các nước phe Mỹ ra khỏi Việt Nam... tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho nhân dân ta tiến lên giành toàn thắng vào mùa xuân năm 1975.
       
        Tuy nhiên, ở đây vẫn còn một dấu hỏi là: báo nào, đài nào đã sử dụng cụm từ "Điện Biên Phủ trên không" đầu tiên? Câu hỏi khó khăn ấy đã khiến các cán bộ của Bảo tàng Quân chủng Phòng - Không quân vào cuộc. Các anh chị đã đến các thư viện lớn, lật từng trang báo (Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Mới...) phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973. Cuối cùng họ đã đạt kết quả, tìm ra được đáp số: đó là báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay). Trong số ra ngày 29 tháng 12 năm 1973, bên cạnh bài hát "Hà Nội - Điện Biên Phủ" của nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở trang 2 có một dòng chữ: "Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không".
       
        Như vậy, cái tên đầy hình ảnh và đầy ý nghĩa "Điện Biên Phủ trên không" ấy đã xuất hiện đầu tiên trên tờ báo Nhân Dân của chúng ta. Nó lập tức được làng báo phương Tây hưởng ứng.
       
        Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" – cũng tức là "chiến thắng B52", "chiến thắng 12 ngày đêm từ đó đã nhiều lần được nhắc đến trên các sách, báo, các đài phát thanh, đài truyền hình của nhiều nước trên thế giới trong suốt 30 năm qua.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:39:40 PM
       
THÀNH TÍCH ĐÁNH THẮNG B52 MỸ
       
        Câu hỏi 27: Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" rất oanh liệt! Thành tích cụ thể ra sao?
       
        Đáp: Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Không quân đế quốc Mỹ chưa bao giờ phải chịu sự tổn thất nặng nề như trong chiến dịch đánh vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm 1972. Cụ thể trong 12 ngày đêm có 81 máy bay Mỹ đã bị ta bắn rơi, gồm:
       
        - 34 chiếc B52       - 1 chiếc F105D
       
        - 5 chiếc F111A      - 2 chiếc RA5C
       
        - 21 chiếc F4C-E       - 1 chiếc trực thăng HH53
       
        - 4 chiếc A6A       - 1 máy bay trinh sát không người lái 147SC
       
        - 12 chiếc A7
       
        Sau cuộc ném bom tàn bạo ấy, chính tướng Giooc - Ết-tơ Phó chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ, ngày 30 tháng 12 năm 1972 đã phải thú nhận trên tạp chí "Không lực Hoa Kỳ" (U.S. Air Forces): "Tổn thất về máy bay chiến lược B52 cùng các nhân viên phi hành là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm Góc".

        Kẻ thù công nhận thất bại nặng nề của họ, mặc nhiên cũng là thừa nhận thành tích to lớn của quân dân ta vậy


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:42:21 PM
       
        Câu hỏi 28: Trong chiến dịch đánh thắng B52 Mỹ, địa phương nào, binh chủng nào, đơn vị nào xuất sắc nhất?
       
        Đáp: Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" là chiến công chung của quân dân cả miền Bắc nước ta. Trong chiến công chung ấy, nổi lên có những địa phương, những binh chủng, những đơn vị lập thành tích xuất sắc nhất, đặc biệt nổi bật là:
       
        - So sánh các địa phương, thì Hà Nội là địa phương lập chiến công to lớn hơn cả: bắn rơi 32 chiếc, trên tổng số 81 máy bay của toàn chiến dịch, trong đó có 25 B52, trên tổng số 34 chiếc.
       
        - So sánh các binh chủng thì Binh chủng Tên lửa đạt thành tích cao nhất: bắn rơi 36 trên tổng số 81 máy bay các loại, trong đó có 29 B52 trên tổng số 34 chiếc. Tất cả 16 chiếc B52 bị hạ tại chỗ đều là chiến công của bộ đội tên lửa (Xem sơ đồ "vị trí 16 B52 rơi tại chỗ" đính kèm.).
       
        - So sánh các đơn vị cấp sư đoàn, thì Sư đoàn Phòng không Hà Nội (tức Sư đoàn B61) xuất sắc nhất: bắn rơi 25 B52, rất xứng đáng là đơn vị chủ công của Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong Sư đoàn Phòng không Hà Nội có:
       
        - Trung đoàn tên lửa H61: bắn rơi 13 B52 (8 chiếc rơi tại chỗ) (Bao gồm thành tích của tiểu đoàn 72, thuộc trung đoàn H85 của Hải Phòng, lên phối thuộc với trung đoàn H61, đêm 27-12 hạ tại chỗ 1 B52 rơi trên đường Hoàng Hoa Thám.)
       
        - Trung đoàn tên lửa H57: bắn rơi 11 B52 (8 chiếc rơi tại chỗ).
       
        Đây là hai trung đoàn chưa từng "chạm trán" với B52, nhưng nhờ ra sức học tập kinh nghiệm của các đơn vị đàn anh, tích cực huấn luyện và vận dụng tốt cách đánh theo cuốn "cẩm nang bìa đỏ" nên đã đánh rất giỏi, thắng rất to...
       
        Cấp tiểu đoàn có:
       
        - Tiểu đoàn tên lửa 77: bắn rơi 4 B52 (3 chiếc rơi tại chỗ) là đơn vị có lối đánh thông minh, quả cảm, đạt hiệu quả chiến đấu cao nhất. Trận địa của Tiểu đoàn 77 lập công oanh liệt, về sau được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa của Thủ đô.
       
        - Tiểu đoàn tên lửa 57: bắn rơi 4 B52 (2 chiếc rơi tại chỗ), có trận chỉ bằng 2 quả đạn, trong vòng 10 phút đã bắn rơi 2 chiếc B52.
       
        - Tiểu đoàn tên lửa 78: bắn rơi 3 B52 (2 chiếc rơi tại chỗ) là đơn vị phóng quả đạn đầu tiên mở màn chiến dịch.
       
        - Tiểu đoàn tên lửa 93: bắn rơi 3 B52 (cả 3 chiếc đều rơi tại chỗ).
       
        - Tiểu đoàn tên lửa 59: bắn rơi 3 B52 (có 1 chiếc rơi tại chỗ), lập chiến công đầu toàn chiến dịch (chiếc B52G rơi ở cánh đồng Phù Lỗ đêm 18 tháng 12).
       
        - Tiểu đoàn tên lửa 72: hạ tại chỗ 1 B52, rơi ngay giữa lòng Hà Nội, cách trung tâm Quảng trường Ba Đình chỉ 600 mét. Nơi đây đã trở thành địa điểm bảo tồn chứng tích chiến tranh độc đáo. Một mảnh xác pháo đài bay to tướng cắm ngay giữa lòng hồ Hữu Tiệp đã giúp mọi du khách tận mắt nhìn thấy chiến công tuyệt vời của các chiến sĩ tên lửa Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 03:48:35 PM
VỊ TRÍ 16 CHIẾC B52 RƠI TẠI CHỖ
(Trong những đêm tháng 12 năm 1972)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/DBP%20-%200144_zpsyrrr3drh.jpg)

        Về binh chủng bảo đảm có Trung đoàn Ra-đa H91,đơn vị đầu tiên thông báo "B52 bay vào Hà Nội". Sau đó, liên tục suốt 12 ngày đêm, giống như một cầu thủ cần mẫn ở hàng tiền vệ "mớm bóng" cho tiền đạo làm bàn trên sân cỏ, trưng đoàn đã phục vụ đắc lực cho các binh chủng bạn: Tên lửa, Cao xạ, Không quân, chiến đấu với hiệu quả rất cao, xứng đáng với lời tuyên dương "Không để Tổ quốc bị bất ngờ"...
        
        Do những thành tích đặc biệt xuất sắc nói trên, Binh chủng Tên lửa, Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Trung đoàn Tên lửa H61, H57, Trung đoàn Ra-đa H91 ,Tiểu đoàn Tên lửa 77, các đại đội ra-đa 45, 23, 37 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
        
        Riêng Hà Nội, với thành tích to lớn trong hai cuộc kháng chiến và trong xây dựng hòa bình, đặc biệt là chiến công rực rỡ "Điện Biên Phủ trên không”, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 990 ngày Vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Hà Nội đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu quang vinh "Thủ đô anh hùng”.
        
        Về cá nhân, có Nguyễn Văn Phiệt, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57, Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều phi công lái MIG 21, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
        
        Các tiểu đoàn 76, 77, 78, 79, 57, 93, 94, 72, ngoài huân chương, còn được tặng mỗi đơn vị một bức trướng: "Bắn rơi tại chỗ B52 Mỹ".
        
        Riêng Tiểu đoàn 59, đặc biệt vinh dự, nhận được bức trướng duy nhất mang dòng chữ “Bắn rơi tại chỗ chiếc B52 Mỹ đầu tiên”.
        
        Hai trung đoàn pháo cao xạ H12 và H20 kiên cường bảo vệ Thủ đô, bảo vệ các trận địa tên lửa, cũng được tặng bức trướng "Bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ".
        
        Nhân dân ta vô cùng tự hào về Thủ đô Hà Nội, về Binh chủng Tên lửa Phòng không, về các đơn vị và cá nhân đã góp phần xuất sắc vào chiến thắng lẫy lừng "Điện Biên Phủ trên không" năm ấy.
        
        Xin phép được mở thêm một dấu ngoặc để trả lời câu hỏi: tại sao chúng ta đề cao thành tích bắn B52 hơn các loại máy bay khác và vì sao nhấn mạnh máy bay rơi tại chỗ?
        
        Sở dĩ coi trọng thành tích bắn rơi B52 hơn các loại máy bay chiến thuật là vì một lẽ rất đơn giản: đế quốc Mỹ muốn ép chúng ta bằng sức mạnh tuyệt đối của Không quân chiến lược B52. Để ép lại chúng, không có cách nào hơn là chúng ta phải diệt thật nhiều máy bay B52 của Mỹ. B52 bị bắn rơi càng nhiều, số giặc lái B52 chết và bị bắt càng đông, thì sức ép càng lớn. Thực tế đã chứng minh: sức ép "B52 bị bắn rơi" trên bầu trời Hà Nội đã tạo nên sức ép quyết định buộc Mỹ phải thua trên bàn đàm phán ở hội nghị Pa-ri. Tuy nhiên, không thể quên chiến công bắn rơi các loại máy bay khác.
        
        Còn ý nghĩa của việc bắn rơi máy bay tại chỗ?
        
        "Rơi tại chỗ" là máy bay Mỹ trúng đạn, giặc lái nhảy dù, là những chiếc pháo đài bay bốc cháy, sáng rực trời đêm rồi đâm đầu xuống đất, là hàng đống những khối xác kim loại nằm ngổn ngang khắp đồng, khắp bãi, những bằng chứng hùng hồn tố cáo tội ác bọn xâm lược, là hàng xâu giặc lái bị bắt và bị dẫn về "khách sạn Hin-tơn".
        
        Đối với Mỹ, đó là thất bại không thể chối cãi. Còn đối với bộ đội phòng không - không quân ta thì đó là chiến công đặc biệt xuất sắc được cấp trên lập tức công nhận. Nó giống như những "cú sút tung lưới", khiến kẻ thù choáng váng khiếp đảm, còn quân dân ta thì nức lòng, phấn chấn. Thí dụ đêm 20 tháng 12, đêm thắng lợi giòn giã của Thủ đô ta, 7 chiếc B52 bị bắn hạ trong đó có 5 B52 rơi tại chỗ, thực sự là một trong những đêm kinh hoàng của giặc Mỹ.
        
        Cũng chính vì vậy, trong khi xét thành tích, vấn đề phải coi trọng kết quả bắn rơi B52, nhất là những chiếc B52 rơi tại chỗ là điều hợp lý.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:07:26 PM
       
Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC CỦA
CHIẾN THẮNG "ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG"?
       
        Câu hỏi 29: Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" có ý nghĩa thế nào đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam?
       
        Đáp: Chúng ta còn nhớ: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đã làm rung chuyển Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, cùng với thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc đến vĩ tuyến thứ 20 và chấp nhận cùng ta ngôi vào bàn thương lượng ở Pa-ri. Giôn-xơn đã phải tuyên bố không ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ sau đó.
       
        Sang năm 1971, chiến thắng oanh liệt Đường 9 - Nam Lào, tiếp theo là chiến thắng to lớn của cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam năm 1972 đã giáng những đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Mỹ Ních-xơn, dẫn nó đến nguy cơ sụp đổ hoàn toàn.
       
        Thất bại trên chiến trường đã buộc Mỹ phải thỏa thuận với ta về việc ký kết một hiệp định chấm dứt chiến tranh vào tháng 10 năm 1972. Nhưng rồi như phần trên đã nói, Mỹ nuốt lời hứa, không chịu ký kết như đã thỏa thuận và đưa B52 đến ném bom Hà Nội.
       
        Thì ra, những thất bại vừa qua trên chiến trường miền Nam, dù là rất nặng nề, cũng vẫn chưa đủ để làm nguội cái đầu nóng của viên tổng thống cuồng chiến Mỹ. Ních-xơn không muốn chịu thua trong khi trong tay ông ta còn có một con bài nặng ký: B52.
       
        Khi ra lệnh cho máy bay B52 bay vào Hà Nội, Ních-xơn hoàn toàn tin tường vào sự thành công của chiến dịch ném bom. Ông ta khấp khởi mừng thầm và tràn đầy hi vọng. Hệ thống Phòng không của Bắc Việt chắc chắn sẽ bị nhiễu điện tử của Không quân Mỹ làm tê liệt. Sau cú "sốc ào ạt" của những đợt bom "rải thảm”, quá lắm là ba hoặc bốn ngày, Hà Nội phải sụp đổ. Trong thế thượng phong, phái đoàn Kít-xinh-giơ sẽ bắt phái đoàn Bắc Việt phải cúi đầu. Một số phi công tù binh Mỹ sẽ được trở về với gia đình trước đêm Giáng sinh. Cùng với việc con tàu A-pô-lô 17 (Apollo 17) chở ba nhà du hành vũ trụ Mỹ từ mặt trăng quay trở về Trái đất, chiến thắng của cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II sẽ đưa Ních-xơn lên vị thế tột cùng của đỉnh vinh quang. Ních-xơn sẽ là vị tổng thống đáng kính chủ trì lễ kỷ niệm 200 năm thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và hóa thân trở thành một vĩ nhân trước mắt toàn nhân loại.
       
        Sung sướng như mở cờ trong bụng, Ních-xơn yên tâm cùng vợ lên đường đi nghỉ mát ở Ki-bi-scây-nơ bang Phờ-lo-ri-đa (Florida). Tại đó, ông ta xoa tay chờ tin thắng trận.
       
        Bỗng nhiên, tin như sét đánh ngang tai, ngay trong đêm 18 tháng 12, ông ta nhận được báo cáo: "1 chiếc, 2 chiếc, rồi 3 chiếc B52 không trở về căn cứ". Cơn hoảng hốt của Ních-xơn cứ dồn dập và kéo dài mãi trong những ngày đêm tiếp theo. Hóa ra hệ thống phòng không Bắc Việt không bị vô hiệu hóa. B52 Mỹ cứ bị SAM2 của Bắc Việt liên tiếp bắn rơi. Mấy ngày qua, ông không hề nhận được bất cứ một tín hiệu nào gọi là yếu mềm từ phía Hà Nội cả. Qua rồi đêm Giáng sinh mà ông đặt biết bao kỳ vọng sẽ là một đêm tưng bừng khắp nước Mỹ. Tin con tàu A-pô-lô 17 cùng 3 nhà du hành vũ trụ an toàn trở về trái đất, thành tựu kỳ diệu của loài người, bị chìm đi trong chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Cuối cùng trong tâm trạng bi quan đến cùng cực, Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt ném bom vào lúc 24 giờ, đêm 29 tháng 12.
       
        Kẻ run sợ không phải là người Việt Nam, kẻ bị đè bẹp không phải là Hà Nội. Kẻ trở lại bàn đàm phán trong tư thế chiến bại không phải là phái đoàn Bắc Việt mà chính là phái đoàn Mỹ. Thất bại trong cuộc ném bom man rợ, không còn con bài nào khác để ép ta (sử dụng bom nguyên tử thì Mỹ không dám), không còn cách nào nữa để chối bỏ những đề nghị của Việt Nam, cuối cùng trong cuộc tái họp ở Pa-ri, phía Mỹ đã phải hạ giọng, chấp nhận mọi yêu cầu cơ bản của phái đoàn ta.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:12:35 PM
         Kít-xinh-giơ kể lại trong cuốn hồi ký của mình: "Trước khi tôi lên đường trở lại Pa-ri ngày 6 tháng 1 năm 1973, Ních-xơn dặn tôi: Cho dù điều kiện của đối phương đưa ra thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải chấp nhận một giải pháp. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận trở lại những điều khoản của văn bản hiệp định tháng 10”.
       
        Vậy là sau thất bại của "đợt ném bom Nô-en" vào Hà Nội và trước làn sóng phẫn nộ của nhân dân Mỹ và nhân dân toàn thế giới, cái đầu nóng của Ních-xơn đã nguội đi nhanh chóng như thế đó.
       
        Theo văn bản ký tắt giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn Kít-xinh-giơ lúc 12 giờ 45 ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Trung tâm hội nghị quốc tế trên đại lộ Cơ-lê-be (Kléber), cũng như theo tinh thần Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được các Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973, Chính phủ Hoa Kỳ đã phải:
       
        - Cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
       
        - Cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước.
       
        - Công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, công nhận trên thực tế ở miền Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát.
       
        - Hai bên thả tù binh và dân thường bị bắt.
       
        Nhưng cay đắng hơn cả là Mỹ đã phải chấp nhận một sự nhượng bộ cực kỳ bi thảm, sự nhượng bộ mà tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đã hoảng hốt kêu lên: "Nó đe dọa sự sống còn của chế độ Việt Nam Cộng hòa". Trong khi quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ phải rút hết, thì quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam Việt Nam.
       
        Các quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng của nhân dân ta đã được ghi đầy đủ ở chương I của Hiệp định Pa-ri (Ngày 8-2-1973, trong chuyến sang Hà Nội, Kít-xinh-giơ có đến thăm Viện Bảo tàng Lịch sử. Khi được nghe giới thiệu Lời hịch của Lý Thường Kiệt khắc trên bia đá:

                Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                Tiệt nhiên định phận tại thiên thư...

       
        Kít-xinh-giơ bỗng giật mình, buột miệng thốt lên: Đây chính là điều I của Hiệp định Pa-ri ).
       
        Còn quyền "Quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam" lại được thể hiện ở chương II. Chương II ở điểm 5 ghi rõ: "Mỹ và các nước phe Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày mà không hề có một câu chữ nào nói đến việc "Hà Nội phải cùng rút quân"
       
        Đây là một trong những vấn đề gay cấn nhất, quyết liệt nhất trên bàn hội nghị ở Pa-ri trong suốt mấy năm qua và đó cũng là một trong những điều cốt lõi nhất, mấu chốt nhất trong thắng lợi tuyệt vời của chúng ta trên mặt trận ngoại giao, thắng lợi bắt nguồn từ chiến thắng quyết định trên chiến trường.
       
        Trong nhiều phiên họp, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn luôn đưa ra luận điệu: Bắc Việt xâm lược Việt Nam Cộng hòa, vì vậy Bắc Việt phải rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa.
       
        Phái đoàn ta đã phải liên tục đấu tranh không khoan nhượng chống lại luận điệu này của đối phương: Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, phá tổng tuyển cử thống nhất đất nước, dựng lên chính quyền tay sai, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Mỹ đã sử dụng quân đội Sài Gòn, cùng cố vấn quân sự Mỹ tiến hành từ chiến tranh đơn phương đến chiến tranh đặc biệt, sau đó trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ, rồi mở rộng chiến tranh ra cả nước Việt Nam. Chính Mỹ là kẻ xâm lược, còn chính quyền Sài Gòn chỉ là công cụ của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:14:39 PM
        Làm sao Mỹ có thể bào chữa được sự có mặt ở miền Nam Việt Nam một quân đội viễn chinh gồm cả quân Mỹ và quân các nước phe Mỹ, đông hơn 60 vạn người, cả Hải, Lục, Không quân, với khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh khổng lồ, cùng với 1 triệu lính quân đội tay sai, hàng ngày, hàng giờ tàn sát nhân dân Việt Nam?
        
        Làm sao phái đoàn Mỹ và phái đoàn chính quyền Sài Gòn che giấu được bộ mặt thật của những kẻ đã rước quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, khiến nhân dân miền Nam phải đứng dậy, kết hợp với những người anh em ruột thịt miền Bắc chống kẻ thù chung?
        
        Truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam là: ở đâu có giặc ngoại xâm, ở đó có người Việt Nam cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước. Mỹ xâm lược thì Mỹ phải rút quân. Còn lực lượng vũ trang cách mạng: Quân Giải phóng miền Nam, gồm cán bộ, chiến sĩ của cả hai miền Nam, Bắc thì hoàn toàn có quyền đứng chân trên mọi vùng đất của Tổ quốc mình để chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Đó là chân lý không thể nào chối cãi được.
        
        Còn nhớ tại một cuộc họp với nhóm CP50, cơ quan chuyên trách theo dõi tình hình và giúp Bộ Chính trị chỉ đạo hai phái đoàn ta ở cuộc hội đàm Pa-ri, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã truyền đạt một ý kiến quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Lê Quẩn: "Dứt khoát quân miền Bắc không rút đi đâu hết? Tuyệt đối không có vấn đề tập kết rút quân như hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954” (Nguyễn Thị Bình và tập thể tác giả - Mặt trận Dân tộc giải phóng – Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam - Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội - 2001.)
        
        Trong một bức điện của Bộ Chính trị gửi cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngày 9 tháng 12 năm 1972 có 5 ý kiến chỉ đạo, thì điều đầu tiên là: "Kiên quyết chống việc Mỹ đòi ghi vào hiệp định việc rút quân miền Bắc ra khỏi miền Nam

        Cảm ơn các anh các chị của hai Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã bền bỉ đấu tranh.trong suốt 4 năm trời, từ 29 tháng 1 năm 1969 đến 27 tháng 1 năm 1973, tại Thủ đô nước Pháp, trong suốt 174 phiên họp cực kỳ căng thẳng, để có được thắng lợi to lớn ngày hôm nay (Ngoài ra, còn có 24 cuộc họp kín ở cấp cao.).
        
        Một khi quân Mỹ rút hết, còn Quân Giải phóng vẫn ở lại miền Nam, so sánh lực lượng trên chiến trường sẽ thay đổi hết sức có lợi cho ta. Trước đây, ta ở thế 1 chọi 2, tức là cùng một lúc ta phải đương đầu với cả Mỹ lẫn ngụy. Bây giờ thế trận trở thành 1 chọi 1. Đứng trước quân đội và nhân dân cả nước ta, nay chỉ còn lại quân đội và chính quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ biết như thế, rất đau, nhưng chẳng có cách gì đảo ngược được thế cờ.
        
        "Quân đội Mỹ rút hết" được đánh dấu bằng sự kiện đáng ghi nhớ, tướng Uây-en (F. Weyand) tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ và những người lính Mỹ cuối cùng bước lên máy bay, rời Gia Lâm và Tân Sơn Nhất ngày 29 tháng 3 năm 1973.  
        
        Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản chỉ có thế!
        
        Quân đội Mỹ buộc phải rút hết thực sự là việc chấm dứt hoàn toàn trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam sự có mặt của một đội quân khét tiếng tàn bạo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đông hàng chục vạn tên, mà lúc cao nhất lên tới 536.000 tên (1968), chưa kể 69.000 quân nhân các nước phụ thuộc, với các sư đoàn bộ binh, kỵ binh bay, thủy quân lục chiến Mỹ và các sư đoàn, trung đoàn mang tên Mãnh Hổ, Rồng Xanh, Ngựa Trắng, Báo Đen, Hổ Mang. . . của Đại Hàn và Vương quốc Thái Lan (Gần đây, tạp chí Hàn Quốc Hankyoreh, qua hàng loạt phóng sự của nữ phóng viên Ku Su Jeong đã công bố những tội ác của binh lính Hàn Quốc trước đây ở Việt Nam, đồng thời cũng nói lên sự ân hận và tấm lòng hiện nay của nhiều cựu binh sĩ Hàn Quốc mong được nhân dân Việt Nam thông cảm và tha thứ.), với hình ảnh những đoàn xe tăng, xe bọc thép, những đàn máy bay trực thăng vũ trang, như những bầy dã thú điên loạn, ào ạt tràn vào các làng mạc miền Nam, thả sức càn quét, tàn phá, giết chóc.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:21:17 PM
        Trên vùng biển tổ quốc Việt Nam sẽ không còn Hạm đội 7 lởn vởn ngoài khơi, với những tàu sân bay hiện đại, căn cứ xuất phát của hàng trăm máy bay chiến thuật của Hải quân, với những đoàn tàu chiến Mỹ ngược xuôi ngang nhiên khống chế tàu thuyền ta, rải mìn, phong tỏa các cửa sông, bến cảng, hoặc thường xuyên nã pháo vào đất liền.
       
        Trên bầu trời của hài miền Nam Bắc sẽ không còn bóng dáng những "Thần Sấm", "Con Ma". . . cùng những pháo đài bay chiến lược khổng lồ ngày đêm trút bom đạn lên đầu nhân dân ta nữa.
       
        Và một khi đội quân "sát thủ" ấy cút hết, cách mạng Việt Nam vợi đi biết bao khó khăn gian khổ, giống như trút được một gánh nặng ngàn cân. Có thể đưa ra một thí dụ: Sau ngày ngừng bắn, ở trên đường Trường Sơn (đường Hồ Chí Minh), không còn nữa những chiếc “Thần lực sĩ" (Hercules AC130) đêm đêm vòng lượn, đánh chặn đoàn xe ta trên các trọng điểm, cũng không còn nữa những đợt ném bom "rải thảm" rung chuyển núi rừng của lũ pháo đài bay B52, trong khi không quân ngụy không đủ sức vươn tới, đúng hơn là không dám bén mảng tới, bộ đội đường Trường Sơn đã tận dụng thời cơ, nhanh chóng phát triển, mở rộng hàng loạt hệ thống đường vận chuyển, giống như những đại lộ tiếp cận các chiến trường, để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 giành toàn thắng.
       
        Tóm lại, việc "quân đội Mỹ rút hết" đã đưa đến cho nhân dân ta một thuận lợi cực kỳ to lớn.
       
        Còn việc "quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam có ý nghĩa ra sao?
       
        "Quân đội Bắc Việt ở lại" cũng có nghĩa là bộ đội ta không phải làm cái chuyện "tập kết" như sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ (Genève) năm 1954. Đặt giả thuyết: nếu trong chiến dịch cuối tháng 12 năm ấy ta thua Mỹ; pháo đài bay B52 Mỹ đè bẹp chúng ta; trên bàn thương lượng ở Pa-ri phái đoàn ta phải chấp nhận mọi điều thua thiệt, trong đó có điều khoản bộ đội ta ở miền Nam (lúc đó có gần 15 vạn cán bộ chiến sĩ) phải mang theo toàn bộ súng ống, đạn dược, xe tăng, pháo mặt đất, pháo cao xạ, xe lớn xe nhỏ kéo nhau ra Bắc, thì tình hình sau đó ở miền Nam sẽ diễn biến ra sao?
       
        Tuy quân Mỹ rút hết, nhưng lực lượng Quân đội Việt Nam Cộng hòa của Nguyễn Văn Thiệu đã được Mỹ tăng cường tới mức tối đa, với tổng quân số lên tới 1,1 triệu người, có đầy đủ các quân, binh chủng hiện đại, được trang bị vũ khí của Mỹ đến tận răng. Sử gia Ga-bri-en Côn-câu (Gabriel Kolko) đã nhận xét: "Quân đội Sài Gòn có tới 1.400 trọng pháo, 1.800 xe tăng, 1.400 máy bay các loại. Không quân của Thiệu được xếp vào hàng thứ tư thế giới về qui mô. Lực lượng máy bay lên thẳng của họ được đánh giá là một trong những phi đoàn có số lượng lớn nhất, đắt tiền nhất và hiện đại nhất thế giới (Gabiel Kolko: Anatomy of a war, Nxb Pantheon Book, New York, 1985).
       
        Đó là chưa kể hàng triệu tay súng bán vũ trang và một đội quân cảnh sát gồm 15 vạn người, với nhiều tên khét tiếng ác ôn, nằm trong một bộ máy kìm kẹp, đàn áp cực kỳ tàn bạo.
       
        Và nếu trong hoàn cảnh đó, cuộc chiến đấu gần như tay không của đồng bào ta ở miền Nam sẽ lâm vào tình thế bất lợi và sẽ gặp phải khó khăn to lớn biết nhường nào? Cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất của dân tộc ta sẽ còn phải kéo dài trong thời gian bao nhiêu lâu nữa?
       
        Mặc dầu trên đây chỉ là giả thuyết, như một phản đề trong biện luận, nhưng nó cũng giúp ta nhìn nhận được rõ hơn ý nghĩa đặc biệt của thắng lợi to lớn này.
       
        Cố vấn Lê Đức Thọ sau khi từ Pa-ri trở về, vừa xuống máy bay đã đến ngay một trận địa tên lửa thăm các chiến sĩ Sư đoàn Phòng không B61. Khi nghe Chính ủy Sư đoàn Trần Văn Giang phát biểu lời chúc mừng "vị lão tướng chiến thắng trên mặt trận Ngoại giao", ông Lê Đức Thọ liền xua tay nói: "Không! Không dám! Người chiến thắng chính là các đồng chí, những cán bộ chiến sĩ Phòng không - Không quân anh hùng. Không có "Chiến thắng B52 của các đồng chí làm sao có chiến thắng ở Hội nghị Pa-ri. Cảm ơn! Cảm ơn tất cả cán bộ chiến sĩ của Sư đoàn Phòng không Hà Nội"


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:24:13 PM
        Sau đây xin dẫn lời của Giáo sư Oen-đơn Ê-brao( Weldon A Brown ) đánh giá thực chất sự nhượng bộ đau đớn của Mỹ trong việc ký Hiệp định Pa-ri như sau:
       
        "Thất bại trên bầu trời Hà Nội đã buộc chúng ta phải từ bỏ yêu sách đòi "Hà Nội cùng rút quân"..."Đối với Hà Nội, Hiệp định Pa-ri không có gì quan trọng hơn là họ đã đuổi được quân Mỹ ra khỏi đất nước họ, còn Mỹ thì không đuổi được quân đội của họ ra khỏi Việt Nam cộng hoà:
       
        Giải pháp Pa-ri là dấu hiệu của việc Mỹ đánh bài chuồn khỏi Việt Nam (lúc này Mỹ còn 23.000 quân) và để cho quân Bắc Việt (lúc đó có 145.000 người) tiếp tục đóng rải ra khắp lãnh thổ Nam Việt..."
       
        Đa số người Mỹ nhận thấy rằng Hiệp định ngày 27 tháng giêng năm 1973 chẳng có gì hơn so với những điều đã được thỏa thuận ngày 8 tháng 10 năm ngoái
       
        Trong cuốn sách "Hoa Kỳ ở Việt Nam", giáo sư Guenter Lewi có đoạn viết: "Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II đã không thể vắt ra được một nhượng bộ quyết định nào của phía Hà Nội".
       
        Còn nhà báo nổi tiếng Các-nâu (Stanley Karnow) đánh giá: "Dưới góc độ một công cụ ngoại giao, cuộc tập kích vào Hà Nội dịp Nô-en đã tỏ ra là thừa".
       
        Phóng viên tạp chí Tim của Mỹ, Sớc-tơ (Jerrold Li. Schecter) trong cuốn "Từ Tòa Bạch ốc đến Dinh Độc Lập" nhận xét một cách chua xót: "Những điều khoản trong hiệp định Pa-ri về thực chất vẫn giống như những điều mà phía Cộng sản đã đưa ra từ tháng 5 năm 1969 (Nghĩa là từ khi có cuộc họp bốn bên ở Pa-ri.)... "Mỹ là nước đã chiến thắng lẫy lừng trong thế chiến thứ hai, là quốc gia mạnh nhất thế giới, là kẻ thắng đậm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1953. Vậy mà đúng 20 năm sau, họ phải chấp nhận thất bại nặng nề trước Bắc Việt, một quốc gia nhỏ bé, chỉ có 22 triệu dân và không có một nền công nghiệp nào cả . . . Ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã không duy trì được một lực lượng quân đội nào ở lại miền Nam như họ đã từng thực hiện ở châu Âu và Triều Tiên". Ở Triều Tiên sau hội nghị Bàn Môn Điếm, 60 vạn quân Mỹ đã ở lại, còn đất nước TriềuTiên thì vẫn phải chia thành hai quốc gia (theo ý đồ của Mỹ).
       
        Tạp chí "Không lực Hoa Kỳ” cũng đắng cay thừa nhận: "B52 được tung ra với số lượng chưa từng có, để cuối cùng Tổng thống phải chấp nhận một kết cục bi thảm chưa từng thấy".
       
        Còn đối với chúng ta, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" có một ý nghĩa vô cùng trọng đại:
       
        Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá: "Thắng lợi to lớn của tuộc tiến công chiến lược năm 1972 của ta đã làm thay đổi cục diện chiến trường ở miền Nam, cùng với việc đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ ở miền Bắc, ta đã đạt mục tiêu giành thắng lợi quyết định (Sách "Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi và bài học", Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1996.).
       
        Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn ca ngợi: "Điện Biên Phủ trên không" là "chiến công mang tầm vóc thời đại, là một trong những đỉnh cao chiến công trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam anh hùng và tên đế  quốc đầu sỏ Hoa Kỳ".

        Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Đây là thắng lợi to lớn nhất, chiến công xuất sắc nhất của cuộc chiến tranh nhân dân trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ... Quân dân Hà Nội, quân dân miền Bắc anh hùng đã đập tan cuộc tập kích chiến lược của Không quân Mỹ, lập nên một "Điện Biên phủ trên không" oanh liệt, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hiệp định Pa-ri” .
       
        Và rõ ràng như Bác Hồ đã từng dự đoán: "ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Chiến thắng "Điện Biên phủ trên không" đã buộc Mỹ phải chấp nhận thêm cuộc thua trên bàn đàm phán ở Pa-ri sau đó 1 tháng 25 ngày.
       
        Sự kiện "Mỹ cút" còn "Quân chủ lực Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam do Hiệp định Pa-ri quy định, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hoàn toàn lô-gích của hai năm sau đó, dẫn tới kết quả tất yếu "ngụy nhào" vào mùa xuân năm 1975. Nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:28:01 PM
        
        Câu hỏi 30: Ý nghĩa quốc tế của chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không”?
        
        Đáp: Mê-lê-la, nhà thơ Hy Lạp đã ca ngợi Việt Nam bằng những vần thơ chân thực và đầy hình ảnh sau đây:

                "Ôi! Việt Nam, đất nước của những căn nhà nhỏ .
                Của những con người mà tầm vóc không cao.
                Nhưng chiến công của họ
                Thật vô cùng hiển hách lớn lao”

        
        Qua lời thơ của Mê-lê-la, người ta có thể hình dung ở đây một điều nghịch lý: nước Việt Nam nhỏ bé, đất không rộng lắm, người không đông lắm, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, lại phải đương đầu với những đội quân xâm lược nhà nghề đông hơn, trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, của những nước đế quốc hùng mạnh hàng đầu thế giới.
        
        Nhưng cái điều rõ ràng rất mâu thuẫn và tưởng chừng không thể nào khắc phục nổi ấy lại được nhân dân Việt Nam giải quyết thành công một cách kỳ diệu. Bằng những "chiến công hiển hách lớn lao", trong đó có chiến thắng "Điện Biên phủ trên không”, nhân dân ta đã giải đáp một cách trọn vẹn vấn đề nghịch lý nói trên, qua đó giúp cho các dân tộc bị áp bức ngẩng cao đầu, cho các nước nhỏ yếu đang tiến hành những cuộc chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng củng cố thêm niềm tin vào thắng lợi của mình, góp phần cống hiến rất quan trọng vào sự đi lên của quá trình cách mạng thế giới.
        
        Thời kỳ mà bọn thực dân, đế quốc mặc sức vươn dài những chiếc vòi bạch tuộc ra khắp thế giới đã khác trước. Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã giáng cho chủ nghĩa đế quốc một đòn nặng, khiến cho chúng mỗi khi hành động phải nhớ đến bài học Việt Nam.
        
        Trong cuốn sách "Không còn những Việt Nam nữa" cựu Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã viết: "Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam. Hoa Kỳ, một cường quốc hạt nhân, có 180 triệu dân, với GDP (GDP (Gross Domestic Product): tổng sản phẩm quốc nội) hơn 500 tỉ đô la và một quân đội đông hơn 1 triệu người, chống lại một nước nhỏ bé 16 triệu dân, GDP không đến 2 tỉ đô la, với một đội quân chỉ có khoảng 25 vạn người... Đỉnh cao của cuộc leo thang chiến tranh ở Việt Nam là đợt chúng ta đưa B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng vào dịp lễ Nô-en năm 1972. Nhưng chúng ta đã thất bại và buộc phải ký Hiệp định Pa-ri... Thất bại ở Việt Nam là thảm họa lớn đối với nước Mỹ. Từ nay không còn ai muốn có những Việt Nam nữa"

        Cái "đầu nóng" của Ních-xơn đã nguội, dù quá muộn màng. Tuy nhiên ở Mỹ và một số nước vẫn còn những cái "đầu nóng" khác - bản chất của chủ nghĩa đế quốc là như vậy - Nhưng dẫu sao bài học của tấn bi kịch ở Việt Nam đã làm cho chúng phải chùn tay.
        
        Sau "Điện Biên phủ trên không", sau chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, biết bao tấm lòng của bè bạn khắp nơi trên thế giới đã hướng về Việt Nam với con mắt cảm phục, yêu mến và biết ơn. Hàng ngàn vạn lời hay ý đẹp, có thể nói là tận cùng ngôn ngữ thế gian, của cả loài người tiến bộ đã dành cho Việt Nam, qua làn sóng điện và qua những dòng thư. Tuyệt vời chiến công của Hà Nội! Tuyệt vời chiến công của bộ đội phòng không - không quân Việt Nam! Nhân dân Việt Nam mãi mãi tuyệt vời trong trái tim chúng tôi!
        
        Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Phidel Castro) của nhân dân Cu-ba ngàn lần yêu quý đã phát biểu: "Thắng lợi của nhân dân Việt Nam là một trong những chiến công oanh liệt nhất, vĩ đại nhất của loài người!".
        
        ông Kôn-dơ, cựu Thủ tướng Ô-xtơ-rây-lia khẳng định: "Nhân dân Việt Nam đã đấu tranh không chỉ cho riêng họ, mà còn cho cả thế giới. Thắng lợi của người Việt Nam là thắng lợi của lý tưởng cao đẹp nhất của thời đại ngày nay!".
        Phóng viên Mỹ Rai-bâu nhận xét, trong tờ "Tin nhanh": "Xưa nay chưa từng có một dân tộc nào nhỏ như vậy lại có một trọng lượng lớn như vậy đối với lịch sử".
        
        Có một người bạn Mỹ, khi nghe chúng ta tỏ lòng biết ơn về sự ủng hộ quý báu của nhân dân Mỹ đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam, đã nói: "Các bạn đừng nói lời cám ơn. Chính chúng tôi mới phải cám ơn các bạn. Cuộc chiến đấu đầy hy sinh của các bạn không chỉ vì đất nước Việt Nam mà còn cho cả thế giới, vì lương tâm và danh dự của cả loài người, trong đó có nhân dân Mỹ chúng tôi (Lời phát biểu của Pơ-rốt Ca-i-a, nhà văn Mỹ.)".
        
        Ngay giữa những ngày đêm Hà Nội đang gồng mình đánh trả cuộc oanh kích tàn bạo của không quân chiến lược Mỹ, từ thủ đô nước Pháp, nhà văn Giắc Mađôn (Jacques Madaule), người theo đạo Thiên chúa, trên tạp chí Châu Âu số ra tháng 12 năm 1972 đã đưa ra lời khẳng định: "Việt Nam sẽ thắng! Không kẻ thù nào thủ tiêu được một dân tộc vĩ đại như dân tộc Việt Nam . . . Nếu dân tộc vĩ đại này mà đầu hàng thì cả nhân loại sẽ bị sụp đổ"
        
        Trên đây chỉ là đôi điều dẫn chứng, nhưng là sự thật và đó cũng là chân lý


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2016, 04:31:12 PM
     
LỜI KẾT

       
        Cám ơn bè bạn khắp nơi trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã hết lòng chi viện, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, đã tạo nên sức mạnh thời đại giúp Việt Nam chiến thắng.
       
        Tại cuộc hội thảo "Việt Nam trong thế kỷ thứ 20" ở Hà Nội tháng 9 năm 2000, trong bài phát biểu quan trọng với các đại biểu quốc tế, đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã nói lên những lời chí tình: "Chúng tôi đời đời ghi nhớ công ơn của bạn bè khắp năm châu, những ân nhân đã từng ủng hộ Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước... Xin nhờ các vị khi trở về quê hương hoặc khi đến một nơi nào đó trên thế giới đã từng ủng hộ chúng tôi hãy chuyển lời cảm ơn tự đáy lòng của nhân Việt Nam".
       
        Với ý nghĩa đó, chúng ta dành lời trân trọng nhất để bày tỏ lòng tri ân sâu sắc nhất đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội, các nhà khoa học Xô Viết và nhân dân Liên Xô trước đây đã giúp cho nhân dân Việt Nam những thứ vũ khí ưu việt, cử nhiều cán bộ quân sự và kỹ thuật tài giỏi, với tình cảm quốc tế cao cả, sang hướng dẫn cán bộ chiến sĩ ta cách sử dụng và bảo đảm vũ khí, khí tài ngay trong những ngày tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh.
       
        Kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các liệt sĩ và đồng bào yêu nước đã ngã xuống cho Tổ quốc ta bước lên đài vinh quang chói lọi và mãi mãi trường tồn.
       
        "Điện Biên Phủ trên không" là niềm tự hào của mỗi chúng ta. Nó mang lại cho nhân dân ta niềm kiêu hãnh về một dân tộc anh hùng.
       
        Chiến công oanh liệt "Điện Biên Phủ trên không" góp phần chứng minh đường lối chính trị, học thuyết quân sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh kiệt xuất, chứng minh tài mưu lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, bộ Thống soái tối cao của đất nước. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa cách mạng và khoa học, giữa dám đánh và biết đánh, giữa ý chí kiên định, bản lĩnh vững vàng với năng lực chỉ huy, lãnh đạo tài giỏi của cán bộ các cấp, giữa khí phách anh hùng và tài trí tuyệt vời của người chiến sĩ trên trận địa.
       
        "Điện Biên Phủ trên không” nói lên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, của cách đánh sáng tạo Việt Nam, thể hiện sức sống mãnh liệt của bản sắc văn hóa Việt Nam, của truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta hàng ngàn năm kết lại.
       
        "Điện Biên Phủ trên không", trận quyết chiến chiến lược vĩ đại đã đi vào lịch sử dân tộc như những Bạch Đằng, Chi Lãng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Tết Mậu Thân và chiến dịch Hồ Chí Minh bất diệt. Nó để lại cho đời sau những bài học vô giá về ý chí tự cường và tinh thần sáng tạo không ngừng để giành chiến thắng.
       
        Thế kỷ 21, thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới, thế kỷ mà cả hành tinh đang đua nhau ào ạt chuyển mạnh sang nền văn minh tri thức, đang dang tay chờ đón các thế hệ kế thừa với biết bao thuận lợi cùng với vô vàn thử thách, khó khăn. Một lần nữa, lòng yêu nước gắn liền với trí tuệ, hai thứ tinh hoa, hai vật bảo bối, giống như những "phép lạ gia truyền" vẫn sẽ là hành trang không thể thiếu của Tuổi trẻ Việt Nam trên con đường vươn tới tương lai.
       
        Thời gian không ngừng trôi. Lịch sử loài người cứ tiếp tục đi lên trong cuộn hành trình dài vô tận. Tuy nhiên, có những sự kiện mà với tầm vóc lớn lao của nó, sẽ không bao giờ mờ phai trong ký ức nhân loại. Một trong những sự kiện mang dấu ấn đặc biệt ấy là "Điện Biên Phủ trên không".
       
        "Điện Biên Phủ trên không", chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam, sẽ vĩnh viễn tồn tại như một mốc son sáng chói mãi ngàn sau.”

HẾT