Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2016, 06:30:04 PM



Tiêu đề: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2016, 06:30:04 PM
        - Tên sách: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2001
        - Số hoá: Giangtvx

THAM GIA BIÊN SOẠN:

        Đại tá PGS, TS TRỊNH VƯƠNG HỒNG
        và Đại tá TS LÊ ĐINH SỸ (Chủ biên)
        Thượng tá TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP
        Thượng tá TRẦN MINH CAO
        Thượng tá VŨ TRỌNG HOAN
        Thượng tá NGUYỄN TRỌNG DINH
        Trung tá, Th.s HOÀNG THỊ THẢO
        Trung úy LÊ QUÝ THI
        Cử nhân TRUÔNG MAI HUƠNG


HOÀN CHỈNH BẢN THAO:
        Thượng tá TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP

LỚI NÓI ĐẨU

        Thế kỷ XX trên đất nước Việt Nam đả diễn ra nhiều sự kiện lịch sử lớn, đánh dấu những bước ngoặt quan trọng: Mở đầu là Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc; sự ra đời của Quần đội nhản dân Việt Nam; Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công; khảng chiến chống thực dấn Pháp và chống Mỹ, cứu nước thắng lợi; chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng, góp phần tạo nên vị thế mới cho đất nước bước vào thế kỷ XXI.

        Để góp phần vào việc phác thảo bức tranh toàn cảnh của Việt Nam trong thế kỷ XX - thế kỷ đã diễn ra biết bao nhiêu sự kiện quân sự lớn, nhỏ; phản ánh cuộc đấu tranh chống ngoại xâm lâu dài, gian khổ, ác liệt và chiến thắng rất vẻ vang; những sự kiện thể hiện bước phát triển mới trên lĩnh vực hoạt động quân sự của quân và dân ta trong những năm xây dựng và bảo vệ Tô quốc xã hội chủ nghĩa, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức biên soạn cuốn "Việt Nam thế ký XX - Những sự kiện quân sự".

        Cuốn sách này là sự kế tục cuốn "Việt Nam- Những sự kiện quân sự thế kỷ XIX", do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức biên soạn và đã được xuất bản năm 1999. Ghi chép lại những sự kiện đã diễn ra thuộc lĩnh vực quân sự tức là hoạt động đặc biệt của xã hội về đấu tranh vũ trang, chiến tranh, quân đội và các hoạt động khác liên quan đến quân sự là một việc khó khăn, phức tạp; đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu, sưu tầm tư liệu. Các tác giả đã cố gắng thu thập, đối chiếu, so sánh sử liệu nhiều nguồn, từ chính sử đến các hồ sơ lưu trữ, sách, tạp chí và hệ thống hóa các sự kiện.

        Những sự kiện được ghi chép trong cuốn sách phần lớn không đặt tên. Đối vói các sự kiện lớn, tiêu biểu được đặt tên, viết đủ các yếu tố: thời gian, địa điểm, nội dung, ý nghĩa và tác dụng của nó. Với các sự kiện không đặt tiêu đề thì viết thẳng nội dung, ít phân tích, đánh giá ý nghĩa, tác dụng từng sự kiện. Tất cả được .để cập phản ảnh hết sức phong phú, đa dạng, có sự kiện chung, có sự kiện xảy ra ở một cơ quan, đơn vị, địa phương, ở một thời điểm nhất định, nhưng đểu có vai trò lịch sử quân sự dân tộc.

        Các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược trong những năm 1858 - 1940 tuy gặp khó khăn và tạm thời thất bại, nhưng phản ảnh ỷ chí chiến đấu kiên cường, tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân ta. Từ năm 1941 trở đi, hầu hết những sự kiện được đề cập đều thể hiện cuộc đấu tranh của dân tộc diễn ra vô cùng gian khổ, quyết liệt; tiêu biểu là khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám; tiếp đó là kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; khảng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng thống nhất Tổ quốc; cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyển toàn vẹn lãnh thổ; cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu phả hoại nhiều mặt của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Đối với một số sự kiện chưa thể tra cứu đầy đủ tư liệu các tác giả thận trọng mô tả tóm tắt. Bên cạnh đó cũng có một số sự kiện được ghi mang tính thông tin.

        Với cách thể hiện các loại sự kiện như vậy, chúng tôi nghĩ rằng cuốn "Việt Nam thế ký XX - Những sự kiện quân sự" là một công cu tra cứu bổ ích, có tác dụng phục vụ việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử quân sự giai đoạn này. Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng sưu tẩm tư liệu, so sánh, đối chiếu và có ý thức ghi chép các sự kiện một cách khách quan, cân đối, hài hòa trên các mặt hoạt động qussn sự, nhưng cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam rất mong nhận được ỷ kiến đóng góp, phê binh, bổ sung tư liệu của các cơ quan, đơn vị, nhà nghiên cứu cùng bạn đọc để sửa chữa, bổ sung cho lần xuất bản sau có chất lượng tốt hơn.

        Nhân dịp cuốn "Việt Nam thế kỷ XX - Những sự kiện quân sự" được xuất bản, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội cùng Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ cho cuốn sách được ra mắt bạn đọc.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM        


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2016, 09:19:26 AM
       
Năm 1901

        Những năm cuối thế kỷ XIX, hoạt động quân sự của dân tộc ta có nội dung chủ yếu là đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, tiêu biểu như phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế và phong trào đấu tranh của các dân tộc ít người. Bước sang thế kỷ XX, các hoạt động quân sự đó vẫn tiếp diễn, liên tục khắp cả nước, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất vì nền độc lập của nhân dân ta.

        Tháng 1

        Đồng bào Xê Đăng dưới sự lãnh đạo của tù trưởng I Rê khởi nghĩa chống Pháp ở Kon Tum. Nghĩa quân Xê Đăng mở rộng địa bàn hoạt động, phối hợp với nghĩa quân người Lào trên cao nguyên Bô Lô Ven tiến công quân Pháp đóng ở ngã ba sông Đắc Psi và sông Pô Kô. Khởi nghĩa lan rộng về phía tây và phía bắc biên giới Việt-Lào, khiến cho quân Phập đối phó lúng túng và chịu nhiều thiệt hại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài đến năm 1902 thì bị dập tắt.

        27 tháng 5

        Nghĩa quân Xê Đăng tiến công đồn Đắc Tô (Kon Tum), diệt tên đồn trưởng Rô-be (Robert), phá huỷ các công sự và nhà ở của binh lính trong đồn, đánh bại âm mưu bắt dân phu xây đồn của Pháp.

        10 tháng 6

        Nghĩa quân Xê Đăng bao vây tiến công quấy phá đồn địch ở Đâc Rơ Lây. Cuộc bao vây của nghĩa quân kéo dài trong 10 tháng. Cùng thời gian này, nghĩa quân tiến công đồn Kôn Kô Tu và liên tục phục kích các toán quân Pháp trên đường hành quân, gây cho chúng một số thiệt hại về người và vũ khí.

        15 tháng 8

        Nghĩa quân Xê Đăng (Kon Tum) tiến công đồn Nong Pôi, diệt tên giám binh Hăng-ri (Henri). Tiếp đó, nghĩa quân tổ chức phục kích quân Pháp ở Kapeu, diệt tên giám binh Si-cơ-rơ (Sicre) cùng một số lính.

        Tháng 10

        Thực dân Pháp thành lập Ban Điện báo viên quân sự toàn Đông Dương (Section de Télégraphistes militaires).

        Trong năm 1901

        Đồng bào Dao, dưới sự chỉ huy của Triệu Tiến Kiên và Triệu Tài Lộc khởi nghĩa chống Pháp ở vùng Bác Quang (Hà Giang). Nghĩa quân tiến công đồn Năm Lốp (Bắc Quang) và Bác Hà (Lào Cai) gây cho địch một số thiệt hại. Trong trận này, Triệu Tiến Kiên đã anh dũng hy sinh.
       
Năm 1902
       Tháng 1

        Đồng bào Gia Rai vùng Thăng Mo (Bình Định) nổi dậy chống Pháp. Nhiều tên tay sai của Pháp đi về các địa phương thu thuế, bắt phu, bắt lính đã bị nghĩa quân trừng tri Thực dân Pháp tổ chức các đội quân tuần tiễu lùng bắt nghĩa quân. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân tiếp tục được duy trì lan rộng ra khắp tỉnh Plây Ku, vùng tây nam tỉnh Kon Tum và phía bắc tinh Đắc Lắc, kéo dài đến năm 1904.

        31 tháng 10

        Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Hội đồng phòng thủ (Conseil de défense) ở mỗi thuộc địa của Pháp. Nhiệm vụ của Hội đồng phòng thủ là nghiên cứu những vấn đề thuộc về tổ chức quân đội, về bảo vệ thuộc địa theo yêu Cầu của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa hoặc Toàn quyền trực tiếp cai trị xứ thuộc địa đó. Thành phần Hội đồng phòng thủ gồm: Toàn quyền (chủ tịch Hội đồng); Tổng chỉ huy tối cao lực lượng chiếm đóng thuộc địa (phó chủ tịch Hội đồng); ba ủy viên hội đồng là Tư lệnh bộ binh, Tư lệnh pháo binh và Tổng tham mưu trưởng quân đội đóng chiếm thuộc địa. Từ đây, Hội đồng phòng thủ Đồng Dương được thành lập.

       6 tháng 12

        Nghĩa quân vùng Trê Lương Pê (Phan Rang) bố trí chông, bẫy và tổ chức phục kích quân Pháp đi càn tại địa phương, diệt một lính khố xanh, làm bị thương giám binh Ca-ni-vây (Canivey) và một số binh lính.
       
        Năm 1903
      Tháng 9

        Người Hơ Rê dưới sự lãnh đạo của Tia Cao khởi nghĩa chống Pháp ờ vùng Huấn Phong (Quảng Ngải). Giám binh Ha-ghê (Haguet) đưa quân đến đàn áp. Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt ở Mang Giang, Lang Mút, Mu Lang..., gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2016, 11:59:26 AM
Năm 1904

        Tháng 3

        Nghĩa quân người Thượng (Quảng Nam) phục kích một toán lính khố xanh ở gần đồn Mang Ta, diệt một lính và một cai, thu vũ khí của chúng.

        Tháng 4

        Nghĩa quân Gia Rai (Plây Ku) dưới sự chỉ huy của tù trưởng Pơ Tao Pui phục kích, diệt tên công sứ Ô-đăng-đan (Odendhal) và một số tên tay sai, khi chúng đi khảo sát điều tra, chuẩn bị cho cuộc đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ở đây.

        5 tháng 5

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lệnh cho lực lượng vũ trang các cấp phải sẵn sàng điều quân hỗ trợ giới cầm quyền dân sự khi cần. Nghị định quy định một số nguyên tắc cơ bản như sau:

        1. Đối với dân sự: Các thống đốc, thống sứ, khâm sứ, công sứ, quan cai trị tỉnh, giám đốc nhà tù Côn Đảo, giám đốc sở tư pháp, các viên chánh án, các viên quan tòa hòa giải, các viên chánh cẩm có quyền đề nghị bên quân sự hỗ trợ, điều động lực lượng giải tán đám đông; đàn áp hay giữ gìn trật tự. Trường hợp khẩn cấp có thề sử dụng điện tín hoặc điên thoại báo cho bên quân sự biết về đối tượng cùa việc điều quân.

        2 Đối với bên quân sự: Chỉ được hành động khi nhận được công văn của bên dân sự. Người trực tiếp chỉ huy lực lượng quân sự được hành động độc lập đối với giới cầm quyền dân sự. Trường hợp quan trọng, người chỉ huy có thể hội bàn với bên dân sự, song quyết định thuộc về phía quân sự Khi phối hợp hành động giữa lực lượng cảnh sát và lực lượng quân đội, quyền chỉ huy chung thuộc về quân đội.

        Tháng 5

        Thành lập Duy Tân hội. Phan Bội Châu cùng Cường Để, Nguyễn Hàm và hơn 20 nghĩa sĩ họp tại nhà riêng của Nguyễn Hàm ở Quảng Nam quyết định thành lập một tổ chức bí mật mang tên là Duy Tân hội. Mục đích chính của hội là đánh Pháp, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Nhiệm vụ trước mắt là phát triển thế lực hội về người và tài chính; xúc tiến việc chuẩn bị bạo động và xuất dương cầu viện.

        Nhiệm vụ xuất dương được giao cho Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm đảm nhiệm. Các sĩ phu khác tổ chức phát triển bạo động trong nước nhằm gây thanh thế về ngoại giao.

        Tháng 10

        Đồng bào Dao ở Yên Bái dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh Lý Văn Minh, Triệu Tất Tiến... tiến công các đồn Pháp ở Trái Hút, Bảo Hà, Lục Yên Châu, gây cho địch một số thiệt hại.

        1 tháng 11

        - Tống thống Pháp ra sác lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải đi lính cho Pháp.

        Thời hạn tại ngũ là 5 năm, hết hạn có thể xin ở lại. Hạn tại ngủ tối đa là 20 năm.

        - Tổng thống Pháp ban bố sắc lệnh tổ chức lực lượng quân dự bị người bản xứ ở Đông Dương (Réserves Indigenes en Indochine). Lực lượng này mỗi năm phải luyện tập tối đa 15 ngày và được động viên từng khoá hay toàn bộ khi cần thiết.

        5 tháng 11

        Tống thống Pháp ra sắc lệnh thành lập những trung đội công binh người bản xứ toàn Đông Dương.

       Trong năm 1904

        Tại Bình Định, nông dân ở Châu Vao (Đak Jơ Pan) nổi dậy đấu tranh, không cho các chủ đồn điền Đờ-li-nhông (Delignon) và Pa-ri (Paris) lấy 500 mẫu đất để lập đồn điền trồng dâu nuôi tằm. Khâm sứ Trung Kỳ phải cử giám binh, 5 tên đội và 1 đơn vị lính khố xanh đến đàn áp.

Năm 1905

        Tháng 1

        Đồng bào Ba Na nổi dậy chống Pháp ở vùng Kon Chơ Răk (Plây Ku). Địch phải điều 150 lính khố xanh đến đàn áp. Chúng dụ dỗ và dùng vũ lực uy hiếp tù trưởng Khuôn của 8 làng xưng quanh Plây Ku hàng phục, nhưng tù trưởng Tai - người Gia Rai, thủ lĩnh của 21 làng ờ Plây Bring nhất định không theo địch. Người Gia Rai triệt để thi hành bất hợp tác với địch, không bán lương thực cho chúng. Giặc phai rút lui, dọc đường bị nghĩa quân phục kích.

        Tháng 2

        Tại Buôn Ma Thuột, đồng bào Ê Đê dưới sự chỉ huy của tù trưởng A Ma Dơ Hao chiến đấu chống lại cuộc tiến công của quân pháp vào căn cứ. Dựa vào công sự nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, gây cho địch một số thiệt hại. Sau hơn ba tháng chiến đấu, nghĩa quân gặp khó khăn, A Ma Dơ Hao cùng 400 người phải rút vào rừng. Địch truy đuổi, đến tháng 6 năm 1905 £ Ma Dơ Hao bị bắt. Cuộc đấu tranh chống bắt phu của đồng bào Ê Đê bắt đầu từ năm 1901 đến đây bị dập tắt.

        26 tháng 4

        Thi hành sắc lệnh về thành lập những trung đội công binh người bản xứ toàn Đông Dương (5-11-1904) của Tổng thống Pháp, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập hai trung đội công binh người Việt Nam: một trung đội ở Bắc Kỳ và một trung đội ở Nam Kỳ.

        Tháng 6

        Đồng bào Kà Tu ở các làng A Sơ, A Yeung, A Bác tiến công đồn An Điềm (Đại Lộc, Quảng Nam). Địch huy động 50 lính, tên dội Phê-rê (Feref) chỉ huy kéo đến càn quét 3 làng. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt; nghĩa quân dùng bẫy chông, tên nỏ và giáo mác chặn đánh, làm Phê-rê và một số linh bị thương.

        Cuối tháng 7

        Ba thanh niên Việt Nam (gồm Nguyễn Thức Canh, Nguyên Điển, Lê Khiết) được Phan Bội Châu đưa sang Nhật du học mở đầu phong trào Đông Du của Duy Tân hội (đến năm 1908 số người được đưa sang khoảng 200). Học sinh Việt Nam được vào học trường Chấn Vũ quân sự Học hiệu, Đông Á Đồng Văn thư viện và một số trường khác. Nội dung chú trọng nhất là học tập quân sự (học vào các buổi chiều) nhằm đào tạo những người có trình độ quân sự cần thiết để đánh Pháp, cứu nước. Một số học sinh được đào tạo trong phong trào Đông Du đã góp phần chuẩn bị cho bạo động vũ trang sau này (Lương Lập Nham là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917, Hoàng Trọng Mậu là một yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội...).

Năm 1906

        Tháng 6

        Đồng bào dân tộc ít người vùng A Xôc, A Bắc thuộc Phan Rang xây dựng căn cứ chống Pháp. Nghĩa quân tiến công đồn An Diêm, gây cho địch một số thiệt hại. Giặc Pháp huy động binh lính đến đàn áp, nghĩa quân phục kích, diệt viên thiếu úy và một số binh lính địch.

       Tháng 12

        Phan Bội Châu từ Nhật trở về nước, đến Phồn Xương (Bắc Giang) gặp Hoàng Hoa Thám. Sau khi hội đàm, hai nhà yêu nước thống nhất: Hoàng Hoa Thám tham gia Duy Tân hội, dụng nạp nghĩa sĩ Trung Kỳ và ứng viện khi Trung Kỳ khởi nghĩa. Nếu Yên Thế tác chiến, Trung Kỳ ứng viện và giúp đỡ về quân số và vũ khí khi cần thiết. Kết quả bước đầu đồn Tú Nghệ được xây dựng ở Yên Thế và đón một số nghĩa sĩ Trung Kỳ, trong đó có Tùng Nham, Hoàng Hành đen để hợp tác với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám chống Pháp. Tiếc rằng sau này, 500 khẩu súng do Phan Bội Châu mua ở Nhật chuyển về chưa tới nơi thì nghĩa quân Hoàng Hoa Thám bị địch đàn áp phái lánh sang Phúc Yên, Vĩnh Yên Phan Bội Châu tặng lại Đảng cách mạng Trung Hoa.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2016, 04:11:51 PM
       
Năm 1907
        26 tháng 1

        Nghĩa quân người Ba Na ở Plây Ku kiên cường đánh chặn cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Kôn Klot. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, bằng tên nỏ, nghĩa quân đã đánh lui được nhiều đợt tiến công của địch, diệt và làm bị thương một số tên, trong dó có chủ đồn điền Pa-ri.

        Tháng 4

        Hàng nghìn nghĩa quân Hơ Rê nổi dậy ở gần đồn Đức Phổ (Quảng Ngãi). Địch huy động binh lính đến đàn áp, nghĩa quân đánh trả quyết liệt, diệt một tên đội và làm bị thương một số tên khác. Sau trận này, địch phải tăng cường lực lượng bảo vệ đồn Đức Phổ.

        Tháng 8

        Nhân dân vùng miền núi tỉnh Phú Yên dưới sự lãnh đạo của Ma Lai nổi dậy chống Pháp. Nghĩa quân thường tiến công các đồn trại của quân địch gây cho chúng một số thiệt hại. Thực dân Pháp huy động binh lính đàn áp. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở các buôn Hwing, Plây Bông, nghĩa quân dùng tên tẩm thuốc độc tiêu diệt được 1 lính, 1 cai. Địch tập trung quân càn quét một số buôn làng, nghĩa quân gặp khó khăn và tan rã.

        Tháng 12

        Đồng bào Ba Na vùng miền núi tỉnh Bình Định dùng chông cắm ở những vị trí xung yêu quanh làng. Một đội quân địch gần 60 tên do Ghê-nô (Guenot), đại diện công sứ Bình Định chỉ huy cùng hai đội khố xanh Pơ-lê-ga (Plégat) và Vác-nây (Varney) tiến vào làng đã bị nghĩa quân chặn đánh, buộc phải rút quân.

Năm 1908

        Tháng 2

        Bùng nổ phong trào chống sưu thuế của nông dân Trung Kỳ. Phong trào bắt đầu ở Đại Lộc (Quảng Nam) với hơn 200 nông dân tham gia kéo đến huyện ly xin định lại số ngày đi "xâu". Yêu sách không được giải quyết, đoàn biểu tình kéo lên tỉnh, Công sứ Sác-lơ (Charles) cho quân đàn áp, bắt 6 đại biếu của đoàn biểu tình. Từ các địa phương, hàng nghìn người kéo đến vây quanh toà sứ đấu tranh đòi giảm ngày đi phu, giảm sưu thuế. Đoàn người biểu tình toả đi các nơi bao vây dinh tống đốc, các phủ lỵ, huyện lỵ và trừng trị bọn cường hào gian ác. Từ Quảng Nam, phong trào lan nhanh sang các tinh Quảng Ngải, Bình Định. Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh. Thực chất đây là cuộc bạo động của nông dân kết hợp giữa đấu tranh chính trị và bạo động vũ trang diễn ra ngay càng quyết liệt., vượt ra ngoài ý muốn của các phu yêu nước có xu hướng dân chủ tư sản khi khởi xướng. Thực dân Pháp phải huy động cả quân đội Bắc Kỳ vào đàn áp Tháng 5 năm 1908, phong trào "xin xâu, chống thuế" ờ Trung Kỳ bị dập tắt.

        17 tháng 4

        Những người biểu tình ở Quảng Ngãi bao vây tên Thất Tân (một lính tập được phong hàm thất phẩm); đồng thời bắt 4 lính khố xanh, 2 lính dõng và 1 lý trưởng bảo vệ gia đình tuần vũ Nguyễn Thân (đại thần triều đình Huế, tay sai đắc lực của Pháp), giết tên Đinh Văn Kỷ - con nuôi công sứ Đô-đê.

        27 tháng 6

        Vụ Hà thành đầu độc. Đây là vụ đầu độc sĩ quan, binh lính Pháp, do binh lính người Việt trong quân đội Pháp thực hiện theo chủ trương của các sĩ phu yêu nước, phối hợp với nghĩa quân Yên Thế nhằm đánh chiếm thành Hà Nội. Sau hai lần hoãn (15-11-1907, 16-5-1908). 20 giờ ngày 27 tháng 6, anh em bồi bếp và binh lính người Việt thuộc trung đội Công nhân pháo thủ Hà Nội (Compagnie cTOuvriers d’ Artillerie) tổ chức đầu độc binh lính Pháp đóng trong thành bàng cà độc dược. Toàn bộ binh lính Pháp (khoảng 250 tên) thuộc trung đoàn pháo binh 4 và trung đoàn bộ binh 9 thuộc địa đóng trong thành Hà Nội đã bị ngộ độc. Anh em chưa kịp bắn súng báo hiệu cho các cánh quân bên ngoài (khoảng 600 nghĩa quân) biết, thì đã bị thực dân Pháp tước hết vũ khi và bát giam. Do tổ chức thiếu chặt chẽ, ý định bị lộ, trước đó viên cố đạo tại nhà thờ Hà Nội đã mật báo cho bọn Pháp biết vụ bạo động có thể xảy ra đêm 27 tháng 6 nám 1908. Do vậy thực dân Pháp đã đề phòng và khi được tin binh lính bị ngộ độc, chúng đã cấp cứu dễ dàng bởi thuốc độc thuộc loại nhẹ, ít tác dụng và lập tức bắt giam toàn bộ binh lính người Việt trong thành.

        Cuộc mưu chiếm thành Hà Nội không thành, nhưng đã gây chấn động làm xôn xao dư luận lúc ấy. Bọn sĩ quan, binh lính Pháp hoang mang. Đây là cuộc vùng dậy đầu tiên của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, đánh dấu sự thất bại trong chính sách "dùng người Việt trị người Việt" của thực dân Pháp.

        28 tháng 8

        Tổng thống Pháp ra sác lệnh bắt thanh niên Nam Kỳ gia nhập lực lượng quân đội chính quy. Các địa phương tổ chức bắt lính theo hình thức rút thăm (khác với Trung Kỳ và Bác Kỳ tiến hành bắt lính bằng hình thức cưỡng bức, chỉ định của chính quyền từ cấp xã).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2016, 12:06:27 PM
        
Năm 1909

        26 tháng 1

        Thực dân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn vào căn cứ Yên Thế (Bắc Giang) của nghĩa quân Đề Thám. Trước ảnh hưởng ngày một lớn mạnh của Đề Thám, thực dân Pháp mở chiến dịch tiến công nhằm tiêu diệt nghĩa quân, phá tan khu căn cứ, dập tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Địch huy động 15.000 quân chính quy và lính khố xanh của các tỉnh Bắc Giang, Phúc Yên, Thái Nguyên, chia thành nhiều cánh bao vây nghĩa quân. Quân Pháp chủ trương tiến công trong sự tuyệt đối bi mật để Đề Thám không trốn thoát và không có thời gian tập hợp lại lực lượng. Đề Thám cùng các tướng cả Trong Ca Dinh, cả Huỳnh chỉ huy gần 200 nghĩa quân thiện chiến kiên cường chiến đấu suốt 13 tháng (29-1-1909 - 28-2-1910) trên các địa bàn Vĩnh Yên, Tam Đảo, Phúc Yên, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Yên Thế, làm thất bại nhiều cuộc càn quét bao vây của quân Pháp ở rừng Phe (1-2), Sơn Quả (11-2), Đồn Đệm (21-3), Hiền Lương (25-7) ... Âm mưu nhanh chóng tiêu diệt lực lượng nghĩa quân của thực dân Pháp bị thất bại.

        26 tháng 3

        Cả Trọng - một tướng giỏi của nghĩa quân Yên Thế qua đời. Ông bị thương đêm 25 tháng 3, khi cùng Hoàng Hoa Thám và một số tướng sĩ nghĩa quân trên đường hành quân từ Trại Trẽ đến Giản Ngoại (Bắc Giang). Đây là một tổn thất nặng đối với nghĩa quân Yên Thế.

        26 tháng 5

        * Sau đợt tiến công thứ nhất (21-1-1909 - 1-5-1909) vào khu căn cứ Yên Thế thất bại, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách vùng Thượng Yên Thế để thành lập phủ Yên Thế (chúng gọi là "phủ tự trị") nhằm đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế nhanh hơn. Thiếu tá Bô-ni-pha-xi (Bonifacy) trực tiếp cai quản phủ Yên Thế.

        * Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập một lực lượng hỗ trợ cảnh sát gọi là những đoàn "dân dũng" tại các bản, làng, xã thuộc các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hải Ninh và ở các đạo quan binh. Số lượng "dân dũng" của từng tỉnh, đạo quan binh, do Thống sứ Bắc Kỳ quy định. Đoàn trưởng các bản làng, xã do công sứ chủ tỉnh chỉ định. Nhiệm vụ của "dân dũng” là: giữ gìn trật tự, an ninh địa phương, truy lùng, bát giữ và áp giải "tội phạm"... "Dân dũng" được trang bị một số súng kiểu 1874, không được trả lương, khi cần chính quyền sẽ điều động hỗ trợ lực lượng cảnh sát, hoặc canh gác các đồn bốt ở ngoài địa phương, thay thế lính khố xanh hoặc lính cơ. Trong trường hợp này, "dân dũng" được chính quyền cấp một số tiền do thống sứ quy định.

        30 tháng 7

        Lê Hoan - Tổng đốc Hải Dương được thực dân Pháp phong khâm sai chỉ huy một đạo quân gồm 400 lính nguy đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Nhiệm vụ của đạo quân Lê Hoan là khủng bố, tách nhân dân ra khỏi lực lượng kháng chiến; phát hiện và truy bắt nghĩa quân hoặc vây, giữ, báo cho Pháp đưa quân đến tiến công tiêu diệt nghĩa quân.

        2 tháng 8

        Khởi nghĩa của đồng bào Mường (Hoà Bình). Đêm 2 rạng ngày 3 tháng 8, đồng bào Mường dưới sự chỉ huy của Tổng Kiêm và Đốc Bang nổi dậy tiến công tỉnh ly Hoà Bình. Nghĩa quân đánh chiếm trại lính khố xanh, giết chết giám binh Se-nhô (Chaigneau) và một số binh lính; tiếp đó chiếm các công sở, giải phóng 40 tù nhân; phá kho súng, thu 172 khẩu và 35.000 viên đạn. Sau khi làm chủ tỉnh ly, 10 giờ 30 phút ngày 3 tháng 8, nghĩa quân chủ động rút về Mông Hoá (huyện Kỳ Sơn) và tiếp tục tiến công địch, mờ rộng địa bàn hoạt động lan rộng sang các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ. Thống sứ Bắc Kỳ và Tổng tư lệnh lực lượng quân đội Pháp đóng ớ Bắc Kỳ phải huy động lính lê dương từ Việt Trì đến đàn áp nghĩa quân. Chúng cũng phải phái lĩnh khố đỏ đóng dọc đường số 6 để ngăn nghĩa quân tràn về Hà Đông. Cuộc khởi nghia của đồng bào Mường (Hoà Bình) kéo dài đến tháng 1 năm 1910 thì tan rã.

        26 tháng 9

        Nghĩa quân đồng bào Mường do Tổng Kiêm chỉ huy tiến đánh đồn Hoà Lạc (Sơn Tây). Quân Pháp kéo đến ứng cứu, bao vây hòng tiêu diệt nghĩa quân. Sau hai ngày chiến đấu gây cho địch một số thiệt hại, nghĩa quân chuyến về Ba vì liếp tục hoạt động.

        5 tháng 10

        Chiến thắng núi Sáng của nghĩa quân Yên Thế. Núi Sáng (còn gọi là núi Lang hay núi Láng) thuộc huyện Lập Thạch (Vĩnh Yên). Từ đầu tháng 8 năm 1909, đại bộ phận nghĩa quân Yên Thế đã chuyến đến núi Sáng xây dựng căn cứ tiếp tục chống Pháp. Sau một thời gian truy lùng và phát hiện nghĩa quân ở núi Sáng, một lực lượng lớn quân Pháp do thiếu tá Bô-ni-pha-xi (Bonifacy) chỉ huy cùng quân của khâm sai Lê Hoan chia thành hai cánh bao vây nhằm tiêu diệt bằng được nghĩa quân. Dưới sự chỉ huy của Đề Thám, nghĩa quân chờ địch đến gần mới nổ súng. Cuộc chiến đấu bắt đầu từ 1 giờ 45 phút kéo dài đến 7 giờ 30 phút, nghĩa quân đấy lùi nhiều đợt tiến công của địch, diệt 52 tên, trong đó có 1 trung úy và 22 lính Âu. Để tránh bị bao vây trong thế địch đông quân, sáng ngày 6 tháng 10 lợi dụng trời mưa, Đề Thám cùng nghĩa quân rút khỏi núi Sáng tiến về Tam Đao, Thái Nguyên, tiếp tục hoạt động. Đây là trận quân Pháp bị thiệt hại nặng nề nhất kể từ khi chúng mở cuộc tiến công càn quét tiêu diệt nghĩa quân Yên Thế.

        Trong năm 1909

        * Cai Khạt cùng những người bị thực dân Pháp giam cầm ở nhà tù Sơn La nổi dậy phá ngục, đánh chiếm trại lính, dinh chánh sứ và kho bạc. Địch tập trung quân đàn áp, một số người chạy thoát sang Lào, một số bị bắt và bị sát hại, trong đó có Cai Khạt.

        * Đồng bào Xê Đăng nổi dậy tiến công đồn Đắc Xút và Đắc Tô (Kon Tum), giết tên đồn trưởng Giuyn Va-lăng-xông.
       
Năm 1910


        22 tháng 2

        Tổng thống Pháp ra sắc lệnh quy định: Tất cả thanh niên Việt Nam, sau khi mãn hạn đi lính thường trực phải chuyển sang lực lượng quân dự bị 15 năm (kể cả thời gian tại ngũ) mới được giải ngủ. Hàng năm, lực lượng quân dự bị phải tập trung luyện tập 15 ngày. Khi có lệnh động viên, sẽ gọi ra từng phần, hoặc toàn bộ và sẽ biên chế vào các binh chủng trước đây đã tham gia.

        Tháng 7

        Đồng bào Xê Đăng ở Trà Mỹ, huyện Tiên Phước (Quảng Nam) nổi dậy chống các cuộc càn quét của quân Pháp, không cho chúng vào làng. Nhiều cuộc chiến đấu đã diễn ra ở Đoc To và Kong Tong, gây cho địch một số thiệt hại, trong đó có 2 viên đội bị thương.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2016, 12:22:53 PM
        
Năm 1911

        10 tháng 2

        Đồng bào Hơ Mông dưới sự lãnh đạo của Chiong Nui Tchang (Giang Quay Bảo) tự xưng là vua Hơ Mông khởi nghĩa chống Pháp ở Hà Giang. Mở đầu là cuộc biểu tình của 400 người Hơ Mông ở Ngai Bản Sui, sau đó lan rộng khắp vùng thu hút được cả người Hơ Mông ở bên kia biên giới Việt-Trung tham gia. Lúc này lực lượng nghĩa quân lên tới hàng nghìn người, chia làm nhiều toán với hàng trăm khẩu súng. Nghĩa quân tiến đánh các đồn Ma Lin, Tiên Phong và Hen Tông. Trong khi đó, quần chúng tiến hành biểu tình đòi được tự do trồng cây thuốc phiện và vận chuyển muối.
Thực dân Pháp huy động lực lượng từ Yên Bái, Cao Bằng tới đàn áo. Ngày 22 tháng 4 năm 1912, Chiong Nui Tchang bị bắt. Cuộc khởi nghĩa của đồng bào Hơ Mông tan rã sau 14 tháng tồn tại.

        Tháng 11

        Nghĩa quân Hơ Rê, dưới sự chỉ huy của Tổng Ren chống lại cuộc càn quét của quân Pháp vào căn cứ ở vùng Thượng An Lão (Quảng Ngãi). Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Nghĩa quân chờ địch đến gần mới bắn, diệt viên đội khố xanh Trần Lưu, làm bị thương một viên đội người Pháp.

        20 tháng 12

        Chinh phủ Pháp ra sắc lệnh cho phép chính quyền thực dân ở Đông Dương được quyền trưng dụng một phần hoặc toàn bộ các tuyến đường sắt vào việc vận chuyển quân đội, quân trang, quân dụng khi có chiến tranh hoặc khi đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Trong thời gian trưng dụng, giới cầm quyền quân sự chỉ đạo việc vận chuyến trên các tuyến đường đó.

Năm 1912

        Tháng 1

        Bùng nổ cuộc khởi nghĩa của người Mơ Nông ở Tây Nguyên, do Nơ Trang Lơng lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tham gia. Nghĩa quân hoạt động mạnh trong các năm 1914, 1915: tiến công nhiều đồn, đánh lui nhiều đợt càn của địch, làm chủ vùng cao nguyên Mơ Nông. Năm 1916 thực dân Pháp tập trung quân bao vây, triệt đường tiếp tế muối, gạo của nghĩa quân. Một số thủ lĩnh không chịu đựng nổi khó khăn, gian khổ, dao động ra hàng giặc. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa vẫn kéo dài đến năm 1935 - khi Nơ Trang Lơng bị bát mới tan rã.

        Đầu tháng 2

        Thành lập Việt Nam Quang Phục hội. Mục đích là "Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hoà dân chủ Việt Nam". Hội trưởng là Cường Để, Tổng lý hội là Phan Bội Châu. Cơ quan lãnh đạo gồm 3 bộ: Bộ Tổng vụ, Bộ Bình nghị, Bộ Chấp hành. Việt Nam Quang Phục hội tổ chức lực lượng vũ trang mang tên Quang Phục quân. Phần lớn đội quân này được tuyển mộ từ các dân tộc miền núi ở gần biên giới Trung - Việt. Quang phục quân tổ chức thành bộ binh, pháo binh... Quân lính được biên chế thành Ngũ, Thập, Cai, Đội, Cơ, Vệ, Doanh, Trấn, Quận... Phần lớn vũ khí mua của Trung Quốc, Nhật Bản, một số ít do một số "binh công xưởng" của hội chế tạo thêm. Hội chủ trương tổ chức những vụ bạo động nhằm gây thanh thế trong nước.

        17 tháng 7

        Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định ban cấp phẩm hàm cho các công chức và binh lính người Việt phục vụ tại các công sở của Pháp ở Trung Kỳ. Điểm 4 của nghị định quy định ngạch võ: Phó quản được cấp "tòng tứ phẩm"; binh lính được cấp "tòng tứ phẩm".

Năm 1913

        10 tháng 2

        Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) hy sinh. Hơn 13 tháng kiên cường, mưu trí chống lại cuộc tiến công quy mô lớn của quân Pháp và tay sai, các tướng giỏi của Đề Thám lần lượt hy sinh hoặc sa vào tay giặc. Sau chiến thảng núi Sáng (5-10-1909) của nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp, Đề Thám rút về vùng rừng núi Tam Đảo, Thái Nguyên tiếp tục hoạt động. Sau đó, ông bí mật trở về Yên Thế với ý đồ khôi phục và phát triển phong trào. Đến ngày 10 tháng 2, Đề Thám đã bị những tên tay sai của Lương Tam Kỳ trà trộn vào đội ngũ nghĩa quân ám hại. Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp sau gần 30 năm hoạt động, đến đây chấm dứt.

        27 tháng 3

        Hàng trăm nông dân do Phan xích Long, Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Văn Hiệp khởi xướng biểu tình tuần hành chống Pháp tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Kế hoạch cướp chính quyền của đoàn biểu tình không thực hiện được. Trước đó 2 ngày, thực dân Pháp phát hiện những dấu hiệu của phong trào (truyền đơn và bom), chúng bắt Phan xích Long, đồng thời chuẩn bị lực lượng đối phó. Hơn 100 nghĩa sĩ bị bắt và đưa ra toà xét xử, trong đó có 34 người bị kết án. Phan Xích Long bị đi đày ở Guy-an.

        13 tháng 4

        Phạm Văn Tráng - chiến sĩ cảm tử tình nguyện của Việt Nam Quang Phục hội dùng tạc đạn giết chết tuần phủ Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn. Sự kiện này gây chấn động dư luận trong nước, làm cho bọn tay sai hoang mang lo sợ. Ngày 7 tháng 5, Phạm Văn Tráng bị thực dân Pháp bãt khi trên đường trở lại Trung Quốc nhận vũ khí.

        26 tháng 4

        Nguyễn Khắc Cần (chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội) cùng Nguyễn Văn Tuý (công nhân Nhà máy xe lửa Gia Lâm) ném tạc đạn vào khách sạn Hà Nội tại đường Pôn-be (phố Tràng Tiền, Hà Nội ngày nay) lúc 19 giờ 30 phút, giết 2 thiếu tá Pháp là Sa-puy và Mông-gơ-răng, làm bị thương 12 tên khác. Sau sự kiện này, thực dân Pháp tiến hành khủng bố bắt nhiều yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội và các hội viên cảm tử hoạt động trong nước và nước ngoài, bị tù đày, sát hại, một số bị kết án vẳng mặt.

        Trong năm 1913

        Bùng nổ phong trào chống Pháp của đồng bào Dao, đo Triệu Tài Lộc và Triệu Tiến Tiên lãnh đạo ở vùng Lục Yên Châu (Yên Bái). Triệu Tiến Tiên được tôn là Vua người Dao. Phong trào đấu tranh với các khẩu hiệu: Chống đi phu, chống nộp thuế cho thực dân Pháp; đánh đuổi quân Pháp lấy lại đất nước; làm cho người Dao được tự do, sung sướng, không bị áp bức, khổ sở. Nhiều người đã tình nguyện tham gia phong trào, họ mang theo súng hoả mai, giáo mác và lương thực. Đến tháng 9 năm 1914, lực lượng nghĩa quân lên tới hơn 1.500 người. Nghĩa quân tiến đánh nhiều đồn Pháp ở Luc Yên Châu, Trái Hút, Bảo Hà, Phố Ràng... Cuộc khởi nghĩa lan sang cả Tuyên Quang, thực dân Pháp tập trung quân đàn áp, cuộc khởi nghĩa tan rã.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2016, 01:15:34 PM
       
Năm 1914

        1 tháng 8

        Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương tìm mọi cách huy động sức người, sức của của nhân dân Việt Nam và toàn Đông Dương để phục vụ cho cuộc chiến tranh ở chính quốc. Trong 4 năm (1914-1918) thực dân Pháp đá huy động 97.903 thanh niên Đông Dương (hầu hết là Việt Nam) nhập ngũ làm lính chiến đấu và lính thợ cho Pháp tại chiến trường châu Âu.

        2 tháng 8

        Bằng kế trá hàng, nghĩa quân Mơ Nông do Nơ Trang Lơng chi huy, đã bất ngờ tiến công diệt tên giám binh ang-ri Mét, đồn trưởng đồn Bu Mê Ra và hàng chục lính khố xanh, nghĩa quân thu được nhiều chiến lợi phẩm.
Tiếp đó ngày 4 tháng 8, nghĩa quân cải trang binh lính địch, đột nhập đồn Bu Mê Ra, tiêu diệt toàn bộ số lính trong đồn và phóng hoả đốt đồn. Hai trận thắng liên tiếp đã làm cho thanh thế Nơ Trang Lơng và nghĩa quân lan rộng khắp vùng nam Tây Nguyên, lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển.

        Tháng 9

        Chi bộ Việt Nam Quang Phục hội ở Vân Nam (Trung Quốc) vạch kế hoạch đánh chiếm Hà Nội. Đỗ Chân Thiết (Đỗ Cơ Quang) - một thanh niên yêu nước, hội viên Việt Nam Quang Phục hội, từng học trường quân sự Nam Kinh đã vận động được hơn 50 Việt kiều và một số nhân viên của Công ty Xe lửa Vân Nam tham gia Quang Phục hội, thành lập chi bộ Việt Nam Quang Phục hội ở Vân Nam. Đỗ Chân Thiết và chi hội Vân Nam chủ trương dựa vào giao thông trên đường sắt Vân Nam - Hải Phòng để ngầm liên kết với binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Hà Nội đánh chiếm thành. Kế hoạch chưa kịp thực hiện đã bị lộ, do tên Nguyễn Hác Sơn phản bội báo với Pháp. Đỗ Chân Thiết cùng 58 người khác bị địch bắt và bị xử tử ở Hà Khẩu. Kế hoạch dựa vào ngoại công, nội ứng đánh chiếm Hà Nội của chi hội Việt Nam Quang Phục hội ở Vân Nam không thành.

        20 tháng 10

        Được một nhóm chiến sĩ cách mạng Việt Nam từ Xiêm (Thái Lan) và Trung Quốc trở về hoạt động trong nước tuyên truyền vận động, hơn 200 đồng bào Dao, dưới sự chỉ huy của Trương Nhị tiến công đồn Lục An Châu và đồn Trái Hút, gây cho địch một số thiệt hại. Thừa tháng, nghĩa quân tiến về thị xã Yên Bái. Địch huy động lực lượng đàn áp, nghĩa quân tan rã.

        10 tháng 11

        Khởi nghĩa của nhân dân Tây Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Lương Bảo Định, Bạch Cầm Chân, Lương Văn No, Cầm Văn Tư, đồng bào Tây Bắc vùng lên đánh Pháp. Nghĩa quân tiến công đồn Sầm Nưa, giết tên Lăm-be (Lambert), phá huỷ các công sở, kho tàng, thu 120 khẩu súng và nhiều đạn dược. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng khắp Lai Châu và vùng bắc Thượng Lào. Lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển và liên tiếp tiến đánh quân Pháp ở thị xã Lai Châu, đột nhập Phong Sa Lỳ, chiếm Mộc Pha... và chặn đánh nhiều cuộc truy quét của quân địch, gây cho chúng một số thiệt hại. Trước những hoạt động mạnh mẽ của nghĩa quân, toàn quyền Ru-mơ (Roume) phải thành lập một binh đoàn gồm hơn 2.000 quân, chia làm hai cánh truy kích nghĩa quân ở cả hai phía bắc và nam vùng Tây Bắc. Đến tháng 3 năm 1916, cuộc khởi nghĩa tan rã sau 16 tháng tồn tại.

        11 tháng 12

        Nghĩa quân Tây Bắc tiến công bao vây thị xã Sơn La. Địch phải huy động một đơn vị lính khố đỏ, dưới sự chỉ huy của trung úy Mông-xô từ Yên Bái vượt qua sông Hồng và sông Đà sang giải vây. Sau một thời gian chiến đấu quyết liệt ở phía bắc thị xã Sơn La, nghĩa quân bí mật rút vào rừng tiếp tục hoạt động.

        21 tháng 12

        Đồng bào Mường ở Tạ Khoa và bản Văn (Sơn La), do Mùi Văn Plôi lãnh đạo đã nổi dậy chiếm trạm bưu điện và giết tên trưởng trạm người Pháp, cắt đứt đường liên lạc bằng điện thoại giữa Sơn La -Yên Bái và Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2016, 12:00:42 PM
       
Năm 1915

        Đêm 6 tháng 1

        Một số hội viên Quang Phục hội gồm Tổng Chế, Nguyễn Văn Dậu, Nguyễn Văn Nguyên tuyên truyền phát động nhân dân nổi dậy chống Pháp ở Phú Thọ. Đông đảo quần chúng nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, đóng góp lương thực và tham gia nghĩa quân. Đêm 6 tháng 1, những người lãnh đạo quyết định đánh tỉnh ly Phú Thọ. Khoảng 150 nghĩa quân, dưới sự chỉ huy của Hoàng Văn Khoa, Bang Hạnh bao vây đánh trại lính khố xanh. Binh lính địch trong trại bắn tỉa dữ dội. Sau vài giờ chiến đấu, gây cho địch một số thiệt hại, nghĩa quân rút lui. Thực dân Pháp đàn áp dã man, bắt 238 người, trong đó đưa ra xét xử tử hình 28 người và tù chung thân 12 người.

        14 tháng 1

        * Nghĩa quân Nơ Trang Lơng (Tây Nguyên) chặn đánh đạo quân Pháp càn quét, đàn áp đồng bào Mơ Nông, diệt tên Tơ-run-phô phó sứ tỉnh Krachiê và một số binh lính, thu toàn bộ vũ khí, buộc chúng phải rút về châu thổ Krachiê. Nghĩa quân làm chủ cả vùng cao nguyên Mơ Nông rộng lớn.

        * Một số người lảnh đạo Quang Phục hội ở Trung Quốc chủ trương vượt biên giới đánh Móng Cái, Lạng Sơn và Hà Khẩu. Kế hoạch được vạch ra là: Nguyễn Mạnh Hiếu chỉ huy đội thứ nhất tiến qua Đông Hưng đánh Móng Cái; Nguyễn Thượng Hiền chỉ huy đội thứ hai tiến qua Long Châu đánh vào Lạng Sơn; Hoàng Trọng Mậu chỉ huy đội thứ ba đánh Hà Khẩu. Trong quá trình chuẩn bị, do bất đồng ý kiến giữa những người lãnh đạo, nên việc thực hiện gặp khó khăn. Chỉ có kế hoạch đánh Lạng Sơn được thực hiện, nhưng cũng không gây thiệt hại cho địch.

        13 tháng 4

        Pháp và Trung Quốc ký hiệp ước phối hợp đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc, đặc biệt là tại vùng biên giới Việt - Trung. Theo hiệp ước. nhà cầm quyền Trung Quốc phải đàn áp, bát giữ và giao trả cho giới cầm quyền Pháp hoặc trục xuất tất cả những người cách mạng Việt Nam hoạt động trên đất Trung Quốc về nước. Nhà cầm quyền Pháp cũng làm như vậy đối với các nhà cách mạng Trung Quốc hoạt động trên đất Việt Nam. Pháp và Trung Quốc phải tăng cường kiểm soát chặt chẽ vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, ngăn chặn mọi hoạt động buôn bán, vận chuyển vũ khí trái phép qua vùng biên giới.

        26 tháng 6

        Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tổ chức và sử dụng lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương. Nội dung sắc lệnh có một số điểm chính sau đây:

        1. Tất cả binh lính người bản xứ tại ngũ không nằm trong lực lượng chính quy, đều thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt.

        2. Đối với Việt Nam, binh lính người Việt không nằm trong lực lượng quân đội chính quy thuộc quyền chỉ đạo tối cao của Thống đốc (Nam Kỳ), Thống sứ (Bắc Kỳ) và Khâm sứ (Trung Kỳ).

        Số binh lính này cũng được tuyển như binh lính chính quy. Toàn quyền Đông Dương quy định số lượng cần tuyển từng "kỳ"; Thống đốc, Thống sứ và Khâm sứ quy định số lượng cần tuyển từng tinh. Quân của tỉnh nào, dĩ) công sứ, hoặc quan chủ tỉnh hay tư lệnh đạo quan binh nơi đó trực tiếp chỉ đạo. Lực lượng này còn gọi là địa phương quân.

        4. Thời bình, địa phương quân bao đảm trật tự an ninh trong tỉnh hoặc đạo; canh giữ các công sở, các tuyến đường giao thông; canh gác trại giam, áp giải tội phạm; áp tải các chuyến hàng của nhà nước. Trường hợp cần thiết, giới cầm quyền quân sự có thể điều động đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở tỉnh khác. Khi chiến tranh xảy ra, theo đề nghị của chính quyền quân sự, toàn quyền Đông Dương có thể ra nghị định chuyển từng phần hoặc chuyển toàn bộ lực lượng địa phương quân sang thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của chính quyền quân sự. Cấp bậc của địa phương quân được chuyển ngang sang cấp bậc của quân chính quy. Địa phương quân và quân chính quy đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Khi tình trạng khẩn cấp đã qua, theo đề nghị của tổng chỉ huy lực lượng quân chính quy, toàn quyền Đông Dương quyết định chuyển giao lực lượng địa phương quân từ quân sự sang chính quyền dân sự như trước.

        28 tháng 9

        Phá ngục Lao Bảo ở Quảng Trị. Khoảng 200 tù nhân ở ngục Lao Bảo (nơi giam giữ những người tham gia các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, chống thuế...), dưới sự chỉ huy của Liêu Thanh (hội viên Quang Phục hội) và Hồ Bá Kiện (yếu nhân của Duy Tân hội), nổi dậy giết lính canh, phá nhà lao, thu vũ khí, đốt bốt gác rồi rút vào rừng. Nghĩa quân mang 29 khẩu súng và 5.000 viên đạn thu được của giặc tiến theo đường Lang Con - Lao Bảo lên phía tây bắc Sê Pôn rồi lập căn cứ ở một làng thuộc vùng Ban Ta Cha, tinh Xa Van Na Khét (Lào). Chiều ngày 28, Pháp cử giám binh Phê-rê và thiếu úy Pa-ga-ni dẫn 80 lính ở Huế và 40 lính ở Quảng Trị truy kích nghĩa quân. Chúng bao vây vùng Ban Ta Cha, nghĩa quân dựa vào địa thế hiểm trờ kiên quyết đánh trà địch. Do lực lượng ít, sức lực của nghĩa quân suy kiệt do bị cầm tù lâu, sau hơn một tháng chiến đấu, nghĩa quân tan vỡ. Một số đả anh dũng hy sinh, trong đó có cả Liêu Thanh và Hồ Bá Kiện, một số bị bắt, chỉ còn số ít thoát khỏi vòng vây địch cũng tự giải tán.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2016, 10:07:50 AM
        
Năm 1916

11 tháng 1

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định động viên toàn bộ lực lượng quân dự bị người Việt Nam ở Nam Kỳ, các khóa tuyển từ năm 1907 đến 1912, để đưa sang Pháp. Tiếp đó ngày 16, ra quyết định bắt lính người Việt Nam đưa sang chiến trường Pháp. Thực dân Pháp tổ chức được 2 tiếu đoàn lính chiến và điều 2.250 lính thợ cùng 40 phiên dịch đưa vào làm việc tại các công binh xưởng bên Pháp.

        22 tháng 1

        Thực dấn Pháp và Chính phủ Nam Triều mở đợt bắt lính người Việt đưa sang chiến trường Pháp. Riêng tại Trung Kỳ, từ ngày 22 tháng 1 đến 30 tháng 3, chúng đã tập trung 5.000 lính chiến đấu và hơn 13.000 lính thợ đưa sang Pháp.

        23 tháng 1

        Hơn 200 người, do Lê Văn Hổ, Phạm Văn Hậu, Nguyễn Văn Liên dấn đầu, kéo tới đánh phá trụ sở mộ binh của Pháp tại tỉnh Biên Hòa. Bọn hội tề chạy toán loạn. Nhiều lính khố xanh canh giữ, nhất là bọn áp giải "lính tình nguyện" đã bị thương. Nhờ đó, nhiều người bị bắt đi lính được giải thoát.

        Tháng 1

        Phong trào Hội Kín ở Mỹ Tho tích cực chế bom bằng đồng tại các vùng Long Hưng, Dương Diên, Thới Sơn và lưu hành các tài liệu của nhóm "Nghĩa Hòa" và "Phản Pháp, phục Nam" nhằm mục đích chống lại việc mộ binh của Pháp tại Nam Kỳ.

        Đêm 2 rạng 3 tháng 2

        Hơn 200 hội viên Hội Kín tập trung ở Mỏ Cày, vũ trang bằng giáo mác, dao, gậy, mang theo trống và cờ đỏ "Nghĩa Hòa”, bao vây trụ sở mộ binh trong vùng, bắt giết "ban chức dịch" gian ác, nhằm giải phóng cho số thanh niên từ các nơi bị áp giải về giam giữ chờ ngày đưa xuống tàu sang Pháp làm "bia đỡ đạn" cho chúng.

        15 tháng 2

        Bạo động phá khám lớn Sài Gòn. Lực lượng vũ trang bạo động được huy động từ nghĩa quân Hội Kín các tỉnh lân cận Sài Gòn. Ngày 14 tháng 2, nhiều toán quân Hội Kín đã tập kết tại các địa điểm ở Sài Gòn. Theo kế hoạch, 3 giờ sáng ngày 15 tháng 2, khoảng 300 người trang bị vũ khí thô sơ đi thuyền tới bến sông Sài Gòn và đổ bộ lên bờ, chia thành 3 nhóm tiến vào trung tâm thành phố. Trên đường tuần hành, 1 trong 3 nhóm đã chặn một ô tô của Pháp và hô lớn "Giết chết lũ Pháp". Hai nhóm kia kéo vào đánh phá khám lớn Sài Gòn. Khoảng 60 người tách ra tiến về khu Chợ Lớn. Thực dân Pháp huy động lực lượng lớn cảnh sát đến đàn áp. Nghĩa quân bị thiệt hại nặng: một số chết, một số bị thương, phần lớn bị bắt giữ, số ít còn lại quay xuống thuyền rút lui. Sau vụ bạo động, Tòa đề hình Sài Gòn đã xử án từ hình: Nguyễn Hữu Trí, nhà sư Cao Văn Long và gần 100 án đi đày tù chung thân và tù có hạn.

       Tháng 2

        * Thái Phiên - một thành viên của Quang Phục hội tập hợp các nhà yêu nước Quảng Nam, Quảng Ngãi tại Huế bàn kế hoạch phát động khởi nghĩa. Hội nghị quyết định khởi nghĩa vào giữa tháng 5 từ Quảng Bình trở vào. Do công việc chuẩn bị khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp đã kịp thời đối phó.

        * Tại Bà Rịa, nhóm Hội Kín của Nguyễn Văn Huệ đeo bùa ghi 4 chữ "Bản sơn kỳ lương" và ký tên Mã Vãng (đạo hiệu nhà sư Cao Văn Long) vũ trang tiến công đồn Pháp ở Ô Cấp. Cùng thời gian, tại Tây Ninh nhóm Hội Kín của Vương Văn Lê, Nguyễn Văn Thạch, Lê Văn Hà nổi dậy làm chủ vùng Tân Triều Tây thuộc Bình Lợi, Gia Bình, Gia Lộc.

        27 tháng 3

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách một phân địa bàn của đạo quan binh 4 Lai Châu để thành lập đạo quan binh 5 Thượng Lào trực thuộc Tòa Khâm sứ Pháp ở Lào.

        3 tháng 5

        Vụ mưu khởi nghĩa chống Pháp do 2 sĩ phu Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo dưới danh nghĩa vua Duy Tân nổ ra ở Huế. Cuộc khởi nghĩa có quan hệ mật thiết với Việt Nam Quang Phục hội ở các tỉnh nam Trung Kỳ. Lực lượng khởi nghĩa phần lớn là những binh lính người Việt sắp bị đưa sang chiến trường châu Âu. Ở Quảng Nam, Quảng Ngãi có hàng nghìn người, Huế 2.500 người, Đà Nẵng 1.500 người tham gia cuộc khởi nghĩa. Nhân dân ở nhiều địa phương thành lập đội nghĩa binh, rèn vũ khí, mua sắm quân nhu, quyên góp tiền gạo chuẩn bị khởi nghĩa. Khí thế chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ khi có sự tham gia trực tiếp của vua Duy Tân. Tại Quảng Ngãi xuất hiện nhiều tốp nghĩa quân, vũ trang bằng giáo, mác sẵn sàng chiến đấu. Quảng Nam, khoảng 250-300 nghĩa quân, chia làm hai nhóm tiến công một đội lính địch tại Tam Kỳ rồi rút lui an toàn. Xung quanh khu vực cảng Đà Nẵng và Hội An cũng xuất hiện nhiều tốp nghĩa quân; riêng tại Huế có khoảng 50 nghĩa binh (có cả vua Duy Tân) từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đến để vận động, tổ chức chuẩn bị tấn công tiểu đoàn thứ 16 của địch, cướp vũ khí của chúng. Trong khi đó, ở quanh thành Huế, nhiều tốp nghĩa quân, mỗi tốp khoảng 50-80 người, sẵn sàng chờ lệnh tiến công thành Huế. Ngày 3 tháng 5 năm 1916, Thái Phiên và Trần Cao Vân được vua Duy Tân giao viết chiếu kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Các lực lượng khởi nghĩa đã sẵn sàng nhưng vì tuyên truyền không chu đáo, tổ chức không chặt chẽ, thống nhất, nên bại lộ. Tên Trang Quang Trử phản bội đã báo với giặc.

        Ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thực dân Pháp đóng chặt cửa các trại lính, tước vũ khí binh lính người Việt, ra lệnh giới nghiêm và lùng bắt những người yêu nước. Ngày 6 tháng 5, vua Duy Tân bị thực dân Pháp bắt tại ngôi chùa cạnh núi Ngủ Long, cách Huế 5km; Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phạm Hồng Chương... đều bị hy sinh. Nghĩa binh ờ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi nổi dậy, nhưng thiếu người lãnh đạo, nên tan rã nhanh chóng.

        3 tháng 7

        * Đội Phấn (tức Hồ Sĩ Phấn, giữ chức đội trong lực lượng lmh bản địa) bị thực dân Pháp xử tử tại Nghệ An. Tháng 10 năm 1909. Đội Phấn từng tham gia cuộc khởi nghĩa ở Hà Tĩnh nhưng không thành. Ngày 16 tháng 2 năm 1910, Tòa án thực dân Pháp tuyên án xử tử vẳng mặt Đội Phấn, trong lúc ông đang hoạt động chống Pháp dưới sự chi huy của Đặng Thái Thân, Am Võ. Ngày 1 tháng 5 năm 1916, Đội Phấn bị bắt tại Nghệ An và bị xử tử ngày 3 tháng 7 năm 1916.

        * Nghĩa quân Việt Nam Quang Phục hội tiến công đồn Bát Xát (Lào Cai). Địch tập trung lực lượng đối phó, nghĩa quân phải rút lui.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2016, 08:08:33 AM
       
Năm 1917

        15 tháng 5

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập một lực lượng cảnh sát người Việt ở Nam Kỳ, gọi là dân vệ hoặc thủ bộ. Mục đích: Bảo đảm trật tự an ninh trong từng tỉnh, đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân, canh giữ tù nhân, áp giải các chuyến tù, truy bát người phạm pháp. Dân vệ đóng tại các tinh lỵ hoặc ngoài tính lỵ do quan chủ tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành.

        27 tháng 6

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập sở tình báo và An ninh Trung ương Đông Dương (gọi là sở mật thám Đông Dương). Nhiệm vụ chính là tổng hợp, nghiên cứu tất cả các tin tức tình báo liên quan trật tự an ninh của liên bang Đông Dương, về đối nội củng như đối ngoại; đào tạo, chi đạo và kiếm soát về mặt kỹ thuật đối với tất cả các cơ quan tình báo ở Đông Dương. Theo nghị định mỗi xứ thuộc liên bang Đông Dương còn được thiết lập một cơ quan mang tên cảnh sát an ninh, có nhiệm vụ theo dõi, ngăn ngừa tất cả các hành động chống đối chính quyền thực dân ở cấp xứ; điều tra, truy lùng, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân.

        9 tháng 7

        Những chiếc máy bay quân sự đầu tiên của thực dân Pháp được chở bằng tàu biển "Me-nam" cập cảng Hải Phòng.

        11 tháng 7

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập sở Hàng không Đông Dương tại Bắc Kỳ, đặt dưới sự chỉ đạo của Toàn quyền Đông Dương, sở có nhiệm vụ tổ chức trường huấn luyện ở Sơn Tây, nghiên cứu các tuyến đường hàng không, thiết lập sân bay, đặt quy chế sử dụng máy bay trong các hoạt động quân sự, dân sự ở Đông Dương. Theo nghị định, phi đội đầu tiên gọi là "phi đội Bắc Kỳ" được thành lập phục vụ yêu cầu quân sự.

        Đêm 30 tháng 8

        Khởi nghĩa của binh lính người Việt đóng ở Thái Nguyên. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là Đội Cấn (tức Trịnh Văn Cấn) và Lương Ngọc Quyến, được giác ngộ theo chủ trương đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quang Phục hội. 23 giờ ngày 30 tháng 8, Đội Cấn chỉ huy 131 binh lính nổi dậy giết giám binh Pháp, giải phóng tù chính trị, đánh chiếm các công sở, bao vây trại binh Pháp, làm chủ tỉnh ly Thái Nguyên và treo cờ "Nam binh phục quốc". Hàng trăm tù chính trị vừa được giải thoát cùng đông đảo nông dân ngoại thị, công nhân mỏ than Phấn Mễ và công chức đã tình nguyện tham gia nghĩa quân bảo vệ tỉnh ly Thái Nguyên. Ngày 31 tháng 8, Pháp điều hàng nghìn quân có pháo binh, tàu chiến yểm trợ từ Hà Nội và nhiều nơi khác tới đàn áp. Nghĩa quân dũng cảm chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, diệt hàng trăm tên. Do lực lượng quá chênh lệch và Lương Ngọc Quyến hy sinh, ngày 5 tháng 9, Đội Cấn rút quân khỏi tỉnh ly, phân tán thành nhiều bộ phận tiếp tục hoạt động ở các vùng Thái Nguyên, Tam Đảo, Vĩnh Yên... Đến ngày 21 tháng 12, tại căn cứ núi Pháo (Thái Nguyên), Đội Cấn chỉ còn khoảng vài chục nghĩa quân. Quân Pháp được tăng viện, tiếp tục bao vây tấn công. Ngày 10 tháng 1 năm 1918, trong một trận đánh không cân sức, Đội Cấn bị thương và ông đã tự sát. Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên kết thúc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2016, 06:05:15 AM
        
Năm 1918

        7 tháng 2

        Nghĩa quân Việt Nam Quang Phục hội tiến đánh đồn Mường Khương. Tiếp đó, ngày 9 tháng 7, nghĩa quân đánh đồn Pha Long và ngày 4 tháng 9 đánh đồn Cóc Pàn (Lào Cai), gây cho địch một số thiệt hại.

        Tháng 8

        Đồng bào Hơ Mông do Giàng Tả Chay lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp ở Lai Châu. Cuộc khởi nghĩa kéo dài gần 3 năm, thu hút nhiều người Hơ Mông từ Điện Biên đến Sơn La và Xiêng Khoảng, Trấn Ninh (Lào) tham gia. Nghĩa quân có khoảng 100 người trang bị 50 súng, được nhân dân che chở giúp đỡ, dựa vào rừng núi hiểm trở để hoạt động. Nghĩa quân liên tục đánh địch ở bản Nậm Ngan (4-12-1918), Ba La Viêng (16-1-1919), Ba Xúc (17-1-1919), núi Long Hẹ (21-1-1919)... gây cho địch một số thiệt hại. Thực dân Pháp điều quân từ Sơn La, Yên Bái càn quét nhiều lần vẫn không tiêu diệt được nghĩa quân. Đến cuối năm 1919, địa bàn hoạt động của nghĩa quân mở rộng tới 4 vạn km2, từ Điện Biên tới Sầm Nưa, Trấn Ninh (Lào), khiến thực dân Pháp rất lo sợ và phải huy động một lực lượng lớn đối phó. Với các thủ đoạn càn quét ác liệt kết hợp dùng chính sách dụ dỗ, mua chuộc, triệt nguồn tiếp tế, gây chia rẽ nội bộ, thực dân Pháp mới dập tắt được cuộc khởi nghĩa. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, thể hiện tình đoàn kết Việt - Lào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

        11 tháng 11

        Chiến tranh thế. giới lần thứ nhất kết thúc. Trong thời gian đầu chiến tranh (1914-1915) lực lượng quân sự của Pháp ở Việt Nam gồm:

        + Lữ đoàn 1 đóng tại Hà Nội, do đại tá Phri-cơ-nhông (Friquegnon) chí huy, gồm 11 tiểu đoàn, chia ra 34 đại đội bộ binh và 12 trung đội súng máy.

        + Lữ đoàn 2 đóng tại Bắc Ninh, do thiếu tướng Ac-la-bốt (Aralabosse) chỉ huy, gồm 7 tiểu đoàn, chia thành 23 đại đội và 7 trung đội súng máy.

        + Đơn vị pháo binh Hà Nội gồm 6 khẩu đại bác, do thiếu tướng Ba-rô (Barraud) chỉ huy.

        Đến năm 1916, chín đại đội phải giải tán vì thiếu quân số và trang bị, do bị điều động bổ sung cho chính quốc. Từ cuối năm 1916 trở đi, quân đội viễn chinh Pháp chỉ còn:

        + Lữ đoàn 1 đóng ở Hà Nội, gồm 10 tiểu đoàn, chia thành 31 đại đội và 16 trung đội súng máy do đại tá Phri-cơ-nhông (Friquegnon) chỉ huy.

        + Lữ đoàn 2 đóng ở Bác Ninh, gồm 6 tiểu đoàn, chia ra
18   đại đội và 6 trung đội súng máy, do thiếu tướng Mi-sa (Michard) chỉ huy.

        + Lữ đoàn 3 đóng ở Sài Gòn, gồm 5 tiểu đoàn chia ra 16 đại đội và 7 trung đội súng máy, do thiếu tướng Di-ghê (Diguet) chỉ huy.

        + Đơn vị pháo binh, gồm 5 đại đội thuộc trung đoàn 4 và 5, đóng ở Hà Nội, Sài Gòn.

        Trong 4 năm chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đã bắt 97.903 thanh niên các nước Đông Dương (hầu hết là người Việt) đưa ra chiến trường, trong đó có 49.992 lính chiến đấu và 48.981 lính thợ.

        Đêm 16 tháng 11

        Cuộc khởi nghĩa Bình Liêu (Quảng Ninh) bùng nổ. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là Thàm Cam Say và Lò Sáp. Lực lượng tham gia là binh lính người Việt và người Hoa cùng đồng bào các dân tộc Kinh, Dao, Nùng, Hán trong vùng. Nghĩa quân đánh chiếm các đồn Bình Liêu, Hoành Mô rồi vượt biên giới gia nhập với các hội viên Quang Phục hội ở Lưỡng Quảng, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Ngày 19 tháng 11, nghĩa quân trở về nước tiến công đồn Đầm Hà, chiếm trại linh khố xanh. Quân địch rút về Tiên Yên. Nghĩa quân làm chủ một vùng rộng lớn gồm Bình Liêu, Chúc Bài Sơn, Đầm Hà. Thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn đàn áp. Nghĩa quân phân tán phục kích từng toán tuần tiễu của địch tiêu hao một bộ phận sinh lực của chúng. Ngày 3 tháng 6 năm 1919, thực dân Pháp bao vây chia cắt nghĩa quân với nhân dân. Ngày 6 tháng 6 năm 1919, nghĩa quân chia từng toán nhỏ rút khỏi căn cứ và duy trì cuộc khởi nghĩa đến cuối tháng 6 năm 1919. Khởi nghĩa Bình Liêu thể hiện tinh thần yêu nước của binh lính người Việt trong quân đội Pháp và các dân tộc quyết tâm đấu tranh để giành độc lập.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2016, 08:18:26 AM
       
Năm 1919

        18 tháng 4

        Thủy thủ và binh linh trên chiến hạm Phrăng-xơ (France) tuyên bố chống lệnh chiến đấu với khẩu hiệu "Không chiến tranh với nước Nga" và quay trở về Tu-lông!" (cảng xuất phát của hạm đội). Đồng chí Tôn Đức Thắng, lúc ấy là một thủy thủ trên chiến hạm đã tham gia phản chiến và được cử làm nhiệm vụ kéo lá cờ đỏ biểu thị thái độ phản đối sự can thiệp đối với nước Nga Xô-viết. Đến ngày 20 tháng 4, cuộc binh biến lan rộng toàn hạm đội, buộc bọn chỉ huy phải điều hạm đội trở về căn cứ. Sự kiện binh biến của hạm đội Pháp ở Hắc Hải, có sự tham gia của đồng chí Tôn Đức Thắng là một biểu hiện của tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa cách mạng hai nước Việt Nam và Nga.

Năm 1920


        Tháng 9

        Thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn, do Đại tướng Puy-pê-rúc chỉ huy mở cuộc càn vào vùng Thượng Lào hòng tiêu diệt nghĩa quân Việt - Lào. Nghĩa quân hai nước đã phối hợp chiến đấu bằng nhiều đợt tập kích, phục kích, chống càn, gây cho địch một số thiệt hại.

        Trong năm 1920

        500 đồng bào Tày ở Lạng Sơn dưới quyền chỉ huy của Đội Ấn nổi dậy chống Pháp. Nghĩa quân tiến công thị trấn Đồng Đăng, Kỳ Lừa, giết tuần phủ Cung Khắc Đản.

Năm 1922

        Trong năm

        Cuộc bãi công bán vũ trang của 600 công nhân thợ nhuộm ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Nguyễn Ai Quốc đã đánh giá cuộc bãi công đó như là dấu hiệu của thời đại mới. Lần đầu tiên một phong trào như thế đã nhóm lên ở thuộc địa.

Năm 1923


        15 tháng 1

        Lập sở mộ lính đầu tiên tại Hà Nội. Để tăng cường bộ máy quân sự, bên cạnh chế độ quân dịch thời bình, thực dân Pháp tiến hành xây dựng lực lượng "quân tình nguyện", lập sờ mộ binh ở Hà Nội. Tiếp đó; lập thêm các sở mộ binh ở Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng và Sài Gòn. Các sở này tuyền mộ những người tình nguyện vào các ngạch như bộ binh, hải quân, pháo thủ, công binh, đặc biệt là những người có khả năng làm phiên dịch phục vụ trong các ngạch binh này.

        21 tháng 4

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Uy ban Quân sự trung ương đường sắt Đông Dương. Thời bình, tổ chức này đặt dưới quyền một viên kỹ sư trưởng của bộ phận khai thác ngành đường sắt, đồng thời chịu sự chỉ đạo của viên Tổng tư lệnh quân đội Đông Dương nhằm phục vụ yêu cầu quân sự khi cần. Trong trường hợp có lệnh tổng động viên thì tổ chức này được trưng dụng từng phần hay toàn bộ hệ thống đường sắt và đặt dưới sự chỉ đạo của một viên giám đốc quân sự đường sắt.

Năm 1924

        31 tháng 5

        Chính phủ Pháp ra sắc lệnh tổ chức lại lực lượng hải quân bản xứ Đông Dương. Sắc lệnh quy định các thể thức tuyến mộ, thời hạn phục vụ, cấp bậc và khu vực hoạt động của hải quân người bản xứ là các căn cứ trên bờ, không biên chế vào đơn vị chiến đấu trên các chiến hạm.

       
19 tháng 6

        Vụ mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc-lanh ở Sa Điện Quảng Châu (Trung Quốc). Tâm Tâm xã (Tân Việt thanh niên đoàn) giao nhiệm vụ cho Phạm Hồng Thái nhân bữa tiệc của chính quyền Pháp tổ chức đón Méc-lanh tại khách sạn Vic-to-ri-a, dùng lựu đạn diệt toàn quyền Đông Dương. Phạm Hồng Thái được Lê Hồng Sơn bảo vệ, cải trang làm phóng viên nhiếp ảnh lọt vào được khách sạn và ném lựu đạn làm 4 sĩ quan Pháp chết và 2 bị thương, nhưng không giết được Méc-lanh. Khi rút qua cầu sang thành phố Quảng Chấu, Phạm Hồng Thái bị cảnh binh Pháp đuổi, phải nhảy xuống sông Châu Giang và hy sinh. Vụ mưu sát không thành, nhưng đã làm cho thực dân Pháp lo sợ và có tác dụng thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh chống Pháp.

Năm 1925


        18 tháng 2

        Đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Thư có đoạn "Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 hội viên, trong đó 3 người ở trong quân đội của Tôn Dật Tiên, 1 người đang đi công tác quân sự cho Quốc dân đảng, 2 người được phái về nước gây dựng cơ sở cách mạng".

        Tháng 6

        Đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Mục đích của hội là: "Hết sức phấn đấu để thâu phục lấy đại bộ phận thợ thuyền, dân cày và binh lính... đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản". Chương trình hành động cụ thể là: "Đánh đổ đế quốc Pháp và chế độ quan liêu, lập chính quyền cách mạng của công nông binh...".

        14 tháng 7

        Thành lập Hội phục Việt. Đây là một tổ chức cách mạng ra đời tại thành phố Vinh, bao gồm một số chiến sĩ yêu nước, trung kiên của tổ chức Việt Nam nghĩa đoàn (như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai...), cùng với nhóm chính trị phạm Trung Kỳ như Lê Văn Huân, Tú Kiên... Hội chủ trương rải truyền đơn kêu gọi nhân dân bạo động. Sau khi Hội phục Việt ra đời, thực dân Pháp tập trung quân đàn áp.

        7 tháng 12

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định hoàn chỉnh hệ thống giáo dục thể dục và dự bị quân sự ở Đông Dương, nhằm lôi kéo các tầng lớp thanh niên ra khỏi ảnh hưởng của các phong trào yêu nước đang phát triển mạnh mẽ và bổ sung nguồn quân dự bị cho Pháp khi cần.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2016, 08:01:20 AM
        
Năm 1926

        31 tháng 1

        Cuộc đấu tranh chống việc trục xuất người Bắc Kỳ và Trung Kỳ ra khỏi Nam Kỳ, thu hút các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trí thức, học sinh và cả một số người Pháp tiến bộ tham gia. Cuộc đấu tranh đã biến thành một cuộc biểu tình vũ trang kéo đến dinh Thống đốc Nam Kỳ.

Năm 1927

        Đầu năm 1927

        Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông cho xuất bản tác phẩm "Đường Kách mệnh" của đồng chí Nguyễn Ai Quốc tại Quảng Châu. Đây là văn kiện có tính chất cương lĩnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam những năm 1920, vạch ra những hình thức và phương pháp tổ chức lực lượng cách mạng, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam.

        Tháng 1

        Các tù nhân ở nhà tù Lai Châu do Cai Vợi lãnh đạo nổi dậy. Những người tù đã cướp súng của lính gác đánh chiếm trại lính, gây cho địch nhiều tổn thất. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, lại phải đương đầu với một lực lượng lớn của đạo quan binh thứ IV của thực dân Pháp, nên chỉ sau 48 giờ chiến đấu, phần lớn anh em nổi dậy đã bị bắt và bị giết. Bộ phận còn lại gồm 72 người trang bị 50 khẩu súng, thoát khỏi vòng vây của địch rút vào rừng và duy trì hoạt động hơn hai tháng nữa. Cùng thời gian này, Điêu Văn Hoán chỉ huy nghĩa quân từ tây nam Trung Quốc vượt biên giới đánh chiếm đồn Mường Nhé, uy hiếp Lai Châu. Sau khi biết tin vụ bạo động của Cai Vợi thất bại, Điêu Văn Hoán rút sang bên kia biên giới Việt - Trung.

        26 thảng 2

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định ban hành đạo sắc lệnh của Tổng thống Pháp (23-12-1926) về việc đặt chức giám đốc và tăng cường bộ máy cảnh sát và mật thám Đông Dương. Tố chức cảnh sát và mật thám Đông Dương đặt dưới quyền giám đốc. Ở cấp liên bang, bộ máy này thường gọi là Sở mật thám Đông Dương, trong đó có sở Tình báo và An ninh Trung ương.

        25 tháng 12

        Thành lập Việt Nam Quốc dân đảng. Thành phần chủ yếu tham gia tổ chức này là tầng lớp tiểu tư sản, trí thức thành thị, như: học sinh, sinh viên, giáo viên, công chức và một số binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Cùng thời gian này, Hội Việt Nam dân quốc, do Nguyễn Khắc Nhu lảnh đạo dự định tổ chức bạo động, đánh chiếm các đồn binh Pháp ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại. Nhưng kế hoạch bị bại lộ, việc bạo động không thành. Nguyễn Khắc Nhu và những người trong tổ chức của ông gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng.

Năm 1928

        8 tháng 2

        Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Ủy ban nghiên cứu quốc phòng ở Đông Dương. Nhiệm vụ là giúp Toàn quyền Đông Dương chuẩn bị kế hoạch triển khai lệnh tổng động viên và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quốc phòng ở Đông Dương. Ủy ban đặt dưới quyền chỉ đạo của Toàn quyền Đông Dương, bao gồm các viên Tổng tư lệnh tối cao quân đội Đông Dương và những quan chức đứng đầu các ngành trong quân đội.

        9 tháng 3

        Chính phủ Pháp ra sắc lệnh tổ chức Cục Quân pháp của quân đội Đông Dương. Tiếp đó ngày 16 tháng 10 năm 1928, thực dân Pháp thành lập hai Tòa án binh thường trực đặt trụ sở ở Hà Nội và Sài Gòn. Mỗi tòa án có một viên chức tư pháp dân sự đứng đầu và 6 ủy viên là sĩ quan tư pháp.

        14 tháng 7

        Thành lập Tân Việt cách mạng đảng (gọi tát là đảng Tân Việt). Mục đích của đảng Tân Việt là: "Liên hợp cả các đồng chí trong ngoài; trong thì dẫn đạo công nông binh, quần chúng; ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức để đánh đổ đế quốc, đặng kiến thiết một xã hội bình đẳng bác ái mới".

Năm 1929

        7 tháng 2

        Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức ám sát Ba-danh (Bazin) tại phố Huế (Hà Nội). Sự kiện Ba-danh bị trừng trị đã gây tiêng vang lớn, nhưng trong điều kiện các tổ chức chống Pháp khi đó, kể cả Việt Nam Quốc dân đảng chưa được củng cố, nên hành động này mang tính chất manh động. Thực dân Pháp tập trung khủng bố các lực lượng yêu nước. Nguyễn Văn Viên bị bắt. Hội đồng Đề hình xét xử hàng trăm án tù, nhiều tổ chức cách mạng bị tổn thất.

        17 tháng 9

        Tổng bộ Việt Nam Quốc dân đảng triệu tập hội nghị tại Lạc Đạo bàn việc khởi nghĩa. Hội nghị quyết định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trên toàn quốc, trong đó tập trung ở các đô thị lớn. Binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp được giác ngộ là lực lượng chủ yếu của Việt Nam cách mạng quân tiến hành khởi nghĩa.

        8 tháng 12

        Việt Nam Quốc dân đảng triệu tập hội nghị bất thường ở Võng La (Phú Thọ). Tham dự có các ủy viên quân sự bàn việc xúc tiến phát động khởi nghĩa. Do sơ hở về tổ chức, viên tham mưu trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng là Nguyễn Thành Dương đã phản bội, dẫn bọn mật thám đến vây bắt những người dự hội nghị. Được nhân dân che chở, các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khác Nhu, Phó Đức Chính... đều chạy thoát.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2016, 08:41:06 AM
       
Năm 1930

        25 tháng 1

        Hội nghị đại biểu toàn quốc của Việt Nam Quốc dân đảng được triệu tập, tại làng Mỹ Xá (Hải Dương) bàn việc phát động khởi nghĩa. Căn cứ vào thực lực, hội nghị quyết định khởi nghĩa chủ yếu trên địa bàn Bắc Kỳ và phân công: Khu Yên Bái, do Thanh Giang, Nguyễn Văn Khôi; khu Sơn Tây, do Phó Đức Chính; khu Hưng Hóa, Lâm Thao, do Nguyễn Khắc Nhu; khu Phả Lại, Hải Dương, do Nguyễn Thái Học; khu Hải Phòng, Kiến An, do Vũ Văn Giản (Vũ Hồng Khanh) và khu Hà Nội, do Đoàn Trần Nghiệp chỉ huy.

        3 tháng 2

        Công nhân đồn điền Phú Riềng (Biên Hòa) do chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng lãnh đạo, có lực lượng tự vệ hỗ trợ đã tiến hành đấu tranh, quy mô lớn, thu hút 5.000 người tham gia. Bọn chủ đồn điền đưa lính đến đàn áp. Lực lượng công nhân tổ chức các đội "Xích vệ" chống lại. Bọn chủ giám thị người Pháp hoảng sợ chạy trốn về Sài Gòn. Công nhân chiếm giữ nhà máy, kho tàng và đốt các loại giấy tờ của địch. Toàn bộ đồn điền Phú Riềng trở thành "Khu Đỏ" đặt dưới quyền quản lý của công nhân. Ngày 4 tháng 2, thống sứ Nam Kỳ huy động 300 lính Pháp, 500 lính khố xanh đến đàn áp. Nhưng trước cuộc đấu tranh kiên quyết của hàng nghìn công nhân, thực dân Pháp và giới chủ phải nhượng bộ một số yêu sách của công nhân.

        3-7 tháng 2

        Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta (gồm Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng ở Nam Kỳ, Đông Dương Cộng sản liên đoàn ở Trung Kỳ), thành một Đảng cộng sản duy nhất mang tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng... và lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Chánh cương vắn tắt của Đảng nêu rõ: Đường lối cách mạng đúng đắn là làm "Cách mạng tư sản dân quyền", do giai cấp công nhân lãnh đạo, tức là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phương thức cách mạng là kiên quyết dùng bạo lực cách mạng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Thành lập chính phủ công nông binh. Tổ chức ra quân đội công nông...

        Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng kéo dài hai phần ba thế kỷ, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Từ đây, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo, chuyển sang một thời kỳ mới.

        9-18 tháng 2

        Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng. Bị quân Pháp khủng bố, Việt Nam Quốc dân đảng quyết định bạo động. Theo kế hoạch, lực lượng khởi nghĩa và bộ phận đảng viên Quốc dân đảng là binh lính người Việt trong quân đội Pháp làm nòng cốt sẽ đồng loạt nổi dậy ở nhiều tỉnh Bắc Kỳ. Thời gian dự định bắt đầu ngày 10 tháng 2 năm 1930, sau hoãn đến ngày 15 tháng 2. Do quá trình chuẩn bị gặp nhiều khó khăn, việc chỉ đạo thiếu thống nhất, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra không theo đúng kế hoạch và rời rạc giữa các địa phương. Đêm ngày 9 rạng 10 tháng 2, khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ, Sơn Tây. Tại Yên Bái, nghĩa quân tiến công đồn dưới, diệt và làm bị thương 10 tên địch, chiếm một số vị trí ở thị xã, treo cờ và phát truyền đơn hô hào quần chúng nổi dậy. Sáng ngày 10 tháng 2, Pháp tập trung lực lượng phản công, quân khởi nghĩa tan rã. Tại Hà Nội, chiều 10 tháng 2, quân khởi nghĩa dùng mìn ném vào sở mật thám, sở sen đầm, bốt cảnh sát nhằm kiềm chế quân Pháp phối hợp với Yên Bái, song ít kết quả. Từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 2, ờ Hải Dương, Hải Phòng Thái Bình, Phả Lại, Bắc Giang, nghĩa quân tiến công các phủ, huyện, gây cho quản Pháp một số thiệt hại nhưng sau đó củng bị đàn áp. Do điều kiện chưa chín muồi, thiếu cơ sở vững chắc trong nhân dân, nên khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại. Hàng nghìn chiến sĩ cùng những người lãnh đạo chủ chốt như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu, Đoàn Trần Nghiệp bị địch bắt và giết. Sau khởi nghĩa Yên Bái, Việt Nam Quốc dân đảng tan rã, nhưng đã cổ vũ lòng yêu nước, ý chí chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

        15 tháng 2

        Sau khi Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức nổi dậy đánh chiếm huyện Vĩnh Bảo ngày 15 tháng 2, giết tri huyện Hoàng Gia Mô, ngày 16 tháng 2, thực dân Pháp huy động 5 chiếc máy bay ném 57 quả bom (loại l0kg) và xả súng bắn triệt hạ làng cổ Am là nơi có cơ sở hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng. Tiếp đó, thực dân Pháp tiến hành nhiều vụ khủng bố các làng La Hào, Võng La, Xuân Lủng, Sơn Dương...; các cuộc bắt bớ với hàng chục án tử hình, nhất là vụ ném bom làng cổ Am đã gây căm phẫn trong dư luận tiến bộ trong nước cũng như ở nước Pháp.

        30 tháng 8

        Hơn 300 nông dân có vũ trang tự vệ, do Huyện ủy Nam Đàn (Nghệ An) lãnh đạo đã biểu tình thị uy, kéo đến huyện lỵ đấu tranh. Quần chúng nông dân xông vào phá nhà lao, giải phóng tù chính trị, phá công sở, đốt sổ sách, giấy tờ, buộc tri huyện phải cam kết: "Không được nhiễu hại nhân dân". Thừa thắng, quần chúng kéo về các làng xã thị uy, trừng trị bọn cường hào, tuyên bố xóa bỏ các thứ thuế bất công, lập đội tự vệ, xây dựng cuộc sống của mình.

        1 tháng 9

        Cuộc biểu tình có vũ trang tự vệ của nông dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An diễn ra sôi nổi. Trên hai vạn nông dân đã tiến vào huyện ly đấu tranh. Quân Pháp dùng súng bắn vào đoàn biểu tình. Quần chúng xông vào phá cửa nhà lao, giải phóng tù chính trị, phá hủy huyện đường. Ngày 2 tháng 9, chính quyền Xô viết được thành lập.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2016, 05:43:43 AM
        7 tháng 9

        Khoảng ba nghìn nông dân huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) có vũ trang tự vệ, do Huyện ủy Can Lộc lãnh đạo, biểu tình tiến về huyện lỵ. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, tri huyện hoảng sợ bỏ chạy. Quần chúng tiến vào phá trại giam, giải phóng tù chính trị, đốt phá sổ sách, giấy tờ của tri huyện. Viên giám binh Pháp điều quân từ thị xã đến đàn áp, bắt đi một số người.

        12 tháng 9

        Hơn tám nghìn nông dân phủ Hưng Nguyên (Nghệ An) biểu tình tiến về phủ lỵ. Hoảng sự trước khí thế đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp cho máy bay ném bom vào đoàn biểu tình, làm chết hàng trăm người. Đến chiều, khi nhân dân các làng Thông Lạng, Thái Lão ra chôn cất những người hy sinh, máy bay địch lại ném bom, gây thêm tội ác đối với nhân dân ta.

        Tháng 6 - tháng 9   

        Cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh. Cùng với phong trào cách mang cả nước, từ cuối tháng 8 năm 1930, ở Nghệ An, Hà Tĩnh liên tiếp diễn ra các cuộc bãi công, biểu tình quy mô lớn có vũ trang tự vệ của công nhân và nông dân, bất chấp sự khủng bố của thực dân Pháp. Đặc biệt sau cuộc biểu tình ngàv 12 tháng 9 năm 1930, của 8.000 nông dân phủ Hưng Nguyên bị đàn áp đẫm máu, hàng chục nghìn quần chúng kéo đến đốt huyện đường, phá nhà lao, vây đồn lính khố xanh trừng trị bọn địa chủ cường hào, làm tê liệt tan rã hệ thống chính quyền tay sai Pháp ở hầu hết các làng xã trong tỉnh. Mặc dù lúc đó Đảng Cộng sản Đông Dương chưa chủ trương giành chính quyền, nhưng trước sự phát triển nhanh chóng của phong trào, các tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương ở những nơi vừa được giải phóng đã chủ động lãnh đạo quần chúng đứng lên thành lập chính quyền cách mạng dưới hình thức Xô viết, thực hiện quản lý, điều hành mọi hoạt động trong làng xã và một số huyện. Thực dân Pháp phải thiết quân luật, đưa nhiều đơn vị lính lê dương, lính khố đỏ về Nghệ An, Hà Tĩnh, lập hệ thống đồn bốt dày đặc và thi hành chính sách khủng bố trắng tản bạo nhằm dập tắt phong trào. Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi, chi đạo các địa phương cả nước phối hợp, bảo vệ Xô viết Nghệ - Tĩnh. Đến giữa năm 1931, trong điều kiện tình thế cách mạng cả nước chưa chín muồi, phong trào còn non yếu, nên bị tổn thất nặng nề, các Xô viết phải giải tán để bảo toàn lực lượng. Xô viết Nghệ - Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930-1931, là cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lảnh đạo, được Quốc tế Cộng sản công nhận và ủng hộ, để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.

        7 tháng 10

        Phối hợp với Xô viết Nghệ - Tĩnh, phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Trung Kỳ củng phát triển mạnh. Các cuộc đấu tranh này đều có vũ trang và uy hiếp các cơ quan chính quyền của địch. Tiêu biểu là cuộc biểu tình vũ trang thị uy của 3.000 nông dân huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi). Tiếp đó là các cuộc đấu tranh của nông dân huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi, ngày 31-10-1930 và 19-1-1931), nông dân Triệu Phong (Quảng Trị tháng 5-1931), nông dân phủ Hoài Nhơn (Bình Định 22-7-1931). Những cuộc đấu tranh này đã làm lung lay chính quyền thống trị của bọn thực dân và phong kiến.

        11 tháng 10

        Thực hiện chỉ thị của Xứ ủy Bắc Kỳ, Thành ủy Hà Nội phát động cuộc đấu tranh ủng hộ phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh. Đội tuyên truyền xung phong tập hợp hàng trăm người tại phố Sinh Từ, phân phát truyền đơn kêu gọi, nhân dân đấu tranh ủng hộ Xô viết Nghệ - Tĩnh. Địch huy động cảnh sát và mật thám đến đàn áp, bắt đi 2 đội viên.

        14 tháng 10

        Hơn 400 nông dân các xã thuộc huyện Tiền Hải (Thái Bình) kéo lên huyện ly đấu tranh mở đầu cao trào cách mạng 1930-1931 ở Bắc Kỳ. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, tri huyện bỏ chạy nhưng tên lục sự gian ác đã cưỡng bức lính bắn xả vào đoàn biểu tình làm 8 người chết, 12 người bị thương. Thực dân Pháp điều động binh lính từ thị xã đến các làng xã khủng bố, bắt 78 người, đốt gần 100 nóc nhà. Cuộc đấu tranh của nông dân Tiền Hải có tiếng vang lớn. Đảng Cộng sản Pháp đã phát động phong trào phản đối địch khủng bố ở Tiền Hải.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2016, 12:17:37 PM
 
Năm 1931

        3 tháng 1

        Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông báo "về việc chống chính sách khủng bố trắng của đich1. Thông báo nêu rõ: "Một vấn đề rất quan trọng cho sự đấu tranh của quần chúng công nông bây giờ là vấn đề tổ chức tự vệ của công nông. Các Đảng bộ phải góp sức với nông hội mà hết sức hô hào cổ động thật rộng quần chúng về ý nghĩa và lợi ích của đội tự vệ, đem những phần tử hăng hái tranh đấu, can đảm, lực lượng tổ chức ra những đội ấy. Phải làm cho mỗi nhà máy, mỗi làng xã đều có đội tự vệ. Đội tự vệ không phải tổ chức trong một lúc tranh đấu rồi giải tán, mà phải duy trì khuếch trương ra làm một lực lượng vĩnh viễn của quần chúng. Khi có đấu tranh thì đội tự vệ phải đi đầu, đi kèm quần chúng mà hộ vệ, còn lúc thường thì phải tập luyện".

        25 tháng 1

        Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông báo về việc đế quốc Pháp buộc dân cày ra "đầu thú", nêu rõ: "Cần phải có tự vệ công nông... Việc tổ chức đội tự vệ của công nhân và nông dân là việc rất cần kíp. Không có đội ấy thì không hành động được... Các đoàn thể nông dân phải tổ chức ra các đội nông dân tự vệ sẵn sàng bênh vực cho quần chúng, hễ quan làng hoặc binh lính tới bắt, thì tự vệ phải lập tức xông tới lột khí giới của chúng. Mỗi sự hành động cách mạng đều bắt buộc phải có đội tự vệ để bênh vực".

        7 tháng 2

        Lý Tự Trọng - người Thanh niên cộng sản bị Pháp bắt ở Sài Gòn. Lý Tự Trọng (tức Huy) quê ở Hà Tĩnh, là 1 trong số 8 thiếu niên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Năm 1929, Lý Tự Trọng trở về hoạt động ở Sài Gòn, bị Pháp bắt trong lúc bảo vệ một cuộc mít tinh ở sân bay đường La-re-nhi-e-rơ (Sài Gòn) vì đã bắn chết thanh tra mật thám Lơ-gơ-răng. Địch dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng Lý Tự Trọng quyết không khai. Chúng dùng âm mưu dụ dỗ mua chuộc cũng thất bại. Hành động dũng cảm của Lý Tự Trọng đã gây tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta.

        Đầu tháng 3

        Đảng bộ Cao Bằng cử các đồng chí Hoàng Hồng Việt, Hoàng Đình Hùng, Nguyễn Nam Hùng (tức Trần) và Đàm Thế Vinh sang Trưng Quốc học sửa chữa và chế tạo vũ khí. Sau một năm học tập, bốn đồng chí trở về được phân công thành lập công binh xưởng ở núi Kẻ Ngả (Hoà An, Cao Bằng). Để có nguyên vật liệu sửa chửa, sản xuất vũ khí, Đảng bộ Cao Bằng phát động quần chúng cung cấp kíp nổ và dây cháy chậm cho công binh xưởng hoạt động. Chỉ sau một thời gian, quả địa lôi đầu tiên đã được sản xuất thành công tại xưởng, tuy sức công phá chưa mạnh, nhưng bước đầu đã có hiệu quả. Sau đó, hàng loạt lựu đạn tự chế tạo được cất giấu để dùng bảo vệ cơ quan Đảng hoạt động ở Cao Bằng.

        23 tháng 3

        Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp là các đồng chí Võ Văn Tần, Lê Văn Lương, 400 công nhân hãng

        Xô-công ở Nhà Bè (Sài Gòn) bãi công chống đánh đập. Chủ hãng huy động binh lính đến đàn áp. Đội tự vệ công nhân chống trả quyết liệt, đánh chết tên chỉ huy và làm bị thương một số lính. Pháp điều thêm quân đến vây hãm, đàn áp công nhân và bắt giam những người lãnh đạo cuộc đấu tranh.

        Cuối tháng 3

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, đề ra một số nhiệm vụ cấp bách, trong đó nhấn mạnh: "Phải lập ra các quân ủy Đảng để khuếch trương liên lạc với binh lính mà tổ chức chi bộ Đảng trong quân đội. Cần tổ chức đội tự vệ công nông để chống lại địch khủng bố trong lúc đấu tranh".

        22 - 29 tháng 4

        Hội nghị Xứ ủy Trung Kỳ ra nghị quyết, trong đó xác định nhiệm vụ về tổ chức binh lính:

        "a- Xứ ủy, các tỉnh ủy, khu ủy và ở các huyện ủy có nhiều đồn, thì các cấp Đảng ủy (từ huyện ủy trở lên) phải tổ chức ủy viên quân sự. Các cấp ủy viên quân sự có liên lạc với nhau và ban ở cấp dưới phải chịu quyền chỉ huy của ban trên.

        b- Ở mỗi thập, cứ tổ chức một chi bộ độ năm đảng viên, mỗi chi bộ cử một bí thư. Cứ ba thập có một bí thư đội, ba đội có một bí thư cơ... Mỗi bí thư do quân sự ủy viên cử ra. Mỗi đội có một người liên lạc với quân ủy. Các quân ủy huyện do quân ủy tỉnh chỉ huy. Binh lính ở tỉnh nào thì do quân ủy tỉnh chỉ huy...".
Tháng 5

        Nông dân một số xã ở phủ Triệu Phong (Quảng Trị) kéo về phủ ly phản đối thực dân Pháp và tay sai đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ - Tĩnh. Thực dân Pháp điều quân từ tỉnh ly đến đàn áp. Nông dân tổ chức các đội tự vệ cản đường, làm chìm phà địch trên sông Thạch Hãn, không cho chúng vượt sang phủ lỵ Triệu Phong khủng bố. Sau vài ngày, Pháp tập trung quân mở cuộc càn quét lớn vào các xã ở phủ Triệu Phong, gây nhiều tội ác đối với đồng bào, bắt đi gần 500 người tra tấn dã man, nhưng vẫn không tìm được người lãnh đạo đấu tranh.

        21 tháng 7

        Thực hiện nghị quyết của Xứ ủy Trung Kỳ và hội nghị cán bộ lãnh đạo các chi bộ địa phương, hơn ba nghìn nông dân Hoài Nhơn (Bình Định) mang theo dao, gậy gộc, có các đội tự vệ vũ trang hỗ trợ từ các xã tiến về phủ lỵ đấu tranh chống chế độ áp bức hà khắc của thực dân và phong kiến. Pháp điều quân đến đàn áp, bị quần chúng và tự vệ đánh trả quyết liệt, đốt cháy một xe ô tô. Tên chỉ huy Pháp đốc thúc binh lính bắn bừa bãi vào đoàn biểu tình, làm 4 người chết và nhiều người khác bị thương.

        Cuối nãm 1931

        Đảng bộ Hải Phòng tổ chức đội xích vệ (tự vệ Đỏ) trong công nhân ở Nhà máy Xi măng, sở Ca-rông và cảng. Thành phần đội xích vệ gồm những đảng viên và thanh niên công nhân hăng hái đã qua rèn luyện thử thách trong đấu tranh. Đội Xích vệ có nhiệm vụ đi đầu trong các cuộc đấu tranh với địch, bảo vệ cán bộ, bảo vệ quần chúng. Vũ khí chủ yếu là kìm, búa, dao găm và một ít súng ngắn. Tuy chưa có tổ chức quy mô theo hệ thống quân sự và có người chuyên trách, nhưng tổ chức Xích vệ đã phát huy tác dụng trong các cuộc đấu tranh của công nhân và các tầng lớp nhân dân Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2016, 05:37:33 AM
   
Năm 1932

        17 tháng 4

        Hơn 1.400 nông dân các xã thuộc huyện Hóc Môn (Gia Định) có các đội tự vệ hỗ trợ đấu tranh chống ách áp bức bóc lột hà khắc của bọn đế quốc và phong kiến tay sai. Thực dân Pháp huy động binh lính đến đàn áp, bắn chết và làm bị thương hàng chục người, bắt đi 40 người.

        Tháng 6

        Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chương trình hành động cách mạng, trong đó xác định: Đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, thiết lập chính phủ cách mạng công nông theo hình thức Xô viết và tổ chức quân đội cách mạng công nông. Trước mắt phải vũ trang và huấn luyện quân sự cho quần chúng cách mạng, tổ chức các đoàn thể cách mạng của quần chúng, "Sắp đặt hàng ngũ cho chỉnh tề, lo dự bị vũ trang bạo động, kỳ đánh đổ được quân áp bức".

        14 tháng 12

        Công nhân các đồn điền ở Thủ Dầu Một, có tự vệ hỗ trợ đấu tranh chống giới chủ. Thực dân Pháp điều động quân từ thị xã đến, cùng binh lính đồn Dầu Tiếng đàn áp, làm 3 công nhân bị chết, 7 người bị thương. Cuộc thảm sát này đã gây sự phẫn nộ trong nước và bên chính quốc.
       

       
Năm 1933

        2 tháng 5

        120 chiến sĩ cách mạng bị thực dân Pháp bắt và xét xử ở toà án đại hình Sài Gòn đã biến tòa án của chúng thành diễn đàn đấu tranh kiên quyết tiêu diệt đế quốc Pháp. Bọn quan toà ra lệnh cho binh lính dùng dùi cui, xông vào đánh đập vẫn không ngăn được tinh thần đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản. Sau hơn một tuần xét xử, chúng tuyên án tử hình 8 người, 19 án chung thân và những người còn lại với tổng số là 970 năm tù. Vụ án này gây nên sự phẫn nộ cho đồng bào trong nước và làm xôn xao dư luận ở nước Pháp.

       
Năm 1934

        6-12 tháng 4

        Hạm đội Mỹ gồm 8 chiến hạm, trong đó có 6 tàu ngầm với gần 800 sĩ quan và thuỷ thủ, từ căn cứ của hải quân Mỹ ở Ma-ni-la (Philippin) cập bến cảng Sài Gòn, thăm Việt Nam.

        14-26 tháng 6

        Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài và đại biểu các Đảng bộ trong nước họp ra nghị quyết: Các đảng bộ phải chú ý đến công tác trong quân đội, vận động binh lính và chống chiến tranh để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân tộc phát triển, thoát khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến tay sai.

        Cuối nãm 1934

        Đồng bào dân tộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn đấu tranh chống ách thống trì hà khắc của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Thực dân Pháp lo sợ, ra lệnh giới nghiêm và huy động binh lính đàn áp những người đấu tranh, bắt giam khoảng 200 người. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng kêu gọi nhân dân cả nước đấu tranh đòi Pháp phải thả 200 người bị bắt.

       
Năm 1935

        27-31 tháng 3

        Đại hội đại biểu lân thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội thông qua các nghị quyết về đường lối cách mạng, các mặt công tác chuẩn bị bước sang thời kỳ đấu tranh mới, trong đó có nghị quyết về Đội tự vệ.

        Nghị quyết về việc tổ chức Đội tự vệ nêu rõ mục đích: "a- Ủng hộ quần chúng hàng ngày; b- Ủng hộ quần chúng trong các cuộc tranh đấu; c- Ủng hộ các cơ quan cách mạng và chiến sĩ cách mạng của công nông; d- Quân sự huấn luyện cho lao động cách mạng. Chống quân thù giai cấp tấn công và làm cho vận động cách mạng phát triển thắng lợi"... Công nông tự vệ đội phân biệt với Du kích đội, nó củng không phải là Hồng quân; Hồng quấn. Du kích đội không phải bao giờ muốn tổ chức thì tổ chức được ngay, còn Đội Tự vệ hễ có cách mạng vận động dù yếu mấy cũng có thể và cần phải tổ chức ngay; Tự vệ đội càng mạnh, thì tức là có điều kiện thuận tiện để sau này tổ chức du kích chiến tranh, võ trang bạo động...’’.

        Nghị quyết còn xác định bản chất chính trị của Đội tự vệ, nguyên tắc xây dựng, tổ chức biên chế trang bị, cách huấn luyện... Đây là những quan điểm đầu tiên, nhưng rất cơ bản của Đảng ta về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành tư tưởng quân sự của Đảng, tạo điều kiện để hoàn chỉnh và phát triển tiếp những năm sau này.

        23 tháng 5

        Nơ Trang Lơng - thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp của đồng bào Tây Nguyên hy sinh. Nơ Trang Lơng (có tài liệu ghi là M’Trang Lơng, Ama Trang Lơng hoặc Pu Trang Lơng) sinh năm 1870, dân tộc Mơ Nông, gốc bộ lạc Biệt, quê buôn Pu Pan (bắc cao nguyên Mơ Nông, Đẩc Lác). Năm 1909 Nơ Trang Lơng cùng các tù trưởng và già làng các dân tộc quyết định xây dựng căn cứ chống Pháp tại thung lũng Bu Siết. Năm 1912, ông kêu gọi đồng bào thuộc bộ lạc Mơ Nông ở ngã ba biên giới đứng lên khởi nghĩa. Sau đó, phong trào lan ra vùng tây nam Đắc Lắc, bắc Biên Hoà, Thù Dầu Một, thượng du tỉnh Karachiê (Campuchia), thu hút khoảng 5.000 người tham gia. Nghĩa quân đã đánh các trận nổi tiếng: Bru No (2-8-1914), Bu Mê Ra (4-8-1914)... gây cho Pháp nhiều khó khăn tổn thất, buộc chúng phải rút khỏi cao nguyên Mơ Nông. Trong những năm 1930 - 1935, toàn quyền Đông Dương Pát-xkiê và Bi-lốt tổng chi huy quân Pháp ờ Đông Dương phải trực tiếp chi đạo binh linh với lực lượng lớn, có pháo binh và máy bay yểm trợ mở cuộc càn quét đàn áp nghĩa quân. Dựa vào vùng rừng núi, nghĩa quân chiến đấu anh dũng, bẻ gãy nhiều cuộc càn quét của địch. Trong trận chiến đấu ác liệt ngày 23 tháng 5 năm 1935, Nơ Trang Lơng bị thương, bị địch bắt và hy sinh. Cuộc khởi nghĩa của đồng bào Tây Nguyên chống lại ách thống trị của Pháp đã chấm dứt sau 13 năm (1912 - 1935) đấu tranh cực kỳ anh dũng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2016, 05:44:06 AM
        
Năm 1936

        27 tháng 5

        Đảng bộ nhà tù Côn Đảo phát động đợt đấu tranh quy mô trên toàn đảo và thành lập các đội tự vệ. Cuộc đấu tranh tập hợp được hơn một nghìn tù nhân, có đội tự vệ tham gia hỗ trợ. Sau ba ngày đấu tranh, bọn thực dân phải thả 200 chiến sĩ cách mạng trở về đất liền.

        12 tháng 11

        Thực hiện chương trình của Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp, Bộ trưởng thuộc địa Mau-tê ra lệnh chuyển một đơn vị lê dương gồm 290 lính, 15 sĩ quan và 13 viên đội rời Bắc Kỳ vào Sài Gòn bằng tàu Sơn Tây và ngày 15 tháng 11 trở về Pháp. Đây là chuyến tàu đầu tiên rút lực lượng quân viễn chinh mang tính chất tượng trưng từ Việt Nam về Pháp.

        13 tháng 11

        Hơn một vạn công nhân mỏ Cẩm Phả (Quảng Ninh), có đội tự vệ hỗ trợ bãi công lớn. Thực dân Pháp phải điều 40 xe vận tải chờ lính lê dương, lính khố xanh đến đàn áp. Trước cuộc đấu tranh kiên quyết, mạnh mẽ của công nhân, bọn cầm quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách không đàn áp công nhân.

        Cùng thời gian này, hơn hai vạn công nhân mỏ Hòn Gai được đội tự vệ hỗ trợ tổng bãi công. Bọn chủ mỏ phải đưa binh lính đến đàn áp vẫn không ngăn nổi cuộc đấu tranh của công nhân. Thực dân Pháp tiếp tục đưa quân đến đàn áp, đánh bị thương 7 người, bắt đi 11 người. Ngày 27 tháng 11, Pháp tập trung một lực lượng lớn binh lính tập trận hòng uy hiếp tinh thần công nhân; đồng thời chủ mỏ cũng huy động 2 tàu thuỷ sẵn sàng chở công nhân và gia đình họ ra khỏi vùng mỏ nếu tiếp tục đấu tranh. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của công nhân, bọn câm quyền thực dân phải thả những người bị bắt và cứu chữa những người bị thương.

        
Năm 1937


        13-14 tháng 3

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ mới. Đối với binh lính địch. Trung ương Đảng chủ trương: "Từ Trung ương cho tới các tỉnh và các cấp bộ ở những địa phương có lính đóng, cần lập ra ủy ban đặc biệt vận động binh lính... Chúng ta cần tổ chức ra những hội ái hữu của binh lính hậu bị" cho phù hợp với cuộc đấu tranh mới và tổ chức những chi bộ Đảng trong quân đội.

        Tháng 9

        Ban Thường vụ Trung ương Đảng soạn thảo tài liệu tuyên truyền để nhân dân và binh 1ính Việt Nam trong quân đội Pháp hiểu nạn phát xít và chiến tranh, từ đó phát động cuộc đấu tranh phản đối chiến tranh do đế quốc và phát xít gây ra.

        
Năm 1938


        29-30 tháng 3

        Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Tân Thới Nhất (Hóc Môn, Gia Định). Hội nghị ra nghị quyết về phòng thủ Đông Dương và chống bắt lính, nêu rõ: Phải phát động quần chúng nâng cao cảnh giác với âm mưu xâm lược của phát xít Nhật, chống bọn thực dân thoả hiệp với Nhật đàn áp cách mạng; đòi bọn cầm quyền Pháp phải vũ trang cho nhân dân, phải giác ngộ, giáo dục binh lính và những thanh niên sắp bị Pháp bắt đi lính hiểu rõ nhiệm vụ của họ đối với dân, với nước.

        Tháng 3

        Thực hiện chủ trương của Đảng về giúp nhân dân Trung Quốc kháng chiến chống phát xít Nhật xâm lược, nhân dân ta ở nhiều nơi đã sôi nổi ủng hộ dưới hình thức. Một bộ phận hoạt động công khai của Đảng vận động chi nhánh Đảng xã hội Pháp ở Bắc Kỳ cùng với các đoàn thể quần chúng tổ chức chợ phiên ở Hà Nội và một số nơi khác để lấy tiền mua thuốc men gửi sang giúp nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật (từ tháng 3-1938 đến tháng 2-1939 quyên góp được 579 đồng). Ở Nam Bộ, các đồng chí ở toà báo Dân chúng đặt ở chợ Bến Thành (Sài Gòn) một tủ sất với dòng chữ: "Ủng hộ du kích và cuộc kháng chiến Trung Hoa". Nhân dân Thanh Hoá quyên góp được 100 đồng gửi các chiến sĩ du kích Trung Quốc kèm theo một số bức thư có 2.330 chữ ký thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc.

        13 tháng 12

        Thực dân Pháp mở phiên toà xét xử 14 người, trong đó có hai thủ lĩnh Kơ Voai và Kơ Nhoi của phong trào "Mộ cộ" ở Di Linh (Đồng Nai Thượng). Đây là một phong trào chống Pháp của đồng bào Kơ Ho bát đầu từ làng Doay Đor (Di Linh), sau đó lan rộng ra 3 huyện, thu hút hơn 1.000 người tham gia, kéo dài 10 tháng. Phong trào hình thành một hệ thống các tổ chức bí mật xuống tận làng xã. Các thành viên đóng tiền, sắm sửa vũ khí, gây cho chúng một số thiệt hại. Đến tháng 5 năm 1938 các lãnh tụ bị bắt, phong trào "Mộ cộ" tan rã.

        Cuối năm 1938

        Toàn bộ quân đội Pháp ở Đông Dương được biên chế thành từng trung đoàn lẻ (chưa biên chế cấp sư đoàn), gồm 11 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh, trong đó có 2 trung đoàn lính lê dương, 3 trung đoàn lính Pháp, còn lại là lính bản xứ. Về không quân, Pháp có gần 30 máy bay các loại, trong đó có 7 máy bay ném bom và 15 máy bay khu trục (nay là máy bay tiêm kích), hầu hết đả cũ, tốc độ chậm.

        Lực lượng hải quân viễn Đông của Pháp có 2 tàu tuần dương loại nhẹ, trong đó có 1 tàu chuyển thành hạm chỉ huy sáu pháo hạm, 4 thông báo hạm và 2 tàu ngầm kiểm soát vùng biển từ Vũng Tàu, Cam Ranh, Đồ Sơn (Việt Nam) đến Thượng Hải và Hán Khẩu (Trung Quốc).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2016, 06:53:21 PM

       
Năm 1939

        Tháng 2

        Thành lập "Việt Nam phục quốc Đồng Minh hội" do Cường Đế làm hội trưởng. Mục đích của tổ chức này dưới danh nghĩa chống Pháp "khôi phục độc lập", nhưng phục vụ cho âm mưu của phát xít Nhật chuẩn bị mở chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đấy thực chất là một tổ chức tay sai thân Nhật, gồm 162 binh sĩ người Việt Nam do Nhật Bản nuôi dưỡng, trang bị vũ khí và huấn luyện quân sự tại Quảng Châu (Trung Quốc).

        Tháng 3

        Phát xít Nhật tiến hành xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa (Thừa Thiên). Đây là phần lãnh thổ đầu tiên của Việt Nam bị phát xít Nhật chiếm đóng.

        Tháng 6

        Thành ủy Hải Phòng tổ chức cuộc mít tinh lớn, thu hút đông đảo các tầng lớp công nhân và nhân dân tham dự. Cuộc mít tinh chuyển thành cuộc tuần hành biểu dương lực lượng. Thực dân Pháp huy động binh lính và cảnh sát đến đàn áp. Các chiến sĩ xích vệ xung kích đi đầu bảo vệ cuộc tuần hành của quần chúng. Địch bắt gần 100 người, trong đó có đồng chí Tô Hiệu. Lợi dụng lúc địch sơ hở, các chiến sĩ Xích vệ tổ chức giải thoát cho đồng chí Tô Hiệu và một sô đồng chí khác. Được các đội xích vệ bảo vệ tích cực, Thành ủy lãnh đạo quần chúng tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, buộc địch phải thả hết những người bị bắt.

        15 tháng 6

        Trung tướng Mác-tanh, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương tổ chức một cuộc tập trận hải quân lớn ở vùng biển Việt Nam nhằm biểu dương sức mạnh quân sự để ngăn cản phát xít Nhật âm mưu xâm chiếm Đông Dương.

        27 tháng 6

        Toàn quyền Đông Dương Brê-vi-ê ra nghị định thành lập Trường Thiếu sinh quân Đà Lạt, thu nhận học sinh từ 12 - 13 tuổi. Tháng 8, Trường khai giảng khoá đầu tiên gồm 49 học sinh, tiếp đó là khoá 2: 85 học sinh (năm 1940), khoá 3: 190 học sinh (năm 1941)...

        Tháng 7

        Nhiều làng xã ở tỉnh Hưng Yên tổ chức đội tự vệ luyện tập quân sự để làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh với địch. Tại thôn Ngải Dương, tổ chức hội nông dân, tổ chức "tự vệ đội" có 30 hội viên làm nhiệm vụ canh gác thôn xóm, bảo vệ các cuộc hội họp đấu tranh, bảo vệ cán bộ cấp trên về công tác tại địa phương.

        20 tháng 8

        Chính phủ Pháp cử tướng Gioóc-giơ Ca-tơ-ru làm toàn quyền Đông Dương thay Brê-vi-ê. Đây là lần đầu tiên, kể từ năm 1880, chức toàn quyền lại được trao cho một võ quan nhằm đối phó với nguy cơ của chiến tranh đang lan rộng ở châu Á và Thái Bình Dương, chủ yếu là đối phó với sự bành trướng của phát xít Nhật vào Đông Dương.

        26 tháng 8

        Một tốp máy bay của Nhật bay dọc biên giới Việt - Trung, đã bất ngờ ném 2 quả bom xuống khu vực Thất Khê Lạng Sơn), làm 65 người chết, 57 người bị thương. Đây là bước mở đầu cho những hoạt động quân sự trên đất liền, nhằm dọn đường cho việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự dể xâm chiếm Việt Nam sắp tới của phát xít Nhật.

        Đầu tháng 9

        Toàn quyền Đông Dương, Ca-tơ-ru ra lệnh tổng động viên "lấy thanh niên Việt Nam vào lính đưa sang Pháp" nhằm "cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa về quân đội". Đến cuối năm 1939 có 80.000 lính Việt Nam bị đưa sang Pháp tham gia chiến tranh thế giới lần thứ hai.

        6 - 8 tháng 11

        Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng: "Không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả các ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng đế tranh lấy giải phóng dân tộc" quyết định chuyển sang hình thức đấu tranh mới cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ hiện tại. Hội nghị chủ trương phát triển đội tự vệ làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh cách mạng.

        Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu bước chuyển hướng đúng đán về chi đạo chiến lược và sách lược của Đảng, kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, mở đầu thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam.

        Tháng 11

        Liên tỉnh ủy Tân An - Mỹ Tho quyết định thành lập xưởng chế tạo súng và mìn ở Mớp Xanh (xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa), do đảng viên Huỳnh Văn Xá phụ trách. Sau một thời gian, xưởng đă chế tạo được 8 khẩu súng "Vòi Siêu" và 300 quả mìn. Súng "Vòi Siêu" - là loại súng không có kim hoả, khi bán phải châm lửa. Súng có bộ phận giữ dây cháy chậm giống như cái vòi của siêu đun nước.

        Mìn (còn gọi là bom), mỗi quả nặng 3kg, vỏ ngoài bâng xi măng chống ẩm, vỏ trong bằng sắt tây, lớp giữa là thuốc nổ, bên trong là những mảnh thuỷ tinh, mảnh sành. Do kỹ thuật chế tạo thô sơ, khi ném phải có thời gian đốt dây cháy chậm, nên hiệu quả trong chiến đấu còn hạn chế. Tuy vậy, súng "Vòi Siêu" và mìn do xưởng Mớp Xanh chế tạo cũng có sức uy hiếp địch vì tiếng nổ khá to và gây cho chúng một số thiệt hại.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2016, 08:39:39 PM
        
Năm 1940

        Đầu nãm 1940

        * Tỉnh ủy Cao Bằng chỉ đạo xây dựng căn cứ cách mạng ở vùng Lục Khu - Pắc Bó (châu Hà Quảng) gồm 6 xả sát vùng biên giới Việt - Trung. Đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của châu Hà Quảng gồm 3 đồng chí (sau bổ sung thêm một số cán bộ) được thành lập là lực lượng nòng cốt xây dưng cơ sở cách mạng ở khu căn cứ. Bằng hình thức tuyên truyền vận động đồng bào tham gia "Hội phòng phỉ", "Hội đánh tây", bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, đội vũ trang tuyên truyền châu Hà Quảng được nhân dân ủng hộ đã đánh đuổi bọn phỉ sang bên kia biên giới, xây dựng được cơ sở vững chắc ở Lục Khu. Đây là đất đứng chân của châu ủy Hà Quảng và Tỉnh ủy Cao Bằng, là địa bàn thuận lợi và an toàn sau này để lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc trở về nước đóng cơ quan chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước.

        * Đảng bộ Hà Đông chú trọng xây dựng lực lượng chính trị và từng bước xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Một số đội tự vệ được tổ chức làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, cán bộ của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ. Đội viên của các dội tự vệ được tuyển chọn trong các đoàn thể phản đế bao gồm những thanh niên khoẻ mạnh, nhanh nhẹn và đã được rèn luyện, thử thách trong đấu tranh cách mạng.

        1 tháng 2

        Một tốp máy bay Nhật Bản bất ngờ ném bom vào đoàn xe lửa chạy tuyến Hải Phòng - Côn Minh (đoạn gần ga Lào Cai), làm chết và bị thương gần 100 hành khách, trong đó có 5 người Pháp.

        Tháng 3

         Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, do đồng chí Võ Văn Tần - Ủy viên Trung ương Đảng làm Bí thư đã soạn thảo "Đề cương chuẩn bị bạo động". Bản đề cương vạch rõ: Cần phải hướng tất cả các cuộc đấu tranh lẻ tẻ vào phong trào đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, chống đế quốc Pháp và tay sai; đồng thời chuẩn bị những điều kiện để khởi nghĩa vũ trang làm cách mạng giải phóng dân tộc khi có thời cơ.

        19 tháng 6

        * Phát xít Nhật gây sức ép, buộc chính quyền thực dân Pháp phải chấp nhận: Đóng cửa biên giới Việt - Trung, chấm dứt mọi sự vận chuyển xăng dầu, quân trang, quân dụng và xe vận tải cho Trung Quốc bằng đường bộ củng như đường sắt qua biên giới; đồng thời chấp nhận cho Nhật cử một phái đoàn quân sự tới Bắc Kỳ kiểm soát việc thực hiện thoả hiệp này. Sự nhượng bộ hèn nhát của Pháp đã tạo điều kiện cho Nhật tiếp tục gây sức ép, đẩy mạnh can thiệp vào Đông Dương.

        * Một máy bay của Nhật chở phái đoàn quân sự gồm 7 sĩ quan, do tướng Chư-si-ha-si, Cục trưởng cục quân báo quân đội Nhật dẫn đầu hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm.

        25 tháng 6

        Chính phủ Pháp cử đô đốc Đờ-cu, nguyên Tư lệnh lực lượng hải quân Pháp ở Viễn Đông sang làm toàn quyền Đông Dương thay Ca-tơ-ru và cử chuẩn đô đốc Tê-rô làm tư lệnh lực lượng hải quân Pháp ở Viễn Đông.

        1 tháng 7

        Phát xít Nhật ngang nhiên cho 2 chiếc tàu vào thả neo tại cảng Hải Phòng và đổ bộ quân lính lên đất liền, chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự mới.

        2 tháng 7

        Các lực lượng kiểm soát củá quân đội Nhật, do tướng Chư-si-ha-si chỉ huy, bât đầu triền khai giám sát việc đình chỉ vận chuyển của Pháp từ Việt Nam qua biên giới Việt - Trung tại các cửa khẩu thuộc Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng. Hà Giang và Hải Phòng sang Trung Quốc. Đây là lực lương quân sự đầu tiên của Nhật đặt chân tới vùng biên giới Việt - Trung, tạo tiền đề cho sự can thiệp quân sự và chiếm đóng Việt Nam của quân đội Nhật sau này.

        5 tháng 7

        Thực dân Pháp chuyển tỉnh Lạng Sơn thành một đạo quan binh. Trước đó, Lạng Sơn thuộc đạo quan binh thứ hai (20-8-1891), gồm cả Cao Bằng, một phần Thái Nguyên và Tuyên Quang. Sau đó, lại trở thành đạo lỵ của đạo quan binh thứ nhất (5-8-1896), gồm Lạng Sơn, Móng Cái và Yên Thế. Đến năm 1905, Lạng Sơn trở lại chế độ dân sự và ngày 5 tháng 7 năm 1940 trở thành đạo quan binh.

        18 tháng 7

        Thực dân Pháp chuyển tỉnh Lào Cai thành một đạo quan binh. Tỉnh Lào Cai thành lập ngày 24 tháng 5 năm 1886 trên cơ sở tách tỉnh Hưng Hoá củ thành hai tỉnh Lào Cai và Sơn La, do một phó công sứ quân sự cai quản. Từ năm 1890, Lào Cai chuyển sang chế độ dân sự. Năm 1891 Lào Cai thuộc địa bàn đạo quan binh thứ ba, năm 1896 thành đạo ly đạo quan binh thứ tư và năm 1940 thành một đạo quan binh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Ba, 2016, 12:09:15 PM
 
        Giữa năm 1940


        Trung ương Đảng chọn các huyện Từ Sơn, Thuận Thành (Bắc Ninh), Gia Lâm (ngoại thành Hà Nội) và một số vùng thuộc Hà Đông, Bắc Giang xâv dựng thành an toàn khu (ATK). Trong các vùng đó, có cơ sở cách mạng, có tổ chức vũ trang tự vệ và những điều kiện thuận lợi để bảo vệ các đồng chí Trung ương hoạt động. Các đồng chí lãnh đạo của Đảng, các cơ quan của Trung ương Xứ ủy Bắc Kỳ, các lớp huấn luyện quân sự, chính trị đều chuyển về an toàn khu. Cùng với việc xây dựng cơ sở cách mạng, các đồng chí lãnh đạo an toàn khu rất chú ý xây dựng các đội tự vệ như tự vệ Liễu Ngạn, Liễu Khê (Thuận Thành - Bắc Ninh), tự vệ Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh)... làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương.

        Đầu năm 1944, Trung ương Đảng quyết định chọn các huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang), Phú Bình, Phổ Yên (Thái Nguyên) xây dựng làm khu an toàn dự bị (gọi là khu an toàn II). Để bảo vệ an toàn, Trung ương Đảng thành lập Ban công tác đội, do đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh kiêm Trưởng ban công tác đội. Ngoài ra, ở các làng xã trong an toàn khu đều xây dựng các đội tự vệ làm nhiệm vụ canh gác các cuộc hội nghị, các lớp huấn luyện quân sự và chính trị, bảo vệ cán bộ, trừng trị bọn tay sai phản động, giữ vững an toàn khu.

        2 tháng 8

        Đại tá Xa-tô, Tham mứu trưởng quân đội Nhật ở Quảng Châu (Trung Quốc) tới Hà Nội, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương phải bảo đảm an ninh, tạo điều kiện cho các đơn vị quân Nhật được phép chở quân trang, quân dụng qua lãnh thổ Bắc Kỳ lên nam Trung Quốc, đồng thời đề nghị cho Nhật được quyền sử dụng một số sân bay ở Bắc Kỳ vào mục đích quân sự.

        Tháng 8

        Thành ủy Hải Phòng họp bàn quán triệt nghị quyết của Trung ương Đảng và chỉ đạo thực hiện nghị quyết trong phạm vi thành phố. Hội nghị chủ trương: "Tích cực cùng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Nhật - Pháp", về xây dựng lực lượng Thành ủy phân công đồng chí Đặng Văn Minh (tức Trần Kiên) - Phó bí thư thành ủy trực tiếp tổ chức đội tự vệ làm nhiệm vụ xung kích trong các cuộc đấu tranh, tạo điều kiện để tổ chức lực lượng vũ trang sau này.

        10 tháng 8

        Quân đội Trung Hoa phá cầu Hà Khẩu, nối liền Lào Cai - Vân Nam, trên tuyến biên giới Việt - Trung, cắt đứt tuyến đường sắt huyết mạch Việt Nam - Vân Nam (Trung Quốc); đồng thời biểu thị sự đóng cửa biên giới của phía Trung Quốc với Việt Nam.

        22 tháng 9
   
        Thực dân Pháp ký hiệp ước thoả thuận với Nhật:

        1- Quân đội Nhật Bản được quyền sử dụng ba sân bay lớn ở Bắc Kỳ (Gia Lâm, Cát Bi, Kép). Còn Pháp sử dụng các sân bay Bạch Mai, Kiến An và Tông.

        2- Bộ Tư lệnh quân đội Nhật được quyền đóng 6.000 quân ở khu vực bắc sông Hồng.

        3- Quân đội Nhật được quyền hành quân qua Bắc Kỳ để đánh quân Trung Quốc ở Vân Nam, nhưng số quân Nhật có mặt ở Đông Dương không được quá 25.000 người.

        4- Sư đoàn quân Nhật đóng ở Quảng Tây (Trung Quốc) có quyền mượn đường qua Bắc Kỳ để ra biển.

        Đêm 22 rạng 23 tháng 9

        Một sư đoàn quân Nhật thuộc đạo quân Quảng Châu, do đại tá Xa-tô chỉ huy vượt biên giới Trung - Việt, bằng nhiều mũi bao vây, tiến công quân Pháp ở Lạng Sơn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy quân Pháp đã bố trí 5 tiểu đoàn bộ binh, trong đó có 1 tiểu đoàn và 1 đại đội xe tăng giữ thành Lạng Sơn, 4 tiểu đoàn trấn giữ Lộc Bình, Na Sầm, Điềm He, Thất Khê và tướng Mác-tanh tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương tuyên bố lực lượng phòng thủ đó đủ sức chế ngự 3 sư đoàn quân Nhật, nhưng chỉ trong 3 ngàv (22 đến 25-9-1940), quân Pháp đã thua nặng và tan rã nhanh chóng. Số lớn đầu hàng, số còn lại hốt hoảng tháo chạy qua Bắc Sơn về Thái Nguyên. Quân Nhật chiêm đóng thị xã và vùng lân cận.

        26 tháng 9

        Nhật Bản dùng máy bay bắn phá Hải Phòng. Quân Pháp trấn giữ ở đây không kháng cự, bỏ ngỏ cho quân Nhật kéo vào. Từ các chiến hạm, quân Nhật đổ bộ vào Hải Phòng bằng hai mũi: Từ hướng đông thành phố lên bến Đáy (Phú Xá), bến đò Sáu (Kiến Thụy) qua đường 14 tiến vào Hải Phòng; từ hướng nam lên bến Khuể (phía An Lão) qua thị xã Kiến An tiến sang Hải Phòng. Đại diện quân Pháp ra tận cầu Niệm ký văn bản đầu hàng quân Nhật. Lợi dụng quân Pháp không chống đỡ, những ngày cuối tháng 9, Nhật cho 6.000 quân lần lượt chiếm Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ và một số nơi trọng yếu ở Bác Kỳ.

        27 tháng 9

        Khởi nghĩa Bắc Sơn. Bắc Sơn là huyện miền núi cách thị xã Lạng Sơn hơn 80km về phía tây. Nhân thời cơ Nhật đánh chiếm Lạng Sơn, lực lượng Pháp ở đây tan rã, quần chúng một số nơi tự nổi dậy, cướp vũ khí, chống lại tàn binh Pháp,

        Đảng bộ Bắc Sơn quyết định phát động khởi nghĩa vũ trang và thành lập Ủy ban Khởi nghĩa, do đồng chí Hoàng Văn Hán làm chi huy trưởng. Đúng 20 giờ ngày 27 tháng 9, khoảng 600 quần chúng vũ trang (có một số lính dõng) và tư vệ chia làm 3 mũi tiến công đồn Mỏ Nhài (châu lỵ Bắc Sơn) Trước khí thế của quân khởi nghĩa, tri huyện cùng binh lính hoảng sự bắn vài phát súng chống cự rồi lén lút chạy trốn. Quân khởi nghĩa làm chủ đồn, chiếm châu lỵ, tuyên bố xoá bỏ chính quyền thực dân, hạ lệnh đốt sổ sách giấy tờ của tri châu, thu toàn bộ vũ khí của chúng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2016, 06:28:28 PM
        Trước thanh thế cuộc khởi nghĩa, Nhật thoả hiệp với Pháp, tạo điều kiện cho Pháp chiếm lại đồn Mỏ Nhài và đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đế bảo vệ lực lượng, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Trần Đăng Ninh lên trực tiếp chỉ đạo phong trào, tập trung xây dựng lực lượng chiến đấu lâu dài. Giữa tháng 10, ban chỉ huy khu căn cứ được thành lập và quân du kích Bắc Sơn được tổ chức từ vài chục người đã phát triển tới 200 người vào cuối tháng 10 năm 1940. Ngày 28 tháng 10, quần chúng cách mạng tổ chức mít tinh ở Vũ Lăng và quân du kích chuẩn bị đánh chiếm lại đồn Mỏ Nhài, thì quân Pháp bất ngờ tiến công. Quân du kích nhanh chóng nổ súng đánh động, để nhân dân chạy thoát, rồi rút đi các ngả, phân tán vào rừng, duy trì lực lượng tiếp tục hoạt động đến tháng 7 năm 1941.

        Mặc dù bị thất bại do thời cơ cách mạng cả nước chưa chín muồi, nhưng khởi nghĩa Bắc Sơn đã để lại nhiều bài học về khởi nghĩa vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

        3 tháng 10

        Trung tướng Xu-mi-ta đại diện quân Nhật đàm phán với trung tướng Mác-tanh tại Hà Nội, bàn việc thu xếp các vị trí đóng quân khi quân đội Nhật kéo vào Bắc Kỳ. Tướng Xu-mi-ta cam kết: "Nhật Bản tôn trọng chủ quyền của Pháp ở xứ Đông Dương thuộc Pháp, chỉ làm nhiệm vụ đóng quân tạm thời ở Bắc Kỳ nhằm tiếp tục chiến tranh chống Trung Quốc cho tới khi toàn thắng sẽ rút hết về nước". Pháp đã phải chấp nhận cho quân Nhật đóng ở một số nơi thuộc Bắc Kỳ.

        25 tháng 10

        Quân du kích Bắc Sơn tiến công địch ở trường Vủ Lăng. Tên châu úy Bắc Sơn tập trung hơn 100 lính dõng chuẩn bị hỗ trợ cho quân Pháp mở cuộc càn quét vào khu căn cứ. Lập tức, du kích bao vây trường Vũ Lăng, kêu gọi lính dõng theo cách mạng. Trước khí thê của quân du kích, địch hoảng sợ bỏ chạy. Tuy không tiêu diệt được địch, nhưng chiến thắng Vũ Lăng đã có ảnh hưởng rộng lớn. Chính quyền địch ở các làng bàn lân cận tan rã. Quần chúng nhân dân phấn khởi thành lập chinh quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang. Lá cờ cách mạng nền đỏ sao vàng năm cảnh được kéo lên ở trường Vũ Lăng.

        6 - 9 tháng 11

        Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Hội nghị nhận định: "Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập". Hội nghị chủ trương mờ rộng các đội tự vệ, thực hiện "võ trang cho dân chúng", tiến tới tổ chức "nhân dân cách mạng quân".

        Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, tiến tới thành lập đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác khi cần chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ nhân dân, phát triển cơ sở cách mạng tiến tới hình thành căn cứ địa cách mạng, lấy Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm, do đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Đồng thời quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vì ở Nam Kỳ chưa có đủ điều kiện chủ quan và khách quan để bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi. Đảng bộ Nam Kỳ cần chờ Bắc Kỳ, Trung Kỳ theo kế hoạch chung cùa Trung ương mới được phát động khởi nghĩa. Đồng chí Phan Đăng Lưu được giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này cho Đảng bộ Nam Kỳ.

        Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng đã chuyển hướng hình thức đấu tranh đúng đắn, giữ gìn và nuôi dưỡng lực lượng cách mạng, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang sau này khi thời cơ đến.

        Đêm 22 rạng 23 tháng 11

        Quân du kích cùng hàng nghìn đồng bào, dưới sự chí huy của đồng chí Mười Đen - Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ kéo đến vây đánh quận lỵ Hóc Môn (Gia Định). Theo kế hoạch, một nữ du kích ở xã Tân Phú vờ chạy vào đồn Hóc Môn kêu là bị kẻ cướp đánh, xin lính đồn đi tiếp ứng. Một số binh lính ra khói đồn bị du kích tước súng, rồi xông vào đồn. Tên chu quận và binh lính còn lại rút vào trong đồn cố thủ. Quần chúng vây đồn, kêu gọi bọn địch đầu hàng. Được tin quận

        Hóc Môn bị ta đánh, thực dân Pháp huy động quân ở Sài Gòn và Tây Ninh đến ứng cứu. Rạng sáng ngày 23 tháng 11, quân địch từ Tây Ninh tiến đến cầu Bông bị du kích chặn đánh, diệt tên Ác-môn, chủ tỉnh Tây Ninh và một số lĩnh. Ta thu 15 súng trường. Quân địch ở Sài Gòn kéo đến ứng cứu mỗi lúc một đông. Để bảo toàn lực lượng, nhân dân được lệnh trở về làng, còn quân du kích rút lên Truông Mít (Tây Ninh). Trận đánh quận Hóc Môn và cầu Bông là một trong những trận mở đầu của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2016, 12:19:16 PM

        22 tháng 11

        Khởi nghĩa Nam Kỳ. Trước khí thế cách mạng của quần chúng, nhất là phong trào phản chiến của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Nam Kỳ, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương phát động khởi nghĩa. Đánh giá đúng đắn tình hình, Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng đã quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ngày 22 tháng 11, đồng chí Phan Đăng Lưu được Trung ương cử mang lệnh hoãn khởi nghĩa đến Sài Gòn, nhưng lệnh phát động nổi dậy đã được ban bố không thể hoãn lại. Ngày 23 tháng 11, quần chúng nổi dậy ở hầu khắp vùng nông thôn 18 tỉnh thuộc Nam Kỳ từ Biên Hoà đến Cà Mau.

        Cùng với quần chúng khởi nghĩa, quân du kích gồm: Đội du kích Hóc Môn (Gia Định) do đồng chí Ba Đen - Xứ ủy viên chỉ huy; đội du kích Cần Giuộc (Chợ Lớn) do đồng chi Nguyễn Thị Bảng - tinh ủy viên lãnh đạo; đội du kích Vĩnh Liêm (Vĩnh Long) do đồng chí Hồng - Bí thư quận ủy phụ trách, đội du kích Mỹ Tho do đồng chí Bí thư tỉnh ủy chi huy... đã phối hợp với nhân dân phá hoại giao thông, chặn đánh tàu địch trên sông, bức rút đồn bốt, xoá bỏ bộ máy cai trị của địch, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi

        Mặc dù quân du kích và quần chúng khởi nghĩa đã chiến đấu dũng cảm, nhưng do thời cơ cách mạng cả nước chưa chín muồi, kế hoạch khới nghĩa bị lộ, nên thực dân pháp đã kịp thời đối phó. Thực dân Pháp điều động lực lương ở nhiều nơi, kể cả lính lê dương ớ Bắc Kỳ vào đàn áp và dùng 20 máy bay ném bom các vùng có quần chúng nổi dậy Riêng các tỉnh Gia Định, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyén đã có gần sáu nghìn người bị bắt và bị giết. Đến tháng 12 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị đàn áp dã man. Nhiều chiến sĩ cộng sản ưu tú, trong đó có cả các đồng chí xứ ủy bị bắt. Quân du kích Nam Kỳ phải phân tán, bí mật rút vào các vùng Đồng Tháp Mười, U Minh, Rừng Sác, duy trì hoạt động để bảo toàn lực lượng cho đến ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, nhưng đã để lại bài học kinh nghiệm quý báu về vấn đề chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang và chuẩn bị cho Đảng ta những kinh nghiệm để lãnh đạo cách mạng trong những năm 1940 - 1945.

        Tháng 11

        * Trung ương Đảng ra lời hiệu triệu các cấp bộ Đảng tổ chức ủy ban bạo động của Đảng ở địa phương mình. Bản hiệu triệu nêu rõ: Để chuẩn bị cho cuộc bạo động, phải "lập một đội quân căn bản bằng những đảng viên và những người hàng hái trong các đội tự vệ đế thi hảnh luật giới nghiêm, thi hành những hiệu lệnh của ủy ban bạo động, tổ chức những đội công nhân tự vệ, nông dân tự vệ...".

        * Trung ương Đảng mở hai lớp huấn luyện quân sự ở làng Thanh Vân và ấp Đồng Hang thuộc tổng Hoàng Vân, huyện Hiệp Hoà (Bác Giang). Kết thúc lớp huấn luyện, đồng chí Hoàng Văn Thái được phân công ở lại Hiệp Hoà cùng các học viên xây dựng lực lượng tự vệ. Sau một thời gian, hầu hết các làng thuộc tổng Hoàng Vân đều tổ chức đội tự vệ, có làng tổ chức trong đội tự vệ.

        Những tháng cuối năm 1940

        Theo thỏa thuận giữa Pháp và Nhật, lử đoàn lính Pháp thuộc sư đoàn Bắc Kỳ đóng trong thành Hà Nội. Bộ tư lệnh quán đội Nhật đặt trụ sở tại Tổng tham mưu cũ của Pháp (nay là nhà số 33, Phạm Ngũ Lảo, Hà Nội). Khu Đấu xào gồm nhiều dãy nhà một tầng, gần ga Hà Nội là nơi quân Nhật đóng. Trường trung học Bảo hộ, thường gọi là Trựờng Bưởi (nay là Trường Chu Văn An) củng là nơi quân Nhật đóng và trại nuôi ngựa chiến. Ngoài ra, binh lính Nhật còn đóng ở một số nơi ngoại thành Hà Nội.

        Tại Bắc Ninh, quân Nhật đóng trong thành, xây dựng theo kiểu vô băng, tường gạch đá ong, đắp đất dày gần hai mét. Xung quanh thành có hào sâu ngập nước. Quân Pháp đóng ở Thị Gầu, xây doanh trại, không có chiến hào, chiến luỹ, công sự rất sơ sài. Tại các nơi khác, Nhật và Pháp đóng quân xen kẽ nhau, nếu Pháp đóng trong thành, thì Nhật đóng trong doanh trại, còn Nhật đóng trong thành thì Pháp đóng trong doanh trại ở ngoài.

        Đầu tháng 12

        Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra "Thông báo khẩn cấp", chỉ thị cho các địa phương nêu rõ: "Đã đến lúc phải dùng khí giới giết quân thù, để tự giải phóng cho mình" và nhấn mạnh giờ đây các đảng viên và chiến sĩ cách mạng phải "tự đặt mình vào thời kỳ tranh đấu vũ trang quyết liệt" và "nơi nào có thể phát động du kích chiến tranh thì biến đội tự vệ thành đội du kích để tùy thời cơ đánh úp các đồn trại cướp khí giới, tiêu diệt bọn phản quốc", giành độc lập dân tộc. Trung ương căn dặn: "Muốn làm những việc khấn cấp trên đây phải tổ chức ủy ban bạo động xứ. Ngoài ủy ban ấy ở Trung Kỳ phải tổ chức ủy ban bạo động liên tỉnh củng như ở Bắc Kỳ, phải tổ chức ủy ban khu và tổ chức ủy ban bạo động thành, tỉnh, phủ, huyện quan trọng để chỉ huy bạo động được thống nhất".

        Cuối tháng 12

        Khu ủy Khu Đ mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ quân sự ở huyện Tam Dương (Vĩnh Yên). Đồng chí Lương Văn Tri - Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ phụ trách công tác quân sự đã trực tiếp huấn luyện. Sau khoá học này, Ban cán sự hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên mở tiếp các lớp huấn luyện quân sự cho đội viên tự vệ các huyện Vĩnh Tường, Tam Dương, Phù Ninh, Cẩm Khê. Riêng Vĩnh Tường đã tổ chức huấn luyện quân sự cho hơn 70 đội viên tự vệ các xã.

        Cuối năm 1940

        Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Bắc Giang tổ chức đánh đồn Hà Vị thuộc thị xã Phủ Lạng Thương. Để chuẩn bị cho trận đánh, một số đơn vị được điều động từ xã Hoàng Vân về phối hợp với tự vệ ấp Tam Dương (Lạng Giang) tổ chức thành một trung đội tự vệ đế huấn luyện về quân sự. Công tác chuân bị của ta quá lộ liễu, kế hoạch đánh đồn bị lộ, đích tập trung lực lượng khủng bố, bắt 30 cán bộ và quần chung ở ấp Tam Dương. Kế hoạch đánh đồn Hà Vị không thực hiện được.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2016, 09:42:41 AM

       
Năm 1941

        Đầu năm 1941

        Trung ương Đảng cử đồng chí Lương Văn Tri - ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, đang phụ trách lớp quân chính đầu tiên của Đảng ở Đức Thẳng (Bác Giang) lên cùng Đảng bộ Bắc Sơn củng cố lực lượng quân du kích và xây dựng khu căn cứ. Trung ương Đảng còn cử các đồng chí Hoàng Văn Thái (An), Bùi Sinh, Bình, Tiến, Bùn, Thống, Ái... lần lượt từ miền xuôi lên giúp ban chi đạo khu căn cứ và bổ sung cho lực lượng quân du kích Bắc Sơn.

        Tháng 1

        Lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc mở lớp huấn luyện cán bộ quân sự, chính trị ở Tĩnh Tây (Trung Quốc). Đây là lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên, gồm 40 học viên người Cao Bằng, chia làm hai tổ do lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc trực tiếp phụ trách. Thời gian học 10 ngày. Mục đích là bồi dưỡng cho cán bộ nắm được tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam, phương pháp xây dựng và lãnh đạo các đoàn thể cứu quốc, phương hướng hoạt động phù hợp với tình hình mới. Lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc vạch chương trình huấn luyện, nêu yêu cầu và phân công, trực tiếp chỉ đạo các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh biên soạn các bài giảng. Những bài giảng này sau được in thành cuốn "Con đường giải phóng" làm tài liệu cho cán bộ các địa phương.

        Về mặt quân sự, tác phẩm nêu rõ phải tổ chức những đội tự vệ để làm quân chủ lực trong khi khởi nghĩa; đồng thời xác định tổ chức du kích và cách đánh du kích... Ngày 26 tháng 1, lớp học kết thúc với kết quả tốt. 40 cán bộ Cao Bằng trở về địa phương xây dựng phong trào cách mạng

        13 tháng 1

        Binh biến của lính khố xanh đồn Chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An). Trước chính sách cai trị hà khắc của bọn đế quốc không những nhân dân ta căm phẫn, mà cả binh lính người Việt trong quân đội Pháp cúng oán ghét. Ngày 13 tháng 1, Đội Cung (tức Nguyễn Văn Cung) chi huy 11 lính khố xanh ở đồn Chợ Rạng nổi dậy chiếm đồn, sau đó cùng viên cai Nguyễn Văn Vy và 9 binh lính (Huỳnh Công Côi, Lê Văn Tương, Nguyễn Bát, Võ Viết Thóc, Bùi Tính, Cao Văn Tuân, Nguyễn Văn Khôi, Nguyên Ba và Nguyễn Văn Kiệt) hành quân đánh đồn Đô Lương (cách đó 20 km). Lực lượng tiến đánh chia làm 2 bộ phận: Bộ phận thứ nhất do Đội Cung chỉ huy bất ngờ đột nhập đồn, giết tên đồn trưởng rồi kêu gọi binh lính trong đồn theo quân khởi nghĩa về Vinh. Bộ phận thứ hai do Cai Vy phụ trách kéo đến nhà Đam và huyện đường, tri huyện hoảng sợ bỏ trốn. Tiếp đó, Đội Cung kéo quân về Vinh bằng xe ô tô thu được của đồn trưởng và xe trưng dụng của tư nhân. Bốn giờ sáng ngày 14 tháng 1, quân khởi nghĩa đến thành Vinh. Đội Cung phân công Cai Vy đóng quân chờ trước cửa Hữu, Thành, còn ông và cai Á ngồi trên xe ô tô tiến vào thành. Đội Cung tự xưng "đồn trưởng Đô Lương" lệnh cho lính gác mở cửa thành. Tên lính gác nghi vấn nổ ba phát súng chỉ thiên; tên giám binh trong thành nhận ra Đội Cung liền hô binh lính đối phó. Thấy tình thế bất lợi. Đội Cung vượt ra ngoài chạy trốn vào chùa Dực. Trận đánh thành Vinh chưa kịp diễn ra đã bị đàn áp. Toàn bộ lực lượng làm binh biến một số bị giết, một số bị bắt. Ngày 22 tháng 2, thực dân Pháp kết án tử hình 11, chung thân 12 người và 12 người bị tù từ 5 - 20 năm. Đội Cung và 10 người tham gia binh biến bị Pháp đưa về hành hình ở Vinh, Chợ Rạng và Đô Lương ngày 25 tháng 4 năm 1941.

        Cuộc binh biến của binh lính ở Đô Lương do không có Đảng lãnh đạo, không có quần chúng tham gia, nên bị thực dân đàn áp nhanh chóng. Mặc dù vậy, khi xảy ra cuộc binh biến, Đảng ta đã kêu gọi nhân dân ủng hộ, phát huy tỉnh thần chống đế quốc, giành độc lập tự do.

        28 tháng 1

        Lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc trở về Tổ quốc và đặt căn cứ ở Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng (Cao Bằng). Tại đây, Người cùng Trung ương Đảng xây dựng thí điểm Việt Minh, trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang ở Cao Bằng và chỉ đạo phong trào cách mạng trên toàn quốc.

        Cuối tháng 1

        Trung ương Đảng quyết định tổ chức cán bộ huấn luyện quân sự, chính trị ngắn ngày ở Bắc Sơn, nhằm nâng cao trình độ quân sự, chính trị và ý thức kỷ luật của quân du kích; đồng thời chuẩn bị lực lượng đưa về hoạt động ở các cơ sở cách mạng của Bắc Kỳ. Xã Vũ Lễ (Bác Sơn, Lạng Sơn) trở thành trung tâm huấn luyện quân sự và chính trị thường xuyên, thu hút các đội viên du kích và cả một số tự vệ ờ Thái Nguyên, Bác Giang tham gia học tập. Học viên các lớp huấn luyện được đưa về xã, bí mật tổ chức luyện tập quân sự cho các đội tự vệ. Chưa có súng, các chiến sĩ du kích tự làm lấy súng gỗ để luyện tập. Ai nấy đều hăng say luyện tập quân sự đế đánh giặc.

        14 tháng 2

        Thảnh lập Đội du kích Bắc Sơn. Thực hiện nghị quyết hội nghi lần thứ 7 của Trung ương Đảng, ngày 14 tháng 2, Đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập tại khu rừng Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn). Đồng chí Hoàng Văn Thụ - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, thay mặt Trung ương công nhận trao nhiệm vụ và lá cờ đỏ sao vàng cho đội. Các đội viên du kích đội ngũ chỉnh tề, tuyên đọc năm lời thề danh dự của đội:

        "1- Không phản Đảng; 2- Tuyệt đối trung thành với Đảng; 3- Kiên quyết phấn đấu và trả thù cho những đồng chí đã hy sinh; 4 - Không hàng giặc; 5 - Không hại dân".

        Toàn đội có 32 đội viên là con em các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh, biên chế thành ba tiểu đội, do đồng chí Lương Văn Tri - Uy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ huy. Ngày 1 tháng 5, nhân ngày Quốc tế lao động, đội du kích làm lễ ra mắt trước nhân dân Khuổi Nọi. "Đội du kích Bắc Sơn đã trở thành một trong những đứa con đầu lòng của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam"1.

-------------
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Những chặng đường chiến đấu, Nxb Quân đội nhân dân, Hả Nội - 1984, tr.10.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2016, 10:54:34 PM

        Tháng 4

        Hội nghị tổng kết công tác thí điểm Việt Minh toàn tinh Cao Bằng tổ chức tại xã Trường Hà, châu Hà Quảng, khẳng định: Chương trình, điều lệ Việt Minh là rõ ràng phù hợp với nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, phương pháp tổ chức, xây dựng lực lượng tự vệ, lực lượng quần chúng trong vùng căn cứ thuộc các xả, tổng, châu hoàn toàn là đúng. Đó là cơ sở để Hội nghị lần thứ 8 Trung ương Đảng quyết định chính thức thành lập căn cứ địa Cao Bằng và thành lập Mặt trận Việt Minh theo đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

        Căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Võ Nhai hình thành, gồm các xã Vũ Lễ, Vũ Lăng, Ngư Viễn, Hữu Vĩnh (Bắc Sơn, Lạng Sơn) và Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá (Võ Nhai, Thái Nguyên). Vùng Khuổi Nọi xã Vũ Lễ được chọn làm nơi đặt cơ quan bí mật của ban lãnh đạo khu căn cứ. Cuối tháng 6 năm 1941, Trung ương Đảng cử đồng chí Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng tới trực tiếp chỉ đạo xây dựng khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Đây là địa bàn ra đời và hoạt động của đội du kích Bắc Sơn, sau đó là Cứu quốc quân 1 và Cứu quốc quân 2. Đến tháng 8 năm 1943, khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai nối liền với khu căn cứ cách mạng Cao Bằng, đã tạo thành thế liên hoàn, mở ra triển vọng hình thành khu giải phóng Việt Bắc sau này.

        10-19 tháng 5

        Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Pac Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Phân tích tình hình quốc tế và Đông Dương, dự đoán sự thất bại của chủ nghĩa phát xít và chiều hướng phát triển của cách mạng thế giới, hội nghị khẳng định nhiệm vụ trung tâm chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh Pháp, đuổi Nhật, giải phóng dân tộc.

        Về phương pháp cách mạng, hội nghị nhận định: "Cuộc cách mạng Đông Dương sẽ kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, củng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn". Đối với vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang, hội nghị ra nghị quyết về "Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc", một tổ chức quân sự rộng rãi của quần chúng có khả năng tiến hành chiến tranh du kích. Nội dung Điều lệ xác định: "Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc là một tổ chức quân sự cao hơn tự vệ đội và thấp hơn du kích chính thức, nhằm mục đích:

        1- Bảo vệ và giải vây cho các chiến sĩ cách mạng và giữ gìn cho các cơ quan cách mạng.

        2- Phụ lực và giúp đỡ cho đội du kích chính thức trong lúc hành quân và giao chiến với quân thù.

        3- Phá phách các cơ quan vận tải và khí giới của quân thù.

        4- Biến chuyển thành đội du kích chính thức để tranh đấu đánh đổ Pháp - Nhật, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập".

        Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đáng đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược cách mạng cua Đảng, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang và cách chuẩn bị lực lượng vũ trang cách mạng cho một cuộc khởi nghĩa, góp phần to lớn đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

        Tháng 6

        Đội du kích Bắc Sơn đổi tên thành Cứu quốc quân. Sau hội nghị lần thứ 8, đồng chí Trường Chinh - Tổng bí thư của Đảng trên đường từ Cao Bằng trở về miền xuôi, đã dừng lại ở khu căn cứ Bắc Sơn (Lạng Sơn) phổ biến nghị quyết Trung ương cho cán bộ, chiến sĩ du kích Bắc Sơn và quyết định đổi tên đội du kích Bắc Sơn thành Cứu quốc quân cho phù hợp với nhiệm vụ cứu nước mới. Đây là trung đội Cứu quốc quân 1, do đồng chí Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri làm chi huy phó. Toàn đội có 37 người, biên chế thành 3 tiểu đội; trang bị 15 súng trường, 10 súng kíp và dao găm, giáo mác.

        Cuối tháng 6 - cuối tháng 7

        Cứu quốc quân chiến đấu quyết liệt với quân thù. Được tin các đồng chí Trung ương ở Bắc Sơn, thực dân Pháp huy động 4.000 quân, gồm cả lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh cùng bọn mật thám cường hào từ ba hướng Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang tiến vào bao vây, hòng chụp bắt các đồng chí lãnh đạo Đảng, tiêu diệt Cứu quốc quân, dập tắt phong trào cách mạng của nhân dân ta. Trước tình hình đó, Cứu quốc quân đã bảo vệ an toàn các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt về xuôi an toàn; còn toàn đội chống địch khủng bố. Do địch bao vây và truy lùng ráo riết, ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định chuyến hai tiếu đội ra khỏi vòng vây của địch. Ngày 21 tháng 7, một tiểu đội do đồng chí Hoàng Văn Thái và đồng chí Đặng Văn Cáp chi huy, rút lên hướng Bình Gia rồi đến biên giới Việt - Trung an toàn. Tiều đội do đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri chi huy rút về phía Ngân Sơn để lên Cao Bằng, bị tổn thất nặng. Ngày 27 tháng 7 khi tiểu đội qua Pò Kép (Na Rì) Bác Cạn bị địch phục kích, cả hai đồng chí chí huy đều bị thương rồi hy sinh. Tiểu đội ở lại Bắc Sơn củng bị tốn thất, còn lại 4 đồng chí rút xuống Võ Nhai và sau đó tham gia trung đội Cứu quốc quân 2. Đây là một tổn thất lớn đối với trung đội Cứu quốc quân 1.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2016, 01:46:52 PM

        29 tháng 7

        Nhật gây sức ép buộc Pháp phải ký hiệp định quân sự mới, nấp sau danh nghĩa "Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương" gồm 3 điều khoản chủ yếu sau đây:

        1- Hai chính phủ Pháp - Nhật cam kết sẽ tương trợ cho nhau trong việc phòng thủ Đông Dương.

        2- Phương pháp phòng thủ sẽ tuỳ thời mà định liệu.

        3- Hiệp ước sẽ thi hành cho tới khi tình thế quốc tế thuận lợi.

        Theo hiệp ước này, quân đội Nhật được quyền sử dụng các sân bay Nha Trang, Đà Nẵng, Biên Hoà, Sài Gòn, Sóc Trăng, Kông Pông Trạch và các hải cảng Đà Nẵng, Cam Ranh, Sài Gòn. Ngay trong ngày 29 tháng 7, một số đơn vị quân Nhật đã kéo vào Sài Gòn, mở đầu cuộc chiếm đóng trên toàn cõi Đông Dương.

        Giữa năm 1941

        Ban cán sự tinh Ninh Bình họp chủ trương "Gia cường tổ chức tự vệ ở khắp nơi và khuyến khích mọi người chăm lo việc luyện tập quân sự, tập võ. Tồ chức canh phòng bí mật ở các nơi, đề phòng địch khủng bố". Trên cơ sở các tổ chức phản đế của quần chúng phát triển mạnh, nhiều đội tự vệ được thành lập ở Nho Quan, Gia Viễn. Tiếp đó, Tỉnh ủy cử 8 thanh niên đi học tập, tham gia xây dựng chiến khu Ngọc Trạo (Thanh Hoá) và đào tạo cán bộ quân sự, chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang ở địa phương sau này.

        Tháng 7

        Thành lập chiến khu Ngọc Trạo ở huyện Thạch Thành (Thanh Hoá). Ngọc Trạo là nơi có địa thế hiểm yếu khi tiến có thể đánh, lui có thể giữ và đồng bào Mường cư trú ở đây vốn có truyền thống yêu nước đã sớm tổ chức các hội phản đế cứu quốc. Nhờ vậy, Tỉnh ủy Thanh Hoá đã quyết định xây dựng Ngọc Trạo thành trung tâm chỉ đạo chống Pháp và nơi làm việc của các cơ quan cách mạng tỉnh. Lực lượng vũ trang trong chiến khu lúc đầu có 11 đội viên tự vệ, được chọn từ các huyện, đến ngày 19 tháng 9 năm 1941 phát triển thành đội du kích Ngọc Trạo, trang bị vũ khí thô sơ. Nhiệm vụ của đội là vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tuyên truyền giác ngộ quần chúng.

        Trước sự phát triển của phong trào cách mạng ở chiến khu Ngọc Trạo, thực dân Pháp tập trung quân bao vây, đánh phá gây nhiều tổn thất cho cách mạng. Để bảo toàn lực lượng, ban lãnh đạo chiến khu quyết định phân tán lực lượng về các địa phương tiếp tục bám dân, gây dựng cơ sở, mở rộng phong trào cách mạng trong các làng xả. Mặc dù chỉ tồn tại thời gian ngắn, nhưng chiến khu Ngọc Trạo đã góp phần chuẩn bị điều kiện cho việc xây dựng chiến khu Quang Trung năm 1945.

        26 tháng 8

        Thực dân Pháp xử bắn các đồng chí Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư của Đảng từ năm 1938, bị bắt năm 1940), Võ Văn Tần (Bi thư Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy viên Trung ương Đảng bị bắt năm 1940), Nguyễn Thị Minh Khai (Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư thành ủy Sài Gòn - Gia Định, bị bắt năm 1940) và nhiều chiến sĩ tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ tại Hóc Môn (Gia Định).

        15 tháng 9

        Thành lập trung đội Cứu quốc quân 2. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Khuôn Mánh, xã Tràng Xá, châu Võ Nhai (Thái Nguyên). Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng công nhận và giao nhiệm vụ cho đội Cứu quốc quân 2, gồm 47 người (3 nữ), biên chế 5 trung đội. Chỉ huy trưởng: Chu Văn Tấn, chỉ đạo viên: Nguyễn Cao Đàm, chỉ huy phó: Trần Văn Phấn. Đến cuối tháng 10 năm 1941, Ban chi huy Cứu quốc quân 2, gồm: Bí thư Đảng ủy kiêm trung đội trưởng: Đào Văn Trường (Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ), Phó bí thư Đảng ủy kiêm trung đội phó: Chu Văn Tấn, chính trị viên: Trần Độ, trung đội phó: Lê Dục Tôn. Trung đội Cứu quốc quân 2 thành lập một chi bộ Đảng, ở mỗi tiểu đội đều có một tổ đảng để lãnh đạo. Vũ khí của đội có 3 súng khai hậu, một số súng kip, còn phần lớn là dao găm.

        Trung đội Cứu quốc quân 2 được xây dựng đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào quần chúng cách mạng bảo vệ và mở rộng khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, hỗ trợ tích cực cho các cuộc đấu tranh chính trị củng như làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở các địa phương trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

        15 tháng 10

        Một tiểu đội Cứu quốc quân đang trên đường đi công tác trở về, bất ngờ gặp khoảng 100 tên địch càn vào Khuôn Đã (xã Tràng Xá, châu Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên). Lợi dụng địa hình hiểm trở, tiểu đội nhanh chóng triển khai chiến đấu, vừa đánh, vừa nghi binh và tuyên truyền địch vận suốt từ 15 đến 17 giờ, diệt 10 tên, buộc chúng phải rút lui. Tiếp đó, ngày 25 tháng 10, ba cán bộ, chiến sĩ Cứu quốc quân 2 kiên cường chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch vào Khuôn xổm, diệt 9 tên.

        Trước đó (ngày 2 tháng 10), 20 cán bộ và chiến sĩ Cứu quốc quân 2 mưu trí chiến đấu, đẩy lùi 2 trung đội lính lê dương càn vào Khuôn Kẹn và ngày 5 tháng 10, Cứu quốc quân 2 đánh tan cuộc tiến công của gần 200 tên địch vào Khuôn Ba, cứu được nhiều người già và trẻ em bị chúng bao vây.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Ba, 2016, 05:17:03 AM

        Tháng 10

        Thành lập đội vủ trang tập trung của Cao Bằng. Theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc, Đảng bộ Cao Bằng thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh tại Pắc Bó (Hà Quang). Đội gồm 12 người (có 1 nữ), được trang bị 7 khẩu súng, do các đồng chí Lê Quang Ba làm đội trưởng, Lê Thiết Hùng làm chính trị viên và Hoàng Sâm làm đội phó. Nhiệm vụ của đội là bảo vệ cơ quan lãnh đạo Đảng, làm công tác tuyên truyền và giao thông liên lạc đặc biệt, giúp các đội tự vệ huấn luyện về quân sự.

        Tại buổi lễ thành lập, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc căn dặn cán bộ, chiến sĩ: "Muốn phát triển được tốt phải qua công tác rèn luyện mà phấn đấu, phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt... Đối với nhân dân, đội phải như cá với nước"1. Người thảo ra 10 điều kỷ luật và những nguyên tắc xây dựng, hoạt động của đội. Đội vũ trang tập trung Cao Bằng tuy còn nhỏ bé, nhưng đã góp phần to lớn vào việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở địa phương. Cuối năm 1942, đội phân tán lực lượng về các địa phương xây dựng và huấn luyện các đội tự vệ chiến đấu. Đến ngày 22 tháng 12 năm 1944, một số cán bộ, đội viên của đội được lựa chọn vào Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, số còn lại nhận nhiệm vụ khác.

        18 tháng 11

        Trung đội Cứu quốc quân 2 gây dựng cơ sở, mở rộng khu căn cứ. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về việc giữ vững cơ sở và mở rộng khu căn cứ ra ngoài vòng vây của địch, ngày 18 tháng 11, ban chỉ huy Cứu quốc quân 2 phân chia: một tổ do các đồng chí Mông Phúc Quyên, Phương Cương phụ trách sang các huyện Đại Từ, Định Hoá (Thái Nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang) mơ rộng địa bàn hoạt động; một tổ do các đồng chí Chu

        Quốc Hưng, Nông Văn Cún phụ trách, lấy xã Phú Thượng (Võ Nhai) làm bàn đạp đế gây dựng, khôi phục lại phong trào ở Bắc Sơn (Lạng Sơn); một tố do đồng chí Hà Châu phụ trách sang bắc Yên Thế, Hữu Lủng (Bắc Giang) xây dựng cơ sờ quần chúng. Còn đại bộ phận Cứu quốc quân 2 chia thành các tổ công tác xuống hoạt động ờ các xã Tràng Xá, Lâu Thượng, Phú Thượng (Võ Nhai) bám cơ sơ đấu tranh chống địch khủng bố, gây cho chúng một số thiệt hại.

        Sau gần 10 ngày hoạt động, các tổ Cứu quốc quân 2 đi gây dựng cơ sở đã bắt liên lạc được với các cơ sở cũ và phát triển thêm được một số cơ sở mới ở Cây Thị, Trại Cau (Đồng Hỷ), La Bằng (Đại Từ), Làng Cam, Phấn Sức (Phú Lương, Thái Nguyên), Phượng Liễn (Sơn Dương, Tuyên Quang). Nhờ gây dựng và phát triển được thêm cơ sở cách mạng, khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai được mở rộng, là điều kiện thuận lợi để xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, chống địch khủng bố.

        1 tháng 12

        Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị "Về công tác tổ chức” gửi các cấp bộ Đảng. Chỉ thị nhấn mạnh: Hiện thời trách nhiệm của Đảng là phải sửa soạn khởi nghĩa vũ trang, cho nên Đảng phải nghiên cứu những hình thức đấu tranh, nghiên cứu những "hình thức quá độ", trong đó phải tổ chức những ủy ban quân sự, chính trị chi huy các khu vực đặc biệt. Những ủy ban này phải đổi là ủy ban quân sự cách mạng và do ủy ban quân sự toàn xứ, hoặc toàn quốc chi huy.

        9 tháng 12

        Phát xít Nhật buộc thực dân Pháp phải ký văn bản hợp tác toàn diện trong việc phòng thủ chung ở Đông Dương. Nội dung vãn bản quy định:

        1- Pháp ở Đông Dương phai hợp tác với quân đội Nhật Bản trên mọi phương diện phòng thủ.

        2- Trong khi quân đội Nhật chiến đấu, Pháp phải đảm bảo trật tự xã hội toàn cõi Đông Dương để hậu phương quân Nhật được an toàn.

        3- Pháp phải cung cấp lương thực, bố trí doanh trại cho quân Nhật đồn trú khắp Đông Dương và tạo thuận lợi khi Nhật hành binh.

        4- Việc phòng thủ quy định: Quân Nhật phòng thủ miền Nam Đông Dương và bất cứ nơi nào khác có quân Nhật đóng. Quân Pháp phòng thủ miền Bắc Đông Dương và những nơi có quân Pháp đóng.

        12  tháng 12

        Một tiếu đội Cứu quốc quân 2 đi công tác sa vào vòng vây của khoảng 60 tên lính lê dương ờ Mỏ Mủng, xã Lâu Hạ, châu Võ Nhai (Thái Nguyên). Mặc dù ờ vào tình thế bất lợi, các chiến sĩ Cứu quốc quân vẫn chủ động nổ súng đánh địch. Tiểu đội trưởng Hà Văn Mạnh đã dũng cảm ở lại chiến đấu kìm chân địch để cho đồng đội rút lui. Với khấu súng trường, 28 viên đạn, Hà Văn Mạnh chiến đấu linh hoạt, diệt và làm bị thương gần 20 tên địch. Trong trận đánh không cân sức này, Hà Văn Mạnh đã anh dũng hy sinh.

        21 tháng 12

        Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông báo "Về cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và nhiệm vụ của chúng ta". Trung ương Đảng nhấn mạnh: "Phải chú trọng mở rộng và củng cố các đội tự vệ cứu quốc... phải duy trì các đội du kích, duy trì và kiện toàn các lực lượng cách mạng đặng mỗi khi cơ hội và tình thế thuận lợi hơn có thể phát động phong trào rộng lớn hơn" để giai phóng dân tộc.

        Cuối nãm 1941

        * Lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc viết "Cách đánh du kích", là một trong những tác phẩm quân sự đầu tiên của Người, trình bày những vấn đề cần biết, cần làm trong thực hành chiến tranh du kích. Cuốn sách gồm 13 chương, trong đó 3 chương đầu nêu luận điểm cơ bản và nguyên tắc của cách đánh du kích: du kích là gì, tổ chức đội du kích, nguyên tắc đánh du kích. tư tưởng chiến lược, tiến công... 10 chương sau chỉ dẫn những điều cụ thể cần biết, cần làm trong chiến tranh du kích: tiến công, tập kích, phục kích, phòng ngự, rút lui, phá hoại, thông tin liên lạc, hành quân, trú quân, xây dựng căn cứ địa... "Cách đảnh du kích" đã được phổ biến rộng rãi trong các đoàn thể cách mạng, làm tài liệu huấn luyện trong các trường quân chính ở Việt Bắc những năm 1941 - 1945.

        * Lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc giao nhiệm vụ cho các đồng chí Lê Thiết Hùng, Lê Quang Ba, Hoàng Sâm mở một lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Người trực tiếp vạch kế hoạch huấn luyện, nội dung giảng dạy, thời gian học tập... Hàng ngày, Người đến thăm lớp, gặp gỡ, hỏi han từng học viên hiểu biết đến đâu, chương trình đã hợp chưa. Sau một ngày huấn luyện trên lớp, Người gặp và nghe các đồng chí phụ trách báo cáo tình hình, rứt kinh nghiệm nội dung huấn luyện ngày hôm sau. Ngoài ra, Người còn trực tiếp giang bài cho các học viên về cách đánh du kích, cách điều tra nắm tình hình. Người căn dặn: "Điều kiện cần yếu nhất để thực hiện cách đánh là phải biết rõ địch. Biết địch thì có thê nay đông, mai tây, kẻ địch không lường trước được".

----------------
1. Dẫn theo: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội - 1995, tr.262.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Ba, 2016, 08:04:03 PM
       
Năm 1942
        10 tháng 1

        Xuất bản cuốn "Chiến tranh Thái Bỉnh Dương và cách mạng giải phóng dân tộc Đông Dương", do Tổng bí thư Đảng - Trường Chinh biên soạn. Nội dung cuốn sách đã phát triển những quan điểm cơ bản của thông báo: "Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và nhiệm vụ của chúng ta", xác định kẻ thù của cách mạng là phát xít Nhật và chi rõ các địa phương phải sẵn sàng chuẩn bị lực lượng "phát động du kích chiến tranh ra nhiều nơi, làm cho du kích chiến tranh địa phương được nhân dân tham gia và ủng hộ, chứ không phải là việc riêng của bộ đội du kích, biến du kích chiến tranh địa phương thành địa phương khởi nghĩa" giành thắng lợi.

        14 tháng 1

        Ban chỉ huy Cứu quốc quân 2 ra thông báo nêu rõ: Nhiệm vụ trung tâm cần thực hiện là:

        1- "Gây cho được một căn cứ địa vững vàng cho bộ đội và phát triển bộ đội,

        2- Nêu cao thành tích chiến đấu.

        3- Tổ chức và huy động hậu bị quân là quần chúng cứu quốc để theo kịp tiền phong đội".

        Về tổ chức cần:

        1- "Củng cố bộ đội, sinh hoạt cho đều và triệt để thi hành kỷ luật sắt.

        2- Khôi phục bộ đội Bắc Sơn và tổ chức bộ đội Đại Từ.

        3- Lấy thêm đồng chí vào Đảng đoàn.

        4- Lấy người dự bị vào Ủy ban chỉ đạo (Ủy ban quân sự - chính trị Bắc Sơn).

        5- Đi tới cán bộ hội nghị đặc biệt khu.

        6- Tổ chức các ủy ban vận động tranh đấu và tổ chức tự vệ đội...".

        Đối với nhiệm vụ quân sự cần:

        1- "Tiếp tục tiễu trừ mật thám, tịch thu tài sản và cho hàng phục, thế mạng.

        2- Tổ chức tự vệ đội và huấn luyện cho thuần thục.

        3- Nghiên cứu và thực hành du kích chiến thuật bằng cách tự thao luyện bộ đội trong rừng...".

        21 tháng 1

        Máy bay cua quân đội Tường Giới Thạch ném bom xuống một làng ở sát biên giới Việt - Trung, làm 9 người

        chết. Trận ném bom này mở đầu cho sự hoạt động của máy bay Đồng minh, chủ yếu là máy bay Mỹ, xuất phát từ các sân bay ở phía nam Trung Quốc, tiến công các mục tiêu của Nhật và Pháp trên lãnh thố Việt Nam. Tiếp đó, không quân Mỹ - Tưởng đánh phá các mục tiêu: Sân bay Gia Lâm (12-5, Hải Phòng (9-8-1942 và từ ngày 1 đến 26-10-1943) làm 196 người chết, 138 người bị thương và đánh phá Hà Nội (các ngày 10, 12-12-1943), làm 500 người chết và 732 người bi thương.

        Đầu tháng 2

        Đảng bộ Cao Bằng tổ chức các lớp huấn luyện quân sự tập trung (gọi là lớp quân chính). Giáo viên gồm các đồng chí đã từng học quân sự ở nước ngoài như Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm, Bằng Giang. Lớp quân chính khoá I gồm 40 học viên được mở ở Khuổi Nặn (Pac Bó, châu Hà Quảng) vào tháng 2 năm 1942. Tiếp đó, lớp quân chính khoá II gồm 100 học viên, được mở ở U Mạ, xã Dân Chủ, huyện Hoà An vào đầu năm 1943; lớp quân chính khoá III có 30 học viên được tổ chức ở tổng Kim Mã, xã Tam Kim, châu Nguyên Bình và lớp quân chính khoá IV gồm 30 học viên được mở tại Tôm Đeng, châu Hà Quảng vào cuối năm 1944.

        Đế bổ sung nội dung huấn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng còn biên soạn cuốn: "Kinh nghiệm du kích Bắc Sơn", gửi lớp học. Kết thúc mỗi khoá huấn luyện, học viên được điều đi công tác ở các tuyến đường Nam tiến, Đông tiến, Tây tiến; số còn lại trở về địa phương mở các lớp huấn luyện tự vệ, đáp ứng phong trào phát triển lực lượng vũ trang địa phương.


        Tháng 2

        Thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, khống chế ác liệt khu căn cứ Võ Nhai (Thái Nguyên). Đế bảo toàn lực lượng và tránh tổn thất cho nhân dân, Ban chi huy Cứu quốc quân 2 quyết định tạm rút ra khỏi khu căn cứ. Đồng chí Đào Văn Trường - Bí thư đảng ủy kiêm trung đội trưởng trên đường về xuôi báo cáo, xin chí thị của Trung ương bị địch bắt. Đường dây liên lạc giữa Cứu quốc quân 2 và Trung ương Đảng bị mất hoàn toàn. Đại bộ phận Cứu quốc quân 2 rút xuống vùng Bồ Cu, Đá Trắng thuộc xá Cây Thị, huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên). Ngày 10 tháng 3, một tiểu đội Cứu quốc quân 2 từ Võ Nhai về Cây Thị rồi vòng sang vùng Bắc Giang đánh lạc hướng địch. Tiếp đó, ngày 14 tháng 3, 42 cán bộ và chiến sĩ do trung đội phó Chu Văn Tấn chỉ huy bí mật rời căn cứ Võ Nhai lên biên giới Việt - Trung an toàn. Một bộ phận nhỏ Cứu quốc quân 2 chuyến sang Đại Từ, Định Hoá (Thái Nguyên), bác Yên Thế, Hữu Lủng (Bắc Giang) tiếp tục xây dựng lực lượng, phát triển cơ sở quần chúng để sau này mở rộng địa bàn hoạt động.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2016, 12:42:03 PM

        11 tháng 3

        Toàn quyền Đông Dương Đờ-cu ra nghị định thành lập "Đoàn dân binh" ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. "Đoàn dân binh" là tổ chức vũ trang đặt dưới quyền chỉ huy của thủ hiến các xứ (thống đốc, khâm sứ, thống sứ) và do các hội cựu chiến binh làm lực lượng nòng cốt nhằm "tập hợp tình nguyện giúp vào cuộc cách mạng quốc gia", thực chất là phục vụ cho thực dân Pháp. "Đoàn dân binh" được biên thành các tiểu đội, đội và liên đội. Thủ hiến các xứ hối hợp với bộ tư lệnh quân đội ớ địa phương mình lập kho tàng trữ vũ khí và trang bị cho dân binh làm nhiệm vụ bảo an Mỗi xứ thành lập một "cơ quan thường trực" của dân binh do các hội cựu chiến binh quản lý. Khoản đài thọ cho lực lượng dân binh được chuyến từ ngân sách của địa phương.

        Tháng 4

        Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị cho đội vũ trang Cao Bằng phân tán làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương. Người căn dặn: phải có nhiều cán bộ giỏi. Phải chú ý mở lớp huấn luyện để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Hoạt động quân sự lúc này phải theo phương châm: gặp địch thì tránh, tránh không được thì đánh, nhưng đánh củng là để tránh. Có đánh thì nhằm tiêu diệt đầu sỏ.

        Tháng 7

        Lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc chỉ thị mở rộng căn cứ địa Cao Bằng, nối liền với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và các tính lân cận để xây dựng một căn cứ rộng lớn ở Việt Bắc. Mặt khác, việc làm này còn nhằm mục đích hình thành "Con đường quần chúng cách mạng" từ Cao Bằng xuống phía nam, trước mắt là đến Thái Nguyên để liên lạc với Trung ương ở miền xuôi, xây dựng hành lang chính trị vững chắc nhằm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước.

        15 tháng 11

        Tổng bộ Việt Minh gửi chỉ thị tới Đại hội đại biểu Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Bản chỉ thị đề cập tới một số vấn đề cơ bản mà tình thế cách mạng Việt Nam đang đặt ra. Về vấn đề khởi nghĩa vũ trang được xác định: Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nước ta là đánh đuổi Pháp - Nhật, muốn giành được thắng lợi phải khởi nghĩa vũ trang; khởi nghĩa vũ trang phải có hai điều kiện khách quan và chủ quan. Trước mắt cần "Chuẩn bị lực lượng làm cho toàn quốc đặt dưới sự lãnh đạo của đoàn thể, đủ sức nắm cơ hội tốt đứng lên vũ trang khởi nghĩa, đánh đuổi Pháp - Nhật".

        22-23 tháng 11

        Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh Cao Bằng kiếm điểm tình hình và bàn biện pháp phát triển phong trào cách mạng trong thời gian tới. Đại hội quyết định phải phát triển, mở rộng phong trào cách mạng ra toàn tỉnh, rồi phát triển xuống Bắc Cạn, Lạng Sơn và mở rộng sang Hà Giang, Tuyên Quang.

        Sau đại hội, Tỉnh ủy Cao Bằng quyết định mở các con đường Tây tiến, Nam tiến, gây dựng cơ sở, mở rộng phong trào cách mạng ra các tỉnh lân cận, nhất là xuống các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên.

        Cuối nãm 1942

        * Thành lập tiểu đội tự vệ chiến đấu gồm 10 người, trang bị chủ yếu là kiếm, mã tấu và một vài khẩu súng tại Kha Sơn Hạ, huyện Phú Bình (Thái Nguyên). Tiểu đội có nhiệm vụ bảo vệ cán bộ Đảng và các cơ sở bí mật của xứ ủy Bắc Kỳ, giữ vững đường dây liên lạc của Trung ương, xứ ủy với Bắc Sơn - Võ Nhai, với chi bộ Đảng ở Căng Bá Vân (Đồng Hỷ).

        * Tỉnh ủy Hà Đông và Sơn Tây chú trọng xây dựng, phát triển lực lượng tự vệ. Hầu hết các huyện (thị) ở Hà Đông và Sơn Tây xây dựng được một số đội tự vệ ở thôn, xã Các đội tự vệ cứu quốc ở Vạn Phúc (thị xã Hà Đông), phương Độ (Phúc Thọ), Hữu Bằng, Bình Xá (Thạch Thất) ngoài vũ khí thô sơ còn được trang bị thêm một số súng trường. Ở Đa Phúc, Thượng Hiệp (Quốc Oai), tự vệ hoạt động mạnh và còn đưa người vào nắm lực lượng vũ trang của địch (tuần phiên, võ dũng đoàn), tạo điều kiện cho cơ sở cách mạng hoạt động thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2016, 12:27:08 AM
         
       Năm 1943

        Đầu năm 1943

        Xây dựng chiến khu Hà - Tuyên - Thái ở vùng nông thôn, rừng núi các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Dựa vào địa hình rừng núi và sự ủng hộ của nhân dân, kết hợp công tác tuyên truyền vận động quần chúng với hoạt động vũ trang, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang địa phương ngày càng trưởng thành lớn mạnh, tạo chỗ đứng chân vững chắc cho phong trào cách mạng, đánh bại nhiều cuộc càn quét, khủng bố của địch, mở rộng khu căn cứ, nối thông liên lạc và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng ớ Cao Bằng với miền xuôi, tạo bàn đạp chuẩn bị khởi nghĩa sau này. Tháng 6 năm 1945, chiến khu Hà - Tuyên - Thái cùng với chiến khu Cao - Bắc - Lạng hợp thành chiến khu Việt Bắc.

        25-28 tháng 2

        Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng ở Võng La (Đông Anh - Vĩnh Yên nay thuộc ngoại thành Hà Nội) ra nghị quyết đề cập một cách toàn diện tới các công tác chuẩn bị để khởi nghĩa vũ trang. Nghị quyết nhấn mạnh việc đấy mạnh công tác xây dựng căn cứ địa ở nông thôn rừng núi, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác vận động các giới và vận động binh lính địch; đồng thời chú trọng công tác ở thành thị trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa cũng như trong lúc nổ ra tổng khởi nghĩa.

        Tháng 2

        Hội nghị cán bộ lãnh đạo hai khu căn cứ Cao Bằng, Bắc Sơn - Võ Nhai cùng Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, Tổng bộ Việt Minh, Cứu quốc quân 2 họp tại Lủng Hoàng, châu Hoà An (Cao Bằng). Hội nghị bàn việc mở rộng phong trào Việt Minh, trao đổi kinh nghiệm đánh du kích, chống địch khủng bố và xây dựng phong trào Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang ở Cao Bằng; đồng thời bàn việc mở đường Nam tiến theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Hội nghị đề ra nhiệm vụ:

        1- Giữ vững cơ sở cách mạng vùng biên giới, đánh thông đường từ đó về Bình Gia, Bắc Sơn, Võ Nhai.

        2- Gây dựng cơ sở cách mạng mới ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang; củng cố các cơ sở cũ và nối liền các vùng đó lại với nhau.

        3- Xúc tiến thành lập các đội xung phong Nam tiến với nhiệm vụ đánh thông "Con đường quần chúng cách mạng" từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ban chỉ huy Cứu quốc quân 2 cử một tiểu đội đến Cao Bằng, dẫn đường các đội xung phong Nam tiến; đồng thời điều động lực lượng mở bốn con đường từ phía Lạng Sơn, Thái Nguyên lên Bắc Cạn, Cao Bằng đón các mũi xung phong Nam tiến.

        Cuối tháng 2

        Ban chỉ huy Cứu quốc quân 2 cử một tiểu đội gồm bảy đồng chí (Hoàng Văn Thịnh, Vi Văn Tư, Lê Văn Hiến, Hà Khai Lạc, Bế Chấn Hưng, Mông Phúc Thơ, Đường Văn Thức) lên căn cứ Cao Bằng phối hợp với các đội xung phong Nam tiến, mở "Con đường quần chúng cách mạng" từ Gao Bằng xuống Bắc Cạn, Thái Nguyên.

        Tháng 3

        Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng đến tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình (Cao Bằng) tổ chức Ban xung phong Nam tiến. Nhiều cán bộ quân sự, chính trị các địa phương đã hăng hái tham gia các đội xung phong Nam tiến. Chỉ sau một thời gian ngắn, Ban xung phong Nam tiến đã tổ chức được 19 đội xung phong tuyên truyền Nam tiến. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ phụ trách chung việc mở đường Nam tiến. Chi bộ Nam tiến được thành lập do đồng chí Nông Văn Quang làm Bí thư.

        Tháng 4

        Thành lập đội vũ trang chiến đấu gồm 30 đội viên đều là người Hơ Mông ở Lủng Thàn, xã Bình Lãng, châu Nguyên Bình (Cao Bằng). Đây là đội vũ trang chiến đấu đầu tiên của vùng cao, làm nòng cốt xây dựng và phát triển phong trào Việt Minh ở vùng đồng bào Hơ Mông, Dao xa xôi của các châu Bảo Lạc, Hà Quảng, Nguyên Bình. Tiếp đó, các đội vũ trang chiến đấu khác lần lượt được tổ chức ở Lủng Thàn, Tắp Ná... Các đội viên tự vệ tự mua sắm vũ khí; đồng thời lập hai cơ sở sửa chửa, chế tạo vũ khí thô sơ ở Tinh Giảo và Tà Phin.

        14 tháng 6

        Nhân dân làng Đông Du (Tiên Sơn, Bắc Ninh) đánh chặn lính Nhật đàn áp dân chúng. Phẫn nộ trước chính sách bắt dân nhổ lúa để trồng đay, nhân dân làng Đông Du đã kéo ra đánh chặn, làm bị thương nặng một lính Nhật đến đốc thúc dân trồng đay, sau đó đấu tranh thắng lợi với bọn hiến binh đến đàn áp. Trước đó, tháng 4 năm 1943 nhân dân làng cố Bi (Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) cũng biểu tình đấu tranh với binh lính Nhật bắt dân nhổ lúa trồng đay. Cuộc đấu tranh giành tháng lợi. Đánh giá về sự kiện ở Đông Du, báo Cờ Giải phóng (26-8-1943) viết: "Cuộc đấu tranh này đã hoàn toàn thảng lợi. Cùng với cuộc biểu tình ở Cổ Bi, nó đã báo hiệu một cao trào đấu tranh chống Nhật sẽ tới".

        Tháng 6

        Liên tính ủy Cao - Bắc - Lạng triệu tập hội nghị giáo viên tự vệ toàn liên tỉnh tại Lam Sơn, huyện Hoà An (Cao Bằng). Hội nghị quyết định thống nhất cách huấn luyện tự vệ thường và tự vệ chiến đấu, chú trọng huấn luyện về mặt chiến đấu, quy định điều lệ tự vệ và chương trình huấn luyện. Sau hội nghị, đội ngũ cán bộ quân sự được phân công về các địa phương, mở lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày cho các đội tự vệ.

        Tháng 7 - tháng 10

        Mũi xung phong Nam tiến mang tên Trần Phú, do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách chung và đồng chí Nông Văn Quang làm Bí thư, xuất phát từ Kim Mã, Tam Lộng, châu Nguyên Bình, Hoa Thám (Cẩm Lý) huyện Hoà An Cao Bằng) tiến xuống Bắc Cạn. Các đội xung phong Nam tiến đi vào các xã Thượng Ân, Cốc Đán, Tô Khê (huyện Ngân Sơn); xóm Pích Cáy, xã Vi Hương (huyện Bạch Thông); xóm Phương Khăm xã Phúc Lộc, xã Hà Hiệu; xóm Cốc Ngoả, bản Cháu, xã Bàng Phúc; bản Giuồng, bản Kéo Pảng, xã Tú Tự (huyện Chợ Rã); bản Quảng Bạch, ban Điểng, xã Tân Lập; mỏ Bản Ty, Kéo Hán, Thôn Tàu, Bản Cầu, xóm Nà Nhàm, xã Yên Thịnh; xóm Bản Lác, Tổng Mục, Tủm Tó, xã Bảng Lảng; xóm Bản Lập, Khau Ty, Bản Bảng, xã Nghĩa Tá (huyện Chợ Đồn, Bắc Cạn).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2016, 09:15:26 AM

        Tháng 8

        Đảng bộ Hà Quảng (Cao Bằng) tổ chức diễn tập tự vệ ở Si Ninh, xã Nà Sác, với sự tham gia của 1.000 tự vệ thường và tự vệ chiến đấu. Tiếp đó, châu ủy Hà Quảng huy động 100 tự vệ chiến đấu, trang bị vũ khí tổ chức cuộc hành quân dọc biên giới Lục Khu, giáp với Tịnh Tây (Trung Quốc) nhằm biểu dương lực lượng, trấn áp bọn thổ phi và phản động làm cho chúng không dám quấy phá cơ sở cách mạng ta.

        24-25 tháng 9

        Đại hội đại biểu các huyện Nguyên Bình, Hoà An, Hà Quang quyết định thành lập khu Thiện Thuật gồm vùng núi đá cao của đồng bào Hơ Mông, Dao. Khu Thiện Thuật có nhiệm vụ động viên đồng bào các dân tộc ít người phát huy tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, gấp rút chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh khai thông con đường Tây tiến liên lạc ra biên giới Trung Quốc, tạo điều kiện vững chắc cho cuộc khởi nghĩa sau này. Khu Thiện Thuật ra đời đánh dấu bước phát triển mới của các căn cứ địa Cao Bằng.

        Giữa tháng 10

        Bộ phận xung phong Nam tiến, do đồng chí Nông Văn Quang dẫn đầu gặp bộ phận Bắc tiến của Cứu quốc quân 2 tại xã Nghĩa Tá, châu Chợ Đồn (Bắc Cạn). Như vậy, "Con đường quần chúng cách mạng" theo hướng Nam tiến trên địa bàn Việt Bắc. mà lãnh tụ Hồ Chí Minh vạch ra đã khai thông từ căn cứ địa Cao Bằng, nối liền với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, sau đó nhờ cơ sở cách mạng ở Chợ Chu (Thái Nguyên) bắt liên lạc được với Trung ương Đảng ở miền xuôi. Sự hình thành hai khu căn cứ cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai và những "Con đường quần chúng cách mạng", nối liền nhau đã mở ra triển vọng lớn, tạo điều kiện cho việc ra đời khu giải phóng Việt Bắc sau này.

        7 tháng 11

        Mĩt tinh kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga tại Pù Mầu. Khoảng 300 đại biểu hội viên các xã Tam Lộng, Kim Mã, Hoa Thám, châu Nguyên Bình (Cao Bằng), Thượng An, Cốc Đán, Vân Tùng, Bằng Vân, châu Ngân Sơn (Bác Cạn) đã đến dự. Tại cuộc mít tinh, các đội tự vệ chiến đấu biểu diễn một số động tác chiến thuật và bẳn đạn thật nhằm biểu dương lực lượng cách mạng. Nhân dịp này, Tỉnh ủy Cao Bằng quyết định thành lập khu Quang Trung của đồng bào Dao, do đồng chí Lý Văn Thượng làm chủ nhiệm.

        Tháng 11

        Ban cán sự tỉnh Hưng Yên họp chủ trương thành lập khu an toàn, mở rộng hơn nửa các tổ chức cứu quốc, xây dựng lực lượng bán vũ trang, tổ chức các đội tự vệ, sắm vũ khí huấn luyện quân sự, chú trọng công tác binh vận, chuẩn bị gấp rút mọi lực lượng cho khởi nghĩa giành chính quyền.

        Thực hiện chủ trương của Ban cán sự tỉnh và sự giúp đỡ của Xứ ủy, khu an toàn Bãi Sậy được thành lập, bao gồm các huyện Văn Vân, Yên Mỷ, Mỷ Hào (Hưng Yên), trong đó Bần được chọn làm trung tâm của khu an toàn. Xứ ủy Bác Kỳ quyết định cử đồng chí Bang (tức Lê Liêm) trực tiếp chí đạo xây dựng khu an toàn Bãi Sậy. Tuy tỉnh phụ trách, nhưng do tính chất quan trọng của an toàn khu Bãi Sậy, nên Xứ ủy vẫn trực tiếp chi đạo, giúp đỡ xây dựng cơ sờ chinh trị, xây dựng lực lượng vũ trang diệt ác trừ gian, đánh lính Nhật, thu vũ khí của chúng. An toàn khu Bãi Sậy trở thành căn cứ làm bàn đạp mờ rộng phong trào và khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện lân cận trong Cách mạng tháng Tám sau này.

        Tháng 12

        * Châu ủy Hoà An tổ chức diễn tập tự vệ tại Mỏ Sắt, có tơi 1.000 tự vệ thường và tự vệ chiến đấu tham dự.

        Cũng thời gian này, châu ủy Nguyên Bình cũng huy động hàng trăm tự vệ thường và tự vệ chiến đấu tham gia diễn tập tại tổng Kim Mã. Tại các châu Quang Yên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Trà Lĩnh, Thạch An, Chợ Rả, tự vệ thường và tự vệ chiến đấu cũng tổ chức luyện tập quân sự, sẵn sàng đánh Pháp - Nhật. Các cuộc diễn tập này đã có tác dụng cổ vũ, thúc đẩy phong trào tự vệ ở các địa phương phát triển.

        * Liên tinh ủy Cao - Bắc - Lạng chỉ thị tổ chức những "tiểu tổ bí mật" gồm những đảng viên và hội viên trung kiên thoát ly sản xuất. Mỗi "tiểu tổ bí mật" có tổ Đảng lãnh đạo. Các "tiểu tổ bí mật" đều lánh vào rừng, triệt để "quân sự hoá", "du kích hoá”, vừa tiến hành công tác quần chúng, vừa nghiên cứu học tập quân sự và chính trị.

        Quán triệt chỉ thị của liên tỉnh ủy, các làng bản đã tổ chức được nhiều "tiểu tổ bí mật". Các tổng, châu cũng tổ chức ra những đội tự vệ thoát ly từ một tiểu đội đến một trung đội. Đây là một hình thức tổ chức cao hơn tự vệ và tự vệ chiến đấu ờ căn cứ Cao Bằng.

        Cuối năm 1943

        Chiến khu Cao - Bắc - Lạng hình thành, trên cơ sở mở rộng căn cứ Cao Bàng và Bắc Sơn - Võ Nhai, nơi có vị trí chiến lược và phong trào cách mạng sớm phát triển. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, chiến khu Cao - Bắc - Lạng được xây dựng, mở rộng ra hầu khắp vùng nông thôn rừng núi các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn. Lạng sơn. Tại chiến khu, công tác vận động quần chúng được tiến hành sâu rộng, nhiều lớp huấn luyện quân sự, chính trị cho cán bộ được tổ chức; Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc và các đội du kích tự vệ được tăng cường. Nhờ vậy, trước các cuộc càn quét khủng bố ác liệt của quân Pháp, lực lượng cách mạng vẫn đứng vững và trưởng thành, mối liên lạc và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở Cao - Bắc - Lạng với các nơi được giữ vững và mở rộng, tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam phát triển. Tháng 6 năm 1945, chiến khu Cao - Bắc - Lạng cùng với chiến khu Hà - Tuyên - Thái hợp thành chiến khu Việt Bắc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2016, 08:12:43 PM

           
Năm 1944

        Tháng 1

        Hội nghị tổng kết Nam tiến tổ chức tại tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (Cao Bằng) đã nghiêm túc kiểm điểm tình hình, đánh giá kết quả công tác hoạt động Nam tiến vừa qua và đề ra phương hướng Nam tiến giai đoạn tiếp: Cần mở rộng căn cứ Cao - Bắc - Lạng "củng cố vùng tiếp giáp ba tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang, tạo thành chỗ dựa và bàn đạp lấy đích là Thanh Hoá".

        Ngay sau hội nghị, đội Nam tiến chia làm hai hướng hoạt động: Một hướng hoạt động trên địa bàn Thái Nguyên, Phú Thọ. Sơn Tây qua Hoà Bình và một hướng nữa từ huyện Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Yên Bái, Hoà Bình. Cà hai hướng đều nhằm tới đích Thanh Hoá.

        Tháng 2

        Chiến khu Hoàng Hoa Thám (tức khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai) địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân 2 được chia làm hai phân khu: Phân khu A (Quang Trung) ở tả ngạn sông Cầu bao gồm một phần huyện Đồng Hỷ và các huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), Bắc Sơn, Bình Gia, Thoát Lãng, Tràng Định (Lạng Sơn); bắc Yên Thế, Hữu Lủng (Bắc Giang). Đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của Cứu quốc quân 2, do đồng chí Hà Châm làm chí huy trưởng. Phân khu B (Nguyễn Huệ) gồm phần hữu ngạn sông Cầu, huyện Đồng Hỷ và các huyện Đại Từ, Định Hoá, Phú Lương (Thái Nguyên); Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) và nam Chợ Đồn (Bắc Cạn) là địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân 3 được thành lập sau này.

        25 tháng 2

        Thành lập trung đội Cứu quốc quân 3. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Khuổi Kịch, châu Sơn Dương (Tuyên Quang), gồm 30 đồng chí; trong đó có một số cán bộ, chiến sĩ Cứu quốc quân 2 và một số cán bộ, đội viên xung phong Nam tiến Trần Phú đang hoạt động tại đây, cùng một số cán bộ, đội viên trung kiên của các đội tự vệ Đại Từ, Định Hoá (Thái Nguyên), Sơn Dương (Tuyên Quang). Ban chi huy gồm đồng chí Triệu Khánh Phương (tức Triệu Nho Phú) làm trung đội trường, đồng chi Phương Cương (tức Phương Văn Khin) làm chính trị viên, đồng chí Chư Phóng (tức Chu Văn Trực) làm trung đội phó. Đồng chi Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Ban thường vụ Trung ương Đảng thay mặt Trung ương công nhận và giao nhiệm vụ cho đơn vị. Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cứu quốc quân - lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng đã không ngừng phát triển cả về số lượng và sức chiến đấu, làm lực lượng nòng cốt để xây dựng chiến khu Hà - Tuyên - Thái, góp phần làm bàn đạp cùng các dân tộc Việt Bắc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám.

        Tháng 2

        * Xuất bản cuốn "Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc" của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Từ kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Bắc, cuốn sách đề cập một cách toàn diện tới các lĩnh vực hoạt động: "Về mặt quân sự, đoàn thế tích cực tiến hành công tác binh vận và chú trọng đào tạo đội tự vệ chiến đấu (tiểu tổ du kích). Đội tự vệ chiến đấu gồm những phần tử trong đội tự vệ thường khoẻ mạnh, kiên quyết, sẵn lòng hy sinh vì nước, tình nguyện sau này đi đánh du kích. Họ phải nắm một thứ vũ khí và phải luyện tập nhiều, phần lớn được huấn luyện, đặc biệt về quân sự".

        * Thành lập xương sản xuất vũ khí ở làng Chè (Tiên Sơn, Bâc Ninh). Xưởng do đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân và đồng chí Ngô Gia Khảm phụ trách, có nhiệm vụ sản xuất lựu đạn vỏ gang. Sau ba lần chế thử, xưởng đã sản xuất thành công lựu đạn vỏ gang và sản xuất hàng loạt, mỗi tháng gần 100 quả. Loại lựu đạn do xưởng sản xuất đả được Cứu quốc quân sử dụng đánh quân Nhật hiệu qua trong trận Mo Gà (11-1944)...

        9 tháng 3

        Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng thành lập xưởng sản xuất và chế tạo vũ khí ở Lũng Hoàng (Cao Bằng). Lúc đầu xưởng có 6 công nhân, sau tăng lên 12 người, có chi bộ Đảng, do đồng chí Đặng Văn Cáp phụ trách. Xưởng có nhiệm vụ sửa chữa súng và chế thử lựu đạn, địa lôi (mìn). Xưởng đã tổ chức chế thử được lựu đạn và mìn có vỏ bằng sắt tây, khi thử nố sức công phá còn yếu. Biết tin này, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: "Nó phá ít, nhưng nó kêu to, làm cho Tây - Nhật cũng phải khiếp sợ”. Về sau nhờ có được mấy quả lựu đạn của Mỹ do đồng chí Tống Minh Phương từ Trung Quốc gửi về, xưởng đã nghiên cứu chế tạo được lựu đạn vỏ gang, ngoài vỏ đúc hai chữ VM (Việt Minh). Từ đây, lựu đạn Việt Minh được sản xuất hàng loạt thay thế lựu đạn ống bơ. Xưởng Lũng Hoàng còn sửa chữa được nhiều loại súng như súng kíp, súng ngắn, súng trường..., góp phần cung cấp thêm vũ khí cho các lực lượng vũ trang đánh giặc.

        Tháng 3

        Thành lập đội vũ trang thoát ly ở châu Hà Quảng (Cao Bằng) gồm 50 người, do đồng chí Dương Đại Lâm làm trung đội trưởng. Châu Hoà An củng thành lập một trung đội, do đồng chí Nguyễn Chí Đỗ làm trung đội trưởng. Riêng khu Thiện Thuật của đồng bào Hơ Mông có một trung đội. do đồng chí Cao Lý làm trung đội trưởng. Tại các xã Thượng Ân, Băng Vân, Vân Tùng, Tân Kim, Hoa Thám, Hưng Đạo (Nguyên Bình - Cao Bằng) đều thành lập các tiểu đội du kích thoát ly. Sự ra đời của các đội vũ trang thoát ly đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng Cao Bằng góp phần thúc đẩy phong trào địa phương phát triển mạnh mẽ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2016, 08:02:17 AM

        7 tháng 5

        Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị "Sửa soạn khởi nghĩa", nhận định: Thời cơ hết sức thuận lợi cho nhân dân Đông Dương giành chính quyền sắp tới, song thời cơ không phải tự nó đến, một phần do ta sửa soạn thúc đẩy nó. Nội dung chỉ thị đề cập: "Ai xông ra đánh quân thù? Lấy gì đánh quân thù? Đánh bằng cách gì? Đánh vào lúc nào để thắng. Làm thế nào đấy mạnh phong trào tiến tới khởi nghĩa?".

        Về "đánh bằng cách gì", bản chị thị nêu rõ: "Quân khởi nghĩa của ta phải đánh theo lối du kích không thể đánh lối dàn trận. Một chiến sĩ Cứu quốc quân lúc này phải biết bắn súng, hành quân, chiến thuật du kích". Tiếp đó, bản chí thị đề ra một số công việc cụ thể:

        1- Mỗi kỳ phải tổ chức một ủy ban quân chính (quân sự, chính trị) toàn kỳ để chỉ huy đôn đốc về quân sự, nhất là huấn luyện quân sự theo ba chương trình huấn luyện là: a- Huấn luyện các đội tự vệ, b- Huấn luyện các đội viên du kích, c- Huấn luyện các cán bộ chi huy quân sự.

        2- Tất cả các cán bộ chỉ đạo tinh trở lên phải lần lượt được huấn luyện quân sự theo chương trình đại đội trưởng.

        3- Mỗi tỉnh cử một hay hai, ba đồng chí có khiếu quân sự về dạy cho các đội viên.

        4- Mỗi tỉnh cử một đồng chí khá về quân sự làm ủy viên quân sự đế trông nom, đôn đốc việc phát triển và thống nhất các đội tự vệ toàn tỉnh.

        Đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng đã giải thích tinh thần bản chỉ thị này trong bài "Hãy nắm lấy khâu chính" (Báo Cờ giải phóng, số 6, ngày 25-7-1944) gồm-

        1- Phải ra sức phát triển các tổ chức tự vệ và tố chức thêm bộ đội chiến đấu.

        2- Phải huấn luyện cán bộ quân sự để chi huy các tổ chức có tính cách quân sự.

        3- Phải tìm cách sắm vũ khí để vũ trang cho các bộ đội và các tổ chức tự vệ.

        4- Phải hết sức vận động binh lính để lấy súng thù bắn thù.

        5- Phải làm cho chiến thuật khởi nghĩa được phổ biến trong các tổ chức cách mạng và dân chúng.

        Giữa năm 1944

        Một số vùng thuộc Quốc Oai, Hoài Đức, Đan Phượng (Hà Đông - Sơn Tây) được Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ chọn làm an toàn khu. Nhân dân và lực lượng tự vệ ở địa phương đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ an toàn cho các cơ quan cùa Đảng. Đảng bộ Hà Đông - Sơn Tây tích cực củng cố các đội tự vệ, tổ chức thêm các đội mới, mua sắm vũ khí trang bị cho tự vệ. Một số nơi như Tảo Khê (Ứng Hoà), Vạn Phúc (thị xã Hà Đông), Sài Sơn (Quốc Oai) tổ chức lò rèn đúc vũ khí cho tự vệ. Đan Phượng, Thanh Oai, Mỹ Đức, Phú Xuyên cử đội viên tự vệ dự các lớp học chính trị, quân sự do Xứ ủy Bắc Kỳ hoặc tỉnh tổ chức.

        23 tháng 7

        Toàn quyền Đông Dương Đờ-cu chi định trung tướng Ai-mê, nguyên chi huy các lực lượng quân đội Bắc Kỳ nhậm chức tổng chí huy tối cao quân đội Đông Dương thay tướng Moóc-đăng về nước.

        Tháng 7-1944 đến tháng 3-1945

        Các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang tổ chức được 20 lớp huấn luyện quân sự ở các huyện Hiệp Hoà, Yên Thế, Lục Ngạn, Tiên Du, Thuận Thành. Mỗi lớp có từ 20 - 40 học viên là tự vệ của các xã. Nội dung huấn luyện gồm nhiệm vụ, phương châm công tác của quân đội cách mạng, cách sử dụng súng, lựu đạn, mìn... Kết thúc khoá học, các học viên trở về địa phương xây dựng và huấn luyện lực lượng tự vệ, làm nòng cốt để khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương khi thời cơ đến.

        10 tháng 8

        Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi "Sắm vũ khí! Đuổi thù chung". Sau khi vạch trần tội ác của Nhật - Pháp và chỉ rõ cơ hội cho dân tộc Việt Nam vùng dậy giành độc lập đã tới, Mặt trận Việt Minh nêu rõ: "Quỹ mua súng của Mặt trận Việt Minh đã thành lập. Nếu Việt Minh lĩnh trách nhiệm bày mưu, lập kế và tình nguyện đi đầu trong trận đánh đuổi Nhật - Pháp sắp tới, thì bổn phận toàn thể đồng bào ta là phải hăng hái quyên góp cho quỹ mua súng của Việt Minh. Khẩu hiệu của người Việt Nam lúc này là: "Sắm vũ khí đánh đuổi Nhật - Pháp".

        13 tháng 8

        Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng triệu tập hội nghị cán bộ chủ chốt các vùng Lũng Sa (một địa điểm giáp giới châu Hoà An và Nguyên Bình). Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh đến dự. Một số đội vũ trang của tỉnh được bí mật điều đến bảo vệ hội nghị. Hội nghị nhận định: "Căn cứ vào tình hình thế giới, tình hình trong nước và phong trào cách mạng Cao - Bắc - Lạng đã chín muồi để phát động chiến tranh du kích trong tỉnh". Trên cơ sở đó, hội nghị quyết định gấp rút chuẩn bị phát động khởi nghĩa ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn. Cụ thể là:

        "1- Hoàn thành công tác huấn luyện cho các đội trưởng và chính trị viên các đội vũ trang. Cán bộ thoát ly cũng phải huấn luyện quân sự.

        2- Tất cả các đội viên tự vệ chiến đấu đều chuyển thành các đội du kích, đấy mạnh phong trào mua sắm, tự tạo vũ khí, đạn dược; lương thực cho các đội du kích phải ăn đủ trong 6 tháng...".

        Kế hoạch khởi nghĩa được xác định là sau vụ gặt mùa (năm 1944), nhân dân cả ba tinh Cao - Bắc - Lạng sẽ vùng lên giành chính quyền cách mạng. Hội nghị cử ra Uy ban Quân sự giúp ban liên tỉnh đôn đốc và kiếm tra các công việc chuẩn bị khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2016, 08:05:26 AM

        Đầu tháng 10

        Đơn vị vũ trang tự vệ (tự vệ chiến đấu) đầu tiên của huyện Chợ Đồn được thành lập tại Bó Lọn, bản Bảng, xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn). Đội gồm 40 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí Vũ Yến chỉ huy. Vũ khí có một "Rô-manh-tây", một số súng kíp, súng khai hậu, còn lại là dao, kiếm. Sau một thời gian xây dựng; quân số của đội tự vệ Bó Lọn tăng lên 100 người, biên chế thành các trung đội và tiểu đội. Để có vũ khí trang bị cho các đội tự vệ chiến đấu huyện Chợ Đồn xây dựng một cơ sở sửa chửa, sản xuất vũ khí ở vùng Khuôi Phạ (xã Nghĩa Tá). Vừa mới thành lập đội tự vệ Bó Lọn tố chức huấn luyện về quân sự, chính trị bước đầu huấn luyện về chiến thuật đánh du kích và một số khoa mục quân sự khác, sẵn sàng đánh địch.

        Tháng 10

        Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chuẩn bị triệu tập cuộc họp định ngày khởi nghĩa trên phạm vi các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, tại một địa điểm gần biên giới Việt - Trung, tiếp giáp xã Nà Xác, châu Hà Quảng (Cao Bằng), thì lãnh tụ Hồ Chí Minh đến thăm. Sau khi nghe báo cáo tình hình mọi mặt của phong trào cách mạng Cao - Bắc - Lạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị hoãn ngay cuộc khởi nghĩa. Người phân tích: Liên tỉnh ủy chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới căn cứ vào tình hình địa phương, mà chưa căn cứ vào tình hình chung trong cả nước, mới chi thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Trong điều kiện bấy giờ, nếu phát động nhân dân nhất tề nối lên đánh du kích theo quy mô và phương thức đã định trong nghị quyết, thì sẽ gặp nhiều khó khăn... Bởi vì các địa phương trong toàn quốc tuy phong trào đã lên cao, nhưng chưa nơi nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng.

        Về mặt quân sự, chủ trương trên củng không theo đúng nguyên tắc tập trung lực lượng, cán bộ, vũ khí, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt. Người chi rõ: thời kỳ cách mạng phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới và đưa ra phương châm chi đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang phù hợp với tình thế đề từng bước hướng tới khởi nghĩa giành chính quyền.

        Quyết định sáng suốt của lãnh tụ Hồ Chí Minh không những tránh cho phong trào cách mạng Cao - Bắc - Lạng bị tổn thất, mà còn vạch ra hướng đi đúng đắn cho cách mạng phát triển một cách vững chắc trong thời điểm quyết định của lịch sử.

        10 tháng 11

        Ban lãnh đạo Phân khu A (Quang Trung) triệu tập hội nghị mở rộng tại Đồng Mỏ, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai (Thái Nguyên). Sau khi phân tích tình hình địch đang tập trung quân mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ, so sánh lực lượng ta địch, hội nghị chủ trương: "Phải trừng trị quân giặc, kể cả việc tiêu diệt các đồn, bốt và phát triển cơ sở cách mạng" và quyết định lập các ban phá hoại, chiến đấu, trinh sát, binh vận...; tiến hành trừng trị bọn đầu sỏ phản động, mật thám; vận động nhân dân cất giấu lương thực, làm "vườn không nhà trống", tiêu thố làng mạc, phá hoại giao thông, tổ chức chặn viện và tiêu diệt đồn địch ở Đình Cả, Quang Thái, Tràng Xá và La Hiên. Tiếp đó, ngày 12 tháng 11, Ban lãnh đạo Phân khu A họp tại Chùa An (Phú Thượng) quyết định bổ sung: Phân tán nhân dân lánh vào rừng, lực lượng vũ trang ở lại tiếp tục đánh các đồn bốt địch ở Quang Thái, Đình cả, Tràng Xá, châu lỵ La Hiên; đồng thời phối hợp với lực lượng vũ trang ở Bắc Sơn đánh chặn địch từ Lạng Sơn xuống.

        11 tháng 11

        Lực lượng Cứu quốc quân tổ chức đánh địch ờ Đình Ca (Thái Nguyên), diệt hàng chục tên. Tên đồn trương Đình Cả và binh lính hoảng sợ bỏ chạy. Trước khí thế của cách mang nguy quyền trong vùng tan rã, một số bị giết hoặc đầu hàng, số còn lại chạy trốn. Hầu hết hương lý, kỳ hào đều khuất phục trước, uy thế của Cứu quốc quân. Chiều ngày 11 tháng 11, đông đào nhân dân Võ Nhai giương cao cờ đỏ đánh trống mõ, rầm rộ, tuần hành thị uy khuếch trương thanh thế. Trong khi đó, du kích và tự vệ phá cầu gỗ ở ki-lô-mét 25, cắt đứt giao thông cua địch trên đường Thái Nguyên - Võ Nhai. Đêm 12 tháng 11, Cứu quốc quân và đội tự vệ đánh bốt Quang Thái, sau đó đánh tan lực lượng địch từ Thái Nguyên lên giải vây. Trên suốt dọc đường từ Thái Nguyên lên Đình cả, Võ Nhai, quân địch liên tiếp bị phục kích ở Nà Noọng, Mỏ Gà (14-11), La Mạ (15-11), La Hoá (16-11), Đất Đỏ (17-11) và bị tổn thất nặng.

        27 tháng 11

        Thực dân Pháp huy động hàng nghìn quân từ Bắc Sơn (Lạng Sơn) xuống, từ thị xã Thái Nguyên lên bao vây, tiến công Cứu quốc quân ở Võ Nhai. Chúng tập trung vây đánh hang Phượng Hoàng - nơi có 75 cán bộ, chiến sĩ Cứu quốc quân và tự vệ chiến đấu, có 5 súng kíp, còn lại là giáo mác và 373 hộ gia đình với khoang 1.500 người. Dựa vào thế núi, Cứu quốc quân và tự vệ làm các sàn đá, bẫy đá chờ địch đến gần mới phá cho đá lăn xuống tới tấp đè chết một số tên, số còn lại hoảng sợ tháo chạy xuống tận chân núi. Trước quân địch đông, để bảo toàn lực lượng, Cứu quốc tự vệ và đại bộ phận nhân dân đã rút khỏi hang an toàn. Đên 14 giờ, địch tiến vào chiếm hang đá hoàn toàn hoang vắng.

        Sang tháng 12, cuộc chiến đấu của Cứu quốc quân ở Võ Nhai (Thái Nguyên) gặp khó khăn. Vũ khí, lương thực đã cạn dần; địch ngày càng tăng cường khủng bố, bao vây, phong toả căn cứ. Cứu quốc quân và tự vệ vừa lo tổ chức đánh địch, vừa lo bảo vệ và tổ chức đời sống nhân dân. Phạm vi hoạt động của Cứu quốc quân bị thu hẹp trong vòng vây của địch. Được tin cuộc chiến đấu ở Võ Nhai nổ ra ngoài kế hoạch, Trung ương Đảng kêu gọi toàn quốc "hãy quyên tiền, gạo, lương khô, thuốc men, quần áo cho chiến sĩ Thái Nguyên"; đồng thời cử đồng chí Ngô Thế Sơn - Ủy viên Ủy ban quân chính Bắc Kỳ lên Võ Nhai truyền đạt và tổ chức thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về việc rút lui cuộc đấu tranh để bảo toàn lực lượng.

        Theo chi thị của Trung ương Đảng, 70 cán bộ, chiến sĩ Cứu quốc quân bí mật rút sang Yên Thế (Bắc Giang) dựa vào cơ sở cách mạng ở đây để học tập chính trị, huấn luyện quân sự; một số chuyển sang Phân khu B (Nguyễn Huệ) hoạt động; một số ở lại tiếp tục bám cơ sở đế lãnh đạo quần chúng tiếp tục đấu tranh với địch.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2016, 08:42:11 AM

        Tháng 12

        Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bản chỉ thị đề cập tới những vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự của Đảng: Kháng chiến toàn dân, động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng ba thứ quân, phương thức, hoạt động kết hợp quân sự với chính trị, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật của lực lượng vũ trang.

        Về việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, chỉ thị nêu rõ: "Theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngủ những du kích Cao - Bắc - Lang số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực... Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân đàn anh mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang nó có thề đi suốt từ Nam chí Bắc khắp đất nước Việt Nam". Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đặt cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng ta lãnh đạo chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong thời đại mới.

        22 tháng 12

        Thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Lễ thành lập được tổ chức tại một khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội gồm 34 chiến sĩ, trang bị 34 khẩu súng các loại, biên chế thành 3 tiểu đội, do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí xích Thắng làm Chính trị viên và đồng chí Văn Tiên (tức Lộc Văn Lùng) làm quản lý. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chi Minh ủy nhiệm tổ chức lãnh đạo, chỉ huy đã tuyên bố thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và vạch rõ nhiệm vụ của Đội đối với Đảng, nhân dân và Tổ quốc. Dưới lá cờ đỏ sao vàng, toàn Đội long trọng tuyên đọc Mười lời thề danh dự của Đội.

        Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22 tháng 12 năm 1944 được xác định là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta.

        25 và 26 tháng 12

        Chiến thắng Phai Khắt và Nà Ngần. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh "Trong một tháng sau khi thành lập phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi" ngày 25 tháng 12, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân tiến đánh đồn Phai Khắt (tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tinh Cao Bằng), do 21 lính dõng được viên cai Si-mô-nơ người Pháp chỉ huy trấn giữ. 17 giờ, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân cùng khoảng 50 du kích (trừ một số canh gác vòng ngoài), chia làm hai tiểu đội cải trang làm quân tuần tiễu của cấp trên đến kiểm tra vào đồn rồi bất ngờ chĩa súng, buộc địch phải đầu hàng. Khi tên cai Si-mô-nơ trở về đồn liền bị ta phục bắn chết. Như vậy, chỉ trong 10 phút chiến đấu, ta bắt 17 tên địch (4 tên đã trốn trại từ trước), thu 17 súng và nhiều trang bị, sau đó rút lui an toàn.

        Trận Phai Khắt thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thẳng, đánh thắng trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Phát huy thắng lợi, ngày 26 tháng 12, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đánh đồn Nà Ngần (xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Đồn do 22 lính khố xanh đóng giữ, xung quanh có giao thông hào và hàng tre bảo vệ. 7 giờ 14 phút ngày 26, Đội cải trang thành toan lính tuần tra, giải "Cộng sản", bắt được lên quan đồn. Khi đến đồn biết được địch có biểu hiện nghi vấn, ta chủ động nổ súng diệt 5 tên, bắt 17 tên, thu 17 súng các loại. Thắng lợi của trận Nà Ngần thể hiện sự kết hợp khôn khéo giữa mưu và lược, xử trí linh hoạt, mau lẹ trong chiến đấu của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2016, 09:02:20 PM
       
Năm 1945

        3 tháng 2

        Thành lập chiến khu Hoà - Ninh - Thanh (tức chiến khu Quang Trung) và đơn vị vũ trang của chiến khu. Theo chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, chiến khu Hoà - Ninh - Thanh (gồm ba tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá) - nơi có phong trào cách mạng sớm phát triển, có vị trí chiến lược quan trọng được thành lập. Ngày 15 tháng 5 năm 1945, chiến khu Hoà - Ninh - Thanh đổi tên là chiến khu Quang Trung với các trung tâm căn cứ được đặt ở Quỳnh Lưu (Ninh Bình), Ngọc Trạo (Thanh Hoá) và Mường Khói (Hoà Bình), trong đó vùng Quỳnh Lưu được chọn làm trung tâm chiến khư. Đồng chi Văn Tiến Dũng - Ủy viên thường vụ, Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ thay mặt Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo xây dựng chiến khu. Các đồng chí Phan Long (tỉnh Hoà Bình), Nguyễn Văn Mộc (tỉnh Ninh Bình), Lê Chủ (tỉnh Thanh Hoá) là ủy viên Ban chi đạo của chiến khu. Ngày 20 tháng 5, trung đội Giải phóng quân đầu tiên của chiến khu được thành lập, gồm 40 chiến sĩ với 22 súng, 1 tiểu liên và 1 súng máy. Ngày 20 tháng 6 trung đội Giải phóng quân thứ hai của chiến khu được thành lập, gồm 41 chiến sĩ, trang bị 19 súng các loại, một số mã tấu, biên chế thành 3 tiểu đội. Du kích, tự vệ của chiến khu ra đời và phát triển đả tham gia chiến đấu, bảo vệ căn cứ, gây thanh thế cho cách mạng. Trong cao trào Cách mạng tháng Tám, chiến khu Quang Trung trở thành đầu mối chỉ đạo khởi nghĩa của Xứ ủy Bắc Kỳ, làm bàn đạp cho các lực lượng vũ trang chiến khu hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại các châu, phủ, tỉnh ly ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá và gây ảnh hưởng lớn đến các tỉnh lân cận, góp phần thúc đẩy Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi nhanh chóng trên phạm vi cả nước.

        5 tháng 2

        Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân tiến đánh đồn Đồng Mu - một đồn biên phòng nằm sát biên giới Việt - Trung, thuộc châu Bảo Lạc (Cao Bằng). Sau một thời gian chiến đấu, ta diệt gần 20 tên địch, bắt 3 tên, thu một số vũ khí. Trận này, đồng chí Đàm Quang Trung dùng súng và dao găm diệt 5 tên địch.

        Tiếp đó, ngày 25 tháng 2, Đội tổ chức phục kích ở đèo Ben La (tức đèo Cao Bắc) thuộc châu Nguyên Bình (Cao Bằng), tiêu diệt và bắt gần một trung đội địch, thu 16 khẩu súng các loại và nhiều lương thực, đạn dược. Ta tuyên truyền, giải thích cho tù binh rồi thả một số về đồn Na Ngần, làm cho binh lính địch ở đây hoang mang, dao động. Đêm 25 tháng 2, bộ đội ta bao vây đồn Nà Ngần, vừa đánh vừa kêu gọi binh lính địch trở về với cách mạng. Bị đánh bất ngờ quân địch tan rã, một số lén lút chạy trốn, một số ra hàng ta chiếm đồn, thu gần 30 súng và toàn bộ đạn dược, quân dụng.

        9 tháng 3

        Phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Đông Dương. Đúng 21 giờ, viện cớ phía Pháp bác bỏ tối hậu thư, quân Nhật tiến công vào các vị trí quân Pháp ở Hà Nội hầu như không gặp sức kháng cự nào. Quân Nhật chiếm Phủ toàn quyền, bắt giữ toàn quyền Đông Dương và các quan chức của Pháp, trong đó có tướng Moóc-đăng chi huy tố chức kháng chiến của phái Đờ Gôn và tướng Ai-mê, tổng tư lệnh quân đội toàn Đông Dương. Bằng một hành động thống nhất, quân Nhật nổ súng tiến công vào nhiều vị trí và nhanh chóng đè bẹp sức chống đỡ của quân Pháp ở các nơi. Đến chiều 10 tháng 3, quân Pháp đầu hàng, phát xít Nhật làm chủ các vùng đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn và nhiều tỉnh ly khác. Một số đơn vị quân Pháp cố thủ ở Cà Mau, Biển Hồ (Campuchia) và một số vùng bắc Đông Dương, củng lần lượt thất bại trước sức tiến công của quân Nhật. Chỉ còn một số ít tàn quân thoát qua vùng biên giới Việt - Trung. Lúc này, lực lượng quân sự Pháp hoàn toan tan rã, bộ máy thống trị của Pháp đã đầu hàng, toàn bộ Đông Dương trở thành thuộc địa của phát xít Nhật.

        9-12 tháng 3

        Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng, ra chỉ thị: Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", xác định: "Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương". Toàn bộ nội dung của Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng được phản ánh trong chì thị lịch sử ngày 12 tháng 3 năm 1945: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", về nhiệm vụ quân sự chi thị nêu rõ:

        - "Tổ chức thêm nhiều bộ đội du kích và tiểu tổ du kích.

        - Thành lập những căn cứ địa mới.

        - Thống nhất các chiến khu và thành lập "Việt Nam Giải phóng quân".

        - Tổ chức "Ủy ban Quân sự cách mạng" (tức Ủy ban khởi nghĩa) để thống nhất chỉ huy du kích các chiến khu".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:54:14 AM

        10 tháng 3

        * Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng triệu tập hội nghị tại Lam Sơn, châu Hoà An (Cao Bằng) nhận định tình hình Nhật đảo chính Pháp và quyết định:

        1- Đánh đổ chế độ thống trị cũ của Pháp ở nông thôn, thành lập chính quyền nhân dân ở cấp xã, châu, huyện, phủ và tỉnh.

        2- Phân công cán bộ Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân phối hợp với các đội vũ trang ở địa phương tổ chức thêm những đơn vị giải phóng quân chuẩn bị đánh Nhật.

        3- Đối với quân Pháp không tập kích lúc họ rút lui, trái lại kêu gọi, tranh thủ họ cùng tổ chức chống Nhật.

        * Nhân dân xã Trung Màu, huyện Tiên Du (Bắc Ninh) chi bộ Đảng địa phương lãnh đạo, phát động quần chúng ở đội tự vệ hỗ trợ nổi dậy giành chính quyền. Thắng lợi của cuộc nổi dậy Trung Màu mở đầu cao trào chống Nhật, cứu nước, giành chính quyền ở vùng đồng bằng Bác Bộ.

        11 tháng 3

        Khởi nghĩa Ba Tơ. Ba Tơ là một châu miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Được tin Nhật đảo chính Pháp, ngày 10 tháng 3, Tỉnh ủy Quảng Ngải quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền và thành lập đội du kích làm lực lượng nòng cốt. Chiều 11 tháng 3, khởi nghĩa bùng nổ, bắt đầu bằng cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại sân vận động châu lỵ, sau đó phát triển thành biểu tình vũ trang bao vây đồn Ba Tơ, Nha kiểm lý. Phối hợp với nổi dậy của quần chúng, lực lượng du kích đánh chiếm Nha kiểm lý, tiếp đó vận động binh lính địch làm nội ứng đánh chiếm đồn Ba Tơ, thu 17 súng, 15 hòm đạn và nhiều quân trang, quân dụng. Ngày 12 tháng 3, Ban chỉ huy khởi nghĩa tổ chức mít tinh quần chúng, tuyên bố xoá bỏ chính quyền đế quốc, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân. Cùng ngày 12 tháng 3, đội du kích Ba Tơ được thành lập gồm 28 chiến sĩ, trang bị 24 khẩu súng, biên chế thành 3 tiếu đội (trinh sát, tuyên truyền, dân vận) do đồng chí Phạm Kiệt làm Đội trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn làm chinh trị viên. Đội du kích Ba Tơ là lực lượng làm nòng cốt cho cao trào chống Nhật, cứu nước, giành chính quyền ở Quảng Ngãi trong Cách mạng tháng Tám và là hạt nhân của lực lượng vũ trang Liên khu 5 sau này.

        12 tháng 3

        Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Khang - Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Lê Liêm đã trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang tại chỗ tiến đánh đồn Bần - Yên Nhân (Hưng Yên), sát đường số 5 (cách Hà Nội 28 km), do một sĩ quan Pháp chi huy. Nhờ làm tốt công tác binh vận, ta đã cảm hoá và giác ngộ được một số binh lính địch ngả theo cách mạng làm nội ứng đánh đồn. Tham gia trận đánh gồm có một số đội viên tự vệ chiến đấu, thanh niên và nông dân cứu quốc được chọn ở một xã thuộc An toàn khu Bãi Sậy.

        Theo kế hoạch, đêm 12 tháng 3, quân ta đóng giả Nhật và Đại Việt ngang nhiên tiến thẳng vào đồn, hô lớn: "Quân Nhật về tước súng". Bị bất ngờ, tên đồn trưởng Pháp cùng một số binh lính hoảng sự bỏ chạy, một số đầu hàng. Ta thu 26 súng trường, 5 hòm đạn, sau đó giải thích chính sách của Việt Minh cho binh lính còn lại. rồi rút khỏi đồn. Được tin đồn Bần - Yên Nhân bị đánh, quân Nhật tới ứng cứu tiến theo đường 5 lên chợ Đường Cái, nhưng ta đã rút lui an toàn theo cánh đồng Quán Chuội. Trận diệt đồn Bần - Yên Nhân là hoạt động quân sự đầu tiên diễn ra thắng lợi ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong Cách mạng tháng Tám. Sau này, đồng chí Võ Nguyên Giáp khen ngợi đây là "một trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ lúc đó".

        12 tháng 4

        Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi: "Đồng tiền cứu nước, động viên toàn dân quyên góp tiền mua vũ khí, góp phần trang bị cho Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và lực lượng vũ trang cách mạng đánh giặc, giành độc lập cho dân tộc.

        15-20 tháng 4

        Hôi nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, gồm đại biểu ở các chiến khu Việt Bắc và chiến khu Quang Trung họp tại Hiệp Hoà (Bắc Giang), do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì. Sau khi phân tích tình hình thế giới và cao trào chống Nhật cứu nước của nhân dân ta, Hội nghị nêu rõ: "Tình hình đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cà các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ".

        Hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng về quân sự: phát triển lực lượng vũ trang, thống nhất Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang cách mạng thành Việt Nam Giải phóng quân; mở Trường Quân chính kháng Nhật, ra sức thu nhặt và sửa chửa vũ khí, lập xưởng sửa chửa vũ khí, chế tạo súng ống, bom đạn, tích trử lương thực, lập kho thóc giải phóng quân ờ các xã; phát triển bộ đội giải phóng, tổ chức rộng rãi những đội tự vệ, tự vệ chiến đấu và bộ đội địa phương, dùng "chiến thuật đánh úp quân địch bằng những trận nhỏ, nắm chắc phần thắng để giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta...

        Đê xây dựng bàn đạp cho cuộc tống khởi nghĩa, Hội nghị quyết định xây dựng 7 chiến khu trong cả nước: Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hưng Đạo (Bắc Ky); Phan Đình Phùng, Trưng Trắc (Trung Kỳ); Nguyễn Tri Phương (Nam Kỳ) và nối liền đường dây liên lạc giữa các căn cứ của ba miền.

        Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, trong đó có các thành viên Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Chu Văn Tấn, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh. Nhiệm vụ của Ủy ban là chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về chính trị và quân sự; đồng thời giúp đỡ các chiến khu toàn quốc về mặt quân sự.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2016, 10:55:52 PM

        Tháng 4

        * Chiến khu Vần - Hiền Lương (Phú Thọ - Yên Bái) hình thành, do đồng chí Ngô Minh Loan - Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ phụ trách. Uy tín của Việt Minh từ chiến khu này vang dội khắp các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, thu hút nhiều thanh niên và quần chúng tích cực, kể cả bảo an binh vừa rời bỏ hàng ngũ địch tham gia các hội cứu .quốc với hơn 700 hội viên. Tháng 6 năm 1945, đội du kích tập trung của chiến khu được thành lập, gồm 35 chiến sĩ, mang tên Đội du kích Âu Cơ (vì nơi đây có đền thờ bà Âu Cơ, nên Ban chỉ huy quyết định lấy tên đó đặt cho đội du kích). Đội du kích không ngừng được củng cố và phát triển, đến tháng 7 năm 1945 đã tăng lên 500 chiến sĩ, trở thành lực lượng nòng cốt để tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái.

        * Thành lập đội du kích chống Nhật mang tên đội du kích Cao Sơn (lấy tên một danh tướng của nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật là Cao Sơn đặt tên cho đội) tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, do đồng chí Trường Sơn làm đội trưởng. Nhiệm vụ của đội là vũ trang tuyên truyền trong nhân dân phá đồn trừ gian, lập chính quyền cách mạng ở cơ sở tổ chức các đoàn thể quần chúng rộng rãi, hoạt động du kích chống Nhật, xây dựng căn cứ địa, bảo đảm giao thông liên lạc của Trung ương từ miền xuôi lên căn cứ Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang).

        Cuối tháng 4

        * Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân từ một vài trung đội, đại đội được xây dựng, phát triển thành nhiều đại đội, đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng một vùng rộng lớn gồm hầu hết các xã, châu, huyện ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang. Chính quyền cách mạng được thành lập thực hiện chức năng quản lý, điều hành xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội.

        * Trên cơ sở lực lượng chính trị của quần chúng phát triển, việc xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, bán vũ trang ở Hải Phòng - Kiến An được đẩy mạnh. Ở nội thành Hải Phòng, các đội tự vệ bí mật trong công nhân được thành lập ở nhà máy xi măng, Hoả Xa, Ca-rông và các khu Thượng Lý, Lạc Viên. Các đội tự vệ cứu quốc và du kích ở vùng nông thôn phát triển mạnh ở nhiều thôn xã của các huyện Kiến Thuỵ, Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, An Lão, An Dương, Hải An. Riêng Kiến Thuỵ Thuỷ Nguyên, An Lão mỗi nơi tổ chức được lực lượng vũ trang tập trung từ 2 - 3 trung đội tự vệ.

        Đầu tháng 5

        Lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Sơn Dương (Tuyên Quang), chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị đại hội quốc dân. Sau khi nghe báo cáo vùng giải phóng của ta đã bao gồm phần lớn các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Người chủ trương nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu Giải phóng.

        11-15 tháng 5

        Hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ họp bàn việc chuẩn bị những công việc cụ thể để phát động tổng khởi nghĩa. Hội nghị nhấn mạnh đến vấn đề sửa soạn khởi nghĩa và đề ra nhiệm vụ sắm sửa vũ khí, chọn căn cứ địa, huấn luyện quân sự, tổ chức quân đội, tự vệ tập trung ở một số tỉnh quan trọng trong lúc chuẩn bị khởi nghĩa.

        15 tháng 5

        Thành lập Việt Nam Giải phóng quân. Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân gặp nhau ở bãi Thàn Mát (tên một loại cây) phía sau đình làng Quặng (xã Định Biên, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên). Cùng ngày 15 tháng 5, tại đình làng Quặng, thực hiện nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang khác trong cả nước thành Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng gồm 13 đại đội chủ lực và một số đại đội, trung đội địa phương. Bộ tư lệnh đầu tiên của Việt Nam Giải phóng quân gồm: Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn.

        Tháng 5

        Thành ủy Hải Phòng tổ chức hội nghị phổ biến chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đang "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Quán triệt chỉ thị của ương, hội nghị chủ trương: Tập trung mũi nhọn chống Nhật và bọn Việt gian thân Nhật. Tổ chức các đội tự vệ cứu quốc ở các xí nghiệp, đường phố. Vận động quần chúng cơ sở tham gia phong trào quyên góp mua sắm vũ khí cho tự vệ. Đẩy mạnh tuyên truyền kháng Nhật cứu nước tích cực chuẩn bị khởi nghĩa. Thống nhất các tổ chức quần chúng xuống đường đấu tranh, phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo.

        Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu của Đảng bộ là gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền trong một thời gian ngắn nhất.

        Tháng 5 - tháng 6

        Việt Nam Giải phóng quân phối hợp với lực lượng du kích, tự vệ và nhân dân các dân tộc Việt Bắc đánh bại cuộc tiến công của 2.000 quân Nhật trên ba hướng: Bắc Cạn - Chợ Rã - Chợ Đồn, Vĩnh Yên - Thiện Kế - Sơn Dương - Thanh La và Thái Nguyên - Phấn Mễ - Chợ Mới - Chợ Chu, bảo vệ vững chắc căn cứ địa. Thắng lợi này khẳng định tư tưởng tiến công để giữ vững vùng căn cứ của Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ là chính xác và trình độ đánh du kích của lực lượng vũ trang vùng căn cứ cách mạng tiến bộ nhanh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2016, 04:58:37 AM

        4 tháng 6

        Thành lập Khu Giải phóng Việt Bắc. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh triệu tập hội nghị cán bộ, tuyên bố chính thức thành lập Khu Giải phóng, trên cơ sờ hợp nhất và mở rộng chiến khu Cao - Bắc - Lạng và chiến khu Hà - Tuyên - Thái, bao gồm các châu, huyện vùng giải phóng các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một phần các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên, có diện tích 40.000 km2, với hơn một triệu dân và lực lượng vũ trang lên tới hàng nghìn cán bộ. chiến sĩ. Vùng Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) là trung tâm của khu giải phóng. Tại đây, các ủy ban nhân dân cách mạng, do nhân dân cử ra, đã tổ chức thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Khu Giải phóng được xây dựng về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội, là địa bàn hoạt động và trưởng thành của Việt Nam Giải phóng quân. Cùng với các chiến khu trong cả nước, Khu giải phóng Việt Bắc trở thành chỗ dựa vững chắc, là bàn đạp quan trọng góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

        8 tháng 6

        Thành lập chiến khu Trần Hưng Đạo (tức chiến khu Đông Triều, hay Đệ Tứ chiến khu). Thực hiện nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, ngày 8 tháng 6, nhân dân Đông Triều dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương đâ nổi dậy đánh chiếm các đồn Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch (Hải Dương), tước vũ khí, thủ tiêu chính quyền của địch, thành lập chiến khu Trần Hưng Đạo. Tại đây đã hình thành Ủy ban nhân dân cách mạng và đội du kích chống Nhật, do các đồng chí Nguyễn Bình, Hải Thanh, Trần Cung chỉ huy. Từ Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, địa bàn chiến khu nhanh chóng được xây dựng mở rộng ra vùng Kim Môn, Thanh Hà, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, Yên Hưng và một phần Kim Thành, tiếp đó là Kiến An, Đồ Sơn, Quảng Yên, Hòn Gai, trong đó Đông Triều, Chí Linh là trung tâm của chiến khu. Trong cao trào Cách mạng tháng Tám, lực lượng vũ trang của chiến khu đã tham gia đánh nhiều trận chống càn của quân Nhật và hỗ trợ. quần chúng nổi dậy đánh chiếm các đồn địch, góp phần giành chính quyền trên địa bàn đông bắc Bắc Bộ.

        25 tháng 6

        Trường Quân chính kháng Nhật khai giảng khoá 1 tại xóm Khuổi Kịch, xã Tân Trào, châu Tự Do (nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ: Đào tạo cấp tốc cán bộ trung đội trưởng và chính trị viên, đáp ứng nhu cầu cán bộ cho chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang. Đồng chí Hoàng Văn Thái và đồng chí Thanh Phong phụ trách lớp học. Học viên là cán bộ, chiến sĩ Việt Nam Giải phóng quân, một số cán bộ và hội viên cứu quốc nhiều tỉnh. Nội dung học tập gồm: Tình hình thế giới và trong nước, chương trình Mặt trận Việt Minh, Mười lời thề, Mười hai điều kỷ luật, công tác chính trị trong quân đội, kỹ thuật sử dụng súng, cách đánh tập kích, phục kích... Sau khoá 1, Trường mở tiếp khoá 2 và 3. 260 học viên được đào tạo trong 3 khoá ra trường được bổ sung cho các đơn vị vũ trang và một số địa phương.

        Cuối tháng 6

        Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định mở một lớp huấn luyện quân sự tập trung ngắn ngày mang tên "Trường Sơn du kích kháng Nhật học hiệu", tại bản Lọt, xã Hoài Ẩn, thuộc châu Lạc Sơn, tinh Hoà Bình. Mục đích nhằm bồi dưỡng, đào tạo cán bộ nắm vững các động tác và kỷ thuật sử dụng các loại vũ khí thô sơ (dao găm, mã tấu, ném lựu đạn...) để trở về các địa phương mở các lớp huấn luyện quân sự cấp tốc cho tự vệ và thanh niên cứu quốc.

        1 tháng 7

        * Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ và Bộ Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Cơ hội có một không hai đã ở trong tay chúng ta rồi. Thống nhất, hy sinh, kiên quyết chiến đấu, nhất định chúng ta sẽ thắng".

        * Thành lập tổ chức "Thanh niên Tiền phong" tập hợp lực lượng yêu nước ở Sài Gòn và một số tỉnh Nam Bộ, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

        4 tháng 7

        Lực lượng vủ trang và nhân dân địa phương đánh bại cuộc càn của quân Nhật vào căn cứ Quỳnh Lưu (Ninh Bình). Một đại đội quân Nhật dùng 3 xe quân sự tiến sâu vào trung tâm căn cứ hòng tiêu diệt quân cách mạng. Phát hiện địch, nhân dân nổi trống, mõ, thanh la, uy hiếp tinh thần quân địch. Trong khi đó, một bộ phận du kích, tự vệ phá đường ngăn địch để giải phóng quân và tự vệ chiến đấu diệt 7 tên (có 1 tên quan tư), làm bị thương một số tên khác. Bọn Nhật còn lại phải rút chạy về cố thủ ở Nho Quan (Ninh Bình).

        7 tháng 7

        Úy ban lâm thời Khu Giải phóng ra thông báo gửi uỷ ban nhân dân các tỉnh, châu, phủ, xã, các đội trưởng, chính trị viên và đội viên giải phóng quân, về quân sự, bản thông báo nêu rõ:

        "1- Củng cố các đội tự vệ, lập các tổ du kích, còn dân chúng người nào khỏe mạnh, bất phân nam nữ đều phải tự nắm lấy một thứ vũ khí và luôn luôn luyện tập quân sự.

        2- Bộ đội phải luôn luôn sẵn sàng, lúc nào có đủ điều kiện chiến thắng là phối hợp với các đội tự vệ mà đánh úp quân địch một cách nhanh chóng mau lẹ.

        3- Tích trữ binh lương cho đầy đủ".

        11 tháng 7

        Một trung đội tự vệ (36 chiến sĩ) dưới sự chỉ huy của đồng chí Đặng Kinh tập kích đồn Bàng (khoảng 20 lính đoan đóng giữ), cách Kim Sơn (Kiến An) 7 km. Các chiến sĩ cải trang thành những người buôn bán, người đi cày, giấu vũ khí trong người tiến đánh đồn. Sau 10 phút, ta bắt 20 lính đoan, thu một số vũ khí, đồ dùng quân sự. Nhân dân được tin kéo đến rất đông và biến thành cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi của lực lượng vũ trang cách mạng. Chiến thắng đồn Bàng tuy nhỏ nhưng đã cổ vũ phong trào cách mạng Hải Phòng - Kiến An đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2016, 05:04:41 AM

        16 tháng 7

        Việt Nam Giải phóng quân diệt đồn Tam Đảo (Vĩnh Yên). Đồn này nằm trên đỉnh núi cao, có 20 lính Nhật và 70 linh khố xanh, do 1 quan tư và 1 quan hai Nhật chi huy trấn giữ. Dựa vào một số anh em binh lính trong đồn được giác ngộ, một đơn vị giải phóng quân (mang tên Phạm Hồng Thái) đã tiến công đồn địch. Trong khi đó, lực lượng du kích tỉnh Vĩnh Yên tổ chức phục kích ngăn viện binh địch từ thị xã lên ứng cứu. Sau hai giờ chiến đấu, quân ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch, giải thoát cho hơn 100 tù nhân (cả ta và Pháp), thu nhiều vũ khí, giải phóng thị trấn Tam Đảo. Trận tháng này đả gây tiếng vang lớn, làm quân Nhật hoang mang và cổ vú mạnh mẽ tinh thần chống Nhật cứu nước trong nhân dân Vĩnh Yên.

        19 tháng 7

        Quân đội Nhật đóng dọc biên giới Việt - Trung chiếm Long Châu và Bằng Tường (Trung Quốc) nhằm ngăn chặn quân đội Tưởng Giới Thạch đang âm mưu thực hiện kế hoạch "Hoa quân nhập Việt".

        20 tháng 7

        Lực lượng vũ trang cách mạng chiến khu Trần Hưng Đạo đánh chiếm thị xã Quảng Yên và huyện ly Yên Hưng. Ba trung đội giải phóng quân và tự vệ chiến đấu của chiến khu phối hợp với lực lượng quần chúng đánh chiếm thị xã Quảng Yên phá nhà lao, thả tù nhân; tiếp đó làm chủ châu ly Yên Hưng. Trước khí thế của cách mạng, bộ máy quan lại cùng binh lĩnh địch hoảng sợ đầu hàng và giao toàn bộ 500 khẩu súng các loại cho ta. Đây là tỉnh lỵ đầu tiên quân cách mạng đã đánh chiếm được trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Sau khi làm chủ một thời gian, giai phóng quân và tự vệ chiến đấu rút về chiến khu để bao toàn lực lượng.

        Tháng 7

        Theo thoả thuận giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh với tướng Sen-nôn, tổng tư lệnh không quân Mỹ ở Trung Quốc, bộ đội Việt - Mỹ, đơn vị của Việt Nam Giải phóng quân được tổ chức tại Việt Bắc. Đơn vị gồm khoảng 200 cán bộ, chiến sĩ Việt Nam được chọn trong các đơn vị giải phóng quân và một số quân nhân Mỹ, do đồng chí Đàm Quang Trung làm chỉ huy trưởng, thiếu tá Tô-mát làm tham mưu trưởng; tham gia giải phóng Thái Nguyên (16 đến 20-8-1945). Ngày 20 tháng 8 năm 1945, đơn vị được bổ sung quân số, vũ khí, tổ chức thành Chi đội 4. Đến ngày 9 tháng 9 năm 1945, bộ đội Việt - Mỹ không còn tồn tại do các quân nhân Mỹ chấm dứt nhiệm vụ theo thoả thuận với ta.

        12 tháng 8

        Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu Giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa. Bản mật lệnh gồm 10 điểm, quy định phương án tác chiến cho lực lượng vũ trang: tiến công địch ở các đô thị, chính sách đối với ngụy quân, tù binh và hàng binh Nhật, những người thuộc phái Đờ Gôn, vấn đề vũ khi, thông tin liên lạc, phối hợp với các ủy ban nhân dân cùng toàn thể dân chúng. Cuối cùng, mật lệnh chi rõ: "Lúc này là lúc quân sự hành động, kỷ luật phải nghiêm".

        13-15 tháng 8

        Hội nghị toàn quốc Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang). Hội nghị tiến hành đúng vào lúc phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh. Trong tình thế cách mạng vô cùng khẩn trương, hội nghị ra nghị quyết nêu rõ: "Những điều kiện khời nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi", "Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa giành quyền độc lập", về quân sự, nghị quyết nhấn mạnh: "Điều kiện đánh nơi nào cần mà ăn chắc thì đánh. Nguyên tắc đánh, quân sự và chính trị phải phối hợp. Chiến thuật đánh, định cách tiến công, phòng ngự, thoái thủ... Đánh cho quân giặc những đòn chí tử, tiêu diệt lực lượng của chúng, chộp lấy những căn cứ chính (cả đô thị) trước khi quân Đồng Minh vào. Tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết đề đánh. Làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh...".

        Đối với lực lượng vũ trang: "Chấn chỉnh và phát triển bộ đội: Thống nhất tên Quân giải phóng Việt Nam1'... "Tổ chức thêm những bộ đội mới. Chỉnh đốn đội tự vệ chiến đấu và tiểu tổ du kích để thành lập Giải phóng quân ở ngoài Khu Giải phóng".

        Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước và cử ra Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc gồm các ủy viên: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn, do đồng chí Trường Chinh - Tổng bí thư trực tiếp phụ trách.

        13 tháng 8

        Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra "Quân lệnh số 1" phát lệnh khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Bản Quân lệnh nêu rõ: "Hỡi các tướng sĩ và đội viên Giải phóng quân Việt Nam. Dưới mệnh lệnh của ủy ban khởi nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng, kịp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch, đánh chặn các đường rút lui của chúng, tước vũ khí của chúng. Đạp bằng muôn trùng trở lực, các bạn hãy kiên quyết tiến!".

        14 tháng 8

        * Hội đồng chiến tranh tối cao và nội các Nhật thông qua quyết định đầu hàng Đồng Minh không điều kiện.

        * Tổng bộ Việt Minh ra lời "Hiệu triệu" nêu rõ: Nhật đã đầu hàng, quân Đồng Minh sắp vào Đông Dương; "Giờ tổng khởi nghĩa đã đến: Dân tộc Việt Nam đã đến lúc vùng dậy, cướp lại chính quyền độc lập của mình. -Trước cơ hội có một không hai này, toàn thể dân tộc ta phải đem hết lực lượng, dùng hết can đảm, bao quanh đạo quân Giải phóng Việt Nam, tung xương máu ra đánh đuổi giặc Nhật, đòi lấy tự do hạnh phúc cho nhân dân".

        15 tháng 8

        Tướng Đờ Gôn cử đô đốc Đác-giăng-li-ơ làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương nhằm chuẩn bị cho kế hoạch giành lại thuộc địa Đông Dương từ tay Nhật.

        17 tháng 8

        Ủy Ban quốc phòng Pháp quyết định điều sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9, do Va-luy chỉ huy, đóng tại Đức; binh đoàn thiết giáp, do Mát-xuy chỉ huy và sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3. được tổ chức thành lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông sang Đông Dương; đồng thời điều ngay một đơn vị biệt kích theo quân Anh đổ bộ vào Sài Gòn để giai giáp quân Nhật. Tiếp đó, tướng Lơ Cléc ra lệnh cho lực lượng viễn chinh Pháp lên đường sang Đông Dương.

        Trong dịp đến Tô-ky-ô (Nhật Bản) dự lễ đầu hàng của Nhật, Lơ Cléc đã vận động Mác-ác-tơ, tướng Mỹ, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương ủng hộ việc Pháp trở lại thuộc địa cũ Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2016, 05:13:11 AM

        18 tháng 8

        Lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương thực hành khởi nghĩa, giành chính quyền ờ các tỉnh lỵ Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam và Mỹ Tho.

        - Bắc Giang: Từ tháng 6 và tháng 7, phong trào Việt Minh trong tỉnh lên rất mạnh. Ngày 1 tháng 6, lực lượng vũ trang thoát ly và tự vệ chiến đấu bao vây, tiến công đánh địch chiếm huyện lỵ Hiệp Hoà. Tiếp đó, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với nhân dân nổi dậy, đánh chiếm phủ Yên Thế (16-7), phủ ly Lục Ngạn (19-7), huyện ly Yên Dũng (20-7), tỉnh ly Bắc Giang (18-8), châu ly Hữu Lũng (19-8). Ngày 21 tháng 8, hàng vạn quần chúng cách mạng cùng tự vệ chiến đấu, du kích họp mít tinh ở thị xã mừng thắng lợi. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Giang ra mắt trước nhân dân địa phương.

        - Hải Dương: Tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương, nhưng tỉnh đã quyết định khởi nghĩa. Ngày 17 tháng 8, quân khởi nghĩa đánh chiếm châu lỵ Cẩm Giàng. Sau đó, quân khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Hải Dương (18-8). Đến ngày 20 tháng 8, tất cả các phủ, huyện trong tỉnh đều giành được chính quyền. Ngày 25 tháng 8, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại thị xã và Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hải Dương đã ra mắt nhân dân địa phương.

        - Hà Tĩnh: Căn cứ vào nghị quyết Việt Minh tinh, ủy ban khởi nghĩa các địa phương được thành lập, đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện ly Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc (17-8), Kỳ Anh, Đức Thọ (18-8). Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 8, các đơn vị tự vệ vũ trang dẫn đầu quần chúng kéo đến bao vây, tiếp nhận sự đầu hàng của bảo an binh và tỉnh trường, chiếm nhà ngân hàng và các công sở, làm chủ thị xã. Tiếp đó khởi nghĩa thắng lợi ở các huyện Hương Sơn, Nghi Xuân (19-8) và Hương Khê (20-8). Toàn bộ chính quyền trong tỉnh đều thuộc về cách mạng.

        - Quảng Nam: Uy ban bạo động tinh và ủy ban bạo động thị xã Hội An đã lãnh đạo quần chúng vũ trang, có lực lượng tự vệ làm xung kích, chiếm tỉnh ly, rồi đưa lực lượng hỗ trợ khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện Tam Kỳ, Điện Bàn, Quế Sơn (18-8), tiếp đó giành chính quyền ở huyện Hoà Vang (22-8) và thành phố Đà Nẵng (26-8).

        - Mỹ Tho: Mặc dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương và Xứ ủy Nam Kỳ, Tỉnh ủy đã họp bàn lập ra ủy ban khởi nghĩa. Đây là tỉnh đầu tiên ở Nam Bộ phát động khởi nghĩa đã giành chính quyền ở tỉnh ly Mỹ Tho (18-2) và ủy ban nhân dân tỉnh đã ra mắt nhân dân trong cuộc mít tinh mừng thắng lợi của cách mạng ở thị xã (25-8).

        19 tháng 8

        Tống khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội và các tỉnh Phú Yên, Thái Bình, Khánh Hòa1.

        - Hà Nội: Dựa vào sức mạnh của quần chúng cách mạng, Thành ủy Hà Nội tổ chức lực lượng, biến diễn đàn cuộc mít tinh ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim (17-8) của Tổng hội công chức thành nơi tuyên truyền đường lối cách mạng, thông báo sự đầu hàng của phát xít Nhật và kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh chuẩn bị khởi nghĩa. Cuộc mít tinh chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng cách mạng trên các đường phố Hà Nội, thu hút cả một số lính bảo an, cảnh sát tham gia. Ngày 18 tháng 8, Uy ban quân sự cách mạng (ủy ban khởi nghĩa) của Thành ủy chuyển vào nội thành trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa. Sáng 19 tháng 8, Mặt trận Việt Minh tổ chức cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát thành phố, thu hút hơn 100.000 đồng bào từ nội ngoại thành và các huyện lân cận mang cờ, khẩu hiệu và các loại vũ khí thô sơ tham dự. Sau cuộc mít tinh, quần chúng cách mạng có các đội tự vệ dẫn đầu toả đi chiếm Phủ khâm sai, trại.Bảo an binh, Sớ cảnh sát và các công sở, cơ quan của chính quyền địch, khiến quân Nhật ở Hà Nội không dám chống cự. Ngày 20 tháng 8, Ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ và Hà Nội được thành lập. Thắng lợi của khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ các địa phương nổi dậy giành chính quyền và có ảnh hưởng to lớn đến thắng lợi của khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.

        - Phúc Yên: Ngày 19 tháng 8, cùng với thị xã Phúc Yên, các huyện Kim Anh, An Phúc quần chúng cách mạng có tự vệ chiến đấu hỗ trợ đã nổi dậy giành chính quyền, sau đó đã đập tan âm mưu phá hoại của bọn Đại Việt và liên tục đối phó với quân Nhật (20-8), các đơn vị Quốc dân đảng Trung Hoa (27-8) để bảo vệ chính quyền cách mạng.

        - Thái Bình: Quần chúng cách mạng có vũ trang các huyện Quỳnh Côi, Tiên Hưng, Phụ Dực đã củng với nhân dân ở thị xã nổi dậy giành chính quyền trong ngày 19 tháng 8. Sau đó nhân dân khởi nghĩa, liên tiếp giành thắng lợi ở các huyện Duyên Hà, Thuy Anh (20-8), Hưng Nhân, phủ Kiến Xương (21-8), Vũ Tiên và phủ Tiền Hải (22-8), Thư Trì (28-8). Sáng 25 tháng 8, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Thái Bình đã ra mắt trước hơn một vạn quần chúng dự mít tinh ở thị xã.

        - Khảnh Hoà: Vạn Ninh là huyện đầu tiên khởi nghĩa giành được   chính   quyền (16-8), tiếp đó   là các huyện Ninh Hoà (17-8), Diên Khánh, Vĩnh Xương, thị xã Nha Trang (19-8) và Cam Ranh (22-8). Chính quyền cách mạng được thành lập từ tỉnh xuống các huyện, xã.

----------------
1. Hiện nay có nhiều sách chuyên khảo của Trung ương và địa phương viết về Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. vì thế, ở đây chung tôi chỉ nêu mốc chủ yếu khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố, tỉnh ly, phủ huyện, châu ly của mỗi tỉnh trong cả nước.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2016, 05:20:43 AM

        20 tháng 8

        Khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh ly Thái Nguyên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Ninh Bình và Thanh Hoá.

        - Thái Nguyên: Thừa lúc quân Pháp tan rã, quân Nhật chưa tới, từ tháng 3 năm 1945, Cứu quốc quân phối hợp với tự vệ và nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở hầu hết vùng nông thôn và các thị trấn, huyện ly. Đến tháng 8 năm 1945, Nhật chi còn kiềm soát được châu ly La Hiên (Võ Nhai) và thị xã Thái Nguyên. Ngày 20 tháng 8, Giải phóng quân gồm 450 người tiến vào cùng nhân dân bao vây thị xã. Đây là lần đầu tiên Giải phóng quân tập trung nhiều quân nhất đánh vào một thị xã có đông quân địch phòng ngự trong các công sự kiên cố. Quân ta kết hợp xung phong với dùng Ba-zô-ca, lựu đạn diệt quân Nhật ở hai ngôi nhà gạch lớn trong thị xã, diệt trại hiến binh rồi bao vây chặt hai doanh trại còn lại, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giành chính quyền và thành lập chính quyền cách mạng.

        - Bắc Ninh: Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban khởi nghĩa, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện Tiên Du (17-8), Lang Tài, Võ Giàng (18-8), Yên Phong (19-8), Thuận Thành và thị xã Bắc Ninh (20-8), Văn Giang (21-8), Quế Dương (22-8). Toàn tỉnh đã thành lập xong chính quyền cách mạng.

        - Sơn Tây: Quốc Oai là huyện khởi nghĩa giành chính quyền đầu tiên (17-8), tiếp theo là các huyện Thạch Thất, Phúc Thọ (18-8), thị xã Sơn Tây (20-8), Tùng Thiện (21-8), Quảng Oai (22-8) và Bất Bạt (25-8).

        - Ninh Bình: Lực lượng vũ trang hỗ trợ quần chúng nổi dậy đánh chiếm huyện ly Gia Viễn (17-8), sau đó khởi nghĩa giành chính quyền ở thị trấn Nho Quan, huyện lỵ Gia Khánh, thị xã Ninh Bình (20-8) và huyện Yên Mô, Kim Sơn (21-8). Ngày 25 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời của tỉnh, do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Chủ tịch, đã ra mát trước cuộc mít tinh hơn hai vạn nhân dân ở thị xã.

        - Thanh Hoá: Theo kế hoạch, đến 18 tháng 8, lực lượng vũ trang và nhân dân các huyện vùng đồng bằng, trung du đã nhất loạt nổi dậy giành chính quyền ở các huyện Thiệu Hoá, Thọ Xuân, Cẩm Thủy (19-8). Tại thị xã Thanh Hoá, trước áp lực của quần chúng cách mạng, quân Nhật án binh bất động. Ngày 20 tháng 8, quân khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã và huyện ly Tĩnh Gia, tiếp đó khởi nghĩa thắng lợi ở huyện Nông Cống (21-8). Các huyện Quan Hoá Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lạc, Như Xuân, Thường Xuân nằm ở vùng miền núi tuy cơ sờ cách mạng chưa mạnh, nhưng trước khí thế sục sôi của quần chúng cách mạng chinh quyền địch hoàn toàn tan rã. Ngày 23 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh ra mắt trước nhân dân mít tinh ở thị xã.

        Ngày 21 tháng 8

        Khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh lỵ Yên Bái, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Nam Định, Nghệ An và Ninh Thuận.

        - Yên Bái: Các cuộc khởi nghĩa từng phần đã diễn ra và giành thắng lợi ở các huyện Nghĩa Lộ (6-7), Lục Yên (8-7), Than Uyên (7-8). Đến giữa tháng 8 năm 1945, Nhật và tay sai chỉ nắm được chính quyền ở tỉnh lỵ. Ngày 18 tháng 8, quần chúng cách mạng tiến vào thị xã. Sau những lần thương lượng không thành, ngày 21 tháng 8, quân khởi nghĩa bao vây làm chủ hoàn toàn thị xã. Ngày 22 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Yên Bái ra mắt nhân dân trong cuộc mít tinh ở thị xã.

        - Bắc Cạn: Đến tháng 8 năm 1945, nhiều vùng đã được giải phóng, quân Nhật chí còn chiếm đóng ở thị xã và một số thị trấn, phủ ly. Ngày 19 tháng 8, quân cách mạng giải phóng huyện ly Phủ Thông. Nhằm tránh đổ máu, ban chỉ huy đơn vị Giải phóng quân bao vây thị xã thương lượng và buộc quân Nhật phải giao nộp vũ khí, rút khỏi thị xã (20-8). Ngày 21 tháng 8, quân khởi nghĩa làm chủ hoàn toàn thị xã. Ngày 23 tháng 8, toàn bộ quân Nhật rút khòi thị xã Bắc Cạn.

        - Tuyên Quang: Từ tháng 5 năm 1945, lực lượng vũ trang và nhân dân đã nổi dậy giành chính quyền ở các huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn (22-5), Sơn Dương, Hàm Yên (15-5), Yên Bình (18-5), Na Hang (tháng 6-1945). Đêm 16 và ngày 17 tháng 8, quân khởi nghĩa nổi dậy làm chủ thị xã, nhưng sau đó quân Nhật nổ súng chiếm lại. Đến ngày 21 tháng 8, thị xã Tuyên Quang mới hoàn toàn được giải phóng. Ngày 24 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Tuyên Quang ra mắt nhân dân tại thị xã.

        - Nam Định: Lực lượng tự vệ và quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở huyện ly Trực Ninh, tiếp đó là các huyện lỵ Nam Trực (18-8); Ý Yên, Vụ Bản, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thuỷ (20-8). Phát huy thắng lợi, quân khởi nghĩa tiến đánh, giải phóng thành phố Nam Định và huyện lỵ Mỹ Lộc (21-8). Toàn tỉnh Nam Định đã hoàn toàn giải phóng.

        - Nghệ An: Quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang tiến công, giành chính ,quyền liên tiếp ở các huyện Quỳnh Lưu (18-8), Hưng Nguyên (19-8), thị xã Vinh (21-8), Nghĩa Đàn (22-8); Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn (23-8), Nghi Lộc, Yên Thành (25-8); Con Cuông, Vĩnh Hoà, Chương Dương, Quỳ Châu (26-8). Ngày 23 tháng 8, ủy ban nhân dân Cách mạng Nghệ An chính thức thành lập và ra mắt nhân dân thị xã.

        - Ninh Thuận: Quần chúng cách mạng nổi dậy giành chính quyền ở Bảo Sơn (Tháp Chàm) và thị xả Phan Rang (21-8). Tiếp đó, các huyện trong tỉnh cũng lần lượt giành thắng lợi và thành lập chính quyền cách mạng cua nhân dân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2016, 05:26:32 AM

        22 tháng 8

        Khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh ly Cao Bằng, Hưng Yên, Kiến An, Tân An.

        - Cao Bằng: Khởi nghĩa đã nổ ra và lần lượt giành thắng lợi ở các huyện Hà Quảng (19-8); Hoà An, Quảng Uyên (20-8), Nguyên Bình (22-8); Trùng Khánh, Thạch An (26-8). Sau khi giải phóng một số châu lỵ, đêm 21 tháng 8, một đơn vị Giải phóng quân tiến vào thị xã, phối hợp với quần chúng, buộc Nhật giao nộp vũ khí và giải tán chính quyền ngụy. Ngày 22 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời thị xã được thành lập.

        - Hưng Yên: Lực lượng khởi nghĩa và quần chúng cách mạng tiến hành khởi nghĩa giành thắng lợi ở các huyện ly Phù Cừ (14-8), Khoái Châu (15-8); Mỹ Hào, Tiên Lử (17-8), Kim Bảng (20-8), Văn Lâm (21-8). Phát huy tháng lợi, lực lượng cách mạng tiến vào làm chủ một phần thị xã và thuyết phục địch giao chính quyền cho cách mạng. Trước khí thế của quân khởi nghĩa, tỉnh trưởng bỏ trốn, chính quyền tay sai hoàn toàn tan rã. Ngày 23 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng Hưng Yên ra mắt trước nhân dân mít tinh ở thị xã.

        - Kiến An: Huyện đầu tiên tiến hành khởi nghĩa và thành lập chính quyền cách mạng là Kim Sơn (12-7) và Kiến Thuỵ là huyện đầu tiên khởi nghĩa thắng lợi (15-8). Tiếp đó là các huyện Tiên Lãng, An Dương, An Lộc, Thuỷ Nguyên (17-8). Ngày 21 tháng 8, lực lượng tự vệ và nhân dân nổi dậy, ngày 22 tháng 8 làm chủ hoàn toàn thị xã Kiến An. Ngày 24 tháng 8, hàng vạn nhân dân họp mít tinh ở thị xã chào đón ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh được thành lập.

        - Tân An: Quần chúng cách mạng, nòng cốt là Thanh niên Tiền phong, đã nổi dậy giành chính quyền ở thị xã. Chiều ngày 22 tháng 8, khởi nghĩa thắng lợi ở các quân Châu Thành. Thủ Thừa và Mộc Hoá (23-8). Trên phạm vi toàn tỉnh, chính quyền đã thuộc về nhân dân.

        23 tháng 8

        * Tổng bộ Việt Minh gửi thư yêu cầu vua Bảo Đại trao chính quyền cho cách mạng.

        * Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên Huế, Hải Phòng, Hà Đông, Hoà Bình, Quảng Bình, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu.

        - Thừa Thiên Huế: Theo lệnh khởi nghĩa, quần chúng cách mạng có lực lượng tự vệ hỗ trợ đã nổi dậy giành thẳng lợi ở các huyện lỵ Phong Điền, Phú Lộc (18-8), Hương Thuỷ (22-8), Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền. Từ ngày 21 tháng 8, lực lượng cách mạng tổ chức cuộc mít tinh lớn sau đó biến thành cuộc tuần hành biểu dương lực lượng giành chính quyền tại thành phố Huế (23-8). Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên Huế được thành lập. ngày 30 tháng 8, đoàn đại biểu Chính phủ ta vào Huế nhận sự thoái vị của vua bảo đại.

        - Hải Phòng: Sáng ngày 23 tháng 8, lực lượng vũ trang từ chiến khu Trần Hưng Đạo và từ Kiến An. chia làm ba mũi, tiến vào thành phố Hải Phòng. Trước khí thế của cách mạng, chính quyền địch ở thành phố tan rã. Hàng vạn nhân dân thành phố đã họp mít tinh chào mừng ủy ban dân cách mạng lâm thời Hải Phòng.

        - Hà Đông: Lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng khởi nghĩa thắng lợi ở các huyện Ưng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ (16-8). tiếp theo là giành chính quyền ở các huyện Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên (18-8). Ngày 20 tháng 8, quần chúng có vũ trang nổi dậy ở thi xã nhưng vấp phải sự chống trả quyết liệt của ngụy quyền. Ngày 23 tháng 8, lực lượng cách mạng làm chủ hoàn toàn thị xã Hà Đông. Ngày 25 tháng 8, Uy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt trước đông đảo nhân dân ở thị xã.

        - Hoà Bình: Lực lượng cách mạng nổi dậy giành chính quyền ở châu lỵ Vụ Bản (20-8), tiếp đó quân khởi nghĩa chiếm huyện lỵ Kỳ Sơn và vượt sông Đà tiến về giành chính quyền ở thị xã (23-8) và sau cùng là nhân dân châu Lương Sơn khởi nghĩa thẳng lợi.

        - Quảng Bình: Đêm 22 tháng 8, lực lượng tự vệ và quần chúng cách mạng nổi dậy ở thị xã Đồng Hới và giành chính quyền ngày 23 tháng 8. Cùng ngày 23, quần chúng cách mạng tiến hành khởi nghĩa thắng lợi ở các phủ, huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh được thành lập và ra mắt nhân dân ở thị xã.

        - Binh Định: Quần chúng cách mạng tiến hành khởi nghĩa tại thị xã Quy Nhơn, sau đó tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng làm chủ tỉnh ly, thành lập chính quyền cách mạng (23-8). Tiếp đó là khởi nghĩa thắng lợi ở các huyện ly An Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước (3-9). Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Bình Định ra mắt trước đông đào nhân dân dự mít tinh ở thị xã.

        - Gia Lai: Quần chúng cách mạng nòng cốt là Đoàn thanh niên An Khê (tổ chức thanh niên yêu nước) tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã An Khê (22-8). Tiếp đó, lực lượng cách mạng tiến về phối hợp với nhân dân thị xã Plây Ku, giành chính quyền thắng lợi (23-8). Các địa phương trong tỉnh đều giành chính quyền và thành lập chính quyền cách mạng.

        - Bạc Liêu: Lực lượng cách mạng chuyến cuộc biểu tình đón Khâm sai Nguyễn Văn Sâm thành cuộc biểu dương lực lượng đòi ngụy quyền từ chức kéo dài từ ngày 20 đến 22 tháng 8 năm 1945. Ngày 23 tháng 8, quần chúng cách mạng tiếp tục biểu dương lực lượng trên đường phố thị xá Bạc Liêu, khiến nguy quyền tan rã. Trong khi đó, cuộc nổi dậy của quần chúng ở thị trấn Cà Mau bắt đầu từ ngày 21 tháng 8 kéo dài đến ngày 25 tháng 8 giành được chính quyền.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2016, 04:54:18 AM
       
        24 tháng 8

        Khởi nghĩa giành chính quyền tại các tỉnh ly Hà Nam, Quảng Yên, Lâm Viên, Đắc Lắc, Phú Yên và Gò Công.

        - Hà Nam: Khởi nghĩa bắt đầu nổ ra và giành tháng lợi liên tiếp ở các huyện ly Duy Xuyên, Lý Nhân, Kim Bảng (20-8). Tiếp đó khởi nghĩa giành chính quyền ở các phú Bình Lục, Lạc Thuỷ (22-8). Tại thị xã Phủ Lý, úy ban Quân sự cách mạng ra lệnh cho nguy quyền hạ vũ khí và trao chinh quyền cho cách mạng. Trước khí thế của quần chúng cách mạng kéo từ 5 phủ, huyện về thị xã, bọn ngụy quyền hoảng sự đã phải đầu hàng. Ngày 24 tháng 8, ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Hà Nam ra mắt trước đông đảo nhân dân dự mít tinh ở thị xã.

        - Quảng Yên: Lực lượng vũ trang cách mạng đả phối hợp với quần chúng nổi dậy đánh chiếm thị xã (20-7), sau đó rút ra ngoài để bảo toàn lực lượng. Trước tình hình thất bại của phát xít Nhật ở các nơi, chính quyền tay sai của chúng ở Quảng Yên củng nhanh chóng tan rã. Ngày 24 tháng 8, lực lượng cách mạng nhanh chóng làm chủ thị xã và giành chính quyền ờ các huyện ly trong tỉnh.

        - Lâm Viên: Sau khi khởi nghĩa thắng lợi ở Cầu Đất (21-8), Đram (22-8), quân khởi nghĩa một mặt tiến xuống hỗ trợ lực lượng cách mạng ở Di Linh (Đồng Nai Thượng), mặt khác phát động khởi nghĩa ở tỉnh ly. Ngày 23 tháng 8, nhân dân Đà Lạt đã nổi dậy. Ngày 24 tháng 8, quần chúng khởi nghĩa chiếm dinh Tổng đốc và thành lập Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên.

        - Đắc Lắc: Khởi nghĩa nổ ra và giành tháng lợi đầu tiên ở đồn điền Ca Đa (17-8), sau đó lan ra toàn tỉnh. Ngày 20 tháng 8, quân khởi nghĩa về cơ bản đá làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột và một số địa phương. Ngày 24 tháng 8, tại cuộc mít tinh lớn ở thị xã, tỉnh bộ Việt Minh tuyên bố xoá bỏ chính quyền địch và thành lập chính quyền cách mạng.

         - Phú Yên: Khởi nghĩa mở đầu bàng cuộc biểu tình thị uy của quần chúng ở thị xã Sông Cầu (20-8). Bộ máy nguy quyền bị tê liệt, đến ngày 24 tháng 8, các huyện ly Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hoà củng lần lượt nổi dậy. Ngày 26 tháng 8. Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Phú Yên ra mắt nhân dân tại cuộc mít tinh lớn ở thị xã Sông Cầu.

         - Gò Công: Trước khí thế chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi của cách mạng, chính quyền tay sai của địch ở Gò Công hoang mang đã đầu hàng. Ngày 24 tháng 8, hàng vạn quần chúng dự cuộc mít tinh ở thị xã đón chào chính quyền cách mạng tỉnh Gò Công.

         25 tháng 8

         * Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) về tới Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội). Sau khi nghe các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, chiều ngày 26 tháng 8, Người vào nội thành và làm việc tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, trực tiếp chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

         * Khởi nghĩa giành thắng lợi ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh lỵ Chợ Lớn, Gia Định, Bình Thuận, Long Xuyên, Vĩnh Long, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Bến Tre, Tây Ninh, Sa Đéc, Kon Tum, Lạng Sơn, Phú Thọ, Sơn La.

         - Thành phố Sài Gòn: Đêm 20 tháng 8, Mặt trận Việt Minh tổ chức một cuộc mít tinh lớn trong thành phố và kêu gọi quần chúng khởi nghĩa. Ngày 24 tháng 8, nhiều cuộc biểu tình, tuần hành biểu dương lực lượng, trong đó có các đội Xung phong Công đoàn, đội tự vệ dẫn đầu diễn ra sôi nổi trên các đường phố và đêm đó, quân khởi nghĩa tiến vào chiếm Nam Kỳ soái phủ, toà Xã tây, sở mật thám, các đồn bốt, trại lính địch và các công sở. Sáng ngày 25 tháng 8, lực lượng khởi nghĩa đả làm chủ thành phố. Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ được thành lập đã ra mắt trước hơn một triệu nhân dân tham dự cuộc mít tinh lớn ở Sài Gòn. Khởi nghĩa Sài Gòn thắng lợi đã có tác dụng trực tiếp đến phong trào khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

         - Gia Định: Ngày 25 tháng 8, lực lượng quần chúng cách mạng, sau khi được huy động hỗ trợ cuộc khởi nghĩa ở thành phố Sài Gòn thẳng lợi đã kéo về nổi dậy giành chính quyền tại thị xã. Tất cả các huyện trong tỉnh củng nổi dậy giành chính quyền trong hôm đó.

         - Chợ Lớn: Từ đêm 24 tháng 8, quần chúng cách mạng đã khởi nghĩa giành chính quyền ở các quận lỵ Cần Giuộc, Cần Đước. Ngày 25 tháng 8, các quận trong tỉnh đồng thời tiến hành khởi nghĩa giành thắng lợi cùng với Sài Gòn.

        - Bình Thuận: Từ ngày 23 đến 25 tháng 8, trước khí thế của cách mạng, bộ máy nguy quyền tan rã. Toàn bộ chính quyền ở thị xã Phan Thiết và huyện lỵ Hàm Thuận thuộc về tay nhân dân. Tiếp đó, ngày 29 tháng 8, các huyện Tuy Phong, Hoà Đa, Phan Lý củng giành được chính quyền và cuối cùng là huyện Hàm Tân.

        - Long Xuyên: Ngày 24 tháng 8, cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra và thắng lợi ở thị trấn Cầu Mới. Ngày hôm sau, 25 tháng 8, quần chúng khởi nghĩa kéo tới thị xã dự mít tinh, tuần hành biểu dương lực lượng và giành chính quyền.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 11:22:38 PM
        - Vĩnh Long: Cùng lúc với quận Tam Bình, ngày 25 tháng 8, quần chúng cách mạng đã nổi dậy giành chính quyền ở thị xã Vĩnh Long. Tiếp theo, ngày 27 tháng 8 là quận Trà Ôn và quận Chợ Lách. Ngày 28 tháng 8, Uy ban Nhân dân Vĩnh Long được thành lập và ra mắt trước quần chúng tại cuộc mít tinh ở thị xã.

        - Bà Rịa: Quần chúng cách mạng, nòng cốt là lực lượng Thanh niên Tiền phong, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã giành được chính quyền tại tỉnh ly (25-8) và thành lập Uy ban nhân dân lâm thời tỉnh Bà Rịa.

        - Thủ Dầu Một: Khởi nghĩa đã bát đầu nổ ra từ ngày 24 tháng 8 và lần lượt giành được chính quyền ở thị trấn Bến Cát, Hớn Quản, Bà Rá, Tân Uyên, Nhà máy xe lửa Dĩ An. Trước khí thế cách mạng, ngụy quyền tan rã, nhân dân hoàn toàn làm chủ thị xã Lộc Ninh. Ngày 25 tháng 8, hàng vạn nhân dân đã dự mít tinh mừng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi trên phạm vi toàn tỉnh.

        - Trà Vinh: Cùng ngày 25 tháng 8, quần chúng cách mạng đã lần lượt khởi nghĩa giành chính quyền ở các quận ly Càng Long, Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cầu và thị xã Trà Vinh. Toàn tỉnh đã thành lập chính quyền cách mạng.

        - Bến Tre: Theo lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh tỉnh, từ ngày 24 tháng 8, lực lượng vũ trang cách mạng đã công khai hoạt động ờ thị xã, sau đó hoàn toàn làm chủ thị xã vào chiều 25 tháng 8. Cùng ngày 25, nhân dân các huyện trong tỉnh đều nổi dậy giành chính quyền. Ngày 26 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Bên Tre ra mắt trước nhân dân dự mít tinh ở thị xã.

        - Tây Ninh: Trước sức mạnh của quần chúng khởi nghĩa ở các quận ly và thị xã, hơn hai vạn quân Nhật cũng như các giáo phái cao đài ở tỉnh hoàn toàn bị tê liệt, buộc phải giao chính quyền cho cách mạng đêm 25 tháng 8.

        - Sa Đéc: Sáng 25 tháng 8, quần chúng cách mạng đã nổi dậy, giành chính quyền ở quận lỵ và thị xã Sa Đéc, thành lập chính quyền cùa cách mạng ở toàn tỉnh.

        - Kon Tum: Ngày 23 tháng 8, sau khi giành được thắng lợi ở tỉnh lỵ, lực lượng cách mạng từ tỉnh Gia Lai đã điện cho quân địch ở đạo Kon Tum, yêu cầu giao chính quyền cho nhân dân. Trong lúc ngụy quyền đang hoang mang dao động, ngày 25 tháng 8, lực lượng cách mạng từ Gia Lai kéo sang tỉnh ly Kon Tum, phối hợp với lực lượng quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.

        - Lạng Sơn: Trước khi có lệnh Tổng khởi nghĩa, nhiều vùng nông thôn và châu ly, huyện ly trong tỉnh đã giành được chính quyền: Hữu Lủng (5-4), Bắc Sơn (18-4), Bình Gia (19-4), Văn Mịch (29-4). Đến tháng 8 năm 1945, nhiều địa phương khác cũng được giải phóng: thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, phố Thất Khê (21-8), thị trấn Na Sầm (22-8). Ngày 24 tháng 8, lực lượng vũ trang cách mạng tiến vào thị xã, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền vào ngày hôm sau. Để tránh đụng độ với quân Tưởng Giới Thạch từ Trung Quốc sang giải giáp quân Nhật ở Đông Dương, ngày 25 tháng 8, lực lượng cách mạng rút ra ngoài thị xã Lạng Sơn.

        - Phú Thọ: Từ giữa tháng 8 năm 1945, quần chúng đã nổi dậy giành chính quyền ở các huyện ly Phú Ninh (15-8), Cẩm Khê, Thanh Ba (17-8), Yên Lập, Tam Nông (18-8), Lâm Thao, Hạc Trì, Việt Trì (20-8), Thanh Thủy (22-8). Ngày 25 tháng 8, trước khí thế của quần chúng cách mạng ờ thị xã, nguy quyền buộc phải giao chính quyền cho nhân dân. Tại cuộc mít tinh lớn ở thị xã Phú Thọ, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh đã ra mắt nhân dân.

        - Sơn La: Ngày 5 tháng 7, quần chúng cách mạng đã nổi dậy giành chính quyền ở châu lỵ Nghĩa Lộ, tiếp theo là các châu Phù Yên (22-7), Mường La, Thuận Châu, Mường Thanh (22-8). Ngày 25 tháng 8, quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh ly. Riêng huyện Mộc Châu, do hoạt động của nhóm Đại Việt, đến tháng 10 năm 1945, cách mạng mới giành được chính quyền.

        26 tháng 8

        Khởi nghĩa giành chính quyền tại các tỉnh ly Châu Đốc, Biên Hoà, Hòn Gai.

        - Châu Đốc: Sau khi khởi nghĩa thẳng lợi ở thị trấn Hồng Ngự (22-8), quận Tân Uyên (24-8), chiều ngày 26 tháng 8, lực lượng cách mạng nổi dậy giành chính quyền ở thị xã Châu Đốc. Tiếp đó là các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (27-8).

        - Biên Hoà: Lực lượng cách mạng của tỉnh, sau khi tham gia khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn, đã kéo về phối hợp với nhân dân nổi dậy giành chính quyền ở thị xã vào ngày 26 tháng 8. Ngày 27 tháng 8, Ủy ban nhân dân Cách mạng Biên Hoà ra mắt trước một vạn nhân dân dự mít tinh ở thị xã.

        - Hòn Gai: Ngày 26 tháng 8, sau khi thương lượng với tổ chức phản động Việt Cách không thành, các lực lượng vũ trang tinh phối hợp với các đơn vị vũ trang chiến khu Trần Hưng Đạo tiến công làm chủ thị xã. Tiếp đó, lực lượng cách mạng đã giành chính quyền ở cẩm Phả, Cửa Ông và các khu vực khác trong tỉnh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2016, 11:27:52 PM

        27 tháng 8

        * Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra lời tuyên cáo và công bố Chính phủ lâm thời gồm: Chủ tịch kiêm ngoại giao là Hồ Chí Minh và 14 bộ trưởng, trong đó Bộ trưởng Nội vụ là Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng là Chu Văn Tấn.

        * Khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh ly Rạch Giá và Quảng Ngãi.

        - Rạch Giá: Trong ngày 27 tháng 8, hơn sáu nghìn quần chúng cách mạng ở thị xã và các vùng nông thôn lân cận, đã nổi dậy giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Tiếp đó, nhân dân các quận, huyện trong tỉnh cũng lần lượt khởi nghĩa thắng lợi và thành lập chính quyền cách mạng.

        - Quảng Ngải: Từ đêm 15 tháng 8, quần chúng nhân dân đã tiến hành khởi nghĩa thắng lợi dọc đường số 1, từ Đức Phổ đến Bình Sơn, đảo Lý Sơn và châu Ba Tơ. Phát huy thắng lợi, ngày 16 tháng 8, lực lượng cách mạng đã đánh chiếm được dinh tỉnh trưởng và làm chủ các công sở tại thị xã. Nhưng quân Nhật ở thị xã ngoan cố chống lại, mãi đến ngày 27 tháng 8, cách mạng mới giành được chính quyền.

        * Cùng với việc đưa một số đơn vị ờ Trung Lào, Hạ Lào chiếm đóng một số điểm cao trên các trục đường số 7, 8, 9, 12 và dọc biên giới Việt - Lào, chuẩn bị bàn đạp tiến công sang các tỉnh bắc Trung Bộ, thực dân Pháp sử dụng hai chiếc tàu Cơ-ray-xâc, Phơ-rê-nôn từ vùng biển Quảng Đông (Trung Quốc) qua Vịnh Hạ Long đổ quân lên đảo Cô Tô, Vạn Hoa, hòng do thám tình hình để đưa quân trở lại xâm chiếm Việt Nam. Hành động thâm độc của kẻ địch đều bị các lực lượng vũ trang ta phát hiện trừng trị. Các đơn vị giải phóng quân Hải Phòng, Quảng Yên đã chặn đánh các tàu Cơ-ray-xâc và Phơ-rê-nôn, tiêu diệt địch ở Vạn Hoa, Cô Tô, trong đó bắt 16 tên và chiếm tàu Cơ-ray-xắc (sau này, ta đổi tên là tàu Ký Con và thành lập một đơn vị hải quân sử dụng chiếc tàu này).

        Trong khi đó, Giải phóng quân Nghệ An và Hà Tĩnh chặn đánh địch trên biên giới Việt - Lào ở Mường Xú (đường 7), Na Pê (đường 8), Ba Na Phào (đường 12). Trên đường số 9, các đơn vị Giải phóng quân Quảng Trị, Thừa Thiên phối hợp với bộ đội Lào It-xa-la chiến đấu ở Pha Lan, Mường Phin, Đồng Hến, không cho địch tiến từ Lào sang các tỉnh bắc Trung Bộ.

        28 tháng 8

        * Khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh ly Đồng Nai Thượng và Hà Tiên.

        - Đồng Nai Thượng: Sáng ngày 28 tháng 8, được lực lượng cách mạng từ Lâm Viên xuống phối hợp, cuộc khởi nghĩa ở thị xã Di Linh đả giành được thắng lợi. Ủy ban nhân dấn Cách mạng lâm thời tỉnh Đồng Nai Thượng đã ra mắt nhân dân tại cuộc mít tinh ở thị xã.

        - Hà Tiên: Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, hơn 3.500 quần chúng có vũ trang đã nổi dậy giành chinh quyền ở tỉnh lỵ ngày 28 tháng 8. Tiếp đó, nhân dân các huyện trong tỉnh cũng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

        Đến ngày 28 tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước đã cơ bản kết thúc (trừ thị xã Vĩnh Yên bị Quốc dân đảng chiếm đóng, tỉnh ly Lào Cai, Hà Giang, Móng Cái bị quân Tưởng và tay sai chiếm đóng và tình ly Lai Châu bị quân Nhật từ Lào quay sang chiếm giữ).

        * Chi đội 3 Giải phóng quân sau khi tham gia giải phóng Thái Nguyên, tiến về Hà Nội. Nhân dân Hà Nội hân hoan chào đón các chiến sĩ Giải phóng quân từ chiến khu về để cùng đồng bào đón Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mắt quốc dân.

        30 tháng 8

        Quân Nhật trao trả đài vô tuyến điện Bạch Mai (Hà Nội) - một trong hai trung tâm vô tuyến lớn nhất Đông Dương (sau Sài Gòn) mà chúng chiếm giữ cho chính quyền cách mạng.

        Cuối tháng 8

        Theo quyết định của hội nghị Pốt-xđam (8-1945), quân đội Tưởng Giới Thạch có nhiệm vụ vào giải giáp quân Nhật ở bắc Động Dương. Gần 20 vạn quân Tưởng gồm 4 quân đoàn do tướng Lư Hán cầm đầu đã vượt biên giới vào nước ta. Quân đoàn 93 từ Lào Cai theo sông Hồng xuống, quân đoàn 62 theo đường Lạng Sơn sang, chia nhau đóng dọc các trục đường giao thông tại Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Tiếp đó, quân đoàn 50 theo đường biển vào đông bắc và Hải Phòng, quân đoàn 60 sang Lào. Sau này, Tưởng Giới Thạch còn điều thêm quân đoàn 53, được Mỹ trang bị khá hiện đại, do Chu Phúc Thành chỉ huy, sang đế kiềm chế Lư Hán.

        Từ lâu, các tập đoàn quân phiệt Trung Hoa đã nuôi mưu đồ "Hoa quân nhập Việt". Lần này, với 20 vạn quân, kéo theo bọn Việt gian tay sai Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, chúng hy vọng sẽ nhanh chóng xoay chuyển tình thế chính trị ở Việt Nam và thiết lập một chính quyền tay sai thân Tưởng. Thế nhưng, trước khi bọn "Tàu ô" kéo vào, cách mạng Việt Nam đả giành được thắng lợi trên phạm vi cả nước và chính quyền nhân dân đã được thiết lập quản lý toàn bộ lãnh thổ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:51:55 AM

        2 tháng 9

        * Tại Ba Đình (Hà Nội), Giải phóng quân, tự vệ chiến đấu cùng năm chục vạn nhân dân dự mít tinh mừng thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Giải phóng quân và đồng bào diễu hành biểu dương lực lượng, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

        * Tại Sài Gòn, Lâm ủy hành chính Nam Bộ chỉ thị thành lập lực lượng vũ trang cách mạng để bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả của cách mạng. Đồng chí Nguyên Lưu phụ trách Tổng công đoàn Nam Bộ được cử chỉ huy lực lượng vũ trang Công nhân cách mạng Nam Bộ.

        7 tháng 9

        Thành lập Bộ Tổng tham mưu - cơ quan tham mưu cao nhất của quân đội. Nhiệm vụ của Bộ Tổng tham mưu được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Tổ chức, huấn luyện quân đội cho giỏi; tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng; bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng".

        Bộ Tổng tham mưu gồm các phòng: Tác chiến, Đồ bản, Tình báo, Thông tin liên lạc quân sự, Văn phòng và đội vệ binh đóng tại nhà số 16 phố Ri-ki-ê (nay là nhà số 18, phố Nguyễn Du - Hà Nội). Tổng tham mưu trưởng: Hoàng Văn Thối.

        9 tháng 9

        Thành lập Phòng Thông tin liên lạc quân sự thuộc Bộ Tổng tham mưu, do đồng chí Hoàng Đạo Thúy phụ trách. Phòng Thông tin liên lạc quân sự ra đời góp phần quan trọng giúp Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo, chỉ huy quân đội tập trung, thống nhất, nhanh chóng và chính xác. Ngày 9 tháng 9 trở thành ngày truyền thống của bộ đội thông tin liên lạc.

        Giữa tháng 9

        Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng Giải phóng quân Việt Nam và đổi tên thành Vệ quốc đoàn - quân đội của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người căn dặn Vệ quốc đoàn, các lực lượng vũ trang và nhân dân thực hiện sách lược mềm dẻo đối với quân đội Tưởng Giới Thạch (dưới danh nghĩa quân Đồng Minh, kéo theo bọn phản động tay sai vào miền Bắc, giải giáp quân đội Nhật). Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột với quân Tưởng. Nếu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột. Thực hiện chỉ thị mở rộng lực lượng của Chủ tịch Hồ Chi Minh, từ một số chi đội, đại đội (khoảng 5.000 người), trong những ngày tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1945, Vệ quốc đoàn đã phát triển lên 50.000 người, gồm 40 chi đội (mỗi chi đội từ 1.000 đến 2.000 người).

        15 tháng 9

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng, do đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân phụ trách, có nhiệm vụ thu thập, mua sắm vũ khi và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí.

        Ngay sau khi ra đời, Phòng Quân giới tổ chức thu thập, mua sắm vũ khí ở một số tỉnh miền Bắc và xây dựng được một số cơ sở chế tạo vũ khí xung quanh Hà Nội.

        19 tháng 9

        Chi đội Thiện Thuật (sau đổi tên thành Trung đoàn Thiện Thuật - Trung đoàn 95) chi đội Giải phóng quân đầu tiên của Quảng Trị được thành lập tại thị xã Quảng Trị. Quân số chi đội gồm 1.500 người, được tổ chức thành 3 tiểu đoàn nam: 13, 14, 15 (lúc đó gọi là đại đội) và 1 tiểu đoàn nữ. Chi đội trưởng: Quản Xuyên. Chi đội phó: Trường Linh.

        23 tháng 9

        Nam Bộ mở đầu kháng chiến. Được quân Anh, Nhật tiếp sức, quân Pháp mở cuộc tiến công Sài Gòn (Nam Bộ), xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp ở phố Cây Mai (Chợ Lớn) quyết định: Triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc Pháp, đánh du kích, phá hoại đường giao thông tiếp tế; bao vây, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Chiều ngày 23 tháng 9, Sài Gòn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Công sở, XI nghiệp, cửa hàng đều đóng cửa, chợ không họp, xe ngừng chạy; khắp phố phường vật chướng ngại dựng lên. Các chiến sĩ Tự vệ chiến đấu, Thanh niên Xung phong, Công đoàn và Thanh niên Tiền phong cùng nhân dân anh dũng chiến đấu đánh trả quân Pháp xâm lược.

        Cùng ngày 23 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng nhất trí với quyết tâm của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ, kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ kháng chiến.

        Tháng 9

        Thành lập Ủy ban Binh lương (sau đổi thành Phòng Quân lương). Nhiệm vụ là giúp Trung ương Đảng và Chính phủ về bảo đảm ăn, mặc cho quân đội. Ủy ban Binh lương do đồng chí Vũ Anh - Ủy viên quân sự toàn quốc phụ trách.

        Cuối tháng 9

        Hội nghị quân sự Nam Trung Bộ quyết định thành lập Bộ chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ, gồm các đồng chí Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn, Trương Quang Giao. Nhiệm vụ: Bảo đảm hành lang và bàn đạp vận chuyển vũ khí, lương thực của Trung ương và các tỉnh phía Bắc vào Nam Bộ; đưa lực lượng vào chi viện Nam Bộ kháng chiến; sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công của Pháp và Nhật ra Nam Trung Bộ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:56:12 AM
        26 tháng 9

        Chi đội 3 Giải phóng quân (Chi đội trưởng: Lương Văn Khâm tức Mông Phúc Thơ, chính trị viên: Vũ Nam Long) hành quân bằng tàu hoả từ ga Thanh Hoá vào Nam. Đây là chi đội Nam tiến đầu tiên. Dọc đường, Chi đội được bổ sung 2 trung đội của tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An vào chiến đấu tại cầu Bình Lợi, Xuân Lộc (Đông Nam Bộ). Tiếp đó, từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946, có 12 chi đội (mỗi chi đội tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn) và 6 đại đội Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến.

        12 tháng 10

        Các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ kiên quyết đánh địch. Bị vây chặt trong thành phố Sài Gòn, không thực hiện được ý đồ đánh nhanh thắng nhanh, thực dân Pháp phải xin đình chiến từ ngày 30 tháng 9. Đúng như Đảng ta dự kiến, sau khi được tăng viện thêm một trung đoàn bộ binh, ngày 12 tháng 10 quân Pháp gồm một tiểu đoàn cơ giới và một đội thuỷ quân mạnh tiếp tục mở cuộc tiến công. Ngày 22 địch chiếm Biên Hoà, Thủ Dầu Một, rồi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá. Cùng ngày 12 tháng 10, quân Pháp đổ bộ lên thị xã Nha Trang, quân và dân Nam Trung Bộ bắt đầu kháng chiến.

        15 tháng 10

        Thành lập Chiến khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Khu trưởng: Lê Thiết Hùng (tức Lê Văn Sửu). Chính trị viên: Hồ Tùng Mậu. Ngày 15 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của các lực lượng vũ trang Quân khu 4.

        18 tháng 10

        Quân Pháp tập trung xe tăng, pháo binh, tàu chiến, có quân Nhật giúp sức mở cuộc tiến công vào phòng tuyến của ta ở khu vực cầu Thị Nghè (Sài Gòn). Bộ đội Nam tiến cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương đánh chặn quyết liệt, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí.

        25 thang 10

        Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ tiến hành ở Thiên Hộ (Cái Bè, Mỹ Tho) quyết định củng cố các đơn vị vũ trang đã được tổ chức và xây dựng thêm các đơn vị mới, quyết tâm kháng chiến.

        31 tháng 10

        Thành lập Chiến khu 3, gồm các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương. Lực lượng vũ trang tập trung của chiến khu gồm Trung đoàn 35 (Sơn Tây), Trung đoàn 37 (Hà Đông), Trung đoàn 33 (Nam Định). Tư lệnh: Hoàng Minh Thảo. Chính trị ủy viên: Lê Quang Hoà. Ngày 31 tháng 10 được xác định là ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 3.

        Tháng 10

        Hội nghị bàn về xây dựng Vệ quốc đoàn do Bộ Tổng tham mưa tổ chức. Các ủy viên quân sự khu, tỉnh, thành phố, chỉ huy các chi đội từ Khu 4 trở ra tham dự. Hội nghị kiến nghị với Trung ương Đảng về tổ chức biên chế, trang bị của Vệ quốc đoàn, xác định một số nguyên tắc cơ bản về tổ chức lực lượng vũ trang chi viện cho chiến trường miền Nam.

        20 tháng 11

        Hội nghị quân sự Nam Bộ tiến hành tại An Phú Xã (Gia Định), kiểm điểm tình hình hoạt động, bàn công tác tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang trong tình hình mới. Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành các chiến khu 7, 8, 9; chỉ định khu trưởng, ủy viên chính trị; đồng thời bàn biện pháp củng cố lực lượng vũ trang tỉnh, thành phố, các chi đội Vệ quốc đoàn và xây dựng khu Lạc An, Đồng Tháp, u Minh làm căn cứ cho các chiến khu.

        25 tháng 11

        Trung ương Đảng ra chỉ thị kháng chiến kiến quốc, xác định một số vấn đề cơ bản về đường lối và nhiệm vụ kháng chiến. Về nhiệm vụ quân sự: động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo kháng chiến lâu dài, phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp pháp triệt để.

        Tháng 11

        Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Bắc. Nhiệm vụ là chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng Bộ tăng cường sẵn sàng chiến đấu ngăn chặn quân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) kéo vào Lai Châu, phá âm mưu chiếm Tây Bắc làm bàn đạp tiến xuống Bắc Bộ và sang Lào của địch. Từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 4 năm 1946 Bộ Tổng tham mưu điều động 7 đại đội từ Hà Nội, Bắc Giang, Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hà Nam, Ninh Bình tăng cường cho Tây Bắc xây dựng cơ sở và đánh địch.

        10 tháng 12

        Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ (mở rộng) tại Bình Hoà Nam quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam và chia Nam Bộ thành ba khu: 7, 8, 9.

        Chiến khu 7 gồm các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Tây Kinh, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa và thành phố Sài Gòn. Chiến khu 8 gồm các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc. Chiến khu 9 gồm các linh Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Vinh, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc, Trăng.

        Tháng 12

        * Tám tàu chiến Mỹ chở lực lượng của sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 và một tiểu đoàn dù, gồm 5.000 tên đến Sài Gòn, do Lơ-Cléc chỉ huy mở cuộc càn quét khu vực bắc, nam Sài Gòn.

        *  Thành lập một số chi đội, đại đội Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Ở Nam Trung Bộ có các chi đội: Trần Cao Vân (Quảng Nam), Lê Trung Đình (Quảng Ngãi), Phan Đình Phùng (Bình Định), Chi đội 1 (Bình Thuận), Chi đội 2 (Ninh Thuận), Chi đội 3 (Khánh Hoà), Hoàng Hoa Thám (Kon Tum), Chi đội 51; hai đại đội Nơ Trang Lơng (Đắc Lắc), Phan Thanh (Đà Nẵng) và một số phân đội ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Ở Nam Bộ có các Chi đội 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25 (bộ đội Bình Xuyên), Chi đội 6 (Gia Định), Chi đội 1 (Thủ Dầu Một), Chi đội 17 (Mỹ Tho), Chi đội 18 (Sa Đéc), Chi đội 10 (Biên Hoà), Chi đội (Tây Ninh), Chi đội 12 (Gia Định), Chi đội 13 (Công nhân Sài Gòn), Chi đội 14 (Tân An), Chi đội 15 (Chợ Lớn).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:00:08 PM

Năm 1946

        Tháng 1

        Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy (đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư)- Đây là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng trong quân đội, giúp Trung ương Quân ủy về mặt chính trị, có Ủy ban Chính trị và Ủy ban Đảng vụ.

        22 tháng 2

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời hiệu triệu giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ". Người chỉ rõ: "Kháng chiến của ta là phải toàn dân, toàn diện, lâu dài, triệt để vận dụng cách đánh du kích, đánh địch khắp nơi, còn một tấc đất, còn một người dân thì còn chiến đấu; cách thực hành trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến bằng quân sự (dũng cảm, kỷ luật) bằng chính trị (đoàn kết, trật tự), bằng kinh tế (tăng gia sản xuất), bằng ngoại giao (thêm bạn, bớt thù)".

        2 tháng 3

        Quốc hội khoá I họp kỳ thứ nhất, quyết định thành lập "Toàn quốc kháng chiến ủy viên hội" chỉ huy quân đội và các lực lượng vũ trang cả nước, Chủ tịch: Võ Nguyên Giáp. Tại kỳ họp này, Quốc hội giao nhiệm vụ cho Bộ Quốc phòng quản lý hành chính quân đội, Bộ trưởng: Phan Anh.

        6 tháng 3

        Ký kết Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp. Thực hiện hiệp định ngày 3 tháng 4, hai bên ký hiệp định về quân tiếp phòng thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc. Theo đó,

        số quân tiếp phòng của Pháp vào đóng ở Hà Nội (5.000, kể cả 1.000 ở sân bay Gia Lâm), Hải Phòng (1.750), Hòn Gai (1.025), Nam Định (825), Huế (825), Đà Nẵng (225). Hải Dương (650 cả cầu Phú Lương, Lai Khê), Điện Biên Phủ (825), các vùng biên giới (2.775). Quân tiếp phòng của Việt đóng ở Hà Nội (952), Hải Dương (904), Huế (500), Phủ Lý (500), Thái Bình (500), Nam Định (500), Thanh Hoá (684), Đông Hà (684), Đồng Hới (220), Vinh (904), Đà Nẵng (904) Các tỉnh Móng Cái, Lạng Sơn. Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu sẽ được quy định sau. Thành lập Uy ban liên lạc và kiểm soát quân sự Việt - Pháp (ở Trung ương gọi tắt là Ban liên kiểm Trung ương, ở những địa phương có quân tiếp phòng đóng gọi tắt là ty liên kiểm) đề theo dõi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thi hành hiệp định. Đồng chí Hoàng Hữu Nam - Thứ trưởng Bộ Nội vụ đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà chỉ đạo; đồng chí Cao Xuân Hổ làm Trưởng ban, đồng chí Phan Mỹ làm Tổng thư ký. Bộ chỉ huy quân tiếp phòng Việt Nam do Thiếu tướng Lê Thiết Hùng - nguyên Khu trưởng Khu 4 làm Tư lệnh.

        9 tháng 3

        Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Hoà để tiến", nêu bật nhiệm vụ của Đảng là giải thích và thống nhất tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương của Đảng và Chính phủ là đúng đắn. Chỉ thị nêu rõ việc ký hiệp định là nhằm tạm thời hoà hoãn với Pháp, nhanh chóng đẩy 20 vạn quân Tưởng về nước, tránh phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù. Đồng thời nhấn mạnh: Kiên quyết chống lại các biếu hiện bi quan, dao động, hoặc "tả khuynh", chủ quan cảnh giác trong khi thi hành hiệp định; duy trì và phát triển thực lực về quân sự, cảnh giác tích cực chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu nêu thực dân Pháp phản bội hiệp định.

        25 tháng 3

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 34/SL) quy định về tổ chức Bộ Quốc phòng gồm các cục: Chế tạo Quân nhu Chế tạo Quân giới, Chính trị, Tình báo, Quân chính, Quân huấn, Công chính giao thông, Quân pháp, Quân nhu, Quân y và Văn phòng.

        6 tháng 5

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 60/SL) đổi tên "Ủy ban kháng chiến toàn quốc hội" thành "Quân sự ủy viên hội". Sắc lệnh gồm 7 điều quy định tên gọi, thành viên, chức năng, quyền hạn và các cơ quan của Quân sự ủy viên hội,

        Điều 3 nêu rõ: ”Quân sự ủy viên hội là một cơ quan tối cao quân sự đặt thẳng dưới quyền điều khiển của Chính phủ và có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc...".

        Điều 5 quy định Quân sự ủy viên hội gồm các cơ quan:

        1- Cục Tổng vụ có nhiệm vụ thu phát công văn, phụ trách về nhân sự, quản lý ngân sách tài chính của Quân sự ủy viên hội và liên lạc hành chính với các cơ quan khác.

        2- Cục Tham mưu có nhiệm vụ nghiên cứu và đề nghị kế hoạch điều khiến quân đội và thi hành mệnh lệnh của Quân sự ủy viên hội.

        3- Cục Chính trị có nhiệm vụ điều khiển và kiểm tra công tác chính trị trong bộ đội; phát hành sách, báo; phòng ngừa phản tuyên truyền của địch và phụ trách địch vận, dân vận.

        4- Cục Tổng chi huy Quân đội tiếp phòng Việt Nam.

        5- Ủy ban Liên lạc và kiểm soát giữa quân tiếp phòng Việt Nam và quân đội Pháp, giữa quân đội Pháp và quân đội quốc gia Việt Nam. Ủy ban này do đặc phái viên của Quân sự ủy viên hội lảnh đạo.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:03:32 PM

        22 tháng 5

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 71/SL) về Quân đội quốc gia Việt Nam. Kèm theo sác lệnh có bản quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam (62 điều) quy định biên chế, tuyển binh, cấp bậc, thăng giáng và thuyên chuyển, kỷ luật, 'hưởng phạt, lễ nghi của quân đội.

        Về tổ chức, quy định biên chế tiểu đội, trung đội, đại đội. tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn, liên đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hoả lực trợ chiến. Từ cấp trung đội trở lên có chính trị viên.

        25 tháng 5

        Khai giảng khoá 1 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Đến dự lễ. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: "Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng củng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta".

        20 tháng 6

        Bộ Quốc phòng ra nghị định (số 49/NĐ) quy định một số điểm trong Quân đội quốc gia, gồm 7 chương, 48 điều. Chương I: Quân phục, phù hiệu, cấp hiệu. Chương II: sổ sách tuyển binh. Chương III: Quân phong quân kỳ. Chương IV: Công việc trong đồn trại. Chương V: Công việc hàng ngày trong mỗi đại đội. Chương VI: Vệ sinh và thứ tự. Chương VII: Công tác ở địa phương.

        Sác lệnh đặt nền tảng đầu tiên cho việc xây dựng quân đội chính quy của một quốc gia độc lập.

        29 tháng 6

        Tại trại Vệ Quốc đoàn Trung ương (nay là nhà số 40, phố Hàng Bài, Hà Nội), Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái công bố quyết định của Bộ Quốc phòng về việc thành lập 3 trung đội pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh. Đây là những trung đội pháo binh chủ lực đầu tiên của quân đội ta. Ngày 29 tháng 6 trở thành ngày truyền thống của Pháo binh Quân đội quốc gia Việt Nam.

        19 tháng 10

        Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng tiến hành tại nhà số 58, phố Nguyễn Du, Hà Nội. Hội nghị nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình củng nhất định phải đánh Pháp", về quân sự, hội nghị quyết định đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang, chú trọng chất lượng chính trị, chỉnh đốn cơ quan chỉ huy. xây dựng các ngành, quân nhu, quân giới, quân y.

        Đây là hội nghị quân sự lớn nhất của Đảng kể từ sau khi giành được chính quyền.

        28-10 đến 9-11

        Quốc hội khoá I họp kỳ thứ hai thảo luận, thông qua những chù trương cấp bách để chuẩn bị kháng chiến, quyết định thống nhất Bộ Quốc phòng với Quân sự ủy viên hội thành Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, cử đồng chí võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tồng chi huy quân đội.

        5 tháng 11

        Chủ tịch Hồ Chí Minh viết chỉ thị "Công việc khẩn cấp bây giờ" xác định nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn

        dân toàn quân là ra sức chuẩn bị mọi mặt để kháng chiến và kiến quốc.

        Về quân sự, phải "Tổ chức bộ đội (tự vệ, dân quân) chỉ huy bộ đội (tự vệ, dân quân); làm khí giới, cung cấp lương thực".

        20-27 tháng 11

        Thực dân Pháp tập trung quân đánh phá thành phố Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn.

        Tại Hải Phòng, bộ binh và xe tăng Pháp bất ngờ mở cuộc tiến công vào các vị trí trong thành phố. Trung đoàn 91, Tự vệ thành, Công an xung phong và nhân dân Hải Phòng dựng chiến luỹ đánh quân Pháp trên các đường phố. Tại khu vực Nhà hát thành phố, 17 chiến sĩ vệ quốc quân và 12 chiến sĩ đội tuyên truyền xung phong dùng lựu đạn, lưỡi lê đánh bật nhiều đợt tiến công có xe tăng của địch. Ngày 26 tháng 11, vệ quốc quân rút ra ngoài thành phố, lập phòng tuyến chặn đánh địch.

        Tại Lạng Sơn, Trung đoàn 125, tự vệ và nhân dân thị xã kiên cường đánh trả quân Pháp xâm lược, gây cho địch nhiều thiệt hại ở Trường Nữ học và khu vực chợ Kỳ Lừa. Ngày 27 tháng 11, các đơn vị rút ra ngoài thị xã, lập phòng tuyến tiếp tục chiến đấu.

        13 tháng 12

        Trung ương Quân ủy và Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy triệu tập cuộc họp gồm các khu trưởng ở Hà Đông. Hội nghị nhất trí với nhận định của Trung ương Đảng: "Phản động Pháp ở thuộc địa cố gắng và đẩy chúng ta vào chiến tranh". Chủ trương của chúng ta lúc này là "vẫn tranh thủ khả năng hoà bình", nhưng "phải chuẩn bị cấp tốc để tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kỳ". Rút kinh nghiệm chiến đấu ở Nam Bộ, Hải Phòng, Lạng Sơn, chỉ đạo các địa phương chuẩn bị kháng chiến.

        18-19 tháng 12

        Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng ở làng Vạn Phúc (Hà Đông). Hội nghị nhận định: Âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh xâm lược đã chuyến sang một bước mới, thời kỳ hoà hoãn đã qua, khả năng hoà bình không còn nữa. Chúng ta đã nhân nhượng để giữ hoà bình, nhưng càng nhân nhượng thì kẻ địch càng lấn tới. Hội nghị quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên quy mô cả nước và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:05:40 PM

        19 tháng 12

        Toàn quốc kháng chiến. Sáng ngày 19, Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các mặt trận và các chiến khu: "Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác bức tối hậu thư ấy. Như vậy, chi trong 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: Tất cả hãy sẵn sàng!".

        Chiều 19, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp hạ mệnh lệnh cho các lực lượng vũ trang: "Giờ chiến đấu đã đến!". Đêm 19 rạng ngày 20, các lực lượng vủ trang, nhân dân Thủ đô và các thành phố nổ súng chiến đấu. Toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

        Ở Hà Nội, cuộc chiến đấu trong nội thành diễn ra quyết liệt kéo dài đến tháng 2 năm 1947. Các tiểu đoàn vệ quốc quân 101, 77, 212. 145, 523; một đại đội pháo binh, tám trung đội công an xung phong, một đại đội tự vệ chiến đấu, được các trung đoàn vệ quốc quân các tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Phúc Yên, Thái Nguyên chi viện đã thực hiện "trong ngoài cùng đánh". Nhiều trận đánh diễn ra ác liệt ở Bắc Bộ phủ, Nhà Xô-va, chợ Đồng Xuân... Tháng 1 năm 1947, lực lượng vũ trang chiến đấu ở Hà Nội tổ chức thành Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52. Để bảo toàn lực lượng, ngày 17 tháng 2 năm 1947, Trung đoàn Thủ đô bí mật rút khỏi thành phố ra vùng tự do (Đan Phượng, Hà Đông). Trong 60 ngày đêm, quân và dân Hà Nội đánh gần 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên địch, phá huỷ hơn 100 xe tăng, bắn chìm một ca nô, bẳn rơi và phá huỷ 5 máy bay. Nhiều cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã nêu gương chiến đấu dũng cảm, tiêu biểu cho tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

        Tại Hải Dương, Trung đoàn 44 (Chiến khu 3) cùng tự vệ, du kích chiến đấu quyết liệt ở Trường Nữ học, cầu Phú Lương, gây cho địch một số thiệt hại. Tiếp đó, bộ đội ta đánh địch trên đường số 5, ngăn chặn quân Pháp tiếp viện từ Hải Phòng lên Hà Nội.

        Tại Bắc Giang, Bắc Ninh, Trung đoàn Bắc Bác (Chiến khu 12) tiến công các vị trí quân địch ở thị xã Phủ Lạng Thương, sân bay Hạ Vĩ, trại bảo an binh (thành Bắc Ninh), gây cho chúng một số thiệt hại.

        Ở Nam Định, Trung đoàn 34 (Chiến khu 2) cùng gần một nghìn tự vệ thành, được nhân dân nội ngoại thành và tỉnh Thái Bình chi viện đã chiến đấu trong ba tháng. Nhiều trận đánh ác liệt diễn ra ờ trại Ca-rô, khu nhà ga, nhà sĩ quan Pháp, Nhà máy Sợi, Nhà máy Dệt... Ngày 15 tháng 5 năm 1947, Trung đoàn bi mật rút ra ngoài để báo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài.

        Tại Vinh, một đại đội thuộc Trung đoàn 57 (Chiến khu 4) phối hợp với một đại đội tự vệ thành bao vây tiến công ở Sở Canh nông, đề-pô ga và sân bay Nghi Lộc.

        Ở Huế, Trung đoàn Trần Cao Vân, một số đơn vị tiếp phòng quân, tự vệ và nhân dân địa phương chiến đấu trong 50 ngày đêm tại nội thành, tiêu diệt gần 200 tên địch.

        Tại Đà Nẵng, Trung đoàn 93, Trung đoàn 96 cùng các đơn vị công an, tự vệ, biệt động chiến đấu trong ba tháng, diệt hàng trăm tên địch.

        Cuộc chiến đấu của quân dân ta ở Hà Nội và các địa phương khác đã làm thất bại bước đầu kế hoạch đánh nhanh, giải quyết nhanh của địch hòng đánh úp Trung ương Đảng và Chính phủ ta, tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

        20 tháng 12

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, phát động toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược. Lời kêu gọi nêu rõ: "Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nửa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

        Hôi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

        Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người tre, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phai đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai củng phải ra sức chống thực dân cứu nước...” và khẳng định: "Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta".

        22 tháng 12

        Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Toàn quốc kháng chiến". Bản chỉ thị nêu rõ: Mục đích kháng chiến là đánh thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Đường lối kháng chiến là toàn dân, toàn diện. Phương châm tác chiến là triệt để dùng du kích chiến, thực hiện "Mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài" vừa chiến đấu, vừa xây dựng, phát triển lực lượng kháng chiến toàn dân, trường kỳ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:11:15 PM

        Cuối năm 1946

        Trung ương Đảng quyết định chia cả nước thành 12 chiến khu hành chính và quân sự.

        Chiến khu 1: Cao Bằng, Bác Cạn, Thái Nguyên, Phúc Yên. Lực lượng vũ trang có Trung đoàn 22 (Thái Nguyên, Phúc Yên), Trung đoàn 23 (Bắc Cạn), Trung đoàn 24 (Cao Bằng).

        Chiến khu 2: Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 35 (Sơn Tây), 37 (Hà Đông), 39 (Sơn La), 34 (Nam Định).

        Chiến khu 3: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương (trừ Đông Triều, Chí Linh). Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 41 (Thái Bình, Kiến An), 44 (Hải Dương, Hưng Yên), 50 (Quảng Yên).

        Chiến khu 4: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 55 (Thanh Hoá), 59 (Nghệ An), 63 (Hà Tĩnh), 57 (Quảng Trị), 71 (Thừa Thiên); hai tiểu đoàn 70 (Quảng Bình) và 75 (Cửa Lò).

        Chiến khu 5: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 67, 93 94 95, 96.

        Chiến khu 6: Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lầc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 79, 80, 81, 82.

        Chiến khu 7: Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn.

        Chiến khu 8: Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

        Chiến khu 9: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá.

        Chiến khu 10: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên. Lực lượng vủ trang có các trung đoàn: 76 (Việt Trì, Phú Thọ), 81 (Vĩnh Yên), 86 (Hà Giang - Tuyên Quang), 91 (Lào Cai) và tiểu đoàn 420 (Phú Thọ).

        Chiến khu 11: Hà Nội, lực lượng vũ trang có các tiểu đoàn: 145, 323, 77, 101, 212.

        Chiến khu 12: Lạng Sơn, Bác Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Hòn Gai, Quảng Yên (cả Đông Triều, Chí Linh). Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 125 (Lạng Sơn), 118 (Bắc Ninh - Bác Giang), 132 (Chũ) và hai tiểu đoàn 515, 517.

        ớ Nam Bộ, các chiến khu 7, 8 và 9 vẫn giữ tổ chức các chi đội vệ quốc đoàn.   

Năm 1947

        6 tháng 1

        Thành lập Trung đoàn Thủ đô (lúc đầu mang tên Trung đoàn Liên khu 1), trên cơ sở thống nhất các lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ, Công an xung phong trong liên khu. Hội nghị quân sự toàn quốc (từ 12 đến 15 - 1 - 1947) tặng đơn vị danh hiệu "Trung đoàn Thủ đô".

        Trung đoản biên chế ba tiểu đoàn (101, 102, 103) do đồng chí Hoàng Siêu Hải làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Trung Toản - Chính trị viên và đồng chí Hoàng Phương - Tham mưu trưởng.

        Ngày 13 tháng 1, Trung đoàn làm lễ tuyên thệ tại rạp hát Tố Như (nay là rạp Chuông Vàng), thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

        12-16 tháng 1

        Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất tiến hành tại Chúc Sơn (Chương Mỹ, Hà Đông). Hội nghị nhận định: Với viện binh đang kéo tới, quân Pháp sẽ mở cuộc phản công và tiến công. Nhiệm vụ chính của chúng ta là: Bảo toàn chủ lực, duy trì sức chiến đấu của bộ đội, triệt để tiêu thổ kháng chiến, phá hoại đường sá, nhà cửa, làm vườn không nhà trống, xây dựng các đội quân đặc biệt như đội cảm tử diệt xe tăng, đội đánh địa lôi... để ngăn chặn bước tiến cùa địch.

        Tháng 1

        * Thành lập Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thăng Long) trên cơ sở đơn vị tự vệ chiến đấu và vệ quốc quân bảo vệ ở các cửa ô Hà Nội được tổ chức lại.

        * Thành lập Phòng Giao thông vận tải quân sự miền Nam. Phòng có 60 ô tô vận tải các loại và một tiểu đội vận tải đường biển, làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho Khu 5 và một phần cho Nam Bộ. Trụ sở: Bình Định.

        17 tháng 1

        Quân Pháp từ Nam Ô đánh lên đèo Hải Vân và đổ bộ vào Lăng Cô, nhằm kiểm soát đường qua đèo Hải Vân để tiếp viện cho một bộ phận lực lượng của chúng đang bị quân dân Thừa Thiên vây đánh trong thành phố Huế. Vệ quốc đoàn chặn đánh địch trên cả hai tuyến đường bộ và đường sắt. Sau 3 ngày chiến đấu, ta diệt hơn 200 lính Âu - Phi.

        1 tháng 2

        Bộ Tổng tham mứu ra "Huấn lệnh về du kích vận động chiến", chỉ rõ: "Các chiến thuật của quân đội chính quy ta thường dùng là du kích vận động chiến, không phải là du kích chiến vì lực lượng huy động tương đối lớn... Trong quá trình chiến tranh du kích chiến phải phát triển thành vận động chiến". "Ở tiền phương, bộ đội phải luôn thay đổi sự bố trí, chiến thuật phải linh động sẵn sàng đối phó với sự chuyến biến của mặt trận...", "Ở hậu phương phải tấy trừ hình thức dồn đống; trái lại các bộ đội phải luôn luôn lưu động tập kích...".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:15:08 PM

        15 tháng 2

        Khai mạc hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ nhất (tức hội nghị các chính trị ủy viên khu và chính trị viên trung đoàn) do Tổng Quân ủy triệu tập. Hội nghị xác định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong quân đội, đặt hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội từ Tổng Quân ủy đến mỗi chi bộ. Xác định nhiệm vụ lãnh đạo quân sự và nắm vững quân đội của mỗi đảng viên, đặt mối quan hệ giữa hệ thống Đảng trong quân đội và các địa phương; củng cố quân đội chù lực và chấn chỉnh tổ chức dân quân; tổ chức hệ thống chính trị viên từ trên xuống dưới, đào tạo cán bộ quân sự và ra tờ báo Vệ quốc quân (nay là báo Quân đội nhân dân) làm cơ quan giáo dục toàn quân. Hội nghị đề ra 12 điều kỷ luật dân vận và 10 nhiệm vụ công tác chính trị trong quân đội cách mạng.

        Tháng 2

        Thống nhất tên gọi các lực lượng nửa vũ trang là dân quân, do chính quyền địa phương chỉ đạo. Lực lượng dân quân được chia ra: dân quân du kích có nhiệm vụ đánh giặc giữ làng và dân quân tự vệ đảm nhận công tác. Ngày 19 tháng 2, Bộ Quốc phòng ra thông tư về việc mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi vào dân quân, quy định tổ chức nhiệm vụ các cơ quan dân quân, tự vệ, du kích ở các khu, tỉnh, huyện vả xã.

        Tháng 3

        Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ; thành lập các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội thuộc Ủy ban kháng chiến các cấp. Đến đây, lực lượng vũ trang của ta bắt đầu hình thành: bộ đội chính quy, du kích địa phương thoát ly sản xuất (bộ đội địa phương) và dân quân tự vệ không thoát ly sản xuất.

        29 tháng 3

        Bốn tiểu đội thuộc hai tiểu đoàn 16 và 18 (Trung đoàn Trần Cao Vân) tập kích đồn Đất Đò (Khu 4) diệt một trung đội Pháp, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Trận tập kích mở đầu sự chuyển hướng từ đánh "dàn trận" sang du kích, vận động" của các lực lượng vũ trang trên chiến trường Bình - Trị - Thiên.

        3-6 tháng 4

        Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng lần thứ hai tiến hành tại Việt Bắc. Hội nghị rút kinh nghiệm qua 4 tháng kháng chiến toàn quốc, phân tích về cuộc kháng chiến của ta và đề ra những chủ trương, chính sách về quân sự, kinh tế, chính trị.

        Về quân sự, hội nghị quyết định:

        1- Đối với bộ đội: Nắm vững và rèn luyện... làm cho bộ đội ta xứng đáng là bộ đội cách mạng của nhân dân.

        2- Chiến lược, chiến thuật: Cương quyết chuyến sang du kích vận động chiến, giành quyền chủ động về chiến thuật...

        3- Vấn đề dân quân: Cấp tốc xúc tiến việc tổ chức, huấn luyện, vũ trang và lãnh đạo dân quân...

        4- Căn cứ địa: Tổ chức căn cứ địa ở miền rừng núi và đồng bàng.

        5- Quân giới: Chế tạo các vũ khí phá xe tăng, ca nô (Ba-zô-ka, mìn, địa lôi) và vũ khí thô sơ...

        25 tháng 4

        Đại đội học viên Trường Quân chính Khu 8 phối hợp với Chi đội 17 và du kích Mỹ Tho phục kích đoàn xe địch trên đường số 4 từ Sài Gòn lên miền Tây Nam Bộ, đoạn Giồng Dứa (Châu Thành, Mỹ Tho). Sau 10 phút chiến đấu, ta phá hỏng 14 xe của nguy quyền Sài Gòn, diệt 80 tên, bắt 7 tên (có Trương Vĩnh Tây). Đây là trận điển hình về vận dụng cách đánh phục kích giao thông thời kỳ đầu chống Pháp.

        Tháng 4

        Chế tạo thành công súng Ba-zô-ka. Từ giữa năm 1946, việc nghiên cứu, chế tạo đã được thực hiện ở xưởng quân giới Giang Tiên (Thái Nguyên). Tiếp đó, kỹ sư Trần Đại Nghĩa trực tiếp nghiên cứu và chi đạo chế tạo thanh công Ba-zô-ka theo mẫu của Mỹ (kiếu ATM-6A1), cỡ 60mm, dải 1,27m, nặng 11kg, có thể vác vai, bắn không giật, cự ly bắn hiệu quả từ 50 - 60m, xa nhất là 300m. Ngày 3 tháng 3 năm 1947 Ba-zô-ka được sử dụng diệt xe tăng Pháp tại Sơn Lộ - Chùa Trầm, Hà Đông. Đến tháng 4 năm 1947, sau nhiều lần bắn thử, súng và đạn Ba-zô-ka được Cục Quân giới nghiên cứu, chế tạo ổn định. Mỗi khu lập 1 - 2 xưởng chế tạo Ba-zô-ka. Cùng thời gian này, các cơ sở quân giới còn nghiên cứu, chế tạo được một số vũ khí chống tăng cỡ nhỏ (AT), súng phóng lựu, cối 51mm.

        1 tháng 5

        Chù tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh (số 47/SL) về tổ chức Bộ Tổng chi huy gồm Bộ Tổng tham mưu và các Cục: Chính trị, Tình báo, Tổng Quân huấn, Thanh tra, Dân quân và Văn phòng. Sắc lệnh quy định tổ chức cụ thể của Bộ Tống tham mưu, Cục Chính trị và Văn phòng.

        22 tháng 5

        Tiểu đoàn 193 (Trung đoàn 108) phục kích đánh địch ở đèo Hải Vân (Quang Nam) phá huy một đoàn xe quân sự, diệt 1 đại tá, 2 đại úy Pháp và một số binh lính địch.

        24 tháng 5

        Hội nghị dân quân, du kích toàn quốc lần thứ nhất, thống nhất tổ chức dân quân tự vệ và du kích từ những tổ chức vũ trang quần chúng, do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thề cứu quốc xây dựng trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang Nhà nước, do các cơ quan quân sự địa phương chỉ huy. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới hội nghị khẳng định: "Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:20:57 PM

        12-15 tháng 6

        Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba, đề ra kế hoạch bồi dưỡng, chấn chỉnh bộ đội, củng cố căn cứ địa kháng chiến, dự kiến âm mưu và thủ đoạn đánh phá của địch trong Thu - Đông 1947, rút kinh nghiệm tác chiến của các lực lượng vũ trang nhân dân, chuẩn bị tác chiến để phá sự chuẩn bị tiến công mùa đông của địch. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ta: "Đánh vào các đô thị, đánh rất mạnh vào các đường giao thông, đánh mạnh hơn vào các vùng do địch kiểm soát, đập tan mưu mô chính trị và kinh tế của địch... Phối hợp hoạt động quân sự, vũ trang tuyên truyền với các cuộc đấu tranh chính trị trong những vùng địch kiểm soát”.

        14 tháng 7

        Chi đội 10 Biên Hoà phục kích đánh đoàn tàu hoả quân sự của Pháp ở Bàu Cá> trên đường sắt Biên Hoà - Phan Thiết. Sau khi dùng mìn điện tự chế từ bom 50 kg lấy được của địch đánh đổ đoàn tàu, bộ đội ta tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, thu 60 súng các loại và 3 máy vô tuyến điện.

        27-29 tháng 9

        Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư, nhận định hướng tiến công của địch, xác định "Bắc Bộ sẽ là chiến trường chính nếu địch không mạo hiểm thì đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm chúng sẽ đánh lên Việt Bắc". Hội nghị chủ trương: "Kiên quyết nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực, tiêu diệt từng tộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ, thực hiện phối hợp giữa các khu và phối hợp chiến lược toàn quốc, phá tan âm mưu lập nguy quyền của địch. Cách đánh của ta là du kích chiến và vận động chiến, dùng đơn vị đại đội để hoạt động trên chiến trường của mỗi địa phương" và "Tập trung từng tiểu đoàn chủ lực cơ động đánh vận động chiến”, tránh phòng ngự chính diện, bộ đội phải ở sau lưng địch, hoá chỉnh vi linh, hoá binh vi chỉnh, hoá trang lẫn vào dân khi cần".

        4 tháng 10

        Hội nghị Cục trưởng Bộ Quốc phòng lần thứ tư, quyết định:

        1- Về quân giới: Tăng cường sản xuất vũ khí đạn dược, chú trọng về phẩm chất, kiện toàn về tổ chức.

        2- Quân nhu: Chỉnh đốn lại việc cung cấp cho bộ đội để được chu đáo và có quy củ hơn.

        3- Quân y: Kiểm tra kỹ việc phân phối, cấp dưỡng và điều trị trong các quân y và bệnh xá.

        4- Giao thông công binh: Vận tải trong thời kỳ địch tấn công và tổ chức công binh cho các khu.

        7- 10 đến 22-12

        Chiến dịch Việt Bắc. Quân địch tập trung một lực lượng lớn gồm hơn một vạn quân (có 2 binh đoàn tinh nhuệ), 40 máy bay, 800 xe cơ giới, do trung tướng Xa-lăng (Salan) chỉ huy, chia làm 3 hướng đánh vào Việt Bắc - căn cứ địa cách mạng của cả nước, hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo Trung ương và bộ đội chủ lực của ta, chặn đường tiếp tế và liên lạc của ta với bên ngoài, phá hoại kinh tế và tàn sát nhân dân vùng căn cứ địa.

        Bộ Tổng chi huy ta sử dụng các trung đoàn 147, 165 (chủ lực Bộ); 72, 74, 121 (Khu 1); 11, 36, 59, 98 (Khu 12); 1 tiểu đoàn pháo binh và Trung đoàn Sông Lô (Khu 10), 5 tiểu đoàn độc lập của Bộ, Khu 1 và Khu 12, các đơn vị binh chủng và du kích đánh chặn cuộc tiến công lớn của quân Pháp lên Việt Bắc.

        Chiến dịch diễn ra thành hai đợt (7.10 - 20.11, 21.11 - 22.12). Các đơn vị thực hiện phương châm "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" và cách đánh du kích, vận động đánh địch trên các địa bàn, trọng điểm là các mặt trận đường số 3, đường số 4 và Sông Lô, bẻ gãy các mủi tiến công đường không, đường bộ và đường thuỷ của binh đoàn đổ bộ đường không, binh đoàn bộ binh thuộc địa, lính thuỷ đánh bộ cùng lực lượng dự bị của Pháp (tổng số khoảng 1,2 vạn quân). Bộ đội ta đánh nhiều trận, gây cho địch tổn thất lớn: Bắn rơi tại chỗ máy bay chở viên tham mưu phó quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, thu tài liệu kế hoạch chiến dịch của địch (9.10); phục kích tại bản Sao - đèo Bông Lau (30.10); bắn tàu chiến, ca nô tại Khoan Bộ (23.10), Đoan Hùng (24.10), La Hoàng (2.11), Khe Lau (10.11)... trên sông Lô; tập kích đồn Phủ Thông (30.11); phục kích tại đèo Giàng trên đường số 3 (15.12)...

        Toàn chiên dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân Pháp, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến va ca nô, phá hủy 100 khẩu pháo, cối, hàng nghìn súng, hàng trăm xe quân sự, thu hàng chục tấn chiến lợi phẩm.

        Chiến thắng Việt Bắc đã làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến cả nước, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta phát triển sang giai đoạn mới, đánh dấu mốc hình thành của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.

        10 tháng 11

        Bộ Tổng chỉ huy ra "Huấn lệnh về cuộc vận động luyện quân đội lập chiến công (luyện quân, lập công)". Mục đích: "Huấn luyện cho bộ đội ta dần trở nên một quân đội quốc gia xứng đáng, bổ cứu những khuyết điểm hiện tại". "Rèn luyện bộ đội có trình độ kỹ thuật đầy đủ để phát động du kích chiến tranh rộng rãi và đánh vận động trong điều kiện thuận lợi". "Nâng cao tinh thần hy sinh vì nước, anh dũng giết giặc, gây truyền thống oanh liệt cho quân đội quốc gia..."

        14 tháng 11

        Bộ Tổng chỉ huy ra "Huấn lệnh về phát động du kích chiến tranh, nhiệm vụ quân sự cơ bản trong giai đoạn này". Bản huấn luyện chỉ rõ: "Nếu du kích chiến tranh là căn bản thì vận động chiến là phù trợ... Trong khi những đơn vị tập trung của quân đội chính quy tiến hành vận động chiến, nếu du kích chiến tranh không phát triền thì quân đội chính quy rất khó làm tròn nhiệm vụ của mình, vì vậy phát triển du kích chiến tranh tức là gây điều kiện thuận lợi cho vận động chiến... Quân chính quy phải hiểu rõ du kích chiến tranh là cần thiết cho vận động chiến, tự mình phải tận lực nâng đỡ du kích quân và khi cần phải cho một bộ phận của mình ra hoạt động du kích và đảm nhiệm việc phát động du kích".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2016, 07:24:52 PM


Năm 1948

        1 tháng 1

        Thành lập Tiểu đoàn pháo binh 410 (Liên khu 10), nòng cốt là 5 trung đội (175, 200, 225, 250, 275) thuộc Ban Pháo binh Khu 10 cũ, do đồng chí Phạm Văn Đôn làm Tiểu đoàn trưởng. Đây là tiểu đoàn pháo binh tập trung đầu tiên của quân đội ta.

        Đầu năm

        Thành lập các trung đoàn 300, 301, 302, 304, 306, 307, 308, 310, 311, 312 và một tiểu đoàn lưu động thuộc Khu 7. Sau khi thành lập, Trung đoàn 302 sáp nhập thêm một chi đội và đổi thành Trung đoàn 309; hai trung đoàn 307 và 309 sáp nhập thành Trưng đoàn 397.

        15-17 tháng 1

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng) đề ra nhiệm vụ kháng chiến trong thời kỳ mới. về quân sự, Nghị quyết hội nghị nêu rõ: Xúc tiến luyện quân lập công, chỉnh đốn quân giới, quân nhu, quân y để cải tiến trang bị cấp dưỡng cho quân đội. Đồng thời phát triển dân quân, phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là trong vùng địch kiểm soát, tuỳ theo tình thế tập trung đánh vận động tiêu diệt những đồn lẻ của địch, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng.

        24 tháng 1

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh (số 120/SL) tổ chức lại các khu trong ca nước: Khu 1 và Khu 12 hợp nhất thành Liên khu 1; Khu 2, 3, 11 thành Liên khu 3; Khu 10, l4 thành Liên khu 10; Khu 4 thành Liên khu 4 (trong đó có phân khu Bình - Trị - Thiên); Khu 5, 6, 15 thành Liên khu 5. Nam Bộ vẫn giữ 3 khu 7, 8, 9 và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, trực thuộc Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Các liên khu được coi như một đơn vị chính trị, kinh tế, quân sự hoạt động tương đối độc lập, do Liên khu ủy (ở Nam Bộ là Xứ ủy) Ủy ban Kháng chiến hành chính liên khu trực tiếp chỉ đạo.

        Tháng 1

        Đờ La-tua (De Latour), tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ vạch kế hoạch bình định đồng bằng Nam Bộ: Thiết lập một hệ thống đồn bốt tháp canh dày đặc, kết hợp với hàng loạt cuộc hành quân càn quét triệt để phá cơ sở kháng chiến, tiêu diệt hoặc đánh bật chủ lực ta khỏi đồng bằng, tách bộ đội với nhân dân, tăng vùng địch kiểm soát, chúng tiến hành nhiều cuộc càn nhỏ, sử dụng lực lượng cỡ đại đội, tiểu đoàn chà xát nhiều lần, đồng thời mở những cuộc càn chớp nhoáng vào căn cứ du kích của ta. Đến tháng 9 năm 1949, Pháp lập được gần 300 đồn bốt, tháp canh, với hơn 70.000 quân.

        20 tháng 1

        Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị (số 114/BT) về xây dựng căn cứ Tây Bắc, một nhiệm vụ quan trọng nhằm "bảo toàn lãnh thổ, giải phóng đồng bào, mở rộng căn cứ địa dự bị ở Bắc Bộ, phá tan âm mưu dùng người Việt đánh người Việt; khoét sâu nhược điểm thiếu nhân lực của địch, đặt cơ sở cho công cuộc quốc phòng vững chắc...".

        1 tháng 3

        Trung đoàn 310 (Biên Hoà) do Trung đoàn phó Nguyễn Văn Lung chỉ huy, củng du kích phục kích đoàn xe quân sự của địch tại La Ngà - Định Quán (trên đường Sài Gòn - Đà

        Lạt), phá huỷ 59 xe, diệt 150 sĩ quan, binh lính; trong đó có đại tá Đờ Sê-ri-nhê (De Sairigné) chỉ huy sư đoàn lê dương số 13 và đại tá Pa-ruýt (Parust) phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất quân đội Pháp ở Đông Dương, thu nhiều vũ khí và quân dụng.

        6 tháng 3

        Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ hai đề ra đường lối và phương châm công tác quân sự. Hội nghị quyết định tiếp tục phân tán hai phần ba quân chủ lực thành các đại đội độc lập, trung đội vũ trang tuyên truyền, ban xung phong công tác tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm, gây dựng cơ sở kháng chiến, dìu dắt dân quân du kích, kết hợp tác chiến với vận động nhân dân, kết hợp tiêu hao, tiêu diệt địch với bảo vệ cơ sở, phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh. Các tiểu đoàn tập trung tiến lên đánh công kiên và đánh vận động, mở những chiến dịch nhỏ tiêu diệt sinh lực địch, san phẳng hoặc bức rút nhiều đồn bốt, thu hẹp vùng tạm bị chiếm đóng của địch.

        18 tháng 3

        * Tiểu đoàn 45 thuộc Trung đoàn 17 chủ lực của Bộ được tăng cường hoả lực pháo binh, tiến công cứ điểm Tu Vũ (cách Hoà Bình 25 km về phía bắc) nhằm phá thế chiếm đóng khu tam giác Hoà Bình - Tu Vũ - Thu Cúc, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch. Sau một thời gian chiến đấu, Tiểu đoàn 45 diệt và làm bị thương 60 tên địch, phá huỷ hai phần ba công sự. Qua trận đánh, bộ đội ta có thêm kinh nghiệm hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh trong tác chiến diệt cứ điểm.

        * Du kích huyện Tân Biên (tỉnh Thủ Biên), do Trần Công Ân chỉ huy đánh tháp canh cầu Bà Kiên. Bằng cách cải trang, lợi dụng lúc địch thay gác, du kích bí mật tiếp cận, dùng thang leo lên, ném lựu đạn qua lỗ bắn vào tháp canh, diệt 10 tên, thu 8 khấu súng, rồi rút lui an toàn. Cách đánh "Công đồn đặc biệt" (gọi tắt là đặc công) ra đời.

        18-25 tháng 3

        Bộ chỉ huy Liên khu 10 mở chiến dịch tiến công quân pháp ở khu vực Quang Huy - Gia Hội (Nghĩa Lộ). Lực lượng tham gia gồm 4 tiểu đoàn chủ lực và dân quân, du kích địa phương. Sau hơn một tuần chiến đấu, ta diệt và bức rút bảy vị trí, buộc hàng trăm tên địch ra hàng, tạo điều kiện cho các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập của Liên khu tiến vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 03:34:28 AM

        15 tháng 4

        * Thành lập Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn trên cơ sở hợp nhất Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Trường Lục quân trung học Quang Ngãi và các trường, lớp đào tạo cán bộ trung đội. Khoá học có 450 học viên. Thiếu tướng Lê Thiết Hùng - nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn được cử làm Giám đốc.

        * Trung đoàn Phạm Hồng Thái phối hợp với các trung đoàn 308, 311 và lực lượng vũ trang chống cuộc càn của 3.000 quân địch vào căn cứ Làng Be. Dựa vào địa hình có nhiều kênh rạch, các lực lượng vũ trang ta đánh chặn quyết liệt, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, diệt 300 tên, thu nhiều vũ khí. buộc chúng phải rút quân.

        18 tháng 4

        Các chi đội 24, 25, 26 vệ quốc quân Khu 9 phục kích danh chặn đoàn xe quản sự của Pháp ở Tầm Vu (Rạch Giá), thu 100 súng trường, 1 pháo 115mm.

        20 tháng 5

        Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ tư (miền Bắc Đông Dương) xác định nhiệm vụ quân sự: "Tranh thủ thời gian bổ sung bộ đội, phát triển dân quân, ở những nơi địch có thể tiến công ráo riết thì đề phòng phá các cuộc tiến công của địch. Mờ rộng công tác chính trị, nhất là công tác vận động ngụy binh, chuẩn bị mọi điều kiện đầy đủ để đẩy mạnh cuộc kháng chiến...".

        26-30 tháng 5

        Trung đoàn 64 cùng du kích và nhân dân địa phương chống cuộc càn của 3.000 quân địch, có thuỷ quân, không quân và pháo binh hỗ trợ vào huyện Ân Thi (Hưng Yên). Bộ đội và du kích đá chiến đấu dúng cảm, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, diệt hơn 200 tên, bắn chìm 3 ca nô, buộc chúng phải rút quân.

        Đây là tháng lợi lớn đầu tiên của ta ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

        1-15 tháng 6

        Chiến dịch Yên Bình Xã 1. Bộ tư lệnh Liên khu 10 sử dụng các tiểu đoàn: 532 (chủ lực liên khu), 534 (Hà Giang), 45 (chủ lực Bộ), 2 đại đội độc lập (700 và Ngô Khê) tiến công quân Pháp ở khu vực huyện Yên Bình (nay thuộc tinh Yên Bái), nhằm tiêu diệt sinh lực, phá kế hoạch tiến công của địch, rèn luyện bộ đội tác chiến tập trung. Ta tiến công thị trấn Yên Bình Xã, bao vây, tiến công, bức rút một số cứ điểm. Nhưng do ta chưa nắm vững nguyên tác tập trung ưu thế binh hoả lực trong tiến công cứ điểm, nên kết quả tiêu diệt địch không lớn (diệt và bắt hơn 200 tên).

        25-7 đến 2-8

        Nhâm tiêu diệt sinh lực, phá thế chiếm đóng của địch ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Bộ chỉ huy Liên khu 1 chỉ huy 2 trung đoàn (308, 74), 3 tiểu đoàn và một số đại đội độc lập, cùng du kích tiến công tuyến phòng thủ của địch trên đường số 3, đoạn Bắc Cạn - Ngân Sơn. Lực lượng địch có 2 đại đội lê dương, 1 đại đội cơ động và lính ngụy.

        Mở đầu, Tiểu đoàn 11 (Trung đoàn 308) được tăng cường 1 đại đội pháo tiến công cứ điểm Phủ Thông. Tiếp đó, các đơn vị tăng cường đánh du kích, đánh giao thông, chặn viện trên đường 3. Ta diệt gần 60 tên, thu hơn 50 súng. Tiểu đoàn 11 được tặng danh hiệu "Tiểu đoàn Phủ Thông".

        31 tháng 7

        Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ (mở rộng) phân tích tình hình và quyết định: "Chiến lược của ta phải nhằm vào chống chiến lược giặc, vào sự bảo vệ dự trữ của chúng ta, bảo vệ hậu phương của ta. Ta phải gây phong trào và tạo làng chiến đấu cho các tỉnh, phải có chủ lực mạnh để đánh những trận lớn, phải đánh đồn, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch, mở rộng mặt trận ở toàn cõi Nam Bộ".

        8-16 tháng 8

        Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng lần thứ năm. về quân sự, hội nghị nhấn mạnh vấn đề tổ chức Đảng trong quân đội, rút ra những bài học lớn về tư tưởng chỉ đạo tác chiến: Trong khi ra sức "Phát triển chiến tranh du kích khắp nơi", đồng thời phải "Tủy theo tình thế tập trung đánh vận động tiêu diệt địch”, "phải học đánh vận động bằng tiểu đoàn tập trung rồi tiến lên thực hiện đánh vận động bằng trung đoàn dã chiến".

        19 tháng 8

        Thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao để nghiên cứu kế hoạch kháng chiến toàn diện, trình Chính phủ duyệt và thực hiện.

        Chủ tịch Hội đồng: Hồ Chí Minh - Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Phó chủ tịch: Lê Văn Hiến (Bộ trưởng Bộ Tài chính). Các ủy viên: Phan Kế Toại (quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ); Phan Anh (Bộ trưởng Bộ Kinh tế), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam), Tạ Quang Bửu (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng).

        Tháng 8

        Thành lập Mặt trận 3 (Mặt trận Trung Du). Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng trực tiếp làm chỉ huy trường mặt trận.

        5-7 tháng 10

        Chiến dịch Yên Bình Xã 2. Nhảm phá kê hoạch chiếm đóng và âm mưu tiến công thu đông - 1948 của Pháp, tập dượt bộ đội tập trung đánh cứ điềm kiên cố, Bộ tư lệnh Liên khu 10 sử dụng tiểu đoàn 453, đại đội 22 (Trung đoàn 115), 2 đại đội độc lập (671, 672), 1 đại đội sơn pháo 75mm, mở chiến dịch tiến công địch ở huyện Yên Bình (Yên Bái) lần 2. Sau 3 trận chiến đấu, bộ đội ta diệt và làm bị thương 58 tên địch, thu một số vũ khí, lương thực, giải phóng 70 gia đình bị địch tập trung ở Yên Bình Xã.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 09:13:55 PM

        8-10 đến 7-12

        Chiến dịch Đông Bắc I (Đông Bắc Bắc Bộ). Bộ Tổng chi huy và Bộ tư lệnh Liên khu 1 chủ trương mở chiến dịch

        Đông Bắc I nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá cơ sở kinh tế, đánh vào tuyến hậu cần của địch từ Hải phòng lên Lạng Sơn, mờ rộng khu tự do Đông Bắc, phá kế hoạch tiến công thu đông của chúng. Lực lượng tham gia có 3 trung đoàn (98, 28, 55) chủ lực Liên khu 1 và 2 tiểu đoàn (18, 29) thuộc Trung đoàn 308 chủ lực của Bộ cùng dân quân du kích mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực An Châu - Đồng Dương (Đông Bắc Bắc Bộ).

        Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt: (8 - 30.10, 31.10 - 7.12). Kết thúc chiến dịch, ta diệt 3 cứ điểm, bức rút 7 vị trí, diệt 150 tên, thu một số vũ khí; mờ rộng và củng cố căn cứ địa Đông Bắc.

        20 tháng 10

        Thành lập Liên khu 5, trên cơ sở hợp nhất các khu 5, 6 và 15 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng (Lâm Đồng). Lực lượng thuộc Liên khu có 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn. Việc thành lập Liên khu 5 thống nhất sự chỉ đạo chỉ huy trên các địa bàn Nam Trung Bộ, tạo điều kiện để phát triển lực lượng chủ lực, thúc đẩy vận động chiến.

        23 tháng 10

        Đại diện Chính phủ tại miền Nam ra nghị định (số 141/QS UNTB) thành lập Phân khu Tây Nguyên (địa bàn cua Khu 15 cũ), thành lập Trung đoàn 210 (gồm 2 trung đoàn 210, 215 sáp nhập lại); Liên trung đoàn 81-82 (Khu 6 cũ), phụ trách 4 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai; Liên trung đoàn 80 - 83 (Khu 6 cũ), phụ trách 2 tinh Phú Yên, Khánh Hoà.

        Tháng 10

        Thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ trên cơ sở Ban Quân sự Nam Bộ, do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh.

        11 tháng 11

        Khu ủy và Bộ tư lệnh Khu 5 mở đợt hoạt động Đông Xuân 1948 - 1949. ở Khánh Hoà, Phú Yên: Liên trung đoàn 80-83 do Trung đoàn trưởng Lư Giang, Chính ủy Nguyễn Đường chỉ huy, diệt một số vị trí địch. Ở Quảng Nam: Trung đoàn 108 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Bá Phát, Chính ủy Nguyễn Quyết chỉ huy, được tăng cường 2 tiểu đoàn (79 và 19), tập kích một số đồn địch ở khu vực thị xã Hội An, phục kích xe quân sự địch trên đèo Hải Vân. Ở Tây Nguyên: Tiểu đoàn 50 (Trung đoàn 120) do Trung đoàn trưởng Trương Cao Dũng chỉ huy, cùng lực lượng vũ trang địa phương Gia Lai đánh giao thông trên đường 19.

        Tại cực Nam Trung Bộ, Liên trung đoàn 81 - 82 do đồng chí Nguyễn Quang Tuyến - Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Sắc Kim - Chính trị ủy viên chỉ huy đánh bại cuộc càn lớn của 1.000 địch vào các huyện Hoà An, Trung Phong.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 09:19:13 PM

Năm 1949

        14-18 tháng 1

        Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu ra nghị quyết, trong đó xác định nhiệm vụ và công tác quân sự: "... Mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến đi tới và khi đủ điều kiện thi kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng để tiến sang giai đoạn phản công"... "Trung tâm công tác trong lúc này là tiếp tục xây dựng các bộ đội chủ lực, tập trung cán bộ tập trung vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc cho những đơn vị có nhiệm vụ đánh vận động chiến. Biên chế, huấn luyện, trang bị đều phải nhằm mục đích thực hiện vận động chiến mà tiến hành".

        20 tháng 1

        Tổng chính ủy tổ chức hội nghị cán bộ quân sự cao cấp thảo luận "Kế hoạch quân sự năm 1949", xác định: "Mạnh bạo từ chủ động chiến dịch tiến đến chủ động chiến lược bộ phận; kế hoạch chiến lược cần định rõ những chiến dịch kế tiếp nhau để việc chuẩn bị được đầy đủ và có điều kiện duy trì sự chủ động trên các mặt trận". "Để phát triển vận động chiến, thực hiện chủ động chiến dịch đi tới chủ động chiến lược cục bộ, nguyên tắc tập trung binh lực cần được kiên quyết thực hiện, đặc biệt trên chiến trường chính và hướng chính. Việc tập trung binh lực cần thích hợp với điều kiện địa hình, chiến thuật áp dụng, địch tình trên mỗi một chiến trường".

        15 tháng 2

        Tướng Ble-dô, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, sử dụng lực lượng cơ động mở cuộc hành binh Đi-an (Diane), đánh chiếm khu vực Phú Thọ, Yên Bái. Mục đích cuộc hành binh nhầm bảo vệ phía tây đồng bằng Bắc Bộ còn sơ hở, thực hiện chủ trương tăng cường phòng ngự vùng trung du Bắc Bộ, sau đó "đánh tan" lực lượng chủ lực ta ở Bắc Bộ.

        Tháng 2

        Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị xây dựng lực lượng vũ trang. Hội nghị đã thảo luận phương án tố chức biên chế đại đoàn chủ lực thuộc Bộ và trung đoàn chủ lực liên khu chuẩn bị cho Bộ Quốc phòng ban hành nghị định chính thức về tổ chức biên chế đại đoàn và trung đoàn chủ lực.

        1-3 đến 20-4

        Chiến dịch Lao - Hà (Lào Cai - Hà Giang). Nhằm phối hợp với Mặt trận 7 (chiến dịch Cao - Bắc - Lạng và chiến dịch Đông Bắc), Bộ tư lệnh Liên khu 10 sử dụng 4 tiểu đoàn (453, 532, 530, 930), một số đại đội độc lập và đội vũ trang tuyên truyền tiến công địch ở Lào Cai - Hà Giang, diệt 2 vị trí, bức địch rút khỏi 22 vị trí khác, diệt và gọi hàng hơn 60 tên địch, phá âm mưu lập "Xứ Nùng tự trị" của địch.

        4-3 đến 27-4

        Chiến dịch Đông Bắc II. Nhằm tiêu diệt một bộ phận quân Pháp, củng cố và phát triển cơ sở, hỗ trợ mặt trận Cao - Bắc - Lạng, Bộ tổng chỉ huy sử dụng Trung đoàn 98, Trung đoàn độc lập Hải Ninh, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 59) do đồng chí Lê Quảng Ba làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch, tiến công địch ở Đông Bắc Bắc Bộ. Sau hơn 40 trận lớn nhỏ, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, bắt và gọi hàng hơn 200 tên, phá huỷ 80 xe quân sự, thu nhiều vũ khí.

        8 tháng 3

        *  Ban nghiên cứu Thuỷ quân thuộc Bộ Tổng tham mưu được thành lập, có nhiệm vụ nghiên cứu phương án xây dựng và chiến đấu của lực lượng thủy quân phủ hợp với hiện tại và trong tương lai gần. Trưởng ban - Nguyễn Văn Khương, Chính trị viên: Nguyễn Việt.

        * Tổng thống Pháp Vanh-xăng Ô-ri-ôn (Vincent Auriol), Bộ trường Pháp quốc hải ngoại Cốt Phơ-lô-rê (Coste Floret) và Bao Đại ký hiệp ước tại Pa-ri. về quân sự, theo hiệp ước: Việt Nam có quân đội riêng do sĩ quan người Việt chi huy, nhưng do Pháp huấn luyện và trực tiếp điều khiển; quân đội pháp được quyền tự do di chuyến trên toàn Việt Nam, đóng quân tại các căn cứ hải, lục, không quân quan trọng.

        9 tháng 3

        Ban nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng tham mưu được thành lập, có nhiệm vụ tìm hiểu hoạt động và biện pháp chống không quân Pháp, chuẩn bị cơ sở xây dựng không quân Việt Nam. Trướng ban: Hà Đổng; Chính trị viên: Trần Hiếu Tâm.

        12 tháng 3

        Chủ tịch Hồ Chú Minh ký sầc lệnh (số 14/SL) đổi tên "Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam” thành "Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam"; các bộ chỉ huy liên khu đổi thành Bộ tư lệnh liên khu; Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam đổi thành Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam; Liên khu trưởng đổi thành Tư lệnh liên khu.

        15-3 đến 30-4

        Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng. Ba trung đoàn (28, 72, 74), tiểu đoàn 517 (Liên khu 1), bốn tiểu đoàn bộ binh (29, 35, 23, 18), tiểu đoàn pháo binh 410 (trực thuộc Bộ), dưới sự chỉ huy của các đồng chí Đào Văn Trường (Tư lệnh), Hà Kế Tấn (Chinh ủy), tổ chức tiến công địch trên tuyến phòng thủ đường số 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ờ Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn, buộc địch phải rút khỏi Bấc Cạn. Diễn biến chiến dịch chia làm hai đợt (15.3 - 14.4. 25 - 30-4). Kết thúc chiến dịch, ta bức rút 17 đồn bốt, phá huỷ 80 xe quân sự và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.400 tên địch.

        29 tháng 3

        Chính Phủ Pháp điều động 13 tiểu đoàn ở Châu Phi và 2 phi đoàn máy bay tiêm kích sang Đông Dương, nâng lực lượng viễn chinh tại Đông Dương lên 130.000 quân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 09:31:08 PM

        7 tháng 4

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Sắc lệnh quy định: "Quân đội quốc gia Việt Nam gồm hai phần: Quân đội chính quy và quân đội địa phương. Bộ đội địa phương có 3 đặc điểm chính là: có tính cách địa phương, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, tự trang bị và tự túc về cấp dưỡng".

        Thực hiện sắc lệnh trên, ngày 7 tháng 7 năm 1949, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra Nghị định (số 103/NĐ) về tổ chức bộ đội địa phương, và Thông tư (số 46/TT) về nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các ngành đối với việc xây dựng bộ đội địa phương.

        29-4 đến 30-5

        Bộ chỉ huy quân Pháp huy động 2.500 quân, mở cuộc càn Pô-môn (Pomone) đánh lên Phú Thọ, Tuyên Quang, nhằm thu hút chủ lực ta, phá hậu phương kháng chiến của ta, giành lại quyền chủ động ờ chiến trường Bắc Bộ và gây thanh thế cho Bảo Đại về nước.

        Lực lượng ta gồm hai trung đoàn: 308 (chủ lực Bộ), 209 (Liên khu 10), du kích và nhân dân, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Bằng Giang (Chỉ huy trưởng), Vương Thừa Vũ và Lâm Kính (Chỉ huy phó) đã chiến đấu dũng cảm, bẻ gãy nhiều đợt tiến cổng của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực, làm thất bại âm mưu càn quét của chúng.

        13 tháng 5

        Chính phủ Pháp cử tướng Rơ-ve (Revers) Tổng tham trưởng quân đội sang Đông Dương. Sau hơn một tháng điều tra ngày 29 tháng 6 năm 1949, Rơ-ve gửi Chính phủ Pháp bản báo cáo đề xuất một kế hoạch chiến lược mới. Nội dung chính gồm: Coi Bắc Bộ là chiến trường chính, tăng quân cho Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, tăng cường phòng thủ khu tứ giác Lạng Sơn - Tiên Yên - Hải Phòng - Hà Nội, bao vây căn cứ địa Việt Bắc, phong toả biên giới Việt - Trung; chú trọng phát triển sử dụng quân ngụy vào việc chiếm đóng để tập trung quân Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động, càn quét, đánh phá, đàn áp phong trào chiến tranh du kích, chuẩn bị mở các cuộc tiến công lớn tiêu diệt bộ đội chủ lực ta.

        Kế hoạch Rơ-ve được Chính phủ Pháp thông qua, được Mỹ ủng hộ, đánh dấu sự can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam.

        14 tháng 5

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định sáp nhập các phòng, ban vũ khí dân quân, các xưởng vũ khí dân quân ở các khu và các xưởng thuộc Tổng liên đoàn Lao động vào Ngành Quân giới. Mỗi tỉnh duy trì một công trường hoặc một kíp thợ (20-30 người), bảo đảm vũ khí cho bộ đội địa phương và dân quân du kích. Các huyện lập tổ nhồi lắp vũ khi (mìn, lựu đạn) và sản xuất vũ khí thô sơ.

        19-5 đến 18-7

        Chiến dịch Sông Thao. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng căn cứ Tây Bắc, Bộ

        Tổng tư lệnh sử dụng các tiều đoàn 11, 45 (Trung đoàn 308), 4 tiểu đoàn cua Liên khu 10 và một số đơn vị binh chung dưới sự chi huy của các đồng chí Lê Trọng Tấn (Chỉ huy trưởng), Cao Văn Khánh (Chi huy phó), mở chiến dịch tiến công vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ờ khu vực Yên Bái - Lào Cai. Lực lượng địch có 9 đại đội, 7 trung đội tổ chức phòng thu ở các cứ điếm. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 đợt (19.5-13.6; 24-29.6; 16-18.7). Kết thúc chiến dịch ta tiến công tiêu diệt 9 cứ điếm, bức rút 16 đồn, loại khỏi vòng chiến đấu gần 700 tên địch, phá vỡ từng mảng lớn phòng tuyên sông Thao, mở rộng vùng tự do của ta ở Sơn La, Yên Bái, Lào Cai từ Ba Khe đến Bảo Hà.

        Tháng 5

        * Thành lập Cục Pháo binh. Nhiệm vụ: Nghiên cứu, chế tạo vũ khí có sức công phá phù hợp với khả năng, điều kiện của ta; mờ trường đào tạo chi huy pháo binh, lớp đào tạo thợ pháo... Cục trương: Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa.

        * Thành lập Ban chi huy Mặt trận Hà Nội. Trực thuộc Mặt trận gồm tiểu đoàn chu lực 108 (được xây dựng trên cơ sở các đại đội độc lập tập trung lại) và hai chi đội biệt động nội thành.

        10-6 đến 5-7

        Chiến dịch "Thập vạn Đại Sơn". Thực hiện thoả thuận giữa Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Trung ương Đảng ta, Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho Bộ tư lệnh Liên khu 1: "Giúp Giải phóng quân (Trung Quốc) xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung - Long - Khâm liền với biên giới Đông Bắc của ta, thông ra biển, gây điều kiện để khuếch trương lực lượng đón quân tiến xuống phía nam, đồng thời hoạt đông ơ Đông Bắc để mờ rộng khu tự do của ta ra sát tận biên giới và thông ra biển, liền với khu giải phóng Việt Quế".

        Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Lê Quảng Ba làm Tư lệnh và đồng chí Trần Minh Giang (Trung Quốc) làm Chính trị ủy viên. Lực lượng tham gia chiến dịch về phía Việt Nam gổm các tiểu đoàn: 73 (Trung đoàn 74), 35 (Trung đoàn 308), 426 (Trung đoàn 59), 1 (Trung đoàn Hải Ninh) và một số đơn vị binh chủng, bảo đảm.

        Chiến dịch diễn ra trên hai mặt trận. Mặt trận Điền Quế do đồng chí Nam Long làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Bình (Trung Quốc) làm Chỉ huy phó, đồng chí Đỗ Trình làm Chính trị ủy viên. Mặt trận Tả Giang - Long Châu do đồng chí Thanh Phong (Tư lệnh phó Liên khu 1) làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 74) và đồng chí Long Xuyên (Trung đoàn phó Trung đoàn 28) làm Tư lệnh phó. Trên cả hai mặt trận, bộ đội Việt Nam đã phối hợp với Quân giải phóng Trung Quốc tiêu diệt nhiều đồn bốt, mở rộng khu Điền Quế, Việt Quế, các khu căn cứ Tả Giang, Thập vạn Đại Sơn. Hoàn thành nhiệm vụ các đơn vị trở về Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 09:36:53 PM
        
        18 tháng 6

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh (số 50/SL) quy định Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ "tổ chức và quản trị quân đội và các cơ quan quốc phòng"; "điều khiển các cơ quan sản xuất quốc phòng". Tổ chức Bộ Quốc phòng gồm: các cơ quan trực tiếp giúp Bộ trưởng (Văn phòng và sự vụ); các nha chuyên việc sản xuất (Quân giới, Quân nhu, Quân dược); Bộ tham mưu và các Cục (Chính trị. Dân quân. Quản huấn, Quân chính, Quân pháp, Tình báo. Pháo binh. Công binh, Quân giới, Quân nhu, Quân y, Thông tin liên lạc, Vận tải), Đoàn Thanh tra.

        Tháng 6

        Hội nghị Cục trưởng và Giám đốc Nha Quân giới. Tại hội nghị, Thiếu tướng Hoàng Ván Thái - Tổng tham mưu trường giao nhiệm vụ cho ngành quân giới: "Sản xuất vũ khí công đồn và đánh giao thông, chú trọng vũ khí đánh đường thuỷ". Hội nghị phát động cuộc vận động "Rèn luyện cán bộ. chấn chỉnh cơ quan" trong toàn ngành.

        31 tháng 7

        Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ban hành nghị định (số 123/NĐ) thành lập Cục Thông tin liên lạc thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Nhiệm vụ: Tham mưu cho Bộ Tổng tư lệnh về thông tin liên lạc; tổ chức giữ vững thông tin liên lạc từ Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu đến các chiến trường, các đơn vị trong toàn quân; trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị thông tin liên lạc thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh; thống nhất tất cả các lực lượng thông tin liên lạc ở cơ quan Bộ Quốc phòng, sở vô tuyến điện Việt Nam về Cục. Các đồng chí Hoàng Đạo Thuý được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng, Nguyễn Văn Tình giữ chức Cục phó.

        6 tháng 8

        Phân hiệu Lục quân Trung Bộ được thành lập theo nghị định của Bộ Quốc phòng, do đồng chí Hoàng Điền làm Giám đốc, đồng chí Hoàng Lưu làm Chính trị viên. Ngày 21 tháng 9 năm 1949, phân hiệu khai giảng khoá 1 tại Hà Cháy (Thanh Chương, Nghệ An), có 800 học viên.

        8 tháng 8

        Bộ đội Khu 9 đánh địch ở Sóc Xoài (Rạch Giá), diệt 200 tên phá huỷ 11 xe cơ giới, thu 1 pháo 90mm.

        9 tháng 9

        Trước sức tiến công của quân và dân ta, quân Pháp bị thiệt hại phải rút. khỏi thị xã Bấc Cạn. Tiếp đó, chúng rút bỏ vị trí Phủ Thông (10-8) và các vị trí Nà Phạc, Ngân Sơn (13-8). Bắc Cạn được giải phóng. Khu căn cứ địa Việt Bắc được củng cố, mở rộng.

        18 tháng 8

        * Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân, trong đó xác định vị trí vai trò: "Bộ đội địa phương và dân quân trong quá trình tiến triển của chiến tranh, là lực lượng hậu bị trực tiếp của quân chủ lực". "Xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân là một công tác then chốt để đẩy mạnh chiến tranh tiến tới".

        * Tại Bắc Bộ, Bộ chỉ huy quân Pháp huy động 5 tiểu đoàn, có máy bay, xe lội nước và pháo binh yểm hộ, mở cuộc hành quân Ca-ni-gu (Canigou) đánh chiếm thị xã Vĩnh Yên, Phúc Yên. Đây là hành động tiếp tục kế hoạch chiếm đóng Trung Du của Pháp.

        * Tại Trung Bộ, quân Pháp mở cuộc càn lớn vào Mỹ Xuyên (Phong Điền, Quảng Trị). Các tiểu đoàn 277, 310 (Trung đoàn 95), 364 (Liên khu 4) anh dũng chiến đấu, bẻ gãy cuộc tiến công của địch, gây cho chúng một số thiệt hại.

        19 tháng 8

        Tại Đà Nẵng, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an Xung phong và biệt động đột nhập vào thành phố, phá bốt gác, trại lính, đài thiên văn, nhà máy nước, trụ sở hành chính nguy quyền, làm chủ trong ba giờ liền.

        28 tháng 8

        Đại đoàn bộ binh 308 tổ chức lễ thành lập tại Đồn Đu Đồng Hỷ (nay là Phú Lương) tinh Thái Nguyên. Đại đoàn biên chế 3 trung đoàn bộ binh (88, 42, 36), Tiểu đoàn 11 (Tiểu đoàn Phủ Thông), Tiểu đoàn pháo binh 410 và một số đơn vị binh chủng, trực thuộc, do đồng chí Vương Thừa Vũ làm Đại đoàn trường kiêm Chính ủy. Trung đoàn 88 (thành lập 1-7-1940), gồm 4 tiếu đoàn (23, 29, 38, 322), do các đồng chí Nguyễn Thái Dũng làm Trung đoàn trưởng, Đặng Quốc Bảo làm Chính ủy. Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô thành lập 6-1-1947) gồm 3 tiểu đoàn (18, 69, 79), do các đồng chí Vũ Yên làm trung đoàn trưởng, Hoàng Thế Dũng làm Chính ủy. Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc, thành lập 8-1946), gồm các tiểu đoàn 54, 55, 56, do các đồng chí Phạm Hồng Sơn làm Trung đoàn trưởng, Hoàng Xuân Tuỳ làm Chính ủy. Đại đoàn 308 là đại đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta được mang danh hiệu "Quân Tiên Phong".

        2 tháng 9

        Tướng Các-păng-chi-ê (Carpentier), được Chính phủ Pháp bổ nhiệm thay Ble-dô (Blaizot) làm Tổng chi huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tới Sài Gòn. Đây là viên Tổng chỉ huy thứ năm của Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương.

        26 tháng 9

        Bộ Quốc phòng ra chi thị (số 78/CT-BQP) về tổ chức thông tin liên lạc ở các liên khu và quân đội quốc gia, quy đinh: Liên khu có phòng, đại đoàn có tiểu đoàn, trung đoàn có đại đội và tiếu đoàn có trung đội thông tin liên lạc.

        Tháng 9

        Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy đọc báo cáo quan trọng nhận đinh tình hình quân sự địch ta và nêu một số công tác quan trong: Gấp rút chấn chính bộ máy quân sự các cấp; xây dựng ba thứ quân; rèn cán, chinh quân; tổ chức lại bộ máy quân giới, quân nhu; tăng cường công tác chính trị, địch vận, đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 09:54:13 PM

        10-14 tháng 10

        Hội nghị quân giới lần thứ tư quyết định tổ chức lại các xưởng theo hướng chuyên môn hoá; phân công một số xưởng sản xuất, một số xưởng sửa chửa từng loại vũ khí; tố chức các kíp lưu động theo bộ đội để sửa chửa vũ khí hư hỏng nhẹ và nhồi lắp đạn.

        10 tháng 10

        Bộ chí huy quân Pháp huy động hàng nghìn quân dù, bộ binh, hàng chục máy bay, tàu chiến, ca nô, mở cuộc hành quân Ăng-tơ-ra-xít (Anthracite), chiếm đóng Phát Diệm (Ninh Bình) nhằm chuẩn bị cho ý đồ chiếm toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ.

        Tháng 10

        * Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam và Bộ chỉ huy Quân đội Lào ít-xa-la quyết định phân chia lại phạm vi hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Bộ đảm nhiệm Bắc Lào, Liên khu 4 phụ trách Trung Lào và Liên khu 5 phụ trách Hạ Lào.

        * Thành lập Mặt trận Bình - Trị - Thiên - Trung Lào. Lực lượng trực thuộc Bộ chỉ huy mặt trận gồm các trung đoàn 95, 88, 301 và Tiểu đoàn 88; có nhiệm vụ đẩy mạnh tác chiến tập trung ở hướng đường số 9 - miền Trung Đông Dương và tác chiến phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ; Đồng chí Hà Văn Lâu được cử làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Quý Hai làm Ủy viên chính trị.

        4 tháng 11

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 127/SL) hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10 thành Liên khu Việt Bắc.

        Thực hiện sắc lệnh trên, Bộ Quốc phòng ra chỉ thị (ngày 7-12-1949) về nhiệm vụ của Liên khu Việt Bắc: 1- Chỉ đạo các lực lượng vũ trang liên khu về mặt tác chiến, xây dựng và củng cố hậu phương. 2- Tổ chức huấn luyện bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và quân hậu bị. 3- Chỉ đạo lực lượng vũ trang tham gia bảo vệ trật tự an toàn xã hội. 4- Chỉ đạo lực lượng vũ trang nhân dân phát triển chiến tranh nhân dân và bảo vệ cơ sở hậu phương, kho tàng, nhà máy của Liên khu và của Bộ. 5- Phối hợp với các đơn vị chủ lực chuẩn bị chiến trường và hiệp đồng tác chiến khi Bộ mở chiến dịch trong địa bàn liên khu hoặc khi địch tiến công vào liên khu. 6- Tham gia huy động nhân vật lực- tài lực phục vụ chiến tranh khi có quyết định của Hội đồng Quốc phòng tối cao, hoặc Chính phủ Trung ương. 7- Trực tiếp quan hệ với bạn để giải quyết các vấn đề liên quan giữa hai bên ở biên giới khi có lệnh của Bộ.

        Tư lệnh: Lê Quảng Ba, Chính ủy: Chu Văn Tấn.

        5 tháng 11

        * Hội đồng Quốc phòng tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Thông tư (số 124/HĐ-TT) đặt thẻ quân vụ cấp cho nam công dân từ 18 đến 45 tuổi.

        * Trong năm 1949, căn cứ vào Thông tư số 124/HĐ-TT, Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định (6 chương, 14 điều) về chế độ tòng quân của phụ nữ Việt Nam. Điều 1, chương I: "Công dân Việt Nam, phụ nữ nếu tình nguyện tòng quân, cúng có thể được chấp nhận". Điều 6, chương II: "Nhưng quân nhân phụ nữ không giữ những chức vụ trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu ở tiền tuyến, mà chỉ công tác trong các ngành chuyên môn của quân đội".

        18 tháng 11

        Bộ tư lệnh Nam Bộ ra mệnh lệnh (số 137) thành lập các liên trung đoàn 301 - 310 và 300 - 397 thuộc Khu 7, các liên trung đoàn 306 - 312 và 308 - 311 thuộc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

        25-11-1949 đến 30-1-1950

        Chiến dịch Lê Lợi. Nhằm phá thế uy hiếp của địch, mở rộng đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, Bộ Tổng tư lệnh sử dụng các trung đoàn 209 (thuộc Bộ), 66 (Liên khu 3), 9 (Liên khu 5), 42 và 48 (hai trung đoàn địa phương Liên khu 3), tiểu đoàn độc lập 930 (Liên khu 10), một số đơn vị binh chủng, du kích, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Hoàng Sâm (Tư lệnh), Lê Quang Hoà (Chính ủy), Lê Trọng Tấn (Phó tư lệnh), tiến công địch tại vùng Chợ Bờ (Hòa Bình). Diễn biến chiến dịch chia làm hai đợt (25 - 30 tháng 11, 1-27tháng 12). Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 800 tên địch.

        Tháng 11

        * Bộ tư lệnh Khu 7 tổ chức hội nghị chuyên đề về đánh tháp canh. Sau khi kết luận về cách đánh, hội nghị giao cho Tỉnh đội Biên Hoà tổ chức đánh thí điểm và Ban Quân giới khu sản xuất mìn đánh tháp canh.

        * Chiến dịch sông Mã. Bộ tư lệnh Khu 10 sử dụng một số đơn vị của Trung đoàn 148 (Sơn La) phối hợp với bộ đội cách mạng Lào tiến công phòng tuyến sông Mã của địch diệt và bức rút 10 vị trí, mở thông biên giới Việt - Lào, góp phần mở rộng căn cứ của bạn ở Bắc Lào.

        7-26 tháng 12

        Chiến dịch Cầu Kè. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ hệ thống đồn bốt, tháp canh, giải tán bảo an, dân vệ, Bộ tư lệnh Khu 8 sử dụng hai trung đoàn 109, 111, bốn đại đội bộ đội địa phương, công an xung phong và du kích mở cuộc tiến công đánh vào tuyến phòng thủ của quân Pháp ở Cầu Kè - Tiểu Cần (Trà Vinh). Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có gần 700 quân chiếm đóng và 2 tiểu đoàn quân cơ động. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 đợt (7-9 tháng 12, 10-12 tháng 12, 13-26 tháng 12). Kết thúc chiến dịch, ta diệt, bắt và gọi hàng hơn 600 tên địch, bắn chìm 2 tàu chiến.

        22-12-1949 đến 27-1-1950

        Chiến dịch Lê Lai. Phân khu Bình - Trị - Thiên sư dụng 4 Trung đoàn (95, 18, 101, 57), một số tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích do các đồng chí Hà Văn Lâu (Tư lệnh), Hoàng Anh (Chính uy) chỉ huy, tiến công địch chủ yếu từ nam Quảng Bình đến bắc Thừa Thiên.

        Chiến dịch chia làm 2 đợt: (22 - 31.12.1949, 15 - 27.1.1950). Qua hơn 30 trận lớn, nhỏ, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn một nghìn tên địch. Lần đầu tiên, Bộ tư lệnh Mặt trận Bình - Trị Thiên mở chiến dịch quy mô nhiều trung đoàn chu lực, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang các tỉnh đạt mục đích chiến dịch đề ra.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 09:59:06 PM

Năm 1950

        Đầu năm 1950

        Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Trường Thiếu sinh quân. Đồng chí Lê Chiêu và một số cán bộ, giáo viên Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn được điều động về xây dựng trường.

        6 tháng 1

        Ban Thường vụ Trung ương" Đảng chi thị mờ chiến dịch Tây Bác và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc. Chỉ thị nêu rõ: Mở chiến dịch Tây Bắc nhằm: "Phối hợp với Quân giải phóng Trung Hoa tiêu diệt tàn quân Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch nếu chúng tràn qua biên giới"; "Làm tan rã khối ngụy binh và phá ngụy quyền"; "Tiêu diệt một số vị trí địch"; "Khôi phục lại Lào Cai, mở thông đường quốc tế". Đồng thời để chuẩn bị chiến trường Đông Bắc, "Cần chú trọng đến củng cố, phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích miền biển..., điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đánh đến"; "khi có đủ điều kiện sẽ mở một chiến dịch lớn, quét địch ra khỏi đường số 4 và một đoạn bờ biển, đánh bại quân địch trong vùng Đông Bắc".

        10-1 đến 31-3

        Chiến dịch Võ Nguyên Giáp. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, cắt giao thông, đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, Bộ tư lệnh Liên khu 5 sử dụng hai trung đoàn 210, 108, một số đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Đàm Quang Trung (Tư lệnh), Nguyễn Đôn (Chính ủy), tiến công địch ở bắc Quảng Nam. Diễn biến chiến dịch chia làm 3 đợt (10.1 - 6.2, 7.2 - 14.3, 15 - 31.3). Chiến dịch kết thúc thắng lợi, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.200 tên địch, phá huỷ 17 xe vận tải, 3 đầu máy xe lửa, 12 toa xe lửa, thu 203 súng các loại, giải phóng huyện Duy Xuyên và phía tây huyện Đại Lộc với 20.000 dân.   

        12-1 đến 1-3

        Chiến dịch Trường Chinh. Để tiêu diệt sinh lực địch, triệt phá quốc lộ 1 và đường sắt Nha Trang - Sài Gòn, Bộ tư lệnh Liên khu 5 sử dụng các tiểu đoàn 365, 121, 120 thuộc hai trung đoàn 80, 83, hai đại đội độc lập, bộ đội địa phương và dân quân du kích, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Lư Giang (Tư lệnh), Nguyễn Đường (Chính ủy), tiến công địch ở nam Khánh Hoà. Sau 21 trận đánh lớn nhỏ, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 150 tên địch, bán rơi 1 máy bay, phá huỷ 15 ô tô quân sự, thu 41 khẩu pháo và súng các loại, giai phóng một phần huyện Vĩnh Xương, Diên Khánh.

        18 tháng 1

        * Trận tập kích sân bay Bạch Mai. 36 chiến sĩ Tiểu đoàn 108 Hà Nội cùng dân quân du kích bất ngờ tập kích sân bay phá huỷ 27 máy bay và đốt cháy 600.000 lít xăng dầu của địch.

        * Chiến dịch Cầu Ngang. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, Bộ tư lệnh Khu 8 sử dụng Tiểu đoản 307, hai đại đội 109 và 101 bộ đội địa phương, tiến công các vị trí địch tại khu vực Cầu Ngang, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, thu gần 200 súng các loại.

        21-1 đến 2-2

        Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng, về nhiệm vụ quân sự, hội nghị đề ra: "Một mặt chiến đấu để tiêu diệt sinh lực của địch, một mặt gấp rút bồi dưỡng và xây dựng quân đội nhân dân ngày càng tinh nhuệ, ngày càng chính quy hoá, trung thành với lợi ích của nhân dân và lợi ích của cách mạng"... "Về tác chiến, phát triển du kích đến cực độ vẫn là nhiệm vụ chính trong lúc này, song đồng thời phải tập đánh vận động thực sự"... "Chiến trường chính hiện nay là Bắc Việt Nam. Nhưng việc tập trung lực lượng vào chiến trường chính phải đi đôi với tăng cường đúng mức cho chiến trường miền Nam, để sự phối hợp có hiệu lực và lợi dụng triệt để những điều kiện thuận lợi của ta ở miền Nam".

        25-27 tháng 1

        Chiến dịch Dầu Tiếng - Bến Cát. Bộ Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn sử dụng hai trung đoàn 306, 312, phối hợp với hai trung đoàn 301, 310 (Khu 7), cùng du kích, nhân dân, phá cuộc càn của một tiểu đoàn địch có xe tăng, Xe cơ giới hỗ trợ, tại vùng Hớn Quản và bắc huyện Bên Cát (Thủ Dầu Một). Kết quả chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 60 tên địch, thu và phá hủy một số phương tiện chiến tranh, mở rộng khu căn cứ Thanh Tuyền - Long Xuyên.

        26-1 đến 1-2

        Chiến dịch Cao Lãnh. Nhằm ngăn chặn địch đánh vào Đồng Tháp Mười, Bộ tư lệnh Khu 8 sử dụng Trung đoàn 115. Tiểu đoàn 308, bốn đại đội bộ đội địa phương và du kích, do Đặng Văn Thông chỉ huy, tiến công các vị trí, đồn bốt địch tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch, thu và phá huỷ nhiều vũ khí, giải phóng ba xã Tân An, Hoà An, Tân Thuận Tây, với 6.000 dân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 10:03:24 PM

        7-2 đến 7-3

        Chiến dịch Lê Hồng Phong I. Thực hiện chỉ thị về mở chiến dịch Tây Bắc (6-1-1950) của Ban Thường I vụ Trung ương Đang, Bộ Tư lệnh Liên khu 10 sử dụng Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308), Trung đoàn 165 (Liên khu 10), tiểu đoàn 11, hai tiểu đoàn pháo binh 69, 40, mười trung đội bộ đội địa phương, dưới sự chi huy của các đồng chí Bằng Giang (Chi huy trường), Song Hào (Chính ủy), tiến công địch ở địa bàn Lào Cai, Lai Châu, Sơn La thuộc Tây Bắc, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở thông đường liên lạc quốc tế, phối hợp với Quân giai phóng Trung Quốc tiêu diệt tàn quân Tưởng. Địch có 1 tiểu đoàn bộ binh (người Thái trắng), 1.000 lính dỏng cùng quân cơ động gồm 331 lính Âu - phi và 801 lính khố đỏ. Trên các hướng chiến dịch, các đơn vị phối hợp bộ binh, pháo binh tiến công các vị trí Phố Lu. Ban Lầu, Nghĩa Đô, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 lính thuộc tiểu đoàn nguy Thái thứ 2 (2e BAT) cùng một số lính Âu - Phi, thu và phá huỷ một số phương tiện, vũ khi của địch giải phóng một vùng rộng 2.000km2 với 6.000 dân.

        8 tháng 2

        Bộ chỉ huy Pháp huy động 6 tiều đoàn (5.000 quân) và 2 thuỷ đội, mở cuộc hành binh Tô-nô (Tonneau - thùng gỗ) đánh chiếm tỉnh Thái Bình - tinh còn lại cuối cùng của vùng tự do thuộc Liên khu 3.

        9 tháng 2

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 75/QP) tổ chức các bộ tư lệnh liên khu. Cơ cấu tổ chức các cơ quan trong bộ tư lệnh liên khu được xác định cụ thể. Bộ máy chi đạo quân sự địa phương ở cấp liên khu, tỉnh, huyện được kiện toàn.

        12 tháng 2

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sác lệnh (số 20/SL) tổng động viên. Điều 2 sắc lệnh quy định: "Tất cả nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân đều đặt dưới chế độ pháp luật đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh".

        24 tháng 2

        Tướng Các-păng-chi-ê (Carpentier), Tổng chỉ huy quân viên chinh Pháp ở Đông Dương, gửi tờ trình lên Chính phủ Pháp, đề nghị: Một, tăng viện binh để đề phòng Trung Quốc tiên công. Hai, để quân đội Pháp tiếp tục bình định lãnh thổ tới hết năm 1950 vì quân đội ngụy (Bảo Đại) chưa đủ khả năng thay thế. Trong lúc chờ quyết định cùa Chính phủ, Các-păng-chi-ê chỉ thị cho tướng A-lếch-xăng-đri (Alessandri) tiếp tục chiếm đóng đồng bằng Bác Bộ.

       27 tháng 2

        Trận Lê Xá. Tiểu đoàn Nguyễn Huệ (Trung đoàn 66) tiến công vị trí Lê Xá (Nam Định), loại khỏi vòng chiến đấu hai trung đội và thu toàn bộ vũ khí của địch. Đây là trận công kiên đầu tiên của ta ở đồng bằng Liên khu 3.

        Tháng 2

        Mặt trận yêu nước Neo Lào Hắc Xạt thành lập và chính thức tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng - Quân đội giải phóng nhân dân Lào. Liên minh chiến đấu Việt - Lào được tăng cường. Các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào được tổ chức lại. Liên khu Việt Bắc giải thể Trung đoàn 138 để tổ chức thành 3 tiểu đoàn cho 3 phân khu (A, B, C) ở Thượng Lào. Liên khu 4 giúp kiện toàn tiểu đoàn Lào - Việt thứ nhất và xây dựng tiểu đoàn thứ hai ở Trung Lào. Ta giúp bạn tổ chức 4 đại đội độc lập và 1 đội vũ trang tuyên truyền ở Hạ Lào.   

        10 tháng 3   

        Đại đoàn 304 - Đại đoàn chủ lực cơ động thứ hai của quân đội ta, tổ chức lễ thành lập tại đình Tam Lạc (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Lực lượng đại đoàn gồm 3 trung đoàn bộ binh: 66 (nguyên chủ lực Liên khu 3), 9 (nguyên chủ lực Liên khu 4), 57 (chủ lực tỉnh Nghệ An), các đơn vị trợ chiến và bảo đảm. Đại đoàn trưởng: Hoàng Minh Thảo. Chính ủy: Trần Văn Quang. Đại đoàn được mang tên "Đại đoàn Vinh Quang”.

        19 tháng 3

        Ngày toàn quốc chống Mỹ. Đêm hôm trước (18-3), hai chiến hạm Mỹ là Xtích-ken (Sticken) và An-đéc-xơn Anderson) cập cảng Sài Gòn, chuẩn bị một cuộc diễn tập không quân - hải quân, nhằm phô trương sức mạnh, uy hiếp tinh thần nhân dân ta, hỗ trợ cho quân đội Pháp - ngụy. Đêm đó, trận địa cối 82mm ở Thủ Thiêm của đại đội liên pháo 8915 thuộc Trung đoàn 300 (Khu 7), do đồng chí Trần Sơn Tiên chỉ huy, pháo kích buộc hai chiến hạm bỏ chạy. Hôm sau (19-3), hàng vạn nhân dân Sài Gòn xuống đường tuần hành thị uy, hô vang các khẩu hiệu "Hồ Chí Minh muôn năm", "Phản đối viện trợ Mỹ", "Đả đảo Bảo Đại". Bị cảnh sát chính quyền Sài Gòn ngăn chặn, đoàn biểu tình tiến về toà thị chính, tổ chức xé cờ Mỹ, cờ Pháp và ảnh Bảo Đại. Ngày 19 tháng 3 trở thành ngày toàn quốc chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

        24 tháng 3

        Cục Công binh tổ chức hội nghị công binh toàn quân lần thứ ba, đề ra nhiệm vụ cơ bản của công binh trong giai đoạn mới: Phổ biến kỹ thuật công binh tác nghiệp, làm cho bộ đội biết cách sử dụng các loại thuốc nổ trong chiến đấu tiến công. Với tác chiến, công binh đề cao kỹ thuật tổ chức vượt sông, sửa chữa đường, cầu; kiến thiết trận địa và phối hợp với các binh chủng khác. Kiện toàn và phát triển tổ chức công binh cho phù hợp với yêu cầu tác chiến và xây dựng lực lượng của quân đội. Tích cực sản xuất đồ bản, các loại quân cụ, trang bị và đào tạo cán bộ công binh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 10:09:52 PM
        25-3 đến 6-5

        Chiến dịch Mùa Xuân. Nhằm tiêu diệt sinh lực, thu hẹp phạm vi chiếm đóng và kiềm chế địch đưa quân ra Bắc Bộ, đồng thời phát triển chiến tranh du kích và đẩy mạnh tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực. Bộ tư lệnh Nam Bộ sử dụng các tiểu đoàn 307, 308, 309. 312. Trung đoàn Việt - Miên, cùng dân quân du kích, do Nguyễn Văn Quạn (Tư lệnh Khu 8 ), Nguyễn Đăng (Phó tư lệnh Khu 8 ) và Nguyễn Xuyến chi huy, tiến công hệ thống đồn bốt, tháp canh, diệt tề, đánh giao thông và quân ứng chiến địch trên toàn miền Sau hơn một tháng, tại các tinh Trà Vinh (Khu 8 ), Sóc Trăng (Khu 9 ), Sài Gòn - Chợ Lớn (Khu 7 )... gần 70 đồn bốt, tháp canh và nhiều phương tiện quân sự, vũ khí của địch bị phá trong đó có tàu Xanh Lu-béc-bi-ê (trọng tải 7.000 tấn) bi đánh chìm trên sông Lòng Tàu; hơn 1.450 tên địch bị loại khỏi vòng chiên đấu. "Chiến dịch Mùa Xuân" thực chất là một đợt tác chiến tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang giành thế chủ động tiến công trên chiến trường Nam Bộ.

        24 tháng 3

        Bộ Tổng tư lệnh ra Nghị định (số 62/NĐA) thành lập Bộ tư lệnh địa phương Liên khu 4. Nhiệm vụ: Lãnh đạo xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân thuộc liên khu. Tư lệnh: Trần Sâm. Chính ủy: Lê Chưởng.   I

        2-16 tháng 4

        Hội nghị tham mưu quân huấn toàn quân, quán triệt phương châm chiến lược, chiến thuật của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, thống nhất về tổ chức, nhiệm vụ của cơ quan tham mưu quân huấn các cấp. Kết luận hội nghị, thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng xác định 3 nhiệm vụ lớn của công tác tham mưu cần tập trung thực hiện: Tổ chức chiến đấu, quản lý bộ đội và huấn luyện bộ đội

        4-30 tháng 4

        Chiên dịch Sóc Trăng I. Nhẳm thu hẹp phạm vi kiểm soát, phá vỡ hệ thống phòng ngự địch, bao vệ nguồn dự trữ của ta, Bộ tư lệnh Nam Bộ sử dụng Tiểu đoàn 402 chủ lực khu Tiểu đoàn 404 chủ lực Nam Bộ, 3 đại đội thuộc liên trung đoàn 123 - 225 và 9 trung đội du kích của 2 tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, 1 trung đội It-xa-rắc và 1 đội biệt động, do Võ Quang Anh làm Tư lệnh, Nguyễn Hoàn làm Chính ủy, tiến công địch (gồm hai đại đội 1 và 8 của tiều đoàn 2BMRD, đại đội 8/TTC. 1 đại đội pháo và lực lượng chiếm đóng đồn bốt) trên địa bàn các huyện Châu Thành, Long phú, Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Sau 2 đợt chiến đấu, ta diệt đồn Bưng Trốp, đánh tan 1 đại đội tiếp viện và phá huỷ 1 pháo 90mm của địch. Đây là chiến dịch đầu tiên diễn ra trên địa bàn Khu 9 trong kháng chiến chống Pháp.

        Tháng 4

        Thực hiện chủ trương giúp Mặt trận giải phóng toàn Miên và quân giải phóng It-xa-rắc, Trung ương Đảng ta và Bộ Tổng tư lệnh chi thị cho Nam Bộ trong năm 1950 đưa một số đại đội độc lập sang giúp bạn ở bắc Cam-pu-chia (mỗi nơi từ 3 đến 4 đại đội) và giúp bạn tổ chức 1 tiểu đoàn chủ lực, một số đơn vị vận tải và giao thông liên lạc.

        9 tháng 5

        Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 210/NĐ về nguyên tắc và thể thức gọi công dân Việt Nam ra tòng quân và Nghị định số 211/NĐ về hình thức và tổ chức thi hành nghĩa vụ quân sự. Điều 2 (Nghị định 210/NĐ) quy định thứ tự gọi ra tòng quân: "a- Những người tình nguyện, b- Những người không có vợ con, theo thứ tự từ ít đến nhiều tuổi, c- Những người có con dưới 18 tuổi, theo thứ tự từ ít đến nhiều con dưới 16 tuổi. Những người không có cha mẹ và có em dưới 4 tuổi thì củng tính như con, và việc gọi ra tòng quân sẽ theo thể thức của trường hợp thứ ba". Điều 1 - Chương I (Nghị định 211/NĐ) quy định: "Trong thời kỳ có nghĩa vụ quân sự, tất cả công dân có thẻ quân vụ đều phải: a- Tham gia vào những công cuộc bảo vệ địa phương hoặc cơ quan trong những tổ chức ấn định ở chương II. b- Tòng quân trong điều kiện đã ấn định trong sắc lệnh 126/SL ngày 11-1949. c- Tham gia những tổ chức huấn luyện quân sự ở địa phương để sẵn sàng nhập ngũ khi có lệnh gọi ra tòng quân".

        12 tháng 5

        Tiểu đoàn Lê Lợi (Trung đoàn 66, Đại đoàn 304) vận động đánh tan 1 đại đội địch ở Hoàng Dương - Tử Dương (Ưng Hoà - Hà Đông) diệt và bắt hơn 185 tên, thu nhiều vũ khí. Đây là trận vận động chiến đầu tiên đạt hiệu suất chiến đấu cao của bộ đội chủ lực ở đồng bằng Liến khu 3.

        14 tháng 5

        Hội nghị cán bộ bộ đội địa phương và dân quân du kích lần thứ tư đề ra kế hoạch trong năm 1950: nhanh chóng xây dựng bộ đội địa phương, dân quân du kích, huấn luyện quân hậu bị của các địa phương, bảo đảm duy trì, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch, tăng quân số bô sung cho lực lượng chủ lực khi Bộ tổng tư lệnh mở chiến dịch lớn.

        Sau hội nghị, bộ đội địa phương phát triển nhanh, nhất là ở Bắc Bộ. Đến cuối năm 1950, từ Liên khu 4 trở ra, bộ đội địa phương tỉnh gồm 46.150 người, tăng 83 phần trăm so với năm 1949.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 10:16:04 PM

        16 tháng 5

        Bộ chi huy Mặt trận Bình - Trị - Thiên được thành lập theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ: "Thực hiện kế hoạch quân sự của Tổng tư lệnh, trực tiếp chỉ huy bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân thuộc mặt trận; phối hợp với Bộ tư lệnh địa phương liên khu và Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu 4 trong việc lãnh đạo và xây dựng bộ đội địa phương. Phát triển dân quân, chuẩn bị chiến trường và bảo vệ địa phương". Trực thuộc Mặt trận gồm 3 trung đoàn bộ binh (18, 95, 101), Tiếu đoàn pháo binh 888. Chỉ huy trưởng: Trần Quý Hai; Chính ủy: Chu Văn Biên.

        19 tháng 5

        Liên khu 4 quyết định thành lập Trung đoàn 120 quân tình nguyện1  Việt Nam tại Trung Lào. Trung đoàn trường: Trường Sinh; Chính ủy: Lê Hữu Khai. Trung đoàn 120 được thành lập đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng của liên quân Việt - Lào.

        20 tháng 5

        Trung đoàn 18 (Liên khu 4) do Trung đoàn trưởng Phùng Duy Phiên và Chính ủy Quang Minh chỉ huy chống địch càn ở Xuân Bồ (Lệ Thuỷ, Quảng Bình). Sau một thời gian chiến đấu ta loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch thuộc các tiểu đoàn số 6, số 8, số 27 Âu - Phi (BTA).

        25-26 tháng 5

        Để thử nghiệm trang bị, cách đánh mới và phát triển kết quả chiến dịch Lê Hồng Phong I, Mặt trận Đông Bắc sử dụng Trung đoàn 174 tiến công vị trí Đông Khê (Cao Bằng), do các đại đội 2, 3 (tiểu đoàn 1, trung đoàn thuộc địa Ma-rốc số 8-1/8RTM) và 1 đại đội nguy đóng giữ. Sau hơn một ngày chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 300 tên địch thu và phá huỷ 6 khẩu pháo, trong đó có 2 khấu 105mm.

        15-18 tháng 6

        Cục Thông tin liên lạc tổ chức hội nghị thông tin liên lạc toàn quân lần thứ nhất, thống nhất về quy ước liên lạc vô tuyến điện, công tác chuyển đạt, phối hợp sử dụng đường dây điện thoại giữa quân sự và bưu điện.

        15-6 đến 24-10

        Chiến dịch Phan Đình Phùng. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến dịch Lê Hồng Phong I, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy đánh tập trung của bộ đội ta, Bộ tư lệnh Mặt trận Bình - Trị - Thiên sử dụng hai trung đoàn chủ lực (18, 95), bộ đội địa phương, dân quân du kích do các đồng chí Trần Quý Hai (Tư lệnh kiêm Chính ủy), Lê Nam Thắng (Phó tư lệnh) chí huy, tiến công địch trên địa bàn hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị. Sau hai đợt chiến đấu (15-30.6, 1-7-24.10), ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 850 tên địch thuộc tiểu đoàn An-giê-ri, tiểu đoàn 2 trung đoàn bộ binh Ma-rốc số 4 (2/4e RTM) và lực lượng chiếm đóng các đồn bốt; phá huỷ 1 đoàn tàu (15 toa), 40 xe quân sự, bắn rơi 1 máy bay, thu 1 khẩu pháo Bô-pho và 150 súng các loại, bước đầu đánh bại chiến thuật "khối ứng chiến lớn" của quân Pháp trên chiến trường Bình - Trị - Thiên.

        22 tháng 6

        Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra nghị quyết về chấn chỉnh tổ chức Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh và kiện toàn bộ máy chỉ đạo quân sự Trung ương. Theo nghị quyết, tổ chức Bộ Tổng tư lệnh gồm Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp.

        Tổng cục Cung cấp gồm các Cục: Quân lương, Quân y, Quân dược, Vận tải, Quân giới, Quân trang, Quân khí. Chủ nhiệm Tổng cục: đồng chí Trần Đăng Ninh - Ủy viên Trung ương Đảng.

        Tháng 7 - tháng 9

        Chiến dịch Đắc Lác (chiến dịch Nguyễn Huệ). Nhầm tiêu diệt sinh lực địch, gây cơ sở vùng sau lưng địch, bồi dưỡng lực lượng ta, Bộ tư lệnh Liên khu 5 sử dụng hai trung đoàn (803, 84), do Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Đôn và Chính ủy Trương Quang Giao chi huy, tiến công địch tại khu vực Ma Đrắc - Cheo Reo - Buôn Hồ, tỉnh Đắc Lắc. Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 9 đại đội, trong đó có 1/3 là lính Âu - Phi. Qua 2 đợt chiến đấu (tháng 7 - tháng 8 và tháng 9) ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 150 tên thuộc 9 đại đội Âu - Phi và ngụy, thu gần 40 súng các loại, mở rộng căn cứ ở vùng tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - Ma Đrác, nối liền qua tây đường 14 sang Cam-pu-chia.

        5-8 đến 4-11

        Chiến dịch Hoàng Diệu. Nhàm tiêu diệt sinh lực, chống âm mưu cướp phá và kiềm chế lực lượng ứng chiến của địch, phối hợp với chiến trường chính Bác Bộ, Bộ tư lệnh Liên khu 5 sử dụng Trung đoàn 108 và lực lượng vũ trang Quảng Nam do Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Bá Phát và Chính ủy Nguyễn Quyết chi huy, tiến công địch trên địa bàn bắc Quảng Nam - Đà Nẵng. Với một số trận phục kích ở các khu vực Bao An, Điện Bàn, Xuân Đài, Giao Thủy - Thượng Phước, đèo Hải Vân, đánh tháp canh và chặn đánh địch càn quét vào Điện Hoà. sau hai đợt chiến dịch (5.9 - 8.9; 9.9 - 4.11) ta loại khỏi vòng chiến đấu gần một nghìn tên địch, thu 45 súng, giữ vửng phong trào kháng chiến ơ vùng sau lưng địch.

        Tháng 8

        Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng lần thứ bảy, tập trung bàn về công tác quân sự, kiểm điểm việc xây dựng quân đội, rút kinh nghiệm chỉ đạo việc tập trung các đơn vị độc lập thành lập các tiểu đoàn tập trung; đồng thời xác định nhiệm vụ: "Xây dựng lực lượng là cả quân chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân".

----------------
1. Đầu năm 1953, Trung đoàn 120 được đổi thành Trung đoàn 280.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 10:21:20 PM
        
        15-9 đến 14-10

        Chiến dịch Biên Giới (Chiến dịch Lê Hồng Phong II). Chấp hành quyết định của Trung ương Đảng (6-1950) và mệnh lệnh về chiến dịch Biên Giới Cao - Lạng (7 tháng 7 năm 1950) của Bộ Tổng tư lệnh, quân đội ta mở chiến dịch tiến công quy mô lớn trên địa bàn hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn thuộc "Liên khu biên giới Đông Bắc" của Pháp. Mục đích là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc.

        Phía ta, Đảng ủy Mặt trận Biên Giới và Bộ chỉ huy chiến dịch gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Chi huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng Đảng ủy viên Mặt trận, Tham mưu trưởng chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Đại đoàn 308, hai trung đoàn 209), ba tiểu đoàn độc lập (426, 428, 888) của tỉnh Lạng Sơn và Liên khu Việt Bắc, 4 đại đội sơn pháo, 5 đại đội công binh, bộ đội địa phương, dân quân du kích và hàng vạn dân công người các dân tộc Việt Bắc phục vụ mờ đường, vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn (4.000 tấn). Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho bộ đội (2-9), nêu bật: "Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết đánh thâng trận này". Tiếp đó, Người đến sở chỉ huy chiến dịch nghe báo cáo và kiểm tra công tác chuẩn bị (11 và 12-9), ra mặt trận Đông Khê (13-9) trực tiếp theo dõi, động viên bộ đội chuẩn bị bước vào chiến đấu.

        Phía Pháp, lực lượng chiếm đóng trên địa bàn chiến dịch gồm 10 tiểu đoàn Âu - Phi (trong đó có 4 tiểu đoàn cơ động), 1 tiểu đoàn và 9 đại đội ngụy, 4 đại đội công binh, 4 đại đội cơ giới, 27 khẩu pháo, 6 máy bay chiến đấu, 2 máy bay trinh sát; lực lượng cơ động cứu viện có binh đoàn Lơ-pa-giơ (Lepage) và binh đoàn Sác-tông (Charton).

        Mở màn chiến dịch, từ 16 đến 19 tháng 9, hai trung đoàn (174, 209), hai tiểu đoàn (11, 426) và ba tiểu đoàn pháo binh của ta tập trung tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê. Từ 2-8 tháng 10, Đại đoàn 308, Trung đoàn 209 vận động tiến công tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ từ Thất Khê lên và binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng rút về, tại khu vực Cốc Xá, điếm cao 444, bắt sống bộ chỉ huy của hai binh đoàn; đánh cánh quân Đờ la Bôm (De la Beaume) (được tổ chức 7-10-1950) Ở Thất Khê. Từ ngày 10 tháng 10, các đơn vị đánh quân địch tăng viện và truy kích địch rút chạy. Ngày 14 tháng 10, chiến dịch kết thúc. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 8 tiểu đoàn địch (với hơn 8.000 quân), trong đó có 5 tiểu đoàn ứng chiến (hơn một nửa lực lượng cơ động chiến lược của Pháp ở Bắc Đông Dương); thu hơn 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh; phá vỡ hệ thống phòng ngự đường số 4 của địch; giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân và nhiều vùng quan trọng ở vùng biên giới Việt - Trung; củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, nối liền nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa.

        Chiến thắng Biên Giới đánh dấu sự trưởng thành của quân đội ta về tổ chức, chi huy và trình độ tác chiến, làm thay đổi cục diện chiến tranh: Ta chuyển sang giai đoạn thực hành chiến lược phản công và tiến công, Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự.

        29 tháng 9

        Bộ chi huy Pháp huy động sáu tiểu đoàn quân ứng chiến ở Bắc Bộ mở cuộc hành binh Hải cẩu" (Phoque) đánh lên Thái Nguvên. Mục đích nhằm kéo chủ lực ta ra khỏi khu vực đường số 4, củng cố lại tuyến phòng thủ của chúng. Trong gần nửa tháng, ba mũi hành quân của địch đã bị Trung đoàn 246, Tiểu đoàn 16 huấn luyện tân binh (Đại đoàn 308), bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tục chặn đánh. Bị thiệt hại gần 600 tên, địch buộc phải rút quân về Hà Nội.

        3-12 tháng 10

        Chiến dịch Long - Châu - Hà 1. Nhằm giành dân, khôi phục cơ sở, tiêu diệt sinh lực địch và phối hợp với chiến dịch Biên Giới (Bắc Bộ). Bộ tư lệnh Khu 9 sử dụng 2 tiểu đoàn 404, 409 (trung đoàn Tây Đô), 3 đại đội địa phương tinh, 1 đội biệt động, 1 tiểu đội bộ đội It-xa-rắc, 2 trung đội dân quân, do Chỉ huy trưởng chiến dịch Huỳnh Thủy và Chính ủy Nguyễn Văn Bê chí huy, tiến công địch trên địa bản hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn tinh Long - Châu - Hậu. Sau một số trận đánh đồn, lô cốt, tháp canh, đánh giao thông và quân cứu viện địch qua hai đợt chiến đấu (3-7.10, 8-12.10), ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 130 tên, phá hủy 3 xe quân sự, diệt và bức rút hơn 40 lô cốt, tháp canh, thu 22 súng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 10:33:03 PM

        7.10 đến 15-11

        Chiến dịch Bến Cát. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích và phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, Bộ tư lệnh Khu 7 sử dụng các tiểu đoàn 303, 302, 304 (thiếu), 7 đại đội độc lập và binh chủng, cùng dân quân du kích, dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến dịch gồm các đồng chí Tô Ký - Chỉ huy trưởng, Lê Đức Anh - Tham mưu trưởng, Nguyễn Duy Hanh - Chính trị viên, tiến công địch tại Bến Cát (tây bắc Sài Gòn). Với các trận đánh trên các đường số 13, 14, 7 qua 3 đợt chiến đấu (7-10.10, 13-30.10, 11-15.11), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 800 tên địch, phá sập hàng loạt tháp canh, phá huỷ 48 xe quân sự, 5 đầu máy xe lửa, 7 thuyền máy và tàu đổ bộ, 12 cầu cống, thu nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm khác. Chiến dịch Bến Cát là chiến dịch đầu tiên và duy nhất trên chiến trường miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp.

        10 tháng 10

        Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Lơ-tuốc-nô (Letourneau) hai viên tướng Gioong (Juin) và Va-luy (Valluy) sang Đông Dương, nghiên cứu đề xuất với Chính phủ Pháp một   

        số vấn đề. Về quân sự, cần tăng viện cho Đông Dương (quân tinh nhuệ: 500.000, máy bay: gấp 3 lần); tập trung lực lượng xây dựng các binh đoàn cơ động (GM)1 , xây dựng quân đội ngụy làm nhiệm vụ bình định; rút bỏ các vị trí cô lập, Co hẹp phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng, lui quân về phỏng ngự ở trung du Bắc Bộ để đề phòng ta tiến công.

        24 tháng 10

        Bộ tư lệnh Liên khu 4 sử dụng Tiểu đoàn 227 (Trung đoàn 95), do tiểu đoàn trưởng Trần Văn Trân chỉ huy, phối hợp với một số đơn vị, phục kích đoàn tàu quân sự địch tại  Tân Điền (Quảng Trị). Ta phá đầu máy, diệt và làm bị thương hơn 100 tên, thu 1 pháo và 32 thùng đạn 40mm.

        20 tháng 11

        Trung đoàn 675 pháo binh (nguyên Trung đoàn 95 được thành lập tháng 9 năm 1950, sau chiến dịch Biên Giới đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 675) chính thức tổ chức lễ thành lập tại bản Nà Tấu (Quảng Uyên, Cao Bằng). Lực lượng trung đoàn gồm 6 liên đội pháo (751, 752, 753, 754, 755, 756). Mỗi liên đội được trang bị 4 khẩu sơn pháo 75mm, các khí tài quan trắc, thông tin, ngựa thồ, xe vận tải Trung đoàn trưởng: Nguyễn Thước, Trung đoàn phó: Doãn Tuế, Chính ủy: Hoàng Phương.   

        Tháng 11

        Tổng cục Cung cấp thành lập đại đội ô tô 200 (36 xe) và đại đội ô tô 203 (16 xe). Đây là 2 đại đội vận tải cơ giới đầu tiên của quân đội ta.

        6 tháng 12

        Chính phủ Pháp cử Tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi (De Lattre de Tassigny), Tư lệnh lục quân khối Tây Âu. làm Tổng chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Đến Việt Nam, Tát-xi-nhi vạch ra một kế hoạch gồm 4 điếm chính: Một, gấp rút tập trung quân Âu - Phi tinh nhuệ xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh, đồng thời phát triển ngụy binh với quy mô lớn để bổ sung cho đội quân viễn chinh, xây dựng "quân đội quốc gia" bù nhìn. Hai, xây dựng phòng tuyến công sự xi măng cốt sắt (boong-ke), bên ngoài là một "vành đai trắng", bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với bộ đội chủ lực ta, ngăn chặn ta đưa nhân lực, vật lực ra vùng tự do. Ba, tiến hành "chiến tranh tổng lực", bình định vùng tạm bị chiếm và vùng du kích nhằm vơ vét sức người, sức của để chuẩn bị phản công. Bốn, phá hoại các vùng tự do bằng biệt kích, thổ phỉ, gián điệp, máy bay oanh tạc, chiến tranh tâm lý, bao vây kinh tế.

        25-12-1950 đến 17-1-1951

        Chiến dịch Trân Hưng Đạo (chiến dịch Trung Du). Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bác Bộ, Bộ Tổng tư lệnh sử dụng Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 (thiếu một trung đoàn), hai trung đoàn độc lập (174, 98), ba trung đoàn (48, 64, 52 - Liên khu 3) cùng lực lượng vũ trang địa phương, tiến công địch trên địa bàn các tinh Vĩnh Yên - Phúc Yên, Bắc Ninh - Bắc Giang. Qua hai dợt chiến đấu (25 đến 29-11, 30-12-1950 đến 17-11-1951), ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.000 tên (trong số 8 tiểu đoàn và 8 đại đội địch trên địa bàn), diệt 30 vị trí, tháp canh, thu nhiều vũ khí, giải phóng một số vùng thuộc các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, mở rộng vùng tự do Hải Ninh đến sát đường Tiên Yên - Móng Cái. Tuy vậy, do chọn hướng không phù hợp, trình độ đánh công kiên của bộ đội ta còn yếu, công tác bao đảm khó khăn, địch lại phát huy được sức cơ động và hỏa lực, nên kết qua chiến dịch bị hạn chế.

        27 tháng 12

        Đại đoàn bộ binh 312 - đại đoàn bộ binh thứ ba của quân đội ta tổ chức lễ thành lập tại Kim Lăng (Phú Thọ). Biên chế đại đoàn gồm Trung đoàn bộ binh 209 (Trung đoàn Sông Lô - chú lực của Bộ Tổng tư lệnh), Trung đoàn bộ binh 141 (mới tổ chức từ các tiểu đoàn của "Nghĩa quân Hồng Hà" và tiểu đoàn Phủ Thông), Trung đoàn bộ binh 165 (Trung đoàn Lao - Hà - Yên thuộc Mặt trận Tây Bắc) và các đơn vị trợ chiến, bảo đảm. Đại đoàn trưởng: Lê Trọng Tấn, Chính ủy: Trần Độ. Đại đoàn mang danh hiệu "Đại đoàn Chiến Thắng".

-----------------
1. GM: Groupement mobile.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 11:03:55 PM

Năm 1951

        Đầu năm 1951

        Bộ tư lệnh Nam Bộ ra nghị quyết quân sự xác định: "Chủ động kiềm chế địch trên chiến trường Nam Bộ và tiến kịp với phong trào toàn quốc. Muốn chủ động kiềm chê địch phải giành Khu 8, giữ vững Khu 9, giúp phong trào Cam-pu-chia phát triển và phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ". Phương châm tác chiến: "Du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới".

        15 tháng 1

        Theo quyết định của Bộ Tổng tư lệnh, Trung đoàn 151 công binh tố chức lễ thành lập tại khu rừng Khuôn Lân, xã Hợp Thành, huyện Phú Lương, tinh Thái Nguyên. Trung đoàn được biên chế Tiểu đoàn 333 (thành lập năm 1949), Tiểu đoàn 444 (nguyên là Tiểu đoàn 60, Đại đoàn bộ binh 308) và các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp. quân y, xưởng sửa chữa quân cụ, trung đội vận tải, đại đội thông tin liên lạc vả cảnh vệ. Trong tháng 1 năm 1951, trung đoàn tổ chức tiếp tiểu đoàn 555. Ban chỉ huy trung đoàn gồm: đồng chí Phạm Hoàng làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Khắc làm Chính ủy. Đây là trung đoàn công binh chủ lực đầu tiên của quân đội ta.

        15 tháng 1

        Đại đoàn bộ binh 320 - đại đoàn chủ lực cơ động thứ tư của quân đội ta tổ chức lễ thành lập tại đình Móng Lá, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Trực thuộc Đại đoàn gồm ba trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 64 "Quyết Thắng", Trung đoàn 48 "Thăng Long" (chủ lực Liên khu 3), Trung đoàn 52 "Tây Tiến”; các đơn vị binh chủng và bảo đảm. Đồng chí Văn Tiến Dũng làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Đại đoàn mang danh hiệu "Đại đoàn Đồng Bằng".

        Tháng  1

         Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi xúc tiến xây dựng tuyến phòng thủ ở Bắc Bộ (Việt Nam). Phòng tuyến "boong-ke" này gồm

        1.300 lô cốt, lập thành 113 cứ điểm kéo dài từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, qua Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông đến Ninh Bình, do 20 tiểu đoàn Âu - Phi đóng giữ. Ở vành ngoài, song song với phòng tuyến. Pháp tàn phá hàng trăm làng mạc, hàng vạn mẫu ruộng, cưỡng bức hàng chục vạn dân vào vùng địch kiểm soát, lập môt "vành đai trắng" (khu vực không người) với chiều rộng từ 5 đến lOkm, để bảo vệ phòng tuyến.

        11-19 tháng 2

        Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II. "Nhiệm vụ chính của Đại hội là đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn".

        Nghị quyết của Đại hội nêu rõ: "Từ thế giới đại chiến lần thứ hai, trên 10 năm qua Đảng ta nắm vững phương châm đấu tranh, đã xây dựng được một quân đội lớn mạnh, từ du kích lẻ tẻ lúc đầu tiên đến cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện ngày nay. Trong cuộc võ trang tranh đấu đó, đặc biệt trong sáu năm kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch - Người sáng lập và giáo dục Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, Quân đội nhân dân đã thu được nhiều tháng lợi vẻ vang"... "Để giành lấy thắng lợi hoàn toàn, để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, Đảng và Chính phủ ta phải xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ, chân chính với ba đặc điểm: dân tộc. nhân dân và dân chủ; phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy- củng cố bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích) xây dựng Đảng và công tác chính trị trong quân đội, tích cực cải thiện sinh hoạt, đào tạo cán bộ, đặc biệt nâng đỡ cán bộ công nông, giáo dục tư tưởng, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, đề cao việc học tập lý luận quân sự kết hợp với kinh nghiệm thực tế của chiến trường Việt Nam”... "Vì Đông Dương là một chiến trường và cách mạng Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp với cách mạng Miên, Lào nên lúc này phải tích cực giúp đỡ cuộc kháng chiến Miên - Lào phát triển du kích chiến tranh xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa"... "Để đưa kháng chiến đến toàn thắng, lúc này Đảng ta phải kiện toàn sự lãnh đạo chiến tranh, tập trung lực lượng, điều động cán bộ nhiều hơn vào công tác quân sự, hướng hoạt động của mỗi ngành vào việc phụng sự kháng chiến, đề cao việc học tập quân sự trong toàn Đảng".

        Đại hội đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, động viên toàn quân, toàn dân đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.

        12-2 đến 13-3

        Chiến dịch Long Châu Hà 2. Nhằm giải phóng dân, giành lại nguồn dự trữ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, gây cơ sở, mở rộng vùng căn cứ, tạo thế chủ động phá âm mưu chia cắt của địch, mở hành lang nốì liền Khu 8 và Khu 9, Bộ tư lệnh Khu 9 sử dụng Trung đoàn Tây Đô, hai đại đội Long Châu Hà, một đại đội biệt động và các trung đội du kích, do Chỉ huy trưởng chiến dịch Vũ Quang Anh và Chỉ huy phó kiêm Trưởng ban chính trị Hoàng Thế Thiện chỉ huy, tiến công địch trên địa bàn hai huyện Châu Phú A và Chầu Thành, tinh Long Xuyên. Sau một số trận bao vây, diệt đồn và đánh quân ứng cứu giải toả, vũ trang tuyên truyền, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 300 tên phá huỷ 4 lô cốt và nhiều tháp canh, thu 21 súng, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị trong vùng sau lưng phát triển dân quân du kích ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2016, 11:09:05 PM

        16 tháng 2

        Hội nghị quân y toàn quân lần thứ chín, thông qua các đề án: 1- Hệ thống tổ chức cơ quan quân y toàn Cục. 2- Tổ chức, biên chế và điều lệ công tác của phòng quân y đại đoàn. 3- Chế độ và danh hiệu quân y. 4- Đề án giáo duc. 5- Điều lệ vết thương chiến tranh. 6- Tổ chức ngoại khoa chiến thương, 7- Đề án phòng bệnh. 8- Quan niệm dùng thuốc 9 - Tổ chức dược chính. 10- Kế hoạch đề bạt và đào tạo cán bộ quân y.

        10-13 tháng 3

        Trận chống càn Thanh Hương - Mỹ Xuyên. Bộ chì huy Pháp huy động binh đoàn Sốc-ken (1.000 quân) và binh đoàn Bút-tin (1.500 quân) càn quét căn cứ Thanh Hương - Mỹ Xuyên (Thừa Thiên). Dưới sự chi đạo của Bộ tư lệnh Liên khu 4, Trung đoàn 95 (do Trung đoàn trưởng Lê Bá Vận và Chính ủy Trần Văn Bàn chỉ huy), Trung đoàn 101(do Trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và Chính ủy Lê Tự Đồng chỉ huy) cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích anh dũng chống càn. Qua 4 ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.600 tên, đánh bại cuộc càn quy mô lớn của địch.

        Giữa tháng 3

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II) lần thứ nhất. Về quân sự, hội nghị quyết định phương châm tác chiến và xây dựng lực lượng ở Bắc Bộ: "Bộ đội chủ lực phải đề cao vận động chiến và phát triển du kích chiến, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, báo toàn và bồi dưỡng lực lượng. "Riêng khu 3, phải đặc biệt chú trọng phát triển chiến tranh du kích đến cao độ"... "Củng cố và gia cường bộ đội chủ lực đồng thời củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích". Ở Trung Bộ và Nam Bộ: "Du kích chiến là chính, học tập đánh vận động trong những trường hợp có điều kiện thuận lợi nắm vững nguyên tắc tiêu diệt chiến, đế bồi dưỡng lực lượng ta". "Củng cố các trung đoàn chủ lực đã thành lập (cải tiến tổ chức, giáo dục tư tưởng chiến thuật mới và học tập kinh nghiệm của chiến trường Bắc Bộ)".


        23-3 đến 7-4

        Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch Đường số 18). Nhằm tiêu diệt sinh lực địch và phát triển chiến tranh du kích, Bộ Tổng tư lệnh sử dụng 2 đại đoàn (308, 312), 2 trung đoàn (98, 174), 4 đại đội pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiến công tuyến phòng thủ đường số 18 của địch (khu vực từ Phả Lại đến Uông Bí); đồng thời sử dụng 2 đại đoàn (320, 304) phối hợp đánh địch ở trung du và đồng bằng Liên khu 3. Trên hướng chính, địch có khoảng 11 tiểu đoàn thuộc lực lượng chiếm đóng và lực lượng cơ động. Tại đây, ta tiến công hàng loạt cứ điểm (Lán Tháp, Lọc Nước, Máy Nước, Sống Trâu, Bí Chợ, Tràng Bạch, Mạo Khê Mỏ, Mạo Khê Phố, Bãi Thảo, Bến Tắm, Hương Gián, Hạ Chiếu), đánh địch cứu viện và rút chạy. Ở hướng phối hợp, ta tiến công các vị trí Cồn Trọ, Ngô Khê, Thanh Than và nhiều mục tiêu ở Vĩnh Phú, Lục Ngạn (Hà Bác)... Đến ngày 7 tháng 4, chiến dịch kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.900 tên địch, diệt và bức hơn 130 vị trí, tháp canh, bắn rơi 1 máy bay. phá huỷ xe cơ giới, thu gần 300 súng các loại. Chiến dịch đã giáng một đòn mạnh vào phòng tuyến "boong-ke" cua địch ở Bắc bộ nhưng cũng có một số trận ta đánh không thành công và bộ đội thương vong cao (hơn 2.350 đồng chí).

        27 tháng 3

        Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Đại đoàn công pháo 351. Lực lượng Đại đoàn gồm: Trung đoàn 151 công binh (thành lập tháng 1 năm 1951), Trung đoàn 675 pháo binh (thành lập tháng 9 năm 1950), Trung đoàn 45 pháo binh (nguyên là Trung đoàn 34 - Tất Thẳng của Liên khu 3), xưởng sửa chứa xe, pháo, khí tài và các cơ quan. Bộ tư lệnh Đại đoàn do đồng chí Vũ Hiển (nguyên Phó tổng tham mưu trường) làm Đại đoàn phó - quyền Đại đoàn trưởng và đồng chí Phạm Ngọc Mậu (nguyên Uy viên Liên khu ủy Việt Bắc Chính ủy Trung đoàn 246 bảo vệ căn cứ của Bộ Tổng tư lệnh) làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy. Đại đoàn 351 là đại đoàn binh chủng (công binh - pháo binh) đầu tiên của quân đội ta.

        19 tháng 4   

        Bộ chỉ huy Pháp huy động 12 tiểu đoàn bộ binh thuộc 3 bỉnh đoàn cơ động (GM1, GM4 và GM Pa-ra), 2 đại đội pháo, 2 đại đội xe tăng mở cuộc hành binh "Con sứa" (Méduse) càn quét vùng nam Hải Dương và bắc Thái Bình. Cuộc càn của địch kéo dài đến ngày 3 tháng 5 năm 1951 mới chấm dứt.

        1 tháng 5

        Đại đoàn bộ binh 316 - đại đoàn chủ lực cơ động thứ năm của quân đội ta tổ chức lễ thành lập tại Cốc Lủng (Thoát Lãng, Lạng Sơn). Các đơn vị trực thuộc đại đoàn gồm Trung đoàn 174 (trực thuộc Bộ), Trung đoàn 98 (thuộc Mặt trận Đông Bắc), Trung đoàn 176 (tỉnh Lạng Sơn), một số đơn vị binh chủng và các cơ quan đại đoàn. Bộ tư lệnh Đại đoàn do đồng chí Lê Quảng Ba làm Đại đoàn trưởng và đổng chi Chu Huy Mân làm Chính ủy.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 12:46:40 AM

        12-25 tháng 5

        Chiến dịch Sóc Trăng. 2. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu vực kiểm soát, nối liền giao thông liên lạc giữa Khu 8 và Khu 9, Bộ tư lệnh Khu 9, sử dụng Trung đoàn Tây Đô ba tiểu đoàn 406, 408, 410, bộ đội địa phương và dân quân du kích, do đồng chí Nguyễn Chánh (Tư lệnh khu) và đồng chí Phan Văn Chiêm (Phó bí thư tỉnh ủy Sóc Trăng) chỉ huy, tiến công địch trên địa bàn các huyện Vĩnh Châu, Thạnh Tri, Long Phú (tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Cần Thơ). Qua một số trận đánh đồn, đánh giao thông trên sông, đánh quân tiếp viện, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên thuộc 10 trung đội chiếm đóng và 2 tiểu đoàn ứng chiến địch, góp phần hỗ trợ phát triển chiến tranh du kích ở địa phương.

        14 tháng 5

        Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Trường huấn luyện kỹ thuật mật mã thuộc Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, nhân viên làm công tác mật mã, đáp ứng nhu cầu phát triển về tổ chức và kỹ thuật của ngành. Ngày 2 tháng 9, Trường khai giảng tại xã Hưng Đạo (Hưng Nguyên, Nghệ An) với 250 học viên.

        28-5 đến 20-6

        Chiến dịch Quang Trung (Chiến dịch Hà Nam Ninh), tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích..., Bộ Tổng tư lệnh sử dụng các Đại đoàn 308, 304, 320, các đơn vị binh chủng, các tiểu đoàn và đại đội bộ đội địa phương, dân quân du kích, tiến công địch trên địa bàn ba tỉnh Hà Nam, Nam Định. Ninh Bình. Đảng ủy Mặt trận gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp (Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy), Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm. Các địa phương huy động hàng nghìn dân công và 100 tấn gạo phục vụ chiến dịch. Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt (28-31 tháng 5, 1-20 tháng 6). Tại Ninh Bình (hướng chính chiến dịch) ta tiến công vào hàng loạt vị trí địch ở Nhà Thờ, Non Nước Gối Hạc. Chùa Dầu, Yên Vệ, Cổ Côi, Yên Mô Thượng, Lộc Cầu, Bến Xanh, Lan Khê; Chùa Cao, Chùa Hữu, Ngọc Cầm (Yên Thuỷ), núi Sâu... Trên các hướng khác, ta đánh địch ứng cứu. phản kích ở Nam Định, Phủ Lý (Hà Nam), Thái Bình; tiến công địch ờ Vò Giàng, Kỳ Cầu, Hưng Công (nam Hà Đông). Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 4.000 tên địch (40% lính Âu - Phi) của 8 tiểu đoàn và 32 đại đội thuộc lực lượng chiếm đóng và cơ động, diệt và bức rút hơn 30 vị trí, thu và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng một số xã thuộc hai huyện Yên Mô, Yên Khánh (Ninh Bình), xây dựng khu căn cứ Bình Lục, Lý Nhân (Hà Nam).

        Tháng 5

        * Các Khu 7, 8, 9 giải thể để phân chia, tổ chức thành hai Phân liên khu miền Đông và miền Tây. Các trung đoàn, liên trung đoàn giải thể để thành lập các tiểu đoàn chủ lực của các Phân liên khu và các tỉnh.

        * Bộ Tổng tham mưu quyết định thành lập Đại đội cao xạ 612 - đơn vị sử dụng pháo cao xạ 37 ly đầu tiên của quân đội ta. Đơn vị được trang bị 4 khẩu 37 ly, làm nhiệm vụ bảo vệ cầu Tà Lùng (Cao Bằng), một vị trĩ quan trọng trên biên giới Việt - Trung.

        Tháng 5 - tháng 8

        Tổng cục Cung cấp mở lớp huấn luyện cán bộ cung cấp khoá 1 (88 học viên). Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho lớp (tháng 6) căn dặn: "... Công việc cung cấp cũng quan trọng như việc trực tiếp đánh giặc ngoài mặt trận... Nhiệm vụ chính của cán bộ cung cấp là phụng sự đa số của bộ đội, tức là người binh nhì. Phải thương yêu săn sóc người binh nhì. Cán bộ cung cấp phải như người mẹ, người chị của người binh nhì...".

        Tháng 6

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn 44 trực thuộc Liên khu 4. Đơn vị được tổ chức trên cơ sở khung của Đoàn 403 (giải thể), đứng chân tại Nghệ An - Hà Tĩnh, làm nhiệm vụ tuyển mộ tân binh, huấn luyện, bổ sung cho bộ đội chủ lực. Ban chỉ huy trung đoàn do đồng chí Văn Lễ làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Phạm Vạc làm Trung đoàn phó và đồng chí Nguyễn Ngự làm Phó chính ủy.

        15 tháng 7

        Bảo Đại ký dụ "Tổng động viên". Với đạo dụ này, chính quyền thuộc địa của Pháp và ngụy quyền liên tiếp mở các cuộc bắt lính để phát triển lực lượng, trong đó có tổ chức ra các đội biệt kích "commandos" để phá cơ sở ta. Thời gian này, Pháp - ngụy có 4 loại biệt kích: Biệt kích thường hoạt động ở địa phương (Bắc Bộ có 16 đội, Trung Bộ: 14 đội, Nam Bộ: 12 đội, Tây Nguyên: 4 đội); biệt kích xung kích hoạt động trong các liên khu (Bắc Bộ có 6 đội, Trung Bộ- 3 đội, Tây Nguyên: 3 đội), biệt kích đổ bộ ở các liên khu, do hải quân chỉ huy (Bắc Bộ có 4 đội). Biệt kích hải quân thuộc Bộ tổng chỉ huy Pháp đổ bộ quấy rối vùng ven biển (toàn Đông Dương có 4 đội).

        20 tháng 7

        Đại đội 55 (Tiểu đoàn 303) và một đội biệt động tỉnh Thủ Biên, do Tỉnh đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy tiến công yếu khu quân sự Trảng Bom (nằm trên quốc lộ 1 cách thị xã Biên Hoà 20km về phía bắc). Bộ đội ta cải trang làm công nhân cao su, bí mật bất ngờ tập kích các đồn bốt địch; đồng thời, bộ đội địa phương, du kích, các đội vũ trang tuyên truyền của các huyện lân cận hiệp đồng đánh giao thông khồìig cho địch đến ứng cứu. Trận này, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 07:45:05 AM

        26 tháng 7

        Trận Thanh Lâm Bồ. Bộ chỉ huy quấn Pháp huy động 5 tiểu đoàn Ầu - Phi, Bắc Phi và ngụy càn quét vào khu vực cầu Thanh Lâm Bồ (Phú Vang, Quảng Trị). Trung đoàn 101 (Liên khu 4) do Trung đoàn trưởng Lê Thuyết chi huy, kiên quyết chống càn. Sau hai giờ chiến đấu, Trung đoàn 101 đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn (diệt và bắt hơn 100 tên), buộc địch phải rút quân.

        Tháng 7

        Tổng Quân ủy quyết định thành lập Trường Chính trị trung cấp. Ban giám hiệu trường do đồng chí Nguyễn Chi Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Giám đốc; đồng chí Võ Hồng Cương - Cục trưởng Cục Tuyên huấn làm Phó giám đốc, trực tiếp phụ trách trường. Khoá I khai giảng (28-8-1951) tại bản Nà Hang (Định Hoá, Thái Nguyên) với 190 học viên. Nội dung giảng dạy gồm các vấn đề: Đường lối nhiệm vụ cách mạng Việt Nam; trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; tính chất quân đội nhân dân và vai trò, nhiệm vụ người cán bộ quân đội; tư tưởng chiến thuật; tác phong công tác và tác phong chiến đấu.

        24-30 tháng 9

        Bộ chỉ huy quân Pháp huy động 4 binh đoàn cơ động (GM1, GM3, GM4, GM7) có không quân, hải quân và pháo binh phối hợp, mở cuộc hành binh "Trái chanh" (Citron) càn quét vùng bắc sông Luộc và phía tây huyện Ninh Giang (Hưng Yên), nhằm tiêu diệt Trung đoàn 42 Liên khu 3. Trong bảy ngày chống càn, Trung đoàn 42 cùng lực lượng vũ trang địa phương, chặn đánh địch quyết liệt, gây cho chúng một số thiệt hại, sau đó rút sang địa bàn tỉnh Thái Bình, bảo toàn lực lượng, tiếp tục chiến đấu.

        27-9 đến 5-10

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, phân tích tình hình, âm mưu của địch và đề ra nhiệm vụ, phương châm đấu tranh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Về nhiệm vụ quân sự, hội nghị quyết định: "Đề cao chất lượng của bộ đội chủ lực, đẩy mạnh việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích". "Ở Bắc Bộ đẩy mạnh vận động chiến tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch"...

        Trong vùng tạm bị chiếm và vùng du kích ở Bắc Bộ củng như trên các chiên trường Trung và Nam thì phai giữ vững và phát triển chiến tranh du kích để thực hiện việc kiềm chế địch và phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả hơn".

        29-9   đến 31-10

        Chiến dịch Lý Thường Kiệt. Nhằm tiếu diệt một bộ phận sinh lực địch, diệt trừ thổ phỉ, mở rộng cơ sở vùng sau lưng địch, bảo vệ mùa màng và phát triển chiến tranh du kích Bộ Tổng tư lệnh sử dụng Đại đoàn 312, Trung đoàn 148 độc lập, 2 đại đội và 1 tiểu đoàn bộ đội địa phương, tiến công địch ở khu vực Nghĩa Lộ (Yên Bái). Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh. Bộ đội ta đã tiến công các vị trí Ca Vịnh, Bản Tú, Gia Hội, Nghĩa Lộ, cửa Nhì... loại khỏi vòng chiến đấu 1.258 tên (trong đó có 255 tên bị bắt), thu hơn 300 súng các loại, 11 tấn đạn, 20 tấn quân lương. Chiến dịch này để lại những kinh nghiệm cho ta về công tác chuẩn bị, chỉ huy và thực hành tác chiến chính quy trên chiến trường rừng núi.

        30-9   đến 8-10

        Bộ chỉ huy quân Pháp huy động 4 binh đoàn cơ động (GM1, GM3, GM4, GM6), 2 tiểu đoàn dù, pháo binh, ca nô, tàu chiến mở tiếp cuộc hành binh "Trái quýt" (Mandarine) càn quét vào khu căn cứ du kích 3 huyện Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân (Thái Bình) nhầm tiêu diệt Trung đoàn 42 (Liên khu 3) và cơ quan Mặt trận Tả ngạn sông Hồng-- Dưới sự chi đạo của đồng chí Dương Hữu Miên (Chỉ huy trưởng Mặt trận) và đồng chí Nguyễn Khai (Chính ủy Mặt trận), Trung đoàn 42 cùng các đơn vị chặn đánh các mũi tiến quân của địch, gây cho chúng một số thiệt hại, sau đó bí mật vượt sông Luộc sang địa bàn tỉnh Hưng Yên bảo toàn lực lượng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 07:47:29 AM
        Tháng 10

        Bộ Tổng tư lệnh phát động một tháng chiến tranh du kích (từ trung tuần tháng 10 đến trung tuần tháng 11 năm 1951) tại trung du Bắc Bộ và Liên khu 3. Mục đích nhằm giữ vững, củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang trong lòng địch; bảo vệ mùa màng... Sau một tháng tiến hành chiến tranh du kích các đơn vị ở trung du và Liên khu 3 đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.678 tên địch (trong đó bắt 140 tên).

        9-10 tháng 11

        Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định thay đổi hình thức hoạt động đối với chủ lực ở Bắc Bộ: "Trước kia thì tập trung chủ lực đánh lớn trên một chiến trường, trong một thời gian nhất định; nay cần hoạt động phân tán trên nhiều chiến trường, trong thời gian khác nhau, mỗi lần hoạt động độ trên dưới một đại đoàn"... "Phương châm du kích vận động chiến không trái ngược với phương châm mà Trung ương đã nêu lên; trái lại, nó là hình thức hoạt động để thực hiện phương châm đó một cách thuận lợi hơn".

        11 tháng 11

        Bộ Tổng tham mưu ra quyết định (số 132/QĐg) thành lập Trường Thông tin đào tạo trung đội trưởng thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện, cơ công sơ cấp và báo vụ. Hiệu trưởng: Trịnh Đình Chung. Ngay trong tháng 11, Trường khai giảng khoá 1 tại bản Piềng (Định Hoá, Thái Nguyên) với 281 học viên.

        10-12-1951 đến 25-19521

        Chiến dịch Hoà Bình. Nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hoà Bình của địch, Bộ Tổng tư lệnh quyết định sử dụng các Đại đoàn 308, 312, 304, lực lượng vũ trang địa phương, đánh địch ở Mặt trận Hoà Bình (hướng chính); Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 đánh địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ (hướng phối hợp). Bộ chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh. Trên hướng chính, chiến dịch diễn ra thành 3 đợt. Đợt 1 (10-26 tháng 12), ta cắt đứt tuyến sông Đà, tiến công tiêu diệt các cứ điểm Tu Vũ, Chẹ và chặn đánh các cánh quân viện theo đường bộ, đường sông. Đợt 2 (27-31 tháng 12), ta tiếp tục đập vỡ tuyến sông Đà, tiêu diệt các điểm cao 400, 600, Đá Chông, Chẹ, chặn đánh các cánh quân viện trên các trục đường 87, Ba vì, Mỹ Khê. Đợt 3 (7 tháng 1-25 tháng 2 năm 1952), ta cắt đường số 6, tiến công Pheo, Đầm Huống, bao vây cô lập Hoà Bình, đánh địch rút chạy trên đường số 6. Trên hướng phối hợp, ta tiến sâu vào vùng tạm chiếm ở trung du, và đồng bằng Bắc Bộ, liên tục tiến công địch, góp phần vào thắng lợi ở mặt trận chính. Ngày 25 tháng 2 chiến dịch kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên địch, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, thu và phá huỷ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, mở rộng các khu căn cứ du kích, giải phóng hơn hai triệu dân.

        Khu vực sông Đà - Hòa Bình được giải phóng, nối thông liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với các Liên khu 3-4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch đánh bại âm mưu của quân Pháp muốn giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bác Bộ.

---------------
1. Sách in sai. Đúng phải là 25-2-1952


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 09:54:44 AM

Năm 1952

        Đầu năm

        Bộ tư lệnh Nam Bộ ra Nghị quyết quân sự năm 1952, xác định: "Phương châm chiến lược của ta ở Nam Bộ vẫn du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến trong trường hợp có điều kiện thuận lợi và phải liên miên tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch”. Nhiệm vụ cụ thể là: "1- Chống địch chiếm đóng sâu vào vùng tự do và đánh phá căn cứ". "2- Giữ vững và giành giật sức người, sức của với địch, đặc biệt là ở vùng du kích, bồi dưỡng sức chiến đấu của ta, làm giảm sức chiến đấu của địch". "3- Tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng ta, bảo vệ kinh tế, chú trọng nhiệm vụ sản xuất tự túc, chống bao vây kinh tế của giặc". "4- Tránh thế bị cắt đứt giữa miền Tây và miền Đông, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và vận chuyển liên tục thông suốt".

        20 tháng 1

        Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị "Đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ", về nhiệm vụ mở rộng, củng cố căn cứ địa, chỉ thị nêu rõ: "Những căn cứ chính cần xây dựng cho được là: Vùng Tiên Lữ, Phù Cừ - Hưng Yên, Hải Dương và vùng Tiên - Duyên - Hưng (Thái Bình), sau đó thì đến căn cứ Hà Nam (Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm), ở hữu ngạn sông Hồng Hà và căn cứ Nam - phần Bắc Ninh (Gia Long và Tiên - Quế Võ), ở tả - hữu ngạn sông Đuống những nơi này Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3 phải tập trung năng lực giải quyết, chú trọng làm thế nào đánh thông được đường liên lạc giữa các căn cứ đó để khi địch càn quét lớn thì có thể dựa vào nhau mà đối phó".

        26 tháng 1

        Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phát triển và củng cố các vùng du kích, tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét" gửi các liên khu và tỉnh, thành ủy. Chí thị nêu rõ: "Hiện nay, giặc Pháp đang tìm mọi cách điều động bộ đội thực hiện kế hoạch càn quét vùng du kích và căn cứ du kích của ta. Cho nên không được chủ quan khinh địch và lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải ra sức thi hành nghi quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai để kịp thời củng cố, các vùng du kích và căn cứ du kích và tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét".

        Tháng 1

        Chính phủ Pháp cử tướng Ra-un Sa-lăng (Raoun Salan) làm Tổng chỉ huy quấn viễn chinh Pháp ở Đông Dương thay Đờ-Lát đờ Tát-xi-nhi (mất ngày 8-1-1952). Sa-lăng vạch một kế hoạch tìm kiếm chiến thắng cho chiến tranh Đông Dương, trong đó nhấn mạnh: xây dựng một đạo quân thiện chiến có ưu thế tuyệt đối về quân số để tiêu diệt các đơn vị  chủ lục ta. Riêng đối với chiến trường Bắc Bộ, Sa-lăng chủ trương: Đẩy mạnh bình định tất cả những khu vực hiện Pháp đang kiểm soát, khống chế, ngăn chặn mọi nguồn nhân, vật lực cung cấp cho kháng chiến. Tiếp tục mở các cuộc hành quân càn quét quy mô vừa và nhỏ, mở rộng chiếm đóng các vùng kinh tế, đông dân. Xây dựng các đơn vị cơ động, sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết. Sa-lăng dự kiến kế hoạch thực hiện trong 3 năm (1953 - 1955).

        Tháng 2

        Bộ chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ mở các cuộc hành binh "Nhà lá" càn quét vào chiến khu Dương Minh Châu và "Gió lốc” (Fourbillc|n) càn quét vào chiến khu Đồng Tháp

        Tiểu đoàn 403 (Phân liên khu miền Đông Nam Bộ) phối hợp với đội biệt động tỉnh Dầu Tiếng bất ngờ tiến công sở chi huy địch Suối Đá (Dầu Tiếng), bè gãy cuộc hành quân "Nhà lá" của địch ngay tại căn cứ xuất phát. Trong khi đó, các đơn vị tại chiến khu Đồng Tháp Mười liên tục chiến đấu trong 17 ngày đêm, loại khỏi vòng chiến đấu 790 tên (trong tổng số 3.000 tên trong cuộc càn Gió lốc), đánh chìm 3 tàu chiến, phá hủy 4 xe lội nước, buộc địch phải rút quân.

        3-18 tháng 3

        Trung đoàn 95 (chủ lực Liên khu 4), Tiểu đoàn 230 (Quảng Trị) do Trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và Chính ủy Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy, cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích liên tiếp tiến công hệ thống đồn bốt, tháp canh địch ở Nam Đông (Gio Linh); chặn đánh đoàn xe quân sự địch (80 chiếc chở 1.200 quân) trên đường 74, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 800 tên; phá hủy và thu nhiều vũ khí, đạn, mở rộng vùng căn cứ du kích bắc Quảng Trị.

        10-18 tháng 3

        Bộ chi huy Pháp ờ Bắc Bộ tập trung 4 binh đoàn cơ động GM1, GM2, GM4, GM7 (5.000 quân), 2 tiểu đoàn pháo, 1 tiếu đoàn cơ giới, mở cuộc hành binh "Lội nước" (Amphibie) càn quét vào khu căn cứ du kích Lý Nhân và Bình Lục (Hà Nam). Trung đoàn 64 (Đại đoàn 320) do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền chỉ huy cùng các lực lượng vũ trang địa phương tích cực chống càn. Kết hợp giữa bố trí trận địa phục kích, đắp ụ, phá cầu, trên các mũi tiến công của địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên, buộc địch phải rút quân, giữ vững khu căn cứ và phong trào kháng chiến ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:00:37 AM

        25-3 đến 6-4

        Bộ chi huy Pháp ờ Bác Bộ huy động 5 binh đoàn cơ động GM1; GM2, GM3, GM4. GM7 có pháo binh, tàu chiến, ca nô, xe cơ giới, quân dù chi viện, mở cuộc hành binh "Thủy ngân" (Mercure) càn quét vào căn cứ du kích liên huyện Thái Ninh, Kiến Xương, Tiền Hải, Vũ Xương (Thái Bình). Các trung đoàn 48, 52 (Đại đoàn 320) cùng lực lượng vũ trang địa phương tích cực đánh địch trong và ngoài căn cứ (gần 200 trận lớn nhỏ), loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên, làm thất bại ý đồ của địch hòng tìm diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến tinh Thái Bình và bộ đội chủ lực.

        Tháng 3

        Bộ chỉ huy Pháp huy động 3 tiểu đoàn mở cuộc hành binh "Tây Bá Lợi A" (Sibérie) càn quét vùng Từ Sơn (Bắc Ninh) và 3 tiểu đoàn mở cuộc hành binh "Thanh kiếm" (Sabre) càn quét vùng Yên Lạc, Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc).

        Lực lượng vũ trang các địa phương đã anh dũng đánh chặn be gãy các cuộc càn quét của địch.

        14-22 tháng 4

        Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh chặn 18 tiểu đoàn bộ binh. 2 tiểu đoàn thiết giáp, pháo binh và không quân hỗ trợ mở liên tiếp ba cuộc hành binh "Poóc-tô” (Porto), ”Pô-lô" (Polo). "Tuvếc-cô" (Turco) càn quét vào vùng nam - bắc sông Đuống (Bắc Ninh). Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên, phá hủy 1 xe tăng. 30 xe quân sự, 2 ca nô, bắn rơi 2 máy bay, thu nhiều chiến lợi phẩm, làm thất bại âm mưu càn quét của địch.

        22-28 tháng 4

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, đề ra những công tác chính trong năm 1952, trong đó quyết định chấn chỉnh quân đội. Hội nghị nêu rõ: "Quân đội ta đã tiến bộ nhiều, nhưng còn nhiều khuyết điểm: trình độ kỹ thuật chiến thuật còn kém. nhất là trình độ chính trị chưa được nâng cao, lập trường giai cấp chưa vững, cán bộ công nông chưa được cất nhắc đúng mức"... "Trong việc chỉnh huấn bộ đội, lấy chính trị làm gốc khởi đầu từ cán bộ, dần dần đến toàn thể đội viên, phải chú trọng bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ công nông, phải làm cho quân đội ta trờ nên thật là một quán đội cách mạng của nhân dân, một quân đội vô địch" .

        23-4   đến cuối tháng 5

        Trung đoàn 42 chủ lực Liên khu 3 củng lực lượng vũ trang địa phương đánh chặn 4 binh đoàn cơ động GM1, GM2, GM3, GM7 và quân ứng chiến địa phương, có máy bay chi viện, mở cuộc hành binh "Con lạc đà" (Dromadaire) càn quét vùng căn cứ du kích liên tinh Hưng Yên - Hai Dương (bấc sông Luộc). Rút kinh nghiệm những lần chống càn trước đây và thực hiện chủ trương của Mặt trận Tả Ngạn sông Hồng, Trung đoàn 42 phân tán từng tiểu đoàn, phối hợp với bộ đội địa phương vả dân quân du kích đánh dịch, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 2.000 tên, bảo vệ được lực lượng, giữ vững vùng căn cứ du kích liên tỉnh bắc sông Luộc.

        1 tháng 5

        Tại Việt Bắc. Cục Thông tin liên lạc tố chức hội nghị thông tin liên lạc toàn quân lẩn thứ hai. thống nhất nguyên tắc tổ chức thông tin liên lạc cho chiến dịch, chiến đấu; quy định biểu biên chế phân đội thông tin liên lạc từ cấp đại đôi bộ binh trở lên đế trình Bộ Tổng tham mưu duyệt. Về thông tin điện thoại, hội nghị khẳng định phải dùng "chiến thuât mũi dùi” từ trên xuống, tuyệt đối không được đáo ngược.

        4-15 tháng 5

        Hai trung đoàn 108 và 803 (chủ lực Liên khu 5) do đồng chí Nguvễn Bá Phát chỉ huy đánh chặn một trung đoàn bộ binh địch, có pháo binh, quân dù, hỗ trợ mở cuộc hành binh La-tê-rít (Latérite) càn quét vùng căn cứ miền Tây Quảng Ngãi. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên; bảo toàn được lực lượng và giữ vững vùng căn cứ.

        20 tháng 5

        Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết "về tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực", quy định:

        "Ở đại đội có hội nghị toàn thể chi bộ và ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là chi ủy).

        - Ở tiểu đoàn có đại hội đại biểu tiểu đoàn và ban chấp hành tiểu đoàn (gọi tắt là tiểu đoàn ủy).

        - Ở trung đoàn có đại hội đại biểu trung đoàn và ban chấp hành trung đoàn (gọi tắt là trung đoàn ủy).

        - Ở đại đoàn có đại hội đại biểu đại đoàn và ban chấp hành đại đoàn (gọi tắt là đại đoàn ủy).

        - Ở các trường, nếu nhỏ thì có hội nghị toàn thể chi bộ trong trường và ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là chi ủy), nếu lớn thì có đại hội đại biểu toàn trường và ban chấp hành nhà trường (gọi tắt là hiệu ủy).

        - Ở các cơ quan đoàn bộ, nếu nhỏ thì có hội nghị toàn thể chi bộ trong cơ quan và ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là chi ủy), nếu lớn,   có từ hai chi bộ trở lên thì có đại hội đại biểu cơ quan và ban chấp hành liên chi (gọi tát là liên chi ủy). Ở đại  đoàn hoặc các tổng cục thuộc Bộ Tổng tư lệnh nếu có nhiều liên chi, thì có đại hội đại biểu toàn cơ quan và ban chấp hành đại đoàn bộ, tống cục...

        - Tổng Quân ủy do Trung ương chi định, đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:05:51 AM

        28-5 đến 2-6

        Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 46 chủ lực Liên khu 3) phối hợp với lực lượng địa phương đánh chặn 8 tiểu đoàn bộ binh địch có pháo binh và quân dù chi viện, mở cuộc hành binh Căng-gu-ru (Kangourou) càn quét khu vực tây Phú Xuyên, Ứng Hoà (Hà Đông) và Kim Bảng (Hà Nam). Ta loại khỏi vòng chiến 400 tên, buộc địch phải rút quân.

        30-31 tháng 5

        Hai trung đoàn 18, 95 (chủ lực Liên khu 4), Tiểu đoàn 299 (Quảng Bình) cùng dân quân du kích tiến công diệt cụm phòng thủ cùa địch ở Ba Đồn, giải phóng huyện Quảng Trạch.

        Tháng 5

        * Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thành lập Khu Tả ngạn sông Hồng. Các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Hưng Yên và Thái Bình được tách khỏi Liên khu 3 về Khu Tả ngạn sông Hồng. Bộ tư lệnh khu do đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư kiêm Chĩnh ủy, đồng chí Nguyễn Khai làm Tư lệnh, đồng chí Dương Hữu Miên làm Phó tư lệnh và đồng chí Đặng Tính làm Phó chính ủy.

        * Tổng Quân uy và Bộ Tổng tư lệnh tiến hành chấn chinh quân đội. Các đơn vị từ Liên khu 5 trở ra được chinh huấn chinh trị, quân sự, tổ chức biên chế, trang bị. về quân sự; các đại đoàn thống nhất huấn luyện 5 kỹ thuật (bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn, đào công sự, sử dụng bộc phá) chiến thuật công kiên cứ điểm, đánh vận động, chống càn, chiến đấu hiệp đồng binh chủng... về tố chức, biên chế trang bị, Bộ Tổng tham mưu quy định mỗi đại đoàn có 3 trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn binh chủng (công binh, pháo binh, phong không, thông tin, vận tải...). Mỗi tiểu đoàn tổ chức 1 đại đội mạnh có 4 trung đội để làm nhiệm vụ chủ công trong tác chiến công kiên. Mỗi đại đội bộ binh giảm 11 người, nhưng được trang bị thêm 6 súng trường, 15 tiểu liên. Cơ quan từ đại đội bộ đến đại đoàn bộ giảm 800 người. Toàn đại đoàn giảm 1,000 người. Các cơ quan trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh xác định rõ chức trách, cải tiến nếp làm việc, giảm trung gian, rút cán bộ và chiến sĩ tăng cường cho các đơn vị chiến đấu.

        Cuộc chỉnh huấn đã nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ tổ chức, chỉ huy, kỷ thuật, chiến thuật của quân đội ta lên một bước mới.

        2-6 tháng 6

        Địch huy động 10 tiếu đoàn bộ binh, có pháo binh, xe tăng, tàu chiến, quân dù chi viện, mở cuộc hành binh "Con sơn dương" (Antilope) càn quét khu vực đông Phú Xuvên (Hà Đông) và Duy Tiên (Hà Nam). Tiểu đoàn 292 (Trung đoàn 46 chủ lực Liên khu 3) vận dụng các biện pháp chống càn (phân tán lực lượng đánh nhỏ, thường xuyên quấy rối..) phối hợp với dân quân du kích đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, bể gãy cuộc càn của định.

        16 tháng 6

        Đại đội bộ đội địa phương huyện Châu Thành (Mỹ Tho) do huyện đội trưởng Lê Phước Hai chí huy tiến công trường hạ sĩ quan ngụy tại Bình Đức. Sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 250 tên, thu hơn 250 súng và 100.000 viên đạn. Đây là trận tập kích đạt hiệu suất chiến đấu cao của bộ đội địa phương Nam Bộ.

        19-20 tháng 6

        Trung đoàn 101 (Liên khu 4) đánh chặn cuộc tiến công của tiểu đoàn 27 Âu - Phi và tiểu đoàn 2 Bắc Phi vào chiến khu Dương Hoà (tây Thừa Thiên). Bằng cách phân chia lực lượng thành nhiều mũi, bí mật bất ngờ tiến công quân địch, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 tên, buộc số còn lại phải bỏ chạy. Cơ quan chỉ đạo kháng chiến của Thừa Thiên tại chiến khu được bảo vệ an toàn.

        15-7 đến 26-9

        Chiến dịch Quảng Nam. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ hệ thống đồn bốt, tháp canh địch, thu hẹp vùng địch tạm chiếm, mờ rộng vùng du kích và thế làm chủ của ta, Bộ tư lệnh Liên khu 5 sử dụng Trung đoàn 503 và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, tiến công địch trên địa bàn tinh Quảng Nam. Bộ chi huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Tư lệnh, đồng chí Bùi San làm Chính ủy và đồng chi Phan Hàm làm Phó tư lệnh. Sau ba đợt chiến đấu, tiến công vị trí Xuân Đài, khu hành chính Phủ Ký, đồn Vân Ly, cứ điểm Túy Loan, khu hành chính Kỷ Lam, tháp canh Thượng Phước, các cứ điểm Ba Dụ và Lê Sơn, đồn Đốc Nhất trên đèo Hải Vân), đồng thời đánh địch tăng viện và địch càn quét ở Gò Nôi... ta đả loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.200 tên đich, thu nhiều chiến lợi phẩm, mở rộng vùng du kỉch bắc Quảng Nam đến sát ngoại ô thành phố Đà Nẳng và thị xã Hội An.

        17-7 đến 15-8

        Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy tổ chức hội nghị chiến tranh du kích, tống kết kinh nghiệm chống địch càn quét, khẳng định vị trí vai trò của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đại tướng Võ Nguvên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng, trình bày báo cáo nêu rõ: Nhiệm vụ chiến lược của du kích chiến tranh là đánh tiêu hao và đánh tiêu diệt, huấn luyện kỹ thuật, phá hoại đường sá, cầu cống, địa lôi chiến phục kích, tập kích, đánh vận động nhỏ, chống địch càn quét. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm hội nghị, căn dặn: "Điều trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể điều gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:08:59 AM
        2-13 tháng 8

        Tổng Quân ủy tổ chức hội nghị tổ chức toàn quân lần thứ nhất, tổng kết kinh nghiệm công tác chi bộ trong quân đội, nâng cao chất lượng đảng viên, chấn chỉnh tổ chức và sinh hoạt, tăng cường sự lãnh đạo tập thể, phát huy sự lãnh đạo của chi bộ, làm cho chi bộ thành trụ cột vững mạnh, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tác chiến và xây dựng.

        25-29 tháng 8

        Trung đoàn 101 (Liên khu 4) do Trung đoàn trưởng Lê Thiết chỉ huy, đánh chặn 7 tiếu đoàn quân ứng chiến, có pháo binh, máy bay chi viện, mở cuộc hành binh "Châu chấu" (Sauterelle) càn quét khu vực Thanh Hương - Vĩnh Xương. Tuy đồng chí Trung đoàn trưởng hy sinh và một số cán bộ cơ quan bị bắt. nhưng trung đoàn đả gây cho địch một số thiệt hại; sau đó rút ra khỏi vòng vây của địch, tiếp tục chiến đấu.

        31 tháng 8

        Một tổ đặc công do đồng chí Nguyễn Văn Thọ chỉ huy bí mật tiếp cận dùng mìn đánh kho bom Phú Thọ (Sài Gòn) phá huy 52 tấn bom và 50 triệu viên đạn của địch. Trận đánh gây tiếng vang lớn ở Sài Gòn và các vùng lân cận.

        Tháng 8

        Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập "Trường Du kích chiến tranh" và "Trường bổ túc Quân chính sơ cấp".

        Trường Du kích chiến tranh làm nhiệm vụ bổ túc cán bộ tỉnh đội, huyện đội, cán bộ tiều đoàn và đại đội bộ đội địa phương. Cuối năm 1952, Trường khai giảng khoá 1 tại Vai Cày (Đại Từ, Thái Nguyên), về quân sự, học viên được học bắn súng, ném lựu đạn, sử dụng các loại vũ khí thô sơ (chông, mìn, cạm bẫy), các hình thức chiến thuật phục kích, tập kích, chống càn, đánh giao thông. Hiệu trưởng: Trần Mạnh Quỳ - nguyên Cục trường Cục Dân quân.

        Trường bổ túc Quân chính sơ cấp làm nhiệm vụ bồi dưỡng quân sự, chính trị cho cản bộ đại đội. Ngày 20 tháng 9 Trường khai giảng khoá 1 tại xã Tiền Phong (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) có 192 học viên. Hiệu trưởng: Đào Chính Nam, Chính trị viên: Ngô Tấn Văn.

        4-7 tháng 9

        Trung đoàn 101 (Liên khu 4) chống cuộc càn "Con cá sấu" (Caiman) của 8 tiểu đoàn địch, có quân dù, pháo binh, tàu thủy, máy bay chi viện tại khu vực dọc cửa Việt vào Phong Điền, Hai Lăng (Quảng Trị). Sau 3 ngày chống càn, ta loại khỏi vòng chiên đấu 400 tên địch, phá hủy 2 xe quân sự, buộc địch phải rút quân.

        14-10 đến 10-12

        Chiến dịch Tây Bắc. Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, đánh vào vùng chiến lược uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào của địch, tháng 9 năm 1952, Bộ Chĩnh trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Quyết tâm là chiền dịch này phải đánh cho thắng lợi".

        Bộ Tổng tư lệnh vạch kế hoạch chiến dịch với mục tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc. Lực lượng tham gia trên mặt trận chính Tây Bắc có các Đại đoàn bộ binh 308, 312, 316, Đại đoàn công - pháo 351, Trung đoàn bộ binh 148, lực lượng vũ trang địa phương và 35.000 dân công phục vụ chiến dịch. Tại đây, lực lượng địch gồm 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 1 tiếu đoàn và 4 đại đội GAMO (đội quân thứ hành chính lưu động), 5 tiểu đoàn và 32 đại đội nguy và lực lượng tăng viện sau này. Ở mặt trận phối hợp (vùng sau lưng địch ờ Liên khu 3) có 2 Đại đoàn bộ binh 320, 304 và các lực lượng vũ trang địa phương. Bộ chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưa trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị và đồng chí Nguyễn Thanh Bình làm Chủ nhiệm cung cấp.

        Trên hướng chinh Tây Bác, diễn biến chiến dịch chia làm ba đợt. Đợt một (14-23 tháng 10), ta tiến công đập vỡ tuyến phòng thủ Nghĩa Lộ, giai phóng vùng ta ngạn sông Đà, tiếp đó đánh bại cuộc hành binh Lo-ren (Lorraine) của địch ở Phú Thọ (29-10). Đợt hai (17-23 tháng 11). ta đập vỡ khu phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La, Điện Biên Phủ. Đợt ba (24 tháng 11 - 10 tháng 12). ta đột phá tập đoàn cứ điêm Nà Sản nhưng không thành công, chiến dịch kết thúc. Ở hướng phối hợp Liên khu 3, ta mở các đợt hoạt động mạnh liên tục diệt đồn bốt, phá tề ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định...

        Kết thúc chiến dịch, trên hai mặt trận, ta loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên địch, đánh bại âm mưu củng cố "Xứ Thái", "Xứ Mường", "Xứ Nùng" tự trị của địch; giải phóng 25.500 km2 với 25 vạn dân thuộc các tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), 4 huyện phía nam tỉnh Lai Châu, 2 huyện phía tây tỉnh Yên Bái, nối liền Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bấc và Thượng Lào.

        Tháng 11

        Tại bản Bục. xã Bộc Nhiêu (Định Hoá, Thái Nguyên), Cục Thông tin liên lạc Bộ Tống tham mưu mở lớp tập huấn đài trưởng vô tuvến điện toàn quân lần thứ nhất, thống nhất về nền nếp doanh tác của các điện đài vô tuyến điện; cách sử dụng và bao quản máy vô tuyến điện 15W kiếu 282 trang bị từ cấp trung đoàn trở lên.

        1-30 tháng 12

        Trung đoàn 48 (chủ lực Liên khu 3), các đại đội 40, 57, 91 bộ đội địa phương tỉnh, huyện đánh chặn cuộc hành binh Brơ-ta-nhơ (Bretagne) của 5 binh đoàn cơ động GM1, GM3, GM4, GM5, GM7, có pháo binh, xe tăng, xe bọc thép lội nước. tàu chiến, xe vận tải chi viện, vào vùng căn cứ Trực Ninh, Nam Trực, Xuân Trường, Giao Thủy (Nam Định). Các trung đoàn 57, 66, 9, 52 chủ lực liên khu củng dân quân du kích phối hợp đánh địch ở các tinh Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình. Trong một tháng chiến đấu, ta diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, bảo toàn lực lượng và giữ vững khu căn cứ.

        5 tháng 12

        Đại đoàn bộ binh 325 - đại đoàn chủ lực cơ động thứ sáu của quân đội ta được thành lập tại Bình - Trị - Thiên Trực thuộc đại đoàn gồm 3 trung đoàn chủ lực của Mặt trận Bình - Trị - Thiên (Trung đoàn 18 - Quảng Bình, Trung đoàn 95 - Quảng Trị, Trung đoàn 101 - Thừa Thiên) và một số đơn vị binh chủng. Tư lệnh kiêm Chính ủy: Trần Quý Hai. Đại đoàn 325 mang tên truyền thống "Đại đoàn Bình - Trị - Thiên".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:16:21 AM

Năm 1953

        13-28 tháng 1

        Chiến dịch An Khê. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích và phối hợp với chiến trường toàn quốc, Bộ tư lệnh Liên khu 5 sử dụng các Trung đoàn 108, 803, Tiểu đoàn 40 chủ lực liên khu, Trung đoàn 120 bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến công địch trên đường số 19, trọng điểm là khu vực An Khê. Bộ chi huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Chánh làm Tư lệnh kiêm Chính ủy. Lực lượng địch gồm 4 đại đội đóng ở các cứ điểm Con Tía, Tú Thủy, Cửu An và tháp canh Eo Gió, có hỏa lực chi viện. Ngày 13 tháng 1, bộ đội ta tiến công địch ở các cứ điểm Tú Thủy, Cưu An, Eo Gió, ngày 28 đánh Thượng An; buộc địch ở Kon He tháo chạy; uy hiếp và đánh địch ứng viện ở An Khê... Đến ngày 28 tháng 1, chiến dịch kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.600 địch (bắt 300 tên) thu nhiều vũ khí, giải phóng 18.000 dân. Đây là thắng lợi lớn trên chiến trường Nam Trung Bộ, đánh dấu sự trưởng thành về tác chiến của lực lượng vũ trang Liên khu 5.

        25-30 tháng 1

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) lần thứ tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản báo cáo quan trọng về chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự, gồm các nội dung:

        "1- Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do.

        Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay.

        2- Bộ đội chủ lực ở chiến trường Bác Bộ thì phải dùng vận động chiến linh hoạt, để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiến từng bộ phận, để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ ở đó địch sơ hở, yếu ớt. Làm như vậy để đạt mục đích đánh chắc, ăn chắc, mở rộng vùng tự do. Đồng thời có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng của địch đến mà đánh, phân tán lực lượng địch, làm rối loạn kế hoạch của địch và tạo điều kiện cho vận động chiến.

        3- Chiến trường sau lưng địch phải mờ rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng tài sản cho dân, để khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn nguy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta đang thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch.

        4- Ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và xây dựng bộ đội địa phương, vùng tự do và những căn cứ du kích khá to cần phải xây dựng những tổ chức dân quân du kích không thoát ly sản xuất. Những tổ chức dân quân du kích ấy chẳng những có thể phụ trách việc đàn áp bọn phản cách mạng giữ gìn trị an trong làng xã, bảo vệ lợi ích của quần chúng đấu tranh với địch và phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực mà lại có thể dùng để bổ sung bộ đội chủ lực.

        5- Về việc chi đạo quân sự, cần phải kết hợp những hình thức đấu tranh nói trên một cách linh hoạt, khôn khéo. Như thế, một mặt lợi cho bộ đội chủ lực có thế tìm nhiều cơ hội để tiêu diệt địch; một mặt khác có thể giúp bộ đội, du kích hoạt động và giúp căn cứ du kích của ta sau lưng địch phát triển và củng cố.

        6- Trong sự chỉ đạo các hình thức đấu tranh nói trên, cần phải thiết thực nhận rõ tính chất trường kỳ của kháng chiến. Cho nên, phải rất chú ý giữ gìn sức chiến đấu nhất định của bộ đội, không nên làm cho bộ đội hao mòn, mệt mỏi quá.

        Đồng thời cần phải yêu cầu bộ đội chịu khó, chịu khổ, kiên quyết, gan dạ thi đua diệt địch lập còng. Hai điều đó không trái nhau, mà kết hợp với nhau.

        7- Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chinh trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải đảm bảo sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mặt chính trị. Vì vậy cần phải tăng cường sự lãnh đạo cua Đảng trong quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội-

        8- Phải tăng cường công tác quân sự, trước hết là phải luôn luôn xem trọng việc huấn luyện bộ đội. Phải ra sức bồi dưỡng cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cũng như trình độ chiến thuật và kỷ thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác.

        Phải tăng cường công tác của Bộ Tổng tham mưu và của Tổng cục Cung cấp. Công tác của Bộ Tổng tham mưu phải tăng cường mới có thể nâng cao chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội. Công tác của Tổng cục Cung cấp phải tăng cường thì mới có thể đảm bảo được sự cung cấp đầy đủ cho chiến tranh và nâng cao sức chiến đấu của bộ đội.

        9- Phải có kế hoạch chung về xây dựng và bổ sung bộ đội. Ngoài việc động viên thanh niên ở vùng tự do tòng quân, cần phải rất chú ý tranh thủ và cải tạo ngụy binh đã đầu hàng ta để bổ sung cho bộ đội ta. Tổ chức bộ đội mới thì không nên hoàn toàn dùng cán bộ mới và binh sĩ mới, mà nên dùng cách lấy bộ đội cũ làm nền tảng đế mở rộng bộ đội mới. Đồng thời cũng không nên vét sạch bộ đội du kích để bổ sung cho bộ đội chủ lực.

        10- Cần phải tăng cường và cải thiện dần dần việc trang bị cho bộ đội, nhất là xây dựng pháo binh".

        Hội nghị ra Nghị quyết, trong đó xác định phương châm tác chiến của chủ lực là: "Vận động chiến là chính, công kiên chiến là phụ. Trên chiến trường sau lưng địch ở Bác Bộ và các chiến trường Trung và Nam thì du kích chiến là chính".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:41:21 AM

        Tháng 1 - tháng 3

        Quân Pháp mơ hàng loạt cuộc hành binh ờ Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên và Nam Bộ. Riêng ờ Bắc Bộ, từ ngày 16 tháng 1, Pháp mở cuộc hành binh "Ác-toa" (Artois) càn quét hai huyện Đông Quan, Quỳnh Côi (Thái Bình); từ ngày 20 tháng 1, mở cuộc hành binh "Con cóc" (Crapaud) càn quét vùng bắc Kiến Xương (Thái Bình); từ ngày 27 tháng 1, mở cuộc hành binh Noóc-măng-đi (Normandie) càn quét các huyện Thanh Miện, Tứ Kỳ (Hải Dương), Ẩn Thi (Hưng Yên); từ ngày 4 tháng 2, mở cuộc hành binh Tu-lu-dơ (Toulouse) càn quét các huyện Gia Lâm, Tiên Du, Quế Võ (Bắc Ninh); từ ngày 7 tháng 3 mở cuộc hành binh Hốt-tơ An-pơ càn quét hai huyện Yên Mô (Ninh Bình) và Nga Sơn (Thanh Hoá); từ 20 tháng 3 mở cuộc hành binh Coóc-xơ (Corse), nhảy dù xuống Chợ Bờ, Suối Rút (Hoà Bình). Mỗi cuộc hành binh, Pháp huy động từ 2 đến 4 binh đoàn cơ động, triệt phá các khu du kích cùa ta và bắt thanh niên vào lính.

        Tháng 2

        Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điếm, phân tích chỗ mạnh, yếu trong phòng ngự của tập đoàn cứ điểm, đề ra một số cách đánh, cách khắc phục hoả lực địch, chiến đấu ban ngày và liên tục chiến đấu.

        1 tháng 4

        Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra quyết định (số 06/QĐ) thành lập Trung đoàn 367 pháo cao xạ - trung đoàn phòng không đầu tiên của quân đội ta. Biên chế: 6 tiếu đoàn hỏa lực (381, 383, 385, 392, 394, 396 - mỗi tiểu đoàn gồm 3 đại đội pháo cao xạ 37mm - 12 khẩu); 1 đại đội súng máy 12,7mm (12 khẩu); 1 tiểu đoàn xe kéo pháo, vận tải và sửa chữa; cơ quan trung đoàn (tham mưu, chính trị, cung cấp). Ban chi huy trung đoàn do đồng chí Lê Văn Tri làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Đoàn Phụng làm Chính trị viên.

        13-4 đến 14-5

        Chiến dịch Thượng Lào. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến Lào, Mặt trận It-xa-la, Bộ Tổng tư lệnh mờ chiến dịch tiến công địch ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Thượng Lào), nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai, xây dựng và củng cố các căn cứ du kích, đấy mạnh kháng chiến của nhân dân Lào. Bộ chỉ huy chiến dịch: Phía Lào có Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Thủ tướng Chính phủ kháng chiến), đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Bộ trưởng Quốc phòng), đồng chí Xanh-ga-po (Thứ trưởng Quốc phòng) vả đồng chí Thao-ma (Bí thư tỉnh Sầm Nưa). Phía Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm chính trị, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Nam - Chủ nhiệm cung cấp và đồng chí Nguyễn Khang - đặc trách công tác ở chiến trường nước bạn. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các Đại đoàn 308, 312, 304, Trung đoàn bộ binh 148 và một số đơn vị lực lượng vũ trang Pa-thét Lào. Ngày 3 tháng 4, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư căn dặn bộ đội làm nhiệm vụ quốc tế: "Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình". Bước vào chiến dịch, phát hiện thấy liên quân Việt - Lào tiến công, quân địch ở Sầm Nưa (3 tiểu đoàn và 1 đại đội, phòng ngự theo kiều tập đoàn cứ điểm) vội vã bỏ chạy; liên quân Việt - Lào chuyến sang truy kích, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.600 tên (bằng 1/5 binh lực ở Lào), giải phóng tinh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tinh Phong Xa kỳ (tương đương 1/5 diện tích nước Lào), nối liền căn cứ kháng chiến Lào với vùng Tây Bắc Việt Nam. Thắng lợi của chiến dịch đã góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào.

        21 tháng 4

        Thực hiện chỉ thị của Khu ủy khu Tả ngạn sông Hồn và Tỉnh ủy Kiến An, Tỉnh đội Kiến An sử dụng các đại đội 53, 195, 295 bộ đội địa phương tỉnh, một tổ quân báo tỉnh đại đội 196 huyện Tiên Lãng, du kích và nhân dân, do Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh chi huy, tập kích vào nhiều vị trí (trong số 17 vị trí, mỗi vị trí do một đại đội lính Âu-Phi và ngụy chiếm đóng), bảo vệ trong và ngoài thị xã Kiến An. Kết quả ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.

        7 tháng 5

        Chính phủ Pháp cử tướng Hăng-ri Na-va (Henri Navarre) làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Ngày 19 tháng 5, Na-va sang Đông Dương nghiên cứu tình hình và vạch ra một kế hoạch chiến lược trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, về quân sự: Dựa vào viện trợ Mỹ xây dựng một quân đội tay sai lớn mạnh, tổ chức lực lượng cơ động chiến lược (khoảng 15 binh đoàn cơ động), đẩy mạnh hoạt động tác chiến, từng bước thoát khỏi thế phòng ngự bị động, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược, tạo thế quân sự có lợi cho cuộc chiến tranh; Na-va dự kiến thực hiện kế hoạch trong 18 tháng gồm 2 bước: Bước 1: Thu đông 1953 và mùa xuân 1954: giữ thế phòng ngự ở miền Bắc Việt Nam; tập trung xây dựng lực lượng cơ động lớn và mở rộng quân ngụy, càn quét bình định vùng đã kiểm soát, mở các cuộc hành quân lớn chiếm đóng vùng tự do của ta, nhất là ở Nam Bộ và Liên khư 5. Từ thu đông 1954, trên cơ sở thực hiện bước 1, chuyển sang tiến công chiến lược ở miền Bắc, tiêu diệt chù lực ta đế kết thúc chiến tranh.

        Kế hoạch của Na-va được Chính phủ, Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua và Mỹ tán thành. Đây thực chất là hoạch Pháp - Mỹ nhằm cố gắng cao nhất để chuyển bại thành thắng trong chiến tranh xâm lược Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:47:00 AM

        Tháng 5

        * Tổng Quân ủy ra nghị quyết về chỉnh quân chính trị năm 1953. Mục đích là "Nhằm nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp của bộ đội lên một bước nữa, làm cho tổ chức được trong sạch và củng cố, đế đề cao sức chiến đấu của bộ đội, để bộ đội trở thành một lực lượng lớn mạnh kiên quyết ủng hộ việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và Chĩnh phủ".

        * Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức hai Trung đoàn 77 và 55 làm nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện, bổ sung quân. Trung đoàn 77 được tách từ Đoàn 99 ra, đứng chân làm nhiệm vụ ở Phú Thọ. Trung đoàn 55 được xây dựng mới, đứng chân làm nhiệm vụ ở Thanh Hoá.

        23 tháng 6

        Tại Việt Bắc, Tổng Quân ủy mở lớp chinh quân chính trị cho cán bộ trung cấp và cao cấp quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và huấn thị: "Mục đích chỉnh quân là làm cho quân đội ta thành một quân đội nhân dân cách mạng quyết chiến quyết thắng".

        9 tháng 7

        Tướng Mỹ Ô Đa-ni-en (O Daniel), Tư lệnh lục quân ở Thái Bình Dương dẫn đầu phái đoàn quân sự Mỹ sang Đỏng Dương đôn đốc. giám sát việc thi hành kế hoạch Na-va.

        19-20 tháng 7

        Pháp huy động 7 tiểu đoàn (3 tiểu đoàn dù và 4 tiểu đoàn bộ binh) mờ cuộc hành binh "Chim én" (Hirondelle) càn quét vùng Lạng Sơn nhằm phá hậu phương ta. Đây là cuộc càn điển hình theo chiến thuật Na-va, nhưng không mang lại kết quả; địch phải chấm dứt cuộc càn và rút lui.

        27-7 đến 2-8

        Bộ Tổng- tham mưu tổ chức hội nghị xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ở vùng tự do, khẳng định vị trí, tác dụng và ý nghĩa chiến lược của lực lượng vũ trang địa phương trong nhiệm vụ bảo vệ, củng cố vùng tự do. Sau hội nghị, Cục Dân quân cử đoàn cán bộ thu thập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang địa phương và tiễu phỉ ở Tây Bắc để phổ biến cho các liên khu.

        28-7 đến 5-8

        Trung đoàn 95 (Liên khu 4) cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích chống cuộc càn "Các-ma-cơ" (Carmasque) của 13 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, có máy bay, pháo binh chi viện vào vùng căn cứ du kích 4 huyện Phong Điền - Quảng Điền - Triệu Phong - Hải Lăng (Quảng Trị). Bộ đội và du kích vừa bám đánh địch ở từng thôn xã, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên, vừa tổ chức đưa lực lượng vượt ra ngoài vòng vây của địch tiếp tục chiến đấu.

        4 tháng 8

        Pháp huy động 12 tiểu đoàn bộ binh thuộc 2 binh đoàn GM3 và GMVN, 8 tiểu đoàn khinh quân, 2 tiểu đoàn pháo, 1 hải đoàn xung kích mở cuộc hành binh "Tác-răng-te-dơ (Tarentaise) càn quét các huyện Giao Thủy, Hải Hậu (Nam Định). Bộ đội địa phương và dân quân du kích tích cực chống càn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.400 tên địch.

        28-8 đến 22-9

        Pháp huy động 2 binh đoàn cơ động GM3, GM5, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn bộ binh Sê-nê-gan, 1 tiểu đoàn xe bọc thép, 1 tiểu đoàn ngụy, 1 thủy đội, các đội biệt kích và quân thứ hành chính, mở cuộc hành binh "Cơ-lốt" (Claude) càn quét huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An. Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Khu ủy, Tỉnh ủy, Tinh đội, trực tiếp là Ban chỉ đạo chống càn của tỉnh (gồm các đồng chí Nguyễn Bá Thành, Nguyễn Sĩ Đô, Hoàng Thanh, Phạm Tuyên, Vũ Lăng), các đại đội 295, 331, 196 bộ đội địa phương tỉnh, huyện, cùng dân quân du kích và nhân dân, được sự phối hợp của các huyện, tỉnh bạn kiên cường đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 670 tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, đẩy lùi cuộc càn lớn của địch. Ngày 23 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho quân và dân Tiên Lãng.

        Tháng 8

        Bộ Tổng tham mưu báo cáo Tổng Quân ủy kế hoạch tác chiến chiến lược, xác định: Nhiệm vụ trước mắt của quân đội ta là phải phá kế hoạch tập trung binh lực và âm mưu bình định đồng bằng của địch. Cụ thể là: Đẩy mạnh chiên tranh du kích ở địch hậu, phá âm mưu bình định của địch tây nhân vật lực của ta để cung cấp cho chiến tranh, mở rộng quân ngụy. Bộ đội chủ lực phải dùng phương thức hoạt động thích hợp để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch hỗ cho cuộc đấu tranh vùng sau lưng địch và rèn luyện tác chiến lớn trên chiến trường đồng bằng để giải quyết các vấn chiến thuật đánh công sự mới, đánh lực lượng cơ động của địch, giải quyết tư tưởng và tác phong chỉ huy. Tăng cường lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở vùng tự do và có kế hoạch bố trí lực lượng tiêu diệt địch khi chúng đánh ra vùng tự do. Cần bố trí chủ lực vừa chinh huấn vừa sẵn sàng chiên đấu. Các đại đoàn phải có kế hoạch chuẩn bị các hướng địch có thể đánh ra như: Chủ. Phổng, Thái Nguyên Phú Thọ, Nho Quan, Thanh Hoá. Tăng cường hoạt động lên hướng Tây Bắc (Lai Châu), Thượng Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực địch.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:51:53 AM

        5 tháng 9

        Na-va rút lực lượng ở tập đoàn cứ điểm Nà sản, chuyển 6 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh về tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ làm lực ỉượng cơ động đối phó với hoạt động của chủ lực ta.

        22-9 đến 2-10

        Pháp tập trung 18 tiểu đoàn bộ binh thuộc các binh đoàn cơ động GM2, GM5, GM7, 5 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn cơ giới, 2 hải đoàn xung kích, mở cuộc hành binh "Con cá măng" (Brochet) càn quét ác liệt căn cứ du kích liên tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình (bắc sông Luộc). Các Trung đoàn 50, 52 (chủ lực Liên khu 3) cùng bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích tích cực chống càn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.200 tên địch, thu và phá huy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, giữ vững khu căn cứ du kích, làm thất bại một bước kế hoạch Na-va ở đồng bằng Bắc. Bộ.

        Tháng 9

        Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng bàn về chủ trương tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 Hội nghị thảo luận hai phương án. Phương án thứ nhất: tập trung toàn bộ hoặc phần lớn bộ đội chủ lực ở đồng bằng hoạt động tương đối phân tán, tranh thủ tiêu diệt một bô phận quân địch, phối hợp đây mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, bảo vệ vùng tự do. Sau khi địch bị tổn thất đến một mức độ nhất định, vùng tự do được củng cố, ta sẽ tuỳ tình hình mà tiếp tục để bộ đội chủ lực ở đồng bằng hay điều động đi nơi khác. Phương án thứ hai: Đưa bộ dội chủ lực lên hướng Tây Bác, vì Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Hướng này mặc dù có khó khăn lớn về tiếp tế, nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh hoạt động ở khấp các chiến trường sau lưng địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ. Bộ Chính trị phê chuẩn phương án thứ hai.

        Tháng 9 - tháng 11

        Toàn quân chỉnh huấn quân sự. Huấn lệnh chỉnh huấn quân sự (năm 1953) của Bộ Tổng tư lệnh xác định: "Chúng ta phải nâng cao trình độ công kiên, đồng thời phải nâng cao trình độ vận động. Chúng ta không những phải thông thạo động tác cơ bản mà phải khéo léo ứng dụng, không những phải thông thạo đánh đêm mà quen cả đánh ban ngày, không những đánh kẻ địch ở dưới đất mà đánh kẻ địch có phi pháo phối hợp". Theo phương châm đó, Bộ Tổng tư lệnh mở lớp tập huấn cho cán bộ trung cấp, cao cấp nâng trình độ tổ chức, chi huy đánh cứ điểm, đánh địch đang vận động, hoặc mới chiếm lĩnh trận địa và chống càn quét. Toàn quân huấn luyện 5 môn kỹ thuật (bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn, công sự và bộc phá), huấn luyện các chiến thuật đánh vận động, đánh công kiên quân địch trong công sự và tập đoàn cứ điểm trong điều kiện quân địch có máy bay, pháo binh và cơ giới yếm hộ cả ban ngày và ban đêm. Về xây dựng lực lượng, các liên khu từ Nam Bộ trở ra phát triển các trung đoàn chủ lực khu; các tỉnh phát triển bộ đội địa phương và dân quân du kích.

        15-10 đến 16-11

        Pháp huy động 6 binh đoàn cơ động, 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn dù, mở cuộc hành binh "Hải Âu" (Mouette) càn quét vùng Nho Quan, Rịa (tây nam Ninh Bình). Phó Tổng thống Mỹ, Ních-Xơn đến chợ Ghềnh (Ninh Bình) thị sát, khích lệ quân Pháp. Đại đoàn 320 phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích chủ động đánh địch ngay từ khi chúng mới đến, đặc biệt là đánh vào hậu cứ của các binh đoàn cơ động, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.500 tên, phá hủy 19 xe, bắn rơi 2 máy bay, thu chiến lợi phấm, buộc địch phai chấm dứt cuộc càn và rút khỏi tây nam Ninh Bình.

        19 tháng 11

        Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh tổ chức hội nghị thao luận kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954. Đang làm việc, hội nghị được tin Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu (20 - 11). Kết luận hội nghị, Đại tướng Vó Nguyên Giáp chỉ rõ: "Hướng chính Tây Bắc: kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng Lai Châu và mở rộng căn cứ kháng chiến Tây Bắc, uy hiếp Thượng Lào để phân tán địch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tác chiến sau này. Lực lượng sứ dụng 2 đến 3 đại đoàn. Hướng phụ là Trung Lào: Lực lượng sử dụng 2 trung đoàn. Hướng phối hợp là đồng bằng. Vô luận rồi đây địch thay đổi như thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phu căn bản có lợi cho ta. Nó bộc lộ mâu thuẫn của địch giữa chiếm đóng chiến trường rừng núi với củng cố chiến trường đồng bằng".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 10:55:15 AM

        20-22 tháng 11

        Pháp tập trung 6 tiểu đoàn dù (khoảng 4.500 quân, trong đó 1/3 là quân ngụy) mở cuộc hành binh "Con hải ly" (Castor) kết hợp nhảy dù và đổ bộ đường không chiếm Điện Biên Phủ (Lai Châu), biến nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhằm đối phó với ta trên hướng Tây Bắc và Thượng Lào. Tiếp đó (22-28 tháng 11), Pháp tập trung 8 tiểu đoàn bộ binh mở cuộc hành binh "Ac-đét-sơ" (Ardèche) chiếm vùng sông Nậm Hu (Thượng Lào) nhằm nối thông với Điện Biên Phủ (Việt Nam).

        6 tháng 12

        Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị "Phương án tác chiến mùa xuân 1954" gồm: I- Tình hình địch và phương hướng chiến dịch. II - Binh lực và thời gian tác chiến. III- Nhu cầu nhân lực, vật lực. IV- Kế hoạch đường sá và vận chuyển, về phương hướng chiến dịch, Tổng Quân ủy phân tích, phán đoán ý đồ hành động của Pháp sau khi chiếm Điện Biên Phủ, Thượng Lào và chủ trương phải chuẩn bị cho mặt trận Điện Biên Phủ, coi "Điện Biên Phủ sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay". Bộ Chính trị thông qua phương án và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

        10-31 tháng 12

        Chiến dịch Lai Châu mở đầu chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phân tán lượng cơ động chiến lược địch, giải phóng Lai Châu, thực hiện ý định chiến lược mở đầu chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Bộ Tổng tư lệnh sử dụng Đại đoàn 316, do Tư lệnh Lê Quảng Ba vả Chĩnh ủy Chu Huy Mân chi huy, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tiến công địch trên địa bàn tinh Lai Châu. Phát hiện chủ lực ta tiến quân lên Tây Bác, ngày 10 tháng 12, địch bắt đầu rút khỏi Lai Châu thực hiện co cụm lực lượng về Điện Biên Phủ. Đại đoản 316 tổ chức ngăn chặn, tập kích và truy kích địch. Nhiều trận chiến đấu diễn ra ớ Bản Tấu, Pu San, thị xã Lai Châu... Đến ngày 31 tháng 12, chiến dịch kết thức. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 24 đại đội (trong số 3 tiếu đoàn và 23 đại đội nguỵ), giải phóng tỉnh Lai Châu (trừ Điện Biên Phủ) bước đầu đánh bại âm mưu của địch co cụm lực lượng về Điện Biên Phủ.

        20 tháng 12

        Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị đề án kế hoạch quân sự năm 1954, gồm 8 vấn đề: 1 - Mấy nét nhận định về địch và ta. 2- Chủ trương chiến lược và kế hoạch tác chiến. 3- Kế hoạch xây dựng bộ đội. 4- Vấn đề giáo dục bộ đội và cán bộ. 5- Vấn đề đường sá và cung cấp mặt trận. 6- Vấn đề miền Nam và Cao Miên. 7- vấn đề Lào. 8- Vấn đề chấn chỉnh và tăng cường cơ quan chỉ đạo. về chủ trương chiến lược, Tống Quân ủy xác định: "Tăng cường chiến tranh du kích ở địch hậu, tăng cường hoạt động ở các chiến trường miền Nam và Lào, Miên, buộc địch phải phân tán lực lượng và do đó lâm vào bị động". "Tích cực và chu động tiêu diệt từng bộ phận sinh lực của địch, làm cho địch ngày càng yếu". "Tích cực củng cố và phát triển bộ đội của ta, đồng thời rút hẹp nguồn ngụy binh và nguồn tài lực của địch ở địch hậu. "Phương hướng chiến lược là trước hết giải phóng Tây Bắc và Tây Nguyên, uy hiếp Nam Bộ, tạo điều kiện đế giải phóng Bắc Bộ"-

        21-12-1953 đến tháng 5-1954

        Chiến dịch Trung - Hạ Lào. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng vùng Thà Khẹt, đường số 9 từ biên giới Việt Nam đến giáp sông Mê Kông ở trung Lào, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh Liên khu 4 sử dụng các Trung đoàn 280 và 120 (bộ đội tình nguyện), một số đơn vị binh chủng phối bợp với một bộ phận quân giải phóng Pa-thét Lào, tiến công địch tại khu vực Ma Hả Xay, Nhom Ma Rát, Thà Khẹt, đường số 9 (Trung Lào). Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 4 tiểu đoàn chiếm đóng và 5 tiểu đoàn cơ động. Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Hoàng Sâm làm Tư lệnh, đồng chí Trần Quý Hai làm Chính ủy. Bước vào chiến dịch, ta đã tập kích địch ở Khăm He, Khăm Mạ (trên đường 12), truy kích địch ờ Ba Na Phào rút chạy, tiến công tiêu diệt các vị trí Hín xìu, Đồng Hến, Pha Lan, Mường Phin... trên đường số 9 và đường số 8. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 101 tiến công xuống phía nam phối hợp với quân giải phóng It-xa-rác. (Campuchia) đánh địch ở miền Đông và Đông Bắc Campuchia. Đến tháng 5 năm 1954, ta và bạn kết thúc chiến dịch. Toàn chiến dịch, ta đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn (trong số 4 tiếu đoàn chiếm đóng và 5 tiếu đoàn ứng chiến ở Trung Lào), giải phóng thị xã Thà Khẹt, một phần tinh Sa Văn Nà Khệt, thị xả A Tô Pơ, toàn bộ cao nguyên Bô Lô Ven (Lào) và mở rộng căn cứ ở đông bắc Campuchia. Chiến dịch Trung - Hạ Lào thể hiện bước trường thành mới về trình độ tổ chức chi huy, phối hợp chiến đấu của Liên quân Việt - Lào trong cuộc tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953 - 1954.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:00:05 AM

Năm 1954

        Đầu tháng 1

        Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tai bản Tín Keo (xã Điềm Mặc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên), hạ quyết tâm: "Tập trung đại bộ phận chủ lực thiện chiến của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ mở chiến dịch tiến công tiêu diệt những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương này".

        26-1 đến 17-2

        Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút lực lượng cơ động, phá âm mưu lấn chiêm vùng tự do của địch, mở rộng vùng giải phóng và phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 sử dụng 2 trung đoàn chủ lực (108, 803), Trung đoàn 120 địa phương, một số tiểu đoàn đại đội độc lập của liên khu và các tỉnh, tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên. Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Chánh làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Tham mưu trưởng. Bước vào chiến dịch, bộ đội ta tiến công, đánh địch phản kích và rút chạy trên hướng đường 19 An Khê - hướng phụ và trên hướng bắc Kon Tum - hướng chính. Trên hướng phụ, bộ đội ta nổ súng trước, diệt các cứ điểm Ka Tung, Ba Bả, Tà Tu, Búp Bê. Trên hướng chính, bộ đội ta diệt các cứ điềm Măng Đen, Công Brây, Măng Bút. Đắc Tô, Đắc Sút, Đắc Lây, Đắc Đoa, tập kích thị xã Plây Ku." Đến ngày 17 tháng 2 chiến dịch kết thúc. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.300 tên địch thuộc 4 tiểu đoàn cơ động và 15 đại đội chiếm đóng trên địa bàn; giải phóng một vùng chiến lược gần 16.000 km2 trong đó có thị xã Kon Tum buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động ra nhiều bướng, tạo điều kiện thuận lợi để ta tập trung cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

        29-1 đến 13-2

        Chiến dịch Thượng Lào. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giúp cách mạng Lào phát triển, Bộ Tổng tư lệnh sử dụng Đại đoàn 308 cùng với một số đơn vị bộ đội địa phương, du kích bạn, tiến công phòng tuyến sông Nậm Hu của địch ở Thượng Lào. Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Vương Thừa Vũ làm Tư lệnh. Bước vào chiến dịch, ngày 31 tháng 1 phát hiện ta tiến quân, địch vội bỏ phòng tuyến rút chạy. Đại đoàn 308 và bạn truy kích, diệt địch ở Mường Khoa trên hướng Mường Sài; Mường Ngòi, Nậm Ngà trên hướng Nậm Bạc - Luông Pha Băng; loại khỏi vòng chiến đấu 17 đại đội địch trong số 5 tiểu đoàn chiếm đóng, 2 tiểu đoàn và 2 binh đoàn cơ động trên địa bàn; đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu, giải phóng tỉnh Phong Xa Lỳ, nối liền khu giải phóng Sầm Nưa của bạn với vùng Tây Bắc nước ta.

        29 tháng 1

        Mỹ điều 200 binh lính thuộc lực lượng không quân của Mỹ sang Đông Dương để bảo đảm kỹ thuật máy bay ném bom B-26 cho Pháp sử dụng ở Điện Biên Phủ.

        31 tháng 1

        * Bộ đội địa phương tỉnh Kiến An tập kích sân bay Đồ Sơn, diệt sở chỉ huy, phá hủy 5 máy bay, đốt cháy 5 triệu lít xăng dầu.

        * Trung đội du kích (20 đồng chí) huyện Kim Thanh tỉnh Hải Dương, do Huyện đội phó Nguyễn Văn Thoà chi huy, được bộ đội công binh tỉnh giúp đỡ, bố trí trận địa mìn đánh đoàn tàu quân sự địch tại khu vực gần ga Phạm Xá (trên tuyến đường sắt Hà Nội - Hai Phòng) làm đổ đầu máy và 8 toa xe, loại khỏi vòng chiến đấu 770 tên, làm ngưng trệ vận chuyến đường sắt của địch trong 4 ngày đêm.

        Tháng 1 - tháng 2

        Các chiến trường đẩy mạnh hoạt động theo chủ trương tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954. Ở Bắc Bộ, Đại đoàn bộ binh 320 cùng các lực lượng vũ trang Liên khu 3 diệt hàng loạt vị trí, phá vỡ phòng tuyến sông Đáy, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Ở Liên khu 5, các lực lượng vũ trang địa phương đánh giao thông trên đường số 1. đường số 7, bức rút nhiều vị trí địch, giải phóng huyện Hướng Hoá (Quảng Trị). Ở Nam Trung Bộ, các lực lượng vũ trang tập kích thị xã Hội An, Phan Thiết, bao vây bức hàng và diệt một số cứ điểm. Ở Nam Bộ, các tiểu đoàn 302, 304, 307 chủ lực khu và các tiểu đoàn 311, 410 bộ đội địa phương tỉnh... tiến vào vùng địch tạm chiếm, hỗ trợ nhân dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng.

        6 tháng 2

        Mỹ chuyển giao 40 máy bay ném bom hạng trung B-26 cho Pháp và tăng viện trợ 120 triệu đô-la bổ sung năm 1954 là 1 tỷ 115 triệu đô-la giúp Pháp trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tiếp đó, ngày 17 tháng 2, Mỹ chính thức yêu cầu Pháp để Mỹ phụ trách huấn luyện quân ngụy và mời Pờ-lê-ven (Pléven) - Bộ trưởng Quốc phòng Pháp sang Mỹ cùng tướng Ô Đa-ni-en (O Danien) - Tư lệnh lục quân Mỹ ở Thái Bình Dương điều chỉnh lại kế hoạch Na-va.

        3 tháng 3

        Để phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ, Ban chí huy Mặt trận Hà Nội sử dụng một phân đội (16 đồng chí, trong đó có 3 dân quân) do đồng chi Vũ Văn Sự chỉ huy, tập kích sân bay Gia Lâm ở phía đông ngoại thành Hà Nội, phá hủy 18 máy bay, gồm 5 chiếc B-26, 10 chiếc Đa-cô-ta, 3 chiếc chở khách, diệt 16 tên địch.

        7 tháng 3

        Phân đội chiến đấu gồm 32 người thuộc Khu Tả Ngạn sông Hồng và Tỉnh đội Kiến An, do đồng chí Lê Thừa Giao và đồng chí Đỗ Tất Yến chí huy, tập kích sân bay Cát Bi (Hài Phòng) phá hủy 59 máy bay.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:07:15 AM

        13-3 đến 7-5

        Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhằm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giải phóng Tây Bắc, giành thắng lợi quyết định trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Bộ chỉ huy chiến địch gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng; đồng chí Lê Liêm - Chủ nhiệm chính trị, Chủ nhiệm Cung cấp - Đặng Kim Giang. Hội đồng Cung cấp mặt trận do Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch; đồng chí Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách công tác đường sá, tiếp tế chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Đại đoàn bộ binh 308 (ba trung đoàn 102, 88, 36), Đại đoàn 312 (ba trung đoàn 141. 209, 165), Đại đoàn 316 (hai trung đoàn 174, 98 và một tiểu đoàn của trung đoàn 176), Đại đoàn 304 (một trung đoàn 57), Đại đoàn công - pháo 351 (các Trung đoàn 45 lựu pháo 105mm, 675 sơn pháo và cối, 151 công binh)1 , Trung đoàn 367 cao xạ, các đơn vị thông tin, vận tải (16 đại đội) quân y... Tổng quân số khoảng 55.000 người. Lực lượng phục vụ chiến dịch gồm hơn 260.000 dân công hoả tuyến. Phương tiện vật chất gồm 628 ô tô, 11.800 thuyền, 20.000 xe đạp thồ và các loại xe thô sơ khác, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh. Thời gian đầu, Bộ chi huy chiến dịch đề ra phương châm tác chiến "Đánh nhanh, giải quyết nhanh", nhưng do địch tăng cường lực lượng và củng cố hệ thống phòng ngự vững chắc, nên ta chuyển sang thực hiện phương châm "Đánh chắc, tiến chắc" làm đường cơ động pháo và đào hệ thống chiến hào sát tập đoàn cứ điểm địch.

        Lực lượng địch ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay (quá trình chiến dịch được tăng cường 4 tiểu đoàn và 2 đại đội dù); tổ chức thành 3 phân khu, 8 trung tâm đề kháng, gồm 49 cứ điểm trang bị hoả lực mạnh và có 2 sân bay. Tổng số địch có 11.800 quân, chủ yếu là lính dù và Âu - Phi tinh nhuệ, do đại tá Đờ Cát-xtơ-ri chỉ huy.

        Ngày 13 tháng 3, chiến dịch bắt đầu và trải qua ba đợt. Đợt một (13 - 17 tháng 3) các đơn vị thuộc Đại đoàn 312, Đai đoàn 308 cùng Đại đoàn công - pháo 351 tiến công tiêu diệt các trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập và bức hàng trung tâm Bản Kéo. Trong 5 ngày, hệ thống phòng ngự tiền tiêu của địch trên hướng bắc và đông bắc bị đập tan; lực lượng ta mở thông cánh cửa xuống lòng chảo, áp sát khu trung tâm. Đợt hai (30 tháng 3 - 30 tháng 4), các đơn vị thuộc ba Đại đoàn (316, 308. 312) cùng các lực lượng binh chủng pháo binh, phòng không đánh chiếm các cứ điểm phía đông (các ngọn đồi Cl, E, D, Al); đồng thời xây dựng trận địa bao vây đánh lấn, chia cắt tập đoàn cứ điểm, khống chế và triệt chi viện đường không của địch. Riêng trận đánh đồi Al gặp khó khăn, ta phải tổ chức đánh đến ba lần. Trong một tháng, vòng vây của ta ngày càng siết chặt tập đoàn cứ điểm tạo ra thế trận cho tống công kích. Đợt ba (1-7 tháng 5), các đơn vị thuộc các Đại đoàn 308, 312, 304, 316 cùng các đơn vị binh chủng, đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây (các điểm cao 505, 505A, 511A, 511B, C2, 506, 310). Ngày 7 tháng 5, ta chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc chiến dịch.

        Trong 55 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt và bắt hơn 16.000 tên địch, trong đó bắt sống toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm do tướng Đờ Cát-xtơ-ri cầm đầu (tính theo đơn vị gồm 21 tiểu đoàn, trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh và dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh), bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, bắn hỏng 4 xe tăng; thu 30 trọng pháo, 6 xe tăng, hơn 30.000 chiếc dù, toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng.

        Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất, đánh tiêu diệt lớn nhất điển hình nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là đỉnh cao của chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954. Thắng lợi của chiến dịch cùng với thắng to trên các chiến trường khác đã góp phần quyết định làm phá sản kế hoạch Na-va của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đồng thời có ý nghĩa quyết định thành công của Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp.

---------------
1. Trong quá trình chiến dịch, ta xây dựng thêm một tiểu đoàn ĐKZ 75mm và một tiểu đoàn hỏa tiễn H6.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:09:15 AM

        Tháng 3 - tháng 4

        Các chiến trường đầy mạnh hoạt động phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại Nam Bộ, Tiểu đoàn 302 chủ lực Phân liên khu miền Đông phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia diệt một số vị trí địch, mở rộng vùng giải phóng các tinh phía đông Campuchia (tháng 4), Lực lượng vũ trang các tính phá nhiều đồn bốt, xe quân sự và diệt hàng nghìn tên địch trên các địa bàn. Tại Trung Bộ, lực lượng vũ trang Liên khu 5 tập kích vào Plây Riêng (đông nam Plây Ku) diệt hàng trăm tên địch thuộc binh đoàn cơ động 100 (22 tháng 3). Trung đoàn 96 phục kích ở Thượng An (Plây Ku) diệt một tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động 11 (23 tháng 3); phục kích ờ đèo Măng (gần An Khê); diệt vị trí An Hoà (Thừa Thiên) loại khỏi vòng chiên đấu hai đại đội địch... Tại đồng bằng Bắc Bộ, Đại đoàn 320 và lực lượng vũ trang Liên khu 3 diệt vị trí Nghĩa Lộ (13 tháng 3); đánh bại cuộc càn của địch ở Hạ Bằng, Sơn Tây (25 tháng 3); tập kích Lai Xá, Hà Nam (7 tháng 4) loại khỏi vòng chiến đấu 230 tên thuộc tiểu đoàn lê dương số 3 (3/5 REI); phục kích ở Đông Biên và Lạc Quần (Nam Định) diệt một tiểu đoàn khinh quân địch (18 tháng 4); phục kích trên đường số 5 quãng Văn Lâm - Như Quỳnh (21 tháng 4) diệt tiểu đoàn lê dương số 2 (2/3 REI)...

        15 tháng 5

        Mỹ bố trí cố vấn vào các đơn vị quân ngụy, thay thế Pháp huấn luyện đội quân ngụy. Được Mỹ giúp sức, đến cuối tháng 5, quân đội ngụy phát triền lên 249.517 quân, trong đó có 200.000 là quân chính quy, còn lại là quân phụ lực.

        Tháng 6 - tháng 7

        Các chiến trường đẩy mạnh hoạt động phối hợp với đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Tại Nam Bộ, Đại đội đặc công 205 tập kích kho bom Phú Thọ Hoà (Sài Gòn), thiêu huv gần 10.000 tấn bom và thuốc nổ, 10 triệu lít xăng dầu diệt một đại đội lính Âu-Phi (1 tháng 6). Tiểu đoàn 303 (Thủ Biên) phối hợp với bộ đội địa phương diệt 1 đại đội lính com-măng-đô, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội 65 và Đại đội Lê Hồng Phong (Bến Cát) diệt một đại đội địch tại đồn Bến Tranh. Đại đội 55 và Đại đội Nguyễn An Ninh (Lái Thiêu) diệt một trung đội địch tại đồn Cây Trắc. Đội đặc công Rừng Sác bắn chìm ba tàu chở lính Pháp trên sông Lòng Tàu (tháng 6)... Tại Trung Bộ. lực lượng vũ trang Liên khu 5 đánh bại cuộc càn At-lăng 2 của địch. Trung đoàn 96 phục kích ở ki-lô-mét 15 (tây An Khê) gây thiệt hại nặng cho binh đoàn cơ động số 100 của địch (26 tháng 6). Tại đồng bằng Bắc Bộ, đầu tháng 6, các Đại đoàn 308, 304... từ Điện Biên Phủ hành quân về các vị trí quy định, cùng Đại đoàn 320 và lực lượng vũ trang Liên khu 3 đẩy mạnh tiến công địch. Trung đoàn 42 (Liên khu 3) phục kích trên đường số 5 (Bần- Yên Nhân, Hưng Yên) diệt hơn 300 tên thuộc binh đoàn cơ động số 3. Các trung đoàn 52, 48 (Đại đoàn 320) phối hợp với bộ đội địa phương và du kích hoạt động mạnh ở Nam Định, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Ba tiểu đoàn 400, 353, 375 (Trung đoàn 9, Đại đoàn 304) phối hợp với bộ đội địa phương và du kích hoạt động mạnh ở Ninh Sình, Hà Nam, Hà Đông. Từ ngày 29 tháng 6 đến 3 tháng 7, Pháp mở cuộc hành binh Ô-véc-nhơ (Auvergne) rút toàn bộ quân ở nam đồng bằng Bắc Bộ về bảo vệ Hà Nội; Hải Phòng, đường số 5. Nắm thời cơ, Trung đoàn 52 (Đại đoàn 320) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương truy kích địch ở Bùi Chu, Phát Diệm, Ninh Bình. Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) đánh địch trên các đường 11, 21A, 21B, giải phóng đại bô phận tinh Sơn Tây; phục kích đánh thiệt hại nặng binh đoàn cơ động số 8 đến giải vây cho Vân Trình, Hà Đông (7 tháng 7). Trung đoàn 64 (Đại đoàn 320) hoạt động trên đường 10 (Thái Bình) phục kích diệt một tiểu đoàn quân nguy (30 tháng 6); đánh địch rút chạy, tiếp quản thị xã Thái Bình (1 tháng 7).

        4-27 tháng 7

        Tại Trung Giã (cách thị xã Thái Nguyên 30 km về phía nam), theo quy định của Hội nghị Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn và đoàn đại biểu quân đội liên hiệp Pháp do đại tá Len-nuy-ơ (Lennuyeux) làm trưởng đoàn tiến hành hội nghị quân sự để bàn và quyết định biện pháp thực hiện những vấn đề quân sự mà Hội nghị Giơ-ne-vơ đặt ra. Sau hơn 20 ngày làm việc, hai bên đã thoả thuận các thủ tục và biện pháp về ngừng bắn, trao trả tù binh, chuyển quân tập kết... đồng thời thống nhất tổ chức Ủy ban liên hiệp Đình chiến trung ương và địa phương. Thành phần Ủy ban liên hiệp Đình chiến trung ương về phía ta do đồng chí Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn, phía Pháp do thiếu tướng Đen-tây (từ Pháp sang) làm trưởng đoàn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:15:49 AM

        15-17 tháng 7

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) lần thứ sáu (mở rộng) nêu rõ: "Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương"- "Phương châm, sách lược đấu tranh của ta trong giai đoạn là chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương để củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc"... "Tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình hình mới”.

        21 tháng 7

        Kết thúc Hội nghị Giơ-ne-vơ. hội nghị quốc tế giải quyết vấn đề lập lại hoà bình ỏ Đông Dương. Hội nghị diễn ra từ ngày 8 tháng 5 năm 1954, có các đoàn đại diện Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam dân chủ cộng hoà, Anh, Pháp, Mỹ và đại diện ba chính phủ theo Pháp ở Việt Nam, Lào, Campuchia tham gia.

        Ngày 20 tháng 7, các bên đã thoả thuận được nhiều vấn đề và các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia lần lượt được ký. Hội nghị thông qua bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương (riêng Mỹ không ký vào bản tuyên bố cuối cùng này).

        Hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm 47 điều, trong đó điều 1 quy định về giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng của hai bên Việt Nam và Pháp sẽ tập kết ở bên này và bên kia giới tuyến. Lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp ở phía nam giới tuyến.

        Bản "Tuyên bố cuối cùng" gồm 13 điều, trong đó Điều 6 quy định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam; Điều 7: khẳng định các bên tham gia hội nghị thửa nhận về nguyên tắc sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, việc hiệp thương giữa hai miền bắt đầu từ ngày 20 tháng 7 năm 1955 và việc tổng tuyển cử tiến hành vào tháng 7 năm 1956; Điều 11: Pháp cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thồ của Việt Nam. Lào và Campuchia.

        Hội nghị Giơ-ne-vơ đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng, góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Các nước lớn tham gia hội nghị phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào, Campưchia.

        22 tháng 7

        Vào lúc 0 giờ, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam (Bắc Bộ ngày 27-7, Trung Bộ ngày 1-8, Nam Bộ ngày 11-8). Cục Thông tin liên lạc và các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp đình chiến trung ương và địa phương kịp thời truyền đạt lệnh ngừng bắn đến các địa phương, đơn vị và chiến trường, ở cả ba chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, lệnh ngừng bắn của Bộ Tổng tư lệnh được thi hành nghiêm chỉnh.

        24 tháng 8

        Thành lập Thủy đội sông Lô và Thủy đội Bạch Đằng (tương đương hai hải đội) gồm 26 ca nô bảo vệ bờ biển Bắc Việt Nam tại Trường huấn luyện Bờ biển (Hải Phòng). Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tới dự phát biểu nêu rõ: "Hai thủy đội này là những viên gạch đầu tiên, là tiền thân của lực lượng tàu chiến đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam sau này...".

        5-7 tháng 9

        Bộ Chĩnh trị Trung ương Đảng họp ra nghị quyết về "Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng". Nghị quyết nêu rõ: "Nhiệm vụ trước mắt của quân và dân ta trên hai miền Nam, Bắc là đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”. Trong giai đoạn cách mạng mới Bộ Chính trị xác định: Quân đội nhân dân là trụ cột chủ yếu nhất, chắc chán nhất để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình. Cần phải xây dựng quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chinh quy, tương đối hiện đại.

        7 tháng 9

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 33/NĐA) thành lập Bộ chỉ huy Pháo binh, thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Nhiệm vụ:

        - Chỉ huy các đơn vị trọng pháo, dã pháo và pháo cao xạ của Bộ; chi đạo về huấn luyện, tổ chức trang bị các đơn vị sơn pháo và pháo cao xạ cho các đại đoàn bộ binh.

        - Nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và lãnh đạo việc giáo dục các đơn vị pháo binh.
        - Dự trù, phân phối, bảo quản các vũ khí, khí tài và các phương tiện cần thiết.

        - Nghiên cứu đề đạt ý kiến về tổ chức, biên chế, trang bị và sử dụng các đơn vị pháo binh; bổ nhiệm và đào tạo cán bộ pháo binh.

        Tư lệnh kiêm Chính ủy: Nguyễn Chánh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:22:54 AM

        8 tháng 9

        Mỹ lôi kéo các nước đồng minh thành lập tể chức Hiệp ước Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO). Đây là tổ chức liên minh quân sự gồm Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtơrâylia, Niu Di-lơn, Thái Lan, Pakixtan. Philippin nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á, chủ yếu làm chỗ dựa cho Mỹ xâm lược Việt Nam.

        16 tháng 9

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 30 và 32/NĐA) thành lập Đại đoan 675 và Đại đoàn 349 thuộc Bộ chi huy Pháo binh.

        - Đại đoàn 675 gồm hai trung đoàn (82 và 84) pháo chống tăng. Trung đoàn 84 pháo lựu 105mm. Đại đoàn trưởng: Doãn Tuế. Chính uy: Đoàn Khuê.

        - Đại đoàn 349 pháo lựu 105mm gồm 5 trung đoàn (4, 5, 6, 34, 44), nòng cốt là Trung đoàn 349 Quấn khu Việt Bắc, Tiểu đoàn 460 pháo binh, một số đại đội bộ đội địa phương các tinh đồng bằng sông Hồng và các trung đoàn 34, 39, 52 bộ đội miền Nam tập kết. Đại đoàn trưởng: Phùng Thế Tài. Chính ủy: Lê Đình Thiệp.

        19 tháng 9

        Chủ tịch Hồ Chĩ Minh nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn 308 tại đền Hùng (Phú Thọ) trên đường Đại đoàn về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Bác giao nhiệm vụ: "Các chú phải lo việc tiếp quản Thủ đô ch.0 chu đáo, phải bảo vệ tài sản trong thành phố. Đối với kẻ thù khi nó phá hoại, chống đối ta thì ta ra tay trừng trị. Còn khi nó đã hạ súng quy hàng thì ta phai đối xử với nó nhân đạo...". Tiếp đó, Bác căn dặn "Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

        21 tháng 9

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 34 và 35/ NĐA). thành lập Đại đoàn pháo cao xạ 367 thuộc Bộ chi huy pháo binh và Đại đoàn 350 (sau đổi là Sư đoàn 350) thuộc Bộ Tổng tư lệnh.

        -  Đại đoàn 367, nòng cốt là Trung đoàn pháo cao xạ 367 và một số tiều đoàn súng máy cao xạ của các đại đoàn bộ binh. Biên chế: 3 trung đoàn (361. 685, 689) và một số tiểu đoàn độc lập, trang bị pháo cao xạ 88, 40, 37 và 20mm. Đại đoàn trưởng: Hoàng Kiện. Chĩnh ủy: Đoàn Phụng.

        - Đại đoàn 350 nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực và bộ đội địa phương thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3. Nhiệm vụ: Bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và Thủ đô Hà Nội. Biên chế 3 trung đoàn (600, 254, 53). Tư lệnh kiêm Chính ủy: Hà Kế Tấn.

        10 tháng 10

        Đại đoàn 308, Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) và các lực lượng vủ trang địa phương tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Nhân dân Thu đô phấn khởi chào đón "Bộ đội Cụ Hồ". 15 giờ, Anh hùng quân đội Nguyễn Quốc Trị kéo lá cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ thành Thăng Long. Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Chủ tịch Uy ban Quân chính đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn quân và dân Hà Nội phấn đấu xây dựng "một Thủ đô yên ổn, tươi vui và hạnh phúc".

        15 tháng 11

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 39/NĐA) thành lập Trường Tập huấn Pháo binh (Đội huấn luyện 351) thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh. Nhiệm vụ: Bồi dưỡng kỹ thuật, chiến thuật pháo binh, huấn luyện động tác, yếu lĩnh cơ bản để chuyển binh chủng cho cán bộ pháo binh mặt đất và pháo cao xạ. Giám đốc: Lê Thiết Hùng. Chính ủy; Nguvễn Nam Thẳng.

        17 tháng 11

        Tướng Cô-lin được chính phủ Mỹ cử đến Sài Gòn, làm đại diện đặc biệt của Mỹ bên cạnh chính quyền Sài Gòn đã vạch kế hoạch 6 điểm, trong đó nêu: thành lập quân đội "Quốc gia" cho Diệm (15 vạn) do Mỹ trang bị vũ khí, huấn luyện và chỉ huy. Kế hoạch Cô-lin đánh dấu sự mở đầu hành động xâm lược của Mỹ ở Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới.

        20 tháng 11

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 47/NĐA) thành lập Đại đoàn bộ binh 305 (sau là Sư đoàn 305) thuộc Bộ Tổng tư lệnh, nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực của Liên khu 5 hoạt động trên chiến trường Bắc Tây Nguyên và Trung Trung Bộ vừa tập kết ra Bắc. Sư đoàn trưởng:Nguyễn Đôn.

        2 tháng 12

        Mỹ gây sức ép buộc Pháp ký hiệp định rút quân và chuyển giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị và cải tổ quân đội Sài Gòn cho Mỹ.

        29 tháng 12

        Pháp ký hiệp ước chuyển giao quyền hành chính, quân sự cho Ngô Đình Diệm.

        Tháng 12

        Hội nghị Trung ương Cục quyết định giải thể Trung ương Cục và thành lập cơ quan lãnh đạo mới là Xứ ủy Nam Bộ do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư, theo quyết định của Trung ương Đảng. Hội nghị đề ra nhiệm vụ, phương châm và sách lược của cách mạng miền Nam, công tác tư tưởng và công tác tô chức phù hợp với giai đoạn đấu tranh mới.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:29:46 AM
       
Năm 1955

        1 tháng 1

        Tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Đại đoàn 308 cùng một số đơn vị đại diện cho các chiến trường Tây Bắc, Đông Bắc, Trung Du, đồng bằng, Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Campuchia và đại điện đoàn pháo binh, phòng không tham gia duyệt binh mừng thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thủ đô Hà Nội.

        Nói chuyện với các đơn vị quân đội tham gia duyệt binh, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "... Muốn cho bộ đội ta hùng mạnh và nhất định bộ đội ta phải hùng mạnh, chúng ta phải cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật đế tiến lên chính quy".

        Tháng 1

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 330, nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực ở chiến trường miền Đông Nam Bộ và Trung Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp vừa tập kết ra miền Bắc, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Sư đoàn trưởng: Đồng Văn Cống1.

        13 tháng 1

        Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị (số 221) đổi tên Tổng cục Cung cấp thành Tổng cục Hậu cần. Các tổ chức cung cấp trong toàn quân thống nhất tên gọi là hậu cần.
       
        Tháng 2

        * Tổng Quân ủy xác định kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng (1955 - 1959): Tích cực xây dựng quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh có đủ các binh chung, quân chủng, tiến dần từng bước lên chính quy hoá và hiện đại hoá. Đồng thời, chuẩn bị điều kiện đế sang kế hoạch sau sẽ thực hiện hiện đại hoá lên một trình độ cao hơn.

        * Tống thống Mỹ (Ai-xen-hao) quyết định đưa cố vấn quân sự (đợt đầu tiên) đến miền Nam Việt Nam để thực hiện âm mưu xâm lược của chúng.

        3 tháng 3

        Bộ trưởng Quốc phòng ký quyết định (số 15/QĐA) thành lập Ban nghiên cứu Sân bay, phiên hiệu C47, thuộc Bộ Tổng tham mưu. Nhiệm vụ: Chỉ huy, quản lý các sân bay hiện có, tổ chức chỉ huy các chuyến bay hàng ngày, đồng thời giúp Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu những nội dung về tổ chức xây dựng lực lượng không quân phù hợp với kế hoạch xây dựng quân đội trong giai đoạn mới. Trưởng ban: Trần Quý Hai. Chính ủy: Hoàng Thế Thiện. Ngày 3 tháng 3 hàng năm trở thành ngày truyền thống của bộ đội không quân.

        3-12 tháng 3

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7. Về nhiệm vụ quân sự, Nghị quyết hội nghị nêu rõ: "Xây dựng Quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng trong hoà bình là một công tác chủ yếu đề tăng cường lực lượng. Phương châm xây dựng quân đội là tiến dần từng bước lên chính quy và hiện đại. Việc xây dựng quân đội chính quy hoá và hiện đại hoá là một công việc lâu dài, to lớn, bao gồm các mặt công tác như quân sự và chính trị, cất nhác, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, chấn chỉnh biên chế và tổ chức... đặc biệt là tăng cường công tác chính trị và lãnh đạo của Đảng trong quân đội".

        26 tháng 4

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định (số 1125/QF-TTL) thành lập Trường Huấn luyện bờ biển và xưởng 46 trực thuộc Cục Phòng thủ bờ biển.

        Trường Huấn luyện bờ biển làm nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo cán bộ, thủy binh cho các thủy đội và đài quan sát; củng Bộ nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và hoạt động của Hải quân.

        Xưởng 46 có nhiệm vụ đóng ca nô, sửa chữa tàu thuyền hoạt động trên biển và sông.

        29 tháng 4

        Tổng Quân ủy quyết định thành lập Cục Quân nhu thuộc Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ: Quản lý, bảo đảm lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng cho toàn quân. Biên chế   gồm các phòng: Kế hoạch, Trang dụng cấp dưỡng, Tài vụ và các ban Bi thư, Chính trị, Quản lý kho. Cơ sở của Cục gồm 3 kho ở Thái Nguyên, Thanh Hoá và Gia Lâm (Hà Nội). Cục trưởng: Lương Nhân.

        7 tháng 5

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 284/NĐ) thành lập Cục Phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh. Nhiệm vụ: giúp Tổng tư lệnh chỉ huy bộ đội phòng thu bờ biến, đào tạo cán bộ, nhân viên, thủy thủ và xây dựng các đội phòng thủ bờ biển giao cho các Liên khu. Cục trương: Nguyễn Bá Phát.

        13 tháng 5

        Đại đoàn 320, Trung đoàn 53 và Trung đoàn 42 "Trung Dũng" cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến vào tiếp quan "Khu vực 300 ngày" gồm thành phố Hải Phòng và một số địa bàn của Kiến An.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về ngày Hải Phòng được giải phóng: "Cán bộ và chiến sĩ ta hiên ngang tiến vào tiếp quản... Hôm nay, Hải Phòng đã vươn mình dậy, giải phóng. Khắp phố phường cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ như hoa nở mùa xuân. Hàng vạn đồng bào, già trẻ, gái trai, đu các tầng lớp, tỏa ra hoan nghênh bộ đội...’’.

---------------
1. Tử năm 1955, đại đoàn được gọi là sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 11:39:07 AM

        16 tháng 5

        * Những tên lính cuối cùng của quân đội Pháp rút khỏi đảo Cát Bà. Từ vĩ tuyên 17 trở ra, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Quân và dân miền Bắc đẩy mạnh củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, phát huy vai trò của hậu phương lớn cho cả nước đấu tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

        * Cuộc chuyển quân tập kết sắp xếp lực lượng của ta ở miền Nam đã hoàn thành thẳng lợi. 120.000 bộ đội, cán bộ các ngành cùng 500 tấn súng đạn, 600 tấn máy móc, khi tài và 236 xe ô tô các loại được chuyển từ miền Nam tập kết ra Bắc.

        Tháng 5

        * Thành lập Trường Bổ túc Chính trị trung - cao cấp do đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng làm Hiệu trưởng và Trường Bổ túc quân sự trung cao - cấp do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm Hiệu trưởng, trên cơ sở Trường Quân chính trung cấp trong kháng chiến chống Pháp. Nhiệm vụ: Mở các lớp bổ túc về chính trị và quân sự cho cán bộ trung - cao cấp quân đội nắm vững về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cách mạng và đường lối quân sự của Đảng; những vấn đề chiến lược, chiến dịch, chiến thuật trong chiến tranh hiện đại công tác chi huy, công tác đảng, công tác chính trị và công tác hậu cần - kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

        * Mỹ - Diệm phát động "chiến dịch tố cộng giai đoạn I" trên quy mô rộng lớn toàn miền Nam.

        Tháng 6

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập 4 sư đoàn bộ binh (328, 332, 335 và 324).

        - Sư đoàn 328 và Sư đoàn 332, nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực và bộ đội địa phương Liên khu 3.

        - Sư đoàn 335, nòng cốt là các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam vừa hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Lào và Campuchia trở về nước.

        - Sư đoàn 324 thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 4, nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội chủ lực ờ chiến trường miền Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên vừa tập kết ra Bắc. (các trung đoàn bộ binh 803, 90, 93, Trung đoàn pháo binh14 và các tiểu đoàn binh chủng). Tư lệnh kiêm Chính ủy: Nguyễn Đôn.

        Ngày 1 tháng 7, Sư đoàn 324 làm lễ thành lập tại Tĩnh Gia (Thanh Hoá).

        Giữa năm 1955

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập bộ đội Phòng thu bờ biển, bộ đội Biên phòng, bộ đội Bảo vệ yếu địa. Bộ đội Phòng thu bờ biển gồm: hai trung đoàn (267, 279) và tiểu đoàn 500 (Liên khu 3), hai trung đoàn (244, 713 . Khu ta ngạn), Trung đoàn 248 (khu Đông Bắc).

        - Bộ đội Biên phòng gồm Trung đoàn Tây Bắc có 4 tiểu đoàn (953, 955, 957, 959) hoạt động ở Lai Châu, Sơn La. Nghĩa Lộ. 4 tiểu đoàn (923, 925, 927, 929) hoạt động ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; 28 đồn, trạm làm nhiệm vụ kiểm soát, bảo vệ các cửa khẩu dọc biên giới (phía tây, phía bác) và một số tiểu đoàn địa phương các tinh có chung biên giới với Trung Quốc.

        - Bộ đội Bảo vệ yếu địa gồm 10 tiểu đoàn, 7 đại đội, 15 trung đội địa phương các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu.

        Tháng 7

        Mỹ - Diệm đề ra kế hoạch xây dựng một đội quân chính quy (155.000 người) và đội quân bảo an đoàn (52.000 người).

        13-20 tháng 8

        Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng), đề ra nhiệm vụ: ‘‘Đoàn kết nhân dân toàn quốc đấu tranh để thực hiện thống nhất Việt Nam trên cơ sở độc lập và dân chủ", về nhiệm vụ quân sự, Trung ương Đảng nhấn mạnh: "Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh củng cố quốc phòng trong hoà bình là một trong những công tác chủ yếu để tăng cường lực lượng cách mạng".

        31 tháng 8

        Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thê lễ tuyên dương danh hiệu Anh hùng quân đội lần thứ hai (lần thứ nhất năm 1952). Đại hội tuyên dương 26 cán bộ, chiên sĩ (có 8 liệt sĩ) là Anh hùng quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và chỉ thị: "Các đồng chí càng phải giữ vững lá cờ thi đua..., phải đẩy mạnh thi đua cho rộng khắp... Ngành nào củng phải thi đua tiến mạnh hơn nữa, học tập và đào tạo được nhiều anh hùng, chiến sĩ thi đua hơn nữa".

        Tháng 9

        Bô Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập Tổng cục Quân huấn (Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Chủ nhiệm) và Tổng cục Cán bộ (đồng chí Nguyễn Chánh làm Chủ nhiệm). Nhiệm vụ: Giúp Tống Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời bình.

        3 tháng 11

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra quyết định (số 170/QĐ) thành lập Cục Công binh, gồm ba phòng: Tham mưu. Chính trị, Khí tài. Nhiệm vụ: Lãnh đạo, xây dựng các đơn vị công binh dự bị của Bộ, chỉ đạo xây dựng lực lượng công binh chiến đấu trong toàn quân; nghiên cứu và đề nghị Bộ kế hoạch xây dựng binh chủng lâu dài và từng năm, làm kế hoạch bảo đảm công trình các chiến dịch do Bộ chỉ huy. Cục trưởng: Trần Đình Xu. Chính ủy: Trần Thế Môn.

        26 tháng 12

        Thành lập Trường Công binh (một phân hiệu thuộc Trường sĩ quan Lục quân), nay là Trường sĩ quan chỉ huy - kỹ thuật Công binh. Nhiệm vụ: Đào tạo cán bộ sơ cấp công binh cho toàn quân theo chương trình cơ bản, hệ thống (3 năm).

        Ngày 26 tháng 12 trở thành ngày truyền thống của Trường sĩ quan chi huy - kỹ thuật Công binh.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 05:48:56 PM

Năm 1956

        Tháng 4

        Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam, khai giảng khoá 10 (gồm 4.000 học viên tuyển chọn trong toàn quân), đào tạo sĩ quan theo chương trình cơ bản dài hạn (3 năm). Hiệu trưởng: Lê Trọng Tấn, Chính ủy: Lê Quang Hoà.

        Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng dự lễ khai giảng.

        Bế giảng khoá học (5-4-1958), trường vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Bác căn dặn học viên trước khi trở về đơn vị: "Mạnh dạn áp dụng những điều đã học được, nhưng phải áp dụng một cách thiết thực, thích hợp với hoàn cảnh của ta, chớ giáo điều, chớ máy móc...".

        7 tháng 5

        Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thể lễ tuyên dương danh hiệu Anh hùng quân đội lần thứ ba cho 43 cán bộ, chiến sĩ (có 11 liệt sĩ). Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với các đại biểu: "Trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng hoà bình, cán bộ chiến sĩ phải ra sức học tập chính trị, quân sự và văn hoá, phải thi đua làm tròn nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bảo vệ bờ biển, bảo vệ thành thị và giữ gìn trật tự an ninh cho nhân dân... Phải ra sức tham gia và giúp đỡ nhân dân thực hiện kế hoạch Nhà nước..,".

        28 tháng 5

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra chỉ thị (số 880/06) thành lập Bộ tư lệnh Pháo binh trên cơ sở Bộ chỉ huy pháo binh. Nhiệm vụ: Giúp Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy, huấn luyện và xây dựng các đơn vị pháo mặt đất và pháo cao xạ dã chiến trực thuộc Bộ và chi đạo các quân khu, sư đoàn bộ binh trực thuộc về mặt huấn luyện và sử dụng pháo binh trong biên chế (gồm cả pháo bờ biển). Tư lệnh: Lê Thiết Hùng- Chính ủy: Phạm Ngọc Mậu.

        Tháng 6

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định (số 37/QĐ) thành lập Trường Lý luận Chinh trị (trên cơ sờ Trường Chinh trị trung cấp quân đội trong chống Pháp) thuộc Tổng cục Chính trị. Nhiệm vụ: bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng cho cán bộ trung, cao cấp trong quân đội. Giám đốc: Nguyễn Chí Thanh. Phó giám đốc: Nguyễn Xuân Hoàng.

        Ngày 15 tháng 6, trường tổ chức lễ khai giang cho 95 học viên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng tới dự.

        8-9 tháng 6

        Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết (số 64/N) về "Tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam" vạch rõ: Chế độ miền Nam là một chế độ độc tài, phát xít của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ phản động nhất... miền Nam đang trở thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ. Do đó, tính chất của cách mạng của ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ. Nhiệm vụ cách mạng miền Nam là phản đế và phan phong kiến. Cuộc đấu tranh đó nhất định lâu dài, gian khổ, phức tạp... Củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có, xây dựng căn cứ làm chỗ dựa. đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang. Tổ chức tự vệ trong quần chúng, nhầm bảo vệ các cuộc đấu tranh cùa quần chúng và giai thoát cán bộ khi cần thiết.

        18 tháng 8

        Bộ Chính trị chi thị cho Xứ ủy Nam Bộ: "... Cần tổ chức ra những đội tự vệ ở các thôn, xả, nhà máy, đường phố trường học. Nhiệm vụ của những đội tự vệ này là giữ gìn trật tự và bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng; thông tin, báo hiệu, canh gác các cuộc hội nghị của cán bộ và giải thoát cán bộ khi cần thiết... Các đội viên phải là thanh niên lao động hoặc đảng viên, tổ chức thành từng tổ và đội, có đội trường, đội phó".

        20 tháng 8

        Thủ tướng Chính phủ ra nghị định (số 1012/TTg) thành lập Ban Thanh tra quân đội thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh. Nhiệm vụ: Soạn thảo các văn bản pháp quy về thanh tra quân đội, tham gia soạn thao pháp lệnh thanh tra Nhà nước và pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân... góp phần xây dựng, nấng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, cung cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

        23 tháng 8

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 030/NĐA) thành lập Cục Nông binh (sau đổi thành Cục Nông trường) thuộc Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ: Quan lý tổ chức lực lượng xây dựng các nông trường quân đội- Cục trưởng: Lê Nam Tháng. Cục phó: Võ Bẩm. Chính ưy: Kim Ngọc.

        Tháng 8   

        Đồng chí Lê Duẩn soạn thảo "Đề cương cách mạng miền Nam" đề ra nhiệm vụ của nhân dân miền Nam là: Trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm tay sai Mỹ giài phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính dân tộc, dân chủ, để cùng với miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất. Bản đề cương khẳng định: "Nhân dân ta ở miền Nam chi có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu lấy mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác".

        11 tháng 12

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 70/NĐ) thành lập Sư đoàn bộ binh 338, nòng cốt là một số trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực ở chiến trường Tây Nam Bộ vừa tập kết ra Bắc (bốn trung đoàn bộ binh 656, 658, 660, 664, một số tiểu đoàn pháo binh). Sư đoàn trưởng: Nguvễn Văn Quạn. Chính ủy: Tô Ký.

        Cuối năm 1956

        Toàn quân căn bản hoàn thành chấn chỉnh tổ chức biên chế và trang bị. Từ chỗ đơn thuần là bộ binh, hoạt động phân tán trên các chiến trường, quân đội ta đã tập trung xây dựng thành 14 sư đoàn (308, 312, 316, 320, 325, 350, 304. 305, 330. 328, 332, 324. 335, 338), 5 trưng đoàn bộ binh độc lập, 4 sư đoàn pháo binh và các trung đoàn, tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải với biên chế và trang bị tương đối thống nhất, đáp ứng yêu cầu quản lý, chi huy và sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 05:59:43 PM

Năm 1957

        18 tháng 2

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 32/NĐA) thành lập Trường sĩ quan Pháo binh, trên cơ sở phân khoa pháo binh thuộc Trường sĩ quan Lục quân. Nhiệm vụ: Đào tạo, bổ túc cán bộ sơ cấp và trung cấp pháo binh (gồm pháo mặt đất và cao xạ, cán bộ quân sự và chính trị). Hiệu trưởng: Thiếu tướng Lê Thiết Hùng.

        Tháng 3

        Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đang (khoá II) ra nghị quyết về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, nêu rõ: Trước những âm mưu gây chiến của chủ nghía đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và bọn tay sai... Chúng ta phải tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đó là một trong những nhiệm vụ chủ yếu hiện nay của toàn Đảng và toàn dân ta. Nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới là: "Bảo vệ công cuộc củng cố và xây dựng miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội; bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ và tay sai".

        Phương châm xây dựng quân đội: "Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chinh quy và hiện đại hoá và không những có một lực lượng thường trực mạnh mà lại phải có một lực lượng hậu bị mạnh".

        Cuối tháng 5

        Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 được tăng cường một số phân đội binh chủng diễn tập trung đoàn tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị. Chú tịch Hồ Chí Minh ra thao trường theo dõi bộ đội diễn tập và chi thị: Tác chiến của bộ đội chủ lực phải phối hợp chặt chẽ với chiến tranh du kích của toàn dân, cần rút kinh nghiệm và phát huy truyền thống tốt đẹp của Sư đoàn trong kháng chiến chống Pháp vào nhiệm vụ huấn luyện, xây dựng đơn vị hiện nay.

        3 tháng 6

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 017/SL) thành lập 6 quân khu: Quân khu Việt Bẳc, Quân khu Đông Bắc, Quân khu Tây Bắc, Quân khu Hữu Ngạn, Quân khu Tả Ngạn và Quân khu 4. Nhiệm vụ: Chi đạo mọi công việc chuẩn bị tác chiến (gồm cả xây dựng công sự quốc phòng), huấn luyện bộ đội, duy trì trật tự an ninh ờ địa phương thời bình; chỉ đạo chí huy các lực lượng vũ trang quân khu tác chiến thời chiến.

        - Quân khu Việt Bắc hình thành trên cơ sở giải thể Liên khu Việt Bác, gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái. Tư lệnh: Lê Quảng Ba. Chính ủy: Chu Văn Tấn.

        - Quân khu Đông Bắc hình thành từ Khu Đông Bắc thuộc Liên khu Việt Bác, gồm hai tinh: Lạng Sơn, Hải Ninh. Tư lệnh: Đàm Quang Trung. Chinh uy: Phạm Ngọc Hồ.

        - Quân khu Tây Bắc ở Tây Bắc miền Bắc Việt Nam, hình thành trên cơ sở giải thể Liên khu Việt Bắc; gồm hai tinh: Lai Châu, Sơn La. Tư lệnh: Bâng Giang. Chính ủy: Nhất.
        - Quân khu Hữu Ngạn ở hữu ngạn sông Hồng (Bắc Viêt Nam); gồm các tinh Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Hoà Bình và Thanh Hoá. Tư lệnh: Vương Thừa Vũ Chính ủy: Trần Độ.

        - Quân khu Tả Ngạn ở tả ngạn sông Hồng; gồm các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Yên và Hà Bắc. Tư lệnh: Hoàng Sâm. Chính ủy: Nguyễn Quyết.
        - Quân khu 4 ở Bắc Trung Bộ hình thành trên cơ sờ Liên khu 4 từ giới tuyến quân sự tạm thời (sông Bến Hải) trở ra Bắc; gồm khu Vĩnh Linh, các tinh Quảng Bình, Hà Tĩnh; Nghệ An. Tư lệnh: Nguyễn Đôn. Chính ủy: Chu Huy Mân.

        17 tháng 10

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra nghị định (số 319/NĐA) thành lập Trung đoàn thông tin 303 thuộc Cục Thông tin liên lạc. Biên chế: Tiểu đoàn 132 dây trần, Tiểu đoàn 333 hữu tuyến điện, Đại đội 7 vô tuyến điện, đội thông tin vận động và cơ quan trung đoàn. Ngày 23 tháng 10 năm 1958 đổi phiên hiệu là Trung đoàn 205 gồm ba tiểu đoàn (Tiểu đoàn 1 vô tuyến điện, Tiểu đoàn 2 hữu tuyến điện, Tiêu đoàn 132 xây dựng đường dây trần) và cơ quan. Trung đoàn trưởng: Trung tá Hồ Xuân Anh. Chĩnh ủy: Thiêu tá Lê Tự Lập.

        Tháng 10

        * Thành lập 6 đại đội (50, 60, 70, 80, 200, 300 - Đông Nam Bộ) và 3 đại đội (Tây Nam Bộ). Một số tỉnh thành lập đơn vị vũ trang tập trung như Đại đội 250 Biên Hoà, Đại đội 40 tinh Bà Rịa. Đại đội Thủ Dầu Một. Các tỉnh Cà Mau, Rạch Giá, Kiến Phong, Kiến Tường, Long An, An Giang xây dưng một  số đội mang danh nghĩa lực lượng vũ trang giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo: Tiểu đoàn Ngô Văn sở, Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng. Tiểu đoàn U Minh, Tiểu đoàn 502, Tiểu đoàn 504, Tiếu đoàn 506, Tiểu đoàn 512.

        Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Trường Quân y sĩ (thành lập năm 1949) thảnh Trường sĩ quan Quân y, thuộc Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ: Đào tạo y sĩ cao cấp phối hợp với Bộ Y tế đào tạo dược sĩ cao cấp, chuẩn bị đào tạo cán bộ quân y bậc đại học. Hiệu trưởng: Giáo sư Đỗ Xuân Hợp.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 06:08:38 PM

1958

        21 tháng 3

        * Bộ Quốc phòng quyết định thống nhất tổ chức, biên chế, trang bị của các đơn vị trong lục quân (bộ binh, phòng không, pháo binh, công binh, thông tin, thiết giáp, vận tải, phòng hoá học) và những đơn vị đầu tiên của không quân, hải quân.

        * Bộ Quốc phòng ra nghị định (số 047/NĐ) thành lập Bộ tư lệnh Phòng không, trên cơ sở tách Sư đoàn pháo cao xạ 367 khỏi Bộ tư lệnh Pháo binh. Nhiệm vụ: Bảo vệ yếu địa. Lực lượng trực thuộc Bộ tư lệnh Phòng không gồm 6 trung đoàn pháo cao xạ: 210. 230, 220, 240, 250, 280. Tiểu đoàn thông tin 56 và Trường Huấn luyện. Tư lệnh: Hoàng Kiện, Chính ủy: Đoàn Phụng.

        Tháng 3

        Bộ Quốc phòng quyết định chuyển các sư đoàn bộ binh 316, 335, 305, 338 thành lử đoàn. Số quân ngoài biên chế được tổ chức thành trung đoàn, tiểu đoàn tham gia xây dựng các khu công nghiệp (Việt Trì, Thái Nguyên); xây dựng 35 nông trường (ở Điện Biên, Mộc Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây, Hoà Bình, Phát Diệm, miền tây các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) và xây dựng các tuyến đường giao thông chiến lược ở Tây Bắc.

        19 tháng 4

        * Bộ Quốc phòng ra nghị định (số 098) thành lập Phòng Hoá học, trực thuộc Cục Huấn luyện chiến đấu (Tổng cục Quân huấn). Nhiệm vụ: Giúp Tổng cục Quân huấn chỉ đạo phòng chống chiến tranh hoá học, nguyên tử và xây dựng một số cơ quan, đơn vị hoá học. Ngày 19 tháng 4 trở thành ngày truyền thống của bộ đội Hoá học.

        * Bộ Tổng tham mưu quyết định (số 214/BMG) thành lập Tiểu đoàn 6 phòng hoá đầu tiên của quân đội ta (sau đổi thành Tiểu đoản 901) và hai đại đội phòng hoá thuộc hai Sư đoàn bộ binh (308, 320).

        Tháng 5

        Liên khu ủy Khu 5 ra nghị quyết về xây dựng căn cứ địa cách mạng và bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang: "Củng cố lực lượng vũ trang và nửa vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ địa làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sờ quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang. Tổ chức tự vệ trong quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết".

        Thực hiện nghị quyết cua Liên khu ủy, trên địa bàn Khu 5 bắt đầu hình thành các tố chức lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ hỗ trợ đấu tranh chính trị và vũ trang tự vệ dưới sự lánh đạo của Đảng.

        Tháng 6

        Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập Bộ Tư lệnh miền Đông Nam Bộ (sau đổi là Ban Quân sự Miền). Lực lượng trực thuộc: 3 đại đội bộ binh (250, 9, 59) và đại đội đặc công 50 Riêng tinh Tây Ninh (là căn cứ của Xứ ủy) tổ chức một liên đội phiên hiệu C.100. về xây dựng căn cứ địa, Xứ ủy quyết định xây dựng một căn cứ ớ Tây Bắc Sài Gòn (khu B) thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; một căn cứ ở Đồng Bắc Sài Gòn (khu A), từ Mã Đà đến Bù Chấp, tinh Thủ Dầu Một.

        Việc thành lập lực lượng vũ trang và Bộ tư lệnh Miền Đông Nam Bộ đánh dấu sự lớn mạnh của cách mạng, chuẩn bị điều kiện để phát triển lực lượng và đẩy mạnh đấu tranh vũ trang những năm sau này.

        3 tháng 8

        Thành lập Trường Hàng không (còn gọi là Câu lạc bộ Hàng Không) tiền thân của Trường sĩ quan chi huy - kỷ thuật Không quân ngày nay.

        22-27 tháng 8

        Hội nghị xây dựng lực lượng hậu bị trên miền Bắc quyết định cùng với việc tuyển quân theo chế độ nghĩa vụ quân sự sẽ thực hiện đăng ký, quản lý cán bộ. chiến sĩ phục viên, chuyển ngành dưới 45 tuổi, thanh niên từ 18 đến 25 tuổi và nhân viên kỹ thuật trong các cơ quan Nhà nước, có đủ sức khoẻ và điều kiện vào diện dự bị; tổ chức huấn luyện quân sự từ 10 đến 15 ngày trong một năm cho lực lượng dự bị và học sinh các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, đẩy mạnh phong trào thê dục thể thao quốc phòng trong toàn dân.

        Tháng 8

        Trung đoàn 4 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không được tồ chức thành Trung đoàn tình báo phòng không 260 gồm 6 đai đội (phiên hiệu từ 1 đến 6, trang bị ra đa P-8) và 3 đại đôi quan sát mắt (phiên hiệu từ 7 đến 9). Trung đoàn trưởng Lương Hữu Sắt. Chính ủy: Lê Đình Truy. Đây là trung đoàn tình báo phòng không (ra đa) đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        11 tháng 10

        Hai đại đội bộ binh (80, 90) và đại đội đặc công 50, do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban Quân sự Miền chỉ huy, tiến công hai tiểu đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 3 nguy ở quận ly Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một). Sau 30 phút chiến đấu, bộ đội ta làm chủ trận địa, diệt gần 200 tên, bắt 30 tên, thu hơn 200 súng các loại; tiếp đó đánh bại 1 tiểu đoàn ứng cứu. Quân địch đóng ở 20 đồn bốt xung quanh Dầu Tiếng hoảng sợ. rút chạy. Đây là một trong những trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang ta ở miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

        19 tháng 11
   
        Bộ Chính trị ra nghị quyết (số 58/NQ-TW) về "Xây dựng lực lượng cảnh vệ nội địa và biên cương" (sau đổi tên là lực lượng Công an nhân dân vũ trang). Nhiệm vụ: Trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và ngoài nước xâm nhập, phá hoại nước ta; luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bao vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa; bảo vệ an toàn các cơ sở kinh tế. văn hoá quan trọng.

        Cuối tháng 11

        Tổng Quân ủy phát động phong trào thi đua "Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng quân đội" trong toàn quân.

        20 tháng 12

        Căn cứ vào nghị quyết được Quốc hội thông qua (4-1958), Chủ tịch Hồ Chĩ Minh ra sắc lệnh (số 109/SL-LK) về chế độ phục vụ của sĩ quan, chế độ quân hàm, quân hiệu, chế độ tiền lương và chế độ khen thưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Cuối năm 1958

        Các đơn vị quân đội tổ chức diễn tập chiến đấu: Hai sư đoàn bộ binh (324, 325) diễn tập sư đoàn chiến đấu phòng ngự ờ Quân khu 4. Sư đoàn bộ binh 320 diễn tập đánh địch đổ bộ đường biển trên địa hình đồng bằng có ruộng nước ở hữu ngạn sông Hồng, Lữ đoàn bộ binh 335 diễn tập đánh địch đổ bộ đường không trên địa hình rừng núi Tây Bắc.

        Trong năm 1958, toàn quân tổ chức 48 cuộc diễn tập cơ quan tham mưu hai cấp (sư đoàn, trung đoàn). Đây là bước trưởng thành mới về trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 06:12:59 PM

Năm 1959

        13-21 tháng 1

        Hội nghị lần thứ l6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xác định đường lối cách mạng miền Nam, phương hướng xây dựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang ở miền Nam. Trung ương nêu rõ: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đế đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân"

        Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam phát triển từ thế giữ gìn lực lượng lên thế tiến công, đáp ứng kịp thời yêu cầu cùa cách mạng, tạo bước nhay vọt, mà đỉnh cao là phong trào Đồng khởi năm 1960.

        6 tháng 2

        Nhân dân ba làng Tà Lốc, Tà Léc, Hà Ri cùng tám làng khác thuộc hai xã Vĩnh Hiệp, Vĩnh Hảo (Bình Định) nổi dậy chống địch dồn dân, rời làng vào rừng sâu tổ chức chiến đấu, thành lập các đội tự vệ, trang bị bằng cung, nỏ, sẵn sàng đánh địch càn quét.

        7 tháng 2

        Xây dựng căn cứ Bác Ái. Nhân lúc bọn bảo an chốt giữ khu tập trung Bơrâu thuộc huyện Bác Ái (Ninh Thuận) về nhà ăn tết, cán bộ và đang viên "nằm vùng" đã vận động 5.000 đồng bào ở đây nổi dậy phá khu tập trung của địch, bung về núi; tổ chức các tổ, đội thanh niên bảo vệ gấp rút xây dựng căn cứ.

        Cuối tháng 2

        * Sư đoàn 338 bộ đội miền Nam tập kết và một số trung đoàn bộ binh trên miền Bắc chuyển thành các đoàn huấn luyện, chuẩn bị đưa bộ đội vào chiến trường miền Nam.

        * Một số sư đoàn, lử đoàn bộ binh của Bộ và trực thuộc Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc chuyển sang biên chế thời chiến, sẵn sàng cơ động chiến đấu.

        1 tháng 3

        Các đài ra đa thuộc Trung đoàn 260 bố trĩ ờ Điện Biên (Lai Châu), Đồ Sơn (Hải Phòng), Trùng Quang (Nam Định), Quảng Xương (Thanh Hoá), Điền Lư (nam Quân khu 4) chính thức phát sóng trên toàn mạng, cảnh giới bầu trời Tổ quốc. Ngày 1 tháng 3 trở thành ngày truyền thống của bộ đội Ra đa.

        Tháng 3

        * Sư đoàn bộ binh 324 và Lữ đoàn 305 diễn tập hành quân cơ động xe - pháo trên địa hình rừng núi, đồng bằng; phối hợp bộ binh với đặc công, bộ binh với pháo binh tiêu diệt các cứ điếm kiên cố của "địch". Một số phân đội thuộc Lữ đoàn 305 huấn huyện bộ đội nhảy dù.

        * Sư đoàn bộ binh 330 huấn luyện chiến đấu trên địa hình đồng bằng có nhiều làng mạc, sông ngòi, đồng nước và diễn tập tiến công quân địch đang vận động hoặc lâm thời chuyển sang phòng ngự.

        * Lử đoàn bộ binh 335 nghiên cứu huấn luyện chiến đấu tiến công và phòng ngự trên địa hình rừng núi.

        Các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn cơ động của Bộ đầy mạnh nghiên cứu huấn luyện sẵn sàng nhận nhiệm vụ vào miền Nam chiến đấu khi có lệnh.

        30 tháng 3

        Bộ Tổng tham mưu quyết định thành lập Trường sĩ quan Công binh (trên cơ sở Phân khoa Công binh của Trường sĩ quan Lục quân). Nhiệm vụ: đào tạo sĩ quan chi huy phân đội công binh (gồm các chuyên ngành công binh công trình công binh cầu phà, xe máy công binh) cho các đơn vị công binh toàn quân (ngày 20-10-1964 chuyển thành Phân khoa Công binh thuộc Trường sĩ quan Lục quân).

        1 tháng 5

        Bộ Quốc phòng ra nghị định (429/NĐ) thành lập Trung đoàn không quân vận tải 919, thuộc Cục Không quân. Biên chế 2 đại đội: Đại đội bay (gồm 3 trung đội IL-14, LI-2 AN-2) và đại đội máy. Đây là trung đoàn không quân vận tải đầu tiên của quân đội ta.

        19 tháng 5

        Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 559 - tổ chức hoạt động chi viện miền Nam, lúc đầu lấy tên là "Đoàn Công tác quân sự đặc biệt", có nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng quân sự, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ vào Nam và từ Nam ra Bắc. Thượng tá Võ Bẩm làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy.

        Ngày 1 tháng 6, Tiều đoàn vận tải bộ 301 được thành lập trực thuộc "Đoàn Công tác quân sự đặc biệt"; đại úy Chu Đăng Chữ - tiểu đoàn trường; đại úy Nguyễn Danh (tức Minh Chính) - chính trị viên.

        Tháng 7 năm 1959, Bộ Quốc phòng tổ chức Tiểu đoàn vận tải biển 603 có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam.

        Ngày 12 tháng 9 năm 1.959, Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 446/QĐ) hợp thức việc thành lập "Đoàn Công tác quân sự đặc biệt" lấy tên là Đoàn 559 (tên gọi thời điểm thành lập) và quy định lại nhiệm vụ cua đoàn: Tổ chức mở đường giao thông quân sự vào miền Nam dọc theo dãy Trường vân chuyến hàng quân sự cho miền Nam; đưa đón cán bộ, bộ đội hành quân vào chiến trường.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 06:16:43 PM

        7 tháng 7

        Tổ biệt động gồm 6 chiến sĩ của Đại đội 250 cùng một tổ tự vệ của Ba Lễ do Năm Hoa chi huy được cơ sở quần chúng hỗ trợ bí mật tập kích vào câu lạc bộ sĩ quan Mỹ ờ Nhà Xanh (Biên Hoà). Với cách đánh nhanh, các chiến sĩ biệt động diệt và làm bị thương một số cố vấn Mỹ.

        28 tháng 8

        * Nhân dân các dân tộc huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) được đơn vị 339 của tỉnh hỗ trợ nổi dậy diệt ác, phá kìm ở 16 xã, bức rút 7 đồn, diệt 161 tên, trừng trị 61 tên tề ngụy ác ôn. lập chính quyền cách mạng ở một số thôn, xã, vùng rừng núi, xoá bỏ tề ở 6 xã vùng thấp. Đến ngày 1 tháng 9 năm 1959, nhân dân làm chủ toàn huyện Trà Bồng (trừ quận lỵ).

        * Nhân dân miền tây Quàng Ngãi cùng nổi dậy lật đổ ngụy quyền ở thôn, xã và bao vây uy hiếp đồn bốt địch. Chi trong một tuần, toàn bộ vùng cao huyện Sơn Hà và 20 xã thuộc các huyện Ba Tơ, Minh Long do nhân dân làm chủ.

        Thắng lợi của khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quang Ngãi mở đầu thời kỳ phong trào cách mạng ở Khu 5 chuyển sang thế tiến công, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng trên toàn miền Nam.

        12 tháng 9

        Bộ Quốc, phòng quyết định (số 446/QĐ) thành lập Đoàn 959 thuộc Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ: Làm chuyên gia về quân sự cho Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào, tổ chức chi viện vật chất từ Việt Nam sang Lào và trực tiếp chi huy các đơn vị bộ tình nguyện Việt Nam hoạt động trên chiến trường nước bạn.

        26 tháng 9

        Tiều đoàn 502 tỉnh Kiến Phong (gồm 100 cán bộ, chiến sĩ) phục kích trung đoàn 42 nguy ở giồng Thị Đam và gò Quần Cung (xã Tân Hội Cơ, huyện Hồng Ngự) đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn, bắt 105 tên (có ban chỉ huy), thu 48 tàu xuồng, 11 máy vô tuyến điện, 365 súng các loại và 30.000 viên đạn. Vũ khí chiến lợi phẩm được trang bị cho 23 đội vũ trang công tác ở các huyện Hồng Ngự, Cao Lãnh (Kiến Tường).

        Chiến thắng giồng Thị Đam và gò Quản Cung có tiếng vang lớn ở Nam Bộ, cổ vũ nhân dân các địa phương đồng khởi.

        30 tháng 9

        Bộ trưởng Quốc phòng ra nghị định (số 429/NĐ) thành lập Trường Không quân Việt Nam, phiên hiệu Trung đoàn không quân 910. Nhiệm vụ: Đào tạo phi công, nhân viên dẫn đường, thông tin và cơ giới trên không.

        5 tháng 10

        Bộ trưởng Quốc phòng ra nghị định (số 449/NĐ) thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên, phiên hiệu Trung đoàn xe tăng 202 thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh. Biên chế: 3 tiểu đoàn xe tăng chiến đấu (1, 2, 3), 1 đại đội sửa chữa. 1 đại đội công binh, 1 đại đội huấn luyện, 1 đại đội vệ binh, 1 đại đội thông tin và 4 cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần. kỷ thuật). Ngày 5 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của bộ đội Tăng thiết giáp.

        22 tháng 12

        Khánh thanh Bảo tàng Quân đội tại Hà Nội. Đây là trung tâm lưu giữ, trưng bày hình ảnh, hiện vật lịch sử của quân đội và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 06:20:21 PM

Năm 1960

        Đầu tháng 1

        * Hội nghị cán bộ quân sự miền Đông Nam Bộ bàn nhiệm vụ xây dựng và đẩy mạnh hoạt động cua lực lượng vũ trang năm 1960, hỗ trợ nhân dấn nổi dậy, giành quyền làm chủ ở vùng, nông thôn, lấy vũ khí địch trang bị cho các đơn vị cùa ta. Phương án đánh Tua Hai được Xứ ủy Nam Bộ phê chuẩn.

        * Thành lập khu Sài Gòn - Gia Định; gồm Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Lực lượng vũ trang tập trung có đơn vị C.13, gồm 3 tiểu đội hoạt động ở củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp. Bí thư khu uy: Võ Văn Kiệt.

        17 tháng 1

        Nhân dân các huyện Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phú, Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương nhất loạt nỗi dậy phá vỡ hoặc làm tê liệt chính quyền ấp, xã của địch, thành lập ủy ban nhân dân tự quản, tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ gian ác chia cho nông dân nghèo, tố chức và phát triển lực- lượng vũ trang chống lại các cuộc phản kích của địch, giữ vững quyền làm chủ của nhân dân.

        Sau đó, phong trào Đồng khởi nhanh chóng lan ra nhiều tinh ở Nam Bộ, Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng Liên khu 5.

        Phong trào Đồng khởi đã chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, liên tục, hình thành một cao trào cách mạng khởi nghĩa và vũ trang của quần chúng, phá ách kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ ở vùng nông thôn rộng lớn miền Nam.

        26 tháng 1

        • Trận tập kích Tua Hai, căn cứ trung đoàn 32 sư đoàn 21 ngụy cách thị xã Tây Ninh 7 km về phía bắc. Lực lượng tham gia trận đánh có các đại đội bộ binh 59, 70, 80, Đại đội đặc công 60 (chủ lực Miền) và ba tiểu đội vũ trang tỉnh Tây Ninh, do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban quân sự Miền chỉ huy. Sau 20 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 500 tên địch, thu 1.500 súng các loại.

        Trận Tua Hai là một trong những trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, mở đầu thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang ở miền Đông Nam Bộ, góp phần cổ vũ nhân dân toàn Miền đứng lên Đồng khởi.

        28 tháng 4

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sác lệnh (số 11/SL) ban hành Luật nghĩa vụ quân sự. Luật nghĩa vụ quân sự được ban hành và thực hiện góp phần quan trọng vào công tác động viên tuyển quân, xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường miên Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Tháng 5

        Thành lập Ban Quân sự trực thuộc Khu ủy Khu 5. Lực lương trang của khu có 12 đại đội đặc công và 2 đại đội bộ binh. Riêng tinh Quang Nam có 1 đại đội đặc công, 1 đại đôi quân báo, 6 khung đại đội, Quảng Ngãi có 3 đại đội. Các tỉnh khác đều có 1 đại đội. Trưởng ban: Võ Chí Công.

        17-21 tháng 7

        Đại hội Đảng toàn quân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Đại hội: Phải đoàn kết, nâng cao tinh thần cảnh giác., phải cố gắng thi đua, phải chịu khó lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, phải giữ kỷ luật cho nghiêm túc để xứng đáng là một quân đội cách mạng.

        Tháng 7

        Thành lập Bộ chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông (Quân khu miền Đông) và Khu ủy miền Đông Nam Bộ. Sở chi huy Quân khu đóng ở Suối Linh (Chiến khu Đ). Chi huy trưởng: Nguyễn Hữu Xuyến. Chi huy phó: Lâm Quốc Đăng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 06:24:25 PM

        1 tháng 8

        Đội "2-9" (đơn vị vũ trang đầu tiên của tính Bình Thuận, thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1959) tiến công khu dinh điền Bắc Ruộng (Hoài Đức, Bình Thuận). Lực lượng địch có một đại đội bảo an, 80 dân vệ, 189 thanh niên cộng hoà và 1 số trinh sát (lực lượng vũ trang ở cơ sở của ngụy quyền). Chi sau 14 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt khoàng 300 tên, thu nhiều vũ khí, giải phóng 40 tù chinh trị và hơn 4.000 dân. Phối hợp với tiên công quân sự, nhân dân trong khu dinh điền nổi dậv, phá đồn bốt địch, trở về quê cũ.

        5-10 tháng 9

        Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra đường lối. xác định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: "Đẩy mạnh cách mạng xả hội chủ nghĩa ờ miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ờ miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Đại hội đề ra nhiệm vụ quân sự là bảo vệ miền Bác, giải phóng miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế. Đại hội Đang lần thứ III đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.

        26 tháng 9

        Lực lượng vũ trang Pa-thét Lào với sự phối hợp của bộ đội tình nguyện Việt Nam đã giải phóng thị xã Sầm Nưa và hầu hết tỉnh Sầm Nưa. Với việc giải phóng Sầm Nưa, cách mạng Lào có được một khu căn cứ rộng lớn, tạo điều kiện phát triến cả về ba phía bắc, nam và tây, nối liền với miền Bắc Việt Nam ở phía đông; là một thuận lợi lớn để tổ chức lãnh đạo cách mạng cả nước Lào đến ngày toàn thắng.

        Tháng 9

        Lực lượng vú trang ba thứ quân ở miền Nam (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tinh, huyện và dân quân tự vệ ở xã, ấp) phát triển mạnh trong cao trào Đồng khởi.

        Bộ đội tập trung có Tiếu đoàn 500 (gồm 997 người) thuộc liên tinh miền Đông Nam Bộ, Tiểu đoàn 261 (gồm 266 người) thuộc liên tinh miền Trung Nam Bộ, Tiểu đoàn 306 (gồm 771 người) thuộc liên tinh miền Tây Nam Bộ. Liên khu 5 có 2 đại đội bộ binh và 12 đội đặc công (khoảng 1.000 người). Đây là những đơn vị chủ lực được chọn từ các đơn vị vũ trang tập trung tinh, huyện, phần lớn đã trải qua kháng chiến chống Pháp và trường thành trong cao trào Đồng khởi.

        Ở Nam Bộ, bộ đội địa phương có 17 đại đội tinh và 70 trung đội huyện (khoảng 7.000 người). Ở Liên khu 5, lực lượng tự vệ du kích các xã miền núi có khoảng 3.000 người. Đây là lực lượng vũ trang rộng rãi ở cơ sở, làm nhiệm vụ hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, bảo vệ chính quyền cách mạng ở xã, ấp. phối hợp với bộ đội tập trung trong chiến đấu.

        12 tháng 10

        Thành lập Cục Nghiên cứu Kỷ thuật thuộc Bộ Quốc phòng (quyết định số 470/QĐ của Bộ Quốc phòng). Nhiệm vụ: Nghiên cứu kỹ thuật, giúp Bộ chi đạo công tác nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật, phổ biến khoa học kỹ thuật quân sự, chi đạo công tác nghiên cứu kỹ thuật toàn quân. Cục trường: Trần Sâm. Cục phó: Hoàng Đình Phu.

        20-27 tháng 10

        Quân và dân Đắc Tả (Tây Nguyên) đồng loạt tiến công vào các đồn Đẳc Rú, Đắc Lay, Đác Tả, Đắc Bun, diệt và bắt 300 tên địch, thu 50 súng. Ở phía đông Kon Tum, ta tiến công diệt đồn Măng Bút, Măng Đen và đánh địch trên đường số 5, phá hủy 7 xe. Nhân dân Gia Lai tiến công tiêu diệt đồn Ka Nak (gần An Khê) và đồn Lê Thanh (Gia Lai); ớ Đắc Lắc bộ đội ta diệt đồn Plây Lốc và Ea Nú, hỗ trợ đồng bào Buôn Ma Thuột nổi dậy, phá tan hàng loạt ấp chiến lược, giải phóng 538.000 dân bị địch giam giữ.

        Cùng với Đồng khởi ờ Nam Bộ, miền tây các tinh đồng bằng Khu 5, phong trào đấu tranh cùa nhân dân các dân tộc Nguyên đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở cua địch, đánh dấu cách mang miền Nam bước sang thời kỳ mới.

        Tháng 10

        Thành lập Ban Quân sự Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, do đồng chí Nguyễn Hồng Đào (Mười Hồ) phụ trách. Nhiệm vụ: Xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh hoạt động vũ trang, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị ở nội và ngoại thành Sài Gòn.

        20 tháng 12

        Tại Rum Đuôn, xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đại biêu quốc dân miền Nam tiến hành đại hội thành lập Mật trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, bầu ra ủy ban Trung ương do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

        Cùng với Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và các ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng các cấp hình thành; ban chi huy quân sự các cấp khu, tinh, huyện, xã được thành lập, giúp cấp ủy đảng chì đạo, chí huy các đơn vị vũ trang, động viên thanh niên tòng quân, tiếp nhận sự giúp đỡ vật chất của nhân dân cho lực lượng vũ trang đánh địch.

        Tháng 12

        Nhân dân 6 xã (Hoà Thịnh, Hoà Đồng, Hoà Tân, Hoà Xuân, Hoà Hiệp, Hoà Mỹ) thuộc huyện Tuy Hoà (tỉnh Phú Yên) vũ trang nổi dậy diệt ác phá kìm, xoá bỏ chính quyền địch; lập ban tự quan xã, thôn, tổ chức lực lượng du kích và các đoàn thể quần chúng.

        Cùng với Tuy Hoà, nhán dân các huvện trong tinh Phú Yẻn nổi dậy, giành quyền làm chủ ở nhiều nơi, xứng đáng là lá cờ đầu của phong trào Đồng khởi ở các tỉnh Trung Trung Bộ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2016, 06:27:41 PM

Năm 1961

        Tháng 1

        Tổng Quân ủy ra chỉ thị thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - "Một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo... Kế tục truyền thống anh dũng, tinh thần quật khởi và đoàn kết chiến đấu của nhân dân miền Nam anh hùng, kế tục truyền thống vẻ vang phục vụ nhân dân của Quân đội nhân dân Việt Nam, mục tiêu chiến đấu cua quân đội đó là kiên quyết thực hiện cương lĩnh, đường lối của Đảng, giai phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng, tiến lên xã hội chủ nghĩa.

        Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa là một đội quân chiến đấu vừa là một đội quân công tác và sản xuất. Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, Quân Giải phóng miền Nam sẽ xây dựng ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, phương châm xây dựng là khẩn trương, nhưng phải phù hợp với tình hình và khả năng thực tế và có đủ điều kiện để đối phó với những tình huống đột biến, lấy việc xây dựng các đơn vị tập trung làm chủ yếu, đồng thời hết sức coi trọng việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích".

        Cuối tháng 1

        Thành lập Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) được cử làm Bí thư Trung ương Cục Các đồng chí Trần Lương (Trần Nam Trung), Phan Văn Đáng (Hai Văn), Nguyễn Văn Xô, Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt, Phạm Thái Bường (Ba Hường), Trần Văn Quang làm ủy viên.

        31 tháng 1

        Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp ra nghị quyết về phương hướng và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam. Bộ Chính trị nhận định: Thời kỳ tạm ổn của chế độ Mỹ - Diệm đã qua. thời kỳ khủng hoảng liên tiếp suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu... Do lực lượng so sánh đã thay đổi cần phải chuyển phương châm đấu tranh: Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự. về nhiệm vụ cách mạng miền Nam, Bộ Chính trị nêu rõ: "Ra sức xây dựng lực lượng ta cả về chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận giải phóng, phát động phong trảo đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn, tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ờ đô thị, tạo điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm. giai phóng miền Nam.

        15 tháng 2

        Thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam trao cho Quân Giải phóng quân kỳ mang dòng chữ: "Giải phóng quân anh dũng chiến thắng".

        Hệ thống chi huy quân sự hình thành từ Miền đến xã. Ban Quân sự trực thuộc Trung ương Cục miền Nam do Thiếu tướng Trần Lương - Ủy viên Trung ương Đang, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Trưởng ban. Bộ tư lệnh Quân khu 1 (Đông Nam Bộ), Quân khu 2 (Trung Nam Bộ), Quân khu 3 (Tây Nam Bộ), Quân khu 4 (Sài Gòn - Gia Định), Quân khu 6 (Nam Trung Bộ) được thành lập. Các tỉnh, huyện đều có ban quân sự. Ở các xã có xã đội. Các thành phố, thị xã có cơ sở vũ trang bí mật. các tổ biệt động, đội tuyên truyền vũ trang.

        Việc thống nhất các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đánh dấu sự trưởng thành cua các lực lượng vũ trang ta ờ miền Nam là chỗ dựa quan trọng để chuyển sang giai đoạn tiến hành chiến tranh cách mạng.

        25 tháng 2

        * Bộ Chính trị họp thông qua kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 - 1965). Nội dung:

        1- Xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng trên miền Bắc. Tăng cường sức mạnh của lục quân, xây dựng bộ đội phòng không, không quân, hải quân. Hoàn thành chính quy hoá. tạo cho quân đội có đủ các thành phần binh chủng, quân chủng mạnh, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế.

        2- Xây dựng ở miền Nam một lực lượng vũ trang tập trung mạnh. Bộ đội địa phương huyện tổ chức đến trung đội, đại đội. Bộ đội tập trung tinh tổ chức đến đại đội, tiểu đoàn. Xây dựng từ 10 đến 15 trung đoàn mạnh về xung lực, hoả lực và một số đơn vị pháo hỗn hợp có khả năng phá công sự, diệt xe tăng, bắn rơi máy bay địch.

        3- Giúp đỡ cách mạng Lào về chuyên gia quân sự, đào tạo cán bộ và phát triển lực lượng vũ trang. Tố chức quân tình nguyện phối hợp chiến đấu khi bạn yêu cầu.

        4- Kiện toàn bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

        * Bộ Chính trị quyết định đổi tên Tổng Quân ủy thành Quân ủy Trung ương. Quân uy Trung ương gồm 14 đồng chí. Bí thư: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị Bộ trưởng Quốc phòng. Phó bí thư: Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng và Trung tướng Song Hào - Ủy viên Trung ương Đảng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 07:51:24 PM

        Cuối tháng 2

        * Trung đoàn 102 và Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308) được tăng cường pháo binh, thiết giáp, công binh, diễn tập hành quân cơ động của bộ binh và cơ giới trên địa hình đồng bằng có nhiều sông ngòi và ruộng nước ở Thanh Oai, Ứng Hoà (Hà Tây). Tháng 11 năm 1961 trên địa bàn ba tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Sư đoàn 308 diễn tập quy mô lớn (123 chiếc xe kéo pháo, 15 xe tăng và pháo tự hành, 519 xe ô tô và mô tô dã chiến tham gia) nhằm kiểm tra khả năng cơ động, trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực cơ động trực thuộc Bộ.

        * Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh các quân khu, quân chủng, binh chung và các sư đoàn tổ chức nhiều cuộc diễn tập chiến đấu tiến công và phòng ngự trên địa hình rửng núi đồng bằng, diễn tập chống địch đổ bộ đường không và đường biến, rút kinh nghiệm về tổ chức, biên chế, trang bị cách đánh của đơn vị chiến thuật và mốì quan hệ hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng, giữa chủ lực và địa phương.

        3 tháng 3

        Thành lập Học viện Quân chính, trên cơ sở sáp nhập Trường Bổ túc Quân sự và Trường Chính trị trung - cao cấp (quyết định số 12/QP của Bộ Quốc phòng). Nhiệm vụ: Bổ túc, đào tạo cán bộ chính trị và quân sự trung - cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        5 tháng 5

        Đoàn cán bộ quân sự gồm 500 người, hầu hết là cán bộ cao cấp, trung cấp, do Thiếu tướng Trần Văn Quang - Uy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu, xuất phát từ Xuân Mai (Hoà Bình) theo đường Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tăng cường cho Ban Quân sự Miền và các quân khu ở miền Nam. Tiếp đó, ngày 1 tháng 6, đoàn cán bộ quân sự thứ hai gồm 400 người, do đồng chí Hoàng Văn Lâm (Nguyễn Văn Bứa) và đồng chí Lê Quốc Sản dẫn đầu hành quân từ miền Bắc vào tăng cường đội ngủ cán bộ cho chiến trường miền Nam.

        11 tháng 5

        Mỹ đưa thêm 400 binh sĩ thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ và 100 cố vấn Mỹ sang miền Nam Việt Nam; phát triển quân ngụy lên 20 vạn quân chính quy, 6,8 vạn quân bảo an, xây dựng và mở rộng quân sự địa phương.

        29 tháng 5

        Toàn quân phát động phong trào: "Xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy hiện đại".

        Tháng 5

        Tổng thống Mỹ, Ken-nơ-đi quyết định thi hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ớ miền Nam Việt Nam (1961 - 1965). Thực hiện "chiến tranh đặc biệt", ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã tiến hành một loại chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, một là dùng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chiến lược chủ yếu, do Mỹ cung cấp trang bị, vũ khí, tài chính và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn quân sự và dân sự từ trung ương đến các tỉnh và đặc khu, các sư đoàn và tiểu đoàn; hai là sử dụng kết hợp ba biện pháp chiến lược cơ bản: tìm diệt bộ đội chủ lực và hạ tầng cơ sở cách mạng; bình định để nắm dân; phong toả biên giới và vùng biển để ngăn chặn chi viện từ miền Bắc, kết hợp với phá hoại miền Bắc bằng biệt kích. Đế quốc Mỹ coi bình định là mục tiêu chủ yếu và biện pháp trung tâm trong suốt cuộc chiến tranh, tìm diệt là biện pháp hỗ trợ cho bình định đạt hiệu quả.

        Tháng 6

        * Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4 mở đường vận tải cơ giới nối đường 12 với đường số 9 (đường 129). Sau hai tháng lao động khẩn trương, Tiểu đoàn 939 và Tiểu đoàn 3 (Quân khu 4) và hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 325 đã hoàn thành đưa đường 129 vào sử dụng, kịp thời vận chuyển một số vũ khí và hàng qúy vào chiến trường miền Nam.

        * Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trường sĩ quan Kỹ thuật. Nhiệm vụ: Đào tạo, bồ túc sĩ quan kỹ thuật các chuyên ngành quân khí, ra đa, máy chỉ huy, thông tin, xăng dầu, quản lý xe, công binh, hoá học.

        27 tháng 7

        Thành lập Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Quân khu 6.

        Bộ Tư lệnh Quân khu 5 do đồng chí Nguyễn Đôn - Uy viên dự khuyết Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 làm Tư lệnh kiêm Chính uy; đồng chí Võ Thứ - Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Tuấn Tài (Trần Kiên) - Chủ nhiệm hậu cần.

        Bộ Tư lệnh Quân khu 6 do đồng chí YbLôck - quyền Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Mơ (Tư Khiêm) - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên (Sáu Phúc) - Tham mưu trưởng, đồng chí Trần Phòng (Bảy Kiên) - Chủ nhiệm hậu cần.

        3 tháng 8

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 74/QĐ), thành lập 2 căn cứ hải quân I và II thuộc Cục Hải quân. Căn cứ hải quân I phụ trách vùng biển, hải đảo từ biên giới Việt - Trung đến Cửa Hội. Căn cứ hải quân II phụ trách vùng biển, hài đảo từ Cửa Hội tới Cửa Tùng. Nhiệm vụ của 2 căn cứ:

        1- Lãnh đạo, chi huy xây dựng lực lượng hải quân.

        2- Độc lập hoặc phối hợp với các quân binh chủng, bảo vệ trật tự trị an trên hải phận, ven bờ, hải đảo, bảo vệ quyền lợi quốc gia trên biển, bảo vệ nhân dân làm ăn, phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu khi chiến tranh xảy ra.

        3- Liên hệ với địa phương xây dựng lực lượng hậu bị hải quân.

        4- Lập kế hoạch bảo vệ, chỉ huy cung ứng vật tư cho các đơn vị hải quân, vận chuyển tiếp tế cho các lực lượng trên đảo.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 07:52:55 PM
        
        9 tháng 8

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 64/QĐ), thành lập trung đoàn ra đa trinh sát thứ ba (Trung đoàn 292) thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không. Biên chế: 3 đại đội ra đa và 1 đại đội quan sát mắt, hoạt động trên địa bàn Tây Bắc. Trung đoàn trưởng: Hứa Mạnh Tài. Chính ủy: Nguyễn Thanh Liêm.

        30-8 đến 2-9

        Tiểu đoàn bộ binh 90, đội đặc công 406, phân đội học viên Trường Quân chính Quân khu 5 và lực lượng vũ trang địa phương tiến công quận ly Đắc Hà (Tu Mơ Rông) nằm trên đường 14 (bắc thị xã Kon Tum). Đêm 30 tháng 8, bộ đội ta tập kích quận ly Đắc Hà, diệt gọn đại đội bảo an. Ngày 2 tháng 9, ta phục kích địch từ Đắc Tô đến ứng cứu Đắc Hà, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, bắt gần 100 tên địch, thu nhiều vũ khí. Phối hợp với tiến công quân sự, nhân dân 28 ấp dọc đường số 5 liên tỉnh (gồm Đắc Hà, Măng Bút, Măng Đku, Giá Vụt) nổi dậy, phá tan hàng chục ấp chiến lược và khu dinh điền của địch, giành quyền làm chủ. mở rộng vùng giải phóng.

        2 tháng 9

        Thành lập Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bộ đội chủ lực Miền tại chiến khu Dương Minh Châu (Đông Nam Bộ). Tiểu đoàn 1 do đồng chí Bùi Thanh Vân (Út Liêm) làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đặng Văn Thượng làm chính trị viên. Tiểu đoàn 2 do đồng chí Huỳnh Leo (Bình Minh) làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Hải (Bảy Trượt) làm chính trị viên. Mỗi tiểu đoàn biên chế trên 120 cán bộ, chiến sĩ, trang bị hơn 100 khẩu súng các loại. Đây là 2 tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta trên chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ.

        16 tháng 9

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh công bố "Pháp lệnh đặt "Huân chương và Huy chương Chiến sĩ vẻ vang" cho cán bộ, chiến sĩ có công xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam sau ngày hòa bình lập lại.

        Đêm 17 rạng 18 tháng 9

        Tiểu đoàn 500 chủ lực Quân khu 7 và một trung đội đặc công phối hợp với bộ đội địa phương các huyện Phú Giáo, Tân Uyên tập kích tỉnh lỵ Phước Vĩnh (nay thuộc tỉnh Bình Dương), do một tiểu đoàn biệt động và một đại đội cảnh sát ngụy đóng giữ. Sau một giờ chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta làm chủ tỉnh ly, diệt 180 tên, trong đó có Nguyễn Minh Mẫn tỉnh trưởng, bắt 100 tên, thu khoảng 400 súng các loại, giải thoát cho 300 cán bộ bị địch giam giữ. Đây là trận thắng lợi lớn của ta trên chiến trường Nam Bộ năm 1961. Sau trận Phước Vĩnh, địch ở nhiều nơi hoảng sợ, bỏ chạy, chiến khu Đ được hoàn toàn giải phóng.

        23 tháng 10

        Bộ Quốc phòng quyết định (số 97/QĐ) thành lập Đoàn 759 vận tải quân sự đường biển. Nhiệm vụ: Mua sắm phương tiện, tiến hành vận chuyển các loại hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Đoàn gồm có 38 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 20 người do các tỉnh Nam Bộ vừa cử ra. Đoàn trưởng: Đoàn Hồng Phước. Chính ủy: Võ Huy Phúc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 07:58:27 PM

Năm 1962

        9 tháng 2

        Thành lập Trung đoàn bộ binh 1 (Q.761 còn gọi là C.56) chủ lực Miền tại Trảng Dài (Tây Ninh). Biên chế: 2 tiểu đoàn bộ binh (1, 2), một số phân đội trợ chiến và 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần (2-1962). Cán bộ từ trưng đoàn trưởng đến tiểu đội trưởng đều được huấn luyện chính quy trên miền Bắc. Trung đoàn trưởng: Tăng Thiên Kim (tức Hoàng Đình Chương). Chính ủy: Lê Văn Nhỏ (tức Hai Lâm).

        Đây là trung đoàn chủ lực cơ động đầu tiên trên chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        26-27 tháng 2

        Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về những công tác trước mắt của cách mạng miền Nam: "Kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự, giành và giữ vững thế chủ động, đẩy địch vào thế bị động hơn nữa, tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt, ra sức phá kế hoạch Xta-lây Tay-lo, mở rộng hơn nữa phong trào giải phóng dân tộc - tăng cường chặt chẽ hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, khơi sâu hơn nữa mâu thuẫn nội bộ của địch, tranh thủ mạnh mẽ sự ủng hộ và đồng tình của lực lượng hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa trên thế giới chống sự can thiệp vũ trang quy mô của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tiến lên giành những thắng lợi lớn hơn nữa".

        Bộ Chính trị nhấn mạnh: ”Cần củng cố và mở rộng căn cứ, tích cực xây dựng và phát triển lực lượng của ta về mọi mặt chính trị, quân sự và kinh tế để tiến lên xây dựng một lực lượng vũ trang lớn mạnh cùng với toàn dân đánh bại quân thù".

        16-2 đến 3-3

        Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam lần thứ nhất. Đại hội đã bầu ra Ủy ban Trung ương chính thức của mặt trận, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Đại hội ra bản tuyên bố khẳng định nhiệm vụ chung của Mặt trận là "Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ rộng rãi ờ miền Nam; thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc".

        23 tháng 3

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 80/QĐ), thành lập Viện nghiên cứu Y học quân sự, trên cơ sở Trường sĩ quan Quân y. Nhiệm vụ: Nghiên cứu y học quân sự phục vụ quân đội huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, đào tạo và bổ túc cán bộ quân y cho toàn quân. Viện trưởng: Giáo sư Đỗ Xuân Hợp. Chính ủy: Trần Huy.

        2-4 đến 12-5

        Chiến dịch Nậm Thà. Nhằm ngăn chặn địch và thu hẹp phạm vi chiếm đóng, hỗ trợ hội nghị hiệp thương ba phái ở Cánh Đồng Chum và hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào, ta và bạn mở chiến dịch tiến công địch ở Mường Sinh - Nậm Sạc (Thượng Lào).

        Lực lượng ta tham gia: Quân tình nguyện Việt Nam có 2 lữ đoàn (335, 316), tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 330 bộ binh, 1 tiểu đoàn sơn pháo 75mm, 1 tiểu đoàn súng cối 120mm, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm. Bộ đội Pa-thét Lào có 2 tiểu đoàn bộ binh (2 và 701). Bộ Tư lệnh chiến dịch, về phía Việt Nam có: Thiếu tướng Nguyễn Bằng Giang - Tư lệnh, Thiếu tướng Trần Độ - Chính ủy.

        Lực lượng địch gồm: 11 tiểu đoàn (3 tiểu đoàn GM-ll 3 tiếu đoàn GM-15, 2 tiểu đoàn GM-18, 3 tiểu đoàn tình nguyện (BV) 13, 15, 18). Hoả lực có 6 khẩu pháo 105mm, 7 khẩu sơn pháo 75mm, do thiếu tướng Bun Lợt - Tư lệnh quân khu Bắc chỉ huy.

        Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt (2-6.5, 6-12.5). Kết hợp đột phá với bao vây vu hồi, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào giải phóng Mường Sinh, Nậm Thà và phát triển tiến công, truy kích địch. Ngày 12 tháng 5, chiến dịch kết thúc. Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam, bộ đội Pa-thét Lào diệt 137 tên địch, bắt 1.424 tên, thu 400 súng, 596 tấn đạn, 1.500 phuy xăng, mở rộng vùng giải phóng Thượng Lào (800 km2, 76.000 dân, buộc chính quyền Viêng Chăn phải ký hiệp định Cánh Đồng Chum (ngày 12 tháng 6 năm 1962), sau đó ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1962 về Lào.

        Tháng 5

        Thành lập 3 trung đoàn bộ binh (1, 2, 3) - khối chủ lực đầu tiên của Quân khu 5. Trung đoàn 1 gồm 2 tiểu đoàn (60 và 91) hoạt động ở Quảng Nam. Trung đoàn 2 gồm 3 tiểu đoàn (50, 32, 30) và 1 khung tiểu đoàn trợ chiến, hoạt động ở hai tính Quảng Ngãi và Kon Tum. Trung đoàn 3 gồm 3 tiểu đoàn (50, 32, 30) và 1 khung tiểu đoàn trợ chiến, hoạt động ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên và Gia Rai.

        5 tháng 12

        Nhằm tiêu diệt sở chỉ huy tiền phương sư đoàn bộ binh 23 ngụy, đại đội đặc công 121 phối hợp với đại đội bộ binh 25 và một bộ phận hoả lực của Quân khu 6 tiến công căn cứ Đầm Ròn (Tuyên Đức). Đêm 4 rạng 5 tháng 12, ta bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng, đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy sư đoàn 23, phá hủy 2 pháo 105mm, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch. Chiến thắng Đầm Ròn góp phần hỗ trợ nhân dân địa phương nổi dậy 'phá ấp chiến lược, diệt chi khu Đơn Dương. Đây là trận thắng lớn nhất của lực lượng vũ trang ta trên địa bàn Quân khu 6 kể từ sau năm 1960.

        10 tháng 12

        Bộ Chính trị họp bàn về phương hướng và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, chủ trương phát động toàn Đảng, toàn dân xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Nam, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp, tập trung nghiên cứu và phối hợp hoạt động giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích, đặc công để phá ấp chiến lược của địch; trên từng vùng tranh thủ điều kiện có lợi, dùng tiểu đoàn hoặc phối hợp từ hai đến ba tiểu đoàn tiêu diệt các đơn vị chính quy và biệt kích đường bộ, đường không của địch.

        Cuối năm 1962

        * Bộ Tổng tham mưu thực hiện hai kiểu biên chế thời chiến và thời bình. Biên chế thời chiến (đủ quân số) cho các đơn vị bộ binh thường trực chiến đấu, bộ đội phòng không - không quân và hải quân. Biên chế thời bình cho các đơn vị không đù quân số theo biên chế và đơn vị khung gồm cán bộ và nhân viên kỹ thuật. Số cán bộ ngoài biên chế được dự trữ ờ các cơ quan, nhà trường. Cán bộ, chiến sĩ phục viên về địa phương và chuyển sang các ngành kinh tế, văn hoá được đăng ký vào ngạch dự bị và tăng cường cho lực lượng dân quân tự vệ, khi có nhu cầu sẽ gọi trờ lại quân đội.

        * Đoàn 559 được tăng cường quân số, phương tiện mở rộng tuyến vận tải chiến lược. Lực lượng gồm 6.000 người tổ chức thành 2 trung đoàn (70 và 71), một số tiểu đoàn, đại đội công binh, vận tải, giao liên. Phương tiện có hơn 1.000 xe thồ, một số xe ô tô và voi, lừa, ngựa để vận chuyển.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 08:02:43 PM

Năm 1963

        2 tháng 1

        Chiến thắng Ấp Bắc. Bộ chỉ huy Quân khu 8 và Tỉnh đội Mỹ Tho chủ động bố trí lực lượng, kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, đánh bại cuộc càn lớn của 8 tiểu đoàn quân chủ lực ngụy, có 35 máy bay các loại, 13 xe bọc thép M-113 và 13 tàu chiến, 10 khẩu pháo 105mm, do cố vấn Mỹ chi huy vào Ấp Bắc (xã Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy, tinh Mỹ Tho).

        Lực lượng vũ trang tham gia trận đánh có đại đội 1 (Tiểu đoàn 261) chủ lực Khu 8, đại đội 1 (Tiểu đoàn 515) bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho, trung đội bộ đội địa phương huyện Châu Thành và trung đội du kích xã Tân Phú Trung, do đồng chi Hai Hoàng (tức Nguyễn Văn Điều) tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 chi huy.

        Địch sử dụng 3 tiểu đoàn cua sư đoàn 7, tiểu đoàn 8 dù, 2 đại đội biệt động, 8 đại đội bao an, 3 đại đội dãn vệ biệt kích tổng cộng 25 đại đội bộ binh gồm trên 2.000 tên, cùng xe M-113, 13 tàu các loại, 8 máy bay khu trục, 15 mảy bay lên thẳng, 11 máy bay quan sát, 6 pháo 105mm, 6 cối 106,7mm, do tên tư lệnh sư đoàn 7 kiêm tư lệnh khu chiến thuật trực tiếp chi huy, có cố vấn Mỹ đi kèm.

        Sau một ngày chiến đấu, ta diệt và làm bị thương 450 tên địch, bắn rơi và bắn hỏng 16 máy bay, phá hủy 3 xe M-113, bắn chìm 2 tàu chiến, đánh bại hai chiến thuật chủ yếu trong 'chiến tranh đặc biệt" là "trực thăng vận" và "thiết xa vận" của quân chủ lực cơ động ngụy do cố vấn Mỹ chi huy.

        Trận Ấp Bắc báo hiệu sự phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, cổ vũ mạnh mẽ quân và dân miền Nam "thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công".

        20 tháng 1

        Thành lập Trường sĩ quan Biên phòng. Nhiệm vụ: Đào tạo sĩ quan có đủ năng lực phẩm chất, đảm đương một trong các nhiệm vụ: sĩ quan chỉ huy đồn trưởng, hoặc đồn phó đồn biên phòng; sĩ quan chính trị, phó đồn trường đồn biên phòng; sĩ quan trinh sát, phó đồn biên phòng hoặc đồn trưởng trinh sát biên phòng.

        Tháng 6

        * Quân ủy Trung ương thông qua kê hoạch phòng thủ miền Bắc, gồm: phương án tác chiến, kế hoạch động viên, mở rộng lực lượng vũ trang thời kỳ đầu chiến tranh, chuyển dần kinh tế từ thời bình sang thời chiến.

        * Cục Quân giới (Tổng cục Hậu cần) nghiên cứu, chế thử thành công súng CKC.

        * Tiểu đoàn đặc công 407 và Tiểu đoàn pháo binh 200 Quân khu 5 tiến công trại huấn luyện quân sự đặc biệt của

        Mỹ ở Plây Mơ Rông (Kon Tum). Trong trại có hơn 400 quân thuộc dân tộc ít người vùng Tây Nguyên, 11 cố vấn Mỹ và công sự vững chắc, hàng rào dây thép gai bao quanh. Được pháo binh chi viện hỏa lực, bộ đội đặc công tiến công, sau 45 phút chiến đấu đã diệt và làm bị thương 250 tên địch bắt 140 tên, giải phóng hàng trăm thanh niên bị địch tập trưng để huấn luyện quân sự.

        Cuối tháng 7

        Thành lập Đoàn 763 - đơn vị mở đường Trường Sơn ở Hạ Lào. Nhiệm vụ: Giúp Quân khu Hạ Lào xây dựng căn cứ địa xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, mở thêm tuyến đường chi viện chiến trường miền Nam. Đoàn tổ chức thành hai bộ phận: bộ phận giúp Quân khu Hạ Lào do đồng chí Lê Kính phụ trách, bộ phận mở đường giao liên từ phía Bắc vào đến sông Sa Thầy (Gia Lai - Kon Tum) do đồng chí Đức Phương phụ trách.

        10 tháng 8

        Hai tiểu đoàn bộ đội chủ lực Quân khu 9 và tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau, dưới sự chỉ huy của đồng chí Phạm Thái Bường - Trưởng ban Quân sự khu tiến công 2 chi khu quân sự Cái Nước - Đầm Dơi. Đêm 9 rạng ngày 10, bộ đội ta tiến công cả 2 chi khu quân sự, tiếp đó phục kích đánh tan 1 tiểu đoàn quân cứu viện địch, diệt và làm bị thương 558 tên, bắn rơi và bắn hỏng 10 máy bay trực thăng, thu 200 súng, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá hơn 100 ấp chiến lược ở Cái Nước - Đầm Dơi, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng.

        18-19 tháng 10

        Tiểu đoàn T80 bộ đội địa phương và du kích các xã Vĩnh Lộc, Vĩnh Hoà tiến công địch ở xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân (Bạc Liêu). Đêm 18, Tiểu đoàn T80 cùng du kích tập kích địch ở Bến Luông. Ngày 19, địch dùng máy bay trực thăng đổ bộ 4 đợt quân xuống các khu vực Ngan Bình, Bà Ại Bà Hội, Tà Hong hòng cứu nguy cho lực lượng ở Lộc Ninh. Dựa vào làng xã chiến đấu, bộ đội và du kích chiến đấu quyết liệt, bẻ gãy các đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên (có 22 cố vấn Mỹ), bắn rơi 6 máy bay trực thăng. Trận Lộc Ninh đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ, mở ra khả năng đánh điểm, diệt viện trên chiến trường miền Tây Nam Bộ.

        19 tháng 10

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định (số 47/QĐ) thành lập Cục Phòng không nhân dân thuộc Bộ Tổng tham mưu.

        22 tháng 10

        Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định (số 50/QĐ) thành lập Quân chủng Phòng không - Không quân, trên cơ sở hợp nhất Bộ tư lệnh Phòng không và Cục Không quân. Quân chủng Phòng không - Không quân gồm ba binh chủng:

        Binh chủng Pháo cao xạ có 11 trưng đoàn (220, 230, 260, 240, 250, 210, 280, 234, 218, 224, 228) và 2 tiểu đoàn (217, 270) gồm 72 đại đội pháo cao xạ các loại (27 đại đội pháo cao xạ 100mm, 6 đại đội pháo cao xạ 90mm, 7 đại đội pháo cao xạ 88mm, 5 đại đội pháo cao xạ 85mm, 26 đại đội pháo cao xạ 57mm, 1 đại đội pháo cao xạ 37mm).

        Binh chủng Ra đa có 3 trung đoàn (290, 291, 292) gồm 18 đại đội ra đa (26 máy) và 3 đại đội quan sát mắt.

        Binh chủng Không quân có Trung đoàn không quân vận tải 919, Trung đoàn huấn luyện 910, Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (gồm 3 đại đội máy bay MIG-17A đang học ở nước ngoài).

        Tư lệnh Quân chủng: Phùng Thế Tài. Chính ủy: Đặng Tính.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 08:06:43 PM

        Tháng 10

        * Thành lập Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền. Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Uy viên Trung ương Đảng, Bĩ thư Trung ương Cục: Bí thư Quân ủy. Trung tướng Trần Văn Trà - Uy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng: Tư lệnh.

        * Đoàn pháo binh chủ lực Miền mang phiên hiệu U-80 (tương đương trung đoàn) được thành lập, gồm 4 tiểu đoàn pháo cối (Z.35, Z37, Z39, Z41) và một tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,7mm (Z36). Đoàn trưởng: Lương Văn Nho (tức Hai Nhả). Chính ủy: Hoàng Minh Khanh (tức Đào Sơn Tây).

        Tại miền Tây Nam Bộ, thành lập Đoàn 480 pháo binh gồm 3 tiểu đoàn (198, 217, 700) pháo cối và súng máy cao xạ.

        * Cục Nghiên cứu Kỹ thuật (Bộ Quốc phòng) và Cục Quân giới (Tổng cục Hậu cần) nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thành công mìn định hướng sát thương bộ binh, chống các loại xe vận tải, xe thiết giáp, tàu thuyền trên sông.

        1 tháng 11

        Các tướng trong quân đội Việt Nam cộng hoà (quân đội nguy) gồm: Trần Văn Đôn - Tổng trưởng quốc phòng cùng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính..., lập hội đồng quân nhân, tổ chức đảo chính lật đổ Diệm. Kế hoạch này được toà Đại sứ Mỹ, đứng đầu là Ca-bốt-lốt ủng hộ.

        Lực lượng tham gia đảo chính gồm: Tiểu đoàn 1 và 4 thủy quân lục chiến, tiểu đoàn 6 nhảy dù, chiến đoàn thiết giáp 24 (thuộc thiết đoàn Vạn Kiếp), sư đoàn bộ binh 5, trung đoàn 10 và thiết đoàn 2 của sư đoàn 7 bộ binh và 1 đại đội truyền tin.

        Cuộc đảo chính bắt đầu từ 13 giờ ngày 1 tháng 11 và kết thúc lúc 6 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11 năm 1963. Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị bắn chết, Dương Văn Minh lên làm Tổng thống ngụy quyền.

        20 tháng 11

        Tổng thống MỸ, Giôn-xơn chính thức phê chuẩn kế hoạch về hoạt động bí mật chống miền Bắc Việt Nam (hoạt động quân sự không công khai của Mỹ chống miền Bắc Việt Nam) được gọi là kế hoạch 34.A. Mỹ sẽ sử dụng các chuyên bay do thám bằng máy bay U2 trinh sát tung các toán biệt kích ra miền Bắc phá hoại các cơ sở kinh tế, tiến hành chiến tranh tâm lý quy mô ngày càng tăng để chống phá miền Bắc.

        23 tháng 11

        Hai đại đội bộ binh, hai phân đội đặc công, một phân đội trinh sát, một đại đội hoả lực (súng cối, súng máy phòng không 12,7mm) bộ đội địa phương tỉnh Long An tiến công trại huấn luyện biệt kích của quân ngụy ở Hiệp Hoà (Hậu Nghĩa, Long An). Dựa vào nội ứng, bộ đội ta bất ngờ tiến công vị trí chỉ huy và các mục tiêu địch. Sau hơn nửa giờ chiến đấu, ta làm chủ căn cứ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên địch (có cả cố vấn Mỹ), thu hơn 1.000 súng các loạỉ, gần 10 tấn đạn, hỗ trợ nhân dân phá 193 ấp chiên lược, giành quyền làm chủ. Đây là trận đầu bộ đội địa phương tỉnh diệt một trại huấn luyện biệt kích địch ngay sát Sài Gòn.

        23-24 tháng 11

        Hai tiểu đoàn bộ binh 306 và U Minh, Tiểu đoàn pháo binh 207 chủ lực Quân khu 9 cùng một số đơn vị bộ đội địa phương và du kích tiến công cứ điểm Chà Là, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Đước (Cà Mau). Địch xây dựng ở Chà Là 3 đồn chính và một số lô cốt, do 1 đại đội chủ lực nguy và một đại đội bảo an đóng giữ. Ngày 23, Tiểu đoàn U Minh tiến công các cứ điểm chính, Tiểu đoàn 306 đánh các cứ điểm xung quanh, lực lượng vũ trang địa phương đánh quân cứu viện địch. Đến 24 giờ cùng ngày, bộ đội ta làm chủ trận địa. Ngày 24, ta trụ bám trận địa đánh bại 3 đợt đổ bộ quân cứu viện bằng đường không của địch. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, bẳn rơi và bắn hỏng 19 máy bay các loại, thu 100 súng, 500 dù, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ, trở về làng cũ.

        30 tháng 11

        Cục Quân giới (Tổng cục Hậu cần), nghiên cứu, chế tạo thành công súng cối 81mm.

        31 tháng 12

        Trung đoàn bộ binh 2 (thiếu) chủ lực Miền gồm 2 tiểu đoàn và 1 đại đội bộ binh đánh tiểu đoàn biệt động quân 32 "Cọp đen" thuộc sư đoàn 5 nguy do cố vấn Mỹ chỉ huy tại ấp Đường Long, huyện Bến Cát (Thủ Dầu Một).

        Mặc dù địch dùng máy bay ném bom bắn phá dữ dội. bộ đội ta giữ thế chủ động tiến công địch, kết hợp truy kích bao vây chặn đánh dồn dập, diệt và làm bị thương 250 tên (gồm cả ban chi huy tiểu đoàn) bắt 58 tên địch và 1 cố vấn Mỹ bắn rơi 3 máy bay trực thăng, thu 110 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự.

        Đây là lần đầu tiên, một trung đoàn (thiếu) quân chủ lực lực miền tiêu diệt một tiểu đoàn quân chính quy ngụy, góp phần đánh bại cuộc càn "Đại phong 35” vào Thủ Dầu Một, Tây Ninh của địch.

        Tháng 12

        * Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết xác định nhiệm vụ quân sự: "Phải khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh mau chóng... Ba thứ quân của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam (quân chủ lực, quân địa phương và dân quân du kích) đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng... Trong việc xây dựng quân đội, phải bảo đảm phát huy dân chủ và kỷ luật nghiêm minh, thực hiện cán binh đoàn kết nhất trí, quân dân đoàn kết nhất trí...".

        * Mỹ tăng cường cung cấp khối lượng lớn vũ khí, kỹ thuật, phương tiện chiến tranh cho quân ngụy ở Sài Gòn, nâng số lượng pháo binh lên 1,2 lần, trực thăng vũ trang lên 1,5 lần, tàu xuồng chiến đấu lên 1,1 lần (so với năm 1962).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 08:10:48 PM

Năm 1964

        3 tháng 1

        Bộ Quốc phòng quyết định (số 01/QĐ), thành lập Bộ Tư lệnh Hải quân, trên cơ sờ Cục Hải quân. Nhiệm vụ: "Chỉ huy

        lãnh đạo xây dựng Quân chủng Hải quân, đảm nhận nhiệm vụ hoạt động chiến đấu trên không phận, bờ biến miền Bắc" Tư lệnh kiêm Chính ủy: Thiếu tướng Tạ Xuân Thu. Phó tư lệnh: đại tá Nguyễn Bá Phát.

        9 tháng 1

        Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc lần thứ nhất, bàn kế hoạch triển khai hệ thống phòng không ba thứ quân và các biện pháp phòng tránh, sơ tán; nhằm bảo vệ tài sản, tính mạng nhân dân, sẵn sàng đánh trả không quân Mỹ xâm phạm miền Bắc, hạn chế thiệt hại do chúng gây ra.

        27-1 đến 12-2

        Bộ tư lệnh Quân khu 4 sử dụng Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 324), hai tiểu đoàn biên phòng (927 và 929), hai đại đội pháo và súng cối, một đại đội súng máy phòng không, một trung đội đặc công hỗ trợ bạn mở chiến dịch 128, tiến công địch ở khu vực đường số 8 và đường số 12 (Trung Lào). Tư lệnh chiến dịch: Nguyễn Ích Tỷ. Chính ủy: Quách Sĩ Kha.

        Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 8 tiểu đoàn (tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 24, tiểu đoàn 30B, tiểu đoàn 11, tiếu đoàn 35 BP, tiểu đoàn 8, tiểu đoàn địa phương, tiểu đoàn 340 BR) và 2 đại đội biệt kích, quân Viêng Chăn và Coong Le. Kết thúc chiến dịch, liên quân Lào - Việt loại khỏi vòng chiến đấu 800 tên địch, giải phóng khu vực đường số 8, đường 12 ở Trung Lào.

        Đầu tháng 3

        Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định chuyển một bộ phận lực lượng vũ trang trên miền Bắc, trong đó có Quân chủng Phòng không - Không quân từ trạng thái thời bình sang trạng thái thời chiến.

        17 tháng 3

        Tổng thống Mỹ thông qua kế hoạch Mác Na-ma-ra. Nội dung gồm: tăng cố vấn và nhân viên quân sự lên 25.000, lập bộ chỉ huy liên hợp Việt - Mỹ, tăng quân đội Sài Gòn lên 550.000, đẩy mạnh bình định có trọng điếm, tiêu diệt các tổ chức quân sự, chính trị của cách mạng, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ miền Nam; đồng thời tăng cường phá hoại miền Bắc và Lào nhất là các tuyến vận tải chiến lược dọc biên giới Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia, nhằm gây sức ép buộc miền Bắc phải ngừng chi viện miền Nam.

        27-4 đến 8-6

        Chiên dịch 74.A (chiến dịch trên đường số 7 và đường số 4).

        Lực lượng tham gia: Phía quân đội Việt Nam có Sư đoàn 316, Lữ đoàn 335 (Quân khu Tây Bẳc), Tiểu đoàn 8 Sư đoàn 304, Tiếu đoàn 925 (Quân khu 4) và 14 đại đội biên phòng. Phía Lào có 7 tiếu đoàn bộ binh (1, 2, 13, 701, 500, 300, 24).

        Bộ chỉ huy chiến dịch: Đồng chí Bằng Giang làm Tư lệnh, các đồng chí Sin Ga Pô, Xa Mán (Pa-thét Lào); đại tá Đươn - phái Trung lập.

        Lực lượng địch có 13 tiểu đoàn bộ binh (GM-13, GM-17) 3 tiếu đoàn hỗn hợp, 54 đại đội phỉ, 2 tiểu đoàn pháo 105mm và 85mm, 2 đại đội súng cối 102mm và 106,7mm, 1 đại đội cao xạ 37mm và 37 xe tăng thiết giáp.

        Kết quả: Ta giữ được đường số 7, giài phóng được môt vùng rộng lớn bao gồm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng Mường Sủi - Tha Thơm với diện tích khoảng 3.000km nối liền Cánh Đồng Chum với căn cứ địa Sầm Nưa - Bắc Lào và Trung Lào, mở thông đường số 7 với Việt Nam. Loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên địch, thu 30 pháo, 195 khẩu ĐRZ và súng cối, 9 xe tăng, 13 xe AM. 81 ô tô, bắn rơi 4 máy bay.

        Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa lớn, tranh thủ được lực lượng tiến bộ của đại tá Đươn đi theo Pa-thét Lào và làm suy yếu quân đội phái hữu, tạo cho cách mạng Lào một vùng chiến lược quan trọng.

        27-28 tháng 3

        Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt nhằm tăng cường đoàn kết, quyết tâm chiến đấu trước tình hình đế quốc Mỹ đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, chuẩn bị chiến tranh phá hoại miền Bắc.

        Tại Hội nghị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản báo cáo quan trọng khẳng định: "Nếu chúng (tức Mỹ) liều lĩnh động đến thì chúng nhất định sẽ bị thất bại thảm hại. vì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng”. Người giao nhiệm vụ: "Quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân... phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự trị an, kiên quyết đập tan mọi hành động của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng”.

        1 tháng 5

        Thành lập Mặt trận Tây Nguyên (B3) đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Khu ủy 5 và quan hệ mật thiết với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Nhiệm vụ: Xây dựng Tây Nguyên thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đấy lực lượng vũ trang ba thứ quân, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, tạo điều kiện cho đồng bằng và thành phố nổi dậy. Phối hợp với lực lượng vũ trang Trị - Thiên, Khu 5, Đông Nam Bộ tiến công địch trong thời điểm chiến lược. Tư lệnh: Đại tá Nguyễn Chánh, Chính ủy: Đại tá Đoàn Khuê.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 08:14:54 PM

        2 tháng 5

        * Hai chiến sĩ Lâm Sơn Náo và Nguyễn Phú Hùng (đội biệt động 65) đưa khối thuốc nổ 80kg xuống thuyền theo sông Sài Gòn đánh chìm tàu Card của Mỹ trọng tải 15.000 tấn, chở 21 máy bay lên thẳng HU-1A, 2 máy bay trinh sát L-19, 1 máy bay khu trục AD-26, 55 tên Mỹ chết và bị thương. Đây là một trong những chiến công xuất sắc cua biệt động Sài Gòn trong những năm đánh Mỹ.

        * Chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi gài mìn ở cầu Công Lý (Sài Gòn), nhằm giết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mác Na-ma-ra khi sang miền Nam chỉ đạo mở rộng chiến tranh xâm lược. Kế hoạch bị lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt. Trong hơn 5 tháng bị giam cầm, dụ dỗ, tra tấn, anh vẫn bất khuất trước kẻ địch. Trận đánh không thành nhưng đã gây tiếng vang lớn. Du kích Vê-nê-duy-ê-la bắt tên trung tá Mỹ ớ Thủ đô Ca-ra-cát đòi đổi mạng cho anh Trỗi. Nhưng khi tên trung tá Mỹ được du kích Vê-nê-duy-ê-la thả thì Mỹ lật lọng. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, Mỹ-nguy xử bắn Nguyễn Văn Trỗi. Trước khí bị xử bắn, Nguyễn Văn Trỗi đã biến pháp trường thành nơi lên án đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Sài Gòn, khẳng định việc làm của mình là chính nghĩa và hô: Hồ Chủ tịch muôn năm! Việt Nam muôn năm!

        29 tháng 6

        Bộ Chính trị ra chỉ thị "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu phá tan âm mưu khiêu khích, đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ" vạch rõ: Lực lượng vũ trang trên miền Bắc phải sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết tiêu diệt địch, nếu chúng xâm phạm miền Bắc, đẩy mạnh chi viện miền Nam. Các lực lượng vũ trang ờ miền Nam phải đánh cho địch những đòn thiệt hại nặng nề hơn nữa, phối hợp bảo vệ miền Bắc. Tích cực giúp đỡ cách mạng Lào, cùng bạn đấy mạnh hoạt động khi địch đánh phá miền Bắc.

        Tháng 6

        Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng ra mệnh lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu trong các lực ỉượng vũ trang trên toàn miền Bắc.

        16 tháng 7

        Bộ Quốc phòng quyết định (số 79/QĐ-QP) thành lập Trường sĩ quan Pháo cao xạ, thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Nhiệm vụ: Đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội pháo phòng không.

        2 tháng 8

        Phân đội 3 gồm 3 tàu phóng lôi 333, 336, 339 (Đoàn 135, Bộ tư lệnh Hải quân) đánh đuổi tàu khu trục Ma Đốc cua Mỹ đang vào sâu hải phận miền Bác của ta ở vùng biển giữa đảo Hòn Mê và Lạch Trường (Thanh Hoá).

        5 tháng 8

        Hai quân nhân dân Việt Nam cùng bộ đội phòng không, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Quảng Ninh đánh bại cuộc tiến công "Mũi tên xuyên” của không quân Mỹ, bắn rơi 8 máy bay. Ngày 5 tháng thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

        7 tháng 8

        * Bộ Tổng tư lệnh tổ chức lễ tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang nhân dân đã lập công xuất sắc trong ngày 2 tháng 8 và ngày 5 tháng 8 năm 1964. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự, căn dặn: "Các chú đã thu được thắng lợi vẻ vang, nhưng chớ vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan, khinh địch". Chúng ta cần "Tiếp tục đẩy mạnh mọi công tác và luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc".

        * Quốc hội Mỹ thông qua "nghị quyết Vịnh Bắc Bộ" chính thức giao cho Tổng thống Giôn-xơn được đặc quyền sử dụng lực lượng không quân và hải quân Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn đối với miền Bấc.

        9 tháng 8

        Tiểu đoàn 90 Trung đoàn 1 chủ lực Khu 5 tiến công "ấp chiến lược" Kỳ Sanh (Quang Nam), đánh bại 1 tiểu đoàn quân tiếp viện, phá huy 8 xe M-113. Đây là lần đầu tiên bộ đội chủ lực Khu 5 đánh bại chiến thuật "thiết xa vận" của địch.

        Tháng 8

        * Thanh niên Thủ đô Hà Nội phát động phong trào "Ba sẵn sàng": Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì Tổ quốc cần. Tuổi trẻ trên miền Bắc nhiệt liệt hưởng ứng phong trào này.

        * Hội phụ nữ Việt Nam phát động phong trào "Phụ nữ Ba đảm đang": Đảm đang sản xuất và công tác, đảm đang việc nhà, đảm đang công tác chiến đấu và phục vụ chiến đấu thay chồng con ra trận.

        * Tuổi trẻ miền Nam phát động phong trào thi đua "Năm xung phong": Xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch; xung phong tòng quân diệt giặc; xung phong đấu tranh chính trị ở đô thị và nông thôn, xung phong phục vụ tiền tuyến, vào các đội thanh niên xung phong; xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội. Đây là những phong trào quần chúng rộng rãi và sôi nổi của tuổi trẻ cả nước quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 08:19:10 PM

        11 tháng 10

        Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho các chiến trường mở đợt hoạt động quân sự (Đông - Xuân 1964 - 1965) trên toàn miền Nam nhâm tiêu diệt một bộ phận chủ lực nguy, phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp vùng kiểm soát của địch ở Nam Bộ, Long Khánh - Bình Tuy (hoặc Bình Long - Phước Long) là hướng trọng điểm; Khu 5 gồm nam Quảng Ngãi và bắc Bình Định, trọng điểm là đường số 9, đường số 5 và đường 14 Tây Nguyên.

        31 tháng 10

        Đoàn 563 pháo binh thuộc Bộ tư lệnh Miền tập kích hoa lực sân bay Biên Hoà; phá hủy, phá hỏng 59 máy bay các loại, 2 kho đạn lớn, 1 kho xăng, 1 đài quan sát và 18 căn nhà, loại khỏi vòng chiến đấu 293 tên địch. Sau trận đánh, Đoàn pháo binh 563 được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhất và vinh dự được mang tên "Đoàn pháo binh Biên Hoà".

        18 tháng 11

        Tại Cha Lo (miền Tây Quảng Bình), Đại đội 3 Tiểu đoàn xxxxxx     pháo cao xạ 37mm (Sư đoàn bộ binh 325) do đại đội trưởng Lê Hữu Mai và chính trị viên Nguyễn Viết Xuân chí huy, bắn rơi 1 máy bay RF-101 và 2 chiếc T-28. Giửa trận chiến đấu ác liệt, đồng chí Nguyễn Viết Xuân bị thương, nhưng quyết không rời vị trí, tiếp tục động viên đơn vị chiến đấu. Lời hô "Nhằm thẳng quân thù, bắn!" của chính trị viên Nguyễn Viết Xuân trong trận đánh trở thành khẩu lệnh chiến đấu của bộ đội Phòng không - Không quân và các lực lượng vũ trang nhân dân miền Bắc trong suốt những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đê quốc Mỹ.

        Tháng 11

        Quân ủy Trung ương xác định 11 nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân.

        1- Tích cực tiêu diệt sinh lực địch, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta.

        2- Đánh chắc thắng; đánh có tổ chức, có chuẩn bị, đánh thắng trận đầu.

        3- Phối hợp chặt chẽ hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

        4- Tập trung lực lượng, tiêu diệt từng bộ phận quân địch.

        5- Tiến công kiên quyết, liên tục, phòng ngự tích cực, ngoan cường.

        6- Bố trí binh lực có trọng điểm, nắm lực lượng dự bị mạnh.

        7- Độc lập tác chiến, chủ động phối hợp hiệp đồng chặt chẽ.

        8- Phát huy sở trường đánh gần, đánh đêm, đánh liên tục.

        9- Kết hợp chặt chẽ chính trị với quân sự, tác chiến với binh vận.

        10- Phát huy ưu thế chính trị, tinh thần chiến đấu kiên cường, chiến thắng quân địc.h có ưu thế trang bị kỹ thuật.

        11- Tích cực chủ động, cơ động linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, bí mật, bất ngờ.

        2-12-1964 đến 3-1-1965

        Chiến dịch Bình Giã. Lực lượng ta tham gia: 2 trung đoàn bộ binh (761, 762), Đoàn 80 pháo binh chủ lực Miền, 2 tiểu đoàn bộ binh (800, 500) của Quân khu 7, Tiểu đoàn pháo binh 186 của Quân khu 6; Đại đội 445 tinh Bà Rịa và lực lượng dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch.

        Ban chi huy chiến dịch có các đồng chí: Trần Đình Xu - chi huy trưởng, Lê Văn Tưởng - chính ủy, Nguyễn Hoà - phó chi huy trưởng kiêm tham mưu trưởng, Nguyễn Văn Bứa - phó chi huy trương. Lê Xuân Lựu - chủ nhiệm chính trị.

        Lực lượng địch có 4 tiêu đoàn biệt động quân (30, 33, 35, 36), 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 chi đoàn cơ giới M-113, 2 trung đội pháo binh 105mm.

        Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt (2-17 tháng 12 năm 1964, 27 tháng 12 năm 1964 - 3 tháng 1 năm 1965). Các đơn vị đánh 5 trận cấp trung đoàn, 2 trận cấp tiểu đoàn và một số trận khác. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấư hơn 1.700 tên (có hàng chục cố vấn Mỹ), bắt gần 300 địch diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực ngụy (tiểu đoàn thủy quân lục chiến số 4, tiếu đoàn biệt động quân 33) và 1 chi đoàn xe cơ giới M-113 (thuộc Thiết đoàn 1), đánh thiệt hại 3 tiếu đoàn khác và nhiều đại đội; bắn rơi, phá hủy 56 máy bay, phá hủy 45 xe quân sự, thu hơn một nghìn súng các loại và gần 100 máy thông tin.

        Chiến dịch Bình Giã đánh bại chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận", làm tan rã hầu hết lực lượng dân vệ trên đường số 2 và huyện Hoài Đức, phá vỡ nhiều ấp chiến lược, giải phóng Phò Trì ven biển Hàm Tân, bảo đảm căn cứ tiếp nhận vũ khí của miền Bắc bằng đường biển, mờ rộng căn cứ tỉnh Bình Thuận.

        Đây là chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ; một chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu sự thất bại của Mỹ - ngụy trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt''.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2016, 08:25:14 PM

Năm 1965

        Tháng 1

        Hội đồng Quốc phòng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, đánh giá công tác quốc phòng 10 năm (1955-1965), nhận định tình hình và âm mưu của địch, xác định nhiệm vụ, phương hướng quốc phòng thời gian tới. về nhiệm vụ quốc, phòng trước mắt của miền Bắc, Hội đồng quyết định:

        1- Tăng cường công tác phòng thủ, trị an và sẵn sàng chiến đấu cao.

        2- Ra sức xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh bao gồm bộ đội chú lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và lực lượng hậu bị đúng với đường lối quân sự của Đảng, với truyền thống kinh nghiệm và điều kiện thực tế của ta, đủ sức đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

        3- Tích cực xây dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt kết hợp yêu cầu kinh tế với yêu cầu quốc phòng, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng thêm tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước.

        7 tháng 1

        Thành lập Trung đoàn tên lửa phòng không 236 - Đoàn Sông Đà (quyết định số 35/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng); Trung đoàn trương Nguyễn Quang Tuyến, Chính ủy Phạm Đãng Ty. Đây là trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của quân đội ta.

        Tháng 2

        * Phòng nghiên cứu Kỹ thuật Vũ khí (Cục nghiên cứu Kỹ thuật) nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị phóng hoả tiễn A12 bằng phương pháp ứng dụng. Hoả tiễn sau khi cải tiến được đưa vào trang bị cho mỗi tiểu đội 2 cụm, mỗi cụm gồm 6 bệ. Vì vậy có ký hiệu là A12.

        Ngày 17 tháng 4 năm 1966 Cục nghiên cứu Kỹ thuật, Bộ tư lệnh Pháo binh và các cơ quan Tổng cục Hậu cần, Bộ Tổng tham mưu tham gia tổ chức bắn thử A12 tại trường bắn quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đã chứng kiến cuộc bắn thử thảnh công- Tiếp đó, Bộ tư lệnh Pháo binh triển khai huấn luyện cho Tiểu đoàn 99 pháo binh sử dụng A12 chiến đấu. Ngày 27 tháng 2 năm 1967, ta sử dụng 62 viên đạn A12 tập kích vào sân bay Đà Nẳng, phá hủy 13 máy bay, loại khỏi vòng chiến đấu 135 Mỹ, 85 tên ngụy. Trong các trận đánh tiếp theo, Al2 đã phát huy tác dụng, đạt hiệu qua chiến đấu cao.

        Sáng kiến cải tiến sử dụng A12, góp phần khai thác hiệu quả nguồn vũ khí nước ngoài viện trợ cho ta.

        8 tháng 3

        Mỹ đưa hai tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ (1 và 3) thuộc lữ đoàn hải quân viễn chinh số 9 từ Ô-ki-na-oa (Nhật Bản), đổ bộ lên Đà Nẵng. Đây là đơn vị tác chiến trên bộ đầu tiên của hải quân Mỹ được triển khai, mở đầu việc đưa hàng loạt quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam.

        15 tháng 3

        Dân quân xã Diễn Hùng (Diễn Châu, Nghệ An), do Tô Đức Hùng chỉ huy dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay phản lực A-4, mở đầu phong trào thi đua bắn rơi máy bay phản lực hiện đại của Mỹ bằng súng bộ binh trong dân quân tự vệ toàn miền Bắc.

        22 tháng 3

        Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 5 điểm. Tiếp đó, ngày 8 tháng 4, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà nêu lập trường 4 điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam, khẳng định: Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam thì phải rút hết quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ về nước; ngừng ném bom miền Bắc không điều kiện; phải tôn trọng Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954; công việc của miền Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết không có sự can thiệp của nước ngoài.

        25-27 tháng 3

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (đặc biệt), nhận định: "Với những âm mưu và hành động mới của đế quốc Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh một nửa nước có hoà bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền; trong cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân cả nước chống đế quốc Mỹ, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc vẫn là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam...".

        Trung ương Đang quyết định: "Động viên quân và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công địch. Nhanh chóng mở rộng bộ đội thường trực, tăng cường sức mạnh quốc phòng, tranh thủ sự giúp đỡ tới mức cao nhất về mặt quân sự của các nước anh em...".

        3 tháng 4

        * Trung đoàn không quân 921 sử dụng hai biên đội MIG-17, do Phạm Ngọc Lan và Trần Hanh chi huy cùng lực lượng phòng không đánh địch. Sau 20 phút xuất kích, không quân ta bắn rơi 2 chiếc F-8 hiện đại của Mỹ trên vùng trời Hàm Rồng (Thanh Hoá), lập chiến công đầu của bộ đội không quân. Ngày 3 tháng 4 trở thành ngày truyền thống đánh thẳng trận đầu của Không quân nhân dân Việt Nam.

        * Quân uy Trung ương ra nghị quyết (số 54) chuyến Đoàn 559 thành một đơn vị tương đương cấp quân khu. Nhiệm vụ:

        1- Mở đường vận chuyển chi viện người, của cho chiến trường miền Nam và Lào.

        2- Bảo đảm ăn ở cho các lực lượng hành quân qua tuyến-

        3- Bảo đảm các mặt cho các đơn vị bảo đảm hành lang.

        4- Vận chuyển hàng cung cấp cho các đơn vị hành quân ở Lào.

        5- Bảo đảm vận chuyển công văn, tài liệu của Trung ương và các cơ quan chỉ đạo cho cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:18:37 AM

        6 tháng 4

        Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đưa ra 11 biện pháp, trong đó có 4 biện pháp cụ thể hoá quyết định của Tổng thống Giôn-xơn về chiến tranh Việt Nam:

        1- Tăng thêm từ 18.000 đến 20.000 quân trong các lực lượng hỗ trợ của Mỹ để bổ sung cho các đơn vị hiện có và cung cấp số nhân viên hậu cần cần thiết.

        2- Triển khai thêm hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ và những bộ phận kết hợp về chỉ huy và hỗ trợ.

        3- Thay đổi nhiệm vụ những đơn vị lính thủy đánh bộ được triển khai hướng vào Việt Nam để có thể sử dụng những đơn vị này một cách tích cực hơn.

        4- Thăm dò khả năng triển khai quân sang Nam Việt Nam của chính phủ Nam Triều Tiên, Ôt-xtrây-li-a, Tân Tây Lan...

        Quyết định trên đánh dấu một sự thay đổi về chiến lược của Mỹ từ cố vấn hậu thuẫn chuyến sang tham chiến trực tiếp, đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam.

        7 tháng 4

        Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phát biểu tại Trường đại học Giôn Hốp-kin, bang Ban-ti-mo: "Chúng ta sẽ không thất bại ..., chúng ta sẽ không rút lui hoặc công khai dưới bóng của một thoả hiệp vô nghĩa... Và chúng ta phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tiếp diễn lâu dài"1. Điều này chứng tỏ Mỹ quyết tâm dùng mọi biện pháp quân sự chống nhân dân Việt Nam

        22 tháng 4

        Bộ Quốc phòng ra các quyết định từ số 34 đến 37, điều chỉnh biên chế một số đơn vị:

        - Chấn chỉnh Lữ đoàn 330 thành Sư đoàn 330, Lữ đoàn 350 thành Sư đoàn 350.

        - Chấn chỉnh Lữ đoàn 335 thành Trung đoàn 335 thuộc Quân khu Tây Bắc.

        - Thành lập 3 trung đoàn pháo cao xạ (238, 222 và 216) thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân.

        - Thống nhất cơ quan Tỉnh đội Quảng Ninh vào cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc.

        26 tháng 4

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập lại Cục Vận tải quân sự thuộc Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ: Thực hiện công tác vận tải quân sự trên các tuyến hậu phương của Tổng cục Hậu cần, vận tải chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam trên tuyến hậu phương miền Bắc và cho chiến trường Trung Lào, Thượng Lào, làm tham mưu cho chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ vận tải quân sự trong toàn quốc.

        Cục trưởng: Thượng tá Nguyễn Danh Phan. Chính ủy: Thượng tá Trần Minh Chúng.

        Tháng 4

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành Luật nghĩa vụ quân sự thời chiến, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Trong năm 1965 gần 290.000 người trên miền Bắc tình nguyện vào quân đội; riêng tháng 5 có 150.000 người.

        1 tháng 5

        Tướng Oét-mo-len trình lên Nhà trắng kế hoạch chiến lược ba giai đoạn gọi là "Chương trình hợp tác" gồm ba nội dung: tảo thanh, bảo đảm an ninh, tìm và diệt.

        Giai đoạn 1, từ tháng 7 năm 1965 đến tháng 12 năm 1965: đưa nhanh quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam để ngăn chặn chiều hướng sụp đổ của chế độ Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho những khu vực đông dân cư, gấp rút triển khai lực lượng chuẩn bị cho cuộc phản công giành lại quyền chủ động chiến trường.

        Giai đoạn 2, từ đầu năm 1966 đến tháng 6 năm 1966: quân Mỹ và lực lượng "đồng minh" mở các cuộc hành quân tiêu diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định, tiêu diệt lực lượng chủ lực Quân Giải phóng, phá các căn cứ du kích, hỗ trợ cho chương trình bình định.

        Giai đoạn 3, từ tháng 7 năm 1966 đến giữa hoặc cuối năm 1967, quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc phối hợp với quân của chính quyền Sài Gòn, mở các cuộc hành quân tiến công tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân Giải phóng và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định.

        Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá kế hoạch chiến lược ba giai đoạn của Oét-mo-len là "đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của địch... Và giáng cho kẻ địch những đòn thật nặng nề..."2. Nhưng khi áp dụng vào Việt Nam, kế hoạch quân sự này hoàn toàn bị phá sản và bị tổn thất nặng nề.

        2-6 tháng 5

        Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất họp tai chiến khu Dương Minh Châu. 150 Chiến sĩ Thi đua thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích dự đại hội.

        Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đọc diễn văn nêu rõ: "Đây là đại hội của tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của toàn quân, toàn dân ta, là một cái mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành cùa các lực lượng vũ trang giải phóng của ta".

        Đồng chí Nguyễn Thị Định - Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đọc quyết định của Uy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ chi huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam tuyên dương 23 cán bộ, chiến sĩ là Anh hùng Quân giải phóng, trong đó có 2 nữ (Tạ Thị Kiều, Nguyễn Thị Út).

        5 tháng 5

        Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh động viên cán bộ, động viên một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận công dân thuộc ngạch dự bị quân đội nhưng chưa phục vụ tại ngũ, tăng cường lực lượng quốc phòng đến mức cần thiết, bảo đảm cho cuộc, chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

------------------
1. Mác Na-ma-ra: "Nhm lại quá khử tấm tham kich và bài học về cuộc chiến tranh Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.185.

2. Tài liệu mật Bộ Quôc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, việt Nam thông tấn xã phát hành, Hà Nội, 1971, tập 2, tr. 136.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:20:10 AM

        10-5 đến 22-7

        Chiến dịch Đồng Xoài. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của địch, hỗ trợ nhân dân đẩy mạnh chiến tranh du kích nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng, Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch tiến công đich trên địa bàn các tỉnh Bình Long, Phước Long (hướng chính); Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hoà (hướng phối hợp).

        Lực lượng địch trên địa bàn tác chiến có 9 tiểu đoàn chủ lực 2 tiểu đoàn biệt động 1 tiểu đoàn dù. 2 tiểu đoàn và 7 đại đội bảo an, 21 đại đội biệt kích, 1 chi đoàn thiết giáp.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 3 trung đoàn bộ binh (1,2, 3), Đoàn pháo binh 80 chủ lực Miền, Trung đoàn 4 và 2 tiểu đoàn chủ lực Quân khu 7, lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch, các đoàn hậu cần 81, 83 và dân công, thanh niên xung phong các địa phương.

        Chỉ huy chiến dịch: Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tư lệnh Miền - Chỉ huy trưởng. Thiếu tướng Trần Độ - Phó chính ủy Miền - Chính ủy. Đại tá Hoàng Cầm - Tham mứu trưởng.

        Sau 3 đợt chiến đấu (10-31 tháng 5, 9-20 tháng 6, 24 tháng 6 - 22 tháng 7), bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 4.459 tên (có 73 Mỹ). Bốn tiểu đoàn chủ lực ngụy, trong đó có tiểu đoàn dù thuộc lực lượng dự bị chiến lược và hàng chục đại đội bảo an bị đánh thiệt hại nặng. Ta thu 1.652 khẩu súng các loại, phá hủy 28 xe bọc thép, 5 xe tăng, bắn rơi 34 máy bay, phá hủy 6 đầu máy và 12 toa xe lửa.

        Chiến dịch Đồng Xoài góp phần cùng với các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, đánh dấu bước trường thành mới về tổ chức chỉ huy và trình độ tác chiến hiệp đồng bộ binh với pháo binh và đặc công đánh địch trong công sự vững chắc, giành thắng lợi lớn của bộ đội ta trên chiến trường miền Nam.

        19 tháng 5

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 67/QĐ-QP) thành lập Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội gồm năm trung đoàn pháo cao xạ (220, 260, 224, 230, 218) trang bị pháo từ 57mm đến 100mm. Tư lệnh: Nguyễn Dương Hán. Chính ủy: Trần Văn Giang (từ ngày 16 tháng 3 năm 1967, Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội mang phiên hiệu Sư đoàn 361). Cùng ngày 19 tháng 5, Bộ Quốc phòng quyết định (số 66/QĐ-QP) thành lập Bộ tư lệnh Phòng không Hải Phòng. Tư lệnh Nguyễn Hữu ích, Chính ủy Lương Tý (từ ngày 16 tháng 3 năm 1967. Bộ tư lệnh Phòng không Hải Phòng mang phiên hiệu Sư đoàn phòng không 363).

        26 tháng 5

        Đại đội 2 (Tiểu đoàn 70 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam) được tăng cường tổ chức đặc công Quân khu 5 (gồm 8 chiến sĩ) tiến công một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành thuộc xã Kỳ Liên, huyện Tam Kỳ (nay là xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành (Quảng Nam). Địch bố trí phòng ngự gồm ba cụm, bên ngoài có một hàng rào thép gai lùng nhùng bảo vệ. Khoảng 0 giờ 30 phút, bộ đội ta tiến công đánh chiếm công sự vòng ngoài rồi phát triển vào bên trong. Sau một lúc bị đánh bất ngờ, hoảng sợ, địch chống trả quyết liệt; ta đưa lực lượng dự bị vào tập trung tiến công, đánh thiệt hại đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ. Đây là trận đầu tháng Mỹ trên chiến trường Khu 5, ngay khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam.

        28 tháng 5

        Thành lập Cục liên lạc Đối ngoại quân sự. Nhiệm vụ: Quản lý và giải quyết mọi công việc có quan hệ với nước ngoài của Quân đội nhân dân Việt Nam, tạo ra bước phát triển của hoạt động đối ngoại quân sự, góp phần củng cố và phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân và các lực lượng vũ trang ta với nhân dân và quân đội các nước anh em, bạn bè.

        28-5 đến 20-7

        Chiến dịch Ba Gia. Nhâm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, làm tan rã phần lớn lực lượng bán vũ trang của địch, mở rộng vùng giải phóng, Quân khu 5 quyết định mở chiến dịch tiến công trên địa bàn các huyện Ba Gia, Trà Bồng, Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi).

        Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 1 chiến đoàn ngụy gồm trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 2, 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 3 tiểu đoàn biệt động, được không quân, pháo binh chi viện. Lực lượng ta: Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 45 chủ lực Khu 5, hai đại đội pháo 75, một đại đội Phòng không và lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ngãi.

        Thiếu tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch. Sau 3 đợt chiến đấu (28.5-7.6, 10-25.6, 4-20.7), bộ đội ta diệt và làm bị thương 2.054 tên, thu 973 súng các loại, phá hủy 15 xe quân sự, bắn rơi 18 máy bay, hỗ trợ nhân dân 29 xã thuộc 6 huyện nổi dậy giành quyền làm chủ.

        Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, bộ đội ta đánh thiệt hại nặng chiến đoàn, đơn vị ứng cứu lớn nhất của quản chú lực ngụy, đánh bại biện pháp ứng chiến giải toả nhanh bằng đơn vị cấp chiến đoàn của chúng, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:24:23 AM

        Tháng 5

        Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Cục nghiên cứu Kỹ thuật nghiên cứu thiết kế loại vũ khí phá rào.

        Phòng nghiên cứu Vũ khí thuộc Cục nghiên cứu Kỹ thuật tiến hành nghiên cứu, thiết kế chế tạo thành công vũ khí phá rào. Cuối năm 1971, Bộ Quốc phòng giao cho Cục Quân giới sản xuất loạt đầu tiên đế thử nghiệm ở chiến trường. Ngày 30 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn 27 đưa vào sử dụng đánh điểm cao 544, mở màn cho chiến dịch Trị - Thiên.

        1 tháng 6

        Mỹ tổ chức cuộc họp ở Hô-nô-lu-lu bàn kế hoạch gây sức ép tối đa về quân sự mà đỉnh cao là dùng không quân tiến công miền Bắc Việt Nam và tăng quân Mỹ vào miền Nam theo yêu cầu của tướng Oét-mo-len.

        18 tháng 6

        Mỹ dùng 27 lần chiếc máy bay B-52 ném bom rải thảm vùng Bến Cát (Đông Nam Bộ). Đây là lần đầu tiên Mỹ sử dụng loại vũ khí chiến lược có tính chất hủy diệt trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        19 tháng 6

        Chĩnh quyền Sài Gòn thành lập nội các chiến tranh gồm ủy ban lãnh đạo quốc gia, do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu, ủy ban hành pháp trung ương (chính phủ) do Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch. Như vậy, bằng các biện pháp khéo léo không gây những chấn động lớn, Oa-sinh-tơn đã lập được chính quyền quân sự tay sai ở Sài Gòn trung thành với Mỹ, tạm thời ổn định về chính trị để Mỹ tiếp tục đưa quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam tiến hành chiến tranh và tăng cường không quân, hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.

        21 tháng 6

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh 350 (trên cơ sở hợp nhất Sư đoàn 350 và Thành đội Hải Phòng). Nhiệm vụ: Thống nhất chỉ huy các đơn vị bộ đội chủ lực Quân khu 3 đứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng và bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; làm tham mưu cho Thành ủy và chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn thành phố; chủ trì hiệp đồng tác chiến với quân binh chủng có lực lượng chiến đấu bảo vệ Hải Phòng. Tư lệnh: Thượng tá Nguyễn Tiệp. Chính ủy: Thượng tá Đỗ Chính.

        22 tháng 6

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 101/QĐ-QP) thành lập Bộ tư lệnh Thiết giáp. Nhiệm vụ: "Lãnh đạo, chỉ huy xây dựng và quản lý đơn vị xe tăng, thiết giáp dự bị của Bộ và làm tham mưu cho Bộ về Binh chủng Thiết giáp".

        Lực lượng trực thuộc Bộ tư lệnh: 2 trung đoàn xe tăng (202, 203), 1 tiểu đoàn huấn luyện, 3 cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần kỹ thuật) và một số đơn vị trực thuộc. Tư lệnh: Đào Huy Vũ. Chính ủy: Lê Ngọc Quang.

        27-30 tháng 6

        Mỹ huy động lử đoàn dù 173 phối hợp với một tiểu đoàn quân Ôt-xtrây-li-a mờ cuộc càn quét vào vùng phía tây bắc Sài Gòn. Đây là hành động trên bộ đầu tiên của quân Mỹ ở miền Đông Nam Bộ.

        28 tháng 6

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 102/QĐ-QP) thành lập Bộ tư lệnh Công binh. Nhiệm vụ:

        - Chỉ đạo, chỉ huy xây dựng và quản lý các đơn vị công binh dự bị của Bộ.

        - Làm tham mưu cho Bộ về kế hoạch bảo đảm công trình quân sự (công trình chiến đấu, sở chỉ huy, đường sá, sân bay, quân cảng...), giúp Bộ chỉ huy các quân khu, quân chủng, binh chủng làm các công trình quốc phòng.

        - Trực tiếp làm một số công trình do Bộ giao.

        - Giúp Bộ chỉ đạo nghiệp vụ đối với các đơn vị công binh quân khu. quân chủng, binh chủng và sư đoàn.

        - Cùng các cơ quan Nhà nước xây dựng các tuyến giao thông thủy bộ.

        - Lực lượng trực thuộc Bộ tư lệnh có các trung đoàn 239, 249 (vượt sông); 219, 229 (công trình); 83, 98, 297 (cầu đường) và sáu phòng (tham mưu, chính trị, hậu cần, khí tài, công trình và sân bay).

        Tư lệnh: Phan Hoàng. Chính ủy: Chu Thanh Hương.

        Tháng 6   

        Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu. nước (tổ chức thành các trung dội, đại đội, tổng đội), gồm những đội viên hầu hết quê ở các tỉnh miền Bắc, làm nhiệm vụ chủ yếu trên Tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 (đường Hồ Chi Minh), điều chỉnh và bảo đảm giao thông ở các trọng điểm địch đánh phá và trên những tuyến đường chiến lược từ Quân khu 4 vào Nam.

        20 tháng 7

        Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân "Đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu, dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn" .

        Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước ta quyết tâm đánh thẳng giặc Mỹ xâm lược.

        24 tháng 7

        Hai tiểu đoàn (63 và 64) Trung đoàn tên lửa phòng không 236 bắn hạ 3 máy bay F-4 ở độ cao 7.000m và lực lượng pháo phòng không (57, 37mm) phối hợp với dân quân địa phương tổ chức bắn máy bay địch ở Suối Hai, huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây. Trận đánh thắng lợi mờ ra khả năng mới cho phép bộ đội Phòng không, với hình thức tác chiến cơ động tên lửa - cao xạ, tổ chức đánh địch có hiệu quả cao. Với chiến công đầu này ngày 24 tháng 7 trở thành ngày truyền thống của bộ đội tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:28:12 AM

        18 tháng 8

        Chiên tháng Vạn Tường. Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) chủ lực Khu 5, đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi và dân quân du kích địa phương chống cuộc hành quân "ánh sao sáng” của Mỹ - ngụy tại thôn Vạn Tường, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Lực lượng địch gồm 6.000 quân Mỹ; 2.000 quân nguy có nhiều máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tàu chiến hỗ trợ. Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, sau một ngày chiến đấu, bộ đội và du kích loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên Mỹ, phá hủy 22 xe tăng và xe bọc thép, bân rơi 13 máy bay. Đây là trận đọ sức quyết liệt đầu tiên giữa quân chủ lực ta với quân viễn chinh Mỹ. Chiến thắng Vạn Tường chứng tỏ quân dân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ.

        23 tháng 8

        Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 ra quyết định (số 255/TMH) thành lập Sư đoàn 320B. Biên chế: 3 trung đoàn bộ binh (3, 4, 5) và các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần. Quyền sư đoàn trưởng: Phạm Thanh Sơn. Quyền chính ủy: Nguyễn Duy Tường.

        Ngày 4 tháng 5 năm 1979, Sư đoàn 320B đổi phiển hiệu thành Sư đoàn 390 (quyết định số 530/CP, do Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó tổng tham mưu trưởng ký).

        Tháng 8

        Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Cục nghiên cứu Kỹ thuật nghiên cứu chế tạo bóng khí nhẹ chống máy bay địch bay thấp. Phòng kỹ thuật Vũ khí thuộc Cục nghiên cứu Kỹ thuật đã nghiên cứu chế tạo thành công, đưa sản xuất hàng loạt. Bóng khí nhẹ có tác dụng hạn chế chiến thuật bay thấp của máy bay địch để các trận địa pháo cao xạ, tên lửa của ta bắn hiệu quả. Từ năm 1965 đến năm 1970 có 1.000 quả bóng được đưa vào sừ dụng, góp phần hạ được 7 máy bay, trong đó có 1 chiếc A-6 bị bắn rơi đêm 1 tháng 12 năm 1967 tại Hà Nội.

        2 tháng 9

        * Bộ tư lệnh miền Đông Nam Bộ thành lập Sư đoàn 9 chủ lực Miền tại Suối Nhung, tinh Phước Thành. Biên chế 3 trung đoàn: Trung đoàn 1 (đoàn Bình Giã), Trung đoàn 2- (đoàn Đồng Xoài), Trung đoàn 3 gồm một số đơn vị bộ đội địa phương đồng bằng sông Cửu Long và các tiểu đoàn, đại đội binh chủng. Sư đoàn trưởng: Đại tá Hoàng Cầm (Năm Thạch), Chính ủy: Đại tá Lê Văn Tường (Lê Chân).

        * Thành lập Sư đoàn bộ binh 3 chủ lực Quân khu 5 tại xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Nhơn (Bình Định). Biên chế: Trung đoàn 2 chủ lực Khu 5 và 2 trung đoàn (12, 22) vừa từ miền Bắc hành quân vào. Sư đoàn trưởng: Giáp Văn Cương. Chính ủy: Đặng Hoà.

        15 tháng 10

        Thành lập Đoàn pháo binh 69 chủ lực Miền (Đoàn pháo binh Biên Hoà) tương đương sư đoàn. Biên chế: hai tiểu đoàn 35 và 52 (pháo cối và ĐKZ), Tiểu đoàn 34 sơn pháo 75mm, Tiểu đoàn 36 và Tiểu đoàn 43 súng máy cao xạ. Đoàn trưởng: Lương Văn Nho. Chính ủy: Hoàng Minh Khanh (tức Đào Sơn Tây).

        18-10 đến 26-11

        Chiến dịch Plây Me (Tây Nguyên). Chiến dịch nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực Sài Gòn, kéo Mỹ ra ứng cứu; nếu quân Mỹ ra thì cố gắng tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, tìm hiểu khả năng tác chiến của chúng, xây dựng cách đánh Mỹ cho bộ đội ta, đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng, mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công trên địa bàn Bầu Cạn, Plây Me, Đức Cơ (nam thị xã Plây Ku 30 km).

        Lực lượng địch có sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ, 1 chiến đoàn hỗn hợp và 1 chiến đoàn thiết giáp nguy, 1 trung đoàn Nam Triều Tiên, được không quân pháo binh chi viện tối đa.

        Lực lượng ta có 3 trung đoàn bộ binh (33, 66, 320), Tiều đoàn 952 đặc công, Tiểu đoàn 200 pháo binh, Tiểu đoàn 32 súng máy phòng không.

        Chỉ huy chiến dịch gồm: Chu Huy Mân (Tư lệnh), Nam Hà (Chính ủy).

        Trong hơn một tháng chiến đấu, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 tên Mỹ, 1.270 tên nguy, diệt tiểu đoàn 1 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 (sư đoàn Ky binh bay Mỹ) bán rơi 59 máy bay lên thẳng, phá hủy 89 xe quân sự và nhiều súng các loại. Sư đoàn ky binh bay số 1 Mỹ cơ động bằng máy bay lên thẳng (lần đầu tiên xuất hiện trong chiến tranh) bị quân đội ta đánh bại trên chiến trường.

        Chiến thắng Plây Me là thực tế chứng minh quân đội ta có khả năng tiêu diệt từng đơn vị Mỹ, phá chiến thuật cơ động bằng máy bay lên thẳng; đánh bại những đơn vị tinh nhuệ, trang bị hiện đại nhất của Mỹ trong chiến tranh cục bộ ở miền Nam.

        18 tháng 10

        Thành lập Sư đoàn bộ binh 2 chủ lực Khu 5 tại Tiên Phước (Quảng Nam). Biên chế gồm Trung đoàn 1 (đoàn Ba Gia) chủ lực Khu 5, Trung đoàn 21 vừa từ miền Bác hành quân vào và Tiểu đoàn 70.

        Sư đoàn trưởng: Nguyễn Năng (tức Nguyễn Việt). Chinh ủy: Nguyễn Minh Đức (tức Nguyễn Minh Đạo).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:31:54 AM
        
        8 tháng 11

        Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9 chủ lực Miền) dưới sự chỉ huy cua phó trung đoàn trưởng Bùi Thanh Vân tập kích lử đoàn 173 không vận Mỹ ở Đất Cuốc, cách thị xã Biên Hoà 30 km về phía bắc. Sau một ngày chiến đấu, bộ đội ta đánh lui 13 đợt phản kích của địch, diệt và làm bị thương gần 300 tên, bắn rơi 4 máy bay, thu nhiều vũ khí. Đây là trận đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mỹ đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.

        12 tháng 11

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 203/QĐ-QP) thành lập hai công trường (7 và 211) làm nhiệm vụ bảo đảm các tuyến đường từ biên giới Việt Nam tới các căn cứ cách mạng Lào và thành lập Trung đoàn công binh 251 xây dựng sân bay thuộc Bộ tư lệnh Công binh.

        12-27 tháng 11

        Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng. Nhằm đánh tiểu diệt quân Mỹ, hỗ trợ phong trào đấu tranh ở đô thị, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công vào lữ đoàn 3 (sư đoàn bộ binh 1 Mỹ) và trung đoàn bộ binh 7 (sư đoàn 5), chiến đoàn thiết giáp 3, tiểu đoàn bảo an 1, sáu tiểu đoàn pháo binh nguy ở khu vực Bàu Bàng, Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương).

        Lực lượng ta tham gia: Sư đoàn bộ binh 9 chủ lực Miền và một tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương. Chỉ huy chiến dịch: Lê Trọng Tấn (Tư lệnh), Hoàng Cầm (Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng).

        Trong 15 ngày, bộ đội ta đánh 6 trận, trong đó có 2 trận đánh quy mô trung đoàn tăng cường đến sư đoàn: Trận Bàu Bàng (12-11) và trận Dầu Tiếng (27-11) gây thiệt hại nặng cho lữ đoàn 3 sư đoàn 1 Mỹ và chiến đoàn 7 nguy, loại khỏi vòng chiến đấu 4.250 tên, phá hủy 300 xe quân sự (có 80 xe tắng và xe M113), 10 khẩu pháo 105mm, bắn rơi 2 máy bay.

        Chiến thắng Bàu Bàng - Dầu Tiếng củng cố niềm tin đánh thắng quân Mỹ, mở ra phong trào: "Tìm Mỹ mà diệt", ”Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh" trong các lực lượng vũ trang miền Nam.

        17-11 đến 18-12

        Chiến dịch Đồng Dương. Diễn ra trên địa bàn các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước tỉnh Quầng Nam.

        Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 6 tiểu đoàn bộ binh nguy, 4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, 2 tiểu đoàn pháo binh và 1 chi đoàn xe bọc thép (tổng cộng khoảng 8.500 tên).

        Lực lượng ta có: Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu) chủ lực Khu 5, tiểu đoàn bộ binh độc lập 70, một tiểu đoàn đặc công (thiếu), một tiểu đoàn cối 120 và ĐKZ, một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, Tiểu đoàn bộ binh 72 Quảng Nam và lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch.

        Bộ tư lệnh chiến dịch gồm: Tư lệnh Nguyễn Năng (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2), Chính ủy Võ Minh Thành (Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam), Tham mưu trưởng Lê Hữu Trử.

        Trong hơn một tháng chiến đấu, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 6.184 tên địch (có 1.142 Mỹ), bắn rơi và bắn hỏng 61 máy bay, thu 809 súng các loại, giải phóng 43.500 dân (gồm quận ly Hoài Đức, 7 xã và 21 thôn).

        23 tháng 11

        Thành lập Sư đoàn bộ binh 5 chủ lực Miền tại Bà Rịa- Biên chế lúc đầu có Trung đoàn 34 (Trung đoàn Đồng Nai) bộ đội chủ lực Quần khu 7 và Trung đoàn 5 vừa được tổ chức từ một số đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh Nam Bộ- Sư đoàn trưởng: Nguyễn Hoà. Chính ủy: Lê Xuân Lựu.

        Tháng 11

        Cục Quân giới (Tổng cục Hậu cần) chế tạo thành công súng cối 60mm.

        1 tháng 12

        Năm chiến sĩ biệt động Sài Gòn bí mật đặt mìn hẹn giờ ở khách sạn Mê-trô-pôn ở trung tâm thành phố, diệt và làm bị thương 200 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ.

        20 tháng 12

        Thành lập Sư đoàn bộ binh 1 chủ lực Mặt trận Tây Nguyên. Biên chế 3 trung đoàn (33, 66 và 320) vừa từ miền Bắc hành quân vào. Sư đoàn trưởng: Nguyễn Hữu An. Chính ủy: Hoàng Thế Thiện.

        21-26 tháng 12

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khoá III) khẳng định: "Mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn...". "... Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng ta, nhân dân ta đã sáng tạo nên những lực lượng to lớn về mọi mặt và đang đứng vào một thế thuận lợi...".

        Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến, hội nghị quyết định: "Động viên lực lượng của cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc -dân chủ nhân dân trong cả nước...".

        Cuối năm 1965

        * Lực lượng bộ đội chủ lực ta phát triển về quân số trang bị. Bộ đội chủ lực ở miền Bắc tăng từ 195.000 lên 400.000 quân, các quân binh chủng tăng gấp ba lần so với năm 1964, riêng Quân chủng Phòng không - Không quân phát triển vượt bậc, không chỉ có pháo phòng không mà còn có các binh chủng tên lửa đất đối không, ra-đa cảnh giới, không quân tiêm kích.

        * Bộ đội chủ lực miền Nam phát triển lên 5 sư đoàn (1, 2, 3, 5, 9) và 11 trung đoàn bộ binh, nhiều trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật tương đối hiện đại hình thành.

        * Mỹ tăng cường đưa quân chiến đấu Mỹ và chư hầu vào miền Nam. Tổng số quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam có 184.314 tên, gồm 3 sư đoàn, 6 lử đoàn và trung đoàn (sư đoàn 3 và trung đoàn 7 thuộc sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ; sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ); sư đoàn ky binh bay số 1, lữ đoàn 1 (sư đoàn ky binh không vận 101); lữ đoàn dù 173; lữ đoàn công binh 18; lữ đoàn 3 - sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới); trung đoàn ky binh thiết giáp 11), 2 phi đoàn máy bay chiến đấu chiến thuật số 3 và 12, lực lượng hải quân đặc nhiệm 115, 116 tuần tra kiểm soát vùng duyên hải và trên sông. Quân các nước phụ thuộc Mỹ có 20.500 tên gồm sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ; lử đoàn lính thủy đánh bộ rồng xanh Nam Triều Tiên; tiểu đoàn 1, trung đoàn Hoàng gia Ôt-xtrây-li-a, đại đội pháo Niu-di-lân. Tây Ban Nha, Đài Loan cũng đưa sang Việt Nam 43 cố vấn quân sự và chuyên gia. Quân đội Sài Gòn có 520.000 tên, biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn. Ngoài ra còn lực lượng thuộc hạm đội 7 cùng hàng vạn lính Mỹ đóng ở Thái Lan Phi-lip-pin, đảo Ô-ki-na-oa, đảo Guam... sẵn sàng tham gia cuộc chiến tranh xâm lược -Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:34:55 AM

Năm 1966

        Tháng 1 - tháng 4

        Quân và dân miền Nam đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của Mỹ - ngụy. Nhằm tìm diệt chủ lực ta, phá căn cứ chiến tranh du kích, giành lại quyền chủ động chiến trường, ngày 8 tháng 1 đế quốc Mỹ huy động 72 vạn quân (có 18 vạn quân Mỹ) gồm 14 sư đoàn, 9 lữ đoàn và trung đoàn bộ binh Mỹ, nguy và các nước phụ thuộc Mỹ; hơn 1.000 khẩu đại bác, 1.342 xe tăng, xe bọc thép, 2.288 máy bay các loại, 541 tàu, xuồng chiến đấu mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất (mùa khô 1965 - 1966). Địch tập trung đánh ra năm hướng trên hai chiến trường trọng điểm: Miền Đông Nam Bộ và Khu 5.

        Hướng thứ nhất: Đánh ra tây bác Sài Gòn, gồm Củ Chi (chiến khu C) nhằm tiêu diệt Sư đoàn 9 chủ lực Miền, phá căn cứ giải phóng của ta, giữ an ninh cho sào huyệt Mỹ - nguy ở Sài Gòn.

        Hướng thứ hai: Đánh xuống phía đông Sài Gòn, từ sông Đồng Nai đến Bà Rịa để bảo vệ đường 15, sông Lòng Tàu và các căn cứ quân sự Biên Hoà, Vũng Tàu, phá các căn cứ du kích ở vùng đông Sài Gòn - Gia Định.

        Hướng thứ ba: Đánh ra phía nam tỉnh Phú Yên, phá các xã bắc sông Đà Nắng và ven biển huyện Tuy Hoà, nhằm chuẩn bị bàn đạp tiến công vào các căn cứ của ta.

        Hướng thứ tư: Đánh ra vùng bắc tỉnh Bình Định, nhằm tìm diệt Sư đoàn 3 chủ lực Khu 5, giữ đường chiến lược 19 từ Quy Nhơn đi Tây Nguyên để đảm bảo tiếp tế cho lực lượng Mỹ - nguy ở Tây Nguyên. Đây là hướng trọng điểm của cuộc phản công ở Khu 5.

        Hướng thứ năm: Đánh ra khu vực nam tỉnh Quảng Ngãi chủ yếu vào huyện Đức Phổ và vùng phía đông huyện Ba Tơ, chiếm vùng giải phóng phía nam tỉnh Quảng Ngãi, khai thông đoạn đường số 1 nối liền giữa quân khu I và quân khu II, ngăn chặn tiến công ở bắc Bình Định.

        Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dãn, quân và dân ta liên tục mở các đợt tác chiến, thực hiện phản công kết hợp với tích cực tiến công, kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng. Nổi bật là các đợt tác chiến của du kích ở Củ Chi (Đông Nam Bộ), bắc Bình Định, nam Quảng Ngãi, Phú Yên (Khu 5); những trận đánh tập trung của bộ đội chủ lực ở Bông Trang - Nhà Đỏ Bến Cát (Thủ Dầu Một), tây Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), Chợ Cát Tam (Bình Định). Quân và dân các địa phương vùng đồng bằng Nam Bộ và Khu 5 đã đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của Mỹ - nguy, phá ách kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng. Bị thiệt hại nặng nề, tháng 4 năm 1966, Mỹ phải chấm dứt cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất sớm hơn dự định 2 tháng.

        Trong hơn 3 tháng, quân và dân miền Nam đánh bại gần 450 cuộc hành quân càn quét, trong đó có 20 cuộc hành quân lớn của 20 vạn quân Mỹ, chư hầu và 50 vạn quân nguy, loại khỏi vòng chiến đấu gần 7 vạn tên địch (có 3 vạn Mỹ), bắn rơi và phá hủy 940 máy bay, bắn cháy và phá hủy 6.000 xe quân sự (có 300 xe tăng, xe bọc thép). Thắng lợi này tạo cơ sở và niềm tin cho quân dân miền Nam đánh thắng Mỹ- ngụy những năm tiếp theo.

        24 tháng 1

        Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các vị đứng đầu các nước Xã hội chủ nghĩa, các khối liên quan tới Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, nhắc lại cam kết các bên ký và vạch rõ: "Mỹ nói tôn trọng Hiệp định Giơ-ne-vơ. Nhưng một trong những điều khoản chủ yếu của hiệp định là cấm đưa quân đội nước ngoài vào Việt Nam. Nếu họ thật tôn trọng hiệp định đó thì phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam" . Người khẳng định: "Thực chất 14 điểm của Mỹ là Mỹ cố bám lấy miền Nam Việt Nam, cố duy trì chính quyền bù nhìn do Mỹ nặn ra ở miền Nam Việt Nam, cố chia cát lâu dài nước Việt Nam... Rõ ràng chiến dịch "đi tìm hoà bình" của Mỹ chỉ nhằm che giấu âm mưu tăng cường chiến tranh xâm lược của họ. Lập trường của chính phủ Giôn-xơn vẫn là xâm lược và mở rộng chiến tranh" .


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:39:05 AM

        28-1 đến 21-4

        Chiến dịch Bắc Bình Định. Diễn ra trên địa bàn các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Hoài Ân, An Lão. Lực lượng địch có 20 tiểu đoàn bộ binh, gồm 5 tiểu đoàn của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, 3 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên, 5 tiểu đoàn dù ngụy (lực lượng tổng dự bị), 7 tiểu đoàn (thuộc 2 trung đoàn 41, 42), 2 chi đoàn xe M113, 4 tiểu đoàn pháo, 2 tiểu đoàn công binh, được pháo hạm và không quân chi viện.

        Lực lượng ta gồm Sư đoàn 3 bộ binh và các lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch. Tư lệnh chiến dịch: Giáp Văn Cương - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Chính ủy: Trần Quang Khanh - Bí thư tỉnh ủy Bình Định.

        Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 1 vạn tên địch, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, 6 đại đội thuộc lữ đoàn 3 (sư đoàn ky binh không vận số 1 Mỹ). Tiêu diệt 1 tiểu đoàn và 7 đại đội ngụy; bắn rơi và phá hủy hơn 200 máy bay, thu 239 súng các loại.

        Chiến dịch phản công Bắc Bình Định thắng lợi đã tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ - nguỵ và quân Nam Triều Tiên, đánh thắng lực lượng tinh nhuệ của sư đoàn ky binh không vận số 1 Mỹ lần dầu tiên ở đồng bằng Khu 5, góp phần đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất cùa địch trên chiến trường miền Nam.

        7 tháng 2

        Tại Củ Chi, Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở Đại hội dũng sĩ diệt Mỹ. Đại hội tổng kết kinh nghiệm chiến tranh nhân dân trên địa bàn Củ Chi, rút ra 10 bài học đánh Mỹ:

        1- Ai ai cũng đánh được Mỹ.

        2- Vũ khí gì cũng đánh được Mỹ.

        3- Nhiều cũng đánh, ít cũng đánh, một người một tổ đều đánh được.

        4- Ở đâu cũng đánh được Mỹ. Đánh ở rừng, ở xóm, ở ấp chiến lược, ở đồng lầy; chỉ cần tích cực bám địch, tìm địch mà đánh là được.

        5- Ngày cũng đánh, đêm cũng đánh được Mỹ, vì cả ngày, cả đêm Mỹ đều có sơ hở, nhược điểm.

        6- Đánh địch phản công là cơ hội tốt để ta diệt chúng.

        7- Đánh ở cả tiền tuyến, đánh cả ở hậu phương địch, đánh đều khắp, càng làm cho giặc Mỹ bối rối, bị động, ta diệt địch càng dễ dàng hơn.

        8- Đánh cả trong xã, ấp chiến đấu và ngoài xã, ấp chiến đấu, chỉ cần quyết tâm tìm Mỹ mà đánh, tìm Mỹ mà diệt-

        9- Có khả năng thắng tất cả mọi binh chủng của Mỹ như bộ binh, xe tăng, máy bay, biệt kích.

        10- Đánh bằng vũ trang, bằng chính trị và bằng cả binh vận.

        Mỗi bài học kinh nghiệm của quân, dân Củ Chi có tác dụng động viên, tạo niềm tin cho quân dần miền Nam phát huy nâng cao hiệu suất chiến đấu. Đại hội tuyên dương và tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" cho 209 cá nhân đã diệt được nhiều Mỹ và Củ Chi được tặng danh hiệu: "Đất thép thành đồng”.

        9 tháng 2

        Khu ủy Sài Gòn - Gia Định ra chỉ thị lập vành đai diệt Mỹ trên vùng phía nam Củ Chi. Vành đai là một hệ thống trận địa nhiều tuyến, nhiều ổ, cụm chiến đấu, lỗ bắn tỉa, ấp - xã chiến đấu liên hoàn, vừa là trận địa vây hãm ngăn chặn địch nống ra, lại vừa là bàn đạp tiến công đột nhập căn cứ địch. Cấu trúc trận địa linh hoạt theo địa hình cụ thể từng khu vực.

        20-2 đến 20-4

        Chiến dịch Tây Sơn Tịnh. Nhằm tiêu diệt và phân tán lực lượng địch, hỗ trợ cho hướng Bắc Bình Định và nhân dân nổi dậy, mở rộng vùng giải phóng, Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở chiến dịch tiến công địch ở tây Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Về lực lượng địch: quân Mỹ có 5 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ (sư đoàn 1), 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn công binh, 5 phi đoàn máy bay phản lực; quân ngụy có 8 tiểu đoàn, 24 đại đội bảo an, dân vệ. Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu) chủ lực Quân khu 5, một tiểu đoàn đặc công (thiếu), một tiểu đoàn cối 120 và ĐKZ75, một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, hai tiểu đoàn (48, 83) và một đại đội đặc công tỉnh Quảng Ngãi, sáu đại đội bộ đội phương huyện Sơn Tịnh và du kích trên địa bàn chiến dịch Chỉ huy chiến dịch: Nguyễn Năng (Tư lệnh). Nguyễn Minh Đức (Chính ủy).

        Sau 4 đợt chiến đấu (20.2-3.3, 4-7.3, 17-29.3, 10-20.4) ta đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, 4 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, 12 đại đội và 22 trung đội ngụy, bắn rơi và phá hủy 102 máy bay, 27 xe cơ giới, thu 823 súng các loại hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:42:55 AM

        Tháng 2

        Quân ủy Trung ương họp thảo luận về tình hình miền Nam, ra nghị quyết về quân sự. Để chỉ đạo các lực lượng vũ trang trên chiến trường hoạt động, Quân ủy Trung ương đề ra 6 phương thức tác chiến:

        1- Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội tập trung, mở những chiến dịch vừa và lớn, tiến tới đánh những trận có tác dụng chiến lược nhằm tranh thủ ưu thế quân sự trên một số hướng quan trọng, tiêu diệt gọn tiểu đoàn Mỹ, tiêu diệt gọn chiến đoàn nguy.

        2- Đẩy mạnh chiến tranh du kích đến trình độ cao, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ sinh lực địch, tiêu hao và phân tán địch, đập tan các cuộc càn quét, đánh bại âm mưu bình định, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, uy hiếp các đô thị, các căn cứ quan trọng cùa địch.

        3- Đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, hải cảng, cơ quan đầu não của địch.

        4- Triệt phá các đường giao thông thủy bộ quan trọng của địch, tạo thế chia cắt, bao vây địch, buộc chúng phải phòng ngự trên từng khu vực, từng chiến trường, từng thành phố, làm giảm khả năng chi viện lẫn nhau của chúng.

        5- Đẩy mạnh hoạt động ở các đô thị, từ hình thức tác chiến nhỏ kết hợp với đấu tranh chính trị đến tác chiến lớn, kết hợp với tiến công và khởi nghĩa.

        6- Phối hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và binh vận (nhất là ngụy vận) trên quy mô lớn có tính chất chiến lược, tạo điều kiện làm tan rã, ly khai, gây binh biến trong hàng ngũ địch.

        Tháng 3

        * Hội nghị Trung ương cục miền Nam lần thứ tư đề ra nhiệm vụ: "Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, phát động du kích chiến tranh rộng khắp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ - ngụy, quyết tâm đánh bại địch trong mùa mưa sắp tới... tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên các mặt chỉ đạo tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị hậu cần đối với lực lượng vũ trang...".

        * Cục Quân giới nghiên cứu thiết kế chế tạo thành công lựu đạn phóng ghép mảnh và sản xuất hàng loạt. Đến cuối năm 1967, ta sản xuất được 34.000 quả loại vỏ tôn và 3.500 quả loại vỏ giấy kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu của các chiến trường.

        13 tháng 4

        * Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 28/QĐ-QP) thành lập Trung đoàn đặc công trinh sát 426. Biên chế 6 tiểu đoàn (4 tiếu đoàn đặc công bộ, 1 tiểu đoàn đặc công nước, 1 tiểu đoàn huấn luyện cán bộ) và 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần. Trung đoàn trưởng: Nguyễn Việt. Chính ủy: Hoàng Kim. Ngày 19 tháng 3 năm 1967, Trung đoàn 426 giải thể, các tiếu đoàn chuyển trực thuộc Bộ tư lệnh Đặc công.

        * Thành lập đoàn huấn luyện trinh sát đặc công nước (phiên hiệu Đoàn 126). Lực lượng nòng cốt của đoàn gồm 40 người đã qua huấn luyện ở Đoàn 8 và 74 người ờ đại đội đặc công đánh biển thuộc Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu. Tháng 5 năm 1966, Bộ tư lệnh Hải quân điều 700 cán bô chiến sĩ từ các đơn vị về tổ chức thành 12 đội chiến đấu. Cơ quan đoàn bộ đóng tại huyện Yên Hưng (Quảng Yên) và Thủy Nguyên (Hải Phòng). Đoàn trường: Hoàng Đắc Cót. Chính uy- Phạm Điệng.

        14 tháng 4

        Mỷ sử dụng máv bay chiến lược B-52 xuất phát từ đảo Gu-am đến dội bom xuống khu vực đèo Mụ Giạ và đường 12 tây Quảng Bình hòng cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta từ miền Bắc qua biên giới Việt - Lào và tuyến vận tải chiến lược 559 vào chiến trường miền Nam. Đây là lần đầu tiên Mỹ dùng B-52 đánh phá miền Bác.

        16 tháng 4

        Tại bang Uy-lít Lây, Chính phủ Mỹ tổ chức cuộc họp với 47 nhà khoa học ưu tú nhất nước Mỹ trong lĩnh vực kỹ thuật để nghiên cứu khai thác những khả năng kỹ thuật có liên quan đến hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Cuộc họp kéo dài khoảng 3 tháng dưới sự bảo trợ của phân viện Jắc-sơn thuộc Viện Phân tích quốc phòng và sự chỉ đạo trực tiếp của Mác Na-ma-ra, Bộ trưởng quốc phòng.

        Sau khi nghe báo cáo và nghiên cứu các giải pháp, cuộc họp đã đi đến kết luận:

        - Chiến dịch ném bom mở rộng hoàn toàn không có khả năng ngăn cản Hà Nội thâm nhập người và hàng vào miền Nam như tốc độ hiện nay hoặc cao hơn nữa.

        - Cần có giải pháp thay thế, đó là xây dựng một hàng rào điện tử qua khu phi quân sự bằng những công cụ mới được phát minh. Đây là biện pháp tích cực nhất thực hiện mục tiêu chiến lược ngăn chặn triệt để nguồn tiếp tế của đối phương. Chính phủ Mỹ cam kết sẽ tập trung lớn nhất về tài chinh, vật tư kỹ thuật và lực lượng vào kế hoạch xây dựng hàng rào điện tử ở phía nam giới tuyến quân sự.

        22 tháng 4

        Trung đoàn pháo phòng không 210 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Luân và Chính ủy Nguyễn Đắc Thái chỉ huy phối hợp với quân dân Thái Nguyên bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1.000 trên miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:46:25 AM

        Tháng 4

        * Thành lập Quân khu Trị - Thiên (B4) trên cơ sở Phân khu Bắc (Khu 5) của Quân khu 5 gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Nhiệm vụ: xây dựng và chỉ huy lực lượng vũ trang thuộc quyền, chuẩn bị chiến trường và phối hợp tác chiến với các lực lượng khác trong các chiến dịch trên địa bàn quân khu. Lực lượng vũ trang trên địa bàn có Trung đoàn bộ binh 6, một số phân đội binh chủng, bốn tiểu đoàn (804, 805, 810, 814) bộ đội địa phương hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Tư lệnh kiêm Chính ủy: Thiếu tướng Lê Chưởng.

        * Cục Quân giới tổ chức nghiên cứu chế tạo thành công pháo khói đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật. Từ giữa năm 1966 đến cuối năm 1968, Nhà máy Z2 thuộc Cục Quân giới đã sản xuất được 9.098 quả pháo khói T (dùng cho các trận địa tên lửa) và 16.159 quả pháo khói c (dùng cho các trận địa pháo cao xạ). Cùng thời gian này, Cục Quân giới còn nghiên cứu thiết kế chế tạo thành công "súng cối Giải phóng".

        16-5 đến 26-6

        Chiến dịch Bâc Phú Yên. Diễn ra trên địa bàn các huyện Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hoà, Sơn An.

        Lực lượng địch đóng tại Phú Yên có: Lữ đoàn Rồng Xanh thủy quân lục chiến ở Tuy Hoà 1, sở chỉ huy sư đoàn 101 dù ở Cam Ranh, 2 tiểu đoàn (lữ đoàn 1, sư đoàn 1 dù) Mỹ ở Phú Lộc, Phú Vinh và sân bay Chóp Chài, 1 tiểu đoàn pháo binh Mỹ ở Chóp Chài, Đồng Lộc, 1 tiểu đoàn pháo binh Nam Triều Tiên ở Đông Trác, Phước Mỹ. Quân ngụy có trung đoàn 47 ờ Tuy Hoà 1, 1 chi đoàn xe M113 ở thị xã Tuy Hoà. Toàn tỉnh có 14 đại đội bảo an, mỗi ấp chiến lược có từ 2 đến 3 trung đội dân vệ. Trong quá trình diễn ra chiến dịch địch đã điều động khoảng 2/3 các lực lượng nói trên tham gia.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn bộ binh 5 (2 trung đoàn 10 và 20, các đơn vị trực thuộc), lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên. Tổng cộng 8 tiểu đoàn, 7 đại đội, 5 trung đội bộ binh, 2 đại đội đặc công và 10 đại đội (công binh, thông tin, ĐKZ, cối 82, 12,7mm).

        Tư lệnh chiến dịch: đồng chí Lư Giang - Phân khu trưởng Phân khu 5.

        Sau hơn một tháng chiến đấu, ta tiêu diệt 1.675 tên địch (có 1.448 tên Mỹ và 11 lính Nam Triều Tiên), diệt gọn 4 đại đội, 4 trung đội Mỹ, 1 đại đội bảo an, 4 trung đội biệt kích, đánh tan 6 đại đội bảo an. biệt kích; bắn rơi 39 máy bay, thu và phá hủy 52 súng các loại.

        Chiến dịch Bắc Phú Yên tháng lợi cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội, làm cho nhân dân và các lực lượng vũ trang ta ờ Khu 5 thêm tin tưởng vào quyết tâm đánh Mỹ.

        Tháng 5

        Thành lập Đặc khu quân sự Rừng Sác (Đoàn 10) thuộc Bô tư lệnh Miền. Nhiệm vụ: Chí đạo hoạt động quân sự và xây dựng khu căn cứ quân sự Rừng Sác. Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy: Lương Văn Nho (Hai Nhã).

        30 tháng 5

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 42/QĐ-QP) thành lập 3 trung đoàn tên lửa (261, 263 và 267), thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Nhiệm vụ: Chiến đấu bảo vệ sân bay Nội Bài.

        13 tháng 6

        Thành lập Sư đoàn 7 chủ lực Miền tại căn cứ tỉnh Phước Long (Đông Nam Bộ). Biên chế 3 trung đoàn bộ binh (141, 165, 52) và các đơn vị binh chủng. Sư đoàn trưởng: Nguyễn Hoà, Chính ủy: Dương Thanh (Dương Cự Tẩm).

        15 tháng 6

        Thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không - Quân khu 4. Nhiệm vụ: Chỉ huy toàn bộ lực lượng phòng không trên địa bàn quân khu. Tư lệnh: Đại tá Hoàng Kiện - Chính ủy: Đại tá Trần Vinh.

        21 tháng 6

        Bộ trương Quốc phòng Võ Nguyên Giáp ký quvết định (số 46/QĐ-QP) thành lập Bộ tư lệnh Phòng không 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Biên chế: 4 trung đoàn pháo cao xạ (234, 230, 218, 241) và 1 trung đoàn tên lửa (Trung đoàn 278) làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu. Ngày 16 tháng 3 năm 1967, Bộ Tư lệnh Phòng không 367 mang phiên hiệu Sư đoàn phòng không 367 (quyết định số 16/TM-QĐ). Sư đoàn trưởng. Hoàng Khải Tiến, Chính ủy: Lê Đình Truy.

        23 tháng 6

        Bộ trưởng Quốc phòng ra quyết định (số 46/QĐ-Qp) thành lập Bộ tư lệnh Phòng không Hà Bắc. Nhiệm vụ: Chỉ huy các đơn vị phòng không bảo vệ giao thông đường số 1 sân bay Kép và sân bay Nội Bài. Lực lượng gồm 4 trung đoàn pháo cao xạ (216, 221, 225, 226) và Trung đoàn tên lửa 257 triển khai theo trục đường số 1. Tư lệnh: Hoàng Văn Khánh Chính ủy: Hoàng Đức Tiêu. Ngày 16 tháng 3 năm 1967, Bộ tư lệnh Phòng không Hà Bắc mang phiên hiệu Sư đoàn phòng không 365 (quyết định số 16/TM-QĐ của Bộ Tổng tham mưu).


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2016, 10:51:35 AM

        Tháng 6

        * Quân ủy Trung ương quyết định mở Mặt trận Đường 9 - Bẳc Quảng Trị (B5) nhằm tạo nên một hướng tiến công mới vào nơi hiểm yếu của địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng lên vùng rừng núi để ta thực hiện tiêu diệt quân cơ động Mỹ - ngụy, kìm giữ một bộ phận địch, tạo điều kiện cho các chiến trường khác mà trực tiếp là đồng bằng Trị - Thiên hoạt động, ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh trên bộ của địch ra Nam Quân khu 4.

        Tư lệnh: Đại tá Vũ Nam Long. Chính ủy: Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hoàng.

        Trong ba tháng (từ tháng 6 đến tháng 9) lực lượng vũ trang ta ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.700 địch (hơn 3.000 Mỹ), giải phóng 400 thôn xã (gần 40 vạn dân), đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, lớn nhất là cuộc hành quân Hát-tinh vào Cam Lộ của 10.000 quân Mỹ - nguy (15 - 26.7.1966) và 7 cuộc hành quân Po-re-ri vào tây Do Linh của 7 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ (15.9 - 20.9.1966).

        Việc mở Mặt trận Đường số 9 - Bắc Quảng Trị thẳng lợi làm đảo lộn thế chiến lược của địch trên chiến trường miền Nam, ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh trên bộ ra miền Bắc của đế quốc Mỹ.

        * Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định tổ chức toàn bộ lực lượng phòng không chủ lực trên miền Bắc thành 5 sư đoàn, trong đó có 4 sư đoàn làm nhiệm vụ bảo vệ các khu yếu địa, một sư đoàn làm nhiệm vụ cơ động; đồng thời chỉ đạo các quân khu đẩy mạnh xây dựng các đơn vị pháo binh của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển.

        17 tháng 7

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi quân và dân cả nước đánh Mỷ. Người nói: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày tháng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với quyết tâm "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", mùa hè năm 1966. gần 20 vạn thanh niên ở hậu phương miền Bắc đã tình nguyện gia nhập quân đội, tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam.

        7 tháng 8

        Tiểu đoàn 76, Trung đoàn tên lửa 257 ra quân trận đầu, bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1.400 trên miền Bắc. Trong ngày 7 tháng 8, quân và dân các địa phương trên miền Bắc phối hợp chiến đấu bắn rơi 12 máy bay Mỹ.

        8 tháng 8

        * Thủ tướng Chính phủ ra quyết định (số 145/CP) thành lập Trường đại học Quân y. Nhiệm vụ: Đào tạo và bồi dưỡng bác sĩ, dược sĩ quân y có trình độ đại học theo hình thức dài hạn, chuyên tu, tại chức; cùng với Viện nghiên cứu Y học quân sự nghiên cứu khoa học quân y, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quân y bậc sau đại học.

        Cùng ngày 8 tháng 8, Chính phủ quyết định (số 146/CP) thành lập cơ sở đào tạo cán bộ kỹ thuật trình độ đại học cùa quân đội lấy tên là Phân hiệu 2 Đại học Bách khoa Hà Nội. Ngày 8 tháng 8 được xác định là ngày thành lập, ngày truyền thống của Học viện Kỹ thuật quân sự.

        * Thành lập Bộ tư lệnh tiền phương Quân khu 4. Tư lệnh: Đàm Quang Trung, Chính ủy: Trần Thế Môn.

        23 tháng 8

        Bộ đội đặc công Đoàn 10 nhận nhiệm vụ "Chặn cổ sông Lòng Tàu", cùng đơn vị bạn làm hạn chế tàu xuồng vận chuyển hàng hoá quân sự chuẩn bị cho mùa khô 1966 - 1967 của địch đã dùng 2 quả "thủy lôi sừng chạm K5" đánh chìm tàu Ba-tôn Ru-giơ víc-to-ri-a trọng tải 10.000 tấn, tại ngã ba Vàm Cống, diệt 45 tên địch, phá hủy hàng chục xe M113 và nhiều phương tiện chiến tranh.

        14-9 đến 25-11

        Sư đoàn 9, Trung đoàn 16 chủ lực Miền cùng quân và dân tinh Tây Ninh đánh bại cuộc hành quân At-tơn-bo-rơ của Mỹ (gồm 3 lử đoàn) vào chiến khu Dương Minh Châu. Kết hợp với tiến công quân sự, nhân dân vùng Trang Lớn, Gò Dầu, Trảng Bàng nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ.

        14 tháng 10

        Bộ trường quốc phòng Mác Na-ma-ra gửi Tổng thống Giôn-xơn bị vong lục, trong đó kiến nghị 5 điềm:

        1- Ổn định quân số Mỹ ở Nam Việt Nam là 47 vạn.

        2- Thiết lập một hàng rào điện tử với chi phí khoảng 1 tỷ đô-la. Hàng rào điện tử này nằm gần vĩ tuyến 17, chạy ngang từ biển qua phần "cổ chai" Nam Việt Nam (cắt ngang những con đường xâm nhập mới đi qua khu phi quân sự) và qua các đường mòn ở Lào nhằm ngăn chặn sự xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam.

        3- Ổn định chương trình "Sấm Rền" đánh phá miền Bắc.

        4- Theo đuổi một chương trình bình định mạnh mẽ.

        5- Gây sức ép đòi thương lượng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 08:49:29 AM
        
        18-10 đến 6-12

        Chiến dịch Sa Thầy 1. Diễn ra ở các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum. Nhằm tiêu diệt một bộ phận quân địch, phát triển phong trào chiến tranh du kích.

        Lực lượng địch: Quân Mỹ có lữ đoàn bộ binh 2 (sư đoàn 4), lữ đoàn bộ binh 3 (sư đoàn 25) và sư đoàn kỵ binh không vận số 1. Quân ngụy có sư đoàn bộ binh 23, trung đoàn bộ binh 42. 2 tiểu đoàn bộ binh (trung đoàn 45) và 3 tiểu đoàn biệt động, biệt kích.

        Lực lượng ta gồm: Sư đoàn bộ binh 1 chủ lực Tây Nguyên được tăng cường 3 trung đoàn: 24, 33, 95 (thiếu), 2 tiếu đoàn độc lập, 2 tiểu đoàn cối 120mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và lực lượng vũ trang địa phương địa bàn chiến dịch.

        Tổ chức và chỉ huy chiến dịch: Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.

        Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn, 8 đại đội Mỹ, 5 đại đội ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 2.410 tên (có hơn 2.000 Mỹ), bắn rơi 20 máy bay, phá hủy 25 khẩu pháo, 12 xe quân sự, thu 71 súng các loại.

        Tháng lợi của chiến dịch Sa Thầy đánh dấu bước trưởng thành mới của chủ lực ta về tổ chức và thực hành tác chiến về nắm địch, tạo thế trận buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta. Với thắng lợi này ta đá giải phóng vùng đất rộng lớn dọc sông Sa Thầy từ Kon Tum đến Gia Lai.

        20 tháng 10

        Đoàn chủ tịch Uy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam kêu gọi: Giặc Mỹ mưu mô mở cuộc phản công mới trong mùa khô tới hòng bình định nhân dân ta và tạo thế mạnh buộc ta chịu đàm phán với điều kiện của chúng. Quân dân ta hãy: "Nỗ lực vượt bậc đập tan kế hoạch phản công mới của Mỹ - ngụy, quyết giành thắng lợi to lớn trong Đông - Xuân 1966 - 1967...".

        Tháng 10

        * Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ của quân dân ta: Ở miền Nam "Ra sức đánh bại cuộc phản công chiến lược lớn lần thứ hai của bọn xâm lược Mỹ, làm thất bại các mục tiêu lớn của chúng, giữ vững thế chủ động, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta, tạo điều kiện, thời cơ cho các hoạt động lớn tiếp theo... Đồng thời ra sức xây dựng cơ sở vững chắc, chuẩn bị điều kiện đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước".
        
        Ở miền Bắc "Phải tích cực đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tăng cường lực lượng kinh tế và quốc phòng, ra sức giữ vững và mở rộng các con đường hành lang, bảo đảm tăng cường chi viện cho miền Nam và Lào, tích cực chuẩn bị và kiên quyết đánh thắng địch trong trường hợp chúng đổ bộ ra phía nam Khu 4 cũ, chiếm đóng Trung, Hạ Lào, đồng thời chuẩn bi đánh thắng địch trong trường hợp chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước".

        * Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ 3, tổng kết đánh giá chỉ ra những khả năng to lớn của phong trào chiến tranh du kích ở miền Nam và đề ra phương hướng hoạt động trong thời gian tới là:

        1- Phát động nhân dân tham gia kháng chiến trong một cao trào chiến tranh du kích rộng lớn, nghiên cứu nhiều hình thức tổ chức thích hợp để nhân dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu mang tính chất toàn dân đánh giặc.

        2- Vận dụng các phương châm chỉ đạo hoạt động, tác chiến tích cực và linh hoạt, nắm chắc phương- châm đấu tranh ba mũi, tăng cường hơn nữa việc kết hợp hoạt động của ba thứ quân.

        3- Phát triển tiến công mạnh mẽ, ra sức tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh phá mạnh mẽ các đường giao thông, đánh sâu vào hậu phương của địch, căng địch ra để đánh, tạo điều kiện cho các lực lượng tập trung tiến công diệt địch mạnh mẽ hơn.

        4- Chú trọng tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích.
        


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 08:51:10 AM
       
        Tháng 10-1966 đến 4-1967

        Quân và dân miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 của Mỹ (mùa khô 1966 - 1967).

        Với ý định tiêu diệt một bộ phận chủ lực và cơ quan chỉ đạo kháng chiến của ta, thiết lập hệ thống an ninh liên hoàn nối liền các căn cứ, hệ thống giao thông ở vùng đồng bằng miền Nam, đế quốc Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Lực lượng địch sử dụng gần 19 sư đoàn, 9 trung đoàn và 20 tiểu đoàn (6 sư đoàn, 3 trung đoàn Mỹ; 2 sư đoàn, 3 trung đoàn quân đồng minh). Tổng số hơn một triệu quân Mỹ-ngụy (có hơn 40 vạn quân Mỹ và chư hầu) có nhiều máy bay, xe tăng, thiết giáp và pháo các loại hỗ trợ. Từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967, địch mở 2.732 cuộc hành quân, hướng trọng điếm là miền Đông Nam Bộ,

        Trong hơn sáu tháng, các lực lượng vũ trang miền Nam đánh trả 895 cuộc hành quân lớn - nhỏ của địch, làm thất bại các cuộc hành quân At-tơn và Xê-đa-phôn vào củ Chi - Bến Cát - Bến Súc, đặc biệt là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty của 45.000 quân Mỹ - ngụy vào chiến khu Dương Minh Châu (tháng 2 đến tháng 4 năm 1967).

        Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch (có hàng nghìn tên Mỹ và chư hầu), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 49 tiểu đoàn và đơn vị tương đương, bắn rơi và phá hủy 1.800 máy bay các loại, phá hủy 1.786 xe quân sự, 340 khẩu pháo, bắn chìm và bắn cháy 100 tàu xuồng, đánh sập và pha hỏng 270 cầu lớn, nhỏ.

        Quân và dân miền Nam be gãy cả hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" của địch; cuộc phản công chiến lược lần thứ hai thất bại, đảnh dấu bước phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ", buộc Mỹ - ngụy phải lui vào phòng ngự chiến lược trên chiến trường miền Nam.
        
        Cuối tháng 10

        Thành lập Khu 10 gồm hai tỉnh Quảng Đức, Phước Long (Khu 6) và tỉnh Bình Long (Khu 7). Nhiệm vụ: Chỉ đạo, củng cố, xây dựng vững chắc căn cứ miền núi, xây dựng hành lang, phục vụ bộ đội chủ lực tác chiến trên địa bàn của khu.

        1 tháng 11

        Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 8 Quân khu Sài Gòn - Gia Định và đặc công Rừng Sác tổ chức trận pháo kích vào Sài Gòn (nơi địch tổ chức duyệt binh nhân ngày quốc khánh Đệ nhị Cộng hoà). 24 quả đạn rơi trúng các mục tiêu, trong đó có 14 quả rơi vào khu lễ đài và khu diễu binh, làm nhiều tên địch chết và bị thương, trong đó có đại tá Mỹ F.Go-ro-xơ Ri-sớt.

        2-25 tháng 11

        Chiến dịch Tây Ninh. Nhằm đánh bại cuộc hành quân At-tơn-bo-rơ của Mỹ, bảo vệ chiến khu Dương Minh Châu của ta, hỗ trợ phong trào chống bình định lấn chiếm, phá kìm kẹp của nhân dân địa phương. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn bộ binh 9 (bộ đội chủ lực Miền). Trung đoàn bộ binh 1B của phân khu 1 (Củ Chi - Gia Định) và lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh. Lực lượng địch có 2 sư đoàn bộ binh (1, 25), lữ đoàn bộ binh 196, 1 tiểu đoàn của lữ đoàn dù 173, 5 tiểu đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh quân Mỹ và 9 tiểu đoàn bộ binh, 12 đại đội bảo an quân đội Sài Gòn.

        Chiến dịch diễn ra ba đợt (2-5 tháng 11, 6-19 tháng 11, 20-25 tháng 11) với 32 trận đánh gồm các hình thức phục kích, tập kích, pháo kích, đánh giao thông... (8 trận cấp tiểu đoàn, 1 trận cấp đại đội và 23 trận nhỏ khác) kết quả: ta đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn, 3 đại đội bộ binh Mỹ và 6 đại đội quân Sài Gòn, đánh tiêu hao 2 tiểu đoàn bộ binh Mỹ- bắn rơi, phá hỏng 65 máy bay, phá hủy 50 xe quân sự 7 khẩu pháo, thu 103 súng các loại, đốt cháy 1 kho xăng xxxxx lít, phá rã 2 ấp chiến lược, góp phần làm thất bại cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 của Mỹ.

        3 tháng 12

        Đội biệt động F-100 (Sài Gòn) tập kích sân bay Tân Sơn Nhất (sân bay quân sự lớn nhất ở miền Nam), phá hủy, phá hỏng hàng trăm máy bay các loại, diệt và làm bị thương nhiều phi công và nhân viên kỹ thuật Mỹ.

        14 tháng 12

        Quân và dân Hà Nội bắn rơi 8 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc thứ 1.600 trên miền Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi và gửi tặng quân dân Thủ đô lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 08:54:48 AM

Năm 1967

        Đầu tháng 1

        Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua chống Mỹ, cứu nước trên miền Bắc. 500 Anh hùng Chiến sĩ Thi đua thuộc các quân chủng, binh chủng và những chiến sĩ xuất sắc trên các mặt trận sản xuất, văn hoá, giáo dục dự đại hội. Nói chuvện với

        đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Các cô. các chú. các cháu được khen thưởng hôm nay về phải ra sức học tập, cố gắng tiến bộ, tiến bộ nữa, tiến bộ mãi, phải khiêm tốn, không được kiêu ngạo... Mong sau này chúng ta sẽ có nhiều Anh hùng và Chiến sĩ Thi đua hơn nữa".

        2-26 tháng 1

        Mỹ sử dụng sư đoàn bộ binh số 1, lữ đoàn 3 sư đoàn bộ binh số 4, lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh số 25, lử đoàn bộ binh nhẹ số 196, lữ đoàn 173, trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ và một bộ phận sư đoàn 5 chủ lực quân ngụy cùng một số lính đánh thuê Niu Di Lân với hơn 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 tàu xuồng chiến đấu trên sông, hơn 100 khẩu pháo các loại và nhiều máy bay, kể cả B-52 chi viện mở cuộc hành quân Xê-đa-phôn đánh ra khu vực Bến Cát (hướng chính), An Tây, Bàu Khai.

        Sư đoàn 9 và lực lượng vũ trang địa phương đã đánh trả quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên Mỹ và 54 lính Niu Di Lân, 200 tên ngụy; bắn cháy, phá hỏng 149 xe quân sự, bắn rơi 28 máy bay. Đây là đòn nặng thứ hai đánh vào kế hoạch phản công mùa khô 1966 - 1967 của Mỹ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.

        8-1 đến 28-3

        Chiến dịch Bắc Trung Quảng Ngãi. Nhằm tiêu diệt một bộ phận cơ động cua quân Mỹ và lữ đoàn "Rồng xanh" Nam Triều Tiên, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận của sư đoàn 22 ngụy, phá âm mưu bình định gom dân của địch, Bộ tư lệnh Quân khu 5 quyết định mờ chiến dịch Đông Xuân ở khu vực các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành. Tân Nghĩa, Sơn Hà.

        Lực lượng ta có Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu Trung đoàn 31) Tiểu đoàn bộ binh 20 (Quân khu 5), tiểu đoàn súng máy Cao xạ 12,8 mm. tiểu đoàn pháo cối 82mm, 6 khẩu ĐKZ75 3 đội đặc cồng, 2 tiểu đoàn bộ binh (48 và 83) của tỉnh Quàng Ngãi cùng các đại đội bộ đội địa phương và du kích trên địa bàn chiến dịch.

        Chiến dịch chia làm 3 đợt: Đợt 1 (từ 8 tháng 1 đến 14 tháng 2): ta tập kích tiêu diệt cứ điểm Châu Sa, đánh địch ở An Điềm, Đèo Báo, khu vực điểm cao 105 (Bình Lãnh). Đợt 2 (từ 15 tháng 2 đến 6 tháng 3): ta tiến công tiêu diệt địch ở đồi Quang Thạnh, An Mỹ, Phước Hoà, Tân Phước, Hòn Bò Yên Sơn. Đợt 3 (từ 7 tháng 3 đến 28 tháng 3): ta đánh địch ở khu vực Yên Sơn, Kim Thành, bắc thị xã Quảng Ngãi.

        Kết thúc chiến dịch, ta tiêu diệt 2.304 tên địch (có 600 lính Nam Triều Tiên, 30 lính Mỹ), bắt sống 99 tên ngụy, bắn rơi 17 máy bay, phá hủy 20 khẩu pháo, 2 xe M113, thu 168 súng các loại.

        Chiến dịch đã làm thất bại kế hoạch bình định gom dân của địch ở Quảng Ngãi, làm suy sụp tinh thần chiến đấu của quân đánh thuê Nam Triều Tiên, phá âm mưu của địch hợp vây tiêu diệt chủ lực ta.

        Tháng 1

        * Đại hội thi đua các đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước toàn miền Bắc. Hơn 300 thanh niên ưu tú đại diện cho hàng vạn đoàn viên thanh niên và các đơn vị thanh niên xung phong về dự. Chủ tịch Hồ Chi Minh nói chuyện với đại hội: "Các cháu nào đã là anh hùng thì phải cố gẳng tiến lên nữa, các cháu nào chưa là anh hùng thì cố gắng phấn đấu để trở thành anh hùng".

        * Các lực lượng vũ trang Tây Nguyên liên tiếp đánh bại các cuộc hành quân Sam-hut-tơn (Samhoưston) và Frăng-xi (Francis) của Mỹ-nguỵ ờ phía tây Kon Tum và Gia Lai, loại khỏi vòng chiến đấu 4.000 tên địch, bắn rơi 45 máy bay.

        2-21 tháng 2

        Sư đoàn bộ binh số 25 Mỹ mở cuộc hành quân cấp sư đoàn mang tên Ga-xtơn đánh vào khu vực từ đường 22 đến sát biên giới Campuchia, nhằm mục đích phá hoại các căn cứ ở phía tây, tiêu diệt lực lượng ta ờ phía tây đường 22. Quân dân ta đã chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, phá hỏng 69 xe cơ giới, bắn rơi 13 máy bay, buộc địch phải kết thúc cuộc hành quân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 08:58:07 AM

        14-2 đến 3-4

        Chiến dịch Sa Thầy 2. Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên sử dụng Sự đoàn bộ binh 1 gồm 3 trung đoàn (66, 320, 88), Trung đoàn pháo 40 (gồm 2 tiểu đoàn cối, 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ), các trung đoàn bộ binh 95, 24, 33 và lực lượng vũ trang địa phương mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực đông - tây sông Sa Thầy (hướng chủ yếu), khu vực đường 19 - bắc Plây Me (hướng phối hợp), Kon Tum, Buôn Ma Thuột (hướng nghi binh) nhằm tiêu diệt sinh lực địch (từ 7 đến 10 đại đội Mỹ, 5 đến 7 đại đội ngụy), góp phần cùng các chiến trường đánh bại kế hoạch tìm diệt trong cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 của địch, buộc địch phải đưa lực lượng lên Tây Nguyên, phá âm mưu bình định của địch ở đồng bàng, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân.

        Diễn biến chiên dịch chia làm 3 đợt: Đợt 1 (từ 14-2 đến 10-3): Ta đánh địch ở điểm cao 346, 300 đông bắc công trường đất đỏ, Quỳnh Xom, Tân Lạc... Đợt 2 (từ 11 đên 28-3): Đánh địch ở Mít Dép, Chư Ba, Đất Đỏ, pháo kích vào các vị trí Đẳc Tô, Buôn Hồ, Sùng Thiện, Đức Cơ pa Ka... Đợt 3 (từ 29-3 đến 30-4), ta vây ép địch ở Thăng Đức, diệt địch ờ Đức Cơ, bắc Plây Me, Buôn Cang.

        Kết thúc chiến dịch, ta tiêu diệt 10 đại đội và 1 trung đội Mỹ; tiểu đoàn 3 đại đội, 3 trung đội ngụy, tiêu hao 1 tiểu đoàn, 14 đại đội Mỹ; 4 đại đội và 1 trung đội ngụy; loại khỏi vòng chiến đấu 3.397 tên Mỹ, 1.541 tên ngụy, bắn rơi và phá hủy 61 máy bay, 20 khẩu pháo, 180 xe quân sự, thu 129 súng; 17 máy vô tuyến.

        Chiến dịch Sa Thầy 2 thắng lợi, đã đạt được mục tiêu đề ra là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giam chân một số đơn vị lớn của địch ở chiến trường Tây Nguyên đế phối hợp chiến đấu với các chiến trường khác.

        15 tháng 2

        Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 tiến công cụm quân Nam Triều Tiên ở đồi Quang Thạnh (xã Kim Sơn, huyện Sơn Tịnh) do tiểu đoàn thủy quân lục chiến 3 thuộc lử đoàn Rồng xanh và 1 đại đội bộ binh thuộc sư đoàn Mãnh hổ quân Nam Triều Tiên đóng giữ. Sau hai giờ chiến đấu, ta làm chủ cứ điểm, diệt 400 tên địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Đây là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, có tác động mạnh đến tinh thần ý chí của lính Nam Triều Tiên, làm bọn lính đóng ở các đồn Khánh Mỹ, Hòn Ngang, Hòn Dọc hoảng sợ tháo chạy.

        22-2 đến 15-4

        Chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty của quân Mỹ và quân ngụy vào chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh). Địch huy động 45.000 quân và 1 tập đoàn, 7 phi đoàn không quân, trong đó Mỹ có 2 sư đoàn và 3 lữ đoàn bộ binh, dù; 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn xe tăng, tiểu đoàn pháo binh. Quân ngụy có 1 chiến đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn quân biệt động. Lực lượng ta có Sư đoàn 9 bộ binh, 9 đại đội bao vệ cơ quan, 13 đại đội bộ đội địa phương, tiểu đoàn cối 120mm, 5 tiểu đoàn súng máy phòng không, 4.000 dân quân tự vệ. Chi huy chiến dịch: Thiếu tướng Lê Trọng Tấn (Tư lệnh), Thiếu tướng Trần Độ (Chính ủy). Đại tá Hoàng Cầm - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 (Tham mưu trưởng). Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt. £)ợt 1 (22-2 đến 15-3), ta chặn đánh quân địch ở Tà Dạt, Khe Đôi, Bàu Cơ, Đồng Pan, Sóc Rì. Cà Tum. Suối Mây, Suối Đá, Trảng A Lầu. Lực lượng cơ động phục kích, tập kích ờ Bến Ra, Lê Via, Đồng Pan... Đợt 2 (16-3 đến 15-4), địch rút các cụm chốt dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tập trung lực lượng tiến công từ hướng đông vào căn cứ. Ta chặn đánh trên đường 4, Đồng Rùm, Tàu Keo. Lực lượng cơ động tập kích địch ở Bàu Bàng, Bàu Trí và tập trung hai trung đoàn (1 và 3) tiến công Đồng Rùm, sau đó tập kích diệt một tiểu đoàn, hai đại đội Mỹ ở Trảng Ba Vũng...

        Kết quả, ta diệt 2 tiểu đoàn và 11 đại đội bộ binh địch, 9 chi đoàn thiết giáp, bắn rơi 160 máy bay, phá hỏng 112 khẩu pháo; đánh bại cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trên chiến trường miền Nam.

        Đêm 27 tháng 2

        Tiếu đoàn 99 pháo hoả tiễn A12 tập kích hỏa lực sân bay Đà Nẵng, phá hỏng 94 máy bay, 200 xe quân sự, diệt nhiều phi công và nhân viên kỹ thuật địch.

        28 tháng 2

        Tiếu đội Bùi Ngọc Đủ (Trung đoàn 84B - Sư đoàn 325) gồm 10 người đánh lui 15 đợt tiến công của 200 lính thủy đánh bộ Mỹ ở tây Quảng Trị, lập chiến công "1 thắng 20".

        Tháng 2

        * Quân ủy Trung ương ra chỉ thị cho các lực lượng vũ trang trên miền Bắc: "Kiên quyết đánh bại các bước leo thang đánh phá bằng không quân, hải quân của địch...".

        * Đại hội quyết thắng của Quân chủng Phòng không - Không quân, về dự đại hội có gần 200 đại biểu các đơn vị quyết thắng, đại biểu cho hàng nghìn chiến sĩ thi đua các binh chủng: Pháo cao xạ, Tên lửa, Không quân, Trinh sát Ra đa, Thông tin... Đại hội đánh giá: Bộ đội Phòng không - Không quân đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng với quân dân miền Bắc đánh bại một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. bảo vệ miền Bắc, bao đảm chi viện mọi mặt cho miền Nam.

        * Tổng thống Mỹ Giôn-xơn chuẩn y đề nghị của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ cho phép mở rộng phạm vi đánh phá trong khu vực Hà Nội - Hải Phòng, tiến hành rải mìn trên các luồng sông cửa biển, dùng hải quân, kiểm soát khu vực ven biển từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 11:53:04 AM

        1 tháng 3

        * Đại đội 8 pháo binh Quảng Bình bắn bị thương tàu tuần dương Can-be-ra của Mỹ.

        * Quân dân tỉnh Thanh Hoá bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1.700 trên miền Bắc.

        19 tháng 3

        Thành lập Binh chủng Đặc công. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ: "Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt. Cần phải cố gắng đặc

        Lưc lượng trực thuộc Bộ tư lệnh Đặc công ban đầu gồm: tiểu đoàn (phiên hiệu: 1, 2, 3, 4, 5. 6, 7, 10, 20), 3 cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần) và Trường Bổ túc cán bộ Đặc (thành lập 20-7-1967).

        Tư lệnh: Thượng tá Nguyễn Chi Điềm. Chính ùy: Thượng tá Vũ Chí Đạo.

        Ngàv 19 tháng 3 trở thành ngày truyền thống của bộ đội Đặc công.

        24 tháng 3

        Thành lập Bộ Tư lệnh các binh chủng Ra-đa, Tên lửa, Không quân thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.

        - Bộ Tư lệnh Binh chủng Ra đa (từ ngày 23 tháng 5 năm 1967 phiên hiệu lả Sư đoàn 373) chỉ huy 4 trung đoàn (37 đại đội) ra đa. Quyền tư lệnh: Lương Hữu Sắt. Quyền chính ủy: Hoàng Văn Ngữ.

        - Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (từ ngày 25 tháng 5 năm 1967 phiên hiệu là Sư đoàn 369) gồm 10 trung đoàn. Tư lệnh: Đoàn Huyên. Chính ủy: Trương Công cẩn.

        - Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân (từ ngày 25 tháng 5 mang phiên hiệu Sư đoàn 371) chỉ huy 2 trung đoàn không quân tiêm kích, một trung đoàn không quân vận tải, phụ trách 7 sân bay (Nội Bài, Gia Lâm, Kép, Hoà Lạc, Kiến An, Thọ Xuân, Vinh). Tư lệnh: Nguyễn Văn Tiên, Chính ủy: Phan Khắc Hy.

        27 tháng 3

        * Bộ Quốc phòng quyết định (số 22/QĐ) tách Quân khu 3 thành Quân khu Tả Ngạn (Tư lệnh: đại tá Đặng Tính. Chinh ủy: đại tá Nguyễn Quyết) và Quân khu Hữu Ngạn (Tư lệnh: Thiếu tướng Hoàng Sâm, Chính ủy: Thiếu tướng Tô Ký).

        * Bộ Quốc phòng quyết định (số 23,/QĐ) hợp nhất Bộ Tự lệnh Hải quản và Quân khu Đông Bắc, lấy tên là Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc (năm 1970, thường trực Quân ủy Trung ương quyết định Bộ Tư lệnh Hải quân thôi kiêm nhiệm Quân khu Đông Bắc. Tỉnh đội Quảng Ninh và các lực lượng thuộc Quân khu Đông Bắc được bàn giao sang Quân khu Tả Ngạn). Tư lệnh: đại tá Nguyễn Bá Phát, Chính ủy: đại tá Đoàn Phụng.

        23-4 đến 6-6

        Chiến dịch Tây Quảng Nam. Diễn ra trên địa bàn 4 huyện: Thăng Bình, Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ. Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 15 tiểu đoàn bộ binh (khoảng 1/2 là lực lượng Mỹ), 200 xe cơ giới, 63 khẩu pháo, được, chi viện của 100 máy bay và 5 tàu chiến Mỹ.

        Lực lượng ta: Sư đoàn 2 (thiếu trung đoàn 1) và lực lượng vũ trang địa phương tinh Quảng Nam. Chỉ huy chiến dịch: Nguyễn Năng (Việt): Tư lệnh; Nguyễn Minh Đức: Chính ủy.

        Chiến dịch diễn ra 2 đợt:

        - Đợt 1 (từ 23-4 đến 25-5): Ta chặn địch ở Hiền Lộc, Hà Lam, Quế Sơn, Lạc Sơn, Gia Hội, An Lý, Bình An, Sơn Hà- Cẩm, Thăng Bình, Trà Kiện, Dương Mông, Nghi Trung, Sơn Trung...

        - Đợt 2 (từ 26-5 đến 6-6): Ta đánh địch ơ Châu Sơn, Phước Chi, Phú Sơn, An Xá Đông, Diên An, Xuân Thái, Đồng Dương.

        Kết thúc chiến dịch, ta tiêu diệt 3 tiểu đoàn, 3 đại đội, 1 trung đội Mỹ; 1 tiểu đoàn, 3 đại đội, 3 đoàn bình định ngụy (loại khỏi vòng chiến đấu tổng số 7.433 tên, trong đó có 4759 tên Mỹ), bắt 14 tù binh ngụy, bắn rơi 60 máy bay, phá hủy 89 xe cơ giới, 23 khẩu pháo, thu 159 súng các loại.

        25 tháng 4

        * Các lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội gồm 10 trung đoàn pháo cao xạ thuộc 3 sư đoàn phòng không (361, 365 367), 5 trung đoàn tên lửa, 2 trung đoàn không quân tiêm kích, 20 tàu hải quân (Trung đoàn 134) cùng tự vệ các nhà máy, xí nghiệp chiến đấu quyết liệt, bắn rơi 10 máy bay Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh (số 36/LCT) thường Huân chương Độc lập hạng nhất cho quân dân Hà Nội và gửi thư khen ngợi quân và dân thành phố đã lập chiến công xuất sắc bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ vững chắc Thủ dô.

        * Bộ đội tên lửa, không quân phối hợp với quân và dân thành phố Hải Phòng bắn rơi 12 máy bay Mỹ. Biên đội máy bay tiêm kích gồm bốn MIG-17, do biên đội trưởng Nguyễn Văn Bảy chi huy bắn rơi chiếc thứ 1.800 trên miền Bắc. Ngày 29 tháng 4, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh (số 35/LCT) tặng thưởng quân và dân thành phố Cảng Huân chương Độc lập hạng nhất.

        2-13 tháng 5

        Toà án quốc tế Béc-tơ-răng Rút-xen họp kỳ đầu tiên tại Xtốc-khôm (Thuy Điển), có 300 đại diện thuộc nhiều nước trên thế giới tham dự, kết luận: Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, ném bom ác liệt và có hệ thống vào dân thường và các mục tiêu dân sự trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

        Trong phiên họp thứ hai (từ 20-11 đến 1-12-1967) ở Cô-pen-ha-gơ (Đan Mạch), Toà kết luận: Mỹ muốn dùng những hoạt động diệt chủng ở Việt Nam không những để uy hiếp nhân dân Việt Nam mà còn đe dọa nhân dân thế giới. Mỹ đã chủ tâm dùng các loại vũ khí đã bị pháp luật quốc tế ngăn cấm tàn sát trẻ em, phụ nữ và dân thường ở Việt Nam.

        Tuyên bố của Toà án Béc-tơ-răng Rút-xen có ảnh hưởng sâu sắc, góp phần làm thức tỉnh nhân dân thế giới, nhất là nhân dân Mỹ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chống Mỹ xâm lược Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 12:00:10 PM

        18-5 đến 12-7

        Chiến dịch Chư Ba tây - tây nam Đức Cơ. Diễn ra trên địa bàn phía nam huyện Sa Thầy và một phần phía bắc huyện Chư Ba (từ sông Sa Thầy đến đường 15 và từ Sùng Thiện đến suối la Klung, trong khoảng 500 km ).

        Lực lượng địch tại khu vực diễn ra chiến dịch có từ 6 tới 7 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 4 bộ binh Mỹ. Sư đoàn 22 và sư đoàn 23 ngụy tham gia, tống cộng 3 trung đoàn. Địch mở cuộc hành quân Phơ-răng Xít Ma-ri-ông (Fran Cis Marion) nhằm đẩy ta ra khỏi khu vực đường 19. Ngoài ra địch còn có sư đoàn không vận số 1 Mỹ đóng ở An Khê và một số lực lượng không quân pháo binh chi viện.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn bộ binh 1, các trung đoàn bộ binh 24, 33, 95, Trung đoàn pháo binh 40 cùng các lực lượng vũ trang địa phương Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Trong quá trình chiến đấu được bổ sung Trung đoàn bộ binh 174 và Tiểu đoàn 200 ĐKB. Bộ Chỉ huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Chánh làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân - Chính ủy.

        Chiến dịch diễn ra 3 đợt:

        - Đợt 1 (từ 18 đến 30-5): Ta tổ chức các trận tập kích, phục kích tiêu diệt địch ở Chư Am, Pi Ku, điểm cao 300 tây Thăng Đức, đông bắc Chư Ba, Buôn Đu, Kon Tay mới.

        - Đợt 2 (từ 1 đến 30-6): Ta tiêu diệt quân địch ở ấp chiến lược ĐakSio, Lang lo Kram, tập kích hoà lực căn cứ 42 (Tân Cảnh), tiểu khu Kon Tum, ngả ba Tân cảnh, thị xã Plây Ku; phá các ấp chiến lược Lệ Chi, An Na, Quang Nhã...

        - Đợt 3 (từ 1 đến 12-7): Đánh địch ở Nam Đắc Siêng Đắc Pét, Đắc Siêng, Đâc Vang Rông, Đức Vinh.

        Kết quả toàn chiến dịch, ta loại khỏi chiến dấu 2.763 linh Mỹ, 1.650 lĩnh nguy, bắn rơi và phá hủy 27 máy bay, phá hủy 22 khẩu pháo, 75 xe quân sự và nhiều đồ dùng quân sự.

        Thắng lợi của chiến dịch đã phá tan kế hoạch bao vây đông - tây sông Sa Thầy, Sùng Thiện, Sùng Lễ của Mỹ - nguy. Ta tiêu diệt được 1 bộ phận sinh lực địch, thu hút giam chân quân cơ động Mỹ ở Tây Nguyên, tạo điều kiện cho vùng đồng bằng ven biển Khu 5 đấu tranh phá âm mưu bình định của địch.

        Tháng 5

        Thành lập các đoàn 4, 5, 6, 7 và 31 thuộc Bộ tư lệnh Quân khu Trị-Thiên.

        - Đoàn 4: Gồm: Tiểu đoàn 804 bộ binh và 2 tiểu đoàn công binh chuyên đánh giao thông, phụ trách từ nam Phú Lộc đến bắc đèo Hải Vân.

        - Đoàn 5: Gồm 3 tiểu đoàn bộ binh (804 A, 810, 845) hai tiểu đoàn đặc công (Kl, K2) và 14 đội biệt động, phụ trách ba huyện vùng ven và nội thành Huế.

        - Đoàn 6: Gồm Trung đoàn bộ binh 6, phụ trách hai huyện Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên).

        - Đoàn 7: Gồm Trung đoàn 7 (Sư đoàn Bộ binh 304), 2 tiểu đoàn bộ binh (808, 914), tiểu đoàn đặc công K10 và 2 đại đội bộ đội địa phương huyện, phụ trách huyện Triệu Phong và huyện Hải Lăng (Quảng Trị).

        - Đoàn 31: gồm 2 tiểu đoàn bộ binh dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), phụ trách khu vực từ đường số 9 đến giới tuyến quân sự tạm thời.

        Tháng 6

        Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam về nhiệm vụ quân sự năm 1967: "Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, phấn đấu đưa tổng số chủ lực, bộ đội địa phương và du kích lên... Chú trọng nâng cao chất lượng của bộ đội một cách toàn diện, làm cho bộ đội ta co tinh thần phấn đấu cao, tổ chức biên chế thích hợp với yêu cầu tác chiến, bảo đảm cho bộ đội ta ăn no, sức khỏe tốt, đánh giỏi".

        16 tháng 6

        Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hoá) - đơn vị dân quân gái đầu tiên trên miền Bâc bằng 27 viên đạn súng bộ binh bắn rơi 1 máy bay phản lực Mỹ.

        Tháng 8

        Quân ủy Trung ương mở cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" trong toàn quân.

        Giữa tháng 9

        Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua và Dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng miền Nam lần thứ hai. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chào mừng Đại hội. Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đọc diễn văn nêu rõ: Đây là đại hội mừng công xứng đáng với tên gọi "quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ". Đại hội tuyên dương 47 cán bộ chiến sĩ là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 12:05:02 PM
        
        17 tháng 9

        Tại trận địa T5 - Nông trường Quyết Thắng, Tiểu đoàn 84 Trung đoàn tên lửa 238 dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên trên vùng trời Vĩnh Linh.

        Ngày 20 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh (số 100 LCT) thưởng Huân chương Quân công hạng hai cho Tiểu đoàn 84 và gửi thư khen ngợi quân dân Quân khu 4 lần đầu tiên bắn rơi máy bay B-52 của Mỹ trên miền Bắc.

        Tháng 9

        Hội nghị phòng không nhân dân trên miền Bắc, tổng kết kinh nghiệm tổ chức, báo động, đào hầm hố, che phòng sơ tán, cứu chửa và khắc phục hậu quả địch đánh phá giữ vững mạch máu giao thông chi viện miền Nam, quyết định đẩy mạnh công tác động viên lực lượng trên miền Bắc bổ sung quân cho chiến trường.

        14 tháng 10

        Trung đội lão dân quân xã Hoàng Trường, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) dùng súng bộ binh bẳn rơi chiếc máy bay thứ 2.400 của Mỹ trên miền Bắc.

        Ngày 17 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh thưởng Huân chương Quân công hạng ba cho trung đội lão dân quân xã Hoằng Hoá và gửi thư khen các cụ "Tuổi cao chí càng cao", nêu gương sáng cho đồng bào cả nước.

        27-10 đến 5-12

        Chiến dịch Lộc Ninh. Nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phối hợp với chiến trường toàn Miền, tạo điều kiện cho các đơn vị, địa phương trực tiếp công tác chuẩn bị; đồng thời thực tập, rút kinh nghiệm đánh vào thành phố, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công địch ở Lộc Ninh - Bù Đốp (tinh Phước Long).

        Lực lượng địch: Quân Mỹ có sư đoàn bộ binh 1, hai chi đoàn thiết giáp; quân nguy có sư đoàn bộ binh 5, một trung đoàn pháo binh, một chi đoàn tăng thiết giáp. Ngoài hỏa lực pháo binh, địch còn được máy bay chi viện (150 lần chiếc/ngày).

        Lực lượng ta: gồm 2 sư đoàn bộ binh của chủ lực Miền. Bộ tư lệnh chiến dịch do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh.

        Trong hơn một tháng, các đơn vị đánh 55 trận, trong đó có 2 trận quy mô sư đoàn, 7 trận trung đoàn, 17 trận tiểu đoàn; áp dụng nhiều hình thức chiến thuật: Tập kích (14 trận), phục kích (16 trận), đánh công sự vững chắc (4 trận). Trận Bù Đốp là trận then chốt quyết định.

        Kết quả: Ta đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và 2 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh và 1 đại đội cơ giới Mỹ, 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội pháo binh, 2 chi đội tăng - thiết giáp quân đội Sài Gòn; diệt 5.400, bắt 617 tên; phá 103 xe quân sự, 63 khẩu pháo cối, 4 kho xăng, đạn, thu 172 súng các loại. Ta tạo được bàn đạp tiến công ở phía bắc Sài Gòn.

        Tháng 10

        Giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập 6 phân khu.

        - Phân khu 1: Trảng Bàng, Dầu Tiếng, Bến Cát, Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp.

        - Phân khu 2: Đức Hoà, Đức Huệ, Bến Thủ, Tân Bình, Bình Chánh.

        - Phân khu 3: Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè.

        - Phân khu 4: Vũng Tàu, Bà Rịa, Nhơn Trạch.

        - Phân khu 5: Tân Uyên, Phú Giáo, Lái Thiêu, Dĩ An, Thủ Đức.

        - Phân khu 6: Các quận nội thành Sài Gòn, do các đồn chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư, Võ Văn Kiệt làm Phó bí thư.

        Về lực lượng vũ trang: Mỗi phân khu ta xây dựng đươc từ 2 đến 4 tiểu đoàn bộ binh trang bị gọn nhẹ. Riêng Phân khu 6 có 11 đội đặc công, biệt động.

        3-22 tháng 11

        Chiến dịch Đắc Tô 1. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phối hợp với chiến trường đồng bằng Khu 5, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Đác Tô - Tân cảnh (bắc Kon Tum). Lực lượng địch có sư đoàn bộ binh 4, sư đoàn ky binh không vận 1 và lử đoàn dù 173 quân Mỹ, chiến đoàn dù 3 quân nguy Sài Gòn.

        Lực lượng ta gồm Sư đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộ binh 24, Trung đoàn pháo binh 40 (có 3 tiểu đoàn pháo mang vác), 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và lực lượng vũ trang địa phương Kon Tum. Bộ Tư lệnh chiến dịch do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, đồng chí Trần Thế Môn - Chính ủy.

        Sau 20 ngày đêm chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu 4.090 tên địch, phá hủy 32 xe quân sự và 38 máy bay các loại.

        19 tháng 11

        Biên đội MIG-21 gồm Vũ Ngọc Đỉnh và Nguyễn Đăng Kính thuộc Trung đoàn không quân 921 lần đầu tiên bắn rơi máy bay trinh sát điện tử EB-66 của Mỹ.

        20 tháng 11

        Thành lập đại đội nữ pháo binh dân quân xã Ngư Thủy (Lệ Thủy, Quang Bình) gồm 34 chiến sĩ, tuổi từ 16 - 20, trang bị 4 khấu pháo 85mm. Ngày 7 tháng 2 năm 1968, đại đôi đánh thắng trận đầu, bắn cháy tàu khu trục số 013 của Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen, tặng mỗi chiến sĩ một huy hiệu của Người.

       6 tháng 12

        Thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đường 9. Tư lệnh: Trần Quý Hai. Chính ủy: Lê Quang Đạo.

        8-12-1967 đến tháng 1-1968

        Sư đoàn bộ binh 9 (chủ lực Miền) phối hợp với lực lượng vũ trang Tây Ninh đánh bại cuộc hành quân "Hòn đá vàng" của sư đoàn 25 Mỹ và một số tiếu đoàn ngụy vào chiến khu Dương Minh Châu. Gần một tháng chiến đấu, ta diệt và làm bị thương 2.500 tên (có 2.000 Mỹ); phá hủy 184 xe quân sự, 28   đại bác; bắn rơi và bắn cháy 60 máy bay.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 12:07:58 PM

Năm 1968

        Tháng 1

        * Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, thông qua nghị quyết Bộ Chính trị (12-1967) về "chuyển cuộc chiến tranh cảch mạng ờ miền Nam sang thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định". Trung ương Đảng nhận định: "Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn, đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược", về nhiệm vụ cua quân và dân ta trong năm 1968, Trung ương Đang nêu rõ: "Thực hiện cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa, quyết tiêu diệt giặc Mỹ tay sai bán nước, giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước".

        * Thành lập Nhà máy UI31 (trên cơ sở Công trường 6503) thuộc Cục Quân giới. Nhiệm vụ: Chế tạo đạn chống tăng (6505), sản xuất một số lựu, mìn (như lựu ghép mảnh lựu phóng 509B); gồm 6 phân xưởng, 12 phòng ban kỹ thuật quân số 847 người.

        12-27 tháng 1

        Chiến dịch Nậm Bạc. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, liên quân Việt - Lào mở chiến dịch tiến công địch ở Nậm Bạc (Bắc Lào). Lực lượng địch gồm 12 tiểu đoàn bộ binh (thuộc GM11, 12. 15, 25), 1 tiểu đoàn pháo binh và 2 khu phỉ (Pa Mao, Phu Thoong) do cố vấn Mỹ chi huy.

        Lực lượng tham gia chiến dịch: Quân tình nguyện Việt Nam có Sư đoàn bộ binh 316 (thiếu 1 trung đoàn), Trung đoàn bộ binh 335 thiếu 2 đại đội, tiểu đoàn bộ binh 4, 1 tiểu đoàn ĐKZ, 2 đại đội cối 120mm, 2 khẩu đội sơn pháo 75mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm. Bạn có tiểu đoàn 409 và lực lượng vũ trang tỉnh Luông Pha Băng.

        Bộ chi huy chiến dịch về phía Việt Nam có các đồng chi Vũ Lập: Tư lệnh. Huỳnh Đắc Hương: Chính ủy.

        Sau 16 ngày đêm chiến đấu, liên quân Việt - Lào tiêu diệt 973 tên địch, bắt hơn 2.000 tên, phá hủy 12 máy bay (bắn rơi 2 chiếc), 11 pháo; giải phóng vùng Nậm Bạc, Khăm Đeng (trên 1 vạn dân).

        Thắng lợi của chiến dịch đánh dấu bước phát triển thế chủ động tiến công của các lực lượng cách mạng trên chiến trường Lào; phối hợp nhịp nhàng có hiệu quả với quân và dân miền Nam Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968.

        13 tháng 1

        Oét-mo-len ra lệnh hủy bỏ dự án mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba, rút các đơn vị Mỹ đã triển khai đánh chiếm Khu C, Khu Đ (Đông Nam Bộ), lùi về giữ vùng xung quanh Sài Gòn - Gia Định. Đồng thời hủy bỏ cuộc hành quân mang mật danh "York" ở các tỉnh phía bắc Sài Gòn, chuyển sư đoàn kỵ binh không vận số 1 và lữ đoàn bộ binh nhẹ Mỹ từ Tây Nguyên chuyển ra tính Thừa Thiên, tăng cường cho mặt trận phía bắc.

        20-1 đến 15-7

        Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Nhằm thu hút quân cơ động Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãm và giam chân địch, tạo điều kiện cho các chiến trường khác trực tiếp là Trị - Thiên Huế hoàn thành nhiệm vụ tiến công và nổi dậy, Bộ Quốc phòng quyết định mở chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn cùa Quân Giai phóng miền Nam Việt Nam đánh vào tuyến phòng ngự vững chắc của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trên đường số 9 (từ cửa Việt đến biên giới Việt Nam - Lào), trong đó khu vực. Khe Sanh là hướng chính.

        Lực lượng địch trên tuyến đường số 9 có 45.000 quân (28.000 quân Mỹ), trong đó có 3 trung đoàn lính thủy đánh bộ tăng cường (10 tiểu đoàn), 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới; được bố trí thành 3 khu vực (phía giữa và phía tây), trong đó phía đông là khu vực phòng   ngự chủ yếu. Riêng Khe Sanh có trên 6.000 quân (trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ Mỹ, tiểu đoàn 37 biệt động quân Sài Gòn).

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 4 sư đoàn và 1 trung đoàn bộ binh, 1 đoàn và 5 đội đặc công, 6 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh; 4 đại đội xe tăng, 1 đại đội súng phun lửa cùng các lực lượng bảo đảm.

        Bộ chỉ huy chiến dịch: Trần Quý Hai: Tư lệnh. Lê Quang Đạo: Chính ủy, Cao Văn Khánh: Tham mưu trưởng.

        Diễn biến chiến dịch chia thành 4 đợt. Đợt 1 (20-1 đến 7-2), ta tiêu diệt các cứ điểm phía tây (trong đó có Làng Vây), mở thông đường 9, đưa lực lượng vây hãm Tà Cơn. Đợt 2 (10-2 đến 31-3), ta tiến công vây hãm Tà Cơn. Đợt 3 (1-4 đến 7-5) đánh quân địch ứng cứu giải toả, nới rộng vòng vây, thay quân. Đợt 4 (8-5 đến 15-7) vây lại Tà Cơn, đánh quân địch rút chạy.

        Sau 177 ngày đêm tiến công, vây hãm và đánh địch giải toả, bộ đội ta tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của quân Mỹ (loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên, trong đó có 13.000 tên Mỹ, bẳn rơi và phá hủy 480 máy bay, 120 xe quân sự, 65 đại bác), buộc quân Mỹ phải rút bỏ một căn cứ lớn quan trọng, phá vỡ một mảng tuyến phòng thủ phía tây đường số 9 của địch. Ta đã giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động quân Mỹ ở Đường 9, Khe Sanh, thu hút sự chú ý của địch ở vùng giới tuyến, góp phần tạo yếu tố bất ngờ và điều kiện thuận lợi cho quân va dân ta ở các chiến trường trên toàn miền Nam tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 12:11:48 PM

        30-1 đến 31-3

        Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở nhiều thành phố, thị xã, thị trấn miền Nam. Ta làm chủ thành phố Huế 25 ngày, thành lập chính quyền cách mạng ở Sài Gòn - Gia Định; đặc công, biệt động tiến công đồng loạt các cơ quan đầu não của Mỹ - nguy: toà đại sứ Mỹ, dinh tổng thống, bộ tổng tham mưu, tổng nha cảnh sát, đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất... Các lực lượng vũ trang trên toàn Miền đồng loạt tiến công nhiều sở chỉ huy quân đoàn, sư đoàn, tiểu khu, chi khu quân sự ngụy, 45 sân bay, nhiều tổng kho, bến tàu, căn cứ hải quân... Nhân dân nhiều vùng nông thôn và đô thị nổi dậy diệt ác, trừ gian, giải tán dân vệ, phá vỡ hàng loạt "ấp chiến lược", giành quyền làm chủ.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Chỉ trong một thời gian ngắn, ta đã diệt và làm tan rã 147.000 tên địch (có 43.000 tên Mỹ), phá hủy 34% vật tư dự trữ chiến tranh của Mỹ ở miền Nam, phá hủy 4.200 (trong số 5.400) "ấp chiến lược", giải phóng thêm 1,4 triệu dân. Đây là đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đánh vào ý chí xâm lược của chúng, buộc Mỹ phải "xuống thang chiến tranh", tạo ra bước ngoặt mở đầu thời kỳ đi xuống về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
   
        31 tháng 1

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc trên cơ sở Cục Thông tin liên lạc. Nhiệm vụ: Lãnh đạo, chỉ huy xây dựng tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc, kỹ thuật thông tin đối với các đơn vị thông tin toàn quân và trực tiếp chi huy các đơn vị thông tin binh chủng. Tư lệnh: Tạ Đình Hiểu. Chính ủy: Lê Cư.

        6-7 tháng 2

        Trận Làng Vây. Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) được tăng cường Tiểu đoàn    3 Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) Tiểu đoàn 2 pháo lựu (Trung đoàn 675), 2 tiểu đoàn công binh (Trung đoàn 7), 2 đại đội 3 và 6 (Tiểu đoàn thiết giáp 198) và một số đơn vị binh chủng tiến công cứ điểm Làng Vây trên tuyến phòng thủ đường 9 - Khe Sanh của Mỹ- ngụy. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, bộ đội ta đánh hiệp đồng binh chủng (có xe tăng tham gia) diệt 1 tiểu đoàn địch trong công sự vững chắc.

        23 tháng 3

        Tổng thống Mỹ, Giôn-xơn tuyên bố Đô đốc G.Sáp (G.Shap) thôi giữ chức tư lệnh Thái Bình Dương. Tướng Oét-mo-len thôi giữ chức tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MACV) và gọi tướng C.A.Bram về Oa-sinh-tơn để "luận chứng” về kế hoạch quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Ngày 24 tháng 3, Giôn-xơn yêu cầu Oét-mo-len phải tìm một tên gọi khác thay thế tên "tìm và diệt". Bộ chi huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn đã lệnh cho các cấp chi huy dưới quyền không dùng từ "tìm và diệt" thay vào đó bảng tên mới: các cuộc "càn quét chiến đấu", "trinh sát có vũ trang”, hoặc đơn giản hơn là các "cuộc càn quét".

        31 tháng 3

        Tổng thống Mỹ, Giôn-xơn tuyên bố: Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra. Trước sự thất bại của chiến lược "Chiến tranh cục bộ", Mỹ buộc phải cử đại diện đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Pa-ri (Pháp).   

        24 tháng 4

        Bộ Chính trị họp nhận định đợt hoạt động Tết Mậu Thân ra nghị quyết về phương hướng nỗ lực mới, nhằm đi tới giành thẳng lợi quyết định: "Động viên toàn Đảng, toàn quân toàn dân phát huy khí thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện, giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn nửa, nhanh chóng mở rộng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của cách mạng, càng đánh càng mạnh, đẩy kẻ địch vào thế thất bại liên tiếp, ngày càng suy yếu, tan rã..."-

        Nghị quyết đề ra các yêu cầu cụ thế:

        - Liên tục đánh vào các đô thị. siết chặt vòng vây, tạo ra một tình hình khủng hoảng thường xuyên ở đó. Phát động quần chúng mạnh mẽ giành và giữ quyền làm chủ.

        - Giải phóng đại bộ phận vùng nông thôn, tiến tới làm chủ toàn bộ nông thôn.

        - Tiếp tục tiến công ngụy quân, ngụy quyền, tiêu diệt và làm tan rã về tổ chức, suy sụp về tinh thần, không thể cứu vãn nổi.

        - Tích cực tiến công quân Mỹ, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của chúng.

        - Đánh phá liên tục các căn cứ quân sự, cơ sở hậu cần, đường giao thông trọng yếu.

        - Nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị cách mạng cả về chất lượng và số lượng.

        - Củng cố vùng giải phóng một cách toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội.

        - Miền Bắc ra sức xây dựng và củng cố quốc phòng, đẩy mạnh sản xuất, kiên quyết đánh bại bước leo thang mới của địch, bảo đảm giao thông vận tải chi viện miền Nam.

        Tháng 4

        Viện Ký thuật Quân sự phối hợp với các trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội và Tổng cục Bưu điện nghiên cứu, thiết kế phương tiện rà phá bom, mìn từ trường.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2016, 12:16:05 PM

        4 tháng 5

        Bắt đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam (đợt 2). Ta đánh vào 30 thành phố, thị xã, 70 thị trấn quận ly, chi khu quân sự, 27 bộ tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn nguy, 40 sân bay, kho tàng quan trọng..., mạnh nhất là ở Sài Gòn - Gia Định. Cuộc tấn công đợt 2 đã gây cho địch một số thiệt hại; nhưng ta cũng bị tổn thất không đạt được các yêu cầu đề ra về chính trị, quân sự.

        27 tháng 5

        Bộ Quốc phòng quyết định (số 53/QĐ-QP) thành lập Sư đoàn phòng không 377. Biên chế: 3 trung đoàn pháo cao xạ (224, 233, 256) và 2 trung đoàn tên lửa (278, 275). Tư lệnh: Nguyễn Quang Bích. Chính ủy: Lê Tư.

        28 tháng 5

        Bộ Tổng tham mưu ra quyết định (số 98/TM-QĐ) thành lập Đoàn 968 quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Biên chế 5 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội đặc công, cao xạ, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, vận tải. Tư lệnh: Thượng tá Hà Tuấn Khanh, Chính ủy: Thượng tá Phạm Sinh.

        Tháng 7

        Cục Quân giới (Tổng cục Hậu cẫn) nghiên cứu thiết kế chế tạo súng chống tăng B40. Sau hơn một tháng nghiên thiết kế, chế thử, ngày 11 tháng 9 năm 1968, khẩu súng B40 đầu tiên được chế tạo thử nghiệm thành công tại phân xưởng A3 Nhà máy V111. Đến ngày 31 tháng 12 năm 1968, Nhà máy V111 đã sản xuất được 1.111 khẩu B40 gửi vào chiến trường miền Nam phục vụ kịp thời bộ đội chiến đấu.

        17-8 đến 28-9

        Chiến dịch Tây Ninh - Bình Long. Nhằm tiêu .diệt một bộ phận quân Mỹ và quân nguy, tạo thuận lợi cho các hoạt động diệt ác, phá kìm ở nội đô và vùng ven Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long.

        Lực lượng địch có sư đoàn ky binh không vận 1, sư đoàn bộ binh 1, một lữ đoàn dù, một trung đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn pháo quân Mỹ; sư đoàn bộ binh 25, một lữ đoàn dù và một số tiểu đoàn thủy quân lục chiến, biệt động quân, pháo binh, thiết giáp hỗ trợ.

        Lực lượng ta có các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9, cụm pháo binh Miền và lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch.

        Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt. Đợt 1 (từ 17 đến 31-8): bộ đội ta tập kích cụm quân Mỹ ở Trà Phí (đêm 17), diệt hơn 400 tên, tiếp đó tập kích phá hủy khu truyền tin ở núi Đen; tiến công nhiều mục tiêu khác ở Nam toà Thánh Tây Ninh, tạo thế uy hiếp thị xã. Đợt 2 (từ 1 đến 28-9): Ta liên tục phục kích, tâp kích, đánh bồi, đánh nhồi vào các cụm quân địch ở Bến Cúi, Trà Phí, Chà Là...

        Kết thúc chiến dịch, ta đánh 315 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 17.200 tên, đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn địch, phá hủy hơn 1.500 xe quân sự, 107 khẩu pháo cối, bắn rơi 122 máy bay; góp phần làm thất bại âm mưu đầy chiến tranh ra gần biên giới Việt Nam - Campuchia của Mỹ - nguỵ.

        22 tháng 8

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Quân khu 4 đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Thường trực Hội đồng Chĩnh phủ. Tư lệnh: Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ - Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải. Chính ủy: Thiếu tướng Lê Quang Hoà - Chính ủy Quân khu 4.

        24 tháng 8

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 95/QĐ-QP) thành lập Cục Xăng dầu thuộc Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ: Chỉ đạo công tác xăng dầu trong toàn quân; trực tiếp nhận, bảo quản, cung cấp và vận chuyến xăng dầu, các khí tài xăng dầu cho lực lượng vũ trang xây dựng và chiến đấu.

        Quân số: 2.055 cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên. Các cơ sở gồm: 3 tiểu đoàn. 9 đại đội, 1 xí nghiệp sửa chửa, 11 kho. Cục phó 1: Trung tá Phan Tử Quang.

        28 tháng 10

        Quân uy Trung ương quyết định tổ chức Bộ tư lệnh 500 thay tiền phương Tổng cục Hậu cần. Nhiệm vụ: Tổ chức chi huy toàn bộ công tác giao thông vận tai ô tô phía tây và nam

        Quân khu 4. Lực lượng: 2 trung đoàn và 35 tiểu đoàn công binh, 1 sư đoàn, 3 trung đoàn và 23 tiểu đoàn phòng không, 18 tiểu đoàn ô tô vận tải, 2 tiểu đoàn đường ống. Quân số 33.384 cán bộ, chiến sĩ. Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Đôn phó Tổng tham mưu trưởng. Chính ùy: Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

        1 tháng 11

        Tông thống Mỹ, Giôn-xơn tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam dán chủ cộng hoà.

        Cuộc chiến tranh nhân dân của quân và dân ta trên miền Bác chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ kết thúc thắng lợi. Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến ngày 11 tháng 11 năm 1968 quân và dân ta bắn rơi 3.243 máy bay các loại (có 6 chiếc B-52); 143 lần bắn chìm, bắn bị thương tàu biệt kích, tàu khu trục và tàu tuần dương Mỹ.

        2 tháng 11

        Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố khẳng định: "Để đi đến một giải pháp chính trị đúng đắn về Việt Nam thì Chinh phủ Mỹ phải từ bỏ mọi âm mưu can thiệp và xâm lược đối với nước Việt Nam, phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Chừng nào Mỹ còn xâm lược Việt Nam thì nhân dân Việt Nam còn chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn".

        3 tháng 11

        Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Chúng ta đã đánh tháng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó chỉ mới là thắng lợi bước đầu... Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc"... "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 03:55:04 AM

Năm 1969

        1 tháng 1

        Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng quân và dân cả nước nhân dịp năm mới: "Năm 1968 là một năm quân và dân cả nước ta chiến thắng rất oanh liệt... Chắc chắn giặc Mỹ sẽ hoàn toàn thất bại. Quân và dân trong cả nước thừa thắng xông lên, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

                ...Ví độc lập vì tự do

                Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguy nhào"...

        10-1 đến 4-2

        Bộ đội chủ lực Tậy Nguyên phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh bại các cuộc hành quân, bình định cấp tốc ''Bình Tây 48", "Bình Tây 49", "Bình Tây 50" của quân ngụy có Mỹ yểm trợ vào vùng Chư Pa (Gia Lai). Ta đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 1 tiểu đoàn Mỹ), bắn rơi và bắn cháy 15 máy bay lên thẳng, phá hủy 9 đại bác và súng cối.

        25 tháng 1

        Khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Pa-ri (Pháp).

        Phái đoàn của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt. Phái đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn, các đồng chí Nguyễn Thị Bình, Trần Hoài Nam làm Phó trưởng đoàn.

        Phái đoàn Mỹ do Ha-ri-man làm Trưởng đoàn... Phái đoàn của ngụy quyền Sài Gòn do Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Đăng Lâm dẫn đầu.

        Trong phiên họp này, đồng chí Trần Bửu Kiếm đưa ra lập trường 5 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tiếp đó, đồng chí Xuân Thủy khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân ta kiên quyết chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

        Hội nghị đánh dấu thắng lợi quan trọng của Chính phủ ta trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, một thất bại bước đầu của đế quốc Mỹ và bè lú tay sai trong thực hiện chủ trương "thương lượng trên thế mạnh".

        22-2 đến 30-2

        Quân và dân miền Nam mở đợt tiến công Xuân 1969 vào hơn 400 mục tiêu của địch ở 36 thành phố, thị xã; hơn 100 quận lỵ? thị trấn, 35 sở chỉ huy, 38 sân bay, 17 khu hậu cần lớn... Loại khỏi vòng chiến đấu 104.000 tên, bắn rơi và phá hủy 1.600 máy bay các loại, bắn cháy 2.900 xe quân sự và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. 

        Đêm 25 rạng 26 tháng 2

        Tiểu đoàn 3 đặc công Miền và Tiểu đoàn 28 đặc công (Sự đoàn 7) được tăng cường 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp do Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Cụ - Phó chỉ huy bộ đội đặc công Miền chi huy tập kích căn cứ sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ ờ Đồng Dù (Cù Chi) - căn cứ có sở chi huy sư đoàn và lữ đoàn 2 (1.600 quân), sân bay, trận địa pháo bãi xe cơ giới, 7 lớp rào thép gai, 320 lô cốt và ụ súng- bên ngoài có 5 đại đội thám báo bảo vệ. Sau hơn một giờ chiến đấu, ta làm thương vong hơn 1.000 tên địch, phá hủy 50 máy bay các loại, 176 xe quân sự, 12 khẩu pháo. Ta hy sinh 18, bị thương 14 đồng chí. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của bộ đội Đặc công miền Đông Nam Bộ, đạt hiệu suất cao.

        17-27 tháng 3

        Quân và dân Thủ Dầu Một đánh bại cuộc hành quân lớn của hơn một vạn quân Mỹ - nguy, diệt hơn 2.000 tên, bắn cháy 210 xe quân sự, bắn rơi 20 máy bay, thu một số vũ khi.

        18 tháng 3

        Mỹ dùng máy bay B-52 ném bom vùng phía đông Campuchia, bắt đầu chiến dịch ném bom bí mật "Me Nu" dùng không quân đánh sâu vào lãnh thổ Campuchia. Trong một năm (3.1969-4.1970) Mỹ dùng máy bay B-52 với 3.630 lần, ném xuống Campuchia gần 104.000 tấn bom, chiếm 60% tổng số vụ B-52 giội bom xuống chiến trường Đông Dương-

        Tháng 4

        * Hội nghị Bộ Chính trị đánh giá tình hình, kiểm điểm những sai sót trong chi đạo thực hiện và đề ra nhiệm vụ trước mắt: "Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, tiếp tục đầy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghía đẩy mạnh ba mũi giáp công kết hợp với tiến công ngoại giao, ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, làm thất bại các mục tiêu và biện pháp phòng ngự của địch, đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh của chúng, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho nguy phải suy sụp và ta giành được thắng lợi quyết định, tạo điều kiện để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà".

        * Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho các đơn vị khẩn trương điều chỉnh tổ chức, bố trí lực lượng phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu và khả năng nhân lực, vật lực ở từng chiến trường, nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực, củng cố bộ đội địa phương, dân quân du kích, phát triển lực lượng bộ đội tinh nhuệ trong cả ba thứ quân, tăng cường lực lượng công binh và phòng không, kiên quyết bảo vệ và mở rộng tuyến vận tải chiến lược 559.

        * Thường vụ Trung ương Cục quyết định: "Tiếp tục phát triển thắng lợi đợt Xuân, ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy. Tiếp tục đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định cấp tốc của địch, phát huy cách đánh mạnh, đánh liên tục vào các đô thị, thị xã hơn nữa, nhất là Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn; đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị. Trung ương Cục chỉ thị các quân khu, các mặt trận chuẩn bị mở đợt tiến công cao điểm mùa hè 1969 dự định bắt đầu từ ngày 11 tháng 5.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 03:59:12 AM

        5 đến 17-5

        Chiến dịch Đắc Tô. Nhằm góp phần đánh bại biện pháp chiến lược "quét và giữ" của quân Mỹ và quân ngụy ở vùng Tây Nguyên, hỗ trợ cho đồng bằng Khu 5, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Đắc Tô (bắc Kon Tum). Lực lượng địch có trung đoàn bô binh 4, 6 tiểu đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân cụm 4 biệt kích và 3 chi đoàn thiết giáp.

        Lực lượng ta gồm các trung đoàn bộ binh 28, 66, 95 và các tiểu đoàn bộ binh 5, 631; các tiểu đoàn đặc công 37, 20, Trung đoàn pháo binh 40 của mặt trận Tây Nguyên.

        Sau hơn một tháng chiến đấu, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 13.000 tên địch (diệt 4 tiểu đoàn, bắt 164 tên)- phá hỏng 1.151 xe quân sự, 74 khẩu pháo, bắn rơi, phá hỏng 260 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

        Trong chiến dịch Đắc Tô 2, ta bước đầu vận dụng thành công nghệ thuật vận động, bao vây tiến công liên tục và phối hợp ba thứ quân để đánh bại chiến thuật di tản, co cụm, đóng chốt điểm cao của Mỹ - nguy.

        5-5 đến 20-6

        Chiến dịch Long Khánh (Đông Nam Bộ). Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch của chúng, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Túc Trưng, Định Quán, Gia Rai, thị xã Long Khánh, tỉnh Long Khánh (nay là huyện Xuân Lộc, tính Đồng Nai). Lực lượng địch có sư đoàn bộ binh 18, 2 tiểu đoàn bộ binh (3, 7 ngụy), 1 tiểu đoàn bộ binh Ôt-xtrây-li-a, 1 thiết đoàn, 3 tiểu đoàn pháo. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có sư đoàn bộ binh 5 chủ lực Miền, trung đoàn bộ binh 29 và đại đội 1 tiểu đoàn 24.

        Kết thúc chiến dịch, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, phá hỏng 47 khẩu pháo, 216 xe quân sự (có 32 xe bọc thép), 79 máy bay, thu 113 súng các loại.

        11 tháng 5

        Quân dân miền Nam bắt đầu đợt tiến công cao điểm mùa hè. Lực lượng đặc công, biệt động, pháo cối chuyên trách cùng các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đã đánh vào 830 mục tiêu của địch trên khắp miền Nam, trong đó có 57 căn cứ, sở chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên và 41 sân bay quân sự của địch. Sau một tháng tiến công, các lực lượng vũ trang ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 29 tiểu đoàn và cụm quân địch tương đương, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.

        12-25 tháng 5

        Quân dân Trị-Thiên đánh bại cuộc hành quân của Mỹ - nguy ra khu vực A Lưới - A Bia. Nhiều trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra ở phía tây A Bia; quân Mỹ kinh hoàng gọi A Bia là Hambusger (đồi Xác thịt). Sau 13 ngày đêm liên tục chiến đấu, lực lượng vũ trang Trị Thiên - Huế loại khỏi vòng chiến đấu 1.500 tên địch.

        18 tháng 5

        Hội nghị quốc tế ủng hộ Việt Nam họp tại Xtốc-khôm (Thuỵ Điển) quyết định động viên phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam; đòi Mỹ rút quân, chấm dứt chiến tranh.

        6-8 tháng 6

        Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp ra nghị quyết thành lập chế độ Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Đại hội bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do đồng chí Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và hội đồng cố vấn bên cạnh Chinh phủ do đồng chí Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch; ra lời hiệu triệu quân và dân miền Nam đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến toàn thắng.

        Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Viêt Nam ra đời là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn của nhân dân miền Nam trong quá trình xây dựng chính quyền cách mạng, góp phần đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của quân dân cả nước đến thắng lợi hoàn toàn.

        23-6 đến 1-7

        Chiến dịch Mường Sủi. Chiến dịch tiến công của liên quân Việt - Lào vào quân phái hữu Lào ở Mường Sủi - Phu Viêng (bắc Viêng Chăn 150 km). Nhằm tiêu diệt một bộ phận quân cơ động thuộc lực lượng đặc biệt Vàng Pao, chiếm Mường Sủi, nối liền với vùng giải phóng Xiêng Khoảng - Sầm Nưa, Bộ Quốc phòng nước ta và Bộ Chỉ huy quân đội giải phóng Lào phối hợp mở chiến dịch tiến công ở khu vực Mường Sủi - Phu Viêng (bắc Viêng Chăn, Lào). Lực lượng địch (phái hữu Lào) có 7 tiểu đoàn Vàng Pao, 6 tiểu đoàn chiếm đóng, 3 cụm pháo binh, 3 đại đội xe tăng.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch: Phía Quân đội nhân dân Việt Nam gồm Sư đoàn bộ binh 316 (thiếu 1 trung đoàn), 2 tiểu đoàn bộ binh đang đứng chân trên địa bàn chiến dịch, 3 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo cối 120mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 đại đội xe tăng; phía Quân giải phóng nhân dân Lào gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 1 đại đội súng máy phòng không 14,5mm, 1 trung đội xe tăng.

        Tư lệnh chiến dịch: Vũ Lập. Chính ủy: Huỳnh Đắc Hương.

        Diễn biến chiến dịch chia làm hai đợt. Đợt 1 (23 đến 27-6), Liên quân Việt - Lào chiếm Phu Sô - Noọng Tăng, Bản Khay Mường Sủi, tiến công sở chỉ huy địch ở Mường Sủi, đánh địch phản kích. Đợt 2 (28-6 đến 1-7) liên quân tiến công làm chủ toàn bộ Mường Sủi, phát triển về hướng Phu Viêng đến ngã ba Sa La Phu Khun, uy hiếp Sảm Thông - Long Chẹng. Kết thúc chiến dịch, Liên quân Việt - Lào diệt 600 tên (có 1 đại tá), bắt 297 tên, phá hủy 13 pháo 105 và 155mm, bắn rơi 4 máy bay, thu 3 xe tăng và 25 xe vận tải, 2 pháo 105 mm, 2 cối 106,7mm, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch; tạo thế trận phòng ngự vững chắc ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 04:02:35 AM

        28 tháng 6

        Sáp nhập Đoàn 500 (lực lượng vận tải và bảo đảm vận tải từ nam sông Gianh trở vào vĩ tuyến 17 gồm 7 tiểu đoàn xe, 8 tiểu đoàn công binh, 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 1 tiểu đoàn đường ống, 3 đội điều trị, 5 trạm hành quân chuyển thương) vào Đoàn 559.

        2 tháng 7

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 62/QĐ) thành lập Viện Khoa học Quân sự Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ: giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nghiên cứu những vấn đề chiến lược, chiến dịch và chỉ đạo công tác tổng kết, nghiên cứu khoa học quân sự trong toàn quân.

        20 tháng 7

        Chù tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân cả nước: Triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến đánh cho Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà”.

        29 tháng 7

        Bộ Quốc phòng ra các quyết định (từ 72 đến 74/QĐ-QP) giải thể Trung đoàn công binh cầu phà 269 (thành lập 21-8-1968). Giải thể Sư đoàn pháo cao xạ 375 (Quân khu 4) các trung đoàn pháo cao xạ của sư đoàn chuyển trực thuộc Bô tư lệnh Quân khu 4 và chuyển Cục Kỹ thuật (Tổng cục Hậu cần) thành Viện Kỹ thuật Quân sự thuộc Bộ Tổng tham mưu.

        Tháng 7

        Trung ương Cục họp hội nghị lần thứ 9, đánh giá tình hình chiến trường và chủ trương:

        + Đẩy mạnh tiến công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân.

        + Tăng cường công tác dân vận làm cơ sở cho phong trào đấu tranh chính trị.

        + Phát huy vai trò của chính quyền cách mạng, đấy mạnh công tác an ninh, kinh tế, tài chính, xây dựng và mở rộng căn cứ địa cách mạng.

        Hội nghị quyết định phải tập trung lực lượng tiến công làm thất bại chủ truơng "quét và giữ” và chính sách bình định của địch, trong đó "nhiệm vụ quan trọng nhất là phải giành đất, giành dân, phát triển thế và lực của ta", "căng địch và kéo địch ra để tiêu diệt và tiêu hao một cách rộng rãi đi đôi với mở rộng vùng giải phóng".

        Cùng thời gian này, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại một số chiến trường: Lập Khu 7 gồm Phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và đặc khu Rừng Sác. Các quận nội thành Sài Gòn - Gia Định trước kia tách thành các phân khu, nay nhập lại, do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư thành ủy. Tăng cường sự lãnh đạo, chi đạo đối với mặt trận miền Tây: Điều đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư Khu ủy và đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu 9.

        1-8 đến 15-9

        Các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam mở cuộc tiến công mới vào gần 40 thành phố, thị xã, 60 sở chỉ huy cấp trung đoàn trở lên, hơn 30 sân bay, nhiều bến cảng, kho tàng diệt và làm bị thương hàng nghìn tên địch, hỗ trợ nhân dân nối dậy diệt ác phá kìm giành quyền làm chủ.

        2 tháng 9

        Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhấn dấn Việt Nam, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới từ trần. Bác để lại bản Di chúc lịch sử. Tiếp theo lời kêu gọi cùa Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, đảng viên, đoàn viên thanh niên trong các lực lượng vũ trang nhân dân: "Giương cao ngọn cờ quyết chiến quyết thẳng của Bác trao cho, với khí thế thừa thắng xông lên, các lực lượng vũ trang nhân dân hãy cùng toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi". Toàn quân mở đợt sinh hoạt chính trị "Học tập và làm theo Di chúc của Bác", thi đua lập công đền ơn Bác.

        4 tháng 9

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không - Không quân. Cục trưởng: Lương Hữu Sât.

        16 tháng 9

        Tổng thống Mỹ Ních-Xơn công bố rút đợt 2 (35,000) quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam (đợt 1, Ních-Xơn tuyên bố rút 25.000 quản Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 8 năm 1969).

        Tháng 9

        Hội nghị Khu ủy Khu 5 đề ra nhiệm vụ "diệt kẹp giành dân, tác chiến của bộ đội chủ lực phải gắn liền với nhiệm vụ giành dân, cùng với phát triển lực lượng vũ trang địa phương phải tập trung củng cố các đơn vị chủ lực, đánh những trận lớn có tác dụng làm chuyển biến tình hình trên chiến trường toàn khu".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 04:05:30 AM

        20-10 đến 1-12

        Chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập. Nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực, cơ động Mỹ-nguy, phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công từ tây Buôn Ma Thuột đến Bu Prăng. Có chính diện 80km, kéo dài dọc đường 14 đến sát biên giới Việt Nam - Campuchia, gồm 4 khu: Khu A (quận ly Đức Lập), Khu B (Bu Prăng), Khu c (ngã ba Đức Song), Khu D (ngã ba đường 14 đi Campuchia thuộc tỉnh Quảng Đức).

        Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 11 tiểu đoàn (3 tiểu đoàn Mỹ, 8 tiểu đoàn nguy). Trong quá trình chiến dịch được tăng viện 1 lữ đoàn bộ binh Mỹ, 7 tiểu đoàn ngụy, 1 trung đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo của quân ngụy, có lực lượng không quân chi viện hỏa lực.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 2 trung đoàn (66 à 28), 1 tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn 394), 2 tiểu đoàn và 1 đai đội đặc công, Trung đoàn pháo 40 và lực lượng của Tỉnh Quảng Đức (2 tiểu đoàn) và một số lực lượng của Khu 10.

        Chỉ huy chiến dịch: Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh), Trần Môn (Chính ủy).

        Chiến dịch diễn ra 3 đợt: Đợt 1 (28-10 đến 7-11): Ta vây điểm diệt viện ở 2 khu vực Bu Prăng, Đức Lập và đánh vào hậu cứ phía sau của địch. Đợt 2 (8 đến 17-11) bộ đội ta đánh địch ở Bu Prăng, buộc địch ra ứng cứu giái toả để tiêu diệt. Đợt 3 (18-11 đến 1-12): Ta vây ép và tiêu diệt căn cứ Bu Prăng, đánh bại chiên đoàn 53 địch ra giải toả.

        Kết thúc chiến dịch: Ta loại khỏi chiến đấu 4.323 tên địch (có 315 Mỹ); bắt 35 tên (có 3 Mỹ) bắn rơi và phá hùy 103 máy bay, phá hủy 87 xe quân sự, 29 pháo, 35 kho (có 4 kho đạn pháo, 5 kho xăng) thu nhiều súng đạn, quân trang, quân dụng.

        Chiến dịch thắng lợi đã góp phần làm thất bại âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của địch, dùng chủ lực nguy thay thế quân Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên.

        25-10-1969 đến 25-4-1970

        Chiến dịch Toàn Thắng (chiến dịch 139). Nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Vàng Pao và quân Thái Lan, Khôi phục vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bị địch lấn chiếm trong cuộc hành quân Cù Kiệt (8 năm 1969), Quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào mở chiến dịch phan công ở khu vực Cánh Đồng Chum. Lực lượng địch: 44 tiểu đoàn thuộc lực lượng đặc biệt Vàng Pao, Một số đơn vị quân của Viêng Chăn và Thái Lan, được không quân Mỹ yểm trợ.

        Lực lượng liên quân: 2 sư đoàn bộ binh (312, 316), 2 tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị đặc công, pháo phòng không của Việt Nam; 10 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng và lực lượng vũ trang địa phương của Lào. Tham gia Bộ chỉ huy chiến dịch, về phía quân tình nguyện Việt Nam có các đồng chí Vũ Lập: Tư lệnh, Huỳnh Đắc Hương: Chính ủy.

        Sau 3 đợt chiến đấu (25-10-1969 đến 10-1-1970, 11 đến 25-2, 26-2 đến 25-4-1970), liên quân Việt - Lào đánh thiệt hại nặng một bộ phận "Lực lượng đặc biệt" của Vàng Pao gồm 13 tiểu đoàn (khoảng 7.800 tên) phá hỏng và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, mở rộng vùng giái phóng Lào từ Bản Na đến Nậm Ngàn gồm 22.000 dân.

        Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đánh dấu bước tiến bộ mới về trình độ tổ chức chỉ huy chiến dịch và tác chiến trên địa bàn rừng núi của chủ lực ta.

        3-11 đến 10-12

        Chiến dịch Phước Bình - Bù Đốp. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá ách kìm kẹp, bảo vệ tuyến hành lang vả kho tàng của ta ở biên giới Việt Nam - Campuchia, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công trên địa bàn Bù Đốp - Phước Bình và Bổ Túc - Lộc Ninh thuộc 2 tỉnh Phước Long và Bình Phước.

        Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 2 trung đoàn bộ binh cơ giới Mỹ, 3 tiểu đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1. Trung đoàn xe thiết giáp số 11 và 3 đại đội thiết giáp Mỹ. Lực lượng ngụy có 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn biệt kích và 12 đại đội bảo an, dân vệ, 24 khẩu pháo từ 105mm đến 175mm.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn bộ binh 7, 1 tiểu đoàn đặc công và trung đoàn pháo binh Miền. Bộ tư lệnh Miền trực tiếp chỉ đạo, chi huy chiến dịch.

        Sau 37 ngày đêm chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu 4000 tên địch, phá hỏng và bắn rơi 112 máy bay lên thằng, bắn cháy 103 xe quân sự (có 96 xe tăng M41, M48 và M113) phá hỏng 29 khẩu pháo, 14 kho (có 4 kho đạn), 1 sân bay, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.

        Thắng lợi cùa chiến dịch Phước Bình - Bù Đốp góp phần làm thất bại chiến lược phòng ngự của địch; tạo chuyển biến có lợi cho ta trên tuyến vành đai bắc - đông bắc Sài Gòn.

        Tháng 11

        Thành lập Lử đoàn 429 đặc công (trên cơ sở Trung đoàn 429) tại chiến khu Dương Minh Châu. Biên chế: 3 tiểu đoàn (7, 8, 9) và 6 đại đội trực thuộc. Lử đoàn trưởng: Mười Thọ. Chính uỷ: Tư Định.

        15 tháng 12

        Tổng thống Mỹ, Ních-Xơn công bố rút quân đợt 3 (50.000 quân) khỏi miền Nam Việt Nam. Đợt rút quân này dự định hoàn thành vào tháng 4 năm 1970.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 04:09:01 AM

Năm 1970

        Tháng 1

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 ra nhiệm vụ: "Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn

        Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch, vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam- làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi quyết định".

        27 tháng 3

        Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương cục miền Nam và Quân khu ủy Khu 5 đẩy mạnh hoạt động mở rộng vùng giải phóng. Chỉ thị nêu rõ: Cần tiếp tục tiến công địch mạnh mẽ, mở rộng vùng giải phóng trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, phối hợp với phong trào nổi dậy của nhân dân Campuchia chống chính quyền phản động, giúp bạn phát triển lực lượng cách mạng và giải quyết những khó khăn về hậu cần cho bộ đội ta.

        Đầu tháng 4

        Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị bàn việc huấn luyện bổ sung và tổ chức đưa quân từ miền Bắc vào chiến trường. Quân bổ sung thuộc binh chủng nào do bộ tư lệnh binh chủng ấy đảm nhiệm. Quân bổ sung là nhân viên kỹ thuật do các trường ấy đào tạo, bổ túc, chuyên sâu kỹ thuật phụ trách. Các quân khu tổ chức huấn luyện bộ binh cấp trung đoàn, sư đoàn. Trong 2 năm 1970 - 1971. ta đã đưa 195.000 quân bổ sưng, trong đó có nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật vào chiến đấu và công tác ở các chiến trường.

        1-26 tháng 4

        Bộ đội chủ lực Tây Nguyên phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh bại cuộc hành quân "Tất thắng" của 13 tiểu đoàn chủ lực cơ động, 1 trung đoàn xe tăng và xe bọc thép nguy, có nhiều máy bay đại bác hỗ trợ vào Đắc Siêng (Kon Tum).

        4 tháng 4

        Bộ Chính trị gửi điện (số 99) cho Trung ương Cục miền Nam yêu cầu: "Nghiên cứu tổ chức, bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới, bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, giúp cách mạng Campuchia có hiệu lực vừa mạnh vừa vững chắc, chủ động và lâu dài".

        22 tháng 4

        Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ quyết định sử dụng sức mạnh quân sự đánh sang bên kia biên giới Việt Nam - Campuchia.

        24-25 tháng 4

        Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương thống nhất cương lĩnh đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Hội nghị ra tuyên bố khẳng định mục tiêu chiến đấu là độc lập, hoà bình, trung lập, không cho nước ngoài có quân đội hoặc căn cứ quân sự trên đất mình, hoặc dùng lãnh thổ mình để xâm lược nước khác, không tham gia liên minh quân sự... Ba nước quan hệ theo năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, không xâm lược nhau, tôn trọng chế độ chính trị của nhau,

        không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Thành công của hội nghị góp phần làm thất bại âm chia rẽ của Mỹ và các thế lực phản động, cổ vũ quyết tâm chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

        24 tháng 4

        Quân ủy Trung ương quyết định (số 67/QĐ-QUTW) thành lập Sư đoàn vận tải 470 thuộc Đoàn 559. Nhiệm vụ: Vận tải hàng cho các chiến trường Nam Bộ, Tây Nguyên, Hạ Lào đông bắc Campuchia; phối hợp với các đơn vị chiến đấu, bảo vệ tuyến vận tải và giúp lực lượng cách mạng Campuchia xây dựng cơ sở chính trị, quân sự củng cố vùng giải phóng.

        Biên chế: Năm binh trạm vận tải, một trung đoàn công binh, một tiểu đoàn cao xạ 37mm.

        Sư đoàn trưởng; Thượng tá Nguyễn An.

        29-4 đến 30-6

        Chiến dịch Đông Bắc Campuchia. Nhằm giúp cách mạng Campuchia, bảo vệ sườn phía tây căn cứ địa hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam, Quân giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở chiến dịch phản công ở vùng biên giới Việt Nam - Campuchia và các tỉnh đông bắc Campuchia. Lực lượng địch có 11 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp Mỹ, 71 tiểu đoàn bộ binh và 9 tiểu đoàn tăng thiết giáp quân đội Sài Gòn và quân Lon Non.

        Ta có 4 sư đoàn bộ binh (1, 5, 7, 9), 2 trung đoàn bộ binh (24, 95), Trung đoàn pháo binh 211, 3 tiểu đoàn đặc công Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia.

        Sau hơn hai tháng chiến đấu, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã tiêu diệt và làm tan rã 42 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Mỹ, 15 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn, 25 tiểu đoàn Lon Non) gồm 8.300 quân bắn rơi, phá huỷ 430 máy bay, phá 280 xe quân sự, 180 pháo cối... bảo vệ được căn cứ địa của cách mạng miền Nam Việt Nam, giải phóng 5 tỉnh đông bắc Campuchia, tạo kiện cho cách mạng Campuchia phát triển ở nhiều phum sóc. Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia từ 10 đội du kích lên 9 tiểu đoàn, hàng chục đại đội tập trung và hàng trăm trung đội du kích.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 04:14:25 AM

        30 tháng 4

        * Bộ Chính trị điện gửi Trung ương cục và Quân ủy

        Miền nhận định: "Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất". Đây là một đặc điểm mới trong cuộc chiến chống Mỹ xâm lược. Tiếp đó, trong điện ngày 5 tháng 5, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ: "Đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tài sản và tính mệnh của nhân dân Campuchia và của Việt kiều, bảo đảm các đường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta; đồng thời tích cực giúp cách mạng Campuchia phát triển và củng cố theo phương hướng đã định, chủ động đánh nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục nhằm tạo nên một chuyển biến có lợi cho ta trong một thời gian ngắn trong khi địch chưa kịp củng cố; dồng thời chuẩn bị đối phó với khả năng khó khăn và kéo dài".

        * Mỹ - ngụy sử dụng lực lượng hỗn hợp gồm 10 vạn quân Mỹ và ngụy Sài Gòn, dưới sự yểm trợ của không quân, pháo binh, mở cuộc tiến công ồ ạt trên tuyến biên giới Việt Nam Campuchia vào sâu trong lãnh thổ Campuchia từ 30 đến 40km. gây nhiều tội ác đối với nhân dân Campuchia.

        Tháng 4 - tháng 6

        Quân tình nguyện Việt Nam (Trung đoàn 28, Trung đoàn 14 và Tiểu đoàn 631) hỗ trợ bộ đội Pa-thét Lào tiến công giải phóng A Tô Pơ và Xa Ra Van.

        Tháng 5

        Cục Xăng dầu thành lập Công trường T70 xây dựng công trình đường ống hàn nối tuyến đường ống dẫn xăng dầu do quân đội phụ trách với tuyến đường ống hậu phương quốc gia. Phụ trách công trường: Hồng Cẩm. Ngày 11 tháng 7, Thủ tướng Chính phủ gửi công văn (số 96/K4) chỉ thị cho các tỉnh có đường ống đi qua phải cung cấp nhân lực, phương tiện thi công cho công trường. Ngày 21 tháng 11, Thủ tướng Chính phủ xác định cụ thể kế hoạch xây dựng đường ống dẫn dầu nối từ B12 đến S9 dài 1.650km. Công trình T70 gồm 2 phần:

        - Tuyến 559 xây dựng ống dã chiến dài 550km, kho dầu có sức chứa 8.720 tấn.

        - Tuyến 6970 xây dựng bằng ống hàn dài 750km, kho dầu có sức chứa 13.800 tấn.

        Ngày 17 tháng 4 năm 1971, Cục Xăng dầu thành lập thêm công trường 711H do Đoàn 18 phụ trách thi công tư Vinh trở ra (112km đường ống) nối với tuyến 400H cua Binh trạm 170.

        13 giờ ngày 13 tháng 12 năm 1971, tuyến 400H được nối với tuyên 711H; công trình đặc biệt T70 hoàn thành.

        19 tháng 6

        Bộ Chính trị ra nghị quyết về "Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương nhiệm vụ mới của chúng ta", nêu rõ: "Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có trách nhiệm nặng nề chiến trường Đông Dương. Phải không ngừng nâng cao chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang cách mạng làm tròn nhiệm vụ giải phóng miền Nam bảo vệ miền Bắc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cùng với quân và dân các nước bạn sát cánh chiến đấu, đánh bại kẻ thù chung".

        Tháng 6

        * Thành lập Hội đồng Chi viện tiền tuyến Trung ương, động viên toàn quân, toàn dân trên miền Bắc phát huy sức mạnh của hậu phương lớn chi viện các chiến trường. Chủ tịch: Phó thủ tướng Đỗ Mười.

        * Thành lập mặt trận Bình Long: Lực lượng trực thuộc có Trung đoàn 1 (Sư đoàn 1), 4 tiểu đoàn đặc công, bộ binh và 8 đoàn hậu cần khu vực (10, 20, 30, 40, 400, 340, 500, 770).

        * Tổ chức lại Đoàn 559 thành đơn vị tương đương quân khu, do Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lãnh đạo, chỉ huy. Trực thuộc Bộ Tư lệnh 559 có 5 Bộ tư lệnh khu vực (470. 471, 472, 473, 571 tương đương sư đoàn), 40 trung đoàn, tiểu đoàn vận tải ô tô, vận tải đường ống, pháo cao xạ, công binh, Mặt trận 968 và đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Hạ Lào.

        Quân số Đoàn 559: 90.000 người. Tư lệnh: Đại tá Đồng Sĩ Nguyên, Chính ủy: Vũ Xuân Chiêm (tháng 10 năm 1971 Đại tá Đặng Tính vào thay).

        * Bộ Tổng tham mưu vạch kế hoạch tác chiến, bắt đầu điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường ở khu vực đường 9 - Nam Lào.

             28 tháng 7

        Bộ Chính trị ra chỉ thị củng cố và xây dựng căn cứ địa cách mạng của từng chiến trường ở miền Nam, đồng thời có kế hoạch xây dựng hệ thống căn cứ liên hoàn, phù hợp với yêu cầu chung của cách mạng ba nước Đông Dương.

        24-8 đến 26-9

        Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng mở lớp tập huấn quân sự cho hơn 300 cán bộ cấp cao toàn quân học tập một số vấn đề đường lối quân sự của Đảng, một số cách đánh mới về chiến dịch, chiến thuật, công tác tham mưu, công tác Đảng - công tác chính trị, công tác hậu cần trong chiến dịch và chiến đấu. Những kinh nghiệm hay và cách đánh hiệu quả ở chiến trường được trao đổi tại lớp học.

        2 tháng 9

        Thành lập Đoàn đặc công 367 tại căn cứ sông Chiêm (miền Đông Nam Bộ). Biên chế 3 Z (tương đương tiểu đoàn); năm 1972 phát triển thành 9 Z, gồm 7 Z đặc công bộ, 1 Z đặc công nước, 1 Z pháo. Đoàn trưởng: Nguyễn Thanh Tùng. Chính ủy: Nguyên Văn Được.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 04:16:18 AM

        10 tháng 10

        Thành lập Binh đoàn 70 tại nam Quân khu 4. Nhiệm vụ: Làm lực lượng nòng cốt cùng các đơn vị tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn. Biên chế 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320), Trung đoàn pháo mặt đất 445, Trung đoàn pháo cao xạ 241, Trung đoàn công binh 219 và một số đơn vị binh chủng phục vụ. Tư lệnh: Đại tá Cao Văn Khánh- Chính ủy: Đại tá Hoàng Phương.

        21 tháng 11

        Mỹ dùng một số máy bay nghi binh để 3 máy bay lên thẳng HH3 chở 14 lính thuộc lực lượng đặc biệt tập kích trai giam Sơn Tây để giải thoát cho tù binh Mỹ. Trận tập kích trót lọt, nhưng không cứu được tù binh, vì ta đã chuyến đến địa    khác.

        Tháng 11

        Ních-xơn phê chuẩn đề nghị của Bân-cơ và ABram, đại sứ Mỹ và tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam, đánh sang đường 9 - Nam Lào, chọn khu vực đường 9 - Nam Lào mờ cuộc tiến công trong mùa khô 1970 - 1971.

        10 tháng 12

        Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra mệnh lệnh cho cán bộ và chiến sĩ cả nước thực hiện lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chĩnh phủ, quyết tâm đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.

        Tháng 11-12

        Mỹ sử dụng hơn 16.000 lần chiếc máy bay, trong đó có 1.800 lần chiếc máy bay B-52 ném xuống tuyến đường Trường Sơn hàng chục nghìn quả bom các loại (kể cả bom từ trường). Thù đoạn của địch là tăng cường trinh sát đánh phá tập trung mật độ bom đạn cao, đánh vào các điếm xung yếu như khu vực Chà Là, Seng Phan, Pha Băng Nưa, Chà Lì..., gây ách tác giao thông nhiều ngày. Máy bay địch còn từng đợt đánh tập trung vào các đoạn vượt cửa khẩu bắc đường 9, các trục đường 12, 16, 18, 20 hòng ngăn chặn quân chú lực miền Bắc, phá hoại các đường cơ động chiến dịch, hạn chế việc di chuyển binh khí kỹ thuật của ta vào chiến trường. Trong mùa khô 1970 - 1971 hơn 4.000 chiếc xe vận tải của ta bị máy bay địch đánh hỏng. Mặc dù vậy, ta vẫn bảo đảm giao thông thông suốt chi viện đến các chiến trường.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 04:20:26 AM
       
Năm 1971

        30-1 đến 23-3

        Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Nhằm đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - nguy, tiêu diệt lớn quân địch giữ vững tuyến vận chuyến chiến lược Bắc - Nam, Bộ Quốc phòng mở chiến dịch phản công ở khu vực Đường 9 - Nam Lào.

        Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 3 sư đoàn (bộ binh, dù, thuỷ quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn thiết giáp, 13 tiểu đoàn pháo binh quân ngụy Sài Gòn; 20 tiểu đoàn Mỹ (7 tiểu đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo binh) và 2 GM quân Lào phối hợp từ hướng tây. Tổng số quân 42.000, khi cao nhất 55.000 (gần 5 sư đoàn bộ binh) với hơn 300 khẩu pháo, hơn 500 xe tăng thiết giáp, gần 700 máy bay các loại.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 320, 304, 2, 324), các lực lượng tại chỗ (Mặt trận Bắc Quảng Trị - Trị Thiên, Đoàn 559), 3 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo mặt đất, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công, thông tin. Tổng số quân chiến đấu và phục vụ chiến đầu khoảng 60.000 cán bộ, chiến sĩ.

        Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Uy viên Bộ Chính trị, phó bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng là đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tại mặt trận. Bộ chỉ huy chiến dịch (mật danh là Mặt trận 702) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.

        Chiến dịch diễn ra 3 đợt: Đợt 1 (30-1 đến 7-2) địch triển khai lực lượng vừa nghi binh vừa chuẩn bị tiến công; ta cơ động lực lượng tạo thế đánh địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Đợt 2 (8-2 đến 11-3), địch tiến công đánh chiếm Bản Đông, phát triển lên Sê Pôn; ta ngăn chặn địch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại cánh quân phía nam, chặn đánh không cho địch đến Sê Pôn, chuẩn bị tiến công mục tiêu chủ yếu Bản Đông. Đợt 3 (12 đến 23-3), địch dừng lại bí mật rút chạy, ta tiến công đánh địch rút chạy.

        Sau 52 ngày đêm chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu 20.858 tên, bắt 1.142 tên, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 6 trung đoàn, lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh; phá huỷ và bắn rơi 550 máy bay, thu và phá huỷ 1.138 xe cơ giới (528 xe tăng, thiết giáp), 112 khẩu pháo và cối lớn, 25 kho (2 triệu lít xăng và 1.000 tấn đạn dược).

        Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào thắng lợi đã giáng một đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, tạo bước ngoặt có lợi cho ta trên chiến trường; đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch phản công đánh tiêu diệt quân chủ lực ngụy được quân Mỹ chi viện hoả lực và cơ động trên chiến trường miền Nam.

        Tháng 2

        Hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ phương hướng tiến lên của cách mạng miền Nam là đánh bại âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh", phá kế hoạch "Bình Định" nông thôn của Mỹ - nguy, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị song song, thực hành ba mũi giáp công, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, đẩy mạnh đấu tranh quân sự. chính trị và ngoại giao.

        4-2 đến 24-6

        Chiến dịch phản công đông bắc Campuchia. Nhằm phối hợp với quân dân Campuchia đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của quân đội Sài Gòn trên địa bàn đông bắc Campuchia, bảo vệ kho tàng, hành lang vận chuyển, hỗ trợ cho đồng bằng sông Cửu Long và vùng xung quanh Sài Gòn đánh phá bình định, Bộ Tư lệnh Miền mở chiến dịch phản công ở vùng đông bắc Campuchia (khu vực Kra Tích, đường số 7, Đầm Be, Suông Chúp thuộc Kông Pông Chàm).

        Lực lượng địch: Quân đội Sài Gòn có 9 chiến đoàn của quân đoàn 2 và 3; quân Lon Non (Campuchia) có 5 tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng... được 15 phi đoàn không quân Mỹ yếm trợ.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9), 2 trung đoàn pháo binh (75, 96), 1 trung đoàn đặc công và 3 đại đội bộ binh. Bộ tư lệnh chiến dịch do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh. Diễn biến chiến dịch chia làm ba đợt (4.2 - 4.3, 5.3 - 16.4, 17.4 - 24.6). Sau hơn 3 tháng chiến đấu. ta tiêu diệt chiến đoàn bộ binh 8, trung đoàn xe tăng 1. 18 tiểu đoàn bộ binh, đánh thiệt hại nặng 6 chiến đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp (khoảng hơn 2 vạn tên địch); bắn rơi và phá huỷ 238 máy bay, phá huy 1.509 xe quân sự (có 639 xe tăng - xe bọc thép), 167 khẩu pháo, 74 kho đạn, xăng dầu, thu 34 xe quân sự, 1.957 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự.

        Thắng lợi của chiến dịch giáng một đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". "Khơ me hoá chiến tranh" của Mỹ.

        9 tháng 2

        Bộ Chính trị điện gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền và các khu ủy ở miền Nam phải nắm lấy thời cơ: "Đấy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch" hướng trọng điểm nhằm vào đồng bằng Nam Bộ, vùng xung quanh Sài Gòn, vùng biên giới Campuchia.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 08:24:04 AM

        27 - 2 đến 16 - 4

        Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch phản công ở vùng ngã ba biên giới Việt Nam - Campuchia. Nhằm đánh bại cuộc hành quân "Quang Trung 4" của địch, bảo vệ căn cứ và hành lang chiến lược của ta ở Tây Nguyên, thu hút lực lượng lớn chủ lực quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện cho chiến trường khác tiến công địch. Lực lượng địch có trung đoàn bộ binh 42 (quân đoàn 2), liên đoàn biệt động quân 2, lữ đoàn dù 2 và một số tiểu đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 22, 23.

        Ta tham gia chiến dịch có các trung đoàn bộ binh 66, 28 (bộ đội chủ lực Tây Nguyên), Trung đoàn 31 (Sư đoàn 2), Trung đoàn pháo binh 40 và một số đơn vị công binh, đặc công.

        Từ ngày 27 tháng 2 đến 4 tháng 3, ta tiêu diệt 3 tiểự đoàn địch ờ Ngọc Tô Ba. Ngày 31 tháng 3, ta chiếm điểm cao Ngọc Rinh Rua - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch, buộc chúng phải mở cuộc hành quân giải toả.

        Từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 4, địch đưa 20 tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 22, 23 và liên đoàn biệt động quân 2 cùng lữ đoàn dù 2 ra phản kích. Sau 16 ngày chiến đấu liên tục, ta diệt 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn Cuộc hành quân "Quang Trung 4" của địch bị thất bại hoàn toàn. Hậu cứ và hành lang chiến lược của ta được bảo vệ an toàn. Quân ủy Trung ương gửi điện khen bộ đội Tây Nguyên: "Đánh giỏi, lập công xuất sắc, trưởng thành nhanh chóng".

        18 tháng 3

        Thành lập Đoàn 301 (cơ quan chỉ huy tiền phương Bộ tư lệnh Miền), trực tiếp chí huy các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9, Trung đoàn pháo binh 28, Tiếu đoàn phòng không 12 và các đơn vị bảo đảm, phục vụ khác. Bộ chỉ huy Đoàn 301: Trần Văn Trà (Tư lệnh Miền), Hoàng Cầm, Lê Ngọc Hiền, Trần Độ, Trần Văn Phác.

        23 tháng 3

        Đại đội 61 Tiểu đoàn 35, Bộ tư lệnh Đặc công tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào được pháo binh chi viện hoả lực tập kích sân bay Tà Cơn, phá huỷ và phá hỏng 43 máy bay, 3 kho xăng, 1 kho đạn, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên Mỹ. Ta hy sinh 15, bị thương 2 đổng chĩ.

        27 tháng 3

        Tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu 5 tập kích trung đoàn 45 (lữ đoàn 198, sư đoàn A-mê-ri-cơn) ở xã Đốc (Trà My, Quảng Nam) diệt và làm bị thương 350 tên Mỹ.

        Tháng 5

        Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đánh giá tình hình, xác định thời cơ và đề ra nhiệm vụ cần kíp của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới: "Đẩy mạnh tiến công quân sự chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành tháng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua; đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài".

        31-5 đến 4-6

        Quân ủy Trung ương họp nghiên cứu tình hình và xác định quyết tâm chiến lược 1971 - 1972: "Tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên cả ba vùng, ở miền Nam Việt Nam là chiến trường chính và khắp cả chiến trường Đông Dương". Quân ủy Trung ương dự kiến ba hướng tiến công chiến lược năm 1972: "Hướng chủ yếu số 1 là chiến trường Campuchia và miền Đông Nam Bộ; hướng chủ yếu số 2 là chiến trường Tây Nguyên, hướng phối hợp quan trọng là miền núi tây Trị - Thiên, tuy là hướng phối hợp quan trọng nhưng lại gần miền Bắc, có điều kiện bảo đảm hậu cần vì vậy phải gấp rút chuẩn bị để có thể đánh lớn khi có lợi và cần thiết".

        10 tháng 7

        Thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Phòng không cửa khẩu có quyền hạn tương đương cấp sư đoàn, phiên hiệu Sư đoàn phòng không 377 (quyết định số 109/QĐ của Bộ Quốc phòng). Lực lượng gồm 4 trung đoàn pháo cao xạ (224, 227 243, 250), 2 trung đoàn tên lửa (237, 275). Tư lệnh: Nguyễn Hữu ích; Chính ủy: Lương Tý.

        20 tháng 7

        Thành lập các Bộ Tư lệnh khu vực thuộc Bộ tư lệnh Đoàn 559 có quyền hạn tương đương cấp sư đoàn, làm nhiệm vụ vận chuyển, mở đường, bảo đảm giao thông, tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng đánh địch trên không và dưới mặt đất. Mỗi bộ tư lệnh khu vực phụ trách một số tuyến vận tải và một cụm binh trạm.

        - Bộ Tư lệnh 471 phụ trách trục đường phía tây, tiếp chuyến hàng của Bộ tư lệnh 472 gồm 6 binh trạm (35, 36, 38, 44, 46, 47).

        - Bộ Tư lệnh 472 phụ trách khu vực trung tâm phía tây Trường Sơn gồm 6 binh trạm (32, 33, 34, 39, 45, 12).

        - Bộ Tư lệnh 473 phụ trách các trục đường 16, 9, 14. 29, 128 và B45 phía đông Trường Sơn, gồm 4 binh trạm (27. 28, 41, 42).

        -  Bộ Tư lệnh 470 (thành lập 4-1970) gồm 5 binh trạm (37, 50, 51, 52, 53).

        - Bộ Tư lệnh hậu phương (571) gồm Trường Quân chinh, Viện quân y 59, đoàn giao nhận xe (tương đương trung đoàn) và các đơn vị trực thuộc khác.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 08:27:47 AM
        
        Tháng 7

        Quân ủy Trung ương quvết định hợp nhất Binh đoàn 70 vào Mặt trận B5. Sau khi hợp nhất, Mặt trận B5 có quyền hạn tương đương quân khu và trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tư lệnh: Đại tá Cao Văn Khánh. Chinh ủy: Đại tá Lê Tự Đồng.

        18 tháng 8

        Ot-xtrây-li-a và Niu Di Lân quyết định rút các lực lượng tham gia chiến tranh khỏi nước Việt Nam vào cuối năm 1971.

        26-9 đến 20-10

        Chiến dịch Đường 22. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại tuyến phòng thủ biên giới của chúng, phối hợp với các chiến trường, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công tuyến phòng thủ địch trên tuyến đường 22 (Cần Đăng - Xa Mát). Lực lượng địch có các chiến đoàn bộ binh 50, 10, lữ đoàn dù 2, tiểu đoàn biên phòng 73 và 32 khẩu pháo lớn.

        Ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn bộ binh 7, Tiểu đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 9), 2 tiểu đoàn công binh (Trung đoàn 301) và một số đơn vị đặc công, pháo phòng không. Bộ tư lệnh chiến dịch: Tư lệnh Đàm Văn Ngụy.

        Chiến dịch chia làm 3 đợt. Đợt 1 (26 đến 29-9), ta tiến công tiêu diệt sở chi huy chiến đoàn 50, tiểu đoàn biên phòng 73, và các căn cứ địch trên đường 22. Đợt 2 (30-9 đến 15-10), bộ đội ta đánh địch tăng viện giải toả ở khu vực Cần Đăng, Thiện Ngôn đi Mát Riêng, diệt phần lớn lữ đoàn dù 2. Đợt 3 (16 đến 20-10) ta đánh nhổ, tạo thời cơ kết thúc chiến dịch.

        Kết quả: ta diệt 1.800 địch, bắt 44, đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 50, lữ dù 2, tiểu đoàn biên phòng 73, pháo đội 252, chi đoàn xe tăng 10, phá huỷ 50 xe quân sự các loại bắn rơi 35 máy bay trực thăng, thu 10 xe ô tô và 163 súng các loại.

        27-10 đến 4-12

        Chiến dịch đường số 6. Nhằm đánh bại cuộc hành quân Chen-la 2 của quân đội Lon Non do Mỹ chỉ huy, Bộ Tư lệnh Miền mở chiến dịch phản công ở khu vực đường số 6, đoạn Xcun Sontuc, tỉnh Công Pông Thom (Campuchia).

        Lực lượng đối phương gồm 4 sư đoàn bộ binh Lon Non, quân dù và bộ binh Thái Lan được xe tăng, pháo binh, máy bay (cả B-52) và quân đội Sài Gòn chi viện.

        Lực lượng ta có Sư đoàn bộ binh 9, ba trung đoàn bộ binh độc lập (205, 207, 201) và một số tiểu đoàn binh chủng của Quân Giải phóng miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia.

        Chiến dịch diễn ra 2 đợt (27-10 đến 13-11, 28-11 đến 4-12). Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 12.000 quân địch (bắt 1.994), thu 4.750 súng (có 5 pháo 105mm) và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Thắng lợi của chiến dịch đánh dấu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở Campuchia.

        12 tháng 11

        Tổng thống Ních-Xơn công bố rút thêm 45.000 quân, giảm tổng số các lực lượng Mỹ ở Nam Việt Nam xuống con khoảng 139.000 quân.

        18 tháng 11

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (211/QĐ) thành lập Trung đoàn xe tăng 201 gồm bốn tiểu đoàn chiến đấu. Trung đoàn trưởng: Lê Quang Âm, Chmh ủy: Đỗ Văn Thất. Đồng thời chuyển Trung đoàn xe tăng 202 thành Trung đoàn bộ binh cơ giới 202, gồm 1 tiếu đoàn tăng, 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới. Trung đoàn trưởng: Nguyễn Văn Lãng, Chính ủy: Vũ Ngọc Hải.

        Tháng 11

        Cục Quân huấn (Bộ Tổng tham mưu) và Viện khoa học Quân sự chỉ đạo Sư đoàn bộ binh 308 diễn tập chiến đấu hiệp đồng binh chủng (có sử dụng một số vũ khí mới như tên lửa chống tăng, tên lửa (mang vác) bắn máy bay, bộ khí tài phá rào...) tiêu diệt quân địch trong công sự vững chắc.

        Tháng 12

        * Sư đoàn bộ binh 968 quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân Giải phóng Lào đánh bại cuộc hành quân của 18 tiểu đoàn địch giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược.

        * Hai sư đoàn (5 và 7) chủ lực Miền đánh bại cuộc hành quân của đội quân Sài Gòn ở Đầm Be.

        * Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền chuyển các "khu căn cứ" thành các đoàn hậu cần khu vực chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam. Tuyến trước có 5 đoàn hậu cần (210, 220, 230, 235, 814) tuyến sau có 3 đoàn (340, 500, 770). Hướng tây nam (Campuchia) có đoàn 200. Các tuyến vận tải chiến dịch (6 tuyến) nối liền các căn cứ với các đoàn hậu cần phía trước, bám sát phục vụ các đơn vị chiến đấu.

        Cuối năm 1971

        Lực lượng vũ trang miền Nam được củng cố và phát triển có 7 sư đoàn và 19 trung đoàn chủ lực cơ động, 95 tiểu đoàn, 350 đại đội, 185 trung đội bộ đội địa phương và hàng chục vạn du kích. Hơn 5 vạn thanh niên miền Bắc. nhập ngũ bổ sung cho miền Nam, tuyến hành lang chiến lược thông suốt từ Bắc vào Nam bảo đảm vận chuyển 46.591 tấn vật chất, trang bị kỹ thuật tới chiến trường.

        18-12-1971 đến 6-4-1972

        Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi. Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ tuyến phòng thủ của chúng, giúp bạn mở rộng vùng giải phóng, Bộ Quốc phòng nước ta và bạn Lào mở chiến dịch tiến công khu vực Cánh Đồng Chum - Mường Sủi. Lực lượng địch gồm: 30 tiểu đoàn bộ binh (8 tiểu đoàn Thái Lan, 18 tiểu đoàn Vàng Pao, 4 tiểu đoàn của Quân khu 1), 3 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 10 máy bay T28 hỗ trợ.

        Lực lượng ta và bạn gồm: Quân tình nguyện Việt Nam có 2 sư đoàn bộ binh tăng cường (312, 316), 2 trung đoàn bộ binh (886, 335), 3 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo phòng không, 5 tiểu đoàn công binh. Quân Giải phóng nhân dân Lào có 9 tiểu đoàn và 4 đại đội bộ binh, 1 đại đội và 1 cụm pháo binh, 2 tiểu đoàn đặc công.

        Đồng chí Lê Trọng Tấn là đại diện Bộ Quốc phòng và Quân ủy Trung ương bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch (Tư lệnh: Vũ Lập, Chính ủy: Huỳnh Đắc Hương).

        Diễn biến chiến dịch chia làm 2 đợt (18 đến 22-12-1971, 23-12-1971 đến 6-4-1972). Kết qua: Liên quân Việt - Lào tiêu diệt 11 tiểu đoàn (1 tiếu đoàn pháo binh Thái Lan), đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, bán rơi và phá hủy 134 máy bay, thư 30 khấu pháo, 19 cối 106,7mm, 87 cối 81mm, giải phóng hoàn toàn Cánh Đồng Chum - Mường Sủi - Sa La Phu Khun, đánh bại âm mưu cua Mý dùng lực lượng Vàng Pao và Thái Lan lấn chiếm vùng giải phóng Lào.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 08:31:49 AM

Năm 1972

        Đầu tháng 1

        * Thành lập Sư đoàn pháo binh T5 (trên cơ sở Đoàn 69) thuộc Bộ tư lệnh Miền, gồm 2 trung đoàn pháo mặt đất (96, 208), Tiểu đoàn cao xạ 56 và Trường Đào tạo, bổ túc cán bộ sơ cấp pháo binh.

        * Thành lập Sư đoàn bộ binh 711 thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 5. Biên chế: 3 trung đoàn bộ binh (31, 38, 57) và một số đơn vị binh chủng.

        Cuối tháng 2

        Quân ủy Trung ương ra nghị quyết về nhiệm vụ quân sự năm 1972 xác định: "Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là tập trung chi đạo chiến tranh và tăng cường lực lượng mọi mặt cho các chiến trường, chủ yếu là chiến trường miền Nam...". Kiên quyết đánh bại địch bằng ba đòn chiến lược:

        - Đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân ngụy miền Nam, phá vỡ từng bộ phận thế phòng ngự của dịch, mở rộng vùng giải phóng.

        - Tiến công và nổi dậy ơ các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng. Kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của quần chúng.

        - Đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân các đô thị, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần chúng với việc khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch... Chuẩn bị khi có thời cơ cụ thể đẩy mạnh cuộc đấu tranh thành cao trào cách mạng.

        11 tháng 3

        Thường vụ Quân ủy Trung ương ra nghị quyết tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên, "Nhằm tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới".

        Thường vụ Quân ủy Trung ương xác định: "Chiến dịch Trị - Thiên là một chiến dịch quy mô lớn, là một trong những hướng chiến lược rất quan trọng, một chiến dịch hiệp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị".

        Các hướng chiến trường miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên cùng với Quân khu 5 đẩy mạnh tác chiến quy mô vừa và lớn để tạo thành một cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.

        30-3 đến 27-6

        Chiến dịch Trị - Thiên. Nhằm tiêu diệt bộ phận lớn quân địch ở hướng chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Bộ Quốc phòng mở chiến dịch tiến công ở hai tỉnh Quang Trị, Thừa Thiên.

        Lực lượng địch có 2 sư đoàn bộ binh (3, 1), 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến (147, 258), 3 thiết đoàn (32, 11, 17), 13 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh (258 khẩu), cùng lực lượng địa phương (4 tiểu đoàn, 94 đại đội bảo an, 302 trung đội dân vệ 5.000 cảnh sát). Địch tổ chức phòng ngự trong hàng trăm cứ điểm, cụm cứ điểm có công sự kiên cố.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 3 sư đoàn (304, 308 324) và 4 trung đoàn bộ binh, 7 trung đoàn pháo mặt đất (390 khẩu), 2 trung đoàn xe tăng, thiết giáp (136 xe), 3 sư đoàn phòng không hỗn hợp (2 trung đoàn tên lửa, 8 trung đoàn pháo phòng không), 3 trung đoàn công binh, 16 tiểu đoàn đặc công, thông tin, vận tải cùng lực lượng vũ trang địa phương (11 tiểu đoàn, nhiều đại đội, trung đội) và nhân dân trên địa bàn chiến dịch.

        Bộ tư lệnh chiến dịch: Tư lệnh - Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Chính ủy - Thiếu tướng Lê Quang Đạo. Chiến dịch diễn ra 3 đợt. Đợt 1 (30-3 đến 9-4), ta đồng loạt tiến công vào hầu hết các căn cứ địch, phá vỡ tuyến phòng thủ vành ngoài, giải phóng hai huyện Gio Linh, Cam Lộ; địch co cụm về Đông Hà, Ái Tử, La Vang. Đợt 2 (27-4 đến 2-5), ta tiếp tục tấn công đánh chiếm cụm cứ điềm Đông Hà - Ái Tử - La Vang, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Đợt 3 (20 đến 27-6), ta tiếp tục tiến công tuyến phòng thủ nam sông Mỹ Chánh, nhưng địch tăng cường đối phó, nên ta chuyển sang đánh địch phản kích bảo vệ vùng giải phóng.

        Sau gần ba tháng chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 27.000 tên địch, phá huỷ 636 xe tăng thiết giáp (thu 56 Xe), 419 khẩu pháo (thu 194 khẩu), thu gần 3.000 súng bộ binh, 310 máy vô tuyến điện, phá hủy phá hỏng 1.870 xe quân sự; bắn chìm, bắn cháy 19 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

        Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta tiến hành thắng lợi một chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy mô lớn giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tiêu diệt nhiều trung đoàn đánh bại một sư đoàn (sư đoàn 3), đập tan cả một tuyến phòng thủ kiên cố vành ngoài của địch, làm thay đổi cục diện có lợi cho ta trên chiến trường Trị - Thiên.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 08:38:40 AM

        30-3 đến 5-6

        Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng phần lớn tỉnh Kon Tum, phối hợp với hướng tiến công chủ yếu ở Trị - Thiên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

        Lực lượng địch có 2 sư đoàn thiếu (sư đoàn bộ binh 22 và sư đoàn dù, 2 liên đoàn biệt động quân (2, 6), hơn 20 đại đội bảo an, 4 thiết đoàn xe tăng - thiết giáp, 7 tiểu đoàn pháo binh và hàng nghìn dân vệ.

        Lực lượng ta có 2 sư đoàn bộ binh (320A và 2), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (24, 95, 66, 28), 1 trung đoàn pháo mặt đất, 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, 6 tiểu đoàn phòng không, 2 trung đoàn công binh và các lực lượng vũ trang địa phương. Bộ tư lệnh chiến dịch: Tư lệnh - Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo. Chính uy - Trương Chi Cương - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

        Chiến dịch chia làm hai đợt: Đợt 1 (30-3 đến 24-4). ta tiến công vành ngoài tuyến phòng thu Kon Tum, tạo thế bao vây và thực hành tiến công tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 22, chiếm Đắc Tô, Tân cảnh, buộc địch co về giữ thị xã Kon Tum. Đợt 2 (25-4 đến 5-6-1972) ta tiên công vào cụm phòng thủ thị xã Kon Tum. giai phóng phần lớn tỉnh Kon Tum.

        Kết thúc, chiến dịch ta loại khỏi chiến đấu 7.464 tên địch, bắn rơi 207 máy bay các loại, thu 4.434 súng (có 15 pháo l55mm và 105mm), 71 xe quân sự (có 13 xe tăng), 4 máy bay lên thẳng, 318 máy vô tuyến điện, đập tan tuyến phòng thủ kiên cố của địch ở Đắc Tô - Tân cảnh.

        31-3-1972 đến 28-1-1973

        Chiến dịch Nguyễn Huệ. Nhằm mờ rộng vùng giải phóng và phối hợp với chiến trường toàn Miền, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công địch ờ các tỉnh Bình Long, Phước Long, Tây Ninh, Bình Dương.

        Lực lượng quân đội Sài Gòn gồm 4 sư đoàn bộ binh (5, 21, 18, 25), 5 liên đoàn biệt động quân, 2 lữ đoàn dù (1, 3), 7 thiết đoàn, 4 trung đoàn và 3 tiểu đoàn pháo binh, một số đơn vị bảo an dân vệ.

        Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 3 su' đoàn bộ binh (5, 7, 9), 3 trung đoàn bộ binh độc lập, 5 tiểu đoàn đặc công, 2 trung đoàn (42, 28), 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn (20, 21), 1 đại đội xe tăng, 4 tiểu đoàn pháo phòng không và một số đơn vị lực lượng vũ trang địa phương.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Tư lệnh - Trung tướng Trần văn Trà, Chính ủy - Thiếu tướng Trần Độ.

        Chiến dịch diễn ra ba đợt: Đợt 1 (31-3 đến 15-5-1972), trên hai hướng Tây Ninh, Bình Long, ta lần lượt tiến công và giải phóng Sa Mát, Bàu Dũng. Lộc Ninh; ngày 13 tháng 4, ta đánh thị xã Bình Long (nam Lộc Ninh 25km). Sau nhiều ngày chiến đấu, lại bị thương vong, ngày 15 tháng 5 ta phai dừng tiến công củng cố lực lượng. Đợt 2 (20-5 đến 1-9-1972), ta tổ chức bao vây thị xã Bình Long và đánh cắt giao thông trên đường 13 (đoạn Chơn Thành - Bình Long) nhằm tiêu hao. thu hút lực lượng địch, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch. Đợt 3 (1-10-1972 đến 28-1-1973), ta chuyển trọng tâm chiến dịch vào đánh phá bình định ở bắc Bình Dương. Để chống việc ta đánh phá bình định đồng thời lấn chiếm vùng giải phóng Long Nguyên, ngàv 30 tháng 12 năm 1972, sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân ra đường 14 (đoạn Rạch Bấp đi Dầu Tiếng). Ta đẩy lùi cuộc hành quân của địch giữ vững vùng giải phóng. Sau gần 10 tháng chiến đấu, ta diệt 3 chiến đoàn, đánh thiệt hại 12 chiến đoàn và lữ đoàn bộ binh bắt hơn 5.000 tên, thu và phá huỷ 60 khẩu pháo, 882 xe quân sự (có hơn 400 xe tăng), 201 tàu xuồng, hơn 5.000 súng bộ binh, bắn rơi và phá huỷ 400 máy bay, thu nhiều quân trang quân dụng. Lần đầu tiên quân và dân miền Đông Nam Bộ giải phóng được một vùng rộng lớn trên hướng chiến lược xung yếu bắc Sài Gòn, mở rộng vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ với vùng giải phóng đông bắc Campuchia, Tây Nguyên và hậu phương lớn miền Bắc.

        6-4 đến 22-10

        Chiến dịch Lai-nơ Bêch-cơ 1. Nhằm cắt đứt nguồn viện trợ quốc tế cho Việt Nam, nguồn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, ngăn chặn cuộc tiến công chiến lược của quân dân ta trên chiến trường miền Nam, cứu vãn sự thất bại cua chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", Mỹ sử dụng không quân và hải quân mở chiến dịch đánh phá, ngăn chặn, phong toả miền Bắc Việt Nam. Chiến dịch chia thành hai bước. Bước 1 (6-4 đến 8-5) leo thang nhanh, đánh phá ồ ạt băng không quân và hải quân. Bước 2 (9-5 đến 22-10) phong toa toàn bộ các cảng, cửa sông, vùng ven biển miền Bắc bằng thủy lôi, bom từ trường, kết hợp với đánh phá bằng không quân, hải quân.

        Trong quá trình chiến dịch, Mỹ đã huy động nhiều vũ khí kỹ thuật hiện đại (máy bay chiến lược B-52, bom la-de thuỷ lôi MK-52... với 44.000 phi vụ, ném 137.000 tấn bom), gây cho ta nhiều khó khăn, tốn thất.

        Thực hiện mệnh lệnh quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Bộ Tổng tư lệnh, quân và dân miền Bắc Việt Nam đã đánh trả quyết liệt, bắn rơi 670 máy bay; bắn chìm, bắn cháy 135 tàu chiến, phá gỡ hàng nghìn thuỷ lôi, bom từ trường; bảo vệ được miền Bắc, duy trì việc tiếp nhận viện trợ quốc tế, tiếp tục chi viện đắc lực sức người, sức của cho tiền tuyến, phát triển thắng lợi cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam.

        Bị tổn thất lớn và không đạt được mục tiêu, ngày 22 tháng 10 năm 1972 Tổng thống Mỹ Ních-Xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 08:42:39 AM

        8-4 đến 2-6

        Chiến dịch Bắc Bình Định. Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, đánh bại chương trình bình định nông thôn của địch, mở rộng vùng giải phóng ở hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, phối hợp với các chiến dịch tiến công lớn ở Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 mở chiến dịch tiến công tổng hợp ở Bắc Bình Định.

        Lực lượng ta tham gia có Sư đoàn bộ binh 3, hai tiếu đoàn đặc công, lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị quần chúng. Tư lệnh chiến dịch: Thiếu tướng Chu Huy Mân, Chính ủy: Võ Chí Công.

        Sau trận mở đầu diệt cứ điểm Gò Lôi (8-4), ta tiếp tục tấn công địch ở Hòn Bồ. ngã ba Tân Thạnh (16-4), bao vây, uy hiếp quận ly Hoài Ân, đánh lui quân địch đến phản kích, vây đánh quân địch ờ Hoài Ân rút chạy, giải phóng quận ly. Từ ngày 20 đến 28 tháng 4, ta chuyển hướng tiến công về bắc huyện Phù Mỹ, tiêu diệt các cứ điếm Dương Liễu, Mồ Côi, cắt giao thông ờ nam Quang Ngãi, nam Bình Đinh Từ 28 tháng 4 đến 1 tháng 5, ta tiến công giải phóng Bồng Sơn, Tam Quan; bao vây tiến công Bình Dương, Đệ Đức, bức rút hơn 100 đồn bốt, bao an dân vệ. Sau đó ta tiếp tục tiến công địch nhưng không đạt được mục đích nên kết thúc chiến dịch.

        Sau gần hai tháng chiến đấu, ta tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 12 tiếu đoàn thuộc sư’ đoàn 22 quân đội Sài Gòn 7 liên đội bảo an, 43 đoàn bình định phá 20 ấp chiến lược giải phóng hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, một phần huyện Phù Mỹ góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

        10 tháng 4

        Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố về bước leo thang chiến tranh mới của chính quyền Nich-xơn: "Không một sức mạnh tàn bạo nào, không một sự đe doạ láo xược nào lay chuyến được quyết tâm của nhân dân Việt Nam chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc".

        28-4 đến 1-5

        Trung đoàn 24 (Sư đoàn bộ binh 304) và tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B) tiến công căn cứ Ái Tử (Quảng Trị), do sư đoàn bộ binh 3 (thiếu) và các lữ đoàn 147, 258 địch đóng giữ. Ngày 28, ta tiến công bắn cháy 6 xe M48, buộc địch phải cố thủ. Tiếp đó, Trung đoàn 24 đột phá nhiều lần và chiếm sân bay Ái Tử (29-4), Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) đánh chiêm An Đôn, Nham Biền và đoạn đường số 1 phía nam Ái Tử. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) đánh từ hướng bắc xuống sân bay, nơi lữ đoàn 147 địch co cụm. Ngày 30 tháng 4, bộ đội ta tiến công trên ba hướng- đến ngày 1 tháng 5 làm chủ cân cứ. loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, thu hàng nghìn súng, nhiều quân trang, quân dụng. Thắng lợi của trận Ai Tử phá vỡ một mảng thế phòng ngự của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch Trị - Thiên phát triển (30-3 đến 27-6-1972).

        8 tháng 5

        Tống thống Mỹ Nich-xơn (Nixon) ra lệnh rải thủy lôi ở các cảng miền Bắc Việt Nam và tăng cường ném bom các mục tiêu "có liên quan đến quân sự" trong chiến dịch Lai-nơ Bêch-cơ 1.

        10 tháng 5

        Mỹ dùng hơn 50 máy bay các loại, trong đó có 16 máy bay F-4 mang 22 bom la-de và bom điện quang đánh phá cầu Long Biên. Đây là lần đầu tiên Mỹ sử dụng loại bom "Tinh khôn" (có độ chính xác cao) trong chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2.

        21-5 đến 15-11

        Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Nhằm đánh bại liên quân phái hữu Lào - Thái, bảo vệ địa bàn chiến lược của bạn, liên quân Việt - Lào tổ chức phòng ngự ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, khu trung tâm là Cánh Đồng Chum.

        Tham gia Bộ tư lệnh chiến dịch về phía Việt Nam có Đại tá Vũ Lập (Tư lệnh), Đại tá Lê Linh (Chính ủy). Lực lượng tham gia phòng ngự liên quân Việt - Lào có 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335, 88), các tiểu đoàn và đại đội đặc công, pháo binh, pháo phòng không, tăng - thiết giáp, công binh (Việt Nam) và 6 tiểu đoàn chủ lực của Quân Giái phóng Lào.   ;   

        Lực lượng tiến công cùa quân phái hữu Lào - Thái Lan có gần 80 tiểu đoàn (có 18 tiểu đoàn Thái) được không quân pháo binh Mỹ chi viện nhằm đánh chiếm địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum.

        Chiến dịch chia làm 4 đợt:

        - Đợt 1 (21-5 đến 10-8), phái hữu dùng 3 GM và 11 tiểu đoàn tiến công khu trung gian, chiếm được một số điểm cao Ta chặn đánh từ 28-5 đến 3-7, đẩy lùi quân địch về hướng Tôm Tiếng, đánh bật khỏi Hin Đăm, Thẩm Lửng.

        - Đợt 2 (11-8 đến 10-9) phái hữu dùng 40 tiểu đoàn kết hợp với đổ bộ đường không đánh thẳng vào trung tâm theo ba hướng, bộ đội Việt - Lào phản kích khôi phục lại các trận địa.

        - Đợt 3 (11 đến 30-9), phái hữu dùng 6 GM, 3 tiểu đoàn chuyển hướng tiến công chủ yếu từ nam sang tây, chiếm một số điểm cao ở vòng ngoài. Ngày 26 tháng 9, liên quân Việt - Lào phản kích khôi phục trận địa.

        - Đợt 4 (1-10 đến 15-11), phái hữu dùng 4 GM và 2 tiểu đoàn tiến công nhằm chiếm phía nam Cánh Đồng Chum, tạo áp lực cho đàm phán chính trị (15-10). Sau nhiều trận phản kích nhỏ, gây cho đối phương thiệt hại, ngày 26 tháng 10, liên quân Việt - Lào mở trận phản kích quyết định làm chủ hoàn toàn cánh đồng Cang xẻng, buộc liên quân phái hữu Lào - Thái phải rút toàn bộ khỏi nam Cánh Đồng Chum.

        Với 204 trận đánh (23 trận cấp tiểu đoàn, sư đoàn ), bộ đội Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.607 tên địch, thu trên 800 súng các loại bắn rơi 40 máy bay, đánh bại hoàn toàn các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 08:45:57 AM

        3 tháng 6

        Thành lập Trung đoàn 113 đặc công tại miền Đông Nam Bộ. Biên chế: 2 tiểu đoàn đặc công bộ (9. 12), 1 tiểu đoàn đặc công pháo (174), 1 đại đội đặc công nước (22), 1 đại đội trinh sát (53). Trung đoàn trưởng: Nguyễn Thanh Tùng. Chính ủy: Mai Văn Thoại.

        10-6 đến 10-9

        Chiến dịch đồng bằng sông cửu Long. Nhằm tiêu diệt sinh lực, phá âm mưu bình định của địch và mở rộng vùng giải phóng giành dân, Bộ tư lệnh Miền mở chiến dịch tiến công tổng hợp ở nam - bắc đường số 4 gồm các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến Tường, Bến Tre, Gò Công.

        Lực lượng địch có 2 sư đoàn bộ binh (7, 9), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn đặc nhiệm hải quân, 2 trung đoàn thiết giáp, 74 khẩu pháo (từ 105 đến 155mm) củng hệ thống lực lượng kìm kẹp từ tỉnh, quận đến xã, ấp gồm 4 tiểu đoàn, 21 liên đội và 65 đại đội bảo an, 3 liên đội và 428 trung đội dân vệ, 4 đại đội và 3.600 cảnh sát cùng hàng nghìn tề điệp, ác ôn với hơn một nghìn đồn bốt.

        Lực lượng ta gồm Sư đoàn bộ binh 5, ba trung đoàn bộ binh (24, 271, 207), 1 tiểu đoàn đặc công và 1 tiểu đoàn công binh (chủ lực Miền); 3 trung đoàn bộ binh (1, 88, 320) chủ lực Quân khu 8; lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị quần chúng các tỉnh, huyện trên địa bàn chiến dịch.

        Bộ tư lệnh chiến dịch: Tư lệnh kiêm Chính ủy - Hoàng Văn Thái. Đồng Văn Cống (Chín Hồng) - Phó tư lệnh, Lê Vàn Tưởng - Phó chính ủy.

        Chiến dịch diễn ra 3 đợt:

        - Đợt 1 (10 đến 29-6), quân chủ lực ta đột phá tuyến phòng thủ biên giới Việt Nam - Campuchia, đồng thời đánh địch ở nam - bắc đường số 4, hỗ trợ nhân dân toàn vùng nổi dậy giành quyền làm chủ ở xã, ấp.

        - Đợt 2: (3 đến 31-7), ta đánh địch phản kích, tiếp tục hỗ trợ nhân dân phá bình định, mở mảng, mở vùng.

        - Đợt 3: (6-8 đến 10-9), địch tổ chức phản đột kích lớn quy mô quân đoàn (thiếu), ta đánh địch làm cho lực lượng chúng suy yếu, bộ máy kìm kẹp tan rã dần. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 34.500 tên địch, bắn rơi 60 máy bay; phá huỷ 126 xe M113, 179 xe quân sự, 73 tàu xuồng, thu 3.222 súng các loại; diệt, bức hàng, bức rút 356 đồn bốt; giải phóng 27 xã, 22 ấp với 240.000 dân. Chiến dịch đã thể nghiệm thành công phương thức cơ bản đề đánh phá bình định, giành dân, giành quyền làm chủ của quân và dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        26-6-1972 đến 31-1-1973

        Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị. Nhằm tiêu diệt địch, giữ vững vùng giải phóng, tạo điều kiện chuyển sang tiến công khi có thời cơ, Bộ Quốc phòng tổ chức phòng ngự ở thị xã vùng ven Quảng Trị. Bộ tư lệnh chiến dịch: Thiếu tướng Trần Quý Hai (Tư lệnh), Trung tướng Song Hào (Chính ủy).

        Lực lượng ta tham gia phòng ngự có 5 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320. 325, 312), Trung đoàn 27 và Trung đoàn 6 độc lập, 3 trung đoàn pháo binh (164, 45. 84), 4 trung đoàn pháo cao xạ (241, 243, 250, 280), Trung đoản 236 tên lưa, Trung đoàn 203 thiết giáp, 2 trung đoàn công binh (229, 249), 5 tiểu đoàn đặc công và lực lượng vũ trang trên địa bàn chiến dịch.

        Lực. lượng địch ngày đầu có sư đoàn dù, sư đoàn thuỷ quân lục chiến, chiến đoàn 4. Lực lượng dự bị có sư đoàn bộ binh 1, liên đoàn 1, thiết đoàn ky binh 11, 4 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội 155mm và có sư đoàn 1 không-quân, hải quân vùng 1, một lữ đoàn ky binh thiết giáp hỗ trợ.

        Từ ngày 28 tháng 6 đến 16 tháng 9, bộ đội ta tổ chức 5 đợt phản kích đánh bại nhiều cuộc phan công của địch. Tuy vậy do địch tập trung lực lượng và hỏa lực phản kích, ta bị thương vong lớn, địch tái chiếm được thành cổ Quảng Trị.

        Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi chiến đấu 29.822 tên, diệt gọn 1 lữ đoàn và 12 đại đội, phá huỷ 330 xe tăng thiết giáp, 273 khẩu pháo, bắn rơi 169 máy bay, bắn chìm bán cháy 20 tàu xuồng, thu 877 súng các loại. Thắng lợi của chiến dịch góp phần làm thay đổi thế và lực trên chiến trường, phục vụ đắc lực cho đấu tranh ngoại giao.

        Tháng 7

        Bộ Tồng tham mưu chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu biên soạn tài liệu, tiến hành tập huấn bộ đội đánh B-52 trong các tình huống phức tạp và triển khai kế hoạch đánh B-52.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chĩnh trị Bí thư Quân uy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng trực tiếp làm việc với Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Tư lệnh các binh chung Ra-đa, Tên lửa, Không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn phòng không Hà Nội xác định phương án tác chiến trong chiến dịch phòng không đánh máy bay B-52 bảo vệ Hà Nội. Tháng 9 năm 1972, Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Quân chung Phòng không - Không quân hoàn thành kế hoạch chiến dịch phòng không gồm một số vấn đề cơ bản như phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tấn công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 09:02:42 AM
        
        1 tháng 8

        Tiểu đoàn pháo 174 (Trung đoàn đặc công 113) tập kích sân bay Biên Hoà (bắn 202 quả đạn ĐKB và 45 quả H12 vào 25 mục tiêu), phá huỷ và hỏng 74 máy bay; làm thương vong nhiều phi công, nhân viên kỹ thuật của địch.

        13 tháng 8

        Hai tiểu đoàn đặc công (9, 12) và đại đội 53 thuộc Trung đoàn đặc công 113 do đồng chí Đỗ Văn Ninh chỉ huy tập kích khu kho 53 (tổng kho Long Bình); phá huỷ 15.000 tấn bom, 200 tấn thuốc nổ, diệt và làm bị thương 300 tên địch.

        25 tháng 8

        Hoàn thành xây dựng công trình đường ống dẫn dầu T72 dài 368km gồm 4 tuyến đường ống song song. Ngày 31 tháng 12         hoàn thành công trình T72B - tuyến đường ống xăng dầu từ biên giới Việt - Trung vào đến miền Đông Nam Bộ (2.000km) được hoàn thành, góp phần quan trọng bảo đảm nhiên liệu cho công cuộc xây dựng và chiến đấu quy mô ngày càng lớn trên hai miền Nam - Bắc, đánh bại cuộc phong toá và ngăn chặn của địch.

        20 tháng 9

        Thành lập Sư đoàn bộ binh 10 thuộc Mặt trận Tây Nguyên. Biên chế: 3 trung đoàn bộ binh (28, 66, 95) và 8 tiểu đoàn binh chủng. Sư đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Quân, Chính ủy Đặng Vũ Hiệp.

        Cuối tháng 10

        Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức hội nghị các trắc thủ ra-đa toàn quân, tập trung nghiên cứu những điểm của nhiễu B-52, khả năng phát hiện của từng loại máy ra-đa, xây dựng "quy trình bắt B-52 trong nhiễu".

        Đầu tháng 11

        Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức hội nghị bàn cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa.

        8 tháng 11

        Ních-xơn tái trúng cử Tổng thống Mỹ, ngay sau đó Ních-xơn yêu cầu Kít-xinh-giơ nối lại đàm phán với phái đoàn của Việt Nam ở Pa-ri và đòi sửa đổi một số điều khoản có lợi cho Mỹ trong dự thảo hiệp định tháng 10 đã được hai bên thoả thuận.

        21 tháng 11

        Sư đoàn 320A được lực lượng vũ trang nhân dân địa phương phối hợp tiến công đánh chiếm Đức Cơ (Gia Lai) căn cứ cuối cùng của địch trên đường số 19. Tiếp đó bộ đội ta đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn địch lên ứng cứu, loại khỏi vòng chiến đấu hơn hai nghìn tên.

        23 tháng 11

        Bộ Quốc phòng quyết định thành lập lại Sư đoàn bộ binh 341 (Sư đoàn Sông Lam) tại Nam Đàn (Nghệ An). Biên chế: 2 trung đoàn bộ binh (52, 270); đến tháng 9 năm 1973 bố sung thêm Trung đoàn 266 bộ binh, Trung đoàn 55 pháo binh và một số đơn vị binh chủng. Sư đoàn trưởng: Bảo Cường, Chính ủy: Phạm Thành Minh.

        25 tháng 11

        Quân ủy Trung ương họp, ra chỉ thị "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu". Chỉ thị nêu rõ: Chúng ta cần đề phòng địch có thể có những hành động phiêu lưu quân sự mới. Chúng có thể ném bom bắn phá trở lại từ vĩ tuyến 20 trở ra VỚI mức độ ác liệt hơn. Chúng có thể liều lĩnh dùng B-52 đánh phá các vùng trọng điểm Hà Nội, Hải phòng, các chân hàng các đầu mối giao thông, các vùng đông dân, dùng hải quân tăng cường đánh phá bờ biển. Các lực lượng vũ trang trên miền Bắc phải đề cao cảnh giác, hoàn thành kế hoạch tác chiên, sẵn sàng chiến đấu.

        4 tháng 12

        Bộ Tổng tham mưu ra mệnh lệnh cho các quân khu, các đơn vị: Địch sẽ dùng B-52 đánh rộng ra trên toàn miền Bác, thủ đoạn có thể bất ngờ, ồ ạt, đánh ngay vào Hà Nội, Hải Phòng. Phải tăng cường, công tác kiểm tra, công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu cao.

        18-29 tháng 12

        Chiến dịch Phòng không Hà Nội - Hải Phòng, do các lực lượng phòng không và không quân Việt Nam tiến hành đánh trả cuộc tập kích đường không chiến lược, chủ yếu bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội - Hải Phòng (từ ngày 18 đến 29 tháng 12, Mỹ mở chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II huy động số lượng lớn máy bay chiến lược B-52 và máy bay chiến thuật hiện đại nhất (F-111) cùng nhiều khí tài điện tử gây nhiễu hiện đại, đánh phá tập trung ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng)- Lực lượng ta có 6 trưng đoàn tên lửa phòng không, 3 trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 8 tiếu đoan pháo phòng không, 356 đơn vị pháo, súng máy phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

        Chiến dịch gồm 2 đợt:

        - Đợt 1 (18 đến 24-12), đêm 18 tháng 12 Mỹ sử dụng 129 lần chiếc máy bay B-52 và trên 160 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Các lực lượng phòng không, không quân ta đánh trả quyết liệt, bắn rơi 3 máy bay B-52, các ngày sau bắn rơi thêm nhiều máy bay B-52 và các loại khác.

        - Đợt 2 (26 đến 29-12), đêm 26 Mỹ dùng 120 lần chiếc máy bay B-52 đánh vào các khu đông dân cư ở Hà Nội, bị ta bắn rơi 8 chiếc, những ngày sau đó ta bắn rơi thêm nhiều chiếc khác.

        Sau 12 ngày đêm chiến đấu, ta bắn rơi 81 máy bay (có 34 chiếc B-52 và 5 chiếc F-111), bắt sống giặc lái, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược, buộc Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trờ ra và nối lại cuộc đàm phán ở Pa-ri. Dư luận trên thê giới gọi đây là trận "Điện Biên Phủ trên không".

        Qua chiến dịch Phòng không Hà Nội - Hải Phòng, các lực lượng phòng không - không quân nhân dân ta đã có bước trưởng thành rõ rệt. tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chiến đấu - nhất là kinh nghiệm đánh máy bay B-52, góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật chiến dịch tác chiến phòng không Việt Nam.

        30 tháng 12

        Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị ta nối lại cuộc đàm phán ở Pa-ri, bàn việc ký hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 09:08:37 AM

Năm 1973

        7 tháng 1

        Quân ủy Trung ương họp đánh giá tình hình, dự kiến khả năng đánh phá của Mỹ - ngụy trước và sau khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam có hiệu lực. Quân ủy Trung ương nêu rõ: "Địch tìm mọi cách phá hoại hiệp định, phá hoại hòa bình... Cuộc đấu tranh về chính trị, kinh tế sẽ diễn ra gay go và quyết liệt giữa hai vùng, hai lực lượng, có thể xen lẫn xung đột vũ trang ở từng địa phương... Địch sẽ mờ các cuộc hành quân an ninh, cảnh sát, tiếp tục đẩy mạnh bình định, tiêu diệt hạ tầng cơ sở cách mạng, mở các cuộc hành quân nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở vùng xen kẽ hoặc đánh chiếm một số địa phương nhất định...".

        Quân ủy Trung ương xác định: "Chúng ta chủ trương ra sức củng cố hoà bình, đòi triệt đề thi hành hiệp định, tích cực phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, luôn luôn sẵn sàng đập tan mọi hành động của địch phá hoại hiệp định, gây lại chiến tranh. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ỉà ra sức củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng chiến đấu nhầm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, đồng thời xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; tham gia đấu tranh chính trị của quần chúng, xây dựng căn cứ địa và vùng giai phóng vững mạnh ở miền Nam, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu gây lại chiến tranh của địch".

        13-28 tháng 1

        * Sư đoàn 10 bẻ gãy cuộc hành quân của sư đoàn 23 ngụy vào vùng Võ Định (Bắc Kon Tum), diệt 2 tiểu đoàn, bắt 200 tên, bắn rơi 8 máy bay, phá huỷ 11 xe. Sư đoàn 320 đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của 1 sư đoàn nguy (thiếu) ra vùng Đức Cơ, Thanh Giáo, gây cho địch một số thiệt hại.

        * Sư đoàn 7 (thiếu) phối hợp với Trung đoàn 205 (Miền) đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của sư đoàn 5 nguy và 2   chi đoàn thiết giáp vào vùng Dầu Tiếng, diệt 1.800 tên, bắt 60 tên.

        * Bộ đội chủ lực Quân khu 9 và lực lượng địa phương đánh bại cuộc hành quân của sư đoàn 21 ngụy và 1 thiết đoàn xe tăng vào vùng giải phóng Long Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 1.800 tên.
   
        Đến 8 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973, trên toàn miền Nam ta đã giành thêm và làm chủ 586 ấp, 24 xã, 280 nghìn dân, diệt và bức rút 106 đồn địch.

        15 tháng 1

        Chính phủ Mỹ ra tuyên bố cam kết "Chấm dứt mọi hoạt động quân sự tiến công bao gồm ném bom, bắn trọng pháo và thả mìn" trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

        27 tháng 1

        Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết tại Pa-ri, Thủ đô nước Cộng hoà Pháp. Hiệp định gồm 9 chương, 23 điều, gồm những nội dung chủ yếu:

        - Mỹ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

        - Rút hết quân Mỹ và quân chư hầu, phá các căn cứ quân sự cúa Mỹ, không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

        - Công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa  miền Nam Việt Nam là một bên của "hai bên miền Nam Việt Nam" công nhận trên thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiếm soát.

        Kèm theo Hiệp định có 4 nghị định thư:

        1- Về ngừng bắn tại miền Nam Việt Nam và các ban liên hợp quân sự.

        2- Về Ủy ban Quốc tế kiểm sát và giám sát.

        3- Về trao trả các nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ

        4- Về việc Hoa Kỳ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn phá hủy mìn ở vùng biển, các hải cảng và sông ngòi miền Bắc Việt Nam.

        Hiệp định có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973.

        30 tháng 1

        Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Thiếu tướng Lê Quang Hoà làm Trưởng đoàn từ Hà Nội vào Sài Gòn tham gia Ban liên hợp Quân sự bốn bên.

        31 tháng 1

        Sư đoàn 320B, Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325), Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 271, Trung đoản 24 (Sư đoản 304), Tiểu đoàn 38 bộ đội địa phương, K5 hải quân hiệp đồng với một số phân đội xe tăng, được, pháo binh chi viện thực hành trận phản đột kích đánh bại cuộc hành quân Tăng-gô-xi-ty lấn chiếm khu vực cảng cửa Việt (Quảng Trị) của địch.

        Từ 26 đến 31 tháng 1, ta đã tiêu diệt 2.232 tên địch, bắt 170 tù binh, phá huỷ 113 xe tăng, thiết giáp, thu 13 xe, bắn rơi 5 máy bay, bắn cháy 1 tàu chiến, phá hủy 10 khẩu pháo, thu hơn 300 súng các loại.
Trận phản đột kích Cửa Việt là một trận then chốt đánh bại cuộc hành quân Tăng-gô-xi-ty lấn chiếm Cửa Việt của địch Tháng lợi của trận đánh trong thời điểm Hiệp định I Pa-ri vừa thực hiện có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, quân sự góp phần tích cực đấu tranh buộc địch thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        5 tháng 2

        * Bộ đội công binh, hải quân và quân dân Hải Phòng hoàn thành việc rà phá mìn, thuỷ lôi ở khu vực cửa Nam Triệu cho tàu trọng tải lớn vào cảng Hải Phòng, làm thất bại âm mưu phong toả quy mô lớn của đế quốc Mỹ.

        * Đội đặc nhiệm 78 vớt mìn của hải quân Mỹ do chuẩn đô đốc Mắc Cao-ly dẫn đầu đến Hải Phòng để chuẩn bị rà phá mìn trên biển và luồng lạch các cửa sông miền Bắc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 10:31:38 AM
       
        16 tháng 2

        Ban liên hiệp Quân sự bốn bên ra lời kêu gọi khẩn thiết yêu cầu các bên chấm dứt hoàn toàn chiến sự trên khắp miền Nam Việt Nam, triệt để thi hành những điều khoản của Hiệp định Pa-ri.

        Cuối tháng 2

        Bộ Tổng tham mưu và các quân khu, quân đoàn nguy soạn thảo và hoàn chỉnh kế hoạch quân sự: "Lý Thường Kiệt - 1973". Đây là kế hoạch quân sự toàn diện nhằm mục đích chiếm đất, giành dân, bình định, chiêu hồi, xây dựng lực lượng tình báo, xây dựng quân nguy, phong toả kinh tế của ta và bảo vệ kinh tế của chúng. Bộ Quốc phòng ngụy tính trong năm 1973 vẫn duy trì 1,1 triệu quân chủ lực, địa phương và hiện đại hoá lực lượng này.

        10 tháng 3

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 56/QĐ-QP) thành lập Trường sĩ quan Thiết giáp thuộc Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Nhiệm vụ: Đào tạo sĩ quan chỉ huy xe tăng, sĩ quan kỹ thuật xe tăng, xe bọc thép và xe chiến đấu bộ binh, sĩ quan chính trị đại đội xe tăng, nghiên cứu khoa học kỹ thuật tăng thiết giáp, bổ túc cán bộ chỉ huy tăng thiết giáp cho Binh chủng và toàn quân.

        16 tháng 3

        Thành lập Đoàn 27 đặc công trực thuộc Bộ tư lệnh Miền gồm 6 đoàn (113, 115, 116, 117, 119, 10) và Trung đoàn 429. Đoàn trưởng: Đặng Ngọc Sĩ. Chính ủy: Lê Thanh.

        29 tháng 3

        * Thành lập Sư đoàn phòng không 673 tại Trị - Thiên. Biên chế 6 trung đoàn (287, 250, 243, 263, 245, 233) trang bị mạnh, có tên lửa đất đối không. Tư lệnh: thượng tá Bùi Đăng Tự. Chính ủy: thượng tá Lê Văn Hối.

        * Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ. Tổng tư lệnh quấn đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam (tướng Uây-en) cùng 2.501 tên lính viễn chinh Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Quân sự bốn bên.

        3-4 tháng 4

        Tổng thống Mỹ Ních-Xơn gặp Nguyễn Văn Thiệu (Tổng thống Việt Nam cộng hoà) tại San-clê-man-tê. Nich-xơn tuyên bố tiếp tục ủng hộ quân sự cho chính quyền Sài Gòn. Hành động đầu tiên sau cuộc gặp này là nối lại các chuyến bay do thám trên miền Bắc Việt Nam, đình chỉ các hội nghị về việc giúp xây dựng lại miền Bắc của ủy ban kinh tế hỗn hợp kéo dài việc rà phá mìn trên các vùng biển miền Bắc.

        21 tháng 5

        Tổng cục Hậu cân tổ chức lại lực lượng vận tải thuỷ trên cơ sở Đoàn vận tải Hồng Hà. Thành lập đoàn vận tải đường sông gồm 3 tiểu đoàn (1, 2, 3), đại đội huấn luyện và trạm sửa chửa; căn cứ là cảng sông Hồng (Hà Nội). Thành lập đoàn vận tải ven biển gồm 4 đại đội tàu (107, 102, 103 và 25), căn cứ và xưởng sửa chữa đặt tại Hải Phòng. Đoàn trưởng: Trung tá Dương Quang Đàm. Chính ủy: Trung tá Nguyễn Văn Sửu.

        24 tháng 5

        Hội nghị Bộ Chính trị (mở rộng) khẳng định: Dù khả năng nào, con đường của cách mạng miền Nam cũng chỉ có thể giành được thắng lợi bằng bạo lực cách mạng. Bất kỳ trong tình huống nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiền lên. Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản của cách mạng miền Nam.

        31 tháng 5

        Tiểu đoàn 19 (Đoàn 113 đặc công Miền) tập kích tổng kho Long Bình, phá 25 nhà kho chứa đạn của địch.

        4 tháng 6

        Thượng viện Mỹ ra dự luật không cấp ngân sách cho bất kỳ hoạt động quân sự nào của Mỹ ở Đông Dương.

        8 tháng 6

        Tổ chức lại tuyến vận tải Quân khu 4 (thành 4 . binh trạm), thành lập 2 trung đoàn xe (510, 525); Đoàn 74 phụ trách toàn bộ tuyến giao liên, chuyến thương trên miền Bắc (quyết định số 454 của Tổng cục Hậu cần).

        28 tháng 6

        Quân ủy Trung ương đề ra nhiệm vụ trước mắt cho lực lượng vũ trang miền Nam: "Cần nắm vững chiến lược tiến công, đánh bại mọi hành động lấn chiếm của địch, giành dân và giữ dân, giữ vững vùng giải phóng và chính quyền cách mạng. Đồng thời phải chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, nếu địch mở rộng chiến tranh quy mô lớn thì kiên quyết tiêu diệt chúng".


Tiêu đề: Re: Việt Nam thế kỷ XX-Những sự kiện quân sự
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2016, 10:33:14 AM
        
        Tháng 7

        Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, ra nghị quyết về "Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới”. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phân tích tình hình địch và khả năng của ta, nghị quyết đề ra nhiệm vụ cơ ban, phương châm, phương thức hoạt động của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, nghị quyết nêu rõ: "Phải luôn luôn chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng trong tư thế đánh địch, chủ động đập tan các cuộc hành quân lấn chiếm của chúng, kiên quyết thực hành phản công và tiến công đánh những trận tiêu diệt thật đau, thật mạnh đề bảo vệ và giữ vững vùng giải phóng... Phải có kế hoạch toàn diện và xây dựng cung cố, nâng cao chất lượng và hiệu suất chiến đấu, làm cho bộ đội chủ lực thành lực lượng rất tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, cơ động và linh hoạt phù hợp với điều kiện chiến đấu trên từng chiến trường...

        Coi trọng việc xây dựng, phát triển và tăng cường bộ đội địa phương từ khu đến huyện, ra sức khắc phục tình trạng mất cân đối hiện nay giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Xây dựng bộ đội địa phương thành những đơn vị gọn, sắc, tinh nhuệ, vừa trang bị tương đối hiện đại vừa tận dụng vũ khí thô sơ, đủ sức phản công và tiến công, bẻ gãy và đập tan các cuộc hành quân gom dân lấn chiếm của quân ngụy trong phạm vi địa phương. Ra sức phát triển dân quân du kích thành một lực lượng vũ trang mạnh của quần chúng...".

        21 tháng 8

        Thành lập Viện Thiết kế Quân giới và Viện Công nghệ Quân giới thuộc Cục Quân giới (quyết định số 578 và 579 của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần).

        Nhiệm vụ của Viện Thiết kê Quân giới: Thiết kế sản xuất vũ khí, khí tài quân giới, đạn dược, quân cụ theo yêu cầu trang bị toàn quân. Nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, chế độ về công tác thiết kế Ngành Quân giới. Quản lý các tài liệu thiết kế và quản lý sản xuất theo thiết kế.

        Viện Công nghệ Quân giới có nhiệm vụ: Nghiên cứu, vận dụng công nghệ mới, cải tiến thiết bị cũ, sử dụng vật liệu thay thế trong sản xuất vũ khí, sắp xếp cơ cấu sản xuất khoa học, trang bị công nghệ, dây chuyền sản xuất sản phấm ở các nhà máy quân giới, xây dựng những quy trình Công nghệ điển hình, trung tâm đo lường và thử nghiệm của Tổng cục Hậu cần.

        15 tháng 10

        Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam ra mệnh lệnh: "Chừng nào chính quyền Sài Gòn còn tiếp tục những hành động chiến tranh thì các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng phải kiên quyết đánh trả họ bất cứ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng buộc đối phương phải nghiêm chỉnh và triệt để thi hành Hiệp định Pa-ri".

        24 tháng 10

        Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 124/QĐ-QP) thành lập Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng. Biên chế: 3 sư đoàn bộ binh (308, 312, 320B), Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, Trung đoàn thông tin 140, các đơn vị binh chủng, phục vụ và các cơ quan.

        Tư lệnh: Thiếu tướng Lê Trọng Tấn (Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm chức) Chính ủy: Thiếu tướng Lê Quang Hoà (Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm chức).

        17 tháng 11

        Hội đồng Chính phủ ra quyết định (số 243/TTg) về việc xây dựng, củng cố mở rộng đường chiến lược Trường Sơn: Xây dựng cơ bản 1.920km đường mới gồm tuyến đông Trường Sơn dài 120km từ Khe Gát (Quảng Bình) tới Bù Gia Mập (Đông Nam Bộ); tuyến tây Trường Sơn có hai trục nay mới xây dựng cơ bản một trục dài 720km từ Phong Nha (đầu đường số 20, Quảng Bình) đi Plây Khốc (Tây Nguyên), nối với tuyến đường phía đông, kể cả nhánh đường số 16 tư Thạch Bàn đi Bản Đông nối với trục thứ nhất ở Sê Ca Mán-

        Đây là công trình lớn có ý nghĩa chiến lược về kinh tế và quốc phòng Nh