Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2016, 09:27:24 PM



Tiêu đề: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Hai, 2016, 09:27:24 PM
        Năm 2009 khi vào Thành phố Hồ Chí Minh tôi có dịp gặp và trò chuyện cùng đại tá Đinh Như Ninh. Biết tôi là thành viên của Quân sử Việt Nam (bây giờ là Dựng nước - Giữ nước) ông có đưa tôi tập hồi ký và viết 1 lá thư gửi tới trang nhà. Xin trân trọng giới thiệu:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Trat%20tu%20den/Thu%20Dinh%20Nhu%20Ninh_zpsrir1l8mw.jpg)
Thư của đại tá Đinh Như Ninh

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20-10-2009
Bạn đọc thân mến

        Năm 2004 khi đang làm phó chủ tịch hội CCBVN quận 10, tôi bị ngất xỉu nhiều lần, bệnh viện kết luận do bị hội chứng tăng sinh tủy - gây đặc máu. Tôi xin nghỉ việc để chữa bệnh.

        Nhớ lời Bác Hồ "thương binh tàn nhưng không phế" ngày 19 tháng 5 năm 2006 tôi bắt đầu viết hồi ký "Cuộc chiến thầm lặng", mỗi ngày vài trang với mong muốn góp phần nhỏ vào kho tàng chuyện kháng chiến của đơn vị, của địa phương - những nơi mà tôi có thời gian sống ở đó nhằm gợi nhớ cho đồng đội xa gần, cho đồng bào những địa phương và thân nhân gia đình hồi tưởng lại những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ để tiếp thêm niềm tự hào, sức mạnh cho những suy nghĩ việc làm sắp tới góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

        Để "Cuộc chiến thầm lặng" ra đời tôi đã nhận được nhiều tình cảm khích lệ và đóng góp nhiều ý quý báu của đồng đội xa gần được nhà xuất bản QĐND tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách xuất bản đúng dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 2008.

        Đến nay "Cuộc chiến thầm lặng" được đưa lên mạng cho nhiều người cùng đọc. Tôi xin chân thành cám ơn.

Thân mến          
 Đinh Như Ninh        


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Hai, 2016, 06:02:32 PM
Chương một

XÓM CHỒI – THỜI THƠ ẤU

        1 -  Dòng tộc


        Tổ tiên của tôi, theo cha tôi nói lại, quê tận trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, theo dòng Nam tiến vào làng Đồng Di, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, dừng chân định cư hẳn ở đây. Theo gia phả họ Đinh mà tôi đã đọc ở Đồng Di, thì khi đã trưởng thành, ông Đinh Nga húy là Đinh Như Giám trở về Nghệ An làm lễ tế trời đất, xin phép rước hài cốt ba đời trước của ngài gồm: ông cố là cụ Đinh Như ông nội là Đinh Thêm và thân sinh là Đinh Thuần, cùng bảy bộ hài cốt khuyết danh (có thể là các bà cố, bà nội, mẹ dẻ và các chú bác, anh em) vào tọa lạc tại động Trầm của Đồng Di. Theo lời di huấn của các đời trước, thì sau khi thỉnh cầu được phần mộ của các đời tiên kỷ vào quê mới, ông Đinh Nga đã tế lễ và suy tôn ông cố là cụ Đinh Như (quan chánh ngự y kiêm quân y tượng) làm Đức Thế tổ và xin được dùng húy của cụ đặt tên cho các con cháu. Từ đó trở đi, họ Đinh ai sinh được con trai thì phải đặt họ tên Đinh Như.., ai làm sai sẽ bị quở phạt và phải sửa lại cho đúng lời cầu nguyện.

        Dòng họ Đinh Như sinh trưởng tại làng Đồng Di, qua hai đời chỉ một cha sinh một con trai, đến đời thứ ba mới sinh được bốn con trai, một trong bốn người đó là cụ Đinh Như Bưu - tự Minh Tâm (1749-1832) là một danh y trong triều, cụ đã từng đi và biết nhiều nơi, cụ đến lập nghiệp tại làng Hồ Xá, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

        Phái họ Đinh Như sinh trưởng tại làng Hồ Xá, qua hai đời cũng chỉ một cha sinh một con trai, đến đời thứ ba mới sinh được hai con trai, sau đó mới phát đinh. Tôi là hậu duệ đời thứ bảy của cụ Đinh Như Bửu.

        Trong đời thứ 6 của phái họ Hồ Xá (tức đời thứ 9 đại tôn Đồng Di) có câu chuyện cảm động. Đó là, căn cứ vào gia phả thì đã gần 100 năm đại tôn mất tin tức về phái họ Hồ Xá. Tháng 2 năm 1926, sau xuân Bính Dần, ông Đinh Như Đàn dẫn đoàn đại tôn mang trong lòng niềm xót thương đồng cảm với lời người xưa là ông Đinh Như Tư (con ông Đinh Như Bản) đã ví: "Sống ở quê người thì dù có giàu sang cũng không ai biết đến, chẳng khác gì người mặc áo gấm đi đêm". Đoàn đi tàu hỏa từ ga Huế ra ga Mỹ Tá, qua đò Phúc Lâm, lại qua đò chợ Phủ, tìm làng Hồ Xá.

        May thay, trước khi bước chân lên đò chợ Phủ, ông Đinh Như Đàn hỏi người lái đò về gốc tích dòng họ Đinh Như. Tức thì người lái đò tự xưng là Đinh Như Diễm, con cháu dòng họ Đinh Như, đôi bên đã ôm nhau mà khóc vì xúc động. ông Đinh Như Diễm đã dẫn đoàn về trình với phái họ tại nhà ông Đinh Như Thận, là trưởng chi nhì của phái họ (tức bác trưởng của tôi).

        Từ đó, hàng năm, phái viễn có đoàn vào xủi mả, đại tôn cử đoàn ra thăm viếng. Mùa thu năm 1930, được tin bác Đinh Như Thận qua đời, đại tôn đã cử đoàn ra chịu tang và trao tặng phái họ cặp liễn sơn mài trên nền gỗ tốt, viết chữ nho cẩn xà cừ hai câu đối: "Đồng địa tôn bồi sơn củng cố" và "Hồ giang phái viễn thủy thanh liên".

         2. Gia đình  

        Tôi sinh ngày 10 tháng 7 năm 1931, trong một gia đình nông dân tai xóm Chồi, làng Hồ Xá, tổng Hồ Xá, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ngôi nhà tranh, một gian hai chái của cha mẹ tôi dựng trên đám đất đỏ, rộng hơn một mẫu- Đây là đám đất mới, do ông bà nội tôi khai hoang lập vườn cho cha tôi là con trai út ra ở riêng. Vườn trồng 30 gốc chè và một hàng 6 cây cau phía trước nhà, 50 gốc mít được trồng hai bên và phía sau nhà. Vườn nhà tôi cách đường đất đỏ từ Hồ Xá đi Cáp Lài 100 mét- Bên kia đường là sân vận động phủ Vĩnh Linh. Phủ Lý cách đó non một cây số về phía tây, sát đường quốc lộ 1.

        Ông nội tôi là Đinh Như Kế (1848-1920), một lương y có tấm lòng nhân hậu của một nhà nho. Bà nội tôi là Đỗ Thị Cẩm (1866-1944) một phụ nữ khỏe mạnh, rất mực đảm đang, bà lo toan mọi việc đồng áng, vườn tược, bù đắp được phần hạn chế của chồng. Ông bà đã gầy dựng được đời sống trở nên khá giả.

        Tôi có ba người bác và bốn bà cô. đã về nhà chồng, từ thuở tôi chưa ra đời.

        Bác trưởng có nhà và sân vườn rộng một mẫu, sát bờ tường phủ lỵ. Đây là ngôi nhà ông bà nội để lại cho bác. Ngôi nhà rường ba gian, hai chái, cửa đố bàn khoa. Ở cả ba gian, nửa phía trong là các bàn thờ tổ tiên ông bà, một nửa phía ngoài ở gian giữa là phòng khách và hai phòng nghỉ hai bên. Dọc hai cột nhà gian giữa treo cặp liễn sơn mài, viết chữ nho khắc chìm, cẩn xà cừ hai câu đối: "Đồng địa tôn bồi sơn củng cố" và "Hồ giang phái viễn thủy thanh liên", có hai dòng chữ nhỏ viết kèm: "Bảo Đại canh Ngọ Thu" và "Đồng di đại tôn phụng cúng".

        Trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt, hai câu đối trên vẫn nguyên vẹn treo tại nhà ông Đinh Như Khanh (con út bác trưởng của tôi), số 334B, ấp Nội Hóa, xã Bình An, tỉnh Bình Dương.

        Cha tôi tên là Đinh Như Tráng (1908-1947), một nông dân, vừa là một lương y - được ông nội truyền nghề của cụ tổ; mẹ là Nguyễn Thị Xiển (1909-1992) cũng là nông dân. Cha mẹ thật hiền lành, hay thương người, cứu người. Quanh năm suốt tháng chỉ thấy cha mẹ làm lụng, họa hoằn lắm mới thấy hai ba người bạn rất thân của cha đến ăn cơm cùng gia đình. Tuy khó khăn vất vả nhưng không khi nào thấy cha mẹ than vãn hay to tiếng với ai, bà con lối xóm ai cũng thương mến, giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn. Cha tôi tham gia phong trào cách mạng năm 1936. ông bị giặc Pháp bắt giam tra tấn nhiều lần, vẫn một lòng trung thành với cách mạng. Tháng 8 năm 1945, ông đã cùng đội tự vệ tham gia cướp chính quyền phủ Vĩnh Linh, truy bắt tri phủ Cao Xuân Thọ. ông được bầu vào Hội đồng nhân dân, bầu làm ủy viên quân sự ủy ban Hành chánh kháng chiến xã Vĩnh Hồ. Tháng 3 năm 1947, giặc Pháp tái chiếm quê nhà, ông cùng đội tự vệ lên chiến khu, ông lâm bệnh và mất tại chiến khu tháng 5 năm 1947 - lúc mới 39 tuổi.

        Mẹ tôi là một phụ nữ trung hậu, đảm đang, bà hăng hái tham gia phụ nữ kháng chiến và luôn động viên chồng con lên đường cứu nước. Bà được tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì. Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, và bảng vàng danh dự. Bà dược truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", do Chủ tịch Lê Đức Anh ký tặng ngày 28 tháng 9 năm 1997. Mẹ là con thứ sáu của một gia đình có hạng của làng Phúc Lâm, tổng Hồ Xá, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

        Cha mẹ sinh 10 lần, nuôi được bảy anh em (sáu trai, một gái). Anh tôi là Đinh Như Khương, tự Đồng - sinh năm 1929, anh vào lớp đồng ấu, trường tiểu học Vĩnh Linh trước tôi một năm, anh thi đậu yếu lược rồi phải ở nhà chăn trâu. Tôi tên là Đinh Như Ninh, tự Du - kém anh hai tuổi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Hai, 2016, 05:37:08 AM
       
       3 - Tuổi học trò 

       Năm 1939, tôi vào lớp đồng ấu, chương trình tiểu học 6 năm. Trường học cách nhà tôi chừng một cây số Thầy giáo Hoàng Đức Chuân, một người rất cẩn thận chu đáo, thầy lớn tuổi hơn cha tôi, do đó tôi rất kính trọng thầy, vừa sợ thầy - lo bị quở phạt. Một tháng sau ngày khai giảng, một hôm thầy bưng ca lít đựng nước đi các bàn, thầy hỏi từng bạn: "Ca nước đầy chưa/" Các bạn đều trả lời "Đầy rồi ạ! Đến lượt tôi tôi trả lời chưa đầy. Thầy đi khắp lượt rồi trở về bục giảng, thầy nói: "Lớp chúng ta có 39 em nói đầy rồi và một em nói chưa đầy. Thầy gọi tôi đứng dậy, tôi tái mặt lo lắng. Thầy nói: "Ca nước chỉ mới chín phần mười, đúng là chưa đầy. Thầy khen, tặng tôi 5 điểm tốt. Tôi mừng quá. Từ đó, cứ mỗi buổi chiều tan học, thầy giao cho tôi ôm 3 cuốn sách giáo khoa, đi theo về nhà thầy trọ, trên đường về nhà tôi. Một hôm, thầy biểu tôi ôm sách về nhà trước, thầy sẽ về sau. Tôi thưa đi một mình con sợ mấy con chó dữ ở nhà thầy Thầy khuyên: "Con cứ đi, hễ chó nhào ra cách chừng vài mét, con ngồi xuống là chó phải chạy lui". Tôi lo bị chó cắn, nhưng phải làm theo lời thầy khuyên. Tôi vừa bước vào cổng mấy bước thì hai con chó dữ vừa sủa vừa chạy nhào ra, cách chừng 5 mét, tôi ngồi xuống. Chúng cụp đuôi chạy lui. Tôi tiếp tục đi vào chúng lại sủa vang, chạy nhào tới, cách chừng 5 mét tôi ngồi thụp xuống. Chúng cụp đuôi chạy lui... cho đến khi có người nhà ra đón. Tôi vừa mừng vừa nghĩ: "Thầy đúng thật". Hàng năm, tôi được lên lớp đều năm nào cũng có phần thưởng.

       Trong 6 năm học ở trường tiểu học, cho tới nay, tôi vẫn nhớ các thầy giáo đã cho tôi nhiều hiểu biết, nhiều kỷ niệm đẹp về tình nghĩa thầy trò. Thầy nào tôi cũng kính trọng, nhất là thầy Hoàng Đức Chuẩn quê làng Nghĩa An, huyện Cam Lộ, thầy dạy lớp đồng ấu và lớp dự bị. Thầy Lê Đình Nhơn, một thầy giáo trẻ quê làng Bồ Bản, phủ Triệu Phong - dạy lớp nhất, thầy là người đã dạy cha lớp học nhiều bài ca cách mạng. Trong những năm 1944 - 1945, có lần thầy Nhơn tiếp đón đoàn sinh viên Việt Nam (trong chuyến đi xuyên Việt) gồm các ông Nguyễn Việt Nam, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiếng... đã ghé thăm, nghỉ lại, ca hát với thầy trò trường Vĩnh Linh. Chúng tôi xem cuộc vui đó như một bó đuốc thắp sáng tâm hồn Việt Nam trong mỗi chúng tôi.

        Trong đời học sinh, tôi đã thấy cảnh cha tôi bị bắt tù đày, nhiều lần tôi đi thăm nuôi cha, có lần thấy cha mình bị chửi mắng đánh đập..., tôi căm giận mà chỉ biết đứng khóc, cứ mỗi lần như thế cha tôi lại an ủi và khuyên tôi về cho kịp giờ đi học. Một lần, chuẩn bị cho năm học mới, tôi lục tìm dao sắc để xén tập vở, tôi thấy một tập sách in nhỏ "Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương", tôi đọc mấy trang thấy lạ và khó hiểu, tôi để lại chỗ cũ. Tối đến, tôi hỏi cha, cha tôi nghiêm mặt biểu: "Cái đó hệ trọng lắm, chớ nói cho ai biết, bọn mật thám và tụi Tây sẽ bắt bớ, giết hại...". Những năm kế tiếp, tôi biết tin Hồng quân Liên Xô thắng trận liên tiếp, do những người bạn cũ của cha tôi đến trò chuyện với nhau, tôi tiếp nước và nghe lỏm. Môn lịch sử dân tộc Việt Nam đã truyền cho tôi niềm tự hào về truyền thống con Rồng cháu Tiên, về chiến công oanh liệt của các triều đại chống giặc phương Bắc. Tôi đặc biệt thích thú với các chuyện kể, các bài viết về tài ứng đối của các sứ thần nước ta, các bài thơ yêu nước của các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Tôi cũng hiểu được tình cảnh mất nước và mang máng biết có phong trào cách mạng do cụ Nguyễn ái Quốc khởi xướng, từ Việt Bắc vọng về. Tôi ao ước mình được lớn nhanh, có đủ sức khỏe để làm một cái gì đó có ích cho phong trào. Tôi tham gia vào đội đồng ca của làng, hát những bài ca cách mạng, diễn kịch, đọc thơ cho dân làng nghe, tham gia phong trào bình dân học vụ.., do Đinh Như Bình (là người em họ hơn tôi 5 tuổi) hướng dẫn.

*

*      *

        Sau Tết ất Dậu (1945) ít lâu, buổi sáng sớm cha và anh tôi ra đồng tát nước cho đám lúa đang tròn bụi, gần trổ bông, nhằm phiên tôi trực, tôi đến trường quét lớp. Trên đường đi, còn cách trường chừng 400 mét, tôi bỗng giật mình, thấy có người chết nằm nghiêng, chiếc chiếu rách đắp lòi hai chân từ đầu gối. Đường vắng tanh, tôi rợn gai ốc, lùi lại và tránh vào xóm đi lối tắt. Qua hàng rào nhà nọ thấy một bông hoa dại mới nở, tôi hái đem theo cho lớp. Tôi đến lớp hãy còn sớm. Thầy Lê Đình Nhơn đang ăn sáng (thầy ăn cơm tháng ở nhà người phu trường). Tôi chào thầy, thầy khen tôi đến sớm và hỏi:

    -   Buổi sáng trò ăn gì ?

    -   Thưa, hai mươi lát sắn dầm1.

    -   Sao ít thế

    -   Nhà con đông người, các em của con còn được mẹ cho ăn ít hơn.

    -   Trưa về em ăn gì ?

    -   Một chén chừng vài chục lát sắn, mỗi lát cõng ít hột cơm, với nửa bát canh.

    -   Tối đến em ăn gì ?

    -   Thưa, húp một chén cháo loãng hoặc ăn một củ khoai.

    -   Nhà em còn có bữa ăn là khá, hiện nay có nhiều nhà không còn bữa ăn, sắp tới có thể chúng ta đều bị chết đói. Từ Quảng Trị trở ra xứ Bắc kỳ chết đói nhiều lắm.

        Tôi vừa quét lớp vừa suy nghĩ mông lung... Hèn chi, đám sắn chừng 100 bụi cạnh nhà mình, cha đã chặt cây sát gốc, ông lại còn đào lỗ rải rác làm như đã nhổ hết, để đề phòng kẻ trộm.

---------------
1. sắn dầm: Khoai mì cắt lát ngâm chua (cho khỏi ngộ độc)
       


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Hai, 2016, 05:43:54 AM
        Giờ tan học trưa, tôi về đường chợ Phủ. Chợ đã tan, có nhiều gia đình nằm, ngồi vật vờ khắp chợ. Họ nói giọng Bắc. Nhìn thấy một bạn trạc tuổi tôi mặc áo quần học sinh. Tôi đến làm quen. Bạn rất vui, tự xưng tên là Ngân: "Ngô Văn Ngân - 14 tuổi, đang học lớp nhất, trường Thái Thụy tỉnh Thái Bình. "Gia đình hết cái ăn, mình phải bỏ học, theo gia đình đi ăn xin". Bạn Ngân buồn rầu nói: "Gia đình mình có 4 người, cứ vừa đi vào vừa xin ăn, đến Hà Tĩnh, leo lên đỉnh đèo Ngang thì bố mình tắt thở, bố bị kiệt sức vì đói. Mình thương bố lắm? Hễ mỗi khi có thứ gì ăn được là bố nhường hết cho mấy mẹ con mình, nói thế nào ông cũng không ăn. Chôn cất bố xong, mấy mẹ con mình ở lại đó buổi chiều, ngủ một đêm bên mả bố cạnh đỉnh đèo. Các bà con bạn đường có cho chút đồ đạc. Nhưng ở đó không có gì ăn được ngoài ít bông me rừng, vài trái sim... Nắng lên, ba mẹ con đành phải nuốt nước mắt mà đi vào, đến đây đã hơn ba ngày. Đúng ngày mở cửa mả cho bố. Mấy mẹ con kiếm thẻ nhang, có ít đồ cúng lễ 3 ngày cho phải đạo hiếu".  Tôi thấy bà mẹ trẻ và em bé gái chừng 5 tuổi chỉ ngồi khóc, mắt đỏ hoe mà không nói gì. Tôi cũng rưng rưng nước mắt. Tôi nhìn thấy 3 củ khoai lang nhỏ, hai khúc sắn luộc, mấy con cua đồng nướng để trên cái mẻ nhôm rách, tất cả bày trên tấm đệm lác, bên cạnh 3 cây nhang nghi ngút khói. Lòng tôi quặn đau. Người mẹ cùng các con ăn trưa, bạn Ngân mời tôi cùng ăn, tôi cảm ơn và từ chối. Tôi nhắc bạn coi chừng mấy con cua chưa chín sẽ gây đau bụng, nhất là với em bé. Bạn Ngân nhìn tôi nói: "Merci, Ils sonts déjà biens cuits (Cám ơn, tất cả đã chín rồi). Tôi vẫn băn khoăn, tôi lại hỏi: "Bạn định đi đến đâu? Bạn Ngân nói: "Còn đi xa lắm, mẹ nói đi tận Rạch Giá, thuộc Nam kỳ lục tỉnh, ở đó đã có nhiều người làng lại có nhiều ruộng đồng lúa gạo". Tôi chào bà, chào anh em bạn Ngân và ra về, lòng tôi mơ hồ nghĩ về xứ lục tỉnh Nam kỳ xa xôi, là đất nhượng địa theo sách giáo khoa...

        Những ngày sau đó, có một chiếc xe trâu cứ sáng sáng phải chở đi chôn từ ba đến năm xác người chết đói nằm ở chợ Hồ Xá. Họ đều là những người đi ăn xin từ miệt ngoài vào. Các làng đất ruộng phía tây đường quốc lộ 1 của huyện Vĩnh Linh cũng bị chết đói nhưng không ai thống kê lại. Những làng đất đỏ phía đông đường quốc lộ 1 nhờ có sắn, khoai, rau.., nên dân ít bị chết đói hơn.

*

*            *

        Một hôm, trên đường đến trường, tôi thấy có nhiều binh lính người Nhật đi lại trên đường số một, ở khu vực phủ đường. Vào lớp, nghe các bạn nói: "Nhật đánh úp Pháp đêm 6 tháng 3 năm 1945, Pháp đầu hàng rồi, nay nước mình độc lập, có nhà vua Bảo Đại và nội các Trần Trọng Kim. Ở Vĩnh Linh, ông Cao Xuân Thọ làm tri phủ. Hàng ngàn lính Nhật đóng dọc đường số một, Ở ga Sa Lung, Cửa Tùng, ga Hà Thanh... Hàng ngày, bọn Nhật cho lừa ngựa phá phách ruộng vườn của nông dân. Bọn Việt gian thân Nhật lên mặt hống hách ức hiếp đồng bào. Hàng ngày, máy bay đồng minh đến bắn phá các nơi quân Nhật đóng, các cầu cống.., làm chết thêm nhiều người dân vô tội.

        Tháng 9 năm 1945, với danh nghĩa quân đội đồng minh vào tước khí giới quân Nhật, 20 vạn quân Tàu - Tường lũ lượt kéo vào nước ta. Chúng tràn qua Vĩnh Linh như một bọn giặc cỏ. Chúng dừng quân ở Hồ Xá, Cửa Tùng và một vài nơi khác, ngang nhiên cướp giật ở chợ Hồ Xá. Chúng kích động, làm chỗ dựa cho bọn Quốc dân đảng nổi dậy chống phá chính quyền cách mạng non trẻ của chúng ta.

        Giữa tháng 5 năm 1945, tôi thi xong tiểu học. Đang nghỉ hè, tôi đi chăn trâu, câu cá, đá bóng... Những quả bóng là trái bưởi non nướng mềm, hoặc được thắt bằng dây chuối, hoặc được bện bằng nhiều giẻ rách. Chúng tôi đi hái sim, hái bứa ở rú Nên, rú Hố (thuộc khu vực thị trấn Hồ Xá ngày nay). Một đêm trăng mờ, tôi và anh Đinh Như Gia, anh con bác - kém tôi 4 tuổi, rủ nhau đi hái thị nhà bà X. Bà X đã hơn 70 tuổi, các con cháu ở riêng. Bà chỉ chờ khi có gió lay thị rụng mới ra vườn lượm. Tôi và anh Gia gởi trâu cho các bạn và hẹn sẽ cho ăn thị. Theo sự sắp đặt anh Gia núp sẵn ở lùm cây nhỏ gần đó, tôi leo lên cây thị rung, trái chín rơi lộp bộp... Bà X chạy ra la: "Đứa mô hái thị?" Hai tay bà cầm cây sào nứa vạt nhọn, bà cứ xoi ngược lên ngọn cây, mồm bà la: "Cho mày chết, cho mày chết!". Tôi ném khúc thân cây chuối (đã mang theo sẵn), gây nên một tiếng rơi "bịch", tức thì anh Đinh Như Gia la: "Bà X xoi con nít, con ai rớt xuống, chắc chết rồi, bà con ơi!". Bà X vứt sào nói: "Không, không? Tui không biết mô!" Bà lặng lẽ vào buồng nằm im thin thít. Tôi tụt xuống đất. Hai anh em lượm nhanh, có tới vài chục quả thị chín mọng, thơm phức. Chúng tôi cười khúc khích, vừa chạy ra đồng với các bạn chăn trâu. Mỗi đứa lấy phần hai trái, chỉ để ngửi mà không ăn. Cả bọn được một trận cười thỏa thích.

        Mấy hôm sau, cha dẫn tôi đi qua làng ngoại, mở trường dạy học cho con của các cậu, dì và các bé trong làng Phúc Lâm, xã Vĩnh Long. Trường học có 32 em, 3 lớp học, một mình tôi dạy tại đính làng. Các bàn ghế, phấn và bảng đen đều do các cậu tôi sắp đặt trước. Mấy hôm đầu có cậu Nguyễn Lạc (là anh mẹ tôi) tổ chức, cậu chia các lớp học: Lớp đồng ấu, lớp dự bị và lớp sơ học. Mỗi lớp chừng 10 trò. Trò Đinh Như Thái (em ruột tôi), học lớp đồng ấu. Trưa về, hai anh em tôi ăn cơm với nhà cậu Lạc, tối ngủ ở đó. Thế là đỡ được hai miệng ăn cho gia đình. Tôi ăn cơm tháng tại gia đình của các trò, theo sự sắp đặt của các phụ huynh học sinh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2016, 08:06:31 PM
        Các lớp học đã vào nề nếp được hai tháng. Tôi nhớ nhà, về thăm cha mẹ và các em. Một buổi sáng, tôi còn mê ngủ đã nghe tiếng trống dồn dập từ xa. Tiếng trống rõ dần cả từ bốn phía đổ về, mẹ và các em vẫn ngủ say. Tôi thức dậy, gọi không thấy cha và anh. Tôi chạy đến sân vận động, đã có nhiều người cùng băng, cờ, khẩu hiệu, gậy gộc giáo mác... Người người, lớp lớp từ các nơi kéo về mỗi lúc một đông. Trống giục ba tiếng một liên hồi... Tôi chạy lục tìm khắp lượt, không tìm thấy cha và anh. Chừng bảy giờ sáng, họ rầm rập kéo đi hàng ba, hàng tư, ra phủ đường vừa đi vừa hô khẩu hiệu: "Đả đảo chính phủ Trần Trọng Kim", "Việt Nam độc lập muôn năm", "ủng hộ chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Nam"... Tôi chạy tắt đường xóm, ra phủ lỵ thấy đông nghịt người. Tôi không thể chen vào được, tôi leo cây mít vườn nhà Đinh Như Bình ở bên này tường của phủ đường ngồi nhìn thấy vô số cờ đỏ sao vàng, băng cờ khẩu hiệu... Khi nắng chiếu một nửa sân phủ đường thì lực lượng cách mạng hoàn toàn làm chủ phủ lỵ. Toàn bộ lính tráng, chính quyền tay sai nộp vũ khí đầu hàng. Tri phủ Cao Xuân Thọ bỏ trốn, bị đội tự vệ Hồ Xá bắt giải từ vườn nhà bác tôi đến. Nhìn thấy bóng cha tôi dẫn đầu đội tự vệ làng Hồ Xá, tôi nghển cổ đứng dậy, suýt bị ngã. Tôi ngồi trên chảng ba cây mít, chứng kiến: Trước hàng vạn người dân Vĩnh Linh, ủy ban nhân dân cách mạng được thành lập, ra mắt đồng bào trong tiếng reo vui vang trời dậy đất. ông Nguyễn Đức Thưởng chủ tịch, ông Trần Giác phó chủ tịch, một ông ủy viên và một bà ủy viên. Đó là ngày 23 tháng 8 năm 1945. Tối về nhà, cha tôi nói: "Ngày mai đồng bào mình sẽ có nhiều người ra đường quốc lộ để đón mừng phái đoàn Chính phủ lâm thời Trung ương từ Hà Nội vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại".

        Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Hà Nội, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Chừng mười ngày sau, tôi và em Thái tiếp tục qua bên ngoại. Cha tôi nói, vừa để đỡ hai miệng ăn cho gia đình, vừa ít nguy hiểm hơn. Hai tháng sau đó tôi mới về thăm mẹ. Có dịp gặp lại các bạn bè và gia đình, tôi rất mừng, lại dược biết thêm nhiều điều mới lạ: Giặc Pháp đã gây hấn ở Nam Bộ và phong trào Nam tiến đang rầm rộ khắp cả nước; Cụ Hồ ký Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 và Tạm ước 14 tháng 9... Tôi được nghe nhiều bài hát mới, tôi chép và tập một số bài... Tôi đọc các tập vở học của cha vừa đi dự lớp huấn luyện quân sự 15 ngày ở tỉnh về. Trong đó, tôi đặc biệt thích thú các bài thơ cách mạng. Khi trở lại trường, tôi đã tập hát cho lớp, cho các em chép thành bài học thuộc lòng như bài "Hỡi thanh niên đứng dậy!":

         "Đâu rương cột của -nước nhà vững chắc"/ Đâu tinh hoa của thế hệ oai hùng?/ Thanh niên ơi nhìn nước chuyển nhà rung/ Đứng phắt dậy ta sẵn sàng đỡ chống/ Kìa những bãi xương khô, máu vũng/ Của đồng bào Nam Bộ đã phơi tuôn/ Bức trường thành vững chắc của giang sơn/ Còn đòi hỏi khá nhiều nguyên liệu ấy/ Giờ đã đến, nào thanh niên đứng dậy?/ Tuốt gươm ra giữ vững nước non nhà/ Đừng ngại ngùng tiếc rẻ quãng đường qua/ Đừng lặng sống với tham lam ích kỷ/ Trong đen mờ vùi lấp cả tương lai/ Đây bước đường dù hiểm trở chông gai/ Ta tiến bước hỡi thanh niên dũng vũ..." (Tố Hữu).

        Hoặc như bài thơ truy điệu đồng chí Trần Công Ái hy sinh trong dịp Tết Tân Tỵ (1941).

        "Lò tra tấn rùng rợn bày trước mắt/ Nào kẹp kềm nào xiềng xích lung tung/ Nào dây treo, điện đốt kể khôn cùng/ Thoắt trông thấy? Ôi rùng mình rởn gáy/ Lũ mắt xanh, mũi lõ tay cầm roi môi tái/ Và đôi thằng tròng trợn quyết thôi miên/ Bầy chó săn của đế quốc như điên!/ Tuôn một trận mưa roi vào chiến sĩ... ] Đồng chí Ái thản nhiên không muốn nói/ Máu mê đánh, và những lời dụ dỗ/ Cũng không sao lay chuyển được lòng anh/ Dậy vang lên những tiếng thét thất thanh.../ Lẫn những tiếng quyết hy sinh vì Thân giây giụa kềm sát nhân vẫn xiết/ Da dầu tan thịt dẫu bấn như tương/ Máu sôi lên gan sắt đá kiên cường/ Không một tiếng vui tai loài thú dữ/ Lừa quân thù anh chỉ dẫn cho hay/ Cơ quan ấy đã bao ngày anh ở/ Tay xích lại, bỏ lên xe vội chở/ Vùn vụt lao trên đường nhựa xa xa/ Cầu Chợ Lai1 xe dừng lại anh ra/ Với tâm trí bâng khuâng vì cảm động/ ôi vực thẳm, ôi trời cao lồng lộng/ Và cỏ cây đang thống thiết im lìm/ Vang lên đây lời tuyệt mệnh thiêng liêng/ Ta quyết chết để bảo tồn cho Đảng/ Hỡi dân tộc! Vì muốn mưu sự sống tự do hạnh phúc cho đời/ Đồng chí kia phải thịt nát thây phơi/ Nuốt suối hận đau thương tình nguyện chết/ Nhảy xuống suối đầy trong phút giây oanh liệt/ Da dù tan, thịt dù nát thành manh/ Hồn chiến đấu vẫn sống hoài không chết/ Vẫn sống mãi với những người tha thiết/ Yêu nước nhà bị chà đạp bấy nay/ Vẫn sống mãi trong thuyền thợ dân cày/ Trong tia máu của bao người khốn khổ/ Gương oanh liệt ngàn năm soi sáng tỏ/ Bạn đời ơi! Soi lấy đó, tiến lên". (Lương An).

        Cứ mỗi đợt về thăm nhà, tôi cảm thấy mình bị lạc hậu. Phong trào tòng quân và Nam tiến rầm rộ.

        Đầu năm 1946, tôi viết đơn xin vào làm liên lạc cho Trung đoàn Nguyễn Thiện Thuật tại thị xã Quảng Trị. Lá đơn bị từ chối với lời phê: "Trung đoàn hoan nghênh tinh thần của em, nhưng em còn nhỏ yếu quá, chưa đủ sức làm nhiệm vụ". Cha xin cho tôi việc sao chép công văn của các cấp trên gởi cho xã Vĩnh Hồ và xã Vĩnh Long. Được đọc, chép các văn bản chỉ đạo của cấp trên, tôi hiểu đất nước đang đứng trước muôn vàn khó khăn. Các nhà chức trách đang bận rộn trước trăm công ngàn việc. Trong khi thực dân Pháp mất miếng mồi Đông Dương béo bở, bọn chúng tiếc đến điên cuồng, Pháp rắp tâm cướp nước ta một lần nữa. Chúng cố tình phá hoại Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 và Tạm ước 14 tháng 9. Ờ phía tây tỉnh Quảng Trị, Pháp đưa quân áp sát biên giới và tăng quân chốt giữ những nơi quan trọng ở hai bên đường số 9. Ở phía đông chúng cho tàu chiến, ca nô xâm nhập một số cửa sông để thăm dò, quấy rối và khiêu khích.

----------------
1. Cầu Chợ Lai Phước, tỉnh Quảng Trị.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2016, 03:28:40 AM
        Để chuẩn bị kháng chiến, ủy ban Kháng chiến hành chánh đã tuyên truyền cho nhân dân biết lợi ích của tiêu thổ kháng chiến và huy động lực lượng bà con lấy các đội tự vệ võ trang và thanh niên làm nòng cốt thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Lúc này đang thời vụ sản xuất đông xuân, ban ngày ai ai cũng ra đồng cày cấy, nhưng đêm đêm hàng trăm thanh niên tự vệ theo sự hướng dẫn của cán bộ đã nô nức kéo đi phá hoại những cơ sở vật chất của Pháp để lại và cả những ngôi nhà khang trang mà suốt một đời dành dụm mới làm nên, quyết không để cho giặc Pháp sử dụng để đánh lại dân mình, thực hiện khẩu hiệu "vườn không, nhà trống". Chỉ trong mấy ngày, bà con Vĩnh Linh đã đập phá tan tành cơ quan phủ lỵ, trường học, các nhà nghỉ mát... Ở Cửa Tùng, nhà ga Sa Lung, Tiên An. Song song đó, bà con Vĩnh Linh còn phá sập cầu cống, chôn giấu lúa gạo, hoa màu và các đồ dùng cần thiết, xây dựng các công trình phòng thủ chiến đấu.

        Phong trào "di cư, tản cư, tăng gia sản xuất" (gọi tắt là "di tản tăng") được dấy lên khắp nơi. Nhân dân chuẩn bị sơ tán đến những nơi thích hợp, để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang tới gần.

        Lời kêu gọi kháng chiến của Hồ Chủ tịch được truyền đến tận làng xã bằng loa tay, tờ bướm.., làm rung động con tim mọi người, dấy lên một khí thế sục sôi căm giận. Ai cũng muốn xông ra tiền tuyến giết giặc cứu nước. Những cuộc tiễn đưa người thân diễn ra thật xúc động. Người ở lại càng ra sức xây dựng làng xóm. Trên các đường làng, trên những bãi tập quân sự vang lên những bài ca hùng tráng: "Tiếng súng vang sông núi miền Nam, ầm vang đất nước Việt Nam", "Đoàn Vệ quốc quân mỗi lần ra di...", "Anh em trong đoàn quân du kích, cùng vác súng lên nào! Đi lên! Đi lên!...".

        Cuối tháng 2 năm 1947, bà con Vĩnh Linh được lệnh tản cư theo phong trào "di tản tăng". Tôi theo gia đình chạy lên miền núi huyện Vĩnh Linh. Do đang giữa mùa thu hoạch lúa chiêm xuân nên sau 15 ngày ở lại trong rừng, thấy địch chưa có hành động càn quét chém giết ác liệt, chúng tôi được lệnh hồi cư về tranh thủ gặt lúa. Anh tôi vẫn ở đội tự vệ xã.

        Vê đến làng, tôi thấy Tây trắng, Tây đen lố nhố ở đường quốc lộ, ở chợ... Chúng đóng đồn tại chợ Hồ Xá Từ làng ra đồng gặt lúa, chúng tôi phải đi qua quốc lộ số 1 Tôi thấy một ngôi mộ mới bên cạnh cột mốc cây số, đó là mộ của Trần Xuân Hồng, bạn học cùng lớp, bạn bị trúng dạn chết ngay từ loạt pháo dọn đường của giặc Pháp sáng 30 tháng 3 năm 1947. Rải rác đây đó giữa đồng lúa là những hố đạn pháo. Chúng tôi gặt lúa mà sợ dẫm phải mảnh đạn pháo.

*

*       *

        Khói lửa chiến tranh, đau thương chết chóc đã bao trùm quê hương tôi. Chúng tôi nung nấu chí căm thù quyết giành và giữ quyền độc lập tự do thiêng liêng của dân tộc.

        Sau mười ngày gặt lúa, cha tôi lại lên chiến khu. Với tuổi mười sáu, tôi phải tập làm việc ruộng đồng giúp mẹ và 5 em nhỏ. Cha đi rồi, cảnh nhà trống vắng. Hai tổ ong cha nuôi lấy mật cũng bỏ đi từ lúc nào. Vào mùa cày ruộng, tôi đi cày, em Thái chăn trâu, mỗi buổi sáng chỉ được ăn lưng cơm với hai chén bã củ sắn và mắm muối.

        Một chiều tháng 5 năm 1947, tôi đi làm ruộng về nghe tin cha tôi đã chết. Tôi không tin. Mẹ ôm lấy tôi khóc nức nở... Mẹ nói xen trong tiếng nấc: "Cha con bị ốm nặng, mấy người thân gánh đi chạy chữa. Đi giữa dường thì cha tắt thở vào đêm 4 tháng 5. Họ đã chôn cất cha ở bến Đập". Tôi không thể tin đó là sự thật. Ruột gan tôi như bị dao cắt, người dở dang dở ngồi. Thương cha quá. Tôi nén đau thương, lặng lẽ vào giường nằm. Tôi nghĩ: Mình còn có nghĩa vụ giúp mẹ nuôi năm em nhỏ. Đau đớn quá! "Mẹ má hồng con răng trắng. Bầm gan tím ruột với trời xanh". Lời thơ của người xưa, văng vẳng đâu đây, não nuột lạ lùng.

        Họa vô đơn chí, chừng một tháng sau, tôi bị giặc Pháp bắt tại nhà, cùng với bác tôi là Đinh Như Ích, nhà bên cạnh. Chúng giải hai bác cháu về đồn, nhốt cách biệt nhau. Chúng tống giam tôi vào trại tù dài 8 mét, rộng 3 mét, nhốt 25 người nằm đất, tiêu tiểu cuối trại. Trại giam dựng trên đất trường tiểu học Vĩnh Linh đã bị san bằng. Hôm sau, trong buổi sáng, chúng vặn hỏi tôi về Hội đồng nhân dân làng Hồ Xá; về ông Đinh Như Ích và công việc hội đồng. Tôi nói ông Ích là bác ruột của tôi, bác làm gì nữa tôi không biết, chỉ thấy bác đi làm ruộng nuôi con, bác gái đã chết vì bệnh. Chúng gạn hỏi có ai thường lui tới nhà ông Ích? Tôi khai tên một người thợ cày tên là Thí đến cày ruộng và một người phụ nữ tên là Thiếc đến gánh nước, giã gạo, nấu cơm. Chúng nhốt tôi 3 hôm rồi thả cho về.

         Giặc mở rộng đồn Hồ Xá! Chúng đuổi nhà dân ở gần đồn. Hai bác tôi cùng gia đình ra xóm Chồi, làm nhà trên mảnh đất một mẫu của cha mẹ tôi. Tôi đi làm đổi công cho mấy anh chị em cùng lứa tuổi. Trong những tháng ngày tập làm ruộng, tôi được sự dìu dắt, giúp đỡ tận tình của anh chị em, không câu nệ hơn kém về hiệu quả làm việc của tôi. Giữa ruộng đồng, trong những buổi đi cấy đi gặt, mấy anh chị em thường trò chuyện động viên nhau hướng về cách mạng, về cụ Hồ, mong ngày độc lập. Thỉnh thoảng, chúng tôi hát những bài ca cách mạng, cười vui trong lao động, giữa ruộng đồng, miệng hát, tay nhổ cỏ dại cho các gốc lúa đang lên xanh. Một chiều mùa đông, ba chị em rủ nhau đi giủi đam1.
----------------
1. giủi đam Giủi bắt cua đồng.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2016, 05:12:11 AM
        Hơn 5 giờ chiều, chị Đinh Thị Sáo (chị của anh Đinh Như Gia) nói: "Sắp tối rồi, về về?" Chúng tôi chuẩn bị về, em Đinh Thị Vịnh (em của Đinh Như Bình) coi các giỏ đam rồi nói: "Hai giỏ này đầy, còn giỏ anh Ninh chưa đầy. Chị em mình giủi vài đường nữa cho đầy cả ba giỏ rồi cùng về?". Chúng tôi làm theo. Trên đường về, tôi nói lời cám ơn liền bị gạt đi vì mọi người coi là chị em, phải giúp đỡ nhau.

        Ông bà nội tôi để lại một mẫu ruộng hương hỏa ở Nhà Giật. Đây là mẫu ruộng trũng của cánh đồng các làng Hồ Xá, Phúc Lâm, Sa Lung, Thượng Hòa, tổng Hồ Xá, phủ Vĩnh Linh. Hàng năm, bốn anh em là chú bác tôi luân phiên cấy lúa, tát bắt cá và cúng giỗ ông bà.     

        Vụ lúa đông xuân năm 1947 - 1948 đến phiên bác Đinh Như Phong (cha anh Đinh Như Gia) canh tác. Tháng 1 năm 1948 khi lúa đã chín tới, bác tôi tổ chức tát bắt cá, chừng ba giờ chiều bác biểu tôi và anh Gia về ăn cơm sớm rồi ra trực đêm giữ cá.

        Mẫu ruộng này cách đồn Hồ Xá hơn một cây số, xen giữa cánh đồng lúa có nhiều gò đồi, trên đó mọc nhiều cây cối rậm rạp, mỗi gò chỉ một vài nghìn mét vuông, dân làng gọi đó là các "lòi": Lòi Sưa, Lòi Lăng, Lòi Lợn, Lòi Giếng, Lòi Neo, Lòi Cuộc,...

        Chúng tôi trở lại ruộng lúa lúc trời chập choạng tối Những người lớn lũ lượt về, bác tôi đã cho vét hai đường dẫn nước xuống chỗ trũng nhất nối liền với hai cái đìa (mỗi cái rộng chừng hai chục mét vuông, sâu hơn một mét). Bác dặn hai chúng tôi: chớ đi lại trên ruộng, để cá xuống đìa - không lũi bùn". Bác ra về lúc đèn điện đồn Hồ Xá vừa bật sáng nhấp nháy một vòm trời phía đông nam mẫu ruộng.

        Tôi và Đinh Như Gia rón rén đi ngược một đoạn mương mới vét từ ruộng xuống, thấy cá cứ xếp lớp nối đuôi nhau xuống nhiều quá, thật thích mắt... Cá diếc, cá rô rệt rệt, cá trê ẻn ẻn, cá tràu luồn lách nhanh.., dưới ánh trăng non, những con cá cỡ cổ tay lóc nhảy vượt qua đồng loại xuống vùng trũng thật lẹ làng. Tôi nói:

        - Cá cỡ đồ nướng ăn ngon tuyệt!

        - Mần chi có bếp lửa giữa ruộng ni?

        - Tụi mình đốt lửa làm bếp than.

        - Tây đồn Hồ Xá nó nã moóc chề tới là chết!

        - Không can chi mô, bọn Tây mũi lõ có mắt như mù !

        Tôi chọn một điểm ngồi nhìn không thấy bóng đèn điện đồn Hồ Xá (do bị các Lòi che khuất), tôi đào cái hố trên bờ ruộng. Chúng tôi vào Lòi Neo kiếm củi và những cành cây che bếp, nổi lửa đốt một hố than. Anh Gia tới bắt một con cá tràu (lóc) to hơn cổ chân cho vào bếp, nó quẫy than văng tứ tung, có nguy cơ tắt mất bếp. Chúng tôi phải đem thả xuống đìa, chỉ chọn bắt bốn con gần bằng cổ tay nướng chín, cạo sạch vảy, ăn vừa ngon lại vừa thơm lựng. Anh Gia nói: "Có thêm ít hột muối thì ngon biết mấy!" Tôi móc gói muối đùm trong lá chuối khô - đã lận lưng - đưa ra. Anh Gia chấm muối ăn, lại khen ngon và hỏi:

        - Răng chú tài rứa, cái chi cũng biết! Tui thua chú nhiều thứ?

        - Ông bà mình nói: Hơn một nồi xoong phải khác, huống hồ chi tui hơn anh tới bốn nồi!

        Hai anh em cười vang giữa đồng lúa trong đêm.

        Ngon quá nhưng bụng đã no, hai anh em chỉ ăn hết ba con cá lóc nướng.

        Câu chuyện ăn cá lóc nướng đọng mãi với tuổi thơ của chúng tôi1.

        Hàng ngày tôi vẫn làm việc ruộng vườn. Tôi nghĩ bụng phải tìm cách đi theo kháng chiến, nếu ở nhà trước sau cũng bị bỏ tù hoặc bị bắt lính. Vườn nhà tôi, mấy chục gốc chè đã cho lá nấu nước uống, nhiều cây mít cho trái đã hai năm. Hàng ngày, mẹ đi chợ bán chè, bán mít, mua mắm muối. Sáng sáng, tôi lắng nghe nhiều tiếng chim hót vang thật vui tai, chim bù chao, chích chòe, chim cưỡng, cu gáy về ở, chúng làm tổ, chim non ra ràng.... Chỉ tiếc thương cha không còn để hưởng hoa lợi từ mảnh vườn này. Thỉnh thoảng, tôi vẫn đón anh em đi kháng chiến về thăm lại xóm Chồi, nghe chuyện chiến thắng của quân ta và cảnh sinh hoạt ở chiến khu do anh Đinh Như Bá (anh ruột Đinh Như Gia) và Đinh Như Bình kể.

        Những chuyện kể hồi đó, tôi nghe có nhiều chuyện vui mừng và cũng có những chuyện buồn thương. Tôi có cảm giác hồi hộp, buồn thương nhất khi nghe Đinh Như Bình kể về ông Hùng Việt. ông là một thanh niên ở Bắc Bộ, đã trưởng thành trong phong trào "Nam tiến", đánh địch ở Nam Bộ. Ông được điều về làm Trung đoàn trưởng, cùng ông Trần Sâm làm Chính ủy - Trung đoàn 95 (tức Trung đoàn Nguyễn Thiện Thuật). ông đã tổ chức chỉ huy đánh chặn đứng quân Pháp từ Lào kéo xuống Quảng Trị, theo đường số 9 - trong dài ngày tại khu vực cầu Rào Quán (huyện Đăkrông ngày nay).

        Sau khi mặt trận Huế bị vỡ, quân Pháp tiến ra Quảng Trị, ông Hùng Việt cùng Trung đoàn 95 tổ chức chặn đánh nhiều nơi... Phong trào đánh giặc giữ nước đang lên cao thì trong một buổi hướng dẫn quân ta đánh bằng bom mìn tại làng Hà Thượng, huyện Gio Linh, ông bị tai nạn hy sinh. Đinh Như Bình còn dặn: "Giữ bí mật tin này, nếu bọn Pháp biết sẽ gây thêm khó khăn cho cách mạng". Tôi hiểu đó là một tổn thất cho phong trào kháng chiến của tỉnh nhà và âm thầm chịu đựng, câu chuyện về ông Hùng Việt rồi đi dần vào quên lãng.

        Mãi đến năm 2005, bác sĩ Lưu Văn Thắng - người y tá trưởng năm xưa của Trung đoàn 95 - nhờ hỏi giùm bà con Vĩnh Linh đã cất giữ hài cốt ông Hùng Việt như thế nào? Năm 2006, có dịp về Vĩnh Linh, tôi tìm gặp đồng chí Nguyễn Hoa Nam (nguyên Bí thư Huyện ủy Vĩnh Linh, nguyên Phó bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị) và được biết: "Từ năm 1980 đến năm 1990, đồng chí Thượng tướng Trần Sâm - Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, là Chính ủy Trung đoàn 95 năm xưa - đã đến Vĩnh Linh nhiều lần để xác minh rõ câu chuyện. Dạo đó, những người của trung đội dân quân Tân Phú còn sống 4 cụ là Nguyễn Minh Trong (thân sinh đồng chí Nguyễn Hoa Nam), Nguyễn Hữu Bi, Nguyễn Văn Hiếc và Đoàn Cung - đều là các vị đảng viên lão thành cách mạng - kể lại rằng: "Hồi đầu năm 1947, trung đội dân quân Tân Phú (của hai làng Tân Mỹ và Phú Mỹ) xã Vịnh Nam huyện Vĩnh Linh do ông Nguyễn Minh Trong làm Chính trị viên có nhiệm vụ đón chiếc đò chở một quan tài tại bến sông Quảng Xá, đó là thi hài một cán bộ quân sự cao cấp của cách mạng, không được biết họ tên, chức vụ, quê quán. Mang về chôn giấu cẩn thận, sau này sẽ có người đến nhận lại. Họ chèo ngược sông Quảng Xá, ngược sông Châu Thị và ghé bến chợ Phủ làng Hồ Xá trong đêm.

        Họ cáng bộ theo mép ruộng phía nam làng Hồ Xá đến một Tuấn họ rẽ lên đồi đi về rú Rẫy làng Phú Mỹ, đào huyệt và chôn cất, không đắp nấm mộ mà chỉ trồng cây sắn dây làm dấu. Họ đã ba lần cải táng để tránh bom đạn giặc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.

        Năm 1992, Bộ Quốc phòng đã tổ chức đưa hài cốt ông Hùng Việt từ nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Quảng Trị về với quê hương Nam Định. Trong lễ truy điệu an táng, có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Sâm, nhiều vị tướng lĩnh, các đồng đội của ông Hùng Việt cùng về dự.

---------------
1. Tháng 2 năm 2007, anh Đinh Như Gia đọc bản thảo hồi ký của tôi, không thấy chuyện kể này, từ Vĩnh Linh anh gọi điện thoại yêu cầu phải viết bổ sung, lúc này anh đã 72 tuổi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2016, 04:06:26 PM
        Kể lại câu chuyện trên đây, tôi bồi hồi nhớ lại 9 lớp cán bộ Trung đoàn trưởng và chính ủy Trung đoàn 95 (tức trung đoàn Nguyễn Thiện Thuật) - đơn vị mà tôi hằng ngưỡng mộ, nhập ngũ và khôn lớn dưới sự chỉ huy lãnh đạo của các đồng chí Hùng Việt, đồng chí Trần Sâm (1946-1947), đồng chí Lê Nam Thắng và đồng chí Trần Văn Bành (1947-1949), đồng chí Lê Bá Vận và đồng chí Trần Văn Bành (1949-1951), đồng chí Lê Văn Tri và đồng chí Nguyễn Lượng (1951-1953), đồng chí Tống Thái và đồng chí Lê Cấp (1953-1954), đồng chí Triệu Huy Hùng và đồng chí Lê Cấp (1954-1956), đồng chí Nguyễn ích Tỷ và đồng chí Trần Xuân Lư (1956-1957), đồng chí Nguyễn Quang Cự và đồng chí Nghiêm Kình (1958-1964), đồng chí Lê Khắc Cần và đồng chí Nguyễn Hữu Hưu (1965- 1967). Một lớp người mà đa số đã hy sinh hoặc qua đời những ai còn sống thì nay đã trên 80 tuổi.

        Xin được coi đây là tấm lòng yêu quý của người em đến với các anh, của người con đối với Trung đoàn 95 anh hùng, và của Sư đoàn 325 nhiều lần anh hùng.

        Tháng 5 năm 1949, tôi được gọi lên chiến khu dự lễ sinh nhật Bác Hồ. Đến chỗ hẹn, tôi mới biết xóm Chồi có 3 trong 7 người của làng Hồ Xá, họ cùng lứa tuổi 17, 18. Được ra vùng tự do - Chiến khu Thủy Ba, thả sức cho chúng tôi cười nói, ca hát, kể chuyện, hít thở không khí tự do. Chúng tôi thích thú nhìn Vệ quốc đoàn vác súng, hành quân, luyện tập; thấy cơ quan thanh niên huyện sạch sẽ, nền nếp, ngăn nắp, tuy chỉ là nhà tranh vách lá.

*

*           *
        Ba ngày vui đã qua nhanh, chúng tôi phải trở về vùng địch tạm chiếm. Nhà bạn Hoàng Thị Lý gần đồn, chúng nghi ngờ việc Lý vắng nhà, chúng bắt - Lý không chịu nổi đòn tra tấn đã khai báo. Địch đã bắt và bắn chết hai du kích mật là anh Nguyễn Thiện và anh Nguyễn Diễn ngay ngày hôm sau. Chúng còn lùa cả làng ra đồn địch để kiểm soát, đối chiếu với danh sách do chúng đã lập, theo lời khai báo của Hoàng Thị Lý. Dân làng đứng hai hàng dọc, tôi đứng vào quãng giữa. Tôi nhìn thấy chúng hỏi họ tên và phân loại. Chúng chỉ ai qua tay mặt thì ở lại, chỉ ai sang tay trái thì được về. Đến lượt tôi, tôi khai tên họ Đinh Du - là tên gọi ở nhà, tôi được chỉ sang tay trái. Tôi mừng quýnh, bước rất nhanh, nhưng rồi nhận ra phải bước chậm lại vì sợ chúng thấy khác thường. Tới chỗ có vật che khuất, tôi chạy nhanh về nhà.

        Từ đó, đầu tôi chỉ có một suy nghĩ: Phải đi Vệ quốc đoàn mới có thể chiến đấu trả thù được cho đồng bào, cho gia đình, cho đất nước. Đó là nghĩa vụ và trách nhiệm, là lý tưởng của thanh niên trước cảnh nước mất nhà tan, quân thù chiếm đóng quê hương.

        Dù có phải hy sinh cũng là điều vinh dự, đây cũng là điều mà tôi đã suy nghĩ, ước mơ từ lâu là làm theo những tấm gương lẫm liệt đã có. Xin nói thêm: Hoàng Thị Lý bị giặc Pháp hãm hiếp và bắn chết sau khi chúng đã khai thác hết những điều chúng cần biết ở thị. Tôi nhận được tin này khi tôi đang làm văn phòng xã đội Vĩnh Hồ.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2016, 04:25:03 AM

Chương hai

RA ĐI THAM GIA CHỐNG PHÁP

        1 - Ý nguyện của Mẹ

         Tháng 7 năm 1949, vừa tròn 18 tuổi, tôi muốn rời mái ấm gia đình trong tình cảnh vừa bị giặc Pháp bắt hụt hai lần, chúng đóng đồn tại làng Hồ Xá. Cha tôi, người xã đội trưởng đầu tiên của xã Vĩnh Hồ sau ngày Cách mạng tháng Tám, đã lâm bệnh qua đời tại Chiến khu tháng 5 năm 1947. Anh tôi là Đinh Như Khương đang bệnh nặng, do sốt rét ngã nước từ chiến khu về, anh kêu đau đầu dữ dội, rên la quằn quại đã ba ngày; năm người em, một gái, bốn trai còn nhỏ. Tôi xin mẹ cho đi theo kháng chiến. Mẹ tôi nói: "Việc nước là tùy ý con, mẹ chỉ có một ý nguyện tìm đưa hài cốt cha con về trước khi đi".

        Tôi và ông Nguyễn Đức Đệ, là người dượng đã tham gia chôn cất cha tôi - cùng đi tìm. Tôi vác cái đòn xóc lúa kèm mấy sợi lạt tre và hai cái bao tải, giống như người đi gặt lúa. Chúng tôi rời làng quê, băng đồng ruộng, lên chiến khu tìm được nơi chôn cất. Dượng tôi đã ngoài 50 tuổi, lại đang bị cảm sốt. Tôi chạy vào nhà dân mượn cuốc, dượng ngồi chỉ dẫn. Tôi trải hai cái bao tải ra, đào bới kiếm và xếp các xương theo hai bên tả hữu, hộp sọ để bao bên trái, tôi vuốt ve chiếc răng cửa hàm dưới của cha tôi có một cái mọc thụt vào. Tôi lầm rầm khấn vái rồi dùng những sợi lạt tre buộc thành hai túm hai đầu đòn xóc gánh về. Chừng nửa đêm tôi về đến nhà. Hai mẹ con dùng tấm phản - mà sinh thời cha thường nằm nghỉ trưa - đặt hai bao hài cốt lên để thắp hương. Mẹ nói, anh con đã hết đau đầu từ lúc chợ đông, đang ngủ. Tôi thưa: "Mả cha bị một đường trâu đi ngang qua trán, con đào trúng, lấy hộp sọ lên lúc nửa buổi sáng". Mẹ nói: "Đúng rồi, ba may bảy may, ơn Trời Phật phù hộ". Hai đêm liền, mẹ tôi khóc thảm thiết với lời than vãn: "Hũ tiền cách mạng gởi, ông chôn cất chỗ mô, để lấy trả cho chính phủ? Đất đai vườn tược đó ông ưng nằm chỗ mô? Biết hỏi ai cho đây?"

        Sáng hôm sau, mẹ gọi tôi cầm cuốc đi theo, mẹ chỉ chỗ tôi đào tìm thấy hũ tiền chôn ở gốc bụi chuối cạnh nhà bếp, số tiền giấy đã bị côn trùng hủy hoại, chỉ còn ít đất mùn và đồ dùng bằng kim loại. Tôi thấy lạ, hỏi tại sao mẹ biết hũ tiền chôn chỗ này, mẹ nói: "Đêm qua cha về báo mộng chỗ chôn tiền và nơi an táng". Mấy mẹ con chúng tôi làm lễ cúng cha và an táng tại đất nhà. Một đám tang diễn ra trong âm thầm, đầy nước mắt đau thương.

        Xế chiều ngày 27 tháng 8 năm 1949, chị  Thị Tuyết (con gái út bác Đinh Như Thận) chạy khóc la tức tưởi, chị nằm vật ra giữa sân nhà tôi và gào lớn: "Giặc đã bắn chết anh Khuông cách đây mấy trăm thước?". Anh Đinh Như Khuông là dân quân du kích bị giặc bắt giam tại đồn Hồ Xá. Chúng dẫn anh đi chặt tre, anh vùng chạy định thoát thân, liền bị giặc bắn đuổi, anh đã hy sinh.

        Tôi đau đớn thương tiếc người con trai lớn của bác trưởng. Anh chỉ kém cha tôi năm tuổi. Anh là một thanh niên mạnh khỏe, đã giã từ sắc lính khố xanh trong những ngày tiền khởi nghĩa 1945. Anh thường đến trò chuyện với cha tôi. Tôi thấy hai chú cháu rất thân mật, gần gũi như hai anh em.

        Tôi biết anh lâm nạn do có kẻ phản bội, dẫn địch về bắt lúc anh còn đang ngủ đêm tại căn cứ Vĩnh Mưng - là chiến khu xã Vĩnh Hồ. Giặc đã bắn chết ông Đinh Như Diệu (người tôi gọi bằng chú). Chúng bắt một số người trong đó có anh Đinh Như Khuông. Chúng tra khảo chức vụ của anh, anh khẳng khái nói: "Tau làm tiểu đội trưởng hoặc trung đội hay đội viên chỉ là sự phân công của cách mạng để đánh đuổi giặc Pháp xâm lược và bè lũ Việt gian bán nước...". Chúng đánh đập dã man anh vẫn không nao núng.

        2. Vào dân quân

        Hôm sau, mẹ tôi sắm cho bộ kem đánh răng và một bộ áo quần. Tôi cho vào cái túi vải nhỏ và lên đường vào chập tối, không kịp chào anh và các em tôi. Tôi tìm gặp xã đội dân quân xin tòng quân. Tiếp nhận tôi là ông Đinh Như Ngữ (là anh ruột Đinh Như Bình), làm chính trị viên và ông Trần Giả - xã đội trưởng. Hai ông giao việc cho tôi làm văn phòng xã đội. Hàng ngày, hai ông cho tôi cùng ngồi nghe những người đến báo cáo các trận đánh du kích, xin nhận gạo, vũ khí... Tôi ghi chép và viết báo cáo lên huyện đội. Đến bữa ăn, có người dẫn đến ăn tại các nhà dân. Thỉnh thoảng, nghe tiếng mõ dồn dập báo động "Tây lùng", cơ quan xã đội cùng dân làng chạy vào làng phía sau, dân quân vào vị trí chiến đấu. Lúc này, phong trào "rào làng chiến đấu" ở quê tôi đã lên rất cao trong toàn huyện Vĩnh Linh. Mỗi làng đều tổ chức rào bằng tre nứa, cọc rào. Các cửa ra vào làng có tổ dân quân trực gác, được cài sẵn bom mìn, hầm chông, đạn đạp để ngăn chặn địch càn quét, cướp bóc. Mỗi xóm lại rào thành từng ô ngang dọc, có hệ thống công sự chiến đấu, hầm hào chi chít. Lực lượng dân quân du kích được bố trí gác ngày đêm cả ở vòng trong và vòng ngoài. Vòng ngoài là các làng có vọng gác sát đồn địch gọi là kẹp vị trí. Cứ mỗi lần giặc đi càn, vọng gác vòng ngoài báo động về xã đội để nhân dân kịp thời sơ tán, ẩn nấp, du kích ra chiếm công sự chiến đấu. Xã Vĩnh Hoàng tiếp giáp với xã chúng tôi, là một điển hình của phong trào rào làng chiến đấu. Một buổi sáng đầu năm 1949, giặc từ đồn Hồ Xá đi càn... Chúng cho xe bọc thép đi đầu, xe húc vào hàng rào làng Huỳnh Công Nam. Mìn nổ, chiếc xe bốc cháy, địch phải bỏ dở trận càn. Hầm chông, đạn đạp là những vũ khí thô sơ nhưng rất lợi hại. Trận phục kích của du kích xã Vĩnh Tiên tại Bàu Ngang làng Lê Xá gần hai mươi tên Pháp và ngụy đồn Mỹ Tá đi càn bị sập hầm chông, chúng chạy loạn, lại bị một số đạn đạp làm kinh hồn khiếp đảm... Phong trào rào làng chiến đấu và các hoạt động của du kích phát triển mạnh buộc địch phải co lại trong các đồn bót, không dám nghênh ngang đi xa đồn bót hàng chục cây số để cướp phá hãm hiếp dân lành như những năm 1947 - 19481. Một hôm rảnh việc, tôi hỏi ông Đinh Như Ngữ: Tại sao hồi 1947 ta chuẩn bị kỹ mà khi giặc Pháp tới ta không đánh? Ông Ngữ nói: "Không phải ta không đánh mà vì sức ta còn quá yếu, chỉ vừa đánh vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến sau này. Hồi đó, tiểu đoàn 15 chủ lực và các đội du kích xã đã chặn đánh địch ở phà Hiền Lương, Ở cầu Tiên An, diệt 30 tên và làm bị thương một số tên".

----------------
1. Trích "Vĩnh Linh 50 năm chiến đấu và xây dựng


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2016, 08:51:08 PM
       
        3. Vào quân đội


        Tháng 9 năm 1949, tôi xin phép xã đội cho đi bộ đội. Tôi đi theo Đinh Như Bình, là người em họ đang làm y tá Viện Quân y K42 của Phân khu Bình Trị Thiên được nghỉ phép về thăm quê. Chúng tôi len lỏi qua các làng quê dọc bờ biển tỉnh Quảng Trị, tìm đến làng Kế Môn, xã Phong Thanh, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, nơi có đội an dưỡng Trung đoàn 95 trú quân. Có dịp tôi thấy dân làng thương quý y tá Đinh Như Bình như con đẻ, tôi cảm động, càng tin tưởng người bạn đường của mình. Có dịp tôi được đến thăm 21 mộ liệt sĩ vô danh của bộ đội Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Tôi được nghe kể về chiến công của đội cảm tử tấn công đồn Đại Lược năm 1948. Đầu năm 1949, đồn Đại Lược phải bỏ chạy, nhân dân xã Phong Thành đào bới từ các hố chôn người lên, sắp xếp chôn cất thành một dãy thẳng hàng, không có bia mộ cho từng người. Hình ảnh đó cứ đeo đẳng mãi trong tôi về tội ác của giặc, về sự khâm phục và lòng mang ơn đối với những người đã ngã xuống.

        Chúng tôi theo tổ quân y đội an dưỡng đi Viện Quân y K42. Viện Quân y đóng ở một khu rừng Đá Nổi thuộc Chiến khu Ba Lòng tỉnh Quảng Trị. Tôi được giao làm liên lạc viên giữa văn phòng với các khoa, ban. Đây là một bệnh viện dã chiến có sức chứa 120 - 150 thương bệnh binh của Phân khu Bình Trị Thiên. Bệnh viện được bố trí dọc theo một con suối ngoằn ngoèo chảy qua cho nên nội quy giữ nguồn nước rất chặt chẽ. Cạnh bờ suối có các giếng ăn. Các lán trại đều nằm dưới tán cây, lại có nương sắn khoai, chuối che chở ngụy trang, ngoài nhìn vào khó mà nhận ra có một cơ sở tiếp nhận điều trị nhiều thương bệnh binh đang trú quân hoạt động. Bệnh viện do bác sĩ Nguyễn Danh Đàn, người Thanh Hóa, dong dỏng cao, da trắng mịn, đeo kính trắng, ông đã ngoài 40 tuổi Chính trị hiệp lý viên là cụ Bùi Xuyên - đã ngoài 50 tuổi, tầm vóc cao to, da ngăm, ông có bộ râu đen kịt, cắt tỉa gọn. ông là một thầy đội khố đỏ đi theo kháng chiến. Bác sĩ Đàn chưa là đảng viên. Đội ngũ các y sĩ dược sĩ, y tá, cứu thương, nhân viên có chừng hơn 80 người do y tá Nguyễn Văn Ích làm trưởng ban quản sự. Về Đảng chỉ có hai đảng viên chính thức là y tá Đinh Như Bình, phân chi trưởng và y tá Nguyễn Văn ích, có hai đảng viên dự bị là y tá Nguyễn Dự và y tá Lữ Phúc Thùy, được tổ chức thành một phân chi sinh hoạt trong chi bộ hậu cần của Phân khu Bình Trị Thiên.

        Đầu tháng 12 năm 1949, bệnh viện lập một đội phẫu đi phục vụ chiến dịch Lê Lai. Chúng tôi rời khỏi rừng Đá Nổi vào một sáng trời mưa rả rích. Sau ba ngày băng rừng vượt suối, vượt đường số 9, vừa lo bị địch phục kích vừa lo bị cọp vồ.., tôi và nhiều người đi chân đất mang vác nặng. Đội phẫu triển khai tại khu rừng Đông chân núi U Bò thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xong lúc sáu giờ chiều, có đủ các bộ phận thu dung phân loại, khu trung trọng thương, khu bị thương nhẹ, bàn mổ và hai khu hậu phẫu.

        Một trung đội dân công sẵn sàng khiêng cáng thương binh về tuyến sau. Khoảng một giờ sáng bắt dầu có thương binh về. Chỉ có hơn 20 thương binh nên được giải quyết nhanh gọn trong đêm. Bốn giờ sáng, tôi được bác sĩ Nguyễn Danh Đàn giao nhiệm vụ đi chôn cất một tử sĩ. Tôi cùng hai dân công khiêng tử sĩ xuống sườn đồi, cách bàn mổ chừng 60 mét. Tôi xem lại các giấy tờ, anh tên là Võ Đống, tiểu đội trưởng đại đội 150, tiểu đoàn 310, Trung đoàn 95, quê quán làng Nại Cửu, xã Triệu Vinh, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tôi viết những dòng chữ trên cho vào vỏ lọ pênicilin và bỏ vào túi áo ngực của anh. Chúng tôi đào huyệt trong đêm, lấp lại, xếp thêm sỏi đá. Tôi lẩm nhẩm khấn vái, vĩnh biệt người đồng đội, lòng tôi quặn đau khi biết anh bị vết thương trúng đầu trong trận đánh chống càn ở làng Thạch Xá hạ, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

        Chiến dịch Lê Lai kết thúc. Trung đoàn 95 đã đánh diệt cả hệ thống 5 lô cốt địch dọc dường quốc lộ 1 thuộc huyện Lệ Thủy, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân Pháp, bẻ gãy cuộc càn quét, bắt sống tên quan tư Le Bruje, viên chỉ huy quân Pháp ở nam Quảng Bình, tại làng Thạch Xá Hạ.

*

*          *

        Chúng tôi hành quân trở về rừng Đá Nổi, khẩn trương tổ chức rút kinh nghiệm để bác sĩ Nguyễn Danh Đàn kịp dự hội nghị tổng kết chiến dịch do Phân khu tổ chức tại vùng đồng bằng huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Xong hội nghị, các đại biểu trên đường về đơn vị thì một số bị địch phục kích. Bác sĩ Nguyễn Danh Đàn bị địch bắt. Liên khu 4 cử bác sĩ Đặng Văn Ấn từ Nghệ An vào làm Viện trưởng. Bệnh viện còn được bổ sung nhiều đảng viên cán bộ, nhiều thuốc men, dụng cụ y tế. Theo chủ trương của Đảng, "chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công". Phong trào thi đua sôi nổi trong bệnh viện, ai nấy đều quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bệnh viện đã có chi bộ đảng Cộng sản Đông Dương với 9 đảng viên chính thức.

        Ngày 28 tháng 3 năm 1950, tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương do hai đồng chí Nguyễn Dự và Lữ Phúc Thùy giới thiệu. Đồng chí Nguyễn Văn Ích, Bí thư chi bộ tuyên bố do tôi thuộc thành phần bần nông nên thời gian dự bị của tôi là 3 tháng. Cùng kết nạp có các đồng chí Lê Bá Hiếu, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Hữu Trị.

        Đến lượt tôi đọc đơn xin vào Đảng và lời tuyên thệ xong, tôi nhớ đến mẹ và các em đang sống trong vùng địch tạm chiếm, nhớ hình ảnh cha tôi nghiêm mặt biểu: "Cái đó hệ trọng lắm..." khi tôi hỏi cha về cuốn sách nhỏ in Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương...

        Chúng tôi không quản ngại mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, sẵn sàng làm tốt bất cứ việc gì mà tố chức giao cho. Đợt thi đua lập thành tích mừng kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ lần thứ 60 đã tiếp thêm sức mạnh cho mọi người. Chúng tôi lên đường đi chiến dịch Phan Đình Phùng với đội ngũ lớn mạnh, đủ sức triển khai hai bàn mổ, tiếp đón vài trăm thương bệnh binh. Bên cạnh còn có Phòng quân y mặt trận Bình Trị Thiên. Các bác sĩ Lê Khắc Thiền, Nguyễn Tăng Cơ, Đặng Văn ấn, các sinh viên y khoa khóa 1 Võ Như Tỷ, Đặng Chu Kỷ, Bùi Thiện Sự cùng nhiều y sĩ, y tá dược tá và các nhân viên phục vụ ước chừng cả trăm người. Hai đội phẫu được triển khai tại một khu rừng vùng Cổ Kiềng, thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Chiến dịch do Mặt trận Bình Trị Thiên tổ chức chỉ huy, sử dụng hai trung đoàn 18, 95, đại đội 354 và dân quân hai xã Vĩnh Hoàng, Vĩnh Hồ của huyện Vĩnh Linh. Ngày 11 tháng 6, chúng tôi đón hơn 10 thương binh. Hai bàn mổ chỉ giải quyết gọn trong buổi sáng. Có lệnh vẫn tiếp tục nhiệm vụ.

        Đêm 27 và ngày 28, thương binh cứ ùn ùn về đông, trên 190 thương binh, có nhiều vết thương nặng. Ba bàn mổ phải làm việc suốt đêm 27, ngày và đêm 28. Đến 16 giờ ngày 29 tháng 6 mới xong. Nhiều đồng chí phải đứng suốt đêm. Bác sĩ Nguyễn Tăng Cơ dùng bàn tay đỏ lòm máu lấy khoai cho vào miệng ăn để tranh thủ thời gian. Có tiếng cười, ông nói: "Có hề gì đâu vẫn vô trùng mà!" Tôi nghĩ công sức của các anh các chị góp cho chiến dịch thật lớn lao, thầm lặng. Tôi được tuyên bố trở thành đảng viên chính thức giữa chiến dịch. Trong một buổi nói chuyện cuối chiến dịch (gần hai tháng sau ngày 19 tháng 5), tôi được nghe bác sĩ Lê Khắc Thiền đọc thơ Bác Hồ viết trong dịp sinh nhật Bác:

                                                "Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
                                                So với ông Bành vẫn thiếu niên
                                                Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
                                                Trần mà như thế kém gì tiên".

        Trong tôi tràn ngập lòng tin, niềm tự hào.

        Trong chiến dịch Phan Đình Phùng, ta đã đánh nhiều trận lớn nhỏ, diệt và bắt gần 400 tên địch, bắn rơi chiếc máy bay Mo ran, tên phi công chết cháy, nhiều xe vận tải bị phá hủy, ta thu nhiều chiến lợi phẩm1.

----------------------
1. Theo "Từ chiến trường Bình Trị Thiên" - Tập san kỷ niệm 50 năm thành lập mặt trận (26/1O/1949 - 26/1O/1999).


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2016, 09:44:26 AM
        Sau hòa bình (1954) tôi mới biết trong chiến dịch này có 5 anh em Đinh Như cùng tham gia chiến dịch: Đinh Như Thẻn, Đinh Như Ninh (Trung đoàn 95), Đinh Như Khuông, Đinh Như Quyền, Đinh Như Quyện (Đại đội 354). Và đã có 2 anh em ruột là Đinh Như Thẻn (người lính thổi kèn đồng - luôn đi gần ông Lê Bá Vận để chuyền lệnh xung phong của Trung đoàn trưởng) và Đinh Như Quyền (người cùng tuổi với tôi mà thời niên thiếu cứ mỗi lần đá bóng tại sân đình làng Hồ Xá, hai người phải đứng hai phía đối địch, các bạn mới chịu chơi) đã hy sinh tại quyết chiến điểm trận Hạ Cờ - Chấp Lễ.

        Ít tháng sau, ngày 24 tháng 12 năm 1950, giặc Pháp đã dẫn giải một số tù chính trị đang bị chúng bắt giam ở đồn Hồ Xá đến bắn chết tại địa đoạn Hạ Cờ - Chấp Lễ để gỡ đòn thua đau tại đây, trong số đó có bác Đinh Như Ích của tôi.

        Tháng 8 năm 1950, tôi cùng 23 người được điều động về thành lập ban quân y Trung đoàn 95 do y sĩ Đặng Chu Kỷ làm chủ nhiệm.

        Đêm trước khi rời Phân khu Bình Trị Thiên về Trung đoàn 95, tôi bỗng nhớ y tá Đinh Như Bình1, người đã dìu dắt và để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Tôi ghi nhớ một quãng đời chập chững đi làm cách mạng bằng mấy câu: "Nhớ tuổi học trò, tuổi vui chơi/ Bầu bạn, anh em được mấy người/ Chú giúp tôi giải bài toán khó/ Diễn kịch, ngâm thơ dân làng vui/ Đường vào bộ đội chú dẫn tôi/ Ba Lòng, Đá Nổi2 khổ một thời/ ăn bữa lưng cơm, chan nước ruốc/ Vẫn vững lòng tin, đời vẫn tươi...". Hôm nay tôi đã là một đảng viên chính thức của chi bộ Ban quân y Trung đoàn 95. Tôi hiểu vai trò nhiệm vụ của mình ở đơn vị mới.

        Trong những năm từ 1950 đến tháng 8 năm 1953, Trung đoàn 95 cơ động trong các huyện Phong Điền, Quảng Điền (tỉnh Thừa Thiên), Hải Lăng, Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị) Ở phía nam, các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình), Vĩnh Linh, Gio Linh (tỉnh Quảng Trị) ở phía bắc để cơ động đánh địch, bảo vệ mùa màng nhằm tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chính, theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh. Nổi bật trong thời gian này là ngành quân y đã góp phần phổ biến quan điểm, tư tường và phương châm y học cách mạng, đạo đức "lương y như từ mẫu'. Được sự lãnh đạo của Trung đoàn ủy đến cấp ủy các cấp, sự chỉ đạo thực hiện của thủ trưởng các đơn vị, nên một phong trào phòng bệnh nuôi quân được diễn ra rộng rãi, sôi nổi... Sức khỏe bộ đội được cải thiện rõ rệt, đảm bảo quân số chiến đấu 85 phần trăm - 90 phần trăm. Công tác thu dung điều trị, cứu chữa thương binh được nâng cao chất lượng.

        Việc tổ chức phục vụ các chiến dịch, các trận đánh của Trung đoàn như trận Vinh An - Mỹ Xuyên để phối hợp với trận Thanh Hương của Trung đoàn 101 (3- 1951), trận diệt đồn Ba Dốc, Gio Linh, lấy được khẩu đại bác 75 ly (6-1951), trận Nam Đông - đường 74 (3- 1952), trận diệt đồn Sen Bàng (19-5-1952) diệt vị trí Ba Đồn - Mỹ Hòa (30-5-1952), các trận chống càn ở Quảng Thái (3-1953), chống càn Các-mác-giơ (7-1953)... Ngành quân y Trung đoàn đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều lần được Trung đoàn và Mặt trận khen thưởng. Đây cũng là quãng thời gian tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc.

        Trong tháng 10 năm 1950, một trận lụt lớn với sức tàn phá nặng nề chưa từng có trong gần 100 năm qua. Chúng tôi đang ở làng Kế Môn. Trời mưa lớn kéo dài mười ngày đêm liền. Nước sông Ô Lâu tràn bờ, cánh đồng Phong, Quảng, Triệu, Hải trở thành biển nước mênh mông ngày một dâng cao... Chúng tôi cùng dân làng dời lui ở các động cát phía sau làng. Trên bốn huyện có hàng chục người bị chết, hàng chục ngàn gia súc gia cầm, hàng ngàn nóc nhà bị nước cuốn trôi. Lúa mùa bị mất trắng, lương thực dự trữ dược chôn cất bị thối gần hết. Sau lụt là nạn đói kém, dịch bệnh... Giặc Pháp lại thừa cơ gây thêm nhiều tội ác. Chúng đã mở các cuộc càn quét, đốt nhà, tìm nhặt hết từng con dao, cái cuốc. Tại huyện Phong Điền, chúng bắn chết hơn 300 con trâu bò đang tránh lụt trên gò nổi. Chúng khống chế vùng đồng bằng ven biển, chặn đường tiếp tế. Mặc dù nhà bị đốt, người bị địch càn quét giết hại, nhưng người dân rất thương quý bộ đội. Người trong nhà chưa đủ ăn nhưng nhiều gia đình đã chắt chiu từng hạt lúa, củ khoai đem ủng hộ bộ đội. Nhiều cuộc quyên góp ngô, sắn, khoai, phong trào "góp gạo nuôi quân", "mùa đông binh sĩ", "nhận bộ đội làm con nuôi".

        Tôi có mẹ đỡ đầu, do được gia đình mẹ Nguyễn Thị Cân, làng Kim Giao, xã Hải Thái, huyện Hải Lăng nhận làm con nuôi. Hôm Trung đoàn bộ làm lễ giao nhận mới cảm động đáng nhớ làm sao. Tôi nghe đọc danh sách "73. Đinh Như Ninh là con, mẹ bà Nguyễn Thị Cân", thì thấy một ông lão mặc áo nâu, quần màu cháo lòng, tóc hoa râm, râu cằm không dài lắm với vẻ mặt rạng rỡ, ông nắm lấy tay tôi kéo về phía ông, miệng cười hể hả. ông nói: "Cha con mình về mau, mẹ con đang đợi!", rồi ông gọi to: "Thảo ơi, có anh đây rồi!". Chợt nghe có tiếng nói nhỏ: "Con đây.". Tôi nhìn thấy một cô gái trạc tuổi tôi, bẽn lẽn nhìn tôi và nắm lấy tay trái ông lão. Chúng tôi về thấy mẹ đã nấu nồi bánh canh bột gạo còn nóng. Cả nhà quây quần bên những chén bánh canh bày trên một cái mâm gỗ đã cũ, mùi gia vị thơm phức. Vừa ăn vừa nói chuyện, giới thiệu tên tuổi từng người theo tuổi tác. Em trai Nguyễn Quốc Thuận kém tôi 4 tuổi cứ xuýt xoa mân mê từng ngón tay, nếp áo quần của tôi. Hai em nhỏ Gái và út cứ nhoẻn miệng cười hồn nhiên. Hôm sau, tôi được biết em Thảo có người yêu là Hồ Luân, chính trị viên đại đội 154. Tôi được nghỉ phép 3 ngày. Hôm trả phép, mẹ nói: "Con đi chân cứng đá mềm, mẹ ở nhà mua nuôi cho con một con heo, mai đây bán đi, mẹ may cho con bộ quần áo mới". Cha và các em khóc, đứng nhìn theo tôi mãi.Từ đó tôi đã có nơi lui tới thăm mẹ mỗi khi có dịp3.

------------------
1. Đại tá bác sĩ Đinh Như Bình đã nghỉ hưu tại quận Đống Đa, Hà Nội, và qua đời năm 1994.
2. Địa danh chiến khu tỉnh Quảng Trị.
3. Tháng 5 năm 1984, được tin mẹ đang ở chơi nhà Đại tá Hồ Luân tại cư xá Lam Sơn, Gò Vấp. Tôi tranh thủ đến thăm, thấy mẹ đã mắt mờ chân chậm. Mẹ ôm lấy tôi, mừng ra nước mắt. Tôi dẫn mẹ đi khám bệnh mua thuốc và góp tiền may cho mẹ bộ quần áo. Được tin cha đã mất, các em đều khôn lớn, chỉ có anh Kiểm - con trai đầu của mẹ đã hy sinh trong chiến tranh. Tôi xin phép mẹ đi Campuchia, tiếp tục nhiệm vụ tại Phnôm Pênh


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2016, 09:26:45 AM
        Năm 1950, trước muôn vàn khó khăn gian khổ, sức chiến đấu của quân dân Bình Trị Thiên không hề giảm sút. Nhờ có sự lãnh đạo của phân khu ủy, các tỉnh ủy, huyện ủy, và cấp ủy Đảng các cấp trong quân đội, mọi mặt hoạt động vẫn được tăng cường, cuộc sống vẫn vui tươi, khỏe khoắn. Đồng chí Đỗ Viên Tín, trợ lý văn nghệ có bài vè "cải thiện" được mọi người khen ngợi mỗi khi xem anh biểu diễn:

        "Bộ đội giết giặc xâm lăng/ Đánh cho quân Pháp nhăn răng Ọ kèn/ Sống đời lăn lộn đã quen/ Gian lao khắc khổ bao phen diệt thù/ Những ngày hết cả cái ăn/ Anh em nách mủng lăng xăng mượn từng nhà/ Thương thay là mấy mẹ già/ Thổ bồ thúc bịch đem ra cho mượn liền/ Mẹ còn an ủi dịu hiền/ Thảm thương cơ khổ thiếu tiền thiếu nong/ Thương con nỏ có cho con/ Miễn là tấm bụng, mẹ bòn đã hết hơi/...Chột môn với mớ rau rừng/ Cho thêm mắm muối tí vừng là vua/ Rủi thời vớ phải gạo chua/ Có đam cải thiện, nỏ thua chi thịt bò/ Đam kềng1 dưa chuối trộn kho/ Món ăn chủ lực, thơm tho lạ lùng".

        Lúc 14 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 1951, chúng tôi đang hội ý Chi ủy ở một nhà dân tại làng Kim Long, xã Hải Thái, huyện Hải Lăng thì nghe tiếng máy bay gần. Tôi hô giải tán, ra hầm. Tôi chạy theo sau, tới hầm đã kín người. Tôi ngồi tại ngách cửa, nhìn lên thấy trống trải quá! Tôi vọt lên chạy qua sân thấy một hầm tròn, tôi nhảy xuống. Hai chiếc Hen-cát bổ nhào ném bom. Ngớt loạt bom, tôi nhảy lên, chạy ra đến lũy tre làng thì máy bay vòng lại ném loạt thứ hai. Tôi nằm rạp xuống đường làng, ngớt loạt tôi lại chạy ra mép đường 68. Hai chiếc máy bay thay nhau bắn từng loạt đại liên dài xuống làng. Hết tiếng máy bay, tôi vào làng thấy nhiều nhà cửa đổ sập, cây cối đổ nát, tiếng người kêu khóc. Làng Kim Long xơ xác... Chiếc hầm của chúng tôi bị mấy loạt đạn đại liên phá nát ngách cửa lên xuống. Đồng chí Phan Cuộc (liên lạc) nhìn tôi nói: "Nếu anh không nhảy lên thì anh đã lãnh trọn loạt đạn này rồi?".

*

*           *

        Một đêm tháng 10 năm 1951, tiểu đoàn 310 Trung đoàn 95 trú quân tại khu rừng Hải Cụ, xã Vĩnh Sơn, chuẩn bị đi đánh đồn Cửa Việt. Thường lệ vào khoảng 22 giờ, quân y các đơn vị đi kiểm tra việc nằm mùng của bộ đội trong khi đi ngủ. Đồng chí Nguyễn Phúc Thái - cứu thương đại đội 93 - 20 tuổi, quê làng Kinh Môn, xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Linh - cầm đuốc đi kiểm tra thì bị cọp vồ. Anh em kể lại: Nghe một tiếng cọp gầm, tiếp theo là tiếng la kinh hoàng "ôi cha?" vang lên trong đêm khuya. Bộ đội đuổi theo vết máu, hết đuốc phải trở lui chuẩn bị rồi đuổi tiếp Khi trời đã mờ sáng mới tìm thấy thi hài đồng chí Thái đầy máu tươi, cọp đã ăn mất một số bộ phận cơ thể của đồng chí. Dạo đó, có ý kiến dùng súng bắn cọp, nhưng đơn vị cấm bắn để giữ bí mật lực lượng. Khoảng 16 giờ một chiều tháng 5 năm 1952, đội phẫu trung đoàn 95 đang điều trị cho thương binh trận Nam Đông - đường 74 tại khu rừng Bến Thiêng, thuộc chiến khu Thủy Ba, huyện Vĩnh Linh. Chúng tôi ở bìa rẫy đồi bên này nhìn qua, thấy con cọp rượt đuổi bé gái chừng 13, 14 tuổi từ sân chạy lọt vào nhà trong đang chạy ra nhà bếp. Con cọp quành lại đón ở cửa nhà bếp, bé gái thụt vào nhà trong. Chúng tôi cùng la đuổi Có nhiều nhà dân cùng la đuổi, gõ thùng, mõ... Con cọp bỏ đi. Đêm đến, mọi người trong khu vực ai cũng ngủ chập chờn, lo nghĩ cho số phận con người trước sự đe dọa của cọp Thủy Ba.

        Sau trận đánh Nam Đông - đường 74 thuộc huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị, có hơn 70 thương binh đã được đội phẫu cứu chữa xong sớm hơn kế hoạch nửa ngày đêm. Y sĩ Đặng Chu Kỷ và tôi được đi thăm lại chiến trường. Sẵn dịp chúng tôi mượn cái liềm của dân đi cắt vỏ ruột xe Ô tô về đóng dép. Có dịp tôi biết thêm y sĩ Đặng Chu Kỷ là người khéo tay và rất chịu khó. Tôi có đôi dép lốp tết từ đó.

        Ngày 10 tháng 7 năm 1952, tôi được đồng chí Chính ủy Nguyễn Lượng giao nhiệm vụ mang 30.000 đồng bạc Đông Dương, là số tiền chiến lợi phẩm trận đường 74, vào Huế mua thuốc men, dụng cụ y tế và 20 quả bóng chuyền. Tôi được cấp một lá thư giới thiệu tôi là chi ủy viên đến gặp thị ủy Thuận Hóa để nhờ giúp đỡ. Tôi hiểu số tiền này lớn lắm bởi vì lúc đó một đồng bạc có thể nuôi sống tôi 3 ngày ăn. Đơn vị cử chiến sĩ Nguyễn Niên, quê làng Trường Sánh, huyện Hải Lăng cùng đi. Hai chúng tôi vượt cửa Thuận An, vào huyện Phú Vang, tìm gặp thị ủy Thuận Hóa đặt hàng. Họ hẹn một tháng sau đến nhận hàng, trả tiền. Tôi cho đồng chí Niên về thăm nhà, đúng hẹn vào Phú Vang gặp tôi. Tôi tìm về trọ nhà ông Đinh Như Đàn làng Đồng Di, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, là người chú bác họ để đảm bảo an toàn, nhất là với số tiền tôi đang mang giữ. Vào hai giờ sáng ngày 26 tháng 7 năm 1952, tiếng loa báo động Tây đi lùng. Tôi rất lo lắng, bèn hỏi ông Đinh Như Đàn, ông nói: "Tây đi lùng các làng xóm để bắt người cướp của, còn cái hàng rào tre quanh đồn Sư Lỗ chúng chẳng cần lùng". ông dẫn tôi đến hàng rào tre lúc ba giờ sáng. Trời trong cao, trăng đủ sáng cho tôi nhìn đếm bảy lớp hàng rào tre, cỏ mọc theo đặc kín cao quá đầu người. Ngồi núp giữa hàng rào thứ ba và thứ tư một lúc, tôi không yên tâm vì lo gặp lừa hàng rào sẽ cháy mất túi tiền. Tôi bò ra giữa đám ruộng dân đã cày, đang phơi ải. Tôi xếp đất cày, giấu túi tiền trong đó có giấy ghi rõ tiền mua thuốc của bộ đội, ai nhặt dược thì gởi nhờ thị ủy Thuận Hóa chuyển cho Trung đoàn 95. Tôi ngồi suốt từ mờ sáng đến khi nắng to, chừng 10 giờ nghe súng nổ nhiều xa xa phía đông nam đồn Sư Lỗ. Chừng bốn giờ chiều có người tìm gọi tôi về và cho biết bộ đội đánh thắng lớn ở Hòa Đa, Thanh Lam Bồ.

--------------
1. Đam kẻng tức cua đồng đực, con to.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2016, 12:04:33 PM
        Quá hẹn đã hai ngày, không thấy chiến sĩ Nguyễn Niên vào. Đường đi tắt từ Phú Vang qua cửa Thuận An, ra Phong Điền bị địch phong tỏa. Tôi phải dồn hết hàng đã mua và hành lý thành một gánh khoảng hơn 20kg. Tôi theo đường dây lên chiến khu Dương Hòa, theo đường rừng đi ra. Ba ngày sau tôi lại vượt đường số 1 tại làng Thanh Lương, huyện Quảng Điền. Tôi bất ngờ gặp anh Phạm Tĩnh đang đứng cảnh giới đường. Anh là y tá tiểu đoàn 227 - đã bị địch bắt trong trận Thanh Hương cuối năm 1951. Anh cho biết, anh được gia đình dùng tiền lo cho được thả ra sau ba tháng bị giam trong trại tù binh giặc Pháp. Được gặp nhau anh mừng lắm, còn tôi đang mệt vì bị mụn nhọt, chân sưng to. Anh Tĩnh đưa tôi về nhà tại làng Thanh Lương nghỉ ngơi. Tôi được vợ chồng anh Tĩnh chữa mụn nhọt ngay trong đêm. Tôi dang ngủ say, anh Tính gọi tôi dậy nghe loa truyền Tây lùng.  Anh Tĩnh dẫn tôi lui sau nhà bếp sau khi xếp gánh hàng của tôi vào sâu trên giàn bếp. Hai anh em cùng chui xuống một căn hầm bí mật do vợ chồng anh khoét cho anh trốn. Chúng tôi ngồi co ro chừng 5 phút, chị Tĩnh mở nắp hầm chuyền xuống một rá đậu phụng rang chừng 2 kilôgam. Hai anh em vừa kể chuyện thì thầm vừa nhai từng hột đậu. Chừng hai giờ sau tôi cảm thấy ngột ngạt, anh Tĩnh nhường cho tôi ghé mũi gần lỗ thông hơi. Chị Tĩnh gọi chúng tôi lên lúc gần bốn giờ chiều. Rá đậu được ăn gần hết (Tôi ngán sợ mùi đậu phụng rang từ đó cho tới 3 năm sau). Cơm nước xong, anh Tĩnh nhắc tôi chuẩn bị lên đường. Tôi đi tiểu nhưng không tiểu được, tôi cho là do bị thiếu nước cả ngày. Chín giờ tối, tôi cảm ơn và chào tạm biệt anh chị Tĩnh (chị hơn tôi 3 tuổi, anh hơn tôi 5 tuổi) Anh chị gởi lời thăm anh em quân y Trung đoàn 95. Tôi rủ anh cùng đi, anh nói: "Mình ở nhà làm dân quân hợp hơn". Tôi nhập theo đoàn người từ chiến khu về đồng bằng. Anh Tĩnh vẫn đứng cảnh giới đường phía lô cốt địch. May quá, đêm đó trong giờ đợi đò vượt sông Ô Lâu, tôi đi tiểu được. Tôi mừng vô hạn.

        Hai ngày sau đó, tôi về đến nhà mẹ đỡ dầu ở làng Kim Giao, xã Hải Thái. Đêm sau đó, tôi đến làng Trường Sánh tìm chiến sĩ Nguyễn Niên. Mẹ anh cho biết, Niên bị sốt rét cả tháng mới ăn được cơm hai bữa rày. Tôi cảm ơn mẹ và xin cho Niên cùng đi về đơn vị.

*

*            *

        Hai anh em ra đến làng Long Quang, xã Triệu Thành thì bất ngờ gặp đoàn đồng chí Hồ Đố, trung dội trưởng tải thương dẫn 12 người đi lãnh thuốc ở Ba Lông về. Đoàn đang nghỉ chân tại nhà đồng chí Phan Cuộc Mừng quá? Gia đình làm thịt chó đãi đoàn. Bữa chiều thật vui vẻ, ngon miệng, no nê. Chúng tôi lên đường lúc 6 giờ chiều, ra đến sông Cửa Việt đã quá 12 giờ đêm. Trăng sáng mờ mờ. Chúng tôi thay nhau gọi đò rát cả họng, đã hai mươi phút vẫn im lặng. Tôi hội ý với anh Đố, đều thống nhất, thấy để đến hai giờ sáng thì nguy hiểm. Thượng sách lúc này là cử người vượt sông, tìm cho bằng được đò. Tôi hỏi ai biết bơi thì hãy xung phong. Không ai lên tiếng. Tôi cởi áo quần dài, lội xuống nước. Đồng chí Hồ Đố cởi áo, tôi thấy đồng chí Phan Cuộc khóc thút thít, vài người khóc theo. Anh em đứng dán mắt theo chúng tôi. Chúng tôi bơi... Chừng 50 mét bỗng Hồ Đố reo lên: "Cạn rồi, có gò nổi". Tôi vốn người thấp nên bơi vài sải nữa mới dò đứng được, tôi mừng lắm. Chúng tôi theo gò nổi đi ngược dòng chảy, tôi ước chừng còn phải bơi thêm vài trăm mét mới tới bờ bên Gio Linh, tôi nói phải đi một quãng xa mới ra lòng sông mà bơi vì nước đang xuống. Bỗng đâu có tiếng người và con đò hỏi đón, hai chúng tôi lên đò quay vào bờ nam đón đoàn. Chúng tôi ra đến làng Nhỉ Hạ thì trời sáng hẳn.

        Tháng 12 năm 1952 có giấy Đại đoàn 325 gọi tôi đi học trường Quản trị - Y tá tại Nghệ Tĩnh. Tôi rời đơn vị từ xã Phong Lâu, huyện Phong Điền đi ra. Khi ngang qua cầu ga xe lửa Sa Lung, tôi rẽ về xóm Chồi thăm mẹ. Các anh xã đội cho anh Phong1 - một trinh sát xã đội cùng đi lúc chín giờ tối từ làng Phú Thị ra Hồ Xá, nhân tiện anh Phong mang theo cái thúng đi xin gạo. Trời tối như mực. Về đến nhà thím Thí, cách nhà tôi 100 mét, tôi ghé lại hỏi nhỏ vào cửa sổ của phên đất, nơi thím đang ngủ để biết tình hình. Tôi nhận được một câu cằn nhằn: "Tao không biết, không quen Ninh Nung mô hết". Tôi nói nhỏ với anh Phong: "Chúng mình quấy rầy giấc ngủ làm thím phiền lòng, ta cứ đi". Chúng tôi đến chuồng trâu nhà bên cạnh, dừng lại nghe ngóng, bỗng anh Phong nói: "Tôi nghe tiếng lên đạn" và nói tiếp: "Tôi nổi da gà rồi". Anh kẻo cái thúng làm gãy một cành sắn, tức thì có nhiều loạt đạn nổ ran. Anh Phong xách thúng chạy, tôi chạy theo... Tôi nói đường này vòng cung, có con đường tắt từ nhà tôi xuống bàu, anh hãy tạt qua phải ném một quả lựu đạn làm chúng không dám đuổi. Anh Phong làm theo lời tôi, quả da láng nổ giòn phía sau. Chúng tôi trở về làng Phú Thị lúc chưa đầy 23 giờ. Chúng tôi cho rằng có kẻ chỉ điểm.

        Hai hôm sau, mẹ tôi và em gái Đinh Thị Đào vào thăm. Mẹ con, anh em được gặp nhau mừng mừng, tủi tủi Mẹ và em cho biết, hôm rồi giặc bắt trói mẹ tôi và em Đào, hai em Đạt và Thông nhảy vào lò đựng trấu trốn. Hai em Thái và Hanh đã đi ở đợ, giữ trâu. Anh Khuông đi bộ đội huyện. Mẹ mua quà cho tôi là một đôi dép lốp và hai mét vải khía xanh. Hôm đó em Đào hỏi ý kiến tôi về việc bà Chi nhờ dạm hỏi em cho con trai bà là anh K. Tôi nghĩ em còn nhỏ sao không ở giúp đỡ mẹ Vài năm nữa hãy tính? Nhưng nhớ lại thì em đã 18 tuổi. Nhìn em trắng trẻo, hồng hào, đẹp gái, cặp môi nhọn ngày nào đã đỏ thắm như tô son. Tôi nói: "Việc đó là của đời em, anh không có ý kiến gì, tùy em chọn". Không có dịp gặp hai em Đinh Như Đạt và Đinh Như Thông, tôi mường tượng hai đứa 9 tuổi, 7 tuổi giờ này đang mong mẹ và chị về, trời đang sẩm tối. Tôi vượt đường quốc lộ 1 lên Thủy Ba đi Nghệ Tĩnh.

---------------
1. Đỗ phong kém tôi 2 tuổi - Sáng 25 tháng 2 năm 2007, tình cờ chúng tôi gặp lại nhau trong buổi họp mặt đồng hương Vĩnh Linh tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2016, 04:15:36 PM

*

*           *

        Tôi đi từ đỉnh núi Cổ Kiềng xuống dốc lúc 10 giờ sáng. ánh nắng nhảy nhót trên các lá rừng, đàn chim bù chao báo động inh ỏi "nao, nao" nghe thật vui tai...  Xuống đến suối, tôi thấy một đoàn dân công chừng vài chục người, áo quần nâu, gánh sọt đầy hàng bọc kín. Họ từ Hà Tĩnh vào, đang nghỉ chân bên kia bờ suối nhỏ. Phía bên này lại có một đoàn nam nữ dân công hơn 10 người, họ gánh gạo, muối, bí bầu từ đồng bằng lên. Hai đoàn dân công đang chào hỏi nhau, trò chuyện vui vẻ. Tôi cũng vui lây, quên hết mệt nhọc.

        Bỗng có tiếng "Dô hò!..." cất lên từ đoàn quân áo nâu, nón lá: "Đi vô cũng muốn đi vô, sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang... Mà ba ngày rày chỉ cho rừng với núi đại ngàn, muốn hỏi thăm dưới đồng nội xóm với làng ra sao? Dô hò?..."

        "Hò đáp đi bay, o mô cũng được, o Vịnh đi nào!" một giọng đàn ông giục. Tức thì một giọng nữ cất lên: "Phá Tam Giang lâu ngày phải cạn, truông nhà Hồ có cách mạng đổi thay... Xóm làng Quảng Trị ngày nay, chung tay đánh cho tan giặc Pháp, mới có ngày tự do".

        Tiếng hoan hô xen lẫn trong tiếng vỗ tay rộn rã... Lại có tiếng: "Dô hò, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ. Bình Trị Thiên đang gian khổ biết bao. Nhân tài vật lực Nghệ Tĩnh phải kéo vào, giúp nhau trong cơn hoạn nạn ai nỡ nào ngồi yên này. Dô hò?".

        Bờ suối phía nam lại có tiếng: "Khoan ơi khoan mời các bạn xô lên... Ơ hờ, một miếng khi đói bằng một gói khi no, Bình Trị Thiên đang chống quân giặc Pháp hung đồ... Bà con Nghệ Tĩnh đã kéo vô, cùng nhau đồng cam cộng khổ biết lấy nghĩa mô mà sánh bì". Nhiều tiếng vỗ tay vang lên, xen trong những lời khen ngợi xứng đáng. Tôi đang ngắm nhìn các cô gái Vĩnh Linh quê tôi mà lòng cảm mến bất ngờ. Liền có tiếng "Ừ, o Sáo, Một giọng nữ cao cất lên lanh lảnh: khoan ơi khoan mời các bạn hò khoan... Ơ hơ con chim đại bàng bay qua hòn núi bạc, con cá ngư ông xem xác giữa khơi... Gặp nhau đây ta bày tỏ một đôi lời, kẻo mai kia con cá về sông Vịnh, con chim đối dời non xanh..."

        "Hò đáp đi Xuyên!" Có tiếng giục bên đoàn áo nâu, liền có tiếng: "Dô hò... Sách có chữ rằng hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng! Miễn là đây với đó một lòng, con chim đại bàng đã vỗ cánh thì cửa Nhượng với cửa Tùng có bao xa".

        Tiếng vỗ tay rào rào kéo dài, mọi người hể hả cười vang... Họ lên đường vào Ba Lòng, lên Thủy Ba, tôi đi ra Hà Tính. Niềm vui và lòng tự hào cổ vũ chúng tôi trên suốt cuộc hành trình. Tôi cảm nhận rõ sức mạnh của lòng dân, càng làm tăng gấp bội trong tôi "niềm tin tất thắng" của cuộc kháng chiến do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo. Tôi đón Xuân Quý Tỵ (1953) một mình, khi đang đi ngang qua xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch. Tôi được bà con xóm Cà, xóm Rẫy cho ăn chè kê, bánh bột lọc thật ngon miệng. Họ kể về chiến thắng Sen Bàng, Ba Đồn. Bà con cho biết đường ra Hà Tĩnh không còn lo địch phục kích nữa. Tôi vẫn đi theo đường dây lên Khuông Hà, Bồng Lai đi Đồng Lê, Đồng Lào về Kỳ Anh, ra Cẩm Xuyên. Được đi giữa ban ngày dọc quốc lộ 1, có gió mát, trời cao, đồng lúa mênh mông đang chín vàng mẩy hạt, chim chiền chiện líu lo đâu đó trên cao như vẫy chào, tôi hít thở hương đồng cỏ nội trên đất Hà Tĩnh, lòng thấy khoan khoái lạ thường. Tôi càng đi càng khỏe, tràn ngập niềm vui.

        Đây rồi, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên. Đón tôi là một người trung niên, tầm vóc trung bình, nói giọng Bắc, có răng vàng, da ngăm, hơi gầy. Sau khi xem giấy tờ, anh vui vẻ tự giới thiệu anh là Đào Trọng Cốn, anh cho biết hiệu trưởng là đồng chí Trần Chí Cường1, hiệu phó, chủ nhiệm lớp là đồng chí  Nguyễn Kim Đồng, chính trị viên lớp là đồng chí Lê Văn Song. Anh lật xem sổ sách rồi nói: "Đinh Như Ninh về tổ 3, làm tổ phó". Sau ba tháng học chương trình chính trị sơ cấp, tôi thấy đầu óc được mở mang hiểu biết từng ngày, nhất là đường lối cách mạng Việt Nam, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi xác định động cơ học tập, phương châm học tập, các chính sách lớn của Đảng. Tôi tự thấy mình khôn lớn thêm nhiều cả về sức khỏe và hiểu biết. Trong đại hội chính thức, bầu chi ủy chi bộ học viên, tôi được bầu là chi ủy viên. Chưa hết chương trình khóa học, tôi cùng bốn bạn của Trung đoàn 95 được lệnh trở về đơn vị gấp.

--------------
1. Đồng chí Trần Chí Cường, Thiếu tướng - nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, hiện nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2016, 12:12:48 PM

*

*          *


        Chúng tôi theo quốc lộ số 1 đi vào, lên đỉnh đèo Ngang dừng nghỉ chân vừa để ngắm cảnh, càng thấy bài thơ của bà huyện Thanh Quan quả là một kiệt tác: " Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú. Lác đác bên sông rợ mấy nhà..." Về đơn vị gặp lúc Trung đoàn đang củng cố, bổ sung đội ngũ sau trận chống càn Các-mác-giơ (26-7-1953). Đơn vị đóng quân tại xã Vĩnh Sơn, bờ nam sông Bến Hải, huyện Vĩnh Linh. Tôi được bầu làm phó bí thư chi bộ ban quân y, được bầu là liên chi ủy viên - liên chi hậu cần Trung đoàn do đồng chí Nguyễn Mậu Đạt, Phó Chủ nhiệm hậu cần làm Bí thư liên chi. Trong đại hội liên chi, có câu chuyện bất ngờ. Đại hội diễn ra tại nhà bà X, làng Kinh Môn. Tôi có tên trong danh sách đề cừ. Tôi phải báo cáo sơ yếu lý lịch trước đại hội, trong đó có đoạn anh tôi là Đinh Như Khuông, trung đội trưởng, đại đội 354 Vĩnh Linh... Tôi vừa ngồi xuống thì có một người con gái trẻ đẹp, bưng mời tôi một bát nước chè xanh rồi nói: "Mời chú uống nước". Tôi lấy làm lạ, vì chị cũng trạc bằng tuổi tôi hoặc nhỏ hơn. Sau đại hội hỏi ra mới biết, đó là chị Huỳnh Thị Hoa, con gái bà chủ nhà, chị là người yêu của anh Đinh Như Khuông. Lúc này, anh Khuông đang làm trợ lý ban chính trị Tỉnh đội Quảng Trị.

*

*          *

        Tháng 9 năm 1953, Trung đoàn hành quân đi ra, hết ngày này qua ngày khác. Chúng tôi dừng chân tại Nam Đàn, chuẩn bị học chỉnh quân chính trị. Tôi và anh bạn tranh thủ đến thăm nhà Bác Hồ. Nhà Bác lúc này chỉ có một mình cô Thanh ở. Tôi được dân làng dặn chỉ được xưng hô là cô với cháu, không được gọi là chị hay bà (vì nếu gọi chị thì cô nói "Ta đã gần 70 tuổi, làm chị mô được nữa?", Nếu gọi bà, thì cô nói: "Ta có con cháu chi mô mà làm bà?").

        Liên chi ủy họp phiên bàn về lãnh đạo chỉnh quân. Đại đội 64 (vận tải) quân số hơn 100 người mà lúc này chưa có chính trị viên, lại không có liên chi ủy viên phụ trách. Đồng chí Nguyễn Mậu Đạt nêu ý kiến điều tôi qua làm trưởng ban lãnh đạo chỉnh quân đại đội 64. Đồng chí Trương Công Bột - 51 tuổi, chính trị viên phó đại đội vẫn là một học viên trong tổ học tập của đại đội bộ do đồng chí Trần Văn Suyễn, trợ lý chính trị làm tổ trưởng.

        Đại đội 64 lúc này còn có đồng chí Nguyễn Ngọc Hà đại đội trưởng, anh là đại đội phó bộ binh 154, bị thương trong trận Cù Hoan, là một cán bộ đại đội nhiều năm lại lớn hơn tôi sáu tuổi; các trung đội trưởng đều lớn tuổi hơn tôi. Tôi lo lắng thật sự, lo sẽ gặp nhiều khó khăn, lo không hoàn thành nhiệm vụ. Tối hôm sau, tôi đến gặp đồng chí bí thư liên chi nói hết suy nghĩ của mình. Đồng chí Nguyễn Mậu Đạt nói rõ về nhân sự liên chi ủy và nói: "Chúng ta vừa học tập vừa đảm bảo hậu cần cho Trung đoàn sẵn sàng chiến đấu, chỉ có đồng chí là đủ điều kiện tập trung sức cho lãnh đạo chỉnh quân". Đồng chí bí thư lại nói: "Việc lựa chọn sắp xếp các trưởng ban lãnh đạo chỉnh quân trong toàn Trung đoàn đã được Trung đoàn ủy quyết định, chúng ta chỉ có việc thi hành, tôi sẽ chú ý giúp đỡ đồng chí mỗi khi gặp khó khăn". Nghe xong tôi chỉ còn biết đáp "Dạ".

        Ba tháng chỉnh quân chính trị đã qua nhanh. Kết quả thật tốt đẹp. Hôm liên hoan chia tay, không khí đại đội vui vẻ thân mật làm sao. Đồng chí Nguyễn Ngọc Hà ôm lấy tôi, mắt rươm rườm anh nói những lời cảm ơn đầy cảm động. Đồng chí Trương Công Bột cứ cầm lấy hai tay tôi lắc lắc, anh vừa nói vừa thở: "Tôi muốn cấp trên cho anh ở lại làm chính trị viên đại đội này với chúng tôi.

*

*           *

        Tôi trở về ban quân y Trung đoàn. Vào một buổi sáng tháng 12 năm 1953, đồng chí bác sĩ Võ Như Tỷ, chủ nhiệm quân y đại đoàn dẫn theo một người khách lạ. Bác sĩ Võ Như Tỷ nói với tôi: "Đại đoàn bổ sung cho các cậu một đội trưởng đội phẫu. Anh Nguyễn Thế Trang, sinh viên y khóa 3 năm thứ ba". Anh đứng dậy bắt tay tôi và anh Nguyễn Thế Trang với cử chỉ thật trân trọng. Tôi mừng như mở cờ trong bụng, vì ban quân y lúc này cả chủ nhiệm Lê Bá Hiểu và phó là đồng chí Nguyễn Văn Diệp đều đã được lệnh đi trước cùng với đội phẫu 1. Vào chiến dịch nếu cần có thêm đội phẫu hai thì chưa có ai là phẫu thuật viên. Tôi ngắm nhìn người đồng đội mới. Anh Nguyễn Thế Trang có tầm vóc trung bình, da trắng, giọng nói Nghệ Tĩnh, anh có vầng trán rộng hơi dô, đôi mắt to, chân mày đen sắc, anh có đôi môi dày, đỏ, lại có răng vàng làm khuôn mặt thêm tươi tắn mỗi lúc anh cười. Chúng tôi hòa mình trong tổ chức đội phẫu một cách nhanh chóng, cùng nhau bàn bạc phân công nhiệm vụ xây dựng đội phẫu, tổ chức học tập chuyên môn, thao diễn kỹ thuật đáp ứng mọi yêu cầu trong thu dung điều trị thương bệnh binh của Trung đoàn. Phát huy tinh thần sẵn có sau chỉnh quân, anh em càng phấn khởi, vui vẻ tin tưởng lẫn nhau, thương yêu nhau hơn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2016, 02:01:21 PM

*

*          *

        Từ Mậu Lâm, huyện Nghi Lộc, chúng tôi được lệnh xuất phát hành quân trong đêm tối, Cứ tưởng sẽ được trở về chiến trường Bình Trị Thiên quen thuộc. Nhưng không, hướng đi lại là đi ra, suốt đêm chúng tôi đi đến cầu Bùng, huyện Diễn Châu. Bộ đội đã được nghỉ tại chỗ trong ba tháng chỉnh quân, nay hành quân 40 cây số trong một đêm, ai nấy đều phồng rộp chân, đội hình xộc xệch, lại vừa đi vừa đoán mò đi đâu sao không trở về Bình Trị Thiên? Trông uể oải quá! Tôi gọi quản ca Vương Đình Cừ vào nhịp: "Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ... Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi..." Đi trong hàng, thỉnh thoảng tôi lại hô: "To lên?"... "To lên!"... Lúc đầu tiếng hát còn lẻ tẻ, càng về sau tiếng hát càng say sưa, hùng dũng... nhưng mới chỉ được 2/3 quân số đơn vị. Có nhiều người dân ra đứng trông theo. Một cảnh tượng đầy khí thế, lưu luyến, cảm động.

        Chiều đến, anh Nguyễn Mậu Đạt cho biết tin, Trung đoàn 101 đã vượt Trường Sơn sang Lào. Trung đoàn 18 vẫn hoạt động vùng Gio Linh, Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, còn Trung đoàn ta vẫn chưa rõ. Nhưng hướng đi đã vượt Ninh Bình, qua Phú Thọ đi Yên Bái. Phải chăng Trung đoàn được vinh dự đi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ? Rất có thể, vì đơn vị mình là một trong những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ mà? Nhưng đi đến gần địa phận tỉnh Phú Thọ rồi thì được lệnh quay trở lại, lúc này mệnh lệnh đã rõ ràng: Phối thuộc Đại đoàn 320 hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ để phối hợp với Trần Đình (tức Điện Biên Phủ). Trung đoàn 95 mang phiên hiệu đoàn 71A hành quân chiến đấu trên đường 10.

        Đây là địa bàn hoàn toàn mới, đồng chí Tống Thái, một gương mặt mới về làm Trung đoàn trướng. Chúng tôi đi đến đâu cũng dễ bị lộ, đồng bào gọi đùa là "lính trọ trẹ", do lời ăn tiếng nói khác lạ với nhân dân địa phương. Nhưng với bản chất thật thà, cần cù, làm đúng 12 điều kỷ luật dân vận của Bác Hồ dạy, chúng tôi đi đến đâu cũng được dân thương, dân quý. Một hôm, chúng tôi ở Ninh Bình. Lần đầu tiên được ở trong ngôi nhà ngói, có lầu, thật mát mẻ. Anh chủ nhà vốn là một cố nông vừa được chia "quả thực" nói với tôi: "Các anh bộ đội ở nhà này cần đề phòng máy bay địch ném bom". Nói rồi, anh dẫn vợ con đi sơ tán. Hai hôm sau, lúc chúng tôi đang họp chi ủy trên lầu nghe tiếng máy bay gần. Tôi hô: "Giải tán, chạy, chạy nhanh ra đồng lúa", tôi còn phải thu xếp giấy tờ chạy theo sau. Đúng lúc tôi ở bờ làng nhảy xuống ruộng thì nghe tiếng máy bay gầm rít, tiếp theo là tiếng bom, tiếng dạn liên thanh nổ sau lưng, phía trong làng. Cứ thế, tôi men theo bờ ruộng ra giữa đồng. Ngớt tiếng máy bay, tôi chạy về làng. Ngôi nhà ngói bị trúng bom đổ sập một góc, lũy tre làng và nhiều cây cối đổ ngổn ngang... Tôi nghe có tiếng rên dưới bờ ao, trời nhá nhem tối, tôi lần đến thì thấy đồng chí Phan Cuộc, liên lạc đại đội đang ngồi dựa lưng vào bờ ao, hai chân thòng xuống nước. Tôi dìu Cuộc lên, thấy lưng bị bầm, vạt áo lưng bị xé toạc. Tôi gọi anh Thế Trang đến xem xét, cứu chữa. Đơn vị thu xếp gọn mọi thứ, đợi lệnh di chuyển.

        Chúng tôi đến trú quân tại xứ chè Bồng Lạng. Rừng chè cao lúp xúp đã khép tán kín đáo. Đội phẫu triển khai theo lối dã chiến, đã phục vụ tốt những trận đánh nhỏ lẻ của Trung đoàn nhằm tiêu diệt, bóc gỡ nhiều tháp canh dọc đường 10 từ Núi Gỏi đi Cát Đằng. Cuối cùng được về triển khai tại chùa hang Địch Lọng thuộc đất Hà Nam. Thương binh không nhiều, đa số là thương binh nhẹ, công tác cứu chữa được thuận lợi, hoàn tất tốt đẹp, ai ai cũng hài lòng. Một số anh em được ghi công. Chi bộ tổ chức kết nạp hai đảng viên mới, trong đó có đồng chí Vương Đình Cừ hơn tôi hai tuổi, quê xã Diễn Cát, Diễn Châu, Nghệ An. Anh có tầm vóc cao vừa, mũi cao hơi khoằm, da sáng với đôi mắt to, lanh lợi. Anh hát rất hay và cũng rất hay hát.

        Đã một ngày không thấy thương binh về. Tôi ngược theo thuyền, dọc sông Đáy lên tuyến trên tại làng Sở Kiện nắm tình hình. Tôi được biết đội phẫu 1 bị tổn thất nặng trong trận Khe Non - Đại Kiện. Các đồng chí Lê Bá Hiểu - y sĩ đội trướng, Nguyễn Văn Diệp - quân y sĩ đội phó và y tá trưởng Trần Đình Trung đều hy sinh vì bom địch ném trúng đội phẫu 1. Các thương binh, tử sĩ đều được Đại đoàn 320 và nhân dân địa phương giúp đỡ giải quyết xong. Tôi còn được biết những tin chiến thắng dồn dập: Trung đoàn đã phối hợp với Đại đoàn 320 tham gia giải phóng các thị xã Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Tiểu đoàn trưởng 302 Trung đoàn 95 đã ngồi xe Zeep chạy quanh kiểm tra khu vực thành phố Nam Định...

        Tôi quay trở về hang Địch Lọng, đang trao đổi tin tức với anh Nguyễn Thế Trang trong đêm 7 tháng 5 năm 1954 thì mọi người bỗng òa lên: "Điện Biên Phủ giải phóng rồi! Tướng Đờ cát và bộ sậu tham mưu của hắn bị bắt làm tù binh hết rồi!". Tiếng reo hò tràn ngập hang Địch Lọng. Mừng quá! Tôi hoan hô, nhưng cũng kịp nhắc anh em: "Reo hò vừa thôi, đừng ồn ào thái quá?" Vui mừng và ngạc nhiên... Sáng ra có lệnh Trung đoàn gấp rút hành quân trở về Bình Trị Thiên, Đội phẫu có hai ngày chuẩn bị, gửi các trung trọng thương về tuyến sau cho Cục Quân y.

        Cuộc hành quân trở về rất vui, lại đỡ được cái lo phi pháo địch. Đến mỗi chặng nghỉ, quân mình lại xúm xít chơi tú lơ khô. Hầu hết các bộ bài đều làm bằng giấy các tông, phết dán cẩn thận, khắc dấu củ khoai in màu xanh đỏ, cơ bích rô chuồn, kèm theo chữ số ở hai góc. Vậy mà anh em vui chơi say mê, thỏa thích. Trung đoàn về đến Đức Thọ thì được dừng lại nghỉ ba ngày vừa để tổ chức mừng công, vừa để nhận quân trang áo quần, giày mũ mới. Lần đầu tiên, Trung đoàn tập trung đội hình thành các khối tiểu đoàn 227, 302, 310, khốí trực thuộc, khối cơ quan. Quân ta đều mặc quần áo mới màu cỏ úa, hàng ngũ thẳng tắp, vuông vắn. Các súng lớn: Cối, ĐKZ, thượng liên, trung liên để trước đội hình. Trông oai phong lắm, đông vui quá?... Làm lễ xong, ai nấy về đơn vị lại có bữa ăn ngon: Thịt hộp, quà của bác Mao Chủ tịch gởi tặng, xôi nếp ngon của đồng bào Nghệ Tĩnh tặng bộ đội mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, mừng chiến công phối hợp của Trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2016, 01:21:01 PM

        4. Hòa bình lập lại 1954

        Sau mấy ngày nghỉ, muôn vàn nhọc nhằn quên hết. Trung đoàn lại hành quân cấp tốc... Chúng tôi leo lên đến đỉnh núi Mồng Gà huyện Kỳ Anh thì được thông báo: "Hiệp định hòa bình chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đã được ký kết tại Giơ-ne-vơ". Vui mừng tràn ngập.

        Tôi được gọi đi học tình hình nhiệm vụ mới do Trung đoàn triệu tập. Ban chỉ huy Trung đoàn lúc này có đồng chí Triệu Huy Hùng, Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Cấp - Chính ủy. Đồng chí Nguyễn ích Tỷ - Trung đoàn phó, là một cán bộ đánh Điện Biên Phủ mới bổ nhiệm lên. Chúng tôi tiếp tục hành quân về đóng quân tại làng Lý Nhân Nam, xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và bắt đầu xây dựng doanh trại đóng quân bên bờ sông Chánh Hòa, xã Lý Trạch. Mười năm "phấn đấu xây dựng quân đội lên chính quy hiện đại" bắt đầu.

        Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc khá đông. Tại bốn tỉnh bắc Khu 4 đã có 4 Sư đoàn: 341, 325, 324, 330. Ngoài ra còn có một số trung đoàn, lữ đoàn. Có rất nhiều điều mới lạ, đông vui diễn ra trước mắt tôi. Tình cảm Bắc Nam hòa quyện trong từng địa phương, trong biên chế tổ chức từng đơn vị, tràn ngấm vào lòng từng người dân. Phong trào thi đua "Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt" sôi nổi trên miền Bắc. Tôi nghĩ, không biết khi nào mình được vào miền Nam, đó là một ước mơ. ít lâu sau, tôi nghe các em thiếu nhi hát "Miền Nam em dừa nhiều, miền Nam em dứa nhiều, miền Nam em xoài thơm, miền Nam em khoai bùi. Chú ơi chú bao giờ? Bao giờ cho em hái dứa dừa, xoài, đào khoai gởi sang Đông Đức tặng bạn em, mời bạn của em đến chơi..." Bài hát với nhạc tình cảm, lời tha thiết.., khiến lòng tôi hy vọng, băn khoăn một ước mơ xa xôi...

        Trong chỉnh biên lần thứ nhất tháng 11 năm 1954, tôi chính thức nhận chức Chính trị viên Đại đội 19 (quân y Trung đoàn). Sau một năm học tập, huấn luyện, Trung đoàn đã khác hẳn.

        Tháng 8 năm 1955, được đồng chí chính ủy trung đoàn cho phép, tôi mượn chiếc xe đạp biển số đỏ tranh thủ ngày thứ bảy và chủ nhật về Vĩnh Linh thăm mẹ và các em. Tôi về quê ngoại thăm các dì và tìm gặp cô L., sau ít buổi chiều tối kể chuyện về quãng đời đã qua và dự định cùng nhau xây dựng hạnh phúc trăm năm. Hôm sau, tôi chia tay mẹ và các em. Tôi đạp quanh một vòng thăm lại Hồ Xá và huyện lỵ Vĩnh Linh. Tuy chỉ là một huyện thiếu mấy xã bờ nam sông Bến Hải, nhưng Trung ương công bố là đặc khu giới tuyến. Bộ đội, cán bộ dân chính được bổ sung về thật đông vui. Công sở, nhà cửa, công trình công cộng mọc lên, mái ngói đỏ tươi, tường vôi trắng xóa. Tôi rời Hồ Xá lúc 12 giờ, đầu suy nghĩ về cảnh khổ cực của mẹ và 4 em trong chống Pháp và những ngày đầu sau chiến tranh. Em Đào đã về nhà chồng, tôi không có dịp gặp lại. Trên đường đạp xe trở ra đơn vị, tôi nhớ lại, em tên là Nguyễn Thị Luật, tuổi Quý Dậu, bí thư phụ nữ xã Vĩnh Long. Mẹ là bà Võ Thị Lệ, mất năm 1952 vì bị giặc Pháp bắt giam tra tấn gần chết mới thả cho về. Cha tên là Nguyễn Toàn, một nông dân hiền lành. Em là con gái lớn, còn hai em gái và hai em trai còn nhỏ.

*

*         *

        Tháng 10 năm 1955, trong chỉnh biên lần thứ hai, tôi nhận quyết định điều về Ban chính trị - trong lúc tôi đang làm chính trị viên đại đội, 24 tuổi, đã qua cương vị 2 năm lại vừa được chọn đi dự lớp tập huấn "chiến thuật đánh công kiên, cấp tiểu đoàn - tiểu đoàn tăng cường" do Sư đoàn tổ chức. Ban chính trị do đồng chí Nguyễn Duy - quê Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - một đồng chí có tầm vóc thấp nhỏ, da ngăm làm chủ nhiệm. Đồng chí Nguyễn Trọng Cơ - quê Nam Đàn - làm phó chủ nhiệm. Anh Cơ là một thanh niên cao trung bình, nước da trắng hồng, anh luôn khiêm tốn, dịu dàng như một cô gái. Tôi được giao nhiệm vụ làm trợ lý bảo vệ Trung đoàn 95.

        Tháng 9 năm 1956, có giấy gọi tôi đi học lớp đào tạo cán bộ bảo vệ khóa 4 do Cục bảo vệ Tổng cục Chính trị mở. Lớp học do đồng chí Nguyễn Văn Hải, cán bộ trung đoàn làm chủ nhiệm lớp. Thời gian học chỉ có 4 tháng nhưng đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản về tổ chức, nhiệm vụ và các mặt công tác bảo vệ quân đội. Tôi được dự hội nghị "Tổng kết công tác bảo vệ năm 1956, kế hoạch công tác năm 1957", được nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến nói chuyện và động viên. Tôi cảm thấy tự hào, phấn khởi với nhiệm vụ mới.

        Hòa bình lập lại trên miền Bắc đã gần hai năm. Nhiều cảnh sum họp gia đình tại chiêu đãi sở của Trung đoàn và đây đó thật phong phú, cảm động, ai cũng thèm mong, háo hức. Tôi điểm lại gương mặt các cô gái làng Hồ Xá và làng Phúc Lâm. Nhân lúc trao giấy nghỉ phép cho một y tá - là người đồng hương Vĩnh Linh, tôi ngỏ ý nhờ bạn nắm tình hình. Hôm trả phép bạn khoe: "Người của anh" đã xinh đẹp lại mặc áo vải pôpơlin màu xanh dương, may kiểu thượng tập trung hạ phân tán đầu chải tóc phồng, chân đi dép nhựa, lại làm bí thư phụ nữ xã. Cỡ đó ăn đứt mấy cô mình làm quen ở đây". Đêm đêm, tôi cứ mường tượng lại những hình ảnh đã thấy hồi đang đi dạy học bên làng ngoại. Tôi viết thư hỏi ý kiến mẹ. Mẹ tôi góp ý: "Con nhà đó nết na hiền lành, mẹ đồng ý", tôi cứ suy nghĩ, nhớ nhung, nhiều lúc tự gạt sang một bên và nhớ mãi lời đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nói: "Việc làm có nghỉ có ngơi, cơm ăn có lúc nhớ người có khi".

        Đầu năm 1957, tôi được nghỉ phép, về quê cưới vợ. Lễ thành hôn được tổ chức theo đời sống mới, tiệc trà mà đậm đà tình nghĩa bà con dòng họ đôi bên.

        Tháng 2 năm 1957, tôi về nhận nhiệm vụ trợ lý của Ban bảo vệ - Phòng Chính trị Sư đoàn 325, do đồng chí Phạm Kiêm làm trưởng ban. Đồng chí Phạm Đạm - một đảng viên cộng sản từ năm 1943 - làm trợ lý, cùng 3 đồng chí cấp đại đội như tôi.

        Ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ về thăm nhân dân tỉnh Quảng Bình. Bác đến thăm và ngủ lại một đêm với Sư đoàn 325 tại Bàu Tró (những ngày đó tôi nằm bệnh viện Quân y K41 nên không được gặp Bác), sau này nghe anh Phạm Đạm kể cho nghe chuyện Bác về thăm đơn vị, tôi tiếc mãi.

        Sư đoàn 325 là Sư đoàn thê đội 2 phòng thủ vĩ tuyến 17. Một đơn vị mà đa số là con em ba tỉnh Bình Trị Thiên. Từ cảnh chia cắt đất nước nảy sinh ra phong trào người dân vượt vĩ tuyến ra miền Bắc thăm chồng, thăm con, có nhiều người ở lại luôn. Chính quyền Mỹ - Diệm lợi dụng thời cơ này thu thập tin tức tình báo và cài cắm tay chân của chúng vào nội bộ ta. Công tác bảo vệ nội bộ Sư đoàn phải mất rất nhiều công sức để xác minh, phân loại và thông báo giáo dục cảnh giác. Ty công an Vĩnh Linh là nơi cung cấp tin tức tài liệu ban đầu.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2016, 12:03:51 PM

*

*         *

        Trải qua 11 năm (từ 1954 - 1964), ngành bảo vệ Sư đoàn đã xác minh, phân loại hơn 900 nguồn tin, có hơn 30 người khả nghi bị địch móc nối vào Sư đoàn. Sau nhiều năm thu thập bằng chứng cho thấy có vài đối tượng cấp úy có thể xếp vào diện hiềm nghi chính trị. Nhưng khi ra báo cáo, thông qua Phòng trinh sát Cục Bảo vệ không được duyệt, đành phải cho chuyển ngành ra khỏi quân đội.

        Tháng 12 năm 1958, Sư đoàn làm lễ thụ phong quân hàm cho 450 đại úy, thượng úy. Ban bảo vệ có một đại úy và bốn thượng úy. Tôi được phong cấp thượng úy.

        Năm 1959 - 1960, tôi được gởi đi học lớp bổ túc 8 thời gian 18 tháng tại trường công an trung ương. Tại đây, tôi có may mắn được nghe Bác Hồ nói chuyện hai lần. Một lần, Bác nói chuyện với cán bộ đảng viên tỉnh Hà Đông sau khi Bác đi thăm đồng lúa, tát nước chống hạn về. Và một lần Bác nói chuyện trong tổng kết công tác công an toàn quốc năm 1959 - 1960. Bác Hồ nói ngắn gọn, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, những việc cần làm trước mắt và tinh thần phải có để làm tốt. Bác nói với lời lẽ thông dụng gần gũi Tôi cảm thấy thích thú lạ thường, lòng tràn ngập tự hào, tin tưởng.

        Trong dịp khóa học nghỉ hè và phục vụ tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, tôi được nhà trường cho đi kiểm tra sức khỏe. Bệnh viện 108 cho điều trị ngoại trú chữa dạ dày và vết thương cũ. Tôi đã cho vợ và con gái ra Hà Nội một tháng. Chúng tôi tạm trú tại nhà của một bạn cùng lớp học (tại phố Yên Phụ, Hà Nội). Hàng ngày, tôi vào Bệnh viện 108 buổi sáng, chiều nghỉ với vợ con ở Yên Phụ. Chúng tôi cùng đi dạo phố, đón mừng lễ Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1960 tại thủ đô Ngày 20 tháng 9 tựu trường nên 15 tháng 9 chúng tôi ra ga Hàng Cỏ tiễn hai mẹ con về quê.

        Cũng trong dịp này, tôi mới biết lý do vợ con mình đang khổ cực vì không có nhà cửa, ruộng vườn. Cuối năm 1960, tôi xin cho vợ vào nấu cơm tại trạm khách Sư đoàn Bộ, là công nhân quốc phòng thuộc Phòng Tham mưu. Cuối năm 1961, chúng tôi có thêm một con trai đặt tên là Đinh Như Sơn, giữa năm 1963 sinh thêm một con gái đặt tên là Đinh Thị Thu Lan.

        Từ năm 1959 đến 1963, ngành bảo vệ Sư đoàn có thêm 2 nhiệm vụ. Một là tuyển chọn cán bộ bổ sung lẻ cho miền Nam; hai là triển khai nghiệp vụ, phục vụ chủ trương đánh các trận ở trung Lào, mở đường mòn Hồ Chí Minh, sau đợt đánh giải phóng căn cứ Tà Không sân bay Tchépône, bóc các đồn dọc đường số 9 xuống đến Huộc San gần Lao Bảo. Năm 1962, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có dịp đến thăm Sư đoàn. Trong buổi nói chuyện với cán bộ cấp trung đoàn và cơ quan, Thủ tướng nhiệt liệt khen ngợi Sư đoàn dã giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, có tính chiến lược và an toàn tuyệt đối. Thủ tướng lưu ý: "Sau này các đồng chí Sư đoàn 325 sẽ ngày càng thấm sâu ý nghĩa của chiến công hôm nay".

        Trong 10 năm "phấn đấu xây dựng quân đội nhân dân tiến lên chính quy hiện đại" trên miền Bắc, tôi đã học xong các chương trình huấn luyện quân sự, chính trị nghiệp vụ.., theo quy định hàng năm. Tôi được học bổ túc văn hóa hết lớp 8 hệ 10 năm rồi chuyển qua học văn sử địa được hai năm chương trình đại học. Điều hấp dẫn nhất đối với tôi trong những năm này là cái thú đọc sách. Sách rất sẵn ở các thư viện quân đội, đăng ký mượn đọc rất dễ dàng. Tôi say mê nhất là các cuốn: "Thép đã tôi thế đấy, "Ruồi trâu", "Thủy hử", "Sông Đông êm đềm" và nhiều sách gương chiến đấu của các anh hùng hồng quân Liên Xô, của giải phóng quân Trung Quốc, các anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam các tác phẩm "Bất khuất" của Nguyễn Đức Thuận, "Vượt Côn Đảo" của Phùng Quán...


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2016, 10:11:26 AM

Chương ba

Đi B - THAM GIA CHỐNG MỸ

CỨU NƯỚC

        1.Chuẩn bị sẵn sàng

        Từ tháng 4 năm 1963 trở đi, Sư đoàn 325 luôn  trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Sư đoàn được bổ sung khung cán bộ Trung đoàn 271 và xếp thành hai Sư đoàn 325A và B. Tôi được xếp Ở khung B. Tháng 10 năm 1964, Sư đoàn 325A hành quân, do đồng chí Nguyễn Hữu An - Thượng tá - Sư đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Minh Đức - Thượng tá - Chính ủy. Sư đoàn 325B tiếp tục nhiệm vụ làm thê đội 2 phòng thủ vĩ tuyến 17, đánh máy bay địch, và sẵn sàng đi B.

        Sư đoàn do đồng chí Vương Tuấn Kiệt - Thượng tá - Sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Văn Trân - Thượng tá - Sư đoàn phó, đồng chí Đỗ Quốc Tuấn - Thượng tá - Chính ủy, đồng chí Trần Xuân Lư - Thượng tá - Phó chính ủy, đồng chí Lê Hữu Đức - Trung tá - Tham mưu trưởng, đồng chí Thái Bá Nhiệm - Trung tá - Chủ nhiệm chính trị. Ban bảo vệ chúng tôi có nhiệm vụ thẩm tra đón nhận quân từ các Sư đoàn 308, 316, 320 mỗi nơi một tiểu đoàn và một trung đoàn bộ binh của Quân khu Việt Bắc do đồng chí Ma Văn Minh - Trung tá - Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Quý Han - Thiếu tá - Chính ủy. Đồng thời biên soạn các tài liệu giáo dục cảnh giác, nội quy phòng gian bảo mật trong hành trú quân và trích yếu về chính trị nội bộ để mang theo lúc hành quân đi B, đi kiểm tra công tác chuẩn bị cho bộ đội bước vào chiến đấu. Cũng trong thời gian này, nhiều đơn vị trong Sư đoàn tham gia bắn máy bay Mỹ, điển hình là các trận chiến đấu của tiểu đoàn 14 và đã xuất hiện anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân tại miền Tây tỉnh Quảng Bình.

        Tháng 8 năm 1965, giữa lúc chiến tranh phá hoại đang lên cao, máy bay Mỹ dội bom bắn phá cầu đường và nhiều cơ sở vật chất miền Bắc. Tôi (ở Hương Khê) được tranh thủ về thăm vợ con một tuần trước khi đi B, tại C5 nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh. Hàng ngày vợ tôi vẫn đi làm, tôi cùng ba con ở nhà, nếu nghe tiếng máy bay thì ra hầm ẩn nấp ngay giữa sân đơn vị. Nhưng sáng ngày 14 tháng 8 năm 1965, tôi đưa ba con ra lán sơ tán tại bìa rừng, tôi nghĩ ở hầm ẩm thấp không tốt cho sức khỏe các con, nhất là bé Lan mới hai tuổi. 10 giờ sáng hôm đó (14/8), máy bay Mỹ đánh phá C5, một quả bom tấn rớt trúng giữa nóc biến cái hầm nửa chìm nửa nổi mà thường ngày tôi và các con ẩn nấp thành cái hố đen ngòm... Thật hú vía, tôi cám ơn sự may mắn kỳ lạ này.

        Bom đạn Mỹ dày đặc như thế nhưng nhiều đội sản xuất mời tôi đến kể chuyện tình hình Sư đoàn (họ là đồng đội cùng Sư đoàn chuyển qua). Tôi đã kể chuyện được với ba đội và cơ quan nông trường. Tôi nói Sư đoàn 325A đã vào chiến trường. Khung B tiếp tục là thê đội 2 phòng thủ vĩ tuyến 17, sẵn sàng đi B, bắn máy bay Mỹ, đánh diệt bọn biệt kích xâm nhập bằng đường biển. Tôi kể tên các nam nữ dân quân xóm Giáp, xóm Rẻ, Lộc Đại, Hữu Cung.., bắn máy bay bằng súng bộ binh; kể chuyện tiểu đoàn cao xạ 37 ly bắn rơi máy bay Mỹ ở tây Quảng Bình và xuất hiện anh hùng Nguyễn Viết Xuân với khẩu hiệu "nhìn thẳng quân thù mà bắn"; kể chuyện trận địa phòng không Sư đoàn bắn rơi 5 máy bay trong đó có chiếc F8 rơi tại chỗ, ta bắt sống giặc lái Su-mếch-cơ là phi công vũ trụ của Mỹ. Hắn đòi được đối xử theo luật quốc tế về tù hàng binh, đòi gặp người chỉ huy tối cao. Anh Trần Văn Trân, Sư trưởng quát: "Mày là tên giặc, đến giết hại đồng bào tau, mày không đủ tư cách là tù binh. Tau là người chỉ huy tối cao ở đây. Những câu chuyện kể trên làm mọi người rất phấn khởi, đồng tình, lại càng thêm tự hào, tin tưởng Sư đoàn chúng ta càng thương yêu, gắn bó tình đồng đội.

        Một tuần tranh thủ đã qua nhanh. Sáng 17 tháng 8, vợ đi làm, tôi vẫn ủ ấm cho các con ngủ. 8 giờ tôi dậy dặn dò Thu Liên, 7 tuổi, trông chừng 2 em, tôi chuẩn bị đi về đơn vị ở Hương Khê, Hà Tĩnh. Bé Liên lưu luyến mãi, tôi đi rồi, bé gọi quay trở lại đến 3 lần, lúc nhờ cài hộ nút áo, lúc để hỏi bài tính lớp một, lúc để hỏi đến mấy ngày nữa ba mới lại về?... Dường như Liên sắp khóc, tôi an ủi và nhắc nên giữ yên lặng cho em ngủ. Tôi thơm các con lần nữa và ra đi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2016, 08:15:10 AM

        2.Những tấm lòng vàng của người Pakôr

        Sáng 3 tháng 12 năm 1965, tôi nhận nhiệm vụ chính trị viên tiểu đoàn đi trước. Đây là tiểu đoàn gồm đại đội trinh sát của Sư đoàn và ba đại đội trinh sát của ba trung đoàn bộ binh. Đồng chí đại úy Lâm Huế làm tiểu đoàn trưởng. Chúng tôi xuất phát từ xã Hương Phú, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh theo đường dây 559. Chúng tôi tách khỏi đường dây từ ngã ba La Hạp, đi về hướng đông được chừng 2 kilômét đã nghe tiếng bom B52 Mỹ ngăn chặn phía sau. Chúng tôi đến bản A Túc, huyện A Lưới lúc 16 giờ ngày 24 tháng 12 năm 1965 và bắt đầu làm nhiệm vụ trinh sát các mục tiêu căn cứ biệt kích A Shầu, thung lũng Con Tôm - Tà Bạt là nơi địch có thể đổ bộ đường không. Tại A Túc, Sư đoàn chúng tôi hứng chịu một đợt máy bay rải chất độc hóa học ướt áo như bị mưa phùn. Anh Trần Văn Trân - Sư đoàn phó hô: kéo vạt áo, đái ướt mà bịt mũi chống độc". Chúng tôi làm theo.

        Tôi và anh Lâm Huế cho đón ba trung đoàn bộ binh: 95b, 101b (là trung đoàn của Quân khu Việt Bắc), 88a và các đơn vị trực thuộc vào vị trí chuẩn bị. Tổng quân số gần một vạn người mà đường tiếp tế gạo chưa có. Hôm đó, lúc 2 giờ sáng, anh Thái Bá Nhiệm và tôi đi bắt liên lạc tìm gạo, gặp hai người đứng đối diện trên con đường mòn hẹp giữa rừng, tôi đứng sau nghe lỏm biết đó là anh Thệ - cán bộ tiểu đoàn kho của Trị Thiên. Bỗng anh Thệ hỏi người thấp đứng phía sau anh: "Cụm ba kho hàng này còn bao nhiêu gạo, Thái hè?" "Khoảng một tấn rưỡi", có tiếng đáp quen quen. Sau khi hai anh giao hẹn xong, tôi len chân lên, nhận ra đúng là em Đinh Như Thái - em ruột tôi. Hai anh em ôm lấy nhau, Thái kêu lên: "Trời ơi, anh Ninh?" Tôi nhớ lại, Thái đã nhập ngũ tháng 10 năm 1959 vào đường dây 559 từ miền tây Vĩnh Linh. Vài phút sau, mỗi người đi một ngả theo nhiệm vụ.

        Thi hành lệnh của Sư đoàn trưởng, gạo ăn từ 7 lạng xuống 3,5 lạng/ người/ ngày. Hôm đó, tôi cùng trung úy Nguyễn Văn Quế, quê huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, là cán bộ cùng ban - trên đường vào nơi tập kết. Chiều tối hai chúng tôi đi qua một trảng rộng toàn là cây ngò gai. Tôi rủ Quế hái thật nhiều rau "ăn thêm" cho bữa tối. Chúng tôi đến gặp già làng bản Côn Hùm là một người Pakôk vạm vỡ, chừng 50 tuổi niềm nở tiếp chúng tôi, đột nhiên, ông vỗ đùi la: "Rủi quá, hai đồng chí đến chậm mất rồi? Bọn tui gài bẫy được một con nai, vừa mới chia hết thịt cho các bà con rồi?" Nhưng ông lại mở to mắt cười rất tươi và nói: "Hai đồng chí chờ cho một chút, mình đi xin lại cho?" Chỉ 10 phút sau, ông đem về cho chúng tôi hai cục thịt và một miếng da nai hơn nửa mét vuông. ông nói: "Tui cho mượn một bếp trên nhà rông, hai đồng chí giải phóng chịu khó thui cho kỹ, củi lừa không thiếu mô. Đây là của rừng, của rừng là của chung, đáng lý mỗi người có mặt đều được phần bằng nhau mới trúng".

        Chúng tôi thật cảm động trước tấm lòng của người dân Pakôk dành cho bộ đội giải phóng. Tối đó, hai chúng tôi được một bữa ăn no, ngon mà chỉ tốn hai lạng gạo, lại còn để dành mang theo một ít thịt và da nai đã kho nấu cho bữa sau.

        Khoảng 9 giờ một buổi sáng đầu tháng 2 năm 1966, chúng tôi đi trinh sát địa hình, một quả đạn cối 106,7 ly do địch ở cứ điểm A Shầu bắn canh chừng, nổ gần bộ phận đi trinh sát địa hình. Một mảnh nhỏ trúng đầu trung úy Lê Thanh Hiền trợ lý trinh sát, anh ngã xuống chỉ kịp kêu hai tiếng: "Băng! Băng?" và hy sinh. Chúng tôi mai táng anh bên cạnh bản Côn Triêng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên. Đây là tử sĩ đầu tiên của Sư đoàn 325b, trong buổi mặc niệm tiễn đưa người đồng đội, chúng tôi đều thương xót rưng rưng. Tôi để ý thấy nước mắt thượng tá Trần Văn Trân rơi lã chã. Tôi ngậm ngùi nhớ lại, những lần cùng anh Hiền ghé thăm gia đình vợ con anh, tại bờ nam phà sông Gianh, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

        Một hôm, trời mưa rả rích, rừng núi A Lưới mù đặc Các con đường nhỏ bỗng trở nên lầy lội vì nhiều đơn vị hành quân qua. Chúng tôi 4 cán bộ cấp đại úy của cơ quan gồm: Trần Phát - trinh sát, Huỳnh Tấn Đức - dân vận, Trần Văn Thức - chính sách và tôi, cùng đi với anh Trần Văn Trân, thượng tá Sư đoàn phó - đến gặp già làng bản Côn Thinh. Chúng tôi ngồi dưới đợi. Anh Trân và người dẫn đường lên nhà sàn gặp già làng. Đường trong bản ngập ngụa bùn đất phân súc vật. Trời tạnh mưa, có hửng nắng, đâu đó còn những giọt nước đọng rơi tí tách. Mấy cháu nhỏ nô đùa, chơi trò đuổi bắt, có một bé trai chừng 4 tuổi trần như nhộng đánh rơi mẩu củ sắn bằng ngón tay cái mà bé đang ăn. Mẩu củ sắn nằm phơi mình trắng hếu trên bùn sệt. Cuộc chơi đã tan, các bé đã về hết, không gian tĩnh lặng. Bốn đại úy chúng tôi đều nhìn thấy mẩu củ sắn và lâu lâu lại liếc nhìn, ai cũng thèm, cảm giác đói cồn cào dâng cao. Đại úy Trần Phát dùng mũi giày dí mẩu sắn xuống bùn. Không ai nói gì, anh Phát nhìn tôi với vẻ mặt thoải mái hơn. Lát sau, anh Tấn Đức nhấp nháy mắt, khịt mũi vài cái tỏ vẻ không đồng tình. Tôi cảm thấy thương anh quá! Anh Đức là người Cần Thơ, tình nguyện quân từ Campuchia về năm 1947, anh cao 1 mét 7, nặng 70 kilôgam. Anh có nước da đậm màu sương gió. Anh hơn tôi 6 tuổi.

        Hồi lâu, anh Trân gọi chúng tôi lên nhà sàn. Già làng bản Con Thinh là một nông dân Pakôk ngoài 60 tuổi có đôi tai Phật kéo dài, đôi mắt to, miệng ngậm tẩu bằng tre đẽo gọt thật công phu. Gặp chúng tôi ông xởi lởi nói: "Lũ làng chờ cách mạng mỏi con mắt lắm rồi? Nay cách mạng về, nghe nói cách mạng thiếu cái ăn. Đừng lo, lũ làng cho cách mạng hai cái rẫy. Ước chừng trên hai triệu bụi sắn, nhiều lắm? Cứ Ở lại đây, đánh giết cho hết bọn giặc ở A Shầu cho lũ làng nhờ. Không lo đói mô, thiếu gạo chớ không thiếu sắn mô!". Bỗng ông mở to đôi mắt, rướn người lên, ông nói: "Lũ làng Con Thinh cho cách mạng một nhà chuối chín". Anh Trân bảo tôi đi nhận về chia cho các Phòng. Nhà chuối chín là một nhà sàn nhỏ gần đó. Trong nhà treo lỏng tháng ba lớp những quầy chuối chín rục, chín vừa, chín tới. Có khoảng 40 quầy. Chúng tôi mang tới chọn một quầy ngon cắt để già làng đãi khách, ông không chịu. ông nói: "Cái này của cách mạng, lũ làng cho cách mạng rồi!" Anh Trân phải nói: "Cách mạng nhận rồi, bây giờ cách mạng mời ông!". ông vui vẻ cùng ăn. Tôi hỏi ông: "Chuối chín nhiều này sao không cho các bé ăn dần?" ông xua tay nói: "Không được mô! Cái này của lũ làng để dành cho cách mạng, trẻ em không quen ăn, e đau bụng".

        Tôi bước xuống chọn một quầy cắt chia cho các em. Chúng cứ đứng nhìn, vẻ e lệ. Tôi phải nói: cái này của cách mạng cho các cháu đây!", các em mới nhận và vuốt ve ngắm nhìn như chưa được thấy lần nào. Tôi xúc động trước những tấm lòng cao quý của bà con dân tộc Pakôk với cách mạng.

        Chúng tôi ở nơi tập kết, đợi lệnh vào Sở chỉ huy. Tết Bính Ngọ đang đến gần, đơn vị đang thiếu đói, nói chi đến ăn Tết? Đồng chí Thái Bá Nhiệm cử tôi và đồng chí Minh đi tìm một đơn vị bộ dội địa phương thử xin sắn về ăn Tết. Tôi và anh Minh đem theo võng vải, đến hậu cứ của một đơn vị pháo binh. Các anh vui vẻ cho mỗi người một gùi và dặn: "Chỉ được mang ra khỏi rẫy hai gùi thôi!". Anh Minh to con, khỏe hơn nên mang gùi sắn về. Còn tôi do tham nhiều, ráng hết sức chỉ mang ra khỏi rẫy, càng đi càng nặng, bụng lại đói, hoa mắt. Tôi ngồi nghỉ, một lát lại đứng lên, mang đi chỉ vài chục bước, chân tôi khuỵu xuống. Tôi lại ngồi nghĩ cách san đôi giấu vào rừng, tôi chỉ mang được non nửa về, lại dẫn người ra mang về phần còn lại. Để giữ được tươi nguyên và không hao hụt, chúng tôi đào hố giữa các lán võng, chôn sắn xuống đất. Đêm giao thừa, chúng tôi có một bữa "sắn lùi" thật ngon và no. Mọi người vui cười thỏa thích, câu chuyện cứ thế nở như ngô rang, đón xuân Bính Ngọ giữa đại ngàn huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2016, 06:12:00 AM

*

*         *

        Ngày 5 tháng 3 năm 1966, công tác chuẩn bị trận tiêu diệt căn cứ biệt kích A Shầu đã hoàn tất thì trong bản tin chiều 5 tháng 3, đài BBC đưa tin có hai cán binh Bắc Việt vào đầu hàng ở A Shầu. Thường vụ Đảng ủy yêu cầu phòng chính trị xác minh kết luận ngay trong đêm mùng 5 để chiều 6 tháng 3 có quyết tâm đánh hay chưa đánh.

        Vào lúc 19 giờ ngày 5 tháng 3 năm 1966, đồng chí thượng tá Trần Văn Trân - Sư đoàn phó giao nhiệm vụ cho tôi (lúc đó là đại úy trợ lý bảo vệ) đi qua phân đội nghi binh ở A Cáo xem thực hư thế nào, nếu có kẻ đầu hàng thì mức độ hiểu biết của họ về kế hoạch tác chiến của Sư đoàn đến đâu? Từ đó để tính toán lợi hại và đề xuất nên đánh hay chưa nên đánh? Anh Trân cho biết Sư đoàn sẽ cho xác minh trên các hướng khác ngay trong đêm nay để kịp tổng hợp báo cáo trước thường vụ lúc 15 giờ ngày mai. Anh Trân nói tiếp: "Từ đây qua A Cáo mất ba tiếng đồng hồ đi ban ngày, bây giờ trời mưa lại đi ban đêm, phải khẩn trương lắm mới kịp về đây trước ba giờ chiều mai. Để bảo đảm công việc, Sư đoàn đồng ý cho sử dụng vệ binh hoặc trinh sát với số lượng và trang bị thế nào tùy cậu lựa chọn, tối đa không quá một đại đội". Tôi nói: "Đi đông nặng nề lắm, tôi chỉ xin một tổ trinh sát ba người mà tôi đã quen sử dụng trong một đợt chuẩn bị địa hình vừa qua". Anh Trân đồng ý.

        Trời vẫn mưa. Bốn chúng tôi lên đường lúc trời đã tối mịt. Khi tôi đi ngang qua Phòng Tham mưu, thiếu tá Trần Hữu Xưng tham mưu phó nhắc tôi phải cảnh giác, chống địch phục kích trên đường đi, nhất là khi đến, cần đề phòng địch đã chiếm lĩnh trận địa, đón sẵn tại A Cáo. Tôi gật đầu ghi nhận. Chúng tôi lầm lũi đi trong đêm tối, đường trơn, bùn nhão nhoẹt. Cách Sở chỉ huy khoảng một cây số, tôi cho tạm dừng, dặn anh em những điều cần thiết rồi đi theo đội hình chiến đấu, nếu gặp địch thì tìm cách vòng qua. Chúng tôi đi, đói thì nhấm nháp gạo rang, khát thì uống nước bi đông, giữ tốc độ 4km/giờ để tranh thủ thời gian. Dọc đường có gặp một số trở ngại, chúng tôi đều vượt qua và đến khu vực A Cáo lúc một giờ sáng. Tôi cho dừng lại, tản ra, cử một người lên dò xét. Thấy có bóng người, tôi dùng mật khẩu hô: "Ai? 38?" Có tiếng đáp: "Tôi, 42". Mừng quá, đúng cộng tròn 80 là người của ta. Tôi tìm gặp đồng chí Phát đại úy, mũi trường mũi giương công để nắm tình hình chung rồi lần lượt đi gặp những người cần thiết, khó nhất là tìm gặp cho được chị du kích dân tộc Pakôk, người đã tận mắt nhìn thấy hai tên đầu hàng đi vào đồn địch lúc 4 giờ chiều ngày 4 tháng 3.

        Xong việc lúc gần 9 giờ, tôi gặp lại đồng chí Phát để nói lời cảm ơn về ý thức bảo mật chiến dịch lúc phổ biến nhiệm vụ cho phân đội nghi binh, rồi tôi quay về Sở chỉ huy Sư đoàn. Trời tạnh mưa, tôi vừa đi vừa suy nghĩ nội dung báo cáo và đề xuất đánh hay chưa đánh? Dọc đường về tôi gặp một cán bộ trinh sát và được biết địch đã tăng thêm 150 tên biệt kích Núng xuống đồn A Shầu.

        Thượng tá Trần Văn Trân đón tôi lúc 12 giờ rưỡi. Tôi báo cáo họ tên, cấp chức, quê quán, đơn vị và thời gian hai tên đầu hàng đã vào đồn địch, xác định mức độ hiểu biết bí mật của chúng và đề nghị cứ đánh tiêu diệt bằng sức mạnh áp đảo. Anh Trân chăm chú lắng nghe và biểu dương chúng tôi.

        Tôi hiểu, bằng nhiều nguồn tin và các yếu tố quan trọng khác, Sư đoàn đã hạ quyết tâm, được cấp trên phê duyệt.

        Trận đánh đã diễn ra trong hai đêm và hơn một ngày, với kết quả: Quân ta đã tiêu diệt, bắt sống toàn bộ 7 đại đội và 150 tên biệt kích, thu toàn bộ vũ khí trang bị, san phẳng căn cứ A Shầu, giải phóng vùng rừng núi rộng lớn huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên. Đây là trận đánh được Bộ Tổng tư lệnh đánh giá là một trong tám đòn sấm sét mà Quân giải phóng miền Nam đã giáng vào đầu bè lũ Mỹ nguy trong mùa xuân năm 1966.

        Viết lại những kỷ niệm này gợi nhớ trong tôi hình ảnh nhanh nhẹn của tổ trinh sát do thiếu úy Trần Quang Nha, người Nam Đàn chỉ huy, đã cùng tôi vượt qua gian nan trong một đêm thức trắng. Đặc biệt, tôi nhớ đồng chí Trần Văn Trân, một cán bộ chỉ huy mưu trí, quyết đoán.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2016, 09:05:16 AM

*

*          *

        Sau chiến công dầu tiên diệt đồn A Shầu, Sư đoàn đã chuẩn bị một tiểu đoàn bộ binh đánh quân đổ bộ đường không và một trung đoàn bộ binh đón đánh quân Mỹ nhảy cóc đến ứng cứu, nhưng kế hoạch đó không thành do địch không đến. Sư đoàn tiến hành thu quân để hành quân vào Tây Nguyên trong khi phải tiếp tục chịu trận thiếu đói dài ngày do cơ quan tham mưu tính toán trên bản đồ đường đi từ A Túc đến A Shầu theo dân đi chỉ mất ba ngày, nhưng bộ đội hành quân mang vác nặng - khẩu sơn pháo 75 ly, các khẩu ĐKB, cối 120 ly, súng cao xạ 12,8 ly đều phải tháo rời khiêng vác; công binh lại phải khắc phục đường nhiều chỗ - nên phải mất bảy ngày. Gạo mang theo thiếu hẳn 8 ngày (4 ngày vào và 4 ngày ra). Việc tìm lương thực cho hơn 8.000 người ở giữa rừng xanh thật nan giải. Sư đoàn đã dùng các biện pháp tình thế: Bộ đội ăn ngày bảy lạng gạo xuống ba lạng rưỡi, xin địa phương cho hai triệu gốc sắn nhưng đã ăn hết chỉ trong ba ngày. Môn thục, rau rướn và các thứ rau rừng khác cũng nhanh chóng bị vét sạch... một chiến sĩ pháo binh nhổ trộm gốc sắn dân phát hiện, thấu tai Sư đoàn trưởng Vương Tuấn Kiệt, ông yêu cầu quân pháp mở phiên toà xử tội. Tôi được dự họp dân làng để xin ý kiến. Sau khi nghe thông báo sự việc, tức thì một phụ nữ trạc 40 tuổi đứng dậy khóc ròng, xen lẫn trong tiếng nấc là tiếng chị tự đấm vào ngực thình thịch và chị tự nói: "Lỗi tại mình, tại mình! Cách mạng dặn rồi, phải lo vận động dân, làm mà nuôi cách mạng khi cách mạng về. Nay cách mạng về để cách mạng đói, trời ơi là trời!..." Cuộc họp lặng ngắt, nhiều cặp mắt rưng rưng, có tiếng thút thít... Cuộc họp phải giải tán. Tìm hiểu, tôi được biết người khóc là chị Y Hoa, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ giải phóng huyện A Lưới. Về sau không lập phiên toà xứ án chiến sĩ nọ nữa, vì dân không đồng tình.

        Việc chôn cất tử sĩ được các đơn vị báo cáo về Sư đoàn đã giải quyết xong. Mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh yêu cầu phải chôn cất tử sĩ thành nhiều cụm, cách xa hàng rào địch trên 500 mét. Các đoàn kiểm tra thấy phần lớn đã chôn cất anh em gần đồn quá, lại phải moi lên, khiêng đi... Trời bỗng nắng, mới ba ngày, nhiều thi thể đã phân hủy, mùi nồng nặc. Có dầu khuynh diệp cho anh em dùng, nhưng không át nổi. Không ít đồng chí bị ói ộc lên thi thể tử sĩ. Có túi ni lông bọc thi thể nặng quá vì ứ nước, họ chọc thủng cho chảy bớt thứ nước nhờ nhờ sẫm nhiễu đây đó... Không ít anh em cằn nhằn, phản đối lệnh. Tôi nhẹ nhàng động viên, an ủi... Tôi cùng anh em tiểu đoàn vận tải làm từ nửa buổi sáng đến xế chiều mới xong ở một hướng. Về nhà, trong tôi vẫn còn mùi đâu đó, tắm giặt rồi vẫn có mùi, miệng lợm chực muốn ói, không muốn ăn uống gì hết. Đêm nằm tôi cứ chập chờn mường tượng những hình ảnh đã qua trong ngày. Hôm sau, những vết vắt cắn cứ mọng nổi lên đầy mủ trắng, người ngây ngấy như muốn sốt.

        Chín giờ sáng ngày 13 tháng 3 năm 1966, Phòng Chính trị giao nhiệm vụ cho tôi đến thăm, cám ơn đoàn của anh Thệ và tặng một khẩu súng tiểu liên các bin làm quà chiến lợi phẩm. Tôi được mời ăn một bữa cơm no với Ban chỉ huy tiểu đoàn. Tối đến, tôi và em Đinh Như Thái có dịp tâm sự, tôi sẽ đi tiếp vào Bác Ân (Tây Nguyên). Em Thái chuẩn bị cho tôi một ba lô sắn nướng mang về làm quà cho anh em.

        Tôi về đến đơn vị lúc ba giờ sáng, khi mọi người đang ngủ ở trạm dưới chân dốc A Pỉ. Tôi lần mò tìm võng của anh Thái Bá Nhiệm. Anh Nhiệm nói: "Ninh về rồi đó à? Cậu chuẩn bị sẵn sàng đi tiền trạm vào Bác Ân". Tôi nói: "Sẵn sàng, bây giờ anh có ăn sắn nướng không?". "Đâu có mà ăn?". Tôi móc cho anh một củ còn ấm. Anh ngồi dậy bóc ăn một miếng và nói: "Ngon quá mày ơi? Ở mô có ri?" - (' Chú Thái nó cho". Anh hỏi: "Còn không? " Tôi đáp: "Còn". Anh nói: "Để đem cho anh em người một miếng khi đang đói".

        Phải mất ba ngày chịu thiếu đói nữa chúng tôi mới nhập trạm vào đường dây 559. Lúc đó mới có gạo ăn theo tiêu chuẩn. Ai nấy đều phấn khởi, đội hình gọn theo giao liên dẫn đường từng trạm.

        Một hôm, được nghỉ trưa dọc bờ suối mát, chúng tôi thích lắm, ngâm chân hồi lâu mới nhận ra các vết chai nứt ở bàn chân đều bở mềm, chỉ cần dùng móng tay hoặc dao găm cạo nhẹ nhàng đã trắng sạch, thành những bàn chân gót son đẹp. Nhưng khi tiếp tục hành quân, ai nấy mới nhận ra đau chân dữ dội, những vết nứt đã cạo hết chai thành những điểm rỉ máu. Tôi đi sát sau anh Thái Bá Nhiệm, tôi nhìn rõ những điểm cứ rỉ máu sau mỗi lúc anh đặt gót chân nhún bước tới.

        Chắc là anh đang đau lắm. Tôi nói: "Gót chân anh rịn máu nhiều quá" Anh nói chịu đựng được. Đợi đến giờ nghỉ 10 phút, anh lục ba lô đeo đôi bít tất vào, lại tiếp tục hành quân. Tôi thầm nghĩ trong cái dáng vẻ trắng trẻo, thư sinh dong dỏng cao ấy là một bộ óc đầy nghị lực dũng cảm. Hình ảnh này gợi nhớ hồi tôi làm chính trị viên tiểu đoàn, dẫn đơn vị đi B, anh nghe tôi báo cáo lại, lúc chuẩn bị vượt sông Gianh tại làng Cao Lao thượng, máy bay Mỹ ném bom bắn phá bến vượt, tôi đã cùng anh em tìm chỗ ẩn nấp, vài phút sau báo yên mới lên thuyền vượt sông. Anh Thái Bá Nhiệm1 chê tôi nhát và nói: vị trí người chính trị viên lúc đó là phải đứng ngay trên thuyền gọi đồng đội cứ vượt sông, mặc cho bom đạn Mỹ". Tôi vui vẻ ghi nhận để rút kinh nghiệm.

        Lại nói, có lần anh Trần Văn Trân kể chuyện: Hôm 15 tháng 2 năm 1965, lúc máy bay Mỹ đánh phá doanh trại Sư đoàn 325 tại Quảng Bình, anh Trần Văn Trân bồng bé Bích Thủy xuống hầm ẩn nấp còn anh Thái Bá Nhiệm (trực chỉ huy) đã chụp ngay máy điện thoại gọi trực ban giao nhiệm vụ nắm tình hình và nhắc trực ban Sư đoàn: Phải giữ vững hệ thống chỉ huy của đơn vị.

--------------
1. Đồng chí Thái Bá Nhiệm, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 3, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, tháng 6 năm 2006 tôi ghé thăm, anh còn khỏe mạnh ở Đồng Hới.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2016, 08:06:32 AM
       
        3. Những tấm lòng vàng trên dất Tây Nguyên

        Ngày 20 tháng 3 năm 1966, tôi nhận nhiệm vụ chính trị viên đoàn tiền trạm của ba cơ quan Sư đoàn vào Bác Ân. Sau hơn một tháng hành quân theo trạm, chúng tôi tách khỏi đường dây 559 tại tây sông Sa Thầy, được cán bộ địa phương dẫn đến các làng bản: Plăng kết, Tăng chí, Tăng vai.., nhờ giúp đỡ. Tại các khu vực này, rừng đại ngàn nhiều nơi chưa có dấu chân người. Một hôm, khi chúng tôi đến gần bản Tăng Chí, bỗng có một đoàn gồm nhiều người đàn ông quỳ đón dọc đường, ai nấy ngửa tay phải ngang trán, trên đó có nắm thuốc rê. Theo sự hướng dẫn của cán bộ địa phương, chúng tôi lấy mỗi nơi một nhúm đều khắp. ông già làng rất vui khi đón chúng tôi. Tuy khác ngôn ngữ, chỉ nghe người dịch được chút ít nhưng không khí thương mến, phấn khởi bao trùm. Ông già làng mời chúng tôi ăn cơm tối tại nhà Rông của làng. Thức ăn được để trên mặt bàn rộng khoảng 1 mét, dài 3 mét chính giữa nhà. Dân làng ngồi theo ba hàng dọc sát phên quanh phòng. Dãy ghế trên chính giữa là ông già làng và hai cụ cao tuổi. Chúng tôi có năm người đại diện cho đoàn tiền trạm, mỗi người được trao một cái dĩa đi theo ông già làng và hai cụ cao tuổi. Đến mỗi món ăn, tôi nhúm một ít cho vào đĩa của mình, vừa để ý nhìn dân, tôi nhận thấy lần lượt những ánh mắt tươi cười... Tôi ngầm hiểu chủ nhân của từng món ăn. Khi đã trở về chỗ ngồi ăn tôi thấy còn nhiều ghế khách bỏ trống, do chúng tôi chỉ cử năm đại diện.

        Tối đến là buổi liên hoan múa hát thật tưng bừng nhộn nhịp. Chúng tôi cùng tham gia một số tiết mục đơn ca rồi ra ngồi xem. Hồi lâu, tôi bỗng chú ý đến một thanh niên trạc 30 tuổi, đa ngăm, ngực nở, mắt to, răng trắng đều. Anh múa rất điệu nghệ với vẻ mặt rất tươi. Có điều, anh chỉ đóng một cái khố. Tôi hỏi chuyện ông già làng mới biết anh tên là Alinhơl, nghèo lắm vì có một đứa con cứ đau ốm hoài. Cuộc vui gần vãn, tôi ngoắc anh ra. Tôi cởi cái quần dài đang mặc, trao tặng anh. Anh Alinhơl mặc vào, với vẻ mặt rạng rỡ anh tiếp tục múa hát say sưa, cuộc vui lại rộn rã kéo dài tới khuya.

        Một đêm khuya sau đó mấy hôm - khi chúng tôi đang ngủ say sau một ngày lội rừng phân chia khu vực tìm nơi sẽ đóng quân cho các cơ quan đơn vị trực thuộc, bỗng nghe có người gọi, tôi thức dậy gọi một đồng đội cùng tiếp khách. ông già làng đến. Anh Alinhơl tay ôm con gà trống, nách kẹp chai mật ong rừng, sau lưng Alinhơl là một phụ nữ khoác cái gùi hàng nặng trĩu. Người phiên dịch cho biết anh Alinhơl vừa được Giàng sai khiến bộ đội giải phóng đến cứu giúp, năm tới con hết bệnh, nay đem lễ vật đến nhờ bộ đội giải phóng cúng Giàng giùm. Chúng tôi nhận lời và từ chối nhận lễ vật. Vợ chồng anh Alinhơl cứ khẩn khoản mãi. ông già làng nói: "Cái bộ đội giải phóng này, mày phải nhận lễ cúng Giàng, tao mới ưng cái bụng". Bí quá tôi xin nhận chai mật ong, ba trái bắp, một trái bí đỏ. ông già làng gật đầu nói: "ứ, cũng được". Tôi đem tặng anh Alinhơl tấm vải nhựa che mưa của mình với ý nghĩ khi cần thì che mưa bằng tấm nilon tăng võng cũng được. Hai vợ chồng anh Alinhơl vui vẻ ra về.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2016, 08:45:44 AM

*

*          *

        Chúng tôi dẫn bộ đội về địa điểm trú quân cách đường trục chừng non cây số. Hôm sau, anh em bắt đầu chặt cây, cắt tranh, làm lán trại. Nhiều bãi tranh cách nơi trú quân trên 1 kilômét. Các đường rẽ từ đường trục vào các nơi trú quân hiện thêm thay đổi liên tục do nhiều đơn vị mở thêm. Hôm đó, tôi đi cắt tranh về đã sẩm tối, tôi cứ chạy lui chạy tới trên đường trục không biết rẽ lối nào. Tôi cứ loay hoay chừng 30 phút. Cuối cùng, tôi quyết định dựng gánh tranh xuống và cứ đi đại vào một lối, hỏi ra mới biết lối về đơn vị tôi cách đó không xa lắm. Tôi về đến nhà đã tám giờ tối. Anh Hồ Sơ Nhã, thiếu tá cùng các đồng chí Quế, Diễn, Xuân và Ksor Minh - một trung úy người dân tộc Ê đê mới bổ sung về Ban bảo vệ Sư đoàn đang quây quần bên soong cháo thịt. (Anh Ksor Minh đã tốt nghiệp đại học Bách Khoa Hà Nội, 26 tuổi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, giỏi tiếng êđê, Giarai, biết tiếng Bana).

        Tôi đang đói, khát và mệt. Anh Nhã nói cậu bị lạc hay sao mà về tối quá rứa? Tôi nói: "Bị lạc". Anh Nhã nói vui, nếu bị lạc mà tự tìm về được là tốt rồi, cháo đã để phần cho cậu, nếu còn mệt thì nghỉ cho khỏe đã rồi ăn, nếu ăn được thì vào ăn luôn cho đông vui. Tôi vào ăn luôn. Vừa ăn, tôi vừa hỏi thịt gì, ở đâu có thế này? Cứ thế mỗi người một mẩu góp thành câu chuyện thú vị. Số là Ksor Minh đi trinh sát địa hình quanh khu rừng Sư đoàn bộ đóng quân gặp một con mễn, nó vểnh tai đứng nhìn nghe ngóng, tức thì anh vẩy một phát súng ngắn đang cầm tay. Con mễn giãy đành đạch. Anh kéo nó vào giấu trong bụi rồi tiếp tục nhiệm vụ. Một giờ sau, Anh quay lại nhìn thấy con mễn đã chết. Anh vào một đơn vị cách đó chừng 500 thước thăm dò không nghe ai nói gì vì họ mải đào hầm chặt cây, dựng nhà, có nhiều tiếng động, không ai để ý. Cẩn thận hơn, anh về đơn vị nói thật với anh Nhã là mình đã nổ súng trong căn cứ và xin nhận kỷ luật Anh Nhã hỏi kỹ lại và nói ở nhà không nghe tiếng nổ. Anh Nhã gọi máy trao đổi với anh Thái Bá Nhiệm và đồng ý cho Ksor Minh cùng Quế đi kéo con mễn về, xẻ thịt biếu cho vài đơn vị bạn, còn bộ đồ lòng, đầu và chân nấu cháo. Tôi đang đói và khát nên vừa húp cháo mễn ngon lành, vừa nghe chuyện, lòng rộn ràng vui mà nhớ hoài không quên. Cũng dạo ấy, trước đó vài hôm, Minh hái về một bọc trái sung, anh em chúng tôi đều ăn, ai nấy cho là ngon bùi, chừng 30 phút sau tôi thấy người nôn nao khó chịu, bụng đau lâm râm. Còn anh Hồ Sĩ Nhã thì nôn thốc nôn tháo ra cả mật xanh mật vàng.

        Đồng chí đại úy Hoàng Thao chính trị hiệp lý viên Phòng Tham mưu đi cắt tranh dã hơn hai ngày nay không thấy về. Đồng chí Hoàng Thao khoảng 40 tuổi cao cỡ 1 mét 6, nặng 60 kilôgam, da ngăm, răng vàng khè do hút thuốc lào, tính tình vui vẻ, tuy trong tiếp xúc thường xuề xòa, quê anh ở Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đơn vị tổ chức nhiều tốp đi tìm. Ba ngày sau mới tìm thấy anh Hoàng Thao đang ôm cây ngồi trên chừng ba một cây rừng to một người ôm không xuể Anh ngồi cách mặt đất chừng 3 mét, hai chân buông thõng, không kêu nổi nữa. Anh em phải dùng võng buộc một đầu vào cây, cho anh ngồi lọt vào võng và thòng dây đưa anh xuống, khiêng cáng về. Đơn vị đã chạy chữa cả tháng sau anh Hoàng Thao mới ăn uống, đi lại được. Nhưng từ đó, anh như người mất hồn, trí nhớ gần như không còn, đơn vị phải gởi anh về miền Bắc chữa trị.

        Sư đoàn chúng tôi mang phiên hiệu Nông trường 10. Các trung đoàn xuống hoạt động vùng Plây-di- răng, Đinamô, Đức Vinh, Thăng Đức, Đức Cơ... Chúng tôi ở gần làng Tung 1, Tung 2. Giữa năm 1966, trong một lần đi công tác xuống cơ sở, tôi và đồng chí Ksor Minh đi nắm tình hình qua những làng dân tản cư nhiều nơi trong huyện Đức Cơ. Tôi bị sốt mê man đã ba ngày, không ăn được cơm tại làng Pleinuk. Đồng chí Ksor Minh đã dùng chiếc áo đen cụt tay đổi con gà nấu cháo bón cho tôi từng muỗng. Tôi tỉnh dần, hai ngày sau tôi ăn được Chén cơm. Anh em dìu nhau về đơn vị. ít lâu sau, trong buổi họp chi bộ hàng tháng, đồng chí đại úy Trần Ngọc H., đảng viên chính thức hỏi việc đổi gà nấu cháo, đối chiếu với chủ trương "cho không lấy, thấy không xin, không mua bán đổi chác" thì đúng hay sai. Cuộc họp im lặng, không khí chùng xuống. Tôi ngồi im suy nghĩ, chưa biết nên nói gì thì đồng chí Minh đứng dậy với vẻ mặt giận dữ, tự đấm vào ngực vừa nói: "Đó là việc của tui tui làm trên quê hương tui để cứu một đồng chí sốt nằm mê man đã ba ngày... Sao bây giờ kiểm điểm? Kiểm điểm ai? Kẻ vi phạm là tui đây nì, có ưa kỷ luật gì thì kỷ luật tui đây nì! Nếu để một đồng đội chết hôm đó thì ai kiểm điểm ai?" Để kết luận sự việc, đồng chí Thái Bá Nhiệm, Chủ nhiệm chính trị nói: "Trong trường hợp phải cấp cứu như đồng chí Minh kể thì không thể áp dụng cứng nhắc vấn đề kỷ luật dân vận", đồng chí nói tiếp: "Thay mặt cấp ủy, thủ trưởng đơn vị, tôi thành thật cám ơn và biểu dương đồng chí Võ Khắc Minh đã nêu cao tình thương yêu cứu giúp đồng đội lúc gặp khó khăn hoạn nạn".

        Lại nói, cũng dạo đó trong khi phát biểu đánh giá tình hình tư tưởng bộ đội, đồng chí Nguyễn Đ, nói: "Chúng ta đã vượt qua được trận đói ở A Shầu và hành quân vào được đến đây là một sự cố gắng nhất định, nhưng chưa thấm vào đâu. Sắp tới còn gay go ác liệt hơn, đói khát dài ngày hơn đang chờ đợi chúng ta, phải kiên định vững vàng..." Tức thì đồng chí chiến sĩ Nguyễn Ninh, một thanh niên ở làng quê Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình cau mày ghé tai tôi hỏi: "Vượt qua trận đói ở A Shầu và dìu nhau vào được đến đây mà chưa thấm vào đâu thì sắp tới chắc phải chết hết hay sao?". Tôi nói: "Vừa qua chúng ta đã vượt qua thử thách lớn, đã giành được thắng lợi, trưởng thành, sắp tới cần phát huy thắng lợi...", chiến sĩ Nguyễn Ninh vui ra mặt vừa nói: "Có rứa mới đúng chớ, và còn phải cố gắng hơn nữa?".


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2016, 05:47:22 AM

*

*         *

        Công tác bảo vệ lúc này xoay quanh ba việc: một là giáo dục phòng gian bảo mật cho bộ đội trong hành trú quân chiến đấu (đi không dấu, nấu không khói, nói không to); hai là góp phần giáo dục củng cố giữ vững ý chí chiến đấu, chống chiến tranh tâm lý của địch, bóc trần các thủ đoạn xảo quyệt của địch tác động bằng truyền đơn, loa phóng thanh từ máy bay; ba là nắm và bàn giao tình hình chính trị nội bộ mỗi khi có đơn vị mới về hoặc chuyển đi. Công tác này rộ lên khi có lệnh giải thể dần nông trường 10. Đại bộ phận các E xếp thành từng đoàn cấp tiểu đoàn hành quân vào bổ sung cho B2, nhiều cán bộ bổ sung cho Nông trường 1, trong số này có đồng chí thiếu tá Hồ Sơ Nhã về giữ chức trưởng ban bảo vệ Sư đoàn 1, đồng chí thiếu tá Nguyễn Mậu Đạt chủ nhiệm hậu cần về giữ chức chủ nhiệm hậu cần Sư đoàn 1, anh Trần Văn Trân, thượng tá về làm Sư đoàn phó Sư đoàn 1. Số đông còn lại chuẩn bị bổ sung về cho cơ quan B3. Dạo đó chúng tôi ở tại một vùng rừng bắc sông Eađrăng, tỉnh Gia Lai vào gần cuối năm 1966. Đơn vị phát động một đợt văn hóa văn nghệ, thi viết báo liếp, ca hát, đọc - ngâm thơ, diễn kịch.., thật vui vẻ, lạc quan.

        Một hôm, tôi nghe đài Hà Nội tường thuật về đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, có Bác Hồ đến dự. Sau khi nghe mẹ Suốt (Quảng Bình) báo cáo thành tích trước đại hội, Bác Hồ đứng dậy nói lớn: "Thật xứng đáng là một người anh hùng!" Hội trường vỗ tay dài... Tôi đặc biệt chú ý nghe bản báo cáo thành tích của anh hùng Đinh Như Gia (một người anh con bác tôi) với giọng nói rặt quê hương Vĩnh Linh và các tên người, các địa danh quen thuộc nơi tuyến đầu miền Bắc thân yêu đang kiên cường chống đánh chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, lòng tôi tràn đầy tự hào, vững niềm tin tất thắng mà trong tôi cứ băn khoăn mình phải làm gì đây cho xứng đáng là người đang ở tiền tuyến?

        Cuối năm, sắp đến ngày 22 tháng 12, đơn vị cử tôi dẫn một tổ 5 người đi đánh cá. Tổ do một dân quân địa phương dẫn đường. Chúng tôi mang theo hai trái lựu đạn đến sông Eađrăng, tôi mang theo lưỡi câu đồng được uốn bằng cái khâu của dây thắt lưng to bản, dùng sợi dây dù mắc võng làm dây câu. Chúng tôi hạ trại bên bờ sông Eađrăng, cạnh một bờ vực vừa bị đất lở trong mùa mưa. Tôi đi tìm bắt một con nhái. Tối đến, trước khi đi ngủ, tôi mắc nhái buộc dây vào một nhánh cây cho vừa tầm con nhái bơi bơi trên mặt nước. Tôi mắc võng trên bờ vực ngủ say.

        Mờ sáng, tôi thấy có một vật gì đen như cành cụt bên cạnh khúc cây đổ cũ nằm ngang mặt nước. Tôi mò xuống thì thấy một con cá lóc bằng bắp chân dính câu nó đã chết, dây quấn chặt nhiều vòng vào khúc cây đổ Tôi mừng quýnh, la to: "Cá to quá?" Mọi người xúm lại bàn tán việc nấu cháo ăn sáng. Chúng tôi chỉ dùng cái đầu cá, bộ lòng và khúc đuôi nấu cháo, còn mình cá thì giao cho đồng chí Nguyễn Ninh cắt ra thành nhiều khúc, nướng chín để dành mang về.

        Tổ chúng tôi đến một vực sâu, nơi mà anh dân quân cho rằng có nhiều cá to ở, anh ta ném quả lựu đạn có khía quả na. Chúng tôi hồi hộp thấy' có nhiều bong bóng nhỏ nổi lên mà không nghe tiếng nổ. Anh dân quân định lặn xuống mò lựu đạn lên. Tôi ngăn lại, kiên quyết không cho lặn. Chúng tôi đi tiếp đến một khúc sông có rất nhiều con cá bằng bàn tay tranh nhau ăn mồi, chúng ken dày đặc nước như cá nhốt trong chậu. Hộc nước này nối liền với đoạn sông cạn, nước chảy xiết. Tôi đồng ý cho ném quả da láng (OF). Một tiếng nổ đanh, bầy cá cùng với nước văng tung tóe, trắng lấp lánh dưới ánh nắng. Chúng tôi nhào xuống vớt, ném lên bãi và tiếp tục xuống đoạn nước chảy xiết, tiếp tục lượm ném lên bãi... Bỗng chốc đã có một bãi toàn cá trắng xóa, gom lại có đến hơn hai chục ký. Lúc đó mới hơn 10 giờ sáng. Chúng tôi mang cá về chỗ tạm dừng, móc ruột hấp chín, phơi cho ráo nước. Cơm trưa hôm đó được ăn cá thỏa thích, sau đó thu dọn về đến đơn vị trong đêm. Phòng chính trị nông trường 10 đón tết Đinh Mùi giữa rừng Gia Lai, chúng tôi có đủ thịt cá, bánh chưng và liên hoan văn nghệ bằng các tiết mục mới đoạt giải thật rôm rả.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2016, 12:22:52 PM

*

*         *

        Giữa năm 1967, tôi về làm trợ lý Ban bảo vệ Phòng Chính trị Tây Nguyên do đồng chí Trung tá Đặng Vũ Hiệp làm Phó chủ nhiệm (Nghe nói đồng chí Lê Linh, Chủ nhiệm nhưng tôi chưa thấy lần nào). Ban bảo vệ do đồng chí Nguyễn Đình Hường, thiếu tá trường ban có năm nhiệm vụ chính: Một là bảo vệ chiến đấu, chủ yếu là đi trong cơ quan Sở chỉ huy tiền phương tại các cánh, các hướng do đồng chí Tùng Chi hoặc tôi đi; hai là nắm và quản lý chính trị nội bộ do tôi và đồng chí Nghị phụ trách; ba là điều tra nghiên cứu giải quyết các vụ việc phức tạp do đồng chí Tùng Chi phụ trách; bốn là bảo vệ căn cứ và cơ quan do đồng chí Minh Son và đồng chí Văn phụ trách; năm là theo dõi giúp đỡ các đơn vị khối trực thuộc do đồng chí Nguyễn Diến phụ trách. B3 chưa có tổ chức ngành quân pháp, để giải quyết các vụ việc phức tạp khác xảy ra do anh Nguyễn Tùng Chi kiêm nhiệm.

        Vào những năm 1965 - 1967, cán bộ chiến sĩ B3 ốm đau la liệt, do sốt rét rừng. Quân số chiến đấu giảm sút, có nơi chỉ trên dưới 20 phần trăm hoạt động, chủ yếu là nuôi cứu nhau, không khí bi quan bao trùm. Một số cán bộ văn nghệ, văn công Tổng cục Chính trị có mặt ở Tây nguyên nào đó nói vui: nhà văn ngớt sốt đến thăm nhà báo đang yếu, thấy nhà báo đang nấu cháo nuôi nhà thơ". Đảng ủy, Bộ Tư lệnh B3 đã kịp đánh giá tình hình và ra chỉ thị: "...Ý chí nghị lực thắng bệnh tật". Đi kèm chỉ thị là văn bản hướng dẫn mọi người áp dụng sáu đòn sấm sét gồm: Tinh thần ý chí quyết thắng bệnh tật; vui vẻ lạc quan cách mạng; tiếp tục công tác chiến đấu; phải ăn uống giữ bữa; thể thao văn nghệ; xông xoa bấm huyệt và dùng thuốc men cứu chữa.

        Đồng chí Nguyễn Đình Hường sinh 1925 tại Nghi Lộc, Nghệ An, Thiếu tá, Trưởng ban bảo vệ B3 kể: Một hôm chủ nhật giữa mùa mưa năm 1965, khoảng 9 giờ sáng, anh cầm rựa định đi chặt vài khúc tre về chẻ làm chổi xua muỗi, chổi quét nhà. Đồng chí Hường bước qua bụi nứa thấy có một cây nứa gãy, ai chặt có vết sắc cỡ ngang mặt. Anh vít kẻo xuống định chặt cao hơn để khỏi bị chọc vào mắt, tức thì ở trong ống nứa bung ra một con rắn lục mổ vào phía dưới mi mắt trái. Đau quá, anh la to lên, vài anh em trong nhà chạy ra đập chết con rắn, dìu anh vào lán. Chỉ ít phút sau, anh thấy đau đầu, nóng ran từ đầu lan xuống... Quân y sĩ đơn vị đến rạch rộng vết thương, nặn máu nhiều lần và rửa sạch vết thương, cho uống thuốc giải độc, uống nhiều nước chanh đường. Vì không thể làm garo, cũng không thể phẫu thuật được, đành phải để chạy chữa tại đơn vị. Chỉ một giờ sau anh đã đỏ da toàn thân, sốt cao, đau đớn. Đêm đến đã mê sảng chập chờn. Cứ thế kéo dài ba ngày, cơ thể anh bắt đầu sưng phù, thở khò khè. Từ ngày thứ 15 thì anh chỉ còn mặc được bộ áo quần bà ba đen. Người anh chỉ nằm ngừa, từ chót mũi thở đến hai đầu ngón chân cái thành một đường thẳng; cổ, ngực, bụng, háng, đùi, bắp chân đều phù to hết cỡ. Hơi thở gấp, tim đập 110 - 120 nhịp/phút, nhiều lúc tưởng như ngưng tim. Có điều, đầu óc mơ màng còn hiểu biết mỗi lúc có người đến thăm hỏi. Đơn vị vẫn nuôi anh bằng nước chanh đường và nước cháo loãng. Mọi việc ăn uống, vệ sinh cá nhân đều diễn ra tại chỗ - nhờ đồng đội giúp đỡ. Sau hai mươi ngày có dấu hiệu hồi phục, hiện tượng phù nề xẹp dần, anh cử động được tay chân. Một tháng sau biết đói, ăn bữa được một chén cháo nhỏ. Dần dần, anh ăn dược cơm nhão, đứng lên, ngồi xuống được tại giường. Ba tháng sau, đồng chí Nguyễn Đình Hường đã đi lại được bình thường, nhưng có điều lạ là đồng chí Hường mập trắng, có thể nặng tới 75 - 80 kilôgam và đặc biệt là không hề bị sốt rét rừng.

        Cũng dạo ấy có 4 đại úy Phòng Chính trị B3 đi công tác huyện 40 tỉnh Kom Tum gồm: Chế Viết Trình quê Quảng Nam, Trần Phố quê Quảng Nam, Hoàng Khánh quê Quảng Ngãi và tôi Đinh Như Ninh, quê Quảng Trị. Một chiều, chúng tôi thả lưới được mớ cá suối Đắc Mế. Bốn chúng tôi nấu cháo cá. Anh Phố đi xin được hai trái ớt, anh nói dân dặn bốn người chỉ ăn hết nửa trái thôi, đây là ớt ngựa, cay lắm. Anh Chế Viết Trình và anh Khánh nói cứ cho hết một trái vào, khỏi sợ tanh, dân sốt rét này đâu có ngán gì cay? Nhưng khi cháo chín, anh Trình húp thử đã la cay quá! Tôi nếm một hớp cháo đi đâu biết đến đó, xuống đến bụng vẫn nóng khó chịu. Nồi cháo cá hôm đó đành phải dùng cái rá đem xuống suối lượt lấy các hạt cháo và ít thịt cá lòng tong. Về nấu lại, nêm nếm, thêm bột ngọt mà ăn vẫn cay nồng. Thế mới biết giống ớt ngựa của đồng bào Kim Tum nó cay đến cỡ nào!


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2016, 06:26:51 PM
       
        4. Phong cách của một vị tướng

        Về cơ quan B3, tôi có dịp đi phục vụ đồng chí Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh B3 đi kiểm tra đường dây C01, C02, C03 đi qua Tây Nguyên. Tôi được biết thêm phong cách của một vị tướng. ông sống rất gần gũi, thân mật với mọi người, đặc biệt là với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và các chiến sĩ trẻ trên đường từ miền Bắc mới vào. Dạo đó, ông đã ngoài 50 tuổi, nhiều lần sốt ốm dọc đường nhưng ông luôn từ chối, không bao giờ chịu nằm võng để chiến sĩ khiêng cáng đi. Một lần tôi chứng kiến ông trò chuyện với một chiến sĩ tại bờ bắc sông Pôcô, khi đang đợi đò :

        - "Chào đồng chí!"  - "Vâng, xin chào thủ trường"

        - "Năm nay đồng chí bao nhiêu tuổi?" - "Dạ, mười tám, còn thiếu một tháng nữa mới tròn". 

        - "Đồng chí đi bộ đội lâu chưa?" - "Mới chưa đầy 6 tháng".

        - "Đồng chí quê ở đâu?" - "Dạ, Ở Hồng Thắng, Thanh Miệnn, Hải Dương".

        - "Đồng chí học hết lớp mấy?" - "Dạ, lớp 7. Rồi ở nhà chăn vịt cho mẹ".

        - Đồng chí hay ăn thịt vịt không?" - "Có chứ, ngon lắm. Nhất là tầm vịt chéo cánh".

        - "Ăn kiểu gì ngon?"

         - "Dạ, ngon nhất là giữa đồng, móc đất ruộng nước bọc kín con vịt sau khi đã bóp cổ chết, đừng cắt tiết mổ bỏ hết lòng ruột, nướng bằng lửa rơm cho thật chín. Bóc đất đi ta có con vịt trắng phau, xé thịt vịt chấm muối ăn ngon, béo ngậy".

        Ông cười ha hả rồi lại hỏi: "Đồng chí đi bộ đội, lại đi B, mẹ có buồn không?"

        - "Buồn chứ, nhưng mẹ nói thanh niên được đi đánh Mỹ cứu nước là vinh dự lắm?"
   
        - "Mẹ có chuẩn bị gì cho đi không?"

        - "Có, mẹ thương lắm! Mẹ cho thịt con vịt chéo cánh, gói cho một mo xôi lạc thật to. Mẹ tiễn ra tận quốc lộ số 5”.

        - "Sao bố không tiễn?"

        - "Bố đi bộ đội lâu rồi, mẹ nói bố còn ở xa lắm, không về được!"...

        Một lần khác, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo đến thăm động viên tiểu đoàn 101 (đây là tiểu đoàn tuyển chọn của Trung đoàn 101, Nông trường l0) trước khi đi chiến dịch, hè năm 1967. Đứng trước hơn 400 người hàng ngũ vuông vức ngay ngắn, trên một quãng đất trống giữa rừng núi Gia Lai, ông tươi cười mở đầu bằng một câu tiếng Tày, đại ý: "Chào những người anh em quê núi rừng Việt Bắc, trước giờ ra trận trên đất Tây Nguyên?" Cả tiểu đoàn nhất lượt đứng dậy giơ cao nắm tay đáp bằng tiếng Tày, đại ý: "Chúc mừng gặp được người anh em ở đây".

        Ông nói ngắn, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và động viên tinh thần chiến đấu của thanh niên Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, và trước mắt, trong mùa hè rực lửa hiện nay, với quyết tâm "cắt đầu D" tức là tiêu diệt cả lính và chỉ huy cấp tiểu đoàn Mỹ. Tôi nhận thấy mọi khuôn mặt chiến sĩ đều rạng rỡ. Cả tiểu đoàn bừng bừng khí thế, quyết chí giết giặc lập công.

        Cũng trong chuyến đi kiểm tra đường dây C02 (ở Gia Lai), tôi mới biết rõ sự hy sinh của đại úy bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên, chủ nhiệm quân y Trung đoàn 95. Đồng chí Nguyễn Đình Nguyên sinh năm 1926 tại Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, đã tốt nghiệp y tá trưởng tại Huế. Năm 1946, anh đi kháng chiến làm chủ nhiệm quân y tiểu đoàn 227. Anh có vóc dáng nhỏ con, da hơi ngăm, đôi mắt sáng, cặp chân mày đen sắc anh có vết sẹo dài ở cầm phải. Anh rất vui tính, khiêm tốn và nhanh nhẹn. Anh bị sốt cao trên đường hành quân đi đánh Mỹ năm 1965. Cũng như một số anh em khác, khi bị sốt đã đến mức đuối sức, nhưng không muốn gây khó khăn cho đồng dội, anh lùi vào rừng cách đường năm bảy bước, gắng sức mắc võng nằm nghỉ... Cuối ngày hành quân, không thấy anh về, đơn vị báo cho đường dây đi tìm đưa vào quân số thu dung. Đoàn C02 báo cáo đã tìm thấy tung tích bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên qua các giấy tờ còn lại, khi thi hài đồng chí đã bốc mùi còn nằm trên võng, cách đường giao liên chừng 7 mét.

        Trong đợt học tập chính trị chuẩn bị cho mùa khô năm 1967, tôi được giao làm phái viên theo dõi tổ học tập của cán bộ Trung đoàn 320 do đồng chí Phan Trọng Thông chính ủy làm tổ trưởng, đồng chí Đặng Hồng Thanh cựu chính ủy là học viên. Trong một buổi nghe phản ảnh kết quả học tập do đồng chí Chu Huy Mân chủ trì, đồng chí yêu cầu qua kết quả học tập - các phái viên báo cho nghe chính kiến của mình đánh giá quyết tâm của học viên là cán bộ, chứ không phải nghe các thợ ảnh sao chụp tình hình học tập. Đến lượt tôi báo cáo xong tổ học tập Trung đoàn 320, đồng chí Chu Huy Mân hỏi: "Quyết tâm của cậu Trần Đối1 thế nào?" Tôi báo cáo: "Mới nắm đến cán bộ trung đoàn". Tôi nghĩ, với một đồng chí thượng úy tiểu đoàn trưởng mới về đơn vị thì đã có gì phải chú ý! Hôm sau tôi hỏi anh Đặng Hồng Thanh cho biết, đó là "con gà nòi" mới điều từ Trung đoàn 66 về làm nòng cốt đấy!

---------------
1. Đồng chí Trần Đối, Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hội viên Cựu chiến binh phường 12 quận 10.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2016, 08:39:33 PM

*

*   *

         Mùa hè năm 1967, tôi đi trong cơ quan Sở chỉ huy cánh Trung do đồng chí Bùi Nam Hà - Tư lệnh, đồng chí Trần Xuân Lư - Chính ủy. B3 sử dụng Trung đoàn 95b và Trung đoàn 88 đánh đồn Đức Vinh, hoạt động đón đánh địch đi cứu viện vùng Đức Cơ, Thắng Đức, Giao Trạch, núi Phượng Hoàng. Đây là một đợt hoạt động đệm. Trời vẫn còn những cơn mưa bất chợt cuối mùa, thỉnh thoảng có những buổi nắng gay gắt, trời nóng bức thật khó chịu. Đêm đêm, pháo địch tại các căn cứ bắn bừa bãi vào rừng núi, những nơi chúng nghi ngờ có quân ta. Một tối, sau khi nghe tình hình trong ngày tại hầm chỉ huy sở, tôi về lán mình lúc 20 giờ 30, vì nóng bức quá tôi ngồi quạt tại cửa hầm và thiu thiu buồn ngủ bên cạnh chiếc võng đã mắc sẵn. Bỗng tôi giật mình, nhớ lệnh của đồng chí Bùi Nam Hà "phải xuống hầm trước 21 giờ mỗi tối". Tôi xuống hầm nằm chưa ngủ đã nghe nhiều tiếng pháo nổ đanh rất gần, nhiều tiếng va chạm của mảnh kim loại với các cành tre, cành le già kêu lắc rắc đây đó. Sáng ra, tôi nhận thấy chiếc võng của mình bị thủng ba lỗ. Một mảnh pháo dài hơn đốt ngón tay trỏ còn nằm trên võng, một mảnh khác bằng hai đốt ngón tay cái xuyên qua võng, nằm trên lớp mùng bọc dưới võng.

        Tôi đã phải khâu vá lại mà dùng từ đó cho tới khi về Cục Chính trị B2 mới được phát võng bổ sung.Tôi vẫn cất cái võng đó làm kỷ niệm. Cho đến cuối năm 1972, khi anh Từ Tư Văn đi công tác bị nước cuốn trôi võng, tôi biếu anh cái võng thủng ba lỗ ấy.

        Tại Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, tôi đã ba lần nhận được thư vợ và hai lần nhận được thư mẹ gởi từ miền Bắc vào, có cái phải 6 tháng mới tới. Tôi biết tin tất cả đều đã sơ tán ra Nghệ An, tuy có vất vả nhưng mẹ và vợ con đều an toàn. Năm 1968, có 3 mất mát, cha vợ đã qua đời vì già và bệnh tại Vĩnh Linh, em vợ Nguyễn Văn Tục đi bộ đội hy sinh trong một tai nạn và em tôi, Đinh Thị Đào, dân quân hy sinh vì B52 Mỹ.

        Tôi viết thư gửi đều 2 tháng một lần, ngoài việc thăm hỏi tôi dặn đổi chữ lót tên các con gái từ chữ "Thư' sang chữ "Hương' (Hương Liên, Hương Lan) vì có ý nghĩa hơn (hương thơm, hương quê).

        Chiến dịch Đăktô kết thúc vào cuối năm Đinh Mùi 1967. Chúng tôi đến trú quân ở khu rừng gần suối Đắk-mế huyện Đăktô, tỉnh Kon Tum. Đêm văn nghệ đón xuân Mậu Thân (29.01.1968) diễn ra rôm rả, thân mật bằng các tiết mục tự biên tự diễn của các ban trong phòng Chính trị B3 (mặt trận Tây Nguyên). Anh Đặng Vũ Hiệp phát biểu chúc Tết thật tình cảm, tươi vui, tin tưởng.

        Chúng tôi trở về lán trước 23 giờ để chuẩn bị nghe Bác Hồ chúc Tết và đón nhận tin chiến thắng từ khắp các đô thị trên toàn miền Nam. Tin về dồn dập và ngày càng cụ thể, kéo dài đến giữa năm 1968.

        Yếu tố nổi bật là bí mật, bất ngờ về ngày, giờ nổ súng và về cách đánh của ta mà địch không thể lường trước được. Bí mật bất ngờ về cách đánh đến nỗi chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thế trận của đôi bên đều đảo ngược, hậu phương thành tiền tuyến và ngược lại.

        Ngay từ những tháng đầu năm 1968, các đơn vị thiện chiến của quân Mỹ trước đây được tung đi xa để "tìm và diệt" thì nay phải cấp tốc lui về phòng ngự để cứu nguy cho đô thị. Về hiệp đồng tác chiến, có thể nói trong lịch sử chiến tranh thế giới chưa có cuộc hiệp đồng nào tài tình như Mậu Thân 1968 của ta.

        Chiến lược "chiến tranh cục bộ" phải thay bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

        Tôi đã hai lần đi theo Sở chỉ huy B3 ở cánh Bắc. Tháng 3 năm 1968, Sở chỉ huy tiền phương B3 do đồng chí Hồng Sơn - Tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện - Chính ủy sử dụng Trung đoàn 209 Sư đoàn 312. Trung đoàn được mệnh danh là "trung đoàn thép, không đi phép, chân không dép" (chỉ đi giày). Trung đoàn được trang bị khá hiện đại với khí thế hừng hực. Trung đoàn ra quân đánh điểm Chưtankra, do một tiểu đoàn quân Mỹ đóng giữ. Các trung đoàn 66, 320 đánh vận động tại các khu vực chung quanh.

        Tháng 5 năm 1968, tôi đi theo dõi giúp đỡ cơ quan Sư đoàn 325C do Bộ Tư lệnh Sư đoàn tổ chức chỉ huy. Sư đoàn do đồng chí Chu Phương Đới - Thượng tá, Sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Văn Ân - Thượng tá Chính ủy. Sư đoàn tổ chức đánh điểm Ngọc Hồi và đón đánh vận động vùng Ngọc Bơ, Ngọc Tang, Ngọc Cam Liệt, Ngọc Rình Rua. Phòng Chính trị B3 cừ đồng chí Nguyễn Đằng và tôi đi phổ biến kinh nghiệm công tác chính trị chiến trường và góp phần xây dựng ý chí quyết tâm cho Trung đoàn 101C. Trong đợt này, tại vị trí tập kết nhiều đêm chúng tôi phải hứng chịu từ ba đến năm đợt bom B52, mỗi đợt từ 15 đến 18 lượt chiếc. Có hôm tôi xuống đại đội 11 tiểu đoàn 9 - bị B52 trong đêm, tôi bị sập hầm, chấn thương nhẹ cột sống. Sáng ra tôi về trung đoàn thì đường đi đã bị bom tàn phá. Tôi cứ nhắm hướng mà đi một mình giữa bãi bom B52, cây đổ ngổn ngang xen lẫn hố bom. Nghe tiếng máy bay xa, tôi tìm chỗ ẩn nấp, vừa may mắn thấy một cây to đổ dài cách chỗ tôi đứng vài mét. Tôi đến gần, nằm ngừa dưới thân cây, theo dõi chiếc máy bay trinh sát OVI0 lượn quanh hai vòng rồi bỏ đi. Đợi cho nó đi thật xa, tôi mới tiếp tục nhắm hướng đi về trung đoàn. Có đêm, tôi đang ngủ ở tiểu đoàn 9, nghe tiếng máy bay B52, đồng chí Khang1 - Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 9 - lay võng gọi tôi dậy. Tôi hỏi để làm gì, Khang nói: "Để há miệng và bịt tai lại, nếu bom nổ gần khỏi bị điếc tai và răng chần dứt lưỡi". Tôi nói: "Cảm ơn lời khuyên, còn tôi thì tranh thủ mà ngủ. Nếu bom trúng kể như mình không biết gì, bom gần nếu bị thương nặng hoặc sập hầm sẽ có người cứu".

--------------
1. Trung tá Khang, hội viên Cựu Chiến binh quận 3, TP.Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2016, 07:00:40 PM
        Cũng trong đợt hoạt động này, tôi rất đau buồn được tin đồng chí Đỗ Viên Tín - thiếu tá, học viên Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng đi thực tập vai chính ủy trung đoàn tại Trung đoàn 95C - đã hy sinh vì bị bom B52 tại chân cao điểm 1042 thuộc huyện Đakto, tỉnh Kon Tum. Đồng chí Đỗ Viên Tín là trợ lý văn nghệ ban chính trị Trung đoàn 95 trong những năm từ 1949 - 1953. Anh sinh năm 1927 tại Triệu Phong, Quảng Trị, đi bộ đội năm 1946. Anh có tầm vóc nhỏ con, nhanh nhẹn, lé mắt trái. Anh rất vui tính và có tài kể chuyện vui thật dí dỏm. Anh là tác giả bài vè cải thiện nổi tiếng một thời tại Trung đoàn 95 và bà con nhân dân 4 huyện Phong Điền, Quảng Điền (tỉnh Thừa Thiên) và Hải Lăng, Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị) những năm 1950 - 1952.
       
        Tháng 7, tháng 8 năm 1968, tôi được phái đi theo Trung đoàn 95C đánh diệt đồn Đắc Sắc và quận lỵ Đức Lập, thuộc cánh nam của B3. Cùng đi có đồng chí đại úy Lê Ngọc Đan - quê ở Thanh Hóa - được phân công đi theo dõi Trung đoàn 95C thiếu được tăng cường hỏa lực đánh diệt điểm Đắc Sắc. Chúng tôi bám sát Tiểu đoàn 4. Tôi chú ý Đại đội 2 là đại đội mở cửa và có hai trung đội đột kích 1. Đại đội 2 do trung úy Phán - Đại đội trưởng, trung úy Nguyễn Hữu Trương - Chính trị viên. Tôi theo sát đại đội từ bước quán triệt nhiệm vụ xây dựng quyết tâm chiến đấu, bước hành quân chiếm lĩnh trận địa, mỗi chiến sĩ mang theo hai ngày cơm vắt và một ngày gạo rang. Tôi ghi nhận công tác tổ chức chỉ huy lãnh đạo là rất tốt cán bộ chiến sĩ hăng hái, tự tin với quyết tâm cao. Tôi trở về sở chỉ huy Trung đoàn để theo dõi bộ đội tiếp cận mục tiêu và diễn biến chiến đấu. Suốt đêm, ta chỉ đánh chiếm được ba phần năm cứ điểm, cả ngày hôm sau ta và địch đánh giằng co giữa căn cứ Đắc Sắc Máy bay địch ném bom nổ, bom cháy để hỗ trợ. Quân ta cứ chiếm giữ, vừa kiềm chế bộ binh địch, vừa bắn máy bay bổ nhào. Từ 16 giờ 30 đến 17 giờ, tôi bò đến hàng rào căn cứ địch gặp một số anh em đại đội 2 để nắm tình hình, thăm dò quyết tâm của chiến sĩ. Nhiều đồng chí đề nghị: "Tối nay đánh tiếp, ít ra cũng phải vào tìm đón người bị thương và lấy hết từ sĩ chứ không thể bỏ được". Tôi cùng các phái viên, dự thảo luận quyết tâm tại sở chỉ huy trung đoàn, hôm đó có đồng chí trung tá Lê Hữu Đức1, đồng chí Đỗ Văn Dũng, thiếu tá trung đoàn phó2, đồng chí Nguyễn Văn Thái, thiếu tá phó chính ủy trung đoàn3 cùng dự. Cuộc họp nhất trí củng cố bàn đạp đã có, sử dụng lực lượng dự bị tối nay đánh tiếp nhằm dứt điểm đồn Đắc Sắc. Tối đó đánh tiếp, vừa có bộ phận tìm kiếm thương binh tử sĩ. Còn cái lô cốt mẹ vẫn không diệt được. Ba giờ sáng cho lệnh thu quân. Tôi và đồng chí Lê Ngọc Đan trao đổi, thống nhất những nhận xét đánh giá kết quả trận đánh trước khi về báo cáo cấp trên. Tôi ghé thăm, nắm tình hình đội phẫu đóng quân tại một đám rừng toàn là cây lành ngạnh, có gió và nắng. Có 46 thương binh, phần lớn là thương binh nhẹ và trung thương, có 12 thương binh nặng, đa phần bị bỏng vì bom lân tinh. Tôi đến thăm đồng chí thương binh nặng nhất. Chiếc võng được phủ kín bằng chiếc tăng nóc nối liền với hai đầu võng. Trời hửng nắng, tôi hỏi đồng chí y tá sao không treo cao hoặc vén rộng tấm tăng lên để đỡ nóng cho thương binh? Đồng chí y tá cho biết phải phủ kín để chống ruồi nhặng tưa vào miệng, tai, cầm... Tôi tới, vén mở tấm tăng thấy thương binh bị cháy tai, mắt, mũi,  miệng... Đôi môi sưng to như hai quả chuối cau xếp lại. Ruồi nhặng bay vù vù đến kiếm ăn. Những chỗ da thịt cháy đã bốc mùi nồng nặc. Tôi hỏi thăm, biết thương binh là trung uý Nguyễn Hữu Trương, Chính trị viên Đại đội 2, cả tôi và anh đều xúc động. Tôi xin đồng chí y tá cho một ly sữa, tôi vừa bón cho thương binh vừa hỏi chuyện. Anh khó nhọc lắm mới nói cho tôi biết anh bị bom phạt ngã xuống giữa đồn Đắc Sắc, lửa cháy khắp mình, nóng nhất là đầu và mặt, anh ráng sức lăn xuống chân đồi, lăn qua cửa mở, lăn xuống mép ruộng, lửa ít dần và anh được khiêng cáng về đây4.

        Tôi về Sở chỉ huy cánh nam của B3, báo cáo tình hình do đồng chí Bùi San5 chủ trì nhận báo cáo. Đồng chí Bùi San biểu dương và thưởng cho tôi một điếu thuốc Ara.

        Tại Sở chỉ huy cánh nam ở chân núi Nậm Nia, tôi nhận được lệnh bổ sung về Sư đoàn 1 làm trưởng ban bảo vệ Sư đoàn thay cho đồng chí Hồ Sơ Nhã và cùng Sư đoàn hành quân vào bổ sung cho chiến trường Nam Bộ.       

-----------------
1. Đồng chí Lê Hữu Đức, Trung tướng, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Quốc phòng.
2. Đồng chí Đỗ Văn Dũng, Thiếu tướng, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Thủ đô
3. Đồng chí Nguyễn Vãn Thái, Trung tướng, nguyên Phó Giám đốc Họe viện Quân sự Đà Lạt.
4. Tháng 8 năm 1998, tôi có dịp về thăm đồng chí Trương và gia đình tại làng Gia Lâm, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Linh. Tôi thấy anh bị cháy trụi hai vành tai, mặt đầy sẹo, quéo 3 ngón tay phải. Anh kể sau trận Đắc Sắc anh được chuyển ra Nghệ Tĩnh điều trị. Là thương binh về làng, anh lấy vợ ở Hà Tĩnh. Anh chị về quê Gia Lâm sống từ năm 1975, đến nay đã có 3 con.
5. Đồng chí Bùi San: Trung ương ủy viên, Phó Bí thư Khu ủy Khu 5.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2016, 08:46:00 PM
       
        5. Dấu ấn Tây Nguyên

        Đêm trước khi rời B3 vào B2, tôi hồi tưởng lại những năm tháng sống trên đất Tây Nguyên, trải qua ác liệt đói cơm nhạt muối, được thấy những tấm lòng vàng của đồng bào các dân tộc Pakôk, Sa tiêng, Kơhor, Giarai, Bana, Êđê.., trên dải đất cao nguyên miền Trung dành cho Bác Hồ, cho cách mạng và bộ đội giải phóng. Tôi có dịp nếm trải tính chất ác liệt của cuộc tranh chấp quyền làm chủ "mái nhà Đông Dương" - những cuộc đọ sức giữa quân dân B3 cùng các sư đoàn quân chính quy của ta với các sư đoàn sừng sỏ vào bậc nhất của quân viễn chinh Mỹ diễn ra tại dây.

        Một năm sau chiến thắng Plây-me, tôi mới có dịp nghe anh Lê Tiến Hòa - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, anh Hồ Trọng Bá - Chính ủy Trung đoàn 33, anh Đặng Hồng Thanh - Chính ủy Trung đoàn 320 kể chuyện. Và nhiều lần đọc tài liệu, dự các lớp tập huấn chiến lệ, rút kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị, nghe anh Đặng Vũ Hiệp1 nói chuyện bồi dưỡng phái viên, tôi mới hiểu tương đối có hệ thống chiến dịch Plây-me, đòn đánh phủ đầu vào Sư đoàn 101 "kỵ binh bay" của Mỹ, diễn ra tại huyện 5 tỉnh Gia Lai. Càng hiểu sự thật, tôi càng thích thú, hả lòng hả dạ và cảm phục vô hạn.

        Trong 4 ngày liền (từ 19 đến 22-10-1965), một đại đội tăng cường của Trung đoàn 33 diệt cứ điểm Chư Ho, một bộ phận Trung đoàn 33 bắn phá, tiến hành bao vây đồn Plây-me. Mỹ-nguy huy động 600 lần chiếc máy bay đủ loại ném bom trùm lên trận địa vây ép của ta, bọn địch đồn Plây-me dùng trung đội, đại đội liên tiếp ra phản kích. Bộ đội ta vẫn bình tĩnh đánh lui các đợt phản kích, tích cực bắn rơi nhiều máy bay. Quân ta khống chế sân bay, đường ra suối lấy nước, khu điện đài, đêm tập kích, ngày bắn tỉa... Quân địch đồn Plây-me bị dồn vào tình trạng quẫn bách, hoang mang cực độ.

        Ngày 23 tháng 10 năm 1965, chiến đoàn 3 thiết giáp nguy cùng 2 tiểu đoàn biệt động quân và một tiểu đoàn bộ binh do tên Trần Trọng Luật - chiến đoàn trưởng chỉ huy đến ứng cứu, 12 máy bay trực thăng quần đảo trên không đường 21 đoạn Phú Mỹ - Plây-me.

        Trung đoàn 320 đã chiếm lĩnh trận địa phục kích chờ sẵn. Sau những loạt bom pháo dọn đường, lực lượng đi giải vây đã lọt vào trận địa phục kích. Đại đội 1 tiểu đoàn 5 nổ súng chặn đầu. Hai tiểu đoàn 5 và 6 ở quyết chiến điểm bắn mãnh liệt vào giữa đội hình, chia cắt địch thành nhiều mảng. Tiểu đoàn 4 làm nhiệm vụ khóa đuôi: Ngay những phút đầu tiên, Trung đoàn 320 đã tiêu diệt một nửa số xe tăng, xe bọc thép địch. Sau những phút bất ngờ đội hình rối loạn, địch cố gắng điều chỉnh, tổ chức các mũi phản kích, đột phá mở vòng vây và co cụm, chờ pháo binh và không quân yểm trợ. Cuộc chiến đấu kéo dài 10 tiếng đồng hồ, đến 2 giờ sáng ngày 24 tháng 10, trung đoàn 320 làm chủ trận địa. Quân ta dã tiêu diệt chiến đoàn 3 thiết giáp, 1 tiểu đoàn, 1 đại đội bộ binh, phá hủy - phá hỏng 89 xe quân sự, bắn rơi nhiều máy bay. Xác xe giặc cháy thành bãi trên cao điểm 601.

        Ngày 26 tháng 10 năm 1965, ta quyết định mở vây đồn Plây-me, chuyển hai trung đoàn 33 và 320 về bố trí ở đông nam sông Ia-đrăng - là nơi tiện cơ động trên hai hướng Plây-me và Tân Lạc - đón đánh quân Mỹ đổ bộ. Quân ta có thêm Trung đoàn 66 mới vào chiến trường.

        Ngày 10 tháng 11 năm 1965, chiến đoàn 3 kỵ binh không vận số 1 của Mỹ tập kết ở Bầu Cạn. Ngày 11 tháng 11, một bộ phận lữ đoàn này nhảy cóc xuống Plây-ngo (cách Plây-me 10 kilômét về phía tây). Tiểu đoàn 952 đặc công tập kích đánh phủ đầu Sở chỉ huy hành quân của lữ đoàn này ở Bầu Cạn, diệt hàng chục tên, phá hỏng một số trực thăng. Cùng đêm 10 tháng 11, bộ đội tỉnh Gia Lai tập kích căn cứ Mỹ ở An Khê gây cho chúng nhiều thiệt hại.

        8 giờ sáng ngày 14 tháng 11, chín chiếc máy bay phản lực và 12 chiếc trực thăng vũ trang, hơn 10 khẩu pháo các loại từ Bầu Cạn bắn phá dữ dội vào khu vực đóng quân của tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 và làng Tung, làng Ia-Giao. Đến 9 giờ, 30 chiếc trực thăng từ Plây-cu bay theo đường 21 vòng qua khu vực Trung đoàn bộ 66 và tiểu đoàn 7, rồi lao về hướng tiểu đoàn 9. Máy bay phản lực ném bom, trực thăng phóng rốc-két, bắn đạn 20 ly. Tính đến 10 giờ đã có 3 đợt với 90 lần chiếc trực thăng đổ quân xuống trảng trống khu vực làng Mùi - cách tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 9 một kilômét. Chúng còn đổ 12 khẩu pháo 105 ly và hai đại đội bộ binh xuống Quỳnh Kia và đông nam Ia-đrăng để chi viện cho tiểu đoàn này (Đây là tiểu đoàn 1 lữ 3 kỵ binh).

---------------
1. Đồng chí Đặng Vũ Hiệp: Thượng tướng, ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị B3, Chính ủy Quân đoàn 3, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. 


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Ba, 2016, 12:16:24 PM
        Sau khi thiết lập xong các trận địa pháo, tiểu đoàn 1 Mỹ bắt đầu đánh lên sườn đông bắc dãy núi Chư-pông. Dưới sự yểm hộ của máy bay và pháo binh dọn đường, quân Mỹ hùng hổ dàn hàng ngang tiến quân. Một cánh quân xộc vào đúng tổ cảnh giới của tiểu đoàn bộ. Chiến sĩ Đinh Quốc Sủng chỉ huy anh em bình tĩnh, đợi chúng đến gần mới nổ súng. Ngay loạt đạn đầu, 7 tên Mỹ đã ngã gục. Bị đánh bất ngờ, quân Mỹ chùn lại, dùng phi pháo bắn phá rồi tiếp tục xông lên. Thấy quân địch đông quá, Đinh Quốc Sủng cho anh em lui về báo cáo tiểu đoàn, còn một mình anh tiếp tục chiến đấu và đã anh dũng hy sinh. Được biết quân địch tập kích vào đơn vị trong lúc chỉ huy đang đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí Vũ Thanh Xuân - trợ lý chính trị tổ chức anh em trinh sát, thông tin, y tá, nuôi quân, văn thư, vận tải.., chiếm lĩnh công sự, đánh lui nhiều đợt tấn công của quân địch. Đã có hai chiến sĩ và trợ lý quân nhu trở thành những tay súng giỏi, cứ mỗi phát đạn là hạ gục một tên Mỹ. Biết địch đánh vào tiểu đoàn bộ, đại đội 9 tổ chức đánh vào sườn trái quân địch. Bị đánh bất ngờ, quân địch rối loạn, đội hình lúng túng đối phó. Cùng lúc đó đại đội 11 xuất kích đánh vào sườn phải và phía sau quân địch. Đại đội phó Bùi Công Cầu dẫn đầu đại đội xung phong thẳng vào quân địch đánh giáp lá cà, diệt lính Mỹ bằng lưỡi lê, báng súng, lựu đạn.., làm cho quân Mỹ khiếp đảm. Máy bay Mỹ không phân biệt được đâu là quân của chúng nên đã dội bom na-pan lên đầu lính Mỹ.

        Đến 11 giờ, đồng chí Định - Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 - từ bờ sông Ia-đrăng chạy về điều một khẩu cối 82 ly và chỉ huy bắn vào đội hình quân Mỹ rồi ra lệnh xung phong. Quân địch hốt hoảng tháo chạy rồi co cụm, chống cự.

        Nghe tiếng súng quân ta nổ liên hồi ở hướng tiểu đoàn 9, đồng chí Cửu - Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7, đồng chí Lã Ngọc Châu - Chính ủy trung đoàn 66 và đồng chí Lê Xuân Phôi1 - Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 đã tổ chức chỉ huy các đơn vị lao vào cuộc chiến đấu với quân Mỹ 9 trận liên tiếp trong những ngày 14, 15, 16, 17 tháng 11 năm 1965 tại thung lũng Ia-đrăng.

        Quân Mỹ vẫn vào trận như thế đó, vẫn ỷ vào hỏa lực máy bay, pháo binh, dùng trực thăng đổ quân nhảy cóc. Quân ta chực sẵn bằng chiến thuật phục kích và chốt chặn, kết hợp vận động tiến công hai bên sườn và đánh giáp lá cà tiêu diệt từng đại đội địch, ngày bám địch, đêm tập kích...

        Những trận chiến đấu của các tiểu đoàn 7, 8, 9 - Trung đoàn 66 và tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 với lính sư đoàn 101 kỵ binh không vận số 1 Mỹ kéo dài đến 20 giờ ngày 17 tháng 11 năm 1965 thì kết thúc (Khoảng 400 tên của tiểu đoàn 1 trung đoàn 7 và 1 đại đội của tiểu đoàn 2 trung đoàn 45 lữ đoàn 3 chỉ còn vài chục tên sống sót chạy về căn cứ. Quân ta còn bắn rơi và phá hủy 34 máy bay các loại gồm phản lực F5, F101, AD6, OVI0, Li9 và phần lớn là trực thăng. Trong điều kiện súng phòng không lớn nhất của ta là 12,7 ly, một phần do tinh thần tích cực săn máy bay Mỹ của bộ đội ta, mặt khác, do mật độ chúng bay dày từng tốp 3 đến 5 chiếc, có lúc 20 - 25 chiếc ở độ cao 100 mét đến 600 mét, đôi lúc chúng sà sát xuống ngọn cây, rất thuận lợi cho ta bắn hạ bằng súng bộ binh.

        Một bộ phận cán bộ chỉ huy và cơ quan Tây Nguyên đi kiểm tra trận địa sau khi ta làm chủ chiến trường, địa hình hàng chục kilômét vuông bị đảo lộn, cây đổ ngổn ngang, địch chết thành đống, có chỗ năm ba tên, xen lẫn là xác của chiến sĩ ta. Những đồng chí nằm đè lên xác lính Mỹ, lưỡi lê còn cắm vào ngực tên địch. Có đồng chí hy sinh, tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn bên sườn. Có tổ 3 người mà phía trước và phía sau các anh còn hàng chục xác lính Mỹ... Nhìn vào hiện trường địch, ta như trên, thấy rõ tính chất ác liệt sự hy sinh dũng cảm tuyệt vời của cán bộ chiến sĩ ta. Về mặt chiến thuật cho thấy tác dụng của tổ chiến đấu 3 người, của từng bộ phận thọc sâu vào tung thâm quân địch. Hầu hết anh em ta hy sinh trong phạm vi 1 kilômét nhưng tư thế đều hướng vào giữa, hình thành các mũi bao vây kín. Ngay trong sở chỉ huy của địch, cạnh đài 15 oát, cạnh một lô cốt nắp sắt cũng có thi hài của anh em ta.

        Trận đánh ngày 17 tháng 11 năm 1965 của tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 và tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 là trận kết thúc một cuộc chiến đấu về mặt chiến thuật, nó cũng là một trận đánh then chốt quyết định sự thất bại về mặt chiến dịch của lữ đoàn 3 quân Mỹ trong chiến dịch Plây-me.

        Hơn một phần tư thế kỷ sau trận thất bại nặng nề ở thung lũng Ia-đrăng (17-11-1965), viên trung tá Harol Mo - chỉ huy tiểu đoàn 1 kỵ binh bay Mỹ, lúc này đã là trung tướng - trở lại Việt Nam và xin được gặp những người chỉ huy trận đánh này của ta. Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã có cuộc đối thoại rất thú vị với viên tướng Mỹ thua trận năm nào. Hơn hai mươi năm trôi qua viên tướng nọ vẫn chưa trả lời được câu hỏi vì sao họ bị thua đau trong trận Ia-đrăng.

---------------
1. Đồng chí Lê Xuân Phôi quê Ninh Mỹ, Gia Khánh, Ninh Bình được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 30 tháng 8 năm 1995.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2016, 06:34:08 PM
*

*        *

        Tuy bị thất bại nặng nề và liên tiếp, nhưng thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ vẫn chưa thay đổi. Ỷ vào sức cơ động nhanh, hỏa lực mạnh của không quân và pháo binh yểm trợ nên lính Mỹ rất chủ quan. Khi phát hiện được lực lượng của ta, quân Mỹ thường nhảy cóc sâu vào phía sau lưng, thực hiện bao vây chia cắt, chặn đường tiếp tế hòng đánh bật ta ra khỏi khu chiến, nên chúng rất dễ bị mắc lừa.

        Hai năm 1966 - 1967, cán bộ chiến sĩ B3 đã rút kinh nghiệm trong những trận đầu đánh Mỹ, huấn luyện nâng cao trình độ tác chiến, lập được chiến công khá lớn: Chiến dịch Sa Thầy diệt một tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác; chiến dịch Đăktô đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 Mỹ và lữ đoàn 1 Sư đoàn 4 Mỹ, góp phần cùng quân dân toàn miền Nam đánh bại chiến lược "tìm diệt" của đế quốc Mỹ.

        Trận đánh điển hình nhất là trận đánh của tiểu đoàn 7 trung đoàn 66 vào ngày 3 tháng 7 năm 1966 tại khu rừng "im lặng"1. Trưa hôm đó, tổ trinh sát tiểu đoàn trên đường đi bám địch, phát hiện một đại đội Mỹ đang dừng ăn trưa. Anh em để lại hai người tiếp tục bám, còn một người chạy về báo cho Ban chỉ huy tiểu đoàn. Ban chỉ huy tiểu đoàn hội ý gấp và quyết định sử dụng đại đội 2 (chủ công) được tăng cường một khẩu cối 82 ly, 30 quả đạn do tiểu đoàn phó Võ Quang Tịnh chỉ huy. Được trinh sát dẫn đường, đại đội 2 làm công tác chuẩn bị ngắn rồi nhanh chóng tiếp cận quân địch. Khi quan sát thấy toàn bộ quân Mỹ nằm trong tầm bắn có hiệu quả, Võ Quang Tịnh lệnh cho đại đội 2 nổ súng. Ngay từ những loạt đầu của cối 82 ly, cối 60 ly, chỉ huy và hệ thống thông tin liên lạc của địch bị tiêu diệt.

        Quân Mỹ như rắn mất đầu, không được phi pháo chi viện, chúng chống cự lúng túng trước lối đánh gần, áp sát của quân ta. Khẩu cối 82 ly đánh rất giỏi, chi viện đắc lực cho bộ binh. Đại đội trưởng Hứa Văn Kính xông xáo chỉ thị mục tiêu cho chiến sĩ B40 diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Sinh, chiến sĩ Nguyễn Văn Thỏa, Hoàng Minh Khôi dùng lựu đạn và súng AK diệt tám tên Mỹ. Trung đội trưởng Phạm Công Vụ dùng súng AK diệt ba tên, dùng lưỡi lê đâm chết hai tên Mỹ khác. Đại đội 2 ở thế áp đảo, chưa đầy 20 phút đã diệt hoàn toàn một đại đội Mỹ.

        Cán bộ chiến sĩ đại đội 2 kiểm tra trận địa, đếm được hơn 100 xác lính Mỹ. Tiểu đoàn phó Tịnh trao đổi với Đại đội trưởng Kính thấy nhất định quân Mỹ phải dùng lực lượng đến giải tỏa để lấy xác đồng bọn. Đại đội 2 tổ chức trận địa phục kích và điện xin tiểu đoàn tăng cường lực lượng, sẵn sàng chặn đánh quân Mỹ. Đúng như dự đoán, ngay chiều hôm đó quân Mỹ từ đồn Đức Vinh có xe tăng, xe bọc thép mở cuộc phản kích vào trận địa đại đội 2. Các chiến sĩ ta biến trận địa phục kích thành trận địa chốt chặn, thu hút giam chân quân địch. Chỉ huy tiểu đoàn 7 ra lệnh cho Đại đội 1 và Đại đội 3 xuất kích. Đại đội trưởng Trần Đình Bốn - Đại đội 1 và Đại đội trưởng Bùi Trung Du - Đại đội 3 nhanh chóng cho bộ đội vận động đến bao vây đánh vào hai bên sườn quân địch. Do kết hợp chặt chẽ giữa chốt giữ trận địa của đại đội 2 và tiến công vào sườn, vào phía sau quân địch của đại đội 1 và đại đội 3, tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 đã diệt thêm một đại đội Mỹ, bắn cháy 3 xe bọc thép M113, buộc quân địch phải tháo chạy và dùng máy bay ném bom bắn phá vào trận địa hủy xác đồng bọn, xóa dấu vết thất bại.

        Tại chiến trường Tây Nguyên, những người chỉ huy quân đội Mỹ dã nhiều lần dùng máy bay chiến lược B52 ném bom rải thảm để yểm hộ chiến thuật cho quân bộ binh Mỹ và họ cũng đã nhiều lần dùng máy bay ném bom bắn phá vào trận địa nhằm hủy xác đồng bọn, xóa dấu vết thất bại. Điển hình là trận tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù 173 của Mỹ ngày 19 tháng 11 năm 1967 tại khu vực cao điểm 875 huyện Đăktô, tỉnh Kon Tum. Đây là trận quân Mỹ bỏ xác lại trên trận địa nhiều nhất. Ngay buổi sáng ngày 20 tháng 11 năm 1967, những người chỉ huy quân đội Mỹ đã ra lệnh cho không quân dùng bom phá, bom napan hủy xác binh lính của họ.

        Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp cho biết: "Thế mà trong hồi ký của ông Giôn-xơn có đoạn viết: "Đưa ra chiến trường những tinh hoa của tuổi thanh xuân nước ta, những chàng thanh niên ưu tú nhất của chúng ta, đối với tôi không phải là việc dễ dàng. Tôi cho rằng tôi cũng biết cả những người mẹ của họ sẽ khóc lóc như thế nào, những gia đình của họ sẽ đau buồn như thế nào. Đây là nhiệm vụ day dứt nhất và đau đớn nhất của vị tổng thống của các bạn".

        Thử hỏi, ông Giôn-xơn có dám nói thật cho gia đình những người lính Mỹ xấu số kia biết rằng buổi sáng ngày 20 tháng 11 năm 1967, ông ta đã ra lệnh hủy xác con em họ dưới chân ngọn đồi 875 ở một nơi xa xăm đối với nước Mỹ chăng?"

*

*         *

       Về mặt công tác bảo vệ an ninh từ tháng 4 năm 1966 đến tháng 8 năm 1968 ở Tây Nguyên không có vụ việc nào xảy ra phải điều tra theo đúng nghĩa là vụ án trinh sát, do địa hình rừng núi, lại cách xa thị xã, thị trấn. Mặt khác, quân chính quy của ta từ miền Bắc vào lại cơ động luôn và sau đó ít lâu bổ sung đi các chiến trường B1, B2.., nên bọn tình báo gián điệp của Mỹ - ngụy không có điều kiện liên lạc, móc nối hoạt động. Chỉ có xử lý một số vụ việc tiêu cực xảy ra trong nội bộ, những vụ việc nghiêm trọng đều di lý về miền Bắc (hậu phương) điều tra xử án. Chỉ có hai quân nhân là người dân tộc Gia Rai (1 nam, 1 nữ) bị địch lợi dụng để lấy tin bí mật nơi đóng quân phiên hiệu đơn vị.

        Phòng Chính trị đã cho điều người nam về đội sản xuất của bộ đội địa phương huyện, và cho người nữ đi học y tá, sau đó chuyển ngành về địa phương. Công tác bảo vệ an ninh tập trung làm tốt việc thẩm tra, bảo đảm tin cậy về chính trị trong sử dụng lực lượng, giáo dục cảnh giác, chống chiến tranh tâm lý và phòng gian bảo mật trong hành quân, trú quân chiến đấu, an toàn căn cứ cơ quan chỉ huy. Nhìn lại, tôi thấy mình đã gắng sức góp một phần nhỏ cùng đồng chí, đồng đội làm nên chiến thắng trên đất Tây Nguyên bằng thẩm tra, sử dụng lực lượng và bảo vệ chiến đấu trên địa hình rừng núi.

-------------
1. Rừng im lặng: là cánh rừng cây băng tăng (sàng rẻ), Ờ đây không tiếng chim muông, im lặng lạ thường nên anh em ta gọi là rừng im lặng.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2016, 12:24:23 PM

        6. Vào Nam Bộ (B2)

        Ngày 20 tháng 8 năm 1968, tôi được anh Vũ Văn Năm - thiếu tá, Phó chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 1 tiếp và cho biết Bộ Tư lệnh Sư đoàn có anh Trần Văn Trân, Thượng tá, Sư trưởng, anh Nguyễn Viên - Thượng tá, Chính uỷ; anh Nguyễn Huy Định - Trung tá, Phó chính ủy - Chủ nhiệm chính trị. Bộ Tư lệnh đã đi trước vào gặp Bộ Chỉ huy Miền nhận nhiệm vụ.

        Chúng tôi phải bắt tay ngay vào việc chuẩn bị tài liệu hướng dẫn công tác chính trị, bảo đảm cho Sư đoàn hành quân vào B2 đầy đủ quân số, an toàn, bí mật.

        Được tham gia chiến đấu trên chiến trường trọng điểm, bộ đội chúng tôi rất phấn khởi, hăng hái, tự tin. Sư đoàn bộ và các phân đội đóng quân ở bìa sông Sài Gòn. Trung đoàn 1 xuống vùng Chơn Thành, Hớn Quản tỉnh Bình Long; Trung đoàn 2 xuống huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; Trung đoàn 3 tách khỏi Sư đoàn đi xuống miền Tây Nam Bộ. Vào B2 mới có 20 ngày, tôi nhận ra có 2 cái mới lạ:

       Một là, vùng giải phóng có nhiều dân họp chợ, dọc đường hành quân thỉnh thoảng gặp những xe đạp chở rau muống, chở cá tươi của anh em tiếp phẩm đi chợ về, gặp cảnh anh em đồng hương các tỉnh miền Bắc vui mừng được gặp nhau, cùng ngồi uống trà đậm, ăn kẹo chanh, hút thuốc lá quân tiếp vụ bên vệ đường giao liên; Hai là, thấy bom đạn và chiến tranh tâm lý địch hoạt động ráo riết bằng nhiều phương tiện hiện đại có thể nói, địch thả truyền đơn trắng rừng, máy bay gọi loa chiêu hồi liên tục, địch thả cây nhiệt đới, máy thu tiếng động, máy đo hơi người đây đó... Chất độc hóa học nồng nặc, nhiều cánh rừng cây trụi lá...

        Chúng tôi ở rừng núi Tây Nguyên lâu ngày, nay vào đất Nam Bộ uống nước giếng dào, đường đi ít dốc, thời tiết khí hậu dễ chịu hơn nhưng không hiểu tại sao bộ đội lại bị sốt rét nhiều thế. Tôi bị sốt kéo dài. Đồng chí Yên, y sĩ Phòng Chính trị chăm sóc rất tận tình, có nhiều đêm đồng chí đến nắm bàn chân tôi rồi lặng lẽ đi Sau này, tôi hỏi đồng chí mới nói: "Nắm xem còn nóng ấm hay đã nguội lạnh mất rồi". Sau trận ốm này tôi nhờ có chai mật ong do đồng chí Trần Quang Xuân - người Quỳnh Thuận, Quỳnh Lưu, Nghệ An là người bạn thân ở Trung đoàn 320 - đến thăm biếu đã góp phần cho sức khỏe tôi sớm bình phục.

        Được sự chỉ đạo của Cục Chính trị quân giải phóng miền Nam (B2) Sư đoàn 1 đã khẩn trương phát động phong trào: "Cảnh giác, chống địch, phòng gian bảo mật" với các nội dung biện pháp tích cực nhằm góp phần giữ vững trận địa chính trị tư tưởng, ý chí chiến đấu đảm bảo an toàn lực lượng và sức chiến đấu. Đợt vận động đã có tác dụng tích cực, được Bộ Tư lệnh Sư đoàn và Cục Chính trị Miền biểu dương.

        Thời gian này tôi thường được Thường vụ đảng ủy Sư đoàn giao nhiệm vụ làm tổ trưởng phái viên chính trị xuống các đơn vị kiểm tra về công tác chính trị, tư tưởng và kịp thời củng cố tổ chức Đảng và cán bộ chỉ huy cho kịp yêu cầu "đánh bồi, đánh nhồi" theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền.

*

*        *

        Một hôm, đầu tháng 5 năm 1969, lúc 9 giờ sáng, Sư đoàn trưởng Trần Văn Trân cho gọi tôi đến, bất ngờ tôi được gặp anh Nguyễn Duy người Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 95 trong những năm 1954 -1955.

        Lúc này anh là thượng tá, Phó chính uỷ Phân khu 1 Quân khu Sài Gòn - Gia Định với bí danh Trần Quốc Dũng. Ba anh em chúng tôi gặp nhau dưới mái lán ở rừng le Cà Tum tỉnh Tây Ninh, mừng ra nước mắt, với bao nhiêu là chuyện kể... Tôi biết tháng 10 năm 1964, anh Nguyễn Duy là trung tá Chính ủy Trung đoàn 101A - một trung đoàn đã từng đánh giải phóng cứ điểm Tà Khống, sân bay Tchépône năm 1961, tạo điều kiện cho đường dây 559 phát triển sang tây Trường Sơn trên đất Lào. Tháng 10 năm 1964, Trung đoàn 101A do anh làm Chính ủy, anh Nguyễn Xuân Lực1 làm Trung đoàn trưởng, là trung đoàn thực binh đầu tiên của Sư đoàn 325 hành quân đi B toàn trung đoàn vào Tây Nguyên. Theo tài liệu tổng kết của cơ quan B3 cuối năm 1967 thì Trung đoàn 101A (tức Q16) là trung đoàn có công tác tổ chức hành quân tốt nhất trong việc đưa toàn bộ đội hình trung đoàn từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Đảm bảo quân số 95 phần trăm, đội hình gọn, an toàn, bí mật, bất ngờ trung đoàn đã lập chiến công vang dội ở Đăkto, Đăksút, Tumơrông tỉnh Kon Tum (cuối năm 1964 đầu năm 1965) góp phần cùng chiến thắng Ba Gia ở Quảng Ngãi, Ấp Bắc ở Mỹ Tho, Bình Giã, ở Bà Rịa - Long Khánh, làm phá sản chiến tranh đặc biệt của Mỹ-ngụy. Đêm tháng 5 năm 1969, anh Trần Văn Trân đãi cháo gà, ba anh em chúng tôi ngủ bên nhau với những chuyện kể vui buồn và những kỷ niệm của đồng đội kẻ mất người còn. Tôi đón nhận sự ấm áp thiết tha tự hào của tình đồng đội đồng chí.., một đêm không ngủ mà quý giá biết bao. Sáng dậy, chúng tôi tiễn anh Nguyễn Duy về Phân khu 1, nào ngờ 10 giờ sáng hôm sau anh bị máy bay trực thăng Mỹ bắn hy sinh tại bờ bắc sông Sài Gòn mà mãi cho đến tháng 5 năm 1995 mới tìm được, đưa hài cốt anh Nguyễn Duy về với quê hương Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

--------------
1. Nguyễn Xuân Lực, quê Ở Hà Tĩnh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong chống Pháp và Anh hùng lần thứ hai trong đánh Mỹ, hy sinh tại mặt trận Sài Gòn trong đợt 2 Mậu Thân 1968.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2016, 09:48:47 AM

*

*         *

        Những ngày tháng kế tiếp, đồng chí Thượng tá Chính ủy Nguyễn Viên thường cử tôi tham gia đốc chiến ở các đơn vị, kiểm tra hướng dẫn về công tác chính trị tư tưởng và kịp thời củng cố tổ chức cán bộ đầu mỗi đợt chiến đấu cho kịp yêu cầu thực hiện "đánh bồi, đánh nhồi" theo sự chỉ đạo của Quân ủy - Bộ Tư lệnh Miền. Tháng 5 năm 1969, tôi đến tiểu đoàn 28 đặc công giúp đỡ việc triển khai công tác chính trị, chuẩn bị đánh tập kích căn cứ Võ Tùng (lần thứ 2). Tiểu đoàn do đồng chí Trần Đình Long, Thượng uý, Tiểu đoàn trưởng[1, đồng chí Thân Ngọc Lanh, Đại úy, Chính trị viên. Tôi tiễn đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa lúc 16 giờ tại một khu rừng suối Soócki rồi trở về Sư đoàn.

        19 giờ ngày hôm sau, đồng chí Thượng tá Nguyễn Viên gọi tôi đến, anh vui vẻ nói về chiến thắng Võ Tùng (do đài BBC đưa tin), rồi, anh nói: "Tớ ghi nhận cho cậu một nét son vào tiêu chuẩn đảng viên 4 tốt trong năm nay". Trong trận này bằng chiến thuật đặc công, Tiểu đoàn 28 đã dùng ba mũi bí mật tiềm nhập áp sát mục tiêu rồi bất ngờ dùng thủ pháo, tiểu liên đánh giáp lá cà... Tiểu đoàn đã diệt và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Mỹ. Ta bị thương vong ít. Đồng chí Trần Đình Long - Tiểu đoàn trưởng đã buộc phải ôm vật nhau với một tên lính Mỹ, may nhờ có đồng đội tiếp ứng, diệt được tên Mỹ và cứu đồng chí Long thoát hiểm.

        Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ở B2, Sư đoàn chúng tôi đã đón chị Nguyễn Thị Định (chị Ba Định) Phó Tư lệnh Miền đến thăm đơn vị tháng 12 năm 1968, tại khu vực ngã ba công sự tỉnh Tây Ninh, sau chiến thắng Sóc con-trăn. Chị Ba Định tặng Sư đoàn 20 tấm ảnh Bác Hồ (cỡ 9x14) để làm phần thưởng cho những đồng chí lập được thành tích xuất sắc. Và một lần, Sư đoàn đón tiếp đồng chí Hoàng Văn Thái (tức Mười Khang) thay mặt Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam đến thăm đơn vị tại khu vực Bổ túc (2 - 1969) - thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo chỉ huy đối với bộ đội. Những chuyến viếng thăm và những lời nhắc nhở, dặn dò ân cần thắm thiết tình thương yêu, sự chăm sóc của Bộ Tư lệnh là nguồn động viên to lớn, tiếp thêm sức mạnh chiến đấu và liềm tin tất thắng cho chúng tôi trên chiến trường.

        Tin Bác Hồ đã đi xa - đến với chúng tôi tại rừng le Cà Tum, tĩnh tây Ninh. Trong khi Sư đoàn đang rút gọn, cán bộ chỉ huy Sư đoàn và nhiều đồng chí khác đã về đơn vị mới. Tôi (là thiếu tá) và đồng chí đại úy Nguyễn Quang Quýnh (người Nam Đàn - Nghệ An) tổ chức những đồng chí còn lại trong cơ quan làm lễ truy điệu tưởng nhớ Bác trong niềm xót thương vô hạn. Đứng trước bàn thờ Bác, được dựng bằng bốn gốc le cao 1,2m, mặt bàn được ken bằng nhiều cành le rộng l m x 1,2 mét và dùng tấm vải che mưa phủ lên. Trên bàn dùng ca sắt tráng men có dòng chữ đỏ "kiên quyết hoàn thành nhiệm vu" làm bát nhang, một bó hoa rừng và tấm ảnh Bác (là phần thưởng tôi mới nhận cuối tháng 8 năm 1969). Chúng tôi như đàn con bị lạc mất cha, càng thấy thương yêu, gần gũi nhau hơn, nguyện biến đau thương thành hành động cách mạng trong mọi suy nghĩ, việc làm của mỗi người. Tôi nhớ mãi hôm đó có một chiến sĩ mới ngoài hai mươi tuổi đăng ký xin kể chuyện được gặp Bác Hồ nhưng khi đứng lên nhìn vào ảnh Bác thì anh ta chỉ khóc ròng, không nói được câu nào. Tháng 10 năm 2007, tôi mới có dịp nhận ra người chiến sĩ trẻ năm xưa là anh Nguyễn Thế Kỷ - chuyên viên Ban Tuyên huấn Hội Cựu Chiến Binh thành phố Hồ Chí Minh, lúc này đã ngoài 65 tuổi.

         Tôi hỏi chuyện xưa, hôm đó cậu định kể những gì? Anh Kỷ nói: "Em kể lần được đứng làm hàng rào danh dự đón Bác đến thăm Trường Thanh niên lao động XHCN tỉnh Hòa Bình. Sau buổi nói chuyện tại hội trường, Bác ghi vào sổ vàng truyền thống đơn vị: ".., phải lao động tốt, học tập tốt, cố gắng mãi, tiến bộ mãi. Bác Hồ, ngày 17-8-1962". Hôm đó trời mưa lất phất. Hôm em cùng các anh làm lễ truy điệu Bác ở rừng le Cà Tum trời cũng mưa lất phất. Em đã chuẩn bị kỹ lắm, em định sau khi kể chuyện sẽ hứa trước di ảnh Bác làm hết sức mình để trở thành một đảng viên. Nhưng khi nhìn vào ảnh Bác, nhìn hạt mưa bay, em lại nhớ lần được gặp Bác, thương Bác quá! Em xúc động nghẹn ngào...". Tôi hỏi: "Sau những ngày ở rừng le Cà Tum rồi cậu đi đâu?". Nguyễn Thế Kỹ nói: "Em về Trạm trực Cục Chính trị Miền (T620) nằm chờ một tháng. Có lẽ sau khi đã xác minh rõ gốc tích của em ở quê nhà (xã Yên Bằng, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình), em được điều về tổ tư liệu tờ báo Quân Giải phóng miền Nam. Chín tháng sau, em được kết nạp vào Đảng. Trở thành đảng viên chính thức ngày 15 tháng 6 năm 1971 và làm phóng viên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, em về Cục Chính trị Quân khu 7 rồi chuyển ngành qua Công ty Thủy sản (Seaprodex). Em nghỉ hưu năm 2002 ở tuổi 60. Nhờ các đồng chí quen cũ ở Phòng Tuyên huấn Quân khu giới thiệu, em về Ban Tuyên huấn Hội Cựu chiến binh thành phố". Tôi hỏi: "Đời sống riêng của cậu nay có ổn không..". Kỷ nói: "Cám ơn anh, ổn cả. Em có vợ con, nhà ở thành phố và lương tháng đủ trang trải cuộc sống. Sau hàng chục năm gặp lại người đồng đội ở rừng le Cà Tum, cùng anh nhắc lại những kỷ niệm không quên ở chiến trường, về tấm hình Bác mà mình lưu giữ như một báu vật, lòng tôi lại bồi hồi nhớ Bác, nhớ nhiều đồng chí, đồng đội một thời quân ngũ.

---------------
1. Đồng chí Trần Đình Long: Thiếu tá, Hội viên Cựu chiến binh chi hội 7B, Hội Cựu chiến binh phường 15, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2016, 11:00:22 PM

*

*        *

        Từ tháng 9 năm 1969, Sư đoàn 1 được lệnh rút gọn, chuẩn bị hành quân xuống miền Tây Nam Bộ với trung đoàn 1 và cơ quan gọn nhẹ. Trung đoàn 2 (95) về đội hình Sư đoàn 9. Công tác bảo vệ lo việc bàn giao tình hình chính trị nội bộ cho các nơi tiếp nhận và tổ chức tiếp nhận, phân loại, đăng ký lưu trữ tài liệu, khuôn dấu của các đơn vị nộp lại để chuyển về Miền. Cùng lo việc này với tôi có đồng chí Đinh Quốc Kỳ - một tiểu đội trưởng của Trung đoàn 88 được rút về cơ quan. Đồng chí Đinh Quốc Kỳ - một thanh niên phố Hàng Bông, Hà Nội - nhập ngũ năm 1964, văn hóa hết lớp 10/10, anh có tầm vóc trung bình đẹp trai, thông minh, chữ viết rất đẹp; có điều trong sinh hoạt tập thể, anh thường chậm rãi, khề khà làm anh dễ già trước tuổi.

        Một hôm, tôi đang nghỉ trưa thì nghe Đinh Quốc Kỳ hớt hải bảo dậy báo cáo có con gì lạ như con rắn luồn lướt trên ngọn le với tiếng hú như gió rít. Hai anh em cùng xem, thấy một con rắn to cỡ bắp tay dài hơn hai mét, da đen láng đang nằm sưởi nắng trên mái rừng le, cách đầu chúng tôi chừng 1m5, thỉnh thoảng nó thòng đầu xuống ngó nghiêng. Đồng chí Đinh Quốc Kỳ gọi một số anh em Phòng Tham mưu đến cùng xem, nhiều người bàn cách đánh chết, nhưng rất khó đánh vì vướng các cành cây, le mọc lâu năm đã đan kín mà chúng tôi dùng cây chống cao lên làm mái nhà tự nhiên vừa để ngụy trang. Chỉ có những khoảng hở đủ cho thọc, xoi đuổi nó đi chỗ khác Đồng chí thiếu tá Lê Đức Thư, quê Ở Nghi Lộc, Nghệ An lẳng lặng về lấy súng ngắn ra bắn. Viên đạn xuyên bụng con rắn nhưng không trúng xương sống, con rắn không còn bò lướt nhanh được, anh em xoi thọc cho nó rơi xuống đất. Nó vẫn bò trườn khá nhanh qua các bụi le nhiều gốc, làm anh em chỉ đuổi theo đánh hụt phía đuôi. Tôi cầm một khúc cây le chạy vòng đón đầu một bụi le to, khi nó vừa thò đầu ra tôi đập tới tấp vào đầu vào cổ, nhiều người đến cùng đánh chết con rắn. Chúng tôi kéo rắn về làm thịt, nấu cháo. Hỏi đồng bào mới biết đó là con rắn hổ ngựa nặng cỡ 3 kilôgam. Nó ở vùng này đã lâu năm.

        Một đêm, trước khi rời Sư đoàn về Cục Chính trị nhận nhiệm vụ mới. Tôi hồi tưởng lại nhiều gương mặt đã cùng nhau đi B trong đội hình sư đoàn thực binh. Chúng tôi rời xã Hương Phủ, huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây chúng tôi luyện tập quân sự được ăn bồi dưỡng 2 tháng. Nói thật, tiêu chuẩn thịt heo chúng tôi chỉ ăn hết được hơn 1 tháng, sau đó là ngán sợ không ăn nổi, anh nuôi lén bỏ đi vì có lệnh cấm cho. Đồng bào xầm xì: "Bộ đội lãng phí". Một hôm họp dân làng, ông Trần Thế, đội trưởng hợp tác xã Phú Gia nói: "Xin đồng bào chớ xầm xì tị nạnh với bộ đội. Vì họ ăn để đi vào Nam đánh giặc, chưa biết ai còn ai sống! Cuộc họp im lặng kéo dài sâu lắng... Đã gần 5 năm qua với những chiến công vang dội: A Shầu, A Lưới, Con Tôm, Tà Bạt Ở Tây Thừa Thiên, Ia- Đrăng, Đăktô, Tân Cảnh, Plâycần, Chư Tan Kra, Đức Cơ, Đắc Sắc Đức Lập Ở Tây Nguyên và gần đây tại Sóc con trăn, Đồng Pan, Cầu Khởi, Dương Minh Châu, Võ Tùng, Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành... Trải qua biết bao gian nan, ác liệt, đói cơm, nhạt muối, bệnh tật, hy sinh mất mát.., xúc động trào lên khiến tôi ứa nước mắt khi nhớ lại những người bạn thân đã hy sinh: Đồng chí thượng úy Trần Văn Thái - Trung đoàn 1 quê Nam Đàn, Nghệ An bị trúng đạn rôckét tại Sócky, đồng chí Thượng uý Cao Xuân Lục - Trung đoàn 2 quê Hưng Nguyên, Nghệ An bị trúng đạn nhọn tại Xamát, đồng chí Phan Văn Thành - Thượng uý Trung đoàn 1 quê Thanh Chương, Nghệ An bị bom B52 Ở Lộc Ninh, đồng chí Nguyễn Đăng Tứ Thượng uý ở Trung đoàn 3 và nhất là đồng chí Thượng tá Trần Văn Trân - Sư đoàn trưởng - người đồng đội kính yêu từ thời chống Pháp, nay cả hai đồng chí bị dịch bắt, không biết sống chết ra sao.

        Sáng hôm sau tôi được liên lạc của Phòng bảo vệ an ninh - Cục Chính trị B2 đón về cơ quan chỉ non một ngày đi bộ. Được gặp các anh đã vào B2 trước tôi: Anh Lê Quốc Sủng - Trưởng phòng, anh Nguyễn Ngọc Sang, anh Lê Văn Sến, anh Nguyễn Văn Khả, anh Phạm Quang Khôn.., thật là vui mừng khôn xiết. Ở đây tôi được sống trong vòng tay thân tình ưu ái của các anh chị đã công tác từ nhiều năm về trước. Trong hoàn cảnh tại chiến trường, xa Trung ương, Phòng bảo vệ - quân pháp B2 lúc bấy giờ có quy mô bề thế, đủ các ban: Nghiên cứu tổng hợp (còn gọi là a1), bảo vệ chính trị nội bộ (a3), điều tra nghiên cứu (a2), chấp pháp (a5), bảo vệ thủ trưởng bảo vệ căn cứ (a6), và các ban ngành kế hoạch, kiểm sát, điều tra xét xử, ban hành chánh quản trị. Các đơn vị vòng ngoài có liên đội trinh sát (a7) bảo vệ địa bàn, đội trinh sát ngoại tuyến (K44), lớp tập huấn nghiệp vụ (H16) và các trại giam phạm binh. Một tổ chức ngót 500 người gồm những cán bộ chiến sĩ quê khắp ba miền, đã vượt Trường Sơn qua nhiều năm chiến đấu trong đội hình các Trung đoàn, Sư đoàn quy tụ về đây như Năm Bình, Tư Sơ, Tư Hưng, Từ Tư Văn, VÕ Ngọc Ngà, Tám Hoài Việt; như Tư Nghi, Hai Giảng, Sáu Bằng, Ba Lâm Thành, như Sáu Viễn, Ba Giám, Năm Đức, Tư Phương, Trần Thế; như Bảy Kiệp, Văn Chính, Hai Kiềm, Tư Trương, Thái Hiền Vỹ, Lê Gia Nghĩa, Tuyến, Văn Linh; như Hai Cửu, Hai Trực, Năm Bi, Sáu Rong, Sơn "cò ngẳng', Văn Tranh, Ngọc Cơ, Đức Đền...; như Trần Tống, Bùi Minh Thuận, Sáu Quân, Ba Bãi, Ngọc Mạc, Dương Công Nậy, Tư Thân...; như Minh Khởi, Hồng Khương, Hồng Trọng, Văn Đắc, Văn Thành, Đào Văn Phúc...; như Quang Đẩu, Thành Biên, Đình Chữ, Xuân Đào Minh Hồng...


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2016, 01:56:44 PM
        Có nhiều đồng chí trưởng thành từ phong trào Đồng Khởi đã vượt qua vòng vây kềm kẹp của Mỹ nguy lên R tham gia kháng chiến như Xuân Hồng, Phạm Hữu Nghị, Tư Công, Huỳnh Phỉ, Hữu Nghiệp, Cao Châu, Năm Cao... Có các em, các cháu từ các tỉnh thuộc khu 6, 7, 8, 9, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và Xuông, Chúp, Côngpôngchàm, Karatié.., của Campuchia đã vượt hàng trăm cây số, qua nhiều đồn bốt địch để về đây kề vai sát cánh cùng các anh các chú như Kim Huê, Kim Dung, Kim Bông, Thị Hường, Thị Hoa, Thanh Mai, Hồng Vân, Thị Bé, Xiu Lan, Xiu Khen.. Như những chăm chỉ theo sự phân công của tổ chức, người làm việc ở căn cứ, người ra phía trước, người đi cơ sở, người theo bảo vệ các thủ trưởng Bộ Chỉ huy Miền đi công tác... Mọi người vừa lo phục vụ chiến đấu và xây dựng bộ dội, vừa phải tự lo cuộc sống con ong hằng ngày.

        Tôi nhận nhiệm vụ Phó ban nghiên cứu tổng hợp (mật danh là a1), kiêm tổ trưởng nghiên cứu địch tình, anh Nguyễn Văn Khả (tức Vũ Nam Bình) làm Trường ban và tổ trưởng nghiên cứu về ta. Ban chúng tôi có từ bảy đến chín cán bộ, mọi người đều hăng hái, tận tụy với công việc. Tháng 7 năm 1970, anh Nguyễn Văn Khả được đề bạt lên cấp trung tá, giữ chức Phó phòng và thường đi tiền phương các chiến dịch của Miền. Tôi phụ trách ban, do đó phải miệt mài học tập nghiên cứu trong thực tế công việc, càng làm tôi càng thấy công việc rất rộng lớn, hệ trọng mà khả năng mình thật ít ỏi. Anh Ba Sủng đã dẫn dắt, giúp đỡ tôi rất nhiều và từng bước tôi đã trưởng thành.

        Thỉnh thoảng, tôi tổ chức trao đổi, rút kinh nghiệm thực tế. Anh em thường hài hước nói: "Trình độ tụi mình chỉ rút rơm trâu ăn mê" hoặc "tổ chức giao nhiệm vụ viết lách thì cứ phải viết, mỏi tay đâu chấm đó!". Trong ban có anh Từ Tư Văn quê Nam Thịnh, Nam Đàn; anh Võ Ngọc Ngà quê Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và anh Nguyễn Hoài Việt quê Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho là những tay viết khá.

        Chúng tôi giao việc phù hợp với khả năng từng người, ai nấy đều hăng hái với nhiệm vụ. Chúng tôi động viên nhau ráng học theo anh Võ Nghi (quê Bình Định) nguyên Trưởng ban 1 đã qua làm Trưởng ban 2 (điều tra) và thường ca ngợi anh Năm Bình là người nói năng lưu loát, lập luận chặt chẽ, viết lách rành rọt... Có người nói học sao nổi? Chúng mình là nông dân thứ thiệt, mới học sơ học đâu dám học kịp anh Tư Nghi, anh Năm Bình đã đậu tiểu học, đang học thành chung trước cách mạng tháng Tám lại đã học tốt nghiệp trường an ninh Liên Xô về? Lại có ý kiến nói: Học theo sao cho kịp được anh Năm Bình? Con người được sinh ra từ đất địa linh nhân kiệt, nổi tiếng là "bút Kẻ Than, gan Liệp Cốc" của đất Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây1?

        Càng trao đổi, chúng tôi càng thấy phải học tập rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ mới. Và, dần dần chúng tôi đều đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

        Nhớ lại những câu chuyện trong cuộc chống Mỹ cứu nước, càng thấy quân đội ta quả là trường đại học khổng lồ, cách mạng thật là vĩ đại. Bộ đội Cụ Hồ chúng tôi được đi mọi miền Tổ quốc, được làm quen với nhiều người tài giỏi, được học tập, rèn luyện trưởng thành.

        Ở Phòng bảo vệ - Quân pháp có cái thích thú là sau mỗi ngày làm việc vất vả, tối đến các anh phát huy sở trường của mình: vài ba anh đi cắm câu, thả lưới, gài bẫy.., ba bốn anh đi săn thú, bắn chim, có nhiều tay súng thiện xạ như Năm Bi, Sáu Sơn, Sáu Viễn, Lâm Thành, Minh Khởi... Giữa năm 1970, gần căn cứ chúng tôi có rất nhiều gà đãy, một loài chim nặng từ 3-4 kilôgam một con, nó có cái túi thòng trước ngực, chúng thường đi ăn xa tận biển hồ Campuchia, chúng để dành những con cá tra năm-ba trăm gram bỏ túi đãy mang về tổ nuôi con. Đó là nguồn bổ sung thực phẩm của chúng tôi trong những ngày thiếu đói. Thịt loài chim này có mùi hôi mốc cá tra nhưng chúng tôi vẫn quý.

        Tôi nhớ hoài một sáng sớm ở căn cứ B, tôi và Ngọc Ngà đi lần bẫy được hai con cheo, một con gà lôi Sau khi nhốt kỹ, chúng tôi đi ăn sáng. Xuống nhà bếp đã vãn người, chỉ còn cô Kim Huê trực. Tôi thấy anh Ba Giám mặt đỏ gay, thở hổn hển, anh nói: "Mình vừa tới thấy cần bẫy 1 động đậy, mình gỡ được một con cheo, lấy dây rừng trói vội bỏ bao thì lại thấy cần bẫy kế bên động đậy. Mình bước tới chụp bắt thì con cheo nhảy tuột gây bẫy chạy mất, mình đến tiếp cái bẫy thứ tư thì nhìn thấy bẫy thứ năm động đậy, mình thầm nghĩ phải nhảy nhanh tới chụp, ai dè nghe tiếng động con cheo phóng mạnh, dây đứt... Thế là hồi hộp đổ dồn, mình quay lại lấy bao để về, nhưng do trói không kỹ nên con cheo đã bắt được cũng biến mất, tiếc quá chừng".

        Mỗi khi bắn được con thú lớn, việc cải thiện không chỉ ở một phòng mà trở thành ngày ăn tươi của một số phòng bạn lân cận. Nguồn thực phẩm tại chỗ đã ứng cứu chúng tôi trong những ngày thiếu gạo. Năm 1970 có lúc ăn bắp 3 tháng liền, năm 1971 lại có lúc ăn đậu xanh trong hai tháng, ba ngày đầu thật ngon miệng, từ ngày thứ tư trở đi bắt đầu ngán không muốn ăn. Có hôm, các bàn ăn đã vắng, chỉ còn tôi và anh Võ Nghi đi hái lá mưng rừng vào ăn kèm với mắm sống và một ít đậu xanh.

        Giữa năm 1970 đang lúc thiếu gạo, có lệnh cho mọi người đi tải gạo. Tôi chỉ mang được 30 ký đã thấy nặng, đi theo đường xe bò của dân. Lúc về gần đến chỗ trú quân, thấy anh Ba Sủng ngồi nghỉ, tôi nói về gần đến nhà sao anh lại ngồi? Anh nói: "Những cây dân chặt cho xe bò đi còn cao, nó gõ vào hai ống quyển tôi mấy cái, đau không đi nổi nữa!". Có hôm đi tải gạo về, tôi gặp anh Bảy Sanh2 cũng ngồi nghỉ gần nhà, tôi hỏi - anh nói "Mệt quá!" Về đến đơn vị, anh Sanh kiệt sức phải cấp cứu Quân y cho biết anh chỉ còn 1,7 triệu hồng cầu.

-----------------------
1. Là địa danh nơi có nhiều quan văn, võ thời xưa, là quê hương tiến sĩ Nguyễn Quý Hiển, người Kẻ Than, được nhà vua bổ nhiệm chức Tổng trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang), thay tiến sĩ Ngô Thời Nhiệm.. Ngày nay ở Liệp Cốc vẫn còn nhiều đô vật giỏi của nước nhà.
2. Thiếu tướng Hồ Văn Sanh, nguyên thiếu tá - Tổ trưởng bình xã luận báo Quân Giải phóng miền Nam, nguyên Phó Tư lệnh chính trị Quân khu 9.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Ba, 2016, 05:20:46 AM
*

*        *

        Năm 1971, có lần tại căn cứ B, sau một cơn mưa đầu mùa kéo dài, sáng ra tôi bàn với Ngọc Ngà chập chiều sẽ kiếm mồi, tối nay đi cắm câu thì được nhiều cá lắm, nhân thể cầm theo tấm lưới một đi kiếm mớ cá lòng tong. Ngọc Ngà nói: "Anh Bảy Sang mượn tấm lưới của mình đã hai hôm nay chưa trả". Tôi tranh thủ qua nhà anh Bảy hỏi. Anh vỗ đùi la: "Thôi chết rồi? Lưới của cậu mình rải ngâm, hai bừa rày mình quên béng..." Tức thì anh chạy xuống suối và quay về báo: "Trận mưa đêm qua cuốn trôi mất lưới rồi!" Anh tỏ vẻ tiếc rẻ, hối hận, xin lỗi... Tôi an ủi anh: "Không sao, tôi nhờ nó đã hai năm nay, đã hòa vốn có lời rồi, lưới cũng đã rách nhiều chỗ, rồi ta kiếm cái khác." Tôi bước chân về mà mỗi bước như chậm chạp trở về quá khứ trong những năm 1967 - 1968... Dạo đó, ở Tây Nguyên tôi được Ban bảo dưỡng cán bộ cấp cho ba lạng sợi cước, họ nói là để đổi lấy tay lưới nhỏ mà kiếm cá cải thiện, vì mình hay đi công tác lẻ. Tôi không gặp đâu có dịp đổi lưới dã hơn sáu tháng. Tôi bèn tự đan lưới bằng cách tranh thủ mổ kim tre, làm các thứ đồ nghề đan lưới mà tôi đã từng được tham quan một làng chài hồi còn học cấp 1. Tôi bắt đầu đan lưới từ tháng 8 năm 1967. Cứ thế mà tranh thủ những buổi chiều sau khi mắc tăng võng chuẩn bị chỗ ngủ, lúc chờ cơm, giờ nghỉ trưa.., hoặc những hôm trời mưa tầm tã.., một ngày được hai, ba lối đan, có ngày tranh thủ được nhiều hơn. Cứ kiên trì tranh thủ cho đến một ngày tháng 8 năm 1969 tôi đan xong tay lưới dài 12 mét rộng 0,6 mét, là lưới một tại khu rừng le Cà Tum tỉnh Tây Ninh, đem lưới ra suối nước đục thả được chừng ba lạng những con cá trắng, lòng tong.., tôi và Đinh Quốc Kỳ mừng lắm. Từ đó tay lưới một đã gắn bó với tôi, vậy mà nay đã bị nước cuốn trôi. Tôi nghĩ lưới không thể mất. Trưa đó, tôi lần dọc theo suối, chỉ đi chừng vài chục mét đã thấy lưới bị cuốn vào một hũng nước với nhiều rễ cây, dính một con rắn có khoang xanh khoang vàng và hai con cá nhỏ đều đã chết cứng.

        Tôi lội xuống gỡ đem về, lưới bị rách nhiều chỗ, bị đứt mất một quảng chừng 1 mét. Những ngày sau đó tôi gởi mua sợi cước, sắm dụng cụ vá víu lại, tuy chất lượng có kém, diện tích giảm sút, nhưng vẫn còn dùng được, nhất là dùng vây những hộc nước còn lại trong mùa khô để đón bắt cá từ trong các hàm ếch do rễ cây tạo nên. Về cách bắt cá này thì có anh Từ Tư Văn là có kinh nghiệm, anh là một thanh niên học hết lớp 10/10 quê ở Nam Thịnh, Nam Đàn, Nghệ An. Vào chiến trường Tây Nguyên ở Sư đoàn 1, anh bị sốt rét ác tính thể não, có thời gian trí nhớ giảm sút, sức khoẻ kém hẳn nhưng anh từ chối đi thu dung điều trị dài ngày ở miền Bắc, cuộc sống chiến trường có sức cuốn hút anh, sức khoẻ anh dần hồi phục, và anh về Ban 1 Phòng bảo vệ B2 sau tôi một năm. Có những trưa mùa khô, nóng quá ngủ không nổi, tôi thấy Từ Tư Văn xách lưới đi, tôi đi theo xuống suối đã cạn, dòng chảy bị đứt quãng... đến một hộc nước ngang hai mét dài năm mét, anh Văn rãi lưới bao hộc nước. Tôi nghĩ bụng chỉ cỡ này nước thì làm gì có cá? Tôi nói ý nghĩ đó, Văn xua tay im lặng, tôi đứng nhìn. Anh Từ Tư Văn châm hút một điếu thuốc, rít vài hơi rồi vén quần lội xuống, chỗ sâu nhất chỉ quá đầu gối, anh thò tay quờ chân vào đuổi quãng hàm ếch dưới rễ một gốc cây lớn hơn bắp vế, tức thì có bầy cá trắng, con cỡ hai ngón tay, lao ra, dính lưới, chúng quẫy, liệng những thân mình trắng bạc, trông thật thích mắt. Tôi phụ gỡ cá và nói dễ có đến một lạng, anh nói còn nữa. Đây mới là cá trắng, còn cá trê, cá rô, cá lóc nữa. Tôi phải về vì đã đến giờ đi dự giao ban ở Cục Chính trị. Chiều về tôi thấy một giỏ cá hơn ba ký lô đủ loại cho bữa ăn tươi của Ban nghiên cứu tổng hợp chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Ba, 2016, 08:07:17 PM

        7. Ở cơ quan có tầm cỡ chiến lược

        Từ năm 1969 đến năm 1975, trải qua hai lần tách ra, nhập lại của hai Phòng bảo vệ - Quân pháp, do yêu cầu nhiệm vụ nặng nề phức tạp, hoàn cảnh chiến trường chia cắt, xa Trung ương, nhưng được sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy - Cục Chính trị Miền, Phòng bảo vệ - Quân pháp đã từ thực tiễn mà có tổ chức lực lượng với quy mô hợp lý, được lãnh đạo chặt chẽ cả về sinh hoạt và chiến đấu có hiệu quả. Việc tổ chức nắm tình hình, báo cáo lên, thông báo xuống có nền nếp khá tốt Xây dựng được mối quan hệ gắn bó về nghiệp vụ với các phòng bạn trong Cục và các Cục, với Ban an ninh trung ương Cục, thu thập được nhiều tài liệu có giá trị phục vụ kịp thời cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy, Bộ Chỉ huy và Cục Chính trị Miền về công tác bảo vệ an toàn lực lượng ta, làm thất bại nhiều toan tính của Mỹ - nguy dùng chiến tranh tâm lý, gián điệp đánh phá lực lượng vũ trang giải phóng B2. Có nhiều tài liệu dùng bồi dưỡng nghiệp vụ, thông báo cảnh giác đến các quân khu, tỉnh đội sư đoàn, trung đoàn...

        Mọi việc ở phòng được vận hành nghiệp vụ một cách nhịp nhàng, không ồn ào nhưng đầy khí phách và đạt hiệu quả cao, trong khi kẻ địch vừa đánh phá càn quét, vừa ráo riết đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý gián điệp, rất thâm độc xảo quyệt và lợi dụng sự bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế, gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất về chính trị, tinh thần khiến tình tình chung và công tác bảo vệ an ninh thêm căng thẳng, phức tạp. Có nhiều thời gian, sẵn nhiều tài liệu về sự chỉ đạo của cấp trên về âm mưu thủ đoạn của địch và về thực tiễn do các đơn vị báo cáo lên, tôi đã đọc, suy nghĩ và hiểu Phòng Bảo vệ an ninh của Cục Chính trị B2 là cơ quan làm tham mưu cho Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền (tức tiền phương của Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh) về mặt bảo vệ chính trị, tư tưởng, tổ chức; bảo vệ bí mật, an toàn các lực lượng quân giải phóng miền Nam trên địa bàn B2 (gồm các tỉnh cực nam Trung Bộ, nam Tây Nguyên, Nam Bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định). Các Sư đoàn và Trung đoàn chủ lực thuộc Bộ Chỉ huy Miền - một địa bàn có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; là cơ quan đầu ngành chỉ đạo các đơn vị tiến hành công tác bảo vệ an ninh quân giải phóng và trực tiếp nắm sử dụng lực lượng, biện pháp nghiệp vụ giải quyết một số công việc trung tâm, đột xuất theo yêu cầu của chiến trường để góp phần hạn chế tiêu cực, nâng cao sức chiến đấu của Quân giải phóng B2.

        Từ đó cho đến khi kết thúc (4-1975) và sau này họp truyền thống ngành hằng năm, tôi đã dự nghe nhiều người bạn hồi tưởng lại đánh giá, kết quả đã có và những sai sót của ngành bảo vệ - quân pháp ở chiến trường, nhất là ý kiến anh Lê Quốc Sủng, anh Vũ Nam Bình (tức Nguyễn Văn Khả), anh Nguyễn Văn Kiện, anh Nguyễn Tái Giám...1. Tuy nhiên, tôi là một cán bộ chuyên sâu về bảo vệ an ninh nên chỉ có điều kiện đi sâu và có nhiều ấn tượng về mảng này.

        Tôi ở đơn vị chiến đấu thường xử trí các việc cụ thể khi về cơ quan thấy phạm vi công tác bảo vệ Quân giải phóng là rất rộng, rất sâu và hệ trọng.

        Vào đầu năm 1965, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã phân tích: "Quân Mỹ có thể vào Nam Việt Nam 20 vạn, 30 vạn, 40 vạn quân và hơn thế nữa. Bộ Chính trị đã chỉ rõ là nó vào trong thế thua, thế bị động nên ta phải giữ vững thế tiến công, phải đánh mạnh, phải bám thắt lưng Mỹ mà đánh. Về chiến tranh tâm lý, chúng ta phải nhận thức rằng Mỹ vào thì chiến tranh tâm lý của chúng sẽ tăng gấp 10 lần, thậm chí 100 lần. Tại vì đế quốc Mỹ đưa quân vào là chúng tin, chúng rất tin là chúng sẽ thắng. Bọn Mỹ tin như vậy bọn ngụy cũng tin như vậy. Nhiều người dân trong vùng địch kiểm soát thì lo cho cách mạng lắm, chắc phen này thì cách mạng không tồn tại được. Bè bạn ta trên thế giới cũng không ít người lo lắng cho ta và cho rằng ta không thể đương đầu được với Mỹ.

        Chính từ bối cảnh đó nên quân Mỹ vào thì chiến tranh tâm lý sẽ tăng lên gấp bội. Vì vậy, chúng ta phải đánh thắng Mỹ cả về quân sự và cả về chiến tranh tâm lý của chúng. Ta phải tỉnh táo, tinh tường để vạch ra mặt yếu của chiến tranh tâm lý, vạch cái xấu xa bỉ ổi của chiến tranh tâm lý và ta phải xây dựng cho bộ đội, cho nhân dân ta vững về chính trị, vững quyết tâm đánh Mỹ - đánh thắng những mưu mô xảo quyệt về chiến tranh tâm lý của Mỹ".

------------
1. Đại tá Nguyễn Vãn Khả: Nguyên Phó cục trưởng Cục Bảo vệ an ninh Quăn đội, nguyên Phó phòng Bảo vệ B2; anh Nguyễn Vãn Kiệp: Thiếu tướng, nguyên Phó phòng Bảo vệ B2 và anh Nguyên Tái Giám là Đại tá, nguyên Phó phòng Bảo vệ B2.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2016, 12:44:37 PM
        Để đấu tranh chống chiến tranh tâm lý, quân giải phóng B2 đã được Đảng ta đánh giá đúng về mức nguy hiểm và những điểm yếu cốt tử của chiến tranh tâm lý và nhận định đánh giá đúng ưu thế tuyệt đối về chính trị của nhân dân ta, quân đội ta, chúng ta đã có nhiều chủ trương biện pháp xây dựng bảo vệ một cách vững vàng chặt chẽ và giữ vững quyết tâm nên ta đã từng bước đánh thắng và cuối cùng đã đánh thắng các mưu mô chính trị xảo quyệt của chúng.

        Tôi nhớ lại, hồi đó nói chiến tranh tâm lý tức chiến tranh chính trị hoặc chiến tranh cân não - là sản phẩm tổng hợp của người Mỹ với nền kinh tế khổng lồ, đội quân hùng mạnh cùng với lắm mưu sâu kế độc (đã thể hiện liên tiếp 21 năm trời) nhằm nghiền nát bằng được phong trào cách mạng yêu nước của nhân dân Việt Nam, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tiến tới bao vây, uy hiếp các nước XHCN. Họ đã dùng ba thủ đoạn: đe dọa uy hiếp, xuyên tạc đả kích và dụ dỗ mua chuộc. Từng thủ đoạn đều nguy hiểm, nhưng đáng chú ý hơn cả là đe dọa uy hiếp. Họ rắp tâm tiêu diệt cách mạng miền Nam nhưng với danh nghĩa giúp chính phủ Việt Nam cộng hòa ngăn chặn cộng sản Bắc Việt xâm lược.

        Chiến tranh tâm lý của Mỹ trong điều kiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới gắn với chiến tranh quân sự (mà sức mạnh quân sự của Mỹ là mạnh thật sự - Mỹ chưa thua ai về mặt quân sự) thì chiến tranh tâm lý càng ghê gớm bằng thủ đoạn đe dọa, uy hiếp.

        Cho nên, công tác giáo dục chính trị, chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội đã phải rất công phu, sắc bén để xây dựng lý tưởng cách mạng, nuôi dưỡng vun đắp lòng yêu nước và chí căm thù quân xâm lược, giữ vững ý chí chiến đấu và quyết thắng cho bộ đội là vấn đề vô cùng rộng lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lúc bấy giờ.

        Thực hiện nhiệm vụ chức trách được cấp trên chỉ đạo, Phòng Bảo vệ an ninh - Quân pháp Quân giải phóng B2 đã phải đối phó rất căng thẳng để bảo vệ chính trị tư tưởng tổ chức của lực lượng vũ trang B2 mà chủ yếu là bảo vệ ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội.

        Thời kỳ đầu chiến tranh cục bộ chúng tôi đã nghe inh ỏi những hù dọa (bằng truyền đơn thả trắng rừng, bằng máy bay gọi loa, bằng rỉ tai hăm he...) nào là Mỹ sẽ dùng những đơn vị sừng sỏ: "Anh cả đỏ", "tia chớp nhiệt đới", "kỵ binh bay", "mãnh hổ", "trâu điên", "rắn độc"... Họ sẽ dùng pháo đài bay B52, những "thần sấm". "con ma", "cánh cụp cánh xòe", những pháo bầy, pháo chụp... Họ sẽ dùng những chiến thuật "bủa lưới phóng lao", "phượng hoàng vồ mồi"... Những "'thiết xa vận", "trực thăng vận" để "chụp bắt cơ quan đầu não", "tìm diệt các sư đoàn chủ lực của Việt cộng và kết thúc chiến tranh" v.v...

        Song song đó, máy bay địch vè vè gọi loa "chiêu hồi sau những trận bom B52 "kêu gọi về với chính quyền quốc gia sẽ được trọng dụng", hướng dẫn "dùng giấy thông hành tìm về với chính phủ quốc gia", phát loa lời nói của những tên đầu hàng phản bội rủ rê chiêu hồi, phát loa lời mẹ ru con, gọi cha về, xen trong tiếng trẻ thơ khóc trong đêm lải nhải đâu đó trên đầu chúng tôi...

        Trong khi đó, không ít đơn vị bộ đội ta gặp lúc đói rét, gặp khó khăn sau trận chiến, có những người đi công tác lẻ nhằm lúc gặp hiểm nghèo, gian nan, ốm đau, thất lạc giữa rừng hoặc không may sa vào tay giặc...


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2016, 12:29:43 AM
        Ngành bảo vệ an ninh đã phải làm nhiều việc. Vấn đề cơ bản nhất ở chiến trường ác liệt là phải dựa vào quần chúng, huy động trí tuệ và trách nhiệm chính trị của đông đảo quần chúng, hướng dẫn quần chúng hoạt động cụ thể để bảo vệ đơn vị mình, làm tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Quân ủy, Bộ Chỉ huy Miền đã mở cuộc vận động "cảnh giác chống địch, phòng gian bảo mật" nhằm nâng cao cảnh giác cách mạng cho toàn quân, nâng cao năng lực đề phòng - chống đánh các âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù, bảo vệ cho lực lượng vũ trang ta được vững mạnh, gìn giữ được những cơ mật của chiến đấu, bảo vệ được an toàn cho mọi hoạt động của bộ đội ta.

        Chiến tranh ác liệt, hình thái chiến trường xen kẽ giữa ta và địch, sự chỉ đạo của trên xuống bị hạn chế nhưng bộ đội đã duy trì được cuộc vận động trong suốt cuộc chiến tranh. Các biện pháp để duy trì cuộc vận động được thực hiện rất tích cực và có nhiều sáng tạo đã gắn chặt cuộc vận động này vào công tác xây dựng chi bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt.

        Nề nếp sơ kết 6 tháng, tổng kết cuối năm và bình bầu công nhận các đơn vị đạt tiên tiến về phòng gian bảo mật được duy trì đều đặn. Cảnh giác, phòng gian bảo mật đã hình thành nếp sống "đi không dấu, nấu không khói, nói không to" trong Quân giải phóng. Tại nhiều đại đội chiến đấu kho trạm, đường dây và các cơ quan đã có nhiều sáng kiến để vô hiệu hoá các thiết bị hiện đại của Mỹ nhằm phát hiện bộ đội ta bằng "cây nhiệt đới", tia hồng ngoại, máy dò tiếng động... Chiến sĩ ta đã hành quân theo dòng suối mát để vô hiệu hóa các máy rađa địa chấn, bằng cách để các lon, thùng nước tiểu rải rác trong rừng để đánh lừa các máy đo hơi người, buộc quân Mỹ trút bom đạn xuống những nơi không có một bóng người, vì máy không phân biệt được mồ hôi và nước tiểu; bằng cách trải vải che mưa hoặc nhờ dân trải chiếu trước mỗi khi hành quân qua lộ rồi cuốn cất, không để lại dấu vết Cuộc vận động còn góp phần phát hiện, đánh bắt bọn biệt kích, thám báo dò la nơi đóng quân của ta...

        Kết quả các đơn vị đạt tiên tiến phòng gian bảo mật ngày càng cao, cao nhất là các cơ quan đầu não B2, Đoàn 69 (pháo binh Biên Hòa), Sư đoàn bộ binh 7, 9, 5. Những tổn thất, thương vong do mất cảnh giác giảm rõ rệt.

        Nhìn lại cuộc vận động "Cảnh giác, chống địch, phòng gian bảo mật" của các lực lượng võ trang chiến trường B2 thấy kết quả thật to lớn. Đây là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lược của công tác bảo vệ trong chiến tranh chống Mỹ.

        Trong những năm từ 1967 đến 1969, địch đẩy cao cường độ chiến tranh tâm lý và hoạt động quân sự. Đây cũng là lúc ta có những đơn vị gặp khó khăn tổn thất, tư tưởng dao động hoài nghi xuất hiện. Số cán bộ chiến sĩ ta bị địch bắt làm tù binh lên tới hàng chục ngàn người. Có những kẻ mất lòng tin đi đầu hàng giặc, trong đó có gần chục người đã là sĩ quan cấp tá, giữ chức trung đoàn trưởng, phân khu trưởng. Qua nghiên cứu theo dõi tình hình địch, ta biết chúng có âm mưu "dùng người của ta đánh lại ta" bằng nhiều thủ đoạn, hình thức. Phòng Bảo vệ - Quân pháp đã thông báo và tổ chức lực lượng đón bắt những kẻ do địch tung trở về vùng giải phóng.

        Trong 3 tháng cuối năm 1968 - đầu 1969, ta đã bắt xét hỏi hơn 40 người, xác minh điều tra làm rõ trên 35 người. Qua đó cho thấy rõ các âm mưu thủ đoạn mua chuộc, khống chế, tẩy não, huấn luyện, giao nhiệm vụ trở về trà trộn vào hàng ngũ quân giải phóng làm nội gián, làm thám báo, biệt kích chỉ điểm... Ta dã tổ chức mở phiên tòa án binh xét xử công khai tại vùng giải phóng và viết thành chuyên đề "âm mưu thủ đoạn của địch dùng người của ta đánh lại ta và biện pháp ngăn chặn" làm tài liệu thông báo, giáo dục quản lý đến cơ sở. Từ đó, tình hình ổn định dần, đập tan âm mưu thủ đoạn của địch, góp phần củng cố, giữ vững ý chí chiến đấu của bộ đội.

        Từ mất lòng tin, đầu hàng phản bội, bị bắt rồi mất khí tiết, khai báo địch thu tin tức bí mật, gây nên biết bao nhiêu phức tạp khác nữa. Những tên Trần Văn Đ (tức Tám H), Hai N, Xuân C, Phan M, Phan Văn X đã gây cho ta những tổn thất về nhiều mặt. Tổn thất lớn nhất là suy giảm lòng tin của bộ đội. Cấp ủy và chỉ huy các cấp đã phải mất nhiều công sức giáo dục củng cố, lãnh đạo xây dựng lại đơn vị.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2016, 09:20:16 AM

*

*         *

        Để chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống địch hoạt động gián điệp (phản gián). Chúng tôi đã tổ chức tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ, các lực lượng vũ trang cách mạng B2 một cách chặt chẽ qua tất cả các giai đoạn của cuộc chống Mỹ cứu nước, bảo đảm cho bộ đội được trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Đây là việc được thực hiện căn cơ, chặt chẽ theo nguyên tắc bảo đảm sự tin cậy chính trị, được sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, thủ trưởng quân chính tổ chức thực hiện với sự giúp đỡ của các cơ quan bảo vệ, cán bộ, quân lực, được thực hiện từ các đội du kích ấp xã, bộ đội huyện, tỉnh, thành, Quân khu lên đến Miền. Về nội dung, phương pháp, đối tượng, thẩm tra đều được tuân thủ nghiêm túc theo chế độ quy định.

        Về thẩm tra quân bổ sung từ miền Bắc vào được tiến hành chặt chẽ, thận trọng với quy mô thích hợp tùy theo số lượng, thời gian, yêu cầu của chiến trường. Từ năm 1965 - 1975, các trung đoàn, sư đoàn chuẩn bị vào chiến trường đều được biên chế tăng cường cán bộ làm công tác thẩm tra xác minh, ghi nhớ những điều tối cần thiết về chính trị nội bộ để mang theo vào chiến trường, qua theo dõi diễn biến mà có đề xuất việc bố trí sử dụng nhân sự và bàn giao cho đơn vị mới mỗi khi có sự điều chuyển.

        Việc thẩm tra, lấy người vào các cơ quan đơn vị trọng yếu Miền đều là những người đang làm chuyên ngành trọng yếu cấp quân khu, hoặc từ miền Bắc vào, hoặc từ các trường chuyên ngành do B2 tổ chức, được rà soát lại tiêu chuẩn chính trị trước khi điều về R.

        Đối với cán bộ, chiến sĩ hoạt động nội thành được Quân ủy Miền và Quân khu chỉ đạo vận dụng tiêu chuẩn chính trị cụ thể để đảm bảo nhiệm vụ chính trị được giao. Đây là những người làm ăn sinh  sống tại địa bàn thành thị, nơi đơn vị ta đang hoạt động, công tác thẩm tra tuyển chọn đều do người chỉ huy tiến hành sau khi được cấp ủy Đảng nhất trí.

        Công tác thẩm tra, xác minh kết luận và giải quyết số quân nhân bị bắt trở về được tiến hành rất khẩn trương để có thể sớm sử dụng anh em tiếp tục chiến đấu, công tác. Sau 30 tháng 4 năm 1975, ta có điều kiện thu thập tài liệu của địch mới thấy có 20 phần trăm người bị bắt khai báo nghiêm trọng, cá biệt có những người nhận nhiệm vụ làm tay sai cho địch nhưng khi được trở về, họ đã biến tội lỗi thành công trạng. Phòng Bảo vệ đã đề nghị và được Cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Quân Khu 7 quyết định hủy khen thưởng, đề bạt đối với những người này và hạ cấp, tước quân tịch, truy tố trước pháp luật đối với một trung tá, một thiếu tá và một đại úy.

        Thực tiễn chiến trường diễn biến rất phức tạp nên tình hình chính trị nội bộ cũng diễn biến nhiều dạng. Đáng chú ý nhất là dạng bị địch bắt khai báo những bí mật: Có tên dẫn địch về đánh phá hoặc kẻ đầu hàng phản bội nhận làm tay sai, địch phái trở về làm nội gián, chống lại cách mạng.

        Sau chiến tranh đã có lần lượt ba người từng làm nội gián cho địch đến gặp riêng cán bộ bảo vệ B2, họ yêu cầu giúp đỡ minh oan, sửa sai.., cho rằng hồi đó họ bị rún ép, bức cung... Chúng tôi khuyên giải, động viên: "Ngày nay nước nhà đã độc lập, tự do, muôn dân trăm họ được sống trong hòa bình hạnh phúc thì ai ai cũng đoàn kết, vị tha dùng sức lao động của mình góp phần cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh". Có hai người vui vẻ ra về, còn một người tỏ ra gay gắt, đòi thưa kiện. Chúng tôi đành phải tìm lại tài liệu vụ án ta đã làm hồi đó và tài liệu "mật báo viên" do địch để lại. Mời người đòi thưa kiện vào cùng gặp Thượng tá Lê Viết Bài, Trưởng Phòng Bảo vệ an ninh Cục Chính trị Quân khu 7. Sau khi anh ta được xem bút tích của mình hồi ở trại tạm giam tại tỉnh Tây Ninh và "hồ sơ mật báo viên" của Ty 4 - cảnh sát đặc biệt của Tổng nha cảnh sát Sài Gòn. Anh ta ngồi im lặng hồi lâu rồi nói: "Hồi đó ác liệt quá, tôi ở trong tình thế hiểm nghèo? Xin các anh thông cảm cho sự bạc nhược của tôi..." rồi anh bật khóc. Tiếng khóc hối hận, sụt sùi khiến mái tóc muối tiêu của anh rung rung. Chúng tôi an ủi khuyên giải và tiễn anh ra về. Anh nói những lời cám ơn thật chân thành trước lúc chia tay. Tôi đứng nhìn theo bóng anh đi khuất hẳn, hoà trong dòng người và xe cộ nườm nượp trên đường Hồ Văn Huê, Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2016, 08:15:43 PM
        Tôi nhớ lại, hồi 1974 trước khi đi Trung Quốc chữa bệnh, vợ tôi kể chuyện: "Ở nông trường 19 tháng 5 có chị Y cùng trạc tuổi với mình. Chị Y phụ trách công tác bà mẹ trẻ em. Chị có ngoại hình đẹp, là người có năng lực, nói năng lưu loát, gần gũi với chị em. Chị Y cũng có chồng đi B, có một con được Nhà nước cho đi sơ tán như mình, thỉnh thoảng có những buổi tâm sự an ủi lẫn nhau do đồng cảm với cảnh nhớ chồng thương con... Đùng một cái, vào cuối năm 1968 có nhiều người đồn đãi: "Đài BBC đưa tin chồng chị ta là thiếu tá Lê Xuân C. đi đầu hàng giặc. Mỹ Diệm, giao cho C, làm trong Cục tâm lý chiến Tổng cục chiến tranh chính trị quân lực Việt Nam cộng hòa. Có dịp về nông trường Bộ, mình muốn tìm gặp, chị Y tránh mặt. Từ đó có những người xầm xì mỉa mai, chị em xa lánh, dư luận quần chúng lên án tên đầu hàng phản bội. Chi Y hốc hác hẳn đi, ngày ngày chỉ lủi thủi trong nhà, không dám ló mặt ra ngoài. ít lâu sau, chị xin đi đơn vị khác.

        Mình đã mất một người bạn, lại thêm nhiều đêm thao thức khó ngủ vì cứ tưởng tượng ra và nghĩ dại, nghĩ khôn miên than... Mình cứ cầu trời khấn Phật phù hộ cho ba Liên được sống mà trở về với mấy mẹ con, đui què mẻ sứt gì cũng được, đừng hy sinh vì bom đạn, nếu rủi ro có bị địch bắt thì hãy giữ vững khí tiết. Tuyệt nhiên chớ có làm điều bạc nhược, phản bội cách mạng như chồng chị Y, cái điều đã nhục nhã cho chúng mình, lại tội nghiệp cho khai lý lịch của các con, cháu sau này".


        Đi đôi với chiến tranh quân sự, Mỹ-nguy dùng chiến tranh gián điệp - chiến tranh tâm lý trên quy mô sâu rộng chưa từng có trong lịch sử nước ta. Các cơ quan an ninh tình báo CIA, CID của Mỹ, Phủ đặc ủy Trung ương tình báo, Phòng 2 quân đội, tổng nha cảnh sát, an ninh quân đội nguy đều thi thố nhau cài nội gián vào nội bộ Quân giải phóng (riêng khu vực Sài Gòn đã có hơn 340 mật báo viên của chúng), để nắm tổ chức, biên chế, các kế hoạch hoạt động tác chiến của ta từ tiểu đoàn trở lên gồm đơn vị chiến đấu các phòng ban ở cơ quan đến Bộ Chỉ huy Miền, ghi vào sổ trận liệt và lập kế hoạch móc nối, cài cắm. Vụ móc nối điển hình là một thiếu tá Trung đoàn 768 Sài Gòn, sau chuyển về Sư đoàn 5, làm tham mưu phó trưởng ban tác chiến, khi bại lộ đã đầu hàng địch ngày 2 tháng 8 năm 1966. Vụ cài cắm điển hình là lợi dụng quen thân, cài một người vào đội điện ảnh Cục Chính trị Miền, trong một đêm hắn bắn chết bảy đồng chí trong đội điện ảnh nhưng bố trí hiện trường giả là bị biệt kích bắn chết, mà hắn là người chống cự quyết liệt nên còn sống sót (Cơ quan bảo vệ đã điều tra và kết luận hắn là tên do địch đã đưa vào để phá hoại ta). Từ đó, ngành bảo vệ đã có bài học phòng đánh địch rất sôi động trên địa bàn chiến lược B2.

        Từ giữa năm 1968 là thời điểm địch thực hiện âm mưu "quét và giữ" hết sức quyết liệt. Các lực lượng tình báo địch liên kết với nhau thành "ủy ban Phượng Hoàng" để phối hợp hành động. Chúng thi nhau móc nối, cài cắm nội gián vào nội bộ ta. Chúng dùng phương thức "kéo ra", thực hiện khẩu hiệu "Ba nhanh" (Bắt nhanh, khai thác nhanh, thả nhanh), "Bốn mạnh dạn" (Mạnh dạn bắt, mạnh dạn khống chế buộc cộng tác mạnh dạn giao nhiệm vụ, mạnh dạn cài cắm). Địch cho rằng đấy là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, có tác dụng kịp thời nhất và đỡ tốn kém nhất. Nếu sử dụng số này không đạt hiệu quả cao theo yêu cầu lấy tin tức tình báo thì vẫn đạt mục đích thứ hai là làm cho đối phương nghi ngờ lẫn nhau, gây thêm phức tạp nội bộ. Bọn nội gián ráo riết đánh cắp tin tức phá hoại chính trị, tư tưởng, móc nối chiêu hồi, gây cho ta một số tổn thất đáng kể: Năm 1968 có hơn 100 tên đầu hàng trong đó có ba người cấp trung tá, một thiếu tá là cán bộ chỉ huy trung đoàn, phân khu đi đầu hàng, nhận làm cộng tác viên cho chúng.

        Anh Võ Nghi - Trưởng ban điều tra và anh Nguyễn Văn Chính - Trưởng ban chấp pháp cho biết, trong thời gian từ 1968 - 1973, ta đã điều tra xác minh hiềm nghi - vụ án trinh sát, xét hỏi chấp pháp 15 vụ án lớn nhỏ, trong đó có các chuyên án thu hút nhiều người như V1, V2, V3 do bọn Ty 4 cảnh sát Sài Gòn dùng cạm bẫy câu nhử bắt một số cán bộ ta đang hoạt động nội thành Sài Gòn.

        Các vụ án truy tìm nội gián thường diễn ra ở địa bàn rộng, bị chia cắt, thế trận xen kẽ cài răng lược giữa ta và địch, đi lại rất khó khăn. Từ Phòng Bảo vệ Miền xuống các Phân khu phải đi bộ từ 2 đến 3 ngày, từ căn cứ của phân khu vào địa bàn hoạt động, địch chiếm đóng phải sử dụng con đường hợp pháp bằng giấy tờ giả mạo và con đường bất hợp pháp phải đột nhập ban đêm vào các cơ sở sống bất hợp pháp", địch thường xuyên càn quét nên phải lẩn trốn hoặc nằm hầm bí mật. Do đó, công tác điều tra vụ án gặp nhiều khó khăn. Các vụ án đã điều tra kết thúc trong chiến tranh, sau hoà bình được khảo nghiệm lại bằng tài liệu thu được ở các cơ quan tình báo của địch và bằng hỏi cung hai tên Bá và Mười Nhi (cảnh sát đặc biệt) - là những tên trực tiếp điều khiển "mật báo viên" của chúng, cho thấy các vụ án ta kết luận là chính xác.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2016, 08:06:15 AM
        Ví như vụ án "mật báo viên" Ở Phân khu 5.

        Nguyễn Văn C, làm công tác quân báo ở Phân khu 5 và Nguyễn Văn Ch, làm quân báo Ở Tây Ninh, được giao nhiệm vụ lo giấy tờ hợp pháp và bố trí nơi ăn ở cho một số cán bộ Phân khu 5 vào hoạt động trong nội thành nhưng sau một thời gian hoạt động đều bị địch bắt. Phòng Quân báo Miền và Ban Bảo vệ Phân khu 5 nghi vấn, đang lập hồ sơ vụ án thì Nguyễn Văn C, công khai theo giặc, vụ án phải tạm ngưng.

        Ngày 21 tháng 12 năm 1968, Lý Văn L, là người cùng hoạt động với Nguyễn Văn C, trong nội thành, bị chúng bắt - trốn trại trở về. Ta có nghi vấn, để L. ở hậu cứ theo dõi, ngăn cách không cho L, liên lạc với bọn C, và Ch nữa.

        Năm 1972, Lý Văn L, can tội đào ngũ tập thể. Ta bắt, khai thác L, mới biết, L. đã đầu hàng, nhận làm mật báo viên cho địch (Cũng do C. đưa L, vào bẫy cho địch bắt).

        Ngày 14 tháng 5 năm 1975, Nguyễn Văn C. (do địch cho trà trộn trong tù binh ra Côn Đảo để theo dõi tù binh) cùng anh em từ Côn Đảo trở về. Ta bắt C, Ch, và đồng bọn.

        Sau ngày giải phóng, Phòng Bảo vệ Quân khu 7 nghiên cứu tài liệu các cơ quan an ninh, tình báo của địch, kết hợp với tài liệu xác minh, toàn bộ vụ án "mật báo viên" do bọn tình báo hỗn hợp Mỹ - ngụy "cài cắm" vào nội bộ của ta dã được làm rõ.

        Vụ án khó khăn phức tạp này phải điều tra từ năm 1968 đến 1976 mới kết luận được 7 đối tượng gồm: một thiếu tá, một đại úy, ba thượng úy, một trung úy, một chiến sĩ (là cơ sở của ta).

        Do mất cảnh giác, bị địch cài bẫy bằng giấy tờ hợp pháp đã lần lượt bị bắt hết người này đến người khác Tất cả đều bị địch khống chế làm điệp viên cho chúng. Địch sử dụng bọn này rất linh hoạt và đa dạng, chưa lộ thì làm điệp viên nội gián, lộ rồi thì làm điệp viên địa bàn, những tên tầm cỡ thì dùng làm tình báo chiến lược, những tên hung hăng cho vào đội thám kích vừa điều tra lực lượng ta, vừa chặn đánh các đội quân báo của ta vào vùng chúng kiểm soát.

        Đây là một bài học cảnh giác đối với ta, đã để mất cán bộ chiến sĩ, lại để địch sử dụng người của ta, phá cơ sở của ta gây tổn thất rất nghiêm trọng.

        Tuy do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, chiến trường bị chia cắt, ta không có điều kiện điều tra liên tục nhưng đã phát hiện kịp thời, tích cực điều tra từng đối tượng, lưu trữ được hồ sơ (có theo dõi bút ký về các đối tượng) và có cán bộ bảo vệ từ Miền chuyển về Quân khu 7. Do đó, vụ án tuy chia làm nhiều mảnh điều tra nhưng ta vẫn truy tìm hết các đối tượng có liên quan và đều được kết luận, xử lý chính xác.

        Qua kết quả điều tra vụ án, ta thấy bọn tình báo Mỹ-nguy phối hợp với nhau rất chặt chẽ, nhất là sau thất bại Xuân Mậu Thân, chúng liên kết các tổ chức tình báo CIA, phủ đặc ủy trung ương, Tổng nha cảnh sát Phòng 2 và an ninh quân đội thành "ủy ban Phượng Hoàng" để phối hợp hoạt động, gọi là cơ quan "tình báo hỗn hợp" để Mỹ trực tiếp chỉ đạo.

        Bọn tình báo hỗn hợp khống chế người của ta rất chặt, nó buộc các tên đầu hàng phải gây tội ác để không còn đường quay lại với cách mạng. Chúng thường dùng người thân của các đối tượng để làm cầu móc nối liên lạc và dùng cơ sở của ta làm cầu móc nối hỗ trợ cho hoạt động của chúng.

        Về phía ta: Một số cán bộ chỉ huy, lãnh đạo phân khu và đội công tác của cơ quan quân báo đã mất cảnh giác nghiêm trọng; đơn giản, sai lầm cho rằng cứ có tiền là mua được tất cả, cho cấp dưới đi mua giấy tờ của địch để liên tiếp sa vào bẫy của chúng. Khi cán bộ được cử đi đã bị địch bắt rồi mà vẫn không kịp thời điều tra xác minh để tránh, vẫn cứ cho là chuyện bình thường, nên vội vã đưa cán bộ vào cho địch bắt tiếp.

        Sau đợt 1 và đợt 2 Mậu Thân, Phân khu trưởng Phân khu 5 bị bắt, đã đầu hàng khai báo lộ hết cơ sở, lộ hết việc ta dùng giấy tờ giả mà vẫn tin vào báo cáo của những tên đã là "mật báo viên" của chúng. Đó là một bài học sâu sắc, sống động về công tác quản lý con người, nhất là quản lý phẩm chất chính trị, đạo đức nhân cách trong hoạt động bí mật, thường xuyên tiếp xúc với các phần tử địch. Trong tình hình phức tạp của cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" hiện nay thì bài học đó vẫn còn nóng hổi tính thời sự.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2016, 08:17:22 PM
        Số nội gián mà ta đã phát hiện - tuy số lượng khá nhiều nhưng xét từng tên một thì chúng lấy tin trong phạm vi hẹp, không thuộc địa bàn có nhiều cơ mật chiến lược. Giá trị tin tức cũng đã gây cho ta những tổn thất, nhưng những tin tức đó dừng lại ở những mặt hoạt động cụ thể, có ý nghĩa chiến đấu, chiến thuật nhiều hơn. Đối chiếu với thực tiễn của chiến trường B2, tất cả các chiến dịch lớn, những trận chiến đấu rất sâu trong vùng địch chiếm như trận đánh vào Đại sứ quán Mỹ, đánh Tổng nha cảnh sát, đánh bộ tổng tham mưu ngụy, đánh nơi tập trung nhiều sĩ quan, công chức cao cấp Mỹ, đánh sân bay, kho xăng, những đợt động binh lớn như tổng tấn công Mậu Thân, như chiến dịch Hồ Chí Minh... đều giữ được bí mật rất tốt. Địch chỉ phát hiện được những dấu hiệu cụ thể chứ không biết ý đồ, chủ trương chiến lược, chiến dịch của ta. Chúng ta cũng có nhiều biện pháp để bảo vệ các bí mật đó. Nhưng, có phải những nơi chứa đựng các bí mật chiến lược, chiến dịch không có cơ sở nội gián của địch? Phải chăng trong cuộc chống Mỹ cứu nước, bọn gián điệp Mỹ không thực hiện được việc cài cắm nội gián theo kiểu đơn tuyến với vỏ bọc nhiều tầng, nhiều lớp, chui sâu, leo cao, nằm lâu tạo điều kiện và chờ thời cơ hoạt động lớn?

       Điều suy nghĩ lớn của chúng tôi là qua cuộc chống Mỹ cứu nước trên 20 năm cho đến khi ta toàn thắng rồi, nhìn lại và đọc nhiều hồ sơ, tài liệu địch (chắc chắn là chưa hết) mới hiểu được tương đối hoàn chỉnh, chiến tranh gián điệp của chiến tranh xâm lược thực dân mới. Họ coi đây là một quốc sách. Nó gồm những phương thức cổ điển với cái mới của chủ nghĩa thực dân mới khá là nổi bật.

        Họ tổ chức bộ máy tình báo rất đồ sộ, rất đông đảo, dùng nhiều phương tiện khoa học kỹ thuật, nhiều chuyên gia sừng sỏ. Họ tiến hành tình báo đại chúng, tình báo kỹ thuật, tình báo con thoi, tình báo ở miền Bắc. Họ đánh người vào mọi tổ chức của ngụy rất mạnh (các loại đảng phái, tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội). Họ đánh người vào nắm các dân tộc thiểu số. Họ nắm tất cả các cán bộ cao cấp của ngụy và trực tiếp do CIA sử dụng.

        Họ đánh người vào nội bộ ta rất ồ ạt, mạnh dạn, số lượng đông, quan điểm của họ là đánh 100 vào nội bộ chỉ cần dược 1 có tác dụng là tốt, rất tốt rồi - nếu không có tác dụng làm điệp viên thì có tác dụng gây rối ren, phức tạp cho nội bộ ta. Đánh vào nội bộ ta càng nhiều, càng nhanh thì càng tốt, không cần phải huấn luyện kỹ lưỡng (Tất nhiên về chiều sâu họ vẫn có một mũi riêng để cắm sâu, leo cao, tác dụng nhiều).

        Kết thúc chiến tranh, ta có điều kiện nghiên cứu một số vấn đề về nội gián thấy kẻ địch đã tiến hành gần 340 kế hoạch nội gián với gần 750 hồ sơ mật báo viên có liên quan đến lực lượng vũ trang, trong đó có 23 phần trăm kế hoạch của an ninh quân đội ngụy, 12 phần trăm kế hoạch của biệt đội su tầm, 1,7 phần trăm kế hoạch của đặc ủy Trung ương tình báo, 66,7 phần trăm kế hoạch của cảnh sát đặc biệt.

        Nghiên cứu các kế hoạch và hồ sơ mật báo viên, bước đầu tìm ra và xác định có những cơ sở để xem xét mật báo viên nằm trong lực lượng ta là hơn 150 người.

        Sau 3 năm điều tra xác minh, ngành bảo vệ an ninh Quân khu 7 kết luận được ở mức độ trong hơn 150 người đó có số đúng là mật báo viên, nhưng cũng có người có những yếu tố trùng hợp nhất định nhưng chưa đủ bằng chứng để kết luận họ là mật báo viên. Trong tình thế chính trị đất nước hồi đó, ta đã chuyển số người này ra khỏi quân đội, bàn giao cho công an địa phương quản lý và làm tiếp. Có 3,9 phần trăm là người do địch làm hồ sơ giả và 5,5 phần trăm là người mất cảnh giác địch có móc nối nhưng chưa thành hoặc không thành.

        Nghiên cứu từ các kế hoạch nội gián của địch thấy phần nhiều là kế hoạch phản tình báo nhằm vô hiệu hóa các hoạt động quân sự của ta và số ít là kế hoạch tình báo.

        Trên địa bàn B2 có vụ Võ Văn B., một huyện ủy viên của tỉnh Tây Ninh là nội gián do CIA nắm là có giá trị một phần liên quan đến bí mật chiến lược, đến các đợt chiến đấu lớn trên địa bàn Tây Ninh. Nói liên quan một phần chiến lược vì tên B, mỗi khi đi họp ở cấp tỉnh, được nghe phổ biến về đường lối chủ trương mà phạm vi cấp huyện được biết. Sau đó tên B, báo tin cho địch.

        Vụ nội gián điển hình thứ hai là vụ H86 xảy ra trên địa bàn Quân khu 6. Đây là vụ nội gián do CIA đánh điệp viên vào nội bộ ta, 20 năm sau mới phát hiện ra. Họ đã tổ chức một trận đánh có bài bản ngay từ dầu, giống như một bài mẫu của giáo khoa nghiệp vụ tình báo và phản gián.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2016, 08:45:14 AM
        Thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, ta tập kết rút lực lượng vũ trang ra Bắc, địch tiếp quản vùng căn cứ kháng chiến của ta. Mỹ-diệm tiến hành tố cộng, đánh phá khốc liệt các lực lượng, cơ sở cách mạng. Trước thử thách gay go, quyết liệt ấy, trong hàng ngũ cách mạng nảy sinh những diễn biến phức tạp: Nhiều tổ chức cách mạng trung kiên bị đánh diệt, một số cán bộ đảng viên giao động, sợ chết ra đầu thú với địch rồi nhận việc công tác tiếp tay cho chúng đánh phá phong trào cách mạng, một số khác bị địch bắt, không chịu nổi đòn tra tấn đã khai báo nghiêm trọng, tạo điều kiện cho dịch đánh phá cơ sở cách mạng... Sau đó bị địch khống chế, sử dụng làm chỉ điểm cho chúng.

        Trước năm 1965, trên địa bàn cực Nam Trung Bộ, địch đã sử dụng số đảng viên ra đầu thú, bị bắt khai báo nghiêm trọng làm chỉ điểm cho chúng tại các nhà tù. Sau khi ra tù, chúng bố trí số này về các địa bàn Đà Lạt, An Khê, Nha Trang.., tìm cách móc nối với các cơ sở cách mạng còn lại để chỉ điểm cho chúng đánh tiếp. Vào khoảng năm 1962 - 1963, qua tin tức của một số tên chỉ điểm, địch đã cài cắm vào được cơ quan thị đội Đà Lạt, chúng biết tin Quân khu 6 đang trong quá trình hình thành và có nhu cầu tìm kiếm xin cán bộ đã quen sinh hoạt thành phố để tổ chức lưới điệp báo của Quân khu. Nhân cơ hội này, địch chỉ đạo cho điệp viên qua chúng nhận giới thiệu người và hứa sẵn sàng giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi. Đồng thời họ điều động lực lượng điệp viên từ An Khê, Nha Trang về Đà Lạt để từng bước cho ra đời lưới điệp báo của Phòng 2 Quân khu 6, mang bí số "A22".

        Anh Lê Tiên, nguyên trung tá, phái viên của Cục Bảo vệ Tổng cục Chính trị tại Phòng Bảo vệ B2, nguyên đại tá, Phó cục trưởng Cục Bảo vệ Tổng cục Chính trị cho biết: "(Trong 20 năm "chơi miếng" nghiệp vụ với cơ quan tình báo ta, hình thành hai giai đoạn rõ ràng và nhằm vào những mục tiêu khác nhau:

        Giai đoạn l: Từ 1965 - 1975, mục tiêu chủ yếu là phản tình báo ta, đồng thời kết hợp khai thác tin tức tình báo về hoạt động chiến tranh của ta trên địa bàn Quân khu 6.

        Giai đoạn 2: Từ 1975 - 1985, tình hình thay đổi, địch chuyển hướng chiến lược, tạo thế chui sâu leo cao, phát triển lực lượng, mai phục chờ thời.

        Sang thập kỷ 80, tình hình đất nước có nhiều biến đổi, kinh tế, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, chiến tranh xảy ra cả hai đầu biên giới phía nam và phía bắc. Địch cho là vận hội đã đến. Chúng ra sức hoạt động quấy phá để gây rối, mất ổn định chính trị hậu phương ta. Do khinh suất trong hành động, nên chúng đã bị ta phát hiện vào năm 1985.

        Không đánh giá thấp kết quả tình báo của địch nhưng ta thấy kết quả của chúng rất hạn chế. Trong chiến tranh mà tình báo lấy những bí mật quân sự không hiệu quả thì rõ ràng là tình báo kém. Tại sao? Cái gì thuộc yếu kém của địch, cái gì là do sự đối phó có hiệu quả của ta? Đây là những vấn đề rất lý thú, cần được nghiên cứu sâu và cần nhiều tài liệu mới có thể giải đáp được.

        Nhìn lại hoạt động tình báo của Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam, chúng ta càng phải cảnh giác với chúng. Chúng đã gây cho ta nhiều khó khăn, có lúc đen tối như giai đoạn 1954 - 1959; có lúc rất nguy hiểm như thời kỳ chúng mở rộng ấp chiến lược, thực hiện "tát nước bắt cá", có lúc cách mạng ở vào thế "ngàn cân treo sợi tóc" như sau xuân Mậu Thân, nhưng dân tộc Việt Nam không chịu khuất phục. Đảng ta đã có những nhận định đúng, sáng suốt và huy động được cả dân tộc vào cuộc đấu tranh quyết liệt. Chúng ta đã giành thắng lợi cuối cùng. Thật là tuyệt vời, trong đó có sự tuyệt vời trong đấu tranh chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp...

        Đế quốc Mỹ đã chịu thua nhưng mưu đồ của chúng còn nhiều đối với Việt Nam. Trước khi thua, chúng đã chuẩn bị kế hoạch tình báo hậu chiến rất công phu. Chúng ta phải tỉnh táo, không thể chủ quan được, không thể đánh giá thấp tình báo của Mỹ. Nếu ta có đủ tỉnh táo thật sự cao và sự chuẩn bị đối phó thật chu đáo thì mới thắng giòn giã được.

         Ngành đã làm tốt công tác bảo vệ phục vụ nhiệm vụ chiến đấu của lực lượng vũ trang B2, bởi suy cho cùng thì công tác bảo vệ trong chiến tranh là làm tốt cho công tác bảo vệ chiến đấu của các lực lượng vũ trang để giành thắng lợi cho chiến tranh. Mọi mặt công tác bảo vệ đều đi tới cái đích là góp phần bảo đảm cho chiến tranh giành thắng lợi cuối cùng về phía ta, bao gồm những việc làm của quần chúng rộng rãi, những việc làm của các cấp lãnh đạo, chỉ huy đến những việc làm chuyên sâu của ngành bảo vệ chính trị. Nhất là bảo vệ nghiêm túc những điều cơ mật của chiến đấu.

        Các lực lượng vũ trang B2 đã có những thành công rất lớn trong giữ bí mật đồng thời đã có những bài học đắt giá do để lộ bí mật gây tổn thất.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2016, 09:06:33 PM
        Ngành đã bảo vệ an toàn cho chiến đấu bao gồm: An toàn về lực lượng, an toàn về cơ sở vật chất kỹ thuật, an toàn sở chỉ huy. Nhưng trong thực tiễn, ở những đơn vị nào mà cuộc đấu tranh chống chiến tranh tâm lý thiếu sắc sảo chặt chẽ, sự cảnh giác với địch chưa cao, quản lý nội bộ lại lỏng lẻo thì ở đó phát sinh những vấn đề nội bộ phức tạp. Thắng lợi của xuân Mậu Thân năm 1968 là rất to lớn, nhưng đợt 1 chưa đạt yêu cầu cao, sau đó gặp nhiều khó khăn thì một số người dao động, hoài nghi và sợ chết nên đã đầu hàng địch.

        Thực tiễn cho thấy: Công tác bảo vệ chiến đấu phải do cấp ủy Đảng trực tiếp lãnh đạo, các cấp chỉ huy phải trực tiếp điều hành tổ chức thực hiện để đảm bảo công tác bảo vệ hoạt động đúng với mệnh lệnh về nhiệm vụ quân sự, sát với yêu cầu chiến đấu (của từng giai đoạn và phù hợp với diễn biến khẩn trương, biến động của chiến đấu.

        Bất cứ một trận chiến đấu, một đợt chiến đấu, một chiến dịch hay một cuộc Tổng tiến công nổi dậy trên toàn Miền công tác bảo vệ đều phải gắn liền với mọi nhiệm vụ, mọi tình huống, mọi hoạt động chiến đấu trong suốt cả quá trình từ khi chuẩn bị chiến đấu, trong thực hành chiến đấu và cả sau khi chiến đấu.

        Trong bất cứ loại hình chiến dịch nào, loại trận chiến đấu nào đều phải triển khai các nội dung công tác bảo vệ chặt chẽ ngay từ đầu (từ khi có ý định tác chiến) và phải tiến hành cụ thể, tỉ mỉ nghiêm túc ngay từ gốc (từ cơ quan chỉ huy chiến đấu) và phải biết tập trung sức lực, trí tuệ làm thật tốt những khâu trọng điểm nhất của nội dung bảo vệ bí mật, bảo vệ an toàn, bảo vệ chính trị nội bộ.

        Công tác bảo vệ chiến đấu được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, nghiêm túc trong suốt quá trình chiến đấu, trong mọi tình huống của chiến đấu, đồng thời phải biết đặc biệt coi trọng, dồn sức chỉ đạo công tác bảo vệ trong những tình huống phức tạp, hiểm nghèo, ta bị thương vong tổn thất lớn, xảy ra những sự việc phức tạp chính trị ảnh hưởng tới sức chiến đấu của bộ đội v.v... Gặp những hoàn cảnh đó, toàn thể cán bộ lãnh đạo chỉ huy, cán bộ chiến sĩ phải nhanh chóng xiết chặt đội ngũ, giữ vững ý chí chiến đấu, tỉnh táo tinh tường xử trí các sự việc phức tạp thật nhanh gọn, tiếp tục làm nhiệm vụ chiến đấu một cách vững vàng.

        Công tác bảo vệ phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên là một mặt trận chiến đấu mới và độc đáo. Vì trong lịch sử nước ta cũng như các nước trên thế giới chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai đứng tại trung tâm đầu não của đối phương. Lực lượng đó lại ở thế hợp pháp, được dư luận quốc tế công nhận. Và tại đây lực lượng đó lại dõng dạc phân tích các ý đồ và hành động của mỗi bên. Và đặc biệt là lên án những việc làm xằng bậy của đối phương và biện hộ có sức thuyết phục cho những bước đi của phía mình, để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý và cuối cùng là đón chào đoàn quân chiến thắng vào hợp điểm cùng ca khúc khải hoàn.

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ 9 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Tại Sài Gòn và các khu vực ở miền Nam Việt Nam có phái đoàn liên hiệp 4 bên làm nhiệm vụ giám sát và kiểm soát việc thi hành hiệp định. Hai phái đoàn quân sự của ta với tư thế chiến thắng, vào tận sào huyệt của địch đứng chân công khai, dựa vào pháp lý của hiệp định, mở một mặt trận tiến công mới, trong điều kiện mới: Đó là quân Mỹ phải rút ra, còn quân ta thì ở lại, hành lang Nam Bắc được nối liền.

        Xét về mặt công tác bảo vệ, phái đoàn quân sự của ta gồm các cán bộ chiến sĩ được tuyển chọn những người vững vàng dũng cảm, có cảnh giác cao đã được tôi luyện trong chiến đấu nên có cơ sở rất tốt để đấu tranh chống kẻ thù, bảo vệ ta một cách chặt chẽ. Chúng ta vào ăn ở hoạt động trong vùng địch kiểm soát Chúng chủ động bố trí việc ăn ở cho phái đoàn ta, bố trí người phục vụ. Phương tiện chúng quản lý, đi lại chúng hướng dẫn, ra vào chúng kiểm tra. Người Mỹ rất cần lấy tù binh của họ để xoa dịu phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ nên cả ngụy và Mỹ phải chịu để có một bộ phận phái đoàn quân sự của ta ở giữa Sài Gòn. Tuy có bị Hiệp định Pa-ri ràng buộc nhưng những kẻ đã rắp tâm phá hiệp định thì nhất định sẽ tìm mọi cách để phá hoại ta, ngăn cản ta, vô hiệu hoá phái đoàn ta.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:57:16 AM
        Điều rất quan trọng là làm cho mọi thành viên trong phái đoàn ta nhận thức rõ những âm mưu thủ đoạn của địch ngăn cản, phá hoại đối với phái đoàn ta. Dự kiến những thủ đoạn mánh lới hoạt động cụ thể của địch về điều tra các cơ mật, về khiêu khích gây rối, về đe dọa uy hiếp, về tác động tâm lý, về vu khống xuyên tạc và dự kiến cả những hành động bắt cóc bí mật, hành hung v.v... Từ đó bàn bạc trao đổi những biện pháp chủ động tấn công, biện pháp phòng ngừa ngăn chặn và những biện pháp xử trí khi có sự việc xảy ra.

        Chúng xếp đặt phái đoàn ta vào ở một địa điểm ngay bên cạnh một sư đoàn quân nhảy dù, trong địa phận của sân bay Tân Sơn Nhất trong vòng vây nhiều tầng nhiều lớp của quân ngụy. Những tên quân cảnh to cao lực lưỡng, lúc nào cũng lăm lăm súng trong tay đi lại kiểm tra, kiểm soát xung quanh nơi phái đoàn ta ở. Vòng quanh khu vực phái đoàn ta ở, địch đắp thành bờ tường cao và xây các lỗ châu mai từ tường đó và từ tường của Sư đoàn quân dù, lúc nào cũng có những nòng súng đen ngòm chĩa vào phái đoàn ta. Trên bàn hội nghị, chúng luôn tìm cách uy hiếp nhằm hạ uy thế, hòng làm nhụt nhuệ khí đấu tranh của phái đoàn ta.

        Anh Nguyễn Văn Khả - tức trung tá Vũ Bình, Phó tiểu ban trao trả của phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cho biết: "Hai năm, bốn tháng phái đoàn liên hiệp quân sự của ta đấu tranh thi hành hiệp định Pa-ri ngay giữa sào huyệt của địch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ". Kẻ thù không muốn phái đoàn ta có mặt ở Sài Gòn, nhưng phái đoàn của ta đã ở đây cho đến ngày toàn thắng một cách vững vàng, toả sáng ngọn cờ cách mạng, giữ vững lập trường đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù trong thế đứng hiên ngang công khai của đội quân chiến thắng. Hơn hai năm kẻ thù không từ một thủ đoạn nào để ngăn cản, phá hoại phái đoàn ta. Từ vây hãm, khiêu khích, đe dọa uy hiếp, hành hung đến cắt điện, cắt nước, tác động tâm lý lôi kéo kích động v.v... Nhưng tất cả những thủ đoạn đó dã bị vạch trần và đánh bại. Phái đoàn ta với hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, nhân viên đã chủ động bảo vệ cho mình được hoàn toàn trong sạch vững mạnh, bảo đảm được an toàn tuyệt đối, giữ gìn được những cơ mật trong đấu tranh. Trong cuộc đấu tranh ngoại giao quân sư ưu thế chính trị thuộc về ta nên ta phát huy ưu thế đó mà tấn công địch. Trong thế tấn công, ta vạch trần những luận điệu sai trái phi lý, phản dân tộc, phản đạo lý của chúng. Đồng thời nắm thật vững pháp lý của hiệp định để dẫn giải rành mạch khúc chiết làm cho chúng không thể lảng tránh hoặc cãi chày cãi cối với những điều chúng vi phạm, nhất là vấn đề ngừng bắn.

        Trong tấn công, phái đoàn ta thể hiện phong cách thái độ đàng hoàng chững chạc, có sức thuyết phục cả về đạo lý, lý luận và thực tiễn với thái độ từ tốn, sâu sắc, chặt chẽ buộc đối phương phải suy ngẫm. Đối với nhân viên phục vụ như lái xe, tiếp phẩm, lo điện nước v.v.., ta nói với họ một cách dễ hiểu, đối xử với họ một cách độ lượng của những con người cách mạng với quần chúng lao động bị đầu độc và cuộc sống của họ đang phụ thuộc vào bọn ngụy quyền Sài Gòn. Công tác bảo vệ các bí mật trong hoạt động của phái đoàn ta được đặt thành một nội dung quan trọng và được thường xuyên tổ chức thực hiện nghiêm mật. Ta đã phát hiện và vô hiệu hóa hàng chục linh kiện ghi âm của địch gắn sẵn trong các ngôi nhà mà chúng bố trí cho phái đoàn ta ở, nhất là dành riêng cho trưởng phó đoàn và nơi hội họp. Chủ động đấu tranh chống thủ đoạn phá hoại của địch để bảo vệ vững chắc nội bộ là một điểm mạnh của phái đoàn ta.

        Thời kỳ quân ta tiến như vũ bão, thắng như chẻ tre xuân 1975, ta được tin địch định dùng xe tăng chà xát khu vực phái đoàn ta ở để tiêu diệt. Chúng ta nhận vũ khí từ ngoài vào, đào hầm chiến đấu, đào giao thông hào nối các nhà trong khu vực. Đất đào lên cho vào bao tải để dưới gầm các nhà hoặc cho vào tủ đựng quần áo, ta làm rất công phu, kín đáo nên địch không biết gì. Điều cơ bản và sâu sắc nhất trong công tác bảo vệ phái đoàn quân sự của ta trong Ban liên hiệp quân sự là bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức cảnh giác chính trị và trách nhiệm chính trị của từng thành viên và cả tập thể phái đoàn được đề cao. Nhiều trường hợp thể hiện tinh thần đấu tranh không nhân nhượng, tỉnh táo sáng suốt trong đấu tranh, một người một tổ cũng tiến công, nhạy bén phát hiện những thủ đoạn mánh lới của địch rất kịp thời. Có rất nhiều câu chuyện cụ thể chứng minh cho sự cảnh giác sắc sảo của cán bộ ta. Việc chấp hành các kế hoạch về bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật, bảo vệ an toàn được mọi thành viên trong phái đoàn, kể cả trưởng phó đoàn tự giác nghiêm chỉnh chấp hành.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2016, 11:00:07 PM
        Chính chỗ ở của phái đoàn ta lại là nơi kẻ thù đến để cầu cạnh, trước ngày tận thế của chúng. Họ cử người đến thăm dò ta về "ngừng bắn" mà họ còn hy vọng. Đại sứ Mỹ Matin cũng xin gặp phái đoàn ta và nhận được sự từ chối đúng vào trước ngày ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng và cũng là ngày mà Matin lên máy bay chuồn về Mỹ".

        Đây cũng là những trận chiến đấu trên mặt trận ngoại giao quân sự trong chiến tranh và công tác bảo vệ ở mặt trận này cũng được làm rất tốt, đã để lại bao ấn tượng đẹp đẽ.

        Một năm sau ngày toàn thắng, tháng 4 năm 1976 tôi mới có dịp hồi hộp ngồi nghe anh Nguyễn Văn Khả kể chuyện:

        Ngày 3 tháng 4 năm 1975, đồng chí Văn Tiến Dũng vào tới Bộ Chỉ huy Miền. Sở chỉ huy cơ bản của chiến dịch được lập xong và đến tối 14 tháng 4 thì được biết chiến dịch này mang tên Bác. Việc bảo vệ an toàn Bộ Chỉ huy được đặt thành yêu cầu số một và chúng tôi càng khẩn trương chuẩn bị hoàn chỉnh các nội dung công việc bảo vệ cho chiến dịch. Tổng cục chính trị và Cục bảo vệ đã có nhiều chỉ thị cụ thể xoay quanh 3 vấn đề lớn. Một, bảo vệ bí mật, bảo đảm giành yếu tố bất ngờ cho chiến dịch; hai, bảo vệ nội bộ, đặc biệt chống chiến tranh tâm lý của địch, giữ vững ý chí chiến đấu cho bộ đội; ba, bảo vệ an toàn ở mức cao nhất, hạn chế tổn thất tới mức thấp nhất.

        Anh em chúng tôi đã cùng phân tích, nhận định tình hình. Về yếu tố bất ngờ, cần đặc biệt chú ý giữ bí mật, nhưng giữ cái gì, giữ như thế nào trong chiến dịch này? Chúng tôi tập trung vào thời gian và mục tiêu chiến dịch, lực lượng tham gia và nhất là cách đánh chiến dịch. Bởi vì địch đã biết chúng ta đánh lớn và hướng tiến công là Sài Gòn - Gia Định. Ta phải thắng và phải thắng giòn giã nhưng làm sao thương vong ít nhất, dân đỡ bị thiệt hại, địch đầu hàng hoàn toàn mà thành phố ít bị tàn phá? Đây là một nghệ thuật về cách đánh của ta. Từ các bộ óc sáng suốt của Đảng đến các cán bộ chỉ huy chiến dịch nên nhất quyết phải giữ bí mật bằng được. Chúng tôi đề xuất bảo vệ bí mật thật chặt chẽ ở tất cả các khâu, đặc biệt chú ý khâu phổ biến nhiệm vụ và thông tin liên lạc. Về bảo vệ nội bộ, điểm lại quá khứ, chúng tôi thấy giai đoạn 1969 - 1972 là những năm chiến trường ác liệt, có một số trường hợp đầu hàng phản bội. Vì thế, chiến dịch này có chăng cần đề phòng ở thời điểm nào đó, hướng tấn công nào đó bộ đội ta bị "sượng" mà có thể xuất hiện những Lê Chiêu Thống mới. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ (1972) có một trung đội phó trinh sát đầu hàng, chúng tôi đã phân tích kẻ phản bội kia biết bí mật tới đâu? Có phải là nội gián? Nguyên cớ đầu hàng? Sau đó kiến nghị Bộ Chỉ huy quyết định nổ súng sớm hơn kế hoạch một ngày và thực tế đã thắng lợi, nhưng đây là bài học rất dắt.

        Mặt khác, chúng tôi cũng kiến nghị Bộ Chỉ huy tăng cường động viên ý chí quyết tâm chiến đấu, thấu suốt ý nghĩa chiến dịch cho bộ đội. Biết đâu, có ai đó không muốn mình là người phải hy sinh trước giờ toàn thắng thì sao? Cuối cùng là tinh thần bảo vệ an toàn cho lực lượng, nhất là các mũi đi sâu vào nội đô Sài Gòn trước giờ nổ súng, an toàn cho bộ đội vào thành phố đông dân, sào huyệt cuối cùng của địch mà chúng đã dày công xây dựng hệ thống đàn áp kìm kẹp nhân dân ta suốt mấy chục năm. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là tập trung bảo vệ hai Sở chỉ huy đặt tại Lộc Ninh và Bến Cát, vì lúc này đang có ba đồng chí ủy viên Bộ Chính trị (Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng) và nhiều cán bộ cao cấp khác.

        Cũng để đảm bảo bí mật và an toàn nên đúng sớm ngày 26 tháng 4 đồng chí Văn Tiến Dũng và Trần Văn Trà chuyển về Sở chỉ huy tiền phương tại một căn cứ của Biệt động Thành ở tây bắc huyện Bến Cát.

        Thời gian này dù cơ quan bảo vệ đã có hàng trăm người, song vẫn thấy "mỏng" khi phải đảm bảo an toàn cho cả hai Sở chỉ huy. Chúng tôi đã phải huy động thêm lực lượng cơ động của bảo vệ Miền ở vòng ngoài. Xin nói thêm, khi đã biết rõ lực lượng tham gia chiến dịch, một vấn đề khác xuất hiện: Một số đơn vị từ ngoài Bắc vào chưa quen địa hình chiến trường nên chúng tôi phải chia nhau đi các hướng lớn để thông báo tình hình cần thiết liên quan đến công tác bảo vệ Cùng đó tăng cường phối hợp lực lượng (nhất là biệt động thành, Ban An ninh Miền, các đội vũ trang cơ động...) để bảo vệ các mục tiêu trọng điểm của thành phố, bến vượt, cầu cống. Một việc quan trọng nữa, đề xuất với Bộ Chỉ huy chỉ thị những "yêu cầu bảo vệ" khi vào Sài Gòn: Việc giữ và thu hồi tài liệu của địch, đây là những chiến lợi phẩm vô giá nên đó cũng là việc rất quan trọng. Chúng tôi cho rằng, nếu thu tài liệu địch được tốt, bắt bọn tình báo gián điệp được tốt thì chúng ta có cơ sở điều kiện tìm hiểu sâu sắc và phá kế hoạch hậu chiến của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 06:50:47 AM
        Đúng 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Sở chỉ huy tiền phương - khi có tin chính xác quân ta đã cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập và đã nghe tiếng của Dương Văn Minh, tổng thống ngụy Sài Gòn tuyên bố đầu hàng không điều kiện, chúng tôi ai nấy đều như "thăng hoa", nhảy hết lên mặt hầm, hò reo ôm nhau khóc. Đúng là nước mắt để dành cho ngày chiến thắng. Với riêng tôi, tới lúc này đã gần 30 năm cầm súng, đã đi nhiều chiến trường, có 11 năm gắn bó với Nam Bộ cho nên vui mừng sung sướng đến trào nước mắt là dễ hiểu. Và dường như ai trong chúng tôi cũng nhớ ngay đến Bác Hồ, đến đồng chí Nguyễn Chí Thanh và biết bao liệt sĩ, những người đã hy sinh không được hạnh phúc chứng kiến giờ phút trọng đại nhất này của lịch sử. "Cánh" bảo vệ chúng tôi đã "tỉnh" lại rất nhanh, nhận định tình hình và buộc mọi người xuống hầm. Vì rằng trong lúc quá say sưa thắng lợi, bộ đội và dân sẽ "vãi đạn" như mưa, nhỡ ra... Tôi gọi ngay điện thoại báo cáo trợ lý đang làm nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch yêu cầu không để các đồng chí đó rời khỏi hầm. Một đồng chí lãnh đạo hỏi lại: "Chắc là lệnh của trưởng ban bảo vệ". Đúng như dự kiến, một lát sau, các loại súng nổ vô kể để thay cho pháo hoa mừng chiến thắng.

        Chúng tôi suy nghĩ nhiều đến phá kế hoạch "hậu chiến" của địch. Ngược lại, thời gian từ sau Mậu Thân, Mỹ đã có kế hoạch hậu chiến và ráo riết chuẩn bị, tới khi có Hiệp định Pa-ri thì có những tin tức xác định là địch ráo riết thực hiện và điều chỉnh kế hoạch hậu chiến cho phù hợp. Trong đó, đáng chú ý là mảng tình báo gián diệp. Theo tài liệu, Mỹ đã chi tới 4 tỉ đô la để củng cố các cơ quan tình báo ngụy, hy vọng đủ sức đối phó với ta sau khi Mỹ rút quân (1973) cho cả hai tình huống: Có giải pháp chính trị hoặc thua trận hoàn toàn. Chúng đã chuẩn bị các con bài chính trị, tuyển chọn lại điệp viên, lọc và cài hàng ngàn tên tình báo gián điệp vào các đảng phái tôn giáo, vào lực lượng sinh viên học sinh; những tên tin cẩn nhất được "biệt phái" vào các ngành văn hóa - xã hội, hồi hương làm dân thường hoặc "chuyển ngành", khống chế số bị chúng bắt, phục hồi và xây dựng các đội võ trang, đặc biệt vùng người dân tộc ở Tây Nguyên... Nhờ có tài liệu thu được và vấn đề đăng ký trình diện của các loại kẻ địch, chúng tôi đã cùng Ban An ninh Miền đề xuất phân loại trong số những nguy quân, nguy quyền đã trình diện, tìm những đối tượng "đặc biệt" để tập trung khai thác ngay. Chúng là những cái lưỡi sống.

        Nhờ những tài liệu đó mà chúng tôi rõ thêm nhiều vấn đề, trong đó đã nghiên cứu, điều tra kết luận một cách chính xác những kẻ chui vào nội bộ ta để phá hoại. Có những tập hồ sơ địch để lại với nhiều chi tiết nói về người của chúng "đánh" vào nội bộ ta hoặc lôi kéo được người của ta làm việc cho chúng. Một chi tiết đáng chú ý, nhiều tài liệu của địch được xây dựng giả tạo (Chúng tôi đã gặp những "tác giả" của tài liệu ấy, biết rằng làm thế là để kiếm tiền). Vì vậy đã góp phần minh oan cho hàng chục đồng chí đồng đội của ta.

        Anh Nguyễn Văn Khả tâm sự, những ngày tháng Tư còn đọng lại mãi trong ký ức của tôi. Những ngày tháng 4 năm 1964, tôi đi vào Nam chiến đấu bằng đường Hồ Chí Minh trên biển Đông. Đúng 11 năm sau, những ngày tháng 4 năm 1975, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

        Trên đây chỉ là một phần những công việc mà công tác bảo vệ an ninh đã làm trong chiến dịch. Do tốc độ phát triển của chiến dịch quá nhanh theo tư tường chỉ đạo "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" mà các cấp ủy Đảng và người chỉ huy các hướng các cánh quân, các đơn vị đã phải độc lập và thực tế đã biết xử lý đúng các "tình huống bảo vệ", đây chính là một thành công nữa của công tác bảo vệ chiến trường. Qua công tác bảo vệ an ninh trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và các chiến dịch ở chiến trường B2 có thể đi đến kết luận rằng, trong thời bình nếu làm tốt công tác bảo vệ nội bộ thì khi có chiến tranh, quân đội sẽ xử lý tốt "các tình huống bảo vệ".

        Trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch mà làm tốt công tác bảo vệ thì bộ đội ta nhất định sẽ thực hiện tết mọi yêu cầu công tác bảo vệ trong quá trình diễn biến của chiến dịch.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang1-1.jpg)



Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 06:52:09 AM
*

*         *

        Công tác bảo vệ căn cứ cách mạng, bảo vệ cán bộ lãnh đạo chỉ huy của các cấp trong chiến tranh ở B2 là rất khó khăn và phức tạp. Mọi cán bộ chiến sĩ và người dân đều quan tâm bảo vệ nên nhiều trường hợp rất hiểm nghèo đã hạn chế bớt được những tốn thất. Có một số đồng chí cấp quân khu hy sinh do bị địch phục kích hoặc do căn cứ bị địch đánh phá cũng là những bài học cho công tác bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ.

        Các căn cứ địa cách mạng tại chỗ của B2 có căn cứ ở vùng rừng núi, ở vùng nông thôn đồng bằng và các căn cứ lõm nằm trong vùng tranh chấp hoặc vùng địch kiểm soát là những căn cứ "dựa vào lòng dân". Mỗi loại căn cứ đều có những đặc điểm khác nhau, vì vậy việc giữ vững, mở rộng căn cứ, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho căn cứ là nhiệm vụ rất quan trọng của tất cả các cấp các đơn vị cơ quan trong mọi tình huống. B2 đã chuẩn bị kế hoạch tác chiến và đánh bại những lực lượng quân sự lớn của địch càn quét để "bắt chộp" cơ quan đầu não và phá hoại căn cứ của ta.

        Đồng chí Đại tá Huỳnh Văn Cửu, Trưởng ban căn cứ của Phòng Bảo vệ B2 cho biết: "Công tác bảo vệ căn cứ đầu não B2 và bảo vệ cán bộ chỉ huy lãnh đạo B2, mặc dù phải di chuyển nhiều lần, mất nhiều công sức, xử lý nhiều tình huống phức tạp, nhưng cán bộ chỉ huy và cơ quan đầu não vẫn tồn tại và an toàn tuyệt đối trong suốt cuộc chiến tranh. Ngành bảo vệ B2 đã chủ trì tổ chức bảo vệ an toàn trên 500 lượt đi công tác, chiến dịch của các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Nguyễn Thị Định, Trần Độ, Nguyễn Hữu Xuyến, Đồng Văn Cống... Nhiều lần tổ chức đưa rước các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Phan Văn Đáng và luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Đã lựa chọn địa điểm, tổ chức đưa rước cán bộ và bố trí bảo vệ an toàn tuyệt đối 4 sở chỉ huy cơ bản, 6 sở chỉ huy chiến dịch, 19 cuộc hội nghị do Bộ Chỉ huy Miền tổ chức, kể cả 3 cuộc đại hội tuyên dương Anh hùng chiến sĩ thi đua Quân giải phóng miền Nam. Bảo vệ an toàn các đoàn khách Liên Xô, Trung Quốc, nhiều nhà báo quốc tế đến vùng căn cứ làm việc với Bộ Chỉ huy Miền.

        Riêng căn cứ địa cách mạng của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là miền Đông Nam Bộ, chia thành 2 khu: Khu A gồm Chiến khu Đ mở rộng thêm rừng núi 3 tỉnh Bình Long, Phước Long, Quảng Đức. Đây là khu vực có thế thuận lợi cho việc chỉ đạo cả Khu 5, Tây Nguyên và Trị Thiên. Nhưng không thuận lợi cho chỉ đạo phong trào cách mạng "2 chân, 3 mũi". Hơn nữa, việc tiếp tế lương thực rất khó khăn. Khu B từ căn cứ Dương Minh Châu nối liền lên biên giới Campuchia và rừng núi các tỉnh Bình Long, Phước Long; về hướng nam và đông nối liền với Sài Gòn - Gia Định và xuống các tỉnh đồng bằng Khu 8 và Khu 9. Khu B có thuận lợi về cung cấp hậu cần, lại nằm trong tổng thể ba vùng chiến lược. Đặc biệt là căn cứ "lòng dân" đã tạo thành thế vững vàng cho cả hai khu căn cứ địa của cách mạng miền Nam.

        Trong 21 năm chiến tranh (1954 - 1975) nhất là trong 14 năm cao điểm (1961 - 1975) các cơ quan đầu não của B2 có nhiều lần di chuyển chỗ đứng chân, nhưng cũng chỉ loanh quanh trong 2 khu A và B thuộc miền Đông Nam Bộ và có 3 năm (1971 - 1973) ở đất Campuchia, khi Mỹ - ngụy mở rộng chiến tranh sang Campuchia, để kịp thời chỉ huy lãnh đạo cuộc chiến.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang2-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 06:52:33 AM
        Để giữ được bí mật và an toàn căn cứ cơ quan đầu não, Ban Bảo vệ căn cứ Cục Chính trị phối hợp với Ban Căn cứ Bộ Tham mưu quy hoạch vị trí đóng quân, ban hành văn bản quy định về làm nhà ở, hội trường đều làm nửa chìm nửa nổi, hầm trú ẩn chữ A, có giao thông hào nối liền các bộ phận trong cơ quan, có công sự chiến đấu theo một phương án riêng; việc bố phòng bảo vệ cơ quan do Bộ Tham mưu chỉ đạo. Nấu ăn bằng bếp Hoàng Cầm và nước giếng tự đào, nhà ở cách xa suối trên 300 mét, các máy vô tuyến diện cách xa Sở chỉ huy 15 kilômét, đường dây điện thoại chôn 0,15 mét đến 0,20 mét. Từng cơ quan cò cây làm hàng rào, nhiều cơ quan ở liền nhau cò cây thành hàng rào liên hoàn thành cụm (tất cả các loại cây bằng từ ngón chân cái đến cổ tay đều chặt một nửa thân cho ngả ngọn ra phía ngoài, cây vẫn sống), bề dày của hàng rào phải 50 mét, trong hàng rào có những đoạn bố trí hầm chông lẫn giữa hàng rào; các trảng trống gần căn cứ dùng cây có đường kính 0,1 mét đến 0,2 mét vạt nhọn chôn thẳng đứng cao 4-5 mét, cây cách cây 5 mét, hàng cách hàng 5 mét để chống trực thăng hạ cánh hoặc thả biệt kích. Hằng năm, các quy định về bảo vệ căn cứ được bổ sung hoàn chỉnh hơn, nhất là sau những lần di dời căn cứ; việc đi lại giữa vòng trong (gồm bộ chỉ huy và các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần) với vòng ngoài (gồm các đơn vị có người đi về tiếp xúc với nhiều địa phương như khối nhà trường, đoàn văn công, đội điện ảnh, quay phim, kho trạm của hậu cần). Các trạm thường trực đón khách từ các nơi về làm việc họp hành tại trạm trực. Chỉ những người được cấp giấy mới vào vòng trong. Ban Cảnh vệ căn cứ tổ chức việc kiểm tra chấp hành nội quy bảo vệ căn cứ; đi nghiên cứu chuẩn bị căn cứ dự bị cơ bản và căn cứ tạm lánh; tổ chức từng tổ ba người dùng địa bàn và bản đồ cắt từng ô một các cụm rừng vòng trong, tìm các dấu vết khả nghi có biệt kích thám báo xâm nhập, tìm các loại máy thu tiếng động, máy đo hơi người...; tổ chức theo dõi ghi nhật ký máy bay địch hoạt động trên bầu trời vùng căn cứ, tổng hợp nhận xét đề xuất cách giải quyết sau mỗi 24 giờ; lập hồ sơ ghi tên từng người từ vòng ngoài vào vòng trong với lý do thời gian, cá biệt có người vòng trong mất tích, bị bắt, đi đầu hàng địch. Dưới đây xin nêu một trong những lần di dời căn cứ đầu não các lực lượng vũ trang B2:

        Tháng 7 năm 1969, tổng hợp tình hình cho thấy máy bay trinh sát địch đột ngột tăng chuyến hoạt động trên bầu trời căn cứ; biệt kích Mỹ - ngụy đã xâm nhập vào vùng căn cứ; có ba người biết rõ khu vực căn cứ đã đi đầu hàng giặc. Ban Cảnh vệ căn cứ đã có văn bản đề nghị cho di dời căn cứ X đến địa điểm dự bị. Bốn ngày sau, đồng chí trưởng phòng bảo vệ và đồng chí Huỳnh Văn Cừu được gọi đến hội trường giao ban của Bộ Chỉ huy R. Ờ đó đã có các anh Trần Văn Trà, Trần Độ, Trần Văn Danh tham mưu phó kiêm Trường phòng quân báo và mỗi Cục đều có một thủ trưởng.

        Anh Trần Văn Trà nói lý do cuộc họp, anh Trần Văn Danh báo cáo tin tức thu được về địch đối với vùng căn cứ X. Đồng chí Huỳnh Văn Cửu báo cáo kết quả theo dõi máy bay dịch hoạt động trên không phận căn cứ, dấu vết biệt kích xâm nhập khu vực căn cứ có các hiện vật bằng vỏ đồ hộp, bao thuốc lá và hai máy thu tiếng động, có ba người biết khu vực căn cứ đi đầu hàng địch. Theo yêu cầu của anh Trần Văn Trà, đồng chí Huỳnh Văn Cừu trình bày căn cứ dự bị đã được chuẩn bị từ cuối năm 1967 và vẫn được kiểm tra theo dõi hàng tháng có thể sứ dụng tốt; anh Trần Văn Danh nói hiện nay chưa có căn cứ nào có nhiều thuận lợi bằng căn cứ ta đang sứ dụng, nhưng do tình hình địch nên đề nghị di dời đến căn cứ dự bị. Các thủ trưởng Cục họp đều thống nhất cần di dời. Anh Trần Văn Trà kết luận: Để bảo đảm an toàn cơ quan, Bộ Chỉ huy đồng ý di dời đến Y do Ban Cảnh vệ căn cứ chuẩn bị. Thời gian chuẩn bị là 3 ngày, 18 giờ ngày N-1 rời khỏi căn cứ X. Trong thời gian chuẩn bị và khi đến căn cứ mới mọi hoạt động của sở chỉ huy và cơ quan vẫn bảo đảm liên tục, Bộ Tham mưu tổ chức chỉ huy hành quân. Đến căn cứ mới, từng cơ quan nhanh chóng ổn định nơi ở và bắt tay vào công việc. Công sự ẩn nấp, bố phòng tác chiến của cơ quan thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tham mưu. Theo yêu cầu của anh Trần Văn Trà, đồng chí Huỳnh Văn Cứu ở lại gặp riêng, báo cáo dường đi và thời gian xuất phát hành quân của từng bộ phận do người của Ban Cảnh vệ dẫn đường. Riêng đồng chí Nguyễn Văn Bừng và Nguyễn Văn Chanh là hai cán bộ của ban căn cứ ở lại cùng một tiểu đội vệ binh chiến đấu bảo vệ căn cứ. Đây là tiểu đội du kích ấp 5 của xã nhưng nằm trong thế trận liên hoàn gồm bộ đội địa phương các huyện và quân chủ lực tỉnh (Sư đoàn 9 và Trung đoàn 16) do ông Sáu Nam (Lê Đức Anh) làm tỉnh đội trưởng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang3.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:02:15 AM
        22 giờ ngày N Bộ Chỉ huy R đã đến căn cứ dự bị an toàn.

        1 giờ ngày N+1 ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần đã đến căn cứ mới an toàn.

        20 giờ ngày 28 tháng 7 năm 1969, Mỹ dùng máy bay B52 ném bom xuống căn cứ X với diện tích 4x8 kilômét. Cứ 10 phút một tốp trút bom. Chúng đánh liên tục từ 20 giờ ngày 28 tháng 7 đến 5 giờ sáng ngày 29 tháng 7 năm 1969. Đây là trận máy bay B52 đánh bom dài nhất, nhiều nhất so với các lần đánh vào căn cứ trước đó. Ngày 2 tháng 8 năm 1969 có hàng chục chiếc máy bay trực thăng quần đảo tìm bãi đáp xuống khu vực B52 vừa ném bom, nhưng bị các đồng chí tự vệ căn cứ dựa vào công sự vững chắc chống đánh nên địch không dám đáp xuống hoặc đổ quân. Số cán bộ ở lại giữ căn cứ một số hy sinh, trong đó có hai đồng chí Nguyễn Văn Bừng và Nguyễn Văn Chanh cán bộ ban bảo vệ căn cứ.

        Trong giai đoạn "chiến tranh đặc biệt" địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét đánh thẳng vào các khu vực căn cứ, nhưng chúng đều bị đánh thiệt hại nặng không vào được khu vực căn cứ đầu não.

        Thời kỳ "chiến tranh cục bộ" là thời kỳ địch tập trung đánh phá căn cứ của cơ quan đầu não chiến trường B2. Địch rải chất độc hoá học làm trụi lá cây của khu căn cứ trước. Trong trận càn Gian-xơn Xi-ty (Johnson City) chúng tập trung vào hướng miền Đông Nam Bộ: 3 sư đoàn và 4 lữ đoàn quân Mỹ; 3 sư đoàn và 2 lữ đoàn quân nguy; 1 tiểu đoàn quân úc tức 52 phần trăm bộ binh Mỹ và 40 phần trăm binh lực Mỹ ở miền Nam. Với tham vọng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến miền Nam, tiêu diệt các sư đoàn chủ lực quân giải phóng ở miền Đông Nam Bộ để có thể kết thúc chiến tranh bằng cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 (mùa khô 1966 - 1967). Bộ đội B2 chuẩn bị thật chu đáo để quyết đánh bại cuộc hành quân của địch. Các đơn vị chủ lực được tăng cường hỏa lực, nhận nhiệm vụ bố trí ở các vị trí cơ động đánh những trận tiêu diệt lớn. Một bộ phận trọng yếu của các cơ quan đầu não của lãnh đạo chỉ huy di dời đến căn cứ tạm lánh. Đại bộ phận lực lượng các cơ quan của Trung ương Cục, của Mặt trận Dân tộc giải phóng, của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, của Đài phát thanh giải phóng được phân chia thành nhiều khu vực chiến đấu gọi là dân quân du kích ấp, xã, bộ đội địa phương huyện. Họ được tổ chức thành tổ 3 người, tiểu đội, trung đội, đại đội được trang bị súng bộ binh, súng chống tăng B40, B41 được diễn tập các phương án tác chiến với hệ thống công sự chiến đấu và hệ thống thông tin chỉ huy đầy đủ. Căn cứ đầu não là một vùng rừng núi hầu như không có dân đã được tổ chức thành một trận địa liên hoàn với 3 thứ quân sẵn sàng đánh địch.

        Vào cuộc hành quân, chúng đổ quân bao vây chiến dịch chặn mọi ngả đường. Sau đó tổ chức những mũi nhọn mạnh bằng xe tăng, xe bọc thép, thọc sâu vào căn cứ.

        Trên thế trận ta đã chuẩn bị, các đơn vị chủ động đánh dịch rất tốt. Đánh rộng khắp các du kích cơ quan và đánh tập trung của chủ lực. Oét-mô-len đã phải thốt lên: "Chẳng thấy bóng dáng một du kích, nhưng bất cứ ở đâu có quân Mỹ đều bị đánh". Hãng tin AFP đưa tin: "Bốn ngày qua không thấy dấu vết các nhà lãnh đạo kháng chiến ở đâu cả". Địch bị thất bại không thực hiện được mục tiêu của cuộc hành quân càn quét, 14.000 tên địch bị loại, 112 khẩu pháo và 775 xe tăng bị phá, 160 máy bay bị bắn rơi và hỏng. Căn cứ đầu não vẫn được giữ vững. Bộ Chỉ huy Miền và các cơ quan đầu não vẫn hoạt động bình thường ở căn cứ tạm lánh. Đây là trận đánh điển hình trong các trận đánh địch, bảo vệ an toàn căn cứ đầu não trong chiến tranh.

        Về bảo vệ cán bộ chỉ huy lãnh đạo ở B2, đồng chí Huỳnh Văn Cửu kể 2 mẩu chuyện trong số 500 lượt đi công tác đi chiến dịch của các đồng chí chỉ huy, lãnh đạo ở chiến trường B2:

        Mẩu chuyện thứ nhất: Giữa năm 1967, địch đánh phá vào vùng căn cứ Khu B ngày càng ác liệt, có nhiều cuộc càn lớn vào biên giới Việt Nam - Campuchia. Bộ chỉ huy Miền chỉ thị đưa một bộ phận của Sở chỉ huy sang căn cứ dự bị của khu vực A. Bộ Tham mưu tổ chức chỉ huy hành quân, thời gian xuất phát trước ngày N, chia thành hai đợt hành quân.

        Bộ Chỉ huy R giao nhiệm vụ cho đồng chí Tám Lê Thanh1 và đồng chí Huỳnh Văn Cửu tổ chức bảo vệ đưa đoàn đi; anh Tám Lê Thanh chịu trách nhiệm về tác chiến, chốt đường, canh gác khi đóng quân; anh Huỳnh Văn Cửu có trách nhiệm dẫn đường, bố trí nghỉ ngơi và phòng gian bảo mật trong hành quân. Hai anh đã làm kế hoạch chi tiết được anh Trần Văn Trà đồng ý trước ngày N-3.

---------------
1. Đồng chí Lê Thanh - Trung tướng, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:04:46 AM

        Bộ Chỉ huy R và Trung ương Cục đi đợt 1. Đoàn hành quân gồm có: Anh Nguyễn Văn Linh, anh Nguyễn Hữu Thọ, anh Trần Văn Trà, anh Trần Độ và cán bộ 2 văn phòng Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền. Đoàn đã hành quân 3 ngày, chặng thứ tư Đoàn phải hành quân đêm. Đến 12 giờ Đoàn đến nhánh suối nhỏ cách bốt Tàu Ô 4 kilômét về hướng tây bắc, chuẩn bị vượt đường 13. Một cán bộ ban cảnh vệ và một số trinh sát đón Đoàn. Anh Tám Lê Thanh ra lệnh kiểm tra kỹ chuẩn bị hành quân. Anh Huỳnh Văn Cửu cho một cán bộ ban cảnh vệ nhanh chóng ra đường 13 kiểm lại hai chốt và quay lại đứng ngay mối đường đón Đoàn. Anh Huỳnh Văn Cửu và Tám Lê Thanh đi trước, kế đến là các anh trong Bộ Chỉ huy Miền và Trung ương Cục. Đoàn hành quân được 30 phút còn cách đường 13 khoảng 300 mét, anh Tám Lê Thanh cho tăng tốc độ và bám sát đội hình để vượt đường, nơi chỉ cách bốt Tàu Ô 500 mét. Bất ngờ cụm pháo Chơn Thành bắn vượt qua Đoàn nghe vun vút, nổ hướng suối Cát. Cụm pháo Bến Cát cũng bắn mấy loạt nhưng không phải hướng Đoàn đi. Anh Tám Lê Thanh chạy tới vỗ vào lưng anh Huỳnh Văn Cửu vừa nói "Ngon rồi".

        Pháo địch vẫn bắn, đoàn cứ ung dung hành quân vượt đường 13. Đến 1 giờ 40 phút anh Nguyễn Văn Linh, anh Nguyễn Hữu Thọ, anh Trần Văn Trà, anh Trần Độ và các cán bộ trong Đoàn đã đến nơi tạm nghỉ. Đến 24 giờ ngày hành quân thứ năm, Đoàn qua đường 16 an toàn và 2 giờ sáng hôm sau, Đoàn qua Sông Bé, 4 giờ sáng Đoàn đến một nhánh nhỏ của suối Rạt tạm nghỉ ngơi. Từ đây Đoàn hành quân ban ngày về căn cứ dự bị ở Khu vực A an toàn.

        Sau khi đến căn cứ dự bị được hai ngày, Bộ Chỉ huy giao nhiệm vụ cho đồng chí Huỳnh Văn Cửu phải đưa anh Nguyễn Hữu Thọ trở về căn cứ ở Khu B gấp, phải bảo đảm an toàn tuyệt đối vì địch đang càn quét ở Khu B. Anh Trần Độ viết thư cho anh Hoàng Cầm - sư đoàn trưởng và anh Lê Chân - Chính ủy Sư đoàn 9 yêu cầu hai anh bố trí lực lượng cùng với Huỳnh Văn Cửu bảo vệ tuyệt đối an toàn cho anh Nguyễn Hữu Thọ về tới Khu B. Anh Cửu trở về chỗ ở giao nhiệm vụ cho 3 cán bộ ban bảo vệ ở lại làm nhiệm vụ. Anh Huỳnh Văn Cửu và một cán bộ cảnh vệ đi sang Văn phòng Trung ương Cục nhận nhiệm vụ. Đồng chí chánh Văn phòng Trung ương Cục truyền đạt ý anh Nguyễn Văn Linh giao nhiệm vụ bên quân sự tổ chức đưa luật sư Nguyễn Hữu Thọ về Khu B vì có nhiệm vụ đặc biệt. Anh Huỳnh Văn Cửu đến gặp anh Tư Châu cán bộ bảo vệ anh Nguyễn Hữu Thọ và anh Năm vệ sĩ anh Lý bác sĩ đều là bạn thân từ lâu. Anh Nguyễn Hữu Thọ tiếp anh Huỳnh Văn Cửu rất thân mật. Lần đầu tiên được tiếp xúc với một vị trí thức trước Cách mạng tháng Tám, nay giữ cương vị rất quan trọng trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, Huỳnh Văn Cửu cảm thấy vinh dự và trách nhiệm nặng nề của chuyến đi này. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ nói: "Tôi cần về Khu B gấp, anh chuẩn bị kế hoạch đi đường, 19 giờ báo cho tôi biết và cố gắng tổ chức sáng mai đi". Đúng 19 giờ anh Nguyễn Hữu Thọ nghe và đồng ý kế hoạch hành quân từ Khu A về Khu B, riêng lực lượng bảo vệ anh Thọ nói: "Nên lấy trung đội vệ binh của cơ quan Mặt trận1 để đại đội của Sư đoàn 9 cho chiến đấu". Anh Huỳnh Văn Cửu và Tư Châu báo cáo tình hình địch đang càn vào hướng Đoàn phải đi qua, nếu lực lượng ít không đủ để trinh sát và chốt đường đảm bảo an toàn cho Đoàn. Anh Thọ mới đồng ý.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang4.jpg)

----------------
1. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:05:14 AM

        Đoàn hành quân 2 ngày trong vùng giải phóng chỉ đề phòng máy bay và biệt kích. 15 giờ ngày thứ hai Đoàn đến Sư đoàn 9. Anh Hoàng Cầm và anh Lê Chân tiếp đón Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và mời chủ tịch về nghỉ ngơi nơi nhà có hầm vì vùng này có pháo cực nhanh ở Phước Thành bắn tới. Anh Huỳnh Văn Cửu trao thư của Bộ Chỉ huy Miền gởi Sư đoàn 9 và báo cáo với anh Hoàng Cầm và anh Lê Chân biết Đoàn chỉ nghỉ ở đây đêm nay, xin 1 đại đội có cán bộ tiểu đoàn chỉ huy bảo vệ Đoàn hành quân vào sáng mai. Anh Hoàng Cầm nói: "Địch đang càn vào Khu B, lực lượng ít sẽ khó khăn, tôi giao nhiệm vụ bảo vệ Đoàn cho tiểu đoàn trinh sát của Sư đoàn, khi xong nhiệm vụ thì tiểu đoàn sẽ làm nhiệm vụ ở Khu B".

        7 giờ sáng hôm sau Đoàn hành quân, 11giờ Đoàn đến Sông Bé nghỉ đêm. Tiểu đoàn trinh sát phía nam sông và chuẩn bị phương tiện vượt sông; trinh sát chốt đường 16. Ngày hành quân thứ tư Đoàn qua Sông Bé và đường 16 an toàn. Đoàn đi sâu vào rừng nghỉ, chuẩn bị đêm vượt đường 13. Chiều hôm đó, đồng chí Huỳnh Văn Cửu đến thăm sức khỏe đồng chí Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Chủ tịch cho biết người hơi mệt và chân bị đau, nhưng cứ đi vì có việc gấp phải về Khu B. Đồng chí Huỳnh Văn Cửu trao đổi với Ban Chỉ huy tiểu đoàn trinh sát chọn 18 chiến sĩ tư tưởng tốt, có sức khỏe, anh em thông suốt nhiệm vụ. Sáng hôm sau anh Cửu và anh Tư Châu đến báo cáo việc khiêng chủ tịch hành quân. Anh Thọ nói: "Tôi có mệt nhưng còn đi được, các chú để tôi đi." Hai anh Cửu và Châu thưa vì đường còn dài, ngày thứ sáu hành quân theo kế hoạch là đi vào vùng địch đang càn quét xin dược giữ sức khỏe đồng chí về đến Khu B còn làm việc. Cuối cùng anh Thọ mới đồng ý lên võng nằm để anh em khiêng đi. Đoàn đã liên tục hành quân 7 đêm và 3 ngày mới về tới căn cứ ở Khu B. Trước khi chia tay, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ nắm tay Huỳnh Văn Cửu xúc động nói: "Tôi rất cám ơn quân đội, cám ơn anh lo cho tôi chu đáo quá."

        Mẩu chuyện thứ hai: Tháng 3 năm 1972, chiến trường mở rộng sang Đông Bắc Campuchia, máy bay Mỹ - nguy thường trinh sát và đánh phá vùng Đầm be - Côsưma - Praxốp.., nhất là dọc bờ sông Mêkông. Đồng chí Hoàng Văn Thái thay mặt Bộ Chỉ huy Miền đi kiểm tra các đơn vị đang làm nhiệm vụ vùng Đông Bắc Campuchia. Đồng chí Huỳnh Bi cán bộ cảnh vệ kiêm lái xe honda 90 đưa anh Thái đi qua nhiều ngày đều đảm bảo an toàn. Đến 12 giờ ngày 26 tháng 3 năm 1972, đoàn tổ chức qua sông đoạn Côsưma về Đầmbe bằng hai thuyền gắn máy. Chiếc thứ nhất gồm cán bộ giúp việc và vệ binh qua trước lên bờ trinh sát và bố trí bảo vệ. Chiếc thứ hai gồm đồng chí Hoàng Văn Thái và anh em phục vụ, khi chiếc thứ hai qua được 2/3 sông thì có tiếng máy bay L19, thuyền vẫn đi bình thường. Chiếc L19 lượn vòng rồi trở lại lúc thuyền đã cập bến, anh em đã rời thuyền, nhưng từ mép nước đến bờ sông cao 10 mét, phải lên dốc 30 độ theo đường chữ chi. Huỳnh Bi cho thuyền nổ máy chạy xuôi dòng tìm chỗ ẩn nấp. Các đồng chí vệ sĩ công vụ dìu anh Hoàng Văn Thái nhanh chóng lên bờ sông. Huỳnh Bi lật ngửa chiếc honda 90 vác lên vai chạy nhanh lên bờ sông, xăng trong xe chảy ra một ít Huỳnh Bi lau sạch xăng và nổ máy, mời anh Hoàng Văn Thái lên xe chạy ngược dòng nước được 300 mét thì có hai máy bay chiến đấu tới, chiếc Li9 ném quả chỉ điểm, 2 chiếc lao xuống cắt bom ngay bờ sông nơi đoàn vừa lên bờ. Lúc này, đồng chí Hoàng Văn Thái và đoàn đã ung dung nơi cách địch đánh bom 500 mét.

        Tháng 2 năm 1972, tôi bị sốt do viêm gan siêu vi trùng, người mệt mỏi, tay chân rã rời. Nhưng do yêu cầu công việc, tôi phải ráng sức. Quân y đơn vị cho hai bọc glu-cô để pha uống nhiều nước, lại cho uống nhiều nước lá rừng (lá cây cối xay, cây lồng đèn). Nửa tháng sau, đơn vị gởi tôi ra ở nhờ nhà dân Việt kiều tại bản Chầm-lặc, bên bờ sông Mêkông, cùng chốt trinh sát bảo vệ địa bàn, tôi nghỉ được 10 hôm, rồi về đơn vị tiếp tục công việc.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:05:57 AM

*

*         *

        Một loại công việc rất đáng ghi nhớ là thành lập các trại tạm giam quân sự để giam giữ, cải tạo số quân nhân phạm pháp trong chiến tranh.

        Anh Nguyễn Văn Kiện - nguyên Phó phòng Bảo vệ Quân pháp B2 (có lúc là Trưởng phòng Quân pháp) cho biết:

         " Trong một buổi báo cáo các trọng án, các đồng chí Quân ủy Miền hỏi về công tác giam giữ, tôi liền trình bày những nét chính về khung, về phạm, các loại tội... Mới nghe một lúc, đồng chí Mười Khang (Hoàng Văn Thái) khoát nhẹ tay: được rồi, vấn đề chính chúng tôi muốn nghe là trong hoàn cảnh thiếu thốn, bom đạn, các đồng chí bảo vệ - quân pháp đã giáo dục, cải tạo anh em như thế nào, đã nêu cao bản chất truyền thống của quân đội ta ra sao, có bao nhiêu anh em được ra trại, được tiếp tục tham gia chiến đấu? Cần nhớ rằng việc xử phạt những quân nhân vi phạm là điều không thể không làm, nhưng xử phạt là để tiếp tục giáo dục nhằm tạo cho anh em có một sự chuyển biến tốt, có lợi cho bản thân, có lợi cho quân đội và xã hội".

        Khi mới thành lập trại, tôi chưa có mặt. Ngay Tổng tấn công Mậu Thân 1968, tôi mới vào đến chiến trường. Sau một thời gian công tác, tôi và đồng chí Nguyễn Thành Biên - nguyên thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương, lần đầu tiên cùng anh Nguyễn Văn Chính - trưởng ban chấp pháp, nay là đại tá nghỉ hưu - đến trại giam K50 để tổ chức xét xử một số vụ án.

        Hôm ấy còn vài cây số thì đến trại, vừa tới ngã rẽ, bất chợt ngay phía trước mặt chúng tôi, hai chiếc AD6 nhào tới cắt bom xong, chúng quần đảo bắn phá. Các khẩu súng trường từ mặt đất bắn lên rất quyết liệt Anh Nguyễn Chính vốn lăn lộn nhiều ở khu vực này nói với tôi: "Hình như bọn này nó đã đánh trúng trại chăn nuôi của mình rồi. Ta ghé qua đó xem sao". Anh Chính đoán trúng. Đúng là có hai quả bom rơi trong khu vực này và trong mấy khẩu súng trường bắn máy bay, có khẩu của cô Hương, nữ chiến sĩ trại đi bệnh viện về ghé qua và một khẩu của một phạm binh là nhân viên của tổ chăn nuôi.

        Từ đó về K50 chỉ có vài cây số nhưng bị một chiếc "đầm già" rì rị chỉ điểm cho pháo nên chúng tôi đi rất chậm, mãi xế trưa mới đến nơi.

        Người ra đón chúng tôi là anh Trần Kiềm, giám thị trưởng. Trần Kiềm trước ở pháo binh "chân đồng vai sắt", được điều về Cơ quan bảo vệ một thời gian rồi giao phụ trách trại giam. Nghe nói hồi mới nhận nhiệm vụ "Chúa ngục", Trần Kiềm ngầy ngật mấy hôm, vừa sợ vừa lo. Nhưng năm tháng chiến đấu ở một vị trí khá đặc biệt này đã làm cho người lính pháo - vốn rắn rỏi càng thêm dày dạn. Bây giờ, đứng trước mặt chúng tôi là một giám thị trưởng vui vẻ, hồ hởi, tự tin xen lẫn với tự hào. K50 đứng Ở Tà Đạt - Tây Ninh này luôn luôn bị pháo từ Trại Bí, Cà Tum, Đồng Phủ câu tới. Các loại trực thăng và máy bay chiến đấu thường xuyên đến "viếng". Hố pháo, hố bom này chưa lành miệng thì hố pháo hố bom khác lại nối tiếp. Vậy mà phải quản lý hàng trăm người bị mất tự do.

        Trần Kiềm đưa tôi và anh Biên thăm trại một vòng. Khu giam thường phạm cũng nhà trống võng treo, anh em phạm đang đan lát, đào công sự, học văn hóa. Khu giam đặc biệt bao quanh bằng một vòng rào tre nứa cài khít vào nhau vút cao bốn năm mét. Đến khu giam nữ, Trần Kiềm gọi to:

        - Huỳnh Thị Hương, cô Hương đâu ?

        Một cô gái trạc tuổi 24 - 25, da trắng tóc loăn xoăn trước trán từ ngoài bước vào, đứng nghiêm cạnh lá võng màu cỏ úa.

        Trần Kiềm quay qua tôi:

        - Báo cáo thủ trưởng, cô này là y tá đội phẫu đoàn 82, chồng là trung đội bậc phó cùng công tác chung. Năm rồi do bệnh tật, đơn vị cho phép về với gia đình làm ăn. Nhưng về đó bị địch khống chế phải gia nhập đội võ trang tuyên truyền, đi học 3 tháng ở Vũng Tàu, lương mỗi tháng 2.100 đồng cùng với 10.000 đồng làm vốn, núp dưới vỏ bọc buôn bán dạo để nắm tin tức, tác động rún ép gia đình cách mạng lôi kéo con em trở về. Cô ta dã móc ráp vào tận đội phẫu gọi chồng, nhưng anh chồng đã không nghe mà còn đi báo cáo với thủ trường đơn vị nên cô ta phải bị đưa về đây.

        - Đội võ trang tuyên truyền và đội Thiên Nga khác nhau thế nào? Tôi hỏi.

        - Một bên thuộc tổ chức chiêu hồi, một bên thuộc hệ thống Phượng Hoàng của bọn chiến tranh tâm lý. - Trần Kiềm chỉ một cô ở cuối lán, mặt mày sáng sủa nhưng đôi mắt thì ngó xuống - Đó, Thiên Nga chánh hiệu đó, được đào tạo lâu và kỹ, có bài bản. Ngoài kia đưa cô ấy vô đến trại Bí thì cô ta bước không nổi nữa, phải khiêng. Tuy bết vậy nhưng nghe pháo "vót vót", cô nàng cũng biết nhảy khỏi võng, lăn nép vào bờ ruộng (Tôi thấy cô ta đảo mắt nhìn ra rừng, bưng miệng cười sằng sặc).

        Giám thị trưởng chỉ một cô có mái tóc xõa dài:

        - Cô đó là du kích mà dám bắn chết chồng là xã đội trưởng. Vô đây cứ ngồi khóc. Đến giờ học văn hóa thì nín, ra khỏi lớp lại khóc.

        - Tình hình luôn căng thẳng, ta tổ chức học văn hóa thế nào cho thích hợp? Tôi hỏi lại.

        Trần Kiềm cười bảo, khó cũng có khó nhưng cũng đủ lớp. Cái chính là anh chị em có yêu cầu. Ngồi trên công sự mà học. Trò là phạm binh mà thầy cũng phạm binh. Người phụ trách coi như "hiệu trưởng" là Tuấn - quân nhân Sư đoàn 5, trong ca gác đêm gặp lúc đốc gác đi kiểm tra, thần hồn nát thần tính thế nào anh ta bắn vào đốc gác trọng thương nên phải khăn gói vô đây. Cũng bày ra chấm điểm, kiểm tra, sát hạch, biểu dương..., phạm thích lắm.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:06:33 AM

        Trên đường về lán vệ binh, thấy một nhóm anh em đang xúm xít đào giếng, tôi ghé lại. Giếng đào đã sâu lắm rồi mà chưa có nước. Dưới giếng, một người vạm vỡ, da đen trũi vai rộng lưng hơi khom đang hùng hục xắn từng khối đất to. Trần Kiềm cười:

        - Anh ta là Huỳnh Văn Mầu, trước là lính sư đoàn 5 nguy. Năm 1961, giải ngũ về nhà bị lính làng địa phương ăn hiếp nên xin gia nhập Quân giải phóng.

        - Can tội gì?

        - Tội không ra tội, lỗi cũng chẳng phải lỗi. Chung quy cũng chỉ tại cái miệng hay nói dóc. Không biết một chữ làm thuốc vậy mà vỗ ngực tự xưng đã tu nghiệp ở Mỹ, đã từng được tặng thưởng anh dũng bội tinh, tiểu liên đại liên đã rành mà pháo lớn pháo nhỏ càng rành hơn. Đơn vị sợ và lo quá nên phải gởi về đây để xem xét. Anh ta tích cực có cỡ. Bom pháo như cơm bữa mà một mình vẫn dám đi Tây Ninh tải gạo đem về. Còn lao động thì khỏi nói, một mình anh ta làm bằng ba bốn người. Anh chị em phạm bảo số phần anh ta là số "thần khẩu hại xác phàm.

        Đến lán vệ binh, điều đập vào mắt tôi trước tiên là tấm bảng bích báo "Tiến lên" dán đầy những tờ báo có vẽ bông hoa, sơn xanh đỏ cẩn thận. Có những tờ nhắc kỷ niệm Tết vừa rồi xuống đường - kẻ còn, người mất; có tờ viết lúc chia tay tại giếng nước gốc đa đầu làng. Anh em còn mượn cả những câu Kiều "Xập xòe én liệng lầu cao".., hoặc "Hoa đào năm trước còn cười gió đông”...

        Tối đó, chúng tôi được mời uống trà. Trà được pha vào bi đông và rót đầy một cái bát. Cái bát đó được chuyền tay nhau mỗi người một hớp, xong đến lượt khác Chuyện nở như bắp rang: Chuyện Hà Nội, chuyện xuống đường, chuyện miền Đông, chuyện Tây Ninh rồi kéo sang trận càn móng ngựa (Johnson City).

        - Năm ngoái, hồi trận càn Gian-xơn Xi ty, trại ta cũng đóng tại đây? Tôi hỏi.

        - Đúng hơn là tại khu vực này, vì cứ xê qua xích lại thôi.

        - Ta có tham gia đánh chác gì không ?

        Anh em tranh nhau trả lời. Họ bảo, lúc bấy giờ ai cũng xuất trận, cả văn công Miền nhiều người cũng trở thành dũng sĩ. K50 trại mình cũng thế, mặc dầu trại đông người, xoay trở rất khó khăn. Phi pháo địch thì bắn phá suốt ngày đêm cùng với mấy thằng "tọa độ" ó đâm, cứ nửa đêm không biết từ đâu ra tới cắt một chùm bom rồi cút mất. Còn bộ binh, lúc đó bộ binh xây "cứ" ở cách trại ta 5, 7 trăm mét thôi. Pháo bầy bảo vệ quân nó cứ nhè vào lưng của quân trại mình mà đấm. Cho nên muốn bảo vệ trại, bảo vệ "cứ", không còn cách nào khác là phải đánh địch. Cả trại cùng đánh, chi bộ họp đề ra phương hướng lãnh đạo, giám thị trưởng họp vệ binh, họp phạm binh, nhắc lại truyền thống cha ông ta đánh giặc giữ nước, truyền thống vì nước vì dân, anh dũng chiến đấu của quân đội ta, rồi phổ biến mệnh lệnh của trên quyết tâm chiến đấu bảo vệ căn cứ. Vệ binh đánh giặc thì đã đành, nhưng anh chị em phạm binh cũng xin được tham gia, xin đăng ký tự quản lý để cán bộ chiến sĩ khung trại được rảnh tay, rảnh óc. Nhiều người kiên quyết đăng ký tham gia đánh địch, đề nghị giám thị xem tội lỗi của anh em là nhất thời, còn chuyện cầm súng, chiến đấu bảo vệ tổ quốc là việc của cả một đời người.

        Bước đầu hơn 20 anh em phạm được chọn, cùng với quản giáo vệ binh chia làm 4 tổ. Hai tổ chuyên bám địch và sản xuất vũ khí, hai tổ do Bảy Thương và Tư Bứa đội trưởng và đội phó vác vũ khí đi đánh địch từ xa.

        Lúc đó, địch nó mạnh xe tăng. Ngày nào xe tăng của chúng cũng bò lổm ngòm như cua. Có mìn mà mìn cỡ lớn cho nhạy, cho ngon là "lấy họng" nó thôi. Mà muốn có mìn ngon phải nhồi bằng thuốc bom, lượm bom lép đem về cưa đôi, trút thuốc ra nấu, cứ một thùng dầu lừa hiệu con gà chia đôi làm dược hai trái. Không chỉ dồn thuốc bom mà còn trộn vào cả đống bom bi. Mỗi lần anh em nấu thuốc, cả trại đều gần như nghẹt thở, miệng người nào người nấy đắng ngắt, nuốt cơm không vô. Hơi thuốc mạnh đến như vậy đó.

        Cuối trận càn, tính lại K50 đánh bộ binh 6 trận, diệt 18 xe tăng và 120 tên Mỹ, thu được 64 dù và một số vũ khí. Về phần trại thì tất cả lán đều sụp đổ, chịu 14 trận bom, xơ xác. Đồng chí Lê Văn Đức hy sinh và hai chiến sĩ bị thương. Riêng phạm thì có hai anh em bị tử trận. Trong hội nghị báo công ở Miền, Bộ Chỉ huy Miền khen ngợi cho đây là vấn đề mới trong giáo dục cải tạo người phạm tội. Tổ chức phạm tham gia chống càn là cách giáo dục bản chất truyền thống đối với họ hay nhất. K50 được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, một lá cờ Du kích thành đồng, 34 huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt tăng. Bảy Thương và Tư Bứa đội trưởng và đội phó được tặng thêm bằng khen. Nguyễn Văn Tấn - phạm binh án chung thân - được tặng 2 huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Nguyễn Minh Quang - phạm binh án 15 năm tù - đạt 4 dũng sĩ diệt Mỹ và diệt cơ giới, thêm một giấy khen về thành tích bảo vệ tài sản của trại: Một bầy trâu 10 con giao cho anh, dưới mưa bom bão đạn không bị lạc, bị mất một con nào.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:07:08 AM

        Đặc biệt là trong thời gian giặc càn, K50 đã thu xếp những chỗ cho hơn 100 đồng bào lánh nạn, hàng ngày còn tiếp tế thức ăn và cả thuốc men. Lúc đó, gạo muối thiếu kém nhưng nhờ có thêm bổng ngoại, đồ hộp, chiến lợi phẩm dài dài, thuốc lá hút mệt nghỉ, còn kẹo thì nhai nhóc nhách sứt cả răng.

        Anh em còn cho biết thêm sống hàng ngày với máy bay địch, đến con mèo, con heo cũng quen cách đối phó. Mèo, thoáng nghe hơi máy bay thì nhảy xuống hầm ngồi nhìn lên. Còn heo, thương nhất heo nái và bầy con, có máy bay nhào tới, heo mẹ hộc lên, cả đàn con nhào xuống hầm. Nói nhào xuống hầm ý nói là đối phó nhanh nhạy nhưng khi vô hầm, cả bọn chúng đều đi ngược, mông đít đi trước đầu đi sau. Khi báo yên, con mẹ ra trước, nghe ngóng cho chắc rồi ra lệnh cho đàn con. Lần này chúng đi xuôi, đầu đi trước, mông đi sau. Sở dĩ chúng quen cách đi như vậy vì hầm dành cho chúng rất hẹp, đi ngược vào để lượt đi ra thì đi xuôi, khỏi quay đầu lại khó khăn. (Cho đến ngày nay, địa hình địa vật qua bao lần thay đổi nhưng anh Bảy Thương vẫn còn nhớ những nơi mà anh và đơn vị đụng nhau với giặc. Anh đã chở đứa con trai đến những chỗ ấy, kể lại cho con nghe chuyện chiến đấu xảy ra hơn 30 năm về trước).

        Mấy hôm sau, Toà án quân sự khu miền Đông do anh Nguyễn Thành Biên chủ tọa họp xét xừ một số vụ án, trong đó có hai vụ để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng.

        Vụ thứ nhất, một quân nhân tham gia xuống đường ngay vào dịp Tết Mậu Thân - bị địch bắt trong một trận chiến đấu. Sau khi dụ dỗ khai thác hết những gì quân nhân này biết, giặc đưa anh ta đến một nơi riêng ở đường Nguyễn Văn Thoại để huấn luyện cấp tốc về thám báo biệt kích như cách sử dụng bản đồ địa bàn, cách thu thập tin tức, lên xuống trực thăng, ký hiệu liên lạc... Rồi chúng trang bị quần áo, mũ, ba lô, cả lương khô.., y hệt như Quân giải phóng rồi chở anh ta đánh trả vào căn cứ ta. Đây là vụ án đầu tiên mở đầu cho âm mưu của chúng trong một thời gian dài là "dùng người của ta đánh lại ta". Sau này có người tìm cách trốn khỏi nơi huấn luyện, có người khi vừa xuống trực thăng thì bắt tay làm loa kêu gọi xin được trở lại với đơn vị vì hoàn cảnh bị xúi ép bắt buộc nhưng cũng có người đã biến chất sau những ngày giặc cho đi chơi bời ăn nhậu, hứa được thưởng tiền và gái... đã cam tâm tiếp tay cho chúng phá hại ta. Bọn này thường liên lạc với trung tâm của chúng bằng chim bồ câu, hộp thư mật... Tài liệu mà chúng thu thập được mã hóa và cất giấu rất lắt léo, rất khó tìm, khó khám xét như nhét trong ống thuốc đánh răng, khoét bánh xà bông cho tài liệu vào rồi dùng xà bông vụn trét bít lại.:.

        Vụ thứ hai, là một đại đội phó sau một trận chiến đấu đã đào ngũ và bị bắt, bị cơ quan điều tra căn cứ sắc lệnh 163SL, khởi tố về tội "Đào ngũ đi về phía địch". Công tố đọc cáo trạng xong, tòa hỏi: "Anh trả lời cho tòa biết là anh có nhận tội danh như đã nêu trong cáo trạng không?" Bị can đứng nghiêm nói to: "Thưa tòa, nghe nói tòa vừa từ Hà Nội vào mới có mấy tháng, tòa không biết nên buộc tội tôi như vậy chớ ở chiến trường miền Nam này, toà đi đái cũng đi về phía địch, huống chi tôi bị lạc và đang đi tìm đơn vị thì bị bắt". Ngay sau câu trả lời của bị can, Nguyễn Thành Biên vội vã viết cho tôi mấy chữ: "Tính sao anh Bảy ?" Tôi viết lại: "Cứ xử theo hồ sơ và thông báo cho phép đương sự làm đơn khiếu nại mặc dù án ta xử sơ chung thẩm". Nhưng bị cáo này không khiếu nại mà cải tạo rất tốt, được giảm án tha tù trước thời hạn, trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu và đã lập được công.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:08:01 AM

        Năm 1970, do yêu cầu và tình hình của nhiệm vụ Trần Kiềm được điều về Phòng và trại K50 chia làm 3 phân trại. K5 giam giữ bị can phạm tội nguy hiểm nghiêm trọng do Tư Đen thay Trần Kiềm làm giám thị trưởng, Bảy Thương giám thị phó và Năm Sành chính trị viên, K15 của Bảy Huộng. Vũ Tiến đảm trách tội phạm thuộc hình sự thường và K25 quản lý phạm đã thành án. Mỗi phân trại đóng cách nhau 5 - 7 kilômét, bắt tay vào xây dựng "cứ", điều chỉnh nhân sự khung trại, chuyển phạm qua lại. Mọi việc vừa mới ổn định thì địch càn lớn (mà hồi đó gọi là trận càn Đông Dương). Địch dùng mấy chục tiểu đoàn khoá chặt biên giới rồi chia thành khu vực đế vây quét pháo bắn suốt ngày và B52 ném bom rải thảm suốt đêm. Ngày 10 tháng 5 năm 1970, Nguyễn Chính - Trưởng ban chấp pháp từ phòng xuống kiểm tra 3 phân trại và tổ chức hành quân chuyển cứ. Đến đêm 12, K25 sau mấy đợt chiến đấu đã vượt khỏi vòng vây. K15 của Bảy Huống xoi đường không thủng nên trụ lại ngay túi B52 của địch. Riêng K5 do vị trí cắm sâu, xoay trở nặng nề vì phải quản lý phạm binh về tội nghiêm trọng nên di chuyển không kịp với phân trại bạn, phải bị kẹt, đành phải quay trở lại tìm chỗ trú đóng mới. Cho tới giờ, những người dự cuộc hành quân năm ấy còn nhớ sao mà lắm gian nan. Phạm được chia thành từng tốp nhỏ. Bảy Thương, giám thị phó - do đã trinh sát đường từ chiều nên đi trước mở đường. Năm Sành - Chính trị viên, Bí thư chi bộ đi giữa. Tư Đen - Giám thị trưởng đi sau cuối cùng với anh Nguyễn Chính. Đi theo K5 còn có hơn 80 cán bộ dân chính và đồng bào, có cả trẻ em. Thế mà ngay trong đêm, với đội hình phức tạp như vậy mà phải chỉ huy cắt rừng, lội dọc suối vượt qua đúng 12 chốt giặc ầm ì pháo sáng, mới tới được một nơi khả dĩ có thể tạm xây "cứ" trú đóng chờ bắt liên lạc với phòng. Đã vậy mà khi băng qua lộ cái, Bảy Thương còn ra lệnh vệ binh trụ lại đào đường chôn hai trái mìn chống tăng và đến khuya đã lấy họng được hai chiếc.

        Năm Sành sau khi tạm ổn định chỗ ở mới, liền họp chi bộ nêu ba tình huống. Một là, nếu địch càn đúng vào "cứ" của ta, ta phải đối phó thế nào đối với các anh em loại đặc biệt nghiêm trọng. Hai là, nếu địch đóng quá gần, các anh em vốn trước kia đã phạm tội đầu hàng, nay lại tìm cách chạy về với địch thì ta phải tính sao. Ba là, nếu tình hình càn quét kéo dài trong khi ta đứt liên lạc với bạn, đứt liên lạc với phòng, với Cục, vậy thì việc đảm bảo lương thực thực phẩm cho cả trại, phải thực hiện ra sao?

        Chi bộ nhận thấy ba vấn đề của Năm Sành nêu ra quá hóc búa nhưng cũng nhất trí ta có thuận lợi cơ bản là khung trại đoàn kết, dày dạn chiến đấu, đã từng sống chết có nhau. Anh em phạm binh tuy phạm tội nghiêm trọng, nguy hiểm nhưng họ đều là người lính, đã từng chiến đấu với quân thù, thời gian qua đã tỏ ra ăn năn hối lỗi, quyết tâm cải tạo. Đặc biệt ta có kinh nghiệm bảo vệ trại, đánh địch trong trận càn Gian-xơn Xity. Cứ dựa vào vệ binh, bàn bạc thấu đáo với phạm, tham khảo ý kiến của các cán bộ phạm tội vốn đã có kinh nghiệm trong chiến đấu, kêu gọi trước mắt một mặt phải phân tán nhỏ lẻ dưới sự chỉ huy thông suốt thống nhất, mặt khác phái người soi đường, tìm bắt liên lạc với hai phân trại bạn.

        Thế là trại chia ra từng tổ. Mỗi tổ có công sự riêng. Phạm binh, vệ binh và quản giáo đều ở hầm. Đối với 10 phạm binh coi là phạm tội nguy hiểm, anh em sẵn sàng chịu xích tay để quản giáo đỡ phải bận bịu. Cả 3 anh em loại đặc biệt nghiêm trọng cũng vui vẻ để cùm cả chân. Duy trì nếp hoạt động này được vài ba ngày thì B52 ập tới. Từ nửa đêm đến sáng, gần 20 đợt bom rơi vào khu vực đột phá trong đó có "cứ" của K5. Mặc dù cán bộ, chiến sĩ khung băng trong lửa đạn để làm công tác quản lý nhưng những trận bom dữ dội, ác liệt, dày đặc, liên tục làm cho một số phạm buộc phải thoát khỏi công sự chạy tán loạn, mãi đến xế trưa hôm sau mới lục tục kéo về trình diện. Mà trình diện không đủ!

        Trong suốt hai ngày hôm ấy, Ban giám thị đứng ngồi không yên vì qua hôm sau, trời sụp tối rồi mà không tìm dược ba anh em phạm bị xích. Đến gần nơi trú quân của giặc, đâu đó vẫn lặng trang. Có thể anh em bị dính bom mà cũng có thể xảy ra tình huấng xấu không lường trước được. Về "cứ", mệt mỏi quá, không tiện cột võng, Năm Sành dựa lưng vào một gốc cây định thư giãn một lát nhưng ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Mãi đến tờ mờ sáng, một quản giáo lay chân anh:

        - Anh Năm, báo cáo anh, anh em đã về dủ cả rồi.

        - Còn 2 người bị xích chân?

        - Cũng về luôn.

        - Tay cùm chân xích sức mấy mà di chuyển được?

        Ba bóng người nhẹ nhàng bước tới. Họ lôi còng bể và xích đứt từ trong bòng ra đặt trước mặt giám thị, một người cất tiếng:

        - Báo cáo Ban giám thị, anh em tôi có lỗi vì trong cơn nguy biến, đã phải tự đập còng, đập xích để thoát thân. Rồi bị lạc đường, lạc lối tùm lum, bây giờ gặp lại anh em trại, chúng tôi mừng không kể xiết. Xin nhận khuyết điểm và xin được còng và xích lại như trước.

        Năm Sành nhìn ba phạm binh can tội "đầu hàng" mà rân rấn nước. Chốt địch không cách xa nơi này là mấy.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:08:36 AM
        Quản giáo cười, hỏi đùa:

        - Tay chân được tự do, sao không chuồn luôn cho mát trời?
        - Anh em cũng cười. Năm Sành nghiêm mặt nói với quản giáo: - Anh em đã một lần do điều kiện và hoàn cảnh nào đó, đã đánh mất danh dự của người quân nhân cách mạng rồi, chẳng lẽ lần này cho mất trắng luôn hay sao? Thôi, cho anh em về công sự, tôi sẽ báo với anh Tư Đen và anh Nguyễn Chinh, khỏi còng khỏi xích gì nữa.

        Trận này cả khung và phạm đến trăm người, không ai hề hấn gì. Chỉ tổn thất mấy cái còng và mấy dây xích mà hiểu rõ thêm lòng dạ những người lính nhất thời phạm tội. Lần này, tổ chức trại thay đổi. Một bộ phận bám công sự do anh em phạm tự quản lý lấy, tất nhiên là có quản giáo đi kèm. Một bộ phận ở hầm có vệ binh canh giữ. Còn một bộ phận gồm vệ binh và phạm binh bung ra ngoài cảnh giới từ xa, chiến đấu bảo vệ an toàn cho trại kiêm luôn công tác hậu cần. Sục tìm kho gạo muối, hái rau, bắt cá, đưa về trung tâm.

        Mưa rừng đã bắt đầu, mưa rả rích suốt ngày đêm. Vắt rừng, muỗi rừng, cảm cúm, sốt rét, đói ăn... Giặc vẫn ken dày biên giới.

        Về phía cơ quan bảo vệ quân pháp, đã mấy lần phái trinh sát đi tìm hai phân trại không gặp, lần này giao nhiệm vụ cho Trần Kiềm dẫn anh em dùi sâu xuấng nữa. Đầu tiên gặp K15, sau mò được K5. Đêm 25 tháng 7, nghĩa là sau 75 ngày lạc nhau, bây giờ ba phân trại gặp nhau, thật không bút mực nào tả xiết nỗi mừng vui của những người đã sống trong lửa đạn.

        Đợt này, trong hoàn cảnh hết sức khó khăn phức tạp, tiếp tục phát huy truyền thống của K50, phân trại K5 dầu bị mất liên lạc cũng diệt được 4 xe tăng và 30 tên giặc. Phần K5 có 3 vệ binh và phạm hy sinh trong chiến đấu, trong đó có phạm binh năm 1968 bị bắt đầu hàng giặc, giặc huấn 1uyện trả về 1àm thám báo, nay đã lập công.

        Sau 30 tháng 4 năm 1975, được các cơ quan đơn vị ngày xưa ở trong căn cứ, bây giờ đều về tỉnh, về thành. Riêng 3 phân trại vẫn đứng trên mảnh đất đầy những hố bom, vết đạn tiếp tục lao động, học tập, tăng gia sản xuất...

        Cuối năm 1977, bọn Pôn Pốt xâm phạm biên giới, đánh vào trại quản huấn tỉnh Tây Ninh, tấn công vào các chốt và đồn biên phòng 733, trại K45 bị uy hiếp mạnh. Chấp hành chỉ thị của trên, Ban chỉ huy thống nhất bảo vệ biên giới được thành lập, trong đó có anh Bảy Huộng - người Củ Chi, vốn phụ trách trại từ trong kháng chiến, người cao to, da đen sạm, mặt vuông với đôi lông mày khá rậm. Khi anh có việc không bằng lòng, đôi mày ấy nhíu lại khiến phạm nhát gan không dám nhìn ngay.

        Đơn vị trực chiến được gấp rút thành lập. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bảy Thương - giám thị phó từ K35 được điều lên chi viện K45. Dưới tay Bảy Thương có 21 tay súng, trong đó có 12 tay súng là phạm binh (hai bị án 20 năm tù, số còn lại có mức án từ 2 năm đến 12 năm). Được giao nhiệm vụ, được phát súng, anh em phạm binh rất phấn khởi, bảo nhau: "Hòa bình rồi bây giờ lại cầm súng, thử xem bản thân mình còn dám "chịu chơi" hay "sọc dưa rồi".

        Trận đầu tiên là trận giải vây đồn 733 bị địch bao vây. Đã có một đơn vị biên phòng được phái đến ứng cứu nhưng không chọc thủng dược vòng vây trong khi bên trong đồn người mệt mỏi, lương thực cạn kiệt. Đến ngày thứ năm, tức là đêm 12 tháng 12 năm 1977, đơn vị trực chiến của K45 được tung vào. Vốn đã nắm chắc địa hình khu vực này, Bảy Thương không đánh vỗ mặt mà dẫn đơn vị đánh vòng. Tay cầm súng, vai mang gạo, thịt, anh em theo Bảy Thương cắt rừng tránh các bãi mìn của địch rồi đánh vòng lại, diệt gọn hai chốt tiền tiêu của chúng và lọt được vào đồn, tiếp sức, tiếp lương thực thực phẩm, tiếp người cùng đơn vị biên phòng kiên quyết giữ đồn, chết sống không để đồn lọt vào tay địch. Còn nhớ đêm anh em K45 phá được vây, vô được trong đồn, hai bên biên phòng và K45 ôm chầm lấy nhau, nước mắt ràn rụa. Liền ngay sau đó, được lệnh của chỉ huy, một phạm binh nguyên là thượng úy pháo binh đã nã 80 quả súng cối vào 1ưng quân địch.

        Một hôm, năm tên trinh sát của địch lọt sâu vào đất ta. Anh em K45 vây đánh. Nguyễn Minh Trung - chuẩn úy phạm binh đang dẫn một tổ đi tuần tra, nghe tiếng súng liền vội vã chạy đến để phối hợp. Năm tên địch chạy tán loạn. Một tên cầm M79 thấy Trung từ biên giới chạy xuống liền ngắm vào Trung nổ súng. Trung bị thương ngã quy, nhưng liền ngay sau đó, anh đã gượng đứng dậy quạt một loạt AK vào bọn địch. Trận đó, K45 diệt 5 tên, thu 2 AK, 1 M79 (Nguyễn Minh Trung - trước đây là chuẩn úy, đã chỉ huy một đội kiểm soát quân sự tỉnh đội Bình Dương, bị xử phạt hai năm tù về tội gây rối trật tự trị an, qua trận này đã hy sinh).

        Khi địch bị đuổi về bên kia biên giới, một bộ phận K45 tham gia truy kích. Bộ phận ở phía sau giúp bà con xây cất lại nhà cừa, ổn định nơi ăn chốn ở, nới rộng các vọng gác, nới rộng phạm vi tuần tra. Biên giới lúc bấy giờ luôn luôn bị báo động nhưng sáng sáng thấy lá cờ đỏ sao vàng của K45 vẫn bay phấp phới, bà con ai cũng yên bụng ra đồng sản xuất.

        Hồi năm 1967, sau trận chống càn Gian-xơn Xity, K50 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Lần này, trong đợt chiến đấu bảo vệ biên giới, K45 nhận được Huân chương Chiến công hạng Ba. Khẩu M79 chiến lợi phẩm bây giờ đã lạc mất nhưng về phía biên phòng, các đồng chí đã xin cái mũ cứng của Bảy Thương lưu niệm đợt K45 tham gia giải vây dồn 733".


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:10:02 AM

*

*         *

        Trước yêu cầu tổ chức xây dựng ngành bảo vệ là rất lớn, rất khẩn trương. Một số cán bộ của phòng bảo vệ Miền và cán bộ cấp Ban của các quân khu được bổ sung từ miền Bắc vào. Ngay sau Tết Mậu Thân 1968, anh Bảy Kiệp và anh Ba Giám phụ trách một đoàn sinh viên giỏi tiếng Anh, một số cán bộ bảo vệ quân pháp như: Lâm Thành, Nguyễn Thành Biên, Phạm Thám.., gấp rút vào chiến trường. Giữa năm 1973 1ại có thêm 12 cán bộ bảo vệ mới ra trường của Cục bổ sung về cho B2 - đoàn do anh Hai Cửu phụ trách. Toàn bộ số còn lại chủ yếu được tuyển chọn đào tạo 540 cán bộ tại chiến trường nên đã đáp ứng được yêu cầu của các đơn vị.

        Là người làm công tác cán bộ ngành, bản thân tôi thấy trong chiến tranh toàn bộ cán bộ từ A vào và số đào tạo tại chiến trường đều dã hoàn thành nhiệm vụ: Có ý chí chiến đấu vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, họ có mặt khắp các chiến trường, có tín nhiệm cao với lãnh đạo chỉ huy, được đông đảo quần chúng tin yêu. Tuy nhiên, do điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của chiến tranh tại chiến trường B2 nên việc xây dựng các lực lượng nghiệp vụ bí mật phục vụ cho công tác trinh sát chính trị còn bị hạn chế.

*

*         *

        Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký và bắt đầu có hiệu lực. Chúng tôi trên đường từ khu rừng Đầm-rây-phông - Campuchia về Việt Nam, tạm dừng Ở Mê Mốt. Tôi bị nhức đầu dữ dội, ngây ngấy sốt, miệng lợm muốn ói. Tôi nghĩ khó chịu tới mức này thì phải mất vài tháng nằm bệnh viện. Bà con Việt kiều đến thăm, họ nói: "Cậu nhỏ này bị gió". Hai bà má cạo gió ở lưng và ngực. Tôi cảm thấy dễ chịu, nhẹ dầu, chừng 10 phút sau đã khỏe 1ại, đêm ngủ ngon. Sáng dậy, tôi tiếp tục cùng đồng đội hành quân về Việt Nam.

        Khoảng 9 giờ đêm, chúng tôi đến khu rừng tây bắc thị trấn Lộc Ninh, thuộc xã Lộc Thành, cạnh một rẫy cũ của đồng bào dân tộc. Đơn vị bắt đầu làm lán trại, đào hầm trú ẩn, tiếp tục bước vào giai đoạn đấu tranh thi hành hiệp định Pa-ri. Chúng tôi vận dụng thực hiện điều lệnh nội vụ vệ sinh, huấn luyện quân sự, văn nghệ, thể thao khá sôi nổi, hấp dẫn... Nhất là hội diễn văn nghệ và thi đấu bóng chuyền giữa các phòng trong Cục Chính trị Miền. Tôi có dịp đến xem lại sân bay Lộc Ninh để chuẩn bị trao trả tù binh và đón nhận anh chị em chiến thắng trở về.

        Chừng 10 giờ 30 phút một sáng đầu tháng 5 năm 1973, tôi được cử đi 1àm 1ễ truy điệu, mai táng trung úy Phạm Hữu Nghị, cán bộ Ban nghiên cứu tổng hợp của chúng tôi. Anh bị máy bay địch oanh tạc, hy sinh tại khu vực chợ thị trấn Lộc Ninh, địa phương đã khâm liệm xong. Đồng chí trung úy Phạm Hữu Nghị sinh năm 1943 tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nhập ngũ năm 1961 tại tỉnh Cà Mau. Đầu năm 1970, Phạm Hữu Nghị được cử đi học 1ớp cán bộ tiểu đoàn (Khóa học 1970 - 1972) tại Hi4. Ra trường đầu năm 1973, đồng chí được bổ sung về làm cán bộ nghiên cứu địch thuộc Phòng 5, Cục Chính trị B2, anh cho biết gia đình đã dời về huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu từ năm 1969. Anh hy sinh khi mới 30 tuổi - trong lúc đang tham gia củng cố vùng mới giải phóng tại thị trấn Lộc Ninh. Tôi viết điếu văn và cùng đồng đội làm lễ truy điệu, mai táng anh cạnh đường đất đỏ phía tây bắc chùa Tây Trúc, huyện Lộc Ninh chiều 10 tháng 5 năm 1973.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:10:48 AM

*

*         *

        Tháng 6 năm 1973, tôi cùng đồng chí Long, 26 tuổi, quê tỉnh Thanh Hóa - một trung sĩ lái xe hon đa 90 đi Chiến khu Đ, tại miền núi tỉnh Biên Hòa. Chúng tôi vượt Sông Bé cuối mùa khô nên đi theo đường ngầm của các xe ô tô Đoàn hậu cần 814. Sau hai ngày đi theo đường ô tô, có nhiều đoạn đường toàn là bột bùn khô dày 0,3 mét - 0,4 mét. Ngày thứ ba chúng tôi đến khu vực suối Bà Hào thuộc tỉnh Biên Hòa. Các đồng chí ở T1 (Quân khu 7) và tôi mở lớp tập huấn nghiệp vụ công tác bảo vệ cho các cán bộ ngành trong Quân khu. Đồng chí đại úy Lưu Tiến Thành - Phó ban bảo vệ Phòng Chính trị T1 (quê anh Thành Ở Kiến An, Hải Phòng) và đồng chí thượng úy Trần Minh Khiêm đã giúp đỡ chúng tôi khắc phục mọi khó khăn về ăn ở, hội trường. Khó khăn nhất là thiếu hẳn rau xanh, chúng tôi chỉ ăn cơm với mắm muối, tôi bị táo bón dài ngày. Những lúc rảnh rỗi, anh em thường kể chuyện đời sống khó khăn và chiến đấu ác liệt những năm cao điểm 1966 - 1972 tại địa bàn T1, so sánh thì hiện tại đã dễ thở hơn nhiều.

        Tôi thích nhất là chuyện kể đào, xắn bắt lươn, chuẩn úy Ao Văn Bảnh kể: "Vào những cuối mùa khô hàng năm, sau khi đã chọn một trong những đám sình đang khô gần hết, chuẩn bị gom nhiều xẻng và bao cát. Vào cuộc, chừng 12 - 15 người tay cầm xẻng chạy nện gót chân từ vòng tròn rộng đến vòng tròn hẹp dần trên đám sình cũ cho đến khi đường kính còn chừng 4 - 5 mét, tức thì mọi người dùng xẻng đào nhanh thành đường hào vòng tròn khép kín sâu 3 tấc, cứ thế mọi người tiếp tục đào cho cù lao hẹp dần, đất đổ ra ngoài. Khi đường kính còn chừng 2,5 mét đã thấy lươn trồi ra, cứ thế chuyền dần người đào thành người bắt lươn cho vào bao cát, khi đường kính chỉ còn 1 mét trở xuống thì hầu như khối đất chỉ còn toàn là lươn xoắn lấy nhau, những con lươn to gần bằng cườm tay mà chỉ ngắn 3 - 4 tấc Mỗi một lần đào xắn bắt lươn được từ 30 - 40 kilôgam, có khi nhiều hơn, tha hồ mà cải thiện". Nghe chuyện, tôi thích quá, muốn được đi tham gia. Nhưng lớp tập huấn kết thúc thì đã sang mùa mưa.

        Trên đường trở về cơ quan B2, chúng tôi thật là vất vả. Đường xe ô tô trở thành bùn sệt khiến xe honda không thể chạy được, nhiều đoạn do bùn, đất sét chèn cứng giữa bánh xe với vè xe. Hai anh em dùng que cạy từng ít một mới đẩy xe vượt qua được. Về đến Sông Bé nước đã ngấp nghé tràn bờ, chảy xiết Đến bến vượt chỉ có xuồng độc mộc của đồng bào dân tộc, mỗi chuyến chở một người.

        Người lái xuồng là một thanh niên dân tộc S'tiêng vui lòng chở 3 chuyến mà không đòi hỏi gì. Đồng chí Long tháo rời chiếc honda 90. Chuyến đầu tôi đi cùng với can xăng, bình xăng và 2 bánh xe, chuyến sau chở sườn xe và đồ dùng cá nhân của đồng chí Long, chuyến cuối chở đồng chí Long cùng cụm máy và phụ tùng. Tôi đã chọn sẵn một đám đất bằng cho đồng chí kiểm tra lại và ráp xe. Chúng tôi cám ơn người lái xuồng và biếu hơn 1 kilôgam gạo còn mang theo.

        Chúng tôi chạy theo đường rừng và lô cao su về Đồng Xoài đi Lộc Ninh, tạm dừng nghỉ kiểm tra xe, uống nước tại một quán ăn Ở Cầu Trắng. Chủ quán là một phụ nữ dưới 40 tuổi niềm nở đón chúng tôi lúc chạng vạng tối và hỏi ăn uống gì? Chúng tôi xin nước uống, chị đem cho hai ly nước và hỏi: "Hai anh không muốn ăn gì à?" Tôi nói: "Muốn lắm nhưng nói thiệt, không có tiền". Chị cười thông cảm và hỏi: : "Mấy anh làm gì, Ở đâu về mà lấm lem quá thể dzậy?" Tôi nói: "Chúng tôi là bộ đội giải phóng, đi công tác ở Chiến khu Đ về". Chị lại cười và đi pha cho hai ly cà phê. Chúng tôi lên đường về đến cơ quan lúc 10 giờ đêm.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:11:46 AM
*

*         *

        Công tác bảo vệ lực lượng vũ trang ở chiến trường B2 đạt được những thành công lớn chính là nhờ đã quán triệt và tổ chức tiến hành theo đúng những vấn đề rất cơ bản về nguyên tắc, phương châm và những quan diểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong công tác bảo vệ an ninh nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp để đánh bại các âm mưu thủ đoạn phá hoại của Mỹ, bảo vệ vững chắc các lực lượng vũ trang B2.

        42 năm sống và chiến đấu, công tác trong quân đội tôi nhận thấy ở B2 là thời kỳ bom đạn ác liệt nhất, sinh hoạt thiếu thốn khổ vào bậc nhất, cũng là thời kỳ tôi trưởng thành và có nhiều kỷ niệm đẹp nhất về tình đồng chí, đồng đội, tình người, không hề có phân biệt trong Nam ngoài Bắc, không cách biệt bậc cấp địa vị, không cậy tuổi tác và sự cống hiến, không phân biệt đơn vị đóng quân ở vòng trong hay vòng ngoài. Tất cả cùng một ý chí, một nỗi lo vì công việc Ai cũng thầm mong cho những chuyến đi ra phía trước của đồng chí mình được an toàn trở về, ai cũng vui mừng cứ sau mỗi đợt máy bay B52 Mỹ ném bom mà vẫn nghe tiếng í ới gọi nhau ở hầm bên cạnh. Năm 1971, có lần chúng tôi được thông báo thu xếp đón một bộ phận Phòng Tuyên huấn đến cùng ở, vì bên đó bị B52 đánh trúng đội hình. Tôi đón đồng chí thiếu tá Ngọc Bằng - biên tập viên báo Quân giảị phóng về ở chung nhà, nghe tiếng máy bay B52 lúc 23 giờ, tôi gọi anh Bằng cùng xuống hầm thùng, tôi bấm đèn pin, chỉ cửa hầm chữ A nói: "Khi cần, chúng ta chui vào đây!" Tức thì anh la: "Tắt, tắt ngay, nó thấy mà chết?" Tôi cười nói: "B52 làm sao nó thấy được dưới này!" Chúng tôi cùng cười xòa. Hoá ra vừa bị bom một lần thoát chết làm anh trông gà hoá cuốc.

        Cũng dạo đó, nấm mối mọc dày đặc đâu đó quanh nhà, chúng tôi có dịp hái nấm cùng ít gà chăn nuôi được để đãi bạn. Và đã bao lần nghẹn ngào trước sự hy sinh của đồng đội: đồng chí Chanh, đồng chí Bừng, đồng chí Thành, đồng chí Phạm Hữu Nghị, đồng chí Nguyễn Thành Biên.., người bị trúng bom B52, người bị sốt rét tiểu ra huyết sắc tố, kẻ bị rôckét máy bay địch bắn trúng.

        Những năm tháng ở phòng Bảo vệ - Quân pháp Quân giải phóng miền Nam phải thấm trải bao nỗi vui buồn, mất mát, thương đau, những hy sinh thầm lặng của hàng ngũ cán bộ nghiệp vụ, người phục vụ... Ấy thế mà lương tâm bao giờ cũng giục giã, ai ai cũng phải có dũng khí, phải vươn lên làm tròn nhiệm vụ ở tiền tuyến lớn. Hiếm thấy có sự bon chen, cơ hội trong cuộc sống. Phải chăng với những con người như thế, với những tâm hồn trong sáng, sống đầy tình nghĩa đã chắp cánh cho chúng tôi vượt lên tất cả, làm tròn nhiệm vụ của một người lính trong cuộc chiến thầm lặng ở chiến trường B2!

*

*         *

        Chiến tranh đã vắt kiệt sức khoẻ của tôi. Tháng 1 năm 1974, sau nhiều 1ần nằm bệnh xá, cấp trên gởi tôi đi Bệnh viện 108 ở Hà Nội vì sốt rét kinh niên, lách sưng to, có nguy cơ hỏng gan do viêm gan tồn tái thể tiến động. Bệnh viện 108 chữa chạy một tháng, tôi được tranh thủ về thăm gia đình trước khi chuyển viện đi nước ngoài. Tôi về thăm vợ con ở nông trường 19-5 tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

        Trong những ngày này, có nhiều đội sản xuất yêu cầu tôi kể chuyện miền Nam. Hầu hết anh em ở đây là bộ đội Sư đoàn 324, Liên khu 5 chuyển qua. Tuy sức tôi chưa khá lắm, nhưng không thể từ chối tình cảm chiến trường của đồng đội. Tôi kể chuyện hành quân từ Hà Tĩnh vào chiến đấu ở Trị Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Vượt qua gian khổ ác liệt, nhiều lúc thiếu đói, đơn vị đã tiêu diệt căn cứ biệt kích Mỹ-ngụy ở A Shầu, huyện A Lưới. Các chiến công vang dội ở Plây-me, Sa Thầy, Đăktô là những trận đọ sức với những quân chính quy sừng sỏ của giặc Mỹ như sư đoàn 101 ky binh bay, sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới, sư đoàn 4 Mỹ chuyên đánh ở rừng núi. Tôi kể chuyện cách khắc phục khó khăn: tìm hái rau rừng, cắm câu, lưới cá, đánh bẫy chim thú để cải thiện đời sống; kể chuyện những tấm lòng vàng của đồng bào các dân tộc ở Trị Thiên và Tây Nguyên dành cho Bác Hồ và Quân giải phóng. Tôi nói lên tình cảm, niềm tin của bộ đội giải phóng miền Nam với đồng bào miền Bắc và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

        Ngày 10 tháng 6 năm 1974, tôi được gọi ra Hà Nội và được gởi đi bệnh viện Nam Khê Sơn ở Quế Lâm - Trung Quốc. Tại đây tôi bị đẩy lên khoa lây nội 11 trên 1ầu 4. Tôi được chữa trị bằng "đông tây y kết hợp", đã cắt sốt, men gan vẫn cao, lá lách có giảm sưng (từ báng số 3 xuống số 2). Tôi phải chữa trị 7 tháng mà chỉ lên cân có 700 gram.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:12:46 AM

*

*         *

        Tháng 10 năm 1974, tôi được thư vợ con cho biết đã rời nông trường 19-5 Ở Nghĩa Đàn - Nghệ An về nông trường Quyết Thắng - Vĩnh Linh. Tháng 1 năm 1975, tôi về nước thì được biết tình hình chiến trường đang rất sôi động. Cấp trên bảo phải sẵn sàng trở lại chiến trường nhưng vẫn nằm chờ ở trạm 66 Hà Nội (7 tháng). Thỉnh thoảng tôi vào Cục Bảo vệ và Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị gặp những người bạn thân cũ để biết tình hình và gặp các anh phụ trách để hỏi thăm việc giao nhiệm vụ công tác cho tôi. Lần nào các anh cũng động viên: "Hãy yên tâm chờ đợi, tổ chức đang nghiên cứư", thỉnh thoảng các anh cho giấy nghỉ phép về quê thu xếp việc gia đình hậu phương. Dạo đó, đại tá Nguyễn Chỉ - Cục trưởng Cục Bảo vệ Tổng cục Chính trị chân thành nói: "Tình hình sôi động và khẩn trương lắm nên cậu cần tranh thủ đi về quê giải quyết việc nhà, nhớ giữ chặt liên lạc với Cục. Chú ý giữ gìn sức khoẻ, trông cậu còn yếu lắm!"

        Tôi được nghỉ phép về thăm vợ con ở nông trường Quyết Thắng - Vĩnh Linh. Nhìn thấy vợ mạnh khỏe, các con đang học phổ thông và đều chăm ngoan.

        Trong những ngày này, hai vợ chồng tôi thường kể chuyện về những năm tháng sống xa nhau. Một hôm, vợ tôi kể: "Hồi giữa năm 1966, khi anh đã đi B, Thu Liên đã được Chính phủ cho đi K8 từ Vĩnh Linh ra Thanh Hóa để được an toàn học cấp 1. Giặc Mỹ đánh phá nông trường ngày càng ác liệt, em phải làm nhiệm vụ cấp cứu khu vực. Bất kỳ ở đâu có tiếng bom, tiếng pháo là sau đó em phải có mặt. Một hôm, địch dội bom trúng đội hình một đơn vị bộ đội hành quân vào Nam, bị thương và hy sinh trên 40 người. Trong đêm tối em cứ phải đi lay gọi từng người để băng bó, tìm kiếm người đã hy sinh, cho đội chôn cất làm nhiệm vụ.

        Em thường vắng nhà mà bom đạn Mỹ dội xuống ngày càng nhiều nên em đành gánh hai con Sơn - Lan về gởi ông ngoại. Nghe tin bà nội cũng thường qua thăm và viết thư cho ba Liên biết tình hình".

        (Tôi nhớ lại hồi 1967, Ở Tây Nguyên tôi nhận được thư mẹ. Mẹ tôi viết: "... Bên làng ngoại ít bom đạn hơn. Làng Hồ Xá mình bị bom đạn cày xới không còn đàng (đường) mà đi. Mệ qua làng ngoại thăm cháu, dòm cu Sơn càng thương nhớ Ninh. Cu Sơn giống cha lắm! Càng dòm mệ càng thương cháu, đến lúc phải về mệ đi không đích (dứt)").

        Vợ tôi kể tiếp: "Tránh được bom đạn cho các.con nhưng em lại thấy cô đơn, trống trải. Nỗi nhớ chồng, thương con cứ dày vò, tưởng như cuộc sống chỉ có héo mòn dần và không biết sẽ đi về đâu. Chỉ 3 tháng sau em lại về ngoại gánh con lên... Đầu năm 1967, trong một lần đi cấp cứu trong đêm sau trận bom, em bị sập hầm, trẹo chân, phải bó bột...

        Tháng 10 năm 1967, em cùng hai con chuẩn bị sơ tán theo K10 ra Nghệ An. Gia đình mình được ưu tiên cho một dân công đi gánh phụ. Kế hoạch cấp trên đã phổ biến thì ngày hôm đó trời đổ mưa lớn, lụt to. Máy bay B52 Mỹ trút từng đợt bom dữ dội vào nông trường vì giặc cho rằng đây là nơi tập kết bộ đội trước khi vào chiến trường, anh Văn Kiểm - con trai mẹ đỡ đầu hy sinh ở nông trường bộ. Chừng 5 giờ chiều, có một đơn vị bộ đội ra phụ giúp C5 chuyển các gia đình 8ơ tán từ bờ Nam vượt sông qua bờ Bắc, để 4 giờ sáng xuất phát. Lụt to, nước nguồn đổ về chảy xiết và xoáy. Mặt sông cuồn cuộn đục ngầu rất dễ sợ. Các chú bộ đội dùng ni lông bọc kín hai mặt cái giỏ hái chè to như cái cần xé, biến thành cái thúng to đựng Như Sơn ngồi trong. Hai chú bộ đội giỏi bơi được chọn đưa Sơn qua, vừa là thí điểm, vừa là ưu tiên cho con trai bộ đội đã đi B - họ trao đổi vậy. Sơn qua được bờ Bắc an toàn là niềm vui lớn. Những tràng pháo tay giòn giã khuyến khích các tốp sau đưa người và tài sản qua sông. Thu Lan được đưa qua đợt nhì. Đến lượt em tự bơi qua với cái phao là bọc ni lông đựng áo quần. Tất cả đều vượt sông an toàn xong lúc 7 giờ tối và về nông trường bộ. Trời càng về đêm, em càng suy nghĩ mông lung với hai ý nghĩ: Nếu cứ ra đi với hai bàn tay trắng và mấy bộ áo quần cũ như thế này thì lấy gì nuôi con, trong khi mình còn một thùng quần áo tốt, vải vóc, đồ nữ trang và tiền mặt còn vứt lại tại cái lán bên kia sông. Nhưng nếu quay lại có thể bị bom mà chết, hoặc hai lần vượt sông một mình trong đêm tối nếu bị nước cuốn trôi thì ai biết mà cứu? Nếu mình chết thì các con sẽ sống với ai và ngày về của ba Liên sẽ đau khổ biết nhường nào? Đắn đo mãi và em tin ở sức mình vượt sông an toàn - chỉ có bom đạn là điều may rủi. Cuối cùng chừng 10 giờ đêm khi thấy hai con đã ngủ say, em nói nhỏ với một người bạn gái cho mình gửi hai đứa con, mình quay về lấy gói áo quần bỏ quên, nếu có tiếng bom đạn Mỹ đánh phá bên dó và chừng 2 giờ sau không thấy mình về thì báo cho Ban giám đốc biết là mình đã chết, nhờ người nuôi dùm hai đứa con, đợi ngày chiến thắng trở về ba các cháu xin đón nhận lại. Nói đến đây hai chị em ôm nhau mà khóc. Cô bạn một mực khuyên không nên liều mạng, nhưng em đã quyết lòng đi, thế là em đi. Đêm tối như bưng nhưng em đã rành đường đi lối lại lắm nên lòng tự tin đã mạnh hơn sự sợ hãi. Em đã dùng ni lông bọc quần áo làm phao bơi qua sông một cách dễ dàng, dường như nước sông có giảm xuống. Về đến lán em lấy thùng đồ ra, bỏ bớt đi một số, nhưng thư từ, quân hàm, huân chương và bộ quân phục đã thấm mồ hôi của anh để lại thì vẫn mang theo. Em vừa chọn đồ đạc vừa lầm rầm như khấn một câu: "Bỏ gì thì bỏ, chứ tình cảm không bỏ". Dùng dằng 10 phút mới kiểm chọn xong, em vác thùng gỗ ra bờ sông. Em tưởng phao lớn dễ bơi, hóa ra sức cản lớn nên khó hơn, em bơi khá vất vả, gắng hết sức mới khỏi bị đẩy xuống vực nước xoáy. Khi chân đã chạm đất em mới tin là mình hãy còn sống mà về với con. Mừng quá! Em vác hòm chạy về nông trường bộ, thấy hai con vẫn ngủ say, cô bạn gái vẫn thao thức chờ đợi... Hai chị em ôm nhau mừng ứa nước mắt. Thế là em yên chí, có vải mặc, có tiền là có cơm ăn, đi đâu cũng sống được.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:13:46 AM

        Bốn giờ sáng đoàn xuất phát. Em gánh tài sản, gạo và nước uống. Chú dân công gánh hai đứa con Sơn và Lan ngồi trong hai cái thúng. Nặng nhọc thật, nhưng em nghĩ họ chịu được, mình cũng chịu được. Tường như thế này là sẽ êm xuôi, ai dè sáng ngày thứ ba khi đoàn đi chưa hết đất huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) thì ôi thôi, chú dân công đã trốn mất từ đêm qua(!). Em cầu cứu lên ban chỉ huy đoàn cũng chịu bó tay. Em dành phải dồn hai gánh làm một. Như Sơn 14 kilôgam, Thu Lan 12 kilôgam, áo quần đồ đạc chừng 10 kilôgam, gạo cơm vắt và bi đông nước suýt soát 40 kilôgam. Em mới bắt đầu gánh đi thì nghĩ: "Cũng chịu được". Nhưng càng đi càng nặng. Ngày nào cũng vậy, cứ còn khoảng 5, 7 cây số nữa mới đến trạm thì hai chân như rã rời, hai vai đau ê ẩm như gãy cột sống lưng. Nhiều lúc nặng quá, em đặt gánh xuống, bế cu Sơn ra dỗ dành: "Con đi giúp cho má một quãng kẻo má nặng quá, má không đi nổi nữa rồi?" Lúc đó Sơn đã 6 tuổi nhưng vì đường sỏi đá, Sơn lại không có dép. Như Sơn vừa đi vừa quéo bàn chân từng bước một rất khó nhọc, lâu lâu lạỉ té ngã rồi lại khóc thảm thiết... Nhìn con mà ruột em quặn đau, không nỡ để yên, lại đặt gánh xuống, xếp lại đồ đạc rồi lại ôm con bỏ vào thúng mà gánh chạy... Nhiều hôm trời mưa tầm tã, gánh càng nặng. Gánh con đến trạm là phải làm lán cho con ngồi, rồi mới lên bếp cơm nước cho mẹ con ăn chiều, ăn sáng và nắm cơm, nước cho ngày hôm sau. Những ngày bị mất cái xoong mới khổ làm sao. Em phải chờ những người bạn đường nấu xong thì đã 1, 2 giờ sáng. CÓ một hôm không hiểu nổi vì uống nước lạnh hay ngộ độc thức ăn mà Như Sơn ỉa chảy. Nó chỉ có một cái quần cụt, khi đi cầu Sơn cởi quần cầm tay, vô ý đã đánh rớt quần xuống hầm cầu. Hầm cầu trạm giao liên làm lộ thiên, chỉ gác 3 cây gỗ ngang qua ngồi mà không có tay vịn. Em phải đứng trông chừng cho con. Tiêu xong, Sơn không chịu về, cứ ngồi nhìn hoài theo cái quần đang nhúc nhích bởi dòi đang rúc tìm... Sơn đòi khều quần lên về giặt mà mặc. Dường như nó sợ phải Ở truồng thì xấu hổ. Một tuần sau mới có dịp xin cho Sơn một cái quần cũ của nhà dân cho con mặc tạm.

        Tình thương con, nhớ chồng hòa trong tiếng gọi của Tổ quốc về lòng yêu nước, căm thù giặc Mỹ đã tiếp thêm sức mạnh cho em vượt qua tất cả. Sau hai tháng gánh gồng đi bộ, ngủ rừng, ăn đói, nhịn khát đều đã qua đi. Ba mẹ con đến nông trường bộ - nông trường 19-5 thuộc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An nhận nhiệm vụ y tá đội cơ khí - sừa chữa xe máy. Xường cũng phải sơ tán vào rừng. Em dựng một cái lán, cạnh con suối đá nhỏ. Những ngày đầu còn lo, buồn và sợ cảnh núi rừng, nhất là những ngày rét đậm, nứt da... Nhưng chỉ vài tháng sau đã quen dần. Người xưa thường nói: "rừng vàng, biển bạc", đúng thật. Chỉ một con suối đá nhỏ mà cá cua sẵn có cho ba mẹ con cải thiện. Sẵn mối và sâu, rừng lại ở cách biệt - không bị dịch bệnh lây lan nên đàn gà phát triển nhanh đáo để. Cứ tối thứ 7 đến ba mẹ con lại thịt gà nấu cháo và nghe sân khấu truyền thanh đài Hà Nội. Tại đây, các loại măng, nấm, rau, hoa trái rừng đều rất sẵn. Rau "sứng" nấu canh ngon như có bột ngọt. Chỉ có điều con phải đi học xa. Sơn đi một mình thì vừa buồn vừa sợ nên em cho Thu Lan cùng đi cho vui, cứ đến lớp học được chữ nào hay chữ đó. Ấy vậy mà cuối năm Lan cũng "lên lớp", cũng điểm 10, không phải vì Lan học giỏi mà vì cô giáo nhận Lan làm con nuôi(!).

        Tuy lâu lâu có được thư anh viết từ Tây Nguyên về có cái đi 6 tháng, có cái khi nhận được chỉ là một mảnh giấy nhòe nhoẹt không đọc được chữ gì cả. Em vẫn cố gắng viết thư đều cho anh theo địa chỉ gởi về.

        Trong những năm chiến tranh ác liệt 1968 - 1972, đã ba 1ần em đi phép về thăm quê hương Vĩnh Linh và bà con đôi bên nội ngoại. Có lần, em về thăm bà nội Liên tại Tân Kỳ (nơi sơ tán), Nghệ An. Em xin rước mẹ và cháu Hoan ra ở chung tại nông trường 19- 5, nhưng bà không chịu, 1ấy 1ý do 1à bà còn 1àm công tác xã hội tại địa phương. Em vừa buồn vừa thương khi đọc thấy niềm mê say công tác xã hội đến kỳ lạ trong con người bà nội Liên.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:14:18 AM

        Một hôm, năm 1968, được thư Liên gởi về (do nông trường Quyết Thắng chuyển), mới biết con đang học trường Nguyễn Bá Ngọc, thuộc xã Thọ Vực, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Liên kể chuyện con được gởi nhờ một gia đình cán bộ, ông ta đi làm ở cơ quan tỉnh, bà ở nhà làm ruộng cùng hai cô con gái cũng là học sinh nhưng lớn tuổi hơn Liên. Trong thư Thu Liên có đoạn viết: "Má tìm cách ra thăm con và xin cho con về ở với má, nếu không con sẽ chết mòn nơi đây..." Đọc thư con mà nước mắt em chảy ròng ròng. Không biết là nước mắt mừng vì đã liên lạc được với con sau hai năm mong ngóng hay nước mắt thương xót vì con đang khổ. Dạo đó, nhiều người kể chuyện rằng số con cái cán bộ đi sơ tán theo K7, K8, K9... đều gởi trong nhà dân và không ít gia đình coi chúng như đứa ở, mặc dù chính phủ đã cấp đủ gạo, vải, sách vở theo chính sách nhưng họ đã ăn chặn lại còn đày ải các con lao động quá sức... Với những suy nghĩ miên man đó, mình quyết xin phép đi thăm con để tìm cách đưa con về. Ra đến cái nhà mà con mình ở nhờ mới biết là Thu Liên khổ thật. ông chủ nhà là một người hiểu biết nhưng đi làm xa. Hàng ngày con mình ở với bà vợ là một người rất keo kiệt, gạo không thiếu mà cứ "khoai mốc cõng cơm". Trời nắng ráo cũng như ngày mưa rét, cứ nửa buổi Thu Liên lại phải xuống ao vớt bèo, tối tối phải nấu một nồi cám heo ước chừng hơn 20 kilôgam. Em đã hỏi: "Khi cám chín 1àm sao con nhắc xuống được?" Thu Liên nói rất sành sỏi rằng nó đã dùng các thau, chậu.., múc hết cám trên nồi ra, nhắc nồi không xuống để đúng chỗ rồi lại múc cám Ở các thau chậu mà đổ vào nồi. Lại còn khi cắt rau heo, tay con còn nhỏ và yếu mà cán dao thì to, nặng cầm không xuể, Thu Liên đã phải thọc cán dao vào ống tay áo, cài nút lại rồi cầm lấy sống lưng dao mà cắt, bởi vậy nên ống tay áo phải bị rách trước. Trưa hôm sau em dắt Liên ra sông tắm rửa kỳ cọ. Đất trời đâu có biết cái đầu con mình đầy chấy và toàn thân như bị bọc một lớp ghét bẩn. Tắm xong nhìn lại như Thu Liên mới được lột da. Con còn kể chuyện bà chủ nhà bắt đi mót khoai, mót lúa.., vì học sinh miền Nam ít bị xã viên xua đuổi. Chiều đó và suốt hai ngày sau em phải cạy cục chạy mấy nơi để xin cho con được cùng về nhưng không kịp. Em vẫn phải nói những lời cảm ơn với gia đình bà chủ nhà, vì dù sao con mình vẫn còn sống lành lặn. Đã 11 tuổi mà Thu Liên chỉ bằng con họ 7, 8 tuổi. Chưa lo xong giấy tờ em đã hết phép, vì còn chờ sự đồng ý của Hà Nội. Em đành phải về và gởi nhờ một người bạn gái - người cũng ra đón con, sẽ đưa Liên về sau. ít lâu sau Liên về đến nhà, ba chị em được sum họp, chúng ríu rít như chim non suốt mùa hè năm ấy. Ôi, hạnh phúc biết bao!

        Đêm đêm khi các con đã ngủ yên thì nỗi nhớ chồng lại day dứt. Hồi đó không thiếu gì những người đồng cảnh như mình đã không giữ được lòng chung thủy. Nghe và thấy người ta lỗi lầm mà em lo lắng, đề phòng. Cứ tối đến mẹ con em quây quần bên nhau. Nhiều lúc các con ngủ sớm em phải dùng rượu mạnh và thuốc lá để "giải khuây".

        Năm nào em cũng đạt danh hiệu "lao động tiên tiến" và "phụ nữ 3 đảm đang". Một vinh dự lớn đến với em: Ngày 6 tháng 9 năm 1969, em được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, sinh hoạt tại Chi bộ xưởng cơ khí. Em đã thấy vững vàng hơn, tự tin hơn".

        Một tuần sau, tôi về làng Hồ Xá thăm mẹ. Mẹ tôi mừng lắm, bà đã 65 tuổi nhưng còn khỏe mạnh nhanh nhẹn. Mẹ tôi dẫn đi thăm chúc phúc bà con thân thuộc nội ngoại liền trong hai ngày, tại làng Hồ Xá và làng Phúc Lâm. Sẵn dịp, tôi thăm lại xóm Chồi yêu quý, nhưng ở đó chỉ là vùng đất đỏ hoang tàn. Tôi cố tìm mà không thấy vết tích xưa. Vườn nhà tôi và sân vận động đã bị giặc san làm sân bay, nay đầy cỏ dại.

        Chúng tôi đến đâu cũng được tay bắt mặt mừng, câu nói tiếng cười rộn rã, tuy xóm làng còn xác xơ, đổ nát sau chiến tranh. Những lúc rỗi rãi tôi thấy mẹ chỉ ngồi nhìn ra sân và thở dài mà không nói gì. Tôi gạn hỏi mới biết khu đất nơi tọa lạc ngôi mộ cha - tôi đã cải táng từ chiến khu về dó năm 1949 - nay nằm trong khu quy hoạch dất trồng cây công nghiệp, cần di dời sớm. Ba em tôi - một gái hai trai hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ, thì nay chỉ mới có một ngôi mộ em Đinh Thị Đào du kích, còn hai em trai bộ đội hy sinh tại chiến trường Trị Thiên chưa biết mộ phần ở chỗ mô. Em trai Đinh Như Đạt bị thương đang điều trị ở thành phố Huế. Mẹ nói: "Năm nay nó đã 32 tuổi, quá lứa rồi, nó thiệt thà ít ỏi, nay lại bị thương tật không biết có o mô chịu lấy nó làm chồng không? Thêm nữa, nhà cừa chiến tranh tàn phá trụi hết rồi, mẹ ở với thằng Thông con út trong cái làn sát bờ tre bìa làng. Nay mai mẹ muốn có một cái nhà nhỏ để ở nuôi cháu Hoan ăn học, lâu lâu đón các con cháu về chơi." Em út tôi, Đinh Như Thông 30 tuổi kể: "Một hôm đầu tháng 3 năm 1975 chừng 10 giờ sáng lúc trời đã nắng gắt, dượng Tiếp đã 80 tuổi chạy đến nhà hớt hải la: "Thằng Thông mày đi mà coi, thằng máy ủi nó đụi mả cụ Đồng đi rồi?" Em chạy liền tới thấy người lái máy đang ủi đất khu vực đất mình. Em đứng chặn máy lại vừa quát: "Ai cho anh ủi đất này? Mồ mả ông cha người ta ở đây tại sao mấy người tự ý san ủi?" Người lái máy nói: "Khu này không có mồ mả chi cả?" Em làm dữ, yêu cầu người ra lệnh san ủi đến đây giải quyết. Người lái máy chạy đi gọi ông chủ tịch huyện Vĩnh Linh đến. ông ta to tiếng nói: "Trước khi ủi ở đây không có mồ mả chi hết" Em tức quá? Em phải hét to: "Người lái máy không biết, nó nói không có, nhưng ông thử nghĩ mà coi: Mả cha tôi thì tôi biết ở chỗ mô, mả cha người lái máy thì họ biết ở chỗ mô, mà mả cha ông thì ông biết nằm ở chỗ mô, chớ làm răng mà ông biết chỗ này không có mả cha tui được? Ông chủ tịch huyện nghe có lý đành cho máy nghỉ. Em đứng giữa đám đất vừa bị san ủi khấn vái và gióng hướng rồi cuốn đất đắp nấm mộ mới không biết đúng hay không". Tôi hẹn đến ngày mùng 4 tháng 5 ất Mão, gia đình cúng giỗ lần thứ 28 sẽ tìm hài cốt.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:14:48 AM

        Những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, tôi cùng em Đinh Như Thông lên rừng tìm mua gỗ nhà cũ của bộ đội Trường Sơn, chuẩn bị dựng lại nhà ở. Mẹ tôi vẫn muốn có ngôi nhà nhỏ riêng. Trưa 30 tháng 4 năm 1975 có tin Sài Gòn đã được giải phóng? Nguồn tin đến làm tôi mừng ứa nước mắt! Em Thông vỗ tay la: "Hết chiến tranh rồi, anh về nhà với mẹ và em chứ?" Tôi nói: "Phải chờ quyết định của tổ chức. Giải phóng Sài Gòn rồi nhưng giữ cho được còn phải trầy ớa tróc vảy" Tôi dồn nén mọi kỷ niệm chiến trường, ghìm lại bao nỗi vui mừng, tôi nói: "Việc gì phải đến sẽ đến, ta cứ phải làm những việc cần trước mắt mình".

        Đúng ngày hẹn, chúng tôi huy động 12 thanh niên khỏe mạnh, là 12 tay cuốc dãn hàng ngang, mỗi người một mét, cuốc sâu xuống 0m30 tìm hài cốt. Chúng tôi khởi sự lúc 8 giờ, đến 9 giờ rưỡi chú Đinh Như Đa la lớn: "Đây rồi!" Chú nói: "Tao vừa cuốc vừa khấn: "Trong hơn chục tay cuốc này thì chỉ có tôi là vai em, anh nằm chỗ mô anh cho tôi cuốc trúng kẻo nắng to lên tội nghiệp các cháu, chỉ mấy lát cuốc sau tao nghe "phập" một tiếng là tao biết đây rồi". Không có tiểu sành, chúng tôi cho hài cốt vào cái hòm gỗ, để hộp sọ có cái răng cửa hàm dưới mọc thụt vào lên trên, lại dùng tấm vải che mưa do tôi mang từ B2 về, cho mẹ tôi chứng kiến, làm lễ cúng rồi đưa đến nghĩa trang dòng họ. Em Đinh Như Thông cùng mẹ và tôi làm giỗ cha lần thứ 28 trong điều kiện mới: Đất nước vừa được độc lập tự do, Nam Bắc sum họp một nhà. Tuy bữa giỗ vẫn đạm bạc nhưng bà con thân thuộc sum vầy, đông vm. Lòng tôi trào lên những tình cảm lâng lâng hoan hỉ.

        Một hôm chủ nhật giữa tháng 5 năm 1975, tôi mượn xe hon đa cùng cháu Đinh Như Hoan vào Ban Chính sách Huyện đội Triệu Hải tìm mộ hai liệt sĩ Đinh Như Thái và Đinh Như Hanh. Chúng tôi mang theo cơm trưa, nước uống và đồ cúng. Hồ sơ lưu cho biết liệt sĩ Đinh Như Thái có ở nghĩa trang xã Hải Phú, Hải Lăng, có bia mộ. Còn liệt sĩ Đinh Như Hanh quy tập về nghĩa trang Triệu Vân, Triệu Phong là mộ vô danh. Rời huyện đội Triệu Hải lúc 10 giờ, hai bác cháu vào nghĩa trang Hải Phú cách đó chừng 20 cây số Tại đây có nhiều trẻ chăn trâu đang nô đùa, tôi gọi được 10 em cùng tìm tên Đinh Như Thái trên bia mộ phân công mỗi người tìm kiếm trên 5 hàng mộ, cứ thế dàn hàng ngang vừa đi vừa tìm từ ngoài vào, tôi cho mỗi em hai cái kẹo rồi bắt đầu tìm... Nắng đã gắt, tôi đi được 20 mét đã thấy hoa mắt, các bia mộ đều giống nhau như nhấp nháy, chữ lại mờ. Tôi đứng nhắm mắt lại một lát cho mắt nghỉ rồi nhìn 5x5 hàng một đợt, quả nhiên mắt dễ chịu hơn, đến lượt thứ tư tôi nhìn thấy từ xa.., tên em tôi. Tôi cám ơn và cho các em chăn trâu nghỉ. Tôi gọi chỉ cho Hoan biết. Cháu Đinh Như Hoan - 12 tuổi, một học sinh lớp 7 - nhào tới, nằm sấp ôm lấy nấm mồ liệt sĩ, giọng ân cần: "Bác Thái ơi, bác Ninh và cháu đến thăm bác đây?,, Hai bác cháu mắt rươm rướm soạn đồ cúng lễ, rồi ăn cơm bên mộ liệt sĩ Đinh Như Thái. Tôi vào nhà dân mượn cái cuốc, hai bác cháu sửa lại bia mộ cho ngay ngắn. Chúng tôi rời nghĩa trang xã Hải Phú lúc 16 giờ. Lúc vừa đi ngang qua đường rẽ xuống huyện Triệu Phong, đột nhiên cháu Hoan đấm thùm thụp vào lưng tôi và kêu khóc: "Bác bỏ ba cháu, sao bác bỏ ba cháu?" Tôi dừng xe phân giải: "Nghĩa trang Triệu Vân có hàng ngàn mộ liệt sĩ, mà hầu hết là mộ vô danh. Bây giờ đã 16 giờ 20 thì tìm làm sao được? Bác cháu mình về kẻo tối, và sẽ tìm vào một ngày khác". Cháu Hoan vặn hỏi tôi: "Bác có thương ba cháu không?" "Có", tôi đáp. "Bác nhớ đặc điểm gì để nhận biết hài cốt của ba cháu không?" - "Có", tôi đáp. "Rứa thì mai vô tìm sớm". Tôi hỏi cháu: "Cách gì mà tìm được?,, Cháu không trả lời mà hỏi lại tôi: "Nghĩa trang Triệu Vân đất gì?" Tôi nói: "Vùng đó đất cát pha".  Cháu vui vẻ nói: "Được rồi! Bác cháu ta về kẻo tối".


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 07:15:55 AM
        Dọc đường, tôi hỏi cháu tìm bằng cách gì? Cháu nói cháu sẽ đào lên từng nấm mộ cho bác nhận biết. Tôi nói: "Ba cháu có 3 cái răng cừa hàm trên, nhưng đào hàng ngàn ngôi mộ vô danh để tìm một liệt sĩ có 3 cái răng cửa là điều mình không thể làm được, vì một là không ai cho phép mình đào mồ người khác trong nghĩa trang, hai là có thể trong ngàn người đó có hai liệt sĩ có 3 cái răng cửa - Nếu mình bốc nhầm thì sao?" Cháu vẫn chưa chịu, cháu còn hỏi lại nhiều điều nữa. Tôi cảm nhận tình phụ tử tha thiết và thiêng liêng vô ngần, trong những suy nghĩ trong trắng của cháu Đinh Như Hoan. Trong tôi trào lên niềm yêu thương và lòng tự hào cứ nối tiếp nhau về thời thơ ấu của em tôi - em Đinh Như Hanh sinh năm 1941 (Kỷ Mão). Chiến tranh và đói nghèo đã cướp mất tuổi học trò của em. Bảy tuổi em phải đi ở đợ, chăn trâu để đổi lấy miếng ăn. Em rất sáng dạ. Hòa bình lập lại (1954), em được theo học các lớp bình dân học vụ, em đọc thông viết thạo lại có năng khiếu văn nghệ thể thao. Cuối năm 1961 đầu 1962, tôi cùng đơn vị vận chuyển vũ khí lên Trung Lào, tôi bất ngờ gặp em Đinh Như Hanh, tại tiểu khu biên phòng Cù Bai, miền tây huyện Vĩnh Linh, tôi nhìn thấy em đánh bóng chuyền giỏi, nghe tiếng em thổi sáo hay không kém gì các cây sáo chuyên nghiệp. Nhớ lại những ngày hai vợ chồng em ra thăm tôi trước khi em đi B cuối năm 1963, hai em tôi đã có được những ngày hạnh phúc tại "chiêu đãi sở" Sư đoàn 325, đó là những ngày gieo mầm cho sự sống thành cháu Đinh Như Hoan, một học sinh giỏi, trường cấp 2 Hồ Xá đang khao khát hiểu biết... Cho mãi đến năm 1990 khi cháu đã trở thành phóng viên báo Dân tỉnh Quảng Trị, cháu mới tìm đưực hài cốt của ba cháu, liệt sĩ Đinh Như Hanh. Cháu viết bài báo "Nghĩa cát":

        "Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hết bàng hoàng khi nghĩ tới giây phút ấy, cái giây phút mà dù can đảm đến mấy người ta cũng phải nổi gai ốc. Đó là một cụ già quắc thước từ trong nhà bước ra, sững lại rồi nhìn theo tôi trân trôí: "Trời, phải con thằng H. đó không?

        Ông lão mếu máo, hai giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt sạm đen vì gió biển: "Con ơi! Ba mươi năm rồi. Rứa mà ông tưởng không còn hy vọng tìm được người thân của nó".

        Cụ Lạng và bà con thôn 7 cùng ra bìa làng. Ba tôi nằm đó giữa những người làng, phía trước là bãi cát mênh mông chạy dài vô đến Triệu Lăng, nơi gần 30 năm trước diễn ra một trận chiến ấc liệt.

        Sáng đó là ngày 26-7 âm lịch năm 1964, Chú H. cùng du kích thôn ra ngoài rú đào công sự chờ bọn nghĩa quân kéo từ Triệu Lăng ra. Bọn giặc thì đông mà du kích thì mỏng. Du kích rút lui, chú H yểm trợ rời trận địa sau cùng. Trên đường rút lui, chú H gặp anh du kích Nguyễn Sơ (Con trai ông Lạng) bị thương nặng không chạy được. Chú xốc đồng đội lên vai cõng chạy. Nhưng cát lún ống chân, họ không chạy được xa. Bọn nghĩa quân kéo đến, xả súng vào hai người.

        "Lẽ ra hắn chạy theo kịp anh em rồi. Nhưng vì con tui mà hắn chết". ông Lạng ngậm ngùi.

        Tối đó, bà con mang xác hai anh em vào làng. Ông Lạng xin với bà con và đơn vị chú H cho hai anh em được nằm cạnh nhau. "Tui coi hắn như đứa con thứ tư của tui đã hy sinh vì cách mạng". ông Lạng nói "Từ đó hắn nằm trong vườn nhà tui, cùng chung ngày giỗ với thằng Sơ con tui..."

        .....


       Còn liệt sĩ Đinh Như Thái, năm 1985, cũng đã được gia đình tổ chức đưa hài cốt về nghĩa trang liệt sĩ huyện Vĩnh Linh. Anh Đinh Như Gia, Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Vĩnh Linh cùng em Đinh Như Thông, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Linh cùng đi. Khi bốc hài cốt lên, trong túi áo ngưc liệt sĩ có một ít giấy tờ và đồng bạc Cụ Hồ được bọc cẩn thận bằng ni lông. Lúc đưa hài cốt lên xe, đồng chí lái xe đốt ba cây nhang, khấn: "Xin mời hương hồn anh Đinh Như Thái cùng chúng tôi về quê hương Vĩnh Linh. Xin anh phù hộ cho chuyến về quê được nhiều may mắn". Chiếc xe commăngca quá đát thường hay trục trặc dọc đường, hôm đó chạy thật êm, chạy một mạch về nghĩa trang liệt sĩ Vĩnh Linh không xảy ra vấn đề gì, khiến cả ba người trên xe rất mừng và thấy lạ.

        Vậy là ba người em của tôi là liệt sĩ đều đã tìm được hài cốt đưa về quê hương. Tôi coi đó là diễm phúc của gia đình, vừa cũng là sự góp phần giảm bớt gánh nặng của xã hội sau chiến tranh.

        Cuối tháng 5 năm 1975, tôi vào Thành đội Huế thăm em Đinh Như Đạt. Em bị thương vào đầu, miệng vết thương đang đóng vảy, em nằm chờ ở trạm trực. Tôi gặp anh Hường - Đại úy, Thị đội phó xin cho em được nghỉ phép về thăm mẹ. Chiều hôm sau, hai anh em chúng tôi về Vĩnh Linh. Dọc đường, anh em trò chuyện đủ thứ. Tôi biết em đã có người yêu là con gái đồng chí Bí thư đảng ủy xã. Anh chị sui gia cũng là những người lãnh đạo đã dìu dắt mẹ tôi hoạt động trong chiến tranh, nên hai gia đình rất hợp ý nhau. Đám cưới hai em Đinh Như Đạt và Nguyễn Thị Chữ được tổ chức đạm bạc, đông vui. Có điều, sau đám cưới hai vợ chồng phải chung sống trong cái lều tạm của chú em út với gia đình.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:42:51 AM

        8 - Trở lại đội ngũ

        Tháng 8 năm 1975, tôi được gọi ra Hà Nội. Hôm sau, Đại tá Nguyễn Chỉ - Cục trưởng giao nhiệm vụ cùng tôi bay vào Thành phố Hồ Chí Minh để góp sức tiếp thu hồ sơ tài liệu địch. Chúng tôi tạm trú tại T66b trong trại Đavít, hàng ngày đi thu thập tài liệu địch ở số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm của Cục an ninh quân đội ngụy, ở Trung tâm hồ sơ cá nhân của Tổng Tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa, ở số 3 Bạch Đằng của phủ đặc ủy tình báo trung ương. Cũng trong những ngày này, tôi có dịp gặp lại thượng tá Lê Quốc Sủng - Trưởng phòng bảo vệ an ninh B2. Anh cho biết công việc sau ngày giải phóng đang đòi hỏi phải xử trí thật bề bộn ngổn ngang, bọn Khơ-me đỏ lại đã có những hành động xâm lấn đất nước ta ở đảo Thổ Chu, đảo Phú Quốc, xã Phú Hữu - tây bắc thị xã Châu Đốc... Anh Lê Quốc Sủng nói thêm: "Xem ra cuộc xâm lấn biên giới có tính chất gây chiến này còn kéo dài, phức tạp khó lường lắm".

        Đầu tháng 10 năm 1975, tôi trở về nhận công tác ở Phòng Bảo vệ an ninh Miền, tháng 4 năm 1976 chuyển thành Phòng Bảo vệ an ninh Quân Khu 7. Được trở lại đội ngũ, tôi thầm nhủ: Mình đã được tổ chức cho chữa bệnh, nghỉ phép lo việc nhà, thì nay càng phải làm việc hết mình theo yêu cầu của tổ chức. Với trách nhiệm phụ trách ban nghiên cứu tổng hợp của Phòng, tôi đã cùng các thành viên phát huy trách nhiệm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

        Trong một buổi tâm sự chuyện gia đình, anh Ba Sủng gợi ý: "Nên cho chị và các cháu vào trong này". Được lời như mở tấm lòng, tôi vui vẻ chấp nhận và lo giấy tờ thủ tục, tôi viết thư cho vợ con chuẩn bị.

        Nhân dịp đi Hà Nội họp tổng kết công tác năm 1975, 1úc trở về tôi đi đường bộ và ghé về Vĩnh Linh, chuyển gia đình vào Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ có chuẩn bị nên mọi việc diễn ra suôn sẻ. Chúng tôi được xếp ở một gian nhà trong khu tập thể, số 4 Hồng Thập Tự, Quận 1. Mùa mưa năm 1976 mới biết gian nhà dột quá thể, tôi phải đi xin tôn cháy ở số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm - về lợp thêm một lớp mới ở được. Vợ có việc làm, các con lớn vào lớp học, Hương Lý gởi nhà trẻ. Tưởng thế là tạm ổn, nào ngờ giá cả thị trường ngày một tăng mà đồng lương đứng tại chỗ nên cuộc sống thật khó khăn. Nhiều đêm, vợ chồng phải đi bới lượm khoai sâu, sắn mục ở các đống rác về nuôi heo, củ nào còn kha khá thì hấp cơm mà ăn. Cứ mỗi lần có đèn ô tô rọi tới, tôi cứ phải nhắc vợ quay mặt tránh, đề phòng có kẻ xấu chụp ảnh bêu riếu. Mọi khó khăn chúng tôi cũng quen dần và vượt qua.

        Sự bề bộn ngổn ngang của công việc trong thời kỳ quân quản lắng dịu dần và đi vào nền nếp của cơ quan. Các bộ phận H66, H77 chuyên lo giải quyết các tồn đọng sau chiến tranh: Thẩm tra, kết luận, đề xuất xử lý số đầu hàng phản bội, số bị bắt khai báo nghiêm trọng, thu thập nghiên cứu tài liệu địch về tình báo gián điệp, nhất là kế hoạch hậu chiến; theo dõi về công tác quản giáo sĩ quan chế độ cũ, góp phần đề xuất biện pháp ngăn chặn các tổ chức nhen nhóm chống phá quân đội, góp phần giáo dục xây dựng, bảo vệ trận địa chính trị tư tưởng và tổ chức lực lượng vũ trang trong điều kiện mới... Trong lúc này, ở Sài Gòn - lương thực, thực phẩm không đủ ăn, hàng tiêu dùng không đủ dùng, đời sống quân và dân cực kỳ khó khăn, các hành động vượt biên, di tản.., rộ lên, đã có một số người móc nối, lợi dụng uy thế, năng lực tổ chức và phương tiện của quân đội để vượt biên, có những cán bộ chỉ huy cấp Trung đoàn, tiểu đoàn bị biến chất, trở thành tay chân đắc lực của bọn tổ chức vượt biên. Thêm nữa, có thế lực nước ngoài lung lạc, kích động gây ra làn sóng "nạn kiềư" gây bất ổn trong nội địa. Cuộc xâm lấn biên giới có tính chất gây chiến ngày càng nghiêm trọng. Cuộc sống và làm việc của chúng tôi ở Thành phố Hồ Chí Minh mới giải phóng căng thẳng không kém gì trong chiến tranh, có những khía cạnh đa dạng phức tạp hơn, chỉ có giấy tờ phương tiện làm việc là dồi dào.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:43:24 AM
*

*        *

        Vào một ngày tháng 6 năm 1976, Sơn và Lan đi kiếm củi, chúng thấy một kíp lựu đạn da láng để ở bờ tường. Lan để lại chỗ cũ vì sợ nổ, Sơn cầm lên rút chốt an toàn định ném đi, nhưng nghe tiếng xè xè, nó sợ và đưa lui sau lưng tức thì kíp nổ gây nhiều vết thương ở tay và phía sau đùi, cẳng chân phải..., máu me lênh láng. Mẹ các cháu băng cầm máu rồi nhờ gọi điện thoại cho tôi. Anh Nguyễn Văn Khả nhận điện, cho tôi biết có tiếng nổ và tiếng kêu khóc ở nhà, cần về ngay. Anh dặn thêm, hãy nhớ bình tĩnh, chạy xe chậm chậm thôi. Tôi về tỏ vẻ lo lắng và giận dữ làm cả nhà ai cũng sợ, Lan khóc. Tôi chở Sơn đi bệnh viện 115, lại nhờ chú Đinh Quốc Kỳ dùng xe đạp chở tấm đắp và mùng đi sau. Nhưng "họa vô đơn chí", chú Kỳ đi qua chợ Chí Hòa bị bọn kẻ cắp lấy mất mùng và tấm đắp. Sau một lúc khám xác định, bệnh viện 115 cho biết Sơn chỉ bị thương phần mềm bàn tay và chân, sau 10 ngày mới ra viện.

        Trong những tháng cuối 1976 và năm 1977, 1978 nếu chỉ nhìn cái vỏ áo quần bề ngoài thì không ai biết gia đình tôi đang đói ăn. Mặc dù vợ chồng con cái đã tranh thủ mọi thời gian trồng rau, nuôi heo... Vợ ehồng đã bán chiếc mô bi lét (định mua cho các con) để lấy vốn mua con giống. Nhưng con đầu tiên đã bị kẻ trộm bắt mất (do chưa làm được chuồng, chỉ xâu lỗ tai buộc vào gốc cây trước nhà). Con thứ hai mới nuôi một tháng đã lớn khá nhanh nhưng lại bị chết... Cứ phải nuôi heo chứ không có cách gì khác, chúng tôi lại mua hai con giống khác, nhưng vốn đã cạn nên hàng ngày đi học về, Lan nấu cơm, Liên cắt lá khoai, đi mua bả khoai mì... Mỗi chiều đi làm về, tôi phải xin chở về vài khúc chuối cây... Nguồn thực phẩm chính của hai con heo là như vậy chứ không có tiền mua cám. Nhưng chúng lớn nhanh, khi bán có lời khá. Từ đó, gia đình phải "ăn theo" hai con heo mỗi lứa.

        Tháng 4 năm 1977, trong khi tôi đang học tại trường Nguyễn ái Quốc 7 (Thủ Đức) thì bà nội các cháu vào thăm, cùng đi còn có chị Dinh (chị anh Khanh) và cậu Kiểu (em mẹ tôi). Mặc dù hai vợ chồng nói hết lời để cầm giữ bà nội ở lại chung sống với các cháu nhưng bà chỉ ở thăm 5 ngày rồi trở ra, nói là để nuôi cháu Hoan ăn học. Tháng 8 năm 1978, hai vợ chồng đã đưa Hương Lý về thăm bà nội và các cậu dì, bà con cô bác, lần đó vợ tôi mới rút hết số tiền 500 đồng ở Ngân hàng Bến Hải, để vào phụ thêm mà chăn nuôi.

        Từ tháng 9 năm 1977 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam.

        Tháng 4 năm 1978, tôi vào bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh thăm một người bạn nằm bệnh. Hai anh em đang ngồi nói chuyện Ở ghế đá chợt có một người mặc áo trắng, quần xám, đội mũ phớt hơi lệch phía phải. Ông mải ngắm nhìn bồn hoa và vừa đi qua, tôi nhìn theo thấy quen quá. Khi ông đã đi cách chỗ tôi ngồi chừng 5 mét, tôi đứng dậy chào với theo: "Dạ thưa thầy!" Người đội mũ phớt ngoảnh lại, thấy tôi dang nhìn "chiếu tướng", ông bước tới hỏi: "Chào tôi?" Tôi dạ, ông hỏi lại: "Anh chào ai?" Tôi lễ phép nói: "Xin thầy kéo cái mũ phía phải cao lên cho con nhìn rõ cái thẹo Ở thái dương của thầy". ông lại nói: "Chắc anh nhầm ai đó". Ông kéo thấp cái mũ xuống phía phải, vừa nói: "Tôi là Thành, Lê Văn Thành". Tôi thưa: "Hồi trước thầy là thầy Lê Đình Nhơn, dạy lớp nhất, trường tiểu học Vĩnh Linh. Trong chống Pháp con nghe tin thầy đi Vệ quốc đoàn, thầy đóng lon trung úy, là sĩ quan liên lạc thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Bây giờ thầy làm gì, ở đâu ạ?" ông không trả lời mà kéo tôi ngồi xuống ghế đá vừa hỏi: "Anh học trường Vĩnh Linh năm nào?" Tôi thưa: "Năm 1944-1945". ông lại hỏi: "Tên gì, ngồi bàn nào?" Tôi thưa: "Đinh Như Ninh, ngồi bàn đầu, cùng với trò Hoàng Thị Lý". Ông vừa nghe, vừa lôi cái ví ở túi áo tôi ra xem, bỗng ông ồ lên: "Trung tá? Nhớ rồi, hồi đó tôi đã thấy em có thiên tư khá..." Hai thầy trò nói chuyện xưa thật nhiều, tôi xin phép anh bạn và mời thầy về nhà tôi ở cư xá Bắc Hải - dùng cơm với gia đình. Tôi biết thầy mang tên Lê Văn Thành, trung úy phiên dịch một thời gian. Thầy chuyển ngành sang Bộ Văn hóa từ năm 1957 ở Hà Nội, và hiện đang làm chuyên viên chính trị Học viện quốc gia âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh.

        Thầy Nhơn hơn tôi 10 tuổi, thầy biểu tờ nay cứ xưng hô anh em cho gần gũi, thân mật hơn. Về chuyện đời tư, hồi đó anh Lê Đình Nhơn yêu chị Cao Thị Kiều Nguyên, con gái ông Cao Xuân Thọ. Cách mạng tháng Tám năm 1945, rồi kháng chiến chống Pháp, anh đi Vệ quốc đoàn, chị theo gia đình đi lưu lạc vào Sài Gòn, sau đó chị vào chùa, đi tu. Tuy vậy, hai người vẫn son sắt chờ đợi nhau, cho đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới gặp 1ại nhau. Hạnh phúc biết bao. Nhưng anh chị đã hết tuổi sinh đẻ. Có lần anh ngỏ ý xin bé Đinh Thị Hương Lý của chúng tôi (lúc đó 4 tuổi) làm con nuôi, nhưng mẹ cháu Lý không đồng ý, anh lại đề nghị cho đến học trường quốc gia âm nhạc, mẹ cháu Lý xin phép đừng.

        Tháng 6 năm 1978, tôi đi lên cơ quan tiền phương của Quân khu 7. Tháng 8 năm 1978 trở về hai tháng để đi công tác ra Huế. Trong dịp này anh Đinh Như Khanh cùng tôi về thăm quê. Lần đầu tiên về sau 24 năm xa quê nên anh Khanh rất vui mừng. Tháng 10 năm 1978, tôi lại lên cơ quan tiền phương... Chỉ một tháng rưỡi sau tôi nhờ đơn vị chuyển về gia đình một cái vỏ hòm đạn pháo 130 ly. Một số bà hàng xóm tưởng tôi gởi của cải, gạo cơm gì về và xúm lạỉ coi Khi mở ra mới thấy áo quần chăn mền, gối của tôi. Nhiều bà hàng xóm thầm thì: "Chắc anh ấy đã hy sinh..." Không khí lắng xuống thật nặng nề, vợ tôi a tin nửa ngờ vì tôi không viết chữ nào về cả. ít lâu sau vợ con mới biết: "Tiền phương Quân khu chuẩn bị cơ động, đánh lớn để góp sức giúp giải phóng Campuchia". Sau giải phóng Campuchia, tôi được về tổng kết, đi điều trị và an dưỡng.  

       Cũng trong dịp này Quân khu cho phép chuyển gia đình về RR18 Cư xá Bắc Hải hoặc 84D Nguyễn Đình Chiểu (tức Trần Quốc Toản mới). Tôi cùng anh Bảy Sang và anh Chín Lộc (Giám đốc Sở nhà đất thành phố) đi xem cả hai nơi về, thấy nhà 84D tới 3 tầng lầu với 12 phòng lớn nhỏ, lại là biệt thự loại một, nghĩ mình chỉ có 6 người, lại nghèo, sau này sợ không trả nổi tiền nhà, nên về cư xá Bắc Hải cho đến ngày nay. Tuy kinh tế gia đình vẫn chật vật nhưng về đây có nơi làm chuồng heo, có đám đất trồng rau...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/cuocchienthamlang2.jpg)
Đại tá Đinh Như Ninh


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 11:52:29 AM
Chương bốn

THAM GlA BẢO VỆ TỔ QUỐC
Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ
LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ GIÚP BẠN CAMPUCHlA

        1 - Ở biên giới Tây Nam

        Cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới Tây Nam  nước ta của bọn phản động Pôn Pốt ngày càng diễn ra nghiêm trọng. Giữa năm 1978, tôi lên biên giới tỉnh Tây Ninh theo cơ quan Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 7. Các đơn vị phía trước tiến công thuận lợi. Sư đoàn 5 đánh giải phóng huyện lỵ Mimốt đang phát triển tiến công thuận lợi thì có lệnh dừng lại, rút quân về đất Việt Nam. Bọn Pôn Pốt xua quân líp lại, chúng tiếp tục sang quấy nhiễu dân ta. Quân khu chỉ đạo rút kinh nghiệm chiến dịch mùa mưa. Đoàn 778 được lệnh tổ chức tiếp đón, góp phần sắp xếp nhân sự và tổ chức học tập chính trị, huấn luyện quân sự cho bạn Campuchia, theo kế hoạch của Bộ và Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Đồng chí Trung tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7. Sau phần tổng kết chiến dịch mùa mưa năm 1978, là một chỉ thị nghe rất nghiêm (có phần gay gắt), số là có một đơn vị thuộc Sư đoàn 5 đã chở về Việt Nam mấy trăm cây dừa giống nói là để trồng quanh doanh trại. Quân khu chỉ thị: "Phải lập tức chở trả lại chỗ cũ. Cần bao nhiêu xe Quân khu điều, tốn bao nhiêu xăng dầu Quân khu cấp, cần thêm bao nhiêu tiền Quân khu cho. Cục Hậu cần có trách nhiệm bảo đảm, Cục Chính trị và Bộ Tham mưu có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện, báo cáo kết quả lên Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu ngay sau khi thi hành xong chỉ thị này".

        Tháng 10 năm 1978, chúng tôi lại lên biên giới tỉnh Bình Phước đóng quân ở khu vực Hoa Lư, huyện Lộc Ninh. Một bộ phận chủ lực của Quân khu chốt giữ cụm điểm tựa (cấp tiểu đoàn) ở Dốc Lu, sát biên giới và nhiều điểm chốt giữ khác dọc biên giới hai tỉnh Tây Ninh, Bình Phước. Riêng cụm điểm tựa Dốc Lu trên đường 13 cứ mỗi tuần phải thay phiên trực một tiểu đoàn do bị thương vong và mỏi mệt.

        Nghĩa trang liệt sĩ huyện Lộc Ninh có thêm nhiều hàng mộ liệt sĩ mới, bên cạnh những hàng mộ liệt sĩ thời chống Mỹ. Tôi gặp mấy anh chị em thanh niên xung phong đào huyệt đang nghỉ giải lao, tôi hỏi chuyện - Mấy em ngao ngán nói: "Chúng em chuyên lo đào huyệt đã năm hôm, còn 10 ngày nữa mới thay phiên đi khiêng cáng thương binh, tử sĩ. Cứ mỗi đêm lại có thêm từ bảy đến mười mộ mới". Một thanh niên xung phong thở dài nói: "Hôm nay tôi đào huyệt cho các anh, nay mai đến lượt tôi không biết còn ai đào cho không?".

        Một đêm đầu tháng 11 năm 1978, Quân khu 7 dùng một phân đội bộ binh có xe tăng và pháo binh yểm trợ, đánh bật chốt 1 của địch đối diện Dốc Lu rồi lui để thử sức phòng ngự của đối phương. Nhưng do trục trặc khâu hiệp đồng, có một chiếc xe tăng thẳng đến Cát Đai mới dừng lại nên tổ lái xe bị bắt sống. Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Minh Châu phải xừ trí suốt đêm. Bảy giờ sáng hôm sau, anh em mời đồng chí Tư lệnh ra vườn nằm võng nghỉ dưới một gốc cây me có bóng mát. Đồng chí Tư lệnh mới chợp mắt được một lát thì có một chiến sĩ lay võng gọi ông dậy, ông hỏi có việc gì? Chiến sĩ nọ đáp: "Xin lỗi, chắc bác là chủ vườn? Cho cháu xin bác vài trái me". Đồng chí Tư lệnh giận lắm nhưng vừa kịp nhận ra người chiến sĩ này biết giữ kỷ luật dân vận, anh nói: "ứa, bác đồng ý cho cháu hái rồi đi chỗ khác, cho bác nghỉ một lát".

        Giữa tháng 11 năm 1978, tôi cùng một tổ 5 cán bộ cơ quan chính trị đi vòng xuống biên giới tỉnh Tây Ninh, chúng tôi lần lượt đến ba Trung đoàn phổ biến và hướng dẫn, củng cố tổ chức tư tưởng sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Đây là các trung đoàn bộ binh làm khung quân quản sĩ quan chế độ cũ, làm kinh tế nay điều động lại.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang5.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 11:55:51 AM

        2 - Bước ngoặt

       Quân khu đã giải phóng thị trấn Snoul thuộc tỉnh Kratié. Chúng tôi cùng một số phân đội chuẩn bị đón khách tại Sở Cao su Snoul. Một sân bay quân sự làm gấp cách Sở chỉ huy 500 mét. Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 7 lúc này do đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu (tức Năm Ngà) Phó Tư lệnh Quân khu làm Tư lệnh, đồng chí Thiếu tướng Dương Cự Tẩm - Phó Chính ủy Quân khu - làm Chính ủy, đồng chí Đại tá Hồ Quang Hóa - Phó Tư lệnh Quân khu - làm Phó Tư lệnh, đồng chí Đại tá Võ Minh Như (tức Chín Hiền) làm Tham mưu trưởng, đồng chí Thượng tá Đặng Hữu Thuấn (út Đặng) - làm Tham mưu phó, đồng chí Thượng tá Võ Ngọc Hải (Tám Hải) - Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu - làm Chủ nhiệm chính trị, đồng chí Thượng tá Lê Thành Công (Sáu Thịnh) làm Chủ nhiệm hậu cần. Tại đây, Quân khu đã đón các đồng chí Lê Đức Thọ, Chu Huy Mân đến làm việc. Ít hôm sau lại đón nhiều cán bộ và người Campuchia đến. Lễ thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia do Đảng nhân dân cách mạng Campuchia lãnh đạo đã diễn ra tại Sở Cao su Snoul, ngày 2 tháng 12 năm 1978. Mặt trận thay mặt nhân dân Campuchia kêu gọi sự giúp đỡ khẩn thiết của nhân dân Việt Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang6.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 11:58:02 AM

*

*         *

        Tôi nhớ lại, hôm chuẩn bị đón đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Chu Huy Mân. Tôi ra kiểm tra sân bay lần chót. Nhìn đồng hồ tôi thấy tám giờ kém năm phút mà chưa thấy ai đốt lừa. Tôi chạy đi đốt một trong bốn đống củi để sẵn. Từ xa thấy anh Năm Ngà quát: "Sao giờ này mới đốt lửa?" Tôi chạy tới, khi anh Năm nhìn thấy rõ tôi, anh chào "Ninh à? Tôi nói đã trễ giờ rồi mà chưa thấy ai đốt lửa cả" Anh hỏi còn mấy đống củi phải đốt nữa? Tôi nói "Ba" và chạy đi đốt tiếp Anh Năm Ngà vừa chạy vừa nói: "Mình cũng đi đốt lửa mới kịp". Đã có bốn cột khói bốc lên bốn góc. Chiếc trực thăng Mi 8 hạ độ cao vòng lại rồi xuống dần. Những cơn gió cuốn ù ù, lùa bụi cát, rác cỏ lá cây bay mù mịt, phủ đầy chúng tôi. Tôi kéo áo che mũi thỉnh thoảng mới hé mắt nhìn. Nhưng anh Năm Ngà cứ đứng mở to mắt trông chừng, ra hiệu, anh ho từng đợt và ra tận cầu thang máy bay đón khách. Trong tôi tràn ngập tình thương và sự quý trọng đối với anh Năm.

        Đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - đến thăm Trung đoàn 174 Sư đoàn 5, là một trong những đơn vị lập công tốt trong chiến dịch mùa mưa, đây cũng là trung đoàn mà đồng chí Chu Huy Mân là người Chính ủy đầu tiên khi mới thành lập trung đoàn tại Chiến khu Việt Bắc. Tuy cán bộ chiến sĩ Trung đoàn đã thay đổi qua nhiều thế hệ, nhưng được về lại Trung đoàn sau gần 30 năm, đồng chí Chu Huy Mân rất phấn khởi, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 174 cũng rất tự hào, hân hoan. Đồng chí Thiếu tướng Dương Cự Tẩm ghé tai tôi nói: "Đây là những giờ phút lịch sừ, cán bộ chiến sĩ Quân khu 7 được đồng chí Thượng tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp đến động viên giao nhiệm vụ là vinh dự lắm, năm tháng sẽ qua đi nhưng những hình ảnh này đọng lại còn mãi với lịch sử truyền thống của Trung đoàn và của Quân khu 7 chúng ta".

        Đứng trước hơn một ngàn người lính xếp từng khối tại một khu rừng biên giới huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, ai nấy đều vui mừng. Sau mấy lời giới thiệu là những tràng vỗ tay dài, Thượng tướng chúc sức khỏe toàn thể anh em có mặt, sau đó hỏi về nhận thức nhiệm vụ sắp tới và quyết tâm của anh em. Đồng chí muốn nghe phát biểu của chiến sĩ và cán bộ trung đội đại đội. Sau đó có hai đồng chí phát biểu, buổi gặp gỡ bỗng chốc trở thành buổi trò chuyện thân mật giữa những người lính chừng 40 phút. Thượng tướng hài lòng về sự hiểu biết tình hình, nhiệm vụ và quyết tâm của Trung đoàn, đồng chí khen các cán bộ chính trị của Quân khu 7 đã làm tốt việc xây ớựng quyết tâm cho bộ đội. Đột nhiên đồng chí nói: "Trước mắt chúng ta là một khúc quẹo của lịch sử, đất nước ta, quân đội ta, chúng ta sẽ vượt qua và trưởng thành. Trên con đường cách mạng của chúng ta sẽ còn nhiều khúc quẹo của lịch sử... Năm nay tôi 68 tuổi, tôi đã già, các đồng chí trong Bộ Chính trị nhiều đồng chí cũng đã già rồi. Đến một lúc nào đó chúng tôi không còn làm việc được nữa, thì trong các đồng chí những ai có thể thay thế chúng tôi nào?" Anh em nhìn nhau, có tiếng thì thầm: "Việc này lớn quá, để dành cho cán bộ trả lời". Thượng tướng nghe được bèn khích lệ: "Chúng tôi sẽ nghe, còn nghe, hôm nay xuống nghe tiếng nói của thanh niên 174 xem nào!" Trong hàng quân có vài cánh tay giơ lên. Thượng tướng chỉ một đồng chí. Chiến sĩ nọ định nói thẳng vào nội dung, đồng chí ngăn lại, yêu cầu tự giới thiệu họ tên, quê quán. Chiến sĩ nói: "Tôi tên là Hồ Đắc Thế - 21 tuổi, Ở phường 12 quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh". Nghe giọng nói khác lạ, Thượng tướng hỏi: "Sao nghe giọng nói người Huế ?" - "Dạ em quê quán xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - bị Mỹ Thiệu xúc tát cả gia đình vào Sài Gòn năm 1972, lúc em mới 14 tuổi, em xin trả lời câu hỏi" - "Ừ, nói đi" - "Thưa thủ trưởng, con người ta sinh ra ở đời đều phải tuân theo quy luật của tạo hóa là sinh ra, lớn lên, già nua và mất đi. Các thủ trưởng cũng vậy, các thủ trưởng trưởng thành, dìu dắt chúng em đến một lúc nào đó, các thủ trưởng già không còn làm dược thì chúng em - lớp thanh niên mới sẽ thay thế các thủ trưởng".

        Thượng tướng vỗ tay khen, mắt rươm rướm. Mọi người có mặt nhiệt liệt vỗ tay dài, niềm tin và tình thương mến lớp thanh niên mới tràn ngập trong lòng chúng tôi.

        Quân khu 7 tiến quân theo trục đường 13, giải phóng tỉnh lỵ Kratié. Đồng chí Trung tá Nguyễn Quang Đạo (Ba Đạo) - Phó phòng pháo binh, Trung tá Đoàn Thanh Long (Tư Diệp) - Phó phòng thông tin và tôi Đinh Như Ninh - Trung tá, Phó phòng bảo vệ Quân khu được quyết định lâm thời lập thành Bộ chỉ huy Sư đoàn ở Xoài-Chia. Chúng tôi sử dụng hai trung đoàn bộ binh 205 và 2, một trung đoàn pháo binh và hai tiểu đoàn pháo cao xạ. Sư đoàn chốt giữ và truy quét khu vực đảm bảo phía sau đội hình của Quân khu, chú ý đề phòng địch từ khu rừng Đầm-rây-phông, Đôn-méa, Sờ-rây-cha đánh tái chiếm Xoài-Chia.

        Đợt tiến công của Quân khu thắng giòn giã, sau khi giải phóng Kratié, chủ lực Quân khu được lệnh lật cánh, đánh giải phóng các tỉnh Côngpôngchàm, Côngpôngthơm, Xiêm Riệp và huyện Xi-xô-phôn tỉnh Batđomboong...

        Một số đông cán bộ cơ quan Quân khu về Sở chỉ huy cơ bản. Tôi vào bệnh viện Thống Nhất để kiểm tra sức khỏe. Tôi bị giữ lại chữa sốt rét, viêm gan và sau đó được giới thiệu đi Quân khu 9 để chữa thêm bằng đông y. Tại đây tôi được một nữ y sĩ dặn uống nước lá sen thay trà hàng ngày để chữa rối loạn tiêu hóa.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang8.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 11:59:14 AM

*

*         *

        Tháng 10 năm 1979, tôi nhận nhiệm vụ đi Xiêm Riệp làm Trưởng phòng bảo vệ Mặt trận 479. Sáng 15 tháng 10, tôi tháp tùng đoàn của Thiếu tướng Dương Cự Tẩm tại sân bay Tân Sơn Nhất. Anh Năm Tẩm hỏi tôi: "Cậu xách theo cái ống bơ làm gì đó?" Tôi thưa: "Đựng cây xuyên tâm liên lên trồng và tiếp tục chữa trị gan, mỗi ngày nhai 7 lá" - "Vậy cậu định ở bên đó bao lâu?" Thiếu tướng hỏi. Tôi nói: "Chưa biết, thời gian do Quân khu quyết định".

        Phòng Bảo vệ được xếp ở một góc bìa thị xã Xiêm Riệp, trong hai ngôi nhà dân bỏ hoang. Tôi trồng cây xuyên tâm liên, tham gia trồng rau xanh, nuôi gà vịt.

        Tháng 11 năm 1979, một sáng chủ nhật, tôi ra chợ Xi-xô-phôn để xem cảnh chợ mà kẻ mua người bán không dùng tiền. Gần đến chợ, tôi thấy có nhiều người đàn ông tuổi trên dưới bốn mươi, cổ quàng khăn cà ma, một đầu khăn buộc túm gạo, họ dùng gạo trả công cho thợ cắt tóc, ăn hủ tiếu, uống nước ngọt... Họ dùng vàng đổi thuốc lá, xà bông, phụ tùng xe gắn máy... Người bán hàng dùng kéo cắt cái khâu 1 chỉ vàng thành phân, ly để hoàn trả phần còn dư thừa của người mua dồng hồ đeo tay. Tôi nhận ra người dân Campuchia rất linh hoạt trong tính toán mua bán, lấy vàng, gạo làm giá cả. Số lượng hàng hóa chưa nhiều nhưng mặt hàng khá phong phú. Tôi thích mấy thứ mình đang cần, nhưng nhớ lại chỉ thị: "Chỉ được dùng không khí để thở và dùng nước để sinh hoạt, không được tơ hào cái gì của bạn; ngược lại, ta sẵn sàng cho bạn những gì bạn cần mà ta có, ta có thể cho".

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang7.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 12:01:50 PM

*

*         *

        Nghe anh em báo lại tình hình nghiệp vụ, đã có 32 chiến sĩ ta đào ngũ vượt biên đi Thái Lan. Tôi thấy đây là vấn đề nghiêm trọng. Tôi tranh thủ đi theo mấy cán bộ Phòng Tác chiến bằng trực thăng, đến tiểu đoàn chốt giữ ở Phnom-mê-lai để kiểm tra và chứng kiến thực tế cuộc sống của bộ đội. Tôi đến Sư đoàn 309 Ở Pai-lin, Sư đoàn 5 ở Xi-xô-phôn nhiều lần và đến các Trung đoàn chốt giữ ở nhiều điểm dọc biên giới Campuchia, Thái Lan. Đến đâu, tôi cũng được biết ý chí quyết tâm, những gương chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ ta. Đồng thời cũng thấy sự vất vả, thiếu thốn vật chất trong cuộc sống và sự kiên cường chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn của anh em. Đâu đó dọc biên giới Campuchia - Thái Lan như tại tiểu đoàn đóng bên này bờ con suối nhỏ - gần cửa khẩu Pôipét, tôi nghe một chiến sĩ tay cầm súng, miệng ngâm nga: "Bên kia đèn điện nhảy đầm, bên này trơ trọi âm thầm tối om. Bên kia mặc đẹp ăn ngon, bên này gian khổ mỏi mòn tuổi xuân", rồi anh nhoẻn miệng cười, đúng là nụ cười trong gian khổ. Còn nhiều nữa những cảnh khan hiếm nước, thương vong vì cõng nước lên chốt bị mìn, khiêng cáng thương binh - tử sĩ lại vướng mìn mà thương vong thêm. Đồng chí đại úy Hoàng Văn Thị - quê Ở Thanh Hóa, cán bộ Phòng Chính trị Sư đoàn 5 dùng một chiếc xe reo đi nhận thương binh, chiếc xe cán trúng mìn, đồng chí Thị hy sinh. Khi lập biên bản di vật tử sĩ, trong túi ngưc áo anh có bức thư con gái, có đoạn viết: "Con đã tốt nghiệp lớp 7. Thi vào lớp 8 con thiếu 1,5 điểm, nhà trường cho biết con không phải là con liệt sĩ nên con không được vớt theo chính sách ưu đãi".

        Thêm nữa, lúc này ở nước nhà đời sống thời bao cấp cực kỳ khó khăn. Đã có những người cha, người mẹ gởi thư thăm và khuyên con : "Đi tìm chú Thái, xin thuốc mà chữa bệnh".

        Ở một số nơi, anh em bàn tán về cảnh cực khổ, các kiểu chết chóc ở Campuchia và gợi lại cảnh thanh bình ở quê nhà, Ở Sài Gòn... Đã có không ít người buồn lo, lơ là nhiệm vụ. Số người trốn đi Thái Lan đã lên 87, không chỉ xảy ra tại các cụm điểm tựa dọc biên giới mà có cả người ở tuyến hai. Một thượng úy, Tham mưu phó trung đoàn pháo cũng đào ngũ đi Thái Lan.

        Phòng chúng tôi đã tổng hợp thành chuyên đề chống đào ngũ, vượt biên và các biện pháp bảo vệ sức chiến đấu của bộ đội. Chuyên đề này được Hội nghị Cán bộ quân chính Mặt trận nhiệt liệt hoan nghênh. Chúng tôi gởi băng ghi âm báo cáo về Cục bảo vệ an ninh quân đội Cục có điện khen và dùng băng ghi âm này làm tài liệu học phụ cho lớp học nghiệp vụ của Cục.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DTNinh2009.jpg)
Đại tá Đinh Như Ninh


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:00:51 PM

*

*         *

        Bảy giờ sáng ngày 23 tháng 12 năm 1979, Sở chỉ huy Mặt trận 479 nghe và chỉ dạo về chiến sự của các đơn vị dọc biên giới hai tỉnh Bátđomboong - Xiêm Riệp tây bắc Campuchia... Ở nội địa có tin thị xã Xiêm Riệp đang xảy ra một sự bất thường: Cơ quan công sở lặng ngắt. Đồng chí Tư lệnh Hồ Quang Hóa hỏi tin chờ các cục, các phòng. Tôi lúc đó là Trung tá, Trưởng Phòng Bảo vệ an ninh Mặt trận - nhờ có tin cơ sở đến báo lúc bốn giờ, tôi xin phép báo cáo tin tức ban dầu: "Từ 0 giờ đến 3 giờ sáng, cả bí thư Hembô và Chủ tịch ủy ban cách mạng Emxhâm cùng một số cán bộ cơ quan tỉnh ủy - ủy ban tỉnh Xiêm Riệp khoảng 20 người chạy ra rừng, họ nói là đi theo phong trào linh hồn Khơmer, do mâu thuẫn giữa Hembo - Emxhâm với Bùxàrươn, tỉnh đội trưởng". Cuối buổi giao ban, đồng chí Đại tá Hồ Quang Hóa nói: "Những tin tức ban đầu do Phòng bảo vệ báo cáo là kịp thời, có giá trị. Bộ Tư lệnh chỉ định phòng bảo vệ làm trung tâm tập hợp mọi tin tức tài liệu cho các cục, phòng của mặt trận và chuyên gia các ngành của tỉnh Xiêm Riệp. Sáng ngày kia (25-12) sẽ có cấp trên xuống kiểm tra, nghe báo cáo. Đồng chí Trường phòng Bảo vệ sẽ là người báo cáo chính của Mặt trận trước cấp trên, Bộ Tư lệnh sẽ phát biểu bổ sung".

        8 giờ sáng ngày 25 tháng 12, đồng chí Trung tướng Lê Đức Anh cùng đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh 719 và chuyên gia Trung ương xuống nghe tình hình. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Lê Đức Anh biểu dương Mặt trận đã nắm được tình hình như vậy là tốt đáng lẽ nắm được sớm và có biện pháp ngăn chặn thì tốt hơn. Đồng chí Trung tướng chỉ đạo những việc làm gấp để giúp chính quyền tỉnh sớm ổn định lòng dân và cử người đi Phnôm Pênh báo cáo với Trung ương bạn.

        16 giờ ngày 26 tháng 12, Phòng Bảo vệ được Bộ Tư lệnh 479 giao nhiệm vụ tổ chức bồi dướng nội dung cho cán bộ Ty công an Xiêm Riệp để kịp 8 giờ sáng 27 tháng 12 ra sân bay đi Phnôm Pênh báo cáo với lãnh đạo của bạn.

        Chúng tôi mời đồng chí Tăng Chai, Trưởng ty và ôồng chí Moiman, Phó ty công an tỉnh Xiêm Riệp đến làm việc từ 19 giờ hôm đó. Tôi chỉnh lý lại nội dung theo yêu cầu và lập thành 2 bàn làm việc. Đồng chí thượng úy Mai Huy Thịnh cán bộ tổng hợp (người biết tiếng Campuchia) dịch và đọc cho đồng chí Moiman - phó ty - viết phần l : "Tình hình có liên quan và diễn biến sự việc".

        Tôi cùng một phiên dịch làm việc với đồng chí Tăng-chai, trưởng ty - đảm nhiệm phần 2: "Nhận xét đánh giá sự việc và dự kiến khả năng, diễn biến sắp tới,, phần 3: "Các biện pháp xử lý tiếp theo và những đề nghị Trung ương giúp đỡ tỉnh Xiêm Riệp".

        Tuy bản báo cáo chỉ 6 trang viết tay, nhưng do vừa suy nghĩ sắp xếp lại, vừa đọc, dịch và viết sang chữ Campuchia nên phải mất tám tiếng đồng hồ mới xong. Tôi đang nghe đọc và dịch lại thì có tiếng chuông điện thoại reo. Tôi nhấc máy đã nghe tiếng đồng chí Lê Thanh? chính ủy hỏi: "Xong chưa?" - "Thưa, vừa mới xong", tôi đáp. Đồng chí Chính ủy lại hỏi: "Bằng văn bản tiếng Campuchia chứ?" - "Vâng", tôi đáp Đồng chí Chính ủy vui vẻ nói: "Thật đáng khen, vậy là các cậu đã thức trắng đêm. Đã có ai động viên, bồi dưỡng gì chưa?" Tôi đáp: "Dạ có, vừa mới nhận được". Chính ủy lại hỏi: "Cái gì? Của ai đấy ?" Tôi thưa: "Động viên tinh thần qua điện thoại". Anh Tư Thanh cười thoải mái và nói: "Tớ đi tập thể dục đây". Chừng 30 phút sau, đồng chí phục vụ mang đến một con gà nói: "Bộ Tư lệnh cho phòng con gà nấu cháo, bồi dưỡng kíp làm việc đêm qua".

        Ba hôm sau, ngày 31 tháng 12 năm 1979, hai đồng chí cán bộ Ty công an tỉnh Xiêm Riệp đến gặp chúng tôi. Họ mang theo nhiều vật dụng: 2 máy ảnh, nhiều cuộn phim, giấy roky, 50 băng cát sét, nhiều bút bi, giấy viết, giấy than và một số tiền riels. Đồng chí Tăng-chai vui mừng nói: "Đồng chí Tổng bí thư và Bộ trưởng khen công an Xiêm Riệp nhiều lắm. Các ý kiến đề nghị đều được chấp thuận. Bộ trưởng còn cho nhiều dồ dùng này nói là để phục vụ triển lãm, giáo dục cảnh giác, ổn định nâng cao lòng tin tưởng vào chính quyền cách mạng ".

        Đồng chí Moiman nói: "Bộ trưởng hỏi hai chúng tôi vào ngành bao lâu, đã học hành gì chưa mà viết báo cáo rõ ràng vậy? Chúng tôi trả lời: Mới làm từ tháng 5 năm 1979, do bộ đội Việt Nam hướng dẫn vừa học vừa làm, chưa qua trường lớp nào cả".

        Sau đợt phục vụ này, đồng chí Đại tá Lê Thanh, Chính ủy Mặt trận khen ngợi chúng tôi đã đi sâu giải quyết gỡ được một vụ rắc rối trong tình huống phức tạp, khẩn trương.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:04:07 PM

*

*         *

        Đầu năm 1980, Sở chỉ huy Mặt trận rời thị xã Xiêm Riệp lên huyện Kro-lanh. Phòng Bảo vệ an ninh đóng quân tại một phum cũ, không có nhà cửa, dân cư. Bà con người Campuchia nói dân phum này một số bị Pôn Pốt giết, lớp bị bệnh dịch chết, số còn lại sợ bỏ chạy hết. Chúng tôi vào rừng chặt cây dựng nhà, lá lợp rất hiếm, dân lợp nhà bằng lá cây thốt nốt. Quân khu phải mua lá dừa nước chở từ Việt Nam sang. Chúng tôi dựng hai nhà ngủ vừa làm việc, một nhà bếp đồng thời là nhà ăn, một phòng họp. Cuộc sống trở lại gần như thời ở rừng tỉnh Tây Ninh (B2). Cái được hơn là ở công khai, không lo bị phi pháo, đất rộng tha hồ trồng rau đậu, trỉa bắp, chỉ cần đề phòng bọn Pôn Pốt quấy rầy. Chúng tôi xin thêm 6 cán bộ trung đội lập thành hai tổ trinh sát địa bàn, hàng ngày đi tiếp xúc với bà con Campuchia các phum quanh khu vực Mặt trận bộ đóng quân nắm tình hình, xây dựng cơ sở để phát hiện đề phòng bọn Pôn Pốt quấy rối. Các công việc, sinh hoạt của cơ quan nhanh chóng đi vào nền nếp. Chăn nuôi, trồng rau xanh tốt, mùa nào thứ ấy, cây giống con giống đều do anh em đưa từ Tổ quốc qua. Cơ quan có 14 cán bộ và một chiến sĩ nấu cơm. Mọi người đều hăng hái yên tâm với nhiệm vụ được giao.

        Tháng 2 năm 1980, trong buổi giao ban ở Sở chỉ huy Mặt trận 479 có tin: Đội công tác Trung đoàn 25 bắt giữ một chiến sĩ tên là Viên (Bộ đội thông tin Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 25). Người này đã vượt bỉên đi Thái Lan, nay trở về tuyên truyền chống cách mạng Việt Nam - Campuchia. Cứ mỗi đêm hai chỉ vàng tại một phum, có bốn tên lính Pôn Pốt gác ở bốn góc phum. Nghe xong, nhiều đồng chí yêu cầu xử bắn. Đồng chí Tư lệnh chỉ đạo: "Giao cho quân pháp làm hồ sơ xét xử". Tôi coi đây là trường hợp điển hình về địch chống phá bằng chiến tranh tâm lý, tôi xin nhận việc khai thác để hiểu rõ thủ đoạn địch trước khi xử lý bằng pháp luật. Tôi cử hai cán bộ (Đồng chí Nguyễn Dự và đồng chí Cao Huyền Hàm) đi xác minh chi tiết. Kết quả cho thấy, Viên chỉ biết bập bẹ tiếng Campuchia, chưa đủ từ xin ăn thì lấy đâu mà tuyên truyền? Tài sản chỉ một bộ quân phục cũ mặc trong người thì "một đêm 2 chỉ vàng" là phi lý! Trong thời gian 3 tháng, Viên đào ngũ 5 lần và về đơn vị thì lấy đâu thời gian di Thái Lan? Chiến sĩ Viên đã từng đánh địch ở Xa mát (trong chống Mỹ). Viên đã ba lần bị thương, có tám vết sẹo và bị ngớ ngẩn. Xác minh tại Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 271 được biết, do một số cán bộ chiến sĩ đối xừ không tốt nên Viên bỏ ngũ nhiều lần.

        Sở dĩ Viên khai đã vượt biên đi Thái Lan, về phản tuyên truyền.., là do đội công tác của đơn vị đã dùng nhục hình và mớm cung, buộc Viên khai nhận những điều trên.

        Chiến sĩ Viên dã được trả tự do, giám định thương tật và cho phục viên vì sức khỏe kém.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ninh10-1956.jpg)
Tác giả - Tháng 10 năm 1956


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:05:58 PM

*

*         *

        Tháng 3 năm 1980, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng cách mạng Campuchia phối hợp mở chiến dịch ở vùng Préao - Đăng-cum, huyện Xi-xô-phôn, tỉnh Bátđomboong, do dồng chí Đại tá Đỗ Quang Hưng1 - Phó Tư lệnh Mặt trận 479 chỉ huy. Lúc đó, tôi là Trung tá, Trưởng phòng Bảo vệ an ninh mặt trận - được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan chính trị chiến dịch. Mặc dù kế hoạch công tác chính trị về chính sách tù hàng binh phổ biến đến cấp đại đội đã nói rõ: Chỉ bắt giữ những tù binh là người Campuchia và Việt Nam, không bắt người thuộc các nước khác, nhưng trong một trận đánh, các chiến sĩ Trung đoàn 174, Sư đoàn 5 đã bắt giừ bốn người nước ngoài. Khi nghe tin này, đồng chí Đại tá Lê Thanh - Chính ủy Mặt trận lo lắng, e rằng sẽ gặp rắc rối về chính sách ngoại giao. Tôi đề nghị Bộ Tư lệnh Mặt trận giao trách nhiệm cho tôi xử lý. Kế hoạch của chúng tôi được Chính ủy chấp thuận. Chúng tôi bàn bạc kỹ với chính quyền địa phương và để Bạn trực tiếp làm việc với những người bị bắt giữ. Chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng huyện Xi-xô-phôn lúc này là ông Chắp-côi, sẵn sàng đứng ra làm việc với bốn người "tù binh" nước ngoài. ông mời cả bốn người đến gặp chính quyền huyện tại trụ sở ủy ban xã Ni-mích, cách biên giới Thái Lan 17 kilômét.

        Với thái độ nghiêm túc, lời lẽ ôn tồn, ông Chắp- côi hỏi thăm sức khỏe, tình hình sinh hoạt và cảm tưởng của họ kể từ khi bị bắt đến giờ, rồi ông vạch rõ bốn cái lỗi của họ:

        1 Với danh nghĩa UNICEF 1à một tổ chức quốc tế nhưng họ không làm việc với chính phủ Hêngxomrin mà làm việc với bọn Pôn Pốt diệt chủng.

        2. Đưa hàng cứu trợ tiếp tay cho Pôn Pốt. Pônpốt  sử dụng để đánh phá nhân dân Campuchia.

        3. Hàng cứu trợ để tại đất Thái Lan, buộc nhân dân Campuchia phải đi qua lại nhiều lần, bọn Pôn pốt gây khó dễ và làm mất ổn định cuộc sống người dân Campuchia.

        4. Đến vùng chiến sự không đảm bảo an toàn tính mạng. Về điều này các ông còn có lỗi với gia đình và thân nhân mình.

        Thay mặt chính quyền và nhân dân huyện Xi-xô- phôn, ông Chắp-côi hứa bảo đảm tính mạng cho họ, lần sau họ không được tái phạm. Chúc sức khỏe và mong họ làm tròn nhiệm vụ của tổ chức UNICEF hợp tác với chính phủ Campuchia ở Phnôm Pênh, thực hiện tốt công việc cứu trợ nhân đạo. ông chủ tịch bảo họ từng người viết sơ yếu lý lịch, nói rõ cảm tưởng trong thời gian họ bị cách mạng Campuchia bắt giữ, hứa không tái phạm và ký tên cam đoan là sự thật. Ông chủ tịch yêu cầu họ đọc bản viết để ghi âm và chụp hình, để làm chứng cứ báo cáo thượng cấp khoan hồng, trả tự do cho họ.

        Bốn người nước ngoài thấy ông Chủ tịch Campuchia nói năng lịch sự, thái độ hòa nhã, họ vui vẻ thực hiện lời yêu cầu của ông và trò chuyện rất cởi mở. Có người nói: "Coi đây là một cuộc du lịch bổ ích".

        Các ngày sau đó, đồng chí Lê Đức Anh, Tư lệnh 719 xuống kiểm tra chiến trường và nghe báo cáo tình hình. Đồng chí hỏi: "Đã dặn đừng bắt người nước ngoài sao bắt họ làm gì?" Tôi thưa đồng chí: "Đơn vị đã phổ biến, nhưng anh em lỡ bắt" - "Sao họ không chạy?" Đồng chí Lê Đức Anh hỏi. Tôi báo cáo với đồng chí: "Lính ta buộc họ cởi giày vắt qua cổ, đi chân không, đau chân - họ không dám chạy".

        Tôi trình bày tỉ mỉ với đồng chí là từ khi bắt họ tới giờ, mọi việc đều do bạn xử trí. Dân quân xã Ni- mích canh gác, nhân dân Campuchia cho ăn uống tử tế (có người nói họ đã gặp mấy ông Tây này cứu trợ ở Nong-chăn). ông Chủ tịch huyện Xi-xô-phôn vạch bốn cái lỗi của họ và hứa sẽ đảm bảo an toàn cho họ. Từng người có bản viết tự thuật lý lịch, cảm tưởng đối với cách mạng và nhân dân Campuchia đã đối xử tử tế với họ, có ghi âm và chụp hình là đúng thủ tục, họ rất hài lòng. Đồng chí Lê Đức Anh nghe và hỏi "Bây giờ các anh xử trí họ thế nào?" - "Thưa anh, tôi đã báo cáo về mặt trận, đề nghị thả họ ra". Đồng chí hỏi: "Các anh định thả ở đâu?" - "Thưa, bắt ở đâu, thả ở đó. Đồng chí chỉ thị: "Mở cửa khẩu Poipét, thả họ ra đi đường cầu qua Thái Lan".

        Việc xử lý tình huống bộ đội ta "lỡ bắt" hồi đó, ta và bạn đã làm đúng bài bản, được Tư lệnh 719 biểu dương, các nước phương Tây cũng không có cớ để xuyên tạc, đả kích Việt Nam như trước và UNICEF cũng có sự điều chỉnh cung cách làm việc và tôn trọng Chính phủ cách mạng Campuchia hơn.

--------------
1. Trung tướng Đỗ Quang Hưng: Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:06:55 PM

*

*         *

        Ban Cán sự và chuyên gia tỉnh Bátđomboong sơ kết 6 tháng đầu năm 1980. Tỉnh ủy mời đại biểu Mặt trận và Sư đoàn 5. Anh Sáu Hưng - Phó Tư lệnh Mặt trận cử tôi và đồng chí Bảy Lai - Phó Chính ủy Sư đoàn 5 đến dự. Thăm dò về chuẩn bị nội dung, tôi biết chỉ nói về sản xuất và một phần về chiến đấu ở cơ sở. Chúng tôi góp ý phải thêm kết quả chiến dịch Préao - Đăngcum, huyện Xi-xô-phôn tỉnh Bátđomboong, anh Bảy Lai cho rằng sẽ không có lợi cho đoàn kết khi hội nghị do chuyên gia quân sự Sư đoàn 309 phụ trách địa bàn lại đưa thành tích chiến dịch của Sư đoàn 5 vào nội dung. Tôi quan niệm đây là thành tích của quân và dân tỉnh Bátđomboong dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ hai nước, thì không có gì đáng quan ngại. Hơn nữa, ta đang cần tuyên truyền chiến thắng. Chúng tôi được báo cáo kết quả chiến dịch của Quân dân tỉnh trước hội nghị, không khí hội nghị phần khởi hẳn lên. Hội nghị sơ kết 6 tháng thành hội nghị mừng công sản xuất, chiến đấu thắng lợi và mở đợt thi đua đột xuất gieo cấy, đánh giặc cho đến lễ Đôn- ta. Sau hội nghị, đồng chí Lai-xa-mon, Bí thư Tỉnh ủy mời hai chúng tôi lên phòng làm việc, kể chuyện tâm tình, đoàn chuyên gia cũng gặp riêng, xin tư liệu để viết tài liệu cho mít-tinh mừng thắng lợi tại tỉnh đến các huyện, xã. Đợt sinh hoạt có tác dụng rất tốt cho phong trào trong toàn tỉnh.

        Tôi cùng đồng chí Phạm Quang Khôn - Phó phòng, Bí thư chi bộ trao đổi về cán bộ của phòng. Đồng chí Ao Văn Bảnh - thượng úy quê ở Dĩ An, tỉnh Bình Dương có vợ mới sinh con ở ấp Thái Bình, xã Long Bình, huyện Thủ Đức. Vợ của đồng chí là con gái đầu lòng, mồ côi mẹ. Gia đình chỉ có cha vợ đã 64 tuổi Và một em trai 12 tuổi. Việc nuôi người đẻ chỉ có cha vợ lo (giặt giũ, đi chợ, nấu ăn). ông than thở mong có con rể về để đỡ đần ít hôm. Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ về phép 15 ngày thì quá ít ỏi, chúng tôi cho đồng chí Bảnh nghỉ phép, sau đó cho đồng chí đi xác minh 17 chiến sĩ đã vượt biên đi Thái Lan, là người quê tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hai tháng sau, đồng chí Bảnh lên, rất phấn khởi cho biết công tư vẹn cả đôi đường. Đồng chí chuẩn úy Đào Viết Huấn là con trai một, bố là huyện ủy viên - đã nghỉ hưu đang mong cháu nội. Đồng chí Huấn đã về quê Hà Nam cưới vợ, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ đó vợ đồng chí Huấn bị sẩy thai hai lần. Bố viết thư khuyên Huấn xin phục viên để có thể kiếm con trai nối dõi tông đường. Chúng tôi giao đồng chí Huấn đi xác minh 9 người đã vượt biên đi Thái Lan, là những người quê các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với dụng ý để cho đồng chí Huấn có điều kiện về gặp gia đình, gặp vợ để sinh được con theo ý nguyện của cha già. Anh em trong phòng rất phấn khởi, đồng tình. Đồng chí thượng úy Hoàng Anh Công 34 tuổi, quê Ở Yên Thành, Nghệ An, sức khỏe giảm sút - đồng chí muốn xin phục viên về giúp vợ và hai con đang ở chung với gia đình vợ, bố vợ đang bị ho lao. Chúng tôi đề nghị cho đồng chí đi điều trị an dưỡng, chừng nào khỏe mạnh hãy tính, trước mắt xin trợ cấp khó khăn cho đồng chí.

        Chúng tôi đón tết Tân Dậu (1981) tại phum Phnom-liếp thật rôm rả, có chương trình văn nghệ "cây nhà lá vườn" thật vui, có cả "vật chất" khá tươm tất do nuôi trồng tại chỗ và hậu cần bảo đảm.

*

*         *

        Tôi đến Sư đoàn 5 đã hai tháng để giúp đồng chí chính ủy đang bị giảm sút sức khỏe. Trong khi tôi đang chuẩn bị tinh thần về đây nhận công tác luôn - thì nhận được quyết định về làm Trưởng phòng bảo vệ an ninh Cục Chính trị Quân Khu 7. Tôi có dịp dự cuộc diễn tập N81 và công tác bảo vệ phục vụ chiến dịch phòng thủ bờ biển. Tôi đến nhiều đơn vị của Quân khu ở Campuchia và trong nước để nắm tình hình, tìm nguyên nhân và biện pháp ngăn ngừa, hạn chế các vụ việc tiêu cực trong lực lượng vũ trang Quân khu. Thực hiện quyết tâm của Quân khu, đồng chí Tư lệnh Nguyễn Minh Châu ký chỉ thị 195 ngày 8 tháng 5 năm 1982, Quân khu đã mở đợt sinh hoạt chính trị đột xuất nhằm thực hiện 3 kiên (Kiên định lập trường ý chí chiến đấu; kiên quyết giữ nghiêm kỷ luật quân đội pháp luật nhà nước; kiên cường chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ) và 3 chấm dứt (Chấm dứt cháy nổ, mất mát vũ khí phương tiện; chấm dứt say rượu, hành hung đồng đội; chấm dứt vượt biên, vượt biển hoặc tiếp tay cho bọn vượt biên vượt biển). Đợt sinh hoạt trong hai tháng đã tạo được sự chuyển biến tốt về tinh thần trách nhiệm và kỷ luật của bộ đội, góp phần bảo đảm sức chiến đấu của bộ đội trong Quân khu.

        Chưa tròn một năm Ở trong nước, tháng 8 năm 1982, tôi lại lên nhận nhiệm vụ chỉ huy trưởng Đoàn 7708 giúp bạn tại Thủ đô Phnôm Pênh cho đến ngày rút quân (6-6-1988).


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:08:42 PM

*

*        *

        Trong bài tham luận đọc tại một cuộc hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức tại Hà Nội, Trung tướng Lê Hai - nguyên Phó tư lệnh chính trị Bộ Tư lệnh 719, nguyên phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam có nêu: "Thế kỷ 20 đã chứng kiến cuộc tàn sát có tính chất diệt chủng đối với chính nhân dân, chính dân tộc mình do Pôn Pốt gây ra ở Campuchia vào thập kỷ 70 là hết sức khủng khiếp. Thế kỷ 20 cũng đã chứng kiến một sự kiện nhân đạo và chính nghĩa hiếm có. Quân đội nhân dân Việt Nam đã cứu một dân tộc láng giềng, cửu nhân dân Campuchia anh em thoát khỏi thảm họa diệt chủng, thực hiện hồi sinh dân tộc, xây dựng lại đất nước từ "cánh đồng chết" hoang tàn".

        Để góp phần nhỏ của mình vào sự nghiệp to lớn trên, Đoàn 7708 quân tình nguyện Việt Nam, là một đơn vị hỗn hợp gồm Trung đoàn 31 kiểm soát quân sự từ Thành phố Hồ Chí Minh lên, Trung đoàn 71 công an vũ trang bảo vệ Trung ương ta từ Hà Nội vào, một Số đại đội phân đội đặc nhiệm và cơ quan chỉ huy tương đương cấp Sư đoàn - trong hơn 9 năm đã giúp Bạn và cùng với Bạn bảo vệ an toàn các mục tiêu chính tn, văn hóa và ngoại giao; hoạt động kiểm soát quân sự nội thành truy quét, phục đánh địch ở ngoại thành và chốt gác các cừa ô; bảo vệ sân bay, bến cảng và làm công tác giám hộ biên phòng; Vận động quần chúng nhân dân Campuchia xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, làm công tác chuyên gia quân sự giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân Phnôm Pênh đủ mạnh, tự đảm đương nhiệm vụ nòng cốt của Quân khu thủ đô.

        Chúng tôi coi trọng việc xây dựng đơn vị trong sạch vững mạnh, khắc phục mọi khó khăn do bỡ ngỡ về địa bàn, tiếng nói phong tục, khí hậu thời tiết, đời sống vật chất kham khổ lại sống xa Tổ quốc, gia đình quê hương. Mặt khác, đơn vị phải thường xuyên chống đánh địch vì chúng dùng thủ đoạn tác động tâm lý, tập kích bằng B40, B41, H12, ném lựu đạn, gài mìn chạm nổ vào Phnôm Pênh. Từng người phải tự đấu tranh để giữ gìn phẩm chất đạo đức của "Bộ đội Cụ Hồ" trước những hàng hóa, những kho báu.., ngổn ngang trong khi Bạn chưa có người quản lý và thị trường tự do quyến rũ.

        Tôi nhớ lại, trong dịp Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1982, một hôm, đồng chí Thiếu tướng Trần Đình Cửu - Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân khu 7 nói như tâm sự riêng với tôi: "Cậu chuẩn bị đi 7708, mình biết cậu đã hai lần đi tiền phương, cậu lại ở Mặt trận 479 mới về, gia đình rất khó khăn, mình muốn giữ cậu ở Cục nhưng không được. Nhận điện của Bộ Tư lệnh 719 yêu cầu chuẩn bị đưa đồng chí Ninh lên 7708, mình đã trả lời: "Đồng chí Nguyễn Minh Ninh đã từ Học viện Quân sự cấp cao về, nếu Bộ cần Quân khu sẽ điều. Nhưng anh Sáu Nam1 nói: Không, điều cậu Ninh nho nhỏ con đã ở 479 về ấy".

        Cuối tháng 9 năm 1982, trong buổi Cục Chính trị Quân khu mời cơm chia tay cho tôi đi 7708, có anh Sáu Nam tham dự. Đồng chí Thiếu tướng Dương Cự Tẩm nói: "Liên hoan chia tay cũng là buổi giao chuyển nhiệm vụ cho đồng chí Ninh từ cán bộ công tác chính trị một mặt sang làm chỉ huy toàn diện một đơn vị cấp Sư đoàn của Quân khu theo chế độ một người chỉ huy, do tiền phương Bộ Quốc phòng chỉ huy, sử dụng và do Quân khu quản lý, bảo đảm".

        Tôi lắng nghe và ngầm hiểu: Mình về đó như cha cho con út về phục vụ ông nội. Nếu không cẩn thận ông nội sẽ quở mắng mình và phiền trách cha mẹ.

        Tôi nghĩ, toàn bộ gánh nặng gia đình một lần nữa lại dồn cả lên vai vợ tôi. Một hôm, tôi nói tôi lại lên Campuchia theo điều động của Quân khu. Vợ tôi thoáng buồn, im lặng giây lát rồi nói: "Tổ chức giao việc gì thì mình phải làm việc đó, nhưng anh cứ phải đi hoài, ai mà không muốn vợ chồng ở gần nhau, nhưng đều là đảng viên từ chối sao tiện?". Tôi cười nói: "Vậy mà ở đây không ít bà vợ kèo nài xin tổ chức cho chồng được ở gần nhà, nhất là lên Campuchia là nơi đang đánh nhau, sống chết trong gang tấc...". Vợ tôi lại nói: "Là đảng viên, cán bộ phải biết phục tùng tổ chức, chúng mình đã qua hai cuộc chiến tranh rồi mà!". Tôi thầm cám ơn và càng thương yêu, quý trọng người bạn đời của mình.

        Tháng 10 năm 1982, tôi nhận nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Đoàn 7708 kiêm chuyên gia thành đội trường Phnôm Pênh. Về đơn vị mới, tôi đã nghiên cứu tình hình, hệ thống lại và cụ thể hóa các nhiệm vụ, các mối quan hệ, xác định quyết tâm và các chỉ tiêu phải đạt bằng một chương trình hành động của Đảng bộ. Văn bản này được tập thể Đảng ủy Đoàn 7708 thảo luận biểu quyết. Nghị quyết được thông qua 719 và Quân khu, được phổ biến thực hiện đến mọi cán bộ chiến sĩ, huy động được nhiệt tình trách nhiệm của mọi người, dần dần đưa hoạt động của đơn vị vào nền nếp, hoàn thành các nhiệm vụ được giao hàng năm.

        Tôi cho ghi âm buổi sinh hoạt Đảng bộ quán triệt nhiệm vụ của đơn vị, tôi gởi băng ghi âm báo cáo về Quân khu. ít lâu sau được Tư lệnh Quân khu khen, coi đó là một sáng kiến.

---------------
1. "Sáu Nam": Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, sau này là Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:11:44 PM

*

*         *

        Tháng 11 năm 1982, vào một buổi sáng chủ nhật trời quang mây tạnh, tôi ở trên nhà họp nhìn thấy lái xe đã sẵn sàng. Đồng chí lái xe ngước nhìn, tôi đang mặc bộ thường phục áo sơ mi trắng ngắn tay, quần quân phục đã cũ. Lúc này tôi đã hơn 50 tuổi - về Đoàn này hơn một tháng. Tôi nói lái xe đi theo hướng vành đai xuống C2/Dl.

        Tôi cho dừng xe cách chỗ đóng quân của trung đội bảo vệ nhà máy điện ô-bây Cờ-om một cây số. Tôi chụp cái mũ mềm không gắn quân hiệu lên đầu, dặn lái xe quay về Đoàn, khỏi phải đón. Tôi thả bộ theo đường đê vành đai thành phố Phnôm Pênh hướng đến một đơn vị bộ đội Việt Nam. Phía ngoài đê là ruộng lúa xen lẫn với những ao rau muống, lục bình. Phía trong đê là nhà dân ẩn mình dưới những rặng dừa và ống khói vươn cao của nhà máy điện thong thả nhả từng làn khói đen lên nền trời biếc.

        Doanh trại là một ngôi nhà dân đã bỏ hoang, mới được tu sửa lại. Nền nhà láng xi măng còn mới, mái lợp tôn đã cũ. Nhà dài khoảng 15 mét cặp theo đường đê và cánh đê 10 mét. Chung quanh nhà không có tường mà chỉ bao che bằng phên, lá, tôn cũ... Vào nhà vắng người, đồ dùng và súng đạn để trật tự, gọn gàng, sạch sẽ. Nghe có tiếng người phía sau nhà, tôi bước ra thấy có bốn năm người Ở trần, mặc xà lỏn đang đập ốc bươu, vài người đang nhặt rau muống bên cạnh. Thấy tôi, họ lên tiếng chào anh, chào chú rồi thản nhiên tiếp tục công việc. Tôi lên tiếng: "Anh em đập ốc cho vịt à?". Không có ai trả lời. Tôi lại hỏi: "Anh em mình đập ốc bươu cho vịt đó hả?". Một người trong số họ làu bàu: "Người không có mà ăn lấy ớâu cho vịt?". Tôi nói: "Mình cải thiện thêm là tốt nhưng lương thực, thực phẩm phải do hậu cần bảo đảm là chính chứ ?" Tức thì một chiến sĩ đáp: "Ngồi mà chờ hậu cần bảo đảm thì lính teo cơ hết rồi cụ ơi!". Họ cùng cười ồ tán thưởng. Một chiến sĩ khác tỏ vẻ gay gắt, quay sang hỏi tôi: "Ông ở đâu mà nói năng nghe như sách in rứa?" Tôi đáp: "Tôi ở Mặt trận 479 về, sắp được nghỉ hưu nên Quân khu cho đi tham quan thành phố Phnôm Pênh, đến đây biết có bộ đội Việt Nam, tôi đến chơi, coi đời sống bộ đội ta ở thành phố có khá hơn ở biên giới không?" Người vừa nói "...nghe như sách in rứa..." gằn giọng: "Thôi ông ơi! Người ta cho về hưu thì về nhà mà nghỉ cho khỏe, coi làm chi? Đời sống lính thì ở mô cũng rứa, cơm ăn với canh toàn quốc, nước mắm đại dương cả, thời xưa khác, nay khác, cứ chiến tranh hoài đời lính nay khổ lắm...". Tôi nói: "Tôi nghe tin Đoàn này họ biết lo cho bộ đội lắm mà! Năm ngoái, đợt bổ sung anh em từ Khe Lang, huyện Hương Khê về hầu hết bị ghẻ lở, ốm yếu... Cấp trên đã đồng ý cấp thêm cho mỗi người hai bộ quân phục và tổ chức dùng thuốc diêm sinh chạy chữa cho lành ghẻ; thực phẩm Quân khu cấp cho đầu người một ký lạp xưởng mỗi tháng thì Đoàn đã đổi được sáu ký thịt heo tươi... Những anh em ốm yếu năm ngoái nay đã có da thịt hồng hào, không còn cảnh chiều chiều ngồi gãi ghẻ nữa, phải không?"

        Một chiến sĩ ngừng tay, bước tới nhìn tôi, hỏi vặn: "Thế ông ở đâu, ở đâu mà biết nhiều chuyện về Đoàn tôi dzậy?" Tôi trả lời: "Tôi ở Đoàn bộ". Chiến sĩ nọ hỏi đồn: "ở Đoàn bộ thì phòng nào? Làm gì?" Tôi ôn tồn trả lời: "Tôi ở Bộ chỉ huy, làm Chỉ huy trưởng".

        Tức thì người chiến sĩ hỏi dồn há hốc mồm, chỉ tay vào tôi, nói: "Hóa ra ông là ông Ninh à?" Tôi trả lời: "Phải, tôi là Ninh đây". Anh chiến sĩ nọ đỏ mặt, ấp úng trách: "Ông là ông Ninh sao không đeo quân hàm thượng tá, không chạy xe ô tô xuống, cho người ta mắc lầm, em xin lỗi". Tôi để ý thấy có một người từ nãy giờ vẫn im lặng, bỗng chạy tới la to: "Thôi, thôi, mời thủ trưởng vào nhà uống nước. Em không ngờ? Em mắc cỡ quá?" Tôi vừa bước vào nhà vừa nói: "Có thế này mới hiểu được tâm tư, nguyện vọng của chiến sĩ". Vài phút sau, anh em đã tề tựu. "Người im lặng" đứng lên nói: "Báo cáo thủ trưởng, tôi là Trần Đức Tùy, B phó B6, C2, D1 đồng chí B trưởng đi phép Bắc. Trung đội 6 hiện có 19 người đảm nhiệm 3 vọng gác và đội cơ động bảo vệ an toàn cho nhà máy điện ô-bây Cờ-om phía tây thành phố. Tư tưởng và quyết tâm của bộ đội là Tôi cắt ngang: "Chút nữa chúng ta trao đổi".

        Tùy nói thêm: "Hôm nay B6 chúng tôi được một bài học..." Tôi nói: "Học gì thì học, trước hết phải học làm người, người bộ đội phải sống trung thực, khiêm tốn, có văn hóa". Tùy nói: "Dạ! Nhưng phong cách thâm nhập này mới quá, em không ngờ! Chúng em có dịp hiểu thêm lớp người đi trước và mãi mãi ghi nhớ: Là bộ đội phải sống trung thực, khiêm tốn, lịch sự và có văn hóa".


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:14:11 PM

*

*         *

        Đầu tháng 1 năm 1984, chuẩn bị lễ kỷ niệm 5 năm ngày phnôm Pênh được giải phóng, đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của bọn phản động Pôn Pốt (ngày 7 tháng l), Đoàn 7708 đã làm nhiều việc Trong tháng 11 năm 1983, Trung tướng Phùng Thế Tài đã cho tôi cùng bay quan sát, đánh dấu địa hình các khu rừng chung quanh Phnôm Pênh, 15 ngày sau sẽ bay đối chiếu, nếu có dấu hiệu khác 1ạ thì có biện pháp xử trí thích hợp. Ngày 2 tháng 1 năm 1984, tôi báo cáo quyết tâm và kế hoạch bảo vệ lễ kỷ niệm 5 năm ngày 7 tháng 1 (có mít tinh, duyệt binh, diễu hành và diễu binh) với Bộ Tư lệnh 719. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Thượng tướng Tư lệnh hỏi: "Kế hoạch của 7708 như thế là được, mọi việc đã chuẩn bị xong, là người chỉ huy - đồng chí yên tâm chưa?" Tôi thưa: "Đã tính toán sắp xếp hết rồi vẫn chưa yên tâm thú thật tôi lo lắng lắm". Đồng chí Lê Đức Anh nói: "Rà soát lại và bổ sung đầy đủ bốn việc sau đây thì sẽ yên tâm. Một là, tuyên truyền cho mọi người có mặt ở Phnôm Pênh trước và trong ngày lễ 7 tháng 1 ai nấy đều bình tĩnh, đàng hoàng, tự tin. Đồng chí cũng dặn xử trí nếu có tình huống xấu xảy ra. Hai là, trong đội hình tại sân lễ, mỗi người phải biết 4 người kề mình (đằng trước, đằng sau, bên phải, bên trái), nếu có thay đổi phải báo ngay với tổ chức. Ba là, sáng 7 tháng 1, tất cả các cơ quan đoàn thể đều tập trung sinh hoạt, làm lễ tại trụ sở, có trực ban - trực chỉ huy, luôn giữ vững thông tin báo cáo, vũ khí còn lại cho vào kho - tủ khóa lại, người trực chỉ huy giữ chìa khóa. Bốn là, từ em bé 8 tuổi cho đến người già đều tập trung vui chơi trong tổ chức của mình tại những nơi thích hợp dể chào mừng ngày lễ".

        Tôi chăm chú lắng nghe, ghi nhớ, tâm đắc nhất là điều thứ nhất và điều thứ tư, tuy đã làm nhưng chưa kỹ. Đồng chí Tư lệnh dặn aò thêm những điều cần thiết để phát huy vai trò của Ban chỉ huy Thống nhất Phnôm Pênh nhằm huy động sức mạnh tổng hợp, đảm bảo an toàn lễ kỷ niệm 5 năm giải phóng Campuchia. Nghe xong lòng tôi tràn đầy tin tưởng. Tôi vạch kế hoạch, cùng các biện pháp bổ sung, thực hiện cụ thể. Và kết quả thật tốt đẹp.

*

*         *

        Vào một buổi chiều tháng 5 năm 1984, tôi đi họp Ban Chỉ huy thống nhất thành phố Phnôm Pênh về đã nhìn thấy một bà ngồi Ở ghế đá trước cổng nhà Chỉ huy Đoàn 7708, tôi gật dầu chào rồi vào nhà chuẩn bị đi tắm. Trong khi tôi đang tắm, đồng chí cần vụ nói với vào: "Có má Tư Đồng Tháp ngồi chờ thủ trưởng từ hồi chiều tới giờ ngoài ghế đá đó". Tôi tắm nhanh, mặc thường phục ra gặp má. Má đưa cho tôi một mảnh giấy bằng bàn tay - loại giấy xé trong tập vở học sinh, có dòng chữ: "Việc này chỉ có đến Tul- cốc, xin gặp ông Năm mới giải quyết được". Dạng chữ cao, gầy, nét hơi cứng, chữ rõ ràng, không thiếu nét nào, tôi đoán do một người lớn tuổi viết.

        Tôi vừa xem, vừa nghe má kể: "Má là má Tư Bường, 68 tuổi, quê Ở Hồng Ngự - Đồng Tháp, quá giang ghe buôn lên đây đi thăm thằng út là Huỳnh Trung Hải, bộ đội Việt Nam đóng Ở Purxát. Ơ nhà má đã bán lúa, bán heo, đi theo mấy người thương buôn lên chợ ô-xây đổi tiền, mua được cái đồng hồ đeo tay, má đang trả giá mua thêm thuốc rê thì bị bộ đội Campuchia và Việt Nam bắt, tịch thu hết. Má thương con và chỉ biết đứng kêu trời giữa chợ, bỗng đâu có một ông Việt kiều trạc tuổi má viết cho mảnh giấy này và má hỏi đường đến đây...". Tôi nói: "Má cứ bình tĩnh, ông Năm đi vắng, cháu lên gọi điện xin ý kiến, má chờ cho một lát". Bà Tư khen: "Em này từ tế quá, lại lanh lợi, nếu gặp được ông Năm, chắc là mình hên hơn nữa", những lời của má Tư tiễn tôi lên hết cầu thang. Tôi hội ý qua với người chỉ huy phó rồi gọi điện thoại cho đồng chí Bên - trực chỉ huy đơn vị địa bàn chợ ô-xây nắm tình hình. Tôi xuống gọi lái xe và ra gặp má Tư, tôi nói với má: "Má yên tâm, ông Năm nói mời má lên xe đi cùng cháu đến chỗ ông Năm, để giải quyết trả lại cho má".

        Xe đưa má đến đơn vị bảo vệ địa bàn, nơi có chốt kiểm soát quân sự liên kiểm Việt Nam - Campuchia và để má ngồi chờ ở trạm trực.

        Tôi làm việc với đồng chí Bên - chỉ huy đội liên kiểm và được biết lúc 10 giờ sáng nay, tổ đồng chí Sung có tạm giữ một cái đồng hồ Orient và 2.400 đồng riels. Tôi liếc nhìn trong sổ trực ghi dòng chữ nguệch ngoạc: "...nghi chuẩn bị vượt biên, tạm giữ tiền và hàng, báo về trên", ký tên: Võ Sung, tổ trưởng.

        Tôi hỏi: "Những thứ tạm giữ này rồi làm gì nữa?" Đồng chí Bên cho biết hàng quý nộp về Quân pháp Đoàn giải quyết sau...

        Tôi nói ngay: "Các cậu làm những việc động trời như thế này thì Đoàn 7708 sẽ biến chất không còn là bộ đội của dân nữa! Từ nay cấm kiểm soát quân sự liên kiểm tạm giữ tiền và hàng của dân theo kiểu này, trừ tang vật những vụ án đang điều tra theo yêu cầu của Quân pháp và Công an Bạn. Đoàn sê có chỉ thị hướng dẫn sau, còn bây giờ gọi dồng chí Sung đến đây mang đồng hồ và 2.400 đồng riêl đi với tôi xuống trả lại cho má Tư và nói lời xin lỗi má vì không làm đúng chức trách kiểm soát quân sự liên kiểm".

        Trước mặt hai người, đồng chí Sung đã làm đúng lời dặn. Má Tư rưng rưng nước mắt, đưa hai tay đón nhận đồng hồ và tiền. Má đếm đếm, rồi rút một tờ 20 riêl đưa cho Sung và nói: "Má cho con uống cà phê, má cám ơn các con bộ đội Việt Nam".

        Sung vừa từ chối, vừa nhìn tôi như cầu cứu. Tôi nói: "Cám ơn má, để má dùng. Đường đi Purxát còn xa, chúng con ở đây đã có đơn vị lo rồi".

        Tôi mời má ra xe vì đã hơn 6 giờ chiều, tôi hỏi: "Tối nay má định ở đâu? ông Năm nhờ cháu xin lỗi má vì để bộ đội Việt Nam - Campuchia đã làm phiền lòng má và dặn phải đưa má đến nơi an toàn để mai còn đi cho tiện".

        Má nói: "Cho má ra chợ ô-xây, ở đó má có người quen, ngày mai cùng ra ga tàu hỏa đi Purxát". Xe đưa má ra chợ ô-xây. Xuống xe, má cầm cái đồng hồ Orient đưa cho tôi và nói: "Trời Phật phù hộ cho ông Năm, cho má gởi cái này đến tay ông Năm để cám ơn".

        Tôi xua tay và nói: "Cám ơn lòng tốt của má, cháu sẽ kể lại cho ông Năm nghe chứ cháu không dám cầm, nếu đem về chắc chắn là ông Năm sẽ rầy la và buộc cháu phải đem đi trả thì lúc đó cháu biết má ở đâu mà tìm".

        Má Tư Bường cứ đứng nhìn hoài chiếc xe biển số đỏ dường như không muốn rời bước.

        Xe chạy về Đoàn 7708. Đồng chí lái xe vừa mục kích được câu chuyện bên chợ ô-xây nên đột ngột hỏi tôi: "Vậy má Tư vẫn chưa biết thủ trưởng là ông Năm hả?"

        Tôi đáp: "Chắc là như vậy"

        Đồng chí lái xe lại hỏi: "Như thế hóa ra là thủ trưởng không muốn xuất hiện?"

        Tôi nói: "Đúng vậy".

        Đồng chí lái xe lâu lâu lại liếc nhìn tôi, dè dặt hỏi: "Má Tư cho cái đồng hồ, sao thủ trưởng không nhận?"

        Tôi nói: "Đã nhận cái lớn hơn: Niềm tin và tấm lòng của một người dân".


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:15:41 PM

*

*         *

        Trong phong trào thi đua năm 1984, Đoàn 7708 vinh dự là một trong những đơn vị của Quân khu 7 được nhận cờ thưởng luân lưu của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước ta.

        Từ năm 1986, Phnôm Pênh có thêm huyện Đăng-cao. Chúng tôi đã điều chỉnh lực lượng, bung ra xây dựng những điểm tựa cấp đại dội chốt giữ địa bàn là những nơi có giá trí phòng thủ chiến thuật từ xa (ở các phum Cốc-rô-ca, Prết-rử và Bàu-nâu). Địch dùng B40, B41, H12 bắn vào thành phố, chúng tôi đến tận nơi địch điểm hỏa và các điểm đạn rơi, tìm biện pháp ngăn chặn, truy quét. Biện pháp hiệu quả nhất là phát động bà con tại chỗ đứng lên cùng dân quân làm chủ địa bàn, có bộ đội hỗ trợ. Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1985, địch gây nên những vụ mìn chạm nổ vào cư dân. Tôi cùng đồng chí Nhất Huôn1 đến tại chỗ kiểm tra, cho công binh tháo gỡ để nghiên cứu về kỹ thuật, hướng dẫn cho dân biết cách phá hủy. Ban chỉ huy thống nhất của thành phố đã lãnh đạo dùng biện pháp nghiệp vụ công an, phối hợp với biện pháp quần chúng giám sát, phát hiện, bắt giữ bọn gây án, và tổ chức xét xử công khai cho bà con biết thủ đoạn của địch, và cách chống - đánh địch. Thủ đoạn gài mìn chạm nổ của địch bị triệt tiêu.

*

*         *

        Đêm, chúng tôi cho bộ binh truy quét địa hình, dùng xe cơ giới tuần tra thành phố để 4 giờ sáng rải quân chốt đường từ sân bay vào nhà khách chính phủ. Tám giờ đón khách quốc tế đến Phnôm Pênh.

        Chuông điện thoại reo lúc 12 giờ đêm. Tôi vừa cầm máy đã nghe tiếng đồng chí Đào Anh Đốc - Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2: "Báo cáo, tai nạn chết hết cả xe, hai xe mắc dính nhau còn nằm giữa đường, làm sao bây giờ?..." Tôi biết đây là đơn vị chốt giữ địa bàn có nhà ga xe lửạ, Văn phòng hội đồng bộ trưởng, cầu Chu-cham-wa, đài bá âm SPK, nhà khách Bộ Quốc phòng.., và con đường từ sân bay Pô-chen-tông vào trung tâm thành phố. Tôi hỏi kỹ lại và được biết: Trên đường Xô Viết, đoạn từ nhà khách Bộ Quốc phòng đến nhà ga xe lửa, chiếc xe bọc thép bánh hơi V100 của đoàn 7708 đang đi tuần tra, lúc 23 giờ 30 có một chiếc xe Zeep của Mặt trận 979 chạy ngược đường một chiều chui tọt vào bụng xe bọc thép. Trên xe Zeep có bốn sĩ quan và một lái xe, đã chết hai, bị thương hai. Chiến sĩ lái xe bọc thép đã hốt hoảng, lẩn trốn. Hai chiếc xe còn mắc dính nhau nằm giừa đường, máu me lênh láng.

        Tôi điện cho đơn vị thiết giáp điều một xe hai lái, do một cán bộ chỉ huy đến hiện trường để dùng một lái xe lên xe gây tai nạn, kéo giữ thắng, và điều khiển một xe kéo xe Zeep ra. Điện cho Mặt trận 979 điều một xe tải đến kéo hoặc chở xe Zeep về và một xe cứu thương chở những người bị thương về bệnh viện 122. Điện cho Sở giao thông thành phố cho một xe cẩu đến để nếu cần thì cẩu xe Zeep hỏng lên xe tải. Giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn trưởng địa bàn điều hành chung và huy động một trung đội sẵn sàng dùng nước dội sạch máu me, xóa sạch cảnh đổ nát trước 4 giờ 30. Tôi đến kiểm tra lúc 5 giờ, đã thấy quang cảnh trở lại bình thường, sẵn sàng đón khách quốc tế.

--------------
1. Đồng chí Nhất Huôn: Thành đội trưởng Phnôm Pênh.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:16:14 PM

*

*         *

        Cứ mỗi dịp đón giao thừa, từ cuối năm 1982 đến 6 năm 1988, tôi đều trực chỉ huy tại Đoàn 7708 để vừa làm nhiệm vụ, vừa làm yên lòng các Bạn, nhất là các đoàn ngoại giao nhiều nước đang ở Phnôm Pênh, để các bạn khỏi lo bị Pôn Pốt lợi dụng, gây nên một cái Tết nổi dậy.

        Do đó, tháng 11 năm 1985, con tôi là Như Sơn từ Tiệp Khắc - được về phép 3 tháng, tôi vẫn ở Phnôm Pênh. Tết đến, tôi gọi điện thoại về thăm hỏi con. Sau Tết một tuần tôi mới về họp ở Quân khu, có dịp được gặp Sơn, tôi mừng thấy con phổng phao trắng trẻo lại có râu quai nón giống cậu Quảng. Sơn nói: "Ba già đi?". Họp bốn ngày, tôi lên đơn vị, nhân thể cho Như Sơn cùng đi Phnôm Pênh tham quan chùa Vàng, chùa Bạc, cá bè, cá đáy... Bảy ngày sau có dịp đi họp Quân khu, cha con cùng về mang theo bốn con cá còm (giống cá thát lát) mỗi con 3 kilôgam. Chúng tôi làm cơm gia đình mời bầu bạn chung vui, mừng con Như Sơn về phép. Buổi sum họp thật đông vui, chụp nhiều ảnh kỷ niệm.

        Chiều ngày 21 tháng 4 năm 1986, tôi từ Phnôm Pênh về, biết tin vợ đang cấp cứu ở bệnh viện Nguyễn Trãi. áo quần còn đầy bụi đường, tôi chạy vào bệnh viện. Tôi xin "đưa về nhà" vì đã hơn một ngày một đêm (thứ 7, chủ nhật) không ai cứu chữa gì. Tôi chuyển vợ qua bệnh viện Chợ Rẫy, họ xếp nằm buồng cấp cứu, khoa tiểu đường. Vợ tôi vẫn sốt cao, đau dữ dội vùng bụng, bí tiểu tiện. Bác sĩ cho một ống nhựa vào lỗ mũi, thông xuống dạ dày để hút nước ra và nuôi vợ tôi bằng nước biển. Giường bên phải là một bệnh nhân chừng hơn 30 tuổi đã bị biến chứng, cắt cụt một chân đến 1/3 ống chân trái, luôn mồm xin ăn, xin uống với người mẹ nghèo khổ chừng 60 tuổi. Bên trái là một bà 70 tuổi bị tiểu đường thể mập, do bị nằm liệt giường đã lâu nên bị lớ loét vùng lưng và hai mông, hàng ngày phải bôi thuốc xanh, nước nhờn chảy ướt không mặc được quần áo, mà chỉ dùng một tấm đắp mỏng. Vài ba hôm, trong buồng bệnh lại có một ca tử vong, hoặc người nhà xin đưa về lúc còn hấp hối.

        Đợt này, tôi là Bí thư Đảng ủy Đoàn 7708 về Quân khu nhận kế hoạch tổ chức đại hội Đảng cho đảng bộ, tôi đành phải xin phép ở lại thăm nuôi vợ tại bệnh viện (vì nhà chỉ còn bé Hương Lý 11 tuổi - đang đi học). Hàng ngày, tôi tranh thủ từng chặp viết dự thảo văn kiện đại hội theo nội dung Cục Chính trị Quân khu hướng dẫn. Đêm mắc võng nằm ngủ chập chờn ngoài hành lang buồng bệnh, sẵn sàng giúp đỡ vợ mỗi khi cần. Sau hai tuần dùng kháng sinh và truyền dịch vẫn không bớt, có lúc vợ tôi van to: "Cho tui chết sướng hơn để sống đau đớn thế này". Một hôm, bác sĩ dùng kim dài chọc thăm dò các vùng thận, gan, phổi.., chỗ nào cũng chỉ một màu nước hồng như máu loãng, họ cho rằng bệnh nhân bị ung thư đang tiến triển nhanh từ vùng bụng lan đến phổi (!).

        Tôi đề nghị làm sinh thiết lại và xin cho kết luận khẳng định, nếu chính xác thì xin đưa về nhà, nuôi thêm được ngày nào mừng ngày đó. Hôm sau, bác sĩ cho biết không phải ung thư mà do một ổ mủ ở chỗ nào đó, muốn cứu sống thì phải mổ. Những ngày gay go này, con rể Phan Văn Báu đang thực tập sinh bác sĩ tại đây, Báu đã phụ giúp việc săn sóc chu đáo như đối với mẹ đẻ. Các con Duy Liên, Lan thỉnh thoảng cũng đến thăm nuôi. Các con đang đi làm, đi học nên chỉ tranh thủ đến từng chặp, từng buổi nào đều là quý. Nghe đến mổ - có nhiều người lo - nhưng vợ tôi vui mừng vì có thể thoát khỏi sự đau đớn. Ba giờ sáng ngày 16 tháng 5 năm 1986, tôi cùng người y tá đưa bệnh nhân từ lầu 5Bl xuống phòng mổ bằng xe băng ca. Tôi phải ký giấy cam đoan rằng nếu mổ có xảy ra sự cố thì gia đình không thưa kiện, tôi ghi thêm sau những chữ in sẵn: "Nếu sự cố đó không phải do thiếu trách nhiệm". 19 giờ hôm đó, bệnh nhân mới tỉnh, tôi cho uống hai ngụm nước, ba hôm sau đưa bệnh nhân về lại lầu 5B1. Tôi nghe lóm câu chuyện giữa bác sĩ Sinh và giáo sư Sáng, được biết chỉ mới mổ dẫn lưu cho xẹp Ổ mủ hơn 0,5 lít gần thận phải. Giáo sư Sáng xem kỹ mủ dẫn lưu từ thận ra chai và nói: "ổ mủ này chưa phá gan và cũng chưa hẳn đã phá hết thận phải, lượng mủ và màu mủ này có thể ở ngoài gan và thận phải". Mười hai ngày sau mổ vẫn còn căng thẳng lắm, họ đã cho truyền máu ba lần và nuôi bằng nước biển. Bác sĩ Sinh cho biết, đêm đó mổ bốn người bị thận đều tên vần "L" gồm Lưu, Lệ, Luật, Liễu thì từ ngày thứ ba đến ngày thứ 10 đã tử vong ba. Tôi được điện gọi về đơn vị có công việc cần gấp. Tôi gặp bác sĩ Sinh để gởi gắm, tôi nói tôi sắp phát điên rồi. Bác sĩ Sinh hỏi tại sao vậy? Tôi nói: "Đã hơn một tháng tôi phải bỏ bê nhiệm vụ với hàng ngàn người lính tại Nam Vang để ở đây phụ cứu người vợ, nay có điện gọi tôi về gấp, tôi có thể đi được không đây ? Đã vậy hơn một tháng nay tôi ăn cơm nguội, ngủ hành lang, có kẻ còn muốn xua đuổi tôi, thần kinh ai chịu nổi?". Tôi móc giấy tờ đưa cho bác sĩ xem. Bác sĩ an ủi: "Lâu nay em không biết hoàn cảnh và nhiệm vụ của anh, nay anh cứ yên tâm đi lo cho tập thể, chúng em sẽ kiêm phần việc của anh, lo cho chị ở đây".

        Trở về đơn vị, tôi vui mừng thấy mọi công việc vẫn tốt do tập thể đảng ủy, chỉ huy đơn vị lo toan. Anh em vẫn dành cho tôi sự quan tám, xẻ chia hoạn nạn và nhiều tình cảm quý báu. Tham gia tổ chức đại hội Đảng bộ xong, tôi được cấp trên cho nghỉ phép đột xuất để tiếp tục thăm nuôi. Vợ tôi đã hồi phục nhanh và ra viện. Tại gia đình, tôi mời thầy đông y kê toa cho vợ tiếp tục dùng thuốc bắc củng cố.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:19:17 PM
*

*         *

        Một hôm, chuông điện thoại reo lúc 2 giờ sáng. Tôi cầm máy nghe giọng nói của đồng chí tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 3 là đơn vị bảo vệ khu vực Trung ương Bạn Campuchia, gần tượng đài Độc Lập. Tôi được báo cáo: "Một chiến sĩ tự sát đang hấp hối tại đơn vị". Tôi đến ngay, nghe đồng chí tiểu đoàn trưởng báo cáo: "Một chiến sĩ bị phạt giam đã thắt cổ tự tử, đang hấp hối tại Tiểu đoàn bộ". Tôi nói: "Dẫn tôi đến tại chỗ". Có tiếng nói: "Không thể đưa thủ trưởng đến đó được". Tôi nhắc lại: "Dẫn tôi đến tại chỗ ngay để cứu người, bất kỳ ở đâư'. Tôi được dẫn đến một buồng vệ sinh 1,5 mét x 2,5 mét; có bốn chiến sĩ vi phạm kỷ luật bị phạt giam. Tôi bước vào, mùi hôi nồng nặc, một chiến sĩ đang nằm thở dốc... Tôi hô: "Mở cửa rộng, đưa người này ra sân, gọi y sĩ đến. Được hít thở không khí trong lành, chiến sĩ nọ hồi tỉnh dần. Tôi cho mọi người lui. Tôi ngồi hỏi chuyện, được biết em tên là Trần Đình H., quê xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, chiến.sĩ Đại đội 11 Tiểu đoàn 3. Trong nhiều tháng qua, H, cùng các bạn ra phố uống cà phê, ăn hủ tiếu và thay nhau trả tiền, H. đã khất nợ nhiều lần. Mới đây, H, bỏ ngũ trốn về thành phố định lấy xe dạp của mình lên bán trả nợ, không dè khi lên đến tỉnh Xoài Riêng bị kiểm soát quân sự tịch thu, họ nói nếu có giấy đơn vị đến sẽ trả lại xe.

        H, vừa về đến đơn ỵị liền bị phạt giam. H, cho rằng: Thế là xe đạp mất, nợ không trả nổi, chỉ còn một cách tự vẫn. Tôi động viên H, cứ yên tâm, Đoàn sẽ giúp đỡ. Tôi hỏi thăm sức khỏe, sáng ra đồng chí có đi Xoài Riêng được không và chọn một cán bộ cùng đi H, nói đi được và xin đi cùng đồng chí trung đội trưởng. Tôi điện về Đoàn cho chiếc xe tải đi Quân khu chờ. Tôi về ngay làm giấy tờ cho hai đồng chí đại đội 11 đi nhờ đến Xoài Riêng nhận lại chiếc xe đạp. Chìều hôm đó, đồng chí trung đội trưởng và H. đã về lại đơn vị. H, bán xe, trả xong nợ và từ đó tiến bộ rõ rệt. Tôi thu xếp một buổi cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn 3 rút kinh nghiệm về công tác quản 1ý giáo dục chiến sĩ. Tôi biết đây là một đơn vị có truyền thống giữ thật nghiêm kỷ luật quân đội nhưng có lúc chưa thật khéo về tâm lý tư tưởng nên một số chiến sĩ e ngại, không cởi mở tâm tư nguyện vọng với cán bộ. Đồng chí tiểu đoàn trưởng nói: "Hôm đó tôi thật hú vía? Nếu chiến sĩ nọ chết thì bản thân tôi cũng sẽ chết vì tai tiếng và cắn rứt lương tâm". Tôi tiếp lời: "Tôi cũng vậy."

*

*         *

        Tháng 4 năm 1986, anh Trần Văn Trân là Thiếu tướng - Tham mưu trưởng quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, tôi lúc đó là Đại tá, Chỉ huy trưởng Đoàn 7708 bảo vệ thủ đô Phnôm Pênh. Tôi thu xếp một ngày chủ nhật đến thăm tại nhà công vụ của anh ở khu vực Chằmcamon - nghe anh kể chuyện thoát hiểm. Tháng 10 năm 1969, khi tôi Ở Phòng chính trị Sư đoàn 1 mới về cơ quan Cục Chính trị Quân giải phóng (B2), tôi dược biết đài BBC đưa tin đại tá Ba Trân quân giải phóng đã bị quân lực Việt Nam cộng hòa phục kích bắn chết tại tỉnh An Giang, tôi đau đớn không thể cầm nước mắt. Vài hôm sau có tin anh bị địch bắt, ít lâu sau lại được tin anh vẫn còn sống với tên gọi: Nguyễn Văn Thương, thượng sĩ đông y, tôi lo lắng hồi hộp...

        Với tôi anh Trần Văn Trân là thủ trưởng, là người thầy, vừa là người anh yêu quý với ngoại hình cao 1,69 mét nước da trắng mịn, có mũi dọc dừa, cái trán hơi dô với cái xoáy Ở chân tóc phía phải trán, anh đẹp trai, thông minh, dáng vẻ thanh tú, có nét gì đó như người Tây lai. Tôi sống cùng đơn vị với anh từ năm 1950 đến nay, tôi mới xa anh hôm đầu tháng 9 năm 1969. Anh luôn nêu gương về lòng dũng cảm khắc phục khó khăn và lạc quan cách mạng.

        Tháng 3 năm 1975, tôi được biết anh đang làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 341 tấn công căn cứ Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Sau ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975, biết tin anh 1àm Phó tư 1ệnh Quân đoàn 4, rồi Phó Giám đốc Học viện Đà Lạt - tôi đã dịnh đến thăm anh để được nghe anh kể chuyện nhưng chưa có dịp. Anh nói: "Chỉ là những mẹo vặt, chẳng có gì nhiều đâư". Anh thoải mái kể, tôi chăm chú lắng nghe và ngắm nhìn anh, lòng tràn đầy tự hào, khâm phục, thỉnh thoảng tôi hỏi lại, có lúc tôi chêm thêm... Anh kể: "Tháng 10 năm 1969, mình cùng đơn vị rút gọn từ miền Đông hành quân xuống miền Tây Nam Bộ. Một lần chuẩn bị vượt kinh Vĩnh Tế tỉnh An Giang bằng xuồng máy, một xuồng máy chở 6 người đã qua trước chốt bến. Trong xuồng mình ngồi có cậu Yên y sĩ người Thanh Hóa. Yên bơi giỏi, khỏe mạnh.  Để đảm bảo tài liệu không bị ướt, mình và Yên đổi xà cột cho nhau, Yên nói: "Thủ trưởng yên chí, nếu rủi có chìm xuồng, em sẽ bơi đứng bằng một tay hai chân, bảo đảm cái xà cột của thủ trưởng không bị ướt. Mình đeo cái túi cứu thương của Yên. Xuồng vừa chạy ớược một phần ba kinh Vĩnh Tế thì hai chiếc tàu địch từ hướng Cần Thơ lao lên, đèn pha sáng trưng. Xuồng mình định vượt qua nhưng không kịp, súng địch đã nổ mấy loạt.., một số hy sinh - trong đó có Yên, còn mình bị bắt. Một người lính ngụy hỏi: "Họ tên, chức vụ?" Mình nói: "Nguyễn Văn Thương, y tá". Đêm đầu tiên bị nhốt ở trại tù Cần Thơ mình nhẩm đi nhẩm lại nhiều lần cái sơ yếu lý lịch mới của mình.

        Tại bàn thẩm vấn của trại tù binh Cần Thơ, mình khai tên họ Nguyễn Văn Thương, 41 tuổi, cha chết, mẹ Nguyễn Thị Nuôi, cũng đã chết. Cấp bậc thượng sĩ, nghề nghiệp y tá đông y.

        Chúng lùa mình vào trại tù binh nhốt các binh sĩ hạ sĩ quan. Mình nghe tụi lính kháo với nhau: Hôm qua diệt được đại tá Ba Trân - Trần Văn Trân, lấy được tài liệu Hơn một tuần sau, chúng gọi mình lên, thẩm vấn kỹ hơn, căn vặn những điều nghi ngờ. Có thời giờ mình đã tự bổ sung lý lịch mình chi tiết hơn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:23:22 PM

        Mình tỏ ra luộm thuộm nhếch nhác, mình cố tình vò rối và kéo tóc xuống che phủ trán, tai, mình ít rửa ráy cho mặt mũi nhem nhuốc, áo quần lôi thôi như kẻ chán đời, thấy vật gì lạ mắt mình nhặt lên coi, lượm được cái vỏ đạn nhọn mình đưa lên môi thổi kêu u, u... rồi cho vào túi áo để dành chơi.

        Người thẩm vấn hôm đó nói giọng Bắc, hắn có vẻ là một sĩ quan từ nơi khác tới, trạc tuổi bốn mươi, nói ít và một thư ký giúp việc. Mình trả lời theo câu hỏi, thư ký ghi chép: "Họ và tên: Nguyễn Văn Thương, sinh năm 1928. Quê quán: Bản A Túc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên. Nhập ngũ: 08/08/1950, cấp bậc: thượng sĩ, chức vụ: y tá đông y, trình độ văn hóa: biết đọc biết viết. Họ tên cha dượng: Côn Thu sinh năm Tân Hợi, dã chết bệnh năm 1952, họ tên mẹ Nguyễn Thị Nuôi, sinh năm Tân Hợi, chết năm 1955 vì máy bay Mỹ ném bom. Anh chị em ruột không có. Ở quê quán hiện nay không còn người thân, ông bà nội ngoại: Không biết họ tên, quê quán. Nghe mẹ kể, ông tên là Thường, chuyên nghề nấu cao hổ cốt, cao gạc nai tại miền núi huyện Phong Điền, để có người đem về dâng lên vua chúa trong Huế, ông chết lúc tôi 4 tuổi. Mẹ dẫn đi ăn xin, lần hồi lên thấu bản A Túc, mẹ con nương thân Ở đây, năm tôi lên 6 tuổi, mẹ lấy ông Côn Thu làm chồng - là người dân tộc Pakok. Từ năm 1946, có người đến thuê nấu cao hà thủ ô, cao trăn, cao gạc nai, hổ cốt. Dạo đó tôi đã lớn, hai bố con làm có tiền nhưng mẹ không sinh được em. Năm 1950 tôi bị động viên vào bộ đội lúc đã 22 tuổi, tôi quen lối sống của người Pakok, thích ở núi rừng, lại biết nghề nấu cao nên ít lâu sau họ đưa tôi lên miền núi gọi là Dương Hòa nấu cao để gởi cho các ông lớn ở nhiều nơi". Mình kể chi tiết cách nấu cao và cách ngâm các loại rượu tắc kè, bìm bịp, rượu rắn, kể về tác dụng của các loại rượu bổ...

        Người thẩm vấn ngồi nghe đã lâu, đột ngột hỏi: "ông đi lính đã lâu, sao cấp bậc chỉ mới là thượng sĩ? Họ không trọng dụng, ông có buồn không?" Mình nói bên các ông thế nào tôi không biết, bên bộ đội miền Bắc hễ đã vào ngạch chuyên nghiệp thì chỉ có đến thượng sĩ là cao nhất. Đời tôi cũng chẳng màng gì cấp chức, chỉ mong cho mau hết chiến tranh, tôi được giải ngũ về làm ruộng rẫy, lấy vợ may ra còn kiếm chút con.

        Người thẩm vấn thở dài.

        Năm 1970, chúng chở mình về một trại giam ở Biên Hòa. Ở đây có tới cả ngàn tù binh. Mình không dám đi lại nhiều. Ngán nhất là mấy thằng đầu hàng phản bội phát hiện chỉ mặt, lại cũng phải đề phòng gặp người quen "chào thủ trưởng" thì lộ tẩy. Chúng vẫn giam mình trong trại các hạ sĩ quan binh sĩ. Năm 1971, một hôm người cai tù biểu mình đến gặp ông sĩ quan quản ngục. ông sĩ quan tỏ vẻ lịch sự, ông mời ngồi rồi nói: "Nhiều trại tù binh phía các ông ghẻ lở nhiều quá? Sắp tới tôi thấy bất tiện khi phải tiếp và dẫn khách nước ngoài đến thăm. Tôi muốn nhờ ông chữa trị bằng thuốc đông y". Mình suy nghĩ: Đây là việc làm có lợi cho anh em tù binh. Mình chỉ dẫn cách chữa ghẻ bằng thuốc diêm sinh và nhấn mạnh: Phải phát cho mỗi người hai bộ quần áo mới để thay đổi, phải tắm rửa sạch sẽ trước khi xức thuốc, phải trụng áo quần bằng nước sôi 5 phút trước khi phơi khô. Sau mười ngày chữa trị, bệnh ghẻ lở đã lành, kịp cho các quan thầy Mỹ dến kiểm tra.

        Một lần khác vào cuối mùa hè năm 1972, trung tá, giám đốc trại giam Tam Hiệp - Biên Hoà cho gọi mình đến phòng làm việc. ông ta nói có vợ bị thần kinh tọa đau đớn khổ sở lắm và khẩn khoản nhờ mình châm cứu? Mình nhìn túi áo ngực có thêu chữ "Phong'. Mình nghĩ: Mình đâu có biết nghề châm cứu? Nhưng mình nói: "Tôi không cầm kim châm đã lâu, hơn nữa nay có tuổi cầm kim không tốt bằng lớp trẻ, tôi sẽ giúp cho". Mình về tìm một y sĩ châm cứu giỏi cũng là một bạn tù. Hôm sau, hai anh em cùng đến. Theo lời hẹn, mình chỉ ngồi hướng dẫn em này châm. Hôm đầu, đặt kim lần thứ ba thì mình gật đầu châm đúng huyệt, hôm thứ hai lần đặt kim lần thứ hai thì mình gật đầu châm... Cứ như thế, mình ngồi cách bệnh nhân 1,5 mét và ra hiệu dịch qua phải, qua trái, dịch lên, dịch xuống... Châm cứu một tuần thì vợ trung tá Phong khỏi bệnh. Tiếng tăm mình nổi như cồn.

        Thi hành hiệp định Pa-ri, theo điều khoản trao trả tù binh, mình mang tên Nguyễn Văn Thương, thượng sĩ, y tá đông y có tên trong danh sách trao trả đợt đầu tiên tại Quảng Trị. Thế là, xế trưa ngày 12 tháng 2 năm 1973, mình cùng các bạn tù lội mấy chục bước, vừa đặt chân lên bờ bắc sông Thạch Hãn đã thấy anh Phạm Thái - nguyên Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Quân giải phóng, là Đại tá Cục trưởng Cục Quân pháp Quân đội Nhân dân Việt Nam đến bắt tay, kéo vội mình lên chiếc xe commăngca đang nổ máy chờ sẵn. Xe nhấn ga chạy về Hà Nội trước sự ngỡ ngàng của mọi người có mặt hôm đó". Vậy là  thượng tá Trần Văn Trân - Sư trưởng sư đoàn 1 Quân  giải phóng miền Nam (B2) đã đóng kịch trong vai thượng sĩ y tá đông y, đánh lừa bộ máy tình báo gián  điệp đồ sộ của Mỹ-Thiệu từ tháng 2 năm 1970 dến tháng 2 năm 1973. Chúng yên chí Đại tá Trần Văn Trân đã bị bắn chết tại kinh Vĩnh Tế. Hơn nữa, các : lời khai báo của anh không có một khe hở khiến chúng nghi ngờ. Dạo đó, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng cùng chính quyền địa phương đã tổ chức lễ truy điệu ngậm ngùi hồi tưởng lại cuộc đời của anh và thực hiện các chính sách gia đình liệt sĩ đối với vợ con anh. Thời gian ở trong tù, anh dược tín nhiệm bầu vào Đảng ủy nhà lao Tam Hiệp, cũng có một số người biết rành rọt về anh nhưng nhờ có sự lãnh đạo của Đảng và họ thương yêu anh, quý trọng anh, bảo vệ anh nên anh không bị lộ.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:24:44 PM
*

*         *

        Sáng ngày 9 tháng 3 năm 1987, trong buổi giao ban hàng tuần, tại Sở chỉ huy Đoàn 7708 có tin: Chùa Arasếch bị mất một cánh cửa sổ bằng sắt, bà con nói: "Nhờ bộ đội Việt Nam tìm giùm".

        Chùa Arasếch cách Hoàng cung hơn 5 kilômét về phía đông, Ở bên kia bờ sông "Bốn mặt" (Là một vùng sông nước mênh mông của sông Mê Kông và hai con sông Lê Sáp - Bát Sắc hợp lưu thành, dài hơn 3 kilômét, rộng hàng kilômét rồi chia thành hai sông chảy về Việt Nam gọi là sông Tiền và sông Hậu). Ờ đó có một trung đội của tiểu đoàn 1 Đoàn 7708 chốt giữ địa bàn, chống địch pháo kích vào Hoàng cung. Là cánh cửa sổ của chùa thì có hàng chữ "Arasếch". Người dân Campuchia với lòng sùng tín đạo Phật, họ không bao giờ dám lấy. Tôi coi dây là một việc hệ trọng và chỉ thị cho tiểu doàn 1 nắm tình hình, tổ chức đi tìm cho bằng được cánh cửa sắt có chữ "Arasếch" đem trả lại, kịp cho chùa đang sừa chữa.

        Tại buổi giao ban tuần kế tiếp, tôi hỏi lại - vẫn chưa tìm thấy. Có ý kiến coi đây là việc giữa đời, tìm sao nổi? Tôi cho rằng: "Còn hay mất lòng dân là đây" và quyết tâm ngay sau buổi giao ban này, tự mình phải tổ chức đi tìm. Cùng đi có tham mưu trưởng, tiểu đoàn trưởng 1, đại đội trường 1, trung đội trưởng và chọn cơ quan Quận đội Quận 7/1 làm Sở chỉ huy. Đồng thờỉ điện cho Bộ chỉ huy quân sự và Ban giám đốc Công an thành phố cho lực lượng phối hợp. Đến 10 giờ 30 phút, các 1ực 1ượng có mặt triển khai chốt giữ và bắt đầu kiểm tra cả 6 vựa mua bán sắt cũ tại Phnêm Pênh. Lủc 11 gìờ 15 phút được tin đã phát hiện ra cánh cửa tại một vựa sắt cũ, gần chợ ô-rư-xây thuộc Quận 7/1. Đoàn di chuyển Sở chỉ huy đến kìểm tra tại chỗ. Chủ nhà khai đã mua của một ngườí dân Việt Nam bán lạc-xoong. Tôi nghĩ: Là bộ đội Việt Nam bảo vệ địa bàn mình phải có trách nhiệm giải quyết sao cho được lòng dân.

        Các đồng chí công an và quân sự bạn đòi tịch thu hàng, bắt giam chủ nhà vì tôi mua bán tài sản của nhà chùa. Sau khi trao đổi thống nhất, tôi đã cho mua lại cánh cửa và trả 24 riels (gấp đỏi giá chủ nhà đă mua) và cho giáo dục tại chỗ vì chủ nhà là một ngưởi mẹ có con mớỉ 5 tháng tuổi.

        Buổi chiều, tôi dẫn đoàn cán bộ bốn cấp: Đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, trung đội trưởng mang theo cánh cửa sắt, dùng hai chiếc xuồng máy vượt sông "Bốn mặt" đến chùa Arasếch.

        Ngài hoà thượng trụ trì củng ba vì nữa ra đón. Đoàn chúng tôl quỳ xuống giữa sân chùa, tức thì các Hoà thượng đêu quỳ xuông thành một hàng dọc đối diện. Tôi nói: "A di đà Phật, kính thưa ngài Hoà thương trụ trì, các ngài Hoà thượng và các tăng ni quý chùa, hôm nay anh em cán bộ bốn cấp chl huy Đoàn 7708 kính lời cảm ơn về sự giúp đỡ, bảo bọc của quý chùa đối với anh em bộ đội Việt Nam, đã cho nương nhờ tại đây lâu nay. Kính thưa, vừa qua có em cháu là người dân Việt Nam lỡ dại lấy cánh cửa chùa, nay xin đem trả lại và xin tha thứ lỗi phạm này trước cửa Phật".

        Ngài hòa thượng trụ trì và các hòa thượng bước tới dùng hai tay nâng chúng tôi dậy, dẫn vào trong chùa. Mọi người đều hân hoan. Chùa cho chúng tôi uống nước dừa. Hoà thượng trụ trì nói: "Chúng tôi đã gặp có biết ít nhiều về quân đội và công việc nhà binh của quân đội nước ngoài và quân đội Campuchia... Hôm nay, lần đầu tiên thấy quân đội Việt Nam đã thể hiện sự kính trọng cao nhất đối với đạo Phật, tại chùa Arasếch của chúng tôi. Chúng tôi coi đây là một vinh dự. Xin cảm ơn và chân thành bày tỏ sự quý trọng của những người Campuchia tu hành đối với bộ đội Việt Nam, Đoàn 7708 đã cho mấy chục người đến ở, bảo vệ chùa chúng tôi, xin cho anh em cứ ở lại đây. Chùa cho bộ đội Việt Nam hoa lợi 10 cây dừa và hai cây xoài để anh em bồi dưỡng sức khỏe".
   
        Cuộc trò chuyện diễn ra thật vui vẻ, thân tình, nội dung rất phong phú, bổ ích.

        Ngài hòa thượng trụ trì cùng nhiều người tiễn chúng tôi ra tận bờ sông, đôi bên lưu luyến vẫy tay mãi...

        Hai chiếc xuồng máy lướt nhẹ trên dòng sông "Bốn mặt" đưa chúng tôi trở về Phnôm Pênh. Lòng thấy khoan khoái lạ thường, bên tai rộn rã những lời đồng đội ca ngợi lẫn nhau về sự thành công của một ngày công tác đặc biệt này. Trong tôi dọng lại cánh cửa có dòng chữ "Arasếch" bằng sắt, một kỷ niệm hiếm có trong đời. Đồng chí Đại úy, Tiểu đoàn trưởng Lê Huy Liễn ghé tai tôi nói: "Câu chuyện ngày hôm nay sẽ lan truyền, có giá trị thuyết phục như một bài học quý đối với tiểu đoàn chúng tôi".

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang9.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:28:12 PM

*

*         *

        Được cấp trên cho phép và các bạn Campuchia giúp đỡ, đầu năm 1987, tôi đã hai lần đón vợ lên Phnôm Pênh chữa bệnh đái tháo đường bằng thuốc dân tộc của thầy Pheng, xã Plơng-xe-rồ-tế, huyện Đăng-cao. Vợ thầy Pheng nói: "Mấy năm nay không cho ông già đi lấy thuốc vì phải lên Pu-xát nơi có núi đá lấy thuốc lúc 12 giờ trưa, sợ gặp Pôn Pốt giết hoặc về bị sốt rét. Nhưng nay nghe người nhà Tà Ninh bệnh, nên ông già tự đi lấy được thuốc tốt, chắc chắn sẽ lành bệnh". Sau 3 tháng uống thuốc dân tộc Campuchia, vợ tôi khỏi bệnh, mắt sáng lại, răng cứng cáp người mập mạp, da dẻ hồng hào, tóc mọc dài và dày. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương xét nghiệm nước tiểu không còn đường. Tôi và gia đình hết sức mừng vui cảm động.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang10.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang11.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:32:30 PM

*

*         *

        Tôi nhớ mãi mùa hè năm 1987, tại đoàn an dưỡng tại Long Hải. Lúc ấy khoảng một giờ chiều, tôi đang ngủ trưa, vợ gọi dậy và rủ đi tắm biển. Tôi mang cái phao lớn như cái thuyền thúng ra cho hai mẹ con Lý ngồi lên. Nhưng sóng lớn quá vì biển hơi động, cái phao cứ bị đẩy vô bờ hoài. Tôi nói: "Bây giờ ba đẩy ra khỏi lớp sóng này, ra ngoài kia biển lặng, dễ tắm lắm". Ai dè chỉ một lát sau đã thấy phao ngày càng xa bờ. Vợ tôi nhắc: "Ba cho vô đi kẻo xa quá rồi!". Tôi nói: "Gặp luồng nước ra, anh đã bơi và đẩy vào từ nãy giờ vẫn cứ bị trôi ra, lát nữa sẽ vào". Phao đã cách bờ hơn một cây số và cứ trôi dần xuống hướng chợ Long Hải. Tôi đang lo lắng thì có một con sóng to xô lật úp phao. Tôi lo quá vội chụp lấy cánh tay Lý, tay kia níu phao. Vợ tôi cũng nắm lấy một chân Hương Lý và tay kia níu phao. Ai cũng hồi hộp lo lắng. Không ai dám leo lên phao nữa vì phao đã lật úp, trên đó Hương Lý đang ngồi. Tôi hối vợ lên phao đi kẻo mệt và lạnh. Hai vợ chồng đều dùng hai đôi chân bơi đứng, bốn tay nắm chặt lấy nhau trên mặt phao, và vây lấy Hương Lý. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ... Chợt có từng đàn cá bằng ba ngón tay cứ bay bay lên, bụng chúng lấp lánh ánh bạc trông thật ghê rợn... Hương Lý 'khóc mếu máo vừa nói: "Con sợ quá, con sợ quá !" Tôi nói cứng: "Có gì đâu mà sợ. Con ở trên phao cũng như đang tắm nắng trên cát vậy Lý à?,, Tôi nói để trấn an cho Hương Lý, cho vợ và cho cả bản thân. Chừng 15 phút sau, tôi thấy có đám người tãm trong bờ, gần xóm chài Long Hải. Tôi vẫy tay cao lên vừa la lớn: "Cứut Cứu!" rồi lại: "Cứu! Cứut" Tôi vừa bơi đứng vừa đăm đăm nhìn vào bờ và nói: "Đã có người chạy vào làng kêu tiếp cứu. Đang lúc căng thẳng dõi theo từng giây chờ tiếp cứu thì thình lình lại một con sóng xô lật ngửa phao... VỢ tôi nhanh chóng chụp lấy tay Lý, tay kia níu phao. Và tôi cũng chụp một chân Lý một tay níu phao. Tôi vừa giữ phao và cho Lý lên phao vừa nói: "Thế là sống rồi? Bây giờ Hương Lý cứ yên chí ngồi thoải mái trên phao". Tôi lại giục vợ lên phao luôn kẻo lạnh. Tôi giục đến lần thứ ba, vợ còn ngần ngại, thì chỉ bốn đợt sóng gợn liên tiếp đã đưa phao chúng tôi hòa trong lớp lớp những làn sóng bạc đầu... Sóng xô chúng tôi và cái phao vào bờ cát rất nhanh. Chỗ này cách bãi tắm của đơn vị hơn một cây số. Tôi nhanh chóng vác phao và giục hai mẹ con cùng chạy nhanh về nhà mặc quần áo cho đỡ rét. Cả tuần sau đó thỉnh thoảng nhớ lại tôi hú hồn. Đêm đêm tôi mơ thấy cảnh chết chìm dưới đáy biển một cách hãi hùng. Tôi đem ý nghĩ đó kể với vợ. Vợ tôi cũng thú thật như vậy, nhưng không dám nói ra lời. Tôi nói: "Giữa biển cả, con người mình trở thành quá ư nhỏ bé, nhỏ bé về nhiều mặt. Thật đáng sợ nếu thiếu những hiểu biết cần thiết, sẽ bị trừng phạt ghê gớm!".

        Hàng năm, vào dịp Tết có nhiều đoàn quân dân chính Đảng các tỉnh thành từ Việt Nam qua Campuchia thăm viếng, động viên bộ đội Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế, nhiều đoàn ghé lại Phnôm Pênh tham quan. Chúng tôi giao nhiệm vụ và dặn dò ba cơ quan, nhất là các đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng cung, chùa Vàng, chùa Bạc, bảo tàng nhà tù Tung sleng, hố chôn người Chơng-ếch.., phải niềm nở đón tiếp và cố gắng giúp đỡ các đoàn từ Tổ quốc qua.

        Trong các đợt rút quân (bốn đợt) của các Sư đoàn, Mặt trận về nước, đều có đi qua Phnôm Pênh. Bạn tổ chức rất trọng thể và tình cảm. Chúng tôi có nhiệm vụ triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn tại các cuộc tiếp xúc chia tay giữa các đoàn rút quân với cấp Trung ương Bạn tại Hội trường Quốc hội, ở Hoàng Cung và tại quảng trường lễ đường ở Đài Độc Lập, nhất là huy động nhân dân các dân tộc Campuchia tiễn đưa đứng dọc theo hai bên những con đường lớn của thành phố.

        Chúng tôi có vinh dự được chứng kiến cảnh nhân dân Campuchia tập trung rất đông - cả người già, em bé mặc áo mới, vây cờ, hoa, tạng dừa, thốt nốt.., tiễn đưa thật lưu luyến, các bà các chị nhiều người hô to lời chào, vừa cười vừa rơi lệ, dọc đường Mô-ni-vông, qua cầu Tôn-lê Bát-xắc, đi qua Chư-paăm pâu, Kiên xoai...

        Năm 1986, trong một buổi giao ban (hàng tuần) tại Bộ Tư lệnh 719, Đại tướng Lê Đức Anh hỏi tôi: "Đoàn 7708 rút quân được chưa?" Tôi thưa, việc đó tùy Bộ Tư lệnh, chúng tôi đã và đang cùng với bạn chuẩn bị.

        Tháng 2 năm 1988, tôi cho tài vụ Đoàn mang 400 ngàn đồng tiền riêl đến trả 1ại cho tài vụ 719, đây là số tiền do tiền phương Bộ Quốc phòng cho mượn để sản xuất quay vòng nhằm cải thiện đời sống cho bộ đội đã ba năm, lúc cho mượn 719 dặn: "Phải bảo toàn vốn, không được thâm hụt, khi không dùng nữa phải đem trả".

        Bộ Tư lệnh 719 biểu dương Đoàn 7708 và cho Đoàn được quyền sử dụng. Chúng tôi dùng 40 ngàn riêl trả cho những người dân đã cho anh em Đoàn 7708 mượn mà anh em không thể trả trước thời gian mà Đoàn chúng tôi quy định; xuất chi cho cán bộ chiến sĩ ăn thêm trong hai mươi ngày; xuất chi mua quà kỷ niệm cho cán bộ trung đội trở lên; xuất chi cho các đồng chí đã qua ba cuộc chiến tranh mỗi người một bộ áo quần và xuất chi liên hoan chia tay với Bạn.

        Trong tháng 4 và 5 năm 1988, được sự chỉ đạo của Thiếu tướng Bùi Thanh Vân1 và sự giúp đỡ của cán bộ cơ quan Quân khu, chúng tôi làm theo "lịch công tác tham mưu song song1. Chúng tôi tiến hành kiểm kê và bàn giao nhiệm vụ bảo vệ thành phố, bảo vệ các mục tiêu chính trị, văn hóa, kinh tế, các kho báu vật... Mọi cuộc bàn giao cho bạn thường có bốn thành viên: Đơn vị cơ sở ta giao, đơn vị cơ sở Bạn nhận, đại diện chỉ huy của 7708 và Thành đội Phnôm Pênh. Có biên bản bàn giao, có ghi âm, chụp ảnh và quay video hiện trạng nhà cửa vườn tược của nhân dân, trao lại cho Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Phnôm Pênh nhận.

        Một hôm, tôi cùng con gái Hương Lan và con rể Văn Báu đến thăm thầy Pheng ở Plơng-xe-rồ-tế. Con rể nói lời cảm ơn nhờ thầy chữa bệnh cho má cháu lành, chúng cháu mới được phép làm đám cưới. Thầy Pheng cảm động, nói lời cám ơn và biếu một xấp tiền riêl mới tinh - độ chừng năm mươi tờ 50 đồng). Các con nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói nhận một tờ tượng trưng, không nhận hoặc nhận hết đều không tiện. Hai con về đến nhà, hàng xóm đến chơi, chỉ thấy các cháu mua 5 kilôgam nếp và một ít đậu xanh gói bánh Tết. Có người hỏi sao không mua vàng hoặc đô la về kiếm ít tiền lời? Các con nói, mục đích chúng em là đi cám ơn ông thầy và tham quan.

        Một lần khác, đồng chí Kiêng-xà-vút3 đến thăm tôi và chuẩn bị tiếp nhận bàn giao, gặp lúc con gái tôi là Hương Liên cùng đoàn Hội Phụ nữ Quận 6 ghé lại tham quan Phnôm Pênh. Anh Kiêng-xà-vút cầm cái đài cát sét (mà tôi sẽ bàn giao) tặng cho con gái tôi. Con tôi ngần ngừ, tôi nói: "Cái đó xin gởi lại anh, các cháu không dám nhận đâư". Anh Kiêng-xà-vút tỏ vẻ không bằng lòng, anh hỏi tôi: "Cái này bây giờ là của tôi, tôi có quyền cho mà sao không dám nhận?" Tôi nói: "Đây là cái đài chiến lợi phẩm (là hàng của Campuchia), đơn vị đã mượn trang bị cho phòng chỉ huy trưởng, tôi dùng đã hơn 6 năm, nay bàn giao lại để các bạn dùng. Nếu các cháu đem về gia đình, nay mai nhiều anh em 7708 và cơ quan Quân khu đến chơi, thấy cái máy này tại nhà tôi thì mọi người sẽ hiểu như thế nào về phẩm chất cán bộ trong con người của tôi? Xin anh vui lòng nghe lời tôi một lần này di. Anh Kiêng-xà-vút tư lự giây lát rồi cười nói: "Hiểu rồi, tôi hiểu tấm lòng của anh rồi". Anh đứng dậy dùng hai bàn tay, bắt thật chặt tay tôi rung rung. "Chúng ta hiểu nhau rồi, quý lắm!" - Tôi nói: "Cám ơn anh".

-----------------
1. Thiếu tướng Bùi Thanh Vân, tức út Liêm - Phó Tư lệnh Quân khu 7.
2. Chương tnnh 1àm việc của cán bộ chủ chết và từng đơn vị hàng ngày theo thứ tự công việc, để không bỏ sót.
3. Đồng chí Kiêng-xà-vút: Tư 1ệnh Phnôm Pênh (thay đồng chí Nhất Huôn).


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:34:23 PM

        3 - Yên tâm

        Chiều ngày 5 tháng 6 năm 1988, trước ngày rút quân về nước, tại Sở Chỉ huy Đoàn 7708 có cuộc trò chuyện thân mật giữa Bộ Chỉ huy Đoàn với Bạn. Phía Bạn có ông Nguôn Nhơn - ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, Bí thư thành ủy; ông Thông Khôl - Chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố và ông Samơđi - Chủ tịch Mặt trận Đoàn kết cứu nước Campuchia thành phố Phnôm Pênh. Về phía ta có tôi là Đinh Như Ninh, chỉ huy trưởng và đồng chí đại tá Trần Văn Kỳ - Phó chỉ huy trưởng về hậu cần.

        Sau những lời phát biểu chia tay và cám ơn, chúc mừng của đôi bên vừa dứt, ông Samơđi nói: "Sáng ngày mai các đồng chí lên đường về nước rồi, mọi công việc, mọi lo toan giao lại cho chúng tôi thay thế, các đồng chí Việt Nam yên tâm chưa?"

        Tôi nói: "Mọi công việc về quân sự, chính trị, chúng ta đã trao đổi và bàn giao xong, nhất là việc tổ chức chiến đấu bảo vệ thủ đô, bảo vệ Trung ương Đảng, chính phủ, tiếp tục huấn luyện xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến dấu.., chúng tôi yên tâm. Riêng về tình cảm, đã lâu Đoàn 7708 sống với nhân dân Phnôm Pênh như được sống trong gia đình; ngày mai xa Phnôm Pênh chúng tôi bịn rịn, nhớ thương và trong lòng có ba việc chưa yên tâm". ông Samơđi - một người lực lưỡng, khuôn mặt chữ điền, mái tóc muối tiêu dày, cử chỉ nhanh nhẹn, ứng xử lịch lãm, mới gặp không ai ngờ ông là vị tiến sĩ y khoa tốt nghiệp tại Pa-ri, đã gần 70 tuổi. ông tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi: "Vậy hả? Việc gì? Đồng chí cứ nói đi, hôm nay chúng tôi có mặt đủ cán bộ Đảng, chính quyền, mặt trận, xin đồng chí cứ nói hết cho nghe".

        Tôi nói: "Có một số anh em 7708 ăn hủ tíu chịu, uống cà phê chịu ở hàng quán quen, có người mượn tiền đi phép về quê... Hơn một tháng nay, chúng tôi đã dùng 40.000 riêl và cử cán bộ đến từng đại đội xác minh giải quyết trả cho dân, nhưng có thể còn sót do có anh em đi phép, nằm bệnh viện..., cán bộ không biết họ nợ mà dân thì không nói cho biết. Khi chúng tôi về rồi, có thể có người dân phiền trách bộ đội Việt Nam, làm tôi ái ngại trong lòng".

        Ông Samơđi cầm tay ông Thông-Khôl - một thanh niên mới ngoài 30 tuổi, người mà từ đầu buổi chỉ ngồi và lâu lâu mới nói: "Bạt, bạt..." (Dạ, dạ...). Nếu là người mới gặp, không ai ngờ đó là vị Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Phnôm Pênh. ông Samơđi nói: "Anh nghe rõ chưa? Tôi sẽ cho ngưừi xem xét cụ thể nếu có nợ thật thì anh cho tài chánh cùng Mặt trận chi trả".

        Quay sang phía tôi, ông Samơđi nói: "Chúng tôi sẽ thay 7708 lo như thế được chưa? Còn điều thứ hai, xin nói tiếp".

        Tôi cám ơn và nói: "Đoàn 7708 Ở đây đã lâu, tình cảm gắn bó rất nhiều. Hơn nữa, Phnôm Pênh ta có nhiều phụ nữ trẻ đã sớm trở thành "mê mai" (bà góa).

        Còn anh em chúng tôi thì nhiều người xa gia đình, vợ con... Họ tự nguyện đi lại, ăn ở với nhau; chúng tôi đã ngăn ngừa, nhưng hạn chế chỉ được phần nào. Chúng tôi biết Phnôm Pênh hiện có hơn 30 cháu bé là con bộ đội Việt Nam, nhiều năm nay vẫn êm ả, nhưng ngày mai đây, anh em chúng tôi đã về nước rồi. Sau này khi các chị gặp lúc khó khăn, con đói, mẹ đau... không ai cùng lo, các chị sẽ phiền trách. Các cháu bé đi chơi, vào lớp bị các bạn trêu chọc. Nghĩ đến những cảnh đó, chúng tôi rất lo buồn".

        Ông Samơđi nhìn ông Nguôn Nhơn - một người cao, hơi gầy, dáng vẻ thư sinh như một nhà giáo, chừng 50 tuổi và nói: "Đây cũng là việc của Mặt trận, tôi giải quyết và đồng chí sẽ cho ý kiến". ông quay người về phía tôi và nói: "Đây là vấn đề rất tế nhị mà các quân đội ngoại quốc thường che giấu nhưng hôm nay tôi nghe người chỉ huy bộ đội Việt Nam nói ra với chúng tôi. Xin cám ơn và bày tỏ lòng quý trọng trước tình cảm chân thành của đồng chí. Còn việc này xin đồng chí yên tâm". ông nhìn tôi cười rạng rỡ: "Trẻ em lai hầu hết là thông minh. Tôi hy vọng trong số này sẽ có những con người tài giỏi, họ sẽ giúp ích cho đất nước và thành phố chúng tôi sau này". ông lại nói với ông Thông-Khôl: "Chắc đồng chí cũng thống nhất với tôi coi đây là sự may mắn cho các chị em "mê mai", coi các bé là con cháu mình và sau này chúng ta phải động viên bà con ráng nuôi dưỡng các cháu. Nếu có trường hợp cần thiết, chúng tôi sẽ cùng đồng chí giúp đỡ những người mẹ vượt qua khó khăn".

        Tất cả cùng cười. ông Samơđi lại nhìn tôi và hỏi: "Còn điều thứ ba?"

        Tôi cám ơn và nói: "Thứ ba là vấn đề nhà đất. Như các đồng chí đã biết từ tháng 4 năm 1983, chúng tôi từ Đài Độc lập tới đây thay cho một đơn vị Quân đoàn 4. Cơ sở nàv đã dùng 5 năm rồi, nay giao lại mà nhà thì bị dột, cửa thì chắp vá, sân thì cuốc lên trồng rau, vườn thì đào ao nuôi cá... Chúng tôi không có điều kiện khôi phục lại phần nào cho dân, không biết họ hiểu thế nào về chúng tôi: Bộ đội Việt Nam?"

        Ông Samơđi chăm chú nhìn tôi - một cái nhìn đầy thiện cảm và nói: "Không sao cả. Trong lòng người dân Campuchia đều cho rằng: Hết rồi? Pôn Pốt lấy hết tiền của, nhà cửa, ruộng đất... May nhờ có bộ đội Việt Nam cứu kịp cho cái mạng sống, nay lại có nhà, có đất là vô cùng quý hóa, cái gì cũng đều quý hóa cả, xin đồng chí hiểu cho như vậy mà yên tâm".

        Ông Nguôn Nhơn hoàn toàn đồng ý với các nội dung đã trao đổi. ông nói những lời cám ơn với tình cảm thật thắm thiết, cảm động.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:34:55 PM
        Tiễn chân các Bạn ra xe xong, đồng chí Trần Văn Kỳ nói: "Thế là tốt lắm, phải trái phân minh, nghĩa tình trọn vẹn". Tôi vào nhà mà lòng nhẹ lâng lâng và nhớ lại lời căn dặn của đồng chí cố Tổng bí thư Lê Duẩn: "Khi đến mang theo trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế trong sáng với Bạn Campuchia. Khi xong việc mang về cho Tổ quốc tình hữu nghị thắm thiết giữa hai dân tộc, hai đất nước anh em Việt Nam - Campuchia, chúng ta không có lợi ích nào khác".

        Tôi hiểu, Đoàn 7708 đạt được những thành quả trên là nhờ có quan điểm, đường lối đúng và sự lãnh đạo của Đảng, của chỉ huy nhiều cấp trong quân đội, của bộ máy chuyên gia các cấp (nhất là A50 tại thành phố Phnôm Pênh), cùng với sự đóng góp tích cực của cán bộ chiến sĩ Đoàn 7708 - nên đã huy động được nhân dân Phnôm Pênh, biến lòng dân thành sức mạnh tổng hợp chiến đấu bảo vệ và thực hiện hồi sinh dân tộc tại thủ đô Phnôm Pênh. Ba hôm sau ngày rút quân về nước, tại Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nhà báo nước ngoài hỏi tôi từ nhiều góc cạnh dể biết Việt Nam có rút quân thật không? Là người trong cuộc, tôi trả lời, kể chuyện ở Phnôm Pênh cho các bạn nghe thật thoải mái, vui vẻ. Một nhà báo Thụy Điển nói: "Hôm nay được nghe, được biết rõ sự thật, chúng tôi tin và quý trọng tấm lòng trong sáng của quân đội Việt Nam, người Việt Nam, chỉ tiếc là quá muộn. Tại sao Việt Nam không công khai cho thế giới biết ý định tốt đẹp này, trước khi giúp giải phóng Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng?"

        Tôi nói, đó là vấn đề thuộc nguyên tắc bí mật quân sự. Hơn nữa, để cho lòng tin người dân Campuchia chuyển biến từ sự khiếp sợ Pôn Pốt trở thành tự tin là họ có thể đánh thắng Pôn Pốt và tự mình quản lý xây dựng lại đất nước (đã từng có nền văn hóa ăng-ko huy hoàng) là cần phải có thời gian cần thiết cho việc học tập, làm quen dần từng bước.

        Trong nhiệm vụ giúp Bạn và cùng với Bạn chiến đấu bảo vệ và xây dựng thành phố Phnôm Pênh, Đoàn 7708 đã thể hiện rõ bản chất truyền thống bộ đội Cụ Hồ. Trong hai tháng 4 và 5 năm 1988, khi bàn giao mọi kho báu vật, mọi mục tiêu kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự cho Bạn đều không hề có mất mát suy suyển. Bạn rất cảm động và ca ngợi. Điều đó nói lên sự trong sáng trong nhiệm vụ quốc tế giúp Bạn  của Đảng và nhân dân ta nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng và là niềm tự hào của mỗi cán bộ chiến sĩ Đoàn 7708. Tháng 9 năm 2005, tôi có dịp trở lại Phnôm Pênh (tham quan nghỉ dưỡng theo nghị định thư của hai Bộ Quốc phòng Việt Nam - Campuchia). Tháng 6 năm 2007, tôi lại đến Phnôm Pênh (dự mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày ký kết hữu nghị hợp tác Việt Nam - Campuchia, dự hội thảo cuộc gặp gỡ nhân dân hai nước và đi thăm một số địa phương), được gặp gỡ trò chuyện với nhiều người dân và cảm nhận rõ một điều: Quân tình nguyện Việt Nam đã để lại trong lòng người dân Campuchia nhiều hình ảnh tốt đẹp, đậm đà tình thương mến, yêu quý.

        Tổ chức cho dơn vị hành quân về nước xong, hàng ngày tôi vẫn đi lo việc giải thể bàn giao và viết tổng kết kinh nghiệm rút quân, thường trực giải quyết mọi việc còn lại của Đoàn 7708 và chờ xếp công tác.

        Trong dịp lễ 7 tháng 1 năm 1989 (tròn 10 năm Quốc khánh Campuchia), tôi đi Phnôm Pênh theo lời mời của Thành ủy, ủy ban nhân dân, Bộ Chỉ huy Quân sự Thành phố. Tôi ghé thăm, cám ơn thầy Pheng và thông báo kết quả tốt đẹp sức khỏe của vợ tôi thầy Pheng gởi biếu thêm thuốc và quà cho gia đình. Liên tiếp sau đó, tôi lại đi Phnôm Pênh nhiều lần theo yêu cầu bảo dưỡng cán bộ của Quân khu để xin thuốc chữa bệnh tiểu đường cho Trung tướng Vũ Lăng, Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh, các đại tá Vũ Long, Lê Hữu Luận, Phan Văn Tường...

        Sau bốn đợt rút quân tình nguyện Việt Nam về nước, tháng 4 năm 1989, tôi cùng tổ quân kỳ Đoàn 7708 (gồm Trung tá Hồ Sanh, Đại úy Lê Đức Nhạn và Đại úy Hoàng Kim Trừ) lên thủ đô Phnôm Pênh dự lễ tiễn và nhận huân chương, cờ danh dự do Nhà nước Campuchia tổ chức tại sân vận động Ôlempíc cho ba đơn vị thuộc Quân khu 7 gồm: Mặt trận 479 với hai đoàn quân sự tỉnh (7704 Bátđomboong, 7705 Xiêm Riệp); Mặt trận 779 với 5 đoàn quân sự tỉnh (7701 Côngpôngthơm, 7702 Côngpôngchàm, 7703 Svay Riêng, 7706 Pray Veng, 7707 Kratié và Đoàn trực thuộc Quân khu - tiền phương Bộ Quốc phòng, 7708 tại Phnôm Pênh).

        Đứng trong hàng quân tại sân lễ, chờ đón phần thưởng do Chủ tịch Hêng Xom Rin trao tặng, tôi bồi hồi xúc động nhớ Bác Hồ, nhớ các liệt sĩ anh hùng, nhớ đồng chí, đồng đội quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam.

        Hai hôm sau, chúng tôi đến thị xã Tây Ninh dự lễ đón và nhận huân chương, cờ thưởng do Hội đồng Nhà nước Việt Nam thưởng cho hai Mặt trận 479, 779 và Đoàn 7708. Cũng trong dịp này tôi được Nhà nước Campuchia thưởng Huân chương Bảo vệ Tố quốc hạng Nhất, Nhà nước Việt Nam thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:35:37 PM
        Tháng 6 năm 1989, được điện báo mẹ của anh Đinh Như Gia qua đời và mẹ tôi đang bệnh nặng, tôi đi phép về quê. Trong dịp này có anh Đinh Như Bá - sinh năm 1924, là chuyên viên 3 Bộ Ngoại thương, nghỉ hưu - ở Hải Phòng về; vợ chồng anh Đinh Như Khương - đại tá, nguyên Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh tăng - thiết giáp, nghỉ hưu - ở Hà Nội về, và tôi nguyên chỉ huy trưởng Đoàn 7708 - đại tá thuộc Quân khu 7 về quê. Chúng tôi tổ chức một đoàn 4 nam 3 nữ 1à con trai, con gái, con dâu đời thứ 7 và một cháu trai đời thứ 8 (là Đinh Như Tân 10 tuổi) của phái họ Hồ Xá vào đại tôn Đồng Di - do anh Đinh Như Bá làm Trưởng đoàn. Chúng tôi dã làm lễ dâng hương tại nhà thờ họ Đinh, đọc gia phả, thăm hỏi chúc sức khỏe, trò chuyện với nhiều bà con chú bác trong đại tôn.

        Đây là những ngày chúng tôi đắm mình trong tình cảm huyết thống, đầy tự hào. Có rất nhiều chuyện kể về những gương dũng cảm, anh hùng, bất khuất của bà con dòng họ Đinh Như trong cuộc chống Mỹ cứu nước... "Không đi thì sợ chỉ huy, đi thì lại sợ Đồng Di - Tây Hồ" là câu dân gian địa phương nói lên tâm trạng lo sợ của bè lũ Mỹ-ngụy hồi đó và ca ngợi uy danh của chiến tranh nhân dân tại đây.

        Tôi dã dùng tư liệu của cuộc "dâng hương' này, chấp bút chép lại gia phả phái họ Hồ Xá, sau khi thu thập ý.kiến của anh em đang sấng ở Vĩnh Linh, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Bạc Liêu và thành phố Hồ Chí Minh. Tôi tu chỉnh lại và gởi về các địa phương theo chỉ dẫn của anh Đinh Như Bá và anh Đinh Như Khương, xong trong năm 1992.

        Trong những ngày nghỉ phép tại quê nhà, cứ đêm đêm vào ba bốn giờ sáng tôi đã dậy tập thể dục dưỡng sinh, vì bốn giờ rưỡi nhà đã nổi lửa nấu cơm, khói mù mịt, không thể tập "thở bụng" được. ấy thế mà hễ nghe tiếng động mẹ tôi đã dậy chống gậy đứng nhòm, nói lẩm bẩm một mình: "Tội nghiệp chưa, hắn đau chi mà ngồi lên không được lại nằm xuống, lại ngồi lên..." Có lúc mẹ hỏi: "Đau lắm hả con? Tội nghiệp, chiến tranh đội bom, đội đạn cùng mình cùng mẩy rồi, bữa ni chỗ mô cũng đau được, đã khổ chưa?" Sang động tác ôm hai ống chân hôn đầu gối, mẹ lại nói: "Cơ khổ hè, cái đầu gối cũng đau nữa... ứ, đi bộ nhiều quá, nay nó lỏng hết rồi!". Sáng ngày, tôi mới thưa với mẹ là con tập thể dục dưỡng sinh, chứ không phải bị đau ốm chi mô, mạ chớ lo. Nhưng mẹ vẫn không tin, và nói: "E bây giấu tao đó. Nhưng thương con mạ để trong bụng, chứ mạ cũng không đau ốm thay con được" - "Thế mới biết tình mẫu tử tình cảm gia đình quý giá biết nhường nào!

        Khi trả phép, tôi dẫn hai em vợ là Nguyễn Văn Quảng, Nguyễn Thị Thế và cháu Bình (con em Quảng) vào cho chị em gặp nhau. Chao ôi, mười một năm trời đằng đẵng, nay mới có dịp chị em gặp nhau tại nhà mình, chị em ôm nhau mà khóc. Hai em và cháu chung sống với gia dình, suốt ngày này qua ngày khác cứ quấn quít lấy nhau.., chia xẻ với nhau từng nỗi vui buồn trong những năm chiến tranh, cùng nhau làm các việc nội trợ hàng ngày, việc gì cũng vui, lúc nào cũng mừng... Những khó khăn thực tế đời sống kinh tế gia đình đã không ngăn cản được mà lại càng tô đậm thêm tình cảm chị em gia đình. Có hôm, vợ tôi nói nhỏ với tôi điều lo lắng đó, tôi nói: "Không sao đâu, bà con em út mình không mấy người, có đói ăn đói, có no ăn no, được gặp nhau thăm nhau là quý hóa lắm. Đừng nói vậy dì và cậu nghe được sẽ buồn mình đó". Hai em sống chung với chúng tôi được 20 ngày. Hôm chia tay thật là bịn rịn. Cây xoài vườn nhà chín bói ba trái được hái làm quà cho các em đem về quê.

        Hai em về chừng nửa tháng thì dì Võ Thị Túy - 66 tuổi, từ Cam Ranh vào thăm theo thư tôi viết cho dì (địa chỉ ở quê cho biết từ dạo tháng 6-1989). Có hôm vợ tôi tâm sự: "Người xưa nói, mất mẹ bú dì". Đã gần 40 năm nay dì cháu mới gặp lại nhau, thật khó nói nên lời. Vợ tôi tìm lại dáng dấp và hơi ấm của người mẹ sinh ra ở khuôn mặt, giọng nói của dì, trong vòng tay ôm ấp của dì... Dì kể: "Tau nhận được bức thư ngắn gọn, chứa chan tình nghĩa mà ruột gan tau cứ cồn cào vì thương nhớ cháu, nên dì bượt bạ vô đây thăm vợ chồng bây cho đặng". Hai dì cháu ngủ chung một giường, đêm đêm kể cho nhau nghe đủ mọi thứ chuyện... Hóa ra dì cũng biết rõ tôi từ thuở ấu thơ, nhất là những năm học sinh trường huyện. Tôi đã từng qua chơi và nhiều lần ngủ lại với cậu Võ Duy Việt ở nhà ông bà ngoại mình... Có đêm dì nói: "Vậy là cháu nhất làng mình rồi đó. Cháu gặp được một người chồng đã có tình nghĩa với vợ con, lại chu đáo với bà con dòng họ đàng mình..." Nghe dì nói, vợ tôi muốn chảy nước mắt, như thuở nào còn nhỏ nghe dì kể chuyện cổ tích vậy. Sáng hôm sau vợ tôi kể chuyện lại tôi nói: "Có gì đâu, đó là bổn phận của mình. Chúng mình không gặp may mắn được phụng dưỡng ông bà ngoại Hương Lý thì nay có dì vô ít bữa cũng đở buồn phần nào". Sau hai tuần dì đòi về Cam Ranh, chúng tôi năn nỉ dì ở lại thêm được một tuần nữa rồi tôi chở dì ra đón xe tại bắc cầu Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:36:16 PM
        Dì về rồi - chúng tôi vẫn giữ nếp ăn sáng xong, vào uống trà nói chuyện đời. Có hôm đến 9 giờ sáng vợ tôi mới đi chợ. Càng trò chuyện càng hiểu nhau sâu hơn và sự chăm sóc lẫn nhau càng chi tiết cụ thể hơn. Biết tôi không quen ngủ chung, đêm đêm vợ thường nằm ra sát mép giường và thở nhẹ, nằm êm... Trong các bữa ăn ít khi thiếu món cà ghém, mắm và cá bống hoặc cá cơm kho tiêu cho thật khô... Trong các câu chuyện hằng sáng của chúng tôi thường xoay quanh các vấn đề quan điểm trong tổ chức cuộc sống lao động sao cho có hiệu quả mà lành mạnh, hợp với bản năng cần cù, giản dị của chúng tôi. Tình cảm và đối nhân xứ thế với con cái, bầu bạn và với tổ chức sao cho phù hợp, không hoàn toàn phong kiến thủ cựu, nhưng cũng không lai căng hoặc biến thành người thiếu gia giáo. Nghĩa vụ và trách nhiệm trong quan hệ hạnh phúc gia đình nhất là vợ với chồng, con cái với cha mẹ và ngược lại...

        Từ tháng 8 năm 1989 trở đi tôi ít ăn thịt cá do đau bụng, khó tiêu. Hai tháng liền cả nhà đều ăn cháo để đỡ phải nấu hai nồi. Từ ngày được rút quân về đến nay, ngày nào vợ tôi cũng cho tắm nước nóng mỗi chiều tối. Sáng sớm tôi lại tắm nước lạnh sau giờ thể dục dưỡng sinh. Một hôm, trong khi xem ti vi, Hương Lý mua khô bò về, hai cha con ăn ngon và khá nhiều. Thế là hôm sau vợ tôi ra chợ mua nửa ký thịt bò về xắt lát mổng ướp nước mắm, tiêu, ớt, bột ngọt chừng 30 phút rồi phơi khô, chập tối đem nướng chín rồi vô bao ni lông. Tối đến giờ xem truyền hình, hai cha con ăn hết và khen ngon hơn hàng mua hôm trước. Từ đó, gần như thường lệ, hễ ngày nào thấy tôi không ăn thịt cá thì tối cho ăn khô bò. Còn vợ tôi thì không dám ăn vì sợ họ bán thịt trâu giả bò, để tránh tái phát bệnh tiểu đường như lời ông thầy Pheng dặn.

        Sức khỏe vợ tôi ngày càng tốt hơn. Hàng ngày vợ tôi dùng xe đạp đi chợ. Một hôm, vợ tôi đi về ngã tư trước cứa nhà bà xe lam trong cư xá thì bị một chiếc honda chạy từ hướng trường Nguyễn Du vào tông đúng giữa xe đạp. Các bà hàng xóm và tôi ra đưa hết vào sân nhà. Lát sau, thấy vợ chỉ bị xây xát nhẹ. Tôi hỏi người đi xe và gọi máy vào Quân khu thì đúng đó là một công nhân tạm tuyển, 20 tuổi của nhà in báo quân đội 2. Vợ tôi bàn với tôi tha cho cháu về cơ quan. Tôi yêu cầu người này đi sửa xe đạp bị gãy tay phanh và chắn xích.., nhưng trong người cháu chỉ có 500 đồng nên vợ chồng tôi bàn nhau tha 1uôn. Ba hôm sau vợ tôi trở lại bình thường. Tôi nói: "Em có tuổi rồi nên phản xạ thần kinh và mắt không còn nhạy như trước, nên tránh đi xe đạp, khi cần đi đâu thì anh chở bằng xe máy". Vợ tôi nói vì đi chợ mà để anh đứng chờ ngoài cổng chợ thì tội nghiệp cho anh nên nhiều lần vợ đi bộ. Có hôm, thấy vợ xách 5 con gà đi bộ từ chợ ông Tạ về, tôi hỏi sao không đi xích lô? Vợ nói để tập vận động luôn một thể.

        Trong những buổi uống trà nói chuyện mỗi sáng, một hôm vợ tôi đem chuyện bà X đã tâm sự với vợ ra kể: "Bà X và ông V đều là đảng viên cán bộ nghỉ hưu. Hai vợ chồng đã có cháu gọi bằng ông bà rồi, nhưng lại ly dị nhau vì bất đồng quan điểm trong làm ăn và vì ông V có bồ. Mới đây bà X đã lấy ông K. Có tối hai vợ chồng lên sân thượng trò chuyện. ông K nói: "Hai chúng mình thương yêu nhau thế này, nếu một người qua đời thì người còn lại buồn rầu làm sao mà sống?" Bà X đáp: "Hễ một người bệnh thì người kia vào bệnh viện chăm sóc. Chừng nào thấy không sống nổi thì thủ sẵn mấy liều thuốc ngủ. Nếu người bệnh chết thì người lành uống thuốc và ngủ luôn với nhaư'. Và hai người lại khen nhau, coi đó là chân lý. Nghe đến đây tôi hỏi: "Quan điểm của em thì câu chuyện bà X kể có đúng không ?" Vợ đáp: "Đó là những kẻ khùng. Là vợ chồng, nhưng họ còn cha mẹ, và là ông bà, anh em của những người thân khác nữa chứ. Người chết vì bệnh đã đành, thì người còn lại phải gánh vác nghĩa vụ nặng nề gấp đôi chứ bỏ mà chạy trốn thì hèn hạ chứ hay ho gì?" Tôi ngưng ly trà trên tay, mắt sáng lên vừa nói: "Đúng, nói như em mới là con người chân chính".

        Những buổi vợ chồng tôi trò chuyện thường nói nhiều về các con, nhất là Hương Lý. Có lần vợ tôi nói "Hương Lý nó còi cọc tội nghiệp". Tôi nói: "Nó giống anh nên nhỏ con, chứ đâu phải còi". Tôi nhắc lại một hôm đầu năm 1981, tôi và Hương Lý (6 tuổi) và Duy lên Sông Bé thăm bác Khanh. Bác gọi Lý một mình ra và hỏi: "Sao chị Liên con không lên thăm bác?" Lý đáp: "Chị Liên mắc bầu, không dám đi". Bác Khanh giả vờ hỏi: "Bầu là gì nhỉ? Nó nuốt phải hột bầu mọc cây hay nó mắc trồng cây bầu?". Lý nghe nhiều câu hỏi dồn bèn nói: "Bác ra mà hỏi anh ngồi ngoài đó!". Vừa nói Lý vừa chỉ tay ra chỗ Duy ngồi. Bác Khanh lại hỏi: "Ủa, chị Lan cũng mắc bầu hay sao mà không lên thăm bác?". Hương Lý đáp: "Chị Lan chưa làm đám cưới thì bầu làm sao được?". Bác Khanh lại hỏi: "Vậy má cháu cũng mắc bầu hay sao mà không lên chơi?". Hương Lý nói luôn: "Má con già rồi, bầu bì gì nữa!". Bác Khanh cười vang và thôi hỏi chuyện bầu. Lát sau bác kể chuyện lạl với tôi và nói bé Lý lanh trí lắm.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:37:11 PM
        Mãi đến tháng 10 năm 1989, tôi vẫn thấy đau bụng và cứ ăn cháo hoài. Người hốc hác đi. Vợ tôi hỏi con Báu. Báu nói ba bị cái gan nó hành đó. Má đừng cho ba uống rượu, nếu không thì tiêu mất cái gan. Vợ tôi tỏ vẻ lo lắng. Trong một buổi uống trà sáng, vợ tôi đem ý nghĩ đó ra nói: "Chiến tranh buộc anh đói khổ, lại sốt rét nhiều quá, nhưng chiến trường và công việc cứ lôi cuốn hoài làm cho thần kinh anh lãng quên bệnh tật. Nay được rút quân, anh về nhà bình tâm lại thì cái mệt nhọc mới phát ra đủ thứ bệnh. Gan xấu quá thì có thể bị xơ hoặc tệ hơn là ung thư. Y học đành phải bó tay. Anh "đi" rồi thì em rầu và chắng bao lâu em cũng "đi" luôn. Chỉ tội nghiệp cho các con. Liên và Lan đã có gia thất rồi còn đỡ, tội nghiệp nhất là Hương Lý và Như Sơn..." Tôi thoáng buồn. Lát sau tôi nói: "Không sao đâu, chắc là anh sẽ khỏe và trở lại bình thường. Nhưng nếu anh có bị làm sao là do chiến tranh để lại bệnh tật, con người không thể khắc phục được. Còn em phải phấn đấu mà sống với nhửng người thân chứ?" Vợ tôi lại nói: "Lúc đó em rầu lắm". Tôi lại nói: "Rầu là trạng thái tâm lý tinh thần, con người có thế làm chủ được". Tôi nói với vẻ mặt rất vui: "Anh có "đi" rồi thì sau đó ít lâu em hãy tìm một người mà làm bạn đời thay anh để tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho cuộc sống, để...".

        Vợ ngắt lời tôi vừa cười và nói: "Lúc đó chẳng có ma nào nó nhòm em đâu, với tuổi tác và sức khỏe này. Anh không nhớ người đời nói: Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng hay sao?" Tôi nói: "Đó là đạo lý phong kiến, không biết coi trọng phụ nữ. Họ bắt buộc phụ nữ phải tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Ngày nay Cách mạng làm theo Bác Hồ là nam nữ bình đắng còn gì?" Vợ tôi nói: "Nói cho vui vậy thôi, những điều đó em biết cả rồi" và vợ nói tiếp: "Nhưng nếu em "đi" trước thì anh sẽ có nhiều đám nó nhòm lắm đó". Thấy tôi cười, vợ cũng cười và có phần hăng lên: "Lúc đó, sau một thời gian đau buồn, anh phải bình tâm lại mà suy xét, chớ có kéo dài buồn rầu quá mà héo mòn thân xác... Nhưng họ nhòm kệ họ, vợ tôi nói đừng có ham trẻ ham đẹp, và mình cũng nên tránh cái cảnh như anh Trị - Phó giám đốc nông trường Quyết Thắng là "con anh, con tôi đánh con chúng ta", thì nó rắc rối lắm". Hai vợ chồng cùng cười, vợ tôi rót thêm trà và nói tiếp: "Em chỉ thương bé Lý. Em mong cho anh và em sống cho tới ngày bé Lý ngoài 18 tuổi, và Như Sơn đã cho chúng mình ẵm cháu nội. Lúc đó không ai ăn hiếp Hương Lý của mình nổi đâu. Cho nên, nếu có việc gì xảy ra sớm thì phải thương lấy Hương Ly và lấy đó làm điều trọng". Chúng tôi nhìn nhau và tỏ ý rất đồng cám. Vợ tôi lại nói: "Ở đời, người ta lấy vợ chứ không ai lấy nợ. Thiệt đó, em đã thấy không thiếu gì người đàn ông chết vợ, đã không suy tính cho kỹ, ham chạy theo trẻ, theo đẹp, nên biến việc đi lấy vợ thành ra đi rước lấy của nợ. Họ hắt hủi, đày đọa con mình thì chỉ thêm khổ sở cho cha con và ưu phiền cho họ". Tôi lại cười và nói: "Sao hôm nay chúng mình bàn sâu vào câu chuyện tào lao thế này?" Đã hơn 9 giờ sáng, vợ tôi xách giỏ đi chợ.

        Lâu nay chúng tôi vẫn giữ nếp vài ba tháng gửi biếu bà nội một ít tiền hoặc quà. Sáng nay lúc vợ ra chợ thấy họ bán quần áo may sẵn nhiều mà rẻ, Tết lại sắp đến, vợ tôi đã mua về, bàn với tôi đi gởi bưu điện. ít lâu sau các chú Đạt, Thông viết thư vào kể: "Mẹ nhận được đã mặc hết hai áo một quần vào và đi khoe khắp xóm". Đọc thư xong, hai vợ chồng đều thấy vui vui.

        Ngày 6 tháng 6 năm 1988, tôi cùng đơn vị rút quân về nước. Chiều tối hôm đó, tôi bước chân vâo nhà, vợ tôi nói: "Thế là anh đã hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn Campuchia, nhất là từ năm 1982 đến nay, khi anh lên lại Campuchia làm chỉ huy trưởng bộ đội bảo vệ Phnôm Pênh, em lo lắm. Nghe tin ở đó nhiều người đã bị kỷ luật". Dạo đó, anh Khương từ Hà Nội đã viết thư vào tỏ vẻ lo lắng: "Cương vị và môi trường đó rất dễ bị kỷ luật. Anh rất lo. Đã có nhiều ngườĩ bị rồi. Nhưng anh tin ở chú có thể hoàn thành được nhiệm vụ". Sau khi nhận được thư anh Khương (hồi đầu năm 1983), vợ tôi đã thắc mắc: "Cái đất Phnôm Pênh có gì mà ghê gớm vậy?" Tôi nói: "Dân trong này có câu ca "Nam Vang đi dễ khó về, trai đi thêm vợ, gái về thêm con". Cũng khó thật, anh Khương ở gần Bộ nên anh ấy biết và lo lắng cho mình là đúng.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:38:04 PM
        Hồi giải phóng Campuchia xong, người thứ nhất làm chỉ huy trưởng chỉ được có 18 tháng đã phải thay, mặc dù đó là người có đạo đức mẫu mực, là người đã một thời làm thủ trưởng của anh. Người thứ hai được lựa chọn là một anh Sư đoàn trưởng tốt của Quân khu lên chỉ trụ được 11 tháng thì cấp trên đã phải chọn người thay. Mình là người thứ ba đây. Người xưa hay nói: "Nhất khả nhị khả, tam bất khả hoặc sự bất quá tam", Bộ Tư lệnh Quân khu và Tiền phương Bộ Quốc phòng không muốn thay cán bộ liền liền như vậy đâu. Anh đã đi hai lần lên đó nghiên cứu tình hình rồi. Cấp trên đã tin mà giao, thì mình cũng phải tự tin mà cố gắng làm hết sức mình..." Vợ tôi nói: "Nhớ lại những buổi nói chuyện trước đây với những lần được chứng kiến tại nơi anh làm việc thì nay thật là đáng mừng. Hồi 1987, dã nhiều lần vợ nói vui với tôi tại Đoàn 7708: "Cho em làm việc như anh thì chỉ ba ngày là chết vì đứt dây thần kinh!". Tôi cười xởi lởi: "Tại em chưa làm quen nên lo lắng thế thôi, chứ anh vẫn thấy bình thường".

        Mùa hè năm 1988, vợ chồng tôi lại có dịp đi an dưỡng ở Long Hải. Nhờ có kinh nghiệm năm 1987 nên năm nay chúng tôi có một kỳ nghỉ hè tốt đẹp. Chúng tôi và bé Vũ suốt ngày bị cuốn hút, say mê với đọc truyện, phơi cá, hấp cá, đào còng gió, hái sâm biển, xúc chem chép... Ra về vợ tôi lên cân thật sự, lại kèm thêm một bao cây sâm biển phơi khô làm trà, một bao cá khô thật ngon... Những con cá kìm đã hấp chín và phơi khô đem nướng lại làm mồi nhậu, uống rượu hoặc bia thì tuyệt vời, càng dùng càng thấy có cái hậu ngọt ngọt ở dưới cổ.

        Hàng ngày, tôi vẫn đi làm để lo việc giải thể đơn vị và viết tổng kết kinh nghiệm rút quân, cho đến tháng 10 năm 1988 mới bàn giao xong tài liệu văn bản. Cấp trên còn giữ làm thường trực giải quyết các việc còn lại của Đoàn 7708 cho đến khi có lệnh mới.

        Gia đình được sum họp. Hai con Duy - Liên đã có nhà cửa, có công ăn việc làm ổn định, đời sống khá dần do Duy khéo tay hay làm. Hai con Lan - Báu cũng đang có bầu. Chúng tôi trao đổi và chấp thuận cho hai con Lan Báu muốn được ở gần, cho xây cất sửa chữa thêm một căn hộ mới. Chẳng bao lâu chúng vợ tôi đã có thêm một cháu ngoại là bé gái Mini tức Phan Thị Kim Hoàng.

        Tuy có thắc thỏm chờ đợi nhưng thường ngày tôi vẫn ở nhà, lâu lâu có người của đơn vị cũ đến hỏi cái này, nhờ cái kia hoặc đến thăm viếng, hỏi han tình hình. Vợ chồng con cái được sum họp, thỉnh thoảng các cháu ngoại đến thăm, thế là hạnh phúc rồi. Mong ước duy nhất của gia đình trước mắt là được đón Như Sơn về, lo hạnh phúc trăm năm cho con để đón cháu nội. Đầu tháng 5 năm 1989 được tin báo thùng hàng của Như Sơn đã về đến cảng Sài Gòn. Tôi cùng các chủ hàng đi nhận về, phân chia theo thư con dặn. Có thêm được một số tiền, chúng tôi mua cho Như Sơn một chiếc xe gắn máy loại tốt.

        Quân số tôi thuộc T67 Quân khu 7, nhiều lần được thông báo dự kiến tôi sẽ đi Vũng Tàu, về Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, hoặc lên Campuchia làm chuyên gia.., nhưng vẫn chưa có quyết định.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuocchienthamlang12.jpg)


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:40:53 PM

Chương năm

CUỘC SỐNG ĐỜl THƯỜNG

        1- Cuộc chia tay cay đắng

        Có lần vợ tôi kể chuyện, tháng 10 năm 1981, khi tôi đang đi công tác ở Campuchia, Sơn được gọi ra Hà Bắc học ngoại ngữ và làm thủ tục. Đầu năm 1982, Đinh Như Sơn bay đi Tiệp Khắc học nghề. Sau 3 năm học, Sơn đã tốt nghiệp hạng ưu trường cơ khí ô tô máy kéo Caslav, được cấp bằng đỏ và tặng phẩm bằng pha lê Tiệp. Sau một năm làm đội trưởng xe máy tại một nông trường của Tiệp Khắc, Sơn được về phép 3 tháng. Tôi còn ở Phnôm Pênh, hai con Duy, Liên không có giấy vào sân bay nên Sơn về mà không được người nhà đón. May thay, nhờ hai cô bạn gái tốt bụng (mà Sơn chưa kịp hỏi địa chỉ) đã giúp đỡ Sơn về bằng xích lô.

        Tuy sống bên Tây đã bốn năm nhưng khi về nhà chịu khó và thương mẹ, yêu quý anh chị em. Sơn không nề hà bất cứ việc gì để giúp ích cho người thân và gia đình.

        Tết đến, Duy và Sơn nấu rượu đón Tết, không thấy ba về Sơn buồn lắm. Tôi đã biết Tết, lễ là dịp bộ đội phải trực sẵn sàng chiến đấu nên tôi thường xuyên an ủi các con.

        Tết Canh Ngọ sắp đến. Nhớ Sơn lắm. Tình hình cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông âu có nhiều rối rắm. Có hôm đài BBC đã ví tình hình như cái nồi áp suất lớn mà ông Goócbachốp mở nắp, nay đậy lại không nổi. Vợ tôi nói: "Em lo cho con lắm, anh viết thư cho con nói rõ nguyện vọng của ba má là mong con về". ít lâu sau, Sơn báo chuẩn bị về.

        Xuân Canh Ngọ, nhà không gói bánh chưng, vì hàng năm cứ gói, nấu vất vả, ngoài mùng mười lại đem bỏ đi. Chúng tôi vẫn giữ nếp sáng uống trà tâm sự vài tuần hai con Duy, Liên đưa các cháu lên chơi. Ba tuần không thấy chúng đến là tôi lại đòi đi thăm các cháu.

        Nhiều buổi nói chuyện, nghe tôi lo lắng phàn nàn lương không đủ ăn, biết lấy gì mà nuôi con? Vợ tối lại động viên: "Đời người ngắn ngủi lắm, nhất là lớp chúng mình, bom đạn ác liệt, gian khổ, đói khát, bệnh hoạn trăm thứ rồi, đến nay nhà nước cho bao nhiêu mình hưởng bấy nhiêu, cho đầu óc thư thái có thêm tuổi thọ, anh đừng lo lắng lắm mà ảnh hưởng sức khỏe". Tôi lại nói: "Nhưng mà lương không đủ ăn thì làm sao?" Vợ tôi an ủi: "Mấy chục năm nay anh đi biền biệt, việc lo toan bữa ăn, cái mặc em chỉ giải quyết trong đồng lương và chăn nuôi thêm chút ít, vậy mà cũng qua cả. Nay các con đã khôn lớn, có gia thất rồi, ai lo nồi nấy, chúng mình chỉ còn nuôi Hương Lý. Mai kia có Như Sơn về, lưng dài vai rộng, nó lại có nghề nó tiếp thêm chúng mình thì có gì mà phải băn khoăn cho lắm?" Tôi lại nói: "Thực tế cho thấy con cái nhiều nhà đã làm cha làm mẹ rồi mà ông bà vẫn phải tiếp tục nuôi cháu. Chúng mình cũng vậy nên phải lo chứ!" Vợ tôi phân giải theo cái lý riêng rằng: "Khác với chúng mình, họ có của chìm của nổi đời trước để lại, còn chúng mình sau chiến tranh đánh Pháp về quê lấy nhau chỉ bằng đôi bàn tay trắng, rồi lại mang tuổi xuân vào chiến tranh đánh Mỹ, anh lại mang cả tuổi trung niên đi làm nhiệm vụ giúp bạn Campuchia... Nay sắp già rồi, chúng mình chỉ lo cho nhau. Nay mai Như Sơn về lo cưới vợ cho con là chỉ còn Hương Lý". VỢ tôi còn nhắc: "mình phải tự thương lấy mình và lo cho nhau là chính. Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. Lâu lâu dành dụm gởi cho mẹ một ít, thế là em mừng rồi. Anh khỏi phải lo cho ai hết".

        Tết Canh Ngọ nhà tôi cũng đốt pháo. Pháo nổ rất giòn, nhưng chỉ có một phong. So với hàng xóm thì chỉ gọi là cho có vậy thôi. Chúng tôi đi thăm các gia đình láng giềng. Trong đó có cô chú Hoàng Đức theo nhận xét của vợ tôi là có thiện cảm nhưng chưa được sâu đậm bằng cô chú Uyên Thụ. Cô Uyên đã dùng những lời thật tốt đẹp chúc mừng năm mới đối với chúng tôi. Cô Hạnh Uyên còn kể cho chúng tôi nghe cảnh vất vả của vợ tôi lo chạy ăn và chăn nuôi heo trong những năm tôi còn ở Campuchia. Cô kết luận: "Anh có biết không, ở xóm mình thì chị là người nghèo nhất và chịu khó nhất đó". Chúng tôi ngắm nhìn chậu mai vàng của nhà cô chú Thụ Uyên và nghĩ đến cành mai do Hương Lý mua về chưng ở nhà mình thì quá ư nhỏ bé.

        Người đời thường nói: Tháng giêng dài, tháng hai rộng. Nhưng với chúng tôi thì tháng hai này trôi qua nhanh quá? Phải chăng ngày vui chỉ một tấc gang? Chẳng bao lâu đã gần tới nửa tháng hai âm, vừa là kỷ niệm ngày quốc tế phụ nữ. Sáng mùng 8 tháng 3, tôi dậy sớm hơn mọi ngày đi nấu cơm sáng, giặt quần áo, quét nhà, sân... Vợ tôi dậy đã thấy mọi việc tươm tất, bèn hỏi: "Sao hôm nay ba Lý dậy sớm và dọn dẹp kỹ vậy?" Tôi nói vui: "Hôm nay mùng tám tháng ba, đàn ông xuống bếp, đàn bà đi chơi". Vợ tôi cười nói: "Ba Lý đi chiến trường hoài mà cũng nhớ ngày lễ của phụ nữ, giỏi quá ta?" Tôi cười vui vẻ. Chúng tôi dùng cơm sáng rồi vào uống trà nói chuyện như mọi ngày.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:41:54 PM
        Sáng 9 tháng 3 năm 1990, vợ tôi nói: "Em đi chợ mua thứ gì đó về ăn bồi dưỡng gọi là phần thưởng cho ba Lý nhân ngày 8 tháng 3 hôm qua". Tôi vào lấy báo ra đọc. Năm phút sau, nghe tiếng ồn ào ngoài cổng, tôi ra thấy vợ bị tai nạn giao thông. Tôi nhờ người đẩy chiếc honda gây tai nạn vào sân, đồng thời ẵm vợ vào nhà cứu chữa, đưa vào bệnh viện cấp cứu.. Đến 13 giờ 30 phút ngày 12 tháng 3 năm 1990 thì trái tim giàu tình thương và rất mực trung hậu đảm đang đã ngừng đập. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương thông báo: "Nạn nhân từ trần do chấn thương gây xuất huyết não".

        9 giờ sáng 13 tháng 3 1àm 1ễ nhập quan tại nhà tang lễ bệnh viện ở đường Trần Phú, Quận 5. Thi hài được đặt trên nền mười ký trà, chung quanh để theo một số đồ dùng thường ngày. Bà con thân thuộc có mặt rất đông. Cô em Nguyễn Thị Thanh Thảo (con mẹ đỡ đầu tôi hồi chống Pháp) nói nhỏ: "Anh có bệnh gì thì gởi chị mang đi cho trước khi đậy nắp áo quan". Tôi đến nói vào tai thi hài: "Anh bị đau gan và bị nhức đầu dữ dội mỗi lần cảm cúm, nếu được nhờ em mang dùm di cho". Từ đó đến nay (đã hơn 17 năm) tôi không bị nhức đầu dữ dội như trước, đây là một sự thật mà tôi chưa hiểu nổi.

        Lễ động quan đưa tang lúc chín giờ rưỡi. Lúc lên xe tang tôi nhường chỗ ngồi phía trước cho cô Nguyễn Thị Kiểng (trên 70 tuổi) là người tôi gọi bằng dì họ, vợ tôi gọi bằng cô. Tôi ngồi cùng các chú tay đòn, đội hình xe ở tô có bảy chiếc. Tôi xúc động thấy có nhiều cán bộ, chiến sĩ Đoàn 7708 và của Phòng 5 Cục Chính trị Quân khu 7 dùng xe máy chạy theo xe tang, nhiều người len lên, cố chia xẻ nỗi buồn với tôi. Cảnh tượng này gợi nhớ mấy câu thơ khuyết danh mà tôi đã nghe hồi Ở Phnôm Pênh:

                                         "Khi em chết anh là người xây nấm mộ
                                           Bên cỗ quan tài ai khóc tiễn đưa em?
                                           Đau đớn lắm hỡi đời buồn thê thảm.
                                          Thương nhớ này biết thuở nào nguôi?"

        Tôi cùng gia đình tiếp nhận rất nhiều tấm lòng thương cảm, chia xẻ của các đồng chí, đồng đội, của lãnh đạo và chính quyền ớịa phương đến trực tiếp, và của nhiều anh em bầu bạn ở quê hương Vĩnh Linh, ở Hà Nội, Hải Phòng gởi điện thư chia buồn.

        Sau lễ cúng ba ngày vẫn còn nhiều người đến viếng và an ủi gia đình, trong dó có Trung tướng Lê Hai, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Sau khi đốt nhang, mặc niệm xong, Trung tướng ngồi hỏi chuyện. Ông hỏi: "Quân khu 7 xếp công tác cho anh thế nào?". Tôi kể chuyện chuẩn bị đi làm chuyên gia chính trị khu vực 4 hoặc khu vực 2 và lời khuyên của vợ tôi "nên làm theo yêu cầu của tổ chức, mình lớn tuổi rồi mà từ chối là không tiện". Trung tướng nhìn tấm ảnh trên bàn thờ vừa nói: "Ý thức tổ chức của chị tốt lắm".

        Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hòa, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 7 với vẻ mặt buồn, khuyên "Cảnh chúng mình mà mất người vợ là cuộc sống bị hụt hẫng nhiều thứ lắm? Anh phải ráng bình tâm lại mà thu xếp, điều chỉnh cho hợp lý để giảm bớt sự bất lợi cho sức khỏe.

        Hai vợ chồng Thiếu tướng Trần Văn Trân đến viếng. Anh cắm nhang, bông huệ và xếp nho lên bàn thờ rồi nói: "Ninh ơi! Mày có thương tao thì có gì đưa cho tao ăn, đừng để lúc tao chết rồi đem đến cúng như tao đến cúng vợ mày bây giờ". Nói rồi anh cười một tràng dài... Tôi dạ.

        Tôi cảm thấy trong đời chưa có cuộc chia tay nào cay đắng như cuộc chia tay một nửa thân mình. Anh Đinh Như Gia và hai em Đạt - Thông kể: Hôm được điện báo, mẹ tôi nói: "Vợ nó chết tai nạn xe máy thì nó cũng bị thương vì chở nhau. Tau 80 tuổi rồi, không còn sức mà đi thì tụi bây phải vô hết coi mà cứu giúp. Xong việc nhắc thằng Ninh phải đến các cơ quan và người cao tuổi đã giúp dỡ tang ma để cảm ơn, không phải chỉ in lên báo lời cảm tạ là xong?".

        Trong nỗi hụt hẫng, tiếc thương sự ra đi của vợ, tôi có bài thơ "tự sự", xin được bạn đọc chia sẻ:

                                         Mười năm xa cách lại mười năm
                                         Chiến trường biền biệt bóng hình anh
                                         Ngày đêm vò võ nuôi con đợi
                                         Biết lấy gì đong nỗi ái ân ?

                                         Được rút quân về ở bên em
                                         Đời vui như thuở tuổi xuân xanh
                                         Ai ngờ một sáng ngay đầu ngõ
                                         Tai nạn, trời ơi! Anh mất em.

                                         Những tháng ngày dài anh tìm em
                                         Tìm đâu hơi ấm, nhịp thở êm
                                         Chỉ thấy trần nhà màu xám lạnh
                                         Còn đâu? năm tháng sống êm đềm 

                                         Cứ tưởng như em sẽ trở về
                                         Hiền hòa đi giữa cánh đồng quê
                                         Phúc Lâm - Hồ Xá đôi ta bước
                                         Đợi mãi, sao không thấy em về? 

                                         Soi mảnh gương rơi nhặt cạnh vườn
                                         Mối sầu tô đậm nếp phong sương
                                         Trũng sâu đôi mắt mờ mờ lệ
                                         Nhoi nhói trong tim nỗi đoạn trường 

                                         Tôi cố tìm tôi muốn thấy tôi
                                         Có thể nào đâu cũng mất rồi?
                                         Bao niềm hoài bão bao kỳ vọng
                                         Chẳng lẽ từ đây chấm dứt rồi?


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:44:44 PM

        2. Những lời mẹ dặn

        Cuối năm 1990, sáu tháng sau cuộc chia tay cay đắng của đời mình, trong khi Quân khu chưa xếp công tác tôi xin nghỉ phép về quê thăm mẹ đã 81 tuổi. Ngôi nhà nhỏ của mẹ đã bị bão đánh sập năm 1985. Cháu Đinh Như Hoan đã trở thành phóng viên toà báo Dân tỉnh Quảng Trị. Mẹ đến ở với chú em Đinh Như Thông. Tôi bước vào nhà lúc nắng chiều rọi sâu vào nền nhà một mét. Vợ chồng chú Thông đi làm, hai cháu đi học, ngôi nhà vắng lặng. Mẹ ngồi giường nhìn ra, tôi chào: "Thưa mạ!" và gần như cùng lúc mẹ rất vui: "Chào chú bộ đội". Tôi nhanh tay lấy từ ba lô mời mẹ cái bánh bông lan nhỏ. Tôi đang lục ba lô tìm thuốc đã nghe mẹ nói: "Chú bộ đội cho cái bánh ăn ngon quá, cho tôi cái nữa!" Tôi lấy hai cái tới trao một cái, rồi ngồi giường nhìn mẹ ăn. Mẹ nhìn thấy rõ mặt, mẹ cười la to: "Trời ơi, thằng Ninh mà tao cứ tưởng chú bộ đội mô cho bánh, tao xin cái nừa?" Mẹ lại cười nói: "Cơ khổ hè! Chân chậm, mắt mờ rứa đót" Tôi an ủi: "Con Ở ngoài bước vô, do khuất bóng nắng chớ mắt mạ còn tinh, tai mạ còn thính lắm!"... Mẹ lại cười miệng móm mém mẹ hỏi đủ thứ chuyện. Mẹ hỏi "Vợ mi chết rồi, chừ mi ở với ai?" Tôi thưa: "Ở với đứa con út là Hương Lý - 15 tuổi, đang học lớp 10". "Ai đi chợ nấu cơm?" Mẹ lại hỏi. Tôi thưa: "Hai cha con tự làm lấy". Mẹ nói: "Tội nghiệp chưa! Năm ni mi mấy chục tuổi? " Mẹ lại hỏi. Tôi chưa kịp trả lời, mẹ đã nói: "Mạ 81, mi 60. Trời bỏ sót cho thì còn được sống lâu lắm. Nếu tốt số gặp được ai đó mà chắp nối cho đời đỡ khổ". Ngưng một lát, mẹ lại nói: "Thiên hạ cũng có người chắp nối được sống êm ấm. Cái khó là chắp nối với ai? Chắp nối khi mô? Việc đó tùy con, mạ cho tự lo liệu, bây chừ mạ không còn giúp chi cho con được nữa mô. Mạ chỉ dặn, đừng ham trẻ, ham đẹp ham giàu, nay mai nó chê già, chê xấu, chê nghèo nó hắt hủi thì đời thêm khổ". Ngưng một lát, mẹ lại nói: "Lại phải tránh người trái tính trái nết, nó đày ớọa thêm tội nghiệp cho con cháu miềng". Tôi thấy mẹ vốn đã yếu sức lại cao tuổi, nếu có thể gặp được ai đó để "đi bước nữa" thì chỉ có thể tranh thủ thời cơ trước khi mẹ mất.

        Tôi dạ và mời mẹ ăn bánh uống nước. Mẹ tôi qua đời đầu năm 1992, thọ 83 tuổi. Đây là những ngày tôi bị tai nạn giao thông, không về chịu tang được. Tôi cho con trai, em Đinh Như Đạt cùng anh Khương và gia đình về chịu tang. Tháng 4 năm 1992, tôi nhận quyết định nâng lương và nghỉ hưu.

        3. Nụ cười đôn hậu

        Vào một ngày quý 3 năm 1991, có lần ngồi uống trà tại phòng Cán bộ Quân khu, anh Năm Ngà chỉ vào tôi và nói: "Chú nhỏ này chết vợ rồi, tụi mình kiếm vợ cho nó chớ!" rồi anh cười đôn hậu. Anh Hai Hương, đại tá - nguyên Phó phòng cán bộ - Trưởng T67 và anh Sáu Quang, Viện phó, đại tá - Bí thư đảng ủy Quân y viện 7A đã giới thiệu cho tôi nhiều nữ bác sĩ dược sĩ ngoài 40 tuổi. Họ là những thiếu nữ từ vùng châu thổ sông Cửu Long lên Miền đi kháng chiến. Họ đã phấn đấu trưởng thành theo năm tháng để được vào Đoàn, vào Đảng, phấn đấu để được học nghiệp vụ từng bậc sơ cấp, trung cấp, đại học. Khi trở thành cán bộ thì đã hết tuổi xuân, lại thêm thương tật, bệnh tật.., tương lai hạnh phúc gia đình thật khó khăn, nan giải. Sau chiến tranh ai cũng quý trọng và thương thay cho số phận của họ.

        Theo lời mẹ dặn, tôi chấm một người hiền lành nết na, chăm học, chăm làm, tuổi Sửu, được mệnh danh là "con trâu đất" của đơn vị, bí thư chi bộ khoa, thương binh hạng 4/4. Tôi và anh Hai Hương mượn lý do đi khám bệnh, đến bệnh viện 7A làm quen. Chúng tôi được biết thêm nhiều điều quý hóa: Gia đình có 9 anh chị em ở vùng địch chiếm mà không ai làm gì cho địch, bà cụ mất đã 7 năm, ông cụ 80 tuổi sống với người con trai út, một trung sĩ bộ đội thông tin Quân khu 7 mới phục viên. Tôi ở B2 đã lâu từng nghe nhiều giai thoại về "ông già Nam Bộ", tôi suy nghĩ đắn đo. Một hôm, tôi nói điều lo lắng của mình với bác sĩ H. Cô cười vừa nói rất tự nhiên: "Ba em dễ tính lắm, nhất là với những người kháng chiến, là bộ đội Cụ Hồ". Bác sĩ H, ngỏ ý mời tôi và anh Hai Hương về dự đám giỗ cùng gia đình trong tháng tới. Tôi viết lá thư ngắn làm quen: "...Xin bác cho cháu được phép tự giới thiệu, cháu tên là..., quê quán ở..., là bộ đội giải phóng B2 đã đi Campuchia nay về Quân khu 7. Thưa bác, cháu mồ côi cha từ năm 16 tuổi, gần 40 năm nay cháu được nhiều lần gọi mẹ mà chưa một lần được gọi ba. Cháu có quen cô Tám, con gái của bác. Cô Tám ngỏ ý mời cháu về dự đám giỗ trong tháng tới. Từ đó cháu cứ mong cho thời gian qua mau để được gặp bác cùng gia đình, để có thể tìm lại được tiếng Ba trong tình thương của gia đình”.

        Tháng sau, anh Hai Hương và tôi cùng cô Tám về được gia đình tiếp đón thân tình, chuyện trò cởi mở. Tôi nhận rõ ở ông cụ có nếp sống của một nhà nho. Tôi để ý thấy cụ dùng phấn viết bảng viết nhiều câu thơ và châm ngôn bằng chữ Nho và chữ quốc ngữ theo tường (bằng ván gỗ) quanh nhà. Tôi ghi nhớ cụ viết: "Cẩn tắc vô ưu. Nhẫn tắc vô nhục. Kiệm tắc thường túc. Tịnh tắc thường an".

        Cuối buổi tiếp chuyện, cụ nói: "Đời người, gặp cảnh bếp không có đàn bà, nhà không có đàn ông đều trở thành đơn chiếc. Nay hai con ráp lại với nhau là quý, Ngưng một chút, cụ nói: "Con Tám nhà này tuổi Kỷ Sửu năm nay 42. Chiến tranh đã lượm mất tuổi xuân, năm nay nó đã lỡ thì quá lứa, lại thêm chức to, thương tật. Ở miền quê này không ai dám hỏi nó làm vợ đâu,, Cụ ngoắc tôi tới gần, cụ hỏi: "Con có mấy người con?" Tôi thưa, bốn. "Mấy trai mấy gái?", cụ lại hỏi. Tôi thưa: "Một trai, ba gái". "Đứa nhỏ nhất nhiêu tuồi?,, cụ hỏi tiếp. Tôi thưa: "Cháu 15 tuổi, đang học lớp 10". Cụ cười đôn hậu và nói: "Qua đồng ý cho gọi bằng Ba, nghe con?". Tôi dạ.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:47:04 PM

*

*         *

        Mười hai tháng sau, nhân ngày đám giỗ của má, ba cho phép kết hợp thông báo đến bà con nội ngoại biết việc chắp nối của chúng tôi. Trong lễ dâng hương cúng giỗ má, ba đã nói như tâm sự với má: "Con Hoa nhà mình nay đã có chồng, được tin này chắc bà vui lắm. Ráng phù hộ cho vợ chồng nó mạnh giỏi".

        Đến dự cuộc vui có đông đủ bà con thân tộc, có nhiều đồng đội của hai chúng tôi. Sự có mặt của anh Sáu Quang, đại tá - đại diện thủ trưởng bệnh viện 7A, anh Năm Bền và anh Hai Hương, đại tá - đại diện T67 và anh Khởi, anh Ba Giám đại diện phòng Bảo vệ an ninh, anh Tám Lập1 phó chỉ huy về Chính trị Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh.., càng thêm thắm tình quân dân.

        Trong cuộc vui không có chương trình văn nghệ mà có một lớp thoại đáng nhớ. Anh Nguyễn Tái Giám, đại tá - nguyên Trưởng phòng Bảo vệ an ninh thay mặt nhà trai nói: "Kính thưa bác Hai và gia đình, hôm nay cháu rất vui được dự lễ chắp nối cho người đồng đội quê ở miền Bắc vào chiến đấu ở miền Nam, sau chiến tranh không may gặp cảnh gãy gánh nửa đường. Nay được bác Hai cho phép làm con rể của gia đình Nam Bộ là may mắn lắm. Chúng cháu rất mừng và kính chúc sức khỏe bác Hai, chúc gia đình gặp nhiều may mắn".

        Chị Tư (Trần Thị Du) đứng lên nói: "Tôi xin thay mặt ba tôi và gia đình cảm ơn các anh chị bộ đội giải phóng, đã thương yêu nuôi dạy cho em thứ tám của chúng tôi khôn lớn, an toàn vượt qua chiến tranh, nay khuôn xếp cho cuộc đời em tôi có đôi có đũa là chúng tôi rất mừng, rất cảm ơn mấy anh chị bộ đội Cụ Hồ".

        Anh Ba Giám lại thưa: "...Nhờ có Đảng và Bác Hồ mà Nam Bắc sum họp một nhà. Như tôi đây, trước tháng 8 năm 1945 là một chú nhỏ tha phương cầu thực, từ Thái Bình lưu lạc vào Sài Gòn đánh giày, bán cà rem rồi vào bộ đội, trở thành cán bộ, có vợ con là người Nam Bộ, đến nay các cháu đã trưởng thành, tôi nghĩ chú Ninh - em tôi dây cũng vậy, được gia đình cưu mang giúp đỡ thật là may mắn. Tôi thật sự cảm động và cám ơn".

        Chị Tư lại tiếp: "Nhờ có Cụ Hồ và bộ đội giải phóng mà chúng tôi thoát khỏi cảnh bị o ép, tù tội thời Mỹ ngụy. Nay đất nước hòa bình thống nhất, gia đình chúng tôi có thêm một người con quê miền Bắc, chúng tôi coi dây là phần thưởng do cách mạng ưu ái cho gia đình, chúng tôi thành tâm đón nhận và cảm ơn nhiều".

        Lớp thoại được mọi người vỗ tay đồng tình, khen ngợi.

        Sáng ngày mồng một Tết năm 1993, chúng tôi phải thường trực ở đơn vị. Chưa kịp về chúc Tết, tôi gởi thiệp về trước chúc ba:

         "Minh niên Quý Dậu, bút khai xuân/ Dao vọng nam thiên, ức phụ thân/ Bát thập tam niên, tứ cẩn tắc/ Xuân lai xuân khứ, đại trường xuân"

        Thiệp chúc Tết đã làm ba rất vui. Vần thơ xuân trở thành sự phấn chấn và nội dung đàm luận rôm rả giữa ba với các cụ cao tuổi tại địa phương. Trong dịp này ba dặn nếu vợ chồng thằng Tám không sinh đẻ được thì bắt thằng Vũ (con thằng Chín) về làm con nuôi, để khi hai đứa bây già có nó lo phụng dưỡng". Thực hiện lời ba dặn, cuối năm 1993 chúng tôi đã lo đủ thủ tục pháp lý và gởi con Trần Hoàng Vũ vào trường thiếu sinh quân Thành phố. Năm 2006, con Trần Hoàng Vũ đã là đảng viên chuẩn uý, y sĩ của Trung đoàn Gia Định.

        Năm năm sau, ba chúng tôi qua đời, thọ 88 tuổi. Tôi và con trai Đinh Như Sơn, cùng anh sui và con rể thứ tư là Phan Văn Báu về quê Long An cùng gia quyến tế lễ đại thọ.

        Hàng ngày tôi vẫn đi làm việc tại Hội Cựu chiến binh Quận 10. Cường độ và hiệu quả công việc của tôi gần như lúc tại ngũ. Tôi có dịp hiểu sâu cuộc sống người dân, người cựu chiến binh và cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào vì người nghèo...

        Trưa về ăn cơm nhà với con Hương Lý và Như Sơn ở cư xá Bắc Hải. Vợ tôi vẫn đi làm tại bệnh viện 7A, Quân khu 7; tối mới cùng về nhà riêng tại phường 5 Quận 5. Tôi vẫn luôn chú ý về sự phấn đấu và tiến bộ của hai con Sơn và Lý.

        Từ năm 1994 đến năm 1998, hai chúng tôi đã ba lần về quê Vĩnh Linh dự lễ mãn tang mẹ tôi, viếng nghĩa trang và thăm bà con, chị em nội ngoại ở Hồ Xá - Phúc Lâm và một số nơi lân cận. Lần nào về quê tôi cũng đến dâng hương lên ông bà nội ngoại của các con Liên, Sơn, Lan, Lý, thăm cậu và các dì, góp chút ít lễ vật và nhắc các em nhớ tổ chức cúng giỗ ông bà ngoại cho tươm tất. Tôi cũng đã viết lại "Những lời tâm sự" của má các con để bày tỏ tình cảm quý trọng với người đã mất và gợi ý những suy nghĩ việc làm của những người thân đang sống sao cho xứng đáng.

        Ngày Tết, ngày giỗ hàng năm chúng tôi vẫn về quê Long An đều đặn, vui vẻ, thân tình.

---------------
1. Tám Lập: Thiếu tường Trần Thành Lập.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:47:47 PM
*

*         *

        Tháng 7 năm 2000, gia đình tổ chức lễ trung thọ 70 tuổi đời và 50 tuổi Đảng cho tôi. Được tiếp nhận quà và những lời chúc tốt đẹp của vợ cùng lần lượt đông đủ các con, các cháu..., tôi xúc động nhớ một nừa thân mình đã mất, tôi nói về kinh nghiệm sống của mình là làm theo lời Bác Hồ dạy: "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" và giữ diều độ trong mọi sinh hoạt, ăn uống, ngủ nghỉ hàng ngày. Tôi kể chuyện kháng chiến và các lần chết hụt của mình, kể chuyện vui thời thơ ấu... Tôi nói về tài sản, khi ra đi theo tiếng gọi của Bác Hồ thì ba chỉ có hai bàn tay trắng, nay đã có cơ ngơi, các con cháu khôn lớn, ổn định cuộc sống, lại có ngôi nhà và mảnh đất này. Đây là sự ưu ái của cách mạng cho chúng mình. (6 thành viên trong nhà). Tôi nói về đoàn kết và sự thương yêu lẫn nhau diễn ra trong nhiều năm qua của gia đình, với dòng họ và quê hương... Cứ sau mỗi lời chúc và quà tặng của từng hộ thành viên cho tôi, tôi đều đáp lời bày tỏ tình cảm của mình và biểu dương khích lệ vai trò của từng thành viên với gia đình và xã hội. Sau buổi gặp mặt là bữa cơm gia đình do vợ tôi và đứa cháu (gọi vợ tôi bằng cô) chuẩn bị. Tôi có bao thư lì xì cho mỗi người có mặt. Tôi nói năm 2010 sẽ làm lễ thượng thọ, 2020 làm lễ đại thọ, 2030 làm lễ trường thọ...

        Buổi lễ trung thọ và 50 tuổi Đảng được quay video, phát cho mỗi cặp vợ chồng một cuốn băng, thỉnh thoảng các cháu xem lại đều rất vui mừng, nhiều cháu hỏi sao ông không làm lễ chúc thọ hàng năm hoặc 5 năm một lần mà để tới 10 năm 1 lần là lâu quá!

        Hồi đó, Hương Lý mới có người yêu cũng được mời dự. Đến nay (2006), Hương Lý đã có một con trai kháu khỉnh, lanh trí - cùng với chồng là Vũ Nguyên Khoa, cán bộ công an Quận 10 thành hộ gia đình 3 thành viên ở nhà tôi. Hương Lan cùng chồng là bác sĩ Phan Văn Báu và các con thành hộ gia đình có nhà xây khang trang tiếp giáp nhà tôi. Tôi đã cám ơn hai con Báu Lan đã mua phần của má, giúp ba có tiền trả nhà nước. Con gái đầu lòng của hai con Báu Lan là Kim Hoàng vào đại học Y thành phố Hồ Chí Minh năm thứ nhất (2006). Như Sơn đã là đảng viên, cán bộ phòng Kinh tế Quận 2, cùng vợ là Kiều Chung đã có một con gái 4 tuổi - tóc quăn, ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Cứ mỗi lần sinh hoạt gia đình đông vui, cháu Kiều Loan thường tỏ vẻ tự hào chỉ có nó là cháu nội. Hương Liên - Lê Văn Duy đã là cán bộ đảng viên, có nhà cừa ổn định, hai con trai là sĩ quan quân đội và công an.

        Tôi cùng gia đình đã chọn cháu ngoại là Lê Duy Vũ làm "người nối nghiệp" phục vụ lâu dài trong quân đội. Từ năm 1998, đã gởi cháu vào trường Thiếu sinh quân Thành phố Hồ Chí Minh học THPT. Cháu thi đậu vào và học xong đào tạo ở trường Sĩ quan Lục quân 2, làm Trung đội trưởng 2 năm, học lớp chính trị viên đại đội và về cơ quan chính trị quân đội Quận 6 từ năm 2007.

        Nhớ lại, hồi cuối năm 1991, khi chúng tôi mới chắp nối, trong các con tôi cũng có người có lúc buồn rầu, lo lắng. Đến nay thì mọi thành viên đều hiểu rõ, thông cảm, thương yêu nhau. Tôi thật sự vui mừng, hạnh phúc. Tết, giỗ và hàng tuần các con, cháu thường thay nhau đến thăm, vui chơi với ông và "bà cô cô"... Nhìn bà chơi tú lơ khơ, chơi đồ hàng, xếp thuyền, xếp chim bằng giấy.., với các cháu rồi chấm điểm, bình phẩm, khen ngợi lẫn nhau xen trong tiếng cười tươi vui, hồn nhiên thật hấp dẫn, thú vị đối với tôi.

        Vợ tôi sau khi về hưu, đã vào hội Cựu Chiến binh, được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ, Cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc Phường và chi hội trưởng Ở khu phố, tham gia tổ quân y khám bệnh từ thiện của phường, tham gia cấp ủy chi bộ khu phố. Cuộc sống đời thường dần ổn định, hăng hái, vui vẻ.


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:53:18 PM
*

*         *

        Tháng 9 năm 2003, vợ tôi vào bệnh viện mổ u nang buồng trứng, bệnh viện phát hiện bị úng thư và gọi vào điều trị cấp cứu tại khoa ung thư phụ khoa, bệnh viện Từ Dũ. Vợ tôi khóc sướt mướt nhiều ngày, tôi và gia đình cùng các bà con anh em ở quê Long An, quê Vĩnh Linh đến an ủi động viên, thay nhau chăm sóc... Bệnh viện đã mổ triệt để và chuyển thuốc hóa chất 6 đợt, kéo dài đến gần hết tháng 6 năm 2004. Gia đình tiếp tục chạy chữa bằng thuốc Nam và phải tiếp tục tái khám sau ba tháng, sáu tháng, một năm... Trong những ngày tháng nguy kịch (cuối năm 2003), tôi tiếp nhận nhiều tấm 1òng ưu ái của rất nhiều tổ chức: Đảng ủy, ủy ban Nhân dân, ủy ban Mặt trận tổ quốc phường 13, của Khu phố 6 và nhiều bầu bạn xa gần. Ban Giám đốc bệnh viện 7A dặn: "Cứ sau mỗi đợt vô hóa chất vào 7A nằm để được giải độc, nâng đỡ cơ thể". Vợ tôi ngày càng suy kiệt do hóa chất tàn phá cơ thể. Sau đợt chuyền hóa chất lần thứ 6, vợ tôi đi lỏng kéo dài 10 ngày mà không thuốc gì cầm được. Vợ tôi không ăn uống được vì ói, chỉ nuôi bằng nước biển và nằm thoi thóp thở. Có hôm người chị thứ Sáu than thở lúc 2 giờ sáng tại bệnh viện 7A: "Rồi đây đem cái xác về thì mình biết nói với anh chị em, gia đình thế nào đây?". Có lúc bệnh nhân lấy giấy và viết chúc thư để lại rất tỉnh táo, mạch lạc. Vợ tôi đưa tiền nhờ chị thứ Sáu mua may cho tôi bốn bộ áo quần mới để có đủ dùng sau này. Với nước mắt ràn rụa, vợ tôi nói với tôi: "Nếu em đi, anh cho em về nằm bên ba má ở quê nhà". Tôi nghĩ, còn nước còn tát và nói: "Không sao đâu, em sẽ khỏe lại. Ra viện về nhà, chúng mình lại cùng đi bộ tập thể dục, cùng đi du lịch thăm chơi đây đó, ngắm những cảnh đẹp của đất nước, quê hương mình"...

         Cứ môi lần tái khám, chuyền hóa chất, vợ tôi lại mất máu, do đó phải uống máu tươi của vịt xiêm trước nhiều ngày. Những lần uống như vậy, tôi dùng tờ lịch bịt kín miệng ly, dùng ống hút chọc thủng tờ lịch, vợ tôi bịt mũi, nhắm mắt ngậm ống hút, ừng ực uống. Tôi biết là người bác sĩ chuyên khoa nhiễm, người "nhìn đâu cũng thấy vi trùng ' mà chịu nhắm mắt uống máu tươi là con người đầy nghị lực, làm tôi phải kinh ngạc.

        Một hôm, tôi cho vợ nằm giường thòng ngửa đầu để gội, thấy tóc của vợ tôi rụng từng nắm, chỉ còn lưa thưa ít sợi. Vợ tôi đồng ý cạo trọc và đội tóc giả mỗi khi ra khỏi nhà.

        Tôi được anh Nguyễn Phước Hạnh (Cựu chiến binh Quận 10) cho biết địa chỉ người đã chữa lành ung thư gan bằng cách uống bột rắn lục xanh tán nhuyễn, dùng lá cây trinh nữ hoàng cung nấu nước uống thay trà. Tôi đến hỏi kỹ và tổ chức mua rắn để thực hiện.   Tôi cảm động, lo lắng khi biết con gái út là Hương Lý của tôi, mới sanh bé 15 ngày đã đứng rang, tán bột rắn lục xanh cho cô chữa bệnh. Tôi gọi điện về quê cho em vợ thứ Chín là Trần Văn Bùi mua rang, tán bột rắn lục xanh gởi lên cho chị uống đều đều từ cuối năm 2004 đến nay. Bên cạnh việc tôi tự trồng, còn có nhiều người bạn đem cho cây trinh nữ hoàng cung để uống chữa bệnh.

        Để động viên an ủi lẫn nhau, tôi tranh thủ đóng tiền để vợ chồng được cùng đi du lịch, nghỉ ngơi mỗi khi có dịp. Có lần tại khách sạn Cần Thơ, vợ tôi dùng xà bông cạo râu để đánh răng và chê kem gì mà không có bọt, tôi thấy và cùng cười, cười về cái quê mùa của hai chúng tôi. Có lần ngủ tại khách sạn Tràng Tiền ở Huế, chúng tôi bị rét run cầm cập vì máy điều hòa quá mạnh, mà không biết điều chỉnh... Chúng tôi đều là cán bộ cấp tá của quân đội, nhưng quanh năm suốt tháng chỉ gắn bó với đơn vị nên hiểu biết cồ hạn đối với các mặt sinh hoạt của xã hội ngày một đổi thay.

        Tháng 10 năm 2004, tôi đi mổ nội soi chứng phì đại tuyến tiền liệt tại bệnh viện Bình Dân. Nhờ có con rể liên hệ, tôi được bác sĩ Chí Hùng - Giảm dốc bệnh viện bố trí giáo sư Chuyên mổ cho tôi. Tôi rời phòng hậu phẫu sớm hơn 5 phút. 30 phút sau, vợ tôi nhìn thấy màu máu trong bịch chứa nước tiểu (nối từ bàng quang ra) có dấu hiệu khác thường, vợ tôi gọi y tá trực yêu cầu báo cho bác sĩ. Giáo sư Chuyên đến mổ lại. Tôi bị chảy máu từ một ít mao mạch do cử dộng sớm. Nhờ được xử trí kịp thời nên tôi không phải cấp cứu truyền máu. Các con tôi đã hú vía và đều cám ơn con mắt nghề nghiệp của "bác sĩ gia đình" mình. Trong thời gian này, tôi nhận được sự chăm sóc chu đáo, tình cảm sâu đậm của vợ, các con, các cháu, bầu bạn xa gần và bệnh viện Bình Dân. Hàng đêm, con nuôi Trần Hoàng Vũ và cháu ngoại Lê Duy Vũ vào bệnh viện canh chừng giấc ngủ cho tôi.

        Tháng 6 năm 2006 tôi về đám giỗ cha, tôi tìm lại đám đất đã ôm ấp che chở hài cốt cha tôi trong cuộc chiến tranh và thăm lại Xóm Chồi yêu quý. Nhưng giữa xóm Chồi xưa dã xuất hiện con đường nhựa rộng hơn 15 mét là đường Ngô Quyền, dọc hai bên đường mọc lên những ngôi nhà mới xây thật khang trang, các đường dây điện, điện thoại, các bảng pa nô, áp phích cổ động trông thật vui mắt. Đường làng, ngõ xóm mở rộng, phần lớn đã rải nhựa hoặc bê tông hóa. Tôi cố tìm mà không thấy dấu vết tích xóm Chồi thuở thơ ấu. Quê tôi dã đô thị hóa nhanh thật, làng Hồ Xá trở thành 9 khóm phố mà xóm Chồi là khóm phố 5 các phường 4, 5, 6 của thị trấn Hồ Xá huyện Vĩnh Linh. Đúng là "...ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ di chúc.

        Bệnh viêm dạ dày và rối loạn tiêu hóa của tôi đã biến mất sau 10 năm uống nước lá sen (hoặc hột sen cả vỏ) thay trà - theo lời người y sĩ bệnh viện 121 Quân khu 9 chỉ dặn.

        Cũng trong dịp thử máu chuẩn bị mổ, tôi mới biết công thức máu của mình không bình thường. Ra viện, tôi vẫn tiếp tục công việc tại Hội Cựu Chiến binh Quận 10. ít lâu sau, tôi ngất xỉu nhiều lần. Tháng 5 năm 2005, tôi xin nghỉ việc để điều trị bệnh ngất xỉu.

        Tôi đi tái khám định kỳ 15 - 20 ngày/lần hoặc tháng một lần theo hẹn của bệnh viện 7A và bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi được vợ và các con chăm sóc chu đáo dinh dưỡng được đầy đủ theo yêu cầu bệnh lý. Tắm xong phải dội lại bằng nước gừng nấu thật cay.

        Hàng ngày tôi vẫn luyện tập thể dục đều đặn. 4 giờ 30 báo thức, hai vợ chồng đi bộ 2 kilômét. Sau đó, Vợ vào sân tập dường sinh với khu phố, tôi về tập yoga dưỡng sinh theo bài tập 12 động tác1 , vừa thở bụng theo phương pháp Nguyễn Văn Hưởng2 (mục đích giảm thải lo âu, thư giãn thần kinh). Sau bài thể dục là xoa bóp theo "cốc đại phong" và vuốt thái dương từ má lên đầu 100 cái (theo chỉ dặn của anh Bùi San, trưởng ban B68 hồi ở Phnômpênh). Uống thuốc đặc trị và thuốc huyết áp xong, tôi tiếp tục tập bài "Dịch cân kinh" vẫy tay 2000 cái và xoa bóp các đầu ngón tay, ngón chân. Khoảng 8 giờ sáng, làm vệ sinh cá nhân rồi đi ăn sáng. Thời gian còn lại trong ngày dành cho việc đọc báo, xem sách, tâm sự chuyện đời thường giữa hai vợ chồng.

----------------
1. Bài 12 động tác do nhóm bác sĩ Liên Xô biên soạn theo báo Sài Gòn giải phóng số đầu tháng 1 năm 1984, tôi tập hàng ngày tử tháng 2 năm 1984 đến nay đã quen thành nếp.
2. Bác sl Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Bộ trướng Bộ Y tế, Anh hùng lao động


Tiêu đề: Re: Hồi ký của đại tá Đinh Như Ninh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2016, 01:55:18 PM

        4 - Cảm nghĩ về cuộc đời Bộ đội Cụ Hồ

         Nhìn lại 75 năm, một cuộc đời - trong dó hơn 50 năm sống đời "Bộ đội Cụ Hồ" (42 năm tại ngũ và 11 năm công tác Cựu chiến binh Q10), tôi vui mừng thấy mình từ một thanh niên ở miền quê nghèo đói dưới ách thống trị của thực dân đế quốc, đã gặp may mắn sống trong thời đại Hồ Chí Minh. 18 tuổi vui mừng được làm "Bộ đội Cụ Hồ", 19 tuổi vinh dự được trở thành đảng viên. Tôi đã gắn bó suốt đời, mang hết sức lực, trí tuệ và phẩm chất của người cộng sản để khắc phục khó khăn, vượt qua nguy hiểm, hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Hết nhiệm vụ, tôi trở về cuộc sống đời thường, được tổ chức tạo điều kiện cho tôi và gia đình có cuộc sống bình ổn như nhiều người dân thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu.

        Trong tình thế phải "'chung sống hòa bình" với bệnh tật, hạnh phúc đang mỉm cười với chúng tôi: Đã 2 năm tôi không còn bị ngất xỉu, bệnh hiểm nghèo của vợ tôi đang ổn định năm thứ tư, phấn đấu giữ ổn định đủ 5 năm coi như bệnh khỏi hẳn. Hàng ngày, chúng tôi vẫn thực hiện đúng nghĩa vụ công dân và tích cực góp sức xây dựng khu dân cư văn hóa.

        Những điều tôi nhớ lại, suy ngẫm và ghi chép trong tập "Cuộc chiến thầm lặng" này, mong phản ánh được một phần nhỏ những công lao trời biển của đồng bào, đồng chí, đồng đội trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế và trong xây dựng hòa bình. Nhưng do nhiệm vụ được giao và hiểu biết của tôi chỉ có mức độ, khả năng diễn đạt lại hạn chế, rất mong được bạn đọc góp ý và lượng thứ những thiếu sót.

        Cho phép tôi được coi tập sách này như một nén hương thành kính dâng lên tưởng nhớ đến đồng bào, đồng chí, đồng đội thân yêu đã anh dũng hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam hòa bình, giàu đẹp, hội nhập hôm nay.

        Nhân dịp cuốn sách được ra mắt bạn đọc, tôi xin chân thành cám ơn đồng chí Thái Bá Nhiệm, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Bình đã dành tình cảm, thời gian viết lời giới thiệu; cám ơn Thiếu tướng Trần Thành Lập, nguyên Chỉ huy trưởng về chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Kiệp (nhà văn Lâm Phương), nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự trung ương; Đại tá Nguyễn Văn Khả (Năm Bình), nguyên Cục phó Cục Bảo vệ an ninh Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tá Đào Duy Anh, Hội trưởng Hội Cựu chiến binh Việt Nam Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh cùng nhiều đồng chí, đồng đội và cả sự hỗ trợ của "một nửa thân mình" mới của tôi, của các con tôi đã động viên, đóng góp nhiều ý kiến bổ ích để tôi hoàn chỉnh bản thảo. Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách được xuất bản, đến tay bạn đọc và người thân đúng dịp kỷ niệm 33 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2008).

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/cuocchienthamlang.jpg)

HẾT