Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2015, 10:48:24 AM



Tiêu đề: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2015, 10:48:24 AM
        Nhân dịp 20 năm binh thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, xin trân trọng giới thiệu cuốn tự truyện của Bill Clinton, một người có nhiều đóng góp trong việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.

        - Tên sách: Đời tôi (My life)
        - Tác giả: Bin Clinton
        - Người dịch: Trần Hà Nguyên (Với sự cộng tác của Phan Thanh Toàn, dịch từ chương 39 đến chương 47)
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Công an Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2007
        - Số hóa: Giangtvx

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Bia%201%20-%200001_zpsduvefwqd.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Bia%201%20-%200002_zps6bcgdpdc.jpg)
 


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2015, 06:02:53 AM
  
               Lời nhà xuất bản

        Bill Clinton - tổng thống trẻ tuổi thứ ba trong lịch sử Hoa Kỳ - có lẽ là tổng thống Hoa Kỳ được mọi người trên thế giới biết đến nhiều nhất.

        Bill Clinton là người đầu tiên thuộc thế hệ Baby Boomer (sinh trong thời gian 1946-1964), và là tổng thống Mỹ đầu tiên của thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Nhiệm kỳ của ông đánh dấu sự chuyển giao quyền lực từ thế hệ các tổng thống tiền nhiệm là cựu binh thế chiến thứ hai. Vì thế, "Clinton hiểu rõ thực chất của toàn cầu hóa. Ông hiểu rõ mối liên hệ giữa tự do hóa tài chính và cai trị minh bạch, giữa tự do buôn bán và tạo công ăn việc làm...". Thời kỳ Bill Clinton làm tổng thống là thời kỳ bùng nổ kinh tế dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Người dân Mỹ đã được hưởng một sự phát triểu liên tục về kinh tế, ông rất quan tâm đến những vấn đề thiết thực của đời sống nguời dân: mức thất nghiệp thấp nhất trong 30 năm, mức thâm hụt ngân sách cao nhất trong lịch sử Mỹ được đảo ngược thành mức thặng dư cao nhất... Bên cạnh đó, ông đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường...

        Trên chính trường thế giới, trong thời gian Bill Clinton tại nhiệm, có quá nhiều những biến cố lớn xảy ra trên thế giới mà chính phủ ông đã tham gia như các vấn đề xảy ra ở Somalia, Kosovo, Iran, Iraq, tiến trình hòa bình ở Trung Đông, Bắc Ireland và sự can thiệp rất sâu vào nội bộ nước Nga cũng như châu Âu; ngoài ra là các vụ khủng bố làm chao đảo thế giới như Osama Bin Laden và mạng lưới Al Qaeda...

        Tất cả đều được ông kể lại một cách sinh động và tỉ mỉ trong cuốn hồi kí Đời tôi. Giống như các hồi kí khác, Đờỉ tôi đã hé lộ khá nhiều tình hình hậu truờng của đời sống chính trị Mỹ cùng những hiểu biết về một nền dân chủ đã tồn tại hơn 200 năm và những quan niệm, nhìn nhận về thế giới, về chính trị, cách cầm quyền của các tổng thống Hoa Kỳ. Và Bill Clinton không ngại vạch ra những sai lầm của nguời khác cũng như của chính mình. Điều này giúp người đọc Việt Nam hiểu thêm về nền chính trị Mỹ vốn là vấn đề chưa phổ biến lắm ở Việt Nam. Đây chính là nội dung mà độc giả rất quan tâm trong xu thế hội nhập hiện nay của Việt Nam. Đồng thời độc giả có thể hiểu thêm về một chính phủ đã gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế và thương mại đối với Việt Nam (tháng 1 năm 1994) và hiểu thêm về vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam, kể từ khi chấm dứt cuộc chiến Việt Nam 25 năm trước mà ông là người phản, đối chiến tranh. Dĩ nhiên, tận thâm tâm, Bill Clinton và các chính khách Mỹ khi vẫn tin rằng chính thể của họ là rất dân chủ và hợp lệ. Nhưng xin lưu ý bạn đọc Việt Nam, đây là hồi kí của một Tổng thống Hoa Kỳ, được viết theo quan điểm và cách nhìn của một Tổng thống Hoa Kỳ, chứ không phải là quan điểm của người Việt Nam hay của Nhà xuất bản.

        Bên cạnh cuộc sống làm tổng thống, bên cạnh những công việc của chính phủ là một mảng đời riêng tư, là cuộc sống của một con người bình thường của Bill Clinton và như ông nói: "Tôi đã có một cuộc đời hiếm có, tuyệt vời, và đầy ắp niềm tin, hỵ vọng và tình yêu... Tôi chỉ cố gắng kể câu chuyện về niềm vui và nỗi buồn của tôi, về giấc mơ và nỗi sợ hãi, chiến thắng và thất bại... Tôi nghĩ câu chuyện của tôi là một câu chuyện hay, và tôi rất vui được kể lại...". Nhà văn Toni Morrison đã từng nói rằng "xuất thân của Clinton phô bày mọi đặc điểm của một người da đen tiêu biểu: một cậu bé Arkansas sống trong một gia đình thiếu cha hoặc mẹ, luôn túng thiếu, lao động chân tay, chơi kèn saxophone, thích thức ăn McDonald". Cuộc đời bươn chải và nỗ lực học hỏi, vươn lên trong hoàn cảnh xã hội và gia đình của ông thật sự đáng khâm phục và kính trọng.

        Đời tôi thật sự "cực kỳ thú vị và cuốn hút... Câu chuyện của Clinton đúng là một câu chuyện điển hình của nước Mỹ mà một người bình thường có thể liên hệ... Những chính trị gia tương lai sẽ thấy đây là một cuốn sách phải đọc, còn người Mỹ bình thường sẽ đồng cảm với những thăng trầm mà tất cả chúng ta đều trải qua trong đời" - (Báo Chattanooga Times Free Press).

        Ngay trong ngày phát hành đầu tiên, chỉ riêng tại Mỹ, Đời tôi đã tiêu thụ được 400.000 bản. Đây là con số lớn nhất chưa từng có đối với loại sách phi tiểu thuyết, và là con số gấp đôi lượng bản sách Living History của vợ ông - thượng nghị sĩ Hillary Rodham Clinton. Và Đời tôi đã được tái bản lần thứ 3, với số lượng bản in tăng lên là 2,6 triệu bản.

        Đây là bản mới nhất, có sửa chữa và có lời viết thêm của tác giả. Nhà xuất bản Công an Nhân dân chính thức ra mắt độc giả tập hồi kí Đời tôi của cựu Tổng thống Bill Clinton.

        Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhà xuất bản Công an Nhân dân        
   


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2015, 05:40:48 AM
        "Nói một cách không quá khắt khe thì đây là cuốn hồi ký tổng thống phong phú nhất - không cuốn sách nào khác thuật lại một cách sống động hoặc đầy đủ đến như thế về việc làm tổng thống Hoa Kỳ nghĩa là như thế nào... và ông ấy còn biết viết văn nữa” — Larry McMurtry, New York Times Book Review.

        “Đời tôi chắc chắn là bộ sách về tổng thống hay nhất mọi thời đại” - Douglas Brinkley, báo Financial Times.

        “Một câu chuyện hay tuyệt” - Frank McCourt, tuần báo En­tertainment .

        “Đọc Clinton hồi tưởng và phân tích một cuộc đua chính trị hoặc một trận chiến về lập pháp, dù là củạ chính ông hay của người khác, mang lại cho ta sự sung sướng gần như khoái lạc” - báo The New Yorker.

        “Cực kỳ cuốn hút” — báo The Seattle Times.

        “Clinton kể một cách thẳng thắn [và] viết một cách khéo léo và trôi chảy... Ông cũng là một người có khiếu kể chuyện” — báo The New Republic.

        “Có thể là một sự tái hiện chính bản thân ông ấy” - báo The Plain Dealer.

        “Clinton có nhiều chuyện để kể, đặc biệt là những chuyện phong phú và đôi khi cảm động về những năm tháng trước khi ông phục vụ công quyền, phù hợp với các sử gia phân tích và những người viết tiểu sử... Chuyện cá nhân và chuyện chính trị hòa quyện vào nhau... Câu chuyện của Clinton phần lớn phản ánh đúng con người ông mà chúng ta đã biết” - báo The Nation.

        "Ông ấy đã tạo ra ấn tượng độc đáo rằng ông ấy đang ngồi trong phòng khách và nói chuyện với độc giả… Bất kỳ ai thực sự quan tâm đến chính trị Mỹ đều sẽ thấy sự hiểu biết sâu sắc và giai thoại của ông ấy thật kỳ thú... Cuốn sách này giúp ta làm sáng tỏ câu hỏi "làm sao ông ấy làm được như vậy" - báo Deseret Morning News.

        “Đây là một câu chuyện đáng để Cecil B. DeMille làm phim, một câu chuyện thành đạt dù xuất thân nghèo khó với đầy những khiếm khuyết rất con người, với hàng trăm vai diễn, đủ cả lưu manh mạt hạng lẫn anh hùng cao cả và, như những câu chuyện tương tự thường đòi hỏi, có một kết thúc có hậu... Thập niên 90 một lần nữa trở nên sống động như một thời kỳ của những xáo trộn bất thường và những tính cách cuốn hút... Những nhân vật được mô tả cũng sống động như các sự kiện” - báo The Star-Ledger (Newark).

        “Cực kỳ thú vị và cuốn hút... Câu chuyện của Clinton đúng là một câu chuyện điển hình Mỹ mà một người bình thường có thể liên hệ... Những chính trị gia tương lai sẽ thấy đây là một cuốn sách phải đọc, còn người Mỹ bình thường sẽ đồng cảm với những thăng trầm mà tất cả chúng ta đều trải qua trong đời” - báo Chat­tanooga Times Free Press.

        “Cuốn sách dẫn người đọc vào sự hồi tưởng mạnh mẽ về những thành tựu cũng như thất bại trong thời cầm quyền của ông ấy... Không một cuốn tự truyện tổng thống nào có thể sống động đến thế... Thật khó mà bỏ qua Bill Clinton cũng như câu chuyện đời đặc biệt của ông” - báo The Tennessean.

        “Những ai yêu thích tự truyện hay cần đọc cuốn Đời tôi. Cuốn sách như một chuyện kể trong nhà về một đời người, và vì thế đặt Clinton vào vị trí một người kể chuyện siêu hạng... Thẳng thắn... Trung thực... Lý thú” - báo The Huntsville Times.



Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2015, 02:53:17 AM
 
        Tặng mẹ tôi, người đã cho tôl tình yêu suốt cuộc đời.
        Tặng Hillary, người đã cho tôi một cuộc đời đầy tình yêu.
        Tặng Chelsea, người mang lại niềm vui và ý nghĩa cho mọi thứ ấy.
        Và tưởng nhớ ông ngoại tôi, người dạy tôi tôn trọng những người mà người          khác coi thường, vì thực ra chúng ta không khác nhau là mấy.


        LỜI TỰA

        Sau khi cuốn Đời tôi xuất bán vảo tháng sáu nắm 2004, tôi đi nhiều nơi ỏ Mỹ và ở nước ngoài để quảng bá cho cuốn sách. Tôi ngỡ ngàng và cảm kích khi biết bao nhiêu người chở đợi hàng giờ liển, có khi thâu đêm, để chờ tôi ký tặng vào sách của họ, cho đến nay con số này đã lên đến hơn 60.000 người. Trong những dịp ký tặng sách, trả lời phỏng vấn cũng như gặp gỡ tình cờ, mọi người đưa ra những quan sát cụ thể và rất đa dạng về những gì họ thu được sau khi đọc câu chuyện của tôi - một bằng chứng nữa cho thấy tất cả chúng ta đều cảm nhận thông tin qua lăng kính của những trải nghiệm, mối quan tâm và nhu cẩu của riêng mình.

        Phẩn lớn lởi bình luận của mọi người thuộc ba loại: họ đổng cảm với chuyện kể thời thơ ấu của tôi ra sao; họ bị tác động bởi một việc làm của tôi trong lúc làm tổng thống như thế nào; và cuốn sách đã tăng sự hiểu biết của họ về chính trị hiện đại và các vấn đề chính sách như thế nào. Tất nhiên, một số kha khá thì đùa tôi vể độ dài và sức nặng của cuốn sách. Nhiểu người chỉ lịch sự nói rằng họ thích cuốn sách, trong số này gẩn đây nhất có một nhạc công trẻ trong dàn nhạc của Đại học Florida A&M khi cựu tổng thống Bush và tôi đi ra sân chào lực lượng vũ trang của chúng ta trong buổi diễn trước trận đấu ở sân Super Bowl.

        Trong vài tuần đẩu tiên sau khi cuốn sách được tung ra, phẩn lớn mọi người trò chuyện với tôi vể thời thơ ấu của tôi và việc đọc phần ấy đã làm họ hổi tưỏng lại thời thơ ấu của chính họ như thế nào. Môt phụ nữ mà Hillary và tôi gặp ở một hiệu sách bang Colorado và một phóng viên truyển hình châu Âu phỏng vấn tôi đểu cởi mở bộc bạch vể thời thơ ấu không êm đẹp của họ và nói rằng đọc câu chuyện của tôi đã giúp họ tự hiểu mình hơn, hiểu cả những rắc rối mà họ vẫn phải đối mặt mãi cho đến khi đã trưởng thành. Nhiểu bạn đọc trẻ, thường là dân nhập cư hoặc sinh viên nước ngoài, nói rằng họ đọc chuyện của tôi để tìm sự hướng dẫn sao cho chính họ cũng có thể sống giấc mơ của họ!

        Nhiều ngưòi trong các buổi ký tên sách tranh thủ cảm ơn hoặc gửi thư cho tôi cảm ơn về Đạo luật Nghỉ phép y tế và việc gia đình và Y tế, vể chế độ trợ cấp học đại học, về cơ hội có việc làm để khỏi phải nhận trợ cấp thất nghiệp, về cơ hội được phục vụ trong AmeriCorps (Tổ chức tình nguyện Mỹ phục vụ cộng đồng - ND), hoặc những ưu đãi họ có được từ các chính sách kinh tế. Nhiều ngưòi đến từ Ireland, Bosnia, Kosovo, Haiti, Mexico, Colom­bia, Việt Nam, Triểu Tiên, Trung Đông, và châu Phi cám ơn tôi vì đã cố giúp quê hương họ và vì tôi đã kể ra những cuộc đấu tranh đang diễn ra ở đó. Một nhân viên Mật vụ từng phục vụ trong Lực lượng đặc biệt Quân đội Mỹ ở Somalia vào thời kỳ “Black Hawk Down” (Black Hawk Down - tên một bộ phim thường được dịch là ó đen gẫy cánh, nói về một cuộc tập kích của lực lượng Mỹ ỏ Mogadishu, Somalia năm 1994 - ND) cám ơn tôi vì đã giải thích những sai lẩm mà tôi vả những người khác đã phạm, và vì dã bảo vệ binh sĩ trên chiến trường cũng như chỉ huy của họ.

        Kỳ bẩu cử tổng thống đến rổi đi, ngày càng nhiểu độc giả muốn nói chuyện với tôi vể chính trị, về triết lý chính trị của tôi, về câu chuyện tôi kể lại sự trỗi dậy của phe cánh hữu Cộng hòa trong 40 năm qua, và liệu những thất bại mới đây (vào thời điểm viết sách - ND) của phe Dân chủ có báo hiệu một sự suy giảm sức mạnh lâu dài của đảng Dân chủ hay không. Một hôm không lâu sau bẩu cử, tôi đi gọi món ăn trưa mang về tại nhà hàng Susan Lawrence ở Chappaqua, New York, nơi tôi đang ở hiện nay. Bốn người hàng xóm đến chỗ tôi. Họ rất đau khổ vể những tổn thất của chúng tôi (đảng Dân chủ - ND) và muốn biết bây giờ phải làm thế nào. Trong lúc tôi cố trấn an họ rằng chưa phải đã là mất tất cả thì một ông đứng gẩn đó nghe được câu chuyện xen vào và nói “Nếu người ta đọc cuốn sách của ông, họ sẽ biết phải làm gì”. Tôi không biết ông ta có đúng hay không, vì Hillary hiện đang trên vũ đài và tôi đã lùi ra phía sau, nhưng được nghe như vậy ván thật dễ chịu.

        Khi tồi thấy biết bao ngưởi dù còn khốn khổ vẫn đến các buổi ký tặng sách, tôi lo cuốn sách dài và nặng củạ mình đắt tiền quá chăng. Tôi không thể thay đổi độ dài cuốn sách, nhưng tôi hy vọng rằng ấn bản bìa mỏng, bớt nặng và giá rẻ hơn, có thể mang cuốn Đời tôi đến được với một lớp ngưởi đọc mới.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2015, 09:31:00 AM
 
        DẪN NHẬP

        Khi còn là một chàng trai trẻ mới tốt nghiệp trường luật và hoài bão với cuộc đời mình, có lần tôi đã tạm gạt sang bên sở thích đọc tiểu thuyết và sách lịch sử để mua một cuốn sách loại "tự học": How to Get Control of Your Time and Your Life - Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn của tác giả Alan Lakein. Cuốn sách nhấn mạnh sự cần thiết phải định ra một danh sách các mục tiêu ngắn, trung và dài hạn trong cuộc đời, sau đó phân loại theo mức độ quan trọng, trong đó nhóm A là các mục tiêu quan trọng nhất, tiếp theo là nhóm B và nhóm C, rồi ghi rõ ra dưới mỗi mục tiêu hành động cụ thể gì để đạt được nó. Tôi vẫn còn giữ cuốn sách bìa mỏng này, nay đã gần 30 năm. Và chắc chắn tôi vẫn còn cái danh sách ấy lẫn lộn đâu đấy trong đống giấy tờ của mình, dù tôi không tìm ra. Dù vậy, tôi vẫn nhớ danh sách mục tiêu A của mình. Tôi muốn trở thành người tốt, có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, có con cái, có bạn tốt, thành đạt trên chính trường, và viết một cuốn sách để đời.

        Tất nhiên việc tôi có phải là người tốt hay không thì phải do Chúa phán xét. Tôi biết rằng tôi không tốt đến mức như những người ủng hộ tôi nồng nhiệt nhất tưởng hoặc như mình mong đợi, và cũng không xấu đến mức như những người chỉ trích tôi nặng nề nhất nói. Tôi đã được ban tặng vô bờ bến trong cuộc sống gia đình với Hillary và Chelsea. Như bao cuộc sống gia đình khác, cuộc sống gia đình chúng tôi chưa phải là hoàn hảo, nhưng rất tuyệt vời. Những khiếm khuyết của nó, như cả thế giới đã biết, chủ yếu là do tôi, và tương lai của gia đình ấy tiềm ẩn trong tình yêu thương. Tôi chưa thấy ai có nhiều bạn hoặc có bạn tốt hơn tôi. Thật sự, có thể nói không ngoa rằng tôi đã làm tổng thống nhờ vào bạn bè, những người thường được gọi là "Bạn của Bill".

        Cuộc đời chính trị của tôi là một niềm vui. Tôi yêu thích những chiến dịch tranh cử và yêu thích việc lãnh đạo. Tôi luôn cố gắng hướng mọi sự theo hướng đi đúng, tạo ra cơ hội cho nhiều người sống giấc mơ của họ, nâng cao tình thần cho mọi người, và đoàn kết họ lại. Đó là cách tôi tự phán xét mình.

        Còn chuyện viết cuốn sách để đời, ai mà biết được? Có điều chắc chắn nó là một câu chuyện hay.
 


        01

        Sáng sớm ngày 19 tháng 8 năm 1946, mẹ tôi - lúc ấy đã là góa phụ - sinh ra tôi vào một ngày trời trong sau cơn bão mùa hè dữ dội tại bệnh viện Julia Chester ở Hope, một thị trấn khoảng 6.000 dân ở tây nam bang Arkansas, cách biên giới bang Texas ở Texarkana 33 dặm về phía đông. Mẹ đặt tên cho tôi là William Jefferson Blythe III theo tên cha tôi, William Jefferson Blythe Jr., một trong chín người con của một nông dân nghèo ở Sherman, Texas. Ông nội tôi mất khi cha tôi mới 17 tuổi. Theo các cô tôi, cha tôi luôn cố chăm sóc họ, và lớn lên là một người đàn ông điển trai, chăm chỉ và ưa vui nhộn. Ông gặp mẹ tôi trong bệnh viện Tri-State ở Shreveport, bang Louisiana vào năm 1943 khi bà đang tập sự làm y tá. Sau này khi lớn lên, tôi đã nhiều lần đòi mẹ kể lại chuyên hai ông bà gặp nhau ra sao, yêu nhau, hẹn hò và lấy nhau thế nào. Hồi đấy cô bạn ông đang hẹn hò bị bệnh gì đó, ông chở cô này vào bệnh viện nơi mẹ tôi làm việc, họ nói chuyện và tán tỉnh nhau trong lúc cô kia được điều trị. Trên đường ra khỏi bệnh viện, ông chạm vào ngón tay bà - lúc ấy đang đeo chiếc nhẫn của bạn trai bà - và hỏi bà đã có gia đình chưa. Bà ấp úng "chưa" - bà vẫn còn độc thân. Ngày hôm sau ông gửi hoa cho cô bạn kia làm tim bà tan nát. Sau đó ông gọi điện cho bà hẹn hò, giải thích rằng ông luôn gửi hoa mỗi khi ông muốn kết thúc mối quan hệ.

        Hai tháng sau, họ lấy nhau và ông ra trận. Ông phục vụ tại một đội quân xa trong cuộc tấn công vào nước Ý chuyên lo sửa chữa xe jeep và xe tăng. Sau chiến tranh, ông trở về Hope và cùng mẹ chuyển đến Chicago, nơi ông trở lại công việc cũ là nhân viên bán hàng cho Công ty Thiết bị Manbee. Họ mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Forest Park nhưng mấy tháng sau cũng chưa dọn đến được và vì mẹ lại mang thai tôi, nên họ quyết định bà nên về ở Hope cho đến khi họ có thể chuyển đến nhà mới. Ngày 17 tháng 5 năm 1946, sau khi chuyển đồ đạc vào nhà mới, cha tôi lái xe từ Chicago về Hope để đón vợ mình. Khuya hôm đó, trên xa lộ 60 bên ngoài Sikeston, bang Missouri, ông lạc tay lái khi chiếc xe Buick đời 1942 của ông bể bánh trên đường trơn trượt. Ông bị tung ra khỏi xe và ngã vào, hoặc bò vào một mương thoát nước được đào để cải tạo đầm lầy. Cái mương này chỉ có một mét nước. Khi người ta tìm thấy ông sau hai giờ tìm kiếm, tay ông còn nắm chặt một cành cây ngay trên mặt nước. Ông đã cố nhưng không thể kéo mình lên được. Ông chết đuối năm mới 28 tuổi, mới lấy vợ được hai năm tám tháng, trong đó chỉ có bảy tháng ở bên vợ.

        Những thông tin sơ sài ấy hầu như là tất cả những gì tôi biết về cha mình. Cả đời mình, lúc nào tôi cũng mong mỏi tìm cách lấp đầy thêm các khoảng trống thông tin về cha, bám víu vào từng tấm ảnh hay câu chuyên kể hay mẩu giấy tờ nào có thể cho tôi biết thêm về người đàn ông đã ban cho tôi cuộc sống.

        Khi tôi khoảng 12 tuổi, đang ngồi ở thềm nhà ông bác Buddy tại Hope, một người đàn ông bước lên thềm, nhìn tôi và nói: "Cậu là con của Bill Blythe. Cậu trông giống cha như đúc". Thế là tôi sung sướng mấy ngày liền.

        Năm 1974, tôi tranh cử vào quốc hội. Đó là lần ứng cử đầu tiên của tôi và tờ báo địa phương làm một phóng sự về mẹ tôi. Lúc bà đang ngồi trong quán cà phê quen thuộc vào buổi sáng và bàn luận về bài báo với một người bạn luật sư thì một người thường hay ăn sáng ở đó mà bà chỉ quen sơ bỗng lại gần và nói: "Tôi có mặt đêm hôm ấy, tôi là người đầu tiên đến bên xác chiếc xe ấy". Rồi ông ta kể cho bà nghe những gì ông ta thấy, có cả chuyên cha tôi còn giữ được đủ tình Ịáo hoặc bản năng sinh tồn để cố bám vào cành cây và ngoi mình khỏi mặt nước trước khi chết. Mẹ tôi cám ơn ông ta, đi ra xe và khóc, sau đó lau khô nước mắt và đi làm.

        Năm 1993, vào Ngày của Cha đầu tiên khi tôi làm tổng thống, tờ Washington Post đăng một bài điều tra dài về cha tôi, sau đó hai tháng liền là các bài điều tra khác của hãng thông tấn AP và các báo nhỏ khác. Các bài báo này xác nhận những gì mà mẹ và tôi biết về cha. Chúng cũng đưa ra nhiều điều chúng tôi chưa biết, trong đó có chuyện cha tôi có lẽ đã có đến ba đời vợ trước khi gặp mẹ, và rõ ràng là có ít nhất hai người con.

        Người con trai kia của cha tôi được xác định là Leon Ritzenthaler, ông chủ đã về hưu của một dịch vụ lao công ở bắc California. Trong bài báo, anh ấy nói đã viết thư cho tôi trong chiến dịch tranh cử năm 1992 nhưng không nhận được trả lời. Tôi không nhớ là đã nghe nói đến bức thư này, và trong lúc chúng tôi phải tránh mọi sự chỉ trích khi đó, có thể. nhân viên của tôi đã không cho tôi biết về bức thư ấy. Hoặc là bức thư đã bị thất lạc trong cả núi thư từ chúng tôi nhận được. Dù sao đi nữa, khi tôi đọc được tin về Leon, tôi đã liên lạc với anh và sau đó gặp anh cùng Judy - vợ anh - trong một lần dừng chân ở bắc California. Chúng tôi đã có một chuyến thăm vui vẻ và từ đấy chúng tôi vẫn liên lạc với nhau trong các dịp nghỉ lễ. Anh ấy và tôi trông giống nhau, giấy khai sinh của anh ấy đề tên cha anh chính là cha tôi. Tôi ước gì mình biết về anh ấy sớm hơn.

        Cũng khoảng thời gian này, tôi còn nhận được thông tin xác nhận một số bài báo viết rằng con gái của cha tôi, Sharon Pettijohn, nhũ danh Sharon Lee Blythe sinh năm 1941 ở thành phố Kansas và có mẹ là người mà cha tôi đã ly dị sau đó. Chị ấy gửi cho Betsey Wright, cựu cố vấn trưởng của tôi ở văn phòng thống đốc, bản sao giấy khai sinh, giấy hôn thú của cha mẹ mình, một bức ảnh của cha tôi, và một bức thư của ông gửi cho mẹ chị ấy hỏi thăm về "con của chúng ta". Tôi lấy làm tiếc phải nói rằng vì lý do gì đó tôi chưa bao giờ gặp chị.

        Tin tức vào năm 1993 này đến thật đột ngột với mẹ tôi, lúc ấy đang chống chọi với bệnh ung thư, nhưng bà đã can đảm chấp nhận. Bà nói những người trẻ tuổi làm nhiều việc trong thời kỳ Đại khủng hoảng và thời chiến tranh mà trong thời kỳ khác người ta không đồng tình. Điều quan trọng là cha tôi chính là tình yêu của đời bà và bà không hề hồ nghi gì về tình yêu của ông dành cho bà. Dù sự thật có thế nào, bà chỉ cần biết có thế khi cuộc đời của chính bà đang đi dần đến kết thúc. Còn với mình, tôi không chắc phải đón nhận những tin tức ấy như thế nào, nhưng xét lại đời mình, tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu cha mình phức tạp hơn cái hình ảnh lý tưởng về ông mà tôi đã ấp ủ hơn nửa thế kỷ qua.

        Năm 1994, khi chúng tôi chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 50 ngày quân Đồng minh đổ bộ Normandy, nhiều tờ báo đăng tin về hồ sơ thời chiến của cha tôi, kèm ảnh ông mặc quân phục. Không lâu sau, tôi nhân được thư của ông Umberto Baron ở Netcong, bang New Jersey, kể lại kinh nghiệm thời chiến và sau đó của ông ấy. Ông nói rằng khi quân Mỹ đến ông ấy là một chú nhóc ở Ý, rất khoái đến trại lính Mỹ. Ở đó có một anh lính kết bạn với ông, hay cho kẹo và giảng giải về cách thức vận hành và sửa chữa máy móc. Lúc ấy ông chỉ biết anh lính kia tên Bill. Sau chiến tranh, Baron sang Mỹ, và nhờ cảm hứng mà anh lính Mỹ - người thường gọi Baron là "Nhóc GI Joe" - truyền cho, đã mở xưởng sửa xe hơi của riêng mình và lập gia đình. Ông nói với tôi là ông đã sống trong "giấc mơ Mỹ", làm ăn phát đạt và có ba con. Ông nói ông mang ơn người lính đó về những thành công trong đời mình, nhưng lúc bấy giờ đã không có dịp chào tạm biệt, và thường tự hỏi người lính ấy sau này ra sao. Rồi ông viết: "Vào Ngày chiến sĩ trận vong năm nay, khi tôi vừa uống cà phê vừa liếc qua tờ New York Daily News bỗng cảm thấy như bị sét đánh. Ở dưới góc trái của trang báo là bức ảnh của anh lính Bill. Tôi thấy ớn lạnh khi biết anh Bill đó chẳng phải ai khác mà lại chính là cha của Tổng thống Hoa Kỳ".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2015, 07:51:20 AM
        Năm 1996, các con của một trong các bà cô của tôi lần đầu đến Nhà Trắng để tham dự tiệc mừng giáng sinh gia đình hàng năm và tặng tôi một món quà: bức thư chia buồn cô tôi nhận đứợc của hạ nghị sĩ vĩ đại Sam Raybum1 sau khi cha tôi mất. Đó chỉ là một bức thư ngắn theo mẫu và có vẻ như là một bức thư được ký bằng máy theo kiểu thường thấy hồi đó, nhưng tôi vui sướng như một đứa trẻ lên sáu lần đầu được ông già Noel tặng bộ đồ chơi tàu hỏa vậy. Tôi treo bức thư trong văn phòng riêng của mình ở lầu hai Nhà Trắng, và hàng đêm vẫn nhìn ngắm nó.

        Không lâu sau khi rời Nhà Trắng, lúc tôi đang lên máy bay hãng USAir từ Washington đi New York thì một nhân viên hàng không chặn tôi lại và nói cha kế của anh ta kể rằng ông ấy phục vụ trong chiến tranh cùng với cha tôi và rất thích cha tôi. Tôi hỏi số điện thoại và địa chỉ người cựu binh, anh nhân viên nói anh không có nhưng sẽ chuyển cho tôi sau. Tôi vẫn đang chờ, hy vọng sẽ có thêm một người nữa có liên hệ với cha tôi.
Vào cuối nhiệm kỳ tổng thông, tôi chọn một số nơi đặc biệt để đi chào tạm biệt và cảm ơn nhân dân Mỹ. Một trong những nơi ấy là Chicago, sinh quán của Hillary, nơi tôi gần như giành được vai trò ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ vào Ngày lễ Thánh Patrick năm 1992; nơi có nhiều ủng hộ viên tích cực nhất của tôi và là nơi phần lớn các sáng kiến của tôi về chống tệ nạn, an sinh xã hội và giáo dục tỏ ra hiệu quả; và tất nhiên cũng là nơi cha me tôi chuyển đến ở sau chiến tranh. Tôi thường đùa với Hillary rằng nếu cha tôi không mất mạng trên xa lộ trơn trượt ở Missouri hồi xưa thì có lẽ tôi đã lớn lên cách Hillary có vài dặm và chắc chẳng bao giờ gặp được nhau. Điểm dừng chân cuối của tôi là khách sạn Palmer House, bối, cảnh của tấm ảnh cha mẹ chụp chung duy nhất mà tôi có - tấm ảnh, được chụp ngay trước khi mẹ tôi về lại Hope năm 1946. Sau khi diễn thuyết và chào từ biệt, tôi vào một phòng nhỏ và gặp một phụ nữ, bà Mary Etta Rees, cùng hai con gái của bà. Bà kể rằng bà đã cùng lớn lên, học cùng trường trung học với mẹ tôi, sau đó chuyển đến bang Indiana để làm việc trong ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh, lấy chồng, và ở lại đó nuôi con. Rồi bà ấy tặng tôi một món quà quý giá: bức thư của mẹ tôi hồi 23 tuổi, viết trong ngày sinh nhật của mình khoảng ba tuần sau khi cha tôi mất, hơn 54 năm trước. Hình ảnh mẹ thật tuyệt vời. Với nét chữ đẹp, bà viết về nỗi đau và sự quyết tâm tiếp tục sống: "Lúc ấy gần như không thể tin được, nhưng bạn biết đấy, mình đang có mang sáu tháng và ý nghĩ về đứa bé giúp mình tiếp tục sống và thực sự đã mở ra cả một thế giới trước mặt mình".

        Mẹ tôi để lại cho tôi chiếc nhẫn cưới bà đã tặng cha cùng với một vài câu chuyện cảm động, và một ý thức chắc chắn rằng bà đã yêu thương tôi giùm cả phần cha tôi nữa.

        Cha tôi để lại cho tôi cảm giác rằng tôi phải sống cho hai con người, và rằng nếu tôi sống tốt, thì bằng cách nào đó tôi có thể bù đắp lại cho cuộc đời lẽ ra ông đã phải có. Và kỷ niệm về ông nhắc nhở cho tôi, ở vào cái tuổi sớm hơn so với hầu hết. mọi người, về kiếp hữu sinh hữu tử của chính mình. Cái ý thức rằng cả tôi cũng có thể chết khi còn trẻ thúc đẩy tôi sống cho trọn mỗi giây phút cuộc đời và sẵn sàng tiếp đón thách thức to lớn phía trước. Ngay cả khi chưa rõ mình đang đi đâu, tôi vẫn luôn vội vã.
-----------------
1. Sam Rayburn (1882 - 1961) dân biểu bang Texas, chủ tịch hạ viện 17 năm kể từ 1940 (có gián đoạn bốn năm).


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2015, 08:45:59 AM
 
        02

        Tôi sinh trùng ngày sinh của ông ngoại, bị sinh non vài tuần, nặng khoảng 3,2kg, cao hơn sáu tấc. Mẹ và tôi về nhà ngoại trên phố Hervey ở Hope, nơi tôi sống bốn năm tiếp theo. Căn nhà ấy lúc đó với tôi thật khổng lồ và đầy bí ẩn, và cho tới nay vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm sâu sắc. Người dân ở Hope đã quyên góp tiền phục chế nó và để đầy bên trong những hình ảnh, vật kỷ niệm cùng đồ đạc thời bấy giờ. Họ gọi là Nơi sinh Clinton. Đó chắc chắn là nơi tôi thức tình để bước vào cuộc sống - với mùi thức ăn đồng quê, với sữa trộn bơ, máy làm kem, ván giặt, và dây phơi quần áo; với bộ sách tập đọc vỡ lòng Dick and Jane; với những đồ chơi đầu tiên, có cả một đoạn dây xích tôi thích nhất, với những giọng nói kỳ lạ trên dây điện thoại tự chế, với những người bạn đầu tiên; và với công việc ông bà ngoại tôi làm.

        Khoảng một năm sau, mẹ tôi quyết định phải quay về bệnh viện Charity ở New Orleans, nơi bà từng có lần thực tập làm y tá, để học làm chuyên viên gây mê. Trước đấy, các bác sĩ thường tự gây mê, vì thế người ta cần loại chuyên viên khá mới mẻ này, điều này giúp bà có thêm uy tín và kiếm thêm tiền cho chúng tôi. Nhưng chắc hẳn bà thấy khó khăn khi bỏ tôi ở nhà. Mặt khác New Orleans sau chiến tranh là một nơi kỳ thú, đầy người trẻ tuổi nhạc Dixieland, đầy những nơi cuốn hút như câu lạc bộ My-Oh-My, nơi nam giới mặc đồ phụ nữ nhảy nhót và hát như các quí cô dễ thương. Tồi nghĩ, với một góa phụ trẻ muôn vượt qua sự mất mát của mình, đó không phải là một nơi quá tồi.

        Tôi được đi thăm mẹ hai lần cùng với bà ngoại bằng xe lửa đến New Orleans. Tôi chỉ mới ba tuổi, nhưng tôi nhớ rõ hai thứ. Thứ nhất là chúng tôi ở khu vực tầng cao của khách sạn Jung, đối diện khu phố Pháp bên kia đường Canal. Đó là tòa nhà có hơn hai tầng lầu đầu tiên tôi từng ở, trong thành phố thực sự đầu tiên tôi được thấy. Tôi còn nhớ cảm giác kinh ngạc khi nhìn cảnh thành phố lên đèn vào ban đêm. Tôi không nhớ rõ mẹ và tôi làm gì ở New Orleans, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên được lần tôi lên tàu rời thành phố. Khi tàu bắt đầu lăn bánh khỏi ga, mẹ quỳ xuống bên cạnh đường ray và vừa khóc vừa vẫy. Tôi vẫn còn có thể nhìn thấy bà như vậy, vừa quỳ vừa khóc, như thể vừa mới hôm qua.

        Trong hơn 50 năm kể từ chuyến đi đầu tiên ấy, New Orleans luôn đặc biệt cuốn hút tôi. Tôi thích âm nhạc, thức ăn, con người và tinh thần của thành phố này. Khi tôi 15 tuổi, gia đình tôi đi nghỉ ở New Orleans và vùng Gulf Coast, và tôi được nghe tay kèn trumpet vĩ đại AI Hirt chơi trong câu lạc bộ cửa ông. Ban đầu họ không cho tôi vào vì chưa đủ tuổi. Khi mẹ và tôi định bỏ đi thì người gác cửa bảo rằng ông Hirt đang ngồi đọc trong xe của ông ấy ngay góc đường, và chỉ có ông ta mới cho tôi vào được. Tôi tìm ra ông ấy, trong chiếc Bentley đường hoàng, gõ lên cửa kính xe, và trình bày hoàn cảnh. Ông ấy bước ra, đưa mẹ và tôi đến câu lạc bộ, và cho chúng tôi ngồi bàn gần sân khấu. Ông cùng ban nhạc chơi một buổi diễn tuyệt vời - đó là buổi nghe nhạc jazz "sống" đầu tiên của tôi. AI Hirt mất khi tôi làm tổng thống. Tôi gửi thư cho vợ ông và kể lại chuyên này, bày tỏ lòng biết ơn đối với sự tốt bụng từ xa xưa mà con người vĩ đại ấy đã dành cho một cậu bé.

        Khi học trung học, tôi chơi độc tấu kèn saxo một bài về New Orleans có tên Cresent City Suite - Căn hộ thành phố lưỡi liềm. Tôi nghĩ tôi đã chơi khá hay vì tôi chơi với những kỷ niệm về lần đầu tôi nhìn thấy thành phố này. Năm 21 tuổi, tôi được học bổng Rhodes ở New Orleans. Có lẽ tôi thành công trong cuộc phỏng vấn xin học bổng vì tôi cảm thấy thoải mái như ở nhà tại đây. Khi tôi còn là giáo sư luật trẻ, Hillary và tôi đã đi New Orleans vài lần thật'tuyệt để dự hội thảo, ở tại một khách sạn kiểu cổ nho nhỏ trong khu phố Pháp - khách sạn Cornstalk. Khi tôi làm Thống đốc bang Arkansas, đội bóng tiểu bang đã thi đấu ở sân Sugar Bowl ở đây, và thua đội bang Alabama trong một trong những chiến thắng vĩ đại cuối cùng của Bear Bryant huyền thoại. ít ra thì cũng có điều an ủi rằng ông ấy cũng sinh ra và lớn lên ở Arkansas! Khi tôi ra tranh cử tổng thống, nhân dân New Orleans đã hai lần làm nên chiến thắng thuyết phục, cho tôi, đảm bảo số phiếu cử tri đoàn của tiểu bang Louisiana cho chúng tôi.

        Bây giờ tôi đã từng đến phần lớn các thành phố tuyệt nhất thế giới, nhưng New Orleans sẽ mãi mãi đặc biệt - với cà phê và beignet1 ở quán Morning Call bên bờ Mississippi; với âm nhạc của Aaron và Charmaine Neville; với những ông cụ ở Cung bảo tồn, và, với kỷ niệm về Al Hirt, về những buổi sáng chạy bộ xuyên qua khụ phố Pháp, về những bữa ăn tuyệt hảo ở các nhà hàng với Johni Breaux, cảnh sát trưởng Harry Lee và các bạn bè khác; và trên hết, với những kỷ niệm về mẹ tôi. Chúng chính là những nam châm hút tôi xuôi dòng Mississippi về New Orleans.

        Khi mẹ tôi còn ở New Orleans, tôi được ông bà chăm sóc. Họ cực kỳ tử tế với tôi. Họ yêu tôi nhiều, và thật buồn là nhiều hơn cả họ yêu nhau; bà tôi cũng thương tôi hơn thương mẹ. Nhưng may thay là lúc bấy giờ tôi không hề biết tất cả những chuyện đó. Tôi chị biết là mình được yêu thương. Sau này, khi tôi quan tâm đến trẻ em lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn và tìm hiểu cách nuôi dạy trẻ qua công việc của Hillary ở Trung tâm nghiên cứu trẻ em Đại học Yale, tôi mới biết mình đã may mắn đến thế nào. Dù họ có thói tật gì đj nữa, ông bà và mẹ tôi lúc nào cũng làm tôi cảm thấy đối với họ tôi là nhất trên đời. Phần lớn trẻ em khác sẽ thành công nếu có mội người khiến chúng cảm thấy như vậy. Tôi lại có đến ba người.
--------------------
1. Beignet: bánh bột chiên nhân thịt và trái cây.
 


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2015, 08:16:43 AM
        Ngoại tôi, Edith Grisham Cassidy, chỉ cao hơn l,50m và nặng khoảng 90kg. Ngoại rất thông minh, kiên quyết và ngang ngạnh, và rõ ràng là hồi trẻ cũng xinh đẹp. Bà có nụ cười tuyệt vời, nhưng bà cũng hay thịnh nộ, thất vọng hoặc bị ám ảnh điều gì đó mà chỉ có bà mới hiểu. Bà hay trút giận vào ông ngoại và mẹ tôi, cả trước lẫn sau khi tôi ra đời, nhưng tôi thì được bà chừa ra. Hồi xưa bà học giỏi và có tham vọng, nên sau trung học bà theo một khóa đào tạo hàm thụ y tá ở trường Y tá Chicago. Lúc tôi chập chững biết đi, bà đang làm y tá riêng cho một ông ở gần nhà chúng tôi trên phố Hervey. Tôi vẫn còn nhớ mình hay chạy xuống phố đón bà đi làm về.

        Mục tiêu của bà ngoại đối với tôi là làm sao tôi phải ăn thật nhiều, học thật nhiều và lúc nào cũng sạch sẽ gọn gàng. Chúng tôi ăn ở một cái bàn trong bếp cạnh cửa sổ. Cái ghế cao của tôi đối diện với cửa sổ, và ngoại hay xếp mấy lá bài lên bệ cửa sổ để tôi vừa ăn vừa học đếm. Ngoại bữa nào cũng ép tôi ăn nhiều, vì hồi đó người ta tin rằng mấy đứa trẻ càng khỏe càng thông minh, miễn là ngày nào cũng phải tắm. Ít nhất một lần trong ngày, bà đọc cho tôi nghe từ những cuốn tập đọc Dick an Jane cho đến khi tôi tự đọc được. Ngoại còn đọc cả World Book Encyclopedia - Bách khoa toàn thư thế giới cho tôi, loại sách mà hồi đó mấy ông bán hàng rong đi bán từng nhà một và trở thành cuốn sách thứ nhì thường thấy nhất sau cuốn Kinh thánh trong nhà dân lao động. Những bài học từ rất sớm này giải thích vì sao tôi bây giờ thích đọc sách, chơi bài, chăm sóc đến cân nặng của mình và không bao giờ quên rửa tay và đánh răng.

        Tôi rất yêu ông ngoại - nguồn ảnh hưởng nam tính đầu tiên trong đời tôi - và tự hào rằng mình sinh trùng ngày sinh của ông. James Eldridge Cassidy người mảnh khảnh, khoảng l,80m, nhưng lúc đấy vẫn còn khỏe mạnh và đẹp trai. Tôi vẫn luôn nghĩ ông trông giống tài tử Randolph Scott.

        Khi ông bà tôi từ Bodcaw chuyển đến Hope, một nơi chỉ có vài trăm dân, ông tôi làm nghề đánh xe ngựa giao đá cho một xưởng sản xuất đá lạnh. Hồi đó, tủ lạnh trong nhà chỉ là dạng tủ đá, được giữ lạnh bằng mấy cục đá đủ kích cỡ tùy theo cỡ tủ. Dù chỉ nặng khoảng 75kg nhưng ông tôi có thể vác những súc đá nặng 50kg hoặc hơn, dùng hai cái móc sắt kéo lên lưng có lót sẵn một miếng da lớn.

        Ông tôi là một người cực kỳ tốt bụng và rộng rãi. Trong thời Đại khủng hoảng, lúc mà chẳng ai có tiền, ông hay cho mấy chú nhóc cùng đánh xe chở đá để chúng khỏi lang thang ngoài phố. Nhờ thế mà mỗi chú nhóc kiếm được 25 xu mỗi ngày. Năm 1976, khi tôi tranh cử chức Bộ trưởng tư pháp ở Hope, tôi có| nói chuyện với một trong mấy chú nhóc này, nay là thẩm phán John Wilson, Chú nhóc ấy nay đã thành một luật sư đáng kính và thành công, nhưng vẫn còn nhớ rất rõ những ngày xưa. Ông ấy kể với tôi là có một lần khi ông tôi đưa 25 xu tiền công nhật, ông đã đề nghị ông tôi đưa hai đồng 10 xu và một đồng năm xu chỉ để cố cảm giác rằng mình có nhiều tiền. Ông tôi chiều theo, và cậu bé vừa đi về nhà vừa xóc mấy đồng xu leng keng trong túi. Nhưng cậu xóc mạnh quá, đến nỗi một đồng 10 xu văng ra ngoài. Thế là cậu bỏ hàng giờ ra để tìm lại mà không được. Bốn mươi năm sau, ông thẩm phán nói rằng mỗi lần đi ngang đoạn phố ấy ông đều để ý tìm lại xem đồng xu kia còn đó không.

        Thật khó mà giảng giải cho thanh niên thời nay về ảnh hưởng của thời kỳ Đại khủng hoảng đối với thế hệ ông bà và cha mẹ tôi nhưng tôi lớn lên và cảm thấy rõ ảnh hưởng này. Một trong những chuyện đáng nhớ nhất thời thơ ấu của tôi là chuyện mẹ tôi kể về Ngày thứ sáu tuần thánh trong thời Đại khủng hoảng, khi ông tôi một hôm đi làm về và khóc, nói rằng ông không làm sao kiếm được khoảng một đôla để mua váy mới cho mẹ mặc lễ Phục sinh. Mẹ tôi không bao giờ quên chuyện đó, và mỗi mùa Phục sinh tôi lại được cho một bộ cánh mới, dù muốn dù không. Tôi nhớ một lễ Phục sinh những năm 50, lúc ấy tôi đang mập và có ý thức về chuyên này. Tôi đi nhà thờ trong bộ trang phục áo màu sáng tay ngắn, quần lanh trắng, giày Hush Puppies hai màu hồng đen, và một thắt lưng màu hồng. Thật đau khổ, nhưng mẹ tôi lúc nào cũng theo đúng thông lệ mua đồ mới vào dịp Phục sinh của ông tôi.

        Khi tôi ở chung với ông, ông làm hai nghề mà tôi rất khoái trông coi một tiệm tạp hóa nhỏ, và kiếm thêm bằng cách nhận một chân bảo vệ ban đêm ở xưởng cứa. Tôi rất thích cùng trực đêm với ông ở xưởng. Chúng tôi hay đem theo bánh mì kẹp đựng trong túi giấy để ăn khuya, còn tôi thì hay ngủ ở băng ghế sau xe hơi. Vào những đêm trăng sáng, tôi hay trèo lên đống mùn cưa, hít cái mùi bí ẩn của gỗ mới xẻ và mùn cưa. Ông tôi cũng thích làm việc ở đó. Như thế, ông có thể ra khỏi nhà và nhắc ông nhớ lại thời từng làm việc ở nhà máy hồi mới sinh mẹ tôi. Ngoại trừ lần vì tối quá ông tồi đóng cửa xe kẹp vào ngón tay tôi, còn thì những đêm đi trực đó là những chuyên phiêu lưu tuyệt hảo.

        Tiệm tạp hóa lại là một kiểu phiêu lưu khác. Trước tiên/ trên quầy trong tiệm có một hũ kẹo Jackson khổng lồ, và tôi hay khua khoắng. Kế đến là khách hàng toàn là những người lớn mà tôi không biết, và lần đầu tiên tôi tiếp xúc với người lớn không phải là ruột thịt của mình. Thứ ba là rất nhiều khách hàng của ông tôi là người da đen. Dù miền Nam nước Mỹ hồi đó nạn phân cách vẫn bao trùm, nhưng ở những thành phố nhỏ hoặc nơi thôn quê vẫn luôn có những giao tiếp đa chủng tộc. Dù vậy, rất hiếm khi mới gặp được một nông dân miền Nam ít học nào mà lại không có tí máu kỳ thị trong người. Ông tôi lại chính là người hiếm có ấy. Tôi có thể nhận thấy người da đen bề ngoài trông khác, nhưng vì ông tôi đối xử với họ như với mọi người khác, hay hỏi thăm con cái và công việc của họ, nên tôi nghĩ họ cũng y như mình. Thỉnh thoảng, mấy chú nhóc da đen hay vào tiệm và chúng tôi cùng chơi chung. Phải nhiều năm sau tôi mới biết đến nạn kỳ thị, định kiến và ý nghĩa của sự nghèo khổ; phải nhiều năm sau tôi mới biết phần lớn người da trắng không như ông và bà tôi, người vốn ít khi đồng tình với ông tôi nhưng lại cùng quan điểm về chủng tộc. Thực ra, mẹ tôi kể rằng có lần mẹ bị đòn quắn đít hồi mới ba, bốn tuổi, bà đã gọi một phụ nữ da đen là "mọí đen". Nói một cách nhẹ nhàng thì việc bà ngoại đánh đòn mẹ lần ấy là một cách ứng xử rất bất thường của một phụ nữ da trắng ở nông thôn miền Nam hồi những năm 20.

        Mẹ tôi có lần kể rằng sau khi ông mất, mẹ tìm thấy một cuốn sổ kế toán trong tiệm tạp hóa của ông, trong đó ghi nhiều nợ chưa trả, phần lớn của khách hàng người da đen. Mẹ nhớ lại là ông bảo với mẹ rằng những người tốt đã cố gắng hết mình đáng được quyền nuôi sống gia đình, và dù có kẹt đến đâu đi nữa thì ông cũng không bao giờ từ chối cho họ mua thiếu. Có lẽ vì thế mà tôi luôn tin tưởng vào tem phiếu thực phẩm.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2015, 07:08:36 AM
       Sau khi thành tổng thống, tôi lại được nghe kể về tiệm tạp hóa của ông tôi. Năm 1997, một phụ nữ Mỹ gốc Phi, Ernestine Campbell, trả lời phỏng vấn báo dịa phương ở Toledo, bang Ohio, về chuyện ông của bà hay đem bà cùng đến mua chịu thức ăn tại tiệm của ông tôi. Bà ấy nói bà còn nhớ có chơi cùng với tôi, và rằng tôi là "nhóc da trắng duy nhất trong xóm chơi với trẻ con da đen". Nhờ ông ngoại mà tôi chẳng bao giờ biết mình là đứa nhóc da trắng duy nhất làm việc đó.

       Ngoài tiệm tạp hóa của ông tôi, xóm tôi ở cũng là nơi cho tôi tiếp xúc với người ngoài gia đình. Tôi đã chứng kiến nhiều điều trong khu vực nhỏ hẹp ấy. Tôi thấy một căn nhà bên kia đường cháy rụi, và hiểu rằng tôi không phải là người duy nhất phải gánh chịu những điều tồi tệ. Tôi kết bạn với một cậu bé thích sưu tập những con vật kỳ lạ, và một lần cậu mời tôi qua xem con rắn của cậu. Cậu bảo rắn bị nhốt trong tủ. Thế rồi cậu ấy mở cửa tủ, đẩy tôi vào, đóng cửa lại, bảo là tôi đang ở trong bóng tôi một mình với con rắn. Thực ra rất may là không phải thế, nhưng tôi sợ chết khiếp. Tôi hiểu ra rằng cái mà kẻ mạnh cho là buồn cười đôi khi lại rất tàn bạo và nhục nhã đối với kẻ yếu.

       Cách nhà của chúng tôi một dãy phố có một cầu chui xe lửa, hồi đấy làm bằng những súc gỗ trét nhựa đường. Tôi thích bám lên mấy súc gỗ đó, lắng nghe xe lửa rầm rập chạy bên trên và tự hỏi tàu chạy đi đâu và tôi có bao giờ đi đến đó không.

       Và tôi hay chơi trong sân sau với một cậu có sân nhà kế liền bên. Cậu ấy ở cùng với hai bà chị xinh đẹp trong một căn nhà to và đẹp hơn nhà chúng tôi. Chúng tôi thường ngồi trên cỏ hàng giờ, tập phóng dao sao cho cắm dính xuống đất. Tên cậu ấy là Vince Foster. Cậu ấy tốt với tôi và không bao giờ lên mặt kẻ cả như mấy đứa lớn thường làm với bọn nhóc nhỏ tuổi hơn. Sau này cậu ấy trở thành một người đàn ông cao lớn, đẹp trai, thông minh và tốt bụng. Cậu ấy trở thành một luật sư tuyệt vời, một ủng hộ viên mạnh mẽ cho sự nghiệp của tôi hồi mới đầu, và là bạn thân của Hillary ở Công ty luật Rose. Gia đình hai chúng tôi thăm hỏi qua lại ở Little Rock, chủ yếu là ở nhà cậu ấy, nơi vợ cậu ấy - Lisa - đã dạy Chelsea bơi. Cậu ấy đến thăm tôi ở Nhà Trắng, và là một tiếng nói bình tĩnh, tỉnh táo trong vài tháng đầu tiên căng thẳng của chúng tôi ở đó.

       Có một người khác ngoài gia đình có ảnh hưởng đến tôi trong thời thơ ấu. Odessa là một phụ nữ da đen đến giặt giũ, dọn dẹp nhà chúng tôi và trông coi tôi khi ông bà tôi đi làm. Răng của bà to và vuông, làm tôi thấy nụ cười của bà càng rạng rỡ và đẹp hơn. Tôi vẫn liên lạc với bà nhiều năm sau khi rời Hope. Năm 1966, tôi và một người bạn đi thăm Odessa sau khi thăm mộ cha và ông tôi. Phần lớn người da đen ở Hope sống gần khu nghĩa trang, ngay bên kia con đường đối diện với tiệm tạp hóa của ông tôi. Tôi còn nhớ chúng tôi ngồi ở thềm nhà của Odessa khá lâu. Khi đến lúc phải đi, chúng tôi lên xe và lái đi trên con đường đất bụi bặm. Những con đường đất duy nhất tôi thấy ở Hope, hoặc sau đó ở Hot Springs khi tôi chuyển đến đó, đều nằm ở khu da đen, đầy những người làm việc chăm chỉ, nuôi những đứa con như tôi, và đều đóng thuế. Odessa đáng được hưởng điều tốt đẹp hơn thế.

       Những nhân vật lớn trong thời thơ ấu của tôi là họ hàng thân thích: các cụ ngoại, dì của mẹ tôi Otie, cậu của mẹ tôi Carl Russel, và trên hết là bác của mẹ tôi Oren - còn được gọi là Buddy, cũng là một trong những điểm sáng của đời tôi - và vợ của bác, dì Ollie.

       Dòng họ Grisham của các cụ tôi sống trong một căn nhà nhỏ xây nổi trên mặt đất ở nông thôn. Vì bang Arkansas có nhiều lốc xoáy hơn hầu như bất cứ nơi nào khác ở Mỹ nên phần lớn những ai xây nhà kiểu này đều đào một cái hầm để trú bão. Cái hầm của các cụ tôi ở sân trước, có một cái giường nhỏ, một cái bàn nhỏ, trên đó để một đèn đốt dầu và than. Tôi còn nhớ có lần nhìn vào cái chỗ chật hẹp đấy và cụ tôi bảo "ừ, thỉnh thoảng cũng có rắn chui xuống dưới đấy nhưng nếu còn để đèn thì nó không cắn cháu đâu". Tôi chẳng bao giờ biết điều này có thật hay không. Kỷ niệm còn lại của tôi về cụ tôi là lần ông đến thăm tôi ở bệnh viện khi tôi bị gãy chân lúc lên năm. Cụ cầm tay tôi và chụp hình chung. Cụ mặc chiếc áo sơmi trắng cài kín nút đến tận cổ và một áo khoác đen giản dị, trông già cỗi như những ngọn đồi và cứ như thể vừa bước ra từ trang sách American Gothic vậy.

       Chị của bà ngoại tôi Opal - chúng tôi gọi bà là Otie - là một phụ nữ dễ coi có giọng cười tuyệt vời đặc trưng của dòng họ Grisham; yà người chồng Carl kín tiếng của bà là người đầu tiên tôi biết có rồng dưa hấu. Đất cát được sông bồi đắp xung quanh Hope thật lý tưởng với dưa hấu, và kích cỡ dưa Hope trở thành thương hiệu của thành phố vào đầu thập niên 50, khi người dân ở đây gửi cho Tổng thống Truman quả dưa to nhất tính đến thời điểm đó, gần 100kg. Tuy nhiên, dưa ngon chỉ khoảng 30kg hoặc ít hơn. Chính ông Carl trồng loại dưa này, hay tưới nước từ bồn xuống đất quanh mấy quả dưa và xem mấy cái rễ hút nước y như máy hút bụi vậy. Khi tôi thành tổng thống, anh họ của ông Carl vẫn còn quầy bán dưa hấu ở Hope và bạn có thể mua dưa đỏ hoặc thứ dưa vàng ngọt hơn.

       Hillary nói rằng lần đầu tiên cô ấy gặp tôi, tôi đang đứng ở sảnh của khoa Luật Đại học Yale và khoe khoang về kích cỡ của dưa hấu Hope cho mấy ông bạn sinh viên đang lắng nghe đầy nghi hoặc. Khi tôi làm tổng thống, bạn cũ của tôi ở Hope mở tiệc đãi dưa hấu ở Bãi cỏ phía Nam Nhà Trắng, và tôi lại được dịp kể chuyên dưa cho một thế hệ mới, những người trẻ tuổi giả vờ tỏ ra thích thú đến đề tài mà tôi biết từ lâu qua ông bà Otie và Carl.

       Anh của bà tôi, Buddy, và vợ ông, Ollie, là những thành viên chính của đại gia đình chúng tôi. Buddy và Ollie có bốn người con, trong đó ba người đã đi khỏi Hope khi tôi đến đây. Bác Dwayne làm điều hành cho một xưởng sản xuất giày ở New Hampshire. Các bác Cònrad và Falba lúc bấy giờ ở Dallas, nhưng thường về thăm và nay đã chuyển về ở Hope. Bác út Myra làm nghề rodeo - cưỡi bò. Bà bác này có thể cưỡi ngựa như một tay chuyên nghiệp, nhưng sau đó bỏ nhà đi theo một tay chăn bò, có hai con, ly dị, rồi về nhà lại, và điều hành cơ quan quản lý gia cư địa phương. Myra và Falba là hai phụ nữ tuyệt vời, cho dù khổ đến đâu vẫn có thể mỉm cười và không bao giờ bỏ rơi bè bạn, gia đình. Tôi mừng vì họ vẫn đang là một phần cuộc đời tôi. Tôi dành nhiều thời gian ở nhà bác Buddy và Ollie, không chỉ trong bốn năm đầu đời, mà còn trong suốt 40 năm sau cho đến khi bác Ollie mất, bác Buddy bán nhà về ở với bác Falba.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2015, 03:03:51 AM
        Cuộc sống xã hội trong đại gia đình tôi, cũng giống như phần lớn người nghèo khó ở nông thôn, xoay quanh các bữa ăn, bàn tán và kể chuyên. Họ không đủ tiền đi nghỉ, cũng hiếm khi đi xem phim, và mãi cho đến giữa cuối thập niên 50 mới có tivi. Họ chỉ đi chơi vài lần trong năm - đi hội chợ huyện, hội dưa hấu, thỉnh thoảng đi vũ hội hoặc xem hát đồng ca nhà thờ. Đàn ông thì đi săn, câu cá,trồng rau và dưa hấu trên những mảnh đất ngoài đồng mà họ vẫn giữ khi chuyển vào thành phố làm việc.

        Dù không dư dả gì nhưng họ chẳng bao giờ cảm thấy nghèo miễn là họ có một căn nhà gọn gàng, quần áo sạch, và đủ thức ăn để đãi bất cứ ai đến thăm. Họ làm việc để sống, chứ không phải sống để làm việc.

        Những bữa ăn ưa thích thời thơ ấu của tôi là ở nhà ông bà Buddy và Ollie, quây quần quanh cái bàn lớn trong căn bếp nhỏ của họ. Thường thì một bữa ăn trưa (mà chúng tôi gọi là bữa chiều, còn bữa vào buổi tối thì gọi là bữa chính) cuối tuần có thịt heo hoặc thịt rôti, bánh ngô, xà lách hoặc rau xanh, khoai tây nghiền, khoai lang, đậu, đậu xanh, bánh trái cây và rất nhiều loại trà đá mà chúng tôi uống bằng những cốc vại khổng lồ. Được uống bằng mấy cái vại đó làm tôi cảm thấy mình người lớn hơn. Trong những dịp đặc biệt, chúng tôi ăn kem nhà làm cùng với bánh. Mỗi khi đến sớm, tôi hay phụ nấu ăn, tước vỏ đậu hoặc quay tay cầm của máy làm kem. Trước, trong và sau bữa ăn lúc nào mọi người cũng nói chuyện: tán gẫu chuyện xóm làng, chuyện gia đình, và kể rất nhiều chuyện. Họ hàng tôi ai cũng biết kể chuyện, làm cho những sự việc đơn giản, những lần gặp gỡ và cả những điều rủi xung quanh cuộc sống bình thường trở nên sống động, đầy kịch tính và tiếng cười.

        Ông Buddy là người kể chuyện hay nhât. Giông như hai chị mình, ông Buddy rất thông minh. Tôi thường tự hỏi không biết họ sẽ thế nào nếu được sinh ra vào thế hệ của tôi hoặc của con gái tôi. Nhưng hồi đó cũng có nhiều người như họ. Ông thợ bơm xăng cho bạn có lẽ cũng có chỉ số IQ cao bằng bác sĩ cắt amiđan cho bạn. Ở Mỹ còn nhiều người giống như dòng họ Grisham; nhiều người trong số này là dân nhập cư, và vì thế khi làm tổng thống tôi cố gắng mở rộng cửa các trường đại học cho tất cả những ai muốn đến.

        Dù học vấn hạn chế, ông Buddy đầu óc minh mẫn và có hiểu biết của một tiến sĩ về bản chất con người, nhờ vào một đời quan sát tinh tường và phải đối phó với những thói tật của chính mình cũng như gia đình ông. Hồi mới cưới vợ ông có tật nhậu nhẹt. Một hôm ông về nhà và nói với vợ rằng việc nhậu nhẹt của ông làm hại đến vợ con và gia đình, rồi hứa sẽ không uống nữa. Và đúng như vậy, ông bỏ nhậu cho đến hơn 50 năm sau.

        Sau này khi đã ngoài 80, ông Buddy vẫn có thể kể những chuyên hấp dẫn về tính cách những chú chó ông nuôi cách đó năm hay sáu thập kỷ. Ông nhớ tên, hình dáng, các thói quen riêng của chúng cách ông nuôi chúng và cách chúng tha chim bị bắn hạ về cho ông. Nhiều người hay đến chơi với ông và ngồi ở bậc thềm nhà. Sau khi họ về, ông hay kể chuyện về họ hoặc con cái họ - lúc thì vui, lúc thì buồn, thường là với thái độ thông cảm và luôn luôn thấu hiểu.

        Tôi học được nhiều điều từ những chuyện mọi người kể; rằríg không có ai hoàn hảo cả nhưng phần lớn con người là tốt; rằng không thể phán xét người ta khi họ đang trong những giờ khắc khó khăn và yếu đuối nhất; rằng những xét đoán khắc nghiệt ấy có thể biến tất cả chúng ta thành bọn đạo đức giả; rằng một phần lớn của cuộc sống là phải có mặt và phải cố gắng; rằng tiếng cười thường là cách ứng phó tốt nhất, và đôi khi là duy nhất, trước những nỗi đau. Có lẽ quan trọng nhất là tôi hiểu được rằng mỗi người đều có một câu chuyện - về giấc mơ và ác mộng, về hy vọng và khổ đau, về tình yêu và mất mát, về lòng dũng cảm và sự sợ hãi, về sự hy sinh và tính ích kỷ. Suốt đời mình tôi luôn quan tâm đến câu chuyện của người khác. Tôi luôn muốn biết họ, hiểu họ và cảm thông với họ. Khi lớn lên và làm chính trị, tôi luôn cảm thấy mục đích chính của công việc của tôi là cho mọi người cơ hội để có được những câu chuyện đời tốt đẹp hơn.

        Chuyện đời của ông Buddy hay cho đến khi kết thúc. Ông mắc bệnh ung thư phổi năm 1974, phải cắt một bên phổi nhưng vẫn sống đến năm 91 tuổi. Ông tư vấn cho tôi trong sự nghiệp chính trị, và nếu tôi nghe lời ông và bãi bỏ chính sách tăng lệ phí bảng số xe vốn làm mất lòng dân chúng thì có lẽ tôi đã không thua trong kỳ vận động tái cử thông đốc bang vào năm 1980. Khi tôi trúng cử tổng thống ông vẫn còn sống và rất hào hứng về chuyện đó. Sau khi bà Ollie mất, ông vẫn sống tích cực bằng cách thường đến tiệm bánh vòng của con gái mình Falba và lại làm say mê một thế hệ trẻ con mới bằng những chuyện kể và những quan sát khôn ngoan của mình về con người. Ông không bao giờ mất đi óc hài hước. Ngay cả khi đã 87 tuổi, hàng tuần ông vẫn lái xe đưa hai bà bạn, một bà 91 và bà kia 93, đi chơi riêng. Khi ông kể cho tôi nghe về chuyện "hò hẹn" này tôi hỏi: "Vậy bây giờ ông chuyển qua mấy phụ nữ lớn tuổi hơn mình à?". Ông cười tinh quái và bảo: " Ừ, đúng thế. Mấy bà này có vẻ trầm tĩnh hơn".

        Trong suốt bao nhiêu năm ở cùng nhau, tôi chỉ thấy ông khóc có một lần. Lúc ấy bà Ollie bị bệnh Alzheimer (mất trí nhớ) và phải chuyển đến ở nhà dưỡng lão. Nhiều tuần sau đấy, hàng ngày có vài phút bà vẫn nhớ ra mình là ai. Trong những lúc tỉnh táo ấy, bà hay gọi điện cho ông Buddy và nói: "Này ông, sau 56 năm chung sống với nhau, sao ông lại để tôi trong cái chỗ này? Đến đón tôi về ngay". Ông cũng lái xe đến với bà, nhưng khi đến nơi thì trí nhớ của bà lại lạc vào trong mớ hỗn mang của bệnh tật và không nhận ra ông.

        Vào một buổi xế chiều trong quãng thời gian này tôi có ghé thăm ông - chuyến thăm cuối cùng của chúng tôi ở căn nhà cũ. Tôi hy vọng làm ông vui lên. Thế mà, chính ông đã kể chuyên đùa và nhận xét thời sự hóm hỉnh làm tôi cười. Khi trời tối, tôi nói với ông tôi phải về nhà ở Little Rock. Ông tiễn tôi ra cửa, và khi tôi định bước ra ngoài, ông nắm lấy cánh tay tôi. Tôi quay lại và lần đầu tiên trong suốt gần 50 năm, tôi thấy mắt ông nhòa lệ. Tôi nói: "Thật khổ, phải không ông?". Tôi sẽ không bao giờ quên câu trả lời của ông. Ông mỉm cười và đáp: "Ừ, khổ thật, nhưng ta đã chấp nhận toàn bộ cả gánh, mà phần lớn gánh ấy là tốt". Ông Buddy dạy tôi rằng mỗi người đều có một câu chuyện. Ông đã kể câu chuyên đời mình trong vỏn vẹn một câu nói đó.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2015, 05:34:36 AM
 
03

        Sau một năm ở New Orleans, mẹ tôi quay về Hope mong áp dụng nghề gây mê mới học, vui sướng vì đoàn tụ với tôi, và trở lại là con người vui nhộn cũ. Bà hẹn hò với một số người đàn ông ở New Orleans và có một thời gian vui vẻ ở đấy - đó là theo như tự truyện của bà, cuốn Leading with My Heart - Dẫn dắt bằng trái tim, cuốn sách mà tôi tin là sẽ thành sách bán chạy nếu bà còn sống để quảng bá nó.

        Dù vậy, trước, trong và sau thời gian sống xa nhà ở New Or­leans, bà hẹn hò với một người nhiều hơn những người khác. Đó là Roger Clinton, chủ một công ty buôn bán xe Buick ở địa phương. Bà lúc ấy là một góa phụ đẹp, tinh thần phấn chấn. Ông ấy là một người điển trai, ngang tàng, đã ly dị hai lần, quê ở Hot Springs - mệnh danh là "Thành phố Tội lỗi" của bang Arkansas, ổ cờ bạc bất hợp pháp lớn nhất nước Mỹ trong nhiều năm. Anh trai của Roger là Raymond sở hữu cơ sở buôn bán xe hơi Buick ở Hot Springs, và Roger, đứa con út "quậy phá" của gia đình năm anh em, đã chuyển đến ở Hope để tận dụng cơ hội khi hoạt động phục vụ chiến tranh tăng nhanh quanh Căn cứ kiểm định quân cụ tây nam (Southwestern Proving Ground) và có lẽ cũng để thoát ra khỏi bóng của anh mình.

        Roger thích nhậu nhẹt và đàn đúm với hai ông bạn thân từ Hot Springs, Van Hampton Lyell - chủ nhà máy đóng chai Coca-Cola ngay đối diện cơ sở Buick của Clinton, và Gabe Crawford, sở hữu nhiều tiệm thuốc ở Hot Springs và một tiệm ở Hope, ông này về sau đã xây trung tâm mua sắm đầu tiên ở Hope, và cưới cô cháu gái kiều diễm của Roger, Virginia, người mà tôi luôn yêu mến và cũng là hoa hậu đầu tiên của Hot Springs. Hồi đó Roger và hai ông bạn chỉ thích đánh bạc, say xỉn, và làm những việc điên rồ, bất cần trên xe hơi, máy bay hay xe môtô. Thật kỳ lạ là họ không chết trẻ.

        Mẹ tôi thích Roger vì ông ta vui tính, quan tâm đến tôi, và chi xài rộng rãi. Hồi mẹ ở New Orleans, nhiều lần ông đã trả tiền cho mẹ về thăm tôi, và có lẽ chính ông đã trả tiền cho tôi và bà ngoại đi thăm mẹ.

        Ông ngoại thích Roger vì ông ấy đôi xử tử tế với cả tôi lẫn ông ngoại. Có một dạo ông ngoại tôi bỏ việc ở xưởng nước đá vì bệnh viêm phổi nặng, và chuyển qua mở tiệm bán rượu. Gần cuối chiến tranh, hạt Hempsted mà thủ phủ là Hope quyết định cấm rượu. Đó là lúc ông ngoại tôi mở tiệm tạp hóa. Sau này tôi biết ông ngoại tôi vẫn lén bán rượu cho các bác sĩ, luật sư và những người đáng kính khác không muốn phải chạy xe 33 dặm đến cửa hàng bán rượu hợp pháp ở Texarkana, và rằng chính Roger là nguồn cung cấp rượu cho ông.

        Bà ngoại thì không ưa Roger vì bà cho rằng Roger không phải là loại người mà con gái và cháu bà nên dính vào. Bà ngoại có những mặt xấu mà chồng và con gái bà không có; nhưng chính mặt xấu ấy giúp bà có thể nhìn thấy những mặt xấu ở người khác mà chồng và con gái bà không thấy. Bà ngoại nghĩ Roger Clinton chẳng đem lại gì khác ngoài rắc rối. Bà đã đúng về phần "rắc rối", nhưng đã sai về phần "chẳng đem lại gì khác", về ông ấy còn nhiều chuyện khác, và điều đó làm cho chuyện đời của ông còn buồn hơn.

        Về phần mình, tôi chỉ biết là ông ấy tốt với tôi và có một con chó săn Đức to màu nâu tên Susie mà ông thường đem theo đến chơi với tôi. Susie là một phần khá lớn trong thời thơ ấu của tôi, và khởi đầu cho lòng yêu mến chó suốt đời của tôi.

        Mẹ và Roger cưới nhau ở Hot Springs vào tháng 6 năm 1950, không lâu sau sinh nhật thứ 27 của bà. Chỉ có Gabe và Virginia Crawford đến dự. Sau đó mẹ và tôi rời nhà ông bà ngoại và chuyển đến ở với cha kế của tôi, người mà sau đó tôi gọi là bô, trong một căn nhà gỗ nhỏ màu trắng ở rìa phía nam thành phô", số nhà 321 phố 13, chỗ cắt phố Walker. Không lâu sau, tôi bắt đầu tự gọi mình là Billy Clinton.

        Cuộc đời mới đối với tôi thật phấn khích. Cạnh nhà có Ned và Alice Williams. Ông Ned, vốn là một công nhân đường sắt về hưu làm hẳn một xưởng sau nhà đầy những dụng cụ và mẫu xe điện phức tạp. Hồi đó đứa trẻ nào cũng muốn có một bộ đồ chơi tàu hỏa Lionel. Bố mua cho tôi một bộ và thường cùng chơi, nhưng không có gì sánh kịp với những đường ray to và những toa tàu chạy nhanh và đẹp của ông Ned. Tôi hay sang đó chơi hàng giờ liền, như thể tôi có riêng Công viên Disneyland ngay bên cạnh nhà vậy.

        Khu vực tôi ở là một khu hạng nhất thường thấy trên quảng cáo thời kỳ bùng nổ dân số hậu Thế chiến hai. Ở đây có nhiều cặp vợ chồng trẻ đã có con. Đứa trẻ đặc biệt nhất sống ở bên kia phố, đó là Mitzi Polk, con gái của Minor và Margaret Polk. Mitzi có giọng cười rống lên lớn tiếng. Nó hay đu xích đu cao đến nỗi cọc đu tưởng như sút ra khỏi đất và rống lên "Billy bú bình! Billy bú bình!". Nó làm tôi phát khùng luôn. Dù gì tôi cũng sắp lớn rồi và đâu có bú bình nữa.

        Sau đó tôi mới biết Mitzi bị thiểu năng. Hồi bấy giờ tôi chưa hiểu bị như vậy là bị sao, nhưng khi tôi nỗ lực đề nghị mở rộng hơn cơ hội cho người khuyết tật lúc làm thống đốc và tổng thống, tôi thường nghĩ đến Mitzi Polk.

        Nhiều chuyện xảy đến với tôi hồi ở phố 13. Tôi đi học ở trường mẫu giáo mầm non của cô Marie Purkins, là nơi tôi rất thích cho đến một hôm tôi bị gãy chân khi đang nhảy dây. Mà thậm chí sợi dây cũng chẳng phải dây đang quay. Một đầu dây buộc vào cây, đầu kia buộc vào ghế xích đu. Bọn nhóc chúng tôi xếp hàng và lần lượt nhảy qua dây. Tất cả mấy đứa kia đều nhảy qua được.

        Một trong mấy đứa trẻ đấy là Mack McLarry, con của một ông buôn bán xe Ford, và sau này giữ vai thống đốc trong chương trình Boys State1, thủ quân của đội tuyển bóng bầu dục Mỹ, thành viên lập pháp tiểu bang, doanh nhân thành đạt, và là trưởng ban tham mưu Nhà Trắng đầu tiên của tôi. Mack luôn vượt qua mọi trở ngại. May mắn cho tôi là anh ấy lúc nào cũng chờ tôi theo kịp.

---------------------
1. Chương trình giáo dục về công quyền cho nam sinh bằng cách cho các em tham gia công vụ từ cấp thị trấn tới tiểu ban.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2015, 04:06:35 AM
        Tôi chẳng nhảy qua được dây. Dù sao tôi cũng hơi nặng nề và chậm chạp, chậm đến nỗi có lần trong cuộc thi tìm trứng lễ Phục sinh, tôi là đứa duy nhất chẳng tìm được quả trứng nào - không phải vì tôi không biết tìm mà vì tôi không chạy đến nơi kịp. Vào hôm nhảy dây đó tôi lại mang giày cao bồi đi học. Tôi lại ngốc đến mức không bỏ giày ra trước khi nhảy. Gót giày vướng vào dây, tôi quay ngang ra và ngã, nghe thấy tiếng chân mình kêu rắc. Tôi đau đớn nằm dưới đất nhiều phút trong khi bố tôi hộc tốc chạy từ chỗ công ty Buick đến đón tôi.

        Chân tôi bị gãy ở khoảng trên đầu gối, và vì tôi đang lớn nhanh nên bác sĩ chẳng bắt tôi bó bột đến tận hông. Thay vào đó, ông khoan một cái lỗ qua mắt cá chân tôi, nhét một thanh sắt không rỉ qua đấy, gắn nó vào một cái vòng móng ngựa cũng bằng thép không rỉ, và treo chân tôi trên giường bệnh viện. Tôi nằm như thế trong hai tháng, nằm ngửa và cảm thấy mình vừa ngốc nghếch vừa sung sướng vì khỏi phải đi học và được nhiều người tới thăm. Phải mất một thời gian dài tôi mới bình phục. Sau khi tôi xuất viện, bố mẹ mua cho tôi một cái xe đạp, nhưng tôi không bao giờ vượt được cảm giác sợ bị ngã khi đi xe mà không có bánh phụ gắn hai bên. Và kết quả là lúc nào tôi cũng cảm thấy mình vụng về và không có khả năng giữ thăng bằng bình thường cho đến năm 22 tuổi khi tôi cuối cùng cũng chạy xe đạp ở trường Oxford. Thậm chí lúc bây giờ tôi vẫn còn ngã xe một vài lần, nhưng tôi lại coi đó là cách tạo nên ngưỡng chịu đau của mình.

        Tôi rất biết ơn bố đã đến cứu khi tôi bị gãy chân. Một vài lần ông cũng từ nơi làm việc về nhà để thuyết phục mẹ đừng đánh đòn tôi mỗi khi tôi làm điều gì sai trái. Thời gian đầu sau khi cưới mẹ, ông ấy thực sự cố gắng chăm sóc tôi. Tôi nhớ có lần ông còn đưa tôi đáp xe lửa đi St. Louis để xem đội Cardinals, lúc đó là đội bóng chày hạng nhất ở gần chỗ chúng tôi nhât. Chúng tôi ngủ lại đêm và hôm sau mới về nhà. Tôi khoái lắm. Buồn thay, đấy lại là chuyến đi duy nhất hai chúng tôi cùng đi với nhau. Và cũng chỉ một lần duy nhất chúng tôi cùng đi câu cá, một lần duy nhất chúng tôi vào rừng tìm cây thông Noel, một lần duy nhất cả gia đình đi nghỉ ra khỏi tiểu bang. Có biết bao điều rất có ý nghĩa đối với tôi nhưng chúng chẳng bao giờ lặp lại lần thứ hai. Roger Clinton thực sự yêu mẹ và tôi, nhưng ông ấy không bao giờ có thể vượt qua sự tự nghi ngờ bản thân, thói quen tìm sự yên ổn giả tạo bằng rượu chè và tiệc tùng thiếu suy nghĩ, và chính sự cô lập và chì chiết của mẹ tôi đã khiến ông ấy không trở thành người đàn ông mà ông có thể.

        Một đêm nọ, sự tự hủy hoại say xỉn của ông lên đến đỉnh điểm trong một cuộc cãi vã với mẹ tôi mà tôi không thể nào quên. Mẹ muốn chúng tôi đến bệnh viện thăm cụ tôi, lúc ấy chẳng còn sống được bao lâu nữa. Bố nói mẹ không được đi. Họ hét vào mặt nhau trong phòng ngủ phía sau nhà. Không biết vì lý do gì, tôi đi qua hành lang đến chỗ cửa phòng ngủ. Ngay lúc đó, bố rút ra một khẩu súng lục và bắn về hướng mẹ. Viên đạn cắm vào khoảng giữa chỗ tôi và mẹ tôi đứng. Tôi choáng váng và vô cùng sợ hãi. Tôi chưa bao giờ nghe tiếng súng bắn, lại càng chưa bao giờ thấy bắn súng. Mẹ chụp lấy tôi và chạy qua đường sang nhà hàng xóm. Người ta gọi cảnh sát đến. Tôi vẫn còn nhớ rõ cảnh bố bị cảnh sát còng tay, bắt đi và nhốt ông vào tù đêm hôm đấy.
Tôi chắc chắn là bố không cố ý hại mẹ và chắc ông sẽ chết mất nếu viên đạn trúng vào một trong hai chúng tôi. Nhưng điều khiến ông sa vào tình trạng suy đồi này còn độc hại hơn là rượu. Sẽ phải mất một thời gian dài nữa tôi mới hiểu những lực đẩy đó ở người khác cũng như trong bản thân tôi. Khi bố được thả vào hôm sau ông đã tỉnh táo hơn rất nhiều và xấu hổ đến mức một thời gian dài sau không có chuyện gì tồi tệ xảy ra nữa.

        Tôi còn đi học và sống ở Hope thêm một năm nữa. Tôi học lớp một ở trường Brookwood; cô giáo tôi là cô Mary Wilson. Dù cô chỉ có một tay, cô chẳng nề hà trong việc dùng roi vọt, và cụ thể là cái vá mà cô đã đục nhiều lỗ để khỏi cản gió. Tôi cũng hơn một lần là nạn nhân của kiểu "quan tâm" này của cô.

        Ngoài hàng xóm và Mack McLarry, tôi còn kết bạn với một sô đứa trẻ khác sau này đồng hành với tôi suốt đời. Một trong sô đó, Joe Purvis, có một thời thơ ấu mà nếu so ra thì tuổi thơ của tôi trở nên cực kỳ hoàn hảo. Cậu ấy lớn lên làm một luật sư giỏi, và khi tôi được bầu làm Bộ trưởng tư pháp, Joe làm cho tôi. Khi bang Arkansas có vụ kiện quan trọng trước Tòa án tối cao liên bang, tôi đi, nhưng để cho Joe tranh tụng. Thẩm phán Byron White, biệt danh "Rì rầm", chuyển cho tôi một mẩu giấy nói rằng Joe đã làm việc rất cừ. Sau đó, Joe trở thành chủ tịch đầu tiên của Quỹ Birthplace (Nơi sinh) của tôi.

        Ngoài bạn bè và gia đình, cuộc sống của tôi ở phố 13 còn đánh dấu sự khám phá phim ảnh của tôi. Vào năm 1951 và 1952, chỉ cần 10 xu là đủ: năm xu mua vé, năm xu mua Coca Cola. Cứ khoảng vài tuần tôi lại đi xem phim. Hồi đấy bạn có thể xem phim truyện, phim hoạt hình, phim nhiều tập và phim thời sự. Lúc đó phim chiến tranh Triều Tiên được chiếu, và tôi biết được về đề tài này. Gordon Tia chớp và Người hỏa tiễn là những nhân vật anh hùng nổi nhất trong các phim nhiều tập. về phim hoạt hình, tôi thích phim Bugs Bunny - Bánh sâu bọ, Casper the Friendly Ghost - Casper, con ma thân thiện và Baby Huey - Nhóc Huey mà chắc là tôi giống nhất. Tôi xem rất nhiều phim, và đặc biệt thích phim viễn tây. Bộ phim ưa thỉch nhất của tôi là phim High Noon - từ hồi đó tới giờ chắc tôi đã xem phim này hơn chục lần. Tới nay tôi vẫn thích phim này, vì nó không phải là kiểu phim hung hăng thường thấy trong phim viễn tây. Tôi thích nó vì trong phim từ đầu đến cuối Gary Cooper lúc nào cũng sợ chết khiếp nhưng vẫn làm điều phải.

        Khi tôi được bầu làm tổng thống, tôi có trả lời phỏng vấn một lần rằng bộ phim ưa thích nhất của tôi là High Noon. Lúc đó, đạo diễn phim này là Fred Zinnermann đã gần 90 tuổi và đang sống ở London. Tôi nhận được thư của ông, gửi kèm theo một bản sao kịch bản do chính ông chỉnh sửa và một tấm hình ông chụp cùng Gary Cooper và Grace Kelly trong trang phục đường phố trên bìa bộ phim High Noon năm 1951 có ký tên ở đằng sau. Trong nhiều năm dài kể từ khi tôi xem High Noon lần đầu tiên, mỗi lần đối mặt với một trận đấu nào đó, tôi thường nghĩ đến đôi mắt của Gary Cooper khi anh ta đôi mặt với một thất bại hiển nhiên, và cách anh ây vẫn tiến lên bất chấp sợ hãi để thực thi nghĩa Vụ của mình. Trong đời thực, điều này cũng khá hiệu quả.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2015, 05:04:03 AM
 
        04

        Khi tôi đang nghỉ hè năm lớp một, bố quyết định ông ấy muốn quay về quê ở Hot Springs. Ông bán cơ sở mua bán xe Buick và chúng tôi chuyển về một trang trại rộng 200ha trên đường Wildcat cách thành phố vài dặm về phía tây. Trang trại này có gia súc, cừu, và dê, nhưng lại không có nhà vệ sinh trong nhà. Vì thế trong suốt khoảng năm năm sống ở đó, dù vào trưa hè oi bức hay đêm đông lạnh lẽo, chúng tôi đều phải đi ra nhà vệ sinh bằng gỗ bên ngoài sân. Việc này rất thú vị, đặc biệt là khi có một con rắn vua không độc cứ quanh quẩn ngoài sân hay nhìn tôi qua lỗ khi tôi đi vệ sinh. Sau này khi tôi làm chính trị, có thể nói rằng việc tôi đã từng sống ở nông trại và từng phải đi vệ sinh ở cầu tiêu ngoài sân tạo nên một câu chuyên tuyệt vời, cũng thú vị y như mình được sinh ra trong một căn nhà gỗ trong rừng vậy.

        Tôi thích sống ở trang trại, quanh quẩn với lũ gia súc và cho chúng ăn, cho đến một ngày chủ nhật định mệnh nọ. Bố mời nhiều người trong gia đình đến ăn trưa, có cả Raymond - anh trai ông - và con bác ấy. Tôi rủ con gái bác Raymond, chị Karla, ra ngoài đồng nơi lũ cừu ăn cỏ. Trong đàn, tôi biết có một con cừu đực rất hung dữ nên tránh, nhưng chúng tôi phạm sai lầm lớn khi quyết định mạo hiểm. Khi chúng tôi còn cách hàng rào khoảng 100 mét, con cừu đực ấy nhìn thấy chúng tôi và bắt đầu xông đến. Chúng tôi chạy về phía hàng rào. Chị Karla lớn hơn và nhanh hơn nên chạy kịp. Còn tôi vấp phải một cục đá lớn và trượt chân. Lúc ngã xuống, tôi biết ngay mình không thể chạy đến hàng rào kịp trước khi con cừu đực tóm được tôi, nên tôi tránh vào một cái cây to, hy vọng có thể né nó bằng cách chạy vòng quanh cây cho đến khi có người đến cứu. Đây lại là một sai lầm lớn nữa. Ngay lập tức con cừu bắt kịp tôi và húc tung chân tôi lên. Tôi chưa kịp đứng dậy nó đã húc tiếp vào đầu. Tôi choáng váng và đau đến mức không đứng dậy nổi. Con cừu lùi lại lấy đà, và húc tôi một cú hết sức bình sinh. Nó húc liên tục, lúc thì vào đầu, lúc thì vào bụng. Tôi bắt đầu chảy máu đầm đìa và đau kinh khủng. Một lúc sau, bác tôi chạy đến, nhặt một cục đá to và ném mạnh, trúng giữa hai mắt con cừu. Nó lúc lắc cái đầu và bỏ đi, rõ ràng là không hề hấn gì. Sau này tôi cũng bình phục, nhưng bị một cái sẹo trên trán, chạy dài lên đỉnh đầu. Và tôi hiểu rằng mình có thể chịu những cú đánh trời giáng, một bài học mà tôi sẽ còn học đi học lại vài lần nữa trong thời thơ ấu cũng như khi đã lớn.

        Sau khi chuyển đến sống ở trang trại vài tháng, cả bố lẫn mẹ đều vào thành phố làm việc. Bố bỏ nghề làm nông và chuyển sang làm quản lý phụ tùng cho cơ sở buôn bán xe của bác Raymond, còn mẹ thì ngập đầu trong việc gây mê ở Hot Springs. Một hôm trên đường đi làm, bà cho đi nhờ xe một phụ nữ đang đi bộ ra thành phố. Sau khi họ làm quen với nhau, mẹ hỏi người phụ nữ kia xem có biết ai có thể đến chăm sóc tôi khi bố mẹ đi làm không. Vào một trong những khoảnh khắc may mắn nhất đời tôi, người phụ nữ kia nói chính bà có thể làm việc ấy. Tên bà là Cora Walters; bà là một bà ngoại với đủ các đức tính của một người phụ nữ nông thôn kiểu xưa. Bà khôn ngoan, tốt bụng, thẳng thắn, có lương tâm và rất ngoan đạo. Bà trở thành thành viên của gia đình tôi trong 11 năm. Gia đình bà cũng toàn người tốt, và sau khi bà rời chúng tôi, con gái bà - Maye Hightower - còn đến làm cho mẹ tôi trong 30 năm nữa cho đến khi mẹ tôi mất. Vào thời khác chắc bà đã trở thành mục sư giỏi rồi. Bà giúp tôi trở thành người tốt hơn bằng tấm gương của bà, và chắc chắn không phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi của tôi dù là vào hồi đó cũng như sau này. Bà còn là một bà già cứng cỏi nữa. Có một hôm bà giúp tôi giết một con chuột cống khổng lồ cứ quanh quẩn trong nhà tôi. Thực ra, tôi phát hiện ra nó, còn bà giết nó trong tiếng reo hò cổ vũ của tôi.

        Khi chúng tôi dọn về trang trại, mẹ lo tôi phải đi học ở trường làng nên đã đăng ký cho tôi học ở trường Công giáo St. John ở thành phố, nơi tôi học lớp hai và ba. Trong cả hai năm đó cô giáo tôi là sơ Mary Amata McGee, một giáo viên tốt và dịu dàng nhưng không dễ gì giỡn mặt. Tôi thường được toàn điểm A trong phiếu điểm sáu tuần nhưng bị điểm C về môn Công dân, thực ra là điểm kỷ luật trong lớp. Tôi thích đọc và tham gia các cuộc thi chính tả nhưng tôi nói nhiều quá. Trong suốt thời kỳ học phổ thông lức nào tôi cũng nói nhiều, và như bạn bè hay những người phê bình tôi nói, tôi chẳng bao giờ vượt qua được nhược điểm này. Môt lần tôi bị lôi thôi khi đang trong giờ cầu nguyện hàng ngày lại xin phép đi vệ sinh quá lâu. Tôi rất thích trường Công giáo với các lễ nghi và sự tận tụy của các sơ, nhưng phải quỳ trên ghế rồi đọc kinh đến hết chuỗi tràng hạt thật quá sức đối với một cậu bé hiếu động mà kinh nghiệm nhà thờ cho tới lúc đó chỉ là vài buổi học giáo lý ngày chủ nhật và tham dự các khóa Kinh thánh hè của Nhà thờ Baptist Đệ nhất ở Hope.

        Sau khoảng một năm ở trang trại, bố quyết định chuyển vào Hot Springs. Ông mướn một ngôi nhà lớn của bác Raymond ở số 1011 đại lộ Park, khu phía đông thành phố. Ông làm tôi và mẹ tin rằng ông tìm được giá hời và mua nhà bằng thu nhập của ông và mẹ, nhưng với tiền của cả hai gộp lại, và dù khoản thuế nhà hồi đấy chưa chiếm nhiều trong thu nhập của gia đình bình thường như thời bây giờ, tôi cũng không cho rằng chúng tôi có thể đủ tiền mua nhà. Ngôi nhà ở trên đồi, có hai tầng, năm phòng ngủ và một phòng khiêu vũ rất tuyệt trên lầu, có quầy rượu, trên đó có một cái lồng xoay với hai cục xí ngầu bự bên trong. Rõ ràng chủ cũ của nhà này từng kinh doanh bài bạc. Tôi hay ở trong phòng này hàng giờ vui vẻ với bạn bè hoặc tổ chức các bữa tiệc.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2015, 04:24:44 AM
        Phần bên ngoài nhà màu trắng viền xanh lá cây, các mái nhà dốc xuống cửa vào trước và hai bên. Sân trước dốc và được san thành ba bậc, có lối đi ở giữa và một bức tường đá chắn giữa bậc thấp nhất và bậc thứ nhì. Sân bên hông nhà thì nhỏ, nhưng đủ chỗ cho mẹ tha hồ làm vườn, thú vui làm việc ngoài trời của bà. Bà đặc biệt thích trồng hoa hồng và cho đến khi mất, ở nhà nào bà cũng trồng hồng. Mẹ rất dễ bắt nắng, và da của bà rám nắng là nhờ những lúc mặc quần áo ngắn đào đất quanh các khóm hoa của bà. Phía sau nhà có một lối đi trải sỏi và một gara cho bốn chiếc xe, một bãi cỏ mượt với một ghế xích đu, còn hai bên lối đi có các miếng cỏ dốc xuống phố Circle Drive.

        Chúng tôi sống trong căn nhà đó từ lúc tôi lên bảy hay tám tuổi cho đến khi tôi 15. Thời gian này với tôi thật thú vị. Cả khoảng sân nhà đầy những bụi dây leo, cây nhỏ, hoa, hàng rào đầy những dây leo kim ngân, và rất nhiều cây, có cả một cây vả, một cây đào, hai cây táo dại và một cây sồi già khổng lồ ở phía trước.

        Tôi giúp bố chăm sóc sân vườn. Đó là một việc chúng tôi cùng làm, và về sau khi tôi lớn, tôi thường tự làm một mình. Nhà gần khu vực có rừng nên lúc nào tôi cũng gặp phải nhện, nhện lông nhiệt đới, rết, bọ cạp, ong vò vẽ, ong mật, ong nghệ và rắn, cùng với các con vật hiền lành hơn như sóc, chồn xám, chim giẻ cùi xanh, két cổ đỏ và chim gõ kiến. Một lần lúc đang cắt cỏ, tôi nhìn xuống và thấy một con rắn chuông trườn dọc theo cùng với máy cắt cỏ, rõ ràng là vì thích thú bởi độ rung của máy. Tôi chẳng khoái mây kiểu rung này nên bỏ chạy như ma đuổi và thoát được mà không hề hấn gì.

        Một lần khác tôi chẳng được may mắn như vậy. Bố đặt một cái chuồng chim to ba tầng cho mấy bầy chim nhạn ở cuối lối đi trong sân sau. Một lần cắt cỏ ở gần đấy tôi phát hiện ra cái chuồng chim đó không phải là nơi làm tổ cho chim nhạn mà cho một đàn ong nghệ. Chúng lập tức ào đến, bay trùm lên khắp người tôi, lên tay lên mặt. Thật lạ kỳ, không có một con nào đốt tôi cả. Tôi bỏ chạy hụt hơi và nghĩ xem nên quyết định ra sao. Thật sai lầm, tôi cứ tưởng rằng chúng biết tôi chẳng làm hại gì chúng cả, nên vài phút sau tôi lại cắt cỏ tiếp. Chưa cắt thêm được 10 mét, tôi lại bị đàn ong vây một lần nữa, lần này chúng đốt khắp nơi. Một con đốt ngay vào khoảng giữa bụng và thắt lưng tôi, đốt liên tục - một khả năng mà ong mật không có nhưng ong nghệ thì có. Tôi bị hôn mê và được chở ngay đến bác sĩ, nhưng chẳng lâu sau đã bình phục và học thêm được một bài học quý giá: các đàn ong nghệ sẽ chỉ cảnh cáo những kẻ thâm nhập một lần thôi, không có lần thứ hai. Hơn 35 năm sau, Kate Ross, cô con gái năm tuổi của bạn tôi, Michael Ross và Markie Post, gửi thư cho tôi và viết đơn giản: "Ong có thể đốt bác. Hãy coi chừng nhé". Tôi biết rõ cô bé ấy viết gì.

        Việc chuyển đến Hot Springs làm cuộc đời tôi có nhiều trải nghiệm mới: một thành phố mới, to lớn hơn và phức tạp hơn nhiều; một khu sinh sống mới; một ngôi trường mới, bạn bè mới và làm quen với âm nhạc; làm quen thật sự với tôn giáo ở một nhà thờ mới; và tất nhiên là đại gia đình dòng họ Clinton.

        Những dòng suối nước khoáng lưu huỳnh nóng mà người ta dựa vào để đặt tên cho thành phố (Hot Springs - tiếng Anh nghĩa là những suối nước nóng - ND) phun lên từ dưới đất ở một khoảng trống hẹp gần dãy núi Ouachita, cách Little Rock hơn 50 dặm về phía tây và hơi chếch về phía nam. Người châu Âu đầu tiên thấy suối là Hernando de Soto lúc đi ngang qua thung lũng này năm 1541, nhìn thấy thổ dân tắm suối nước nóng, và theo như truyền thuyết kể lại thì ông nghĩ mình đã tìm ra được nguồn sống tươi trẻ.

        Năm 1832, Tổng thống Andrew Jackson ký một đạo luật bảo vệ bốn khu đất xung quanh Hot Springs làm những khu bảo tồn của liên bang. Đây là đạo luật đầu tiên kiểu này mà quốc hội chuẩn y, rất lâu trước khi Cục lâm viên Quốc gia được thành lập hay khu vực Yellowstone trở thành lâm viên quốc gia đầu tiên. Không lâu sau nhiều khách sạn mọc lên để đón thêm khách du lịch. Cho đến những năm 1880, trên đại lộ Central chạy ngoằn ngoèo khoảng 1,5 dặm xuyên qua hẻm núi có các suối nước nóng dần xuất hiện các nhà tắm đẹp đẽ khi mỗi năm khoảng 100.000 người đến đây tắm để chữa đủ thứ bệnh, từ thấp khớp, liệt, sốt rét cho đến bệnh lây nhiễm qua tình dục hoặc chỉ để thư giãn. Trong một phần tư đầu của thế kỷ 20, những nhà tắm đồ sộ nhất được xây dựng với một triệu lượt người tắm một năm, và thành phố nghỉ dưỡng này bắt đầu được thế giới biết đến. Sau khi được chuyển từ khu bảo tồn liên bang thành lâm viên quốc gia, Hot Springs trở thành thành phố duy nhất ở Mỹ thực sự nằm bên trong một lâm viên quốc gia.

        Sức cuốn hút của thành phố càng tăng lên nhờ các khách sạn lớn, một nhà hát, và bắt đầu từ giữa thế kỷ 19, là các hoạt động bài bạc. Cho đến những năm 1880 đã có nhiều sòng bài công khai, và Hot Springs bắt đầu trở thành vừa là một nơi nghỉ dưỡng vừa là một thành phố đầy tai tiếng. Trong những thập niên trước và trong Thế chiến hai, thành phố được điều hành bởi một thị trưởng đủ tầm cỡ để điều hành bất cứ thành phố lớn nào - thị trưởng Leo McLaughlin. Ông ta điều hành việc kinh doanh bài bạc với sự trợ giúp của một trùm xã hội đen từ New York chuyển về, Owen Vincent "Owney" Madden.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2015, 04:13:36 AM
       Sau chiến tranh, một nhóm các binh sĩ trở về do Sid McMath cầm đầu đã phá vỡ quyền lực của McLaughlin trong một diễn biến mà sau đó khiến ông McMath 35 tuổi trở thành thống đốc trẻ nhất Hoa Kỳ. Dù vậy, bất chấp những tay cựu binh thích cải cách này, nhờ các khoản hối lộ cho chính khách tiểu bang và địa phương cũng như giới bảo vệ pháp luật mà việc kinh doanh sòng bài vẫn tiếp tục cho đến tận những năm 1960. Owney Madden sống ở Hot Springs như một công dân "khả kính" cho đến cuối đời. Có lần mẹ tôi đã gây mê cho ông ta trước khi mổ. Sau đó bà về nhà và vừa cười vừa kể cho tôi rằng nhìn vào phim chụp X quang của ông ta cứ y như đi xem triển lãm thiên văn: 12 viên đạn vẫn còn dính trong cơ thể ông ta làm bà nhớ đến các chòm sao băng.

        Thật trớ trêu, vì kinh doanh bài bạc bị coi là bất hợp pháp nên mafia chưa bao giờ chiếm quyền kiểm soát bài bạc ở Hot Springs; thay vào đó, chúng tôi có các ông trùm địa phương. Thỉnh thoảng các nhóm cũng đụng độ nhau giành quyền lợi, nhưng vào thời của tôi thì mức độ bạo lực vẫn còn trong tầm kiểm soát. Thí dụ như có hai gara xe của hai nhà bị đánh bom, nhưng vào lúc không có ai ở nhà.

        Trong ba thập niên cuối của thế kỷ 19 và năm thập niên đầu của thế kỷ 20, bài bạc thu hút một loạt các nhân vật kỳ thú đến thành phố này: bọn ngoài vòng pháp luật, trùm xã hội đen, các người hùng quân nhân, các diễn viên và hàng loạt hảo thủ bóng chày. Tay đánh bida huyền thoại Minnesota Fats cũng hay đến. Năm 1977, khi làm Bộ trưởng tư pháp tôi có đánh bida với ông ấy để gây quỹ từ thiện ở Hot Springs. Ông ấy hạ tôi dễ dàng nhưng bù lại đã kể cho tôi nghe chuyện những lần đến Hot Springs từ xa xưa, khi ông ấy ban ngày thì chơi cá ngựa, rồi ăn nhậu và đánh bạc suốt đêm ở đại lộ Central, nhét đầy thêm túi cũng như làm tròn thêm vòng bụng vốn đã nổi tiếng của mình.

        Hot Springs cũng thu hút cả chính khách nữa. William Jennings Bryan đến đây nhiều lần. Teddy Roosevelt ghé vào năm 1910, Herbert Hoover đến vào năm 1927, còn Franklin và Eleanor Roosevelt thì đến dự lễ kỷ niệm 100 năm thành lập tiểu bang vào năm 1936. Huey Long đi tuần trăng mật lần thứ hai với vợ ở đây. JFK (Tổng thống John F. Kennedy - ND) và Lyndon Johnson cũng đến thăm trước khi họ làm tổng thống. Harry Truman cũng vậy - ông là tổng thống duy nhất có đánh bạc, hoặc chí ít là người duy nhất không che giấu chuyện này.

        Những khu vui chơi bài bạc và suối khoáng nóng của Hot Springs càng thu hút hơn nhờ các nhà bán đấu giá đèn đuốc sáng trưng, nằm xen kẽ các điểm đánh bài và nhà hàng trên đại lộ Central ở phía bên kia đường của dãy nhà tắm; nhờ vào trường đua Oakland tổ chức đua ngựa nòi trong 30 ngày mỗi năm vào mùa xuân, hình thức bài bạc hợp pháp duy nhât trong thành phố; nhờ vào các máy đánh bạc bằng tiền xu trong rất nhiều nhà hàng mà có nơi trẻ em cũng được phép chơi nếu ngồi trên lòng cha mẹ; và nhờ ba cái hồ gần thành phố, quan trọng nhất là hồ Hamilton là nơi dân có máu mặt ở thành phố, trong đó có cả bác Raymond, xây biệt thự. Hàng ngàn người đổ về đây nghỉ hè. Ngoài ra còn có một trại cá sấu, con to nhât dài đến khoảng sáu mét; một trại đà điểu, các chú đà điểu thỉnh thoảng lại lọt ra đi lung tung trên đại lộ Cenữal; vườn thú IQ của Keller Breland đầy những thú vật và triển lãm một bộ xương được coi là của người cá; một nhà thổ tai tiếng của Maxine Harris (sau đó là Maxine Temple Jones) - một nhân vật đáng nể dám công khai gửi tiền hối lộ cho quan chức địa phương vào tài khoản ngân hàng và đến năm 1983 viết một cuốn tự truyện thú vị: "Call Me Madam": The Life and Times of a Hot Springs Madam - ''Hãy gọi tôi là má mì": Cuộc đời và Thời cuộc của một má mì Hot Springs. Khi tôi 10 hoặc 11 tuổi, có vài dịp tôi và lũ bạn tự tiêu khiển bằng cách gọi điện liên tục đến chỗ bà Maxine để làm kẹt điện thoại và không cho khách hàng thực sự của bà gọi đến. Bà tức điên lên và chửi chúng tôi bằng thứ ngôn ngữ chua cay và sáng tạo mà chúng tôi chưa baọ giờ nghe thấy người đàn bà nào, hoặc thậm chí đàn ông nào có thể chửi như vậy. Vui kinh khủng. Tôi đoán chắc bà cũng cảm thấy buồn cười, ít nhất là trong khoảng 15 phút đầu.

        Đối với Arkansas, một tiểu bang chủ yếu gồm người da trắng theo Tin Lành Baptist Phương Nam và người da đen, Hot Springs là một nơi cực kỳ đa dạng, đặc biệt khi nó chỉ có 35.000 dân. Cũng có khá nhiều người da đen và có riêng một khách sạn, Knights of the Pythias, cho khách người da đen. Có hai nhà thờ Công giáo và hai thánh đường Do Thái giáo. Những cư dân Do Thái làm chủ một số cửa hàng sang nhất và điều hành các nhà bán đấu giá. Cửa hàng đồ chợi xịn nhất trong thành phố là cửa hàng Ricky, do nhà Silverman đặt theo tên con trai họ, vốn cùng chơi trong ban nhạc với tôi. Tiệm kim hoàn Lauray, nơi tôi mua vài món cho mẹ, do Marty và Laura Fleishner làm chủ. Và còn có bệnh viện B'nai B'rith Leo N. Levi, nơi người ta dùng nước suối khoáng để chữa bệnh thấp khớp. Tôi cũng gặp những người bạn gốc Ảrập đầu tiên của mình ở Hot Springs, nhà Zorub và nhà Hassin. Khi cha mẹ của David Zorub bỏ mạng ở Libăng, chú anh ấy nuôi anh ấy. Anh ấy đến Mỹ năm lên chín khi chưa biết nói một từ tiếng Anh nào nhưng về sau đã trở thành học sinh đứng đầu lớp và đóng vai thống đốc trong chương trình Boys State. Hiện nay anh ấy là một bác sĩ thần kinh ở Pennsylvania. Guido Hassin và chị em gái của anh ấy là kết quả của mối tình lãng mạn thời Thế chiến hai giữa một người Mỹ gốc Syria và một phụ nữ Ý; họ là hàng xóm của tôi trong thời trung học. Tôi còn có một người bạn gốc Nhật, Albert Hahm, và một bạn cùng lớp gốc Séc, Rene Duchac, cha mẹ của anh ấy là dân nhập cư và là chủ nhà hàng Little Bohemia. Hot Springs có một cộng đồng gốc Hy Lạp lớn, có một nhà thờ chính thống giáo Hy Lạp và nhà hàng Angelo, chỉ cách công ty Clinton Buick một góc đường. Đó là một nơi kiểu xưa thật tuyệt vời, với quầy rượu dài như bồn phun nước và bàn phủ vải caro trắng-đỏ. Đặc sản của nhà hàng là một bộ ba món: ớt, đậu và mì spaghetti.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2015, 03:20:59 AM
        Những người bạn gốc Hy Lạp tốt nhất của tôi là gia đình nhà Leopoulos. Bác George là chủ một tiệm cà phê nhỏ ở phố Bridge giữa đại lộ Central và Broadway, nơi chúng tồi coi là đường phố ngắn nhất nước Mỹ, chỉ kéo dài có một phần ba dãy nhà. Bác gái Evelyn là một phụ nữ nhỏ xíu hay tin vào luân hồi và sưu tầm đồ cổ, rất mê Liberace, người từng làm bà thích thú vì ghé ăn tối ở nhà bà khi ông đến biểu diễn ở Hot Springs. Con trai nhà Leopoulos, Paul David, là bạn tốt nhất của tôi năm lớp bốn và từ đó đến giờ thân thiết với tôi như thể anh em.

        Khi còn nhỏ, tôi thích đi cùng với cậu ấy đến tiệm cà phê của ba cậu, đặc biệt là khi đoàn xiếc giải trí đến thành phố, vì toàn bộ thành viên trong đoàn hay ăn ở đấy. Một lần họ cho chúng tôi vé miễn phí tất cả các trò chơi cảm giác mạnh. Chúng tôi đã xài hết luôn mấy cái vé, David thì vui sướng, còn tôi chóng hết cả mặt mày và buồn nôn. Kể từ sau đó tôi chỉ còn đi xe đụng và ngồi bánh xe quay khổng lồ. Chúng tôi cùng nhau bay lên trượt xuống thăng trầm đủ cho cả đời người, và cười thỏa thuê đủ cho cả ba kiếp.

        Việc từ hồi còn nhỏ tôi có bạn và người quen đa dạng như vậy ngày nay có vẻ như bình thường, nhưng ở bang Arkansas thời những năm 1950 thì chỉ ở Hot Springs mới được như vậy. Nhưng dù sao đi nữa thì phần lớn bạn bè tôi và cả tôi vẫn sống một cuộc sống đời thường, ngoại trừ đôi lần gọi điện chọc phá nhà thổ của bà Maxine hoặc cúp học đi xem đua ngựa - điều tôi không bao giờ làm nhưng đối với vài đứa bạn trung học của tôi thì là một điều không thể cưỡng nổi.

        Từ năm lớp bốn đến lớp sáu, phần lớn cuộc sống của tôi xoay quanh đại lộ Park. Khu tôi ở quả là thú vị. Phía đông nhà chúng tôi có một dãy nhà rất đẹp chạy dài vào đến rừng, và một dãy khác phía sau nhà trên đường Circle Drive. David Leopoulos sống cách tôi vài dãy phố. Bạn thân nhất của tôi trong khu gần nhà là gia đình nhà Crane. Họ sống trong một căn nhà gỗ lớn, cổ và trông có vẻ bí hiểm ở bên kia con đường phía sau nhà tôi. Dì Dan của Edie Crane hay dẫn anh em nhà Crane và tôi đi khắp nơi: xem phim, đi công viên Snow Springs bơi trong mấy cái hồ đầy nước suối lạnh, và đi công viên Whittington để tập chơi golf. Đứa con gái lớn nhât nhà Crane là Rose trạc tuổi tôi. Larry, đứa em kế, nhỏ hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi lúc nào cũng hòa thuận với nhau ngoại trừ một lần khi tôi dùng một từ mới với Larry. Lúc ấy chúng tôi đang cầu nguyên cùng với Rose ở sân sau nhà tôi, tôi bảo Larry là biểu bì của nó đang lộ ra. Nó giận lắm. Sau đó tôi lại bảo nó là biểu bì của ba mẹ nó cũng đang lộ ra kìa. Nó chịu hết nổi. Nó về nhà, lấy dao, quay lại và phóng vào người tôi. Dù lần ấy nó phóng hụt, nhưng từ đó tôi rất ngại dùng những từ đao to búa lớn. Cô em út Mary Dan từng dặn tôi là chờ cô ấy lớn lên rồi cưới nhau.

        Đối diện nhà chúng tôi là một loạt các doanh nghiệp nho nhỏ. Có một cái gara làm bằng các tấm thiếc. David và tôi hay trốn phía sau cây sồi và ném quả sồi vào mái thiếc để dọa mấy ông làm việc tại đấy. Thỉnh thoảng chúng tôi cố ném vào chắn bùn của mấy chiếc xe chạy ngang, và mỗi lần ném trúng nó kêu binh binh rất to. Có lần một nạn nhân của chúng tôi dừng xe lại, bước ra và phát hiện thấy chúng tôi đang nấp sau cây sồi và nhào đến đuổi. Từ đó tôi không hay ném quả sồi vào xe nữa, nhưng đúng là trò ấy rất vui.

        Bên cạnh gara là một dãy nhà gạch, bên trong có một tiệm tạp hóa, một tiệm giặt tự động và nhà hàng thịt nướng Stubby, nơi tôi thường hay ngồi ăn một mình ở cái bàn cạnh cửa sổ, vừa thưởng thức vừa tự hỏi về cuộc sống của những người ngồi trên xe hơi chạy ngang trên đường. Năm 13 tuổi tôi nhận việc làm đầu tiên ở tiệm tạp hóa trong khối nhà này. Ồng chủ Dick Sanders khoảng 70 tuổi, và, giống như nhiều người trạc tuổi ông lúc bấy giờ, ông cho rằng thuận tay trái là không tốt, nên ông quyết định phải thay đổi thói quen dùng tay trái cố hữu của tôi. Một hôm ông bắt tôi dùng tay phải xếp các hũ sốt mayonaise lớn hiệu Hellman, loại 89 xu một hũ. Tôi xếp lệch một hũ, thế là nó rơi xuống nền nhà vỡ tan thành một đống bầy hầy những thủy tinh bể lẫn xốt. Đầu tiên tôi phải dọn sạch đi. Sau đó ông Dick bảo tôi phải đền tiền. Lúc ấy tiền công của tôi là một đôla một giờ. Tôi lấy hết cam đảm và nói: "Ông Dick ơi, ông có thể mướn một nhóc giúp việc thuận tay trái khéo léo với giá một đô một giờ, nhưng ông không thê mướn một nhóc giúp việc thuận tay phải hậu đậu mà không phải trả đồng nào đâu nhé". Thật bất ngờ, ông ấy phá lên cười và đồng ý. Ông ấy thậm chí còn cho tôi làm công việc kinh doanh đầu đời của mình, đặt một giá bán truyện tranh cũ ở phía trước cửa tiệm. Tôi để dành được hai đống to truyện tranh, vẫn còn tốt và bán rất chạy. Lúc ấy tôi rất hãnh diện, dù bây giờ tôi biết nếu hồi đó tôi không bán mà giữ lại thì nay đã có một bộ sưu tập quý giá rồi.

        Kế nhà chúng tôi về phía tây, tức về hướng thành phố, là lữ quán Perry Plaza. Tôi thích gia đình nhà Perry và con gái của họ Tavia, lớn hơn tôi cỡ một hai tuổi. Một hôm tôi đến thăm cô ấy khi cô ấy vừa mới có một khẩu súng BB. Lúc đấy tôi khoảng chín hay mười tuổi. Cô ấy ném thắt lưng xuống sàn và nói nếu tôi bước qua là cô ấy bắn liền. Tất nhiên là tôi bước qua luôn. Và cô ấy bắn thật. Cũng may là chỉ bắn trúng chân, nhưng từ đó tôi quyết trở thành một người phán đoán giỏi xem người đối diện dám làm thật hay chỉ dọa suông mà thôi.

        Tôi còn nhớ điều nữa về lữ quán nhà Perry. Nó được xây bằng gạch màu vàng - hai tầng, chạy từ đại lộ Park đến đường Circle Drive. Thỉnh thoảng có những người mướn phòng ở đây và ở các lữ quán khác trong thành phố, hàng tuần liền, thậm chí hàng tháng trời. Một lần có một ông đứng tuổi thuê một căn phòng ở cuối hành lang trên lầu lâu như vậy. Một hôm cảnh sát đến và bắt ông ta đi. Hóa ra ông ấy dùng phòng này để nạo phá thai. Cho tới trước lúc đó, tôi chắc cũng chẳng biết phá thai nghĩa là sao.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2015, 01:47:39 AM
        Xa hơn về phía đại lộ Park là rnột hiệu cắt tóc nhỏ, nơi ông Brizendine cắt tóc cho tôi. Quá tiệm cắt tóc thêm một phần tư dặm nữa, đại lộ Park nhập vào đường Ramble, rồi chạy lên đồi về phía nam dẫn đến trường tôi, trường tiểu học Ramble. Năm học lớp bốn tôi lập ban nhạc. Ban nhạc lứa tuổi tiểu học bao gồm học sinh của tất cả các trường tiểu học trong thành phố. Ông giám đốc George Gray rất biết cách khuyến khích các nhạc công nhí trong khi chúng tôi tập đàn kèn inh ỏi. Tôi chơi kèn clarinet trong khoảng một năm, rồi chuyển qua chơi saxo tenor vì ban nhạc đang cần người chơi saxo - một sự thay đổi mà tôi không bao giờ hối tiếc. Kỷ niệm sống động nhất của tôi về lớp năm là một buổi thảo luận trong lớp về trí nhớ, mà bạn cùng lớp tôi là Tommy O'Neal nói với cô Caristianos là nó nhớ cả lúc nó được sinh ra đời. Tôi không rõ liệu nó nhớ giỏi đến thế hay là nó bị chập cheng, nhưng tôi khoái nó và cuối cùng thì đã gặp được một người có trí nhớ tốt hơn cả tôi.

        Tôi rất yêu quý cô giáo lớp sáu của mình, cô Kathleen Schaer. Giống như nhiều thầy cô giáo cùng thế hệ, cô không lấy chồng và cống hiến đời mình cho trẻ em. Cô sống đến năm ngoài 80 tuổi với em họ của mình, cũng lựa chọn cách sống như cô. Nhưng dù dịu dàng và tốt bụng, cô Schaer tin tưởng vào thứ tình yêu cứng rắn. Hôm trước ngày lễ tốt nghiệp, cô bảo tôi ở lại sau giờ học. Cô bảo tôi lẽ ra tôi phải tốt nghiệp đứng đầu lớp, bằng với Donna Standiford. Nhưng vì điểm "công dân" của tôi thấp quá - lúc bấy giờ chắc chúng tôi gọi là điểm "hạnh kiểm" - nên tôi bị rớt xuống hạng ba. Cô Schaer nói: "Billy, khi lớn lên em hoặc là sẽ làm thống đốc hoặc là sẽ sa vào đủ thứ rắc rối. Mọi việc tùy thuộc vào việc em học được cách khi nào nên nói và khi nào nên im lặng". Hóa ra cả hai dự đoán của cô đều đúng.

        Khi tôi học trường Ramble, tính ham đọc của tôi tăng lên và tôi khám phá ra Thư viện công cộng hạt Garland nằm ngay trung tâm thành phố gần tòa án và không xa Công ty Clinton Buick. Tôi thường đến đó hàng giờ liền, lục lọi và đọc rất nhiều sách. Tôi khoái nhất là sách về thổ dân châu Mỹ và đọc tiểu sử viết cho trẻ em về người Apache vĩ đại Geromino; về thủ lĩnh người Sioux Ngựa điên, người đã hạ sát tướng Custer và đẩy lùi đạo quân của ông ở Little Big­horn; về tù trưởng Joseph của bộ tộc Nez Percé, người đã đem lại hòa bình bằng tuyên bố nổi tiếng "Kể từ khi mặt trời đứng ở kia trở đi, ta sẽ mãi mãi không gây chiến tranh nữa"; và người Cherokee vĩ đại Sequoyah, từng chế ra chữ viết cho dân tộc mình. Tôi không bao giờ hết quan tâm đến thổ dân châu Mỹ, và luôn cảm thấy họ đã bị đối xử rất tàn tệ.

        Nơi dừng chân cuối cùng của tôi trên đại lộ Park là nhà thờ thực sự của tôi, Nhà thờ Baptist Park Place. Dù mẹ và bố không đi lễ trừ dịp Phục sinh và đôi khi là dịp Giáng sinh, mẹ khuyến khích tôi gần như chủ nhật nào cũng đi, và tôi làm theo. Tôi thích ăn mặc chỉnh tề và đi bộ tới nhà thờ. Từ năm 11 tuổi đến khi tốt nghiệp trung học, thầy dạy trường chủ nhật của tôi là A. B. "Sonny" Jeffries. Bert, con trai thầy, học cùng lớp với tôi và là bạn thân của tôi. Trong nhiều năm liền, chủ nhật nào chúng tôi cũng đi học lớp Kinh thánh và đi lễ với nhau, lúc nào cũng ngồi phía cuôi - thê giới riêng của chúng tôi. Năm 1955, tôi hấp thụ những răn dạy của nhà thờ đủ để hiểu rằng tôi là kẻ có tội lỗi và đủ để mong muốn được Chúa Jesus cứu rỗi. Thế nên tôi đã đi giữa hai hàng ghế nhà thờ vào cuối buổi lễ chủ nhật, bày tỏ niềm tin vào Chúa và đề nghị được làm lễ rửa tội. Mục sư Fitzgerald đến nhà tôi và nói chuyện với mẹ và tôi. Những người Tin Lành Baptist đòi hỏi người muốn được làm lễ rửa tội phải có niềm tin có ý thức vào Chúa; họ muốn mọi người ý thức được việc mình đang làm, không giống như những lễ nghi của Tin Lành Giám lý, vốn cho tiếp nhận Chúa ngay từ khi bé tí như trường hợp Hillary và anh em cô ấy.

        Bert Jeffries và tôi được làm lễ rửa tội cùng nhau và với nhiều người khác vào một buổi tối chủ nhật. Hồ nước làm lễ được đặt nằm ngay trên chỗ dành cho dàn đồng ca. Khi các tấm màn được mở ra, cộng đồng tín hữu có thể thấy vị mục sư mặc áo choàng trắng, nhúng nước những người được cứu rỗi. Đứng trước tôi và Bert trong hàng là một phụ nữ rõ ràng là sợ nước. Bà ấy run rẩy bước xuống chỗ hồ nước. Khi mục sư bịt mũi bà để ấn đầu bà xuống nước, bà bắt đầu vùng vẫy loạn xạ. Chân phải bà ấy đạp thẳng lên trời và kẹt vào cái khe kính vốn dùng để chắn cho dàn đồng ca khỏi ướt. Bà ấy không rút chân ra được, nên khi mục sư nhấc bà ấy lên cũng không được. Vì ông mục sư chỉ chăm chú nhìn vào đầu bà ấy đang chìm dưới nước và không biết chân bà bị kẹt, nên ông cứ cố kéo mãi. Cuối cùng ông nhìn quanh, hiểu ra và kéo chân bà ấy ra trước khi bà ấy chết ngạt. Tôi và Bert cười nghiêng ngả. Tôi nghĩ nếu Chúa Jesus có óc hài hước đến vậy thì làm tín đồ của Người chắc cũng không đến nỗi nào.

        Ngoài bạn bè, khu xóm, trường học và nhà thờ mới, Hot Springs còn cho tôi có được đại gia đình nhà Clinton. Ông bà nội kế của tôi là AI và Eula Mae Cornwell Clinton. Poppy Al, như chúng tôi gọi ông, quê ở Dardanelle, hạt Yell - một nơi có rừng rất đẹp cách Little Rock 70 dặm về phía thượng nguồn sông Arkansas. Ông gặp và cưới bà sau khi gia đình chuyển từ Mississippi đến vào những năm 1890. Chúng tôi gọi bà nội kế là Mama Clinton. Bà thuộc dòng dõi Corn welt đông đúc sống khắp nơi ở Arkansas. Cùng với gia đình Clinton và họ hàng của mẹ tôi, tôi có họ hàng quen biẽt ớ 15 trong tổng sõ 75 hạt ở tiểu bang Arkansas, một tài sản khổng lồ khi tôi khởi nghiệp chính trị vào thời điểm mà quan hệ cá nhân còn quan trọng hơn là những kinh nghiệm hay quan điểm về một vấn đề nào đó.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2015, 06:15:58 AM
        Poppy AI nhỏ nhắn, thấp và ốm hơn ông nội tôi nhưng tốt bụng và dịu dàng. Tôi gặp ông lần đầu lúc còn sống ở Hope khi ông đến thăm bố tôi. Ông không đi một mình. Lúc ấy ông vẫn còn làm sĩ quan quản thúc cho tiểu bang, và đem theo cả một tù nhân chắc là vi phạm gì đó phải trở lại nhà tù. Lúc ông ra khỏi xe để vào nhà thăm chúng tôi, người tù kia bị còng tay dính vào ông. Thật là một cảnh tượng kỳ khôi, vì người tù to khổng lồ, chắc cũng gấp đôi ông. Nhưng Poppy AI nói chuyện nhẹ nhàng tử tế với người tù và người này có vẻ cũng đáp lại như vậy. Tôi chỉ biết là cuối cùng Poppy AI cũng an toàn đưa người tù này về đúng hạn.

        Poppy AI và Mama Clinton sống trong một ngôi nhà nhỏ trên đỉnh đồi. Phía sau nhà có một mảnh vườn mà ông rất lấy làm hãnh diện. Ông sống đến 84 tuổi, và lúc ông ngoài 80, mảnh vườn này cho ra một quả cà chua nặng đến hơn một ký. Tôi phải dùng cả hai tay mới bê được nó.

        Mama Clinton thực sự là bà chủ trong nhà. Bà tốt với tôi, nhưng bà biết cách sai khiến những người đàn ông trong đời mình. Bà lúc nào cũng đối xử với bố tôi như thể ông còn là con nít, không được làm điều gì sai trái, và chắc cũng vì vậy mà ông chẳng bao giờ trưởng thành. Bà thích mẹ, vốn giỏi lắng nghe những chuyện đau buồn tưởng tượng của bà hơn bất cứ người nào khác trong nhà mà vẫn lựa lời khuyên bảo đầy thông cảm. Bà sống đến 93 tuổi.

        Poppy AI và Mama Clinton có năm người con, một gái và bốn trai. Cô Ilaree là con thứ. Con gái cô, Virginia với biệt danh Sister, sau đó cưới Gabe Crawford và là bạn tốt của mẹ. Càng về già, tính tình của cô Ilaree càng trở nên kỳ quái. Một lần mẹ đến thăm, cô than thở rằng dạo này đi lại khó khăn quá. Cô kéo váy lên và chỉ cho mẹ thấy ở chân cô có một cái bướu lớn. Không lâu sau khi gặp Hillary lần đầu, cô cũng kéo váy lên chỉ cho cô ấy cái bướu ở chân. Mới gặp mà như vậy là tốt rồi. Ilaree là người đầu tiên trong họ Clinton thực sự thích Hillary. Mẹ tôi cuối cùng cũng thuyết phục được cô đi cắt bướu, và lần đi máy bay đầu tiên trong đời là lần bà bay đến bệnh viện Mayo. Khi người ta cắt bướu ra thì nó đã nặng đến hơn bốn ký, nhưng kỳ diệu thay là nó chưa làm lan tế bào ung thư ra khắp chân. Tôi nghe nói bệnh viện đã giữ cái bướu kỳ khôi ấy lại để nghiên cứu. Khi cô Ilaree về đến nhà, thì ra cô sợ đi máy bay nhiều hơn là sợ mổ cắt bướu.

        Bác hai là bác Robert. Bác và vợ, Evelyn, là những người kín tiếng, sống ở Texas và có vẻ cũng hạnh phúc dù ít khi giao thiệp với gia đình Clinton ở Hot Springs.

        Bác tư, Roy, có một cửa hàng thức ăn gia súc. Vợ bác, Janet, và mẹ là hai người ngoài gia tộc huyết thống còn có tính cách mạnh mẽ nhất dòng họ, và chơi với nhau rất hợp. Hồi đầu thập niên 50 bác Roy ra ứng cử viện lập pháp bang và đắc cử. Vào ngày bầu cử, tôi phân phát phiếu vận động cho bác trong xóm tôi, gần với điểm bỏ phiếu nhất theo mức luật pháp cho phép. Đó là kinh nghiệm chính trị đầu tiên của tôi. Bác Roy chỉ làm một nhiệm kỳ. Người ta rất thích bác nhưng bác không tái ứng cử, theo tôi là vì bác gái Janet ghét chính trị. Bác Roy và Janet tuần nào cũng chơi domino với bố mẹ tôi trong nhiều năm, khi ở nhà tôi, lúc ở nhà bác.

        Raymond, bác năm, là người họ Clinton duy nhất có máu mặt và cũng thường xuyên dính líu đến chính trị. Bác tham gia vào làn sóng cải cách của cựu binh Thế chiến hai, dù bác chưa bao giờ nhập ngũ. Bác có ba người con, tất cả đều là những ủng hộ viên của tôi. Raymond Jr., biệt danh "Corky", không chỉ nhỏ tuổi hơn tôi mà còn sáng láng hơn nữa. Cậu ấy sau này trở thành nhà khoa học nghiên cứu hỏa tiễn và thành danh ở NASA.

        Mẹ tôi luôn có một mối liên hệ mơ hồ với bác Raymond, vì bác thích điều hành mọi việc và vì bố thì hay say xỉn nên chúng tôi cần bác giúp thường xuyên hơn là mẹ muốn. Khi chúng tôi mới chuyển đến Hot Springs, thậm chí chúng tôi còn đi lễ ở nhà thờ của bác Raymond, nhà thờ Trưởng lão Đệ nhất, mặc dù mẹ là tín đồ Baptist, ít ra là trên danh nghĩa. Vị mục sư hồi đó, mục sư Overholser, là một người đáng nể có hai người con gái cũng đáng nể: Nan Keohane, từng làm hiệu trưởng trường Trung học Wellesley nơi Hillary từng học, và sau đó làm nữ hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Duke. Người con gái kia là Geneva Overholser, chủ bút tờ Des Moines Regis­ter và ủng hộ tôi khi tôi tranh cử tổng thống, rồi phụ trách phần khiếu nại bạn đọc của tờ Washington Post, thường đăng các khiếu nại của công chúng nhưng lại không đăng khiếu nại của tổng thống.

        Dù mẹ có vẻ không ưa Raymond nhưng tôi lại khoái bác ấy. Bác ấn tượng cho tôi nhờ sức mạnh, tầm ảnh hưởng trong thành phố, sự quan tâm thực sự của bác ấy với trẻ con và với tôi. Mấy chuyện màu mè cá nhân của bác ấy không làm tôi khó chịu gì mấy, dù chúng tôi khác nhau như đêm và ngày. Năm 1968, khi tôi diễn thuyết về đề tài bảo vệ dân quyền ở các câu lạc bộ dân sự ở Hot Springs, bác Raymond đang ủng hộ George Wallace cho chức tổng thống. Nhưng năm 1974, khi tôi bắt đầu chiến dịch vô vọng để ứng cử vào quốc hội, bác Raymond và Gabe Crawford cùng ký tờ séc 10 ngàn đôla để giúp tôi. Lúc bấy giờ đối với tôi như thế là nhiều tiền lắm lắm. Khi vợ bác mất hơn 45 năm sau, Raymond làm quen với một góa phụ mà hồi trung học bậc từng hẹn hò, rồi họ cưới nhau và bác hạnh phúc trong những năm cuối đời. Không biết vì lý do gì mà tôi không thể nhớ ra, về cuối đời bác Raymond giận tôi. Trước khi chúng tôi kịp làm lành bác mắc chứng Alzheimer. Tôi đi thăm bác hai lần, một ở bệnh viện St. Joseph và một lần ở nhà dưỡng lão. Lần đầu tôi nói tôi rất thương yêu bác, rằng tôi xin lỗi về những gì xảy ra giữa chúng tôi, và tôi luôn biết ơn những gì bác đã làm cho tôi. Lúc ấy chắc bác cũng nhận ra tôi trong một, hai phút gì đấy, tôi cũng không chắc lắm. Lần thứ hai tôi biết bác không nhận ra tôi, nhưng dù vậy tôi vẫn muốn đến thăm bác. Bác mất năm 84 tuổi, giống như dì Ollie của tôi, rất lâu sau khi đã mất trí nhớ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2015, 01:15:01 AM
        Raymond và gia đình bác sống trong một ngôi nhà lớn ở hồ Hamilton, nơi chúng tôi thường đi picnic và chèo thuyền gỗ Chris- Craft của bác ấy. Dịp lễ Bốn tháng Bảy nào chúng tôi cũng tổ chức ở đó và bắn nhiều pháo hoa. Sau khi bác mất, các con bác buồn bã quyết định phải bán căn nhà này đi. Thật may là thư viện và quỹ của tôi cần một nơi để làm nhà nghỉ, chúng tôi mua nó và sửa sang lại cho hợp mục đích mới, mà con cháu của bác Raymond vẫn có thể dùng căn nhà này. Chắc bác Raymond cũng ngậm cười nơi chín suối.

        Không lâu sau khi chúng tôi chuyển đến đại lộ Park, chắc vào khoảng năm 1955, ông bà ngoại tôi chuyển đến Hot Springs và sống ở một căn hộ nhỏ ngay trên phố của chúng tôi, chỉ cách nhà tôi cỡ một dặm về phía thành phố. Lý do chuyển nhà chủ yếu là để chăm lo sức khỏe. Bệnh viêm phế quản cấp của ông ngày càng nặng còn bà thì bị đột quỵ. Ông tìm được việc trong một tiệm bán rượu mà tôi đoán là bố tôi có phần hùn, ngay đối diện tiệm hớt tóc của ông Brizendine. Ông cũng rảnh rang lắm vì ngay cả ở Hot Springs người ta cũng vẫn giữ ý không lui tới thường xuyên tiệm bán rượu vào ban ngày ban mặt, nên tôi hay đến thăm ông ở tiệm. Ông hay chơi bài một mình và dạy tôi cách chơi. Đến nay tôi vẫn thường chơi ba kiểu đánh bài khác nhau, thường là khi tôi phải suy nghĩ kỹ về vấn đề nào đấy và cần xả bớt những lo lắng.

        Cơn đột quỵ của bà ngoại khá nặng, và bà bị mắc chứng la hét điên loạn. Điều không thể tha thứ được là vị bác sĩ của bà đã cho bà dùng moọcphin, rất nhiều moọcphin, để làm bà dịu đi. Đến khi bà bắt đầu bị ghiền cũng là lúc mẹ đón ông bà xuống Hot Springs. Bà ngày càng ứng xử kỳ quặc, và mẹ không còn cách nào khác là phải đưa bà vào bệnh viện tâm thần của tiểu bang, cách chỗ chúng tôi khoảng 30 dặm. Tôi nghĩ là hồi ấy chưa có trung tâm cai nghiện nào cả.

        Tất nhiên lúc đấy tôi chẳng biết gì về chuyện bà bị ghiền; tôi chỉ biết bà bị bệnh. Thế rồi mẹ chở tôi đến bệnh viện thăm bà. Thật kinh hoàng và hỗn loạn. Chúng tôi vào một phòng lớn được làm mát bằng quạt điện treo trong các lồng sắt to để tránh bệnh nhân thò tay vào cánh quạt. Nhiều người mặc đồ ngủ hoặc quần áo vải thô rộng đi lung tung một cách đờ đẫn, rủ rỉ tự nói chuyên một mình hoặc la hét vào thinh không. Dù vậy, bà ngoại trông vẫn có vẻ bình thường và vui khi gặp chúng tôi, và chúng tôi nói chuyện với nhau. Sau vài tháng, bà đã dịu xuống đủ mức để về nhà, và bà không bao giờ xài moọcphin nữa. Bà bị bệnh cho tôi cơ hội đầu tiên tiếp xúc với hệ thống điều trị bệnh tâm thần lúc đó được dùng cho phần lớn nước Mỹ. Khi trở thành thống đốc, Orval Faubus đã hiện đại hóa bệnh viện tiểu bang và đầu tư nhiều tiền. Bất chấp những thiệt hại mà ông ta gây ra ở những lĩnh vực khác, tôi luôn biết ơn ông vì đã đầu tư vào bệnh viện.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2015, 01:05:20 AM
   
        05


        Năm 1956, cuối cùng thì tôi cũng có em trai, và nhà tôi mua tivi. Em tôi, Roger Cassidy Clinton, sinh ngày 25 tháng 7, trùng ngày sinh nhật của bố. Tôi rất vui. Mẹ và bố trong một thời gian dài đã mong có em (mấy năm trước mẹ từng bị sảy thai). Tôi nghĩ mẹ, và chắc là cả bố, nghĩ rằng có con chung sẽ cứu vãn cuộc hôn nhân của họ. Phản ứng của bố ban đầu có vẻ không hứa hẹn lắm. Khi sinh em, mẹ phải mổ, và lúc này tôi đang ở với ông bà ngoại. Bố đến đón tôi đi thăm mẹ, rồi chở tôi về nhà và đi tiếp. Từ vài tháng qua, bố tôi bắt đầu uống trở lại, và thay vì làm cho bố hạnh phúc và cảm thấy có trách nhiệm, việc đứa con duy nhất của ông ra đời lại càng làm cho ông quay lại thói quen say xỉn.

        Ngoài sự phấn khích vì có thêm em bé trong nhà còn có sự phấn khích vì có tivi. Có nhiều chương trình dành cho trẻ em: phim hoạt hình, Captain KangarooHowdy Doody với nhân vật Buffalo Bob Smith mà tôi đặc biệt thích. Có cả các trận bóng chày nữa: Mickey Mantle và đội Yankees, Stan Musial và đội Cardinals, và đội mà tôi ưa thích nhất: đội New York Giants với Willie Mays.

        Nhưng dù có kỳ khôi đến đâu đi nữa, đặc biệt là với một đứa bé lên 10, tôi dành thời gian xem tivi nhiều nhất vào mùa hè đó để theo dõi các đại hội của đảng Dân chủ và Cộng hòa. Tôi ngồi dưới sàn nhà ngay trước tivi và xem cả hai, say mê đến mức không nói được gì. Nghe thì có vẻ điên rồ, nhưng tôi cảm thấy thực sự thoải mái trong thế giới chính trị và chính trị gia. Tôi thích Tổng thống Eisenhower và vui khi thấy ông được tái đề cử, nhưng vì nhà chúng tôi theo đảng Dân chủ, nên tôi xem rất kỹ đại hội Dân chủ. Thống đốc bang Tennessee Frank Clement đọc một bài diễn văn mở đầu hùng hồn. Tranh chấp đề cử chức phó tổng thống cũng gay go giữa Thượng nghị sĩ trẻ John F. Kennedy với người về sau này thắng cuộc Thượng nghị sĩ Estes Kefauver - người đại diện cho Tennessee trong thượng viện cùng với cha của AI Gore. Khi Adlai Stevenson, ứng cử viên năm 1952, chấp nhận lời kêu gọi của đảng ông ta để ra tranh cử, ông ấy nói ông ấy đã cầu nguyện "Lạy cha, xin cha cất cho con chén đắng này" (Lời chúa Jesus, trong Kinh thánh). Tôi ngưỡng mộ sự thông minh và tài hùng biện của Stevenson, nhưng ngay từ hồi đó tôi đã không hiểu được tại sao có người lại không muốn có cơ hội để trở thành tổng thống. Bây giờ thì tôi nghĩ rằng ông ấy đã không muốn nỗ lực vô ích một lần nữa. Tôi hiểu điều này. Chính tôi cũng đã thua một vài cuộc bầu cử, dù tôi không bao giờ bước vào một trận đấu mà trước đó lại không tự thuyết phục mình rằng tôi có thể chiến thắng.

        Tôi không dành hết thời gian để xem tivi. Bất cứ khi nào có thể, tôi vẫn đi xem phim. Hot Springs có hai rạp chiếu phim cũ kỹ, rạp Paramount và rạp Malco, đều có các sân khấu lớn với các ngôi sao phim viễn tây hay xuất hiện vào cuối tuần. Tôi đã được thấy Lash LaRue mặc đồ cao bồi đen và quất roi ngựa, và cả một màn biểu diễn bắn súng của Gail Davis - người đóng vai Annie Oakley trên ti vi.

        Vào cuối thập niên 50, Elvis Presley bắt đầu làm phim. Tôi thích Elvis. Tôi có thể hát tất cả các bài hát của ông, và cả các bài hát đệm của ban Jordanaires nữa. Tôi ngưỡng mộ ông ấy khi ông nhập ngũ, và thích thú khi ông cưới người vợ trẻ Priscilla. Không giống như phần lớn các bậc cha mẹ, vốn cho rằng kiểu lắc hông của Elvis là tục tĩu, mẹ tôi cũng mê Elvis, có thể còn mê hơn tôi. Chúng tôi cùng xem buổi biểu diễn huyền thoại của ông trên chương trình The Ed Sullivan Show, và phá lên cười khi ống kính camera cắt đi phần thân dưới lắc lư của ông để giữ cho người xem khỏi phải xem cảnh bất nhã. Ngoài âm nhạc của ông, tôi còn hòa nhập với gốc gác tỉnh lẻ miền Nam của ông. Và tôi nghĩ rằng ông ấy là người có cái tâm tốt. Bạn tôi, Steve Clark, từng làm chưởng lý tiểu bang hồi tôi làm thống đốc, có một lần đưa em gái của anh ấy đang sắp chết vì ung thư đến xem Elvis biểu diễn ở Memphis. Khi Elvis biết chuyện bé gái này, ông đã cho hai anh em ngồi hàng ghế đầu, và biểu diễn xong ông còn mời cô bé lên sân khấu và trò chuyên với cô một lức. Tôi không bao giờ quên điều đó.

        Phim đầu tay của Elvis, Love Me Tender, là phim tôi ưa thích nhất lúc bấy giờ và đến nay vẫn vậy, dù tôi cũng thích các phim khác của ông như Loving You, Jailhouse Rock, King Creole, và Blue Hawaii. Mấy phim sau đấy nữa của ông bắt đầu trở nên nhàm chán và dễ đoán. Điều thú vị trong phim Love Me Tender - một phim viễn tây thời hậu Nội chiến - là Elvis, lúc ấy đã thành thần tượng hấp dẫn của nước Mỹ - lấy được cô gái, Debra Paget, nhưng chỉ sau khi cô này tưởng rằng người yêu của mình, nhân vật anh trai của Elvis, đã chết trong chiến tranh. Cuối phim, Elvis bị bắn chết, để lại anh trai và người vợ mình.

        Tôi chưa bao giờ chán Elvis. Tror.g chiến dịch tranh cử năm 1992, một số người trong ban tham mưu của tôi đặt cho tôi biệt danh là Elvis. Vài năm sau, khi tôi bổ nhiệm Kim Wardlaw của Los Angeles làm thẩm phán liên bang, cô ấy đã chu đáo đến mức gửi cho tôi một khăn quàng cổ mà Elvis từng đeo và ký tặng cô ấy trong một buổi biểu diễn hồi thập niên 70, lúc cô ấy 19 tuổi. Tôi vẫn còn giữ nó trong phòng nghe nhạc của mình. Và tôi thú nhận: tôi vẫn còn mê Elvis.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2015, 03:56:01 AM
        Thời gian này những phim tôi thích là những phim dựa theo các tích trong Kinh thánh: The Robe, Demetrius and The Gladiators, Samson and Delilah, Ben-Hur, và đặc biệt là phim The Ten Commandments - phim đầu tiên mà tôi dám bỏ hơn 10 xu để xem. Tôi xem The Ten Commandments khi bố và mẹ đi chơi ngắn ngày ở Las Vegas. Tôi đem theo cơm trưa trong hộp và ngồi lì xem liền hai suất. Nhiều năm sau, khi tôi mời Charlton Heston vào Nhà Trắng với tư cách người được Trung tâm Kennedy vinh danh, ông ấy là chủ tịch Hiệp hội súng trường quốc gia và người cực lực chỉ trích các nỗ lực lập pháp của tôi nhằm ngăn chặn súng lọt vào tay tội phạm hay trẻ em. Tôi nói đùa với ông ấy và cử tọa rằng tôi thích ông đóng vai Moses hơn là vai trò hiện nay của ông ấy. Thật may là ông ấy không giận vì lời nói đùa đó.

        Năm 1957, hai lá phổi của ông ngoại tôi cuối cùng đã không chịu nổi nữa. Ông mất ở bệnh viện Ouachita, bệnh viện còn khá mới và là nơi mẹ làm việc. Ông mới 56 tuổi. Đời ông đã phải chịu quá nhiều nghèo khó, bệnh tật và cuộc sống hôn nhân không êm xuôi nhưng bất chấp khó khăn ông vẫn luôn tìm ra nhiều điều để an vui. Và ông yêu mẹ và yêu tôi hơn cả cuộc sống. Tình yêu của ông và những điều ông dạy tôi, chủ yếu bằng cách tự làm gương, rằng hãy quý trọng những món quà mà cuộc sống hàng ngày mang lại cũng như hãy hiểu những rắc rối của người khác - những điều ấy làm tôi nên người hơn là nếu không có ông.

        Năm 1957 cũng là năm có sự kiện ở trường trung học Central High ở Little Rock. Vào tháng 9, chín học sinh da đen, được sự ủng hộ của Daisy Baites - chủ bút tờ Arkansas State Press (báo cho người da đen ở Little Rock), đã biến trường Central High thành trường trung học không phân cách màu da. Thống đốc Faubus, vì muốn phá vỡ thông lệ một thống đốc bang chỉ giữ chức hai nhiệm kỳ, đã từ bỏ truyền thống tiến bộ của gia đình mình (cha ông bỏ phiếu cho Eu­gene Debs, ứng viên tổng thống lâu năm của đảng Xã hội) và kêu gọi đưa Vệ binh quốc gia đến ngăn chặn mấy học sinh da đen kia nhập trường. Sau đó Tổng thống Dwight Eisenhower đặt Vệ binh quốc gia dưới sự chỉ huy của liên bang1 để bảo vệ các học sinh này, và khi đến trường họ phải đi xuyên qua những đám đông giận dữ gào thét những lời chửi rủa đầy tính kỳ thị chủng tộc. Phần lớn các bạn tôi hoặc chống lại chuyện học sinh nhiều mằu da học chung, hoặc có vẻ chẳng quan tâm gì. Tôi không nói gì nhiều về việc này, có thể vì gia đình tôi không liên quan đến chính trị lắm, nhưng tôi ghét việc Faubus làm. Thế nhưng dù ông Faubus đã gây tác hại lớn cho hình ảnh của tiểu bang, ông ta đã đảm bảo cho mình không chỉ trúng cử tiếp một nhiệm kỳ thứ ba, mà còn trúng thêm ba nhiệm kỳ nữa. Sau này ông ta cũng nhiều lần tranh cử trở lại với Dale Bumpers, David Pryor, và tôi, nhưng lúc ấy tiểu bang đã không còn có phản ứng tương tự như xưa nữa.

        Chín học sinh Little Rock trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh đòi hỏi bình đẳng. Năm 1987, vào dịp kỷ niệm 30 năm sự kiện này, tôi với tư cách thống đốc bang đã mời chín người này về. Tôi mở tiệc chiêu đãi họ tại công thự của thống đốc và dẫn họ vào căn phòng nơi mà Thống đốc Faubus từng điều động chiến dịch nhằm ngăn họ nhập trường. Trong dịp kỷ niệm lần thứ 40 sự kiện này, vào năm 1997, chúng tôi tổ chức một lễ lớn ở bãi cỏ trường trung học Central High. Sau chương trình buổi lễ, Thống đốc Mike Huckabee và tôi mở cửa trường Central High và chín người đó bước vào. Bà Elizabeth Eckford, vào lúc sự kiện xảy ra mới 15 tuổi và bị chấn động mạnh khi phải đi một mình giữa đám đông giận dữ để vào trường, đã dàn hòa với Hazel Massery, một trong những nữ học sinh từng bêu riếu bà 40 năm trước. Năm 2000, trong một buổi lễ ở Bãi cỏ phía Nam Nhà Trắng, tôi trao tặng cho chín học sinh Little Rock năm nào Huân chương danh dự quốc hội - một phần thưởng danh dự từ gợi ý của Thượng nghị sĩ Dale Bumpers. Vào cuối mùa hè năm 1957, chín học sinh ấy đã giúp cho chúng tôi, cả da đen lẫn da trắng, thoát khỏi bóng đen tăm tối của sự cách biệt và kỳ thị. Bằng việc làm này, họ đã mang lại cho tôi nhiều hơn bất cứ thứ gì tôi có thể mang lại cho họ. Nhưng tôi hy vọng điều tôi mang đến cho họ, và cho dân quyền trong những năm sau này đã vinh danh những bài học tôi đã từng học được hơn 50 năm trước đây trong tiệm rượu của ông tôi.

        Mùa hè năm 1957 và sau giáng sinh năm đó, tôi có những chuyến đi đầu tiên ra ngoài bang Arkansas kể từ hồi đi thăm mẹ ở New Orleans. Cả hai lần tôi đều đáp xe buýt Trailways đi Dallas để thăm bác Otie. Lúc ấy đi xe này là sang lắm, có cả người phục vụ bánh mì kẹp trên xe. Tôi ăn thỏa thích.

        Dallas là thành phố thực sự thứ ba tôi từng đến cho tới lúc bây giờ. Hồi lớp năm tôi đã thăm Little Rock và đến xem tòa nhà quốc hội tiểu bang, hay nhất là vào thăm cả văn phòng của ông thống đốc và ngồi vào ghế bỏ trống của ông. Tôi bị ấn tượng đến nỗi nhiều năm sau tôi vẫn thường cho trẻ em ngồi trên lòng tôi trên ghế ở phòng thống đốc hoặc Phòng Bầu dục để chụp ảnh.

-----------------------
1. Vệ binh quốc gia (National Guard) là lực lượng quân sự của tiểu bang, nhúng chính phủ liên bang có thể trưng dụng khi cần thiết.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2015, 01:52:29 AM
        Ngoài thức ăn Mexico tuyện vời, vườn thú và sân tập golf mini đẹp nhất mà tôi từng thấy, những chuyến đi Dallas còn quan trọng đối với tôi vì ba lý do khác. Thứ nhất, tôi được gập vài người họ hàng của cha tôi. Em trai của ông, Glenn Blythe, là cảnh sát ở Irving, ngoại ô Dallas. Chú ấy bự con, đẹp trai, và ở cùng với chú làm tôi cảm thấy có liên hệ với cha mình. Thật buồn là chú mất vì đột quỵ khi còn quá trẻ, mới 48 tuổi. Cháu gái của cha tôi, Ann Grigsby, từng làm bạn với mẹ tôi từ lúc lấy cha tôi. Trong những chuyến đi này, Ann đã trở thành bạn thân thiết của tôi, hay kể cho tôi nghe về cha tôi và về mẹ tôi khi bà còn là một cô dâu trẻ. Ann hiện vẫn là đầu mối gần gũi nhất của tôi đối với dòng họ Blythe.

        Thứ hai, vào ngày đầu năm 1958, tôi đến sân vận động Cotton Bowl xem trận cầu đại học đầu tiên trong đời. Đội Rice do thủ quân King Hill dẫn dắt đấu với đội Navy có hảo thủ Joe Bellino, người hai năm sau đó đoạt cúp Heisman. Tôi ngồi ở khán đài cuối sân nhưng có cảm tưởng như ngồi trên ngai vàng khi đội Navy thắng 20 - 7.

        Thứ ba, ngay sau giáng sinh tôi đi xem phim một mình vào một buổi chiều khi bác Otie phải đi làm. Hình như hôm đó chiếu phim The Bridge on the River Kwai - cầu sông Kwai. Tôi mê phim này, nhưng lại không thích việc phải mua vé người lớn dù hồi đấy tôi chưa tròn 12 tuổi. Tôi trông to hơn tuổi, còn người bán vé thì chẳng chịu tin là tôi còn nhỏ. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi gặp người không tin lời tôi nói. Thật khó chịu, nhưng tôi nhận ra được sự khác nhau giữa các thành phố lớn lạnh lùng và những thị trấn tỉnh lẻ, và tôi bắt đầu quá trình chuẩn bị công phu của mình cho cuộc sống ở Wash­ington, nơi chẳng ai tin lời bạn về bất cứ điều gì.

        Năm học 1958 - 1959 tôi bắt đầu vào cấp trung học cơ sở. Trường nằm đối diện bệnh viện Ouachita và giáp vách với trường Trung học Hot Springs. Cả hai tòa nhà đều được xây bằng gạch đỏ sẫm. Trường trung học cao bốn tầng lầu, có một giảng đường cũ lớn với nét trang trí đặc trưng từ thời 1917. Trường trung học cơ sở nhỏ hơn và trông chán hơn nhưng vẫn là đại diện cho một thời kỳ mới trong đời tôi. Tuy nhiên, chuyện lớn với tôi trong năm đó lại chẳng liên quan gì đến trường học cả. Một trong số các thầy giáo lớp học chủ nhật của tôi tổ chức đưa một số nhóc học sinh trong hội thánh đi Little Rock để nghe mục sư Billy Graham giảng trong cuộc vận động của ông ở sân War Memorial, sân nhà của đội Razorbacks. Hồi nặm 1958 vấn đề chủng tộc vẫn còn căng thẳng lắm. Các trường học ở Little Rock vì muôn ngăn chặn học sinh khác màu da học chung đã đồng loạt đóng cửa, đẩy học sinh về các trường ở các thị trấn lân cận. Những người có đầu óc kỳ thị của Hội đồng Công dân Da trắng và các hội đoàn khác đề nghị mục sư Graham chỉ cho người da trắng tham dự cuộc vận động của ông xét vì không khí căng thẳng hiện nay. Ông đáp lại rằng Chúa Jesus thương yêu tất cả các con chiên, rằng mọi người đều cần có cơ hội để tiếp đón tin mừng, và vì thế ông thà hủy bỏ cuộc vận động còn hơn là phải thuyết giảng trước một cử tọa phân cách chủng tộc. Hồi đó, mục sư Billy Graham là hiện thân của lực lượng giáo hội Baptist Phương Nam, là nhân vật tôn giáo lớn nhất của miền Nam, và có lẽ của cả nước Mỹ. Sau khi ông bày tỏ quan điểm như vậy, tôi càng muốn nghe ông thuyết giảng. Những người mang đầu óc kỳ thị nhượng bộ, và mục sư Graham trong bài nói 20 phút đặc trưng của mình đã truyền lại một thông điệp mạnh mẽ. Khi ông mời mọi người bước xuống thảm cỏ sân vận động để tiếp nhận Chúa hoặc hiến dâng đời mình cho Chúa, hàng trăm người da đen và da trắng cùng nhau đi dọc các lối đi của sân để xuống đứng và cầu nguyện cùng nhau. Đó là một điểm nhấn mạnh mẽ tương phản với không khí chính trị phân biệt chủng tộc lan tràn khắp miền Nam lúc bấy giờ. Tôi yêu mến Billy Graham về điều này. Nhiều tháng sau tôi thường xuyên dành ra một khoản trong số tiền ít ỏi của mình để ủng hộ cho hội thánh của ông.

        Ba mươi năm sau, mục sư Billy quay lại Little Rock đê tổ chức một cuộc vận động nữa ở sân War Memorial. Với tư cách là thống đốc bang, tôi hân hạnh được ngồi cùng ông trên sân khấu một tối và còn hân hạnh hơn khi đi cùng với ông và bạn tôi Mike Coulson đến thăm vị mục sư của tôi, bạn cũ của Billy, là w. o. Vaught, người sắp chết vì bệnh ung thư. Thật kinh ngạc khi nghe hai người thuộc về Chúa bàn chuyên cái chết, về những nỗi sợ, và về niềm tin của họ. Khi Billy đứng dậy để ra về, ông cầm tay mục sư Vaught và nói: "W. O. à, với cả hai chúng ta chắc cũng chẳng còn lâu đâu. Hẹn gặp lại bạn, ngaỵ bên ngoài Cửa Đông", tức là cửa vào Nước Chúa.

        Khi tôi là tổng thống, Billy và Ruth Graham đến thăm Hillary và tôi ở Nhà Trắng. Billy cùng cầu nguyên với tôi trong Phòng Bầu dục, và viết những bức thư đầy khích lệ và chỉ dẫn trong thời gian tôi bị kiện tụng. Trong mọi điều ông đối xử với tôi, cũng như trong cuộc vận động năm 1958 ấy, Billy đã luôn sống đúng đức tin của mình.

        Thời gian học trung học cơ sở mang lại những trải nghiệm và thách thức mới, khi tôi bắt đầu nhận thức nhiều hơn về trí óc, cơ thể, tinh thần và thế giới bé nhỏ của mình. Nói chung tôi thích hầu hết những điều học về bản thân, nhưng không phải thích hết mọi thứ. Đôi khi những điều chợt đến trong ý nghĩ và trong đời thực làm tôi khiếp sợ, như cơn giận bố, những tơ tưởng đầu tiên đến bọn con gái, và cả những hoài nghi về niềm tin tôn giáo - mà tôi nghĩ xuất phát từ việc tôi không thể hiểu tại sao một ông Chúa mà sự hiện hữu của ông tôi không chứng minh được lại tạo ra một thế giới có nhiều điều tồi tệ xảy ra đến vậy.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2015, 01:16:13 AM
       Tôi ngày càng ham âm nhạc. Dạo này tôi bắt đầu ngày nào cũng đi tập với ban nhạc trung học cơ sở, mong đến ngày biểu diễn trong dịp nghỉ giữa hiệp của các trận đấu bóng và được đi trong đoàn diễu hành giáng sinh, hay được đi biểu diễn ở các buổi hòa nhạc, và đi dự các liên hoan ban nhạc trong vùng - nơi có các giám khảo cho điểm cho các ban nhạc, cũng như các màn biểu diễn cá nhân và tập thể. Tôi đoạt khá nhiều giải, và lần nào mà tôi không đoạt giải thì chỉ vì tôi cố chơi một bài quá khó đối với mình. Tôi vẫn còn giữ vài phiếu chấm điểm của giám khảo cho một sô lần đầu biểu diễn solo của tôi, chỉ ra khiếm khuyết trong kiểm soát những nốt bè thâp, sai nhịp hoặc thói phồng mang trợn má của tôi. Tôi càng lớn thì phiếu điểm càng cải thiện, nhưng tôi cũng không sửa được tật phồng má. Bản solo ưa thích của tôi thời đó là một trích đoạn trong Rhapsody in Blue mà tôi rất ưa tập và một lần còn biểu diễn cho khách xem ở khách sạn Majestic cổ. Tôi hồi hộp ghê lắm, nhưng quyết tâm tạo ấn tượng tốt bằng cách mặc áo choàng trắng mới, đeo nơ và khăn chẽn lưng màu đỏ.

       Các ông bầu ban nhạc học sinh khuyến khích tôi chơi tốt hơn và tôi quyết định thử xem. Hồi đó tiểu bang Arkansas có vài trại nhạc công mùa hè được tổ chức trong các cơ sở của trường đại học và tôi muốn dự một trại. Tôi quyết định đến trại ở cơ sở chính của Đại học Arkansas tại Fayetteville vì ở đấy có nhiều thầy giỏi, mà tôi thì muốn ở vài tuần trong cơ sở mà tôi đoán sau này mình sẽ học đại học ở đó. Trong suốt bảy năm, hè nào tôi cũng đến đây, cho mãi đến tận mùa hè sau khi tôi tốt nghiệp trung học. Hóa ra đó là một trong những trải nghiệm quan trọng nhất trong thời kỳ trưởng thành của tôi. Thoạt tiên, tôi cứ chơi kèn miệt mài. Và tôi cũng khá lên. Có hôm tôi tập kèn liền 12 tiếng cho đến khi môi tôi đau đến nỗi không mấp máy nổi. Tôi cũng có dịp nghe và học hỏi từ những nhạc công lớn tuổi và giỏi hơn.

       Trại nhạc công mùa hè còn là một nơi lý tưởng cho tôi phát triển các kỹ năng chính trị và lãnh đạo. Trong suốt thời kỳ tôi trưởng thành dần lên, đó là nơi duy nhất mà việc bạn chỉ là một "nhóc nhạc công quèn" thay vì là cầu thủ bóng bầu dục không hề đem lại hệ lụy chính trị nào hết. Đó cũng là nơi duy nhất mà làm "nhóc nhạc công quèn" không phải là điểm yếu cho các chú choai choai khi đi tán gái đẹp. Chúng tôi lúc nào cũng vui vẻ, từ phút thức dậy đi ăn sáng trong nhà ăn trường đại học cho đến khi đi ngủ trong ký túc xá, và luôn cũng cảm thây mình rất quan trọng.

       Tôi cũng khoái cái cơ sở này. Ngôi trường này là trường đại học được chính phủ cấp đất xưa nhất phía tây sông Mississippi. Hồi còn ở trung học cơ sở, tôi viết bài luận về trường này, còn khi đã là thống đốc tôi ủng hộ việc dành ngân sách để khôi phục tòa nhà Old Main, tòa nhà cổ nhất trong trường. Được xây từ năm 1871, nó là kiến trúc độc đáo nhắc nhớ về cuộc Nội chiến, có hai cái tháp, tháp bắc cao hơn tháp nam.

       Việc chơi trong ban nhạc cũng đem lại cho tôi người bạn tốt nhất thời trung học cơ sở, Joe Newman. Cậu ấy chơi trông, và chơi giỏi. Mẹ cậu, bác Rae, là giáo viên trong trường chúng tôi; bác ấy và bác trai Dub lúc nào cũng làm tôi cảm thấy mình được chào đón trong căn nhà bằng gỗ trắng lớn của họ trên đại lộ Ouachita, gần nhà hai bác Roy và Janet. Joe thông minh, hoài nghi, tính khí hơi thất thường nhưng hài hước và trung thành. Tôi thích chơi hoặc nói chuyện với cậu ấy. Bây giờ vẫn vậy - suốt bao năm qua chúng tôi vẫn thân thiết với nhau.

       Ở trung học cơ sở tôi thích nhất là học toán. Thật may là tôi nằm trong nhóm đầu tiên ở thành phố được học đại số năm lớp tám chứ không phải lớp chín, có nghĩa là tôi có cơ hội học hình học, đại số nâng cao, lượng giác và tích phân trước khi tốt nghiệp trung học. Tôi thích toán vì đó là môn đòi hỏi giải quyết vấn đề, vốn luôn làm tôi phân khích. Dù khi lên đại học tôi không học toán nữa, nhưng tôi luôn tưởng mình vẫn giỏi toán cho đến một lần tôi không thể làm giúp bài tập lớp chín của Chelsea. Thế là một ảo tưởng nữa tan vỡ.

       Cô Mary Matassarin dạy tôi đại số và hình học. Chị của cô, Verna Dokey, dạy sử, và chồng của cô Verna - Vernon, một huấn luyện viên về hưu - dạy khoa học lớp tám. Tôi thích họ, và dù tôi không học giỏi khoa học mấy, một bài học của thầy Dokey tôi vẫn còn nhớ như in. Vợ và em vợ của thầy Vernon Dokey rất xinh, nhưng phải nói thẳng rằng thầy không phải là người đẹp trai - đấy là đã nhẹ lời lắm rồi. Thầy bự con, bụng hơi nặng nề, đeo kính dày cộm và hay hút xì gà rẻ tiền bằng một ống đót có đầu ngậm nhỏ, khiến mặt thầy trông thiểu não nhăn nhúm kỳ quặc khi thầy rít thuốc. Thầy hay cư xử thô lậu, nhưng lại có nụ cười thật tuyệt, có óc hài hước và sự hiểu biết con người nhạy bén. Một hôm thầy nhìn chúng tôi và nói: "Các em, sau này có thể các em sẽ không còn nhớ gì đã học được trong giờ khoa học, vì thế tôi sẽ dạy cho các em một điều về bản chất con người mà các em nên nhớ lấy. Mỗi sáng tôi thức dậy, tôi vào buồng tắm, dấp nước lên mặt, cạo râu, rồi lau kem cạo râu đi, nhìn vào gương và nói, "này Vernon, cậu trông đẹp lắm". Các em nhớ lây nhé. Ai cũng muôn cảm thây là mình đẹp đẽ cả". Và tôi đã ghi nhớ điều đó trong hơn 40 năm. Nó giúp tôi hiểu được những điều tôi có thể đã bỏ lỡ nếu như thầy Vernon Dokey không nói với tôi rằng thầy đẹp, và nếu như tôi đã không nhìn ra được rằng thực sự thầy đẹp thật.

       Tôi phải chật vật lắm mới hiểu được người khác ở trường trung học cơ sở. Chính ở trường tôi phải đối diện với việc không phải ai cũng thích tôi, mà thường là do những nguyên do gì đó tôi không biết. Có lần tôi đang đi bộ đến trường, cách trường một dãy phố thì một học sinh lớp trên, vốn thuộc dạng đầu bò đầu bướu đang đứng trong hẻm trống giữa hai tòa nhà hút thuốc, búng tàn thuốc đang cháy vào tôi, trúng ngay giữa mũi và suýt nữa làm bỏng mắt tôi. Tôi chẳng hiểu sao hắn lại làm thế, nhưng chắc là dù gì thì tôi cũng chỉ là một thằng nhóc phục phịch mà lại không có quần jean thời thượng (loại quần Levis đã gỡ đường khâu viền ở túi phía sau).

       Cũng khoảng thời gian này tôi có cãi cọ với Clifton Bryant, một đứa lớn hơn tôi một, hai tuổi gì đấy nhưng lại nhỏ con hơn tôi. Một hôm đám bạn tôi và tôi quyết định đi bộ về với nhau sau khi tan học, khoảng ba dặm. Nhà Clifton cũng ở phía đó nên nó đi theo chúng tôi về nhà, vừa đi vừa chòng ghẹo và đẩy vào vai tôi. Chúng tôi cứ đi như thế đến tận đài phun nước trên đại lộ Central, đoạn quẹo phải vào đại lộ Park. Khoảng hơn một dặm đường tôi đã cô lờ đi, nhưng cuối cùng không chịu nổi nữa. Tôi quay lại, vung tay một vòng lớn và đấm nó. Cú đấm khá mạnh, nhưng lúc chạm tới nó thì nó đã kịp quay người chạy nên chỉ trúng vào lưng. Như đã nói, tôi thì chậm chạp. Lúc Clifton chạy về nhà, tôi gào lên thách nó quay lại và đánh nhau cho đáng mặt nam nhi. Nó vẫn chạy. Lúc tôi về đến nhà, tôi đã bình tĩnh lại và những lời tán dương của đám bạn cũng tan biến dần. Tôi sợ tôi làm nó chấn thương, nên tôi nhờ mẹ gọi điện đến nhà nó hỏi xem nó có bị sao không. Từ sau đó giữa hai đứa không còn chuyện gì nữa. Tôi hiểu ra rằng tôi có thể tự vệ, nhưng tôi không thích thú gì khi đánh cậu ta và cũng hơi khó chịu về cơn giận dữ của mình, vốn càng trở nên mạnh mẽ hơn theo năm tháng. Bây giờ tôi biết cơn giận của mình ngày hôm đấy là phản ứng bình thường và lành mạnh khi bị đối xử như vậy. Nhưng chính vì cách cư xử của bố tôi khi giận hoặc say xỉn mà tôi cho rằng sự giận dữ nghĩa là thiếu kiểm soát, và tôi quyết tâm không bao giờ nổi nóng. Làm như thế có thể làm bùng nổ những cơn giận dữ âm ỉ thường trực bị dồn nén mà tôi cũng chẳng biết là từ đâu ra nữa.

       Ngay cả khi tôi phát khùng tôi vẫn đủ tỉnh táo để không phải lúc nào cũng đối đầu với mọi thách thức. Những năm đó đã có hai lần tôi tránh đi, hoặc nếu bạn muốn nói một cách thẳng thừng, là đánh bài chuồn. Lần thứ nhẩt là lần tôi đi bơi với đám trẻ nhà Crane ở sông Caddo, ở phía tây Hot Springs, gần một thị trấn nhỏ tên Caddo Gap. Một chú nhóc địa phương trèo lên bờ sông gần chỗ tôi bơi và bắt đầu chửi bới tôi. Tôi chửi lại. Thế là nó nhặt một cục đá và ném tôi. Nó đứng cách chỗ tôi khoảng 20 mét, nhưng ném trúng ngay đầu tôi gần thái dương, chảy cả máu. Tôi muốn lên bờ đánh nhau với nó, nhưng tôi thấy nó bự hơn, khỏe hơn và ngầu hơn tôi, nên tôi bơi đi chỗ khác. Nhờ đã có kinh nghiệm bị cừu húc, bị Tavia Perry bắn và những lần sai lầm tương tự như vậy trước đấy, chắc là tôi làm như vậy là phải rồi.

       Lần thứ hai tôi tránh né trong thời kỳ trung học cơ sở thì tôi biết chắc là tôi đã làm đúng. Vào các tối thứ sáu bao giờ ở câu lạc bộ của YMCA1   địa phương cũng có nhảy nhót. Tôi thích nhạc rock-and- roll, thích nhảy và thường đi nhảy từ hồi lớp tám hay lớp chín, dù tôi mập, trông không có vẻ ngon lành gì cả và cũng không được bọn con gái hâm mộ gì. Thêm nữa, tôi vẫn chẳng mặc đúng loại quần jean thời thượng.

---------------------
1. Hiệp hội thanh niên Kytô giáo


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2015, 01:58:45 AM
        Một buổi tối, tôi tạt vào phòng chơi bida cạnh sàn nhảy để mua đồ uống từ máy bán Coca Gola tự động. Mấy đứa học sinh trung học lớn hơn đang tụ tập đánh hoặc xem bida. Một trong số đó là Henry Hill, nhà nó là chủ sân bowling Lucky Strike Lanes ở trung tâm thành phố. Henry bắt đầu chế giễu cái quần jean của tôi, mà hôm đó đúng là hề hết chỗ nói. Cái quần ấy là loại quần thợ mộc, có một cái khoen vải ở hông bên phải để đeo búa. Không có Henry chọc tôi thì tôi cũng đã khó chịu lắm rồi, nên tôi cũng xấc xược lại ngay. Thế là nó dùng hết sức quại vào hàm tôi. Lúc này tôi cũng đã to con hơn so với tuổi, cao cỡ mét tám và nặng 90kg. Nhưng Henry cao cỡ mét chín và bự hơn nữa. Không thể đánh lại được. Hơn nữa, thật ngạc nhiên là tôi cũng chẳng đau lắm. Thế nên tôi đứng yên tại chỗ và nhìn chằm chằm vào Henry. Tôi nghĩ Henry cũng lấy làm lạ tại sao tôi không ngã ra hoặc bỏ chạy, vì nó phá lên cười, vỗ vào lưng tôi và bảo rằng tôi được lắm. Từ đó chúng tôi luôn thân thiện với nhau. Một lần nữa tôi hiểu ra rằng tôi có thể chịu đựng được cú tấrì công và có nhiều cách để đứng vững trước sự hung hăng.

        Khi tôi lên lớp chín, vào tháng 9 năm 1968, chiến dịch tranh cử tổng thống đã rầm rộ lắm. Cô giáo tiếng Anh và phụ trách điểm danh lớp tôi, cô Ruth Atkins, cũng quê ở Hope và cũng là một người chí cốt theo đảng Dân chủ. Cô bắt chúng tôi đọc Great Expectations của Charles Dickens, nhưng dành rất nhiều thời gian để chúng tôi bàn chuyện chính trị. Hot Springs hồi đó có nhiều người theo đảng Cộng hòa hơn phần lớn các nơi khác của tiểu bang Arkansas, nhưng những thế hệ lớn lại ít bảo thủ hơn nhiều so với thế hệ sau này. Một số gia đình kỳ cựu đã đến ở Hot Springs từ trước Nội chiến và họ theo đảng Cộng hòa chỉ vì họ chống lại chế độ nô lệ và tư tưởng ly khai. Một số gia đình có gốc gác Cộng hòa thì theo chủ nghĩa tiến bộ của Teddy Roosevelt. Một số khác thì ủng hộ sự bảo thủ ôn hòa của Eisenhower.

        Thành phần những người theo phe Dân chủ ở Arkansas còn đa dạng hơn. Nhóm giữ truyền thống thời Nội chiến là đảng viên Dân chủ vì tổ tiên họ ủng hộ việc miền Nam ly khai và chế độ nô lệ. Một nhóm lớn hơn vào đảng này trong thời Đại khủng hoảng, khi mà công nhân thất nghiệp và nông dân nghèo coi FDR (Tổng thống Franklin D. Roosevelt - ND) như vị cứu tinh và sau đó rất yêu mến người xuất thân từ bang láng giềng Missouri, Harry Truman. Một nhóm nhỏ hơn là những người nhập cư, phần lớn từ châu Âu, theo đảng Dân chủ. Đa phần người da đen theo Dân chủ vì Roosevelt, vì quan điểm dân quyền của Truman, và vì họ cảm thấy Kennedy sẽ còn tích cực hơn Nixon về chuyện này. Một nhóm nhỏ người da trắng cũng cảm thấy như vậy. Tôi thuộc nhóm này.
Trong lớp của cô Atkins phần lớn học sinh ủng hộ Nixon. Tôi nhớ David Leopoulos bảo vệ Nixon và viện dẫn rằng ông ta có kinh nghiệm hơn Kennedy, đặc biệt về đối ngoại, và rằng thành tích dân quyền của ông ấy khá tốt - mà đúng như vậy thật. Lúc ấy tôi thực ra cũng không có gì chống Nixon cả. Tôi còn chưa biết về chiến dịch vận động gán tội thiên cộng sản của ông ta ở hạ viện và thượng viện California nhằm chống lại Jerry Voorhis và Helen Gahagan Douglas. Tôi thích cách ông ta đương đầu với Nikita Khrushchev. Năm 1956, tôi ngưỡng mộ cả Eisenhower lẫn Stevenson, nhưng đến năm 1960, tôi bắt đầu theo hẳn một đảng. Tôi từng ủng hộ LBJ (Tổng thống Lyndon B. Johnson - ND) trong vòng bầu cử sơ bộ vì thành tích lãnh đạo thượng viện của ông ta, đặc biệt trong vụ thông qua một đạo luật dân quyền năm 1957, vì gốc gác miền Nam nghèo khó của ông ta. Tôi cũng thích Hubert Humphrey vì ông ấy là người ủng hộ cuồng nhiệt nhất cho dân quyền, thích Kennedy vì sự trẻ trung, mạnh mẽ và quyết tâm thúc đẩy đất nước. Khi Kennedy trở thành ứng viên tổng thống, tôi có những cơ sở tốt nhất để thuyết phục các bạn cùng lớp.

        Tôi rất mong ông ấy thắng cử, đặc biệt là sau khi ông ấy gọi điện cho Coretta King để bày tỏ lo lắng khi chồng bà bị bỏ tù, và sau khi ông nói chuyện với những người theo Tin Lành Baptist Phương Nam ở Houston để bảo vệ niềm tin của mình và bảo vệ quyền của những người Mỹ Công giáo ra tranh cử tổng thống. Phần lớn các bạn cùng lớp tôi và cả cha mẹ đều không đồng tình. Tôi bắt đầu quen với việc này. Trước đấy vài tháng, khi ra ứng cử chức trưởng ban đại diện học sinh, tôi đã để vuột chức này vào tay Mike Thomas, một người tốt, và sau này trở thành một trong bốn bạn cùng lớp tôi chết ở Việt Nam. Nixon thắng trong hạt của chúng tôi, nhưng Kennedy lại thắng ở bang Arkansas với 50,2% số phiếu, bất chấp những người Tin Lành chính thống đã cố hết sức thuyết phục những người Tin Lành theo đảng Dân chủ rằng Kennedy sẽ phải tuân lệnh Giáo hoàng.

        Tất nhiên việc ông ấy theo Công giáo là một trong những lý do tôi mong ông thành tổng thống. Từ kinh nghiệm bản thân ở trường Công giáo St. John và những lần gặp gỡ với các sơ cùng làm với mẹ tôi ở bệnh viện St. Joseph, tôi thích và ngưỡng mộ những người Công giáo - những giá trị của họ, sự tận tụy và lương tâm xã hội của họ. Tôi cũng tự hào rằng người Arkansas duy nhất ra tranh cử ở cấp liên bang, Thượng nghị sĩ Joe T. Robinson, đứng chung liên danh với ứng cử viên Công giáo đầu tiên tranh cử tổng thống, Thống đốc AI Smith của bang New York, vào năm 1928. Giống như Kennedy, Smith chiến thắng ở bang Arkansas nhờ vào Robinson.

        Với sự gần gũi với Công giáo của tôi như vậy, thật trớ trêu là ngoài âm nhạc ra, đề tài ngoại khóa chính của tôi từ lớp chín trở đi lại là hội Order of DeMolay, một tổ chức cho nam sinh được hội Masons bảo trợ. Tôi luôn tưởng thành viên Masons và DeMolay là chống lại Công giáo, nhưng không hiểu rõ tại sao. Dù gì thì DeMolay cũng là một thánh tử đạo thời tiền cải cách tôn giáo1 và chết trong tay Tòa án dị giáo Tây Ban Nha. Phải đến khi tôi nghiên cứu để viết cuốn sách này thì tôi mới phát hiện ra rằng từ đầu thế kỷ 18 nhà thờ Công giáo đã coi hội Masons là một tổ chức nguy hiểm đe dọa đến quyền lực của nhà thờ, trong khi hội Masons không hề cấm người ta theo tôn giáo nào cả và thậm chí còn có một vài hội viên theo Công giáo.

        Mục đích của hội DeMolay là xây dựng đạo đức cá nhân và công dân cũng như tình thân hữu giữa các hội viên. Tôi thích tình cảm đồng hội, thích việc ghi nhớ mọi nghi thức của hội, leo dần lên chức ủy viên trưởng của chi hội chỗ tôi cũng như những lần đi dự đại hội tiểu bang, nơi chúng tôi bàn luận chính trị sôi nổi và tiệc tùng với hội Rainbow Girls, tổ chức kết nghĩa của hội DeMolay. Tôi hiểu thêm về chính trị thông qua cuộc bầu cử hội DeMolay cấp tiểu bang, dù tôi chưa bao giờ tranh cử. Người sáng láng nhất tôi từng ủng hộ vào chức ủy viên trưởng tiểu bang là Bill Ebbert đến từ Jonesboro. Ebbert đã có thể làm một thị trưởng tuyệt vời hoặc một chủ tịch ủy ban quốc hội nếu như vẫn còn thông lệ sống lâu lên lão làng như hồi xứa. Anh ấy vui nhộn, thông minh, cứng rắn và cũng giỏi thương lượng như LBJ vậy. Một lần anh ấy đang phóng 90 dặm/giờ trên xa lộ ở Arkansas thì bị một xe cảnh sát tiểu bang hụ còi đuổi theo. Ebbert có radio sóng ngắn, nên anh bèn gọi cho cảnh sát để báo cáo về một vụ tai nạn phía sau ba dặm. Chiếc xe cảnh sát nhận được tin báo và đổi hướng, thả cho Ebbert về. Không biết ông! cảnh sát ấy sau này có hiểu ra quả lừa ấy không.

---------------------
1. Cải cách tôn giáo: phong trào tôn giáo thế kỷ 16 đã đưa tới việc hình thành đạo Tin Lành.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2015, 07:05:07 AM
        Dù tôi thích hội DeMolay, tôi vẫn không chấp nhận được ý tưởng cho rằng những lễ nghi bí mật của hội là cái gì đó ghê gớm lắm đến mức làm cho cuộc sống của chúng tôi quan trọng hơn. Sau khi tốt nghiệp khỏi hội, tôi không tham gia tiếp vào hội Mason - giống như những người Mỹ ưu tú như George Washington, Benjamin Franklin và Paul Revere đã làm - có lẽ vì lúc bấy giờ tôi ngoài 20 và đang trong giai đoạn không thích gia nhập cái gì cả, và tôi lại không thích thái độ chống Công giáo (hồi đó tôi tưởng như vậy) của hội Mason. Tôi cũng không ưa kiểu phân chia dân da đen và da trắng vào các phân hội riêng biệt (dù khi làm thống đốc tôi có biết đến các đại hội của chi hội Mason Prince Hall cho người da đen, và họ dường như vui vẻ còn hơn cả những hội viên Mason mà tôi từng biết).

        Thêm nữa, tôi đâu cần phải có hội kín mới có bí mật. Tự tôi cũng đã có những bí mật rồi, xuất phát từ thói nhậu nhẹt và bạo hành của bố tôi. Những thói tật này ngày càng tệ khi tôi 14 tuổi, học lớp chín, và em trai tôi mới lên bốn. Một đêm bố vào phòng ngủ đóng cửa lại, bắt đầu la mắng và sau đó đánh mẹ. Em Roger sợ lắm, cũng như tôi chín năm trước vào cái đêm có súng nổ. Cuối cùng tôi không chịu được việc mẹ bị đánh và em Roger khiếp hãi như vậy. Tôi rút cây gậy đánh golf ra khỏi túi golf và mở tung cửa phòng của bố mẹ ra. Mẹ nằm dưới sàn, còn bố thì đứng trên và đánh bà. Tôi bảo ông ngưng ngay, nếu không tôi sẽ lấy gậy quật ông. Ông chịu thua, ngồi sụp xuống ghế cạnh giường và rũ đầu xuống. Cảnh này làm tôi muốn bệnh. Trong cuốn tự truyện của bà, mẹ tôi viết là bà gọi cảnh sát đến giam bố trong tù đêm đó. Tôi không nhớ có đúng vậy hay không, nhưng tôi biết chắc chắn một khoảng thời gian khá lâu sau không có chuyện gì tồi tệ xảy ra. Tôi thấy tự hào vì dám đứng lên bảo vệ mẹ, nhưng về sau tôi cũng cảm thấy buồn về chuyên này. Tôi chỉ không thể chấp nhận được chuyên một người về căn bản là tốt lại tìm cách giảm nỗi đau của mình bằng cách làm đau người khác. Ước gì hồi đó tôi có ai để chia sẻ chuyện này, nhưng chẳng có ai, nên tôi phải tự mình hiểu lấy.

        Tôi phải chấp nhận những bí mật của gia đình tôi như một phần bình thường của đời mình. Tôi không bao giờ nói cho ai những bí mật đó - bạn bè cũng không, thầy cô, hàng xóm hay mục sư cũng không. Nhiều năm sau khi tôi tranh cử tổng thống, nhiều bạn tôi nói với báo giới là họ không hề biết chuyện. Tất nhiên là bí mật gì thì bí mật, cũng có người biết. Bố tôi dù có cố gắng cũng không thể đối xử tốt với tất cả mọi người khác như đối xử với chúng tôi. Những người biết chuyện - gia đình, bạn thân của mẹ, vài ông cảnh sát - đều không nói gì cho tôi, vì thế tôi tưởng tôi có một bí mật thật sự và quyết định giữ kín. Chính sách trong gia đình chúng tôi là "không hỏi, không kể".

        Bí mật duy nhất của tôi hồi tiểu học và trung học cơ sở là lần lấy tiền tiêu vặt quyên góp cho Billy Graham sau cuộc vận động ở Little Rock của ông. Tôi không bao giờ nói cho cha mẹ hay bạn bè nghe về chuyên này. Một lần tôi đang cầm phong bì có tiền ra hòm thư gần đường Circle Drive để gửi cho ông Billy, tôi thấy bố đang làm gì đó ở sân sau. Để khỏi bị ông bắt gặp, tôi ra cổng trước ở đại lộ Park, quẹo phải rồi đi ngược lại qua lối đường xe của lữ quán Perry Plaza bên cạnh. Nhà chúng tôi nằm trên đồi, còn lữ quán nằm ở khu đất bằng phía dưới. Khi tôi đi được khoảng nửa đường, bố nhìn xuống và thấy tôi cầm phong bì trên tay. Tôi vẫn đi tiếp ra hòm thư, bỏ phong bì vào và về nhà. Chắc ông cũng tự hỏi không biết tôi làm gì, nhưng ông không hỏi tôi. Ông không bao giờ hỏi cả. Tôi đoán ông có quá đủ bí mật của riêng ông rồi.

        Chuyện các bí mật làm tôi nghĩ rất nhiều trong bao năm qua. Chúng ta ai cũng có bí mật và chúng ta có quyền có bí mật. Chúng làm cho cuộc sống của chúng ta thú vị hơn, và khi ta quyết định chia sẻ các bí mật, các mối quan hệ của chúng ta trở nên có ý nghĩa hơn. Nơi ta cất giấu bí mật còn có thể trở thành một nơi trú ẩn, nơi ta rút khỏi thế giới bên ngoài, nơi bản ngã của mỗi người được hình thành và củng cố, nơi sự đơn độc có thể mang lại sự an bình. Dầu vậy, những bí mật vẫn có thể là những gánh nặng ghê gớm, đặc biệt là nếu có dính dáng đến sự hổ thẹn, dù nguồn cơn của sự hổ thẹn đó không đến từ người mang bí mật. Hoặc sự thôi thúc phải có bí mật có thể quá mạnh, mạnh đến mức ta cảm thấy không thể sống thiếu bí mật, thậm chí không thể là chính mình nếu không có bí mật.

        Tất nhiên khi bắt đầu trở thành người giữ bi mật, tôi chưa hiểu hết những điều này. Hồi đó tôi thậm chí cũng không nghĩ ngợi gì nhiều. Tôi nhớ rõ khá nhiều về thời thơ ấu, nhưng tôi không tin vào trí nhớ của mình để xác định chính xác mình biết những gì và vào lúc nào về những chuyên đó. Tôi chỉ biết rằng tôi đã chật vật tìm kiếm sự cân bằng thích hợp giữa những bí mật của sự phong phú nội tâm và những bí mật của sợ hãi và hổ thẹn giấu kín, và rằng tôi luôn không muốn nói gì với bất cứ ai về những đoạn đời riêng khó khăn nhất của mình, kể cả thời kỳ khủng hoảng tinh thần năm 13 tuổi khi lòng trung tín của tôi quá yếu không thể giữ được niềm tin vào Chúa sau tất cả những gì tôi chứng kiến và trải qua. Bây giờ thì tôi biết sự chật vật này ít nhất một phần là do phải lớn lên trong gia đình có người nghiện rượu và do những phản xạ của tôi để thích nghi với hoàn cảnh ấy. Phải rất lâu tôi mới hiểu ra điều đó. Thật khó để hiểu ra rằng những bí mật nào cần giữ kín, những bí mật nào cần cho đi và những bí mật nào cần phải tránh ngay từ đầu. Giờ đây tôi cũng chưa dám chắc đã hoàn toàn hiểu được. Có vẻ như còn phải học cả đời mới hiểu được.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2015, 04:41:26 AM
   
        06

        Tồi không biết mẹ làm cách nào mà chịu được như vậy. Mỗi sáng, dù cho đêm hôm trước có chuyện gì xảy ra, mẹ vẫn dậy và không để lộ ra nét mặt. Thật là một khuôn mặt đáng nể. Từ hồi mẹ ở New Orleans trở về và tôi biết dậy sớm, tôi rất thích ngồi trên sàn buồng tắm và xem mẹ trang điểm lên khuôn mặt xinh đẹp đó.

        Mẹ trang điểm khá lâu, một phần vì mẹ không có lông mày. Mẹ hay đùa rằng ước gì mẹ có đôi lông mày rậm rạp đến mức phải nhổ bớt đi như của tài tử nổi tiếng thời đó, Akim Tamiroff. Mẹ phải dùng bút chì tự vẽ lông mày. Sau đó mẹ bôi phấn và đánh son, thường là màu đỏ hợp với sơn móng tay.

        Cho đến năm tôi 11 hoặc 12 tuổi, mẹ để tóc dài gợn sóng. Mái tóc mẹ thật dày và đẹp, và tôi thích xem mẹ chải tóc cho đến khi mượt hẳn. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày bà đi thẩm mỹ viện về với mái tóc ngắn, tất cả tóc gọn sóng của bà đã bị cắt hết. Chuyên ấy xảy ra không lâu sau khi con chó đầu tiên của tôi, Susie, quá già phải lìa đời, và lần này tôi cũng đau đớn gần như vậy. Mẹ nói tóc ngắn hợp thời trang hơn và phù hợp hơn với phụ nữ ngoài 30 như bà. Tôi thấy không hợp lý chút nào, và luôn nhớ mái tóc dài của mẹ, dù vài tháng sau khi bà thôi không nhuộm những sợi tóc bạc lẫn trong tóc từ hồi bà còn chưa tới 30, tôi lại thích.

        Lúc mẹ trang điểm xong cũng thường là lúc mẹ đã hút hết một hai điếu thuốc và uống vài tách cà phê. Rồi sau khi bà Walters đến, mẹ đi làm, thỉnh thoảng thả tôi đến trường nếu như giờ học của tôi gần giờ đi làm. Khi đi học về, tôi thường chơi với đám bạn hoặc với nhóc Roger. Tôi thích có em trai, và tất cả đám bạn tôi đều thích cho nó chơi chung cho đến lúc nó lớn lên và thích chơi với bạn riêng của nó.

        Mẹ thường đi làm về đến nhà khoảng bốn, năm giờ, trừ những hôm trường đua mở cửa. Bà yêu những cuộc đua ngựa. Dù mẹ ít khi cá cược hơn hai đôla, mẹ coi chuyện đó rất nghiêm túc, thường tìm hiểu kỹ phong độ đua của ngựa, lắng nghe mấy chú nài, mấy tay chăm ngựa và chủ ngựa mà mẹ biết, rồi hay bàn tán nên chọn cá cược thế nào với bạn bè. Bà kết bạn được với một vài người bạn tốt nhất của mình ở trường đua: Louis Crain và ông chồng Joe, vốn là một cảnh sát, sau này lên cảnh sát trưởng và từng hay chở bố đi vòng vòng trên xe tuần tra mỗi khi bố xỉn để cho ông nguội bớt lại; Dixie Seba và ông chồng Mike, một tay luyện ngựa; và Marge Mitchell, y tá làm ở trạm y tế của trường đua để chăm sóc cho khách đến cá cược. Cô Marge, Dixie Seba và sau này là Nancy Crawford, người vợ kế của Gabe Crawford, có lẽ gần như trở thành những người thân thiết nhất của mẹ tôi. Cô Marge và mẹ thường gọi nhau là chị em.

        Sau khi tốt nghiệp trường luật về nhà, tôi có dịp đền đáp cô Marge vì những gì cô đã làm cho mẹ tôi và cho tôi. Khi cô bị sa thải khỏi trung tâm sức khỏe tâm thần cộng đồng ở địa phương, cô định phản bác lại quyết định này và nhờ tôi đại diện cho cô trong phiên điều trần, và ngay cả những chất vấn non nớt thiếu kinh nghiệm của tôi cũng làm rõ được rằng việc sa thải cô không có cơ sở nào ngoài xung đột cá nhân giữa cô và sếp của cô. Tôi thắng cuộc, và rất phấn khích. Cô ấy xứng đáng được lấy lại việc làm.

        Trước khi tôi bắt mẹ dính dáng đến chính trị, phần lớn bạn bè của bà đều liên quan đến công việc của bà - bác sĩ, y tá, nhân viên bệnh viện. Mẹ có nhiều bạn lắm. Mẹ không bao giờ gặp người lạ, làm việc cật lực để giúp bệnh nhân thoải mái trước ca mổ, thực sự yêu thích ở cạnh các đồng nghiệp. Tất nhiên, không phải tất cả mọi người đều thích bà. Mẹ có thể đôp chát với những ai bà cho là đang chèn ép bà hoặc lợi dụng vị thế của họ để cư xử không công bằng với người khác. Không giông như tôi, mẹ thực sự thích làm một số người phát khùng. Tôi thì có xu hướng tạo ra các kẻ thù mà không phải cố gắng gì, chỉ bằng việc cứ là chính mình, hoặc bằng quan điểm và những đổi thay mà tôi cố gắng đạt được trong sự nghiệp chính trị về sau này. Khi mẹ thực sự không thích ai đó, bà dùng mọi cách để họ tức sùi bọt mép. Kiểu đó làm bà phải trả giá trong thăng tiến nghề nghiệp sau này, và bà phải cố trong nhiều năm để tránh làm việc với một chuyên viên gây mê nọ và cũng gặp vài rắc rối trong các ca mổ của người này. Nhưng phần lớn mọi người đều thích mẹ, vì bà thực sự thích họ, đối xử tôn trọng họ, và rõ ràng là yêu đời.

        Tôi không hiểu nổi mẹ làm sao có thể có được tinh thần và sinh lực như vậy, lúc nào cũng làm việc và vui vẻ, lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc em trai tôi, Roger, và tôi, không bao giờ bỏ một sự kiện nào ở trường của chúng tôi, thậm chí còn dành thời gian cho cả đám bạn tôi nữa mà vẫn âm thầm chịu đựng những rắc rối của riêng bà.
Tôi thích đến bệnh viện thăm mẹ, gặp gỡ các y tá và bác sĩ, xem họ chăm sóc người khác. Tôi được xem một ca phẫu thuật thực sự hồi tôi học trung học cơ sở, nhưng tôi chỉ nhớ mỗi một điều là dù người ta cắt rạch và máu me nhưng tôi không bị khó chịu. Tôi ngạc nhiên trước công việc của bác sĩ phẫu thuật và từng nghĩ sau này lớn lên có thể sẽ trở thành phẫu thuật gia.

        Mẹ rất quan tâm đến bệnh nhân, dù họ có đủ tiền trả hay không. Vào cái thời trước khi có các loại chính sách y tế như Medi­care và Medicaid, có nhiều người không đủ tiền nằm viện. Tôi còn nhớ một ông nghèo nhưng luôn kiêu hãnh một hôm đến nhà tôi để thanh toán chi phí. Ông làm nghề hái trái cây và trả công mẹ bằng sáu thúng đào tươi. Chúng tôi ăn mớ đào đó mãi mới hết - nào là kèm với bánh ngũ cốc, làm thành bánh trái cây, trộn trong kem nhà làm - đến nỗi tôi cứ mong bệnh nhân của mẹ cứ có nhiều người thiếu tiền mặt vào!

        Tôi nghĩ mẹ tìm được nguồn an ủi đối với những căng thẳng trong cuộc sống gia đình từ công việc, bạn bè và từ các cuộc đua ngựa. Chắc hẳn có nhiều ngày bà cũng khóc thầm, thậm chí có thể vì đau đớn thể xác, nhưng phần lớn chả ai biết gì cả. Tấm gương này của bà đã giúp tôi vững vàng khi tôi làm tổng thống. Mẹ hầu như không bao giờ nói chuyện buồn của mẹ với tôi. Tôi nghĩ chắc bà cũng đoán ra là tôi biết đủ những gì cần biết và cũng đủ thông minh để hiểu nốt những gì còn lại, và dù trong hoàn cảnh như vậy vẫn đáng được hưởng một tuổi thơ bình thường nhất có thể.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2015, 02:40:14 AM
        Khi tôi 15 tuổi, mọi chuyên bắt đầu không còn im lặng trôi qua nữa. Bố bắt đầu nhậu nhẹt và cư xử bạo lực trở lại, nên mẹ đem tôi và em Roger ra khỏi nhà. Vài năm trước chúng tôi đã làm vậy một lần rồi, khi chúng tôi chuyển ra ở một vài tuần tại chung cư Cleve­land Manor ở đầu phía nam đại lộ Central, gần trường đua. Lần này, vào tháng 4 năm 1962, chúng tôi ở khoảng ba tuần trong một lữ quán, còn mẹ đi tìm mua nhà. Chúng tôi cùng đi xem khá nhiều nhà, tất cả đều nhỏ hơn nhà cũ nhưng một số vẫn vượt quá túi tiền của mẹ. Cuối cùng mẹ chọn một căn nhà ba phòng ngủ, hai phòng tắm ở phố Scully, một đoạn phố ngắn chỉ có một dãy nhà cách đại lộ Central khoảng nửa dặm về phía tây. Đó là một căn nhà kiểu Gold Medallion mới, với hệ thống sưởi và điều hòa nhiệt độ trung tâm - nhà chúng tôi ở đại lộ Park có điều hòa nhiệt độ riêng - tôi nhớ nó có giá khoảng 30.000 đôla. Căn nhà này có một phòng khách khá đẹp và phòng ăn nằm phía bên trái lối vào. Đằng sau là khu vực sinh hoạt rộng nối liền với khu vực ăn và bếp, có một phòng giặt ủi phía sau gara. Phía bên kia phòng sinh hoạt là một lối đi khá lớn mà sau này chúng tôi xây tường kính trùm ra và đặt một bàn bida bên trong. Hai phòng ngủ nằm bên phải của hành lang, bên trái là một phòng tắm lớn và đằng sau phòng tắm này là một phòng ngủ có buồng tắm riêng có vòi sen. Mẹ cho tôi ở phòng ngủ lớn có buồng tắm vòi sen, chắc là vì bà muốn dùng phòng tắm lớn để có chỗ đặt bàn trang điểm và gương. Mẹ lấy phòng ngủ ở phía sau, còn Roger được phòng nhỏ.

        Dù tôi rất thích căn nhà ở đại lộ Park, thích mảnh sân mà tôi chăm chút, hàng xóm và bạn bè cùng những trò vui, tôi vẫn cảm thấy vui khi được ở trong một ngôi nhà bình thường nhưng an toàn, có lẽ là cho mẹ và Roger nhiều hơn là cho tôi. Lúc ấy, dù tôi chưa biết gì về tâm lý trẻ em, tôi đã bắt đầu lo ngại rằng chuyện bố say xỉn và cư xử như vậy có thể làm tổn thương em Roger còn nhiều hơn tôi từng bị, vì nó từ bé đã phải chịu như vậy rồi và vì bô chính là bố đẻ của em Roger. Việc biết tôi có một người cha khác, người mà tôi luôn nghĩ là mạnh mẽ, đáng tin cậy, đã giúp tôi có sự thăng bằng tinh thần và có khoảng cách để nhìn mọi việc diễn ra mà ít bị ảnh hưởng, đôi khi còn với sự thông hiểu nữa. Tôi luôn yêu quí bố Roger, không bao giờ ngưng tìm cách để ông thay đổi, luôn thích ở bên cạnh ông khi ông tỉnh táo và quan tâm. Hồi đó tôi đã sự rằng nhóc Roger biết đâu lớn lên sẽ ghét bố nó. Và nó ghét thật, một điều làm nó phải đau đớn ghê gớm.

        Khi nhớ lại các sự kiện thời xa xưa này, tôi thấy thật dễ rơi vào cái bẫy kiểu như những lời tán tụng mà Marc Anthony từng nói về Julius Caesar trong kịch của Shakespeare: tiếng xấu thì vẫn để đời, nhưng điều tốt thì bị chôn theo xuống mồ. Như phần lớn những người nghiện rượu và ma túy mà tôi biết, Roger Clinton thực chất vẫn là người tốt. Ông yêu mẹ, yêu tôi và nhóc Roger. Ông từng giúp mẹ đi thăm tôi khi mẹ đi học nghề ở New Orleans. Ông chi xài rộng rãi với gia đình và bạn bè. Ông ấy thông minh và hài hước. Nhưng ông cũng có những nỗi sợ hãi bất thường, sự bất ổn tiềm tàng và những nhược điểm tâm lý vốn thường triệt tiêu những mặt hứa hẹn trong đời của những người nghiện ngập. Và theo như tôi biết thì ông chưa bao giờ tìm sự giúp đỡ từ những ai biết cách giúp ông.

        Chuyện khó chịu nhất khi sống chung với một người nghiện rượu là không phải lúc nào cũng ngột ngạt cả. Hàng tuần, đôi khi hàng tháng liền trôi qua mà gia đình vẫn yên ấm, vẫn có những niềm vui lặng lẽ của một cuộc sống bình thường. Tôi thật biết ơn là tôi vẫn chưa quên đi những lúc như vậy, và khi tôi có quên đi nữa thì tôi vẫn còn giữ vài lá thư và thiệp mà bố gửi tôi cũng như những tấm thiệp mà tôi gửi ông để nhắc tôi nhớ đến những thời khắc tốt đẹp.

        Tôi cũng quên đi một số chuyện xấu. Gần đây khi tôi đọc lại ý kiến của mình trong hồ sơ ly dị của mẹ, tôi thấy trong đó mình đã kể lại sự cố trước đó ba năm khi tôi gọi cho luật sư của mẹ đề nghị báo cảnh sát đem bố đi sau một lần ông nổi khùng. Tôi còn nói rằng ông ấy dọa đánh tôi khi tôi ngăn ông ấy không được đánh mẹ. Chi tiết này thật buồn cười, vì lúc đấy tôi bự con và khỏe, còn ông ấy đã xỉn ngất ngư rồi. Tôi không nhớ gì về hai sự cố này, có lẽ vì tâm lý bỏ qua mà các chuyên gia tâm lý cho rằng những gia đình có người nghiện rượu thường mắc phải khi họ tiếp tục sống chung với người nghiện. Dù gì đi nữa, những kỷ niệm đó đến 40 năm sáu tôi vẫn chưa rõ.

        Ngày 14 tháng 4 năm 1962, tức là năm ngày sau khi bỏ nhà đi mẹ nộp đơn ly dị. Ở Arkansas thủ tục ly dị có thể nhanh, và rõ ràng là mẹ có đủ cơ sở. Nhưng chuyện chưa chấm dứt ở đó. Bố khẩn thiết mong mẹ và chúng tôi quay lại. Ông rã rời, xuống ký, đậu xe hàng giờ liền gần nhà chúng tôi, thậm chí vài lần còn ngủ trên hàng hiên bê tông trước nhà chúng tôi. Một hôm bố bảo tôi đi cùng xe với ông. Chúng tôi lái về phía sau nhà cũ ở phố Circle Drive. Ông dừng xe ở phía cuối lối đi phía sau nhà. Trông ông thật thê thảm. Râu thì ba, bốn ngày không cạo, và tôi thấy ông không nhậu. Ông nói với tôi ông không thể sống thiếu chúng tôi được, và không có chúng tôi ông không còn biết sống cho ai nữa. Ông khóc. Ông van tôi hãy nói chuyên với mẹ và thuyết phục bà quay lại với ông. Ông nói ông sẽ đàng hoàng trở lại, sẽ không đánh đập hay la mắng bà nữa. Khi nói những điều đó, ông thực sự tin như vậy, nhưng tôi thì không. Ông chưa bao giờ hiểu ra hoặc chấp nhận nguyên nhân cho những rắc rối của mình. Ông không bao giờ thừa nhận rằng ông bất lực đối với rượu và rằng ông không thể tự bỏ rượu.

        Trong khi đó, những lời nài nỉ của ông bắt đầu làm mẹ lung lay. Tôi đoán chắc bà cảm thấy e ngại vì không đủ tiền nuôi chúng tôi - cho đến khi các chương trình y tế Medicare và Medicaid được áp dụng vài năm sau đấy thì mẹ cũng đâu giàu có gì. Quan trọng hơn là quan điểm kiểu cũ của bà rằng ly dị, đặc biệt là khi đã có con cái, là một điều xấu - mà cũng đúng thế thật nếu như không có chuyện bạo hành thật sự. Chắc mẹ cảm thây bà cũng có một phần lỗi trong những chuyện rắc rối này. Và có lẽ chính bà cũng là nguyên nhân làm cho bố bất ổn; dù gì đi nữa bà cũng là một phụ nữ dễ coi, thú vị, thích làm việc với nam giới, và làm cùng chỗ với nhiều người đàn ông hâp dẫn và thành công hơn bố. Theo tôi biết bà không dan díu với ai trong số đó, mà tôi cũng chẳng trách bà nếu có. Sau khi chia tay với bố, bà có quen một ông tóc sẫm đẹp trai, ông này cho tôi vài cây gậy golf mà đến giờ tôi vẫn còn giữ.

        Sau khi ở phố Scully vài tháng và vụ ly dị đã hoàn tất, mẹ bảo Roger và tôi rằng chúng tôi cần phải họp gia đình để bàn chuyện bố. Bà nói ông muốn quay lại, dọn vào ở trong nhà chúng tôi, và rằng bà nghĩ lần này sẽ khác, rồi hỏi xem chúng tôi nghĩ sao. Tôi không nhớ nhóc Roger nói gì - nó mới năm tuổi và chắc là thấy bối rối. Tôi bảo mẹ, tôi không đồng tình vì tôi không nghĩ là bố sẽ thay đổi, nhưng mẹ quyết định thế nào thì tôi cũng ủng hộ bà. Mẹ nói chúng tôi cần có đàn ông trong nhà và bà sẽ cảm thấy có lỗi nếu như không cho bố thêm một cơ hội nữa. Và bà làm thật, họ cưới nhau lại, và nếu nhìn quãng đời về sau này của bố, thì thật tốt cho ông, nhưng lại không tốt lắm cho em Roger hay cho mẹ. Tôi không biết ảnh hưởng của việc ấy với tôi như thế nào, ngoại trừ về sau này khi bố bệnh, tôi thấy vui khi được sống cùng ông trong mấy tháng cuối cùng của ông.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2015, 04:34:32 AM
        Dù tôi không đồng tình với quyết định của mẹ, tôi hiểu cảm giác của bà. Không lâu sau khi bà quay lại với bố, tôi xuống tòa án và đổi họ chính thức từ Blythe sang Clinton, họ mà tôi thực ra đã dùng từ nhiều năm trước. Đến giờ tôi vẫn không chắc tại sao tôi lại làm vậy, nhưng tôi nhớ là mình thực sự nghĩ nên làm, một phần vì bé Roger sắp đi học và tôi không muốn chuyện khác biệt về huyết thống giữa tôi và em trở thành một vấn đề đối với em, một phần vì chỉ muôn có cùng tên họ với cả nhà. Thậm chí có lẽ tôi muốn làm một cái gì đó cho bố vui dù khi mẹ ly dị ông tôi đã vui mừng. Tôi không báo trước cho mẹ, nhưng thủ tục đổi tên cần có sự cho phép của bà. Khi tòa án gọi điện cho bà, bà đồng ý, dù chắc bà nghĩ là tôi hơi quá vội vã. Đó không phải là lần duy nhất trong đời những quyết định và tính toán thời điểm của tôi gây tranh cãi.

        Chuyện hôn nhân không suôn sẻ của bố mẹ, ly dị và hàn gắn chiếm chỗ trong tình cảm của tôi trong suốt những năm cuối trung học cơ sở và hai năm đầu trung học khi tôi học ở ngôi trường trung học cũ kỹ nằm ở ngay bên trên đồi.

        Cũng như mẹ tìm quên trong công việc, tôi vùi mình vào học hành và chăm chú vào khu vực tôi ở tại phố Scully. Dãy phố này toàn những căn nhà bình thường và khá mới. Phía bên kia đường là một khu đất trống vốn là một phần của trang trại trước đây rất lớn của nhà Wheatley. Hàng năm ông Wheatley trồng đầy hoa mẫu đơn trên khu đất ấy. Vào mùa xuân hoa mẫu đơn nở sáng bừng cả khu làm người ở cách xa hàng dặm cũng đến để kiên nhẫn chờ ông Wheatley cắt hoa xuống cho.

        Nhà chúng tôi là căn thứ hai trong phố. Căn đầu tiên, ngay góc ngã tư, là của mục sư Walter Yeldell và vợ ông, bà Kay, cùng các con của họ là Carolyn, Lynda, Deborah và Walter. Ông Walter là mục sư của nhà thờ Baptist Đệ nhị và sau này là chủ tịch của Liên hữu Baptist Arkansas. Ngay từ đầu ông và bà Kay đã đối xử tuyệt vời với chúng tôi. Tôi không biết liệu Đạo hữu Yeldell, như chúng tôi gọi ông, người đã chết năm 1987, sẽ sống ra sao trong môi trường phán xét khắc nghiệt của nhà thờ Baptist Phương Nam trong thập niên 90, khi mà những nhân vật "tự do" thiên lệch bị đuổi khỏi các chủng viện và nhà thờ thì có thái độ rất cứng rắn về tất cả các vấn đề xã hội trừ vấn đề chủng tộc (nhà thờ đã xin lỗi về những tội lỗi trong quá khứ). Đạo hữu Yeldell là một người cao to vai rộng, nặng đến hơn 120kg. Dưới vẻ bề ngoài như nhút nhát, ông lại có một óc hài hước và kiểu cười tuyệt diệu. Vợ ông cũng vậy. Họ chẳng bao giờ lên mặt cả. Ông dẫn dắt mọi người đến với Chúa bằng lời chỉ dẫn và bằng cách nêu gương chứ không bằng việc chỉ trích hay bêu riếu. Ông chắc sẽ không được một số nhân vật sừng sỏ Baptist hoặc người dẫn dắt show truyền hình thời nay ưa chuộng, nhưng tôi chắc chắn là thích nói chuyện với ông.

        Carolyn, con lớn của Yeldell, trạc tuổi tôi. Cô ấy yêu âm nhạc, có giọng hát hay và chơi piano giỏi. Chúng tôi hay tụ tập quanh đàn piano của cô ấy và hát hàng giờ liền. Cô ấy thỉnh thoảng còn đệm cho tôi chơi saxo, và cũng không phải là trường hợp hiếm có khi người đệm lại chơi hay hơn người chơi chính. Carolyn chẳng bao lâu trở thành một trong những người bạn thân nhất của tôi và một thành viên của đám chúng tôi, cùng với David Leopoulos, Joe Newman và Ronnie Cecil. Chúng tôi đi xem phim, dự các sinh hoạt ở trường với nhau và thường đánh bài, chơi đùa hay ngồi không với nhau, thường là ở nhà chúng tôi. Năm 1963, khi tôi đi dự đại hội Ameri­can Legion Boys Nation và chụp tấm ảnh trứ danh với Tổng thống Kennedy thì Carolyn đi dự đại hội Girls Nation, người duy nhất trong hàng xóm của tôi đi dự như vậy. Carolyn học thanh nhạc ở Đại học Indiana. Cô ấy muốn thành ca sĩ opera nhưng lại không ưa kiểu sống của mấy ca sĩ opera. Thế là cô ấy cưới Jerry Staley, một nhiếp ảnh gia giỏi, sinh ba con và trở thành một lãnh đạo trong phong trào xóa mù chữ cho người lớn. Khi tôi làm thống đốc tôi xếp cô phụ trách việc xóa mù cho người lớn, và cô cùng gia đình sống trong một căn nhà cũ nhưng lớn cách dinh thống đốc khoảng ba dãy phố. Tôi hay đến nhà cô dự tiệc, chơi các trò chơi hoặc hát hò như thời xưa. Khi tôi thành tổng thống, Carolyn và gia đình cô chuyển đến khu vực Washington, làm việc, và sau đó là lãnh đạo, cho Viện bình dân học vụ quốc gia. Sau khi tôi rời Nhà Trắng cô ấy vẫn tiếp tục làm một thời gian, rồi theo chân cha làm việc đạo. Gia đình nhà Staley vẫn là một phần tốt đẹp của đời tôi. Tất cả đều bắt đầu từ phố Scully.

        Nhà phía bên kia nhà chúng tôi là của Jim và Edith Clark, họ không có con nhưng coi tôi như con vậy. Trong số hàng xóm khác của chúng tôi còn có nhà Fraser, một cặp vợ chồng lớn tuổi từng ủng hộ tôi trong sự nghiệp chính trị. Nhưng món quà lớn nhất của họ cho tôi đến thật tình cờ. Vào năm 1974, sau khi tôi thua trong cuộc chạy đua căng thẳng đau đớn vào quốc hội và vẫn còn đang rất chán nản, tôi thấy cháu gái nhà Fraser, lúc đó chỉ khoảng năm hay sáu tuổi. Nó bị bệnh nặng đến mức xương quá yếu và phải bó bột đến tận ngực, hai chân thì chĩa ra ngoài để giảm sức ép lên cột sống. Nó đi lại bằng nạng rất khó khăn, nhưng nó là một bé gái rất cứng cỏi và không bị cảm giác tự kỷ mà trẻ nhỏ khác hay có. Khi thấy nó tôi hỏi nó có biết tôi là ai không. Nó nói: "Biết chứ. Bác vẫn là Bill Clinton". Đúng là lúc ấy tôi cần phải được nhắc nhở như vậy.

        Nhà Hassin, gia đình gốc Ý lai Syria mà tôi đã kể, ở chật chội, cả sáu người trong một căn nhà bé tẹo ở cuối phố. Chắc là họ có bao nhiêu tiền đều mua đồ ăn cả. Mỗi giáng sinh và vào nhiều dịp khác trong năm, họ đãi cả phố toàn đồ ăn Ý. Tôi còn nhớ bác Gina hay nói: "Này Bin, ăn thêm đi con".

        Ngoài ra còn có Jon và Toni Karber, cả hai đều mê đọc và là những người trí thức nhất mà tôi biết, cùng con trai họ Mike, học chung lớp với tôi. Còn cả ông Charley Housley - một người đàn ông thực thụ biết câu cá, đi săn, sửa chữa mọi thứ, nói chung là có đủ các đức tính mà bọn nhóc trai thích. Ông hay che chở cho em Roger. Dù nhà và sân mới của chúng tôi nhỏ hơn ở nhà cũ, khu vực xung quanh cũng không đẹp bằng, nhưng tôi yêu mến nhà mới và khu vực mới của tôi. Đấy là một nơi tốt cho tôi sống hết những năm trung học.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2015, 01:55:52 AM
 
        07

        Thời trung học thật đầy phấn khích. Tôi thích các bài học, bạn bè, ban nhạc, hội DeMolay và các hoạt động khác, nhưng tôi hơi buồn rầu vì các trường của Hot Springs vẫn chưa cho phép học sinh khác màu da học chung. Học sinh da đen học ở trường Trung học Langston, tự hào vì một trong số học sinh nổi tiếng nhất là hậu vệ Bobby Mitchell của đội Washington Redskins. Tôi theo dõi phong trào dân quyền qua bản tin chiều trên truyền hình và nhật báo của chúng tôi, tờ Sentinel-Record, cũng như những sự kiện của Chiến tranh Lạnh như vụ Vịnh con heo và sự cố máy bay trinh sát U-2 với Francis Gary Powers. Tôi vẫn còn mường tượng thấy cảnh ông Castro tiến vào Havana, dẫn đầu đoàn quân tơi tả nhưng chiến thắng của mình. Nhưng cũng như phần lớn trẻ con, chính trị chỉ là thứ yếu. Ngoài những vụ tái phát thỉnh thoảng của bố, tôi rất yêu đời.

        Chính trong thời trung học mà tôi đã phải lòng âm nhạc, cổ điển, jazz, và nhạc hòa tấu đã cùng với rock and roll, nhạc swing, và cả nhạc nhà thờ đem lại niềm vui thực sự cho tôi. Không biết vì lý do gì tôi không ham nhạc country và viễn tây cho đến khi ngoài 20, khi Hank Williams và Patsy Cline đã cứu vớt tôi.

        Ngoài ban nhạc hòa tấu, tôi còn tham gia nhóm nhạc nhảy nữa, nhóm Stardusters. Trong một năm tôi cạnh tranh để giành vai tenor saxo với Larry McDougal, anh chàng này trông vẻ bề ngoài như thể anh ta lẽ ra nên chơi dự bị cho Buddy Holly, tay rocker sau này chết vì tai nạn máy bay năm 1959 cùng với hai ngôi sao khác là Big Bopper và Richie Valens khi ấy mới 17 tuổi. Khi đã là tổng thống tôi đến nói chuyện với sinh viên đại học ở thành phố Mason, Iowa gần nơi Holly và bạn anh từng biểu diễn buổi cuối cùng. Sau đó tôi đi xe đến nơi biểu diễn. Thính phòng Surf, ở thị trấn gần bên - Clear Lake, Iowa. Nơi biểu diễn ấy vẫn còn, và cần phải được biến thành một thánh đường cho những ai trong chúng tôi từng lớn lên cùng với âm nhạc của họ.

        McDougal, khi chơi nhạc hay không đều trông cứ như anh ta chơi cùng ban với họ vậy. Anh ta để tóc kiểu đuôi vịt, bên trên ngắn nhưng phía sau chải ngược ra hai bên. Khi đến đoạn solo, anh ta hay xoay tròn và thổi kèn chóe lên, giống kiểu rock and roll hơn là jazz hay nhạc swing. Năm 1961 tôi chơi không bằng anh ta, nhưng tôi quyết phải chơi hay hơn. Năm đó chúng tôi tham gia một cuộc tranh tài với các ban nhạc jazz ở Camden, miền nam Arkansas. Tôi được chơi một đoạn độc tấu chậm nhưng giai điệu đẹp. Sau khi diễn xong, thật kinh ngạc, tôi đoạt giải "tay độc tấu dịu dàng nhất". Năm kế tiếp, tôi khá lên đủ mức để được ngồi hàng đầu trong ban nhạc học sinh toàn bang Arkansas. Lên năm cuối trung học tôi cũng giành được vị trí này, trong khi Joe Newman thì trở thành tay trống hàng đầu của ban.

        Trong hai năm cuối tôi nhập nhóm tam tấu jazz, nhóm ba Kings, với Randy Goodrum - một tay chơi piano nhỏ hơn tôi một năm nhưng giỏi vượt xa tôi nhiều năm ánh sáng. Tay trống đầu tiên của chúng tôi là Mike Hardgraves. Mike sinh ra trong một gia đình đơn thân, chỉ có mẹ, người vẫn thường cho tôi và bạn bè của Mike đến chơi bài. Đến năm cuối, Joe Newman chơi trống cho chúng tôi. Chúng tôi cũng kiếm được ít tiền khi chơi trong các cuộc khiêu vũ, chơi cho các sự kiện ở trường, trong đó có cả chương trình tạp kỹ nhóm nhạc hàng năm. Bản nhạc gây ấn tượng nhất của chúng tôi là một khúc nhạc trong phim El Cid. Tôi vẫn còn băng thu âm bản này, nói chung sau nhiều năm nghe vẫn còn rất hay, ngoại trừ một đoạn tôi thổi chưa đạt khúc cuối. Tôi lúc nào cũng gặp khó khăn khi chơi các nốt trầm.

        Ông bầu ban nhạc của tôi, Virgil Spurlin, là một người cao và bự con, tóc sẫm gợn sóng và có phong thái nhẹ nhàng nhưng thuyết phục. Ông ấy là một ông bầu khá giỏi và là một con người rất tử tế. Ông Spurlin còn tổ chức Hội diễn tiểu bang, mỗi năm kéo đài nhiều ngày ở Hot Springs. Ông phải lên lịch biểu diễn cho tất cả các ban nhạc với hàng trăm màn độc tấu cùng các buổi biểu diễn hòa tấu trong các lớp học ở các trường trung học và trung học cơ sở. Năm nào ông cũng lên lịch ngày, giờ và địa điểm cho tất cả các sự kiện trên các bảng quảng cáo lớn. Bọn chúng tôi nếu muốn thường ở lại sau giờ học và làm đến tối trong nhiều ngày để giúp ông làm cho xong. Đó là nỗ lực tổ chức lớn đầu tiên tôi tham gia, và tôi học được nhiều điều mà sau này tôi áp dụng hiệu quả.

        Tại các hội diễn tiểu bang, tôi đoạt nhiều giải thưởng chơi độc tấu và chơi với ban nhạc, cộng thêm vài giải điều khiển dàn nhạc mà tôi rất tự hào. Tôi thích đọc các bảng tổng phổ và cố làm sao để các ban nhạc chơi đúng như cách mà tôi nghĩ họ nên chơi. Trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của tôi, Leonard Slatkin - nhạc trưởng Dàn giao hưởng quốc gia Washington - hỏi tôi có muốn điều khiển dàn nhạc khi chơi khúc "Stars and Stripes Forever" của Sousa ở Trung tâm Kennedy hay không. Ông ấy bảo rằng tôi chỉ cần huơ gậy chỉ huy sao cho đúng nhịp thôi, còn lại các nhạc công sẽ tự chơi. Ông còn đề nghị tự mình đem gậy chỉ huy đến để dạy tôi cách cầm nữa. Khi tôi bảo ông là tôi rất hân hạnh nhưng muốn ông ấy gửi bảng tổng phổ cho tôi để xem trước, ông ấy suýt nữa đánh rơi cả điện thoại. Nhưng ông cũng đem bảng tổng phổ và cây gậy đến. Khi đứng trước dàn nhạc tôi rất hồi hộp, nhưng chúng tôi cũng bắt đầu và cứ thế mà biểu diễn. Tôi hy vọng ông Sousa chắc cũng hài lòng.

        Một cống hiến nghệ thuật khác của tôi trong thời trung học là một vở kịch của lớp 11, vở Arsenic and Old Lace. Đó là một vở hài kịch cực kỳ vui, viết về hai người hầu già chuyên đầu độc kẻ khác rồi giấu họ vào trong căn nhà mà họ ở chung với cậu cháu, vốn chả biết gì cả. Tôi đóng vai cậu cháu, vai mà sau này Cary Grant đóng trong bộ phim chuyển thể. Vai bạn gái tôi do một cô gái cao, hấp dẫn tên Cindy Arnold đóng, vở kịch thành công vang dội, chủ yêu là nhờ vào hai chuyện không có trong kịch bản. Trong một cảnh, tôi phải dời chiếc ghế bên cửa sổ đi, tìm thấy một trong các nạn nhân của mấy bà dì trong hốc tường và tỏ ra kinh hãi. Tôi tập kỹ và nhập vai được. Nhưng vào đêm diễn thật, khi tôi nhấc ghế lên Ronnie Cecil bạn tôi bị nhét trong hốc, nhìn lên và cố nhái giọng ma cà rồng nói "Chào một buổi tối tốt lành". Tôi chịu không nổi nữa và cười phá lên. Thật may là mọi người cũng vậy. Trong cảnh tình tứ duy nhất, khi tôi hôn Cindy thì bạn trai của cô ta - một đấu thủ bóng bầu dục nhiều năm tên Allen Broyles đang ngồi ngay hàng đầu - rên lên một tiếng lớn làm cả hội trường cười ầm ĩ. Tôi thì vẫn thích nụ hôn này.

        Ở trung học có các môn tích phân, lượng giác, hóa học, vật lý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, và bốn năm học tiếng Latinh mà các trường nhỏ hơn ở Arkansas không có. Chúng tôi may mắn có được các thầy cô thông minh và dạy giỏi cùng với một người lãnh đạo trường đặc biệt, cô Johnnie Mae Mackey - một phụ nữ cao, dáng uy phong với mái tóc sẫm dầy và luôn sẵn sàng cười hoặc nạt ngay khi cần thiết. Dù bận rộn việc điều hành trường, cô Johnnie Mae vẫn trở thành nguồn cổ vũ tinh thần của trường chúng tôi - một việc mà tự thân nó đã vất vả rồi, vì đội bóng trường tôi có lẽ là đội thua nhiều nhất trong tiểu bang, mà hồi đấy thì bóng bầu dục được coi như một tôn giáo, nên người ta trông đợi ông huấn luyện viên nào cũng phải như Knute Rockne vậy. Bất cứ học sinh nào thời bấy giờ cũng còn nhớ cô Johnnie Mae kết thúc các cuộc tập hợp của chúng tôi bằng cách thét lên tiếng kêu xung trận của đội, với nắm đấm giơ cao và không cần giữ ý gì nữa, gào lên: "Hullabloo, Tiến lên, tiến lên! Hu hi, hu ha! Chiến thắng hay là chết! Chinh chang, chinh chang! Chiu chiu, binh bang! Bum bùm! Hỡi dân Troy, chiến đấu, chiến đâu, chiến đấu!". Thật may đó chỉ là tiếng kêu cổ vũ thôi. Với thành tích sáu trận thắng, 29 trận thua, và một trận hòa trong ba năm tôi học tại trường, đội chúng tôi chắc còn "chết" nhiều hơn nữa nếu như làm thực sự theo tiếng thét xung trận này.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2015, 02:04:28 AM
        Tôi học tiếng Latinh bốn năm với cô Elizabeth Buck, một phụ nữ quê Philadelphia vui vẻ và am hiểu, thường bắt chúng tôi thuộc lòng nhiều đoạn trong tác phẩm Gallic Wars của Caesar. Sau khi người Nga vượt qua chúng tôi khi phóng được vệ tinh Sputnik vào không gian, Tổng thống Eisenhower và kế đến là Kennedy quyết định người Mỹ cần phải học nhiều thêm về khoa học và toán học, nên tôi học tất cả các môn trong khả năng. Tôi không giỏi hóa lắm trong lớp của thầy Dick Duncan, nhưng khá sinh vật hơn, dù tôi chỉ nhớ mỗi một buổi học khi thầy Nathan McCauley bảo rằng chúng ta thường chết sớm hơn tự nhiên do khả năng chuyển hóa thức ăn thành năng lượng và quá trình tạo chất thải của cơ thể không hoạt động tốt nữa. Năm 2002, một nghiên cứu y khoa lớn kết luận, người lớn tuổi có thể tăng tuổi thọ một cách đáng kể nhờ giảm lượng thực phẩm ăn vào. Thầy McCauley đã biết điều đó từ 40 năm trước. Bây giờ tôi đã thuộc lớp người lớn tuổi đó, nên tôi cố nghe theo lời khuyên của thầy.

        Thầy dạy lịch sử thế giới, Paul Root, là một người thấp, dềnh dàng gốc miền quê Arkansas. Ông vừa có trí óc minh mẫn, vừa có phong cách xuề xòa và một óc hài hước lạ và quái. Khi tôi làm thống đốc, thầy ngưng dạy học ở Đại học Ouachita để làm việc cho tôi. Một lần vào năm 1987, tôi gặp thầy Paul đang nói chuyện với ba dân biểu tiểu bang ở tòa nhà quốc hội tiểu bang. Họ đang bàn tán về vụ rắc rối của Gary Hart sau khi chuyện ông này có bồ là Donna Rice và vụ Monkey Business vỡ lở (Gary Hart là Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ phải rút lui khỏi tranh cử tổng thống năm 1988 sau khi báo chí đăng tấm hình ông này ngoại tình với người mẫu Donna Rice trên du thuyền Monkey Business - ND). Mấy dân biểu đang xài xể Gary bằng giọng điệu cao đạo nhất. Thầy Paul - một tín đồ Baptist ngoan đạo, quản lý dàn đồng ca nhà thờ và là một người ngay thẳng - kiên nhẫn lắng nghe mấy dân biểu kia cứ thế tiếp tục nói. Khi họ ngưng lại lấy hơi, thầy Paul nói ngay: "Mấy ông nói đúng. Ông ấy làm thế thật tệ quá. Nhưng mấy ông biết không, từ kinh nghiệm bản thân, tôi biết là một khi người ta vừa lùn vừa mập, vừa xấu thì cũng không dễ gì mà đạo đức tâm lý thoải mái được đâu". Mấy vị dân biểu kia tịt ngòi, còn thầy Paul bỏ đi cùng với tôi. Tôi thích thầy ghê đi.

        Tôi thích các giờ học tiếng Anh. Thầy John Wilson làm cho tác phẩm Julius Caesar của Shakespeare trở nên sống động với bọn học sinh 15 tuổi ở Arkansas bằng cách bắt chúng tồi diễn nghĩa vở kịch ra ngôn ngữ thông thường, và thường xuyên hỏi xem chúng tôi có thấy quan điểm về bản chất con người và cách ứng xử trong văn Shakespeare có đúng không. Thầy Wilson cho rằng ông Shakespeare nói đúng: cuộc đời là cả bi lẫn hài kịch.

        Trong lớp Anh văn ở trung học, chúng tôi phải viết một bài luận tự thuật. Bài của tôi đầy những nghi ngờ về bản thân mà tôi không hiểu và cũng chưa tự thừa nhận trước đây. Đây là một vài đoạn trích:

        Tôi là một người bị thúc đẩy và ảnh hưởng bởi nhiều lực khác biệt nhau đến mức đôi khi tôi nghi vấn về sự lành mạnh của sự hiện hữu của mình. Tôi là một mẫu nghịch lý sống - rất ngoan đạo nhưng lại không tin tưởng vào niềm tin của mình một cách thích đáng; vừa muốn nhận vừa muốn né tránh trách nhiệm; yêu sự thật nhưng vẫn chịu chấp nhận sự giả dối... Tôi ghét thói ích kỷ, nhưng lại thấy bóng dáng của nó khi soi gương mỗi ngày... Tôi đã thấy những người, trong số đó có cả những người rất thân thiết với tôi, rõ ràng là chưa học được cách sống. Tôi khát khao và cô gắng để khác họ, nhưng thường thì chẳng khác họ là bao... Những từ ngữ mới nhàm chán làm sao - tôi, cho tôi, của tôi... những điều duy nhất làm cho những từ ngữ ấy trở nên có giá trị là những phẩm chất mà đôi khi không phải lúc nào cũng đi kèm theo chúng - chung thủy, tin cậy, tình yêu thương, trách nhiệm, hối tiếc, hiểu biết. Nhưng những thứ đồng nghĩa với những biểu tượng này mà thiếu nó cuộc sống không còn đáng giá nữa lại là những thứ không thể tránh được. Khi cố gắng để thực sự trở nên thành thực và lương thiện, tôi sẽ không trở thành kẻ đạo đức giả mà tôi ghét, và sẽ nhìn nhận những điềm báo của các thói tật ấy ngay từ bây giờ để mà sau này cố gắng thành người...

        Cô giáo của tôi, Lonnie Warneke, cho tôi 100 điểm, phê bài viết này là một nỗ lực đáng khen và thành thực nhằm "đi đên tận cùng tâm can" để thỏa mãn nhu cầu "tự biết mình". Tôi biết ơn cô nhưng vẫn không chắc phải hiểu ra sao với những gì mình khám phá ra. Tôi không làm điều xấu; không uống rượu, hút thuôc hoặc làm gì khác ngoài tán tỉnh bọn con gái, dù tôi cũng hôn khá nhiều cô. Nhìn chung là tôi hạnh phúc, nhưng vẫn không dám chắc là mình tốt như ý muốn.

        Cô Wameke dẫn lớp chúng tôi đi hạt Newton, chuyến đi thực tế đầu tiên của tôi vào khu quê hương của người Ozark ở bắc Arkan­sas. Hồi đó nơi ấy đẹp tuyệt trần, nghèo khó cùng cực và chính trị thì cứng rắn và bao trùm mọi mặt. Hạt này có khoảng 6.000 người sống trải trên vài trăm dặm vuông gồm nhiều đồi và vùng trũng. Thị trấn Jasper, thủ phủ của hạt, có khoảng hơn 300 dân, một tòa án, hai quán ăn, một cửa hiệu tạp hóa và một rạp chiếu phim bé tẹo, nơi lớp chúng tôi xem được một phim viễn tây cũ của Audie Murphy. Khi làm chính trị, tôi lần lượt biết hết các thị trấn của hạt Newton, nhưng tôi yêu thích nó từ năm 16 tuổi khi lang thang lên những con đường núi và tìm hiểu về lịch sử, địa lý và động thực vật của vùng núi Ozark. Một lần chúng tôi đến một cái nhà gỗ của một ông thợ rừng, bên trong có bộ SƯU tập súng trường và súng ngắn từ thời Nội chiến, rồi lên thăm một cái hang mà quân miền Nam từng dùng làm kho đạn. Súng vẫn còn nổ, và dấu vết của kho vũ khí vẫn còn trong hang - minh chứng rõ ràng cho thấy cuộc chiến cách đó một thế kỷ vẫn còn thật như thế nào ở những nơi mà thời gian trôi đi chậm chạp, định kiến lâu tan và những kỷ niệm được truyền từ đời này qua đời khác vẫn còn đấy. Giữa thập niên 70, khi tôi làm Bộ trưởng tư pháp, tôi được mời đọc diễn văn khai giảng ở trường Trung học Jasper. Tôi thúc giục học sinh của trường cố gắng vươn lên bất châp khó khăn, trích dẫn lời Abraham Lincoln và nhắc đến những khó khăn mà ông đã vượt qua. Sau đó, vài nhân vật lãnh đạo đảng Dân chủ dẫn tôi ra dưới trời sao sáng vằng vặc của vùng núi Ozark và nói, "Bill này, bài nói hay đấy. Anh có thể nói như vậy dưới Little Rock lúc nào cũng được. Nhưng đừng có lên đây mà tâng bốc cái ông tổng thống đảng Cộng hòa đó nữa nghe. Ông ấy mà tốt được như thế thì đã chẳng có Nội chiến!". Tôi chẳng biết nói sao nữa.

        Trong lớp tiếng Anh năm cuôl trung học của cô Ruth Sweeney, chúng tôi đọc Macbeth và được khuyên khích thuộc lòng để có thể trích dẫn nhiều đoạn. Tôi học được khoảng 100 dòng đầu, bao gồm cả đoạn độc thoại trứ danh bắt đầu bằng "Ngày mai, lại ngày mai, và lại ngày mai bò đến dần dần, từng ngày từng ngày, cho đến giờ khắc cuối cùng của thời gian" và kết bằng "cuộc sống chỉ là một cái bóng biết đi, một kịch sĩ tồi vênh váo và bực bội hết giờ diễn trên sân khấu rồi chẳng ai nghe tiếng nữa. Cuộc sống là câu chuyện kể của một thằng khờ, đầy những âm thanh và cuồng nộ, chẳng biểu hiện điều gì cả". Gần 30 năm sau, khi đã là thống đốc, tôi tình cờ ghé thăm một lớp học ở Vilonia, Arkansas, vào đúng ngày học sinh học Macbeth, và tôi đã trích đọc lại những vần thơ ấy, từng chữ vẫn còn nguyên sức mạnh với tôi, một thông điệp đáng sợ mà tôi luôn quyết không để trở thành thước đo của đời mình.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2015, 01:44:21 AM
        Vào mùa hè năm đầu trung học, tôi dự chương trình thường niên của tổ chức American Legion Boys State tại trại Robinson, một trại quân đội cũ có đủ doanh trại bằng gỗ thô sơ cho một ngàn thiếu niên 16 tuổi. Chúng tôi tổ chức theo thành phố và hạt, chia đều thành hai chính đảng, và đề cử các ứng viên cũng như cử tri để sinh hoạt chính trị cấp địa phương, hạt và tiểu bang. Chúng tôi cũng thành lập các diễn đàn và bỏ phiếu về nhiều vấn đề. Chúng tôi nghe phát biểu của các nhân vật quan trọng, từ thống đốc trở xuống, và được ở một ngày trong tòa nhà quốc hội tiểu bang, dịp mà các thống đốc, nhân viên hành pháp và các nhà lập pháp trong tổ chức Boys State được thực sự vào các văn phòng làm việc của chính quyền và quốc hội tiểu bang.

        Cuối tuần đó, hai đảng đề cử ra hai ứng viên để đi dự chương trình toàn liên bang Boys Nation, được tổ chức vào cuối tháng 7 tại Đại học Maryland ở College Park, gần thủ đô. Một cuộc bầu cử được tổ chức, và hai ứng viên được nhiều phiếu nhất sẽ đi dự với tư cách là các Thượng nghị sĩ của Arkansas. Tôi là một trong hai người đó.

        Tôi đến trại Robinson với mong muốn ứng cử chức Thượng nghị sĩ để đi dự đại hội liên bang Boys Nation. Dù chức vụ đáng giá nhất vân là thống đốc, nhưng khi ấy tôi lại không quan tâm mấy, và nhiều năm sau cũng chưa muốn làm thống đốc thật ngoài đời. Tôi nghĩ Washington mới là nơi có nhiều hoạt động thực sự về dân quyền, xóa nghèo, giáo dục và đối ngoại. Ngoài ra, đằng nào tôi cũng không thể trúng chức thống đốc được, vì chức này đã - theo cách nói của Arkansas - bị "luộc" từ trước khi bầu cử rồi. Người bạn thuở xa xưa của tôi ở Hope, Mack McLarty, chắc chắn sẽ ẵm chức đó. Vừa là chủ tịch ban đại diện học sinh ở trường, ngôi sao bóng đá, vừa là học sinh toàn điểm A, anh ấy đã tìm kiếm sự ủng hộ trên khắp tiểu bang từ vài tuần trước đấy. Đảng của chúng tôi đề cử Larry Taunton, người phát ngôn viên truyền thanh với giọng nói êm ái tuyệt vời tràn đầy sự trung thực và tự tin, nhưng McLarty vẫn được nhiều phiếu hơn và thắng cử. Chúng tôi đều biết chắc anh ấy là người đầu tiên trạc tuổi mình trở thành thống đốc, suy nghĩ này được khẳng định bốn năm sau đó khi anh ấy được bầu làm chủ tịch hội sinh viên Đại học Arkansas, và lại được tái khẳng định một năm sau nữa khi anh trở thành thành viên lập pháp tiểu bang trẻ nhất khi mới 22 tuổi. Không lâu sau, Mack lúc ấy đang cùng buôn bán xe Ford với cha mình, đã nghĩ ra một phương thức cho thuê xe tải Ford táo bạo vào thời ấy và kiếm được bộn tiền cho mình và cho công ty Ford Motor. Anh ấy bỏ nghiệp chính trị để chuyển sang kinh doanh, lên đến chức chủ tịch Công ty khí đốt Arkansas - Louisiana, công ty khí đốt lớn nhất của chúng tôi. Nhưng anh ấy vẫn tích cực tham gia chính trị, cho nhiều người phe Dân chủ ở Arkansas "mượn" những kỹ năng lãnh đạo và gây quỹ của mình, trong số đó đặc biệt là David Pryor và tôi. Anh ấy sát cánh với tôi cho đến khi tôi vào Nhà Trắng, đầu tiên là làm trưởng ban tham mưu, và sau đó với vai trò đặc sứ châu Mỹ. Hiện nay anh ấy là đồng sự của Henry Kissinger trong một công ty tư vấn, và ngoài nhiều thứ khác ra còn sở hữu 12 cơ sở bán xe hơi ở Sao Paulo, Brazil.

        Dù thua cuộc khi ra tranh chức thống đốc, Larry Taunton được một giải thưởng an ủi lớn: ngoài McLarty thì anh ấy là ứng viên duy nhất tên tuổi được công nhận 100 phần trăm, và ăn chắc một trong hai suất đi dự Boys Nation; anh ấy chỉ cần đăng ký ứng cử vào suất đó. Nhưng có một chút rắc rối. Larry là một trong hai "ngôi sao" trong đoàn thành phố của anh ấy. Người kia là Bill Rainer, một vận động viên đa năng đẹp trai, sáng láng. Cả hai đều đến đại hội Boys State với thỏa thuận là Taunton thì ứng cử thống đốc, Rainer thì chạy đua để đi dự Boys Nation. Bây giờ, dù cả hai đều có quyền tranh suất đi Boys Nation nhưng không đời nào hai người cùng thành phố đều được bầu. Ngoài ra, cả hai đều thuộc đảng tôi, mà tôi đã vận động rất tích cực trong cả tuần. Theo một bức thư tôi viết cho mẹ trong thời điểm đó thì tôi đã thắng trong các cuộc bỏ phiếu bầu người thu thuế, bí thư đẳng, thẩm phán thành phố, và tôi đang tranh chức thẩm phán hạt, một chức vụ quan trọng trong đời thật ở Arkansas.

        Vào phút cuối, không lâu trước khi đảng của tôi họp lại để nghe các bài diễn thuyết tranh cử của chúng tôi, Taunton đăng ký ứng cử. Bill Rainer choáng váng đến mức anh ấy hầu như không thể hoàn tất được bài thuyết trình của mình. Tôi vẫn còn giữ một bản bài diễn thuyết của tôi, vốn chẳng có gì đáng kể, ngoại trừ đoạn nói về sự cố ở trường Trung học Little Rock: "Chúng ta lớn lên ở một tiểu bang bị tràn ngập bởi sự hổ thẹn về một cuộc khủng hoảng mà nó không muốn có". Tôi không đồng tình với việc làm của Faubus, và tôi muốn các bạn ở bang khác nghĩ tốt hơn về Arkansas. Khi kiểm phiếu, Taunton đứng đầu và bỏ khá xa. Tôi đứng thứ nhì cũng với kha khá phiếu. Billy về thứ ba nhưng bị bỏ xa. Tôi bắt đầu thực sự thích Billy, và không bao giờ quên anh ấy đã chấp nhận thất bại một cách đàng hoàng như thế nào.

        Năm 1992, khi Bill sông ở Connecticut, anh ấy liên hệ với ban vận động tranh cử của tôi và nói muốn ra giúp. Tình bạn của chúng tôi, nảy nở từ nỗi đau thất vọng thời trẻ, một lần nữa được hồi sinh.

        Sau một ngày vận động nữa, Larry Taunton và tôi đánh bại các đối thủ của đảng kia và tôi đến College Park vào ngày 19 tháng 7 năm 1963, hăm hở mong gặp các đại biểu khác, bỏ phiếu về những vấn đề quan trọng, học hỏi từ các thành viên nội các và chính phủ, và mong được thăm Nhà Trắng, nơi chúng tôi hy vọng được gặp tổng thống.

        Một tuần trôi qua mau, mỗi ngày đều đầy ắp các sự kiện và các phiên họp lập pháp. Tôi nhớ mình đặc biệt bị ấn tượng bởi Bộ trưởng Lao động Willard Wirtz và say mê tranh luận về các vấn đề dân quyền. Nhiều bạn khác tại đại hội theo đảng Cộng hòa và là ủng hộ viên của Barry Goldwater, người mà các bạn ấy mong đánh bại Tổng thống Kennedy vào năm 1964, nhưng cũng có nhiều người có quan điểm tiến bộ trong các vấn đề dân quyền, trong đó có bốn đứa chúng tôi từ miền Nam, đủ để các kiến nghị lập pháp của chúng tôi được thông qua.

        Chính vì sự thân thiết của tôi với Bill Rainer và quan điểm phóng khoáng hơn về dân quyền của mình mà tôi phải chịu căng thẳng với Larry Taunton trong suốt tuần ở Boys Nation. Tôi cũng mừng là sau này khi đã thành tổng thống, tôi gặp lại Larry Taunton đã lớn và các con anh ấy. Anh ấy có vẻ như là một người tốt và có một cuộc sống tốt.

        Vào thứ hai, 22 tháng 7, chúng tôi thăm điện Capitol, chụp ảnh trên bậc thềm điện, và gặp các thượng nghị sĩ của tiểu bang chúng tôi. Larry và tôi ăn trưa với J. William Fulbright, chủ tịch ủy ban Đối ngoại, và John McClellan, chủ tịch ủy ban Ngân sách. Quy chế thâm niên1 vẫn còn đó, và không bang nào lại được lợi từ nó hơn Arkansas. Thêm nữa, cả bốn dân biểu của chúng tôi đều giữ các vị trí quan trọng: Wilbur Mills là chủ tịch ủy ban Ngân sách hạ viện; Oren Harris là chủ tịch ủy ban Thương mại "Took" Gathings, ủy viên cao cấp của ủy ban Nông nghiệp, và Jim Trimble, người làm việc ở quốc hội "mới chỉ" từ năm 1945, là thành viên của ủy ban Rules đầy quyền lực, ủy ban này kiểm soát lượng dự luật được đưa vào chương trình làm việc của hạ viện. Tôi thì không hề ngờ được rằng chỉ trong vòng ba năm sau tôi sẽ làm việc cho ông Fulbright với tư cách nhân viên của ủy ban Đối ngoại. Vài ngày sau bữa ăn trưa đó, mẹ nhận được thư của Thượng nghị sĩ Fulbright nói rằng ông rất thích bữa ăn trưa và rằng bà phải tự hào về tôi. Tôi vẫn còn giữ bức thư, kỷ niệm lần đầu tiên đụng chạm đến công việc tham mưu tốt.

-----------------
1. Quy chế ở quốc hội Mỹ, theo đó, ai từng phục vụ trong ủy ban nào thì được Ưu tiên cử vào ủy ban đó ở nhiệm kỳ sau, nếu tái đắc cử.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2015, 02:58:22 AM
        Ngày thứ tư, 24 tháng 7, chúng tôi đến Nhà Trắng để gặp tổng thống ở Vườn hồng. Tổng thống Kennedy từ Phòng Bầu dục bước ra trong ánh nắng và phát biểu vài câu ngắn gọn, khen ngợi nỗ lực của chúng tôi, đặc biệt là sự ủng hộ của chúng tôi với dân quyền, và đánh giá chúng tôi cao hơn các thống đốc bang, vốn không có thái đô tích cực như chúng tôi trong cuộc họp mùa hè hàng năm mới diễn ra. Sau khi nhận một áo thun Boys Nation, Kennedy bước xuống bâc thang và bắt tay với đại biểu. Tôi ở hàng đầu và càng ngày càng trở thành ủng hộ viên nồng nhiệt của ông hơn phần lớn các bạn khác. Tôi tìm cách được bắt tay ông ngay cả khi ông chỉ bắt tay vài ba người. Đó là một thời khắc kỳ diệu đối với tôi, được gặp vị tổng thống mà tôi đã ủng hộ từ hồi lớp chín trong các buổi tranh luận trong lớp, và là người mà tôi ngày càng mến mộ sau hai năm rưỡi ông nắm quyền. Một người bạn chụp ảnh cho tôi, và sau này chúng tôi tìm thấy có cả đoạn phim quay cảnh bắt tay này trong Thư viện Kennedy.

        Người ta đã nói rất nhiều về buổi tiếp xúc đấy và ảnh hưởng của nó đối với cuộc đời tôi. Mẹ tôi nói rằng bà biết ngay khi tôi về nhà, rằng tôi đã quyết theo nghiệp chính trị, và sau khi tôi trở thành ứng viên tổng thống năm 1992, đoạn phim đấy được coi như khởi đầu của ước vọng làm tổng thống của tôi. Tôi thì không chắc lắm về điều này. Tôi còn giữ một bản sao bài nói của tôi trước phân hội American Legion ở Hot Springs sau khi trở về, và trong đó tôi không nói gì nhiều đến cái bắt tay. Chắc là lúc bấy giờ tôi chỉ muốn trở thành thượng nghị sĩ, nhưng sâu thẳm bên trong tôi cảm thấy giống như Abraham Lincoln hồi trẻ khi ông ấy viết "Tôi sẽ học tập và sẵn sàng, và có thể cơ hội của tôi sẽ tới".

        Tôi cũng có một vài thành công chính trị thời trung học, được bầu làm lớp trưởng năm đầu, và muốn tranh chức chủ tịch ban đại diện học sinh, nhưng ban xét duyệt phụ trách trường tôi quyết định học sinh Hot Springs không được phép ôm đồm quá nhiều hoạt động và ra một số quy định hạn chế. Theo các quy định mới này, vì tôi là một nhạc công chính trong ban nhạc, tôi không được tranh chức lớp trưởng hoặc chủ tịch ban đại diện học sinh. Phil Jamison - đội trưởng đội bóng đá và một ứng viên có thể chiến thắng - cũng bị như vậy.

        Không được tranh chức chủ tịch ban đại diện học sinh không làm tôi hay Phil Jamison buồn rầu gì lắm. Phil sau này đi học Học viện Hải quân, và sau khi rời quân chủng thì làm một công việc quan trọng cho Lầu năm góc về các vân đề kiểm soát vũ khí. Khi tôi làm tổng thống, anh ấy có tham gia trong các công việc của chúng tôi với nước Nga, và tình bạn giữa chúng tôi giúp tôi biết rõ công việc từ cấp thừa hành, mà nếu không có anh ấy tôi đã chẳng thể biết được.

        Trong một động thái chính trị khờ dại trong đời mình, tôi đã để tên mình được đưa vào danh sách ứng cử cho chức thư ký của lớp cuối trung học - một người bạn tôi vốn giận dữ trước quy định hạn chế mới đã đưa tên tôi vào. Bạn hàng xóm của tôi Carolyn Yeldell dễ dàng đánh bại tôi. Tôi đã làm một điều thật ngớ ngẩn và ích kỷ, và chứng tỏ bằng thực tế một trong những nguyên tắc chính trị của mình: đừng bao giờ tranh cử vào một chức vụ mà bạn không thực sự muốn và cũng chẳng có lý do nào hợp lý để nắm giữ.

        Nhưng bất chấp những trục trặc đó, vào một lúc nào đấy ở tuổi 16 tôi quyết định muốn trở thành người của công chúng với tư cách là một viên chức dân cử. Tôi mê âm nhạc và nghĩ tôi có thể cũng sẽ tiến thân được, nhưng tôi biết mình sẽ không bao giờ trở thành John Coltrane hay Stan Getz được. Tôi quan tâm đến ngành y và nghĩ mình cũng có thể trở thành bác sĩ khá, nhưng tôi biết mình sẽ không thể giỏi như Michael De Bakey. Nhưng tôi biết tôi sẽ rất giỏi nếu tham gia phục vụ công chúng. Tôi bị lôi cuốn bởi con người, chính trị và các chính sách, và cho rằng mình có thể thành công mà không nhờ vào gia đình giàu có hay quyền thế gì, cũng không cần phải nhờ vào các ưu thế của miền nam về chủng tộc hay các vấn đề khác. Tất nhiên như thế đâu có dễ dàng gì, nhưng đây là nước Mỹ mà?


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2015, 02:27:10 AM
   
        08


        Một sự kiện đáng nhớ khác xảy đến trong mùa hè năm 1963. Vào ngày 28 tháng 8, chỉ chín ngày trước khi tròn 17 tuổi, tôi nằm một mình trên ghế tựa trong phòng và được nghe bài diễn văn vĩ đại nhất trong cuộc đời mình. Bài diễn văn về giấc mơ cho nước Mỹ của Martin Luther King Jr. trước đài tưởng niệm Lin­coln. Trong ngữ điệu nhịp nhàng như những bài dân ca của người da đen, giọng của ông như bùng lên, nói với đám đông và hàng triệu người giống tôi đang dán mắt trước truyền hình về giấc mơ mà "một ngày kia, trên những ngọn đồi ở Georgia, những đứa con của những người nô lệ và những đứa con của những người chủ nô trước đây sẽ cùng ngồi bên chiếc bàn thân thiện của tình anh em" và rằng "...Bốn đứa con tôi tới một ngày sẽ được sống trong đất nước mà ở đó giá trị của chúng được đánh giá bởi chính ý chí, nghị lực cá nhân, chứ không phải bằng màu da".

        Sau 40 năm, rất khó để diễn tả lại những cảm xúc và hi vọng mà King đã truyền cho tôi, cũng khó diễn tả ý nghĩa của bài diễn văn đối với một dân tộc còn chưa có Đạo luật dân quyền, chưa có Đạo luật quyền bỏ phiếu, chưa có luật nhà cửa và cũng chưa có Thurgood Marshall (thẩm phán người da đen đầu tiên của Tòa án tối cao liên bang Mỹ - ND) ở Tòa án tối cao. Cũng khó có thể kể hết được ý nghĩa đối với miền Nam nước Mỹ, nơi phần lớn các trường học vẫn phân cách học sinh theo màu da, thuế bầu cử được áp dụng để ngăn không cho người da đen tham gia bầu cử hoặc gom họ lại thành nhóm bỏ phiếu cho một số đông nguyên trạng, và từ "mọi đen" vẫn thường được những người được coi là biết điều sử dụng.

        Tôi đã khóc khi nghe bài diễn văn và còn khóc một lúc sau khi tiến sĩ King nói xong. Ông đã nói lên tất cả những gì tôi tin một cách cực kỳ rõ ràng hơn là tôi có thể tự nói ra. Hơn hết thảy những gì cho tôi đã trải qua, có lẽ chỉ trừ những kinh nghiệm sống với ông tôi, bài diễn văn đó đã hun đúc quyết tâm rằng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể trong đời để biến giấc mơ của Martin Luther King trở thành hiện thực.

        Một vài tuần sau, tôi bắt đầu học năm cuối ở trường trung học, vẫn còn cảm giác sung sướng sau khi được chọn dự Boys Nation, và quyết tận hưởng năm cuối cùng tuổi thơ của mình.

        Môn học khó nhất đối với tôi thời trung học là giải tích. Lúc đó lớp giải tích của tôi chỉ có bảy người và môn này chưa từng được dạy tại trường. Tôi còn nhớ rõ hai sự kiện. Một lần thầy Coe trả bài kiểm tra cho tôi, tôi làm đúng hết nhưng số điểm thầy chấm lại cho thấy tôi sai một câu. Tôi hỏi và thầy Coe nói rằng tôi chọn cách giải không đúng và chắc chắn là tình cờ mà có kết quả đúng, nên thầy không cho tôi điểm của câu đó; trong sách giải có thêm vài bước so với cách giải của tôi. Thiên tài về toán trong lớp tôi là Jim McDougal (không phải là anh chàng trong vụ Whitewater) xem qua cách giải của tôi. Sau đấy cậu nói với thầy Coe là nên cho tôi điểm câu đó vì cách giải của tôi hợp lệ và thậm chí còn tốt hơn cách trong sách vì cách của tôi ngắn hơn. Cậu ta tình nguyện lên bảng trình bày về quan điểm của mình. Cũng giống chúng tôi, thầy Coe rất nể bộ óc của Jim nên chấp thuận. Jim lên bảng và viết đầy hai bảng những ký hiệu toán học và phân tích vì sao bài giải của tôi tốt hơn sách. Thật không tin được. Tôi luôn thích giải quyết những câu đố hóc búa, đến giờ cũng vậy, nhưng tôi chỉ ngẫu nhiên giải ra cách này. Tôi chẳng hiểu gì những gì Jim nói và cũng không chắc là thầy Coe có hiểu không. Tuy vậy màn trình bày xuất sắc của Jim cũng giúp cho tôi có điểm. Sự kiện đó dạy tôi hai điều: thứ nhất, trong giải quyết vấn đề, đôi khi bản năng tốt sẽ giúp khắc phục khiếm khuyết về trí tuệ; thứ hai, tôi không nên theo đuổi học thêm về toán một chút nào nữa.

        Lớp tôi học vào tiết tư, sau bữa trưa. Ngày 22 tháng 11, thầy Coe được gọi lên văn phòng. Khi trở lại, mặt thầy trắng bệch và hầu như không nói lên lời. Thầy báo cho cả lớp biết là Tổng thống Kennedy vừa bị bắn và có thể là đã chết ở Dallas. Tôi thật sự phát hoảng. Chỉ mới bốn tháng trước tôi còn được gặp tổng thống khỏe mạnh và đầy sức sống ở vườn hồng. Biết bao điều ông nói và làm - bài diễn văn nhậm chức ấn tượng, việc thành lập Liên minh vì tiến bộ ở châu Mỹ Latinh, cách xử lý bình tĩnh cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, tổ chức Thiện nguyên Hòa bình, và những lời phát biểu gây kinh ngạc trong bài nói "Tôi là người Berlin" (bài nói của Tổng thống Kennedy ở tây Berlin khi ông nói bằng tiếng Đức "Ich bin ein Berliner" - ND) rằng "Tự do luôn đối mặt với nhiều khó khăn và nền dân chủ có thể chưa hoàn hảo, nhưng chúng ta chưa bao giờ phải xây tường để quây người dân của chúng ta lại" - tất cả những điều đó đã nuôi nấng hy vọng của tôi về đất nước và gây dựng niềm tin của tôi đối với chính trị.

        Sau giờ học, toàn thể học sinh trong khu vực lớp tôi đều đến tòa nhà chính. Chúng tôi đều rất buồn, trừ một người. Tôi nghe loáng thoáng thấy một cô nàng xinh xắn chơi cùng ban nhạc với tôi nói rằng tổng thống chết đi có khi lại là điều hay cho đất nước. Tôi biết gia đình cô ấy bảo thủ hơn tôi, nhưng tôi quả là choáng váng và giận dữ khi một người tôi coi là bạn lại nói điều như vậy. Ngoài thói phân biệt chủng tộc thô bạo ra, đó là lần đầu tiên tôi được thấy kiểu hận thù mà sau này tôi còn chứng kiến rất nhiều trong sự nghiệp chính trị của mình, và cũng là kiểu hận thù đã tạo nên một phong trào chính trị đầy quyền lực trong 25 năm cuối của thế kỷ 20. Tôi rất cám ơn là bạn tôi sau này đã vượt qua được sự thù hận đó. Khi tôi vận động tranh cử ở Las Vegas năm 1992, cô ấy cũng đến dự một buổi. Cô làm công tác xã hội và là thành viên đảng Dân chủ. Tôi quý trọng cuộc hội ngộ ấy và cơ hội hàn gắn lại vết thương cũ mà nó mang lại.

        Sau khi theo dõi đám tang của Kennedy và an tâm phần nào khi nghe những lời lẽ đầy cảm động của Lyndon Johnson khi tỉnh táo tiếp nhận chức Tổng thống "Tôi có thể hoan hỉ cho đi tất cả những gì tôi có để khỏi phải đứng đây hôm nay", tôi từ từ trở lại với cuộc sống bình thường của mình. Thời gian còn lại của năm học cuối cấp trôi qua nhanh chóng với các hoạt động trong hội DeMolay và ban nhạc, trong đó có một chuyến đi biểu diễn tới Pensacola, Florida và một chuyến khác đi dự hội diễn ban nhạc toàn tiểu bang. Tôi đã có nhiều thời gian tuyệt vời với bạn bè, những bữa trưa tại Club Café, những chiếc bánh táo Hà Lan ngon nhất mà tôi từng ăn; xem phim, khiêu vũ tại hội quán YMCA, ăn kem tại Cook's Dairy, thịt nướng tại McClard, một quán ăn gia đình 75 năm tuổi có món thịt nướng có thể ngon nhất nước, và món đậu nướng chắc chắn là ngon nhất nước.

        Suốt nhiều tháng trong năm ấy, tôi hẹn hò với Susan Smithers, một cô gái ở Benton, Arkansas, cách Hot Springs khoảng 30 dặm về phía đông trên xa lộ tới Little Rock. Thường vào chủ nhật tôi tới Benton để đi nhà thờ và ăn trưa với gia đình cô ấy. Cuối bữa trưa, Mary, mẹ của Susan, thường đặt một nắm bánh táo hoặc bánh đào chiên lên bàn. Reese, bố cô ấy, và tôi thường ăn cho đến khi tôi no kềnh phải khiêng đi. Một chủ nhật nọ sau bữa trưa, tôi và Susan lái xe tới Bauxite, một thị trấn ở gần Benton được đặt tên theo loại quặng dùng làm ra nhôm, vốn được khai thác rất nhiều ở các mỏ lộ thiên quanh vùng. Tới nơi, chúng tôi quyết định đi ngó các mỏ nhôm gần bên. Tôi đi xe ra khỏi đường cái tấp lên một khu đất mà tôi tưởng là đất sét cứng, ngay cạnh miệng một mỏ lộ thiên lớn. Sau khi dạo quanh, chúng tôi về lại xe thì mọi hứng thú tan biến. Bánh xe của tôi đã lún sâu xuông khu đất ướt và mềm ở đó. Bánh xe quay tít nhưng chúng tôi không nhích tí nào cả. Tôi tìm được vài tấm gỗ cũ, đào chỗ dưới bánh xe, đặt vào đấy để cho bánh đỡ bị trượt nhưng cũng không được. Sau hai tiếng, bánh xe đã mòn hết gai, trời thì bắt đầu tối mà chúng tôi vẫn bị kẹt. Cuối cùng chúng tôi đành bỏ cuộc, đi bộ về thị trấn tìm người giúp và gọi điện cho bố mẹ Susan. Lúc người ta đến kéo xe tôi ra khỏi đống đất lún thì mấy chiếc bánh xe đã trơn nhẵn như đít trẻ con vậy. Lúc tôi đưa Susan về đến nhà trời đã tối mịt. Chắc là bố mẹ cô ấy tin câu chuyện của tôi, nhưng bố cô ấy vẫn liếc sơ qua mấy bánh xe của tôi cho chắc ăn. Ở cái tuổi còn ngây thơ đó, tôi thật sự thấy vô cùng xấu hổ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2015, 02:41:03 AM
        Khi năm cuối cấp gần hết, tôi ngày càng lo chuyên học đại học. Vì lý do gì đó, tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện đăng ký vào một trường thuộc nhóm Ivy League (những trường đại học danh tiếng ở Mỹ - ND) nào cả. Tôi biết nơi tôi muốn học và chỉ đăng ký ở đó: Khoa Ngoại giao của Đại học Georgetown. Tôi không muốn làm ngoại giao và tôi cũng chưa từng đến thăm khuôn viên của trường Georgetown khi tham dự đại hội Boys Nation, nhưng tôi muốn trở lại Washington. Georgetown có tiếng là trường tốt nhất ở thủ đô và kỉ luật của những ngôi trường Dòng Tên luôn nổi tiếng và hấp dẫn đối với tôi. Tôi cũng cảm thấy mình cần hiểu các vấn đề quốc tế, và rằng chỉ cần ở Washington vào những năm 1960 là có thể hấp thụ và hiểu mọi vấn đề đối nội. Tôi tin mình sẽ được nhận vì tôi đứng thứ tư trong 327 người cùng khóa, bảng điểm vào đại học của tôi tương đối tốt và thường thì trường Georgetown vẫn chọn ít nhất mỗi bang một sinh viên (quả là một chương trình hành động tích cực từ rất sớm!). Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy lo.

        Tôi tính, nếu bị trường Georgetown từ chối tôi sẽ đi học ở Đại học Arkansas, vốn có chính sách nhận sinh viên tương đối thoáng với học sinh trong tiểu bang, và là nơi những chính trị gia nhiều tham vọng nên đi học vì chi phí không đến nỗi quá quắt. Đến tuần thứ hai của tháng tư tôi nhận được thông báo châp nhận của Georgetown. Tôi rất vui nhưng cũng bắt đầu tự hỏi liệu tới đó học có khôn ngoan hay không. Tôi không được học bổng và vì vậy mọi thứ đều đắt đỏ: 1.200 đôla cho tiền học, 700 đôla tiền nhà, cộng thêm tiền ăn, sách vở và các khoản khác. Mặc dù so với Arkansas, nhà tôi thuộc loại trung lưu tương đôi thoải mái, nhưng tôi vẫn lo lắng bố mẹ tôi không đủ thêm khoản tiền cho tôi đi học. Tôi cũng lo ngại việc phải để Roger và mẹ ở lại một mình với bố dù tuổi tác đã khiến ông chậm chạp đi. Thầy hướng dẫn của tôi là Edith Irons cam đoan tôi nên nhập học, và rằng đó là khoản đầu tư cho tương lai của tôi mà bố mẹ tôi nên làm. Bố mẹ tôi đồng ý điều này. Mẹ cũng tin rằng khi tôi đến đó và chứng tỏ được bản thân mình thì tổi sẽ nhận được hỗ trợ tài chính. Và vậy là tôi quyết định cứ đi học xem sao.

        Tôi tốt nghiệp phổ thông vào chiều ngày 29 tháng 5 năm 1964 trong buổi lễ tại sân vận động Rix, nơi chúng tôi vẫn chơi bóng bầu dục. Là học sinh đứng thứ tư, tôi được đọc một đoạn cầu nguyện chúa. Sau này một số quyết định của tòa án về tôn giáo trong trường công lập đã cấm việc này, và nếu hồi đó những quyết định ấy đã thành luật thì lễ nghi cầu nguyện đã không được đưa vào chương trình. Tôi đồng ý không nên sử dụng tiền thuế cho những mục đích tôn giáo đơn thuần nhưng cũng thấy rất vinh dự khi được nói lời cuối kết thúc thời trung học của mình.

        Lời cầu nguyên của tôi thể hiện niềm tin sâu sắc vào tôn giáo và có đôi chút dấu ấn về chính trị. Tôi cầu Chúa "hãy gieo cho chúng con lý tưởng của tuổi trẻ và những giá trị luân lý vốn đã giúp dân tộc này được mạnh mẽ. Xin hãy giúp chúng con tránh xa sự lãnh cảm, thờ ơ và hắt hủi người khác để thế hệ chúng con sẽ rũ bỏ được sự tự mãn, nghèo đói và định kiến khỏi trái tim của những người tự do... Xin hãy giúp chúng con quan tâm để chúng con không báo giờ biết đến sự bất hạnh và vòng luẩn quẩn của cuộc sống không mục đích, và để đến khi chúng con chết đi thì những người khác vẫn còn cơ hội được sống trên mảnh đất tự do này".

        Một số người không tin tôn giáo có thể thấy tất cả những thứ này là xúc phạm hoặc ngây thơ nhưng tôi vui rằng ngay lúc bấy giờ tôi đầy lý tưởng, và đến giờ tôi vẫn tin vào từng lời cầu nguyện ngày nào.

        Sau lễ tốt nghiệp, tôi cùng với Mauria Jackson tới bữa tiệc của những học sinh cuối cấp tại câu lạc bộ Belvedere, không cách xa ngôi nhà ở đại lộ Park của chúng tôi. Do Mauria và tôi lúc đó đều không có ai và từng học tiểu học với nhau ở trường St. John nên có vẻ việc đi cùng nhau là một ý hay, và đúng là hay thật.

        Buổi sáng hôm sau, tôi bước vào mùa hè tuổi thơ cuối cùng của mình. Đó là một mùa hè nóng nực điển hình của Arkansas, và trôi qua nhanh chóng với lần thứ sáu và là lần cuôl cùng tôi đi dự trại ban nhạc, và một lần quay lại đại hội Boys State với tư cách là cố vấn. Mùa hè năm đó tôi giúp bố được vài tuần để làm công việc kiểm kê hàng năm tại công ty Clinton Buick như thỉnh thoảng trước đây tôi từng làm. Thời nay, khi hồ sơ từng chiếc xe được lưu trong máy tính và bạn có thể đặt linh kiện ô tô từ các trung tâm phân phối, thật khó có thể tưởng tượng được lúc bây giờ chúng tôi giữ linh kiện cho những chiếc xe đến 10 năm tuổi, và đếm những linh kiên đó bằng tay hàng năm. Linh kiện nhỏ được đặt ở những khoang bé phía trên các giá để cạnh nhau, làm cho mặt sau của kho hàng luôn tối tăm, tương phản ghê gớm với phòng trứng bày sáng sủa ở phía trước, vốn cũng chỉ đủ lớn để chứa một chiếc Buick mới.

        Công việc rất tẻ nhạt nhưng tôi vẫn thích làm, chủ yếu vì nó là việc duy nhất tôi được làm cùng bố. Tôi cũng thích ở chỗ bán xe Buick, đi chơi với bác Raymond, với những nhân viên bán xe trên bãi xe với đầy rẫy xe mới và xe cũ, với mấy người thợ máy ở khu phía sau. Lúc bấy giờ có ba người luôn khiến tôi đặc biệt thích thú. Hai trong số họ là người da đen. Early Arnold trông giống ca sĩ Ray Charles và có một trong những kiểu cười tuyệt nhất mà tôi từng biết. Early luôn tốt với tôi. James White thì tính xuề xoà hơn. Phải vậy thôi. Chú ấy phải nuôi tới tám người con chỉ bằng lương bác Raymond trả và những gì bà vợ Earlene của chú ấy kiếm được nhờ giúp việc tại gia đình tôi sau khi bà Walters nghỉ. Tôi rất khoái kiểu triết lý suông của James. Một lần tôi nói với chú ấy về việc những năm tháng trung học trôi qua thật nhanh, chú nói "Ừ, thời gian trôi nhanh quá. Tôi không bắt kịp được với tuổi tác của mình rồi". Khi đó tôi nghĩ nó là câu đùa nhưng giờ thì nó chẳng hề buồn cười nữa.

        Người da trắng trong số này là Ed Foshee - một thiên tài về xe hơi. Sau này chú ấy cũng mở riêng cửa hàng của mình. Khi tôi đi học xa, gia đình tôi bán cho chú chiếc Henry J của tôi, một trong sáu chiếc bị cháy thảm hại mà bố đã sửa lại ở cơ sở bán xe Buick tại Hope. Tôi không muốn bỏ chiếc xe, dù hệ thống phanh thủy lực của nó bị rò, và tôi sẵn sàng trả bất cứ giá nào để có lại chiếc xe đó bây giờ. Chiếc xe đã cho tôi và bạn bè nhiều giây phút tuyệt vời và một dịp không được tuyệt vời cho lắm. Một đêm nọ, tôi lái xe ra khỏi Hot Springs theo đường số 7, theo sau một chiếc xe màu đen. Khi chúng tôi đi qua bãi chiếu phim ngoài trời Jessie Howe thì chiếc xe phía trước đột nhiên dừng lại để xem màn hình đang chiếu gì. Đèn báo phanh của chiếc xe đó bị vỡ nên tôi không nhận ra được là nó đã dừng lại trước khi quá trễ. Sự lơ là, phản ứng chậm chạp và hệ thống phanh xe ầu ật khiến tôi đâm thẳng vào chiếc xe màu đen, hàm tôi đập thẳng vào chiếc vô lăng, khiến nó gẫy đôi. Rất may là không ai bị thương nặng. Bảo hiểm trả phí tổn hỏng hóc cho chiếc xe kia. Những người thợ ở Clinton Buick đã sửa chiếc Henry J của tôi lại như mới và tôi rất mừng là chiếc vô lăng bị gẫy chứ không phải cái hàm của tôi. Cũng không đau hơn lần Henry Hill thụi tôi vào cằm vài năm trước, và cũng chưa đau gần bằng lần con cừu đực suýt húc chết tôi. Lúc đấy tôi hay triết lý về những chuyện đó, và có thái độ giống như mấy nhà thông thái hay nói "Con chó thỉnh thoảng có vài con rận thì cũng tốt thôi. Như thê nó đỡ tủi thân phận làm chó của nó".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2015, 07:43:22 AM
 
        09
 

        Mùa hè trôi qua quá nhanh như mọi kỳ nghỉ hè khi ta còn bé, và vào ngày 12 tháng 9, tôi cùng mẹ bay tới Washington để du ngoạn chừng một tuần trước khi tôi bắt đầu năm thứ nhất đại học. Tôi không biết điều gì chờ đợi mình, nhưng tôi đầy kỳ vọng.

        Chuyến đi này khó khăn cho mẹ nhiều hơn cho tôi. Chúng tôi luôn gần gũi nhau, và tôi biết mỗi khi nhìn tôi, mẹ thường thấy cả bố và tôi. Mẹ lo về chuyện làm sao nuôi được Roger bé một mình với Roger bố mà không có tôi. Và tôi và mẹ sẽ thấy thiếu vắng nhau. Chúng tôi đủ giống và đủ khác biệt để có thể vui vẻ bên nhau. Bạn bè của tôi cũng quý mẹ và bà cũng thích bạn bè tôi tới nhà, điều mà từ đây vẫn sẽ diễn ra nhưng chỉ vào những dịp tôi về nhà ăn giáng sinh hoặc nghỉ hè.

        Không giống như bây giờ, hồi đó tôi chẳng thể biết mẹ lo lắng thế nào cho tôi. Gần đây, tôi tình cờ tìm được lá thư giới thiệu mẹ viết tháng 12 năm 1963 trong hồ sơ của tôi cho Giải thưởng lãnh đạo Elks, vốn được trao cho một hoặc hai học sinh trung học xuất sắc mỗi năm ở những thành phố nào có câu lạc bộ Elks. Bà viết rằng lá thư ấy "giải tỏa bớt một phần nhỏ mặc cảm tội lỗi của tôi về Bill. Công việc gây mê của tôi đã chiếm mất nhiều thời giờ đúng ra phải dành cho nó. Và vì thế, những gì Bill đã giành được, đã làm được đều thực sự là do tự thân nó. Vậy nên mỗi khi nhìn Bill tôi lại thấy một người đàn ông tự lập thân". Mẹ tôi thật sai khi nói vậy! Chính bà đã dạy dỗ tôi thức dậy hàng ngày và luôn cố gắng; dạy tôi nên tìm những điểm tốt đẹp nhất ở người khác ngay cả khi họ chỉ nhìn thấy mặt xấu của tôi; dạy tôi biết ơn vì được sống mỗi ngày và chào đón ngày mới bằng nụ cười; dạy tôi rằng tôi có thể làm hoặc đạt được bất cứ gì nếu tôi sẵn sàng bỏ ra đủ nỗ lực cho mục tiêu đó. Và cũng chính mẹ dạy tôi rằng cuối cùng thì tình yêu và sự tốt bụng sẽ vượt lên trên sự tàn nhẫn và ích kỉ. Mẹ tôi không sùng đạo kiểu bình thường, dù khi có tuổi bà có khuynh hướng này. Bà chứng kiến quá nhiều cái chết đến mức bà thấy khó tin vào kiếp sau. Nhưng nếu đạo là tình yêu thương thì mẹ tôi chính là một phụ nữ sùng đạo. Tôi ước gì có thể giải thích với mẹ rằng tôi còn lâu mới là kẻ "tự lập thân".

        Mặc dù biết những thay đổi lớn sắp diễn ra nhưng mẹ và tôi đều cảm thấy rất phấn khích khi tới Georgetown. Chỉ cách cơ sở chính của trường vài dãy phố là nơi được gọi là Cơ sở phía Đông, trong đó có phân khoa Ngoại giao và vài khoa khác có cả sinh viên nữ và đa dạng hơn về chủng tộc và tôn giáo. Ngôi trường do Tổng giám mục John Carroll thành lập năm 1789, năm làm tổng thống đầu tiên của George Washington. Bức tượng ông vẫn sừng sững nơi vòng xoay lớn ở cổng lối vào cơ sở chính. Năm 1815, Tổng thống James Madison ký một điều luật cho phép trường Georgetown được tự cấp bằng. Mặc dù ngay từ đầu trường chúng tôi đã luôn rất rộng mở đối với những người thuộc các tôn giáo khác nhau, và một trong những hiệù trưởng vĩ đại nhất của trường, cha Patrick Healy từ năm 1874 đến 1882, hiệu trưởng gốc Phi đầu tiên của ngôi trường đa số da trắng, nhưng Yard1 vẫn toàn là sinh viên nam da trắng và hầu như tất cả đều theo Công giáo. Khoa Ngoại giao được thành lập năm 1919 bởi cha Edmund A. Walsh, một người chống cộng quyết liệt. Khi tôi vào học tại trường, ở đây vẫn còn vô số các giáo sư từng sống hoặc trốn chạy khỏi các chế độ cộng sản ở châu Âu và Trung Quốc; và những người thông cảm với các hoạt động chống cộng của chính quyền Mỹ, trong đó có cả ở Việt Nam.

        Không chỉ quan điểm chính trị tại khoa Ngoại giao mới mang tính bảo thủ. Chương trình học cũng vậy, sự khắc khổ của chương trình phản ánh triết lý giáo dục của Dòng Tên, được gọi là Ratio Studỉorum bắt nguồn từ cuối thế kỷ 16. Trong hai năm đầu, mỗi học kỳ chúng tôi buộc phải học sáu môn với tổng thời gian khoảng 18 hoặc 19 tiếng trên lớp. Các môn học tự chọn chỉ bắt đầu có từ học kỳ hai của năm thứ ba. Rồi còn có những quy định về trang phục nữa. Trong năm nhất, tất cả các nam sinh đều phải mặc áo sơmi, áo vest bên ngoài và đeo cà vạt tới lớp. Chúng tôi có thể mặc áo sợi tổng hợp, nhưng tôi cảm thấy rất khó chịu với loại áo này nên tôi đành chấp nhận mất năm đôla trong tổng số 25 đôla tiền tiêu tuần cho việc giặt ủi năm bộ sơmi đi học. Còn quy định của ký túc xá nữa chứ: "Sinh viên năm nhất phải ở tại phòng để học vào các buổi tối trong tuần và phải tắt đèn lúc nửa đêm. Tối thứ sáu và thứ bảy, sinh viên năm nhất phải về phòng trước 12h30... Không chấp nhận các khách khác giới, đồ uống có cồn, thú nuôi, hay vũ khí trong ký túc xá". Tôi biết mọi thứ giờ đã thay đổi đôi chút, nhưng khi tôi và Hillary đưa Chelsea tới Stanford năm 1997, mọi thứ quả là bất ổn khi thấy cả nam và nữ ở trong cùng một ký túc. Tuy vậy, cũng may là lệnh cấm vũ khí trong ký túc xá vẫn còn. Rõ ràng là NRA (Hiệp hội súng trường quốc gia, một tổ chức ủng hộ quyền công dân được mang súng ở Mỹ - ND) chưa thành công trong việc đòi hủy bỏ quy định câm vũ khí.

        Một trong những người đầu tiên tôi và mẹ gặp khi bước vào cổng trường là cha Dinneen, linh mục hướng dẫn sinh viên năm nhất, người chào đón tôi bằng cách bảo tôi là Georgetown không thể hiểu nổi tại sao một anh theo Tin Lành Baptist Phương Nam, không biết ngoại ngữ nào ngoài tiếng Latinh lại thích học khoa Ngoại giao. Giọng nói của ông cho thấy họ cũng chẳng hiểu sao trường lại nhận tôi. Tôi chỉ cười và nói có lẽ sau một hoặc hai năm gì đó cả hai bên sẽ hiểu ra chăng. Mẹ lo lắng thấy rõ, nên khi cha Dinneen ra gặp các sinh viên khác, tôi bảo bà là chỉ cần một thời gian họ sẽ hiểu lý do thôi. Tôi nghi như vậy là nói hơi quá, nhưng nghe cũng tạm được.

        Sau các thủ tục ban đầu, chúng tôi đi tìm phòng ký túc xá của mình và gặp bạn cùng phòng. Ký túc xá - tòa nhà Loyola - nằm ở góc đường 35 và đường N, ngay sau và nối với tòa nhà Walsh của khoa Ngoại giao. Tôi được phân về phòng 225, ngay đối diện với cổng trước ở đường 35 và nhìn xuống khu nhà và ngôi vườn tuyệt đẹp của Thượng nghị sĩ Claiborne Pell nổi tiếng của bang Rhode Island, người vẫn còn làm thượng nghị sĩ khi tôi làm tổng thống. Vợ chồng ông ấy cũng là bạn của vợ chồng tôi, và hơn 30 năm sau khi nhìn được mặt ngoài của căn nhà lớn và cổ đó của họ cuối cùng tôi cũng được vào trong chiêm ngưỡng.

        Khi mẹ và tôi tới cửa phòng ký túc, tôi hơi khựng lại. Cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1964 đang ở cao trào, và trên cửa phòng tôi có một tấm hình của Goldwater. Tôi cứ nghĩ mình đã bỏ tất cả những thứ này lại phía sau ở Arkansas! Bức ảnh đó của cậu bạn cùng phòng tôi, Tom Campbell, một người Công giáo Ireland đến từ Huntington, Long Island. Gia đình cậu ta theo đảng Cộng hòa và rất bảo thủ, và cậu này từng là cầu thủ bóng bầu dục tại trường trung học Dòng Tên Xavier ở thành phố New York. Bố cậu ta từng thắng chức thẩm phán địa phương nhờ theo con đường của đảng Bảo thủ. Tom có lẽ còn ngạc nhiên hơn tôi về vụ xếp phòng này. Tôi là người Tin Lành Baptist miền Nam đầu tiên mà cậu ta gặp, và tệ hơn nữa, tôi còn là một người cổ vũ nhiệt thành cho đảng Dân chủ và Lyndon B. Johnson.

        Mẹ chẳng bao giờ để những thứ cỏn con như chính trị chen vào việc sắp xếp nơi ăn ở. Như với mọi người, mẹ nói chuyện với Tom như thể biết cậu ta từ lâu, và chỉ một lát là chiếm được thiện cảm của cậu ta. Tôi cũng thấy mến cậu ta và nghĩ rằng chúng tôi sẽ hợp nhau. Và thực tế đúng vậy, trong suốt bốn năm sống cùng nhau ở Georgetown và gần 40 năm làm bạn.

----------------
1. The Yard: tên gọi ban đại diện sinh viên Đại học Georgetown


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2015, 03:24:37 AM
        Rồi cũng đến lúc mẹ chia tay tôi và tôi bắt đầu lại khám phá nơi ở mới của mình, xuất phát từ tầng của tôi. Vọng lại từ phía cuối hành lang là tiếng nhạc của "Tara's Theme" trong phim Gone with the Wind - Cuốn theo chiều gió và tôi lần theo đó, hi vọng tìm thấy được một người miền Nam, hay biết đâu lại là một người theo đảng Dân chủ. Khi tôi tìm tới phòng phát ra tiếng nhạc, tôi thấy một nhân vật ngoại hạng, Tommy Caplan. Cậu ta đang ngồi trên một chiếc ghế dựa bập bênh, chiếc độc nhất trong cả tầng. Nói chuyện môt lúc thì tôi biết cậu ta là con một của một người kinh doanh kim hoàn ở Baltimore, và cậu ta từng biết Tổng thống Kennedy. Bằng giọng nhanh và rõ một cách lạ thường mà tôi thấy hơi có vẻ kiểu cách, cậu ta bảo cậu muốn trđ thành nhà văn và gây ấn tượng lên tôi bằng một vài câu chuyện về Tổng thống Kennedy. Dù khi ấy tôi biết mình thích cậu ta, tôi không thể ngờ rằng tôi đã gặp một trong những người bạn tốt nhất của mình. Trong bốn năm tiếp theo, Tommy giúp tôi làm quen với Baltimore, với gia đình cậu ta ở Bờ Đông của Maryland, với Nhà thờ Tân giáo và các nghi thức ở đó, với khách sạn Pierre ở New York cùng món cà ri Ấn Độ tuyệt vời, khách sạn Carlyle và những dịch vụ đắt tiền, với câu lạc bộ 21, nơi một số chúng tôi tổ chức sinh nhật thứ 21 của cậu ta, với Massachusetts và Mũi Cod, nơi tôi suýt chết đuối sau khi không bám được vào tảng đá đầy hà từng cắt chảy máu hết tay, chân và ngực tôi. Khi cố quay lại bờ thì tôi may mắn gặp được một dải cát dài cùng với sự giúp đỡ của Fife Symington, một cậu bạn cũ cùng trường của Tommy và sau này là đảng viên Cộng hòa và Thống đốc bang Arizona. (Nếu cậu ta mà biết trước tương lai của tôi thì lúc cứu tồi cậu ta dám đổi ý lắm!). Đổi lại, tôi giới thiệu cho Tommy về Arkansas, về cách sống dân dã của người miền Nam, về chính trị cơ sở. Tôi nghĩ trao đổi như vậy cũng xứng.

        Vài ngày sau, tôi gặp một vài sinh viên nữa và bắt đầu vào học. Tôi cũng tìm được cách sống với 25 đôla/tuần. Năm đôla đã để dành cho năm chiếc sơmi đi học, và tôi quyết đinh mình sẽ ăn mỗi ngày một đô, các bữa ăn cuối tuần thêm một đô nữa để dư ra 14 đôla cho buổi đi chơi vào tối thứ bảy. Vào thời điểm năm 1964, tôi có thể mời bạn gái đi ăn tối với 14 đô, đôi khi còn đủ để xem phim nữa, dù tôi thường phải để cô gái gọi món trước nhằm đảm bảo số tiền chúng tôi phải trả cộng với tiền boa không quá ngân sách cho phép của tôi. Lúc đó có khá nhiều tiệm ở Georgetown nơi mà giá cả phù hợp với số tiền 14 đô của tôi. Ngoài ra, trong vài tháng đầu tôi cũng không hẹn ai vào thứ bảy nên ngân sách của tôi tương đối dư dả.

        Sống bằng một đô mỗi ngày cũng không quá khổ sở - tôi luôn cảm thấy mình dư dả, thậm chí đủ để tham gia các vũ hội và những dịp đặc biệt nào đó. Ở quán Wisemiller Deli, ngay gần chỗ tôi học ở toà nhà Walsh, tôi có thể ăn hai bánh vòng rán và uống một ly cà phê mỗi sáng mà chỉ tốn 20 xu, lần đầu tiên tôi uống cà phê, một thói quen mà đôi khi tôi muốn bỏ, với thành công khá hạn chế. Ăn trưa tôi chi hẳn 30 xu. Một nửa số này để mua bánh táo hoặc sơri Hostess cộng với một ly Royal Crown Cola cỡ bự. Tôi rất khoái mấy ly Cola này và rất buồn khi nó bị ngừng sản xuất. Bữa tối thường đắt đỏ hơn, khoảng 50 xu. Tôi hay ăn ở tiệm Hoya Carry Out cách ký túc xá của tôi chừng vài dãy phố, và dù tên như vậy (carry out: mang về) nhưng tiệm có một cái quầy để khách có thể ăn tại chỗ. Ở đó chỉ ăn không thôi thì mới chỉ vui một nửa. Với 15 xu tôi có thể mua một ly nước ngọt cỡ bự; với 35 xu có thể mua một bánh sand­wich cá ngừ cỡ lớn - lớn đến mức khó có thể há mồm ngoạm hết được. 85 xu thì bạn có thể mua được một bánh sandwich thịt bò nướng cũng bự như vậy. Hôm nào mà chưa vung hết 14 đô đi chơi thứ bảy là tôi lại mua một cái bánh loại này.

        Nhưng điều thú vị nhất ở Hoya Carry Out là ông bà chủ Don và Rose. Don là một người to khoẻ với hình xăm ngay trên bắp vai nở nang vào cái thời mà hình xăm vẫn còn hiếm chứ chưa xuất hiện nhan nhản trên người các ngôi sao nhạc rock, vận động viên và mấy thanh niên trẻ như bây giờ. Bà Rose để tóc búi lớn trên đầu, khuôn mặt dễ thương và luôn biết khoe vẻ đẹp thân hình của mình bằng cách mặc áo len và quần bó sát cùng giày cao gót. Rose luôn cuốn hút những cậu bé nghèo tiền nhưng giàu trí tưởng tượng, và sự hiện diện của ông Don hiền lành nhưng luôn cảnh giác khiến chúng tôi chỉ có ăn mà thôi chứ không dám làm gì thêm. Khi bà Rose làm việc, chúng tôi luôn cố ăn thật chậm để đảm bảo việc tiêu hoá được tốt.

        Trong hai năm đầu, tôi hiếm khi đi xa khỏi trường và khu vực quanh trường, một khu vực nhỏ bẻ giáp phố M và sông Potomac ở phía nam, phố Q ở phía bắc, đại lộ Wisconsin ở phía đông và trường tôi ở phía tây. Các địa điểm vui chơi của tôi ở Georgetown là quán bia Tombs nằm dưới Nhà hàng 1789, nơi hầu hết sinh viên vẫn ra đó uống bia và ăn hamburger; nhà hàng Billy Martin, nơi có không khí và đồ ăn ngon phù hợp với túi tiền của tôi; và quán Cellar Door, ngay dưới đồi chỗ ký túc xá chúng tôi trên đường M. Quán này có chơi nhạc sống tuyệt hay. Tôi được nghe Glenn Yarborough, một ca sĩ đồng quê nổi tiếng những năm 60, nghệ sĩ nhạc jazz Jimmy Smith, và một ban nhạc giờ ít người biết, ban Mugwumps, họ tan rã một thời gian ngắn sau khi tôi tới Georgetown. Hai người trong nhóm đã thành lập ban nhạc khác nổi tiếng hơn, Lovin' Spoonful. Cass Elliot, ca sĩ hát chính của nhóm sau này trở thành thành viên chính của ban "The Mamas and The Papas". Thỉnh thoảng Cellar Door mở cửa cả vào chiều chủ nhật, và bạn có thể chỉ gọi một ly coca cola và nghe Mugwumps hát hàng tiếng đồng hồ mà chỉ tốn một đôla.

        Dù thỉnh thoảng tôi cũng cảm thấy ngột ngạt ở Georgetown, nhưng phần lớn thời gian tôi cảm thấy rất hạnh phúc với lớp học và bạn bè. Tuy vậy những chuyến đi ra khỏi tổ kén cũng luôn rất vui. Vài tuần sau khi bắt đầu học kỳ một, tôi tới Thính phòng Lisner để nghe Judy Collins hát. Bây giờ tôi vẫn có thể hình dung ra cô ấy, mái tóc vàng dài, mặc váy cotton dài chấm đất đứng trên sân khấu với cây đàn guitar. Kể từ ngày đấy tôi là một fan hâm mộ của Judy Collins. Tháng 12 năm 1978, Hillary và tôi tới London trong một kỳ nghỉ ngắn sau lần đầu tôi trúng cử Thống đốc bang. Một hôm khi chúng tôi đang ngắm tủ kính cửa hàng trên đường King ở Chelsea thì nghe thấy một cửa hàng mở nhạc Judy hát bài "Chelsea buổi sáng" của Joni Mitchell. Chúng tôi cùng đồng ý ngay tại chỗ là nếu sau này có con gái sẽ đặt tên là Chelsea.

        Dù tôi không thường rời khu Georgetown nhưng tôi cũng đến New York hai lần trong học kỳ đầu tiên. Tôi về nhà Tom Campbell ở Long Island trong dịp lễ Tạ ơn. Khi đó Lyndon Johnson đã thắng cử, và tôi thích bàn luận chính trị với bố của Tom. Tôi chọc ông cụ cả đêm bằng việc hỏi khu vực đẹp đẽ nhà ông có tham gia một thoả ước "bảo vệ" nào không, loại thỏa ước mà các chủ nhà cam kết không bán nhà cho những nhóm người "lôm côm", thường là người da đen chẳng hạn. Những thoả ước kiểu vậy tương đối phổ biến cho đến khi Tòa án tối cao xác định việc đó là vi hiến. Ông cụ trả lời rằng khu vực đó có một thoả ước kiểu vậy nhưng không phải chống người da đen mà là người Do Thái. Tôi sống ở một thị trấn ở miền nam nơi có hai giáo đường Do Thái và một nhóm khá đông những người bài Do Thái và gọi dân Do Thái là "bọn giết Chúa" nhưng tôi vẫn ngạc nhiên bởi thái độ bài Do Thái vẫn tràn lan ở New York. Phải chi miền nam cũng đừng có nạn phân biệt chủng tộc và bài Do Thái thì chắc là tôi sẽ thoải mái biết mấy, nhưng thực tế không như vậy.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2015, 04:29:43 AM
        Một vài tuần trước kỳ nghỉ Lễ Tạ ơn đó, tôi đã tới New York khi tôi đi cùng ban nhạc của Georgetown, một nhóm tương đối hổ lốn. Một tuần chúng tôi chỉ tập một hoặc hai lần nhưng chơi đủ hay để được mời tới chơi hoà nhạc ở một trường Công giáo nhỏ, Đại học St. Joseph dành cho nữ ở Brooklyn. Buổi hòa nhạc diễn ra suôn sẻ và tại buổi sinh hoạt giao lưu sau đó có một sinh viên nữ mời tôi tiễn cô về nhà và vào uống Coke với cô ấy và mẹ cô ấy. Đó là lần đầu tiên tôi bước vào một trong những tòa chung cư tưởng như bất tận vốn là nơi cư ngụ của cư dân New York cả giàu lẫn nghèo. Vì không có thang máy nên chúng tôi phải leo cầu thang mới lên tới nhà cô ấy. Do đã quen với Arkansas nơi mà ngay cả những người không khá giả lắm cũng có những căn nhà một tầng có sân, nên tôi thấy chỗ ấy rất nhỏ. Tôi chỉ còn nhớ cô ấy lẫn mẹ cô đều hết sức tử tế, và tôi thật kinh ngạc vì người ta có thể có những tính cách cởi mở như vậy dù phải sống trong những không gian chật chội như vậy.

        Sau khi tạm biệt họ, tôi còn lại một mình giữa thành phố rộng lớn đó. Tôi bắt taxi tới quảng trường Times Square. Chưa bao giờ tôi thấy có nhiều đèn neon sáng đến vậy. Nơi đó thật ầm ĩ, hối hả và đầy tràn nhịp sống, và đôi khi cũng đầy tràn những mặt trái nữa. Lần đầu tiên tôi thấy những cô gái đứng đường, đang câu một anh chàng trông thật tội nghiệp mặc bộ đồ sẫm, tóc húi cua, đeo kính gọng sừng và xách cặp. Anh ta vừa thích vừa sợ, nhưng cuối cùng nỗi sợ thắng thế. Anh ta đi tiếp. Cô nàng cười, nhún vai và rồi trở lại với việc câu khách của mình. Tôi đi xem các rạp hát và các cửa hiệu, và một biển quảng cáo lớn bắt mắt tôi - Bít tết Tad - một miếng bít tết lớn giá một đô 59 xu.

        Tôi bước vào tiệm, mua miếng bít tết và ngồi vào bàn. Ngồi gần tôi có một anh chàng có vẻ đang nổi nóng và bà mẹ đau khổ của anh ta. Anh ta đang chì chiết mẹ mình bằng những lời cộc lốc: "Đó là đồ rẻ tiền, mẹ ơi. Đồ rẻ tiền!". Bà mẹ trong khi đó cứ lặp đi lặp lại rằng người bán hàng bảo món hàng đó rất tốt. Một vài phút sau tôi cũng dần hiểu ra sự tình. Bà mẹ dành dụm đủ tiền để mua cho cậu con trai chiếc máy nghe đĩa mà anh chàng này rất thích. Vấn đề là bà mẹ chỉ đủ tiền mua loại hi-fi thường trong khi anh chàng kia muốn mua loại âm thanh nổi stereo mới nghe hay hơn, và có vẻ ngon lành hơn với những thanh niên sành điệu. Bà mẹ không đủ tiền mua chiếc máy stereo. Thay vì phải biết ơn thì cậu nhóc hét lên với bà mẹ ở chỗ đông người "Đồ đạc nhà mình toàn thứ bèo bọt! Tôi muốn cái tốt!". Điều đó khiến tôi phát tởm. Tôi muốn thụi cho hắn một phát, chửi cho hắn biết rằng hắn đã rất may mắn có bà mẹ yêu thương hắn như vậy, lo đủ thức ăn và quần áo cho hắn mà hầu như chắc chắn là bằng đồng lương ít ỏi kiếm được từ một công việc tẻ ngắt nào đó. Tôi đứng lên và bực mình bước ra mà không chén hết miếng bít tết giá hời của mình. Sự việc đó ảnh hưởng rất lớn đối với tôi, có lẽ vì những gì mẹ đã làm và chịu đựng cho tôi. Điều đó khiến tôi cảm thông hơn với những người phải làm nhiều công việc mà chúng ta không muốn tự làm nhưng lại cũng không muốn trả nhiều tiền cho người khác. Tôi cũng cảm thấy mình căm ghét sự vô ơn và tự hứa mình phải luôn biết ơn những người xung quanh hơn nữa. Điều này cũng khiến tôi nên tận hưởng những giây phút may mắn ít ỏi của cuộc sống và luôn tự nhủ rằng một bước ngoặt của số phận thôi cũng có thể khiến tôi phải làm lại từ đầu hoặc thậm chí tệ hơn thế.

        Không lâu sau chuyến đi đó tôi quyết định bỏ ban nhạc để tập trung vào việc học và các công tác sinh viên. Tôi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử chủ tịch sinh viên năm nhất nhờ có chiến dịch vận động hợp lý đối với những nhóm sinh viên chủ yếu là người Công giáo Ireland và Ý ở khu miền đông. Tôi không nhớ vì sao lại quyết định tranh cử, nhưng tôi được giúp đỡ nhiều và nó cũng thú vị. Cuộc tranh cử này không có những vấn đề phải giải quyết hay phải bảo trợ gì cả nên thách thức thực sự chủ yếu phụ thuộc vào vận động chính trị cơ sở và một bài diễn thuyết. Một trong những nhân viên vận động của tôi viết cho tôi một tin nhắn cho thấy tầm mức vận động của chúng tôi: "Bill này, có vân đề ở khu New Men; Hanover đang kiếm nhiều phiếu. Ở tầng ba khu Loyola thì có thể khả quan - cho đến tận cuối dãy chỗ phòng điện thoại công cộng ấy. Nhờ Dick Hayes đấy. Mai gặp nhé. Ngủ ngon nghe bồ. King". King ở đây là John King, một động cơ không biết mệt mỏi chỉ cao có thước sáu, là đội trưởng chèo thuyền của Georgetown và là bạn học nhóm của Luci Johnson, cô con gái tổng thống Johnson đang học cùng lớp với chúng tôi. Cô ấy có lần mời King vào ăn tối trong Nhà Trắng, làm chúng tôi vừa nể vừa ghen tị.

        Vào ngày thứ ba trước cuộc bầu cử, cả lớp tập trung lại dể nghe các ứng viên diễn thuyết tranh cử. Người đề cử tôi là Bob Billingsley, một anh chàng người New York thích giao du. Chú cậu ấy là chủ nhà hàng Stob Club, và từng kể cho tôi nghe vô số chuyện về các ngôi sao từng đến nhà hàng ăn từ những năm 20 trở đi. Bob bảo tôi là người từng có quá trình làm lãnh đạo và là "người biết xoay xở và xoay xở tốt". Đến phiên mình phát biểu, tôi không nêu ra vấn đề nào mà chỉ hứa phục vụ "về mọi mặt cần thiết và vào mọi lúc" dù thắng hay thua, và cam kết sẽ cho cuộc tranh cử "một tinh thần khiến khoá chúng ta mạnh mẽ và tự hào hơn một chút khi cuộc đua này kết thúc". Đó là một nỗ lực tương đối khiêm tốn, và cũng nên như vậy vì, như người ta thường nói, lúc nào mà ta lại chẳng nên khiêm tốn.

        Đối thủ mạnh hơn trong hai người tranh cử còn lại cố thêm sức nặng cho bài diễn văn trong thời điểm vốn chẳng có mấy trọng lượng khi giải thích anh ta tranh cử vì anh ta không muốn lớp chúng tôi rơi vào "vực thẳm không đáy của sự trầm luân". Tôi chẳng hiểu nhiều lắm về chuyện đó nhưng nghe kinh khủng quá. Lời bình luận "trầm luân không đáy" đó là quá đáng, và là một cơ hội may mắn cho tôi. Chúng tôi làm việc như điên và tôi trúng cử. Sau khi kiểm phiếu, bạn tôi đã gom được một đống tiền xu để tôi có thể gọi điện về nhà và báo với gia đình rằng tôi đã thắng cử. Một cuộc nói chuyện vui vẻ, tôi được biết đầu bên kia không có trục trặc gì còn mẹ biết tôi đã vượt qua nỗi nhớ nhà.

        Dù tôi thích làm công tác sinh viên, các chuyến đi New York hoặc chỉ loanh quanh trong khu vực Georgetown, nhưng việc học mới là sự kiện chính trong năm đầu đại học của tôi. Lần đầu tiên tôi phải đi làm để kiếm tiền học. Tôi có may mắn lớn là cả sáu môn học đều được dạy bởi những giáo viên thú vị và có tài. Tất cả chúng tôi đều phải học một ngoại ngữ. Tôi chọn tiếng Đức vì tôi thích đất nước này và bị ấn tượng bởi sự rõ ràng và chính xác của ngôn ngữ đó. Tiến sĩ von Ihering, giáo sư tiếng Đức, là một người tốt bụng từng phải trốn trên gác xép ở một nông trại khi bọn Quốc xã bắt đầu đốt sách vở, trong đó có cả những cuốn sách ông viết cho trẻ em. Arthur Cozzens, giáo sư địa chất lại có chòm râu dê bạc và một phong cách kỳ quặc của các giáo sư. Tôi không khoái giờ học của ông lắm cho đến khi ông nói rằng về mặt địa chất học Arkansas là một trong những nơi thú vị nhất thế giới vì những mỏ kim cương, bô xít, các tinh thể thạch anh, và các mỏ và cấu trúc khoáng chất khác của nó.

        Tôi học môn logic với thầy Otto Hentz, một giáo sĩ Dòng Tên nhưng chưa được phong linh mục. Thầy thông minh, năng nổ và rất quan tâm tới sinh viên. Một lần thầy hỏi tôi có muốn đi ăn tối hamburger với thầy không. Tôi thấy hãnh diện quá và đồng ý. Chúng tôi lái xe lên đại lộ Wisconsin tới một quán Howard Johnson. Sau khi nói phiếm một lúc thầy Otto trở nên nghiêm túc và hỏi tôi có muốn theo Dòng Tên không? Tôi cười và trả lời "Thế em không phải chuyển qua đạo Công giáo trước ạ?". Khi tôi bảo thầy tôi là tín đồ Tin Lành Baptist, tôi còn nửa đùa nửa thật bảo thầy rằng dù tôi có theo Công giáo đi nữa thì tôi không nghĩ mình có thể giữ được lời thề giữ mình thanh sạch. Thầy lắc đầu và nói: "Tôi không tin là thế. Tôi đã đọc các bài luận và kiểm tra của cậu. Cậu viết và nghĩ như một người Công giáo". Tôi vẫn thường dùng câu chuyện này để kể với những người Công giáo khi vận động tranh cử ở Arkansas để đảm bảo với họ rằng tôi là thống đốc bang gần gũi với Công giáo nhất mà họ có thể có.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2015, 03:58:58 AM
        Một giáo sư Dòng Tên khác, thầy Joseph Sebes là một trong những người đặc biệt nhất tôi từng gặp. Gầy và gù lưng, thầy là một nhà ngôn ngữ tài năng và đặc biệt quan tâm đến châu Á. Khi những người cộng sản lên nắm quyền ở Trung Quốc thì thầy đang làm việc ở đó, và bị giam giữ một thời gian, chủ yếu là bị nhốt dưới hâm đào dưới đất. Thời kỳ khắc nghiệt đó đã làm thầy hỏng dạ dày, mất một bên thận, và khiến thầy luôn đau yếu trong suôt phần đời còn lại. Thầy dạy một môn được gọi là "Văn hoá so sánh". Lẽ ra phải gọi môn này là "các tôn giáo trên thế giới" thì đúng hơn: chúng tôi học Do Thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Thần đạo, đạo Khổng, đạo Lão, Ấn Độ giáo, Jainism, Bái hỏa giáo và nhiều tín ngưỡng khác. Tôi rất khoái thầy Sebes và học được rất nhiều từ thầy về cách các dân tộc trên thế giới định nghĩa về Thượng đế, về chân lý, và về hạnh phúc cuộc sống. Biết rõ sinh viên đến từ nhiều nước khác nhau nên thầy cho phép tất cả mọi người có cơ hội thi vấn đáp - bằng chín thứ tiếng. Trong học kỳ hai tôi được điểm A môn này, một trong bốn điểm A trong khóa và là thành tích học tập đáng tự hào nhất của tôi.

        Hai giáo viên khác của tôi quả là những người rất cá tính. Thầy Robert Irving dạy tiếng Anh luôn có những lời nhận xét khắc nghiệt đối với các sinh viên có xu hướng dài dòng và thiếu chuẩn xác. Ông thường viết những nhận xét búa bổ bên lề các bài luận, từng gọi một sinh viên là "cái bơm nhỏ thất thường đồng bóng", hay với sinh viên khác là "Cậu thành đứa ngốc rồi phải không?". Bài viết của tôi thường có những nhận xét tẻ ngắt hơn như "vụng", "ối giời", "tẻ nhạt, sến". Tôi còn giữ được một bài luận ông nhận xét là "thông minh và chín chắn" nhưng ngay sau đó lại phê "lần sau thì hãy hào phóng hơn" và "kiếm loại giây nào khá khá một chút mà viết bài!". Có lần thầy Irving đọc trước lớp một bài luận của một cựu học sinh viết về Marvell để trình bày tầm quan trọng của việc nên cẩn trọng với sử dụng ngôn ngữ. Sinh viên này đã viết Marvell yêu vợ kể cả sau khi bà ta đã chết và chêm một câu vô duyên "Đương nhiên tình yêu xác thịt hầu hết là chấm dứt sau cái chết". Thầy Irving gầm lên "Hầu hết! Hầu hết! Vậy là vẫn còn một số ông thích yêu xác chết hả?". Như thế quả là hơi "phong phú" quá đối với đám sinh viên Công giáo và một anh chàng Tin Lành như tôi. Dù rằng thầy Irving hiện nay ở đâu, tôi cũng hãi lắm khi hình dung ra cảnh ông ấy đọc cuốn sách này và phê chi chít bên lề mỗi trang sách.

        Lớp học huyền thoại nhất tại Georgetown luôn là của giáo sư Carroll Quigley với môn "Sự phát triển của các nền văn minh", môn bắt buộc của mọi sinh viên năm nhất nên thường có ít nhất 200 sinh viên trong mỗi giờ học. Dù khó nhưng giờ học khá nổi tiếng vì trí tuệ của thầy Quigley với những quan điểm và các trò quái của thầy. Mấy trò quái này có cả một bài giảng về những hiện tượng huyền bí, trong đó ông bảo chính mình đã từng thấy một chiếc bàn bay lên khỏi sàn và một phụ nữ bay lên khi gọi hồn. Bài giảng của ông cũng phê phán quan điểm của Platon lý tính tuyệt đối cao hơn các quan sát thực tế. Ông luôn kết thúc bài giảng bằng cách xé tan cuốn Republic - Nền cộng hòa của Platon, ném nó xuống cuối phòng và hét lên "Platon là tên phát xít".

        Các bài kiểm tra luôn đầy rẫy những câu hỏi nát óc như "Viết ngắn gọn nhưng mạch lạc lược sử của bán đảo Balkan từ đầu kỷ băng hà Wurm đến thời kỳ Homer" hoặc "Đâu là mối quan hệ giữa quá trình tiến hóa của vũ trụ và khía cạnh trừu tượng hóa?".

        Hai quan điểm của thầy Quigley cho đến giờ vẫn đặc biệt có ảnh hưởng. Thứ nhất, ông nói xã hội cần phát triển cách tạo ra các công cụ có tổ chức để đạt được các mục tiêu về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo và học thuật của mình. Theo thầy Quigley, vấn đề là tất cả các công cụ này về sau thường "bị thể chế hóa" - nghĩa là khi các quyền lợi nghiêng về bảo vệ đặc quyền của mình hơn là đáp ứng nhu cầu mà các công cụ ấy được lập ra để đáp ứng. Một khi điều này xảy ra, sự thay đổi chỉ có thể đến thông qua cải cách hoặc bỏ qua các thể chế đó. Nếu làm như vậy không được thì sẽ chỉ còn lại suy thoái và phản tiến bộ.

        Quan điểm thứ hai của thầy liên quan đến điểm then chốt của sự vĩ đại của văn minh phương Tây và khả năng tiếp tục đổi mới và cải cách của nó. Ông cho rằng thành công của nền văn minh phương Tây có gốc rễ ở niềm tin vô song mang tính tôn giáo và triết lý rằng: con người về bản chất là tốt; rằng chân lý có tồn tại, nhưng không một người trần mắt thịt hữu hạn nào có sẵn chân lý; rằng chúng ta chỉ có thểtiến gần đến chân lý   bằng   cách hợp tác với nhau; rằng qua niềm tin và lao động tôt thì chúng ta có thể có cuộc sống tốt đẹp hơn ở trong cuộc đời này   và phần thưởng trong kiêp sau. Theo Quigley, những ý tưởng đó   đã giúp cho nền văn minh chúng ta mang tính chất lạc quan và thực tế, cùng niềm tin kiên định về khả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. Ông tổng kết hệ tư tưởng của chúng tồi là "hướng về tương lai", với niềm tin rằng "tương lai có thể tốt hơn quá khứ, và mỗi cá nhân có trách nhiệm mang tính cá nhân và đạo đức nhằm thực hiện điều đó". Kể từ cuộc tranh cử năm 1992 và trong suốt hai nhiệm kỳ tổng thống, tôi vẫn thường xuyên trích dẫn lời giáo sư Quigley với hi vọng rằng những đồng bào người Mỹ và cả chính tôi sẽ thực hiện những gì thầy từng dạy.

        Đến cuối năm nhất tôi đã hẹn hò nghiêm túc lần đầu tiên với Denise Hyland, một cô gái Ireland. Denise cao, có khuôn mặt tàn nhang, đôi mắt đẹp, hiền hậu và nụ cười dễ làm người khác cười theo. Cô ấy quê ở vùng Thượng Montclair, New Jersey, là một trong sáu người con của một bác sĩ. Bố cô ấy từng học làm linh mục trước khi gặp mẹ cô. Denise và tôi chia tay vào cuối năm ba nhưng chúng tôi vẫn duy trì tình bạn.

        Tôi rất vui vì được về nhà, nơi ít ra tôi cũng có được bạn bè cũ và mùa hè nóng nực yêu thích của mình. Tôi có một việc làm chờ sẵn ở trại vịnh Yorktown, một trại hè cho trẻ em nghèo chủ yếu đến từ Texas và Arkansas, ngay bên hồ Ouachita, hồ lớn nhất của Hot Springs và là một trong những hồ sạch nhất ở Mỹ. Ở độ sâu 10 mét, ta vẫn có thể nhìn rõ tận đáy. Cái hồ nhân tạo này nằm trong Rừng quốc gia Ouachita nên sự phát triển quanh hồ kèm với nạn ô nhiễm được giới hạn.

        Trong nhiều tuần, sáng nào tôi cũng dậy sớm và lái xe tới trại, cách nhà tôi chừng 20 dặm, để theo dõi các hoạt động cắm trại của lũ trẻ: bơi, bóng rổ... Rất nhiều đứa trẻ ở đây cần một tuần được rời xa cuộc sống thực tại của chúng. Có một nhóc đến từ gia đình chỉ có một mẹ và sáu đứa con. Chú bé đến và không có một xu dính túi. Mẹ nó sắp chuyển nhà và nó cũng không biết là sau kì cắm trại nó sẽ về đâu. Tôi còn nói chuyện với một chú nhóc khác cố gắng nhưng không bơi được và trông tơi tả khi được kéo lên khỏi hồ. Nó bảo như thế này đã ăn nhằm gì; trong cuộc đời ngắn ngủi của nó, chú nhóc từng nuốt nhầm cây chốt khóa nịt, từng bị ngộ độc, thoát chết trong một vụ tai nạn xe hơi kinh hồn, và vừa mất cha mới ba tháng trước.

        Mùa hè trôi qua nhanh với những khoảng thời gian tuyệt vời bên bạn bè, những lá thư thú vị từ Denise, lúc đó đang ở Pháp. Tuy vậy cũng có một sự cố kinh hoàng với bố. Lần ây bố đi làm về sớm trong tình trạng say xỉn và nổi nóng. Tôi lúc này đang ở chơi nhà gia đình Yeldell, nhưng thật may là nhóc Roger ở nhà. Bố cầm một cái kéo đuổi mẹ và đẩy bà vào phòng giặt đồ ngoài bếp. Roger chạy qua nhà Yeldell và la lên "Anh hai ơi, cứu! Bố đang giết mẹ kìa!". Tôi chạy về nhà, gạt bố ra và tước được chiếc kéo. Tôi đưa mẹ và Roger vào phòng khách, rồi quay lại và nói chuyện phải quấy với bố. Tôi nhìn thấy trong mắt ông sự sợ hãi nhiều hơn là tức giận. Không lâu trước đấy người ta đã chẩn đoán rằng ông bị ung thư miệng và họng. Các bác sĩ đề nghị biện pháp chữa trị nặng, phẫu thuật mà có thể gây biến dạng mặt nhưng bố không chịu, nên họ đành cố diều trị cho ông bằng hết khả năng. Sự cố này xảy ra trong khoảng thời gian hai năm trước khi ông mất. Tôi nghĩ chính vì sự xấu hổ với cách sống của mình và sợ chết nên ông mới có cơn bùng nổ cuối cùng đó. Sau đấy ông vẫn uống rượu nhưng trở nên khép kín và thụ động hơn.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tám, 2015, 03:13:54 AM
        Sự kiện này rõ ràng có ảnh hưởng rất xấu đối với em trai tôi. Gần 40 năm sau em tôi kể lại về sự nhục nhã khi phải chạy đi kêu cứu, nỗi tuyệt vọng khi cảm thấy không cản được bố, và về cảm giác hận thù không gì xóa được về sau. Tôi cũng thấy mình thật ngu ngốc khi sau sự kiện này lại tiếp tục duy trì chính sách giả vờ như không có chuyên gì xảy ra trong gia đình và trở lại bình thường. Đúng ra, tôi phải nói với em tôi rằng tôi rất tự hào về nó, rằng chính sự cẩn trọng, tình yêu thương và sự dũng cảm của em tôi đã giúp cứu sống mẹ và rằng thật ra em tôi đã vất vả hơn tôi trong vụ đó. Đúng ra tôi nên khuyên em bỏ sự thù hận với bố vì bố đang ốm và việc thù ghét chỉ càng làm em khổ lây. Thực ra tôi cũng thường viết thư và gọi điện cho em tôi khi tôi ở xa, khuyến khích em tôi học tập, hoạt động và nói rằng tôi rất yêu nó. Tuy vậy tôi vẫn thiếu sót khi quên mất nỗi sợ hãi, sự tổn thương mà sự việc gây ra. Phải rất lâu và trải qua nhiều dằn vặt, Roger mới tìm ra được nguồn cơn của nỗi đau trong lòng.

        Dù vẫn còn lo lắng về sự an toàn của mẹ và Roger, tôi tin lời hứa của bố rằng ông sẽ không còn thô bạo nữa. Thực ra ông cũng không còn sức nên tôi thấy sẵn sàng cho năm học thứ hai của mình ở Georgetown. Vào tháng 6, tôi được một học bổng 500 đôla, và quy định mặc áo và đeo cà vạt đi học cũng được bỏ nên tôi thấy'thoải mái hơn với ngân sách 25 đô một tuần của mình. Tôi cũng tái đắc cử chức vụ lớp trưởng, lần này thì có một chương trình cụ thể tập trung vào các hoạt động tôn giáo phi hệ phái và các sáng kiến về dịch vụ cộng đồng - GUCAP, Chương trình hành động cộng đồng của Đại học Georgetown - mà chúng tôi tiếp nhận từ những sinh viên đi trước. Trong chương trình này, chúng tôi đưa sinh viên tình nguyên tới các khu dân cư nghèo quanh vùng để giúp trẻ em học tập. Chúng tôi cũng kèm người lớn học trung học theo chương trình mở rộng, và giúp các gia đình khó khăn phần nào trong cuộc sống. Tôi cũng đi tình nguyện được vài lần, dù không thường xuyên lắm. Những gì tôi học được khi lớn lên ở Arkansas và những gì chứng kiến ở nội đô Washington giúp tôi hiểu rằng các công việc tình nguyện từ thiện sẽ không bao giờ đủ để vượt qua sự khắc nghiệt của đói nghèo, phân biệt đối xử và thiếu cơ hội của rất nhiều đồng bào khốn khó của tôi. Điều đó càng khiến tôi ủng hộ các chương trình về dân quyền, quyền bầu cử và các sáng kiến chống đói nghèo của Tổng thống Johnson.

        Cũng giống như năm đầu, năm học thứ hai của tôi chủ yếu tập trung vào việc học. Đó cũng là lần cuối cùng như vậy vì kể từ đó cho đến hai năm cuối ở Georgetown, thời gian ở Oxford, ở khoa Luật, việc học của tôi luôn phải vật lộn với các vấn đề chính trị, các kinh nghiệm của bản thân và tự nghiên cứu.

        Lúc này, có quá nhiều thứ thu hút sự chú ý của tôi trong lớp học, bắt đầu từ môn tiếng Đức, những bài giảng dễ nhớ của cô Mary Bond về các văn sĩ lớn của Anh, rồi các bài giảng của thầy Ulrich Allers về Lịch sử tư tưởng chính trị. Thầy Allers là một người Đức khó tính và từng đánh giá bài viết của tôi về hệ thống luật pháp của thành Athen cổ là "hơi nhàm nhưng rất đàng hoàng". Lúc đó tôi thấy mình được khen chiếu lệ. Sau khi làm tổng thống vài năm, tôi thà giết người còn hơn bị khen như vậy.

        Tôi bị một điểm C trong môn kinh tế vi mô của giáo sư Joe White trong học kỳ một. Bù lại tôi kiếm được một điểm A khi học kinh tê vĩ mô cũng do ông dạy trong học kỳ hai. Tôi thấy cả hai điểm đó đều mang tính báo hiệu vì khi là tổng thống tôi điều hành tốt nền kinh tế đất nước nhưng lại kém chu toàn tình hình tài chính của cá nhân mình ít nhất là cho đến khi rời Nhà Trắng.

        Tôi học lịch sử châu Âu với thầy Luis Aguilar, một người gốc Cuba từng lãnh đạo phong trào dân chủ chống độc tài Batista trước khi nhà độc tài này bị Castro lật đổ. Một lần, thầy Aguilar hỏi tôi muốn làm gì trong đời. Tôi nói muốn được về nhà và làm chính trị nhưng tôi cũng thích rất nhiều thứ khác nữa. Ông trả lời tôi đầy nuối tiếc rằng "Chọn sự nghiệp của mình cũng giống như chọn vợ từ mười cô bạn gái. Dù cậu chọn cô đẹp nhất, thông minh nhất, tử tế nhất thì vẫn có nỗi đau vì mất chín cô còn lại". Dù ông thích dạy và dạy giỏi nhưng tôi có cảm giác rằng đối với thầy, Cuba chính là chín người phụ nữ còn lại gộp thành một.

        Môn học tôi nhớ nhất trong năm thứ nhì của mình là môn Hiến pháp và chính quyền Mỹ của giáo sư Walter Giles - môn mà thầy dạy chủ yếu là thông qua các vụ kiện ở Tòa án tối cao. Thầy là một người đàn ông độc thân, tóc đỏ cắt húi cua, cuộc sống lúc nào cũng gắn liền với sinh viên, với tình yêu dành cho hiến pháp và công bằng xã hội, niềm đam mê với đội Washington Redskin, dù họ thắng hay thua. Thầy thường mời sinh viên tới nhà ăn tối, và một số ít còn may mắn được cùng thầy đi xem Redskin đấu. Thầy Giles là người đảng Dân chủ có xu hướng tự do ở Oklahoma, nơi mà loại người như vậy thời đó đã không nhiều và bây giờ lại càng hiếm đên mức có thể đưa thầy vào danh sách được Luật bảo vệ các chủng loài bị đe dọa tuyệt chủng.

        Tôi nghĩ thầy quan tâm đến tôi vì tôi đến từ một bang giáp với Oklahoma, dù thầy cũng hay trêu tôi về vụ đó. Thường là đến giờ thầy thì tôi đã đạt đến ngưỡng thiếu ngủ trầm trọng nên tôi có thói quen đôi khi rất phiền hà là ngủ gật chừng năm mười phút rồi sau đó khỏe lại. Tôi ngồi ngay bàn đầu trong lớp, nên thầy rất dễ phát hiện ra. Một lần khi tôi đang gà gật, thầy liền nói to lên rằng một phán quyết nào đó của Tòa án tối cao là rất rõ ràng và ai cũng hiểu, "tất nhiên là trừ những ai đến từ một thị trấn xó xỉnh nào đấỵ ở Arkansas". Tôi bật dậy trong những tràng cười của lũ bạn trong lớp, và sau đó không bao giờ ngủ gật trong giờ của thầy nữa.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2015, 12:43:48 PM
 
        10

        Sau năm thứ hai tôi về nhà, không có việc làm nhưng hiểu rõ mình muốn làm gì. Lúc ấy là kết thúc của một kỷ nguyên ở Arkansas - sau sáu nhiệm kỳ, Orval Faubus không ra tái tranh cử thông đốc nữa. Cuối cùng thì tiểu bang của chúng tôi cũng có cơ hội thoát khỏi những vết sẹo của sự kiện Little Rock và tì vết của thói thiên vị thân quen tràn lan trong những năm cầm quyền về sau này của ông ta. Tôi muốn tham gia làm việc trong cuộc chạy đua vào chức thống đốc, vừa để hiểu biết chính trị, vừa để góp phần nhỏ bé của mình vào việc đưa Arkansas đi theo một con đường tiến bộ hơn.
Những tham vọng bị dồn nén trong thời Faubus đẩy nhiều ứng viên vào cuộc đua, bảy người phe Dân chủ và một ứng viên Cộng hòa lớn, Winthrop Rockefeller, con thứ năm trong gia đình sáu anh em của John D. Rockefeller Jr., người đã rời bỏ đế chế của cha mình để trông coi công việc từ thiện của Quỹ Rockefeller; và do ảnh hưởng của người vợ Abby có đầu óc thông thoáng hơn và chính khách tự do người Canada Mckenzie King nên ông ta cũng đã rời bỏ luôn thái độ chính trị bảo thủ, chống người lao động của cha mình; và cuối cùng là rời bỏ quan điểm tôn giáo bảo thủ của cha mình để thành lập ra Nhà thờ liên hệ phái Riverside ở thành phố New York cùng với Harry Emerson Fosdick.

        Winthrop hình như có số làm đứa con "hư" của gia đình. Ông ấy bị đuổi khỏi trường Yale và bỏ đi làm cho các giếng dầu ở Texas. Sau khi phục vụ xuất sắc trong Thế chiến hai, ông ấy cưới một nhân vật nổi tiếng ở New York và lấy lại danh tiếng ăn chơi tài tử của mình. Năm 1953, ông ấy chuyển đến Arkansas, một phần vì một người bạn thời quân ngũ ờ đây rủ ông mở một trang trại chăn nuôi, một phần vì luật ly hôn của tiểu bang này chỉ đòi hỏi có 30 ngày mà ông thì đang muốn chấm dứt cuộc hôn nhân đầu tiên ngắn ngủi của mình. Rockefeller là một người to khổng lồ, cao gần mét chín, nặng khoảng 120 ký. Ông ấy thực sự hạp với Arkansas, nơi mà ai cũng gọi ông là Win, một cái tên không đến nỗi tồi với một chính khách (Win, tiếng Anh nghĩa là chiến thắng - ND). Ông luôn đi giày cao bồi và đội nón nỉ Stetson, sau này trở thành dấu ấn riêng của ông. Ông mua một khoảnh lớn của núi Petit Jean, cách Little Rock khoảng 50 dặm, thành công trong việc nuôi bò giống Santa Gertrudis, và cưới vợ lần nữa, bà Jeannette.

        Chuyển đến bang mới, ông cố gắng rũ bỏ hình ảnh tay chơi từng tàn hại đời ông ở New York. Ông gầy dựng lại tổ chức đảng Cộng hòa còn yếu ở Arkansas và nỗ lực đem các ngành công nghiệp đến tiểu bang nghèo nàn của chúng tôi. Thống đốc Faubus bổ nhiệm ông làm Chủ tịch ủy ban phát triển công nghiệp Arkansas, và ông đã tạo thêm được nhiều công ăn việc làm. Năm 1964, nóng lòng vì hình ảnh lạc hậu của Arkansas, ông ra tranh chức thống đốc với Faubus. Mọi người đều đánh giá cao những gì ông đã làm, nhưng Faubus có cơ sở ở từng hạt một; phần lớn dân chúng, đặc biệt là ở miền quê Arkansas, vẫn ủng hộ quan điểm phân cách chủng tộc của ông ta hơn là quan điểm vì dân quyền của Rockefeller; và Arkansas vẫn còn là một tiểu bang theo đảng Dân chủ.

        Ngoài ra, ông Rockefeller nhút nhát kinh khủng này lại không có tài ăn nói, một nhược điểm càng tồi tệ hơn do thói nhậu nhẹt của ông, và khiến ông hay trễ hẹn nhiều đến mức so ra thì tôi là người cực kỳ đúng hẹn. Một lần ông vừa chuếnh choáng vừa đến trê hơn cả tiếng tại một bữa tiệc của phòng thương mại ở Wynne, thủ phủ hạt Cross, đông Arkansas, nơi ông phải phát biểu. Khi ông đứng lên mở lời, ông nói "Hôm nay tôi rất vui được đến • Khi ông nhận ra là không biết mình đang ở đâu, ông hỏi nhỏ người dân chương trình, "Đây là đâu?". Người dẫn chương trình thì thào trả lời: "Wynne". Ông lại hỏi lại, người kia lại trả lời như vậy. Thế là ông chịu hết nổi, "Bô khỉ, tôi biết tên tôi rồi! Tôi hỏi đây là chỗ nào mà?" (Wynne trong tiếng Anh phát âm giống như biệt danh Win của ông - ND). Chuyện này lập tức lan truyền nhanh như chớp ra khắp tiểu bang, nhưng thường là để cười không ác ý, vì ai cũng biết Rockefeller tự chọn làm người Arkansas và thực sự mong muốn lợi ích cho tiểu bang. Năm 1966, Rockefeller lại ra tranh cử nữa, nhưng ngay cả khi không còn Faubus nữa, tôi cũng không nghĩ là ông ấy có thể thắng cuộc.

        Ngoài ra, tôi còn muốn ủng hộ một ứng viên tiến bộ của đảng Dân chủ. Người tôi có thiện cảm nhất là Brooks Hays, người mất ghế ở quốc hội năm 1958 vì ủng hộ việc trường Trung học Little Rock mở cửa cho học sinh da màu. Ông bị đối thủ Dale Alford, một bác sĩ nhãn khoa theo chủ nghĩa kỳ thị, trong một chiến dịch bỏ phiếu viết thành công, một phần nhờ vào các mảnh giấy dính có viết tên ông ta và có thể dùng dán vào phiếu bầu dành cho những cử tri không biết chữ nhưng lại đủ "khôn ngoan" để biết rằng người da đen và người da trắng không nên học cùng một trường. Hays là một tín hữu ngoan đạo, từng làm chủ tịch Liên hữu Baptist Phương Nam trước khi đa số các túi hữu Baptist của tôi quyết định chỉ có những người bảo thủ mới được lãnh đạo họ, hoặc lãnh đạo đất nước. Ông ấy là một người tuyệt vời, thông minh, khiêm tốn, có óc hài hước, và cực kỳ tử tế, ngay cả với những nhân viên làm việc tranh cử cho ứng viên đối thủ.

        Thật trớ trêu, bác sĩ Alford cũng tham gia cuộc đua giành chức thống đốc, và ông ta cũng không thắng nổi, vì những kẻ phân biệt chủng tộc còn có một ứng viên khác trong cuộc đua đến chức thống đốc: Thẩm phán Jim Johnson, người từ giới nghèo khổ ở Crossett, đông nam Arkansas, leo lên đến tận tòa tối cao tiểu bang nhờ vào tài hùng biện mà ngay cả phong trào Ku Klux Klan (KKK - phong trào theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc - ND) cũng ủng hộ ông tranh cử thống đốc. Ông này thậm chí cho rằng Faubus vẫn còn nương tay về dân quyền; dù gì đi nữa thì Faubus cũng có bổ nhiệm vài người da đen vào các ủy ban của tiểu bang. Với Faubus, một người theo chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là một con bài chính trị. Để thắng cử, ông ta thích làm những việc như cải thiện trường học và các nhà dưỡng lão, xây đường sá và cải tạo bênh viện tâm thần hơn là công kích chủng tộc. Đó là cái giá để có thể tại vị. Nhưng với Johnson thì phân biệt chủng tộc là một thứ thần học. Ông ta ngoi lên được nhờ vào hận thù. Mặt mũi ông ta sắc nét cặp mắt thì sáng nhưng hơi dại, làm ông ta có cái vẻ "gầy và khát khao" mà so ra thì Cassius của Shakespeare cũng phải ghen tị. Và ông ta là một chính khách tinh quái, biết rất rõ khối cử tri của mình nằm ở đâu. Thay vì tổ chức diễn thuyết liên miên như những ứng viên khác làm, ông ta tự mình đi khắp nơi trong tiểu bang cùng với ban nhạc chuyên chơi nhạc đồng quê và viễn tây mà ông ta dùng để thu hút đám đông. Sau đó ông ta sẽ khích mọi người nổi điên lên với những lời gào thét thoá mạ người da đen và những người da trắng tráo trở có thiện cảm với họ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2015, 03:29:53 AM
        Lúc ấy tôi chưa nhận ra, nhưng ông ta lôi kéo được sự ủng hộ ở những người mà các ứng viên khác không chạm tới được: những người khó chịu vì các chính sách liên bang về dân quyền, khiếp sợ trước vụ bạo loạn ở Watts và những xung đột chủng tộc khác, những người tin rằng Cuộc chiến chống nghèo đói đồng nghĩa với việc đem lại phúc lợi kiểu xã hội chủ nghĩa cho người da đen, và uất ức vì những khó khăn kinh tế của chính họ. về mặt tâm lý, tất cả chúng ta đều là một hỗn hợp những hy vọng và sợ hãi. Mỗi ngày chúng ta thức dậy, cán cân giữa hai thứ đó khi thì nghiêng bên này, lúc thì nghiêng bên kia. Nếu nó nghiêng quá về bên hy vọng, chúng ta có thể trở nên ngây thơ và phi thực tế. Nếu nó nghiêng về bên ngược lại, chúng ta có thể bị tràn ngập bởi lòng hận thù và sợ hãi hoang tưởng. Ở miền Nam, chiều tiêu cực của cán cân này đã luôn là một vấn đề lớn. Vào năm 1966, Jim Johnson chính là người đã đẩy cán cân nghiêng hẳn về phía đó.

        Ứng viên khả dĩ nhất có cơ may thắng cử cũng là một thẩm phán Tòa án tối cao và là cựu Bộ trưởng tư pháp, Frank Holt. Ông ta được các nhóm tòa án và các nhóm lợi ích doanh nghiệp lớn ủng hộ, nhưng ông ta tiến bộ hơn Faubus về các vấn đề chủng tộc, và tuyệt đối chân thành và tử tế. Hầu như tất cả ai từng biết Frank Holt đều ngưỡng mộ ông (ngoại trừ những người cho rằng ông quá dễ dãi nên không thể tạo nên sự thay đổi thực sự nào). Frank Holt cả đời mong làm thống đốc, và cũng muốn tiếp nối di sản của gia đình mình; anh trai Jack của ông - người theo chủ nghĩa dân túy miền nam kiểu cũ - trước đó vài năm đã thua trong một cuộc đua nóng bỏng vào thượng viện với thượng nghị sĩ bảo thủ của bang chúng tôi, John McClellan.

        Bác Raymond Clinton của tôi là một ủng hộ viên tích cực của Frank Holt và bảo tôi rằng bác có thể đưa tôi vào làm việc cho chiến dịch tranh cử. Ông Holt đã có được sự ủng hộ của một số lãnh đạo sinh viên trong các trường đại học ở Arkansas, những thủ lĩnh này tự gọi mình là "Thế hệ Holt". Chẳng bao lâu tôi được nhận vào làm với lương 50 đôla một tuần. Tôi đoán bác Raymond dùng tiền lo lót cho tôi được như vậy. Vì tôi trước đó chỉ có 25 đôla một tuần ở Georgetown, nên tôi cảm thấy mình giàu có hẳn lên.

        Mấy sinh viên kia lớn hơn tôi và cũng có thế hơn tôi. Mac Glover là chủ tịch hội sinh viên Đại học Arkansas; Dick King là chủ tịch hội sinh viên Đại học sư phạm Arkansas, Paul Fray là chủ tịch tổ chức Những người Dân chủ trẻ ở trường Ouachita Baptist; Bill Allen là cựu thống đốc Boys State của Arkansas và là thủ lĩnh sinh viên ở Đại học Memphis, chỉ cách bang Arkansas con sông Mississippi; Leslie Smith là một cô gái đẹp và thông minh, dòng dõi một gia đình chính trị có thế lực, và cũng từng đoạt giải Hoa khôi thiếu nữ Arkansas.

        Từ đầu chiến dịch vận động, tôi rõ ràng chỉ là nhân viên loại hai trong Thế hệ Holt. Công việc của tôi bao gồm đóng các bảng ghi "Hãy bầu Holt làm Thống đốc" lên cây cối, thuyết phục dân chúng dán khẩu hiệu tranh cử cho ông Holt lên thanh cản xe, và phát tờ rơi tại các cuộc tập hợp trong tiểu bang. Một trong những cuộc tập hợp quan trọng nhất, lúc đó cũng như sau này khi tôi là ứng viên, là ở núi Nebo Chicken Fry. Núi Nebo là một nơi đẹp nhìn xuống sông Arkansas ở hạt Yell, tây Arkansas, nơi dòng họ Clinton định cư hồi xưa. Dân chúng sẽ đến dự vì có thức ăn, có nhạc, và để nghe hàng loạt các bài diễn thuyết của các ứng viên, từ tranh cử vào các chức vụ địa phương cho đến chức thống đốc tiểu bang.

        Không lâu sau khi tôi tới đấy và bắt đầu hoạt động trong đám đông, các đối thủ của chúng tôi cũng đến. Thẩm phán Holt đến trễ. Khi đối thủ của ông đã bắt đầu nói, ông vẫn chưa có mặt. Tôi bắt đầu lo lắng. Sự kiện này đâu thể vắng mặt được. Tôi ra điện thoại công cộng và gọi tìm ông, lúc bấy giờ rất khó vì chưa có điện thoại di động- Ông nói ông không thể đến kịp trước khi các bài diễn văn kết thúc, và bảo tôi nên nói thay giùm ông. Tôi ngạc nhiên và hỏi có chắc là ông muốn như vậy không. Ông bảo tôi biết rõ lập trường của ông và tôi nên nói cho người dân nghe lập trường đó. Khi tôi bảo ban tổ chức là thẩm phán Holt không đến kịp và hỏi xem tôi nói thay có được không, tôi sợ chết khiếp; nói thế này còn khó hơn là tự nói cho mình. Khi tôi nói xong, dân chúng cũng lịch sự đón nhận. Tôi không nhớ mình nói gì, nhưng chắc là cũng tạm được, vì sau đấy ngoài nhiệm vụ treo bảng và phát khẩu hiệu dán cản xe, tôi được yêu cầu nói giùm thẩm phán Holt trong một số cuộc tập hợp nhỏ mà ông không đích thân dự được. Có quá nhiều cuộc tập hợp như vậy, không ứng viên nào có thể dự hết được. Arkansas có đến 75 hạt, và ở nhiều hạt lại có đến mấy cuộc tập hợp như vậy.
Sau vài tuần, ban vận động tranh cử quyết định vợ của thẩm phán, bà Mary, cùng các con gái Lyda và Melissa, phải lên đường để đến những nơi ông ấy không đến được. Mary Holt là một phụ nữ cao, thông minh và độc lập, chủ một cửa hàng quần áo thời trang ở Little Rock; Lyda là sinh viên Đại học Mary Baldwin ở Staunton, Virginia, nơi Woodrow Wilson ra đời; Melissa còn học trung học. Họ đều hấp dẫn và có tài ăn nói, và họ đều ngưỡng mộ thẩm phán Holt và nhiệt tình với chiến dịch vận động. Họ chỉ cần thêm người lái xe mà thôi, và không biết vì sao tôi lại được chọn.

        Chúng tôi đi lòng vòng khắp tiểu bang. Chúng tôi đi mỗi chuyến kéo dài cả tuần, chỉ quay về Little Rock để giặt quần áo và nghỉ lấy sức cho chuyến kế tiếp. Hoạt động này rất vui. Tôi thực sự hiểu thêm về tiểu bang và học hỏi được nhiều sau hàng giờ trò chuyện với bà Mary và các cô con gái. Một đêm chúng tôi đến Hope để dự một cuộc tập hợp trên bậc thềm của tòa án. Vì bà tôi có mặt trong đám đông nên bà Mary đã khéo léo mời tôi lên nói chuyện với người dân quê mình, dù lẽ ra Lyda mới là người diễn thuyết hôm đó. Tôi đoán cả hai người đều biết rằng tôi muốn có được một cơ hội chứng tỏ rằng tôi đã trưởng thành. Đám đông lắng nghe tôi đàng hoàng, thậm chí tôi còn được tờ báo địa phương Hope Star nhắc đến. Việc này làm bố tôi buồn cười vì hồi ông còn làm đại lý xe Buick ở Hope, người chủ bút tờ báo này không ưa ông đến độ ông ta nuôi một con chó xấu xí, đặt tên nó là Roger rồi thường xuyên thả nó ra gần chỗ buôn bán xe của bố để ông ta có thể ra đấy và hét lên, "Roger, lại đây mau, Roger! Đây nè, Roger!".

        Tối hôm đó tôi dắt Lyda đi xem căn nhà tôi từng ở trong bốn năm đầu đời và chỗ cái cầu vượt bằng gỗ cho xe lửa mà tôi hay ra chơi. Hôm sau chúng tôi ra nghĩa trang thăm mộ của gia đình bà Mary Holt, và tôi chỉ cho họ chỗ mộ cha và ông tôi.

        Tôi nâng niu những kỷ niệm trong các chuyến đi này. Tôi đã quen bị phụ nữ sai bảo rồi nên cũng dễ hòa đồng, và chắc là tôi cũng hữu ích cho họ. Tôi thay vỏ xe, giúp một gia đình chạy khỏi nhà đang cháy, và bị đám muỗi làm thịt - mấy con muỗi to đến mức ta có thể cảm thấy nó chọc thủng da mình. Trong lúc lái xe trên đường suốt nhiều giờ liền, chúng tôi hay nói chuyện về chính trị, con người và sách vở. Và tôi nghĩ chúng tôi cũng kiếm được một số phiếu.

        Không lâu trước cuộc tập hợp ở Hope, ban tranh cử quyết định đưa ra một đoạn phim 15 phút trên truyền hình chiếu cảnh các sinh viên làm việc cho thẩm phán Holt; họ nghĩ làm như vậy sẽ vẽ ra hình ảnh ông Holt như ứng viên của tương lai Arkansas. Nhiều người trong chúng tôi nói vài phút về lý do chúng tôi ủng hộ ông. Tôi không rõ đoạn phim ấy có giúp gì được không, nhưng tôi thích thú với lần đầu xuất hiện trên tivi, dù tôi cũng chẳng được xem. Tôi còn phải đi nói ở một cuộc tập hợp khác nữa ở Alread, một nơi xa xôi trong hạt Van Buren trong vùng núi trung-bắc Arkansas, ứng viên nào chịu khó lên tận đây thường là chiếm được phiếu, và tôi cũng bắt đầu nhận ra rằng chúng tôi cần càng nhiều phiếu càng tốt.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2015, 01:26:07 AM
        Trong những tuần lễ hè oi ả đó, tôi càng thấy nhiều bằng chứng rằng miền Nam cổ Hủ vẫn chưa mất hẳn, còn miền Nam Mới lại chưa đủ mạnh để thế chỗ. Phần lớn các trường học vẫn còn đơn chủng, và sự chống đối màu da vẫn còn mạnh. Một tòa án hạt ở đồng bằng Mississippi vẫn còn có bảng ghi "da trắng" và "da màu" trên cửa phòng vệ sinh công cộng. Khi tôi đề nghị một phụ nữ da đen lớn tuổi ở một thị trấn khác bỏ phiếu cho Thẩm phán Holt, bà bảo bà không thể vì bà chưa đóng thuế bầu cử. Tôi bảo quốc hội đã bãi bỏ thuế bầu cử hai năm trước rồi và bà chỉ cần đăng ký là được. Tôi không biết bà ấy có đăng ký sau đó hay không.

        Tuy nhiên, đã có những tín hiệu của một ngày mới. Khi vận động ở Arkadelphia, cách Hot Springs 35 dặm về phía nam, tôi gặp ứng viên dẫn đầu cuộc tranh cử chiếc ghế quốc hội nam Arkansas một thanh niên tên David Pryor. Anh ấy rõ ràng là một người tiến bộ và nghĩ rằng nếu anh gặp được đủ số người thì anh có thể thuyết phục phần lớn họ bỏ phiếu cho anh. Anh làm được điều này vào năm 1966, một lần nữa vào năm 1974 khi ra tranh cử thống đốc, và thêm một lần nữa khi tranh cử vào thượng viện năm 1978. Khi anh về hưu, tôi rất buồn vì điều đó, và rút khỏi thượng viện năm 1996, David Pryor vẫn là chính khách được ưa chuộng nhất ở Arkansas, với một di sản tiến bộ đáng kể. Ai cũng coi anh ấy như một người bạn, và tôi cũng nằm trong số đấy.

        Kiểu vận động chính trị với từng cử tri mà Pryor rất giỏi là quan trọng đối với các bang miền quê như Arkansas, nơi hơn một nửa dân chúng sống trong các thị trấn không quá năm ngàn dân, và hàng chục ngàn người khác sông ở "nơi thôn dã". Lúc ấy vẫn chưa đến thời kỳ của quảng cáo trên truyền hình, đặc biệt là những kiểu quảng cáo tiêu cực, nếu xét đến vai trò to lớn của nó trong tranh cử thời nay. Các ứng viên chủ yếu là mua thời lượng phát sóng trên truyền hình và nhìn vào ống kính thu hình mà nói chuyện với cử tri. Hồi đó các ứng viên thường phải đến các tòa án và doanh nghiệp chính ở từng thủ phủ hạt một, sục vào bếp của từng quán ăn một, vận động ở những hội chợ bán đấu giá gia súc. Các hội chợ hạt và những bữa tiệc bánh ngọt là những mảnh đất màu mỡ cho việc vận động tranh cử. Và tất nhiên, các tuần báo và đài phát thanh địa phương cũng trông đợi một chuyến viếng thăm hoặc sẽ có một vài quảng cáo tranh cử. Đó là cách tôi học làm chính trị. Tôi cho rằng như thế tốt hơn là tranh giành thời lượng phát sóng truyền hình. Bạn có thể nói, nhưng bạn cũng phải lắng nghe nữa. Bạn phải trả lơi những câu hỏi hóc búa của cử tri một cách trực tiếp. Tất nhiên, bạn vẫn có thể bị bôi nhọ, nhưng ít ra thì các đối thủ của bạn phải lam việc cực nhọc hơn bạn để có thể làm được như vậy. Và khi bạn thách thức đối thủ, bạn phải chấp nhận như vậy chứ không thể trốn đằng sau một cái ủy ban giả tạo nào đó vốn chỉ mong kiếm được tiền khi bạn tại chức nếu như những công kích của ủy ban đó có thể tiêu diệt ứng viên kia.

        Dù tranh cử kiểu vậy mang tính cá nhân nhiều hơn, nhưng không chỉ đơn gỉản là những cuộc cạnh tranh về tính cách. Các vấn đề lớn cũng cần phải được xem xét. Nếu dư luận công chúng đang ở vào một trào lưu nào đấy mà bạn không thể hòa nhập vào cơn thủy triều ấy một cách có lương tâm thì bạn phải cứng rắn, có kỷ luật và phản ứng nhanh để không bị nó cuốn trôi.

        Năm 1966, Jim Johnson - hoặc "Ông tòa Jim" như ông ta thích được gọi - đã cưỡi lên cơn thủy triều đó và tạo ra những đợt sóng xấu xa nhưng rộng lớn. Ông ta tấn công Frank Holt và gọi Holt là "một loại thực vật hiền hòa", và ngụ ý rằng Rockefeller quan hệ đồng tính luyến ái với đàn ông da đen - một điều thật nực cười nếu xét đến danh tiếng hảo ngọt trước đây của ông này. Thông điệp của Ông tòa Jim chỉ là phiên bản mới nhất cho một giai điệu cũ thường được rót vào tai cử tri miền Nam da trắng trong những thời điểm bấp bênh về kinh tế và xã hội: các bạn là những người tử tế, tốt bụng và kính Chúa; "bọn nó" đang đe dọa lối sống của các bạn; các bạn không cần phải thay đổi gì cả; mọi tội lỗi là do bọn nó; hãy bầu tôi lên và tôi sẽ đấu tranh cho các bạn và cho chúng nó một trận. Sự chia cắt chính trị muôn thuở, Chúng ta chống lại Chúng nó. Thật bần tiện, xấu xa và cuối cùng thì tự hoại đối với những ai tin tưởng vào những điều đó, nhưng như chúng ta ngày nay vẫn còn thấy, khi người ta cảm thấy bất mãn và bất ổn thì kiểu nói vậy vẫn thường có tác dụng. Vì Johnson cực đoan đến thế trong lời ăn tiếng nói, và hầu như chẳng thấy xuất hiện ở các nẻo đường tranh cử thông thường nên phần lớn các quan sát viên chính trị tưởng rằng lần này kiểu vận động ấy sẽ chẳng được gì. Ngày bầu cử tới gần, Frank Holt từ chối đáp trả những đòn đánh của Johnson cũng như của các ứng viên khác, lúc đó cũng cho rằng ông Holt đang vượt xa và bắt đầu tấn công ông vì ông là ứng viên "cho guồng máy cận vệ già". Thời bấy giờ không có nhiều các cuộc thăm dò và phần lớn người ta cũng không hưởng ứng gì lắm với những cuộc thăm dò ít ỏi.

        Chiến lược của Holt nghe thì hay đôi với những người trẻ tuổi tốt bụng chung quanh ông, như tôi chẳng hạn. Ông ấy chỉ đáp trả moi lời buộc tội bằng một tuyên bố rằng ông hoàn toàn độc lập rằng ông sẽ không đáp trả những cáo buộc vớ vẩn hoặc những đòn tấn công từ các ứng viên khác, và rằng ông muốn thắng cử bằng giá trị của chính mình "hoặc không thắng gì cả". Cuối cùng tôi cũng hiểu ra những câu nói kiểu như vậy thường được dùng bởi những ứng viên quên rằng chính trị là một môn thể thao đối kháng. Chiến lược đó có thể có tác dụng nếu tâm trạng dân chúng còn bình ổn và đầy hy vọng và khi ứng viên ấy có một cương lĩnh với những đề xuất về chính sách nghiêm túc, cụ thể, nhưng vào mùa hè năm 1966, tâm trạng dân chúng may ra thì được coi là lẫn lộn, và cương lĩnh của ông Holt thì quá chung chung nên không thể tạo ra một xáo động lớn nào. Ngoài ra, những người chỉ muốn có một ứng viên chống lại nạn phân cách còn có thể bỏ phiếu cho Brooks Hays.

        Bất chấp những cú tấn công nhắm vào ông, phần lớn dân chúng vẫn cho rằng Frank Holt sẽ vẫn dẫn đầu nhưng sẽ không đủ đa số phiếu, và vào vòng đấu kế tiếp hai tuần sau đó ông cũng sẽ thắng. Ngày 26 tháng 7, dân chúng - khoảng 42 ngàn người - nói lên tiếng nói của mình. Kết quả làm các chuyên gia ngạc nhiên. Johnson dẫn đầu với 25% số phiếu, Holt thứ nhì với 23%, Hays về ba với 15%, Alford được 13%, và ba ứng viên khác chia nhau phần còn lại.

        Chúng tôi bị sốc nhưng chưa mất hết hy vọng. Thẩm phán Holt và Brooks Hays gom nhiều phiếu hơn hai người theo phái phân cách kia là Johnson và Alford chút ít. Bên cạnh đó, tại một trong những cuộc tranh cử lập pháp khá thú vị, một dân biểu hạ viện kỳ cựu lâu năm, Paul Van Dalsem, đã thất bại dưới tay một luật sư trường Yale trẻ tuổi và tiến bộ, Herb Rule. Vài năm trước Van Dalsem từng chọc giận những ủng hộ viên của phong trào nữ quyền bằng lời tuyên bố rằng phụ nữ cần phải bị giữ ở nhà "đi chân đất và có bầu". Chuyện này giúp Herb, người sau này chung phần với Hillary ở Công ty luật Rose, có được một đạo quân tình nguyện viên nữ giới, những người tự gọi mình là "Phụ nữ chân đất ủng hộ Rule".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2015, 03:15:01 AM
        Kết quả của bầu cử vòng hai thật khó đoán, vì những vòng đấu trực tiếp kiểu này chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ cử tri đi bầu, và ứng viên sẽ phải làm tốt hơn việc kêu gọi các cử tri ủng hộ mình quay trở lại phòng phiếu cũng như thuyết phục những ai từng bỏ phiếu cho các ứng viên bị loại ở vòng đầu hoặc chưa bỏ phiếu chuyển sang ủng hộ mình. Thẩm phán Holt đã rất cố gắng để biến cuộc bỏ phiếu lần hai này trở thành một sự lựa chọn giữa miền Nam cũ và miền Nam mới. Johnson thực ra không làm gì được để phá nổi cách sắp đặt đó khi ông ta lên tivi để nói với cử tri rằng ông ta đứng chung "với Daniel trong ổ sư tử" và "với thánh Gioan Tiền hô trong triều đình của vua Herod" để chống lại sự hòa nhập chủng tộc vô thần. Tôi nhớ trong buổi nói chuyện đó hình như Ông tòa Jim thậm chí còn leo lên cả con ngựa của Paul Revere.

        Dù chiến lược của Holt là khôn khéo và Johnson thì sẵn sàng chấp nhận trận đấu theo kiểu chọn giữa miền Nam mới và cũ, cách tiếp cận của Holt có hai rắc rối. Thứ nhất, cử tri phe miền Nam cũ là nhóm có động cơ đi bầu và tin chắc rằng Johnson chính là người đại diện cho họ, trong khi nhóm cử tri phe miền Nam mới lại không chắc chắn được như vậy với Holt. Việc ông không chịu chống trả mãi cho đến sau này đã càng làm họ nghi ngờ và giảm ý muốn bầu cho ông. Thêm nữa là có một số ủng hộ viên của Rockefeller muốn bỏ phiếu cho Johnson vì họ nghĩ người của họ sẽ dễ dàng đánh bại ông ta hơn là phải chống với Holt, và bất kỳ ai, dù Dân chủ hay Cộng hòa, cũng có thể bỏ phiếu trong vòng đấu trực tiếp của đảng Dân chủ nếu như họ chưa bầu trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Cộng hòa. Chỉ có 19.646 người làm như vậy, vì Rockefeller không có đối thủ. Vào ngày bầu cử vòng đấu trực tiếp, số người đi bầu chỉ kém có năm ngàn người so với cuộc bầu cử sơ bộ. Mỗi ứng viên đều được gấp đôi số phiếu so với lần đầu, và Johnson thắng với chênh lệch 15 ngàn phiếu, đạt 52% so với 48% của đối thủ.

        Tôi không thể chịu nổi kết quả như vậy. Tôi rất thương mến thẩm phán Holt và gia đình ông, và đã tin ông ấy còn có thể làm một thống đốc tốt hơn là một ứng viên. Tôi lại càng không ưa những giá trị mà Ông tòa Jim là đại diện. Điểm sáng duy nhất là Rockefeller, người thực sự có cơ hội chiến thắng. Đến vòng thứ hai thì ông cũng có tổ chức tốt hơn. Ông chi tiền như thể tiền không còn giá trị gì nữa, thậm chí còn mua hàng trăm xe đạp cho trẻ em da đen nghèo. Vào mùa thu ông chiếm được 54,5% phiếu. Tôi rất tự hào về tiểu bang của mình. Lúc ấy tôi đã quay lại Georgetown và không trực tiếp chứng kiến diễn biến của chiến dịch vận động, nhưng nhiều ngừời bình phẩm rằng Johnson có vẻ như không đặc sắc lắm trong cuôc tổng tuyển cử. Có lẽ vì nguồn tài chính có hạn, nhưng còn có tin đồn ông ta có thể đã được Rockefeller "khuyến khích" rằng phải tam thời nằm yên. Tôi không biết có chuyện đó hay không.

        Ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn ngưng đọng trong những năm Carter cầm quyền, khi tôi là ủng hộ viên của Tổng thống Carter ở Arkansas, và khoảng thời gian ông ta muốn con trai mình được bổ nhiệm vào một chức vụ liên bang, Jim Johnson lúc nào cũng thiên về cánh hữu và ngày càng thù hằn đối với tôi. Vào thập niên 80, cũng giống như bao nhiêu người phe bảo thủ ở miền Nam, ông ta theo đảng Cộng hòa. Ông ta tranh cử một lần nữa vào Tòa án tối cao và thất bại. Sau đó, ông ta thường giở trò khuấy động từ hậu trường. Khi tôi tranh cử tổng thống, ông ta trực tiếp và gián tiếp thêu dệt những chuyên rất khéo với tất cả những ai cả tin đến mức có thể tin ông ta, và có một số đáng kinh ngạc những nhân vật trong cái gọi là giới truyền thông tự do ở miền đông mà ông ta ưa sỉ vả cũng tin vào mấy chuyện này, đặc biệt là những thêu dệt về vụ Whitewater. Ông ta là một con chó rừng già khôn ngoan. Chắc hẳn ông ta rất vui khi lừa phỉnh họ, và nếu như những người thuộc đảng Cộng hòa ở Washington mà thành công trong việc tống cổ tôi khỏi đó, ông ta chắc cũng có thể cười vui với chiến thắng bất ngờ ấy.

        Sau chiến dịch vận động tôi được dịp xả hơi bằng chuyến đi đầu tiên của mình tới bờ Tây nước Mỹ. Một khách hàng quen thuộc của bác Raymond muôn có một chiếc Buick mới mà ông ta còn thiếu. Bác Raymond tìm thấy một chiếc như vậy tại một cơ sở bán xe hơi ở Los Angeles (LA) và được dùng làm "xe mẫu" - chiếc xe dành cho khách lái thử xem có thích-không. Dân buôn bán xe thường trao đổi hoặc bán mấy chiếc này cho nhau với giá giảm. Bác tôi bảo tôi bay qua LA và lái xe về, chở theo Pat Brady - là con của bà thư ký của bác và cũng từng học cùng lớp và chơi cùng ban nhạc với tôi ở trung học. Nếu đi hai người thì chúng tôi có thể lái xe một mạch về. Chúng tôi háo hức đi, và hồi đấỵ vé máy bay cho sinh viên rẻ đến mức bác Raymond hầu như không phải tốn gì để chúng tôi bay sang đó mà vẫn có lãi trong vụ bán xe này.

        Chúng tôi bay đến LA, lấy xe và lái về, nhưng không đi theo đường thẳng. Thay vào đó chúng tôi quẹo sang Las Vegas, nơi mà chúng tôi cứ nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ có cơ hội để thấy. Tôi vẫn còn nhớ chạy xe xuyên qua sa mạc bằng phẳng vào ban đêm với các cửa sổ xe mở hết, cảm thấy không khí nóng, khô và nhìn ngắm ánh sáng đô hội Las Vegas từ xa.

        Hồi đó Las Vegas khác bây giờ. Chưa có các khách sạn lớn được thiết kế theo chủ đề như khách sạn Paris hay Venetian, mà chỉ có mỗi khách sạn Strip nơi có đánh bạc và các trò tiêu khiển. Pat và tôi không có nhiều tiền, nhưng lại muốn chơi máy đánh bạc tự động nên chúng tôi chọn một nơi, mỗi đứa đổi một cọc tiền 5 xu và bắt đầu chơi. Trong vòng 15 phút tôi thắng được một lần và Pat được hai lần. Chuyện này không lọt được qua mắt những con tin của bọn kẻ cướp một tay này. (Máy đánh bạc tự động có một cái cần giật ở bên hông tương tự như tay - ND). Họ tin rằng bọn tôi gặp vận may nên mỗi khi chúng tôi bỏ không đánh thì họ đổ xô đến tranh nhau giật cần để lấy được vận may mà bọn tôi bỏ lại. Bọn tôi không thể hiểu nổi. Trong 15 phút đó có lẽ bọn tôi đã xài hết vận may cho hàng năm trời, nên bọn tôi không muốn phung phí nữa. Bọn tôi tiếp tục lên đường với phần lớn tiền thắng bạc còn nguyên trong túi. Tôi nghĩ thời nay chắc chẳng ai đem theo nhiều tiền 5 xu đến thế nữa.

        Sau khi trả xe cho bác Raymond, người chẳng phiền hà gì về chuyện chạy lòng vòng của chúng tôi, tôi phải chuẩn bị để quay về Georgetown. Vào cuối chiến dịch tranh cử, tôi nói chuyện với Jack Holt về việc mình thích đi làm cho Thượng nghị sĩ Fulbright, rằng tôi cũng không rõ liệu có được hay không. Mùa xuân năm trước tôi đã viết thư cho ông Fulbright để xin việc và nhận thư trả lời rằng lúc ấy chưa có chỗ trống nhưng họ sẽ lưu hồ sơ tôi lại. Tôi ngờ rằng tình hình chưa có gì biến chuyển, nhưng vài ngày sau khi quay về Hot Springs, tôi nhận được một cú điện thoại vào sáng sớm của ông Lee Williams, trợ lý hành chính của ông Fulbright. Lee nói là Jack Holt đã giới thiệu tôi, và hiện ủy ban Đối ngoại đang còn khuyết một chân trợ lý văn phòng. Ông ấy nói "Cậu có thể đi làm bán thời gian lương ba ngàn rưởi đôla, còn làm toàn thời gian thì năm ngàn đô". Dù còn ngái ngủ nhưng tôi không thể để vụ này tuột khỏi tay được. Tôi bảo: "Thế làm hai việc bán thời gian có được không?". Ông ấy cười và bảo tôi chính là loại người ông đang tìm và tôi nên trình diện vào sáng thứ hai để đi làm. Tôi phấn khích đến mức có thể nổ tung lên được, ủy ban Đối ngoại thời kỳ Fulbright là trung tâm của những tranh cãi cấp quốc gia về chính sách đối ngoại, đặc biệt là về cuộc chiến ngày càng leo thang ở Việt Nam. Vậy là tôi sẽ có dịp chứng kiến tấn kịch này diễn ra một cách trực tiếp, dù chỉ với vai trò người chạy việc vặt. Và tôi có thể kiếm tiền trang trải cho đại học mà không cần bố mẹ giúp, đỡ cho họ gánh nặng tài chính và đỡ cho tôi cảm giác tội lỗi. Trước đó tôi cứ lo mãi chuyện không biết bố mẹ lấy tiền đâu ra để vừa trả tiền chữa bệnh cho bố vừa trả tiền học cho tôi. Dù hồi ấy tôi không kể cho ai, nhưng tôi sợ tôi phải bỏ trường Georgetown và về quê, nơi chi phí đại học không đắt bằng. Còn bây giờ bỗng dưng tôi có được cơ hội tiếp tục ở lại Georgetown và làm việc cho ủy ban Đối ngoại. Tôi mang nợ Jack Holt về cả quãng đời sau này vì ông ông đã giới thiệu tôi đi làm ở đây, và biết ơn Lee Williams vì đã chấp thuận tôi.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2015, 03:40:54 AM

        11

        Vài ngày sau cú điện thoại của Lee Williams, tôi chuẩn bị hành trang và sẵn sàng quay về Washington bằng một món quà. Vì công việc mới đòi hỏi tôi phải đến điện Capitol hàng ngày nên bố và mẹ đã cho tôi chiếc "xe cũ" của họ, một chiếc Buick LeSabre mui trần màu trắng với da bọc nệm màu trắng và đỏ. Bố thì cứ khoảng ba năm là có xe mới và đẩy xe cũ vào khu bán xe đã qua sử dụng. Lần này tôi thế chỗ cho khu bán xe cũ và tôi sung sướng tột độ. Chiếc xe thật đẹp. Dù xe này uống một gallon xăng (3,8 lít) mà chỉ chạy được có bảy hay tám dặm, nhưng lúc ấy nhiên liệu còn rẻ, đôi khi chỉ còn chưa tới 30 xu một gallon trong "cuộc chiến giá xăng".

        Vào ngày thứ hai đầu tiên trở lại Washington, tôi trình diện ở văn phòng của Thượng nghị sĩ Fulbright, nằm ở phòng đầu tiên bên trái của tòa nhà, lúc ấy còn gọi là tòa nhà văn phòng thượng viện mới, bây giờ là tòa nhà Dirksen. Giống như tòa nhà văn phòng thượng viện cũ phía bên kia đường, tòa nhà mới là một cao ốc đồ sộ bằng đá hoa cương nhưng màu sáng hơn nhiều. Tôi nói chuyện với ông Lee, rồi được dẫn lên lầu bốn, nơi có các văn phòng và phòng điều trần của ủy ban Đối ngoại, ủy ban còn có một chỗ rộng hơn nhiều ở điện Capitol, nơi trưởng ban tham mưu Carl Marcy và một số nhân viên cao cấp làm việc. Ở đó cũng có một phòng họp tuyệt đẹp để ủy ban họp riêng.

        Khi tôi đến văn phòng ủy ban, tôi gặp Buddy Kendrick, nhân viên tài liệu, và trong hai năm kế tiếp sẽ là giám sát trực tiếp, người hay kể chuyện và khuyên bảo tôi chân tình. Tôi còn gặp trợ lý toàn thời gian của Buddy, Bertie Bowman - một người Mỹ gốc Phi hiền lành tốt bụng, kiếm thêm bằng nghề lái taxi và thỉnh thoảng còn lái xe cho Thượng nghị sĩ Fulbright; và hai sinh viên khác giống như tôi là Phil Dozier đến từ bang Arkansas và Charlie Parks, sinh viên luật quê ở Anniston, Alabama.

        Người ta giao tôi việc mang báo cáo và các tài liệu khác qua lại giữa điện Capitol và văn phòng Thượng nghị sĩ Fulbright, trong đó có cả các tài liệu mật đòi hỏi tôi phải được phép của chính phủ mới được mang ra ngoài. Bên cạnh đó, tôi làm mọi việc theo yêu cầu từ đọc báo và thu thập các bài báo quan trọng cho nhân viên và các thượng nghị sĩ nào quan tâm, đáp ứng các yêu cầu xin các bài diễn văn và tài liệu, cho đến điền thêm tên vào danh sách gửi thư của ủy ban. Nên nhớ rằng lúc đấy chưa có máy tính hay e-mail gì cả, thậm chí còn chưa có cả máy photocopy hiện đại nữa, dù trong thời gian tôi làm ở đó, chúng tôi đã thay thế kiểu viết hoặc đánh máy giấy than sang các loại máy photocopy hiệu Xerox thời thô sơ. Hầu hết những bài báo tôi cắt lọc ra đều chưa hề được sao chép; hàng ngày chúng được bỏ vào trong một bìa hồ sơ lớn cùng với miếng giấy liệt kê tên họ của các thành viên trong ủy ban từ ông chủ tịch đổ xuống. Mỗi người sẽ nhận và xem các bài báo này, đánh dấu tên mình trong danh sách và chuyển cho người tiếp theo. Danh sách nhận thư chính của ủy ban được để ở tầng hầm. Mỗi tên và địa chỉ được đánh máy vào một lá kim loại nhỏ, các lá này được xếp theo thứ tự abc trong các tủ hồ sơ. Khi chúng tôi gửi thư từ đi, các lá kim loại này được đặt vào một cái máy lăn mực lên đó và in tên cùng địa chỉ vào các phong bì.

        Tôi thích xuống tầng hầm để gõ tên và địa chỉ mới vào các lá kim loại rồi cất vào các ngăn hồ sơ. Vì lúc nào tôi cũng mệt mỏi, tôi thường xuống chợp mắt một chút, có lúc dựa vào các tủ hồ sơ mà ngủ. Và tôi thực sự thích đọc và cắt lọc các bài báo cho nhân viên ủy ban đọc. Trong gần hai năm, ngày nào tôi cũng đọc New York Times, Washington Post, Baltimore Sun, và thêm cả tờ St. Louis Post-Dispatch vì người ta cho rằng ủy ban cần phải đọc ít nhất một tờ báo hay của miền quê Mỹ. Khi McGeorge Bundy làm cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Kennedy, ông ấy nhận xét rằng bất cứ công dân nào đọc sáu tờ báo hay một ngày cũng có thể biết nhiều như ông. Tôi không rõ có đúng không, nhưng sau khi tôi làm theo lời ông trong 16 tháng, đúng là tôi biết nhiều thứ đủ để có thể vượt qua được cuộc phỏng vấn giành học bổng Rhodes. Và nếu hồi đó mà có giải Trivial Pursuit (trò chơi thử kiến thức và văn hóa đại chúng của người chơi - ND) thì chắc là tôi đã đoạt chức vô địch toàn quôc rồi.

        Chúng tôi còn giải quyết các yêu cầu xin tài liệu, ủy ban có nhiều tài liệu: báo cáo về các chuyến đi nước ngoài, những lời chứng của chuyên gia trong các buổi điều trần, và biên bản đầy đủ các buổi điều trần. Chúng ta càng dấn sâu vào Việt Nam thì Thượng nghị sĩ Fulbright và đồng minh của ông càng sử dụng các buổi điều trần thường xuyên hơn nhằm giáo dục cho người Mỹ về tính phức tạp của cuộc sống và chính trị ở Bắc và Nam Việt Nam, ở phần còn lại của Đông Nam Á và Trung Quốc.

        Phòng tài liệu là nơi chúng tôi thường làm việc. Trong năm đầu tiên tôi chỉ làm vào buổi chiều từ một đến năm giờ. Vì các buổi điều trần của ủy ban và các việc khác thường kéo dài quá giờ này nên tôi thường ở lại sau năm giờ và không bao giờ chán việc này. Tôi thích những người cùng làm việc, và tôi thích điều mà Thượng nghị sĩ Fulbright làm ở ủy ban.

        Tôi không gặp khó khăn gì khi sắp xếp thời gian biểu, một phần vì năm thứ hai chỉ có năm thay vì sáu môn, và vì một số môn bắt đầu học từ sớm, khoảng bảy giờ sáng. Ba môn học - Lịch sử và Ngoại giao Mỹ, Chính quyền nước ngoài hiện đại, và Chủ nghĩa cộng sản Lý thuyết và Thực hành - bổ trợ cho công việc của tôi. Tôi dễ dàng thu xếp thời gian biểu cũng vì tôi không ra tranh cử chức lớp trưởng nữa.

        Hàng ngày, tôi thường mong đến hết giờ học và lái xe đên điện Capitol. Lúc bấy giờ tìm chỗ đậu xe còn khá dễ dàng. Và có mặt tại đó vào thời điểm ấỵ rất lý thú. Cái đa số từng đem lại chiến thắng thuyết phục cho Lyndon Johnson vào năm 1964 đã bắt đầu tan vỡ. Trong vài tháng sau phe Dân chủ sẽ chứng kiến ưu thế đa số của mình ở hạ và thượng viện tan biến trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 1966 khi đất nước chuyển dần sang cánh hữu nhằm phản ứng lại các cuộc bạo loạn và bất ổn xã hội, nạn lạm phát gia tăng cũng như việc Tổng thống Johnson leo thang trong chi tiêu quốc nội và việc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Ông ấy tuyên bố đất nước chúng ta có thể đủ tiền "cho cả súng và bơ", nhưng dân chúng bắt đầu nghi ngờ chuyện này. Trong hai năm rưỡi đầu tiên làm tổng thống, Johnson từng đạt được những thành công về mặt lập pháp gây choáng váng nhất kể từ thời FDR (Franklin D. Roosevelt - ND): Đạo luật dân quyền năm 1964, đạo luật quyền bỏ phiếu năm 1965, các đạo luật chống đói nghèo, và các chương trình Medicare và Medicaid, vốn rút cuộc cũng đảm bảo được chăm sóc y tế cho người nghèo và người già.

        Nhưng đến bây giờ thì sự chú ý của tổng thống, quốc hội và của cả nước ngày càng tập trung vào Việt Nam. Khi con số thương vong ngày càng tăng mà chưa thấy bóng dáng chiến thắng đâu, sự chống đối chiến tranh bắt đầu xuất hiện dưới nhiều hình thức, từ các cuộc biểu tình ở trường đại học cho đến các bài thuyết giảng trong nhà thờ, từ những tranh cãi trong quán cà phê cho đến tranh cãi trong quốc hội. Khi tôi đi làm cho ủy ban Đối ngoại, tôi chưa biết nhiều về Việt Nam đủ để có một chính kiến mạnh mẽ, nhưng tôi ủng hộ Tổng thống Johnson đến mức tôi tạm tin vào quan điểm của ông. Dù vậy, rõ ràng là các sự kiện bắt đầu hợp lại và làm lung lay những thời khắc thần diệu của tiến bộ mà chiến thắng bầu cử gân như tuyệt đôi của ông ấy đã mang lại.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2015, 02:21:24 AM
        Đất nước còn chia rẽ vì nhiều thứ ngoài vấn đề Việt Nam. Các cuộc bạo loạn Watts ở Los Angeles năm 1965 và sự xuất hiện của những tay hoạt động da đen vũ trang đã đẩy những cảm tình viên cua họ sang cánh tả và những đối thủ của họ về cánh hữu. Đạo luật quyền bỏ phiếu mà LBJ đặc biệt tự hào một cách chính đáng cũng có tác động tương tự, đặc biệt khi nó bắt đầu được thực thi. Johnson là một chính khách đặc biệt tinh tường. Ông ấy nói rằng khi ký đạo luạt vê quyền bỏ phiếu, ông đã giết chết đảng Dân chủ ở miền Nam trong một thế hệ. Trên thực tế, cái gọi là miền Nam vững chắc của đảng Dân chủ đã từ lâu không còn vững chắc nữa. Những người Dân chủ bảo thủ đã bắt đầu rơi rụng từ năm 1948, khi họ tránh xa bài phát biểu nóng bỏng về dân quyền của Hubert Humphrey tại đại hội đảng Dân chủ và Strom Thurmond đột ngột bỏ đảng Dân chủ để ra tranh cử tổng thống với tư cách là nhân vật Dân chủ nhưng có quan điểm bảo thủ. Năm 1960, Johnson giúp Kennedy giữ được đủ các bang miền Nam để thắng cử, nhưng cam kếỉ của Kennedy thực hiện các phán quyết của tòa án nhằm đưa học sinh da màu học cùng trường trung học và đại học công lập với học sinh da trắng đã khiến nhiều người da trắng bảo thủ ngả vào vòng ảnh hưởng của đảng Cộng hòa. Năm 1964, dù thua xa trorig cuộc tranh cử tổng thống, Goldwater vẫn thắng được ở năm bang miền Nam.

        Tuy nhiên, vào năm 1966 nhiều người da trắng theo xu hướng phân cách vẫn là những người thuộc đảng Dân chủ ở miền Nam, những người như Orval Faubus và Jim Johnson và Thống đốc George Wallace của bang Alabama. Và thượng viên thì đẫy rẫy những người này, toàn là những nhân vật nổi cộm như Richard Russell của bang Georgia, John Stennis bang Mississippi và một số người khác không có danh tiếng gì nhưng lại có quyền lực. Nhưng Tổng thống Johnson đã đúng về tác động của Đạo luật quyền bỏ phiếu cũng như các cải cách dân quyền khác. Cho đến năm 1968, Richard Nixon và George Wallace, ra tranh cử tổng thống với tư cách một liên danh độc lập, đã dẫn trước Humphrey trong các cuộc thăm dò ở miền Nam, và kể từ đó chỉ có hai ứng viên Dân chủ thắng cử vào Nhà Trắng và đều là người miền Nam, Jimmy Carter và tôi. Chúng tôi thắng đủ ở các bang miền Nam để bước chân vào Nhà Trắng, được sự ủng hộ to lớn của khối cử tri da đen và nhiều hơn các đối thủ gốc ngoài miền Nam một vài lá phiếu của cử tri da trắng. Những năm cầm quyền của Reagan đã củng cố sức thu hút của đảng Cộng hòa đối với cử tri da trắng bảo thủ miền Nam, và những người Cộng hòa làm cho họ cảm thây được chào đón.

        Tổng thống Reagan thậm chí còn đi xa tới mức phát biểu trong thời gian tranh cử bảo vệ quyền của các tiểu bang, ngụ ý chống lại chính phủ liên bang can thiệp vào dân quyền. Bài phát biểu này diên ra ở Philadelphia, Mississippi, nơi những nhà hoạt động dân quyền Andrew Goodman, Michael Schwerner và James Chaney - hai da trắng và một da đen - đã hy sinh vì mục tiêu này vào năm 1964. Cá nhân tôi luôn ưa thích Tổng thống Reagan và ước gì ông ấy đừng làm như vậy. Vào kỳ bầu cử giữa kỳ năm 2002, ngay cả khi Colin Powell, Condoleeza Rice và những người gốc thiểu số khác nắm giữ các vị trí quan trọng trong chính quyền Bush, những người Cộng hòa vẫn thắng cử nhờ vào chủng tộc, những người da trắng phản ứng viêc các thống đốc phe Dân chủ ở bang Georgia và Nam Carolina bỏ phần cờ Liên minh miền Nam khỏi lá cờ bang Georgia và khỏi tòa nhà quốc hội tiểu bang Nam Carolina. Chỉ hai năm trước đây, George w. Bush đi vận động tranh cử tại Đại học Bob Jones nổi tiếng khuynh hữu ở bang Nam Carolina, và tránh việc phải đưa ra quan điểm về chuyện lá cờ này, nói rằng đó là chuyện mà tiểu bang phải quyết định. Khi một trường học ở Texas cứ đòi treo cờ Liên minh miền Nam mỗi sáng thì Thống đốc Bush lại nói đó không phải là vấn đề cấp tiểu bang mà là cấp địa phương. Vậy mà họ dám gọi tôi là kẻ láu lỉnh! Tổng thống Johnson đã nhìn thấy trước mọi thứ này từ năm 1965, nhưng ông ta vẫn làm được điều đúng, và tôi biết ơn vì ông đã làm như vậy.

        Vào mùa hè năm 1966, nhât là sau cuộc bầu cử mùa thu năm đó, tất cả những xung đột trong nước cũng như ngoài nước đều thể hiện rõ trong các vấn đề được bàn cãi ở thượng viện Mỹ. Khi tôi đến đấy làm việc, thượng viện đầy những nhân vật lớn và kịch tính cao. Tôi cố hấp thụ hết những điều đó. Chủ tịch lâm thời, Carla Hayden của bang Arizona, đã có mặt tại quốc hội từ khi bang của ông gia nhập liên bang năm 1912 và đã có mặt tại thượng viện suốt 40 năm. Ông ấy bị hói, hom hem gần như da bọc xương. Bí thư viết diễn văn tài giỏi của Thượng nghị sĩ Fulbright, Seth Tillman, một lần từng đùa răng Carl Hayden là "người 90 tuổi duy nhất trên thế giới trông già gấp đôi tuổi mình". Lãnh đạo đa số thượng viện Mike Mansfield của bang Montana từng nhập ngũ trong Thế chiến thứ nhất vào năm 15 tuổi, rôi sau đó làm giáo sư đại học chuyên nghiên cứu về châu Á. Ông giữ chức lãnh đạo khối đa số trong 16 năm, cho đến tận 1977 khi Tổng thống Carter chỉ định ông làm đại sứ ở Nhật Bản. Mansfield la một người đam mê giữ gìn sức khỏe, hơn 90 tuổi rồi mà ngày nào cũng đi bộ năm dặm. Ông ấy cũng là một người thực sự tin tưởng vào tự do, và đằng sau vẻ ngoài lầm lì là một óc hài hước tinh quái. Ông sinh năm 1903, lớn hơn Thượng nghị sĩ Fulbright hai tuổi, và sống đến 98 tuổi. Không lâu sau khi tôi trở thành tổng thống, Mansfield ăn trứa với Fulbright. Ông hỏi tuổi Fulbright, ông này trả lời ông 87 tuổi. Mansfield đáp: "Chà, giá mà được trở lại tuổi 87 nhỉ".

        Lãnh đạo của phe Cộng hòa, Everett Dirksen của bang Illinois, đóng vai trò chính yếu trong việc thông qua vài đạo luật mà tổng thống đề nghị, đem lại đủ phiếu từ những nhân vật Cộng hòa ôn hòa để vượt qua sự chống đối của những người Dân chủ theo chủ nghĩa phân cách ở miền Nam. Dirksen có một khuôn mặt lạ lùng, mồm rộng và rất nhiều nếp nhăn. Giọng nói của ông còn lạ lùng hơn, sâu và tròn đầy, tung ra từng câu súc tích. Một lần ông đả phá thói quen chi tiêu của phe Dân chủ bằng cách ngâm nga: "Một tỷ kia, một tỷ đây, chẳng bao lâu sẽ tiêu xài vung tay". Khi Dirksen nói, giọng ông nghe như thể giọng của Chúa trời hoặc, theo một số người, của một người bán dầu rắn huênh hoang.

        Thượng viện hồi đó không giống như bây giờ. Tháng 1 năm 1967, sau khi phe Dân chủ mất bốn ghế trong cuộc bầu cử giữa kỳ, họ vẫn còn khoảng cách chênh lệch 64 so với 36 ghế - một chênh lệch rõ rệt hơn nhiều so với tình hình thường thấy bây giờ. Nhưng những khác biệt về quan điểm hồi đó cũng sâu sắc, và ranh giới không chỉ được chia cắt theo đảng phái. Có một số thứ không thay đổi: Robert Byrd của bang Tây Virginia vẫn ngồi ở thượng viện. Năm 1966, ông ấy đã là người có tiếng nói đầy thẩm quyền trong các vấn đề luật lệ và lịch sử của thượng viện rồi.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tám, 2015, 02:52:57 AM
        Tám bang của miền Nam cũ vẫn có hai nghị sĩ Dân chủ mỗi bang, giảm xuống từ 10 người từ trước kỳ bầu cử năm 1966, nhưng phần lớn họ là những người theo chủ nghĩa phân cách bảo thủ. Ngày nay, chỉ có Arkansas, Florida và Louisiana là được đại diện bởi hai nghị sĩ Dân chủ. Oklahoma có hai nghị sĩ Dân chủ, California có hai Cộng hòa. Rõ ràng bây giờ tình huống đã đảo ngược. Ớ khu vực miền Tây núi non, mà bây giờ là căn cứ vững chắc của đảng Cộng hòa, Utah, Idaho và Wyoming mỗi bang từng có một nghị sĩ Dân chủ tiến bộ. Indiana, một bang bảo thú, đã có hai nghị sĩ dân chủ có xu hướng tự do, một trong số đó là Birch Bayh, cha của Thượng nghị sĩ Evan Bayh, một lãnh đạo bẩm sinh và một ngày nào đó có thể trở thành tổng thống, nhưng cũng không có quan điểm phóng khoáng như cha mình. Đại diện cho Minnesota là Gene McCarthy, một người rất sáng láng nhưng hơi do dự, và phó tổng thống tương lai Walter Mondale, người kế nhiệm Hubert Humphrey khi ông này trở thành phó cho tổng thống Johnson. Johnson chọn Humphrey thay vì Thượng nghị sĩ Tom Dodd của bang Connecticut, một trong những công tố viên chính trong vụ xét xử bọn Quốc xã ở Tòa án phạm nhân chiến tranh Nuremberg. Con trai của Dodd là Chris nay đại diện cho bang Connecticut trong thượng viện. Cha của AI Gore lúc ấy đang trong nhiệm kỳ cuối của mình và là một anh hùng đối với những thanh niên miền Nam như tôi vì ông ấy và đồng sự người Tennessee Estes Kefauver là hai nghị sĩ miền Nam duy nhất từ chối ký vào cái gọi là Tuyên ngôn miền Nam năm 1956, trong đó kêu gọi chống lại quyết định của tòa án bắt các trường học phải chấp nhận học sinh nhiều màu da. Thượng nghị sĩ dân túy Ralph Yarborough đại diện cho Texas, dù tương lai thiên về cánh hữu của bang này bắt đầu trỗi dậy trong kỳ bầu cử năm 1961 với việc đắc cử của một nghị sĩ Cộng hòa, John Tower, và dân biểu trẻ Cộng hòa đến từ Houston, George Herbert Walker Bush. Một trong những thượng nghị sĩ thú vị nhất là Wayne Morse của bang Oregon, người ban đầu theo đảng Cộng hòa, rồi tách ra thành nghị sĩ độc lập, và đến năm 1966 thì theo đảng Dân chủ. Ông Morse, người tuy ăn nói dài dòng nhưng thông minh và cứng rắn, cùng với Ernest Gruening thuộc đảng Dân chủ từ bang Alaska là hai thượng nghị sĩ duy nhất chống lại nghị quyết Vịnh Bắc bộ năm 1964 - nghị quyết mà Johnson nói rằng đã trao quyền cho ông ta tuyên chiến với Việt Nam. Người phụ nữ duy nhất ở thượng viện là một người Cộng hòa và lại hút tẩu, bà Margaret Chase Smith của bang Maine. Đến năm 2004, có đến 14 nữ thượng nghị sĩ, chín Dân chủ và năm Cộng hòa. Hồi xưa còn có một nhóm nghị sĩ Cộng hòa trung dung nhưng có anh hưởng - những nhóm kiểu này hiện nay đã mất hẳn - bao gồm Edward Brooke bang Massachusetts, thượng nghị sĩ gốc Phi duy nhất; Mark Hartfield bang Oregon; Jacob Javits bang New York; và George Aiken bang Vermont, một người xứ New England nóng nảy và cho rằng chính sách Việt Nam của chúng ta là điên khùng, sau đó đề nghị chúng ta nên "tuyên bố chiến thắng rồi rút quân" quách cho rồi.

        Đến lúc đó vị nghị sĩ mới nhiệm kỳ đầu nổi tiếng nhât là Robert Kennedy bang New York, theo chân anh trai mình là Ted vào năm 1965 sau khi đánh bại thượng nghị sĩ Kenneth Keating trong vị trí mà Hillary hiện nay đang nắm giữ. Bobby Kennedy thật kỳ diệu. Người ông tỏa ra năng lượng. Ông ấy là người duy nhất tôi từng biết mà dù khi đi cúi đầu và so vai thì trông vẫn như một cái lò xo bị nén sẵn sàng bung lên không. Theo những chuẩn mực thông thường thì ông không phải người nói hay, nhưng ông nói với một nhiệt huyết và đam mê đến mức làm mê mẩn người nghe. Và nếu tên tuổi, nét mặt và giọng nói của ông chưa đủ để thu hút sự chú ý, thì ông đã có Brumus - một con chó Newfoundland lông xù to nhất mà tôi từng thấy. Brumus thường đi cùng với Thượng nghị sĩ Kennedy đến chỗ làm. Khi Bobby đi bộ từ tòa nhà thượng viện mới sang điện Capitol để bỏ phiếu, Brumus thường đi cùng với ông, leo lên các bậc thềm của điện, vào cửa ở hành lang tầng trệt và kiên nhẫn ngồi chờ ở đó cho đến khi chủ nó xong việc và dắt nó về. Bất cứ ai chỉ huy được con chó đó thì cũng chiếm được sự kính trọng của tôi.

        John McClellan, thượng nghị sĩ kỳ cựu của Arkansas, không chỉ đơn thuần là một người bảo thủ tận tình. Ông ta còn rắn như thép, sẵn sàng trả đũa, một người làm việc không biết mệt mỏi và khéo thâu tóm và sử dụng quyền lực nhằm đem tiền của liên bang về cho bang nhà hoặc để truy đuổi những kẻ mà ông cho là bọn xằng bậy. Cuộc đời McClellan có đầy cả trăn trở lẫn tham vọng, những khó khăn ấy làm ông có ý chí sắt đá và những nỗi thù hận sâu sắc. Là con trai của một luật sư và nông dân, năm 17 tuổi ông ây trở thành luật sư hành nghề trẻ tuổi nhất ở Arkansas sau khi vượt qua kỳ thi vấn đáp hạng danh dự chỉ nhờ vào đọc mấy cuốn sách luật ở thư viện lưu động của khoa Luật Cumberland. Sau khi phục vụ trong Thế chiến thứ nhất, ông quay về nhà thì vợ đã dan díu với người khác nên ông ly dị bà, một việc hiếm thấy thời đó ở Arkansas. Người vợ thứ nhì của ông chết vì viêm tủy sống năm 1935 khi ông đã là Dân biểu. Hai năm sau, ông lấy người vợ thứ ba, Norma người sống với ông suốt 40 năm cho đến khi ông mất. Nhưng những mối sầu của ông chưa hết: từ năm 1943 đến 1958, cả ba người con trai của ông đều chết: đứa đầu vì viêm tủy sống, đứa thứ hai vì tai nạn xe hơi và đứa út chết vì rớt máy bay.

        Cuộc đời McClellan đầy sự kiện và khó khăn, ông gắng quên sầu bằng rượu mạnh nhiều đến mức có thể cuốn trôi điện Capitol xuống sông Potomac. Sau vài năm, ông thấy sự say sưa không phù hợp với các giá trị và hình ảnh của bản thân nên bỏ hẳn rượu, và nhờ thế hàn chặt lại vết nứt duy nhất trên bộ giáp sắt của mình bằng ý chí sắt đá.

        Vào thời điểm tôi đến Washington thì ông đã là chủ tịch của ủy ban ngân sách thượng viện, một vị trí ông thường đem lại cho bang Arkansas nhiều tiền để làm những việc như xây Hệ thống hoa tiêu đường sông Arkansas. Ông còn tiếp tục phục vụ 12 năm nữa, tổng cộng sáu nhiệm kỳ, và mất năm 1977 sau khi tuyên bố mình sẽ không ra ứng cử tiếp nhiệm kỳ thứ bảy. Khi tôi làm việc ở trụ sở quốc hội, McClellan là một người có vẻ cách biệt, khó gần - ông cũng muốn hầu hết mọi người nhìn nhận mình như vậy. Sau khi đắc cử Bộ trưởng tư pháp năm 1977, tôi đã dành khá nhiều thời gian bên ông. Tôi cảm động vì lòng tốt cũng như sự quan tâm của ông với sự nghiệp của tôi, và ước gì ông có thể cho nhiều người thấy được con người đích thực của ông mà tôi được thấy và thể hiện bản chất thật ấy nhiều hơn trong công việc chung.

        Fulbright khác McClellan như ngày và đêm. Tuổi thơ của ông vô tư và yên ổn hơn, ông học nhiều hơn và suy nghĩ của ông cũng ít giáo điều hơn. Ông sinh năm 1905 ở Fayetteville, một thị trấn tươi đẹp ở vùng núi Ozark, phía bắc Arkansas nơi có Đại học Arkansas. Mẹ ông, Roberta, là một chủ bút tiến bộ và mạnh miệng của tờ báo địa phương Northwest Arkansas Times. Fulbright học đại học ngay tại quê mình, nơi ông trở thành một sinh viên xuât sắc và là thủ quân của đội Arkansas Razorback. Năm 20 tuổi, ông lên Oxford học nhờ học bổng Rhodes. Hai năm sau, ông quay về và đã trở thành một người theo chủ nghĩa quốc tế đầy quyết tâm. Sau khi học luật và hành nghề một thời gian ngắn ở Washington, ông về Arkansas dạy ở đại học quê nhà cùng với vợ mình là Betty - một phụ nữ thanh cao và dễ chịu và hóa ra lại là một chính trị gia giỏi gần gũi dân chúng hơn chồng. Bà luôn giữ gìn cho ông khỏi lộ những mặt cục mịch trong con người ông trong suốt hơn 50 năm chung sống cho đến tận khi bà mất năm 1985. Tôi sẽ không bao giờ quên được một đêm năm 1967 hay 1968 gì đó. Đang đi bộ một mình ở Georgetown, tôi thấy ông Thượng nghị sĩ và bà ra khỏi một căn nhà sau khi dự tiệc tối. Khi họ ra đến phố khi không còn ai xung quanh, ông ôm bà và đi vài bước nhảy. Đứng trong bóng tối, tôi thấy rõ bà đúng là nguồn sáng của đời ông. Năm 34 tuổi, Fulbright được bầu làm hiệu trưởng Đại học Arkansas, hiệu trưởng trẻ nhất của một đại học lớn ở Mỹ. Ông và bà Betty lúc ấy có vẻ như sẽ ổn định với một cuộc đời hạnh phúc ở vùng Ozark. Nhưng vài năm sau, sự nghiệp đang lên một cách nhàn nhã của ông bỗng bị chấm dứt đột ngột khi thống đốc mới của bang là Homer Adkins sa thải ông vì những bài xã luận phê phán gay gắt của mẹ ông.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tám, 2015, 04:19:20 AM
        Năm 1942, không còn biết làm gì hơn, Fulbright ứng cử vào một ghế quốc hội còn trống ở tây bắc Arkansas. Ông thắng cử, và trong nhiệm kỳ duy nhất của mình ở hạ viện, ông đề xuất Nghị quyết Fulbright, kêu gọi Mỹ tham gia vào một tổ chức quốc tế nhằm gìn giữ hòa bình sau Thế chiến hai - rõ ràng là đã dự báo được sự ra đời của Liên hiệp quốc. Năm 1944, Fulbright tranh cử vào thượng viện và tìm cơ hội để trả đũa. Đối thủ chính của ông là Thống đốc Adkins. Adkins là người có tài tạo ra các kẻ thù, một tính cách cực kỳ nguy hiểm trong chính trị. Ngoài chuyện đuổi việc Fulbright, ông ta còn phạm sai lầm khi chống đối John McClellan mới chỉ trước đó hai năm, hùng hổ đến mức cho kiểm toán những khoản hồi thuế của những ủng hộ viên chính yếu của McClellan. Như đã biết, McClellan không bao giờ quên hoặc tha thứ một chuyện nhỏ nhặt nào. Ông ấy dùng mọi cách để giúp Fulbright đánh bại Adkins, và Fulbright đã làm được chuyện này. Cả hai người đều đã trả được món nợ xưa.

        Dù cùng làm việc với nhau ở thượng viện trong 30 năm, Fulbright và McClellan không bao giờ quá thân thiết. Cả hai cũng chẳng thân thiết gì với các chính khách khác. Tuy nhiên họ phối hợp với nhau nhằm đem lại phát triển kinh tế cho Arkansas, và bỏ phiếu cùng với khối các bang miền Nam chống lại dân quyền; ngoài ra họ ít có gì giống nhau.   I

        McClellan là một người chống Cộng bảo thủ và chuộng quân sự chỉ muốn sử dụng tiền đóng thuế cho quốc phòng, công trình công cộng, và thực thi pháp luật. Ông thông minh nhưng không uyển chuyển. Ông nhìn mọi việc tách bạch trắng đen. Ngôn ngữ của ông thẳng và thô, và nếu như ông có nghi ngờ việc gì thì ông cũng không để lộ ra vì sợ mình trông có vẻ yếu đuối. Ông cho rằng chính trị chỉ là chuyện tiền bạc và quyền lực.
Fulbright có khuynh hướng tự do hơn McClellan. Ông là một đảng viên Dân chủ tốt, thích và ủng hộ Tổng thống Johnson cho đến khi họ bất đồng về vấn đề Cộng hòa Dominica và Việt Nam. Ông ủng hộ cải cách thuế và các chương trình xã hội nhằm xóa nghèo và bất bình đẳng, các khoản viện trợ liên bang dành cho giáo dục, khuyên khích Mỹ đóng góp nhiều hơn cho các tổ chức quốc tế để xóa nghèo ở các nước nghèo. Năm 1946, ông bảo trợ đạo luật thành lập chương trình Fulbright về trao đổi giáo dục quốc tế, từ đó tới nay chương trình này đã tài trợ cho hàng trăm ngàn học giả của Mỹ và 60 nước khác. Ông cho rằng chính trị chỉ là vấn đề về sức mạnh của những ý tưởng.

        về dân quyền, Fulbright không mất thì giờ nhiều để bảo vệ cho thành tích bầu cử của mình dựa trên thực chất của vân đề. Ông tuyên bố một cách đơn giản rằng ông bầu theo ý muốn của đa số những người mà ông đại diện về các vấn đề như dân quyền, những linh vực mà họ cũng hiểu biết ngang với ông - đó là một cách nói tránh rằng ông không muốn bị thất cử. Ông ký Tuyên ngôn miền Nam sau khi đã làm mềm nó đi một chút, và cũng không bỏ phiếu ủng hộ đạo luật dân quyền nào mãi đến tận năm 1970, dưới thời Nixon và cũng là lúc ông đóng vai trò đầu tàu trong việc đánh bại ứng viên chông dân quyền G. Harrold Carswell được Nixon đề cử vào Toà án tối cao.
Dù có quan điểm dân quyền như vậy, Fulbright không hề là kẻ nhát gan. Ông ghét những chính khách mị dân vênh váo giả dạng làm người ái quốc. Khi thượng nghị sĩ Joe McCarthy bang Wisconsin còn khủng bố dân thường vô tội bằng cách cáo buộc hàng loạt rằng họ có quan hệ với cộng sản, ông ta dọa được phần lớn các chính khách phải im lặng, kể cả những người vốn ghét ông ta. Fulbright đã bỏ phiếu duy nhất trong thượng viện chống lại việc cấp thêm tiền cho tiểu ban điều tra đặc biệt của McCarthy. Ông còn đồng bảo trợ một nghị quyết phê phán McCarthy, sau này được thượng viện thông qua sau khi Joseph Welch tố cáo ông ta là kẻ lừa đảo với dân chúng cả nước. McCarthy đã sinh nhầm thời - ông ta chắc sẽ rất thoải mái trong cái đám đông chiếm cứ quốc hội vào năm 1995. Nhưng hồi đầu thập niên 50 đó - một thời kỳ dễ có sự điên cuồng chống Cộng - McCarthy xuất hiện như một con khỉ đột vậy. Fulbright đối đầu với ông ta trước khi các thượng nghị sĩ khác làm như vậy.

        Fulbright cũng không né tránh những chuyện gây tranh cãi trong đối ngoại, lĩnh vực mà - không giống như dân quyền - ông hiểu biết hơn những người dân mà ông đại diện. Ông quyết định chỉ làm những gì ông cho là phải và hy vọng sẽ thuyết phục được cử tri của mình về điều đó. Ông ủng hộ hợp tác đa phương hơn là hành động đơn phương; đối thoại chứ không cô lập khỏi Liên Xô và các nước thuộc khối Warsaw; thêm viện trợ và bớt can thiệp quân sự; thu hút người khác đến với các giá trị và quyền lợi Mỹ bằng sức mạnh tự mình nêu gương và những ý tưởng chứ không phải bằng sức mạnh của súng đạn.

        Một lý do nữa khiến tôi thích Fulbright là ông quan tâm đến nhiều thứ khác ngoài chính trị. Theo ông, mục đích của chính trị là làm cho người ta có thể phát triển mọi tiềm năng và hưởng trọn cuộc sống ngắn ngủi của họ. Trong mắt ông, ý nghĩ cho rằng quyền lực tự thân nó là một cứu cánh, chứ không phải là phương tiện nhằm mang lại sự bình ổn và cơ hội cần thiết để mứu cầu hạnh phúc, là một ý nghĩ tệ hại và ngu xuẩn. Fulbright thích dành thời gian cho gia đình và bạn bè, hàng năm vẫn đi nghỉ vài kỳ để lại sức, và đọc rất nhiều. Ông khoái đi săn vịt, và thích đánh golf, đến năm 78 tuổi vẫn còn chơi. Ông là người nói chuyện sôi nổi với một giọng nói quý phái lạ thường. Khi được thoải mái, ông rất hùng biện và thuyết phục. Khi ông giận dữ và mất kiên nhẫn, cách nói của ông được phóng đại lên khiến giọng nói của ông có vẻ cao ngạo và coi thường.

        Fulbright ủng hộ nghị quyết Vịnh Bắc bộ vào tháng 8 năm 1964, cho Tổng thống Johnson quyền giáng trả các cuộc tấn công vào tàu chiến Mỹ ở đó, nhưng đến hè năm 1966, ông thấy chính sách của Mỹ ở Việt Nam là chệch hướng và cầm chắc thất bại; và nếu cung cách sai lầm ấy mà không được thay đổi thì sẽ đem lại hậu quả thảm hại cho nước Mỹ và thế giới. Năm 1966, ông công bố quan điểm của mình về Việt Nam và những chỉ trích của ông đối với chính sách đối ngoại của Mỹ trong cuốn sách nổi tiếng nhất của mình - The Arrogance of Power - Sự ngạo mạn của quyền lực. Sau khi tôi làm nhân viên của ủy ban Đối ngoại vài tháng, ông ký tặng vào một cuốn sách cho tôi.

        Luận điểm cốt lõi của Fulbright là các nước lớn thường gặp rắc rối và có thể rơi vào suy thoái dài hạn khi những nước này "ngạo mạn" trong cách sử dụng quyền lực, cố làm những việc họ không nên làm ở những nơi họ không nên hiện diện. Ông nghi ngờ bất cứ chính sách đối ngoại nào bắt nguồn từ nhiệt tình khai hóa, mà theo ông sự nhiệt tình này sẽ làm chúng ta sa vào những cam kết mà "dù nội dung thì nhân đạo và rộng lượng nhưng vượt quá tầm khả năng dù là rất to lớn của nước Mỹ". Ông cũng cho rằng khi chúng ta dùng quyền lực nhằm phục vụ một khái niệm trừu tượng, như chông cộng chẳng hạn, mà không hiểu lịch sử, văn hóa và chính trị địa phương thì chúng ta gây hại nhiều hơn là giúp đỡ. Điều này đã xảy ra trong lần can thiệp đơn phương vào cuộc Nội chiến của Cộng hòa Dominica năm 1965, khi vì sợ tổng thống cánh tả Juan Bosch sẽ lập một chính quyền cộng sản kiểu Cuba, Mỹ đã ủng hộ những kẻ vốn từng là đồng minh của nền độc tài quân sự 30 năm đầy áp bức và giết chóc của tướng Rafael Trujillo sau khi tướng này bị ám sát năm 1961.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2015, 01:24:28 AM
        Fulbright nghĩ rằng chúng ta cũng phạm sai lầm tương tự ở Việt Nam nhưng ở quy mô lớn hơn nhiều. Chính quyền Johnson và các đồng minh coi Việt cộng là những công cụ của chủ nghĩa bành trướng Trung Quôc ở Đông Nam Á, và phải ngăn chặn trước khi mọi quân cờ đôminô châu Á rơi vào tay cộng sản. Điều này khiến nước Mỹ ủng hộ một chính quyền Nam Việt Nam chống cộng nhưng hầu như chẳng có dân chủ. Khi Nam Việt Nam cho thấy không thể tự mình đánh bại Việt cộng, sự ủng hộ của chúng ta mở rộng, bao gồm cả việc đưa cố vấn quân sự và cuối cùng là số lượng lớn quân chiến đấu nhằm bảo vệ cái mà Fulbright gọi là "một chính phủ độc tài yếu kém và không được người dân Nam Việt Nam ủng hộ". Fulbright cho rằng Hồ Chí Minh, vốn ngưỡng mộ Franklin Roosevelt vì quan điểm chống chủ nghĩa thực dân của ông, chủ yếu chỉ quan tâm đến việc đưa Việt Nam độc lập khỏi các siêu cường ngoại bang. Ông tin rằng ông Hồ không hề là con rối của Trung Quốc và trong thâm tâm cũng mang mối nghi kỵ và không ưa gì ông láng giềng phương Bắc của người Việt Nam nói chung. Do đó, Fulbright không tin rằng chúng ta có lợi ích quốc gia nào đủ hợp lý để biện minh cho chuyện sinh sát bao nhiêu mạng sống như vậy. Dù vậy, ông cũng không ủng hộ việc đơn phương rút quân. Thay vào đó, ông ủng hộ nỗ lực nhằm "trung lập hóa" Đông Nam Á, Mỹ rút quân với điều kiện tất cả các bên phải thỏa thuận cho Nam Việt Nam quyền tự quyết và tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về thống nhất với Bắc Việt. Thật không may, cho đến năm 1968 khi các cuộc hòa đàm bắt đầu ở Paris, một giải pháp tỉnh táo như vậy đã không thể đạt được.

        Theo quan sát của tôi, mọi người làm việc trong ủy ban đều cảm thấy vấn đề Việt Nam như Fulbright. Họ còn ngày càng thấy rằng giới lãnh đạo quân sự và chính trị của chính quyền Johnson luôn tô hồng thành tích quân sự của chúng ta. Và họ quyết tâm một cách có hệ thống nhằm kêu gọi một sự thay đổi chính sách với chính quyền, quốc hội và cả nước. Khi tôi viết những dòng này, ý tưởng đó có vẻ sáng sủa và dễ dàng. Nhưng Fulbright và đồng sự của ông cũng như nhân viên trong ủy ban thực ra phải đi trên dây một cách nguy hiểm mà bên dưới là đá tảng sắc nhọn. Những kẻ diều hâu ở cả hai đảng cáo buộc rằng ủy ban, và đặc biệt là Fulbright, đang đem lại "trợ giúp và thoải mái" cho kẻ thù, chia rẽ đất nước và làm suy yếu ý chí chiến đấu giành chiến thắng. Fulbright vẫn không chùn bước. Dù ông phải chịu chỉ trích nặng nề, các buổi điều trần đã góp phần xốc lại tình cảm phản chiến, đặc biệt là trong giới trẻ, và ngày càng nhiều người trong số họ tham gia các cuộc biểu tình phản chiến cũng như phong trào bãi khóa hợp pháp.

        Hồi tôi còn làm ở đó, ủy ban tổ chức điều trần về các vấn đề như thái độ của dân Mỹ với chính sách đối ngoại, quan hệ Mỹ- Trung, những xung đột tiềm ẩn giữa mục tiêu đối nội của Mỹ và chính sách đối ngoại, tác động của bất đồng Xô - Trung lên cuộc chiến Việt Nam, và về khía cạnh tâm lý của quan hệ quốc tế. Các nhà phê bình chính sách xuất sắc đã xuất hiện, trong đó có Harrison Salisbury của tờ New York Times; George Kennan, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Xô và là tác giả của ý tưởng "kiềm chế" Liên Xô; Edwin Reischauer, cựu đại sứ Mỹ ở Nhật Bản; sử gia danh tiếng Henry Steele Commager; tướng về hưu James Gavin; và giáo sư Grane Brinton, một chuyên gia về các phong trào cách mạng. Tất nhiên, phía chính quyền cũng gửi đến các nhân chứng của họ. Một trong những người có hiệu quả nhất là Thứ trưởng Ngoại giao Nick Katzenbach, ông này sau cùng đã có một thế mạnh với tôi nhờ vào những công việc dân quyền mà ông làm trong Bộ Tư pháp dưới thời Tổng thống Kennedy. Fulbright cũng gặp riêng với Ngoại trưởng Dean Rusk, thường là uống cà phê sớm trong văn phòng của Fulbright.

        Tôi thấy sự tương tác giữa Rusk và Fulbright thật thú vị. Chính Fulbright từng nằm trong danh sách Tổng thống Kennedy xem xét chọn làm ngoại trưởng. Phần lớn người ta tưởng ông bị loại vì thành tích chống dân quyền của ông, đặc biệt là vụ ký vào Tuyên ngôn miền Nam. Rusk cũng là người miền Nam, quê ở Georgia, nhưng ông có thiện cảm với dân quyền và không phải chịu áp lực chính trị như Fulbright vì ông không nằm trong quốc hội mà chỉ là thành viên của cơ quan chính sách đôi ngoại. Rusk nhìn cuộc xung đột ở Việt Nam với con mắt đơn giản và thiếu thiện cảm: đó là chiến trường giữa tự do và chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Nếu chúng ta để mất Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản sẽ lan khắp Đông Nam Á với những hậu quả tàn khôc.
Tôi luôn nghĩ Rusk và Fulbright có quan điểm khác biệt về Việt Nam như vậy một phần là do họ được học bổng Rhodes ở Anh trong những thời điểm khác nhau. Khi Fulbright học ở Oxford năm 1925, Hiệp ước Versailles chấm dứt Thế chiến thứ nhất đang được thực hiện. Nó áp đặt những gánh nặng chính trị và tài chính nặng nề lên vai nước Đức, và vẽ lại bản đồ châu Âu cũng như Trung Đông sau khi các đế chế Áo - Hung và Ottoman sụp đổ. Sự nhục mạ của các cường quốc thắng trận châu Âu với nước Đức và chủ nghĩa cô lập và chủ nghĩa bảo hộ hậu chiến của Mỹ - mà cụ thể là việc thượng viện Mỹ không đồng ý gia nhập Hội quốc liên và thông qua Đạo luật quan thuế Smoot-Hawley - đã dẫn tới sự phản kháng dân tộc cực đoan ở Đức, Hitler lên nắm quyền và sau đó là Thế chiến hai. Fulbright quyết không phạm lại sai lầm đó một lần nữa. Ông ít khi nhìn những cuộc xung đột theo kiểu tách bạch trắng đen, cố gắng tránh miệt thị đối thủ, và luôn tìm kiếm cơ hội thương lượng trước, tốt nhất là trong bối cảnh đa phương.
Ngược lại, Rusk học ở Oxford vào đầu thập niên 30, khi bọn Quốc xã đã nắm quyền. Sau này, ông theo dõi nỗ lực không thành của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain nhằm thương lượng với Hitler, một cách tiếp cận bị lịch sử coi là sai lầm ghê gớm: nhượng bộ. Rusk coi chế độ toàn trị cộng sản giống như chế độ toàn trị Quốc xã và căm ghét cả hai như nhau. Vận động của Liên Xô nhằm kiểm soát và cộng sản hóa Trung và Đông Âu sau Thế chiến hai làm ông tin rằng chủ nghĩa cộng sản là một căn bệnh truyền nhiễm làm các quốc gia mắc phải trở nên thù địch với tự do cá nhân và hung hăng không thể kiềm chế nổi. Và ông cũng quyết không làm kẻ nhượng bộ. Do đó, ông ta và Fulbright tiếp cận vấn đề Việt Nam từ hai đầu của hố sâu ngăn cách không thể lấp đầy về học thuật cũng như tình cảm, một hố sâu xuất hiện hàng chục năm trước khi Việt Nam xuất hiện trên màn hình radar của nước Mỹ.

        Sự khác biệt tâm lý càng được đào sâu ở bên chủ chiến bởi xu hướng tồi tệ hóa đối thủ thường thấy trong thời chiến và bởi quyết tâm của Johnson, Rusk và nhiều người khác không muốn "mất" Việt Nam vì nếu mất sẽ gây tổn hại cho uy tín của Mỹ và của chính họ. Tôi cũng chứng kiến nỗi thôi thúc tương tự trong thời bình khi tôi làm tổng thống, trong những trận chiến về tư tưởng giữa tôi với quốc hội do đảng Cộng hòa nắm và các đồng minh của họ. Một khi không có sự thông hiểu, tôn trọng hoặc lòng tin thì bất cứ thỏa hiệp nào, chứ chưa nói đến việc thừa nhận mình sai, đều bị coi là sự yếu đuối và bất trung - những thành tố chắc chắn dẫn đến thất bại.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2015, 03:52:36 AM
        Trong mắt phe diều hâu hồi cuối thập niên 60, Fulbright là điển hình của lớp người ngây thơ khờ khạo. Sự ngây thơ là một cái bẫy mà bất cứ một người có thiện ý nào cũng phải dè chừng. Nhưng sự dạn dày cũng có những nguy hiểm của nó. Trong chính trị, khi sa xuống hố, nguyên tắc đầu tiên là phải ngưng không đào tiếp nữa- nếu bạn mù quáng không nhìn thấy khả năng sai lầm hoặc quyết không chịu nhìn nhận sai lầm, thì bạn chỉ lo tìm cái xẻng to hơn Chúng ta càng gặp nhiều khó khăn ở Việt Nam, càng nhiều biểu tình chống đối ở Mỹ thì lại càng nhiều binh sĩ được gửi đến đó. Số quân của chúng ta vượt quá 540.000 vào năm 1969 trước khi thực tế sau cùng cũng buộc chúng ta phải thay đổi.

        Tôi quan tâm và thích thú theo dõi tất cả những diễn biến này. Tôi đọc tất cả những gì có thể, kể cả tài liệu đóng dấu "không phổ biến" và "mật" mà tôi thỉnh thoảng phải giao. Những tài liệu này cho thấy rõ ràng rằng đất nước chúng ta đã bị lừa phỉnh về tiến triển, hay đúng hơn là không tiến triển, của cuộc chiến. Và tôi chứng kiến con số tổn thất ngày càng cao. Ngày nào Fulbright cũng nhận được danh sách binh sĩ quê ở Arkansas chết trận ở Việt Nam. Tôi có thói quen ghé văn phòng ông để xem danh sách đó, và một hôm tôi thấy tên bạn cùng lớp của tôi, Tommy Young. Chỉ vài ngày trước khi anh đến hạn về nhà, xe jeep của anh trúng mìn. Tôi buồn ghê lắm. Tommy Young là một anh chàng bự con, thông minh, nhạy cảm và bất vụ lợi, tôi từng nghĩ anh ta sau này rồi sẽ có cuộc sống tốt. Việc thấy tên anh trong danh sách, cùng với những người khác mà tôi chắc chắn là lẽ ra có thể cống hiến và đáng được hưởng nhiều điều từ cuộc sống, làm tôi lần đầu cảm thấy có lỗi rằng tôi chỉ là một sinh viên và chỉ nghe đến chết chóc ở Việt Nam từ rất xa. Có lúc tôi bắt đầu thả mình với ý nghĩ bỏ học và nhập ngũ - dù sao tôi cũng là người thích dân chủ trong triết lý sống cũng như trong việc chọn đảng: tôi không cảm thấy mình có quyền được thoát khỏi một cuộc chiến cho dù chính tôi cũng phản đối nó. Tôi đem chuyên này nói với Lee Williams. Ông bảo bỏ học là điên khùng, và bảo tôi nên tiếp tục cống hiến phần mình để chấm dứt cuộc chiến, và tôi sẽ không chứng tỏ được gì cả khi chỉ là một binh sĩ, hoặc có khi thành tử sĩ cũng nên. về lý trí mà nói thì tôi có thể hiểu điều đó và tôi đã tiêp tục công việc của mình, nhưng về tình cảm thì tôi vẫn thây áy náy. Dù sao tôi cũng là con của một cựu chiến binh Thế chiến hai. Tôi kính trọng quân đội, dù tôi cho rằng nhiều chỉ huy quân đội chả biết gì cả và là loại hữu dũng vô mưu. Cảm giác tội lỗi của tôi đã bắt đầu như thế - cảm giác mà hàng ngàn người khác, những người yêu nước nhưng căm ghét cuộc chiến - phải trải qua.

        Thật không dễ gì tái hiện lại những ngày xa xưa ấy cho những ai chưa từng sống qua. Với những ai từng sống qua những ngày ấy thì không cần phải nói thêm nhiều. Cuộc chiến cũng tàn phá cả ở quê nhà nữa, thậm chí những người chống đối nó một cách quả quyết nhất cũng bị ảnh hưởng. Fulbright thích và ngưỡng mộ Tổng thống Johnson. Ông thích làm thành viên của một nhóm mà ông cho là đang dẫn dắt nước Mỹ tiến lên, ngay cả về mặt dân quyền vốn là lĩnh vực mà ông không đóng góp được gì. Ông vẫn phải chấp nhận nhiều điều để làm việc, nhưng ông ghét phải làm một kẻ ngoài cuộc bị dè bỉu. Một hôm đi làm sớm, tôi thấy ông đi một mình dọc hành lang về văn phòng mình, chìm đắm trong nỗi buồn và u uất đến mức đâm cả vào tường vài lần trong khi lê bước để làm cái phận sự đáng nguyền rủa của mình.

        Dù ủy ban Đối ngoại bận rộn với nhiều việc khác, vấn đề Việt Nam vẫn trùm lấp tất cả trong công việc của các thành viên ủy ban và của tôi. Trong hai năm đầu ở Georgetown, tôi lưu giữ lại hầu như tất cả ghi chép ở lớp, bài kiểm tra cũng như bài thi. Kể từ năm thứ ba trở đi, tôi chỉ còn có được hai bài kiểm tra không ấn tượng gì lắm trong môn Tiền tệ và Ngân hàng. Trong học kỳ hai, tôi còn rút khỏi môn duy nhất từng bỏ ở Georgetown, môn Chủ nghĩa cộng sản Lý thuyết và Thực hành. Tôi có lý do chính đáng, dù nó chẳng liên quan gì đến Việt Nam.

        Vào mùa xuân năm 1967, bệnh ung thư của bố tái phát, và ông đi chữa bệnh vài tuần tại Trung tâm y tế Duke ở Durham, Bắc Carolina. Cuối tuần nào tôi cũng lái xe 266 dặm từ Georgetown đi thăm bố, khởi hành từ chiều thứ sáu, quay về vào khuya chủ nhật. Tôi không thể vừa thăm bố vừa học môn cộng sản kia được, nên tôi quyết định bỏ môn này. Giai đoạn ấy là một trong những giai đoạn căng thẳng và quan trọng nhất thời tuổi trẻ của tôi. Cứ khuya thứ sáu tôi tới Durham, dành cả ngày thứ bảy với bố. Chúng tôi ở bên nhau từ sáng chủ nhật tới đầu giờ chiều, rồi tôi quay về đi học và đi làm.

        Vào ngày chủ nhật Phục sinh, 26 tháng 3 năm 1967, chúng tôi đi lễ ở Nhà nguyện Duke, một tòa nhà thờ kiểu Gothic lớn. Bố tôi chưa bao giờ đi nhà thờ thường xuyên, nhưng ông thực sự thích thú lần dự lễ ấy. Có lẽ ông tìm thấy sự an bình trong thông điệp rằng Chúa Jesus hy sinh để cứu rỗi cả tội lỗi của ông nữa. Có thể cuối cùng ông cũng có đức tin khi chúng tôi hát bản thánh ca tuyệt vời "Hát với những đứa con vinh hiển": "Hãy hát với những đứa con của vinh hiển, hãy hát lên bài hát Phục sinh! Cái chết và khổ đau, chuyện Trái đất đen tối đều đã thuộc về ngày cũ. Những áng mây đã hé rạng, và bão tố thời gian sẽ mau tan; Con người thức tỉnh sẽ tìm thấy an bình vĩnh cửu nơi Thiên chúa". Sau khi đi lễ, chúng tôi ghé Chapel Hill, cơ sở chính của Đại học Bắc Carolina. Lúc ấy hoa sơn thù du nở rộ, làm nơi ấy bừng lên. Phần lớn mùa xuân phương Nam đều đẹp, nhưng cảnh tượng lần đó thật ngoạn mục và vẫn là kỷ niệm Phục sinh sống động nhất của tôi.

        Vào những đợt cuối tuần ấy, bố nói chuyện với tôi khác hẳn mọi khi. Phần lớn vẫn là nói chuyện phiếm, về cuộc sống của tôi và của bố, về mẹ và em Roger, về gia đình và bạn bè. Cũng đôi lúc câu chuyên sâu sắc hơn, khi bố nhìn lại cuộc đời mà ông biết ông sắp phải từ giã. Nhưng ngay cả trong chuyện phiếm, ông đã nói chuyện với sự cởi mở, sự sâu sắc và không giữ kẽ tôi chưa từng thây trước giờ. Trong những dịp cuối tuần dài và trôi qua chậm chạp này, chúng tôi đã đồng thuận được với nhau, và ông chấp nhận thực tế là tôi yêu thương và tha thứ cho ông. Giá như ông có thể đối diện cuộc sống với dũng khí và danh dự mà ông có khi đối diện cái chết, chắc hẳn ông đã trở thành một con người đáng mặt anh hào.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2015, 12:27:09 AM
 
         12


        Gần cuối năm thứ ba đại học lại là một kỳ bầu cử nữa. Khoảng một năm trước tôi đã quyết định sẽ ra tranh cử chức chủ tịch ban đại diện sinh viên. Dù tôi không mấy khi ở trong trường, tôi vẫn giữ liên lạc với bạn bè và theo dõi các hoạt động ở trường, và xét tới những lần thành công trước đây, tôi nghĩ là mình có thể chiến thắng. Nhưng thực ra tôi không bắt kịp tình hình như tôi tưởng. Đối thủ của tôi, Terry Modglin, là lớp phó lớp chúng tôi. Cậu ta đã chuẩn bị ra tranh cử trong cả năm trời, tìm kiếm sự ủng hộ và vạch ra một chiến lược. Tôi đưa ra một chương trình tranh cử cụ thể nhưng bình thường. Modglin thì khai thác tâm trạng bất bình ngày càng tăng trong khắp các đại học ở Mỹ, cũng như sự phản kháng cụ thể của sinh viên trước những đòi hỏi học thuật cũng như sinh hoạt nghiêm khắc cứng nhắc của trường Georgetown. Cậu ấy gọi chiến dịch của mình là "Cuộc nổi loạn của Modg", nhái theo "Cuộc nổi loạn của Dodge" - khẩu hiệu quảng cáo của hãng xe hơi. Cậu ấy và các ủng hộ viên mô tả họ như những người chính trực chống lại chế độ Dòng Tên và tôi. Vì quan hệ tốt của tôi với ban giám hiệu trường, lại thêm công việc và chiếc xe, rồi chiến dịch tranh cử đầy vẻ chính thông, nên tôi trở thành ứng viên "của trường". Tôi nỗ lực, và bạn bè tôi cũng vậy, nhưng có thể thấy ngay từ đầu chúng tôi đã gặp gay go vì hoạt động dữ dội của Modglin và đồng sự của cậu ta. Thí dụ như các tờ cổ động của tôi bỗng biến mất với một tốc độ báo động. Để trả đũa, một buổi tối gần ngày bầu cử, một số người của tôi đi xé các tờ cổ động của Modglin, bỏ vào trong xe và đem vứt đi. Họ đáng bị phát hiện và khiển trách.
Mọi chuyên đã ngã ngũ. Modglin đánh bại tôi tơi tả với tỷ lệ phiếu 717-570. Cậu ấy xứng đáng chiến thắng. Cậu ta suy nghĩ, làm việc và tổ chức đều hơn hẳn tôi. Và cậu ấy cũng mong muốn vị trí ấy tha thiết hơn tôi. Bây giờ nhìn lại, lẽ ra tôi không nên tranh cử từ đầu. Tôi không đồng ý với đa số bạn cùng lớp rằng chương trình học cần phải thoải mái hơn; tôi thích chương trình y như cũ. Tôi đã mất đi sự tập trung chú ý vào sinh hoạt trong trường vốn là thứ giúp tôi giành chức lớp trưởng những lần trước. Và chuyện tôi hay vắng mặt trong trường làm người ta dễ coi tôi như người thân cận của nhà trường tìm cách xoay xở cho qua truông. Tôi vượt qua thất bại này cũng nhanh chóng và đến cuối năm bắt đầu mong ở lại Washington trong dịp hè để làm việc cho ủy ban và học thêm vài môn. Tôi không thể biết được rằng mùa hè năm 67 ấy là sự yên lặng trước cơn bão, cho tôi và cho cả nước Mỹ.

        Mùa hè ở Washington mọi việc chùng xuống, và quốc hội thường tạm nghỉ trong tháng 8. Nếu bạn còn trẻ, quan tâm đến chính trị và không sợ nóng thì Washington là nơi tốt cho bạn. Kit Ashby và một bạn cùng lớp khác của tôi là Jim Moore mướn một căn nhà cũ ở số 4513 đại lộ Potomac, ngay quá đại lộ MacArthur và nằm phía sau trường Georgetown chừng một dặm. Họ mời tôi đến ở chung trong mùa hè và cả năm cuối nữa, lúc đó sẽ có thêm Tom Campbell và Tommy Caplan. Căn nhà này nhìn ra sông Potomac, có năm phòng ngủ, một phòng khách nhỏ và một gian bếp ngăn nắp. Nó cũng có hai khoảng ban công trống bên ngoài các phòng ngủ ở tầng hai, nơi chúng tôi có được ít ánh nắng vào ban ngày và đôi khi chúng tôi ngủ luôn tại đó trong không khí dịu nhẹ của mùa hè. Chủ trước của nhà này là một người từng soạn quy tắc thiết kế ống dẫn áp dụng toàn quốc từ đầu thập niên 50. vẫn còn một bộ những pho sách rất thú vị ấy trên các kệ sách trong phòng khách, được đỡ đứng lên bang một cặp giá chặn sách có hình ông Beethoven bên đàn dương cam. Đó là món đồ thú vị duy nhất trong cả căn nhà này. Bạn bè tôi nhường nó cho tôi, và tôi vẫn còn giữ.

        Kit Ashby là con trai một bác sĩ ở Dallas. Khi tôi làm việc cho Thượng nghị sĩ Fulbright, cậu ấy làm việc cho Thượng nghị sĩ Henry "Scoop" Jackson bang Washington, người mà, cũng như Johnson, theo khuynh hướng tự do trong đối nội nhưng lại có quan điểm diều hâu về vấn đề Việt Nam. Kit chia sẻ quan điểm của ông ấy và chúng tôi rất hay tranh luận với nhau. Jim Moore thì lại là con quân nhân nên đi khắp nơi trong thời thơ ấu. Anh ấy là một sử gia nghiêm túc và là một trí thức thực sự, với quan điểm về Việt Nam ở khoảng giữa quan điểm của tôi và của Kit. Vào mùa hè năm đó và năm học tiếp theo, tôi kết bạn với họ. Sau khi tốt nghiệp Georgetown, Kit gia nhập lính thủy quân lục chiến, rồi trở thành một giám đốc ngân hàng quốc tế. Khi tôi làm tổng thống, tôi chỉ định anh ấy làm đại sứ ở Uruguay. Jim Moore tiếp bước cha vào quân đội, về sau rất thành công khi làm quản lý quỹ đầu tư hưu trí của tiểu bang. Khi nhiều bang gặp rắc rối với các khoản đầu tư này vào đầu thập niên 80, tôi được anh ấy cho những lời khuyên rất hữu ích về việc nên làm gì ở Arkansas.

        Tất cả chúng tôi đều vui vẻ trong mùa hè năm ấy. Ngày 24 tháng 6, tôi đến Hội trường Constitution để nghe Ray Charles hát. Bạn hẹn hò với tôi lúc ấy là Carlene Jann, một cô gái nổi bật tôi gặp tại một trong các buổi giao lưu mà trường của các cô ở đó hay tổ chức cho các chàng trai Georgetown. Cô ta cao gần bằng tôi và có mái tóc vàng dài. Chúng tôi ngồi gần cuối ban công và nằm trong số rất ít người da trắng trong buổi giao lưu. Tôi khoái Ray Charles từ khi nghe bài "What'd I say" của ông: "Hãy bảo mẹ, bảo cha, anh sẽ gửi em về lại Arkansas". Đến cuối buổi biểu diễn Ray mời mọi người ra lối đi để nhảy theo nhạc. Khi tôi về đến đại lộ Potomac đêm đó, tôi phấn khích đến mức không ngủ được. Đến năm giờ sáng tôi đành chịu thua và dậy chạy bộ luôn ba dặm. Tôi còn giữ cuống vé buổi biểu diễn trong ví đến cả chục năm sau.

        Hội trường Constitution đã thay đổi rất nhiều kể từ thập niên 1930 khi tổ chức Những con gái của Cách mạng Mỹ còn từ chổi không cho Marian Anderson được biểu diễn ở đó vì bà là người da đen. Nhưng rất nhiều người da đen thế hệ sau đã tiến xa hơn rất nhiều so với việc đơn thuần bước vào các thính phòng hòa nhạc. Sự bất binh càng tăng về nghèo đói, tệ phân biệt đối xử vẫn tiếp diễn nạn bạo lực nhắm vào những người hoạt động cho dân quyền, và con số bất bình thường những binh sĩ da đen chiến đấu và chết ở Việt Nam đã châm ngòi cho phong trào phản kháng vũ trang mới đặc biệt là ở những thành phố của nước Mỹ, nơi mà Martin Luther King Jr. vẫn cố gắng giành lấy con tim và khối óc của người Mỹ da đen khỏi ảnh hưởng của phong trào "Black Power" (Hắc Quyền) vốn mang tính vũ trang hơn nhiều.

        Giữa thập niên 60, các vụ bạo loạn chủng tộc đủ các quy mô và độ dữ dội đã lan tràn các khu vực da đen ngoài miền Nam. Trước năm 1964, lãnh tụ_Hồi giáo da đen Malcolm X đã gạt bỏ việc hòa nhập chủng tộc để theo đuổi các nỗ lực chỉ của người da đen nhằm xóa nghèo và giải quyết các vấn nạn đô thị khác, và dự đoán rằng "bạo lực chủng tộc sẽ còn lên đến mức mà người da trắng chưa từng thấy".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2015, 04:02:16 AM
        Vào mùa hè năm 1967, khi tôi đang vui thú ở Washington thì ở Newark và Detroit đã xảy ra những vụ bạo loạn nghiêm trọng. Đến cuối hè, ở các thành phố tại Mỹ đã có trên 160 cuộc bạo động. Tổng thống Johnson lập ra ủy ban tư vấn quốc gia về Trật tự dân sự, chủ tịch là Thống đốc Otto Kerner của bang Illinois, ủy ban này kết luận rằng các vụ bạo loạn là kết quả của thói tàn bạo và kỳ thị chủng tộc của cảnh sát cũng như việc người da đen thiếu cơ hội kinh tế và giáo dục. Kết luận đầy tính điềm báo này của ủy ban có thể được rút gọn trong một câu nổi tiếng sau này: "Đất nước ta đang tiến đến hai xã hội, một trắng, một đen - tách bạch và bất bình đẳng".

        Trong mùa hè bất ổn đó, Washington vẫn tương đối yên ả, nhưng chúng tôi cũng được nếm mùi của phong trào Hắc Quyền khi trong nhiều tuần liền, đêm nào các nhà đấu tranh cho quyền lợi của người da đen cũng chiếm cứ Vòng xoay Dupont, cách Nhà Trắng không xa, nsay chỗ đại lộ Connecticut và Massachusetts giao nhau. Một người bạn tôi biết vài người trong số này và một tối dắt tôi đến đây xem họ nói gì. Họ thật cao ngạo, giận dữ và đôi khi nói không rõ ràng, nhưng họ không ngu, và dù tôi không đồng tình với các giải pháp của họ, nhưng cội rễ những thống khổ của họ là có thật.

        Lằn ranh giữa tính bạo động của phong trào dân quyền và bạo động của phong trào phản chiến ngày càng lu mờ dần. Dù phong trào phản chiến mới đầu thuộc về giới sinh viên đại học da trắng xuất thân trung lưu hoặc giàu có cùng lớp trí thức lớn tuổi hơn, giới lãnh đạo tôn giáo và nghệ sĩ, nhưng khá đông các lãnh đạo của phong trào này cũng có liên quan đến phong trào dân quyền. Đến mùa xuân năm 1966, phong trào phản chiến đã vượt quá tầm của những người tổ chức ra nó, với những cuộc tuần hành lớn và tập hợp khắp nơi trên nước Mỹ, một phần được thúc đẩy bởi phản ứng của dân chúng trước các cuộc điều trần của Thượng nghị sĩ Fulbright. Vào mùa xuân năm 1967, 300.000 người đã tuần hành chống chiến tranh ở Công viên Central Park của Thành phố New York.

        Lần đầu tiên tôi chạm trán với những người hoạt động phản chiến nghiêm túc là vào mùa hè năm đó, khi Hiệp hội sinh viên quốc gia (NSA) tổ chức đại hội ở Đại học Maryland, nơi tôi từng tham dự Boys Nation bốn năm trước. Hội NSA không cực đoan bằng tổ chức Sinh viên ủng hộ Xã hội dân chủ (SDS) nhưng kiên quyết chống chiến tranh. Uy tín của hội bị tổn thương mùa xuân năm trước khi hội tiết lộ rằng đã nhận tiền của CIA trong nhiều năm để tài trợ cho những hoạt động quốc tế của mình. Dù vậy, hội vẫn được sự ủng hộ của nhiều sinh viên ở khắp nước Mỹ.

        Một tối tôi lên chỗ đại hội ở College Park để xem có gì diễn ra. Tôi tình cờ gặp Bruce Lindsey, bạn tôi gặp hồi năm 1966 khi còn làm việc cho chiến dịch tranh cử thống đốc ở Little Rock, khi ấy cậu ta làm việc cho Brooks Hays. Cậu ấy đến dự cùng với đại biểu NSA miền Tây Nam, Debbie Sale, cũng là người Arkansas. Bruce trở thành bạn thân, cố vấn và là người tin cẩn của tôi khi tôi làm thống đốc và tổng thống - kiểu bạn mà ai cũng cần và không một tổng thống nào có thể thiếu. Sau này, Debbie giúp tôi đặt chân được vào New York. Nhưng tại kỳ đại hội NSA năm 1967, chúng tôi chỉ là ba thanh niên Arkansas vẻ ngoài bình thường, cư xử cũng bình thường, đều phản đối chiến tranh và tìm kiếm bạn cùng chí hướng.

        NSA đầy người như tôi, những người thấy khó chịu với nhóm SDS có vẻ bạo lực hơn nhưng vẫn muốn được nằm trong danh sách những người cố gắng chấm dứt chiến tranh. Bài diễn văn đáng chú ý nhất đại hội là của Allard Lowenstein kêu gọi sinh viên thành lập một tổ chức quốc gia nhằm đánh bại Tổng thống Johnson vào năm 1968. Phần lớn mọi người lúc ấy đều nghĩ rằng đó là một ý nghĩ xuẩn ngọc, nhưng sự việc thay đổi nhanh đến mức khiến AI Lowenstein trở thành nhà tiên tri. Trong vòng ba tháng, phong trào phản chiến huy động được 100.000 người tập trung ở Đài tưởng niệm Lincoln. Ba trăm người trong số này gom thẻ quân dịch lại, được hai nhà hoạt động phản chiến - William Sloane Coffin, linh mục của Đại học Yale, và Bác sĩ nhi khọa nổi tiếng Benjamin Spock chuyển trả cho Bộ Tư pháp.

        Thật thú vị là NSA cũng từng phản đối sự toàn trị khắc nghiệt, nên trong hội có cả đại diện của các nước vùng Baltic. Tôi nói chuyện với một phụ nữ đại diện cho Latvia. Cô ấy lớn hơn tôi vài tuổi, và tôi có cảm tưởng rằng nghề của cô ta là đi dự mấy cuộc họp kiểu này. Cô ta say sưa nói về niềm tin một ngày nào đó chủ nghĩa cộng sản Xô Viết sẽ thất bại và Latvia sẽ lại được tự do. Lúc đó tôi thấy cô ta nổ quá. Thế mà hóa ra cô ấy cũng tiên tri y như AI Lowenstein.

        Ngoài làm việc cho ủy ban và thỉnh thoảng đi chơi, tôi học thêm ba môn trong hè - triết học, đạo đức và Ngoại giao Mỹ ở Viễn Đông. Đó là lần đầu tiên tôi đọc Kant và Kierkegaard, Hegel và Nietzsche. Trong lớp đạo đức tôi ghi chép cẩn thận, một hôm vào tháng 8, một sinh viên trong lớp vốn thông minh sáng láng nhưng ít khi đi học đề nghị tôi dành vài tiếng cùng dò lại ghi chép của mình với anh ta trước kỳ thi cuối khóa. Vào ngày 19 tháng 8, ngày sinh nhật thứ 21 của tôi, tôi dành ra bốn tiếng để làm việc đó, và anh ta sau này thi được điểm B. Hai mươi lăm năm sau, khi tôi thành tổng thống, anh bạn học Turki al-Faisal ấy, con trai của quốc vương Ảrập Xêút, là chỉ huy tình báo Ảrập Xêút, cương vị mà anh ta nắm giữ suốt 24 năm. Tôi chắc là điểm môn triết học của anh ta chẳng liên quan gì đên những thành công trong đời anh ấy, nhưng chúng tôi thích đùa về chuyện đó.

        Giáo sư dạy Ngoại giao Mỹ, Jules Davids, là một học giả có tiếng sau này giúp Averell Harriman viết hồi ký của ông ta. Bài luận của tôi viết về quốc hội và nghị quyết Đông Nam Á. Nghị quyết này, thường được gọi là nghị quyết Vịnh Bắc bộ, được thông qua ngày 7 tháng 8 năm 1964 theo yêu cầu của Tổng thống Johnson, sau khi hai tàu chiến USS MaddoxUSS C. Turner Joy được cho là đã bị tàu hải quân Bắc Việt Nam tấn công vào ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964. Mỹ trả đũa bằng cách tấn công các căn cứ hải quân và khu chứa dầu của Bắc Việt. Nghị quyết cho phép tổng thống "thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết nhằm giáng trả các cuộc tấn công vũ trang nhắm vào lực lượng Mỹ và ngăn chặn các hành động xâm lấn tiếp theo", đồng thời cho phép "sử dụng mọi bước cần thiết, kể cả sử dụng lực lượng vũ trang" để trợ giúp bất cứ quốc gia nào trong Hiệp ước SEATO "để bảo vệ tự do cho quốc gia ấy".

        Luận điểm chính trong bài luận của tôi là, ngoại trừ Thượng nghị sĩ Wayne Morse, không có ai xem xét nghiêm túc hoặc nghi vấn về tính hợp hiến, hay thậm chí là tính khôn ngoan, của nghị quyết này. Nước Mỹ và quốc hội nhảy dựng lên và muốn cho thấy rằng chúng ta không thể bị bắt nạt hoặc bỏ chạy khỏi Đông Nam Á. Tiến sĩ Davids thích bài viết của tôi và nói bài này đáng được xuất bản. Tôi thì không chắc lắm; vẫn còn rất nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp. Ngoài những câu hỏi về tính hợp hiến, một số nhà báo đã nghi vấn có đúng là tàu chiến Mỹ đã bị tấn công hay không, và khi tôi hoàn tất bài luận thì Thượng nghị sĩ Fulbright đang đòi Lầu năm góc cung cấp thêm thông tin về sự cố này. Ủy ban tiếp tục xem xét sự kiện Vịnh Bắc bộ cho đến năm 1968, và các cuộc điều tra có vẻ như xác nhận rằng ít nhất là vào ngày 4 tháng 8, các tàu Mỹ không bị bắn. Thật hiếm khi trong lịch sử lại có chuyện một việc chưa xảy ra lại mang đến những hậu quả ghê gớm như thế.

        Trong vòng vài tháng, những hậu quả đó để ập xuống đầu Lyndon Johnson. Việc thông qua nhanh chóng và gần như nhất trí nghị quyết Vịnh Bắc bộ trở thành một ví dụ đau đớn cho câu ngạn ngữ cổ rằng lời nguyền lớn nhất của cuộc sống chính là lời cầu nguyện trở thành hiện thực.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2015, 02:59:26 AM
 
        13


        Năm cuối đại học của tôi là sự kết hợp kỳ lạ giữa đời sinh viên thú vị và biến động cá nhân và chính trị của tôi. Khi nhìn lại, thật kỳ lạ vì một người lại có thể bị hút vào bao nhiêu việc lớn và nhỏ đến vậy cùng một lúc, nhưng rõ ràng là người ta vẫn tìm được niềm vui và đốì phó với nỗi đau của cuộc sông thường nhật trong những hoàn cảnh khó khăn kỳ quặc nhất.

        Tôi theo học hai môn đặc biệt thú vị, luật quốc tế và lịch sử châu Âu. Tiến sĩ William O'Brien dạy môn luật quốc tế, ông thường cho phép tôi viết một tiểu luận về sự phản đối có ý thức đối với chế độ quân dịch, khảo cứu hệ thống tuyển quân của các nước khác và so sánh với hệ thống của Mỹ, cũng như xem xét nguồn gốc luật pháp và triết lý của việc phản kháng quân dịch. Tôi biện luận rằng không nên giới hạn sự phẩn kháng có ý thức trong phạm trù tôn giáo phản kháng chiến tranh, vì sự phản kháng ấy bắt nguồn không phải từ triết lý thần học mà từ sự chống đối mang tính đạo đức cá nhân đối với việc tham gia nghĩa vụ quân sự. Do đó, mặc dù rất khó phán xét dựa vào từng trường hợp một, chính quyền nên cho phép người ta có quyền phản đối một cách có ý thức và có lựa chọn nếu như sự phản đối ấy là chân thực. Việc chấm dứt chế độ quân dịch vào thập niên 70 cho thấy luận điểm này còn nhiều điều cần phải bàn.
Môn lịch sử châu Âu thực ra là một cuộc thăm dò về lịch sử tri thức châu Âu. Giáo sư môn này là Hisham Sharabi, một người Libăng uyên bác và thông minh và nhiệt thành ủng hộ sự nghiệp của người Palestine. Theo tôi nhớ có 14 sinh viên trong lớp và môn này kéo dài 14 tuần mỗi học kỳ, mỗi tuần học hai tiếng. Chúng tôi đọc hết tất cả sách. Mỗi tuần một sinh viên phải trình bày tóm tắt trong 10 phút về một cuốn sách và dẫn dắt một buổi thảo luận. Trong 10 phút, bạn muốn làm gì thì làm - tóm tắt lại nội dung, bàn về ý chính trong sách, hoặc nêu lên vấn đề bạn quan tâm - nhưng phải làm gói gọn trong 10 phút. Sharabi tin rằng nếu bạn không làm được tức là chưa hiểu cuốn sách, và ông giữ giới hạn thời gian này rất nghiêm. Cũng có một lần ông cho ngoại lệ đối với một anh học chuyên ngành triết, người đầu tiên tôi nghe thấy sử dụng từ "bản thể học" - lúc ấy tôi cứ tưởng đấy là một thuật ngữ y khoa. Anh này nói quá 10 phút, và đến khi anh ta nói hết, Sharabi tròn mắt đầy ẩn ý nhìn chằm chằm vào anh ta và nói "Nếu tôi mà có súng là tôi bắn anh rồi". Ối trời. Tôi trình bày về cuốn Capitalism, Socialism and Democracy - Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và Dân chủ của Joseph Schumpeter. Không rõ tôi trình bày có hay không nhưng tôi dùng từ ngữ đơn giản, và dù bạn có tin hay không thì tôi hoàn tất trong chỉ hơn chín phút một chút.

        Trong phần lớn mùa thu năm 1967 tôi chuẩn bị cho Hội nghị tháng 11 của Cộng đồng Đại tây dương (CONTAC). Là chủ trì chín hội thảo của CONTAC, công việc của tôi là xếp chỗ đại biểu, đưa ra đề tài tham luận, và tìm các chuyên gia đủ cho tổng cộng 81 phiên họp. Trường Georgetown hội tụ được sinh viên từ châu Âu, Canada, và từ các nơi ở Mỹ về dự một loạt các hội thảo và bài giảng để nghiên cứu các vấn đề mà cộng đồng này đang gặp phải. Từ hai năm trước tôi đã tham gia vào hội nghị, và sinh viên ấn tượng nhất tôi được gặp là một sinh viên sĩ quan West Point quê ở Arkansas, giỏi đứng đầu lớp và cũng nhận được học bổng Rhodes, tên Wes Clark. Quan hệ của Mỹ với các nước châu Âu khá căng thẳng vì châu Âu phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng tầm quan trọng của NATO đối với an ninh của châu Âu trong Chiến tranh Lạnh làm vấn đề này trở thành một sự rạn nứt nghiêm trọng. Hội nghị thành công rực rỡ, chủ yếu là nhờ vào trình độ tuyệt vời của sinh viên tham dự.

        Cuối mùa thu, bố tôi lại trở bệnh. Ung thư đã di căn và rõ ràng là không còn chữa trị gì thêm được nữa. Ông vẫn nằm viện một thời gian, nhưng muốn về để chết ở nhà. Ông bảo mẹ là ông không muốn tôi phải bỏ học nhiều, nên họ không gọi cho tôi ngay. Một hôm ông nói: "Đến lúc rồi". Mẹ gọi tôi và tôi đáp máy bay về nhà. Tôi biết chuyên này thế nào cũng tới, chỉ hy vọng rằng ông vẫn còn nhận ra tôi khi tôi về đến nơi để tôi có thể nói với ông là tôi yêu thương ông.

        Lúc tôi về, bố đã phải nằm liệt giường, việc dậy để đi vệ sinh đã cần người đỡ. Ông sút cân kinh khủng và rất yếu. Mỗi lần ông cố đứng dậy thì đầu gối lại sụm xuống; ông như một con rối điều khiển bằng dây nhưng người điều khiển lại cứ giật mạnh. Mỗi lần tôi hoặc Roger giúp ông, ông có vẻ thích. Có lẽ đưa ông vào phòng vệ sinh rồi trở ra là điều cuối cùng tôi làm cho bố. Ông chịu đựng chuyện ấy một cách khá hài hước, còn đùa rằng như thế này thật bê bối và rồi chẳng bao lâu nữa chuyên này cũng sẽ chấm dứt. Khi ông yếu quá không thể đi được dù có người giúp, ông phải ngưng vào nhà vệ sinh và chuyển sang dùng bô. Ông rất khó chịu khi phải dùng bô trước mặt mấy người y tá bạn mẹ đến giúp.

        Chẳng bao lâu sau ông không còn kiểm soát được cơ thể, nhưng trí óc và giọng nói của ông vẫn còn tỉnh táo trong khoảng ba ngày sau khi tôi về, và chúng tôi cũng nói chuyện được với nhau. Ông nói sau khi ông mất mọi chuyện cũng sẽ ổn thỏa thôi và rằng thế nào rồi tôi cũng được học bổng Rhodes khi dự phỏng vấn trong tháng tới. Một tuần sau ông bắt đầu lơ mơ dù thỉnh thoảng có tỉnh lại. Hai lần ông thức dậy nói với mẹ và tôi là ông vẫn còn sống. Hai lần dù lẽ ra đã bị mê man hoặc bị làm thuốc đến nỗi không thể nghĩ hoặc nói được (ung thư đã di căn xuống phổi và không có lý gì băt ông phải tiếp tục uống aspirin, thứ duy nhất ông còn uống được lúc đó), ông làm chúng tôi ngạc nhiên khi hỏi tôi là liệu nghỉ học thế này có sao không, và nếu không ổn thì không cần tôi phải ở lại đay vì cũng đâu còn gì để làm và chúng tôi cũng đã nói chuyện lần cuối rồi, Đến khi ông hoàn toàn không nói được, ông vẫn tỉnh dậy, tập trung vào một ai đó và phát ra những âm thanh để chúng tôi hiểu được những chuyên đơn giản như khi ông muốn trở mình trên giường chẳng hạn. Tôi chỉ còn biết tự hỏi không biết trong tâm trí ông còn diễn ra điều gì nữa.

        Sau lần cuối cùng cố giao tiếp, ông vật vã thêm một ngày rưỡi khủng khiếp nữa. Thật khủng khiếp khi phải nghe những âm thanh rít lên khi ông thở và nhìn thấy người ông vặn vẹo, trương lên dị dạng chưa từng thấy. Khi ông gần mất, mẹ vào phòng thăm ông, òa khóc và nói rằng bà yêu thương ông. Sau tất cả những gì ông bắt bà chịu đựng, tôi hy vọng bà chân thực khi nói những lời ấy, có lẽ là cho chính bà hơn là cho ông.

        Những ngày hấp hối của bố khiến nhà tôi tất bật kiểu tang gia ở miền quê. Gia đình và bạn bè thường qua lại để tỏ lòng thông cảm. Phần lớn họ đem theo thức ăn để chúng tôi không phải nấu nướng gì và còn có thức ăn để đãi khách. Vì tôi hầu như không ngủ, và ăn uống lộn xộn nên tôi tăng 4,5kg trong vòng hai tuần ở nhà. Nhưng cũng thật dễ chịu khi có đầy thức ăn và bạn bè xung quanh trong khi chẳng còn gì dể làm ngoài việc chờ thần chết đến để hoàn tất công việc.

        Hôm đám tang trời đổ mưa. Khi tôi còn nhỏ, bố hay nhìn chằm chằm qua cửa sổ lúc trời bão và bảo "Đừng chôn tôi khi trời mưa". Đó là một câu nói đưa chuyện thường thấy ở miền Nam, và tôi chẳng bao giờ chú ý gì khi ông nói như vậy. Nhưng dù sao điều đó cũng ăn vào đầu tôi ý nghĩ rằng ông coi nó là quan trọng, và ông sợ bị chôn trong mưa. Bây giờ điều đó sắp xảy ra, sau tất cả những gì ông nỗ lực trong thời gian bệnh tật để xứng đáng được một điều gì đó tốt đẹp hơn.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2015, 03:59:03 AM
        Chúng tôi lo trời mưa khi đi xe đến nhà thờ và trong suốt thời gian làm lễ, khi ông mục sư nói những lời tốt đẹp về bố mà thực ra không đúng gì cả, và chắc nếu bố nghe được thì cũng sẽ cười phá lên. Không giông như tôi, bố không bao giờ nghĩ ngợi về tang lễ và chắc cũng chẳng thích tang lễ của mình lắm, ngoại trừ mấy bài hát ông chọn trước cho mình. Tang lễ kết thúc, chúng tôi gần như chạy bổ ra ngoài xem trời hết mưa chưa. Trời vẫn còn mưa, và lúc lái xe chầm chậm từ nhà thờ đến nghĩa trang, chúng tôi lo theo dõi thời tiết đến quên cả đau khổ.

        Và rồi ngay khi chúng tôi quẹo từ phố vào đường nhỏ trong nghĩa trang, gần đến huyệt mới đào, Roger là người đầu tiên để ý thấy mưa đã ngưng, và la lên báo cho chúng tôi. Chúng tôi ngỡ ngàng và cảm thấy nhẹ lòng khôn tả. Nhưng chúng tôi giữ kín chuyện đó, chỉ tự cho phép mình cười mỉm một chút, y như nụ cười của bố khi ông tỉnh táo. Trong chặng đường dài cuối cùng về nơi mà tất cả chúng ta rồi sẽ tới, ông đã tìm được Chúa nhân từ. Trời không mưa khi chôn cất ông.

        Một tháng sau đám tang, tôi lại quay về nhà để dự phỏng vấn học bổng Rhodes. Tôi đã thích học bổng này từ thời trung học. Mỗi năm có 32 suất cho sinh viên Mỹ đi học ở Oxford hai năm, kinh phí do quỹ thành lập từ năm 1903 theo di chúc của Cecil Rhodes đài thọ. Ông Rhodes, người kiếm được cả một gia tài trong các mỏ kim cương ở Nam Phi, cấp học bổng cho sinh viên nam từ tất cả các thuộc địa xưa và nay của Anh có thành tích tốt trong học tập, thể thao và lãnh đạo. Ông muốn gửi đến Oxford những người quan tâm và giỏi ở nhiều mặt ngoài học vấn, vì ông cho rằng những người như vậy thường sẽ "giỏi phục vụ công chúng" hơn là chỉ thuần túy thăng tiến cá nhân. Trong nhiều năm, các ủy ban chọn lựa dần tạm gác quy định phải giỏi thể thao nếu như ứng viên giỏi một mặt nào đó ngoài học vấn. Vài năm sau nữa, quỹ này sẽ mở rộng cho cả nữ giới tham gia: Sinh viên có thể đăng ký xin học bổng ở bang quê nhà hoặc ở bang mà mình đang học. Tháng 12 hàng năm, mỗi bang sẽ đề cử hai ứng viên đi tranh đua ở tám cuộc thi khu vực và chọn ra những người được học bổng năm học tiếp theo. Quá trình lựa chọn này đòi hỏi ứng viên phải có từ năm đến tám lá thư giới thiệu, viết một bài luận giải thích tại sao anh ta muôn đến Oxford, và tham dự các cuộc phỏng vấn ở cấp tiểu bang và khu vực trước một hội đồng bao gồm những cựu sinh viên học bổng Rhodes và một vị chủ tịch người ngoài. Tôi nhờ cha Sebes, tiến sĩ Giles, tiến sĩ Davids, và giáo sư tiếng Anh năm hai của tôi, Mary Bond viết thư giới thiệu, ngoài ra còn nhờ tiến sĩ Bennett và Frank Holt ở quê nhà, cùng với Seth Tillman - người viết diễn văn cho Thượng nghị sĩ Fulbright và giảng dạy ở trường Quốc tế học cao cấp thuộc Đại học John Hopkins, vừa ta thấy vừa thân thiết với tôi như bạn. Theo lời đề nghị của Lee Williams, tôi cũng nhờ Thượng nghị sĩ Fulbright nữa. Thực ra tôi khong muốn làm phiền ông thượng nghị sĩ vì ông rất bận rộn và tình hình chiến tranh ngày càng căng thẳng, nhưng Lee nói ông ấy muốn viết thư, và đã viết cho tôi một lá thư thật hào phóng.

        Ủy ban Rhodes đề nghị những người giới thiệu tôi liệt kê ra các điểm yếu và điểm mạnh của tôi. Thầy cô ở Georgetown đã thương tình và chỉ nói rằng tôi không phải là tay chơi thể thao giỏi. Seth nói dù tôi xứng đáng nhận học bổng, "anh này không giỏi lắm trong những công việc thường lệ mà anh ta làm cho ủy ban, những công việc này dưới tầm học vấn của anh ta và có vẻ như anh ta hay quan tâm đến nhiều thứ khác nữa". Tôi thấy lạ quá, tôi cứ tưởng mình làm việc tốt tại ủy ban, nhưng đúng là như ông Seth nói, trong tâm trí tôi còn có nhiều thứ khác. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi khó tập trung vào bài luận. Cuối cùng, tôi chịu không thể viết bài luận ở nhà được và ra mướn phòng khách sạn ở gần điện Capitol cách tòa nhà văn phòng thượng viện mới vài dãy phô để yên tĩnh hơn. Giải thích cho rõ ràng về cuộc đời còn ngắn của mình và tại sao tôi lại xứng được đi Oxford học thật ra khó hơn tôi tưởng.

        Tôi bắt đầu viết rằng tôi đến Washington "để chuẩn bị cho cuộc sống của một chính trị gia"; tôi đề nghị ủy ban gửi tôi đến Oxford "để tìm hiểu sâu sắc những vấn đề tôi chỉ mới bắt đầu xem xét", hy vọng tôi có thể "rèn đúc một trí tuệ có thể chịu đựng được áp lực của đời sống chttih trị". Lúc ấy tôi cho là bài luận cũng khá. Bây giờ tôi thấy nó có vẻ như hơi căng thẳng và nói quá một chút, cứ như thể tôi cố nói theo giọng điệu của một sinh viên xứng được học bổng Rhodes sẽ nói. Có lẽ là do sự bộc trực của tuổi trẻ và vì tôi sống trong thời mà nhiều thứ cũng thái quá.

        Tranh học bổng ở bang Arkansas là một lợi thế lớn. Vì diện tích của tiểu bang cũng như số lượng sinh viên ở đây nên có ít đối thủ hơn; nếu ở New York, California hoặc các tiểu bang lớn khác chắc tôi chẳng thể lọt vào vòng thi khu vực được, vì ở đó phải tranh đua với sinh viên các trường thuộc nhóm Ivy League vốn đã điều chỉnh hệ thống của mình để đào tạo ra các sinh viên cừ khôi nhất tranh học bổng Rhodes. Trong số 32 người được cấp học bổng năm 1968, trường Yale và Harvard chiếm sáu suất, Darmouth ba suất, Princeton và Học viện Hải quân chiếm hai. Ngày nay số người được học bổng không tập trung như vậy vì nước Mỹ có đến hàng trăm trường đại học tốt, nhưng những trường cao cấp và các học viện quân đội vẫn chiếm ưu thế.

        Ủy ban ở Arkansas nằm dưới quyền điều hành của Bill Nash một người cao gầy, một thành viên hội Mason tích cực và là đồng sự cao cấp của Công ty luật Rose ở Little Rock - công ty lâu đời nhất ở phía tây sông Mississippi có gốc rễ từ năm 1820. Ông Nash là một người ý chí kiểu cổ thường đi bộ vài dặm đến sở làm hàng ngày, dù trời mưa hay nắng. Trong ủy ban còn có một đồng sự của Công ty luật Rose nữa, Gaston Williamson, người đại diện cho Arkansas trong ủy ban tuyển chọn khu vực. Gaston bự con và thông minh, có giọng nói khỏe, trầm và một phong cách chỉ huy. Ông từng phản đối việc Faubus làm ở trường trung học và đã làm mọi cách để chống lại những nhóm phản tiến bộ. Ông cực kỳ ủng hộ và giúp tôi rất nhiều trong quá trình lựa chọn và là một nguồn tư vấn khôn ngoan sau này khi tôi làm Bộ trưởng tư pháp và thống đốc. Sau khi Hillary đi làm cho Công ty Rose, ông ấy cũng kết bạn và chỉ bảo cô ấy.

        Tôi vượt qua được các cuộc phỏng vân ở Arkansas và đi New Orleans để dự chung kết. Chúng tôi ở khách sạn Hoàng gia Orleans trong khu nhà Pháp, nơi diễn ra các cuộc phỏng vấn cho các ứng viên đến từ Arkansas, Oklahoma, Texas, Louisiana, Mississippi và Alabama. Chuẩn bị duv nhất của tôi trước khi phỏng vấn là đọc bài luận của mình, xem báo Time, Newsweek và us News & World Report từ đầu đến cuối, và đánh một giấc ngon lành. Tôi biết thế nào cũng có những câu hỏi bất ngờ và tôi muốn mình tỉnh táo. Và tôi không muôn để tình cảm lấn át mình. New Orleans nhắc nhở tôi về những kỷ niệm hồi xưa: lúc tôi còn nhỏ và nhìn thấy mẹ quỳ xuống cạnh đường tàu và khóc khi tôi và bà ngoại lên tàu; khi chúng tôi thăm New Orleans và bờ biển vịnh Mississippi trong chuyến đi chơi xa duy nhất của gia đình. Và tôi cũng không thể gạt khỏi đầu lời tiên đoán đầy tự tin của bố tôi trước khi chết rằng tôi sẽ đoạt học bổng. Tôi muốn đoạt học bổng vì ông nữa.

        Chủ tịch ủy ban là Dean McGee của bạng Oklahoma, chủ tịch Công ty dầu Kerr-McGee và cũng là một nhân vật quyền lực trong đời sống chính trị và kinh doanh ở Oklahoma. Thành viên ủy ban làm tôi ấn tượng nhất là Barney Monaghan, chủ tịch công ty thép Vulcan Ở Birmingham, Alabama. Ông trông giống một giáo sư đại học hơn là một doanh nhân miền Nam, lúc nào cũng mặc áo vest đầy đủ lệ bộ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2015, 01:29:57 AM
        Câu hỏi khó nhất tôi bị hỏi là về thương mại. Người ta hỏi tôi ủng hộ thương mại tự do, chủ nghĩa bảo hộ hay ý kiến trung dung. Khi tôi nói tôi ủng hộ thương mại tự do, đặc biệt là đối với những nền kinh tế phát triển, người hỏi bẻ lại: "Thế cậu giải thích thế nào về những nỗ lực của Thượng nghị sĩ Fulbright nhằm bảo vệ thịt gà của Arkansas?". Đó là một câu hỏi kiểu gài bẫy, cố tình bắt tôi phải chọn ngay lúc ấy hoặc là không nhẩt quán về thương mại hoặc không trung thành với Fulbright. Tôi thú nhận tôi không biết gì về chuyện thịt gà, nhưng tôi không nhất thiết phải đồng ý với ông thượng nghị sĩ về tất cả mọi thứ, và tôi vẫn tự hào làm việc cho ông ấy. Gaston Williamson chen vào và gỡ bí cho tôi, giải thích rằng vấn đề này không đơn giản như kiểu hỏi đó; trên thực tế, Fulbright cố mở cửa thị trường nước ngoài cho thịt gà của chúng tôi. Thật không thể ngờ nổi là tôi có thể phá hỏng cuộc phỏng vấn chỉ vì tôi không biết gì về vụ thịt gà này. Chuyện ấy không xảy ra một lần nào nữa. Khi tôi làm thống đốc và tổng thống, mọi người thường kinh ngạc vì thấy tôi biết nhiều về chuyện nuôi, giết thịt và bán gà ra sao ở thị trường trong và ngoài nước.

        Kết thúc cả 12 cuộc phỏng vấn và vài phút hội ý, chúng tôi được đưa trở lại phòng tiếp tân. ủy ban đã chọn một cậu ở New Orleans, hai ở Mississippi, và tôi. Sau khi chúng tôi nói chuyện với báo giới, tôi gọi điện cho mẹ đang nóng lòng chờ điện thoại và hỏi bà xem liệu tôi mặc vải tuýt của Anh có hợp không, ơn Chúa, tôi hạnh phúc quá - hạnh phúc cho mẹ sau bao gian truân bà phải chịu đựng để nuôi tôi đến ngày hôm đó, hạnh phúc vì lời tiên đoán cuối cùng của bố đã thành sự thật, hạnh phúc vì vinh dự và những hứa hẹn mà hai năm tới sẽ mang lại. Thế giới dường như dừng lại. Không còn Việt Nam, không hỗn loạn chủng tộc, không rắc rối chuyện nhà, không lo lắng về bản thân cũng như tương lai. Tôi ở lại New Orleans thêm vài giờ, và tận hưởng thành phố ấy như một đứa con quê nhà.

        Tôi về nhà, ra thăm mộ bố, và bắt đầu kỳ nghỉ đông. Báo địa phương thậm chí còn viết một bài be bé về tôi, và có cả một mẩu bình luận khen ngợi nữa. Tôi đến nói chuyện ở một câu lạc bộ dân quyền, vui chơi với bạn bè, yà nhận hàng loạt thư từ, điện thoại chúc mừng. Giáng sinh năm ấy vừa vui vừa buồn; lần đầu tiên kể từ khi em tôi ra đời, chỉ có ba chúng tôi đón lễ.

        Sau khi tôi quay lại Georgetown, lại có thêm một tin buồn. Vào ngày 17 tháng 1, bà ngoại tôi mất. Hồi bà bị đột quỵ lần thứ hai vài năm trước, bà đòi quay về Hope để ở trong nhà dưỡng lão - trước đây là bệnh viện Julia Chester. Bà yêu cầu được ở trong đúng căn phòng mà mẹ tôi nằm khi sinh tôi. Cái chết của bà, cũng giống như của bố, chắc hẳn làm mẹ có những tình cảm trái ngược. Bà ngoại lúc nào cũng khó khăn với mẹ. Có lẽ vì ông ngoại yêu con mình quá nên bà thường trút giận lên con gái. Sau khi ông ngoại mất, những cơn thịnh nộ của bà mới bớt dần, và đặc biệt khi bà được một phụ nữ dễ thương thuê làm y tá riêng và đưa bà đi chơi ở Wisconsin và Ari­zona, thỏa mãn phần nào nỗi khao khát thoát khỏi cuộc sống nhàm chán, gò bó của bà. Trong bốn năm đầu đời tôi, bà rất thương tôi, dạy tôi đọc và tập đếm, rửa chén dĩa cho tôi, và rửa tay cho tôi. Sau khi bà chuyển về Hot Springs, mỗi lần tôi được điểm A ở trường bà đều cho tôi năm đôla. Năm tôi 21 tuổi, bà vẫn còn hỏi "cháu tôi còn giữ khăn tay bà cho không". Tôi ước gì bà tự hiểu mình rõ hơn và tự chăm sóc mình và gia đình mình nhiều hơn. Nhưng bà thực sự thương tôi, và làm mọi điều để tôi vào đời một cách tốt đẹp.

        Tôi nghĩ tôi vào đời cũng khá tốt đẹp, nhưng không thể chuẩn bị trước cho những gì sắp xảy đến. Năm 1968 là một trong những năm đau đớn và hỗn độn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lyndon Johnson bắt đầu duy trì chính sách Việt Nam của mình, tiếp tục chính sách “Xã hội vĩ đại" chống lại đói nghèo, thất nghiệp, và chuẩn bị tái tranh cử. Nhưng đất nước của ông bắt đầu rời bỏ ông. Dù tôi thông cảm với tư tưởng lúc ấy, tôi không thích thú gì kiểu sống phản kháng và những kiểu ăn nói cực đoan hồi bấy giờ. Tôi để tóc ngắn, không nhậu nhẹt và tôi thấy một số bản nhạc thời đó đôi khi quá ầm ĩ và thô. Tôi không ghét Johnson, tôi chỉ muốn chấm dứt chiến tranh, và tôi sợ rằng những phản kháng văn hóa chỉ làm tổn hại chứ không giúp gì cho sự nghiệp ấy. Trước những phản đối và cách sống "phản văn hóa" của giới trẻ, phe Cộng hòa và nhiều người Dân chủ xuất thân lao động đã chuyển sang cánh hữu, nghe theo lời những người bảo thủ lại nổi lên như Richard Nixon và tân thống đốc California Ronald Reagan, người từng theo đảng Dân chủ trong thời Roosevelt.

        Phe Dân chủ củng bỏ rơi Johnson. Bên cánh hữu, thống đốc George Wallace tuyên bố ông sẽ tranh cử tổng thống với tư cách ứng viên độc lập. Ở cánh tả, những nhà hoạt động trẻ như Allard Lowenstein khuyến khích những người Dân chủ phản chiến thách thức Tổng thống Johnson trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ. Lựa chọn số một của họ là Thượng nghị sĩ Robert Kennedy, người vận động cho một kết cục thông qua thương lượng ở Việt Nam. Ông từ chối, sợ rằng nếu ông ra tranh cử thì người ta sẽ nhìn vào thái độ vốn rất ghét tổng thống của ông mà cho rằng ông đang tìm cách báo thù chứ không phải đang cố gắng thay đổi lập trường và nguyên tắc. Thượng nghị sĩ George McGovern bang Nam Dakota, người đã đến kỳ tranh tái cử ở tiểu bang bảo thủ của ông ta, cũng từ chối. Thượng nghị sĩ Gene McCarthy bang Minnesota thì không từ chối. Là người thừa kế di sản chủ nghĩa tự do trí thức của Adlai Stevenson, McCarthy có thể sẽ trở nên điên cuồng và không thật trong nỗ lực tỏ vẻ thánh thiện vì không tham vọng của mình. Nhưng ông ấy có gan để đối đầu với Johnson, và đầu năm đó ông là lựa chọn duy nhất của những người chống chiến tranh. Vào tháng giêng, ông tuyên bố sẽ tranh cử trong cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên ở New Hampshire.

        Đến tháng 2 thì hai sự kiện ở Việt Nam càng củng cố quan điểm chống chiến tranh. Sự kiện thứ nhât là vụ tướng Loan, chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Nam Việt Nam (tướng Nguyễn Ngọc Loan ND) hành quyết tại chỗ một người bị tình nghi Việt cộng. Giữa ban ngày ban mặt, Loan bắn thẳng vào đầu người đó trên đường phố Sài Gòn. Vụ sát nhân này được nhiếp ảnh gia vĩ đại Eddie Adams ghi lại, và bức ảnh này khiến nhiều người Mỹ bất bình và nghi ngờ chính quyền Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2015, 04:49:48 AM
        Sự kiện thứ hai, lớn hơn rất nhiều, là cuộc tân công Tết (phía Mỹ gọi cuộc tổng tấn công Mậu Thân là cuộc tấn công Tết - ND), được gọi như vậy vì cuộc tấn công này diễn ra vào dịp Tết của người Việt Nam. Lực lượng Bắc Việt và Việt cộng tiến hành hàng loạt các cuộc tấn công phối hợp vào các vị trí Mỹ trên khắp Nam Việt Nam, bao gồm cả các căn cứ mạnh như Sài Gòn, nơi mà cả tòa đại sứ Mỹ cũng nằm trong tầm hỏa lực. Những cuộc tấn công này bị đẩy lùi và Bắc Việt cũng như Việt cộng chịu tổn thất nặng nề, khiến Tổng thống Johnson và giới chỉ huy quân sự tuyên bố đây là một chiến thắng, nhưng trên thực tế, cuộc tấn công Tết là một thất bại tâm lý và chính trị khổng lồ của nước Mỹ, vì người Mỹ được tận mắt chứng kiến qua màn ảnh truyền hình rằng lực lượng của chúng ta cũng có thể bị tấn công ngay cả ở những nơi chúng ta kiểm soát. Ngày càng nhiều người Mỹ bắt đầu hoài nghi liệu chúng ta có thể thắng một cuộc chiến mà người Nam Việt Nam không thể thắng cho chính họ, và liệu có đáng gửi thêm binh sĩ đến Việt Nam chăng khi câu trả lời cho hoài nghi thứ nhất dường như là "Không".

        Ở trong nước, lãnh tụ phe đa số trong thượng viện Mike Mansfield kêu gọi ngưng ném bom. Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống Johnson - Robert McNamara và cố vân thân cận của ông ta là Clark Clifford, cùng với cựu ngoại trưởng Dean Acheson nói với tổng thống là đã đến lúc phải "xem xét lại" chính sách tiếp tục leo thang chiến tranh nhằm đạt được một thắng lợi quân sự. Dean Rusk vẫn ủng hộ chính sách này, và giới quân sự đã yêu cầu thêm 200.000 quân. Những sự cố chủng tộc, đôi khi biến thành bạo động, vẫn tiếp diễn trên toàn quốc. Richard Nixon và George Wallace chính thức tuyên bố ra tranh cử tổng thống. Tại New Hampshire, chiến dịch của McCarthy bắt đầu rầm rộ, với hàng trăm sinh viên phản chiến đổ về tiểu bang để đi gõ cửa từng nhà vận động cho ông ấy. Những ai không muốn cắt tóc cạo râu gọn ghẽ thì làm việc ở khu văn phòng phía sau của chiến dịch vận động, chuẩn bị giấy tờ. Trong khi đó, Robert Kennedy tiếp tục phân vân không biết có nên tham gia cuộc đua này hay không.

        Ngày 12 tháng 3, McCarthy đạt được 42% số phiếu tại New Hampshire trong khi Johnson được 49%. Dù Johnson chỉ viết thư vận động đến New Hampshire chứ không đích thân đến, đây là một chiến thắng tâm lý lớn cho McCarthy và phong trào phản chiến. Bốn ngày sau, Kennedy vào cuộc, và tuyên bố ý định này ở chính căn phòng trong thượng viện nơi anh trai John của ông (Tổng thống John F. Kennedy - ND) bắt đầu chiến dịch tranh cử năm 1960. Ông tìm cách làm tịt ngòi những chỉ trích cho rằng động cơ chính của ông là những tham vọng cá nhân tàn nhẫn bằng cách tuyên bô là chiến dịch của McCarthy đã cho thấy những chia rẽ sâu sắc trong nội bộ đảng Dân chủ, và ông muốn đưa ra cho đất nước một đường hướng khác. Tất nhiên, như vậy ông vẫn mang tiếng "tàn nhẫn" khác: ông đã phá hỏng nỗ lực của McCarthy, sau khi McCarthy dám thách thức tổng thống đương nhiệm còn ông thì không.

        Tôi theo dõi tất cả những diễn tiến này từ một góc nhìn khá kỳ lạ. Bạn chung nhà với tôi Tommy Caplan làm việc cho yặn phòng của Kennedy, nên tôi biết chuyên ở đó. Tôi cũng đang hẹn hò một cô bạn cùng lớp làm tình nguyện viên cho tổng hành dinh quốc gia của McCarthy ở Washington. Ann Markusen là một sinh viên kinh tế sáng láng, đội trưởng đội thuyền buồm nữ của trường Georgetown, là một người theo chủ nghĩa tự do chống chiến tranh quê ở Minne­sota. Cô ấy ngưỡng mộ McCarthy, và cũng như nhiều thanh niên làm việc cho ông ấy, cô ấy ghét Kennedy vì ông tranh giành vị trí đề cử ứng viên tổng thống của McCarthy. Chúng tôi tranh luận nảy lửa, vì tôi vui khi Kennedy tham gia tranh cử. Tôi đã theo dội ông từ khi ông còn là chưởng lý và thượng nghị sĩ, tôi thấy ông quan tâm đến các vấn đề đối nội hơn McCarthy, và tôi tin rằng ông sẽ trở thành một tổng thống hiệu quả hơn nhiều. McCarthy là một người rất lý thú, cao, tóc bạc và đẹp trai, một trí thức Công giáo Ireland với trí óc minh mẫn và sắc lẻm. Nhưng tôi cũng theo dõi ông ấy trong ủy ban Đối ngoại, và với tôi ông ấy có vẻ quá thờ ơ. Trước khi ông bước vào cuộc bầu cử sơ bộ ở New Hampshire, ông ấy có vẻ thụ động về mọi chuyện, và thường chọn cách an phận bỏ phiếu cho êm xuôi và cũng phát ngôn chừng mực.

        Ngược lại, ngay trước khi Bobby Kennedy (tức Robert Kennedy - ND) tuyên bố tranh cử tổng thống, ông ấy tìm cách thông qua một nghị quyết do Fulbright bảo trợ nhằm cho thượng viện có tiếng nói nào đó trước khi Johnson đưa 200.000 quân sang Việt Nam. Ông ấy cũng đến tận Appalachia đế làm mọi người biết đến sự đói nghèo của vùng quê nước Mỹ, và có một chuyến thăm kỳ thú đến Nam Phi, ở đó ông kêu gọi thanh niên chống lại chủ nghĩa Apartheid. McCarthy, dù tôi cũng có thiện cảm, gây cho tôi ấn tượng rằng ông ta thà ở nhà đọc St. Thomas Aquinas hơn là phải chui vào túp lều giấy dầu nào đó để xem người nghèo sống ra sao hoặc phải bay nửa vòng trái đất để nói chuyên về nạn phân biệt chủng tộc. Mỗi lần tôi nói chuyện này với Ann, cô ấy giận tôi ghê lắm, bảo tôi là nếu Bobby Kennedy mà có nguyên tắc hơn và bớt thủ thuật chính trị đi thì ông ấy cũng phải làm những gì McCarthy đã làm. Tất nhiên thông điệp ẩn chứa trong câu đó là chính tôi cũng quá đam tnê chính trị. Hồi ấy tôi mê cô ta kinh khủng và rất khó chịu khi bị cô ta giận như vậy, nhưng tôi vẫn muốn thắng và muốn bầu lên một người tốt và một tổng thống tốt.

        Mối quan tâm của tôi càng mang tính cá nhân khi ngày 20 tháng 3, bốn ngày sau khi Kennedy tuyên bố tranh cử, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt chế độ hoãn dịch cho sinh viên sau đại học, ngoại trừ sinh viên y khoa, làm tương lai đi học ở Oxford của tôi lung lay. Quyết định của Johnson làm tôi một lần nữa cảm thấy tội lỗi: cũng giống như Johnson, tôi không cho là sinh viên cao học phải được hoãn dịch, nhưng tôi cũng không tin vào chính sách về Việt Nam của chúng ta.

        Tối chủ nhật ngày 31 tháng 3, Tổng thống Johnson dự kiến phát biểu trước toàn dân về Việt Nam. Có nhiều suy diễn liệu ông sẽ leo thang chiến tranh hay sẽ xoa dịu phần nào đó hy vỏng khởi động đàm phán, nhưng chẳng ai biết thực hư ra sao. Tôi lái xe trên đại lộ Massachusetts, vừa đi vừa nghe radio trên xe. Johnson nói ông quyết định tạm hạn chế ném bom Bắc Việt, hy vọng tìm được một giải pháp cho cuộc chiến. Thế rồi, đúng lúc tôi chạy ngang câu lạc bộ Cosmos phía tây bắc Vòng xoay Dupont, tổng thống tung ra một tuyên bố chấn động: "Khi những đứa con của nước Mỹ còn ngoài mặt trận xa xôi và hy vọng hòa bình còn treo lơ lửng mỗi ngày, tôi cho rằng tôi không nên dành một ngày giờ nào nữa cho những ý đồ cá nhân đảng phái của tôi... Do đó, tôi sẽ không tìm kiếm, và sẽ không chấp nhận, đảng tôi đề cử tôi ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống nữa". Tôi ngỡ ngàng tấp xe vào lề, cảm thấy buồn cho Johnson, người đã làm được bao điều cho nước Mỹ ở quê nhà, nhưng vui cho đất nước tôi và cho triển vọng của một sự khởi đầu mới.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2015, 12:48:24 AM
        Cảm giác ấy không kéo dài được lâu. Bốn ngày sau, vào tôi ngày 4 tháng 4, Martin Luther King Jr. bị sát hại ngay ở ban-công phòng ông trong lữ quán Lorraine ở Memphis, nơi ông đang thăm để ủng hộ cho các lao công vệ sinh bãi công. Trong vài năm cuối đời, ông đã mở rộng cuộc đấu tranh dân. quyền sang cả việc chống đói nghèo ở đô thị và phản chiến, về mặt chính trị thì đúng là cần thiết phải kiềm chế những lãnh tụ da đen trẻ tuổi hơn mang sắc thái bạo động hơn, nhưng bất cứ ai theo dõi ông đều thấy rõ tiến sĩ King thực sự tin tưởng khi ông nói rằng không thể mở rộng dân quyền cho người da đen nếu không chống nghèo đói và chống chiến tranh ở Việt Nam.

        Vào đêm trước khi ông bị giết, tiến sĩ King đã giảng một bài mang tính tiên tri đáng sợ trong một căn phòng đầy chật những người ở Nhà thờ Mason Temple. Khi nói đến những lời đe dọa giết mình, ông nói: "Như bất kỳ ai khác, tôi muốn sống lâu. Tuổi thọ có giá trị của nó. Nhưng tôi không bận tâm gì về chuyện đó nữa. Tôi chỉ muốn thực hiện ý Chúa. Và Người đã cho phép tôi lên đỉnh núi. Và khi tôi nhìn qua bên kia, tôi đã thấy miền đất hứa. Có thể tôi sẽ không cùng với các bạn sang nơi đó, nhưng tôi muốn các bạn biết ngay đêm nay rằng chúng ta, với tư cách một dân tộc, sẽ đến được miền đất hứa. Thế nên dêm nay tôi hạnh phúc. Tôi không lo lắng gì cả. Tôi không sợ người nào cả. Mắt tôi đã nhìn thấy sự vinh hiển của Chúa trời đang đến!". Sáu giờ tối hôm sau, ông bị bắn chết - hung thủ là James Earl Ray, một tên cướp vũ trang ngoan cố mới trốn tù một năm.

        Cái chết của Martin Luther King Jr. làm cả nước rúng động chưa từng thấy kể từ vụ ám sát Tổng thống Kennedy. Robert Kennedy, hôm ấy đang đi vận động ở Indiana, cố làm dịu đi sự sợ hãi của nước Mỹ bằng bài nói, có lẽ là vĩ đại nhất trong đời ông. Ông yêu cầu người da đen không hận thù người da trắng và nhắc lại rằng anh trai của mình cũng bị một người da trắng giết. Ông trích dẫn Aeschylus đoạn nói rằng nỗi đau sẽ đem lại sự thông thái, dù muốn dù không, "qua ân điển bao la của Chúa". Ông nói với đám đông trước mặt và cả nước lắng nghe ông rằng chúng ta rồi sẽ vượt qua được giai đoạn này vì đại đa số người da trắng và da đen "đều muốn chung sống, muốn cải thiện chất lượng sống và muốn công lý cho tất cả con người trên trái đất của chúng ta". Ông kết thúc bài nói như sau: "Hãy lắng nghe những điều người Hy Lạp đã viết bao nhiêu năm trước: kiềm chế sự hung hãn của con người và làm cuộc sống trên thế giới này hiền hòa. Hãy lắng nghe điều đó, và hãy cầu nguyện cho đất nước và nhân dân ta".

        Cái chết của tiến sĩ King đã tạo nên nhiều hơn những lời nguyện cầu; một số người thì sợ rằng, trong khi những người khác hy vọng, nó sẽ báo tử tinh thần bất bạo động. Stokely Carmichael tuyên bố nước Mỹ da trắng đã tuyên chiến với nước Mỹ da đen và "không còn cách nào khác ngoài sự trừng phạt". Bạo động bùng nổ tại New York, Boston, Chicago, Detroit, Memphis và ở hơn 100 thành phố và thị trấn. Hơn 40 người chết và hàng trăm người bị thương. Ở Washington, bạo lực tồi tệ nhất chủ yếu nhắm vào các cơ sở kinh doanh của người da đen trong phố 14 và H. Tổng thống Johnson huy động Vệ binh quốc gia để vãn hồi trật tự, nhưng tình hình vẫn căng thẳng.
Trường Georgetown cách những nơi bạo động một khoảng cách an toàn, nhưng chúng tôi cũng nếm mùi khi vài trăm Vệ binh quốc gia đóng trại ở Phòng thể thao McDonough, nơi đội bóng rổ của trường hay thi đấu. Nhiều gia đình da đen bị đốt nhà phải vào trú trong các nhà thờ địa phương. Tôi tham gia Hội hồng thập tự để giúp chuyển thức ăn, chăn mền và các đồ tiếp tế khác cho họ. Chiếc xe Buick mui trần đời 1963 của tôi mang bảng số Arkansas và dấu hồng thập tự hai bên cửa trở thành một hình ảnh lạ lùng trên các đường phố vắng lặng, đây đó vẫn còn vài tòa nhà bốc khói và các cửa hàng bị đập phá cướp bóc. Có lần, vào một buổi tối tôi lái xe tiếp tế đi, và sáng chủ nhật lại đi tiếp và chở Carolyn Yeldell mới bay đến thăm tôi cùng đi. Ban ngày có vẻ như an toàn nên chúng tôi xuống xe và đi lòng vòng, ngó nghiêng những đông đổ nát sau bạo động. Đó là lần duy nhât tôi cảm thây không an toàn trong khu vực người da đen. Và tôi đã nghĩ, không phải lần đầu cũng chẳng phải lần cuối, rằng thật trớ trêu và buồn vì những nạn nhân chính của sự cuồng nộ đen lại chính là những người da đen.

        Cái chết của tiến sĩ King để lại một khoảng trống trong lòng một dân tộc vốn đang rất cần sự ủng hộ kiên định của ông cho tinh thần bất bạo động cũng như niềm tin của ông vào hứa hẹn của nước Mỹ dân tộc mà nay có thể sắp mất cả hai điều ấy. Quốc hội phản ứng bằng cách thông qua đạo luật của Tổng thống Johnson cấm phân biệt đối xử chủng tộc trong việc bán hoặc thuê nhà. Robert Kennedy cũng cố lấp khoảng trống ấy. Ông chiến thắng bầu cử sơ bộ ở Indiana ngày 7 tháng 5, rao giảng hòa giải chủng tộc nhưng cũng cố thu hút cử tri bảo thủ bằng cách tỏ ra cứng rắn về vấn đề tệ nạn và sự cần thiết phải đưa những người sống bằng trợ cấp xã hội trở lại làm việc. Một số người theo chủ nghĩa tự do công kích thông điệp "luật pháp và trật tự" của ông, nhưng rõ ràng thông điệp ấy là nước cờ chính trị cần thiết. Và ông thực sự tin vào thông điệp ấy, củng giông như tin vào việc châm dứt chế dộ hoãn dịch.

        Ở bang Indiana, Bobby Kennedy trở thành ứng viên Tân Dân chủ đầu tiên, trước Jimmy Carter, trước cả Hội đồng Lãnh đạo đảng Dân chủ mà tôi góp phần sáng lập năm 1985, và trước cả chiến dịch tranh cử của tôi năm 1992. Ông tin rằng phải có dân quyền cho mọi người và không ai được có đặc quyền đặc lợi, và giúp người nghèo tự lập chứ không phải bô thí cho họ: công ăn việc làm tốt hơn trợ cấp xã hội. Bằng trực giác, ông hiểu rằng nền chính trị tiến bộ cần ủng hộ cả những chính sách mới và các giá trị truyền thống, cả những thay đổi sâu rộng lẫn ổn định xã hội. Nếu ông trở thành tổng thống thì hành trình của nước Mỹ qua phần còn lại của thế kỷ 20 đã khác đi rất nhiều.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2015, 05:09:14 AM
        Ngày 10 tháng 5, các cuộc hòa đàm giữa Mỹ và Bắc Việt bắt đầu ở Paris, mang lại hy vọng cho những người Mỹ đang mong chiến tranh chấm dứt, và sự nhẹ nhõm cho Phó tổng thống Hubert Humphrey, người đã nhập cuộc tranh chức tổng thống hồi cuối tháng 4 và cần một sự thay đổi diệu kỳ nào đó mới mong có cơ được đề cử làm ứng viên hoặc trúng cử. Trong khi đó bất ổn xã hội vẫn chưa dịu đi. Những người biểu tình đã khiến Đại học Columbia phải đóng cửa cho đến hết niên khóa. Hai anh em linh mục Công giáo Daniel và Philip Berrigan bị bắt vì lấy cắp và đốt hồ sơ quân dịch Và ở Washington, chưa đầy một tháng sau các cuộc bạo động, những nhà hoạt động dân quyền tiếp tục triển khai kế hoạch Chiến dịch của người nghèo mà Martin Luther King Jr. đề ra, cắm trại lều bạt ở Mali và tự xưng là Thành phố hồi sinh nhằm nhấn mạnh vấn nạn nghèo khó. Trời mưa như trút nước làm khu vực đó lầy lội và điều kiện sống thật khổ ải. Một hôm vào tháng 6, Ann Markusen và tôi đến đấy để bày tỏ sự đồng tình. Người ta đặt ván làm lối đi giữa các lều, nhưng chỉ sau vài giờ đi lòng vòng và nói chuyện với mọi người, chúng tôi dính đầy bùn đất. Thật là một ẩn dụ thích hợp về sự rối ren lúc đó.

        Tháng 5 kết thúc mà cuộc đua giành chức ứng viên đề cử của đảng Dân chủ vẫn chưa ngã ngũ. Humphrey bắt đầu giành được sự ủng hộ của các đảng viên ở những bang không có bầu cử sơ bộ, và McCarthy đánh bại Kennedy trong cuộc bầu cử sơ bộ ở Oregon. Hy vọng được đề cử của Kennedy bây giờ tùy thuộc vào cuộc bầu cử sơ bộ ở California vào ngày 4 tháng 6. Tuần cuối của tôi ở trường đầy những mong đợi vào kết quả này, chỉ bốn ngày trước khi tốt nghiệp.

        Tối ngày thứ ba, Kennedy thắng ở California nhờ cử tri thuộc các sắc tộc thiểu số ở hạt Los Angeles. Tommy Caplan và tôi đều phấn khích. Chúng tôi thức chờ Kennedy phát biểu sau thắng lợi rồi mới đi ngủ; lúc ấy ở Washington đã gần ba giờ sáng. Vài giờ sau Tommy đánh thức tôi dậy, vừa lay tôi vừa hét: "Bobby bị bắn rồi, Bobby bị bắn rồi!". Chỉ vài phút sau khi chúng tôi tắt tivi đi ngủ, Thượng nghị sĩ Kennedy đang đi qua bếp trong phòng khách sạn Ambassador thì một người Ảrập trẻ tên Sirhan Sirhan vốn giận Kennedy vì ông ủng hộ Israel đã xả súng vào ông và những người đứng gần. Năm người bị thương, tất cả sau này đều bình phục. Bobby Kennedy thì phải phẫu thuật vì vết đạn trí mạng vào đầu. Một ngày sau, ngày 6 tháng 6 - đúng sinh nhật thứ 45 của mẹ tôi - thì ông chết, mới có 42 tuổi, chỉ sau cái chết Martin Luther King Jr. hai tháng hai ngày.

        Ngày 8 tháng 6, Caplan lên New York dự lễ tang ở Thánh đường St. Patrick. Những người ngưỡng mộ Thượng nghị sĩ Kennedy cả nổi tiếng lẫn không nổi tiếng đều tụ lại và viếng linh cữu ông ngày đêm trước lễ tang. Tổng thống Johnson, Phó tổng thống Humphrey, và Thượng nghị sĩ McCarthy đều có mặt, cả Thượng nghị sĩ Fulbright. Ted Kennedy đọc một bài điếu văn trang trọng cho anh trai mình, kết thúc bằng những từ ngữ đầy sức mạnh và uyển chuyển mà tôi không bao giờ quên: "Xin đừng thần tượng hóa anh tôi, hoặc phóng đại lên quá con người thật của anh sau khi mất. Hãy nhớ anh đơn giản là một người tốt và tử tế, một người thấy điều sai trái và muốn sửa cho đúng, thấy khổ đau và muốn chữa lành nó, thây chiến tranh và cố chấm dứt nó. Những ai trong chúng ta yêu mến anh và đưa anh về nơi an nghỉ ngày hôm nay, hãy nguyên cầu sao cho những gì anh hiện thân đối với chúng ta và mong muốn cho người khác một ngày nào đó sẽ thành tựu cho thế giới này".

        Tôi cũng muốn như thế, nhưng lúc ấy điều đó có vẻ xa vời hơn bao giờ hết. Chúng tôi trải qua mấy ngày cuối cùng ở đại học trong một màn sương mù đờ đẫn. Tommy đáp xe lửa từ New York về lại Washington, vừa kịp lễ tốt nghiệp. Tất cả những sự kiện khác của lễ tốt nghiệp đều đã bị hủy bỏ, chỉ lễ trao bằng vẫn được tổ chức. Thế nhưng ngay cả lễ này cũng chẳng thành công gì lắm, vì mấy ngày đầu vẫn có sự thờ ơ. Ngay khi diễn giả trong lễ trao bằng, thị trưởng Walter Washington, đứng lên phát biểu thì tự nhiên một cụm mây đen khủng khiếp xuất hiện. Ông nói trong khoảng 30 giây, chúc mừng chúng tôi, chúc chúng tôi may mắn và bảo nếu không vào trong nhà ngay thì mọi người thế nào cũng bị chết chìm. Thế rồi trời đổ mưa và chúng tôi chuồn. Lớp chúng tôi nếu có phải bầu Thị trưởng Washington làm tổng thống, chắc cũng sẵn lòng. Tối đó, cha mẹ của Tommy Caplan mời cậu ấy, mẹ tôi, em Roger, tôi và vài người nữa đi ăn tôi ở một nhà hàng Ý. Tommy dẫn dắt câu chuyện, và nói rằng cần phải là một "trí thức trưởng thành" mới hiểu được vấn đề gì đó. Cậu em 11 tuổi của tôi đứng dậy và hỏi: "Tom, em có phải là trí thức trưởng thành không?". Thật vui khi kết thúc mười tuần lễ đau buồn và một ngày đầy diễn biến như vậy bằng một trận cười.

        Sau vài ngày để khăn gói và chào tạm biệt, tôi lái xe về Arkan­sas cùng bạn chung phòng Jim Moore để phục vụ chiến dịch tái tranh cử của Thượng nghị sĩ Fulbright. Ông có vẻ dễ bị thua vì hai điểm: thứ nhất là thái độ phản đối cuộc chiến Việt Nam công khai của ông ở một bang bảo thủ và chuộng quân đội đã vốn bực tức vì những xáo trộn tại Mỹ, và thứ hai là việc ông từ chối nhượng bộ các đòi hỏi của chính trị nghị viện hiện đại, theo đó thượng và hạ nghị sĩ thường ghé về quê nhà vào các cuối tuần để gặp gỡ cử tri. Fulbright đã vào quốc hội từ những năm 1940, hồi đó đòi hỏi rất khác. Hồi đó người ta chỉ trông đợi các thành viên quốc hội về quê nhà trong các kỳ nghỉ và vào mùa hè khi quốc hội nghỉ họp, trả lời điện thoại, thư từ và tiếp cử tri khi nào họ đến Washington. Vào các cuối tuần trong thời gian quốc hội họp, họ được thoải mái ở lại Washington và vui chơi như những người Mỹ bình thường khác. Nhưng khi nào họ về quê nhà để nghỉ ngơi một thời gian lâu thì người ta trông đợi họ vẫn làm việc đúng giờ hành chính và thỉnh thoảng đi về miền quê thăm thú dân tình. Chỉ khi nào có vận động tranh cử mới phải tiếp xúc nhiều với cử tri mà thôi.

        Đến cuối thập niên 60, chuyện đi lại dễ dàng và sự phát triển của truyền thông địa phương đã nhanh chóng làm thay đổi những thông lệ ấy. Các thượng và hạ nghị sĩ ngày càng thường xuyên về quê nhà trong các dịp cuối tuần, khi về cũng đi thăm nhiều nơi hơn và phát biểu trên phương tiện truyền thông địa phương mỗi khi có dịp.

        Chiến dịch của Fulbright gặp sự chống đối không nhỏ từ những người bất đồng với ông về cuộc chiến hoặc cho là ông xa rời cử tri, hoặc cả hai. Ông cho rằng chuyện bay về nhà mỗi cuối tuần thật điên rồ và có lần bảo tôi khi nói về những đồng nghiệp của ông làm như vậy rằng: "Thế họ lấy thời gian đâu ra để đọc và suy nghĩ?". Buồn thay, áp lực buộc các thành viên quốc hội phải đi lại như vậy lại chỉ có tăng thêm lên. Chi phí ngày càng đắt đỏ của truyền hình, radio và các phương thức quảng cáo khác, cộng thêm sự ham thích được xuất hiện trên truyền thông đã khiến nhiều thượng và hạ nghị sĩ cuối tuần nào cũng lên máy bay đi đâu đó hoặc xuất hiện trong các tiệc gây quỹ ở khu vực Washington. Khi làm tổng thống, tôi thường nhận xét với Hillary và nhân viên của tôi rằng theo tôi, một lý do khiến những tranh luận trong quốc hội trở nên tiêu cực như vậy là vì có quá nhiều ông nghị lúc nào cũng trong tình trạng kiệt sức.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2015, 04:44:52 AM
        Vào mùa hè năm 1968, vấn đề của Fulbright không phải là bị kiệt sức, dù ông rất mệt mỏi vì tranh cãi về chuyện Việt Nam. Điều ông cần không phải là nghỉ ngơi, mà là làm sao để giữ liên lạc với những cử tri nào cảm thấy bị mất liên lạc với ông. May thay là ông chỉ gặp phải các đối thủ yếu. Đối thủ chính của ông trong cuộc bầu cử sơ bộ không phải ai khác chính là Jim Johnson, người giở mánh cũ bằng cách lập ban nhạc đồng quê và đi khắp các thủ phủ của các hạt, thóa mạ Fulbright là "mềm yếu" trước cộng sản. Bà vợ Virginia của Johnson cố noi gương vợ của George Wallace, bà Lurleen trước đây từng kế nhiệm chồng mình làm thống đốc. Ứng viên vào thượng viện của đảng Cộng hòa là Charles Bernard, một doanh nhân ít ai biết đến quê ở đông Arkansas, nói rằng tư tưởng của Fulbright quá tự do đối với tiểu bang của chúng tôi.

        Lee Williams cũng xuống để điều hành chiến dịch, với sự trợ giúp đắc lực của chính trị gia trẻ tuổi nhưng từng trải Jim McDougạl, người điều hành văn phòng của Thượng nghị sĩ Fulbright ở Little Rock. Jim McDougal (người dính líu trong vụ Whitewater) là một người theo chủ nghĩa dân túy kiểu cổ, biết kể chuyên hay bằng ngôn ngữ đầy màu sắc và làm việc tận tụy cho Fulbright, người mà anh rất tôn kính.

        Jim và Lee giới thiệu Thượng nghị sĩ cho bang Arkansas với cái tên "chỉ thuần túy là Bill", tạo ra hình ảnh một người Arkansas dân dã mặc áo thể thao sọc đỏ. Tất cả những giấy tờ in ấn của chiến dịch vận động và phần lớn quảng cáo trên tivi đều đưa ra hình ảnh ông như vậy, dù tôi không nghĩ là ông thây thích thế, và hầu hết trong thời gian tranh cử ông vẫn mặc vest. Để củng cố hình ảnh thân thiện dân dã, ông thượng nghị sĩ quyết định đi một chuyến vận động ở cơ sở đến các thị trấn nhỏ trong bang, chỉ đem theo một tài xế đi cùng và một cuốn sổ màu đen ghi tên những người trước đây ủng hộ mình. Cuốn sổ này do Parker Westbrook soạn ra, anh hình như biết tâ't cả những ai ở Arkansas quan tâm dù chỉ chút ít đến chính trị. Vì Thượng nghị sĩ Fulbright chỉ vận động sáu năm một lần nên chúng tôi chỉ còn biết hy vọng là mấy người có tên trong sổ đen của Parker vẫn còn sống và hoạt động.

        Lee Williams cho tôi cơ hội lái xe chở ông thượng nghị sĩ trong vài ngày trong chuyến đi về tây nam Arkansas, và tôi lập tức túm lấy cơ hội ấy. Tôi lúc nào cũng thích Fulbright, biết ơn vì lá thư mà ông viết giới thiệu cho tôi thi học bổng Rhodes, và hăm hở muốn biết xem dân chúng ở các thị trấn nhỏ Arkansas suy nghĩ gì. Họ ở quá xa những vụ bạo lực đô thị và những cuộc tuần hành phản chiến, nhưng nhiều người trong số họ có con cái đang ở Việt Nam.

        Có lần Fulbright bị một nhóm phóng viên truyền hình quốc gia bám đuôi trong lúc chúng tôi đi vào một thị trấn nhỏ, đỗ xe và vào một cửa hàng thức ăn gia súc nơi nông dân thường tới mua ngũ cốc cho súc vật của họ. Trước ống kính camera, Fulbright bắt tay với một người có tuổi và đề nghị ông này bầu cho mình. Ông ta nói không thể được vì Fulbright không chịu đối đầu với "bọn Cộng" và để mặc cho chúng "chiếm nước ta". Fulbright ngồi xuống bao thức ăn gia súc chất đống trên sàn và bắt đầu trò chuyên. Fulbright nói ông sẽ đối đầu với những người cộng sản tại quê nhà nếu ông tìm thấy họ ở đây. "À, chúng đầy ra đấy", người kia đáp. Fulbright nói, "Thật sao? Thế ông có thấy người nào quanh đấy không? Tôi tìm khắp nơi mà chả thấy người cộng sản nào cả". Xem ông phô diễn phong cách của mình thật là vui. Người kia cứ tưởng họ đang nói chuyên một cách nghiêm túc. Tôi chắc khán giẫ truyền hình cũng thấy hài hước, nhưng những gì được chứng kiến làm tôi khó chịu. Tầm nhìn của người đàn ông kia rõ ràng đã bị chặn lại. Dù ông ta không tìm ra được "tên Cộng" nào thì cũng chẳng có gì khác biệt nữa. Ông ta đã từ chốì Fulbright thẳng cánh, và dù có nói nhiều đến đâu đi nữa thì cũng không thể phá bỏ bức tường đang che kín tầm nhìn của ông ta được. Tôi chỉ còn biết hy vọng rằng có đủ cử tri không suy nghĩ như vậy trong thị trấn đó và hàng trăm thị trấn khác - những người dù sao vẫn còn có thể nói chuyện phải trái được.

        Bất chấp sự kiện ở cửa hàng thức ăn gia súc, Fulbright vẫn tin rằng cử tri ở thị trấn đó phần đông vẫn khôn ngoan, thực tế và công bằng. Ông nghĩ họ có nhiều thời gian hơn để suy xét mọi việc và không dễ bị những nhà phê bình cánh hữu dồn ép. Sau vài ngày đi thăm những nơi mà tất cả cử tri da trắng đều có vẻ như ủng hộ George Wallace, tôi bắt đầu lung lay. Thế rồi chúng tôi đến Center Point và một trong những cuộc gặp đáng nhớ trong cuộc đời chính trị của tôi xảy ra tại đó. Cuốn sổ màu đen ghi người cần gặp là Bo Reece, một ủng hộ viên lâu năm sống trong ngôi nhà đẹp nhất thị trấn. Vào thời trước khi có những quảng cáo tranh cử trên truyền hình, thị trân nhỏ nào ở Arkansas cũng có một ông Bo Reece như vậy. Vài tuần trước cuộc bầu cử, dân chúng sẽ hỏi: "Bo bầu cho ai vậy?". Sự lựa chọn của ông ấy sẽ được loan báo và kéo theo 2/3 số phiếu, đôi khi còn hơn nữa.

        Khi chúng tôi dừng xe trước nhà, Bo đang ngồi trên thềm. Ông bắt tay Fulbright và tôi, nói rằng ông đang chờ chúng tôi và mời chúng tôi vào thăm. Đó là một căn nhà kiểu cổ có lò sưởi và mấy chiếc ghế êm ái. Khi chúng tôi yên vị xong xuôi, Reece nói: "Thưa thượng nghị sĩ, đất nước này còn nhiều chuyện lắm. Nhiều thứ không theo lẽ phải gì cả". Fulbright đồng ý, nhưng không biết Reece định dẫn dắt đến đâu, tôi cũng không biết - có khi lại dẫn ngay về việc ủng hộ Wallace không chừng. Sau đó Bo kể một câu chuyện mà tôi sẽ còn nhớ mãi chừng nào tôi còn sống: "Hôm nọ tôi nói chuyện với một ông bạn trồng bông ở phía đông Arkansas. Ông ta có mấy người tá điền. (Mấy người tá điền này là người phụ việc, thường là da đen, được trả công bằng một phần nhỏ mùa màng thu hoạch được. Họ sống trong các túp lều tồi tàn trong nông trại và cuộc sống rất nghèo khổ). Có lần tôi hỏi ông ta: "Mấy người tá điền của bạn sao rồi?". Ông ta nói, "À, nếu năm nào mất mùa họ coi như huề vốn" rồi ông ta phá lên cười và nói tiếp, "năm nào được mùa họ cũng huề vốn". Rồi ông Bo nói: "Thượng nghị sĩ ơi, như thế là không đúng và ông cũng biết thế. Vì vậy nên đất nước này còn nghèo khổ và lắm rắc rối khác nữa, và nếu ông trúng thêm một nhiệm kỳ nửa ông phải làm gì đó về chuyện ấy đi. Người da đen đáng được hưởng tốt hơn". Dù đã nghe đủ thứ tranh cãi về chủng tộc, Fulbright vẫn gần như ngã khỏi ghế. Ông trấn an Bo rằng ông sẽ cố làm một cái gì đó nếu ông tái cử, và Bo hứa sẽ tiếp tục ủng hộ ông.

        Khi chúng tôi quay ra xe, Fulbright bảo: "Thây chưa, tôi nói cậu rồi mà, ở những thị trân nhỏ này có nhiều sự khôn ngoan lắm. Bo chỉ ngồi ở bậc thềm đó và suy ngẫm mọi điều". Bo Reece có tác động lớn đến Fulbright. Vài tuần sau, tại một cuộc tập hợp vận động ở F1 Dorado, một thị trấn dầu mỏ miền nam Arkansas và là nơi nan phân biệt chủng tộc nóng bỏng và có cảm tình với Wallace, người ta hỏi Fulbright rằng cái gì là vấn đề lớn nhất mà nước Mỹ đang đối mặt. Không chần chừ, ông trả lời: "Nghèo đói". Tôi tự hào về ông và biết ơn Bo Reece.

        Khi chúng tôi lái xe từ thị trấn này sang thị trấn khác trên những con đường quê nóng nực, tôi thường cố bắt chuyện với Fulbright. Những cuộc trò chuyện ấy để lại trong tôi nhiều kỷ niệm tươi đẹp nhưng lại nhanh chóng chấm dứt sự nghiệp làm tài xế của tôi cho ông. Một hôm chúng tôi bàn chuyện về Tòa án Warren. Tôi ủng hộ mạnh mẽ phần lớn các phán quyết của tòa, đặc biệt là về dân quyền. Fulbright không đồng tình. Ông nói, "Thế nào rồi cũng có những phản ứng ngược cực kỳ tồi tệ đối với Tòa án tối cao này. Không thể thay đổi xã hội quá nhiều bằng hệ thống tòa án được. Phần lớn thay đổi phải thông qua hệ thống chính trị. Dù như thế sẽ mất thời gian hơn, nhưng những gì đạt được sẽ vững chắc hơn". Tôi vẫn cho rằng nước Mỹ tiến lên nhiều nhờ Tòa án Warren, nhưng chắc chắn chúng ta cũng đã phản ứng lại nó mạnh mẽ trong suốt hơn 30 năm nay.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2015, 01:09:43 AM
        Vào ngày thứ tư hay thứ năm của chuyến đi, tôi lại khai mào bàn chuyện chính trị với Fulbright khi đang rời một thị trấn nhỏ để đến thị trấn tiếp theo. Khoảng năm phút sau, Fulbright hỏi tôi đang lái xe đi đâu. Tôi trả lời ông, và ông nói "Thế thì tốt nhất là cậu vòng ngược lại đi. Cậu đi ngược hướng rồi đó". Khi tôi ngoan ngoãn quay đầu xe lại, ông nói: "Kiểu này rồi cậu dám bôi bẩn thanh danh của học bổng Rhodes mất thôi. Cậu hành xử y như một ông trí thức lơ đãng, đi mà không biết mình đi đâu".

        Tất nhiên là tôi rất bối rối, quay xe lại và chở ông thượng nghị sĩ đi đúng lộ trình. Và tôi biết những ngày làm lái xe của mình đã chấm dứt. Nhưng đâu có sao chứ, tôi còn chưa đầy 22 tuổi, mới có vài ngày kinh nghiệm và vài cuộc nói chuyện đủ để suy ngẫm cả đời. Fulbright cần một người lái xe biết đưa ông đến nơi đúng giờ, và tôi vui vẻ quay về làm việc tại tổng hành dinh, những cuộc tập hợp và những bữa tối ngồi nghe Lee Williams, Jim McDougal và những tay kỳ cựu khác kể chuyện chính trị ở Arkansas.

        Không lâu trước kỳ bầu cử sơ bộ, Tom Campbell trên đường xuống Texas để huấn luyện trong binh chủng thủy quân lục chiến đã ghé thăm. Tối hôm đó Jim Johnson cố tổ chức một cuộc tập hợp ở bậc thềm tòa án cùng với ban nhạc của ông ta tại Batesville, cách Little Rock một giờ rưỡi xe chạy về phía bắc, nên tôi quyết định cho Tom chứng kiến một khuôn mặt của Arkansas mà trước đây anh ta mới chỉ nghe nói đến. Johnson đang có phong độ. Sau khi "làm nóng" đám đông, ông ta cầm một chiếc giày lên và hét, "Các bạn có thấy chiếc giày này không? Nó được sản xuất ở nước Rumani cộng sản (ông ta phát âm từ này thành Ru mai nơ!). Bill Fulbright bỏ phiếu để cho mấy cái giày cộng sản này đến Mỹ và tước công ăn việc làm khỏi tay những người Arkansas tốt đang làm việc trong nhà máy giày". Hồi đó đúng là có nhiều người bị như vậy và Johnson hứa rằng nếu ông ta mà vào được thượng viện thì sẽ không còn giày dép cộng sản xâm lăng nước Mỹ nữa. Tôi cũng chẳng biết chúng ta có thực sự nhập khẩu giày từ Rumani hay không, hoặc có đúng là Fulbright đã bỏ phiếu nhưng không thành công nhằm mở cửa biên giới của chúng ta đối với giày Rumani hay không, haỵ Johnson dựng đứng chuyện ấy lên, nhưng rõ ràng đấy là một câu chuyện nghe cũng ra dáng lắm. Sau khi diễn thuyết, Johnson đứng trên bậc thềm và bắt tay với đám đông. Tôi kiên nhẫn chờ đến lượt mình. Khi ông ta bắt tay tôi, tôi bảo rằng ông ta làm tôi cảm thấy xấu hổ vì là một người Arkansas. Tôi nghĩ sự thẳng thắn của tôi làm ông ta ngạc nhiên và có vẻ khoái. Ông ta chỉ mỉm cười, mời tôi viết kể cho ông ta cảm xúc của mình, và tiếp tục bắt tay người khác.

        Ngày 30 tháng 7, Fulbright đánh bại Jim Johnson và hai ứng viên ít được biết đến hơn. Vợ của ông tòa Jim, bà Virginia, cũng lọt được vào vòng trong sau khi đánh bại nhà cải cách trẻ Ted Boswell với chênh lệch 409 phiếu trên tổng số hơn 400 ngàn phiếu được bỏ, dù người của Fulbright đã cố hết sức giúp Ted trong những ngày cuối của chiến dịch và trong sáu ngày sau đó, khi mọi người đổ xô đến các khu vực chưa kiểm phiếu xong để tìm thêm phiếu hoặc để tránh bị đếm thiếu phiếu. Bà Johnson thua trong vòng hai với chỉ 63% số phiếu so với 67% của Marion Crank, một thành viên quốc hội tiểu bang quê ở Foreman, tây nam Arkansas, người đươc hậu thuẫn bởi giới tòa án và cả một bộ máy tranh cử của Faubus. Arkansas cuối cùng cũng hết chịu nổi gia đình nhà Johnson. Chúng tôi vẫn chưa đến được mức như miền Nam mới hồi thập niên 70 nhưng chúng tôi cũng đủ nhận biết để tiến lên phía trước.

        Vào tháng 8, khi tôi bắt đầu giảm bớt tham gia vào chiến dịch của Fulbright để chuẩn bị đi Oxford, tôi đến ngủ đêm nhiều ngày ở nhà bạn của mẹ là Bill và Marge Mitchell, những người lúc nào cũng chào đón tôi, ở hồ Hamilton. Mùa hè năm đó tôi gặp vài người lý thú ở nhà hai bác Bill và Marge. Giống như mẹ, họ thích mấy cuộc đua ngựa và sau nhiều năm đã quen thuộc giới đua ngựa, trong đó có hai anh em chủ và huấn luyện ngựa quê ở Illinois là W. Hal và Donkey Bishop, W. Hal Bishop thành công hơn, nhưng Chú Donkey mới là một trong những nhân vật đáng nhớ nhất tôi từng gặp. Ông ấy hay đến thặm nhà hai bác Bill và Marge. Một tối chúng tôi ra hồ nói chuyện về thói tật ma túy và trai gái của thế hệ tôi, và Donkey kể rằng ông từng nhậu rất dữ và cưới vợ đến 10 lần. Tôi thật kinh ngạc. "Đừng nhìn chú như vậy", ông ấy nói. "Hồi chú bằng tuổi cháu, mọi việc không giống như bây giờ. Nếu muốn ngủ với nhau, nói yêu nhau là không đủ đâu. Phải cưới mới được!". Tôi phá lên cười và hỏi ông có nhớ hết tên mây bà vợ không. "Nhớ hết, chỉ trừ hai bà". Ông ấy trả lời. Cuộc hôn nhân ngắn nhất? "Có một đêm thôi. Chú tỉnh dậy trong một lữ quán, đầu nhức như búa bổ vì hôm trước uống nhiều quá, bên cạnh có một người phụ nữ lạ. Chú bảo, này cô là ai thế? Cô ta bảo, tôi là vợ ông đây, thằng chó chết! Thế là chú dậy, mặc quần vào và chuồn". Hồi những năm 50, Donkey gặp một phụ nữ khác hẳn những người kia. Ông kể cho cô ây toàn bộ sự thật đời mình và bảo nếu cô ấy cưới ông thì ông sẽ bỏ hẳn rượu. Cô ấy đã đón lấy cơ hội có một không hai ấy, và ông cũng giữ lời hứa trong 25 năm cho đến khi ông mất.

        Marge Mitchell còn giới thiệu tôi với hai thanh niên vừa mới băt đầu giảng dạy ở Hot Springs: Danny Thomason và Jan Biggers. Danny quê ở Hampton, thủ phủ của hạt nhỏ nhất ở Arkansas, và cậu ấy có đủ thứ chuyện về miền quê để chứng tỏ điều này. Khi tôi làm thống đốc, chủ nhật nào chúng tôi cũng cùng hát với nhau trong dàn đồng ca nhà thờ Baptist Immanuel. Em trai và em dâu của cậu ấy, Harry và Linda, trở thành hai trong số những người bạn thân thiết nhất của tôi và Hillary, và đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1992 và trong những năm tôi ở Nhà Trắng.

        Jan Biggers là một cô gái cao, xinh đẹp và nói nhiều, quê ở Tuckerman, đông bắc Arkansas. Tôi thích cô ấy, nhưng cô ấy cũng có nhiều quan điểm kỳ thị bị ảnh hưởng từ nhỏ, mà tôi lại không ưa gì mấy quan điểm đó. Khi tôi rời Oxford, tôi để lại cho cô ấy một thùng đầy những sách về dân quyền và khuyên cô nên đọc hết. Vài tháng sau, cô ấy trốn đi cùng với một giáo viên khác tên John Paschal, chủ tịch của hội NAACP địa phương. Họ đến New Hampshire lập nghiệp, anh chồng làm thầu xây dựng, cô ấy tiếp tục dạy học và có ba con. Khi tôi tranh cử tổng thống, tôi thật vui và ngạc nhiên khi biết Jan là chủ tịch của đảng Dân chủ ở một trong 10 hạt của New Hampshire.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2015, 02:34:13 AM
        Dù tôi chuẩn bị đi Oxford, tháng 8 vẫn là một trong những tháng điên cuồng nhất của năm 1968, và thật khó mà nhìn được tương lai. Tháng 8 bắt đầu bằng đại hội đảng Cộng hòa ở Miami Beach, nỗ lực nhằm đánh bại Richard Nixon đang nổi lên của thống đốc bang New York Nelson Rockefeller cho thấy cánh ôn hòa trong đảng Cộng hòa đã yếu đi đến nhường nào. Đại hội này cũng là nơi Thống đốc Ronald Reagan bang California lần đầu tiên nổi lên với khả năng trúng cử tổng thống với việc ông ấy quay sang tìm sự ủng hộ của những người bảo thủ đúng nghĩa. Nixon thắng trong lần bỏ phiếu đầu, với 692 phiếu so với 277 của Rockefeller và 182 của Reagan. Thông điệp của Nixon rất đơn giản: ông ta ủng hộ luật pháp và trật tự nội địa Mỹ, ủng hộ hòa bình trong danh dự ở Việt Nam. Dù bão tố chính trị thực sự vẫn còn ở phía trước khi đảng Dân chủ họp ở Chicago, đảng Cộng hòa cũng chịu phần hỗn loạn của mình gây ra bởi lựa chọn phó tổng thống trong liên danh mình là Thống đốc Spiro Agnew bang Maryland, khét tiếng vì quan điểm cứng rắn trước những sự hỗn loạn dân sự. Hảo thủ bóng chày có tên trong nhà huyền thoại Jackie Robinson, người da đen đầu tiên chơi trong các giải lớn, từ chức phụ tá cho Rockefeller vì ông không thể tiếp tục ủng hộ ứng viên Cộng hòa mà theo ông là một "tên phân biệt chủng tộc". Người kế tục Martin Luther King Jr. mục sư Ralph Abernathy, chuyển Chiến dịch của Người nghèo từ Washington xuống Miami Beach với hy vọng gây ảnh hưởng tiến bộ đến đại hội đảng Cộng hòa. Nghị trình làm việc, các bài diễn văn và việc Nixon cầu viện nhóm người cực kỳ bảo thủ làm họ thất vọng. Sau khi Agnew được đề cử tranh chức phó tổng thống, cuộc tụ họp ban đầu là trong hòa bình nhằm đấu tranh xóa nghèo biến thành một cuộc bạo động. Vệ binh quốc gia được gọi đến, và kịch bản chúng ta có thể đoán trước được đã diễn ra: hơi cay, đánh đập, cướp phá, hỏa hoạn. Khi mọi việc chấm dứt, ba người da đen thiệt mạng, và người ta ra lệnh giới nghiêm ba ngày, 250 người khác bị bắt giữ và sau đó được thả ra nhằm bưng bít thói bạo hành của cảnh sát. Nhưng tất cả những rắc rối ấy chỉ làm mạnh thêm con bài luật pháp - trật tự mà Nixon đưa ra trước cái gọi là đa số thầm lặng dân chúng Mỹ - những người kinh hoàng trước những điều họ cho là sự đổ vỡ của đời sống Mỹ.

        Vụ lộn xộn ở Miami chỉ là màn khởi động cho những gì đảng Dân chủ phải đối mặt ở Chicago vào cuối tháng đó. Ngay từ đầu tháng, AI Lowenstein và những người khác đã tìm kiếm một người thay thế cho Humphrey. McCarthy vẫn còn đấy nhưng không có cơ hội thực sự để chiến thắng. Ngày 10 tháng 8, Thượng nghị sĩ George McGovern tuyên bố ra tranh cử, rõ ràng là hy vọng được sự ủng hộ của những người từng ủng hộ Robert Kennedy. Trong khi đó, những người trẻ tuổi chống đối chiến tranh bắt đầu đổ về Chicago. Một số nhỏ dự định gây chuyện thực sự; số còn lại đến để tổ chức nhiều hình thức phản đối ôn hòa khác. Trong số này có cả nhóm Yippies có kế hoạch chuẩn bị một "Ngày hội Cuộc sống" theo phong cách "phản văn hóa", với những người tham gia lúc nào cũng lử khử cần sa; và cả ủy ban Huy động Quốc gia dự định tiến hành một cuộc phản đối bình thường hơn. Nhưng Thị trưởng Richard Daley không mạo hiểm: ông báo động toàn bộ lực lượng cảnh sát, đề nghị thống đốc huy động Vệ binh quốc gia, và chuẩn bị cho cả tình huống xấu nhất.

        Ngày 22 tháng 8, nạn nhân đầu tiên ở kỳ đại hội này, một thanh niên da đỏ 17 tuổi bị cảnh sát bắn vì cho rằng anh ta bắn họ trước, gần công viên Lincoln nơi có đông người tụ họp hàng ngày. Hai ngày sau, một ngàn người biểu tình chống lệnh phải giải tán khỏi công viên vào ban đêm. Hàng trăm cảnh sát xông vào và dùng dùi cui dẹp đám đông và đám đông lúc này cũng lấy đá ném lại, chửi rủa hoặc chạy trốn. Tất cả diễn biến đều được truyền hình ghi lại.

        Tôi chứng kiến Chicago như vậy đây. Thật kỳ lạ. Tôi đã đi Shreveport, Louisiana với Jeff Dwire, người mà mẹ tôi bắt đầu thân thiết và sau đó cưới. Ông ây là một người kỳ lạ: một cựu chiến binh Thế chiến hai ở chiến trường Thái Bình Dương, bị hỏng cơ bụng vì nhảy dù ra khỏi máy bay và đáp xuống một rặng san hô; một thợ mộc giỏi; một người Louisiana có óc hài hước tinh quái; và là chủ một cơ sở chăm sóc sắc đẹp nơi mẹ hay đi làm tóc (trong suốt thời đại học ông ấy từng kiếm sống bằng nghề làm tóc). Ông từng là cầu thủ bóng bầu dục, huấn luyện viên judo, thợ xây nhà, nhân viên bán thiết bị giếng dầu và từng bán cổ phiếu. Ông có gia đình nhưng ly thân với vợ và có ba con gái. Ông cũng từng ngồi tù chín tháng vì lừa đảo chứng khoán. Năm 1956, ông quyên góp 24 ngàn đôla cho một công ty sắp làm phim về các nhân vật thú vị của Oklahoma, trong đó có cả tên gangster Floyd điển trai. Sở Tư pháp Mỹ kết luận công ty này nhận được đồng nào là xài hết đồng ấy, không hề có ý định làm phim gì hết. Jeff nói ông đã rút ra khỏi hoạt động này ngay khi phát hiện đây là trò lừa đảo nhưng không kịp. Tôi tôn trọng ông vì chỉ sau một thời gian ngắn quen nhau, ông đã kể hết những chuyện ấy cho tôi. Dù sự thực có thế nào thì mẹ cũng nghiêm túc với ông và muốn chúng tôi dành thời gian chơi với ông, nên tôi đồng ý đi Louisiana cùng với ông để ông lo công việc trong một công ty bán nhà có đồ đạc sẵn. Shreveport là một thành phố bảo thủ ở tây bắc Louisiana, không xa ranh giới Arkansas, có một tờ báo cực hữu lúc nào cũng đưa tin chấn động về những chuyện tôi đã xem qua truyền hình tối hôm trước. Tình cảnh thật quá kỳ quái, nhưng tôi ngồi dán mắt vào màn hình tivi hàng giờ liền, chỉ ra ngoài vài nơi và đi ăn với Jeff. Tôi cảm thây bị cô lập. Tôi không hòa mình với đám thanh niên đang quậy ầm ĩ và củng không theo phe ông thị trưởng Chicago cùng các chiến thuật cứng rắn của ông ấy cũng như những người ủng hộ ông, trong đó có cả những người tôi cùng lớn lên. Và tôi cũng đau buồn vì đảng của tôi và chính nghĩa tiến bộ của đảng tan vỡ ngay trước mắt mình.

        Bất kỳ hy vọng nào rằng đại hội có thể đoàn kết lại đảng đã bị Tổng thống Johnson làm tiêu tan. Trong tuyên bố đầu tiên từ sau đám tang anh mình, Thượng nghị sĩ Edward Kennedy kêu gọi đơn phương chấm dứt ném bom và đồng loạt rút quân Mỹ và Bắc Việt Nam ra khỏi Nam Việt Nam. Đề nghị của ông dựa trên một nghị trình thỏa hiệp có sự đồng thuận của những người lãnh đạo chiến dịch tranh cử của Humphrey, Kennedy và McCarthy. Khi tướng Creighton Abrams, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Việt Nam, nói với Johnson rằng ngưng ném bom sẽ gây nguy hiểm cho binh sĩ Mỹ, tổng thống yêu cầu Humphrey phải rút lui khỏi thỏa hiệp và Humphrey phải chiều theo. Sau này trong tự truyện của mình, Humphrey viết "Lẽ ra tôi phải giữ vững lập trường... Lẽ ra tôi không nên nhượng bộ". Nhưng ông ấy đã nhượng bộ, và mọi việc vỡ lở.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2015, 12:54:56 PM
        Đại hội khai mạc ngày 26 tháng 8. Diễn giả chính là Thượng nghị sĩ Dan Inouye bang Hawaii, một cựu binh Thế chiến hai người Mỹ gốc Nhật. Năm 2000 tôi trao tặng ông Huân chương danh dự quốc hội, một phần thưởng muộn màng để công nhận sự anh hùng mà ông phải trả giá bằng một cánh tay và suýt mất mạng, trong khi những người Mỹ gốc Nhật như ông đang bị dồn vào các trại giam giữ ở nội địa Mỹ. Inouye tuyên bố thông cảm với những người biểu tình và mục tiêu của họ, nhưng kêu gọi họ không nên từ bỏ phương thức đấu tranh ôn hòa. Ông phát biểu chống lại "bạo lực và thói vô chính phủ", nhưng cũng phê phán thói thờ ơ và thành kiến "ẩn đằng sau cái vỏ luật pháp và trật tự", rõ ràng là một cái tát đối với Nixon và có lẽ là cả các chiến thuật của cảnh sát Chicago. Inouye cũng tạo được một sự cân bằng nào đó, nhưng mọi việc đã đổ bể đến mức lời nói của ông không có thể cứu vãn được nữa.

        Đại hội còn bị chia rẽ bởi nhiều thứ khác ngoài chuyện Việt Nam. Một số đoàn đại biểu miền Nam vẫn chống đốì điều lệ đảng cho phép người da đen tham gia quá trình lựa chọn đại biểu, ủy ban lễ tân, trong đó có dân biểu David Pryor của Arkansas, bỏ phiếu chấp nhận đoàn đại biểu tranh chấp của bang Mississippi do nhà hoạt động dân quyền Aaron Henry dẫn đầu. Các đoàn đại biểu miền Nam khác thì ổn định, ngoại trừ đoàn Georgia bị chia đôi, một nửa số ghế dành cho các đại biểu tranh chấp do hạ nghị sĩ tiểu bang trẻ và cũng là chủ tịch NAACP Julian Bond dẫn đầu; và đoàn bang Alabama có 16 đại biểu bị loại ra vì không tuyên bố ủng hộ ứng viên được đề cử của đảng, có lẽ vì Thống đốc bang Alabama George Wallace cũng ra tranh cử với tư cách ứng viên độc lập.

        Dù có những bất đồng như vậy nhưng tiêu điểm của đại hội vẫn là cuộc chiến tranh. McCarthy có vẻ khổ sở, trở lại con người rụt rè của ông ta, châp nhận thất bại, không quan tâm gì đến đám trẻ hàng đêm vẫn bị quấy rối và đánh đập ở công viên Lincoln và công viên Grant vì không chịu giải tán. Trong một nỗ lực cuối cùng để tìm ra một ứng viên mà hầu hết đảng viên Dân chủ chấp nhận được, mọi người, từ AI Lowenstein cho đến thị trưởng Daley, đều giới thiệu Ted Kennedy. Khi Kennedy kiên quyết từ chối, vị trí đề cử của Humphrey mới chắc chắn. Và lúc ấy nghị trình Johnson mong muốn cũng mới chắc chắn với khoảng 60% đại biểu bỏ phiếu ủng hộ.

        Vào tối mà đại hội tuyên bố ứng viên được đề cử, 15 ngàn người tập trung tại công viên Grant để phản đối chiến tranh và lối hành xử cứng rắn của thị trưởng Daley. Sau khi một người biểu tình giật cờ Mỹ xuống, cảnh sát ùa vào đám đông đánh đập và bắt bớ. Khi đám biểu tình đi đến khách sạn Hilton, cảnh sát bắn hơi cay và lại đánh đập họ ở đại lộ Michigan. Mọi diễn biến đều được truyền trực tiếp qua máy truyền hình ở hội trường đại hội. Cả hai phe đều nổi giận. McCarthy cuối cùng cũng phát biểu với những ủng hộ viên của mình ở công viên Grant, tuyên bố với họ rằng ông ta sẽ không bỏ rơi họ và sẽ không chấp nhận Nixon hay Humphrey. Thượng nghị sĩ Abe Ribicoft bang Connecticut trong khi đề cử McGovern đã phê phán "cách hành xử kiểu Gestapo trên đường phố Chicago". Daley nhảy dựng lên, và trước ống kính truyền hình, tung ra một tràng những lời nhục mạ Ribicoff. Các bài diễn văn chấm dứt là đến lúc bỏ phiếu. Humphiey thắng dễ dàng sau khi kiểm phiếu xong vào nửa đêm. Lựa chọn đề cử phó tổng thống của ông ta là Thượng nghị sĩ Edmund Muskie bang Maine cũng dễ dàng được thông qua sau đó. Trong khi ấy, những cuộc biểu tình do Tom Hayden và tay tấu hài da đen Dick Gregory dẫn đầu vẫn tiếp diễn bên ngoài sảnh đại hội. Diễn biến khả quan duy nhất bên trong đại hội, ngoài bài diễn văn của Inouye, là đoạn phim tưởng nhớ Robert Kennedy được chiếu vào cuối ngày và làm các đại biểu đầy cảm động. Tổng thống Johnson đã khôn khéo ra lệnh không được chiếu đoạn phim này trước khi Humphrey được đề cử.

        Sự nhục mạ cuối cùng là sau khi đại hội kết thúc, cảnh sát vẫn còn xông vào khách sạn Hilton đánh đập và bắt giữ vài tình nguyện viên của McCarthy lúc ấy đang ăn tiệc chia tay. Cảnh sát cho là mấy thanh niên này trong khi uống rượu cho quên sầu đã ném đồ vào họ từ phòng ở lầu 15 dành cho nhân viên của McCarthy. Ngày hôm sau, Humphrey hoàn toàn ủng hộ việc Daley xử lý nạn bạo lực "có tính toán" và tuyên bố ông thị trưởng không làm gì sai trái cả.

        Đảng Dân chủ rời Chicago trong tình trạng chia rẽ và xuống tinh thần - tổn thất mới nhất trong một cuộc chiến tranh về quan niệm đã vượt quá những tranh cãi về Việt Nam. Cuộc chiến ấy sẽ thay đổi lại cơ cấu và phe cánh trong chính trị Mỹ cho đến hết thế kỷ và sau đó nữa, và gây khó khăn cho việc tập trung cử tri đoàn vào những vấn đề tác động nhiều nhất đến cuộc sống của họ chứ không phải vào tâm lý họ. Thanh niên biểu tình và những người ủng hộ họ coi ông thị trưởng và cảnh sát là những kẻ ngoan cố ngu dôt, độc đoán và bạo lực. Ông thị trưởng và cảnh sát chủ yếu xuât thân từ dân lao động thì coi bọn thanh niên là bọn nhóc nhà giàu to mồm, vô đạo đức, không yêu nước, mềm yếu và được nuông chiều đên mức không còn coi giới chức ra gì, trong khi lại quá ích kỷ không thèm biết đến những gì cần làm để giữ ổn định xã hội và cũng quá hèn nhát không dám đi Việt Nam chiến đấu.

        Tôi theo dõi tất cả những việc này trong căn phòng khách sạn nhỏ ở Shreveport, tôi hiểu cảm giác của cả hai bên. Tôi chống chiến tranh và chống thói hung bạo của cảnh sát, nhưng việc lớn lên ở Arkansas cũng làm tôi hiểu và tôn trọng những cực nhọc của người phải thi hành phận sự mỗi ngày, và nghi ngờ sâu sắc thói vênh váo tự cho mình là đúng dù là cánh hữu hay cánh tả. Sự cuồng tín của cánh tả vẫn chưa bung ra hết, nhưng nó đã gây ra phản ứng cực đoan từ phía cánh hữu - một phản ứng vững chắc, được hậu thuẫn tài chính dồi dào, thể chế hóa, và ham muốn quyền lực và có khả năng tự bảo tồn.

        Phần lớn cuộc đời làm chính trị của tôi là dùng để tìm cách lấp đầy khoảng cách văn hóa và tâm lý từng bùng lên thành những xung đột ở Chicago. Tôi đã thắng nhiều cuộc bầu cử và tôi nghĩ mình cũng làm được nhiều điều tốt, nhưng tôi càng cố đoàn kết mọi người lại thì điều đó càng làm những kẻ cuồng tín cánh hữu tức tối. Không giống như những thanh niên ở Chicago, bọn họ không muốn nước Mỹ lại thống nhất. Họ có kẻ thù, và họ vẫn luôn muốn có kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2015, 04:06:32 PM

        14


        Tôi dành tháng 9 để chuẩn bị nhập học Oxford, chào tạm biệt bạn bè, và theo dõi cuộc tranh cử tổng thống tiếp diễn. Vì đang trong diện nhập ngũ nên tôi liên hệ với chủ tịch ban tuyển quân địa phương - Bill Armstrong để biết bao giờ đến lượt tôi. Mặc dù chế độ hoãn dịch cho sinh viên cao học đã được hủy bỏ hồi mùa xuân trước, nhưng sinh viên vẫn được phép kết thúc học kỳ họ đang học. Oxford có ba học kỳ tám tuần trong một năm, và xen kẽ là hai kỳ nghỉ năm tuần. Tôi được thông báo có thể đến tháng 10 mới bị gọi và tôi có thể học tiếp một học kỳ nữa, tùy thuộc vào chỉ tiêu mà ban tuyển quân địa phương phải đáp ứng. Tôi thực sự muốn đến học ở Oxford, kể cả trường hợp chỉ được học một vài tháng. Quỹ học bổng Rhodes cho phép người ta đi quân dịch xong rồi quay về học tiếp ở Oxford, nhưng vì tôi đã quyết định nằm trong diện quân dịch, và chuyên Việt Nam vẫn chưa biết bao giờ kêt thúc, nên nghĩ đến việc đi học sau đó quả là không khôn ngoan chút nào.

        Về chính trị, mặc dù sau kỳ đại hội ờ Chicago tôi nghĩ chẳng còn hy vọng gì, và Humphrey vẫn theo đuổi chính sách Việt Nam của Lyndon Johnson, nhưng tôi vẫn muốn ông chiến thắng. Nội vấn đề dân quyền cũng đủ để làm vậy. Nạn phân biệt chủng tộc vẫn chia rẽ miền Nam. Theo lệnh của tòa án, người ta dùng xe buýt chở trẻ em đi học chia đều ra các trường nhằm đảm bảo tỷ lệ chủng tộc trong trường ở nhiều hạt. Việc này ngày càng lan rộng và gây chia rẽ ngày càng tăng ở khắp nơi trên đất nước. Thật trớ trêu là việc Wallace ra tranh cử đã tạo cơ hội cho Humphrey, vì hầu hết các cử tri của ông ta thuộc giới ủng hộ việc trường học không hòa hợp chủng tộc và theo trường phái luật pháp và trật tự, và nếu như cuộc đua tranh cử chỉ có hai ứng viên thì họ chắc sẽ bỏ phiếu cho Nixon.

        Xung đột văn hóa vẫn tiếp tục bùng nổ. Những người biểu tình phản chiến nhắm vào Humphrey nhiều hơn là Wallace và Nixon. Phó tổng thống cũng bị coi thường khi tiếp tục chỉ trích cách hành xử của cảnh sát của Thị trưởng Daley trong kỳ đại hội. Dù một cuộc trưng cầu của viện Gallup cho thấy có 56% người Mỹ ủng hộ các biện pháp của cảnh sát đối với những người biểu tình, hầu hết số người này không phải là người theo đảng Dân chủ, đặc biệt là trong cuộc đua ba người, kể cả Wallace. Thêm nữa, trật tự vừa mới được vãn hồi đã lại bị lung lay vì hai cuộc phản đối tại cuộc thi Hoa hậu toàn mỹ ở thành phố Atlantic. Một nhóm người da đen phản đối vì cuộc thi không có thí sinh da đen. Một nhóm nữ quyền cũng phản đối cuộc thi vì cho rằng nó hạ thấp nhân phẩm phụ nữ. Để thuyết phục hơn, một sô phụ nữ còn đốt áo ngực của họ, một chứng cớ hùng hồn đối với nhiều người Mỹ kiểu cũ rằng lần này gay go to rồi.

        Trong chiến dịch tranh cử tổng thống, Nixon có vẻ đang dễ dàng tiến tới chiến thắng. Ông ta công kích Humphrey là yếu và không hiệu quả, và nói càng ít càng tốt về những gì ông ta sẽ làm nếu được bầu tổng thống, ngoại trừ cố gắng thỏa mãn nhóm theo chủ nghĩa phân biệt (và ve vãn cử tri của Wallace) bằng cách hứa hẹn sẽ đảo ngược chính sách cắt ngân sách quỹ liên bang cho các trường học nào từ chối lệnh củạ tòa án liên bang về việc cho học sinh khác màu da học chung. Người đứng chung liên danh với Nixon, Spiro Agnew, là người trực tiếp xông xáo làm việc này với sự trợ giúp của chuyên gia viết diễn văn của ông ta là Pat Buchanan. Giọng điệu khắc nghiệt và những câu nói hớ của ông ta đã trở thành huyền thoại. Đi đâu Humphrey cũng gặp phải những cuộc biểu tình phản đối ồn ào. Đến cuối tháng, các cuộc trưng cầu cho thấy Nixon ổn định với 43%, Humphrey rớt 12 điểm còn 28%, chỉ hơn Wallace 7 điểm lúc này đang giữ 21% số phiếu. Vào ngày cuối cùng của tháng 9, trong cơn tuyệt vọng, Humphrey công khai từ bỏ quan điểm của Tổng thống Johnson về vấn đề Việt Nam và tuyên bố rằng Johnson nên ngừng ném bom Bắc Việt Nam và coi đấy là "nguy cơ chấp nhận được để có hòa bình". Cuối cùng ông ta đã trở về với bản chất thật của mình, nhưng đến lúc đó chỉ còn năm tuần nữa là bầu cử.

        Khi Humphrey đọc bài diễn văn công bố quan điểm của ông ta tôi đang ở New York chuẩn bị lên đường đi Oxford. Tôi và Denise Hyland đã ăn một bữa trưa tuyệt vời với Willie Morris, lúc này là một biên tập viên trẻ của tạp chí Harper. Lúc còn học năm thứ nhất tôi đã từng đọc cuốn tự truyện thú vị của anh: North Toward Home - Lên phương bắc về nhà và trở thành người hâm mộ anh suốt cả đời. Sau khi giành được học bổng Rhodes, tôi viết cho Willie hỏi xem tôi có thể đến thăm anh ở New York được hay không. Mùa xuân năm đó, anh tiếp tôi trong văn phòng ở đại lộ Park. Tôi thấy cuộc gặp gỡ thú vị đến mức trước khi chia tay tôi lại yêu cầu được gặp một lần nữa, và vì lý do nào đấy, có thể vì lịch sự kiểu người miền Nam, anh đã thu xếp thời gian gặp tôi.

        Ngày 4 tháng 10, Denise đi cùng tôi ra cầu cảng 86 trên sông Hudson, nơi tôi sẽ lên tàu SS United States để đi Anh. Tôi biết đích đến của chiếc tàu biển khổng lồ này, nhưng không rõ rồi đây mình sẽ đi tới nơi đâu.

VVào thời đó tàu United States là tàu chạy nhanh nhất, thế nhưng chuyến đi cũng phải mất đến gần một tuần. Đi tàu biển cùng nhau để làm quen là một truyền thống lâu đời của sinh viên học bổng Rhodes. Nhịp lướt êm ái của tàu và những lần ăn tối chung với nhau thực sự cho chúng tôi thời gian biết thêm về nhau (sau khi đã buộc phải "đánh hơi nhau" như những con chó săn no đủ mệt mỏi), gặp gỡ những hành khách khác, và xả bớt áp lực của không khí chính trị nóng bỏng của nước Mỹ. Hầu hết chúng tôi đều còn tử tế đến mức cảm thấy hơi tội lỗi vì thích thú chuyến đi; chúng tôi ngạc nhiên khi gặp những người không mấy ám ảnh về Việt Nam và chính trị trong nước như chúng tôi.

        Cuộc gặp gỡ khác thường nhât của tôi là với Bobby Baker, đệ tử chính trị khét tiếng của Lyndon Johnson, người từng là thư ký °ủa thượng viện khi Tổng thông Johnson còn là lãnh tụ đa sô trong thượng viện. Một năm trước, Baker bị kết tội trốn thuế và một số tội danh khác, nhưng ông ta vẫn được tự do trong lúc kháng án. Baker có vẻ vô tư, thích chính trị và thích giao du với đám sinh viên học bổng Rhodes. Đám sinh viên có lẽ không cảm thấy thế với ông ta. Một số người trong nhóm không biết ông ta là ai; hầu hết những người còn lại coi ông ta là hiện thân của tệ quen biết thối nát của thể chế chính trị. Tôi không đồng tình với những gì ông ta đã làm, nhưng tôi vẫn thấy thu hút bởi những câu chuyện về nội tình mà ông ta rất sẵn lòng chia sẻ. Chỉ cần hỏi một hay hai câu là ông ta kể ngay.

        Ngoại trừ Bobby Baker và tùy tùng, tôi chủ yếu chỉ chơi với các sinh viên học bổng Rhodes và những thanh niên khác trên tàu. Tôi đặc biệt mến Martha Saxton, một nhà văn thông minh, xinh đẹp và đầy cảm hứng. Phần lớn thời gian của cô dành cho một sinh viên khác, nhưng cuối cùng tôi cũng có cơ hội tiếp cận, và khi chuyện lãng mạn của chúng tôi kết thúc, chúng tôi trở thành bạn thân trọn đời. Mới đây cô đã gửi cho tôi cuốn sách mới nhất của mình: Being Good: Women's Moral Values in Early America - Bản chất tốt: Những giá trị đạo đức của phụ nữ ở Mỹ thời sơ khai.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2015, 02:31:40 PM
        Một hôm có người mời một số trong chúng tôi đến phòng ông ta để uống cocktail. Trước đó tôi chưa bao giờ uổng và cũng chưa bao giờ muốn uống. Tôi căm ghét những gì rượu đã gây ra với bố tôi, Roger Clinton, và sợ nó cũng có thể ảnh hưởng đến tôi tương tự như vậy. Nhưng tôi nghĩ đã đến lúc phải kết thúc mối lo sợ dai dẳng này. Ông ta hỏi tôi muốn uống gì, tôi nói scotch pha sôđa, thức uống tôi vẫn thường pha cho mọi người lúc làm pha chế rượu trong một vài bữa tiệc riêng ở Georgetown. Tôi không biết mùi vị nó ra sao, và khi nhấp thử tôi chẳng thấy thích chút nào. Hôm sau, tôi thử bour-bon pha nước, thấy khá hơn chút ít. Đến Oxford, tôi thường uống bia, rượu vang và rượu sherry, và khi về nhà, tôi thích uống gin với tonic và mùa hè thì thích uống bia. Trong những năm cuối tuổi 20 và đầu tuổi 30, thỉnh thoảng tôi cũng có quá chén. Từ khi gặp Hillary, chúng tôi thường uống sâmpanh trong những dịp đặc biệt, nhưng may thay, rượu không hề ảnh hưởng xấu đến tôi. Cuối thập niên 70, tôi bị dị ứng với tất cả các loại thức uống có cồn trừ vodka. Xét ra, tôi thấy mừng vì đã thoát khỏi cơn sợ hãi đối với rượu, và cũng thấy nhẹ người khi thấy mình không bị cuốn theo nó. Không có rượu tôi cũng đã có đủ rắc rối rồi.

        Nhưng nói chung chuyến đi này hay nhất là vì những hứa hẹn nó đem lại: giao du với sinh viên được học bổng Rhodes. Tôi cố gắng chơi với tất cả mọi người, nghe họ nói chuyện và học hỏi họ. Rất nhiều người có thành tích học tập đáng nể hơn tôi và một số ít hoạt động tích cực trong phong trào chính trị phản chiến hồi còn ở trường hoặc trong các chiến dịch của McCarthy và Kennedy. Một vài trong số những người tôi thích nhất đã trở thành bạn trọn đời của tôi, và một số đáng kể khác sau này đóng vai trò quan trọng trong nhiệm kỳ tổng thống của tôi: Tom Williamson, cầu thủ bóng bầu dục da đen của trường Harvard, sau này là cố vấn Bộ Lao động trong nhiệm kỳ đầu tiên của tôi; Rick Stearns - trường Stanford là người đã giới thiệu tôi làm việc cho chiến dịch tranh cử quốc gia của McGovern và được tôi bổ nhiệm làm thẩm phán liên bang ở Boston; Strobe Talbott, chủ bút tờ Yale Daily News, sau này trở thành cố vấn đặc biệt của tôi về Nga và thứ trưởng ngoại giao sau sự nghiệp thành công ở tòa báo Time-, Doug Eakeley, ở cùng nhà với tôi ở trường luật, được tôi bổ nhiệm làm chủ tịch của Tập đoàn Dịch vụ Pháp lý; Alan Bersin, một cầu thủ bóng bầu dục khác của trường Harvard đến từ Brooklyn, người được tôi bổ nhiệm làm công tố viên Mỹ ở San Diego, nơi bây giờ ông là giám thị ở trường trung học; Willie Flecher ở Seattle, tiểu bang Washington, tôi đã bổ nhiệm vào Tòa phúc thẩm khu vực thứ chín (tại Mỹ có 134 khu vực tư pháp, mỗi khu vực bao gồm nhiều tiểu bang và có một tòa phúc thẩm. Tòa phúc thẩm khu vực thứ chín là tòa lớn nhất - ND); và Bob Reich - lúc đó là ngòi nổ sáng giá khơi mào các cuộc tranh luận của nhóm ' sau này là Bộ trưởng lao động trong nhiệm kỳ đầu tiên của tôi. Một người khác là Dennis Blair, sinh viên tốt nghiệp Học viện Hải quân, đã trở thành đô đốc trong Lầu năm góc khi tôi làm Tổng thống và rôi làm chỉ huy các lực lượng ở Thái Bình Dương, nhưng anh ấy làm mọi việc mà không cần tôi giúp gì cả.

        Trong hai năm kế tiếp, tất cả chúng tôi trải nghiệm Oxford theo những cách khác nhau, nhưng chúng tôi cùng chia sẻ sự bất an và lo lắng ở quê nhà Mỹ, yêu mến Oxford đấy song không khỏi băn khoăn rằng chúng tôi đang làm cái quái quỉ gì ở đây. Phần lớn chúng tôi lao vào cuộc sống mới hơn là lên giảng đường. Những cuộc trò chuyện, đọc sách và các chuyên đi dường như quan trọng hơn, đặc biệt đối với những người nghĩ rằng mình đang sống khoảng thời gian vay mượn. Sau hai năm, tỷ lệ người Mỹ trong khóa chúng tôi thực sự nhận được bằng ít hơn bất cứ khóa học nào khác trước đó trong chương trình học bổng Rhodes. Nhưng chúng tôi, theo cách của mình, lòng tràn ngập sự bồng bột của tuổi trẻ, có lẽ đã tự hiểu mình hơn trong thời gian ở Oxford, và cũng hiểu những điều có thể quan trọng đối với cả cuộc đời hơn hầu hết những sinh viên học bổng Rhodes khóa trước.

        Sau năm ngày và một lần dừng ngắn ở Le Havre, cuối cùng chúng tôi đến Southampton, nơi lần đầu tiên chúng tôi có ý niệm về Oxford thông qua con người của Ngài Edgar "Bill" Williams, giám thị của Rhodes House. Ồng đứng đợi chúng tôi ở bến tàu, đầu đội mũ phớt, mặc áo mưa và tay cầm dù, trông ông giống một công tử Ănglê hơn là một người đã từng là giám đốc tình báo của Thống chế Montgomery trong Thế chiến hai.

        Bill Williams lùa chúng tôi lên xe buýt để về Oxford. Trời đã tối và đang mưa nên chúng tôi chẳng thấy gì nhiều. Đến Oxford đã 11 giờ đêm, và cả thành phố tối đen như mực ngoại trừ chút ánh sáng le lói của một xe bán xúc xích, cà phê dở ẹc và đồ ăn nhanh trên đường High Street ngay bên ngoài University College, nơi tôi được chỉ định sẽ học. Xe buýt thả chúng tôi xuống và chúng tôi bước qua cánh cổng vào sân chính của trường có từ thế kỷ 17, ở đó, Douglas Millin, người quản lý trường, đứng đón chúng tôi. Millin là một ông già kỳ quặc, cộc cằn, nhận việc ở trường sau khi ra khỏi hải quân. Ông rất thông minh, nhưng lại luôn cố che giấu điều đó bằng cách thường xuyên chửi bới văng mạng. Ông đặc biệt thích hành hạ những người Mỹ. Những lời đầu tiên của ông mà tôi nghe là nhắm vào Bob Reich, người chỉ cao khoảng 1,5 mét. Ông nói người ta bảo sẽ gửi đến bốn "chàng Mẽo", hóa ra chỉ có ba chàng rưỡi. Ông không bao giờ ngừng giễu cợt chúng tôi, nhưng ẩn đằng sau là một con người khôn ngoan và xét đoán về người khác rât sắc sảo.

        Trong hai năm tiếp theo, tôi dành nhiều thời gian nói chuyện với Douglas. Bằng thứ ngôn ngữ đầy những tiếng lóng Ảnglê, ông dạy cho tôi cách trường đại học thực sự vận hành ra sao, kể cho tôi nghe những câu chuyên về các giáo sư và nhân viên, bàn luận thời sự, kể cả sự khác biệt giữa chiến tranh Việt Nam và Thế chiến hai. Trong 25 năm kế tiếp, bất cứ khi nào có dịp đến Anh tôi đều đến thăm Douglas. Cuối năm 1978, sau khi được bầu làm thống đốc bang Arkansas, lần đầu tôi đưa Hillary đến Anh để nghỉ ngơi. Khi đặt chân đến Oxford, khi bước chân qua cánh cổng trường tôi tự hào ghê lắm. Thế rồi chúng tôi thấy Douglas. Ông không bao giờ bỏ lỡ dịp. "Clinton" - ông nói - "Tôi nghe nói cậu mới được bầu làm vua một vương quốc nào đó chỉ có ba người và một con chó". Tôi yêu mến Douglas Millin.

        Phòng tôi ở phía sau trường, sau lưng thư viện, ở sân Helen's Court, một nơi nhỏ bé kỳ quặc được đặt theo tên vợ một ông thầy của trường. Hai tòa nhà đối diện nhau qua một khoảng sân có tường bao quanh. Tòa nhà bên trái cũ hơn có hai cửa dẫn đến hai dãy phòng sinh viên ở tầng trệt và lầu một. Tôi được phân một phòng bên cánh trái ở lầu hai gần lối ra vào. Phòng tôi có một phòng ngủ nhỏ và một phòng làm việc nhỏ mà thực ra gộp lại thành một phòng lớn. Nhà vệ sinh ở tầng trệt, mỗi lần đi vệ sinh phải đi xuống cầu thang lạnh lẽo. Phòng tắm ở lầu một. Thỉnh thoảng cũng có nước nóng. Tòa nhà hiện đại bên phải dành cho sinh viên cao học, mỗi người được một căn hộ một trệt một lầu. Tháng 10 năm 2001, tôi giúp Chelsea sắp xếp đồ đạc trong căn hộ có phòng ngủ đối diện với căn phòng tôi đã từng ở 33 năm trước. Đó là một trong những khoảnh khắc vô giá khi ánh mặt trời xua đi tất cả những bóng tối của cuộc đời.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2015, 08:40:00 AM
        Buổi sáng đầu tiên ở Oxford tôi thức dậy và tiếp xúc ngay với rnột trong những thông lệ kỳ lạ của cuộc sống Oxford: ông Archie, tùy viên" của tôi và là người dọn phòng ở Helen's Court. Tôi đã quen tự soạn giường và tự lo cho mình, nhưng dần dà tôi để cho Archie làm công việc mà, tính đến khi "vướng" vào tôi, ông đã làm trong gần 50 năm. Archie là người thầm lặng, tử tế mà tôi và các bạn ngày càng thực sự kính trọng và yêu mến. Vào giáng sinh và các dịp đặc biệt khác, sinh viên thường tặng cho người "tùy viên" một món quà nhỏ, trong giới hạn cho phép của vỏn vẹn 1.700 đôla tiền tiêu xài hàng năm của học bổng Rhodes. Archie đánh tiếng rằng ông thực sự thích vài chai Guinness, một loại bia đen Ireland. Tôi mua cho ông khá nhiều lúc ở Helen's Court và thỉnh thoảng tôi cùng ông làm vài ngụm. Archie rất thích loại bia đó, và nhờ ông tôi cũng thích luôn.

        Cuộc sống ở trường đại học được tổ chức quanh 29 trường nhỏ, lúc bấy giờ vẫn còn nam riêng nữ riêng; có rất ít trường dành cho nữ. Vai trò chính của trường đại học trong cuộc đời sinh viên là cung cấp các bài giảng, mà sinh viên có thể tham dự hoặc không, và tổ chức thi, thường vào cuối kỳ học mỗi môn. Có được bằng hay không, hoặc bằng loại nào hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả thi. Muốn học hết tài liệu thì phải tham gia các buổi học nhóm hàng tuần để viết bài luận ngắn về đề tài sẽ thảo luận. Mỗi trường đều có nhà nguyện riêng, phòng ăn, và thư viện. Hầu hết các trường đều có kiến trúc nổi bật; một số có vườn đẹp tuyệt, thậm chí có cả công viên và hồ, hoặc nằm cạnh sông Cherwell chảy bên rìa phía đông thành phố cổ. Ngay dưới Oxford, sông Chervvell chảy vào Isis, một nhánh của sông Thames, con sông rộng lớn định hình phần lớn London.

        Tôi dành phần lớn thời gian của hai tuần đầu tiên để dạo quanh Oxford, một thành phố cổ kính và đẹp đẽ. Tôi khám phá những dòng sông, công viên, những con đường có hàng cây, nhà thờ, những ngôi chợ có mái che, và, tất nhiên, các trường trực thuộc Oxford.

        Mặc dù trường tôi không có sân lớn, và dãy nhà cổ kính nhất cũng chỉ từ thế kỷ 17 nhưng tôi thấy hợp với trường. Vào thế kỷ 14, các sinh viên của trường đã giả mạo tài liệu để chứng minh đây là trường lâu đời nhất của Oxford, có gốc rễ từ thời Alfred Đại đế hồi thế kỷ thứ chín. Tuy nhiên điều không cần phải tranh cãi là trường tôi, hay Univ như mọi người thường gọi, là một trong ba trường lâu đời nhất, được thành lập cùng với Merton và Balliol vào thế kỷ 13. Năm 1292, quy định của trường gồm một loạt những quy định hà khắc, kể cả việc cấm hát tình ca và nói tiếng Anh (quy định bắt phải nói tiếng Latinh - ND). Đôi lần trong các đêm quậy phá gào rú, tôi ước gì đám bạn tôi vẫn phải chịu quy định ấy và bị bắt buộc phải thì thào bằng tiếng Latinh.

        Sinh viên nổi tiếng nhất của trường là Percy Bysshe Shelley ghi danh vào năm 1810, theo ngành hóa. Ông chỉ học được một năm rồi bị đuổi, không phải do ông đã dùng kiến thức mình học được để đặt một máy nấu rượu nhỏ trong phòng ở, mà do bài luận của ông có tên "Sự cần thiết của thuyết vô thần". Năm 1894, Univ đã phục hồi danh dự cho Shelley bằng cách đúc một bức tượng cẩm thạch rất đẹp của nhà thơ quá cố, người đã chết đuối bên bờ biển Ý lúc gần 30 tuổi. Khách tham quan đến trường dù chưa bao giờ đọc thơ của ông, chỉ cần chiêm ngưỡng những vần thơ tuyệt mệnh uyển chuyển của ông cũng có thể hình dung tại sao ông lại có ảnh hưởng đến thế đối với những người trẻ tuổi thời ông còn sống. Vào thế kỷ 20, trong số sinh viên cử nhân và cao học của Univ có ba nhà văn nổi tiếng Stephen spender, c.s. Lewis và V.S.Naipaul; nhà vật lý học vĩ đại Stephen Hawking; hai thủ tướng Anh, Clement Attlee và Harold Wilson; thủ tướng úc Bob Hawke, người vẫn đang giữ kỷ lục uống bia nhanh của trường; diễn viên Michael York; và người đã giết Rasputin, hoàng tử Felix Yusupov.

        Khi bắt đầu tìm hiểu Oxford và nước Anh, tôi cũng cố gắng tiếp tục theo dõi từ xa tiến triển cuộc bầu cử và nóng lòng chờ đợi lá phiếu cho cử tri vắng mặt để tôi có thể gửi đi phiếu bầu tổng thống đầu tiên của mình. Mặc dù bạo lực đô thị và các cuộc biểu tình của sinh viên vẫn tiếp tục nhưng Humphrey đã khá hơn. Sau tuyên bố tách mình khỏi lập trường về vấn đề Việt Nam của LBJ, Humphrey ít bị phản đối hơn và có thêm sự ủng hộ từ giới trẻ. Cuối cùng McCarthy cũng ủng hộ ông ấy, theo kiểu nửa vời rất đặc trưng, nói thêm rằng ông ta sẽ không ra tái tranh cử vào thượng viện năm 1970 hay tổng thống năm 1972 nữa. Trong khi đó, Wallace đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi chỉ định cựu tư lệnh không quân Curtis LeMay làm ứng viên phó tổng thống trong liên danh của mình. LeMay, người đã hối thúc Tổng thống Kennedy ném bom Cuba trong cuộc khủng hoảng tên lửa năm năm trước, ra mắt với tư cách ứng viên bằng tuyên bố rằng bom hạt nhân cũng chỉ là ''một loại vũ khí trong kho vũ khí" và rằng "cũng có lúc sử dụng chúng là hiệu quả nhất". Tuyên bố cúa LeMay khiến Wallace phải lui vào thế thủ và không bao giờ có lại được ưu thế nữa.

        Trong khi đó, Nixon vẫn giữ chiến thuật đang giúp ông tiến đến chiến thắng, né tránh mọi lời mời tranh luận với Humphrey. Nixon chỉ hơi phiền vì tương quan bất lợi cho Spiro Agnew so với đối thủ là Thượng nghị sĩ Muskie trong liên danh của Humphrey, và vì mối lo   ngại rằng Johnson có thể đạt được đột phá "bất ngờ tháng 10" tại hòa đàm Paris với tuyên bố ngừng ném bom. Bây giờ thì chúng ta đã biết cuộc vận động của Nixon có được thông tin tay trong về các cuộc đàm phán do Henry Kissinger cung cấp. Kissinger với vai trò cố vấn của Averell Harriman có liên quan đến hòa đàm Paris đủ để biết việc gì đang diễn ra. Chúng ta cũng biết rằng chỉ huy chiến dịch tranh cử của Nixon, John Mitchell đã thông qua người bạn của Nixon - Anna Chennault - vận động Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam không khuất phục sức ép của LBJ mà ngồi vào bàn đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nhờ các đoạn băng nghe lén giữa Anna Chennault và Đại sứ Nam Việt Nam ở Washington (Bộ Tư pháp cho phép việc nghe lén này) mà Johnson biết hết các nỗ lực đó của phía Nixon. Cuối cùng, vào ngày cuối cùng của tháng 10, Tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn cũng như việc Hà Nội đồng ý cho Nam Việt Nam tham gia đàm phán, và việc Mỹ chấp thuận vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

        Tháng 11 bắt đầu đầy kỳ vọng đối với Humphrey và những người ủng hộ ông. Số người ủng hộ trong các cuộc trưng cầu tăng lên nhanh chóng, và rõ ràng ông ta cho rằng sáng kiến hòa bình sẽ đưa ông lên dẫn đầu. Ngày 2 tháng 11, ngày thứ bảy trước bầu cử, Tổng thống Thiệu tuyên bố không thể đi Paris vì sự có mặt của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Ông ta nói, như thế buộc ông ta phải liên minh chính phủ với cộng sản, và ông ta chỉ đàm phán với Bắc Việt Nam thôi. Phe Nixon nhanh chóng ám chỉ LBJ đã quá vội vàng trong tiến trình đàm phán hòa bình, cố giúp Humphrey mà chưa chuẩn bị chu đáo các giải pháp ngoại giao.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2015, 08:46:49 AM
        Johnson điên tiết và thông báo cho Humphrey về những nỗ lực phá hoại sáng kiến hòa đàm do Anna Chennault tiến hành thay mặt Nixon. Lúc đó không cần phải giấu giếm dư luận để khỏi mất mặt không tung hê sự việc lên. Bởi vì kết quả trưng cầu cho thấy Nixon sẽ phải đối mặt với cuộc đua sít sao, nên ông nghĩ ông có thể chiến thắng mà không cần dùng đến thủ đoạn đó, và rõ ràng ông cũng lo sự nếu tiết lộ ra có thể lợi cất cập hại vì các sự kiện chưa đủ để chứng minh rằng Nixon biết những gì người khác, trong đó có John Mitchell, đang làm sau lưng và nhân danh ông ta. Tuy vậy, rõ ràng ở đây có chuyện Nixon đã dính líu đến các hành động phản trắc. Johnson rất giận Humphrey. Tôi tin là nếu LBJ tranh cử, ông ta sẽ tung hê thông tin đó ra, và nếu ở tình thế ấy, Nixon cũng chẳng ngần ngại gì mà không làm tương tự.

        Humphrey đã phải trả giá cho sự đắn đo hay sự khó tính đó của mình. Ông thua cuộc, thiếu mất 500.000 phiếu, giảm từ 43,4% xuống còn 42,7% và kém Wallace 13,5%. Nixon giành được 301 phiếu đại cử tri, vượt mức đa số 31 phiếu, với những chiến thắng sít sao ở Illinois và Ohio. Nixon đã thoát nạn với vụ Kissinger-Mitchell- Chennault, nhưng như Jules Witcover suy đoán trong cuốn sách của mình về năm 1968, The Year the Dream Died - Năm Giấc mơ lụi tàn, thì lần thoát hiểm đó có thể phải trả giá đắt hơn người ta tưởng nhiều. Chuyện thoát hiểm này đã làm cho phe Nixon tin rằng họ có thể làm mọi việc trót lọt, kể cả những trò bịp bợm trong vụ Watergate.

        Ngày 1 tháng 11, tôi bắt đầu viết nhật ký bằng một trong hai cuốn sổ bìa da mà Denise Hyland đã tặng tôi ngày rời nước Mỹ. Khi Archie đánh thức tôi dậy để báo tin lành ngừng ném bom, tôi đã viết: "Ước gì hôm nay mình được gặp Thượng nghị sĩ Fulbright - một lần nữa đây là minh chứng cho cuộc đấu tranh không biết mệt mỏi và ngoan cường của ông". Hôm sau tôi đoán việc ngừng bắn có thể dân đến rút quân và tôi có thể không bị động viên, hoặc ít nhất "cho phép các bạn đang tại ngũ của tôi có thể thoát khỏi Việt Nam. Và một số người trong rừng rậm ở đó có thể thoát chết". Tôi không hay biết rằng tổn thất nhân mạng Mỹ ở Việt Nam sẽ còn tăng gấp đôi. Tôi kết thúc hai đoạn nhật ký bằng "ca tụng niềm hy vọng, đã làm nên con người tôi, điều đã ở bên tôi ngay cả vào những đêm như đêm nay khi tôi không còn chút khả năng nào để phân tích và diễn đạt cho mạch lạc". Vâng, tôi còn trẻ và hay cường điệu, nhưng tối đã tin vào điều mà sau này trong bài diễn văn ở đại hội đảng Dân chủ năm 1992 tôi mô tả như "một nơi có tên Hy vọng". Chính điều đó đã giúp tôi tiếp tục đi lên trong suốt cuộc đời.

        Ngày 3 tháng 11, tôi tạm quên cuộc bầu cử để ăn trưa với George Cawkwell, trưởng khoa phụ trách cao học của Univ. Đó là một người to lớn dềnh dàng và trông vẫn ra dáng một ngôi sao bóng bầu dục như trước đây, và là một người được học bổng Rhodes đến từ New Zealand. Ngay trong buổi gặp đầu tiên, Giáo sư Cawkwell đã trách mắng tôi về quyết định thay đổi khóa học. Ngay sau khi đến Oxford, tôi đã ngưng học nhóm PPE bao gồm chính trị, triết học và kinh tế trong chương trình cử nhân để chuyển sang Cử nhân Văn chương ngành Chính trị, môn này bắt buộc tôi phải làm luận án tốt nghiệp 50.000 từ. Tôi đã học hết chương trình PPE vào năm thứ nhất ở Georgetown, và vì có vấn đề quân dịch nên tôi không mong học hết năm thứ hai ở Oxford. Cawkwell cho rằng tôi đã sai lầm nghiêm trọng khi không tham gia các buổi học nhóm hàng tuần, nơi người ta đọc, phê bình và phản biện các bài luận. Phần lớn nhờ những lý lẽ của Cawkwell mà tôi lại đổi môn học, lần này chuyển sang cử nhân triết học ngành Chính trị; chương trình này bao gồm các buổi học nhóm, làm bài luận, thi và luận án ngắn hơn.

        Ngày bầu cử, 5 tháng 11, cũng là ngày Guy Fawkes ở Anh, kỷ niệm lần ông ta định đốt tan nghị viện Anh vào năm 1605. Trong nhật ký, tôi viết: "Mọi người ở Anh đều ăn mừng ngày này; một số vì Fawkes thất bại, một số khác vì ông ta đã cố làm việc đó". Đêm hôm đấy, người Mỹ chúng tôi tụ tập lại ăn tiệc và theo dõi kết quả bầu cử ở Rhodes House. Đám đông phần lớn ủng hộ Humphrey, cổ vũ ông ta liên tục. Chúng tôi đi ngủ mà chẳng biết chuyện gì đã diễn ra ngoại trừ việc Fulbright đã thắng lợi dễ dàng, nhẹ nhõm phần nào vì lần trước ông chỉ vượt qua Jim Johnson và hai đối thủ được biết đến ít hơn với 52% số phiếu bầu. Mọi người ở Rhodes House reo hò khi người ta công bố chiến thắng của ông.

        Ngày 6 tháng 11, chúng tôi biết Nixon đã thắng và như tôi viết trong nhật ký, "bác Raymond và các bạn đã giúp Wallace thắng ở bang Arkansas, lần đầu tiên đi chệch khỏi thông lệ lúc nào cũng bỏ phiếu cho đảng Dân chủ từ khi thành lập bang vào năm 1836... Tôi phải gửi 10 đôla cho bác Raymond vì đã cá với bác hồi tháng 11 năm ngoái rằng Arkansas, bang miền Nam "tự do" nhất không bao giờ bầu cho Wallace, và hóa ra những kẻ "ngụy trí thức" đã sai ("ngụy trí thức" là từ Wallace thích gán cho bất cứ ai tốt nghiệp đại học mà bất đồng quan điểm với ông ta). Tôi đã ghi rằng, không như chính phủ Nam Việt Nam, tôi cực kỳ thất vọng vì "sau tất cả sự việc đã diễn ra, sau cú phục hồi đáng kể của Humphrey, kết cục lại đúng như tôi từng dự cảm hồi tháng 1 năm ngoái: Nixon vào ngồi ở Nhà Trắng".

        Thêm vào nỗi đau khổ đó, phiếu bầu cử tri vắng mặt của tôi không thấy đâu và tôi đã bỏ lỡ cơ hội đầu tiên trong đời được bầu tổng thống. Nhân viên hành chính đã gửi bằng đường bưu điện thường, không phải qua máy bay. Như vậy rẻ hơn nhưng phải mất ba tuần, sau ngày bầu cử khá lâu, tôi mới nhận được.

        Ngày hôm sau, tôi quay lại với cuộc sống thường nhật. Tôi gọi cho mẹ, lúc này đã quyết định lấy Jeff Dwire và có vẻ hạnh phúc đến mức tôi cũng cảm thây vui lây. Và tôi gửi 10 đôla cho bác Raymond và đề nghị rằng nước Mỹ cũng nên có ngày George Wallace tương tự như ngày Guy Fawkes. Ai cũng có thể ăn mừng: một số vì Wallace dám tranh cử tổng thống, số còn lại vì ông ấy tranh cử quá kém như vậy.

        Những ngày cuôl tháng là một loạt những hoạt động làm cho chính trị và Việt Nam tạm lui xuống hàng thứ yếu trong tâm trí tôi. Một thứ sáu nọ, tôi và Rick Stearns đón xe buýt và quá giang xe xuống Wales và quay về, trên đường Rick đọc thơ của Dylan Thomas cho tôi nghe. Đó là lần đầu tiên tôi được nghe "Đừng nhẹ nhàng tan vào đêm đó". Tôi rất thích, và vẫn còn thích bài thơ khi những linh hồn dũng cảm "nổi giận trước ánh sáng lụi tàn".

        Tôi cũng đi vài chuyến với Tom Williamson. Một lần chúng tôi quyết định chơi trò đổi vai cho nhau, tôi đóng vai người nô lệ da đen khúm núm, còn Tom cư xử kiểu ông chủ da trắng phân biệt chủng tộc miền Nam. Khi bác tài xê người Anh tốt bụng dừng xe lại để đón chúng tôi, Tom nói: "Ê, xuống ghế sau ngồi đi". "Vâng, thưa ngài", tôi trả lời. Bác tài xế người Anh nghĩ chúng tôi bị điên.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2015, 02:59:04 AM
        Hai tuần sau ngày bầu cử, tôi ghi điểm touchdown đầu tiên cho đội bóng bầu dục của Univ. Đó là một sự kiện lớn đối với cựu nhạc công như tôi. Mặc dù không hiểu lắm về ý nghĩa của môn này, tôi vẫn thích bóng bầu dục. Tôi to cao hơn hầu hết các sinh viên Anh và có thể góp sức đáng kể bằng cách ngăn cản đối phương, hoặc đẩy thật mạnh từ hàng thứ hai của "cục người", một đội hình mà cả hai bên đều cố gắng đẩy nhau thật mạnh để giành quả bóng được đặt ở giữa sân cỏ. Một lần chúng tôi đến Cambridge thi đấu. Mặc dù Cambridge có vẻ ôn hòa hơn Oxford, vốn Oxford to và công nghiệp hóa hơn Cambridge, nhưng đối thủ chơi rắn hơn nhiều. Tôi bị một cú vào đầu và chắc là bị choáng. Tôi bảo huân luyện viên rằng tôi bị chóng mặt, nhưng ông nhắc là hết người thay rồi, và nếu tôi ra sân thì đội chúng tôi sẽ bị thiếu người: "Thôi vào sân đi, lao vào ngăn cản người nào cũng được". Dù sao chúng tôi cũng thua, nhưng tôi mừng là đã không rời sân. Bạn luôn có cơ hội miễn là đừng bỏ cuộc.

        Cuối tháng 11, tôi viết bài luận đầu tiên nộp cho thầy giáo, tiến sĩ Zbigniew Pelczynski, một người Ba Lan lưu vong, về vai trò của khủng bố trong chế độ chuyên chế Xô Viết, dự buổi học nhóm đầu tiên, và dự buổi hội thảo hàn lâm đầu tiên. Ngoại trừ một số nỗ lực ít ỏi như vậy, tôi dành phần lớn thời gian còn lại trong tháng để đi đây đó. Tôi đến Stratford-upon-Avon, quê hương của Shakespeare, hai lần để xem những vở kịch của ông, đến London hai lần để thăm Dru Bachman và Ellen McPeake, hai người bạn cũ cùng nhà hồi ở Georgetown của Ann Markusen, đang sống và làm việc ở đây; đến Birmingham để chơi một trận bóng rổ tồi tệ; và đến Derby để diễn thuyết trước học sinh trung học và trả lời những câu hỏi về nước Mỹ nhân dịp kỷ niệm năm năm ngày mất của Tổng thống Kennedy.

        Đầu tháng 12, tôi lên kế hoạch bất ngờ về nhà dự đám cưới của mẹ, trong lòng tràn ngập những linh tính không lành về tương lai của tôi cũng như của mẹ. Nhiều bạn của mẹ rất không hài lòng trước tin mẹ sẽ lấy Jeff Dwire vì ông đã từng vào tù và vì họ nghĩ ông vẫn chưa đáng tin cậy. Tệ hơn nữa, ông vẫn chưa giải quyết xong vụ li dị với bà vợ vốn đã nguội lạnh từ lâu.

        Đồng thời, cảm giác bất an của tôi tăng lên sau khi bạn tôi, Frank Aller, cũng được học bổng Rhodes ở trường Queen ngay đối diện Univ trên đường High Street, vừa nhận được giấy gọi nhập ngũ từ ủy ban tuyển quân có lựa chọn ở Spokane, Washington. Cậu ấy nói với tôi là sẽ về nhà gặp cha mẹ và bạn gái để chuẩn bị cho họ cậu sẽ quyết định từ chối lệnh điều động và ở lại Anh vô thời hạn để khỏi bị đi tù. Frank nghiên cứu về Trung Quốc, hiểu Việt Nam rất rõ, và nghĩ rằng chính sách của chúng ta vừa sai lầm vừa trái đạo lý. Cậu ấy cũng là một người tốt thuộc giới trung lưu và rất yêu nước. Cậu rất đau khổ vì tình thế tiến thoái lưỡng nan này. Tôi và Strobe Talbott sống ở trường Magdalen gần đó cố gắng an ủi và động viên cậu ấy. Frank là người tốt bụng và biết chúng tôi cũng chống chiến tranh như cậu ấy, nên cũng cố an ủi lại chúng tôi. Cậu ấy tỏ ra rất hùng hồn khi nói với tôi rằng, không như cậu ấy, tôi có ước vọng và khả năng tạo sự khác biệt trong chính trị và nếu tôi trốn quân dịch và bỏ lỡ những cơ hội ấy thì thật là sai lầm. Sự hào sảng của cậu ấy chỉ làm cho tôi càng cảm thấy tội lỗi, thể hiện trong những trang nhật ký đầy lo lắng và ray rứt của tôi. Cậu ấy dễ dãi với tôi hơn nhiều so với chính tôi cho phép bản thân mình.

        Ngày 19 tháng 12, tôi hạ cánh xuống Minneapolis dưới trời bão tuyết để gặp Ann Markusen. Cô đã về nhà ở bang Michigan để học bằng tiến sĩ, và cũng giống như tôi, cô ấy hoang mang về tương lai của mình và của hai đứa tôi. Tôi yêu cô ấy, nhưng vào thời điểm đó tôi không chắc chắn chút nào về bản thân mình để có thể cam kết gắn bó với bất cứ ai.

        Ngày 23 tháng 12, tôi bay về nhà. Đúng là mọi người ngạc nhiên. Mẹ khóc mãi không thôi. Mẹ, Jeff và Roger đều có vẻ rất hạnh phúc trước lễ cưới sắp diễn ra, mừng đến mức không còn thời gian la rầy mái tóc dài mới để của tôi. Giáng sinh diễn ra vui vẻ, bất chấp những nỗ lực cuôl cùng của hai người bạn của mẹ cứ một hai bắt tôi phải thuyết phục mẹ đừng cưới Jeff. Tôi mang bốn bông hồng vàng ra mộ cha và cầu cho gia đình cha cũng ủng hộ mẹ và em Roger trong cuộc phiêu lưu mới. Tôi thích Jeff Dwire. Ông thông minh, chăm chỉ, đôi xử tốt với Roger, và rõ ràng có yêu mẹ. Tôi ủng hộ cuộc hôn nhân, và ghi lại rằng "nếu cả người có thiện chí nhưng đây nghi ngờ lẫn người xấu bụng nói đúng về Jeff và mẹ thì cuộc hôn nhân của họ cùng lắm cũng chỉ tệ như các cuộc hôn nhân trước của mẹ hoặc của ông ấy là cùng". Và bỗng nhiên, tôi quên hết tất cả những xáo trộn của năm 1968, năm đảng Dân chủ và đất nước chịu sóng gió; năm chủ nghĩa dân túy bảo thủ đã thay thế chủ nghĩa dân túy cấp tiến như một thế lực nổi bật trong nước; năm mà luật lệ và trật tự lại thành lãnh địa của phe Cộng hòa còn phe Dân chủ lại gắn liền với hỗn loạn, yếu đuối và thiểu số xa rời thực tế và buông thả; năm bắt đầu chuỗi cầm quyền của Nixon, Reagan, rồi Gingrich, rồi George w. Bush. Phản ứng ngược của giới trung lưu sẽ định hình và làm biến dạng nền chính trị Mỹ đến cuối thế kỷ. Chủ nghĩa bảo thủ mới sẽ bị vụ Watergate làm lung lay, nhưng vẫn không bị tiêu diệt. Khi những lý thuyết gia cánh hữu khuyến khích sự bất bình đẳng về kinh tế, phá hủy môi trường và phân hóa xã hội, sự ủng hộ của công chúng đối với nó sẽ suy yếu đi, nhưng vẫn không mất hẳn. Khi chính những sự quá quắt của nó bắt đầu quay trở lại đe dọa nó, phong trào bảo thủ sẽ hứa "tử tế và ôn hòa hơn" hoặc sẽ "thông cảm" hơn, nhưng vẫn tố cáo phe Dân chủ là yếu kém trong các giá trị, tính cách cũng như ý chí. Và chỉ cần có thế cũng đủ khơi dậy phản ứng có thể đoán trước, hầu như giống phản xạ kiểu Pavlov (phản xạ có điều kiện của khoa học gia Pavlov - ND) trong giới cử tri trung lưu da trắng để thành công. Tất nhiên, mọi sự phức tạp hơn thế. Đôi khi những lời chỉ trích phái bảo thủ của đảng Dân chủ cũng hợp lý, và luôn có những nhân vật Cộng hòa ôn hòa và những người bảo thủ có thiện chí hợp tác với đảng Dân chủ để tạo ra những thay đổi tích cực.

        Dù sao đi nữa, những cơn ác mộng ám ảnh của năm 1968 đã tạo ra một vũ đài chính trị nơi tôi và tất cả những chính trị gia cấp tiến khác phải đấu tranh trong suốt sự nghiệp của mình. Có thể, nếu Martin Luther King Jr. và Robert Kennedy còn sống, mọi sự đã khác. Có thể nếu Humphrey sử dụng thông tin về sự can thiệp của Nixon vào hòa đàm Paris thì mọi việc đã khác. Mà cũng có thể không. Dù gì đi nữa, những ai trong chúng ta tin mọi điều tốt của thời thập niên 60 vẫn nhiều hơn cái xấu sẽ vẫn tiếp tục chiến đấu, vẫn được truyền nhiệt huyết bởi những người hùng và giấc mơ thời tuổi trẻ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2015, 03:59:12 AM
 
        15


        Buổi sáng của năm mới 1969 - tôi mở đầu một năm với một điều vui. Frank Holt vừa tái cử vào Tòa án tối cao chỉ hai năm sau khi ông bị đánh bại trong cuộc đua vào chức thống đốc. Tôi lái xe về Little Rock tham dự buổi 11 tuyên thệ nhậm chức của ông. Đúng như dự đoán, ông khuyên chúng tôi đừng dành thời gian trong năm mới để tham gia buổi lễ khiêm nhường này, nhưng hơn 50 người ủng hộ viên trung thành chúng tôi đã đến. Nhật ký tôi viết: "Tôi bảo ông tôi sẽ không rút lui chỉ vì ông ấy trúng cử". Trớ trêu thay, với tư cách "tân" thẩm phán, ông được phân vào làm việc trong văn phòng cũ của Thẩm phán Jim Johnson.

        Ngày 2 tháng 1, tôi và Joe Newman lái xe đưa mẹ đến Hope để thông báo cho họ hàng còn lại cùa bà về việc bà sẽ cưới Jeff vào ngày hôm sau. Khi về đến nhà, tôi và Joe gỡ tấm bảng đề "Gia đình Roger Clinton" xuống khỏi hộp thư. Joe cười to vẻ giễu cợt và nói: “Gỡ nó xuống dễ dàng thế này kể cũng buồn nhỉ". Bất kể dấu hiệu báo trước bất trắc của số phận thế nào, tôi vẫn thấy cuộc hôn nhân này sẽ ổn thỏa. Tôi đã viết trong nhật ký: "Nếu Jeff là một tên lừa bịp như mọi người vẫn nói thì cứ coi như tôi bị lừa đi".

        Tốì hôm sau, lễ cưới diễn ra ngắn gọn và đơn giản. Bạn của chúng tôi, mục sư John Miles, hướng dẫn cô dâu chú rể thề nguyện. Roger đốt nến. Tôi là chú rể phụ. Sau đó có một bữa tiệc nhỏ, tôi và Carolyn Yeldell chơi nhạc và hát cho khách nghe. Một sô giới chức tôn giáo có thể từ chối làm phép cho đám cưới vì Jeff là người vừa mới li dị. Nhưng John Miles thì không. Ông là một tín đồ Giám lý hay cà khịa, cứng rắn, phóng khoáng, ông tin rằng Chúa Jesus được Đức Chúa Cha của mình phái xuống để cho tất cả chúng ta cơ hội thứ hai.

        Ngày 4 tháng 1, nhờ bạn tôi, Sharon Evans, quen biết Thống đốc Rockefeller, tôi được mời ăn trưa cùng thông đốc tại trang trại của ông ở Petit Jean Mountain. Tỏi thấy Rockefeller thân thiện và có duyên ăn nói. Chúng tôi bàn về Oxford và về việc con trai ông là Winthrop Paul muốn học ở đó Thống đốc muốn tôi giữ liên lạc với Win Paul khi cậu ta bắt đầu theo học ở Pembroke College vào mùa thu. Cậu này ở châu Âu trong phần lớn thời thơ ấu.

        Sau bữa trưa, tôi nói chuyện vui vẻ với Win Paul, sau đó chúng tôi đi xuống phía tây nam để hẹn gặp Tom Campbell, đã lái xe từ Mississippi đến Arkansas, nơi cậu ấy đang học khóa huấn luyện lái máy bay của thủy quân lục chiến. Ba chúng tôi lái xe đến dinh thự của Thống đốc theo lời mời của Win Paul. Tất cả chúng tôi đều rất ấn tượng, và tôi ra về chỉ nghĩ rằng mình vừa mới được thấy một phần quan trọng của lịch sử Arkansas, chứ không nghĩ đây là nơi mà một thập niên sau là nhà của tôi trong 12 năm.

        Ngày 11 tháng 1, tôi về Anh cùng chuyến bay với Tom Williamson và được cậu ấy dạy cho tôi hiểu làm người da đen ở Mỹ là như thế nào; và với Frank Aller, cậu thuật lại cho chúng tôi nghe kỳ nghỉ khó khăn của mình vì ông bố bảo thủ của cậu ấy đã bắt cậu phải cắt tóc, nhưng không trình diện quân dịch, một điều kiện tiên quyết để ăn giáng sinh ở nhà. Quay về Univ, tôi thấy trong đống thư từ của mình có một lá thư quan trọng của người bạn cũ và người cùng được rửa tội - binh nhì thủy quân lục chiến Bert Jeffries. Tôi trích ra đây vài đoạn trong lời nhắn gửi bàng hoàng của cậu ấy:

        ...Bill, tớ đã nhìn thấy nhiều thứ và trải qua nhiều chuyện mà nhiều người có suy nghĩ chân chính không bao giờ muốn thấy hay trải qua. Ở đây, họ ăn thua đủ lắm. Hoặc thắng hoặc thua. Thật chẳng phải là cảnh hay ho khi phải chứng kiến người bạn sống cùng và thân thiết với cậu chết ngay bên cạnh mình và cậu biết rõ là vì lý do không tốt đẹp gì. Và cậu nhận ra rằng cũng có thể đó là cậu lắm chứ.

        Tớ phục vụ cho một trung tá. Tớ là vệ sĩ của ông ây Ngày 21 tháng 11, bọn tớ đến một nơi gọi là Winchester. Trực thăng thả cả bọn xuống và ông trung tá, tớ cùng hai người nữa bắt đầu xem xét xung quanh... có hai lính Bắc Việt ở trong lô cốt bắn vào bọn tớ... Ông trung tá và hai người kia đều trúng đạn. Bill, hôm đó tớ đã cầu nguyện. May thay tớ đã hạ hai đối phương trước khi họ hạ tớ. Hôm đó tớ giết người lần đầu tiên. Bill ơi, thật là một cảm giác tồi tệ khi biết rằng cậu cướp đi sinh mạng của người khác. Một cảm giác bệnh hoạn. Và lúc đó cậu nhận thấy biết đâu chính cậu cũng có thể bị giết dễ dàng như vậy.


        Hôm sau, ngày 13 tháng 1, tôi đi London để khám quân dịch. Ông bác sĩ tuyên bố, theo những dòng ghi chú điệu đà trong nhật ký của tôi, rằng tôi là "một trong những loại người khỏe mạnh nhất của thế giới phương Tây, có thể đem trưng bày trong các trường y khoa, triển lãm, sở thú, vũ hội hóa trang, và các trại huấn luyện tân binh". Ngày 15, tôi xem vở A Delicate Balance - Sự Cân bằng Tinh tế của Edward Albee và đó là "vụ việc kỳ dị thứ hai của tôi trong vài ngày". Các nhân vật của Albee buộc khán giả phải "tự hỏi liệu một ngày nào đó gần kết cục, họ không còn thức dậy nữa và thấy mình trống rỗng và hoảng sợ hay không". Tôi đã bắt đầu tự hỏi mình câu đó.

        Tổng thống Nixon tuyên thệ nhậm chức ngày 20 tháng 1. Bài diễn văn của ông ta là một nỗ lực hòa giải, nhưng nó "làm tôi thấy hờ hững, những rao giảng tôn giáo và đạo đức của tầng lớp trung lưu tốt bụng kiểu xưa. Những thứ ấy được coi là sẽ giải quyết vấn đề của chúng ta với người châu Á vốn không có truyền thống Thiên chúa; với những người cộng sản không tin Chúa trời; với người da đen vốn bị những người da trắng kính Chúa chèn ép nhiều đến mức giữa họ hầu như không còn điểm gì là chung nữa; và với đám trẻ vốn được nghe đi nghe lại những bài thuyết giảng giả tạo nhiều lần đến mức họ thích thuốc phiện hơn là những ảo tưởng tự dối gạt mình một cách trơ trẽn của người lớn hơn". Thật trớ trêu, tôi cũng tin vào Thiên chúa và những giá trị đạo đức của tầng lớp trung lưu; chẳng qua những giá trị ấy không biến tôi thành những người như họ mà thôi. Tôi nghĩ sống theo những nguyên tắc tôn giáo và chính trị thực sự của mình đòi hỏi chúng tôi đi sâu và xa hơn Nixon.

        Tôi quyết định quay lại cuộc sống của mình ở Anh trong quãng thời gian còn lại. Tôi tham dự buổi tranh luận đầu tiên ở Liên đoàn Oxford - Giải đáp: con người tạo ra Chúa trời bằng hình ảnh của chính mình, "một đề tài màu mỡ nhưng chưa được cày bừa đầy đủ". Tôi lên phía bắc, tới Manchester, và ngây ngất trước cảnh đẹp của vùng quê nước Anh "được bao quanh bởi những bức tường đá cổ mà không có cảnh bùn đất xi măng đạn cối". Có một buổi thảo luận về "Đa nguyên như một Khái niệm của Lý thuyết Dân chủ" mà tôi thấy hết sức buồn tẻ, chỉ là một nỗ lực nữa để "giải thích bằng những thuật ngữ rườm rà hơn (vì thế có ý nghĩa hơn, tất nhiên) về những gì đang diễn ra trước mắt chúng ta... Chỉ là đàn gảy tai trâu đối với tôi vì tôi chẳng phải gốc trí thức, cũng không phải là người hay khái niệm hóa sự thực, và tôi đoán là mình chỉ đơn giản là không đủ thông minh để tham gia vào đám đông lẹ làng này".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2015, 12:40:02 AM
        Ngày 27 tháng 1, sự thật phũ phàng lại lộ diện lần nữa khi vài đứa chúng tôi tổ chức bữa tiệc cho Frank Aller nhân ngày cậụ ấy chính thức trở thành người kháng lệnh quân dịch, "bước đi trên con đường rộng mở duy nhất". Dù có vodka, nâng ly chúc tụng, nỗ lực pha trò, bữa tiệc vẫn bị phá sản. Ngay cả Bob Reich vốn lẹ miệng nhất trong chúng tôi cũng không cứu vãn được. Chúng tôi không thể cất nổi gánh nặng khỏi vai Frank, "trong chuyện này, vào ngày cậu hành động theo đúng như lời cậu ấy đã hứa". Hôm sau, Strobe Talbott, lúc ấy tình trạng quân dịch đang là hạng 1-Y do một chấn thương cũ khi còn chơi bóng, đã thực sự không còn phù hợp với quân ngũ khi bị gậy đánh bóng của John Isaacson đập vào kính ở sân banh tại Univ. Bác sĩ đã mất hai tiếng để lấy mảnh kính vỡ ra khỏi võng mạc của cậu ấy. Talbott phục hồi và tiếp tục sống 35 năm tiếp theo, nhìn thấy những thứ hầu hết chúng tôi không thấy.

        Trong một thời gian dài, tháng 2 là tháng khó khăn đối với tôi, vì phải chống chọi với những ngày u ám và mong mỏi chờ mùa xuân đến. Tháng 2 đầu tiên của tôi ở Oxford cũng hăng hái ra trò. Tôi chống chọi bằng cách lao vào đọc sách, một việc tôi làm rất nhiều ở Oxford, không theo một thứ tự đặc biệt nào ngoài những gì ngành học của tôi yêu cầu. Tôi đọc hàng trăm cuốn sách. Tháng đó tôi đọc North Toward Home - Lên phương Bắc về nhà của Willie Morris vì nó giúp tôi hiểu được gốc rễ của mình và "phần thiện của bản thân". Tôi đọc Soul on Ice - Tâm hồn trên băng giá của Eldridge Cleaver và nghiền ngẫm ý nghĩa của tâm hồn. "Tâm hồn là từ tôi xài đủ nhiều để là người da đen, nhưng tất nhiên, tôi thỉnh thoảng lại nghĩ rằng thật không may, tôi không phải là người da đen... Tâm hồn: tôi biết đó là gì - đó là nơi tôi cảm nhận sự vật; nó làm tôi xúc động; nó làm tôi thành người, và khi tôi cho nó tạm ngưng hoạt động thì tôi biết ngay rằng tôi sẽ chết nếu không lấy lại được nó". Lúc đó tôi lo sợ mình đang đánh mất tâm hồn.

        Những trăn trở của tôi với lệnh quân dịch làm sống lại những nghi ngờ từ lâu rằng liệu tôi phải là, hay có thể trở thành, người thực sự tốt hay không. Có vẻ như nhiều người lớn lên trong hoàn cảnh ngặt ngoèo thường tự trách mình một cách vô thức và cảm thấy mình không xứng đáng được một số phận sáng sủa hơn. Tôi nghĩ đó là kết quả của việc sống hai cuộc đời song song, một cuộc sống bề ngoài tự nhiên bình thường, và một cuộc sống bên trong chất chứa những bí mật. Hồi nhỏ, cuộc sống bề ngoài của tôi đầy bạn bè và lúc nào cũng vui vẻ, chỉ biết học và làm việc. Cuộc sống bên trong lại ngập tràn những bất an, giận dữ, mối lo sợ về bạo lực lúc nào cũng thường trực. Không ai có thể sống hai cuộc sống song song một cách hoàn toàn thành công; hai cuộc sống đó rồi sẽ phải đụng nhau. Ở Georgetown, khi mối đe dọa về thói bạo lực của bô tan dần rồi biến mất, tôi đã có thể sống một cuộc đời nhất quán hơn. Bây giờ tình thế tiến thoái lưỡng nan trong chuyên quân dịch đã khơi lại cuộc sống bên trong của tôi. Bên dưới cuộc sống bề ngoài mới mẻ và sôi động của tôi, những bóng ma cũ về sự nghi ngờ bản thân và sự tàn phá đầy đe dọa đã ngóc đầu dậy.

        Tôi phải tiếp tục vật vã để kết hợp hai cuộc đời song song, hợp nhất tâm trí, thân thể và tinh thần. Đồng thời, tôi cố gắng làm cho cuộc sống bề ngoài của mình càng sáng sủa càng tốt, và phải đứng vững trước những hiểm nguy và giảm bớt những đau đớn của cuộc sống bên trong. Điều này có thể giải thích lòng ngưỡng mộ vô bờ của tôi đối với lòng quả cảm của các binh sĩ và những người đã không ngại nguy hiểm sinh mạng mình cho những mục tiêu cao quý, và lòng căm thù theo bản năng của tôi trước bạo lực và thói cư xử tàn tệ; lòng đam mê được phục vụ công chúng của tôi và lòng cảm thông sâu sắc trước những vấn nạn của người khác; cảm giác khuây khỏa tôi tìm thấy khi có người ở bên cũng như việc phải khó khăn lắm tôi mới để cho ai đó chạm đến những điều sâu kín nhất trong cuộc sống nội tâm của mình. Ở đó là một khoảng đen tối.

        Trước đây tôi đã từng tuyệt vọng, nhưng chưa bao giờ như lần này. Như đã nói, lần đầu tiên tôi biết tự ý thức những tình cảm này luôn lùng bùng bên trong tâm tính vui vẻ và bề ngoài lạc quan của mình từ khi tôi còn học ở trung học, hơn năm năm trước khi tôi đến Oxford. Đó là khi tôi viết bài luận tự bạch trong giờ Anh văn của cô VVarneke, nói về "những sự ghê tởm" đang "nổi lên như bão trong trí óc tôi".

        Vào tháng 2 năm 1969, những cơn bão ấy đang gào thét, và tôi cố gắng chế ngự chúng bằng cách đọc sách, đi chơi và dành nhiều thời gian đi với những con người thú vị. Tôi thường gặp nhiều người như vậy tại số 9 Bolton Gardens ở London, một căn hộ rộng rãi đã trở thành nhà thứ hai của tôi ngoài Oxford trong nhiều dịp cuối tuần. Sinh sống ở đó là David Edwards, người một đêm nọ xuất hiện ở Helen's Court cùng với Dru Bachman, một người cùng nhà thời ở Georgetown của Ann Markusen, trong bộ quần áo zoot (một loại y phục áo dài, quần thụng túm gấu, thường thấy ở người Mỹ gốc Phi, Mexico và Philippines thập niên 30 và 40 - ND), áo dài đến đầu gối, áo khoác dài thượt có rất nhiều túi và nút, quần loe. Trước đó, tôi mới chỉ thấy bộ quần áo zoot trong phim. Nơi ở của David ở Bolton Gardens trở thành căn nhà mở cho một tập hợp lỏng lẻo thanh niên Mỹ, Anh và những người khác đến và đi khỏi London. Ở đây rất hay tổ chức ăn uống và tiệc tùng, thường do David bao vì anh này có nhiều tiền hơn lũ còn lại chúng tôi và hết sức hào phóng.

        Tôi còn dành rất nhiều thời gian một mình ở Oxford. Tôi thích đọc sách một mình và đặc biệt xúc động về đoạn trích The People, Yes - Con ngiiời, Vâng của Carl Sandburg:

        Nói anh ấy hãy thường xuyên ở một mình và tự suy xét Và trên hết là đừng bao giờ nói dối anh ấy về chính anh ây
        Nói với anh ấy rằng cô độc là sáng tạo nếu anh mạnh mẽ và những quyết định cuối cùng được đưa ra trong những căn phòng yên lặng.
        Anh sẽ cô đơn
        đủ để có thời gian
        làm việc mà anh biết là việc của mình.


        Sandburg làm tôi nghĩ có một điều gì đó tốt đẹp sẽ đến sau bao băn khoăn và lo lắng. Tôi luôn luôn ở một mình, và là đứa bé cô đơn cho đến tận năm lên 10, trong khi cả bố mẹ đều đi làm. Khi tôi bước vào cuộc sống chính trị, một trong những huyền thoại thú vị được lưu truyền bởi những người không biết gì về tôi rằng tôi rất ghét phải ở một mình, có thể vì tôi thích được ở bên cạnh người khác, từ đám đông cho đến những bữa ăn tối ít người và đánh bài với bạn bè. Khi là tổng thống, tôi gắng thu xếp thời gian biểu sao cho mình có vài giờ trong ngày một mình để suy nghĩ, hồi tưởng, lên kế hoạch hay không làm gì hết. Tôi thường ngủ ít đi để có thêm thời gian ở một mình. Ở Oxford, tôi ở một mình rất nhiều và tôi dành thời gian làm cái việc suy ngẫm mà Sandburg cho rằng muốn có cuộc sống tốt đẹp thì cần phải có.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2015, 05:24:20 AM
        Vào tháng 3 khi mùa xuân đến, tinh thần tôi cũng phấn chấn theo thời tiết. Trong kỳ nghỉ năm tuần, tôi đến lục địa châu Âu lần đầu tiên, đáp tàu hỏa đến Dover để ngắm những ghềnh đá trắng, đến Bỉ bằng phà, từ đó qua Cologne, Đức. Lúc 9 giờ 30 tối, tôi bước ra khỏi nhà ga dưới bóng mát của nhà thờ trung cổ hoành tráng nằm ngay trên đồi, và hiểu vì sao các phi công Đồng minh trong Thế chiến hai đã liều mạng tránh phá hủy nó bằng cách cô gắng hết sức bay thâp khi ném bom cây cầu đường sắt bắc qua sông Rhine, ở nhà thờ này tôi thấy mình gần với Chúa trời, và sau này mỗi khi quay lại tôi đều cảm thấy thế. Sáng hôm sau, tôi hẹn Rick Stearns, Ann Markusen và người bạn Đức Rudy Lowe tôi quen năm 1967 trong hội nghị CONTAC ở Washington, D.C. để cùng đi tham quan Bavaria. Ở Bamberg, quê hương có hàng ngàn năm tuổi của Rudy, anh ấy đưa tôi đến thăm biên giới với Đông Đức gần đó, nơi có một người lính Đông Đức đứng gác trên chòi cao sau hàng rào thép gai ở bìa rừng Bavaria.

        Khi tôi đang đi du lịch thì Tổng thống Eisenhower, "một trong những mảnh còn sót lại cuối cùng của Giấc mơ Mỹ", qua đời. Và mối quan hệ của tôi với Ann Markusen cũng thế, một tổn thất do thời đại và do tôi chưa thể cam kết gắn bó. Phải rất lâu sau chúng tôi mới nối lại quan hệ bạn bè với nhau.

        Quay về Oxford, George Kennan đến diễn thuyết. Kennan có nhiều điều chất chứa về chính sách Việt Nam của nước Mỹ, tôi và các bạn hăm hở đến nghe. Thật không may, lần này ông tránh xa chuyện chính sách đối ngoại, mà sa vào công kích kịch liệt các buổi biểu tình của sinh viên và toàn bộ trào lưu "phản văn hóa" chống đối chiến tranh. Sau khi một số bạn tôi, đặc biệt là Tom Williamson, lên tranh luận với ông ta thì buổi diễn thuyết kết thúc. Phản ứng đồng lòng của chúng tôi gần như có thể tóm tắt bằng lời bình luận khôi hài của Alan Bersin: "Sách hay hơn phim".

        Vài ngày sau, tôi có một bữa ăn tối và tranh luận thật lý thú với Rick Stearns, người có lẽ trưởng thành và hiểu biết nhất về chính trị trong chúng tôi. Trong nhật ký tôi đã ghi rằng Rick "đã đập tan việc chống đối quân dịch của tôi", và lập luận rằng việc chấm dứt chế độ quân dịch sẽ buộc người nghèo càng phải chịu gánh nặng lớn hơn. Thay vì như vậy, "Stearns muốn có chế độ quân dịch toàn quốc với nhiều cách thức để thực hiện nghĩa vụ quân sự, nhưng phải định ra thời gian đi quân dịch ngắn hơn và lương cao hơn để giữ lực lượng quân sự ở mức có thể chấp nhận được. Cậu ấy tin rằng tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng người nghèo, phải có nghĩa vụ cộng đồng". Đó chính là những hạt giống để hơn 20 năm sau, trong chiến dịch tranh cử đầu tiên của tôi, kết trái thành đề nghị của tôi về chương trình phục vụ cộng đồng toàn quốc dành cho thanh niên.

        Vào mùa xuân năm 1969, nghĩa vụ toàn quốc duy nhất lúc đó chỉ có nghĩa vụ quân sự, và phạm vi của nó được đo bằng một thuật ngữ nhẫn tâm "đếm xác". Đến giữa tháng 4, việc đếm xác đó đã đếm luôn cả người bạn thời niên thiếu của tôi là Bert Jeffries Đa đớn trước biến cố đó, vợ anh đã sinh non, và đứa trẻ, cũng như tôi lớn lên mà chỉ được nghe kể kỷ niệm về cha mình. Khi Bert chết an đang phục vụ trong thủy quân lục chiến với hai người bạn thân Hot Springs là Ira Stone và Duke Watts. Gia đình anh được chọn một người đưa xác anh về nhà, một lựa chọn mang tính sinh tử vì theo quy định của quân đội thì người đó không phải quay lại chiến trường. Họ đã chọn Ira vì anh đã bị thương ba lần, và một phần vì Duke di từng thoát chết trong đường tơ kẽ tóc khi ấy chỉ còn hơn một tháng nữa sẽ hết hạn phục vụ. Tôi khóc cho bạn mình, và lại tự hỏi rằnị quyết định đi học ở Oxford của tôi là do tham sống hay do phản đối chiến tranh. Tôi ghi vào nhật ký rằng "đặc quyền được sống về hoãn dịch... là không thể biện minh, nhưng có lẽ rủi thay, sống với đặc quyền này thật khó khăn".

        Ở quê nhà Mỹ, phong trào phản chiến tiếp tục không ngừng. Năm 1969, 448 trường đại học đã bãi khóa hoặc bắt buộc phải đóng cửa. Ngày 22 tháng 4, tôi rất ngạc nhiên khi đọc trên tờ The Guardian rằng Ed Whitfield ở Little Rock đã dẫn một nhóm người da đen có vũ trang xông vào chiếm một tòa nhà trong trường Đại học Cornell ở Ithaca, New York. Chỉ mới mùa hè trước, Ed còn bị nhóm da đen vũ trang ở Little Rock chỉ trích khi chúng tôi cùng làm việc giúp Fulbright tái đắc cử.

        Một tuần sau, ngày 30 tháng 4, chiến tranh đã gõ cửa nhà tôi bằng một cách kỳ quặc điển hình cho thời kỳ lạ lùng ấy. Tôi nhận được thông báo quân dịch: tôi phải trình diện vào ngày 21 tháng 4. Rõ ràng là giấy được gửi đi từ ngày 1 tháng 4, nhưng cũng như phiếu bầu cử tri vắng mặt vài tháng trước, nó được gửi đi bằng đường bộ. Tôi gọi về nhà để chắc chắn ban tuyển quân đã biết tôi vắng mặt chín ngày và hỏi xem tôi phải làm gì. Họ nói gửi thư bằng đường bộ là lỗi của họ, và bên cạnh đó, theo luật tôi được kết thúc nôt khóa học, vì thế tôi được hướng dẫn là khi học xong thì về nhà đê được giao nhiệm vụ.

        Tôi quyết định tận hưởng nốt thời gian còn lại của mình ở Oxford, nhấm nháp từng khoảnh khắc trong những ngày dài của mùa xuân nước Anh. Tôi đến ngôi làng nhỏ có tên Stoke Poges để tham quan sân nhà thờ tuyệt đẹp nơi chôn Thomas Gray và đọc những dòng thơ "Khúc bi thảm viết ở sân nhà thờ quê" của ông, sau đó đến London coi hòa nhạc và thăm Nghĩa trang Highgate nơi Karl Marx được chôn dưới bức tượng bán thân đầy quyền năng giống như ông. Tôi cố dành thời gian nhiều nhất có thể ở bên những bạn học bổng Rhodes khác, đặc biệt là Strobe Talbott và Rick Stearns mà tôi vẫn đang học hỏi. Trong khi ăn sáng tại quán George, một quán cà phê kiểu cũ trên lầu hai của chợ Oxford có mái che, tôi và Paul Parish bàn với nhau về đơn xin từ chốì quân dịch có ý thức của cậu ấy, và tôi ủng hộ bằng cách viết thư gửi cho ban tuyển quân.

        Cuối tháng 5, tôi cùng với Paul Parish và bạn gái cậu ấy, Sara Maitland, một phụ nữ Scotland sắc sảo và tuyệt vời sau này trở thành nhà văn khá, đến Royal Albert Hall ở London để nghe ca sĩ nhà thờ lừng danh Mahalia Jackson hát. Cô ấy thật tuyệt vời với chất giọng âm vang và một niềm tin mãnh liệt và trong sáng. Cuối buổi hòa nhạc, các khán giả trẻ vây quanh sân khấu và la hét kêu gọi ca sĩ tiếp tục biểu diễn. Họ vẫn khao khát tin vào những gì lớn lao hơn chính họ. Và tôi cũng thế.

        Ngày 28 tôi tổ chức tiệc chia tay các bạn ở Univ: bạn học ở trường tôi từng cùng chơi bóng bầu dục và ăn nhậu; Douglas và các lao công khác trong trường; Archie; thầy giám thị và cô Williams; George Cawkwell; và một nhóm hổ lốn những sinh viên Mỹ, Ân, Caribê và Nam Phi mà tôi quen biết. Tôi chỉ muôn cảm ơn họ vì đã là một phần lớn trong thời gian tôi ở Oxford. Bạn bè tặng tôi nhiều món quà chia tay: một cây gậy, một cái nón len kiểu Anh, cuốn Madama Bovary - Bà Bovary bìa mềm của Flaubert, tôi vẫn còn giữ.

        Tôi dành phần đầu tháng 6 để thăm thú Paris. Tôi không muốn về nhà mà chưa kịp thăm Paris. Tôi lấy một phòng ở khu Latinh, đọc nốt cuốn Down and Out in Paris and London - Bần cùng ở London và Paris của George Orwell, và thăm hết các thắng cảnh, kể cả đài kỷ niệm Holocaust (tưởng niệm những người Do Thái bị Đức Quốc xã giết trong Thế chiến hai - ND) ngay sau lưng nhà thờ Đức Bà. Rất dễ bỏ qua nơi này nhưng bỏ công tìm kiếm thì quả là xứng đáng. Cứ đi xuống thang ở cuối đảo sẽ đến một khoảng không gian nhỏ, quay lại, và bạn sẽ thấy mình đang đứng trước một phòng hơi ngạt nhỏ.

        Người hướng dẫn và đi cùng tôi trong chuyến này là Alice Chamberlin, người tôi quen qua đám bạn ở London. Chúng tôi đi ngang qua khu Tuileries, dừng lại ở bên hồ ngắm trẻ con chơi thuyền buồm nhỏ của chúng; ăn các món rẻ mà thú vị của Việt Nam Algerie, Ethiopie, và Tây Ân; ngắm nhìn đồi Montmartre; và thăm nhà thờ Sacré Coeur - nơi tôi vừa tôn kính vừa khôi hài đốt một ngọn nến cho bạn tôi, tiến sĩ Victor Bennett vừa mới chết mấy ngày trước và dù là người tài giỏi nhưng lại chống Công giáo một cách mù quáng. Tôi cố gắng bao biện cho anh. Tôi chỉ có thể làm được như thế so với những gì anh ấy đã làm cho mẹ, bố và tôi.

        Khi tôi quay về Oxford đúng vào mùa mà trời hầu như lúc nào cũng sáng. Một lần vào sáng sớm, các bạn người Anh dẫn tôi lên mái nhà của một tòa nhà của Univ để ngắm mặt trời mọc trên quang cảnh Oxford. Chúng tôi phấn khích đến mức xông cả vào nhà bếp của Univ lấy bánh mì, cà chua và phô mai rồi quay về phòng tôi ăn sáng.

        Ngày 24 tháng 6, tôi đến chào tạm biệt Bill Williams. Ông chúc tôi may mắn và nói ông chờ đợi tôi trở thành "một tay cựu sinh viên vênh váo và nhiệt tình đến phát ớn". Đêm đó tôi ăn bữa tối cuối cùng ở Oxford tại quán rượu với Tom Williams và các bạn của cậu ấy. Ngày 25, tôi từ biệt Oxford - lúc ấy tôi tưởng đây là lần vĩnh biệt luôn. Tôi đến London gặp Frank, Mary và Lyda Holt. Sau khi chúng tôi đến dự phiên họp tối của nghị viện, rồi ông thẩm phán và bà Holt về nhà thì tôi đưa Lyda đến gặp một số người bạn cùng ăn bữa tối cuối cùng ở Anh, ngủ vài tiếng ở chỗ David Edwards, sau đó dậy sớm và ra sân bay cùng sáu người bạn tiễn tôi. Không biết đến bao giờ và liệu chúng tôi có gặp lại nhau hay không. Tôi ôm từ biệt họ và chạy về phía máy bay.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2015, 02:26:43 PM
 
        16

        Tôi đến New York lúc 9 giờ 45 tối, trễ chín tiếng vì máy bay cả hai đầu đều đến trễ. Về đến Manhattan đã quá nửa đêm nên tôi quyết định thức luôn tới sáng chờ chuyến bay sớm nhất. Tôi đánh thức Martha Saxton dậy và chúng tôi nói chuyện suốt hai giờ đồng hồ ở bậc thềm trước cửa nơi cô ở tại Upper West Side, sau đó tôi đến một cửa tiệm và ăn chiếc bánh hamburger ngon đầu tiên trong nhiều tháng qua, nói chuyện với hai ông tài xế taxi, đọc What is History? - Lịch sử là gì? của E.H.Carr, và suy nghĩ về năm khác thường mà tôi vừa trải qua và những gì chờ đợi ở phía trước. Và tôi ngắm nghía món quà chia tay dễ thương nhất: hai tấm thiệp nhỏ cổ hàng chữ tiếng Pháp "L'Amitie" và "Sympathie". Đó là quà tặng của Anik Alexis, một phụ nữ da đen rất đẹp người vùng Caribe sống ở Paris và đang hẹn hò với Tom Williams. Nikki đã để dành những tấm thiệp này được tám năm, từ hồi còn học trung học. Tôi rất quý chúng vì chúng thể hiện những món quà mà tôi đã trao đi, chia sẻ và nhận được từ người khác. Tôi đã lồng kiếng những tấm thiệp này và trong suốt 35 năm qua, mỗi lần sống ở đâu tôi đều treo chúng lên.

        Tôi rời quán ăn đêm với gần 20 đôla trong túi để về Arkansas, nhưng tôi viết ở trang cuối cùng trong nhật ký rằng tôi cảm thấy mình như "một người giàu có thực sự, đầy may mắn, nhiều bạn bè, và hy vọng và niềm tin cụ thể hơn chút ít và suy nghĩ rõ ràng hơn con người đã bắt đầu viết những dòng này hồi tháng 11 năm ngoái". Vào thời kỳ điên rồ ấy, tâm trạng của tòi lên xuống như thang máy Và không biết là hay hay dở nữa, Denise Hyland đã gửi cho tôi thêm quyển nhật ký thứ hai hồi mùa xuân để ghi lại theo thứ tự thời gian bất cứ việc gì xảy ra tiếp theo.

        Khi về đến nhà vào cuối tháng 6, tôi còn một tháng trước khi ra trình diện và được tự do thu xếp và chọn quân binh chủng nhập ngũ. Không còn chỗ trong Vệ binh quốc gia hay quân dự bị. Tôi quay sang không quân, nhưng được biết tôi không thể trở thành phi công lái máy bay vì thị lực kém. Mắt trái tôi nhìn yếu và lệch ra ngoài từ khi còn nhỏ. Nó đã tự điều chỉnh rất nhiều nhưng tôi vẫn không thể tập trung hết thị lực vào một điểm, và cứ như thế mà lên máy bay thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Tôi cũng đi khám sức khỏe để vào chựơng trình sĩ quan hải quân nhưng cũng không đậu, lần này vì nghe kém, một vấn đề tôi đã không chú ý và phải đến một thập kỷ sau khi theo chính trị tôi mới biết vì thường không thể nghe hay hiểu người ta nói gì với tôi trong đám đông. Lựa chọn khả dĩ còn lại có vẻ là đăng ký nhập học vào trường luật và gia nhập binh chủng huấn luyện sĩ quan dự bị (ROTC) của lục quân ở Đại học Arkansas.

        Ngày 17 tháng 7, tôi đến Fayetteville và sau hai tiếng tôi được cả hai nơi chấp nhận. Sĩ quan phụ trách chương trình - đại tá Eugene Holmes bảo tôi rằng ông ta nhận tôi vì khi làm sĩ quan tôi có thể phục vụ đất nước tốt hơn là lính quân dịch. Chỉ huy phó của ông là trung tá Clint Jones có vẻ bảo thủ hơn và còn hơi nghi ngờ về tôi nhưng chúng tôi đã nói chuyện vui vẻ về con gái ông ấy mà tôi từng biết và quý mến ở Washington. Gia nhập ROTC có nghĩa là tôi có thể phục vụ ngay sau khi học xong trường luật. Rõ ràng, đến mùa hè sau họ mới chính thức gọi tôi vì tôi phải nghỉ hè trước khi vào khóa ROTC, nhưng chỉ cần ký thư đăng ký là đủ cho ban tuyển dụng hoãn thời gian đi lính của tôi và xếp loại tôi là 1-D dự bị. Lòng tôi vui buồn lẫn lộn. Tôi biết mình có cơ hội né Việt Nam, nhưng rồi vẫn có một ai đó sẽ bước lên chiếc xe buýt (chở binh sĩ đi huân luyện và ra chiến trường - ND) trong 10 ngày nữa và có thể tôi cũng nên như vậy".

        Nhưng 10 ngày sau tôi không lên xe buýt. Thay vào đó tôi ngồi trên xe mình lái xuông Texas để gặp gỡ những bạn học Georgetown đang trong quân ngũ, Tom Campbell, Jim Moore và Kit Ashby. Trên đường đến và rời khỏi nơi ấy, tôi suy nghĩ về những điều làm suy nghĩ tôi quay về với nước Mỹ. Houston và Dallas đầy rẫy những tổ hợp căn hộ mới, lộn xộn không theo mẫu chuẩn nào. Tôi tưởng tượng đó là những làn sóng của tương lai và tôi chưa chắc chắn mình có thích đến đấy hay không. Tôi nhận ra ý nghĩa văn hóa đáng kể trong những tấm dán trên cản xe và bảng số xe cá nhân mà tôi đã nhìn thây. Tấm dán tôi thích nhất có dòng chữ: "Đừng đổ lỗi cho Chúa Jesus nếu bạn phải xuống địa ngục". Và bảng số xe hay nhất, thật không thể tin được, lại gắn vào một chiếc xe tang: "Hộp tiêu tùng". Rõ ràng những ai đọc những dòng này được mong đợi là phải sợ địa ngục nhưng biết cười ngạo trước cái chết.

        Tôi thì chưa đến giai đoạn cười cợt ấy, nhưng tôi luôn luôn có ý thức và tất nhiên không hề thấy thoải mái chút nào về kiếp phù du của chính mình. Có thể vì cha tôi đã chết trước khi tôi ra đời nên tôi bắt đầu nghĩ đến cái chết từ khi còn nhỏ. Tôi luôn luôn thấy nghĩa địa có gì đó hấp dẫn và rất thích vào đó. Trên đường về nhà từ Texas, tôi ghé thăm Hope, thăm ông Buddy và bà Ollie, và viếng mộ cha và ông bà tôi. Khi đang nhổ cỏ quanh mộ của họ, tôi chợt thảng thốt nghĩ rằng họ sống ở trên đời thật ngắn ngủi: cha tôi được 28 năm, ông tôi được 58 năm, bà 66 năm (và ở Hot Springs, bố dượng tôi được 57 năm). Tôi biết có thể tôi sẽ không sống lâu và tôi muốn tận hưởng cho hết cuộc sông. Thái độ của tôi đối với cái chết giống như chuyện cười về sơ Jones, một phụ nữ ngoan đạo nhất trong nhà thờ. Một chủ nhật nọ, vị mục sư tẻ ngắt trong hội thánh của bà giảng đạo về cuộc đời ông. Cuối cùng ông ta hét lên: "Tôi muốn tất cả những ai muốn lên thiên đàng đứng dậy". Các con chiên bật dậy khỏi ghê ngồi, trừ sơ Jones. Mục sư của sơ xám mặt lại, nói: "Sơ Jones, sơ không muốn lên thiên đàng khi đã chết hay sao?". Người phụ nữ ngoan đạo nhanh nhẹn đứng dậy và nói: "Thưa cha, có chứ ạ. Con xin lỗi. Con cứ nghĩ là cha đang gọi mọi người đi ngay bây giờ".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2015, 02:35:55 AM
        Sáu tuần kế tiếp ở Hot Springs thú vị hơn tôi tưởng. Tôi dành một tuần để giúp một người đàn ông 67 tuổi dựng một trong những ngôi nhà tiền chế của Jeff ở khu Story, phía tây của Hot Springs Ngày nào ông già cũng cùng tôi làm việc đến mệt phờ và chia sẻ với tôi sự thông thái giản dị và thói nghi ngờ nhà quê của ông. Mới tháng trước, hai phi hành gia Buzz Aldrin và Neil Armstrong của tàu Apollo 11, bỏ lại đồng nghiệp của mình là Michael Collins trên tàu Columbia và đặt chân lên mặt trăng, vượt thời hạn năm tháng so với mục tiêu của Tổng thống Kennedy là sẽ đưa người lên mặt trăng trước khi thập niên kết thúc. Ông thợ mộc già hỏi tôi có tin việc này là thực hay không. Tôi nói tôi tin chứ, tôi xem trên tivi mà. Ông già không đồng ý, ông nói ông không tin chút nào, rằng "mấy bố truyền hình" có thể làm cho những sự việc không có thật trông như thật. Lúc đó, tôi nghĩ ông già thật kỳ quặc. Trong tám năm ở Washington tôi đã thấy nhiều thứ trên tivi làm cho tôi băn khoăn liệu có phải ông ấy đã vượt trước thời đại mình.

        Tôi dành nhiều buổi tôi và nhiều ngày ở bên Betsey Reader, người học trên tôi một năm ở trường trung học và đang làm việc ở Hot Springs. Khôn ngoan, thông thái và tốt bụng, cô là liều thuốc tuyệt vời cho những nỗi lo lắng không dứt của tôi. Chúng tôi được mời đến YMCA (Liên đoàn nam thanh niên Cơ đốc, một tổ chức tình nguyện thực hiện các dịch vụ cộng đồng, y tế - ND) với tư cách người sắp trưởng thành đến tham dự một sô sự kiện dành cho học sinh trung học và đã kết nghĩa với ba người trong số đó. Jeff Rosensweig, con trai bác sĩ nhi khoa của tôi và rất hiểu biết về chính trị; Jan Dierks, một cô gái thông minh, lặng lẽ rất quan tâm đến dân quyền; và Glenn Mahone, một chàng da đen thời trang và có duyên ăn nói, để tóc Afro (kiểu tóc xù, dày và bồng to thành hình tròn quanh đầu - ND) và thích mặc dashiki châu Phi, áo sơmi dài, nhiều màu mặc trùm ra ngoài quần tây. Chúng tôi cùng đi khắp nơi và rất vui vẻ bên nhau.

        Mùa hè đó ở Hot Springs có một số sự kiện phân biệt chủng tộc và bầu không khí rất căng thẳng. Tôi và Glenn nghĩ rằng chúng tôi có thể giải tỏa sự căng thẳng đó bằng cách thành lập ban nhạc rock đa chủng tộc và tổ chức một buổi khiêu vũ miễn phí ở bãi đậu xe Siêu thị Kmart. Cậu ấy sẽ hát còn tôi thổi saxophone. Vào ngày đã định mọi người tụ tập khá đông. Chúng tôi chơi trên một chiếc xe tải không mui và mọi người nhảy múa và trò chuyện dưới đường. Mọi việc suôn sẻ trong khoảng một giờ đồng hồ. Sau đó một anh da đen trẻ, đẹp trai mời một cô gái tóc vàng rất đẹp nhảy. Họ nhảy rất đẹp, chắc là quá đẹp, quá sức chịu đựng của một số tay miền Nam vênh váo. Một trận ẩu đả nổ ra, rồi trận nữa, rồi trận nữa. Chưa kịp phản ứng gì thì chúng tôi đã thấy trước mắt là một trận chiến hỗn loạn và xe cảnh sát đã đến đầy khu đậu xe. Sáng kiến đầu tiên của tôi nhằm hòa giải chủng tộc kết thúc như vậy đó.

        Một hôm, Mack McLarty, người được bầu vào quốc hội bang ngay khi học xong, đến Hot Springs để dự một cuộc họp của các đại lý bán xe Ford. Anh ấy đã lập gia đình và dấn thân vào kinh doanh và chính trị. Tôi muốn gặp và quyết định trêu chọc bạn mình trước mặt các đồng nghiệp đáng kính của anh ấy. Tôi thu xếp gặp Mack tại một tòa nhà ngay bên ngoài trung tâm hội nghị. Anh ấy không biết tôi đã để râu và tóc dài. Như thế đã là tệ lắm rồi, nhưng tôi rủ thêm ba người nữa: hai cô bạn gái người Anh vừa dừng ở Hot Springs chơi trong chuyến đi xuyên quốc gia bằng xe buýt và nếu bạn ròng rã trên xe buýt hai ba ngày thì trông cũng chỉ như họ mà thôi; và Glenn Mahone trong bộ đồ dashiki với dáng vẻ chầu Phi. Trông chúng tôi như những kẻ tị nạn từ liên hoan Woodstock (liên hoan nhạc rock tại Mỹ với nhiều thanh niên hippy ăn mặc tơi tả - ND) về. Khi Mack cùng hai người bạn bước ra, chúng tôi chắc hẳn đã làm cho anh ấy lên ruột. Nhưng Mack không hề biến sắc chút nào, anh chào hỏi và giới thiệu chúng tôi làm quen. Dưới tấm áo thẳng thớm và bộ tóc cắt ngắn của anh là một trái tim và khối óc cảm thông với hòa bình và phong trào dân quyền. Mack vẫn gắn bó với tôi qua những thăng trầm suốt cuộc đời, nhưng tôi không bao giờ làm khó anh ấy như vậy nữa.

        Mùa hè trôi dần qua, và tôi càng lúc càng cảm thấy bối rối về quyết định gia nhập ROTC và đi học trường luật Arkansas. Tôi bắt đầu mất ngủ và trải qua nhiều đêm trăn trở trên chiếc ghế dài màu trắng trong phòng - chiếc ghế tôi đã ngồi theo dõi bài phát biểu "Tôi có một giấc mơ" của Martin Luther King Jr. sáu năm trước. Tôi đọc cho đến khi ngủ thiếp đi được vài tiếng. Vì tôi gia nhập ROTC trễ nên mùa hè năm sau tôi mới có thể tham dự khóa huấn luyện mùa hè, vì thế đại tá Holmes đồng ý cho tôi quay lại Oxford học năm thứ hai, điều này có nghĩa là phải đến bốn thay vì ba năm nữa tôi mới có thể bắt đầu nghĩa vụ quân sự sau khi học xong trường luật. Tôi vẫn không áy náy với quyết định của mình.

        Cuộc trò chuyện với anh trai của mục sư John Miles làm tôi băn khoăn hơn nữa. Warren Miles bỏ học năm 18 tuổi để đăng lính thủy quân và đến Triều Tiên, ở đó anh bị thương trong chiến đấu. Anh về nhà và đi học ở trường Hendrix và trúng học bổng Rhodes. Anh khuyến khích tôi bỏ sự an toàn hiện nay đi, gia nhập thủy quân và đến Việt Nam để ít ra còn học được một cái gì đó. Anh gạt ngay ý kiến chống chiến tranh của tôi và nói rằng tôi không thể làm được gì về chiến tranh cả, và chừng nào chiến tranh còn thì những người đứng đắn còn phải phải ra trận, trải nghiệm, học hỏi và ghi nhớ. Đúng là một lập luận đanh thép. Nhưng ngay lúc này tôi đã ghi nhớ. Tôi nhớ những gì đã được biết ở ủy ban Đối ngoại, kể cả chứng cớ rõ ràng rằng người Mỹ đang bị lừa dối về cuộc chiến tranh này. Và tôi nhớ lá thư của Bert Jeffries bảo tôi nên tránh xa chiến tranh. Tôi thực sự bị giằng xé. Là con của một cựu chiến binh Thế chiến hai và như tất cả mọi người lớn lên theo phim của John Wayne, tôi luôn luôn ngưỡng mộ những người trong quân ngũ. Bây giờ tôi tìm lại trong tâm khảm mình, cô gắng xác định việc tôi không muốn ra trận là vì niềm tin hay vì nhút nhát. Xét theo kết cục mọi việc tiến triển, bây giờ tôi vẫn không chắc mình đã từng trả lời được những câu hỏi đó.

        Gần cuối tháng 9, trong khi đang cố gắng quay lại Oxford, tôi bay đến Vườn nho Martha để tham dự buổi họp mặt những người hoạt động phản chiến từng làm việc cho Gene McCarthy. Tất nhiên, tôi chưa từng làm cho ông ấy. Rick Stearns mời tôi, tôi nghĩ anh ấy biết tôi muốn đến và họ muốn có thêm một người miền Nam. Người miền Nam duy nhất ở cuộc họp này là Taylor Branch, vừa tốt nghiệp đại học Bắc Carolina và mới về Georgia đăng ký bầu cử cho người da đen. Taylor sau này có một sự nghiệp làm báo thành công, giúp John Dean nổi tiếng trong vụ Watergate và giúp cầu thủ bóng rổ danh tiếng Bill Russell viết hồi ký, sau đó viết cuốn sách xuất sắc lãnh giải Pulitzer, Parting the Waters - Chia đôi làn nước, cuốn sách đầu tiên trong bộ ba về Martin Luther King Jr. và phong trào dân quyền. Tình bạn giữa tôi và Taylor đưa chúng tôi đến cuộc vận động tranh cử cho McGovern năm 1972, và sau đó, năm 1993, chúng tôi gặp gỡ nhau hàng tháng để bàn bạc nhiệm kỳ tổng thống của tôi, nếu không ký ức của tôi về những năm tháng đó sẽ mãi mãi phai mờ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Chín, 2015, 03:25:10 AM
        Bên cạnh Rick và Taylor, còn có bốn người khác ở cuộc tái ngộ đó mà tôi vẫn giữ liên lạc trong nhiều năm sau này: Sam Brown, một trong những lãnh tụ nổi bật của phong trào sinh viên phản chiến, sau này tham gia chính trường Colorado và, khi tôi là tổng thống, Sam Brown phục vụ nước Mỹ trong Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu; David Mixner, người đã bắt đầu tổ chức các công nhân nhập cư lúc 14 tuổi, đã thăm tôi vài lần ở Anh và sau này chuyển đến California, tích cực chống AIDS và đấu tranh cho quyền của giới đồng tính, và ủng hộ tôi năm 1992; Mike Driver trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất của tôi trong 30 năm tiếp theo; và Eli Segal, người tôi đã gặp ở cuộc vận động tranh cử của McGovern, sau này là chánh văn phòng của liên minh tranh cử Clinton-Gore.

        Tất cả chúng tôi tụ tập vào kỳ cuối tuần đó sau này đã sông những cuộc đời mà vào đầu mùa thu năm 1969 ây chúng tôi không thể mường tượng trước được. Chúng tôi chỉ muốn giúp chấm dứt chiến tranh. Cả nhóm đã lên kế hoạch phản kháng quy mô lớn, có tên Vietnam Moratorium, và tôi góp phần nhỏ nhoi theo khả năng của mình cho những dự tính ấy. Nhưng hầu như lúc nào tôi cũng nghĩ về chuyện đi quân dịch, và càng ngày càng cảm thấy khó chịu trước cách tôi xử lý việc này. Ngay trước khi rời Arkansas đến Vườn nho Martha, tôi viết một bức thư cho Bill Armstrong, chủ tịch ủy ban tuyển quân địa phương, nói rằng tôi thực sự không muôn theo chương trình ROTC và yêu cầu ông ấy rút tình trạng 1- D của tôi lại và cho tôi quay về chế độ quân dịch. Strobe Talbott đến Arkansas thăm tôi và cùng bàn thảo xem tôi có nên gửi thư đi hay không. Tôi đã không gửi.

        Ngày tôi bay đi, báo chí địa phương loan tin trên trang nhất rằng trung úy lục quân Mike Thomas, người đã đánh bại tôi để giành chức chủ tịch sinh viên ở trường trung học, đã hy sinh ở Việt Nam. Đơn vị của Mike bị tấn công và phải ẩn nấp. Anh ấy chết khi quay lại vào làn đạn để cứu một người cùng nhóm bị kẹt trong xe; một quả đạn cối đã giết cả hai người. Sau khi Mike chết, lục quân tặng anh huân chương Sao Bạc, Sao Đồng và Trái tim Màu Tím. Đến lúc đó đã có gần 39.000 người Mỹ chết ở Việt Nam, và rồi sẽ còn thêm 19.000 người nữa thiệt mạng.

        Ngày 25 và 26 tháng 9, tôi viết vào nhật ký: "Đang đọc The Unfinished Odyssey of Robert Kennedy - Tấn thảm kịch dang dở của Robert Kennedy [của David Halberstam] tôi bỗng nhớ là tôi không tin vào chế độ hoãn dịch... Tôi không thể đăng ký vào ROTC được". Trong vài ngày kế tiếp, tôi gọi Jeff Dwire nói rằng tôi muốn được đưa lại vào danh sách quân dịch, và yêu cầu ông ấy nói lại với Bill Armstrong. Ngày 30 tháng 10, ban tuyển quân lại đưa tên tôi vào danh sách và xếp ở tình trạng 1-A. Ngày 1 tháng 11, Tổng thống Nixon đã ra lệnh thay đổi chính sách Hệ thống phục vụ tuyển chọn để cho phép các sinh viên cao học kết thúc toàn bộ năm học họ đang theo chứ không chỉ học kỳ, vì thế đến tháng 7 tôi mới được gọi. Tôi không nhớ, và nhật ký của tôi cũng không ghi rõ rằng tôi đã nhờ Jeff đến nói chuyện với ban tuyển quân địa phương trước hay sau khi tôi biết về lệnh miễn trừ cho sinh viên cao học được gia hạn hết năm học. Tôi chỉ nhớ cảm giác nhẹ nhõm vì có thêm thời gian ở Oxford và điều kiện tuyển quân đã thay đổi: tôi chấp nhận sự thật rằng tôi có thể bị gọi vào cuối năm học ở Oxford.

        Tôi cũng nhờ Jeff nói chuyện với đại tá Holmes. Tôi vẫn cảm thấy có nghĩa vụ đối với ông ấy: ông ấy đã giúp tôi hoãn điều động vào ngày 28 tháng 7. Mặc dù tôi lại được xếp loại 1-A, nếu ông ấy giữ yêu cầu đăng ký tôi vào chương trình ROTC bắt đầu vào mùa hè tới, tôi nghĩ tôi vẫn phải làm thế. Jeff nhắc tôi rằng đại tá chấp nhận quyết định của tôi nhưng ông ấy nghĩ tôi đã sai lầm.

        Ngày 1 tháng 12, theo một đạo luật do Tổng thống Nixon ký năm ngày trước, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ áp dụng luật gọi quân dịch bốc thăm, trong đó tất cả các ngày trong năm sẽ được rút thăm. Thứ tự ngày sinh nhật của bạn sẽ quyết định thứ tự bạn được gọi. Nsày 19 tháng 6 là số 311. Ngay cả với số rút thăm lớn, trong nhiều tháng sau đó, tôi vẫn nghĩ tôi có nhiều khả năng bị động viên. Ngày 21 tháng 3 năm 1970, tôi nhận được thư của Lee Williams cho biết ông ấy đã nói chuyện với đại tá Lefty Hawkins, người đứng đầu Hệ thống phục vụ tuyển chọn của Arkansas và ông ta cho biết tất cả chúng tôi rồi sẽ bị động viên.

        Khi tôi có số quân dịch lớn tôi gọi cho Jeff và nhờ Jeff nói với đại tá Holmes rằng khi tôi quay lại đi dự bị thì tôi chưa biết việc này có thể xảy ra và tôi hiểu ông vẫn có thể gọi tôi vào ROTC. Tôi cảm ơn ông đã bảo vệ tôi mùa hè trước, nói với ông ấy tôi rất ngưỡng mộ ông ấy, và tôi nghi ngờ rằng biết đâu ông ấy lại ngưỡng mộ tôi nếu ông biết thêm về niềm tin và các hoạt động chính trị của tôi: "ít ra ông cũng có thể nghĩ tôi phù hợp với quân dịch hơn là ROTC". Tôi mô tả công việc làm cho ủy ban Đối ngoại, "một quãng thời gian mà ít người có đủ thông tin về Việt Nam như tôi". Tôi nói với ông ấy sau khi rời Arkansas mùa hè trước, tôi làm một số việc cho Vietnam Moratorium ở Washington và ở Anh. Tôi cũng nói cho ông biết việc tôi đã nghiên cứu về quân dịch ở Georgetown và đã kết luận rằng chế độ quân dịch chỉ có lý khi quốc gia và cuộc sông của chúng ta bị lâm nguy như thời Thế chiến hai chẳng hạn. Tôi bày tỏ lòng thông cảm với những người từ chối đi quân dịch vì lý do lương tâm. Tôi nói với ông rằng Frank Aller, bạn cùng phòng của tôi, là "một trong những người dũng cảm nhất, tốt nhất mà tôi biết. Đất nước anh cần những người như anh nhiều hơn họ vẫn tưởng. Việc anh bị coi là tội phạm đúng là một sự phi lý ghê tởm". Rồi tôi thú nhận chính mình cũng đã nghĩ đến việc đăng ký và chấp nhận quân dịch "bất chấp niềm tin của mình vì một lý do: duy trì khả năng chính trị của tôi trong hệ thống". Tôi cũng thú nhận mình đã yêu cầu được nhận vào chương trình ROTC bởi vì đó là cách duy nhất tôi "có thể, nhưng không chắc chắn tránh được cả Việt Nam lẫn việc phải phản kháng quân dịch". Tôi thú nhận với đại tá rằng "sau khi ký thư xin gia nhập ROTC tôi bắt đầu băn khoăn liệu sự thỏa hiệp của tôi với chính mình có đáng bị chê trách hơn là đi quân dịch hay không, bởi tôi không hề thích thú gì với chính chương trình ROTC, và tất cả những việc tôi làm đều có vẻ như nhằm tránh cho bản thân khỏi nguy hại đến thân thể... sau khi chúng ta đã thỏa thuận và khi ông gửi giấy hoãn dịch 1-D của tôi cho ban tuyển quân trong tôi bắt đầu xuất hiện nỗi day dứt rằng tôi đã đánh mất lòng tự trọng và tự tin". Sau đó tôi còn nói là tôi đã viết thư cho ban tuyển quân vào ngày 12 tháng 12 để yêu cầu được quay lại diện đi quân dịch nhưng đã không gửi thư đi. Tôi không nhắc gì đến việc nhờ Jeff Dvvire thu xếp cho tôi được xếp trở lại loại 1-A cũng như chuyên ban tuyển quân địa phương đã làm như vậy trong lần nhóm họp hồi tháng 10, bởi vì tôi biết Jeff đã cho đại tá biết. Tôi hy vọng "việc kể lại câu chuyện của tôi sẽ giúp ông hiểu rõ hơn rằng đã có biết bao nhiêu người tốt vẫn yêu mến đất nước nhưng không ưa cái quân đội mà ông và những người tốt khác đã dành nhiều năm, và đôi khi là trọn đời, để phụng sự". Lúc ấy tôi suy nghĩ như vậy, tâm trạng của một thanh niên đang thực sự băn khoăn và giằng xé về chiến tranh. Dù gì đi nữa, tôi cũng coi mình có nghĩa vụ tham gia ROTC như đã hứa nếu đại tá Holmes gọi đến tôi. Vì ông ấy không trả lời thư của tôi nên trong một vài tháng tôi không biết ông ấy đã làm gì.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Chín, 2015, 02:09:07 AM
        Tháng 3 năm 1970, cùng lúc được tin của Lee Williams đang chờ số quân dịch được rút thăm, tôi nhận được hai cuộn băng của gia đình tôi thực hiện khi David Edwards thăm họ ở Hot Springs. Cuộn băng đầu tiên toàn những cảnh vui vẻ quanh bàn bida nhà tôi, kết thúc bằng cảnh Roger chơi saxophone trong khi King, con chó chăn cừu của gia đình, tru tréo bên cạnh. Cuộn băng thứ hai là lời nhắn của mẹ và Jeff. Mẹ nói rất yêu tôi và khuyên tôi phải nghỉ ngơi hơn nữa. Jeff thông tin thêm về chuyện trong gia đình và nói tiếp:

       "Cha đã gọi cho đại tá mấy hôm trước và đã ghé thăm ông ấy. Ông ấy chúc con khỏe mạnh và hy vọng con sẽ thu xếp thời gian ghé thăm và chào ông ấy nếu con về nhà. Theo ông ấy thì cha không cần phải lo lắng gì thêm về chương trình ROTC, bởi ông ấy hiểu về tình hình chung của những người trẻ tuổi rõ hơn người ta nghĩ."

        Thế là đến tuần thứ hai của tháng 3 năm 1970, tôi đã biết mình không còn nghĩa vụ với chương trình ROTC, nhưng quân dịch thì vẫn còn.

        Hóa ra Lee Williams đã sai. Chiến tranh xuống thang đã làm nhu cầu tân binh đến mức độ số rút thăm của tôi không bao giơ bị gọi. Tôi luôn cảm thấy không phải về việc trốn chạy khỏi những nguy cơ đã cướp đi sinh mạng của nhiều người thuộc thế hệ của tôi - những người cũng có quyền có tương lai như tôi. Qua thời gian, khi là thống đốc, khi đứng đầu lực lượng Vệ binh quốc gia Arkansas, và đặc biệt khi là tổng thống, càng thấy quân đội Mỹ nhiều hơn, tôi càng ao ước hồi trẻ mình được là một phần của nó, mặc dù tình cảm của tôi về chiến tranh Việt Nam thì vẫn thế.

        Nếu trước đây tôi không đến Georgetown và làm việc cho ủy ban Đối ngoại, có thể tôi đã quyết định khác đi về việc quân dịch. Trong thời chiến tranh Việt Nam, đã có 16 triệu người né quân dịch theo nhiều cách hợp pháp; 8,7 triệu người tự nguyện đăng lính; 2,2 triệu người bị gọi quân dịch; chỉ có 209.000 người bị coi là trốn hoặc chống đối quân dịch, và 8.750 người trong số đó bị kết tội.

        Những người trong chúng tôi đáng lẽ có thể đi Việt Nam nhưng không đi dù sao vẫn bị ảnh hưởng, đặc biệt nếu chúng tôi có bạn bị tử trận. Tôi luôn quan tâm xem những người từng tránh quân dịch rồi sau đó tham gia chính trị xử lý các vấn đề liên qủan đến quân ngũ và bất đồng quan điểm chính trị như thế nào. Một số người trở nên diều hâu quá cỡ hoặc ái quốc cực đoan, tuyên bố việc họ không đi lính vì lý do cá nhân là chính đáng trong khi vẫn lên án những ai chông đối lại cuộc chiến mà chính họ lẩn tránh. Đến năm 2002, chuyện Việt Nam rõ ràng đã lùi sâu vào góc khuất tâm lý người Mỹ đến mức ở Georgia, nghị sĩ Cộng hòa Saxby Chambliss, người được miễn quân dịch thời chiến tranh Việt Nam, đã có thể đánh bại Thượng nghị sĩ Max Cleland, người mất chân tay ở Việt Nam, bằng cách chất vấn lòng yêu nước cũng như cam kết của ông này đối với an ninh của nước Mỹ.

        Trái hẳn với hành động của những tay diều hâu không ra trận, nỗ lực của nước Mỹ nhằm hoà giải và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam được dẫn dắt bởi những cựu chiến binh Việt Nam đầy công trạng trong quốc hội như Chuck Robb, John McCain, John Kerry, Bob Kerry, Chuck Hagel, và Pete Peterson, những người đã cống hiến hơn mức yêu cầu và không có gì để giấu giếm hay chứng tỏ gì với ai.

        Khi tôi quay lại Oxford vào đầu tháng 10 cho năm học thứ hai tưởng chừng không thể có, hoàn cảnh cuộc đời tôi cũng phức tạp y như ở Arkansas. Tôi không có nơi ở vì cuối mùa hè trước tôi không nghĩ mình sẽ quay lại, và chúng tôi chỉ được bảo đảm chỗ ở trong năm thứ nhất mà thôi. Tôi ở chỗ Rick Steams vài tuần. Trong thời gian này, chúng tôi chuẩn bị và tham gia vận động cho Vietnam Moratorium tại Đại sứ quán Mỹ ở London ngày 15 tháng 10, hưởng ứng sự kiện tương tự được tổ chức tại Mỹ. Tôi cũng giúp tổ chức một buổi thảo luận chính trị tại trường Kinh tế London.

        Cuối cùng tôi tìm được nơi ở cho đến hết thời gian ở Oxford cùng với Strobe Talbott và Frank Aller tại số 46 đường Leckford. Người sống chung với họ đã chuyển đi, và họ muốn tôi cùng đến ở để chia bớt tiền thuê nhà. Chúng tôi trả khoảng 36 bảng Anh một tháng - tức là 86,40 đôla theo tỷ giá 2,4 đôla ăn một bảng. Nơi này đã hơi xuống cấp nhưng với chúng tôi thế là tốt lắm rồi. Ở lầu một có một phòng khách nhỏ và một phòng cho tôi, có kèm bếp và phòng tắm mà bước vào nhà là thấy ngay. Cửa phòng tắm có tấm kính trên có tấm giấy mỏng vẽ chân dung một phụ nữ thời tiền Raphael, làm cho nó trông như loại kính màu có vẽ hình nếu nhìn từ xa. Đó là phần thanh lịch nhất của căn nhà. Phòng ngủ và nơi làm việc của Strobe và Frank ở trên lầu hai và ba. Chúng tôi có một cái sân sau nhỏ có tường bao quanh.

        Không giống tôi, Strobe và Frank đang làm những việc rất nghiêm túc. Frank đang viết luận án tốt nghiệp về cuộc Vạn lỷ Trường chinh trong Nội chiến ở Trung Quốc. Anh ấy đã đến Thụy Sĩ để gặp Edgar Snow, người có cuốn sách nổi tiếng Red Star Over China - Sao đỏ trên Trung Quốc ghi lại những lần gặp Mao và các chiến sĩ cách mạng ở Diên An. Snow đã cho Frank một số ghi chép chưa xuât bản, và rõ ràng là Frank sẽ tạo ra một sản phẩm học thuật rất có giá trị.

        Strobe còn có một dự án to lớn hơn nữa: tự truyện của Nikita Khrushchev. Ở Mỹ, Khrushchev nổi tiếng vì đối đầu với Nixon và Kennedy, nhưng khi Chiến tranh Lạnh tiếp diễn, ông ta trở thành nhà cải cách và là người có cá tính thú vị. Ông ta đã xây dựng hệ thống xe điện ngầm đẹp đẽ của Moscow và vạch trần tội giết người hàng loạt của Stalin. Sau khi các lực lượng bảo thủ chính thống hơn tước bỏ quyền lực của ông và thay bằng Brezhnev và Kosygin, Khrushchev đã bí mật ghi âm hồi ức của mình vào băng, và dàn xếp, theo tôi là qua những người bạn ông ta ở KGB, cho chúng lọt vào tay của Jerry Schecter, lúc đó là trưởng chi nhánh thời báo Time tại Moscow. Strobe nói tiếng Nga lưu loát và mùa hè trước đã làm việc cho báo Time ở Moscow. Anh đã bay đi Copenhagen để gặp Schecter và lấy những cuốn băng. Khi quay về Oxford, anh bắt đầu ghi lại lời của Khrushchev bằng tiếng Nga, dịch lại và biên tập cho rõ ràng.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Chín, 2015, 04:32:29 AM
        Nhiều buổi sáng tôi chuẩn bị đồ ăn cho Strobe và Frank khi hai người bắt đầu làm việc. Tôi là một đầu bếp hơi kém tài. Tôi mang cho họ sản phẩm của "phong cách nấu nướng gia đình Clinton" và theo dõi công việc của họ. Tôi đặc biệt thích nghe Strobe kể lại những câu chuyện của Khrushchev về điện Kremlin. Cuốn sách độc đáo của Strobe, Khrushchev Remembers - Khrushchev nhớ lại đã góp phần đáng kể cho phương Tây hiểu biết thêm về nội vụ và sự căng thẳng của Liên bang Xô Viết, và đem lại hy vọng một ngày nào đó cải tổ nội bộ có thể đem lại nhiều tự do và cởi mở hơn.

        Ngày 15 tháng 11, buổi vận động Moratorium thứ hai, lớn hơn đã được tổ chức, với hơn 500 người tuần hành quanh Quảng trường Grosvenor trước cửa Đại sứ quán Mỹ. Tham gia cùng chúng tôi có cha Richard McSorley, một người Công giáo Dòng Tên ở Georgetown và từ lâu đã rất tích cực trong các phong trào hòa bình. Từng là linh mục tuyên úy trong Thế chiến hai, McSorley đã sống sót qua cuộc hành quân tử thần ở Bataan, và về sau ông rất thân thiết với gia đình Robert Kennedy. Sau buổi biểu tình, chúng tôi đến dự lễ cầu nguyện tại nhà thờ St. Mark gần đại sứ quán. Cha McSorley đọc lời cầu nguyện hòa bình của Thánh Francis xứ Assisi, còn Rick Stearns đọc thơ của John Donne có những dòng cuối nổi tiếng như sau: "Đừng bao giờ thử đi tìm xem chuông nguyện hồn ai; chuông nguyện hồn anh đấy".

        Sau lễ Tạ ơn, tôi và Tom Williamson bay đến Dublin để gặp Hillary Hart và Martha Saxton mà tôi vẫn thường gặp gỡ trong mấy tháng qua. Hơn ba mươi năm sau, Martha nhắc tôi nhớ lại trong chuyến đi đó tôi đã nói rằng cô ấy quá buồn bã không hợp với tôi. Thực ra, lúc đấy, trong lòng tôi đang băn khoăn về Việt Nam nên tôi buồn tẻ quá mức, không hợp với cô ầy cũng như với bất cứ người nào khác. Nhưng mặc dù buồn bã, tôi vẫn yêu mến Ireland và cảm thấy thoải mái khi ở đó. Chỉ vài ngày cuối tuần nhưng tôi đã không thích rời khỏi Ireland.

        Thứ bảy, ngày 6 tháng 12, ba ngày sau khi viết thư cho đại tá Holmes, tôi ở nhà của David Edwards ở London để theo dõi một sự kiện lớn, trận bóng giữa Arkansas và Texas. Cả hai đội đều chưa từng thất bại. Texas đứng đầu, còn Arkansas đứng nhì trong cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc. Họ thi đấu để giành ngôi vô địch quốc gia trong trận cuối cùng của mùa giải thường lệ trong năm thứ 100 của bóng bầu dục đại học. Tôi thuê một radio sóng ngắn không đắt lắm nhưng phải đặt cọc 50 bảng, số tiền khá lớn đối với tôi. David chuẩn bị một nồi tương lớn. Chúng tôi mời thêm một vài người bạn, họ nghĩ chúng tôi đã mất trí khi cứ gào thét và la rống theo trận cầu được quảng cáo là trận cầu thế kỷ. Trong vài tiếng đồng hồ, chúng tôi vô tư trở lại, đắm chìm hoàn toàn vào trận đấu.

        Trận cầu và bối cảnh văn hóa và chính trị của nó được Terry Frei ghi lại đầy đủ trong cuốn sách Horns, Hogs and Nixon Coming. Frei ghi chú cuốn sách của mình là Texas đấu với Arkansas ở thành lũy cuối cùng của miền Nam, bởi vì đó là sự kiện thể thao cuối cùng có chỉ toàn các cầu thủ da trắng.

        Vài ngày trước, Nhà Trắng tuyên bố Tổng thống Nixon, một fan cuồng nhiệt của bóng bầu dục, sẽ dự khán trận đấu và trao cúp vô địch quốc gia cho đội chiến thắng. Chín thành viên quốc hội sẽ tháp tùng ông, trong đó có cả địch thủ của ông về vấn đề Việt Nam - Thượng nghị sĩ Fulbright, người chơi cho đội Razorback hơn 40 năm trước, và nghị sĩ trẻ người Texas George H.W.Bush. Ngoài ra dự kiến còn có các phụ tá ở Nhà Trắng Henry Kissinger và H.R.Haldeman, cùng Ron Ziegler, thư ký báo chí.

        Arkansas giao bóng trước Texas, vừa giữ bóng vừa gây nhiều nhiêu loạn cho đối phương và ghi điểm sau chưa đầy một phút rưỡi của trận đâu. Vào giờ nghỉ giải lao, lúc Arkansas dẫn 7-0, Tổng thống Nixon trả lời phỏng vấn. Ông ta nói: "Tôi mong được thấy cả hai đội ghi bàn trong hiệp hai. vấn đề là Texas với nhân lực mạnh, và ý tôi là có dàn cầu thủ dự bị mạnh hơn, liệu có thể chiến thắng trong hiệp cuối hay không. Tôi thấy như vậy đó". Trong lần giao bóng đầu tiên của hiệp bốn, khi Arkansas đang dẫn 14-0, thủ quân James Street của Texas làm một cú nước rút 42 bộ đưa bóng qua lằn gôn đối phương ghi điểm chạm bóng cuối sân. Texas được hai điểm hoán chuyển và chỉ bị dẫn 14-8. Trong lần giữ bóng kế tiếp, Arkansas ngay lập tức dẫn bóng xuống khu vực lằn ranh 7 trên phần sân Texas. Với chân sút bóng giỏi nhất nước, lẽ ra Arkansas đã có thể sút bóng ghi bàn đạt điểm 17-8 và buộc Texas phải ghi thêm hãi bàn nữa mới thắng được họ. Nhưng trọng tài yêu cầu chơi chuyền bóng. Bóng chuyền hơi ngắn và bị chặn lại. Khi chỉ còn năm phút, Texas còn thua bốn điểm và còn ba bộ thì đến đường vạch 42 bộ trên sân Arkansas. Thủ quân của Texas chuyền một cú đẹp mắt vào tay đồng đội được bao bọc đang đứng ở vạch 13 bộ của Arkansas. Sau thêm hai lần giao bóng, Texas ghi bàn và vượt lên dẫn điểm, 15-14. Trong lần giao cuối, Arkansas ép bóng xuống cuối sân bằng các đường chuyền ngắn, chủ yếu là nhắm đến tay Bill Burnett, tiền đạo lùi tài năng của họ, anh này chạy rất nhanh trong trận đó. Bill sau này trở thành con rể của đại tá Eugene Holmes. Sau lần giao bóng nghẹt thở, Texas chặn được đường chuyền của Arkansas, giữ được trong 1 phút 20 giây cuối cùng của trận đấu và thắng 15-14.

        Một trận đấu tuyệt vời. Ngay cả mấy cầu thủ Texas cũng nói lẽ ra không có đội nào phải thua. Miệng tôi đắng chát chỉ vì nghe Tổng thống Nixon dự đoán lúc giữa trận rằng Texas có thể thắng ở hiệp thứ tư. Nhiều năm sau, tôi nghĩ tôi vẫn ác cảm với ông ấy về chuyện này cũng y như trong vụ Watergate vậy.

        Sự kiện tôi và David Edwards bỏ công mướn radio sóng ngắn để nghe tường thuật trận đấu không gây ngạc nhiên cho bất cứ ai lớn lên trong không khí cuồng thể thao ở Mỹ cả. ủng hộ cho đội Razorback là lẽ dĩ nhiên của cư dân Arkansas. Trước khi gia đình tôi có tivi, tôi nghe đài tường thuật tất cả các trận đấu. Ở trường trung học, tôi khuân vác dụng cụ cho ban nhạc của đội chỉ để được vào xem các trận đấu. Ở Georgetown, tôi xem tất cả các trận đấu của Razorback phát trên tivi. Khi chuyển về quê nhà làm giáo sư luật, Bộ trưởng tư pháp và thống đốc, tôi xem gần như tất cả các trận đấu trên sân nhà. Khi Eddie Sutton trở thành huấn luyện viên bóng rổ còn vợ anh là Pasty tham gia tích cực vào cuộc vận động năm 1980 của tôi, thì tôi cũng bắt đầu xem tất cả các trận bóng rổ mà tôi có thể xem. Khi đội Arkansas của huấn luyện viên Nolan Richarson giành chức vô địch NCAA trước Duke năm 1994, tôi có mặt trên khán đài.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Chín, 2015, 03:29:22 AM
        Trong tất cả các trận đấu tôi theo dõi, chỉ có Trận cầu Thế kỷ là có tác động đến cuộc đời chính trị của tôi. Mặc dù trên tivi không chiếu cảnh những người biểu tình phản chiến nhưng họ vẫn có mặt ở đấy. Một người trong số đó leo lên một cành cây cao trên quả đồi nhìn xuống sân. Hôm sau, hình ảnh của anh ta xuất hiện trên các báo tuần và báo ngày của Arkansas. Năm năm sau, năm 1974, ngay trước cuộc bầu cử vào nghị viện đầu tiên của tôi, các nhân viên tham gia vận động cho đối thủ của tôi đã gọi điện cho các báo trong toàn bang để hỏi họ có còn giữ bài báo "có hình của Bill Clinton đang trèo lên cây để biểu tình chống lại Nixon ở trận Arkansas-Texas" hay không. Tin đồn lan nhanh như gió thổi và tôi đã mất đi khá nhiều phiếu bầu. Năm 1978, khi tôi tranh cử thống đốc nhiệm kỳ đầu, một binh sĩ tiểu bang ở miền nam Arkansas đã cam đoan với một số người rằng anh ta chính là người đã kéo tôi xuống khỏi cây vào ngày đó. Năm 1979, năm đầu tiên làm thống đốc, và 10 năm sau trận đấu, khi tôi đang trả lời các câu hỏi tại một trường trung học ở Berryville, cách Fayetteville khoảng một giờ lái xe về phía đông, một sinh viên đã hỏi có đúng là tôi trên cây hôm đó hay không. Tôi hỏi ai đã nghe tin đồn này, một nửa số học sinh và ba phần tư giáo viên giơ tay. Năm 1983, 14 năm sau trận đấu, tôi đến Tontitown, một quận nhỏ phía bắc Fayetteville để trao tặng danh hiệu hoa khôi trong Đại hội Nho hàng năm. Sau khi tôi trao xong, một cô gái 16 tuổi nhìn tôi và nói: "Có thực sự là Ngài đã leo lên cây không mặc quần áo và phản đối Tổng thống Nixon và chiến tranh không?". Khi tôi trả lời không, cô bé nói: "Ô, trời. Đó là một lý do tôi vẫn ủng hộ ngài trong mấy năm qua". Và dù theo lời đồn thổi thì tôi coi như đã không mặc quần áo mà leo lên cây, người ta vẫn cứ chăm chăm vào chuyện ấy. ơn Chúa, không lâu sau đó, một tuần báo cấp tiến tự do ở Fayetteville, The Grapevine, cuối cùng đã cho câu chuyện khùng điên này vào quên lãng bằng một bài viết về người biểu tình thực sự, có kèm theo hình ảnh của anh ta đang ở trên cây. Tác giả bài báo cũng viết rằng khi Thống đốc Clinton còn trẻ, ông ấy là người "ra dáng con nhà", đâu có hành động mạo hiểm như thế.

        Trận đấu từ xa xưa đó là một cơ hội để tôi thưởng thức môn thể thao mình ưa thích và cảm thấy như ở gần nhà hơn. Tôi mới bắt đầu đọc You Can't Go Home Again - Bạn không thể về nhà được nữa của Thomas Wolfe và lo sợ tôi có thể rơi vào hoàn cảnh như vậy. Và tôi cũng sắp đi xa nhà hơn bất cứ lúc nào khác, và theo nhiều cách.

        Cuối tuần đầu của tháng 12, trong kỳ nghỉ đông dài, tôi bắt đầu chuyến đi 40 ngày từ Amsterdam qua cậc nước vùng Scandinavie đến nước Nga, sau đó quay lại Oxford qua Prague và Munich. Đó là chuyến đi dài nhất trong đời tôi.

        Tôi đến Amsterdam với người bạn họa sĩ Aimée Gautier. Đường phố chìm trong ánh đèn Noel và đầy những cửa hàng hấp dẫn. Khu đèn đỏ nổi tiếng thấp thoáng các cô gái điếm hợp pháp ngồi trưng bày bên cửa sổ. Aimée đùa vui hỏi tôi có muốn vào một trong số các cửa tiệm ấy chơi hay không, nhưng tôi từ chối.

        Chúng tôi đi tham quan các nhà thờ chính, xem tranh Van Gogh ở bảo tàng thành phố, tranh của Vermeer và Rembrandt ở bảo tàng Rijksmuseum. Đến giờ đóng cửa, người ta bắt chúng tôi rời khỏi chôn cổ kính tuyệt vời này. Tôi đến phòng treo quần áo lấy áo khoác. Chỉ có một người đứng xếp hàng chờ lấy áo. Khi người ấy quay lại, tôi nhận ra đó chính là Rudolf Nureyev. Chúng tôi trao đổi vài lời và anh ấy mời tôi đi uổng trà. Tôi biết Aimée sẽ rất thích, nhưng ngay ngoài cửa ra vào, một người đàn ông đẹp trai, cau có đang bồn chồn bước tới bước lui, rõ ràng là đang đợi Nureyev, vì thế tôi từ chối. Nhiều năm sau, khi làm Thống đốc, tôi nhận ra mình ở cùng khách sạn với Nureyev ở Đài Bắc, Đài Loan. Cuối cùng chúng tôi cũng có dịp uống trà với nhau vào một đêm muộn khi cả hai đã hoàn tất những nghĩa vụ cao cả của mình. Rõ ràng anh ấy không nhớ gì về cuộc gặp gỡ đầu tiên.

        Từ Amsterdam, Aimée về nhà nên tôi tạm biệt cô ấy và lên tàu đi Copenhagen, Oslo và Stockholm. Ở biên giới giữa Na Uy và Thụy Điển, suýt chút nữa tôi bị kẹt lại giữa nơi đồng không mông quạnh.

        Ở một ga xép, những người gác tàu kiểm tra hành lý của hành khách trẻ tuổi để tìm ma túy. Trong túi của tôi, họ tìm thấy rất nhiều viên Contac mà tôi mang sang cho bạn ở Moscow. Contac là loại thuốc khầ mới và vì một vài lý do nào đó chưa được đưa vào danh sách thuốc được chính phủ Thụy Điển công nhận. Tôi cố gắng giải thích rằng thuốc này chỉ để trị cảm lạnh, được bán rộng rãi ở các hiệu thuốc của Mỹ và không hề gây nghiện. Người gác tàu đã tịch thu số thuốc Contac, nhưng ít ra tôi không vì tội buôn ma túy mà bị quẳng ra ngoài trời tuyết hoang vắng, để có thể trở thành một bức tượng bằng đá, được gìn giữ tuyệt hảo không tan đến tận mùa xuân năm sau.

        Sau vài ngày ở Stockholm, tôi đi phà đêm đến Helsinki. Đêm đã rất khuya, tôi ngồi một mình bên bàn trong khu vực nhà ăn, vừa đọc sách vừa uống cà phê thì có ẩu đả ở quầy bar. Hai người đàn ông say rượu đánh nhau vì một cô gái đứng gần bên. Cả hai đều không biết thủ thân nhưng lại có thể đấm vào mặt đối phương. Được một lúc cả hai bắt đầu máu me nhoe nhoét. Một trong hai người thuộc thủy thủ đoàn, hai hay ba người bạn anh ta cũng ở đó nhưng chỉ đứng nhìn. Cuối cùng tôi không thể chịu được nữa. Tôi đứng dậy tiến về phía họ định can ngăn trước khi cả hai đánh nhau bị thương nặng. Khi tôi còn cách họ khoảng vài mét, một thủy thủ đoàn bước ra chặn tôi lại và nói: "Anh không thể ngăn họ được. Nếu anh vào, cả hai sẽ quay sang đánh anh đấy. Và chúng tôi sẽ giúp họ". Khi tôi hỏi tại sao, anh ta chỉ mỉm cười và trả lời: "Chúng tôi là người Phần Lan". Tôi nhún vai, quay người, nhặt cuốn sách và về đi ngủ, thấm thìa bài học mới về sự khác biệt văn hóa. Tôi cá rằng chẳng ai giành được cô gái đó.

        Tôi đăng ký nhận phòng tại một khách sạn nhỏ và bắt đầu tham quan thành phố cùng với bạn học ở Georgetown là Richard Shullaw, có cha là phó đại sứ Mỹ ở đó.
Ngày giáng sinh, giáng sinh đầu tiên xa nhà, tôi đi bộ ra vịnh Helsinki. Băng rất dày, và tuyết đủ để chơi xe trượt. Giữa khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, tôi nhìn thây một căn nhà gỗ cách bờ vài mét, và một lỗ nhỏ bên cạnh. Đâ'y là một nhà tắm hơi, và một lúc sau có một người đàn ông mặc áo tắm bước ra. Ông ta đi thẳng đến hố băng và bước dìm người xuống làn nước giá lạnh. Sau vài phút, ông ta bước ra và đi ngược vào nhà tắm hơi, và cứ thế lặp đi lặp lại. Tôi nghĩ ông này còn điên khùng hơn hai người ở quán bar. về sau tôi rất thích tắm hơi sauna, nhưng dù có ngày càng yêu mến Phần Lan trong những chuyến đến thăm sau đó, tôi cũng không thể nào ngâm mình trong làn nước đóng băng được.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:19:21 AM
        Vào đêm giao thừa, tôi lên tàu đi Moscow có chặng dừng đổi tàu ở ga Phần Lan của Leningrad. Đó cũng là lộ trình của Lenin năm 1917 khi ông trở về nước Nga để lãnh đạo cách mạng. Tôi nhớ vì đã đọc trong cuốn To the Finland Station - Đến ga Phần Lan tuyệt hay của Edmund Wilson. Khi chúng tôi đến biên giới Nga, một ga vắng vẻ nữa, thì tôi được gặp người cộng sản đầu tiên bằng xương bằng thịt trong đời, một anh lính gác tàu trông to lớn dềnh dàng. Khi anh ta nhòm ngó túi của tôi, tôi nghĩ anh ta đang kiểm tra xem có ma túy hay không. Nhưng anh ta lại hỏi bằng giọng tiếng Anh nặng trịch: "Có sách đồi trụy không? Sách đồi trụy ấy? Có cuốn nào không?". Tôi bật cười và mở túi đựng sách, đổ ra một đống sách bìa mỏng của nhà xuất bản Penguin của các tác giả Tolstoy, Dostoevsky và Turgenev. Anh ta thất vọng thấy rõ. Tôi đoán anh ta đang mong chờ kiếm được món hàng gì đấy để giải khuây trong những đêm dài vùng biên giới cô đơn này.

        Tàu hỏa của Xô Viết có nhiều khoang rộng rãi. Mỗi toa có một ấm samovar khổng lồ đựng đầy trà nóng dùng kèm với bánh mì đen do một phụ nữ lớn tuổi phục vụ. Cùng khoang với tôi là một người' thú vị từng là huấn luyện viên cho đội quyền anh Estonia trong Olympics 1936, ba năm trước khi Liên bang Xô Viết thu phục các quốc gia vùng Baltic. Chúng tôi nói được chút ít tiếng Đức đủ để hiểu nhau. Anh ta là một người sống động, và nói với tôi về niềm tin tuyệt đối rằng một ngày nào đó Estonia sẽ lại được tự do. Năm 2002, khi đến thăm Tallinn, thủ đô cũ xinh đẹp của Estonia để nói chuyện, tôi đã kể câu chuyện này cho các cử tọa. Bạn tôi, cựu tổng thống Lennart Meri cũng tham dự và đã tìm kiếm giùm tôi. Tên người đàn ông đó là Peter Matsov. Ông ấy đã chết năm 1980. Tôi thường nghĩ về ông ta và chuyến tàu đêm giao thừa năm đó. Tôi ước sao ông ấy sống thêm một thập kỷ nữa để chứng kiến ước mơ của mình thành hiện thực.

        Gần nửa đêm và cũng gần đến bình minh của thập kỷ mới thì chúng tôi đến Leningrad. Tôi bước ra và đi bộ vài phút, nhưng tôi chỉ thấy cảnh sát đang kéo mấy người vui chơi quá chén khỏi đường phố trong cơn bão tuyết. Phải mất gần 30 năm sau tôi mới có dịp thăm thú những danh thắng của thành phố này. Lúc đó những người cộng sản đã ra đi và tên cũ của thành phố được khôi phục, St.Petesburg.

        Buổi sáng năm mới 1970, tôi bắt đầu chuỗi năm ngày tuyệt vời. Tôi đã chuẩn bị cho chuyến đi Moscow bằng cách tìm sách hướng dẫn du lịch và một tấm bản đồ thành phố bằng tiếng Anh vì tôi không thể đọc được các mẫu tự tiếng Nga gốc Xlavơ.

        Tôi đăng ký phòng ở khách sạn Quốc gia, gần Quảng trường Đỏ. Ở đây sảnh đợi có trần cao, phòng tiện nghi và nhà ăn cùng quán bar đàng hoàng.

        Người duy nhất tôi biết ở Moscow là Nikki Alexis, người đã tặng tôi hai tấm thiệp dễ thương về tình bạn mà tôi rất thích lúc tôi phải rời Oxford về nhà mùa hè năm ngoái. Đó là một phụ nữ thú vị, sinh ở Martinique thuộc Tây Ấn, sống ở Paris vì cha cô làm ở ngoại giao đoàn tại đó. Nikki đang học trường đại học Lumumba, mang tên nhà lãnh đạo người Congo bị ám sát năm 1961 mà rõ ràng là có bàn tay của CIA Hoa Kỳ. Hầu hết sinh viên là con nhà nghèo đến từ các nước nghèo. Rõ ràng người Xô Viết hy vọng rằng sau khi được đào tạo, họ sẽ quay về nhà và tạo ra những thay đổi.

        Một đêm, tôi đón xe buýt đến trường Đại học Lumumba để ăn tôi với Nikki và một vài người bạn của cô. Một trong số đó là Helene, người Haiti, có chồng đang học ở Paris. Họ có một con gái đang sống cùng với ba. Họ không có tiền để đi lại và đã không gặp nhau trong gần hai năm. Vài ngày sau khi tôi rời Moscow, Helene đã tặng tôi một cái mũ lông đặc trưng của Nga. Cái mũ không đắt lắm nhưng cô ấy không có tiền. Tôi hỏi cô có chắc là cô muôn tặng tôi hay không. Cô trả lời: "Có chứ. Anh đã rất tử tế với tôi và làm cho tôi có hy vọng". Năm 1994, lúc làm tổng thống, tôi quyết định thay thế nhà độc tài quân sự, tướng Raoul Cedras, bằng tổng thống được bầu một cách dân chủ là Jean-Bertrand Aristide, lần đầu tiên sau nhiều năm tôi nghĩ đến người phụ nữ đó và tự hỏi không biết cô có trở lại Haiti hay không.

        Đến khoảng nửa đêm tôi đi xe buýt về khách sạn. Chỉ có một người ở đó. Anh ta tên Oleg Rakito và nói tiếng Anh còn hay hơn tôi. Anh ta hỏi tôi rất nhiều và cho biết anh ta đang làm cho chính phủ, gần như thú nhận rằng anh được phân công theo dõi tôi. Anh ta nói muốn tiếp tục trò chuyện vào bữa sáng hôm sau. Khi chúng tôi cùng ăn thịt nguội và trứng thì anh ta nói sáng nào anh ta cũng đọc báo Time và Newsweek và rất yêu thích ngôi sao nhạc pop người Anh Tom Jones và đã ghi âm rất nhiều bài hát của thần tượng. Nếu Oleg tính moi thông tin vì tôi đã được kiểm tra an ninh đủ để làm việc cho Thượng nghị sĩ Fulbright, thì anh ta đã không moi được gì cả. Nhưng tôi nhận thấy ở anh ta cơn khát khao thông tin thực sự về thế giới bên ngoài của một thanh niên đằng sau Bức màn sắt. Điều này đã canh cánh trong lòng tôi cho đến tận khi vào Nhà Trắng.

        Oleg không phải là người Nga thân thiện duy nhất tôi gặp. Chính sách giảm căng thẳng giữa các quốc gia của Tổng thống Nixon đã có nhiều kết quả đáng chú ý. Vài tháng trước, tivi Nga đã chiếu người Mỹ đi bộ trên mặt trăng. Người ta vẫn còn háo hức về chuyện này và có vẻ bị hấp dẫn trước tất cả thứ gì liên quan đến nước Mỹ. Họ ghen tỵ với tự do của chúng tôi và nghĩ chúng tôi ai cũng giàu có. Tôi đoán, nếu so với hầu hết trong số họ thì đúng là chúng tôi giàu có thật. Bất cứ khi nào tôi đi tàu điện ngầm cũng có người đến gần và tự hào nói: "Tôi nói được tiếng Anh! Chào mừng anh đã đến Moscow". Một đêm tôi cùng ăn tối với một vài nhân viên khách sạn, một tài xế taxi và em gái anh ta. Cô gái đã uống khá nhiều và quyết định sẽ ở lại với tôi. Anh trai cô ta phải kéo em mình ra ngoài trời tuyết và tống vào taxi. Tôi không bao giờ biết được anh ta sợ nếu em gái mình đi với tôi thì sẽ bị KGB sờ gáy hay vì anh ta nghĩ tôi không xứng với cô em gái.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Chín, 2015, 04:11:22 AM
        Cuộc phiêu lưu thú vị nhất của tôi ở Moscow bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ tình cờ trong thang máy khách sạn. Khi tôi bước vào đã có bốn người. Một người đeo huy hiệu Câu lạc bộ Virginia Lions. Rõ ràng anh ta nghĩ tôi là người ngoại quốc vì tóc và râu tôi khá dài, lại đi giày ống và mặc áo khoác hải quân Anh. Anh ta gầm gừ: "Anh quê ở đâu?". Tôi mỉm cười và trả lời: "Arkansas", anh ta đáp lại: "Ơ, thế mà tôi nghĩ anh ở Đan Mạch hay đại loại thế". Người đàn ông đó tên Charlie Daniels, ở Norton, Virginia, quê hương của Francis Gary Powers, viên phi công U-2 bị bắn hạ và bị bắt ở Nga năm 1960. Anh ta đang đi cùng Carl McAfee, luật sư ở Norton lo thủ tục để thả Powers, và một chủ trang trại nuôi gà ở bang Washington tên Henry Fors có con trai bị bắn rơi ở Việt Nam. Họ đi suốt quãng đường dài đến Moscow chỉ để hỏi xem những người Bắc Việt Nam đang ở đó có thể trả lời con của ông chủ trại còn sống hay đã chết. Người thứ tư từ Paris tới, và cũng giống như mấy người Virginia, là thành viên của câu lạc bộ Lions. Ông này đi theo đoàn vì phái đoàn Bắc Việt nói tiếng Pháp. Họ đến Moscow mà không có gì bảo đảm rằng người Nga sẽ cho phép họ nói chuyện với những người Việt Nam, hoặc nếu có nói chuyện được thì liệu có hỏi được thông tin nào hay không. Không ai trong số họ nói tiếng Nga. Họ hỏi tôi có biết ai có thể giúp họ không. Bạn cũ Nikki Alexis của tôi học tiếng Anh, Pháp và Nga tại Đại học Patrice Lumumba. Tôi giới thiệu cô cho họ, và họ cùng nhau chạy vạy, tìm kiếm trong vài ngày, hỏi đại sứ quán Mỹ, nhờ người Nga giúp đỡ, và cuối cùng đã gặp được phái đoàn Bắc Việt Nam - những người rõ ràng rất ấn tượng vì ông Fors và các bạn đã hết sức cô gắng để được biết về số phận của con trai mình và một vài người nữa mất tích trong khi chiến đấu. Họ nói họ sẽ kiểm tra và liên lạc lại. Vài tuần sau, Henry Fors được tin con trai ông đã chết khi máy bay của anh bị bắn hạ. ít ra ông còn cảm thấy thanh thản đôi chút. Tôi nhớ đến Henry Fors» khi tôi làm việc để giải quyết về các trường hợp POW/MIA (tù binh và binh sĩ mất tích - ND) lúc làm Tổng thống và giúp Việt Nam tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với hơn 300.000 người con của họ vẫn đang mất tích.

        Ngày 6 tháng 1, Nikki và cồ bạn người Haiti Helene tiễn tôi lên tàu đi Prague, một trong những thành phố cổ đẹp nhất châu Âu, vân đang rên xiết trong sự đàn áp của Liên Xô đối với phong trào cải cách Mùa xuân Prague của Alexander Dubcek hồi tháng 8 năm 1968. Tôi được mời ở lại nhà của cha mẹ của Jan Kopold, một người bạn cùng chơi bóng rổ với tôi ở Oxford. Gia đình Kopold rất thú vị, lịch sử gia đình họ gắn bó với lịch sử của nước Tiệp Khắc hiện đại. Cha của bà Kopold là tổng biên tập tờ báo cộng sản Rude Pravo, ông đã chết khi chiến đấu với bọn phát xít trong Thế chiến hai, và tên ông được đặt cho một cây cầu ở Prague. Cả hai ông bà Kopold đều là trí thức và từng ủng hộ nhiệt tình cho Dubcek. Mẹ của bà Kopold cùng sống với họ. Ban ngày khi hai ông bà Kopold đi làm, bà đưa tôi đi chơi. Họ sống trong một căn hộ dễ thương trong một tòa nhà cao tầng với tầm nhìn toàn cảnh thành phố rất đẹp. Tôi ngủ lại trong phòng của Jan và háo hức đến mức trong đêm tôi thức dậy ba bốn lần để ra ngắm cảnh.

        Gia đình nhà Kopold, cũng như những người Tiệp khác mà tôi gặp, đều tin tưởng rồi họ sẽ có cơ hội tự do. Họ là những người xứng đáng được hưởng điều đó như bất cứ ai trên trái đất này. Họ thông minh, tự hào và quyết tâm. Những người Tiệp trẻ tuổi tôi gặp đều rất ủng hộ Mỹ. Họ ủng hộ chính phủ tôi về vấn đề Việt Nam bởi vì họ tin chúng tôi ủng hộ tự do và người Nga Xô thì không. Một lần, ông Kopold đã nói với tôi: "Kể cả người Nga cũng không thể nào muôn đời bất chấp quy luật phát triển của lịch sử". Rõ ràng họ không thể làm như vậy. Hai mươi năm sau, cuộc Cách mạng Nhung hòa bình của Václav Havel đã thực hiện lời hứa của Mùa xuân Prague.

        Mười tháng sau khi chia tay gia đình Kopold về lại Oxford, tôi nhận được thông báo của họ, viết trên tờ giấy trắng viền đen: "Chúng tôi rất đau buồn thông báo cho các bạn của con trai chúng tôi rằng vào ngày 29 tháng 1 tại bệnh viện trường đại học ở Smyrna, Thổ Nhĩ Kỳ, Jan Kopold đã qua đời ở tuổi 23... Đã từ lâu ước mơ cháy bỏng của Jan là được thăm viếng di tích văn hóa Hy Lạp. Jan đã ngã xuống từ trên cao cách Troy không xa và đã không qua khỏi do chấn thương quá nặng". Tôi rất thích Jan với nụ cười lúc nào cũng trên môi và một trí óc thông tuệ. Khi tôi biết anh là lúc anh đang bị giày vò giữa tình yêu đất nước Tiệp Khắc với tình yêu tự do. Tôi ước sao anh ấy còn sống để được vui hưởng cả hai.

        Sau sáu ngày ở Prague, tôi dừng ở Munich để dự Faschingsfest (lễ hội tống tiễn mùa Đông ở Đức và các nước lân cận - ND) với Rudy Lowe, rồi về lại Anh, trong lòng có niềm tin mới vào nước Mỹ và nền dân chủ. Với tất cả những khiếm khuyết của nó, tôi phát hiện đất nước tôi vẫn là ngọn đèn dẫn đường cho nhiều người dang sốt ruột sống trong chế độ cộng sản. Thật trớ trêu là khi tôi tranh cử tổng thống năm 1992, đảng Cộng hòa cố gắng dùng chuyến đi này làm bằng chứng chống lại tôi, họ nói tôi giao du với những người cộng sản ở Moscow.

        Sang học kỳ mới, tôi quay lại những buổi học nhóm về chính trị, bao gồm các nghiên cứu về sự liên quan giữa lý thuyết khoa học với việc lập kế hoạch chiến lược; vấn đề biến một quân đội động viên thành một đạo quân ái quốc, từ thời Napoleon cho đến Việt Nam; và các khó khăn mà Trung Quốc và Nga gây ra cho chính sách của Mỹ. Tôi đọc Herman Kahn về khả năng chiến tranh hạt nhân, các mức độ hủy diệt khác nhau, và các hành vi sau cuộc tấn công. Cuốn sách đó có vẻ viễn tưởng và không thuyết phục chút nào. Tôi ghi vào nhật ký rằng "những gì xảy ra sau khi bắt đầu khai pháo có thể sẽ không theo bất cứ hình mẫu của hệ thống khoa học hay của các nhà phân tích nào".

        Trong khi tôi phải chịu đựng thêm một mùa đông âm u ở Anh thì thư từ lẫn thiệp từ nhà tràn đến. Bạn bè tôi đi làm, kết hôn, tiếp tục cuộc sống thường nhật. Việc họ trở về trạng thái bình thường có vẻ thật tốt đẹp sau tất cả những day dứt mà tôi cảm thấy về Việt Nam.

        Tháng 3 và mùa xuân đến làm cho mọi việc sáng sủa đôi chút. Tôi đọc Hemingway, dự các buổi học nhóm và nói chuyện với bạn bè, trong đó có một người bạn mới rất thú vị. Mandy Merck đến học ở Oxford từ trường Reed ở Oregon. Cô là người cực kỳ năng động và rất thông minh, phụ nữ Mỹ duy nhất tôi gặp ở Oxford có phần lấn lướt hơn các nữ sinh viên Anh ở Oxford về khoản nói chuyện nhanh và trôi chảy. Cô cũng là người phụ nữ đầu tiên không giấu mình là đồng tính mà tôi biết. Tháng 3 đó là tháng mở mắt cho những hiểu biết của tôi về đồng tính. Paul Parish cũng kết bạn với tôi, và lúc nào cũng sợ bị gắn mác là kẻ hạ đẳng. Anh phải chịu đựng trong một thời gian dài. Bây giờ anh ấy đang ở San Francisco, và theo lời anh thì đang rất "yên ổn và hợp pháp". Mandy Merck ở lại Anh và trở thành phóng viên và người đấu tranh cho quyền của giới đồng tính. Vào thời đó, những lời chọc ghẹo của cô đã làm rạng rỡ những ngày mùa xuân của tôi.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2015, 04:37:23 AM
        Một đêm, Rick Stearns đã làm tôi choáng váng khi nói tôi không thích hợp với chính trị. Anh nói cả tôi và Huey Long đều có phong cách chính trị miền Nam rất tuyệt, nhưng Long là thiên tài về chính trị, anh ấy hiểu cách giành được và sử dụng quyền lực. Rick nói khả năng của tôi thiên về văn chương hơn, rằng tôi nên làm nhà văn bởi vì tôi viết tốt hơn nói, và bên cạnh đó, tôi không cứng rắn đủ để làm chính trị. Suốt nhiều năm sau này nhiều người cũng nghĩ như vậy. Dù sao Rick cũng gần đúng. Tôi chưa bao giờ say mê quyền lực chỉ vì quyền lực, nhưng bất cứ khi nào bị đối phương tấn công, tôi đều thường tập trung cứng rắn đủ để sống sót. Ngoài ra, tôi không nghĩ mình có thể làm được việc gì khác tốt như vậy.

        Đầu năm 1970, sau khi nhận được cuộn băng của Jeff Dwire ghi âm lại cuộc nói chuyện của ông với đại tá Holmes và số bốc thăm quân dịch khá cao, tôi biết tôi đã thoát khỏi ROTC và không phải đi quân dịch ít nhất là đến cuối năm. Nếu không được gọi, tôi lại bị giằng xé giữa việc quay lại Oxford học tiếp năm thứ ba do học bổng Rhodes tài trợ, hoặc về trường Luật Yale nếu tôi được chấp nhận.

        Tôi rất thích Oxford, có thể còn quá thích là đằng khác. Tôi lo sợ nếu quay lại học tiếp năm thứ ba, tôi có thể rơi vào cuộc sống hàn lâm thoải mái nhưng không mục đích mà cuối cùng có thể làm cho tôi thất vọng. Xét đến những cảm xúc của tôi về chiến tranh, tôi không chắc mình có thể thành công trong nghiệp chính trị hay không, nhưng tôi thích về nhà, về Mỹ và thử thời vận xem sao.

        Tháng 4, trong kỳ nghỉ giữa học kỳ ba và tư, tôi thực hiện chuyến du hành cuối - đến Tây Ban Nha, cùng với Rick Stearns. Tôi đã đọc về Tây Ban Nha rất nhiều và hoàn toàn bị mê hoặc, nhờ cuốn Man's Hope - Hy vọng của con ngứời của André Malraux, Homage to Catalonia - Tiêng nhớ Catalonia của George Orwell, và siêu phẩm The Spanish Civil War - Cuộc Nội chiến Tây Ban Nha của Hugh Thomas. Malraux tìm hiểu vấn nạn mà chiến tranh đã đặt ra cho giới trí thức, nhiều người trong số này bị cuốn vào cuộc chiến chống Franco. Ông nói các trí thức muốn tách bạch rõ ràng, muốn biết chính xác anh ta chiến đấu cho cái gì và phải chiến đấu như thế nào, một thái độ tự thân nó là phản Manichean (thuyết giáo tách bạch trắng đen, phải trái - ND), nhưng đã là chiến binh tự thân, anh ta là Manichean. Để giết chóc và sống sót, anh ta phải nhìn mọi vật rõ ràng trắng đen, tốt xấu. Nhiều năm sau, tôi nhận ra điều tương tự trong chính trị khi nhóm cực hữu chiếm lĩnh đảng Cộng hòa và quốc hội. Chính trị đối với họ chỉ là một cuộc chiến tranh với hình thức khác. Họ cần có kẻ thù và tôi chính là quỷ dữ theo niềm tin Manichean của họ.

        Tôi không bao giờ chế ngự được sức cuốn hút lãng mạn của Tây Ban Nha, mạch đập thô ráp của xứ ấy, tinh thần thô mộc của người dân, những ký ức ám ảnh về cuộc Nội chiến thất bại, bảo tàng Prado, vẻ đẹp của Alhambra. Khi làm tổng thống, tôi cùng Hillary trở thành bạn của vua Juan Carlos và nữ hoàng Sofia. Trong chuyến công du cuối cùng đến Tây Ban Nha, Juan Carlos vẫn nhớ tôi đã từng nói với ông về niềm hoài cổ của tôi đối với Granada, ông đã đưa tôi cùng Hillary đến đó. Sau 30 năm, tôi lại dạo bước qua Alhambra, trong một nước,Tây Ban Nha dân chủ và thoát khỏi chế độ Franco mà công của ông ấy không nhỏ.

        Cuối tháng 4, tôi quay lại Oxford, mẹ gọi và báo tin mẹ của David Leopoulos là Evelyn đã bị giết, bị đâm bốn nhát vào tim trong tiệm bán đồ cổ của bà. Vụ án ấy không bao giờ được giải quyết. Lúc đó tôi đang đọc Leviathan của Thomas Hobbes và tôi nhớ mình đã nghĩ ông ta có thể đã nói đúng rằng cuộc đời "thật tội nghiệp, kinh tởm, man rợ và ngắn ngủi". Vài tuần sau, David đến thăm tôi khi đang trên đường quay lại quân ngũ ở Ý, và tôi đã cố gắng an ủi anh. Mất mát của anh cuối cùng đã khích lệ tôi kết thúc truyện ngắn viết về một năm rưỡi cuối cùng và cái chết của bố dượng tôi. Truyện ấy được bạn bè nhận xét là hay, khiến tôi viết vào nhật ký: "Có thể tôi sẽ viết văn thay vì làm phải người gác cửa khi sự nghiệp chính trị của tôi gặp trắc trở". Thỉnh thoảng tôi vẫn tưởng tượng mình là người gác cửa khách sạn Plaza ở New York, phía nam của Công viên Central. Người gác cửa ở Plaza mặc đồng phục đẹp và gặp nhiều người thú vị từ khắp nơi trên thế giới. Tôi còn tưởng tượng minh sẽ gom được những khoản tiền boa hậu hĩnh của khách nghĩ răng, bất chấp giọng miền Nam của tôi hơi khác thường, tôi nói chuyên có duyên.

        Cuối tháng 5, tôi được trường Yale nhận và tôi quyết định đến đó. Tôi nhanh chóng kết thúc các buổi học nhóm về khái niệm đối lập, thủ tướng Anh, và lý thuyết chính trị thích Locke hơn Hobbes. Ngày 5 tháng 6, tôi diễn thuyết lần cuối cùng trước sinh viên tốt nghiệp trung học quân sự Mỹ. Tôi ngồi trên khán đài với các ông tướng tá, .và trong bài phát biểu của mình tôi nói tại sao tôi yêu nước Mỹ, kính trọng quân đội và chống lại cuộc chiến ở Việt Nam. Học sinh rất thích thú, và tôi nghĩ các quân nhân cũng đánh giá cao cách tôi thể hiện.

        Ngày 26 tháng 6, tôi đáp máy bay đi New York, sau những cuộc chia tay đầy xúc động, đặc biệt là với Frank Aller, Paul Parish và David Edwards, lần này là chia tay thật. Thế là kết thúc hai năm đặc biệt nhất trong cuộc đời tôi. Quãng thời gian bắt đầu từ đêm trước cuộc bầu cử của Nixon và kết thúc khi ban nhạc Beatles tuyên bố tan vỡ và phát hành bộ phim cuối cùng của họ cho các fan yêu mến và đang rầu rĩ. Tôi đã đi du lịch rất nhiều và tôi rất thích. Tôi cũng phiêu lưu đến những góc xa xôi của tâm hồn và trái tim mình, vật lộn với tình cảnh đi quân dịch, sự mơ hồ nước đôi của hoài bão, và khả năng kém cỏi đến mức không có gì ngoài những mối quan hệ ngắn ngủi với phụ nữ. Tôi chưa có bằng cấp, nhưng tôi đã học được rất nhiều. "Con đường dài và ngoằn ngoèo" (tên một bài hát của Beatles - ND) của tôi đã dẫn tôi về nhà, và tôi hy vọng, như Beatles hát trong bài "Hey Jude", ít ra tôi có thể "đem một bài hát buồn và làm cho nó hay hơn".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Chín, 2015, 03:59:14 AM
 
        17

        Vào tháng 7, tôi đến làm việc ở Washington cho Dự án Pursestrings, một dự án vận động hành lang của công dân ủng hộ chánh án McGovern - Hatfield đòi cắt giảm chi phí cho cuộc chiến Việt Nam trước năm 1971. Cơ hội để tu chánh án được thông qua là không có, nhưng chiến dịch này tạo ra phương tiện huy động và nêu bật sự chống đối chiến tranh ngày càng tăng trong cả hai đảng.

        Mùa hè đó tôi ở tại một phòng trong nhà của Dick và Helen Dudman. Họ sống trong một căn nhà cổ hai tầng lớn có hàng hiên rộng ở tây bắc Washington. Dick là một nhà báo thành đạt. Cả ông ấy và Helen đều chống chiến tranh và ủng hộ đám thanh niên đang cố gắng chấm dứt cuộc chiến. Họ đối đãi tôi thật tuyệt vời. Một sáng nọ họ mời tôi ăn sáng ở hiên trước nhà với người bạn và hàng xóm họ là Thượng nghị sĩ Gene McCarthy. Ông ta lúc này đang ở năm cuối nhiệm kỳ trong thượng viện, và từ hồi 1968 đã tuyên bố là sẽ không ra tái ứng cử. Sáng hôm đó ông ấy trong một tâm trạng cởi và thoải mái, phân tích cặn kẽ các sự kiện thời sự và cho thấy một chút buồn hoài cổ khi sắp phải rời thượng viện. Tôi thích McCarthy hơn mong đợi, đặc biệt là sau khi ông cho tôi mượn đôi giày để đi dự buổi tiệc Báo chí Phụ nữ trang trọng, mà tôi nhớ không lầm là hai ông bà Dudman dàn xếp để tôi được mời. Tổng thống Nixon có đến và bắt tay nhiều người nhưng không có tôi. Tôi được xếp ngồi cùng bàn với Clark Clifford, người theo Tổng thống Truman từ Missouri đến Washington và làm phụ tá thân cận rồi bộ trưởng quốc phòng cho Tổng thống Johnson trong năm cuối nhiệm kỳ. Nói về Việt Nam, Clifford khô khan nói: "Đó là một trong những nơi kinh khủng nhất trên thế giới để dính líu đến". Bữa tiệc là một cơ hội ngẩng đầu cho tôi, đặc biệt là khi chân tôi gắn chặt xuống đất nhờ đôi giày của Gene McCarthy.

        Không lâu sau khi tôi bắt đầu làm cho dự án Pursestrings, tôi nghỉ một kỳ cuối tuần dài và lái xe đến Springfield, Massachusetts, để dự đám cưới bạn cùng phòng ở Georgetown của tôi, trung úy thủy quân lục chiến Kit Ashby.

        Trên đường quay lại Washington, tôi ghé Mũi Cod thăm Tommy Caplan và Jim Moore, hai người cũng đi dự đám cưới Kit. Buổi tối, chúng tôi đến thăm Carolyn Yeldell, mùa hè đó đang biểu diễn ở Mũi Cod cùng với một nhóm nghệ sĩ trẻ. Chúng tôi thật vui, nhưng tôi nán lại lâu quá. Khi tôi lên đường đi tiếp, tôi mệt muốn chết. Chưa kịp ra khỏi Massachusetts, trên đường xa lộ liên bang, một chiếc xe chạy ra khỏi chỗ dừng nghỉ ngay trước mặt tôi. Lái xe không trông thấy tôi, và tôi cũng không trông thây anh ta trước khi quá muộn. Tôi cố lượn né, nhưng vẫn đâm mạnh vào phần sau bên trái xe anh ta. Người đàn ông và phụ nữ trên xe có vẻ choáng váng nhưng không hề hấn gì. Tôi cũng không sao, nhưng chiếc Volkswagen Bug xinh xinh mà Jeff Dwire đưa để tôi lái trong mùa hè thì hư hại nặng. Khi cảnh sát tới, tôi gặp rắc rối to. Tôi đã để lạc mất bằng lái khi chuyển từ Anh về nhà và không thể chứng minh tôi lái xe hợp lệ. Hồi đó chưa có hệ thống lưu trữ thông tin vi tính hóa về những thứ như vậy, nên tôi phải chờ đến sáng hôm sau mới được xác minh. Viên sĩ quan bảo rằng ông ấy phải tạm giữ tôi. Lúc chúng tôi đến nơi đã khoảng năm giờ sáng. Họ lấy hết đồ đạc cá nhân và lấy luôn thắt lưng để tôi khỏi treo cổ, cho tôi một tách cà phê, và tông tôi vào một xà lim, trong đó có một cái giường kim loại, một cái mền, toilet thì bốc mùi còn đèn thì cứ sáng mãi. Sau vài giờ ngủ chập chờn, tôi gọi cho Tommy Caplan nhờ giúp. Cậu ấy và Jim Moore đến tòa cùng với tôi và đóng tiền bảo lãnh. Ông thẩm phán thân thiện nhưng khiển trách tôi vì không đem theo bằng lái. Lời trách mắng ấy có kết quả: sau đêm nằm khám ấy, tôi không bao giờ quên bằng lái xe nữa.

        Hai tuần sau chuyến đi Massachusetts, tôi quay về Connecticut New England một tuần để làm việc cho Joe Duffey trong cuộc bầu cử sơ bộ tranh ghế trong thượng viện của đảng Dân chủ. Duffey ra ứng cử với tư cách ứng viên ủng hộ hoà bình, được ủng hộ chủ yếu bởi chính những người hai năm trước đã ủng hộ Gene McCarthy Thượng nghị sĩ Dân chủ đương chức là Tom Dodd, một nhân vật lão làng trong chính trị ở Connecticut. Ông từng truy tố bọn Quốc xã ở Tòa án xét xử tội ác chiến tranh Nuremberg và có thành tích hoạt động tiến bộ, nhưng ông gặp hai rắc rối. Thứ nhất, ông từng bị thượng viện khiển trách vì dùng quỹ được quyên cho ông với tư cách dân biểu vào mục đích cá nhân. Thứ hai, ông từng ủng hộ Tổng thống Johnson về vấn đề Việt Nam, và cử tri trong bầu cử sơ bộ đảng Dân chủ thì nhiều khả năng đa phần sẽ chống đối chiến tranh. Dodd đau đớn và giận dữ trước sự khiển trách của thượng viện, và không dễ dàng chịu nhường ghế. Thay vì phải đối đầu với một cử tri đoàn thù địch trong cuộc bầu cử sơ bộ, ông đăng ký tranh cử với tư cách ứng viên độc lập trong cuộc tổng tuyển cử tháng 11. Joe Duffey là giáo sư đạo đức học cho Cơ sở Chủng viện Hartford, và là chủ tịch hội Những người Mỹ cho Hành động Dân chủ có xu hướng tự do. Dù ông là con trai của một thợ mỏ than quê ở tây Virginia, các ủng hộ viên mạnh mẽ nhất của ông lại là những người cấp tiến có học, khá giả và phản chiến ở các khu ngoại ô, cũng như những thanh niên bị cuốn hút bởi thành tích của ông trong vấn đề dân quyền và hoà bình. Đồng chủ tịch chiến dịch tranh cử của ông là Paul Newman, làm việc rất cật lực. ủy ban tài chính của ông ấy có nhiếp ảnh gia Margaret Bourke-White, họa sĩ Alexander Calder, họa sĩ biếm họa của tờ New Yorker Dana Fradon, và một loạt các cây viết và sử gia ưu tú như Francine du Plessix Gray, John Hersey, Arthur Miller, Vance Packard, William Shirer, William Styron, Bar¬bara Tuchman, và Thornton Wilder. Tên của họ nhìn rất ân tượng trong bảng danh sách của chiến dịch, nhưng có lẽ họ sẽ không gây an tượng gì nhiều lắm trong giới cử tri lao động.

        Trong khoảng từ 29 tháng 7 đến 5 tháng 8, tôi được giao tổ chức vận động ở Bethel và Trumbull, hai thành phố trong quận Nghị viện thứ năm. Cả hai nơi đều đầy những căn nhà gỗ màu trắng cổ với hàng hiên lớn và có lịch sử từ xưa vẫn còn ghi lại trong các sổ bộ đăng ký tại địa phương. Ở Bethel, chúng tôi dành ngày đầu để đặt điện thoại và tổ chức vận động qua điện thoại, sau đó đích thân đưa tài liệu đến tận nơi cho các cử tri còn đang phân vân. Các tình nguyện viên làm việc ở văn phòng đến tận khuya, và tôi chắc Duffey sẽ đạt được số phiếu tối đa có thể. Trumbull không tổ chức tổng hành dinh hoạt động đầy đủ; các tình nguyên viên gọi điện cho một số cử tri, một số khác thì đến gặp. Tôi khuyên họ nên mở cửa văn phòng vận động từ 10 giờ sáng đến 7 giờ tối, từ thứ hai đến thứ bảy, đồng thời làm theo kiểu vận động ở Bethel để đảm bảo các cử tri có thể vận động được có hai đầu mối liên lạc. Tôi cũng xem xét lại hoạt động ở hai thị trấn khác vốn không trơn tru bằng và đề nghị tổng hành dinh tiểu bang ít nhất cũng phải đảm bảo có đủ danh sách cử tri và đủ chuẩn bị để thực hiện vận động qua điện thoại.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Chín, 2015, 06:40:14 AM
        Tôi thích công việc này và gặp nhiều người sau này sẽ đóng vai trò quan trọng trong đời tôi. Trong số có John Podesta, sau này làm việc xuất sắc trong Nhà Trắng với vai trò thư ký nhân sự, phó chánh văn phòng, rồi chánh văn phòng; Susan Thomases, người mà khi tôi ở New York đã cho tôi ngủ trên ghế sofa trong căn hộ ở đại lộ Park mà nay cô ấy vẫn đang ở, và cũng là một trong những bạn thân và cố vấn tin cẩn nhất của tôi và Hillary.

        Khi Joe Duffey thắng cuộc bầu cử sơ bộ, tôi được giao điều phối vận động ở quận Nghị viện thứ ba cho cuộc tổng tuyển cử. Thành phố lớn nhất trong khu vực này là New Haven, nơi tôi học luật, và Milford, nơi sau này tôi sẽ chuyển đến ở. Đi làm như vậy nghĩa là tôi phải bỏ học nhiều cho đến khi cuộc bầu cử kết thúc vào đầu tháng 11, nhưng tôi nghĩ mình có thể qua được nhờ mượn tập chép bài và học cật lực vào cuối học kỳ.

        Tôi yêu mến New Haven, cái nôi không khí chính trị đa chủng tộc kiểu cũ và các nhà hoạt động sinh viên. Thị trấn East Haven bên cạnh chủ yếu là dân gốc Ý, trong khi thị trấn Orange gần đó lại đa phần là dân gốc Ireland. Các thị trấn cách xa New Haven có vẻ giàu có hơn với lằn ranh chủng tộc cũng không rõ rệt bằng. Hai thị trấn ở rìa phía đông của quận là Guilford và Madison đặc biệt đẹp và cổ kính. Tôi dành nhiều thời gian lái xe đến các thị trấn trong khu vực, đảm bảo sao cho người của chúng tôi có kế hoạch vận động tốt và nhận được đầy đủ hỗ trợ cũng như các tài liệu từ tổng hành dinh trung tâm. Chiếc Volkswagen của tôi bị hư trong vụ đụng xe ở Massachusetts, nên tôi lái chiếc Opel màu rỉ sắt, dù sao cũng phù hợp hơn để chuyên chở tài liệu vận động. Tôi rong ruổi khá nhiều với chiếc xe đó.

        Vào những lúc công việc vận động cho phép, tôi đi học các lớp về luật hiến pháp, hợp đồng, nguyên tắc và vi phạm dân sự. Lớp học thú vị nhất là Luật hiến pháp của thầy Robert Bork, người sau này được chỉ định làm việc cho Tòa phúc thẩm quận Columbia, và năm 1987 được Tổng thống Reagan đề cử vào Tòa án tối cao. Thầy Bork cực kỳ bảo thủ trong triết lý luật pháp, hăng hái bảo vệ quan điểm của mình nhưng vẫn công bằng với những sinh viên nào bất đồng quan điểm. Trong một lần trao đổi đáng nhớ của tôi với thầy, tôi chỉ ra rằng lập luận của thầy về vấn đề đang được thảo luận là vòng tròn. Thầy đáp: "Tất nhiên rồi. Mọi luận điểm hay đều thế cả".

        Sau cuộc bầu cử sơ bộ, tôi cố hết sức để chiêu dụ các ủng hộ viên của các ứng viên khác về cho chiến dịch của Duffey, nhưng thật khó. Tôi thường trà trộn vào các khu vực dân lao động đa chủng tộc và cố lên tiếng thuyết phục, nhưng có thể thấy rõ là tôi đang húc đầu vào đá. Quá nhiều người da trắng thuộc phe Dân chủ cho rằng Joe Duffey, người mà Phó tổng thống Agnew từng gọi là "tên xét lại Mác xít", quá cực đoan, quá gần gũi với đám hippy nghiện hút, phản chiến. Nhiều người Dân chủ cũng quay lại chống chiến tranh, nhưng họ lại không thấy thoải mái đồng hành với những người chống chiến tranh trước họ. Chiến dịch giành sự ủng hộ của họ càng phức tạp khi Thượng nghị sĩ Dodd ra tranh cử như ứng viên độc lập, nên những người phe Dân chủ bất mãn vẫn còn nơi để dồn sự ủng hộ. Joe Duffey tổ chức chiến dịch khá tốt, tập trung tâm lực và truyền cảm hứng cho thanh niên trên khắp nước, nhưng ông thất bại dưới tay ứng viên Cộng hòa, Hạ nghị sĩ Lowell Weicker, một tay chơi sau này rời đảng Cộng hòa và làm thống đốc Connecticut với tư cách nhân vật độc lập. Weicker đạt chưa đầy 42% số phiếu, đủ để đánh bại Duffey. Duffey được dưới 34%, còn Thượng nghị sĩ Dodd được gần 25%. Chúng tôi bị thua trong các thành phố mang tính thuần chủng tộc như East Haven và West Haven.

        Tôi không biết nếu Dodd không ra tái cử thì Duffey liệu có thắng nổi không, nhưng tôi chắc chắn là đảng Dân chủ sẽ dần biến thành phe thiểu số nếu chúng tôi không tìm cách chiếm lại những cử tri đã bỏ phiếu cho Dodd. Sau cuộc bầu cử tôi nói chuyện ấy hàng giờ với Anne Wexler, người thực hiện xuất sắc vai trò quản lý chiến dịch vận động. Bà ấy là một chính khách tuyệt vời và quan hệ tốt với nhiều loại người, nhưng vào năm 1970 phần lớn cử tri không quan tâm đến thông điệp cũng không để ý nhiều đến người mang thông điệp. Anne trở thành một người bạn và cố vấn tốt cho tôi trong nhiều năm về sau. Sau khi bà ấy và Joe Duffey lấy nhau, tôi vẫn giữ liên lạc với họ. Khi tôi vào Nhà Trắng, tôi chỉ định ông ấy điều hành Cơ quan thông tin Hoa Kỳ, quản lý Đài tiếng nói Hoa Kỳ - nơi ông mang thông điệp của nước Mỹ đến một thế giới sẵn lòng đón nhận ông hơn là cử tri đoàn Connecticut vào năm 1970. Tôi nghĩ về nó như chiến dịch cuối cùng của Joe, và lần này ông đã chiến thắng.

        Điểm sáng nhất vào tháng 11 năm 1970, việc một thống đốc Dân chủ trẻ tuổi trúng cử ở Arkansas, đó là Dale Bumpers. Ông ấy dễ dàng đánh bại cựu thống đốc Faubus trong cuộc bầu cử sơ bộ và thắng lớn trước Thống đốc Rockefeller trong cuộc tổng tuyển cử. Bumpers là cựu thủy quân lục chiến và là một luật sư tại tòa xuất sắc. Ông ấy hài hước và có thể nói cho kiến bò ra khỏi lỗ. Ông còn là một người tiến bộ chân chính từng dẫn dắt thị trấn quê nhà Charleston ở miền tây bảo thủ của Arkansas trong tiến trình mở cửa trường cho học sinh đa chủng tộc một cách êm ái, ngược hoàn toàn với sự hỗn độn ở Little Rock. Hai năm sau ông tái cử với chênh lệch lớn, và hai năm sau nữa ông trở thành một trong hai thượng nghị sĩ của tiểu bang chúng tôi. Bumpers chứng tỏ rằng quyền năng của người lãnh đạo nhằm nâng đỡ và đoàn kết dân chúng cho sự nghiệp chung có thể vượt qua những chia rẽ chính trị cổ lỗ của miền Nam. Đó là điều tôi muốn làm. Tôi đã không nề hà ủng hộ những ứng viên hầu như cầm chắc thất bại khi chúng tôi đấu tranh cho dân quyền hoặc chống chiến tranh. Nhưng không sớm thì muộn, muộn thay đổi được sự việc thì ta phải chiến thắng. Tôi đến học ở trường Luật Yale để hiểu thêm về chính sách. Và trong trường hợp những hoài bão chính trị của tôi không thành, tôi muốn có một nghề nghiệp mà không bao giờ bị buộc phải về hưu.

        Sau cuộc bầu cử, tôi quay về yên ổn với cuộc sống ở trường luật, gạo bài để thi cử, quen biết với vài bạn bè sinh viên khác, vui vầy với căn nhà và ba người bạn cùng nhà. Doug Eakeley, bạn học bổng Rhodes của tôi ở Univ, tìm được một căn nhà xưa tuyệt hảo tại Long Island Sound ở Milford. Căn nhà này có bốn phòng ngủ, một cái bếp khá rộng rãi, và một hàng hiên có mái che lớn mở ngay ra bãi biển. Bãi biển thật hoàn hảo cho các bữa nấu ăn ngoài trời, và khi triều rút, chúng tôi có đủ chỗ để chơi bóng đá. Nhược điểm duy nhất của căn nhà là nó là nhà nghỉ hè, không có bao bọc chống lại gió buốt mùa đông. Nhưng chúng tôi còn trẻ và cũng quen được với chuyện đó. Tôi vẫn còn nhớ rõ một ngày mùa đông sau bầu cử tôi quấn chăn ngồi ở hiên và đọc cuốn The Sound and the Fury - Âm thanh và cuồng nộ của William Faulknér.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Chín, 2015, 01:26:52 AM
        Những người bạn cùng nhà tại số 889 East Broadway còn lại là Don Pogue và Bill Coleman. Don thì cánh tả hơn bọn chúng tôi, nhưng anh ấy trông có vẻ dân lao động hơn. Tướng anh ấy chắc như một tảng bê tông và khỏe như trâu. Anh ấy đi môtô đến trường luật, nơi anh ấy sẵn sàng tiếp chuyện bất kỳ ai trong những buổi tranh luận chính trị bất tận. May cho chúng tôi, anh ấy nấu ăn cũng ngon và thường cư xử tử tế, nhờ công cô bạn gái người Anh là Susan Bucknell cũng quyết liệt như anh ấy nhưng biết điều hơn. Bill là một trong số sinh viên da đen ngày càng nhiều học ở Yale. Cha anh ấy là một luật sư Cộng hòa cấp tiến - hồi đấy vẫn có những người như vậy - từng làm việc cho Thẩm phán Felix Frankfurter ở Tòa án tối cao và từng làm bộ trưởng giao thông dưới thời Tổng thống Ford. Bề ngoài mà nói, Bill là người thâm trầm nhất trong nhóm chúng tôi.

        Ngoài các bạn cùng phòng, tôi chỉ biết thêm ít bạn sinh viên khác khi tôi về học ở Yale sau chiến dịch tranh cử của Duffey, trong đó có bạn từ hồi đại hội Boys Nation quê ở Louisiana là Fred Kammer, và Bob Reich. Vì anh ấy là bí thư trong khóa học bổng Rhodes của chúng tôi nên anh giữ liên lạc với mọi người và thường xuyên cung cấp thông tin cũng như những tin thất thiệt đầy hài hước về đường đời của chúng tôi.

        Bob sống trong một căn nhà gần cơ sở trường cùng với ba sinh viên khác, một trong số này - Nancy Bekavac - trở thành một người bạn đặc biệt của tôi. Cô ấy là một người cấp tiến nhiệt thành, và những cảm xúc phản chiến của cô ấy được khẳng định vào mùa hè trước khi cô sang làm phóng viên ở Việt Nam. Cô làm thơ hay, viết những lá thư đầy cảm xúc và chép bài rất đầy đủ, và cô cho tôi sử dụng chúng khi tôi nhập học trễ mất hai tháng.

        Qua Bill Coleman, tôi được gặp một số sinh viên da đen. Tôi muốn biết họ đến học ở Yale như thế nào, và họ dự định làm gì với một cơ hội mà hồi đó được coi là khác thường đối với người Mỹ gốc Phi. Ngoài Bill, tôi kết bạn với Eric Clay quê ở Detroit, người sau này tôi bổ nhiệm vào Tòa phúc thẩm Hoa Kỳ; Nancy Gist, bạn cùng lớp ở Wellesley với Hillary và làm việc trong Bộ Tư pháp khi tôi làm tổng thống; Rufus Cormier, một người đàn ông to lớn, trầm lặng và là ngôi sao trong đội bóng Đại học Giám lý miền Nam; và Lani Guinier, người tôi cố bổ nhiệm làm trự lý Bộ trưởng tư pháp phụ trách dân quyền, một câu chuyện buồn tôi sẽ kể chi tiết sau. Thẩm phán Tòa án tối cao Clarence Thomas cũng học cùng lớp tôi, nhưng tôi không thân quen với ông ấy.

        Gần cuối học kỳ, chúng tôi nghe tin Frank Aller quyết định trở lại nước Mỹ. Cậu ấy chuyển về lại khu vực Boston và về nhà ở Spokane để đối diện với quân dịch. Cậu ấy bị bắt giữ, bị truy tố và được tạm tha để chờ xét xử. Frank đã quyết định dù việc chống quân dịch của cậu ấy tạo ra tác động như thế nào đi nữa thì cậu ấy cũng không muốn sống nốt phần đời còn lại bên ngoài nước Mỹ để rồi bước vào tuổi trung niên già cỗi, lạnh lùng trong một trường đại học nào đó ở Canada hay Anh và cuộc đời mãi mãi bị cuộc chiến Việt Nam định đoạt. Một đêm tháng 12, Bob Reich nói rằng Frank về để chịu tù đày thật là ngớ ngẩn khi có biết bao điều cậu ấy có thể làm bên ngoài nước Mỹ. Nhật ký của tôi ghi lại câu trả lời của mình: "Một con người không chỉ là tổng hòa của những gì anh ta có thể làm gộp lại". Quyết định của Frank đã khẳng định anh ấy là ai chứ không phải chuyện anh ấy có thể làm được gì. Tôi nghĩ đó là quyết định đúng. Không lâu sau khi anh ấy quay về, Frank đi khám tâm lý, viên bác sĩ cho rằng anh bị trầm cảm và không phù hợp đi quân dịch. Anh ấy đi khám sức khỏe quân dịch, và cũng như Strobe, được xếp loại 1-Y, tức là chỉ bị động viên trong trường hợp khẩn cấp toàn quốc.

        Vào giáng sinh, tôi về nhà ở Hot Springs, rất xa vịnh Helsinki - nơi giáng sinh trước tôi đi bộ trên băng. Lần này tôi đi trong sân trường tiểu học cũ của mình, điểm lại những điều may mắn và thay đổi trong cuộc đời mình. Nhiều bạn thân của tôi bắt đầu lấy vợ lấy chồng. Tôi chúc họ tốt lành và tự hỏi không biết có bao giờ tôi lập gia đình hay không.

        Tôi cũng nghĩ nhiều về quá khứ và cội nguồn của mình. Vào ngày năm mới, tôi đọc xong cuốn The Burden of Southern History - Gánh nặng của Lịch sử miền Nam của c. Vann Woodward, trong đó ông ghi lại "sự ý thức lịch sử riêng biệt" của người miền Nam, cái mà Eudora Welty gọi là "ý thức về nơi chốn". Arkansas là nơi chốn của tôi. Không giống như Thomas Wolfe, tôi rất hâm mộ văn chương của ông, tôi biết tôi có thể về nhà một lần nữa. Thực ra, tôi phải về nhà. Nhưng trước tiên, tôi phải học xong trường luật đã.

        Tôi hoàn thành học kỳ hai của mình ở trường Yale như một sinh viên ngoan ngoãn với chương trình học nặng nề nhất trong thời gian tôi ở đây. Giáo sư Luật kinh doanh của tôi là John Baker, thành viên da đen đầu tiên trong ban giáo sư của trường luật Yale. Ong rât tôt với tôi, giao cho tôi một số việc nghiên cứu để giúp tôi kiếm thêm, và mời tôi đến nhà ăn tối. Thầy John và vợ ông từng học Đại học Fisk, trường cho người da đen ở Nashville, Tennessee đâu thập niên 60, khi phong trào dân quyền nở rộ nhất. Thầy kể tôi nghe nhiều chuyện kỳ thú về nỗi lo sợ họ phải chung sống với niêm vui sướng thầy và các bạn cùng lớp của thầy có được khi làm việc cho phong trào.
Tôi học môn Luật hiến pháp với thầy Charles Reich. Bob Bork bảo thủ chừng nào thì Charles lại cấp tiến chừng ấy. Thầy là tác giả của một trong những cuốn sách "phản văn hóa" về thời thập niên 60, cuốn The Greening of American - Nước Mỹ hóa xanh. Giáo sư Luật hình sự của tôi, Steve Duke, là một người khắc nghiệt và tinh quái nhưng là một thầy giáo giỏi, sau này tôi có làm luận văn với thầy về tội phạm cổ cồn trắng. Tôi thực sự thích thú môn Quyền chính trị và dân sự của thầy Tom Emerson, một người bé nhỏ bảnh bao từng làm việc dưới thời Franklin Roosevelt và sách của thầy được dùng làm sách giáo khoa cho bọn tôi. Tôi cũng học môn Luật quốc gia và Triết học của Giáo sư William Leon McBride, làm một số công việc dịch vụ pháp lý và kiếm được một công việc bán thời gian. Trong vài tháng, tôi lái xe đến Hartford bốn lần một tuần để phụ Dick Suisman, một doanh nhân phe Dân chủ tôi gặp trong cuộc vận động cho Duffey, trong công việc của ông ấy với tư cách ủy viên thành phố. Dick biết tôi cần việc làm, và tôi nghĩ chắc mình cũng giúp được ông phần nào.   

        Cuối tháng 2, tôi bay đến California vài ngày chơi với Frank Aller, Strobe Talbott, và bạn gái của Strobe là Brooke Shearer. Chúng tôi gặp nhau ở Los Angeles tại nhà của ba mẹ Brooke, ông bà Marva và Lloyd Shearer - những người cực kỳ niềm nở và rộng rãi. Trong nhiều năm, hai ông bà viết cho mục tin bên lề về người nổi tiếng được đọc nhiều nhất ở Mỹ, mục "Nhân vật của Walter Scott". Sau đó vào tháng 3 tôi lên Boston, nơi Frank sống và đang tìm việc làm nhà báo, để- gặp lại anh ấy và Strobe. Chúng tôi đi dạo trong rừng sau nhà Frank và dọc bờ biển New Hampshire gần bên. Frank có vẻ mừng vì đã về nhà, nhưng vẫn buồn. Dù anh ấy đã thoát quân dịch và tù tội, có vẻ như anh vẫn bị trầm cảm, giống như tình trạng mà Turgenev gọi là "chỉ người rất trẻ mới biết và chẳng có lý do gì rõ rệt". Tôi nghĩ anh ấy rồi sẽ vượt qua được.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Chín, 2015, 07:17:49 AM
        Mùa xuân, như mọi khi, làm tinh thần tôi phấn chấn lên. Tin tức chính trị thì tốt xấu lẫn lộn. Tòa án tối cao đồng lòng giữ lại quy định dùng xe buýt chở học sinh đi học đến các trường nhằm duy trì sự cân bằng về chủng tộc trong thành phần học sinh. Người Trung Quốc đã đáp lại việc đội bóng bàn Mỹ qua Trung Quốc thi đấu bằng cách chấp nhận lời mời của Mỹ gửi đội bóng bàn của họ đến Mỹ. Và các cuộc phản đôi chiến tranh vẫn tiếp diễn. Thượng nghị sĩ McGovern đến New Haven ngày 16 tháng 5, chỉ với ý định tranh cử tổng thống năm 1972. Tôi thích ông và nghĩ rằng ông có cơ hội thắng cử, nhờ vào thành tích anh hùng khi làm phi công ném bom trong Thế chiến hai, tài lãnh đạo chương trình Lương thực cho Hòa bình dưới thời Kennedy, và nhờ vào những quy định mới trong việc lưa chọn đại biểu cho kỳ đại hội dân chủ tới. McGovern đứng đầu một ủy ban soạn thảo ra những quy định đó, với mục đích đảm bảo một đại hội đa dạng hơn về chủng tộc, giới tính và lứa tuổi. Những quy định mới này, cộng thêm sức nặng của những người cấp tiến phản chiến trong các kỳ sơ bộ, hầu như chắc chắn đảm bảo rằng những ông chủ chính trị cũ sẽ có ít ảnh hưởng hơn và những người hoạt động trong đảng có nhiều ảnh hưởng hơn trong quá trình đề cử năm 1972. Rick Stearns cũng làm việc cho ủy ban này, và tôi chắc chắn anh ấy đủ cứng rắn và khôn ngoan để đưa ra một hệ thống có lợi cho McGovern.

        Trong khi tình hình chính trị và học hành ở trường luật đều suôn sẻ, đời sống riêng của tôi thì lại lộn xộn. Tôi chia tay với một cô gái trẻ, cô ta về quê cưới người yêu cũ. Tiếp đó tôi lại phải đau đớn chia tay với một sinh viên luật tôi rất thích nhưng chưa thể gắn bó. Tôi vừa mới sắp thoải mái khi còn một thân một mình và quyết sẽ không cặp kè với ai một thời gian. Thế rồi một hôm, khi tôi đang ngồi ở dãy sau trong lớp của giáo sư Emerson môn Quyền chính trị và dân sự thì tôi phát hiện ra một phụ nữ tôi chưa hề thấy trước đó. Rõ là cô ấy đi học còn ít hơn tôi. Tóc cô ấy dày, vàng sẫm, đeo kính mắt và không trang điểm, nhưng cô ấy toát ra một sức mạnh và sự tự chủ mà tôi hiếm khi thấy ai có, dù là nam hay nữ. Hết giờ học tôi theo cô ấy ra ngoài, định tự giới thiệu. Khi tôi còn cách cô ấy vài bước, tôi đưa tay ra để chạm vào vai cô ấy, nhưng lập tức đột ngột rụt tay lại. Đó là một phản ứng gần như vật lý. Một cách nào đó, tôi biêt rằng đây không phải chỉ là cú vỗ vai bình thường, rằng tôi có thê bắt đầu cho một điều mà tôi sẽ không thể dừng lại được.

        Tôi thấy cô gái ấy vài lần trong vài ngày kế tiếp, nhưng không tiếp cận cô ấy. Rồi một tối nọ tôi đứng ở thư viện trường Luật Yale dài và hẹp, nói chuyên với một sinh viên khác, Jeff Gleckel, về khả năng đi làm cho tờ Yale Law Journal. Jeff khuyên tôi nên làm, bảo rằng như thế sẽ đảm bảo cho tôi cơ hội làm văn phòng cho một thẩm phán liên bang hoặc kiếm được việc làm với một công ty luật danh giá nào đó. Anh ấy có lý, nhưng tôi không quan tâm; tôi định về quê nhà ở Arkansas, và lúc ấy tôi thích chính trị hơn là làm cho tờ báo luật kia. Được một lúc tôi bỗng nhiên ngừng chú ý đến hảo ý của anh ấy vì tôi nhìn thấy cô gái ấy, đang đứng ở đầu kia của căn phòng- Cô ấy cũng đang tôi nhìn chằm chằm. Một lúc sau thì cô ấy gấp sách lại, đi dọc thư viện, nhìn vào mắt tôi và nói: "Nếu anh cứ tiếp tục nhìn tôi và tôi tiếp tục nhìn anh, ít ra chúng ta cũng nên biết tên nhau. Tên tôi là Hillary Rodham. Tên anh là gì?". Tất nhiên Hillary nhớ tất cả việc này, nhưng chi tiết lời nói có hơi khác một chút. Tôi bị ấn tượng và choáng váng đến mức không thốt nên lời trong vài giây. Cuối cùng tôi cũng xưng tên. Chúng tôi trao đổi vài lời, và cô ấy đi khỏi. Tôi chẳng rõ cậu Jeff Gleckel tội nghiệp nghĩ chuỵện gì đang diễn ra, nhưng cậu ấy không bao giờ nói chuyện với tôi về việc đi làm cho tờ báo nữa.

        Vài ngày sau, tôi đang đi cầu thang xuống tầng trệt của trường thì gặp lại Hillary. Cô ấy mặc một chiếc váy hoa màu sáng dài gần chấm đất. Tôi quyết phải dành thời gian cùng với cô ấy. Cô ấy bảo đang đi đăng ký môn học cho học kỳ tới, nên tôi bảo tôi cũng đi. Chúng tôi xếp hàng và nói chuyên. Tôi nghĩ chắc mình làm ăn cũng không đến nỗi nào cho tới khi đến lượt chúng tôi. Người đăng ký ngó lên tôi và nói, "Này Bill, cậu quay lại đây làm gì? Sáng nay cậu đăng ký rồi mà". Mặt tôi đỏ lựng, còn Hillary thì cười lớn theo kiểu đặc trưng của cô ấy. Thế là tôi bị lộ tẩy, nên tôi mời cô ấy đi bộ với tôi đến Phòng Trưng bày Nghệ thuật Yale để xem triển lãm của Mark Rothko. Tôi hăm hở và run đến mức quên mất rằng nhân viên của trường đang đình công và bảo tàng đang đóng cửa, May thay vẫn còn một ông bảo vệ trực. Tôi trình bày tình cảnh và đề nghị được dọn cành khô và các thứ rác rưởi khác trong vườn của bảo tàng nếu ông ấy cho tôi vào.

        Ông bảo vệ nhìn chúng tôi, hiểu ra ngay và cho chúng tôi vào. Thế là chỉ có mình chúng tôi với cả triển lãm. Thật tuyệt vời, và từ đó trở đi tôi mê Rothko. Khi xem xong, chúng tôi ra vườn và tôi dọn dẹp. Có lẽ đó là lần đầu tiên và duy nhât tôi làm người từ chối đình công trong đời, nhưng công đoàn không có người đứng cản công nhân viên đi làm ở bên ngoài bảo tàng. Hơn nữa, lúc ấy tâm trí tôi chẳng để ý gì đến chính trị nữa. Sau khi dọn dẹp xong, tôi và Hillary còn nán lại trong vườn thêm khoảng một tiếng. Trong vườn có một bức tượng lớn hình một phụ nữ ngồi do Henry Moore tạc. Hillary ngồi trong lòng của bà ấy, còn tôi ngồi cạnh cô ấy và nói chuyện. Chẳng bao lâu sau, tôi nghiêng qua và dựa đầu vào vai cô ấy. Đó là lần hẹn hò đầu tiên của chúng tôi.
Chúng tôi ở bên nhau nhiều ngày tiếp theo, chỉ đi chơi lòng vòng, nói đủ thứ chuyên trên đời. Cuối tuần tiếp đó Hillary lên Vermont trong một chuyến đi đã được lên kế hoạch từ lâu để thăm người mà cô ấy hẹn hò cho tới lúc đó. Tôi lo lắng lắm. Tôi không muốn mất cô ấy. Khi cô ấy quay về vào khuya chủ nhật, tôi gọi cho cô ấy. Cô ấy bệnh rũ rượi, nên tôi mang cho cô ấy ít súp gà và nước cam. Từ đó trở đi chúng tôi không thể rời nhau được nữa. Cô ấy đến chơi nhiều ở nhà chúng tôi trên bờ biển và nhanh chóng chiếm được cảm tình của Doug, Don và Bill.

        Với mẹ tôi thì cô ấy không được như thế khi bà đến thăm vài tuần sau đó, một phần vì cô ấy cố gắng tự cắt tóc ngay trước khi mẹ tới. Trông cô ấy giống một tay chơi punk rock hơn là một người vừa bước ra từ thẩm mỹ viện của Jeff Dwire. Không trang điểm, mặc áo sơmi công nhân và quần jean, chân không giày lại còn dính nhựa đường vì đi bộ trên bờ biển ở Milford, trông cô ấy như người ngoài hành tinh vậy. Mẹ tôi cũng xốn xang về việc tôi tỏ ra nghiêm túc với Hillary. Trong cuốn sách của mình, mẹ gọi Hillary là "một trải nghiệm trưởng thành". Cô ấy là một cô gái "không trang điểm, đeo kính đít chai, tóc nâu không ra kiểu cọ gì cả", đối lại với một phụ nữ tô son màu hồng chói, kẻ mắt, và tóc có một lọn bạc. Tôi thật phấn khích khi nhìn hai người tìm hiểu nhau. Dần dà họ cũng hiểu ra, mẹ băt đầu bớt chú ý đến bề ngoài của Hillary còn Hillary cũng chăm chút bề ngoài hơn. Dưới những phong cách khác nhau ấy, họ đều là những phụ nữ thông minh, mạnh mẽ và đầy đam mê. Khi họ liên kết lại với nhau, tôi chỉ có chào thua.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Chín, 2015, 03:51:11 AM
        Đến giữa tháng 5, tôi muốn lúc nào cũng ở bên Hillary. Kết quả ta tôi gặp nhiều bạn bè cô ấy, trong đó có Susan Graber, bạn học trường Wellesley mà sau này tôi bổ nhiệm làm thẩm phán liên bang ở Oregon; Carolyn Ellis, một phụ nữ gốc Libăng sáng láng, hài hước quê ở Mississippi, chất miền Nam còn nhiều hơn tôi, và hiện nay đang làm hiệu trưởng Đại học Mississippi; và Neil Steinman, người sáng láng nhất tôi từng gặp ở Yale, sau này gây những đồng tiền quỹ đầu tiên cho tôi ở Pennsylvania vào năm 1992.

        Tôi được biết thêm về thời thơ ấu của Hillary ở Park Ridge, Illinois; bốn năm cô ấy học ở Wellesley nơi cô ấy chuyển thái độ chính trị từ Cộng hòa sang Dân chủ vì vấn đề dân quyền và cuộc chiến tranh; chuyến đi sau khi tốt nghiệp của cô ấy tới Alaska và kiếm sống bằng nghề ướp cá; và những quan tâm của cô ấy về dịch vụ pháp lý cho người nghèo và về các vấn đề của trẻ em. Tôi còn biết thêm về bài phát biểu nổi tiếng của cô ấy ở trường Wellesley, trong đó cô hùng biện về mâu thuẫn của thế hệ chúng tôi, vừa cảm thấy xa lạ với hệ thống chính trị nhưng vẫn mong muốn làm cho nước Mỹ tốt đẹp hơn. Bài phát biểu đó được toàn quốc chú ý nhiều và là lần đầu tiên cô ấy chạm đến sự nổi tiếng ngoài môi trường trực tiếp của mình. Điều tôi thích trong thái độ chính trị của cô ây là, cũng giống như tôi, cô ấy vừa lý tưởng lại vừa thực tế. Cô ấy muốn thay đổi sự việc, và biết rằng muốn làm được như vậy đòi hỏi phải có nỗ lực liên tục. Giống như tôi, cô ấy chán ngấy chuyện cứ bị thua cuộc và cứ coi thất bại là bằng chứng của sự cao đạo. Hillary là một nhân vật tuyệt vời ở trường luật, một con cá lớn trong cái ao nhỏ nhưng đầy tính cạnh tranh của chúng tôi. Tôi thì là một nhân vật trôi nổi hơn, chạy ra chạy vào.

        Nhiều sinh viên mà chúng tôi quen nói đến Hillary như thể họ hơi e sợ cô ấy. Tôi thì không. Tôi chỉ muốn được ở bên cô ấy. Nhưng chúng tôi không còn nhiều thời gian. Hillary đã chấp nhận một việc làm trong mùa hè ở Công ty luật Treuhaft, Walker và Burnstein có trụ sở tại Oakland, California, còn tôi được mời làm điều phối viên các bang miền nam cho Thượng nghị sĩ McGovern. Cho đến trước khi gặp Hillary, tôi rất mong được làm việc này. Tôi dự kiến sẽ đóng tại Miami, và công việc đòi hỏi phải đi lại khắp miền Nam để lo liệu chiến dịch tranh cử. Tôi biết tôi sẽ làm tốt việc ấy, và dù tôi không cho là McGovern sẽ thành công gì nhiều trong kỳ tổng tuyển cử ở miền Nam, tôi tin rằng ông ấy có thể kiếm được một số kha khá các đại biểu đi dự đại hội trong mùa bầu cử sơ bộ. Dù gì đi nữa tôi cũng sẽ có thêm rất nhiều kinh nghiêm chính trị. Đó là một cơ hội hiếm hoi đối với một người 20 tuổi, cơ hội mà tôi có được nhờ là bạn của Rick Steams, người có vai trò quan trọng trong chiến dịch vận động, và nhờ vào thuyết hành động khẳng định: đằng nào họ cũng phải có ít nhất một người miền Nam ở vị trí có trách nhiệm chứ!

        Vấn đề là ở chỗ tôi không muốn nhận việc ấy nữa. Tôi biết nếu đi Florida thì tôi và Hillary có thể sẽ mất nhau. Dù tôi thấy viễn cảnh vận động tranh cử là lý thú, tôi sợ rằng, như từng viết trong nhật ký, đó sẽ chỉ là một cách "chính thức hóa tình trạng cô độc của mình", cho phép tôi cư xử với mọi người vì sự nghiệp chính đáng nhưng ở một khoảng cách. Với Hillary thì không có khoảng cách nào cả. Cô ấy ở sát bên tôi ngay từ đầu, và, trước khi tôi kịp nhận ra, cô ấy đã ngự trị trong trái tim tôi.

        Tôi lấy hết dũng khí và hỏi Hillary xem tôi có thể ở cùng với cô ấy trong mùa hè ở California được không. Lúc đầu cô ấy còn hoài nghi, vì cô ấy biết tôi ham mê chính trị và có thái độ mạnh mẽ như thế nào về chiến tranh. Tôi bảo cô ấy tôi còn cả đời để làm việc và tham vọng, nhưng tôi yêu cô ấy và muôn thử xem chuyện giữa chúng tôi có đi đến đâu không. Cô ấy hít một hơi dài và đồng ý cho tôi đưa cô ấy đến California. Lúc ấy chúng tôi mới quen nhau được chừng một tháng.

        Chúng tôi dừng chân ở Park Ridge để gặp gia đình cô ấy. Bà Dorothy mẹ cô ấy là một phụ nữ đáng yêu, cuốn hút, và tôi hòa đồng ngay với bà ấy, nhưng tôi cảm thấy xa lạ với cha Hillary y như cô ấy xa lạ với mẹ tôi vậy. Hugh Rodham là một người theo phe Cộng hòa, ăn nói cứng rắn và cộc cằn, và nói một cách nhẹ nhàng nhất thì ông nghi ngờ tôi. Nhưng càng nói chuyện với nhau nhiều tôi lại càng thích ông hơn. Tôi quyết định sẽ tiếp tục cố gắng chờ đến đúng thời điểm. Sau đó chúng tôi lái xe đến Berkeley, California, gần nơi cô ấy làm việc ở Oakland. Cô ấy sẽ sống trong một căn nhà nhỏ mà chị kế của mẹ cô ấy, bà Adeline, làm chủ. Một vài ngày sau tôi lái xe xuyên đất nước về Washington để báo với Rick Stearns và quản lý chiến dịch của Thượng nghị sĩ McGovern là Gary Hart rằng tôi không thể đi Florida được. Gary tưởng tôi đã mất trí khi bỏ lỡ một cơ hội như vậy. Chắc Rick cũng nghĩ thế. Đối với họ, có vẻ như tôi là một thằng ngốc, nhưng cuộc đời ta được định hình bởi những cơ hội bạn bỏ qua cũng như những cơ hội bạn nắm bắt được.

        Thực sự tôi cũng buồn vì phải rời cuộc vận động tranh cử, và tôi xin được đi Connecticut vài tuần để làm công tác tổ chức tại đó. Khi đăng ký nhân sự cho tất cả các quận nghị viện, tôi quay về California, lần này theo đường phía nam để có thể ghé thăm nhà.

        Tôi tận hưởng chuyên lái xe sang phía tây này, trong đó có ghé thăm Grand Canyon (Hẻm núi lớn). Tôi đến nơi lúc chiều muộn và bò ra một tảng đá nhô ra bên rìa của hẻm núi để ngắm mặt trời lặn. Cảnh tượng các tảng đá bị ép chặt vào theo những hình thù kỳ lạ qua hàng triệu năm đổi màu khi hẻm núi tối dần từ dưới đáy lên thật kỳ diệu.

        Rời hẻm núi, tôi lái xe qua Thung lũng Tử thần, điểm nóng nhất nước Mỹ, rồi quẹo lên hướng bắc để đến với Hillary. Khi tôi bước vào nhà của cô ấy ở Berkeley, cô. ấy chào đón tôi với bánh đào - thứ tôi khoái nhất - mà cô tự nướng. Bánh ngon, nên chẳng bao lâu đã hết sạch. Ban ngày, cô ấy đi làm còn tôi đi lòng vòng khắp thành phố, đọc sách trong công viên và các quán cà phê, khám phá San Francisco. Buổi tối chúng tôi đi xem phim hoặc ăn nhà hàng, hoặc chỉ ở nhà nói chuyện. Ngày 24 tháng 6, chúng tôi lái xe xuống Stanford để nghe Joan Baez hát ở khán phòng di động ngoài trời. Để tất cả các fan của mình có thể đến được, Joan Baez chỉ tính tiền vé 2 đô 50, ngược hẳn với giá vé của các cuộc biểu diễn lớn thời nay. Baez hát những bài nổi tiếng cũ của mình, và một trong những lần đầu tiên trước công chúng, Baez hát bài "The Night They Drove Old Dixie Down" (Cái đêm họ hạ bệ miền Nam cũ).

        Hết mùa hè, Hillary và tôi vẫn chưa hết chuyện để nói với nhau, nên chúng tôi quyết định về New Haven sống chung với nhau, một quyết định làm cả hai bên gia đình lo ngại. Chúng tôi tìm được một căn hộ ở tầng trệt của một căn nhà cũ tại sô 21 đại lộ Edgewood, gần trường Luật.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2015, 03:55:31 AM
        Cửa chính của căn hộ này mở vào một phòng khách bé xíu, đằng sau là một khu vực ăn nhỏ hơn và một phòng ngủ còn nhỏ hơn nữa. Sau phòng ngủ là một phòng bếp cũ và một phòng tắm nhỏ tới độ thỉnh thoảng nắp bàn cầu lại quẹt vào bồn tắm. Căn nhà cũ đến mức sàn nhà lún theo chiều từ chân tường vào giữa phòng đến mức tôi phải lấy mấy mẩu gỗ chặn bên trong chân bàn ăn nhỏ của chúng tôi. Nhưng giá cả thì phù hợp với những sinh viên luật túng thiếu: 75 đôla một tháng. Chỗ hay nhất của căn hộ ấy là cái lò sưởi trong phòng khách. Tôi vẫn còn nhớ mình ngồi trước đống lửa vào một ngày đông lạnh giá và cùng Hillary đọc tiểu sử Napoleon do Vincent Cronin viết.

        Chúng tôi hạnh phúc bên nhau và nghèo đến mức chỉ còn biết tự hào về căn nhà mới của mình. Chúng tôi thích mời bạn bè đến ăn. Trong số khách ưa thích có Rufus và Yvonne Cormier. Họ là con của những mục sư gốc Phi ở Beaumont, Texas, lớn lên ở cùng một khu vực và ở bên nhau nhiều năm trước khi cưới. Rufus học luật, còn Yvonne học tiến sĩ ngành hóa sinh. Sau này cô ấy thành tiến sĩ còn anh ấy trở thành luật sư hợp danh (có góp vốn và làm chủ sở hữu một phần công ty - ND) da đen đầu tiên của công ty luật lớn ở Houston là Baker and Botts. Một lần trong bữa ăn tối, Rufus - một trong những sinh viên giỏi nhất lớp chúng tôi - than vãn về việc phải học hành quá nhiều. "Mấy người biết không", anh ấy nói với giọng trầm trầm, "cuộc sống này bị tổ chức một cách ngược đời. Ta dành những năm tháng tốt đẹp nhất để học và đi làm. Khi ta nghỉ hưu năm 65 tuổi thì đã quá già và không còn hưởng thụ gì được cuộc sống nữa. Người ta nên nghỉ hưu từ năm 21 đến 35 tuổi, sau đó làm việc cật lực cho đến khi chết". Tất nhiên, như thế không được. Chúng ta vẫn cứ đến 65 tuổi mới về hưu.

        Tôi tập trung thực sự vào học kỳ thứ ba ở trường, với các môn Tài chính doanh nghiệp, Tố tụng hình sự, Thuế, Bất động sản, và một khóa hội thảo về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Khóa này là của thầy Burke Marshall, một nhân vật trở thành huyền thoại nhờ đâu tranh cho dân quyền với tư cách trợ lý Bộ trưởng tư pháp dưới thời Kennedy, và thầy Jan Deutsch, nổi tiếng là người duy nhất cho đến thời điểm ấy tốt nghiệp hạng danh dự trong tất cả các môn ở trường Yale. Thầy Marshall nhỏ người và rắn chắc nhưng mắt sáng và linh hoạt. Ông ấy lúc nào cũng nói thì thào, nhưng giọng thầy có thép, và con người thầy cũng vậy. Thầy Deutsch thì có kiểu nói lập bập từng chuỗi từng chuỗi rất bất thường, chưa nói xong câu này đã lại sang câu khác. Có lẽ đây là hậu quả chấn thương đầu mà thầy bị trong vụ tai nạn bị xe hơi tông văng lên không một quãng và rơi xuống nền bê tông. Thầy bất tỉnh mất vài tuần và tỉnh dậy thì đầu phải bó nẹp kim loại. Nhưng thầy rất thông minh. Tôi quen với kiểu nói của thầy và "dịch" lại cho các bạn khác không bắt kịp. Jan Deutsch cũng là người duy nhất tôi từng gặp ăn táo cả quả, kể cả hạt. Thầy bảo tất cả các khoáng chất bổ đều nằm trong đó. Thầy chắc là giỏi hơn tôi, nên tôi theo thầy và ăn thử. Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn ăn táo cả hạt, và nhớ lại những kỷ niệm đẹp về giáo sư Deutsch.

        Thầy Marvin Chirelstein dạy tôi hai môn Tài chính doanh nghiệp và Thuế. Tôi học thuế dở tệ. Luật thuế quá nhiều những phân cấp nhân tạo mà tôi chẳng hứng thú gì; những phân cấp này có vẻ như chỉ nhằm tạo thêm cơ hội cho các luật sư về thuế giảm nghĩa vụ của các thân chủ của họ đối với nước Mỹ hơn là thúc đẩy các mục tiêu xã hội xác đáng. Một lần, thay vì tập trung trong lớp, tôi đọc One Hundred Years of Solitude - Trăm năm cô đơn của Gabriel García Marquez. Cuối giờ học, giáo sư Chirelstein hỏi tôi điều gì mà thú vị hơn bài giảng của ông đến thế. Tôi giơ sách lên và bảo thầy đó là cuốn tiểu thuyết tuyệt nhất được viết bằng bất cứ thứ tiếng nào từ khi William Faulkner mất. Bây giờ tôi vẫn còn nghĩ vậy.

        Tôi gỡ thể diện cho mình trong môn Tài chính doanh nghiệp và đỗ đầu trong kỳ thi cuối khóa. Khi giáo sư Chirelstein hỏi sao tôi có thể học giỏi Tài chính doanh nghiệp đến thế mà lại kém môn Thuế, tôi trả lời vì tài chính doanh nghiệp cũng giống như chính trị; trong khuôn khổ luật lệ nhất định, đó là một cuộc đấu tranh liên tục để nắm quyền lực, tất cả các bên đều cố tránh bị lừa nhưng sẵn sàng thủ đoạn.

        Ngoài đi học tôi còn làm hai việc nữa. Dù đã có học bổng và hai khoản vay cho sinh viên, tôi vẫn cần thêm tiền. Vài giờ trong tuần tôi làm cho Ben Moss, một luật sư địa phương, giúp nghiên cứu luật pháp và làm việc vặt. Việc nghiên cứu chẳng bao lâu trở nên nhàm chán, nhưng mấy việc vặt thật lý thú. Có lần tôi phải giao một số giấy tờ đến địa chỉ trong một tòa nhà cao tầng ở nội đô. Khi tôi leo cầu thang lên tầng ba hay bốn gì đó, tôi đi ngang qua một người đàn ông mặt đờ đẫn đứng ở cầu thang tay vẫn còn dính một cái xilanh rỗng. Ông ta vừa mới tự tiêm một ống đầy heroin. Tôi giao giấy tờ xong và ba chân bốn cẳng vội chuồn khỏi.

        Công việc thứ hai của tôi không hung hiểm bằng nhưng lại thú vị hơn. Tôi dạy hình luật cho sinh viên trong một chương trình bảo vệ pháp luật tại Đại học New Haven. Vị trí của tôi do chương trình Trợ giúp Bảo vệ Pháp luật Liên bang cấp vốn, chương trình này vừa mới khởi động dưới thời Nixon. Lớp học được thiết kế nhằm cung cấp thêm các nhân viên bảo vệ pháp luật chuyên nghiệp biết cách bắt giữ, khám xét và tịch biên một cách hợp hiến. Tôi thường phải chuẩn bị bài giảng vào tối trước ngày lên lớp. Để khỏi ngủ gật, tôi thường đem bài ra soạn ở quán ăn phố Elm, cách nhà chúng tôi một dãy phố. Quán này mở cửa suốt đêm, có cà phê và bánh trái cây ngon tuyệt, và đầy những nhân vật về đêm của New Haven. Trông coi quán vào ban đêm là Tony, một người gốc Hy Lạp và là cháu của ông chủ quán. Khi tôi vất vả làm bài, anh ấy cho tôi thêm cà phê thoải mái mà không tính tiền.

        Con đường trước quán là ranh giới phân chia giữa hai nhóm gái đứng đường. Thỉnh thoảng cảnh sát cũng hốt họ đi nhưng rồi họ lại nhanh chóng xuất hiện trở lại. Mấy cô hay vào quán để uống cà phê và sưởi ấm. Khi họ biết tôi ở trường luật, nhiều cô ghé qua chỗ tôi ngồi để nhờ tư vấn pháp lý. Tôi cố làm hết sức mình, nhưng chẳng cô nào chịu nghe lời khuyên tốt nhất của tôi là đi kiếm việc khác. Một đêm nọ, một tay nam giả gái da đen ngồi xuống đối diện tôi và nói câu lạc bộ của anh ta muốn tổ chức rút thăm trúng thưởng một cái tivi để gây quỹ; anh ta muốn hỏi liệu làm như vậy có phạm luật chống cờ bạc hay không. Sau này tôi hiểu ra rằng thực sự anh ta không biết cái tivi đây có phải là đồ ăn cắp không. Nó được hiến tặng cho câu lạc bộ của anh ta bởi một ông bạn làm chủ một dịch vụ tiêu thụ đồ gian, chuyên mua đồ ăn cắp và bán lạí với giá rẻ. Dù Sao tôi cũng bảo anh ta rằng các nhóm khác tổ chức rút thăm trúng thưởng hoài và chắc câu lạc bộ của anh ta sẽ không bị truy tô gì. Để đáp lại lời tư vấn khôn ngoan củạ tôi, anh này cho tôi khoản thù lao duy nhất mà tôi có được trong suốt thời   gian làm tư vấn ở quán ăn phố Elm: một vé rút thăm. Tôi không trúng được cái tivi kia, nhưng dù sao cũng ra về mãn nguyên với tấm vé viết tên   của câu lạc bộ bằng chữ in đậm: Những người độc đáo da đen.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Chín, 2015, 02:45:11 AM
        Ngày 14 tháng 9, khi Hillary và tôi bước vào quán Blue Bell thì có người đến gặp tôi và bảo tôi phải gọi cho Strobe Talbott gấp. Cậu ấy và Brooke đang thăm cha mẹ Strobe ở Cleveland. Tôi bắt đầu lên ruột khi cho tiền xu vào máy điện thoại công cộng bên ngoài quán. Brooke trả lời điện thoại và bảo tôi là Frank Aller vừa tự sát. Cậu ấy được mời làm chủ sự văn phòng Sài Gòn của báo Los Angeles Times, đã chấp nhận và về nhà ở Spokane với tinh thần phấn chấn để lấy quần áo và chuẩn bị sang Việt Nam. Tôi nghĩ cậu ấy muốn thấy và viết về cuộc chiến mà cậu ấy phản đối. Có lẽ cậu ấy muốn đặt mình vào nơi hiểm nguy để chứng tỏ mình không hèn nhát. Ngay vào lúc mọi sự bề ngoài bắt đầu êm xuôi thì những gì diễn ra trong nội tâm đã buộc cậu ấy chấm dứt đời mình.

        Bạn bè cậu ấy đều choáng váng, nhưng lẽ ra chúng tôi phải biết để không bất ngờ. Sáu tuần trước, tôi ghi trong nhật ký rằng Frank lại bắt đầu dằn vặt trở lại vì lúc đó vẫn chưa tìm được một công việc làm báo nào ở Việt Nam hoặc Trung Quốc. Tôi viết "cậu ấy cuối cùng đã gục ngã, về thể chất cũng như tinh thần, trước sự căng thẳng, đau đớn của vài năm qua mà cậu ấy phải đôi mặt phần lớn là một cách đơn độc". Những người bạn lý trí và thân thiết của Frank cứ tưởng rằng đem cuộc sống bề ngoài của cậu ấy trở lại bình thường sẽ làm dịu đi những dằn vặt bên trong. Nhưng đúng như điều tôi học được vào cái ngày khủng khiếp đó, sự sầu thảm khi trỗi dậy sẽ trả thù bằng cách vượt trên suy nghĩ lý trí. Đó là một căn bệnh mà khi đã trầm trọng thì sẽ thoát khỏi mọi nỗ lực chia sẻ của vợ chồng, con cái, người tình và bè bạn. Tôi nghĩ mình cũng không thực sự hiểu được nó cho đến khi đọc cuốn sách Darkness Visible: A Memoir of Madness - Nhìn vào tăm tôi: Một ký ức về bệnh điên của bạn tôi Bill Styron viết về cuộc chiến của anh ấy với căn bệnh trầm cảm và những ý nghĩ tự sát. Khi Frank tự tử, tôi vừa đau khổ vừa giận - giận anh ấy vì đã làm như vậy, và giận mình vì đã không thấy trước được nó và không thúc ép anh ấy đi chữa trị. Tôi ước sao lúc ấy biết được những gì tôi đã biết bây giờ, dù có lẽ như thế cũng chẳng làm được gì hơn.

        Sau cái chết của Frank, tôi mất đi sự lạc quan thường có cũng như hứng thú học hành, mối quan tâm đối với chính trị và con người. Tôi không rõ tôi đã làm gì nếu không có Hillary. Khi chúng tôi mới yêu nhau, đôi khi cô ấy vẫn tự nghi ngờ bản thân, nhưng trước công chúng cô ấy mạnh mẽ đến mức theo tôi ngay cả bạn thân nhất của cô ấy cũng không biết gì. Việc cô ấy mở lòng với tôi chỉ làm mạnh thêm tình cảm của tôi với cô ấy. Bây giờ tôi cần cô ấy. Và cô ấy đã có mặt, nhắc tôi nhớ rằng những gì tôi học, làm và suy nghĩ đều có giá trị của nó.

        Vào học kỳ mùa xuân, tôi chán tất cả các môn trừ môn Chứng cứ do thầy Geoffrey Hazard dạy. Luật định cái gì được chấp nhận còn cái gì không được chấp nhận trong một phiên tòa công bằng cũng như quá trình đưa ra lập luận trung thực và có suy xét dựa trên các sự kiện có được cuốn hút tôi và tạo những ấn tượng dai dẳng. Tôi luôn cố gắng tranh luận về chứng cứ trong chính trị cũng như luật pháp.

        Môn Chứng cứ rất quan trọng trong hoạt động chính của tôi tại trường trong học kỳ đó: cuộc thi xử án thường niên của Luật sư đoàn. Ngày 28 tháng 3, Hillary và tôi hoàn tất vòng thi bán kết, trong đó bốn sinh viên và thêm hai dự khuyết được chọn tham dự phiên xử đầy đủ do một sinh viên năm thứ ba dựng. Chúng tôi làm tốt và cả hai đều vượt qua vòng này.

        Tháng tiếp theo chúng tôi chuẩn bị cho Phiên xử Tranh giải, Tiểu bang tranh kiện với Porter. Porter là một cảnh sát bị cáo buộc đánh chết một thiếu niên tóc dài. Ngày 29 tháng 4, Hillary và tôi giữ vai công tố truy tố Porter, với sự trợ giúp của cộng sự dự khuyết Bob Alsdorf. Luật sự bào chữa là Mike Conway và Tony Rood, với dự khuyết là Doug Eakeỉey. Thẩm phán là cựu thẩm phán Tòa án tối cao Abe Fortas. Ông đóng vai mình một cách nghiêm túc và vào vai rât thực, đưa ra các phán quyết và bác bỏ đối với hai bên nhưng trong khi đó vẫn đánh giá bốn chúng tôi xem ai sẽ thắng giải. Tại vòng bán kết tôi đã hùng biện trước công chúng tuyệt nhất trong sự nghiệp dạy tại trường Luật, còn trong kỳ xử tranh giải thì lại tồi tệ nhất. Ngày hôm ấy tôi bị sao đó và không xứng đáng giành giải. Ngược lại, Hillary thật xuất sắc. Mike Conway cũng vậy, cậu ấy phát biểu kết thúc phiên tòa thật hữu hiệu và đầy tình cảm. Fortas trao giải cho Conway. Lúc ấy tôi cho là Hillary không đoạt giải một phần vì ông Fortas khắc khổ không ưa cách ăn mặc không ra dáng công tố của Hillary. Cô ấy mặc áo khoác da lộn màu xanh, quần loe màu cam chói - chói thực sự - và áo sơmi ba màu cam, xanh và trắng. Hillary trở thành một luật sư tài năng, nhưng cô ấy không bao giờ mặc cái quần màu cam ấy đến tòa nữa.

        Ngoài Phiên xử Tranh giải, tôi tập trung bản năng cạnh tranh của mình vào chiến dịch tranh cử của McGovern. Hồi đầu năm, tôi dốc hết tiền trong tài khoản để mở một tổng hành dinh gần cơ sở trường. Tôi có đủ tiền, khoảng 200 đô, để trả tiền thuê nhà một tháng và đặt một đường điện thoại. Trong ba tuần, chúng tôi có được 800 tình nguyện viên và đủ tiền đóng góp để thanh toán lại cho tôi và giữ cho chỗ này mở cửa hoạt động.

        Các tình nguyện viên có vai trò quan trọng đối với chiến dịch bầu cử sơ bộ mà tôi cho là chúng tôi sẽ phải chống lại tổ chức của đảng Dân chủ và sếp của nó là Arthur Barbieri. Bốn năm trước, năm 1968, lực lượng của McCarthy làm ăn cũng khá trong kỳ bầu cử sơ bộ ở New Haven, một phần vì những ủng hộ viên thường trực của đảng Dân chủ coi thắng lợi của Phó tổng thống Humphrey là việc nghiễm nhiên. Tôi không ảo tưởng rằng Barbieri sẽ phạm phải sai lầm đó một lần nữa, nên quyết định sẽ thuyết phục ông ấy chấp thuận McGovern. Nếu nói việc này khó thì vẫn là còn nói quá nhẹ. Khi tôi bước vào văn phòng của ông ấy và tự giới thiệu, Barbieri tiếp đãi lịch sự nhưng rõ ràng là làm ăn rành mạch. Ông ta ngồi ngả người trên ghế, hai tay xếp trên ngực cho thấy hai chiếc nhân kim cương bự, một chiếc tròn và gắn đầy đá quý, chiếc kia có ghi chữ viết tắt tên ông ta, AB, và đầy kim cương. Ông ta mỉm cười và bảo tôi rằng năm 1972 sẽ không phải là sự tái diễn của năm 1968, và rằng ông ta đã chuẩn bị sẵn nhân sự cũng như xe buýt để chở cử tri đi bầu. Ông ta bảo đã bỏ ra 50 ngàn đô cho việc ấy, đó là món tiền khổng lồ vào thời đó cho một thành phố cỡ như New Haven. Tôi đáp rằng tôi không có nhiều tiền, nhưng tôi có 800 tình nguyện viên có thể đi gõ cửa từng nhà trong khu cứ địa của ông ấy và nói với từng bà mẹ gốc Ý rằng Arthur Barbieri muốn tiếp tục gửi con trai họ sang đánh nhau và chết ở Việt Nam. "Ông đâu có cần đến mấy sự đau khổ đó", tôi nói. "Tại sao ông phải quan tâm ai được đề cử? Ông cứ chấp thuận McGovern đi. Ông ấy là anh hùng trong Thế chiến hai. Ông ấy có thể dàn xếp hòa bình và ông thì vẫn tiếp tục kiểm soát New Haven". Barbieri nghe xong và trả lời. "Này nhóc, cậu cũng không đến nỗi đần. Tôi sẽ suy nghĩ thêm. Mười ngày nữa quay lại đây gặp tôi". Khi tôi trở lại, Barbieri nói: "Tôi đã suy nghĩ rồi. Tôi nghĩ Thượng nghị sĩ McGovern là người tốt và chúng ta cần phải rút khỏi Việt Nam. Tôi sẽ nói mấy người của tôi về việc chúng ta sắp làm, và cậu phải đến đó để thuyết phục họ".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Chín, 2015, 06:52:24 AM
        Vài ngày sau, tôi dẫn Hillary đến cuộc gặp lạ thường với các lãnh đạo đảng của Barbieri tại một cậu lạc bộ Melebus của dân Ý nằm ở tầng hầm một tòa nhà cũ ở trung tâm thành phố. Trang trí toàn là màu đỏ và đen. Nơi ấy rất tôi tăm, đầy tính chủng tộc và không hợp với McGovern tí nào. Khi Barbieri bảo người của ông ta rằng họ sẽ ủng hộ McGovern để sao cho không còn chú nhóc nào của New Haven phải chết ở Việt Nam nữa, trong cử tọa có nhiều tiếng thốt lên ngạc nhiên. "Arthur ơi, lão ấy cũng gần như cộng sản vậy", một người bật nói lên. Người khác thì nói: "Arthur, lão ấy nói chuyện nghe như pêđê ấy", ám chỉ đến giọng mũi vùng High Plains của ông thượng nghị sĩ. Barbieri không hề rung động. Ông ta giới thiệu tôi, kể cho người của ông ta về 800 tình nguyện viên của tôi, và để tôi nói, chủ yếu về thành tích chiến đâu của McGovern và công việc của ông ấy dưới thời Kennedy. Đến khi buổi tối kết thúc thì họ cũng chấp thuận.

        Tôi sướng rơn. Trong toàn bộ quá trình bầu cử sơ bộ, Arthur Barbieri và Matty Troy của khu Queens ở New York là hai sếp Dân chủ kiểu xưa duy nhất ủng hộ McGovern. Không phải tất cả trong chúng tôi đều hài lòng. Sau khi người ta công bố châp thuận McGovern, đang đêm tôi nhận được một cú diện thoại giận dữ của hai ủng hộ viên cốt cán ở Trumbull mà tôi từng làm việc chung trong chiến dịch của Duffey. Họ không thể tin được rằng tôi đã bất chấp tinh thần của chiến dịch bằng một thỏa hiệp bất chính như vậy. "Xin lỗi nhé", tôi hét vào điện thoại, "tôi tưởng mục tiêu của chúng ta là chiến thắng cơ mà", và cúp máy. Barbieri hóa ra biết giữ lời và hiệu quả. Tại đại hội đảng Dân chủ, Thượng nghị sĩ McGovern đạt năm trong số sáu phiếu của quận nghị viện (khu vực bầu cử quốc hội - ND) trong lần bầu đầu tiên. Trong lần bỏ phiếu tháng 11, New Haven là thành phố duy nhất trong bang Connecticut ủng hộ ông. Barbieri thật giỏi y như lời ông ta nói. Khi tôi làm tổng thống, tôi dò tìm ông ấy. Lúc đó ông đã rất yếu và rời bỏ chính trị từ lâu. Tôi mời ông ấy đến Nhà Trắng, và chúng tôi gặp nhau trong Phòng Bầu dục không lâu trước khi ông mất. Barbieri là loại người mà James Carville gọi là "người trung kiên". Trong chính trị, thật không còn gì tốt hơn thế.

        Rõ ràng là công việc của tôi ở Connecticut đã làm hình ảnh tôi tốt lên trong mắt của những người điều hành chiến dịch của McGovern. Tôi được yêu cầu tham gia đội ngũ toàn quốc và làm việc trong kỳ Đại hội toàn quốc đảng Dân chủ ở Miami Beach, tập trung vào đoàn đại biểu Nam Carolina và Arkansas.

        Trong khi đó, Hillary đã tới Washington để làm cho Marian Wright Edelman thuộc Dự án Nghiên cứu Washington, một nhóm hoạt động vì trẻ em mà không lâu sau được đổi tên là Quỹ Bảo vệ trẻ em. Việc của cô ấy là điều tra tất cả các học viện thuần da trắng hình thành để đáp lại lệnh tòa án buộc phải mở cửa trường công lập cho học sinh đa chủng tộc. Ở miền Bắc, các bậc phụ huynh da trắng nếu không muốn gửi con đến học ở các trường nội đô có thể chuyển ra ngoại ô. Ở những thị trấn nhỏ miền Nam thì không được như thê - ngoại ô thị trấn toàn là đồng chăn thả và ruộng đậu. Vân đề là chính quyền Nixon không chế tài luật cấm các học viện như vậy được xin miễn thuế, một động thái chỉ khuyên khích thêm những người da trắng miền Nam rời bỏ trường công lập.

        Tôi bắt đầu công việc của mình cho McGovern ở Washington, đầu tiên ghé thăm Lee Williams và các bạn khác trong số nhân viên của Thượng nghị sĩ Fulbright, sau đó đến gặp Dân biểu Wilbur Mills, ông chủ tịch đầy quyền hành của ủy ban tài chính và Thuế khóa của hạ viện. Mills, người là huyền thoại ở Washington vì hiểu biết chi tiết của mình về luật thuế cũng như kỹ năng điều hành ủy ban, đã tuyên bố rằng ông sẽ trở thành ứng viên "con cưng" của Arkan¬sas tại đại hội ở Miami. Những ứng viên như vậy thường được đưa ra nhằm ngăn không cho đoàn đại biểu của một tiểu bang nào đó bỏ phiếu cho ứng viên ứng cử chính, dù hồi đó ứng viên con cưng thỉnh thoảng vẫn hy vọng điều kỳ lạ sẽ xảy ra và anh ta ít ra vẫn có thể đứng được vào liên danh với tư cách ứng viên phó tổng thống. Trong trường hợp của Mills, việc ông ta ra tranh cử phục vụ cho cả hai mục đích. Những người Dân chủ ở Arkansas nghĩ rằng McGovern, người kém xa về số lượng đại biểu ủng hộ, chắc chắn sẽ bị đánh bại thảm hại tại quê nhà trong cuộc tổng tuyển cử, còn Mills cho rằng mình có thể trở thành một tổng thống tốt hơn. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra thân tình. Tôi nói với chủ tịch Mills rằng tôi trông đợi các đại biểu trung thành với ông ấy nhưng tôi sẽ cố đạt được sự ủng hộ của họ trong các lá phiếu quy trình quan trọng và trong cuộc bỏ phiếu thứ nhì nếu thượng nghị sĩ cần thêm một lần bỏ phiếu nữa.

        Sau khi gặp ông Mills tôi bay đến Columbia, Nam Carolina, để gặp càng nhiều đại biểu đại hội ở đó càng tốt. Nhiều người thông cảm với McGovern, và tôi cho rằng họ sẽ giúp chúng tôi trong những lần bầu quan trọng, dù tư cách đại biểu của họ còn có thể bị xem xét lại trên cơ sở rằng đoàn đại biểu không mang tính đa dạng về chủng tộc, giới tính và độ tuổi mà các quy định mới do ủy ban McGovern đòi hỏi.

        Trước Miami, tôi còn dự đại hội đảng Dân chủ Arkansas ở Hot Springs để lấy lòng các đại biểu của thành phố quê nhà mình. Tôi biết Thống đốc Bumpers, người sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu tới Miami, cho rằng McGovern sẽ làm tổn hại đến phe Dân chủ ở Arkansas, nhưng ở Nam Carolina lại có nhiều đại biểu chống chiến tranh và ủng hộ McGovern. Tôi đi Miami trong tâm trạng khá phấn khởi với cả hai đoàn đại biểu mình được giao.

        Tại đại hội vào giữa tháng 7, các ứng viên chính đặt tổng hành dinh ở các khách sạn quanh Miami và Miami Beach, nhưng công Vlệc điều hành được chỉ huy từ các toa xe kéo bên ngoài Trung tâm Đại hội. Toa xe kéo của McGovern do Gary Hart, quản lý chiến dịch tranh cử toàn quốc, coi sóc, với Frank Mankiewicz làm giám đốc chính trị và phát ngôn viên, còn bạn tôi Rick Steams làm giám đốc phụ trách nghiên cứu và điều hành nhóm họp kín của tiểu bang. Rick thông thạo các quy định hơn bất cứ ai khác. Những ai trong số chúng tôi phụ trách các đoàn đại biểu thì có mặt ở khu vực đại hội nhận chỉ thị từ toa xe kéo. Chiến dịch của McGovern đã đi được một chặng đường dài, nhờ vào một loạt các tình nguyên viên nhiệt tình, tài lãnh đạo của Hart, khả năng đối phó với báo chí của Mankiewicz và các chiến lược của Stearns. Với sự trợ giúp này, McGovern đã chiến thắng và vượt phiếu trước các chính khách kỳ cựu hơn hoặc được lòng người hơn, hoặc cả hai: Hubert Humphrey; Ed Muskie; Thị trưởng New York John Lindsay, người đã đổi từ đảng này sang đảng kia để ra tranh cử; Thượng nghị sĩ Henry Jackson của bang Washington; và George Wallace, người bị liệt vì một viên đạn ám sát trong chiến dịch tranh cử. Nữ dân biểu Shirley Chisholm của New York cũng ra tranh cử, trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên làm như vậy.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2015, 05:49:21 AM
        Chúng tôi nghĩ McGovern có đủ phiếu để thắng trong lần bỏ phiếu đầu nếu ông ấy có thể vô hiệu hóa được thách thức từ đoàn California. Quy định mới của ủy ban McGovern đòi hỏi mỗi bang phải có bầu cử sơ bộ để định ra thành phần đại biểu với tỷ lệ càng tương ứng càng tốt với tỷ lệ số phiếu từng ứng viên một có được. Tuy nhiên, California vẫn còn giữ hệ thống "được ăn cả" và khẳng định quyền được giữ hệ thống này vì cho đến lúc diễn ra đại hội thì lập pháp tiểu bang chưa thay đổi luật bỏ phiếu. Thật trớ trêu là McGovern lại ủng hộ hệ thống của California hơn quy định của chính ông ấy vì ông đã thắng cuộc bầu sơ bộ với 44% phiếu nhưng nhờ thế mà đạt được cả 271 đại biểu của bang này cam kết bỏ phiếu cho ông trong đại hội. Các nhóm chống McGovern gọi ông ấy là tên đạo đức giả và rằng đại hội chỉ nên cho phép 44%, tức 120 đại biểu, cam kết bầu cho ông ấy, còn 151 đại biểu còn lại của đoàn vẫn cam kết bầu cho các ứng viên mà họ ủng hộ tương ứng với tỷ lệ phiếu bầu trong cuộc bầu sơ bộ ở California, ủy ban Tư cách đại biểu của đại hội thì theo phe chống McGovern và bỏ phiếu giữ nguyên thách thức của đoàn California, tức là chỉ cho 120 đại biểu của ông ấy vào dự, làm lung lay khả năng chiến thắng chỉ sau lần bỏ phiếu đầu của ông.

        Các quyết định của ủy ban Tư cách đại biểu vẫn có thể bị đảo ngược nếu đa số đại biểu đại hội muốn. Lực lượng của McGovern muốn làm như vậy với đoàn California. Đoàn Nam Carolina cũng vậy, đoàn này cũng có nguy cơ mất phiếu bầu vì vi phạm quy định của McGovern: chỉ có 25% đại biểu là phụ nữ chứ không phải một nửa như quy định. McGovern về danh nghĩa phải chống lại quan điểm của đoàn Nam Carolina vì sự thiếu đại diện đó.

        Những diễn biến tiếp theo thật phức tạp và không đáng để kể chi tiết. Đại thể là Rick Stearns quyết định rằng chúng tôi phải hy sinh phiếu của Nam Carolina, buộc đối thủ của chúng tôi vào một quy định về thể lệ có lợi cho chúng tôi; và sau đó chúng tôi sẽ thắng được phiếu bầu của đoàn California. Đối sách này đã thành công. Đoàn đại biểu Nam Carolina được vào dự với thành phần như địch thủ muốn, và họ bắt đầu ngửi thấy mùi chiến thắng. Nhưng đến khi họ hiểu ra là đã bị gạt thì đã quá muộn; chúng tôi đoạt được cả 271 đại biểu và tóm được đề cử. Thách thức California có lẽ là ví dụ tốt nhất của môn jujitsu (nhu thuật) chính trị tại một kỳ đại hội đảng kể từ khi các cuộc bầu cử sơ bộ trở thành phương thức phổ biến trong việc chọn đại biểu. Như tôi đã nói, Rick Steams là một thiên tài về luật lệ. Tôi thấy phấn chấn. Bây giờ McGovern gần như đã được đảm bảo một chiến thắng sau lần bỏ phiếu đầu, và mấy đại biểu của Nam Carolina mà tôi đã bắt đầu rất thích, có thể tiếp tục ở lại.

        Thế nhưng từ đấy trở đi mọi việc bắt đầu xuống dốc. McGovern bước vào kỳ đại hội vẫn còn thua xa nhưng vẫn nằm trong khoảng chênh lệch có thể đuổi kịp Tổng thống Nixon trong các cuộc trưng cầu, và chúng tôi mong đợi sẽ đạt thêm năm hoặc sáu điểm trong tuân nhờ vào nhiều ngày xuất hiện liên tục trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, để đạt được sự hồi phục đó cần có sự kiểm soát một cách có kỷ luật các sự kiện mà phe chúng tôi đã thể hiện trong vụ thách thức các đoàn đại biểu. Không biết vì lý do gì, tinh thần ấy đã bốc hơi sau đó. Đầu tiên, một nhóm ủng hộ quyền của giới đồng tính tổ chức biểu tình ngồi tại khách sạn của McGovern và từ chối không chịu giải tán cho đến khi nào McGovern chịu ra gặp họ. Khi ông ấy ra gặp, giới truyền thông và phe Cộng hòa mô tả việc ấy như một. sự sụp đổ làm cho ông ấy có vẻ yếu đuối và quá cấp tiến. Sau đó, vào chiều thứ năm, sau khi ông ấy chọn Thượng nghị sĩ Tom Eagleton của bang Missouri làm người đứng chung liên danh, McGovern cho phép một số cái tên khác được đưa ra đề cử chống lại ông trong cuộc bỏ phiếu ngay buổi tối. Sáu người nữa tham gia cuộc đua, với đầy đủ diễn văn đề cử và một cuộc bỏ phiếu kiểu điểm danh dài dòng. Dù chiến thắng của Eagleton là một kết cục được báo trước, sáu người kia cũng được một ít phiếu. Roger Mudd của truyền hình CBS News cũng vậy, và cả nhân vật truyền hình Archie Bunker lẫn Mao Trạch Đông nữa. Thật là một thảm họa. Việc làm vô ích đó đã chiếm hết "giờ vàng" trên truyền hình khi mà gần 18 triệu gia đình theo dõi đại hội. Các sự kiện truyền thông dự kiến - bài nói của Thượng nghị sĩ Edward Kennedy đề cử McGovern cũng như bài đáp từ chấp nhận của người được đề cử - bị đẩy xuống sáng sớm. Thượng nghị sĩ Kennedy là một nhà vô địch và diễn thuyết một bài đầy cảm hứng. Bài nói của McGovern cũng hay. Ông ấy kêu gọi nước Mỹ "hãy quay về... từ bỏ sự lừa dối trên những bục cao nhất... rời bỏ những bàn tay vô công uổng phí... từ bỏ định kiến. Hãy quay về với sự khẳng định rằng chúng ta có một giấc mơ... về với quan niệm rằng chúng ta có thể đưa nước mình tiến lên... về với niềm tin rằng chúng ta có thể kiếm tìm một thế giới mới hơn nữa". Vấn đề nằm ở chỗ McGovern bắt đầu nói vào lúc 2 giờ 48 phút sáng, hay là "giờ vàng ở Samoa" như người pha trò Mark Russell ví von. Ông ấy mất đi đến 80% công chúng xem tivi của mình.

        Và dường như như thế là chưa đủ, người ta lại công bố Eagleton từng phải đi điều trị, trong đó có cả bằng liệu pháp điện giật, để chữa chứng trầm cảm. Thật không may, lúc bấy giờ sự kém hiểu biết về bản chất và tầm mức của các rắc rối tinh thần còn rất nhiều, cũng như ít ai biết rằng các tổng thống trước, có cả Lincoln và Wilson, đều từng thỉnh thoảng bị trầm cảm. Ý tưởng Eagleton sẽ là người đứng ngay sau McGovern nếu ông ấy được bầu làm tổng thống làm nhiều người bất an, và lại càng bất an hơn khi Eagleton không báo cho McGovern về bệnh trạng của mình. Nếu McGovern mà biết trước và vẫn chọn ông ta thì có thể chúng tôi đã tiến bộ hơn trong việc làm cho công chúng hiểu biết về sức khỏe tinh thần, nhưng cách thức mà vụ việc vỡ lở đặt ra các nghi ngờ không chỉ đối với khả năng suy xét của McGovern mà còn về năng lực của ông nữa. Hoạt động chiến dịch một cách tự phụ của chúng tôi thậm chí còn không bàn trước việc chọn lựa Eagleton với thống đốc phe Dân chủ của bang Missouri là Warren Hearnes, người biết về chuyện bệnh tình sức khỏe tinh thần đó.

        Trong vòng một tuần sau đại hội ở Miami, chúng tôi lâm vào tình trạng còn tệ hại hơn khi đảng Dân chủ rời Chicago bốn năm trước, vừa mang vẻ quá cấp tiến lại vừa quá lạc lõng. Sau khi chuyên Eagleton vỡ lở, McGovern ban đầu nói rằng ông ấy sát cánh với người chung liên danh "một ngàn phần trăm". Vài ngày sau, dưới sức ép dữ dội của chính các ủng hộ viên của mình, ông ấy bỏ rơi Eagleton. Thế là phải đến tuần thứ hai của tháng 8 mới tìm được người thay thế. Sargent Shriver, em rể của Tổng thống Kennedy, đã nhận lời sau khi Ted Kennedy, Thượng nghị sĩ Abe Ribicoff bang Connecticut, Thống đốc bang Florida Reubin Askew, Hubert Humphrey, và Thượng nghị sĩ Ed Muskie, tất cả đều từ chối không đứng chung liên danh. Tôi thì tin rằng phần lớn người Mỹ sẽ bỏ phiếu cho một ứng viên ủng hộ hòa bình, tiến bộ nhưng không quá cấp tiến, và trước đại hội Miami chúng tôi tưởng rằng chúng tôi có thể thuyết phục mọi người bỏ cho McGovern. Bây giờ thì chúng tôi lại phải làm lại từ đầu. Sau kỳ đại hội, tôi đi Washington để gặp Hillary, kiệt sức đến mức tôi ngủ một mạch 24 tiếng liền.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Chín, 2015, 06:16:16 AM
        Vài ngày sau, tôi dọn đồ đạc đi Texas để điều phối chiến dịch tổng tuyển cử tại đây. Tôi biết sẽ khó khăn khi tôi bay từ Washing¬ton đến Arkansas để đi tiếp bằng xe hơi. Tôi ngồi cạnh một thanh niên quê ở Jackson, Mississippi, anh ta hỏi tôi đang làm gì. Khi tôi kê chuyện, anh ta suýt nữa hét lên: "Anh là người da trắng duy nhất
gặp mà ủng hộ McGovern!". Sau này, lúc tôi đang ở nhà xem John Dean làm chứng về những sai phạm của Nhà Trắng thời Nixon trươc Uy ban Watergate của Thượng nghị sĩ Sam Ervin thì điện thoại reo. Người thanh niên tôi gặp trên máy bay gọi. Anh ta nói, "Tôi chỉ gọi để anh có dịp nói "thây chưa, tôi đã bảo mà'". Tôi không liên lạc gì thêm với anh ta nữa, nhưng tôi vẫn cảm kích vì cuộc điện thoại đó. Thật kỳ lạ là quan điểm của công chúng thay đổi khác xa như thế nào chỉ trong hai năm khi vụ Watergate lộ tẩy.

        Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1972, chỉ có ai dại mới đi Texas, dù cũng khá lý thú. Bắt đầu với John Kennedy năm 1960, các chiến dịch tranh cử tổng thống của đảng Dân chủ thường giao cho người ở tiểu bang khác giám sát các chiến dịch vận động quan trọng theo lý thuyết rằng những người này có thể đoàn kết được các phe cánh đối lập nhau lại và đảm bảo rằng tất cả các quyết định được đưa ra đặt quyền lợi ứng cử viên lên trước chứ không phải là những ưu tư thiển cận. Cho dù lý thuyết là gì thì trên thực tế, người ngoài bang có thể tạo ra sự ganh ghét giữa tất cả các bên, đặc biệt là trong một chiến dịch khốn đốn như của McGovern, trong một môi trường manh mún và dễ bất hòa như ở Texas.

        Chiến dịch vận động quyết định gửi hai người chúng tôi đến Texas, tôi và Taylor Branch, người mà, như tôi đã nói, tôi gặp lần đầu ở Vườn nho Martha năm 1969. Nhằm đảm bảo an toàn, chiến dịch chỉ định một luật sư trẻ thành đạt ở Houston, Julius Glickman, làm thành viên thứ ba trong tam chế của chúng tôi. Vì Taylor và tôi đều là người miền Nam và không ngại phối hợp, tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể làm nên trò trống ở Texas. Chúng tôi thiết lập tổng hành dinh trên phố West Sixth tại Austin, cách không xa tòa nhà lập pháp tiểu bang, và ở chung với nhau trong một căn hộ trên đồi đôi diện sông Colorado. Taylor điều hành hoạt động của tổng hành dinh và kiểm soát ngân sách. Chúng tôi không có nhiều tiền, nên thật may là anh ấy cũng khá tằn tiện, và giỏi từ chối mọi người hơn tôi. Tôi làm việc với các tổ chức của hạt, còn Julius huy động sự ủng hộ của các nhân vật Texas mà anh ấy biết, và chúng tôi có một đội ngũ nhân viên trẻ và nhiệt tình. Ba người trong số này trở thành những người bạn đặc biệt thân thiết với tôi và Hillary: Garry Mauro, sau này trở thành ủy viên Đất đai của Texas và đóng vai trò dẫn dắt trong chiến dịch tranh cử tổng thống của tôi; Roy Spence và Judy Trabulsi, người lập ra một công ty quảng cáo sau này trở thành công ty lớn nhât ở Mỹ ngoại trừ thành phố New York. Garry, Roy và Judy sau này ủng hộ tôi và Hillary trong tất cả các chiến dịch của chúng tôi.

        Người Texas có ảnh hưởng lớn nhất đến sự nghiệp của tôi là Betsey Wright, con gái của một bác sĩ quê ở Alpine, một thị trấn nhỏ ở tây Texas. Chị ấy chỉ hơn tôi vài tuổi nhưng kinh nghiệm hơn hẳn trong chính trị cơ sở, từng làm việc cho đảng Dân chủ tiểu bang và tổ chức Common Cause. Chị ấy thông minh, quyết liệt, trung thành, và có lương tâm đến mức gần như bị coi là một nhược điểm. Và chị ấy là người duy nhất tôi từng gặp say mê và bị cuốn hút bởi chính trị hơn tôi. Khác với một số đồng nghiệp kém kinh nghiêm hơn, chị ấy biết rằng chúng tôi thế nào cũng đầu tắt mặt tối, nhưng vẫn làm việc một ngày 18 tiếng. Sau khi tôi thất bại trong cuộc tranh cử thống đốc năm 1980, Hillary đề nghị Betsey đến Little Rock giúp chúng tôi tổ chức lại hồ sơ để chuẩn bị tiếp tục trở lại chính trường. Chị ấy đến giúp, và ở lại để điều hành chiến dịch tranh cử thành công của tôi năm 1982. Sau đó, Betsey làm chánh văn phòng thống đốc. Năm 1992, chị ấy đóng vai trò bản lề trong chiến dịch tranh cử tổng thống, bảo vệ tôi và thanh danh tôi khỏi vô số những cú đánh nhắm vào đời sống cá nhân cũng như chính trị của tôi với một kỹ năng và sức mạnh mà không một ai khác có thể thuần thục và duy trì được. Không có Betsey Wright, tôi đã không thể trở thành tổng thống được.

        Tôi ở Texas một vài tuần thì Hillary đến với tôi và tham gia chiến dịch, được Anne Wexler mướn để đăng ký cử tri cho đảng Dân chủ. Cô ấy hoà đồng dễ dàng với các nhân viên còn lại, và làm sáng lên những ngày khó khăn nhất của tôi.

        Chiến dịch vận động ở Texas khởi đầu khó khăn, phần lớn là do thảm họa với Eagleton, nhưng cũng do nhiều người phe Dân chủ tại chỗ không muốn dính đến McGovern. Thượng nghị sĩ Lloyd Bentsen, người trước đó hai năm từng đánh bại Thượng nghị sĩ Ralph Yarborough cấp tiến sục sôi, từ chối không chịu làm chủ tịch chiến dịch. Ứng viên thống đốc Dolph Briscoe, một chủ trại miền nam Texas nhiều năm sau này trở thành bạn và ủng hộ viên của tôi, thậm chí còn không muốn xuất hiện nơi công cộng với ứng viên của chúng tôi. Cựu thống đôc John Connally, người đi cùng xe với Tổng thống Kennedy khi ông này bị giết trước đó chín năm và là đồng minh thân cận của Tổng thống Johnson, thì lãnh đạo một nhóm có tên là những người Dân chủ ủng hộ Nixon.

        Dù vậy, Texas quá lớn nên không dễ gì bỏ qua, và Humphrey bốn năm trước từng thắng ở đây, dù chỉ bằng chênh lệch 38 ngàn phiếu. Cuối cùng, hai quan chức dân cử tiểu bang đồng ý cùng làm đồng chủ tịch chiến dịch, đó là ủy viên Nông nghiệp John White và ủy viên Đất đai Bob Armstrong. Ông White, một đảng viên Dân chủ Texas kiểu cũ, biết rằng chúng tôi không thể thắng nhưng vẫn muốn liên danh Dân chủ cố gắng hết sức ở Texas. John sau này trở thành chủ tịch ủy ban toàn quốc của đảng Dân chủ. Bob Armstrong là một người bảo vệ môi trường tích cực ưa chơi đàn ghita và chơi với chúng tôi trong sân bowling địa phương Vườn bia Scholtz, hoặc ở Thính phòng Armadillo, nơi ông dắt tôi và Hillary đến xem Jerry Jeff Walker và Willie Nelson hát.

        Tôi nghĩ mọi sự có vẻ sáng sủa vào cuối tháng 8, khi Thượng nghị sĩ McGovern và Sargent Shriver chuẩn bị đến Texas để gặp Tổng thống Johnson. Shriver là người dễ ưa với tính cách vui vẻ mang lại sức sống và sức nặng cho liên danh tranh cử. Ông là sáng lập viên của tập đoàn Dịch vụ Pháp lý, trợ giúp pháp lý cho người nghèo, từng là giám đốc Tổ chức thiện nguyện hòa bình đầu tiên dưới thời Kennedy, và là giám đốc đầu tiên của chương trình Cuộc chiến chống Nghèo nàn của Tổng thống Johnson.
Cuộc gặp giữa McGovern và Shriver với Tổng thống Johnson diễn ra khá suôn sẻ nhưng đem lại ít lợi ích chính trị vì Johnson cương quyết không cho phép báo chí tham dự vì trước cuộc gặp vài ngày đã đưa ra tuyên bố ủng hộ McGovern trên một tờ báo địa phương. Điều chính yếu tôi đạt được từ việc này là một bức ảnh của Tổng thống Johnson mà ông ấy ký tên vào khi Taylor đến trang trại của Johnson vài ngày trước cuộc gặp để làm nốt công việc chuẩn bị. Có lẽ vì chúng tôi là những người miền Nam ủng hộ dân quyền nên Taylor và tôi thích Johnson nhiều hơn là những nhân viên khác trong chiến dịch của McGovern.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Chín, 2015, 06:27:44 AM
        Sau cuộc gặp, McGovern quay về phòng khách sạn của ông ở Austin để gặp một số ủng hộ viên quan trọng của ông ấy và nhân viên. Người ta phàn nàn nhiều về những chuyện lộn xộn trong chiến dịch tranh cử. Chiến dịch này đúng là tổ chức kém. Taylor và tôi chưa tham gia đủ lâu để có thể tự làm quen chứ chưa nói đến tao ra hoạt động trơn tru, và khối cơ sở cấp tiến của chúng tôi bị mất tinh thần sau khi ứng cử viên của khối là Sissy Farenthold thua tơi tả trong cuộc bầu cử sơ bộ tranh chức thống đốc trước Dolph Briscoe. Vì lý do gì đó, quan chức tiểu bang cao cấp nhất ủng hộ McGovern là Ngoại trưởng tiểu bang Bob Bullock thậm chí còn không được mời đến gặp ông ấy. McGovern viết thư xin lỗi ông, nhưng toàn bộ vụ việc này là một sơ sót lớn.

        Không lâu sau khi McGovern rời Texas, chiến dịch vận động quyết định rằng chúng tôi cần có người lớn giám sát nên họ gửi xuống một ông gốc Ireland tóc bạc quê ở Sioux City, Iowa, tên Don O'Brien, người từng hoạt động tích cực trong chiến dịch của John Kennedy và làm công tô viên Hoa Kỳ dưới quyền Robert Kennedy. Tôi rất thích Don O'Brien nhưng ông ấy là người theo chủ nghĩa sô- vanh kiểu xứa, hay làm phụ nữ trẻ độc lập khó chịu. Thế nhưng chúng tôi vẫn hoạt động thành công, và tôi thấy nhẹ nhõm vì bây giờ tôi có thể dành nhiều thời gian đi đây đi đó hơn. Đó là những ngày tốt đẹp nhất của tôi ở Texas.

        Tôi đi lên phía bắc tới Waco, nơi tôi gặp ông trùm bảo hiểm có đầu óc cấp tiến và là ủng hộ viên tương lai của tôi, Bernard Rapoport; qua phía đông đến Dallas gặp Jess Hay, một doanh nhân tầm trung nhưng rất trung thành với phe Dân chủ mà sau này là bạn và ủng hộ viên của tôi, gặp thêm Thượng nghị sĩ da đen Eddie Bernice Johnson, người trở thành một trong những đồng minh mạnh mẽ nhất của tôi trong quốc hội khi tôi được bầu làm tổng thống; sau đó tới Houston, nơi tôi gặp và quyến luyến với mẹ đỡ đầu của những người cấp tiến Texas, Billie Carr, một phụ nữ to lớn và nói giọng khàn làm tôi nhớ đến mẹ mình. Billie che chở cho tôi và không bao giờ bỏ rơi tôi cho đến ngày bà ấy mất, ngay cả khi tôi làm bà thất Vọng vì tôi không cấp tiến như bà.
Tôi liên lạc nhiều lần đầu tiên với người Mỹ gốc Mexico, hồi đó thường được gọi là Chicano, và bắt đầu yêu thích tinh thần, văn hóa và cả thức ăn của họ. Ở San Antonio, tôi phát hiện ra tiệm Mario and Mi Tierra, nơi có lần tôi ăn ba bữa trong vòng 18 tiếng.

        Tôi hoạt động ở nam Texas cùng với Franklin Garcia, một nhà tổ chức lao công cứng cỏi nhưng có trái tim dịu dàng, và bạn của anh ấy là Pat Robards. Một đêm Franklin và Pat chở Hillary và tôi xuyên Rio Grande tới Matamoros, Mexico. Họ rủ chúng tôi vào quán có một ban nhạc, một cô vũ nữ thoát y uể oải, và một thực đơn có món cabrito, tức đầu dê nướng. Tôi mệt đến mức lăn ra ngủ trong khi cô vũ nữ thoát y vẫn múa còn cái đầu dê nướng thì ngẩng lên nhìn tôi.

        Một hôm khi đang lái xe một mình ở miền quê nam Texas, tôi dừng lại trạm đổ xăng và bắt chuyện với một thanh niên gốc Mexico đang bơm xăng vào xe tôi và đề nghị anh ta bỏ phiếu cho McGovern. "Tôi không thể", anh ta nói. Khi tôi hỏi tại sao, anh ta đáp, "Vì Eagleton. Lẽ ra McGovern không nên bỏ rơi ông ấy. Nhiều người có tật xấu rắc rối chứ, nhưng anh phải trung thành với bạn của anh". Tôi không bao giờ quên lời khuyên khôn ngoan của anh ấy. Khi tôi làm tổng thống, những người Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha biết tôi cố gắng làm bạn của họ, và họ trung thành với tôi.

        Trong tuần cuối của chiến dịch, dù mọi thứ coi như đã mất, tôi vẫn có hai kỷ niệm đáng nhớ. Dân biểu Henry B. Gonzales đãi Tiệc Dân chủ hạt Bexar ở khách sạn Menger, San Antonio, gần pháo đài Alamo, nơi mà hơn 200 người Texas dưới quyền Jim Bowie và Davy Crockett hy sinh trong chiến đấu cho nền độc lập của Texas khỏi Mexico. Hơn 60 năm sau, Teddy Roosevelt từng trú tại khách sạn Menger khi huấn luyện nhóm Kỵ sĩ phiêu lưu chuẩn bị cho trận đánh anh hùng trên đồi San Juan ở Cuba. Khách sạn Menger có món kem xoài rất ngon mà tôi ghiền. Vào đêm bầu cử năm 1992, khi chúng tôi dừng ở San Antonio, nhân viên của tôi mua 400 đôla kem, và tất cả mọi người trên máy bay đi lại khi tranh cử ăn kem cả đêm.

        Diễn giả tại bữa tiệc tối là lãnh tụ đa số trong hạ viện - Hale Boggs của bang Louisiana. Ông ấy đọc một bài diễn văn tha thiết ủng hộ McGovern và phe Dân chủ. Sáng hôm sau tôi đánh thức ông dậy để ông kịp lên máy bay đến Alaska, nơi ông ấy có lịch đi vận động tranh cử cùng dân biểu Nick Begich. Hôm sau, khi đang bay ngoằn ngoèo giữa các đỉnh núi tuyết phủ, máy bay của họ bị rơi mất dấu tích. Tôi ngưỡng mộ Hale Boggs và ước gì chúng tôi ngủ quên ngày hôm đó. Ông ấy để lại một gia đình đáng kể. Vợ ông, Lindy, một phụ nữ đáng yêu và là một chính khách hạng nhất, tiếp quản ghế hạ nghị sĩ New Orleans của chồng và là một trong những người ủng hộ tôi mạnh mẽ nhất ở Louisiana. Tôi bổ nhiệm bà làm đại sứ Hoa Kỳ tại Vatican.

        Sự kiện đáng nhớ thứ hai diễn ra trong chuyến thăm cuối của Sargent Shriver đến Texas. Chúng tôi có một cuộc tập hợp lớn ở McAllen, nằm sâu trong miền nam Texas, và vội vã quay về sân bay vừa kịp giờ để bay đến Texarkana, nơi dân biểu Wright Patman đã quy tụ được một đám đông nhiều ngàn người trên đại lộ State Line, đường ranh giới giữa Arkansas và Texas. Vì lý do nào đó, máy bay của chúng tôi không cất cánh. Sau vài phút, chúng tôi được biết có một phi công điều khiển máy bay nhỏ một động cơ bị mất phương hướng trong sương mù trên bầu trời McAllen và đang bay vòng vòng trên sân bay, chờ được hướng dẫn đáp, mà lại bằng tiếng Tây Ban Nha. Thế là đầu tiên người ta phải tìm cho ra một phi công có khả năng chỉ dẫn và biết nói tiếng Tây Ban Nha, rồi phải trấn an người phi công kia và hướng dẫn hạ cánh. Trong khi tấn kịch này diễn ra, tôi ngồi đối diện Shriver và báo cáo cho ông ấy về chặng dừng chân ở Texarkana. Nếu chúng tôi có bất cứ nghi hoặc rằng chiến dịch này đầy vận rủi thì chuyện này đã làm cho chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Ông Shriver điềm đạm đón nhận sự việc và yêu cầu tiếp viên hàng không phục vụ bữa tối. Thế là chẳng mấy chốc đã có hai máy bay đầy nhân viên và báo giới ăn bíttết trên phi đạo McAllen. Khi chúng tôi đến Texarkana trễ đến hơn ba tiếng, đám đông đã giải tán, nhưng vẫn còn khoảng 200 ủng hộ viên cốt cán, trong đó có cả Dân biểu Patman, đến sân bay để chào đón Shriver. Ông ấy nhảy ra khỏi máy bay và bắt tay từng người một như thể đây là ngày đầu tiên trong một cuộc bẳu cử gay go vậy.

        McGovern thua ở Texas, chỉ được 33% số phiếu so với 67% của đôi thủ, có khá hơn ở Arkansas chút ít, nơi mà chỉ có 31% cử tri Ung hộ ông. Sau cuộc bầu cử, Taylor và tôi còn nán lại vài ngày để cảm ơn mọi người và thu dọn mọi việc. Sau đó Hillary và tôi quay về trường Yale sau một kỳ nghỉ ngắn ở Zihuatanejo ở bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Bây giờ nơi ấy đã xây cất thêm nhiều, nhưng hồi đó nó vẫn còn là một làng Mexico nhỏ với đường phố gập ghềnh chưa lát đá, các quán bar rộng cửa và chim chóc nhiệt đới đậu trên cành cây.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười, 2015, 04:31:20 AM
        Chúng tôi vượt qua kỳ thi cuối khóa khá thoải mái, đặc biệt nếu xét đến việc vắng mặt lâu như vậy. Tôi phải học cật lực mới nắm được các luật lệ bí ẩn của môn Luật Hàng hải, môn mà tôi theo học chỉ vì muốn được học với thầy Charles Black, một người Texas lịch thiệp và hùng biện được giới sinh viên ưa thích và kính trọng, và thầy cũng đặc biệt thích Hillary. Tôi thật ngạc nhiên khi biết phần nhiều luật hàng hải được áp dụng cho bất cứ đường thủy nào ở nước Mỹ có thể đi được theo nguyên trạng ban đầu của nó. Như vậy là bao gồm cả các hồ có khởi thủy là các con sông xung quanh thành phố quê nhà tôi.

        Vào học kỳ mùa xuân năm 1973, tôi theo học chương trình đầy đủ các môn nhưng trong thâm tâm vẫn vương vấn ý nghĩ về nhà và những điều sắp xảy ra với Hillary. Cả hai chúng tôi đều yêu thích việc dàn dựng Phiên xử Tranh giải của năm đó cho Đoàn Luật sư. Chúng tôi viết ra một phiên xử dựa trên các nhân vật của phim Casablanca. Chồng của Ingrid Bergman bị giết, và Humphrey Bogart bị đem ra xử về việc này. Bạn và cựu đồng nghiệp của Burke Marshall trong Bộ Tư pháp là John Doar đến New Haven cùng với con trai mình để xét xử phiên tòa. Hillary và tôi đứng ra chiêu đãi ông và có ấn tượng mạnh. Thật dễ hiểu tại sao ông ấy lại hữu hiệu đến thế trong việc thực thi các phán quyết về dân quyền ở miền Nam. Ông ấy trầm lặng, thẳng thắn, thông minh và mạnh mẽ. Ông xét xử giỏi, và Bogie (tức Boggart - ND) được bồi thẩm đoàn tuyên trắng án.

        Một hôm sau giờ học Thuế doanh nghiệp, giáo sư Chirelstein hỏi tôi khi tốt nghiệp sẽ làm gì. Tôi bảo ông tôi sẽ về quê nhà ở Arkansas và sẽ tạm thời tự xoay xở lấy vì chưa được nơi nào mời làm cả. Thầy nói lúc ấy bỗng nhiên có một chỗ trống trong hội đồng giảng viên của trường Luật thuộc Đại học Arkansas ở Fayetteville. Thầy gợi ý tôi đăng ký xin vào chỗ ấy và xung phong giới thiệu tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi có thể hoặc nên kiếm việc dạy học, nhưng ý tưởng này lôi cuốn tôi. Vài ngày sau, khoảng cuối tháng ba, tôi lái xe về nhà để nghỉ Phục sinh. Khi về đến Little Rock, tôi rời khỏi xa lộ, đến máy điện thoại công cộng và gọi hiệu trưởng trường Luật
Wylie Davis. Tôi tự giới thiệu mình và kể cho ông những điều tôi nghe về chỗ trống kia, rồi nói rằng tôi muốn đăng ký. Ông ấy bảo tôi còn quá trẻ và thiếu kinh nghiệm. Tôi cười và bảo ông ấy rằng tôi đã nghe người ta nói thế nhiều năm rồi, nhưng nếu ông ấy chịu thì tôi sẽ có ích cho ông, vì tôi sẽ làm việc cật lực và dạy bất cứ môn nào ông ấy muốn. Ngoài ra, tôi cũng không vào biên chế chính thức, nên ông ấy có thể đuổi việc tôi lúc nào cũng được. Ông ấy cười khùng khục và mời tôi đến Fayetteville để phỏng vấn; tôi bay đến đó trong tuần đầu của tháng 5. Tôi có một loạt thư giới thiệu rất hùng hậu của giáo sư Chirelstein, Burke Marshall, Steve Duke, John Baker, và Caroline Dinegar, trưởng khoa khoa học chính trị của Đại học New Haven nơi tôi dạy Luật Hiến pháp và Luật Hình sự cho sinh viên chưa tốt nghiệp. Các cuộc phỏng vấn diễn ra suôn sẻ, và ngày 12 tháng 5, tôi nhận được thư của Hiệu trưởng Davis mời tôi làm trợ lý giảng viên với mức lương 14.706 đôla. Hillary hoàn toàn ủng hộ, và 10 ngày sau tôi chấp thuận.

        Mức lương không nhiều nhặn gì, nhưng dạy học sẽ tạo điều kiện cho tôi có việc làm để thanh toán nốt khoản vay trong chương trình Giáo dục vì Quốc phòng. Khoản vay để học trường luật thứ hai của tôi không giống các kiểu vay khác ở chỗ nó buộc tôi và các bạn cùng lớp phải trả hết một lần cộng thêm một phần trăm cố định trong thu nhập hàng năm của chúng tôi cho đến khi tổng khoản tiền nợ của lớp chúng tôi được thanh toán xong. Rõ ràng là những ai kiếm được nhiều hơn phải trả nhiều hơn, nhưng tất cả chúng tôi đều biết điều đó khi vay tiền. Kinh nghiệm của tôi với chương trình vay của đại học Yale là liều kích thích tôi mong muốn thay đổi chương trình cho vay học phí đối với sinh viên khi tôi trở thành tổng thống, sao cho sinh viên có được lựa chọn trả nợ trong quãng thời gian dài hơn bằng một số phần trăm cố định trong thu nhập của họ. Theo cách đó, họ sẽ ít phải bỏ học ngang vì sợ không trả nổi nợ, và cũng
không ngại làm những công việc có ích cho xã hội nhưng trả lương thấp. Khi chúng tôi cho sinh viên được vay các khoản trả theo thu nhập, nhiều người đã tham gia chương trình này.

        Dù tôi không phải là sinh viên chăm chỉ nhất nhưng tôi hài lòng với những năm học ở trường luật của mình. Tôi đã học được rất nhiều từ các giáo sư sáng láng và tận tụy, và từ các bạn học - hơn 20 người trong số này sau này được tôi bổ nhiệm vào các vị trí trong chính quyền hoặc hệ thống tư pháp liên bang. Tôi được hiểu rõ và đánh giá cao hơn vai trò của luật pháp trong việc duy trì trật tự và công bằng trong xã hội, cũng như trong việc đưa ra các phương tiện nhằm tạo ra tiến bộ xã hội. sống ở New Haven cho tôi gần gũi thực tế và sự đa dạng chủng tộc của thành thị Mỹ. Và tất nhiên là ở New Haven tôi đã gặp Hillary.
       


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2015, 02:56:43 AM
        Nhờ các chiến dịch vận động cho Duffey và McGovern, tôi đã có được một số bạn tốt, những người chia sẻ đam mê chính trị của tôi và hiểu biết thêm về bộ máy bầu cử. Tôi cũng hiểu thêm một lần nữa rằng muốn thắng cử với tư cách là người tiến bộ đòi hỏi sự quan tâm và kỷ luật mạnh mẽ trong việc tạo ra và chuyển tải thông điệp và một lộ trình để người ta tin tưởng mà thay đổi. Xã hội của chúng ta mỗi một lần chỉ có thể hấp thụ bao nhiêu đó thay đổi, và khi tiến lên phía trước chúng ta phải tiến bằng cách thức có thể tái khẳng định niềm tin căn bản của chúng ta về cơ hội và trách nhiệm, công việc và gia đình, sức mạnh và cảm thông - những giá trị nền tảng của sự thành công của nước Mỹ. Phần lớn mọi người đều phải bận bịu nuôi con, làm lụng để sống. Họ không nghĩ nhiều về chính sách chính quyền như những người cấp tiến, họ cũng không bị ám ảnh bởi quyền lực như những người tân bảo thủ cánh hữu. Họ thường chỉ suy nghĩ kiểu bình thường, và họ có nhu cầu hiểu được những lực lượng lớn lao tác động và hình thành nên cuộc sống của họ, nhưng không thể đòi hỏi họ phải từ bỏ những giá trị và trật tự xã hội mà ít ra cũng làm họ có thể tồn tại và cảm thấy hài lòng với bản thân. Từ năm 1968, những người bảo thủ đã rất giỏi thuyết phục người Mỹ bình thường rằng các ứng viên tiến bộ, các tư tưởng và chính sách tiến bộ là xa lạ với các giá trị của họ và đe dọa đên an bình của họ. Joe Duffey là con trai một thợ mỏ và bị biến thành một người ủng hộ giới thượng lưu, cấp tiến cực đoan nhưng lại yếu đuối. George McGovern là một anh hùng thực sự trong chiến tranh, được những người bảo thủ ở miền quê nam Dakota gửi lên thượng viện nhưng rồi lại bị biến thành một kẻ cánh tả không xương sống và hoang dại, không chịu đứng lên bảo vệ nước Mỹ nhưng lại đánh thuế nó và tiêu xài ngân sách của nó đến khi bị chìm vào quên lãng. Trong cả hai trường hợp, các ứng viên cũng như chiến dịch vận động của họ phạm phải những sai lầm làm hình ảnh của đối thủ họ mạnh hơn là chính những người ấy đang cố tạo ra. Tôi cũng biết đủ rằng việc đẩy được hòn đá tảng dân quyền, hòa bình và chương trình xóa nghèo ngược lên đỉnh đồi chính trị khó khăn đến thế nào, biết đủ để không mong đợi lúc nào cũng chiến thắng, nhưng tôi quyết tâm không ngồi yên nhìn những đối thủ của chúng tôi chiến thắng. Sau này, khi làm thống đốc cũng như tổng thống, tôi cũng phạm đi phạm lại một số lỗi lầm ấy, nhưng không nhiều đến mức tôi có thể phạm nếu như không từng được làm việc cho hai người tốt đó, Joe Duffey và Goerge McGovern.

        Tôi hạnh phúc quay về nhà với viễn cảnh một công việc lý thú, nhưng tôi vẫn không biết phải làm gì với Hillary, hay điều gì là tốt nhất cho cô ấy. Tôi vẫn luôn tin rằng cô ấy củng có ngang bằng tiềm năng thành công trong chính trị như tôi hoặc nhiều hơn, và tôi muốn cô ấy có cơ hội riêng của mình. Hồi đó, tôi muốn như vậy hơn là bản thân cô ấy muốn, và tôi nghĩ nếu cô ấy về Arkansas với tôi là sẽ chấm dứt viễn cảnh sự nghiệp chính trị của cô ấy. Tôi không muốn làm thế, và tôi củng không muốn xa cô ấy. Hillary đã quyết định không làm việc cho một công ty luật lớn hoặc làm thư ký cho thẩm phán mà nghiêng về một vị trí trong Quỹ Bảo vệ trẻ em của Marian Edelman trong văn phòng mới của quỹ ở Cambridge, Massachusetts, nên chúng tôi sẽ phải ở cách rất xa nhau.

        Đó là tất cả những gì chúng tôi biết khi tốt nghiệp trường luật và tôi đưa Hillary đi chơi nước ngoài lần đầu tiên. Tôi dắt cô ấy đi chơi ở London và Oxford, sau đó qua xứ Wales, rồi quay lại Anh đến quận Lake mà tôi cũng chưa tới bao giờ. Tiết trời cuối xuân ở đó thật đẹp và lãng mạn. Vào một buổi hoàng hôn trên bờ hồ Ennerdale, tôi ngỏ lời đề nghị Hillary lấy tôi. Tôi không thể tin được mình đã làm điêu đó. Cô ấy cũng vậy. Cô ấy bảo cô ấy yêu tôi nhưng chưa thể châp thuận. Tôi không trách cô ấy, nhưng tôi không muốn mất cô ay- Thê là tôi đề nghị cô ấy về quê Arkansas với tôi để xem thử cô ấy có thích nơi ấy không. Và để phòng hờ, về Arkansas để thi lấy bằng luật sư luôn thể.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2015, 09:34:05 AM
 
        18

        Tháng 6, Hillary bay tới Little Rock. Tôi đưa cô ấy về nhà theo đường vòng, để cô ấy nhìn thấy tiểu bang mà tôi yêu mến. Chúng tôi lái xe về phía tây ngược sông Arkansas 70 dặm đến Russellville, sau đó quẹo xuống phía nam theo xa lộ số 7 xuyên qua dãy Ouachita và Rừng Quốc gia, thỉnh thoảng dừng chân để ngắm cảnh. Chúng tôi dành vài ngày ở Hot Springs với mẹ, Jeff và Roger, sau đó quay lại Little Rock để học khóa chuẩn bị thi lấy bằng luật sư Arkansas. Khóa này hóa ra khá hữu ích nên cả hai chúng tôi đều đậu.

        Sau kỳ thi, Hillary quay về Massachusetts để bắt đầu làm việc cho Quỹ Bảo vệ trẻ em, còn tôi đến Fayetteville để bắt đầu cuộc sống giảng viên luật. Tôi tìm được một chỗ hoàn hảo để ở, một căn nhà nhỏ xinh được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng Arkansas Fay Jones, tác giả của Nhà thờ Thorncrown tuyệt đẹp ở thành phố Eureka Springs láng giềng vốn đoạt nhiều giải thưởng và được quốc tế thán phục. Căn nhà nằm trên hơn 80 mẫu đất (mẫu Anh - ND) cách Fayetteville khoảng 80 dặm về phía đông, trên xa lộ 16. Ranh giới phía đông của khu đất là nhánh giữa của sông White. Vài chục gia súc ăn cỏ trên thảo nguyên. Căn nhà, xây từ giữa thập niên 50, về cơ bản là một cấu trúc một phòng, dài và hẹp, chia ra ở giữa với phòng tắm như một khối thụt vào giữa. Tường phía trước và sau nhà là một loạt các cửa kéo bằng kính, cộng thêm tầm nhìn ở phòng ngủ và phòng tắm nên căn nhà có nhiều ánh sáng. Chạy dọc theo chiều dài của phòng khách là một hàng hiên có màn che, nhô ra bên ngoài tòa nhà trên triền dốc thoải xuống đường. Căn nhà ấy thật là một nơi yên ả và thanh bình, đặc biệt là sau khi tôi bắt đầu chiến dịch tranh cử đầu tiên của mình. Tôi thích ngồi ở hàng hiên và gần lò sưởi, đi dạo trên cánh đồng gần bờ sông với lũ gia súc.

        Căn nhà cũng có một vài nhược điểm. Đêm nào cũng có chuột. Khi tôi hiểu ra rằng không thể tống khứ bọn chúng đi và bọn chúng cũng chỉ quanh quẩn trong bếp, tôi bắt đầu để vụn bánh mì cho chúng. Phía bên ngoài nhà đầy những nhện, rệp hút máu và các thứ đáng ngại khác. Chúng không làm phiền gì tôi lắm, nhưng khi một con nhện nâu cắn Hillary, chân cô ấy sưng lên to đùng và mất rất lâu mới xẹp xuống. Và chỗ ấy cũng khống thể bảo vệ an toàn được. Mùa hè năm đó ở Arkansas có một loạt các vụ trộm đột nhập. Bọn này ra tay với rất nhiều nhà ở miền quê quành khu xa lộ 16. Một tối khi tôi về đến nhà, mọi thứ trông có vẻ như có ai đó đã đột nhập vào, nhưng không mất thứ gì cả. Có lẽ tôi về đã làm hắn sợ và bỏ đi. Tức tốc, tôi ngồi xuống và viết một bức thư cho tên trộm trong trường hợp hắn quay lại:

        Kẻ trộm thân mến,

        Đồ đạc trong nhà tôi vẫn y nguyên như vậy nên tôi không thể biết liệu anh có vào nhà hôm qua không. Nếu không, đây là những thứ anh sẽ tìm thấy - một cái ti vi mua mới mất 80 đôla cách đây nửa năm; một radio mua mới giá 40 đôla cách nay 3 năm; một máy quay đĩa tí hon mua mới giá 40 đôla cách đây 3 năm; và rất nhiều đồ linh tinh, vặt vãnh, vài thứ trong số này giá trên 10 đôla. Hầu như tất cả quần áo đều đã mặc hơn hai hay ba năm rồi. Chẳng có thứ gì để đáng phải đi tù cả.


William J. Clinton        

        Tôi gắn bức thư vào lò sưởi. Thật không may, mưu kê ấy không hiệu quả. Ngày hôm sau khi tôi đi làm, tên trộm quay lại và lấy đi Cai tivi/ radio, máy quay đĩa, và một thứ mà tôi cố tình không liệt kê trong bức thư: một thanh kiếm nhà binh của Đức tuyệt đẹp từ thời Thê chiến thứ nhất. Tôi buồn ghê lắm khi mất nó vì đấy là quà bố dượng tặng tôi, và vì mới một năm trước, thứ quý giá nhất mà tôi có cây kèn saxo Mark VI mà mẹ và bố tặng tôi năm 1963, bị trộm lấy mất khi để trong xe của tôi ở Washington. Sau này tôi thay bằng một ] cây kèn kiểu "đồ cắt xìgà" Selmer 1935, nhưng thanh kiếm thì không thể thay thế được.

        Trong những tuần cuối cùng của mùa hè Arkansas nóng nực tôi chuẩn bị bài giảng và chạy trong sân vận động của trường vào giờ nóng nhất trong ngày, lần đầu tiên (và cũng là lần cuối cùng) kể từ năm 13 tuổi giảm cân xuống còn khoảng 83kg. Vào tháng 9, tôi bắt đầu lên lớp dạy những môn đầu tiên: Chống tổ hợp độc quyền, môn tôi từng học và yêu thích ở Yale, và môn Cơ quan và Đối tác, nói về bản chất của các mối quan hệ hợp đồng và trách nhiệm pháp lý của các mối quan hệ này. Có 16 sinh viên học lớp Chống tổ hợp độc quyền và 56 học lớp Cơ quan và Đối tác. Luật Chống tổ hợp độc quyền bắt nguồn từ ý tưởng chính quyền nên ngăn chặn không cho hình thành các tổ chức độc quyền cũng như các hình thức phi cạnh tranh để duy trì một nền kinh tế thị trường công bằng và hoạt động tốt. Vì tôi biết không phải tất cả sinh viên đều có nhiều kiến thức nền về kinh tế nên tôi cô gắng giảng giải rõ ràng và làm cho các nguyên tắc có thể hiểu được. Ngược lại, môn Cơ quan và Đối tác lại dễ hiểu hơn. Tôi e sinh viên sẽ chán và bỏ qua tầm quan trọng và những khó khăn thỉnh thoảng gặp phải trong việc xác định chính xác bản chất của mối quan hệ giữa các bên trong một công ty chung, nên tôi cố tìm ra các ví dụ sáng sủa và thú vị để giữ cho việc thảo luận được tiếp tục. Ví dụ như, các cuộc điều trần về vụ Watergate và phản ứng của Nhà Trắng trước những tiết lộ mới đã đặt ra nhiều câu hỏi về những người chủ mưu của vụ đột nhập. Họ có phải là nhân viên của tổng thống không, và nếu không, thì họ hành động cho ai và dưới quyền của ai? Trong tất cả các lớp tôi dạy, tôi đều cố sao cho nhiều sinh viên tham gia thảo luận và sẵn sàng có mặt tại văn phòng hay lòng vòng trong trường để khi cần họ có thể đến gặp-

        Tôi thích soạn đề thi, hy vọng những đề thi này thú vị, thách thức và công bằng. Trong những chuyện tôi đọc thấy sau này vê những năm dạy học của tôi thì cách cho điểm của tôi bị đặt dấu hỏi, ngụ ý tôi quá dễ dãi bởi vì tôi hoặc là quá hiền hoặc không muốn làm mích lòng những ủng hộ viên tương lai khi tôi ra tranh cử. Ở Yale, khung cho điểm chỉ có ba mức Danh dự, Đậu và Rớt. Thường thì rất khó được Danh dự và cũng hầu như không thể rớt được. Ở nhiều trường luật khác, đặc biệt là những trường đầu vào tương đối dễ dàng, việc cho điểm có xu hướng khó khăn hơn, và thường thì người ta trông đợi khoảng 20 đến 30% trong lớp sẽ rớt. Tôi không đồng tình với kiểu này. Nếu một sinh viên bị điểm xấu, tôi cũng cảm thấy thất bại vì đã không đáp ứng được sự quan tâm và nỗ lực của sinh viên ấy. Hầu như tất cả sinh viên đều có đủ khả năng học tập để có được điểm c. Mặt khác, tôi nghĩ rằng điểm tốt phải thực sự thể hiện điều gì đấy. Trong các lớp đông, từ 50 đến 90 sinh viên, tôi cho khoảng 2,3 điểm A và cũng ngần ấy điểm D. Trong một lớp 77 sinh viên, tôi chỉ cho 1 điểm A, và chỉ có một lần tôi đánh trượt một sinh viên. Thường thì sinh viên bị đánh trượt sẽ rút không thi thay vì mạo hiểm để nhận điểm F. Trong hai lớp nhỏ hơn, tôi cho nhiều điểm A hơn vì sinh viên hai lớp đó chăm hơn, học được nhiều hơn và xứng đáng được điểm như vậy.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2015, 07:39:42 AM
        Dù những sinh viên da đen đầu tiên đã nhập học tại khoa Luật của Đại học Arkansas trước đó 25 năm, mãi cho đến tận đầu thập niên 70 mới có nhiều sinh viên da đen vào học các trường luật tiểu bang khắp miền Nam. Nhiều người không được chuẩn bị tốt, đặc biệt là những ai phải đi học trong các trường nghèo nàn dành riêng cho người da màu. Có khoảng 20 sinh viên da đen theo học tôi từ năm 1971 đến 1976, ngoài ra tôi cũng quen biết những sinh viên da đen khác. Phần lớn tất cả họ đều rất chăm chỉ. Họ muốn thành công, nhiều người trong số họ sống dưới áp lực tâm lý nặng nề vì họ sợ không học nổi. Đôi khi nỗi sợ của họ là có cơ sở. Tôi không thể quên lần đọc bài thi của một sinh viên da đen, vừa không tin nổi vừa giận. Tôi biết anh này đã học cực kỳ siêng năng và hiểu môn học, nhưng bài thi của anh ta không chứng tỏ được điều này. Trong bài có tất cả các câu trả lời đúng, nhưng để tìm ra các câu trả lời ấy thì phải lần mò trong hàng đống từ ngữ sai chính tả, ngữ pháp tồi và cấu trúc câu thì tồi tệ. Một kiến thức đáng được điểm A bị chìm lâp trong cách trình bày lộn xộn chỉ đáng điểm F, hậu quả của sự mất căn bản từ hồi tiểu học. Tôi cho anh ta điểm B-, sửa lỗi chính tả và ngữ pháp, và quyết định áp dụng các buổi phụ đạo để giúp chuyển sự cần cù và thông minh sẵn có của anh sinh viên này thành kết quả khả quan hơn. Theo tôi các buổi phụ đạo ấy có giúp ích, cả về học vấn lẫn tâm lý, dù nhiều sinh viên vẫn tiếp tục vất vả trong kỹ năng viết và với gánh nặng về tinh thần khi bước được một chân vào cánh cửa của cơ hội còn chân kia bị gánh nặng kỳ thị trong quá khứ níu kéo lại. Khi những sinh viên ấy ra trường và trở thành những luật sư và thẩm phán danh giá, thân chủ của họ cũng như các bên mà họ xét xử có lẽ chẳng thể biết họ đã phải vượt qua những đỉnh núi cao đến thế nào để với tới chức luật sư hoặc ngồi trên ghế chủ tọa phiên tòa. Khi Tòa án tối cao giữ nguyên nguyên tắc hành động tích cực vào năm 2003, tôi nghĩ đến những sinh viên da đen của tôi, đến sự cần cù khó nhọc của họ và cả những gì họ phải vượt qua. Họ đã cho tôi mọi bằng chứng cần thiết để ủng hộ phán quyết ấy của tòa án.

        Ngoài giao tiếp với sinh viên, điều hay nhất khi làm giảng viên luật là được tham gia vào ban giảng huấn toàn những người tôi thích và ngưỡng mộ. Bạn tốt nhất của tôi trong ban giảng huấn là hai người bằng tuổi tôi, Elizabeth Osenbaugh và Dick Atkinson. Elizabeth là một cô gái nông thôn thông minh quê ở Iowa, một đảng viên Dân chủ tốt, và là giáo viên tận tụy, sau này cũng trở thành bạn tốt của Hillary, về sau, cô ấy quay về Iowa để làm việc trong văn phòng của Bộ trưởng tư pháp. Khi tôi được bầu làm tổng thống, tôi thuyết phục cô ấy đến Bộ Tư pháp, nhưng sau vài năm cô lại quay về quê, chủ yếu là cô ấy nghĩ như thế tốt hơn cho cô con găi nhỏ Betsy của mình. Buồn thay, Elizabeth chết vì ung thư năm 1998, và con gái cô ấy đến sống với cậu. Tôi cố giữ liên lạc với Betsy trong nhiều năm; mẹ cô ấy là một trong những người tốt nhất mà tôi từng biết. Dick Atkinson là bạn từ hồi học trường luật, anh không thỏa mãn với công việc tại hãng luật tư ở Atlanta. Tôi gợi ý anh ấy xem thử đi dạy và giục anh tới Fayetteville để phỏng vân. Anh ây đến, và nhận lời làm trong ban giảng huấn. Sinh viên rất khoái Dick, và anh ấy cũng yêu thích dạy học. Năm 2003, anh ấy trở thành hiệu trưởng trường Luật Arkansas. Vị giáo sư nổi tiếng và cuốn hút nhất của chúng tôi là Robert Leflar, học giả luật học nổi nhất của tiểu bang chúng tôi, một chuyên gia được thừa nhận về sai phạm dân sự, mâu thuẫn luật và xét xử kháng án. Năm 1973, ông ấy đã quá tuổi về hưu bắt buộc quy định là 70 và vẫn dạy đầy đủ chương trình nhưng chỉ nhận thù lao 1 đôla một năm. Ông ở trong ban giảng huấn từ năm 26 tuổi. Trong nhiều năm trước khi tôi biết ông, Bob thường di chuyển hàng tuần giữa Fayetteville và New York, nơi ông dạy khóa xét xử kháng án cho thẩm phán liên bang và tiểu bang ở trường Luật Đại học New York, khóa học mà hơn nửa chánh án Tòa án tối cao theo học. Ông không bao giờ đi dạy muộn, cả ở hai nơi.

        Bob Leflar là một người đàn ông nhỏ nhưng rắn rỏi, đôi mắt lớn và sắc, và ông vẫn khỏe như bò mộng. Ông nặng không quá 80kg, nhưng khi làm vườn ông vẫn khiêng những tảng đá to mà tôi hầu như không nhấc nổi. Sau mỗi lần đội Razorback về chơi sân nhà, Bob và vợ là Helen mở tiệc chiêu đãi ở nhà. Thỉnh thoảng các vị khách chơi bóng bầu dục chạm ở sân trước. Tôi còn nhớ một lần, khi Bob, tôi và một luật sư trẻ nữa đấu với hai tay trẻ tuổi bự con và một chú nhóc chín tuổi. Tỷ số đang hòa và chúng tôi giao hẹn là ai ghi bàn tiếp theo sẽ thắng cuộc. Bên tôi có bóng. Tôi hỏi Bob liệu ông thực sự muốn thắng không. Ông nói "Muốn chứ". Ông ấy cũng có tinh thần tranh đua y như Michael Jordan vậy. Thế là tôi nói với người thứ ba trong đội tôi giữ bóng ở trung tâm, để tay cản phá của đối phương lao theo tôi, rồi ra chặn tay hậu vệ sân sau của đội bên kia ở bên phải. Chú nhóc chín tuổi lo kèm Bob vì cứ tưởng tôi sẽ ném bóng cho người đồng đội trẻ và cao hơn kia, hoặc nếu Bob được bóng thì chú nhóc có thể chạm được ông ấy. Tôi bảo Bob cũng chặn chú nhóc ở bên phải, sau đó chạy vọt sang trái để tôi ném bóng cho ông ngay trước khi tay cản phá đối phương lao đến tôi. Khi bóng ném tới, Bob phấn khích đến mức ông ấy hất ngã chú nhóc ra đất và chạy sang trái. Chỗ ông ấy trống trải vì đồng đội kia của tôi đã chặn đối phương lại. Tôi ném trái banh cho Bob và ông chạy vượt qua đường cuối sân, một ông già 75 tuổi hạnh phúc nhất nước Mỹ. Bob Leflar có một trí óc bằng thép, trái tim của con sư tử, một ý chí sắt đá, và tình yêu cuộc sống của trẻ thơ. Ông ấy giống như một Strom Thurmond của phe Dân chủ. Nếu chúng tôi có nhiều người như ông hơn, chúng tôi đã chiến thắng nhiều hơn. Khi Bob mất ở tuổi 93, tôi vân nghĩ ông chết trẻ.

        Chính sách của trường luật được đưa ra bởi ban giảng huấn trong các cuộc họp thường kỳ. Thỉnh thoảng tôi thấy họp hành kéo dài quá và bị sa đà vào tiểu tiết mà lẽ ra để ông hiệu trưởng và những người quản lý khác lo, nhưng tôi học được nhiều về cách quản trị hàn lâm cũng như thái độ chính trị của họ. Nói chung, tôi thường thuận theo ý với các đồng nghiệp khi có quyết nghị làm gì đó, vì tôi cảm thấy họ biết nhiều hơn tôi và gắn bó lâu dài hơn với đời sống học thuật. Nhưng tôi có kêu gọi ban giảng huấn thực hiện nhiều hoạt động pro bono (cung cấp dịch vụ pháp lý không lấy tiền, thường là cho những đối tượng không đủ tiền thuê luật sư - ND) hơn để làm giảm bớt áp lực "có sách xuất bản hoặc chết" đối với các giáo sư (yêu cầu của nhiều trường đại học Mỹ là giáo sư phải có công trình được xuất bản trong một số thời gian nhất định - ND) và nhấn mạnh hơn vào công việc giảng dạy trên lớp cũng như dành nhiều thời gian ngoại khóa hơn với sinh viên.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2015, 06:15:42 AM
        Công việc pro bono của tôi bao gồm giải quyết một số vấn đề pháp lý lặt vặt cho sinh viên và một trợ lý giảng viên trẻ, người đang cố mãi mà vẫn chưa thuyết phục được thêm nhiều bác sĩ ở Springdale, phía bắc Fayetteville, nhận chữa cho các bệnh nhân nghèo theo chương trình Medicaid. Tôi còn chuẩn bị báo cáo ngắn cho Tòa án tôi cao Hoa Kỳ trong một vụ kiện chống tổ hợp độc quyền theo yêu cầu của Bộ trưởng tư pháp Jim Guy Tucker; và xuất hiện lần đầu tiên tại tòa với tư cách luật sư để đưa đơn bào chữa cho bạn tôi Steve Smith, vốn đang làm hạ nghị sĩ tiểu bang, trong một vụ tranh chấp về luật bầu cử ở hạt Madison.

        Huntsville, thủ phủ của hạt và quê nhà của Orval Faubus, cổ hơn vài ngàn dân. Phe Dân chủ nắm giữ tất cả các cơ quan tòa án, từ ông chánh án đến cảnh sát trưởng, nhưng có nhiềụ người phe Cộng hòa sống ở các vùng đồi núi và thung lũng ở phía bắc Arkansas, phần lớn là con cháu của những người từng chống đôi việc miền Nam ly khai khỏi nước Mỹ năm 1861. Phé Cộng hòa đã cho thấy sức mạnh vào năm 1972, được trợ giúp bởi chiến thắng thuyết phục của Nixon, và họ cảm thấy nếu họ bỏ bớt được đủ số phiếu cử tri vắng mặt thì họ có thể đảo ngược kết quả bầu cử địa phương.

        Vụ kiện được đem ra xử ở tòa án cũ hạt Madison với thẩm phán Bill Enfield, một người phe Dân chủ sau này trở thành bạn và ủng hộ viên của tôi. Đại diện cho phe Dân chủ là hai nhân vật thực sự: Bill Murphy, một luật sư ở Fayetteville đam mê đảng Dân chủ và tổ chức Lê dương Mỹ mà ông là chỉ huy ở Arkansas; và một luật sư địa phương, W. Q. Hall, được gọi là "Q" - một người khôn ngoan chỉ có một tay nhưng sắc lẻm y như cái móc gắn ở tay trái anh ta vậy. Những người bị gọi vào làm chứng về việc tại sao họ bỏ phiếu vắng mặt cho thấỹ một bức tranh sống động về lòng trung thành dữ dội, chính trị thô thiển và những sức ép kinh tế tác động lên cuộc sống của người dân vùng núi Arkansas. Một người phải bảo vệ quyền bỏ phiếu vắng mặt vào phút chót mà không đăng ký trước như luật định. Anh ta giải thích rằng anh ấy làm việc cho ủy ban Game and Fish của tiểu bang, và anh ta đi bầu vào ngày trước bầu cử vì anh ta vừa mới được giao đem cái bẫy gấu duy nhất của tiểu bang theo đường núi chậm chạp lên hạt Stone vào ngày bầu cử. Lá phiếu của anh ta được coi là hợp lệ. Một người khác đang làm việc ở Tulsa, Oklahoma đã bị gọi về để làm chứng. Anh này thú nhận đã sống ở Tulsa hơn 10 năm nhưng vẫn bầu bằng phiếu cử tri vắng mặt ở hạt Madison mỗi cuộc bầu cử, dù anh ta không phải là cư dân hợp pháp ở đó nữa. Khi luật sư phe Cộng hòa ép anh ta về việc này, anh ta xúc động nói rằng hạt Madison là quê hương anh ấy; rằng anh ta đi Tulsa chỉ vì anh ấy không kiếm sống nổi ở vùng núi; rằng anh ta không biết và cũng không quan tâm gì đến chính trị ở Tulsa; và rằng ngay khi về hưu trong khoảng 10 năm nữa, anh ta sẽ về lại quê nhà. Tôi không nhớ phiếu của anh ta có được tính hay không, nhưng sự gắn bó với cội rễ của anh ấy để lại trong tôi ấn tượng khó phai.

        Steve Smith làm chứng về vai trò của mình trong việc thu thập phiếu cử tri vắng mặt từ các cư dân trong nhà dưỡng lão của cha anh ấy. Có vẻ như luật cho phép nhân viên của nhà dưỡng lão giúp những người ở đó điền phiếu bầu, nhưng buộc người thân hoặc người được viết giấy ủy quyền gửi lá phiếu đi. Steve đã thu hết các phiếu và bỏ vào thùng thư gần nhất. Tôi trình lên thẩm phán lập luận mà tôi cho là rất thuyết phục, nói rằng thật không phải nếu nổi Steve không được phép gửi phiếu đi; cũng chẳng ai nói anh ấy sửa chữa gì phiếu, hoặc rằng những người ở nhà dưỡng lão không muốn anh ây gửi phiếu đi. Thêm nữa là đâu phải ai trong nhà dưỡng lão cũng có người thân có thể thực hiện quy trình ấy. Thẩm phán Enfield phán quyết không chấp thuận lập luận của tôi và Steve, nhưng cũng chấp thuận đủ phiếu cử tri vắng mặt để thẩm phán hạt Charles Whorton, cảnh sát trưởng Ralph Baker và đội ngũ nhân viên của họ tại vị.

        Tôi thua phần của mình trong vụ kiện nhưng có được sự hiểu biết vô giá về cuộc sống của người miền núi Arkansas. Và tôi kết bạn được với một vài trong số những chính khách hữu hiệu nhất tôi từng biết. Nếu có một người mới chuyển đến hạt Madison, trong vòng một tuần là họ sẽ biết ngay người đó theo phe Dân chủ hay Cộng hòa. Người phe Cộng hòa thì phải đến tòa án để đăng ký bỏ phiếu. Thư ký của hạt sẽ đến tận nhà những người phe Dân chủ để đăng ký họ vào danh sách bỏ phiếu. Trước mỗi kỳ bầu cử hai tuần họ gọi điện cho tất cả những ai ở phe Dân chủ, đề nghị họ bỏ phiếu. Vào buổi sáng đi bầu, họ lại được gọi một lần nữa. Nếu đến chiều mà họ chưa đi bầu thì sẽ có người đến tận nhà để đưa họ đi bầu. Vào ngày tổng tuyển cử đầu tiên của tôi năm 1974, tôi gọi điện cho Charles Whorton để xem tình hình. Ông ấy bảo mưa lớn làm trôi mất một cây cầu ở một khu vực xa xôi của hạt và một số người không đến được điểm bỏ phiếu, nhưng họ đang tìm cách giải quyết và nghĩ chúng tôi sẽ thắng cách biệt 500 phiếu. Trên thực tế, tôi đã thắng ở hạt Madison với cách biệt 501 phiếu.
Vài tháng sau khi chuyển đến Fayetteville, tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái ở đó. Tôi yêu thích dạy học, đi xem các trận đấu của đội Razorback, lái xe lòng vòng trong vùng núi, và sống trong cộng đồng đại học toàn những người cùng mối quan tâm với tôi. Tôi kết bạn với Carl Whillock, một hiệu phó đại học tóc bạc cắt ngắn và phong cách rất trầm tĩnh. Lần đầu tôi gặp ông ở quán Wyatt trong tòa siêu thị lớn trên một ngọn đồi giữa Fayetteville và Springdale. Mọi người trong bàn ăn đều phê phán Tổng thống Nixon, chỉ riêng Carl không nói một lời. Tôi không hiểu ông nghĩ gì nên tôi hỏi ông. Tôi sẽ không bao giờ quên câu trả lời đơn giản của ông ấy: "Tôi đồng ý với Harry Truman. Ông ấy nói rằng Richard Nixon là loại người lấy cả đồng năm xu gỗ khỏi mắt người chết". Thời xưa, đồng năm xu gỗ là những miếng gỗ tròn mà nhà xác đặt lên mắt người chết để giữ cho mắt nhắm trong quá trình ướp xác. Carl Whillock là người không thể trông mặt mà bắt hình dong được. Dưới vẻ bề ngoài xuề xoà của ông là một trí óc cứng rắn và một trái tim dũng cảm.

        Tôi đặc biệt thích hai nữ giáo sư có chồng làm trong cơ quan lập pháp tiểu bang. Ann Henry dạy ở trường Kinh doanh; chồng bà là Morriss - một bác sĩ nhãn khoa và là thượng nghị sĩ tiểu bang. Ann và Morriss trở thành những người bạn đặc biệt của tôi và Hillary, và khi chúng tôi cưới nhau, họ mở tiệc cưới cho chúng tôi tại nhà họ. Diane Kincaid là giáo sư khoa Chính trị, lúc đó là vợ của Hạ nghị sĩ tiểu bang Hugh Kincaid. Diane đẹp, sắc sảo và am hiểu chính trị. Khi Hillary chuyển đến Fayetteville, Diane và Hillary trở nên còn hơn là bạn bè nữa; họ là tri kỷ, tìm thấy ở nhau sự thông hiểu, khích lệ, hỗ trợ và tình yêu thương hiếm thấy trên đời.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2015, 02:15:16 AM
        Dù Fayetteville, cũng giống như cả miền tây bắc Arkansas, phát triển nhanh, nó vẫn có một quảng trường chính nho nhỏ yên tĩnh với một cái bưu điện cổ ở giữa, sau này được chuyển thành một nhà hàng và quán bar. Các cửa hàng bán lẻ, văn phòng, và ngân hàng xếp dọc bốn cạnh của quảng trường, và mỗi sáng thứ bảy quảng trường lại có họp chợ của nông dân đến bán sản phẩm tươi sống. Anh họ Roy Clinton của tôi điều hành siêu thị Campbell-Bell ở góc tây bắc của quảng trường. Tôi buôn bán với anh ấy và học được nhiều về thành phố mới của tôi. Toà án cách quảng trường chỉ một dãy phố. Trong số các luật sư địa phương hành nghề tại đó và có văn phòng xung quanh bao gồm một nhóm rất ấn tượng những luật sư lớn tuổi sừng sỏ và những luật sư trẻ sáng láng, nhiều người trong số này nhanh chóng trở thành những ủng hộ viên tích cực.

        Nơi lui tới thường xuyên của chính giới địa phương là quán bò bíttết của Billie Schneider trên xa lộ 71, phía bắc thành thố. Billie là một phụ nữ ăn nói cứng cỏi với giọng nói chắc như đá, thấy hết mọi điêu nhưng không mất đi niềm đam mê lý tưởng và nỗi ám ảnh đối với chính trị. Tất cả những nhân vật chính trị địa phương đều lui tới chỗ của bà ấy, trong đó có Don Tyson, trùm nuôi gà với các hoạt dộng kinh doanh sau này trở thành công ty nông nghiệp lớn nhất trên thế giới, và luật sư của ông ta là Jim Blair, một thiên tài có phong cách riêng cao hơn l,8m sau này trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất của tôi. Vài tháng sau khi tôi chuyển tới Fayetteville, Billie đóng cửa tiệm thịt bò và mở một quán bar và vũ trường ở tầng hầm của một khách sạn đối diện với tòa án. Tất cả những khách cũ cũng theo sang chỗ mới, và bà ấy còn lôi cuốn được thêm khá đông sinh viên đại học, những người bà huy động làm việc cho các ứng viên của bà trong các kỳ bầu cử. Billie là một phần lớn của đời tôi cho đến ngày chúng tôi mai táng bà ấy.

        Tôi rời nơi trú ẩn trên núi của mình vài ngày trong dịp lễ Tạ ơn để đến thăm Hillary ở Cambridge. Cô ấy và tôi vẫn chưa giải quyết được tình trạng của mình, nhưng cô ấy cũng đồng ý đến thăm tôi trong kỳ nghỉ giáng sinh. Tôi yêu cô ấy và muốn ở bên cô ấy, nhưng tôi hiểu những băn khoăn của cô ấy. Tôi đầy đam mê và động lực, và không có gì trong thân thế của tôi cho thấy tôi biết như thế nào là một cuộc hôn nhân ổn định. Cô ấy biết cưới tôi sẽ là một chuyện phiêu lưu về nhiều mặt. Hơn nữa, chắc Arkansas vẫn là một nơi xa lạ để cô ấy sinh sống, dù cô ấy không còn cảm thấy nơi đây là bề mặt của mặt trăng nữa. Và như tôi đã nói, tôi không chắc liệu việc này có phù hợp với cô ấy không. Tôi vẫn nghĩ cô ấy lẽ ra nên có nghiệp chính trị của riêng mình. Vào thời điểm đó trong đời, tôi nghĩ công việc quan trọng hơn là cuộc sống riêng tư. Tôi đã gặp nhiều trong số những người có khả năng nhất của thế hệ mình, và tôi nghĩ về tiềm năng chính trị thì cô ấy hơn tất cả bọn họ một cái đầu. Cô ấy thông minh, có một trái tim nhân hậu và kỹ năng tổ chức giỏi hơn tôi, còn kỹ năng chính trị thì cũng tốt gần bằng tôi; tôi chỉ có nhiều kinh nghiệm hơn mà thôi. Tôi yêu cô ấy đủ để muốn có cô ấy và cũng muốn điều tốt nhất cho cô ấy. Thật là một tình huống tiến thoái lưỡng nan.

        Khi tôi quay về Arkansas, những tranh cãi chính trị cũng bắí đầu. Như những người Dân chủ ở nơi khác, những người ở tiểu bang chúng tôi bị khuấy động bởi các cuộc điều trần về Watergate của Thượng nghị sĩ Sam Erwin cũng như việc chiến tranh tiếp diễn. Có vẻ như chúng tôi sẽ có cơ hội đạt được gì đó trong kỳ bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ, đặc biệt là sau khi giá dầu vọt lên và xăng bắt đầu phải bán có giới hạn. Tuy nhiên, những người Dân chủ địa phương không tin khả năng dân biểu của chúng tôi là John Paul Hammerschmidt mất ghế là khả quan gì. Hammerschmidt có thành tích bỏ phiếu rất bảo thủ và là một người tích cực bảo vệ Tổng thông Nixon. Nhưng ông ta cũng có phong cách thân thiện và gần gũi, thường về quê nhà và đi thăm thú quận của mình trong phần lớn các kỳ cuối tuần, có những hoạt động cụ thể tuyệt vời, giúp các thị trấn nhỏ được các khoản tiền cho cấp thoát nước cũng như đảm bảo các quyền lợi từ phía chính quyền cho các cử tri, thường là từ những chương trình mà ông ta bỏ phiếu cắt giảm ớ Washington. Hammerschmidt làm trong ngành khai thác gỗ, có sự ủng hộ mạnh mẽ của giới doanh nghiệp nhỏ trong quận, cũng như quan tâm đến các quyền lợi của các doanh nghiệp khai thác gỗ lớn hơn, ngành nuôi gia cầm và xe tải, vốn chiếm phần đáng kể trong nền kinh tế của chúng tôi.

        Mùa thu năm đó tôi nói chuyện với nhiều người xem họ có muốn ra tranh cử hay không, trong số này có Hugh và Diane Kincaid, Morriss và Ann Henry, Steve Smith, và hạ nghị sĩ tiểu bang Rudy Moore, vốn là em rể của Clark Whillock. Ai cũng cho rằng phải tạo ra cuộc đua tranh, nhưng không ai muốn đứng ra làm; cuộc đua ấy có vẻ như không thể thắng được. Thêm nữa, có vẻ như Thống đốc Bumpers cực kỳ được lòng dân nhiều khả năng sẽ thách thức Thượng nghị sĩ Fulbright trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ. Fulbright quê ở Fayetteville, và phần lớn bạn tôi dù thích Bumpers vẫn thấy có trách nhiệm phải giúp ông thượng nghị sĩ trong cuộc tranh đua rõ ràng là khó khăn.

        Khi rõ ra là không ai trong khu vực của chúng tôi có thể và muốn tham dự cuộc đua, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện tự mình tham dự. Mới nhìn qua điều này có vẻ quá vô lý. Tôi mới về quê nhà được sáu tháng sau chín năm đi xa. Tôi mới làm công việc mới của mình được ba tháng. Tôi không có mối mang gì ở phần lớn các quận. Thế nhưng, Fayetteville với giới sinh viên và những người Dằn chủ cấp tiên không phải là một nơi quá tồi để bắt đầu. Hot Springs, nơi tôi lơn lên là thành phố lớn nhất ở rìa phía nam của quận. Và hạt Yell, quê gốc của dòng họ Clinton cũng là một phần của Hot Springs. Nhưng gộp lại thì tôi có họ hàng ở năm trong số 21 hạt của quận. Tôi còn trẻ, độc thân và sẵn sàng làm việc mọi giờ giấc cả ngày lân đêm. Và ngay cả khi tôi không chiến thắng, nếu tạo ra một lực lượng thì tôi nghĩ cũng chẳng hại gì cho tôi trong các kỳ vận động về sau. Tất nhiên, nếu tôi bị thua thì sự nghiệp chính trị ấp ủ bấy lâu nay của tôi có thể chấm dứt trước khi nó kịp bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2015, 07:17:20 AM
        Tôi phải suy nghĩ rất nhiều điều khi Hillary đến thăm tôi không lâu sau giáng sinh. Một buổi sáng đầu tháng 1 khi chúng tôi bàn bạc kỹ càng chuyện đó thì điện thoại reng. Người gọi là John Doar, người mà Hillary và tôi từng gặp một thời gian vào mùa xuân trước khi ông ấy đến Yale để xét xử phiên tòa tranh giải dựa trên phim Casablanca của chúng tôi. Ông ấy nói ông vừa đồng ý làm cố vấn trưởng cho cuộc điều tra của ủy ban Tư pháp hạ viện xem xét liệu Tổng thống Nixon có bị truất phế hay không, và rằng Burke Marshall đã giới thiệu tôi cho ông ấy. Ông ấy muốn tôi nghỉ phép ở trường luật, đến giúp ông ấy tuyển một số luật sư trẻ, giỏi khác. Tôi bảo ông ấy tôi đang nghĩ đến việc ra tranh cử quốc hội, nhưng tôi sẽ xem xét đề nghị của ông ấy và ngày hôm sau sẽ gọi lại. Tôi phải suy nghĩ nhanh, và trong những năm tiếp theo trong đời tôi cũng vậy. Tôi nhờ đến sự xét đoán và lời khuyên của Hillary. Khi tôi gọi lại cho John, tôi đã quyết định. Tôi cám ơn ông ấy nhưng từ chối lời đề nghị, nói rằng tôi đã quyết định tham dự cuộc đua có vẻ xa vời vào quốc hội, vì còn rất nhiều luật sư trẻ tài ba sẵn lòng đổi bất cứ thứ gì để được làm việc cho ông ấy trong cuộc điều tra truất phế nhưng lại không có ai khác để tham dự cuộc đua ở Arkansas. Tôi có thể thấy John nghĩ tôi đang phạm sai lầm ngu xuẩn, và theo các chuẩn mực suy xét thông thường thì đúng vậy. Nhưng, như tôi đã nói, nhiều thứ trong đời bạn được hình thành bởi những cơ hội bạn từ chối cũng nhiều như những cơ hội bạn nắm bắt được.

Tôi gợi ý với John rằng ông phải tuyển mộ Hillary và các bạn cùng lớp ở Yale của chúng tôi là Mike Conway và Rufus Cormier. Ông ấy cười và bảo Burke Marshall cũng giới thiệu họ. Cuối cùng họ đều đến làm cho John và hoàn tất một công việc siêu hạng. Doar cuối cùng có được một loạt những tài năng trẻ, điều đó chứng tỏ ông ấy chẳng cần đến tôi thì cũng vẫn có một đội nhân viên tuyệt vời, đúng như tôi dự kiến.

        Vài ngày trước khi Hillary phải về Cambridge, tôi dẫn cô ấy đến Huntsville, cách nhà tôi khoảng 25 dặm, để gặp cựu thống đốc Faubus. Nếu tôi ra tranh cử vào quốc hội, sớm hay muộn gì tôi cũng phải đến chào xã giao ông ta. Ngoài ra, dù tôi có không tán thành những việc ông ta làm ở Little Rock đến như thế nào đi nữa thì ông ta cũng thông tuệ và có trí óc đầy những vốn liếng chính trị Arkansas mà tôi muốn được học hỏi. Faubus sống trong một căn nhà kiểu Fay Jones to và đẹp mà các ủng hộ viên của ông xây cho ông khi ông rời ghế thống đốc sau 12 năm nhưng không có tiền. Lúc ấy ông đang sống với bà vợ thứ hai là Elizabeth, một phụ nữ hấp dẫn quê ở Massachusetts - người vẫn để kiểu tóc cuốn tổ ong từ những năm 60 và trước khi cưới ông, từng làm bình luận viên chính trị trong thời gian ngắn ở Little Rock. Bà ấy cực kỳ ham nói chuyện, và tương phản hoàn toàn về bề ngoài cũng như quan điểm với bà vợ đầu của ông thống đốc. Bà tên Alta, một người được lòng dân miền núi và chủ bút tờ báo dịa phương Madison County Record.

        Hillary và tôi được mời vào nhà của Faubus và ngồi ở một cái bàn tròn lớn trong một sảnh bao quanh bằng kính nhìn ra rặng Ozarks và thành phố ở phía dưới. Trong khoảng bốn hoặc năm tiếng kế tiếp, tôi đặt câu hỏi còn Orval thì nói, mô tả cực kỳ hấp dẫn lịch sử và chính trị Arkansas: đời sống ra sao trong thời Đại khủng hoảng và Thế chiến hai, lý do ông ấy vẫn bảo vệ những gì mình làm ở Little Rock, và các rắc rối của Tổng thống Nixon ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng như thế nào đến cuộc đua vào quốc hội. Tôi không nói gì nhiều; tôi chỉ đặt một câu hỏi mới khi Faubus trả lời xong câu hỏi trước. Hillary không nói gì cả. Thật ngạc nhiên, trong hơn bốn tiếng đồng hồ bà Elizabeth Faubus cũng không nói gì. Bà ấy chỉ tiếp cà phê và bánh cho chúng tôi.

        Cuối cùng, khi rõ là cuộc phỏng vấn đến hồi kết, Elizabeth Faubus nhìn chằm chằm vào tôi và nói, "Như thế này thật là rất tốt, ông Clinton à, nhưng ông thấy thế nào về âm mưu quốc tế nhằm lật đổ Hoa Kỳ?". Tôi nhìn trả lại và đáp, "ồ, tôi chống lại nó, thưa bà Faubus. Bà có vậy không?". Không lâu sau, gia đình Faubus chuyển đến Houston, nơi Orval cực kỳ đau khổ khi bà Elizabeth bị sát hại ten nhẫn trong căn hộ của họ. Khi tôi nhậm chức thống đốc năm 1979, tôi mời tất cả các cựu thống đốc đến dự, có cả Faubus. Đó là một động thái gây tranh cãi trong các ủng hộ viên tiến bộ của tôi, họ thấy tôi đã làm tái sinh con chó rừng già. Sự việc sau này chứng tỏ họ đúng, một ví dụ kinh điển của câu tục ngữ cổ "làm ơn phải tội". Dù vậy, tôi vẫn sẽ làm như thế chỉ để có dịp trao đổi với bà Elizabeth Faubus về hiểm họa Đỏ đó.

        Sau khi Hillary đi, tôi đến gặp Hiệu trưởng Davis, bảo ông ấy rằng tôi muốn tranh cử vào quốc hội và hứa bảo đảm công việc lên lớp cũng như dành thời gian cho sinh viên. Tôi được giao dạy Luật tố tụng và Hàng hải trong học kỳ mùa xuân và cũng chuẩn bị kha khá. Thật ngạc nhiên, Wylie đồng thuận, có lẽ vì đã quá trễ để tìm người dạy mấy môn này.

        Quận thứ Ba của Arkansas bao gồm 21 hạt ở cung phần tư tây bắc của tiểu bang và là một trong những quận nghị viện thôn dã nhất của nước Mỹ. Nó bao gồm các hạt lớn là Washington và Benton ở cực tây bắc; bảy hạt ở rặng Ozarks; tám hạt của thung lũng sông Arkansas; và bốn hạt ở núi Ouachita phía tây nam. Nhờ có WalMart, Tyson Foods và các công ty thịt gia cầm khác cũng như các công ty vận chuyển bằng xe tải như J. B. Hunt, Willis Shaw và Harvey Jones, các thành phố ở Benton và Washington trở nên sầm uất hơn, và cũng mang tính Cộng hòa hơn. Dần dần, sự phát triển của các nhà thờ Cơ đốc và dòng người về hưu từ vùng Trung Tây, kết hợp với thành công của các công ty lớn đã làm cho khu vực tây bắc Arkansas trở thành phần Cộng hòa nhất và bảo thủ nhất của tiểu bang, ngoại trừ Fayetteville, nơi các trường đại học giúp giữ được sự cân bằng hơn.

        Năm 1974, Fort Smith ở biên giới Oklahoma là thành phố lớn nhất của quận với dân số 72.286 người và cũng là thành phố bảo thủ nhất. Trong thập niên 60, những bậc cha chú của thành phố đã từ chối các quỹ cải tạo đô thị mà họ cho là bước đầu tiên tiến tới chủ nghĩa xã hội, và khi nhân vật trong vụ Watergate là John Mitchell bị truy tố vài năm sau đấy, các luật sư của ông ta nói rằng Fort Smith là một trong ba nơi còn lại ở Mỹ mà ông ta có thể được xét xử công bằng. Ông ta đến đó chắc đã được đón tiếp như người hùng. Các hạt phía đông của Fort Smith xuôi theo sông Arkansas, và trong vùng núi ở phía bắc có xu hướng theo chủ nghĩa dân túy, bảo thủ xã hội và bị phân chia khá đồng đều giữa hai phe Dân chủ và Cộng hòa.

        Các hạt trên núi, đặc biệt là Madison, Newton và Searcy, vẫn tương đối hẻo lánh. Cũng có vài người mới chuyển đến, nhưng nhiều gia đình đã sống ở cùng một mảnh đất trong hơn 100 năm. Họ nói chuyện theo kiểu riêng biệt, dùng các kiểu nói sống động tôi chưa từng nghe bao giờ. Câu tôi thích nhất là một câu tả người mà bạn không thích: "Nếu não hắn bốc cháy thì tôi cũng chẳng thèm đái vào tai hắn". Các hạt nông thôn ở phần phía nam của quận có xu hướng ngả theo Dân chủ hơn nhưng vẫn bảo thủ, và hạt lớn nhất, Garland, với Hot Springs là thủ phủ thường bỏ phiếu cho phe Cộng hòa trong các kỳ bầu tổng thống và có nhiều dân nghỉ hưu phe Cộng hòa từ phía bắc chuyển đến. Ông dân biểu rất được lòng dân ở đó.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2015, 05:15:32 AM
        Có rất ít người da đen, phần lớn tập trung ở Fort Smith; Hot Springs, thành phố lớn thứ hai của quận; và ở các thị trấn thung lũng của sông là Russellville và Dardanelle ở phần đông nam của quận. Giới lao động có tổ chức hiện diện khá mạnh mẽ ở Fayetteville, Fort Smith và Hot Springs nhưng ở những nơi khác thì không nhiều. Do đường núi xấu và vì quá nhiều xe hơi và xe tải nhỏ cũ kỹ, quận này có mức độ tiêu thụ xăng trên đầu xe có đăng ký cao nhất nước Mỹ, một yếu tố không hề nhỏ nếu xét đến giá cả càng tăng và sự thiếu hụt xăng. Quận cũng có tỷ lệ phần trăm cựu chiến binh tàn tật cao nhất trong các quận nghị viện. Dân biểu Hammerschmidt là cựu chiến binh Thế chiến hai rất ưu ái các cựu chiến binh. Trong kỳ bầu cử trước, các lực lượng xã hội và bảo thủ tài chính đã tràn ngập những người cốt cán phe Dân chủ cũng như những người theo chủ nghĩa dân túy kinh tế khi Nixon đánh bại McGovern 76% so với 26 %. Hammerschmidt được 77%. Hèn gì chẳng ai khác muốn tham gia đua tranh.

        Vài ngày sau khi Hillary đi, Carl Whillock dẫn tôi đi vận động tranh cử lần đầu tiên cho mình, một chuyến vòng qua các hạt phía bac quận. Đầu tiên chúng tôi dừng ở hạt Carroll. Ở Berryville, một thị trấn khoảng 1.300 dân, tôi đến thăm cửa hàng của Si Bigham, một người Dân chủ nổi trội ở địa phương, ông tiếp tôi cùng với đứa cháu bốn tuổi của ông. Hơn 20 năm sau, chú nhóc đó, tên Kris Engskov, sẽ trở thành trợ lý riêng của tôi trong Nhà Trắng. Tôi cũng gặp mục sư Giám lý địa phương là Vic Nixon và vợ ông, bà Freddie. Họ là những người Dân chủ cấp tiến phản đối chiến trạnh Việt Nam, và họ đồng ý ủng hộ tôi. Hóa ra họ đã làm nhiều hơn thế. Freddie trở thành điều phối viên trong hạt cho tôi, lay chuyển mọi thủ lĩnh ở các khu vực bỏ phiếu, và sau này làm việc cho tôi trong văn phòng thống đốc, nơi bà không ngừng thuyết phục tôi rằng án tử hình là một điều sai lầm. Khi Hillary và tôi cưới nhau, Vic điều hành buổi lễ.

        Chúng tôi lái xe qua phía tây tới hạt Boone rồi lái tiếp tới Mountain Home, thủ phủ của hạt Baxter, hạt cực đông bắc của quận. Carl muốn tôi gặp doanh nhân Hugh Hackler, người lập tức bảo tôi là ông ấy đã cam kết ủng hộ một ứng viên khác trong kỳ bầu cử sơ bộ. Dù vậy, chúng tôi vẫn nói chuyện. Khi ông ấy biết tôi quê ở Hot Springs, ông bảo tôi Gabe Crawford là bạn tốt của ông ấy. Khi tôi đáp Gabe từng là bạn tốt nhất của bố dượng tôi, Hugh thôi cam kết ủng hộ người kia và chuyển qua tôi. Tôi còn gặp Vada Sheid, chủ một tiệm đồ gỗ và là thủ quỹ của hạt. Bà ấy để ý thấy một nút áo tôi bị rớt và đính lại cho tôi khi chúng tôi đến thăm. Ngày hôm đó bà cũng trở thành ủng hộ viên của tôi. Bà ấy sau này không bao giờ đính nút áo cho tôi nữa, nhưng sau khi tôi làm thống đốc và bà vào thượng viện của tiểu bang, các lá phiếu của bà thường cứu nguy cho tôi bằng nhiều cách.

        Sau khi rời Mountain Home, chúng tôi lái xuống phía nam tới hạt Searcy. Chúng tôi dừng ở St. Joe, chỉ có khoảng 150 dân, để gặp chủ tịch đảng Dân chủ địa phương là Will Goggins. Will đã hơn 80 tuổi, nhưng vẫn sắc bén như dao, cơ thể khỏe mạnh, và vẫn nồng nhiệt với chính trị. Khi ông ấy nói là sẽ ủng hộ tôi, tôi biết điều này sẽ mang lại nhiều phiếu, như các bạn sẽ thấy. Ở thủ phủ hạt là Marshall, tôi gặp George Daniel, điều hành tiệm máy móc và kim khí địa phương. Em trai George tên James, sinh viên trường luật và là người cho tôi một trong những khoản đóng góp một ngàn đôla đầu tiên; anh trai của George - Charles là bác sĩ của hạt. Tôi tha hồ mà cười vì thói khôi hài thôn dã của George và học được một bài học nhớ đời. Một hôm có một cựu binh Việt Nam từng xa quê nhiều năm đến cửa hàng của anh ấy và mua một khẩu súng lục. Người này nói anh ta muốn đi tập bắn mục tiêu. Ngày hôm sau anh ta giết chết sáu người. Hóa ra người này vừa mới ra khỏi Fort Roots, nơi chữa các vấn đề tâm thần cho cựu chiến binh của liên bang ở bắc Little Rock; người này đã điều trị ở đây nhiều năm, rõ ràng là vì những trầm uất sau khi tham gia chiến tranh. Phải mất một thời gian dài George mới vượt qua được sự cố ấy. Và đó là lập luận thuyết phục nhất tôi có được để ủng hộ việc phải kiểm tra lai lịch người mua súng theo đòi hỏi của dự luật Brady mà tôi ký thông qua thành luật năm 1993. Tính từ khi ấy đã phải có thêm 19 năm của những giết chóc có thể tránh được bởi những kẻ có tiền án, bọn bị ám ảnh hoang tưởng và những người bị tâm thần.

        Khi Carl và tôi quay về Fayetteville, tinh thần tôi còn cao hơn diều gặp gió. Tôi vốn thích kiểu chính trị "bán lẻ" khi tôi còn làm việc cho các ứng viên khác. Giờ đây tôi thực sự thích thú đi vào những thị trấn nhỏ, hoặc dừng chân ở các cửa hàng trong hạt, các quán cà phê, và các trạm xăng dọc đường. Tôi thực ra chưa bao giờ giỏi xin tiền, nhưng tôi thích ghé vào nhà hoặc cơ sở kinh doanh của mọi người và đề nghị họ bỏ phiếu cho tôi. Ngoài ra, biết đâu đấy lại có thể gặp một nhân vật đầy màu sắc nào đó, nghe được một câu chuyện thú vị, học được điều gì đó đáng biết, hay kết được bạn mới.

        Ngày đầu tiên trong chiến dịch vận mở đầu cho nhiều ngày khác giống như thế. Cứ sáng ra là tôi lên đường từ Fayetteville, đi càng nhiều thị trấn và hạt càng tốt cho đến tận đêm khuya, rồi quay vê nhà nếu ngày hôm sau tôi có giờ dạy, hoặc nếu không có giờ dạy thì tôi ở lại nhà một người phe Dân chủ hiếu khách nào ấy để có thể đi qua hạt tiếp theo vào sáng hôm sau.

        Ngày chủ nhật kế tiếp tôi đi qua phía đông để hoàn tất nốt các hạt trên núi. Suýt nữa thì tôi không tới được. Tôi quên đổ xăng chiếc American Motors Gremlin đời 1970 của tôi trước kỳ nghỉ cuối tuần. Vì nạn thiếu hụt xăng, luật liên bang đòi hỏi các trạm xăng phải đóng cửa ngày chủ nhật. Nhưng tôi phải lên miền núi. Tuyệt vọng, tôi gọi điện cho chủ tịch của công ty khí đốt tự nhiên địa phương của chúng tôi là Charles Scharlau và hỏi xin ông một bình xăng ở trạm bơm trong sân để thiết bị của ông ấy. Ông ấy bảo tôi ghé xuống đó ông ấy sẽ lo liệu. Thật kinh ngạc là đích thân ông ấy ra đổ đầy bình cho tôi. Chính Charles Scharlau đã đơn thương độc mã giúp chiến dịch vận động đang lung lay của tôi được tiếp tục.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2015, 05:00:43 AM
        Đầu tiên tôi lái xe đến Alpena để gặp chủ tịch đảng Dân chủ của hạt là Bo Ểorney, người tôi không kịp gặp trong lần đầu tôi ghé lại đây. Tôi dễ dàng tìm thấy căn nhà nhỏ của ông ấy. Ở sân trước có đậu một chiếc xe pick-up (xe tải nhỏ, không mui, thành thấp - ND) với giá gắn súng, một dụng cụ tiêu chuẩn của đàn ông vùng núi. Bo đón tôi ở cửa trước, mặc quần jean và một áo thun trắng choàng ra bên ngoài vòng bụng dư thừa của ông ấy. Ông ấy đang xem tivi và không nói gì nhiều khi tôi thuyết phục ông ấy ủng hộ tôi. Tôi nói xong, ông ấy nói rằng cần phải hạ Hammerschidt, và rằng mặc dù ông ta sẽ thắng vượt trội ở thị trấn quê nhà Harrison, ông ấy nghĩ chúng tôi có thể đạt kết quả khá ở các vùng quê của hạt Boone. Rồi ông ấy cho tôi tên những người cần gặp, và tiếp tục xem tivi. Tôi không biết phải nghĩ thế nào về Bo cho đến khi tôi nhìn kỹ hơn chiếc xe pick-up của ông ấy lúc trở ra xe. Trên cản xe có một khẩu hiệu viết "Đừng có trách tôi chứ, tôi bỏ phiếu cho McGovern mà". Sau này, khi tôi hỏi Bo về cái khẩu hiệu trên cản xe đó, ông ấy bảo ông ấy không cần biết các nhà phê bình nói gì về McGovern, những người Dân chủ ủng hộ dân thường còn phe Cộng hòa thì không, và mọi chuyện chỉ đơn giản thế thôi. Khi tôi làm tổng thống thì Bo đã già và bệnh, người bạn chung của chúng tôi và là một người Dân chủ đến cực đoan Levi Phillips đưa ông ấy tới nghỉ đêm với chúng tôi ở Nhà Trắng. Bo vui vẻ, nhưng không chịu ngủ trong Phòng ngủ Lincoln. Ông ấy không thể tự tha thứ về những chi xài vung vít của phe Cộng hòa trong Thời kỳ Tái thiết sau Nội chiến, hoặc cho sự tận tụy của phe Cộng hòa đối với người giàu và có quyền trong suốt thế kỷ 20. Bây giờ thì cả Bo và ông Lincoln đều đã lên thiên đàng, tồi thích nghĩ rằng họ đã cùng với nhau giải quyết những bất đồng rồi.

        Sau Alpena, tôi đi Flippin, một thị trân khoảng 1.000 dân ở hạt Marion, nơi có nhiều đường chưa được trải nhựa hơn bát cứ hạt nào trong tiểu bang của chúng tôi. Tôi đến gặp hai thanh niên mà tôi muốn nhờ họ điều hành chiến dịch vận động của tôi ở đó - Jim Red Milligan và Kearney Carlton. Họ để tôi ngồi giữa họ trên xe pick-up của Red và phóng ra một con đường đất lên Everton, một nơi bé tẹo trong khu vực hẻo lánh nhất của hạt, để gặp Leon Swofford, người sở hữu cửa hiệu duy nhất ở đó và nếu ủng hộ tôi thì tôi có thể kiếm được vài trăm phiếu. Ra khỏi thị trân khoảng 10 dặm, Red dừng xe giữa đồng không mông quạnh. Chúng tôi bị bụi bao phủ. Anh ta lôi ra một gói thuốc lá nhai Red Man, bỏ một miếng vào mồm, rồi đưa cho Kearney để anh này lấy một miếng. Sau đó Kearney đưa cho tôi và nói, "Chúng tôi muốn thử chất của anh. Nếu anh đủ ngon để nhai thuốc lá này, chúng tôi sẽ ủng hộ anh. Nếu không, chúng tôi sẽ bỏ anh lại đây để tự đi bộ về thị trấn". Tôi suy nghĩ và nói, "Thế thì mở cửa xe ra". Họ nhìn chằm chằm vào tôi khoảng năm giây, rồi phá lên cười và tiếp tục lái xe đến cửa hiệu của Swofford. Chúng tôi đạt được cam kết bỏ phiếu ở đây, và trong nhiều năm sau còn đạt được nhiều thứ hơn nữa. Nếu họ đánh giá tôi theo khẩu vị của tôi với thuốc lá Red Man thì giờ này tôi chắc vẫn còn loanh quanh trên mấy con đường ở hạt Marion.

        Vài tuần sau, tôi lại bị thử kiểu như thế nữa. Tôi đang ở Clarksville trong thung lũng sông Arkansas cùng với lãnh đạo hạt 20 tuổi là Ron Taylor, xuất thân dòng dõi gia đình chính trị và thông thạo chính trị trước tuổi. Anh này đưa tôi đến hội chợ để gặp cảnh sát trưởng của hạt, người mà Ron bảo chúng tôi phải chiếm được sự ủng hộ nếu muốn thắng ở hạt này. Chúng tôi tìm thây ông ta ở chỗ đua ngựa chứng, đang ghì cương một con ngựa. Kỳ biểu diễn cưỡi ngựa chứng chuẩn bị bắt đầu bằng một cuộc diễu hành ngựa quanh vũ đài. Ông cảnh sát trưởng trao cương ngựa cho tôi và bảo tôi tham gia diễu hành và sẽ được giới thiệu với đám đông. Ong ta hứa là con ngựa này ngoan ngoãn. Lúc ấy tôi đang mặc bộ vest sẫm, đeo cà vạt và mang giày mũi nhọn. Từ hồi lên năm đến giờ tôi đâu có cưỡi ngựa, mà hồi ấy cũng chỉ để chụp ảnh khi mặc quần áo cao bồi. Tôi đã từ chối nhai thuốc lá, nhưng tôi cầm lấy cương và leo lên ngựa. Tôi nghĩ, xem phim cao bồi cả đời rồi, có khó gì đâu? Khi lễ khai mạc bắt đầu, tôi đường hoàng cưỡi ngựa ra vũ dài. Khoảng 1/4 đường quanh vũ đài, ngay sau khi tôi được giới thiệu, con ngựa dừng lại, nhổng hai chân trước lên và lùi lại. Thật thần kỳ là tôi không bị ngã. Đám đông vỗ tay. Tôi đoán là họ nghĩ tôi cố tình làm thế. Ồng cảnh sát trưởng thì biết chuyện hơn, nhưng dù sao ông ta cũng ủng hộ tôi.

        Tôi hoàn tất chuyến đi vận động trong rặng Ozarks tại hạt Newton, một trong những nơi đẹp nhât ở Mỹ, nơi có dòng sông Buffalo mà gần đây được chỉ định là dòng sông đầu tiên được quốc hội bảo vệ theo Đạo luật Những dòng sông hoang dã và đẹp. Đầu tiên tôi dừng chân ở Pruitt, một khu định cư nhỏ trên bờ sông Buffalo, để gặp Hilary Jones. Dù sông trong một căn nhà khiêm tốn, ông ấy làm nghề thầu xây đường và có lẽ là người giàu có nhất trong hạt. Di sản Dân chủ trong gia đình ông ấy có từ thời Nội chiến và trước nữa, và ông ấy có đủ sách gia phả để chứng tỏ điều này. Ông ấy gắn bó cội rễ với đất đai dọc dòng sông. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng, gia đình ông ấy đã mất rất nhiều đất, và khi ông ấy trở về sau Thế chiến hai, ông ấy đã làm lụng nhiều năm để mua lại được hết. Việc sông Buffalo được chọn là sông được bảo vệ đối với ông ấy là một cơn ác mộng khủng khiếp. Phần lớn các điền chủ dọc sông được trao quyền chủ đất suốt đời; trong đời họ, họ không thể bán đất cho ai khác ngoài chính quyền; và khi họ chết thì chỉ có chính quyền mới được mua đất của họ. Vì khu đất nhà Hilary ở ngay trên xa lộ chính nên chính quyền sẽ lấy lại đất này bằng quyền tịch thu không bồi thường trong tương lai gần và biến nó thành một phần của khu vực hành chính. Ông ấy và vợ, bà Margaret, có tám người con. Họ muốn con họ được hưởng đất. Trong khu đất của họ có một nghĩa trang cổ, nơi chôn cả những người từ thế kỷ 18. Mỗi khi có ai chết cô độc hoặc trong cảnh cùng cực, Hilary bỏ tiền ra để họ được chôn cất trong nghĩa địa này. Tôi ủng hộ việc bảo vệ sông, nhưng tôi nghĩ lẽ ra chính quyền nên để cho những người chủ đất giữ lấy đất của họ theo chế độ bảo tồn phong cảnh, điều khoản này sẽ không cho phép xây cất gì thêm hoặc làm xuống cấp môi trường nhưng cho phép các gia đình được để lại đất đai từ thế hệ này cho thê hệ khác. Khi tôi làm tổng thống, những gì tôi biết về người dân ở Buffalo làm tôi hiểu hơn bất cứ một người Dân chủ nào khác về những khó chịu của các chủ trại miền tây khi những cân nhắc về môi trường xung đột với điều mà họ coi là đặc quyền của họ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2015, 01:07:03 AM
        Hilary Jones cuối cùng cũng thua cuộc với chính quyền. Điều ấy làm ông ta xính vinh, nhưng không thể giết được niềm đam mê chính trị của ông; ông chuyển đến nhà mới và lại tiếp tục. Ông ấy đến thăm tôi và Hillary trong Nhà Trắng, một đêm đáng nhớ. Ông ấy suýt khóc khi Hillary dẫn ông ấy vào phòng bản đồ để cho ông ấy xem tấm bản đồ mà F. Roosevelt dùng khi ông ấy mất ở Warm Springs, Georgia, năm 1945. Ông ấy sùng bái F. Roosevelt. Không giống như Bo Forney, ông ấy ngủ lại tại Phòng ngủ Lincoln. Khi ông ấy đến thăm chúng tôi ở Nhà Trắng, tôi đùa ông về chuyện ngủ trong phòng Lincoln mà Bo từng từ chối. Hilary bảo ít nhất thì ông cũng "ngủ ở phía giường dưới ảnh của Andrew Jackson".

        Từ ngày tôi gặp ông đến ngày tôi từ Nhà Trắng bay về để phát biểu tại tang lễ ông ấy, Hilary Jones là người của tôi ở hạt Newton. Ông ấy mang trong mình một tinh thần hoang dại, đẹp đẽ của một nơi đặc biệt mà tôi đã yêu mến ngay từ lần đầu nhìn thây nó năm 16 tuổi.

        Thủ phủ của hạt là thị trấn Jasper chỉ có chưa tới 400 dân. Có hai tiệm ăn, một thì phe Cộng hòa hay tới, một thì phe Dân chủ hay tới. Người tôi muốn gặp tên là Walter Brasel, sống ngay dưới tiệm của phe Dân chủ; vợ ông ấy điều hành tiệm ăn này. Tôi đến đó vào sáng chủ nhật, ông ấy vẫn còn đang ngủ. Khi tôi ngồi trong phòng khách nhỏ, ông ấy dậy và bắt đầu mặc quần trong khi cửa thông phòng ngủ với phòng khách vẫn còn để mở. Ông vẫn chưa tỉnh ngủ han, trượt chân, và phốp pháp đến mức lăn vài vòng đến vài mét ra ngoài phòng khách. Tôi cần sự ủng hộ của ông ấy nên tôi không thể cười. Nhưng ông ấy thì có. Ông bảo ông từng trẻ trung, gầy và nhanh nhẹn một thời, từng là hậu vệ ngăn chặn của đội bóng rổ trường Trung học Coal Hill mà ông dẫn dắt đoạt chức vô địch tiểu bang từ tay trường Trung học Central Little Rock vào thập niên 30; ông ấy lên ký trong những năm làm tay bán rượu lậu của hạt và giảm được nữa. Một lúc sau ông ấy bảo ông sẽ ủng hộ tôi, có chỉ để cho xong và có thể quay về giường ngủ lại.

        Tiếp đó, tôi lái xe ra miền quê để gặp Bill Fowler, ông này có trang trại ở Boxley. Bill từng làm đại diện của Arkansas trong Sở Đất đai nông nghiệp và Bảo tồn dưới thời Johnson. Khi chúng tôi đứng ở triền đồi với một quang cảnh núi tuyệt đẹp, ông ấy nói sẽ ủng hộ tôi, nhưng ông không cho rằng Hammerschmidt "sẽ bị dính phân của Nixon đến mức thối inh lên trong ngày bầu cử". Rồi ông cho biết đánh giá của mình về tổng thống: "Tôi không thích thú gì khi nói điều này về một người Cộng hòa, nhưng Nixon lẽ ra có thể trở thành một tổng thống tuyệt vời. Ông ta thông minh và đầy gan góc. Nhưng ông ta thật đáng thương, và ông ta không thể thoát ra khỏi cảnh ấy". Suốt dọc đường về Fayetteville, tôi cứ nghĩ về điều ông ấy nói.

        Trong những tuần đầu của chiến dịch, ngoài thứ chính trị bán lẻ, tôi còn cố lo liệu chuyện hậu cần bộ máy. Như tôi đã đề cập, bác Raymond và Gabe Crawford cùng ký một ngân phiếu 10 ngàn đôla để giúp tôi khởi sự, và tôi bắt đầu quyên tiền, đầu tiên chủ yếu là ở khu vực Fayetteville rồi tiếp theo ở các nơi khác trong quận và trong bang. Nhiều bạn tôi từ hồi Georgetown, Oxford và Yale cũng như trong các chiến dịch cho McGovern và Duffey gửi đến những ngân phiếu nho nhỏ. Người đóng góp lớn nhất cho tôi là bạn tôi Anne Bartley, con gái riêng của vợ Thông đốc Winthrop Rockerfeller, cô này về sau điều hành văn phòng của tiểu bang Arkansas tại thủ đô Washington khi tôi làm thống đốc. Tựu chung lại có hàng ngàn người cho tiền, thường là bằng các đồng một, năm hay 10 đôla bỏ vào giỏ mà chúng tôi truyền đi trong các cuộc tập hợp.

        Ngày 25 tháng 2, tôi chính thức tuyên bố ra tranh cử với gia đình tôi và một ít bạn bè ở lữ quán Avanelle, nơi mỗi sáng mẹ hay uống cà phê trước khi đi làm.

        Bác Raymond cho tôi một căn nhà nhỏ tại một vị trí thuận lợi để làm tổng hành dinh ở Hot Springs. Mẹ, người hàng xóm của tôi ở đại lộ Park là Rose Crane, và Bobby Hargraves - một luật sư trẻ có chị cùng làm việc với tôi ở Washington, đã tạo ra một hệ thống hoạt động hạng nhất. Rose sau này chuyển đến Little Rock và phục vụ dưới chính quyền của tôi khi tôi làm thống đốc, nhưng mẹ thì tiếp tục phát triển tổ chức và vận hành nó trong các cuộc vận động tiếp theo. Tổng hành dinh chính nằm ở Fayetteville, nơi bạn làm ngân hàng của tôi là George Shelton nhận làm chủ tịch chiến dịch và F. H. Martin, một luật sư trẻ cùng chơi bóng rổ với tôi, đứng ra làm thủ quỹ. Tôi mướn một căn nhà cũ ở đại lộ College, phần lớn do sinh viên điều hành trong tuần và do một mình cô con gái 15 tuổi Marie Clinton của em họ tôi là Roy điều hành vào dịp cuối tuần. Chúng tôi sơn những tấm biển lớn mang dòng chữ CLINTON TRANH CỬ VÀO QUỐC HỘI và dán ở hai bên hông nhà. Mấy tấm biển này bây giờ vẫn còn, bị sơn chồng lên nhiều thứ mỗi lần chủ mới đến. Hiện nay trên tấm biển ấy chỉ còn vài chữ: Ở ĐÂY NHẬN XĂM MÌNH. Sau này, người bạn thời thơ ấu của tôi là Patty Howe mở một tổng hành dinh ở Fort Smith, và các tổng hành dinh khác cũng mọc lên trong quận khi chúng tôi tiến gần đến ngày bầu cử.

        Khi tôi tới Little Rock vào ngày 22 tháng 3, tôi đã có ba đối thủ: Thượng nghị sĩ tiểu bang Gene Rainwater, một người Dân chủ bảo thủ để đầu đinh quê Greenwood, ngay phía nam của Fort Smith; David Stewart, một luật sư trẻ đẹp trai quê ở Danville của hạt Yell; và Jim Scanlon, viên thị trưởng cao ráo, quảng giao của Greenland, cách Fayetteville vài dặm về phía nam. Tôi ngại nhất là Stewart vì anh này hấp dẫn, biết ăn nói và lại đến từ hạt quê gốc của dòng họ Clinton, nơi tôi hy vọng sẽ ủng hộ tôi.

        Sự kiện chính trị lớn đầu tiên của chiến dịch là vào ngày 6 tháng 4: Cuộc tập hợp Thung lũng sông ở Russellville, một thành phố đại học ở rìa phía đông của quận. Đó là một sự kiện bắt buộc, và tất cả các ứng viên cho các chức vụ tiểu bang, liên bang và địa phương đều có mặt, trong đó có Thượng nghị sĩ Fulbright và Thống đốc Bumpers. Thượng nghị sĩ Robert Byrd của bang Tầy Virginia là diễn giả chính. Ông phát biểu một bài giảng đạo kiểu xưa và giải trí cho đám đông bằng cách chơi vĩ cầm. Sau đó đến lượt các ứng viên phát biểu, các ứng viên quốc hội được lên lịch nói cuối cùng. Khi mỗi ứng viên đều đã nói xong ba đến năm phút thì đã quá 10 giờ. Tôi biêt đến lượt chúng tôi lên nói, đám đông sẽ mệt và chán, nhưng tôi quyết định liều và chọn nói cuối cùng. Tôi nghĩ đó là cơ hội duy nhất của mình để tạo ấn tượng.
Tôi đã chuẩn bị kỹ bài nói và ép nó xuống còn hai phút. Đó là một lời kêu gọi đầy tâm huyết cho một quốc hội mạnh mẽ hơn, đại diện cho người dân thường chống lại việc tập trung quyền lực trong tay chính quyền Cộng hòa và những quyền lợi kinh tế của đồng minh của nó. Dù tôi đã viết bài nói ra, lúc lên nói tôi chỉ dựa theo trí nhớ và để hết tâm lực vào. Một cách nào đấy bài nói hợp với khán giả, những người đã mệt vì một buổi tối kéo dài lại tìm thấy được sức lực để đứng lên và hoan hô cổ vũ. Khi đám đông ra về, những tình nguyện viên của tôi phát cho họ bản sao bài diễn văn. Vậy là tôi khởi đầu thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2015, 07:47:21 AM
        Khi sự kiện kết thúc, Thống đốc Bumpers đến chỗ tôi. Sau khi khen ngợi bài nói của tôi, ông ta bảo ông biết tôi từng làm cho Thượng nghị sĩ Fulbright và nghĩ rằng thượng nghị sĩ không nên tìm cách hạ bệ ông ấy. Rồi ông ta làm tôi choáng váng khi nói, "Khoảng 12 năm nữa, cậu có thể sẽ đối mặt với quyết định tương tự về việc có tranh đua với tôi hay không. Nếu cậu nghĩ đó là việc đúng phải làm, thì cứ tranh cử, nhưng nhớ là chính tôi khuyên cậu làm như vậy đấy nhé". Dale Bumpers là một tay thật tinh khôn. Ông ấy cũng có thể kiếm sống thoải mái bằng nghề chuyên gia tâm lý lắm chứ.

        Những tuần kế tiếp là một loạt những cuộc tập hợp, những kỳ mở đợt bán hàng giảm giá, các bữa ăn nhẹ, các hoạt động quyên tiền, và chính trị bán lẻ. Tôi được củng cố mạnh về tài chính và tổ chức khi tổ chức AFL-CIO (liên đoàn các tổ chức công đoàn Hoa Kỳ - ND) quyết định ủng hộ tôi trong cuộc họp của tổ chức này ở Hot Springs. Hiệp hội Giáo dục Arkansas cũng ủng hộ tôi vì tôi ủng hộ các khoản trợ giúp liên bang cho giáo dục.

        Tôi dành nhiều thời gian ở các hạt mà người ta ít biết đến tôi và những hạt khó nắm bắt hơn vùng Ozark: hạt Benton ở cực tây bắc, các hạt nằm dọc hai bờ sông Arkansas, và các hạt ở phía tây nam trong rặng Ouachita. Ở hạt Yell, chiến dịch của tôi được điều hành bởi anh họ tôi Mike Cornwell, chủ nhà đòn địa phương. Vì anh ấy chôn cất phần lớn cư dân ở đây, anh ấy biết tất cả mọi người, và có một tính cách lạc quan giúp anh ấy tồn tại trong cuộc tranh đua khó nhọc chống lại người láng giềng của David Stewart của anh ở thị trấn Danville. Số người đóng vai trò tích cực   trong   chiến   dịch vận động thật đáng ngạc nhiên: từ những thanh niên và   doanh nhân trẻ đầy lý tưởng, các lãnh tụ lao động tài năng ở địa phương, đến các ủng hộ viên cốt cán của đảng Dân chủ, từ học sinh trung học cho đến những người già 70, 80 tuổi.

        Đến trước ngày bầu cử sơ bộ, chúng tôi đã tổ chức tài tình hơn và làm việc cật lực hơn đối thủ. Tôi được 44% phiếu, Thượng nghị sĩ Rainwater chỉ vừa nhỉnh hơn David Stewart để lọt vào vòng hai với 26% so với 25%. Thị trưởng Scanlon, người không có tiền nhưng vẫn tham gia tranh đua, lấy nốt số phiếu còn lại.

        Tôi nghĩ chúng tôi sẽ chiến thắng thoải mải trong vòng hai bầu cử loại trực tiếp ngày 11 tháng 6 trừ phi số người đi bầu quá ít, trong trường hợp ấy thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Tôi không muốn các ủng hộ viên của mình coi nhẹ lá phiếu và cảm thấy lo ngại khi chủ tịch đảng Dân chủ ở hạt Searcy là Will Goggins tuyên bố rằng tất cả việc bỏ phiếu ở hạt đó sẽ được tiến hành tại tòa án trên quảng trường ở Marshall. Như thế thì những người sống trên vùng quê cách chỗ bỏ phiếu 30, 40 dặm đường núi ngoằn ngoèo sẽ chẳng lái xe xuống để bỏ phiếu. Khi tôi gọi điện thuyết phục ông ấy mở thêm các điểm bỏ phiếu, Will cười và nói, "Này Bill, bình tĩnh nào. Nếu cậu không thắng nổi Rainwater, nếu không có đông người đi bỏ phiếu ở đây thì cậu không có cơ nào thắng nổi Hammerschmidt đâu. Tôi không đủ tiền để mở các điểm bỏ phiếu ở nông thôn khi chỉ 2,3 người đến bỏ phiếu đâu. Chúng ta sẽ cần đến số tiền đó vào tháng 11. Chúng tôi bỏ bao nhiêu phiếu thì cậu cũng phải chịu thôi".

        Ngày 11 tháng 6, tôi thắng với tỷ lệ 69% so với 31%, ở hạt Searcy dù số cử tri đi bầu ít tôi vẫn thắng với tỷ lệ 177 trên 10 phiếu. Sau kỳ bầu cử tháng 11, khi tôi gọi Will để cám ơn ông ấy vì đã giúp đỡ, ông ấy bảo ông muốn nói để tôi khỏi băn khoăn một điều: "Tôi biết cậu cho rằng tôi gian lận trong cuộc bầu cử loại trực tiếp cho cậu, nhưng thực ra không hề. Trên thực tế, cậu thắng với tỷ lệ 177 trên chín phiếu. Tôi cho Rainwater thêm một phiếu vì tôi không chịu nổi khi thấy ai chưa được nổi đến 10 phiếu".

        Chiến dịch tranh cử sơ bộ thật quá sức hạnh phúc đối với tôi. Tôi đã ném mình vào những môi trường không quen thuộc và học được nhiều khủng khiếp về mọi người - tác động của chính quyền lên cuộc sống của họ, quan điểm chính trị của họ được hình thành từ quyền lợi và giá trị của họ ra sao. Tôi cũng phải theo kịp lịch giảng dạy của mình. Thật khó khăn, nhưng tôi thích thú và tin rằng mình hoàn tất nó khá tốt ngoại trừ một lỗi lầm không thể tha thứ được. Sau khi cho thi vào mùa xuân, tôi phải chấm điểm trong khi chiến dịch tranh cử đang vào hồi quyết liệt nhất. Tôi đem các bài thi môn Luật hàng hải theo trên xe, vừa đi vừa chấm bài hoặc chấm vào ban đêm khi công việc vận động chấm dứt. Không biết vì sao trong khi di chuyển, tôi làm mất năm bài thi. Thật chết dở. Tôi cho mấy sinh viên này lựa chọn hoặc thi lại hoặc được qua tín chỉ không có điểm thi cụ thể. Họ đều chọn lấy tín chỉ, nhưng một trong số họ đặc biệt bực tức về chuyện này, vì cô ta là sinh viên giỏi và có lẽ đã được điểm A, và cũng vì cô ta là một người phe Cộng hòa trung thành từng làm việc cho Dân biểu Hammerschmidt. Tôi không nghĩ cô ta tha thứ cho tôi về chuyện làm mất bài thi của cô ấy hoặc chuyện tôi ra tranh cử với sếp của cô ấy. Chắc chắn tôi nghĩ về chuyện này khi hơn 20 năm sau, người sinh viên đó - thẩm phán liên bang Susan Webber Wright, trở thành quan tòa trong vụ kiện Paula Jones. Susan Webber Wright rất thông minh, và có lẽ tôi đã nên cho cô ấy điểm A. Dù gì đi nữa, đến kỳ tổng tuyển cử thì tôi xin nghỉ không lương ở trường luật.

        Trong mùa hè tôi vẫn giữ nhịp độ bề bộn, chỉ nghỉ đến dự lễ tốt nghiệp trung học của em trai, dự họp lớp 10 trung học của tôi và một chuyến đi Washington thăm Hillary và gặp một số đồng nghiệp của cô ấy trong số nhân viên điều tra miễn chức. Hillary và tất cả đồng nghiệp của cô ấy làm việc đến kiệt quệ dưới các đòi hỏi khắc nghiệt của John rằng phải triệt để, công bằng và tuyệt đối kín miệng- Tôi lo cô ấy kiệt sức - cô ấy ốm chưa từng thấy, ốm đến mức cái đầu đáng yêu của cô ấy có vẻ như quá to so với thân người.

        Vào kỳ nghỉ cuối tuần tôi đưa cô ấy đi nghỉ xả hơi ở Outer Banks ở Bắc Carolina. Chúng tôi có một kỳ nghỉ tuyệt vời bên nhau và tôi thực sự bắt đầu nghĩ rằng Hillary sẽ cùng tham gia chính trị với tổi ở Arkansas khi cuộc điều tra kết thúc. Hồi đầu năm trong chuyến đi tới Fayetteville, cô ấy được Hiệu trưởng Davis mời dự phỏng vấn cho một vị trí trong ban giảng huấn luật. Vài tuần sau cô ấy quay lại gây ấn tượng cho ủy ban tuyển dụng, và được đề nghị một công viêc nên bây giờ cô ấy có thể vừa dạy vừa hành nghề luật ở Arkansas. Vấn đề là liệu cô ấy có làm thế không. Vào thời điểm đó tôi lo chuyện cô ấy mệt mỏi và gầy ốm nhiều hơn.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2015, 06:01:18 AM
        Tôi trở về nhà với chiến dịch tranh cử và gặp phải vấn đề về sức khỏe nghiêm trọng hơn nhiều trong gia đình tôi. Ngày 4 tháng 7, tôi nói chuyện ở tiệm Mount Nebo Chicken Fry lần đầu tiên kể từ khi tôi đại diện cho Frank Holt tại đây vào năm 1966. Jeff, mẹ và Rose Crane đi xe tới nghe tôi nói và giúp tôi vận động đám đông. Có thể thấy ngay Jeff không được khỏe, và tôi được biết ông ấy gần đây không làm việc gì nhiều lắm. Ông bảo đứng suốt ngày mệt quá. Tôi đề nghị ông lên Fayetteville ở vài tuần với tôi, làm việc qua điện thoại và góp tiếng nói người lớn trong việc điều hành tổng hành dinh. Ông đồng ý và có vẻ thích thú, nhưng vào buổi tối khi tôi đi vận động về nhà, tôi thấy ngay là ông ấy bệnh. Một tối tôi bị sốc khi thấy ông quỳ bên giường và nằm trải ra. Ông bảo nếu nằm ông không thở được và đang tìm cách để ngủ. Khi ông không thể làm việc cả ngày ở tổng hành dinh được nữa, ông quay về nhà. Mẹ bảo tôi rắc rối ông gặp phải chắc là hậu quả của bệnh tiểu đường hoặc là tác dụng phụ của thuốc mà ông dùng để chữa bệnh này trong nhiều năm. Tại bệnh viện VA ở Little Rock, người ta phát hiện ông bị bệnh to tim, thường làm suy kiệt và sưng phồng cơ tim. Rõ ràng là không có thuốc chữa khỏi chứng này. Jeff về nhà và cố tận hưởng phần đời còn lại. Vài ngày sau, khi về vận động ở Hot Springs, tôi gặp ông một lúc để uống cà phê. Ông chuẩn bị đến West Memphis đê coi đua chó, vẫn bảnh bao như mọi khi, mặc quần, áo và đi giày trăng. Đó là lần cuối tôi gặp ông.

        Ngày 8 tháng 8, với vị thế của mình bị các đoạn băng chính mình ghi lại các cuộc nói chuyện với phụ tá làm lung lay, Tổng thống Nixon công bố ý định từ chức vào ngày hôm sau. Tôi nghĩ quyết dịnh của tổng thống là tốt đối với đất nước chúng tôi nhưng không lợi đối với chiến dịch tranh cử của tôi. Chỉ vài ngày trước thông báo này, Dân biểu Hammerschmidt đã bảo vệ Nixon và chỉ trích cuộc điều tra vụ Watergate trong một cuộc phỏng vấn đăng trên trang nhât của tờ Arkansas Gazette. Chiến dịch vận động của tôi đang có đà, nhưng một khi gánh nặng Nixon được cất khỏi vai Hammerschmidt, ta có thể thấy chiến dịch bắt đầu bị xì hơi.

        Tôi lên tinh thần được một chút khi vài hôm sau Hillary gọi và báo cô ấy sẽ tới Arkansas. Bạn cô ấy là Sara Ehrman sẽ lái xe chở cô ấy về. Sara lớn hơn Hillary hơn 20 tuổi và đã nhìn thấy ở cô ấy triển vọng của các cơ hội đối với phụ nữ. Bà ấy cho rằng Hillary thật khùng khi đến Arkansas sau bao nhiêu việc đã làm được và có biết bao bạn bè ở Washington, nên bà ấy bỏ thời gian để đích thân lái xe đưa Hillary đi, cứ vài dặm lại cố làm cô ấy thay đổi quyết định. Khi họ đến Fayetteville đã là tối thứ bảy. Tôi đang ở một cuộc tập hợp tại Bentonville, cách đó không xa về phía bắc, nên họ lái xe đến gặp tôi. Tôi cố phát biểu cho hay, vừa cho đám đông vừa cho Hillary và Sara nghe. Tôi xuống bắt tay mọi người rồi chúng tôi quay về Fayetteville và trở về với tương lai của chúng tôi.

        Hai ngày sau, mẹ gọi điện bảo tôi rằng Jeff đã chết trong khi ngủ. Ông ấy mới 48 tuổi. Mẹ suy sụp, và Roger cũng vậy. Đến lúc đó bà đã mất ba người chồng và em Roger đã mất hai người cha. Tôi lái xe về nhà và lo chuyện đám tang. Jeff muốn được thiêu nên chúng tôi phải gửi xác ông ấy đi Texas vì Arkansas lúc bấy giờ không có lò thiêu. Khi tro cốt của Jeff được gửi về, theo ý nguyện của ông nó được rải xuống hồ Hamilton gần nơi câu cá mà ông ưa thích nhất trong khi mẹ và Marge Mitchell - bạn bà đứng chứng kiến.

        Tôi đọc bài điếu văn tại đám tang. Tôi cố mô tả bằng những từ ngữ ít ỏi tình yêu mà ông ấy dành cho mẹ; sự chỉ bảo ông ấy dành cho Roger; tình bạn và lời khuyên bảo thông thái ông dành cho tôi; lòng tốt bụng ông ấy dành cho trẻ em và những người gặp vận rủi; phẩm giá trong việc ông chịu đựng nỗi đau đớn của quá khứ cũng như căn bệnh cuối cùng trong đời ông. Đúng như Roger hay nói trong những ngày sau khi ông ấy mất, "Ông ấy cố gắng mãnh liệt biết nhường nào". Dù trước khi bước vào đời chúng tôi ông ấy có là gì đi nữa, trong sáu năm ngắn ngủi của mình với chúng tôi, ông ấy là một người rất tốt. Tất cả chúng tôi thấy thiếu vắng ông trong một thời gian dài.

        Trước khi Jeff bệnh, tôi hầu như chẳng biết gì về bệnh tiểu đường. Căn bệnh đó đã giết chết chủ tịch chiến dịch vận động năm 1974 của tôi là George Shelton. Nó hành hạ hai người con của bạn tôi và cũng là cựu chánh văn phòng Erskine Bowles, cũng như hàng triệu người Mỹ khác, trong đó tỷ lệ người thiểu số bị bệnh không cân xứng với tỷ lệ người Mỹ bình thường. Khi tôi trở thành tổng thống, tôi biết tiểu đường và các biến chứng của nó chiếm đến 25% chi phí của chương trình Medicaid. Đó là lý do lớn tại sao khi làm tổng thống tôi ủng hộ việc nghiên cứu tế bào gốc và một chương trình tự chăm sóc cho bệnh nhân tiểu đường mà Hiệp hội Tiểu đường Hoa Kỳ gọi là bước tiến quan trọng nhất trong việc chữa trị chăm sóc bệnh nhân tiểu đường kể từ khi người ta chế được insulin. Tôi làm thế cho những đứa con của Erskine, cho George Shelton, và cho Jeff, người mà tôi chắc là không mong gì hơn là tránh cho những người khác nỗi đau đớn và kết cục quá sớm như ông ấy.

        Vài ngày sau đám tang, mẹ giục tôi - theo cách "đứng dậy và tiếp tục lên đường" của bà ấy - quay trở lại với chiến dịch tranh cử. Chính trị tạm dừng khi có việc tang chế, nhưng không dừng lâu. Thế là tôi quay lại làm việc, tuy nhiên tôi chắc chắn gọi điện thoại và thăm mẹ thường xuyên hơn, nhất là sau khi Roger đi Conway để học trường Hendrix vào mùa thu. Nó lo cho mẹ quá đến mức suýt không đi nữa. Mẹ và tôi cuôì cùng thuyết phục được nó.

        Khi tháng 9 đến, tôi vẫn bị dẫn điểm trong cuộc trứng cầu dân ý 59% so với 23% sau tám tháng hoạt động cực nhọc. Thế rồi tôi gặp may. Ngày 8 tháng 9, năm ngày trước kỳ đại hội đảng Dân chủ tiểu bang ở Hot Springs, Tổng thống Ford ban lệnh ân xá vô điều kiện cho Richard Nixon đối với tất cả các tội mà ông này "phạm hoặc không phạm" khi còn làm tổng thống. Cả nước quyết liệt không tán đồng. Thế là chúng tôi lại tiếp tục có chuyện làm.

        Tại đại hội tiểu bang, tất cả sự chú ý dồn yào cuộc tranh đua của tôi. Thống đốc Bumpers đã đánh bại Thượng nghị sĩ Fulbright với dẫn điểm xa trong cuộc bầu cử sơ bộ, và chẳng còn thách thức nghiêm túc nào trong các cuộc bỏ phiếu. Tôi không thích thấy Fulbright bị thua, nhưng điều đó không thể tránh được. Các đại biểu tại đại hội đều sẵn sàng và chúng tôi đổ thêm dầu vào lửa bằng cách đưa ban bè quê nhà và thêm nhiều ủng hộ viên từ khắp quận đến đầy Trung tâm hội nghị Hot Springs.

        Tôi nói một bài bốc lửa, hùng hồn thể hiện niềm tin của mình theo cách thức mà tôi hy vọng là sẽ đoàn kết được các phần tử bảo thủ và dân túy cấp tiến trong quận lại. Tôi mở đầu bằng cách tấn công việc Tổng thống Ford ân xá cho cựu tổng thống Nixon. Một trong những câu nói khá trong bài của tôi là: "Nếu Tổng thống Ford muốn ân xá ai đó, ông ta nên ân xá cho các cố vấn kinh tế của chính quyền".


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2015, 12:38:51 AM
        Nhiều năm sau, tôi đổi ý về việc ân xá cho Nixon. Tôi đã hiểu rằng đất nước cần phải tiếp tục đi tới, và tôi tin Tổng thống Ford đã làm điều đúng, dù không được dân chúng ủng hộ lắm; và tôi cũng nói như vậy khi chúng tôi tụ họp lại vào năm 2000 để kỷ niệm 200 năm Nhà Trắng. Nhưng tôi vẫn không đổi ý về các chính sách kinh tế của phe Cộng hòa. Tôi vẫn tin F. D. Roosevelt đúng khi nói, "Chúng ta vẫn biết chỉ vì quyền lợi cá nhân không thôi là vô đạo đức. Bây giờ chúng ta biết thêm rằng điều ấy là chính sách kinh tế tồi". Câu nói ấy ngày nay có thể áp dụng còn đúng hơn là hồi năm 1974.

        Chúng tôi rời Hot Springs trong thắng lợi. Chỉ còn bảy tuần nữa để chúng tôi có cơ hội, nhưng quá nhiều việc phải làm. Hoạt động ở tổng hành dinh của chúng tôi ngày càng tốt hơn. Những tình nguyện viên giỏi nhất của tôi đang trở thành những tay chuyên nghiệp có kinh nghiệm.

        Họ nhận được vài gợi ý hay từ người mà đảng Dân chủ cử xuống giúp chúng tôi. Tên ông ấy là Jody Powell, và sếp của ông ấy là Thống đốc Jimmy Carter của bang Georgia, từng đóng vai trò dẫn đầu trong việc giúp phe Dân chủ thắng lợi vào năm 1974. Vài năm sau, khi Jimmy Carter tranh cử tổng thống, nhiều người trong chúng tôi nhớ đến và biết ơn ông. Khi Hillary đến với tôi, cô ấy cũng giúp đỡ, cả cha và em trai cô ấy là Tony cũng vậy. Tony trương các bảng hiệu vận động khắp Arkansas và bảo những nhân vật Cộng hòa vê hưu ở vùng Trung Tây rằng gia đình nhà Rodham cũng là dân Cộng hòa Trung Tây, nhưng tôi là người chơi được đấy.
Nhiều sinh viên luật của tôi tỏ ra là những tài xế đáng tin cậy- Khi nào cần thiết trong chiến dịch tranh cử vào quốc hội của mình, có vài chiếc máy bay tôi có thể dùng để di chuyển. Một trong các phi công của tôi, ông Jay Smith 67 tuổi, bịt một mắt và không được đào tạo bài bản nhưng đã bay trong rặng Ozark 40 năm qua. Thường thì mỗi lần gặp thời tiết xấu, ông ấy lượn xuống dưới mây và bay theo thung lũng của sông xuyên qua rặng núi, trong khi đó vẫn kể chuyện cho tôi nghe hoặc ba hoa về chuyện Thượng nghị sĩ Fulbright biết trước tất cả những người khác rằng dính líu vào Việt Nam là sai lầm.

        Steve Smith thì xuất sắc khi nghiên cứu các vấn đề và lịch sử bỏ phiếu ủng hộ hay chống các vấn đề ấy của Hammerschmidt. Anh ấy đề ra một loạt các truyền đơn độc đáo so sánh quan điểm của tôi về các quan điểm với các lá phiếu ông ta bỏ về các vấn đề ấy, và cứ một tuần một lần chúng tôi lại tung ra một truyền đơn như vậy trong sáu tuần cuối của chiến dịch. Các truyền đơn này được báo chí địa phương chú ý, và Steve biến truyền đơn thành các quảng cáo báo chí hiệu quả. Thí dụ như khu vực thung lũng sông Arkansas từ Clarksville đến biên giới với Oklahoma ở phía nam Fort Smith đầy thợ mỏ than từng làm việc hàng chục năm ở các mỏ than lộ thiên làm lở lói khung cảnh cho đến khi luật liên bang buộc phải khôi phục lại vùng đất này. Nhiều thợ mỏ bị chứng phổi đen sau bao nhiêu năm hít bụi than và được quyền hưởng các ưu đãi từ phía chính quyền liên bang, nhưng khi chính quyền Nixon muốn cắt giảm chương trình trợ cấp này thì Hammerschmidt lại bỏ phiếu ủng hộ cắt giảm. Dân trong thung lũng sông không biết điều đó cho đến khi Steve Smith và tôi bảo cho họ biết.

        Tôi cũng có một số đề nghị tích cực khác, một số trong các đề nghị này tôi ủng hộ trong 20 năm, bao gồm một hệ thống thuế công băng hơn, chương trình bảo hiểm y tế toàn quốc, dùng tiền quyên góp công khai cho các cuộc bầu cử tổng thống, bộ máy liên bang gọn nhẹ và hiệu quả hơn, tăng chi ngân sách giáo dục liên bang và lập ra Bộ Giáo dục liên bang (lúc đó nó vẫn chỉ là một văn phòng trong Bộ Y tế, Giáo dục và An sinh), và các sáng kiến khuếch trương dự trữ năng lượng cũng như sử dụng năng lượng mặt trời.

        Chủ yếu nhờ vào sự ủng hộ tài chính của các nghiệp đoàn lao dộng toàn quôc mà bạn tôi và cũng là lãnh đạo khu vực của tổ chức AFL-CIO Dan Powell thúc đẩy, chúng tôi có đủ tiền để thực hiện vài mẩu quảng cáo trên truyền hình. Ông bạn già Dan Powell đã nói đến việc tôi thành tổng thống khi tôi vẫn còn thiếu 25 điểm để vào quốc hội. Tất cả những gì tôi làm là đứng trước máy quay phim và nói. Điều này buộc tôi phải suy nghĩ theo các đoạn kéo dài 28 giây. Sau một thời gian, tôi không cần đồng hồ bấm giờ để nhắc tôi thừa hay thiếu vài giây nữa. Chi phí sản xuất cho các mẩu quảng cáo này là thấp.

        Các quảng cáo truyền hình có thể mới ở dạng sơ khai, nhưng các quảng cáo trên radio của chúng tôi thì tuyệt. Một mẩu đáng nhớ được dựng ở Nashville đưa ra giọng hát một ca sĩ đồng quê có giọng giống hệt ca sĩ Johnny Cash vốn sinh ra ở Arkansas. Nó mở đầu thế này, "Nếu bạn đã ngán ăn đậu và rau xanh và đã quên mất vị thịt bò và thịt heo là thế nào, bạn cần lắng nghe một người". Mẩu quảng cáo tiếp tục và đả phá chính quyền Nixon đã chi tiền cho các thương vụ khổng lồ bán ngũ cốc cho Liên Xô, làm tăng giá thực phẩm và thức ăn gia súc, làm hại việc nuôi gia cầm và gia súc. Bài hát viết, "Đã đến lúc tống khứ Earl Butz [bộ trưởng nông nghiệp của Nixon] ra xa khỏi máng ăn". Giữa hai lời là điệp khúc: "Bill Clinton đã sẵn sàng, anh ấy cũng ngán. Anh ấy cũng như tôi, anh ấy cũng như bạn. Bill Clinton sẽ làm được việc ấy, và chúng ta sẽ gửi anh ấy đến Washington". Tôi khoái chỗ ấy. Don Tyson, với chi phí sản xuất cho trang trại gia cầm của mình tăng vọt sau mấy vụ bán ngũ cốc này, và có em trai làm việc chăm chỉ cho tôi, đã đảm bảo rằng tôi có đủ tiền để mở bài hát này cho đến hết đời trên radio ở nông thôn.

        Càng gần đến ngày bầu cử thì sự ủng hộ ngày càng mạnh và phe đối thủ cũng mạnh lên. Tôi được sự ủng hộ của tờ Arkansas Gazette, tờ báo lớn nhất tiểu bang, cộng thêm vài báo khác trong quận. Tôi bắt đầu vận động quyết liệt ở Fort Smith nơi cộng đồng da đen ủng hộ tôi mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi tôi gia nhập nhóm NAACP địa phương. Tôi tìm được sự ủng hộ khá ở cả hạt Benton vốn chủ yếu theo phe Cộng hòa. Bên Kia sông khỏi Fort Smith, bốn hoặc năm người thực sự đã làm việc đến kiệt lực để cố thu phục hạt Crawford cho tôi. Tôi được tiếp đón nồng hậu ở hạt Scott, phía nam Fort Smith, tại đêm hội săn thử thường niên của thợ săn cáo và sói. Đó là một sự kiện kéo dài suốt đêm ở nông thôn, nơi mà đàn ông cưng chó như con cái (và cũng chăm sóc chúng cẩn thận như vậy) thả chó ra đuổi theo bọn cáo và sủa trăng trong khi phụ nữ mang đến hàng núi thức ăn để trên bàn suốt đêm. Tôi thậm chí còn được một số ủng hộ tại Harrison, quê nhà của ông dân biểu, từ vài người dũng cảm không sợ phải đối mặt với kiểu định kiến của thị trấn nhỏ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2015, 02:52:49 AM
        Một trong những cuộc tập hợp thú vị nhất của mùa bầu cử diễn ra vào một buổi chiều thu trên sông White, không xa khu đất Whitewater tai tiếng mà sau này tôi đầu tư vào nhưng chưa bao giờ nhìn thấy nó. Phe Dân chủ trong vùng đều cảm thấy xáo trộn vì Bộ Tư pháp dưới thời Nixon đang cố bỏ tù cảnh sát trưởng hạt Searcy phe Dân chủ Billy Joe Holder vì tội trốn thuế thu nhập. Theo Hiến pháp 1876, lương của các viên chức địa phương và tiểu bang phải được dân chúng bỏ phiếu thông qua; lần tăng lương cuối cùng là vào năm 1910. Các viên chức của hạt chỉ kiếm được khoảng 5 ngàn đô/năm. Thống đốc được 10 ngàn, nhưng ít ra ông ta còn có dinh thự riêng, chi phí ăn uống và đi lại được trả. Nhiều viên chức địa phương buộc phải dùng đến các tài khoản dành cho chi phí khác, mà tôi nhớ là khoảng 7 ngàn đô/năm chỉ để sống được. Bộ Tư pháp muốn Holder đi tù vì không trả thuế thu nhập cho các khoản chi cá nhân từ tài khoản kia. Tôi tin rằng trường hợp của Holder là trường hợp truy tố nhỏ nhất mà chính phủ liên bang từng thực hiện, và người dân vùng núi tin rằng việc này là do động cơ chính trị. Nếu đúng như vậy thì việc ấy đã phản tác dụng. Sau một tiếng rưỡi cân nhắc, bồi thẩm đoàn tuyên bố vô tội. Hóa ra họ bỏ phiếu vô tội ngay lập tức, và nán lại trong phòng bồi thẩm hơn một tiếng nữa để làm cho có vẻ đích đáng. Billy Joe bước ra khỏi tòa án và lái xe thẳng đến cuộc tập hợp của chúng tôi, nơi ông ta được chào đón như một anh hùng vừa từ mặt trận trở về.

        Trên đường về lại Fayetteville, tôi dừng ở Harrison nơi phiên xử diễn ra để bàn chuyện ấy với cô Ruth Wilson, nhân viên kế toán công cộng chuyên tính thuế cho nhiều người. Tôi nói với Ruth rằng tôi hỉểu cô ấy đã giúp đỡ luật sư của Holder, bạn tôi F. H. Martin, trong việc chọn thành phần bồi thẩm. Cô ấy bảo đúng vậy. Tôi nửa đùa nửa thật hỏi có phải cô ấy nhét người của phe Dân chủ vào bồi thẩm đoàn không. Tôi sẽ không bao giờ quên câu trả lời của cô ấy: "Không, Bill à, tôi không làm vậy. Thực ra, trong bồi thẩm đoàn đó có khá nhiều người phe Cộng hòa. Cậu biết đấy, mấy tay trẻ tuổi từ Washington xuống để truy tố ông cảnh sát trưởng là những tay khôn ngoan, và trông họ cũng bảnh chọe ghê trong mấy bộ đồ đắt tiền. Nhưng họ đâu có hiểu dân ở đây. Lạ lắm nghe. Chín trong số 12 bồi thẩm viên đó vừa bị Sở Thu nhập Nội địa (IRS, cơ quan tính và thu I thuế thu nhập của người dân Mỹ - ND) thanh tra trong hai năm vừa qua". Tôi mừng là Ruth Wilson và cộng sự của cô ấy đứng về phía tôi. Sau khi cô ấy hạ nhóm luật sư Washington, Bộ Tư pháp bắt đầu hỏi những người sắp được chọn làm bồi thẩm viên về việc họ bị IRS đối xử ra sao.

        Khi chỉ còn hai tuần nữa là tới ngày thì ông dân biểu cuối cùng cũng tăng tốc chiến dịch vận động. Ông ta biết kết quả trưng cầu cho thấy nếu ông ta không tăng tốc thì đà tiến của tôi có thể giúp tôi chiến thắng sít sao. Người của ông ấy bắt đầu giở mọi mánh lới. Bạn bè kinh doanh và người phe Cộng hòa cũng bắt tay vào việc. Có ai đó bắt đầu gọi cho tất cả các báo để hỏi xin tấm ảnh chưa hề chụp tôi biểu tình chống Tổng thống Nixon tại trận cầu giữa hai đội Arkansas và Texas năm 1969, làm nảy sinh ra câu chuyện "leo cây" mà tôi kể trước đây. Ở Hot Springs, phòng thương mại tổ chức một tiệc lớn để cám ơn ông ta vì tất cả những gì ông đã làm. Vài trăm người đến dự, và báo địa phương đưa tin đầy đủ. Trong toàn quận, phe Cộng hòa dọa giới doanh nhân bằng cách cáo buộc tôi là được các nghiệp đoàn ủng hộ nhiều như vậy thì thế nào tôi cũng thành con rối trong quốc hội của các nhóm lao động có tổ chức. Tại Fort Smith, sáu ngàn tấm thiệp bưu điện chúng tôi gửi các ủng hộ viên chính trị trong danh sách chiến dịch vận động bằng điện thoại đã không được chuyển đi. Vài ngày sau cuộc bầu cử người ta tìm thấy đống thiệp trong thùng rác bên ngoài bưu điện chính. Chi nhánh tiểu bang của Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ ủng hộ Hammerschmidt mạnhí mẽ, đả kích tôi vì tôi đã cố thuyết phục các bác sĩ ở vùng Springdale chứa trị cho người nghèo trong chương trình Medicaid. Hammerschmidt thậm chí còn dùng các quỹ chia sẻ thu nhập của liên bang để lát đường ở Gilbert, một thị trân nhỏ trong hạt Searcy vài ngày trước khi bầu cử. Ông ta thắng với tỷ lệ 38-34, nhưng đó là thị trấn duy nhất trong hạt ông ta kiếm được.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười, 2015, 01:29:55 AM
        Tôi cũng hiểu ra rằng ông ta vận động giỏi đến thế nào vào kỳ nghỉ cuối tuần trước ngày bầu cử khi tôi đến một cuộc tập hợp cuối ở trung tâm hội nghị Hot Springs. Chúng tôi không mời được nhiều người đến dự như tại tiệc của ông ta cách đó vài ngày. Người của chúng tôi đã làm việc tận tình, nhưng họ đã mệt mỏi.

        Dù vậy, vào ngày bầu cử tôi vẫn nghĩ chúng tôi sẽ thắng. Khi tập trung trong phòng ở tổng hành dinh để theo dõi kết quả, chúng tôi hồi hộp nhưng đầy hy vọng. Chúng tôi dẫn trước cho đến gần nửa đêm, vì hạt lớn nhất và nhiều phe Cộng hòa nhất là Sebastian báo kết quả về muộn. Tôi thắng được 12 trong số 15 hạt với dưới tám ngàn phiếu tổng cộng, bao gồm mọi hộp bỏ phiếu dọc sông Buffalo ở hạt Newton và Searcy. Nhưng tôi thua năm trong sáu hạt lớn nhất, tại mỗi nơi chỉ thua có vài trăm phiếu ở hạt Garland, nơi tôi lớn lên, và hạt Washington, nơi tôi sống, thua luôn hạt Crawford với cách biệt vài trăm phiếu và bị thua tơi tả ở các hạt Benton và Sebastian, nơi phần thua tổng cộng của tôi nhiều gấp đôi số cách biệt giữa tôi và người thắng cuộc. Tỷ lệ thắng cuộc của mỗi người chúng tôi là 2/1 ở mỗi bang. Ông ấy thắng hạt Sebastian, hạt lớn nhất, còn tôi thắng hạt Perry, hạt nhỏ nhất. Bây giờ, khi mà dân Mỹ miền quê chủ yếu bỏ phiếu cho phe Cộng hòa trong các cuộc bầu cử toàn quốc, thật trớ trêu rằng tôi bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình với căn cứ chủ yếu là miền quê, nhờ vào các tiếp xúc cá nhân thường xuyên cũng như khả năng đáp ứng với những bực bội hay các vấn đề có thật của họ. Tôi đứng về phía họ, và họ biết điều ấy. Kết quả kiểm phiếu cuối cùng cho thấy tỷ lệ là 89.324 phiếu so với 83.030 phiếu, tức khoảng 52 so với 48%.

        Xét trên toàn quốc thì phe Dân chủ có một đêm tốt lành, chiếm được 49 ghế hạ viện và bôn ghế thượng viện, nhưng chúng tôi đơn Slan là không thể vượt qua nổi sự mến chuộng của dân chúng đối với Hammerschmidt cũng như cú tấn công vào phút chót của ông ấy. Khi chiến dịch vận động bắt đầu, tỷ lệ dân chúng ủng hộ ông là 85%. Tôi kéo nó xuống còn 69%, trong khi tỷ lệ ủng hộ tôi từ 0 lên được 66%, rất tốt nhưng vẫn không đủ tốt. Ai cũng nói tôi làm ăn cũng khá và có một tương lai tươi sáng. Nghe như vậy thật dễ chịu, nhưng tôi muốn thắng mà. Tôi tự hào về chiến dịch tranh cử và cảm thấy không biết vì sao tôi đã để chiến dịch hụt hơi trong vài ngày cuối cùng, và đã làm thất vọng bao nhiêu người từng làm việc tận tụy cho tôi và những đổi thay chúng tôi muốn tạo ra. Có thể nếu tôi có nhiều tiền hơn và bén nhạy hơn để tiến hành các mẩu quảng cáo trên truyền hình về lai lịch bỏ phiếu của ông dân biểu thì có lẽ sự thể sẽ khác. Mà cũng có thể không. Dù sao đi nữa, vào năm 1974 tôi đã chính mắt chứng kiến trong hàng ngàn cuộc gặp gỡ rằng cử tri trung lưu sẽ ủng hộ hành động của chính quyền để giải quyết các vấn đề của họ, và của cả người nghèo nữa, nhưng chỉ khi nỗ lực đó được thực hiện với sự lưu tâm đúng mức tới đồng tiền họ đóng thuế, và khi các nỗ lực tăng các cơ hội đi cùng với cam kết trách nhiệm.

        Sau khi dành vài ngày đi và gọi điện cám ơn mọi người, tôi rút vào trạng thái trốn tránh một cách lo lắng. Phần lớn trong sáu tuần kế tiếp tôi ở nhà của Hillary, một nơi dễ chịu gần trường. Chủ yếu tôi chỉ nằm dài trên sàn nhà, điểm lại những nuối tiếc và cố tìm ra cách làm sao có thể trả hơn 40 ngàn đôla tiền nợ từ chiến dịch tranh cử. Lương mới của tôi là 16.450 đôla quá đủ để sống và trả nợ tiền học trường luật, nhưng không thấm tháp gì so với số nợ từ chiến dịch vận động. Vào tháng 12, ở trường có tổ chức một buổi khiêu vũ có ban nhạc và Hillary bắt tôi đưa cô ấy đi. Sau khi chúng tôi nhảy vài tiếng, tôi bắt đầu cảm thấy đỡ hơn. Dù vậy, vẫn còn phải thêm một thời gian lâu trước khi tôi hiểu ra rằng ông dân biểu đã ra ơn cho tôi bằng cách đánh bại tôi. Nếu tôi thắng và đi Washington, tôi chắc là tôi đã không bao giờ được bầu làm tổng thống. Và như thế tôi sẽ để vuột mất 18 năm tuyệt vời sống ở Arkansas kế tiếp.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2015, 05:10:06 AM
 
        19


        Tháng 1 năm 1975, tôi quay lại với việc giảng dạy, năm học duy nhất của tôi không bị chính trị làm cho gián đoạn. Trong học kỳ mùa xuân, tôi dạy môn Chống tổ hợp độc quyền và tổ chức một buổi hội thảo về Tội phạm cổ cồn trắng, ở khóa mùa hè, Tranh chấp hàng hải và Quyền Liên bang; mùa thu, lại Tội phạm Cổ cồn trắng và Luật Hiến pháp. Trong Luật Hiếp pháp, tôi dành hẳn hai tuần cho vụ kiện Roe đối đầu với Wade, quyết định của Tòa án tối cao dành cho phụ nữ quyền phá thai trong 6 tháng đầu thai kỳ, quãng thời gian mà bào thai cần có trước khi thành thai nhi "sống" - nghĩa là có thể sống được ngoài tử cung người mẹ. Tòa quy định, sau thời gian này, nhà nước bảo vệ cho đứa trẻ được ra đời bất kể quyết định bỏ thai của người mẹ, trừ trường hợp tính mạng hoặc sức khỏe của người mẹ bị đe dọa nếu tiếp tục mang thai hay sinh nở. Một vài sinh viên coi Luật Hiến pháp chỉ là một khóa học như những khóa khác mà họ phải ghi nhớ về luật pháp nên không thể hiểu được vì sao tôi lại dành nhiều thời gian cho Roe đến thế. Kể cũng dễ dàng nhớ được quy định thời gian của thai kỳ và những lý đằng sau.

        Tôi bắt buộc họ đào sâu về đề tài này, bởi vì lúc đó tôi nghĩ, và bây giờ tôi vẫn tin rằng, Roe đối đầu với Wade là quyết định tư pháp khó khăn nhất. Dù họ quyết định như thế nào đi nữa thì Tòa tối cao phải đóng vai Chúa Trời. Không ai biết khi nào sinh vật biến thành con người, hoặc đối với người theo tôn giáo, khi nào linh hồn nhập vào thể xác. Hầu hết các cuộc phá thai không liên quan đến sức khỏe hay tính mạng của người mẹ đều là lựa chọn của các cô gái hoặc phụ nữ đang hoảng sợ không biết phải làm gì khác. Hầu hết những ai ủng hộ đều hiểu phá thai là kết thúc một cuộc sống và tin rằng việc này nên được luật pháp công nhận, nên được thực hiện một cách hợp pháp, an toàn và ít lần, và rằng chúng ta nên ủng hộ những bà mẹ trẻ nào vẫn quyết định giữ thai, như hầu hết họ vẫn làm. Phần lớn những người chống phá thai thì ủng hộ việc truy tố các bác sĩ nhưng lại không quả quyết lắm trước lập luận rằng phá thai là tội ác và trước kết luận hợp lý phải kết tội sát nhân đối với người mẹ. Ngay cả những người cuồng tín từng đánh bom các cơ sở phá thai cũng không nhắm vào những phụ nữ là khách hàng của các cơ sở này. Và cũng như những bài học mà chúng ta rút ra đầu tiên là với lệnh cấm rượu và sau này là chuyện sử dụng ma túy, vốn được sự ủng hộ còn nhiều hơn lệnh cấm phá thai, rằng rất khó áp dụng luật hình sự đối với các hành động mà phần lớn dân chúng không coi là tội ác.

        Lúc đó tôi nghĩ và bây giờ vẫn tin rằng Tòa án đã đưa ra quyết định sáng suốt, dù rằng, như thường thấy trong hoạt động chính trị ở Mỹ, hành động của tòa làm bùng lên phản ứng dữ dội, làm gia tăng các phong trào chống phá thai khiến việc có thể phá thai ở nhiều nơi giảm đáng kể, và đẩy một phần lớn cử tri vào tay của nhóm tân cánh hữu Cộng hòa. Bất kể cuộc trưng cầu dân ý cho thấy thái độ của cử tri đối với việc phá thai như thế nào, thì bất đồng mang tính toàn quốc của chúng tôi về vấn đề này vẫn có nghĩa là tác động của chuyện phá thai đến các kỳ bầu cử phụ thuộc vào việc bên nào cảm thấy bị đe dọa nhiều hơn. Ví dụ, trong phần lớn thời gian 30 năm qua, khi quyền được chọn phá hay giữ thai của phụ nữ đã được bảo đảm, thì những cử tri ủng hộ quyền lựa chọn cảm thấy tự do được bỏ phiếu ủng hộ hoặc chống các ứng cử viên tùy theo thái độ của họ về những vấn đề khác nữa, trong khi đối với các cử tri chống phá thai thì các vấn đề khác không quan trọng. Năm 1992 là một ngoại lệ. Quyết định của tòa phúc thẩm được công bố rộng rãi trong vụ Webster giảm quyền được lựa chọn, kết hợp với viễn cảnh Tòa tối cao sẽ trống chỗ trong tương lai đã đe dọa và kích động những cử tri ủng hộ, vì thế tôi và những ứng cử viên ủng hộ quyền lựa chọn khác không hề hấn gì trong năm đó. Sau khi tôi được bầu, với quyền được lựa chọn lại được bảo đảm, một lần nữa, dân ngoại ô ủng hộ quyền lựa chọn cảm thấy thoải mái bỏ phiếu ủng hộ các ứng cử viên Cộng hòa có quan điểm chống phá thai dựa trên những lý do khác. Trong khi đó, những người phe Dân chủ và những người thuộc khối độc lập vốn đồng tình với tôi trong các vấn đề kinh tế và xã hội khác thì lại thường cảm thấy phải ủng hộ các ứng cử viên chống phá thai, thường luôn là những người bảo thủ phe Cộng hòa.

        Năm 1975, tôi không biết nhiều và cũng không quan tâm đến khía cạnh chính trị của chuyện phá thai. Tôi quan tâm đến những nỗ lực phi thường của Tòa án tối cao nhằm hòa giải những quan niệm trái ngược nhau về luật pháp, đạo đức, và mạng sống. Theo tôi, họ đã làm hết sức mình trong điều kiện không biết Chúa Trời nghĩ gì. Dù cho sinh viên của tôi có đồng ý với tôi hay không, tôi vẫn muốn họ suy nghĩ thấu đáo về vấn đề đó.

        Mùa thu, tôi có nhiệm vụ giảng dạy mới: tôi được yêu cầu đến cơ sở ở Little Rock của trường mỗi tuần một lần để dạy một khóa ban đêm về Luật và Xã hội cho các sinh viên ban ngày làm việc trong các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tôi háo hức được làm việc này và rất thích thú khi được tiếp xúc với những người dường như quan tâm thực sự xem công việc của họ ở sở cảnh sát và văn phòng cảnh sát trưởng phù hợp như thế nào với nền tảng hiến pháp cũng như cuộc sống dần sự thường nhật.

        Ngoài dạy học, tôi vẫn tham gia chính trị và làm vài việc liên quan đến luật khá là thú vị. Tôi được cử làm lãnh đạo ủy ban cấp tiểu bang của đảng Dân chủ về hành động tích cực. ủy ban này được thiết lập nhằm bảo đảm nữ giới và các nhóm thiểu số tham gia nhiều hơn vào hoạt động của đảng, tránh chuyện rơi vào tình thế do các quy định của McGovern đưa ra là thành phần đoàn đại biểu đến dự đại hội đảng phải có tỷ lệ đại diện tương ứng với tỷ lệ các nhóm dân chúng nhưng những người này lại thường chưa bao giờ làm việc cho đảng và không thể có được bất cứ phiếu bầu nào. Công việc cho tôi cơ hội đi khắp bang để gặp gỡ các đảng viên Dân chủ, cả da trăng lẫn da đen, có quan tâm đến vấn đề này.

        Một vấn đề khác bắt buộc tôi phải tiếp tục hoạt động chính trị là nhu cầu phải trả nợ tranh cử. Cuối cùng tôi cũng trả được theo cách tương tự như tôi đã làm lúc kiếm tiền tranh cử, thông qua nhiều dịp gây quỹ nhỏ và với sự giúp đỡ của một vài mạnh thường quân hào phóng. Tôi nhận được 250 đôla đầu tiên từ tay Jack Yates, một luật sư giỏi ở Ozarks đã ủng hộ tôi rất tích cực trong cuộc bầu cử cùng với đồng sự là Lonnie Turner. Jack trao tấm séc cho tôi trong vòng hai tuần sau bầu cử. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa biết sẽ kiếm những đồng đôla tiếp theo ở đâu và tôi không bao giờ quên chuyện đó. Thật buồn là vài tháng sau khi giúp tôi, Jack đã mất vì bị bệnh tim. Sau đám tang, Lonnie Turner hỏi tôi có thể tiếp quản những vụ người bị bệnh đen phổi mà Jack đang lo được hay không. Chính quyền Nixon đã ban hành những qui định mới siết chặt trợ cấp và yêu cầu kiểm tra lại hồ sơ của những người đã nhận trợ cấp. Trong nhiều trường hợp, người ta rút lại trợ cấp. Tôi bắt đầu lái xe đến Ozarks tuần một hoặc hai lần để kiểm tra lại hồ sơ và phỏng vấn những người thợ mỏ già, tôi hiểu rằng mỗi đồng được trả đều trích từ chi phí của các vụ mà tôi thắng được.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2015, 03:40:40 AM
        Lonnie biết tôi rất quan tâm đến chuyện này và quen thuộc với chương trình này. Đúng là lúc bắt đầu chương trình trợ cấp cho người bị đen phổi thì việc đánh giá rất lỏng lẻo và có một sô người thực sự không cần trợ cấp mà vẫn được nhận, nhưng cũng như với các chương trình khác của chính phủ, nỗ lực sửa chữa sai lầm lại đi quá xa theo chiều ngược lại.

        Ngay từ trước khi tiếp nhận các vụ kiện của Jack Yates, tôi đã đồng ý giúp một người đấu tranh để được nhận trợ cấp chữa bệnh đen phổi. Jack Burns Sr. sống ở một thị trấn nhỏ ở phía nam Fort Smith - cha của người quản trị bệnh viện Ouachita ở Hot Springs, nơi mẹ tôi làm việc. Ông cao khoảng 1,6m và nặng khoảng 46kg- Jack là người kiểu cũ, trầm tĩnh, đang bị nám phổi nặng. Ông đủ điều kiện để lĩnh trợ cấp, và hai vợ chồng ông rất cần đến khoản tiền này để thanh toán các khoản chi tiêu hàng tháng. Trong nhiều tháng cùng làm việc, càng lúc tôi càng thêm khâm phục lòng kiên nhẫn cũng như quyết tâm của ông. Khi thắng kiện, tôi cũng vui mừng như ông vậy.

        Tôi nghĩ có khoảng hơn một trăm vụ như của Jack Burn trong đống hồ sơ mà Lonnie Turner đưa cho tôi. Tôi thích lái xe từ Fayetteville đến Ozarks trên con đường ngoằn ngoèo được mọi người gọi là "Đường heo đi" để làm việc với họ. Các vụ kiện sẽ được trình bày trước tiên với thẩm phán hành chính Jerry Thomasson, một đảng viên Cộng hòa công minh. Sau đó các vụ kiện sẽ được kháng nghị lên thẩm phán liên bang ở Fort Smith là Paul X. Williams, một người phe Dân chủ biết thông cảm. Cả thư ký lâu năm của ông cũng thế, Elsijane Trimble Roy đã giúp tôi rất nhiều. Tôi rất phấn khởi khi Tổng thống Carter bổ nhiệm bà làm nữ thẩm phán liên bang đầu tiên của Arkansas.

        Trong khi tôi vẫn tiếp tục dạy, hoạt động chính trị và làm luật sư thì Hillary cũng đang ổn định cuộc sống ở Fayetteville. Tôi có thể thấy cô ấy thực sự thích nơi này, thích đến mức có thể ở lại. Cô dạy Luật Hình sự và Diễn án, và giám sát cả trung tâm hỗ trợ pháp lý và lẫn các sinh viên làm công tác hỗ trợ cho tù nhân. Một số luật sư và thẩm phán lớn tuổi hay nóng giận và một số sinh viên lúc đầu không hiếu Hillary là người thế nào, nhưng dần dần cô ấy đã thuyết phục được họ. Vì Hiến pháp quy định bị can trong các vụ án hình sự có quyền có luật sư, các thẩm phán thường chỉ định luật sư tại địa phương đại diện cho các bị can nghèọ, và vì bị cáo hình sự nghèo hầu như không bao giờ trả tiền, nên tòa án muôn trung tâm của Hillary lãnh các vụ kiện. Trong năm đầu tiên, trung tâm đã phục vụ hơn 300 thân chủ và trở thành một bộ phận có tiếng trong trường luật. Trong suốt quá trình đó, Hillary đã được cộng đồng luật chúng tôi rất kính trọng, cô ấy đã giúp đỡ nhiều người và tạo ra được uy tín mà vài năm sau đó khiến Tổng thống Carter chỉ định cô ấy vào ban lãnh đạo của Tập đoàn Dịch vụ pháp lý quốc gia.

        Jimmy Carter là diễn giả chính trong Ngày Luật pháp vào cuối học kỳ mùa xuân. Lúc này đã rõ là ông ấy sẽ tranh cử tổng thống. Tôi và Hillary trao đổi ngắn gọn với ông, và ông mời chúng tôi tiếp tục trò chuyện ở Little Rock, nơi ông đã có lịch làm việc. Cuộc trò chuyện khẳng định cảm giác của tôi rằng ông ta có cơ hội thắng cử. Sau vụ Watergate và những rắc rối của nền kinh tế đất nước, một thống đốc người miền Nam thành đạt không dính líu đến chính trị ở Washington và có thể thuyết phục những người mà đảng Dân chủ đã để mất năm 1968 và 1972 có vẻ như một luồng gió mới trong lành. Sáu tháng trước, tôi đã đến gặp Dale Bumpers và thúc giục ông tranh cử, và nói rằng: "Trong năm 1976, người nào giống ông sẽ thắng cử. Người đó có thể là ông lắm chứ". Ông ta có vẻ quan tâm nhưng lại nói không thể được; ông ta vừa được bầu vào thượng viện, và các cử tri Arkansas sẽ không ủng hộ nếu ông ra tranh cử tổng thống ngay lập tức. Có thể ông nói đúng, nhưng ông lẽ ra đã có thể là một ứng viên tuyệt vời và là một tổng thống rất tốt.

        Bên cạnh công việc và cuộc sống xã hội bình thường với bạn bè, tôi và Hillary có vài lần chu du quanh và ngoài Fayetteville. Một đêm chúng tôi lái xe theo xa lộ 71 xuống phía nam đến Alma để nghe Dolly Parton hát. Tôi là người hâm mộ Dolly Parton cuồng nhiệt, và có thể nói là đêm đó bà ấy thật tuyệt vời. Nhưng tác động dai dẳng nhất của đêm đó là cuộc chạm trán đầu tiên của tôi với những người đã đưa cô ấy đến Alma, đó là Tony và Susan Alamo. Lúc đó, hai người này đang bán trang phục biểu diễn Nashville điệu đà cho nhiều ngôi sao ca nhạc đồng quê lớn nhất nước Mỹ. Họ không chỉ làm những việc này. Tony, trông về ngoài giống như Roy Orbison đang "phê thuốc", từng là người quảng bá các buổi biểu diễn rock-and-roll ở California lúc anh gặp Susan, người lớn lên gần Alma nhưng đã chuyển đến miền tây và trở thành người truyền giáo trên truyền hình. Họ nhóm lại và anh đã lăng xê cô như đã làm với các ngôi sao rock and roll. Susan có mái tóc vàng sáng và thường xuyên mặc áo dài quét đất khi truyền đạo trên tivi. Cô ấy làm việc ấy rất giỏi, và anh ấy lăng xê cô cũng rất tốt. Họ tạo ra một triều đại nhỏ, có cả một trang trại do những người hâm mộ trẻ nhiệt tình điều hành, những người này tôn thờ Tony và Susan cũng như các tín đồ trẻ theo mục sư Sun Myung Moon tôn thờ lãnh tụ của họ vậy. Khi Susan bị ung thư, cô muốn về nhà ở Arkansas. Họ mua một căn nhà lớn ở Dyer, quê nhà của Susan, khai trương một sân khấu ở Allma nơi Dolly Parton hát, và mở một phiên bản nhỏ hơn của cửa hàng bán trang phục biểu diễn nhạc đồng quê Nashville ngay đối diện và có một chiếc xe tải lớn mỗi tuần chuyên chở thực phẩm từ trang trại ở California về cho họ và đạo quân lao động trẻ ở Arkansas của họ. Susan vấn xuất hiện trên tivi và vẫn thành công cho đến khi cô thực sự suy sụp vì bệnh tật. Khi cô chết, Tony tuyên bố Chúa Trời đã sai anh ta một ngày nào đó phải nuôi cô sống lại, và anh ta đặt thi thể của Susan vào một hộp bằng kính đặt trong nhà để chờ ngày đó. Anh ta cố gắng duy trì triều đại của mình bằng lời hứa Susan sẽ quay lại, nhưng một người chuyên lăng xê không còn là gì nữa nếu không còn người mà anh ta lăng xê. Mọi việc ngày càng xuống dốc. Khi tôi làm thống đốc, Tony vướng vào một tranh chấp dữ dội với chính phủ về thuế và tổ chức một cuộc phản đối bất bạo lực xung quanh nhà mình. Vài năm sau, anh ta quan hệ với một phụ nữ trẻ. Có lẽ, Chúa Trời đã nói chuyên lại với anh ta và bảo rằng Susan sẽ không bao giờ quay lại, thế là anh ta đem xác cô ấy ra khỏi hộp kính và đem đi chôn cất.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2015, 04:04:23 AM
        Mùa hè, tôi dạy cả hai học kỳ của khóa mùa hè để kiếm thêm tiền và tôi rong chơi cùng bạn bè và Hillary ở Fayetteville. Một hôm tôi lái xe đưa Hillary ra sân bay để quay về miền đông. Khi đang lái xe trên đường California Drive, chúng tôi đi qua một căn nhà bằng gạch thô rất đẹp dựa lưng vào ngọn đồi nhỏ có tường đá bao quanh sân trước. Ở sân có tấm bảng đề NHÀ BÁN. Hillary nhận xét nhà rất đẹp. Sau khi thả cô ấy xuống sân bay, tôi quay lại xem ngôi nhà. Đó là ngôi nhà một lầu, rộng khoảng 102m2, có phòng ngủ, phòng tắm, bếp gắn liền với khu vực ăn sáng, phòng ăn nhỏ và một phòng khách lộng lẫy, trần nhà sáng, cao bằng nửa chiều cao trần nhà của những ngôi nhà khác, một lò sưởi được xây nhô ra trông đẹp mắt và cửa sổ gắn kính ba mặt. Lại còn thêm một hàng hiên rộng có tường bao có thể dùng làm phòng khách quanh năm. Trong nhà không có máy điều hòa không khí nhưng có một   quạt lớn trên trần cũng đỡ rất nhiều. Giá bán 20.500 đôla. Tôi mua căn nhà bằng cách trả ngay tiên mặt 3.000 đôla, đủ để giảm khoản trả góp thế chấp hàng tháng xuống 174 đôla.

        Tôi chuyển đến nhà mới một ít đồ đạc mà tôi có và mua thêm một ít đồ dùng đủ để trông ngôi nhà không thênh thang quá. Khi Hillary trở về, tôi nói: "Em có nhớ căn nhà nhỏ mà em rất thích không? Anh mua rồi. Bây giờ em phải cưới anh, bởi vì anh không thể sống ở đó một mình được". Tôi lái xe đưa cô đến thăm nhà. Cần phải sửa sang thêm nữa, nhưng mánh của tôi đã hiệu quả. Mặc dù Hillary chưa bao giờ nói với tôi rằng sẽ sẵn sàng ở lại Arkansas nhưng cuối cùng cô ấy cũng đồng ý.

        Ngày 11 tháng 10 năm 1976, chúng tôi làm lễ cưới trong phòng khách lớn của căn nhà nhỏ số 930 California Drive, sau khi căn nhà được sửa sang lại trước con mắt giám sát của Marynm Bassett một người chuyên trang trí nội thất biết rõ kinh phí của chúng tôi khá là eo hẹp. Ví dụ, cô đã giúp chúng tôi chọn giấy dán tường màu vàng nhạt trong khu vực ăn sáng nhưng chúrig tôi tự dán lấy, một dịp để tái xác nhận khả năng lao động chân tay của tôi là hạn chế. Hillary mặc bộ váy áo thời Victoria cổ điển mà tôi rất thích, và mục sư Vic Nixon tác hợp cho chúng tôi trước sự chứng kiến của cha mẹ và các anh của Hillary, mẹ tôi, Roger (làm rể phụ), và một số bạn thân của chúng tôi: bạn thân nhất của Hillary ở Park Ridge là Bestv Johnson Ebeling, và Tom - chồng của cô; bạn học ở Wellesley - Johanna Branson; người em họ của tôi Marie Clinton; thủ quỹ cho cuộc vận động là F.H. Martin và vợ Myrna; bạn tốt nhất ở khoa luật, Dick Atkinson và Elizabeth Osenbaugh; và bạn ấu thơ của tôi, cũng là một nhân viên vận động không mệt mỏi Patty Howe. Hugh Rodham không bao giờ nghĩ rằng ông sẽ trao cô con gái theo Giám lý của mình cho một kẻ theo Baptist phương Nam ở vùng núi Ozarks ở Arkansas. Lúc đó tôi đã cố gắng lấy lòng ông và các thành viên khác của gia đình Rodham được bốn năm. Tôi hy vọng đã giành được cảm tình của họ. Còn họ chắc chắn đã chiếm được cảm tình của tôi.

        Sau buổi lễ, vài trăm người bạn của chúng tôi tụ tập ở nhà của Morriss và Ann Henry để ăn tiệc, và chúng tôi nhảy nhót suốt đêm ở nhà của Billie Schneider ở Downtown Motor Inn. Bốn giờ sáng, tôi và Hillary đã đi ngủ, tôi nhận được điện thoại của em rể Tony lúc này đang ở trong nhà giam của quận Washington. Trong khi lái xe đưa một người khách của chúng tôi về nhà, Tony đã bị một binh sĩ tiểu bang chặn lại, không phải vì lái xe quá tốc độ hay chạy loạng choạng mà vì người khách ngật ngưỡng trên xe đã thò hai chân ra ngoài cửa xe sau. Sau khi thổi Tony, viên cảnh sát có thể dễ dàng thấy Tony có uống rượu, thế là lôi cậu ấy về đồn. Khi tôi đến đồn cảnh sát để bảo lãnh Tony thì cậu ấy đang run bần bật. Người phụ trách trại giam nói rằng cảnh sát trưởng Herb Marshall, một đảng viên Cộng hòa mà tôi có cảm tình đã ra lệnh để nhà giam thật lạnh cho những người say rượu không ói mửa ra. Khi ra về, Tony hỏi tôi có thể giúp một người khác ra khỏi nhà giam được không, người này đến thị trấn để đóng phim cùng với Peter Fonda. Tôi đồng ý. Anh ta còn run rẩy hơn cả Tony, đến mức lúc lái xe ra anh ta đã đâm sầm vào chiếc Fiat nhỏ màu vàng của Hillary. Mặc dù tôi đóng tiền bảo lãnh cho anh ta ra ngoài, nhưng anh ta đã không bao giờ trả tôi tiền sửa xe. Mặt khác, ít ra anh ta đã không ói hết bữa tối ra sàn nhà giam của quận. Đêm đầu tiên với tư cách đàn ông có vợ của tôi kết thúc như vậy đấy.

        Từ lâu lắm tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ lập gia đình. Bây giờ tôi đã cưới vợ, và cảm thấy ổn, nhưng chưa chắc chắn liệu rồi cuộc hôn nhân sẽ dẫn chúng tôi tới đâu.

        Có thể cuộc hôn nhân của chúng tôi được viết và nói đến nhiều hơn bất cứ cuộc hôn nhân nào ở nước Mỹ. Tôi luôn ngạc nhiên trước những người thoải mái phân tích, chỉ trích và lên mặt dạy đời về chuyện này. Sau thời gian lập gia đình gần 30 năm và qua quan sát bạn bè, những người trải qua ly thân, hòa giải, và ly dị, tôi nhận thây hôn nhân với tất cả điều kì diệu cũng như đau khổ, niềm hạnh phúc mãn nguyện hoặc thất vọng, vẫn luôn là bí ẩn, người trong cuộc thây khó mà hiểu nổi, lại càng không thể tiếp cận được đối với người ngoài. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1975, tôi chưa biết tí gì về tất cả những chuyên như vậy. Lúc đó tôi chỉ biết tôi yêu Hillary, yêu cuộc sống, yêu công việc, yêu bạn bè vì có nhiều điểm chung, và những hứa hẹn mà chúng tôi cùng nhau có thể làm được. Tôi cũng tự hào về Hillary, và hào hứng trước một mối quan hệ có thể sẽ không hoàn hảo nhưng chắc chắn sẽ không tẻ nhạt.

        Sau đêm tân hôn không ngủ, chúng tôi quay lại công việc. Chúng tôi đang ở giữa học kỳ, và tôi phải đến dự những buổi điều trần về cac vụ đen phổi. Hai tháng sau, cuối cùng chúng tôi cũng đi nghỉ tràng mật ở Acapulco, một kỳ nghỉ khác thường, với toàn thể gia đình Hillary và bạn gái của một trong các anh em trai của cô ấy. Tất cả chúng tôi cùng ở một căn hộ sang trọng đẹp đẽ, đi dạo trên bờ biển, ăn nhà hàng. Tôi thấy như vậy quả là khác thường, nhưng tất cả chúng tôi đều rất vui vẻ. Tôi ngưỡng mộ mẹ của Hillary - Dorothy và vui vẻ cùng cha vợ và các anh em vợ đánh bài 48 lá và tán dóc. Cũng như tôi, họ là những người kể chuyên rất tài và ai cũng có thể bịa chuyện thành thần.

        Ở Acapulco, tôi đọc một cuốn sách của Ernest Becker có tên The Denial of Death - Sự từ chối cái chết, đi trăng mật mà đọc như vậy kể hơi nặng nề, nhưng tôi chỉ lớn hơn cha tôi một tuổi lúc ông mất, và tôi vừa có bước đi hết sức quan trọng. Dường như lúc này chính là thời điểm thích hợp để tiếp tục khám phá ý nghĩa của cuộc sống.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2015, 03:38:19 AM
        Theo Becker, khi trưởng thành, đến một thời điểm nào ấy, chúng ta bắt đầu có ý thức về cái chết, rồi về việc những người mà ta biết và yêu thương có thể chết đi, sau đó đến lúc chính ta, một ngày nào đấy cũng sẽ chết. Hầu hết chúng ta đều làm tất cả những gì có thể để trốn tránh cái chết. Trong khi đó, hầu như vô thức, chúng ta đều đón nhận bản ngã và ảo tưởng tự tại. Chúng ta theo đuổi các hoạt động, cả tích cực lẫn tiêu cực, mà chúng ta hy vọng có thể giúp chúng ta thoát khỏi xiềng xích của sự sinh tồn thông thường và có thể sẽ kéo dài sau khi chúng ta đã chết. Chúng ta làm tất cả những điều này với những nỗ lực vớt vát trước sự thực chắc chắn rằng cái chết là định mệnh cuối cùng của chúng ta. Một số trong chúng ta tìm đến quyền lực và tiền bạc, sô khác tìm đến tình ái lãng mạn, tình dục hay những kiểu buông thả khác. Một số người muốn làm vĩ nhân, sô khác muốn làm việc tốt hoặc thành người tốt. Dù thành công hay thất bại, chúng ta cũng vẫn sẽ phải chết. Tất nhiên, điều an ủi duy nhất là tin rằng vì chúng ta được tạo ra nên ắt hẳn phải có Đấng Sáng tạo, và chúng ta có ý nghĩa nào đó với Người nên cuối cùng theo cách nào đó sẽ trở về với Người.

        Những phân tích của Becker đưa chúng ta đến đâu? Ông kết luận: "Ai biết được sức mạnh đẩy cuộc sống tiến về phía trước sẽ xuất hiện dưới dạng nào trong tương lai... Mỗi người trong chúng ta có thể làm được nhiều nhất là tạo ra một cái gì - một vật thể hoặc chính chúng ta - thả nó vào trong sự hỗn mang rồi dâng hiến nó, có thể nói vậy, cho cuộc sống". Ernest Becker chết không lâu trước khi cuốn sách này được xuất bản, nhưng dường như ông đã giải được bài toán cuộc sống của Immanuel Kant: "Làm thế nào để có thể chiếm chỗ dành cho con người một cách tử tế trong tạo hóa, và phải học được rằng muốn trở thành con người thì cần phải làm những gì". Tôi đã dành trọn đời cố gắng làm như vậy. Cuốn sách của Becker giúp thuyết phục tôi rằng cố gắng làm được điều ấy là không uổng công.

        Tháng 12, tôi phải có một quyết định chính trị nữa. Nhiều ủng hộ viên của tôi muốn tôi tái tranh cử vào quốc hội. Món nợ của tôi đã trả xong, và họ muốn một trận tái đấu. Tôi nghĩ lần này sẽ khó đánh bại Dân biểu Hammerschmidt, ngay cả khi Jimmy Carter thắng vòng bầu cử sơ bộ. Quan trọng hơn, tôi không còn ước muốn đến Washington nữa; tôi muốn ở lại Arkansas. Và tôi quan tâm hơn đến chính quyền tiểu bang, một phần là do thẩm phán Jim Guy Tucker đã cho tôi cơ hội được viết báo cáo lên Tòa án tối cao Hoa Kỳ thay mặt cho bang trong một vụ kiện chống tổ hợp độc quyền liên quan đến mức lãi suất đối với thẻ tín dụng. Jim Guy đang tranh cử vào quốc hội, nhắm đến chiếc ghế của Wilbur Mills đã về hưu, và do đó ghế Bộ trưởng tư pháp sẽ bỏ trống và đầy hấp dẫn đôì với tôi.

        Trong khi tôi đang nghiền ngẫm các cơ hội thì bạn tôi - David Edwards làm việc ở Citibank gọi điện và mời chúng tôi đi Haiti với anh ấy. Anh nói anh có điểm tích lũy dành cho hành khách thường xuyên đủ để trả tiền vé máy bay cho chúng tôi và anh muốn chuyến đi này thay cho quà cưới anh dành tặng chúng tôi. Chưa đầy một tuần sau khi đi Mexico về, chúng tôi lại lên đường.

        Tới cuối năm 1975, Bố già Bác sĩ Duvalier đã lui khỏi chính trường, người kế tục là con trai ông, một chàng thanh niên đẫy đà mà ai cũng gọi là Bác sĩ con. Một hôm chúng tôi nhìn thấy anh ta lái Xe băng qua quảng trường trước dinh thự của anh ta ở Port-au-Prince để đặt vòng hoa tưởng niệm ở tượng đài độc lập của Haiti, một bức tượng người nô lệ mạnh mẽ được tự do đang thổi kèn vỏ sò. Đám vệ sĩ của anh này, nhóm Tontons Macoutes khét tiếng, đứng khắp nơi với vẻ đe dọa, đeo kính đen và súng máy trong tay.

        Gia đình nhà Duvalier đã chiếm cứ, cướp bóc và điều hành đất nước Haiti kém cỏi đến mức biến nó thành quốc gia nghèo nhất bán cầu của chúng ta. Port-au-Prince vẫn còn nhiều chỗ đẹp đẽ nhưng vẫn nhuốm màu vinh quang tàn phai. Tôi nhớ nhất là những tấm thảm đã sờn tưa và những chiếc ghế dài bị gãy trong Thánh đường Quốc gia. Bất chấp nghèo đói và chuyên chính trị, tôi thấy người Haiti vẫn rất thú vị. Họ có vẻ đầy sức sống và thông minh, và họ tạo ra những tác phẩm nghệ thuật dân gian rất đẹp và nền âm nhạc quyến rũ. Tôi ngưỡng mộ cái cung cách họ dường như không chỉ sống còn mà còn biết vui hưởng cuộc sống.

        Tôi đặc biệt bị mê hoặc bởi tôn giáo và văn hóa bùa chú (voodoo) mà ở New Orleans tôi đã tiếp xúc ít nhiều. Tôn giáo này tồn tại song song với Công giáo ở Haiti.

        Tên gọi của tôn giáo truyền thống ở Haiti bắt nguồn từ ngôn ngữ Fon của Benin ở Tây Phi, nơi khởi phát bùa chú (voodoo), có nghĩa là "Chúa Trời" hay "linh hồn", không bao hàm ý nghĩa ma thuật đen và phù thủy như trong rất nhiều bộ phim. Nghi lễ chính của voodoo là một điệu nhảy, trong đó các linh hồn nhập vào các tín đồ. Ngày thú vị nhất của chuyến đi là lần tôi được chứng kiến nghi lễ voodoo. Đối tác Citibank của David ở Port-au-Prince đề nghị đưa David, Hillary và tôi đến ngôi làng gần ấy để gặp một giáo sĩ voodoo đặc biệt. Max Beauvoir đã trải qua 15 năm sông ở ngoài Haiti, học tại Đại học Sorbonne ở Paris và làm việc ở New York. Ông ta có bà vợ người Pháp tóc vàng rất đẹp và hai cô con gái sáng láng. Max từng là kỹ sư hóa cho đến khi người ông giáo sĩ voodoo của ông lúc lâm chung đã chọn Max làm người kế tục. Max là một tín đồ voodoo, và đã kế nghiệp ông mình, mặc dù như vậy là một thách thức đối với người vợ Tây và những đứa con đã bị Tây hóa.

        Chúng tôi đến làng lúc chiều muộn, khoảng một giờ trước khi bắt đầu buổi lễ nhảy múa mà Max cho khách du lịch trả tiền đến xem nhằm trang trải chi phí cho hoạt động của ông. Ông giải thích, trong voodoo, Chúa Trời hiện thân đôi với con người thông qua các linh hồn đại diện cho lực lượng của ánh sáng và bóng tối, thiện và ác, thường là ở thế tương đối cân bằng. Sau khi Hillary, David và tôi kết thúc khóa học ngắn gọn về thần học voodoo, chúng tôi được dẫn đến một khoảng đất trông và ngồi cùng những người khách khác cũng đến để chứng kiến buổi lễ, khi các linh hồn được mời về và nhập vào xác của các tín đồ. Sau vài phút nhảy múa theo nhịp trống vang vang, các linh hồn hiện về, nhập vào một người phụ nữ và một người đàn ông. Người đàn ông bắt đầu xoa khúc củi đang cháy khắp toàn thân và bước đi trên than hồng mà không bị bỏng. Người phụ nữ, trong không khí cuồng nhiệt, hét lên từng đợt rồi chộp lấy một con gà sống và cắn đứt đầu nó. Sau đó các linh hồn bỏ đi và những người bị hồn nhập ngã vật xuống đất.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2015, 04:22:51 AM
        Vài năm sau khi tôi chứng kiến sự kiện phi thường này, một nhà khoa học của trường Đại học Harvard tên Wade Davis đến Haiti tìm kiếm lời giải thích cho hiện tượng người chết sống lại cũng đến gặp Max Beauvoir. Theo cuốn sách The Serpent and the Rainbow - Kẻ quỷ quyệt và cầu vồng, với sự giúp đỡ của Max và con gái, Davis đã cố gắng vén bức màn bí ẩn về hiện tượng zombie, những người rõ ràng đã chết và lại sống dậy. Họ bị các hội kín ép phải uổng một loại thuốc độc để trừng phạt vì một tội gì đó. Thuốc độc tetrodotoxin được chích xuất từ cá puffer (một loài cá thuộc dòng Tetraodontidae có thể phồng lên, có lẽ giống cá nóc - ND). Với lượng vừa đủ, thuốc có thể làm cơ thể tê liệt và giảm hô hấp đến mức bác sĩ cũng tin rằng người đó đã chết. Khi chất độc tan thì người đó thức dậy. Vài trường hợp tương tự đã xảv ra ở Nhật Bản, cá puffer có thể trở thành món ăn rất ngon nếu chế biến hợp lý, hoặc có thể gây chết người nếu làm không đúng cách.

        Tôi mô tả chuyến phiêu lưu ngắn ngủi vào thế giới voodoo vì tôi luôn bị mê hoặc bởi cách các nền văn hóa khác nhau cố giải thích ý nghĩa sự sống, thiên nhiên, và niềm tin có tính toàn cầu rằng trên thế giới này trước khi loài người xuất hiện đã có thế lực linh hồn tồn tại, và sẽ vẫn còn tồn tại sau khi chúng ta đã chết. Cách hiểu của người Haiti về hiện thân của Chúa Trời trong cuộc sống của chúng ta rất khác so với cách hiểu của người theo đạo Thiên chúa, Do Thái giáo, đạo Hồi, nhưng những kinh nghiệm được ghi lại của họ đã chứng minh một câu ngạn ngữ cũ rằng Chúa Trời hành động rất bí ẩn.

        Từ Haiti trở về, tôi quyết định sẽ ra tranh cử chức Bộ trưởng tư pháp. Tôi nghỉ thêm một kỳ phép ở trường luật và bắt tay vào việc. Tôi có hai đối thủ ở vòng bầu cử sơ bộ của đảng dân chủ: Gẻoge Jernigan, Bộ trưởng Ngoại giao; và Clarence Cash, người đứng đầu bộ phận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong văn phòng của Jim Guy Tucker. Cả hai đều ăn nói lưu loát và không lớn tuổi hơn tôi bao nhiêu. Jernigan có vẻ ấn tượng hơn, có nhiều bạn bè trong tổ chức của Thống đốc Pryor, ở một số tòa án quận, và trong số những người bảo thủ khắp tiểu bang. Kể cũng lạ, không có ứng viên đảng Cộng hòa, đây là lần duy nhất tôi tranh cử mà không có phe đối lập trong cuộc tổng tuyển cử.

        Tôi biết tôi phải vận động từ Little Rock. Ngoài việc là thủ phủ bang, nơi đây là trung tâm của bang và có tiềm năng cử tri và gây quỹ lớn nhất. Tôi lập tổng hành dinh trong một căn nhà cũ cách tòa nhà quốc hội tiểu bang vài dãy nhà. YVally DeRoeck, một chủ nhà băng trẻ ở Jonesboro, đồng ý làm chủ nhiệm cuộc vận động của tôi. Steve Smith, người từng làm việc rất tốt trong cuộc đua vào quốc hội của tôi, cũng đồng ý làm quản lý cuộc vận động. Văn phòng do Linda McGee phụ trách, cô là người biết cách làm việc hiệu quả với ngân sách eo hẹp: suốt toàn bộ chiến dịch vận động chúng tôi chỉ xài hết có 100.000 đôla. Bằng cách nào đó, Linda vẫn giữ được văn phòng mở cửa, chi trả các khoản và quản lý được các tình nguyện viên. Tôi được mời nghỉ ở nhà của Paul Berry, người trước đây tôi gặp và rất có cảm tình khi anh điều hành văn phòng Arkansas của Thượng nghị sĩ McClellan và lúc đấy đang làm phó chủ tịch ngân hàng Union Bank. Ngoài mọi thứ khác ra, anh cũng luôn luôn buộc tôi phải nghỉ trên cái giường duy nhất trong nhà, cho dù tôi về nhà lúc hai hay ba giờ sáng. Đêm nào về đến nhà tôi cũng thấy anh đang ngủ trên ghế dài trong phòng khách, đèn bếp vẫn sáng và để sẵn món ăn vặt tôi ưa thích là bơ đậu phộng và cà rốt.

        Bạn bè lâu năm như Mack McLarty và Vince Foster giúp tôi đặt chân vào giới kinh doanh và . những cộng đồng chuyên nghiệp của Little Rock. Tôi vẫn được các lãnh đạo nghiệp đoàn ủng hộ nhiệt tình, mặc dù một số họ đã quay lưng lại khi tôi từ chối ký đơn kiến nghị ủng hộ nghiệp đoàn nhằm bãi bỏ các đạo luật về quyền làm việc Arkansas bằng cách đưa vấn đề ra trong cuộc bỏ phiếu tháng 11. Các luật về quyền làm việc cho phép người ta làm việc trong các cơ sở có nghiệp đoàn phải trá tiền phí nghiệp đoàn. Vào thời điểm đó, luật này đang kêu gọi những người ủng hộ tôi. Về sau tôi được biết Thượng nghị sĩ McClellan ấn tượng trước quan điểm của tôi đến mức đã yêu cầu Paul Berry gọi cho những người ủng hộ quan trọng của ông để thông báo rằng ông ủng hộ tôi. Vài năm sau, tôi thay đổi quan điểm về quyền làm việc. Tôi nghĩ thật không đúng khi người ta vẫn cứ hưởng lương, chế độ chăm sóc sức khỏe và lương hưu cao thường thấy trong các cơ sở có nghiệp đoàn mà lại không phải đóng góp gì cho các nghiệp đoàn vốn đã giúp họ có được những thứ ấy.

        Cơ sở của tôi ở quận thứ Ba có vẻ rất vững chắc. Những người từng làm việc cho tôi năm 1974 nay cũng rất muốn tiếp tục. Tôi còn được giúp thêm bởi hai em trai của Hillary, cả hai đã chuyển đến Fayetteville và ghi danh học đại học. Họ cũng làm cho cuộc sống của chúng tôi vui hơn. Một đêm, tôi và Hillary đến chỗ họ ăn tối và bỏ cả buổi tối nghe Hugh giúp vui bằng những câu chuyên phiêu lưu ở Colombia với Tổ chức thiện nguyện Hòa bình - những câu chuyện nghe như lấy từ cuốn Trăm năm cô đơn ra nhưng Hugh thề rằng tất cả đều là thật. Anh cũng làm cả thức uống pinã coladas, một loại thức uống có vị như nước trái cây nhưng khá nặng. Sau hai hay ba ly, tôi thấy buồn ngủ đến mức ra ngoài và leo lên băng sau chiếc xe pick-up Chevy E1 Camino mà tôi thừa hưởng từ Jeff Dwire. Phía sau được bọc bằng Astroturf, thế là tôi ngủ say như chết. Hillary lái xe đưa tôi về nhà, và hôm sau tôi đi làm lại. Tôi rất thích cái xe pick-up và lái nó cho đến khi cũ mèm.

        Trong tiểu bang, tôi được ủng hộ mạnh mẽ ở Hope và các vùng xung quanh nơi tôi sinh ra, và ở năm hay sáu hạt ngoài quận thứ Ba nơi tôi có họ hàng. Tôi khởi đầu khá thuận lợi với người da đen ở trung, đông và nam Arkansas nhờ các cựu sinh viên đang hành nghề luật ở đó. Tôi còn được sự ủng hộ của các nhà hoạt động Dân chủ từng cổ vũ tôi tranh đua với Hammerschmidt hoặc tham gia vào công việc ở ủy ban nâng đỡ những người bị thiệt thòi vì chủng tộc. Tuy thế, vẫn còn những lỗ hổng lớn trong tổ chức. Phần lớn cuộc vận động là nhằm lấp đầy những khoảng trống này.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2015, 06:53:15 AM
        Khi đi khắp bang để vận động, tôi phải đối phó với nhiều thế lực chính trị mới, phong trào Moral Majority (Đa số đạo đức) do mục sư Jerry Falwell sáng lập. Ông này là một mục sư Baptist bảo thủ ở Virginia có nhiều người ủng hộ qua truyền hình và đang dùng lợi thế đó để tạo ra một tổ chức quốc gia trung thành với tư tưởng Thiên chúa chính thống và chính trị cánh hữu. Ở nhiều nơi trong bang, khi bắt tay mọi người đôi khi người ta hỏi xem tôi có phải tín hữu Cơ đốc không. Khi trả lời phải, người ta có thể hỏi thêm rằng tôi có phải là tín đồ Cơ đốc cuồng nhiệt hay không. Khi tôi trả lời có thì sẽ có thêm vài câu hỏi nữa rõ ràng là do các tổ chức của Falwell mớm cho. Một lần khi đang vận động ở Conway, cách Little Rock khoảng 30 dặm về hướng đông, tôi đang ở trong phòng làm việc của thư ký hạt, nơi đặt hòm phiếu cử tri vắng mặt. Một người trong số những phụ nữ làm việc ở đó hỏi tôi những câu hỏi như vậy. Rõ ràng tôi đã trả lời không đúng với một trong sô họ, và trước khi tôi rời khỏi tòa án, bà ta đã làm tôi mất bốn phiếu. Tôi không biết phải làm sao. Tôi không muốn trả lời thiếu trung thực về niềm tin tôn giáo, nhưng cũng không muốn mất phiếu. Tôi gọi cho Thượng nghị sĩ Bumpers, một tín đồ Giám lý cấp tiến, để xin lời khuyên. Ông nói: "Ôi, tôi gặp chuyên đó hoài. Nhưng tôi không bao giờ cho họ vượt qua cầu hỏi đầu tiên. Khi họ hỏi có phải tôi là tín hữu Cơ đốc không, tôi bảo: "Tôi rất hy vọng như vậy, và tôi luôn luôn cố gắng như vậy. Nhưng tôi thực sự nghĩ chỉ có Chúa Trời mới phán xét được chuyện đó. Nói thế luôn làm cho họ ngậm miệng ngay". Khi Bumpers nói xong, tôi cười phá lên và nói rằng bây giờ tôi đã biết vì sao ông làm thượng nghị sĩ còn tôi chỉ là ứng viên cho chức Bộ trưởng tư pháp. Và từ đó đến cuốì cuộc vận động, tôi dùng câu trả lời của ông.

        Sự kiện buồn cười nhất trong cuộc đua xảy ra ở hạt Mississippi, phía tây bắc xa xôi của Arkansas. Hạt này có hai thành phố, Blytheville và Osceola, và nhiều thị trấn nhỏ chủ yếu là dân chủ trang trại có nhiều đất đai. Thường thì những người làm việc ở nông trại và các tiểu thương có thu nhập từ nguồn này hay bỏ phiếu theo lựa chọn của giới chủ trại, thường là cho ứng viên bảo thủ nhất - trong trường hợp này là bộ trưởng ngoại giao Jernigan. Hạt Mississippi cũng có một tổ chức tại chỗ hùng mạnh cho thẩm phán hạt đứng đầu tên "Shug" Banks, người cũng ủng hộ Jernigan.
Có vẻ như chẳng còn hy vọng, nhưng hạt này rất lớn nên không thể bỏ qua, vì thế tôi dành ra một ngày thứ bảy đến vận động ở Blytheville và Osceola. Tôi đi một mình, và nói một cách nhẹ nhàng nhất thì đó đúng là một ngày đáng thất vọng. Ở cả hai nơi, mặc dù tôi cũng có một vài người ủng hộ nhờ các bạn cũ cùng học luật, hầu hết những người tôi gặp hoặc là chống lại tôi hoặc không hề biết và cũng chẳng cần biết tôi là ai. Tuy vậy, tôi vẫn nắm lấy bất kỳ bàn tay nào chìa ra, kết thúc công việc ở Osceola lúc 11 giờ đêm. Tôi chỉ chịu bỏ cuộc khi nhận ra rằng còn phải lái xe ba tiếng về Little Rock và không muốn ngủ gục trên vô lăng.

        Đang lái xe dọc theo một loạt các khu nhà nhỏ, tôi nhận ra cả ngày mình đã không ăn uống gì và thấy đói. Khi đến một nơi gọi là Joiner, tôi thấy đèn vẫn sáng ở quầy bia. Tôi tấp xe vào hy vọng người ta có bán đồ ăn. Ở đó chỉ có một người đàn ông đứng sau quầy bar và bốn người khác đang chơi domino. Sau khi gọi một cái hamburger, tôi ra ngoài đến chỗ điện thoại công cộng để gọi cho Hillary. Lúc quay lại, tôi quyết định đến tự giới thiệu với mấy người đang chơi domino. Cũng như nhiều người khác tôi gặp hôm đó, ba người chẳng biết tôi là ai và cũng không quan tâm. Người thứ tư nhìn lên và mỉm cười. Tôi không bao giờ quên những lời đầu tiên của ông: "Này nhóc, ở đây bọn này sẽ giết chết tươi cậu đấy. Cậu có biết thế không?". Tôi trả lời rằng tôi có cảm tưởng như vậy sau một ngày đi vận đồng, nhưng tôi rất buồn khi phải nghe thấy điều ấy được khẳng định. "À, bọn này sẽ hạ cậu ", ông ta nói tiếp. "Cậu là tay giáo sư đại học hippie tóc dài. Đối với bọn này thì cậu coi như một tay cộng sản. Nhưng tôi nói cho cậu hay nhé. Người nào sẵn sàng vận động trong quầy bia ở Joiner lúc nửa đêm thứ bảy thì xứng đáng thắng được một hòm phiếu. Cậu cứ chờ đấy. Cậu sẽ thắng ở đây. Nhưng đây sẽ là nơi duy nhất trong cả hạt này cậu thắng nổi thôi đấy".

        Người đàn ông đó tên R. L. Cox và ông tốt bụng như lời nói của ông vậy. Trong đêm bầu cử, ở những khu vực bầu cử khác do những ông chủ trang trại đại gia kiểm soát, tôi bị đè bẹp, nhưng tôi được 76 phiếu ờ Joiner và hai đối thủ của tôi được 49 phiếu. Đó là nơi duy nhât ở hạt Mississippi tôi thắng, ngoài hai khu vực bầu cử của người da đen ở Blytheville đã đổi thái độ vào dịp cuối tuần ngay trước ngày bầu cử nhờ công của một nhà thầu tang lễ người da đen là LaVester McDonald và một chủ bút tờ báo địa phương là Hank Haines.

        Thật may là ở những nơi khác tôi đã làm rất tốt, và thắng hơn 55% tổng số phiếu và được sự ủng hộ ở 69 trên 75 quận nhờ phần lớn số phiếu bầu ở nam Arkansas nơi tôi có rất nhiều họ hàng và bạn bè tốt, và gần 74% ở Quận nghị viện thứ Ba. Tất cả những người đã làm việc cật lực cho tôi năm 1974 cuôi cùng đã được tưởng thưởng xứng đáng bằng một chiến thắng.

        Mùa hè sau ngày bầu cử là thời gian hạnh phúc cho tôi và Hillary. Hai tháng đầu tiên chúng tôi dành chỉ để vui chơi ở Fayetteville với bạn bè. Sau đó, vào giữa tháng 7, chúng tôi đi châu Âu, dừng ở New York một đêm để dự đại hội đảng Dân chủ, chúng tôi bay đi Paris gặp David Edwards đang làm việc ở Paris. Sau vài ngày chúng tôi đi Tây Ban Nha. Ngay khi chúng tôi đi qua rặng Pyrenees, tôi nhận được lời nhắn gọi điện cho chiến dịch tranh cử của Carter. Đến làng Castro Urdiales tôi gọi lại và được yêu cầu làm chủ tịch chiến dịch ở Arkansas và tôi đồng ý ngay. Tôi rất ủng hộ Jimmy Carter, và mặc dù tôi đã được lên lịch dạy vào mùa thu ở Fayetteville, tôi biết mình vẫn sẽ làm được. Carter cực kỳ được ưa chuộng ở Arkansas nhờ thành tích hoạt động tiến bộ, kinh nghiệm nhà nông, sự gắn bó thực sự của ông với tín ngưỡng Baptist phương Nam và những mối liên hệ cá nhân, trong đó có nhiều người

        Arkansas nổi bật đã từng cùng học với ông ở Học viện Hải quân, vấn đề ở Arkansas không phải ở chỗ bang này có ủng hộ ông hay không mà là bao nhiêu người sẽ ủng hộ- Sau nhiều kỳ bầu cử thất bại, viễn cảnh thắng lợi hai kỳ trong một năm quả là hấp dẫn không thể bỏ qua.

        Chúng tôi kết thúc kỳ nghỉ ở Tây Ban Nha bằng chặng dừng ở Guernica, thành phố được tưởng nhớ qua bức tranh nổi tiếng của Picasso về trận bom thả xuống đây trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha. Chúng tôi đến nơi, lễ hội xứ Basque đang diễn ra. Chúng tôi rất thích nhạc và các điệu múa nhưng gặp rắc rối với một món đặc sản địa phương - món cá lạnh ngâm sữa. Chúng tôi khám phá các hang động có nhiều bức họa tiền sử và trải qua một ngày tuyệt vời dưới bóng rặng Pyrenees phủ tuyết trên một bờ biển nóng nực có một nhà hàng nhỏ nhưng bán đồ ăn ngon rẻ và bia với giá năm xu một ly. Ở biên giới trên đường quay về lại Pháp - lúc đó đã là đầu tháng 8, mùa đi nghỉ ở châu Âu - xe hơi xếp hàng dài trước mặt chúng tôi ngút tầm mắt, bằng chứng cho thái độ có lý của người châu Âu rằng cuộc sống không chỉ là công việc. Đối với tôi, càng ngày càng khó sống theo câu châm ngôn ấy.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2015, 12:29:12 AM
        Khi chúng tôi về nhà, tôi đến Little Rock để thiết lập điều hành cuộc vận động với Craig Campbell, cựu nhân viên điều hành cấp tiểu bang của đảng Dân chủ đang làm việc cho Stephens, Inc. ở Little Rock, lúc bấy giờ là ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ hoạt động ngoài phố Wall. Chủ ngân hàng này là Witt và Jack Stephens. Witt Stephens là một thế lực lâu năm trong sân khấu chính trị tiểu bang. Jack trẻ hơn Witt 10 tuổi, cùng học với Jimmy Carter ở Học viện Hải quân. Craig là một người to lớn, ưa nhìn, thích vui đùa và nhạy cảm trong cá tính cũng như khi hoạt động chính trị, nhờ thế anh làm việc rất hiệu quả.

        Tôi đi khắp bang để bảo đảm sao cho tổ chức của chúng tôi hoạt động được ở tất cả các hạt. Một tối chủ nhật nọ, tôi đến một nhà thờ nhỏ dành cho người da đen ngay ngoài Little Rock. Vị mục sư ở đây là Cato Brooks. Khi chúng tôi đến nơi, nhà thờ đang tràn ngập tiếng nhạc của dàn đồng ca nhà thờ. Đến bài thứ hai hoặc thứ ba thì cánh cửa bật mở và một phụ nữ trẻ trông giống Diana Ross chân đi ủng cao ngang đầu gối màu đen, bộ áo bó sát người, bước dọc lối đi giữa hai hàng ghế, vẫy tay với dàn đồng ca và ngồi xuống bên cây đại phong cầm. Tôi chưa bao giờ được nghe nhạc đại phong cầm như thế bao giờ. Tiếng nhạc mạnh mẽ đến mức tôi sẽ không ngạc nhiên nếu cây đàn bỗng bay lên và bay khỏi nhà thờ bằng chính năng lượng của nó. Khi Cato đứng dậy để giảng, bốn hoặc năm người đàn ông đến ngồi quanh ông trên những chiếc ghê gấp. Mục sư ngân nga và gân như hát cả bài giảng bằng giọng bổng trầm nhịp nhàng, được đệm nhịp bằng âm thanh của vài chiếc muỗng mà những người đàn ỏng kia đập gõ vào đầu gối họ. Sau bài giảng, mục sư Brooks giới thiệu tôi nói chuyện thay mặt Carter. Tôi cũng hùng hồn lắm, nhưng không thể bằng Cato được. Khi tôi ngồi xuống, ông nói với tôi rằng nhà thờ sẽ ủng hộ cho Carter và đề nghị tôi ra về bởi vì họ sẽ còn ở đó thêm một vài giờ đồng hồ nữa. Tôi vừa ra khỏi nhà thờ vài bước, một giọng nói đuổi theo tôi: "Này, anh da trắng, có muốn giúp gì cho cuộc vận động không?". Đó là người chơi đại phong cầm, Paula Cotton. Cô trở thành một trong số những tình nguyện viên tốt nhất của chúng tôi. Cato Brooks chuyển đến Chicago không lâu sau cuộc vận động. Ông ấy quá giỏi, không thể cứ quanh quẩn ở khu nông trại đó mãi được.

        Khi tôi làm việc ở Arkansas, Hillary cũng tham gia cuộc vận động của Jimmy Carter và nhận nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều. Cô ấy trở thành điều phối viên tại chỗ ở Indiana, một bang theo truyền thống thường bỏ phiếu cho phái Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống nhưng nhóm cộng sự của Carter hy vọng rằng cội nguồn nông thôn của ông có thể đem lại cơ hội chiến thắng. Cô ấy làm việc căng thẳng và có vài cuộc phiêu lưu thú vị mà cô rất hào hứng kể lại cho tôi qua điện thoại hàng ngày và trong chuyến đi duy nhất của tôi đến Indianapolis.

        Chiến dịch mùa thu y như một đường trượt cảm giác mạnh. Sau đại hội ở New York, Carter dẫn trước Tổng thống Ford 30 điểm, nhưng trên cả nước thì sự ủng hộ của hai bên chia đều hơn. Tổng thống Ford đã nỗ lực bám sát một cách rất ngoạn mục, chủ yếu bằng cách đặt câu hỏi rằng liệu một thống đốc miền Nam, với hứa hẹn cơ bản nhất là đem lại cho chúng ta một chính phủ trong sạch như người Mỹ, có đủ kinh nghiệm để làm Tổng thống hay không. Cuối cùng Carter đánh bại Ford nhờ 2% số phiếu phổ thông và 297 phiếu đại cử tri so với 240. Ở Indiana thì tình hình quá căng thẳng đối với chúng tôi, nhưng ở Arkansas chúng tôi được ủng hộ với 65%, chỉ thua khoảng cách hai điểm so với mức 67% mà Tổng thống Carter có được ở Georgia - quê hương ông, và hơn bảy điểm so với Tây Virginia, bang mà chúng tôi thắng với số phiếu cách biệt lớn chỉ sau bang chúng tôi.

        Sau cuộc vận động, tôi và Hillary về nhà vài tháng và tôi hoàn thành nhiệm vụ dạy học cuôi cùng của mình, môn Tranh chấp hàng hải và Luật Hiến pháp. Trong ba năm và ba tháng tôi đã dạy tám khóa học trong năm học kỳ và một khóa mùa hè, dạy hai khóa phụ đạo về luật cho các nhân viên bảo vệ pháp luật ở Little Rock, tranh cử hai lần, và điều hành cuộc vận động tranh cử của Carter. Và tôi yêu thích từng phút một của tất cả mọi công việc, chỉ thấy nuối tiếc thời gian không thể dành cho bạn bè và cuộc sống ở Fayetteville, và ở căn nhà nhỏ ở số 930 đường California Drive, nơi đã đem lại cho tôi và Hillary biết bao niềm vui sướng.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2015, 06:46:17 AM

        20


        Trong vài tháng cuối năm 1976, tôi thường xuyên đến Little oc Rock để chuẩn bị cho công việc mới. Paul Berry tìm cho tôi một văn phòng ở tầng 18 tòa nhà Ngân hàng Union, nơi ông ấy làm việc, để tôi có thể phỏng vấn tuyển nhân viên.

        Nhiều người đầy lý tưởng và có khả năng nộp đơn xin việc. Tôi thuyết phục Steve Smith làm chánh văn phòng cho tôi, đảm bảo rằng chúng tôi có được các sáng kiến chính sách đúng đắn trong khi tiến hành công việc. Chỉ có 20 luật sư trong số các nhân viên của tôi. Một số những người xuất sắc nhất muốn tiếp tục làm việc với tôi. Tôi mướn vài luật sư mới, trong số này có nhiều luật sư nữ trẻ và cả luật sư da đen - đủ để đạt tỷ lệ 25% nữ và 20% da đen, tỷ lệ mà hồi đó chưa từng có.

        Khoảng tháng 12, Hillary và tôi tìm được một căn nhà, số 5419 phố L trong khu Hillcrest ở Little Rock, một khu vực cổ xưa nhưng dễ chịu, gần trung tâm thành phố. Với diện tích 300m2, nó thậm chí còn nhỏ hơn nhà của chúng tôi ở Fayetteville nhưng lại đắt hơn, tới 34.000 đôla, nhưng chúng tôi có đủ tiền để mua vì trong cuộc bầu cử trước lần đầu tiên kể từ năm 1910 cử tri đã đồng ý tăng lương cho quan chức địa phương và tiểu bang, tăng lương Bộ trưởng tư pháp lên 26.500 đôla/năm. Và Hillary kiếm được một việc làm tốt tại Công ty luật Rose, nơi có nhiều luật sư kinh nghiệm, có uy tín cao và các luật sư trẻ sáng láng, trong đó có cả bạn tôi, Vince Foster và Webb Hubbell, một cựu ngôi sao bóng đá kềnh càng của đội Razorback, người sau này trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất của Hillary và tôi. Từ đó trở đi, lương hàng năm của cô ấy cao hơn tôi nhiều cho đến tận khi tôi trở thành tổng thống còn cô ấy thôi không hành nghề luật nữa.

        Ngoài việc đưa ra ý kiến và câu hỏi về luật pháp tiểu bang, văn phòng Bộ trưởng tư pháp còn đại diện cho tiểu bang tiến hành truy tố và biện hộ cho các vụ kiện dân sự; đại diện tiểu bang trong các phiên phúc thẩm hình sự lên Tòa án tối cao tiểu bang và các vụ hình sự trong tòa án liên bang; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua các vụ kiện, vận động hành lang ở quốc hội tiểu bang, và ra điều trần các vụ liên quan đến giá năng lượng trước ủy ban Dịch vụ Công cộng (PSC). Khối lượng công việc nhiều, đa dạng, và thú vị.

        Năm ấy bắt đầu nhanh chóng. Quốc hội tiểu bang nhóm họp đầu tháng giêng và có một buổi điều trần của PSC xem xét đề nghị đòi tăng giá năng lượng cho Công ty Năng lượng và Chiếu sáng Arkansas (AP&L), dựa trên chi phí dự kiến mà AP&L phải chi cho nhà máy điện hạt nhân lớn ở Grand Gulf, Mississippi mà công ty mẹ của nó là Middle South Unilities (tức công ty Energy hiện nay) đang xây. Vì công ty Middle South không trực tiếp phục vụ người tiêu dùng, chi phí của nhà máy ở Grand Gulf phải chia đều cho các công ty con đang phục vụ cho Arkansas, Louisiana, Mississippi, và thành phố New Orleans. Vụ Grand Gulf chiếm rất nhiều thời gian và tâm lực của tôi trong vài năm kế tiếp. Tôi không ưa vụ này ở hai điểm: thứ nhất, vì công ty mẹ xây nhà máy nên không cần sự chấp thuận của PSC tiểu bang của chúng tôi, dù những người tiêu dùng năng lượng buộc phải trả 35% chi phí; và thứ hai, tôi cho rằng chúng tôi có thể đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng một cách ít tốn kém hơn nhiều thông qua tiết kiệm năng lượng và sử dụng các nhà máy hiện có một cách hữu hiệu hơn.

        Chuẩn bị cho cuộc điều trần, một luật sư nhân viên của tôi, Wally Nixon, phát hiện ra công trình của Amory Lovins, cho thấy tiềm năng khổng lồ và lợi ích kinh tế của việc tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mặt trời. Tôi cho rằng ý tưởng của ông ấy có lý và liên lạc với ông. Lúc đó, suy nghĩ thông thường của giới kinh doanh và chính trị là kinh tế càng phát triển thì cần sản xuất điện ngày càng lớn. Dù bằng chứng cho lập luận dự trữ và tiết kiệm điện có mạnh mẽ thế nào đi nữa thì chuyện ấy vẫn bị coi là trò viển vông của bọn trí thức dở người. Thật không may, vẫn còn quá nhiều người suy nghĩ như vậy.

        Trong hơn 20 năm, với tư cách là bộ trưởng tư pháp, thống đốc và tổng thống, tôi cố gắng thúc đẩy chính sách năng lượng thay thế, sử dụng công trình nghiên cứu của Amory Lovins và của những người khác để ủng hộ lập luận của mình. Dù tôi cũng đạt được vài tiến bộ khiêm tốn trong cả ba vị trí trên, sự chống đối vẫn còn rất dữ dội, đặc biệt là sau khi những người bảo thủ kiểm soát được quốc hội năm 1995. AI Gore và tôi cố gắng trong nhiều năm mà không thành công để thuyết phục họ cho nợ thuế 25% đối với việc sản xuất năng lượng sạch và các kỹ thuật bảo tồn và tiết kiệm năng lượng với hàng núi bằng chứng ủng hộ lập trường đó của chúng tôi. Phe Cộng hòa lần nào cũng ngăn trở việc này. Tôi thường nói đùa rằng một trong những thành tựu lớn nhất của nhiệm kỳ thứ hai của tôi là cuối cùng tôi cũng đạt được một đạo luật giảm thuế Newt Gingrich mà Tom DeLay không ủng hộ.

        Làm việc với quốc hội tiểu bang thật thú vị, không chỉ vì các vụ việc lý thú và khó lường, mà còn vì hạ viện và thượng viện đầy những nhân vật đầy màu sắc, và vì không sớm thì muộn đến cả nửa tiểu bang bắt đầu xuất hiện vận động ủng hộ hoặc chống một biện pháp nào đó. Một lần, hồi đầu kỳ họp quốc hội, tôi xuất hiện trong một cuộc điều trần ủy ban để phát biểu chống lại một biện pháp. Căn phòng chật cứng người đại diện cho các nhóm lợi ích ủng hộ biện pháp đó, có cả Vince Foster. Và Hillary nữa. Anh ấy dẫn cô ấy theo cho biết, mà không biết là tôi sẽ ra để ủng hộ cho phe bên kia. Chúng tôi mỉm cười với nhau và làm công việc của mình. May thay, Công ty luật Rose đã được Hội Luật gia Arkansas cho phép thuê vợ của Bộ trưởng tư pháp làm việc và tiến hành các bước cần thiết để tránh xung đột lợi ích. Hillary tuân thủ các quy định này đúng đến từng chữ một. Sau khi tôi thành thống đốc, cô ấy đã là luật sư góp vốn ở Công ty luật Rose, cô ấy từ bỏ phần lợi nhuận hàng năm của mình có được từ trái phiếu tiểu bang mà công việc kinh doanh và pháp lý của công ty vốn đã có từ những năm 40.

        Khi tôi nhận chức, công việc còn tồn đọng ùn đống ghê gớm. Chúng tôi thường làm việc đến nửa đêm để xử lý nốt, và trong thời gian đó đã thân thiết với nhau và có một thời gian tuyệt diệu. Vào các thứ sáu, khi quốc hội không họp, tôi cho phép mọi người ăn mặc thoải mái và khuyến khích mọi người đi ăn trưa lâu hơn một chút ở quán ăn gần đó có món hamburger hảo hạng, máy chơi bắn banh và bàn chơi bài. Cái tiệm cũ kỹ không sơn phết gì này có một chiếc canô lớn trên mái nhà và một cái tên đầy điềm báo: Quán Whitewater.

        Uy thế ngày càng tăng của nhóm Đa số đạo đức và các nhóm khác có cùng lý tưởng đã cho phép nổi lên một số đạo luật mà nhiều thành viên quốc hội ôn hòa và tiến bộ không muốn thông qua nhưng cũng không muốn bị ghi lại là đã bỏ phiếu chống. Chiến thuật dễ thấy nhất là tìm cách bắt ông Bộ trưởng tư pháp tuyên bố đạo luật ấy vi hiến. Đây cũng là một ví dụ của một trong những luật lệ chính trị của Clinton: nếu ai có thể đẩy phần   khó nhọc của anh ta sang cho bạn, thì anh ta sẽ luôn làm như thế.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2015, 04:13:52 AM
        Các đạo luật buồn cười nhất được đưa ra bởi Hạ nghị sĩ Arlo Tyer của Pocahontas ở phía đông bắc Arkansas. Arlo là người tử tế và muốn luôn đi trước nhóm Đa số đạo đức một bước. Ông ấy giới thiệu một đạo luật cấm chiếu phim cấp ba ở bất cứ đâu tại Arkansas, thậm chí cho cả người lớn. Người ta hỏi tôi liệu đạo luật này có vi hiến ở chỗ nó giới hạn quyền tự do ngôn luận không. Tôi đã mường tượng trước được các báo sẽ giật tít: "Bộ trưởng tư pháp ủng hộ phim bẩn thỉu!". Tôi gọi Bob Dudley, một thẩm phán quận ở thị trấn quê hương của Arlo, để tìm hiểu tại sao ông ta lại giới thiệu đạo luật này. "Mấy ông có nhiều phim tươi mát trên đó không vậy?". Tôi hỏi. Dudley, một người cực kỳ hài hước, nói, "Không, chúng tôi chẳng có rạp hát nào cả. Ông ta chỉ ghen tức vì mây anh được xem mây thứ đó".

        Ngay khi đạo luật này bị dẹp tiệm, Arlo lại lôi ra một thứ khác: thuế 1.500 đô/năm cho bất cứ đôi nào sống chung mà không cưới nhau. Chuông báo động về các báo giật tít lại rung lên trong đầu tôi: "Clinton ủng hộ sống trong tội lỗi!". Lần này tôi đến gặp Dân biểu Tyer. "Arlo này", tôi hỏi, "một người đàn ông và đàn bà phải chung sống với nhau bao lâu thì phải trả thuế này? Một năm, một tháng hay một tuần? Hay chỉ một đêm là đủ?". "Anh biết không, tôi chưa nghĩ tới chuyện đó", ông ta đáp. "Thế chế tài luật này thì sao?", tôi hỏi tiếp. "Ông với tôi xách theo gậy bóng chày, đi gõ cửa từng nhà để xem ai đang làm gì với ai hay sao?". Arlo nhún vai và nói: "Tôi cũng chưa nghĩ tới chuyện đó. Có lẽ để tôi rút lại dự luật vậy". Tôi về văn phòng trong lòng nhẹ nhõm hẳn vì đã né thêm được một viên đạn nữa. Nhưng ngạc nhiên thay, một số nhân viên của tôi lại có vẻ thất vọng. Một số nhân viên muốn đạo luật được thông qua và văn phòng của chúng tôi chế tài nó. Họ thậm chí đã tưởng tượng ra đồng phục mới của mình: áo thun có ghi dòng chữ SNIF, tức Lực lượng điều tra vi phạm tình dục.

        Đến chuyện quyền của nam giới đồng tính thì chúng tôi gay go hơn. Trước đó hai năm, Bộ trưởng tư pháp Jim Guy Tucker đã thúc đẩy được một bộ luật hình sự mới cho quốc hội thông qua. Nó đơn giản hóa và làm rõ các định nghĩa của các tội danh phức tạp và chồng chéo có từ hơn 100 năm qua. Nó còn bãi bỏ các "tội phạm tình trạng" mà Tòa án tôi cao đã phê phán. Một tội danh cần phải có hành động làm một điều bị cấm, vô tình hoặc cố ý; nếu chỉ là một điều xã hội coi là không đáng mong muốn thôi thì chưa đủ. Thí dụ như một kẻ chuyên say xỉn không phải là một tội. Người đồng tính cũng vậy, dù trước khi bộ luật mới được thông qua thì như thế bị coi là có tội.

        Dân biểu Bill Stancil chịu nhiều búa rìu từ các mục sư bảo thủ ở thị trấn quê ông tại Fort Smith khi ông bỏ phiếu tán đồng bộ luật hình sự sửa đổi. Họ bảo ông bỏ phiếu hợp pháp hóa đồng tính. Stancil là người tốt và từng là một trong những huấn luyện viên bóng đá trung học giỏi nhất của Arkansas. Ông ấy là một người cơ bắp, cằm vuông, mũi gãy, và sự tinh tế không phải là điểm mạnh của ông ấy. Ông ấy không thể tin được rằng mình đã bỏ phiếu ủng hộ đồng tính và quyết sửa chữa lỗi lầm trước khi các nhóm tôn giáo trừng phạt ông ấy, nên ông giới thiệu một dự luật cấm coi các hành động đồng tính là phạm tội. Ông ấy còn đặt ra ngoài vòng pháp luật chuyện giao câu với động vật, khiến mấy đồng nghiệp hài hước của ông nhận xét rằng rõ ràng trong khu vực của ông ấy không có nhiều nông dân. Dự luật của Stancil mô tả chi tiết tất cả các bài bản của cả hai hành động giao cấu bị cấm đó. Mấy người dâm dục có lẽ chỉ cần đọc dự luật là khỏi thấy ghiền mua tranh ảnh kích dục trong cả tuần.

        Không thể đánh bại dự luật này bằng bỏ phiếu trực tiếp được. Hơn nữa, Tòa án tối cao còn lầu mới tới thời điểm 2003 khi đưa ra quyết định tuyên bố quan hệ luyến ái đồng giới được quyền riêng tư bảo vệ, nên cố bắt tôi đưa ra phán quyết việc đó là vi phiến không phải là một lựa chọn. Chiến lược khả dĩ duy nhất là phải trì hoãn dự luật này cho đến khi nó chìm xuồng. Trong hạ viện, ba người cấp tiến trẻ tuổi và là đồng minh tuyệt vời của tôi - Kent Rubens, Jody Mahoney và Richard Mays - quyết định bổ sung thêm một sửa đổi thú vị. Nghe tin đồn sắp có chuyện hay xảy ra nên tôi chen lên tầng quan sát của phòng .họp hạ viện để đón chờ xem. Một trong số ba người đó đứng lên khen ngợi dự luật của Stancil, nói rằng đã đến lúc phải có ai đấy đứng ra ủng hộ đạo đức ở Arkansas, vấn đề duy nhất, anh ấy nói, là ở chỗ dự luật còn quá yếu, và anh ta muốn đưa thêm một "sửa đổi nho nhỏ" để tăng cường. Thế rồi, với vẻ mặt thản nhiên như không, anh ta đề nghị coi việc bất cứ thành viên quốc hội nào ngoại tình trong khi quốc hội họp ở Little Rock là tội danh loại D.

        Cả khu vực quan sát cười phá lên. Tuy nhiên, dưới phòng họp mọi sự im lìm. Đối với nhiều thành viên quốc hội quê ở các thị trấn nhỏ, đi họp quốc hội ở Little Rock là thú vui duy nhất họ có được - tương đương với hai tháng ở Paris. Thế nên họ chẳng thích thú gì, nhiều người nói với ba dân biểu khôn ranh kia rằng họ sẽ không bao giờ thông qua bất cứ một đạo luật nào nữa nếu không rút lại điều khoản sửa đổi nọ. Và điều khoản đấy được rút lại. Dự luật được thông qua và chuyển lên thượng viện.

        Chúng tôi có cơ hội khá hơn để dẹp dự luật này ở đó, vì nó được giao cho ủy ban mà chủ tịch là Nick Wilson, một thượng nghị sĩ trẻ ở Pocahontas và là một trong những thành viên tiến bộ và tài ba nhất trong thượng viện. Tôi nghĩ rằng có thể thuyết phục được anh ấy trì hoãn dự luật cho đến khi hết kỳ họp.

        Vào ngày cuối cùng của kỳ họp, dự luật vẫn nằm ở chỗ ủy ban của Nick và tôi đếm từng giờ cho đến khi kỳ họp chấm dứt. Tôi đã gọi điện cho anh ấy về dự luật này nhiều lần và nán lại cho đến khi đã trễ để đi nói chuyện ở Hot Springs đến gần một giờ đồng hồ. Khi không thể chờ thêm được nữa, tôi gọi cho anh ấy lần cuối. Anh ấy bảo họ sẽ bế mạc trong nửa giờ nữa và dự luật coi như đã chìm, nên tôi rời đi. Mười lăm phút sau, một thượng nghị sĩ đầy quyền lực ủng hộ cho dự luật đề nghị cho Nick một cơ sở mới cho trựờng dạy nghề kỹ thuật trong quận của anh ấy nếu anh ấy cho phép đưa dự luật ra bàn. Như Chủ tịch hạ viện Tip O'Neill từng nói, tất cả chính trị đều mang tính địa phương. Nick cho phép dự luật được đưa ra, và nó được thông qua dễ dàng. Tôi phát bịnh luôn. Vài năm sau, dân biểu hiện nay của Little Rock là Vic Snyder cũng thử diệt đạo luật này khi ông còn ở trong thượng viện tiểu bang. Ông ấy cũng thất bại. Theo tôi biết luật này cũng không bao giờ được chế tài, nhưng chúng tôi phải chờ đến tận năm 2003 khi Tòa án tối cao ra phán quyết coi luật này là không hợp lệ.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2015, 06:35:28 AM
        Một chuyện rất thú vị khác tôi phải đối mặt với tư cách Bộ trưởng tư pháp là chuyện sinh tử, theo nghĩa đen của nó. Một hôm tôi nhận được một cú điện thoại từ Bệnh viện Nhi Arkansas. Bệnh viện vừa tuyển một phẫu thuật gia trẻ tài giỏi, và người này được yêu cầu phẫu thuật cho một cặp song sinh Thái Lan bị dính nhau ở ngực, có chung hệ thống hô hấp và bơm máu. Các bộ phận này không thể phục vụ cho cả hai lâu hơn nữa, và nếu không mổ tách ra thì cả hai sẽ chết. Bệnh viện muốn có ý kiến chính thức tuyên bố rằng viên bác sĩ sẽ không bị truy tố tội giết người vì làm chết em bé song sinh mà sẽ không sống nổi qua cuộc phẫu thuật. Nghiêm khắc mà nói thì tôi không thể đảm bảo cho anh ta việc này, vì ý kiến của Bộ trưởng tư pháp chỉ bảo vệ người nhận được ý kiến đó trong các vụ kiện dân sự chứ không tránh cho anh ta khỏi truy tố hình sự. Dù vậy, ý kiến này sẽ là một trở lực lớn đối với một công tố viên nhiệt tình quá đáng. Tôi cho anh ta một lá thư chính thức, tuyên bố ý kiến của tôi rằng việc tử vong tất yếu của một trong hai bé sơ sinh để cứu mạng bé kia không phải là một tội ác. Viên bác sĩ tiến hành phẫu thuật. Một bé tử vong. Nhưng bé kia sống.

        Phần lớn công việc chúng tôi làm mang tính thông thường hơn các trường hợp tôi kể ra trên đây. Trong hai năm, chúng tôi làm việc cật lực để đưa ra các ý kiến chính thức được viết rất tốt, hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan tiểu bang cũng như trong các vụ hình sự, cải thiện chất lượng chăm sóc trong các nhà bảo dưỡng, và giữ giá điện, trong đó có nỗ lực mạnh mẽ nhằm giữ giá tiền gọi điện thoại công cộng ở mức 10 xu, trong khi hầu như tất cả các bang khác đều tăng lên 25 xu.

        Ngoài công việc, tôi đi thăm thú tiểu bang nhiều nhất có thể để mở rộng mối quen biết và tăng cường tổ chức của tôi cho cuộc bầu cử kế tiếp. Tháng 1 năm 1977, tôi diễn thuyết lần đầu tiên với tư cách là quan chức dân cử tại bữa tiệc Câu lạc bộ Rotary ở Pine Bluff, thành phố lớn nhất ở đông nam Arkansas. Năm 1976 tôi đạt được 45% số phiếu ở đó, nhưng tôi cần phải kiếm được nhiều hơn trong các cuộc chạy đua trong tương lai. 500 khách có mặt tại tiệc cho tôi cơ hội tốt để cải thiện việc này. Đó là một buổi tối dài, với nhiều bài phát biểu và hàng loạt những giới thiệu lẫn nhau. Thường thường những người tổ chức các sự kiện như vậy hay sợ những ai không được giới thiệu sẽ về nhà trong tâm trạng bực bội. Nếu vậy thật thì trong bữa ăn dó chẳng có nhiều người bực bội. Khi ông chủ tiệc đứng lên giới thiệu tôi đã gần 10 giờ đêm. Ông ấy còn hồi hộp hơn tôi. Những lời đầu tiên thoát ra khỏi miệng ông ấy là: "Quý vị biết không, chúng ta có thể dừng ở đây và có một buổi tối rât vui vẻ". Tôi biết ý ông ấy là mục hay nhất vẫn còn ở phía trước, nhưng ông ấy nói ra lại chẳng giống như thế. Nhờ trời, đám đông phá lên cười, và bài diễn thuyết của tôi được đón nhận niềm nở, chủ yếu vì nó ngắn.

        Tôi cũng dự nhiều sự kiện của cộng đồng da đen. Một lần tôi được mục sư Robert Jenkins mời đến tiệc nhậm chức của ông ấy làm mục sư mới của Nhà thờ Baptist Sao Mai. Đó là một nhà thờ bằng gỗ màu trắng nho nhỏ ở bắc Little Rock có đủ chỗ ngồi thoải mái cho 150 người. Vào một buổi chiều chủ nhật rất nóng nực, có khoảng 300 người ở đó, bao gồm các mục sư và ca đoàn từ nhiều nhà thờ khác đến, và một người da trắng khác là thẩm phán hạt Roger Mears. Mỗi ca đoàn đều hát và các mục sư thì nói lời chúc tụng. Khi Robert lên giảng, cả hội thánh đã dự buổi lễ khá lâu rồi. Nhưng ông ây trẻ tuổi, đẹp trai, và là một người biết ăn nói, nên ông ấy được đám đông chú ý. Ông ấy bắt đầu từ tốn, nói rằng ông muốn là một mục sư gần gũi với mọi người nhưng không nên bị hiểu lầm. "Tôi muốn nói một lời đặc biệt với các quý bà của nhà thờ", ông ấy nói. "Nếu quý bà cần một mục sư, quý bà có thể gọi tôi bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm. Nhưng nếu quý bà cần một người đàn ông, hãy gọi nhờ Chúa. Người sẽ ban cho quý bà". Sự thẳng thắn như vậy có lẽ là điều không ai dám nghĩ tới trong một nhà thờ da trắng, nhưng thính giả của ông ấy đánh giá cao việc này. Ông ấy nhận được một loạt đồng thanh "amen".

        Khi Robert bắt đầu vào giữa bài giảng, nhiệt độ có vẻ tăng lên. Bỗng nhiên một phụ nữ đứng tuổi ngồi gần tôi đứng bật dậy, vừa nhún nhẩy vừa la hét, mê hoặc bởi linh hồn của Chúa. Một lúc sau một người đàn ông đứng dậy trong tâm trạng không kiềm chế được và còn lớn tiếng hơn. Khi Ông ta không thể dịu xuống được, vài người của nhà thờ đưa ông ta vào một căn phòng nhỏ phía sau nhà thờ dùng để chứa áo choàng của ca đoàn và đóng cửa lại. Ông ta tiếp tục la hét những điều không hiểu nổi và đập vào tường. Tôi quay lại vừa kịp nhìn thấy ông ta phá tung bản lề cửa, ném cánh cửa xuống đất và vừa chạy ra ngoài sân nhà thờ vừa thét lên. Cảnh này làm tôi nhớ lại khung cảnh ở Haiti lần đi với Max Beauvoir, chỉ khác là những người này tin rằng họ được Chúa Jesus nhập vào.

        Không lâu sau, tôi thấy tín hữu da trắng cũng có những chuyện tương tự, khi viên chức tài chính trong văn phòng Bộ trưởng tư pháp là Dianne Evans mời tôi đến cuộc họp trại hè hàng năm của phái Ngũ tuần ở Red field, cách Little Rock khoảng 30 dặm về phía nam. Cha mẹ Dianne đều là mục sư Ngũ tuần, và giống như các phụ nữ ngoan đạo khác trong phái, cô ấy mặc quần áo đơn giản, không trang điểm và không cắt tóc mà chỉ búi lên. Hồi đó, những người theo Ngũ tuần nghiêm khắc còn không đi xem phim hay xem thê thao. Nhiều người thậm chí còn không nghe nhạc phi tôn giáo trên radio xe hơi. Tôi quan tâm đến niềm tin và tập tục tôn giáo của họ đặc biệt là sau khi tôi quen Dianne, người vừa thông minh vừa cực kỳ giỏi giang trong công việc, và có óc hài hước. Khi tôi đùa cô ấy về tất cả những thứ mà người phái Ngũ tuần không được làm, cô ấy bảo họ đi nhà thờ là đủ vui rồi. Chẳng lâu sau tôi khám phá ra rằng cô ấy nói đúng thật.

        Khi đến Redfield, tôi được giới thiệu với người đứng đầu phái Ngũ tuần của tiểu bang, mục sư James Lumpkin, và các mục sư cốt cán khác. Rồi chúng tôi ra nơi làm lễ với sức chứa khoảng 3.000 người. Tôi ngồi trên lễ đài cùng với các giảng sư. Sau phần giới thiệu tôi và các tiết mục dạo đầu, buổi lễ bắt đầu với âm nhạc mạnh mẽ và cuốn hút như ở tất cả các nhà thờ da đen khác. Sau vài bài, một phụ nữ trẻ đẹp từ chỗ ca đoàn bước ra và ngồi xuống sau đàn organ và hát một bài tôi chưa từng được nghe trước giờ, bài "Có Jehovah chứng giám". Bài hát hay đến mức làm người ta phải nín thở. Tôi cảm động đến mức tôi khóc từ lúc nào không biết. Người phụ nữ tên Mickey Mangun, con gái của Đạo hữu Lumpkin và là vợ của mục sư Ànthony Mangun, người cùng với Mickey và cha mẹ cô ấy cai quản một nhà thờ lớn ở Alexandria, Louisiana. Sau bài giảng đầy hứng khởi của vị mục sư, có cả chuyện nói ứng khẩu - tức là dùng bất cứ âm tiết nào mà Thánh linh dẫn dắt - hội thánh được mời lên phía trước để cầu nguyện ở các bàn thờ đặt thấp ngang đầu gối. Nhiều người bước lên, tay giơ cao, vinh danh Chúa và cũng ứng khẩu. Đó là một đêm tôi sẽ không bao giờ quên.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2015, 06:58:06 AM
        Từ năm 1977 đến 1992, hè nào tôi cũng đến dự trại chỉ trừ có một lần. Tôi thường dẫn theo bạn bè. Sau vài năm, khi họ biết tôi từng hát trong ca đoàn nhà thờ, tôi được mời hát với một nhóm tứ ca mục sư đầu hói được gọi là nhóm Bald Knobbers. Tôi thích lắm và hòa nhập được ngay, ngoại trừ chuyện đầu tóc.

        Mỗi năm tôi đều chứng kiến vài sự biểu lộ mới đáng làm ngạc nhiên của phái Ngũ tuần. Có một năm vị mục sư chủ lễ, một người không có học, nói với chúng tôi là Chúa đã cho ông ấy sức mạnh để thuộc lòng Kinh thánh. Ông ấy đọc ra hơn 320 đoạn trong bài giảng của mình. Tôi đem theo Kinh thánh và kiểm tra trí nhớ của ông ấy. Sau 28 đoạn đầu tôi không kiểm nữa; ông ấy không sai một từ nào. Một lần khác tôi thấy một thanh niên khuyết tật nặng, người- năm nào cũng tiến đến cầu nguyên ở bàn thờ bằng xe lăn tự động. Anh ây ngồi gần cuối nhà thờ, được thiết kế dốc xuông phía lễ đài. Anh ấy chạy xe lăn hết tốc độ dọc theo lốì đi. Khi còn cách bàn thờ khoảng 3m, anh ấy giật thắng cho xe đứng lại, ném anh ta lên không và đáp xuống bằng đầu gối ngay trước bàn thờ, tiếp tục cúi xuống phía trước và cầu nguyện vinh danh Chúa như mọi người.

        Điều quan trọng hơn nhiều những thứ tôi chứng kiến người Ngũ tuần làm là những tình bạn tôi có được nơi họ. Tôi thích và ngưỡng mộ họ vì họ sống bằng niềm tin của mình. Họ nghiêm khắc chống phá thai, nhưng không giống như một số người khác, họ vẫn cố sao cho đứa trẻ ra đời bất đắc dĩ có dược một ngôi nhà yên ấm, bất chấp chủng tộc hoặc dù nó có bị tật nguyền. Họ không đồng tình với tôi về vấn đề phá thai và quyền cho dân đồng tính, nhưng họ vẫn tuân theo lời răn của Chúa là phải yêu lấy láng giềng. Năm 1980, khi tôi thua trong kỳ tái ứng cử thống đốc, một trong những cú điện thoại đầu tiên tôi nhận được là từ một thành viên nhóm Bald Knobbers. Ông ấy bảo có ba mục sư muốn đến gặp tôi. Họ đến dinh thự thống đốc, cầu nguyện với tôi, bảo tôi rằng họ vẫn yêu mến tôi y như khi tôi thắng cuộc, rồi ra về.

        Ngoài việc trung thực với niềm tin, những người phái Ngũ tuần tôi biết còn là những công dân tốt. Họ cho rằng không đi bỏ phiếu là tội lỗi. Phần lớn các giảng sư tôi biết đều thích chính trị và chính trị gia, và họ cũng có thể trở thành các chính trị gia thực tế giỏi. Giữa thập niên 80, trên khắp nước Mỹ, các nhà thờ theo chủ nghĩa chính thống phản đối các điều luật tiểu bang đòi hỏi các nhà trẻ của nhà thờ phải đáp ứng các tiêu chuẩn tiểu bang và phải có giấy phép hoạt động. Chuyện này trở thành vấn đề nóng bỏng ở vài nơi, ít nhất một mục sư ở một tiểu bang vùng trung tây đã thà vào tù còn hơn là tuân thủ các tiêu chuẩn nhà trẻ. vấn đề này có khả năng bùng nổ ở Arkansas, nơi chúng tôi từng gặp vài rắc rối với một trung tâm giữ trẻ của tôn giáo và luật tiêu chuẩn hóa nhà trẻ sắp được áp dụng. Tôi hẹn gặp một số bạn bè là mục sư Ngũ tuần và hỏi họ rắc rối thực là gì. Họ đáp họ chẳng phiền hà gì chuyện đáp ứng tiêu chuẩn về an toàn và y tế của tiểu bang; vấn đề là ở chỗ có yêu cầu bắt họ phải xin giấy phép của tiểu bang và treo lên tường- Họ coi việc chăm sóc trẻ là phần rất quan trọng trong công việc mục sư của mình, mà họ cho rằng không thể để tiểu bang xen vào vì tu chính án thứ nhất đảm bảo quyền tự do tôn giáo. Tôi đưa họ một bản tiêu chuẩn mới của tiểu bang và yêu cầu họ đọc rồi cho ý kiến. Ngày hôm sau khi họ trở lại, họ nói các tiêu chuẩn như vậy là công bằng. Thế là tôi hứa đưa ra một thỏa hiệp: các nhà trẻ tôn giáo không cần phải xin giấy phép tiểu bang nếu nhà thờ đồng ý tuân thủ tiêu chuẩn và chịu cho thanh tra thường xuyên. Họ chấp nhận, cuộc khủng hoảng qua đi, và các tiêu chuẩn được áp dụng, và như tôi biết các nhà trẻ của nhà thờ chẳng bao giờ có rắc rối gì.

        Vào một kỳ Phục sinh trong thập niên 80, Hillary và tôi đưa Chelsea đến xem Lễ Cứu thế Phục sinh ở nhà thờ của nhà Mangun tại Alexandria. Hệ thống âm thanh ánh sáng thật hảo hạng, bối cảnh Chúa phục sinh trông rất thật, có cả động vật sống, còn tất cả các nghệ sĩ đều là thành viên nhà thờ. Phần lớn các bài hát do họ tự sáng tác và hát rất hay. Khi đã là tổng thống và tình cờ đến Fort Polk, gần Alexandria vào dịp Phục sinh, tôi quay lại lễ Cứu thế và thuyết phục đoàn báo chí đi cùng tôi, cộng thêm hai dân biểu da đen Cleo Fields và Bill Jefferson. Giữa buổi lễ, đèn tắt phụt. Một phụ nữ bắt đầu hát một bài quen thuộc bằng giọng sâu và khỏe. Ông mục sư nghiêng qua Dân biểu Jefferson và hỏi, "Bill này, ông nghĩ người hát là da đen hay da trắng?". Bill đáp: "Da đen. Không còn nghi ngờ gì nữa". Sau vài phút, đèn sáng lên lại, cho thấy một phụ nữ da trắng nhỏ nhắn mặc váy dài đen, tóc vấn lên trên đầu. Jefferson chỉ biết lắc đầu, nhưng một người da đen khác ngồi trên vài hàng ghế thì không thể kiềm chế nổi. Ông ta thốt lên: "Chúa ơi, đó là một thủ thư người da trắng!". Đến cuối buổi, tôi thấy nhiều nhà báo thường ngày vẫn rất nanh nọc rơm rớm nước mắt vì quyền năng của âm nhạc đã xuyên thủng bức tường nghi ngờ của họ.

        Mickey Mangun và một người bạn Ngũ tuần khác, Janice Sjostrand, hát trong buổi lễ nhà thờ cho lần nhậm chức đầu tiên của tôi và làm thính giả thán phục. Khi rời nhà thờ, Chủ tịch Hội đồng Tham mứu Liên quân, Colin Powell quay qua hỏi tôi: "Anh tìm đâu ra một phụ nừ da trắng có thể hát như vậy? Tôi cứ tưởng không thể có người như vậy". Tôi cười và bảo anh ấy là việc biết được những người như vậy là một trong những lý do tôi được bầu làm tổng thống.

        Trong nhiệm kỳ thứ hai của tôi, khi phe Cộng hòa đang tìm cách tống khứ tôi và nhiều chuyên gia bảo rằng tôi coi như tiêu tùng rồi, Anthony Mangun gọi điện cho tôi và hỏi liệu ông ấy và Mickey có thể đến gặp tôi 20 phút được không. Tôi nói, "Hai mươi phút? Ông định bay từ dưới đó lên đây chỉ để gặp 20 phút thôi à?". Ông ấy đáp, "Anh nhiều việc. Chúng tôi chỉ cần từng đấy thôi". Tôi bảo ông ấy cứ lên đi. Vài ngày sau Anthony và Mickey ngồi riêng với tôi trong Phòng Bầu dục. Ông ấy bảo, "Anh làm một điều xấu nhưng anh không phải người xấu. Chúng ta cùng nuôi con lớn lên mà. Tôi biết cái tâm của anh. Đừng có nhụt chí. Và nếu anh bị hạ bệ, và có chuyện dậu đổ bìm leo thì hãy gọi tôi. Tôi lên cùng với anh, và tôi muốn cùng xuống với anh". Rồi chúng tôi cùng cầu nguyện, Mickey cho tôi một cuộn băng nhiều bài hát hay mà cô ấy viết để nâng đỡ tinh thần tôi. Cuốn băng có tên "Tái sinh". Sau 20 phút, họ đứng lên và bay về nhà.

        Biết được những người Ngũ tuần đã làm phong phú và thay đổi đời tôi. Dù quan điểm tôn giáo của bạn là gì, hoặc không có quan điểm tôn giáo đi nữa, được thấy người ta sống trong niềm tin của tinh thần tình yêu thương tất cả mọi người chứ không chỉ người của họ, là một điều đẹp đẽ rất đáng chiêm ngưỡng. Nếu bạn có cơ hội đi dự một lễ của phái Ngũ tuần, đừng có bỏ lỡ nhé.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2015, 03:31:06 AM
        Về cuối năm 1977, bàn luận chính trị lại bắt đầu nhen nhóm. Thượng nghị sĩ McClellan tuyên bố nghỉ hưu sau gần 35 năm ở thượng viện, mở màn cho cuộc tranh đua vô tiền khoáng hậu để làm người kế vị ông. Thống đốc Pryor, người suýt nữa đánh bại được McClellan trước đó sáu năm, sẽ ra tranh cử. Ngoài ra còn có Jim Guy Tucker và một dân biểu từ Quận nghị viện thứ Tư ở miền nam Arkansas, Ray Thornton, người nổi đình nổi đám với tư cách thành viên tư pháp hạ viện trong quá trình bãi nhiệm Nixon. Ông ấy còn là cháu của Witt và Jack Stephens nên có đủ sức mạnh tài chính cho cuộc vận động.

        Tôi phải quyết định xem có tham gia cuộc đua vào thượng viện hay không. Một cuộc trưng cầu mới đây cho thấy tôi đứng vị trí thứ hai, thua ông thống đốc khoảng 10 điểm và dẫn trước hai dân biểu chút ít. Tôi mới làm viên chức dân cử chưa đầy một năm, nhưng không như hai ông dân biểu kia, tôi đại diện cho toàn tiểu bang, luôn luôn ở bang nhà và may mắn có được một công việc mà nếu làm tốt sẽ tự nhiên đảm bảo được công chúng ủng hộ. Không có nhiều người chống đối bảo vệ quyền người tiêu dùng, chăm sóc y tế tốt hơn cho người già, giá năng lượng thấp hơn và luật pháp cũng như trật tự.

        Nhưng thay vào đó tôi quyết định tranh cử thống đốc. Tôi thích chính quyền tiểu bang và muốn ở quê nhà. Trước khi tôi có thể nhập cuộc đua, tôi còn có một vụ lớn cuối cùng phải giải quyết với tư cách Bộ trưởng tư pháp. Tôi làm vụ này từ xa. Sau giáng sinh, Hillary và tôi đi Florida để xem đội bóng của Arkansas đấu với đội Oklahoma ở sân Orange Bowl. Huấn luyện viên Lou Holtz, mới dẫn dắt đội Arkansas năm đầu tiên, đã cùng đội Razorback có một mùa giải thắng 10 thua 1, đứng thứ sáu bảng xếp hạng toàn quốc; trận thua duy nhất của đội là trước đội bóng siêu hạng của bang Texas. Oklahoma đứng thứ hai toàn quốc, cũng chỉ thua Texas nhưng với cách biệt ít hơn.

        Chúng tôi vừa tới nơi thì vụ việc nổ bùng ở Arkansas liên quan đến đội bóng. Huấn luyện viên Holtz đình chỉ ba cầu thủ khỏi đội vì một sự cố liên quan đến một phụ nữ trẻ diễn ra trong khu ký túc của đội, làm họ không thể tham dự trận cầu này. Ba cầu thủ này không phải ba cầu thủ thường. Họ bao gồm hậu vệ thòng, người chạy nhanh nhất trong giải Liên đoàn Tây Nam; hậu vệ giữa; và hậu vệ cánh, người có tốc độ như chớp và là một cầu thủ có đầu óc. Bộ ba này làm nên phần lớn sức mạnh của hàng thủ. Dù không có cáo buộc hình sự nào nhưng Holtz nói rằng ông đình chỉ ba người này vì họ vi phạm luật "làm điều phải", và rằng ông ấy phải huấn luyện không những chỉ cầu thủ giỏi mà còn phải làm họ thành người tốt.

        Ba cầu thủ đâm đơn kiện đòi xem xét lại, tuyên bố vụ đình chỉ này là vô lối và có thể xuất phát từ mục tiêu chủng tộc, vì cả ba đều da đen và cô gái kia da trắng. Họ cũng tìm kiếm sự ủng hộ của đội bóng. Chín cầu thủ khác tuyên bô sẽ không chơi ở Orange Bowl trừ phi ba người kia được trở lại đội.

        Công việc của tôi là bảo vệ quyết định của Holtz. Sau khi nói chuyện với Frank Broyles, phụ trách về thể thao, tôi quyết định ở lại Florida nơi tôi có thể tham vấn trực tiếp với anh ấy và Holtz. Tôi yêu cầu nhân viên của tôi là Ellen Brantley nhận xử lý vụ này ở toà án liên bang ở Little Rock. Ellen học chung với Hillary ở Wellesley và là một luật sư tài giỏi; tôi nghĩ chắc cũng không hại gì nếu để một phụ nữ tranh biện cho phe chúng tôi. Trong khi đó, sự ủng hộ đối với Holtz và trận đấu bắt đầu lớn dần lên trong các cầu thủ.

        Trong vài ngày cực kỳ bận rộn, tôi dành tám tiếng hoặc hơn nữa để gọi điện thoại, nói chuyện với Ellen ở Little Rock và với Broyles và Holtz ở Miami. Áp lực và sự chỉ trích bắt đầu tác động đến Holtz, đặc biệt cáo buộc ông là một kẻ phân biệt chủng tộc. Chứng cớ duy nhât chống lại ông là khi còn huấn luyện cho đội của bang Bắc Carolina, ông đã ủng hộ Thượng nghị sĩ Jesse Helms, một người cực kỳ bảo thủ, tái cử. Sau nhiều giờ nói chuyện với Holtz, tôi có thể thấy ông ấy không phải là kẻ phân biệt chủng tộc, và cũng chẳng có ý thức chính trị gì. Helms đối xử tử tế với ông ấy và ông ấy đáp trả, thế thôi.

        Ngày 30 tháng 12, ba ngày trước trận đâu, ba cầu thủ kia bỏ vụ kiện và không bắt chín cầu thủ còn lại phải tẩy chay trận đấu nữa. Nhưng vẫn chưa hết chuyện. Holtz giận đến mức ông bảo tôi ông ấy sẽ gọi điện cho Frank Broyles và từ chức. Tôi lập tức gọi Frank và bảo ông ấy bất cứ giá nào cũng đừng có trả lời điện thoại trong phòng đêm hôm đó. Tôi tin rằng khi thức dậy sáng hôm sau, Lou sẽ muốn chiến thắng trận đấu này.

        Hai ngày kế tiếp đội bóng tập luyện như điên, vốn dĩ họ đã là đội kèo dưới, thua đến 18 điểm, và khi ba cầu thủ trụ cột bị đình chỉ, họ ngưng tập luyện cho trận đấu. Nhưng các cầu thủ đã thúc ép nhau luyện tập điên cuồng.

        Tối 2 tháng 1, Hillary và tôi ngồi ở Orange Bowl xem đội Okla¬homa khởi động. Hôm trước, đội dẫn đầu Texas đã thua đội Notre Dame ở Cotton Bowl. Tất cả những gì Oklahoma cần làm là đánh bại một đội Arkansas què quặt để đoạt chức vô địch quốc gia. Cũng như tất cả mọi người khác, họ nghĩ rằng trận đấu này sẽ chỉ như một cuộc dạo chơi.

        Thế rồi Razorback ra sân. Họ bước ra sân theo hàng dọc và vỗ vào cọc gôn trước khi khởi động. Hillary theo dõi hụ, nắm lây cánh tay tôi và nói, "Nhìn họ kìa, Bill. Họ sẽ thắng". Với hàng phòng thủ chặt chẽ và một cú ôm bóng chạy kỷ lục dài 250 yard của hậu vệ Roland Sales, Razorback hạ Oklahoma 31-6, có lẽ là chiến thắng cách biệt lớn nhất và khó ngờ nhất trong lịch sử bóng bầu dục Arkansas. Lou Holtz là một người gầy ốm, căng thẳng đi qua đi lại dọc đường biên theo kiểu làm cho Hillary nhớ đến Woody Allen. Tôi thật biết ơn thời kỳ kỳ quặc đó cho tôi cơ hội biết ông ấy rõ hơn. Ông ấy thông minh và lì lợm, có lẽ là huấn luyện viên trên sân giỏi nhất nước Mỹ. Ông ấy đã có những mùa bóng tuyệt vời ở Arkansas, Minnesota, Notre Dame và Nam Carolina, nhưng ông ấy sẽ không bao giờ có được một đêm gần như đêm hôm ấy.


Tiêu đề: Re: Đời tôi - Bill Clinton
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2015, 04:47:35 AM
        Bỏ vụ Orange Bowl lại sau lưng, tôi về nhà để tiếp tục đưa ra động thái kế tiếp của mình. Sau khi thượng nghị sĩ McClellan chính thức công bố về hưu, tôi đến gặp ông để cám ơn ông đã phục vụ và xin ông lời khuyên. Ông ấy nhiệt liệt khuyến khích tôi tranh cử vào ghế của ông; ông ấy không muốn David Pryor thắng cuộc và cũng không có quan hệ gì đặc biệt với Tucker và Thornton. Ông bảo trường hợp xâu nhất tôi cũng chỉ thua là cùng, như bản thân ông trong lần tranh cử đầu tiên, và rằng nếu tôi thua, tôi vẫn còn trẻ và có thể tiếp tục thử nữa, cũng giống như ông. Khi tôi bảo ông tôi đang định tranh cử thống đốc, ông nói đó là ý tưởng tồi, rằng những gì cậu làm ở ghế thống đốc là khiến người ta phát khùng lên thôi. Ở thượng viện cậu có thể làm việc lớn cho tiểu bang và quốc gia. Ghế thống đốc, ông ấy nói, là một con đường ngắn dẫn đến nghĩa địa chính trị. Xét về lịch sử thì phân tích của McClellan là đúng. Đúng là Dale Bumpers đã lướt trên làn sóng thịnh vượng và tiến bộ của miền Nam Mới từ ghế thống đốc lên thượng viện, nhưng ông ấy là một ngoại lệ. Thời điểm này thật khó khăn đối với Pryor và ông ấy đang chịu nhiều thách thức dù tôi có tranh cử hay không. Và thật khó giữ chức thống đ