Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 11 Tháng Ba, 2016, 12:12:13 PM



Tiêu đề: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Ba, 2016, 12:12:13 PM
Tên sách: Khát vọng đồng bằng
Tác giả: Trung tướng Vũ Ba
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh, chuongxedap



I

Đồn rằng làng Cõi đẹp thay
Bên đông có chợ, bên tây có chùa
Giữa làng có miếu thờ vua
Dưới sông nước chảy đò đưa em về.


Câu ca dao đó đã lưu truyền sâu trong tiềm thức của mỗi người dân làng Cõi (Hội Am) và trong mỗi người dân Hải Phòng chúng tôi. Đó là niềm tự hào về mảnh đất làng quê giàu truyền thống văn hoá và cũng là lời mời gọi du khách thập phương đến thăm. Tự hào thay tôi được sinh ra từ chính làng quê đó.

Làng Cõi hay còn gọi là làng Hội Am thuộc xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Xã Cao Minh nằm ở phía nam thành phố, ngay sát sông Hoá Giang về phía tả ngạn, cách trung tâm huyện lỵ Vĩnh Bảo 7 kilômét theo đường 17A về phía đông nam. Chiều dài xã tính từ đường 17A đến sông Hoá Giang là 3 kilômét theo phía tây của thôn thông sang tỉnh Thái Bình qua đò Cõi. Xã có diện tích 736 hécta, dân số 5.000 người (thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp). Phía bắc xã Cao Minh giáp xã Liên Am và Lý Học, phía nam giáp xã Thụy Việt huyện Thụy Anh tỉnh Thái Bình, phía đông giáp xã Tam Cường, phía tây giáp xã Liên Am và Cộng Hiền. Xã Cao Minh là một trong ba xã lớn nhất của huyện Vĩnh Bảo, có dân cư đông đúc. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, xã có 5 thôn: thôn Liễu Điện, thôn Tây Am, thôn Đông Lợi, thôn Vạn Trạch và thôn Hội Am. Nay xã có thêm hai cụm dân cư mới là cụm Hợp Thành (Liễu Điện) và cụm Tân Lập nằm cạnh đường 1A.

Cách đây mấy ngàn năm, xã Cao Minh chỉ là vùng đất bãi bồi hoang hoá ngập mặn, toàn những cây sú vẹt, lau sậy và sình lầy. Trải qua từ đời này sang đời khác, tổ tiên ta ngày đêm lao động cần cù khai phá, mở mang, xây dựng lên làng mạc và những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ như ngày nay.

Những làng Liễu Điện, Hội Am, Tây Am, Đông Lại, Vạn Hoạch trước đây đều thuộc tổng Đông Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ba làng Liễu Điện, Đông Lại, Tây Am được sáp nhập lại thành xã Thanh Am, hai làng Hội Am và Vạn Hoạch được sáp nhập lại thành xã Vạn Hội.

Đến tháng 2 năm 1948, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến huyện Vĩnh Bảo thì xã Thanh Am lại được sáp nhập với xã Vạn Hội lấy tến là xã Cao Minh thuộc huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Dương và xã Cao Minh đã có từ đây.

Từ năm 1952, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Vĩnh Bảo được sáp nhập vào tỉnh Kiến An. Đến năm 1962, tỉnh Kiến An được sáp nhập vào Hải Phòng nên từ đó xã Cao Minh thuộc huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Ba, 2016, 12:59:06 PM

Từ bao đời nay, nhân dân xã Cao Minh chủ yếu làm nghề trồng lúa nước. Trước đây, trên cánh đồng sình lầy này, nhân dân cấy lúa chiêm mùa đôi vụ nhưng vụ chiêm nắng nhiều khô hạn, nhiều nơi bỏ hoang khiến lau lác mọc đầy. Có nơi cấy được lúa thì cây cũng eo ót gầy còm, năng suất của mỗi sào ruộng lúc đó chỉ tính bằng mẹt, bằng giành. Lúa tốt thì được bốn giành một sào, lúa xấu thì được ba đến bốn mẹt thóc một sào. Còn vụ lúa mùa, gặp những năm mưa nhiều lũ lụt, lúa và hoa màu chìm ngập trong nước nhân dân không thu được két thóc nào, bởi vậy trong nhân dân đã có câu phàn nàn: "Chiêm khô, mùa thối". Ngày tháng trôi đi, nhân dân vẫn phải sống trong cảnh lầm than cơ cực, lao động cực nhọc, cả đời lam lũ, tảo tần, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc. Ai ai cũng gầy gò đen sạm. Chỉ riêng có làng Cõi (Hội Am) là có cuộc sống khấm khá, cả làng có nghề dệt vải ươm tơ. Các bà, các chị ở làng này không phải làm ruộng vất vả như các làng khác, quanh năm suốt tháng mưa không đến mặt, nắng không đến đầu nên hầu hết con gái làng Cõi, cô nào cô ấy đều có nước da trắng mịn màng, hồng hào. So với gái vùng lục tổng thời đó thì gái làng Cõi là xinh đẹp nổi tiếng. Bởi vậy, các vị có chức sắc trong vùng đều say mê con gái làng Cõi nên đã có một số cô trở thành bà Lý, bà Hội, bà Tổng ở các làng trong huyện.

Ngoài nghề canh nông, Cao Minh còn có nhiều nghề phụ truyền thống có từ thời cha ông truyền lại: Làng Hội Am có nghề thả cá bột, làng Tây Am có nghề mây tre, làng Liễu Điện có nghề trồng và buôn thuốc lào đến cả nước biết "thuốc lào lục tổng Vĩnh Bảo” nổi tiếng thơm ngon. Các ngành nghề phát triển đã tạo nên cảnh buôn bán sầm uất, nhộn nhịp, trên bến dưới thuyền (bến Cõi - Hội Am) thu hút nhiều nhà buôn từ Thanh Hóa, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên về đây buôn bán, trao đổi và giao lưu.

Về tôn giáo, xã Cao Minh có hai dòng đạo, đó là đạo Phật và đạo Thiên Chúa. Đạo Phật chiếm tới bốn phần năm dân số trong xã nên có rất nhiều đình chùa, miếu thờ. Ở đây, việc đời việc đạo gắn chặt với nhau như hình với bóng. Trong tâm linh của mỗi người dân xã Cao Minh đều tâm niệm làm điều thiện, tránh điều ác, cùng nhau hướng tới một cuộc sống yên bình, an lạc chốn làng quê.

Đình làng Hội Am thờ Thành Hoàng, trên bức hoành phi thờ có đề: "Ngọc trang rồng đại địa, Trấn Đông hải đại vương". Ngoài ra còn thờ cúng các vị khoa cử trong làng: Đào tướng công, Phạm tướng công, Nguyễn tướng công. Đến nay địa phương vẫn còn lưu giữ được sắc phong của các triều đại. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đình là nơi che giấu cho Đại đội 112 của huyện về làng chiến đấu. Đình làng Tây Am thờ tướng công Trần Quốc Thứ là người có công trong trận Bạch Đằng chống quân nhà Nguyên ở thế kỷ XIII nay còn giữ được sáu sắc phong của nhà vua. Đình Liễu Điện thờ Thành Hoàng "Rồng lang tướng" có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh giặc, vẫn còn lưu giữ sáu sắc phong vua ban. Đình làng Đông Lại thờ vị tướng "Lực sĩ Biến ứng đại vương" đã giúp vua Hùng Trấn Vương đánh giặc, còn lưu giữ ba sắc phong của vua ban. Chùa Liễu còn là nơi đóng quân của du kích xã. Chùa cả Tây Am là nơi đặt sở chỉ huy của ban chỉ huy xã đội, nơi đặt trạm công binh xưởng của tỉnh Hải - Kiến chế tạo vũ khí...

Còn một phần năm dân số trong xã theo đạo Thiên Chúa. Cuối thế kỷ XVII, các giáo sĩ phương Tây vào nước ta truyền đạo, nhân dân thôn Vạn Hoạch, xóm Hội Thương, Hội Bến thôn Hội Am đều có người đi theo đạo. Mặc dù họ Hoàng, họ Lê thôn Hội Am vừa có người đi lương, vừa có người đi đạo nhưng vẫn sống quần tụ bên nhau, đoàn kết một lòng cùng làm ăn xây dựng làng quê đầm ấm, yên vui. Các con chiên đều ngoan đạo, kính chúa yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Ba, 2016, 01:00:03 PM

Xã Cao Minh là một xã giàu truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh cách mạng. Từ xa xưa, nhân dân nơi đây đã có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt khoa bảng. Cao Minh cũng chính là quê hương của cụ Bảng Cõi "Thần đồng". Nhân dân thời đó đã ca ngợi: "Bảng Cõi mười ba, Thanh Hà mười bốn". Năm cụ Bảng Cõi mười ba tuổi đã thi đỗ nhất Hương cống, sau đó thi khoá Lê triều tân sửu khoa năm Vĩnh Thọ thứ tư (năm 1661) cụ đã đỗ đệ nhất giáp, đệ nhị danh bảng nhỡn Đào Công Chính làm quan đến chức Hữu thị lang, Tả thị lang. Cụ còn là một nhà sử học, nhà ngoại giao tài giỏi, nhà thơ, nhà thuốc Nam nổi tiếng mà người đời từng suy tôn cụ là vị thánh thuốc Nam. Cụ đã để lại ba tác phẩm có giá trị "Lê triều trung hưng”, "Bắc sử thi tập" và "Bảo sinh diên thọ”. Trước thời cụ Bảng ở làng Cõi (Hội Am) còn có cụ Phạm Đức Khảm đã đỗ đệ nhị giáp khoa tiến sĩ, xuất thân làm quan đến Tả thị kiêm đề lĩnh tứ thành. Cụ Nguyễn Cối đỗ tiến sĩ khoa làm quan Hữu thị lang, Tả thị lang trong triều. Ở làng Đông Lại có tiến sĩ Nguyễn Duy Tiến (1475) làm quan trong triều Lê. Trong xã, làng nào cũng có nhiểu người học hành thi cử đỗ đạt làm thầy đồ, thầy khoá. Nối tiếp truyền thống hiếu học của ông cha ta cho tới ngày nay cũng có nhiều người học hành, tiến bộ đỗ đạt cao đến học hàm giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư. Có nhiều vị là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội đang công tác trên mọi miền của Tổ quốc, nhất là làng Liễu Điện có nhiều người có học vị bằng cấp trên đại học.

Đất và người Cao Minh với truyền thống văn hoá đó đã bồi đắp trong tôi một tình cảm yêu quê hương nồng nàn sâu sắc, gieo trong lòng tuổi trẻ chúng tôi những mong ước học hành thành đạt để "trung quân, ái quốc, tận ngã nghĩa vụ vị chi quốc dân...".

Ngay từ nhỏ, lên năm tuổi tôi đã được đi học chữ Nho. Vì là con cầu trong một nhà hiếm hoi, neo người nên tôi được bố mẹ và họ hàng thương yêu chiều chuộng, vả lại, tuy nhà có nhiều khó khăn, bố tôi mồ côi mẹ từ nhỏ, việc học hành và sinh hoạt nhờ cậy vào bà cô, ông bác họ tôi, nhưng bố tôi vẫn cố gắng học hành thành đạt, giỏi chữ Hán (chữ Nho) vào loại nhất nhì trường làng. Khi trưởng thành ông từng được Hội từ văn (hội của những người giỏi chữ Nho) bầu làm Hội trưởng, làm thư từ trông coi hương khói đền Từ Chỉ, đền thờ đức Khổng Tử và các vị khoa bảng được tôn vinh từ xa xưa. Theo cha, tôi cũng đã học đến cả Luận ngữ, đọc và viết được các văn tế, văn tự. Vì gia đình gặp nhiều khó khăn nên tôi học đến năm mười ba tuổi thì đành phải nghỉ học. Gần mười năm trời đèn sách, các cụ đồ, thầy khoá đã khơi sâu và trau dồi cho tôi những đạo lý làm người, gợi cho tôi một tinh thần sống cao đẹp "ích quốc lợi dân".

Nhưng đó chỉ là những điều tiềm ẩn trong con người bé nhỏ của tôi lúc đó, còn sự thật về một cuộc sống khổ đau đang hiển hiện trước mắt tôi.

Ngày ấy, cứ đến tháng ba ngày tám hàng năm, nhân dân làng tôi và các làng phụ cận đều gặp cảnh bữa no bữa đói, có khi phải ăn rau, ăn cháo hàng tháng trời ròng rã. Bởi lúc đó, các ruộng tư điền thuộc vào loại "bờ xôi giếng mật" tập trung vào hết các gia đình địa chủ và phú nông hay những người có chức sắc trong làng. Ruộng công điền thì cấp cho dân đinh, đàn ông từ mười tám tuổi đến sáu mươi tuổi, mỗi người được cấp năm sào Bắc Bộ. Khi chưa có tuổi nhưng có tiền mua được chức dịch cũng được cấp ruộng. Các lão ông ngoài sáu mươi tuổi thì làng rút ra hai sào còn lại ba sào cho các cụ cày cấy mà không phải sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch gì. Còn bà con nông dân hầu như không có ruộng tư điền. Chính vì điều đó, nông dân cày thuê cuốc mướn quanh năm, đến mùa thóc cũng chẳng đủ ăn chứ nói gì đến thóc nộp cho quan trên, đời đói khổ càng dấn sâu vào đói khổ. Tình cảnh đói kém này không chỉ xảy ra ở riêng làng quê tôi mà có ở tất cả các làng quê khác từ vùng đồng bằng đến các miền cao xa xôi hẻo lánh trên dải đất Việt Nam. Điều đó như một bản án nặng nề quy tội cho một chế độ xã hội phong kiến hà khắc của một triều đại bù nhìn thối nát nhà Nguyễn lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2016, 04:42:37 PM

Từ khi bọn Nhật xâm lược vào nước ta, chúng tổ chức ra bọn bang tá quản lý vải sợi. Gia đình nông dân nào không có tiền, không có thân thế thì không mua được thẻ môn bài không mua được sợi để dệt vải. Gia đình tôi lúc này cũng rơi vào hoàn cảnh như vậy, nên nghề dệt vải của mẹ tôi không hoạt động được nữa, mẹ tôi trở thành người thất nghiệp. Cả nhà trông mong vào nghề buôn cá mè của bố tôi. Ông ngày đêm tảo tần xoay xở để nuôi bảy miệng ăn trong nhà. Kinh tế gia đình tôi ngày càng khó khăn, khốn đốn. Dì hai (vợ hai của bố tôi) và ba đứa em tôi bị ốm liền một lúc, tiền không có nổi đến một xu. Chữa bệnh chỉ bằng tàn hương nước thải của các đền thờ thánh thần nên bệnh không những không thuyên giảm mà ngày càng tăng lên trầm trọng. Dì và các em tôi đã lần lượt ra đi trong vòng chưa đầy nửa năm, để lại trong nhà tôi một bầu không khí ảm đạm lạnh lẽo. Mẹ tôi hoảng sợ phải chuyển cả nhà xuống nương nhờ nhà ngoại, còn nhà phải nhờ bà cô đến ở và trông nom giúp.

Đầu tháng ba năm Mùi (1943), cả anh em họ hàng và gia đình tôi bị đói. Bố tôi liền vào thăm ông bác (anh trai dì hai tôi) ở tỉnh Hưng Yên để vay mượn chút tiền về giải quyết nạn đói cho gia đình. Nhưng các cô bác trong đó cũng túng thiếu nên chỉ trợ cấp một súc vải sợi. Trên đường về quê, bố tôi đi bằng tàu thủy của lái buôn người Pháp đi từ thị xã Hưng Yên về bến Tân Đệ (Thái Bình). Gần đến bến thì bị máy bay Nhật đến bỏ bom, bắn phá làm cho tàu của Pháp bốc cháy. Hành khách trong tàu nhốn nháo, kẻ bị chết, người sống sót nhảy xuống sông. Bố tôi đã may mắn nhảy xuống sông và nhờ có súc vải sợi làm phao bơi nên đã thoát chết. Trước sức ép bom đạn và vì quá hoảng sợ, bố tôi đã bị chấn thương thần kinh nặng, bị ốm liệt người và bị bệnh kiết lỵ kéo dài không thể làm gì được nữa. Trụ cột lao động chính trong nhà là bố tôi không đảm đương được, mẹ thất nghiệp với một em bé gái lên hai tuổi, gia đình tôi đã lâm vào cảnh khốn cùng. Trong cảnh bần hàn cơ cực đó, bố tôi mời ông chú họ đến nhà và nói: "Lúc anh khỏe mạnh, anh và chú cùng làm ăn buôn bán nhưng không may gia cảnh anh đến nỗi này, anh trông nhờ vào chú, nhờ chú cưu mang cháu, cho cháu theo chú đi buôn cá mè con, may ra kiếm được đồng nào để gia đình anh sinh sống qua ngày...". Cuộc gặp gỡ đầy cảm động, chú tôi vui vẻ nhận lời. Từ đây, cuộc đời tôi bước vào một bước ngoặt lớn. Tôi bỏ học và trở thành lao động chính của gia đình, theo chú đi buôn cá kiếm tiền nuôi sống gia đình qua cảnh hoạn nạn.

Lúc đó, tôi vừa tròn mười ba tuổi, dáng người mảnh khảnh, gầy gò, nước da xanh xám nhưng thương bố mẹ và em, tôi đã vượt lên sức vóc của mình theo chú đi buôn cá mè con. Chú sắm cho tôi một đôi quang, hai cái thùng và một đòn gánh. Vì tôi thấp bé nên đôi quang thúng chỉ nhỏ bằng nửa đôi quang của người lớn.

Ban đầu chú tôi phải giúp đỡ tôi rất nhiều. Hàng ngày đi chợ, có bao nhiêu cá, chú đều gánh hết, tôi chỉ gánh đôi quang thúng không lẽo đẽo theo sau, đến gần chỗ bán, chú mới san sang gánh cho tôi. Khi nào bán xong gánh của mình, chú lại đổ gánh của tôi sang bán tiếp và tôi chỉ việc gánh đôi quang thúng theo sau chú về nhà. Có nhiều hôm chú không bán hết cá, tôi phải tự mình gánh lấy gánh cá của mình bước thấp bước cao trên những con đường lầy lội, mấp mô mà thấy mình sao mà cực khổ, rồi đến cả việc bốc phân trâu trên đường bỏ vào thùng cá cho nước nó xanh làm cho có cảm giác cá nhiều. Việc này luôn làm cho tôi xấu hổ nhưng vẫn không xấu hổ bằng khi tôi bị các cô gái trêu ghẹo. Nào là chuyện ăn gian đếm lận của cánh lái buôn cá mè đến nỗi lan truyền thành câu vè dí dỏm: "Ba mươi ba mốt con này tốt, sáu mốt sáu hai, năm ngoái bà mua của ai, chín ba chín tư...”; nào là chuyện tôi nhờ một cô gái lớn hơn mình hai tuổi gánh giúp gánh cá lên đò khi phải qua đò Cõi sang bán cá mãi tận huyện Thụy Anh tỉnh Thái Bình.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2016, 04:43:43 PM

Sau hơn một năm khó khăn, gia đình tôi cũng đi dần vào sự ổn định, sức khỏe của bố tôi đã khá hơn trước rất nhiều. Nhưng khốn khó không qua được tay kẻ nghèo hèn, gia đình tôi lại lâm vào cảnh bế tắc. Ông anh họ của ông bác lấy cô tôi ốm chết, nhà nghèo không có tiền để mai táng. Ông bà sinh được ba người con gái nhưng chỉ có cô đầu ở lại nhà, còn hai cô em đã đi làm con nuôi. Trong hoàn cảnh đó, cô và bác tôi bàn với bố mẹ tôi cho cô này về làm vợ tôi mặc dù cô này hơn tôi bốn tuổi. Vậy là bỗng dưng tôi có vợ theo đúng kiểu gia phong "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó" và trên đầu tôi phải quấn một vòng khăn trắng để tang bố vợ. Lúc đó tôi mới mười bốn tuổi.

Rồi năm Mùi cũng đã qua, năm Dậu lại tới. Cái đói của năm Mùi vẫn còn hằn lên những nỗi đau thương sợ hãi thì cái đói chết người đầy ghê rợn và thê thảm của năm Dậu lại tiếp diễn trên những làng quê nhỏ bé. Năm Mùi mất mùa, năm Thân mất cả vụ chiêm lẫn vụ mùa. Lúa trên cánh đồng lép gần hết, bông lúa trắng xác xơ như rơm khô đập dở cả cánh đồng. Vậy mà bọn giặc Nhật vẫn bắt nhân dân ta nộp thóc tạ. Mỗi sào Bắc Bộ phải nộp một tạ cho bọn chúng. Bọn cường hào địa phương vì lấy lòng quan Nhật đã bất chấp sự đói khổ của nhân dân, ngày đêm thúc ép dân tình mang thóc đi nộp. Từ sáng sớm tinh mơ đến tờ mờ tối trong làng ngoài xóm rầm rập tiếng tù và, tiếng mõ liên hồi, tiếng chó sủa, tiếng bước chân của bọn phu tuần, trương tuần lũ lượt kéo đến từng nhà để đốc thúc, làng xóm nhốn nháo như đang có vụ cướp xảy ra. Ai không nộp đủ thì bọn chúng kéo đến nhà bắt súc vật, lấy đồ đạc, dỡ cả cửa nhà thay cho thóc. Làng xóm lâm vào cảnh hoang tàn xơ xác, dân tình phải chịu đói kém kéo dài suốt từ tháng 10 năm Thân đến tháng 5 năm Ất Dậu (1945). Cả làng tôi chỉ còn một nhà địa chủ "ông trùm Nghĩa" là còn thóc ăn, còn hầu hết các gia đình đều chung cảnh đói rét. Nhiều gia đình phải dỡ cả nhà ở, lấy những thanh tre làm xà gỗ, bó thành bó củi mang đi bán lấy tiền để mua gạo nấu cháo loãng, có nhà chỉ mua được cám gạo. Đến lúc chẳng còn gì để bán lấy tiền, người ta phải đi hái rau má, rau tầm khúc về luộc ăn với muối, rồi đào củ khoai dại, củ chuối tây, chuối hạt, chuối lùn và lấy tất cả những lá cây gì có thể ăn được để ăn sống cho qua ngày đoạn tháng. Rồi cũng chẳng còn cây cỏ gì ăn được bởi chưa kịp mọc lên con người đã hái về ăn rồi. Cuộc sống túng quẫn, cái đói rình rập từng nhà, kề bên từng người, mọi người đã phải dùng đến bài liều cuối cùng, tụ tập nhau lại xông đến nhà địa chủ, phú nông trong làng cướp thóc gạo, giành chia nhau mỗi người một vài bát về làm thính hay nấu cháo loãng cầm hơi. Cái đói gay gắt kéo dài, cái chết ngày một tăng lên thê thảm, rùng rợn, có nhà chết không còn một ai. Người chết không có người chôn, nằm rải rác, chồng chéo nhau bên vệ đường ven bờ đê, có người còn mảnh quần áo rách che thân nhưng có người chỉ che thân bằng manh chiếu rách, thậm chí để trần. Kẻ sống người chết nằm kề bên nhau, tiếng khóc hò, rên rỉ, tiếng trẻ con gào thét đan xen nhau đến thảm thương. Gia đình tôi, kể từ bà nội, cô, bác, chú có hơn một trăm người thì cũng chết đến gần ba mươi người. Cái chết đói đến với từng nhà, trong làng, ngoài ngõ khắp đất nước Việt Nam ngày càng thê thảm không sao kể xiết. Hôm nào, làng tôi cũng có mấy thằng tuần đinh đi nhặt xác chết không người chôn chất đầy lên xe bò chở ra sông Hoá đổ xuống đó. Nó xúc người như xúc rác, xúc cả những người còn đang ngáp ngoải, cả những trẻ em còn sống. Trong xóm chỉ còn tôi, chú tôi và một thằng em họ còn mang được người chết đi chôn. Lúc đầu, chúng tôi còn bó người chết bằng chiếu và chôn mỗi người một hố; về sau kiệt sức, chúng tôi chôn hai đến ba người chung một hố. Ngày nào, chúng tôi cũng phải đem xác người chết đi chôn. Đến tháng 4 năm đó, thím tôi chết, với cái thân tàn ma dại, chúng tôi kiệt sức đến nỗi không thể đào nổi hố chôn thím, đành phải buộc dây kéo thím tôi bỏ xuống sông Hoá. Những xác chết ngày một vơi dần, đường làng cỏ mọc lấp lối, không khí ảm đạm thê lương tràn ngập lên làng quê vốn hẻo lánh lại càng lạnh vắng hơn. Không ai còn có thể nhỏ được một giọt nước mắt, một tiếng khóc thương nào cho những người thân xấu số của mình. Họ chỉ có thể còn lo đến bản thân khi mình chết thì có còn người chôn giúp nữa không.

Mười lăm tuổi, trực tiếp chứng kiến nhiều nỗi khổ cực nhọc nhằn, đau đớn của gia đình và bà con xóm làng, trong tôi cháy bỏng lên một niềm khao khát phải làm gì để cho quê hương, đất nước, gia đình và ngay cả bản thân mình không phải sống cảnh lầm than, cơ cực, mà phải sống sao cho đáng một kiếp người, được ăn no mặc ấm, gia đình đoàn tụ, con cái được học hành đến nơi đến chốn. Trong làng xã không còn bọn địa chủ, cường hào đàn áp nhân dân và đánh đuổi được hết bọn ngoại bang xâm lược ra khỏi quê hương đất nước mình. Niềm mong ước của tôi tưởng như chỉ là những điều huyễn hoặc, không biết đến bao giờ mới đổi đời vì nhìn vào đâu cũng thấy bi ai, tang tóc, may mà gia đình tôi vẫn còn sống đủ cả nhà. Trên toàn đất nước Việt Nam, nạn đói mà thực dân Pháp và quân phiệt Nhật Bản đã gây ra làm hai triệu người chết, đó là con số chưa phải là chấm dứt bởi vẫn còn hàng triệu người vẫn đang bị nạn đói đe dọa từng ngày từng giờ. Nhưng tất cả đã đổi thay hoàn toàn với những điều tôi nghĩ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2016, 04:46:22 PM

Trên thế giới lúc này, chiến tranh thế giới lần thứ hai đang dồn dập tiến đến ngày kết thúc. Nhật Bản làm đảo chính nhằm cướp đoạt chính quyền của Pháp tại Đông Dương nhưng đã phải đầu hàng Đồng minh không điều kiện, phe Đồng minh đã giành thắng lợi hoàn toàn. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở khắp nơi. Ở châu Á, nhân dân Inđônêxia đã nổi lên giành chính quyền. Điều kiện quốc tế thuận lợi đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất tề đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ nhân dân vĩ đại, đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân đế quốc giành chính quyền về tay nhân dân, giành lại nền độc lập và chủ quyền quốc gia. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội và đến ngày 25 tháng 8, cuộc nổi dậy cướp chính quyền đã thành công trên toàn quốc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, dưới ánh nắng mùa thu Hà Nội trong xanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tự do và độc lập ra đời khẳng định quyết tâm của hai mươi triệu người Việt Nam "đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do ấy, độc lập ấy".

Mùa thu Cách mạng năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, toàn dân tộc Việt Nam đã bước sang một trang sử mới, thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân phong kiến. Nước Việt Nam từ chỗ bị xoá tên trên bản đồ thế giới đã trở thành một nước độc lập, mỗi người dân Việt Nam đã trở thành công dân của một nước độc lập. Điều đó cũng mang đến cho làng quê tôi một sự thay da đổi thịt, người dân quê tôi hoà chung với niềm vui dạt dào và phơi phới niềm tự hào của nhân dân cả nước vì:

          "Trăm năm mất nước mất nhà
          Hôm nay mới cất lời ca tiếng cười"

                                                     (Tố Hữu)

Niềm vui độc lập đó tưởng như làm người ta sẽ quên đi những nhọc nhằn trong cuộc sống, quên đi những giọt nước mắt đắng cay tủi hờn mà bao năm đã luôn thường trực trên gương mặt họ. Họ không hề nghĩ đến những khó khăn vẫn đang tiếp tục hoành hành trên đất nước Việt Nam độc lập của họ. Đó có thể sẽ là những khó khăn mà họ chưa từng biết đến.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2016, 04:48:57 PM

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, việc chống đói được nêu lên hàng đầu trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ. Nạn lụt giữa năm 1945 nước lũ lên to, đê sông Hồng bị vỡ và cùng với nó có tất cả hơn 100 quãng đê bị vỡ, làm ngập tám tỉnh Bắc Bộ: Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Hải Dương và Thái Bình. Sau đó một nạn hạn hán ghê gớm làm giảm đi một phần ba số lúa thu hoạch hàng năm. Lụt lội cũng làm mùa màng thất thu ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Theo báo Cứu quốc số ra ngày 4 và 5 tháng giêng năm 1946 cho biết số thóc thu vụ mùa năm 1945 chỉ "đủ nuôi tám triệu người trong ba tháng. Đợi đến vụ chiêm năm 1946 dân sẽ bị đói trong bốn tháng, nghĩa là còn thiếu 850.000 tấn thóc". Bên cạnh đó tình hình kinh tế, tài chính cũng nguy ngập. Trước đây, nền kinh tế Đông Dương chủ yếu do thực dân Pháp nắm: xi măng, than, xe điện, xe lửa, điện, cao su đều trong tay họ. Khi chính quyền nhân dân được thành lập, trừ một số xí nghiệp, các xí nghiệp khác đều bị ngừng hoạt động. Các nhà công thương Việt Nam chỉ làm chủ những cơ sở nhỏ. Sau Cách mạng tháng Tám, sản xuất thiếu hụt, hàng hoá tiêu dùng khan hiếm, số người thất nghiệp tăng... Khi Chính phủ lâm thời được thành lập, ngân sách Đông Dương hụt tới 185 triệu đồng và nợ tới 564 triệu đồng1. Đồng bạc Đông Dương mất giá, quân Tưởng tung "quan kim" và "quốc tế". Ngân hàng Đông Dương tuyên bố không tiêu giấy bạc 500 đồng, không chịu ứng tiền cho Chính phủ nhân dân hòng gây khó khăn cho ta.

Trong bối cảnh đó, một chính phủ bình thường cũng không đứng vững được, nhưng những khó khăn chính trị còn ghê gớm hơn nhiều. Chính quyền cách mạng vừa mới lập nên còn non trẻ, chưa có chỗ đứng vững chắc đã phải chống lại sức ép từ mọi phía. Mỹ và Anh đều tán thành cho Pháp trở lại Đông Dương. Và ngay sau khi Việt Nam vừa tuyên bố độc lập của đất nước mình với toàn thể các nước trên thế giới, quân Pháp núp sau bóng quân Anh đánh chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, rồi từ đó mở rộng sự chiếm đóng ra Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ. Phía Bắc Việt Nam, lực lượng 20 vạn quân Tưởng do tướng Lư Hán chỉ huy và bọn tay sai Việt Nam cách mạng Đồng minh hội, Việt Nam Quốc dân đảng đứng đầu là Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tiến vào Hà Nội với kế hoạch "Hoa quân nhập Việt" hòng âm mưu lật đổ chính quyền Việt Minh. Chính quyền nhân dân non trẻ đã ở trong trạng thái "nghìn cân treo sợi tóc". Phải cứu lấy chính quyền nhân dân, phải giữ vững chính quyền nhân dân bằng mọi giá.

Trong tình hình đất nước vừa mới giành lại độc lập, hai miền Nam - Bắc đều có quân đội chiếm đóng, việc có ý nghĩa chiến lược là phải nhận rõ kẻ thù chính để thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn mới là kháng chiến, kiến quốc. Khi đó, Trung ương Đảng chỉ rõ: "Kẻ thù chính của nhân dân ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược". Trên cơ sở nhận định rất quan trọng đó, Trung ương Đảng vạch bốn nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là: củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân mà nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền2. Đối với quân Tưởng, chủ trương của ta là hoà hoãn để làm cho họ rút quân càng nhanh càng tốt ra khỏi miền Bắc nước ta. Chính vì thế trong bản Điều ước ký kết nhằm thỏa thuận lập chính phủ liên hiệp lâm thời và Ủy ban kháng chiến (24-12-1945), Việt Nam Quốc dân đảng có 50 ghế, Việt Nam cách mạng Đồng minh hội có 20 ghế trong Quốc hội không phải qua bầu cử. Trong chỉ thị "Hoà để tiến" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, chúng ta đã ký với Pháp Hiệp định sơ bộ (6-3), trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một quổc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và một khối liên hiệp Pháp, đồng ý cho Pháp đưa 15.000 quân ra Bắc Bộ hợp tác với quân đội Việt Nam, thay thế quân Tưởng, buộc Tưởng phải rút quân về nước. Sau khi bản Hiệp định sơ bộ được ký kết có hiệu lực, quân Tưởng đã bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Nhưng trong ý đồ của Pháp, Pháp đã không thực hiện ngừng bắn mà còn tăng cường càn quét hòng lập lại chính quyền thực dân, đánh chiếm nhiều tỉnh phía Bắc của nước ta. Do đề phòng được ý đồ bội ước của thực dân Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng một mặt tìm đặt các giải pháp chính trị có lợi cho ta nhất trên các cuộc thương lượng đàm phán, một mặt kêu gọi nhân dân ta phải tiếp tục chuẩn bị kháng chiến, thực hiện kiến quốc. Điều nhận định khả năng bội ước của Pháp đã rõ ràng, từ Sài Gòn đến Hải Phòng, Lạng Sơn, Pháp đã nổ súng tấn công, giết chết nhiều dân thường Việt Nam. Chiến tranh lan rộng ra toàn quốc, ngày càng thêm ác liệt. Do vậy, ngay tối 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kiên quyết vùng lên kháng chiến chống Pháp: "Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, rõ ràng chúng muốn cướp nước ta một lần nữa, nhân dân ta không còn con đường nào khác là đứng lên kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc". Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân quê tôi cũng sẵn sàng chuẩn bị mọi mặt từ tinh thần đến vật chất cho cuộc kháng chiến trường kỳ sắp xảy ra ở địa phương.
_______________________________________
1. Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961.
2. Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, tập I - Ngoại giao Việt Nam, 1945-1975, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1996.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Ba, 2016, 04:49:39 PM

Nói về quê hương yêu dấu của tôi, sự bàng hoàng sợ hãi của nạn chết đói tháng 3 năm Ất Dậu (1945) chưa hết thì lại đến trận vỡ đê Lô Đông xã Thắng Thủy (phía tây bắc huyện Vĩnh Bảo ngày nay) tháng 8 năm 1945. Đê vỡ lớn, nước từ sông Luộc tràn vào khắp huyện, nước ngập lên cao gần tới nóc nhà, kéo dài gần ba tháng, phải phá đê hạ lưu, nước mới rút cạn dần. Nhân dân trong huyện lo âu nghĩ đến cảnh chết đói thảm hại nữa sẽ có thể đến vào những ngày tháng ba năm tới bởi mùa màng đã bị mất trắng. Nhưng điều lo lắng trong nhân dân quê tôi đã dần dần tan biến. Từ đầu huyện đến cuối huyện, từng đoàn thuyền to nhỏ nối đuôi nhau. Trên thuyền chăng khẩu hiệu, kéo cờ đỏ sao vàng làm đỏ rực mặt nước, các cán bộ Việt Minh nam giới đầu đội mũ ca lô, mặc áo sơ mi, quần soóc, chân đi dép cao su, vai khoác túi dết may bằng cói. Còn các nữ Việt Minh đầu vấn khăn mỏ quạ, mặc váy nâu sồng. Tất cả mọi người tưng bừng khí thế cách mạng, đoàn thuyền đi tới đâu, tiếng hô khẩu hiệu của họ vang lên tới đó: "Việt Nam độc lập muôn năm! Tinh thần Cách mạng tháng Tám bất diệt!". Đội quân Việt Minh đã cùng nhân dân cướp chính quyền ở huyện Vĩnh Bảo. Quan tri phủ Vĩnh Bảo lúc đó là tri phủ Nhạc vội vã đầu hàng, trao chính quyền huyện cho Việt Minh. Đoàn quân Việt Minh phân tỏa về các làng xã vận động nhân dân nổi dậy giành chính quyền hàng tổng, hàng xã và giúp đỡ quần chúng nhân dân đi phá kho thóc, kho muối của giặc Nhật chia cho dân nghèo. Thanh niên chúng tôi vô cùng phấn khởi rủ nhau về chặt tre, chặt chuối của nhà mình đóng kết lại thành bè, mảng rồi đi theo thuyền Việt Minh để hoà cùng hoạt động của họ.

Ở làng Cõi, hàng ngàn người dân lũ lượt kéo nhau ra đình làng. Họ hò hét, hô vang khẩu hiệu. Khí thế vũ bão ầm ầm như nước vỡ bờ, áp đảo chính quyền tay sai phong kiến, hỗ trợ cho Việt Minh bắt bọn hương lý trong làng ra đình làng để nghe Việt Minh tuyên bố giải tán chính quyền ngụy hàng xã, tịch thu hết tài liệu triện đằng (con dấu) của lý trưởng, địa bạ... Đồng thời, Việt Minh cũng chỉ định chính quyền lâm thời, cử người làm chánh hương hội, phó hương hội, chánh và phó bảo an. Tổ chức chính quyền mới làm việc theo sự phân công chỉ đạo của Việt Minh. Chính quyền nhân dân thành lập, mọi người dân quê tôi trào dâng niềm hạnh phúc, trong ánh mắt mỗi người sáng lên một niềm tin hy vọng tuyệt đối vào cách mạng.

Song song với việc lật đổ chính quyền cũ, lập chính quyền cách mạng lâm thời, Việt Minh còn tổ chức bắt những tên Việt gian phản động làm tay sai cho đế quốc phong kiến, lập tòa án, đưa chúng ra xét xử để hạ uy thế của chúng, nâng cao uy thế cách mạng nhân dân, đã làm bừng lên ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân. Những tiếng hô khẩu hiệu: "Đả đảo bọn Việt gian bán nước, ủng hộ mặt trận Việt Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!" vang lên trong lòng mỗi người dân quê tôi.

Trong những ngày đi theo Việt Minh giành chính quyền ở thôn, xã trừng trị bọn phản động, phá kho thóc Nhật... đã gieo vào lòng tôi một nhận thức sâu sắc. Bản thân tôi, gia đình và nhân dân quê hương tôi đã được cứu sống, được làm chủ cuộc sống của mình, làm chủ quê hương đất nước mình. Từ đây, cuộc đời nô lệ lầm than không còn, nạn đói khủng khiếp đã được cứu vãn, cách mạng đã về và có Bác Hồ kính yêu đưa đường chỉ lối cho toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng dân tộc dân chủ. Nhân dân quê hương tôi cũng như bao người dân trên mọi miền Tổ quốc đã được đổi đời, bước sang một giai đoạn mới tươi đẹp hơn. Thực tế đó đã cuốn hút một người thanh niên trẻ tuổi là tôi, muốn đứng lên, hoà mình với cao trào cách mạng, đóng góp một phần vào cuộc vận động xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 02:20:43 PM

Cách mạng thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời, chính quyền nhân dân mới được thành lập, kinh tế tài chính kiệt quệ, cả nước gặp muôn vàn khó khăn. Thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp của Chính phủ, quê hương tôi dấy lên phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, chống giặc ngoại xâm. Đoàn thanh niên cứu quốc được giao nhiệm vụ xung kích đi đầu và vận động nhân dân hưởng ứng làm tốt các công việc: cấy hết diện tích, trồng thêm hoa màu, cây ngắn ngày đề phòng nạn đói trong tháng ba. Vận động nhân dân đi học lớp bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, xây dựng đời sống mới, bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan. Vận động thanh niên tòng quân đi bộ đội, tham gia dân quân du kích. Phong trào nhân dân lập hũ gạo kháng chiến được lan rộng trong toàn dân. Mỗi bữa nấu cơm, các mẹ và các chị bỏ vào hũ một hai nắm gạo và cuối tháng đổ ra ủng hộ quỹ nuôi quân. Các phong trào này được nhân dân quê tôi hưởng ứng sôi nổi, hoạt động với tinh thần hăng say, một người làm nhiều việc, gấp ba gấp bốn sức mình mang lại hiệu quả to lớn.

Lúc này tôi mới gần đến tuổi mười lăm, lứa tuổi chưa được kết nạp vào Đoàn, trong lòng tôi háo hức chỉ muốn lớn thật nhanh để đủ tuổi vào Đoàn, để được tham gia làm các việc trọng trách như của các lớp đàn anh đi trước. Điều đó lại càng thôi thúc tôi hơn trong phương châm "tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình" nên tại Hội nghị nhân dân toàn thôn, tôi xung phong nhận hai việc: làm chiến sĩ vệ sinh và giáo viên bình dân học vụ. Tôi đã được hội nghị nhất trí và nhiệt liệt hoan nghênh. Vài ngày sau, Ủy ban nhân dân xã cử tôi đi học lớp "chiến sĩ vệ sinh và lớp giáo viên bình dân học vụ ngắn ngày" do Ủy ban nhân dân huyện mở trong hai tháng. Lớp chiến sĩ vệ sinh học tại thôn Nhân Lệ, xã Thắng Thủy thuộc khu bắc huyện Vĩnh Bảo. Cả lớp chỉ có một trăm người vì mỗi thôn chỉ cử một người đi học. Giáo viên chính trị do cán bộ Việt Minh của huyện giảng dạy. Về chuyên môn, các ông đốc tờ cũ của tỉnh Hải Dương và huyện Vĩnh Bảo đảm nhận (lúc này huyện Vĩnh Bảo vẫn thuộc tỉnh Hải Dương). Chương trình học tập xoay quanh ba nội dung chính: Một là, tình hình nhiệm vụ khẩn cấp của đất nước; hai là, xây dựng nếp sống văn hoá mới; ba là, vệ sinh thường thức trong nhân dân. Đối với chúng tôi, nội dung nào cũng mới mẻ, các thầy giảng đều hay, ai nấy đều học tập say mê như nuốt từng lời giảng của các thầy. Tôi ghi chép cẩn thận, không bỏ qua một câu nào của thầy. Qua quá trình học tập, chúng tôi mới thấy rõ được tình hình đất nước sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, mới hiểu rõ được những nỗi lo lắng về khó khăn đang canh cánh trong lòng những người cán bộ cách mạng.

Năm 1946, tôi vừa tròn mười sáu tuổi, thấy tôi hoạt động tích cực, nhiệt tình và có hiệu quả nên các anh trong Ban chấp hành cứu quốc thôn đã tổ chức kết nạp tôi vào Đoàn thanh niên cứu quốc. Đến cuối năm, tại Hội nghị thanh niên thôn, tôi được tín nhiệm bầu làm bí thư chi đoàn thôn. Với cương vị bí thư chi đoàn thôn, mặc dù còn trẻ nhưng tôi vẫn mạnh dạn đề xuất ý kiến cho thôn Hội Am được tổ chức hội nghị thanh niên thảo luận về quyền bình đẳng nam nữ và đề nghị chia ruộng công điền cho phụ nữ. Được sự nhất trí và sự cổ vũ động viên của Ban chủ nhiệm Việt Minh và Thường vụ thanh niên xã, nhất là sự giúp đỡ nhiệt tình của anh Đỗ Lân - Chủ nhiệm Việt Minh xã, Hội nghị thanh niên thôn Hội Am được tổ chức với sự tham dự của gần hai trăm đại biểu, có đại biểu của chính quyền xã và một số cụ kỳ hào thôn Hội Am. Nội dung hội nghị phù hợp với lòng mong muốn của mọi người nên nhiều đại biểu thanh niên nhiệt tình, mong được thực hiện ngay sau đó nhưng một số kỳ hào lại phản đối. Để dung hòa ý kiến giữa thanh niên và kỳ hào và cũng là để né tránh việc chia ruộng cho phụ nữ, cụ Chủ tịch lâm thời xã Cao Minh lúc bấy giờ nguyên là Chánh tổng Đông Am cũ phát biểu: "Việc thực hiện nam nữ bình đẳng, bình quyền là thể hiện trên các mặt hoạt động của toàn dân, còn việc chia ruộng công điền cho phụ nữ phải chờ sắc lệnh của Chính phủ". Cụ Chủ tịch vừa dứt lời, mọi người trong hội nghị phản đối rầm rộ. Cuộc tranh luận bảo vệ lý lẽ giữa thanh niên và kỳ hào chức dịch cũ ở thôn tôi diễn ra căng thẳng quyết liệt. Cuối cùng lý lẽ hợp lòng dân, đúng đường lối của Đảng Cộng sản, của Chính phủ đã chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 02:21:46 PM

Sau hơn một tháng, phong trào chia ruộng cho phụ nữ ở làng tôi đã thực hiện thành công, cả nam và nữ từ mười tám tuổi trở lên đều được chia ruộng như nhau, không phân biệt đồng bào lương hay giáo. Phong trào đó như một ngọn lửa thắp sáng, làm gương cho các thôn khác cùng thực hiện. Việc chia ruộng công điền cho giới phụ nữ đã tạo nên sức cổ vũ mạnh mẽ tới chị em, mọi người đều hài lòng phấn khởi vì sự quan tâm đúng đắn, bênh vực quyền lợi cho phụ nữ của Đảng và Chính phủ, khiến cho phong trào phụ nữ ở làng tôi và các thôn trong xã hoạt động sôi nổi hơn. Mọi công việc được giao, chị em làm hăng say, thi đua hoàn thành không kém gì nam giới. Tư tưởng trọng nam khinh nữ đang dần được xóa bỏ. Tư tưởng tự ti, nhút nhát cũng đang dần được thay bằng lòng tự trọng, tự tin và tinh thần tự hào về truyền thống kiên cường bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Chúng tôi lại càng hiểu rõ hơn những nhiệm vụ mà Chính phủ đề ra cấp bách như thế nào, hiểu được sự cần thiết của phong trào diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; xây dựng nền văn hoá mới, bài trừ mê tín dị đoan. Chúng tôi phải ra sức vận động nhân dân tổ chức ma chay cưới xin theo nếp sống mới; nắm được nội dung thường thức trong phòng ngừa các bệnh dịch truyền thống như sốt rét, thương hàn, tả lỵ, sởi, đậu mùa...; mọi người không nên ăn rau sống uống nước lã, nằm ngủ có màn, vệ sinh, giữ gìn nhà cửa sạch sẽ.

Lớp bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ huyện mở ngay tại đình Miễu thôn Đông Nha cho hơn năm mươi giáo viên các xã phía nam huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Chúng tôi hiểu rằng nhiệm vụ và nội dung xoá nạn mù chữ là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách, cần phải tập trung sức lực khẩn trương xoá nạn mù chữ trong quần chúng nhân dân làm cho ai nấy đều biết đọc biết viết, thực hiện theo phương châm người biết chữ dạy người chưa biết chữ, người biết nhiều dạy người biết ít. Nhà nhà đi học, người người đi học với khẩu hiệu: "Thi đua đi học là yêu nước". Cách thức tổ chức bình dân mở lớp theo từng cụm dân cư xóm, học vào ban trưa và buổi tối. Chính trong thời gian này đã xuất hiện những bài về chữ cái để bà con dễ nhớ: "i-t giống móc cả hai, i ngắn có móc, t dài có ngang,...".

Qua hai lớp học vỡ lòng về y tế và giáo dục, tôi thấy mình được tiếp thêm tinh thần nghị lực, đồng thời được bồi bổ thêm kiến thức giúp tôi thực hiện tốt nhiệm vụ mà tôi đã tự nguyện xung phong.

Là một chiến sĩ vệ sinh của thôn, tôi đã trực tiếp đến nói chuyện với các cuộc hội họp của xóm, thôn. Tôi tích cực giải thích tuyên truyền cho nhân dân về nếp sống mới. Tích cực bài trừ mê tín dị đoan, các hủ tục, giữ vệ sinh và phòng bệnh. Tôi đề nghị với ban ủy nhiệm thôn phát động phong trào diệt chó, phá bỏ các hố xí làm cạnh đường... giữ vệ sinh chung cho mọi người. Tuy những việc làm đó chỉ là bình thường nhưng lúc đó, thời điểm đó chúng tôi cảm thấy rất thiêng liêng và hệ trọng, chúng tôi làm rất say sưa, tích cực. Vận động nhân dân tham gia thành phong trào rầm rộ, sôi nổi. Chỉ trong vòng một tuần là chó được giết sạch, các hố xí bên đường đã được nhân dân tự giác dỡ bỏ dời đi nơi khác.

Là một giáo viên bình dân học vụ sau lớp học về, tôi được xã trao nhiệm vụ phụ trách phong trào bình dân học vụ thôn. Tôi đã cùng anh em tổ giáo viên phân công mỗi người phụ trách một xóm. Ban ngày chúng tôi dạy các em nhỏ ban đêm chúng tôi dạy người lớn tuổi và các cụ già. Các lớp học được liên tục kế tiếp nhau tạo nên một sinh khí mới ở xóm làng, một sức sống mới thật sôi động. Người người thi đua nhắc nhở, đôn đốc nhau tới lớp bình dân học vụ.

Để mọi người dân thấy được biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ là cần thiết, để hỗ trợ cho việc đôn đốc học tập, chúng tôi đã lập các trạm ở cổng chợ để kiểm tra hỏi chữ. Nếu ai không biết chữ không được vào chợ, hoặc phải lội ruộng để vào chợ hay bị đuổi về. Ở quê tôi không bao lâu đã thanh toán xong nạn mù chữ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 02:22:35 PM

Với sức trẻ "trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu", tôi hăng hái làm việc và còn muốn làm việc nhiều hơn nữa, giúp "ích quốc lợi dân". Nắm bắt được xu hướng và nguyện vọng phấn đấu của tôi nên các đồng chí cán bộ xã thường xuyên quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi về nhiều mặt. Một hôm, anh Vũ Hạ và anh Nguyễn Ro là hai đảng viên được kết nạp vào Đảng Cộng sản sớm nhất ở thôn đã đến nhà tôi chơi và rủ tôi ra ngoài ngồi nói chuyện. Chúng tôi ngồi trên nền nhà mà chính nơi đây bà nội, chú thím, cô và mấy đứa em tôi đã chết vì đói, tâm trí tôi hiện về rõ mồn một những cảnh đau thương hãi hùng đó. Nét mặt của ba anh em cùng dịu xuống, trầm tư, hình như không ai bảo ai nhưng chúng tôi đều có suy tư về một thời tang tóc đã qua với mỗi con người. Cuộc nói chuyện của chúng tôi kéo dài tới hai giờ. Các anh ấy nói: "Tại mảnh đất này, em đã chứng kiến sự đau khổ của gia đình, của xóm làng và quê hương, chứng kiến nạn chết đói tháng ba năm Ất Dậu. Em có biết nguyên nhân từ đâu không, do kẻ nào gây nên?". Rồi các anh cùng giải thích cho tôi biết rằng chính vì bọn thực dân Pháp, bọn phát xít Nhật cấu kết với bọn địa chủ cường hào áp bức bóc lột, vơ vét của cải của nhân dân ta nên gây ra cho cuộc sống của nhân dân phải lầm than cơ cực. Do vậy, chúng ta phải làm cách mạng để đánh đổ chúng. Cách mạng của ta là cuộc cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Lãnh tụ của Đảng là đồng chí "Nguyễn Ái Quốc" tức Chủ tịch Hồ Chí Minh. Làm cách mạng thì phải chịu đựng gian khổ, bền bỉ đấu tranh, nếu sa vào tay giặc có thể bị bỏ tù, bị xử trảm (chém đầu)... Cuộc cách mạng đã thành công. Nhưng cuộc kháng chiến chống Pháp mới chỉ là bắt đầu. Chúng ta phải chiến đấu đến cùng chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ cho thực dân Pháp một lần nữa. Các anh thấy tôi là người có học, đã chứng kiến thực tế khổ đau, muốn tôi cùng các anh tham gia làm cách mạng để trả thù nhà đền nợ nước nhưng các anh lại sợ tôi là con trai một của gia đình nên không biết tôi có chịu đựng gian khổ được không, có dám làm cách mạng không. Tôi ngồi nghe các anh nói mà hai hàng nước mắt tuôn chảy ròng ròng, cổ họng như nghẹn lại, tôi nghẹn ngào chỉ nói được mấy câu: "Em chịu được, các anh đừng lo. Em muốn làm cách mạng để trả mối thù năm Ất Dậu (1945). Em xin hứa với các anh sẽ sống bên Đảng trung thành". Vậy là ước mơ và khát vọng làm cách mạng của tôi được sự giúp đỡ của các anh đã trở thành hiện thực. Tôi tự hứa sẽ quyết tâm, thật bền bỉ, đạp bằng mọi khó khăn gian khổ để giành chiến thắng, thực hiện ước mơ cao đẹp và khát vọng lý tưởng của mình.

Vài tuần sau, tôi, đồng chí Lâm (tức Bang) và nữ đồng chí Sáng được các anh triệu tập đến nhà cụ Mầu (nhà anh Ha) để tham dự một cuộc họp kín. Cuộc họp chỉ vẻn vẹn có ba chúng tôi, anh Ro và anh Hạ, không có trang hoàng cờ, ảnh Bác, khẩu hiệu. Anh Ro là người khai mạc cuộc họp và tuyên bố: "Đây là cuộc họp đặc biệt, thay mặt toàn thể, tôi tuyên bố kết nạp đồng chí Bá, đồng chí Lâm, đồng chí Sáng vào tổ Việt Minh bí mật để làm nhiệm vụ đặc biệt cho cách mạng. Theo nguyên tắc, phải tuyệt đối bí mật, ngăn cách không cho người nào biết. Nhiệm vụ của các đồng chí là phải làm thật tốt công việc công khai của mình mà hội kín đã phân công. Đồng chí Bá phụ trách thanh niên, đồng chí Lâm phụ trách du kích, đồng chí Sáng phụ trách phụ nữ. Ngoài ra, các đồng chí còn phải làm nhiệm vụ đột xuất khác mà đoàn thể phân công chỉ thị: đồng chí Bá làm tổ trưởng Việt Minh bí mật dưới quyền phụ trách của đồng chí Vũ Hạ". Cuộc họp kết thúc, các anh còn giao cho mỗi chúng tôi đi chuyển tin mật theo các hướng, tôi đi theo hướng Diên Viên, Thụy Anh. Sau đó, cách một vài tuần, tôi phải đi trong đêm để chuyển thư mật, đi một mình và phải trở về nhà trước khi trời rạng sáng. Công việc vẫn diễn ra đều đều như vậy, mãi sau này chúng tôi mới được biết tổ Việt Minh bí mật là tổ dự bị để thử thách tinh thần công tác, ý thức trách nhiệm về công việc được cấp trên phân công của chúng tôi. Nếu thấy các đồng chí nào đủ điều kiện mới được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 02:23:25 PM

Hơn một năm thử thách, giáo dục và bồi dưỡng (từ tháng 6 năm 1947 đến tháng 8 năm 1948), ngày 20 tháng 8 năm 1948, tôi được triệu tập đến nhà cụ Mầu. Lần triệu tập này khác với lần được kết nạp vào tổ Việt Minh bí mật. Tôi đi từ nhà ngoài vào trong buồng, một quang cảnh trang hoàng lộng lẫy và trang nghiêm hiện ra trước mắt tôi. Tôi sững sờ trong giây phút và từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Khẩu hiệu "Tổ quốc là trên hết" được trang trọng treo lên hàng đầu phía trên. Hai bên là hai lá cờ Quốc kỳ và Đảng kỳ, dưới cờ là ba vị lãnh tụ: Các Mác, Lênin và Hồ Chí Minh. Cuối cùng là dòng chữ: "Lễ kết nạp đảng viên mới". Tâm trạng tôi cứ thay đổi đột ngột, cảm xúc đan xen và trộn lẫn trong tôi khiến tôi hồi hộp, xao xuyến. Ánh đèn măng sông sáng rực căn phòng, soi rõ từng chi tiết, từng bàn ghế và khuôn mặt các vị đại biểu. Sau khi làm lễ chào Quốc kỳ, Đảng kỳ, anh Bẩm tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu có mặt trong cuộc họp: Anh Chiểu - đại biểu huyện ủy, anh Ca - bí thư chi bộ. Tiếp theo đồng chí Ro và đồng chí Hạ phát biểu ý kiến, giới thiệu và đảm bảo cho tôi vào Đảng. Các anh đọc nhiệm vụ đảng viên trong Điều lệ Đảng. Sau đó, đại biểu cấp trên căn dặn. Anh Chiểu nói giọng rất trang nghiêm và trịnh trọng: "Thay mặt Đảng bộ huyện kết nạp đồng chí Vũ Văn Bá vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặt cho đồng chí tên mới là Quyết Tâm. Từ giờ phút này, đồng chí Quyết Tâm là người của tổ chức Đảng, phải hy sinh vì lợi ích của Đảng, của nhân dân và giữ nghiêm kỷ luật của Đảng". Trước những lời tâm huyết, tin tưởng của các anh thay mặt cho tổ chức lãnh đạo Đảng, tôi xúc động nghẹn ngào: "Xin thề suốt đời phấn đấu hy sinh cho Đảng, dù cho đầu rơi máu chảy tôi quyết không lùi bước, không sờn lòng, nản chí, xin thề!".

Từ hôm đó, tôi được mang một tên mới: Quyết Tâm. Lý do đăt tên này thật đơn giản. Đó là hôm chi bộ xét kết nạp tôi vào Đảng. Chi bộ phân tích: Nhà đồng chí Bá hiếm hoi, ông bà thân sinh chỉ có hai người con là một trai, một gái. Đồng chí Bá là con đầu nên có thể có trở ngại trong đấu tranh gian khổ hy sinh, phải đặt cho đồng chí ấy cái tên "Quyết Tâm" để luôn nhắc nhở đồng chí ấy phấn đấu. Biết được tin này, tôi vô cùng cảm ơn chi bộ đã nhìn xa trông rộng, có biện pháp giáo dục tôi rất sâu sắc và sinh động. Chính cái tên Quyết Tâm ấy đã là động lực thúc đẩy tôi vượt qua bao thử thách khó khăn trên bước đường công tác để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Với tôi, sau này, cái tên Quyết Tâm ấy lại là lá chắn, là bức bình phong che mắt bọn cú vọ đang truy lùng và tìm diệt người đứng đầu một đội du kích mà địch cho là trùm du kích nằm vùng có tên là Vũ Văn Bá.

Theo Điều lệ của Đảng, thành phần bần nông, sau sáu tháng là đảng viên dự bị nếu xét thấy tinh thần phấn đấu tốt thì người đảng viên dự bị đó được tổ chức công bố là đảng viên chính thức. Bản thân tôi đã nêu cao tinh thần phấn đấu trong mọi mặt công tác hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng giao phó nên tôi được chi bộ xét quyết định là đảng viên chính thức trước hai tháng. Đúng ngày 22 tháng 12 năm 1948, tôi trở thành đảng viên chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó, tôi được bổ sung vào cấp ủy. Chi ủy phân công tôi phụ trách tài chính của chi bộ và được cử làm chính trị viên thôn đội, rồi chính trị viên xã đội đồng thời được cử đi dự Hội nghị kinh tài của tỉnh Hải Dương ở căn cứ Bến Tắm, Chí Linh. Đó là niềm vinh dự lớn song cũng là công tác mới, thử thách mới đối với tôi. Từ quê tôi đến Bến Tắm (Chí Linh) phải đi một đoạn đường dài trên một trăm cây số, phải vượt qua một số huyện nằm trong vùng chiếm đóng, đó là huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà, Nam Sách và phía nam huyện Chí Linh, phải vượt qua nhiều con sông lớn: sông Luộc, sông Kinh Thầy. Nguy hiểm hơn là phải vượt qua đường sắt, đường số 5 mà bọn giặc xây dựng nhiều đồn bốt, lực lượng của địch bố phòng dày đặc, chúng kiểm soát cực kỳ gắt gao. Theo kế hoạch của các đồng chí giao liên, sáng ngày 25 tháng 1 năm 1949, tôi và đồng chí Đạt thường vụ huyện ủy, đồng chí Ngạch kinh tài của xã Chấn Dương đi đến trạm giao liên của huyện ở thôn Linh Đông xã Tiền Phong. Đi đến gần thôn Đan Điền xã Dũng Tiến nằm bên bờ sông Luộc, chúng tôi dừng nghỉ chút thời gian ngắn ngủi để ăn cơm. Cơm nước xong đồng chí giao liên dẫn chúng tôi ra bờ sông Luộc để vượt sông sang bờ bên kia. Nhưng đêm nay không thấy các đồng chí giao liên tỉnh đến đón như thường lệ nên các đồng chí giao liên chưa dám dẫn chúng tôi bơi qua sông. Trong lúc anh em đang bàn bạc, chờ đợi thì ở bờ sông bên kia có ba chị cán bộ dìu nhau vượt sông sang cho biết tình hình bên Tứ Kỳ bình thường. Đồng chí giao liên quyết định dẫn chúng tôi vượt sông. Chúng tôi lấy vải ni lông trải ra gói quần áo chặt lại làm thành phao bơi. Đến giữa dòng sông nước chảy mạnh, mỗi người bơi theo một ngả. Sang đến bờ sông đất An Thổ, đoàn chúng tôi chỉ còn có ba người. Đồng chí Ngạch bị dòng nước ác nghiệt cuốn trôi mất. Chúng tôi tìm kiếm mãi không thấy. Sau này, tôi được biết đồng chí Ngạch bị trôi về gần đò Quý Cao và đã được nhân dân tận tình cứu chữa. Còn chúng tôi được một đồng chí giao liên dẫn vào thôn An Thổ nghỉ một ngày một đêm chờ các đồng chí giao liên tỉnh đến đón. Tối hôm sau chúng tôi đến huyện Thanh Hà nhưng không vượt qua được đường 5 bởi địch phục kích, tuần tra rất ráo riết. Chúng tôi lại phải nằm chờ đến đêm thứ ba đoàn tôi mới vượt qua được đường 5 đến trạm giao liên ở Nam Sách, ở đây, địch cũng càn quét đánh phá ác liệt, chúng tôi phải trụ lại chờ sau hai ngày đêm địch rút, lại đi tiếp và đến được căn cứ Bến Tắm an toàn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 02:24:11 PM

Ở Hội nghị kinh tài của tỉnh, chúng tôi được nghe tỉnh ủy phổ biến tình hình nhiệm vụ và học tập bản dự thảo điều lệ hợp tác xã nông nghiệp. Căn cứ vào tình hình cách mạng trong cả nước đang chuẩn bị chuyển mạnh sang giai đoạn tổng phản công, chủ trương của Tỉnh ủy Hải Dương chỉ đạo chọn mỗi huyện một xã khá về phong trào nông dân đổi công cho nhau trong lao động sản xuất nông nghiệp... xây dựng thành một hợp tác xã nông nghiệp. Từ đó nhân rộng ra toàn huyện, toàn tỉnh khi quân dân ta giành thắng lợi. Chúng tôi tiếp thu nghị quyết trong sự hào hứng, phấn khởi và ai cũng mong sẽ về triển khai thực hiện tốt ở địa phương mình.

Tại địa phương, mặc dù từ ngày toàn quốc kháng chiến diễn ra đến nay được khá lâu, nhưng vẫn chưa có một bóng dáng quân địch nào lui tới. Do vậy, nhân dân quê tôi càng có thêm thời gian chuẩn bị mọi mặt từ vật chất đến tinh thần cho kháng chiến.

Ngay từ đầu năm 1946 đến năm 1947, lúc đó tôi còn là bí thư chi đoàn, chính trị viên thôn, tôi đã cùng Ban chấp hành thanh niên, Ban chỉ huy thôn đã phối hợp với các đoàn thể khác vận động quần chúng nhân dân ủng hộ hàng vạn cây tre, cây cau. Xã huy động hàng trăm dân quân du kích và các đồng chí nam nữ thanh niên vận chuyển chúng ra bờ đê sông Thái Bình, cùng với nhân dân các thôn phía nam huyện Vĩnh Bảo đóng xuống lòng sông. Trên sông Hoá và sông Đô Hàn, từng đoạn sông ta lại cắm cọc tre thành kè ngang lòng sông nhằm mục đích ngăn chặn tàu, thuyền, ca nô của địch, hạn chế sức cơ động bằng đường thủy của chúng. Ngoài ra, Huyện đội Vĩnh Bảo phát động một kế hoạch tổng phá hoại, phá hết các ngôi nhà xây kiên cố, rộng rãi ở thị trấn Đông Tạ, một số nhà nằm dọc ven đường 10 và đường 17. Với khẩu hiệu "Phá hoại là kháng chiến, một nhát cuốc là một viên đạn bắn vào đầu quân thù", các lực lượng dân quân du kích, dân công trong toàn huyện đã phá nát hai con đường huyết mạch trong toàn huyện chỉ bằng các dụng cụ thô sơ như búa tạ, cuốc, mai, thuổng... nhằm ngăn chặn địch cơ động bằng xe cơ giới để hành quân, vận chuyển vũ khí, phương tiện chiến tranh.

Con đường 10 kéo dài từ cầu Nghìn qua Đông Tạ tới đò Quý Cao. Con đường 17 kéo dài từ đò Chanh ven theo sông Chanh Dương ra biển dài chừng hai mươi kilômét. Chẳng bao lâu, hai cung đường này đã bị làm thành ruộng sâu, lầy lội, có đoạn đào thành hào chữ chi. Song với việc phá đường, quân dân ta còn đắp các ụ đất lớn trên đê sông Thái Bình, sông Hoá. Trong các ụ này có chỗ ta đắp bằng rơm nhào với bùn, nếu khi quân địch đến gần ta gài mìn, chúng đến phá ụ là mìn nổ, bọn địch sẽ bị tiêu diệt. Kết quả của đợt tổng phá hoại, đắp ụ, làm kè lòng sông mà Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính Vĩnh Bảo phát động thu được kết quả to lớn. Bon thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn, bỏ ra nhiều công sức khắc phục hàng năm mới có thể cơ động được, làm hạn chế đến các cuộc hành quân càn quét của chúng. Qua đó, nhân dân ta càng tin tưởng vào sự đánh thắng quân thù nếu tất cả các lực lượng quân dân đoàn kết một lòng, kết thành một khối thép rắn chắc, thống nhất, vững chãi, mặc cho chúng có vũ khí tối tân hiện đại đến thế nào đi chăng nữa.

Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn mới, giai đoạn gay go ác liệt. Lúc này tôi được phân công làm phó bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài trên địa bàn xã, tôi bàn bạc cùng chi ủy phải xây dựng củng cố chi bộ đảng thật vững mạnh, cần phải coi đây là cốt lõi, là hạt nhân lãnh đạo phong trào kháng chiến của xã. Chi bộ có mạnh thì phong trào kháng chiến của xã mới thắng lợi, thành công. Trên cơ sở lực lượng đảng viên của hai xã Thanh Am và Vạn Hội sáp nhập lại, chi bộ tiếp tục củng cố và phát triển. Trong hai năm 1948 và 1949, chi bộ đảng thực hiện khẩu hiệu: Thi đua phát triển, phấn đấu làm cho Đảng trở thành Đảng của quần chúng. Ban đầu do phát triển Đảng còn ồ ạt khó tránh khỏi việc lựa chọn có sai sót, nhưng phát triển gắn liền với củng cố, sinh hoạt nền nếp, hoạt động tích cực, lãnh đạo có hiệu quả. Bởi vậy mà chi bộ đảng xã tôi đã được Tỉnh ủy Hải Dương công nhận là chi bộ kiểu mẫu, được tặng một quyển sổ vàng danh dự.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 06:39:17 AM

Đi đôi với xây dựng củng cố chi bộ đảng, chúng tôi ra sức tuyên truyền vận động mở rộng mặt trận Việt Minh phát triển các đoàn thể chính trị của quần chúng làm cho các tổ chức chính trị trở thành mặt trận đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương - giáo hướng vào nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Ở hai thôn Hội Am và Vạn Hoạch có đồng bào theo đạo Thiên Chúa, chi ủy giao nhiệm vụ cho ban chỉ huy xã đội chúng tôi xây dựng cơ sở chính trị và du kích bí mật để luồn vào hàng ngũ địch khi bị địch đóng bốt trên địa phương hai thôn. Đây là một chủ trương sáng tạo và chủ động có lợi cho ta trong chỉ đạo đấu tranh ở vùng địch kiểm soát sau này.

Trên cương vị là phó bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội, tôi đã kề vai sát cánh với anh chị em trong ban chỉ huy xã đội, nhất là đối với đồng chí Vũ Bá Ngọc - Bí thư chi bộ, xã đội trưởng. Chúng tôi làm tham mưu giúp chi ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính phối hợp với các ngành, đoàn thể xã, ra sức xây dựng lực lượng và thế trận chiến đấu của xã. Với tinh thần phấn đấu vượt mọi khó khăn, sau hai năm xã Cao Minh đã có lực lượng dân quân du kích tương đối vững mạnh. Ban chỉ huy xã đội được kiện toàn, trong đó có năm đồng chí: một xã đội trưởng, một chính trị viên, hai xã đội phó là nam và một đồng chí xã đội phó là nữ. Có một tổ liên lạc kiêm quân báo gồm mười đồng chí. Một đội văn nghệ không chuyên gồm mười lăm đồng chí là lực lượng dân quân và du kích, các đồng chí này biết ca hát, đàn nhạc, biết sáng tác tự biên tự diễn nhằm cổ vũ động viên khích lệ tinh thần kháng chiến của quần chúng nhân dân. Một trung đội du kích thoát ly của xã có ba mươi hai đồng chí. Một đại đội dân quân du kích của thôn (mỗi đại đội có một trung đội du kích hai trung đội dân quân). Riêng thôn Đông Lại dân số ít nên tổ chức một trung đội du kích hỗn hợp. Tổng quân số lên tới 500 người bằng mười phần trăm dân số trong xã.

Khó khăn lớn nhất của chúng tôi lúc bấy giờ là việc trang bị vũ khí cho dân quân du kích. Nếu không có vũ khí thì chúng ta không thể đánh thắng giặc được dù chỉ là vũ khí thô sơ tự tạo. Với lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm đánh giặc, chúng tôi đã không chịu bó tay mà nảy ra nhiều sáng kiến, mưu mẹo tìm ra vũ khí trang bị cho dân quân du kích đánh giặc. Tôi luôn động viên khích lệ và giáo dục cho dân quân du kích chuẩn bị tốt tinh thần ý chí quả cảm, về mưu trí sáng tạo trong chiến đấu, biến không thành có. Khi quân địch đến, chúng ta phải cướp lấy súng địch cũng là một cách trang bị vũ khí rất tốt cho mình. Nếu địch chưa đến ta phải tự rèn vũ khí các loại: giáo, mác, dao găm, mã tấu... Vận động nhân dân thu gom sắt, thép, gang, đồng đổi cho xưởng công binh Hải - Kiên đế lấy mìn rưa, mìn muỗi, bộc phá, thủ pháo... Chúng tôi đã vận động quần chúng nhân dân ủng hộ kháng chiến bằng tiền, vàng gửi người thân tín đang sống trong vùng địch hậu mua được bốn khẩu súng mút-cơ-tông; vận động nhân dân mua công trái, lập "hũ gạo nuôi quân", mỗi gia đình mỗi bữa để dành một nắm gạo. Số gạo tuy ít nhưng tấm lòng của nhân dân thật lớn lao, sâu nặng. Vận động chị em phụ nữ khi xây dựng gia đình bỏ việc thách cưới bằng tiền vàng mà thay cho việc thách cưới bằng mìn, lựu đạn, được chị em trong xã nhiệt tình hưởng ứng. Ngoài ra, chúng tôi còn vận động các thôn ủng hộ ruộng công điền để dân quân du kích tự sản xuất tự nuôi dưỡng; vận động nhân dân đỡ đầu, nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ khi về chiến đấu tại địa phương. Mỗi gia đình có thêm niềm vui, niềm tự hào khi được thêm một người con.

Đi đôi với chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương đầu năm 1948, Huyện ủy, Huyện đội Vĩnh Bảo tổ chức hội nghị "Xây dựng làng kháng chiến". Đại biểu là các đồng chí bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội, xã đội trưởng, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính các xã trong toàn huyện tới dự. Trong hội nghị chúng tôi được quán triệt "Xây dựng làng kháng chiến" là nhiệm vụ khẩn trương, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân. Chúng ta có làng kháng chiến vững mạnh mới có thế trận chiến tranh du kích vững mạnh và rộng khắp. Phương châm xây dựng là vững chắc, có lực lượng mạnh, có công sự chiến đấu và phòng tránh tốt. Nhưng cách thức xây dựng như thế nào thì cả huyện và xã chúng tôi đều chưa có kinh nghiệm thực tế.

Do đó, cuối năm 1948, Bộ Tổng tham mưu cử đoàn phái viên về Liên khu 3, đoàn đã trực tiếp xuống cơ sở giúp đỡ xã Cao Minh. Trước tiên, đoàn phổ biến cho xã về kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu, xã chiến đấu của tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Thừa Thiên và một số tỉnh Nam Bộ. Đoàn nhấn mạnh về xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, chuẩn bị tinh thần quyết tâm chiến đấu cho nhân dân là quyết định nhất. Đoàn giúp xã phương án xây dựng công trình công sự vững chắc, bí mật hiểm hóc. Sau đó, đoàn cùng cán bộ lãnh đạo xã đi nghiên cứu thực địa từng thôn để xác định địa điểm xây dựng cách bố trí công trình, công sự cho sát, phù hợp. Được sự giúp đỡ của đoàn Bộ Tổng tham mưu, chi ủy và xã đội Cao Minh lấy thôn Tây Am, thôn Liễu Điện làm hai làng chiến đấu trong thế liên hoàn của xã, riêng thôn Vạn Hoạch thì tình hình chính trị phức tạp không xây dựng được làng chiến đấu nên chủ yếu ở làng này là tổ chức cơ sở và lực lượng ngầm bí mật để đấu tranh đánh địch. Với các thôn Tây Am, Liễu Điện, Đông Lại phải thay đổi việc bố phòng, tăng cường đào hầm bí mật, xây dựng hàng rào từng nhà, từng xóm tạo ra thế hiểm hóc.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 06:40:23 AM

Tiếp theo đó, chúng tôi họp hội nghị dân quân chính Đảng toàn xã để triển khai thực hiện. Chi ủy giao cho Ủy ban mặt trận các đoàn thể xuống từng nhà vận động nhân dân trong xã ủng hộ các bụi tre. Xã đội phối hợp với đoàn thanh niên phân công các đại đội dân quân du kích đến từng nhà đào các bụi tre hoá mang về trồng xung quanh hai làng Tây Am và Liễu Điện làm cổng ra vào, đào hào và các công sự xung quanh. Các tổ đảng của hai thôn vận động nhân dân làm rào trong phạm vi xóm mình tạo ra các đường bí mật để các đồng chí cán bộ và dân quân du kích cơ động luồn lách, đồng thời vận động một số gia đình đào hầm bí mật để các đồng chí cán bộ và dân quân du kích ở đề phòng khi địa bàn bị địch chiếm đóng. Với sự nhất trí đồng tâm hợp sức của nhân dân, sau ba tháng, hai làng kháng chiến đã được hình thành. Đây là làng kháng chiến được chú trọng xây dựng cả về lực lượng và công trình công sự có nội dung và hình thức phù hợp với chiến tranh du kích. "Khi địch càn quét tới, chúng ta bám làng chiến đấu với chiến lược lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh". Không hào sâu, luỹ cao công khai lộ liễu mà lại mang tính chất hiểm hóc, vững chắc. Cách xây dựng làng chiến đấu theo kiểu này đã tạo cho xã Cao Minh một thế trận chiến tranh nhân dân phù hợp với từng địa thế của từng xóm làng. Sau này, làng kháng chiến xã Cao Minh được xác nhận là làng kháng chiến kiểu mẫu ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ và đã được Bộ Tổng tham mưu lấy làm kiêu mẫu để cho cán bộ miền Bắc tham gia diễn tập rút kinh nghiệm.

Cũng trong thời gian này, nhân thời cơ Huyện đội Vĩnh Bảo mở lớp tập huấn cho cán bộ xã đội, trung đội và đại đội của huyện tại xã Cao Minh. Tôi bàn với đồng chí xã đội trưởng xin cho tất cả cán bộ thôn đội, xã đội, trung đội và đại đội dân quân du kích xã Cao Minh được tham dự học tập. Sau lớp tập huấn, chúng tôi lại tiếp tục rèn cán, chỉnh quân cho dân quân du kích xã, thôn. Với cương vị là chính trị viên phụ trách giảng dạy cho các anh chị em dân quân du kích về nội dung cuốn sách nói về trường kỳ kháng chiến do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo. Đây là lần thứ ba học tập tài liệu này nhưng chúng tôi vẫn thấy còn nhiều điểm mới mẻ, chưa thể hiểu hết được. Lần này tôi đi sâu vào phân tích phương châm: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh của kháng chiến. Và lấy thực tế trong nước, ngoài nước để chứng minh cho tính phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp gây ra với đồng bào Tổ quốc ta. Đồng thời phân tích lý giải cho mọi người thấy được tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Bởi vậy, chúng ta càng đánh càng trưởng thành càng thắng lớn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; địch càng đánh càng thất bại và sa lầy. Đường lối kháng chiến của ta đã khẳng định sự thắng lợi hoàn toàn của quân dân ta là tất yếu, nó củng cố lòng tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Đồng chí Vũ Bá Ngọc - Xã đội trưởng và một số cán bộ, bộ đội tỉnh đóng ở xã đã huấn luyện cho dân quân du kích về chiến kỹ thuật, chủ yếu là nắm kỹ thuật cơ bản: bắn súng ném lựu đạn, bộc phá, công sự, vũ khí thô sơ cá nhân và tổ chiến đấu, đánh một số mục tiêu và vận động trên chiến trường... Những kỹ thuật, chiến thuật cơ bản được huấn luyện đã rất bổ ích cho dân quân du kích trong chiến đấu. Kết thúc cuộc học tập rèn cán, chỉnh quân lần thứ ba, huyện đội tổ chức cắm trại hội thao cho các đội du kích thoát ly xã, du kích chiến đấu thôn trong toàn huyện và bộ đội địa phương huyện ở Gò Cao thôn Tráng, xã An Hòa thi các môn: chính trị (bài kháng chiến trường kỳ), kỹ thuật, chiến thuật và chiến đấu phân đội nhỏ, chông mìn, cạm bẫy và võ thuật. Du kích xã Cao Minh đoạt giải nhất và được Ủy ban kháng chiến hành chính huyện tặng cờ thi đua xuất sắc.

Sau một thời gian dài chuẩn bị kháng chiến, quê hương tôi đã thực sự chuẩn bị đầy đủ tinh thần lẫn vật chất để bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực tự cường, trường kỳ khó khăn, gian khổ và ác liệt. Tất cả đều ráo riết chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 06:41:39 AM

Chiến dịch biên giới của ta giành thắng lợi, thực dân Pháp lâm vào tình thế bị động đối phó, chúng rút bỏ một số vị trí biên giới phía Bắc, tập trung cơ động mở các cuộc tấn công đánh chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ nhằm thực hiện kế hoạch "Rơve". Ngày 28 tháng 12 năm 1949 quân Pháp mở cuộc hành quân lớn "Điabôlô". Chúng đánh chiếm phía nam tỉnh Hưng Yên và phía nam tỉnh Hải Dương. Địch cho một bộ phận tiến sang chiếm đóng vị trí Cung Chác, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo. Chúng dùng ca nô, tàu chiến tuần tiễu liên tục trên sông Luộc và sông Thái Bình với âm mưu tiến công đánh chiếm huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo nhằm làm bàn đạp tiến đánh tỉnh Thái Bình. Đầu tháng 1 năm 1950, quân Pháp tiến công đánh chiếm huyện Tiên Lãng tỉnh Kiến An. Ngày 20 tháng 2 năm 1950, quân Pháp huy động một lực lượng lớn mở cuộc hành quân "Tônnô" đánh chiếm huyện Vĩnh Bảo để tạo ra vành đai bảo vệ khu vực hậu phương của chúng ở Hải Phòng. Chúng tiến công đánh chiếm Vĩnh Bảo bằng ba mũi, một mũi chúng tiến từ đò Quý Cao theo đường 10 về huyện lỵ. Một mũi từ đò Đàng qua xã Tam Đa đánh thẳng vào huyện lỵ và một mũi đánh thốc từ cầu Nghìn về huyện. Sau mười ngày tiến công liên tiếp, chúng đã đánh chiếm xong huyện lỵ Vĩnh Bảo (Đông Tạ), địch cho một bộ phận đánh xuống Khu 1, chiếm đóng Nam Am. Địch tiến hành nhiều cuộc càn quét ra khắp địa bàn trên huyện, triển khai đóng một loạt đồn bốt ở những nơi quan trọng. Chúng đóng một vị trí ngay bên cầu Nghìn án ngữ tuyến đường Thái Bình, Vĩnh Bảo, bốt Mai Sơn, bốt Đông Tạ, bốt Thiết Tranh, bốt Đòng, bốt Nam Am.

Chúng đánh phá quyết liệt bằng vũ trang quân sự kết hợp với lừa phỉnh dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân lập làng tề. Nơi nào nổ súng, mìn chống đối, chúng thi hành chính sách "Tam quang" đốt sạch cửa nhà, phá sạch làng xóm, càng chống trả chúng càng ra sức tàn phá. Xây dựng xong đồn bốt, Pháp tiến hành càn quét vơ vét của cải của nhân dân, săn lùng bắt, chém giết cán bộ, bộ đội du kích, khủng bố nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, tàn sát dân lành vô tội. Bọn Việt gian phản động cấu kết với bọn thực dân Pháp chống phá cách mạng, phản bội dân tộc, Tổ quốc và quê hương mình. Lúc này, về phía ta, tuy có sự chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến nhưng vẫn bị động lúng túng đối phó, lực lượng vũ trang chiến đấu còn rời rạc, nhiều người sợ hãi chạy trốn, nằm im, hoặc một số xuất hiện tư tưởng cầu an. Cán bộ, bộ đội, dân quân du kích và nhân dân sống vô cùng cực khổ, gặp nhiều khó khăn khốn đốn.

Tại Khu 1 phía nam huyện Vĩnh Bảo, sau khi địch chiếm đóng Nam Am, Chợ Đông, quân đội viễn chinh Pháp tiến hành càn quét khắp các xã. Toàn khu hầu như không dám nổ súng đánh địch, chỉ riêng dân quân du kích thôn Thượng Trung, Đông Nha xã Liên Am cho nổ ba quả mìn, gây cho địch một số thiệt hại đáng kể, một số tên địch bị mất mạng. Để trả thù, quân Pháp đã vô cùng hèn hạ, chúng đốt phá triệt hạ cả làng, chém giết cả cụ gia, trẻ em, phụ nữ. Chúng dùng thủ đoạn xảo quyệt "chỉ đánh Việt Minh, không đánh Việt Nam". Nơi nào có ý đồ đánh Pháp, Pháp sẽ triệt phá như làng Thượng Trung, Đông Nha. Điều đó gây hoang mang cho nhân dân. Nhân dân trong khu có tư tưởng lo sợ, cầu an, không cho dân quân du kích đánh địch. Nhưng riêng xã Cao Minh, địch chưa dám đánh vào vì cho rằng đây là nơi có phong trào du kích mạnh mẽ. Mặc dù vậy, nhân dân và dân quân du kích vẫn chuẩn bị tinh thần chiến đấu nếu có địch vào sẽ sẵn sàng tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 06:42:30 AM

Trong khi bọn địch còn thăm dò, chuẩn bị tấn công thì bọn phản động trong xã đã cấu kết với chúng, báo tin của ta cho bọn thực dân Pháp. Chúng kích động các cụ bô lão ở thôn Liễu Điện và thôn Hội Am ép xã đội phải đưa một số mìn, lựu đạn nộp cho giặc. Tôi và đồng chí Vũ Bá Ngọc - xã đội trưởng thống nhất chủ trương kiên quyết vận động các cụ bô lão phản đối việc làm đó. Đồng thời lập đủ hồ sơ đề nghị với cấp trên cho bắt ngay hai tên phản động (một ở thôn Liễu Điện, một ở thôn Hội Am) để trừ hậu họa.

Đề nghị đó được thường vụ huyện ủy hoàn toàn nhất trí, giao nhiệm vụ cho đội Việt Hùng địa phương phối hợp với dân quân du kích bắt ngay hai tên phản động đi "thủ tiêu" và lần lượt bắt tiếp tám tên phản động nữa làm cho địch mất hết bọn tay chân, tai mắt.

Đứng trước tình hình nghiêm trọng, chi ủy xã Cao Minh trực tiếp xin ý kiến chỉ đạo của thường vụ huyện ủy, chi ủy, đề nghị lực lượng du kích bám sát địch, đánh địch xa làng, chủ yếu đánh phục kích, bất ngờ diệt địch ở cổng đồn Nam Am, ở Đòng và ở đường 17. Diệt những tên Việt gian đầu sỏ, cho một bộ phận cán bộ hành chính xã sơ tán sang Thái Bình, một số đồng chí vào hoạt động bí mật, bám dân đánh địch. Đồng thời chuẩn bị đưa đảng viên tốt, quần chúng tốt ra nắm ban tề, bảo an, nhất là bảo an Hội Am. Đề nghị trên hoàn toàn hợp lý, kịp thời với sự chuyển hướng đấu tranh của lực lượng ta, nhạy bén trước tình hình tấn công khủng bố của địch nên đã được sự nhất trí cao của các đồng chí thường vụ huyện ủy. Các đồng chí còn nhắc nhở chúng tôi phải tổ chức cơ sở mật đưa cán bộ, đảng viên về bám dân bám đất.

Thực hiện chủ trương trên, một mặt chúng tôi tổ chức cho đội du kích thoát ly xã liên tục phục kích đánh địch ở bốt Nam Am, cổng bốt Đòng. Có đêm ta giật nổ bốn, năm quả mìn hay có đêm mười quả mìn nổ ngay cổng bốt đã tiêu diệt hàng chục tên địch, bị thương khá nhiều, khiến cho địch hoang mang, dè chừng. Mặt khác, chúng tôi tranh thủ gặp gỡ số cán bộ đảng viên, du kích còn đang bám trụ tại các thôn, động viên ổn định tư tưởng cho mọi người, đồng thời lên kế hoạch cho một số nhân dân và du kích tản cư lần lượt trở về làng xã sống hợp pháp để sản xuất và chiến đấu. Ba thôn Liễu Điện, Tây Am và Đông Lại phấn đấu lập tề với mô hình tề hai mặt theo hình thức "xanh vỏ đỏ lòng", trong ta ngoài địch. Riêng thôn Hội Am phải nắm cho được chức xã ủy tức lý trưởng tề nên chúng tôi chọn bốn đồng chí du kích đảng viên là đồng chí Nhiễu, đồng chí Thủy, đồng chí Cảnh và đồng chí Viễn đưa vào đội bảo an thôn. Đặc biệt, địch đã phản động hoá được một số dân ta ở thôn công giáo Vạn Hoạch nên ta phải tìm cách tổ chức cơ sở mật nắm tình hình, xác định cho được những tên đầu sỏ gian ác để tiêu diệt, chặn ngay hành động hung ác của chúng lại. Với lợi thế có ba gia đình công giáo ở trại Đồng - Liễu Điện và chợ Cao Minh, chúng tôi đã xây dựng được ba cơ sở của ta để phục vụ cho hoạt động kháng chiến sau này.

Trong những ngày quân Pháp đánh chiếm, phá các làng xã của ta, chúng chỉ đi qua xã Cao Minh rồi đánh sang xã Thụy Anh tỉnh Thái Bình. Nhưng đêm ngày 10 tháng 2 năm 1952, Pháp cho một tiểu đội bí mật tập kích vào thôn Liễu Điện, trong đó chúng tập kích vào nhà đồng chí Ngọc - xã đội trưởng và những khu vực du kích xã thường tập trung. Tôi và đồng chí Ngọc rất may đã không ở nhà và được báo tin nên chúng tôi ẩn nấp an toàn dưới một hầm bí mật ở cơ sở khác. Đêm hôm đó, chúng bắt được ba du kích xã và một thôn trưởng Liễu Điện đưa về bốt Nam Am tra tấn hòng khai thác cơ sở hoạt động của ta nhưng không có kết quả, chúng đã thả ba đồng chí còn một đồng chí chúng bắt đi tù dài hạn. Mờ sáng hôm sau, địch lại dùng một trung đội, bất ngờ bao vây tiến vào thôn Đông Lại. Chúng điên cuồng lùng sục khắp nơi. Ở chùa Đông Lại, chúng tìm được một lá cờ đỏ sao vàng và một số tài liệu, có cả danh sách các đồng chí đảng viên trong chi bộ xã.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 07:49:43 AM

Ngày 15 tháng 2 năm 1950, địch cho một đại đội tiến công càn quét vào thôn Hội Am, thôn Vạn Hoạch. Địch rút lui, đồng chí phó chủ tịch xã (ông Hoàng Mai) sang thôn Vạn Hoạch để nắm tình hình. Bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo ở đây bắt ông, chúng giải ông lên bốt nộp cho bọn thực dân Pháp. Tình hình trong xã gặp rất nhiều khó khăn, mỗi ngày lại tăng lên gấp bội, một số đảng viên hoang mang dao động, lo sợ, không muốn hoạt động nữa mà theo gia đình đi tản cư.

Tháng 4 năm 1950, địch cho một đại đội liên hiệp Pháp vế đóng bốt tại Hội Am do tên Ba Phay quan ba Pháp chỉ huy. Đây là một tên thực dân vô cùng khát máu, mỗi ngày đi càn quét nó phải bắn chết vài người dân vô tội. Quân địch ở hai đồn bốt Hội Am và bốt Đòng phối hợp với nhau đánh phá phong trào cách mạng của ta ở xã Cao Minh rất ác liệt. Chúng bắt các làng phải thành lập ban tề. Đội lính bảo an làng Vạn Hoạch, làng Hội Am được bọn chúng trang bị vũ khí đầy đủ.

Trước tình hình cực kỳ khó khăn phức tạp, Thường vụ huyện Vĩnh Bảo chỉ thị cho chi ủy các xã phải khẩn trương chấn chỉnh tổ chức đảng, các đoàn thể kháng chiến đẩy mạnh phong trào phòng gian bảo mật, bảo toàn lực lượng của ta, chuẩn bị đấu tranh đánh địch sắp tới.

Để thực hiện chỉ thị của huyện ủy, chi ủy xã Cao Minh đã rà soát lại đội ngũ đảng viên, du kích, loại bỏ thành phần có tư tưởng, hoang mang, dao động, sợ gian khổ hy sinh. Bổ sung những người có tinh thần dũng cảm kiên cường, những đồng chí có phẩm chất quyết hy sinh cho cách mạng, cho Tổ quốc vào đội ngũ lãnh đạo, vào Đảng, vào du kích. Trong vòng ba tháng, cuộc càn "Tônnô" kết hợp đánh phá và bình định của địch đã cơ bản triển khai xong thế bố trí chiếm đóng kiểm soát được nhân dân, ổn định tình hình. Trên địa bàn xã Cao Minh, địch lập năm ban tề ở năm thôn: Liễu Điện, Tây Am, Đông Lại, Hội Am, Vạn Hoạch; đóng bốt ở Chùa Tam, Hội Am, Vạn Hoạch, Hội Thương. Chúng bắt đầu từng bước thực hiện chế độ thống trị: kìm kẹp nhân dân; bắt nhân dân ta nộp thuế đinh, thuế điền, bắt thanh niên đi lính, bắt nhân dân ta đi phu xây dựng đồn bốt cho chúng...

Về phía ta, tình hình cũng đã đi vào thế ổn định. Một số đồng chí cán bộ, đảng viên, du kích và một số nòng cốt đã sống hợp pháp, bám hầm bí mật, bám dân, số còn lại sống cùng với dân. Địch lập năm ban tề, ta đưa đảng viên và quần chúng tốt tham gia nắm được bốn ban. Những ban tề này về hình thức bên ngoài là của địch, song nội dung hoạt động là của ta, cho ta. Riêng ban tề thôn Vạn Hoạch, địch nắm hoàn toàn. Có năm đội bảo an thì các đội bảo an Liễu Điện, Tây Am, Đông Lại có người của ta tham gia. Hội Am có 35 lính bảo an thì 4 người là cơ sở của ta gài vào. Với lực lượng này từ tháng 5 năm 1950 trở đi, ta liên tục đánh địch và đấu tranh chống địch và cũng từ đây, chiến tranh du kích ngày một phát triển, thực hiện đúng chủ trương của Liên khu ủy: Phải giành lại kho người, vựa lúa của ta ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Phát động chiến tranh du kích và đưa cán bộ về bám đất bám dân. Chỉ thị còn nêu rõ: "Ở đâu cũng phải về, cấp nào cũng phải về, ai không về thì kỷ luật".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 07:50:42 AM

Qua hơn năm tháng dựa vào cơ sở công giáo mật của ta ở thôn Vạn Hoạch, ta đã nắm được tội ác và quy luật hoạt động hàng ngày của tên phó tổng phản động ở đây, y công khai tuyên truyền chia rẽ tình đoàn kết giữa lương và giáo, hô hào nhân dân chống Việt Minh, chống cộng sản. Được sự nhất trí của huyện, xã đội Cao Minh dùng một tiểu đội du kích và hai đồng chí đội Việt Hùng phối hợp phục kích ở đường tây thôn, đoạn xóm Tây Sơn (Tây Am). 8 giờ sáng ngày 27 tháng 7 năm 1950, tên phó tổng phản động cùng tên lính bảo an đi bảo vệ đã lọt vào ổ phục kích của ta. Quân ta nổ súng tiêu diệt tên phản động này, bắn què tên lính, thu một súng trường. Trận đánh phục kích tuy nhỏ nhưng là trận đánh ban ngày, ngay cạnh đồn bốt của giặc đóng dày đặc nên đã làm cho bọn địch và bọn phản động trong vùng hoang mang, lo sợ. Nhân dân ta vô cùng phấn khởi. Tiếng súng kháng chiến của ta lại bắt đầu nổ, dấy lên niềm tin của quần chúng nhân dân vào lực lượng cách mạng của ta.

Tên bảo vệ bị thương chạy thoát về Vạn Hoạch. Để trả thù cho đồng bọn, chúng kích động bọn phản động thôn Vạn Hoạch mang gậy, giáo mác kéo lên đánh phá thôn Tây Am ngay sau đó. Chúng đốt nhà ở xóm Tây Sơn cháy trụi, chính vì thế xóm này mới có tên là xóm Cháy. Chúng truy lùng trong làng Tây Am để bắt du kích và thanh niên trả thù cho đồng bọn bởi chúng cho rằng du kích và thanh niên Tây Am đã giết tên phó tổng thôn Vạn Hoạch. Chúng lùng sục khắp làng Tây Am nhưng chúng không bắt được một du kích hay thanh niên nào, chúng bèn bắt súc vật, vơ vét của cải của nhân dân mang về Vạn Hoạch. Nhân dân trong làng Tây Am chạy sang thôn Liễu Điện, tụ tập đoàn kết nhau lại và đề nghị với xã cho đánh trả bọn phản động Vạn Hoạch. Tình hình có vẻ căng thẳng, tôi cùng đồng chí Ngọc bàn với chi ủy và ủy ban xã không thể để xảy ra xô xát giữa nhân dân trong hai thôn Tây Am và Vạn Hoạch. Nếu việc đó xảy ra sẽ chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, địch sẽ dựa vào đó khoét sâu thêm mối hận thù kéo dài, khó lòng xoá bỏ được. Do vậy, chúng tôi kiên quyết chỉ đạo các tổ đảng ở Tây Am lãnh đạo nhân dân phải nín nhịn lúc này là cần thiết không thể để xảy ra xung đột: "nồi da nấu thịt", "huynh đệ tương tàn". Đồng thời, chúng tôi tổ chức một số cụ già kéo lên bốt Đòng kích động bọn lính bốt nhằm ngăn chặn bọn phản động Vạn Hoạch với âm mưu "lấy độc trị độc". Về phía nhân dân làng Tây Am, sau khi nghe chúng tôi giải thích, thuyết phục hợp lý hợp tình đã chịu đựng một cách im lặng, tránh không để xảy ra xô xát, không mắc mưu chia rẽ của địch. Về phía bọn phản động, sau khi bị một số các cụ già lên bốt Đòng kích động rằng: "Tây Am là đất thuộc quyền kiểm soát của quan bốt Đòng mà nay người Vạn Hoạch lên tàn phá Tây Am. Họ coi các quan không ra gì...", liền phái một tiểu đội mang súng máy, trung liên ra phục ở xóm Cháy, Tây Am. Khi bọn phản động dẫn nhân dân Vạn Hoạch đến gần đầu làng, bọn địch bốt Đòng đã dùng hai trung liên bắn chéo cánh sẻ nhằm uy hiếp buộc bọn phản động Vạn Hoạch bỏ chạy, không phá làng Tây Am nữa. Sự việc tưởng đến đây sẽ kết thúc, nhưng bọn phản động vẫn ngoan cố tìm cách trả thù khác. Chúng bắt nhân dân đóng cổng ba làng: Vạn Hoạch, Đông Lại và Tây Am, không cho nhân dân ở ba thôn này ra đồng sản xuất nên các đồng lúa của ba thôn khô nẻ. Cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế đã xảy ra ở ba thôn này phức tạp và quyết liệt, thậm chí mang cả tính chất sống còn của nhân dân. Tôi, đồng chí Ngọc bàn bạc với các đồng chí tổ trưởng đảng ở hai thôn Đông Lại và Tây Am kiên trì vận động các cụ già xuống gặp gỡ các cụ thôn Vạn Hoạch tìm cách tháo gỡ khó khăn, kiên trì thuyết phục nhân dân, gây ra sự ly gián giữa dân với bọn phản động, giải thích cho họ hiểu rằng "kháng chiến đánh Tây, khi bị thua Tây về nước, còn nhân dân ba thôn Vạn Hoạch, Đông Lại, Tây Am thì vẫn mãi chung ruộng, chung cổng với nhau đời đời. Nếu lấp cổng ba làng thì nhân dân cả ba làng đều chết chứ không riêng dân làng Tây Am. Hành động này không thể chấp nhận được, không thể để một số người làm trái với quy ước của ba làng từ đời xa xưa, coi thường các cụ già trong làng...". Các cụ già thôn Vạn Hoạch thấy có lý đã đồng tình gây sức ép với bọn phản động để cho nhân dân ra mở lại cổng ba làng. Cuộc đấu tranh tưởng vô vàn khó khăn đã giành thắng lợi suôn sẻ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 07:51:17 AM

Sau khi ta giết tên phó tổng phản động, địch bị khuyết chân phó tổng Đông Am. Tôi và đồng chí Ngọc thống nhất xin ý kiến thường vụ huyện ủy cho xã Cao Minh được cử người ra tranh cử. Được sự nhất trí của huyện ủy, chúng tôi vận động cụ Phạm Ngọc Kình ra tranh cử chức phó tổng, vận động các xã bỏ phiếu cho cụ Kình (tức cụ Lư) - nguyên là lý trưởng, cụ Lư đắc cử. Về giúp việc cho cụ Lư và để giữ mối liên lạc giữa chúng tôi với cụ, chúng tôi đã đưa hai đảng viên là đồng chí Đạm và đồng chí Kim ở thôn Liễu Điện và đồng chí Huân ở thôn Hội Am vào làm thư ký và lính tổng. Theo kế hoạch của xã chỉ đạo và thấy có đủ điều kiện lấy súng của lính tổng Đông Am, chúng tôi tiến hành cuộc tập kích theo một kế hoạch đặc biệt. Một hôm, nhân cơ hội nhà cụ Lư có giỗ, ta bày kế cho cụ Lư về ăn giỗ và cho đi kèm bốn tên lính có trang bị súng để bảo vệ đưa lính tổng về. Đêm ngày 28 tháng 9 năm 1950, nhân lúc bọn lính sơ hở, một tổ du kích và bốn đồng chí đội Việt Hùng đã lọt vào bắt tên Thái ác ôn, thu bốn súng trường. Cuộc chiến đấu diễn ra nhanh chóng và thành công tốt đẹp nhưng để chống địch khủng bố, tôi bàn kế hoạch với cụ Lư, cho cụ Lư về bốt Nam Am kêu cứu. Sau trận đánh chưa đầy ba mươi phút, lính bốt Đòng đã kéo đến vây chặt làng Liễu Điện. Xã ủy thôn Liễu Điện nói với bọn chúng rằng: "Việt Minh về đông lắm, đánh lính tổng dũng và kéo đi. Bảo an thôn không đủ sức chống trả". Bọn chúng không tìm được dấu vết gì để khủng bố dân chúng hay bắt bớ tra khảo, tình hình trong thôn lại trở về yên ổn, cơ sở Liễu Điện được bảo toàn.

Để phát huy thắng lợi, chi ủy đề nghị với huyện ủy cho đánh bọn bảo an thôn Hội Am. Lúc này, trong đội bảo an của đồn có 35 tên lính thì đã có 4 đồng chí lọt vào (gồm ba đồng chí đảng viên và một đồng chí du kích). Chúng trang bị 15 súng trường và đóng cùng với một trung đội lính liên hợp Pháp ở đình Hội Am do tên quan một Pháp chỉ huy. Chúng luân phiên canh gác giữa lính bảo an và lính Pháp.

Từ thực tế đó, chúng tôi sẽ lợi dụng giờ gác của đồng chí cơ sở ta. Các đồng chí đó sẽ mở cổng đưa bộ đội vào đồn diệt cả hai trung đội địch rồi thu toàn bộ vũ khí. Kế sách này quá táo bạo, không chắc thắng và khó bảo toàn lực lượng của ta. Thường vụ Huyện ủy Vĩnh Bảo không nhất trí. Huyện ủy yêu cầu chi ủy phải lãnh đạo phát động nhân dân đấu tranh, tách bảo an đóng riêng để ta đánh bảo an, thu vũ khí.   '

Sau hai tháng nhân dân đấu tranh đòi lại đình làng Hội Am, để nhân dân cúng tế, bọn lính Pháp phải rút về chùa Hội Am, trung đội lính bảo an rút về đóng ở nhà cụ Cựu Tục. Lực lượng của địch đã bị tách làm hai. Thời cơ đã đến, chúng tôi báo cáo lên thường vụ huyện ủy được các anh hoàn toàn nhất trí ngay. 12 giờ đêm ngày 30 tháng 11 năm 1950, ta tổ chức trận đánh lực lượng chiến đấu gồm: một tiểu đội du kích xã Cao Minh và hai bộ đội huyện. Đến giờ gác của các đồng chí là nội ứng, các đồng chí mở cổng gác, đưa hai đồng chí bộ đội vào giết tên chánh bảo an phản động. Sau đó hô hoán to "Việt Minh đánh lấy súng". Cả trung đội bảo an hoảng sợ, chạy tán loạn mỗi người một ngả. Quân Pháp ở đồn Hội Am đến chi viện thì quân ta đã rút lui an toàn. Kết quả, ta thu được 15 súng trường, diệt một tên ác ôn. Đây là trận đánh bằng nhân mối nội ứng đầu tiên của du kích Kiến An giành thắng lợi trọn vẹn, được ban chỉ huy huyện đội đánh giá cao. Trận đánh thắng lợi góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 07:51:49 AM

Những ngày sau đó, bọn địch ở bốt Hội Am tăng cường khủng bố, đánh phá phong trào thôn Hội Am. Chúng phá dỡ nhà tôi và nhà đồng chí Ro về làm công sự cho đồn Hội Am, chúng tịch thu của cải, ruộng đất của nhân dân. Bắt hai mươi bốn gia đình có con đi thoát ly phải theo đạo Thiên Chúa và bắt nhân dân Hội Am phải đền súng cho chúng. Chúng còn đặt giải nếu ai bắt được tôi (tức Vũ Văn Bá - chính trị viên xã đội) thì sẽ được thưởng hai mươi vạn đồng Đông Dương. Tình hình lúc này rất căng thẳng. Chúng tôi đã lãnh đạo cơ sở, hướng dẫn đồng chí Tòng tổ trưởng đảng cơ sở bí mật đến vận động các cụ có chức sắc, có uy tín với cha cố và bọn kỳ hào chức dịch của thôn để đấu tranh với địch, mời quan Pháp về họp đình để nhân dân Hội Am có ý kiến.

Trong phiên họp này, các cụ đã phân tích lý lẽ với bọn quan đồn, các cụ nói: "Đồn mà tịch thu ruộng, dân không có ruộng cày, lấy đâu ra thóc để nộp thuế cho các quan Tây? Việt Minh về đánh bốt bảo an Hội Am bên cạnh đồn Tây có vài chục mét, có đủ các loại súng mà không cứu được đồn bảo an, không đánh lại được Việt Minh. Bây giờ các ông lại bắt dân Hội Am đền súng thì thật vô lý quá. Nhân dân chúng tôi nghèo chạy gạo ăn từng bữa cũng không đủ lấy tiền đâu mà đền súng, còn việc quan đồn bắt các gia đình phải tòng giáo thì lại càng không thể được. Kinh thánh đã dạy "đạo tại tâm" không ai bắt ép được...". Trước lý lẽ đanh thép và sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân, của các cụ kỳ hào trong làng công giáo và làng lương, buộc tên quan hai chỉ huy đồn Hội Am và một số tên phản động phải nhượng bộ, thừa nhận những việc chúng làm là không đúng. Cuộc đấu tranh do các cụ dẫn đầu đã giành thắng lợi, cơ sở kháng chiến thôn Hội Am được giữ vững và ngày càng phát triển, có tiếng vang trong vùng địch hậu Kiến An.

Vinh dự cho xã Cao Minh, đồng chí Vũ Bá Ngọc - Bí thư, xã đội trưởng được đề bạt huyện ủy viên và điều lên công tác trên huyện. Chúng tôi họp toàn ban chi ủy liên hoan tiễn chân đồng chí Ngọc đồng thời điều chỉnh lại bộ máy lãnh đạo của xã, tôi làm bí thư, kiêm xã đội trưởng thay đồng chí Ngọc, đồng chí Vũ Hạ làm phó bí thư, kiêm chính trị viên xã đội thay tôi. Cuộc tiễn chân bịn rịn kẻ ở, người đi, vừa lưu luyến nhớ anh Ngọc vừa lo làm sao giữ vững, phát triển được phong trào như khi anh Ngọc còn ở địa phương.

Cuối năm 1950, đầu năm 1951, phối hợp với chiến dịch Cao - Bắc - Lạng và thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Kiến An, huyện Vĩnh Bảo tổ chức đợt hoạt động đánh địch, tiêu diệt địch, tổng phá tề, mở lại khu du kích khu tây bắc huyện và khu giữa huyện. Ngày 10 tháng 4 năm 1951, một trung đội du kích xã Cao Minh phối hợp với Đại đội 61 Kiến An phục kích ở đường 17, đoạn gần xóm Tam Bảo đã diệt gọn một trung đội địch, bắt được tên quan hai. Một tiểu đội du kích phối hợp với Đại đội 112 và du kích Liên Am bao vây bốt Đòng, bắn què tên đồn trưởng Tây Âu, thuyết phục tên quan hai Brochít biên thư cho bốt Đòng ra hàng. Tại bốt Đòng, ta có cơ sở nhân mối là Tổng Hoán - ông là đảng viên, người xã Tam Đa vào đây làm phó đồn, kết hợp vừa vận động binh sĩ vừa uy hiếp bằng quân sự nên toàn bộ lính bốt Đòng phải kéo cờ trắng ra xin hàng. Ta thu toàn bộ vũ khí: súng ống, đạn dược và các phương tiện chiến tranh khác. Ngay sau đó, ta huy động nhân dân dùng mai, cuốc, thuổng san bằng các công sự của bốt. Chúng tôi được trên giao nhiệm vụ trả tên quan hai cho bốt Nam Am, đây là nhiệm vụ mới mẻ nhưng cuộc giao nhận, trao trả tù binh diễn ra tốt đẹp.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 07:53:03 AM

Với khí thế thừa thắng, đêm ngày 10 tháng 4 năm 1951, chúng tôi tiến hành tổng phá tề ba thôn: thôn Liễu Điện, thôn Tây Am và thôn Đông Lại. Ta bắt một số tên phản động ở Vạn Hoạch và Hội Am. Ta huy động một trung đội du kích phối hợp với Đại đội 61 bao vây bốt Hội Am và 100 dân công chuẩn bị sẵn sàng san bằng bốt. Toàn xã chiến đấu đầy ắp khí thế kháng chiến tổng phá tề; náo động trong tiếng trống, mõ, tù và thúc liên tục, kết hợp với kèn thúc quân ta tạo nên bản nhạc trường ca chiến thắng. Pháo cối của ta bắn vào đồn làm địch khiếp sợ nhưng chúng vẫn ngoan cố không chịu ra đầu hàng.

Trong không khí tưng bừng phấn khởi, chúng tôi đã huy động nhân dân đào hào đắp luỹ củng cố lại làng chiến đấu Liễu Điện, Tây Am, phát triển dân quân du kích, đưa du kích xã lên thành một trung đội. ở mỗi thôn có thêm một đội du kích, quân dân trong xã tích cực chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chống địch càn quét.

Để cứu nguy cho quân địch đang bị ta uy hiếp, tháng 5 năm 1951, địch huy động lực lượng lớn mở cuộc càn "Mêđuy" đánh vào các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo tỉnh Kiến An, đánh vào huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà tỉnh Hải Dương và đánh vào huyện Thụy Anh, Phụ Dực tỉnh Thái Bình. Chúng càn đi quét lại, đánh phá quyết liệt bằng nhiều thủ đoạn quyết tâm bình định hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo tỉnh Kiến An. Cán bộ, du kích vẫn bám đất bám dân ở lại cùng nhân dân đấu tranh chống giặc. Mặc dù nhân dân bị đói nhưng vẫn dành lương thực nuôi quân. Các cán bộ du kích phải xuống hầm bí mật ngày đêm. Địch càn quét lùng sục như bầy chó săn, chúng đào được một hầm bí mật ở Tây Am, bắt được ba người: ông Lân, ông Tiện và đồng chí Hân là bí thư phụ nữ xã, chi ủy viên. Địch tra tấn ba người rất dã man, chúng đánh đồng chí Hân chết đi sống lại nhiều lần hòng moi tin tức về cơ sở ta nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản, một mực chỉ nói: "Vì sợ bom đạn nên phải xuống hầm" và cuối cùng chúng phải tha. Ngày 20 tháng 5 năm 1951, thực dân Pháp đưa một đại đội về đóng bốt ở Chùa Tam. Chúng ra sức đánh phá phong trào xã. Chúng tôi phải cử đảng viên và quần chúng tốt vào ban xã ủy thôn Liễu Điện, thôn Tây Am và thôn Đông Lại, giao nhiệm vụ cho cơ sở bám sát ban tề Vạn Hoạch và Hội Am nhằm che mắt địch, giữ thế hợp pháp cho dân.

Đầu tháng 6 năm 1951, quân Pháp đã huy động lực lượng quân của ba bốt Chùa Tam, Nam Am, Hội Am, tập trung càn vào thôn Tây Am, Liễu Điện, ở thôn Liễu Điện chúng bắt 36 người dân trong đó có cán bộ xã và du kích đưa về bốt Nam Am, đánh đập tra khảo dã man, tàn bạo nhưng không một ai khai báo điều gì. Đồng chí Túy là đảng viên bị địch đánh đến chết cũng không khai nửa lời, chúng đánh chết anh và vứt xác anh ra hàng rào bốt Nam Am.

Đây là trận càn khủng bố mạnh của địch nhằm uy hiếp tinh thần nhân dân, song quần chúng nhân dân vẫn không hề nao núng, vẫn tuyệt đối tin vào Đảng, vào cách mạng. Tình hình càng khó khăn, việc xây dựng cơ sở bảo vệ cán bộ càng trở nên quan trọng. Chúng tôi phải hết sức quan tâm chăm lo cho nhiệm vụ này. Với thời gian hai năm 1950-1951, trong điều kiện cực kỳ khó khăn đen tối nhưng chúng tôi vẫn ra sức phát triển các cơ sở bí mật để bảo vệ cán bộ và du kích xã đưa từ 16 cơ sở lên 36 cơ sở, mỗi cơ sở có từ một đến hai hầm bí mật được đào nhiều kiểu khác nhau. Điển hình có nhiều cơ sở nuôi giấu cán bộ thời gian khá dài như cụ Khao ở thôn Liễu Điện, cụ Hào ở thôn Tây Am, cụ Tiêu ở thôn Đông Lại, cụ Mầu ở thôn Hội Am... Tôi ở nhà mẹ Khao lâu nhất. Nhà mẹ tuy nghèo nhưng ở mẹ sáng ngời lòng yêu cách mạng, yêu Tổ quốc. Cả nhà đã kết thành một tập thể bảo vệ cán bộ vững chắc. Mẹ là tổ trưởng chỉ huy chung. Hai cô con gái lớn chuyên đi đánh dậm kiếm tôm cá bán lấy tiền đong gạo nuôi cán bộ. Hôm nào có cá to các cô giữ lại cho tôi ăn. Các cô còn kết hợp với các chị khác hình thành tổ trinh sát dẫn đường cho tôi vượt đường 17, đường tây thôn sang Miễu Cô giữa ban ngày. Cô con dâu của mẹ lo việc phục vụ cơm nước, thuốc thang khi tôi ốm đau, cô con gái út làm nhiệm vụ canh gác địch và chuyển thư từ, công văn. Rồi mẹ đã bị địch bắt, chúng tra tấn, đánh đập mẹ rất dã man hòng bắt mẹ phải nói ra nơi che giấu cán bộ. Mẹ kiên quyết không khai, dù những đòn tra khảo có dã man, tàn bạo đến mấy cũng không thể thắng nổi tinh thần kiên trung với cách mạng của mẹ. Sau này, mẹ được Đảng và Chính phủ ta tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất. Ngoài mẹ Khao, còn nhiều tấm gương tiêu biểu bảo vệ cán bộ kiên cường, anh dũng như ông Nhuế nuôi giấu cán bộ, địch càn lên đào được hầm bí mật, chúng đánh ông chết đi sống lại nhiều lần nhưng ông chỉ nói: "Tôi không biết họ về đào từ bao giờ". Ông Cóp ở thôn Liễu Điện giấu cán bộ trên trần nhà, địch nghi ngờ bắt ông đánh đập tra khảo, ông đã khảng khái, thách thức nói vào mặt bọn chúng rằng "các người cứ khám nếu có cán bộ thì bắn chết cả nhà". Địch soi xét mãi không phát hiện được nên chúng đã bỏ đi. Quân ta nấp trên trần nhà hồi hộp âu lo nhưng đã được ông che chở an toàn, cảm động hơn là nhà cụ Uy đảng viên, gia đình đã nuôi bảo vệ đồng chí Hiệu - Thường vụ huyện ủy. Đồng chí bị bệnh lao nhưng đã được gia đình chăm lo thuốc thang rất chu đáo, coi đồng chí như con cái, anh em ruột thịt trong nhà. Gia đình lo từ quần áo, đến khi bệnh phát quá nặng, không qua khỏi, đồng chí Hiệu qua đời, gia đình lo việc tang ma, cả làng đến tiễn đưa thương tiếc, vừa lưu luyến nhớ thương người cán bộ cốt cán của dân, trung thành của Đảng vừa để che mắt quân thù. Tuy lúc đó là thời kỳ đen tối nhưng tôi vẫn bám trụ ở địa phương, sống trong sự che chở đùm bọc của nhân dân, bị địch lùng bắt gắt gao nhưng tôi vẫn không bị sa vào tay kẻ thù. Trước tình cảm sâu nặng của quân dân, tôi xúc động ghi mấy vần thơ:

Hai năm trời đất tối mịt mùng
Xóm thôn tề ngụy chúng hành hung
Hầm sâu địch hậu dân che chở
Mối tình cá nước tựa non xanh.



Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 07:53:35 AM

Chiến dịch Mêđuy kết thúc, quân cơ động địch rút đi, thay vào đó là một tiểu đoàn khác. Bọn chúng đặt sở chỉ huy tại huyện Vĩnh Bảo do tên quan tư Phan Trọng Vinh (Tư Vinh) phản động khét tiếng làm chỉ huy trưởng. Bọn chúng tiếp tục đánh phá bình định quyết liệt, biến nhà thờ thành vị trí phản động. Tình hình diễn biến khó lường, địch làm chủ cả ngày lẫn đêm, vượt qua đồn giặc như vượt qua cửa tử. Có nhiều đồng chí cán bộ, bộ đội, dân quân du kích vượt đường 10, đường 216, vượt qua sông Hóa dày đồn bốt đã bị địch bắn chết. Lúc này, tôi được huyện cử đi học lớp huyện ủy viên do Tỉnh ủy Kiến An mở ở khu căn cứ du kích: Tiên - Duyên - Hưng (Thái Bình). Tôi, đồng chí Ro - cán bộ tuyên truyền của huyện và đồng chí Thoa - bộ đội đơn vị 112 đã cùng nhau vượt đường 10 đến thôn An Biên xã Hưng Nhân. Chúng tôi nghe thấy tiếng trống mõ nổi lên và trong chốc lát, bọn bảo an trong làng xông ra đuổi nên chúng tôi chạy sang thôn Tứ Duy. Dân ở đây cũng kéo ra chặn chúng tôi lại và đuổi bắt chúng tôi. Nhân dân thôn An Biên đã bắt được đồng chí Ro và đồng chí Thoa giải lên bốt cầu Nghìn. Tôi bị dân Tứ Duy bắt. Tôi nói thẳng với bọn bảo an: "Tôi là xã đội trưởng xã Cao Minh, không phải đóng giả địch để thử dân!” - vì lúc này bọn địch hay đóng giả Việt Minh để thử xem làng tề có trung thành với chúng không. "Nếu bà con giải tôi lên bốt Mai Sơn, ở đó, có mấy tến phản động người làng tôi, chúng sẽ giết tôi. Làm cán bộ, tôi đã xác định hy sinh nhưng khi kháng chiến thắng lợi, nhân dân Tứ Duy đối với Chính phủ Cụ Hồ ra sao...?". Nhân dân trong làng nghe tôi nói vậy thì bắt đầu bàn tán xôn xao. Ban hội tề họp từ tối đến 12 giờ đêm chỉ xoay quanh mỗi việc có giải tôi lên đồn hay không. Đến một giờ sáng tôi đã thuyết phục được một số anh em bảo an đồng tình cởi trói cho tôi và chỉ đường cho tôi về thôn Bến Vọng. Đêm hôm đó, tôi phải ngủ lại ở cánh đồng Hà Cầu. Sáng sớm hôm sau, tôi lấy giỏ treo lên đầu cái gậy giả làm người đi đỏ rọ và đi vào làng Hà Cầu. Tôi đến nhà bà cụ Tầm thì gặp anh Ngọc - huyện ủy viên phụ trách xã Đồng Minh. Anh rất mừng vì gặp lại tôi sau bao ngày xa nhau, mừng vì tôi thoát chết. Chúng tôi tâm sự về những ngày đầu "bám dân, bám đất" ở xã Cao Minh. Cụ đội Tầm cũng hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của chúng tôi. Mặc dù nhà cụ nghèo nhưng cụ vẫn kiếm được một con gà nấu cháo khao hai anh em chúng tôi. Đêm hôm sau nữa, tôi và con của cụ (anh Dũng - đội Việt Hùng) vượt qua đường 10 an toàn. Rồi chúng tôi bơi qua sông Hóa, vượt đường 218, đến cánh đồng làng A Sao thì gặp được các anh bộ đội Kiến An. Từ Quỳnh Côi trở về Vĩnh Bảo, các anh chỉ huy Đại đội 61 cho tôi biết rằng tất cả hội nghị và lớp học của tỉnh đều bị hoãn lại để trở về chiến đấu, phối hợp với chiến dịch cùng quân ta đánh địch ở Hòa Bình. Tôi gặp đồng chí Dương - Phó bí thư huyện ủy nhận kế hoach hoạt động phối hợp với chiến dịch Hòa Bình. Anh Dương nhấn mạnh: "Đây là thời cơ rất thuận lợi. Cần phải đẩy mạnh hoạt động, đưa cao trào chiến tranh du kích trong toàn huyện lên một bước mới".

Trở về xã, tôi cấp tốc họp ban chi ủy và xã đội để bàn kế hoạch đưa phong trào đấu tranh kháng chiến lên cao. Chúng tôi được tỉnh đội cho một trung đoàn bộ đội thuộc Đại đội 61 về phối hợp. Đêm 10 tháng 1 năm 1952, chúng tôi tiến hành tổng phá tề gây chấn động trong toàn xã, triển khai cho du kích bao vây phục kích bắn tỉa bọn địch ở bốt Chùa Tam buộc địch phải cho quân chi viện, quân ta sẽ thừa cơ chặn đánh chúng. Ngày 20 tháng 1 năm 1952, quân địch đi ca nô từ Ninh Giang về bến đò Cõi. Chúng dùng một đại đội đánh theo đường tây thôn về bốt Chùa Tam. Địch lọt vào trận địa phục kích của bộ đội và du kích ở xóm Cháy. Được lệnh, quân ta nổ súng xung phong. Sau mười lăm phút chiến đấu ác liệt, ta đã diệt được 32 tên địch, bắt ba tên, thu 21 súng có hai trung liên. Để khuếch trương chiến thắng, chúng tôi cho bao vây bốt Chùa Tam, bốt Hội Am và bốt bảo an Vạn Hoạch. Dựa vào thế làng kháng chiến, ta triển khai lực lượng dân quân du kích đánh bại các đợt phản kích của địch, chuyển toàn xã lên thành khu du kích, trong đó đã có ba thôn là làng kháng chiến, đó là thôn Liễu Điện, Tây Am và Đông Lại. Đây là thời kỳ phát triển cao nhất của xã Cao Minh từ sau trận càn "Tônnô" của địch từ tháng 2 năm 1950 đến nay. Trong lúc tôi đang say mê với phong trào cuồn cuộn dâng cao của xã thì huyện bổ sung tôi vào ban chấp hành đảng bộ huyện và điều tôi lên huyện công tác. Lòng tôi bồi hồi nghĩ ngợi miên man: phần thì luyến tiếc phong trào đã xây dựng được từ không đến có, từ yếu đến mạnh. Phần thì lưu luyến các đồng chí của mình đã sống chết bên nhau chiến đấu bảo vệ quê hương. Gần bảy năm trời từ năm 1945 đến năm 1951, tôi đã cùng đồng chí của mình "bám dân bám đất". Phần thì tôi lo cho nhiệm vụ mới có hoàn thành tốt đẹp không. Nhưng với nhiệm vụ khẩn cấp, tôi triệu tập ban chi ủy họp phân công phụ trách công tác cho các đồng chí mới. Tôi bàn giao cụ thể rồi ra đi theo yêu cầu nhiệm vụ của Đảng. Tôi đề nghị chi ủy cử đồng chí Hạ thay tôi làm bí thư chi bộ, kiêm chính trị viên xã đội. Đồng chí Hải làm phó bí thư chi bộ, xã đội trưởng. Tập thể ban chi ủy đều nhất trí cao phương án nhân sự của tôi. Cuộc họp cấp ủy cũng gắn liền với cuộc liên hoan tiễn đưa tôi lên đường đi nhận nhiệm vụ mới. Cuộc tiễn đưa lưu luyến, kẻ ở người đi, ai nấy đều rưng rưng nước mắt.

Lần đầu tiên, tôi phải xa quê hương làng Cõi, xa bến đò Cõi bao năm quen thuộc, xa nơi chôn nhau cắt rốn đã từng bao bọc tôi trong những ngày khốn khó của thời thơ ấu và những ngày đầu của tuổi trưởng thành để hoà mình vào quê hương cụ Trạng, quê hương Vĩnh Bảo rộng lớn, anh hùng. Từ đây, tôi sẽ bước vào cuộc chiến đấu mới, một cương vị công tác mới với tinh thần của người chiến sĩ cách mang. Mặc dù tuổi tôi lúc đó còn quá trẻ, sự thử thách chưa được là bao nhưng tôi tự nhủ mình phải quyết tâm phấn đấu cùng đơn vị mới, vượt qua mọi khó khăn để lập nên những chiến công mới góp phần xây dựng quê hương Vĩnh Bảo xứng danh anh hùng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Ba, 2016, 08:44:20 AM

II

Cuộc liên hoan của chi ủy chi bộ xã Cao Minh tiễn đưa tôi đi nhận công tác mới đã diễn ra trong không khí thật thân tình và cảm động. Nhiều đồng chí đồng đội, nhiều bà con cô bác đến chia tay và tặng tôi những món quà kỷ niệm. Anh Vũ Mạnh - Xã đội phó tặng tôi một khẩu súng côn mà anh mua được của lính ngụy. Cụ Ruận - một cụ già hiền lành chất phác giàu lòng thương người, luôn yêu quý và giúp đỡ cán bộ ở thôn Liễu Điện tặng tôi bộ quần áo phin màu gụ. Các đồng chí ở thôn Tây Am như đồng chí Lãm, đồng chí Thuộc cũng tặng tôi một bộ quần áo phin nhuộm màu nâu non. Cụ Khoát, cụ Bích ở thôn Đông Lại mua sắm cho tôi đủ thứ, nào mũ cát, dép nhựa, túi đựng quần áo... Còn các mẹ ở thôn Liễu Điện, Tây Am, Đông Lại đã thay bố mẹ, vợ và em gái tôi còn đang ở vùng bị địch kìm kẹp (Hội Am) lo cho tôi đủ hành trang để lên đường. Những món quà đó không chỉ là vật chất đơn thuần mà đó là cả tấm lòng thân thương của bà con cô bác, của đồng chí đồng đội, của quê hương dành cho tôi, cho một người con cán bộ của quê hương đi làm nhiệm vụ mới.

Tôi vô cùng sung sướng là một trong những cán bộ bám dân bám đất, được sông giữa lòng dân, được dân yêu thương đùm bọc trong những năm 1950 - 1951. Tôi phải sống ở hầm bí mật, ở bờ, ở bụi. Lúc tôi ốm đau được bà con nhân dân chăm sóc. Khi tôi làm nhiệm vụ bà con luôn cầu mong cho tôi không bị sa vào tay giặc. Giờ đây, tôi đi xa nhận nhiệm vụ cách mạng mới thì họ lại sắm cho tôi đầy đủ mọi thứ.

Trước khi lên huyện nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Vũ Dương - Bí thư huyện ủy đã gửi công văn cho tôi. Trong công văn, đồng chí viết: "Đồng chí hãy tạm thời phụ trách Khu 1 (khu Nam) huyện Vĩnh Bảo một thời gian ngắn thay anh Phạm Dũng mà cấp trên đã điều động bổ sung cho bộ đội chủ lực".

Chấp hành chỉ thị của thường vụ huyện ủy, trưa ngày 2 tháng 1 năm 1952, một tổ phụ nữ ở thôn Liễu Điện dẫn đường bảo vệ cho tôi vượt đường 17 - đoạn đường gần đồn giặc (bốt Nam Am) giữa ban ngày một cách an toàn. Tôi tìm đến nhà đồng chí Rích - Bí thư chi bộ xã Lý Học ở xóm Tây thôn Lạng Am. Vừa vào đến nhà, tôi đã thấy anh Dũng ngồi chờ ở đó. Gặp tôi, anh Dũng và anh Rích rất vui, anh em tay bắt mặt mừng, chuyện trò, thăm hỏi lẫn nhau. Sau đó anh Rích đã báo cáo bảo vệ an toàn trước khi vào họp. Đây là thủ tục quan trọng ở vùng địch kiểm soát. Anh cho biết hướng thoát ra hầm bí mật, người mở cửa hầm là vợ đồng chí Rích, còn công tác gác địch phía trước nhà và sau nhà là hai cô em gái đồng chí Rích phụ trách. Cuộc họp gồm có tôi, anh Dũng, anh Rích, bắt đầu từ 2 giờ chiều đến 7 giờ tối. Anh Dũng đã trao đổi cho tôi biết về tình hình địch, bọn Việt gian phản động chống phá cách mạng, đàn áp phong trào quần chúng. Chúng đã tổ chức những cuộc càn quét vơ vét của cải của dân, đánh đập ức hiếp dân chúng như thế nào. Anh cũng cho tôi biết về lòng tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng của quần chúng nhân dân đã lên cao của từng xã trong Khu 1 huyện Vĩnh Bảo mà anh là huyện ủy phụ trách. Anh nói cụ thể hơn: "Xã Cao Minh thì đồng chí biết rồi! Đây là xã điển hình, xã đứng đầu của tiểu khu này về phong trào chiến tranh du kích trong Khu 1 huyện Vĩnh Bảo. Ở xã Cao Minh, chúng ta phải chỉ đạo phát huy phong trào cao hơn nữa. Ở xã Tam Cường gần các thôn Đông Am, Cổ Am, Nam Am là cơ sở chính trị mạnh, kể cả thôn đồng bào công giáo như thôn Nam Am, nhưng mặt vũ trang chưa mạnh, ta cần phải nâng phong trào lên. Phong trào ở các xã Chấn Dương, Hoà Bình, Liên Am chưa sôi nổi. Riêng xã Lý Học là một cơ sở cách mạng công giáo tốt rất tin tưởng. Trong đó có đồng chí Nghĩ là con ông lang Nghĩ mà chúng ta đã cài cắm được vào trong hàng ngũ kẻ thù. Ông lang Nghĩ làm chức thư ký kiêm nghề thuốc phục vụ cho tên Bang Cao, đóng bốt ở đầu làng Nam Am, đã kết hợp chặt chẽ với cơ sở đảng là đồng chí Nghiệp ở Nam Am. Chính ở đây có khả năng phát triển nhân mối. Khi có thời cơ ta lãnh đạo dân quân du kích và quần chúng vũ trang phối hợp bộ đội đánh chiếm đồn Bang Tá và bốt Nam Am.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Ba, 2016, 08:45:32 AM

Qua tình hình thực tế của cách mạng trong Khu 1, tôi và đồng chí Dũng nhất trí phương hướng hoạt động sắp tới của Khu 1 để đồng chí Dũng về báo cáo, xin chỉ thị huyện ủy. Chúng tôi vẫn tiếp tục phương hướng dùng lối đánh du kích phá hết các bốt tề ngụy còn lại để hoàn chỉnh khu du kích phía nam đường 17 gồm các xã Cao Minh, Tam Cường và Chấn Dương. Dựa vào cơ sở mật ở đồn Bang Tá có đồng chí Nghĩ là cơ sở của ta gài vào hàng ngũ địch. Nhiệm vụ của đồng chí Nghĩ là theo dõi quy luật hoạt động đi lại của lực lượng tề làng Trung Am, phát hiện tội ác chúng gây ra hàng ngày, nhất là tên chánh ủy xã hay còn gọi là lý trưởng. Nhưng trước mắt, chúng ta phải theo dõi tình hình địch ở đồn Bang Tá và bốt Nam Am, giết tên Bang Cao cực kỳ phản động, cần phải theo dõi, đề phòng bọn địch tái vũ trang cho bọn bảo an thôn Liên Khê, cũng là một thôn công giáo thuộc xã Liên Am...

Cuộc họp kết thúc vào lúc đêm đã về khuya, xóm làng đã chìm sâu vào giấc ngủ. Lúc này, đồng chí Rích cử hai người của cơ sở dẫn tôi sang nhà đồng chí Nghĩ ở thôn Lạng Đông, nơi công giáo toàn tòng. Nhà đồng chí Nghĩ chỉ cách bốt Nam Am một vạt ruộng nhỏ. Tới nhà, tôi gặp đồng chí Nghĩ và trao đổi công tác. Tuy anh Nghĩ làm thư ký cho Bang Tá nhưng tối được ở nhà, không phải nghỉ ở đồn. Qua đồng chí Nghĩ, tôi đã hiểu thêm về cơ sở của Nam Am, nắm được quy luật hoạt động của bọn tề Trung Am lưu vong chạy sang Nam Am. Hai chúng tôi trò chuyện, trao đổi thâu đêm. Khi thấy trời gần sáng, đồng chí Nghĩ dẫn tôi ra nhà thờ Lạng Am. Anh giấu tôi ở sau bức tường xép, trước bức tường là tượng Đức Bà Maria. Anh bảo tôi yên tâm ở đó và anh lại về đồn Bang Tá như thường nhật, cả một ngày căng thẳng, nhờ Đức Mẹ đồng trinh ban phúc lành đã che chở cho tôi được bí mật an toàn. Trong nhà thờ, đồng bào giáo dân đi lễ rất đông, tiếng cầu kinh của mọi người hoà vào nhau tạo nên một tiếng vang lớn đập vào tường thành một dư âm rất khó diễn tả. Bên ngoài, bọn lính ở Nam Am liên tục sang thôn Lạng Đông như những ngày khác, chẳng ai hay biết tôi đang nấp đằng sau tượng Đức Bà Maria. Chờ đến tối, tôi lại được các đồng chí đưa đi an toàn.

Được sự nhất trí của Ban thường vụ huyện ủy, ngày 12 tháng 1 năm 1952, tôi và đồng chí Rích - Bí thư đảng ủy xã Lý Học đã điều động một tiểu đội du kích do đồng chi xã đội trưởng xã Lý Học chỉ huy. Chúng tôi phục kích tại một điểm trên đường từ đồn Bang Tá (Nam Am) đi Trung Am để giết tên xã ủy phản động, theo đúng dự kiến phương án tác chiến của ta. Tám giờ sáng, tên xã ủy và ba tên bảo vệ đi từ thôn Nam Am về thôn Trung Am dẫn xác đến và đã lọt vào ổ phục kích của ta. Tiếng hô xung phong vừa dứt, anh em du kích xông ra đâm tên xã ủy, tưởng y chết nên ta rút quân. Sau hai mươi phút, bọn lính ở đồn Bang Tá lên chỗ quân ta phục kích đưa tên xã ủy bị thương về đồn cứu chữa nên nó đã thoát chết. Vậy là tên xã ủy còn sống, cần phải làm như thế nào, phải có chiến thuật nào đế trừ khử tên này, nếu không diệt được, nó càng phản động, càng khát máu, càng chống phá cách mạng ta và lực lượng ta quyết liệt hơn. Giữa lúc chúng tôi đang lung bung suy nghĩ tìm cách đối phó thì nhận được thư mật của đồng chí Nghĩ ở đồn Bang Tá báo ra cho biết: "Bọn tề lưu vong rất hoang mang, tên xã ủy chết hụt lại càng sợ Việt Minh, sợ lần sau họ giết thực sự”. Qua thư của đồng chí Nghĩ, tôi và đồng chí Rích bàn bạc kế hoạch và chúng tôi đi đến quyết định. Ngay đêm hôm đó, tôi và đồng chí Rích cùng đồng chí xã đội trưởng xã Lý Học và sáu đồng chí du kích vào thẳng nhà tên xã ủy ở thôn Trung Am nói cho gia đình y biết "Tên xã ủy có tội với dân, với nước, y làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp, chống phá cách mạng, đàn áp dân chúng. Anh em Việt Minh mới đánh nhẹ để cảnh cáo chờ sự hối cải của hắn. Nếu hắn còn phản động sẽ bị tiêu diệt, yêu cầu gia đình nói cho y biết, nếu cải tà quy chính sẽ được Việt Minh khoan hồng". Cả nhà nó lo sợ, rối rít xin lỗi và cảm ơn, hứa sẽ vận động nó sửa lỗi. Ngay chiều ngày hôm sau, chúng tôi nhận được bản thú tội của tên xã ủy với cách mạng và Việt Minh.

Một tình huống khó xử đã được giải quyết, chúng tôi tiếp tục tiến lên một bước mới. Đêm hôm đó, chúng tôi đến nhà bọn tề lưu vong của thôn Trung Am kêu gọi chúng về nhà làm ăn bình thường như mọi người dân thì sẽ được cách mạng khoan hồng. Đồng thời, chúng tôi cho phá ngay tề ở thôn Tang Thịnh, thôn Triệu Am. Chúng tôi đã phá tan được chính quyền ngụy, thiết lập chính quyền cách mạng, đồng thời tổ chức ngay các đoàn thể quần chúng, ban bố ngay chính sách vùng mới giải phóng. Vậy là làng Trung Am - quê hương cụ Trạng Trình đã trở thành khu du kích của ta.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2016, 07:07:22 AM

Chủ trương phá tề, lập khu du kích, ta giành thắng lợi lớn. Chiến thắng nối tiếp chiến thắng đã làm tôi say mê cùng các đồng chí chi ủy hai xã Lý Học, Tam Cường nghiên cứu kế hoạch phát triển cơ sở địch vận để lập tiếp một chiến công mới to lớn hơn, thắng lợi hơn chiến công trước mà tôi đã cùng đảng bộ xã Cao Minh làm, đó là hạ đồn Bang Tá và bốt Nam Am. Giữa lúc đang chuẩn bị cho kế hoạch mới thì thường vụ huyện ủy gửi công văn mời tôi về huyện nhận nhiệm vụ chính thức. Công việc còn lại ở cơ sở cũ do đồng chí Nghĩ và một cơ sở nội tuyến của ta đã phối hợp với một trung đội bộ đội thuộc Đại đội 311 đánh đồn Bang Tá và giết tên Bang Cao cực kỳ phản động.

Nhận mệnh lệnh của cấp trên, chiều ngày 22 tháng 1 năm 1952, tôi đến thôn Am Bố, xã Dũng Tiến là Khu 4 (khu đông bắc huyện Vĩnh Bảo). Thôn Am Bố là một cơ sở chắc chắn đáng tin cậy của huyện ủy. Tôi gặp đồng chí Vũ Dương - Bí thư huyện ủy, anh mắng yêu tôi: "Cậu vô kỷ luật lắm, để thương vụ chờ cậu tới ba ngày, ai nấy đều mong cậu đến, mọi người đều sốt ruột vì tình hình chiến đấu rất khẩn trương, cậu biết chứ?". Trong thường vụ huyện ủy lúc đó toàn các anh lớn tuổi, có anh hơn tôi cả chục tuổi. Các anh đã coi tôi như người em út của các anh, các anh gọi vui tôi là "Thằng nhóc đang trỗi dậy". Sau trận mắng mỏ, phàn nàn, anh Dương dịu giọng bảo: "Đi tắm giặt, ăn cơm xong, hãy bàn giao tình hình Khu 1 cho đồng chí Đạt - Thường vụ huyện ủy. Đúng 19 giờ, gặp tập thể thường vụ bàn nhiệm vụ của cậu". Lúc này, tâm trạng tôi nửa mừng nửa lo. Mừng vì được cấp trên tín nhiệm tin tưởng trao cho nhiệm vụ mới, lo vì không rõ làm nhiệm vụ gì? Làm thế nào để hoàn thành? Mà chắc chắn là nhiệm vụ quan trọng nên phải họp cả thường vụ huyện ủy... Tôi cứ miên man suy nghĩ như vậy cho đến khi ăn tối xong, tôi gặp đồng chí Đạt - Thường vụ huyện ủy là người xã Hòa Bình, bên cạnh xã Lý Học nên anh Đạt không lạ gì tình hình Khu 1 huyện Vĩnh Bảo, anh cũng theo dõi hoạt động của phong trào Khu 1 nên anh nắm tình hình tương đối chắc chắn. Do đó, lúc này tôi chỉ bàn giao những ý định, chủ trương, công việc mà tôi đang tiến hành. Tôi nhấn mạnh khả năng cơ sở nội tuyến của ta trong hàng ngũ địch hoạt động rất tin tưởng, nhất là vai trò đồng chí Nghĩ về ý định phát triển cơ sở địch vận để tiến đến hạ đồn giặc.

Bàn giao cho anh Đạt xong, tôi sang chỗ anh Dương để gặp Ban thường vụ gồm: anh Đạt, anh Dương, anh Vĩnh. Tôi ngồi im lặng chăm chú lắng nghe từng lời nói mà các anh trong thường vụ chỉ giáo. Anh Vũ Dương nêu tóm tắt về tình hình địch, về lực lượng của ta ở Khu 3 (khu tây bắc của huyện Vĩnh Bảo). Về phía địch, ở đây chúng đóng hai bốt lính bảo chính đoàn: bốt cầu Nghìn và bốt Hà Phương. Điều đáng chú ý là ở đồn Chanh Chử, địch mới thành lập một đại đội nghĩa quân có trên bảy mươi tên được trang bị vũ khí đầy đủ, chủ yếu là súng trường, có hai trung liên. Chúng còn có một làng tề mà trong đó có một số tên đội lốt công giáo rất phản động. Chúng đã lập xong các ban tề của năm xã: Thắng Thủy, Hiệp Hòa, Hùng Tiến, An Hòa, Trung Lập. Họ đều có tư tưởng cầu an. Có thôn địch đã trang bị vũ khí nhưng chủ yếu là lựu đạn. Chúng ta đã có những cơ sở chắc chắn để đưa tin tức về các làng tề. Về phía quần chúng nhân dân rất tốt, có cơ sở chính trị, có du kích. Năm 1951, nơi đây đã nổi dậy vũ trang mở khu du kích nhưng bị địch tập trung lực lượng đánh phá ác liệt. Các thôn thuộc xã Hùng Tiến hầu như bị tàn phá hết, phần nào đã làm cho nhân dân lo sợ, đi vào con đường cầu an. Toàn huyện có bốn khu thì ba khu đã tổng phá tề mở thành khu du kích, riêng Khu 3 (tây bắc) huyện chưa làm được nên thường vụ huyện ủy có chủ trương tiếp tục phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, tiếp tục mở khu du kích phía tây bắc Vĩnh Bảo, đưa phong trào chiến tranh du kích huyện nhà phát triển lên một nấc cao hơn nữa.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2016, 07:07:46 AM

Tiếp theo ý kiến của đồng chí Bí thư huyện ủy Vũ Dương, anh Vĩnh - Thường vụ huyện ủy, Huyện đội trưởng phát biểu sâu về quân sự của huyện vẫn là chiến thuật du kích, anh Vĩnh nói: "Chúng ta phải tổng phá tề toàn khu nhưng riêng tề Áng Ngoại cực kỳ phản động, ngoan cố, chúng lại được trang bị vũ khí khá đầy đủ nên ta chưa đủ sức phá. Để hỗ trợ cho tổng phá tề, ta phải đánh cho được đồn Chanh Chử, chiến thắng đạt được sẽ làm ngòi nổ khởi động chung cho toàn khu. Huyện đội sẽ báo cáo tỉnh đội, xin tỉnh đội cho một trung đội bộ đội về phổi hợp chiến đấu cùng lực lượng của huyện, lực lượng này sẽ đi cùng đồng chí Quyết Tâm sang hỗ trợ các xã ở Khu 3 để tổng phá tề. Khởi đầu, ta bao vây chặt đồn Chanh Chử, phóng loa kêu gọi đại đội nghĩa quân địch hạ vũ khí ra hàng để hưởng chính sách khoan hồng của Chính phủ ta". Đồng chí Dương kết luận: "Đây là đợt hoạt động mở vùng du kích tây bắc huyện, thường vụ huyện ủy giao cho đồng chí Quyết Tâm - Huyện ủy viên, là một cấp ủy viên trẻ năng động, có kinh nghiệm chiến đấu phụ trách Khu 3, chỉ đạo, hỗ trợ các xã thực hiện quyết tâm này của huyện ủy. Đồng chí Quyết Tâm có làm được không?". Khi đồng chí bí thư huyện ủy hỏi tôi như vậy, tôi thực sự xúc động, bàng hoàng. Vậy là thường vụ huyện ủy đã tin và giao cho tôi nhiệm vụ chỉ huy đợt hoạt động này là quá sức tưởng tượng của tôi. Tôi liền mạnh dạn phát biểu trước thường vụ: "Đây là nhiệm vụ quan trọng quá sức của tôi nhưng thường vụ đã giao, tôi xin cố gắng".

Anh Dương nói lời động viên tôi: "Thường vụ đã cân nhắc rất kỹ và rất tin tưởng ở cậu. Chúc cậu thành công và còn hỏi gì nữa không?". Tôi phát biểu: "Báo cáo thường vụ, cho phép tôi vận dụng cách đánh linh hoạt, miễn là đạt được ý định của huyện và tôi đề nghị, sau khi giải phóng xong đồn Chanh Chử thì cho các đồng chí bộ đội ở lại cùng xã chống càn. Bởi vì địch bị thua đau thường hay mở những cuộc càn quét, trả đũa ta". Các đồng chí thường vụ huyện ủy đã đồng ý với đề nghị của tôi, khiến cho ý chí quyết tâm chiến đấu của tôi một lần nữa được tôi luyện.

Mặc dù đêm hôm đó ít nghe thấy tiếng súng giặc bắn cầm canh nhưng tôi nằm trằn trọc không sao ngủ được. Tôi lo lắng về nhiệm vụ quá nặng nề. Tôi suy nghĩ về một trung đội bộ đội của ta liệu có thể bao vây đồn, gọi hàng một đại đội địch không? Đồn Chanh Chử nằm sát thị xã Ninh Giang, là một đồn địch có tầm cỡ ở vùng đồng bằng, ở đó, địch luôn có hai tàu chiến thường trực sẵn sàng, nên ta cần phải nổ súng và bao vây đồn ngay lập tức. Sáng hôm sau, đồng chí Tính - Chánh văn phòng huyện ủy trao cho tôi một công văn, đó là một giấy giới thiệu ghi rõ: "Đồng chí Quyết Tâm - Huyện ủy viên phụ trách Khu 3, các cấp ủy xã trong khu nghe đồng chí Tâm phố biến ý định của huyện ủy và cùng đồng chí Tâm thực hiện" và giao tôi cho một đồng chí giao liên dẫn tôi vào xã Thắng Thủy. Theo kế hoạch của đồng chí giao liên, cả hai chúng tôi phải cải trang làm người đi buôn thuốc lào. Mỗi người có hai cái giỏ đan bằng cói đựng vài bánh thuốc lào ở bên trong với đôi quang thừng buộc ở đầu đòn gánh. Từ hơn hai giờ chiều đến mờ tối, hai chúng tôi đi từ thôn An Bồ xã Dũng Tiến mới đến trạm giao liên ở trại Cung Chức. Từ trạm này có đường đi qua thôn Áng Dương, Phương Lâm vào xã Hùng Tiến, An Hòa. Một hướng qua trại Chanh vào Chanh Chử, xã Thắng Thủy. Ngay đêm hôm đó, đồng chí giao liên huyện lại giao tôi cho đồng chí giao liên xã Thắng Thủy. Đồng chí đó dẫn tôi đi băng qua một cánh đồng ruộng rộng mênh mông nằm ven sông Luộc để vào thôn Chanh Chử. Tại một cơ sở mật của ta, tôi gặp đồng chí Cậy - Bí thư chi bộ xã Thắng Thủy. Với tôi, anh Cậy là bậc cha chú bởi anh hơn tôi gần hai mươi tuổi nhưng tôi gọi bằng anh là theo thói quen của bạn bè, đồng chí cùng làm cách mạng. Anh vui vẻ đón tiếp tôi và dẫn tôi đến một cơ sở mà anh thường xuyên ở đó. Đó là nhà bà Cậy đảng viên, là con dâu cụ Chánh Hội có uy thế trong làng. Chồng bà đã xấu số mất sớm. Bà ở vậy nuôi một đứa con trai đang theo học ở trên tỉnh. Nhà bà ở cách đồn Chanh Chử (đò Chanh) độ ba trăm mét nhưng kín đáo, vườn rộng xung quanh, có luỹ tre bao bọc, có một hầm bí mật ở trong buồng thông ra một bụi tre hoá. Đây là một cơ sở lý tưởng theo đúng với "nhân hòa địa lợi". Đêm hôm đó, đồng chí Cậy chỉ trao đổi qua với tôi rồi bắt tôi đi ngủ sớm cho lại sức, đến ngày hôm sau mới bàn quốc sự.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2016, 07:08:25 AM

Qua hai ngày đi bộ, hai đêm họp hành nhận nhiệm vụ căng thẳng đầu óc, bà Cậy bắt tôi đi ngủ sớm và tôi đã ngủ một đêm thật thỏa thích. Đến sáng, bà Cậy gọi chúng tôi dậy sớm ăn sáng. Bà bảo: "Ăn sáng xong, anh phải xếp tài liệu cho gọn gàng, cửa hầm tôi mở sẵn, nếu thấy địch vào làng thì phải xuống hầm bí mật ngay". Sau khi ăn sáng xong, tôi và đồng chí Cậy trao đổi công việc. Tôi báo cho đồng chí Cậy biết chủ trương hoạt động của thường vụ huyện ủy. Đồng chí Cậy thông báo cho tôi biết về tình hình địch, ta ở xã Thắng Thủy, đi sâu vào tình hình thực tế thôn Chanh Chử. Ở đây, có một ban tề gần đủ thành phần: Chánh - phó xã ủy, Chánh - phó bảo an, thư ký, địa bạ. Có một đội bảo an thôn hầu hết là người bị chính quyền ngụy bắt buộc, không có ai là phản động nhưng ở họ đều có tư tương cầu an chưa dám hoạt động mạnh cho ta. Đáng chú ý là đại đội nghĩa quân có trên bảy mươi tên trang bị súng, lựu đạn đầy đủ, đồn chúng đóng sát đò Chanh. Trong đồn có hệ thống công sự bằng đất, bao quanh ba hàng rào dây thép gai. Các binh sĩ là những thanh niên thôn Chanh Chử, thôn Hà Phương, phần lớn bị bắt buộc, một số có tư tưởng cầu an. Còn hai tên đồn trưởng và đồn phó lừng chừng, ta chưa nắm chắc thái độ của chúng. Ngoài ra, ở thôn Chanh Chử còn có hai tên phản động là cường hào, nằm ngoài bọn tề cộng tác với địch. Chúng bí mật quan hệ chặt chẽ với tên tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Ninh ở Ninh Giang khống chế ban tề làm tay sai cho giặc chống phá cách mạng, thăm dò và theo dõi những gia đình chúng nghi làm Việt Minh tham gia kháng chiến chống giặc Pháp. Còn các ban tề và bọn bảo an ở các thôn trong xã, địch đã trang bị vũ khí cho chúng (phần lớn là lựu đạn). Nhưng chúng ta vẫn nắm chắc được tình hình diễn biến hoạt động thường ngày của chúng. Bởi vì ở các thôn, chúng ta đều có cơ sở đảng hoạt động bí mật. Nhân dân vẫn hướng về kháng chiến... Từ tình hình thực tế của xã Thắng Thủy, chúng ta thấy chủ trương của thường vụ huyện ủy mở đợt phá tề là đúng đắn. Nhưng việc đánh chiếm đồn Chanh Chử, giành chiến thắng toàn diện bằng cách nào, bằng chiến thuật nào là việc phải lý giải được. Cả một ngày, hai chúng tôi bàn bạc mãi mà vẫn chưa ra. Đêm hôm đó, đồng chí Cậy dẫn tôi đi gặp một cơ sở hoạt động bí mật của ta nằm ở trong ban tề. Ở cơ sở này, các đồng chí đã cung cấp cho tôi một tin vô cùng quan trọng. Ngày 27 tháng 1 năm 1952 sắp tới, ban tề ăn giỗ bố tên chánh xã ủy Diệm, nhân đó bàn một số việc của làng Chanh ở trại Chanh Chử. Hôm đó, tên Sỹ - đồn trưởng sẽ cùng dự. Nắm được tin này tôi phấn khởi lắm, tôi và đồng chí Cậy về ngay nhà bà Cậy đế bàn kế hoạch đánh đồn Chanh Chử. Chúng tôi đã nhất trí phương án tác chiến quyết định đưa trung đội bộ đội vào vây chặt nhà tên xã ủy. Ta sẽ bắt hết bọn này, khống chế chúng, bắt chúng phải nộp vũ khí, nếu không giữ chúng lại làm con tin. Bắt tên Sỹ - đồn trưởng, phải dẫn bộ đội ta về đồn (bộ đội đóng giả làm lính của địch), tạo ra thế bất ngờ và tước vũ khí của đại đội nghĩa quân ngay trong đồn chúng. Đây là phương án táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Phương án này có ưu việt hơn phương án bao vây đồn, kêu gọi địch ra đầu hàng.

Ngay sáng hôm sau, tôi biên thư về huyện xin bộ đội hỗ trợ lực lượng. Đúng giờ G (giờ quy định), đơn vị có mặt ở đê sông Luộc, cách thôn Chanh Chử năm trăm mét, do đồng chí giao liên dẫn đường cầm thư này về, chúng tôi tổ chức đón. Ban thường vụ đã nhất trí, đáp ứng yêu cầu thư đề nghị của chúng tôi. Mờ tối ngày 27 tháng 1 năm 1952, huyện ủy đã cho Trung đội 1 của Đại đội 331 do đồng chí giao liên dẫn đường về đúng nơi quy định. Chúng tôi đưa các đồng chí đó xuống một vạt ruộng khô sát chân đê để làm công tác tổ chức. Tôi tổ chức phổ biến kế hoạch tác chiến của ta cho toàn đơn vị: thống nhất phương án giả làm lính trên quận về đồn phối hợp với nghĩa quân đồn Chanh Chử để hôm sau mở đợt càn khu Hùng Tiến. Tôi làm đồn phó chỉ huy chung. Để hoá trang thành vị đồn phó, tôi đội một mũ bê rê, một can. Đồng chí trung đội trưởng bộ đội làm chỉ huy phó. Thống nhất về mật hiệu, khi bộ đội và nghĩa quân xếp hàng xong, tôi ngoáy can thì quân ta lên đạn gí súng vào ngực bọn nghĩa quân địch và nhanh chóng tước vũ khí của nó. Đúng 20 giờ, cơ sở báo tin: ban tề đã có mặt đầy đủ, chúng đang uống rượu. Đồng chí Cậy cử ba đồng chí cơ sở dẫn đường ba mũi quân ta vào bao vây nhà tên xã ủy. Bao vây xong, chúng tôi ập vào bất ngờ tóm gọn ban tề và tên Sỹ đồn trưởng. Tôi tuyên bố tất cả mọi người bị bắt về tội chống lại kháng chiến. Nếu tất cả lập công chuộc tội sẽ được hưởng khoan hồng với điều kiện tất cả phải nộp toàn bộ vũ khí cho Việt Minh. Bọn tề không kịp trở tay xoay xở, ngồi run sợ, van lạy như tế sao. Chúng xin Việt Minh cho một điều kiện khác. Vì chúng biết khi lệnh cho bọn nghĩa quân mang súng về đây nộp, bọn nó sẽ vác súng bơi qua sông Ninh Giang. Tôi lại tuyên bố điều kiện thứ hai: tất cả ban tề phải ở lại tại đây làm con tin. Ông Sỹ đồn trưởng dẫn bộ đội về đồn, nói rằng họ về đây phối hợp với nghĩa quân để đi càn vùng này. Ông tập hợp nghĩa quân để tôi nói chuyện. Tôi đe dọa: "Nếu ông để lộ ra vấn đề gì thì chính ông và toàn bộ ban tề ở đây đều bị tiêu diệt".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2016, 07:09:30 AM

Bọn chúng đã chấp nhận phương án này, chúng tôi đã để lại một tiểu đội gác giữ ban tề làm con tin. Còn hai tiểu đội bộ đội cùng một tiểu đội du kích xã Thắng Thủy dẫn tên Sỹ đồn trưởng về đồn Chanh Chử. Đúng 24 giờ đêm ngày 27 tháng 1 năm 1952, bộ đội và du kích của ta đã hành quân đến cách đồn Chanh Chử bốn trăm mét. Để tránh sự phát hiện của địch, chúng tôi không cho bộ đội đi trên mặt đê mà đi xuống ven chân đê về phía đông sát luỹ tre làng Chanh Chử. Đến gần cổng đồn, tôi cùng ba đồng chí bộ đội và tên Sỹ đồn trưởng vượt lên trên đê. Hai tên lính gác cổng đồn phát hiện thấy liền bảo:
- Ai?

Tên Sỹ trả lời:
- Sỹ đồn trưởng đây, mở cổng ngay.

Tên gác cổng hỏi:
- Còn ai kia nữa?

Tên Sỹ tỏ ra cáu kỉnh quát lớn:
- Các ông quan trên huyện, mở cổng mau!

Hai tên gác liển mở cổng, tôi và tên Sỹ cùng các đồng chí bộ đội, du kích tiến vào đồn. Tôi, đầu đội mũ bê rê hơi lệch, tay cầm can, quát phủ đầu tên đồn phó:

- Mấy hôm nay, Việt Minh đánh khu Thiết Tranh rồi phục kích đường một, đoạn từ Quý Cao lên Võng La biết không? Sao canh gác sơ sài? Tập hợp nghĩa quân mau!

Nghe thấy vậy, đại đội nghĩa quân, bộ đội và du kích đã tập hợp xong, mỗi đơn vị xếp thành ba hàng dọc, cách nhau ba mét. Tôi đứng ở giữa sân hô lớn:

- Lính quân quay trái, nghĩa quân quay phải. Quay!

Hai đơn vị quay mặt vào nhau, tôi ngoáy can ra mật hiệu. Quân ta lên đạn răm rắp. Tôi hô to:

- Bộ đội về giải phóng nghĩa quân, nghĩa quân bỏ súng xuống, nếu ai chống cự sẽ bị tiêu diệt ngay tại chỗ!

Toàn bộ quân ta xốc tới, thu toàn bộ vũ khí của bọn nghĩa quân. Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí trung đội trưởng chỉ đạo bộ đội, du kích dồn bọn lính bại trận chạy về căn cứ du kích xã Dũng Tiến. Còn tôi, đồng chí Cậy và một tổ trung liên cùng ba đồng chí du kích ở lại. Chúng tôi cho quân báo, báo cho tiểu đội bộ đội gác ban tề và tổ du kích đi bắt hai tên phản động, giải tất cả bọn chúng về xã Dũng Tiến, giao cho huyện đội mà người trực tiếp nhận là anh Vĩnh. Chúng tôi để cho các đồng chí bộ đội dẫn bọn nghĩa quân đi chừng mười lăm phút. Khi không còn nhìn thấy họ nữa, tôi cho tổ trung liên bắn vào đồn Chanh, lệnh cho anh em đốt cháy trại lính, chòi gác, cho bà con quần chúng la ó, kêu gào Việt Minh về quá đông, bắt mấy tến lính bảo an vượt sông sang đồn Ninh Giang, chạy đến bốt Hà Phương kêu cứu viện binh.

Sau nửa giờ chiến đấu bằng chiến thuật cải trang, biến hoá hư hư, thực thực, tập kích bắt đại đội nghĩa quân xóa sổ bốt Chanh Chử; thu 50 súng trường, hai súng trung liên; bắt gọn bọn tề và hai tên phản động ở thôn Chanh Chử. Chúng ta bảo toàn được lực lượng. Đây là trận mở màn cho đợt hoạt động tổng phá tề mở vùng du kích đầy thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Ba, 2016, 07:10:24 AM

Sáng hôm sau, địch cho một tiểu đoàn sang bao vây càn quét thôn Chanh Chử, chúng không tìm thấy một dấu vết gì là khả nghi để chúng khủng bố quần chúng nhân dân. Về phía nhân dân, bà con nói: "Việt Minh về đông lắm, bắt hết nghĩa quân và các ông ban tề đi. Nhân dân đã báo động kêu cứu, nhưng không thấy một lực lượng nào đến giúp để con em chúng tôi bị Việt Minh bắt. Không hiểu sự sống chết của con em chúng tôi ra sao?".

Chiến thắng đồn Chanh của chúng ta (Việt Minh) là tiếng chuông lớn vang xa trong vùng, nó làm cho bọn tề ngụy, bọn phản động làm tay sai cho giặc rất hoang mang lo sợ. Nó thức tỉnh niềm tin vào chiến thắng cuộc kháng chiến trong quần chúng. Nó làm cho toàn dân trong vùng vui mừng và phấn khởi.

Sau chiến thắng trận Chanh Chử, tôi thay mặt huyện ủy triệu tập cuộc họp gồm các đồng chí bí thư chi bộ khu tây bắc huyện Vĩnh Bảo. Trong hội nghị này, tôi phổ biến cho các đồng chí biết tin chiến thắng khắp các chiến trường, đặc biệt tin nóng hổi là chiến thắng phá đồn Chanh Chử, bắt gọn đại đội nghĩa quân, thu toàn bộ vũ khí của chúng. Tiếp đó, tôi quán triệt chủ trương của thường vụ huyện ủy tổng phá tề, mở khu du kích tây bắc huyện. Các đồng chí bí thư chi bộ các xã rất vui mừng, phấn khởi. Chúng tôi thống nhất nhận định, đây là thời cơ tốt nhất để đẩy phong trào chiến tranh du kích của huyện ta lên tầm cao mới. Tôi đưa ra một số biện pháp rất cụ thể: "Các xã phải tổng phá tề ngay bằng cách: Nơi nào trong ban tề có người của chúng ta gài vào thì tuyên bố giải tán. Nơi nào bảo an có vũ khí thì chúng ta cưỡng bức ban tề bắt bọn bảo an phải nộp vũ khí. Chúng ta học tập cách đánh đồn Chanh Chử. Các đồng chí lưu ý, chúng ta phá tề phải đi ngay vào tổ chức chính quyền mới, các đoàn thể tổ chức lại. Phát triển lực lượng du kích, rào làng kháng chiến chuẩn bị cho việc chống địch càn quét”...

Cuộc họp diễn ra ở thôn Gừng, xã Hoàng Tiến kết thúc. Tôi và đồng chí Cậy - Bí thư chi bộ xã Thắng Thủy trở về thôn Hà Phương (Thắng Thủy), về đây, chúng tôi gặp các đồng chí hoạt động cơ sở để bàn cách đánh, cách phá tề và tước vũ khí của ban tề, bảo an Hà Phương. Các đồng chí ở cơ sở báo cáo cho chúng tôi biết về tình hình địch ở đây.

Ở ban tề thôn Hà Phương, ông chánh xã ủy là người của ta gài vào, còn chánh phó bảo an và phó xã ủy thì ta chưa nắm chắc về thái độ, chúng có vẻ lừng chừng, hai mang. Còn bọn lính bảo an đều là anh em bị bắt buộc. Bởi vậy sau trận ta đánh thắng đồn Chanh Chử, họ tỏ ra hoang mang lo sợ. Nắm được tình hình đó, tôi và đồng chí Cậy đã bàn bạc, vạch ra phương án đánh kết hợp giữa hai mặt tuyên truyền vận động kêu gọi với vũ trang. Hai chúng tôi đều nhất trí, tôi với đồng chí Cậy đêm đêm vào từng nhà phó xã ủy, chánh phó bảo an thuyết phục gia đình phân tích để họ thấy được tham gia hoạt động cho địch là có tội với dân với nước. Để họ nói với người thân của mình, bỏ hàng ngũ địch trở về với gia đình, với xóm làng, ủng hộ kháng chiến...

Đồng thời, tôi thảo một tối hậu thư đưa cho chánh xã ủy buộc họ phải họp ban tề ở ngoài đồn bảo an để cán bộ Việt Minh chúng tôi gặp và nói chuyện. Dựa vào tối hậu thư của tôi, ông chánh xã ủy (người cơ sở ta) đã thuyết phục ban tề tổ chức cuộc họp ngoài đồn thực hiện theo đúng ý định của ta. Chúng tôi đến gặp ban tề nói chuyện, sau đó họ đã dẫn chúng tôi và du kích vào đồn bảo an, chúng tôi nói chuyện với họ, đồng thời thu hết vũ khí của bọn bảo an gồm 45 quả lựu đạn mà không phải tác chiến.

Kết quả của cuộc tước vũ khí lính bảo an và phá tề ở Hà Phương diễn ra cũng thật nhanh gọn. Đêm hôm đó, chánh - phó xã ủy đã mời tôi và đồng chí Cậy về nhà ông chánh xã ủy ăn mừng chiến thắng.

Bữa cơm diễn ra thân mật, có cả đồ ăn tây và ta, có rượu sâm banh Pháp, có gà tần, cơm tám, giò chả... Vợ con gia đình xã ủy phục vụ tận tình, phong cách tiếp khách lịch sự. Cô con gái của họ chừng độ tuổi mười tám hay đôi mươi, đang theo học ở một trường trên tỉnh Ninh Giang. Cô này cũng khá xinh đẹp, đứng xới cơm cho từng người chúng tôi. Ăn đến nửa bữa, tôi chợt nghĩ đến một nguyên tắc trong vùng địch hậu mà tôi giật nảy mình, thay đổi sắc thái nên ăn chẳng thấy ngon nữa... Tôi thầm nghĩ mình thật mất cảnh giác. Giả sử chỉ cần hai phó xã ủy kia lừng chừng cho một thìa thuốc độc vào rượu hoặc canh thì hai cán bộ nòng cốt của huyện (tôi và anh Cậy) đã đi chầu Diêm Vương rồi và nhất định chúng tôi sẽ để lại tiếng xấu về sau. Chừng như đoán được lòng tôi lúc bấy giờ, anh Cậy vội nói động viên trấn an tôi: "Ông chánh ủy và gia đình là cán bộ cách mạng của địa phương, tôi đã ở và được gia đình giúp đỡ, che chở từ lâu; ông ấy đã được thử thách qua những năm tháng đen tối, ác liệt". Sau này anh Cậy còn cho tôi biết rằng ông chánh xã ủy là một đảng viên của ta. Vậy mà anh Cậy không cho tôi biết trước làm tôi đã quá hoảng sợ và hoang mang.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 08:23:31 AM

Chưa đầy hai tuần lễ (từ ngày 27 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2 năm 1952), chúng tôi vừa chỉ đạo tổng phá tề, tước vũ khí các đồn bảo an; vừa đẩy mạnh phát triển lực lượng, chống địch phản ứng càn quét. Chủ yếu bằng phương thức đánh du kích, bao vây hù dọa, đóng giả đội hình lực lượng theo kiểu phá đồn Chanh Chử xã Thắng Thủy. Toàn khu tây bắc huyện đã phá được mười lăm ban tề, tước vũ khí và giải tán mười lăm đội bảo an, giải phóng hầu hết các thôn trong năm xã, đưa khu tây bắc huyện Vĩnh Bảo thành khu du kích. Sau đó, bộ đội của huyện và du kích xã Hùng Tiến, An Hòa tiếp tục đánh bại ba cuộc càn quét của địch, giữ vững vùng mới mở ra, góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh chiến tranh du kích trong toàn huyện ở giai đoạn mới, giai đoạn ta phản công và tiến công địch trên khắp các chiến trường.

Tổng kết đợt hoạt động đánh địch, mở vùng du kích tây bắc huyện, chúng ta đã giành được thắng lợi trên nhiều mặt, vừa giải phóng quê hương, vừa phối hợp với chiến trường thực hiện chủ trương đề ra của thường vụ huyện Vĩnh Bảo.

Kết quả giành thắng lợi, là người được thường vụ huyện ủy giao trọng trách Khu 3 và chỉ đạo hoạt động mở vùng, đến lúc này tôi mới hết lo và vô cùng phấn khởi. Qua hoạt động thực tiễn đã cho tôi những bài học kinh nghiệm mới bổ sung cho tôi niềm tin và nghị lực mới trên bước đường phát triển tiếp theo.

Kết thúc đợt tổng phá tề, phá đồn bốt địch, mở khu du kích tây bắc huyện Vĩnh Bảo, chúng tôi đã tập hợp các xã trong khu để rút kinh nghiệm và xác định phương hướng hoạt động. Trong đợt hoạt động vừa qua, những bài học kinh nghiệm không chỉ ở riêng tôi mà còn đối với nhiều người làm cách mạng. Đó không chỉ có quyết tâm chiến đấu, không sợ gian khổ hy sinh mà phải biết nghệ thuật chỉ đạo, biết phân tích đánh giá tình hình địch - ta, biết nắm bắt thời cơ chung để tạo thời cơ tại chỗ, phải kết hợp chặt chẽ giữa điểm và diện, đánh vào các điểm tạo nên sự rung chuyển lớn rồi từ đó khuếch trương ra diện rộng. Còn phương hướng hoạt động cũng được đặt ra: phát huy thắng lợi đã giành được, khẩn trương xây dựng lực lượng ta về mọi mặt, xây dựng làng chiến đấu, sẵn sàng đánh bại các cuộc càn quét phản ứng của địch, bảo vệ vững chắc vùng mới mở ra...

Theo phương hướng trên, tôi lần lượt xuống các xã, trực tiếp hướng dẫn cho các đồng chí chi ủy chi bộ xã về việc tổ chức phát động quần chúng, mở rộng cơ sở chính trị, phát triển dân quân du kích, xây dựng làng chiến đấu đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng trong giai đoạn mới. Tại đây, thường vụ huyện ủy có công văn gọi tôi về văn phòng huyện ủy để nhận công tác mới.

Chấp hành chỉ thị của thường vụ, tôi gặp đồng chí Tạo - Huyện ủy viên phụ trách xã Hùng Tiến để bàn giao tình hình nhiệm vụ của Khu 3 (khu tây bắc huyện) theo hướng dẫn của huyện ủy.

Đêm ngày 19 tháng 2 năm 1952, đêm hạ tuần, trời tối đen như mực tưởng chừng như xắn được ra từng mảng, tôi nhận lệnh cấp trên theo đồng chí giao liên huyện đi vượt qua đường 10 (đoạn cầu Kê Sơn) gần đồn địch Mai Sơn để về Khu 2 - khu trung tâm huyện. Lần vượt đường này không khó khăn, nguy hiểm như những lần trước, song tôi vẫn đề phòng bọn biệt kích cho bọn lính ngụy phục kích.

Đúng 21 giờ, tôi về tới văn phòng huyện ủy đóng ở xóm Núi xã Đồng Minh, ở đây, tôi gặp ba đồng chí trong thường vụ huyện ủy: đồng chí Dương - Bí thư huyện ủy, đồng chí Chỉnh - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện, đồng chí Vĩnh (tức Diễn) - Huyện đội trưởng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 08:24:15 AM

Lần gặp này, tôi cảm thấy có vẻ khác với nhiều lần gặp gỡ khác. Trước đây, mỗi khi gặp nhau ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi như người thân trong nhà đi xa lâu ngày gặp lại nhưng lần này tràn ngập một không khí buồn bã. Tôi thấy nét mặt đồng chí nào cũng buồn rười rượi mà không hiểu được tại sao, trong lòng tôi đầy thắc mắc và cũng buồn lây. Tôi chưa dám hỏi các đồng chí xem có điều gì đã xảy ra nhưng có lẽ mọi người đoán được ý nghĩ của tôi nên sau bữa ăn khuya xong, đồng chí Vũ Dương gặp tôi nói chuyện. Đồng chí nói: "Huyện ủy ta có một tin rất buồn. Hôm vừa qua (ngày 17 tháng 2), đồng chí Thành và đồng chí Bình sang huyện Tiên Lãng họp với tỉnh đội. Khi bơi qua sông Thái Bình vào đến thôn Tràng xã Tam Đa, các anh gặp phải bọn lính biệt kích phục kích đã bắn chết đồng chí Bình, còn đồng chí Thành bị chúng bắt. Huyện ủy ta đã mất đi một đồng chí huyện ủy viên trẻ, năng động. Đại đội 112 bộ đội địa phương huyện mất đi hai cán bộ có nhiều triển vọng (đồng chí Bình - Chính trị viên và đồng chí Thành - Trung đội trưởng).

Lời nói của anh vừa dứt, nỗi buồn thương tiếc người đồng chí của mình ra đi không bao giờ gặp lại trào dâng lên trong tôi và tất cả mọi người có mặt ở đó nhưng dường như ai nấy đều kìm nén lòng mình để không bật lên tiếng khóc. Không ai khóc nhưng tròng mắt mọi người đều đỏ hoe lòng căm thù quân giặc. Ngọn lửa căm thù hừng hực bốc lên trong tôi và trong mỗi người. Tất cả đều mang quyết tâm giết được nhiều quân địch để trả thù cho những đồng chí của mình.

Buổi sáng hôm sau, ngày 20 tháng 2 năm 1952, cuộc họp khai mạc, đây là một cuộc họp huyện ủy mở rộng. Trước khi đi vào nội dung chính, ban lãnh đạo kiểm điểm kết quả đợt hoạt động mạnh phối hợp với chiến dịch Hòa Bình. Ban thường vụ làm lễ truy điệu đồng chí Bình. Đồng chí Đạt - Thường vụ huyện ủy đọc điếu văn viếng đồng chí Bình. Điếu văn được đọc lên, lại một lần nữa khắc sâu trong lòng chúng tôi về thân thế và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Bình: "Một người đảng viên đức độ, một thường vụ huyện ủy trẻ tài năng luôn tích cực hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Đồng chí sẵn sàng hy sinh tính mạng cho cách mạng, cho nhân dân. Trên đường đi công tác, đồng chí bị địch phục kích đã chiến đấu anh dũng và hy sinh vẻ vang. Đồng chí Bình hy sinh, huyện ủy mất đi một đồng chí thường vụ trẻ đầy năng lực, Đảng và nhân dân chúng ta mất đi một người con kiên trung bất khuất, gia đình và quê hương mất đi một người con trọn nghĩa vẹn tình. Chúng ta vĩnh biệt đồng chí Bình, thường vụ huyện ủy hãy biến đau thương thành hành động cụ thể. Chúng ta sẵn sàng gánh vác công việc mà đồng chí Bình để lại, làm thay đồng chí để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và cách mạng phân công, quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực địch, góp phần đánh đuổi giặc Pháp giải phóng Tổ quốc. Chào vĩnh biệt!".

Chúng tôi nghe xong điếu văn, đứng lặng lẽ mặc niệm một phút. Trong chúng tôi không ai cầm nổi nước mắt, nỗi nhớ nhung và niềm cảm phục theo giọt nước mắt lăn dài trên gò má mỗi người.

Tiếp sau đó, cuộc họp đi vào nội dung chính với việc trao đổi bổ sung cán bộ huyện, đại đội Vĩnh Bảo. Đồng chí Vũ Dương thay mặt thường vụ huyện ủy phát biểu, đồng chí nói: "Tôi xin giới thiệu đồng chí Quyết Tâm là Huyện ủy viên phụ trách Khu 3 (khu tây bắc huyện) chuyển sang quân đội, làm Chính trị viên phó huyện đội, Chính trị viên Đại đội 112 của huyện thay cho đồng chí Bình. Đồng chí Quyết Tâm năm nay mới hai mươi ba tuổi (1929-1952), là một huyện ủy viên trẻ nhất trong ban chấp hành huyện ủy. Đồng chí là một cán bộ chủ chốt đã góp phần làm nên phong trào chiến tranh du kích xã Cao Minh, Khu 1 và Khu 3 huyện Vĩnh Bảo. Đồng chí đã có kinh nghiệm tác chiến du kích. Tôi có ý kiến như vậy, đề nghị thường vụ cho ý kiến". Các đồng chí khác phát biểu đều nhất trí với ý kiến của thường vụ. Anh Dương nhìn thắng về phía tôi, hỏi xem ý kiến của tôi thế nào. Tôi đã phát biểu: "Tôi được ban thường vụ huyện ủy tin tưởng trao nhiệm vụ, tôi xin nhận và xin hứa với các đồng chí nguyện đem hết sức mình để cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ".

Từ đây, ngày 20 tháng 2 năm 1952, tôi chính thức chuyển sang quân đội. Với tôi, đây là điểm mốc lịch sử trong cuộc đời và cũng là bước ngoặt mới của đời mình. Trọng trách nhiệm vụ mới thật nặng nề, đòi hỏi bản thân tôi phải quyết tâm hơn nữa, phải học hỏi và trau dồi kinh nghiệm hơn nữa thì mới có đủ nghị lực thực hiện thành công nhiệm vụ mà thường vụ huyện ủy đã trao cho tôi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 10:43:37 PM

Sau cuộc họp huyện ủy mở rộng, anh Lê Vĩnh (tức anh Diễn) - Huyện đội trưởng dẫn tôi về văn phòng huyện đội đóng ở xóm Miễn thôn Từ Lâm. Tôi ở lại đây hai ngày, chủ yếu nghe anh Vĩnh trao đổi về tình hình và nhiệm vụ mới của tôi. Tôi đã quen biết anh Vĩnh từ lâu. Anh ở thôn Đông Am, xã Tam Cường gần với xã Cao Minh. Hai xã nằm kề sát nhau như hai gia đình cùng chung một ngõ, tắt lửa tối đèn có nhau. Hồi đầu kháng chiến, hai xã này thường xuyên hỗ trợ nhau trong việc trấn áp bọn tội phạm phản động Việt gian trong những trận chống càn. Anh Vĩnh hơn tôi gần chục tuổi. Anh hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tuổi đời đã đến độ chín và có nhiều kinh nghiệm. Tôi rất quý mến và kính nể anh, coi anh như người anh cả. Anh nói cho tôi biết về tình hình diễn biến của bọn địch : "Vào thời điểm này, quân đội Pháp ở Việt Nam đã tăng lên đến 50 vạn, cao nhất trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của chúng. Nhưng khả năng chiến đấu của chúng kém, tinh thần binh lính ngày một sa sút nghiêm trọng. Việc tiếp tế hậu cần của chúng ngày một khó khăn. Vì vậy, chúng ra sức vơ vét của cải của nhân dân. Chúng thực hiện một chiến lược mới: "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", dựa vào sự viện trợ của Mỹ hòng giành thắng lợi. Về ta, cụ thể ở huyện mình, trải qua hai năm quân và dân ta đối mặt với kẻ thù (1950-1951), quân dân Vĩnh Bảo đã tỏ rõ ý chí kiên cường, vững vàng trong chiến đấu, chiến tranh du kích phát triển mạnh. Lòng dân tin tưởng vào Cụ Hồ, đi theo kháng chiến, đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập cho Tổ quốc. Nhân dân tích cực tham gia các đoàn thể, thanh niên hăng hái tòng quân gia nhập dân quân du kích chiến đấu dũng cảm giết giặc giữ làng. Có nhiều đơn vị dân quân du kích xã kết hợp với bộ đội địa phương dùng lối đánh du kích, cách đánh độn thổ một cách táo bạo, bất ngờ. Địch lọt vào thế trận, quân ta xung phong dùng mã tấu, lưỡi lê, kiếm mác chiến đấu giáp mặt kẻ thù, tiêu diệt chúng, không cho chúng càn quét, vơ vét của cải của nhân dân. Ta gài hầm chông ở nhiều nơi, giặc đến lùng sục gặp phải chông, chết thê thảm, làm cho quân địch khiếp sợ.

Đến tháng 2 năm 1952, toàn huyện có 1.617 du kích và 10.231 dân quân. Nhiều xã trong huyện đã có đội du kích thoát ly được trang bị mạnh. Nhiều thôn, xã vẫn duy trì và phát triển đơn vị lão du kích, đội nữ du kích. Đại đội 27 (Lê Hồng Phong) nay là Đại đội 112 bộ đội địa phương huyện. Lực lượng của ta ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng, vũ khí trang bị ngày một hiện đại hơn.

Thường vụ huyện ủy cử đồng chí sang làm chính trị viên Đại đội 112, nhiệm vụ chính của đồng chí là cùng Ban chỉ huy đại đội lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng thành đại đội vững mạnh, tổ chức tác chiến nhiều trận đánh tốt, đồng thời phải có trách nhiệm dìu dắt, giúp đỡ một số đơn vị dân quân du kích và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong toàn huyện. Ngoài ra, đồng chí còn tham gia các nhiệm vụ chính trị khác của huyện như: phong trào vận động lương giáo đoàn kết hay phong trào vận động tuyên truyền giải thích cho quần chúng nhân dân, nhất là gia đình điền chủ hiểu và thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức mà Đảng và Chính phủ ta mới đề ra, góp phần vận động toàn dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm. Tôi rất tin tưởng đồng chí sẽ làm tốt nhiệm vụ được giao".

Sau khi trao đổi với anh Vĩnh, tôi đã đề nghị anh cho tôi được triệu tập cán bộ chỉ huy Đại đội 112 họp bàn triển khai nhiệm vụ. Anh Vĩnh liền nhất trí với đề nghị đó của tôi.

Cuộc họp Ban chỉ huy Đại đội 112 được tiến hành dưới quyền chủ tọa của anh Vĩnh - Huyện đội trưởng kiêm đại đội trưởng, tôi - Chính trị phó kiêm chính trị viên đại đội và anh Quỳnh - Đại đội phó Đại đội 112. Anh Vĩnh phân tích tình hình chung. Trong đó, về phía địch: số lượng bọn lính Pháp và lực lượng lính ngụy, vũ khí trang bị và tinh thần bạc nhược của chúng; về phía ta, ngày càng lớn mạnh về quân đội chính quy cũng như quân đội địa phương và dân quân du kích. Trong huyện, tình hình thế và lực của chúng ta cũng lớn hơn nhiều. Khả năng chiến đấu của Đại đội 112 ngày càng lớn mạnh. Chúng tôi đã nhất trí với đánh giá tình hình của anh Vĩnh và cùng nhất trí tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tác chiến.

Trước mắt, chúng ta phải phá cho được các đồn của lực lượng "nghĩa quân" mà địch mới phục hồi lại như đồn Áng Dương, đồn Chanh Chử và tiêu diệt đồn bảo an Áng Ngoại, hoàn chỉnh thế trận chiến tranh du kích trên phạm vi toàn huyện. Để khắc phục khả năng tấn công đồn vì hỏa lực của ta chưa đảm bảo, chúng tôi đề ra chiến thuật "Sờ vị trí địch", có nghĩa là chúng ta phải trinh sát, lợi dụng thời cơ, bí mật đưa lực lượng của ta vào trong đồn địch theo lối đánh từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào. Cách đánh này gọi là "nở hoa trong lòng địch", đánh nhanh thắng nhanh.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 10:44:19 PM

Đêm ngày 23 tháng 2 năm 1952, tại sân đình Cúc Thủy, xã Thanh Lương, Đại đội 112 đã tập hợp đầy đủ ba trung đội trên một trăm cán bộ và chiến sĩ. Các cán bộ chiến sĩ thăm hỏi về sự hy sinh của anh Bình. Mọi người đều buồn thương, luyến tiếc người chỉ huy trẻ, đầy năng lực. Sau những giây phút lặng lẽ mặc niệm tưởng nhớ đồng chí Bình, anh Lê Vĩnh nghiêm trang đọc quyết định của Ban chỉ huy tỉnh đội Kiến An, quyết định điều động đồng chí Quỳnh - Đại đội phó Đại đội 112 đi thực hiện công tác khác; quyết định cử đồng chí Quyết Tâm - Huyện ủy viên phụ trách Khu 3 sang làm Chính trị viên huyện đội, trực tiếp làm Chính trị viên Đại đội 112 thay đồng chí Bình. Đồng chí Quang (Quang sứt) - Trung đội trưởng Trung đội 1 lên làm Đại đội phó thay đồng chí Quỳnh. Như vậy, Ban chỉ huy Đại đội 112 đã kiện toàn về con số nhưng trên thực tế, Ban chỉ huy đại đội chỉ có hai người là tôi và đồng chí Quang. Tôi làm Chính trị viên, đồng chí Quang là Đại đội phó. Anh Lê Vĩnh - Thường vụ huyện đội trưởng kiêm đại đội trưởng. Ở Đại đội 112, tôi phải đảm nhận công việc thay anh Vĩnh nên với tôi lúc này thật là quá sức, có phần khó điều hành vì các đồng chí trung đội trưởng đều là những người nhiều hơn tôi gần chục tuổi. Các anh lại được đi học bài bản chính quy ở trường Nguyễn Huệ, Trường Lục quân, như anh Hoan, anh Năng, anh Định... Tuy tôi có băn khoăn như vậy nhưng tôi hiểu các đồng chí đó cũng biết tôi là một huyện ủy viên trẻ, có tinh thần tiến công, có ý chí cách mạng cao, năng động và được tôi luyện, trưởng thành trong phong trào chiến tranh du kích, biết bám dân bám đất... nên phần nào mặc cảm trong tôi cũng tiêu tan nhanh chóng.

Sau lễ ra mắt toàn Đại đội 112, tôi và đồng chí Quang họp cán bộ trung đội, gồm trung đội trưởng, chính trị viên để triển khai thực hiện chiến thuật "Sờ vị trí địch". Chúng tôi nghiên cứu vị trí bốt Chanh Chử, bốt Áng Dương và bốt Hà Phương. Theo cách thức tiến hành của Ban chỉ huy đại đội chúng tôi cử một tổ trinh sát gồm những đồng chí gan dạ và có kinh nghiệm chiến đấu, huấn luyện cho các đồng chí đó về kỹ thuật dò mìn, gỡ mìn, chống các hàng rào dây thép gai của địch để đưa cán bộ chỉ huy vào sát tường thành vị trí địch để xác định cách đánh. Việc làm của trinh sát rất hệ thống, nó đòi hỏi ở các đồng chí thật gan dạ, dũng cảm, nhanh nhẹn, xử lý tình huống tốt và có kỹ thuật cao. Những chiến sĩ trinh sát này chỉ cần sơ suất một chút là mìn nổ, ta phải bỏ xác trong hàng rào của địch hoặc bị lộ bí mật, địch sẽ đề phòng, chúng ta không đánh được. Để giúp trinh sát có cơ sở nghiên cứu, chúng tôi bàn với các đồng chí chi ủy xã Thắng Thủy, xã Trung Lập cử cơ sở mật vào vị trí địch quan sát, vẽ sơ đồ đồn giặc để cung cấp cho ta. Trên sơ đồ đó phải thể hiện được sự bố trí canh gác của chúng, số lượng địch, vũ khí trang bị của chúng và cách bố trí các lớp hàng rào thép gai... tất cả phải cụ thể, chính xác.

Bằng phương pháp trên, chúng tôi đã có sơ đồ bố trí các hàng rào của các đồn nghĩa quân Chanh Chử, đồn Áng Dương và đồn Bảo Chính ở Hà Phương. Các đồng chí chiến sĩ tổ trinh sát đã đi trinh sát rất kỹ, đã đưa tôi và đồng chí Quang qua năm hàng rào thép gai ở đồn Áng Dương. Chúng tôi đã vào tới tận sân nhà chúng ở.

Để mở màn cho chiến thuật "Sờ vị trí địch" mà đánh, đúng 12 giờ đêm ngày 25 tháng 3 năm 1952, Đại đội 112 đã tập kích đánh đồn "nghĩa quân" ở Áng Dương theo kế hoạch triển khai tác chiến của Ban chỉ huy đại đội giao nhiệm vụ và phân công cho từng trung đội một cách cụ thể.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 10:45:04 PM

Trung đội 3 do đồng chí Viễn chỉ huy đã luồn qua ba hàng rào dây thép gai tiến đánh từ phía sau nhà chỉ huy địch. Tổ bộc phá do đồng chí Vãng phụ trách có nhiệm vụ phá tung cổng, nhưng do dây cháy chậm bị đứt, bộc phá không nổ, đồng chí Vãng đã nhanh chóng dùng mồi lửa đốt để bộc phá nổ, cổng đồn bị phá tung. Trung đội 2 và Trung đội 3 đồng loạt xung phong tiến thẳng vào đồn địch, diệt bọn chỉ huy, bắt gọn một trung đội địch gồm ba mươi lăm tên, thu ba mươi khẩu súng các loại. Chỉ trong khoảnh khắc, đồn địch Áng Dương đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân ta bảo toàn lực lượng, chỉ có tôi bị một quả đạn AT bắn vào cây xoan, mảnh đạn rơi chụp xuống bả vai làm tôi ngã xuống rồi ngất đi, anh em cứu thương phải khiêng tôi ra trạm cấp cứu. Sau đó, tôi được đưa về trại Cung Chức một ngày. Ở đây, tôi được nhân dân chăm sóc tận tình, chu đáo. Đêm hôm sau, hai cô du kích có nước da bánh mật, nét mặt hiền dịu, dáng người thấp bé nhưng rắn rỏi đã cáng tôi đi bằng cái võng dài. Trời tối, đường đi phải xuyên tắt qua những cánh đồng, những bờ ruộng. Không may, các cô bước vấp vào mô đất làm tôi bị quật mình xuống đất, vết thương bị cọ xát, toàn thân tôi đau nhói tưởng chừng như chết đứng. Tôi không dám kêu, cắn răng lại chịu đau một mình. Tôi sợ hai cô ấy cười và sẽ cho mình là thanh niên mà thiếu kiên trì, dũng cảm. Rồi hai cô lại tiếp tục cáng tôi đi cho đến mờ sáng ngày hôm sau, các cô vượt đường 10, đưa tôi về thôn Linh Đông, tôi được các đồng chí cán bộ xã Tiền Phong đưa vào nhà cụ Xuất Ban để điều trị vết thương, chăm sóc và nuôi dưỡng. Gia đình cụ Xuất Ban là một cơ sở cách mạng tốt. Ở đây, tôi được con gái cụ là bà Am chăm sóc cơm cháo đầy đủ, hai cô y tá của huyện đội (cô Hường và cô Ngân) hàng ngày đến thay băng, tiêm thuốc, tắm, rửa vết thương cho tôi. Trong nhà còn có cô con gái út, tên là Hạnh nhưng thường gọi là Rốt, bởi vì đẻ đến cô là bà mẹ thôi không đẻ nữa. Thỉnh thoảng, cô này giúp chị là bà Ấm mang cơm cháo cho tôi. Cô Rốt năm ấy mới mười chín tuổi, độ tuổi đang thời kỳ xuân sắc của người con gái nên thân hình cô phát triển khá hoàn chỉnh từ dáng người đến khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười... Tất cả đều toát lên vẻ đẹp duyên dáng, đằm thắm. Rốt làm bí thư phụ nữ xã. Trong cái nhìn của tôi, cô là người khá xinh đẹp. Không hiểu sao cứ mỗi lần mang cơm và thức ăn đến cho tôi là cô không nói, mặt đỏ hồng như quả hồng chín rồi chạy xuống nhà dưới. Một hôm, cô gặp các cô y tá đến tiêm thuốc, rửa vết thương và thay băng cho tôi, tôi để ý thấy cô lườm rồi nguýt một cái dài quay mặt đi nơi khác. Một lần khác, đồng chí Dũng làm liên lạc đại đội, người cùng xã Tiền Phong đến chơi chuyện trò thăm hỏi về đời tư của tôi, tôi lại thấy cô Rốt đứng im lặng ngoài cửa lắng nghe. Tôi cảm thấy cô có vẻ rất quan tâm đến tôi nhưng chưa được bao lâu, tôi phải rời xa ngôi nhà mà tôi đang ở để đến một nơi khác làm nhiệm vụ. Mặc dù lúc đó, vết thương tôi chưa lành hẳn nhưng đơn vị di chuyển, mọi người đành phải cáng tôi theo. Qua thời gian kháng chiến kéo dài, tôi cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi sau này, tôi viết tập nhật ký bằng thơ và để nhớ về Rốt, tôi đã viết một bài thơ lấy tên là "Sầu riêng". Câu chuyện của tôi với một cô bí thư phụ nữ xã chỉ dừng ở mức độ đó.

Để thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Kiến An: đẩy mạnh hoạt động Đông Xuân (1952-1953) với tinh thần "tích cực, tranh thủ thời cơ, liên tục dẻo dai công kích, tìm địch mà đánh, không ngồi chờ địch, song song với bồi dưỡng lực lượng ta, củng cố và mở rộng khu du kích...", Huyện ủy Vĩnh Bảo đã triển khai đợt hoạt động đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng cơ sở vào vùng địch chiếm đóng như Nam Am, Hội Am, Đông Tạ, phá những tổ chức phản động của địch.

Tháng 10 năm 1952, công an huyện đã phối hợp chặt chẽ lực lượng vũ trang phá nhóm phản động "Việt quốc" của địch, bắt hai mươi tên trong đó có tên mà chúng cài cắm cả vào cơ quan ta.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 07:27:50 AM

Tháng 11 năm 1952, Đại đội 112 được lệnh đánh đồn Bảo An, thôn Áng Ngoại. Thôn Áng Ngoại là một thôn công giáo toàn tòng. Bọn lính trong bốt đều là người công giáo bị bọn địch mua chuộc nên chúng lì lợm, hung hãn và ngoan cố. Cuộc chiến đấu của quân ta diễn ra rất gay go, ác liệt kéo dài suốt một ngày đêm. Tuy bọn địch chống trả quyết liệt nhưng cuối cùng cũng phải rút về nhà thờ cố thủ, hòng chờ viện binh ở bốt Đông Tạ lên ứng cứu. Bọn địch điên cuồng dùng máy bay chiến đấu, thả bom công phá và bom napan xuống hai thôn Áng Dương và Áng Ngoại để hủy diệt trận địa của ta, gây cho quân ta tổn thất lớn.

Dù bom, pháo của địch có công sức tàn phá lớn nhưng vẫn không ngăn chặn nổi ý chí quyết tâm và tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân ta. Các tốp máy bay khu trục của địch đen trùi trũi lao vun vút, gầm rú làm cho bầu trời ở đây tưởng như bị rách nát. Nó đua nhau thả bom oanh tạc từ xa để diệt quân ta, cứu nguy cho đồn của chúng. Bộ đội và du kích từng giờ chiến đấu siết chặt vòng vây địch, áp sát nhà thờ. Lúc này, tại Ban chỉ huy chúng tôi hội ý, lệnh cho bộ đội giãn vòng vây, dùng loa kêu gọi dân chúng phá chạy ra ngoài. Chiến sĩ dùng bộc phá đánh sập tháp chuông là ổ đề kháng cuối cùng của địch. Một số tên địch tháo chạy, bốt địch bị xoá sổ. Áng Ngoại được giải phóng, khu du kích được mở rộng liên hoàn. Địch chỉ còn co cụm lại một số vị trí ở Đông Tạ, Hà Phương, Mai Sơn, cầu Nghìn, Hội Am, Chùa Tam, Nam Am.

Trong trận chiến đấu công đồn vừa qua đã xuất hiện tấm gương chiến đấu thật anh dũng quả cảm. Đó là cô du kích Nguyễn Thị Tâm mười bảy tuổi, là người thôn Bắc Tạ. Cô có dáng người nhỏ bé nhưng rắn chắc. Các đồng chí bộ đội cùng tham gia chiến đấu bên cạnh cô đều đã bị thương. Cô bé không đủ sức để vác các đồng chí của mình từ làng Áng Ngoại băng qua một cánh đồng để về thôn Bắc Tạ. Trong hoàn cảnh bức xúc đó, cô đã nảy sinh sáng kiến dùng mo cau đặt thương binh lên và kéo qua cánh đồng dưới làn bom đạn ác liệt của địch, đưa các anh về tuyến sau. Cứ như vậy, hết đồng chí này đến đồng chí khác, cô đã đưa được bảy đồng chí thương binh ra khỏi trận địa về thôn Bắc Tạ an toàn.

Sau trận đánh, Ban chỉ huy Đại đội 112 và huyện đội Vĩnh Bảo đã họp thống nhất viết báo cáo về tấm gương chiến đấu dũng cảm của nữ du kích Nguyễn Thị Tâm lên tỉnh. Trong Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân năm 1953, cô bé Nguyễn Thị Tâm vinh dự được bầu là chiến sĩ thi đua giết giặc toàn quân. Ngoài phần thưởng là một khẩu súng côn bát, một phần thưởng lớn hơn nhiều là cô được cử sang Liên Xô, tham quan một đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.

Trận đánh bọn địch đóng ở bốt Áng Dương, Áng Ngoại giành thắng lợi, quân ta đã giải phóng hoàn toàn được vùng này. Huyện Vĩnh Bảo có 105 thôn hầu như không còn ban tề làm việc cho địch. Còn một số thôn như Đông Tạ, Hội Am, Nam Am, Mai Sơn, cầu Nghìn, chúng ta chỉ cho phép họ cử người đại diện quan hệ với các trưởng đồn giặc. Ta gài thế hợp pháp cho nhân dân đấu tranh. Các đường giao thông quan trọng trong huyện như đường 10, đường 17 quân ta làm chủ hoàn toàn. Chúng ta đã chia cắt địch, cô lập chúng, không cho chúng tự do cơ động tiếp tế từ bốt này đến bốt kia. Những đồn địch lẻ tẻ trong huyện lúc đó cũng không còn khả năng đánh nống ra làng xã xung quanh để vơ vét của cải, cưỡng bức và bắt bớ nhân dân ta. Bọn địch muốn cơ động từ bốt Cầu Nghìn về bốt Đông Tạ, hay từ bốt Đông Tạ xuống bốt Chùa Tam thì chúng phải huy động hàng tiểu đoàn quân để mở đường. Điều đó đã chứng tỏ lực lượng của quân dân ta ngày một lớn mạnh. Thế của ta là thế chiến thắng, thế của địch là thế bạc nhược, thất bại hoàn toàn. Khu du kích trong toàn huyện Vĩnh Bảo đã vào thế liên hoàn, vững chắc.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 07:28:35 AM

Đầu tháng 1 năm 1953, đồng chí Nhẫn - Bí thư tỉnh ủy đồng chí Đặng Kinh - Tỉnh đội trưởng Kiến An đã về họp với Thường vụ Huyện ủy huyện Vĩnh Bảo. Các đồng chí xác định rõ địa bàn Vĩnh Bảo đã trở thành căn cứ du kích mạnh, cùng với căn cứ du kích Tiên Lãng tạo nên hậu phương căn cứ liên tỉnh Hải Phòng và Kiến An. Đó là một địa bàn chiến lược quan trọng, là bàn đạp vững chắc cho bộ đội chủ lực tỉnh và là hậu phương lớn cung cấp sức người sức của chủ yếu cho cuộc kháng chiến liên tỉnh.

Những năm trước đó, Vĩnh Bảo đã làm nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến, của liên tỉnh Hải - Kiến thì đến nay Vĩnh Bảo càng phải phát huy với yêu cầu cao hơn nữa, mạnh hơn và quy mô lớn hơn nhiều cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

Để thực hiện được phương hướng, nhiệm vụ của một căn cứ hậu phương cấp tỉnh trong vùng sau lưng địch, Huyện ủy Vĩnh Bảo đã khẩn trương triển khai, củng cố căn cứ du kích trên nhiều mặt. Trước tiên, cần phải tổ chức chỉnh huấn chính trị cho toàn đảng bộ và lực lượng vũ trang của huyện gồm bộ đội địa phương và dân quân du kích. Hai là, cần phải tiến hành cuộc vận động, phát động quần chúng thực hiện triệt để chính sách giảm tô, giảm tức, lấy ruộng đất của bọn Việt gian phản động chia cho nông dân nghèo, đồng thời vận động phong trào lương giáo đoàn kết, toàn dân thi đua tích cực đóng góp sức người sức của cho kháng chiến.

Với cương vị là một huyện ủy viên, huyện đội trưởng kiêm đại đội trưởng Đại đội 112, tôi bàn với Ban chỉ huy đại đội và các trung đội, phân công cụ thể cho mỗi trung đội phụ trách một vùng. Tất cả các đồng chí phải sẵn sàng chiến đấu đánh địch trong mọi tình huống khi chúng xuống làng xã càn quét hay chúng đánh ta để lấn đất. Các đồng chí bộ đội cùng với lực lượng dân quân du kích làm nòng cốt cho toàn dân, vận động các tầng lớp thực hiện giảm tô giảm tức, vận động nhân dân tham gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tích cực đóng thuế nông nghiệp. Trong đó, đơn vị Trung đội 1 kết hợp với du kích Nôi Trạch xã Hòa Bình đã bẻ gãy cuộc càn quét của địch từ bốt Nam Am nống ra. Trung đội 2 đã cùng lực lượng du kích xã Hưng Nhân đồng minh liên tục đánh phục kích địch trên đường 10 bằng mọi chiến thuật của chiến tranh du kích, diệt và làm tiêu hao nhiều sinh lực địch. Quân ta đã gài mìn phá nhiều xe cơ giới của địch nhằm đánh bại âm mưu càn trắng phá hoại hoa màu của địch dọc theo hai ven đường 10 từ Cầu Nghìn đi Mai Sơn, từ Mai Sơn đi Đông Tạ. Trung đội 3 cùng lực lượng du kích xã Tân Liên tập kích địch ở Trại Chiều - Đông Tạ đã diệt gọn một trung đội địch. Tất cả các trung đội đều thi đua tích cực không chỉ trong chiến đấu mà trong cả việc thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần quan trọng vào cuộc triệt để giảm tô, giảm tức đạt 25 phần trăm.

Công tác khai hoang phục hoá của huyện cũng đẩy mạnh đưa sản lượng chung năm 1953 tăng 20 phần trăm so với sản lượng những năm trước. Quần chúng nhân dân đóng thuế nông nghiệp vượt kế hoạch. Phong trào tuyển quân cũng rầm rộ, các xã đều vượt con số chỉ tiêu mà huyện đề ra. Do vậy, khắp nơi trong toàn huyện Vĩnh Bảo dấy lên phong trào thực hiện theo khẩu hiệu "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Mỗi xã lúc này bổ sung du kích và thanh niên cho lực lượng quân đội từ 90 đến 150 người. Xã Hiệp Hòa là xã tiêu biểu nhất của huyện đã đóng góp sức người và sức của nhiều nhất cho kháng chiến và được Khu ủy Tả Ngạn, tặng bằng khen. Điều đặc biệt hơn, huyện Vĩnh Bảo từ cuối năm 1952 đến giữa năm 1953 đã bổ sung cho Tiểu đoàn 204 của tỉnh Kiến An hai trung đội gồm cả cán bộ chỉ huy và chiến sĩ, bổ sung cho tỉnh và khu Tả Ngạn ba cán bộ huyện và bảy cán bộ trung đội trưởng. Đến giữa năm 1953, ban chỉ huy huyện, Đại đội 112 của huyện Vĩnh Bảo chỉ còn tôi là Huyện đội trưởng, đồng chí Lương (tức Phát) - Bí thư huyện ủy, chính trị viên, đồng chí Hoằng - Chính trị viên đại đội phó và đồng chí Quang - Đại đội phó. Còn các cán bộ trung đội trưởng đều mới được đề bạt từ trung đội phó hoặc tiểu đội trưởng lên; việc đào tạo, bồi dưỡng đã không theo kịp yêu cầu xây dựng đơn vị và bổ sung lực lượng cho cấp trên.

Địch càng đánh thì chúng càng thua, chúng bị thua đau trên các chiến trường. Thực dân Pháp càng ngày càng bị sa lầy, càng lâm vào thế bị động lúng túng. Địch đang mâu thuẫn lớn về chiến thuật giữa "phân tán và tập trung". Phân tán quân để bình định giữ đất cũng bị lực lượng quân ta gom vào tiêu diệt. Tập trung quân cơ động mạnh để tiêu diệt lực lượng ta thì cũng bị bộ đội ta chia cắt, tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:50:32 PM

Năm 1953, thực dân Pháp cử tướng Nava sang Đông Dương làm tổng chỉ huy quân đội Pháp, thay tướng Salan bị triệu hồi sau thất bại ở chiến dịch Thượng Lào. Chiến dịch Thượng Lào là một chiến dịch lớn nhất phối hợp giữa bộ đội chủ lực ta và quân giải phóng Pathét Lào kéo dài từ đầu tháng 4 đến tháng 5 năm 1953. Trong chiến dịch này, ta và Pathét Lào đã diệt và bắt sống, làm tan rã gần 2.800 quân địch, chiếm một phần năm tổng số lực lượng địch ở Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Sa Lỳ chiếm một phần năm diện tích Bắc Lào và hàng chục vạn dân.

Sang Đông Dương, tướng Nava mang theo kế hoạch chiến lược được gọi là "Kế hoạch Nava" mà mục đích cuối cùng là "tạo nên những điều kiện quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị trong danh dự mà chính phủ phải nắm lấy khi thời cơ đến"1. Chúng hy vọng trong vòng mười tám tháng sẽ đảo ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng. Ở miền Nam, Nava cố bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương; ở miền Bắc, càn quét các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Kiến An và tăng cường hoạt động ở một số nơi khác. Giặc Pháp tập trung quân cơ động ở vùng đồng bằng Bắc Bộ lên tới 44 tiểu đoàn, thường xuyên càn quét, đánh phá một cách ác liệt. Chúng đốt phá xóm làng, ruộng vườn của nhân dân ta trong các vùng du kích, vùng ven đô thị và các thị xã, huyện lỵ. Huyện Vĩnh Bảo là một trong những vùng đánh phá trọng điểm của địch.

Để kịp thời đáp ứng tình hình mới của cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra phương châm chiến lược trong chiến dịch Đông Xuân năm 1953-1954 là: "Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược, ở đó, địch đang ở thế tương đối yếu buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó với ta. Tạo điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, giải phóng thêm đất đai, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch...".

Thực hiện phương châm trên, Tỉnh ủy Kiến An chủ trương tập trung lực lượng đánh phá vào những nơi địch sơ hở nhằm gây tiếng vang lớn để khích lệ phong trào. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu mở những cuộc càn quét của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ du kích của ta ở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo.

Vĩnh Bảo là căn cứ của tỉnh, được cấp trên giao nhiệm vụ vừa đánh địch để bảo vệ địa phương vừa động viên sức người, sức của chi viện cho hoạt động tác chiến lớn của tỉnh.

Để triển khai nhiệm vụ trên, với sự nhất trí của thường vụ huyện ủy, tôi - Huyện đội trưởng thay mặt huyện ủy, huyện đội giao nhiệm vụ cụ thể cho các xã, các trung đội bộ đội thuộc Đại đội 112... khẩn trương triển khai kế hoạch chống địch càn quét với quy mô lớn của tỉnh. Đại đội 112 phải chuẩn bị sẵn sàng cơ động từ một đến hai trung đội đi chiến đấu xa khi có lệnh của cấp trên. Các xã ở Khu 1 Vĩnh Bảo, cán bộ địa phương phải làm công tác tư tưởng quần chúng nhân dân cho tốt, chuẩn bị nơi ăn ở chu đáo để đón từ một đến hai trung đoàn chủ lực về đóng tại cơ sở địa phương. Những xã ở ven sông Thái Bình (xã Tân Liên, Tam Đa, Liên Am, Lý Học và Hoà Bình) phải chuẩn bị từ mười lăm đến hai mươi thuyền ở mỗi xã và một số dân công biết chèo thuyền để chở bộ đội qua sông khi có lệnh hành quân.
___________________________________
1. Henri Navarre - Le temps des vérites, Nhà xuất bản Plon Paris - 1979, tr. 72.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:51:14 PM

Thế trận của quân và dân ta ngày một lớn mạnh. Để thực hiện kế hoạch tấn công các mục tiêu nằm sâu trong hậu cứ an toàn của địch, đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4 năm 1953, khi màn đêm còn đang bao trùm lên các làng quê, mọi người vẫn còn đang chìm trong giấc ngủ say sau một ngày lao động vất vả. Phía xa xa, trên bầu trời đen kịt vẫn còn một số vì sao nhấp nháy tỏa sáng. Đúng giờ xuất kích, bộ đội địa phương Kiến An đã tập kích vào tỉnh lỵ Kiến An. Cuộc chiến đấu giữa bộ đội ta và quân địch diễn ra rất ác liệt. Sau gần hai giờ đồng hồ, với sự chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, quân ta đã làm chủ trận địa, giải phóng hoàn toàn thị xã. Chúng ta đã tiêu diệt được 500 tên địch. Trong đó có 123 tên lính Âu - Phi. Tên tỉnh trưởng và nhiều sĩ quan của chúng đã bị tiêu diệt. Ta bắt được 120 tên, đốt cháy một kho xăng chứa ba mươi vạn lít; phá hủy 235 xe tăng, xe vận tải phương tiện vận chuyên chiến tranh từ xa của chúng. Ta đốt và làm nổ tung 24 kho chứa bom đạn, thu nhiều vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh khác của địch. Tiếp đó, ngày 24 tháng 6 năm 1953, lực lượng vũ trang Kiến An lại tập kích ở Sở Dầu - Hải Phòng đốt cháy 147 triệu lít xăng dầu, phá hủy nhiều xe cơ giới các loại. Chiến thắng lớn ở thị xã Kiến An và Sở Dầu - Hải Phòng đã khẳng định chủ trương của tỉnh ủy "tìm nơi sơ hở của địch để chủ động tấn công, đánh thẳng vào sào huyệt, phá cơ sở hậu cần chiến lược của địch" là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt.

Qua hai trận đánh, quân và dân ta giành chiến thắng tao nên một tiếng vang lớn làm nức lòng toàn dân và gây cho địch tinh thần hoang mang, lo sợ. Chiến công đó đã có phần đóng góp của căn cứ hậu phương Vĩnh Bảo.

Để phối hợp với hoạt động chung trên khắp chiến trường của tỉnh và địa bàn huyện Vĩnh Bảo, tháng 7 năm 1953, Ban chỉ huy Đại đội 112 thực hiện phương châm "lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều", dùng chiến thuật du kích để đánh địch, bộ đội kết hợp với du kích liên tục phục kích độn thổ bọn địch hành quân trên đê Lò Đông xã Thắng Thủy nên đã diệt được hai trung đội địch khi chúng đi từ đồn Hà Phương tới đồn Chanh Chử để sang Ninh Giang. Một bộ phận nhỏ bộ đội huyện phối kết hợp nhịp nhàng với du kích đã liên tục ngăn chặn hàng tiểu đoàn địch, đánh bại các cuộc hành quân của địch từ Ninh Giang theo đường 17 về Đông Tạ. Vì chúng ta đã giành chiến thắng to lớn ở trận đánh trên đê Lò Đông và đường 17 nên sau chiến thắng đó, cán bộ và chiến sĩ Đại đội 112 đã sinh tư tưởng chủ quan, lơ là, thiếu cảnh giác, thiếu chuẩn bị kế hoạch chống giặc càn quét. Đầu tháng 8 năm 1953, bọn địch ở bốt Ninh Giang đưa hai tiểu đoàn cơ động bất ngờ tấn công sang khu du kích tây bắc huyện Vĩnh Bảo. Địch chủ yếu đánh vào thôn Nhân Lễ, Phương Lâm và Bắc Tạ. Tại đây, các chiến sĩ thuộc Trung đội 3 Đại đội 112 chiến đất rất kiên cường, một tiểu đội đã giữ thôn Phương Lâm cả buổi sáng. Chiến sĩ ta đánh bại nhiều đợt xung phong của địch khiến địch không vào được làng. Nhưng đến chiều, cán bộ chỉ huy dao động bỏ vị trí chỉ huy để cho chiến sĩ vừa đánh vừa rút lui về khu vực nhà thờ thôn Bắc Hạ. Tuy vậy, các chiến sĩ vẫn cố thủ chiến đấu dũng cảm, hy sinh đến người cuối cùng. Chiến thuật "lùi dần" làm cho đơn vị bị tổn thất nặng nề với 20 chiến sĩ bị thương vong. Đây là một tổn thất lớn chưa từng xảy ra trong điều kiện ta đang ở thế tiến công. Đó chính là nguyên nhân của tư tưởng chủ quan, khinh thường địch, thiếu tinh thần chiến đấu dũng cảm của cán bộ chỉ huy. Mặc dù tôi không trực tiếp chỉ huy trong trận đánh nhưng tôi nhận thấy khuyết điểm lớn của mình về đánh giá nhận định tình hình của địch, đánh giá cán bộ cấp dưới không đầy đủ nên để xảy ra tổn thất lớn cho đơn vị. Đó là một bài học đau xót trong cuộc đời binh nghiệp của bản thân, nó khắc cốt ghi xương nhắc nhở tôi không bao giờ được lãng quên.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:52:14 PM

Để đối phó với hoạt động quân sự mạnh của ta và tạo vành đai an toàn bảo vệ căn cứ liên hợp hậu phương chiến lược ở Hải Phòng của địch, cuối tháng 8 năm 1953, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng lớn gồm ba binh đoàn cơ động chiến lược (GM3, GM5, GM7) tổ chức cuộc càn Cơ Lốt, định đánh phá ác liệt khu căn cứ du kích Tiên Lãng - nhằm tiêu diệt cơ quan chỉ đạo của tỉnh, bộ đội Kiến An, xoá sổ căn cứ du kích Tiên Lãng. Cuộc chiến đấu mới của quân dân ta diễn ra liên tục, gian khổ và quyết liệt. Từ ngày 28 tháng 8 đến ngày 20 tháng 9 năm 1953, suốt một thời gian dài, lực lượng quân ta chỉ có hai đại đội của tỉnh (đơn vị 295, 331), một đại đội bộ đội huyện Tiên Lãng 196 kết hợp cùng với dân quân du kích và quần chúng nhân dân Tiên Lãng đã kiên cường bám trụ, ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo; dùng lối đánh du kích táo bạo, bất ngờ để tiêu diệt sinh lực địch. Quân dân ta đã đánh 182 trận, tiêu diệt 677 tên địch, bắt 6 lính Âu - Phi, phá hủy ba xe lội nước, bắn rơi một máy bay.

Mặc dù chúng ta bị tổn thất hy sinh nhưng quân dân ta đã đánh bại cuộc càn quét quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ du kích, tiếp tục làm bàn đạp vững chắc để quân đội ta tấn công vào hậu phương lớn của địch.

Cùng phối hợp với quân dân Tiên Lãng phá càn, phá tan chiến dịch lớn của địch; thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy Kiến An, Huyện ủy và Huyện đội Vĩnh Bảo, chúng tôi đã điều động bộ đội và du kích phối hợp với đại đội hỏa lực của tỉnh đánh ca nô, tàu chiến địch tuần tra trên sông Thái Bình, huy động hàng ngàn bàn chông, tổ chức cho du kích vượt qua vòng vây địch bao vây trên sông Thái Bình chi viện cho du kích Tiên Lãng cùng đánh địch. Điều đặc biệt quan trọng, Đại đội 112 Vĩnh Bảo và du kích xã Cao Minh, xã Cộng Hiền đã phối hợp và phục vụ tiểu đoàn Giang Đông (Trung đoàn 50) tiến hành đánh công kích tiêu diệt đồn địch ở Hội Am, chọc thủng tuyến phòng thủ sông Hoá của địch. Chúng ta vừa tạo thế phối hợp với quân dân Tiên Lãng phá càn quét của địch, vừa tạo thế bao vây cô lập đồn Chùa Tam để ta đánh lấn sau này. Trận phối hợp với tiểu đoàn Giang Đông đã cho tôi nhiều kinh nghiệm quý, để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc.

Khi được tin tiểu đoàn Giang Đông về địa bàn huyện tác chiến, tôi xuống ngay hai xã Tiền Phong và xã Cộng Hiền, kết hợp với cán bộ địa phương chuẩn bị cùng nhân dân đón tiếp các chiến sĩ, cán bộ. Đơn vị vừa đến, tôi tổ chức đón họ vào cơ sở đã được chuẩn bị và trực tiếp làm việc với đồng chí tiểu đoàn trưởng. Tuy hai chúng tôi chưa biết nhau bao giờ nhưng khi gặp cả hai đều tươi cười phấn khởi như những người đã thân quen gặp lại. Đồng chí Đỉnh, tên của đồng chí tiểu đoàn trưởng, rất trẻ tuổi khoảng chừng hai mươi tư hoặc hai mươi lăm tuổi, ngang với độ tuổi tôi nhưng trông anh có dáng thư sinh và đẹp trai hơn dù cho anh có nước da trắng, xanh xám giống như người bị sốt rét rừng chưa được lại sức. Gặp tôi, anh thân mật hỏi:

-Anh cho tôi biết về tình hình địa phương được không? À quên, anh cho tôi biết tên anh để dễ trao đổi.

Tôi đã vui vẻ trao đổi với anh về tình hình lực lượng của địch, tình hình cơ sở địa phương. Tôi nói:

-Tôi xin tự giới thiệu, tôi tên là Quyết Tâm - Huyện đội trưởng, nguyên Bí thư chi bộ, xã đội trưởng Cao Minh. Đồn Hội Am mà chúng ta sắp tiêu diệt là làng tôi. Cha mẹ và vợ tôi đang sống ở đó. Nhân dân trong làng có cả người đi lương lẫn người đi giáo, cơ sở thì rất tốt. Các tổ đảng bí mật và hoạt động rất hiệu quả. Chúng tôi vừa đánh tập kích đồn Bảo An, Hội Am bằng cơ sở nhân môi, thu được mười lăm súng các loại. Bây giờ, đồn Hội Am đang bị du kích bao vây. Cuối năm 1952 đầu năm 1953, chúng tôi đã đánh hai trận ở đồn này nhưng không thành công. Trong trận đầu, đơn vị Đại đội 112 dựa vào bốn cơ sở nội tuyến mở cửa nhưng bị lộ, địch đã bắn vào cơ sở. Trận thứ hai, Đại đội 331 bộ đội của tỉnh đánh theo cách đánh "Sờ vị trí địch" nhưng chiến sĩ ta chui qua hàng rào dây thép gai để vào bốt địch bị lộ nên đã lui quân. Ở đồn này, địch chỉ có bảy mươi tên nhưng phần đông là người công giáo cực kỳ phản động, chúng ngoan cố chống trả đến cùng. Đồn được bao bọc bởi năm hàng rào dây thép gai và gài nhiều mìn. Có lẽ lần này, bộ đội chủ lực dùng sức mạnh công kiên nhất định sẽ giành thắng lợi.

Tiếp đó, tôi đưa cho đồng chí Đỉnh một sơ đồ vị trí Hội Am. Anh nhìn sơ đồ và vui vẻ nói với tôi:

- Hay quá! Thế là chúng ta nắm được tình hình địch rồi. Đề nghị các đồng chí giúp đỡ tiểu đoàn đi trinh sát thực địa để xác định kế hoạch tác chiến.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:52:55 PM

Trên cơ sở phương án tác chiến của tiểu đoàn, Huyện đội Vĩnh Bảo tăng cường cho tiểu đoàn một trung đội bộ đội huyện, một trung đội du kích xã Cao Minh và hai trăm dân công của các xã Cao Minh, Cộng Hiền, Tiền Phong phục vụ trận đánh.

Trận công kiên của bộ đội chủ lực diễn ra vô cùng quyết liệt, ta dùng bộc phá liên tục, có hỏa lực áp đảo nên đã mở được hai cửa. Ta đưa bộc phá vào đánh sập lô cốt chính ở trên đê. Tiếng súng chống trả của địch dần dần im bặt. Đồn giặc đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Ta tiêu diệt được hai mươi tên địch, bắt năm mươi tên, thu toàn bộ vũ khí và chiến lợi phẩm. Bọn địch ngoan cố chống trả nên phía ta cũng phải trả giá quá đắt cho cuộc chiến này với gần ba mươi đồng chí bộ đội và du kích bị thương vong.

Trong trận công kiên đồn Hội Am, tuy bản thân tôi góp phần vào chiến thắng chẳng đáng là bao nhưng nó thật có ý nghĩa sâu sắc biết chừng nào. Tôi vừa làm nhiệm vụ của anh Bộ đội Cụ Hồ vừa làm nghĩa vụ của người con quê hương đánh địch để giải phóng quê hương, giải thoát cho bà con nhân dân quê mình khỏi sự kìm kẹp của quân địch.

Tôi rất vui mừng phấn khởi, hả lòng hả dạ vì đã tiêu diệt được bọn phản động gian ác và ngoan cố. Chính bọn này đã "cõng rắn cắn gà nhà", ôm chân bọn đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho chúng để giày xéo lên mồ mả tổ tiên của chính mình. Chính bọn này đã bắt và tra tấn cha tôi thành thương tật. Chính bọn này đã làm cho bao đồng đội của tôi hy sinh. Càng suy nghĩ, tôi càng thấy mình tự hào vì đã làm được một việc là "trả thù nhà, đền nợ nước" mà bấy lâu nay canh cánh trong lòng tôi, tiếp nối truyền thống của cha ông ta ngày xưa.

Theo kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh Việt Nam, một kế hoạch rộng lớn cho cả chiến trường Đông Dương nhưng chủ yếu vẫn là ở Việt Nam. Trong kế hoạch đánh chiếm nốt Lai Châu để giải phóng hoàn toàn Tây Bắc và đề nghị với quân giải phóng Lào "mở cuộc tiến công vào hướng Trung Lào, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng"; bộ đội chủ lực của ta bắt đầu tiến quân lên vùng Tây Bắc Tổ quốc, một bộ phận tiến công vào miền Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào và Hạ Lào tạo thành một thế trận tiến công uy hiếp địch trên toàn chiến trường Đông Dương.

Ngày 20 tháng 11 năm 1953, sau khi biết được tin này, tướng Nava quyết định cho quân nhảy dù xuống đánh chiếm Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với 16.200 tên lính tinh nhuệ và nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại. Chúng cho rằng "đó là một tập đoàn bất khả xâm phạm" trên bán đảo Đông Dương, hòng tấn công và chiếm trọn vùng Tây Bắc của ta. Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam được chỉ định trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong lúc quân dân ta đang ra sức ráo riết chuẩn bị sức người sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với cả quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân và toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:53:33 PM

Nhằm thực hiện nhiệm vụ phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, ngày 10 tháng 11 năm 1953, Tỉnh ủy Kiến An đã họp đề ra chủ trương: "Tích cực hoạt động mạnh, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, mở rộng khu du kích phía nam Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, kiên quyết phá tan âm mưu bình định Tiên Lãng của địch. Hạn chế mọi hoạt động của chúng trên địa bàn Vĩnh Bảo, bao vây tạo điều kiện diệt vị trí Đông Xuyên ở Tiên Lãng, đồn địch ở Nam Am, Vĩnh Bảo, bao vây nhốt địch trong các vị trí khác trên địa bàn căn cứ du kích Vĩnh Bảo, Tiên Lãng... tạo thời cơ tiêu diệt chúng".

Để thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Kiến An, tôi và đồng chí Lương (tức Phát) - Bí thư huyện ủy, chính trị viên huyện đội họp bàn dự kiến kế hoạch đợt hoạt động mạnh phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ.

Yêu cầu chung là tấn công địch toàn diện, mạnh mẽ cả về quân sự, chính trị và binh vận (gọi là ba mũi giáp công). Phát động phong trào nhốt địch trong tất cả các bốt, phát triển phong trào "Sờ vị trí địch", gỡ mìn và phá hàng rào địch. Trọng điểm là bao vây, đánh lấn, bức rút, bức hàng hoặc tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt đồn Nam Am, Chùa Tam; vây đồn kết hợp với diệt viện binh của địch trên đường 10 và đường 17. Phát động rộng rãi phong trào tiến công bằng địch vận, đưa quần chúng ta đi sâu vào các gia đình binh sĩ ngụy để động viên họ, phân tích về đường lối kháng chiến, chính sách khoan hồng của Chính phủ ta nhằm giúp họ kêu gọi con em trở về với quê hương, với đồng bào, với kháng chiến làm cho hàng ngũ địch hoang mang, tan rã.

Về lực lượng, chúng tôi nhất trí sử dụng lực lượng du kích các xã luân phiên tiến lên phía trước bao vây tất cả các đồn địch (gần 9 đồn bốt), sử dụng Đại đội 112 chủ lực của huyện, Đại đội 331 của tỉnh đóng trên địa bàn huyện làm lực lượng tập trung cơ động đánh địch phản kích, ứng cứu, sử dụng lực lượng chính trị binh vận làm công tác vận động binh lính địch hạ vũ khí đầu hàng về với cách mạng.

Ban chỉ đạo chỉ huy toàn huyện được thành lập, do đồng chí Lương - Bí thư huyện ủy làm trưởng ban. Tôi - Huyện đội trưởng làm phó ban và đồng chí Quang, Đại đội trưởng 331 làm phó ban. Hai chúng tôi phụ trách mặt quân sự. Đồng chí Chỉnh - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện làm phó ban phụ trách đảm bảo hậu cần. Các đồng chí thường vụ phụ trách dân vận, tuyên giáo, măt trận... làm ủy viên phụ trách công tác tuyên truyền và binh vận. Mỗi một khu vực: Nam Am, Đông Tạ, Chanh Chử thành lập một ban chỉ đạo khu vực do đồng chí huyện ủy viên phụ trách khu làm trưởng ban, các đồng chí bí thư chi bộ, xã đội trưởng trong khu làm ủy viên. Tất cả đều nhằm mục đích thống nhất trong các mặt kết hợp hoạt động, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh địch giành thắng lợi.

Đồng chí Lương là một bí thư huyện ủy nhiều năm ở các huyện An Lão, Kiến Thụy. Ở vùng địch tạm chiếm, đồng chí có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong chỉ đạo đấu tranh đánh địch, có nhiều ý kiến sâu sắc không những về đấu tranh chính trị mà còn cả về chiến thuật tác chiến đánh địch. Kế hoạch đợt hoạt động mạnh của chúng tôi được các đồng chí thường vụ nhất trí cao, thông qua nhanh chóng. Tôi tổ chức bộ phận cán bộ đi trinh sát thực địa trên địa bàn cả ba khu vực: Nam Am, Đông Tạ, Chanh Chử. Những cán bộ đi trinh sát thực địa bao gồm tôi - Huyện đội trưởng, Đại đội trưởng 112; đồng chí Quang - Đại đội phó và đồng chí Khánh - Trưởng ban quân báo, đồng chí Trà và tổ quân báo của huyện đội.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:54:30 PM

Tình hình cuộc chiến tranh, trên các chiến trường đang thực hiện các hoạt động mạnh phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ trên địa bàn Hải - Kiến. Các đơn vị chủ lực đã hiệp đồng chặt chẽ, vận dụng cách đánh sáng tạo đạt hiệu suất chiến đấu cao rất đáng khích lệ.

Đêm 4 tháng 1 năm 1954, lực lượng vũ trang Kiến An kết hợp với dân quân du kích tập kích bốt địch ở Đông Xuyên Ngoại, tiêu diệt nhiều tên địch. Sáng hôm sau bộ đội tỉnh đã chặn đánh địch hành quân trên các đường giao thông thủy bộ. Các đồng chí đã phục kích hai bên bờ đê, đoạn đò câu trên sông Thái Bình đánh đắm một tàu chiến LCT của địch, tiêu diệt 300 tên lính Âu - Phi. Đêm ngày 31 rạng sáng 1 tháng 2 năm 1954, bộ đội chủ lực tỉnh lại mở trận tập kích sân bay Đồ Sơn của địch, phá sở chỉ huy, phá hủy năm máy bay địch, đốt cháy năm triệu lít xăng và rút được nhiều kinh nghiệm cho trận đánh sắp tới.

Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 3 năm 1954, bộ đội chủ lực tỉnh gồm 32 cán bộ, chiến sĩ với chiến thuật dũng cảm, mưu trí, bất ngờ tập kích sân bay Cát Bi - Hải Phòng, phá hủy 59 máy bay địch, phá một phần phương tiện chiến tranh của địch, diệt sáu lính Âu - Phi. Bom đạn trong máy bay và trong kho bị nổ tung, lửa cháy suốt bảy giờ liền, khói đen ngút trời ngày càng bốc cao như một biển lửa.

Chiến thắng lớn của quân dân Kiến An, Hải Phòng gây cho bọn thực dân Pháp một tổn thất nặng nề. Đường hàng không của chúng đi từ Kiến An, Hải Phòng lên Điện Biên Phủ bị cắt đứt. Địch rất hoang mang lo sợ. Những chiến thắng liên tiếp của quân dân Hải - Kiến làm cho nhân dân hai tỉnh nói riêng và nhân dân cả nước nói chung vô cùng phấn khởi. Chiến thắng sân bay Cát Bi còn làm chấn động thế giới.

Những chiến thắng vang dội của bộ đội tỉnh Kiến An đã đánh hiểm sâu vào ngay trong sào huyệt của địch, cổ vũ mạnh mẽ quân dân Vĩnh Bảo, vùng căn cứ hậu phương vững chắc của tỉnh. Chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua bao vây nhốt chặt địch trong vị trí và cơ động đánh địch ngoài vị trí.

Đầu tháng 5 năm 1954, Đại đội 112 và du kích đã phối hợp với bộ đội chủ lực khu mở trận tập kích bất ngờ vào quân địch tạm trú ở Trại Chiều, diệt gọn hai đại đội địch, đập tan kế hoạch "giải tỏa Chùa Tam và đồn Nam Am" mà đây là hai cơ sở địch đang bị ta bao vây. Sau đó, hai ngày liền địch dùng máy bay điên cuồng bắn phá, thả bom bừa bãi xuống một số thôn, xã thuộc Khu 1 Vĩnh Bảo, bất chấp cả nhà thờ công giáo Tiêu Am, làm chết hơn một trăm giáo dân, gần ba phần tư làng bị phá hủy tạo nên cảnh hoang tàn đổ nát, ảm đạm, chết chóc một cách thê thảm cho nhân dân.

Đúng 00 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, toàn quân và dân ta đã tổng tiến công tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, một cứ điểm từng được mệnh danh là "bất khả xâm phạm", tiêu diệt và bắt 16.000 tên địch, tịch thu mọi phương tiện chiến tranh của địch. Chiến thắng to lớn Đông Xuân năm 1953-1954, nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ, "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, xoay chuyển cục diện chiến tranh, đập tan "kế hoạch Nava" một cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, nước ta tạm thời chia làm hai miền, quân Pháp phải rút khỏi hoàn toàn miền Bắc và sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:55:38 PM

Trong không khí phấn khởi chào mừng thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ, Huyện ủy Vĩnh Bảo chủ trương chỉ đạo dân quân du kích siết chặt vòng vây quân địch ở các vị trí, cùng bộ đội cơ động tiêu diệt viện binh địch, đẩy mạnh công tác địch vận nhằm làm tan rã hàng ngũ địch.

Trong vòng 62 ngày đêm, từ ngày 4 tháng 4 đến ngày 6 tháng 6 năm 1954, du kích xã Cao Minh phối hợp với du kích xã Liên Am tiến hành vây chặt, lấn sâu, huy động được 5.000 dân công đào 3.500 mét chiến hào từ hai đầu thôn Liễu Điện, Tây Am qua bốn lớp hàng rào vào sát tường đồn Chùa Tam về phía đông và phía nam. Hàng trăm lượt du kích bí mật gỡ được 150 quả mìn, đánh bại nhiều đợt phản kích, tiêu diệt 45 tên địch. Lực lượng du kích đã triệt phá cắt nguồn nước, cắt tiếp tế đường bộ và đường hàng không của chúng, bắn rơi nhiều máy bay địch. Ta đã thu được 80 dù hàng tiếp tế gây cho địch ngày càng khốn đốn hơn.

Sáng ngày 6 tháng 6, địch đã huy động ba tiểu đoàn cơ động đến giải vây, bảo vệ cho bọn lính đồn Chùa Tam rút chạy. Đây là trận vây lấn điển hình của chiến tranh du kích Kiến An.

Từ ngày 9 đến ngày 17 tháng 7 năm 1954, Đại đội 112 cùng với du kích kết hợp siết chặt vòng vây bốt cầu Nghìn, bốt Đông Tạ, bốt Mai Sơn, bốt cầu Mục. Ngày 15 tháng 7 năm 1954, quân địch ở bốt Ninh Giang dùng ca nô chuyển quân trên sông Hóa xuống tiếp tế cho địch ở bốt Cầu Nghìn bị bộ đội ta phục kích, diệt được 4 ca nô.

Ngày 17 tháng 7 năm 1954, địch cho một tiểu đoàn từ Ninh Giang về cầu Nghìn theo đường 10 về giải vây cho bốt Mai Sơn, bốt Đông Tạ... đã lọt vào trận phục kích của ta do bộ đội Tiểu đoàn 204 và Đại đội 112 cùng du kích phục kích, diệt 192 tên địch, làm bị thương 12 tên, bắt 13 tên và 20 tên ra hàng.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở ba nước Đông Dương được ký kết. Lần đầu trên thế giới, một hiệp định quốc tế với sự tham gia của các nước lớn công nhận một nước thuộc địa có các quyền dân tộc cơ bản là độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết. Hiệp định Giơnevơ là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước.

Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tuyên bố ngừng bắn trên cả nước. Trước giờ phút ngừng bắn đêm ngày 21 tháng 7 năm 1954, bộ đội và du kích huyện Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục đánh địch với tinh thần quyết chiến quyết thắng. Một tiểu đội của Trung đội 2 Đại đội 112 cùng du kích bao vây đồn Mai Sơn đã tiêu diệt được một tiểu đội địch ra phản kích, phía ta hy sinh hai đồng chí. Sáng ngày 22 tháng 7 năm 1954, chúng tôi và hàng trăm người dân xã Vinh Quang làm lễ truy điệu tổ chức an táng cho hai liệt sĩ. Lễ truy điệu diễn ra long trọng, đặc biệt tất cả mọi người đều khóc thương cho người liệt sĩ đã hy sinh anh dũng trước giờ phút chiến thắng ngay trên mảnh đất đã nuôi dưỡng các anh trở thành những người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường chiến đấu bảo vệ nền độc lập và giải phóng quê hương đất nước.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 03:56:11 PM

Những thắng lợi dồn dập trên các chiến trường trong cả nước và chiến thắng trực tiếp ngay tại địa phương đã tạo điều kiện cho mũi tiến công địch vận giành thắng lợi liên tiếp. Tại đồn địch Chùa Tam, chúng ta đã dùng binh vận, dùng loa kêu gọi binh lính hạ vũ khí đầu hàng, rải truyền đơn phân tích chính sách khoan hồng của ta, kêu gọi mọi người trở về đoàn tụ với gia đình. Chúng ta đã cử các cụ già vào đồn vận động làm cho anh em hạ sĩ quan trong đồn tháo quân tư trang trả lại đồn trưởng trở về với gia đình.

Ngay từ tháng 3 năm 1954, các tổ địch vận ở xã Thắng Thủy đã vận động được 300 người trong các gia đình binh sĩ kéo lên đồn Chanh Chử, đồn Hà Phương để vận động chồng con bỏ hàng ngũ địch trở về với gia đình, với quê hương làng xóm. Nhân dân xã Hiệp Hòa kéo lên đòi trả chồng con. Lúc đầu địch bắt một số người nhưng dân chúng mỗi lúc kéo lên đông hơn, tinh thần đấu tranh ngày càng mạnh mẽ buộc địch phải thả những người bị bắt. Nhân cơ hội đó, 60 tên lính đã rời bỏ hàng ngũ địch trở về với gia đình.

Khi có lệnh ngừng bắn, nhân dân trong huyện Vĩnh Bảo đã có nhiều hình thức vận động binh lính địch. Ngày 26 và 27 tháng 7, hàng trăm binh sĩ rời bỏ hàng ngũ địch một cách công khai trở về với gia đình. Bọn sĩ quan bất lực không thể nào ngăn nổi.

Ngày 16 tháng 8 năm 1954, địch rút khỏi bốt Đông Tạ và các đồn bốt còn lại trên địa bàn Vĩnh Bảo. Huyện đội chúng tôi tổ chức tiếp quản huyện lỵ; huy động dân quân du kích dò, gỡ mìn, động viên dân quân và nhân dân san bằng đồn Đông Tạ. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta chiến đấu gian khổ, anh dũng hy sinh để giải phóng quê hương giải phóng đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Nhân dân trong toàn huyện Vĩnh Bảo với tinh thần phấn khởi tự hào đi dự lễ mít tinh mà Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến huyện Vĩnh Bảo tổ chức chào mừng cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp giành thắng lợi huy hoàng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ có ý nghĩa hết sức to lớn buộc thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận nền độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở ra thời kỳ lịch sử mới cho cách mạng, cho dân tộc Việt Nam, đó là cuộc cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh với bọn tay sai và đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Trong cuộc mít tinh chào mừng, huyện ủy cũng nêu ra nhiệm vụ mới, phát động phong trào toàn dân thực hiện: "Ra sức khắc phục bom đạn địch, khai hoang phục hồi, phát triển sản xuất, từng bước cải thiện đời sống nhân dân". Từ đây, lực lượng vũ trang Vĩnh Bảo lại phải bước vào cuộc chiến đấu mới: chống bọn địch cưỡng bức giáo dân di cư vào miền Nam, chống bọn phản động phá hoại để bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân. Đây là cuộc chiến đấu cũng không kém phần gian khổ, khó khăn và phức tạp.

Về phía mình, tôi chuyển sang quân đội chưa đầy ba năm (từ ngày 20 tháng 2 năm 1952 đến tháng 7 năm 1954) nhưng với cương vị công tác được giao, tôi luôn tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; luôn nghiên cứu, rút kinh nghiệm trong sự lãnh đạo của mình trong cao trào chiến tranh du kích trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo cùng Ban chỉ huy Huyện đội và Ban chỉ huy Đại đội 112 thực hiện một số trận đánh độc lập, phối hợp với bộ đội chủ lực góp phần nhỏ bé của mình vào chiến công to lớn của quân dân Vĩnh Bảo anh hùng. Qua đó, tôi đã có thêm nhiều kinh nghiệm quý báu dù thành công hay chưa thành công, thậm chí cả tổn thất thương vong. Những kinh nghiệm đó giúp tôi thêm cơ sở thực tiễn để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện trên những chặng đường tiếp theo, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 11:30:37 AM

*
* *

Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương bắt đầu có hiệu lực thi hành. Tiếng súng ngừng nổ ngày 27 tháng 7 năm 1954 ở Bắc Bộ, ngày 1 tháng 8 ở miền Trung và ngày 11 tháng 8 ở Nam Bộ. Nước ta bước vào giai đoạn mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng sống dưới chế độ dân chủ nhân dân, miền Nam còn nằm dưới chế độ độc tài của Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ. Sông Bến Hải là giới tuyến tạm thời phân chia giữa hai miền.

Trong giai đoạn cách mạng mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước ta có hai nhiệm vu chiến lược cách mạng: Một là, xây dựng và bảo vệ miền Bắc vững mạnh làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam. Hai là, đấu tranh chính trị, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Nhiệm vụ xây dựng miền Bắc cực kỳ quan trọng bởi những điều kiện khó khăn vô cùng gay go đang chồng chất lên nỗi lo của Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước. Toàn miền Bắc đang dấy lên phong trào thi đua cải tạo xây dựng xã hội chủ nghĩa, khôi phục kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân đi đôi với giảm tô, tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, cải cách ruộng đất ở nông thôn, cải tạo tư sản ở thành thị, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.

Thực hiện các nghị quyết của Đảng, quân đội lại cùng với nhân dân cả nước bắt tay vào công cuộc phục hồi kinh tế ở miền Bắc, cử các đồng chí cán bộ tham gia vào cuộc cách mạng cải cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ, cải tạo giai cấp tư sản... Trong niềm vinh dự đó, tôi thật tự hào cùng các đồng chí cán bộ Tỉnh đội Kiến An được cấp trên tín nhiệm cử đi tham gia giảm tô của đoàn bảy ở ba huyện Tiên - Duyên - Hưng tỉnh Thái Bình, khu Tả Ngạn sông Hồng. Đây vốn là khu căn cứ du kích mạnh, nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Đầu tháng 7 năm 1954, tôi bàn giao nhiệm vụ cho đồng chí Trà, thay tôi làm huyện đội trưởng. Tôi chào tạm biệt một số cơ quan chủ yếu trong huyện: Huyện ủy ủy ban, Mặt trận, Phụ nữ, Thanh niên... Và được nghỉ phép một tuần. Những ngày nghỉ phép ít ỏi đó là thời gian vô cùng đáng quý với tôi. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng, trào dâng niềm phấn khởi, tự hào vì mình đã trải qua được những khó khăn thử thách, những cam go ác liệt trong cuộc đấu tranh đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Ý chí quyết tâm của tôi càng được tôi luyện hơn trong cương vị người cán bộ huyện đội. Đến nay, tôi lại được Đảng và cơ quan tin cậy cho tham gia cuộc cách mạng cải cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ, cải tạo giai cấp tư sản...


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 11:31:21 AM

Hết thời gian nghỉ phép, tôi lên đường đi nhận công tác mới. Khoác ba lô trên vai tôi đi bộ sang đoàn bảy cải cách ruộng đất ở huyện Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình, ở đây, tôi được học tập về chính sách giảm tô, nội dung từng bước đi của cuộc cách mạng cải cách ruộng đất mà Đảng và Chính phủ đã đề ra. Nghĩa là phải giải thích cho người nông dân xác định đối tượng đấu tranh của mình là kẻ thù nào và chỉ cho tôi biết phương pháp phát động quần chúng nông dân vùng lên, giúp họ tổ chức đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ. Trước tiên, ta bắt giai cấp địa chủ phải giảm tô, giảm tức, tiến hành cải cách ruộng đất rồi vùng lên đánh đổ toàn bộ bọn địa chủ, tịch thu ruộng đất chia cho nông dân nghèo. Sau đó, hướng dẫn họ tổ chức các tổ đổi công, mọi công việc của nhà nông để tham gia sản xuất như gánh phân, làm cỏ, cấy lúa, gặt hái hay cày bừa, làm đất... Mỗi một tổ gồm mười hay mười lăm gia đình làm đổi công cho nhau. Hôm nay, tất cả làm ở gia đình này, mai lại đến gia đình khác. Họ tự cử ra một tổ trưởng, một tổ phó để điều hành công việc. Do đó, các hợp tác xã nông nghiệp đã được thành lập.

Tổ học tập của chúng tôi có mười hai đồng chí, hầu hết là các đồng chí ở cấp huyện trở lên đã được rèn luyện thử thách trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa qua. Tôi được phân công làm tổ trưởng, anh Nguyễn Ngọc Trừu - Bí thư Huyện ủy huyện Tiền Hải - Thái Bình làm tổ phó. Sau này, anh Nguyễn Ngọc Trừu là Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách về nông nghiệp. Trong quá trình học tập, một nội dung mới nhất đòi hỏi người cán bộ bộ đội cải cách ruộng đất phải thực hiện ba cùng với người nông dân. Nghĩa là cán bộ về địa phương phát động phong trào phải cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia lao động với gia đình. Điều đó khiến người cán bộ phải từ thực tế sát sao đó sẽ đồng cảm với hoàn cảnh người nông dân, phát động sao cho họ xuất hiện tư tưởng vùng lên đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ, hạ uy thế của chúng xuống và nâng cao khí thế cách mậng của giai cấp nông dân trong sức mạnh cách mạng Việt Nam.

Học tập xong, tôi được biên chế vào một đội giảm tô ở xã Châu Giang huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Đội tôi có ba mươi tám đồng chí do đồng chí Các - Bí thư huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình làm đội trưởng. Đồng chí Trinh - nữ du kích huyện Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên làm đội phó, còn tôi là đội viên. Mấy tháng đầu, tôi được phân công xuống phát động quần chúng ở thôn Hậu Xá, xà Châu Giang. Đây là thôn công giáo toàn tòng. Theo phương pháp "thăm nghèo hỏi khổ", tôi phải tự mình tìm ra những người nông dân tuy nghèo khổ nhưng trong sạch về lý lịch mà bắt rễ, xây dựng cơ sở, xâu chuỗi họ lại thành một khối đoàn kết vững chắc rồi đưa họ tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp giữa nông dân và địa chủ. Hai ngày đầu xuống cơ sở, tôi khoác ba lô đi thực tế vào các xóm làng trong thôn để tìm hiểu, nhận thức khái quát về cảnh vật, con người và cách sinh hoạt của nhân dân rồi lựa chọn một gia đình tiêu biểu cho mình dựa vào họ để sinh hoạt, phát động tư tưởng, thực hiện nhiệm vụ. Đây là một thôn có đặc điểm rất phức tạp. Trong những năm 1950-1951, giặc Pháp chiếm đóng tỉnh Thái Bình, thôn Hậu Xá là thôn tề có nhiều tên tay sai cho giặc cực kỳ phản động. Toàn thôn có một trăm hộ dân với ba trăm nhân khẩu. Nhìn chung, dân tình rất nghèo khổ. cả thôn chỉ có bốn gia đình có nhà lợp ngói còn lại toàn nhà tranh vách đất, lụp xụp, xiêu vẹo. Thanh niên trong thôn hầu như đều đi lính, làm lính bảo an tay sai cho Pháp chống phá lại cách mạng, cả thôn chỉ có một đồng chí đảng viên làm nghề dạy học. Các đoàn thể khác như mặt trận, thanh niên, phụ nữ đều có nhưng chỉ về hình thức, không tổ chức nào có sự hoạt động. Do đó, tôi tìm mãi mà vẫn chưa bắt được rễ, chưa tìm được gia đình nào cốt cán ban đầu. Cuối cùng, tôi đành liều vào một gia đình nghèo nhất của thôn. Tên của chủ nhà là Sa, anh này chỉ đi lính dõng ba tháng thì bị thương anh bỏ hàng ngũ địch về với gia đình. Trong thôn, anh là người tham gia ngụy quân với thời gian ngắn nhất nên anh Sa được coi là người trong sạch nhất của thôn. Ngôi nhà có một gian hai chái, được bao bằng bức tường đất lở loét, nằm lụp xụp ở góc làng. Nhà chỉ có hai cái giường tre là tài sản duy nhất của anh chị và hai đứa con nhỏ. Mặc dù anh chị cấy hai sào ruộng, nuôi một con lợn con nhưng trong nhà thóc gạo không có, chỉ có khoai lang và ngô.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 11:32:11 AM

Trong thời gian ở nhà anh chị Sa, tôi thực sự đã thực hiện ba cùng với gia đình. Tôi ăn cùng với gia đình. Cơm thổi độn với ngô lẫn khoai lang cạo vỏ, bổ ra từng miếng, hai phần độn mới có một phần gạo. Tôi gọi là cơm cho sang hơn là ăn ngô khoai. Có lần, sau khi ăn cơm xong, ngồi chuyện trò uống nước, chị Sa ngại ngùng nói:

- Cán bộ đội ăn cơm cùng với nhà em, cơm thì ngô khoai cõng gạo, thức ăn chỉ có dưa muối chấm nước cáy, mong bộ đội thông cảm cho chúng em.

Tôi phải tìm lời lẽ đồng cảm với chị, động viên anh chị và qua đó gợi lên một ý nghĩ căm thù kẻ đã gây ra sự đau khổ cho gia đình anh chị và cho đất nước ta. Tôi cười và nói với chị:

- Chị ạ! Nhà tôi cũng ở quê, mọi sinh hoạt gia đình cũng giống như gia đình anh chị thôi. Chúng ta đều là giai cấp cần lao, đều bị bọn địa chủ chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột và đàn áp khiến cho cuộc sống của gia đình anh chị cũng như nhiều gia đình khác đều phải chịu hoàn cảnh nghèo khổ. Tôi rất thông cảm với anh chị về điều đó.

Khi ở nhà anh chị, điều khổ nhất với tôi là phải ăn một thứ nước mắm cáy (mắm làm từ con cáy ngâm bị thối, mùi rất khó chịu, giống như mùi thối tai mà tôi vẫn phải khen ngon. Rồi lại đến chuyện ngủ, tôi và hai cháu nhỏ nằm chung một giường, trên đó được trải bằng hai cái chiếu cói rách bù trừ cho nhau và một cái chăn chiên Nam Định, có lẽ lâu rồi chị không giặt nên nó nhuốm màu xám đen, cáu bẩn.

Để đồng cam cộng khổ với sự lao động vất vả và mong muốn nắm được tâm tư tình cảm của gia đình anh chị, tôi đi làm cùng với gia đình anh chị. Các công việc của nhà nông như: gánh phân lợn bón ruộng, cuốc góc, vạc bờ... Việc gì tôi cũng làm được, làm rất có kỹ thuật. Tôi làm rất khỏe, hăng hái và nhanh nhẹn như bao người lao động khác trong hàng triệu người nông dân trên dải đất Việt Nam. Bà con xung quanh nhà chị Sa tấm tắc khen tôi. Có một bà con bảo với chị ấy về tôi: "Cán bộ đội có nước da trắng như con địa chủ mà lao động khỏe như nông dân". Câu nói đó đã làm tôi giật mình suy nghĩ sợ rằng bà con cho mình là con địa chủ, nếu vậy tôi làm sao phát động được tư tưởng của nông dân. Nhưng điều đó chỉ thoáng hiện trong tôi như thế và tôi đã tự trấn an được mình.

Ban ngày, anh chị Sa làm việc gì tôi làm việc nấy. Buổi tối, tôi họp với nhân dân trong thôn để bắt đầu dần dần hướng và phân tích cho họ về chính sách giảm tô và cuộc cách mạng cải cách ruộng đất. Điều khó khăn đối với cán bộ cải cách về thôn này là thời gian. Ban ngày mọi người đều đi làm, tối về lại đi nhà thờ chầu lễ. Ngày nào cũng chín giờ tối mới bắt đầu họp bàn. Ngay anh chị Sa cũng đi chầu lễ liên miên, tôi chỉ thường phân tích, trao đổi và trò chuyện với anh chị vào những lúc ngồi uống nước sau bữa ăn tối hoặc vào những lúc nghỉ ngơi giải lao ngồi uống nước, hút thuốc lào khi lao động ở ngoài đồng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 11:32:59 AM

Bằng phương pháp "lấy khổ gợi khổ", lấy tội ác của địch, của giai cấp địa chủ phong kiến đã đàn áp, bóc lột đánh đập người nông dân đến kiệt cùng nỗi khổ để khơi dậy lòng căm thù của quần chúng nhân dân, giúp nhân dân xác định được kẻ thù của mình chính là bọn địa chủ phong kiến và bọn thực dân xâm lược; lấy chính sách của Đảng và Chính phủ, lấy những thành quả thực tiễn to lớn mà cách mạng đã giành được ở quê hương Thái Bình làm minh chứng hùng hồn. Từ đó tạo niềm tin tưởng vào chính sách của Đảng ở mỗi người nông dân. Tôi còn kể cho bà con nghe về nỗi khổ của gia đình tôi, của xóm làng và quê hương tôi xảy ra vào năm Ất Dậu (1945), bao nhiêu người chết đói, chết thê thảm như thế nào... ở đâu trên khắp đất nước Việt Nam, từ miền Nam ra miền Bắc cũng đều gặp cảnh người còn sống mà không sao chôn nổi người vừa chết trước mình chỉ vì gầy đói, kiệt sức quá. Năm 1950, bọn địch tràn về đóng đồn ngay trong làng, tên quan hai đồn trưởng Ba Phay gian ác khét tiếng, giết người không ghê tay. Mỗi lần nó cho quân càn quét nơi nào là nơi đó diễn ra cảnh giết người cướp của. Chúng khủng bố dân chúng, bắt dân chúng phải theo đạo Thiên Chúa... nhưng nhờ có chính sách đúng đắn của Đảng mà lương, giáo vẫn đoàn kết một lòng đi theo Đảng, theo kháng chiến; họ đấu tranh rất kiên cường, bất khuất và đã giành thắng lợi. Tôi đã kể thêm một số tấm gương người tốt mà họ đã hy sinh trong lúc chiến đấu ngay trên mảnh đất thân yêu của họ. Tôi lấy những việc đã qua gợi cho nhân dân liên hệ thực tế ở thôn Hậu để tự họ tìm ra những nguyên nhân chủ yếu đã làm họ khổ từ đời này sang đời khác. Họ phải vạch mặt chỉ tên kẻ thù, đấu tranh giành quyền lợi ruộng đất. Họ cần phải hiểu được chính sách của Đảng, tin tưởng vào đội ngũ cải cách, phấn khởi tham gia học tập, họp bàn để cùng nhau phát động phong trào của những thôn dân lương trong toàn xã.

Hơn ba tháng tôi công tác thực hiện phương pháp "ba cùng" với bà con nông dân, tôi đã nắm chắc được tình hình ở địa phương. Ở thôn Hậu chỉ tìm được một gia đình phú nông còn chủ yếu là cố nông, bần nông, trung nông, không tìm được một gia đình địa chủ nào. Bởi vì thôn Hậu chỉ có ruộng công điền, còn ruộng tư điền đều do tên địa chủ ở thôn Trại, xã Châu Giang chiếm hết. Nhân dân chủ yếu là người nhận ruộng phát canh thu tô của y. Trên cơ sở điều tra phân loại quần chúng và kết quả phát động quần chúng về tư tưởng, tôi đã xây dựng được một số đoàn thể như chi hội phụ nữ, chi đoàn thanh niên, tiểu đội dân quân...

Sơ kết bước một giảm tô ở đội Châu Giang, Ban chỉ huy đội đánh giá thôn Hậu do tôi phụ trách chưa đạt yêu cầu vì chưa tìm ra được địa chủ, chỉ tìm được một phú nông nên chỉ đạt 2,3 phần trăm kết quả. Các đồng chí phổ biến kinh nghiệm của đất nước Trung Quốc trong thời kỳ cải cách ruộng đất của họ, thành phần địa chủ và phú nông chiếm 5 phần trăm. Với lý do này, tôi bị điều về Ban chỉ huy đội cải cách, giúp Ban chỉ huy đội phụ trách việc xây dựng lực lượng dân quân trong toàn xã Châu Giang. Đồng chí Ngọc đang phụ trách ở thôn khác về thay tôi phụ trách ở thôn Hậu. Việc điều động này làm tôi rất băn khoăn, suy nghĩ, có lẽ tôi chỉ biết đánh đế quốc chứ không biết đánh địa chủ phong kiến. Tuy tâm tư của tôi day dứt về một cửa ải đấu tranh giai cấp không vượt qua được nhưng tôi vẫn xác định phải làm tốt công tác dân quân. Trong lịch trình công tác tôi đề ra từng bước cụ thể, sâu sát với phong trào. Tôi giúp đỡ đồng chí Đon - Xã đội trưởng và Ban chỉ huy xã đội Châu Giang củng cố và phát triển dân quân, kiện toàn cán bộ xã đội, thôn đội, trung đội và tiểu đội dân quân. Ban chỉ huy xã đội đã huy động dân quân tích cực tham gia tuần tra canh gác bảo vệ an toàn cho đội giảm tô hoàn thành nhiệm vụ. Trong lúc phong trào dân quân phát triển mạnh, bản thân cũng bớt băn khoăn về việc Ban chỉ huy điều tôi lên đội công tác mới thì tôi nhận được quyết định của Quân khu Tả Ngạn đề bạt tôi làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 204.

Sau này, tôi được biết đồng chí Ngọc thay tôi về công tác ở thôn Hậu cũng không tìm ra một tên địa chủ nào và việc vận dụng kinh nghiệm của nước bạn Trung Quốc trong cải cách ruộng đất phải có 5 phần trăm địa chủ, phú nông là sai. Và đây cũng chính là những sai lầm trong cải cách ruộng đất khiến cho một số người mắc oan vì bị quy tội sai, khi Đảng có chủ trương sửa sai mới trả lại quyền lợi cho họ được. Lúc này, lòng tôi thật sự thanh thản vì tôi đã hoàn thành nhiệm vụ phát hiện địa chủ phong kiến.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 09:43:27 PM

Tháng 7 năm 1957, tôi được điều về công tác ở Tỉnh đội Thái Bình, tôi làm trưởng ban dân quân tỉnh đội.

Thái Bình là một trong những mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, đông dân nhiều của ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Năm 1930, tiếng trống của hàng nghìn nông dân huyện Tiền Hải đã nổi lên như vũ bão, biểu tình kéo về huyện lỵ đòi bọn quan lại phải giảm sưu cao thuế nặng. Tiếng trống đó vẫn vang vọng khắp non sông đất nước. Lá cờ hồng có thêu dòng chữ "Toàn dân đánh giặc" là một phần thưởng cao quý mà Bác Hồ kính yêu tặng cho cán bộ, quân dân Thái Bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giải phóng dân tộc vẫn mãi mãi tung bay trên quê hương năm tấn. Mảnh đất anh hùng này đã sinh ra nhiều anh hùng dân tộc tiêu biểu. Danh tiếng của họ đã gắn liền với chiến công hiển hách của dân tộc như du kích Nguyễn Thị Chiên, chiến sĩ dũng cảm Tạ Quang Luật hiên ngang tiến lên cắm lá cờ Tổ quốc trên nóc hầm tướng Đờ Cát trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử vừa qua. Sau này, Thái Bình vẫn là đất mẹ đã sinh ra người chiến sĩ dũng cảm Bùi Quang Thận - người cắm lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam lên Dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, anh hùng vũ trụ Phạm Tuân - người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ. Thái Bình còn xứng đáng là lá cờ đầu trong nông nghiệp với năng suất năm tấn trên một hécta dẫn đầu toàn miền Bắc.

Quân dân Thái Bình phấn khởi tự hào, nhân dân cả nước và nhân dân thế giới cũng vô cùng cảm phục mảnh đất và con người anh hùng này. Những bài ca năm tấn, những cô gái Thái Bình mãi đi cùng năm tháng suốt chặng đường lịch sử của đất nước như muốn nhắn nhủ chúng ta không thể nào được quên, về công tác trên quê hương năm tấn, tôi vô cùng phấn khởi vì có nhiều điều kiện "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa". Quê hương tôi nằm kề sát tỉnh Thái Bình, chỉ cách con sông Hoá Giang nhỏ bé uốn khúc qua xóm làng. Tuy tôi là người con của quê hương Hải - Kiến nhưng Thái Bình cũng được coi là quê hương thứ hai của tôi. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào những năm 1950-1952, địch mở cuộc càn quét lớn với chiến thuật "Tách cá ra khỏi nước" hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Đây là những năm đen tối của cuộc kháng chiến. Chúng tôi phải luồn lách sang Phủ Dục, Quỳnh Côi, Thụy Anh tỉnh Thái Bình để bảo toàn lực lượng và được nhân dân che chở nuôi dưỡng. Nhiều trận chúng tôi đánh thắng địch, thu được nhiều súng đạn, chiến lợi phẩm. Hoặc chúng tôi lại chuyển sang giúp đỡ các đồng chí du kích ở các huyện bên và ngược lại các đồng chí bên đó lại cho chúng tôi gạo để nuôi quân trong lúc khó khăn.

Trải qua hoạt động trong cuộc kháng chiến chống Pháp nên tôi quen biết nhiều các đồng chí cán bộ của tỉnh Thái Bình, đến thời điểm tôi về công tác ở đó có nhiều đồng chí quen biết đã trở thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh như: anh Chất - Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình, anh Trừu - Chủ tịch Ủy ban nhân dân, anh Đinh Linh - Tỉnh đội trưởng, anh Tiến Chinh - Chính ủy Tỉnh đội.

Do phấn khởi vì được giao nhiệm vụ mới nên tôi đến tỉnh đội trước ngày hẹn. Đúng 14 giờ ngày 20 tháng 7 năm 1957, tôi đến phòng trực ban, ở đó anh em dẫn tôi vào phòng làm việc của tỉnh đội trưởng. Qua ít phút chào hỏi, đồng chí Đinh Linh mời tôi ngồi nghỉ trong phòng. Sau đó, đồng chí đi tìm các anh em trong Ban chỉ huy đến để cho tôi gặp mặt và làm quen. Khi các anh đến đầy đủ, anh Đinh Linh vào vấn đề luôn. Anh nhìn về phía tôi và nói:

- Tôi giới thiệu với các đồng chí, đây là đồng chí Quyết Tâm - cán bộ quân khu điều về làm trưởng ban dân quân của tỉnh nhà.

Tiếp theo, anh giới thiệu các đồng chí trong cơ quan với tôi. Anh nói:

- Đây là anh Tiến Chinh - nguyên Bí thư huyện Quỳnh Côi nay làm Chính ủy; anh Võ Đan - Tỉnh đội phó; anh Tuyến - nguyên Huyện đội trưởng Quỳnh Côi nay là Phó chính ủy. Còn tôi, tức Đinh Linh - nguyên Huyện đội trưởng Quỳnh Côi nay là Tỉnh đội trưởng.

Anh giới thiệu xong, không khí trong phòng sôi động hẳn lên. Chúng tôi trao đổi, thăm hỏi lẫn nhau một cách thoải mái, thân tình. Hầu hết mọi người đều đã quen biết nhau từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Không khí vui tươi và phấn khởi kéo dài chưa được bao lâu, chúng tôi cùng nhau đi dự lễ kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 09:44:34 PM

Sáng ngày 27 tháng 7 năm 1957, tôi tới phòng giao ban của tỉnh đội để làm việc với tập thể Ban chỉ huy tỉnh đội và các đồng chí trưởng ban: Trưởng ban tác chiến, huấn luyện, dân quân, động viên tuyển quân, chính trị, hậu cần. Sau khoảnh khắc giới thiệu làm quen nhau, các đồng chí trưởng ban báo cáo tình hình cho tôi nghe. Qua đó, tôi đã nắm khái quát được về tình hình chung trong tỉnh; tình hình cơ quan tỉnh, các huyện đội, thị đội; tình hình dân quân tự vệ xã, tự vệ trong các cơ quan xí nghiệp.

Kết thúc cuộc họp giao ban, tôi xin phép Ban chỉ huy tỉnh đội cho tôi và cán bộ dân quân tỉnh được đi khảo sát tình hình đội ngũ tổ chức dân quân trong toàn tỉnh. Trọng điểm là phong trào tổ chức dân quân vùng ven biển thị xã, và những nơi có nhiều đồng bào công giáo tập trung.

Qua một tháng đi thâm nhập cơ sở ở vùng công giáo trong huyện Tiền Hải, một số xã ở ven biển huyện Thụy Anh, và một số cơ quan xí nghiệp ở thị xã Thái Bình, tôi càng hiểu sâu hơn về tình hình tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ của tỉnh. Tôi có một nhận định khái quát rằng: toàn dân đã phát huy thắng lợi của cải cách ruộng đất, ra sức khai hoang phục hoá, đẩy mạnh hoạt động của tổ đổi công, chuẩn bị bước lên xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố một bước đang phát huy vai trò chiến lược của mình, làm nòng cốt xung kích trong sản xuất, bảo vệ trật tự trị an. Tuy nhiên phong trào chưa đều, phong trào vùng trọng điểm công giáo, vùng ven biển còn yếu hơn những xã vùng trong nội địa, số lượng chung còn ít chỉ chiếm 5 phần trăm dân số. Chất lượng chưa cao, hoạt động hiệu quả còn thấp, nguyên nhân chủ yếu là nhận thức của lãnh đạo các cấp trong tỉnh còn coi nhẹ chỉ đạo củng cố phát triển dân quân tự vệ. Có nơi còn sợ xây dựng phát triển dân quân tự vệ sẽ ảnh hưởng đến sản xuất...

Nhưng cũng có nhiều nhân tố mới như phong trào dân quân xã Thụy Trình huyện Thụy Anh; phong trào dân quân công giáo Dương Cước xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương; phong trào lực lượng tự vệ bưu điện thị xã Thái Bình có nhiều sáng tạo trong sản xuất, công tác kết hợp chặt chẽ với việc huấn luyện lực lượng tự vệ được cấp ủy chính quyền tin cậy.

Từ những thực tế đó, ban dân quân giúp tỉnh đội tham mưu cho tỉnh ủy tổ chức Hội nghị dân quân tự vệ toàn tỉnh, để quán triệt cho một số lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, huyện và một số xã trọng điểm về Nghị quyết 12 (tháng 3 năm 1957) của Trung ương Đảng, giúp cho các đồng chí nhận thức rõ tình hình âm mưu của địch, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ miền Bắc, phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang miền Bắc. Không những có một lực lượng thường trực mạnh mà còn phải có một lực lượng hậu bị mạnh (hậu bị bao gồm cả dân quân tự vệ). Hội nghị còn quán triệt sự chỉ đạo của tỉnh ủy Thái Bình về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, quân dự bị mạnh gắn với việc đẩy mạnh sản xuất, hợp tác hoá nông nghiệp. Cần phải phát huy vai trò dân quân tự vệ làm nòng cốt và xung kích trong sản xuất của hợp tác xã, đồng thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ trị an, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi. Trong xây dựng phong trào, chúng ta phải tập trung chỉ đạo vào vùng trọng điểm, nhất là các vùng ven bờ biển, vùng đồng bào công giáo, vùng thị xã. Các đồng chí cán bộ lãnh đạo phải chú trọng giáo dục chính trị và kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo quân sự ở cơ sở, lấy thi đua làm động lực thúc đẩy phong trào. Chúng ta phải ra sức tạo những đơn vị điển hình và nhân ra diện rộng.

Hội nghị đã thống nhất với tỉnh đội lấy ba đơn vị điển hình tiêu biểu, đó là: đơn vị dân quân xã Thụy Trình, dân quân công giáo xã Dương Cước và đơn vị tự vệ bưu điện thị xã Thái Bình để xây dựng thành các trung đội cờ hồng, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng lực lượng dân quân tự vệ với đẩy mạnh sản xuất theo một số tiêu chuẩn mà dân quân xã Thụy Trình đang thực hiện như: hàng năm, số dân quân tham gia các lớp huấn luyện 100 phần trăm, kết quả kiểm tra phải đạt 70 phần trăm khá - giỏi trở lên, biết kết hợp với công an làm công tác trị an tốt, quần chúng nhân dân thôn xã sống yên vui. Trong sản xuất, lực lượng dân quân giữ vai trò xung kích, phải có 70 phần trăm gia đình dân quân vào hợp tác xã nông nghiệp. Trong trung đội dân quân có vườn ươm cây, ao thả cá, câu lạc bộ và có tổ kỹ thuật ươm bèo hoa dâu để cung cấp cho hợp tác xã. Với những tiêu chuẩn toàn diện này đã làm rõ quan điểm nhận thức xây dựng mạnh lực lượng dân quân tự vệ không những không ảnh hưởng đến sản xuất mà còn đẩy mạnh sản xuất, nâng cao văn hoá xã hội - nên đã được cấp ủy và các ngành rất đồng tình ủng hộ, tích cực cùng nhau xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh.

Để kết thúc Hội nghị dân quân tự vệ tỉnh, đồng chí Nguyễn Ngọc Trừu - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã phát động phong trào thi đua trong lực lượng dân quân tự vệ. Đồng chí nói:

- Các đồng chí trong lực lượng dân quân tự vệ toàn tỉnh hãy ra sức phấn đấu, rèn luyện, học tập để đuổi kịp các đơn vị điển hình tiên tiến. Đến năm 1960 hầu hết các xã, phường đều có trung đội dân quân tự vệ đạt danh hiệu trung đội cờ hồng. Qua hội nghị này, các cấp ủy các ngành đã nhận thức sâu sắc được âm mưu của địch, phương hướng nhiệm vụ xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, quân dự bị và các biện pháp đẩy mạnh phong trào tạo nên bước chuyển biến mạnh mẽ, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của phong trào dân quân tự vệ tỉnh Thái Bình.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 09:45:11 PM

Để hoà nhập với bốn phong trào thi đua lớn, về nông nghiệp có phong trào thi đua với gió Đại Phong, về ngành công nghiệp có phong trào thi đua với sóng Duyên Hải, trong quân đội có phong trào thi đua cờ Ba Nhất, còn ngành giáo dục có phong trào thi đua tiếng trống Bắc Lý thì lực lượng dân quân, tự vệ tỉnh Thái Bình có phong trào thi đua phấn đấu giành danh hiệu Trung đội cờ hồng. Danh hiệu Trung đội cờ hồng là danh hiệu mà tỉnh Thái Bình phát động từ cuối năm 1957 đến đầu năm 1960 đã có một bước tiến khá dài, ban đầu chỉ có ba đơn vị trung đội dân quân, tự vệ đạt danh hiệu Trung đội cờ hồng: trung đội dân quân xã Thụy Trình huyện Thụy Anh, trung đội dân quân công giáo thôn Dương Cước xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, trung đội tự vệ trong tỉnh mạnh lên nhiều cả về quân số, trình độ kỹ chiến thuật đáp ứng với tình hình nhiệm vụ cách mạng mới. Toàn tỉnh có gần 300 trung đội dân quân, tự vệ đạt danh hiệu Trung đội cờ hồng (sau này đổi tên là Trung đội Quyết thắng). Tóm lại, nhờ có phong trào thi đua mà lực lượng dân quân, tự vệ Thái Bình phát triển nhanh mạnh, từ những hợp tác xã Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình; Duyên Hải, nhà máy cơ khí đóng tàu Hải Phòng; cờ Ba Nhất của bộ đội trên công trường thủy lợi Bắc Hưng Hải; tiếng trống trường Bắc Lý tỉnh Hà Nam Ninh; trung đội đột phá điểm nhân ra diện rộng trong phạm vi toàn thôn, toàn xã, toàn huyện, toàn tỉnh, nay lại có phong trào dân quân điển hình liên cụm, dẫn đầu là cụm thi đua Phong - Huy - Lĩnh gồm ba xã là Đông Phong, Đông Huy, Đông Lĩnh của huyện Đông Quan. Dưới sự lãnh đạo của đảng ủy, sự điều hành của chính quyền xã, lực lượng dân quân ba xã đã kết nghĩa, tổ chức lễ giao ước thi đua với nhau, động viên giúp đỡ lẫn nhau trong huấn luyện, trong lao động sản xuất, trong phong trào bảo vệ trị an... Phong trào thi đua đã tác động mạnh mẽ, làm chuyển biến về chất và lượng của phong trào dân quân tự vệ tỉnh Thái Bình từ chỗ lực lượng dân quân chỉ có 5 phần trăm đã tiến lên 10 phần trăm theo dân số 12.000 quân dân trên 1.200.000 người dân. Về chất lượng Đảng, đoàn, quân nhân phục viên trong lực lượng dân quân tăng lên đáng kể. Có thôn, xã mà đảng viên, đoàn viên còn đủ sức khỏe đều xin gia nhập lực lượng dân quân tự vệ 100 phần trăm, về giáo dục tư tưởng chính trị, huấn luyện quân sự đạt kết quả cao từ 90 phần trăm đến 100 phần trăm quân số khá, giỏi đạt từ 70 phần trăm đến 75 phần trăm. Hoạt động bảo vệ trị an kết hợp chặt chẽ với lực lượng công an đạt kết quả tốt, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Vai trò dân quân tự vệ được phát huy tích cực trong sản xuất, trong hợp tác xã, trong thôn xã, trên các công trình thủy lợi do lực lượng dân quân, thanh niên đảm nhận, góp phần quan trọng vào việc đưa năng suất nông nghiệp của tỉnh lên cao. Phong trào hợp tác xã nông nghiệp phát triển nhanh. Từ những thành tích mà thực tiễn giành được, Ban dân quân tự vệ giúp tỉnh đội, làm tham mưu cho tỉnh ủy, ủy ban tổ chức Hội nghị thi đua dân quân tự vệ toàn tỉnh vào mùa xuân năm 1960. Hội nghị có tới 500 đại biểu tham dự. Trong hội nghị này, đồng chí Nguyễn Quyết - Chính ủy Quân khu Tả Ngạn nói chuyện với hội nghị, đồng chí nhấn mạnh: Phong trào thi đua đạt danh hiệu Trung đội cờ hồng, cụm thi đua Phong - Huy - Lĩnh của lực lượng dân quân tự vệ tỉnh Thái Bình là hành động thi đua xã hội chủ nghĩa, cần phải được chúng ta nâng niu và phát triển mạnh hơn nữa. Đồng chí khen ngợi 300 trung đội dân quân tự vệ đạt danh hiệu Trung đội cờ hồng. Đây mới chỉ là đơn vị mạnh của huyện, xã, của thôn còn ít, cần phải tiến lên phải phấn đấu hầu hết các trung đội dân quân tự vệ đạt cờ hồng để cờ hồng cắm đỏ rực tỉnh Thái Bình, phấp phới tung bay trên quê hương năm tấn. Ta phải phấn đấu xây dựng cho lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp theo hướng chất lượng thiết thực: "Dân quân vững mạnh, xóm làng yên vui"; phải giáo dục cho dân quân trai cũng như gái phấn đấu sao cho "Đảng tin, dân mến, gia đình yêu". Nhờ sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của chính quyền, phối hợp với các ngành, đoàn thể dân quân tự vệ Thái Bình đã lập được nhiều thành tích đáng kể, có nhiều sáng tạo trong xây dựng và hoạt động. Quân khu coi Thái Bình là một điển hình tốt, để nhân rộng ra toàn quân khu.

Những lời động viên, chỉ bảo của đồng chí chính ủy quân khu đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào dân quân tự vệ Thái Bình vững bước tiến lên.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 09:45:51 PM

Trong sự chỉ đạo xây dựng dân quân tự vệ Quân khu ủy Tả Ngạn, Tỉnh ủy Thái Bình yêu cầu phải tập trung chỉ đạo xây dựng ở vùng có nhiều đồng bào Thiên Chúa Giáo, đây là tư tưởng chỉ đạo đúng đắn. Ở Thái Bình, đồng bào Thiên Chúa Giáo không sống tập trung như ở Bùi Chu, Phát Diệm song cũng có nơi có nhiều người theo đạo Thiên Chúa như vùng Trung Đồng huyện Tiền Hải, ở đây có nhiều làng hoàn toàn dân chúng theo công giáo như làng Quỳnh Lang ở huyện Quỳnh Côi, làng Phương Xá ở huyện Đông Quan, làng Cao Mai ở huyện Kiến Xương, làng Xá Thị ở huyện Thụy Anh...

Ở những nơi này, vào từng thời điểm quan trọng của đất nước, kẻ địch thường lối kéo kích động bọn phản động đội lốt công giáo chống phá cách mạng một cách điên cuồng, gây cho ta không ít những khó khăn, những tổn thất lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1950 đến 1951, thực dân Pháp chiếm đóng được tỉnh Thái Bình. Chúng đã nắm ngay bọn phản động đội lốt linh mục, địch bồi cho bọn này kích động giáo dân chống lại kháng chiến mãnh liệt. Địch đã lập ra những đội thanh niên chống cộng, phát triển tổ chức vệ sĩ. Chúng biến các nhà thờ thành đồn bốt giặc. Bọn cha cố mặc áo lính, chỉ huy quân mở những trận càn quét, tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta. Chúng tàn sát giết người cướp của, sát hại lương dân, gây ra biết bao vụ đẫm máu, xương chất thành đống ở Phương Xá, hầm chôn người ở Quỳnh Lang, đến nay nhớ lại ai cũng còn ghê sợ.

Trong thời gian chống cưỡng ép đồng bào di cư năm 1955 và năm 1956, chính quyền địa phương của ta đã đấu tranh giành giật với bọn cha cố phản động từng giáo dân, vì bọn chúng có thủ đoạn rất thâm độc, chúng tuyên truyền với mọi giáo dân là chúa đã vào miền Nam, nên các con chiên phải vào Nam với chúa, các con chiên nhẹ dạ cả tin lời lẽ chúng tuyên truyền, dụ dỗ, cưỡng ép nên đồng bào công giáo cứ lũ lượt ra đi.

Nhiệm vụ của cán bộ địa phương là vận động giáo dân ở lại với làng, với quê hương yêu dấu của mình, nơi mà hàng nghìn năm tổ tiên ta cần cù lao động xây dựng lên. Nhiều nơi đã trở thành cuộc xô xát lớn, bọn phản động lợi dụng cơ hội các con chiên ra đi loạn xạ đã ra tay chống đối lại lực lượng ta, chúng đánh đập cán bộ, bộ đội, du kích của ta, gây cho ta những khó khăn rất lớn.

Thời điểm năm 1959 đến 1960, tỉnh Thái Bình đã có cao trào sản xuất hợp tác xã nông nghiệp, nhịp sống toàn dân tưng bừng phấn khởi, mọi người hăng say hồ hởi lao động xây dựng cuộc sống mới. Nhưng ở các làng công giáo của Thái Bình vẫn còn khó khăn, bọn phản động chống lại cách mạng, chống lại Tổ quốc vẫn ngấm ngầm kích động nhân dân công giáo không vào hợp tác xã nông nghiệp. Bọn phản động tuyên truyền nhân dân công giáo không cho con em họ đi bộ đội, gia nhập du kích, dân quân tự vệ, không đi học văn hoá và tham gia các phong trào khác mà địa phương phát động vì các con chiên sợ mất chúa, mất đạo.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 09:46:36 PM

Với tình hình thực tế của tỉnh Thái Bình, Ban dân quân đã giúp Ban chỉ huy tỉnh đội làm tham mưu cho tỉnh ủy chỉ đạo các huyện tăng cường củng cố phát triển dân quân vùng công giáo, gắn việc xây dựng dân quân với cuộc vận động giáo dân vào hợp tác xã nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo trị an, bảo vệ cuộc sống yên bình cho nhân dân. Tỉnh đội đề nghị với quân khu tăng cường cho tỉnh một số cán bộ bồi dưỡng về các chủ trương chính sách của Đảng đối với vùng công giáo. Hướng dẫn cho anh em về nội dung xây dựng dân quân tự vệ theo tinh thần hội nghị dân quân toàn tỉnh cuối năm 1957. Chúng ta chú trọng lấy mô hình dân quân công giáo Dương Cước để dân quân các xứ trong toàn tỉnh noi gương phấn đấu thực hiện. Gần một trăm cán bộ được cử về các xã có đồng bào Thiên Chúa giáo. Mỗi địa phương có từ ba đến năm đồng chí cán bộ. Kết quả gần bốn năm từ năm 1957 đến năm 1961, tất cả các thôn xóm có giáo dân đều có cơ sở chính trị, dân quân tự vệ, từ một trung đội dân quân công giáo Dương Cước ở huyện Kiến Xương là Trung đội cờ hồng, đã phát triển được nhiều trung đội dân quân công giáo thành Trung đội cờ hồng, nơi có nhiều khó khăn nhất như Nam Trung, Nam Thanh, Nam Hồng, Nam Chính của huyện Tiền Hải, mỗi nơi có từ một đến hai Trung đội cờ hồng. Để tiếp tục phát huy thắng lợi đẩy mạnh phong trào dân quân công giáo, Ban dân quân chúng tôi đề nghị Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh và quân khu cho tổ chức Hội nghị dân quân công giáo toàn tỉnh tại vùng công giáo tập trung ở huyện Tiền Hải.

Trong hội nghị này có 120 dân quân công giáo tiêu biểu ở các xứ đạo toàn tỉnh về dự cùng với đại biểu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các ban ngành của tỉnh về dự. Nội dung hội nghị chủ yếu là giới thiệu về chính sách sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, chính sách tôn giáo của Đảng. Sau đó là những báo cáo chung về điển hình phong trào thi đua của dân quân tự vệ công giáo.

Kết thúc hội nghị, chúng tôi mời Chính ủy Nguyễn Quyết nói chuyện với hội nghị. Đồng chí đã nhấn mạnh về chính sách đoàn kết lương giáo của Đảng, biểu dương các trung đội dân quân đạt danh hiệu Trung đội cờ hồng. Đồng chí đề nghị các cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ để đại hội lần sau có nhiều trung đội đạt danh hiệu Trung đội cờ hồng nhiều hơn nữa. Thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu, đồng chí tặng mỗi đại biểu dân quân công giáo một bộ quân phục mùa đông, một mũ Trung Quốc, một đôi giày bộ đội và chỉ thị cho Ban chỉ huy tỉnh đội tổ chức cho anh chị em đại biểu dân quân công giáo đi tham quan một số xí nghiệp, sân bay, hải cảng để anh chị em thấy rõ về sự lớn mạnh của ta, củng cố lòng tin để từ đó cảnh giác với mọi luận điệu xuyên tạc của kẻ thù trực tiếp là bọn phản động đội lốt tôn giáo.

Sau hội nghị, các anh chị em dân quân công giáo rất vui mừng và phấn khởi. Họ thực sự là những nòng cốt vững chắc trong việc tuyên truyền vận động giáo dân vào hợp tác xã, sản xuất giỏi, vào dân quân tự vệ. Sau này, nhiều người trong số họ đã trở thành cán bộ nòng cốt của cơ sở địa phương (thôn, xã).

Thời gian mà tôi công tác ở tỉnh Thái Bình đã gần tám năm. Một khoảng thời gian cũng khá dài mà sao tôi thấy trôi nhanh đến vậy, hay bởi tôi có tấm lòng mến mộ mảnh đất anh hùng này, mảnh đất của quê hương giàu truyền thống cách mạng, hay bởi tôi quá hăng say công tác. Đó là điều tôi không hề nói quá nhưng cũng có thời gian tôi thực sự làm việc đến nỗi đêm quên ngủ, ngày quên ăn, tập trung trí tuệ, sức lực cao độ để hoàn thành công việc được giao. Lúc nào, tôi cũng tâm niệm phải làm sao vừa làm việc, vừa tìm tòi sáng tạo để công việc đạt hiệu quả cao nhất.

Với cương vị công tác là trưởng ban dân quân, Bí thư Đảng ủy tỉnh đội Thái Bình, tôi rất phấn khởi tự hào vì mình đã góp một phần nhỏ bé vào việc xây dựng và phát triển phong trào dân quân tự vệ tỉnh Thái Bình vững mạnh và rộng khắp, tạo khí thế thi đua sôi nổi giành danh hiệu Trung đội cờ hồng trong lực lượng dân quân tỉnh nói chung và đặc biệt, dân quân vùng Thiên Chúa giáo nói riêng, đã góp phần vào cao trào thi đua quyết thắng của lực lượng vũ trang tỉnh Thái Bình. Tám năm liền, từ năm 1957 đến năm 1964, tỉnh Thái Bình luôn đạt danh hiệu Quyết thắng, là đơn vị khá nhất, luôn dẫn đầu toàn quân khu và được Bộ Quốc phòng tặng cờ. Đây cũng là nơi có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ trong đời làm công tác dân quân tự vệ của tôi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:12:59 AM

Được lệnh cấp trên, tôi lại rời xa quê hương năm tấn để về làm giáo viên Khoa Chiến tranh du kích ở Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng (nay là Học viện Quốc phòng). Các đồng chí trong Ban lãnh đạo của tỉnh Thái Bình: anh Chất, anh Trừu, anh Tiến Chinh, anh Phạm Vạc đã thay mặt Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân, Ban chỉ huy tỉnh đội tổ chức liên hoan đế tiễn tôi lên đường đi nhận nhiệm vụ công tác mới.

Từ quê hương Thái Bình yêu quý, tôi về nhận công tác ở Học viện Trung cao Quân sự. Trên chuyến xe khách Thái Bình - Hà Nội, hành khách cười nói vui vẻ, trò chuyện râm ran làm quen với nhau trong chốc lát trên đoạn hành trình. Còn tôi ngồi trầm ngâm suy nghĩ, đầu óc tôi miên man với các suy tư về những ngày đã qua, tất cả những hình ảnh trong quá khứ, những kỷ niệm vui buồn xen lấn chật chội trong tôi. Nhiệm vụ mới thật vô cùng lớn lao, đè nặng lên tâm trí, khiến tôi vô cùng lo lắng, bao nhiêu câu hỏi cứ liên tiếp đặt ra cho tôi chỉ xoay quanh vấn đề tôi sẽ giảng dạy ra sao? Làm thầy giáo như thế nào? Nó có khó khăn hơn khi phải đối mặt với kẻ thù ở chiến trường không? Bao nhiêu suy nghĩ đó đã theo xe đưa tôi về Học viện lúc nào tôi cũng chẳng rõ nữa, chỉ đến khi mọi người nhắc nhở xuống xe tôi mới thoát khỏi sự lung bung kia trong đầu.

Lúc đó, Học viện ở giữa sân bay Bạch Mai, tôi hăm hở tìm vào Khoa Chiến tranh du kích. Ở đây, tôi được gặp lại nhiều đồng chí quen biết trong quá trình công tác trước kia. Đồng chí Võ Hắc Thông - Trưởng khoa, nguyên là Tỉnh đội trưởng tỉnh Bắc Ninh; anh Khang (Khang voi) - Phó khoa, nguyên là Trung đoàn phó Đoàn 42 hoạt động ở khu Tả Ngạn và anh Kiểu, anh Các... đều là cán bộ xã, huyện đội. Thấy tôi, các anh rất vui vẻ, có anh hỏi:

- Nghe tin Học viện xin anh từ năm ngoái, sau lớp tập huấn công tác quân sự địa phương của Bộ Tổng tham mưu ở Hải Dương, sao đến nay anh mới về? Chắc địa phương Thái Bình không cho đi phải không?

Tôi chỉ cười và vui vẻ trả lời:

- Dạ! Chắc là vậy!

Sau đó, anh em chuyện trò trao đổi. Tôi rất mừng vì xung quanh tôi có rất nhiều anh em đồng đội sẽ hỗ trợ giúp đỡ tôi để hoàn thành nhiệm vụ.

Sáng ngày 22 tháng 7 năm 1964, anh Võ Hắc Thông - Trưởng khoa Chiến tranh du kích dẫn tôi lên phòng Giám đốc báo cáo Giám đốc Học viện và xin ý kiến chỉ đạo. Tại đây, lần đầu tiên tôi gặp Giáo sư, Thiếu tướng - Giám đốc Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng Hoàng Minh Thảo. Đó là một người tài ba, đức độ, có uy tín với toàn quân, nguyên là Tư lệnh Liên khu 3 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là người mà khi còn ở địa phương tôi đã được nghe kể rất nhiều. Sau lời chào hỏi thân mật, Thiếu tướng hỏi tôi:

- Năm nay đồng chí Quyết Tâm bao nhiêu tuổi? Quê đồng chí ở đâu?

- Dạ, thưa Thiếu tướng, em sinh vào tháng 12 năm 1929, đến nay em 34 tuổi, quê em ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng - tôi trả lời Thiếu tướng.

- Một cán bộ rất trẻ, có nhiều triển vọng. Công tác của cậu ở Thái Bình thì mình cũng biết rồi. Phong trào dân quân tự vệ Thái Bình khá lắm, có nhiều sáng tạo... ở Học viện, khi giảng dạy về Chiến tranh du kích quân sự địa phương, anh em giáo viên đã rất chú ý lấy kinh nghiệm của Thái Bình, của khu Tả Ngạn...

Sau một lúc nói chuyện vui vẻ, Giám đốc Học viện, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo giới thiệu về chức năng cơ bản của Học viện là nghiên cứu những vấn đề về đường lối quân sự, chiến tranh nhân dân bao hàm cả chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, đào tạo bồi dưỡng cán bộ cấp sư đoàn và tỉnh đội, giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh nhân dân Việt Nam cho các đoàn bạn quốc tế đến Việt Nam tham khảo...


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:13:45 AM

Để hoàn thành được chức năng nhiệm vụ trên, vấn đề có tính quyết định đòi hỏi đội ngũ các thầy giáo quân sự của Học viện phải xác định là "Khuôn vàng thước ngọc". Vì thầy có tốt, trò mới giỏi. Từ chức năng chung của Học viện, Khoa Chiến tranh du kích cũng có chức năng rất cơ bản như: nghiên cứu về chiến tranh du kích, quân sự địa phương; giảng dạy cho cán bộ cấp tỉnh đội trưởng, tỉnh đội phó về chiến tranh du kích và tham gia giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh du kích cho các đoàn khách quân sự quốc tế.

Thiếu tướng liển hỏi anh Hắc Thông - Trưởng khoa:

- Khoa đã phân công cho đồng chí Quyết Tâm giảng dạy môn gì chưa?

Đồng chí Trưởng khoa thưa với Thiếu tướng:

- Khoa dự kiến phân công đồng chí Quyết Tâm giảng dạy về chiến lược chiến tranh du kích như vấn đề chống phá càn, xây dựng căn cứ du kích.

Đồng chí Thiếu tướng - Giám đốc Học viện tỏ vẻ đồng ý với sự phân công của khoa về môn của tôi phụ trách giảng dạy.

Cuộc gặp gỡ với Giáo sư, Thiếu tướng - Giám đốc Học Viện Hoàng Minh Thảo kết thúc, tôi càng lo lắng về trách nhiệm nặng nề của mình, tôi nhớ đinh ninh lời căn dặn đầy ý nghĩa của đồng chí Giám đốc Học viện: Người thầy giáo phải là "Khuôn vàng thước ngọc". Bằng phương pháp ẩn dụ, so sánh thực tế của khuôn vàng, thước ngọc, nó bao hàm mọi phẩm chất người giảng viên Học viện Quân sự phải có một tư cách vững vàng, trách nhiệm.

Cuối tháng 11 năm 1964, Học viện Quân sự tổ chức lớp bổ túc ngắn ngày cho cán bộ quân sự địa phương toàn miền Bắc. Đối tượng học viên lớp này là các đồng chí tỉnh đội trưởng, tỉnh đội phó với tổng số có 61 đồng chí, trong đó có một số đồng chí vừa có cấp bậc quân hàm cao (trung tá, thượng tá) lại có bề dày kinh nghiệm công tác quân sự như đồng chí: Khuất Duy Tiến, Trịnh Tố Phan, Lê Thừa Giao... Tôi được khoa phân công giảng bài chống phá càn và tập bài tập kích của tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh.

Tôi càng đi sâu nghiên cứu tài liệu lý luận và thực tiễn địch càn, ta chống càn và nghiên cứu kỹ đối tượng người học, tôi càng thấy lo lắng bởi vấn để chống phá càn là vấn đề lớn của chiến tranh du kích trong suốt thời kỳ chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ hiện tại. Ở các địa phương, các đồng chí cũng có nhiều kinh nghiệm thực tế phong phú. Bản thân tôi mới giảng lần đầu nên sợ nắm chưa chắc được vấn đề. Đối tượng học viên nhiều đồng chí quân hàm chức vụ cao, tuổi đời hơn tôi, các đồng chí có nhiều kinh nghiệm hơn, tôi thật sự cảm thấy e ngại về đối tượng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:14:30 AM

Với thời gian hơn ba tháng chuẩn bị bài giảng lý luận và làm bài tập, do nhận thức được những khó khăn bước đầu nên tôi vừa ra sức đọc các tài liệu có liên quan đến nội dung bài; vừa tranh thủ lấy ý kiến đóng góp, giúp đỡ của các đồng chí đã giảng bài về chống phá càn. Chính vì vậy, bài giảng lý luận và bài tập của tôi được các đồng chí giáo viên Khoa Chiến tranh du kích thông qua và được Giám đốc Học viện Hoàng Minh Thảo phê duyệt. Các đồng chí đã đóng góp nhiều ý kiến về nội dung, phương pháp giảng nhằm đạt hiệu suất cao. Thấy tôi quá lo lắng, Giám đốc Học viện đã thân mật động viên: "Vạn sự khỏi đầu nan, cái gì cũng vậy, cứ giảng dạy đi rồi sẽ giảng dạy tốt, không ai làm tốt ngay được".

Đến ngày lên lớp, tuy bài được thông qua nhiều lần, thục luyện kỹ lưỡng, giáo án đã thuộc lòng mà giờ đầu tôi vẫn cảm thấy hồi hộp; có lúc hai chân cứ run cầm cập, may mà tôi cũng trấn tĩnh ngay được. Tiết thứ hai, thứ ba, tôi đã cảm thấy tự tin hơn, giọng nói mạch lạc hơn, tác phong mạnh dạn hơn, phong thái đàng hoàng hơn, không còn các động tác thừa nữa. Bình giảng xong, toàn lớp nêu nhận xét về giáo viên, về ưu điểm: tuy mới giảng lần đầu nhưng bài chuẩn bị tốt, nêu được âm mưu thủ đoạn của địch và nội dung phương pháp chống càn của ta. Về khuyết điểm: những dẫn chứng còn ít, phương pháp giảng chưa tốt, còn tỏ ra thiếu bình tĩnh... nhưng nhìn chung bài đạt yêu cầu. Trong giờ giảng, vì lo lắng truyền tải những điều cần phải làm trong giáo án tới các học viên một cách khoa học nhất nên tôi có lúc thấy vã mồ hôi. Nhưng khi lớp góp ý bài giảng đạt yêu cầu, mọi cảm giác lo lắng trong tôi cũng đã giảm bớt, thay vào đó lại thấy vui vẻ. Anh Võ Hắc Thông - Trưởng khoa động viên tinh thần tôi, anh nói: "Lần đầu tiên anh giảng thế là cố gắng lắm, lần sau có lẽ anh giảng sẽ tốt hơn, kết quả sẽ đạt cao hơn". Lớp học xong phần lý luận, chuyển sang phần thực hành bài tập. Đây mới là phần gay go và khó khăn. Vấn đề huấn luyện được đặt ra là: "Nổ súng tấn công để phối hợp tác chiến với chủ lực nhằm rèn luyện tính kỷ luật trong hiệp đồng chiến đấu chính quy". Tình huống cho là: trung đoàn chủ lực tập kích ở hai quả đồi lớn, đã chiếm lĩnh trận địa và cắt xong rào. Tiểu đoàn địa phương tập kích một đại đội địch ở một đồi nhỏ gần đó. Trên hướng thứ yếu cắt rào xong, hướng chủ yếu cắt xong ba hàng rào, còn hai hàng rào đang cắt dở, đã đến giờ (G) nổ súng. Với tình huống này, cả lớp quân sự địa phương 61 đồng chí, chỉ có một đồng chí Khuất Duy Tiến - Bí thư chi bộ lớp cho nổ súng. Còn 60 đồng chí không cho nổ súng, các đồng chí lập luận: Phương pháp tác chiến là bí mật luồn qua rào. Nay hướng chủ yếu cắt rào chưa xong, nổ súng thì thất bại. Có đồng chí còn tuyên bố gay gắt, "nổ súng mà tốn xương máu bộ đội, thà bị cách chức tỉnh đội trưởng còn hơn". Chúng tôi rất lo lắng nên báo cáo với Giáo sư, Viện trưởng Hoàng Minh Thảo, đồng chí bảo: "Cứ bình tĩnh, hôm tuyên bố đáp án, đồng chí sẽ trực tiếp giải đáp thắc mắc".

Hôm đó, sau khi tôi báo cáo một số phương án đáp án của Học viện xong, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã phân tích ý định huấn luyện là rèn luyện tính kỷ luật trong hợp đồng tác chiến chính quy và phương án đánh bao giờ cũng phải có dự kiến tình huống. Tình huống này cho nổ súng, dùng bộc phá liên tục là giải quyết được. Ai không nổ súng là sai. Cả lớp hoan hô nhất trí 100 phần trăm với đáp án của Học viện.

Tôi cảm ơn Viện trưởng đã giải quyết cho giáo viên một tình huống gay gắt. Lúc này, lòng tôi mới khỏi lo, tôi cảm hứng ghi vào nhật ký của tôi một bài thơ ngắn:

"Khổ nguôi chi mấy những bậc thầy
Đánh thì chẳng giỏi, nói chẳng hay
Khuôn vàng, thước ngọc ai xếp đặt
Gắng công mài sắt ắt có ngày
".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:15:26 AM

Từ năm 1965 trở đi, chiến tranh ngày càng mở rộng, quân đội ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Do vậy, đội ngũ giáo viên quân sự cũng phải phát triển để theo kịp yêu cầu giảng dạy. Vì phát triển quá nhanh, củng cố nâng cao trình độ không theo kịp, nên trình độ giáo viên bộc lộ mặt yếu của mình. Trong các học viện, nhà trường học viên về học, có nhiều đồng chí được rèn luyện thử thách trên chiến trường nên các đồng chí có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Họ nảy sinh nhiều thắc mắc, có anh em nói: về trường học để xem "Cò gỗ mổ cò thật". Với câu nói chứa đầy hình ảnh ví von so sánh này làm cho đội ngũ giáo viên quân sự chúng tôi phải suy nghĩ trăn trở. Mình phải rèn luyện phấn đấu, học tập để nâng cao trình độ lên nhanh sao cho kịp với yêu cầu giảng dạy, đáp ứng sự đòi hỏi chính đáng của học viên. Thầy phải ra thầy, thầy phải là "Khuôn vàng, thước ngọc" như phương hướng đào tạo bồi dưỡng giáo viên của Học viện một nhà trường cao nhất của toàn quân.

Trong lúc này, tôi được phân công giảng dạy bài xây dựng căn cứ du kích, một vấn đề chiến lược quan trọng của chiến tranh du kích. Tôi đã rút kinh nghiệm ở bài chống địch càn quét, với khuyết điểm lớn là thiếu thực tiễn nên giảng dạy còn khô khan, tính thuyết phục chưa cao. Để khắc phục khuyết điểm trên, tôi đã khắc phục bằng phương châm: "Có công mài sắt, có ngày nên kim". Tôi tích cực, kiên trì sưu tầm, gom góp thu thập những kinh nghiệm thực tế. Ý định của tôi là xây dựng thành một bản phụ lục về thực tiễn một số loại hình: khu du kích, căn cứ du kích ở các vùng khác nhau để chứng minh làm phong phú thêm cho bài giảng lý luận. Ý tưởng này của tôi được đồng chí Võ Hắc Thông, Trưởng khoa Chiến tranh du kích nhiệt tình ủng hộ, anh đã khuyến khích động viên tôi làm điều đó.

Những căn cứ du kích nhỏ nằm sâu trong vùng địch kiểm soát gọi là lõm du kích, ở đó, ta phát động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, du kích mật trong phạm vi hẹp từng thôn, xóm, tạo ra chỗ dựa vững chắc để cán bộ hoạt động. Và làm bàn đạp cho bộ đội du kích đánh sâu, đánh hiểm vào mục tiêu quan trọng của địch, vào ngay trong sào huyệt của chúng, như ở Hòa Nghĩa, Kiến Thụy giúp ta đánh sân bay Cát Bi, Kiến An, cơ sở Tân Viên, An Lão giúp ta đánh vào thị xã Kiến An.

Có những khu du kích mà ở đó lực lượng chiến đấu của ta phải tranh chấp quyết liệt với địch. Đó là nơi mà lực lượng của ta chưa đủ sức đánh bại địch và phía địch cũng không có đủ sức để trục được lực lượng của ta để làm chủ địa bàn.

Hình thái chiến trường còn diễn biến phức tạp, có khi hôm nay là vùng du kích, chỉ sau cuộc càn quét lớn của địch ngày mai có thể trở thành vùng địch tạm thời kiểm soát như một số khu du kích ở Tiên Lãng, ở Vĩnh Bảo trong những năm 1951 đến năm 1952.

Còn những căn cứ du kích lớn mà ở đó lực lượng ta lớn mạnh về mọi mặt, hầu hết đồn bốt giặc đã bị phá hết. Các cuộc càn nhỏ, càn vừa của địch thường bị lực lượng du kích và bộ đội địa phương đánh bại, như khu căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng của tỉnh Thái Bình.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:16:54 AM

Một số khu du kích, căn cứ du kích ở vùng rừng núi như căn cứ Ba Sơn (Cao Lộc), Chi Lăng (Lộc Bình), Na Thuộc (Đình Lập) của tỉnh Lạng Sơn... Dựa vào xây dựng căn cứ địa thời kỳ tiền khởi nghĩa, ngay từ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, Tỉnh ủy Lạng Sơn rất chú trọng chỉ đạo các vùng tranh chấp cũng như vùng bị địch kiểm soát, dựa vào thế địa hình hiểm trở của thiên nhiên như núi cao, rừng rậm, khe sâu và lòng dân yêu nước để xây dựng thành vùng kháng chiến, khu du kích, căn cứ du kích. Đến tháng 10 năm 1948 toàn tỉnh đã có 128 vùng kháng chiến và căn cứ du kích1.

Căn cứ Chi Lăng (Lộc Bình) thuộc xã Vĩnh Gia, xã Tam Lông và một phần xã Tú Minh, nằm sát biên giới Quảng Tây, Trung Quốc. Dân số khoảng 2.500 người thuộc dân tộc Tày, Nùng. Đây là một căn cứ tiêu biểu. Ở đây, lòng dân căm thù thực dân Pháp xâm lược rất sâu sắc. Với quyết tâm cao, họ uống máu ăn thề cùng nhau đoàn kết chiến đấu đến cùng để bảo vệ căn cứ, bảo vệ quê hương, họ thề sẽ không bao giờ đầu hàng địch. Với 150 thanh niên Tày, Nùng xung phong vào du kích, họ thành lập ba trung đội. Huyện điều đi bổ sung cho đơn vị tuyến trên một số người nên chỉ còn lại bốn mươi du kích với hai mươi tay súng. Quần chúng nhân dân lại động viên 300 thanh niên vào du kích được trang bị hàng trăm súng các loại. Thế trận được xây dựng vững chắc, có bảy pháo đài đặt trên núi cao, có hầm ba tầng đào sâu trong lòng đất. Ta dựa vào thế đó tập kích, phục kích địch trên đường số 4 và đã đánh bại hàng trăm cuộc càn quét của địch, làm cho chúng không thể xâm phạm vào căn cứ của ta. Trận cuối cùng tên Vike - chỉ huy trưởng liên khu biên thùy Đông Bắc quyết chí đánh vào căn cứ Chi Lăng. Ngày 28 tháng 8 năm 1948, chúng tập trung hai nghìn tên lính, chúng đánh từ bảy giờ sáng đến sáu giờ tối. Địch không những không phá được căn cứ mà 158 tên địch phải đền mạng, trong đó có một tên quan hai và một tên quan ba.

Để có được một số mô hình về khu du kích, căn cứ du kích trên, tôi phải vắt óc nhớ lại những hình ảnh của các khu du kích mà tôi được chứng kiến ở Kiến An, ở Thái Bình trong kháng chiến chống Pháp, đồng thời tôi phải mất thời gian ba tháng trời liên tục đi thâm nhập cơ sở vùng đồng bào dân tộc Tày - Nùng, ở khu căn cứ du kích xưa, ăn củ mài, sắn, rau rừng với chút thịt nai, da bò mà người dân tộc đã treo trên gác bếp hàng năm trời để cho đồng cảm với đồng bào dân tộc, tạo thuận lợi cho tôi khai thác những kinh nghiệm thực tế xây dựng và chiến đấu dũng cảm của quân ta tiêu diệt giặc để bảo vệ căn cứ du kích Chi Lăng nổi tiếng những năm xa xưa.

Khác với lần lên lớp và tập bài chống càn quét, lần lên lớp bài xây dựng căn cứ du kích này cho lớp quân sự địa phương và các lớp sư đoàn chủ lực, tôi tự tin hơn, giảng giải mạch lạc, lưu loát hơn, quyện chặt được giữa nguyên tắc lý luận và thực tiễn. Khi bình giảng, anh em học viên đánh giá kết quả bài giảng tốt, lý luận, nguyên tắc chặt chẽ, có nhiều thực tiễn sinh động. Lời khen ngợi này là một nguồn cổ vũ lớn đối với những người giáo viên chúng tôi.
________________________________
1. Báo cáo năm 1948 của Tỉnh đội dân quân Lạng Sơn - HS lưu trữ Ủy ban tỉnh Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:17:31 AM

Từ đầu năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng không quân và hải quân. Đế quốc Mỹ tập trung đánh phá những mục tiêu trọng điểm như hệ thống kho xăng dầu, sân bay, hải cảng, trận địa phòng không, hệ thống cầu cống, đường giao thông. Có nơi Mỹ đánh vào cả trường học, khu dân cư, nhà thờ, bệnh viện... Bởi vậy, công tác phòng không nhân dân trở thành nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Để tập trung đầu mối cơ quan tham mưu chiến lược, Bộ Quốc phòng quyết định: giải thể Cục Phòng không nhân dân trực thuộc Bộ Quốc phòng, chuyển nhiệm vụ theo dõi giúp Bộ chỉ đạo công tác phòng không nhân dân về Cục Dân quân tự vệ trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Khoa Chiến tranh du kích của Học viện Quân sự Trung cao cấp của Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ giảng dạy về phòng không nhân dân bao gồm cả đánh máy bay tầm thấp và phòng tránh sơ tán, khắc phục hậu quả, bảo đảm giao thông. Phần này các lớp quân sự địa phương và các lớp sư đoàn chủ lực phải học tập.

Bộ phận chiến lược của Khoa Chiến tranh du kích có trách nhiệm giảng dạy môn khoa học quân sự này. Đây là vấn đề có nội dung hoàn toàn mới và khó đối với chúng tôi. Vì trong tay chúng tôi không có một tài liệu lý luận, cũng chưa có thực tiễn, bởi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ chủ yếu bằng không quân và hải quân vừa mới xảy ra chưa đầy một năm (từ tháng 7 năm 1965 đến tháng 1 năm 1966) và chủ yếu mới diễn ra trên tuyến lửa Quân khu 4 từ Thanh Hoá vào đến Vĩnh Linh. Do đó, chúng tôi đề nghị Học viện cho bộ phận giáo viên Khoa Chiến tranh du kích đi thực tế tuyến lửa Quân khu 4 để tìm hiểu tình hình thực tế, xây dựng thành tài liệu lý luận, lấy nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận để giảng dạy.

Được sự đồng ý nhất trí của Học viện, bộ phận giáo viên giảng dạy Khoa Chiến tranh du kích quyết định cử ba đồng chí gồm tôi, đồng chí Võ Đông và đồng chí Nguyễn Nghi đi thực tế ở Quân khu 4 trong ba tháng từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966. Đầu tháng 3 năm 1966, ba anh em chúng tôi mỗi người một xe đạp được sơn lại màu xanh, một ba lô, một tấm vải dù hoá trang, một bao gạo ăn được mười ngày và một số tem phiếu mua gạo trong ba tháng. Đoàn chúng tôi xuất phát từ khu sơ tán của Học viện ở chân núi Tam Đảo về Hà Nội theo đường số 1, đến Sở chỉ huy Quân khu 4 ở phía tây thành phố Vinh xin giấy giới thiệu. Sau đó, ba chúng tôi đạp xe đi Quảng Bình với quãng đường trên năm trăm kilômét. Vào thời điểm này, địch đang ra sức đánh phá tuyến đường số 1 và tuyến đường sắt rất ác liệt để hòng ngăn chặn quân dân ta hành quân vào chiến trường miền Nam hoặc vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men phục vụ cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Chúng đánh ác liệt nhất vào các điểm quan trọng như ga Hà Nội, cầu Hàm Rồng, cầu Giáp thành phố Vinh, Đèo Ngang, đò Quán Hầu, đò Giành thị xã Đồng Hới... Và còn nhiều điểm khác nữa mà giặc Mỹ vẫn ngày đêm điên cuồng bắn phá bằng bom đạn, bom tấn, rổc két và tên lửa.

Để vượt qua các trọng điểm trên, chúng tôi phải đi ban đêm hoặc giữa trưa vì thời gian đó giặc Mỹ ít hoạt động hơn. Đoàn chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu về phòng không nhân dân nên trên đường đi qua những điểm địch bắn phá ác liệt cũng là những nội dung cần phải nghiên cứu.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 07:18:17 AM

Trên con đường hành trình dài hơn năm trăm kilômét từ Hà Nội đi Quảng Bình, nếu đi xe đạp thong thả cũng đến mười lăm hay mười sáu ngày là cùng. Nhưng trong chiến tranh phá hoại này của Mỹ, chúng tôi phải đi hết hai mươi ngày đêm. Có những đêm, đoàn tôi phải đi thâu đêm suốt sáng mới tìm được cơ sở để dừng nghỉ ngơi. Có đoạn đường phải đi vòng để tránh địch oanh tạc, không đi được xe đạp, chúng tôi lại phải dắt xe đi bộ. Trong hai mươi ngày đêm, chúng tôi vừa đi vừa nghiên cứu rút ra được kết luận quy luật đánh phá của các loại máy bay Mỹ oanh tạc phá hoại hệ thống giao thông của ta, chúng tôi cũng thấy được quân dân ta chiến đấu anh dũng chống trả máy bay địch để bảo vệ và khắc phục giao thông được thông suốt như thế nào. Cảm động nhất là thấy được tinh thần trụ bám của nhân dân ở hai ven đường số 1. Nhà nào cũng có hầm từ trong nhà, có giao thông hào xuyên ra vườn, chỗ công cộng có hầm chữ A và hố cá nhân đào tròn đặt cống bi xuống và có nắp. Nhân dân Quân khu 4 đã nêu khẩu hiệu: "Nhà thì che nắng, che mưa; hầm thì che xương, che thịt”. Qua đó chúng tôi thấy người dân Khu 4 đề phòng tránh địch oanh tạc đánh phá rất tốt. Họ không ngần ngại tháo dỡ cả những ngôi nhà làm bằng gỗ gụ, gỗ lim để làm hầm chữ A. Các cánh cửa thì dân dành để làm ván chống lầy cho xe pháo của quân đội ta vượt đường. Có nhiều cái chòi trên cây cao, mặc cho bom đạn giặc bắn phá ác liệt, các cô dân quân vẫn rất bình tĩnh ngồi đếm từng quả bom địch và ghi rõ quả nào nổ, quả nào chưa nổ. Có những bà mẹ ngồi trong hầm thò cái mẹt bán xôi ngay chân dốc đèo Ngang, mặc dù bom đạn địch nổ ngay dưới chân đèo, ngay xung quanh hầm của mẹ. Chúng tôi thân mật hỏi chuyện mẹ, mẹ thản nhiên nói: "Mẹ không ngôi đây bán hàng thì người đi đường lấy gì mà ăn, nó ném bom mặc kệ nó". Câu nói của mẹ đã làm tôi nhớ lại câu nói bất hủ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: "Việt Nam ra ngõ cũng gặp anh hùng".

Vào đến Tỉnh đội Quảng Bình, tranh thủ lúc chờ làm việc với đồng chí Sự - Trung tá Tỉnh đội trưởng, chúng tôi đi quan sát chỗ ăn, chỗ ở, nơi làm việc của tỉnh đội, các anh đã triển khai căn cứ của đơn vị ngay cạnh thị xã Đồng Hới về phía tây nam trên một đồi tranh thoai thoải, vừa rộng, vừa dài chỉ có cỏ tranh và lưa thưa vài khóm chuối, vài bụi tre, người từ xa đến cũng thấy bất ngờ. Trong cơ quan được phân tán nhỏ từng bộ phận, chỉ có từ hai đến ba người. Mỗi tổ đều có hầm chữ A và hầm bò để trú ẩn và làm việc. Đây là loại hầm tránh bom đạn oanh tạc của bọn giặc Mỹ rất tốt. Loại hầm chữ A hay còn gọi là hầm kèo là loại hầm tốt nhất có sức chống đổ mạnh nhất.

Đường nối liền giữa các tổ với các tổ, các tổ với từng bộ phận trong cơ quan là những đường giao thông hào, bên trên có nắp và được ngụy trang kín đáo nhằm tránh những tổn thất về người, bảo vệ an ninh cơ quan trong mọi tình huống dù cho kẻ địch có sáu tai mười hai con mắt cũng khó mà phát hiện ra được. Sau này, chúng tôi được biết cơ quan Tỉnh đội Quảng Bình vẫn bám trụ ở đây trong suốt gần mười năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ từ năm 1965 đến năm 1973 mà địch vẫn không phát hiện được. Ngay cả khi chúng dùng không quân thả bom bắn phá khu vực này mà cũng không thể gây thiệt hại gì cho ta.

Trong mấy ngày chúng tôi làm việc với cơ quan quân sự tỉnh Quảng Bình, trên đường đến cơ sở làm việc phải đi qua cái cầu bắc trên giao thông hào sâu ngập đầu người. Không may cho tôi xe đạp bị trượt bánh, người tôi lăn xuống giao thông hào, tôi bị thương trật bánh chè cánh tay trái. Các đồng chí quân y băng bó đã dùng cái kẹp sắt kẹp vào và treo tay trái lên cổ cho tôi để tôi vẫn có thể tiếp tục xuống các cơ sở nghiên cứu tình hình. Mặc cho cánh tay đau nhức, càng đi càng giật lên tận thái dương, lên đầu, nhưng tôi vẫn tiếp tục đi vì không thể bỏ qua cuộc xâm nhập thực tế quan trọng này.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 04:48:59 PM

Được sự nhất trí của đồng chí Sự - Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Bình, chúng tôi vượt đò Quán Hầu, xuống huyện Lệ Thủy đi sâu vào nghiên cứu trong các xã ven biển như xã Ngư Thủy, xã Hưng Thủy, xã Xuân Thủy... ở các xã này, việc nghiên cứu của chúng tôi càng thú vị hơn vì chúng tôi nghiên cứu được cách đánh máy bay tầm thấp, cách đánh tàu chiến, rồi cách phân tán lực lượng để phòng tránh và bảo đảm giao thông, tất cả đều là những kinh nghiệm mới, rất sinh động và bổ ích.

Tại xã Hương Thủy, các đồng chí lãnh đạo trong ban chỉ huy xã kể lại cho chúng tôi nghe chuyện về tấm gương một đồng chí nữ xã đội phó với hai đồng chí nữ du kích, vũ khí trong tay chỉ là ba khẩu súng trường nhưng các đồng chí vẫn kiên trì phục kích tại mép nước ven biển bắn rơi một máy bay F4 của hải quân Mỹ. Tin thắng trận của các đồng chí đã tới Bác Hồ. Bác rất phấn khởi và gửi tặng các đồng chí một chiếc đồng hồ. Rồi ban lãnh đạo chỉ huy dẫn chúng tôi đi xem những hầm chữ A nằm sâu dưới các đụn cát cao. Ban ngày, các cụ già và trẻ em ẩn nấp, sinh hoạt trong đó. Người lớn phân tán ra đồng để tăng gia sản xuất. Chiều chiều, mỗi khi ông mặt trời dần dần đi ngủ, màn đêm bắt đầu buông xuống thì ở đây cuộc sống lại được hồi sinh bên những đụn cát trắng ven biển. Người người, nhà nhà xuất hiện đông vui nhộn nhịp, không khí đầm ấm, hạnh phúc bao trùm lên mỗi gia đình nhỏ bé và cả khối dân cư đông đúc như không hề có cảnh chiến tranh tang tóc nào xảy ra với họ.

Ở xã Ngư Thủy, các đồng chí cho chúng tôi đi tham quan trận địa pháo binh bắn tàu chiến địch. Ở đây, một đơn vị toàn là nữ, gồm các nữ du kích được lựa chọn để thành lập một đại đội pháo bờ biển của tỉnh Quảng Bình. Các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí sáng tạo tiêu diệt nhiều tàu chiến của Mỹ, lập công xuất sắc. Sau này đơn vị của các đồng chí được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến xã Xuân Thủy và một số xã khác nữa, chúng tôi đi nghiên cứu sâu về nội dung phòng không. Các đơn vị đều thành lập các đài quan sát, chòi quan sát, những người làm nhiệm vụ ở đây là theo dõi máy bay địch, tàu chiến địch. Có trách nhiệm thông báo, báo động, có kế hoạch sơ tán, phân tán người và của. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tinh thần đánh trả địch ngay từ phút đầu khi chúng tới. Tiêu diệt địch ngay từ loạt đạn đầu. Lên phương án kế hoạch điều động người và phương tiện để khắc phục hậu quả như chống cháy nổ, chống cứu sập hầm, cấp cứu người bị thương. Rồi kế hoạch bảo đảm giao thông được thông suốt. Những hệ thống công sự, hầm hào liên hoàn, sẵn sàng chiến đấu.

Ba tháng nghiên cứu thực tế ở Quảng Bình đã trôi qua, chúng tôi đã có một số tài liệu được biên soạn thành chương trình giảng dạy về phòng không nhân dân. Trong những ngày tháng đó, tôi không thể nào quên được một sự may mắn đã đến với tôi khi tôi đến xã Xuân Thủy, tôi gặp một cụ bà, thấy tôi đeo cánh tay trái lên cổ. Sau một hồi hỏi han nguyên nhân, cụ nói với tôi:

- Chú cứ để vậy sẽ thành tàn tật suốt đời đó! Chú có ráng chịu đau được không? Nếu chịu được tôi sẽ chữa cho chú khỏi ngay bây giờ.

Tôi phấn khởi lắm, vội vàng trả lời luôn:

- Thưa tía! Ngày xưa Quan Công bị trúng tên độc, Hoa Đà đã chữa cho ông ta bằng cách cạo xương soàn soạt vào chỗ đau của ông mà ông vẫn bình tĩnh ngồi đánh cờ. Con cũng sẽ chịu đau được, tía cứ chữa cho con!

Rồi cụ nhận lời, bảo tôi nằm sấp xuống tấm phản kê ở giữa nhà bắt tay trái tôi vòng qua ngực chéo về phía bên phải, dùng một chân dận lên lưng, hai tay cụ kéo mạnh tay đau của tôi. Cụ dặn tôi, hễ nghe thấy tiếng kêu cộc là được, lúc đó khớp đã trở về trạng thái cũ. Vừa dặn tôi, cụ vừa kéo rất mạnh tay tôi, bỗng tiếng kêu cộc lên khá to, tôi bất thần bị đau nhói đến nỗi chảy cả nước mắt mà không dám kêu đau, cố sức gắng chịu. Thấy vậy, bà cụ phấn khởi reo to:

Thành công rồi! Chú thấy thế nào?

- Thưa tía, con đau lắm! Nhưng dễ chịu hơn rồi!

Tôi thấy người thoải mái, tay trái đã vào khớp, chỉ cần xoa thêm thuốc chỗ đau đó đã dần dần khỏi. Tôi thật sự xúc động cảm ơn bà cụ đã chữa lành tay cho tôi. Đó là kỷ niệm đáng ghi nhớ của tôi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 04:49:42 PM

Chúng tôi tạm biệt Quảng Bình, cùng nhau rong ruổi với ba chiếc xe đạp ngày đêm để trở lại Học viện ở chân núi Tam Đảo, nơi đó đang chờ đợi chúng tôi về công tác, tiếp tục lên lớp giảng bài, phổ biến kinh nghiệm thực tế mà chúng tôi thu được trong quá trình thực địa ở Quảng Bình.

Lần lên lớp giảng bài phòng không nhân dân này, tôi đã có kinh nghiệm thực tế của tuyến lửa anh hùng Quân khu 4, chủ yếu là tỉnh Quảng Bình, nơi có phong trào chiến tranh nhân dân, đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nơi chiến đấu có nhiều sáng tạo đạt nhiều thắng lợi kỳ diệu. Khi bình giảng, các lớp đều đánh giá bài giảng tốt. Đội ngũ giáo viên của Học viện những năm gần đây có nhiều tiến bộ rõ rệt về lý luận và thực tiễn, nên câu châm biếm "Cò gỗ mổ cò thật" cũng dần dần tan biến đi vào dĩ vãng của một thời đã qua.

Trước những thắng lợi của đường lối chống Mỹ, cứu nước, đường lối đối ngoại đúng đắn sáng ngời của Đảng ta, có nhiều nước trên thế giới, nhất là những dân tộc, còn đang bị bọn đế quốc thống trị, còn đang phải sống lầm than tủi nhục dưới ách nô lệ đã lần lượt đến thăm Việt Nam để học tập, nghiên cứu chiến tranh nhân dân bách chiến bách thắng của Việt Nam.

Khoa Chiến tranh du kích, chủ yếu là bộ phận chiến lược chiến tranh du kích của Học viện Quân sự được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước kia và cuộc kháng chiến chổng đế quốc Mỹ hiện tại cho các đoàn bạn quốc tế đến tham quan nghiên cứu.

Học viện đã làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng và được biết các đoàn của mỗi nước sẽ lần lượt đến Việt Nam tham quan nghiên cứu về chiến tranh du kích bao gồm cả các nước châu Á và châu Phi: Lào, Campuchia Thái Lan, Inđônêxia, Anggôla, Apganixtan, Angiêri và một số nước ở châu Mỹ Latinh nằm ở bên kia Đại Tây Dương như: Cu Ba, Chilê, Nicaragoa...

Các đoàn quân sự của các nước đến thăm Việt Nam có thể chia thành hai loại: Một là, những đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cao nghiên cứu ngắn hạn của phong trào cách mạng toàn quốc. Hai là, đoàn cán bộ cấp trung ương và cấp tỉnh nghiên cứu dài hạn.

Để đáp ứng cho các đối tượng nghiên cứu học tập tốt, Thường vụ Quân ủy và Đảng ủy Học viện chỉ đạo chúng tôi chuẩn bị tốt hai phương án: Nghiên cứu ngắn hạn và Học tập dài hạn. Bao gồm các bài giảng, kinh nghiệm chỉ đạo chung về chiến tranh du kích. Bài chuyên đề của chiến tranh du kích, vũ trang tiền tuyến, chống giặc càn quét, giành dân. Xây dựng lực lượng vũ trang như lực lượng dân quân du kích, các lực lượng bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực. Xây dựng hệ thống căn cứ địa như: lõm du kích, khu du kích, căn cứ du kích, cách xây dựng làng chiến đấu, xã chiến đấu... Và một số chiến thuật du kích như: phục kích, tập kích, đánh giao thông địch. Cách sản xuất, chế tạo và sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch giành thắng lợi lớn... Chúng tôi còn chuẩn bị sẵn sàng những khu vực bãi tập để bạn tập bài chiến thuật hoặc các khu vực tham quan truyền thống về chiến tranh du kích, làng xã chiến đấu, xem diễn tập chỉ huy và tham mưu.

Với những nội dung và phương pháp phong phú, sâu sắc mang tính khoa học và đầy sức thuyết phục, tôi đã giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh du kích cho các đoàn cán bộ của các nước bạn. Họ đều rất phấn khởi, tin tưởng vào kinh nghiệm chiến đấu sáng tạo của Việt Nam. Đoàn đại biểu cấp cao của đất nước Angiêri về tham quan làng chiến đấu ở xã Tán Thuật, xã Nguyên Xá, tỉnh Thái Bình. Thay mặt đoàn, đồng chí trưởng đoàn đã phát biểu với chúng tôi trong niềm kính phục và cảm động: "Việt Nam của các bạn chiến thắng vì phía trên có Bộ Tham mưu lãnh đạo là Trung ương Đảng, phía dưới có Bộ Tham mưu trực tiếp chiến đấu là các chi bộ đảng tại cơ sở rất dũng cảm, thông minh và sáng tạo".

Gần tám năm từ 1964 đến 1971 đã trôi qua, tôi về làm giáo viên ở Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy và Ban Giám đốc Học viện, bằng tiêu chí phấn đấu "Khuôn vàng thước ngọc" và bằng phương châm rèn luyện thiết thực mà cha ông hun đúc bao đời nay để lại "Có công mài sắt có ngày nên kim", đội ngũ giáo viên quân sự nói chung và bản thân tôi nói riêng đã lớn lên rất nhiều, trưởng thành từ quan điểm lập trường đến trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm quân sự. Đây chính là vốn quý báu tạo cơ sở vững chắc để tôi và các đồng chí đồng nghiệp của tôi thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cả khi giảng dạy hay xông pha nơi trận mạc hoặc khi tôi làm chuyên gia cố vấn quân sự cho các nước bạn anh em.

Tôi mãi mãi biết ơn sự giáo dục, bồi dưỡng đào tạo đội ngũ giáo viên của Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện Trung cao Quân sự đã chắp cánh cho tôi bay tiếp trên con đường dài lịch sử của đất nước và sự nghiệp của bản thân tôi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:02:56 PM

III

Vào cuối năm 1971, đế quốc Mỹ sai lầm về chiến lược nên chúng phải gánh lấy những thất bại nặng nề ở chiến trường Campuchia, chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Mỹ - ngụy bị quân dân ta đánh tơi bời, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy và tịch thu nhiều phương tiện chiến tranh. Chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ - ngụy bị quân đội ta đánh bại một bước quan trọng. Từ đây, địch từ thế "chủ động tiến công" đã chuyển vào thế bị động, phòng ngự chống trả lúng túng. Địch càng gắng gượng chống trả thì chúng càng bị sa lầy và thất bại nặng nề hơn.

Về phía ta, quân dân đã vượt qua thời kỳ sau Mậu Thân 1968 - một thời kỳ quân dân ta gặp nhiều khó khăn, gay go ác liệt, hy sinh tổn thất. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, quân đội ta liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường nhất là chiến trường Campuchia, chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Quân dân ta đã chuyển từ thế bị động đối phó sang thế chủ động tiến công và nổi dậy tiêu diệt địch ở khắp nơi, ta đã giành và giữ được dân. Chúng ta đã lớn mạnh lên nhiều cả về thế và lực. Thời cơ chiến lược của ta đã xuất hiện.

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương cuộc tiến công chiến lược năm 1972. đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ sang một giai đoạn mới.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các chiến trường phải ra sức tăng cường chất lượng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng khối quân chủ lực thành quả đấm thép mạnh, về tác chiến: ta tập trung hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt từng trung đoàn phá vỡ từng hệ thống phòng ngự cơ bản của địch. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương mạnh, có đủ sức độc lập hoặc phối hợp đánh bại quân địa phương của địch, phá vỡ hệ thống kìm kẹp và đập tan kế hoạch "bình định" của chúng.

Tháng 12 năm 1971, Bộ Tổng tham mưu nhận được bức điện thượng khẩn của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 với nội dụng: "Để thực hiện phương hướng xây dựng, tác chiến mới của Bộ, Quân khu 5 đề nghị Bộ Tổng tham mưu cử một đoàn cán bộ có trình độ chiến dịch, chiến thuật, công tác tham mưu vào giúp đỡ quân khu huấn luyện, xây dựng và tác chiến khối chủ lực quân khu; đoàn vào càng sớm càng tốt". Bức điện do đồng chí Hai Mạnh (tức Chu Huy Mân, Tư lệnh của Quân khu 5) ký. Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ này cho Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng chọn cán bộ và tổ chức đoàn cán bộ vào Nam theo yêu cầu của Tư lệnh Quân khu 5.

Chúng tôi là những cán bộ, chiến sĩ của Học viện Quân sự được cấp trên tín nhiệm giao nhiệm vụ vào giúp chiến trường Quân khu 5. Đoàn gồm có: một đồng chí thượng tá, một đồng chí trung tá (tôi), bốn đồng chí thiếu tá, một đồng chí y sĩ và một đồng chí công vụ. Đoàn trưởng là đồng chí Thượng tá Nguyễn Năng, Cục trưởng Cục Quân sự Học viện.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:03:57 PM

Trong tháng 12 năm 1971, đoàn chúng tôi được Bộ Tổng tham mưu tổ chức học tập, bồi dưỡng thêm một số vấn đề mới theo yêu cầu thực tế của chiến trường. Trong lớp bồi dưỡng, các đồng chí thủ trưởng Cục Tác chiến, Quân huấn, Khoa học đi sâu giới thiệu phân tích tầm quan trọng về hai chiến thuật ở cấp trung đoàn là bao vây đánh lấn, vận động bao vây tiến công liên tục; công tác tham mưu tác chiến, chiến thuật và chiến dịch cấp trung đoàn, cấp sư đoàn.

Lớp bồi dưỡng kết thúc, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện trực tiếp làm Giám đốc Học viện Quân sự Trung cao của Bộ Quốc phòng dành thời gian một buổi nói chuyện với đoàn. Thiếu tướng Vương Thừa Vũ là một trong những vị tướng tài của quân đội ta. Ông đã từng chỉ huy chiến đấu cấp sư đoàn, nhiều sư đoàn trong các chiến dịch lớn. Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tham gia chỉ huy chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, bẻ gãy hai gọng kìm của bọn thực dân Pháp, phá tan kế hoạch đánh vào khu căn cứ địa cách mạng để tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và tiếp đó ông tham gia chỉ huy chiến dịch Cao - Bắc - Lạng năm 1950. Với đoàn chúng tôi, Thiếu tướng là bậc đàn anh cả về tuổi đời, tuổi quân và trình độ chỉ huy. Trong buổi nói chuyện này, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng đã đi sâu phân tích làm rõ tính chất cấp thiết phải nâng cao trình độ tác chiến chính quy hiệp đồng binh chủng. Chúng ta phải đánh tiêu diệt tương đối lớn quân chủ lực ngụy, phải phá vỡ từng mảng hệ thống phòng ngự cơ bản của chúng Chúng ta chỉ có làm như vậy mới giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân ta sang một giai đoạn mới. Ông xác định nhiệm vụ, vai trò của Học viện Quân sự nói chung, đoàn của chúng tôi nói riêng là phải nâng cao trình độ tác chiến chính quy của toàn quân. Nói về cách đánh của bộ đội chủ lực, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng nhấn mạnh phải huấn luyện cho tốt và chiến đấu giỏi. Phải biết vận dụng sáng tạo chiến thuật bao vây đánh lấn và chiến thuật vận động bao vây tiến công địch liên tục cấp trung đoàn, trung đoàn tăng cường trong thế trận chung của sư đoàn và thế trận chiến tranh nhân dân địa phương. Chúng ta chỉ có vận dụng đúng tất cả hai hình thức chiến thuật trên với quy mô trung đoàn trở lên, mới tiêu diệt được hàng trung đoàn địch và đánh quỵ từng sư đoàn của chúng.

Trong chiến thuật bao vây đánh lấn, ta phải quán triệt phương châm: "Quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt". Đây là tư tưởng chỉ đạo, là bí quyết thành công của chiến thuật vây lấn. Chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục tuy mới xuất hiện ở chiến trường Tây Nguyên, vùng Đắc Tô, Tân Cảnh, nhưng ở miền Nam, chiến thuật này đang được quân đội ta vận dụng đánh địch giành chiến thắng... Chúng tôi coi đây là sự chỉ đạo đoàn vào miền Nam giúp chiến trường Quân khu 5 xây dựng, huấn luyện quân chủ lực trong giai đoạn chuẩn bị đánh địch ở chiến trường lớn.

Cuối buổi nói chuyện, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng xác định: Đoàn quân sự của Học viện chúng tôi mang mật danh là Đoàn Y của Bộ Quốc phòng. Đồng chí yêu Cầu Đoàn 559 phải bảo đảm cho đoàn chúng tôi hành quân bằng cơ giới kịp vào Quân khu 5 trước mùa mưa năm 1972. Đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng còn biên thư cho đồng chí Tư lệnh Quân khu 5. Trong, bức thư có đoạn: "Theo đề nghị của anh, chúng tôi cử Đoàn Y gồm các đồng chí cán bộ có năng lực đáp ứng yêu cầu của chiến trường là tổ chức những trận đánh lớn. Anh lưu ý có nhập, có xuất. Ký tên Vương Thừa Vũ".

Cuộc gặp gỡ kết thúc, Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu cho phép chúng tôi về thăm nhà và ăn tết cùng với gia đình. Sau đó đoàn chúng tôi sẽ vượt đường Trường Sơn đi nhận công tác mới. Chiến trường miền Nam đang chờ đón chúng tôi. Tất cả ai nấy đều vui mừng phấn khởi bởi đã từ lâu rồi chúng tôi mới được về thăm gia đình và quê hương.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:04:38 PM

Đúng ngày 15 tháng 2 năm 1972, đoàn chúng tôi lên đường vào Nam. Với đoạn đường dài gần ba trăm kilômét, từ chân núi Tam Đảo đi qua Hà Nội - Hải Phòng - Nam Định - Hà Nam - Thanh Hoá, bình thường chỉ đi hết một ngày đường nhưng chúng tôi phải đi mất gần một tuần lễ mới hoàn thành việc thu quân từ khắp ngả. Sự kéo dài thời gian này có thể thông cảm được bởi hoàn cảnh của mỗi đồng chí cán bộ, chiến sĩ khác nhau, cuộc tiễn đưa kẻ ở người đi không thể không bịn rịn, nhớ thương. Chúng tôi và mọi người rất hiểu điều đó, vả lại đây là cuộc tiễn biệt người thân đi vào nơi chiến trường gian khổ, bom đạn ác liệt và đầy những sự hy sinh mất mát đau thương, người ra đi có thể may mắn sẽ trở về hoặc không bao giờ trở về nữa. Những giọt nước mắt tràn đầy trong đôi mắt người ra đi, tha thiết trong đôi mắt những người vợ đảm đang và giàn giụa trên những gương mặt bầu bĩnh trẻ thơ của những đứa con bé bỏng. Không ai có thể không cảm động không khóc khi nhìn những cảnh tiễn biệt chồng ra đi vào Nam chiến đấu ở những gia đình như nhà đồng chí Thành đồng chí Bàn, thậm chí ở cả gia đình đồng chí đoàn trưởng Nguyễn Năng. Đồng chí Thành có mẹ già gần tám mươi tuổi đang ốm nặng. Vợ đồng chí là một phụ nữ đảm đang chị đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ trong cảnh nghèo nàn để phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy con cái, động viên chồng yên tâm công tác hơn mười năm ở chiến trường miền Nam từ năm 1961 đến năm 1972. Anh bị thương trong một trận chiến đấu ác liệt nên cấp trên cho ra Bắc điều trị. Vết thương khỏi, anh được điều về Học viện Quân sự Trung cao - Bộ Quốc phòng làm giáo viên. Gia đình và người thân của anh cứ đinh ninh rằng anh không phải vào Nam chiến đấu nữa. Nhưng nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam vẫn còn đang gay go ác liệt, các đồng chí đồng đội của anh vẫn phải tiếp tục ngã xuống, máu của nhân dân miền Nam vẫn đang tuôn chảy trên mảnh đất thân yêu của mình, đòi hỏi anh lại phải lên đường vào Nam chiến đấu. Anh cũng đã tự xác định bản thân anh phải có quyết tâm cao. Nhưng trước hoàn cảnh gia đình như vậy, cuộc tiễn đưa ở gia đình nhà anh đã diễn ra bốn ngày liền, dùng dằng lưu luyến mãi anh mới dứt bước lên đường được. Còn ở gia đình đồng chí Bàn cũng rất cảm động. Nhà anh nằm ở xóm Rịa, thị trấn Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Nhà anh Bàn, chị An cũng nghèo lắm. Ngôi nhà hạnh phúc của anh chị là một túp lều tranh, vách đất xiêu vẹo. Một mình chị An nuôi dạy năm con ăn học trong sự vất vả, tảo tần. Chị phải vượt qua không biết bao nhiêu gian khó trong suốt mười bốn năm đằng đẵng anh chiến đấu trên các chiến trường miền Nam. Đến năm 1971, anh mới được chuyển ra Bắc. Niềm vui được công tác và chiến đấu gần quê hương, gần gia đình của anh đã không được trọn vẹn khi trong người anh đầy những vết thương tật của các cuộc chiến đấu để lại cùng với căn bệnh viêm gan quái ác chưa được chữa lành. Chị An còn rất trẻ, kém anh đến sáu, bảy tuổi, vừa xinh đẹp vừa đảm đang. Bên ngoài chị vẫn tươi cười động viên chồng tiếp tục đi chiến đấu nhưng chúng tôi hiểu rằng đằng sau nét mặt tươi vui ẩn khuất nhiều những đắn đo suy nghĩ, chất chứa trong lòng chị. Các con của anh chị rất ngoan, cháu đầu đã học hết cấp hai, còn cháu Sơn mới sinh được vài tháng. Cuộc tiễn đưa này cũng phải kéo dài đến hai ngày.

Cuối cùng, chúng tôi cũng lên đường đầy đủ với số quân định ra cho đoàn. Đoàn Y chúng tôi có mặt tại nhà đồng chí Sư trưởng Nguyễn Năng, đây là điểm chốt của đoàn lên đường vào Nam chiến đấu. Rời khỏi Hà Trung - Thanh Hoá, đoàn chúng tôi bắt đầu đi vào tuyến lửa Quân khu 4. Ngày nào xe cũng phải chạy vượt qua bao trọng điểm mà bọn Mỹ đánh phá quyết liệt. Những trọng điểm nóng như cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá), cầu Giát (Quỳnh Lưu - Vinh), Bến Thủy, Đèo Ngang (Hà Tĩnh), phà Giành (Đồng Hói), đèo Long Đại (Quảng Bình)... là những nơi luôn có máy bay địch luân phiên tuần tiễu trên không. Nếu chúng phát hiện thấy xe ta qua cầu, qua đò, chúng sẽ huy động ngay lực lượng không quân đến bắn phá điên cuồng hòng phá hủy mọi phương tiện vận chuyển của ta, ngăn chặn sự chi viện của ta vào chiến trường miền Nam. Trên các chặng đường này, xe của chúng tôi phải đi vào ban đêm. Một lần, xe vượt qua phà Long Đại đã bị máy bay B.52 Mỹ đánh phá, cả hai bên bến phà hai đoàn công tác khác có mười đồng chí bị thương và hy sinh; nhà cửa cây cối hai bên đầu phà bị bom san phẳng, nhưng rất may mắn đoàn chúng tôi được an toàn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:05:07 PM

Đoàn chúng tôi đã vượt qua được tuyến lửa Quân khu 4 đi vào rừng Trường Sơn. Việc đầu tiên của chúng tôi là tìm gặp Bộ Tư lệnh Đoàn 559 để đổi xe và nhận kế hoạch nhằm bảo đảm đi bằng xe cơ giới hết phạm vi hoạt động của Đoàn 559 trên đất Trung - Hạ Lào giáp với khu vực Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum và ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Chúng tôi đến trạm đón tiếp của Đoàn 559 và phải ở đó ba ngày mới được vào gặp anh Đồng Sĩ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559. Anh Đồng Sĩ Nguyên - nguyên là Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách quân sự địa phương. Anh là một cán bộ năng động, sáng tạo, đã có nhiều đóng góp vào sự hình thành và phát triển công tác quân sự địa phương, chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Để vào được chỗ làm việc của Tư lệnh Đoàn 559 lúc bấy giờ rất khó khăn, vì phải bảo đảm nguyên tắc bí mật, tránh máy bay địch bất ngờ phát hiện, đánh phá hủy diệt cơ quan đầu não quan trọng đó của đoàn. Với sự đồng ý của cơ quan Tư lệnh Đoàn 559, đoàn chúng tôi cử hai đồng chí là tôi và đồng chí Đoàn trưởng Nguyễn Năng đi theo sự dẫn đường của một đồng chí sĩ quan tác chiến 559 để vào gặp đồng chí Tư lệnh Đoàn 559. Chúng tôi ngồi trên chiếc xe Uoát (xe Liên Xô), lội suối dài ngoằn ngoèo gần ba kilômét dưới vòm cây rừng phủ kín. Chỗ nào không có cây rừng che phủ thì xe lại được phủ kín bằng những giỏ hoa phong lan rừng một cách kín đáo khiến cho tất cả các loại máy bay địch không thể nào phát hiện được.

Gặp chúng tôi, anh Đồng Sĩ Nguyên rất phấn khởi bởi chúng tôi đã cùng công tác với anh ở Cục Dân quân tự vệ một thời gian, sau đó anh mới vào chiến trường chỉ huy. Tuy công việc của anh khá bận nhưng anh vẫn dành thời gian nửa ngày để đón tiếp đoàn, bàn bạc công tác nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn cho Đoàn Y tới địa điểm trước mùa mưa như đã định. Trước hết, anh Đồng Sĩ Nguyên nói tóm tắt về những hoạt động của đường dây 559. Đây là một phạm vi bảo đảm cơ động vận chuyển chi viện cho miền Nam. Chu trình hoạt động khá dài, khá ác liệt bắt đầu từ điểm nút phía nam miền Bắc vào đến hết chiến trường miền Nam Khu 5 và Khu 6, miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Đoàn vào đến Khu 5, gần nửa đường Trường Sơn. Nếu đi bằng xe thì mất một tháng còn đi bộ cũng phải từ hai mươi đến ba mươi ngày mới vào đến sở chỉ huy Quân khu 5 (rừng Quảng Nam). Tuy vào thời điểm này (năm 1972) hoạt động của địch về biệt kích, càn quét trên toàn tuyến đường có giảm nhưng chúng vẫn hoạt động đánh phá bằng máy bay phản lực, tăng cường quyết liệt sự hoạt động của máy bay B52. Đặc biệt hơn, chúng bắn phá bằng máy bay C130 được trang bị bằng tia lade. Đây là thủ đoạn đánh phá mới rất nguy hiểm. Dù ban ngày hay ban đêm, nếu máy bay C130 tuần tiễu, phát hiện được mục tiêu xe ta đang cơ động, chúng sẽ điều khiển rốc két kéo theo tia hồng ngoại dẫn thẳng xuống mục tiêu, đánh phá liên tiếp. Có những đợt chúng hoạt động oanh tạc dữ dội, Đoàn 559 bị phá hủy hàng chục chiếc xe liên tiếp, gây cho ta khá nhiều thiệt hại. Bộ chỉ huy ta đang tìm cách phá tan thủ đoạn này của địch để đảm bảo an toàn giao thông của tuyến. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên cho biết, theo kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu, Đoàn 559 sẽ trang bị cho đoàn chúng tôi một xe vận tải cỡ lớn để đảm bảo đi suốt được một phần hai đường Trường Sơn. Trên đường, các trạm của Đoàn 559 có trách nhiệm bảo đảm ăn, ở cung cấp lương thực, thực phẩm, quân y cho đoàn... Khi nào đi hết đường bộ vào Quân khu 5 thì đoàn tự lo theo các trạm giao liên địa phương.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:05:44 PM

Trong ba ngày chờ đợi ở trạm thường trực Đoàn 559, tôi giở thư của con gái nuôi ra đọc, trong thư con gái tôi viết: "Con ở Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Khi nào bố vào Nam chiến đấu, con sẽ đón bố ở đường Hồ Chí Minh". Có lẽ điều mơ ước vu vơ và những lời hứa xa xôi của con gái tôi sẽ trở thành sự thật? Một sự linh cảm xuất hiện trong tôi, tôi quyết định cầm điện thoại quay máy gọi sang trạm thông tin 559 với niềm tin tôi sẽ gặp được con gái nuôi của tôi ở đấy. Tôi hỏi:

- Alô! Có ai là Phạm Thị Nhàn quê ở Hải Phòng không?

- Có! - Đầu dây bên kia vang lên giọng nói nhỏ nhẹ của người con gái mà tôi không ngờ chính là đứa con gái nuôi yêu quý của tôi. Hai bố con bất ngờ gặp nhau trên đường dây điện thoại. Con gái tôi vì cảm động quá đã không nói được lời nào, chỉ nghẹn ngào nức nở. Sau đó, con gái tôi đã sang gặp bố. Hai bố con tôi mừng mừng tủi tủi, không ngờ lại gặp được nhau giữa chiến trường đạn bom ác liệt và trong rừng Trường Sơn sâu thẳm này. Chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò, hàn huyên về chuyện nhà, chuyện quê hương, chuyện sản xuất và chiến đấu ở quê nhà, rồi chuyện của con gái tôi đảm bảo giao thông liên lạc Đoàn 559 ra sao... Từ chuyện này níu sang chuyện khác, có biết bao câu chuyện được để dành và cất kín trong lòng nay mới được kể ra. Suốt ba năm, từ năm 1970 đến năm 1972, tôi chỉ nhận được duy nhất một lá thư từ Trường Sơn của con gái gửi về hỏi thăm. Giờ đây tôi không tin vào mắt mình khi con gái đang ngồi bên cạnh tôi. Tôi quay người ra và ngắm nhìn con. Nó gầy đi nhiều quá, nước da bị sốt rét rừng tái xanh tái xám, chân tay con gái mà đầy sẹo... Niềm thương con vô bờ rưng rưng trong tôi nhưng tôi thật tự hào về sự lớn khôn trưởng thành của con gái và những việc nó đã làm trong thời gian qua.

Thời gian ngắn ngủi cho cuộc gặp gỡ của hai bố con tôi đã hết. Đoàn Y chào tạm biệt anh Đồng Sĩ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559 để đến Cục Hậu cần 559 nhận một chiếc xe tải loại tốt. Trước kia, đoàn tôi đi bằng xe con, giờ thay bằng xe tải. Xe to lại ít người nên chạy rất xóc, đến nỗi tất cả anh em đều bị nôn ói. Ngày hôm sau, chúng tôi nảy ra sáng kiến xin Đoàn 559 cho một tấn gạo gồm hai mươi bao xếp trong thùng xe để làm đầm xe, lại vừa tạo thành một công sự tránh mảnh bom đạn địch khá tốt. Nhờ có sáng kiến này mà hành trình của chúng tôi gặp nhiều thuận lợi hơn, tất cả mọi người đều tỉnh táo, tinh thần minh mẫn, sáng suốt.

Từ Bộ Tư lệnh Đoàn 559 đến Binh trạm 44 ngang với bắc tỉnh Kon Tum có một lối rẽ đi vào sở chỉ huy Quân khu 5 dài chừng hơn một nghìn kilômét đường rừng. Đoàn chúng tôi phải đi hơn bốn tuần lễ trên những đoạn đường đầy khó khăn và nguy hiểm, cây cối chằng chịt, trèo đèo lội suối khúc khuỷu, gập ghềnh. Có đoạn đường xuyên qua những khu rừng già, cây cao hai ba tán kín đáo nhưng có đoạn đường nằm phơi mình trên đồi trọc do cây cối ở đó đã bị bom đạn địch cày xới san phẳng kéo dài hàng chục cây số. Có đoạn xe phải đi dưới lòng suối cạn nhưng cũng may vì có các vòm cây phủ kín mặc cho xe đi suốt cả ngày mà máy bay trinh sát OV10 của Mỹ bay vè vè trên đầu cũng không phát hiện được. Xe ta cứ thế nối đuôi nhau hàng chục chiếc nhưng cũng có nhiều đoạn đường mà chỉ có thể đi vào ban đêm mới không gặp nguy hiểm bởi máy bay Mỹ đánh phá. Đoạn đường nguy hiểm nhất là đèo Uốn Mãn (Lào). Đây là một đoạn đèo có một số đồi nối tiếp nhau. Đường Trường Sơn chủ yếu đi men theo đồi cao, khe sâu và vực thẳm mà ở đây địch đã dùng bom đạn đánh phá hủy diệt nhiều lần. Có tới hàng chục chiếc xe lớn, nhỏ của ta bị chúng đánh phá nằm ngổn ngang trong lòng vực thẳm. Anh em lái xe gọi đèo này là đèo "ướn sườn cửa tử" nên có nhiều lái xe lạ đến đây không dám vượt qua. Đoàn 559 đã bố trí sẵn số lái xe chuyên trách để đưa xe vượt qua đèo Uốn Mãn an toàn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:06:22 PM

Gần đến đoạn đèo Uốn Mãn, đoàn chúng tôi phải dừng lại ba ngày để tránh địch đánh phá cao điểm bằng máy bay C130 có sử dụng tia hồng ngoại. Đồng thời, cần phải tu sửa xe để vượt đèo vào ban đêm. Điều may mắn cho đoàn chúng tôi là Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân cho "Tháo nhỏ SAM 2" để vận chuyển theo đường 559 vào khu vực này. Các đồng chí kỹ thuật tên lửa đã lắp lại để sử dụng và bắn hạ được hai máy bay C130 của Mỹ góp phần đánh bại thủ đoạn đánh phá mới của địch. Xe của đoàn chúng tôi và xe của các đoàn khác đều vượt đèo Uốn Mãn an toàn.

Binh trạm 44 do Thiếu tá Vũ Xuân Phương chỉ huy trưởng, anh là bạn đồng nghiệp với tôi ở Khoa Chiến tranh du kích, Học viện Trung cao Quân sự. Vì là những người quen biết và cùng là người miền Bắc nên khi gặp chúng tôi, anh Vũ Xuân Phương rất vui mừng, tổ chức liên hoan chào đón chúng tôi thân mật.

Cuộc hành trình bằng xe cơ giới trên đường Trường Sơn kết thúc, đoàn chúng tôi chuyển sang giai đoạn hành quân bộ vào Quân khu 5. Đây là giai đoạn gian khổ hơn nhiều so với chặng đường mà mọi người đã đi qua. Qua những lời tâm sự của đồng chí Phương, tôi hiểu sâu thêm về tổ chức Binh trạm 44. Đây là một trong những hàng chục binh trạm của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Binh trạm 44 có ban chỉ huy trạm, cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần; có hai tiểu đoàn vận tải với hàng trăm xe, hai tiểu đoàn pháo phòng không 37 ly và 14,5 ly; có hai tiểu đoàn bộ binh, một đại đội thông tin và một trung đội trinh sát được tổ chức thành những cung trạm nhỏ để đưa đón cán bộ, bộ đội vận chuyển hàng từ miền Bắc vào miền Nam. Ngoài ra, trạm còn đưa đón thương bệnh binh, các cụ già và trẻ em từ miền Nam ra miền Bắc chữa bệnh hay đi học. Đồng chí Xuân Phương còn kể cho tôi biết tin về người bạn của tôi, một người bạn mà tôi không thể nào quên - Võ Sĩ Năm Khiêm. Anh đã từng là người nhảy sào giỏi nhất Đông Dương thời Pháp thuộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh là một cán bộ đại đội trưởng. Sau đó, anh ra miền Bắc, về Học viện Trung cao Quân sự làm giáo viên Khoa Chiến tranh du kích cùng tôi. Rồi anh lại vào Nam làm chỉ huy trưởng Binh trạm Thác Bạc ở Campuchia, gần lối rẽ vào miền Đông Nam Bộ. Anh thường trực tiếp chỉ huy các đoàn xe vận tải, nhưng anh đã hy sinh anh dũng trong chiến dịch vận tải vào năm 1972. Biết được tin này, tôi vô cùng đau xót nhớ thương anh. Đó là người con yêu quý của quê hương miền Tây Nam Bộ ngay thẳng, thật thà và dũng cảm. Nói đến Năm Khiêm, hẳn không ai quên được anh - người hay uống rượu mà không bao giờ say, biết nhiều tiếng nước ngoài. Anh uống một chai thì nói tiếng Việt, uống hai chai thì nói tiếng Anh. Khi nói tiếng Anh thì ai mời rượu anh cũng không uống nữa.

Trước khi đoàn chuyển sang hành quân bộ vào Quân khu 5, đồng chí Nguyễn Năng - Trưởng đoàn giao nhiệm vụ cho tôi đưa anh Bàn đi bệnh xá quân y Binh trạm 44 khám bệnh. Các đồng chí y, bác sĩ ở đây đã cho tôi biết: Bệnh viêm gan của anh Bàn đang ở thời kỳ phát triển, có dấu hiệu xơ gan cổ trướng, anh không thể tiếp tục hành quân được. Do vậy, chúng tôi đã đưa anh Bàn đi nằm điều trị tại bệnh viện Đoàn 559 trên đường Trường Sơn.

Chúng tôi phải tạm biệt anh Bàn và tiếp tục hành quân bộ vào Quân khu 5. Ở chiến trường, tôi chờ mong tin anh Bàn hàng ngày, hàng tháng mà vẫn bặt âm vô tín. Sau này, tôi mới biết được tin anh Bàn đã hy sinh tại bệnh viện Đoàn 559. Tôi nhớ thương anh da diết, một con người đã vượt qua khó khăn gian khổ trong bệnh tật của bản thân, trong tình cảm gia đình quyết tâm đi chiến đấu với tư tưởng cao đẹp "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Tôi mãi mãi không bao giờ gặp lại anh nữa.
Anh hy sinh là một niềm đau xót lớn của gia đình, để lại người vợ trẻ và năm đứa con thơ dại. Đoàn Y chúng tôi vắng bóng anh là vắng đi một người cán bộ lãnh đạo chỉ huy tài năng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:06:56 PM

Đầu tháng 4 năm 1972, đoàn chúng tôi vào đến sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ở khu vực Dóc Voi, rừng Quảng Nam. Đến đây, lực lượng đoàn cán bộ của học viện đã bị rơi rớt dần. Trên đường đi, ai cũng bị căn bệnh sốt rét quái ác hoành hành đành phải nằm lại tại các trạm giao liên ba, bốn ngày. Người bị sốt đầu tiên là đồng chí quân y, rồi đến đồng chí Thiết, đồng chí Thành, tiếp theo là tôi và đồng chí Hải. Chỉ có đồng chí Trưởng đoàn Nguyễn Năng và đồng chí công vụ không bị nhiễm căn bệnh ác tính này. Đây mới chỉ là chặng đường hành quân từ miền Bắc vào tới rừng Quảng Nam Trung Bộ, còn một chặng đường đầy gian khổ và tự hào cách mạng đang đợi chúng tôi ở phía trước, chúng tôi sẽ phải vượt đi vượt lại Đông Trường Sơn, nhưng chủ yếu phải vượt Tây Trường Sơn.

Vào đến Bộ Tư lệnh Quân khu 5, theo thường lệ, đoàn chúng tôi vinh dự được đến chào và dự buổi liên hoan với Thường vụ Khu ủy. Chúng tôi đã được nghe anh Năm Cồng - Bí thư Khu ủy giới thiệu về tình hình chiến trường miền Nam và Quân khu 5. Anh Hai Mạnh - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nói với chúng tôi nửa đùa nửa thật: "Vào chiến trường Quân khu 5, ai muốn ra nhanh thì làm việc loay hoay thôi. Nếu ai làm việc tích cực sẽ biến thành người của Quân khu 5 luôn". Tiếp theo, anh phổ biến để đoàn chúng tôi nắm vững về tình hình lực lượng của địch hoạt động trên chiến trường và tình hình hoạt động của ta. Trong đó, anh nhấn mạnh âm mưu nham hiểm của địch hiện nay khi chúng đang ra sức đẩy mạnh càn quét bình định hòng tiếp tục đẩy lực lượng chiến đấu của ta ra xa, gom dân vào các ấp chiến lược để địch cố tình thực hiện một âm mưu lớn "Tách cá ra khỏi nước". Trọng tâm đánh phá của địch là vùng bắc Quảng Nam, nam Quảng Ngãi, nam Bình Định. Về phía ta chúng ta tiếp tục chỉ đạo các lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang địa phương tích cực, kiên quyết chiến đấu chống phá lại các cuộc càn quét bình định của địch. Lực lượng chủ lực của tỉnh, khu đang tập trung huấn luyện để chuẩn bị cho những trận đánh lớn vào Thu Đông năm 1972. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đang chuẩn bị mở lớp tập huấn tỉnh đội, sư đoàn (chiến dịch) tại quân khu bộ, tiếp đó sẽ mở lớp tập huấn tiểu đoàn, trung đoàn chiến thuật tại Trường Quân chính quân khu ở An Lão, Bình Định. Anh Hai Mạnh rất phấn khởi hoan nghênh sự có mặt kịp thời của Đoàn Y chúng tôi. Tất cả có nhiệm vụ cùng cơ quan quân khu làm tốt hai lớp tập huấn này.

Sau cuộc gặp Bộ Tư lệnh Quân khu 5, đoàn chúng tôi được tách làm hai bộ phận: Một bộ phận chiến thuật gồm đồng chí Hải, đồng chí Thành và đồng chí Thiết lại tiếp tục hành quân vượt Đông Trường Sơn men theo các dãy núi từ Quảng Nam qua Quảng Ngãi vào Bình Định để giúp Trường Quân chính quân khu chuẩn bị cho lớp tập huấn chiến thuật toàn quân khu. Một bộ phận gồm tôi và anh Nguyễn Năng ở lại quân khu bộ cùng với đồng chí Hải - Phó tư lệnh Quân khu, đồng chí Nam Khánh - Chủ nhiệm chính trị Quân khu có nhiệm vụ giúp quân khu tiến hành huấn luyện lớp chiến dịch cho các đồng chí sư trưởng, sư phó, tỉnh trưởng, tỉnh phó toàn quân khu.

Trong lớp tỉnh đội, sư đoàn của Quân khu 5, anh Nguyễn Năng giảng bài chiến dịch tấn công tổng hợp. Còn tôi giới thiệu bài công tác tham mưu cấp sư đoàn, trung đoàn và chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục cấp trung đoàn. Qua học tập nghiên cứu, các đồng chí sư đoàn, tỉnh đội đều nhất trí cao với tình hình hiện nay, Bộ cho biên soạn tài liệu về chiến dịch tổng hợp và chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục cấp trung đoàn là rất phù hợp với đặc điểm tình hình lực lượng giữa địch và ta trên chiến trường. Các đồng chí đánh giá cao vai trò của hình thức chiến dịch và chiến thuật này. Ai cũng tin tưởng rằng nó sẽ góp phần rất quan trọng trong giai đoạn quân đội ta đang đẩy mạnh tác chiến với quy mô ngày càng lớn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:07:38 PM

Trong lớp tập huấn chiến dịch của quân khu, chúng tôi được quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về đánh phá âm mưu càn quét bình định của địch, giành và giữ dân của ta. Trong chỉ thị Bộ Chính trị Trung ương nêu rõ: Địch đang dồn toàn bộ lực lượng kể cả chủ lực và địa phương bằng các thủ đoạn quân sự, chính trị, tâm lý, bằng cả "Bàn tay sắt và bàn tay nhung" đánh phá, hủy diệt kết hợp dụ dỗ mua chuộc để càn quét bình định, gom cho được từ 70 đến 80% nhân dân miền Nam vào các ấp chiến lược. Địch có mưu đồ chủ động phá sự chuẩn bị cho hoạt động mùa khô của quân ta. Với chúng ta, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã xác định rõ: "Chống địch càn quét bình định, giành và giữ dân là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Phải phát huy sức mạnh tổng hợp ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận và các mặt đấu tranh khác để đánh bại âm mưu thâm độc này của địch. Với khối chủ lực của quân khu, của toàn Miền, thời gian này cũng phải tích cực tham gia chống địch bình định, gom dân, lập ấp chiến lược".

Để thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, nhiều vấn đề được đặt ra và nhất là giải quyết thông suốt tư tưởng cán bộ trung cao cấp trong hội nghị tập huấn chiến dịch này. Trước hết, chúng ta phải nhận thức sâu sắc rằng: "Nếu không đánh bại được âm mưu càn quét bình định của địch, không giành và giữ được dân, thì ta không còn thế và lực để đẩy mạnh tác chiến tập trung, quy mô lớn được". Nhưng nếu dốc hết chủ lực ra phân tán cùng các lực lượng khác chống phá bình định giành và giữ dân thì không còn lực lượng để huấn luyện, chuẩn bị đánh lớn được. Đứng trước mâu thuẫn giữa tập trung hay phân tán chủ lực, đồng chí Hai Mạnh - Tư lệnh quân khu tài ba được Bác Hồ tặng cho tên "Hai Mạnh" - nghĩa là anh chỉ đạo mạnh cả chính trị và quân sự, hạ quyết tâm nhanh chóng và rất sáng tạo với chủ trương đưa toàn bộ lực lượng chính trị, quân sự của địa phương có sự phối hợp một phần ba lực lượng của quân khu phân tán hỗ trợ, còn hai phần ba lực lượng quân khu đi vào huấn luyện chuẩn bị cho chiến dịch, cho những trận đánh lớn của quân ta tạo nên sức mạnh tổng hợp tại chỗ đánh bại âm mưu bình định của địch. Chủ trương này được Khu ủy Quân khu 5 nhất trí thông qua và quán triệt kịp thời ngay cho các sư đoàn, tỉnh đội trong lớp tập huấn để triển khai thực hiện. Ban đầu có một số đồng chí còn thắc mắc nhưng đến khi quân khu đánh thắng địch trong chiến dịch Ba Tơ, Nông Sơn - Trung Phước thì tất cả mọi người đều hoan nghênh chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 là đúng đắn và sáng tạo.

Lớp tập huấn chiến dịch ở quân khu kết thúc, anh Nguyễn Năng ở lại quân khu công tác. Sau đó, anh lên Tây Nguyên làm Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, anh là phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 3, anh đã lãnh đạo quân đoàn chiến đấu đến khi Chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng, anh về lại Học viện Quốc phòng làm Phó giám đốc.

Còn tôi, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ quyền Trưởng phòng Quân huấn quân khu thay anh Quách Từ Hợp đi công tác với đồng chí Bảy Râu - Thường vụ Khu ủy phụ trách dân vận và phụ trách phía nam Khu 5. Thời gian đầu, quân khu giao nhiệm vụ cho tôi vào Trường Quân chính quân khu ở Bình Định cùng đồng chí Thượng tá Phan Viên - Hiệu trưởng Trường Quân chính giúp quân khu tổ chức lớp tập huấn chiến thuật cho cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn toàn quân khu. Tôi lại vượt đường Trường Sơn nhưng lần này tôi vượt Đông Trường Sơn. Tôi đi dựa theo vùng rừng núi phía đông qua các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Trường Quân chính quân khu nằm ở thung lũng An Lão, tỉnh Bình Định. Để chuẩn bị cho cuộc hành quân của ta, anh Hoàn - Phó tham mưu trưởng, Bí thư Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu quân khu phụ trách nội bộ điều cho tôi một chiến sĩ vệ binh đi làm cần vụ, cấp cho tôi một khẩu tiểu liên AK và một trăm viên đạn. Mỗi người một bộ trang bị đi rừng gồm tăng, võng, bạt, áo mưa loại ni lông nhẹ, nước mắm và mười lăm ngày gạo đủ ăn vào đến nơi. Đồng thời, anh còn cấp cho tôi một bản đồ khu vực phía bắc Quân khu 5 để tự tìm đường đi. Bởi vì khu vực rừng núi ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định có vài vị trí địch ở Ba Tơ hay Giá Vụt, không còn các trạm giao liên dẫn đường.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Ba, 2016, 10:08:26 PM
   
Tạm biệt cơ quan đoàn bộ Quân khu 5, tạm biệt các anh em đồng chí, hai thầy trò tôi bắt đầu lên đường vượt Đông Trường Sơn. Khó khăn lớn nhất của chúng tôi lúc này là cả thầy và trò đều là tân binh ở chiến trường, chưa thông thuộc địa hình mà nhìn vào bản đồ, con đường vào Bình Định phải vượt đi vượt lại nhiều lần. Để khắc phục khó khăn, tôi vừa xem bản đồ đi theo góc phương vị, vừa kết hợp hỏi nhân dân địa phương và đi theo người đi đường. Khi vượt sông, chúng tôi phải cho quần áo, gạo vào vải ni lông gói lại tạo thành phao bơi. Tôi kéo phao dụng cụ sang trước rồi quay lại để cậu cần vụ bám vào phao của tôi kéo sang sau. Trên đường đi, vì phải vượt sông nhiều lần nên tôi đã huấn luyện cho cậu cần vụ biết bơi. Cuộc hành quân kéo dài, khiến chúng tôi đã hiểu về nhau nhiều hơn. Người chiến sĩ của tôi tên là Nguyễn Văn Đáng, đã có vợ và một con. Anh là giáo viên dạy cấp hai, vừa mới xung phong đi bộ đội vào Nam đánh Mỹ từ cuối năm 1971. Anh là lính vệ binh của Quân khu 5. Dáng người anh cao to, khỏe mạnh, tính tình điềm đạm. Quê anh ở gần cầu Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Vì nhà ở gần sông mà sông ở đây có rất nhiều ba ba, bố mẹ anh vì sợ ba ba cắn đã không cho anh tập bơi. Chính vì thế đến bây giờ anh mới biết bơi do tôi dạy.

Đúng mười lăm ngày, tôi và đồng chí cần vụ đã đến Trường Quân chính Quân khu 5. Với đoạn đường rừng dài hơn ba trăm kilômét, chúng tôi phải lặn lội hành quân đầy gian truân vất vả tự tìm đường đi, khắc phục bơi lội. Các đồng chí trong Ban Giám hiệu và tổ chiến thuật của Đoàn Y chúng tôi vào ở thời gian trước thấy chúng tôi đến đã vui mừng chào đón. Nhất là anh Phan Viên, bạn giáo viên với tôi khi còn giảng dạy ở Học viện Trung cao Quân sự. Phải nói rằng anh Phan Viên có một đặc điểm riêng mà cả cơ quan học viện không bao giờ quên. Dáng người anh rất đẹp, đã từng đạt giải Người đẹp Đông Dương trong Hội thi người đẹp Đông Dương khi anh còn là sinh viên trường Đại học Huế. Anh rất vui tính, thích đá bóng và đánh cờ tướng. Anh gia nhập quân đội từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, từng làm tiểu đoàn phó. Khi tập kết ra Bắc, anh về làm giáo viên Khoa Bộ binh ở Học viện Trung cao Quân sự - Bộ Quốc phòng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ xảy ra, anh trở lại miền Nam chiến đấu, anh được cử làm Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân khu 5. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi anh làm Tùy viên Quân sự tại nước Cộng hoà Bungari.

Sau mấy phút thăm hỏi, chúng tôi chuyển sang bàn về lớp tập huấn chiến thuật. Anh Phan Viên báo cho tôi biết: quân số toàn lớp có 105 cán bộ gồm các tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, trợ lý tác chiến và tham mưu trung đoàn, trong đó Sư đoàn 3 gửi năm cán bộ đại đội trưởng. Thao trường, chiến thuật đã chuẩn bị xong. Ngày 10 tháng 6 năm 1972, lớp tập huấn chiến thuật sẽ khai mạc.

Theo quyết định của quân khu, lớp tập huấn chiến thuật này tiến hành trong hai tháng. Lớp chỉ học hai hình thức chiến thuật theo tài liệu mới của Bộ là: Bao vây đánh lấn và Vận động bao vây tấn công liên tục cấp trung đoàn. Chúng tôi thống nhất phấn đấu dạy cho người học nắm vững nguyên tắc chiến thuật, biết vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thống nhất về động tác đội ngũ chiến thuật để về huấn luyện thực binh cho đơn vị. Mỗi hình thức chiến thuật đều huấn luyện theo hai giai đoạn: Học nguyên tắc chiến thuật và làm bài tập, tập đội ngũ chiến thuật (thực binh). Để học viên nắm được hành động các phân đội, trên cương vị Trưởng phòng Quân huấn quân khu, tôi vào Sư đoàn bộ binh 3 ở Kim Sơn lấy một tiểu đoàn huấn luyện thực binh chiến thuật bao vây đánh lấn, một tiểu đoàn huấn luyện chiến thuật vận động bao vây, tiến công liên tục để diễn tập thực binh cho lớp tập huấn của quân khu tham quan rút kinh nghiệm.

Từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 năm 1972, trong khi tôi đang say sưa công tác cùng tổ chiến thuật Đoàn Y của Bộ để giúp Trường Quân chính quân khu tiến hành lớp tập huấn chiến thuật của quân khu và cộng tác với Sư đoàn 3 huấn luyện thực binh hai tiểu đoàn để diễn tập phục vụ lớp tập huấn, tôi nhận được một bức điện của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 do anh Hai Mạnh - Tư lệnh Quân khu ký. Nội dung bức điện ghi: "Trung tá Quyết Tâm - quyền Trưởng phòng Quân huấn quân khu về giữ chức Phó tham mưu trưởng Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5. Có mặt trước ngày 18 tháng 8 năm 1972". Bức điện không ghi địa chỉ của Sư đoàn 2 nằm ở vùng nào nên tôi rất băn khoăn, lúng túng. Tôi trao đổi với anh Trần Bá Khuê - Sư trưởng và anh Nguyễn Thường - Tham mưu trưởng Sư đoàn 3. Dựa vào hướng hoạt động của Sư đoàn 2 ở vùng nam Quảng Ngãi, bắc Bình Định, chúng tôi phán đoán Sư đoàn 2 có thể hoạt động ở vùng Vực Lim huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày chia tay đã đến, tôi tạm biệt Sư đoàn 3, Trường Quân chính Quân khu 5, tạm biệt các anh Phan Viên, Trần Bá Khuê, Nguyễn Thường..., tạm biệt tổ chiến thuật Đoàn Y - Bộ Quốc phòng, thầy trò tôi lại lên đường vượt Đông Trường Sơn, ngược dòng sông Tang để tìm đến Sư đoàn 2 Quân khu 5 là nơi mà tôi sắp về công tác.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:04:04 AM

*
* *

Sư đoàn bộ binh 2 là một sư đoàn chủ lực cơ động mạnh. Sư đoàn được bộ chỉ huy giao nhiệm vụ đảm nhiệm hướng chiến lược chủ yếu của Quân khu 5 (Đà - Nam - Ngãi). Là một sư đoàn hình thành và phát triển giữa những ngày cả nước sôi sục khí thế "Quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược" trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thần thánh của nhân dân ta. Sư đoàn bộ binh 2 được thành lập ngày 20 tháng 10 nảm 1965 ở làng An Lâm, xã Phước Hòa, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam - quê hương anh hùng đi đầu trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương, bảo vệ Tổ quốc. Đội hình chiến đấu của sư đoàn trong buổi đầu thành lập gồm có Trung đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn Ba Gia), Trung đoàn bộ binh 21, Tiểu đoàn bộ binh 70, Tiểu đoàn pháo binh 12, Tiểu đoàn 14 pháo phòng không và các đơn vị bảo đảm.

Qua mười năm, Sư đoàn bộ binh 2 đã liên tục chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975. Với tinh thần bền bỉ, vượt qua mọi thử thách ác liệt, các cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 2 đã chiến đấu ngoan cường, quả cảm, quyết hy sinh để tiêu diệt kẻ thù. Sư đoàn đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, luôn bám sát chiến trường, bám sát địa phương, bám sát quần chúng kết hợp nhuần nhuyễn giữa tiến công quân sự với đấu tranh binh vận, hỗ trợ cho lực lượng quần chúng nổi dậy diệt giặc phá kìm, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện cho quần chúng vừa sản xuất vừa chiến đấu. Sư đoàn đã kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến và xây dựng, vận dụng nhiều cách đánh táo bạo, linh hoạt trong chiến thuật, tham gia nhiều chiến dịch lớn. Từ những chiến dịch đó đã hình thành trong lòng mỗi người cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 2 tinh thần chiến đấu sục sôi ngọn lửa căm thù giặc, họ quyết chiến đấu đến cùng để giành thắng lợi, lập nhiều chiến công vang dội, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Sau ngày đất nước ta được hoàn toàn giải phóng, Sư đoàn 2 vẫn giữ vững ý chí tiến công, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Khi bọn Pôn Pốt, Iêng Xari xâm lược nước ta, sư đoàn đã chiến đấu anh dũng đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Tây Nam của Tổ quốc. Sư đoàn đã cùng với bộ đội quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng giải phóng Chính phủ Campuchia tiến hành cuộc "tiến công thần tốc dũng mãnh đánh nhanh, thắng lớn, tiêu diệt toàn bộ lực lượng của bọn Pôn Pốt" giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Sư đoàn bộ binh 2 đã không ngừng rèn luyện nâng cao chất lượng về mọi mặt góp phần tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng của địch, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Tổ quốc.

Sư đoàn đã vinh dự được Đảng và Nhà nước hai lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong sư đoàn có ba trung đoàn, năm tiểu đoàn, mười sáu đại đội và năm cán bộ, chiến sĩ đã được Đảng và Chính phủ phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sư đoàn được mệnh danh là "Sư đoàn thép".

Bản tuyên dương anh hùng của Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 8 tháng 5 năm 1975, có đoạn viết: "Mười năm qua, Sư đoàn 2 đã nêu cao tinh thần tích cực tiến công tiêu diệt địch, bền bỉ khắc phục khó khăn gian khổ, vận dụng nhiều cách đánh táo bạo, linh hoạt, tham gia nhiều chiến dịch lớn, lập nhiều chiến công vang dội...”.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:04:41 AM

Tôi đến Sư đoàn 2 trong một niềm tâm huyết mới, mang trong mình tinh thần người chiến sĩ cách mạng "đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần". Đến đây, tôi được đồng chí Chính ủy Phương Yên niềm nở đón tiếp. Sau đó, đồng chí truyền đạt cho tôi biết về tình hình đơn vị, tình hình của địch. Trong cùng thời gian đó đồng chí Thượng tá Nguyễn Việt Sơn cũng được đơn vị điều về làm nhiệm vụ thay cho đồng chí Dương Lợi vừa hy sinh.

Sư đoàn bộ binh 2 đã có hai năm hoạt động ở chiến trường Đường 9 - Nam Lào, Đắc Tô, Tân Cảnh, Tây Nguyên và trở lại vùng đồng bằng Khu 5. Trở về vùng đồng bằng lần này, tổ chức của sư đoàn có sự thay đổi. Đồng chí Nguyễn Chơn được cấp trên điều về Sư đoàn 711, đồng chí Dương Bá Lợi được giao nhiệm vụ quyền sư đoàn trưởng. Trung đoàn bộ binh 52 của Sư đoàn 320 chính thức đứng trong đội hình của sư đoàn.

Trước tình hình tiến công chiến lược Xuân Hè năm 1972 của quân dân ta trên chiến trường miền Nam, chúng ta đã giáng cho chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ một đòn choáng váng. Một nửa trong tổng số mười ba sư đoàn chủ lực ngụy đã bị tiêu diệt hoặc bị đánh thiệt hại nặng nề. Lực lượng ngụy quân mà đế quốc Mỹ cho là cái xương sống của "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng đã bị quân dân ta đánh tan tành như xác pháo. Hàng ngàn ấp chiến lược và khu dồn dân đã bị quần chúng nhân dân nổi dậy phá tan. Do vậy, kế hoạch bình định nông thôn - một biện pháp chiến lược chủ yếu của địch đã bị quân dân ta đánh cho sụp đổ hoàn toàn. Cục diện chiến trường miền Nam đang chuyển biến có lợi cho chúng ta.

Bọn ngụy quân, ngụy quyền đang trong cơn hấp hối thì tổng thống Mỹ Níchxơn vẫn ngoan cố nhai lại chiến lược "Mỹ hoá" cuộc chiến tranh bằng cách huy động lực lượng lính không quân và lính hải quân Mỹ với cường độ cao nhất, bắn phá cực kỳ ác liệt trên các chiến trường miền Nam Việt Nam. Chúng đã sử dụng những thứ bom đạn có sức công phá mạnh nhất, trong đó có cả bom chứa chất độc màu da cam. Đế quốc Mỹ là một kẻ thù tàn bạo nhất hành tinh, chính nó đã gây ra những nỗi thống khổ cho hàng triệu nhân dân ở thời kỳ hậu chiến tranh mà chúng ta sẽ phải gánh chịu hàng trăm năm. Chúng hy vọng dùng chiến lược này sẽ nhằm mục đích cứu nguy cho quân ngụy trên các chiến trường ở miền Nam, đồng thời Mỹ điều lực lượng không quân, hải quân rất mạnh lao ra bắn phá miền Bắc. Chúng đánh phá vào các cơ sở kinh tế của ta như: các nhà máy, xí nghiệp, các công trình quân sự, kho đạn, kho xăng dầu, kho khí tài quân sự. Chúng phá hủy các cầu, bến phà, đường giao thông, trường học, bệnh viện, thậm chí cả các khu đông dân cư... Chúng thả thủy lôi, mìn phong tỏa ở các cửa biển của ta. Tất cả những hành động tàn bạo khốc liệt trên của Mỹ nhằm ngăn chặn sự chi viện về sức người, sức của cho tiền tuyến trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Chiến lược "Mỹ hoá" của địch trở lại đã gây thêm một phần khó khăn cho quân dân ta, nó vực quân ngụy dậy trên một số hướng chiến lược, quân địch nhân cơ hội đó tung lực lượng ra phản kích lại quân dân ta ở một số vùng.

Với tình hình thực tiễn giữa lực lượng ta và địch lúc này, Bộ chỉ huy quân sự của ta đã khôn khéo sáng tạo thay đổi chiến lược. Do đó, tháng 8 năm 1972, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy Bộ Tư lệnh quân khu kịp thời điều chỉnh lại kế hoạch tiến công và nổi dậy mùa thu ở đồng bằng. Trong đợt hoạt động này, Sư đoàn bộ binh 2 được cấp trên tăng cường Trung đoàn đặc công 459. Nhiệm vụ của Sư đoàn bộ binh 2 là tiêu diệt sinh lực địch giải phóng huyện Ba Tơ và mở rộng căn cứ rừng núi phía tây tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng quân sự địa phương tiến công phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch dọc đường số 1 từ nam sông Vệ đến Sa Huỳnh, mở rộng vùng giải phóng và làm chủ vùng phía nam Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:05:31 AM

Huyện Ba Tơ nằm ở phía tây, là một huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Số dân khoảng hai mươi nghìn người, phần lớn là đồng bào dân tộc ít người, trong đó người dân tộc H'Rê chiếm đa số, riêng ở huyện lỵ chiếm bốn nghìn người. Ở thời Pháp thuộc, nhân dân huyện Ba Tơ sống rất khổ cực, người dân Ba Tơ luôn bị kẻ thù đàn áp. Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, người dân Ba Tơ đã chiến đấu kiên cường, sừng sững như núi rừng Ba Tơ. Từ ngày có Đảng lãnh đạo, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Ba Tơ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và đội du kích Ba Tơ đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Trung ra đời là đỉnh cao của phong trào chống thực dân Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ thời kỳ tiền khởi nghĩa năm 1945. Đến năm 1954, bọn đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm lại ra sức đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của người dân Ba Tơ. Để giữ vững địa bàn quan trọng này, bọn Mỹ - ngụy đã xây dựng thành một khu căn cứ quân sự rất kiên cố. Bọn địch đã dồn sức người, sức của và phương tiện chiến tranh để xây dựng các chi khu, quận lỵ và căn cứ Đá Bàn.

Chi khu của địch nằm lọt trong thung lũng lớn, xung quanh có những dãy núi cao bao bọc. Đây là trung tâm hành chính do tên trung tá Bửu Chương và tên phản động khét tiếng Chánh Ên chỉ huy.

Đá Bàn là một căn cứ nằm ở phía tây quận lỵ do tiểu đoàn 69 quân biệt động biên phòng chiếm giữ. Chúng xây dựng ở đây công sự bao quanh rất kiên cố, có hầm ngầm bằng bê tông cốt sắt. Vòng ngoài của căn cứ địch bao vây từ mười đến mười hai hàng rào dây thép gai dày từ năm đến mười mét. Ở đó chúng gài mìn và chống ngầm dày đặc.

Để thực hiện nhiệm vụ mà quân khu giao, Sư đoàn bộ binh 2 đã lập kế hoạch tác chiến, quyết định triển khai lực lượng theo hai hướng: Trung đoàn 52 và Trung đoàn đặc công 459 tấn công giải phóng Ba Tơ. Trung đoàn Ba Gia và Trung đoàn 141 cùng với lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ngãi đánh một số chốt điểm trên đường số 1 từ phía nam sông Vệ đến Sa Huỳnh rồi tiến lên bao vây chốt điểm quận lỵ chi khu Mộ Đức và Đức Phổ.

Đêm ngày 15 tháng 9 năm 1972, cơn bão số sáu có sức gió lớn đổ bộ dữ dội vào tỉnh Quảng Ngãi. Nước ở các con sông, suối dâng lên rất cao đã gây trở ngại lớn cho việc hành quân và chiếm lĩnh trận địa của quân ta trên cả hai hướng Ba Tơ và đường số 1. Cường độ gió bão giật mạnh trên cấp mười, cấp mười một, mưa mỗi lúc một to, mưa như trút nước suốt cả đêm, bộ đội ta phải chịu ướt dành ni lông che cho súng đạn không bị ngập ướt bởi nước mưa. Mặc dù mưa bão lớn trong đêm dữ dội nhưng quân ta theo hướng Ba Tơ vẫn tiến công vào trận địa. Địch phát hiện được quân ta chuẩn bị tiến công nên chúng đã cho quân ra mai phục các ngả đường.

Đến ngày 16 tháng 9, gió bão vẫn đập dữ dội, mưa vẫn xối xả. Ở những nơi quân ta có thể vượt đều có địch phục kích và ngăn chặn. Trong hoàn cảnh này, Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 52 cùng cán bộ họp nhanh tìm cách đánh, sử dụng cách đánh bắc cầu, vận động nhân dân cho bộ đội mượn thuyền để vượt sông. Đêm ngày 16 tháng 9, toàn trung đoàn đã bí mật hành quân vào chiếm lĩnh trận địa thật an toàn. Cùng đêm ngày 16 và 17 tháng 9, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 và đơn vị đặc công đã hoàn thành đánh bóc vỏ vùng ngoài. Đúng 4 giờ 15 phút ngày 18 tháng 9, quân ta đánh vào trung tâm huyện lỵ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:06:26 AM

Đêm ngày 19 tháng 9, lực lượng không quân và pháo binh của địch đã tập trung đánh quyết liệt vào các hướng đột kích của quân ta. Tên Bửu Chương và tên Chánh Ên là những tên chỉ huy đầu sỏ của địch rất yên trí tin rằng lực lượng pháo binh và không quân của chúng có thể ngăn chặn được lực lượng quân ta nhưng chúng đã sai lầm.

Đúng 21 giờ, quân ta quyết xung phong đánh vào quận lỵ, hai tên chỉ huy đầu sỏ của địch bị tiêu diệt ngay từ phút đầu khi chúng chưa kịp chạy trốn.

Từ đêm ngày 16 đến ngày 18 tháng 9, Trung đoàn 52 gặp khó khăn trở ngại nên Trung đoàn đặc công 459 cũng không hoàn thành được nhiệm vụ đánh tiêu diệt căn cứ Đá Bàn.

Đêm ngày 20 tháng 9, Bộ chỉ huy Quân khu 5 quyết định cho Trung đoàn 52 thay Trung đoàn 459 đánh tiêu diệt căn cứ Đá Bàn.

Trên hướng tiến công đường số 1, mặc cho mưa càng to, bão càng lớn, mặc cho nước sông Vệ chảy dữ dội, nước tràn ngập mênh mông trắng xoá cả vùng phía nam tỉnh Quảng Ngãi, Trung đoàn Ba Gia, Trung đoàn 141 và các đơn vị trực thuộc sư đoàn vẫn vượt mọi gian nguy hành quân thần tốc chiếm lĩnh vị trí tiến công theo đúng kế hoạch.

Giữa đêm ngày 16 tháng 9, tiếng súng tấn công của quân ta vào các cứ điểm địch đồng loạt nổ vang trời. Gần hai mươi cứ điểm của địch ở núi Đá Trắng, Giao Lai, điểm cao 56, Thiết Trường, đồi Ông Nhơn, đồi Ông Độ, núi Đồi, Quán Hồng, Trà Câu, Đồng Quan... đã bị quân ta tiêu diệt. Một hệ thống phòng ngự dọc theo hai bên đường số 1 kéo dài từ phía nam sông Vệ đến Sa Huỳnh, quân ta đã đánh phá tan tành. Đồng thời, hơn bốn nghìn năm trăm người dân đã nổi dậy phá ấp chiến lược. Một vùng nông thôn rộng lớn của hai huyện Mộ Đức và Đức Phổ cơ bản đã được giải phóng.

Bên cạnh đó, ba cứ điểm nằm ở hai huyện lỵ Mộ Đức, Đức Phổ và ấp Mỹ Trang là những cứ điểm then chốt mà quân ta chưa tiêu diệt được. Nên địch lấy những nơi đó làm bàn đạp để phản kích lại lực lượng quân ta một cách quyết liệt.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:06:55 AM

Trước sức mạnh tấn công của quân đội ta, Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân đoàn 1 buộc phải đưa sư đoàn bộ binh 2 ngụy (thiếu) gồm trung đoàn 5, trung đoàn 6 và sở chỉ huy sư đoàn cùng với hai liên đoàn quân biệt động 11 và 12 vào cuộc giải toả. Chúng mở những trận đánh phản kích quyết liệt ở cả hai hướng đường số 1 và Ba Tơ. Quân địch liên tiếp mở nhiều đợt phản kích bằng mọi sức mạnh của hỏa lực mà chúng có nhằm tiêu hao sinh lực ta và lấy lại khí thế của lính ngụy.

Trong thời điểm này, sư đoàn đã bị tổn thất lớn. Sở chỉ huy sư đoàn đã bị trúng bom B52. Các đồng chí Dương Bá Lợi - Sư đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Chi - Sư đoàn phó, đồng chí Trần Quang Lập - Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Hoàng - Chính ủy hậu cần đã hy sinh. Đây là một tổn thất lớn của quân khu, của sư đoàn và đồng đội. Chúng ta đã mất đi những đồng chí cán bộ chỉ huy tài năng, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm xông pha giữa trận tuyến mà ở nơi đó hàng nghìn tấn bom đạn giội xuống. Mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng quân ta đã biến đau thương thành lòng căm thù giặc cao độ, quyết chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Chiến trường của ta sẽ lại có những người đồng chí lãnh đạo tài ba khác thay thế các đồng chí đã hy sinh. Quân khu kịp thời điều động đồng chí Nguyễn Việt Sơn - Sư đoàn phó Sư đoàn 3 về làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2.

Sau khi anh Phương Yên trao đổi về tình hình diễn biến hoạt động của sư đoàn trong thời gian gần đây, Bộ Tư lệnh sư đoàn quyết định triển khai cuộc họp bàn về những công việc trước mắt, những nhiệm vụ quan trọng cần phải làm ngay. Trước hết, sư đoàn phải tổ chức lại lực lượng, chuẩn bị khí tài để đánh phản kích địch trên cả hai hướng. Chúng ta kiên quyết chuyển chiến thuật sang vây lấn, tấn công mạnh để dứt điểm tiêu diệt căn cứ Đá Bàn của địch và phải hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Ba Tơ, phối hợp cùng các chiến trường đánh địch thật mạnh để hỗ trợ cho mặt trận ngoại giao của ta đang diễn ra ở Pari - Thủ đô nước Cộng hòa Pháp. Bộ chỉ huy sư đoàn được chia làm hai bộ phận để cùng chỉ đạo sát sao. Đồng chí Phương Yên - Chính ủy sư đoàn và đồng chí Tùng - Phó chính ủy cùng các đồng chí cơ quan phụ trách hướng đường số 1. Đồng chí Nguyễn Việt Sơn - Sư đoàn trưởng trực tiếp phụ trách hướng đánh giải phóng Ba Tơ.

Ngay chiều hôm đó, tôi và đồng chí Nguyễn Việt Sơn lên Sở chỉ huy mặt trận Ba Tơ. Đến nơi, chúng tôi gặp đồng chí Trần Bá Khuê - Tham mưu trưởng, đồng chí Thuần - Phó chính ủy Sư đoàn 3 được Bộ chỉ huy quân khu giao nhiệm vụ phụ trách mặt trận Ba Tơ và đồng chí Cao Niêm - Tham mưu mặt trận. Được sự ủy nhiệm của Bộ chỉ huy quân khu, đồng chí Nguyễn Việt Sơn đã tổ chức lại cơ quan mặt trận Ba Tơ như sau: Đồng chí Nguyễn Việt Sơn - Chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Bá Khuê - Tham mưu trưởng, đồng chí Thuần - Chính ủy, tôi và đồng chí Cao Niêm làm Phó tham mưu trưởng của mặt trận Ba Tơ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:08:06 AM

Trên hướng đường số 1, sau những trận địch phản kích dữ dội, quân ta cố giữ lấy các điểm cao mà bọn địch cũng đang cố sống cố chết đánh chiếm lại. Quân ta và quân địch ngày đêm giành nhau từng tấc đất gây nên trận chiến càng thêm quyết liệt. Trung bình một ngày, mỗi chốt điểm quân ta phải đánh trả từ năm đến sáu trận đánh phản kích của địch. Địch đã dùng bom, pháo đánh phá hủy diệt một cách hung hãn dữ tợn, nhưng vẫn không chiếm được chốt nào của ta. Theo lệnh chỉ đạo của cấp trên, quân ta chủ động rút khỏi hệ thống chốt để chuẩn bị cho một giải pháp chính trị. Vào trung tuần tháng 10 năm 1972, Trung đoàn Ba Gia theo lệnh cấp trên về khu vực Ba Tơ cùng Trung đoàn 52 vây căn cứ Đá Bàn chống địch lấn chiếm. Khi Trung đoàn Ba Gia tới, cơ quan tham mưu mặt trận chúng tôi làm tham mưu cho Bộ Tư lệnh mặt trận Ba Tơ, phải xác định lại tư tưởng chỉ đạo vây lấn theo quan điểm của Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện là: "Quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt" đã giúp Bộ Tư lệnh điều chỉnh lại thế trận, bố trí lực lượng và tạo ra thế đánh, thế vây chặt, thế lấn sâu. Ta cắt viện binh địch, cắt tiếp tế của địch nhằm tạo ra thời cơ để quân ta tiến công dứt điểm. Kế hoạch được cụ thể hoá là: sử dụng lực lượng vây lấn, chủ yếu là Trung đoàn 52. Lực lượng cơ động cắt viện binh của địch là Trung đoàn Ba Gia, lực lượng tiêu diệt máy bay địch là Tiểu đoàn 14 pháo phòng không.

Tại mặt trận Ba Tơ, cuộc chiến đấu giữa phản kích của địch và đánh lại phản kích của quân ta diễn ra quyết liệt. Bọn địch lần lượt dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống các điểm cao như: Đông Ta, Cao Muôn, Suôi Mít và điểm cao 600... gồm các tiểu đoàn 60, tiểu đoàn 61, tiểu đoàn 77 quân biệt động, tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 3 và trung đoàn bộ binh 5. Có những ngày bọn địch đã đổ quân liên tiếp vào Sở chỉ huy mặt trận. Quân địch ở trên đồi, quân ta ở dưới suối, phải chờ đến đêm quân ta mới thoát ra khỏi vòng vây của địch.

Khi các máy bay của địch đổ quân xuống, chúng đã nhanh chóng hình thành các mũi phản kích đánh vào và huyện lỵ Ba Tơ. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch ngày một thêm quyết liệt hơn. Mỗi ngày địch điều động máy bay B.52 đến rải bom đánh phá trận địa từ ba đến bốn đợt. Trong vòng bốn mươi lăm ngày đêm từ 15 tháng 9 đến 30 tháng 10, Mỹ đã điều tới 72 lần máy bay B.52 và hàng trăm máy bay phản lực đánh vào trận địa của quân ta. Một hôm tôi xuống đốc chiến Tiểu đoàn 14 pháo phòng không ở Gò Riêng thì gặp tám máy bay địch, máy bay trực thăng loại cá lẹp, loại cán gáo đến đánh phá khu vực trận địa của tiểu đoàn. Các đồng chí pháo thủ của ta đồng loạt nổ súng bắn rơi tại chỗ ba máy bay trực thăng loại cá lẹp. Đồng chí Huy - Tiểu đoàn trưởng đề nghị tôi cho di chuyển vị trí chỉ huy, tôi nhất trí. Và chỉ sau 15 phút, địch đã điều tới hàng chục máy bay F.105, máy bay F.4 đến đánh phá. Chúng bỏ bom trúng hầm chỉ huy của chúng tôi. Nhưng rất may, chúng tôi đã di chuyển đến sở chỉ huy dự bị.

Sau bảy lần trung đoàn 5 và liên đoàn 11 biệt động quân của địch mở đợt phản kích, quân ta đã tiêu diệt nhiêu sinh lực địch ở khu vực Gò Riêng, Tân Ri, điểm cao 600, Nước Niên. Lực lượng pháo binh ta cũng bắn rơi nhiều máy bay phản lực của địch ở Cao Muôn, Núi Đồi. Do vậy, lực lượng phản kích của địch đã bị quân ta đánh bại hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:08:57 AM

Còn căn cứ địch ở Đá Bàn, quân ta ngày càng siết chặt chúng trong vòng vây. Mũi nhọn tấn công "lấn, dũi" của Tiểu đoàn 60, Trung đoàn Ba Gia chỉ còn cách lô cốt địch hai mươi mét. Hướng tiến công của Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 52 cách lô cốt địch hai mươi lăm mét.

Những đường chiến hào ngoằn ngoèo của quân ta càng ngày càng bò sát vào cứ điểm của địch. Khi tới hàng rào cuối cùng, một lực lượng lớn của ta đã được chuẩn bị trước phun một luồng lửa khổng lồ thiêu sạch bọn chúng. Tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 69 của địch - chỉ huy căn cứ run sợ, liên tục kêu cứu với tiểu khu Quảng Ngãi và sư đoàn 2 ngụy nhưng bọn giặc ở đây cũng bó tay không làm gì được. Đúng 12 giờ đêm ngày 30 tháng 10 năm 1972, nó vừa điện xin cấp trên cho rút lui vừa cho đơn vị bí mật tháo chạy.

Nhưng nó đã không thể thoát nổi sự phán đoán thông minh của quân ta. Trinh sát của ta đã phát hiện ngay được hành động của địch. Chúng ta nhanh chóng phối hợp cùng Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 Trung đoàn Ba Gia chặn đánh toán đi đầu. Đồng chí Tiểu đội trưởng Thập bắn chết ngay tên tiểu đoàn trưởng 69 biệt động, số địch còn lại lốc nhốc chạy ngược về đồn.

Thời cơ đã dành cho quân ta; đúng 1 giờ ngày 31 tháng 10, bộ "Rồng lửa" của ta gồm ba mươi sáu quả bộc phá liên kết nổ vang trời phá tan hàng rào cuối cùng và lô cốt đầu cầu của căn cứ địch.

Ở hướng chủ yếu, các đồng chí của Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 cùng các chiến sĩ đã nhanh chóng dũng cảm tiến lên đánh mạnh tiêu diệt địch chiếm trận địa pháo.

Ở hướng thứ yếu, các chiến sĩ Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 thừa thắng xốc tới đánh thẳng vào sở chỉ huy của địch, còn Đại đội 5 đánh chiếm ngay khu thông tin... Kẻ thù bị chiến sĩ ta tiến công dồn dập bằng mọi sức mạnh sẵn có, bằng tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường nhanh nhẹn, mưu trí làm cho chúng không thể nào trở tay để đối phó kịp.

Đại bộ phận tiểu đoàn 69 biệt động quân bị tiêu diệt những tên lính sống sót còn lại kéo nhau ra hàng. Còn khoảng ba mươi tên địch đã liều mạng chạy về hướng Minh Long hòng thoát thân nhưng chúng gặp phải lực lượng quân ta bao vây vòng ngoài. Do đó, chúng đã bị tiêu diệt gần hết.

Cuối cùng, căn cứ Đá Bàn kiên cố của địch đã bị quân ta tiêu diệt. Khu căn cứ cách mạng Ba Tơ sạch bóng quân thù. Khu giải phóng được mở rộng. Quần chúng nhân dân rất phấn khởi, tích cực tăng gia sản xuất để góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ nhanh chóng đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Cán bộ và chiến sĩ quân đội ta cũng vô cùng phấn khởi. Mới hơn hai giờ sáng, sở chỉ huy mặt trận Ba Tơ mổ một con heo ăn mừng và bàn kế hoạch đi trinh sát thực địa để chuẩn bị tổng kết chiến dịch Ba Tơ. Lúc này, tôi đang bị sốt rét. Anh Thuần - Chính ủy yêu cầu tôi về khu vực Gốc Khê để chuẩn bị họp đảng ủy chứ không cho tôi đi nghiên cứu chiến thuật. Đúng 8 giờ sáng, tổ trinh sát báo về: bộ phận đi nghiên cứu chiến thuật ở quận lỵ Ba Gia đã bị trúng mìn của địch gài lại; đồng chí Việt Sơn - Sư đoàn trưởng, đồng chí Nam - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 52 và hai đồng chí tiểu đoàn trưởng nữa đã hy sinh. Niềm vui chưa giành trọn, nỗi buồn mới lại tới, một tổn thất nữa lại đến với Sư đoàn bộ binh 2 của chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:12:45 AM

Chiến dịch Ba Tơ kết thúc thắng lợi vẻ vang. Quân và dân Ba Tơ vô cùng phấn khởi, tất cả mọi người đều tự hào về quân và dân ta đã phải trải qua bao ngày gian nan, vượt qua mọi gian nguy, dũng cảm chiến đấu hết mình, tích cực chiến đấu đến giờ phút chiến thắng kẻ thù. Ba Tơ hoàn toàn giải phóng. Niềm xúc động trong tôi hòa cùng niềm xúc động của toàn dân Ba Tơ, của anh em đồng đội và của các chiến sĩ. Tự đáy lòng mình, tôi đã thể hiện những tình cảm mộc mạc của mình bằng một bài thơ "Bài ca Ba Tơ", trong đó có câu:

"Ba Tơ anh dũng tuyệt vời
Chiến công vang động đất trời Pari".

Chiến dịch Ba Tơ kết thúc thắng lợi, Sư đoàn bộ binh 2 chúng tôi tiếp tục triển khai thực hiện nhiệm vụ mà quân khu giao phó: đánh bại bọn địch phản kích để giữ vững vùng giải phóng. Đồng thời sẵn sàng đánh một số mục tiêu then chốt của địch tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh khi có giải pháp chính trị về mặt ngoại giao của Chính phủ. Đang trong thời điểm đó thì đúng ngày 23 tháng 1 năm 1973, Sư đoàn bộ binh 2 lại nhận được lệnh của tiền phương quân khu yêu cầu Sư đoàn 2 khẩn trương triến khai chiến thuật tác chiến tiến công quân địch trong khoảng thời gian bảy mươi giờ bao gồm cả hành quân và đánh chiếm mục tiêu.

Theo đúng kế hoạch, sư đoàn chúng tôi có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực từ chợ Cung xã Phổ Thạnh, Đức Phổ đến Bình Đê. Đồng thời, Sư đoàn 2 còn có nhiệm vụ phối hợp với Sư đoàn 3 đánh chiếm khu vực Chương Hàn, Tam Quan phía bắc tỉnh Bình Định hình thành một vùng giải phóng ven biển, chạy dài từ phía nam huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi đến phía bắc huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định. Ở đoạn này có hai cửa biển là Sa Huỳnh và Trường Xuân.

Sau hơn ba ngày đêm, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 2 chiến đấu ngoan cường liên tục. Trong đó có các đơn vị của sư đoàn: Trung đoàn 141, mười tiểu đoàn đặc công, Tiểu đoàn 90, Trung đoàn Ba Gia và một bộ phận hỏa lực. Tất cả quân ta chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm: Đá Heo, Thạch Bi, Long Thạnh, Hải Huyền, giải phóng khu vực Sa Huỳnh, góp phần quan trọng cùng quân và dân Quảng Ngãi làm thất bại kế hoạch "Tràn ngập lãnh thổ” của địch trong ngày đầu ngừng bắn, không ai có thể hình dung được tình hình diễn biến giữa ta và địch sau giờ ngừng bắn có hiệu lực. Tất cả cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 2 vẫn sẵn sàng hy sinh dũng cảm xung phong vào đồn địch quyết tâm giành thêm thắng lợi, giải phóng thêm từng người dân, từng mảnh đất khỏi sự kìm kẹp, đàn áp của kẻ thù trước giờ ngừng bắn theo Hiệp định Pari. Đó chính là sự thể hiện lý tưởng chiến đấu cao đẹp với lòng trung thành vô hạn của những cán bộ, chiến sĩ sư đoàn thép đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, của nhân dân Việt Nam.

Ở Sa Huỳnh, mặc dù cuộc chiến đấu giữa quân ta và quân địch vẫn đang diễn ra quyết liệt nhưng đến giờ Hiệp định Pari quyết định ngừng bắn có hiệu lực thì bỗng nhiên xuất hiện một rừng cờ đỏ sao vàng, màu cờ cách mạng. Cờ treo trước cổng nhà, cờ cắm rải dọc theo đường làng, cờ cắm ngay cạnh hàng rào đồn giặc, cờ treo trên các ngọn cây cao. Tất cả đều tung bay trước gió. Trong rừng cờ ấy có những lá cờ được cất giấu gần 30 năm bây giờ mới được trưng lên. Màu xanh của biển cả và màu xanh của núi rừng càng tôn lên sắc đỏ của màu cờ cách mạng. Những lá cờ to, nhỏ cùng đua nhau mọc lên đón gió biển phần phật bay, siết chặt vòng vây kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:15:04 AM

Hiệp định Pari được ký kết là một thắng lợi to lớn của quân và dân ta. Nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai miền. Miền Bắc tiếp tục giữ vững hòa bình, đẩy mạnh ba cuộc cách mạng xây dựng miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam. Miền Nam tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai, đẩy lùi và thắng địch từng bước để đi đến xóa bỏ chế độ thực dân mới, thiết lập một chính quyền dân tộc dân chủ thực sự tiến tới thống nhất nước nhà. Nhưng lúc này tình hình miền Nam rất phức tạp, Mỹ thua và đã chịu rút quân nhưng vẫn cố giữ ngụy quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu. Còn bọn ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đứng trước nguy cơ sụp đổ vẫn cứ bám lấy miền Nam dưới sự viện trợ của Mỹ. Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và cố vấn quân sự cho chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu hòng thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Bọn ngụy quyền tay sai được quan thầy Mỹ nâng đỡ nên chúng ra sức phá hoại hiệp định một cách trắng trợn, công khai và có hệ thống với ý đồ đảo ngược chiến lược lâu dài đường lối cách mạng của Nhà nước ta.

Đúng 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari bắt đầu có hiệu lực tiếng súng ngừng bắn trên toàn miền Nam. Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn tuyên bố: Không hòa bình, không ngừng bắn, không cộng sản... Và ngay trong đêm 27 rạng ngày 28 tháng 1 năm 1973, quân Sài Gòn đã đánh chiếm được cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Những ngày tiếp theo chúng đánh chiếm nhiều nơi khác.

Sau bao năm chiến đấu gian khổ, nguyện vọng hòa bình và hòa hợp dân tộc của nhân dân ta đã bị kẻ thù cự tuyệt. Tiếng súng chống giặc của quân dân ta lại tiếp tục vang lên. Quân và dân miền Nam chưa được hưởng một giây phút hòa bình thì tất cả lại phải bước vào giai đoạn chiến đấu mới. Cuộc chiến đấu chống quân ngụy lấn chiếm đã kéo dài triền miên trong nhiều tháng trời. Do nhiều địa phương không chủ động trước âm mưu của địch nên trong những tháng đầu năm 1973, chúng đã lấn chiếm hầu hết vùng giải phóng mới và một số vùng giải phóng cũ bao gồm khoảng một nghìn ấp, đóng thêm 1.174 bốt và kiểm soát hơn một triệu người dân1.

Cũng như các khu vực khác, chiến sự lại tiếp diễn trên khu vực của Sư đoàn 2. Do địch lợi dụng việc quân đội ta chỉ đánh trả địch ở những nơi bị địch tiến công nên chúng đã tập trung lực lượng phần lớn sư đoàn 2, liên đoàn 12 biệt động quân và một số tiểu đoàn bảo an mở nhiều đợt tiến công quân ta. Chúng tập trung đánh vào các trận địa chốt của Trung đoàn Ba Gia, Trung đoàn 141. Mặc dù quân ta chiến đấu dũng cảm kiên cường nhưng chúng ta đánh theo hình thái phòng ngự be bờ, chống đỡ nên không giữ được vùng đất vừa giải phóng. Đến giữa tháng 2 năm 1973, bọn ngụy đã khai thông được đoạn đường số 1 từ Quán Rường đi Thạch Trụ, địch đã chiếm lại được cửa biển Sa Huỳnh, riêng Trung đoàn 52 vẫn giữ vững vùng giải phóng Ba Tơ.

Kết thúc nhiệm vụ cấp trên giao cho sư đoàn đánh địch ở Sa Huỳnh, Sư đoàn bộ binh 2 lại nhận lệnh chuyển về chiến trường Quảng Nam. Đây có thể được coi như nơi chôn nhau cắt rốn của sư đoàn, về đây, biên chế của sư đoàn có sự thay đổi lớn, Trung đoàn 52 và Tiểu đoàn pháo binh 12 ở lại Quảng Ngãi thành lập lữ đoàn. Trung đoàn 141 về đội hình Sư đoàn 3 thay Trung đoàn 21 vừa giải thể. Sư đoàn bộ, các đơn vị trực thuộc và Trung đoàn Ba Gia về tỉnh Quảng Nam nhận Trung đoàn 31, Trung đoàn 38, Tiểu đoàn pháo binh 12 của Sư đoàn 711 giải thể, Tiểu đoàn 13 pháo cao xạ 37 ly của Đoàn 559 lập thành một sư đoàn đủ. Bộ Tư lệnh sư đoàn, đồng chí Nguyễn Chơn đang đi học ở miền Bắc. Tại đơn vị có đồng chí Bình (tức Bằng) - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng và đồng chí Huy Chương - Chính ủy sư đoàn.
____________________________________
1. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, Nxb Chính trị quốc gia- Hà Nội, 1995, tr. 605.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:15:49 AM

Về đến Quảng Nam, Sư đoàn bộ binh 2 được quân khu giao nhiệm vụ: Dùng một bộ phận nhỏ lực lượng vũ trang của địa phương và nhân dân Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước đánh địch càn quét lấn chiếm; đồng thời tổ chức thiết bị chiến trường phòng giữ ở những vị trí then chốt trên tuyến tranh chấp giữa ta và địch ở Quế Sơn, Thăng Bình; giữ vững và củng cố vùng giải phóng để làm bàn đạp cho những cuộc tiến công địch sau này. Còn lại đại bộ phận lực lượng sư đoàn đi vào tập trung huấn luyện quân sự và học tập chính trị.

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, số đơn vị của Trung đoàn 31, Trung đoàn 38 và Tiểu đoàn công binh 15 đã tổ chức từng cụm điểm tựa ở Châu Sơn, Liệt Kiểm, Lạc Sơn, v.v... Các chiến sĩ ta vừa đánh địch phản kích, vừa tham gia xây dựng công sự, thiết bị chiến trường. Còn một bộ phận cùng với địa phương làm công tác tuyên truyền giải thích cho binh lính địch hiểu được về các điều khoản của Hiệp định Pari, chính sách mười điểm của cách mạng đối với binh sĩ, gia đình binh sĩ và nhân viên ngụy quyền. Chúng ta tổ chức tiếp xúc với sĩ quan, binh sĩ ngụy, kêu gọi họ hạ súng đầu hàng trở về với gia đình, quê hương để hưởng lượng khoan hồng của Chính phủ và Nhà nước ta.

Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị trực thuộc, phần lớn lực lượng của Trung đoàn 31, Trung đoàn 38 tập trung học Nghị quyết 21 của Đảng và huấn luyện kỹ thuật chiến đấu. Tháng 12 năm 1973, quân khu đã phát động đợt thi đua: "Nâng cao chất lượng chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu". Ngày 4 tháng 1 năm 1974, Sư đoàn 2 đã mở Hội nghị Đảng ủy sư đoàn. Hội nghị đã xác định cuộc vận động là nhiệm vụ trung tâm của sư đoàn. Tất cả mọi hoạt động, mọi mặt công tác của sư đoàn đều xoay quanh việc thực hiện và thúc đẩy cuộc vận động đạt yêu cầu cao nhất.

Ba trung đoàn bộ binh và các đơn vị trực thuộc phải đạt đơn vị mạnh. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần phải là cơ quan mạnh về mọi mặt. Trung đoàn Ba Gia phải giỏi cả chiến thuật vận động bao vây, tiến công liên tục và tập kích hiệp đồng các binh chủng.

Trung đoàn 31 phải giỏi về đánh vây lấn, khá về chiến thuật vận động bao vây, tiến công liên tục và tập kích hiệp đồng binh chủng.

Trung đoàn 38 phải đánh giỏi trong tác chiến phòng ngự, từng bước nâng tác chiến tập kích hiệp đồng binh chủng cho từng tiểu đoàn; các đơn vị binh chủng phải giỏi chiến thuật, kỹ thuật của binh chủng mình và biết chiến thuật bộ binh để hiệp đồng chiến đấu tốt; cán bộ phải giỏi ở cấp mình, dạy được cấp dưới, biết được một phần việc của cấp trên.

Tất cả đảng viên phải tự mình rèn luyện phấn đấu theo các yêu cầu: Nắm vững đường lối nhiệm vụ, phải có kiến thức chính trị, quân sự, nắm chắc về chiến thuật, kỹ thuật theo cương vị công tác và có bản chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng; vừa chiền đấu vừa xây dựng. Tháng 3 năm 1974, các đơn vị, các cơ quan trong sư đoàn đã phấn đấu hoàn thành những chỉ tiêu, kế hoạch mà quân khu đề ra một cách tốt đẹp.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 10:16:47 AM

Đến thời điểm này, Sư đoàn bộ binh 2 cùng với công tác xây dựng, huấn luyện đã không ngừng nâng cao tinh thần chiến đấu và chiến thuật tác chiến. Sư đoàn còn được quân khu bổ sung thêm quân số, được tăng thêm trang thiết bị khí tài, thêm một đại đội pháo 85 ly, một trung đội vận tải cơ giới, một hệ thống kho trạm được tổ chức lần lượt theo ba tuyến, mang tính quy mô gồm tuyến sư đoàn, tuyến trung đoàn và tuyến tiểu đoàn có sức chứa đảm bảo cho chiến đấu trước mắt và dự trữ lâu dài.

Sư đoàn bộ binh 2 là sư đoàn chủ lực cơ động trên chiến trường trọng điểm. Sư đoàn được cấp trên đảm bảo cung cấp tương đối đầy đủ theo yêu cầu về quân số, về trang bị khí tài, về lương thực thực phẩm, thuốc men và quân y. Sư đoàn không còn tình trạng "Gạo chạy ăn từng bữa, đạn đánh giặc tính từng viên'’. Mặc cho tình thế khốn khó song sư đoàn vẫn đẩy mạnh sản xuất. Từ đồng chí sư trưởng cho đến các chiến sĩ, tất cả đều có chỉ tiêu gieo trồng, mọi người đều thi đua. Vụ Đông - Xuân năm 1973-1974, kết quả sản xuất tập trung của sư đoàn đã có hàng trăm hécta lúa, ngô, khoai, sắn...

Tháng 1 năm 1974, Thường vụ Quân khu ủy họp quyết định mở đợt hoạt động Hè - Thu trên cả ba vùng chiến lược, được chia thành hai đợt:

Đợt mùa hè, mở những trận đánh nhỏ tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá hủy dần dần phương tiện chiến tranh của chúng và đánh bại thủ đoạn chốt điểm của quân địch.

Đợt mùa thu, sư đoàn tập trung lực lượng mở những chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt tổng hợp một số chi khu, căn cứ quân sự kiên cố của địch, căn cứ quận lỵ, cụm cứ điểm an toàn của địch. Quân ta phải đánh vỡ từng mảng phòng ngự cơ bản của kẻ thù.

Hướng tiến công chủ yếu của quân ta là vùng Quảng Đà, Quảng Nam.

Trong đợt hoạt động mùa hè, theo phương án tác chiến chung của sư đoàn với khí thế tiến công địch dồn dập, sư đoàn đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương Quảng Nam trong khu vực Quế Sơn, Tiên Phước, quân ta đã chiến đấu giỏi và chiến thắng giòn giã, diệt và bắt hơn 2.000 quân địch, giải phóng khu Đức Phú nhưng chưa diệt gọn được tiểu đoàn nào của địch. Đây cũng là nỗi suy nghĩ băn khoăn của cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn về chiến thuật đánh địch bắt gọn.

Sang đợt hoạt động mùa thu, tác chiến đánh địch của sư đoàn quyết liệt hơn, chiến thắng vang dội và giòn giã hơn. Sư đoàn đã đánh địch theo hai hướng:

Một hướng tiêu diệt địch ở căn cứ Nông Sơn - Trung Phước và một bộ phận quân giải tỏa, mở rộng vùng giải phóng của ta.

Một hướng từ các điểm chốt phòng thủ ở tây nam Quế Sơn chuyển sang tiến công tiêu diệt các cứ điểm của địch ở Hòn Chiêng, Lạc Sơn, Núi Giai, cải thiện thế tiến công của quân ta ở khu vực này.

Cùng phối hợp với sư đoàn theo hướng trọng điểm có Sư đoàn 304 (thiếu) của Bộ tăng cường cho Quân khu 5 đánh Thượng Đức.

Trong chiến dịch này, Quân khu đã tăng cường cho sư đoàn Trung đoàn 36 (thiếu), hai đại đội tên lửa vác vai B72 (thiếu), một lựu pháo 105 ly và một tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly với ba xe tăng 785.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 07:19:34 AM

Căn cứ Nông Sơn - Trung Phước của địch nằm sâu trong vùng đất giải phóng của ta. Đây là cụm cứ điểm tiền tiêu của địch và là bàn đạp của chúng uy hiếp hậu phương của ta. Lực lượng của địch ở đây có tiểu đoàn 78 biệt động quân chốt cứ điểm Nông Sơn, có khoảng 1.500 tên lính bảo an dân vệ chốt các cứ điểm nhỏ từ Khương Quế, Phường Rạch đến Trung Phước. Địch trang bị vũ khí hiện đại, đầy đủ. Chúng có công sự vững chắc. Ở Nông Sơn, bọn chúng còn có hầm ngầm kiên cố. Tên tiểu đoàn trưởng biệt động nói thách: "Nếu Việt cộng đánh chiếm được Nông Sơn thì nước Thu Bồn sẽ chảy ngược".

Để tiêu diệt được một cụm cứ điểm của địch có công sự vững chắc ở một địa hình khá phức tạp, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn đã quyết định đánh chúng theo hai bước:

Bước thứ nhất, dùng lực lượng nhỏ, tập kích tiêu diệt các cứ điểm do lực lượng bảo an dân vệ chiếm giữ, bao vây tiểu đoàn 78 biệt động để không cho chúng rút chạy. Đồng thời chặn đánh cánh quân của địch kéo từ An Hòa và Đức Dục lên tăng viện.

Bước thứ hai, vây lấn, tấn công mạnh, tiêu diệt tiểu đoàn 78 biệt động quân ở cứ điểm Nông Sơn. Chúng ta đánh cứ điểm Nông Sơn có hai vấn đề lớn phải giải quyết.

Một là, chúng ta phải mở một đường trục và nhiều đường nhánh để vận chuyển một khối lượng vật chất lớn vào chiến khu và phải đưa pháo lên chiếm lĩnh trận địa trên một số mỏm núi ngang với cứ điểm Nông Sơn.

Hai là, cán bộ tác huấn của sư đoàn phải huấn luyện chiến sĩ đánh vây lấn địch thật thành thạo cho đơn vị tiến công tiêu diệt. Ở cứ điểm Nông Sơn, quân địch chiếm giữ các điểm cao nên quân ta phải vây lấn đánh chúng từ dưới thấp lên. Đây là một địa hình phức tạp, chỉ có lợi cho kẻ thù chứ không có lợi cho ta.

Nhiệm vụ đặt ra cho quân ta thật khó khăn. Bộ Tư lệnh sư đoàn phân công cho phó tư lệnh, tham mưu trưởng phụ trách việc thiết bị chiến trường, mở đường cơ động. Đồng chí Tham mưu trưởng Bình giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách huấn luyện bao vây đánh lấn cho đơn vị.

Sư đoàn cùng với chính quyền địa phương đã vận động nhân dân đấu tranh với địch, mở một con đường chạy ven dưới chân các chốt điếm của địch ở Hòn Chiêng, Đồng Mông, Đá Hàm để vận chuyển lương thực, thực phẩm vào phục vụ cho nhân dân ở vùng Nông Sơn. Giữa lúc cuộc đấu tranh chưa ngã ngũ, chúng ta phải tranh thủ tận dụng thời cơ có lợi cho quân và dân ta. Chúng ta cho công binh của sư đoàn mang máy ủi xuống cùng nhân dân làm đường. Đường được mở đến đâu chúng ta cho vận chuyển thiết bị chiến trường đến đó. Xe chạy ban ngày, chúng ta hóa trang cho xe và để một số bao gạo xuống dọc đường cho nhân dân đánh lạc hướng tình nghi của địch. Còn đạn dược, thực phẩm, thuốc men và các thứ khác ta để dưới thùng xe chuyển vào nơi tập kết của hậu cần. Chúng ta đã biết kết hợp lực lượng giữa các thứ quân, có nhiều mưu trí sáng tạo nên chỉ trong một thời gian ngắn, quân dân ta đã làm được trên một trăm kilômét đường, vận chuyển được 720 tấn vũ khí, đạn dược vào chiến khu trước hai ngày.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 07:20:21 AM

Về công tác huấn luyện chiến thuật bao vây đánh theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh sư đoàn, tôi (Quyết Tâm) - Phó tham mưu trưởng sư đoàn và đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 cùng với các trinh sát của sư đoàn, các tiểu đoàn trưởng và các đại đội trưởng của Tiểu đoàn 8 đi trinh sát thực địa vị trí Nông Sơn của địch. Sau đó, chúng tôi quyết định lấy núi Sơn Bình có dáng tựa núi Nông Sơn để xây dựng công sự trận địa sao cho gần giống với căn cứ Nông Sơn để tập luyện, huấn luyện cho các tiểu đoàn của Trung đoàn 31, trọng tâm là Tiểu đoàn 8. Đây là đơn vị được giao nhiệm vụ trực tiếp đánh vây lấn.

Trung tuần tháng 6 năm 1974, đồng chí Hai Mạnh - Tư lệnh Quân khu 5 trực tiếp đến sở chỉ huy Sư đoàn 2 kiểm tra phương án tác chiến của sư đoàn và nhiệm vụ huấn luyện chiến thuật chuẩn bị cho chiến dịch Nông Sơn. Tôi đã trực tiếp trình bày với đồng chí Hai Mạnh về công việc tác huấn của tôi. Tôi vui vẻ báo cáo:

- Chúng tôi lấy núi Sơn Bình để xây dựng công sự giống với căn cứ địch ở Nông Sơn. Tiếp theo, chúng tôi luân phiên huấn luyện thực binh cho các tiểu đoàn của Trung đoàn 31 và lấy Tiểu đoàn 8 là đơn vị trực tiếp vây lấn làm đơn vị trung tâm huấn luyện. Huấn luyện từng hướng của đại đội rồi luyện tập tổng hợp toàn tiểu đoàn theo ba tình huống: lấn dũi, lấn nhảy cóc và bao vây tấn công.

Sau khi nghe tôi trình bày báo cáo xong, đồng chí Hai Mạnh - Tư lệnh Quân khu vui vẻ nói:

- Tôi hoàn toàn nhất trí phương án huấn luyện của các đồng chí. Chúng ta phải đánh một trận vây lấn bài bản mẫu mực. Đến đây, tôi thấy đồng chí Quyết Tâm đã thực sự là người của Quân khu 5.

Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, vào sáng ngày 17 tháng 7 năm 1974, các đơn vị của sư đoàn lần lượt triển khai vào chiếm lĩnh trận địa. Rạng sáng ngày 8 tháng 7 ta sẽ nổ súng tấn công địch. Lúc này, địch đã đưa tiểu đoàn 3 (trung đoàn 56) lên thay tiểu đoàn 78.

Đúng 16 giờ ngày 17 tháng 7 năm 1974, địch đưa 24 xe GMC từ An Hào, Đức Dục vào khu vực Trung Phước, gần bến đò Nông Sơn. Sư trưởng Nguyễn Chơn giao tôi truyền lệnh cho Trung đoàn Ba Gia lấy một bộ phận công binh bí mật đặt bộc phá ở cầu Khương Quế. Nếu đoàn xe GMC của địch chạy ra, ta cho nổ bộc phá để làm sập cầu nhằm chặn xe địch lại và cho một vài tay súng bắn tỉa theo kiểu đánh du kích để khỏi bị lộ kế hoạch tấn công của ta.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 07:20:56 AM

Nhờ có những quy định đã định sẵn của kế hoạch chiếm lĩnh trận địa, yêu cầu các đồng chí trung đoàn trưởng đi đâu phải kéo máy hữu tuyến đi theo (chưa được mở máy vô tuyến điện) nên tôi đã truyền đạt được mệnh lệnh cho đồng chí Trung đoàn trưởng Phạm Xưởng. Đồng chí Xưởng đã nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Còn bọn địch, hai tiểu đoàn cũ, mới thay nhau vẫn chưa bàn giao xong nên 24 xe GMC vẫn còn nằm chờ ở ngã ba Trung Phước. Theo báo cáo của đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn: "Lực lượng địch đã tăng gấp đôi nhưng vì quân cũ đã hết nhiệm vụ quân mới đến thay còn bỡ ngỡ khiến sức chiến đấu của chúng yếu". Do đó, chúng tôi quyết tâm nổ súng, mở màn cuộc tấn công địch theo đúng kế hoạch.

Đúng 0 giờ 15 phút ngày 18 tháng 7, tiếng mìn phát lệnh chung của Đại đội 2 Tiểu đoàn công binh 15 của sư đoàn đánh vào chốt điểm Cà Tang nổ ầm vang. Tiếp theo là tiếng súng, tiếng mìn của Tiểu đoàn 20 đánh vào Khương Quế, của Trung đoàn 36 (thiếu) đánh vào ngã ba Trung Phước, của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 31 đánh vào bốn ấp (1, 2, 3, 4) ở Khương Bình. Còn Tiểu đoàn 40 Trung đoàn Ba Gia đánh vào đồi tranh Sơn Phước, Sơn Thọ. Đại đội pháo binh đánh vào An Hòa, Mậu Chánh.

Tiếng súng của lực lượng bộ binh và pháo binh của ta nổ vang một vùng trời từ Nông Sơn - Trung Phước đến An Hòa - Đức Dục. Những đợt súng của ta cứ liên tiếp bắn tấn công địch, tiếng nổ dội vào vách núi rền vang như sấm dậy, từng chớp lửa loang loáng liên tục làm bừng sáng cả một vùng trời đất rộng mênh mông.

Đến 6 giờ ngày 18 tháng 7, quân ta đã quét sạch hệ thống chốt điểm bảo an, dân vệ ngụy quân. Chúng ta đã bắt được 35 trung đội, 3 phân chi cảnh sát, 6 mâm tề (ngụy quyền xã), thu toàn bộ xe GMC. Đây là một chiến thắng to lớn của quân ta, là niềm cổ vũ khích lệ toàn quân và toàn dân ta sẵn sàng tiến lên phía trước giành thắng lợi mới. Đòn tiến công bất ngờ của quân ta áp đảo hàng loạt các cứ điểm của địch đã làm cho bọn chỉ huy quân đoàn 1 quân khu 1 của địch khiếp sợ. Trời vừa mờ sáng, địch đã vội vã cho một máy bay trực thăng UH1A bay tới trinh sát. Ngày tận số của nó đã đến, khi nó vừa bay rè rè đến núi Khương Quế thì bị Đại đội súng 12,7 ly của Trung đoàn Ba Gia chốt ở đó bắn rơi tại chỗ.

Trong lúc các đơn vị nổ súng tấn công địch quyết liệt, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 cũng thi đua triển khai nhiệm vụ áp sát ngay cứ điểm Nông Sơn. Bọn địch đánh phản kích quân ta tới tấp, do đó các chiến sĩ phải vừa đánh lại phản kích của địch vừa xây dựng công sự vây lấn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 07:21:33 AM

Khoảng 8 giờ sáng, mặt trời đã lên cao, những đám mây đen đặc bao phủ bầu trời Nông Sơn mỗi lúc một tan dần và mất hẳn để nhường chỗ cho những tia nắng rực rỡ rót thẳng xuống mặt đất, báo hiệu một ngày mới lại đến. Các mục tiêu trong cứ điểm của địch càng hiện rõ mồn một trong ống kính của các trinh sát pháo binh ta. Theo lệnh của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, trên các trận địa pháo của ta, các pháo thủ thi đua hăng hái bắn thật mạnh, dồn dập vào đồn địch. Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân đoàn 1 quân khu 1 thấy được tuyến phòng thủ vòng ngoài của nó ở tây nam Đà Nẵng có nguy cơ bị quân ta phá vỡ, y liền ra lệnh cho sư đoàn 3 ngụy phải gấp rút đưa lực lượng lên An Hòa để phản kích lại quân ta.

Trận đánh diễn ra mỗi lúc một ác liệt, máy bay phản lực và máy bay trực thăng vũ trang của địch thi nhau nhào lộn trên không. Chúng gầm rít như xé nát bầu trời. Chúng liên tục giội bom và bắn rốc két vào bàn đạp tiến công của quân ta. Tiếng máy bay địch thét đồng thanh với tiếng bom, tiếng đạn rốc két nổ vang bầu trời làm cho trận chiến càng khốc liệt. Càng về trưa, trời càng nắng gay gắt, những đám cỏ tranh ở bên ngoài cứ điểm bén lửa bom napan bốc cháy rừng rực. Do trời nắng và quá nóng nên một số chiến sĩ của ta đã ngất xỉu.

Đúng 16 giờ, Bộ chỉ huy Sư đoàn 2 nhận định thời cơ dứt điểm đã tới liền hạ lệnh cho các trận địa pháo của ta tổng tiến công các cứ điểm. Những lô cốt cứ điểm của địch mỗi lúc lại hiện ra bộ mặt nham nhở, đỏ quạch của chúng.

Ba mươi tám lô cốt trong số bốn mươi mốt lô cốt, ụ súng của địch bị trúng tầm pháo của ta đã sụp đổ tan nát.

Đợt tấn công địch vừa dứt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 lệnh cho các hướng xuất kích, các bộ phận, các đơn vị vây lấn sử dụng hỏa lực đi cùng yểm trợ diệt hỏa lực địch, còn tất cả phải tiến thẳng vào đồn địch. Theo hướng chủ yếu, Đại đội 7 chiếm được chiến hào 1 và phát triển sang chiến hào 2. Các chiến sĩ của ta đã bị địch bắn chặn, có một số chiến sĩ ĐKZ 82 bị thương và hy sinh.

Vì sườn núi quá dốc, các chiến sĩ dùng B40 và B41 của ta không phát huy được tác dụng, không diệt được mục tiêu. Trong khi đó, địch vẫn liên tục bắn, đạn của chúng xới tung đất, bụi bay mù mịt trước đội hình của ta. Trước tình thế đó, sau khi nghiên cứu kỹ địa hình, chiến sĩ Lê Văn Cường bất ngờ vụt đứng thẳng người lên, hướng nòng súng B41 nhằm thẳng mục tiêu, điều chỉnh đường ngắm và bóp cò. Quả đạn đó của anh đã nổ trúng mục tiêu, khẩu đại liên thứ nhất của địch đã bị phá hủy. Hành động nhanh và chính xác của chiến sĩ Lê Văn Cường khiến kẻ địch không kịp phản ứng. Viên đạn B41 thứ hai lại lao vút đi đã dập tắt hỏa điểm tiếp theo của địch. Nhưng không may cho anh, khi anh đang lắp quả đạn thứ ba thì một quả đạn cối của địch đã nổ ngay bên cạnh anh. Chiến sĩ Lê Văn Cường hy sinh, anh ngã xuống trong tiếng hô "xung phong" vang lên của toàn đại đội như vừa để ghi nhận chiến công của anh vừa diệt kẻ thù để trả thù cho sự hy sinh của anh.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 07:22:10 AM

Ở hướng Đại đội 6, mặc dù cửa mở chưa thông nhưng toàn đơn vị vẫn nhanh chóng vượt qua hai hàng rào cuối cùng để đánh chiếm đầu cầu. Các chiến sĩ đã nhanh chóng dũng cảm phát triển vào trung tâm cứ điểm. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hưng đang quan sát trận địa, một tên lính ngụy bất ngờ từ ngách hầm nhảy ra. Cuộc vật lộn giữa anh và nó diễn ra ác liệt nhưng anh đã giết được nó.

Sau khi đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Phân đội đánh thọc sâu của Đại đội 5 do Trung đội trưởng Phan Văn Chiến chỉ huy nhanh chóng đánh thọc thẳng vào sở chỉ huy địch. Chiến sĩ ta phát hiện thấy một số tên giặc chạy xuống hầm ngầm nên nổ súng phun lửa xuống hầm ngầm thiêu cháy bọn ác ôn ngoan cố.

Đúng 17 giờ, lá cờ chiến thắng của sư đoàn trao cho Trung đoàn 31 trước giờ xuất quân có ghi dòng chữ: "Đoàn dũng cảm, đánh hăng, vây chặt, diệt gọn, dứt điểm nhanh" đã phấp phới tung bay trên nóc hầm sở chỉ huy địch, sở chỉ huy địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Chiến công nối tiếp chiến công, chiến công sau lớn hơn chiến công trước, quân ta đã tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước, xóa sổ hai tiểu đoàn chủ lực và 35 trung đội bảo an dân vệ của địch chỉ trong một trận đánh. Tin địch bại trận ở Nông Sơn làm xôn xao dư luận cả vùng. Địch bị giáng một đòn khá đau. Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân đoàn 1 quân khu 1 của địch rất tức tối, hắn lần lượt đưa sư đoàn 3 ngụy (thiếu) và liên đoàn 12 biệt động quân vào để phản kích lại. Nhưng trung đoàn 2 sư đoàn 3 ngụy và liên đoàn 12 biệt động quân đã bị Trung đoàn Ba Gia và Trung đoàn 36 của ta tiến công mạnh nên chúng lần lượt bị tiêu diệt từng tiểu đoàn.

Cũng trong thời điểm đó, Sư đoàn 304 (thiếu) của ta đã nổ súng tiến công Thượng Đức. Tiếp đó, ngày 31 tháng 7 Trung đoàn 38 của ta chuyển từ thế phòng thủ sang tiến công đánh chiếm các điểm cao Hòn Chiêng, Núi Giai, Lạc Sơn buộc quân địch phải tháo chạy khỏi các vị trí Gò Me Việt An, Chóp Chái. Bên cạnh đó, lực lượng vũ trang địa phương của hai tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam nổi dậy và tấn công làm địch tan rã từng mảng. Quần chúng nhân dân cũng nổi dậy diệt kẹp giành dân ở Quế Sơn, Tiên Phước, Thăng Bình. Địch từ cứ điểm đến ấp chiến lược càng ngày càng bị quân dân ta đánh phá quyết liệt, đặc biệt tuyến phòng thủ tây nam Đà Nẵng của địch bị quân ta đập tan, đẩy bọn chúng vào thế lúng túng, bó tay và bạc nhược.

Giữa lúc khí thế các hướng hoạt động của sư đoàn đang diễn ra sôi động, tất cả các chiến sĩ đang thi đua với tinh thần xốc tới đánh thẳng vào quân thù quyết tâm giành chiến thắng thì tôi phải theo lệnh điều động của quân khu về Sư đoàn 3 làm phó tham mưu trưởng sư đoàn.

Sau gần ba năm, từ năm 1972 đến năm 1974, tôi đã sống, công tác và chiến đấu ở "Sư đoàn thép"; được làm việc gần gũi với nhiều đồng chí cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu như: các đồng chí sư trưởng Nguyễn Chơn, Nguyễn Năng, Dương Lợi, Việt Sơn và các đồng chí chính ủy Phương Yên, Huy Chương... Đây là những đồng chí cách mạng anh hùng, dũng cảm mà tôi đã học tập được rất nhiều ở các anh những phẩm chất cao đẹp. Đó là ý chí tiến công kẻ thù, lòng trung thành vô hạn với Đảng và đầy tinh thần yêu nước thương dân. Đó là những tác phong chiến đấu táo bạo, ngoan cường, dũng cảm và đầy mưu trí linh hoạt, đạp bằng mọi gian khổ hy sinh đau thương giành thắng lợi vẻ vang.

Chặng đường chiến đấu giành độc lập, hòa bình cho toàn dân tộc vẫn đang tiếp diễn trên các chiến trường, nhiệm vụ mới đang chờ đón tôi ở Sư đoàn 3 Sao Vàng. Tôi sẽ lên đường mang trong mình một tinh thần "thép" quyết tâm cùng đồng đội đem hết sức mình chiến đấu quét sạch bóng quân thù.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 03:22:57 PM

IV

Tôi trở lại sư đoàn bộ binh 3 vỏn vẹn chỉ trong mười lăm ngày, nhanh hơn lần trước đi từ Sư đoàn 3 đến Sư đoàn 2 gần mười ngày. Bởi cuộc hành quân lần này chủ yếu chúng tôi đi qua các vùng đất đã được giải phóng, bóng giặc không còn, nên không phải luồn lách gian lao nữa. Chúng tôi băng qua nhũng cánh rừng cháy trụi, những quả đồi trọc chỉ còn trơ lại đá và đất cát, không phải bơi qua bơi lại con sông Tang mà thầy trò tôi đã phải vất vả vật lộn với nó ở chặng đường hành quân cách đây ba năm. Cuộc trở về lần này trong tôi vẫn còn lưu giữ biết bao kỷ niệm sâu sắc mà tôi đã có thời gian hơn một năm công tác với sư đoàn.

Sư đoàn 3 Sao Vàng (Quân khu 5) được thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1965, vào một thời điểm chiến tranh cực kỳ ác liệt tại vùng đồng bằng ven biển Khu 5, quê hương người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung).

Thời kỳ đó, hàng chục vạn quân Mỹ ùn ùn kéo vào miền Nam để chúng thực hiện một chiến lược chiến tranh mới "chiến tranh cục bộ". Mỹ và ngụy tiến hành đánh phá quyết liệt trên cả hai miền Nam - Bắc nước ta. Quân và dân cả nước thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ, cả nước sục sôi tinh thần khí thế đánh Mỹ.

Cơ cấu tổ chức ban đầu của Sư đoàn 3 Sao Vàng gồm có Trung đoàn 2, Trung đoàn 12, Trung đoàn 22. Chỉ huy đầu tiên là Sư trưởng Giáp Văn Cương và Chính ủy Đặng Hòa.

Sư đoàn vừa mới thành lập đã sẵn sàng tham gia đợt hoạt động đánh địch mạnh, để phối hợp với chiến trường toàn quân khu. Giữa tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã cùng lực lượng vũ trang Bình Định đánh trận đầu giành thắng lợi thật giòn giã, tiêu diệt gọn tiểu đoàn 2 biệt động quân của ngụy ở Đèo Phủ (cũ) bắc Bình Định. Đây là trận chiến đấu mở màn có một ý nghĩa lớn lao đối với truyền thống chiến đấu anh dũng kiên cường của sư đoàn. Tiếp sau trận mở đầu, tháng 12 năm 1965, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã kết hợp với lực lượng vũ trang Quảng Ngãi tiêu diệt cụm quân địch ở quận Minh Long, giải phóng hoàn toàn huyện Minh Long tỉnh Quảng Ngãi.

Với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành gần trọn một thập niên từ tháng 9 năm 1965 đến tháng 12 năm 1974, sư đoàn được sự lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy thường xuyên, chặt chẽ của khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các cấp ủy, chính quyền địa phương, của các đoàn thể, cơ quan quân sự địa phương và sự thương yêu đùm bọc của nhân dân phía nam quân khu, đặc biệt là quân và dân tỉnh Bình Định, Sư đoàn 3 Sao Vàng (Quân khu 5) đã phát huy được thắng lợi trận đầu, thực hiện quyết tâm, đạp bằng mọi khó khăn gian khổ hy sinh. Chiến sĩ và chỉ huy sư đoàn càng đánh càng mạnh, càng mạnh thì càng chiến thắng địch ngày một to lớn hơn. Những chiến thắng rực rỡ và chiến công huy hoàng của Sư đoàn 3 Sao Vàng luôn gắn liền với những thời điểm quan trọng và những dấu son lịch sử chói lọi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 03:24:08 PM

Mùa khô năm 1965 và 1966, quân Mỹ tiến hành cuộc hành quân phản công chiến lược lần thứ nhất nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta. Ở vùng đồng bằng ven biển Quân khu 5, địch đã tập trung vào tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Bình Định và tỉnh Phú Yên. Chúng huy động tới 7 sư đoàn, 5 trung đoàn, lữ đoàn lính Mỹ - ngụy cộng với lính chư hầu. Đế quốc Mỹ đã mở cuộc hành quân tìm và diệt Sư đoàn 3 Sao Vàng (Quân khu 5). Mục tiêu ban đầu của Mỹ là đánh chiếm Bồng Sơn, Tam Quan và sau đó chuyển vào khu thung lũng An Lão. Trong bốn mươi ngày đêm, cán bộ chỉ huy và các chiến sĩ Sư đoàn 3 Sao Vàng chiến đấu rất dũng cảm; ngày đêm quần nhau với địch và cùng với sức mạnh chiến đấu của quân, dân Bình Định đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân mang tên "Nghiền nát và Cánh trắng" của địch.

Quân dân ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Chỉ trong ngày đầu: ngày 28 tháng 1 năm 1966 ở khu vực Bồng Sơn, Tam Quan ta đã tiêu diệt 500 tên gồm Mỹ - ngụy, lính chư hầu, bắn cháy hai mươi máy bay lên thẳng... Trên chiến trường xuất hiện nhiểu tấm gương chiến đấu dũng cảm kiên cường của bộ đội và nhân dân.

Tại đội 10 Hoài Nhơn, ngày 30 tháng 1, quân ta bám chốt chặt, chiến đấu giữ chốt nhiều ngày. Đạn hết, mỗi chiến sĩ chỉ còn hai trái lựu đạn, đồng chí trung đội trưởng Phạm Ngọc Lồng và hai chiến sĩ quyết định đập nát nòng súng. Các anh quyết định: một trái lựu đạn dành cho địch, một trái dành cho mình. Quân địch lúc này vây kín xung quanh. Anh ném trái lựu đạn thứ nhất, ba tên địch chết ngay dưới chân đồi. Anh ném trái lựu đạn thứ hai bốn tên địch bị chết ngay tại chỗ. Bọn địch lại lồng lộn xông lên. Đồng chí Lồng trung đội trưởng và hai chiến sĩ đã đứng thẳng dậy khoác tay nhau hát vang bài ca "Giải phóng miến Nam". Tiếng hát của các anh đột ngột vang lên trên đồi, khí phách anh hùng bất khuất của các đồng chí làm cho quân thù khiếp sợ. Từ giờ phút này cho đến tối không một tên địch nào dám mon men đến gần đỉnh đồi.

Nhân dân ở Hoài Hảo, Hoài Châu, Hoài Thanh, mặc cho bom đạn địch cày xới, vẫn trụ bám đất kiên cường, ngày đêm phục vụ bộ đội, du kích chiến đấu.

Tôi còn nhớ lúc ấy, chị Hai Nhân đã vắt từng giọt sữa để cứu đồng chí tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Bình, anh bị thương nặng, mất nhiều máu, kiệt sức.

Chúng ta rất khâm phục tinh thần chiến đấu mưu trí thông minh của bác Bảy, bác Tư, chị Hoa, chị Đức, các bác và các chị có sáng kiến bỏ chiến sĩ Huỳnh Văn Bá bị thương nặng vào trong một cái chum, rồi khéo léo, táo bạo khiêng đồng chí qua vòng vây địch đưa về trạm cấp cứu phía sau...

Cuộc hành quân "Nghiền nát và Cánh trắng" của địch đã kết thúc vào ngày 6 tháng 3 năm 1966. Tên tư lệnh sư đoàn không vận số 1 Mỹ phụ trách cuộc hành quân đã bị cách chức vì để thất bại nhục nhã, một phần ba quân số bị tiêu diệt, 75 phần trăm máy bay trực thăng bị bắn rơi, loại khỏi vòng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 03:24:44 PM

Đế quốc Mỹ đã tập trung tới bảy mươi vạn quân gồm lính Mỹ, lính ngụy, lính các nước chư hầu của Mỹ cho cuộc phản công lớn lần thứ nhất của chúng bị thất bại. Kẻ thù không đạt được mục tiêu "Tìm diệt chủ lực Việt cộng" không phá được phong trào chiến tranh du kích của quần chúng nhân dân, không giành được thế chủ động trên chiến trường. Đế quốc Mỹ lại tiếp tục đưa hàng loạt sư đoàn: sư đoàn 4, sư đoàn 5, sư đoàn 9, nhiều lữ đoàn lính chư hầu, tăng thêm nhiều phương tiện chiến tranh chuẩn, bị mở cuộc phản công quân ta vào mùa khô năm 1966 và 1967. Chúng đặt lại mục tiêu là "Tìm diệt và bình định".

Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Bác Hồ kính yêu đã phát lời kêu gọi cả nước chống Mỹ: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Tháng 6 năm 1966, đồng chí Hoàng Văn Thái - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng đã truyền đạt Nghị quyết Trung ương 12 và tình hình các chiến trường cho Quân khu 5. Đồng chí Hoàng Văn Thái được quyết định của Trung ương ở lại công tác. Với cương vị là bí thư quân khu ủy, chính ủy quân khu, tiếp đó đồng chí làm bí thư Khu ủy Khu 5. Đồng chí đã chủ trì Hội nghị cán bộ quân chính toàn khu để đánh giá tình hình hoạt động trong một năm qua và đề ra yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thực hiện nhiệm vụ của quân khu, Sư đoàn 3 Sao Vàng phối hợp với quân dân Quảng Ngãi, Bình Định mở cuộc tập kích địch ở căn cứ Gò Hội, tiêu diệt 600 tên địch. Trung đoàn 12 trụ bám chiến đấu, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân Hoài Nhơn phá vỡ kế "Bình định" của Mỹ. Tháng 12 năm 1966, sư đoàn tiêu diệt bốn đại đội kỵ binh không vận Mỹ ở Long Giang, Lộc Giang. Ta tập kích tiêu diệt địch ở cụm quân hỗn hợp gồm 2 đại đội pháo binh, hai đại đội công binh Mỹ ở Xuân Sơn.

Đêm ngày 5 rạng ngày 6 tháng 2 năm 1966, đơn vị pháo binh Sư đoàn 3 Sao Vàng nã pháo vào căn cứ Độ Đức, bắn cháy 50 máy bay lên thẳng của Mỹ. Những cuộc tiến công địch liên tục với tinh thần chiến đấu không mệt mỏi, không sợ gian khổ, hy sinh, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 3 Sao Vàng (Quân khu 5) đã góp một phần làm thất bại gọng kìm trong chiến dịch "Bình định" của Mỹ - ngụy ở vùng ven biển miền Trung.

Giữa năm 1967 và 1968, hơn một triệu quân Mỹ - ngụy và lính chư hầu của địch bị dàn mỏng khắp các chiến trường miền Nam. Nội bộ giới cầm quyền Mỹ lục đục. Trên trường quốc tế uy tín của Mỹ giảm sút, bị cô lập. Trong nước Mỹ đã có nhiều cuộc biểu tình của nhân dân phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Quân dân ta đang ở thế tiến công, thời cơ chiến lược của ta đã đến. Trung ương Đảng hạ quyết tâm đánh đòn quyết định, tạo bước nhảy vọt buộc Mỹ phải thua ta về quân sự.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 03:27:46 PM

Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị quyết định chuyển cuộc cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định - Quân dân ta tiến hành cuộc tổng tiến công đồng loạt và nổi dậy đều khắp.

Các đồng chí lãnh đạo Khu ủy và Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định tập trung lực lượng ba thứ quân hoạt động mạnh. Xuân 1968 quân dân ta tiến công và nổi dậy tiêu diệt địch ở khắp nơi giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

Ngày và đêm giao thừa Mậu Thân (Xuân 1968), như thường lệ, quân dân cả nước vui mừng chờ đón lời chúc Tết của Bác Hồ. Lời thư chúc Tết của Bác xuân này là niềm vui của Bác hòa với niềm vui mà quân dân ta giành được chiến thắng địch trên khắp các chiến trường. Lời thơ của Bác như một mệnh lệnh, cổ vũ, động viên toàn quân dân ta đánh Mỹ giành thắng lợi hoàn toàn. Bác viết:

          "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
          Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
          Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
          Tiến lên!
          Toàn thắng ắt về ta
"1.

Chưa có một lần ra trận nào, lòng cán bộ chiến sĩ chúng tôi được giục giã sục sôi như lần này. Tất cả chúng tôi đều náo nức chờ giờ nổ súng.

Hòa với tiếng súng tiến công và nổi dậy của quân dân toàn miền Nam. Quân ta đã đánh vào hầu hết các thành phố và thị xã, một số thị trấn; ta đánh mạnh vào các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng, các kho tàng vũ khí, quân trang quân dụng của Mỹ - ngụy. Tại Quy Nhơn, trận mở màn của lực lượng đặc công 407 kết hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương, ta tiến công vào đài phát thanh, vào dinh tỉnh trưởng, ty cảnh sát, bến xe, nhà ga. Sau đó quân dân ta đã trụ bám lại trong lòng các thị trấn, thị xã chiến đấu tiêu diệt địch suốt một tuần lễ. Trong khi đó, lực lượng Trung đoàn 12 của sư đoàn đánh chiếm quận lỵ An Nhơn, đánh sở chỉ huy trung đoàn Nam Triều Tiên ở Phú Kiền. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 12 vượt đầm Thị Nại, phối hợp cùng lực lượng địa phương đánh chiếm, xóa sạch một loạt đồn bốt của bọn lính bảo an dân vệ. Trung đoàn 2 của sư đoàn tiến công vào quận lỵ Phú Mỹ, đồng thời có nhiệm vụ kiềm chế sư đoàn bộ binh không vận Mỹ. Phía nam, một bộ phận của sư đoàn đã phối hợp với Trung đoàn 10 chia cắt đường số 1 ở đoạn đèo Cù Mông. Phía bắc, sư đoàn đã hỗ trợ cho hàng vạn quần chúng nhân dân ở Hoài Nhơn nổi dậy bao vây thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan, đòi lật đổ chính quyền tay sai của Mỹ.
________________________________________
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2002, tr. 328.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Ba, 2016, 03:28:22 PM

Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 của quân dân ta là một điểm son chói lọi trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc anh hùng nói chung và quân dân miền Nam anh hùng nói riêng. Nội bộ chính phủ Mỹ càng thêm mâu thuẫn. Nhân dân nước Mỹ không còn tin vào khả năng chiến thắng của quân Mỹ trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam. Nhân dân tiến bộ và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới rất vui mừng và tin tưởng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta nhất định giành thắng lợi hoàn toàn.

Sau những ngày chiến đấu diệt địch trong thành phố, các chiến sĩ rút ra trụ bám đất chiến đấu kiên cường, tiêu diệt sinh lực địch ở vùng ven đô. Những tấm gương quân dân ta xả thân vì nước, chiến đấu oanh liệt đến hơi thở cuối cùng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã để lại những ấn tượng không bao giờ phai mờ trong lòng nhân dân thành phố, đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức tự hào dân tộc trong lòng những người dân sống lâu trong vùng địch kìm kẹp. Vinh dự cho Sư đoàn 3 Sao Vàng cũng là một trong những đơn vị chiến đấu oanh liệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Những thắng lợi to lớn trên hai miền Nam - Bắc đã tạo cho ta một sức mạnh cả về quân sự lẫn chính trị và tạo cho ta thế đẩy mạnh đòn tiến công trên mặt trận ngoại giao và đẩy Mỹ vào thế bị động lúng túng.

Thất bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ", Mỹ chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", từ đó đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh rút hết quân Mỹ về nước. Nhưng đế quốc Mỹ với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, Mỹ cố hà hơi tiếp sức làm cho quân ngụy mạnh lên và ra sức phản kích đánh phá ta quyết liệt. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta lại phải trải qua thời kỳ thử thách mới. Cuộc "Bình định" của địch và cuộc phá "Bình định" của ta đã diễn ra rất gay go quyết liệt.

Vào giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả nước đang ở vào thời kỳ thử thách mới, thì Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta qua đời. Được tin đau thương này, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Trung của Tổ quốc, trong đó có Sư đoàn 3 Sao Vàng lặng người trước ảnh Bác Hồ. Ngày 9 tháng 9 năm 1969, mọi trái tim đều hướng về Thủ đô Hà Nội nơi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang làm lễ truy điệu Bác Hồ. Mọi người im lặng, lắng nghe Đài tiếng nói Việt Nam phát đi bản Di chúc của Bác. Từng chữ, từng lời, từng câu trong lời di chúc thiêng liêng của Bác để lại cho dân tộc Việt Nam thân tình và xúc động. Đứng trước tấm ảnh chân dung của Người, mọi người nguyện thề trước vong linh của Bác, quyết biến đau thương lớn lao này thành hành động cách mạng, thành sức mạnh vô biên, đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng giành thắng lợi hoàn toàn là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc thỏa lòng mong muốn của Bác.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:50:51 PM

Vào giữa năm 1970 và năm 1971, sau thắng lợi to lớn của quân dân ta và sự thất bại nặng nề của địch, tháng 5 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta quyết định: "Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy, giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải thương lượng trong thế thua". Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Khu 5 và Tây Nguyên phải chấn chỉnh nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng tại chỗ mạnh và tổ chức lại chiến trường để đánh một số trận lớn hay tương đối lớn.

Sau Xuân Hè năm 1971, thực hiện quyết định của khu ủy, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn 3 Sao Vàng được tổ chức lại gồm có: Trung đoàn 2, Trung đoàn 12, Trung đoàn 21 do Sư trưởng Huỳnh Hữu Anh và Chính ủy Mai Tản chỉ huy. (Giữa năm 1970 Sư đoàn 3 giải thể chỉ để lại 2 trung đoàn độc lập là Trung đoàn 2 và Trung đoàn 12).

Để phối hợp với chiến trường miền Nam, thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của tiền phương Quân khu 5. Sư đoàn 3 Sao Vàng mở chiến dịch tiến công ở bắc Bình Định. Ta đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị, vũ trang địa phương nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng của sư đoàn 22 ngụy. Ta phá vỡ hệ thống phòng ngự cơ bản của địch giải phóng hoàn toàn huyện Hoài Ân.

Mở màn cho chiến dịch, đêm ngày 4 tháng 4 năm 1972 đơn vị đặc công quân khu bí mật bất ngờ tiến công cứ điểm Gò Lai. Chỉ sau hai mươi phút quân ta chiến đấu dũng cảm táo bạo, mãnh liệt, đã tiêu diệt 1 tiểu đoàn lính bảo an, tạo điều kiện cho trận then chốt trên chiến trường.

Sáng ngày 15 tháng 4, màn sương mù dày đặc trên đỉnh núi Hòn Bồ vừa tan thì tất cả các loại pháo cối, ĐKZ của sư đoàn bắn cấp tập nhả đạn chụp kín căn cứ địch. Bọn lính chưa kịp ăn sáng, chạy về lấy súng bò ra công sự chiến đấu. Ta nhất loạt xung phong, cắt chúng ra từng mảnh, tiêu diệt chiến đoàn 40 ngụy.

Đêm ngày 16 tháng 4, tiểu đoàn đặc công 403 và 406 của ta đã tiến công đánh thiệt hại nặng chi khu Tam Quan và sở chỉ huy của trung đoàn 40 ngụy ở Đệ Đức.

Ở phía sau lưng địch, Tiểu đoàn 50, Tiểu đoàn 52 và Tiểu đoàn 8 của ta cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước đã tiêu diệt hàng loạt đồn bốt bảo an, dân vệ. Chúng ta hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp. Cả tỉnh Bình Định bừng lên khí thế tiến công nổi dậy.

Quân đoàn 2, sư đoàn 22 ngụy không còn lực lượng chi viện. Bọn cố vấn Mỹ, bọn sĩ quan ác ôn dùng trực thăng bay trốn về Quy Nhơn. Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Tỉnh ủy Bình Định hạ quyết tâm phát động quần chúng nổi dậy giải phóng huyện Hoài Ân.

Quân dân ta giành chiến thắng dồn dập. Nhân thời cơ thuận lợi Bộ Tư lệnh sư đoàn đề nghị tiền phương quân khu cho phát triển các cuộc tiến công địch mạnh hơn nữa.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:51:35 PM

Ngày 25 tháng 4, quân ta vây ép tiểu đoàn 2 trung đoàn 41 ngụy ở Bình Dương và hai mươi vị trí địch đóng ở xung quanh. Tiếp đó quân ta chiến đấu với ý chí quyết tâm đã tiêu diệt tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 41 ngụy. Trung đoàn 41 ngụy đã mất sức chiến đấu. Thời cơ quân ta giải phóng Hoài Nhơn đã đến.

Ngày 28 tháng 4, Trung đoàn 21 được tăng cường quân của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 2, Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 12 tiến công địch ở Bồng Sơn với tinh thần chiến đấu dũng cảm đến 11 giờ ta giải phóng xong thị trấn Bồng Sơn.

Bọn địch ở thị trấn Tam Quan bỏ chạy, căn cứ Đệ Đức của địch, sở chỉ huy trung đoàn 40 có số quân 1.200 tên và 12 khẩu pháo gồm 105 ly, 155 ly, cối 106 của ngụy đã bị quân ta cô lập chúng giữa vùng giải phóng. Quân và dân Hoài Nhơn đã vây chặt chúng chờ ngày tiêu diệt hoàn toàn.

5 giờ 30 phút ngày 2 tháng 5, các súng pháo, cối của sư đoàn nhả đạn, bắn mãnh liệt vào căn cứ Đệ Đức. Các kho đạn và trận địa pháo của địch đã xơi đạn pháo của quân ta bốc cháy ngụt trời, đạn nổ vang rền cả một vùng. Quân ta tổ chức tiến công chia cắt chúng thành từng khu vực để tiêu diệt. Đến đúng 17 giờ, trận đánh kết thúc, phía bắc tỉnh Bình Định bao gồm huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn và một phần huyện Phú Mỹ, với 20 vạn dân và 1.500 kilômét vuông đất đai được giải phóng.

Chiến thắng Bắc Bình Định là một nghệ thuật quân sự. Nó đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Điển hình là sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và quần chúng nhân dân, là nghệ thuật tận dụng điều kiện thuận lợi của chiến trường chung ở miền Nam tạo ra với kết hợp sức mạnh của lực lượng tại chỗ. Ta đã đánh đòn quyết định này, đến đòn quyết định khác để giành thắng lợi gấp nhiều lần so với kế hoạch đề ra.

Với chiến thắng to lớn của chiến dịch Bắc Bình Định Sư đoàn 3 Sao Vàng: góp phần xứng đáng vào cuộc tiến công chiến lược 1972 giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết, đây là một thắng lợi vô cùng lớn lao của quân dân ta và là đòn thất bại nặng nề của đế quốc Mỹ trong chiến lược toàn cầu của Mỹ ở Việt Nam, là thể hiện danh dự của Mỹ trước con mắt thế giới. Với sự thất bại quá nhục nhã này đế quốc Mỹ lại tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" với công thức là: Quân ngụy cộng với Mỹ viện trợ kinh tế và cố vấn quân sự Mỹ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:51:59 PM

Hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 1 năm 1973 đã nhận định: Chúng ta phải sẵn sàng đối phó với khả năng xấu nhất là: "Địch gây chiến tranh trở lại".

Đúng như nhận định của Quân ủy, ngày 28 tháng 1 năm 1973, sau một ngày Hiệp định Pari được ký kết, tổng thống ngụy quyền miền Nam Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn tuyên bố: Không hòa bình, không ngừng bắn, không cộng sản... Và ra lệnh "Tràn ngập lãnh thổ". Chúng tiến hành đánh lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Thế là, cùng với quân và dân toàn miền Nam, Sư đoàn 3 Sao Vàng lại kề vai sát cánh với quân và dân tỉnh Bình Định đánh địch "Tràn ngập lãnh thổ".

Quân ta phải kiên quyết chiến đấu để bảo vệ vùng giải phóng Hoài Ân - một địa bàn chiến lược quan trọng ở phía bắc quân đoàn 2 của ngụy. Ở đây cuộc chiến đấu chống lấn chiếm và lấn chiếm giữa Sư đoàn 3 Sao Vàng và lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang Bình Định với các trung đoàn 40, trung đoàn 41, trung đoàn 42 thuộc sư đoàn 22 ngụy ngày đêm diễn ra liên tục và quyết liệt kéo dài từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 7 tháng 7 năm 1973. Trên các điểm cao 200, 174, 82, núi Chéo, Dụ Tự làm cho các dãy núi này từ chỗ quanh năm cây cối xanh tốt, dây leo chằng chịt, chim kêu vượn hót giờ trở thành núi trọc, đất đỏ. Bom đạn địch đã bắn phá, cày xới tan nát thành tro bụi. Trời nắng mà ta đi phải lội sâu quá đầu gối. Các trận địa chốt của ta phải dùng công sự bằng bao cát và đào hầm ngầm sâu trong lòng núi. Cuối cùng quân ta đã đánh bại được các cuộc phản kích của địch. Giữ vững chốt, bảo vệ được vùng giải phóng Hoài An và phía tây huyện Hoài Nhơn.

Qua gần hai năm (1973-1974), cuộc chiến đấu phòng thủ bảo vệ vùng giải phóng của Sư đoàn 3 Sao Vàng cùng quân dân bắc Bình Định về lực lượng và thế trận được xây dựng và phát triển mạnh, rộng khắp. Riêng Sư đoàn 3 Sao Vàng quân số trang bị có bị hao hụt nay được bổ sung, đến cuối năm 1974, sư đoàn đã được kiện toàn đủ biên chế gồm Trung đoàn 2, Trung đoàn 12, Trung đoàn 141 bộ binh, Trung đoàn 68 pháo binh, Tiểu đoàn 37 ly phòng không và các tiểu đoàn trực thuộc khác. Đó là những điều kiện thuận lợi cho sư đoàn bước vào cuộc chiến đấu mới.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:53:06 PM

*
* *

Tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp thông qua kế hoạch hai năm 1975-1976 giải phóng miền Nam và dự kiến thời cơ thuận lợi thì giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Chiến thắng vang dội của quân và dân ta ở chiến trường Tây Nguyên và các chiến trường khác đã gây nên sự sụp đổ đột biến cả về tinh thần, lực lượng và thế trận của quân địch. Cán cân lực lượng quân sự đã nghiêng hẳn về bên ta. Địch rất hoang mang, lo sợ không còn đủ sức để phản kích chiếm lại những vùng đất đã mất. Khả năng của chúng giữ vùng đất còn lại cũng rất mong manh. Thời cơ lớn đã xuất hiện.

Trên đà thắng lợi lớn lao của ta, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa.

Trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, quân ta thực hiện ba đòn quyết chiến, chiến lược là: chiến dịch Tây Nguyên mở đầu giải phóng Buôn Ma Thuột; chiến dịch Huế - Đà Nằng; chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sư đoàn 3 Sao Vàng - Quân khu 5 vinh dự được tham gia hai chiến dịch: chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh, với ba nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Một là, cắt đứt đường 19 kìm chân sư đoàn 22 ngụy và ba liên đoàn biệt động quân, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta giải phóng Tây Nguyên.

Hai là, tiến công chọc thủng tuyến tử thủ đập nát "lá chắn" Phan Rang mở đường cho Quân đoàn 2 thần tốc tiến vào Sài Gòn.

Ba là, đánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu, Cần Thơ, bịt chặt hướng biển không cho địch tháo chạy ra hướng này.

Ba nhiệm vụ trên, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tư lệnh cánh quân Duyên Hải giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 3 Sao Vàng từng bước.

Để thực hiện thắng lợi ba nhiệm vụ trên, Sư đoàn 3 Sao Vàng phải chiến đấu liên tục suốt 90 ngày đêm (từ ngày 3 tháng 2 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975). Cuộc chiến đấu đánh địch của sư đoàn phát triển trên một đoạn đường dài 600 kilômét. Chiến sĩ sư đoàn đã đánh truy kích địch dọc đường 19 cho tới Vũng Tàu. Trên đường đánh truy kích địch, tuy sư đoàn cũng gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Song sư đoàn cũng giành được nhiều thắng lợi, lập được nhiều chiến công vẻ vang tập trung vào ba trận lớn nhất của sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:54:15 PM

*
* *

Để chuẩn bị tốt cho trận chiến đấu dài ngày, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã chọn thung lũng Kim Sơn là địa điểm để sư đoàn huấn luyện và diễn tập cấp trung đoàn bao vây tiến công liên tục. Chúng tôi chọn khu vực Xuân Sơn nơi mà cách đây 10 năm đã diễn ra trận các chiến sĩ ta chiến đấu ác liệt tiêu diệt gọn hai tiểu đoàn pháo binh Mỹ, làm khu vực diễn tập chiến thuật trung đoàn bao vây đánh lấn. Theo đúng tinh thần mà Thiếu tướng Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ đã hướng dẫn cho Đoàn cán bộ Y trước khi vào Nam chiến đấu, vào Quân khu 5 giúp quân khu xây dựng khối chủ lực.

Trên thao trường sư đoàn, các chiến sĩ ta ngày đêm say mê luyện tập rầm rập khí thế chuẩn bị thật tốt cho chiến thuật bước vào cuộc chiến đấu mới. Tuy các chiến sĩ ta ai nấy đều vất vả nhưng ở họ đều toát lên niềm vui đầy chất thơ.

          Xuân Sơn ngày của nơi chiến địa.
          Xuân Sơn ngày này chốn luyện quân.
          Chuẩn bị tinh thần vào trận mới.
          Nhất định đợt này thắng lợi to.


Chúng tôi vừa tổ chức cho bộ đội huấn luyện vừa đi trinh sát thực địa để chuẩn bị cho phương án tác chiến. Chúng tôi đi trinh sát nhiều lần. Nhưng một lần không may, tổ quân y của ta đi vào khu vực địch phục kích. Chúng đã bắt được đồng chí quân y của ta, địch đánh đập, tra khảo rất dã man, dùng mọi ngón đòn cực hình nhưng đồng chí đã nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, trước mặt quân thù đồng chí không hề hé răng nói nửa lời. Bởi vậy mà kế hoạch tác chiến của chúng ta vẫn giữ được bí mật.

Tết năm ấy, sư đoàn không kịp ăn tết, đã lần lượt hành quân từ huyện Hoài Ân, qua dốc Bà Rơi vào triển khai trận địa kéo dài từ tây Phú Phong đến tây đèo Cây Ru.

Trận đánh mở màn, sư đoàn tập kích diệt chốt Chung Ổi, Che Chẻ, bọn địch đưa một trung đoàn của sư đoàn 22 ngụy vào phản kích lại ta. Quân ta đã điều động một trung đoàn tăng cường thực hiện chiến thuật: trận vận động bao vây, tiến công liên tục chúng ta đã tiêu diệt một tiểu đoàn địch. Tình hình đang phát triển thuận lợi cho quân ta thì quân địch phát hiện Sư đoàn 3 Quân khu 5 đã vào khu chiến trên đường 19. Địch lần lượt đưa sư đoàn 22 ngụy và ba liên đoàn biệt động quân vào phản kích quân ta.

Tình hình trở nên rất gay go phức tạp. Chúng ta có một sư đoàn chủ lực, một tiểu đoàn bộ đội địa phương Bình Định và các đại đội bộ đội huyện và dân quân, du kích ven đường 19. Địch có một sư đoàn chủ lực ngụy, ba liên đoàn biệt động quân, bảo an, dân vệ chốt giữ bảo vệ đường. Như vậy về tương quan lực lượng giữa ta và địch: ta có một, địch có hai. Song bộ đội ta nêu quyết tâm, ta phải cắt bằng được tuyến đường 19 để chi viện cho Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:54:51 PM

Cuộc chiến đấu ở đây ngày đêm diễn ra thật quyết liệt với hình thức cài răng lược xen kẽ rất chặt. Quân ta bao vây các chốt địch bảo vệ đường, quân địch lại bao vây lại quân ta, ta đánh địch, địch đánh ta. Ở trận Đồng Phó, một trung đoàn quân ta bao vây, tiến công một tiểu đoàn địch diễn ra ba ngày đêm mà không dứt điểm. Chúng ta bị thương vong khá cao, một tiểu đoàn xuất trận có 250 đồng chí nay chỉ còn 70 đến 80 đồng chí, đại đội chỉ còn 10 đến 15 đồng chí. Sở chỉ huy sư đoàn xử trí các tình huống vô cùng căng thẳng, có lúc lặng như nín thở.

Trong lúc ta đang gặp khó khăn nghiêm trọng thì Bộ Tư lệnh Quân khu 5 điện thông báo: ở Buôn Ma Thuột quân ta thắng lớn. Địch chuẩn bị rút khỏi Tây Nguyên. Quân khu lệnh cho Sư đoàn 3 truy kích địch trên đường 19.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 nhận định: hiện nay trên đường 19, sư đoàn 22 ngụy và bọn biệt động quân vẫn còn ngoan cố. Sư đoàn tập trung sức tiến công mạnh, địch phải co cụm lại. Ta phối hợp với lực lượng bạn đánh Phú Phong giành thắng lợi lớn. Bộ Tư lệnh thông báo ngày 18 tháng 3 địch đã rút khỏi Tây Nguyên. Địch có hiện tượng rút chạy trên tuyến đường 19. Bộ chỉ huy Sư đoàn 3 lệnh cho Trung đoàn 12 đánh ngược lên An Khê. Trung đoàn 2 luồn qua tuyến chốt của địch xuống chốt cầu Đề Di trên đường 1 có một bộ phận phát triển về An Sơn, nơi có sở chỉ huy sư đoàn 22 ngụy. Còn Trung đoàn 141 và sư bộ thì truy kích địch theo đường 19 về Phú Tài và Quy Nhơn. Đơn vị chúng tôi đến Phú Tài thì lực lượng của tỉnh Bình Định kết hợp tiến công và nổi dậy chiếm xong thị xã Quy Nhơn. Quân địch lúc này rất hoang mang, hoảng loạn, lính bộ binh của địch rồi xe tăng pháo binh địch chạy nhốn nháo, đạp dẫm lên nhau về phía biển.

Quân ta giải phóng xong đường 19. Sư đoàn 3 Sao Vàng và Sư đoàn 968 cùng Quân đoàn 2 hình thành đoàn quân Duyên Hải do đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hòa làm Chính ủy.

Trong hai Sư đoàn 3 và Sư đoàn 968 có một sư đoàn làm quân tiên phong đánh trước, mở đường cho đoàn quân Duyên Hải tiến vào Sài Gòn, còn một sư đoàn làm dự bị.

Vinh dự cho Sư đoàn 3 chúng tôi được cấp trên chọn làm quân tiên phong đi trước mở đường, do trong quá trình chiến đấu quân số và trang bị vũ khí đã bị hao hụt, tổn thất, để đủ sức làm nhiệm vụ tiên phong mở đường đi trước, quân khu đã bổ sung cho sư đoàn 50 xe gạo, đạn. Bộ Tổng tư lệnh bổ sung cho 100 xe và 3.000 quân, cho phép trưng dụng thêm 100 xe của nhân dân.

Những loại xe lớn (như xe Filông chở khách và xe Poluya chở hàng) đi từ phía nam ra là chúng tôi trưng dụng. Có 80 xe, chủ xe thì có 79 người vui vẻ đi làm nhiệm vụ.

Các chiến sĩ ở miền Bắc lần này vào bổ sung cho sư đoàn chúng tôi toàn thanh niên trẻ, khỏe, đẹp trai, hầu hết các đồng chí đã học qua cấp ba, có một số đồng chí là sinh viên đại học. Các ba, má miền Nam rất yêu quý các cậu tú, cậu cử vào Nam chiến đấu. Còn các em gái miền Nam thì rất quý mến những chàng trai miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Sau đợt sư đoàn nhận quân và phương tiện cấp trên bổ sung cho đơn vị trưng dụng xe của nhân dân, chúng tôi vô cùng phấn khởi vì đã qua 20 năm đánh Mỹ, chưa bao giờ sư đoàn lại được bổ sung nhiều như bây giờ. Đó là sự quan tâm của cấp trên, nhờ tinh thần hết lòng dốc sức của nhân dân hai miền Bắc - Nam, nên trước khi bước vào cuộc chiến đấu mới này, Sư đoàn 3 chúng tôi có một vạn quân được trang bị đầy đủ và 400 xe cơ giới đủ các loại, ai nấy đều phấn khởi đầy khí thế ra trận. Sư đoàn 3 Sao Vàng tiếp tục hành quân vào phía Nam, nơi chiến dịch lớn đang chờ đón.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:19:55 PM

*
* *

Bọn địch rút khỏi Tây Nguyên, tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho tướng sĩ lập phòng tuyến tử thủ Phan Rang, tạo một "lá chắn" vững chắc. Chúng hòng cố giữ phần đất miền Nam còn lại kéo dài từ cực Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long, phạm vi đất đai của hai quân khu, do quân đoàn 3 và quân đoàn 4 ngụy chiếm giữ, địch lập tiền phương quân đoàn 3, cử trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi ra chỉ huy.

Sư đoàn 3 Sao Vàng bắt đầu hành quân từ ngã ba đường 19 và đường số 1 vào đến Phan Rang phải hành quân bằng cơ giới, đoạn này dài 250 kilômét. Trên tuyến chúng ta đang hành quân, tình thế rất phức tạp. Chỉ cần chiến sĩ ta sơ suất một chút là có thể xảy ra ùn tắc hoặc đi lạc đường. Do vậy mà kế hoạch hành quân của sư đoàn vạch ra rất cụ thể. Mỗi xe phải có trưởng xe và người biết đường. Các ngã ba, ngã tư đều có người gác chỉ đường đến Ninh Hòa là nơi tập kết của các đơn vị trong sư đoàn có kẻ một biển lớn T300. Đến địa điểm, các đoàn xe có người dẫn vào đơn vị của mình. Chiều ngày 12 tháng 4 năm 1975 có bốn xe do người chỉ huy ngủ gật, xe đi qua trạm Ninh Hòa đến đèo Rù Rì gần Nha Trang đã bị máy bay địch phát hiện, chúng lao vào bắn phá, bốn xe của ta bốc cháy. Đạn nổ, hai chủ xe hy sinh, ba người bị thương, xe bị hỏng. Sau trận ta đánh thắng Phan Rang, chúng tôi đã làm thủ tục giải quyết chính sách cho hai liệt sĩ, ba người là thương binh.

Sư đoàn 3 chiến đấu kiên cường dũng cảm suốt hai ngày mới đánh xong tuyến vòng ngoài của địch như Ba Râu, Kiền Kiền... Chưa đánh dứt điểm được thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn. Máy bay địch ở sân bay Thành Sơn vẫn mang bom, đạn rốc két đi đánh phá khu vực Cam Ranh. Chúng đánh vào cả sở chỉ huy tư lệnh cánh quân Duyên Hải. Các đồng chí ở Bộ Tổng tham mưu đã khiển trách sư đoàn chúng tôi.

Theo lệnh của sư đoàn trưởng Trần Bá Khuê, cơ quan tham mưu cử cán bộ tác chiến của sư đoàn xuống đơn vị trực tiếp kiểm tra thấy một tiểu đoàn pháo gồm 12 khẩu 105 ly không nổ súng. Các đồng chí đó giải thích vì chưa có công sự, sợ địch phản pháo. Thường vụ Đảng ủy sư đoàn họp quyết định cách chức tiểu đoàn trưởng, đồng chí tiểu đoàn phó lên thay.

Từ mờ sáng ngày 16 tháng 4, các trận địa pháo của Sư đoàn 3 Sao Vàng bắn mãnh liệt vào thị xã Phan Rang. Đạn pháo nổ vang trời kết hợp với những đám cháy dữ dội, khói mù mịt phủ kín bầu trời thị xã. Pháo của ta vừa chấm dứt thì lực lượng thọc sâu vào Quân đoàn 2 bao gồm xe tăng và bộ binh bất ngờ, dũng cảm ào tới thọc thẳng vào dinh tỉnh trưởng. Quân địch run sợ, tháo chạy tán loạn, tất cả các hướng của ta đã đồng loạt xung phong tiến vào tiêu diệt địch. Đến 12 giờ trưa, Trung đoàn 12 của ta đã làm chủ Phan Rang. Trung đoàn 25 chiếm Thành Sơn. Trung đoàn 141 chiếm Ninh Trữ. Còn Trung đoàn 2 giữ các tuyến vòng ngoài và kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương truy lùng tàn quân địch, tịch thu vũ khí, ổn định tình hình nhân dân.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:20:35 PM

Chiều hôm đó, lúc 14 giờ, máy bay trực thăng và máy bay phản lực của địch vẫn còn quần lộn ở phía tây nam thị xã Phan Rang. Cơ quan tham mưu đề nghị với sư trưởng lệnh cho Trung đoàn 12 tung hết lực lượng ra truy quét địch theo hướng đó, nhưng phải đề phòng tàu chiến của địch ở ngoài biển gọi trực thăng địch đến bốc chúng đi.

Đúng 17 giờ, chúng tôi đang trực ở sở chỉ huy sư đoàn thì nhận được điện của đồng chí Biền, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12: Báo cáo tham mưu sư đoàn, tổ anh nuôi Trung đoàn 12 đã bắt được tướng ngụy.

Tôi hỏi lại:

- Bắt như thế nào? ở đâu? Tên nó là gì?

Vẫn với chất giọng khàn khàn, Trung đoàn trưởng 12 báo cáo: "Tổ anh nuôi có ba đồng chí, tới vườn mía thì thấy lũ giặc có tới 15 đến 20 tên mà quân ta thì ít quá. Đồng chí tổ trưởng liền nghĩ kế nghi binh lừa giặc. Anh hô lớn: "Trung đội 1 bên phải, trung đội 2 bên trái, sẵn sàng xung phong, trung đội 3 bắn!". Bọn địch hoảng hốt kêu lên: "Đừng bắn! Chúng em xin hàng". Tất cả bọn chúng bỏ súng xuống đất, tay giơ cao, lốc nhốc kéo ra. Tên đi đầu xưng tên là trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi. Tên thứ hai nói tiếp: "Em là chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang".

Tôi liền quay sang hỏi các đồng chí quân báo sư đoàn, trong danh sách tướng ngụy có những tên đó không?

- Có! - Anh em báo cáo với khẩu lệnh gọn và rất nhanh.

Đồng chí sư trưởng lệnh cho Trung đoàn 12 giải chúng về sư đoàn. Lập tức chúng tôi áp tải chúng đưa về tiền phương Bộ (Tư lệnh cánh quân Duyên Hải đóng ở Cam Ranh).

Sáng hôm sau, ngày 17 tháng 4, Thượng tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Lê Quang Hòa đến thăm sư đoàn bộ tại ấp An Quý, tây thị xã Phan Rang. Đồng chí Lê Trọng Tấn thay mặt Bộ biểu dương Sư đoàn 3 Sao Vàng - Quân khu 5 là đơn vị đầu tiên bắt tướng ngụy.

Anh em rất phấn khởi trước sự động viên của Thủ trưởng. Vừa giải phóng Phan Rang xong, sư đoàn chúng tôi lại bước vào cuộc chiến đấu mới. Thời gian còn mười ngày nữa chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mở màn. Thời gian chỉ vẻn vẹn từ ngày 16 đến ngày 26 tháng 4; công việc chuẩn bị rất khẩn trương. Quán triệt tư tưởng thần tốc, quân ta vừa chuẩn bị vừa cấp tốc hành quân bằng cơ giới, ban đêm hành quân, ban ngày nghỉ. Cứ đi và đi rổi lại nghỉ, với tốc độ nhanh sư đoàn vào khu vực tập kết thật bí mật, thật an toàn. Đêm ngày 24 tháng 4, Sư đoàn 3 đã vào đến Xuân Lộc. Nơi đây Quân đoàn 4 vừa dứt chiến đấu, toàn sư đoàn đã triển khai vào trận địa xuất phát tiến công ở khu vực rừng cao su ven thị xã Bà Rịa.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:21:51 PM

15 giờ ngày 26 tháng 4, Sư đoàn 3 Sao Vàng được lệnh nổ súng, cùng với một số đơn vị đánh trước, mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sư đoàn đánh vào thị xã Bà Rịa, đến 19 giờ chúng ta chiếm được dinh tỉnh trưởng ngụy và một nửa thị xã. Trên tăng cường cho sư đoàn 4 xe tăng, khi xe chạy ra rừng cao su bị sập hầm mất hai chiếc. Một xe tiến vào gần dinh tỉnh trưởng bị trúng đạn địch bốc cháy. Như vậy chỉ còn một xe. Các chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm. Đêm đó là đêm trận chiến diễn ra thật dữ dội, chiến sĩ ta quần nhau với địch. Quân ta chiếm phía bắc thị xã, bọn địch chiếm phía nam Bà Rịa.

Mờ sáng ngày 27 tháng 4, sư đoàn lại đánh tiếp, lại bao vây chia cắt tiêu diệt địch, áp sát địch để tiêu diệt trong từng căn nhà. Chúng ta phải chiến đấu để đập tan khối địch cố thủ ở trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp. Quân địch không còn cách nào khác phải bỏ Bà Rịa chạy xuống Vũng Tàu. Trên đường tháo chạy, địch dùng mìn giật sập cầu Cỏ May hòng làm cản trở đường ta truy kích.

Ngày 28 tháng 4, sư đoàn tổ chức vượt sông Cỏ May bằng sức mạnh: ta sử dụng pháo của sư đoàn bắn vào trận địa pháo địch ở phía nam cầu cỏ May. Ta dùng thuyền của dân chở bộ đội vượt sông. Quân địch ở phía nam cầu đánh trả dữ dội. Quân ta bị thương vong mà vẫn không vượt qua sông được. Trung đoàn 2 phải dừng lại.

Chiều hôm đó, đồng chí Nguyễn Thương, Tham mưu trưởng Sư đoàn đi đốc chiến Trung đoàn 12, điện về xin ý kiến sư đoàn cho một bộ phận của Trung đoàn 12 trong đêm bí mật vượt qua sông ở khu vực Phước Tỉnh cách cầu Cỏ May 5 kilômét về phía đông, từ đó đánh tạt sườn vào cụm hỏa lực địch ở nam cầu Cỏ May. Đây là một sáng kiến được Sư trưởng Trần Bá Khuê và Chính ủy Mai Tân rất hoan nghênh. Tôi là phó tham mưu trưởng sư đoàn truyền đạt ý kiến nhất trí của sư đoàn trưởng cho đồng chí Thương và Trung đoàn 12 thực hiện, đồng thời thống nhất kế hoạch hiệp đồng tác chiến giữa Trung đoàn 12 và Trung đoàn 2.

Mờ sáng ngày 30 tháng 4, một tiểu đoàn của Trung đoàn 12 sau khi vượt sông đã bất ngờ nổ súng tiến công bên sườn cụm quân địch ở nam cầu Cỏ May. Quân địch bị tiến công bất ngờ, không đủ sức mạnh đánh trả, phải tháo chạy. Trung đoàn 2 nhanh chóng vượt sông và cùng Trung đoàn 12 đánh vào thành phố Vũng Tàu, theo ba mũi: Hai mũi quân ta đánh quặp vòng ngoài ra phía sau núi Vũng Tàu. Một mũi đánh chính diện, bộ đội xung phong đánh thẳng vào trung tâm Vũng Tàu. Địch hoảng loạn dẫm đạp lên nhau mà chạy. Các loại xe tăng, pháo cối, xe cơ giới, xe hon đa địch vất ngổn ngang dọc đường phố và bãi biển. Đúng 9 giờ sáng quân ta đã làm chủ Vũng Tàu, một bộ phận phát triển ra Cần Giờ. Quân ta ở Vũng Tàu và Cần Giờ sẵn sàng đánh địch nếu chúng từ Sài Gòn chạy ra hướng biển, tất cả sẵn sàng thực hiện theo đúng nhiệm vụ được cấp trên trao cho, nhưng không một tên địch nào lui tới vì trên các hướng quân ta bao vây chia cắt chiến thuật khá tốt.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:22:36 PM

Qua đợt chiến đấu dài ngày, liên tục, tất cả cán bộ, chiến sĩ, dân công hỏa tuyến, ai nấy đều dốc hết sức lực cho chiến đấu và cho chiến thắng. Hoàn thành xong nhiệm vụ mới thấy thấm mệt. Đêm về, các chiến sĩ ta đã thiếp đi trong giấc ngủ khải hoàn, vui sướng.

Tiếng điện thoại reo lên, từ đầu dây, trực ban Quân đoàn 2 báo lại: hồi 10 giờ 45 phút, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã thọc thẳng vào Dinh Độc Lập, nơi hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy ở Sài Gòn.

Tôi vô cùng sung sướng, gọi mọi người thức dậy, mở to Đài tiếng nói Việt Nam ra nghe. Từ Đài tiếng nói Việt Nam phát đi với giọng của đồng chí phát thanh viên thật dõng dạc truyền cảm:

"Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Từ các hướng quân đội ta tiến công vào Sài Gòn, tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Quần chúng nhân dân nổi dậy làm chủ thành phố. Thành phố được bảo vệ nguyên vẹn". Mọi người nghe xong, ai nấy đều vui mừng, phấn khởi, sung sướng, cảm động không nén nổi, nước mắt giàn giụa không ngăn lại được. Trước tình cảm xúc động quá mạnh, tôi ứng tác luôn mấy vần thơ mộc mạc miêu tả khí thế của chiến sĩ sư đoàn chiến đấu quyết chiến với quân thù:

Cắt đường mười chín vây chiến dịch
Tích cực góp phần mở Tây Nguyên
Đánh tan sư đoàn hai hai ngụy
Phối hợp địa phương chiếm Quy Nhơn

Tấn công đập nát tuyến Phan Rang
Hiệp đồng chặt chẽ diệt Thành Sơn
Dẫn đầu toàn quân bắt tướng ngụy
Sư Ba rực rỡ ảnh sao vàng.

Phối hợp chiến dịch Hồ Chí Minh
Thần tốc tiến công chiếm Bà Rịa
Nhanh chóng vu hồi vít Vũng Tầu
Sài Gòn thất thủ địch chạy đâu?

Sung sướng đón mừng tin đại thắng
Sư Ba vinh dự góp công đầu.



Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:23:38 PM

*
* *

Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nhân dân ta được hưởng hòa bình và toàn dân tộc ta đi vào xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Cũng như nhiều đơn vị khác, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã tổ chức ra một số ban liên lạc "tình bạn chiến đấu" của sư đoàn ở một số thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi muốn tập hợp những cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn đã nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành đang làm việc, sinh sống trên địa bàn quê hương. Hàng năm cứ đến ngày 2 tháng 9 anh em lại họp mặt đông đủ để chào mừng ngày Quốc khánh của dân tộc và kỷ niệm ngày truyền thống của sư đoàn. Điểm lại xem anh em ai còn, ai mất, mặc niệm đồng chí vừa qua đời. Cùng nhau ôn lại lịch sử hào hùng, những chiến công hiển hách của Sư đoàn 3 Sao Vàng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ oai hùng của dân tộc.

Trong những giờ phút ấy, chúng tôi bùi ngùi nhớ tới Bác Hồ kính yêu, nhớ những ngày mọi người đau thương tiễn biệt Bác đi xa. Vẫn còn văng vẳng bên tai lời Di chúc Bác dặn lại, phải đánh Mỹ giành độc lập, tự do cho dân tộc... Chúng tôi bùi ngùi nhớ lại cố Đại tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Trung tướng Vương Thừa Vũ và vui mừng được biết Đại tướng Chu Huy Mân (tức Hai Mạnh) tuy đã già (90 tuổi) nhưng vẫn mạnh khỏe tinh tường. Chúng tôi cũng nhớ lại vào thời kỳ cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (1972-1975), quân ta ở thế chủ động tiến công, thế thắng. Địch ở thế phòng ngự, bị động, thế thua. Đoàn Y của Bộ Tổng tham mưu do Thượng tá Nguyễn Năng (nay là Trung tướng Nguyễn Năng) làm Trưởng đoàn vào Quân khu 5. Đồng chí đã trực tiếp xuống giúp đỡ Sư đoàn 3 Sao Vàng. Đoàn đã mang tư tưởng chỉ đạo mới của Bộ vào quán triệt: "Tư tưởng xây dựng sư đoàn mạnh. Tác chiến tập trung chính quy hiệp đồng binh chủng tiến công tiêu diệt từng trung đoàn, đánh quỵ sư đoàn quân chủ lực ngụy...". Đồng thời, các đồng chí giúp sư đoàn vận dụng sáng tạo những hình thức chiến thuật cấp trung đoàn, trung đoàn tăng cường về bao vây đánh lấn, vận dụng bao vây tiến công liên tục trong điều kiện mới. Tạo cho sư đoàn đủ sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975. Nổi bật là ba trận quyết chiến của sư đoàn: Đường 19, Phan Rang, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Giờ đây toàn dân ta được vui mừng sung sướng sống trong cảnh hòa bình, xây dựng hạnh phúc gia đình. Chúng tôi càng nhớ thương vô vàn những đồng chí đồng đội thân yêu của mình đã ngã xuống mảnh đất này để cho Tổ quốc nở hoa độc lập, kết trái tự do. Các anh vĩnh viễn ra đi nhưng hồn thương của các anh còn mãi ở cùng chúng ta, cùng non sông đất nước.

Chúng tôi nhớ lại ngày đoàn cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn tổ chức đi thăm lại chiến trường chống Mỹ nhân kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống sư đoàn (1965-1995). Đoàn đi từ Hà Nội vào Bình Định, ngược lên đường 19, ra Phan Rang - nơi sư đoàn bắt tướng ngụy đầu tiên, rồi xuôi về Bà Rịa - Vũng Tàu. Trên đường đi thăm, chúng tôi tìm được một số đồng đội đang sống ở quê hương với cảnh đời thường. Chúng tôi về các khu chiến trường năm xưa, vào thăm các nghĩa trang liệt sĩ, lần theo các mộ chí để tìm đồng đội, đồng chí của mình đã yên nghỉ ở nơi đây từ hơn hai mươi năm về trước. Đoàn tôi đến nghĩa trang Phan Rang, anh em đã tìm được đồng chí của đơn vị mình. Anh em trong đoàn không ai bảo ai cứ thế ôm bia khóc nức nở, khóc như vừa được chứng kiến sự ra đi của đồng chí anh em. Khóc mãi, khóc mãi...

Sau giờ phút gặp gỡ xúc động đó, chúng tôi về đài tưởng niệm một lần nữa chào các anh ở lại, rồi ghi vào sổ lưu niệm của ban quản trang mấy dòng về tình đồng đội sâu nặng, về công lao và sự hy sinh thật anh hùng và bất diệt của các anh.

Trận địa đổi thay, nghĩa trang còn đó
Lòng ngậm ngùi thương nhớ bạn đi xa
Xương, máu các anh trở thành hồn nước
Tưới thắm cho đời độc lập, tự do.


Cúi chào các anh, trong chúng tôi người nào cũng trầm ngâm, rời nghĩa trang mà thầm nhủ lời hứa của mình với linh hồn các anh rằng: Tuy tuổi chúng tôi đã cao, mỗi người ở những hoàn cảnh cuộc sống khác nhau. Song đều hứa với các anh mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, suốt đời đi theo Đảng, góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới của đất nước, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, văn minh, hiện đại.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:30:17 PM

V

Chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc (30 tháng 4 năm 1975) một thời kỳ chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng anh hùng bất khuất. Chiến thắng lịch sử 30 tháng 4 mở ra một trang sử mới của dân tộc ta. Tổ quốc được thống nhất, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cơ quan Quân khu bộ Quân khu 5 từ căn cứ rừng núi tỉnh Quảng Nam chuyển về thành phố Đà Nẵng; nhưng sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 lại tạm biệt thành phố Đà Nẵng trở lại vùng rừng núi Tây Nguyên công tác. Nhiệm vụ chủ yếu của sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 là thay mặt Bộ Tư lệnh quân khu ở sở chỉ huy cơ bản chỉ huy các lực lượng vũ trang gồm lực lượng chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương phải kết hợp chặt chẽ cơ quan quân dân chính Đảng ở địa phương cùng nhau giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên do địch cài lại, bọn này tiếp tục hoạt động, tìm mọi sơ hở để hoạt động chống phá cách mạng, phá cuộc sống hòa bình của nhân dân ta.

Nhiệm vụ mới của sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 rất quan trọng và vô cùng phức tạp, mà ban đầu chúng ta chưa lường hết được.

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh Sư đoàn 3 Sao Vàng chuyển về vùng Diên Khánh, Nha Trang củng cố lại lực lượng chuẩn bị xây dựng sư đoàn trong điều kiện mới thì nhận được thông báo của quân khu "Bộ Tổng tham mưu điều Sư đoàn 3 - Quân khu 5 về đội hình Quân khu 1, tăng cường cho hướng phòng thủ phía bắc". Là phó tham mưu trưởng Sư 3 vào Nam chiến đấu đã lâu nay được ra miền Bắc với sư đoàn để gần nhà thì còn gì hơn nữa. Trong khi tôi đang mừng thầm thì có lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, do Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân ký, điều thượng tá Trần Bá Khuê - Sư trưởng Sư 3 về làm tham mưu trưởng Quân khu 5, trung tá Vũ Ba (Quyết Tâm) - Phó tham mưu trưởng Sư 3 về làm phó tham mưu trưởng quân khu, phụ trách tác chiến, trước mắt là làm tham mưu tiền phương quân khu giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên. Thế là nguyện vọng riêng của tôi bị gác lại để tập trung vào nhiệm vụ mới trong truy quét FULRO ở Tây Nguyên mà Đảng và quân đội giao phó.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:30:55 PM

Tây Nguyên là vùng cao nguyên, nhiều núi rừng rộng lớn bao la, chiếm tới hai phần ba đất đai Khu 5. Tây Nguyên rộng 67.000 kilômét vuông bao gồm các cao nguyên lớn: Cao nguyên Kon Tum, cao nguyên Gia Lai, cao nguyên Đắc Lắc, Lăng Bi Ăng và cao nguyên Di Linh. Dân cư ở đây thưa thớt, chủ yếu là người các dân tộc thiểu số, người Sê Đăng, người Gia Rai ở cao nguyên Kon Tum, người Ê Đê, người Mơ Nông ở cao nguyên Đắc Lắc, người Kơ Ho, người Mạ ở cao nguyên Lâm Đồng. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược là bọn thực dân Pháp xưa kia và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ vừa qua. Các dân tộc Tây Nguyên đã đoàn kết cùng nhau đi theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ. Họ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, họ tìm mọi cách để diệt nhiều sinh lực địch, tịch thu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Lập nên những chiến công, kỳ tích, xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu như anh hùng Vai, anh hùng Núp... Và nhiều tấm gương anh hùng, liệt sĩ khác.

Tây Nguyên là một địa bàn quân sự có tầm chiến lược quan trọng đối với đất nước Việt Nam, là vùng gồm nhiều rừng núi mọc san sát trùng trùng điệp điệp. Có địa thế rất cao so với các vùng tiếp giáp Tây Nguyên sừng sững như một mái nhà rộng lớn. Tây Nguyên là trục nối liền với miền Bắc, giao tiếp với cao nguyên Nam Lào, với miền Đông Bắc Campuchia. Phía nam của cao nguyên trải dài thoai thoải xuống đồng bằng rộng lớn miền Đông Nam Bộ. Sườn đông của cao nguyên đổ xuống đồng bằng chạy dài ven biển nhỏ và hẹp.

Do địa thế hiểm trở vững chắc, Tây Nguyên có thế đứng vô cùng lợi hại, khống chế hầu như toàn bộ các vùng xung quanh, tạo ra một vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, không những đối với miền Nam nước ta mà cả phần phía nam Đông Dương.

Tuy trình độ kinh tế, xã hội, văn hóa dân tộc chưa được phát triển so với các vùng khác trên đất nước ta, nhưng Tây Nguyên là vùng đất căn cứ lâu dài, bền vững của cách mạng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày nay trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Tây Nguyên vẫn là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh của đất nước ta.

Hiểu rõ vị trí chiến lược của Tây Nguyên nên kẻ địch luôn coi trọng vùng đất này, tìm mọi cách giành giật địa bàn này; trong cuộc xâm lược nước ta lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dốc sức cố gắng về mọi phương tiện chiến tranh và lực lượng quân tinh nhuệ nhằm kiểm soát vùng Tây Nguyên. Thực dân Pháp có mưu đồ phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông Dương. Đến khi bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, quân Pháp cũng dốc sức đánh chiếm và bình định Tây Nguyên để giữ thế của chúng ở phía nam Đông Dương. Khi đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, ngay từ những năm đầu chúng đã có âm mưu chiếm lĩnh vùng Tây Nguyên theo chiến lược chiến tranh xâm lược của chúng. Theo chúng muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải: "Kiểm soát bằng được vùng cao nguyên trung phần có tính chất chiến lược này". Bởi vậy đế quốc Mỹ đã ra sức xây dựng Tây Nguyên thành một căn cứ chiến lược lớn để khống chế cả Đông Dương và vùng Đông Nam Á. Cuộc xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ đã thất bại hoàn toàn nhưng bản chất xâm lược của chúng không thay đổi, trước giờ thất bại, đế quốc Mỹ đã cùng với ngụy quyền Sài Gòn đặt ra một kế hoạch gọi là "Kế hoạch hậu chiến". Theo kế hoạch này, chúng dựa vào đám tàn quân ngụy tổ chức xây dựng, cài cắm lại các đảng phái phản động ở miền Nam để chống phá lại cách mạng ta. Đặc biệt trên địa bàn Tây Nguyên chúng đã khẩn trương khôi phục và mở rộng lực lượng phản động FULRO để đánh phá căn cứ cách mạng ngày đầu miền Nam mới được giải phóng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:31:31 PM

Là một lực lượng cực kỳ phản động do Mỹ - ngụy tổ chức, nuôi dưỡng, trang bị, huấn luyện và hoạt động. Bọn chỉ huy lãnh đạo FULRO tuyên truyền, dân tộc Tây Nguyên sống khổ cực là do chế độ "Cộng sản". Chúng nói con đường duy nhất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là phải vùng lên đấu tranh với cộng sản, phải tham gia vào mặt trận FULRO đòi cho được thành lập nước Đêga tự trị. Chúng đưa ra những lời phù phiếm và đã lừa gạt một số đồng bào, bà con dân tộc ngộ nhận tham gia lực lượng FULRO.

Trong lực lượng FULRO, chúng tổ chức thành mặt trận. Chúng dựng lên một chính phủ lâm thời, lập ra đầy đủ các ban bệ của một nhà nước; có thủ tướng, các bộ trưởng quốc phòng, nội vụ, tài chính, có cả ủy ban thanh tra FULRO... do tên K Ba Kối, K Ba Hăm làm tổng chỉ huy.

Lực lượng vũ trang của chúng phát triển khá đông, có tới hàng vạn tên, chúng tổ chức thành trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội... Trang bị vũ khí của chúng chủ yếu là súng bộ binh, chông thò, cạm bẫy. Khởi đầu chúng dựa vào các buôn bản. Chúng rào giậu tạo ra thế làng chiến đấu, bản chiến đấu, vũ trang công khai chống lại lực lượng quân đội ta, cán bộ ta. Bọn chúng đã khống chế, cưỡng ép, mua chuộc, tiêu diệt hoặc đánh bật lực lượng ta ở một số cơ sở để chiếm địa bàn. Chúng đã phục kích diệt xe của ta trên đường giao thông. Chúng tập kích đánh ta ở những nơi ta sơ hở như các cơ quan, các kho tàng... Địch gây nên tình hình vùng Tây Nguyên căng thẳng, làm cho cán bộ và nhân dân lo sợ. Nhiều nơi, cán bộ buôn, xã phải sơ tán lên huyện, lên tỉnh, hoặc lánh vào rừng. Bọn FULRO vừa tìm mọi thủ đoạn tiêu diệt lực lượng cán bộ cơ sở của ta, đồng thời đánh đòn tâm lý vào đồng bào dân tộc thiếu niềm tin vào Đảng, vào cách mạng.

Sau ngày giải phóng, nhân dân miền Nam rất phấn khởi, hồ hởi sống trong không khí hòa bình, toàn dân đang thi đua xây dựng cuộc sống mới thì ở Tây Nguyên không khí chiến tranh do bọn FULRO gây ra đã bao trùm lên khắp buôn làng, khắp núi rừng. Đồng bào Tây Nguyên ngày đêm phải đối mặt với kẻ thù. Máu của đồng bào dân tộc còn phải đổ.

Nhiệm vụ của Quân khu 5 là phải điều chỉnh lại thế trận, bố trí lực lượng, tập trung vào hướng trọng điểm là địa bàn Tây Nguyên để nhanh chóng dập tắt các ổ nhóm phản động FULRO có vũ trang, đưa lại hòa bình thực sự cho nhân dân các dân tộc Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:32:13 PM

Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 làm nhiệm vụ truy quét bọn FULRO được thành lập gồm một phó tư lệnh Quân khu 5 phụ trách tư lệnh tiền phương. Một đồng chí phó tham mưu trưởng quân khu phụ trách tham mưu tiền phương; các bộ phận tham mưu, chính trị, hậu cần, các phó chủ nhiệm binh chủng trinh sát, thông tin, pháo binh, công binh phụ trách các chủ nhiệm binh chủng tiền phương, sở chỉ huy tiền phương quân khu đặt tại Buôn Ma Thuột. Để nhanh chóng đập tan lực lượng vũ trang công khai của FULRO, Bộ Tổng tham mưu tăng cường cho tiền phương Quân khu 5 Sư đoàn bộ binh 320b (một trung đoàn) bố trí ở Đắc Lắc. Một trung đoàn được bố trí ở vùng Đức Cơ tỉnh Gia Lai. Sư đoàn bộ binh 10 bố trí ở địa bàn Lâm Đồng. Bốn máy bay trực thăng UH1A chở quân cơ động, 12 máy bay trinh sát U17. Các lực lượng chủ lực trên phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, lực lượng dân quân du kích và nhân dân các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng để giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên.

Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, một trung đoàn của Sư đoàn 320b đã đánh tan các ổ nhóm FULRO có vũ trang ở một số buôn làng trong khu vực Đức Cơ, Chư Pả và cùng lực lượng địa phương dập tắt cuộc bạo loạn của FULRO ở 11 buôn xung quanh huyện Azun Pa. Sư đoàn 320b thiếu một trung đoàn đã bao vây, tiến công, gọi hàng nhiều ổ FULRO có vũ trang ở nhiều buôn làng của các huyện thuộc tỉnh Đắc Lắc (Buôn Hồ, Đắc Min, Đắc Nông, Kờ Rông Bách). Bọn giặc FULRO nhiều nơi chống trả ta quyết liệt, nhưng đây chỉ là cú đòn trước khi giãy chết của loài thú, cắn lại chính dân tộc của mình. Quân dân ta phát huy tinh thần chiến đấu cao, đánh quyết liệt với bọn FULRO ở cụm buôn làng thuộc xã Xu Đăng bắc Buôn Ma Thuột kéo dài hai ngày ròng rã mới dứt chiến. Trong trận này ta thắng lợi lớn; đã tiêu diệt được một số tên chỉ huy đầu sỏ; bắt sống toàn bộ bọn FULRO. Ở Sư đoàn 10 chiến sĩ ta kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương Lâm Đồng tiêu diệt được một số ổ FULRO trong buôn làng. Đại bộ phận địch đã chạy trốn thoát vào rừng.

Chúng ta dùng thế áp đảo, khí thế tiến công dũng mãnh và phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các lực lượng chủ lực và lực lượng địa phương nên chỉ trong một thời gian ngắn (3 tháng) cuối năm 1975, quân chủ lực của ta đã tiễu trừ, giải quyết cơ bản xong các ổ nhóm FULRO có vũ trang. Nhưng đấy mới chỉ là những đòn quân sự mạnh mới đập tan được các ổ FULRO công khai, đại đa số bọn FULRO còn lại lẩn trốn vào trong rừng, trong dân vẫn đẩy mạnh hoạt động chống phá cách mạng. Chúng vẫn phục kích tiến công vào các cơ quan, các doanh trại quân đội. Bọn địch còn bí mật đột nhập vào các buôn làng trong đêm tối để lừa bịp, phỉnh phờ, móc nối cơ sở. Bọn FULRO đã hăm dọa bắt dân bản phải tiếp tế lương thực, thuốc men cho chúng... Đây cũng là vấn đề mới được đặt ra cho cơ quan tiền phương của quân khu phải có những giải pháp hữu hiệu, chiến thuật sắc bén tổ chức chiến đấu làm sao có hiệu quả nhất, giành thắng lợi tốt nhất.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:32:51 PM

Qua trinh sát điều tra tình hình địch, qua nhiều nguồn tin, nhất là nguồn tin ở cơ sở bí mật người dân tộc thiểu số ở trong buôn làng, cơ quan tham mưu của tiền phương đã nắm được chiến thuật của bọn FULRO đã thay đổi từ sau khi lực lượng vũ trang công khai của chúng bị quân ta đánh tan tành, thì bọn FULRO hoạt động theo ba tuyến. Một tuyến, bám sát trong dân bản, để tuyên truyền dụ dỗ, lừa bịp vận động thành phần lạc đường chống đối lại ta chuẩn bị lương thực và các nhu yếu phẩm khác cho chúng. Một tuyến, ẩn náu trong rừng có vũ trang, có cơ hội thì phục kích, tập kích đánh quân ta, còn một tuyến làm trung gian giữ mối liên hệ lực lượng trong dân bản và lực lượng thất trận ẩn náu trong rừng. Nhóm này có nhiệm vụ móc nối các cơ sở của chúng để lấy lương thực, thuốc men, vũ khí, tiếp tế cho bọn FULRO ở trong rừng.

Chúng ta đã sử dụng đại bộ phận các lực lượng chiến đấu chủ yếu là dân quân du kích. Bộ đội và cán bộ người địa phương được tổ chức thành từng tiểu đội từ 10 đến 15 người, xuống bám trụ ở hầu hết các buôn làng làm công tác phát động phong trào quần chúng tiễu trừ bọn FULRO (sau này chuyển thành các đội vũ trang công tác). Lực lượng bộ đội chủ lực còn lại của Sư đoàn 320b và Sư đoàn 10 trinh sát quân khu, công an vũ trang có nhiệm vụ truy quét bọn FULRO ở ngoài rừng với các tuyến ven làng, ven thị xã, thị trấn. Đồng thời hỗ trợ cho các lực lượng công tác của ta trong các dân bản.

Chiến thuật hoạt động truy quét địch của ta đã hạn chế một phần bọn FULRO, nhưng chưa xóa sạch được lực lượng này một cách cơ bản. Chúng ta đã phát hiện ra âm mưu đầy nham hiểm và táo tợn của địch: Bọn FULRO đã cài cắm người của chúng vào tổ chức của ta, tạo ra một chính quyền hai mang ở cơ sở hoạt động mang tính hợp pháp, tráo trở. Ban ngày loại người này hoạt động cho ta. Nhưng ban đêm lại tiếp tế gạo, thực phẩm, đạn dược và bổ sung người cho bọn FULRO ở trong rừng để chúng duy trì lực lượng. Chúng tổ chức một số trận tập kích, phục kích gây cho chúng ta một số thiệt hại là trận tập kích vào công trường Ea Cao, trận phục kích ở Buôn Hồ, Đức Trọng.

Trắng trợn hơn, hung bạo hơn là trận tập kích ban ngày vào thị xã Buôn Ma Thuột, chúng đã bắn chết một số cán bộ và nhân dân ta ngay bên cạnh nhà khách của Tỉnh ủy Đắc Lắc.

Vào giữa năm 1976, Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Phó Tổng tham mưu trưởng vào kiểm tra tình hình Tây Nguyên. Đồng chí Thượng tướng đã hoan nghênh một số địa phương đã tổ chức các đội vũ trang công tác xuống các buôn làng, phát động phong trào quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét bọn FULRO. Thượng tướng cho việc làm này là một phương thức hoạt động tốt, cần được phát triển sâu rộng khắp trên địa bàn Tây Nguyên. Cũng trong thời điểm này quân khu ủy và các tỉnh ủy đã có nghị quyết về công tác phát động đồng bào các dân tộc cùng lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt bọn đầu sỏ FULRO.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:33:34 PM

Để thực hiện chủ trương, nhiệm vụ phát động đồng bào các dân tộc cùng phối hợp với lực lượng của quân ta giải quyết cơ bản vấn đề FULRO. Các đồng chí cán bộ tiền phương quân khu đã cùng với cán bộ Cục Dân quân tự vệ đã phân công xuống các tỉnh công tác, giúp các tỉnh tổ chức các đội vũ trang công tác, đồng thời tiến hành tập huấn bồi dưỡng cho anh chị em về công tác phát động quần chúng dân tộc xây dựng, củng cố cơ sở. Vận động quần chúng nhân dân tích cực tăng gia sản xuất và truy quét bọn FULRO.

Với phương thức này, đến cuối năm 1976, chúng ta đã xóa được một số tổ chức chính quyền hai mang ở một số buôn làng. Còn số người dân bị địch lừa gạt chạy vào rừng theo bọn FULRO để chống phá lại chúng ta cũng ngày một giảm dần. Lực lượng FULRO về xuất thú, đầu hàng chính quyền ta ngày càng nhiều. Những trận phục kích và tập kích đánh trả lại ta cũng ngày một giảm.

Cuối năm 1976, đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư đã thăm Tây Nguyên. Trong chuyến thăm Tây Nguyên lần này, đồng chí Tổng Bí thư nói nhiều về phương thức xây dựng căn cứ chiến lược ở Tây Nguyên. Đề cập đến viêc giải quyết vấn đề FULRO; đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: Muốn giải quyết căn bản vấn đề FULRO trước hết phải giác ngộ chính trị cho đồng bào các dân tộc, làm cho đồng bào phân biệt rõ cách mạng và phản động. Các đồng chí cán bộ lãnh đạo các cấp phải hết sức chăm lo phát triển sản xuất của đồng bào dân tộc, từng bước cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc. Gắn việc giải quyết vấn đề FULRO với công cuộc xây dựng căn cứ chiến lược Tây Nguyên.

Sau cuộc đi thăm Tây Nguyên của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn về tình hình phong trào Tây Nguyên trong đó có phong trào nhân dân truy quét bọn FULRO có bước phát triển mạnh mẽ.

Tiếp sau đó, đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng đã thay mặt Chính phủ trực tiếp triệu tập hội nghị với các đồng chí lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, đại diện các bộ, ngành để sơ kết công tác truy quét FULRO trong thời gian từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 11 năm 1976 và bàn phương hướng cơ bản, toàn diện giải quyết vấn đề Fulrô. Trong hội nghị này, đồng chí Phạm Hùng thay mặt Chính phủ tặng bốn triệu mét vải cho đồng bào dân tộc nghèo ở Tây Nguyên.

Do thực hiện thắng lợi những nội dung cơ bản toàn diện về giải quyết vấn đề FULRO nên từ cuối năm 1976 trở đi, phong trào phát động quần chúng, xây dựng cơ sở truy quét FULRO đã đi vào chiều sâu đạt chất lượng và kết quả đáng khích lệ.

Các đội công tác đã bám trụ được trong các buôn, làng phát động được quần chúng nhân dân phát hiện và bóc gỡ bọn FULRO đã bám vào dân.

Ta xây dựng được cơ sở, đào tạo được lực lượng cốt cán của làng, xã, tạo điều kiện cho họ làm chủ buôn làng của mình.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Ba, 2016, 08:34:54 PM

Được sự giúp đỡ của bộ đội, đồng bào đã giúp nhau tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống. Cuộc sống của dân bản được nâng lên dần, không khí thanh bình được trở lại. Những khu rừng rộng mênh mông bị bọn giặc Mỹ cày xới tang tóc, những mầm lộc xanh của rừng đã nhú một màu xanh đầy hứa hẹn. Sức sống được hồi sinh từ con người đến cảnh vật. Trường học được mở ra, con em dân tộc được cắp sách tới trường học tập, các trạm xá được xây dựng để khám chữa bệnh, phát thuốc cho dân chúng. Chúng ta đưa những đội, đoàn văn công, văn nghệ xuống bản làng biểu diễn, ca hát phục vụ nhân dân. Hàng tháng đoàn chiếu phim của huyện xuống các bản chiếu phim cho toàn thể nhân dân xem, thưởng thức, học tập; những hoạt động về văn hóa, văn nghệ đã làm thay đổi tinh thần của dân bản.

Có sự giúp đỡ của đồng bào các dân tộc nên các ổ nhóm FULRO sống ẩn náu trong rừng bị nhân dân phát hiện, chỉ điểm, do đó lực lượng của quân đội ta truy quét bọn chúng ở trong rừng có hiệu quả hơn. Ta đã đẩy bọn FULRO ra xa. Bọn chỉ huy đầu sỏ phải lánh sang biên giới Việt Nam - Campuchia. Lực lượng của ta đã chiến đấu đẩy lùi mọi hoạt động của chúng.

Chúng ta đã phát huy thắng lợi về chính trị, phát động đồng bào dân tộc cùng kết hợp truy quét bọn FULRO bằng quân sự, công tác binh vận được đẩy mạnh, có tác dụng to lớn làm nên chiến thắng kẻ thù.

Đội công tác ở xã Ea Tiên ngoại vi thị xã Buôn Ma Thuột làm công tác tuyên truyền giáo dục, giác ngộ cho những thành viên gia đình bọn phản động FULRO đạt kết quả cao.

Qua gần ba năm (tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1978), chúng ta đã giải quyết xong về căn bản vấn đề FULRO ở Tây Nguyên, xóa sổ 6 khung trung đoàn, 18 khung tiểu đoàn, làm tan rã khoảng 11.000 tên, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm ổ FULRO có vũ trang, một số tên chỉ huy quan trọng đã bị tiêu diệt và ra đầu hàng; ta đã xây dựng được lực lượng, cơ sở ở buôn làng. Vận động đồng bào dân tộc đẩy mạnh tăng gia sản xuất để giải quyết một phần khó khăn của đồng bào các dân tộc về đời sống... Tuy nhiên mầm mống FULRO ở Tây Nguyên vẫn còn, chúng ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại, gây bạo loạn của các thế lực thù địch.

Qua thực tế tình hình nêu trên, chúng ta có thể khẳng định vai trò chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu trong việc giải quyết vấn đề FULRO Tây Nguyên trong những năm 1975-1978 là rất quan trọng và rất lớn lao: Lúc đầu (tháng 5 năm 1975), bọn FULRO có vũ trang dựa vào các buôn làng, công khai đánh phá ta rất quyết liệt, gây cho ta khó khăn tổn thất thì Bộ Tổng tham mưu đã kịp thời tăng cường khối chủ lực lớn (hai sư đoàn) cho tiền phương Quân khu 5 và chỉ đạo quân khu sử dụng khối chủ lực kết hợp với các lực lượng địa phương Tây Nguyên nhanh chóng đập nát các ổ FULRO có vũ trang. Khi các ổ FULRO có vũ trang bị đập nát, bọn FULRO vừa chạy vào rừng, vừa lẩn vào trong dân ở buôn làng, ta không tìm ra mục tiêu để tiến công nhưng bọn FULRO vẫn đẩy mạnh hoạt động phục kích, tập kích đánh phá ta, gây cho ta khó khăn lúng túng, thì Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu đã kịp thời đi thị sát chiến trường (đoàn đồng chí Hoàng Văn Thái, tháng 6-1976) nhạy bén chỉ đạo tiền phương Quân khu 5 và các địa phương Tây Nguyên vận dụng phương thức các đội vũ trang công tác kết hợp phát động đồng bào dân tộc xây dựng cơ sở buôn làng với bóc gỡ địch trong dân và truy quét địch ngoài rừng, tạo được bước chuyển biến mới trong việc phát động quần chúng truy quét FULRO. Đặc biệt, Bộ Tổng tham mưu đã làm tham mưu cho Bộ Chính trị, tổ chức cho đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đi thăm đồng bào dân tộc Tây Nguyên, thực hiện chủ trương đưa việc giải quyết vấn đề FULRO gắn với nhiệm vụ xây dựng căn cứ chiến lược Tây Nguyên, xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, các cấp, các lực lượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp để giải quyết một cách cơ bản, toàn diện vấn đề FULRO ở Tây Nguyên theo đúng tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu năm 1978 giải quyết cơ bản xong vấn đề FULRO để chuyển lực lượng sang làm nhiệm vụ biên giới và giúp cách mạng Campuchia. Đây là bài học giành thắng lợi trong truy quét FULRO vừa qua, đồng thời cũng là bài học kinh nghiệm quý giá, ta có thể nghiên cứu vận dụng vào nhiệm vụ phát động quần chúng xây dựng cơ sở trong xây dựng căn cứ chiến lược Tây Nguyên trong tình hình mới. Chủ động ngăn ngừa và sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch bảo đảm ổn định chính trị và bảo vệ sự yên bình cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:45:46 PM

VI

Cuối năm 1967, tôi vinh dự được vào đoàn cán bộ quân sự địa phương do Bộ Tổng tham mưu tổ chức chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường. Đoàn chúng tôi đang tập kết tại Trung tâm huấn luyện ở Hà Đông để học tập quán triệt tình hình nhiệm vụ và rèn luyện thể lực vào Nam chiến đấu. Hàng ngày chúng tôi phải đeo gạch nặng từ 15 đến 20, 30 kilôgam, hành quân trên đoạn đường dài từ 25 đến 30 kilômét, cũng phải trèo đèo, lội suối, leo núi. Qua hơn một tháng tập, rèn luyện tôi đã tự khẳng định được mình, bản thân có đủ sức khỏe để vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu chống Mỹ. Trong lúc tôi đang phấn khởi, tin tưởng, toàn tâm, toàn ý hướng về miền Nam ruột thịt thì đột nhiên có lệnh của Bộ Tổng tham mưu trở lại Học viện Trung cao nhận nhiệm vụ mới. Lúc nhận được lệnh, nói thật tôi rất bàng hoàng suy nghĩ không hiểu vì sao? Vì nhiệm vụ mới, hay vì tôi không đủ điều kiện vào Nam chiến đấu? Nhưng quân lệnh như sơn, không thể chậm trễ. Tôi liền cùng đồng chí mang mệnh lệnh tới, lên xe ô tô trở về ngay Học viện sơ tán ở chân núi Tam Đảo, Vĩnh Phúc.

21 giờ tối hôm đó, tôi lên phòng làm việc của đồng chí Đại tá Đàm Quang Thìn - Bí thư Đảng ủy Học viện. Sau những lời thăm hỏi chân tình của đồng chí Đàm Quang Thìn, anh nhẹ nhàng giải thích: "Thường vụ Đảng ủy Học viện biết đồng chí có nguyện vọng quyết tâm vào Nam chiến đấu đã từ lâu. Lần này Học viện cố gắng thu xếp cho đồng chí đi vào Nam. Nhưng Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ đột xuất, Học viện phải cử hai đồng chí đã từng giảng dạy quốc tế, tham gia đoàn quân sự của Bộ Quốc phòng sang Tây bán cầu giúp nước bạn Cuba anh hùng thời gian một năm. Thường vụ Đảng ủy quyết định đồng chí và đồng chí Nguyễn Các tham gia đoàn quân sự của Bộ. Ở bên đó, các đồng chí giúp bạn tốt, bạn hoạt động có hiệu quả cũng góp phần cùng ta giành thắng lợi". Chúng tôi được quán triệt nhiệm vụ và chỉ biết tiếp thu. Tôi xin phép hỏi lại đồng chí Bí thư Đảng ủy:

Thưa đồng chí? Đồng chí cho chúng tôi biết cần chuẩn bị những thứ gì? Thời gian lên đường? Đồng chí vui vẻ trả lời: "Ngày mai các đồng chí lên Tổng cục Chính trị sẽ hiểu đầy đủ".

Ngày hôm sau, tôi và đồng chí Các mỗi người đi một xe đạp, chiếc xe mác Thống Nhất cũ, nhưng được bộ nồi trục và bộ quay còn chắc lắm. Hai chúng tôi đi từ chân núi Tam Đảo về Hà Nội. Đến đò Chèm thì bị máy bay Mỹ bắn phá; sẩm tối hai chúng tôi mới qua sông, về địa điểm, chúng tôi gặp đồng chí Đại tá Lê Nhiễu - Trưởng đoàn, tại Văn phòng Tổng cục Chính trị, cả hai chúng tôi được dự cuộc họp đầu tiên của đoàn. Qua hội nghị, tôi biết, đoàn quân sự Việt Nam sang giúp bạn lần này có 12 đồng chí cán bộ, 3 đồng chí phiên dịch, tổ chức thành tổ quân sự và tổ chính trị. Ban chỉ huy đoàn gồm 3 đồng chí: Đại tá Lê Nhiễu - Trưởng đoàn; Thượng tá, Phó cục trưởng Cục Dân quân tự vệ và Thượng tá tùy viên quân sự Việt Nam tại Cuba - Phó đoàn. Nhiệm vụ chủ yếu của đoàn là giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh nhân dân Việt Nam cho các bạn Cuba nghiên cứu trong thời gian một năm.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:47:00 PM

Chúng tôi được đồng chí Lê Quang Đạo - Thường trực Quân ủy Trung ương gặp toàn đoàn động viên và quán triệt nhiệm vụ.

Sau khi gặp đồng chí Lê Quang Đạo, đoàn chúng tôi đến làm việc với Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện toàn quân. Tại đây, đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng hướng dẫn chúng tôi khá kỹ về nội dung và phương pháp giới thiệu kinh nghiệm của ta cho bạn. Đồng chí nhấn mạnh chiến tranh nhân dân của ta có hai phương thức: Chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, cần làm rõ vị trí của từng phương thức và mối quan hệ với nhau, khi nói về cách đánh phải làm rõ cả cách đánh du kích và cách đánh tập trung, v.v... Chúng tôi coi đây là sự chỉ đạo quan trọng của Bộ Tổng tham mưu về tham mưu giúp bạn.

Theo đúng kế hoạch của hai Bộ Quốc phòng Việt Nam - Cuba, đúng 20 giờ ngày 7 tháng 7 năm 1967, đoàn chúng tôi đã có mặt ở sân bay quân sự Gia Lâm (Hà Nội). Trong 22 giờ bay trên bầu trời, chúng tôi phải quá cảnh qua nhiều sân bay: Gia Lâm, Bằng Tường, Vũ Hán, Bắc Kinh, Cancutta, Mátxcơva, Angiêri, Lahabana. Đối với tôi đây là lần đầu tiên đi làm nhiệm vụ quốc tế và đi bằng máy bay. Mọi việc đều mới mẻ, bỡ ngỡ và tôi có những giây phút rất hồi hộp. Từ sân bay Gia Lâm đến sân bay Bằng Tường phải bay qua hệ thống rađa địch, giữa lúc máy bay Mỹ đang ngày đêm đánh phá miền Bắc ác liệt, nếu địch phát hiện máy bay của ta, chúng sẵn sàng cho máy bay của chúng từ Hạm đội 7 ở Biển Đông xuất kích tiêu diệt máy bay của ta. Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Bằng Tường (Trung Quốc), chúng tôi mới hết hồi hộp. Rồi máy bay lại bay tiếp tới sân bay Angiê thủ đô nước Angiêri hạ cánh để tiếp dầu. Máy bay của Đoàn vừa hạ cánh thì từng đoàn người Angiêri ùn ùn kéo tới vây quanh đoàn chúng tôi. Họ thăm hỏi, chúc sức khỏe. Họ hô vang khẩu hiệu: "Việt Nam, Điện Biên Phủ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Angiêri".

Đoàn đến sân bay Lahabana, các đồng chí đại diện Bộ Quốc phòng Cuba; đại sứ Việt Nam, đại diện Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam, tổ chức đón chúng tôi rất thân tình, tới đất nước Cuba anh em mà ai nấy như về nhà mình vậy.

Gần một tuần nghỉ ngơi cho lại sức, đoàn chúng tôi vào làm việc với Bộ Quốc phòng Cuba. Người chủ trì hội nghị này là đồng chí Raul Castro - Bộ trưởng Bộ Quôc phòng, phía Cuba còn có các đồng chí thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị. Sau khi đồng chí Lê Nhiễu - Trưởng đoàn quân sự Việt Nam báo cáo kết quả cuộc hành quân của đoàn. Đồng chí đề nghị Bộ Quốc phòng Cuba cho đoàn biết nhiệm vụ cụ thể và mối quan hệ làm việc. Đồng chí Raul - Bộ trưởng Quốc phòng Cuba nêu rõ: "Các đồng chí Việt Nam sang Cuba là bồi dưỡng cho chúng tôi về kinh nghiệm chiến tranh nhân dân của Việt Nam. Các đồng chí sẽ lên lớp ở Bộ Quốc phòng, ở tập đoàn quân các tỉnh và một số huyện trọng điểm; nhưng bây giờ chưa được nghĩ đến công việc mà phải đi thăm khắp đất nước Cuba ít nhất là hai tháng. Các đồng chí đi để thấy được cảnh vật, địa hình các miền tự nhiên và con người Cuba thì khi giới thiệu kinh nghiệm của Việt Nam cho Cuba mới sát được. Còn mối quan hệ làm việc thì đã có đồng chí Ôma - người đã sang Việt Nam, thường xuyên giữ quan hệ giữa đoàn quân sự Việt Nam với Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị Cuba.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:47:40 PM

Để chuẩn bị cho lớp đầu tiên của Bộ Quốc phòng Cuba, đoàn chúng tôi xác định đây là trận mở màn, là then chốt, lớp này có kết quả tốt thì lớp sau mới tốt. Với thời gian một tuần (sáu ngày) chúng tôi tập trung vào ba bài trọng điểm: Một là, những kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân. Hai là xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Ba là, công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân. Ba bài này do toàn đoàn chuẩn bị, các đồng chí trưởng đoàn và hai đồng chí phó đoàn chịu trách nhiệm giới thiệu. Một việc làm khó nhất là đoàn vừa đi thăm đất nước Cuba vừa chuẩn bị bài giảng. Để giải quyết khó khăn này, đoàn phân công cho mỗi đồng chí chuẩn bị một vấn đề và sử dụng ngày nghỉ của bạn để thông qua bài giảng (thứ bảy và ngày chủ nhật).

Thực hiện chỉ thị của đồng chí Raul - Bộ trưởng Quốc phòng Cuba theo hướng dẫn của đồng chí Ôma, đoàn chúng tôi xuất phát từ Thủ đô Lahabana, theo đường xuyên quốc gia về miền Đông rồi tỏa xuống các địa danh chiến tích, như một làng ở phía bắc tỉnh Orientê nơi Cristobcôlon đặt chân đầu tiên lên hòn đảo ngọc Cuba, đi tới vùng núi Sierimastra nơi nhiều lần trở thành căn cứ của nghĩa quân rồi chuyển dần về miền Trung vào vùng núi Escanray. Ở miền Tây vào vùng núi Guanico có nhiều phong cảnh đẹp và vượt biển ra đảo Thanh Niên... Trong từng miền các đồng chí dẫn chúng tôi đi thăm các tập đoàn quân, lãnh đạo các tỉnh, huyện và một số nhà máy, xí nghiệp, trường học, điểm dân cư, một số bãi tắm ven biển... Đi đến đâu, đoàn đều được nhân dân Cuba đón tiếp rất nồng nhiệt, thật thấm tình anh em, chung một chiến hào. Chúng tôi tới thăm các tập đoàn quân miền Đông, miền Trung, miền Tây, hàng sư đoàn bộ đội, dân quân và nhân dân, các đồng chí lãnh đạo địa phương và tư lệnh tập đoàn quân đón chúng tôi cách nơi đóng quân hai, ba cây số. Bộ đội xếp thành hàng thẳng tắp, lưỡi lê tuốt trần sáng quắc và hô vang khẩu hiệu:

"- Việt Nam người anh hùng nhất thế giới, nhất thời đại muôn năm!
- Vì Việt Nam Cuba sẵn sàng dâng máu của mình.
- Tổ quốc... hay là chết, chúng ta nhất định thắng!".

Với sự đón tiếp trọng thể, với những tiếng hô vang khẩu hiệu của các bạn, lòng chúng tôi ai nấy đều tự hào cảm động, đến nỗi rưng rưng nước mắt.

Qua việc đoàn đi tham quan thâm nhập từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi. Chúng tôi thấy được cảnh vật, đất nước, con người Cuba anh em. Thực tiễn này giúp cho bài giảng của đoàn thật sinh động, hấp dẫn, anh em dễ tiếp thu, thực hành tốt.

Về thành phố Lahabana thủ đô tươi đẹp của đất nước Cuba, với những tòa nhà kiến trúc kết hợp giữa Âu và Á cao vút, đồ sộ và lại rất sang, làm cho những đoàn khách quốc tế tới đây ngắm nhìn không chán mắt. Với những tuyến đường giao thông trong và ngoại vi thành phố thật rộng rãi, thoáng đãng, mặc dù mật độ ô tô cao nhưng vẫn không bị ùn tắc. Thủ đô Cuba lại nằm sát biển nên khí hậu bốn mùa lúc nào cũng mát mẻ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:48:21 PM

Chương trình ở Lahabana, bạn dẫn đoàn đi tham quan nhiều nơi di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như quảng trường, tượng đài Jocemarti, bảo tàng cách mạng Cuba, bảo tàng Naponion... đến nhiều khu dân cư, chúng tôi tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân, nhất là các cụ già, các cụ kể nhiều chuyện lý thú.

Jocemarti là người đầu tiên của Cuba cách đây một trăm năm đã nói về Việt Nam: "Ở Đông bán cầu có một nước nhỏ mà kiên cường chống xâm lược".

Thật là, Jocemarti, Fidel ở Cuba và Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Những con người vĩ đại đó, họ cách xa nhau nửa vòng trái đất và cách xa hàng trăm năm nhưng lại gặp nhau tại một điểm, đồng nhất với nhau một tư tưởng lớn đó là: "Độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho toàn dân".

Về tình cảm của nhân dân Cuba đối với nhân dân Việt Nam thật thân thương mến mộ. Chúng tôi đi tới đâu cũng gặp từ cụ già đến em bé luôn nhắc tới lời nói của đồng chí Fidel Castro: "Vì nhân dân Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Những lúc Việt Nam gặp hiểm nghèo, hàng nửa triệu lính Mỹ kéo vào miền Nam Việt Nam. Thế giới có người nín thở thì đồng chí Fidel khẳng định: "Việt Nam không chỉ kháng cự, không chỉ chiến đấu đến chết mà còn có thể kháng cự chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn, và người Việt Nam chiến đấu không chỉ cho họ mà còn vì cả chúng ta nữa".

Đoàn đến bãi tắm Paraderô ở tỉnh Matanzas, một bãi tắm vào loại đẹp nhất của Cuba, có một chuyện thật bất ngờ. Chúng tôi từ nhà nghỉ mặc quần áo tắm ra biển tắm, có một tốp cháu nhỏ chạy theo sau chúng tôi vừa đi các cháu vừa khóc. Nhờ các đồng chí phiên dịch hỏi ra mới biết. Các cháu thấy các chú Việt Nam gầy quá, chú nào cũng nhô những rẻ xương sườn, chắc là các chú đánh Mỹ gian khổ quá nên chúng cháu thương các chú mà khóc.

Vài ngày sau đó, đồng chí Raul Castro - Bộ trưởng Quốc phòng Cuba đến khu làm việc của đoàn quân sự Việt Nam. Bộ trưởng thăm chúng tôi và truyền đạt chỉ thị của đồng chí Tổng tư lệnh Fidel cho các đồng chí Cuba đang cộng tác với đoàn chúng tôi: "Các đồng chí Cuba phải tìm mọi cách chăm sóc, bồi dưỡng sức khỏe cho đoàn quân sự Việt Nam để đủ sức làm việc và về đánh Mỹ lâu dài, Cuba còn nghèo, ở chỗ khác có thể thiếu nhưng ở chỗ các đồng chí Việt Nam thì không thể thiếu".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:49:35 PM

Kết thúc giai đoạn đoàn quân sự chúng tôi đi tham quan, tìm hiểu thực tế. Đoàn chúng tôi chuyển sang giai đoạn giới thiệu kinh nghiệm của Việt Nam cho các bạn Cuba đúng với lịch hai đoàn đã thống nhất. Ngày 15 tháng 10 năm 1967, ngày khai giảng lớp cán bộ cao cấp của Bộ Quốc phòng Cuba. Cũng là ngày đoàn Việt Nam giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh nhân dân Việt Nam cho các lớp của Cuba. Sau báo cáo của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Cuba. Đồng chí Raul - Bộ trưởng giới thiệu đoàn cán bộ quân sự Việt Nam với các bạn Cuba và các đồng chí Cuba với đoàn Việt Nam. Đồng chí nêu rõ lớp cán bộ cao cấp lực lượng vũ trang gồm các thứ trưởng Bộ Quốc phòng, các chủ nhiệm tổng cục, tư lệnh tập đoàn quân, tư lệnh quân binh chủng, tham mưu trưởng các tỉnh.

Tiếp đó đồng chí Đại tá Trưởng đoàn Lê Nhiễu giới thiệu kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đồng chí tập trung vào những kinh nghiệm chủ yếu: Vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, thế trận vững chắc hiểm hóc lòng dân và lòng đất. Kết hợp các mặt đấu tranh: quân sự, chính trị,.. binh vận, vận dụng cách đánh rỉ rả, xuất quỷ nhập thần và cách đánh sấm vang chớp giật, vai trò Đảng lãnh đạo... Hai đồng chí phó đoàn đi sâu giới thiệu hai chuyên đề của chiến tranh nhân dân xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân.

Kết luận lớp cấp cao của Bộ Quốc phòng, đồng chí Raul - Bộ trưởng đánh giá: Học viên tiếp thu tốt, các đồng chí tốc ký và biên soạn đã chuyển ba bài giảng của Việt Nam thành tiếng Cuba (espanol).

Để triển khai các lớp của tập đoàn quân, cấp tỉnh và một số huyện trọng điểm, được sự nhất trí của Bộ Quốc phòng Cuba, chúng tôi dành một tháng để chuẩn bị bài giảng. Phần quân sự, ngoài bài kinh nghiệm chỉ đạo chung còn phải chuẩn bị bài giảng về chiến dịch, chiến thuật, vũ khí tự tạo, võ thuật và một số chuyên đề như: Võ trang tuyên truyền, xây dựng dân quân du kích, làng xã chiến đấu, căn cứ du kích, v.v...

Với tấm lòng mến mộ Cuba và tinh thần tự tôn dân tộc mình, đoàn chúng tôi làm việc rất khẩn trương. Chuẩn bị xong, chúng tôi lên lớp ở các tập đoàn quân, các tỉnh. Số còn lại chúng tôi kết hợp vừa giảng cho lớp trước, vừa chuẩn bị cho lớp sau.

Trong quá trình giới thiệu kinh nghiệm về lý thuyết, chúng tôi kết hợp với hướng dẫn cho bạn cách sản xuất và sử dụng các loại vũ khí tự tạo, đồng thời bồi dưỡng cho bạn về võ thuật. Chúng tôi lấy các đồng chí Cuba làm động tác biểu diễn cho các lớp tham quan. Tạo cho lớp học thêm sinh động, tiếp thu nhanh, nắm chắc nội dung. Cách huấn luyện này rất phù hợp với sở thích của các bạn Cuba.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:50:01 PM

Kết thúc một năm đoàn quân sự Việt Nam sang Cuba công tác. Đoàn giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh của nhân dân Việt Nam cho Bộ Quốc phòng Cuba đã kết thúc tốt đẹp, hôm liên hoan tiễn đưa đoàn quân sự Việt Nam về nước. Đồng chí Raul - Bộ trưởng Quốc phòng Cuba chuyển lời đồng chí Tổng tư lệnh Fidel khen ngợi đoàn quân sư Việt Nam: "Một năm trôi qua, các đồng chí Việt Nam đã làm việc tích cực, nhiệt tình, có hiệu quả. Giúp Cuba nhiều kinh nghiệm quý báu, góp phần tạo ra Việt Nam ở Cuba và ở cả châu Mỹ - Latinh. Qua thời gian các đồng chí Cuba làm việc cùng các đồng chí Việt Nam, cán bộ Cuba đã học tập được nhiều, nhất là đức tính khiêm tốn, cần cù, bền bỉ, sáng tạo...".

Những lời nói chân tình của đồng chí Tổng tư lệnh Fidel là sự đánh giá cao việc giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đối với cách mạng Cuba. Đồng chí đánh giá cao tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai quân đội Việt Nam và Cuba.

Còn tôi, đi Cuba công tác lần này, ngoài niềm phấn khởi tự hào chung. Tôi đã nghiệm được một điều sâu sắc và lý thú, đó là trải qua tám năm làm công tác giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh toàn dân cho các đoàn quốc tế, mình đã góp phần vào thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả về quân sự của quân đội.

Tại sân bay Lahabana, đồng chí Raul - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và một số tướng lĩnh, sĩ quan Cuba lưu luyến, tiễn đưa đoàn cán bộ Việt Nam về nước. Tôi bắt tay đồng chí Cục trưởng Miền núi (như Cục trưởng Dân quân tự vệ Việt Nam) và nói: Hastaluêgô (tạm biệt), tay siết chặt tay.

Biết đâu rồi lại có ngày gặp nhau.

Sau 17 năm, đến tháng 4 năm 1985 tôi lại vinh dự được đi công tác ở Tây bán cầu lần thứ hai. Thế là cuộc ước hẹn đã trở thành sự thật.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2016, 08:45:19 PM

*
* *

Sau ngày hoàn thành nhiệm vụ làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của bọn Pôn Pôt, Iêng Xari, tôi được đi học lớp bổ túc quân sự cao cấp tại Học viện Quốc phòng. Học xong rồi được cấp trên điều về công tác ở đơn vị cũ (Quân khu 5), được nhận nhiệm vụ làm Phó Tham mưu trưởng, Bí thư Đảng ủy Bộ Tham mưu Quân khu 5, Tôi vừa phụ trách công tác tác chiến, vừa làm công tác đảng, phụ trách công tác nội bộ Bộ Tham mưu. Làm thế nào cùng một lúc hoàn thành cả ba nhiệm vụ, đó là điều tôi luôn trăn trở suy nghĩ tìm biện pháp cho thích hợp. Với sự khiêm tốn học hỏi, với tính cần cù, tích cực vốn có của bản thân, cùng với việc vận dụng kiến thức vừa học ở Học viện. Tôi đã tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của anh em; sự chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu. Người trực tiếp giúp đỡ tôi là đồng chí Đoàn Khuê - Tư lệnh Quân khu và đồng chí Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Trần Bá Khuê. Những ngày ấy, cùng Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tham mưu đã xây dựng Đảng bộ Bộ Tham mưu trong sạch vững mạnh; cơ quan tham mưu vững mạnh về mọi mặt. Rất vinh dự, cơ quan chúng tôi được nhận cờ thưởng khá nhất 5 năm liền của Bộ Quốc phòng trao tặng.

Giữa lúc tôi đang cùng với cán bộ, chiến sĩ trong Bộ Tham mưu Quân khu 5 thực hiện các nhiệm vụ thì tôi được thông báo ra miền Bắc công tác. Nơi tôi nhận nhiệm vụ là Quân khu 3. Đó là quê hương yêu dấu của tôi. Tôi lặng người vì vui quá, vì đã bao năm đi chiến đấu trong chiến trường, nay được về quê hương công tác còn có niềm vui sướng nào bằng. Ở nơi đó có người mẹ già đã ngoại bát tuần ngày đêm mong con trai duy nhất về thăm mẹ. Ở nơi đó có người vợ hiền ngày đêm tần tảo, tích cực tăng gia sản xuất thay chồng chăm sóc mẹ già, nuôi dạy đàn con thơ dại. Tôi rất mong ngày về quê hương công tác để góp một phần phụng dưỡng mẹ, giúp đỡ vợ con...

Sau khi bàn giao công việc ở đơn vị, tôi ra Bắc nhận nhiệm vụ. Tôi hoàn toàn bất ngờ trước nhiệm vụ mới. Việc tôi về quê hương công tác tạm dừng. Bộ Tổng tham mưu lựa chọn, Bộ Quốc phòng quyết định: Tôi được bổ sung cho Đoàn 385, làm phó chỉ huy, tham mưu trưởng đoàn đi công tác ở Tây bán cầu. Đây là đoàn quân sự cấp cao của Bộ Quốc phòng - Quân đội nhân dân Việt Nam sang nước bạn Cuba làm chuyên gia giúp Cuba về công tác quân sự địa phương. Thế là bản thân tôi lại tự điều chỉnh mình, khắc phục mọi khó khăn về gia đình để đi làm nhiệm vụ quốc tế.

Đoàn chuyên gia quân sự chúng tôi gần một trăm cán bộ. Trước khi lên đường đoàn đã về trung tâm huấn luyện Hà Đông dự lớp tập huấn thời gian trên một tháng về nội dung và phương pháp chuyên gia do Bộ Tổng tham mưu tổ chức.

Đoàn chúng tôi được đón đồng chí Đại tướng - Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn tới thăm động viên. Đại tướng đã nói chuyện với đoàn một buổi sáng. Đại tướng quán triệt cho chúng tôi về nhiệm vụ quốc tế cao cả của quân đội ta. Đại tướng nhấn mạnh quan điểm của Đảng ta: giúp bạn là giúp mình, ta vừa giúp bạn, ta lại vừa học bạn. Đại tướng đã phân tích chuyên gia khác với giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh nhân dân của ta. Vừa phải làm cho bạn hiểu kinh nghiệm của ta đồng thời lại phải giúp bạn vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đó vào đặc thù của Cuba. Không được gò ép, không được làm chay. Chiến tranh nhân dân của ta là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Đảng ta lãnh đạo tài giỏi, nhân dân ta kiên cường, bất khuất. Lực lượng vũ trang của ta gồm ba thứ quân, quyết đánh quyết thắng..., nhiều vấn đề rộng lớn phải giúp bạn từng bước, ta phải làm điểm tạo dựng mô hình rồi nhân rộng ra... Chúng tôi thấy rằng bài nói chuyện của Đại tướng là lời giáo huấn, chỉ đạo nhiệm vụ hoạt động của đoàn quân sự của ta trong quá trình đi chuyên gia cho nước bạn Cuba.

Vào thời điểm này (năm 1985) tình hình trên thế giới đang diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch, đứng đầu là Mỹ đang chống phá các nước xã hội chủ nghĩa. Trong đất nước ta, các thế lực thù địch vẫn tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Chúng hòng làm cho chúng ta suy yếu, đời sống kinh tế của nhân dân còn khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến những người đi công tác xa Tổ quốc làm nghĩa vụ quốc tế.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2016, 08:45:59 PM

Theo kế hoạch bay đã thống nhất giữa ta và bạn, trưa ngày 16 tháng 4 năm 1985, đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam đã có mặt đầy đủ ở Lahabana - Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Cuba.

Thật vinh dự cho đoàn chúng tôi, chiều ngày 16 tháng 4 năm 1985 được đồng chí Raul Catoro - Bí thư thứ hai Đảng Cộng sản Cuba, Bộ trưởng Bộ các lực lượng vũ trang cách mạng Cuba tới thăm và nói chuyện với đoàn.

Đồng chí Bêtancun - Ủy viên Trung ương Đảng - Phó Tổng tham mưu trưởng giới thiệu với đoàn về các đồng chí Cuba và giới thiệu Đoàn 385 Việt Nam với các bạn Cuba.

Sau khi triển khai các tổ chuyên gia Đoàn 385 xuống các tỉnh, các đồng chí đã đi thâm nhập thực tế, tìm hiểu tình hình, vấn đề đặt ra cho đoàn là làm sao xác định được phương hướng chuyên gia đúng, bước đi phải thật phù hợp, phương pháp chuyên gia phải linh hoạt, đột phá vào mục tiêu ban đầu có tác dụng mở đường cho các bước tiếp sau.

Căn cứ vào nhiệm vụ Bộ Quốc phòng Việt Nam giao phó, lời căn dặn của Đại tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và yêu cầu của Tổng tư lệnh Fidel Castro, là Phó chỉ huy tham mưu trưởng đoàn tôi đặt vấn đề cho cơ quan tham mưu đoàn chuyên gia bàn bạc thảo luận, chuẩn bị cho ban chỉ huy đoàn một phương án tốt nhất. Tôi đề nghị đảng ủy, thủ trưởng đoàn tổ chức Hội nghị quân sự dân chủ toàn đoàn để mọi thành viên hiến kế.

Được sự nhất trí của ban lãnh đạo chỉ huy đoàn và sự giúp đỡ của các bạn Cuba. Đầu tháng 6 năm 1985, các tổ chuyên gia Việt Nam phấn khởi kéo về Thủ đô Lahabana để dự phiên họp đầu tiên của toàn đoàn trên đất Cuba.

Trong hội nghị, đồng chí trưởng đoàn báo cáo những vấn đế trọng tâm. Hội nghị thảo luận và nhất trí cao phương hướng chuyên gia giúp bạn 3 năm từ 1985 đến 1988. Ta tập trung giúp bạn, tạo chuyển biến nhận thức quan điểm về chiến tranh toàn dân, tổ chức lãnh đạo chỉ huy... Theo phương pháp chuyên gia linh hoạt, chúng ta dựa vào cái bạn đã có và bổ sung hoàn chỉnh thêm. Góp phần làm tăng thêm khả năng phòng thủ và sức mạnh chiến đấu của bạn. Nhưng gay cấn nhất là đột phá ban đầu vào đâu? Có nhiều ý kiến khác nhau. Đại bộ phận các đồng chí nhất trí đột phá vào khu vực phòng thủ (xã chiến đấu). Có ý kiến nêu phải đột phá vào quận (huyện). Lại có ý kiến nêu phải đột phá vào lực lượng MTT (dân quân, bộ đội lãnh thổ). Các đồng chí trong đoàn thảo luận sôi nổi, cuối cùng các đồng chí đều thống nhất nhất trí đột phá vào khu vực phòng thủ vì chiến tranh nhân dân địa phương phải đi từ khâu cơ sở và Cuba đã có mệnh lệnh của đồng chí Tổng tư lệnh Fidel về khu vực phòng thủ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2016, 08:46:50 PM

Sau gần hai tháng (tháng 6 và 7 năm 1985) ta và bạn Cuba lăn lộn trên thao trường khu phòng thủ số 2 nằm sát bờ biển, mặc cho nắng gió dãi dầu, người nào cũng đen trũi. Cơ quan tham mưu đoàn gồm tác huấn, công binh, hải quân cùng tổ chuyên gia tỉnh đã giúp tỉnh Matanzas hoàn thành tốt cuộc diễn tập, trình diễn về phòng thủ, chống địch đổ bộ theo tình huống: Trên hướng chủ yếu tiến công của địch do chủ lực (Fa) đảm nhiệm, hướng thứ yếu tại khu phòng thủ số 2. Địch dùng một lữ đoàn đổ bộ ta có tiểu đoàn MTT tỉnh, đại đội MTT và các đội sản xuất phòng thủ của khu vực phòng thủ số 2. Với thế trận ong vò vẽ đã được chuẩn bị sẵn, quân ta đã đánh địch ở ven biển bằng mìn, thủy lôi, cối, pháo, chặn địch ngay ở mép nước, quần bám đánh địch ở điểm dân cư. Tiêu diệt một bộ phận địch lọt vào ổ mai phục của ta ở địa hình bất lợi...

Đánh giá về kết quả cuộc diễn tập. Đại diện cho Bộ các lực lượng vũ trang Cuba; một số ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng, lãnh đạo chỉ huy quân sự tỉnh, những người tham quan; đồng chí Raul cho rằng: "Cuộc diễn tập đạt kết quả cao, thể hiện đúng tinh thần diễn tập mẫu". Đồng chí đề nghị các chuyên gia Việt Nam giúp mỗi tỉnh làm thí điểm một khu phòng thủ để rút kinh nghiệm và nhân ra toàn quốc.

Hơn một năm trôi qua từ tháng 5 năm 1985 đến tháng 7 năm 1986. Toàn đoàn đã có nỗ lực lớn; giúp bạn tổ chức lực lượng huấn luyện diễn tập được một khu phòng thủ mẫu và 14 khu vực phòng thủ thí điểm của các tỉnh trong cả nước; củng cố một bước lực lượng MTT; các đội sản xuất phòng thủ. Tạo được bước chuyển biến tích cực, bạn đánh giá rất cao. Đoàn cũng khẳng định được phương hướng chuyên gia đã định là phù hợp. Toàn đoàn rất phấn khởi với kết quả tốt đẹp ban đầu, tạo một niềm tin vào chính mình và vào bạn.

Ý thức được vấn đề trên với cương vị phó chỉ huy, tham mưu trưởng đoàn, tôi cùng anh em đồng chí trong cơ quan tham mưu đoàn trao đổi, bàn bạc và chuẩn bị một số nội dung để ban chỉ huy đoàn trao đổi với bạn. Cuộc trao đổi lần này chủ yếu bàn về củng cố, nâng cao chất lượng MTT, các đội sản xuất phòng thủ.

Một nỗi buồn tự dưng ập tới mọi người: Đồng chí Thiếu tá Phạm Văn Định tổ chuyên gia thành phố Lahabana lâm bệnh ung thư dạ dày. Các thầy thuốc Cuba tận tâm cứu chữa bằng mọi khả năng của mình... nhưng bệnh của đồng chí Định quá nặng, đồng chí đã mất vào tháng 5 năm 1987. Tiếp một tin buồn khác lại ập đến, đồng chí Đại tá Trần Xuân Bảo - thường vụ đảng ủy đoàn, tổ trưởng chuyên gia tỉnh Lahabana bị đau tim chết đột ngột vào tháng 6 năm 1987. Đây là sự đau thương mất mát lớn cho Đoàn 385 chúng tôi, cho gia đình các đồng chí và nỗi đau buồn này cho cả ta và bạn. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Bộ các lực lượng vũ trang cách mạng Cuba, các đồng chí đã tổ chức tang lễ rất trọng thể. Bạn đã ướp thi hài hai đồng chí đưa vào quan tài kẽm, dùng hai chuyến máy bay đặc biệt tiễn đưa hai đồng chí về Tổ quốc Việt Nam. Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tổ chức lễ truy điệu tiễn đưa hai đồng chí về nơi an nghỉ cuối cùng; an táng các đồng chí tại nghĩa trang địa phương. Các đồng chí đã vĩnh viễn ra đi trong khi đang làm nhiệm vụ quốc tế cao cả trên nước bạn. Các đồng chí rất xứng danh là các liệt sĩ đã quên mình cho nhiệm vụ lớn lao của Tổ quốc. Ở đất nước bạn, hôm làm lễ truy điệu và tiễn đưa di hài hai đồng chí lên máy bay, các đồng chí đoàn chuyên gia ta và các đồng chí nước bạn ai nấy đều không nén nổi nỗi đau thương, đôi mắt mọi người đều đỏ hoe rưng rưng lệ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2016, 08:47:51 PM

Ngày 15 tháng 7 năm 1987, tôi nhận được quyết định của Nhà nước ta phong quân hàm Thiếu tướng. Biết tin này, các đồng chí Cuba đã tổ chức cuộc liên hoan chào mừng. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Ulises tới dự. Đồng chí phát biểu chào mừng thành tích của đoàn 2 năm qua (1985-1987). Thay mặt Bộ Quốc phòng nước Cuba, đồng chí đã tặng tôi bộ quân phục mang hàm tướng Cuba. Đồng chí đề nghị: Các đồng chí nâng cốc chúc mừng Hêlêran Việt Nam - Cuba. Các đồng chí Cuba vô cùng phấn khởi vì hơn 10 năm nay Cuba chưa phong tướng. Các đồng chí bắt tôi mặc quân phục tướng Cuba, bê tôi tung lên và hô to: Hêlêran Việt Nam - Cuba bằng tiếng của hai nước. Thế là từ đây các đồng chí Cuba gọi các sĩ quan Việt Nam mặc quân phục của Cuba bằng cái tên trìu mến Hêlêran (tướng) Việt Nam - Cuba. Côlôlen (đại tá) Việt Nam - Cuba, Commanđantê (thiếu tá) Việt Nam - Cuba.

Đầu tháng 3 năm 1988, được sự giúp đỡ của đoàn chuyên gia Việt Nam tỉnh Villa Clara tiến hành diễn tập thực binh trình diễn cho một số cán bộ chủ chốt của Bộ Quốc phòng và tham mưu trưởng các tỉnh tham quan.

Cuộc diễn tập thể hiện một tình huống đặc biệt. Sau nhiều tháng chiến đấu, ta đã đánh địch anh dũng, quyết liệt, tiêu diệt được nhiều địch, nhưng lực lượng địch quá mạnh, chúng đã cơ bản chiếm được địa bàn của tỉnh. Tại thành phố San Taclara địch đã triển khai sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn cơ động, trận địa pháo, kho tàng, sân bay, các thị trấn, đường giao thông chúng đã đóng nhiều đồn, bốt, đang càn quét đánh phá ác liệt hòng tiêu diệt và khu trục hết lực lượng ta ra khỏi địa bàn. Về ta, cơ quan lãnh đạo chỉ huy, lực lượng cơ động của tỉnh đã chuyển vào căn cứ kháng chiến. Một bộ phận lực lượng MTT, đội sản xuất phòng thủ, cán bộ đảng viên dựa vào hầm bí mật, địa đạo, bám trụ ở địa phương. Tiếng súng kháng chiến ngày đêm vẫn tiếp tục nổ, hệ thống thông tin liên lạc bí mật, công khai trong và ngoài thành phố đã được nối thông. Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng phòng thủ tỉnh, quận, quần chúng nhân dân đã bắt đầu đấu tranh chống địch khủng bố. Đội sản xuất phòng thủ, lực lượng MTT có nơi đã tiêu diệt bọn phản động ngóc đầu dậy. Đặc công thành phố đã tập kích diệt sở chỉ huy trung đoàn địch, đốt một kho xăng cháy nổ hai ngày liền, v.v...

Kết thúc cuộc diễn tập. Đồng chí Raul - Bộ trưởng thay mặt Hội đồng phòng thủ tỉnh, một số cán bộ của Bộ, người tham quan cuộc diễn tập hoan nghênh lực lượng diễn tập của tỉnh Villa Clara thể hiện những hành động gần như thật, có những pha rất hấp dẫn. Đồng chí đã cảm ơn đoàn chuyên gia Việt Nam đã giúp đỡ tận tình, tạo mọi điều kiện cho sĩ quan Cuba hình dung được thế nào là giai đoạn hai của cuộc chiến tranh. Với đoàn chuyên gia, chúng tôi cho đây là cuộc diễn tập quy mô lớn cấp tỉnh, cuộc diễn tập then chốt của đoàn sau cuộc diễn tập mẫu khu phòng thủ số 2 ở tỉnh Matanzas.

Nhiệm kỳ 1 (năm 1985-1988) đoàn chuyên gia quân sự địa phương của Việt Nam sang giúp Cuba đã kết thúc thắng lợi. Tại buổi liên hoan, đồng chí Raul - Bộ trưởng chuyển lời đồng chí Tổng tư lệnh Fidel khen ngợi đoàn chuyên gia Việt Nam.

Chêghêvara hạng hai. Đây chính là kết quả công tác, là sự đánh giá cao của các đồng chí lãnh đạo Cuba đối với thành tích của toàn đoàn. Khi phát biểu cảm tưởng, trưởng đoàn Lê Thành Văn rất xúc động, nghẹn ngào. Sau buổi liên hoan tôi đã viết tặng đồng chí trưởng đoàn mấy vần thơ:

Trân trọng đón mừng buổi hôm nay
Ba năm chung sức lái vững tay
Kinh nghiệm thần kỳ ta giúp bạn
Những tấm huân chương lệ tràn đầy.


Trên hòn đảo ngọc Cuba tươi đẹp anh hùng luôn tỏa sáng ở vùng châu Mỹ - Latinh. Từ đồng chí Tổng tư lệnk Fidel đến người dân bình thường, ta có thể khẳng định rằng: Ai ai cũng đều trân trọng kinh nghiệm Việt Nam đánh thắng Mỹ, mến mộ con người Việt Nam thật anh hùng bất khuất. Đoàn chúng tôi được ưu ái đặc biệt thể hiện tình cảm sâu sắc, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt và sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội hai dân tộc, hai quốc gia Việt Nam - Cuba.

Vinh quang này thuộc về Đảng, Bác Hồ, Nhà nước nhân dân, quân đội ta về mặt quân sự, trực tiếp là Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu.

Với tôi, đi công tác ở Tây bán cầu lần thứ hai Hêlêran Việt Nam - Cuba, Côlôlen Việt Nam - Cuba, Commandantê Việt Nam - Cuba là một kỷ niệm đặc biệt sâu sắc. Mãi mãi không thể nào quên.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 09:59:11 PM


VII

Sau chuyến công tác của đoàn chuyên gia quân sự địa phương Việt Nam sang giúp đất nước bạn Cuba trở về, tôi được Bộ Quốc phòng cho nghi phép một tháng về thăm gia đình và quê hương Hải Phòng.

Hạn nghỉ phép đã hết, đầu tháng 10 năm 1988, tôi về Cục Dân quân tự vệ Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng nhận nhiệm vụ mới. Với sự tín nhiệm và tin yêu của Đảng, Nhà nước và quân đội, tôi được giao nhiệm vụ trọng trách: Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ Bộ Quốc phòng. Với cương vị mới này, tôi sẽ phải là người đứng đầu chịu trách nhiệm trước Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng về công tác dân quân tự vệ quốc phòng địa phương.

Ngay chiều ngày hôm đó, tôi bắt đầu vào công việc của mình luôn. Việc đầu tiên, tôi tổ chức một cuộc họp với các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, Thủ trưởng Cục Dân quân tự vệ. Đồng chí Đại tá Kỳ Sinh - Bí thư Đảng ủy phụ trách Cục trưởng thay đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu nguyên Cục trưởng đã nghỉ hưu, báo cáo về tình hình tổ chức, biên chế, nhiệm vụ của cục và các hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ địa phương toàn quốc. Trong cuộc họp, một vấn đề lớn nổi lên: tình trạng công tác dân quân tự vệ quốc phòng địa phương không đổi mới kịp thời với sự đổi mới mạnh mẽ của đất nước dẫn đến tình trạng sa sút nghiêm trọng. Do đó, tôi đi đến các cơ quan Bộ Tư lệnh binh chủng, Bộ Tư lệnh Quân khu, Phòng Dân quân tự vệ quân khu, Học viện Quân sự Trung cao để nắm tình hình.

Sau một tháng đi nắm bắt tình hình thực tiễn, chúng tôi đã xác định được những việc cần làm ngay trước mắt: phải tập trung tham mưu giúp Bộ Quốc phòng đổi mới công tác dân quân tự vệ. Tuy lực lượng dân quân tự vệ đông nhưng chất lượng hoạt động yếu, không phù hợp với điều kiện tổ chức sản xuất mới.

Trên cơ sở đó, tháng 11 năm 1988, tôi và đồng chí Đại tá Trần Ngọc Minh - Phó Cục trưởng vào khu A làm việc với đồng chí Thượng tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Thượng tướng Đoàn Khuê còn là thủ trưởng cũ của tôi khi đồng chí là Tư lệnh Quân khu 5, lúc đó tôi làm phó tham mưu trưởng quân khu phụ trách tác chiến. Chúng tôi đã đề nghị với đồng chí Thượng tướng về việc đổi mới toàn diện công tác dân quân tự vệ cho phù hợp với thời kỳ phát triển mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang này sẵn sàng làm nhiệm vụ khi Tổ quốc cần. Đề nghị Nhà nước ban hành Điều lệ Dân quân tự vệ, mở Hội nghị dân quân tự vệ toàn quốc, tạo sự chuyển biến tích cực để phù hợp với công cuộc đổi mới của Đảng. Tiếp theo đó, đồng chí Trần Ngọc Minh báo cáo tóm tắt Dự thảo chỉ thị của Ban Bí thư, nghị định của Chính phủ, Điều lệ Dân quân tự vệ...

Được sự nhất trí của Tổng Tham mưu trưởng Đoàn Khuê, các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên toàn Cục Dân quân tự vệ rất vui mừng phấn khởi chuẩn bị các văn kiện phục vụ Đại hội "Dân quân tự vệ toàn quốc".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 10:00:17 PM

Sau gần tám tháng, từ tháng 11 năm 1988 đến tháng 7 năm 1989, với tinh thần khẩn trương tích cực, chúng tôi đã hoàn thành ba văn kiện quan trọng: Dự thảo Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường chỉ đạo, xây dựng hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ trong tình hình mới; Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ Dân quân tự vệ kèm theo điều lệ (chưa có văn bản chính thức).

Vào sáng ngày 1 tháng 7 năm 1989, tại Hội trường T83 của Bộ Quốc phòng, Hội nghị toàn quốc bàn về xây dựng dân quân tự vệ, quân dự bị động viên trong tình hình mới được tổ chức trang trọng trong không khí tưng bừng phấn khởi, cờ hoa lộng lẫy. Thượng tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng và đồng chí Trần Đức Lương - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chủ trì Hội nghị. Thành phần tham dự Hội nghị gồm có các Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Đảng, Chính phủ, Bí thư, Chủ tịch, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh trong cả nước. Các đồng chí Tư lệnh quân khu, Tư lệnh quân binh chủng. Các đồng chí chủ nhiệm tổng cục và một số đồng chí trong Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị.

Trong ba ngày làm việc, từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 7 năm 1989, các đại biểu tham dự đã thảo luận rất sôi nổi đi đến sự thống nhất cao với chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới toàn diện công tác dân quân tự vệ, dự bị động viên. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, thành phố còn nhấn mạnh "cần phải có chính sách phù hợp mới mang lại hiệu quả cao".

Bế mạc Hội nghị, thay mặt các đồng chí lãnh đạo chủ trì hội nghị Thượng tướng Đoàn Khuê nhấn mạnh: Sau hội nghị toàn quốc, các địa phương cơ sở cần tổ chức hội nghị chuyên đề quán triệt sâu sắc chỉ thị của Ban Bí thư, nghị định của Chính phủ và Điều lệ Dân quân tự vệ. Tạo ra một bước chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc về nhận thức quan điểm của lãnh đạo các cấp về tầm quan trọng vị trí chiến lược của dân quân tự vệ, quân dự bị động viên trong tình hình mới của đất nước, của quốc tế. Từ đó các cấp ra sức chăm lo xây dựng tổ chức dân quân tự vệ, quân dự bị động viên. Mạnh dạn rút gọn quân số (chú ý đến tỉnh), tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng nâng cao chất lượng tổng hợp, nhất là chính trị, chuyển hướng sang hoạt động bảo vệ trị an, cùng lực lượng công an giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội...

Ngày 22 tháng 9 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 55/CT-TW.

Ngày 29 tháng 1 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định 29/HĐBT và Điều lệ Dân quân tự vệ.

Để có được cơ sở pháp lý của Đảng, của Nhà nước, tôi cùng các đồng chí Đảng ủy, Thủ trưởng Cục ra sức động viên toàn Cục, phát huy mọi sáng kiến làm tham mưu giúp Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng Trung ương Đảng, Chính phủ hướng dẫn các địa phương thực hiện. Sau ba năm từ năm 1989 đến 1991, công tác dân quân tự vệ đã có bước chuyển biến tích cực, đúng hướng, các quân khu địa phương chấp hành nghiêm chỉnh, họ có nhiều sáng tạo. Vai trò vị thế của Cục Dân quân tự vệ tiếp tục được khẳng định và phát huy. Với cương vị Cục trưởng tôi rất phấn khởi và tin tưởng hơn vào sự đổi mới của ngành dân quân tự vệ.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 10:01:11 PM

Sau thắng lợi Hội nghị dân quân toàn quốc, Cục Dân quân tự vệ đang dồn sức giúp Bộ tập huấn cán bộ tham mưu quân khu, các tỉnh, thành phố triển khai đổi mới công tác dân quân tự vệ trong các vùng trọng điểm xung yếu: Lực lượng dân quân tự vệ vùng ven biển (Quân khu 5), lực lượng dân quân tự vệ vùng biên giới (Quân khu 9), lực lượng tự vệ đường phố (Quân khu 7). Phong trào dân bàn, dân cử, dân nuôi dân quân (Quân khu 2). Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Văn phòng Bộ Tổng tham mưu có Thông báo số 130/CP về việc Bộ Quốc phòng giải thể Ban giáo dục quốc phòng toàn dân. Cục Dân quân tự vệ có chức năng thường trực tổng hợp cùng các cục có liên quan giúp Bộ chỉ đạo công tác giáo dục quốc phòng toàn dân.

Với cương vị Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, Phó Bí thư Đảng ủy Cục, tôi quyết định mở cuộc họp Đảng ủy, Thủ trưởng Cục để bàn bạc. Thông qua việc bàn bạc thảo luận trong cuộc họp, chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng: Giáo dục quốc phòng là một bộ phận của giáo dục quốc dân, là cốt lõi của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta thì chỉ có nội dung huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh, sinh viên, với chương trình huấn luyện chiến sĩ mới cho học sinh phổ thông trung học, huấn luyện hạ sĩ cho sinh viên các trường đại học đã đóng góp to lớn vào việc phát triển lực lượng quân đội. Rút ngắn thời gian huấn luyện tân binh, đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp thiết cho chiến đấu đánh địch trên các chiến trường. Đến nay chương trình huấn luyện quân sự phổ cập ấy không còn phù hợp nữa. Giáo dục quốc phòng đang xuống cấp nghiêm trọng, đứng trước thử thách lớn, nếu không kịp thời đổi mới sẽ bị đẩy ra khỏi học đường. Các thế lực thù địch của dân tộc ta đang chống phá ta quyết liệt về mặt chính trị. Chúng muốn loại bỏ việc giáo dục chính trị, quân sự ra khỏi học đường. Chúng ta phải chủ động giúp Bộ tháo gỡ khó khăn về vấn đề này.

Ngày 30 tháng 9 năm 1990, Cục Dân quân tự vệ tổ chức cuộc họp; có sự tham dự của đồng chí cán bộ Vụ 1 - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại tá Bắc Việt - Vụ trưởng để bàn bạc tháo gỡ khó khăn.

Qua báo cáo về tình hình thực trạng việc giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên của Vụ 1 hiện nay, chúng tôi nhất trí với sự đánh giá cho đây là một công tác có tầm chiến lược. Trong năm mươi trường đại học có gần ba trăm sĩ quan biệt phái công tác ở đó, có ban quân sự hoặc tổ quân sự của trường. Hơn 100 trường trung học chuyên nghiệp dạy nghề thì có trường có giáo viên quân sự, có trường không. Hơn 1.000 trường trung học phổ thông không có giáo viên quân sự. Môn quân sự của trường phải mượn các đồng chí bộ đội địa phương và chủ lực giảng dạy giúp. Nhiều đồng chí hiệu trưởng còn đề nghị bỏ môn huấn luyện quân sự phổ thông vì kết quả hạn chế, nhàm chán...,Do đó, chúng tôi nhất trí giúp hai Bộ (Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục - Đào tạo) kịp thời đổi mới từ nội dung đến phương pháp giảng dạy. Trước hết, chúng tôi thay tên "huấn luyện quân sự phổ thông" bằng "giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên", về nội dung, đổi mới "chương trình, giáo trình, giáo viên, ngân sách". Đề nghị hai Bộ tổ chức hội thảo tổng kết 10 năm (1980-1990) về công tác giáo dục quốc phòng trong nhà trường. Về phương hướng đổi mới những năm tiếp theo: Mở hội nghị giáo dục quốc phòng toàn quốc, đề nghị Hội đồng Bộ trưởng có chỉ thị về giáo dục quốc phòng trong tình hình mới. Trải qua hai ngày làm việc, cuộc họp đã thành công tốt đẹp.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 10:01:48 PM

Sau 3 tháng tích cực khẩn trương, Cục Dân quân tự vệ và Vụ 1 cùng với Cục Nhà trường chuẩn bị xong các văn bản báo cáo tổng kết 10 năm giáo dục quốc phòng, đào tạo sĩ quan dự bị, dự thảo chỉ thị Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 12 năm 1990, Hội nghị đổi mới giáo dục quốc phòng toàn quốc được tiến hành ở hai miền Bắc - Nam. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp chủ trì hội nghị. Hội nghị được tiến hành trong không khí tưng bừng phấn khởi. Hội nghị đã đi đến nhất trí cao về đổi mới giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên. Thắng lợi hội nghị là một luồng gió mới thổi mạnh vào phong trào giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông, đại học, trung học chuyên nghiệp trên cả nước trong tình hình đổi mới của đất nước ta.

Phát huy vai trò trách nhiệm cơ quan tham mưu giáo dục quốc phòng, Cục Dân quân tự vệ phối hợp chặt chẽ với Vụ 1, Bộ Giáo dục - Đào tạo, hiệp đồng với các cục có liên quan của Bộ Tổng tham mưu, tổ chức biên soạn 36 giáo trình cho ba đối tượng và chín chương trình cho các cấp học.

Tiếp đến các năm 1992, 1993 và 1994, Cục Dân quân tự vệ và Vụ 1, Bộ Giáo dục - Đào tạo còn làm tham mưu cho hai Bộ lần lượt cho ra đời Trung tâm Giáo dục quốc phòng ở Thái Nguyên, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội, v.v... Đây là bước phát triển nhảy vọt về chất của giáo dục quốc phòng trong học sinh, sinh viên toàn quốc.

Phong trào giáo dục quốc phòng trong học sinh, sinh viên bước đầu giành được thắng lợi thật đáng mừng. Song việc giáo dục quốc phòng trong hệ thống trường Đảng, hành chính, đoàn thể và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cấp tại chức thì chưa được đặt ra. Để giải quyết vấn đề này, mặc dù Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 20 của Ban Bí thư Trung ương Đảng năm 1986 về tăng cường lãnh đạo, củng cố quốc phòng nêu rõ: "Cần phải đưa giáo dục quốc phòng thành môn chính khóa trong các trường chính trị, hành chính, đoàn thể" nhưng đến năm 1992 vẫn chưa trở thành hiện thực.

Tôi nêu vấn đề với các đồng chí Đảng ủy, Thủ trưởng Cục Dân quân tự vệ. Chúng tôi nhất trí không thể bỏ qua khâu quan trọng này trong công tác giáo dục quốc phòng toàn dân. Một lần nữa, Cục Dân quân tự vệ chủ động phối hợp với các cục có liên quan giúp Bộ tháo gỡ vấn đề khó khăn này.

Trên tinh thần đó, tôi trực tiếp bàn với đồng chí Cục trưởng Cục Tư tưởng Văn hóa. Hai cục cử cán bộ đi khảo sát, hội thảo về giáo dục quốc phòng ở một số trường: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính quốc gia, trường công đoàn, thanh niên, phụ nữ và một số trường chính trị, hành chính tỉnh. Các trường đều nhất trí cao vấn đề này. Chúng tôi chuẩn bị chương trình nội dung hội thảo với một số cơ quan Đảng, Nhà nước và báo cáo lên Ban Bí thư Trung ương nhất trí cho ý kiến chỉ đạo Cục Dân quân tự vệ đã làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ ra Nghị định 71/CP ngày 18 tháng 7 năm 1994 về giáo dục quốc phòng trong các trường chính trị, hành chính đoàn thể. Đây là kết quả bước đầu rất quan trọng góp phần hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc phòng toàn dân ở các cấp. Qua đó khẳng định lại vị trí chiến lược của công tác giáo dục quốc phòng: Đổi mới, hoàn thiện chương trình giáo dục quốc phòng trong các hệ thống nhà trường là chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 10:02:37 PM

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ (1954- 1975), Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị 120/CT-TW về công tác quân sự ở các địa phương. Chính phủ có Chỉ thị 198/CP về công tác quân sự ở các bộ, các ngành, các đơn vị cơ sở của Nhà nước. Do nhu cầu nhiệm vụ quân sự ở các bộ, chỉ có một thứ trưởng phụ trách công tác quân sự địa phương còn lại hầu hết các bộ có sĩ quan quân đội biệt phái sang công tác ở Vụ 1 (Vụ quân sự của Bộ). Công tác quân sự địa phương ở các bộ, ngành Nhà nước đã phát huy vai trò vị trí chiến lược to lớn trong nhiệm vụ động viên sức người, sức của ở các địa phương, các bộ, ngành trong cả nước góp phần đánh Mỹ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc và góp phần vào thắng lợi hai cuộc chiến tranh ở hai đầu biên giới của đất nước. Nhưng từ năm 1987 đến năm 1992, khi Bộ Quốc phòng rút một số sĩ quan biệt phái về Bộ thì hầu như Vụ 1 của các bộ không còn nữa (chỉ còn ba bộ: Vụ 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban kế hoạch Nhà nước). Tổ chức không còn, công tác quân sự có Bộ giao cho Vụ Tổ chức, có Bộ giao cho Vụ Kế hoạch, có Bộ giao cho Văn phòng Bộ. Hoạt động quân sự của các bộ hạn chế, hiệu quả thấp kém.

Khi về làm cục trưởng dân quân tự vệ tôi phân công đồng chí Trần Ngọc Ninh - Phó cục trưởng và đồng chí Lê Ngọc Vân - nguyên Trưởng phòng Tổng hợp quân sự địa phương của Cục cùng với cán bộ Cục Tổ chức động viên (nay là Cục Quân lực) đi khảo sát 14 bộ và 100 đơn vị cơ sở. Các đồng chí thấy rõ thực trạng công tác quân sự ở các bộ, ngành giảm xuống nghiêm trọng.

Từ thực tế trên, chúng tôi đề nghị Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng làm tham mưu cho Chính phủ tổ chức tổng kết và đổi mới công tác quốc phòng ở các bộ, ngành và các địa phương sao cho phù hợp với nhiệm vụ đổi mới chung của đất nước, của quốc phòng - an ninh.

Sau khi được Bộ Quốc phòng nhất trí, Cục Dân quân tự vệ đã phối hợp với Cục Tác chiến, Cục Tổ chức động viên làm tham mưu cho Bộ, giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ tổ chức Hội nghị về đổi mới công tác quốc phòng ở các bộ, ngành và ở địa phương. Đi sâu tổng kết 5 năm xây dựng khu vực phòng thủ ở các tỉnh, dân quân tự vệ; 10 năm xây dựng lực lượng dự bị động viên. Hội nghị được tổ chức thời gian ba ngày (từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 11 năm 1993). Số đại biểu về dự gần 300 đại biểu gồm các bộ, ngành ở Trung ương, đại diện cấp ủy, chính quyền, cơ quan quân sự tỉnh, thành phố, Bộ Tư lệnh các quân khu, quân binh chủng, các học viện về dự.

Được sự ủy quyền của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ, Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng chủ trì hội nghị, đồng chí Đỗ Mười - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trần Đức Lương - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tới dự và phát biểu ý kiến tại Hội nghị. Hội nghị diễn ra đạt kết quả rất tốt.

Phát huy thắng lợi Hội nghị, Cục đã phối hợp với cơ quan Bộ Quốc phòng, cơ quan của Chính phủ giúp Chính phủ ra Nghị định 19/CP ngày 12 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ về công tác quốc phòng ở Bộ, ngành và địa phương.
Dựa vào cơ sở pháp lý của Nghị định 19/CP, Cục Dân quân tự vệ, đã cùng cơ quan liên quan giúp liên Bộ Quốc phòng và Tổ chức Chính phủ khôi phục lại một số Vụ 1 và cán bộ chuyên trách quân sự của các bộ. Duy trì mối quan hệ và nền nếp sinh hoạt giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, v.v... đã tạo được bước chuyển biến mạnh về quan điểm nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành. Bộ đã đẩy mạnh công tác quốc phòng toàn dân trong giai đoạn cách mạng mới của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 10:03:27 PM

Là một sĩ quan quân đội, nhiều năm tôi làm công tác giảng dạy ở Học viện Quân sự. Tôi đã giới thiệu kinh nghiệm chiến tranh nhân dân của Đảng ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho các đoàn quân sự một số nước bạn đến Việt Nam nghiên cứu. Tôi cũng rất vinh dự được nhiều lần Bộ Quốc phòng điều đi làm công tác chuyên gia cho nước bạn về công tác quân sự địa phương.

Thực hiện Quyết định số 613/QĐ của Bộ trưởng Quốc phòng, gần 3 năm. phấn đấu bền bỉ (tháng 9-1993 đến 1-1996) với 10 đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan trong Ban tổng kết của Cục Dân quân tự vệ, được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Đảng ủy, Thủ trưởng Cục Dân quân tự vệ; bản tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) đã hoàn thành, kèm theo bốn phụ lục (địch và ta) và 10 chuyên đề lần lượt được nghiệm thu (chuyên đề trên các chiến trường quân khu).

Ngày 3 tháng 1 năm 1996, Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng, Trưởng ban Tổng kết chiến lược đã đánh giá công trình tổng kết đạt chất lượng tốt, nhanh, đúng đường lối và quan điểm chỉ đạo của Đảng. Công trình có giá trị lý luận và thiết thực phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới hiện nay của Đảng. Bộ trưởng đã quyết định cho in và phát hành. Cũng trong cuộc họp này, Bộ trưởng còn chỉ thị tổng kết những đặc thù của chiến tranh du kích trên từng chiến trường trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó là tổng kết xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, binh chủng. Công trình này phải đến đầu năm 2000 mới kết thúc. Cơ quan Bộ, quân khu, quân binh chủng đã giúp đỡ Bộ Quốc phòng hoàn thành công trình tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương gồm 35 tập sách lần lượt được nghiệm thu, cho in ấn và phát hành.

Hội đồng khen thưởng của Bộ đã đề nghị Bộ Quốc phòng khen thưởng Huân chương Chiến công hạng ba cho Phòng Dân quân tự vệ Quân khu 5, Huân chương Chiến công hạng nhì cho chủ nhiệm công trình tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương của Bộ.

Được đón nhận niềm vui, niềm vinh dự này, lòng tôi vô cùng sung sướng vì nguyện vọng tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương của tôi đã đạt được kết quả tốt đẹp.

Suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, tôi chủ yếu làm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy từ cấp thấp đến cấp cao, từ một trung đội trưởng đội du kích rồi xã đội trưởng, chỉ huy trưởng quân sự huyện, đến cấp tỉnh và cục. Tôi hoạt động làm nhiệm vụ ở nhiều vùng, nhiều địa phương, từ miền Bắc đến Tây Nguyên, Nam Bộ. Từ biên giới Tây Nam của Tổ quốc đến chiến đấu giúp nhân dân miền Đông Bắc Campuchia giải phóng khỏi họa diệt chủng của bọn Pôn Pốt, Iêng Xari, v.v... Trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt hay trong hoàn cảnh hòa bình xây dựng, bản thân tôi đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm xương máu, trong đó có một bài học kinh nghiệm rất quan trọng là kinh nghiệm "Tạo động lực". Dù cho chiến đấu và công tác có vất vả khó khăn đến mấy thì người lãnh đạo chỉ huy cũng phải hết sức chăm lo đến công tác xây dựng nội bộ đoàn kết một lòng, luôn làm cho đảng bộ, cơ quan đơn vị vững mạnh về mọi mặt. Phải biết kết hợp chặt chẽ giữa việc phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị với việc xây dựng nội bộ đảng bộ, cơ quan vững mạnh về mọi mặt. Lấy việc xây dựng nội bộ vững mạnh làm "động lực" thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Đồng thời lấy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị làm thước đo kết quả việc xây dựng nội bộ. Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời nhau. Ta làm tốt cả hai mặt này là thể hiện được cách lãnh đạo chỉ huy toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp, thể hiện rõ nét trình độ năng lực lãnh đạo chỉ huy của người cán bộ cách mạng.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Tư, 2016, 10:05:31 PM

Được về làm việc ở Cục Dân quân tự vệ, ngay những ngày đầu tôi đã đi sâu tìm hiểu lịch sử của Cục, tự hào về bề dày lịch sử và truyền thống tốt đẹp của Cục. Phòng Dân quân - Cục Dân quân tự vệ có chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu về vũ trang quần chúng, công tác quân sự địa phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Với 50 năm (từ 1947-1997), Cục Dân quân tự vệ đã xây dựng và trưởng thành trong hoạt động "Cục giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hoàn thành nhiệm vụ chính trị với xây dựng đảng bộ và cơ quan Cục, phát huy truyền thống, sâu sát cơ sở, bám sát địa phương, tích cực, chủ động sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan có liên quan trong và ngoài quân đội. Từ đó tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên giao"1.

Ngoài ra, tôi phải phấn đấu nghiên cứu, nắm vững về kinh nghiệm cuộc đời chiến đấu của mình trải dài hơn nửa thế kỷ lịch sử đất nước để phát huy và bổ sung làm phong phú truyền thống kinh nghiệm của Cục, xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược đầu ngành của ngành dân quân tự vệ, quân sự địa phương Việt Nam.

Trên cương vị cục trưởng, phó bí thư Đảng ủy Cục, tôi đã cùng Đảng ủy, Thủ trưởng Cục lãnh đạo Cục phấn đấu khắc phục mọi khó khăn hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Bộ Quốc phòng giao phó. Lãnh đạo đổi mới công tác dân quân tự vệ, đổi mới giáo dục quốc phòng, đổi mới công tác quốc phòng ở Bộ, ngành, ở các địa phương hoàn thành nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm chiến tranh nhân dân địa phương trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Đồng thời cùng các đồng chí lãnh đạo xây dựng Đảng bộ và cơ quan Cục vững mạnh về mọi mặt. Trong những năm qua, (từ năm 1989, 1990 và 1992), toàn Cục đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng và được tặng cờ đơn vị khá nhất của Bộ Quốc phòng. Từ năm 1988 đến năm 1990, Đảng bộ Cục đạt Đảng bộ trong sạch vững mạnh, được nhận cờ Đảng bộ trong sạch vững mạnh của Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng. Trong công tác xây dựng nội bộ, chúng tôi rất quan tâm đến các chính sách: Chính sách bồi dưỡng đề bạt cán bộ, chính sách hậu phương gia đình quân đội và chăm lo đời sống tinh thần vật chất trong cơ quan Cục. Ở thời điểm cả nước gặp khó khăn về kinh tế, nhiều cục trên cơ quan bộ làm kinh tế, song Cục Dân quân tự vệ không có vốn không có kinh nghiệm nên chúng tôi dựa vào thế mạnh của mình có các cơ quan quân sự địa phương giúp đỡ. Cục đã cử một tổ công tác hậu cần vào miền Nam mua gạo về bán cho gia đình cán bộ. Những chi phí đó do Cục thanh toán. Cục còn thuê hàng chục hécta đầm, hồ giao cho một tổ dân quân tự vệ có nhiều kinh nghiệm về thủy sản giúp Cục làm kinh tế... Từ đó, Cục có cơ sở kinh tế hỗ trợ một phần cho gia đình cán bộ, ổn định thêm đời sống thường ngày. Cán bộ, công nhân viên cơ quan Cục thêm đoàn kết, phấn khởi, tinh thần công tác gắn bó keo sơn với Cục.

Với thời gian hơn 10 năm (1988-2000), tôi công tác ở Cục Dân quân tự vệ, có thời gian tôi làm Cục trưởng, có thời gian lại chuyển sang công tác tổng kết. Với trách nhiệm nào tôi cũng luôn phấn đấu, nỗ lực, tích cực để góp một phần nhỏ tạo nên vị thế của Cục, của ngành dân quân tự vệ. Song điều quan trọng hơn nhờ có bước phát triển mới của Cục, của ngành mà cá nhân tôi cũng có sự phát triển vượt bậc. Bản thân tôi rút ra một vấn đề: Kinh nghiệm chiến tranh nhân dân địa phương Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Đây là một loại hình kinh nghiệm hiếm thấy trên thế giới nhưng lại chưa được tổng kết đầy đủ. Mỗi khi phải giới thiệu một vấn đề, chúng tôi thường phải tự nghiên cứu rồi "tự biên, tự diễn" chịu trách nhiệm trước Bộ về những tài liệu đã thông qua. Do vậy, khi kết thúc những năm tôi đi chuyên gia quân sự tại Cuba, tôi về làm Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, đi đôi với triển khai toàn bộ công tác dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng, công tác quốc phòng Bộ, ngành và địa phương; tôi rất quan tâm đến nhiệm vụ tổng kết và khoa học phát triển của ngành quân sự địa phương.

Sau 4 năm từ 1989 đến 1993, Cục Dân quân tự vệ đã hoàn thành bước đầu chuẩn bị tư liệu. Để tiến hành bước hai, Cục Dân quân tự vệ đã giúp Bộ Tổng tham mưu làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 613/QĐ ngày 14 tháng 9 năm 1993 về Tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ từ 1946 đến 1975.
___________________________________
1. Lịch sử Cục Dân quân tự vệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 203, 204.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2016, 07:03:11 AM

ĐOẠN  KẾT

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 khi mới 13 tuổi (1942) tôi đi học chữ Hán, học đến sách Luận ngữ, Mạnh Tử, thầy khóa Thu ra cho học trò một đầu bài "Thiên địa anh khí". Thầy hẹn 30 phút phải nộp bài xướng bằng 4 câu thơ. Ai nấy đều lo lắng suy nghĩ, chưa hết bỡ ngỡ, tôi đã nộp bài cho thầy đúng 4 câu thơ lục bát.

Trời đất có khí anh hoa
Dùi mài hun đúc cho ta nên người
Thông minh tai mắt khác vời
Sống sao đích thực là người nam nhân


Thầy đọc xong bài thơ của tôi, thầy không khen hay cũng không chê dở. Thầy gật gù: "Câu kết nêu rõ được chí hướng phấn đấu của người nam nhân phải sống như thế nào cho ra sống".

Thầy khóa Thu là con trai cụ khóa Thoa, cháu cụ khóa Cổ, ba đời dạy chữ Hán ở trong làng và ở thiên hạ, các cụ đều là bậc nho hiền nổi tiếng thông minh và dạy rất giỏi. Tôi với thầy khóa Thu là cháu bác cháu dì; tôi được học cả ba đời gia đình Nho giáo này (ông khóa Cổ, bác khóa Thoa, anh khóa Thu). Tôi được anh khóa Thu nhẹ nhàng động viên học tập, tuy tôi còn nhỏ, nhưng tôi đã có một ước vọng, lớn lên học hành thành đạt, ngoài làm việc tốt ra, tôi cũng biết làm thơ, noi gương các bậc tiền nhân.

Tôi bắt đầu hoạt động cách mạng (1947-1948). Tôi thấy các đồng chí cán bộ Việt Minh nhiều người có quyển nhật ký, tôi cũng bắt chước đóng quyển nhật ký. Nhưng tôi viết nhật ký bằng thơ chỉ dăm, sáu câu một theo cảm hứng, lúc đầu tôi đặt tên cho quyển sách đó là "Nhật ký người du kích Cao Minh". Khi tôi lên huyện Vĩnh Bảo công tác tôi nghĩ chắc là mình còn phải đi mãi, cái tên đó không phù hợp nữa, tôi viết tiếp quyển nhật ký thứ hai với tên "Những chặng đường". Tôi viết bài thơ làm tựa để:

Mỗi một chặng đường một bài thơ
Để lại trong tôi kỷ niệm xưa
Thanh thản tâm hồn tăng nghị lực
Đi suốt cuộc đời một ước mơ.


Và cũng từ đó, tôi đi đến đâu? Làm việc gì? Chiến đấu hay công tác? Thuận lợi hay khó khăn, thành công hay không thành công tôi đều ghi bằng thơ, ghi mãi dòng nhật ký trôi theo thời gian năm tháng của cuộc đời đến tháng 2 năm 2002, nhân dịp xã Cao Minh, quê hương tôi được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân", tôi viết bài thơ thứ 85 có tựa đề "Quê hương anh hùng" để tặng quê hương yêu dấu. Tôi cho in tập thơ "Những chặng đường" để trong tủ sách gia đình.

Mục đích tập thơ của tôi là ghi lại "Những chặng đường", những chặng đường đời, đường cách mạng tôi đã từng gắn bó chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản là sống vì dân, chết cũng vì dân. Chặng đường đó phát triển cùng với sự phát triển chung của cách mạng. "Những chặng đường” cũng ghi lại những tình cảm thân thương, trìu mến, sâu nặng của tôi đối với quê hương với đất nước, đối với Đảng, Bác Hồ, với quân đội, với nhân dân. "Những chặng đường" cũng còn ghi lại tình cảm của tôi đối với gia đình, lòng kính yêu bố mẹ, thương yêu vợ hiền, con nhỏ, tình anh em, bè bạn sâu nặng, v.v... Tôi thấy thơ của mình còn thô thiển mộc mạc nhưng trong nó chứa đựng một tình người tha thiết. Có một số bạn bè hiểu ít về thơ khi đọc "Những chặng đường" của tôi đều nói lên lời khen tốt đẹp. Họ phát biểu rất tôn trọng và cũng khá giống nhau ở một điểm: "Bận rộn đến thế mà còn tâm hồn thơ, đó là điều đáng mến phục, con nhà quân sự có thời gian đâu mà nghiên cứu về phương pháp sáng tác thơ, văn. Tuy vậy cũng có một số bài đã đạt đến độ chín".

Đọc xong tập thơ, các anh đều hỏi: Trong tập "Những chặng đường" anh có ba bài thơ tình, vậy có phải là tình thực hay tình giả?

Tôi trả lời ngay: "Cái đó tùy độc giả. Tôi chỉ nêu một chuyện có thật".


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2016, 07:04:46 AM

Tháng 2 năm 1952 ở trận đánh đồn Áng Dương, quân ta bắn sai mục tiêu lạc vào quân ta. Có một quả AT nổ trên cây xoan, mảnh đạn văng vào bả vai tôi. Tôi bị thương khá nặng. Chị em du kích cáng tôi bằng võng phải hai đêm mới vượt qua được đường 17 và đường 10; vượt qua đồn bốt giặc. Các đồng chí đưa tôi về nhà cụ Xuất Ban là cơ sở của ta; nhờ gia đình cụ nuôi dưỡng tôi. Huyện đội cử một đồng chí y tá trưởng là nam giới và một nữ hộ lý tiêm thuốc rửa, băng vết thương cho tôi. Bà Âm có cô em gái tên là Rốt sau này đổi là Hạnh. Tuổi đời chừng 19, đôi mươi, dáng cao, thon thả, nước da trắng, mái tóc mây dài. Cô khá xinh đẹp, thỉnh thoảng cô này thay chị mang cơm vào buồng trong cho tôi. Tôi thấy dáng đi nhẹ nhàng, xét nét, mặt đỏ bừng như quả bồ quân, em đặt cơm xuống bàn rồi em chạy. Có lúc cô hộ lý rửa vết thương cho đại đội trưởng của mình. Ánh mắt cô Rốt (Hạnh) như lườm, nguýt, hình như tôi thấy ở em có cái gì khó chịu. Thế là tức cảnh thành thơ, tôi ghi luôn nhật ký bằng bài thơ có tựa đề "Sầu riêng":

Trăng treo lơ lửng dải Ngân Hà
Trăng gần tâm sự nỗi lòng ta
Một gánh sầu riêng đầy ăm ắp
Em ở gần bên sao quá xa
Mảnh tình huyền ảo mà thơ mộng
Nặng trĩu hai vai suốt đời ta.


Với thời gian trôi đi, sau 40 năm từ 1952 đến 1992, người vợ - bạn đời yêu quý của tôi chuyển về Hải Phòng ở với con gái. Tôi lúc đó công tác ở Hà Nội. Một lần tôi về thăm gia đình. Biết tin tôi về Hải Phòng, cô Rốt, tức Hạnh - cô gái năm nào ấy đã cùng chồng là Nghiệp tìm đến nhà tôi, thăm vợ chồng tôi. Tôi đưa tập nhật ký "Những chặng đường" cho chú Nghiệp và cô Hạnh đọc bài "Sầu riêng", chú Nghiệp ngơ ngác không hiểu gì. Còn cô Hạnh nhìn tôi mặt đỏ bừng, nở một nụ cười âu yếm. Tôi giải thích để chú Nghiệp và vợ tôi khỏi nghi ngờ mối quan hệ giữa tôi và cô Hạnh. Được nghe tôi giải thích xong, ai nấy đều vui vẻ, còn cô Hạnh tỏ ra tự hào nói với chồng "Ngày ấy chắc em đẹp lắm nên đại đội trưởng mới có bài thơ này".

Từ khi tôi chuyển sang làm công tác tổng kết kinh nghiệm chiến tranh nhân dân địa phương (tháng 9-1993) Tôi có điều kiện tiếp xúc với tài liệu phục vụ cho tổng kết và các tài liệu quý báu khác. Tôi thấy một vấn đề là ở Việt Nam, từ xa xưa các vị danh nhân nghĩa khí cũng như quần chúng lao động yêu đất nước, quê hương. Họ thường có những câu nói bất hủ. Nhất là thời đại Hồ Chí Minh. Ta có thể khẳng định những lời nói bất hủ của các vị đó trở thành danh ngôn Việt Nam.

Bác Hồ đã nói: Cho dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập hay Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà bản thân dân được ăn no, mặc đủ. Nhân dân ta cũng có câu nói:

Một lời nói tựa nhát dao
Thề cùng giặc Mỹ có tao, không mày.

"Hãy đánh Mỹ đi rồi sẽ biết cách đánh và thắng Mỹ" (Củ Chi đất thép thành đồng), "Còn cái lai quần cũng đánh" (chị Út Tịch, xã đội trưởng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2016, 07:07:13 AM

Nhưng khi viết chúng ta thường viết về danh ngôn thế giới, hay danh ngôn xử thế. Tuy có đề cập đến ca dao, tục ngữ Việt Nam, nhưng danh ngôn Việt Nam thì chưa đề cập đầy đủ, chưa viết thành sách riêng.

Từ những suy nghĩ trên, đi đôi với việc sưu tầm tư liệu hoàn thành tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương Việt Nam, tôi cũng say sưa sưu tầm biên soạn tập danh ngôn Việt Nam, đã gần 10 năm (từ 1993 đến 2001). Tôi đã hoàn thành bản thảo "Danh ngôn Việt Nam" gồm 8 chương với 396 bài và câu. Chương một: Sứ mệnh làm người; chương hai: Tích lũy kiến thức; chương ba: Chuẩn bị tay nghề; chương bốn: Trau dồi đạo đức; chương năm: Đạo xử thế trong gia đình; chương sáu: Đối với bạn bè; chương bảy: xử thế ngoài xã hội; chương tám: Phận sự đối với Tổ quốc. Để động viên cổ vũ cho nghiên cứu "Danh ngôn Việt Nam" tôi làm bài thơ thay cho lời kết.

Gia đình hạnh phúc, đất nước phồn vinh
Xây nền văn hóa ngày thêm rạng ngời
Danh ngôn Việt Nam ai ơi!
Hiểu sâu, làm đúng những lời cẩm nang
Danh ngôn kho báu hơn vàng
Hành trang vững bước trên đàng lập thân.


Nhân dịp mừng xuân Nhâm Ngọ, mừng Đảng ta tròn 72 tuổi. Mùng 1 đầu xuân (tức ngày 12 tháng 2 năm 2002 dương lịch), cả gia đình tôi sum họp một nhà, con cháu đông đủ. Tôi chúc tết mọi người rồi tặng mỗi gia đình con, cháu hai cuốn sách quý của tủ sách gia đình tập "Danh ngôn Việt Nam" và tập nhật ký bằng thơ "Những chặng đường".

Tôi giải thích cho mọi người nghe "Danh ngôn Việt Nam" nói cho cùng là hệ thống quan điểm, tư tưởng, lẽ sống làm người, tập thơ "Những chặng đường" là một con người cụ thể đã phấn đấu theo quan điểm đạo lý. Người đó đã thành công đạt được những ước mơ, khát vọng của mình. Cho dù bận công tác, làm ăn, học tập cũng cố tranh thủ đọc, làm theo đúng những điều trong sách, nhà ta nhất định mãi mãi loại trừ được tệ nạn xã hội và xây dựng được những gia đình văn hóa kiểu mẫu.

Toàn thể gia đình con, cháu vui mừng phấn khởi hứa quyết tâm làm theo lời tôi giải thích ở hai tập sách. Và toàn thể gia đình đã tặng tôi tràng pháo tay giòn giã.



Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2016, 07:09:05 AM

Đúng ngày 20 tháng 12 năm 1998 tôi tròn 50 tuổi Đảng (20-12-1948 - 20-12-1998) tính ngày chính thức. Ngày 7- 11-1998, Thường vụ Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng đã có Quyết định số 33115/HHTĐ tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cho tôi.

Ngày 20-11-1998, Đảng ủy Cục Dân quân tự vệ đã tổ chức lễ trao Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cho tôi. Theo sự hướng dẫn của Cục Chính trị, Bộ Tổng tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng.

Tới dự buổi lễ trao tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cho tôi có các đồng chí đại diện Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng, Cục Chính trị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, các đồng chí đảng ủy viên, thủ trưởng, toàn Đảng bộ và cơ quan dân quân tự vệ Bộ Tổng tham mưu.

Sau khi chào Quốc kỳ, Đảng kỳ và sau lời tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu của đồng chí Chủ nhiệm chính trị Cục Dân quân tự vệ. Đồng chí Nguyễn Hồng Chức - Bí thư Đảng ủy Cục Dân quân tự vệ thay mặt Đảng bộ tặng bằng và gắn Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cho tôi. Tôi vô cùng xúc động phát biểu:

- Kính thưa tất cả các đồng chí, từ đáy lòng mình tôi có mấy lời cảm tưởng như sau:

Đảng đã cứu sống đời tôi, gia đình, họ hàng, làng xóm tôi.

Cách đây 53 năm về trước (1945-1998), năm Ất Dậu (1945) miền Bắc bị mất mùa, thóc lúa giặc Nhật vơ vét sạch, nhân dân rau lá cầm hơi, rồi chết dần, chết mòn, chết thê thảm, người chết chồng lên người chết. Người chết trước chôn mỗi người một hố, còn những người chết sau thì chôn hai, ba người một hố. Người còn sống thoi thóp lo cho phận mình chết còn có ai chôn được mình nữa không? Nạn đói đã cướp đi cả nước trên 2,5 triệu người. Cả làng tôi có 5.000 khẩu thì chết 1.000 người. Họ hàng nhà tôi có 119 người thì chết 23 người, mất 29 phần trăm. Hiện nay gia đình tôi lấy ngày 23 tháng 3 hàng năm làm ngày giỗ những người xấu số thiệt phận chết đói năm 1945, ngày ai nấy đều đau thương, uất hận và nhắc nhủ mọi người đoàn kết phấn đấu cho cuộc đời ngày càng khá hơn, đừng để cho cảnh Ất Dậu đó tái diễn.

Đảng đã cho tôi ý chí quyết tâm, nghị lực phấn đấu cách mạng. Các đồng chí đảng viên lúc đó đã thấy tôi là người nhanh nhẹn, có xu hướng thích hoạt động, nhưng biết tôi là con trai một "con cầu". Bố mẹ sợ con mình chết không dám cho đi hoạt động cách mạng. Các đồng chí đảng viên phải vận động mãi bố mẹ tôi mới đồng ý. Hôm kết nạp tôi vào Đảng, chi bộ đã đặt cho tôi cái tên là "Quyết Tâm". Các đồng chí giải thích: Hoàn cảnh gia đình đồng chí có thế ảnh hưởng đến hoạt động của đồng chí. Đặt cho đồng chí cái tên này là khi đồng chí gặp khó khăn thì lấy đó động viên mà vượt qua. Thế rồi tên "Quyết Tâm" đó đi suốt cuộc đời tôi. Mỗi khi gặp khó khăn hoặc vào những nơi nguy hiểm, nhớ đến lời dạy bảo của chi bộ Đảng, tôi đã vượt qua. Đây là Đảng cho tôi ý chí quyết tâm và nghị lực cách mạng.

Đảng đã cho tôi trí tuệ: Đảng cho trí tuệ là cả quá trình, nhưng có lẽ Đảng cho trí tuệ nhiều nhất là trong 10 năm tổ chức giao nhiệm vụ tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương, một công việc buộc phải tự mình học hỏi nghiên cứu, sưu tầm, có làm như vậy mới mong hoàn thành nhiệm vụ. Nói thật với các đồng chí, với trình độ văn hóa trước cách mạng tôi mới biết hai phép tính cộng trừ. Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, quân đội cho tôi đi học xóa nạn mù chữ hai năm, học qua tám lớp, đạt 10/10 bổ túc. Không có học hàm, học vị gì mà làm nghề văn chương chữ nghĩa này, thật là khó. Lúc đầu tôi rất bỡ ngỡ, lúng túng, nhưng với nhiệt huyết cao, chúng tôi bảo nhau làm theo kinh nghiệm đánh Mỹ: "Hãy cứ đánh Mỹ đi rồi sẽ biết cách đánh Mỹ và thắng Mỹ". Bây giờ ta cứ tổng kết đi rồi sẽ biết cách tổng kết và ta tổng kết được. Tư duy của tôi là như vậy, làm như vậy và thành công. Đây chính là Đảng đã cho tôi trí tuệ, soi rọi cho tôi đi trên con đường công tác giúp cho tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Đảng đã dạy bảo, tạo điều kiện cho tôi thực hiện được ước mơ, khát vọng của đời mình.

Lúc còn thơ dại, tôi thấy bố, mẹ lo ngày ba tháng tám, lo thời kỳ giáp hạt. Tôi ước mơ đừng có ngày ấy để mọi người khỏi khổ. Lúc lớn lên gặp tai họa nạn đói năm 1945, gặp xã hội đầy bất công, bọn cường hào áp bức gia đình và nhân dân xóm làng. Tôi ước sao có một xã hội, một cuộc đời không có cường quyền, áp bức và không bị cảnh Ất Dậu năm 1945. Khi tôi đi hoạt động cách mạng, tôi mới biết cái ước mơ, khát vọng nhỏ bé của mình đã nằm trong nguyện vọng cao cả của đất nước. Đó chính là nguyện vọng Tổ quốc được độc lập. Nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Ước vọng ấy phải phấn đấu suốt cả cuộc đời, có khi phải phấn đấu hy sinh hai, ba thế hệ và phải có sự lãnh đạo sáng suốt, tài giỏi của Đảng mới giành được thắng lợi. Với tôi niềm vinh hạnh đó đã đạt được khi ta đánh thắng Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, cả nước độc lập đi lên chủ nghĩa xã hội.

Càng suy nghĩ, tôi càng thấm thía. Một cuộc đời chưa đến tuổi bát tuần, đã sống giữa hai thế kỷ XX và XXI, với 50 tuổi Đảng và gần nửa thế kỷ tuổi quân có sự dìu dắt của Đảng, tôi đã từ một người lạc hậu "răng đen" ở vùng quê xa xôi, hẻo lánh, là người dân nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, người đảng viên, người cán bộ sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời sống cũng khá dài nhưng thật hữu ích. Lúc còn trai tráng thì cầm quân đánh giặc. Cuối đời binh nghiệp thì làm tổng kết chiến tranh. Khi về hưu thì cấp trên còn yêu cầu tôi nghiên cứu chuyển các đề tài tổng kết chiến tranh cách mạng sang thể văn học, truyện ngắn, truyện dài cho nó dễ đi vào thế hệ mai sau. Tôi tự đặt câu hỏi, vì đâu mà mình có một cuộc đời dài và hữu ích như vậy? Tôi vô cùng tự hào, sung sướng. Tôi cảm ơn sâu sắc Đảng vinh quang, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân và quân đội ta anh hùng đã cho tôi một cuộc đời tươi sáng, cảm ơn Đảng bộ và cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Cục Dân quân tự vệ. Cảm ơn tất cả các đồng chí đã có mặt hôm nay. Tôi xin hứa trước Đảng, trước các đồng chí, Vũ Ba vẫn mãi mãi "Quyết Tâm".

Trước giờ phút đầy thiêng liêng và sung sướng của tôi, mạn phép các đồng chí tôi xin đọc mấy vần thơ.

Sung sướng đón mừng buổi hôm nay
Huy hiệu tuổi Đảng, Đảng trao tay
Càng lo, chặng đường đời còn lại
Sống sao xứng đáng công ơn này
Rồi đây trở lại cảnh đời thường
Củng cố gia phong, giữ kỷ cương
Giữ gìn sức khỏe, tăng tuổi thọ
Tránh những ưu tư, những vấn vương
Đinh ninh trong dạ lời son sắt
Trọn nghĩa giang sơn, nghĩa cố hương
Tôn vinh tiên tổ, lo hậu thế
Dào dạt trong tôi những mến thương.


Buổi lễ hôm đó, lời phát biểu đáp từ của tôi sao nghẹn ngào làm vậy. Càng phát biểu, tôi càng xúc động, nhiều lúc không cầm nổi nước mắt, nó cứ trào ra, có lẽ nhiều đồng chí cũng cảm thông với những nỗi buồn và niềm vui của tôi, cũng xúc động, liên tục cầm khăn mùi soa lau những giọt lệ lăn trên gò má, nở nụ cười phấn khởi mừng cho ngày vinh dự của tôi cũng như của bạn, của mình. Buổi lễ đó là sâu sắc nhất của cuộc đời tôi.


Tiêu đề: Re: Khát vọng đồng bằng
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Tư, 2016, 07:12:59 AM

Sau buổi lễ nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, tôi cứ đinh ninh trong lòng đó là kỷ niệm sâu sắc nhất đời rồi và tôi lấy buổi lễ đón nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng là lời kết luận bản hồi ức của mình. Nhưng không được, vì niềm xúc động lại tiếp tục xúc động, đời tôi còn một kỷ niệm sâu sắc chẳng kém gì niềm xúc động khi nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đó là ngày 27 tháng 1 năm 2002, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" cho xã Cao Minh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954). Đây là quê hương yêu dấu của tôi, nơi tôi được sinh ra, lớn lên và có góp một phần nhỏ bé của mình vào sự tích anh hùng của quê hương.

Đúng ngày 2 tháng 9 năm 2002, ngày độc lập của dân tộc, xã Cao Minh tổ chức lễ đón nhận danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân", các đồng chí lãnh đạo xã mời tôi về dự.

Tại sân vận động của trường phổ thông cấp hai của xã được trang hoàng, bài trí trang nghiêm lộng lẫy, trên khán đài cao có tới 300 đại biểu đến dự, trước khán đài là đường hành lang to để các đoàn diễu hành, tiếp đó là các khối nhân dân, các đoàn thể, dân quân tự vệ và cựu chiến binh xếp thành hàng thẳng tắp, chỉnh tề.

Sau giây phút trang nghiêm, đồng chí Phó Chủ tịch thành phố, thừa ủy quyền Chính phủ trao bằng danh hiệu anh hùng cho xã. Đồng chí trong Ban tổ chức trịnh trọng kính mời Trung tướng Vũ Ba (bác Quyết Tâm) - cán bộ cũ trong kháng chiến chống Pháp của xã nhà lên phát biểu.

Hôm đó tôi bị đau cột sống, phải hai, ba người dìu mới lên được cái bục phát biểu. Đứng cạnh bục tôi trấn tĩnh lại tinh thần rồi phát biểu:

- Kính thưa đồng chí lãnh đạo Quân khu 3, lãnh đạo thành phc) Hải Phòng, thường vụ huyện ủy Vĩnh Bảo.

Thưa các đại biểu tân khách, thưa toàn Đảng bộ và nhân dân toàn xã Cao Minh.

Vũ Bá, Vũ Ba, Quyết Tâm cũng là tôi, trong kháng chiến chống Pháp tôi là xã đội trưởng thứ ba, Bí thư thứ năm của xã nhà, so với những người đi trước thì tôi là bậc đàn em, nhưng cũng là cán bộ cũ, được về dự buổi lễ long trọng này, tôi vô cùng xúc động, đại diện cho lớp cán bộ cũ xin có mấy cảm tưởng.

Chúng tôi phấn khởi, sung sướng, sung sướng thật sự trong kháng chiến chống Pháp, xã Cao Minh phấn đấu 9 năm gian khổ hy sinh, lập nên kỳ tích anh hùng. Khi Chủ tịch Trần Đức Lương ký quyết định phong anh hùng cho xã, tôi điện cho anh Dũng nói: Anh sang thắp một nén hương cho anh Ngọc, báo cho anh biết trên đã xét anh hùng cho Cao Minh rồi. Thế là hai chúng tôi sung sướng khóc trong máy điện thoại không nói được nữa.

Chúng tôi rất đỗi tự hào bởi mấy lẽ: Vì trong kháng chiến chống Pháp, Cao Minh mới có sáu chữ truyền thống "Cao Minh càng sáng càng cao". Nay Đảng, Nhà nước cho thêm hai chữ "Anh hùng” nữa để thành tám chữ vàng truyền thống "Cao Minh anh hùng càng sáng càng cao"; vì Cao Minh đất hẹp người đông, có lương có giáo, lúc kháng chiến địch đóng tới năm đồn bốt, chúng đánh phá ác liệt, nhưng có sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, Bác Hồ kính yêu người Cao Minh đoàn kết phát huy truyền thống văn hóa, quê hương cụ Bảng Cõi thần đồng, phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, lập nên những chiến công hiển hách, có phong trào chiến tranh du kích điển hình, làng xã chiến đấu kiểu mẫu, có nhiều cách đánh giặc phong phú, sáng tạo, được cả nước đến tham quan học tập; vì truyền thống Cao Minh càng sáng, càng cao được giữ vững và phát huy mạnh mẽ trong kháng chiến chống Mỹ và cho đến tận hôm nay.

Chúng tôi hứa, mà hứa thì đồng chí Huân - Bí thư Đảng ủy đã báo cáo. Nói đúng hơn là chúng tôi xin thề trước Đảng, Bác Hồ, các thế hệ người Cao Minh, đời này qua đời khác, giáo lương đoàn kết, quyết tâm giữ vững và phát huy tám chữ vàng truyền thống "Cao Minh anh hùng càng sáng càng cao", cao toàn diện, sáng rực rỡ...

Đến đây, tôi hỏi bà con, cô bác có đồng ý thề vậy không, đồng ý thì cho một tràng vỗ tay.

Trời ơi! Thế là cả 4.000 người vỗ tay ầm ầm, tôi ra hiệu dừng mà mãi mới dừng vỗ tay.

Lòng tôi xúc động cao độ, tôi khóc thật sự, tôi sung sướng không chỉ vì kỳ tích của xã được công nhận mà còn vì các thế hệ người Cao Minh đồng tâm nhất trí rất cao.

Anh em dìu tôi xuống khỏi bục nói chuyện, mọi người ôm chầm lấy tôi, các cụ già nói "Sao ông nói hợp ý chúng tôi, từng câu nói của ông, chúng tôi cảm động không cầm được nước mắt".

Các đồng chí lão thành, đảng viên cũng hứa với tôi, nói với tôi: "Đồng chí là người trưởng thành tiêu biểu cho người Cao Minh, cố gắng viết một cuốn hồi ký để lại cho mai sau. Trong đó đừng quên buổi lễ đầy xúc động, sung sướng, vinh dự, tự hào hôm nay. Chúng ta phải mãi mãi phát huy truyền thống "Cao Minh anh hùng càng sáng càng cao"1.

Đón nhận vinh dự 50 năm tuổi Đảng của tôi, đón nhận danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" của xã Cao Minh, vinh dự của bản thân và của quê hướng gắn liền với nhau, vinh dự nối tiếp niềm vinh dự tạo ra những giờ phút xúc động mạnh mẽ, những âm vang sâu lắng trong lòng tôi mãi mãi.

Trước những sự kiện sung sướng và tự hào, tôi cảm nhận sâu sắc rằng: Ước mơ và khát vọng của đời tôi đã đạt được kết quả, kết quả mỹ mãn.

Đạt được như vậy, tôi cảm ơn sâu sắc với Đảng, Bác Hồ, Nhà nước, quân đội, nhân dân, gia đình, bạn bè, quê hương đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi để có được như ngày hôm nay. Mãi mãi tôi không bao giờ quên công ơn sâu nặng ấy.


Hết
_________________________________
1. Sáu chữ: Cao Minh càng sáng càng cao là câu mở đầu bài thơ của cụ Cửu Rao hồi đầu chống Pháp, đến nay nhân dân ai cũng thuộc và rất tự hào.