Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2015, 05:30:02 AM



Tiêu đề: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2015, 05:30:02 AM
        - Tên sách: Phi công Mỹ ở Việt Nam
        - Tác giả: Đặng Vương Hưng
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Công an nhân dân
        - Năm xuất bản: 2014
        - Số hóa: Giangtvx

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Bia%201_zpso12pz5st.jpg)
Giây phút sung sướng tột cùng của các tù binh Phi công Mỹ, sau khi họ được trao trả theo Hiệp định Paris; máy bay đã cất cánh tại sân bay Gia Lâm và bay lên bầu trời Hà Nội... tháng 2 năm 1973. (Nguön: CCB Mỹ).


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2015, 05:22:54 PM
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Bia%20ky_zpsdnkczsw7.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Vo%201_zps2aexmbyt.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Vo%202_zps21obgr1c.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Bia%204_zpskytparbr.jpg)
Họa bản Báo "Việt Nam Độc Lập" số 2, ra ngày 25-6-1945, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh Cao - Bắc - Lạng; với chủ đề "Cứu phi công Mỹ". (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia).



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Sáu, 2015, 08:04:07 AM
   
 (http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Bia%202_zpstiw6sjbf.jpg)
Trung tướng, Tiến sĩ Khoa học Đoàn Sinh Hưởng, Anh hùng LL VTND, Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ Mãi mãi tuổi 20, cùng Đại tá Đào Chí Công trao tượng trưng một số tư liệu về vãn đề "Phi công Mỹ ở Việt Nam" của gia đình Thượng tướng Đào Đình Luyện cho Nhà xuất bản Công an nhân dân.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Bia%203a_zpsa8wd6bbf.jpg)
Thiếu tướng Phạm Văn Dần, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục III - Bộ Công an (đứng giữa) cùng một số nhân chứng của Vụ tập kích Sơn Tây - năm 1970: Đồng đền Đặng Thị Mát, CCB Bùi Nguyễn Hải Yến, Thủ đền Trần Thị Liên và tác giả cuốn sách.Ảnh chụp trước dẩu tích cổng trại giam bí mật tù binh Phi công Mỹ tại Xã Tắc - Sơn Tây, năm 2013).


TRÂN TRỌNG CÙNG BẠN ĐỌC !

        Vấn đề "Tù binh Phi công Mỹ ở Việt Nam" từ lâu đã được dư luận Mỹ và cả thế giới đặc biẹt quan tâm. Tuy nhiên, bởi nhiều lý do liên quan đến bí mật quân sự, đến công tác ngoại giao và an ninh quốc gia... mà đề tài nay trong suốt một thời gian dài khi đất nước có chiến tranh, nhất là trong Kháng chiến chống Mỹ, luôn được các tác giả Việt Nam coi là "nhạy cảm" và rất ít được nói đến trong các tác phẩm phát hành công khaỉ.

        Thi hành Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại Hòa bình ở Việt Nam, năm 1973, hàng trăm tù binh Phi công Mỹ đã được Chính phủ Việt Nam trao trả cho Chính phủ Hoa Kỳ tại sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Đã hơn 40 nầm trôi qua (1973 - 2013) nhưng sự thật về những "Phi công Mỹ ở Việt Nam" dường như vẫn là một câu hỏi lớn, mà chúng ta còn nợ câu trả lời cho các thế hệ bạn đọc hôm nay.

        Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với việc xây dựng đất nước trong hoà bình, với truyền thống nhân đạo, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đã tích cực hợp tác với phía Hoa Kỳ để tổ chức các cuộc tìm kiếm những người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều bộ hài cốt Phi công Mỹ đã được tìm thấy, xác định rõ danh tính và bàn giao cho phía Hoa Kỳ.

        Nhu cầu của bạn đọc luôn mong muốn được tìm hiểu sự thật và khám phá những bí mật của lịch sử, trong đó có vấn đề "Tù binh Phi công Mỹ", ví dụ: Viên Phi công Mỹ nào bị bắn rơi đầu tiên ở Việt Nam? Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khởi đầu cho lịch sử quan hệ Việt - Mỹ như thế nào? Trong thời gian chiến tranh, Phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam bị bắt làm tù binh đã được giam giữ ở những đâu? Họ được ăn ở, sinh hoạt và đổi xử như thế nào? Đặc biệt, Lầu Năm Góc đã tổ chức một cuộc tập kích đường không quy mô và rất kỳ công để giải cứu tù binh Phi công Mỹ, nhưng bất thành ra sao? Kỷ niệm tròn 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, còn những điều bí mật "động trời" nào cần làm sáng tỏ?...
 

        Nhà văn Đặng Vương Hưng, tác giả của cuốn sách này, từng là một nhà báo chuyên viết phóng sự và tư liệu về đề tài chien tranh. Ông là tác giả ý tưởng, người khởi xướng và trực tiếp tổ chức nhiều cuộc vận động độc đáo: Sưu tầm và Giới thiệu những kỷ vật kháng chiến (2008 - 2010) của Bộ Quốc phòng; sưu tầm và Tuyên truyền Kỷ vật lịch sử công an nhân dân (2012 -2015) của Bộ Công an... Do yêu cầu công việc, tác giả đã có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với nhiều nhân chứng, tài liệu "tuyệt mật" một thời của cả phía Việt Nam và phía Mỹ.

        Với mong muốn cung cấp cho bạn đọc một số thông tin "hậu trường chính trị", nhưng lại mang tính ''bên lề sân cỏ", góp phần "giải mã" cho nhữhg bí mật nêu trên, Nhà văn Đặng vương Hưng đã dành tâm huyết nhiều năm để hoàn thành cuốn sách này, với nhữhg chi tiết đời thường thú vị, nhưng mang tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc.

        Ví dụ, phần tác giả viết về di tích nhà tù Hỏa Lò, được tóm tắt giới thiệu như sau: Trong kháng chiến chống Mỹ, hàng chục năm liên tục, nơi đây được coi là một trong những địa chi được bảo vệ nghiêm ngặt và bí mật nhất ở Hà Nội. Đó là nơi đã từng giam giữ hàng trăm Phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng không phải ai cũng hiểu được "sự thật đằng sau bức tường đá" một thời: cơ cấu tổ chức của trại tù binh Phi công Mỹ ở Hòa Lò hồi ấy như thế nào? Có phải tù binh Phi công Mỹ tại Hỏa Lò được ăn uống theo chế độ "đặc táo"? Họ được tạo điều kiện chơi thể thao, thưởng thức văn nghệ, tham quan danh lam thắng cảnh của Thủ đô ra sao? Những tù binh Phi công Mỹ nào đã được mời tham gia đóng phim cho Việt Nam? Và cả chuyện một nữ tù binh duy nhất ở Hoả Lò, xinh đẹp, đỏng đảnh với bức thư gửi ông Trưởng trại để xin... nuôi một con mèo!



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2015, 03:08:31 AM
        Và ví dụ, phần viết về sự tham chiến bí mật của các Phi công Mỹ cùng với quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954: Từ đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, đặc biệt là dưới thời Tổng thống D.Eisenhower, chính quyền Mỹ đã bí mật chi hàng tỷ đô la hậu thuẫn cho cuộc chiến tranh Đông Dương. Hàng trăm máy bay Mỹ được xóa phù hiệu để sơn cờ Pháp. Họ lập "cầu hàng không” chuyên chở hàng ngàn tấn vũ khí và hàng hóa tiếp tế cho Điện Biên Phủ. Thậm chí, trước khi tập đoàn cứ điểm này bị thất thủ, Bộ Quốc phòng Mỹ đã xây dựng một kế hoạch tuyệt mật: Ném 3 quả bom nguyên tử xuống Điẹn Biên Phủ, để tiêu diệt toàn bộ quân đội Việt Minh tại đây... Nhưng vì sao âm mưu của họ lại bất thành? Câu trả lời cũng đã có trong cuốn sách này.

        Trên tinh thần tôn trọng sự thật của lịch sử, Nhà văn Đặng Vương Hưng đã cố gắng cung cấp cho bạn đọc cái nhìn trung thực, khách quan và từ nhiều phía. Trong cuốn sách này, ngoài phần nội dung chính đã có từ phiên bản 2010, nay được cập nhật thêm nhữhg tư liệu mới... Chúng tôi xin đưa thêm phần phụ lục "Những góc nhìn từ nhiều phía, khi kẻ thù trở thành... bè bạn"... gồm một số bài viết về Phí công Mỹ ở Việt Nam đã đăng tải trên báo chí, do các đồng nghiệp thực hiện, và lần dầu tiên, chúng tôi biên soạn đưa vào cuốn sách một tài liệu hết sức thú vị: Bức thư của Đại tướng Ronald Robert Fogleman, cựu Chỉ huy trưởng Lực lượng Không quân Mỹ, gửi Trung tá Trần Sự, nguyên Chi huy trưởng Mặt trận Quảng Binh (1968), với nội dung như một lời xin lỗi muộn mằn người dân Việt Nam sau chiến tranh. Một số tư liệu và ảnh trong cuốn sách, được tác giả sưu tầm từ nguồn Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Đặc biệt là phần ảnh tư liệu minh họa do Đại tá Trần Trọng Duyệt, nguyên Trại trưởng Trại giam Tù binh Mỹ cung cấp; tài liệu của ông Đặng Xuân Xiêm, nguyên Quản giáo Trại giam tù binh Phi công Mỹ gủi tặng; tài liệu của thân nhân gia đình cố Thượng tướng Đào Đình Luyện và của Đồng đền Đặng Thị Mát ở Ba Vì bổ sung...

        Đầu năm 2010, "Phị công Mỹ ở Việt Narri" đã được ỉn thử nghiệm với số lượng hạn chế, để phát hành mang tính thăm dò ý kiến bạn đọc. Trân trọng cảm ơn Hội đồng Quản lý Quỹ "Mãi mãi tuổi 20" Bảo tàng Phòng không - Không quân, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu, sưu tầm và đồng nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, ủng hộ và giúp đỡ để bản in chinh thức cuốn sách này được ra mắt độc giả. Đây là một món quà rất ý nghĩa, nhân kỷ niệm tròn 40 năm sự kiến trao trả tù binh Phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam (1973 - 2013); tiến tới kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ và 60 năm Giải phóng Thủ đô (1954 - 2014); 70 năm Truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và 70 năm Khởi đầu lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1944 - 2014)...

        So với bản in thử nghiệm 2010, phiên bản mới ấn hành 2014 đã được sửa chữa và bổ sung thêm gần trăm trang sách; đặc biệt, là phần tư liệu về "Người anh cả" của Lực lượng Phi công tiếm kích Việt Nam, về Những chuyến bay "tuyệt mật" của các Phi công Mỹ trong "Cuộc chiến tranh thời tiết" và Đoạn cuối sách: "Hậu cuộc trao trả tù binh phi công Mỹ tại Gia Lâm 1973"... Khổ sách cũng được trình bày lớn hơn và bìa sách có cả nội dung giới thiệu tóm tắt bằng Anh ngữ.

        Tuy nhiên, vì Phi công Mỹ ở Việt Nam là một vấn đề lớn, mà lại đước gói gọn trong mọt cuốn sách nhỏ, nên mặc dù Tác giả và Nhà xuất bản đã cố gắng hết mức, nhưng chắc chắn vẫn không thể tránh khỏi nhữhg khiếm khuyết.

        Chúng tôi kính mong được các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm, các đồng nghiệp và quý độc giả tiếp tục góp ý, bổ sung thêm để những lần tái bản tới, cuốn sách sẽ phục vụ bận đọc tốt hơn nữa!

Hà Nội, năm Giáp Ngọ - 2014                        
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/Dan%20ky_zpsroxbymfl.jpg)
Thiếu tướng PHẠM VẨN DẦN                          
(Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục III - Bộ Công an)        



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: huytop trong 01 Tháng Bảy, 2015, 07:32:48 AM
Anh Giang thức sớm thế !!!!!!!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2015, 09:32:45 AM

LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH VẢ NHỮNG PHI CÔNG MỸ ĐẦU TIÊN CÓ MẶT Ở VIỆT NAM

        Có một thời, đã lâu lắm rồi, Phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam được coi là... đồng minh và là bạn của nhân dân Việt Nam!...

        (Nếu trong kháng chiến chống Mỹ mà có ai viết, hay nói như vậy, thì chắc chắn đó là cả một sự xúc phạm ghê gớm, một điều không thể chấp nhận và dễ dàng tha thứ được với bạn đọc Việt Nam!)

        Nhưng đó là một câu chuyện có thật, liên quan đến một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc ta và Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Sự kiện này mở dầu cho mối quan hệ bang giao Việt - Mỹ, khi Cách mạng Việt Nam đang còn non trẻ trong trứng nước, với muôn vàn khó khăn...

        Cũng nhờ câu chuyện có thật và sự kiện đó, mà chúng ta đã tập hợp và tranh thủ được sự giúp đỡ của những người bạn trong phe Đồng Minh chống Phát xít, góp phần cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

        Những Phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam, đều xuất hiện trong nhữhg hoàn cảnh hết sức éo le và chẳng ai giống ai. Những bí mật về cuộc đời họ, còn nhiều chi tiết chưa được tiết lộ và còn rất ít được biết đến.

        Có lẽ, những chỉ tiết về cuộc đời và nhũng đóng góp của họ cho Cách mạng Việt Nam sẽ cần nhiều thời gian nữa cho chúng ta tiếp tục "giải mã" để bạn đọc tham khảo.

        Từ chuyện cứu một Phi công Mỹ nhảy dù tại Cao Bằng năm 1944...

        Tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia vẫn còn lưu giữ một họa bản của Báo "Việt Nam độc lập", cơ quan của Mặt trận Việt Minh Cao Bắc Lạng, do Lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập và điều hành. Trong tờ báo này có một phụ bản rất độc đáo. Đó là một tranh vẽ gồm 8 bức hình liên hoàn, hướng dẫn nhân dân cách cứu Phi công Mỹ. Nội dung mô tả theo trình tự từ lúc phát hiện ra máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi, thấy dù của Phi công trên trời xuống, đến lúc giúp Phi công Mỹ chọn cất dù, cải trang rồi đưa vào chiến khu giao cho đoàn thể... Phía trên những bức tranh liên hoàn ấy có vẽ hai lá cờ: sao vạch của Hoa Kỳ và cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, ở giữa hai lá cờ lại có một câu thơ: "Quắn đội Mỹ là bạn ta / Cứu Phi công Mỹ mới là Việt Minh". Bức tranh và câu thơ này đến nay vẫn được coi là do Lãnh tụ Hồ Chí Minh trực tiếp vẽ. Không chỉ vẽ tranh, mà Người còn yêu cầu dựng những tiểu phẩm kịch, tả lại cách cứu Phi công Mỹ, để các đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh đi diễn trong các buổi sinh họạt văn nghệ của dân vùng giải phóng, vừa vui lại vừa cho dân dễ nhớ và dễ làm theo... Những chi tiết nêu trên, có liên quan đến một câu chuyện thú vị, xảy ra cách đây đã gần tròn 70 năm...



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2015, 08:40:16 AM
        Khoảng tháng 10 năm 1944, trong khi làm nhiệm vụ lái chiếc máy bay B-25 bay trên vùng trời biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Trung uý Phi công Mỹ tên là William Shaw đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (có tài liệu nói rơi xuống xã Vĩnh Quang) huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Đó là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh - một tổ chức do Lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, không những tập hợp mọi lực lượng trong nước, mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước, với đại diện của các nước phe Đồng Minh trong mặt trận chống phát xít. Bởi thế, Người đã chỉ thị cho các lực lượng phải tìm bằng được viên phi công Mỹ bị ấy, rồi bảo vệ, chăm sóc cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó: "Khi ở trên trời là người của họ, xuổng đây là khách cùa ta, phải đón tiếp chu đáo"...

        Dù sự kiện trên đã diễn ra gần 70 năm trước, nhưng ở thành phố Cao Bằng, vào thời điểm cuối năm 2012, vẫn còn hai nhân chứng sống cuối cùng, là cụ Hoàng Nam Cường và cụ Hoàng Tuấn Sơn, đều đã gần 100 tuổi, nhưng trí nhớ của các cụ vẫn cực kỳ minh mẫn. Nhà báo Hà Huy Hoàng, người trực tiếp nghe các nhân chứng kể lại câu chuyện trên đã viết trên báo "Thế giới và Việt Nam"...

        Đến đầu xã Đề Thám, anh Lê Bá Vũ, Giám đốc Sở Ngoại vụ Cao Bằng bảo lái xe dừng lại để hỏi thăm đường vào nhà cụ Hoàng Nam Cường. Theo chi dẫn, chúng tôi men theo con đường làng đến ngôi nhà cấp 4, mái lợp ngói âm dương nằm lọt thỏm giữa vườn cây. Thấy có khách đến thăm, cụ Hoàng Nam Cường, lão thành Cách mạng đang nằm nghe đài từ từ nhỏm dậy tiếp khách. Sau khi nghe anh Vũ trình bày có nhà báo ở Hà Nội lên muốn được nghe cụ kể lại việc nuôi, giấu viên phi công Mỹ rơi ở cánh đồng Bản Ngần năm 1944, cụ cười móm mém bảo: Chuyện khác thì tôi không nhớ, nhưng chuyện cho cái tay phi công Mỹ mặc áo Thổ, đầu đội mũ nồi, cải trang đi trốn thì tôi vẫn nhớ như hôm qua thôi: Đầu năm 1944, quân đội Nhật, Pháp vẫn xâm chiếm nước ta, quân Việt Minh thì vẫn đang còn hoạt động nửa bỉ mật, nửa công khai. Tôi nhớ lúc đó đang là mùa gặt khoảng tháng 10 năm 1944, vào khoảng 4-5 giờ chiều, có một máy bay lượn vòng tròn trên bầu trời thị xã Cao Bằng, sau đó nghe một loạt tiếng súng nổ, một lúc sau thì thấy chiếc máy bay lao xuống cánh đồng Bản Ngần... Anh em được lệnh tìm đến chỗ máy bay rơi thì một người dân gặt lúa gần đó nói rằng phi công đang nấp trong ngôi chùa của làng. Anh em vào chùa tìm nhung không thấy, nhìn quanh thì phát hiện những vết giầy đi ra phía sau chùa. Đoán chắc viên phi công thấy ở chùa không an toàn đã đi vào nấp trong khe núi, lúc này trời đã nhá nhem tối. Sáng hôm sau, một người của ta đi vào trong khe núi tìm viên phi công, vừa đi vừa huýt sáo báo hiệu... Lúc lâu sau, thấy viên phi công từ trong khe núi đi ra quỳ xuống giơ hai tay hàng. Sau đó giao nộp một con dao, một súng ngắn, một bao da đeo quanh người, trong có mấy loại tiền và thuổc men. Thời điểm đó, tôi vẫn đang hoạt động bí mật, nhưng được cấp trên giao phụ trách tổng Tượng Yên. Khi anh em dẫn phi công Mỹ về thì tôi được cơ sở báo là quân đội Nhật cũng đang đi truy lùng bắt phi công Mỹ. Để tránh bị phát hiện, tôi lấy một cái áo dài của dân tộc Thố bảo viên phi công mặc và đội chiếc mũ nồi lên đầu rồi rút lên núi. Do có tiền Đông Dương của phi công Mỹ mang theo, tôi nhờ bà con mua giúp một con gà luộc và nấu hai nắm cơm nếp cho viên phi công ăn. Vì ngày hôm trước nhịn đói, nên khi tôi đưa gà và cơm nếp cho ăn, viên phi công đã cầm ngay con gà luộc xé ăn một loáng đã hết... Theo lệnh của cấp trên, tổi hôm đó, tôi đưa viên phi công Mỹ tắt rừng đi về phía bờ sông để chờ anh Hoàng Tuấn Sơn đến đón. Trong khi ngồi chờ, viên phi công Mỹ ra hiệu hỏi tên tôi, nhưng vì giữ bí mật tôi không nói rõ họ tên, địa chỉ mà chỉ nói tên là Cường. Nghe nói gần đây con cháu viên phi công Mỹ đã lên Cao Bằng, khi tìm đến ngôi chùa Bản Ngần cứ đi hỏi người tên Cường nhưng không thấy... Có lẽ vì thời gian lâu quá rồi, nên cũng không ai nhớ và biết tôi đang sõng ở xã bên cạnh...

        Chúng tôi tìm đến nhà nhân chứng thứ hai: Cụ Hoàng Tuấn Sơn năm nay 95 tuổi, một trong những người lãnh đạo, tổ chức cướp chỉnh quyền năm 1945 ở Lạng sơn, sau này lại làm Chủ tịch ủy ban Hành chính tỉnh Cao Bằng. Trong ngôi nhà nhỏ ở phường Hợp Giang, thị xã Cao Bằng, ông cụ chậm rãi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện 68 năm về trước:

        Năm 1944, tôi là cán bộ Liên Tỉnh ủy Cao Bắc Lạng được trên phân công phụ trách Cao Bằng. Khi được anh em báo tin máy bay Mỹ rơi và đã đưa được phi công đến nơi an toàn, tôi liền xuống đón để đưa về Liên Tỉnh ủy đóng ở Lam Sơn. Thời gian này phát xít Nhật khủng bố rất gắt gao, đi lại khó khăn vì vậy chúng tôi phải ngày nghỉ, đêm đi. Trước khi đi chúng tôi nấu cơm lam, làm thịt chim ngói bẫy được để đãi viên phi công Mỹ rồi lên đường. Đi bộ không quen, lại đi đêm nên viên phi công Mỹ đi rất chậm. Hôm sau đến một gia đình cơ sở, tôi nhờ họ vào thị xã mua hộ một đôi giày vải và một cái đèn pin về đưa cho viên phi công Mỹ. Bỏ được đôi giày cao cổ nặng trịch, đi đôi giày vải nhẹ nhõm, viên phi công tỏ ra rất phấn khởi liền tặng lại cho gia đình hộp kim chỉ mang theo. Để an toàn, tôi đã nhờ hai thanh niên trong làng đóng cho cái mảng để đi đường sông, trên mảng có kê một tấm ván cho viên phi công nằm. Chập tối chúng tôi bắt đầu lên đường, khi về gần đến Lam Sơn, chúng tôi lại bỏ mảng đi bộ tắt qua núi về làng tôi nằm gần Liên Tỉnh ủy. Về đẽn nhà, tôi bảo người nhà mổ gà làm cơm, cả nhà ai cũng ngạc nhiên vì lần đầu tiên có người ngoại quốc đến ăn ngủ ở nhà. Sáng hôm sau tôi đưa viên phi công lên trú ở một hang đá bên sườn núi, rồi về nhà viết thư đưa giao liên chuyển sang Liên Tỉnh ủy báo tin đã đưa được phi công Mỹ về, Tỉnh ủy cho người đến đón. Sau đó, ông Phạm Văn Đồng lúc đó là Cổ vấn cho Liên Tỉnh ủy Cao Bắc Lạng đã viẽt thư cho tôi báo rằng chiều tối đồng chí Bằng Giang sẽ đến đón. ông Phạm Văn Đồng còn cẩn thận viết riêng một lá thư bắng tiếng Anh gửi cho viên phi công Mỹ. Không biểt nội dung thế nào, nhưng tôi thấy viên phi công nằm ngâm nga đọc tỏ vẻ thích thú lắm. Chiều muộn, đồng chí Bằng Giang và một người nữa đến đón, viên phi công bịn rịn như không muốn đi. Trước khi chia tay, anh ta lấy khẩu súng ngắn và chiẽc đồng hồ đeo tay tặng tôi, nhưng tôi cám ơn, không nhận. Tiễn đồng chí Bằng Giang và viên phi công Mỹ ra tận đầu làng, tôi mới quay trở về, lúc này hoàng hôn buông xuống, bóng tối đã bắt đầu lan tỏa...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2015, 03:45:53 AM
        Vậy là, sau khoảng ba tuần leo đèo, lội suối, băng rừng ròng rã, vượt qua sự lùng sục bao vây của quân Nhật, Trung uý William Shaw - người Phi công Mỹ nói trên trên đã được đưa về Pác Bó gặp Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

        Sau này, Thượng tướng Phùng Thế Tài - người đầu tiên bảo vệ Bác Hồ từ khi Người về nước - đã kể lại tâm trạng của người Phi công Mỹ ngày đó trong một hồi ký của mình:

       "Sau gần một tháng trời miệng như câm, có tai như điếc, được gặp Bác, được nghe tiếng nói của quê hương xứ sở, viên Phi công Mỹ bàng hoàng sung sướng đến phát khóc. Anh ta hoàn toàn bất ngờ không hiểu tại sao giữa núi rừng của nước Việt Nam xa xôi này lại có cụ già trông rất quê mùa lại nói tiếng Anh giỏi đến thế. Ngạc nhiên hơn, anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.

        Tấm lòng nhân hậu của Lãnh tụ Hồ Chí Minh có tác dụng cảm hoá Trung uý William Shaw mạnh mẽ. Bác còn tặng người Phi công Mỹ này bản "Chương trình Việt Minh" đã được Người trực tiếp dịch ra tiếng Anh.

        Sau đó, Trung uý William Shaw đã trở thành "cầu nối" để lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp tướng Claire Chennault (1893 - 1958), Tư lệnh Không đoàn 14, có biệt danh là đơn vị "Hổ Bay" của Mỹ, đại diện cho lực lượng Đồng Minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

        ...Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cùng viên tù binh phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi ở Việt Nam vượt ngàn cây số, để kết nối với Tướng Không quân Mỹ - đại diện quân Đồng Minh như thế nào?...

        Để có cuộc gặp "không hẹn trước" với viên tướng Mỹ Claire Chennault kể trên, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đẫ phải đi giày cỏ, theo đường bộ, vượt hàng ngàn kilômét từ Pác Bó (Việt Nam) tới Côn Minh (Trung Quốc), trong sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng thù địch.

        Khi tới Côn Minh, với cái cớ cần trao trả cho phe Đồng Minh viên Trung uý Phi công William Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, Bác Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ, để thăm dò và vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống Phát xít. Trong số đó có Charles Fenn - một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Côn Minh, làm nhiệm vụ tại cơ quan Hỗ trợ cho Không quân tại mặt đất (AGAS).

        Chỉ sau một lần tiếp xúc, Charles Fenn đã bị Lãnh tụ Hồ Chí Minh chinh phục hoàn toàn, ông rất cảm tình với Mặt trận Việt Minh. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đề nghị Charles Fenn giúp đỡ giới thiệu để trực tiếp gặp và hội đàm với Tướng Claire Lee Chennault, Tư lệnh đơn vị mang biệt hiệu "Hổ Bay" {The Flying Tigerổ) của Mỹ, đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người đại diện cao nhất của quân ừồng Minh tại khu vực.

        Tướng Chennault đã rất cảm động về sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh đối với Trung uý Phi công Shaw. Có lẽ, ông đã nhận thấy trong lời nói của Hồ Chí Minh là quyết tâm của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, đứng về phe Đồng Minh chống phát xít: "Hiện nay phong trào du kích của chúng tôi tuy đang lên rất cao nhưng vũ khí, thuõc men rất thiếu thổn. Chúng tôi đề nghị các ngài tạo điều kiện giúp đỡ để hai nước chúng ta có điều kiện mau chóng đánh bại phát xít Nhật..." Thái độ chân tình, thẵng thân của Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chinh phục được Chennault. Viên tướng Mỹ này đã hoàn toàn ủng hộ các đề xuất và hứa sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Hai bên đã thoả thuận: Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích và mở rộng phạm vỉ hoạt động của lực lượng này; cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho Không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở miền Bẵc Đông Dương... Ngược lại, phía quân Đồng Minh có trách nhiệm đưa các chuyên gia sang giúp đỡ Việt Nam huấn luyện quân sự, đồng thời trang bị vũ khí, điện đài và các thiết bị khác.

        Sau này, Thượng tướng Phùng Thế Tài, người được chứng kiến buổi chiêu đãi của tướng Claire Chennault dành cho Lãnh tụ Hồ Chí Minh ngày đó, đã kể lại tài ngoại giao của Người trong hồi ký của mình:

        "Quan khách cũng khá đông và là những nhân vật có tầm cỡ: Có cả tướng Lư Hán, Tư lệnh quân Tưởng ở Vân Nam; tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu, chỉ huy toàn bộ vùng Lưỡng Quảng. Ngoài ra còn có Long Vân, tỉnh trưởng Vân Nam và một số quan khách khác. Buổi chiêu đãi thật long trọng... Đặc biệt với Bác, tôi thấy mọi người đều trọng vọng và cách ứng xử của Bác thật tuyệt vời, hết sức tự nhiên mà lại đàng hoàng chững chạc. Với Chennault và với các tướng Mỹ khác, Bác nói bằng tiếng Anh. Bác kể chuyện những ngày ở London, ở New York... Với Lư Hán, Long Vân, thì Bác nói bằng tiếng Trung Quõc. Bác nói vui với hai người này là tôi đã từng " trú ngụ trong địa phận cai quản" của các ngài từ năm 1940, bây giờ mới hân hạnh gặp mặt, thật là một thiếu sót Cả bàn tiệc cười vang vui vẻ...".

        Tướng Chennault đã tặng Lãrih tụ Hồ Chí Minh tấm ảnh chân dung của mình với dòng chữ ghi đằng sau: "Bạn chân thành của tôỉ". Sau này, tấm ảnh đó có giá trị như một "tín vật" giúp Lãnh tụ Hồ Chí Minh kết nối các lực iượng, hỗ trợ cho Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Tướng Chennault còn chỉ thị cho Cơ quan chiến lược tình báo Mỹ tại Trung Quốc thực hiện hợp tác với Mặt trận Việt Minh.

        Khi Lãnh tụ Hồ Chí Minh về nước, đã có hai người Mỹ là Frank Tan và Mac Shin cùng sang giúp chúng ta về điện đài.

        Về sau còn có John, một báo vụ viên OSS và một số người ‘khác nữa. Những người bạn Mỹ được Việt Minh đón tiếp chu đáo, tạo mọi điều kiện để làm việc. Họ đã giúp Việt Minh một số điện đài, vũ khí và hướng dẫn người của ta sử dụng.

        Căn cứ của Mặt trận Việt Minh sau đó cũng được chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) sang Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi hơn cho việc tiếp nhận giúp đỡ của bạn bè quốc tế và sự phát triển lực lượng với các hoạt động lớn hơn sau này.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2015, 01:26:36 AM
 
        ... Đến nhóm đặc nhiệm "Con Nai" và quan hệ Việt I - Mỹ năm 1945

        Theo thỏa thuận giữa Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Tướng Mỹ Chennault, ngày 16 tháng 7 tháng 1945, một đơn vị tình báo đặc nhiệm mang bí danh "Con Nai" (The Deer Team) thuộc tổ chức OSS (The Office of strategic Services, tiền thân của CIA Mỹ), đại diện cho quân Đồng Minh đẫ nhảy dù xuống Tân Trào, để huấn luyện giúp Việt Minh cách sử dụng một số trang bị vũ khí và bàn cách phối hợp chống phát xít Nhật. Sau khi điều chinh quân số, biệt đội "Con Nai" có 7 người: Thiếu tá Allison aLThomas, là Trưởng nhóm; phiên dịch Henry Albert Prunier, Trung úy Rene Defoumeaux, bác sỹ quân y Paul Hoaglan, Thượng sỹ Lawrence Vogt, Trung sỹ kiêm nhiếp ảnh gia Aaron Squires và 'Thượng sỹ điện đài William Zielski.

        Nhóm "Con Nai" ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh. Họ phân công nhau mỗi người mỗi việc, trong đó có người làm bác sĩ đẫ từng chữa bệnh cho Báq Hồ khỉ Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà...

        Một thành viên của đội "Con Nai" này là Henry Albert Prunier, sinh năm 1921. Năm 1944, Prunier được lệnh theo học tiếng Việt 9 tháng tại Trường Đại học Berkeley. Đó chính là bước ngoặt của cuộc đời chàng trai này. Sau này, dù đã có bằng Đại học và nhiều chứng nhận danh giá khác, nhưng Prunier vẫn trân trọng treo trên tường, trong ngôi nhà riêng của mình ở vùng New England, một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút. Đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2 tháng 9 năm 1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Annam trong 9 tháng. Chính cái "chứng chỉ" độc đáo đó, đã giúp Prunier có những kỷ niệm vô giá: Tròn một năm sau, ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông được chứng kiến Lễ Tuyên bố độc lập khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sau khi cùng nhóm "Con Nai" nhảy dù xuống Tân Trào và được giao nhiệm vụ làm phiên dịch. Henry A. Prunier nhớ lại: Năm đó ông đã nhảy dù rơi xuống một ruộng lúa, còn những đồng đội khác thì có người bị mắc trên cây, có người dù bay vào rừng... Nhưng tất cả đều được các chiến sĩ Việt Minh nhiệt tình giúp đỡ và đưa về một chiếc lều tre, lợp lá rừng để gặp một ông già gày gò, mặc quần sooc. ông tự giới thiệu mình là "C.M.Hoo". Prunier và cả nhóm "Con Nai" đã rất ngạc nhiên khỉ thấy C.M.Hoo" nói tiếng Anh và tiếng Pháp rất thành thạo. Họ khâm phục và cùng gọi ông già gày gò, giản dị ấy là "Mr.Hoo". và tuy hồi đó Prunier làm nhiệm vụ phiên dịch, nhưng "Mr.Hoo" lại thường trao đổi công việc với nhóm "Con Nại" trực tiếp bằng tiếng Anh. Nghe Prunier giới thiệu là mình đến từ Massachusetts. "Mr.Hoo" đã nhắc lại kỷ niệm về nhữhg ngày mình sống và làm việc ở Boston và New York... Nhữhg ngày Prunier sống và làm việc ở căn cứ "Lều tre" rất ngẵn ngủi và trôi qua rất nhanh. Không một ai trong nhóm ''Con Nai" biết rằng họ đang chứng kiến nhữhg giây phút lịch sử trọng đại của một dân tộc: Chỉ hơn một tháng sau đó, tại Hà Nội, ông già nhỏ bé và gày gò có đôi mắt sáng ấy, với cương vị là Chủ tịch Nước, đã long trọng tuyên bố với cả thế giới việc khai sinh ra một Quốc gia mới, bằng cách đọc Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945! Điều đó đã tạo cho Henry A. Prunier một ấn tượng rất mạnh và không bao giờ phai mờ về Hồ Chí Minh: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh Hệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

        Henry A. Prunier quý mến vị lãnh tụ Hồ Chí Minh của Việt Nam tới mức sau khi trở về Mỹ, ông đã vẽ lại sơ đồ của căn phòng đơn sơ của mình và các cán bộ Việt Minh ở Tuyên Quang năm 1945. Prunier đã trân trọng giữ mãi chiếc áo quân phục trang bị cho các thành viên biệt kích đội "Con Nai". Cũng từ đó, Prunỉer bỏ công sưu tầm tất cả các cuốn băng quay về Hồ Chí Minh do các hãng thông tấn trên thế giới thực hiện, như một cách bày tỏ tình yêu với vị lãnh tụ của Việt Nam.

        Trở lại câu chuyện của gần 70 năm về trước, Nhóm ''Con Nai" đã tích cực tham gia huấn luyện quân sự cho lực lượng của Việt Minh, tổ chức tiếp tế một số vũ khí hạng nhẹ, hàng quân sự cho Việt Minh. Để làm việc này, họ đã cố vấn cho ta xây dựng một sân bay dã chiến ở Lũng Cò, cách Tân Trào khoảng 8 km về hướng Tây Bắc.

        Lũng Cò (nay thuộc thôn Đồng Đon, xẫ Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) có một dải đất rộng khoảng 4 héc ta, nằm trong một thung lũng hẹp, bốn xung quanh được bao bọc bởi các ngọn núi và những quả đồi thấp cây cối um tùm, rậm rạp, rất phù hợp để xây dựng một sân bay dã chiến tiếp nhận máy bay chở hàng viện trợ của quân Đồng Minh. Giữa tháng 6 năm 1945, dồng chí Lê Giản (tức Tô Dĩ, sau là Giám đốc Nha Công an Trung ương) đã được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ chỉ huy việc xây dựhg sân bay. Khoảng 200 người dân địa phương đã lao động với tinh thần cố gắng hết mình. Dự kiến công việc làm trong một tuần, nhưng với quyết tâm cao và nhiệt tỉnh cách mạng, nên chỉ sau có hai ngày phát dọn, san gạt, dầm, một sân bay dã chiến đã hình thành. (Có lẽ, đó là một trong nhữhg "kỷ lục" xây dựhg sân bay nhanh nhất thế giới!?)

        Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét, đường băng trải dài theo hướng Nam - Bắc. Phía cuối đường bay ở phía Bắc có cây cối um tùm, là nơi cất dấu máy bay. Để báo hiệu cho máy bay mỗi lần hạ cánh, bộ đội ở đây đã đốt lửa trên đỉnh núi phía Nam, cạnh một cây cổ thụ già và cắm nhữhg lá cờ trắng hai bên làm hoa tiêu giúp cho loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là "Sân bay Quốc tế" đầu tiên của Chính quyền Cách mạng Việt Nam. Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng Minh, do Phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa nhữhg người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2015, 02:33:13 AM
        Công việc đầu tiên của nhóm "Con Nai" tại Việt Nam là hướng dẫn cho một số cán bộ Việt Minh sử dụng vũ khí và trang bị quân sự. Prunier được phân công giới thiệu cho một người Việt Nam bé nhỏ có tên gọi là "Van" cách sử dụng súng trường, súng máy, súng bazoka và các loại vũ khí khác của Mỹ. "Mr. Van" đã hỏi chúng tôi rất nhiều, ví dụ, ông ấy muốn biết tại sao lại phải tung bổng quả lựu đạn lên và cái gì đã kích hoạt quả đạn súng cối nổ?- Năm 2011, Prunier đỗ hồi tưởng lại, trả lời phỏng vấn của báo Worcester Telegram & Gazette - thậm chí, có lần "Mr. Van" còn cúi đầu xuống để nhìn hẳn vào miệng nòng súng cõi. Lúc đó, tôi thật sự bị sốc vì sự dũng cảm của ông ấy.

        Ngày đó, không một ai trong đội "Con Nai" lại có thể tưởng tượng được rằng "Mr. Van", một người thường mặc bộ trang phục vải linen trắng, đi giày đen và đội mũ phớt mềm màu đen, chỉ 3 năm sau đã được phong hàm Đại tướng và trở thành vị Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân việt Nam - ông là Võ Nguyên Giáp! Người chỉ 9 năm sau đã chỉ huy lực lượng quân đội Việt Nam non trẻ giành chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ, đuổi quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam. và thậm chí 30 năm sau đó, ông còn tổng chỉ huy nhỉều Quân đoàn hùng mạnh, trang bị hiện đại và chiến thắng cả quân đội Mỹ. Đại tướng võ Nguyên Giáp đã trở thành một vị tướng huyền thoại và lừng danh cả thế giới!

        Tiếp đó, nhóm đặc nhiệm "Con Nai" đã cùng các chiến sĩ Việt Minh thành lập "Đại đội Việt - Mỹ" khoảng 200 người, do đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng, uỷ viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu Một, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước...) chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm cố vấn, nhằm chung mục tiêu chống phát xít Nhật. Chính đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau Quốc dân Đại hội và Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa. Họ đã cùng chúng ta hành quân qua Thái Nguyên, về tận Hà Nội. Cho dù, sau đó những người lính Mỹ này đã được lệnh cấp trên "án binh bất động"... thì đó vẫn là lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

        Trước khỉ trở về nước, những thành viên của nhóm "Con Nai" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm một sứ mệnh đặc biệt: Chuyển giúp thư của Người đến Chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Harry S. Truman công nhận độc lập và giúp đỡ cách mạng Việt Nam! Nhưng tiếc là thời điểm ấy, vị Tổng thống thứ 33 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1945-1953), kế nhiệm Nhà Trắng sau cái chết của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, đang phải đối phó với nhiều mối quan tâm khác.

        Wikipedia cho biết: Trong đối nội, Truman phải đối mặt với một giai đbtạrt hỗn loạn của nền kinh tế, được đánh dấu với nhiều thiếu hụt nghiêm trọng, hàng loạt vụ đình công và sự thông qua đạo luật Taft-Hartiey vượt qua sự phủ quyêt của ông. ông tái đắc cử vào năm 1948, nhutìg lại không kiểm soát được Quốc hội. Hàng trăm người được Truman bố nhiệm đã bị buộc phải từ chức toong hàng loạt các vụ bê bối về tài chỉnh...

        Còn trong đối ngoại, nhiệm kì của Truman có nhiều sự kiện "động trời" xảy ra, bẵt dâu với chiến thắng Đức quốc xã, vụ thả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, sự dầu hàng của phát xít Nhật và sự kết thúc Thế chiến thứ hai, sự thành lập của Liên Hiệp Quốc, kế hoạch Marshall để tái thiết lại châu Âu, học thuyết Truman để kiểm soát Chủ nghĩa cộng sản, sự bắt dầu của Chiến tranh Lạnh, sự thành lập của khối NATO và Chiến tranh Triều Tiên. Sự kiện cuối cùng làm hao tổn 44.000 lính Hoa Kỳ, hy sinh hay mất tích, và làm cho Truman không được tái đắc cử nhiệm kì thứ 3. Phe đối lập đã vận động cho ứng cử viên Đảng Cộng hòa Dwight D. Eisenhower đã đánh bại Truman, kết thúc 20 năm thống trị của Đảng Dân chủ vào năm 1952... và lịch sử đã đi theo hướng khác: Hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ đã trở thành "đối thủ" trong một cuộc chiến kéo dài tới 20 năm...

        Nửa thế kỷ sau, vào ngày 12 tháng 10 năm 1995 tại Hà Nội, đã diễn ra một cuộc gặp gỡ đặc biệt vô cùng cảm động, giữa một số người Mỹ trong đội "Con Nai" xưa với các chiến sĩ Việt Minh mà họ đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm; được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt - Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ. Allison K. Thomas (cựu chỉ huy nhóm "Con Nai"), Henry A. Prunier và Charles Fenn là những người may mắn còn sống và tham dự. Charles Fenn đã ở tuổi gần 80, nhưng những ấn tượng sâu sắc về Lãnh tụ Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên vẹn trong ông: "Chúng tôi gặp một người có vóc dáng mảnh khảnh, đôi mắt sáng ngời, có sức hấp dẫn đặc biệt Đó chính là Lãnh tụ Hồ Chí Minh... Tôi nhớ lúc đó, ông đã nói với các cán bộ đi theo rằng: "Người Mỹ là bạn của chúng ta, như Tướng Chennault là bạn của tôi đây này."


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2015, 04:55:59 AM
        Năm 1997, những thành viên của The Office of strategic Services (OSS) còn tự tổ chức cuộc gặp mặt với nhau tại New York một lần nữa. Họ cùng ôn lại chuyện cũ, xem lại nhữhg bức ảnh đen trắng, trân trọng từng kỷ vật đã lưu giữ một thời tuổi trẻ.

        Tháng 3 năm 2009, khi biết tin về "Cuộc vận động sưu tầm và Giới thiệu những kỷ vật kháng chiến Việt Nam" (người viết cuốn sách này là tác giả ý tưởng và khởi xướng), vì tuổi cao, sức khỏe không cho phép Henry A. Prunier bay chặng đường nửa vòng trái đất, nên ông đã ủy quyền cho David Thomas, cùng một sỗ cựu binh Mỹ đã sang Việt Nam mang theo một hòm tài liệu với rất nhiều kỷ vật quý: Những trang nhật ký, ông Henry Prunier viết tại Tuyên Quang năm 1945. Những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã gần 60 năm tuổi, chúng đẵ có mặt trên các Tạp chí nổi tiếng thế giới như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt - Mỹ... Rồi bộ quân phục gắn quân hàm phù hiệu, mề đay của ông được quân đội Mỹ trang bị năm 1945; tấm danh thiếp ỉn chữ Việt và chữ Trung Quốc của Đại đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ Đàm Quang Trung tặng ông trước khi về Mỹ; và sơ đồ vẽ bằng bút chì trên giấy can khu vực nhóm tình báo "Con Nai" sống và iàm việc ở Tuyên Quang năm 1945. Ngoài ra, còn có băng ghi âm về những cuộc phỏng vấn, băng ghi hình ghi cảnh quay về Bác Hồ, do ông tập hợp từ băng hình của nhiều đài truyền hình và các hãng thông tấn Mỹ và nước ngoài. Ban Tổ chức Cuộc vận động "Sưu tầm và giới thiệu Kỷ vật kháng chiến" đã tổ chức một buổi tiếp nhận long trọng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; với sự có mặt của ngài Đại sứ và nhiều nhân viên Sứ quán Mỹ, cùng sự chứng kiến của các phóng viên báo chí.

        Theo Henry A. Prunier, lịch sử như một dòng chảy, thời gian qua đi rất nhanh, nhân chứng lịch sử như ông ít dần, nên cần có nhữhg kỷ vật ghi nhớ lại giai đoạn đặc biệt về quan hệ Việt - Mỹ, thời kỳ Việt Nam còn chưa tuyên bố độc lập. ông đã cùng các thành viên trong nhóm "Con Nai" tham gia giúp Việt Minh huấn luyện bộ đội Việt Nam về kỹ thuật sử dụng các loại vũ khí như súng bazoka, súng cối... xây dựhg sân bay dã chiến, dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau Quốc dân Đại hội và nghe Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa, tham gia bao vây quần Nhật ở Thái Nguyên. Trong khoảng bảy tuần lễ ở Việt Nam ông đã ghi chép, lưu giữ lại khá nhiều kỷ vật thời đó.

        David Thomas kể rằng: 55 năm đã trôi qua, nhưng Henry Prunier luôn nhớ tới những kỷ niệm về Việt Nam. Khỉ nhớ tới Việt Nam, ông thường mang nhật ký viết thời đó ra đọc. Ông bảo đó là những kỷ vật có ý nghĩa nhất trong cuộc đời mình. Henry A. Prunier luôn mường tượng đến những dãy núi trập trùng, những con suối uốn lượn của núi rừng Việt Bắc, nhớ cháo bẹ, măng rừng của Việt Nam. Đặc biệt, là Lãnh tụ Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại nhưng thật giản dị, thân mật và cởi mở luôn ẩn hiện trong tâm trí ông...

        Bức ảnh Lãnh tụ Hồ Chí Minh mặc quần sooc, gầy yếu nhưng đôi mắt rất sáng chụp với nhóm Con Nai được ông Prunier cất giữ rất cẩn thận. Câu nói: "Chúng tôi cần bạn bè. Chúng tôi muõn làm bạn với các bạn Mỹ" của Lãnh tụ Hồ Chí Minh hồi đó, được ông ghi nhớ suốt đời...

        Gần 70 năm trước, sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại Việt Nam, Henry A. Prunỉer qua Côn Minh - Trung Quốc, rồi trở về Mỹ đầu năm 1946 và sống phấn lớn cuộc đời ở thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts, để theo nghề xây dựng của gia đình. Ông có vợ là bà Marette Lague, hai con gái là Joanne M. Green và Dianne M. Behnke; hai con trai là Raymond và Donald; cùng 12 cháu và 4 chắt.

        Henry A. Prunỉer qua đời tại Beverly vào ngày 17 tháng 3 nằm 2013, sau một cơn đột quy, hưởng thọ 91 tuổi, có nghĩa là, ông đã ra đi cùng năm và chỉ mất trước Đại tướng Võ Nguyên Giáp có vài tháng. Prunier là người sống lâu nhất trong số các thành viên của nhóm "Con Nai" đã nhảy dù xuống vùng đất của Việt Minh năm xưa...

        Vậy là từ việc cứu giúp một Phi công Mỹ nhảy dù xuống Việt Nam năm 1944, với tài ngoại giao của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã dẫn đến quan hệ hợp tác Việt - Mỹ năm 1945. Đó là sự hợp tác hai bên cùng có lợi, sự giúp đỡ của những người bạn Mỹ rất đáng trân trọng. Chúng ta cần tranh thủ mọi lực lượng trong nhữhg ngày chuẩn bị giành Chính quyền Tháng Tám năm 1945 lịch sử.

        Chuyện những Phi công Mỹ bị tai nạn giữa Biển Đông được Hải quân Việt Nam cứu thoát

        Khoan chưa nói đến việc nhữhg "Phi công Mỹ ở Việt Nam" xuất hiện với mật độ "đậm đặc" trong hàng chục năm, khi Chính phủ và Quân đội Mỹ công khai tham chiến chống lại nhân dân Vỉệt Nam. Đặc biệt là những năm Quân đội Mỹ sử dụng Không quân, thực hiện chiến tranh phá hoại Miền Bắc. Chúng tôi sẽ trở lại chủ đề này bằng nhữhg bài viết dài theo từng chuyên đề riêng...

        Xỉn được "chen ngang" một câu chuyện mang tính nhân vắn, xảy ra sau khỉ chiến tranh Việt Nam kết thúc (theo quan niệm của phía Mỹ). Đó là việc cán bộ chiến sĩ tàu HQ11 - Hải quân Việt Nam cứu nhữhg Phi công Mỹ thoát nạn ở Biển Đông. Thượng tá Hoàng văn Thể, nguyên là Thuyền trưởng nhớ lại...

       Trưa ngày 12 tháng 7 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ tàu HQ11 vừa ăn cơm vừa xong chuẩn bị nghỉ trưa, thì bất chợt phát hiện tiếng máy bay phía đông đảo Đá Lớn. Chi vài phút sau, một chiếc máy bay dạng vận tải quân sự của Mỹ bay tới cứ lắc lư, chậm chạp như có ý xin hạ cánh. Tất cả bộ đội trên tàu đã về vị trí sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu.

        Nhưng họ chỉ thấy chiêc máy bay loạng choạng phía bắc đảo Đá Lớn, rồi đâm nhào xuống biển Đông cách tàu khoảng chừng một hải lý. Biển xanh và sóng lớn đã nuốt chửng chiếc máy bay nhỏ bé; nhưng đã hiện lên mặt nước một chiẽc phao cao su, trên đó có ba người chập chờn giữa sóng to gió lớn...

        Chỉ huy tàu hội ý và quyẽt định rất nhanh, Đại úy Hoàng Vần Thể, Thuyền phó quân sự của HQ11 lệnh hạ hai xuồng cứu sinh, rồi không ngại nguy hiểm, trực tiếp chỉ huy một tiểu đội nhanh chóng cơ động về phía máy bay gặp nạn để cứu người.

        Khi tiếp cận được vị bị máy bay rơi, thì quần áo, trang bị của bộ đội ta cũng ướt hết vì sóng quá mạnh, còn những người bị nạn thì vô cùng hoảng hốt và sợ hãi. Một Phi công của chiếc máy bay bị nạn đang cầm bộ đàm Hên lạc với người của họ trong vô vọng. Xung quanh họ là một màu nước biển vàng chói do hóa chất phát tín hiệu cứu hộ. Cảnh giác, Đại uý Hoàng Văn Thể đã yêu cầu thu bộ đàm liên lạc và nói với những người bị nạn bằng tiếng Anh để họ an lòng." Chúng tôi thuộc lực lượng Hải quân Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng cứu hộ và giúp đỡ các bạn!".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2015, 04:29:04 AM
        Ba Phi công Mỹ mừhg rỡ, câm ơn rối rít. Họ gồm hai nam và một nữ. Người nữ Phi công vừa nói vừa ra hiệu rằng chị đang có thai ba tháng trong bụng, mong được quan tâm giúp đỡ.

        Vượt lên sóng gió Trường Sa, chiếc xuồng cứu hộ nhỏ bé đã đưa 3 Phi công Mỹ lên tàu HQ11 an toàn. Họ được bố trí ở tạm trong phòng Câu lạc bộ sĩ quan trên tàu. Ban chỉ huy tàu Hải quân Việt Nam đã trực tiếp làm việc với 3 Phi công gặp nạn. Qua khai báo, được biết họ là thành viên của đoàn bay CT-39-NAL0192 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ. Họ làm nhiệm vụ bay từ Singapore đến cận cứ Subic ở Philippines, thì gặp thời tiết xấu, máy bay không thể hạ cánh được, bèn vòng ra biển thì bị rơi, nhưng đã may mắn được Hải quân Việt Nam cứu hộ và thoát chết... Hai nạn nhân nam là Richard Kamaure chỉ huy tổ lái và nhân viên Michael Rneel. còn nữ Phi công là Stein Necker, nhân viên. Chị đã được cán bộ quân y trên tàu khám sức khỏe. Khi được biết đứa con trong bụng mình còn sống và khoẻ mạnh, chị đã bật khóc vì vui mừng.

        Được biết, vào thời điểm cứu hộ 3 Phi công Mỹ giữa Biển Đông, tàu HQ11 đã đi làm nhiệm vụ trên biển xa được gần hai tháng rưỡi. Nghĩa là, lương thực thực phẩm, rau xanh, nước ngọt... họ mang theo đều đã cạn kiệt. Giữa biển khơi bao la toàn sóng và gió, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã phải chắt chiu, chia nhau từng ca nước ngọt, nhường nhau từng cọng rau xanh. Nhưng họ vẫn quyết không để ba Phi công My thiếu thốn trong sinh hoạt.

        Để có nước ngọt ưu tiên cho Phi công Mỹ bị nạn, Ban Chỉ huy tàu đã phát động phong trào tiết kiệm: "Mỗi người nhịn tắm 7 ngày". Do các Phi công Mỹ không quen ăn cơm, Chỉ huy tàu đã quyết định mở kho lương thực dự trữ, lấy mì tôm và sữa hộp bồi dưỡng cho họ. Mấy bao thuốc lá cuối cùng cũng được bộ đội ta nhường cho các "vị khách không mời", còn anh em thì đành hút thuốc lào thuốc rê... Thấy được chăm sóc quá chu đáo trong ăn nghỉ, các Phi công Mỹ bị nạn đã không còn rụt rè nữa. Họ đã lạc quan tươi cười, khe khẽ hát, luôn mồm cảm ơn bộ đội Hải quân Việt Nam... Ngày 15 tháng 7 năm 1988, sau khỉ liên lạc với Hoa Kỳ theo đường ngoại giao, ba Phi công gặp nạn đã được tàu của Hải đoàn 128 Hải quân Việt Nam đón và đưa về đất liền an toàn để bàn giao cho phía Mỹ.

        Quá xúc động vì sắp được trở về đoàn tụ với gia đình, Phi công Richard Kamaure bày tỏ niềm vui: "Xin cảm ơn Việt Nam. Nếu không có các bạn, chúng tôi đã bị chết chìm dưới đại dương bao la rồi". Còn Stein Necker thì bật khóc. Chị xin mảnh giấy, mượn bút viết vội lá thư thay lời cảm ơn gửi lại tàu HQ11, bức thư có đoạn tạm dịch như sau: "Cảm ơn các bạn đã cứu chúng tôi từ lòng biển cả. Lòng mến khách của các bạn thật tuyệt vời. Cảm ơn cấc bạn rất nhiều và chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại nhau".

        Hiện bức thư của người nữ Phi công Mỹ bị nạn vẫn được lưu giữ trong phòng truyền thống của Lữ đoàn 171 Hải quân. Đó ỉà một bằng chứhg về lòng nhân ái cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ - Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2015, 04:55:42 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200025%20a_zpsjh29ndrc.jpg)
Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên đội "Con Nai" Mỹ tại Tân Trào năm 1945

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200025%20b_zpsf5uxnkry.jpg)
Đại đội Việt - Mỹ làm lễ xuất quân

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200026%20a_zpsac3rqb5e.jpg)
Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên nhóm tình báo đội "Con Nai"

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200026%20b_zpsutxzhyd1.jpg)
3 chiến sĩ của Đại đội Việt - Mỹ trên đường hành quân về Hà Nội



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2015, 06:12:27 AM
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200027%20ajpg_zpsl5azee2t.jpg)
Claire Lee Chennault, Tư lệnh đơn vị "Hổ Bay", đại diện cao nhất của quân Đồng Minh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200027%20b_zpsoqlv5bvk.jpg)
Một số phi công của đơn vị Hổ Bay" năm 1945

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200028%20a_zpsvyl2xfwt.jpg)
Sân bay Lũng Cò ở căn cứ Cách mạng Tân Trào - Tuyên Quang đang thi công năm 1945

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200028%20b_zpsm3uirtbo.jpg)
Máy bay L5 của Quân Đồng Minh từ Côn Minh bay đến chuẩn bị hạ cánh năm 1945.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200029_zps2ftplygj.jpg)
Harry S. Truman (1894 - 1972) tổng thống thứ 33 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1945 - 1953) - Người đã bỏ lỡ quan hệ Việt - Mỹ năm 1945 khiến lịch sử ngoại giao hai nước phải rẽ theo hướng khác và đã trải qua bao phen thăng trầm.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2015, 09:34:58 AM
 
NHỮNG PHI CÔNG MỸ THAM CHIẾN Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ VẢ BÍ ẨN "CHIẾN DỊCH KỀN KỀN" NÉM BOM NGUYÊN TỬ, SAU NỬA THÊ KỶ MỚI ĐƯỢC TIẾT LỘ

        Nhà văn Nguyễn Trần Thiết đã cung cấp cho bạn đọc một bài viết, với những chi tiết thú vị: Vào cuối thập niên 70, nghĩa là sau khi người Mỹ đã cam chịu thất bại, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, một nhà nghiên cứu lịch sử là Tiến sĩ William Learay đã tình cờ tìm thấy trong văn khổ lưu trữ Hoa Kỳ một tài liệu có đóng dấu "mật". Ông đọc và sửng sốt khi phát hiện sự kiện có hai Phi công Mỹ tên là James B.Mc Govern và Wallace A Buford đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với quân đội Pháp. Đặc biệt là chiếc máy bay kiểu C-119 do hai Phi công Mỹ kể trên lái đã bị cao xạ pháo Việt Nam bắn rơi ngày 6 tháng 5 năm 1954. Nghĩa là chỉ trước khi Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của Pháp bị thất thủ có một ngày. Điều trớ trêu, đáng buồn hơn là họ tên của những người lính Phi công Mỹ này lại không được ghi trên bia tưởng niệm những người Mỹ đã chết ở Việt Nam...

        Năm 1998, cơ quan Tim kiếm tù binh và nhữhg người Mỹ mất tích ở Việt Nam phát hiện ra xác chiếc C-119, loại máy bay vận tải hai thân lớn, chuyên thả dù tiếp tế cho lính Pháp ở Điện Biên bị rơi trên đất Lào. Nhưng hài cốt tìm thấy lại không phải những người mà Mỹ đang cần.

        Người ta lục trong hồ sơ cũ, thấy ngoài bức điện của De Castries - Tư lệnh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ báo cáo với tướng Henri Navarre thông tin về máy bay C-119 rơi, còn có một sĩ quan Pháp tại Lào cho biẽt một chi tiết đáng chú ỷ: Dân làng Sót, thuộc Mường Hét, đã chôn hai người Mỹ trong hai ngôi mộ xây theo kiểu Đạo Phật.

        Nhưng đáng ngạc nhiên hơn nữa là tất cả mọi nguồn tin xoay quanh hai viên Phi công nêu trên đều bị Bộ Quốc phòng Mỹ ỉm đi, cố tình phớt lờ, không chịu công bố. Thì ra, trong suốt một thời gian dài Chính quyền Mỹ muốn che giấu sự thật về sự tham chiến của họ cùng người Pháp ở Đông Dương chống lại Cách mạng Việt Nam.

        Điều bí mật đó mãi đến đầu năm 2004, nghĩa là tròn 50 năm sau cuộc chiến Điện Biên Phủ, mới được phanh phui, khi một người Mỹ tên là Douglas Paynter, với tư cách là Đạo diễn phim tư liệu đã gặp Bộ Ngoại giao Việt Nam kể lại những điều ông đã biết và xin phép được tìm gặp và quay phim những nhân chứng lịch sử xoay quanh sự kiện đáng buồn này.

        Một số cựu chiến sĩ Điện Biên của Việt Nam đã được mời đến gặp gỡ, làm việc với Đạo diễn Mỹ Douglas Paynter, trong đó có Đại tá Nguyễn Cần, nguyên Đại đội phó Đại đội Cao xạ pháo 816, đơn vị trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Đại tá Nguyễn Cần đầ khiến cho ông đạo diễn ngườỉ Mỹ vô cùng xúc động, khi đưa cho ông ta xem một cuốn sổ cũ. Đó là một cuốn nhật kí thời chiến, ghi chép tại mặt trận. Trên một trang giấy kẻ ô-li cũ, những dòng chữ đã ố vàng sau 50 năm, nhưng còn đọc được: "Ngày 6 tháng 5 năm 1954, Đại đội 816 bắn rơi một C-119 (thực tế là 2), rơi cách Điện Biên 120 km!".

        Đạo diễn Douglas Paynter đã coi Nguyễn Cần là một nhân chứng sống, quý hơn vàng. Lính cao xạ thường có trí nhớ tuyệt vời. Ông Cần đã kể lại chỉ tiết từng trận đánh diễn ra 50 năm trước. Đặc biệt là những trận đơn vị ông bắn rơi máy bay đối phương, thu được rất nhiều thịt hộp, cá hộp, bia rượu và íthỉến lợi phẩm khác...

        Tạm biệt những cựu chiến binh cao xạ Việt Minh, Đạo diễn người Mỹ trân trọng lật tìm trong cuốn "Điện Biên Phủ điềm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại trang 380, dòng thứ 8, từ trên xuống, ông ta thấy một đoạn có ghi chuyện xảy ra ngày 6 tháng 5 nầm 1954 như sau: "Pháo cao xạ bắn rơi một máy bay vận tải". Khẩu đội trưởng Khẩu đội 2 Nguyễn Thế Vinh kể lại chuyện cách đây nửa thế kỉ rất sinh động: Nghe đại đội trưởng Lại Văn Đan chỉ thị mục tiêu, cà bổn nòng pháo đồng loại nổ súng, nhả đạn chùm quanh máy bay. Quan sát viên trông thấy đạn trúng cánh trái chiẽc thứ nhất. Cả hai chiếc C-119 thả vội dù lương thực, thực phẩm... rồi bỏ chạy (có một số dù rơi vào trận địa C816). Chính trị viên Vũ Tuấn Chuyển biểu dương các khẩu đội đã bắn loạt đạn thứ hai trúng cả hai mục tiêu, đặc biệt nhìn rõ đuôi chiếc thứ nhất bị toé lửa.

        Đạo diễn Douglas Paynter làm phim tư liệu, nên ông ta cần sưu tập những chứng cứ đầy sức thuyết phục và đặc biệt là những nhân chứng sống. Trước khi đặt chân lên mảnh đất Điện Biên, thăm tại chỗ trận địa cao xạ pháo của Đại đội 816, người đạo diễn này đẫ may mắn tìm được viên Phi công lái chiếc phi cơ thứ hai tại Điện Biên Phủ ngày đó tên là S. Kisac. Chính người cựu Phi công Mỹ này đã nhớ lại và thú nhận như sau: "Hôm đó, chúng tôi thống nhất với James và Wallace là bay ngược hướng với những chuyến bay trước để đánh lừa lực tượng phòng không Việt Minh. Nhưng chưa vào đến điểm thả dù thì một viền đạn đã trúng động cơ bên trái máy bay. Xăng phun mạnh. James tăt động cơ bên trái, thả tất cả dù hàng cho máy bay nhẹ hơn và bay ra. Nhưng bất ngờ, chiếc máy bay lại bị dính viên đạn thứ hai vào đuôi. Máy bay mất kiểm soát, lao nhanh, rồi đâm vào ngọn núi và bốc cháy...

        Vậy là, tới năm 2004, nghĩa là tròn nửa thế kỷ sau cuộc chiến Điện Biên Phủ, chính người Mỹ đã thừa nhận sự dính líu của mình. Họ đẵ dề nghị phía Việt Nam giúp đỡ tìm kiếm, xác minh lại nhữhg chuyện xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Một sự thật đã được những người có trách nhiệm và những người lính cả hai phía chứhg minh và không ai có thể phủ nhận! Chúng ta đã có đủ cằn cứ để khẳng định rằng: Quân đội Mỹ đẫ trực tiếp tham chiến cùng với quân Pháp tại Việt Nam năm 1954. Hai Phi công Mỹ đã chết mất xác tại chiến trường Điện Biên Phủ. có thể một ngày nào đó, hài cốt của hai viên Phi công Mỹ sẽ được tìm thấy và tên của James B.Mc Govern và Wallace A Buford sẽ được ghi tại đài tưởng niệm nhữhg người Mỹ chết tại Việt Nam?


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Chín, 2015, 04:11:10 AM
        Một năm sau, vào tháng 2 năm 2005, đến lượt người Pháp đã công khai "ghi công" cho Phi công Mỹ tại Điện Biên Phủ, bằng cách trao tặng Huân chương cho những Phi công Hoa Kỳ từng đi tham gia những chuyến bay bí mật hồi năm 1954, để giúp quân Pháp đang bị thất thế ở Điện Biên Phủ.

        Hãng thông tấn Pháp AFP đã trích lởi Đại sứ Pháp ở Washington hồi đó là Jean David Levitte nói tại buổi lễ trao Bắc đầu Bội tinh (do Hoàng đế Napoleon lập ra nằm 1802 và là một trong những Huân chương cao quý nhất của nước Pháp) cho các Phỉ công Hóa Kỳ rằng: "Nước Pháp muốn biểu dương sự dũng câm của những người đã có nhiều chuyến bay tại Điện Biên Phủ".

        Bởi thế, Pháp đi chọn ra bảy cựu Phỉ công Mỹ để trao Băc đẳu Bội tinh và sáu người trong số đó đi dự lễ trao Huân chương tại Washington.

        Tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III - Nơi đang lưu giữ nhiều tài liệu quý, liên quan đến lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay mà nhiều người còn ít biết. Người viết cuốn sách này đã có may mắn được tiếp xúc với Hồ sơ số 138, nội dung nói về sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam và Đông Dương từ Đại chiến Thế giới II, khoảng năm 1941 đến năm 1954. Đó là những tài liệu thuộc Phòng Lưu trữ của ủy ban Điều tra tội ác chiến tranh, do Bộ phận Nghiên cứu Quan hệ quốc tế soạn, dày 24 trang đánh máy khổ A4. Tài liệu đã tiết lộ nhiều chi tiết được cho là "tuyệt mật" một thời:

        - Một là, người Mỹ đã âm mưu nhòm ngó Đông Dương từ trong Đại chiến Thế giới thứ II (1941 -1946) như thế nào?

   - Hai là, từ nhòm ngó đến bước đầu tích cực chuẩn bị can thiệp (1947 -1949) ra sao?

        - Ba là, cùng thời điểm với cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 4 1953) người Mỹ đã công khai và trực tiếp can thiệp vào Việt Nam về mọi mặt ra sao?

        - Và bốn là, người Mỹ tiến thêm một bước nguy hiểm trong việc hỗ trợ người Pháp và can thiệp quân sự trực tiếp vào Điện Biên Phủ; âm mưu ném bom nguyên tử, kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương (1953 -1954) thế nào?...

        Giải mã hồ sơ mật 60 năm trước: Đã có một âm mưu mang tên "Chiến dịch Kền kền" ném bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ bất thành như thế nào?

        Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây chúng tôi có được, thì Tổng thống thứ 34 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Dwight Eisenhower, ngay sau khỉ đánh bại Tổng thống Harry S. Truman để tiếp quản Nhà Trắng (20 tháng 1 năm 1953), đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến Đông Dương, trong đó có Việt Nam.

        Có lẽ Eisenhower đã rút kinh nghiệm từ sự thất bại của người tiền nhiệm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953). Tân Tổng thống Mỹ muốn dùng đô-la và Không quân giúp Pháp ”lấy lại danh dự" tại chiến trường Đông Dương?

        Vừa nhậm chức, Tổng thống Eisenhower đã cho thành lập ngay một ủy ban đặc biệt về Đông Dương (The Special wpmmittee on Indochina) do Walter B. Smith, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, làm Trưởng ban và Nhóm công tác đặc biệt về Đông Dương (The Special Working Group on Indochina) do tướng Grave B. Erskine cầm đầu.

        Ngày 30 tháng 7 năm 1953, Quốc hội Mỹ đã chuẩn chỉ 400 triệu đô-la để hỗ trợ Pháp theo đuổi chiến tranh ở Đông Dương. Hai tháng sau, ngày 30 tháng 9, Chính phủ Mỹ lại cấp thêm 385 triệu đô-la nữa. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp nhiều trang bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các loại. Sau này, người ta đã tính rằng: Hồi đó, Mỹ đã trang trải đến hai phần ba chi phí cho cuộc chiến tranh Đông Dương với hàng tỷ đố-la tiền của!

        Wikipedia cho biết: Tới năm 1954, 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương là do Hoa Kỳ chi trả. Tới năm 1953, viện trự Mỹ cả kinh tẽ và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đô-la và năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỳ đô-la nữa. Tống cộng Mỹ đã cung cấp cho Pháp trên 40 vạn tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000xe vận tải, 17,5 vạn súng cá nhân.

        Chưa hết, để động viên Pháp, Eisenhower đã cử Phó Tổng thống Richard Nixon sang Việt Nam. Ngày 4 tháng 11 năm 1953, Nixon tuyên bố tại Hà Nội: "Không thể hạ vũ khí cho đến khi nào đạt được chiến thẳng hoàn toàrí'. Rồi ông ta đến tận Ghềnh (Ninh Bình) để thăm quân Pháp đang tiến hành cuộc hành quân mang tên Hải Âu tại đây.

        Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chỉnh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của Tổng chỉ huy lực lượng viễn chỉnh Pháp, sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến sau này tướng Henri Navarre than phiền trong hồi ký: "Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ." Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dút cuộc chiến nhưhg mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương. Cuộc chiến sang năm thứ 9 đã chứng tỏ Pháp chỉ còn cách duy nhất là tìm một "lối thoát danh dự nếu không muốn "dâng" Đông Dương cho Mỹ.

        Khi tướng Navarre bắt đầu thực hiện cuộc hành quân mang mật danh là "Hải Ly" vào ngày 20 tháng 11 năm 1953, thì lần lượt 16.000 quân Pháp đã được những chiếc máy bay vận tải C-47 do Mỹ viện trợ, đưa đến lòng chảo Điện Biên Phủ, dựng lên một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương thời bấy giờ, với hy vọng sẽ "nghiền nát" quân đội của Việt Minh.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Chín, 2015, 04:46:36 AM
        Ngày 20 tháng 2 năm 1954, phía Mỹ đầ viện trợ cho Pháp thêm 40 máy bay các loại, từ loại ném bom B-26 đến các loại máy bay vận tài C-47 và C-119... Cũng trong tháng đó, Mỹ còn gửi sang Việt Nam 200 lính kỹ thuật thuộc Đơn vị phục vụ Không quân số 81 để giúp Pháp bảo trì và sửa chữa các máy bay mà Mỹ đã cung cấp cho Pháp.

        Trước đó, sau khi Tưđng Henri Navarre của Pháp đề nghị giúp đỡ, Hoa Kỳ đã quyết định trợ giúp Pháp 12 máy bay C-119 củng 37 Phi công, nhưng lại yêu cầu các máy bay mang phủ hiệu của Pháp, để tránh sự chỉ trích ờ trong nước và dư luận quốc tế.

        Giữa tháng 3 năm 1954, khi tình hình chiến sự bi đát, chính phủ Mỹ vội vàng giúp Pháp lập "cầu hàng không" từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ. Báo U.S News and World Report tường thuật như sau: "Mỗi ngày, gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ xụống sân bay trong tầm súng cối của Cộng sản, vận chuyên từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C-119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay của "cầu hàng không"này đều do Mỹ giúp".

        Không chỉ giúp máy bay, Mỹ còn cung cấp cả người lái. Các Phỉ công Mỹ đã âm thầm thực hiện gần 700 phi vụ tại Điện Biên Phủ, trong cuộc chiến được họ mô tả là ''một trong những trận đánh vĩ đại của thế kỷ 20". Bởi thế, vai trò của 37 Phi công Hoa Kỳ trong cuộc bao vây 57 ngày ở Điện Biên Phủ năm 1954 từ trước tới nay còn là một bí mật, rất ít người biết tới.

        Thậm chí, khi Điện Biên Phủ có nguy cơ thất thủ, Đô đốc Arthur W.Radford, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đầ soạn ra kế hoạch can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam. Bản kế hoạch tuyệt mật này được gọi là "Chiến dịch Kền Kền" (Operation Vulture). Theo đó, Mỹ sẽ dùng 60 máy bay ném bom hạng nặng B-29 Superfort (mỗi chiếc có thể chở 8 tận bom) cất cánh từ cần cứ không quân Clark Field ở Philippines để ném bom rải thảm, mỗi đợt khoảng 450 tấn bom, xuống các„vị trí của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ, đồng thời dùng 150 máy bay chiến đấu (từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ) để hộ tống các máy bay ném bom nói trên...

        Để che giấu bàn tay can thiệp của Mỹ, Radford đề nghị xoá bỏ phù hiệu của không quân Mỹ trên thân máy bay và lập một phi đoàn tình nguyện quốc tế, bằng cách thuê Phi công thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Ngoài loại bom thường (mỗi quả nặng 2 tấn), Radford còn đề nghị sử dụng 3 quả bom nguyên tử chiến thuật (tactical atomic bombs). Theo các chuyên gia của Lầu Năm Góc tính toán thì "Chỉ cần 3 quả bom nguyên tử chiến thuật sử dụng cho .đúng, thì cũng đủ nghiền nát lực lượng Việt Minh ở Điện Biên Phủ".

        Kế hoạch tuyệt mật trên của Radford đã được Tổng thống Mỹ Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Dulles, Tướng Nathan F.Twining (Tham mull trưởng Không quân Mỹ)... tán thành. Rất may, khi đại diện phe "diều hâu" Mỹ hồi ấy là Ngoại trưởng Dulles và Chủ tịch Hội dồng Tham mưu trưởng liên quân Raford khỉ đưa "Chiến dịch Kền kền" ra thăm dò tại Quốc hội đã bị phản đối. Hầu hết các nghị sĩ đều lắc dầu, bởi họ sợ phải đưa lục quân vào Việt Nam và rơi vào một cuộc chiến tranh nữa giống như ở bán đảo Triều Tiên vừa đình chiến. Lyndon Johnson, thủ lĩnh phe đa số trongThượng viện Mỹ, nhấn mạnh: Thứ vũ khỉ này sẽ quét sạch quân đội của cả hai phe. vì không thể tính được báo nhiêu đơn vị lính Pháp có thể sống sót trong một cuộc tấn công bẵng bom nguyên tử. Ngay Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Raford cũng không được các Tham mưu trưởng đồng thuận. Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ là tướng Matthew Ridgway cũng đã kiên quyết phản đối việc đưa bộ binh vào Đông Dương! Các nghị sĩ đã đặt điều kiện: Quốc hội sẽ không ủng hộ việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam chừng nào Chính phủ không được các đồng minh, đặc biệt là nước Anh, cam kết có hành động chung.

        Nhưng ngày đó nước Anh, một đồng minh thân cận của Mỹ cũng không ủng hộ "Chiến dịch Kền kền". Họ chỉ mong chiến tranh Đông Dương sớm kết thúc, thông qua đàm phán ở Genève... Trong khỉ Mỹ thì muốn có hành động tập thể dựa trên một thỏa thuận chính trị với nước Pháp và nước Anh.

        Nếu "Chiến dịch Kền kền" được Mỹ thực hiện, Việt Nam sẽ phải chịu thảm họa hạt nhân như Nhật Bản 9 năm trước đó. Chẳng ai biết được hậu quả khôn lường, khi những quả bom nguyên tử được Mỹ ném xuống, sẽ có thêm bao nhiêu nạn nhân của thứ vũ khí khủng khiếp ấy?

        Nỗ lực cuối cùng của Không quân Mỹ trước khi Điện Bỉên Phủ thất thủ một ngày, là cử 2 tổ lái C-119 bay tầm thấp để thả đồ tiếp tế xuống Hồng Cúm vào sáng ngày 6 tháng 5. Pháo cao xạ Việt Minh đã đón sẵn bằng lưới lửa phòng không dày đặc. Chiếc C-119 do phi công Art Wilson lái chính bị bắn trúng đuôi. Wilson mất kiếm soát nhưng vẫn trốn thoát và hạ cánh được xuống sân bay Cát Bi. Chiếc do McGovern lái chính bị bắn trúng động cơ và đuôi. Cả McGovern và lái phụ đã thiệt mạng vì chính lượng đạn dược mà họ chở trên máy bay...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Chín, 2015, 08:24:53 AM

 (http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200039_zpskvpuekgd.jpg)
Phó Tổng thống Mỹ Richard Nixon thị sát Việt Nam năm 1953

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200039%20a_zpsgughbs2r.jpg)
Quân Pháp đang chờ tiếp tế từ cầu hàng không của Không quân Mỹ tại Điện Biên Phủ, năm 1954

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200040_zpsqf9fyiqn.jpg)
Pháo đài bay B-29 Không quân Mỹ tham gia cứu viện quân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200040a_zpskwds5qzi.jpg)
Máy bay vận tải C-119 của Không quân Mỹ tham gia cứu viện quân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200041_zpsqusg1a8w.jpg)
Tổng thống thứ 34 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Dwight D.Eisenhower và Đô đốc Arthur W.Radford, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ - Những người quyết định sự can thiệp của Mỹ tại Điện Biên Phủ, giai đoạn 1953 -1954.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2015, 08:54:00 AM
 
 
THƯỢNG TƯỚNG ĐÀO ĐÌNH LUYỆN - NGƯỜI ANH CẢ CỦA PHI CÔNG TIÊM KÍCH VIỆT NAM VÀ ĐỐI THỦ ĐÁNG KÍNH NỂ CỦA PHI CÔNG MỸ TRÊN BẦU TRỜI

        Thượng tướng Đào Đình Luyện (1929 - 1999), Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam - Là người đã đi suốt chiều dài các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; trực tiếp tham gia các trận đánh lớn và chiến dịch tiêu biểu nhất của Quân đội ta: Chiến dịch Thu Đông 1947, chiến dịch Biên giới 1950, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, chiến tranh phá hoại của Không quân Mỹ (1964 - 1968), chiến dịch chống pháo đài bay B.52 của Mỹ (1972) và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975)... Ông là một vị tướng nổi tiếng trí dũng và nhân nghĩa.

        Căn cứ những tài liệu do thân nhân gia đình cố Thượng tướng Đào Đình Luyện cung cấp, chúng tôi xin phép được biên soạn lại, giới thiệu phần đóng góp của ông liên quan đến chủ đề "Phi công Mỹ ở Việt Nam". Bởi Đào Đình Luyện là người được Quân đội cử đi phụ trách và trực tiếp học lái máy bay chiến đấu lớp đầu tiên; đồng thời, cũng là Trung đoàn Trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích dầu tiên của Việt Nam. ông đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Binh chủng Không quân trong thời gian cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Không quân Mỹ ác liệt nhất... Đào Đình Luyện rất xứng đáng được dồng đội tôn vinhfl là "Người anh cả" của "gia đình" Phi công tiêm kích Việt Nam.

        Nói cách khác, Tướng Đào Đình Luyện là Tư lệnh của những chiếc MIG - đối thủ trực tiếp và đáng kính nể của các Phi công Mỹ trên bầu trời Việt Nam trong chiến tranh... Ông đã trực tiếp chỉ huy hàng trăm trận không chiến ác liệt và nổi tiếng nhất giữa lực lượng Không quân non trẻ của Việt Nam với lực lượng Không quân nhà nghề Mỹ - một đối tượng tác chiến dày dạn kinh nghiệm, có số lượng đông, được huấn luyện bài bản, có trang bị kỹ thuật hiện đại bậc nhất thế giới, và Tướng Không quân Đào Đình Luyện đã dành thắng lợi, khiến cho đối phương phải "tâm phục khẩu phục".

        Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân tiêm kích dâu tiên của Việt Nam

        Đào Đình Luyện, tên thật là Đào Mạnh Hùng, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1929 tại làng Phụng Công, xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, trong một gia đình nhà Nho nghèo, có truyền thống Cách mạng. Bố đẻ là Đào Văn Huống và chú ruột là Đào Văn Hiển đều là Đảng viên cộng sản 1930. Từ nhỏ, cậu bé Hùng đã tỏ rõ sự thông minh hơn người, có trí nhớ tốt và học rất giỏi; hết trường làng, lên trường huyện và trường tỉnh Thái Bình..

        Tháng 8 năm 1945, trong không khí hào hùng của Mùa Thu Cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, khi mới 16 tuồi, anh thanh niên Đào Mạnh Hùng đã đổi tên thành Đào Đình Luyện và xung phong vào bộ đội. Chỉ vài tháng sau, vào tháng 10 năm 1945, Đào Đình Luyện đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. và dù còn rất trẻ, nhưng nhữhg năm 1945 - 1946 anh đã thoát ly gia đình và được giao giữ chức vụ Chính trị viên Trung đội Bộ đội địa phương tinh Thái Bình.

        Kháng chiến bùng nổ, Đào Đình Luyện cùng đơn vị hành quân đi chiến đấu và trực tiếp tham gia những trận đánh ác liệt nhẵt trong 9 năm chống Pháp. Từ năm 1947 đến 1952 Đào Đình Luyện là Chính trị viên Đại đội 247, Chính trị viên Tiểu đoàn 11 Đại đoàn 308. Tháng 3 năm 1953, là Phó Chính ủy rồi Chính ủy Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 sau đó là Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi tham mưu trưởng Đại đoàn 312... Trong gần chục năm xa nhà ấy, Đào Đình Luyện không một lần về thăm, cũng không nhắn gửl và thư từ. Gia đình chỉ biết anh còn sống và trưởng thành rất nhanh, qua tin tức của bạn bè, đồng đội: Từ một chính trị viên Trung đội bộ đội địa phương trở thành Chính trị viên Đại đội, Tiểu đoàn, rồi Phó chủ nhiệm Chính trị, Tham mưu trưởng Đại đoàn...

        Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, bà con Quỳnh Phụ Thái Bình cùng gia đình và người vợ thủy chung đã vui mừng và vinh dự được đón Đào Đình Luyện - một cán bộ chỉ huy dũng cảm và mưu trí của Quân đội về thăm quê.

        Để chuẩn bị đội ngũ xây dựhg lực lượng cho binh chủng mới, ngay sau Chiến thắng Điện Biện Phủ "lừhg lẫy nắm châu chấn động địa cầu", Việt Nam đã bắt dầu lựa chọn những cán bộ, sĩ quan, thanh niên ưu tú nhất, gửi ra nước ngoài đào tạo phi công, để chuẩn bị việc thành lập lực lượng Không quân nhân dân.

        Tháng 3 năm 1956, đã có 110 người Việt Nam dầu tiên, được chọn lựa kỹ càng từ nhiều đơn vị, để đi ra nước ngoài học lái máy bay quân sự. và Đào Đình Luyện cũng là cái tên dầu tiên được xếp trong danh sách ấy. Nguyên là Tham mưu trưởng một Đại đoàn nổi tiếng, thời gian dầu, anh được giao nhiệm vụ chỉ huy nhóm học viên phi công phi công lái máy bay ném bom loại Tu-2, ở Học viện Không quân số 2 (Trường Xuân, Trung Quốc). Một nhóm khác gồm 50 người do dồng chí Phạm Dung phụ trách cử đi học lái máy bay tiêm kích MỈG-17. Một nhóm nữa, do đồng chí Phạm Đình Cương phụ trách đi học lái máy bay vận tái Ilyushhin 11-14 và Li-2 ở Liên xô... Một thời gian sau, do yêu cầu của cấp trên, đồng chí Phạm Duhg được giao nhiệm vụ phụ trách nhóm huấn luyện máy bay Li-2 và trực thăng Mi-4; nên toàn bộ các học viên lái tiêm kích MiG-17 đã được giao lại cho Đào Đình Luyện phụ trách cho đến hết khóa học.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2015, 08:56:20 AM
        Sau này, Đại tá Lưu Huy Chao, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, cựu học viên lái máy bay tiêm kích MiG-17 đã kể lại nhữhg câu chuyện thú vị: Chúng tôi được lệnh tập trung về Cát Bi (Hải Phòng) để học lý luận chính trị và ngoại ngữ cấp tốc trong thời gian một tháng rưỡi. Thời gian quá ngắn, chỉ đủ để nhớ được mấy tiếng chào hỏi thông thường, chứ đừhg nói gì đến thuật ngữ kỹ thuật chuyên môn hiện đại. Rồi mỗi anh được cấp trên cho tranh thủ 5 ngày phép về thăm nhà, để tạm biệt cha mẹ vợ con, nhưng với yêu cầu bí mật không được tiết lộ chuyện đi học làm phi công, mà phải nói tránh là "công tác xa dài ngày". Trước khi chính thức sang Trung Quốc, mỗi người được phát một chiếc va ly da và bộ đồ công nhân màu xanh. Tới Bằng Tường, chúng tôi chuyển tàu đến Học viện Không quân số 3 ở tỉnh Liêu Ninh - Trung Quốc. Hồi đó, đây là nơi đào tạo phi công cho các nước Triều Tiên, Anbani và Việt Nam...

        Cuối tuần, học viên thường được phép ra ngoài phố "xả hơi". Dù ngoại ngữ bập bõm, muốn diễn đạt điều gì với dân địa phương, phải vừa nói vừa ra hiệu hết sức vất vả, mà người nghe vẫn không hiểu, nhưng chúng tôi vẫn thích đi. Nhiều lần, mấy anh em còn liều lĩnh rủ nhau nhảy tàu lên tận Bắc Kinh chơi.

        Ngày đó, người ta bảo cứ thấy mấy anh chàng mặc đồ học viên bay, đi nghênh ngang ngoài phố, ngó nghiêng, chỉ chỏ... thì đích thị là bộ đội Việt Nam. còn nhớ, học viên Trần Đình Lộc, ngoại ngữ kém, nhưng lại hay la cả nhất, có lần bị công an bạn bắt vào đồn. Sau họ biết là học viên trường không quân nên mới được thả ra.

        Một lần vào dịp Tết Nguyên đán, theo phong tục truyền thống, chúng tôi kéo xuống khu gia đình giáo viên chúc Tết. Thấy một phụ nữ đang bế cháu bé chừhg mấy tháng tuổi. Một anh bạo mồm, ra vẻ thành thạo ngoại ngữ, đã vồn vã chào hỏi rất lễ phép. Nhưhg chỉ thấy chủ nhà lắc đầu cười muốn rơi nước mắt. Thì ra, cấu trúc ngữ pháp tiếng Trung Quốc ngược với tiếng Việt. Lẽ ra, anh bạn phải nói: "Đây có phải là con của thầy giáo không?", thì anh ấy lại hỏi: "Đây có phải là con tôi không?"

        Một lần khác, nhân ngày nghỉ các học viên được thông báo: Tất cả chuẩn bị đi "bắt rận cho cừu"! Sao lại là "bắt rận cho cừu'? ở đây làm gì có cừu mà bắt rận nhỉ? Thì ra, người địa phương nói "bải chai", có nghĩa là "cải trắng". Đi thu hoạch cải trắng, mà lại bị dịch là "bắn rận cho cừu" thì đúng là chuyện dở khóc dở cười thật.

        Nhưng đó là một thế hệ học viên phi công tiêm kích mang tính lịch sử. Nhiều người trong số họ thực sự là "nhữhg anh nông dân được vinh dự ngồi lên buồng lái máy bay phản lực". Hầu hết họ là những anh trai làng giàu nhiệt tình Cách mạng, hầng hái đi tham gia kháng chiến, văn hóa trung bình thường mới chỉ học xong lớp 7 đã là may mắn lắm.

        Học viên Nguyễn Văn Bảy, người miền Nam tập kết, là một ví dụ điển hình như thế. Trước hết, là vấn đề thử thách của tiền đình với sức khỏe. Dù đã tập luyện nhiều tháng trời với chiếc vòng xoay 360 độ, nhưhg suốt 7 năm học, mỗi khi lên máy bay, Bảy vẫn phải mang theo bên mình một cái ruột quả bóng đá, được khoét một lỗ miệng rộng để thay túi chứa đồ nôn thoải mái... vậy nhưng, Nguyễn Văn Bảy vẫn kiên quyết không bỏ cuộc, chấp nhận thử thách cho tới năm cuối cùng thì hiện tượng anh bị nôn mỗi khi mấy bay cất cánh mới hết. Thứ hai, là vấn đề trình độ văn hóa của Bảy rất hạn chế. Nghe nói, khi được tuyển đi học phi công anh đã không giấu giếm là mình xuất thân "Hai Lúa", văn hóa mới chỉ được học tương đương... lớp 4. Bởi thế, dù các chuyên gia đã giảng giải rất cặn kẽ, mà anh Bảy vẫn không sao hiểu được định luật Béc-nu-li (Bernoulli): Thế nào khí động học, là cơ học chất lưu (hay còn được gọi là cơ học thủy khí), thế nào là sự cân bằng và chuyển động của các phần tử vật chất vô cùng nhỏ, có thể dễ dàng di chuyển và va chạm với nhau trong không gian? Mãi sau này, trong một trận chiến đấu ác liệt với Không quân Mỹ, máy bay của anh bị thủng một lỗ to bằng bàn tay xòe cạnh buồng lái. Theo phản xạ, Bảy lấy tay bịt lại lỗ thủng, ngay lập tức, anh bị gió hút chặt như muốn kéo tuột cả người ra ngoài...

        Sau lần may mắn hút chết ậy, anh Bảy cười và tuyên bố: "Giờ thì tao đã hiểu thế nào là định luật Béc-nu-li rồi!" và anh "Hai Lúa" Nguyễn Văn Bảy đã làm được điều phi thường, nổi tiếng cả thế giới: Bắn rơi 7 máy bay Mỹ, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân!...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2015, 05:01:28 AM

*

        Ngoài chương trình đào tạo phi công chiến đấu, cùng thời gian trên Việt Nam cũng tuyển chọn một đội ngũ cán bộ kỹ thuật, bảo duỡng, dẫn đường... gửi ra nước ngoài để tham gia các khóa huấn luyện khá cơ bản.

        Ngày 21 tháng 3 năm 1958, Bộ Quốc phòng có quyết định số 047/ND thành lập Bộ Tw lệnh Không quân. Ngày 24 tháng 1 năm 1959, có quyết định thành lập Cục Không quân. Chỉ sau đó vài tháng vào ngày 1 tháng 5, Trung đoàn Không quân vận tải đầu tiên mang số hiệu 919 của Việt Nam chính thức thành lập tại sân bay Gia Lâm. Trang bị chủ yếu của đoàn bay lúc đó gồm nhữhg vận tải cơ Li-2, IL-14, An-2. Hơn 4 năm sau, vào ngày 22 tháng 10 năm 1963, Cục Không quân sáp nhập với Bộ Tư lệnh Phòng không, thành Quân chủng Phòng không - Không quân. Lực lượng của không quân ngày đó mới chỉ có hai đơn vị là Trung đoàn Vận tải 919 và Đoàn bay Huấn luyện 910.

        Một sự kiện đáng nhớ và một dấu mốc quan trọng: Ngày 30 tháng 5 năm 1963, Trung đoàn không quân tiêm kích 921, mật danh là Đoàn Sao Đỏ, được thành lập tại cao nguyên Vân Quý
(Trung Quốc), trên cơ sở Đoàn học viên tiêm kích MiG-17, do Trung tá Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Đỗ Long làm Chính ủy, Thiếu tá Trần Mạnh làm Trung đoàn phó, Thiếu tá Trần Văn Thọ làm Tham mưu trưởng.

        Tới ngày 3 tháng 2 năm 1964, Trung đoàn tiêm kích 921 chính thức làm Lễ ra mắt tại Mông Tự, tỉnh vân Nam, Trung Quốc. Ban đầu Trung đoàn có biên chế 70 phi công, được trang bị 32 máy bay tiêm kích MiG-17 và 4 máy bay huấn luyện chiến đấu MiG-15 do Trung Quốc bàn giao. Mãi tháng 4 năm 1965, đơn vị mới được tiếp nhận loại máy bay mới MiG-21, do Liên xô viện trợ.

        Sau sự kiện "Vịnh Bắc Bộ", Bộ Quốc phòng Mỹ kiếm cớ để dùng Không quân và Hải quân đánh phá vào Nghệ An và Quảng Ninh và một số địa phương khác... Trung đoàn 921 nhận được lệnh di chuyển về nước để chuẩn bị chiến đấu. 10 giờ 35 phút ngày 6 tháng 8 năm 1964, nhữhg chiếc máy bay MiG-17 của Không quân nhân dân Việt Nam cất cánh từ sân bay Mông Tự (Trung Quốc) đã bay qua biên giới Trung - Việt và đáp xuống sân bay quân sự Đa Phúc (tức Nội Bài ngày nay) vừa được xây dựhg ở phía Bắc Thủ đô Hà Nội. Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện trực tiếp cầm lái một chiếc MiG-17 có mặt trong tốp đầu tiên. Rồi lần lượt cả Trung đoàn tiêm kích đã hạ cánh an toàn xuống sân bay... Tuy đã trở về nước với toàn bộ số phi công và máy bay đã có, nhưng thời gian đầu lực lượng Không quân tiêm kích của Việt Nam được lệnh vẫn tập trung vào việc huấn luyện, giữ tuyệt đối bí mật và tránh tham chiến.
Ngay hôm sau, ngày 7 tháng 8 năm 1964, một chiếc máy bay do thám U2 của Mỹ đã bay ngang qua sân bay Đa Phúc và sau đó Đài BBC đã loan tin về việc nhữhg chiếc MiG đã xuất hiện ở Việt Nam. Nhưng lực lượng Không quân Mỹ cũng không quan tâm lắm vì họ cho rằng MiG-17 là loại tiêm kích đã hoàn toàn lạc hậu, chỉ có vận tốc dưới âm, không có radar cũng như tên lửa. Thậm chí, viên tướng J.Paul, chỉ huy tàu sân bay USS Constellation của Mỹ còn ngạo mạn tuyên bố: "Cuộc không chiến với phi công Bắc Việt sẽ chỉ là trò chơi. Cấc máy bay trinh sát hiện đại giúp người Mỹ nắm rõ lực lượng Không quần Bắc Việt, với một dúm máy bay cổ lỗ, trú trong những bức tường bằng đất đắp và không có mái ché".

        Các chuyên gia quân sự Mỹ đều cho rằng: với một lực lượng không quân nhỏ bé, lạc hậu, mới thành lập như Việt Nam hồi đó, dù có lạc quan đến mấy, thì việc giành chiến thắng trước một lực lượng không quân hùng hậu, hiện đại, nhiều kinh nghiệm của Mỹ gần như là một điều hoang tưởng. Các phi công Mỹ cũng tin rằng: đối thủ của họ sẽ là nhữhg phi công Liên xô, hoặc chí ít cũng là phi công Trung Quốc, chứ không thể nào là những phi công Việt Nam non nớt. Chính vì thế, họ có quyền tin rằng bầu trời Việt Nam sẽ hoàn toàn do các phi công Mỹ làm chủ!

        Nhưng sau này, thực tế đã chứng minh ngược lại: Theo một thống kê, tổng cộng trong chiến tranh, Không quân Nhân dân Việt Nam tuyên bố đã bắn hạ 320 máy bay các loại của Mỹ, trong khi tổn thất trong chiến đấu là 131 máy bay các loại (đạt tỉ lệ 1 đổi 2,5). Đây quả là một kì công, nhất là với trang bị máy bay cũ kĩ và số giờ bay thấp. Nói cách khác: Các phi công Mỹ đã chịu thua phi công Việt Nam một cágh "tâm phục khẩu phục"!

        Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương đã dành sự quan tâm đặc biệt tới lực lượng Không quân non trẻ. Ngay sau khi lứa phi công tiêm kích đầu tiên của Trung đoàn 921 hoàn thành khóa huấn luyện ở Trung Quốc và về nước nhận nhiệm vụ, Bác đã đến sân bay thăm hỏi, động viên các phi công và căn dặn: Tổ tiên ta ngày xưa đã có chiến công trên sông, trên biển như: Bạch Đằng, Hàm Tử... trên bộ như: Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa... Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm ấy trước hết là của các chú.

        Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng động viên và giao nhiệm vụ cho bộ đội Không quân: "Các đồng chí nên nhớ là từ thời Hồng Bàng tới giờ ta mới có không quân. Tổ tiên ta đã đánh kẻ thù trên mặt đất bằng nhiều trận quyết chiến lịch sử, nhưng giờ đây ta mới có lực lượng không chiến, vì vậy các đồng chí phải coi đây là nhiệm vụ lịch sử của dân tộc".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2015, 06:45:46 AM
 
        Sự thật về chiến dịch "Sâm Rền" của Không quân Mỹ
        và cuộc đốì dâu trực tiếp của Không quân Việt Nam


        Gần đây, Wikipedia đã tiết lộ một số thông tin thú vị, cung cấp thêm một góc nhìn khá trung thực và khách quan về cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Không quân Mỹ, qua chiến dịch mang tên "Sấm Rền" (Operation Rolling Thunder), kéo dài từ ngày 2 tháng 3 năm 1965 đến ngày 1 tháng 11 năm 1968. Đó là nhữhg âm mưu và đối thủ trực tiếp mà Đào Đình Luyện - người chỉ huy Lực lượng Không quân tiêm kích non trẻ của Việt Nam phải trực tiếp đối đầu.

        Các mục tiêu của chiến dịch ''Sấm Rền" do các chuyên gia quân sự Mỹ vạch ra là: cứu vãn tinh thần đang sa sút của chính quyền sài Gòn; ép Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngừng hỗ trợ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam; Phá hủy hệ thống giao thông, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn dòng quân và hàng hóa chảy từ miền Bắc chi viện cho miền Nam.

        Chiến dịch "Sấm Rền" được cho là trận chiến khó khăn nhất mà Không quân Mỹ đã thực hiện kể từ thời ném bom phát xít Đức trong Thế chiến lần thứ 2. Người Mỹ cho rằng: Việt Nam Dân chủ cộnghòa đã nhờ sự chi viện của các đồng minh Liên xô và Trung Quốc và tự sáng tạo các chiến thuật mới, nên đã tự vệ bằng một hỗn hợp hùng mạnh của các vũ khí không-đối-không và đất-đối- không tinh vi, nhiều tầng nhiều lớp đan xen, tạo nên một trong nhữhg khu vực phòng không hữu hiệu nhất mà các phi công quân sự Mỹ từhg đối mặt trong các cuộc chiến.

        Một số nghiên cứu của Mỹ đã xem chiến dịch này như là một công thức cho thất bại. Sau một trong những chiến dịch trên không dài nhất trong lịch sử của bất cứ quốc gia nào, nhiều chuyên gia quân sự Mỹ đã kết luận rằng chiến dịch "Sấm Rền" là một thất bại do nó không đạt được một mục tiêu nào trong các mục tiêu đa đặt ra.
Lúc đầu, Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ đã liệt kê một danh sách 94 mục tiêu cần phá hủy, một phần của chiến dịch không kích hiệp đồng dài 8 tuần để đánh phá mạng lưới giao thông tại miền Bắc Việt Nam: Cầu, ga xe lửa, bến cảng, doanh trại, và các kho hàng đều được lấy làm mục tiêu. Tuy nhiên, Johnson sợ rằng một chiến dịch như vậy có thể làm ngòi nổ cho một sự can thiệp trực tiếp với Trung Quốc hay Liên xô, điều mà đến lượt nó có thể biến thành một cuộc chiến tranh thế giới, với sự ủng hộ của McNamara, ông ta từ chối cho phép một chiến dịch ném bom không hạn chế như vậy.

        Thay vào đó, Mỹ thực hiện các cuộc không kích "ăn miếng trả miếng" để trả đũa cho một cuộc tấn công của Quân giải phóng miền Nam ngày 7 tháng 2 năm 1965 vào Pleiku (Chiến dịch Flaming Dart) và một vụ đánh bom tại nơi trú quân của Mỹ tại Quy Nhơn ngày 10 (Chiến dịch Flaming Dart II). Các chiến dịch nhỏ được thực hiện chống lại khu vực phía Bắc giới tuyến, nơi đóng quân của một lực lượng lớn Quân đội Nhân dân Việt Nam và tập trung nhiều kho hàng quân dụng.

        Chịu thua áp lực của Hội đồng tham mưu liên quân và đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Johnson chính thức cho phép một chương trình ném bom kéo dài với mật danh Rolling Thunder C'Sấm Rền"), chương trình không bị ràng buộc với các hành động công khai của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa. "Sấm Rền" được lập kế hoạch là một chiến dịch không kích dài 8 tuần, tuân theo các hạn chế mà Tổng thống Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Robert s. McNamara đã đặt ra. Nếu phong trào nổi dậy ở miền Nam vẫn tiếp diễn, thì các cuộc không kích chống miền Bắc sẽ được kéo dài với các mục tiêu phía bắc vĩ tuyến 19.
Phi vụ đầu tiên của chiến dịch "Sấm Rền" được thực hiện vào ngày 2 tháng 3 với mục tiêu là một khu vực kho vũ khí gần "Xom Bang", cùng ngày, 19 máy bay A-l Skyraider của Không lực Việt Nam Cộng hòa đánh phá căn cứ hải quần Quảng Khê. Người Mỹ đã bị sốc khi 6 máy bay của họ bị bắn hạ, 5 trong số các phi công bị bắn rơi đã được cứu thoát. Nhưng đó chỉ là khởi đầu cho nhữhg tệ hại sắp tới. Để tiếp tục với khái niệm "từng bước", mà trong đó việc đe dọa tàn phá sẽ là một tín hiệu mạnh về quyết tâm của Mỹ, mạnh hơn chính sự tàn phá đó, việc nên làm là ném bom các mục tiêu không quan trọng để giữ các mục tiêu quan trọng trong tầm "đe dọa".

        Từ đầu chiến dịch "Sấm Rền", Washington chỉ thị rõ những mục tiêu nào sẽ bị đánh, ngày giờ của cuộc tấn công, số lượng và chủng loại máy bay, khối lượng và chủng loại bom đạn sử dụng, và đôi khi thậm chí cả hướng tấn công. Các cuộc không kích bị cấm trong phạm vi 60 km quanh Hà Nội và trong phạm vi 19 km cảng Hải Phòng... Theo sử gia không quân Mỹ Earl Tilford: Việc đặt các mục tiêu rất khác với thực tế ở chỗ chuỗi các cuộc tấn công không hiệp đồng với nhau và các mục tiêu được duyệt một cách ngẫu nhiên - thậm chí phi lôgic. Các sân bay của miền Bắc, cái mà đáng ra phải được đánh đầu tiên theo bất cứ một chiến lược hợp lí nào, lại cũng nằm ngoài phạm vi cho phép.
Tuy một vài trong các hạn chế này sau đó đã được nới lỏng hoặc hủy bỏ, Tổng thống Mỹ Johnson (với sự ủng hộ của McNamara) kiểm soát chặt chẽ chiến dịch, điều này liên tục gây tức giận đối với các chỉ huy quân sự Mỹ, các thành viên cánh hữu trong Hạ viện Mỹ, và thậm chí cả một số người trong chính phủ. Một trong các mục đích chính yếu của chiến dịch, ít nhất là đối với giới quân sự, đáng ra phải là phong tỏa cảng Hải Phòng và các cảng biển khác bằng việc thả thủy lôi từ trên không, từ đó làm giảm hoặc ngừhg dòng hàng viện trợ đường biển vào miền Bắc. Tuy nhiên, Tổng thống Johnson từ chối thực hiện một hành động khiêu khích như vậy, và đến năm 1972, việc phong tỏa này mới được thực hiện.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2015, 07:17:02 AM
        Đa số các cuộc không kích trong chiến dịch "Sấm Rền" đã xuất phát từ 4 căn cứ không quân tại Thái Lan: Korat, Takhli, Udon Thani, và Ubon. Sau khi tấn công các mục tiêu (thường bằng cách bổ nhào cắt bom), các máy bay sẽ hoặc bay thẳng về Thái Lan hoặc thoát ra ngoài vùng biển tương đối an toàn tại vịnh Bắc Bộ. Người ta đã nhanh chóng quyết định rằng, để hạn chế xung đột vùng trời giữa các lực lượng không kích của Không quân và Hải quân, miền Bắc Việt Nam được chia thành 6 vùng mục tiêu "Route Package", mỗi vùng được giao cho một trong hai lực lượng Không quân hoặc Hải quân, và lực lượng này không được xâm phạm vào vùng của lực lượng kia.

        Các cuộc không kích của Hải quân Mỹ xuất phát từ các tàu sân bay của Lực lượng đặc nhiệm 77 tuần tiễu ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Các máy bay của hải quân, với tầm bay ngắn hơn và sức mang bom nhẹ hơn máy bay của Không quân, chủ yếu đánh phá các mục tiêu ven bờ biển.

        Ngày 3 tháng 4, Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ thuyết phục được Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và Tổng thống Johnson cho tổ chức một cuộc tấn công dài 4 tuần để phá các đường giao thông ở Miền Bắc Việt Nam, nhằm cô lập Hà Nội với các nguồn hậu cần đường bộ từ Trung Quốc và Liên xô. Các chuyên gia quân sự Mỹ ước tính: Khoảng 1/3 lượng hàng nhập khẩu của miền Bắc đi qua tuyến đường sắt từ Trung Quốc, trong khi 2/3 còn lại đến từ đường biển qua Hải Phòng và các cảng khác. Lần đầu tiên trong chiến dịch, các mục tiêu được chọn vì lí do quân sự thay vì tầm quan trọng tâm lý của chúng. Trong 4 tuần đó, 26 cây cầu, 7 chiếc phà bị phá hủy. Các mục tiêu khác bao gồm các hệ thống radar, doanh trại, và kho đạn.

        Tuy nhiên, vùng cán xoong miền Trung vẫn là trọng tâm chính yếu của chiến dịch, tổng số lượt đánh phá tại đây tăng từ 3.600 trong tháng 4 lên 4.000 trong tháng 5. Chuyển dần từ việc phá hủy các mục tiêu cố định, chính phủ Mỹ đã cho phép thực hiện các phi vụ "trinh sát có vũ khí" mà trong đó các đội hình máy bay nhỏ tuần tiễu các đường quốc lộ, đường sắt, sông ngòi... để tìm kiếm cơ hội và mục tiêu. Đến cuối năm 1965, các phi vụ này đã tăng từ 2 lên 200 lượt mỗi tuần. Cuối cùng, các phi vụ trinh sát có vũ khí đã chiếm tới 75% tổng nỗ lực ném bom, một phần vì quy trình của việc yêu cầu, chọn, và duyệt đối với các mục tiêu cố định quá phức tạp và nặng nề.

        Màu sắc cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thay đổi vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, khi 3.500 lính Thủy quân lục chiến Mỹ đố bộ vào bờ biển Đà Nắng, với mục tiêu bề ngoài là để bảo vệ các sân bay ở phía Nam dùng cho việc thực thi chiến dịch "Sấm Rền". Nhiệm vụ của lực lượng trên bộ đã được mở rộng thành các hoạt động chiến trận, và từ đó trở đi chiến dịch trên không trở thành hoạt động thứ yếu, nó bị che khuất dần bởi các cuộc triển khai quân và leo thang trong các chiến dịch trên bộ tại Nam Việt Nam. Cho đến tuần thứ 3 của tháng 4, "Sấm Rền" vẫn được vị thế ngang hàng với các phi vụ không kích tại miền Nam. Sau đó, các cuộc không kích ảnh hưởng đến yêu cầu của chiến trường miền Nam đã bị cắt giảm hoặc hủy bỏ.

        Tính đến 24 tháng 12 năm 1965, Mỹ đã mất 170 máy bay trong chiến dịch (85 máy bay của Không quân, 94 của Hải quân, và 1 của Thủy quân lục chiến). Không lực của quân đội sài Gòn cũng mất 8 máy bay. Các phi đội của Không quân Mỹ đã bay 25.971 lượt, thả 32.063 tấn bom. Hải quân bay 28.168 lượt và thả 11.144 tấn bom...

        Các chuyên gia quân sự Mỹ nhận định: Các máy bay tiêm kích của Không quân Nhân dân Việt Nam, lực lượng mà ban đầu chỉ có 53 máy bay MiG-15 và MiG-17 Fresco. Tuy bị người Mỹ coi là quá cổ lỗ khi so sánh với các máy bay phản lực siêu thanh của họ, nhưhg các phi công miền Bắc đã sử dụng các chiến thuật hợp lý để biến các điểm yếu của máy bay họ thành các thế mạnh. Các máy bay này có tốc độ đủ cao cho các hoạt động phục kích "đánh và chạy", và cũng cơ động đủ để gây sốc cho cộng đồng phi công chiến đấu Mỹ khi bắn hạ các máy bay F-8 Crusader và F-105 Thần sấm cao cấp hơn nhiều. Phi công Mỹ sau đó đã phải nhanh chóng phát triển chiến thuật mới. Máy bay F-4 Con ma trang bị tên lửa trở thành cơ sở chiến đấu chính của Mỹ.

        Chỉ riêng sự xuất hiện của máy bay MiG thường cũng đủ hoàn thành nhiệm vụ của họ bằng cách buộc các phi công Mỹ phải vứt bom xuống biển cho nhẹ để còn tự bảo vệ. Năm 1966, loại MiG-21 Fishbed hiện đại hơn do Liên xô chế tạo, loại có thể chiến đấu ngang sức hơn đối với máy bay Mỹ, đã tham gia cùng MiG-17 và MiG-19. Đến năm 1967, Không quân Nhân dân Việt Nam đã có một lực lượng gồm hàng trăm máy bay, nhiều chiếc trong số đó đặt tại các sân bay dã chiến bí mật, rất khó khăn cho các cuộc không kích của Mỹ.

        Tuy hỏa lực phòng không tiếp tục gây ra đa số thiệt hại về máy bay của Mỹ, các máy bay F-105 của Không quân và A-4 của Ị Hải quân Mỹ ngày càng chạm trán nhiều hơn với SAM và MiG. Các phi công chiến đấu của Việt Nam cũng đã trở thành một vấn đề vì Mỹ không có thông tin radar tại vùng đồng bằng sông Hồng, điều này cho phép các máy bay MiG gây bất ngờ đối với lực lượng đánh phá. Máy bay trang bị hệ thống cảnh báo sớm gặp khó khăn khi phát hiện các máy bay tiêm kích ở độ cao thấp và khó có thể nhìn thấy các máy bay này bằng mắt.

        Giai đoạn cuối của chiến dịch "Sấm Rền", hầu như tất cả các mục tiêu trong danh sách của Hội đồng Tham mưu liên quân đã được duyệt để tấn công, trong đó có cả các sân bay trước đó đã được coi là ngoài giới hạn. Chỉ có khu trung tâm Hà Nội, Hải Phòng và vùng biên giới với Trung Quốc là vẫn bị cấm đánh phá.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2015, 04:21:06 AM
        Nỗ lực chủ yếu được thực hiện để cô lập các khu đô thị bằng cách đánh sập cầu và tấn công các hệ thống thông tin liên lạc. Các mục tiêu bị đánh phá còn có nhà máy gang thép Thái Nguyên, các nhà máy điện, các xưởng sửa chữa tàu biển và xe lửa, các kho tàng. Một lực lượng lớn máy bay MiG tham gia chiến đấu khi thủ đô Hà Nội bị đe dọa, tỉ lệ diệt theo Mỹ là 1 máy bay Mỹ cho 2 MiG. Tuy nhiên theo Hà Nội, tỉ lệ này là 1 đổi 1,8 nghiêng về phía họ. Trong năm 1968, MiG là nguyên nhân của 22% trong tổng số 184 máy bay Mĩ rơi trên miền Bắc (75 Không quân, 59 Hải quân, và 5 Thủy quân lục chiến. Do kết quả này, các cuộc đánh phá các sân bay cuối cùng của Việt Nam, mà trước đây nằm ngoài phạm vi đã được cho phép.

        Trong các tình huống hành quân hay chiến đấu, 526 máy bay của Không lực Mỹ, 397 của Hải quân, và 19 của Thủy quân lục chiến đã bị rơi trên miền Bắc Việt Nam hay gần đó, chưa kể số trúng đạn hư hỏng nhutig rơi ngoài biển hay lết về được căn cứ. Trong chiến dịch, trong số 745 phi công bị bắn rơi, Không lực Mỹ ghi nhận 145 người được cứu thoát, 255 bị chết, 222 bị bắt (23 người trong số đó đã chết trong khi bị giam giữ do bị thương nặng hoặc vì bom của Mỹ), và 123 mất tích. Con số thương vong của Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ khó tìm hơn. Trong 44 tháng, 454 phi công thuộc lực lượng Hải quân Mỹ bị chết, bị bắt, hoặc mất tích trong các chiến dịch kết hợp trên vùng trời miền Bắc Việt Nam và Lào.

        Càng về cuối cuộc chiến, các phi công của MiG càng khiến cho-phía Mỹ kính nể. Thời gian không chiến ác liệt nhất, các phi công Mỹ thường lưu truyền về một phi công MiG-17 được họ gọi bằng biệt hiệu "Đại tá Toon" (hay Tomb) với số lần bắn hạ đối phương là 13 lần, nhưng về sau bị một "Át" của Hải quân Hoa Kỳ là Đại úy Randy "Duke" Cunningham bắn rơi. Một số người cho rằng đây là phi công Đinh Tôn, tuy nhiên Đinh Tôn lại lái chiếc MiG-21 và không được xếp vào nhóm "Át". Trên thực tế, trong
chiến tranh chống Mĩ, phía Việt Nam không đưa các phi công có cấp bậc Thiếu tá trở lên để tham gia không chiến. Sau này, "Đại tá Toon" được xác nhận là một nhân vật tưởng tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm, như là một thiện ý kính nể của các phi công Mỹ dành cho các phi công Việt Nam. "Đại tá Toon" là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những phi công Mỹ ném bom đơn độc ban đêm trong Thế chiến thứ hai được gọi một cách lãng mạn là "Nghệ sỹ sôlô" vậy.

        Chiến dịch "Sấm Rền" đã khởi đầu là một chiến dịch mang tính chất chiến lược và tâm lý, nhưhg nó đã nhanh chóng chuyển thành hoạt động ngăn chặn - một nhiệm vụ chiến lược và sự thất bại chung cuộc. Năng lực biến các điểm yếu thành thế mạnh, sức chịu đựhg kiên cường của nhân dân cùng với sự hi sinh cá nhân cho tập thể, và quyết tâm thép của Chính phủ Hà Nội đã biến Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành một địch thủ ghê gớm đối với Mỹ.

        Cho đến nay, lịch sử chiến tranh thế giới ghi nhận vẫn chỉ duy nhất lực lượng Phòng không và Không quân Việt Nam là dám đối đầu và đã chiến thắng Không quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2015, 07:07:15 AM
 
        Từ "Người anh cả" của phi công tiêm kích Việt Nam
        đến Tư lệnh kiêm Chính ủy Binh chủng Không quân


        Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện thấu hiểu trách nhiệm nặng nề và vinh dự của đơn vị 921 khi bứớc vào cuộc chiến đấu với không quân nhà nghề Mỹ, không quân Việt Nam chỉ có một số lượng ít ỏi máy bay MiG-17, vũ khí trang bị và kỹ thuật hạn chế, kinh nghiệm lại chưa có. Nhiệm vụ của Không quân ta lúc này là sẵn sàng chiến đấu "mở mặt trận trên không thắng lợi". Phải bằng mọi cách đánh thẳng trận đầu. Chủ trương của ta là: Lấy đánh nhỏ để tiêu diệt địch và rèn luyện bộ đội.

        Với quyết tâm cao, ngay trong trận đánh đầu tiên của Trung đoàn 921, do Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện trực tiếp chỉ huy, diễn ra vào ngày ngày 3 tháng 4 tháng 1965, Biên đội MiG-17 đầu tiên của "bộ tứ" với các phi công: Phạm Ngọc Lan, Phan Văn Túc, Hồ văn Quỳ và Trần Minh Phương đã bắn rơi 2 chiếc máy bay F8 của Không quân Hải quân Mỹ trên vùng trời Đò Lèn - Thanh Hóa, và ngày 3 tháng 4 đáng nhớ đó đã trở thành ngày truyền thống của bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam!

        Ngay hôm sau, 4 tháng 4, mặc dù địch đông hơn ta gấp bội, nhưng với ý chí quyết thắng và tinh thần dũng cảm ngoan cường, 4 máy bay MiG-17 của ta lại xuất kích và đã bắn rơi thêm 2 máy bay F-105 (thần sấm) của không quân Mỹ. Điều này hết sức quan trọng, bởi yếu tố bất ngờ về việc MiG tham chiến ở Việt Nam không còn nữa. Nó chứhg minh chúng ta không chỉ nhờ "may mắn" bắn rơi kẻ địch, mà khẳng định khả năng chiến thắng thật sự của các phi công tiêm kích Việt Nam.

        Ngày 5 tháng 4, trên sân bay, toàn Trung đoàn 921 xúc động lẳng nghe từng lời động viên trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bộ đội Không quân: "Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện khấu hiệu "đã đánh là thắng". Như thế là xứng đáng với truyền thõng anh hùng của quân và dân ta...".

        Vâng lời dạy của Bác Hồ, chỉ trong khoảng một năm (từ tháng 4-1965 đến tháng 6-1966), không quân ta đã xuất kích chiến đấu 24 trận, bắn rơi 26 máy bay các loại của Mỹ.

        Lịch sử Trung đoàn tiêm kích đầu tiên của Không quân ta hiện đang lưu giữ tên tuổi của 14 vị anh hùng đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, 33 liệt sỹ dũng cảm hy sinh để bảo vệ bầu trời Tổ quốc Đặc biệt hơn, nhữhg anh hùng này đều đạt được thành tích hiếm có như Anh hùng Nguyễn Văn Cốc bắn rơi 9 chiếc máy bay địch (người bẳn rơi nhiều máy bay địch nhất Việt Nam)... Cả trung đoàn tiêu diệt 137 máy bay chiến đấu hiện đại của kẻ thù...

        Trong hơn 10 năm (1966 - 1977) từ Trung đoàn trưởng, Đào Đình Luyện được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh, rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Binh chủng Không quân thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Ông đã trực tiếp chỉ huy hàng trăm trận không chiến ác liệt giữa lực lượng Không quân non trẻ của Việt Nam với Không quân Mỹ - đối thủ dày dạn kinh nghiệm tác chiến, có số lượng đông, được huấn luyện bài bản, có trang bị kỹ thuật hiện đại bậc nhất thế giới hồi bấy giờ.

        Những năm 1967-1968, Không quân Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc một cách toàn diện, quy mô lớn, liên tục và ác liệt hơn. Cuộc chiến đấu của bộ đội Không quân Việt Nam ngày càng khẩn trương, quyết liệt, vừa phải tập trung lực lượng không chiến bảo vệ bầu trời; vừa phải nỗ lực nhanh chóng nâng cao chất lượng bộ đội để đáp ứng yêu cầu phái triển về tổ chức và trang bị mới, để giành thắng lợi lớn hơn.

        Thời kỳ sau này, khi Không quân Việt Nam đã được trang bị máy bay tiêm kích MiG-21 hiện đại hơn, lực lượng được bổ sung dồi dào hơn; ta đã mở rộng phạm vi hoại động, đánh địch từ xa, trên nhiều hướng, càng ngày càng phát huy được tính năng và sở trường của từng loại máy bay. MiG-21 đánh xa (ngoài phạm vi của hoả lực phòng không) với các phương pháp dẫn đường thích hợp dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ tiến công vào đội hình lớn của địch. Từ đó phát triển thành chiến thuật "đánh nhanh thọc sâu". MiG-17 được chỉ đạo đánh gần, độ cao thấp, kết hợp cơ động mặt bằng với động cơ thẳng đứng, cơ động mặt bằng nhanh phải thay đổi tâm lượn, tạo được yếu tố bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh, không ham quần lâu với địch. Trong mọi trường hợp phải giữ tốt đội hình cảnh giới, đánh có công kích, có yểm hộ, rút khỏi chiến đấu đúng lúc, đúng thời cơ, chú trọng cơ động độ cao thấp, lợi dụng hoả lực cao xạ yểm trợ để về căn cứ an toàn.

        Là người trực tiếp chỉ huy các trận không chiến, Đào Đình Luyện đã nhiều lần ngồi lên buồng lái cất cánh bay thực tế, rồi cùng các phi công trăn trở tìm tòi và nghiên cứu rất kỹ những điểm hạn chế về kỹ thuật, vũ khí, trang bị của máy bay ta; những ưu thế kỹ thuật, vũ khí và chiến thuật của các loại máy bay Mỹ.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2015, 12:46:50 AM
        Nhiều phi công Việt Nam sau này cũng cho biết: Trên thực tế chiến trường, các phi công của ta đã không thể sử dụng các chiến thuật được huấn luyện tại Trung Quốc để chống lại Không quân Mỹ. Chương trình huấn luyện của Trung Quốc dựa vào kinh nghiệm từ Chiến tranh Triều Tiên. Những tổn thất trong giai đoạn đầu là do phi công học theo cách đánh của Trung Quốc; nhưng rồi khi các phi công Việt Nam bắt đầu sáng tạo ra cách đánh mới và sử dụng chiến thuật của chính mình, thì tình hình đã đổi khác...

        Đào Đình Luyện đã đề xuất với cấp trên những cách đánh độc đáo mà chỉ ở Việt Nam mới có: "Cất cánh bằng đường lăn" "không chiến du kích", cách đánh hiệp đồng hai loại MiG-17 và MiG-21 đã hỗ trợ chi viện cho nhau cả về chiến thuật và hoả lực; phương án hiệp đồng với lực lượng tên lửa tầm cao và lưới lửa phòng không tầm thấp...

        Ví dụ, trận đánh hiệp đồng ngày 23 tháng 8 năm 1967 tại Tuyên Quang, Thanh sơn (Vĩnh Phú). Ta đã dùng một biên đội 2 máy bay MiG-21 và biên đội 4 máy bay MiG-17, hiệp đồng chiến đấu bắn rơi 4 máy bay Mỹ (2 máy bay F-4 và 2 máy bay F-105).

        Hoặc ví dụ trong trận đánh máy bay cường kích Mỹ ngày 18 tháng 11 năm 1967 tại Thanh sơn - Hạ Hoà (Phú Thọ): Ta đã dùng biên đội 2 máy bay MiG-21, trang bị tên lửa K-13 bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-105 của địch. Trong trận đánh máy bay gây nhiễu điện tử EB-66, ngày 19 tháng 11 năm 1967 tại Lang Chánh - Hồi Xuân (Thanh Hoá): Ta đã dùng biên đội 2 chiếc MiG-21 trang bị tên lửa K-13 (mỗi máy bay 2 quả) đã bắn rơi tại chỗ chiếc EB-66 của Mỹ/ tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa và pháo cao xạ thắng lớn, bắn rơi 8 máy bay vừa cường kích và tiêm kích của địch, bẻ gãy một đợt tấn công quy mô lớn của chúng vào Hà Nội.

        Tuy nhiên, nhữhg trận không chiến ngày một diễn ra ác liệt. Yếu tố bí mật, bất ngờ của MIG trong nhữhg ngày đầu không còn nữa. Trước một đối phương chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số lượng lẫn chất lượng, với hàng ngàn máy bay và hàng trăm phi công có trên 1.000 giờ bay trên nhiều loại máy bay khác nhau, với kinh nghiệm nhà nghề và luôn được trang bị nhữhg loại máy bay hiện đại nhất thế giới, Không quân Mỹ luôn chiếm ưu thế với Không quân ta về số lượng máy bay và trang bị vũ khí. Họ cũng liên tục thay đổi chiến thuật, khiến cho cuộc chiến ngày càng ác liệt. Nhất là khi Không quân Mỹ tập trung bom đạn đánh phá các sân bay của ta, thì sự tổn thất máy bay, mất mát và hi sinh của lực lượng các phỉ công tiêm kích non trẻ của Việt Nam là không thể tránh khỏi.

        Phía Mỹ công bố trong thời gian từ 1965 đến 1973, họ đã có 194 phi công, trong đó có 143 là phi công F-4, đã bắn hạ được MiG. Một tài liệu khác của Hải quân Mỹ cũng cho biết: Trong thời gian từ ngày 7 tháng 6 năm 1965 đến 12 tháng 1 năm 1973, các phi công Hải quân Mỹ đã hạ 60 chiếc MiG. Đặc biệt với chiến dịch Bolo năm 1967 và chiến dịch Top Gun năm 1972 của người Mỹ đã làm không quân Việt Nam thiệt hại hàng chục máy bay. Đây là tỷ lệ mất mát rất lớn khi mà số lượng vào lúc cao điểm Không quân Việt Nam thường chỉ có không có quá 100 máy bay MiG các loại với chưa đến 100 phi công... Đã có những ngày cả đơn vị của ta chỉ còn một máy bay, nhưng phi công MiG vẫn luôn sẵn sàng cất cánh để bảo vệ bầu trời thiêng liêng của Tổ quốc...

        Có thể nói, trong thời gian ác liệt nhất của Chiến dịch Sấm Rền, sự lạc hậu của trang bị vũ khí và do thiếu kinh nghiệm không chiến cũng làm phía Việt Nam mất nhiều phi công trẻ và máy bay. Đã có lúc tưởng chừhg như nhữhg chiếc MiG bị tê liệt. Tuy nhiên, các phi công tiêm kích Việt Nam đã biết chấp nhận thử thách, thể hiện sự dũng cảm và sáng tạo của họ trong cả hai phương diện chiến thuật và kỹ thuật, làm kinh ngạc đối phương.

        Sau này, người ta đã tổng kết lại: Trong suốt các cuộc không chiến giữa không quân Việt Nam với quân đội Mỹ, phía Việt Nam có tới 16 phi công đạt đẳng cấp "Át" (tức đã bắn hạ được từ 5 máy bay đối phương trở lên), gồm 14 phi công MiG-21 và 2 phi công lái MiG-17. Trong đó người cao nhất là phi công MiG-21 Nguyễn Văn Cốc đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ. Một phi công huyền thoại khác là Nguyễn Văn Bảy (Bảy A) đã bắn hạ 7 máy bay Mỹ (cao nhất trong các phi công lái MiG-17). Trong khi đó, chỉ có 3 nhóm phi công Mỹ đạt đẳng cấp "Át" (đều là phi công lái F-4) và người cao nhất là Hoa tiêu, Đại úy Không quân Chuck E. DeBellevue đã bắn hạ được 6 máy bay. Hai tổ lái còn lại là tổ lái của Steve Ritchie (phi công) và Feinstein Jeffrey s. (hoa tiêu) của Không quân và tổ lái Cunningham Randolph (phi công) và Driscoll William (hoa tiêu) của Hải quân, mỗi tổ lái hạ 5 chiếc... (Một số liệu thống kê khác của website clbmohinh.com lại khẳng định: Trong chiến tranh Việt Nam, phía Mỹ chỉ có hai Phi công trở thành "Át", là Randy "Duke" Cunningham (thuộc lực lượng Hải quân) và Steve Ritchie thuộc lực lượng Không quân).


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2015, 05:42:33 AM
 
        Người chỉ huy những nhiệm vụ lịch sử đặc biệt của
        Không quằn nhân dân Việt Nam


        Là người trực tiếp chỉ huy bộ đội Không quân từ cấp Trung đoàn đến Tư lệnh Binh chủng, Đào Đình Luyện đã có mặt tham gia nhiều sự kiện nổi tiếng: Tháng 9 năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông đã thay mặt lãnh đạo Binh chủng Không quân giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 tổ chức một đội bay đặc biệt bay trong Lễ tang.

        Nhiều năm sau này, cựu phi công Nguyễn Hồng Mỹ đã xúc động kể lại với phóng viên Tiền Phong:

        Sáng ngày 3 tháng 9 năn71969, toàn bộ phi cồng của 3 phi đội thuộc Trung đoàn 921 tập trung trực tiếp nghe Thiếu tướng Đào Đình Luyện khi đó là Phó Tư lệnh Quân chủng phòng không không quân và Đại tá Nguyễn Xuân Mậu - Chính uỷ quân chủng phổ biến nhiệm vụ. Khi đó, tôi mới biết là Bác Hồ đã mất và nhiệm vụ của chúng tôi là bay trong lễ tang của Người. Cuối buổi nhận lệnh, Thiếu tướng Luyện nói nhiệm vụ rất quan trọng, khó khăn, anh em có sẵn sàng nhận lệnh và hoàn thành tốt hay không? Tất cả đều đồng thanh: sẵn sàng!

        Trong sốgần 50 phi công lái MiG 21 khi đó, đơn vị chỉ chọn 12 phi công ưu tú nhất, những người đã có nhiều giờ bay, tham gia chiến đấu nhiều trận với không quân Mỹ.

        Theo kế họach, chúng tôi chia làm 3 biên đội. Biên đội 1 do Phi công Nguyễn Hồng Nhị - chỉ huy, các phi công khác là: Lê Toàn Thắng - số 2, Phạm Đình Tuân - số 3, Nguyễn Đức Soát - sổ 4. Tôi bay ở vị trí số 4 của biên đội 2, những đồng chí còn lại gồm: Nguyễn văn Lý - chỉ huy, Phạm Phú Thái - số 2, Lê Thanh Đạo - số 3. Biên đội 3 gồm: Mai Văn cương - chỉ huy, Phan Thành Nam - số 2, Nguyễn văn Khánh - số 3, Nguyễn Văn Long - số 4. Đơn vị còn cử thêm 2 đồng chí là Bùi Đức Nhu và Đặng Ngọc Ngự làm phi công dự bị cho 3 biên đội để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Chúng tôi đều là những phi công đã có nhiều kinh nghiệm, nhưng chưa ai trong số đó bay theo đội hình diễu binh cả. Khi tôi học ở Liên xô cũng như khi về nước chiến đấu thì cũng chỉ bay với 2 hoặc 3 đồng chí thôi. Sau nhiều lần bàn thảo, cuối cùng chúng tôi thống nhất phương án là tất cả 12 máy bay đều mở máy đồng loạt, Sở chỉ huy hạ lệnh cất cánh thì 2 chiếc một lăn ra đường băng cất cánh, cự ly lúc chạy đà trên đường băng ngang cách nhau khoảng 20 - 30 mét.

        Sau khi 12 chiếc cất cánh xong, tập hợp đội hình ở độ cao khoảng 1.000 mét, lúc này mới chia thành 3 tốp, mỗi tốp 4 chiếc theo hàng dọc. Biên đội sẽ bay theo hình bàn tay xòe, cách nhau khoảng 600 mét và cự ly giãn cách giũcầ các máy bay với nhau khoảng 20 đến 30 mét

        Khi bay vào Quảng trường Ba Đình phải bảo đảm ở độ cao khoảng 300m và hơi chếch về bên trái lễ đài dọc theo đường Hùng vương, như vậy mới bảo đảm sự thiêng liêng của buổi lễ và để toàn thể nhân dân dự buổi Quốc tang có thể nhìn rõ.

        Bên cạnh đó, yêu cầu về thời gian là vô cùng nghiêm ngặt, bởi đã có sự phối hợp hiệp đồng với mặt đất, sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc xong câu cuối của bài điếu văn, đội hình bay sẽ phải xuất hiện trên bầu trời Ba Đình, và nếu không tính toán cẩn thận thì có thể sẽ làm hỏng buổi Quốc tang.

        Sáng 9 tháng 9, chúng tôi dậy sớm hơn thường lệ, tập trung đông đủ ở sở chỉ huy của Trung đoàn nhận nhiệm vụ. Khi đó, trực tiếp Phó Tư lệnh Quân chủng Đào Đình Luyện cùng Chính ủy Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu giao nhiệm vụ. Tại sở chỉ huy Trung đoàn, trực tiếp là Trung tá Trần Hanh - Trung đoàn phó Trung đoàn 921 chỉ huy.

        Đúng 9 giờ, toàn bộ biên đội cất cánh, bay một vòng và tập trung đội hình ở khu vực Phủ Lỗ, sau đó thẳng hướng Quảng trường Ba Đình. Hôm đó thời tiết khá thuận lợi nên khi vào đến địa phận nội đô, tôi nhìn rõ Hồ Tây, Quảng Trường... Khi máy bay bay qua Quảng trường lần đầu tiền tôi cảm thấy chân mình tê tê, tay run run... Tôi cố trấn tĩnh lại và tập trung trí óc thực hiện tốt các thao tác đã đề ra.

        Ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, chúng tôi nhận được điện thoại từ sở chỉ huy Trung đoàn là đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ. Khi đó, cảm giác thật khó tả! Niềm xúc động dâng trào vì mình vừa hoàn thành một công việc cực kỳ quan trọng bằng cả tình cảm, trái tim và lý trí.

        Từ cuối năm 1969, không quân ta đã cơ động một lực lượng MiG-17 và MiG-21 vào Thọ Xuân (Thanh Hoá) để hoạt động chiến đấu trên chiến trường Nam khu 4 và trực tiếp bảo vệ các cửa khẩu trên tuyến hành lang chiến lược, trong đó có nhiệm vụ quan trọng và mới mẻ là: Tổ chức theo dõi, nghiên cứu sự hoạt động của B-52 và chuẩn bị đánh B-52.

        Tác giả Ngọc Phúc (QĐND) cho biết: Để hoàn chỉnh phương án đánh B-52, năm 1971, Quân chủng Phòng không- Không quân tập trung lực lượng lớn gồm những cán bộ giỏi nhất về dẫn đường bay, tác chiến, quân báo, khí tượng, ra-đa, thông tin đến những cán bộ chỉ huy. Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Không quân tiền phương được thành lập. sở chỉ huy tại thôn Đông Dương, ra- đa B35 dẫn đường cách sở chỉ huy khoảng 2 km tại thôn Pháp Kệ cùng với ra-đa đo cao PD11 và phía đông bắc cách sở chỉ huy 7 km ở thôn Văn Tiền đặt ra-đa C47. Như vậy là ngoài hai ra-đa phục vụ nghiên cứu đánh B-52 còn có hai ra-đa phục vụ cho sở chỉ huy đặt ở huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và ở giới tuyến 17 Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị của Đại đội 31. công tác nghiên cứu đánh B-52 được tiến hành khẩn trương, từng bước từng bước một. Công việc đầu tiên của Sở chỉ huy là làm thế nào để ra-đa ta bắt được B-52 bẳng cách thường xuyên mở máy theo dõi. Hằng đêm mở máy vào các giờ cố định: 19 giờ, 21 giờ, 24 giờ và 5 giờ sáng. Khi nào có tin B-52 vào đánh các mục tiêu đều phải mở máy theo dõi. Nhưng một tháng đầu không bắt được gì cả. Nhiễu nhòe nhoẹt trước màn hình ra-đa. Sở chi huy thường xuyên tập trung nghiên cứu tìm ra lí do. Đến tháng thứ hai, ra-đa bắt được những vệt nhiễu B-52 nhưng chưa hình thành được đường bay B- 52. Tháng thứ ba, tình hình không có gì khả quan hơn. Cho đến gần cuối tháng thứ ba, ngày 4-10 ra -đa mới bắt được tương đối B- 52. Sở chỉ huy quyết định đưa phi công Đinh Tôn cất cánh từ sân bay Đồng Hới lên đánh. Phát hiện thấy MiG xúất kích, B-52 bay ra. Sau một tháng nghiên cứu tiếp, cho đến 20 tháng 11, Sở chỉ huy quyết định đánh theo phương án mới. Không xuất kích từ sân bay Đồng Hới mà dùng sân bay Anh sơn làm địa điểm cho Mic-21 xuất kích đánh B-52...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2015, 04:47:30 AM
       Và ngày 20 tháng 11 năm 1971, từ đài chi huy trung tâm Tư lệnh Đào Đình Luyện hội ý với Phó tư lệnh Trần Mạnh rồi hạ lệnh cho phi công Vũ Đình Rạng xuất kích, bay dọc núi Trường Sơn theo hướng Đông-Nam cũng là lúc ba chiếc B-52 vựợt sông Cửu Long, đang bay thẳng đến mục tiêu gây tội ác trên đường Trường sơn. cánh sóng ra-đa do Lê Thiết Hùng chỉ huy bám sát mục tiêu - cả B-52 và chiếc MiG-21 đã hiện lên trên màn hình, cả sở chỉ huy tiền phương gần như nín thở, hồi hộp chờ đợi. Tình huõng trên bản đồ chỉ huy đã rõ, sĩ quan Nguyễn văn Chuyên trên tay cầm thước hình tam giác có vòng phương vị và vạch sẵn cự H, anh đo khoảng cách từ B-52 đến MiG-21 và theo dõi chặt chẽ diễn biến trên bàn chỉ huy rồi báo cáo đề nghị thủ trưởng cho tiếp cận địch. Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho vũ Đình Rạng vút thùng dầu phụ. Lê Thiết Hùng trực tiếp dẫn trên hiện sóng, cho Vũ Đình Rạng vòng trái rồi liên tục thông báo tình hình địch. Đường bay của Vũ Đình Rạng áp dần đường bay tốp B-52. Tư lệnh Đào Đình Luyện trao đổi nhanh với Phó tư lệnh Trần Mạnh rồi nhắc nhở ra-đa quan sát máy bay địch bám đuôi khi vũ Đình Rạng công kích. Chiếc én bạc của vũ Đình Rạng còn cách tốp B-52 20 km, ông ra lệnh cho sân bay Anh sơn và Thọ Xuân chuẩn bị cho Rạng hạ cánh sau khi công kích trở về. Vũ Đình Rạng tiếp tục bám sát mục tiêu. Khi khoảng cách giữa Mic-21 với tốp B-52 chỉ còn khoảng 15km, Lê Thiết Hùng lệnh cho Vũ Đình Rạng mở máy ra-đa. Bật công tắc, Rạng reo lên: "Đã thấy B-52 ở cựu 11 km, xin cho công kích!". Trung tá Trần Hanh hạ lệnh: "Cho phép công kích!". Vũ Đình Rạng tăng tốc độ tiếp cận tốp B-52 nhanh nhất, một chiếc B- 52 đã được đưa vào vòng ngắm, vùng phóng đã xuất hiện, vũ Đình Rạng nhẩm đếm một, hai, ba... Cho đến khi chỉ còn cách chiếc B-52 dưới 2,5 km, đường ngắm ổn định/ VŨ Đình Rạng bấm nút phóng, một quả tên lửa lao vút về phía B-52, chớp lửa sáng rực bùng lên từ chiếc "pháo đài bay". Sau đó, ông làm động tác thoát li về sân bay Anh sơn và hạ cánh an toàn.

        Do chiếc B-52 rất lớn nên sức công phá của 1 quả tên lửa chưa đủ làm nó rơi ngay, và phi công Rạng cũng cho rằng mình chưa hạ được B-52. Nhưng theo lời kể sau này của Thiếu tá phi công F. Wantterhahn thì chiếc B-52 bị thủng thùng dầu bên trái, cháy nhứhg dập được, một động cơ bị hỏng nặng, nó phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Nakhom-Phanom ở Đông Bắc Thái Lan. Sau đó do hỏng quá nặng nên không thể sửa chữa, bị xẻ ra rồi chở về Utapao, nên có thể coi như là đã bị tiêu diệt.
Đấy cũng là lần đầu tiên trong lịch sử tiêm kích của không quân thế giới, có một phi công đã điều khiển MIG-21 đã bẳn gục "pháo đài bay bất khả xâm phạm" B-52 của Mỹ. sự kiện này đã làm cho địch phải ngừng hoạt động một thời gian, tạo điều kiện cho vận chuyển tiếp tế vào chiến trường Miền Nam.

        Trong khi người Mỹ tuyên bố đã hạ được 103 chiếc MiG-17 và MiG-21 trong khoảng thời gian từ 17 tháng 6 đến 12 tháng 1 năm 1973; thì phía Không quân Việt Nam cũng công bố đã bắn rơi 320 máy bay Mỹ, trong đó có hai chiếc B-52, do các phi công MiG- 21 là Phạm Tuân và vũ Xuân Thiều bắn rơi ngày 27 và ngày 28 tháng 12 năm 1972.

        Với chiến thuật "không quân đánh du kích", ngày 14 tháng 4 năm 1972, TƯ lệnh Đào Đình Luyện còn chỉ huy hai máy bay MiG-17 cất cánh từ sân bay Khe Gát, bất ngờ xuất hiện trên vùng trời Quảng Bình ném 2 quả bom 250 kg trúng vào tàu khu trục Highbee của Mỹ, khiến nó bị thương nặng. Đây cũng là lần đầu tiên không quân của một quốc gia khác đã tiến công hạm đội Hải quân Mỹ, kể từ sau Thế chiến thứ hai; mở ra triển vọng mới làm tiền đề cho việc xây dựng và chiến đấu của. bộ đội không quân tiêm kích bom sau này.

        Có lẽ, một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của Tướng Đào Đình Luyện là nhữhg trận đánh làm nên lịch sử "Điện Biên Phủ trên không" cuối tháng 12 năm 1972. Trước khi vào chiến dịch cuộc đọ sức quyết đấu lịch sử này, ông đã thay mặt Binh chủng Không quân trực tiếp báo cáo các phương án với Bộ Tổng tham muli; góp phần quan trọng làm kế hoạch của không quân của Mỹ cuối năm 1972 hoàn toàn thất bại (xem thêm bài Cuộc quyết đấu lịch sử "Điện Biên Phủ trên không" và ảnh hưởng của
vấn đề tù binh phi công Mỹ tại hội nghị Paris).


        Đặc biệt, là trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, lực lượng Không quân Việt Nam đã viết thêm nhữhg trang sử độc đáo: Bất ngờ, sử dụng máy bay địch để đánh vào một trong những điểm yếu nhất của chúng. Ngày 28 tháng 4, khi những quả bom từ máy bay Mỹ, do phi công ta lái đồng loạt trút xuống sân bay Tân sơn Nhất, đã phá hủy nhiều máy bay, cắt đút cầu hàng không di tản của địch... đã có giá trị như hiệu lệnh tổng công kích cho đại quân ta đồng loạt tiến công giải phóng sài Gòn!

        Tư liệu của Đất Việt cho biết: Phi đội đặc biệt này lấy tên "phi đội quyết thắng" với 6 phi công: Nguyễn Thành Trung, Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai vương, Trần Văn On, Hán Văn Quảng cùng 5 máy bay cường kích A-37 thu được của địch.

        Các phi công ta từ ngoài Bắc được khẩn trương huấn luyện chuyển loại từ MiG-17 sang A-37. Chỉ sau 5 ngày bay chuyển loại) 16 giờ 17 phút cả phi đội đã cất cánh. Mặc dù thời tiết phức tạp, Nguyễn Thành Trung (số 1) vẫn bình tĩnh dẫn đội hình bay đến sân bay Tân sơn Nhất

        Từ độ cao khoảng 1.600m, Nguyễn Thành Trung bổ nhào cắt bom nhưng bom không ra. Từ Đễ (số 2) cắt bom 2 quả/lượt, cả 4 quả bom rơi trúng mục tiêu, những cột khói bốc lên giữa khu vực để máy bay. Trong ống nghe của các phi công vang lên tiếng quát hỏi hoảng hốt: "A-37 của phi đoàn nào?" không ai trả lời.

        Tiếp đó, Nguyễn Văn Lục (số3), Họàng Mai Vương và Trần Văn On (số 4), Hán văn Quảng (số 5) bổ nhào cắt bom. Những trái bom đều rơi trúng mục tiêu. Không quân ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, tới lúc số 5 vào cắt bom chúng mới biết. Qua vô tuyến, phi công ta nghe được những tiếng kêu: "Tân sơn Nhất bị oanh kích".

        Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Văn Lục nhanh chóng vào cắt bom lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba Nguyễn Thành Trung phải cắt bom bằng hệ thống "khẩn cấp", 4 quả bom mới rời khỏi máy bay, một khối lửa lớn bùng lên từ bãi đỗ những máy bay F-5 đang đậu... Trận tập kích đã phá hủy và làm hỏng nặng cụm máy bay tập trung ở khu vực sân đỗ gồm 24 chiẽc A-37 và F-5E, 4 chiếc máy bay vận tải, tiêu diệt hàng trăm tên địch.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2015, 03:44:08 AM
 
        Đào Đình Luyện - Vị tướng trí dũng và nhân nghĩa!

        Website Họ Đào Việt Nam đã giới thiệu những hồi ức cảm động của Đại tá Nguyễn văn Vĩnh, về nhân cách của Thượng tướng Đào Đình Luyện:

        Bà Nguyễn Thị Nghĩa là vợ Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, người chỉ huy tổ mũi nhọn vào tận hầm bắt sống tướng Đờ Cát vào chiều ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954 tại chiến trường Điện Biên Phủ vẫn nhắc nhỏ các con: "'Bác Luyện là người se duyên, thành hôn cho bố mẹ đấy". Tạ Quốc Luật sinh năm 1931 là Trung đội trưởng trong đơn vị của Đào Đình Luyện, cứ sau mỗi đợt hoạt động quân sự hoặc một chiến dịch, đơn vị lại về đóng quân ở vùng quê của chị Nghĩa bên bờ sông Lô. Ngày ấy chị Nghĩa mới ngoài 20 tuổi, chị và anh Luật được đơn vị tổ chức một lễ cưới giản dị ngay tại nhà của gia đình chị. Đào Đình Luyện là chủ hôn. Sau 30 năm chung sống, anh chị đã có một cháu gái và 3 cháu trai, cả 4 con đều vào quân đội và đã trở thành các sĩ quan của các binh chủng.

        Ngày Tạ Quốc Luật mất vào đầu năm 1985 thì Đào Đình Luyện đã là Tư lệnh, kiêm Chính ủy Quằn chủng Không quân, với tình nghĩa sâu nặng của bạn chiến đấu, Đại đoàn 312 ngày ấy, Đại tướng Lê Trọng Tấn và Thiếu tướng Đào Đình Luyện cùng các bạn chiến đấu đã đến đưa người đồng chí về nơi an nghỉ cuối cùng. Ông Tấn và ông Luyện đã hỏi nhỏ chị Nghĩa: "Gia đình đã có đủ để làm lễ 3 ngày cho anh Luật chưa?". Chị Nghĩa thưa: "Thời bao cấp khó khăn chúng em lo đầy đủ, có gì làm nấy". Hai ngày sau, đơn vị cũ của anh Luật đã đem xuống 80 kg gạo và 10
kg thịt, cả gia đình hết sức cảm động trước sự chăm lo chu đáo đầy tình nghĩa của sư đoàn 312. Nhiều năm sau, cứ đến ngày giỗ của Tạ Quốc Luật, năm nào tướng Đào Đình Luyện cũng đến. Những khi đi công tác xa, ông dặn lại gia đình đến thắp hương cho anh Luật... Tuy đã là một Thượng tướng nhung Đào Đình Luyện không hề quên những người bạn chiến đấu trong gian khổ của cuộc kháng chiến...

        Tại làng Cầu Đơ, thị xã Hà Đông có một gia đình cha và con đều là Hệt sĩ, hai thế hệ hi sinh cho dân tộc, cha là liệt sĩ chổng Pháp, con là liệt sĩ chống Mỹ. Đó là gia đình bà Nguyễn Thị Cúc (32 xóm Chùa, làng Đơ) có chồng là liệt sĩ Nguyễn Biền, hi sinh vào đúng ngày 19 tháng 5 năm 1949 trong trận công đồn Đại Phác. Ông Nguyễn Biền ngày ấy là Trung đội trưởng chủ công của Đại đội do ông Đào Đình Luyện chỉ huy, sau gần 50 năm, các cựu chiến binh của Tiểu đoàn Phủ Thông đã tìm được hài cốt của liệt sĩ Nguyễn Biền đưa về quê hương. Tướng Đào Đình Luyện đã tận tình động viên các cựu chiến binh trong việc đi tìm đồng đội. Vào một sáng đầu xuân Mậu Dần 1998, các cựu chiến binh Tiểu đoàn Phủ Thông đã đến thăm gia đình bà Cúc ở làng Cầu Đơ, cùng đi có Thượng tướng Đào Đình Luyện, bạn chiến đấu của liệt sĩ Biền. Địa phương và gia đình hết sức cảm động về nghĩa tình của đồng đội và người chỉ huy cũ của anh Biền. Người con trai của anh Biền là liệt sĩ Nguyễn Biên hi sinh ở cánh đồng Chum trong khi làm nhiệm vụ quốc tế.

        Đại tá Lê Văn Thiêm, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, trong những năm chống thực dân Pháp (1950-1951) là Trung đoàn phó Trung đoàn 141 của Đại đoàn 312 cùng đơn vị với ông Đào Đình Luyện. Ông Lê Văn Thiêm năm nay ngoài 70 tuổi, trong cuốn sổ tự sự của mình đã dặn lại con cháu một điều tâm huyết: "Anh Luyện là ân nhân của nhà ta". Chỉ có một dòng chữ ngắn, nhưng chứa đựng biết bao tấm lòng yêu thương, đùm bọc của vị tướng Đào Đình Luyện. Chả là trong những năm 70 ông Thi êm ốm liên tục, vợ không có việc làm, nuôi con chưa trưởng thành, gia đình lại đang ở vùng đồi Sơn Tây, kinh tế nhiều khó khăn, mỗi lần đi cấp cứu lại rất vất vả vì xa bệnh viện lớn. Vào một đêm, đúng 12 giờ khuya, ông đi xe đạp đến nhà ông Luyện, đẩy cửa vào ngay, ông Luyện ngỡ ngàng hỏi: "Anh có gì mà gấp thể?", ông Thiêm trình bày toàn bộ hoàn cảnh gia đình và những khó khăn mong được ông Luyện giúp đỡ: "Xin cho vợ vào làm công nhân Quốc phòng để có chỗ làm hộ khẩu và đưa gia đình về Hà Nội".

        Ngay hôm sau, ông Luyện mời ông Hà Chấp, lúc đó là quyền Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, đến để bàn việc giúp gia đình ông Thiêm. Bốn ngày sau bà Thiêm được vào công tác tại Trạm khách Không quân và con trai đang học đại học sư phạm cũng được về ở với mẹ trong gian nhà cấp 4. Từ đó ông Thiêm mới có hộ khẩu Hà Nội và bệnh tình đã khỏi, sống đến ngày nay. Các con được học tập chu đáo, có người thành nhà giáo, nhà báo và con gái út là bác sĩ Viện Châm cứu. Bà Thiêm trước ngày qua đời cũng đã nói với chồng và các con phải biết ơn bác Luyện. Ông Thiêm là bạn chiến đấu lâu năm với ông Luyện, thường tâm sự cùng các đồng chí cựu chiến binh ở Quân chủng Phòng không - Không quân mỗi khi nhắc về Đào Đình Luyện: Đó là một vị tướng nhân nghĩa và trí dũng. Ông có khả năng đoàn kết mọi người, tác phong điềm đạm, bình tĩnh, nhưng tình táo và chu đáo. Khi ông là Tư lệnh một Quân chủng thi người ta lại thấy ở ông có phong cách một chính ủy, đặc biệt với Quân chủng Không quân, một Quân chủng kỹ thuật hiện đại ra quân ngay những ngày chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, gặp một đối thủ hiện đại có tiềm lực lớn. Với cương vị là người chỉ huy kiêm chính ủy từ Trung đoàn đến Quân chủng, ông Đào Đình Luyện đã góp phần xứng đáng vào việc xây dựng Qụân chủng Không quân anh hùng. Rất nhiều phi công của ta thấy ở ông Đào Đình Luyện một người chỉ huy bình tĩnh, sáng tạo và mưu lược. Họ thường được gần ông Đào Đình Luyện để được giãi bày, đề đạt và tâm sự những khó khăn trước giờ xuất kích, với tấm lòng thương yêu cũng như tính quyết đoán trong chỉ huy, ông Đào Đình Luyện đã làm họ yên tâm, tin tưởng lên máy bay xuất kích. Nhiều phi công ngày ấy giờ đã trở thành những vị tướng và những cán bộ chỉ huy xuất sắc, nhiều người là anh hùng quân đội.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2015, 05:26:45 AM
        Trong một hồi ức của mình, Trung tướng Nguyễn Đức Soát, từng là Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam nhớ lại:

        "30 năm trước, chúng tôi - những phi công lái máy bay tiêm kích mới ra trường, làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở sân bay dã chiến Anh sơn, Nghệ An. Cho đến tận bây giờ, chúng tôi vẫn không thể nào quên hình ảnh vị Tư lệnh Binh chủng Không quân - Thượng tá Đào Đình Luyện mấy ngày liền "chụm đầu" cùng anh em chúng tôi bàn bạc tìm cách đánh máy bay B52 của địch. Mặc dù chúng tôi còn rất trẻ, nhưng anh vẫn chú ý lắng nghe những ý kiến đóng góp của chúng tôi với thái độ rất trân trọng. Tôi nhớ khi tôi nêu một sáng kiến có phần táo bạo, anh động viên "ý kiến hay đấy, nhưng cần nghiên cứu thêm". Rồi anh nêu ra một loạt câu hỏi và các tình huống để chúng tôi suy nghĩ. Tính anh cẩn thận nên bao giờ cũng nhắc nhở chúng tôi: "Đánh phải chắc thắng và phải đảm bảo an toàn cho mình, tuyệt đối không được phiêu lưu ", với những gợi ý của anh, chúng tôi càng phấn khởi, tự tin nên càng hào hứng đóng góp ý kiến và có lúc còn tranh luận với anh để bảo vệ ý kiến của mình. Nghĩ về những kỷ niệm xưa, chúng tôi càng thấy thương tiếc anh, một người chỉ huy mẫu mực, đồng thời là người anh rất thân thiết của chúng tôi. Khi tôi và anh Phiệt, Phó tư lệnh Quân chủng đến thăm anh tại bệnh viện; biết tin hai Quân chủng sẽ hợp nhất, anh vẫn không quên dặn dò chúng tôi: "Nhập vào là phải phát huy truyền thống của Quân chủng Phòng không Không quân trước đây. Nhập vào là phải nhân lên sức mạnh của 2 Quắn chủng, chứ không phải cộng lại một cách giản đơn". Cuộc đời binh nghiệp của anh hơn 40 năm cũng không ít thăng trầm, nhuìig điều chúng tôi học tập ở anh là đức tính của một người chỉ huy gương mẫu, hết lòng vì nhiệm vụ chung, bình tĩnh, tự tin, giàu lòng nhân ái, quan tâm đến từng cán bộ chiến sĩ...

        Tôi nhớ sau một trận chiến đấu, biên đội tôi không hoàn thành nhiệm vụ và còn phải chịu tổn thất. Anh - với tư cách Tư lệnh binh chủng đến rút kinh nghiệm. Lúc ấy tôi rất buồn, song anh đã không phê bình gay gắt. Chúng tôi cũng như nhiều cán bộ, chiến sĩ sau này luôn nhận được ở anh tình cảm của một người chỉ huy, người anh cả gần gũi, chân tình, thực sự quan tâm đến cuộc sống hậu phương gia đình của cán bộ, chiến sĩ. Riêng với tôi và gia đình có một "sự kiện" đáng ghi nhớ: Ngày gia đình tôi ở khu tập thể Nam Đồng. Phi công chúng tôi chằng mấy khi được ở gần nhà, năm 1984 tôi lại được điều động vào Đà Nẵng công tác. Thế rồi một ngày, đích thân Tư lệnh Đào Đình Luyện đến thăm nhà, leo lên tầng 4 khu tập thể. Anh khuyên tôi nên "hợp lý hóa"gia đình và hứa sẽ tạo điều kiện giúp đỡ. vậy là chúng tôi có gần chục năm sõng gần nhau, có điều kiện chăm sóc, dạy dỗ con cái và đó cũng là phần thưởng lớn của anh đối với tôi.

        Những ngày anh không còn khỏe, khi tôi thực hiện nghiên cứu đề tài cấp Bộ và đến xin góp ý, anh vẫn tranh thủ nghiên cứu kỹ, góp từng chi tiết nhỏ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu từ thực tiễn và bề dày kinh nghiệm chiến đấu, công tác của mình. Anh không quên nhắc nhở tôi cả từ một chi tiết nhỏ: "Phải nhớ đóng dấu, đây là tài liệu tối mật".

        Những năm là Tư lệnh Quân chủng Không quân, rồi Tổng tham mưu trưởng và Thứ trưởng Quốc Phòng, Thượng tướng Đào Đình Luyện luôn thể hiện là một vị tướng khiêm tốn, giản dị. Khi nghỉ công tác ở Bộ Quốc phòng ông về nhận nhiệm vụ ở Hội cựu chiến binh Việt Nam với cương vị Phó Chủ tịch Thường trực chưa được lâu, nhưng các cựu chiến binh toàn quốc rất tin tưởng yêu mến đức độ, và tấm lòng của ông đối với các cựu chiến binh...


        Năm 2012, nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng "Điện biên phủ trên không", Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã chỉ đạo Điện ảnh Quân đội phối hợp với các cơ quan, đơn vị và gia đình xây dựhg Bộ phim Tài liệu dài 20 phút với tựa đề "Thượng tướng Đào Đình Luyện". Tác phẩm đã phần nào phác họa được chân dung và cuộc đời hoạt động cách mạng của Thượng tướng Đào Đình Luyện qua hai cuộc kháng chiến; mà "điểm nhấn" là những tháng năm chiến đấu và xây dựng lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng; cũng như những cống hiến của ông trong việc xây dựng quân đội "Chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại" trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam sau này...

        Một ngày đầu tháng 11 năm 2013, Đại tá Đào Chí công, nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ Mãi mãi tuổi 20, đã mời chúng tôi đến số nhà 174 đường Trường Chinh - Hà Nội, nơi cố Thượng tướng Đào Đình Luyện đã sống những năm cuối đời, cùng những người thân trong gia đình, ông Công (là em trai của Thượng tướng Đào Đình Luyện) cùng Thượng tá Đào Minh Đạo (hiện đang là Phó Chi cục trứởng Chi cục Tài chính doanh nghiệp thuộc Cục Tài chính Bộ Quốc Phòng; người con trai đang lo hương khói, thờ cúng cho cố Thượng tướng) đã nhiệt tình lục tim lại nhữhg di vật thư từ, sổ tay, tranh, ảnh và những bài báo viẽt về cố Thượng tướng Đào Đình Luyện... Đó là những tư liệu hết sức quý báu, giúp chúng tôi biên soạn thành nhữhg trang sách này, như một nén tâm nhang, để tưởng nhớ một vị tướng trí dũng và nhân nghĩa của Việt Nam.

Hà Nội, tháng 11 năm 2013        


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2015, 01:18:10 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200075_zpsadovkznc.jpg)
Thượng tướng Đào Đình Luyện (1929 - 1999), Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tong Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam - "Người anh cả" của ''gia đình"phi công tiêm kích Việt Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200076_zpssvh4muqt.jpg)
Đào Đình Luyện thời trẻ, khi trực tiếp lái máy bay MiG-17 đưa Trung đoàn tiềm kích 921 từ Trung Quốc về Việt Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200077_zpspo0v0wte.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200077A_zpsuaf5jka9.jpg)
Đón đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trung đoàn Không quân tiêm kích 921 tại Trung Quốc năm 1963



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2015, 03:20:11 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200078_zpso9t9ppwr.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200078A_zpsuyajjanr.jpg)
Cùng cán bộ chiến sĩ đón Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng tới thăm Binh chủng Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200079_zpsraqh5u8v.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200079a_zpsrs5oam97.jpg)
Tư lệnh Đào Đình Luyện họp bàn và trực tiếp chỉ huy những trận không chiến ác liệt nhất với Không quân Mỹ...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2015, 03:34:42 AM
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200080_zpsfnx730dj.jpg)
Tư lệnh Binh chủng Không quân Đào Đình Luyện báo cáo với Quắn ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu phương án đánh B52 bảo vệ bầu trời Hà Nội, tháng 12-1972

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200080A_zps1ce6pwgl.jpg)
 cùng Đại tướng văn Tiến Dũng chụp ảnh chung với "Phi đội Quyết thắng"năm 1975

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200081_zpshxl41xif.jpg)
Ngày 10-4-1994, tại Quảng trường Viện Bảo tàng quân sự cách mạng nhân dân Trung Quốc ở Bắc Kinh, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Trương Vạn Niên chủ trì lễ đón, chào mừng Thượng tướng Đào Đình Luyện, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam sang thăm Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2015, 03:15:25 AM
 
 NHỮNG CHUYẾN BAY "TUYỆT MẬT" CỦA CÁC PHI CÔNG MỸ VÀ BÍ ẨN "CUỘC CHIẾN TRANH THỜI TIẾT"

        Từ tháng 3 năm 1967 đến tháng 7 năm 1972 có tới 2.602 chuyến bay đặc biệt với gần 50.000 "đơn vị hóa chất" đã được người Mỹ huy động cho cuộc chiến tranh này. Những chuyến bay của các phi công Mỹ phục vụ cho cuộc chiến này bí mật tới mức... ngay cả Uỷ ban An ninh Quốc gia và các cố vấn thân cận nhất của Tổng thống Mỹ hồi đó đã không hề biết! Và thậm chí chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng nói rằng ông ta... không được báo cáo (!?). Có phải thủ phạm của vụ lụt khủng khiếp năm 1971 ở miền Bắc Việt Nam là... "Cuộc chiến tranh thời tiết"?

        Bài viết dưới đây chúng tôi thực hiện từ năm 1999, nay bổ sung thêm một số tư liệu mới phục vụ bạn đọc.

        Sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, người Mỹ cần một lối thoát

        Đầu năm 1967, cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang ở vào giai đoạn gay go và quyết liệt. Sau khi bị thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Bộ Quốc phòng Mỹ đã nhanh chóng tăng thêm quân số trực tiếp tham chiến. Nếu như tháng 10 năm 1966, quân Mỹ ở Nam Việt Nam là 325.000 người, thì tới tháng 6 năm 1967, con số này đã tăng lên 463.000 người. Đó là chưa kể đến 54.000 lính đánh thuê và 600.000 lính của quân đội Sài Gòn.

        Và lúc này, ngân sách Mỹ dành cho quốc phòng chiếm 65%, cao hàng thứ ba trong lịch sử tài chính nước này. Chi phí cho chiến tranh Việt Nam lên đến gần 22 tỉ USD!... Với tất cả những nỗ lực trên, người Mỹ cho rằng họ sẽ dễ dàng bóp chết bộ đội chủ lực của Bắc Việt và nhanh chóng quét sạch "Việt cộng" ở miền Nam.

        Nhưng thực tế chiến trường thì chứng minh ngược lại: Cuối tháng 2 năm 1967, quân Mỹ mở chiến dịch Junction City nhằm càn quét và tiêu diệt chiến khu D. Nhưng âm mưu và kế hoạch của chúng đã bị thất bại thảm hại.

        Về Không quân, trung bình mỗi ngày vẫn có hàng trăm lượt chiếc máy bay mang bom đạn đi bắn phá miền Bắc Việt Nam, nhưng cũng vì thế mà số máy bay Mỹ bị bắn rơi đã lên tới gần 2.000 chiếc!

        Để đối phó với tình hình, giữa tháng 3 năm 1967, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson đã quyết định cách chức Henry Cabot Lodge, đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam và đưa Ellsworth Bunker lên thay thế. Chưa yên tâm, ông ta đã vội bay sang Guam rồi cho triệu các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ cùng các quan chức chóp bu của chính quyền Sài Gòn đến để tìm giải pháp cứu vãn tình thế. Đồng thời, Johnson cũng chỉ thị cho Lầu Năm Góc phối hợp với Cục Tình báo Trung ươrìg Mỹ CIA phải tìm mọi biện pháp để chống lại cuộc kháng chiến của Việt Nam.

        Và một trong những biện pháp mà các chuyên gia Cục tình báo Quân đội Mỹ (DIA) và Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) phối hợp thực hiện là tiến hành các chiến dịch gây mưa nhân tạo, rải hoá chất nhờn, nhằm làm sụt lở, lầy lội, trơn trượt,... mà người viết cuốn sách này tạm gọi là "Cuộc chiến tranh thời tiết".

        Cuộc chiến tranh nói trên đã được người Mỹ tiến hành ở Mệt Nam hoàn toàn bí mật, với một quy mô khá rộng lớn, kéo dài lới sáu năm trời ròng rã, từ đầu năm 1967 đến cuối năm 1972...

        Vậy người Mỹ đã tiến hành ''Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam để nhằm mục đích gì?
 
        Lầu Năm Góc và Cục Tình báo Trung ương Mỹ thừa hiểu rằng: Nguồn cung cấp hậu cần, nguồn nuôi dưỡng sức mạnh chiến thắng của Lực lượng Cách mạng và Quân giải phóng miền Nam chính là từ miền Bắc! Ngoài việc trực tiếp lao động sản xuất, miền Bắc còn thay mặt cả quân và dân miền Nam tiếp nhận rất nhiều viện trợ của bạn bè năm châu, đặc biệt là vũ khí, lương thực của các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa anh em ủng hộ cho cuộc kháng chiến... Nếu muốn giành thắng lợi ở chiến trường miền Nam thì họ phải bằng mọi biện pháp cắt đứt nguồn cung cấp này!

        Hẳn nhiều bạn đọc còn nhớ: Tháng 5 năm 1959, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thành lập "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" lấy mật danh là "Đoàn 559". Đơn vị này có một số nhiệm vụ chính: Tổ chức mở đường giao thông quân sự vào miền Nam, dọc theo dãy Trường sơn; vận chuyển hàng quân sự cho miền Nam; đưa, đón cán bộ, bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam...

        Bắt đầu từ đây, Đường dây 559 - còn gọi là "Đường mòn Hồ Chí Minh" - trở thành con đường huyền thoại, và trong suốt 16 năm (1959 - 1975), hàng triệu tấn hàng hoá, vũ khí, lương thực... cùng hàng triệu lượt bộ đội, cán bộ ở miền Bắc đã theo con đường huyền thoại này chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ cho tới ngày toàn thắng.

        Theo tài liệu lưu trữ phía Mỹ cho biết: Các chuyên gia Cục Tình báo Trung ương Mỹ và Cục Tình báo quân đội Mỹ đã nghiên cứu và thấy rằng lực lượng Hậu cần của miền Bắc thường dùng các dòng suối trên đất Lào, theo các nhánh chảy vào sông cửu Long để thả các chuyến hàng quân lương, quân nhu... xuống miền Nam cung cấp cho các chiến trường.

        Thường thì hàng tiếp liệu được đựng trong các thùng gỗ tròn, hoặc bọc trong các bao nilon nhiều lớp, rồi thả từ đầu nguồn, nổi lềnh bềnh, trôi theo dòng nước. Một bộ phận đã được báo trước và đón sẵn...

        Cứ thả 10 bao thì rơi rụng, mắc kẹt, hoặc hư hỏng dọc đường mất một nửa, chỉ thu lại được 5 bao, thậm chí còn 3 bao. Nhưng rõ ràng là cách làm này có hiệu quả và đỡ hao tổn xương máu rất nhiều so với việc xe vận tải phải cướp đường, liều mình vượt qua các túi bom, các trọng điểm đánh phá ác liệt của Không quân Mỹ.

        Theo thiếu tướng Nguyễn An, nguyên Cục trưởng Cục vận tải quân đội sau này hồi tưởng lại: Trung bình cứ 1.000 tấn hàng vào tới được chiến trường, chúng ta phải chấp nhận có 78 chiến sĩ hy sinh và 25 ô tô vận tải bị đối phương bắn cháy, bị hư hỏng, rơi xuống vực sâu...

        Cũng với con đường huyết mạch 559 này, một số lượng hàng hoá không nhỏ đã được lực lượng Hậu cần miền Bắc Việt Nam vận chuyển bằng cách sử dụng súc vật thồ, kéo và bằng chính sức người mang vác trên vai, cõng và gùi sau lưng... Các chuyên gia Mỹ đã không hiểu rằng với ý chí kiên cường, tinh thần yêu nước của cả một dân tộc, thì dù có sử dụng đến bao nhiêu bom đạn chăng nũầ, họ cũng không thể nào chặt đứt được con đường huyết mạch Trường sơn.

        Và trong bối cảnh đó, "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được "những cái đầu nóng" của Lầu Năm Góc hy vọng như là một sự cứu cánh, giúp họ thoát khỏi sự bế tắc và sa lầy trên chiến trường ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2015, 05:50:04 AM

        Kế hoạch của "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được
        tiến hành như thế nào?

        "Cuộc chiến tranh thời tiết" thực chất, đó là việc các chuyên gia Mỹ lợi dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật, tiến hành các hoạt động rải hoá chất, để làm thay đổi thời tiết, tạo nên các trận mưa nhân tạo dữ dội trên miền Bắc Việt Nam, Lào và đặc biệt là con đường huyết mạch 559 dọc Trường sơn.

        Sau một thời gian ráo riết chuẩn bị, "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã chính thức được phía Mỹ bí mật tiến hành từ tháng 3 năm 1967 và kéo dài cho đến tháng 7 năm 1972.

        Thực ra, người Mỹ đã có ý đồ thực hiện cuộc chiến tranh này từ rất lâu, nhưng chưa tìm ra chiến trường để thể nghiệm. Ngay từ thập niên 50 mở đầu thời kỳ "chiến tranh lạnh", giới quân sự Mỹ và phương Tây đã cho ra đời một thuật ngữ mới: "Chiến tranh khí tượng", vào năm 1953, trên một tờ tạp chí của Hội Khí tượng Mỹ đã cho công bố lời phát biểu của một nhân vật có tên là Gugengeima về khả năng lợi dụng vị trí và điều kiện địa lý của Liên Xô (cũ) để sử dụng các phương tiện và hoá chất tác động vào khí hậu, tạo ra sự ngập lụt hay hạn hán bằng phương pháp nhân tạo... phục vụ cho mục đích quân sự. Âm mưu tội ác điên rồ này đã bị các nhà khoa học ở nhiều quốc gia phản đối kịch liệt.

        Gây mưa nhân tạo là công việc kích thích vào quá trình tích tụ hạt mưa, cho dễ mưa hơn và tăng lượng mưa nhiều hơn. Đây chỉ là một trong những biện pháp điều khiển thời tiếi phục vụ cho một mục đích nào đó của con người. Chuyện này đối với những nước có nền khoa học và công nghệ phát triển trên thế giới không có gì là mới lạ. Tại một số nước, người ta có thể chủ động làm đẹp trời, không có mưa trong những ngày lễ hội, hoặc có mít tinh lớn. Tại những vùng chuyên canh trồng cây ăn quả, rau xanh lớn, người ta cũng thường can thiệp vào thời tiết để cho mưa sớm hơn, muộn hơn bình thường, hoặc ngăn chặn các nguy cơ mưa đá gây thiệt hại cho mùa màng... Nhưng những việc làm thay đổi thời tiết này là để phục vụ cho con người và vì hoà bình.

        Còn với người Mỹ và "Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam thì lại khác. Họ đã muốn lợi dụng việc gây mưa nhân tạo với mục đích để... tạo nên thật nhiều lũ lụt ở miền Bắc Việt Nam! Như vậy, trong chiến cuộc chiến tranh Việt Nam, bên cạnh bom đạn là những vũ khí sát thương trực tiếp, Mỹ còn sử dụng một vũ khí khác không kém phần nguy hiểm là thời tiết. Đó là phương thức tác động vào sự biến đổi của khí hậu để tạo ra nhữhg kiểu thời tiết gây bất lợi cho các hoạt động của đối phương, thậm chí là phá hủy cơ sở hạ tầng, tiêu diệt hệ sinh thái trong khu vực mà nó được sử dụng. Mượn bàn tay của thiên nhiên để tiêu diệt đối phương nên thời tiết được liệt kê vào một dạng vũ khí khi nó được sử dụng cho mục đích chiến tranh.

        Vào cuối năm 1965, khi nhữhg nỗ lực nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược trên đường mòn Hồ Chí Minh không đem iại kết quả mong muốn, Mỹ đã thay đổi chiến thuật. Họ đã ứng pụng kỹ thuật của Nhà toán học người Mỹ John von Neumann tìm ra vào cuối nhữhg năm 1940. Neumann nhận thấy rằng việc sử bụng kỹ thuật "gieo hạt vào đám mây" bằng tinh thể iốt bạc trộn ẫn với carbon dioxide có thể làm tăng sự ngưng tụ của hơi nước của các đám mây và gây mưa. Và như vậy, có thể tác động kéo dài và làm trầm trọng thêm mùa mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh, đặc biệt là ở khu vực đi qua Lào, để ngăn nguồn tiếp tế hậu cần và các đơn vị quân chủ lực từ miền Bắc đổ vào miền Nam.

        Chương trình được đặt mật danh là "Dự án Popeye", được đề xuất bởi Tham mưu trưởng liên quân Mỹ vào ngày 10 tháng 8 năm 1966 và được Bộ tư lệnh Hỗ trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Fiệt Nam (COMUSMACV) và Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ tại Thái Bình lương (CINCPAC) đồng tình ủng hộ. Theo đó, loại máy bay WC- 130 sẽ được sử dụng cho nhiệm vụ rải hóa chất vào các đám mây để gây mưa.

        Vào đầu tháng 9 tháng 1966, (thời điểm chuẩn bị bắt đầu mùa mưa ở miền Trung Việt Nam) Không quân Mỹ đã tiến hành khoảng 50 phi vụ thí điểm rải hóa chất gây mưa dọc theo sông sê kong và một số khu vực sông suối có đường Hồ Chí Minh đi qua ở Tây Nguyên. Sở dĩ, dự án được tiến hành ngay trong thời điểm bắt đầu mùa mưa để nhằm che giấu dư luận, làm như đó là một hiện tượng tự nhiên đặc trưng của thời tiết khu vực Đông Dương và hoàn toàn không có sự can thiệp của Mỹ. Các thử nghiệm ban đầu cho thấy có đến 85% những đám mây được rải hóa chất đã gây mưa, lượng mưa trung bình tăng thêm 30%, mùa mưa có thể lo dài thêm từ 30 - 45 ngày so với trước, sự thành công ban đầu này đã khiến COMUSMACV lên kế hoạch thực hiện nó trên toàn Việt Nam. Và cuộc chiến tranh thời tiết đã mở rộng từ khu vực sông Sê Kong ra phía Tây Bắc Việt Nam, khu vực thung lũng A Sầu và sang cả khu vực đông bắc Campuchia...

        Các tài liệu còn lưu trữ được cho thấy, để phục vụ cho cuộc chiến tranh bí mật này, phía Mỹ đã chi tới 21,6 triệu USD, đã có tới 2.602 chuyến bay được thực hiện, và tổng cộng có 47.409 đơn vị hoá chất iode chì và iode bạc đã được phía Mỹ sử dụng cho mục đích đen tối của họ, với ảo tưởng có thể cản trở hoạt động thậm chí là làm tê liệt đường mòn Hồ Chí Minh.

        Ngoài việc rải hoá chất làm thay đổi thời tiết để gây mưa nhân tạo, người Mỹ còn cho đổ xuống các trọng điểm, những đoạn đường mòn xung yếu nhiều tấn hoá chất có tính trơn nhẫy, nhầy nhụa như kiểu "nhũ tương", khiến cho những nơi này lầy lội, trơn trượt, sụt lở... người và súc vật không thể nào qua được, còn xe thì bị trượt bánh lao xuống vực... Các chiến sĩ vận tải Trường Sơn của chúng ta nầm xưa thỉnh thoảng vẫn gặp những đoạn đường khủng khiếp như thế. Hồi ấy, họ không hề biết rằng thủ phạm gây ra những con đường lầy lội, bẩn thỉu ấy lại chính là Lầu Năm Góc và Cục Tình báo Trung ương Mỹ!

        Theo các phương tiện do thám quân sự Mỹ tính toán, thống kê, thì trước khi tiến hành các hoạt động của ''Cuộc chiến tranh thời tiết", hàng tuần có khoảng 9.000 lượt xe ô tô vận tải hàng quân sự của Hậu cần miền Bắc theo con đường huyết mạch 559 tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Nhưng do sự ảnh hưởng và cản trở của các chiến dịch trong "Cuộc chiến tranh thời tiết", số lượng xe đã rút xuống còn 900 lượt chiếc mỗi tuần. (Nghĩa là còn 10% so với trước). Một kết quả vượt quá sự mong đợi của Lầu Năm Góc!

        Trong gần sáu năm trời nói trên, chương trình hoạt động mưa nhân tạo được quân đội Mỹ tiến hành ở Việt Nam, dưới nhiều mật danh khác nhau. Đầu tiên là "Chiến dịch Đồng hương", rồi "Chiến dịch Trung gian", sau cùng là "Chiến dịch Mở mắt".

        Riêng năm 1970, đã có tới 277 chuyến bay được xuất phát, với 8.312 đơn vị hoá chất gây mưa đã được rải xuống, tập trung trong thời gian mùa hạ và mùa thu. Hẳn nhiều người còn chưa quên nhữhg trận mưa như thác đổ năm ấy ở vùng rừhg núi Tây Bắc và cả ở một số vùng khác của miền Bắc nước ta.

        Tài liệu còn lưu trữ được của phía Mỹ cho thấy: Tháng 6 năm 1971, tại một vùng đồi núi biên giới Việt - Lào, lượng mưa đo I được là 40 xăngtimét. Các chuyên gia phân tích dữ liệu của Cục Tình báo Trung ương Mỹ cho rằng khoảng một nửa lượng mưa ấy là do các hoạt động của "Chiến dịch Mở mắt" tạo ra.

        Hồi đó, hình như dân mình còn chưa biết đến các thuật ngữ Enninô và Lanina. Tất cả những hiện tượng thời tiết không bình thường kể trên, người ta đều đổ lỗi cho... trời!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2015, 05:25:34 AM
 
        Có phải vụ lụt khủng khiếp năm 1971 d miền BắcViệt Nam
        là hậu quả của "Chiến tranh thời tiết"?

        Do lịch sử để lại, công việc trị thuỷ của cha ông đã tạo nên một hệ thống đê điều vĩ đại, dài hàng nghìn kilômét ở miền Trung và đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hệ thống đê điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với an ninh đất nước trong mùa mưa lũ. Hàng năm, kế tiếp nhau đời này qua đời khác, công việc đắp đê chống lụt được tiến hành bền bỉ, kiên trì... Tuy nhiên, mặt trái của việc đắp đê này là việc phù sa không được bồi đắp cho châu thổ, mà lắng đọng tích tụ lại, khiến cho lòng sông Hồng ngày càng bị nâng cao lên...

        Người ta đã tính toán đo đạc và thấy rằng về mùa lũ, mặt nước sông Hồng có thể dâng cao hơn mặt ruộng và làng mạc hai bên bờ sông tới... gần 10 mét! Với mức nước chênh lệch như vậy, nếu đê vỡ thì thật khủng khiếp! Trong khi đó, chất lượng của các đoạn đê lại không giống nhau, đặc biệt là các tuyến đê trọng điểm. Nếu không được xử lý tốt về nền móng với nhữhg đoạn lòng sông có nhiều cát chảy, qua đầm lầy, nhiều tổ mối... thì rất khó chống lại với thiên tai trong mùa mưa bão như lũ kéo dài, lũ cao cực đại.

        Khi nghiên cứu về lũ lụt của hệ thống sông Hồng ở đồng bằng Bắc Bộ, các chuyên gia quân sự Mỹ và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã thấy rằng đó là sự kết hợp lũ của ba nguồn nước hung dữ là sông Thao, sông Lô và sông Đà. Chúng có thể gây ra trên diện tích lưu vực rộng lớn tới gần 50.000 kilômét vuông và hầu như không có trung lưu. Lũ sông Hồng có đặc điểm là biên độ hằng năm rất lớn (có thể lên tới 12 mét đến 16 mét); cường suất lên rất nhanh (có thể tới 7 mét/ngày) và tốc độ dòng chảy lớn nhất có thể đạt tới 4-5mét/giây. Vì vậy, chỉ cần sau hai đến ba ngày ở thượng nguồn có mưa lớn, là lũ đã có khả năng tràn về tới đồng bằng gây thiệt hại thật khôn lường...

        Cũng theo các chuyên gia Mỹ thống kê thì chỉ riêng trong thập kỷ 60, trên thế giới đã xảy ra ít nhất là 151 trận lũ lụt lớn, làm cho 24.000 người chết, thiệt hại về kinh tế ước tính lên tới hàng nghìn tỷ USD.

        Còn ở Việt Nam, đã từ nhiều năm trước đây, lũ sông Hồng luôn ẩn chứa sự đe doạ khủng khiếp đối với dân cư hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Dưới chế độ phong kiến, với nhữhg triều vua bạc nhược và thối nát, chuyện vỡ đê, mất mùa như cơm bữa. Năm 1915, đê sông Hồng bị vỡ tới 45 nơi. Riêng tỉnh Hà Đông (cũ) đã bị nhấn chìm dưới 40 triệu kilômét khối nước trong 3 tháng liền. Trong hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, đê sông Hồng đã bị vỡ tới 34 lần. Đê Văn Giang bị vỡ liên tục 18 năm liền... Gần đây nhất, lịch sử còn ghi nhớ trận vỡ đê năm 1945. Tại Hà Nội khi mực nước sông Hồng lên tới 11,45 mét thì đoạn đê xung yếu đầu tiên bị phá vỡ. và khi đỉnh lũ lên sắp chạm tới con số 13 mét thì đã có tới 52 đoạn đê bị nước cuốn trôi... Làng mạc, ruộng đồng đã ngập trắng trong biển nước mênh mông. Mùa màng cùng súc vật và gia cầm bị mất sạch.
Trận "đại hồng thuỷ" do lũ lụt, vỡ đê năm Ất Dậu ở miền Bắc Việt Nam cộng thêm chuyện "phá lúa trồng đay" của phát xít Nhật trước đó, đã tạo ra một nạn đói khủng khiếp, thê thảm và đau đớn nhất trong lịch sử dân tộc ta khiến cho hơn 2 triệu người dân Việt Nam bị chết đói! xác của họ nằm rải rác khắp nơi, không còn người thân để chôn cất. Chính quyền thực dân Pháp đã "giúp đổ" bằng cách cho từhg đoàn xe bò đi nhặt xác người, đổ chung vào nhữhg chiếc huyệt khổng lồ đào sẵn, rồi lấp đất vội vàng...

        Theo kế hoạch đã được hoạch định của "Cuộc chiến thời tiết", một trong những mục tiêu mà các chuyên gia Mỹ đã tính toán kỹ là: Nhằm thời điểm lưu vực sông Hồng đang nhiều mưa lũ, tăng cường rải hoá chất để tạo thêm những trận mưa dữ dội, khiến cho mực nước sông Hồng dâng cao, đẩy lũ lên tới cực đại. Tiếp đó là sử dụng Không quân, hoặc biệt kích làm vỡ đê sông Hồng ở đoạn xung yếu nhất... và trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn trăm bề, lại thêm lũ lụt, mất mùa... rất có thể Bắc Việt Nam sẽ tái diễn lại thảm cảnh của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Dân chúng sẽ rất bất bình, tự sinh ra bạo loạn để lật đổ chế độ Cộng sản xã hội chủ nghĩa...

        Rõ ràng, đó là một âm mưu tội ác cực kỳ thâm độc và dã man mà ''những cái đầu nóng" của Lầu Năm Góc và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã nghĩ ra.

        Tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Johnson buộc phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động của Không quân và Hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Theo lệnh đó, tất cả các hoạt động của Không quân Mỹ trên vùng trời miền Bắc nước ta đã bị cấm. và các chuyến bay hoạt động gây mưa nhân tạo trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam cũng chấm dút. Nhưng các chuyên gia Cục Tình báo Trung ương Mỹ và Cục Tình báo Quân đội Mỹ đã không chịu bỏ cuộc một cách dễ dàng như thế! Họ đã nghĩ ra cách chuyển các hoạt động gây ra mưa nhân tạo sang vùng trời của Lào, biên giới Đông Bắc Lào - Việt và thậm chí các hoạt động này còn tăng cường hơn trước. Những trận mưa "thối đất thối cát" trút xuống xứ này rồi cuối cùng đã theo những dòng sông, khe suối đổ cả về Việt Nam... để tạo thành lũ lụt. Các chuyên gia quân sự Mỹ đã tính toán rất kỹ chuyện đó!

        Theo số liệu tổng hợp chúng ta còn lưu trữ được: Tháng 8 năm 1971, do mưa lớn tập trung nên lũ dồn về rất nhanh và đỉnh lũ cao đột xuất. Tại Yên Bái, mực nước dâng cao 8 mét trong vòng 3 ngày. Tại Tuyên Quang, mực nước dâng cao 9 mét trong vòng 5 ngày, còn ở Hà Nội, chỉ sau 3 ngày đêm mực nước từ 12 mét đã lên 14,13 mét (vượt quá mức thiết kế cho phép của đê sông Hồng là 0,83 mét). Nếu không xảy ra vỡ đê và hồ chứa Thác Bà không điều tiết lũ (khoảng 1.100 mét khối/giây), không phân lũ qua sông Đáy (khoảng 2.500 mét khối/giây); thì lưu lượng lũ lớn nhất ở sông Hồng đoạn ở sơn Tây sẽ xấp xỉ 38.000 mét khối/giây; còn ở Hà Nội, mực nước lũ có thể lên tới 14,80 mét... Đó cũng chính là mực nước lớn nhất trong vòng từ 200 đến 250 nầm qua.

        Nếu xét về mặt tái diễn lưu lượng của đỉnh lũ năm 1971 thì ước tính khoảng 300 năm mới lặp lại ở Tuyên Quang, khoảng 150 năm mới lặp lại ở Yên Bái và 250 mới có ở Sơn Tây.

        Các chuyên gia khí tượng giỏi nhất thế giới thời đó cũng không giải thích được chuyện mùa lũ lạ lùng trong những năm 1970 - 1971 ở Việt Nam. Bởi các chiến dịch của "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được phía Mỹ tuyệt đối giữ kín!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2015, 01:11:30 AM
       
        Phi công Mỹ với những chuyến bay... "tuyệt mật"


        Sau này, chính Lầu Năm Góc Mỹ đã cho hay: Trong suốt sáu năm tiến hành "Cuộc chiến tranh thời tiết" nói trên, chỉ có tổng cộng 1.400 lượt người được quyền biết về các hoạt động này. Và họ cũng chỉ được biết từng phần việc do mình đảm nhiệm. Số người đó bao gồm các phi hành đoàn, nhân viên yểm trợ, họ đã trực tiếp thực hiện 2.602 chuyến bay và đã chuyển vận 47.409 "đơn vị hoá chất" phục vụ cho các chiến dịch. Trung bình, mỗi năm khoảng 230 người được tuyển chọn và kiểm tra kỹ về an ninh để làm công việc đó. Họ được tham gia hoạch định kế hoạch, vận chuyển, khiêng bốc hoá chất và thực hiện các chuyến bay công tác đặc biệt một cách hết sức bí mật.

        Một tài liệu của Lầu Năm Góc cho biết: Ngay Cục Tình báo Trung ương Mỹ cũng chỉ có Giám đốc và một số viên chức tham mưu hạn chế mới được phép biết đến các hoạt động gây mưa nhân tạo ở Việt Nam. Tài liệu lưu trữ nói trên còn cho thấy danh sách hơn 10 cơ quan, văn phòng "được phép thông báo tuỳ theo sự cần thiết của nhiệm vụ có liên quan". Trong danh sách các cơ quan này, người ta thấy có: văn phòng Bộ Tổng tham mưu liên quân, Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Giám đốc Trung tâm Khai thác và điều hợp Quốc phòng... và thậm chí, trong suốt một thời gian dài, nhiều sĩ quan cao cấp của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ (DIA) cũng không hề được thông báo có các hoạt động gây mưa nhân tạo trong các chiến dịch của "Cuộc chiến tranh thời tiết" nói trên

        Các tin tức xung quanh "Cuộc chiến tranh thời tiết" mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam đã được bảo mật tuyệt đối theo một hệ thống đặc biệt. Đến mức nhắc đến nó được coi như là một sự "cấm kỵ". Nhiều năm sau này, một sĩ quan tình báo cao cấp trong quân đội Mỹ đã thú nhận: Hồi đó, ông ta thật sự "run rẩy sợ hãi" mỗi khi phải có nhiệm vụ thuyết trình hoặc cần nói đến các hoạt động này. Cấp trên của ông ta luôn nhấn mạnh rằng: "Nếu anh biết nhiều quá mức, sẽ chẳng có lợi gì cho tương lai và thậm chí có thể sẽ nguy hại đến tính mạng!"

        "Dự án Popeye" bắt đầu bị rò rỉ vào đầu năm 1972 khi Jack Anderson (người được mệnh danh là cha đẻ của báo chí điều tra hiện đại) công bố về loại vũ khí nguy hiểm này. Quốc hội Mỹ lập tức chất vấn Melvin Laird Bộ trưởng Quốc phòng về chuyện thực hư của "Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam?

        Tuy nhiên, trong một bài viết của tác giả Huỳnh Hữu Nghiệp đăng trên tạp chí "Khoa học Nghiên cứu" (La Recfhenche) cho biết ngoài một số ý kiến phản đối, thì sau đó đa phần Thượng viện Mỹ đã chấp nhận đây là một chương trình trọng yếu, không chỉ với cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Đông Dương, mà còn có ý nghĩa đặc biệt đối với vị trí độc tôn của Mỹ trong thời hiện tại... Đó là vấn đề thuộc phạm vi chiến lược toàn cầu, không thể chậm hơn kẻ khác... Bởi thế, ủy ban tài chính Thượng viện Mỹ thông qua ngân sách 1970 -1972 cho chương trình này 5 triệu đô-la... Rồi những chuyến bay tuyệt mật trên vùng trời Nam Lào diễn ra liên tục... Tập hồ sơ của nghị sĩ Pell đã xác nhận: Các thí nghiệm đấ tăng lượng mưa lởn từ 30% đến 50% đủ nói rõ ở những tiểu vùng có chế độ gió mùa Đông Nam Á, thì việc tạo nên "Mưa chiến lược" kéo dài là hiện thực. Đó là thứ "vũ khí" cực kỳ lợi hại. Nếu bom đạn, chất độc hóa học không hủy diệt nổi sự sống trên Trường Sơn, thì việc "biến đổi thời tiết", gây ra nạn "'hồng thủy" sẽ đạt được bằng cách dìm tất cả mọi vật trong biển nước mênh mông... Nhưng Hoa Kỳ vẫn bưng bít dưới vỏ bọc "Công trình nhân đạo nghiên cứu chế ngự thiên nhiên với những tên đẹp "Sông Nin xanh" (Nile Blue), "Mở mắt" (Popeye), "Người đồng bào trung gian" (Intermediary Compatriot) để huyễn hoặc công chúng.

        Những trang tài liệu do tạp chí La Recfhenche đăng tải còn tiết lộ một điều khủng khiếp hơn: Trong khi Stephen, chi huy chiến dịch vẫn tiếp tục những phi vụ "rải hạt" tinh thể iot bạc và C02 tạo nhân đông kết trong tầng mây siêu lạnh, biến thành những trận mưa xối xả kéo dài hơn nửa năm, cản trở mọi hoạt động sản xuất, giao lưu trên Trường sơn. Hàng nghìn bản Lào bị dìm trong biển lũ, gầy nạn đói, bệnh dịch trầm trọng. Các chuyên gia Hoa Kỳ hào hứng: "Nếu tiếp tục hơn sẽ biến hết thảy thung lũng Trường sơn thành vùng đầm lầy, sức người không thể khắc phục. Hàng chục vạn cộng quân chỉ còn có cách ăn lá rừng cầm hơi...".
Nhưng rồi nguồn tin tình báo "Việt cộng ở miền Nam vẫn liên tục mở được nhiều trận đánh lớn" nghị sĩ McDonald cảnh báo: "... Thế có nghĩa là mưa lũ vẫn chưa thể chặn hắn sức hoạt động tiếp tế của đối phương...!" và tỏ ý hối tiếc bỏ lỡ cơ hội năm 1971-1972 làm tăng mưa lũ ở lưu vực sông Hồng tạo nên cuộc sống trôi nổi, hạ gục tiềm lực chi viện của miền Bắc... ông ta gợi ý: "Mùa khô Lào, Trường sơn chỉ có sương mù ẩm ở nhiệt độ 32F (0 độ C) thì phải phun hóa chất Sodium và Calcium Qoride bằng khối lượng vô cùng lớn mới có thể gây mưa... Song hiệu quả rất hạn chế, ảnh hưởng không đáng kể với thời gian dài hữu ích cho hoạt động vận tải của đối phương... Nhưng một khi tạo được những đợt "sóng thần" quét sạch mọi thứ tàng trữ của họ tập kết ở dải đất hẹp từ Nghệ An vào Quảng Bình. Lúc ấy mới thật sự trói chặt chân tay họ...

        Các chuyên gia khoa học quân sự Mỹ lại lao vào nghiên cứu thử nghiệm tạo "sóng thần" ở thềm lục địa Việt Nam: Nếu tạo ra một loạt vụ nổ định kỳ làm cho khối nước sâu 100 mét, rộng 10km, xê dịch đi 100m thì sẽ sinh công 100 mê-ga-tôn. sự giải tỏa năng lượng này tạo nên nhũĩig cột sóng đổ ập lên bờ, cuốn sạch mọi thứ tung lên đỉnh núi hoặc dìm xuống đáy biển... Chỗ tuyệt vời của sự hủy diệt đó là không để lại dấu ấn người tạo ra nó. Đối phương chẳng sao biết được, chỉ còn cách oán trời...!


        Điều ngạc nhiên là chính ngài Melvin Laird Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - nhân vật quyền hành "nghiêng đất ngửa trời" thời đó đã khẳng định với uỷ ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ: ''Chúng ta chưa hề thực hiện một chiến dịch nào đại loại như thế ở Bắc Việt Nam". Thậm chí, ông ta còn khẳng định với Quốc hội Mỹ rằng: Thông tin mà nhà báo Anderson nêu ra là ''một câu chuyện hoang đường và hoàn toàn sai sự thật". Nhưng hai năm sau đó, biết không thể che đậy mãi được, lại chính Melvin Laird đã phải thừa nhận: Tình thế lúc đó buộc chúng tôi phải nói dõi, để che đậy dự án vì lo ngại sự phản đối của cộng đồng quốc tế.

        Tháng 3 năm 1974, trong một cuộc điều trần bí mật tại uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội Mỹ, các nhân chứhg đều nói rằng: Nhữhg nguồn tin liên quan đến "Cuộc chiến tranh thời tiết" đã được bảo mật ở mức độ cao nhất, các tin tức xung quanh vấn đề này đã không được tiết lộ cho uỷ ban An ninh quốc gia biết. Một nhân chứhg nữa là vị Phụ tá cho Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đặc trách khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương - người mà lực lượng Phản ứng nhanh của Lầu Nầm Góc tại Việt Nam có nghĩa vụ phải ''bẩm báo" mọi việc - cũng đã thú nhận: "Lần đầu tiên tôi nghe nói đến các hoạt động của "Cuộc chiến tranh thời tiết" ở Việt Nam là nhờ đọc một bài báo của ký giả Jack Anderson".

        Sự kiện Mỹ sử dụng vũ khí thời tiết trong chiến tranh Việt Nam đã vấp phải sự phản đối gay gắt của cộng đồng quốc tế. Trước tình hình đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Claiborne Pell và dân biểu Donald Fraser đã phát động một chiến dịch vận động chính trị về việc cấm sử dụng việc thay đổi thời tiết như một thứ vũ khí nhằm chống lại một quốc gia nào đó.

        Mặc dù chưa có thống kê đầy đủ về thiệt hại mà "Chiến tranh thời tiết" gây ra, nhưng nó vẫn bị coi là một hành động vô nhân đạo và bị lên án gay gắt. Đến tháng 5 năm 1977, Đại hội đồng Liên HỢp Quốc đã bỏ phiếu chính thức thông qua công ước ENMOD quy định: Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp thay đổi thời tiết nhằm mục đích gây thiệt hại hoặc phá hủy hệ sinh thái chống lại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2015, 05:33:21 AM

 (http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Huyen%20thoai%20Truong%20Son/b%20-%200098_zpspcegc7wh.jpg)
Nhũng chiếc máy bay WC-130 được phi công Mỹ sử dụng trong những chuyến bay tuyệt mật, cho nhiệm vụ rải hóa chất gây mưa vào các đám mây, nhăm biến chúng thành một thứ vũ khí ở chiến trường Việt Nam

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Huyen%20thoai%20Truong%20Son/b%20-%200098a_zpsghs0sraq.jpg)
Minh họa cơ chế hoạt động của việc gây mưa bằng hóa chất trong "chiến tranh thời tiết"

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Huyen%20thoai%20Truong%20Son/b%20-%200099a_zpsgrm9x29v.jpg)
Các phi công Mỹ đã thực hiện hàng ngàn phi vụ bí mật rải hóa chất gây mưa, để thực hiện cuộc "Chiến tranh thời tiết" chống lại Việt Nam

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/Huyen%20thoai%20Truong%20Son/b%20-%200099_zpsdqkj5ucp.jpg)
Một đoạn đường Trường sơn bị tàn phá trong cuộc chiến này



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2015, 03:05:47 AM
 
        "Chiến tranh thời tiết" trong tương lai?


        Gần đây, tác giả Fred Burks đã cho công bố trên trang Canada Global Reaserch một bài viết về Chương trình Nghiên cứu cực quang cao tần (HAARP) của Lầu Năm Góc, đang gây xôn xao cả thế giới, vì nó có thể làm thay đổi thời tiết cả trái đất.

        Website chính thức của HAARP cho biết: Các nhà phân tích đã tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm bằng cách sử dụng các tần số điện từ để đốt cháy các chùm năng lượng trực tiếp, dao động, để tạm thời kích thích một khu vực nhất định của tầng điện ly. Tuy nhiên, các nhà khoa học quốc tế lo ngại việc chủ động gây xáo trộn tầng điện ly nhạy cảm này có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về bão lốc và lũ lụt và thậm chí gây thảm họa như động đất hoặc sóng thần.

        Kênh truyền hình History thuộc mạng CBC của Canada cũng vừa cho trình chiếu một bộ phim tài liệu dài tới 45 phút nói về chương trình HAARP được sử dụng cho cuộc chiến tranh này đã mô tả: Dùng điện từ... phát ra tia chớp mạnh gấp hàng trăm lần dòng điện thường để thay đổi thời tiết. Tất cả các loại vũ khí này sử dụng năng lượng trực tiếp để tạo nên một xung điện từ mạnh. Năng lượng đó có thể được sử dụng để đốt cháy tầng điện ly nhằm biến đổi thời tiết thành một loại vũ khí chiến tranh. Quân đội Mỹ đã mất khá nhiều thời gian vào việc biến đổi thời tiết thành môi trường chiến tranh. Nếu một dòng điện từ bay trên một thành phố, về cơ bản tất cả các loại phương tiện điện tử trong các hộ gia đình sẽ bị phá hủy".

        Mặc dù các quan chức HAARP phủ nhận, nhưng dư luận lo ngại "chiến tranh thời tiết" bí mật của chương trình HAARP nhằm thúc đẩy mục tiêu giành quyền thống trị toàn bộ quang phổ của quân đội Mỹ vào năm 2020. Thậm chí HAARP còn có thể và đã được sử dụng vào việc thay đổi thời tiết, gây nên các trận động đất và sóng thần, phá hủy các hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu và nhiều tác dụng khác, vì vậy, Liên minh châu Âu (EU) đánh giá HAARP là mối lo ngại toàn cầu và đã thông qua một nghị quyết yêu cầu quân đội Mỹ cung cấp thêm thông tin về các rủi ro sức khỏe và môi trường của chương trình. Nhưng các quan chức HAARP khẳng định chương trình không có gì nguy hiểm và chỉ là công trình nghiên cứu khoa học phóng xạ. Nghị quyết của EU nhấn mạnh EU lấy làm tiếc vì Washington không cung cấp bất cứ thông tin nào về HAARP cho các nước, kể cả đó là đồng minh EU.

        Một số nhà phân tích còn nghi ngờ: HAARP có thể liên quan đến các thảm họa lớn từhg xảy ra trện Trái đất thời gian gần đây như động đất ở Haiti và sóng thần ở Indonesia; kể cả trận bão Katrina và các vấn đề thời tiết bất thường gần đây.

        Đặc biệt, còn có ý kiến cho rằng: Siêu bão Haiyan khủng khiếp đã tàn phá đất nước Philippine và đe dọa các tỉnh miền Trung và miền Bắc của Việt Nam cuối năm 2013, cũng là một "hậu quả ngoài ý muốn" của việc nghiên cứu loại vũ khí phục vụ cho nhữhg cuộc "chiến tranh thời tiết" mà người Mỹ đang tiến hành trên toàn cầu (!?)
Hà Nội, 1999-2013        
(CÒN NỮA)


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2015, 03:52:29 AM
 
SỰ THẬT VỀ VỤ TẬP KÍCH CỨU TÙ BINH PHI CÔNG MỸ TẠI SƠN TÂY NĂM 1970

        Cuối tháng 11 năm 1970, Quân đội Mỹ đã sử dụng một số lượng lớn máy bay trực thăng, máy bay vận tải cùng hàng trâm máy bay phản lực chiến đấu khác hộ tống, phối hợp để đưa một đơn vị đặc nhiệm đến Sơn Tây, một địa danh nằm sâu trong lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, nhằm giải thoát cho gần 100 Phi công Mỹ là tù binh bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

        Đây là một kế hoạch được người Mỹ chuẩn bị hết sức công phu, tốn kém, với sự tham gia của rất nhiều quan chức chóp bu trong bộ máy chiến tranh khổng lồ của một cường quốc quân sự hồi đó: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Melvin Laird, Bộ trưởng Ngoại giao W.P. Rogers, Cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, Giám đốc Cục tình báo Trung ương R.M. Helms,... và đích thân Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã phê chuẩn cho kế hoạch này.
Vụ tập kích cứu tù binh Phi công Mỹ bị giam giữ ở sơn Tây nói trên đã nằm trong số những hồ sơ lưu trữ tuyệt mật của quân đội Mỹ một thời.

        Phi công Mỹ như những vị "khách không mời" từ
        trên trời rơi xuống... Việt Nam


        Có lẽ, Trung uý hải quân Everett Alvarez là một trong những người nổi tiếng nhất nước Mỹ trong những năm cuối của thập niên 60, thế kỷ này. Nhưng không phải anh ta đã có một hành động anh hùng, một khả năng phi thường, hay một chiến tích oanh liệt nào đó; mà đơn giản, Alvarez chính là viên Phi công Mỹ đầu tiên bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn rơi và bị bắt làm tù binh.

        Đó là ngày 5 tháng 8 năm 1964 khó quên, sau cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc bộ" do phía Mỹ cố tình dựng nên, theo lệnh của Tổng thống Lyndon B. Johnson, Alvarez đã lái chiếc máy bay A4D (được mệnh danh là "Chim ưng nhà trờỉ'), đi ném bom Quảng Ninh - Hải Phòng. Trước lưới lửa phòng không dày đặc, hai chiếc phi cơ hiện đại của không quân Mỹ đã trúng đạn và bốc cháy như bó đuốc... Lạy Chúa! Alvarez đã kịp thoát ra khỏi cái lò lửa ngùn ngụt ấy mà nhảy dù xuống biển và anh ta đã bị tóm cổ ngay tức khắc...

        Năm đó Alvarez mới có 26 tuổi, phải ngồi trong buồng giam số 6 ở Hỏa Lò gần 10 năm. Đây có lẽ cũng là người Phi công Mỹ có "thâm niên" tù binh cao nhất ở Việt Nam. Bị bắt giam chưa được bao lâu, anh ta đã phải dở khóc dở cười khi nhận được tin cô vợ trẻ của mình ở Mỹ đòi tòa án cho ly dị với chồng để đi tìm hạnh phúc mới!

        Nhưng dù sao thì Trung uý Everett Alvarez đã có may mắn hơn so với nhiều đồng đội của mình. Bởi cũng từ ngày đó, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc nước ta tuy không tuyên bố nhưng đã bắt đầu và ngày càng leo thang ác liệt hơn. Tổng thống Mỹ Johnson liên tục hò hét đẩy mạnh chiến tranh. Bình quân thời gian đầu có khoảng 70 lần chiếc máy bay đi oanh tạc trong một ngày. Trong năm 1966, số máy bay Mỹ xuất kích đi ném bom miền Bắc Việt Nam đã tăng lên mỗi ngày là 223 lần chiếc, và tới cuối năm 1967, trung bình hàng ngày có tới 300 lần chiếc xuất kích đi gây tội ác...

        Cùng với sự gia tăng các cuộc oanh tạc, số máy bay của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc nước ta cũng ngày một nhiều hơn.

        Phía Mỹ công bố: Cuối năm 1965, đã có 61 Phi công Mỹ bị Việt Nam bắt. Năm 1966, trung bình cứ 10 ngày lại có 8 chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi, và có thêm 86 Phi công Mỹ (ĩơỡc đưa vào "Khách sạn vỡ tim "(hay là "khách sạn Hilton"- theo cách gọi hài hước của Phi công Mỹ) ở Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1967, hầu như chẳng mấy ngày lại không có tin máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Hà Nội, Hải Phòng, hay ở một địa phương nào đó trên miền Bắc Việt Nam...

        Một trong những Phi công Mỹ có may mắn ấy là Trung tá Richard "Pop" Kiern. Máy bay của anh ta bị bắn rơi ngày 24-7 năm 1965, khi nhảy dù được xuống đất thì bị bắt sống. (Đây cũng chính là ngày rất đáng ghi nhớ của Bộ đội Tên lửa non trẻ của Việt Nam, trận đầu ra quân đầ đánh thắng, bắn rơi máy bay chiến đấu hiện đại của không lực Hoa Kỳ!)
Với "Pop" Kiern, đây là lần thứ hai anh ta là tù binh. Lần đầu, trong Chiến tranh Thế giới thứ II, anh ta là Phi công lái máy bay B17 và đã bị bắn rơi trong chuyến công vụ đầu tiên tại mặt trận Đức. "Pop" Kiern đã phải nằm ở trại giam của Đức Quốc xã 9 tháng. Nhưng đó là trại giam của bọn phát xít, và anh ta đã chiến đấu trong lực lượng của quân Đồng Minh, dù sao cũng có chút ít vẻ vang, còn khi sang Việt Nam, "Pop" Kiern lái chiếc F105 " Thần Sấrri", đẫ bị bắn rơi, bị bắt làm tù binh ngay ngày thứ ba sau khỉ đến chiến trường này. Mãi tới năm 1973, sau khi được trao trả, anh ta đã chua chát thú nhận: "Tôi chỉ thực nghiệm vài giờ bay chiến đấu theo lệnh của cấp trên, còn sau đó thi làm tù binh và nằm ở trại giam gần 10 năm trời. Hình ảnh của Không lực Hoa Kỳ sẽ kiêu hùng hơn nhiều, nếu không có những chiếc máy bay bị lưới lửa phòng không Việt Nam bắn rơi và những tù binh như chúng tôi".

        So với Trung tá Richard "Pop" Kiern, cuộc đời cầm lái của rrung tá James Robinson Risner có vẻ oanh liệt hơn. Anh ta vốn là một người hùng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, với 109 Dhi vụ thành công và hơn 3.000 giờ bay chiến đấu (một kỷ lục nà không phải bất kỳ một Phi công quân sự nhà nghề nào cũng lạt được!). Risner đã bắn hạ được 8 phi cơ của đối phương trong các cuộc không chiến ác liệt. Nhưng khi sang đến chiến :rường Việt Nam, mới bay đến phi vụ thứ 5 thì anh ta đã bị bắn cháy. Vốn là con cáo già lão luyện, Risner đã lái máy bay lao ra biển và nhảy dù xuống nước. Đội cứu hộ trên biển của quân đội Mỹ lần đầu ra tay đã cứu được anh ta khỏi chết đuối. Báo chí Mỹ hồi đó đã tuyên truyền rùm beng cả tháng trời về chiến tích này. Tờ thời báo Tỉme đã in cả ảnh của Trung tá Robinson Eisner, ca ngợi anh ta như một người hùng mẫu mực và siêu đẳng của không lực Hoa Kỳ. Nhưng cũng thật nực cười, vì sau đó báo chí Mỹ đã lờ tịt đi khi tới ngày 16-9 năm 1965, ngựa quen đường cũ, Risner lại ngồi vào chiếc "Thần Sấm" F105D đi gây tội ác, và lưới lửa phòng không của bộ đội Việt Nam đã quật cổ anh ta xuống đất Đò Lèn (Thanh Hóa). Lần này thì Chúa trời cũng chẳng cứu được Risner! Sau khi thú nhận hết tội lỗi của mình đã gây ra cho nhân dân Việt Nam trước các nhà bảo, anh ta đã chui vào nằm "an dưỡng" trong trại giam bảy năm rưỡi, cho tới khi được trao trả. Một điều có lẽ cũng cần Ịhải nói thêm là: Khỉ bị bộ đội ta bắn rơi và bị bắt làm tù binh, 'người hùng" Mỹ này đã khai báo ngoan ngoãn và thành khẩn đến mức đáng ngạc nhiên. Nghe nói, sau ngày được trao trả, anh ta lại tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và còn được vinh thăng tới cấp Thượng tướng.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2015, 06:05:52 PM
        Trong số các vị khách không mời từ trên trời rơi xuống ấy, không thể không kể đến một nhân vật khá đặc biệt, một "cậu ấm" của quân đội Mỹ. Đó chính là Thiếu tá hải quân John McCain, con trai của Đại tướng John s. McCain III. Máy bay của "cậu ấm" này trong khi đi ném bom nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội) ngày 26 tháng 10 năm 1967, để "biến Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá!" - theo cách tuyên bố ngạo mạn của Mỹ, đã bị lưới lửa phòng không Thủ đô ta bắn rất trúng, gần như rơi thẳng đứng xuống nhà máy điện Yên Phụ. "Cậu ấm" bị thương rất nặng, nhưng cũng đã kịp nhảy dù và rơi tõm xuống hồ Trúc Bạch. Khi người ta kịp tới để vớt lên, "cậu ấm" này chỉ còn thoi thóp như một cái xác không hồn. oái oăm thay, đúng ba tháng sau ngày McCain con bị bắn rơi, thì McCain bố được Tổng thống Mỹ ký quyết định thăng chức Đô đốc Chỉ huy trưởng các lực lượng tác chiến khu vực Thái Bình Dương, để tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. McCain con đã được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, được chăm sóc thuốc men theo chế độ đặc biệt và 9 tháng sau, tháng 7 năm 1968, anh ta được trao trả cho phía Mỹ. Chẳng biết hồi đó, trước mỗi lần ra lệnh cho các đơn vị thuộc quyền đi gây tội ác ở Việt Nam, ngài Đô đốc McCain bố có suy nghĩ và ân hận gì không? Riêng McCain con, sau ngày được trao trả, ông ta đã trở thành một vị Thượng nghị sỹ Mỹ; thậm chí còn là ứng cử viên Tổng thống. Ngài Thượng nghị sỹ John Sidney McCain cũng đã nhiều lần trở lại thăm Việt Nam, thăm lại nơi mình đã bị bắn rơi và cả phòng giam mình đã nằm những tháng ngày đằng đẵng.

        Tối ngày 10 tháng 9 năm 1966, tại An Bình, một làng quê nghèo của tỉnh Hải Dương bỗng bùng lên một bó đuốc lớn giữa trời. Thì ra có máy bay Mỹ bị bắn cháy, cả làng hò nhau đi lùng bắt Phi công Mỹ. Số phận đã xui khiến cho lão Chộp, một thợ cày hết sức chân quê của làng An Đoài tóm được một trong hai viên Phi công Mỹ vừa thoát chết nhảy dù xuống đất... Gần 30 năm sau, viên Phi công ấy trở lại thăm An Đoài trong cương vị là thượng khách của Chính phủ ta - ngài Peter Peterson đáng kính, Thượng nghị sĩ Mỹ, vị Đại sứ đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. câu chuyện cảm động này đã được nhà thơ Trần Đăng Khoa viết thành một thiên ký sự độc đáo, hẳn nhiều quý bạn đọc đã biết.
        Và còn nhiều, rất nhiều những chân dung đầy ấn tượng của các vị khách không mời từ trên trời rơi xuống nữa. Phía Mỹ cho hay: tới cuối năm 1968, tổng cộng đã có tới 356 Phi công của họ bị ta bắt làm tù binh, và cuộc đời của mỗi người trong số ấy đều là cả một câu chuyện dài, với bao tình tiết éo le...

        Trong thực tế, số Phi công Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc nước ta đến thời điểm đó còn lớn hơn nhiều. Bởi vì khi máy bay bị trúng đạn bốc cháy, không phải viên Phi công nào cũng may mắn kịp thoát được ra ngoài. Nhiều người bị trúng đạn chết ngay trong buồng lái. có người bị kẹt và đâm đầu xuống đất cháy thui cùng máy bay. Cũng có trường hợp đã nhảy được ra ngoài, nhưng dù lại không mở, hoặc dù mở nhưng bị trúng đạn và chết ngay từ trên không... Phía Mỹ công bố: tới cuối năm 1968, ngoài số Phi công "may mắn" được phía việt Nam bắt đưa về trại giam, đã có 927 Phi công khác bị chết trong khi thi hành nhiệm vụ.

        Hầu hết các Phi công Mỹ khi bị ta bắt được đều tỏ ra hối hận với những tội ác mà mình gây ra cho nhân dân Việt Nam. Họ thường nhanh chóng thật thà khai báo để mong được hưởng lượng khoan hồng, nhân đạo của Chính phủ ta. Các "sĩ quan quý tộc" và "lính cậu" này rất sợ gian khổ, đau đớn và đói khat về thể xác.

        Tại Bảo tàng Phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật của các Phi công Mỹ khi bị bắn rơi. Từ những hiện vật hết sức riêng tư như nhật ký, ảnh vợ con, gia đình... đến các hiện vật có tính "quốc thể" như các loại trang bị, vũ khí có nhãn Made in USA, giấy chứng nhận, các loại tiền...

        Có một hiện vật hết sức thú vị, đó là tấm vải hình chữ nhật cỡ 25 cm X 50 cm, được in bằng thứ mực đặc biệt với hai màu xanh và đỏ, ngâm nước không phai và cực bền. Phi công Mỹ gọi đây là tờ "Phiếu máu", còn dân ta thì gọi là "Cờ xin ăn", (chả là trên đầu của tờ "Phiếu máu" có in hình lá cờ Mỹ và nội dung là để xin ăn). Nội dung của "Cờ xin ăn" này rất ngắn, nhưng được in bằng 14 thứ tiếng: Anh, Pháp, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia... Phần tiếng Việt viết thế này: Tôi là người Mỹ. Tôi không nói được tiếng Việt. Gặp bước không may, tôi phải nhờ quý ông giúp đỡ, kiếm thức ăn, chỗ ở và nhờ quý ông bảo vệ tôi. Rồi tôi muốn nhờ quý ông đưa tôi đến một người nào đó có thể che chở cho tôi và đưa tôi về nước. Chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông. Quả là một sự quan tâm hết sức cụ thể và chu đáo của Chính phủ Mỹ đối với những người lính viễn chinh xâm lược! Nhưng một sự thật là những Phi công Mỹ khi bị bắn rơi, may mắn thoát chết xuống được đến đất, thường ngoan ngoãn giơ tay đầu hàng ngay, không phải sử dụng đến "Cờ xin ăn".

        Hồi ấy, mỗi khi bị bắt buộc phải bay trên bầu trời đầy lửa đạn phòng không của miền Bắc nước ta, các "người hùng" Mỹ đều không khỏi khiếp sợ. Họ thường phải bay với tốc độ cao, có khi là tốc độ siêu âm trong nhiều giờ liền, với thần kinh tập trung cao độ, hết sức căng thẳng. Thân thể họ bị ép chặt vào ghế lái, cố gắng chống trả các xung lực gấp nhiều lần bình thường để không bị phóng ra ngoài, và khi máy bay bị trúng đạn, theo bản năng phản xạ trước cái chết, họ phải thao tác rất nhanh để bật tung người phóng ra khỏi buồng lái.

        Được biết, do thiết kế buồng lái, những Phi công lái máy bay phản lực chiến đấu hiện đại nhất của Mỹ hồi đó đều được khóa lại bằng những đai da để giữ chắc trong ghế ngồỉ. Nhưng hầu hết khi bay tới vùng trời miền Bắc Việt Nam, các Phi công đều tháo lỏng chiếc đai da đó để ngả người ra sau cho dễ nhìn vào kính ra đa, hoặc quan sát xung quanh canh chừng những chiếc MIG lợi hại của không quân Việt Nam bất ngờ xuất hiện phóng tên lửa. và khi máy bay bị trúng đạn, họ thường không còn đủ thời gian để siết chặt người lại bằng đai da. Khi phóng người thoát ra ngoài trong tư thế ấy, các Phi công thường bị va vào sườn buồng lái khiến họ gãy tay, dập gối, hoặc bị các chấn thương nặng khác... Tiếp đó, họ bị quay cuồng trong không khí, tay chân như bị lực siêu âm xé rời từng mảnh, cho tới khi chiếc dù tự động mở ra giúp họ tiếp đất... và thường là khi đó đã có rất nhiều người dân thường với súng, dao, gậy gộc, đòn càn, hoặc bất cứ thứ gì sẵn có trong tay, với ánh mắt rực lửa căm thù, trong không khí phẫn nộ đến cực độ lao đến...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2015, 04:43:18 AM
        Nỗi khiếp đảm của các Phi công Mỹ hồi đó không chỉ mỗi khi bay vào vùng trời miền Bắc nước ta, mà dường như đã len vào cả trong mỗi bữa ăn, giấc ngủ của họ. Nhiều người đã chán chường dẫn đến nghiện rượu, thậm chí nghiện cả ma tuý; có một số người đã tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam.

        Hẳn nhiều bạn đọc còn nhớ những năm tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt nhưng cũng rất hào hùng ấy. Cả miền Bắc nước ta đều là trận địa phòng không, sẵn sàng chia lửa đánh trả máy bay Mỹ. Chưa ai quên được cảnh thành phố đi sơ tán, tự vệ và dân quân trực chiến bắn máy bay, trẻ con đội mũ rơm đến lớp học trong hầm... Suốt đêm ngày, thỉnh thoảng bầu trời lại vang lên tiếng gầm rú của máy bay phản lực, tiếng bom nổ rung đất, tên lửa và đạn cao xạ bẳn đỏ trời đêm... Mỗi sáng ra, người ta nô nức tìm đọc tin thắng trận trên báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân; nghe loa phóng thanh công cộng phát đi bài xã luận mới nhất về trận thắng Mỹ đêm qua của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam...

        Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc nước ta đã leo thang tới mức độ ác liệt nhất. Các cuộc không chiến ngày càng dữ dội và thiệt hại của phía Mỹ cũng ngày càng tăng, có lẽ đây là cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử xâm lược quân sự của nước Mỹ. cùng với số lượng máy bay bị bẳn rơi ngày càng nhiều, số Phi công Mỹ bị ta bắt được, lần lượt đến đăng ký ăn ngủ tại "Khách sạn Hilton Hà Nội" cũng ngày càng đông hơn. Các Phi công Mỹ thường có khổ người to lớn quá cỡ, các phòng tạm giam họ ở Hà Nội khi đó luôn chật ních và thật sự là đã quá tải... Để vừa đảm bảo sự an toàn cho các tù binh Phi công Mỹ, đồng thời vừa phục vụ công tác đấu tranh chính trị, ngoại giao, trong điều kiện thời chiến thiếu thốn, khó khăn, nhiều trại giam tù binh phl công Mỹ đã được xây dựng hết sức bí mật.

        Phối hợp với chiến thắng của quân và dân miền Bắc, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của đồng bào và Quân giải phóng miền Nam đã làm nức lòng bè bạn năm châu và đưa hình ảnh chiến tranh Việt Nam đến từng gia đình người dân Mỹ. Tổng thống Mỹ Johnson đã phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động của Không quân, Hải quân Mỹ chống lại miền Bắc Việt Nam. cùng năm đó, Chính phủ Mỹ đã phải chấp thuận cử đại biểu ngồi vào bàn thương lượng hòa bình với Việt Nam tại Hội nghị Paris.

        Từ "Khách sạn Vỡ Tim"...

        Giáo sư Benjamin F.Schemmer, một sĩ quan cao cấp của Lầu Năm Góc kiêm nhà báo và chuyên viên nghiên cứu lịch sử quân sự Mỹ, (người đã có công thu thập tài liệu và viết một cuốn sách khá công phu với nhan đề The Raid nói về cuộc tập kích của quân Mỹ ở sơn Tây; thông qua một nhân viên sứ quán Mỹ tại Hà Nội, ông đã nhiều lần liên hệ với người viết cuốn sách này để trao đổi tư liệu về sự kiện đặc nhiệm Mỹ tập kích trại tù binh sơn Tây nói trên) đã thống kê rằng trong số 356 "người hùng" của không lực Hoa Kỳ đã từng có "vinh dự" được ần ngủ ở Hỏa Lò của Hà Nội, chỉ có hai người lớn tuổi nhất là một Đại uý không quân và một Trung uý hải quân đều đã có vợ và hai con. Còn lại, tuổi trung bình của họ là 32 và hầu hết đang là lúc thanh xuân của cuộc đời. Trong đó, 85% số các Phi công này đã bay trên 15 phi vụ ném bom miền Bắc. Nghĩa là họ đã gây ra không ít tội ác, trước khi số phận được quyết định đến "an dưỡng" tại đây.

        Khi tiến hành thiết kế xây dựng nhà giam Hỏa Lò, những kiến trúc sư, kỹ sư người Pháp không hề nghĩ rằng nơi này sau đó sẽ được sử dụng để giam giữ những tù binh Phi công Mỹ - các sĩ quan quý tộc của ông bạn vàng giàu có và cường quốc quân sự. và như vậy, vô tình họ được "thơm lây" vì đã có vinh dự góp phần vào chiến thắng không lực Hoa Kỳ của Việt Nam. Các Phi công Mỹ đã gọi Hỏa Lò bằng một cái tên rất Mỹ: Khách sạn Hilton Hà Nội. Nhiều Phi công lại muốn gọi Hỏa Lò bằng cái tên khác, cho đúng với tâm trạng của họ khi bước vào đây: Khách sạn Vỡ Tim. Dù là Hiton Hà Nội hay Vỡ Tim thì nó cũng chỉ là một: Đó là nơi đã từng tạm giam những "người hùng" của không lực Mỹ khi đã bị thất thế từ trên trời rơi xuống đất!

        Bây giờ thì Hỏa Lò của Hà Nội chỉ còn lại một phần rất nhỏ, đủ cho người ta lưu luyến nhớ đến một chứng tích lịch sử. cơn lốc cơ chế thị trường trong thập niên 90 của thế kỷ trước ở nước ta đã thổi bay gần hết cả khối bê tông cốt thép rắn chắc đã sừng sững tọa lạc giữa lòng Hà Nội gần một trầm năm. Thay vào đó là một tòa nhà mấy chục tầng được thiết kế, xây dựng theo kiểu tân kỳ, để làm một trung tâm dịch vụ du lịch. Nghe nói, một cựu Phi công Mỹ khi đến thăm lại Hỏa Lò đã thốt lên tiếc rẻ: Nếu biết trước, với cương vị là Giám đốc một Công ty giàu có, ông ta sẽ bỏ tiền ra mua toàn bộ khu đất này và đề nghị với Chính phủ Việt Nam cho giữ lại nguyên trạng của Hỏa Lò xưa, rồi cải tạo, đầu tư biến nó thành một địa điểm du lịch đặc sắc. Sau đó, chỉ cần lần lượt tổ chức cho mấy trăm Phi công Mỹ từng là cựu ''công dân Hỏa Lò" 40 năm về trước cùng thân nhân và bạn bè của họ đến thăm. Khách sẽ được mời ngủ lại một vài đêm, cùng thưởng thức món phở Hà Nội, hoặc đậu phụ luộc chấm mắm tôm... thế là chủ chỉ còn việc tha hồ mà ngồi đếm đô-la mệt nghỉ. Ịrhật đúng là một sáng kiến kinh doanh kiểu... Mỹ!

        Nếu như trước đây cánh cửa đen sì của Hỏa Lò chỉ mở khi các chiến sĩ Cảnh sát dẫn giải các bị cáo ra Tòa án xét xử, tiếp nhận phạm nhân mới, hoặc chuyển trại cho phạm nhân; ai muốn vào thăm nuôi phạm nhân cũng phải đến đúng ngày giờ và được phép của cán bộ quản lý trại thì bây giờ quý vị và tôi có thể vào... dạo chơi ở tất cả các phòng giam trong Hỏa bất kể lúc nào, miễn là khi nó... mở cửa!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2015, 04:51:16 AM
        Ngay ngoài cổng chính, bên dưới vòm cửa có dòng chữ MAISON CENTRALE (dấu tích của người Pháp để lại từ khi có trại giam Hỏa Lò), người ta đã dựng một tấm biển Nội quy nền trắng, chữ đỏ và đen kẻ nắn nót, với nội dung mời chào quý khách đến tham quan di tích lịch sử này vào tất cả các ngày trong tuần (trừ thứ Hai).

        Chỉ hơi tiếc một điều là phần trưng bày về các tù binh Phi công Mỹ còn rất ít và quá sơ sài. cả "khách sạn Hilton Hà Nội" xưa chỉ còn thu lại trong hai cần phòng nhỏ khoảng 10 mét vuông. Nơi đây, bạn có thể được chiêm ngưỡng một chiếc giường cá nhân với đầy đủ chiếu, chăn, màn... một chiếc hòm kính với những giày, dép, sách vở, lưới bóng bàn... mà những tù binh Phi công Mỹ đã sử dụng năm xưa. Ngoài ra, còn một số tấm ảnh chụp cảnh sinh hoạt thường nhật của các Phi công Mỹ trong tù như: nấu ăn, nhận quà thăm nuôi, xem thư nhà, cầu nguyện trong nhà thờ, v.v...
Trước ngày Hỏa Lò bị phá để giải phóng mặt bằng xây dựng vài tháng, có một đoàn làm phim chuyên nghiệp của nước ngoài, được trang bị rất hoàn chỉnh đến làm phim tư liệu tại Hỏa Lò. Bộ phim được mang một cái tên nghe hơi "gò bó", nhưng thiện ý và xây dựng: Tết Việt Nam, hòa giải, có thể nói, đây gần như là một sự "đặc ân". Bởi vì trước đó khu "cấm địa" này chưa hề có tiền lệ cho ai được tự do quay phim chụp ảnh. Những phóng viên ta "xịn", bình thường đi qua khu phố này, trước cánh cửa sắt nặng nề xám xịt và bức tường đá lạnh băng... đôi lúc còn có tâm trạng ngại ngùng, chứ đừng nói gì đến phóng viên của Tây, lại còn dám hành nghề đàng hoàng nữa! Một chuyện lạ kỳ hết sức kể từ khi ngôi nhà số Một của Hỏa Lò được sinh ra, chí ít là từ khi nó thuộc sự quản lý của chính quyền ta! Và còn một điều đặc biệt hơn, các diễn viên đóng vai chính cho bộ phim này đều mang quốc tịch Mỹ và là "cựu công dân Hỏa Lò" năm xưa. Đó chính là sáu Phi công Mỹ đã từng "làm khách" bất đắc dĩ ở Hỏa Lò trong những năm chiến tranh. Họ được đạo diễn đưa thẳng từ sân bay quốc tế Nội Bài về để gặp lại Hỏa Lò lần lượt từng người một, trong khi máy quay phim đã được bố trí đón sẵn để chớp luôn sắc thái, tâm trạng, giọng nói... của những người trong cuộc.

        Ông Pullman, vừa là đạo diễn vừa kiêm luôn quay phim "Tết Việt Nam, hòa giảỉ" bảo: "Nểu thuê diễn viên chuyên nghiệp, giỏi lắm cũng chỉ thể hiện được 60% tinh thần của kịch bản và đạo diễn, còn đây, tất cả đều thật 100%! Kê’ cả nụ cười và những giọt nước mắt."

        Một "diễn viên" hết sức quen thuộc mà bạn đọc đã biết: Trung uý Everett Alvarez, người Phi công có "thâm niên" tù binh đáng nể của Hỏa Lò, đã sắp bước sang tuổi 60, tóc bạc quá nửa đầu. Sau bao năm xa cách, giờ được gặp lại "cảnh cũ, người xưa", ông Alvarez xúc động không nói nên lời, mắt rưng rưng ứa lệ, tay run run chạm vào những chiếc chấn song sắt cũ kỹ và đứng lặng đi hồi lầu trước cần phòng giam quen thuộc năm ấy... Người viết bài này chợt nghĩ: Giá như hồi đó Tổng thống Bill Clinton được tận mắt chứng kiến cảnh đó, thì hẳn Chính phủ của ngài sẽ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ khi mới lên nắm quyền kia!

        Một tối đầu tháng 9 năm 1998, tôi được nhà văn Xuân Ba (tác giả của thiên phóng sự nổi tiếng một thời "Hỏa Lò tò mò... ký") dẫn đến thăm nhà ông 'Thổ công" của đất Hỏa Lò nhiều năm: Thượng tá Nguyễn Văn Hoắc, (hồi đó, ông Hoắc đã đeo lon Thượng tá công an gần 6 năm!). Vị giám thị ''Xứng danh anh hùng" của Trại Tạm giam công an Thành phố Hà Nội đang đợi chúng tôi, nhờ một cú "phôn" hẹn trước. Thật ra, cũng đã có vài lần tôi có dịp tiếp xúc làm việc với ông Hoắc, nhưng toàn là chỗ tập thể và đông người. Đây là lần đầu tiên tôi tìm đến "tư dinh" của Thượng tá Hoắc. Không hiểu sao, trong tưởng tượng của tôi, chắc chắn nó phải là một biệt thự rất oách nằm trên một đường phố lớn của Thủ đô. Nhưng không, tôi đã nhầm và không ngờ trí tưởng tượng của mình lại kém đến thế! Anh Xuân Ba đã dẫn tôi đi vòng vèo bỏ qua hết các đường phố cổ của Hà Nội rồi... chui qua gầm cầu Long Biên và... leo lên bờ đê sông Hồng... Thì ra, nhà của ông Thượng tá giám thị ở mãi tận... "Quân khu bãi sông"!

        Người ta thường đồn: Đã có hộ khẩu thường trú ở "ngoài đê" thì khiếp lắm! Các hộ dân ở đây, đến mùa mưa hàng nầm cứ lo nhoi nhói. Mỗi khi đài báo có lũ về là đêm nằm thấp thỏm, ăn ngủ chẳng yên. Nhà ông Hoắc cũng vậy. Nơi gia đình ông định cư bây giờ, trước vốn là cái ao rau muống, lẫn với bèo tây và rác rưởi; bùn và nước tù đọng đen ngòm, sâu đến mấy mét; còn nếu xét về mặt ô nhiễm, mất vệ sinh thì phải cỡ... nhất nhì xóm bãi! Chật vật mãi, cuối cùng vợ chồng ông Hoắc cũng san lấp được cái vũng bùn ấy và dựng lên một ngôi nhà nhỏ ở tạm. Nghe bảo, có lần ông dẫn bạn thân về nhà mình chơi, nước lũ về trước lúc nào không biết đã dâng ngập hết lối vào, thế là họ đành phải kê ghế, ngồi chồm hỗm trên đống gạch ngoài cổng mà tiếp chuyện nhau...

        Nhưng đó là chuyện của nhiều năm về trước. Rất mừng là sau đó vợ chồng ông Hoắc đã dồn sức tôn cao được cái nền nhà và xây lên tầng đàng hoàng, nên giờ đã có thể... "kê cao gối mà ngủ ngon" trong mùa mưa lũ.

        Biết chúng tôi tìm đến nhà không ngoài chuyện về các tù binh Phi công Mỹ, Thượng tá Hoắc nói ngay:

        - Hồi tù binh Phi công Mỹ bị giam giữ ở Hỏa Lò, tôi chưa về. Mãi tới năm chín mươi tôi mới được trên điều động đến tiếp quản nơi đó, thì "khách sạn Hilton Hà Nội" có còn vị khách nào đầu!

        - Nhưng chính bác là người đã nhiều lần được tiếp các cựu tù binh Phi công Mỹ đến thăm Hỏa Lò! - Xuân Ba khắng định như đinh đóng cột.

        - Cũng có đón tiếp, nhưng đâu phải nhiều lần! - ông Hoắc cải chính ngay - Họ ngó nghiêng bên ngoài chụp ảnh thì nhiều, còn chính thức thì chỉ có hai lần thôi. Lần đầu, là một đoàn phóng viên và làm phim đến quay phim tài liệu. Anh Xuân Ba là người được chứng kiến, đã kể hết chuyện ở trên báo rồi. Còn lần thứ hai, người đến thăm chúng tôi là ông John McCain.

        - Ông John McCain nào? có phải là "cậu ấm" (có bố đẻ và ông nội đều là Đô đốc trong quân đội Mỹ) đã bị bắn rơi xuống hồ Trúc Bạch năm xưa?

        - Thì chính là ông ấy chứ còn ai nữa! Nghe giới thiệu, bây giờ ông ấy đã đeo lon Trung tướng và là Thượng nghị sỹ Mỹ. To lắm! Cấp trên báo trước cho chúng tôi là ông ấy có nguyện vọng được vào thăm lại căn phòng giam cũ. Khổ quá, tra sổ mới biết cần phòng đó đẵ được bố trí làm phòng làm việc của anh em cán bộ quản lý trại. Cực chẳng đã, chúng tôi đành phải chiều theo ý muốn của ông ấy bằng cách cùng nhau... khiêng hết cả giường tủ bàn ghế ra ngoài, để ông John McCain vào thăm và xác nhận đúng là căn phòng mình đã ngồi "bóc lịch" năm xưa. Hẳn là ông ấy đã hài lòng lắm, nên lúc chia tay cứ luôn mồm "Thanh-kiu-ve-ry-mát" chúng tôi mãi... - Ông Hoắc cất tiếng cười vang, thoải mái.

        Thượng tá Hoắc là người rất xởi lởi và hay chuyện. Một điều lạ nữa là ông rất mê thơ, thích bình thơ và còn... thuộc nhiều thơ tình. Phàm là những người có tính ấy, thường rất thiện tâm, chẳng thể làm điều ác cho ai bao giờ!

        - Thế còn cái vụ Phi công Mỹ cứu nhau ở sơn Tây lúc nửa đêm... Bác có biết gì không?

        - Hồi đó tôi còn đang là lính đặc công đánh nhau ở chiến trường, làm sao biết được. Tốt nhất là các anh cứ tới... Sơn Tây mà hỏi!

        Vậy là chúng tôi quyết định tìm đến Sơn Tây, không phải một lần mà rất nhiều lần, gặp nhiều nhân chứng, thu thập được khá nhiều tài liệu thú vị...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2015, 04:59:08 AM
 
        ... Đến Trại giam "Hy Vọng"


        Thị xã Sơn Tây cách Hà Nội khoảng 40 km về phía tây. Người Mỹ sẽ không bao giờ để ý và quan tâm đến cái thị xã hiền lành xinh đẹp này nếu như nơi đây không có một trại giam nhỏ. Đó là trại giam Xã Tắc nằm trên địa phận của xóm Cầu Cộng, thôn vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ), giờ thì tất cả khu đó đã cùng Hà Tây sáp nhập về Hà Nội rồi

        Khởi đầu, nơi đây vốn là trại cải tạo và giam giữ thường phạm của Ty Công an Sơn Tây. Trại được xây dựng hết sức đơn giản, chỉ có mấy dãy nhà cấp bốn, lợp ngói đỏ, xung quanh có bức tường rào cao khoảng ba mét bao bọc. Nằm giữa cánh đồng lúa, có đê điều bao quanh, mùa mưa Xã Tắc luôn bị đe dọa vì nước dâng lên sẽ ngập lụt. Hồi đó, nơi đây còn rất vắng vẻ, hầu như chưa có hộ dân nào ở. Từ thị xã Sơn Tây muốn vào Xã Tắc phải qua một chiếc cầu nhỏ bắc qua sông Tích. Đó là con đường độc đạo, khá hiểm yếu xét về mặt bố phòng quân sự.

        Nầm 1965, sau khi tái lập tỉnh mới, trại giam Xầ Tắc do Công an Hà Tây quản lý. Một thời gian sau, trại này được giao cho Quân đội mượn và nó được sử dụng làm một nhiệm vụ rất đặc biệt: Trông coi vài chục tù binh Phi công Mỹ. công việc này được giữ gìn hết sức bí mật. Đến mức, người dân xung quanh Xã Tắc và ở thị xã sơn Tây hồi đó chỉ được thông báo đây là một cái "kho chứa hàng quân sự" quan trọng, được bộ đội ta canh giữ đêm ngày hết sức cẩn mật. Người ta thường đồn đại và đoán già đoán non rằng: trong xã Tắc đang cất giữ một số "hàng ngoại" rất có giá trị. Nguyên tắc bảo vệ nơi đây được thực hiện nghiêm ngặt theo kiểu "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Đêm đêm, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy những chiếc xe ô tô quân sự được che đậy kín mít, lặng lẽ ra vào "kho" để giao và nhận "hàng".

        Bây giờ thì cái "kho hàng quân sự" ấy và cả số "hàng ngoại" kia cũng không còn gì phải bí mật nữa. Tù binh Phi công đã được Chính phủ Việt Nam trao trả hết cho phía Mỹ sau Hiệp định Paris năm 1973.

        Những Phi công Mỹ đã bị bắn rơi và bị ta bắt như thế nào? Họ được giam giữ ở những đâu?... Hẳn những cựu tù binh Mỹ chưa ai quên. Những buồn vui, kỷ niệm không phai mờ khiến nhiều người trong số họ khi về nước đã kể chuyện, đã viết hồi ký, đã làm phim... và những tù binh Phi công Mỹ đã từng ở trại giam sơn Tây năm 1970 cũng thế.

        Người vỉết bài này không những có điều kiện gặp gỡ trực tiếp với các nhân chứng của Vụ tập kích sơn Tây ở Việt Nam đang còn sống; mà còn may mắn tiếp xúc với khá nhiều tài liệu, những hồ sơ lưu trữ đã một thời được coi là tuyệt mật từ phía Mỹ... để phục vụ bạn đọc.

        Tù binh Phi công Mỹ đã báo cho "Lâu Năm Góc" nơi
        họ bị giam giữ ở sơn Tây bằng cách nào?


        Cuối tháng 12 năm 1968, Thiếu tá không quân Elmo Baker cùng mười một tù binh Phi công khác được di chuyển từ khách sạn "Vỡ Tim" đến một trại giam mới, trong một đêm tối trời. Cùng một chuyến xe ấy có cả Đại uý Carrigan. Thật khó đoán được họ đã đi xa bao nhiêu cây số, vì con đường toàn ổ voi, ổ gà xấu khủng khiếp. Ngược chiều với xe chở tù binh, thỉnh thoảng họ lại gặp một vài chiếc xe quần sự kéo pháo cao xạ, và có cả xe kéo tên lửa SAM đi về hướng thành phố...

        Khi đã nằm im trong cần buồng giam vắng lặng, Baker đã nghĩ ra cách đánh "moóc" gõ vào tường để liên lạc với những tù binh ở phòng bên cạnh. Baker thông báo với những người bạn xung quanh rằng anh ta bị bắn rơi trong chuyến bay thứ 61, khi cùng phi đội đi ném bom Bắc Giang - một thị xã nhỏ cách Hà Nội khoảng 50 km. Baker tự giới thiệu mình năm nay 35 tuổi, quê ở thành phố Kenneth, đã đỗ tiến sĩ về điện và có bằng cử nhân văn chương. Anh ta đã may mắn thoát ra khỏi chiếc "Thần Sấm" F-105, khi nó bốc cháy và sắp nổ tung. Nhưng khi chiếc dù vừa giúp Baker tiếp đất thì bị bắt ngay... Anh ta bị thương rất nặng và đã được các bác sĩ Việt Nam cứu chữa ở bệnh viện Bạch Mai suốt 30 ngày liền. Baker cũng không quên thông báo rằng trước khi được đưa đến đây, anh ta đã có thâm niên hai mươi bảy tháng nằm "bóc lịch" trong trại tù bỉnh của quân đội nhân dân Việt Nam ở Hà Nội...

        Ở một buồng giam bên cạnh, một người bạn tù cũng đã dùng cách gõ "moóc" vào tường tự giới thiệu với Baker:

        - Tôi là Thiếu tá không quân Irby David Terrell, bị bắn rơi từ tháng Một năm 1968.
Baker mừng quá, hỏi luôn:

        - Đây là đâu?

        Phòng bên kia cho biết:

        - Đây là trại giam Hy Vọng, thị xã sơn Tây.

        - Tại sao lại gọi là trại "Hy Vọng?"
        - Đó là cái tên do những tù binh ở đây tự đặt trong ngày Lễ Tạ ơn Chúa năm 1968.
        Lại hỏi tiếp:

        - Có đông tù binh ở đây không?

        Trả lời:

        - Khoảng vài chục người...

        Bằng cách gõ vào tường như thế, dù có hơi chậm một chút nhưng Baker đã trao đổi được khá nhiều thông tin cần thiết với những người bạn tù xung quanh. Cuộc trò chuyện của họ chỉ chấm dứt khi có cán bộ của trại tù binh đi kiểm tra bên ngoài và thay gác...

        Buổi sáng hôm sau, Baker rất ngạc nhiên khi anh ta được tự do ra sân làm vệ sinh, tắm giặt. Thì ra các tù binh ở đây vẫn có điều kiện tiếp xúc với nhau. Ban ngày, họ thường được giao cho làm những việc lặt vặt ngoài sân trại như đập gạch, đào rãnh, chuyển vật liệu xây dựng... Chiều tối, họ được tự do đánh bóng chuyền, bóng rổ và chơi thể thao trong sân trại. Không khí tại đây có vẻ thoáng đãng, dễ thở hơn khách sạn "Vỡ Tim" ở Hà Nội nhiều. Chí ít là những tù binh mới đến đều có cảm nhận như thế!

        Số tù binh Phi công Mỹ được đưa về sơn Tây ngày càng nhiều hơn. Trại "Hy Vọng" đang được nới rộng ra bằng cách xây thêm một số bức tường chắn bao quanh, khu nhà bếp, nhà ăn và bể nước để tắm giặt, và các tù binh cũng được tham gia xây dựng, góp phần tạo nên những ngôi nhà cho chính mình.

        Các tù binh Phi công Mỹ đã thông báo cho nhau biết: Dù bị bắt làm tù binh thì tới niên hạn họ vẫn được xét tăng lương và thăng quân hàm bình thường như đang "tại ngũ". Các tù binh thường bí mật tập hợp nhau lại thành từng nhóm giúp đỡ, động viên nhau trong sinh hoạt. Ai có quân hàm cao nhất, hoặc thâm niên lâu hơn thì được bầu là "Sĩ quan trưởng nhóm" để chỉ huy chung. (Ví dụ: Trước khi cuộc tập kích sơn Tây diễn ra, Trung tá Hải quân Clower đã được các tù binh bầu là "Sĩ quan trưởng nhóm" của trại tù binh này. Và mặc dù đã bị phía Việt Nam bắt và ngồi tù, nhưng ông ta vẫn được xét và phong Đại tá).


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2015, 11:19:07 AM
        Baker cùng một số người khác được giao cho mỗi người ínột ống sắt nhỏ để đập gạch vỡ, phục vụ cho việc xây dựng. Từ những âm thanh bắt buộc, buồn tẻ và đơn điệu, Baker đã nảy ra sáng kiến lợi dụng việc đập gạch để biến nó thành tiếng moóc thông báo tin tức và trò chuyện với những tù binh khác, ví dụ, anh ta thông báo việc một nhóm tù binh 20 người mới Ịrược chuyển từ khách sạn "Vỡ Tim" Hà Nội đến đêm qua. Baker cũng không quên báo cho các tù binh khác biết rằng cách thông tin với nhau bằng tín hiệu "moóc" rất hay, vì những người lính Bắc Việt bảo vệ trại giam hoàn toàn không để ý đến, hoặc không biết!

        Công việc lao động của các tù binh Phi công Mỹ ở trại "Hy Vọng" tuy không có gì vất vả, nhưng cũng chẳng lấy gì làm thú vị, nhất là đối với những "người hùng" chỉ quen "lướt mây cưỡi gió" trên trời cao.

        Lại một mùa đông nữa đến với trại "Hy Vọng" ở Sơn Tây.

        Trời cứ mưa rét dai dẳng, khiến cho không khí ẩm ướt rất khó chịu. Nước sông Tích vẫn còn dâng cao sát tường rào của trại, cơ hồ như sắp lụt đến nơi. với các tù binh Phi công, mùa đông nơi đây thật khắc nghiệt và gay gắt.

        Chiến tranh đã tàn phá đất nước Việt Nam mấy chục năm, nên đời sống của bộ đội và nhân dân Việt Nam ngày đó cũng còn bao khó khăn cơ cực. Mặc chưa đủ ấm, ăn chưa đủ no, bữa cơm thường nhật của các gia đình đều phải dùng thứ độn nhiều hơn gạo; nhưng vẫn cùng nhau thắt lưng buộc bụng và gồng mình, dồn sức cho chiến trường đánh giặc...

        Ông Lê Việt Tiến, nguyên Phó trưởng Ty công an Hà Tây nhớ lại: Mỗi tù binh Phi công Mỹ ở trại "Hy Vọng" của Sơn Tây hồi đó vẫn được hưởng mức ăn tới 7 đồng mỗi ngày. (Đây thực sự là một cố gắng rất lớn của Chính phủ ta, nếu bạn đọc biết rằng một cán bộ của Ty công an Hà Tây hồi đó ăn bếp tập thể chỉ với chế độ... 0,5 đồng một ngày; còn ông Trưởng Ty Công an tỉnh thì lĩnh lương tháng cộng tất tật các khoản cũng chỉ vẻn vẹn có... 115 đồng!). Tuy nhiên, dù đẫ cố gắng rất nhiều trong việc thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ, thì nơi đây vẫn là thiếu thốn đủ thứ tiện nghi sinh hoạt đối với họ.

        Ước mơ lớn nhất của các tù binh ở trại "Hy Vọng" là sớm được trở về đoàn tụ với gia đình. Họ tự hiểu rằng việc ''vượt ngục trốn trại" ở đây chỉ là chuyện điên rồ và vô vọng!

        Một lần, đại uý Richard Brenneman lợi dụng việc chôn cột bóng chuyền đã trèo lên cao để nhìn ra ngoài qua bức tường rào. Anh ta phát hiện ra vị trí của trại "Hy Vọng" nằm biệt lập giữa cánh đồng, rất xa khu vực dân cư.

        Một số tù binh khác cũng nhân lúc bộ đội ta canh gác sơ hở đã trèo lên tường rào nhìn vội ra ngoài... Rồi họ đã cùng chắp nối lại những gì quan sát được. Họ đã hình dung ra nơi họ bị giam nằm giữa cánh đồng lúa, có đê điều bao quanh và rất gần một dòng sông; cách vài trăm mét về phía nam còn có cả một trạm biến thế điện, xa hơn nữa là một khu nhà có vẻ như bệnh xá, trường học hay một trại an dưỡng gì đó. và ngoài tường rào phía tây của trại là một trạm bơm nhỏ...

        Một tù binh bỗng nêu lên ý nghĩ: Giá như có một lực lượng "giải thoát"? Đúng, chỉ có cách giải thoát là biện pháp tốt nhất! Nhưng làm cách nào để có được lực lượng đến giải thoát nơi đây?

        Các tù binh Mỹ đều biết rằng, hầu như tuần nào cũng có máy bay trinh sát bay qua vùng trời này để chụp ảnh, phát hiện các mục tiêu cần đánh phá trên miền Bắc Việt Nam. vậy thì phải tìm cách báo hiệu cho các chuyên viên nghiên cứu ảnh biết nơi đây là trại giam tù binh Mỹ... Bởi vì nếu nhìn từ trên không xuống, với những dãy nhà nhỏ có tường bao quanh, Trại giam "Hy Vọng" cũng chỉ giống như một trường học, một nhà kho, hay một nông trại dùng để nhốt gà vịt bình thường khác.

        Hy vọng "có thể được giải thoát" đã loé lên trong đầu mỗi tù binh, và họ đã bàn nhau tìm mọi cách để báo cho các máy bay trinh sát của quân đội Mỹ chụp ảnh được tín hiệu cấp cứu và lời khẩn cầu của họ.

        Lợi dụng những khi lao động đào giếng, đào rãnh và chuyển đất đá, các tù binh Phi công Mỹ đã cố tình đổ đất mới tạo nên những hình ảnh khác thường.

        Thậm chí khi phơi quần áo sau lúc tắm giặt họ cũng nghĩ cách làm sao để tạo thành các chữ viết tắt như SOS (cấp cứu), K (hãy đến cứu chúng tôi), hay SAR (tìm và giải thoát), để các chuyên gia nghiên cứu ảnh chụp từ máy bay dễ nhận thấy nhất...
Và tất cả những sự cố gắng nỗ lực đó đã không phải không có tác dụng!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2015, 02:58:59 PM
       
        Các chuyên gia của "Lầu Năm Góc"
        đã phát hiện ra Trại Tù binh Phi công Mỹ
        ở Sơn Tây như thế nào?


        Tháng 10 năm 1966, sau hơn hai năm tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, lực lượng Không quân Mỹ đã bị thiệt hại nặng nề. Phía Mỹ cho rằng họ đã có tới 264 Phi công bị bắn rơi. Nhưng một điều rất đáng lo ngại là trong số 264 Phi công đó, chỉ có một số người "may mắn" được phía Việt Nam bắt sống. Số còn lại được coi như đã mất tích trong lúc thi hành nhiệm vụ.

        Trước sự thúc ép của dư luận, nhất là của gia đình các Phi công, một cuộc họp bất thường đã được Bộ Quốc phòng Mỹ tổ chức với thành phần gồm một số chuyên viên tình báo và chuyên viên giải thoát tù binh của nhiều đơn vị hữu quan. Mục đích của cuộc họp là tìm ra được phương pháp hữu hiệu thu thập thông tin về tù binh Phi công Mỹ bị bắt và bị mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ. Trước mắt, có hai việc cần phải tiến hành ngay: Thứ nhất, xác định danh sách những Phi công sau khi bị bắn rơi đã bị bắt làm tù binh, để mối quan tâm lo lắng của gia đình họ được vơi đi phần nào. Thứ hai, xác định được vị trí của những trại tù binh Phi công để đưa chúng ra ngoài mục tiêu ném bom bắn phá của quân đội Mỹ. Họ rất sợ vì "dư thừa bom đạn", nên không khéo sẽ xảy ra chuyện ''gậy ông lại đập lưng ông"! Và sau này, chính điều sợ hãi của người Mỹ ấy đã được phía Việt Nam tận dụng để "tương kế, tựu kế": dùng nơi giam giữ Phi công Mỹ đe bảo vệ các mục tiêu trọng yếu nhất: ví dụ trại giam khu vực Fafim cạnh Ngã Tư Sở rất sơ sài (Phi công Mỹ gọi hài hước là "Sở Thú") có tác dụng bảo vệ Khu công nghiệp lớn Cao-Xà-Lá cùng Nhà máy công ; cụ số 1, lớn nhất của Hà Nội hồi đó. Còn trại giam ở phố Lý Nam Đế thì để bảo vệ khu vực "Nhà Con Rồng" - cơ quan đầu não của Bộ Quốc phòng...

        Kể từ đó, những cuộc họp có nội dung như trên đã được thường xuyên tổ chức hàng tuần tại Trung tâm không quân của Lầu Năm Góc. Chủ tọa các phiên họp này do CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) và DIA (Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ) phối hợp; tham gia còn có đại diện các cơ quan khác như Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, FBI (Cục Điều tra Liên bang), cơ quan Mật vụ và cả đại diện của Bưu điện Liên bang Mỹ...

        Đồng thời với những cuộc họp được thường xuyên tổ chức đó là một chiến dịch săn lùng, kiếm tìm ráo riết của các lực lượng tình báo và kỹ thuật Mỹ, được huy động với hết khả năng và điều kiện cho phép, và trong cuộc chạy đua này, một ịđơn vị tình báo hoạt động trên mặt đất của Không quân Mỹ mang bí số 1127 đã về đích đầu tiên.

        Trụ sở của đơn vị 1127 nằm tại căn cứ Fort Belvoir, cách Nhà Trắng chỉ khoảng 20 km và được bảo vệ hết sức cẩn mật. Làm việc cho đơn vị đặc nhiệm 1127 là những chuyên gia sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm trong số các nhân viên tình báo nhà nghề Mỹ. Họ có nhiệm vụ khai thác tin tức từ các binh sĩ của Liên Xô (cũ) cùng các nước Đông Âu đào ngũ và cả các tù binh bị quân Mỹ bắt được trong chiến tranh Việt Nam...

        Trong đơn vị 1127, có một bộ phận làm nhiệm vụ chuyên nghiên cứu việc giải thoát các tù binh, trong đó có tù binh Phi công Mỹ bị đối phương bắn rơi, kể cả việc soạn thảo kế hoạch đột kích giúp tù binh Mỹ thoát khỏi trại tù... Tại đơn vị đặc nhiệm 1127, trong khoảng thời gian những năm 1966 - 1970, các chuyên gia đã xử lý, phân tích hàng núi tài liệu tình báo, được thu thập bằng rất nhiều nguồn, từ khắp nơi trên thệ giới gửi về.

        Vào khoảng cuối năm 1968, qua sàng lọc các nguồn tin, các chuyên gia Mỹ cho rằng có một Trại Tù binh Phi công được giam trong một căn cứ có tường kín bao quanh, cách Hà Nội vài chục cây số về phía tây. Tuy nhiên, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng họ vẫn không xác định được chính xác vị trí cụ thể của trại tù binh ấy.

        Ngày 9 tháng 5 năm 1970, một chuyên viên kỹ thuật tình báo tên là Collinsbell, một tay già dặn trong nghề, đã có nhiều năm làm việc tại Lào, vốn nổi tiếng là ngườỉ kiên nhẫn tìm tòi... bằng việc tổng hợp suy đoán từ các tin tức tình báo cộng với việc phân tích các bức không ảnh do máy bay trinh sát chụp được, ông ta đã quả quyết khám phá ra điều nóng hổi mà cả cơ quan tình báo Mỹ đang mong chờ: có ít nhất hai trại giam tù binh Phi công Mỹ tại phía tây Hà Nội. Một trong hai trại đó nằm ở thị xã sơn Tây, cách Hà Nội khoảng 40 km!

        Cũng cần phải nói thêm rằng trước đó, Collinsbell đã báo cáo những dấu hiệu nghi vấn này cho đại tá George J. Iles, người đặc trách bộ phận "vượt ngục và trốn thoát" của đơn vị đặc nhiệm 1127. Đại tá George J. Iles cũng đấ kiên trì dày công tìm tòi, đồng thời so sánh các bức không ảnh chụp vùng thị xã sơn Tây. và ông ta cũng đi đến kết luận giống hệt và gần như cùng một thời điểm với Collinsbell.

        Vậy là người Mỹ đã có cớ để ăn mừng thành công bước đầu! Họ lập tức huy động các chuyên gia giỏi nhất tập trung nghiên cứu vùng sơn Tây. Sau khi phân tích, so sánh rất nhiều các bức không ảnh cũ và mới do máy bay trinh sát chụp được, họ đều có kết luận giống nhau: Các dấu hiệu của trại giam tù binh Phi công rất rõ. Trong nhiều bức không ảnh, các chuyên gia đã chẳng khó khăn gì, đọc được rất rõ các ký hiệu cầu cứu giải thoát SOS, K và SAR... do các tù binh Phi công tạo nên. Các bức ảnh chụp kiểu phơi quần áo, cách đổ đất đá... với những hình thù kỳ lạ đều chứa đựng những thông tin cần thiết.

        Chắp nối và tổng hợp lại, các chuyên gia tình báo quân sự Mỹ đã có cả một sơ đồ thực sự để nhận biết và có kế hoạch giải thoát cho tù binh. Để chắc chắn hơn, họ đã sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ tình báo nhằm xác minh độ chính xác của trại tù binh Sơn Tây. ví dụ, qua các thông tin mà một số đoàn khách quốc tế được phép vào Việt Nam vì mục đích hòa bình tiết lộ, qua lời kể của một số tù binh Phi công được phía Việt Nam trao trả sớm, qua thư từ mà các tù binh Phi công vẫn gửi về cho gia đình họ và thậm chí thông qua cả một số sỹ quan của quân đội ngụy Sài Gòn có quê gốc ở vùng Sơn Tây nhớ lại, vẽ thành sơ đồ...



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Một, 2015, 09:44:42 AM
        Vấn đề còn lại chỉ là tìm cách thuyết trình, báo cáo để Lầu Năm Góc có kế hoạch quyết định cho số phận của các Phi công Mỹ đang được giam giữ ở trại "Hy Vọng" thị xã Sơn Tây!

        Đây là kết quả sau nhiều ngày làm việc của Nhóm công tác theo dõi và xét duyệt vấn đề tù binh, thuộc thành phần đặc biệt của Bộ Tham mưu. Để có buổi thuyết trình với sự có mặt của rất nhiều tướng lĩnh chóp bu của Lầu Năm Góc, Nhóm công tác đã phải lần lượt tìm cách "mở khóa từng cửa" một.

        Trước hết, họ liên lạc qua điện thoại để xin được thuyết trình bản kế hoạch của mình cho Trung tướng Rossky, Phụ tá Tham mưu trưởng Không quân. Rất may là ông này đã sốt sắng ủng hộ và cả quyết rằng: Kế hoạch giải thoát cho tù binh nhất định sẽ được thi hành! và ông ta giao cho Thiếu tướng James Allen Phó giám đốc Kế hoạch - Chính sách của phòng 4D-1062 lo việc này.

        Tuy nhiên, không phải là đã hết những ý kiến nghi ngờ. Thậm chí đã xảy ra những cuộc tranh luận quyết liệt giữa các chuyên gia phân tích tình báo của Không quân Mỹ và giữa các thành viên của nhóm IPWIC (Uỷ ban Tình báo Tù binh Liên cơ quan) do DIA cầm đầu.

        Câu hỏi được đặt ra là: Tại sao phía Việt Nam không giam giữ tù binh ngay tại Hà Nội cho dễ quản lý? Tại sao họ lại đưa các tù binh Phi công lên mãi Sơn Tây, ở một nơi hẻo lánh như vậy? Phải chăng đây chỉ là sự vô tình hay một cái bẫy cố ý?

        Song, dù có cãi nhau hăng thế nào thì người ta vẫn không thể phủ nhận một điều: Tù binh Phi công Mỹ đang được giam giữ tại thị xã Sơn Tây là có thật! và việc xác định, tìm kiếm đã thành công! Vấn đề còn lại là tìm cách giải thoát cho họ ra khỏi trại giam đó...

        Ai sẽ giải cứu cho Tù binh Phi công Mỹ và giải thoát bằng cách nào?

        Để có đáp án cho câu hỏi trên, Thiếu tướng James Allen đã liên lạc với SACSA. Đây là một đơn vị chuyên làm nhiệm vụ Chống phiến loạn và hoạt động đặc biệt. Tổng hành dinh của nó khá đồ sộ và nằm ngay dưới văn phòng của Chủ tịch Hội đồng tham mưu hỗn hợp.

        Phụ tá đặc biệt của SACSA là Thiếu tướng Donald Blackburn, ông này có một tiểu sử binh nghiệp khá đặc biệt: Sinh trưởng tại bang Florida. Trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, Blackburn có công tổ chức và chỉ huy một đơn vị du kích Philippines chiến đấu chống lại quân đội phát xít Nhật cho đến ngày thẳng lợi. Trở về nước, ông ta đeo lon đại tá khi mới 29 tuổi. Là một sỹ quan có uy tín và từng trải trong quân đội Mỹ, năm 1957, Blackburn đã từng được cử sang Nam Việt Nam làm cố vấn cao cấp cho một viên tướng nguỵ Sài Gòn. Năm I960, Blackburn được Tổng thống Mỹ John F. Kennedy giao nhiệm vụ tổ chức một nhóm quân sự tại Lào. và chính tại đây, Blackburn đã lần đầu tiên gặp Simons, người sau này đã được ông ta tiến cử với Lầu Năm Góc để chọn làm Chỉ huy cuộc tập kích cứu Phi công Mỹ tại sơn Tây.

        Dưới quyền chỉ huy của Phụ tá đặc biệt SACSA - Thiếu tướng Donald Blackburn còn có một nhân vật khá đặc biệt là Đại tá Mayer, chuyên viên điện tín bí mật, đồng thời cầm đầu một bộ phận hoạt động đặc nhiệm của SACSA.

        Ngày 25 tháng 5 năm 1970, Tướng Alien đã có cuộc bàn bạc với Tướng Blackburn và Đại tá Mayer. Sau khi thông báo cho nhau kết quả làm việc của nhóm nghiên cứu thuộc đơn vị 1127, Alien đã nhận thấy Blackburn rất xúc động. Hình như số phận đã chờ đợi để gắn bó con người này vào công việc đó. Alien hỏi Blackburn rất cụ thể:

        - Liệu có thể cử một toán điệp viên đến vùng sơn Tây trước được không? Bọn họ sẽ có nhiệm vụ xác minh các kết quả làm việc của 1127 trên địa bàn thực tế, sau đó có thể làm Việc "lót ổ" trước...

        Blackburn suy nghĩ rồi đáp:

        - Làm như vậy rất nguy hiểm. Theo tôi biết, hầu hết các điệp viên ta có trên Bắc Việt trước đây đều thuộc DIA chỉ huy. CIA cũng có một số cơ sở và căn cứ, nhưng chỉ hoạt động hạn chế trong vòng 20 cây số ở vùng biên, giới Lào - Việt. Chính Tổng thống Johnson đã quy định như thế! sứ mệnh giải thoát tù binh là do SACSA đảm nhiệm.

        Alien đã cắt ngang lời Blackburn:

        - Vậy nếu ta sử dụng một căn cứ của CIA tại Bắc Lào, rồi dùng trực thăng đưa một toán nhỏ lực lượng đặc nhiệm đến Sơn Tây?

        - Sử dụng trực thăng cùng đội đặc nhiệm? Một ý kiến hay đấy! - Blackburn tán thành.

        - Có nguồn tin khẳng định rằng: Một nhóm tù binh ở trại Sơn Tây thỉnh thoảng vẫn xuất hiện ở Ba vì để làm việc gì đó. Nếu toán điệp viên được ''lót ổ" trước phát hiện ra họ và điện cho trực thăng đến thì cuộc hành quân phải được thực hiện rất nhanh và nắm chắc phần thắng. Rồi những người được giải thoát sẽ nhanh chóng được đưa đến một căn cứ của chúng ta tại Thái Lan, để trở về trong vòng tay của gia đình họ...

        - Nhưng chắc gì toán điệp viên kia đến được Sơn Tây yên ổn. Rất có thể bọn họ sẽ bị lực lượng An ninh Việt Nam tóm cổ trước khi kịp hành động theo kế hoạch! Chúng ta đã từng trả giá đắt cho hành động này với những bài học cay đắng, chẳng nhẽ ngài quên rồi sao?

        Tuy Blackburn không nhắc lại nhưng Alien thừa hiểu ông ta muốn nói đến điều gì. Kể từ năm 1968, sau khi Tổng thống Johnson buộc phải tuyên bố đình chỉ các hoạt động của Không quân và Hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã không có quyền muốn làm gì thì làm như trước đó, kể cả việc phát động những cuộc hành quân đặc biệt hay đưa điệp viên xâm nhập. Thậm chí, công việc tiếp tế cho các toán điệp viên (CAS) đang hoạt động ở Bắc Việt Nam cũng bị Tổng thống Mỹ cấm. Chính điều đó đã dẫn tới việc có tới mấy chục điệp viên người Việt đã được tuyển dụng, huấn luyện kỹ càng trước khi tung ra miền Bắc hoạt động... đều bị người Mỹ bỏ rơi một cách nhẹ nhàng. Các toán CAS này đã sử dụng nhiều biện pháp liên lạc để cầu cứu các quan thày một cách tuyệt vọng. Họ chỉ cầm cự được thêm một thời gian ngắn, rồi kẻ bị bắt, người ra đầu thú, một số rất ít tìm cách vượt biên trốn được sang vùng rừng núi phía bắc Lào... và cũng kể từ đó, hầu như không có nguồn tin nào nhắc đến số phận bi thảm của họ nữa!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Một, 2015, 03:13:54 AM
        - Tôi giả thiết rằng khi toán điệp viên của ta được phái đến Sơn Tây bị lực lượng An ninh Bắc Việt bắt - Blackburn nói tiếp - Thì chuyện giải thoát cho các tù binh sau đó sẽ càng khó khăn gấp bội. còn việc đưa được đội đặc nhiệm bằng những chiếc trực thăng đến sơn Tây cũng đâu phải dễ! cứ cho rằng chúng sẽ bay thật thấp, luồn lách qua những thung lũng của
dãy núi Ba vì để tránh sự phát hiện của lực lượng phòng không Bắc Việt, và yếu tố bí mật bất ngờ sẽ khiến cho quân Bắc Việt ở Sơn Tây không kịp phản ứng... Thì vẫn còn những tay súng bảo vệ trại giam. Họ sẽ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm khó lường, và thương vong của lực lượng đặc nhiệm Mỹ là không thể tránh khỏi, thậm chí có thể bị tiêu diệt gọn nếu lực lượng này ít và yếu. vì thế, chúng ta phải có một lực lượng đủ mạnh, được tuyển chọn chu đáo, tập luyện kỹ càng, được trang bị đầy đủ và thiện chiến nhất!

        - Nếu vậy, việc giải thoát cho nhóm tù binh kia sẽ chậm và e rằng mất thời cơ?

        - Thế tại sao chúng ta chỉ muốn giải thoát cho một nhóm mà không quan tâm đến cả trại, nếu điều kiện cho phép?- Blackburn trả lời Tướng Alien bằng một câu hỏi. Sau đó ông ta bày lên bàn một loạt bức ảnh mà nhóm 1127 đã dày công chuẩn bị - Tôi cho rằng trại "Hy Vọng" ở thị xã sơn Tây ở một vị trí khá hẻo lánh và được coi như có nhiều sơ hở nhất. Chúng ta có thể tiến hành một trận tập kích bất ngờ vào trại Sơn Tây và bốc tất cả đi bằng trực thăng!

        Alien dường như đã bị nhữhg ý tưởng táo bạo của Blackburn chỉnh phục, ông ta ngồi im lặng, hồi lâu mới buông một tiếng "OK". Tuy nhiên, khó khăn đang chồng chất chờ đợi ở phía trước. Có rất nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưhg đều cực kỳ nan giải! Mà việc trước mắt là phải làm cho Lầu Nầm Góc tin và ủng hộ cho kế hoạch của họ.

        Thuyết trình... rồi lại... thuyết trình

        Cần nhớ rằng, vào thời điểm này, Mỹ đang sa lầy trong chiến tranh Việt Nam. Số lính Mỹ bị chết trận trung bình là 500 người mỗi tháng. Riêng tháng 5 năm 1970, có tới 754 lính Mỹ bị chết ở chiến trường Nam Việt Nam. và số quân dự trữ chiến lược ở các đơn vị trực tiếp tham chiến đã thiếu hụt tới mức báo động. Tổng thống Mỹ Richard Nixon rất sợ thêm tai tiếng xấu trước dư luận trong nước và thế giới. Cho nên Lầu Năm Góc không dễ gì thông qua kế hoạch giải thoát tù binh Phi công Mỹ của Blackburn và Mayer.
Cũng ngày 25 tháng 5 năm 1970, Blackburn và Mayer đã xin được gặp Tướng 4 sao Earle G. Wheeler, ông này là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân từ năm 1964, trước khi xảy ra cái gọi là "Sự kiện vịnh Bắc Bộ". Wheeler là một trong nhữhg người ủng hộ SACSA mạnh nhất. Trong thời gian McNamara còn làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, chính ông ta đã đệ trình giới thiệu nhiều kế hoạch hoạt động của SACSA rất thành công. Nghe thuyết trình xong, Wheeler đã thốt lên: "Lạy Chúa! Phải có bao nhiêu tiểu đoàn mới làm được việc này!". Tuy nhiên, Wheeler vẫn ủng hộ bằng cách giới thiệu Blackburn với Đô đốc Thomas Moorer, người sẽ thay thế chức vụ của ông nay mai.

        Được "bật đèn xanh", Blackburn và Mayer đã lập tức đề nghị Cục Tình báo quân đội Mỹ (DIA) giúp đỡ bổ sung thêm tin tức tình báo và phác họa một kế hoạch hành động, và chỉ một ngày sau, tức 26 tháng 5 năm 1970, DIA đã chính thức vào cuộc với sự ủng hộ tích cực của Trung tướng Donald Bennett Giám đốc cơ quan này.

        Ngày 27 tháng 5 năm 1970, Blackburn và Mayer lại đến gặp Trung tướng John Vogt, Chỉ huy cơ quan Hỗn hợp tác chiến của lực lượng Không quân Mỹ. ông này cũng đã thốt lên: "Lạy Chúa! Thế bao giờ anh báo cho Chính phủ biết công việc quan trọng này?'.

        Ngày 1 tháng 6 năm 1970, Tướng John W. Vogt và Tướng Bennett đã cùng nghe lại bản thuyết trình mới được bổ sung thông tin của Blackburn và Mayer. Bọn họ đã cùng cân nhắc bàn bạc rất kỹ từng phương án được nêu ra, với những tình huống rất cụ thể trong việc tập kích giải thoát tù binh Mỹ...

        Hôm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1970, Blackburn và Mayer lại được Tướng Wheeler tiếp và nghe lại bản thuyết trình lần nữa. Ông ta đã khẳng định ngay: "Tôi tin rằng không ai có thể từ chối đối với cuộc hành quân này!".

        Được phép của Wheeler, chiều ngày 5 tháng 6 năm 1970, tại một phòng họp đặc biệt có tên là "TANK", Blackburn và Mayer đã thuyết trình kế hoạch của mình cho Hội đồng Tham mưu trưởng hỗn hợp cùng nghe. Không một ai hỏi thêm câu nào. Các tướng Mỹ có mặt hôm đó đều đồng ý rằng SACSA cần thực hiện cho được kế hoạch này!

        Chưa hết, những ngày sau, Blackburn và Mayer còn phải thuyết trình thêm cho các Phụ tá tham mưu trưởng hỗn hợp, để tranh thủ sự ủng hộ của họ. (Vì mỗi vị này đều nắm trong tay cả sư đoàn quân!). Nhờ đó, sau này SACSA mới có thể yêu cầu được tuyển chọn người, trang bị các loại vũ khí, phương tiện và rất nhiều các khoản tiền chi đặc biệt theo yêu cầu, để phục vụ cho cuộc tập kích Sơn Tây.

        Để thuận lợi hơn trong khi hành sự, Blackburn và Mayer còn tìm đến Tổng hành dinh của CIA để gặp Phụ tá đặc biệt của Giám đốc về Đông Nam Á là George Carver cùng Phụ tá của ông ta. Công việc này cũng đã khiến cho họ tốn kém không ít thời gian.

        Và cuối cùng, ngày 10 tháng 7 năm 1970, tại Lầu Năm Góc đã có một cuộc họp đặc biệt với sự có mặt tham gia của rất nhiều tướng lĩnh cao cấp của Bộ Quốc phòng Mỹ: Đô đốc Moorer, tân Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân; Đại tướng Westmoreland, Tham mưu trưởng Lục quân; Đại tướng John Ryan, Tư lệnh lực lượng Không quân; Đô đốc Elmo Zum wait, Tư lệnh lực lượng Hải quân; Tướng Leonard F. Chapman, TƯ lệnh lực lượng Thuỷ quân lục chiến... Họ đã chăm chú lắng nghe thuyết trình về kế hoạch giải cứu tù binh Phi công Mỹ, để cùng nhau hoàn chỉnh, trước khi đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Melvin Laird...

        Một tuần sau, bản báo cáo kế hoạch khá hoàn chỉnh và chi tiết nói trên đã được đặt trên bàn Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ.

        Phản ứng đầu tiên của ông này là sự lo ngại về độ chính xác của các tin tức tình báo. ông ta tự hỏi: Liệu quân biệt kích Mỹ có thể tới được trại giam và ra khỏi nơi này không? vì nếu kế hoạch thất bại, thì chẳng những tù binh Mỹ ở Việt Nam không giảm đi mà còn tầng lên!...

        Tuy nhiên, cuối cùng Laird vẫn ra lệnh tiếp tục triển khai kế hoạch, ông ta không quên nhấn mạnh: Đây là một cuộc hành quân quy mô và cũng rất mạo hiểm, nên phải tổ chức và chuẩn bị hết sức chu đáo. và trước khi có hành động quyết định cuối cùng, nó phải được trình lên Tổng thống Richard Nixon phê chuẩn.

        Như vậy, dù ở cách chiến trường Việt Nam tới gần một vạn cây số, nhưng chỉ duy nhất Nhà Trắng mới có quyền quyết định về Vụ tập kích giải cứu Phi công Mỹ ở sơn Tây.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2015, 03:46:13 AM
 
        Người Mỹ đã đánh giá như thế nào về Lực lượng bảo vệ
        của Việt Nam hồi đó ở Trại Tù binh Sơn Tây?


        Sau rất nhiều cuộc thuyết trình, cuối cùng thì Lầu Năm Góc cũng đã "bật đèn xanh" cho SACSA và Nhóm nghiên cứu giải thoát tù binh Phi công Mỹ tại Sơn Tây hành động.

        Bấy giờ đã là cuối mùa hè năm 1970, thời gian không còn nhiều và tướng Blackburn cũng hiểu rằng muốn cho "ông chủ" của Nhà Trắng gật đầu không phải là chuyện đơn giản chút nào!

        Tổng thống Richard Nixon đang rất sợ bị thêm tai tiếng xấu. Sau khỉ ông ta quyết định cho quân đội xâm lược Campuchia hồi cuối tháng 4 năm 1970, nước Mỹ đã bị chia rẽ. Phong trào sinh viên biểu tình phản đối chiến tranh đã làm cho Richard Nixon ăn ngủ không yên. Trong khi đó, cả nước Mỹ đang đòi hỏi vấn đề tù binh và những người bị mất tích trong chiến tranh phải được giải quyết.

        Trong thâm tâm, Blackburn chỉ cầu mong để Nhà Trắng đồng ý cho ông ta thực hiện cuộc tập kích Sơn Tây này. và chỉ cần một lần đưa quân xâm nhập vào miền Bắc Việt Nam nữa thôi là đủ.

        Biệt kích là cái nghề đã ngấm vào máu của Blackburn từ khi còn trẻ. Khi đã có tuổi, ông ta vẫn còn cầm đầu một toán lính SOG với biểu tượng mũ nồi xanh có gắn phù hiệu hình sọ người và ngọn lửa đen... nhiều lần nhảy dù xuống vùng rừng biên giới Việt - Lào, hoặc vượt biên sang Campuchia.

        Trước khi có kế hoạch tập kích Sơn Tây, chính Blackburn chứ không phải ai khác đã có dự kiến thực hiện những âm mưu tội ác cực kỳ thâm độc: Dùng thuốc nổ phá huỷ đập thuỷ điện Thác Bà và đê sông Hồng vào đúng mùa lũ lụt; đồng thời, gây ra một cuộc phá hoại lớn ngay trong lòng Thủ đô Hà Nội. Ông ta cho rằng có thể sử dụng những tội ác này như một món hàng để Chính phủ Mỹ mặc cả với Hà Nội trên bàn tròn ở hội nghị Paris.
Có thể nói Blackburn như một con cáo già đầy nham hiểm. Ông ta là một trong những tác giả chính của bản kế hoạch vụ tập kích Sơn Tây, nó được soạn thảo rất cụ thể và đầy đủ tới từng chi tiết nhỏ nhất.

        Bằng cách tổng hợp phân tích từ nhiều nguồn tin tình báo, phía Mỹ cho rằng vào thời điểm xảy ra cuộc tập kích, Việt Nam có khoảng 12.000 bộ đội đóng quân xung quanh khu vực trại giam tù binh Phi công Mỹ ở thị xã Sơn Tây. (Chưa kể đến hàng vạn người trong lực lượng tự vệ và dân quân được trang bị vũ khí thô sơ!). Đó là các đơn vị thuộc Trung đoàn 12 bộ binh, Trường Pháo binh Sơn Tây, một Kho Quân trang ở thị xã với khoảng 1.000 cán bộ chiến sĩ hậu cần. Ngoài ra, còn có khoảng 500 bộ đội với 50 xe tại một căn cứ Phòng không ở phía Tây Nam thị xã...

        Tuy nhiên, phía Mỹ cũng đã tính toán rằng: Các đơn vị cơ động tác chiến của những lực lượng này, nếu muốn ứng cứu thì nhanh nhất cũng phải sau 30 phút trong điều kiện ban ngày bình thường, họ mới đến được trại tù binh. (Và đêm khuya thì dĩ nhiên sự phản ứng sẽ còn chậm hơn nữa!). Đó là thời gian đủ để cho quân biệt kích Mỹ rút chạy an toàn, sau khi đột nhập vào trại giam.

        Một điều làm cho phía Mỹ lo ngại là trại giam tù binh Sơn Tây nằm ở giữa hai sân bay Hòa Lạc và Phúc Yên. Đặc biệt là sân bay quân sự Phúc Yên chỉ cách Trại Tù binh sơn Tây khoảng 35 cây số. Những chiếc MiG lợi hại sẵn sàng cất cánh để không chiến, sẽ là mối đe dọa lớn và rất nguy hiểm cho đơn vị tập kích.

        Ngoài ra, các chuyên gia quân sự Mỹ cũng đẫ nghiên cứu rất kỹ hệ thống phòng không của miền Bắc nước ta hồi đó. Họ tính toán tới khả năng hoạt động của tên lửa SAM2, các trận địa súng cao xạ, súng bộ binh bắn máy bay tầm thấp... đặc biệt là khả nầng kiểm soát, phát hiện mục tiêu của hệ thống ra đa...

        Từ đó, người Mỹ chọn đường bay và cách bay như thế nào để những chiếc trực thăng chậm chạp, nặng nề có thể lẩn tránh được sự trừng phạt của lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam.

        Theo các chuyên viên của DIA, thì Trại tù binh Phi công Mỹ ở Sơn Tây hồi đó gồm hai khu vực riêng biệt: Một số ngôi nhà cấp bốn cũ được sử dụng làm khu hành chính; một số khác vừa được xây cất và mở rộng, có tường rào cao và dây thép gai bao quanh. Các tù binh Mỹ tập trung ở bốn dầy nhà của khu này. Toàn trại chỉ duy nhất có một đường điện thoại và một đường dây tải điện lưới. Cũng theo DIA ước tính thì có khoảng gần 50 bộ đội Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ trại giam; nhà của họ nằm ở bên ngoài bức tường rào phía đông. Cả trại tù binh có ba chòi canh, hai chiếc nằm sát tường rào, chiếc còn lại đặt gần cổng chính phía đông...

        Các chuyên gia Mỹ đã phân tích và tính toán rất kỹ địa hình, địa vật trong trại tù binh cùng khu vực xung quanh. Trong kế hoạch giải cứu họ đã dự tính: Sau khi cho một số trực thăng bay quần đảo bên trên tiêu diệt hết mấy chòi canh và các ổ đề kháng nếu có; sẽ dùng một chiếc trực thăng loại lớn cùng khoảng chục lính biệt kích đổ bộ xuống sân chơi thể thao nhỏ trong trại giam. (Thực tế sau này, khi chiếc trực thăng khổng lồ HH53 chưa tiếp đất thì cánh quạt đã bị va vào cây, khiến cho máy bay bị lật nhào, buộc quân đặc nhiệm Mỹ phải đặt chất nổ phá hỏng, trước khi rút chạy).

        Nếu cuộc đổ bộ xuống sân trại trót lọt, tốp biệt kích nói trên sẽ xông vào khu giam giữ để bảo vệ tù binh và nổ súng trước khi những chiến sĩ canh gác của phía Việt Nam kịp phản ứng... Một số trực thăng khác sẽ đỗ xuống khu đất trống ở bên ngoài bức tường rào phía Nam. Họ sẽ chia quân đi phá sập cầu sông Tích, cắt đứt con đường duy nhất mà lực lượng tiếp viện từ thị xã có thể vào; một toán khác sẽ phá trạm biến thế để cắt điện lưới và đường điện thoại liên lạc toàn bộ khu vực; toán quân còn lại sẽ dùng thuốc nổ phá tường rào trại giam để phối hợp với toán quân đã đổ bộ vào bên trong đưa tù binh ra ngoài, kể cả những người bị thương...

        Nếu tốp trực thăng đỗ bên ngoài tường rào trại giam bị chặn đánh, không đáp xuống được, hoặc đã xuống mà không cất cánh được nữa, thì số tù binh vừa được cứu thoát sẽ được đưa ra xa hơn nữa, thoát khỏi vòng vây đối phương và tốp trực thăng làm nhiệm vụ bay quần đảo yểm hộ bên trên sẽ đáp xuống địa điểm thứ hai để đón họ...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Một, 2015, 10:47:09 AM
       
        Biệt kích Mỹ đã triển khai bản kế hoạch tuyệt mật ấy ra sao?


        Tất cả những hành động kể trên, quân biệt kích Mỹ chỉ được phép thực hiện trong thời gian... 26 phút; nghĩa là trước khi lực lượng bộ đội ta ở thị xã Sơn Tây có thể vào tới khu vực trại giam, thì quân biệt kích Mỹ cùng các tù binh vừa được cứu thoát đã... xa chạy cao bay!

        Ngày 1 tháng 8 năm 1970, Thiếu tướng J. Manor, Tư lệnh Lực lượng hành quân đặc biệt tại căn cứ không quân Eglin, thuộc bang Florida, bất ngờ nhận được cú điện thoại đặc biệt gọi từ Lầu Năm Góc, yêu cầu phải lập tức về Washington ngay mà không được cấp trên cho biết lý do. Nhưng vốn là một viên sỹ quan già dặn, từng trải ở tuổi 49, với 345 phi vụ trót lọt từ Chiến tranh thế giới 2 đến chiến trường Việt Nam... ông ta đã quá quen với kiểu quân lệnh cần phải phục tùng tuyệt đối như thế.

        Cùng thời gian đó, Đại tá bộ binh D. Simons, 52 tuổi, nguyên Đại đội trưởng biệt động quân từ thời kháng Nhật tại Philippines, đang ở căn cứ Bragg, cũng đột ngột được lệnh phải về ngay Washington để trình diện và nhận nhiệm vụ mới.

        Manor và Simons đã làm quen với nhau trên chặng đường cùng bay về Washington. Hai người không hề biết rằng họ đã được chọn làm nhân vật chính của Bộ chỉ huy hành quân tập kích vào Trại tù binh sơn Tây, gây chấn động nước Mỹ sau gần 4 tháng nữa.

        Cùng được chọn vào Bộ chỉ huy cuộc hành quân này còn có một Trung tá quân y. Đó là một nhân vật khá kỳ quặc, ông ta đã đột ngột xuất hiện tại văn phòng của Simons và tự giới thiệu:

        - Tôi là Joseph Cataldo, một bác sĩ mà Đại tá đang cần.

        Simons đã hỏi lại.

        - Anh có biết tại sao chúng tôi đang cần một bác 9 không?

        Cataldo nói ngay:

        - Để thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt và nguy hiểm gì đó.
 
        Tướng Manor đã được Lầu Năm Góc chỉ định làm Tư lệnh chỉ huy cuộc hành quân tập kích nói trên. Đại tá Simons làm Phó tư lệnh, trực tiếp huấn luyện toán biệt kích đổ bộ và cầm đầu toán quân này bay đến Sơn Tây để giải cứu các tù bỉnh. Trung tá Cataldo đặc trách về công tác huấn luyện tự cứu cho đơn vị đổ bộ và lo chuẩn bị mọi phương tiện vật chất để chạy chữa cho tù binh trên đường trở về.

        Việc tuyển lựa nhân viên tham gia vào cuộc hành quân đã được bộ ba Manor, Simons và Cataldo tiến hành tuyển chọn rất kỹ lưỡng: Họ được kiểm tra lý lịch, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe, kinh nghiệm chiến đấu và các yếu tố tâm lý khác... Điều đặc biệt là tất cả số nhân viên này đều được tuyển chọn trên cơ sở tự nguyện. Họ không được phép hỏi và hoàn toàn không biết mình sẽ làm gì. Nhưng chắc chắn đó là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và nguy hiểm! Các cấp chỉ huy chỉ thông báo cho họ một điều duy nhất là: Nếu vấn đề bí mật không được đảm bảo thì họ sẽ bị thất bại và không ai còn cơ hội trở về nữa. Gia đình của các binh sỹ cũng chỉ được biết một cách mơ hồ và chung chung là người thân của họ sắp phải thi hành một nhiệm vụ đặc biệt và phải xa nhà từ 3 đến 6 tháng...

        Riêng Manor được trực tiếp tuyển chọn các Phi công tham gia cuộc hành quân. Ngoài kinh nghiệm già dặn và con mắt tinh đời của một tay nhà nghề lão luyện, ông ta còn có trong tay một mật lệnh khá đắc dụng. Đó là lá thư tay của tướng John D.Ryan, Tham mưu trưởng lực lượng Không quân Mỹ. Nội dung lá thư này gủl tới tất cả các vị chỉ huy thuộc quyền, chỉ thị cho họ phải tạo mọi điều kiện tốt nhất ủng hộ cho yêu cầu Manor và... không được hỏi han gì cả!

        Những viên Phi công được chọn vào phỉ hành đoàn trực thắng của cuộc hành quân đều đã có ít nhất hàng ngàn giờ bay chiến đấu, cùng hàng trăm cuộc tiếp cứu các Phi công bị bắn rơi tại vùng Đông Nam Á. Đó là những cuộc tiếp cứu với những tài nghệ lái trực thăng đẫ trở thành huyền thoại trong lịch sử chiến tranh của quân đội Mỹ. có thể điểm danh vài gương mặt sáng giá nhất: Trung tá Warner A. Britton, viên Phi công trực thăng cừ khôi số Một chuyên huấn luyện bay giải cứu của căn cứ không quân Eglin; Trung tá John Allison, tay lái huấn luyện bay ngoại hạng của loại trực thăng HH53; Trung tá Herbert Zehnder, người đã từng lập kỷ lục lái loại trực thăng HH53 bay đường dài một mạch từ New York đến Paris vào năm 1967; Thiếu tá Frederick Marty Donohue, người đã thực hiện thành công hơn 6.000 giờ bay trực thằng và được chọn là sĩ quan huấn luyện bay trong chương trình Apollo...

        Và kết quả là đã có tới 15 sỹ quan từ cấp uỷ đến cấp tá cùng 85 hạ sỹ quan và binh sỹ trong một đơn vị "mũ nồi xanh" (biệt động quân) đã được chọn để chuẩn bị cho cuộc hành quân Tập kích trại tù binh ở sơn Tây.
Vào trung tuần tháng 8 năm 1970, một thông điệp đặc biệt của Bộ Tổng tham mưu hỗn hợp quân đội Mỹ do Mayer soạn thảo và Tướng Moorer kỷ, đã được gửi đi cho nhiều chỉ huy các đơn vị thuộc quyền. Nội dung bức thông điệp này thông báo: Có một Toán hành động cấp thời, đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Manor và Đại tá Simons đang thực thi một nhiệm vụ đặc biệt. Chiến dịch tuyệt mật này được ngụy danh bằng cái tên khá thơ mộng: Bờ biển Ngà. Thoạt nghe, nhiều người sẽ nhầm tưởng địa danh trong chiến dịch là ở Trung Đông hoặc Châu Phỉ. Không một ai ngờ rằng mục tiêu mà chiến dịch Bờ biển Ngà sẽ nhẳm vào lại chính là thị xã sơn Tây nhỏ bé xa xoi ở tận bên kia Thái Bình Dương!

        Hồi đó, kế hoạch cụ thể của chiến dịch Bờ biển Ngà nói trên ngay tại Washington cũng chỉ một vài nhân vật chóp bu như Tổng thống Nixon, Cố vấn An ninh quốc gia Kissinger và mấy Bộ trưởng Bộ quan trọng được biết, còn bộ máy Nguỵ quyền ở miền Nam nước ta từ Nguyễn Văn Thiệu cho đến các tướng tá cao cấp nhất của ông ta, không một người nào được phép biết về kế hoạch của vụ tập kích cứu Phi công Mỹ ở sơn Tây, kể từ khi nó hình thành cho tới lúc kết thúc. Thậm chí, các Tư lệnh chiến thuật của quân đội Mỹ ở chiến trường Đông Nam Á cũng chỉ được thông báo về kế hoạch của chiến dịch Bờ biển Ngà vào thời gian xét thấy thuận tiện nhất. Và mỗi người cũng chỉ biết trong giới hạn phần kế hoạch có liên quan đến chức trách của họ mà thôi.

        Tất cả số nhân viên và phi đoàn bay được tuyển chọn tham gia cuộc hành quân tập kích trại tù binh sơn Tây đều được đưa đến huấn luyện về thể chất tại cân cứ Fort Bragg.

        Tiếp đó, họ được chuyển về cằn cứ Eglin để huấn luyện phối hợp với phi đoàn bay. Đó là một vùng đất rộng khoảng 465.000 héc ta, nằm ở phía Bắc của bang Florida. Đây cũng là nơi tập dượt của Trung tâm huấn luyện Cấp cứu và tìm lại bằng máy bay của quân đội Mỹ (USAF). Hầu hết các Phi công lái máy bay trực thăng và máy bay C.130 giải cứu hoặc tiếp tế nổi tiếng của lực lượng không quân Hoa Kỳ đều đã từng được huấn luyện tại nơi này.

        Vậy còn Toán hành động hỗn hợp cấp thời của chiến Ị dịch Bờ biển Ngà đã được tập luyện ra sao?


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2015, 04:05:56 AM
       
        Người Mỹ đã xây dựng thêm một... Trại tù binh Sơn
        Tây tại Mỹ như thế nào?


        Cho đến thời điểm này thì Hồ sơ mục tiêu Sơn Tây đã được chất đầy các ngăn tủ của Bộ chỉ huy hành quân của cuộc tập kích. Trong đó, có rất nhiều các bức không ảnh được phóng cỡ lớn, chụp tất cả các vùng đất từ biên giới Việt - Lào đến thị xẵ Sơn Tây. Đặc biệt là địa hình khu vực trại giam tù binh và xung quanh. Những tấm ảnh đó đều được các chuyên gia chia thành ô vuông như bản đồ. Mỗi ô trên ảnh tương ứng với 100 mét vuông trên thực địa. Các bức ảnh này đều rõ ràng và chỉ tiết tới mức người ta có thể phân biệt được từng dãy tường gạch, từng khu nhà ở, từng rãnh nước và từng ngọn cây có trong khu trại tù bỉnh Sơn Tây.

        Ngoài ảnh ra, tướng Blackburn và Mayer còn cho dựng lại cả sa bàn khu vực trại giam, đồng thời phóng và vẽ tấm bản đồ về mục tiêu cực lớn. Nó được in sao cẩn thận nhưng chỉ có vài bản.

        Nhưng như thế mà dường như vẫn chưa làm cho người Mỹ yên tâm. Simons cho rằng không thể huấn luyện cả trăm quân tập kích một vùng đất xa lạ và nguy hiểm chỉ với loại sa bàn đồ chơi và bản đõ thực tập. ông ta đề nghị cho dựng một mô hình trại giam Sơn Tây với tỷ lệ 1/1, nghĩa là giống y chang như thật, để phục vụ cho tập luyện.

        Đầu tiên, Cục Tình báo quân đội Mỹ đã phản đối đề nghị này, vì sợ làm như vậy vô tình mục tiêu cuộc tập kích sẽ bị bại lộ bởi những kẻ tò mò và đặc biệt là bởi các thiết bị săn tìm đặt trên vệ tinh tình báo kỹ thuật của Liên xô phát hiện được. Sự lo ngại này không phải là vô căn cứ. Người Mỹ biết rất rõ loại vệ tỉnh Cosmos 355 của Liên xô hồi ấy đã được trang bị loại máy ảnh rất hiện đại, cho phép chụp được những bức không ảnh phân biệt rõ cả sự thay đổi của cửa sổ trong một ngôi nhà, nếu đó là mục tiêu, vệ tinh này thường xuyên bay quan sát trên vùng trời của căn cứ không quân Eglin hai lần trong một ngày, với độ cao khoảng 130 km... Nhưng trước sự thúc bách của nhiệm vụ, Simons vẫn kiên quyết bảo lưu đề nghị của mình ià phải xây dựng một mô hình trại tù bỉnh như thật!

        Cuối cùng, các chuyên gia CIA Mỹ đã tìm được một lối thoát: Họ sử dụng các loại vật liệu xây dựng nhẹ để tạo nên một mô hình trại giam tù binh Sơn Tây. Mô hình này mang tên một cô người mẫu nổi tiếng ở Mỹ hồi đó là Barbara, có thể nhanh chóng được tháo rời ra một cách dễ dàng và cất giấu đi. Đó là các tấm vải bạt chuyên dụng và cọc gỗ. với loại chất liệu này người ta rất dễ dựng thành các bức tường rào, nhà cấp bốn và thậm chí cả những ô cửa sổ, cửa chính được cất khéo léo rồi sơn phết với màu sắc như thật. Để có một mô hình hoàn chỉnh, các chuyên gia đã phải sử dụng tới 710 chiếc cọc gỗ và 1.500 yard vài bạt (mỗi yard bằng 0,914 mét), cột cờ và những chiếc cột điện ở trại tù binh cũng đã được các chuyên gia dựng lên trong mô hình với kích cỡ đúng như thực tế, để các Phi công làm quen. Thậm chí, người ta còn kỳ công tới mức cho chuyển cả một số cây to (được đào cả gốc lên), về trồng lại nơi dựng mô hình của trại tù binh!... Nghe nói, riêng công trình này, các chuyên viên CIA đã phải làm mất mấy tháng trời và tiêu tốn một khoản tiền rất lớn!

        Thời gian đầu, mô hình trại tù binh sơn Tây nói trên chỉ ban đêm người ta mới cho dựng lên để lính biệt kích luyện tập, còn ban ngày được tháo rời ra, ngụy trang kỹ để tránh sự phát hiện của vệ tinh Liên xô. Về sau, người ta có tập cả ban ngày, nhưng rất hạn chế và cũng chỉ giới hạn trong 4 tiếng đồng hồ (thời gian vệ tinh tình báo kỹ thuật Cosmos 355 của Liên xô không chụp ảnh được). Tướng Manor nói: "Tuy là kiến trúc tạm thời, nhưng mô hình này cũng đủ để cho những người lính có một cảm nghĩ xác thực là họ sẽ thấy những điều gì và họ biết rằng mình sẽ phải hành động ra sao, khi tới một mục tiêu có địa hình tương tự."


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2015, 12:21:09 PM
       
        Và họ đã cho quân biệt kích Mỹ tập luyện công phu
        như thế nào?


        Ngày 20 tháng 8 năm 1970, cuộc tập luyện của không quân Mỹ và Toán hành động hỗn hợp cấp thời bắt đầu. Trước đó, nhữhg người trong đơn vị này đã được cấp trên ưu tiên tăng khẩu phần ăn theo nhu cầu; đồng thời tập trung rèn luyện để nâng cao thể chất tới mức tốt nhất.

        Hằng ngày, Simons đã bắt tất cả 103 quân tình nguyện đều phải ôn lại những bài thể dục cơ bản của lính Mỹ, rồi đeo ba lô cùng vũ khí trang bị chạy bộ mấy cây số đường dài. Các bài tập càng ngày càng nặng hơn, khó thêm và thời gian tập cũng tăng dần... Ngoài ra, họ còn phải học thêm về cách định hướng máy bay trực thăng, cách truyền tin, liên lạc, đột kích, cách phá các loại khoá và cửa, cách vượt ngục... và xen lẫn kết thúc cuối ngày là tập điền kinh. Simons muốn tất cả những bỉnh lính trong đơn vị biệt kích của ông ta đều phải "vừa có sức tuyệt vời, lại vừa thiện chiến không thể chê vào đâu được"!

        Việc tập luyện cho các Phỉ công trong đoàn bay mới là khố khăn và phức tạp nhất. Mặc dù tất cả bọn họ đều là những tay lái siêu hạng, nhưng yêu cầu của nhiệm vụ lần này khá đặc biệt. Để tránh bị ra đa phát hiện và sự trừng trị của lực lượng Phòng không miền Bắc Việt Nam, Manor đã yêu cầu các Phi công phải bay thấp sát ngọn cây và ngoằn ngoèo dưới thung lũng các dãy núi trong nhiều giờ liền. Hơn nữa, họ toàn tập bay ban đêm, dưới ánh trăng mờ và không được sử dụng vô tuyến điện liên lạc. Nghĩa là bay trong im lặng với đội hình sát nhau. Chỉ cần một sai sót nhỏ là máy bay có thể va vào nhau, húc vào núi, hoặc rơi xuống nơi lởm chởm đất đá của vùng Bắc tiểu bang Georgia.
Lái trực thăng bay thấp đẵ khó, điều khiển loại máy bay c- 130 bay thấp còn khó hơn nhiều. Trong kế hoạch của chiến dịch Bờ biển Ngà, Manor và Simons sử dụng tới 3 chiếc C-130 tham gia vào cuộc tập kích. Một chiếc là loại giải CÚ\J HC-130 sẽ làm nhiệm vụ tiếp nhiên liệu cho trực thăng trên không phận của Lào. Hai chiếc C-130 còn lại được trang bị loại khí cụ bay đặc biệt và hệ thống hồng ngoại dò tìm hiện đại bậc nhất thời đó. Một chiếc sẽ làm nhiệm vụ dẫn đường 6 chiếc trực thăng đến Trại tù binh sơn Tây rồi thả pháo sáng và pháo khói để hỗ trợ cho đơn vị biệt kích hành động. Chiếc kia sẽ hướng dẫn một số máy bay phản lực oanh tạc và yểm hộ xung quanh... Các chuyên gia đã tính toán rằng: tốc độ thường khi bay thấp của một chiếc C-130 là 250 km; nhưng để phục vụ cho việc tập kích Sơn Tây, các Phi công đã phải ép tập bay với tốc độ 105 km, gần như mất hết tốc lực, nên càng cực kỳ nguy hiểm!

        Vậy mà, các toán phi hành đoàn đặc nhiệm của Manor đã phải tập luyện tới trên 1.000 giờ bay "căng thẳng đến thót tim", với 368 phi vụ trong những điều kiện cực kỳ khắt khe kể trên.

        Ngày 28 tháng 9 năm 1970, Toán hành động hỗn hợp cấp thời bắt đầu phối hợp giữa bộ binh và không quân luyện tập tấn công. Đúng như Simons đã hài hước ví đó là sự "quần nhau với mô hình trại tù binh Sơn Tây". Mỗi ngày họ thực hiện ba cuộc đổ bộ bằng trực thằng và đêm đến lại thêm ba cuộc như thế... Simons đã cho người của ông ta luyện tập nhiều đến mức những lính Mỹ trong đơn vị biệt kích này đều thuộc lòng cấu tạo của mục tiêu cần tấn công. Nếu như có bịt mắt lại, họ vẫn có thể bắn trúng đích theo lệnh chỉ huy.

        Đêm ngày 6 tháng 10 năm 1970, Tướng Manor và Đại tá Simons đã tổ chức buổi tổng diễn tập cuối cùng có bắn đạn thật trước sự chứng kiến của Blackburn và Mayer. Các máy bay trực thăng và C-130 đã bay một đoạn đường dài tượng trưng từ một cắn cứ xuất phát tại Thái Lan, vượt qua biên giới Lào đến Sơn Tây. Trong cơn lốc gió cuốn ầm ầm của cánh quạt những chiếc trực thăng, pháo sáng thả trắng trời đêm và tiếng súng nổ inh tai, quân biệt kích đã bất ngờ đổ bộ vào các phòng giam tù binh trước khỉ nhanh chóng tiêu diệt hết các mục tiêu... khiến cho Blackburn và Mayer rất hài lòng.

        Cũng trong thời gian này Trung tá Cataldo rất bận rộn, vất vả với việc chuẩn bị vũ khí, trang bị và hậu cần cho cuộc tập kích: Đó là những khẩu súng trung liên M-60, bắn đạn 7,62 ly; súng chống tăng loại 66 ly cỡ nhẹ; những khẩu CAR-15 rất nhỏ, nhẹ, báng gấp; súng phóng lựu đạn M-79; một số mìn sát thương và những túi chất nổ có sức công phá cực mạnh; những ống kính ngắm đặc biệt, giúp người sử dụng nó có thể nhìn rõ mục tiêu trong đêm tối... Ngoài túi thuốc quân y của lính biệt kích Mỹ, Cataldo còn chuẩn bị thêm cả một số chăn đệm đặc biệt, một số dép ba ta đế mềm, 100 bộ đồ ngủ và áo choàng, một lô thức ăn nhẹ nhưng dinh dưỡng cao... Tất cả những thứ ấy là để sẵn cho tù bỉnh sử dụng trên đường dài bay về Mỹ.

        Như vậy, Chiến dịch Bờ biển Ngà đã bước vào giai đoạn cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Một, 2015, 03:43:20 AM
       
        Sự phê chuẩn chính thức và quyết định cuối cùng
        cho "Chiến dịch Bờ Biển Ngà"


        Ngày 18 tháng 11 năm 1970, Đô đốc Moorer, Chủ tịch Hội đồng các Tham mưu trưởng, hồi hộp bước vào Nhà Trắng vào lúc 11 giờ trưa. ông ta cố nhiệm vụ thuyết trình cho Tổng thống Mỹ toàn bộ kế hoạch của Chiến dịch Bờ biển Ngà. Moorer hiểu rằng đây là ngày quyết định cuối cho Cuộc tập kích giải cứu tù binh Phi công Mỹ ở trại tù binh Sơn Tây có được thi hành hay không!

        Ngồi trong phòng họp hình bầu dục sang trọng của Phủ Tổng thống, ngoài Nixon ra còn có Cố vấn an ninh Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laird, Bộ trưởng Ngoại giao William Rogers, Giám đốc CIA Richard Helms và một số phụ tá cao cấp khác...

        Thực ra, hơn một tháng trước đó, Tổng thống Richard Nixon đã được biết về Chiến dịch Bờ biển Ngà trong dịp ông ta trên đường đi thăm Châu Âu tạt qua Địa Trung Hải để chứng kiến Hạm đội 6 của Mỹ đang tập trận. Trên chiếc chiến hạm nổi tiếng Springfield, ông chủ của Nhà Trắng đã có cuộc làm việc bí mật với Bộ trưởng Quốc phòng Laỉrd và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Moorer. Tại đây, lần đầu tiên Tổng thống Mỹ đẫ nghe báo cáo sơ bộ về kế hoạch của Chiến dịch Bờ biển Ngà nhằm giải thoát cho tù binh Phi công Mỹ tại Sơn Tây. Laird nhấn mạnh rằng: Một đơn vị biệt kích đã được tuyển chọn và tập luyện hết sức kỹ càng. Nếu kế hoạch được Tổng thống phê duyệt thì cuộc tập kích này sẽ được tiến hành trong vòng bốn tuần nữa...

        Hôm đó, Richard Nixon đã chăm chú lắng nghe và im lặng hồi lâu. Đó là một quyết định hết sức khó khăn đối với ông ta. Rồi cuối cùng, Richard Nixon nói đại ý là về nguyên tắc thì ông ta chấp nhận. Nhưng trước khỉ có sự phê chuẩn chính thức và quyết định tối hậu, thì Bộ Quốc phòng phải thuyết trình với tiến sĩ H. Kissinger, để ông cố vấn an ninh của Tổng thống có ý kiến trước.

        Ngày 8 tháng 10 nầm 1970, tại Văn phòng của Cố vấn An ninh Tổng thống Mỹ ở phía tây Nhà Trắng, Blackburn, Manor và Simons đã có cuộc thuyết trình với Kissinger. Đối với họ, công việc này được coi là "khó khăn nhất trong suốt quá trình công tác".
Lân lượt từhg người: Blackburn, Manor và Simons đã báo cáo với Cố vấn Kissinger phần việc do mình phụ trách. Ngài Tiến sĩ, giáo sư nổi tiếng về tài diễn thuyết của Truờng Đại học Havard đã "lắng nghe một cách thông minh", và ông ta đẵ bật thêm một chiếc đèn xanh bằng một ý kiến quan trọng:

        - Các anh cứ làm bất cứ điều gì xét thấy cần. Việc va chạm quốc tế dã có chúng tôi lo. Không có một ai ở Nhà Trắng lại lo ngại tới việc thương vong của kẻ địch. Các anh nên giới hạn những điều cần thiết; nhưng cũng nên sử dụng đầy đủ bạo lực để sao cho công tác này có hiệu quả nhất.

        Cuối buổi làm việc, Kissinger bỗng đột ngột hỏi:

        - Ai đã có sáng kiến về việc này?

        Cả Blackburn, Manor và Simons đều trả lời:

        - Có rất nhiều người cùng tham gia kế hoạch. Sáng kiến ià của chung.

        Kissinger đã kết luận một câu đầy ý nghĩa:

        - Cho dù việc này có được Tổng thống chấp thuận hay không, thì tôi cũng xin cảm ơn tất cả. Vì các vị đã có trí tưởng tượng và nghĩ ra được một sáng kiến thật độc đáo!

        Chưa hết, nhóm Blackburn, Manor và Simons còn phải cất công bay đi Đông Nam Á, để ngày 2 tháng 11, tại Hawaii, họ thuyết trình cho Đô đốc McCain và tham mưu trưởng của ông ta. Sau buổi họp, McCain đã ưu ái dành riêng chiếc máy bay đặc biệt của ông thuộc Bộ tư lệnh Thái Bình Dương để đưa Blackburn, Manor và Simons vượt qua làn ranh giới đổi thay giờ giấc, bay suốt 6296 dặm đến sài Gòn. Máy bay lần lượt đáp xuống Iceland, rồi Philippines để lấy thêm nhiên liệu mấy lần mới tới được "Hòn Ngọc Viễn Đông" một thời. Tại đây họ đã thuyết trình cho tướng Creighton Abrams, người thay thế tướng Westmoreland, để chỉ huy Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV)...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2015, 01:31:16 AM
       
        Tổng thống Mỹ đã nghĩ gì và nói gì, khi nghe thuyết trình?


        Trong buổi thuyết trình với Tổng thống Mỹ lần này, Bộ trưởng Quốc phòng Laird muốn "báo cáo một cách cặn kẽ và đầy đủ nhất". Ông ta vững tin rằng bản kế hoạch đã được chuẩn bị hết sức chu đáo và chí ít cũng đã được Cố vấn Kissinger hoàn toàn ủng hộ. Đô đốc Moorer đã mang đến Văn phòng bầu dục rất nhiều sơ đồ, bản vẽ, ảnh chụp được phóng cỡ lớn... Khi được Richard Nixon ra hiệu cho phép tiến hành, Moorer đã bẵt đầu bằng câu: " Thưa Tổng thống! Mật danh của công tác này là Kingpirí'...

        Do được chuẩn bị chu đáo, nên Đô đốc Moorer đã thuyết trình về kế hoạch của Chiến dịch Bờ biển Ngà khá lưu loát, hấp dặn khiến cho các cử tọa ngồi nghe đều tỏ vẻ say mê thích thú.

        Moorer đẵ trình bày rất cặn kẽ về chặng đường bay của Simons cùng đơn vị biệt kích từ Thái Lan đến thị xã sơn Tây. Để tránh bị ra đa và lưới lửa phòng không miền Bắc Việt Nam phát hiện, các phi hành đoàn trực thăng Mỹ sẽ phải luồn lách, vòng vèo và tiếp dầu trên không ra sao. Cách xử lý nguy hiểm nếu bị phát hiện và bắn hạ trước khi đến được mục tiêu thế nào. Đặc biệt là cách nghi binh của lực lượng Hải quân Mỹ: sử dụng một sỗ lượng lớn máy bay chiến đấu xuất phát từ hạm đội ngoài khơi, bất ngờ ồ ạt đánh phá cảng Hẳi Phòng, khiến cho người ta nhầm tưởng rằng sắp có một cuộc đổ bộ ở vùng ven biển và lực lượng Phòng không Việt Nam sẽ mất cảnh giác ở khu vực Sơn Tây... Như vậy, các hoạt động quân sự nhằm hỗ trợ cho cuộc tập kích này sẽ diễn ra trên một diện tích khổng lồ khoảng 300.000 dặm vuông của vùng Đông Nam Á.

        Khi lật đến tấm sơ đồ cỡ lớn, vẽ chỉ tiết toàn bộ trại tù bỉnh Sơn Tây, Đô đốc Moorer nói:

        - Thưa Tổng thống, sau đây là cách thức đổ bộ và giải cứu tù binh của chúng ta...

        Nỉxon chắm chú lắng nghe. Dường như ông ta đã bị thu hút vào buổi "dạ hội" đầy hấp dẫn trên vùng trời ở một xứ sở xa xôi. Nhưng thực tế không phải bao giờ cũng đẹp và thơ mộng như tưởng tượng... Điều ấy đã khiến cho Richard Nixon như bừng tỉnh khỏi cơn mê. ông ta bỗng đột ngột hỏi:

        - Thực trạng tù binh của chúng ta hiện nay ở Sơn Tây ra sao? Các anh có chắc chắn rằng họ sẽ được cứu thoát không?

        Moorer trả lời rất bình tĩnh và tự tin:

        - Thưa Tổng thống, trại "Hy vọng" ở Sơn Tây là nơi duy nhất được cả DIA và CIA xác nhận hiện đạng giam giữ tù binh Phi công Mỹ ở ngoại biên Hà Nội. Theo chúng tôi biết, hiện trong trại này có 70 tù binh Phi công Mỹ. Trong số này thì 61 người chúng ta đã xác nhận được họ tên, chức vụ, cấp bậc... Về thành phần: 43 người của Không quân, 14 của Hải quân và 4 người của Thuỷ quân lục chiến... Sĩ quan trưởng nhóm của những tù binh này là Trung tá Hải quân C.D. Clower, ông này đầ được phong Đại tá sau ngày bị bắt. Đây cũng là sĩ quan trưởng nhóm thứ ba được tù binh trong trại bầu lên. Hai người trước đó đều đã bị phía Bắc Việt điều đi giam giữ ở nơi khác...

        Richard Nixon tỏ ra xúc động trước những thông tin rất cụ thể vừâ kể trên mà Lầu Năm Góc đã thu lượm được. Moorer hiểu điều đó và ông ta càng tự tin hơn trong giọng nổi:

        - Thưa Tổng thống, về lực lượng của phía Bắc Việt bảo vệ Sơn Tây khoảng 12.000 quân, có thể gây thiệt hại cho đơn vị tập kích, nhưng số này đóng phân tán ở nhiều nơi và nhanh nhất cũng phải sau 30 phút họ mới có mặt để tiếp ứng cho trại tù binh được. Chúng tôi đã có kế hoạch ngằn chặn và đối phó với họ hiệu quả nhất. Điều đáng lo ngại hơn cả cho phi hành đoàn trực thăng là những chiếc MIG của không quân Bắc Việt ở các sân bay quân sự như Phúc Yên, Kép, Hải Phòng, Vinh... Nhưng theo chúng tôi nắm được thì tại các sân bay này đều không có hệ thống báo động về ban đêm, nên họ sẽ phản ứng rất chậm; hơn nữa lực lượng Không quân Bắc Việt chưa có các phương tiện kỹ thuật hiện đại để đảm bảo cho các Phi công lái MIG, dù giỏi nhất cũng khó có thể không chiến ban đêm.

        Sau cùng, Đô đốc Moorer cũng không quên nói về yếu tố thời tiết có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cuộc tập kích. Ông ta nhấn mạnh:

        - Trong năm nay chỉ còn thời điểm từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 11 là thuận lợi nhất; nếu bỏ lỡ cơ hội này thì phải đợi đến tháng Ba sang năm. Thiếu tướng Manor đã đặt sở chỉ huy tại Đà Nắng, Đại tá Simons cùng đơn vị của ông ta cũng đã tập kết tại Thái Lan. Tất cả đã sẵn sàng. Nếu Tổng thống cho phép, chúng tôi sẽ thi hành ngay kế hoạch...

        - Thưa Tổng thống! - Cố vấn An ninh Kissinger lên tiếng đỡ lời cho Moorer - Cách đây hơn một tháng, tôi đã có dịp làm việc với những người chỉ huy cuộc tập kích. Tôi cho rằng họ đẫ được chuẩn bị rất tốt và có rất nhiều cơ may để giành thắng lợi.

        Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Laird cũng nhấn mạnh thêm:

        - Thưa Tổng thống! Công việc này đẫ được xúc tiến triển khai từ hồi tháng Năm. Kế hoạch của cuộc hành quân được vạch ra rất cụ thể, chỉ tiết và tập luyện rất kỹ. Hầu hết các tướng lĩnh cao cấp nhất của Lầu Nầm Góc đã được nghe thuyết trình và họ đều hết lòng ủng hộ...

        Mọi con mắt trong phòng đều dồn về phía Richard Nixon chờ đợi. Tổng thống Mỹ rất hiểu vai trò lớn lao và khó khăn của mình khi đó. ông ta ngẩng đầu lên nói chậm rãi:

        - Kế hoạch của các anh thật hoàn hảo, hầu như nó không còn gì phải góp ý nữa. Tôi biết, mọi người đang chờ quyết định cuối cùng, và tôi cũng sẽ có câu trả lời sớm nhất. Nhưng thời hạn chót mà Tướng Manor và đơn vị của ông ấy có thể chờ đợi được là bao lâu nữa mà không iàm phức tạp thêm vấn đề?

        Moorer giải thích thêm:

        - Thưa Tổng thống, về yếu tố thời tiết, phỉ đoàn bay rất cần có ánh trăng sáng để xác định đường bay và mục tiêu. Thêm nữa, để bảo đảm nguyên tắc bí mật, cách thức và quy trình liên lạc của cuộc tập kích cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian vừa đủ để triển khai. Đó là chưa kể đến thời gian khởi động cho việc hiệp đồng tác chiến với các lực lượng tham gia hỗ trợ cho chiến dịch... Do vậy, cần có quyết định càng sớm càng tốt!

        Richard Nixon trả lời rằng ông ta rất thông cảm với sự lo lắng của Moorer. Nhưng vấn đề là ở chỗ không nên bàn có nên giải cứu tù binh hay không, mà là khi nào sẽ thi hành công tác này. Richard Nixon im lặng suy nghĩ điều gì, rồi như chợt nhớ ra, ông ta hỏi:

        - Chúng ta rất tin tưởng vào thắng lợi. Còn nếu như cuộc hành quân này thất bại... Các anh đã chuẩn bị các lý do để đối phó với dư luận chưa?
Moorer vội trả lời ngay:

        - Xin Tổng thống yên tâm, chúng tôi đã lường hết mọi khả năng sẽ xảy ra sau khi cuộc tập kích được tiến hành và đã chuẩn bị đầy đủ các lý do che đậy cho phù hợp.

        Nixon gật gật đầu, đưa mắt nhìn lướt qua tất cả các thành viên đang có mặt như có ý thăm dò thái đọ của từng người, rồi ông ta mới cất giọng:

        - Cá nhân tôi cũng muốn thấy các tù binh trở về. Nếu thành công, tôi có thể mời tất cả mọi người đến Nhà Trắng dự tiệc mừng. Nhưng nếu việc này thất bại... Các anh biết đấy! Phe đối lập sẽ không để cho chúng ta yên. Dân chúng sẽ lại biểu tình bao vây Nhà Trắng như sáu tháng trước đây. Nhưng lần này chắc chắn còn dữ dội hơn nhiều. Những kẻ quá khích sẽ đạp đổ các cổng chính, đập phá hết đồ đạc. Và thậm chí, xin lỗi các anh, hàng nghìn gã hippi sẽ hò nhau đái lên tấm thảm sang trọng trong văn phòng chúng ta đang ngồi... Nếu như vậy thì đau lắm! Tôi không bao giờ muốn điều này xảy ra, cũng như không muốn thêm một binh sĩ nào bị bắt giam trong các trại tù binh của Bắc Việt...

        Nhưng lạy Chúa! Làm sao chúng ta lại có thể không chấp thuận một việc đáng làm như các anh đã dày công chuẩn bị mấy tháng nay? Hãy cho tôi thêm một chút thời gian nữa. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ thi hành chiến dịch này. Và dù thế nào thì tôi cũng chúc anh các anh may mắn, mong cho kế hoạch của chúng ta sẽ thành công!

        Nói đến đó Richard Nixon đứng dậy, chủ động chìa tay ra bắt tay Đô đốc Moorer. Đó là một cử chỉ hết sức đặc biệt mà sau này các sử gia Mỹ đã bình luận là cái bắt tay nồng ấm và đầy thông cảm, rất hiếm khi ông Tổng thống này biểu lộ với ai lúc đương nhiệm.

        Moorer vội vàng tái xe trở về Lầu Năm Góc. ông ta đã không phải chờ đợi lâu. Ngay buổi chiều đố Richard Nixon đã đồng ý cho Bộ trưởng Quốc phòng Laird thi hành cuộc tập kích. Blackburn và Mayer đã đón nhận được thông tin cực kỳ quan trọng này vào lúc xế chiều ngày 18 tháng 11 năm 1970. Cỗ máy Kingpin đã chính thức được khởi động và bắt đầu hoạt động...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Một, 2015, 07:13:46 AM
       
        Thời gian hành động không phải được tính bằng giờ, mà từng phút!

        Việc đầu tiên mà Mayer làm là thảo nhanh một bức điện mật, rất ngắn gọn: Mumbletypg, Amputate Kingpin để trình Tướng Vogt chuẩn y. Nhưng ông này đã không chịu ký, vì "Tôi chẳng hiểu gì cả!".

        Giải thích thế nào cũng không được, cực chẳng đã, Mayer đành trở lại văn phòng đặc biệt, mở két hồ sơ mật để lấy ra bản kế hoạch truyền tin của kế hoạch Kingpin cho Vogt xem. Lúc đó ông ta mới chịu ký bức điện để trình lên Đô đốc Moorer. ông này ký bức điện xong lại trình tiếp lên Laird... và bức điện đó được Bộ tổng Tham mưu hỗn hợp chuyển đi lúc 17 giờ 30 phút, qua hệ thống hỏa tốc đặc biệt...

        Lúc 18 giờ 00 phút, trên đường từ Lầu Năm Góc về nhà, Blackburn lo lắng nghĩ tới tin tức của cơn bão Patsy rất mạnh với sức gió trên 100 dặm một giờ đang đổ bộ vào Manila và có khả năng sẽ chuyển hướng Tây, ảnh hưởng tới vùng Đông Dương. Các bức ảnh chụp của các vệ tinh cho.thấy một bộ phận không khí lạnh đang từ Trung Quốc tràn về miền Bắc Việt Nam... các yếu tố đó có thể tạo nên một vùng thời tiết xấu, gây bất lợi cho cuộc tập kích.

        Vừa về đến nhà chưa ngồi ấm chỗ, Blackburn đã nhận được điện thoại nóng từ Lầu Năm Góc do Phó Đô đỗc James c. Donaldson gọi đến thông báo về việc có một cú điện thoại từ Bộ chỉ huy chiến lược Không quân (SAC) ở Đông Nam Á gọi về hỏi thêm thông tin về Một cuộc hành quân nào đó sẽ được tiến hành sớm và kế hoạch tiếp liệu cũng như đường bay trinh sát cần phải lập lại... mà họ chưa hiểu. Blackburn kinh ngạc, vội iao ra xe phóng trở lại Lầu Năm Góc để chấn chỉnh lại hệ thống truyền tin cực kỳ sơ hở, rất dễ bại lộ này...

        Trở về nhà lúc quá nửa đêm, nhưng Blackburn chỉ ngủ được vài tiếng. Tới 4 giờ 11 phút sáng ngày 19 tháng 11 năm 1970, ông ta đã bị dựng dậy bởi công điện của Manor gủl về thông báo là toán của Simons đã sẵn sàng, nhưng thời tiết vùng trời Đông Dương đang xấu đi một cách đáng lo ngại!

        16 giờ 30 phút cùng ngày, Tướng Bennett của DIA điện cho Blackburn đến ngay văn phòng của Đô đốc Moorer. Lầu Năm Góc vừa nhận được một tin tình báo từ Hà Nội đưa về: Hình như tất cả tù binh Mỹ ở trại "Hy vọng" sơn Tây đã được chuyển đi nơi khác? Cả Moorer và Blackburn cùng chết lặng người đi khi nghe thông báo này.

        - Lạy Chúa! - Moorer thốt lên - Họ nói với chúng ta chuyện vớ vẩn gì vậy!

        - Một lũ điên khùng! Đừng tin họ!

        Blackburn cũng không tin điều này, hay nói chính xác hơn là ông ta không muốn tin! Lệnh thi hành đã được gửi đi 24 giờ trước đó. Chiến dịch Bờ biển Ngà nhất định phải được thi hành, cho dù khó khăn đến đâu!

        Nguồn tin xấu nói trên là do các chuyên viên DIA lấy từ bao thuốc lá Điện Biên của một người tên là Nguyễn Văn Hoàng chuyển cho Alfred -một thành viên của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát đình chiến (ICC) kiêm gián điệp thuê của Mỹ, mang từ Hà Nội về. Khi gói thuốc lá này được các chuyên gia DIA ở Washington phân tích, họ đầ nhận thấy nó được dùng mã khóa của các tù binh để thông báo số lượng tù binh trong các trại. Điều đặc biệt là họ đã không thấy "Hy vọng" Sơn Tây trong danh sách các trại giam, mà khoảng 150 tù binh đã xuất hiện trong một trại gỉam mới, có tên là "Đông Hồi".

        Blackburn đã không tin vào kết luận này. ông ta đề nghị Moorer cho phép báo cáo lại vào lúc 6 giờ 00 phút ngày hôm sau, trước khi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ có quyết định nên hoãn cuộc tập kích hay không.

        Để kiểm tra các kết quả phân tích nguồn tin, Blackburn điện cho Mayer yêu cầu làm lại từ đầu. Nhưng lúc đó đã là 17 gỉờ 30 phút, tất cả các chuyên viên thuộc phòng 2D 921 của DIA đã về nhà hết...

        - Gọi tất cả bọn họ quay trở lại văn phòng làm việc! - Blackburn gào lên trong máy - Ngay trong đêm nay tôi phải có kết quả Ị

        3 giờ 56 phút ngày 20 tháng 11 năm 1970, một công điện của Manor từ Đà Nằng gửi về Lầu Năm Góc với nội dung: Cuộc tập kích sẽ được tiến hành sớm hơn 24 giờ so với kẽ hoạch. Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ đã được thông báo. Simons và đơn vị của ông ta đã sẵn sàng lên máy bay!

        Mặc dù đang ngái ngủ và trời còn tối đen, Blackburn và Mayer vẫn lên xe ô tô phóng như bay đến ngay phòng làm việc ở Lầu Năm Góc.

        Việc đầu tiên Tướng Blackburn làm là lệnh cho Mayer gọi tất cả các sĩ quan trực trong Trung tâm chỉ huy đến để thông báo cho họ biết kế hoạch Kingpin sẽ được thi hành ngày hôm đó.

        5 giờ 00 phút sáng, Blackburn đẩy mạnh cửa bước vào phòng làm việc của nhóm chuyên viên phân tích của DIA. Tất cả bọn họ đều lộ rõ sự mệt mỏi vì thiếu ngủ.

        - Tôi không đủ kiên nhẫn để chờ đợi nữa! - Giọng Blackburn gay gắt - Các anh hãy trả lời ngắn gọn: "Có" hoặc là "không"?

        Một số người lúng túng. Họ ú ớ trả lời bừa:

        - Có... Nhưng mà...

        - Sao đã "có", lại còn "nhưng mà" - Blackburn cắt ngang - Thật là vớ vẩn! Các anh có biết rằng mình đang tham dự vào một trò chơi nguy hiểm không? Mỗi giây phút này đều ảnh hưởng tới sinh mạng của hàng trăm con người ở bên kia Thái Bình Dương đấy!

        Đã đến giờ Blackburn phải đi gặp Moorer. Tướng Bennett cũng đến với hai cặp tài liệu kè kè trên tay. Khi được hỏi ý kiến trước, chính ông này đã ngập ngừng, trả lời nước đôi:

        - Cặp tài liệu bên tay trái tôi khẳng định rằng cậc tù binh của chúng ta đã được chuyển khỏi Sơn Tây; nhưng cặp tài liệu bên tay phải tôi thì chứng minh ngược lại...

        - Thế theo anh, chúng ta sẽ làm gì?

        - Tôi đề nghị cho thi hành chiến dịch!

        Blackburn cảm thấy nhẹ cả người.

        Trong bữa ăn sáng, Moorer đã báo cáo với Laird về các tin xấu đối với kế hoạch Kingpin. Tuy nhiên, ông ta cũng nhấn mạnh là vẫn còn 50% hy vọng...
Laird đã phải cân nhắc một cách khó khần đối với hai quyết định hệ trọng về kế hoạch Kingpin đang đặt trên bàn ông ta. Nếu quyết định thi hành thì phải gửi đi trước 09 giờ 18 phút (giờ Washington), còn nếu quyết định hoãn thi hành, thì chậm nhất là 10 giờ 08 phút phải gửi đi.

        Không thể đừng được nữa, Laird dùng đường dây đặc biệt gọi đến Nhà Trắng xỉn được nói chuyện với Richard Nixon. Ông ta trình báo với Tổng thống Mỹ về những tin tức bi quan vừa nhận được...

        Nhưng Laird cũng nhấn mạnh những điều thúc bách cần phải giải cứu tù binh và chưa phải đã hết hy vọng về sự thành công.

        Richard Nixon đồng ý tiếp tục cho thực hiện kẽ hoạch Kingpin, với yêu cầu là thường xuyên thông báo diễn biến cho ông ta nắm được.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Một, 2015, 06:20:29 PM
       
        Bí mật đến phút cuổi cùng và cuộc tập kích đã mở màn như thế!


        Đúng 3 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1970 (tức hơn 12 giờ trưa, giờ Washington), tại Thái Lan, Manor và Simons đã cùng có mặt tại phi trường Takhli - Một căn cứ không quân khá hiện đại hồi ấy - để đón các toán tập kích. Họ vừa phải vượt qua một chặng đường dài hơn 9.500 dặm với 23 giờ bay mệt mỏi. Sau khi bước xuống cửa sau của chiếc C-141, cả đơn vị biệt kích Mỹ được dồn vào hai chiếc xe buýt bịt kín mít, chạy thẳng về một doanh trại vắng vẻ nhưng kín đáo và được bảo vệ chặt chẽ.

        Cho đến thời điểm này, ngoài Manor và Simons ra, trong cả đơn vị biệt kích chỉ có 3 người nữa là Cataldo, Sydnor và Meadows được biết mục tiêu của cuộc tập kích. Những người khác chỉ mơ hồ phỏng đoán là mình đang có mặt tại một địa điểm nào đó ở vùng Đông Nam Á.

        Theo lệnh của chỉ huy, họ được ngủ đúng 6 tiếng đồng hồ cho lại sửc. Không ai được hỏi và không được phép tò mò bất cứ chuyện gì! Thời gian còn lại họ được nhắc nhở về kỷ luật, sau đó là ôn luyện các bài tập chiến đấu và chuẩn bị vũ khí, trang bị... nghĩa là họ không được quyền lãng phí thời gian dù chỉ một phút.

        Lúc 03 giờ 30 phút sáng 19 tháng 11 năm 1970, tướng Manor bị đánh thức để trao một bức điện hỏa tốc tối quan trọng. Đó chính là bức điện thông báo Tổng thống Mỹ chấp thuận cho tiến hành cuộc tập kích Sơn Tây.
Manor hiểu rằng kể từ giờ phút này, ông ta đóng vai trò quyết định sự thành bại của kế hoạch Kingpin.

        Lúc 06 giờ 25 phút sáng cùng ngày, Manor điện cho Đô đốc Bardshar trên tàu sân bay Oriskany: NCA đã chấp thuận... Có nghĩa là lực lượng máy bay nghi binh của Hải quân sắp vào cuộc chơi! Cách đó ít ngày, nhiều Phi công trong đơn vị thuộc quyền của Bardshar đã nhận được lệnh đặc biệt với nội dung kỳ quặc: Những máy bay đi oanh tạc Hải Phòng, Quảng Ninh... lần này không được phép dùng đạn đối đất, mà chỉ dùng... pháo sáng và... tên lửa gây nhiễu!

        Đây là lần đầu tiên sau 2 năm, kể từ ngày 31 tháng 10 năm 1968, mới lại có nhữhg hoạt động quy mô lớn đến thế của Hải quân Mỹ trên vùng trời miền Bắc Việt Nam.

        Theo dự báo của các chuyên gia thời tiết: Đến tối thứ Bảy, 21 tháng 11 năm 1970, cơn bão Patsy chỉ còn cách Việt Nam khoảng 100 dặm. Nó đang kéo theo một trận cuồng phong dữ dội càn quét vùng trời phía Nam của Đông Nam Á; cộng thêm một bộ phận không khí lạnh có khả năng tràn về miền Bắc Việt Nam... Nếu đợi đến ngày ấy mới xuất phát thì các chuyến bay sẽ không thể cất cánh được vì trời đầy mây, gió lớn, đêm không có ánh trăng... và tình trạng thời tiết xấu này sẽ kéo dài suốt cả tuần sau đó. Chỉ còn đêm 20, rạng ngày 21 tháng 11 năm 1970 là thời điểm duy nhất, và Manor đã quyết định chọn thời điểm đó cho cuộc xuất kích.

        15 giờ 56 phút ngày 20 tháng 11 năm 1970, Manor gửi công điện cho Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương và Trung tâm chỉ huy của Lầu Năm Góc thông báo về ngày giờ thi hành kế hoạch Kingpin. Ngay sau đó, ông ta đáp máy bay về Bộ chỉ huy cuộc tập kích đặt tại Đà Nằng...

        Cùng ngày hôm đó, sau bữa cơm trưa, bác sĩ Cataldo đã bắt tất cả mọi người lính trong đơn vị biệt kích đều phải uống một liều thuốc ngủ nhẹ và... lên giường nhắm mắt lại. Đến 17 giờ, họ được đánh thức dậy ần bữa tối. Cataldo đã khuyên tất cả ăn thật nhiều để có đủ sức khỏe xuất kích trong đêm. 18 giờ, toàn đơn vị tập trung nghe phổ biến mệnh lệnh hành quân. Lần đầu tiên những lính Mỹ trong đơn vị biệt kích này được biết sự thật: Chúng ta sẽ trực tiếp tham gia giải cứu khoảng 70 tù binh Phi công Mỹ ở trại giam Sơn Tây, mục tiêu nằm trong lãnh thổ Bắc Việt Nam, cách Hà Nội 40 km về hướng Tây... Sau khi đọc mệnh lệnh và giải thích nhưng điều cần thiết, Simons nói hết sức ngắn gọn như thế.

        Những người lính tập kích theo lệnh buộc phải gửi lại toàn bộ tiền bạc, giấy tờ và vật dụng cá nhân... Họ lại được chiếc xe buýt bịt kín, đưa ra phi trường trong im lặng. Trước khi bước lên chiếc máy bay vận tải C-130 loại 4 máy đã chờ sẵn, mọi người được lệnh kiểm tra lại vũ khí trang bị lần cuối.
Chiếc C-130 lăn bánh ra đường băng lúc 22 giờ 32 phút để bay đến Udon. Tại đây, dưới sự chỉ huy của Manor, các toán tập kích được chuyển sang 3 trong 5 chiếc trực thăng đang chờ sẵn. Cạnh đó là 2 chiếc tải thương C-141 sẽ được sử dụng để chở tù binh khi đến Sơn Tây.

        23 giờ 25 phút, từ Đà Nẵng, tướng Manor báo cáo về Lầu Năm Góc: Chiếc trực thăng HH53 cuối cùng mang theo các toán xung kích rời sân bay Udon lúc 23 giờ 18 phút... Kế hoạch Kingpin đã mở màn!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Một, 2015, 04:56:28 AM
       
        Đêm Sơn Tây không quên lính biệt kích Mỹ đã làm những gì!

        Đoàn trực thăng biệt kích do một chiếc C-130 dẫn đường, lầm lũi bay trong đêm như kiểu "đi ăn trộm". Simons ngồi trên chiếc trực thăng được nguỵ danh là Quả táo số Một bắt đầu ngủ lấy sức: Theo kế hoạch, kể cả thời gian tiếp liệu trên không phận của Lào, đúng 3 giờ sau họ sẽ đổ bộ xuống Sơn Tây...

        Những Phi công trong phi hành đoàn của Simons không ngờ rằng máy bay của họ chỉ là rrìột trong hơn 100 chiếc đủ loại: Trực thăng, C-130, Al, F-105, F-4... được cất cánh từ 5 căn cứ không quân tại Thái Lan, 3 tàu sân bay tại Vịnh Bắc bộ, mà Lầu Năm Góc đã huy động tham gia chiến dịch này. và quy mô của chiến dịch diễn ra trên một vùng trời rộng tới gần 300.000 km2 của vùng Đông Nam Á.

        Viên Phi công Donohue lái chiếc Quả táo sổ Ba bắt đầu hạ thấp độ cao khi bay vào không phận Việt Nam. Bay sau anh ta là hai chiếc Quả táo số BốnQuả táo số Năm. Khi chỉ còn cách mặt đất chừng 500 bộ (1 bộ - 0,3048 mét), các Phi công Mỹ đã có thể nhìn sông Đà lấp loáng dưới ánh trăng và dãy núi Tam Đảo trùng điệp để định hướng đúng như bản đồ bay đã ghi.

        Khi chỉ còn cách mục tiêu khoảng 2 dặm, Donohụe cho Quả táo số Ba bay chậm lại để chiếc C-130 cùng hai chiec trực thăng khác vượt lên chuẩn bị thả pháo sáng. Lúc đó kim đồng hồ đã chỉ 2 giờ 17 phút của ngày 21 tháng 11 năm 1970. Như vậy, phi hành đoàn biệt kích của Simons đã bay đến Sơn Tây nhanh hơn... 01 phút so với kế hoạch dự kiến. Quân Mỹ cho rằng đây là thời gian bộ đội canh giữ trại tù binh đang đổi gác, nên sẽ bị bất ngờ và không kịp trở tay!

        Trong ánh pháo sáng lóa mắt của chiếc C-130 bắn xuống, đoàn trực thăng Mỹ bay sát ngọn cây, cánh quạt chém vào không khí tạo nên những luồng gió lốc rú rít ầm ầm giữa đêm khuya.

        Sau những giây phút căng thẳng cố gắng định hướng cho máy bay đến đúng trại tù binh, Donohue bỗng phát hiện ra mình đã bay chệch về phía Nam mục tiêu khoảng 400 mét. Nơi ấy cũng có một cơ sở giống như trại giam, nhưng không thấy có con sông nhỏ ở ngoài tường rào như các chuyên gia DIA đã mô tả. Anh ta lập tức lái chiếc Quả táo số Ba quay lại.
Bây giờ thì Donohue và cả Đại uý Thomas Waldron - viên Phi công lái phụ đã nhìn thấy trại tù binh sơn Tây với 3 chiếc chòi gác rõ mồn một. Chỉ có điều các cây cối trong trại có vẻ xanh tốt và cao to hơn rất nhiều so với những gì họ hình dung từ bên Mỹ. có lẽ chúng đã lớn vổng lên sau mùa mưa vừa rồi!

        - Chuẩn bị nổ súng! - Donohue nói nhanh vào chiếc máy truyền tin, đồng thời anh ta hạ bớt tốc lực cánh quạt... "Bắn!"

        Sau khẩu lệnh ngắn gọn, chiếc Quả táo số Ba rung lên. 2 khẩu súng máy được gắn bên hông của chiếc trực thăng thi nhau nhả đạn một cách tàn nhẫn.

        -Trúng rồi! Đổ sụp hết rồi!

        Có tiếng reo lên khoái trá của mấy gã xạ thủ. Donohue liếc mắt thấy rõ những chiếc chòi gác sụp xuống tan tành khi chiếc trực thăng lướt qua...
Quả táo số Ba đã hoàn thành nhiệm vụ mở màn cuộc đột kích. Nó bốc lên cao hơn, bay về hướng Đông khoảng 1,5 dặm, tìm một bãi đất trống và đáp xuống. Cũng tại đây, một tốp trực thăng khác đã đợf sẵn, tất cả vẫn để cánh quạt quay tít. Chúng có nhiệm vụ chờ đón các tù binh được giải thoát đưa ra khỏi trại giam rồi bốc lên luôn... Theo kế hoạch đã được định trước, tất cả các nhân viên tổ lái đều được lệnh sẵn sàng lẳng hết các thứ dụng cụ mang theo cho máy bay nhẹ bớt... để ưu tiên di tản những tù binh Phi công được cứu thoát.

        Donohue vặn to âm lượng máy truyền tin. Sau 3 giờ đồng hồ phải bay trong câm lặng, bây giờ thì tất cả các máy truyền tin được mang theo của các toán tập kích đều đã bật công tắc. Thôi thì đủ các làn sóng FM, EM, VHF, UHF... với vô vàn những âm thanh hỗn tạp cùng vang lên trong tiếng súng nổ và tiếng động cơ cánh quạt trực thăng hối hả...

        Có lẽ nhiệm vụ khó khăn nhất thuộc về chiếc trực thăng mang nguỵ danh Quả táo số Hai do Đại uý Dick Meadows chỉ huy, Phi công H. Kallen lái chính và Herb Zehnder lái phụ. Bọn họ có nhiệm vụ chở một toán đột kích đáp xuống chiếc sân nhỏ của trại tù binh, ngay sau khi chiếc Quả táo số Ba đã tiêu diệt hết các mục tiêu chòi gác. Toán đột kích này có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là khống chế, tiêu diệt những bộ đội Việt Nam có trong trại và tiếp cận ngay các buồng giam để bảo vệ tù binh. Sau đó, họ sẽ "nội công" để một lực lượng khác "ngoại kích", phá bức tường rào của trại giam, tìm cách đưa tù binh vừa giải cứu được ra ngoài...

        Theo kế hoạch đã được các chuyên gia Mỹ tính toán rất kỹ thì chỉ cần chiếc HH 53 khổng lồ đáp được xuống khoảng sân nhỏ của trại giam, không làm tốp lính bị thương, đã là thành công! Một khối thuốc nổ C4 cực mạnh đã được khóa chặt dưới sàn của máy bay (đề phòng đối phương tháo gỡ), với 2 ngòi nổ hẹn giờ, để Dick Meadows phá tan cpiếc máy bay đó sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Nghe nói, một sỹ quan cao cấp của Lục quân đã không đồng ý với kế hoạch này, chỉ vì... tiếc của. Tướng Blackburn tức lắm! ông ta đòi gặp riêng viên sĩ quan nọ để "làm cho ra nhẽ". Viên sĩ quan nọ đã "thật thà" khuyên Blackburn nên dùng loại trực thăng UH-1 của bộ binh, giá tiền chỉ có 350.000 đôla một chiếc, thay vì dùng loại HH53 của Không quân, giá tiền những gần 1.000.000 đôla mỗi chiếc.

        Blackburn đã suýt nổi khùng lên. ông ta nói đại ý: Không thể dùng đô la để cò kè hơn thiệt với tính mạng hàng trăm tù binh Phi công Mỹ đang bị giam ở Sơn Tây. Đến thời điểm đó, quân đội Mỹ đã mất không dưới 3.000 chiếc trực thăng các loại trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nước Mỹ giàu có lắm, nếu có mất thêm một chiếc trực thăng nữa thì cũng như rơi cái... đinh rỉ mà thôi! Nhưng chỉ cần mất một người lính, hơn nữa lại là một Phi công, thì đó là cả một sự khủng khiếp!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2015, 01:39:27 PM
       
*

        ...Trở lại đêm thực tế ở sơn Tây, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng viên Phi công H. Kallen vẫn không tài nào điều khiển nổi chiếc Quả táo số Hai đáp xuống sân trại giam được như ý muốn. Vào những giây phút cuối cùng trước khi tiếp đất, càng của chiếc trực thăng đã vướng phải hàng dây thép chăng ngang sân (kiểu dâỵ phơi quần áo), còn chiếc cánh quạt quá dài tới 62 bộ đã chém đứt ngang mấy thân cây to, băm nhỏ từng khúc, khiến cành lá của chúng văng ra tung tóe khắp nơi, rơi rụng ào ào...

        Một tiếng va chạm cực mạnh, ầm vang hơn cả bão lốc. Chiếc trực thăng đổ nhào trong sân trại tù binh khiến cho nhữhg tấm kính chắn gió vỡ vụn, ô cửa sổ méo mó. Động cơ máy bay gầm lên dữ dội và lồng lộn như thú dữ bị trọng thương. Chiếc cánh quạt sút mẻ đã chém đút thêm mấy đoạn cây lớn nữa, rồi mới chịu bất lực dừng hẳn vòng quay...

        Cú va chạm khủng khiếp đã làm cho một lính Mỹ bị văng ra khỏi máy bay đến mấy mét, một người khác bị vỡ cổ chân. Đại uý Dick Meadows ê ẩm cả người, nhưng anh ta cố vùng ngay dậy được và thoát ra khỏi chiếc máy bay hỏng. Dick Meadows chạy cách xa khoảng hơn chục mét thì dừng lại và quỳ xuống. Anh ta hướng chiếc loa pin vào khu buồng giam và bắt đầu phát thanh bằng tiếng Mỹ. Giọng anh ta hổn hển, gấp gáp, nhưng cố gắng bình tĩnh: Chú ý! Chú chú ý! Chúng tôi là người Mỹ! Chúng tôi đến đây để cứu thoát các anh ra khỏi chỗ này! Để đảm bảo an toàn, yêu cầu tất cả các anh hãy nằm xuống nền nhà! Chúng tôi sẽ vào phòng giam của các anh trong sau vài phút nữa!...

        Trong khi Dick Meadows phát thanh nhắc lại nội dung trên nhiều lần, thì 13 lính trong toán đột kích còn lại của anh ta với súng tiểu liên lăm lăm trong tay đã nhanh chóng tỏa ra tiếp cận các phòng giam và khu cổng trại chính. Họ xả súng bắn không tiếc đạn vào bất cứ thứ gì có vẻ khả nghi trên đường tiến quân.

        Chú ý! Chú chú ý! Chúng tôi là người Mỹ! Chúng tôi đến đây để cứu thoát các anh ra khỏi chỗ này!... Chúng tôi sẽ vào các phòng giam sau vài phút nữa...

        Giọng Dick Meadows vẫn vang vọng khắp khu trại giam, lẫn trong tiếng súng nổ và tiếng cánh quạt trực thăng phành phạch. Nhưng tuyệt nhiên không có sự hồi âm lại của phía các tù binh. Các phòng giam vẫn hoàn toàn im lặng một cách đáng ngờ!

        Dick Meadows xem đồng hồ: cuộc tập kích đã diễn ra được gần 3 phút, vào giờ này, theo kế hoạch lẽ ra toán quân của Simons đã phải có mặt để làm nhiệm vụ. Nhưng không hiểu họ biến đi đâu cả?

        Bỗng xuất hiện một quầng sáng chói mắt, kèm theo một tiếng nổ lớn. Dick Meadows thấy bờ tường rào phía Nam đã bị bục một mảng lớn. Trong khói bụi khét lẹt, một toán biệt kích Mỹ hùng hổ nhảy vào. Nhưng đó lại là toán quân của Trung tá Elliot Sydnor...

        Thì ra chiếc trực thăng mang nguỵ danh Quả táo số Một chở toán quân của Simons gồm 22 người, đã đổ bộ nhầm xuống một địa điểm cách mục tiêu khoảng 400 mét về phía Nam. Nơi này, theo các chuyên gia DIA đã đánh dấu trong bản đồ bay là "Trường trung học". (Thực ra, nơi đây nguyên là Trường Đảng của tỉnh Sơn Tây, sau ngày tỉnh Hà Tây được thành lập, trường được cải tạo thành nơi an dưỡng cho cán bộ).

        Trước khi cuộc tập kích xảy ra, Simons đã nhắc nhở các Phi công rất kỹ: Từ trên cao nhìn xuống nó rất giống mục tiêu, nên phải hết sức cẩn thận. Nhưng chính viên Phi công kỳ cựu Britton chở toán của Simons lại bị mắc lừa! Simons đã nhận ra điều này sau khi chiếc trực đã thả toán đổ bộ xuống bên ngoài bức tường rào và bay lên cao. ông ta ngạc nhiên vì chờ mãi mà không nghe tiếng Dick Meadows phát thanh kêu gọi tù binh nằm xuống tránh đạn, cũng không nghe tiếng súng nổ phía trong. Để chắc chắn, Simons lệnh cho toán lính phá vỡ bức tường rào và xông vào... Tại đây, trước khi rút ra ngoài, lính biệt kích Mỹ đã xả súng bắn chết 5 cán bộ an dưỡng khi họ đang ngủ... và chỉ trong vài phút, bọn họ đã đốt phá cơ sở này, tạo nên những đám cháy lớn!

        Khi chiếc trực thăng Quả táo số Một quay lại đón toán của Simons đến đúng vị trí của mục tiêu, thì cuộc tập kích đã diễn ra được 8 phút. Simons lập tức liên lạc bằng bộ đàm với Dick Meadows và Elliot Sydnor, lệnh cho các toán trở lại Phương án Một (Trước đó, vì phát hiện ra Simons đổ bộ sai vị trí, Elliot Sydnor đã quyết định cho toán quân của mình chia làm đôi để thế chỗ và thông báo qua bộ đàm xin thực hiện Phương án Hai).

        Theo đúng kế hoạch, sau khi thiết lập xong sở chỉ huy nhẹ, Simons vội cho một tốp lính đi phá sập cầu sông Tích bằng thuốc nổ. Trong khi đó, toán lính của Sydnor cũng đã phá sụp trạm biến thế cùng các cột điện gần đó, cắt hết điện lưới cung cấp cho trại tù binh và các khu vực xung quanh, và mặc dù không có trong dự định trước, nhưng tốp lính này đã dùng chất nổ phá tan luôn cả trạm bơm nước của thủy lợi gần đó.

        Chưa hết! Trên đường tiến quân, lính của toán Simons còn đạp cửa xông vào một trong ba ngôi nhà dân hiếm hoi của cả vùng, bởi nhà này còn thắp điện sáng. Một người mẹ và ba đứa con nhỏ đang ngủ ngon. Bỗng nghe tiếng súng, bốn mẹ con sợ quá vội chui xuống gầm giường. Một lính Mỹ soi đèn pin và phát hiện ra họ. Hắn đã bóp cò súng, bắn trọn một bầng tiểu liên vào người phụ nữ và ba đứa trẻ. Bà Nguyễn Thị An (48 tuổi) và cháu gái Lê Thu Hương (12 tuổi) chết ngay tại chỗ. Cháu gái Lê Thu Nga (15 tuổi) và cháu trai Lê Việt Tuấn (9 tuổi) bị thương rất nặng bởi trúng nhiều vết đạn...

        Cùng lúc đó, sau khi gọi loa phát thanh, Dick Meadows đã chỉ huy toán lính phá khóa đột nhập vào từng buồng giam. Hầu hết các phòng đều trống không... Nhưng trong một căn buồng nhỏ, toán biệt kích Mỹ đã phát hiện ra 6 người đàn ông đang cởi trần nằm ngủ. Họ chính ià những người lính có nhiệm vụ trông coi trại giam sau khi tù binh Mỹ đã chuyển đi nơi khác, và đều thuộc diện quân số thu dung, (những người đang ốm yếu, bệnh tật, an dưỡng từ nhiều nơi được điều về... nghĩa là không phải quân số tham gia công tác, chiến đấu, nên thường không được trang bị vũ khí), và toán lính của Dick Meadows đã xả súng bắn chết tất cả 6 người đàn ông không hề có vũ trang này!

        Thượng sỹ Jemmer là người đầu tiên được lệnh lục soát các phòng giam. Anh ta hết sức kinh ngạc, bởi phòng nào cũng trống không! Tuyệt nhiên không thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ có tù binh Mỹ đang ở.

        Trung uý Petrie, trưởng toán hành động đứng bên ngoài cảnh giới sốt ruột hỏi vọng vào:

        - Có tìm thấy ai không? có gặp người nào không?

        Jemmer đáp gọn lỏn:

        - Chẳng thấy mống nào hết!

        Petrie không tin, anh ta vội lao vào, trực tiếp cầm đèn pin soi từng phòng một. Nhưng sự thật vẫn là những căn phòng hoàn toàn trống rỗng! Một số phòng các cửa sổ bị mở toang, nền nhà đầy bụi bặm và không khí nồng nặc mùi ẩm mốc. Thật khó mà xác định được chúng đã bị bỏ hoang bao lâu. Có thể đã vài tuần, nhưng cũng có thể chỉ mới vài ngày...

        Sau một hồi lục soát và tìm kiếm vô vọng, Đại uý Dick Meadows đành báo cáo qua bộ đàm:

        - Trại giam trống rỗng! Không tìm thấy một tù binh Mỹ nào cả!

        Không tìm thấy một tù binh nào cả. Không tìm thấy một tù binh nào cá... câu nói ấy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và truyền từ người này tới người khác, sau cùng nó đã đến tai Simons như một cú sét, khiến cho ông ta không khỏi giật mình choáng váng.

        - Các anh đã kiểm tra thật kỹ chưa? - Simons không tin, hốt hoảng hỏi lại. Giọng ông ta nghe lạc hẳn đi.

        - Thì tôi đang ở trong một phòng giam đây! - Dick Meadows bực mình gào lên trong máy.

        Đồng hồ đã chỉ sang phút thứ 18 kể từ khi bắt đầu cuộc tập kích. Simọns lệnh cho mấy tên lính đem theo máy ảnh vào các buồng giam để chụp ảnh. và đích thân ông ta đã vào tận nơi để kiểm tra lần cuối cùng, với một tâm trạng đầy thất vọng và chán chường.

        Một bức điện không có trong dự kiến đã được viên sĩ quan truyền tin của Simons gửi cho tướng Manor ở Bộ chỉ huy cuộc hành quân tại Đà Nẵng: Không có một tù binh nào cả. Trước khi Đại tá Simons hạ lệnh cho tất cả toán tập kích rút lui và lên máy bay, mấy tên lính đã lục soát xác mấy người đàn ông bị bắn chết, nhặt theo vài chiếc giày, dép, thắt lưng, quần áo cũ, mũ cối... coi như là "chiến lợi phẩm".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2015, 06:43:24 AM
       
        "Lầu Năm Góc" dã nhận được thông tin cuộc tập kích
        Sơn Tầy thất bại như thế nào?


        Vào lúc cuộc tập kích sơn Tây bắt đầu, nghĩa là lúc 23 giờ 25 phút ngày 20 tháng 11 năm 1970, từ Đà Nẵng, tướng Manor điện về Lầu Năm Góc báo tin Chiến dịch Kingpin đã mở màn, thì tại thủ đô Washington của nước Mỹ đang là buổi trưa.

        Hầu như tất cả các quan chức chóp bu của Lầu Nầm Góc đều có mặt tại trung tâm chỉ huy: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Laird, Cố vấn Kissinger; cùng các Tư lệnh Không quân, Tư lệnh Thuỷ quân Lục chiến, Tham mưu trưởng Lục quân... Bọn họ ăn trưa ngay tại phòng làm việc. Chủ đề các câu chuyện họ nói với nhau đều không ngoài cuộc tập kích Sơn Tây đang diễn ra tại Việt Nam... Thỉnh thoảng lại có người nhìn đồng hồ, thấp thỏm chờ đợi tin tức.

        Liên tiếp ba công điện của Tướng Manor từ Việt Nam gửi về báo cáo diễn tiến tốt đẹp của cuộc hành quân, khiến cho không khí trong phòng họp của Trung tâm chỉ huy có vẻ hân hoan và tràn trề hy vọng...

        Nhưng sự hy vọng và niềm hân hoan của các tướng lĩnh tại Lầu Năm Góc cũng chỉ tồn tại trong vòng hơn 3 giờ đồng hồ. Khi công điện thứ 4 của tướng Manor gửi về báo tin: Các toán đột kích Mỹ đang rời khỏi Sơn Tây đã khiến cho bọn họ đứng ngồi không yên.

        Chưa đầy 30 phút sau, một công điện cuối cùng đã bay về như dội xuống mỗi "cái đầu nóng" một "gáo nước lạnh" đến tê người: Không giải cứu được một tù binh Phi công nào!

        Nguồn tin trên đã khiến cho cả Trung tâm chỉ huy như chết lặng đi. Không một ai muốn tin rằng đó là sự thật và độ chính xác của công điện mà họ vừa nhận được. Nhưng bọn họ cũng không có cách nào kiểm chứng lại, bởi vì từ giờ phút đó các toán biệt kích đặc nhiệm Mỹ đã bay ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong im lặng, liên lạc vô tuyến bị cắt hoàn toàn...

        Cũng lúc đó, tại Bộ chỉ huy cuộc hành quân của tướng Manor ở Đà Nang một không khí thất vọng ê chề cũng đang bao trùm lên tất cả.

        Lần đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của viên tướng cáo già này đã nếm mùi thất bại cay đắng đến thế. ông ta thật sự hốt hoảng và bối rối, không biết phải hành động ra sao kể từ khi nhận được bức điện của Simons: Zero Prisoners (không có một tù binh nào cả!). Bức điện đó đã được thảo xong ở ngay trại giam Sơn Tây trống rỗng.

        Lúc đầu, chính Simons cũng lúng túng và phân vân về cách diễn đạt này, vì trong bản mật mã liên lạc của cuộc hành quân không có quy định sử dụng chữ Zero. Quả thật, khi nhận được nó, Tướng Manor đã không hiểu gì cả, và ông ta đã vội cho điện hỏi lại, vì nghĩ rằng có thể sĩ quan truyền tin của Simons đã "quên" hoặc "bỏ sót" một hai con số trước từ Zero.

        Simons đã kiên nhẫn cho điện lại lần thứ hai nội dung y như trên, trước khi điểm danh tên lính biệt kích Mỹ cuối cùng bước lên trực thăng...

        Chiếc trực thăng cuối cùng của toán đặc nhiệm tập kích Mỹ rời khỏi Sơn Tây lúc 2 giờ 44 phút ngày 21 tháng 11 năm 1970. Nghĩa là cuộc đổ bộ chỉ diễn ra trong 27 phút, đúng theo kế hoạch.

        Và 6 phút sau, một ánh chớp loé lên cùng một tiếng nổ lớn phát ra từ trại tù binh cũ. Đó là khối chất nổ C4 cực mạnh, được cài kíp hẹn giờ, đã phá tan chiếc HH53 mang nguỵ danh Quả táo số Hai trong sân trại giam...

        Tại sao tù binh Phi công Mỹ lại được chuyển khỏi trại giam Sơn Tây trước khi vụ tập kích xảy ra?

        Đó chính là câu hỏi đã làm điên đầu các quan chức chóp bu của Lầu Năm Góc sau khi cuộc tập kích thất bại, khiến cho Tổng thống Mỹ bị mang tiếng là "tên lừa dối" trước dư luận.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2015, 02:51:36 AM
       
        Một nhà Tình báo Quân sự Việt Nam đã lấy được thông tin rất sớm về Vụ tập kích vào trại tù binh sơn Tây năm 1970?


        Trước khi vụ tập kích được tiến hành, hàng ngày trại giam Sơn Tây vẫn liên tục được chụp không ảnh vừa bằng máy thường, vừa bằng tia hồng ngoại. Các bức không ảnh bằng tia hồng ngoại cho thấy rõ ràng là đang có người trong các phòng giam. Tuy nhiên, loại phim chụp tia hồng ngoại hồi ấy có nhược điểm là không phân biệt được thân nhiệt của người Việt Nam hay người Mỹ. Về vấn đề này, Đô đốc Moorer đã thú nhận: Các tin tức tình báo của chúng tôi rất chính xác. Nhưng chúng tôi không thể xác định được tù binh Mỹ đang ở đâu, khi họ liên tục bị di chuyển. Dù sao chăng nữa thì chúng tôi vẫn phải quyết định đề nghị mở cuộc hành quân giải cứu họ.

        Một số chuyên gia DIA cho rằng các tù binh Phi công Mỹ được phía Việt Nam cho sơ tán khỏi trại giam "Hy vọng" Sơn Tây chỉ vì một lý do rất đơn giản, một sự trùng lặp hết sức tình cờ: Để tránh những trận lụt, do hậu quả hoạt động mưa nhân tạo, nằm trong kế hoạch Chiến tranh thời tiết của CIA gây ra! Vì nguyên tắc bí mật, nên các chuyên gia của Chiến dịch Bờ biển Ngà đã hoàn toàn không được CIA thông báo về các chiến dịch hoạt động mưa nhân tạo nói trên. Chính vì thế, đã xảy ra câu chuyện bi hài gậy ông lại đập lưng ông!

        Theo các tù binh Phi công Mỹ sau này được trao trả kể lại, những trận mưa liên miên suốt mùa hè năm 1970, theo ý đồ của CIA, đã khiến cho vùng đất này có nguy cơ bị ngập lụt. Nước sông Tích đã dâng cao sát tường rào của trại giam, công việc đi lại, tiếp phẩm hết sức khó khăn. Một số mái nhà cấp bốn của trại giam do sử dụng quá lâu, bị xuống cấp, đã trở nên dột nát và hư hỏng quá nhiều.

        Một buổi trưa, tù binh được lệnh tháo gổ các dây phơi quần áo, lưới bóng chuyền và các tư trang khác; cùng nhữhg lợn, gà, xoong, chậu... xếp lên những chiếc xe tải nhỏ. Đêm hôm đó, tốp tù binh đầu tiên đã bước lên xe ca, để về trại giam mới ở Nhổn. Cuộc sơ tán lụt lội được tiến hành trong lặng lẽ, trật tự và kéo dài hàng chục ngày. Nơi họ đến là một doanh trại quân đội mới được sửa lại, chỉ cách trại "Hy Vọng" cũ khoảng 15 cây số. Các tù binh đã gọi nơi này bằng một cái tên mới cũng rất Mỹ: Trại "Niềm Tin". Chính ở nơi đây, họ đã nghe khá rõ tiếng động cơ cánh quạt trực thăng, tiếng súng nổ và nhìn thấy ánh sáng rực trời từ trại "Hy Vọng", trong đêm xảy ra vụ tập kích Sơn Tây...

        Một số chuyên gia quân sự của Mỹ lại khẳng định rằng: Tình báo Việt Nam đã biết trước có cuộc tập kích này. Họ chỉ không rõ chính xác nó sẽ diễn ra vào thời gian nào mà thôi. Bởi thế nên đơn vị biệt kích của đại tá Simons mới có thể vào và thoát ra được như đã kể trên...

        Vậy, tình báo Việt Nam đã phát hiện ra âm mưu của cuộc tập kích Sơn Tây như thế nào? Chúng ta hẫy nghe Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự, nguyên Trưởng Ban nghiên cứu của Phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris kể lại:

        ''Trong thời gian công tác ở Paris tôi thường xuyên được đọc và nghiên cứu các tài liệu mật mà các bạn Mỹ tiến bộ chuyển cho đoàn ta. Trong đó có các tập Biên bản của Quốc hội Mỹ (Congressional Records). Chúng dày tới hàng nghìn trang, được in chữ nhỏ, khó đọc; nhưhg có rất nhiều trang nói về chiến tranh Việt Nam, giúp cho Đoàn ta có thêm chứng cứ để đấu tranh trên bàn Hội nghị.

        Vào khoảng giữa quý 4 năm 1970, trong một tập tài liệu mật do các bạn Mỹ chuyển đến, tôi phát hiện tin tức nói về việc xây dựng tại Mỹ mô hình một trại tù binh ở miền Bắc Việt Nam. Tôi phân tích rồi phán đoán: Có thể Chính phủ Mỹ muốn thấy tận mắt nơi ăn ở của tù binh Mỹ ở Việt Nam, để đòi ta phải đối xử tốt người của họ? Hay là còn một lý do quan trọng nào khác? Trong một tập biên bản về cuộc điều trần trước một uỷ ban của Quốc hội, có nhiều đoạn bị kiểm duyệt, bị gạch bỏ hoặc xóa trắng, xen kẽ những đoạn được công bố. Qua các đoạn còn lại, thấy nội dung đại ý: Uỷ ban đã chất vấn Chính quyền là "Hành động như thế có thể dẫn đến việc một số nước Xã hội chủ nghĩa có cớ đưa quân vào miền Bắc Việt Nam không? Đại diện Chính quyền đã trả lời rằng "Không có khả năng đó !"

        Đọc đến đây, tôi chợt nhớ tới chi tiết sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ rất sợ một cuộc chiến tranh trên bộ với Trung Quốc ở lục địa Châu Á. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chủ trương hạn chế hoạt động của bộ binh trong phạm vi miền Nam; chỉ dùng không quân, biệt kích Nguỵ, gián điệp đối với miền Bắc... vì Mỹ cho rằng nếu dùng bộ binh tấn công miền Bắc, thì chắc chắn các nước Xã hội chủ nghĩa sẽ đưa quân vào giúp Việt Nam. Như vậy, sẽ xảy ra cuộc chiến tranh trên bộ với quân đội các nước Xã hội chủ nghĩa, điều mà Mỹ vẫn muốn tránh...

        Như vậy, rất có thể các nghị sĩ Mỹ đã lo ngại việc giới quân sự có ý đồ đưa bộ binh tiến ra. miền Bắc Việt Nam. Nhưng trong thực tế ở chiến trường miền Nam thời gian đó, dưới nhiều áp lực quân đội Mỹ đang thực hiện việc rút dần về nước, để thay thế bằng kế hoạch ''Việt Nam hóa chiến tranh" và "dùng người Việt đánh người Việt". Nếu vậy, mục đích của hành động quân sự dùng bộ binh đánh miền Bắc là gì? Đánh vào Thủ đô Hà Nội, đầu não chỉ huy cả nước? Đánh vào cảng Hải Phòng để phá hoại các kho hàng và ngăn chặn nguồn tiếp nhận viện trợ quân sự? Đánh ra Nam khu Bốn để triệt phá các chuyến hàng vận chuyển vũ khí, lương thực cho chiến trường miền Nam?... Những khả năng ấy đều rất khó xảy ra, vì từ sau khi cuộc hành quân vào vùng Mỏ Vẹt hòng mở rộng chiến tranh sang Campuchia bị thất bại, Richard Nixon đã vấp phải sự phản đối kích liệt của dư luận Mỹ. Chắc chắn, hắn chẳng dại gì liều lĩnh và mạo hiểm khi chưa được Quốc hội và dư luận Mỹ ủng hộ!

        Từ những lập luận như thế, tôi chợt nghĩ tới vấn đề mấy trăm tù binh Phi công Mỹ đã bị ta bắt sống và giam giữ tại miền Bắc? Đúng rồi, đó là vấn đề người Mỹ quan tâm hàng đầu lúc này! Qua nghiên cứu tài liệu trước đó, tôi được biết để đào tạo một Phi công chiến đấu quân đội Mỹ thường phải tốn ít nhất tới nửa triệu đô-la mỗi người, và để có được những Phi công giỏi, nhiều giờ bay chiến đấu còn tốn kém hơn rất nhiều... Đấy là chưa kể đến chuyện hầu hết các Phi công đều được tuyển chọn trong các gia đình Mỹ giàu có và thế lực. Chẳng thế mà họ còn được mệnh danh là các "Sĩ quan quý tộc". Với người Mỹ, chiến tranh có thể hao tổn nhiều triệu đô- la vũ khí, trang bị cũng không hề gì, nhưng chỉ cần một người lính bị chết hoặc bắt sống là ầm ĩ cả lên! Huống hồ, đó lại là số phận của mấy trăm "Sĩ quan quý tộc", có nhiều người là "cậu ấm", là "con ông cháu cha"?

        Đến đây, tôi liên hệ ngay tới việc Mỹ cho xây dựng trên đất của họ một trại giam giữ tù binh giống như ở Việt Nam. Hồi ấy, tôi đã biết ở Sơn Tây có một trại giam Phi công Mỹ và mô hình trên rất có thể là trại giam đó. Quân đội Mỹ đã từng tổ chức giải cứu thành công một số Phi công ngay sau khi họ bị bắn rơi ở chiến trường Việt Nam. Lần này, sự tham lam quá mức đã khiến cho Lầu Năm Góc có hành động quân sự phiêu lưu đến như vậy. và kế hoạch quân sự phiêu lưu này đã được đưa ra Quốc hội Mỹ bàn bạc, khiến cho nhiều trang văn bản bị kiểm duyệt, nhiều đoạn bị gạch bỏ? Nếu đúng như vậy, thì cần phải báo gấp thông tin này về "nhà" càng sớm càng tốt!

        Rất may ngay sau đó, tôi được thủ trưởng đoàn thông báo cho biết là ngày hôm sau sẽ có người về thẳng Hà Nội. Tôi liền viết một báo cáo chi tiết một số điều tôi đã thu lượm được, trong đó có đoạn: "Qua một số tư liệu trong biên bản Quốc hội Mỹ cho thấy địch có kế hoạch tập kích Trại giam Sơn Tây để giải thoát tù binh. Cần có phương án đề phònc!".

        Sau này, khi tôi về nước mới được biết tù binh Mỹ đã được chuyển khỏi trại giam Sơn Tây từ trước khi tôi báo tin về. Thì ra ở "nhà" cũng đã nhận được nguồn tin tình báo về kế hoạch giải cứu tù binh Mỹ tuyệt mật nói trên. Khoảng hai tuần sau đó cuộc tập kích diễn ra đúng như tôi dự đoán"...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2015, 04:47:13 AM
       
        Một nhà Tình báo công an Việt Nam cũng lấy được thông tin về vụ tập kích?


        Còn sau đây là câu chuyện của ông Gia Huy, một cán bộ tình báo bí mật của Bộ công an:

        ''Khoảng giữa năm 1968, đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn trực tiếp cử tôi đi công tác ở một số nước Tây Âu. Noel năm sau, tôi nhờ một người bạn giỏi tiếng Anh làm phiên dịch rồi cùng đến "Nhà người Mỹ" (Maisons Etats-Unis) trong cư xá Quốc tế tại đại lộ Jourdan ở Paris để tham dự một cuộc hội thảo với chủ đề "Chiến tranh và hòa bình". Cuộic hội thảo diễn ra khá căng thẳng. Tôi tìm hiểu một số người phản chiến và nhanh chóng làm quen được với một số nhân tố tích cực. Đầu tiên là hai sinh viên Mỹ đang theo học khoa Sử có tên là L. và G. Để có tiền ăn học, L. phải làm bồi phòng cho đôi vợ chồng già ở quận III. còn G. thì chưa có việc, tôi liền giới thiệu cho anh ta đến rửa bát cho một tiệm ăn Việt kiều. Mỗi ngày họ chỉ làm thêm vài tiếng đủ tiền công ăn học.

        Để giúp nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, sau khi nghỉ hè từ Mỹ trở lại Paris, không hiểu bằng nguồn nào, hai sinh viên đã đến trao tận tay tôi một tập tài liệu khá hoàn chỉnh gồm: giáo trình, giáo án, danh sách và ảnh nhận dạng một số nhân viên tình báo của chính quyền sài Gòn đang được huấn luyện tại Mỹ.

        Một lần, vào cuối năm 1969, trong khi tham dự cuộc hội thảo về chống chiến tranh tại Geneva (Thuỵ Sỹ) do bà Voiron và Tiến sĩ y khoa Ontrama đồng chủ tọa, tôi đã tình cờ quen biết ông R. - Một cựu nhân viên DIA (Cục Tình báo Quân đội Mỹ) vừa hết thời gian phục vụ ở Việt Nam.

        Bấy giờ R. là một nhà báo đang làm việc cho một tờ tạp chí có uy tín ở Mỹ. R. từng bị Chính quyền Mỹ gọi nhập ngũ phục vụ trong quân đội với lý do sang Việt Nam để "dẹp bọn phiến loạn Việt cộng" và "giúp đồng minh" (chế độ nguỵ sài Gòn). R. đã tận mắt chứng kiến nhiều tội ác của quân đội Mỹ với dân thường Việt Nam, nên chán ghét cuộc chiến tranh phi nghĩa này. và ông rất muốn làm một điều gì đó có ích cho nhân dân Việt Nam.

        Trung tuần tháng 10 năm 1970, trong một cuộc họp báo của Người phát ngôn Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Paris. R. cố tìm tôi. Bốn mắt nhìn nhau... Tín hiệu cần gặp gấp. Tôi vào toa-lét. Rất nhanh, R. cũng đi theo. Thay vì cái bắt tay như thông lệ, R. chìa hai ngón tay về phía trước, ở giữa kẹp một mảnh giấy nhỏ gấp tư. Tôi hiểu ý, kẹp luôn mảnh giấy vào tay mình. R. ghé sát tai tôi nói nhỏ: "Tin rất quan trọng đấy", rồi vội vã đi luôn. Tôi đứng trong phòng toa-lét đọc rất nhanh nguồn tin "nóng", rồi quẳng mảnh giấy nhỏ vào bồn vệ sinh và xả nước... Trở lại nơi họp báo, tôi nhấm lại nội dung thông tin quan trọng có trong mảnh giấy nhỏ: "Bộ Quốc phòng Mỹ đang chuẩn bị một cuộc tập kích vào phía Tây - Bắc Hà Nội để giải thoát cho tù binh Phi công Mỹ. Qua một linh mục người Việt Nam ở Bỉ, DIA đã tuyển chọn một số sĩ quan biệt kích người Tây Âu có kinh nghiệm cùng tham gia kế hoạch này" ...

        Tôi vắt óc suy nghĩ: Thời gian qua, quân và dân miền Bắc nước ta đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái... Tất nhiên là phải có trại giam. Nhưng quả thật, tôi không hề biết những trại giam này đóng ở đâu.
Sáng hôm sau, tôi đến Brussels (Bỉ) để tìm gặp một cựu sĩ quan du kích chống phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, rất có cảm tình với Việt Nam. ông này đã nhiệt tình cho tôi biết: "Lính biệt kích nhảy dù ở vùng đó không nhiều, nhưng cũng có những tay khá nổi tiếng trong hàng ngũ nhà binh. Đó là Fontaine, một người Bỉ, gốc Pháp. Ông ta là một chuyên gia quân báo, rất giỏi về huấn luyện biệt kích nhảy dù, đã từng cộng tác với tình báo Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Sau đó, Fontaine gia nhập quân đội Mỹ. Đầu thập kỷ 60, ông ta đã nhiều lần sang miền Nam Việt Nam và Lào để huấn luyện biệt kích. Nghe nói, mặc dù đã giải nghệ từ lâu nhưng Fontaine lại vừa được người Mỹ mời cộng tác để thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt gì đó" ...

        Hồi đó, giới báo chí và săn tin thường kháo nhau: muốn biết việc gì đã, đang, hoặc sắp xảy ra tại Washington (Mỹ), thì chỉ cần đến Paris (Pháp) hoặc London (Anh)... bởi đó là những "Trung tâm thông tin toàn cầu". Liên hệ với nội dung có trong mảnh giấy do nhà báo R. cung cấp, tôi nhận định: Nguồn tin "nóng" của R. là có cơ sở. Nhưng chưa rõ kế hoạch đó sẽ được thực hiện trong thời điểm nào?

        Tôi quyết định chuyển nhanh tin trên về "nhà": Có thể địch sẽ cho quân nhảy dù, tập kích để giải thoát cho tù binh Mỹ ở vùng Tây Bắc Hà Nội. Xin báo cáo để tham khảo.

        Sau này, khi về nước để báo cáo kết quả công tác, tôi đã được Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn biểu dương. Bộ trưởng còn cho biết: nguồn tin do tôi đưa về rất khớp với những nghi vấn do một số nguồn tin khác cung cấp cùng với nội dung Địch có thể tập kích vào trại giam Sơn Tây, mà ta chưa có điều kiện xác minh lại. Sau khi cân nhắc, cấp trên đã quyết định bí mật sơ tán ngay số tù binh Phi công Mỹ ở sơn Tây đến một trại giam dự bị, chỉ để lại một đơn vị thường trực trông coi doanh trại và sẵn sàng chiến đấu khi có địch. Việc sơ tán tù binh Mỹ đã được thực hiện đúng theo kế hoạch. Riêng việc thường trực sẵn sàng chiến đấu, lúc đầu đơn vị được giac nhiệm vụ đã thực hiện rất nghiêm túc. Nhưng vì không biết đích xác thời gian vụ tập kích xảy ra, nên sau vài tuần trực chiến không thấy gì, lực lượng phục kích của ta đã giao lại doanh trại cho bộ phận khác trông coi, nên khi quân biệt kích Mỹ vào trại đã xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên...

        Tuy nhiên, với Lầu Năm Góc thì lại khác: Do kế hoạch của cuộc tập kích Sơn Tây được chuẩn bị quá công phu và tốn kém, lại chịu sức ép nặng nề của dư luận Mỹ, nên việc không giải cứu được một tù binh Phi công nào là một sự thất bại nhục nhã và ê chề!

        Mặc dù đã "lường trước hậu quả xấu" có thể xảy ra, nhưng cả Tổng thống Nixon và Cố vấn Kissinger đều bị phe đối lập, Quốc hội và dư luận Mỹ chỉ trích nặng nề. Để đối phó, vớt vát phần nào danh dự và trấn an dư luận, Lầu Năm Góc đã bày ra trò "họp báo" rùm beng để "tuyên dương công trạng" và thậm chí còn... gắn huân chương cho toán quân biệt kích của Tướng Manor và Đại tá Simons vừa liều lĩnh xâm nhập miền Bắc Việt Nam trở về.

        Các chuyên gia quân sự của Lầu Năm Góc thì cố gắng tìm mọi lý do để biện minh cho thất bại của họ. có người bảo nguyên nhân là do phía Mỹ đã chủ quan vì quá tin vào khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại. có người lại cho Mỹ thất bại là do Hà Nội nắm được thông tin tình báo biết trước. Cũng có một số ý kiến cho rằng việc tù binh Mỹ được sơ tán khỏi trại gian Sơn Tây trước khi vụ tập kích diễn ra, chỉ hoàn toàn là sự trùng lặp tình cờ...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2015, 12:57:46 AM
       
        "Điều bí mật cuối cùng" của Vụ tập kích sơn Tây?

        Đã hơn nhiều năm trôi qua, nhưng bà Trần Thị Liên vẫn không sao quên được cái đêm kinh hoàng đó. Vốn là người hay nói lại có trí nhớ tốt, bà Liên đã vanh vách kể cho tôi những điều mình đã "mắt thấy tai nghe" cứ như chuyện mới xảy ra tối hôm qua vậy.

        -  Nhà tôi ở sát cổng chính của trại tù binh. Hồi đó, vùng Xã Tắc này còn vắng vẻ và nghèo lắm. Tôi làm nghề buôn gà, nên nhiều người bây giờ vẫn quen gọi tôi bằng cái tên ghép là "Nghiên gà", còn nhớ, các chú bộ đội tiếp phẩm trong trại rất hay ra nhờ tôi đi thu mua gà và khoai tây giúp. Họ thường mua với số lượng lớn, mà phải là gà và khoai ngon nhất chợ mới lấy. Sau này hòa bình rồi, tôi mới biết là họ mua những thứ ấy cho tù binh Phi công Mỹ ăn!

        Tối hôm trước đêm xảy ra vụ tập kích của Mỹ, có một chú bộ đội còn trẻ, khoác ba lô hỏi thăm đường vào trại giam. Chú ấy tự giới thiệu mình tên là Túc, người Nghệ An, mới tốt nghiệp kỹ sư xây dựhg, được nhận quyết định về đây. Vì chú Túc chưa kịp báo cơm đơn vị, nên tôi mời chú ấy ăn tối với gia đình luôn, chả là bữa cơm có món thịt ngỗng rất ngon.

        Đêm ấy, tôi nhớ là đã ngày 23 tháng 10 âm lịch, trời sáng trăng suông, lạnh lắm, đắp chăn bông vẫn thấy rét, nên khó ngủ. Quãng nửa đêm, tôi choàng tỉnh dậy vì thấy tiếng máy bay cánh quạt ầm ầm ngay trên nóc nhà mình. Tôi ngó qua cánh cửa sổ nhỏ, thấy nhiều ánh sáng lóa mắt, rồi tiếng súng nổ inh tai. Từ chỗ tôi nằm đến cổng gác chính của trại giam chỉ khoảng hai chục bước chân, nên nhìn rất rõ. Tôi thấy có những người đội mũ sắt, to cao lừng lững, nói xì xà xì xồ, chạy đi chạy lại... Chồng tôi, ông Cấn Hữu Ân, thì thào bên tai: Không phải bộ đội mình tập trận đâu! (Chẳng là hồi đó, bộ đội ta thường hay tập trận ở sơn Tây), hình như có biệt kích Mỹ đổ bộ vào đây rồi. Bà dẫn các con đi ẩn nấp mau Tôi hoảng quá, cuống cả lên, vội chui vào tủ quần áo ngồi, rồi chui xuống gầm giường nằm, không dám cả thở mạnh...

        Và sáng hôm sau, bà Liên lặng người khi nghe tiếng bà Tịnh hàng xóm của mình kêu giời, báo tin bên gia đình bà An bị giặc đạp cửa xông vào bắn cả nhà!

        -  Đấy chính là vợ và các con của tôi! - ông Lê Việt Tiến nhớ lại - Hồi đó, tôi đang là Phó trưởng Ty công an tỉnh Hà Tây. Đêm ấy, khi đang ngủ tại cơ quan ở thị xã Hà Đông, tôi nhận được tin dữ báo, vội về nhà ngay và đến sơn Tây khi trời còn chưa sáng. Các đồng chí công an của thị xã cho biết: Gia đình tôi có 4 người, thì 2 người đã chết, 2 người bị thương rất nặng. Họ khuyên tôi đừng trở về nhà, vì sợ tôi đau đớn quá mà không đủ bình tĩnh để xử lý công việc.

        Thế nhưng ông Lê Việt Tiến đã kiên quyết yêu cầu phải trực tiếp về để giải quyết việc nhà. Cho đến giờ, nhiều đồng sự, bạn bè cùng thời vẫn không hiểu ông đã lấy đâu ra sức mạnh, ý chí để có được sự bình tĩnh và nghị lực phi thường đến thế! Một mặt, ông thu xếp đưa hai con bị trọng thương đi viện cấp cứu, mặt khác ông trực tiếp lo tổ chức đám tang cho vợ và con gái.

        Hồi ấy, người ta rất ít khi tập trung đông người, vì cảnh giác với máy bay Mỹ. Nhưng riêng đám tang của vợ và con ông Lê Việt Tiến thì người dân sơn Tây đã tập trung hàng ngàn người. Họ đã lặng lẽ xếp hàng dài và đi bộ tới mấy cây số theo xe chở thi hài bà Bích An và em Thu Hương, cảm kích trước tấm lòng của nhân dân thị xã, nhứhg ông cũng không đành để bà con rồng rắn đưa vợ con mình tới nơi an nghỉ cuối cùng trong nguy hiểm như vậy. Ông đã kiên trì thuyết phục mọi người nhanh chóng giải tán quay về, đề phòng máy bay Mỹ trở lại bắn phá, gây thêm tội ác.

        Vào thời gian xảy ra vụ tập kích Sơn Tây, hai người con trai lớn của ông Lê Việt Tiến là Lê Thành và Lê văn Hùng đang học tập tại Liên Xô (cũ). Do hoàn cảnh chiến tranh, hồi đó việc liên lạc giữa họ và gia đình hết sức khó khăn. Mỗi lá thư đi và hồi âm trở lại thường phải mất mấy tháng trời, sợ các con đau buồn, ảnh hưởng tới sức khỏe và học tập, ông Tiến đã cấm người nhà không được thông báo cho Thành và Hùng biết.

        Cần phải nói thêm rằng cũng do hoàn cảnh chiến tranh, các phương tiện báo chí và thông tin đại chúng của nước ta hồi đó đã không hề hé lộ một chi tiết nào về Vụ tập kích cứu Phi công Mỹ ở Sơn Tây. Chỉ những cán bộ có trách nhiệm mới được phổ biến nhữhg thông tin hạn chế, theo chế độ bảo mật chặt chẽ. Nhưng phía Mỹ thì lại khác, sau khi các toán biệt kích thất bại từ vụ tập kích trở về, để trấn an dư luận, Lầu Năm Góc đã tổ chức họp báo, "tuyên dương công trạng" rùm beng cho một số tên sỹ quan chỉ huy và cầm đầu cuộc tập kích. Nên hầu hết các báo chí nước ngoài, trong đó có báo chí của Liên xô (cũ) đã đăng tin quân Mỹ tiến hành Vụ tập kích Sơn Tây.

        Tình cờ, hai người con trai lớn của gia đình ông Lê Việt Tiến đã nhận được thông tin đầu tiên qua các báo chí của Liên xô. Họ lập tức viết thư về nhà cho bạn bè và chẳng bao lâu họ đã rõ toàn bộ sự thật đau lòng... vậy mà họ đã phải nén đau thương để tiếp tục học tập, tiếp thu thật nhiều kiến thức để sau này trở về phục vụ đất nước. Và bây giờ, sau hơn 40 năm, cả hai người đều đã thành đạt: Một người nguyên là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Bộ công an; người kia là Giám đốc công ty Chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ, thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị của 3 liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2015, 01:28:52 AM
        Trở lại chuyện hai người con của ông Lê Việt Tiến bị trọng thương năm 1970. Ngày đó, chị Lê Thị Thu Nga 15 tuổi, học lớp 9; còn anh Lê Việt Tuấn mới lên 9, đang học lớp 3. Chị Nga bị đạn của quân biệt kích Mỹ mất mảng xương thái dương bên trái; anh Tuấn cũng bị vỡ xương trên tai trái và hỏng một mắt. cả hai người đều bị tổn thương sọ não rất nặng.

        Chị Thu Nga nhớ lại:

        -  Đó là đêm thứ Bảy, vừa là ngày nghỉ cuối tuần, vừa trùng với ngày Nhà giáo Việt Nam. Như bao nơi khác, lũ học trò chúng tôi đều được nghỉ học để chúc mừng ngày lễ của các thày cô giáo. Tôi còn nhớ, em Thu Hương theo bạn đến thăm cô giáo nên về nhà rất muộn. Đêm ấy, chúng tôi ngủ được một lúc thì nghe có tiếng máy bay ầm ầm trên trời, tiếng súng nổ loạn xạ xung quanh. Điện phụt tắt, nhưhg nhìn ra ngoài bỗng thấy trời rực sáng như đang có nắng. (Sau này tôi mới biết quân biệt kích Mỹ thả pháo sáng). Do thường xuyên được nhà trường nhắc nhở các bài học cảnh giác, nên chúng tôi đoán biết có chuyện gì đó rất nguy hiểm đang xảy ra.

        Mẹ tôi vội giục cả nhà chui xuống gầm giường tránh mảnh đạn. Giường ngủ của nhà tôi kê gạch rất cao nên tôi có thể ngồi bó gối mà ngủ gà ngủ gật được. Nhưng tôi vẫn nghe có rất nhiều tiếng người nói xì xồ, chạy huỳnch huỵch bên ngoài...

        Một lúc sau, đột nhiên cánh cửa nhà tôi bị bật tung ra. Có mấy người đàn ông cao to hùng hổ xông vào. Rồi ánh đèn pin quét loang loáng trong tiếng súng nổ choáng tai. Tôi nhắm mắt lại vì sợ hãi. Một lát sau, khi tiếng súng ngớt, tôi nghe rõ tiếng mẹ rên khe khẽ trong đau đớn: Các con ơi... mẹ bị thương rồi... có lẽ chết mất...

        Tôi càng hoảng hơn khi thấy em Tuấn cứ gục đầu vào người tôi mà lả đi. Tay tôi sờ vào chỗ nào cũng thấy có máu. Không hiểu sao, lúc đó tôi đã dùng hết sức mình cõng em Tuấn ra đầu hồi nhà, nghỉ một lúc, tôi cõng em đi tiếp xuống phía cổng trại giam... Tới gần nhà bà Liên thì gặp các chú bộ đội. Tôi không biết rằng chính mình cũng đang bị thương rất nặng, máu chảy đầy mặt. Tôi chỉ kịp nói: Các chú ơi, hãy đến cứu mẹ cháu và em chấu còn đang ở trong nhà... thì xỉu luôn. Trong mê man, tôi vẫn nhận thấy mình được khênh lên ô tô, được băng bó, tiêm thuốc và cứu chữa ra sao...

        -  Đầu tiên, tôi đưa hai con mình đến Quân y viện 105 ở Sơn Lộc, cách nhà khoảng một cây số - ông Lê Việt Tiến, nguyên Phó Ty công an Hà Tây ngày đó kể tiếp - sơ cứu băng bó xong, tôi đề nghị đưa hai cháu đến bệnh viện Việt - Đức để chạy chữa. Nhập viện cho hai con bị thương xong, tôi vội quay về Sơn Tây để tổ chức tang lễ cho vợ và con gái ngay trong ngày 21 tháng 11 năm 1970...

        Có lẽ cũng cần phải nhấn mạnh rằng đây là đám tang duy nhất của các nạn nhân đã bị quân biệt kích Mỹ sát hại trong vụ tập kích Sơn Tây. Mười một người còn lại, do không có điều kiện, thân nhân lại ở xa nên đành cho nhập quan tài rồi đem chôn cất luôn, theo nghi lễ đơn giản thời chiến...
Trong số đó, có cả chú Túc kỹ sư xây dựhg, người Nghệ An - Bà Liên bồi hồi, xúc động nhớ lại - Tối hôm trước, chú ấy còn vừa ăn cơm thịt ngỗng ở nhà tôi, vừa hẹn đi thăm quan Đền và... vậy mà sáng hôm sau đã trở thành oan hồn, chẳng kịp trăng trối điều gì.

        Thế là ngày 23 tháng 10 âm lịch trở thành ngày giỗ chung của làng này. Hàng năm, tới ngày đó, ở xã Tắc bây giờ nhà nhà đều thắp hương. Riêng tôi, năm nào cũng thắp hương khấn cho cả 6 chú bộ đội, với 6 chiếc bát và 6 đôi đũa trên mâm cơm cúng... Cho mãi tới năm 1997, người nhà của chú Túc mới ra bốc mộ mang hài cốt chú ấy về quê chôn cất...

        Anh Lê Việt Tuấn cho biết:

        -  Hồi ấy, mặc dù còn rất nhỏ, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ chị em tôi đã được cứu chữa tại bệnh viện ra sao. Chúng tôi đều bị cạo hết tóc, đầu trọc lốc trước khi lên bàn mổ hộp sọ. Sau đó là nhiều ngày nằm bất động, với bông băng đầy người, tiếp nước liên tục. Nhiều người nhìn cảnh ấy đã không tin rằng chị em tôi lại có thể sống sót được, vậy mà sau hai tháng điều trị, chúng tôi đã được bệnh viện Việt- Đức cho về nhà ăn Tết. Sau đó, tôi còn phải vào Quân y viện 103 điều trị tiếp một tháng nữa mới tạm ổn. Tôi nói "tạm ổn" bởi vì cho tới hôm nay, sau hơn 40 năm đầu tôi vẫn thường bị đau nhức, mắt tối sầm mỗi khi trái gió trở trời. Mấy mảnh đạn nhỏ còn lại trong người tôi thỉnh thoảng vẫn sưhg tấy lên. Chị Thu Nga của tôi cũng vậy. Nếu lật tóc mai trái của chị ấy lên, sẽ thấy một vết lõm sâu và to như cái miệng chén, Đó là chỗ mảnh xương sọ bị mất, rất nguy hiểm đến tính mạng nếu không may sơ ý bị một vật cứng đụng vào...

        Một lần, trước ngày giỗ của các nạn nhân trong Vụ tập kích cứu Phi công Mỹ ở Sơn Tây, người viết bài này đã đến thăm ngôi nhà nhỏ nằm trong ngõ 50, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Đó là nơi cụ Lê Việt Tiến đang sống hạnh phúc cùng con cháu những năm tuổi già. Trước khi về nghỉ hưu, người cán bộ Công an lão thành này là Phó Giám đốc công an Thành phố Hà Nội. Dù tuổi đã cao, nhưng cụ Việt Tiến vẫn còn rất khỏe mạnh và minh mẫn.

        Cụ Lê Việt Tiến cho biết: Hàng năm vào 23 tháng 10 âm lịch, thường có rất nhiều bà con Sơn Tây lặng lẽ tìm đến thắp hương trên bàn thờ của gia đình, và cụ thường tự hào giới thiệu với khách: Cháu Thu Nga của tôi giờ đang là giáo viên Trường Tiểu học Ngọc Hà, chồng của cháu là công an công tác ở quận Ba Đình. Cháu Việt Tuấn thì làm công nhân ở Công ty Điện tử Giảng Võ, lấy vợ công tác ở Tổng công ty Dầu khí Việt Nam...

        Còn hai điều khá đặc biệt này nữa, tuy cụ Việt Tiến không giới thiệu, nhuìig hàng xóm với gia đình cụ ai cũng biết: Thứ nhất, là vào các ngày nghỉ, Chủ nhật, hai người con trai lớn thành đạt, thường đi xe đạp hoặc đi bộ về thăm nhà (cụ Việt Tiến không thích họ đi ô tô, xe máy, vì sợ ồn ào và ầm ĩ tới khu phố), rồi ngoan ngoãn ngồi hầu chuyện và lắng nghe nhữhg lời răn dạy của cụ. Thứ hai là, sau khi người vợ yêu quý không may bị quân biệt kích Mỹ sát hạt, mặc dù là một người đàn ông nổi tiếng to khoẻ, đẹp trai, có địa vị trong xã hội, nhưng mấy chục năm qua cụ Lê Việt Tiến vẫn kiên quyết ở vậy mà không hề nghĩ tới chuyện đi bước nữa, để dành tâm trí phục vụ sự nghiệp và nuôi dạy con cháu...

Hà Nội - Sơn Tây, 1998 - 2013        


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2015, 01:31:49 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200179_zpsgqgymoxd.jpg)
Càng dùng Không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam ác Hệt, Phi công Mỹ càng lo lắng bị lưới lửa phòng không ta bắn rơi.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200180_zpsckb52ihu.jpg)
Ngày càng nhiều Phi công Mỹ bị Việt Nam bắt làm tù binh.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200181_zpsrn6gveii.jpg)
"Thẻ căn cước"của Phi công Mỹ để "tạm trú" trong trại giam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200182_zpsknypy2rv.jpg)
SR-71 - Loại máy bay do thám hiện đại của Mỹ hồi đó đã chụp rất nhiều những bức không ảnh về miền Bắc Việt Nam, trong đó có vùng Sơn Tây...



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2015, 03:48:34 AM
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200183_zpsf8brutlv.jpg)
Một bức không ảnh về Trại tù binh Phi công Mỹ tại Sơn Tây, máy bay do thám trinh sát SR-71 đã chụp được năm 1970.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200184_zpsnxv9iay6.jpg)
Các chuyên gia quân sự Mỹ đã vẽ lại sơ đồ các chi tiết chính củà Trại Tù binh Phi cong Mỹ tại Sơn Tây năm 1970.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200185_zpsduvwef1l.jpg)
Và cho xây dựng một mô hình Trại Tù binh Sơn Tây giống như thật tại Mỹ, để lính biệt kích luyện tập trong nhiều tháng trời.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200186_zpszcgczja1.jpg)
Các chuyên gia quân sự Mỹ đã phải tổ chức nhiều buổi thuyẽt trình kế hoạch giải cứu tù binh Phi công Mỹ với Tổng thống...



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2015, 07:52:24 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200187_zpskkmg8hzl.jpg)
Bút tích của Tống thống Mỹ Nixon bàn vê cuộc giải cứu Phi công Mỹ

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200187a_zpssxidextp.jpg)
Một số lính biệt kích được tuyển chọn kỹ càng

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200188_zpswufup1ql.jpg)
Người lính biệt kích Mỹ này, với trang bị vũ khí đầy đủ đã có mặt trại Sơn Tây, đêm 21 tháng 11 năm 1970.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200189_zpsjamxy5mv.jpg)
Sơ đõ đường bay của đơn vị biệt kích Mỹ từ Thái Lan, qua Lào vào không phận Việt Nam và Trại Tù binh sơn Tây năm 1970.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2015, 02:13:52 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200190_zpspsnvxa13.jpg)
Tõp trực thăng được một chiếc "Móng vuốt" dẫn đường bay lặng lẽ ừong đêm và thả ỉính biệt kích xuống Sơn Tây...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200191_zpscqllx1zv.jpg)
Quân Mỹ rút chạy bỏ lại rất nhiều trang bị vũ khí.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200192_zpsqcvpaibd.jpg)
Xác chiếc trực thăng HH53 bị vỡ ra làm nhiều mảnh trong sân trại giam sơn Tây, ngày21-11-1970.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200193a_zpsiuusec6f.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200193_zpsrbyv7ojq.jpg)
Tổng thống Mỹ Nixon và Bộ Quốc phòng Mỹ trực tiếp trao thưởng Huân chương cho chỉ huy và những lính biệt kích sau vụ tập kích Sơn Tây bất thành, năm 1970



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2015, 02:20:24 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200194_zpsn8blklu4.jpg)
Thi thề của 2 người dân và đám tang của những nạn nhân bị quân biệt kích Mỹ sát hại ở Sơn Tây rạng sáng 21-11-1970.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200195_zpsz8hpcyuf.jpg)
Ông Lê Việt Tiến, cùng con gái Lê Thu Nga và con trai Lê Việt Tuấn (ảnh chụp năm 1970 và năm 1998).

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200196_zpsog9tubrw.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200196a_zpsza1d80z3.jpg)
Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự (Nhà tình báo Quân đội) và ông Gia Huy (Nha tình báo Công an) đều có thông tin trước về vụ tập kích Sơn Tây?

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200197_zpsywcoawng.jpg)
Nụ cười của những cựu tù binh phi công Mỹ với bà Trần Thị Liên - một nhân chứng của "Vụ tập kích sơn Tây", trong một chuyển về thăm lại Trại tù binh tạì Xã Tắc - Nơi họ từng bị giam giữ năm xưa.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: nguyenhongduc trong 10 Tháng Mười Hai, 2015, 06:56:43 AM
       Trở lại chuyện hai người con của ông Lê Việt Tiến bị trọng thương năm 1970. Ngày đó, chị Lê Thị Thu Nga 15 tuổi, học lớp 9; còn anh Lê Việt Tuấn mới lên 9, đang học lớp 3. Chị Nga bị đạn của quân biệt kích Mỹ mất mảng xương thái dương bên trái; anh Tuấn cũng bị vỡ xương trên tai trái và hỏng một mắt. cả hai người đều bị tổn thương sọ não rất nặng.

        Chị Thu Nga nhớ lại:

        -  Đó là đêm thứ Bảy, vừa là ngày nghỉ cuối tuần, vừa trùng với ngày Nhà giáo Việt Nam. Như bao nơi khác, lũ học trò chúng tôi đều được nghỉ học để chúc mừng ngày lễ của các thày cô giáo. Tôi còn nhớ, em Thu Hương theo bạn đến thăm cô giáo nên về nhà rất muộn. Đêm ấy, chúng tôi ngủ được một lúc thì nghe có tiếng máy bay ầm ầm trên trời, tiếng súng nổ loạn xạ xung quanh. Điện phụt tắt, nhưhg nhìn ra ngoài bỗng thấy trời rực sáng như đang có nắng. (Sau này tôi mới biết quân biệt kích Mỹ thả pháo sáng). Do thường xuyên được nhà trường nhắc nhở các bài học cảnh giác, nên chúng tôi đoán biết có chuyện gì đó rất nguy hiểm đang xảy ra.

        Mẹ tôi vội giục cả nhà chui xuống gầm giường tránh mảnh đạn. Giường ngủ của nhà tôi kê gạch rất cao nên tôi có thể ngồi bó gối mà ngủ gà ngủ gật được. Nhưng tôi vẫn nghe có rất nhiều tiếng người nói xì xồ, chạy huỳnch huỵch bên ngoài...

        Một lúc sau, đột nhiên cánh cửa nhà tôi bị bật tung ra. Có mấy người đàn ông cao to hùng hổ xông vào. Rồi ánh đèn pin quét loang loáng trong tiếng súng nổ choáng tai. Tôi nhắm mắt lại vì sợ hãi. Một lát sau, khi tiếng súng ngớt, tôi nghe rõ tiếng mẹ rên khe khẽ trong đau đớn: Các con ơi... mẹ bị thương rồi... có lẽ chết mất...

        Tôi càng hoảng hơn khi thấy em Tuấn cứ gục đầu vào người tôi mà lả đi. Tay tôi sờ vào chỗ nào cũng thấy có máu. Không hiểu sao, lúc đó tôi đã dùng hết sức mình cõng em Tuấn ra đầu hồi nhà, nghỉ một lúc, tôi cõng em đi tiếp xuống phía cổng trại giam... Tới gần nhà bà Liên thì gặp các chú bộ đội. Tôi không biết rằng chính mình cũng đang bị thương rất nặng, máu chảy đầy mặt. Tôi chỉ kịp nói: Các chú ơi, hãy đến cứu mẹ cháu và em chấu còn đang ở trong nhà... thì xỉu luôn. Trong mê man, tôi vẫn nhận thấy mình được khênh lên ô tô, được băng bó, tiêm thuốc và cứu chữa ra sao...

        -  Đầu tiên, tôi đưa hai con mình đến Quân y viện 105 ở Sơn Lộc, cách nhà khoảng một cây số - ông Lê Việt Tiến, nguyên Phó Ty công an Hà Tây ngày đó kể tiếp - sơ cứu băng bó xong, tôi đề nghị đưa hai cháu đến bệnh viện Việt - Đức để chạy chữa. Nhập viện cho hai con bị thương xong, tôi vội quay về Sơn Tây để tổ chức tang lễ cho vợ và con gái ngay trong ngày 21 tháng 11 năm 1970...

        Có lẽ cũng cần phải nhấn mạnh rằng đây là đám tang duy nhất của các nạn nhân đã bị quân biệt kích Mỹ sát hại trong vụ tập kích Sơn Tây. Mười một người còn lại, do không có điều kiện, thân nhân lại ở xa nên đành cho nhập quan tài rồi đem chôn cất luôn, theo nghi lễ đơn giản thời chiến...
Trong số đó, có cả chú Túc kỹ sư xây dựhg, người Nghệ An - Bà Liên bồi hồi, xúc động nhớ lại - Tối hôm trước, chú ấy còn vừa ăn cơm thịt ngỗng ở nhà tôi, vừa hẹn đi thăm quan Đền và... vậy mà sáng hôm sau đã trở thành oan hồn, chẳng kịp trăng trối điều gì.

        Thế là ngày 23 tháng 10 âm lịch trở thành ngày giỗ chung của làng này. Hàng năm, tới ngày đó, ở xã Tắc bây giờ nhà nhà đều thắp hương. Riêng tôi, năm nào cũng thắp hương khấn cho cả 6 chú bộ đội, với 6 chiếc bát và 6 đôi đũa trên mâm cơm cúng... Cho mãi tới năm 1997, người nhà của chú Túc mới ra bốc mộ mang hài cốt chú ấy về quê chôn cất...

        Anh Lê Việt Tuấn cho biết:

        -  Hồi ấy, mặc dù còn rất nhỏ, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ chị em tôi đã được cứu chữa tại bệnh viện ra sao. Chúng tôi đều bị cạo hết tóc, đầu trọc lốc trước khi lên bàn mổ hộp sọ. Sau đó là nhiều ngày nằm bất động, với bông băng đầy người, tiếp nước liên tục. Nhiều người nhìn cảnh ấy đã không tin rằng chị em tôi lại có thể sống sót được, vậy mà sau hai tháng điều trị, chúng tôi đã được bệnh viện Việt- Đức cho về nhà ăn Tết. Sau đó, tôi còn phải vào Quân y viện 103 điều trị tiếp một tháng nữa mới tạm ổn. Tôi nói "tạm ổn" bởi vì cho tới hôm nay, sau hơn 40 năm đầu tôi vẫn thường bị đau nhức, mắt tối sầm mỗi khi trái gió trở trời. Mấy mảnh đạn nhỏ còn lại trong người tôi thỉnh thoảng vẫn sưhg tấy lên. Chị Thu Nga của tôi cũng vậy. Nếu lật tóc mai trái của chị ấy lên, sẽ thấy một vết lõm sâu và to như cái miệng chén, Đó là chỗ mảnh xương sọ bị mất, rất nguy hiểm đến tính mạng nếu không may sơ ý bị một vật cứng đụng vào...

        Một lần, trước ngày giỗ của các nạn nhân trong Vụ tập kích cứu Phi công Mỹ ở Sơn Tây, người viết bài này đã đến thăm ngôi nhà nhỏ nằm trong ngõ 50, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Đó là nơi cụ Lê Việt Tiến đang sống hạnh phúc cùng con cháu những năm tuổi già. Trước khi về nghỉ hưu, người cán bộ Công an lão thành này là Phó Giám đốc công an Thành phố Hà Nội. Dù tuổi đã cao, nhưng cụ Việt Tiến vẫn còn rất khỏe mạnh và minh mẫn.

        Cụ Lê Việt Tiến cho biết: Hàng năm vào 23 tháng 10 âm lịch, thường có rất nhiều bà con Sơn Tây lặng lẽ tìm đến thắp hương trên bàn thờ của gia đình, và cụ thường tự hào giới thiệu với khách: Cháu Thu Nga của tôi giờ đang là giáo viên Trường Tiểu học Ngọc Hà, chồng của cháu là công an công tác ở quận Ba Đình. Cháu Việt Tuấn thì làm công nhân ở Công ty Điện tử Giảng Võ, lấy vợ công tác ở Tổng công ty Dầu khí Việt Nam...

        Còn hai điều khá đặc biệt này nữa, tuy cụ Việt Tiến không giới thiệu, nhuìig hàng xóm với gia đình cụ ai cũng biết: Thứ nhất, là vào các ngày nghỉ, Chủ nhật, hai người con trai lớn thành đạt, thường đi xe đạp hoặc đi bộ về thăm nhà (cụ Việt Tiến không thích họ đi ô tô, xe máy, vì sợ ồn ào và ầm ĩ tới khu phố), rồi ngoan ngoãn ngồi hầu chuyện và lắng nghe nhữhg lời răn dạy của cụ. Thứ hai là, sau khi người vợ yêu quý không may bị quân biệt kích Mỹ sát hạt, mặc dù là một người đàn ông nổi tiếng to khoẻ, đẹp trai, có địa vị trong xã hội, nhưng mấy chục năm qua cụ Lê Việt Tiến vẫn kiên quyết ở vậy mà không hề nghĩ tới chuyện đi bước nữa, để dành tâm trí phục vụ sự nghiệp và nuôi dạy con cháu...

Hà Nội - Sơn Tây, 1998 - 2013        
....................................................
....................................................
Chào bác Giangtvx .
Về sự kiện này nhà em cũng chỉ biết sơ sơ qua lời kể của các bạn cùng lớp .Nhà các bạn này ở trong xã nơi đã từng là trại giam phi công Mỹ .
Đêm hôm đó nhà em nghe tiếng rì rì của máy bay từ hướng núi Ba vì bay về thị xã Sơn tây .
Dạo đó em ở nhà bà ngoại - cách viện quân y 105 khoảng 1 km ,cách thị xã khoảng 3 km .
Năm đó nhà em cũng 9 tuổi , học sinh lớp 3 .
Gần sáng những tiếng nổ rầm rầm , kèm theo ánh chớp nhoằng nhoằng , từ hướng thị xã Sơn tây đã làm bà con dân phố Ái mỗ thức dậy ...mọi người xô ra chứng kiến sự kiện kỳ lạ chưa từng có với cái thị tứ bán sơn địa này .
Mãi đến sáng hôm sau , mới có thông tin đầy đủ về vụ tập kích này .
Cám ơn bác Giangtvx nhiều nhiều.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2015, 03:56:30 AM
       
CUỘC TRAO ĐỔI TƯ LIỆU VIẸT - MỸ XUNG QUANH VỤ TẬP KÍCH Ở SƠN TÂY

        Từ tháng 11 năm 2001 đến tháng 7 năm 2002, tác giả cuốn sách nhỏ này đã có cuộc trao đổi tư liệu với Giáo sư Benjamin F. Schemmer, Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự nổi tiếng của Mỹ.

        Benjamin F. Schemmer từhg phục vụ tại Viện Hàn lâm quân sự Mỹ, Cố vấn Bộ Quốc phòng, Chủ bút Tạp chí Các lực lượng vũ trang, Tổng biên tập Tạp chí Chiến lược... ông cũng là khách mời bình luận thường xuyên của các hãng truyền hình nổi tiếng như: ABC, CNN, NBC, BBC và CBC.

        Đặc biệt, Benjamin F. Schemmer là tác giả của cuốn sách I The Raid' (tức " Vụ tập kích Sơn Tây, từng được Nhà xuất bản Công an Nhân dân ấn hành dưới hình thức "tài liệu tham khảo nội bộ") và nhiều tác phẩm khác viết về chiến tranh Việt Nam...
Nhận thấy đây là một cuộc trao đổi khá thú vị, trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử, chúng tôi xin được kể lại và cho công bố một số bức thư riêng về cuộc trao đổi tư liệu hi hữu nói trên.

        Chuyện bắt dâu từ một lá thư và một tờ séc "đặt cọc"
        mua tư liệu, trị giá 100 đô-la


        Một ngày dầu tháng 11 năm 2001, bộ phận Bạn đọc của Báo An ninh thế giới chuyển đến cho tôi một lá thư lạ được gửi từ Mỹ (có đóng dấu tròn của bưu điện Naples và hình chỉm đại bàng). Người gửi và địa chỉ: Benjamin F. Schemmer, 2405 Crayton Road, Naples, FL 34103-4705.

        Thư được viết bằng tiếng Anh. Bản dịch như sau:

        Thưa các ngài,

        Ông David Monk, cố vấn về những vấn đề xã hội của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội có gợi ỷ tôi liên hệ với các ngài.

        Tôi được biết khoảng giữa năm 1999 (thực ra là cuối năm 1998 - Tác giả), các ngài có cho in một loạt bài báo về cuộc tập kích của quân Mỹ vào trại tù binh Sơn Tây, cách Hà Nội 21 dặm về phía Tây.

        Tôi là tác giả của cuốn sách "Harper and Row" và đặc biệt là cuốn The Raid, viết về cuộc đột kích Sơn Tây. Tôi đang có kế hoạch tái bản cuốn sách này, với mong muốn nó sẽ được bổ sung đầy đủ hơn. Vì thế, tôi rất muốn có được bản copy loạt bài báo nói trên và bản dịch bằng tiếng Anh.

        Tôi sẽ trả tiền tư liệu cho loạt bài báo đó và cả tiền dịch ra tiếng Anh. Xin hãy cho biết cụ thể số tiền là bao nhiêu, tôi sẽ gửí cho các ngài ngay lập tức. Trong khi chờ đợi, mong các ngài vui lòng chấp nhận 100 USD như là khoản "đặt cọc" của tôi.
Các ngài có thể Hên hệ với tôi bằng E-mail, hoặc thư thường theo địa chỉ bưu điện ở phía dưới. Xin cảm ơn!"

        Đã ký: Benjamin F. Schemmer.


        Gửi kèm trong thư là một tờ... séc cá nhân, mệnh giá 100 đô-la! Tờ séc do chính tay ông Benjamin F. Schemmer viết ngày 9 tháng 10 năm 2001, bằng mực đen, nét bút run run... Chỉ có mấy chữ AN NINH THE GIOI REVIEW và dòng mệnh giá ONE HUNDRED là được viết kiểu chữ in hoa, nhìn rõ, còn lại được viết tháu rất khó đọc.

        Đọc lá thư nói trên xong, nhà văn Hữu Ước, Tổng biên tập nói:

        -  Cái ông Ben này (tức giáo SƯ Benjamin F. Schemmer) rắc rối quá. Bài báo đã in công khai, có gì bí mật nữa đâu! Nếu ông ấy cần, thì cứ trao đổi tư liệu. Đây cũng là một dịp tốt để góp phần mở rộng thông tin cho dân Mỹ hiểu đúng về chiến tranh Việt Nam...

        Hồi âm bằng thư được gửi qua mạng internet

        Mấy ngày sau, tôi đã quyết định gửỉ cho giáo sư Ben một lá thư qua đường E-mail, nội dung như sau:

        Kính gùi ngài Benjamin F. Schemmer

        Thưa ngài, trước hết, tôi xin cảm ơn ngài vì đã quan tâm đến loạt bài viết của tôi mang tựa đề "Sự thật về vụ tập kích cứu Phi công Mỹ tại Sơn Tây năm 1970" đã được đăng tải nhiều kỳ trên tờ An ninh thếgiới hồi cuối 1998.

        Bài viết nói trên khá dài (đã được in vào tập sách "Chạy trõn và mất tích" phần viết về Sơn Tây tới hơn 100 trang); nhưng tôi rất vui lòng chuyển qua đường E-mail toàn bộ phần tư liệu mà ngài quan tâm. ví dụ:

        -  Chuyện về hai nhà tình báo Việt Nam đã biết trước thông tin về vụ tập kích sơn Tây?

        -  Trong đêm đổ bộ xuống trại tù binh sơn Tây, lính biệt kích Mỹ đã thảm sát dã man những thường dân ở đây như thế nào?

        -  Những nạn nhân người Việt Nam ở Sơn Tây sau hơn 30 năm bây giờ họ sõng ra sao?

        -  Đặc biệt, tôi có thể chuyển cho ngài 15 tấm ảnh tư liệu rất quý, có Hên quan đến cuộc tập kích Sơn Tây, do phía Việt Nam chụp được và một số cá nhân đã lưu giữ chúng trong suốt 30 năm  qua.

        Xin cảm ơn ngài đã lưu ý đến khoản thù lao. Chỉ xin ngài vui lòng gửi trả cho chúng tôi 1.000 USD tiền tư liệu và những bức ảnh quý hiếm có Hên quan đến cuộc đột kích.

        Được biết, ngài không chỉ là một giáo sư sử học, mà còn là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu nổi tiếng ở Mỹ. Nếu có thể, xin ngài gửi cho chúng tôi một bức chân dung mới nhất của mình, kèm theo đoạn viết ngắn tiểu sử. Tôi muốn được giới thiệu ngài với bạn đọc Việt Nam.

        Nhận được thư này, xin ngài vui lòng cho biết ý kiến của mình. Ngài có thể viết thư theo địa chỉ E-mail của tôi: dangvuonghung@gmail. com.
Rất cảm ơn ngài,

        Đặng Vương Hưng

        Tái bút: Vốn tiếng Anh của chúng tôi có hạn, nên diễn đạt chưa hết Mong ngài lượng thứ và cố hiểu về những điều tôi muốn nói.

        Lá thư trên, tôi đã nhờ cô con gái nhỏ của tôi dịch ra tiếng Anh. Khi đến đoạn... "Chỉ xin ngài vui lòng gửi cho chúng tôi 1000 USD tiền tư liệu và ảnh” con gái tôi bảo:

        - Bố ơi, người Mỹ giàu lắm! Nghe nói, có cuốn sách xuất bản ở bên đó họ trả nhuận bút tới hàng triệu đô la... với một giáo sư Mỹ, thì vài ngàn đôla chẳng là gì đâu. Bố cho phép con "nâng giá" từ 1.000 USD lên thành 1.500 USD nhé? Nếu ông ấy gửi tiền, thì bố thưởng 500 USD cho cả nhà may quần áo, đi nghỉ hè nữa...

        Tôi cười và nói với con gái mình:

        -  Bố đồng ý. Nhưng con nên biết rằng người Mỹ rất thực dụng và nhiều người Mỹ cũng "ki bo" lắm đấy!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2015, 06:11:08 AM
       
        "Liệu ngài có thể... giúp tôi không"?


        Chưa đầy một tuần sau, vào ngày 7 tháng 11 năm 2001, tôi đã nhận được thư hồi âm của giáọ sư Benjamin F. Schemmer được gửi qua đường E-mail:

        "Chào người đồng nghiệp đáng kính!

        Xin cảm ơn về sự cộng tác nhiệt tình của ngài, khi trả tời đề nghị của tôi về nhữhg bài báo Hên quan đến vụ tập kích sơn Tây năm 1970. Tôi thực sự vui mừng và cảm thấy bị cuốn hút bởi nhũtig đề nghị của ngài là cung cấp bản copy bài báo và cả cuốn sách có in những tư liệu về cuộc tập kích Sơn Tây. Đặc biệt là 15 tấm ảnh tư liệu quý mà ngài đã giới thiệu. Tiếng Anh của ngài thực sự là tuyệt vời; hơn hẳn khả năng có giới hạn của tôi về tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga...

        Trong khi chờ đợi sự phản hồi từ phía Nhà xuất bản của tôi để biết liệu họ có đồng ý trả khoản tiền 1.500 USD cho những tài liệu trên; xin ngài làm ơn nói rõ một số vấn đề tôi đang còn thắc mắc:

        1. Những tài liệu ngài sẽ gửi cho tôi là bằng tiếng Anh chứ? (Tôi e rằng máy tính của tôi sẽ không thể in được nhữhg văn bản bằng tiếng Việt).

        2. Liệu ngài có thể chuyển được những tài liệu dài như vậy qua đường E-mail? Tôi đang sử dụng phần mềm Microsoft Word, và phần mềm này giới hạn khả năng tải xuống của nó trong phạm vi những văn bản chỉ dưới 1.000 từ. vậy liệu ngài có thể cho gửí những tài liệu trên bằng cách chia nhỏ chúng ra thành những file văn bản khoảng độ 1.000 tù?

        3. Liệu chuyển bằng cách trên có dễ hơn bằng đường thư hàng không?

        4. Liệu ngài có thể chuyển qua E-mail cho tôi một trang mẫu của tờ An ninh thế giới và 2 chiếc ảnh trong số những tài liệu mà ngài đã đề cập tới? (Chúng tôi cần mẫu ảnh để có thể biết rõ chất lượng in thử của chúng ở đây. Tôi xin đảm bảo với ngài rằng: Chúng tôi sẽ không công bố bất cứ tài liệu nào, dưới bất kỳ hình thức nào, trừ phi có được sự đồng ý về bản quyền của tác giả).

        5. Liệu bài báo của ngài (hoặc cuốn sách in lại bài báo đó) có đề cập tới chi tiết một lực lượng biệt kích Mỹ đã đổ bộ xuống một khu nhà, cách trại tù binh Sơn Tây 400 mét về phía Nam? Mà tại đó, một bộ phận lực lượng biệt kích giải cứu tù binh của Mỹ đã nhầm lẫn và thất bại trong khi hạ cánh.

        6. Về khoản tiền 1.500 USD ngài đã đề cập tới, liệu đó có phải là sự cho phép sử dụng những tài liệu ấy chỉ trên đất Mỹ? Hay trên phạm vi toàn thế giới? Và chúng tôi có được phép yêu cầu một sự bảo hộ về bản quyền của Mỹ về những tài liệu nêu trên?
Tôi có sự lo ngại, khi cung cấp cho bạn đọc của mình những quan điểm của phía Việt Nam, về cuộc tập kích Sơn Tây trong lần tái bản cuốn sách, nhưng tôi lại bị cuốn hút bởi những thông tin mà ngài đã đề cập.

        Tôi bảo đảm rằng sẽ gửi lời phúc đáp ngài sớm nhất, có thể ngay sau khi nhận được những thông tin chi tiết, để làm rõ hơn những vấn đề từ phía ngài.

        Tôi thực sự xúc động khi ngài đề nghị được cung cấp ảnh và tiểu sử của tôi. Tôi đã gửi cho ngài ngay ngày hôm nay bằng đường thư máy bay và rất vui mừng nếu được ngài giới thiệu với độc giả Việt Nam.

        Tồi có một yêu cầu nhỏ: Liệu ngài có thể gửi cho tôi (qua thư máy bay hoặc E-mail) những bản sao của bất kỳ bài báo nào đã viết về cuốn sách của tôi mà ngài biết Nếu ngài có quan tâm tới việc mua bản quyền một phần, hoặc toàn bộ cuốn The Raid; chỉ phát hành trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc phát hành trên toàn khu vực Đông Nam Á, thì xin hãy thông báo cho tôi biết sớm.

        Tôi rất mong hồi âm của ngài.

        Kính thư. Benjamin F. Schemmer".


        Hai ngày sau, tôi đầ viết cho giáo sư Benjamin F. Schemmer bức thư trả lời:

        "Trước hết, xin cảm ơn ngài đã hồi âm rất nhanh cùng nhũtig lời quá khen đã dành cho tôi. Nhân đây tôi cũng được xin được làm rõ hơn những điều ngài còn thắc mắc:

        1. Tài liệu mà tôi sẽ gủl cho ngài được dịch ra tiếng Anh.

        2. Bài viết của tôi khá dài (khoảng trên 30.000 từ), nhưng tôi sẽ cố gắng rút gọn còn vài ngàn từ và chỉ lược trích phần tư liệu mà theo tôi cho là ngài sẽ quan tâm.

        3. Để tạo điều kiện thuận lợi cho ngài về kỹ thuật thu nhận, khi gửi số tài liệu trên qua E-mail, tôi sẽ chia nhỏ chúng ra thành từng phần (dưới 1.000 từ mỗi file, như yêu cầu của ngài).

        4. Những bức ảnh tôi dự kiến chuyển cho ngài đều là ảnh đen trắng, chất lượng ảnh không được tốt lắm, nhưng rất có giá trị về mặt lịch sử (tôi sẽ cố gắng thử chuyển cho ngài một, hai bức ảnh và một trang báo trong thời gian sớm nhất qua đường E- mail).

        5. Nếu qua đường E-mail không gửi được ảnhì, tôi sẽ chuyển qua đường hàng không.

        6. Một lực lượng biệt kích Mỹ đã đổ bộ xuống một khu nhà cách trại tù binh Sơn Tây 400 mét về phía Nam... cũng là một chi tiết nhỏ trong bài viết của tôi.

        7. Tôi cho rằng bài viết mà tôi sẽ chuyển cho ngài (kể cả ảnh) không phải là tác phẩm mà chỉ là tài liệu tham khảo, và hơn thế nữa, đó là một phần của sự thật lịch sử.
Nghĩa là, tôi không chỉ bán mà quan trọng hơn là muốn góp phần giúp những người đọc ở Mỹ hiểu đúng nhũng gì đã diễn ra tại Sơn Tây hơn 30 năm trước, và vì vậy, khi nhận được những tài liệu đó, ngài hãy sử dụng chúng sao cho có hiệu quả và ý nghĩa nhất!

        8. Nếu có hân hạnh được viết bài giới thiệu ngài với bạn đọc Việt Nam, nhất định tôi sẽ gửi cho ngài bài báo đó.

        9. Tôi cũng rất hân hạnh nếu được giới thiệu cuốn The Raid mà ngài sắp tái bản với một số nhà xuất bản ở Việt Nam.

        Tuy nhiên, cũng xin được nói với ngài rằng việc phát hành sách nói chung của chúng tôi hiện nay đang còn gặp khó khăn, vì số lượng in rất hạn chế.

        Nhưng hy vọng là ngài sẽ có một sự hợp tác xuất bản tốt đẹp ở Việt Nam.

        Kính chúc ngài sức khỏe và luôn thành công.

        Đặng vương Hưng."

     


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2015, 01:43:00 AM
        
        "Nếu có hứng thú, thì ngài có thể mua bản quyền cuốn sách nói trên"?


        Ngay sau khi cho gửi bức thư trên qua mạng internet, tôi đã tiến hành việc dịch ra tiếng Anh 2 trang sách, đồng thời cho scan 3 trong số 15 bức ảnh tư liệu về vụ đột kích sơn Tây và thử gửi chúng theo đường E-mail cho giáo sư Benjamin F. Schemmer.

        Chỉ một ngày sau, tôi đã nhận được thư hồi âm, nội dung như sau:

        "Ngài Đặng vương Hưng kính mến,

        Chúng tôi đã nhận được 2 lá thư với khoảng 650 chữ nói về Sơn Tây của ngài gửi. Chúng tôi đánh giá cao sự cộng tác nhiệt tình của ngài. Nhưng hiện tôi đang còn hội ý với Nhà xuất bản về việc có mua bản quyền những bài viết có kèm theo ảnh minh hoạ của ngài hay không? Tuy nhiên, tôi vẫn có một đề nghị là xin ngài cung cấp cho chúng tôi ngày phát hành loạt bài báo viết về Vụ tập kích Sơn Tây của ngài, cũng như ngày đăng ký bản quyền của những ấn phẩm đó. Xin được nói thêm rằng: Nếu thỏa thuận giữa hai bên ngã ngũ, khi sử dụng những bài báo của ngài, chúng tôi sẽ phải biên tập lại theo yêu cầu của Nhà xuất bản...

        Riêng về 3 bức ảnh ngài nói đã gửi theo file kèm theo, chúng tôi đã cố hết khả năng, nhưng vẫn không thể nào lấy chúng ra được. Xin cho biết ngài đã sử dụng chương trình phần mềm nào để mã hóa cũng như chuyển tải những bức ảnh nói trên?

        Trân trọng,

        Benjamin F. Schemmer."

        Khi tôi nói về nhữhg "trục trặc" 3 bức ảnh nói trên, theo lời phàn nàn của giáo sư Benjamin F. Schemmer, thì những nhân viên kỹ thuật của báo An ninh thế giới hết sức ngạc nhiên. Họ đều bảo: Người Mỹ giỏi vi tính lắm cơ mà. Sao chỉ có mỗi việc nhỏ thế mà họ cũng không làm được nhỉ? Tôi giải thích: ông Benjamin F. Schemmer là giáo sư sử học, là nhà nghiên cứu lịch sử quân sự... chứ đâu phải chuyên gia kỹ thuật điện toán!

        Một nữ nhân viên của chúng tôi đã phải kiên trì viết 2 lá thư bằng tiếng Anh, hướng dẫn tỉ mỷ cho vị giáo sư Mỹ, và gửi đi gùi lại mấy lần nhữhg bức ảnh đẹp nhất... ông ấy mới mở được file kèm ảnh như ý muốn.
Đó là ngày 14 tháng 12 năm 2001. Giáo sư Benjamin F. Schemmer đã lập tức viết thư cảm ơn:

        "Thưa ngài Đặng vương Hưng!

        Cảm ơn ngài rất nhiều vì đã gửi cho tôi những pức ảnh về vụ tập kích Sơn Tây. Tôi rất vui vì đã có thể tải chung xuống từ mạng Internet và in những bức ảnh đó ra...

        Những lời chú thích gửi kèm của ngài cũng đã giúp được tôi rất nhiều.
Nhà xuất bản của chúng tôi đang tích cực xem xét để có thể sử dụng từ 2 đến 3 trong số những bức ảnh ngài đã gửi, cũng như khoản tiền thù lao sẽ dành cho ngài.

        Tôi hy vọng có thể sẽ trả lời ngài trong thời gian sớm nhất vào tuần tới.
Một lần nữa xin cảm ơn sự nhiệt tình của ngài.

        Benjamin F. Schemmer."

        Số chữ của những tài liệu còn lại cần phải gửi lớn gấp 10 lần số chữ đã gủi đi... Để công việc dịch sang tiếng Anh tiến hành được nhanh chóng, tôi đã quyết định mang tài liệu ra một Trung tâm dịch vụ có uy tín của Hà Nội ở đường Hai Bà Trưng, thuê họ 800.000   đồng, với yêu cầu trong 3 ngày phải xong. Nhưng kết quả là họ đã phải làm trong 7 ngày, vì người nhân viên giỏi nhất bị ốm.

        Khi trao chiếc đĩa đã copy kết quả dịch cho tôi, ông chủ của Trung tâm dịch thuật ấy hồ hởi nói: "Tôi từng được đọc bài anh viết in trên báo từ mấy năm trước... hấp dẫn và xúc động lắm! Nói thật là tôi làm bài này không chỉ vì tiền, nên đã dồn hết tâm huyết của mình để hiệu đính lại chữ nghĩa văn phong cho hay nhất. Phải cho cái ông giáo sư Mỹ này... tâm phục, khẩu phục chúng ta!"

        Hôm sau, tôi cho gửi toàn bộ phần tài liệu đẵ dịch còn lại sang Mỹ qua đường E-mail. Việc gửi diễn ra khá thuận lợi, chỉ cần một file văn bản kèm thư là xong, (chứ không cần chia nhỏ ra mỗi phần 1.000 chữ, như lời ông giáo sư Benjamin F. Schemmer đề nghị).

        Bẵng đi đến gần một tháng, tôi không nhận được hồi âm nào. Bỗng một hôm, văn thư cơ quan chuyển đến cho tôi một phong bì thư ghi đích danh, khá dày dặn đến từ Mỹ. Đó là thư của ông Benjamin F. Schemmer lại được gửi bằng đường hàng không.

        Thư được viết từ ngày 7 tháng 11 năm 2001:

        "Thưa bạn đồng nghiệp khả kính,

        Tôi hân hạnh gửi ngài ảnh và bản tóm tắt tiểu sử của tôi theo yêu cầu của ngài qua E-mail ngày 6 tháng 11. và tôi cũng rất lấy làm vinh dự khi được giới thiệu đến độc giả của ngài. Tôi chỉ xin ngài một điều: Nếu ngài khai thác, sử dụng bất kỳ một chi tiết nào trong số tài liệu này, xin ngài vui lòng gửi bằng thư máy bay cho tôi một bản sao.

        Tôi tin rằng chúng tôi có thể đưa đến cho cộng đồng người Việt những hình ảnh và bài viết về con người Việt Nam của năm 1970 khi người Mỹ tiến hành cuộc tập kích vào Trại tù binh Sơn Tây qua cuốn sách The Raid của tôi sắp xuất bản, hiện đang in bông lần thứ hai.

        Nếu có hứng thú, thì ngài có thể mua bản quyền cuốn sách nói trên, với một số tiền phải chăng để in toàn tập, hoặc một phần trích của cuốn sách này để phát hành tại Việt Nam hoặc khu vực Đông Nam Á. Xin ngài vui lòng cho tôi biết ý kiến sớm?

        Kính chào,

        Benjamin F. Schemmer".



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2015, 05:16:30 AM
       
        Những câu hỏi gửi "Đại'tá Nguyễn"

        Cũng ngày hôm đó, khi mở E-mail, tôi còn nhận được 2 bức thư của Benjamin F. Schemmer.

        Bức thư gửi cho một "Đại tá Nguyễn" nào đó, được viết khá dài, với rất nhiều câu hỏi liên quan tới vụ tập kích Sơn Tây còn bỏ ngỏ. Xin được lược dịch những nội dung quan trọng nhất:

        "Thưa Đại tá Nguyễn,

        Tôi viết thư này vì không thể tìm được thêm thông tin gì ở Bộ Ngoại giao cũng như Bộ Quốc phòng... vậy ngài có thể giúp tôi làm rõ mấy điều thắc mắc trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam?

        -  Loại quân đội nào cũng như quốc tịch của họ đã chiếm đóng "Secondary school" (Trường trung học), cách trại tù binh Sơn Tây 400 mét về phía Nam, (nơi mà một lực luợng quân Mỹ đã đổ bộ nhầm và gây ra đám cháy lớn), trong thời gian xảy ra cuộc tập kích?

        -  Liệu "Secondary school" có thể là một căn cứ quân sự, với một lực lượng đông đảo, hùng hậu? Đội quân ở đó là người phương Đông, lính của họ cao khoảng 5 feet 10 inches, không mặc đồng phục của quân đội miền Bắc Việt Nam. Những người này mặc áo lót và quần soóc đen. Họ được trang bị tốt hơn lính bảo vệ. Nhưng lực lượng biệt kích của Mỹ đã không nhận diện được họ.

        -  Tôi cũng đã gửi câu hỏi trên tới cơ quan tình báo quân sự Mỹ, và nhận được câu trả lời đại ý là: Phía Mỹ vẫn chưa rõ lực lượng nào đã chiếm đóng căn cứ "Secondary school" vào thời điểm xảy ra cuộc tập kích.

        -  Có nhiều tin đồn, (nhuĩig không có bằng chứhg xác thực) rằng lực lượng đóng ở "Secondary school" hồi ấy là người Trung Quốc, hoặc có thể là Bắc Triều Tiên?

        -  Biệt kích Mỹ đã thu được một chiếc thắt lung của lính Trung Quốc, được lấy ra từ xác một người đàn ông bị bắn hạ tại đó? Biệt kích Mỹ còn nhặt được cả một chiếc giày đang sử dụng của sỹ quan Liền Xô?... điều đó thật khó giải thích!

        -  Tôi đã cho in một số bức ảnh chiến lợi phẩm nói trên vào cuốn sách của mình. Nhưng nhiều sỹ quan cao cấp của lực lượng biệt kích Mỹ đã tham gia cuộc tập kích nói rằng họ không có bất kỳ thông tin nào về những điều nghi vấn kể trên.

        Hơn 30 năm đã trôi qua sau vụ tập kích Sơn Tây. Hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam đã có mối quan hệ ngoại giao và thương mại cần thiết... Chẳng lẽ, sự nhận diện về một lực lượng quân sự còn nghi vấn kể trên sẽ mãi còn nằm trong bức màn bí mật?

        Vì vậy, tôi đang cầu khẩn sự giúp đỡ của ngài. Xin ngài làm ơn cho tôi biết họ là ai? Mang quốc tịch nào? Đơn vị của họ có nhiệm vụ gì tại căn cứ "Secondary school'?
Tôi sẽ rất biết ơn những thông tin mà ngài có thể cung cấp cho tôi, thưa Đại tá Nguyễn, và tôi hứa sẽ thông tin một cách chính xác, trung thực trong lần tái bản tới của cuốn The Raid.

        Và rất có thể, đó sẽ là một trong những bí mật cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam!

        Trân trọng! Benjamin F. Schemmer."


        Còn thư kia, vị giáo sư Mỹ dành cho tôi:

        "Kính gửi ngài Đặng vương Huìig!

        Tôi xin chuyển tới ngài một bức thư yêu cầu mà tôi đã gửi cho Đại tá Nguyễn, một sỹ quan quân sự của Việt Nam ở Washington. Nhưng tôi đã thất vọng, vì ông ấy không trả lời được rõ ràng những thắc mắc của tôi.

        Giờ đây, tôi chỉ còn trông đợi vào ngài.

        Tôi tin rằng ngài sẽ giúp tôi được việc này!

        Benjamin F. Schemmer."


        Tôi đã ngay lập tức E-mail lại cho giáo sư Benjamin F. Schemmer một lá thư. Nội dung có đoạn:

        "Thưa giáo sư Benjamin F. Schemmer,

        Vấn đề không đến mức quá phức tạp và khó khăn như ngài nghĩ! Địa điểm mà người Mỹ gọi là căn cứ quân sự "Secondary school" thực chất chỉ là một cơ sở an dưỡng cho cán bộ của tỉnh Hà Tây hồi ấy. (Trước đó, nơi này nguyên là một nhà trường chuyên làm công tác bôi duũng lý luận chính trị cho cán bộ, mà người ta quen gọi là Trường Đảng tỉnh).

        Tôi có thể khẳng định với ngài rằng thời điểm xảy ra cuộc tập kích của quân Mỹ năm 1970, không hề có một lực lượng quân sự của nước ngoài nào hiện diện ở cơ sở an duững cán bộ Hà Tây (mà các ngài gọi là căn cứ "Secondary school") nói trên!

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Việt Nam chúng tôi đã thường xuyên nhận được sự ủng hộ giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất của các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên xô và Trung Quốc. Hồi ấy, bộ đội Việt Nam thường dùng qưần trang do Trung Quốc sản xuất: Từ quần áo, chăn màn, đến ba lô, dép cao su, thắt lưng, mũ cõi... Riêng những cán bộ sĩ quan thì được trang bị thềm loại giày da do Liên Xồ sản xuất mà người ta quen gọi là giày cõt-sơ-ghin. vì những thứ quân trang này rất bền và tốt, nên đã có một thời nhiều người dân và thậm chí công chức cũng sử dụng chúng hằng ngày. Người ta đã mặc đồ lính để xuống ruộng đi cày và cả khi lên bờ đi ăn cỗ, dự tiệc! Đó chính là văn hoá ăn mặc thời chiến. Ngài có hiểu nhiều về văn hóa Việt Nam không? có biết gì về thơ Lục bát không? Tôi sẽ gửi tặng ngài tập thơ Học quên để nhớ của tôi, nếu biết tiếng Việt thì nhất định ngài sẽ thích nó.
Hy vọng sau khi đọc xong thư này, những điều giáo sư thắc mắc gửi Đại tá Nguyễn cũng không còn gì là khó hiểu, có đúng vậy không, thưa ngài?".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2015, 02:36:17 AM
       
        Xin được tặng... miễn phí toàn bộ số tư liệu đã gửi cho phía Mỹ!


        Bắng đi tới gần một tháng, tôi mới lại nhận được E-mail của Benjamin F. Schemmer. Trong thư, ông không đề cập đến chuyện những câu hỏi dành cho "Đại tá Nguyễn" nữa. Giáo sư phàn nàn rằng sức khỏe của ông hồi này không được tốt lắm. Ông vừa bị ốmr phải nằm viện mất hơn tuần, về vấn đề trao đổi tư liệu của vụ tập kích sơn Tây, ông viết:

       "Xin vui mừng thông báo với bạn đồng nghiệp đáng kính: Tôi đã nhận được 6.500 chữ là tài liệu về vụ tập kích mà ngài đã gửi qua đường E-mail. Chúng tôi đang tích cực xem xét để có thể sử dụng chúng tốt nhất

        Nhưng tôi rất lấy làm tiếc khi phải thông báo với ngài rằng nhà xuất bản đã không đồng ý cho tôi trả khoản tiền 1.500 USD. Bởi số tiền này quá cao so với mức trả thông thường đối với một tác phẩm đăng lại như thế ở Mỹ, mà chúng tôi chưa có tiền lệ quy định. Tôi đang cố gắng thuyết phục họ thêm. Nhưng để thuận lợi cho việc này, ngài có thể đơn cử một vài ví dụ về việc thanh toán đối với một bài báo in lại khi đã đăng ký bản quyền?

        Về những bức ảnh ngài đã gửỉ, chúng tôi đang gặp một trở ngại là chất lượng của chúng không được tốt lắm. vì thế, thật khó kết luận là có thể sử dụng lại chúng được không? (Có thể, chúng tôi sẽ sử dụng trước một bức ảnh trong số đó, ảnh chụp xác chiếc trực thăng HH53).

        Chúng tôi rất muốn có một bản copy tốt hơn về bức ảnh nói trên, cùng dòng chú thích giới thiệu tác giả của bức ảnh. (Chúng tôi sẽ trả thêm 100 USD cho chi phí này. Đó là sự hào phóng trong tiêu chuẩn xuất bản ở Mỹ cho một bức ảnh đã được sử dụng), vì thế, xin ngài vui lòng gửi bằng đường thư máy bay một bản copy rõ nét nhất bức ảnh nói trên càng sớm càng tốt, để có thể kịp đưa vào cuốn sách tái bản trong tháng 7 năm 2002...

        Ngay sau khi nhận được bức ảnh trên, tôi sẽ chuyển cho ngài 100 USD nữa...

        Benjamin F. Schemmer".


        Đọc đến đây, tôi chợt mỉm cười: ôi, ngài giáo sư Mỹ đáng kính ơi! Ngài hiểu nhầm dụng ý của tôi rồi. và tôi đã viết một bức E-mail như sau:

       "Thưa giáo sư Benjamin F. Schemmer!

        Tôi rất lấy làm tiếc và thông cảm với sức khỏe của ngài, và tôi cũng xin được chia vui, đồng thời chúc mừng ngài vì cuốn The Raid với bản thảo đã được sửa chữa và bổ sung hoàn chỉnh lại sắp được tái bản lần nữa.

        Tất cả những điều có thể làm cho giáo sư thì tôi đã làm cả rồi!

        Thật ra, tôi cung cấp tài liệu và ảnh về vụ tập kích Sơn Tây cho giáo sư không phải vì mong ngài sẽ trả cho tôi vài trăm USD (bởi chính ngài đã đưa ra vấn đề thù lao đấy chứ!). Mà đơn giản chỉ vì muốn giúp ngài. Và thêm nữa, tôi cũng muốn thông qua ngòi bút của ngài, cung cấp thêm cho người đọc ở Mỹ những sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Tôi hiểu rằng ở nước Mỹ ngoài những người giàu có như tỷ phú Bill Gates, còn có rất nhiều người đang phải lao động cực nhọc để kiếm sống.

        Tôi có cảm giác rằng giáo sư đang gặp khó khăn về tài chính? (Thậm chí còn khó khăn hơn cả chúng tôi). Bởi thế, tôi xin được tặng miễn phí toàn bộ số tư liệu (gồm bài viết 6.500 chữ và 15 bức ảnh) đã gửi cho ngài vừa qua. Giáo sư có thể toàn quyền sử dụng chúng sao cho có hiệu quả và ý nghĩa nhất

        Tôi chỉ có một đề nghị nhỏ: Khi cuốn The Raid được tái bản xong, xin giáo sư vui lòng gửi cho tôi một bản có kèm chữ ký của chính ngài để làm kỷ niệm.

        Tôi xin cảm ơn giáo sư rất nhiều vì đã giúp tôi hiểu thêm một người Mỹ, hiểu thêm về tác giả của cuốn The Raid nổi tiếng.

        Nhất định tôi sẽ viết lại toàn bộ câu chuyện thú vị của chúng ta để bạn đọc Việt Nam được biết.

        Kính chúc giáo sư luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc

        Một người rất hân hạnh được ngài coi là "đồng nghiệp".

        Đặng Vương Hưng."


        Trước khi kết thúc bài viết này, ngày 4 tháng 7 năm 2002 tôi đã nhận được một bức E-mail mới nhất của giáo sư Benjamin F. Schemmer:

        " Thưa bạn đồng nghiệp,

        Cảm ơn ngài đã gửi tin nhắn cho tôi. Ngài sẽ rất vui khi biết rằng vào ngày thứ hai tuần trước, tôi đã gửi qua đường thư hàng không cho ngài cuốn "The Raid" mới được tái bản và bổ sung, kèm theo đó là một số thông tin về cá nhân tôi.

        Hy vọng ngài sẽ sớm nhận được món quà. Đây là sách do nhà xuất bản Ballantine vừa in xong. Ấn phẩm được phát hành hôm nay bởi Câu lạc bộ Sách quân sự. Còn một bản tóm tắt dưới dạng băng cát-xét sẽ được phát hành trong tháng 8 năm 2002 bởi Random House.

        Tôi mong sớm nhận được hồi âm của ngài. Hiện tôi đang rất bận rộn bởi vỢ tôi đang nằm viện (nhưng tình hình cũng đã có khá hơn).

        Thân chào,

        Benjamin F. Schemmer."


        Một ngày đầu tháng 8 năm 2002, tác giả bài viết này đẫ nhận được bản in mới nhất của cuốn sách The Raid ôược gùi đến từ Mỹ, có chữ ký của giáo sư Benjamin F. Schemmer ký, với lời đề tặng: "For my esteemed colleague Dang Vuong Hung. With sincere thanks for your interest and help".

        Đặc biệt, cũng trong lần tái bản này, cuốn sách đã được bổ sung thêm phần 11 Who was at the "Secondary schoon (Ai đã có mặt ở "Trường Trung học"?), với những chi tiết được dẫn theo Đặng Vương Hưng.

        Và trong danh mục " Tài liệu tham khảơ', tại trang thứ 359, ông Benjamin F. Schemmer cũng đã trân trọng ghi thêm nhữhg dòng chữ như sau:

        "Hung, Dang Vuong Hung, An Ninh The Gioi Review; The Truth of the Raid on the Son Tay Prison to Rescue American Pilots in 1970" multiple-part series, 1998"

        Hà Nội, 2002 - 2012


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2015, 02:34:53 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200213_zpsc1to2ksw.jpg)



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Hai, 2015, 03:10:13 AM
     
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200214_zpskxnidgmy.jpg)
Chân dung Nhà văn Đặng vương Hưng, Giáo sư Benjamin F. Schemmer và tờ séc trị giá 100 USD ”đặt cọc" mua thông tin.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200215_zps9vptyskf.jpg)
Phi công Mỹ bị bắt và sinh hoạt đời thường của họ khi đã vào trai giam... Một trong số những bức ảnh đã gủí trao đổi tư liệu Việt-Mỹ

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200216_zpsv6jayght.jpg)
Bản in mới nhất cuốn sách "The Raidw do Tác giả Benjamin đã gửi tặng Nhà văn Đặng Vương Hưng

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200217_zps2yoqqbkw.jpg)
Nhiều trang trong bản in mới của cuốn sách "The Raid"có trích dẫn tư liệu của Nhà văn Đặng Vương Hưng cung cấp.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2015, 11:37:45 PM
       
CUỘC QUYẾT ĐẤU LỊCH SỬ "ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG" VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VẤN ĐỀ TÙ BINH PHI CÔNG MỸ TẠI HỘI NGHỊ PARIS?

        Không phải ngẫu nhiên mà hàng trăm Phi công Mỹ lại làm tù binh ở Hoả Lò. Họ bị bắt bởi đã lái máy bay đi ném bom, bắn phá, gây nhiều tội ác với nhân dân Việt Nam trong rất nhiều những chiến dịch, các cuộc không kích vào miền Bắc Việt Nam. Một trong nhữhg chiến dịch điển hình đó là tháng 12 năm 1972, quân đội Mỹ đã huy động một lực lượng không quân mạnh nhất, với những Pháo đài bay B52 để mở cuộc tập kích chiến lược chưa từng có trên vùng trời Hà Nội, Hải Phòng... Tổng thống Richard Nixon và giới quân sự Mỹ hồi đó đều tin rằng bằng vũ lực, họ sẽ buộc Việt Nam phải đầu hàng, hoặc chấp nhận những điều khoản sửa đổi có lợi cho Mỹ trong bản Hiệp định sẽ ký kết ở Paris.

        Nhưng thực tế đã xảy ra một "cuộc quyết đấu" chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới: Sau 12 ngày đêm "bão lửa", Lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam bằng tinh thần quyết thắng, mưu trí, sáng tạo và thế trận Chiến tranh nhân dân đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược của Mỹ! Thêm hàng trăm tù binh Phi công Mỹ bị bắt, gây áp lực cho Chính phủ Hoa Kỳ tại Hội nghị Paris.

        Chiến thẳng oanh liệt nói trên được cả thế giới biết đến như một "Điện Biên Phủ trên không" đã góp phần quyết định buộc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Theo đó, Mỹ phải cam kết sẽ rút hết quân Mỹ và quân đội đồng minh của họ về nước; tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam... Và một trong những điều khoản thi hành Hiệp định Paris là Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ số Tù binh Phi công Mỹ cho phía Hoa Ky...

        "Hòa bình đang có trong tầm tay" hay "Hoà bình ở trên đầu ngọn bút"?

        Tháng 10 năm 1972, sau gần bốn năm đàm phán với bao phiên tiếp xúc bí mật và công khai, nhưng Hội nghị Paris về lập lại hòa bình cho Việt Nam giữa bốn bên (Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam cộng hòa) vẫn bế tắc.
Để nhanh chóng tìm ra "lối thoát" cho hòa đàm, trong một cuộc tiếp xúc bí mật với đoàn Mỹ, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ thay mặt phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa đẫ chủ động đưa ra một bản dự thảo "Hiệp định về chấm dút chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Narri"... Sau gần một tuần thương lượng, ngày 12 tháng 10 năm 1972, phía Mỹ đã chấp thuận nhữhg nội dung chính trong bản dự thảo của ta. Họ còn thỏa thuận một thời gian biểu cụ thể cho việc ký kết Hiệp định và chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Theo đó, ngày 18 tháng 10: Mỹ sẽ chấm dút ném bom trên bộ và ngừhg rải mìn phong tỏa các cảng biển của miền Bắc việt Nam; ngày 20 tháng 10: Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Henry Kissinger sẽ ký tắt Hiệp định tại Hà Nội; ngày 26 tháng 10: Hiệp định sẽ được bốn bên tham chiến ký chính thức tại Paris; ngày 27 tháng 10: Ngừhg bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hòa bình được lập lại...

        Mặc dù sau đó phía Mỹ đã yêu cầu ta cho lùi lại thời gian biểu trên (21 tháng 10: ngừhg ném bom và thả mìn; 24 tháng 10: ký tắt; 30 tháng 10: ký chính thức; 31 tháng 10: chấm dứt chiến tranh); nhưhg với thiện chí của mình, phía Việt Nam đã chấp thuận. Tuy nhiên, "Bản thỏa thuận ngừhg bắn tháng Mười" đó đã không được phía Mỹ tôn trọng và thực hiện. Nhà Trắng đã đơn phương lật lọng những cam kết thỏa thuận của mình. Kissinger một mặt đổ lỗi cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không chịu ký; mặt khác lại lừa bịp nhân dân Mỹ "Hòa bình đang ở trong tầm tay" để họ bỏ phiếu cho Nixon.

        Tháng 11 năm 1972, sau khi huỷ bỏ chuyến bay tới Hà Nội, Kissinger vội vàng sang Paris với mục đích gây bế tắc, trì hoãn hội nghị hòa đàm để chờ đợi một âm mưu đen tối. ông ta đã chơi trò "gắp lửa bỏ tay người", đòi sửa lại 69 điều trong "Bản thỏa thuận ngừhg bắn tháng Mười". Trong đó, có những đòi hỏi hết sức phi lý: Miền Bắc phải rút quân, miền Nam là một "Quốc gia riêng". Trước thủ đoạn tráo trở, bội ước của đoàn Mỹ, người phát ngôn của Chính phủ ta đã tố cáo sự cố tình phá hoại hiệp định của phía Mỹ: "Hòa bình đã ở đầu ngọn bút, nhưng Tổng thống Mỹ đã lừa dối nhân dân mình và không chịu ký kết".

        Ngày 24 tháng 11, sau khi đổ tội cho phía Việt Nam là ''cản trở cuộc hòa đàm" và "thiếu thiện chí" Henry Kissinger đã công khai hăm dọa: ''Nếu các ngài không biết điều, Tổng thống của chúng tôi sẽ ra lệnh ngừhg đàm phán để tiếp tục các hành động quân sự và hậu quả sẽ thật khó lường!"

        Để vãn hồi hòa bình, phía Việt Nam đã hết sức kiềm chế và nhân nhượng thêm một số điểm, nhưng tham vọng của phía Mỹ ũ không chỉ có vậy.

        Ngày 13 tháng 12 năm 1972, các cuộc đàm phán đã hoàn toàn bế tắc. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trở về Hà Nội, còn Henry Kissinger thì bay về Washington. Trước khi rời Paris, tại sân bay Orly, Kissinger còn lớn tiếng vu khống Việt Nam với các nhà báo quốc tế: "Hà Nội đã phá vỡ cuộc hòa đàm". Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nghiêm khắc cảnh báo Kissinger: "Các ông cố tình gieo gió thì ắt sẽ phải gặt bão!"

        Một ngày sau, Tổng thống Richard Nixon chính thức ra lệnh cho hải quân Mỹ tiếp tục rải thuỷ lôi để phong tỏa các cảng biển của miền Bắc Việt Nam; không quân Mỹ bắt đầu thực hiện cuộc tấn công chiến lược với quy mô chưa từhg có bằng máy bay chiến lược B52 vào Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hải Phòng... ông ta hy vọng bằng cách đó sẽ khuất phục Việt Nam phải đầu hàng; hoặc buộc phải chấp thuận sửa đổi những điều khoản trong Hiệp định Paris có lợi nhất cho phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trước khi Hiệp định này được bốn bên ký kết.

        Chiếc máy bay chở Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đáp xuống sân bay Gia Lâm vào buổi chiều ngày 18 tháng 12 năm 1972. Nghĩa là chỉ vài giờ sau, những loạt bom B52 "trải thảm" đầu tiên được trút xuống Hà Nội... "Cuộc quyết đấu lịch sử" sắp bắt đầu!



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2015, 08:09:29 AM
       
        So sánh lực lượng giữa Việt Nam và Mỹ: "Trứng chọi vói đá"?

        Người Mỹ đặt tên cho cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng của họ là chiến dịch Linebacker II (sút bóng trước khung thành lần hai). Để thực hiện nó, Lầu Năm Góc đã huy động một lực lượng quân sự mạnh chưa từhg có, kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ II: Gần một nửa số máy bay ném bom chiến lược B52 của toàn nước Mỹ (193/400 chiếc); hơn một phần ba số máy bay chiến thuật của quân đội Mỹ (1077/3041 chiếc), tức là bằng lực lượng không quân của cả hai nước Anh và Tây Đức, ià nhữhg nước có tiềm năng quân sự mạnh nhất của Châu Âu hồi ấy gộp lại); một phần tư số tàu sân bay (6/24 chiếc) cùng nhiều loại tàu khác của Hạm đội Bảy... Đấy là chưa kể đến hàng trăm máy bay tiếp dầu trên không, máy bay gây nhiễu điện tử, máy bay trinh sát, và các loại máy bay chỉ huy, dẫn đường, liên lạc, cứu nạn...

        Tất cả những vũ khí và phương tiện chiến tranh kể trên đều thuộc loại hiện đại, tối tân nhất của Mỹ hồi đó. Hầu hết chúng đã được cải tiến và nâng cao hơn rất nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta lần thứ Nhất (1965 - 1968).

        Thế còn vũ khí trang bị của bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam?

        Về Phòng không, vào thời điểm đó lực lượng chủ lực để đối phó với B52 của chúng ta chỉ có 6 Trung đoàn tên lửa SAM-2 (gồm 24 tiểu đoàn). Đây là loại tên lửa đất đối không, do Liên xô (cũ) viện trợ và trang bị từ năm 1965. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên từ năm 1969 Liên xô đã hạn chế viện trợ quân sự cho Việt Nam, trong đó có tên lửa SAM-2.

        Sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Không quân Mỹ ra miền Bắc, bộ đội Tên lửa của ta chỉ còn số đạn dự trữ khoảng vài ngàn quả. Đó là số tên lửa "tồn kho", có nhiều quả đạn đã bị "quá đát", sử dụng không an toàn.

        Như vậy, loại vũ khí chính mà chúng ta có để chống lại B52 đã vừa cũ lại vừa thiếu. Để khắc phục tình trạng này, trước khi cuộc tập kích chiến lược diễn ta, ngành Kỹ thuật tên lửa Phòng không của chúng ta đã có sáng kiến "kéo dài tuổi thọ" cho toàn bộ số đạn đã "quá đát", bằng "quy trình lắp ráp ngược". Họ đã "hồi sinh" cho hàng ngàn quả tên lửa và "kéo dài tuổi thọ" của chúng thêm 48 tháng nữa... Điều đó đã có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bởi về cuối chiến dịch 12 ngày đêm sau này, hầu hết các trận địa tên lửa của ta đẫ phải tiết kiệm đạn, bắn từng quả một và chỉ "ưu tiên" dành để đánh B52; thậm chí còn có nhữhg bệ phóng tên lửa bảo vệ Hà Nội không còn một quả đạn nào!

        Về Không quân, chúng ta mới chỉ có 2 Trung đoàn máy bay tiêm kích được trang bị MIG-21, nhưhg hầu hết số Phi công này chưa được huấn luyện chiến đấu ban đêm và chưa hề có kinh nghiệm đánh B52.

        Thêm nữa, trong vài sân bay quân sự thì chỉ có Nội Bài là đạt tiêu chuẩn cấp I, còn lại là các sân bay cấp II và cấp III. Tất cả các sân bay chính quy này, trong chiến dịch 12 ngày đêm đã bị không quân Mỹ tập trung ném bom, đánh phá ác liệt, làm hỏng hết các đường băng cất cánh, hạ cánh cho máy bay chiến đấu.

        Bởi vậy, trên thực tế Không quân ta chỉ còn có vài sân bay dã chiến bí mật mà đường băng làm bằng... đất nện. Cho nên, việc sử dụng máy bay MIG để bắn hạ B52, dù có quyết tâm cao đến mấy, cũng gần như là điều không thể.

        Ngoài tên lửa SAM-2 và máy bay MIG-21, chúng ta còn có 16 Trung đoàn Pháo cao xạ. Riêng Thủ đô Hà Nội, còn có gần 200 trận địa súng tầm thấp của lực lượng dân quân tự vệ. Về lực lượng Ra-đa cảnh giới, dẫn đường chúng ta có chưa đầy 30 đại đội, được bố trí rải rác ở khắp miền Bắc...
Công bằng mà nói, những phương tiện vũ khí mà Lực lượng Phòng không - Không quân của Việt Nam sử dụng hồi ấy không phải là loại hiện đại, tiên tiến nhất mà quân đội Liên xô, hay quân đội các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã có. Trong khi đó, thời điểm trước khi cuộc quyết đấu diễn ra, lực lượng của chúng ta còn bị phân tán, xé lẻ do yêu cầu nhiệm vụ: vừa tham gia chi viện mặt trận phía Nam, bảo vệ huyết mạch giao thông vận tải Quân khu Bốn, vùng giải phóng Quảng Trị... vừa phải sẵn sàng đánh trả các cuộc tập kích đường không của Không quân Mỹ ra miền Bắc.

        Cơ quan đầu não trực tiếp chỉ huy "trận quyết đấu" của ta là Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân, được đặt trong một hang đá, gần thủ đô Hà Nội; dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đó là một cặn phòng nhỏ, khiêm tốn, thắp sáng bằng điện máy nổ, đèn măng-xông và cả nhữhg chiếc đèn bão tù mù. Tuy cũng có một số loại phương tiện máy móc cần thiết, nhưhg việc tổ chức chỉ huy vẫn phải dựa vào sức người là chính để tính toán và quyết định.

        Ngược lại, để phục vụ cho cuộc tập kích chiến lược chưa từng có của mình, phía Mỹ đã vận hành cả một guồng máy chiến tranh khổng lồ, do Tổng thống Mỹ trực tiếp ra lệnh. Chỉ riêng căn cứ xuất phát cho các loại máy bay chiến thuật, họ đã huy động tới 6 sần bay ở Thái Lan và 6 tàu sân bay đậu ngoài khơi Thái Bình Dương.

        Còn để chuẩn bị cho việc cất cánh của máy bay chiến lược B52, người Mỹ đã sử dụng hai căn cứ đặc biệt là Utapao (Thái Lan) và Andersen (trên đảo Guam giữa Thái Bình Dương). Thậm chí, để chỉ huy hai căn cứ này, Lầu Năm Góc đã quyết định thành lập cả một Bộ chỉ huy lâm thời, đặt dưới quyền của Bộ Chỉ huy Không quân Chiến lược và Bộ Quốc phòng Mỹ.

        Ngoài 12 sân bay cho máy bay chiến thuật cất cánh và hai căn cứ chiến lược cho B52 xuất phát nêu trên, hầu hết các căn cứ hậu cần và kỹ thuật của quân đội Mỹ ở Châu Á như Clark, Subic (Philippines), Okinawa (Nhật Bản)... cũng được trưng dụng để phục vụ cho cuộc tập kích chiến lược có một không hai đó. Nói tóm lại là phía Mỹ đã huy động hết các khả năng tiềm lực quân sự cho phép của mình.

        Sau này nhìn lại, các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới khi so sánh lực lượng giữa hai bên thời điểm ấy đều không khỏi kinh ngạc: Nếu chỉ xét về góc độ các loại vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật... thì lực lượng phòng thủ của Việt Nam đã thua kém rất xa so với lực lượng tấn công của Mỹ cả về số lượng và chất lượng. Chính cựu Tổng thống Richard Nixon khi viết cuốn sách có tựa đề "Không còn 2 Việt Nam nữa" cũng đã thừa nhận: Trong lịch sử nhân loại, chưa hề có một quốc gia nào chiếm uh thế hơn hằn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam.

        Nhưng vũ khí và trang bị hiện đại đâu phải là tất cả! Người Mỹ đã thua trận, bởi họ không hiểu được điều đó. Nhất là khi đối thủ của họ lại là Quân đội nhân dân Việt Nam! Chúng ta đã thắng không chỉ bằng lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm, mà còn có nhữhg nhân tài và trí tuệ của cả dân tộc.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2015, 03:43:01 AM
       
        ''Siêu pháo đài bay B52" - Át chủ bài của Không quân Mỹ để "quyết đấu"

        Từ khi mới ra đời và trong suốt một thời gian dài, B52 luôn được bộ máy chiến tranh của Mỹ quảng cáo là một loại "Siêu pháo đài bay". Chúng được xem là loại phương tiện tấn công đường không hội tụ nhữhg thành tựu mới nhất của một nền công nghiệp quân sự hiện đại đứng hàng đầu thế giới; là thứ vũ khí huỷ diệt linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược của quân đội Mỹ (tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân và máy bay ném bom chiến lược).

        Quả thực B52 là loại máy bay khổng lồ với chiều cao hơn 12 mét (tương đương một tòa nhà 3 tầng bình thường); chiều dài gần 50 mét, sải cánh hơn 56 mét và nặng trên 200 tấn... B52 có tới 8 động cơ phản lực cực khỏe, nó có khả năng bay cao tới 20 km và bay xa nhiều ngàn km mà không phải tiếp nhiên liệu...

        B52 được thiết kế có thể mang tới hơn 100 quả bom. Bởi thế, khi thực hiện các phi vụ, chúng thường ném bom theo kiểu "rải thảm" (carpet-boms). Tạo nên tiếng bom rơi xé không khí, gầm rít ghê rợn và kéo dài như giông bão. Mỗi chiếc B52 sau khi "rải thảm" có khả năng huỷ diệt cả một vùng rộng lớn. Các chuyên gia quân sự Mỹ tính rằng: Một tốp (3 chiếc) B52 có sức mạnh hơn cả 30 máy bay cường kích tập trung lại, đủ biến một diện tích hơn hai km vuông thành tử địa. Sẽ không có một loại sinh vật nào tồn tại được dưới sức mạnh huỷ diệt khủng khiếp của bom B52 "rải thảm".
Trong thực tế, mỗi khi đi ném bom, B52 không bay đơn lẻ mà thường tập trung thành từhg tốp. Nhiều phi vụ chúng bay 6 tốp (18 chiếc). Thậm chí những trận cao nhất có thể bay tập trung hàng chục tốp... cùng bay với B52 còn có một lực lượng hùng hậu máy bay tiêm kích F-4, F-105 bay hộ tống và bảo vệ xung quanh.
Lần đầu tiên quân đội Mỹ sử dụng B52 ở chiến trường Việt Nam là ngày 18 tháng 6 năm 1965. Họ đã cho 10 tốp (30 chiếc) B52 bay từ đảo Guam đến ''rải thảm" một vùng căn cứ kháng chiến của ta ở huyện Bến cát (cách sài Gòn khoảng 50 km về phía bắc). Tiếp theo đó, chúng cho rải nhữhg tờ truyền đơn có vẽ những chiếc pháo đài bay B52 đang "rải thảm", cùng nhũng lời lẽ đe dọa đầy chết chóc, để hòng khủng bố tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.

        Thực tế, tại chiến trường miền Nam sau đó, B52 đã từng "làm mưa làm gió", chúng thường mang bom đi "rải thảm" ở những nơi nghi ngờ có căn cứ kháng chiến của Cách mạng. Do chúng bay rất cao, nên các loại vũ khí phòng không tầm thấp của Quân Giải phóng miền Nam đã không có khả năng bắn hạ. Vì vậy, B52 cũng đã gây không ít thiệt hại và khó khăn cho quân và dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

        Ngày 12 tháng 4 năm 1966, B52 của Mỹ đã xâm phạm vùng trời miền Bắc Việt Nam. Chúng ném bom ở đèo Mụ Giạ, miền tây Quảng Bình. Tiếp đó là những đợt "rải thảm" ác liệt xuống địa bàn Vĩnh Linh và Cực nam Quân khu Bốn...

        Trong cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hải Phòng... cuối tháng 12 năm 1972, pháo đài bay B52 được coi là thứ vũ khí "át chủ bài" của Lầu Năm Góc. Tổng thống Mỹ hy vọng nhữhg chiếc "siêu pháo đài bay" khổng lồ B52 và những trận bom "rải thảm" huỷ diệt sẽ giúp ông ta khuất phục được ý chí của người Việt Nam. Hà Nội sẽ phải đầu hàng, hoặc ''ngoan ngoãn" chấp nhận nhữhg điều kiện có lợi cho Mỹ trong Hiệp định Paris.

        Các chuyên gia quân sự Mỹ và Phương Tây đều dự đoán rằng: Tính từ khi các loạt bom "rải thảm" đầu tiên được trút xuống Hà Nội và Hải Phòng, cùng lắm chúng ta chỉ chịu đựhg được không quá... ba ngày đêm! Khi cuộc tiến công mới bắt đầu, báo chí Mỹ đã tung tin, vẽ ra một thảm kịch hãi hùng: "Hà Nội sẽ là tử địa", " Các nhà lãnh đạo Bắc Việt sẽ phải đứng trước một bản án nghiêm khắc dành cho kẻ chiến bạỉ'"Hà Nội sẽ không còn sự lựa chọn nào khác, ngoài việc chấp nhận các yêu cầu của Mỹ".

        B52 lợi hại như thế, nên hầu như tất cả các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa anh em và bạn bè quốc tế đều lo lắng thay cho Việt Nam. Trong không khí căng thẳng tột độ của những ngày diễn ra "cuộc quyết đấu" 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" ấy, cả thế giới yêu chuộng hòa bình như cùng hướng về Hà Nội và nín thở theo dõi...
Trước khi tham chiến tại Việt Nam, máy bay ném bom chiến lược B52 chưa từng bị quân đội nước nào bắn rơi. (Và sau cuộc chiến tranh Việt Nam cũng vậy, B52 vẫn tiếp tục tác oai tác quái ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng chúng đều không bị bắn hạ), với những trang bị kỹ thuật điện tử tối tân có trong máy bay, người Mỹ thường rêu rao với cả thế giới rằng: Pháo đài bay B52 là bất khả xâm phạm (Inviolable)

        Một người Việt Nam ở nước ngoài đã "hiến kế" đánh B52 như thế nào?

        Làm thế nào để bắn rơi được B52? Đó là một câu hỏi lớn không chỉ của các đồng chí lãnh Đảng, Nhà nước, Quân đội ta, mà là của tất cả những người Việt Nam yêu nước.

        Đã có một câu chuyện cảm động về một người Việt Nam đang sống xa Tổ quốc, nhưng tấm lòng thì luôn hướng về quê hương. Theo phán đoán, ông quê gốc ở Nam Bộ, là một nhà khoa học, sinh sống ở vương quốc Anh. Trong những ngày cả nước trăn trở, lo lắng tìm cách đánh B52, nhà khoa học này cũng đã dày công nghiên cứu và đã hoàn thành một tài liệu có tên ''Hiến kế đánh máy bay B52", rồi gửi theo con đường ngoại giao về nước.

        Ngày 20 tháng 9 năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân của ta đã nhận được một bì thư công văn có niêm phong và bên ngoài đóng dấu "Thượng khẩn" do Thiếu tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần gửi đến. Trong bì thư công văn đó là tài liệu "Hiến kế đánh máy bay B52" nói trên. Tài liệu dày tới 16 trang đánh máy. Phần quan trọng nhất của tài liệu này có tên: ''Mìn trên không chõng oanh tạc cơ B52". Nội dung của tài liệu được tác giả trình bày rất chi tiết và cụ thể hóa bằng các hình vẽ minh họa bằng bút màu. Đó là nhũtig quả mìn treo dưới khinh khí cầu, với nhữhg kích cỡ cụ thể. Tiếp đó, là cách bố trí lưới mìn khinh khí cầu trên không ở các hướng B52 có thể bay vào Hà Nội...

        Tác giả của tài liệu nói trên nhấn mạnh: Khinh khí cầu hoàn toàn vô hình đối với ra-đa của máy bay Mỹ. sự bất ngờ và tính chất toán học của lưới mìn khinh khí cầu sẽ mang lại hiệu quả, khiến cho không chiếc B52 nào thoát được khi vướng vào lưới mìn đó...

        Thiếu tướng Đinh Đức Thiện còn có thư căn dặn kỹ về tài liệu "Hiến kế đánh máy bay B52" kể trên: Nếu có điểm nào chưa rõ, cần hỏi thêm, có thể viết thư chuyển qua Bộ Ngoại giao để hỏi thêm tác giả. còn nếu thấy cần thiết nữa thì mời trực tiếp tác giả về nước trao đổi, hướng dẫn cụ thể.

        Rất tiếc, trong thực tế phương án "Lưới mìn khinh khí cầd' rất khó thực hiện, vào năm 1967, Quân chủng Phòng không - Không quân từng thả khinh khí cầu chặn máy bay địch bay thấp. Dây thả mới dài vài ba km cho loại bóng ngắn đã gặp rất nhiều khó khăn, còn B52 lại thường bay ở độ cao trên 10 km... Nên phương án không có tính khả thi, vì vượt quá khả năng kỹ thuật cho phép. Quân chủng Phòng không - Không quân đành chuyển tài liệu "Hiến kế đánh máy bay B52" lên cấp trên, để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện thêm.

        Như vậy, để chiến thắng được B52 Mỹ, đã có sự đóng góp trí tuệ của cả dân tộc. Đó là trí tuệ Việt Nam!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 04:48:12 AM
       
        "Vạch nhiễu tìm thù" cho Tên lửa SAM-2


        Người ta đã nói nhiều về chuyện tên lửa SAM-2 bắn rơi B52 Mỹ. Nhưng không phải ai cũng biết nguồn gốc xuất xứ của nó thế nào?

        Cái tên SAM-2 là do viết tắt của các chữ tiếng Anh "Surface To Air Missile Type 2' (Tên lửa đất đối không kiểu 2) do Mỹ và phương Tây đặt ra để gọi một loại tên lửa của Liên xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh, còn ở quê hương của SAM-2, nó được mang tên một dòng sông nổi tiếng của Nga: Tên lửa Dvina, ký hiệu là CA-75M.
Tên lửa SAM-2 được cải tiến từ loại tên lửa SAM-1. Về tính năng, nó có độ cao bắn hiệu quả lớn nhất 23 km, cự li bắn hiệu quả lớn nhất 32 km. Nghĩa là, tầm bắn của SAM-2 có độ cao vượt xa khả nầng bay cao nhất của pháo đài bay B52 đạt được. (B52 có thể bay cao 20 km, ném bom ở độ cao 17 km, nhưng nếu muốn ném bom chính xác thì phải hạ độ cao xuống thấp từ 9 đến 10 km).

        Mỗi quả tên lửa SAM-2 đều có một đầu đạn chứa 200 kg lượng thuốc nổ TNT, có sức công phá rất lớn. Khi quả đạn được phóng lên, còn cách mục tiêu khoảng vài chục mét, hiệu ứng vô tuyến sẽ kích thích đầu đạn tự nổ. Khoảng 12.000 mảnh kim loại sẽ phóng ra xung quanh với sức công phá lớn. Vụ nổ sẽ tạo nên một quả cầu lửa sáng chói, nhiệt độ tầng đột ngột hàng ngàn độ cùng sức ép cực mạnh của sóng xung kích... Tất cả điều đó đều có thể bắn rơi máy bay Mỹ.

        Tuy nhiên, SAM-2 muốn bắn rơi được B52 thì phải nhờ ra- đa xác định mục tiêu. Trong cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng, sức mạnh của Không quân Mỹ không chỉ là máy bay, bom đạn... mà còn là Hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh! Có thể coi đó là một "Cuộc chiến tranh điện tử", là thủ đoạn chủ yếu nhất của quân đội Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm. Đó là thủ đoạn sử dụng các phương tiện điện tử hiện đại, công suất lớn trang bị trên máy bay làm nhiễu loạn toàn bộ hệ thống thông tin và vô hiệu hóa hệ thống các loại ra-đa cảnh giới bầu trời, điều khiển tên lửa, ngắm của pháo cao xạ, dẫn đường cho máy bay MIG... của Viẹt Nam.

        Không phải ngẫu nhiên mà trận "Điện Biên Phủ trên khôngỉ' kéo dài tới 12 ngày, nhưng chỉ diễn ra vào ban đêm. Người Mỹ cho rằng trong đêm tối thì lực lượng Phòng không - Không quân của ta sẽ không thể quan sát mục tiêu bằng ống kính nhìn xa và mắt thường, lại thêm toàn bộ hệ thống ra-đa đã bị vô hiệu hóa bởi nhiễu, thì B52 sẽ tha hồ tác oai tác quái.

        Các chuyên gia kỹ thuật chia nhiễu ra làm nhiều loại: nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực, nhiễu trong đội hình và nhiễu ngoài đội hình.

        Một trong những cách gây nhiễu của không quân Mỹ hồi đó là thả hàng triệu sợi kim loại màu trắng bạc cực mỏng và nhẹ. Chúng bay lơ lửhg, giăng kín bầu trời, tạo nên bức tường nhiễu khổng lồ, cao từ 5 đến 7 km, dày tớí 2 km và dài hàng trăm km... "Bức tường" nhiễu ấy khiến cho những màn hiện sóng ra-đa của lực ìượng Phòng không miền Bắc Việt Nam rối loạn, che lấp mọi tín hiệu phản xạ, không thể nào phát hiện ra mục tiêu. Nhiễu đã "bịt mắt" lực lượng ra-đa của đối phương và giúp máy bay Mỹ "tàng hình" trong đêm tối.

        Còn nhớ, tháng 4 năm 1972, không quân Mỹ bắt đầu thử nghiệm thủ đoạn gây nhiễu điện tử kiểu mới. Trong các đêm 10 tháng 4, đêm 13 tháng 4 và đêm 16 tháng 4, chúng lần lượt cho nhiều tốp B52 và hàng trăm máy bay chiến thuật đến ném bom ở Vinh, Bến Thuỷ (Nghệ An); Hàm Rồng, Thọ Xuân (Thanh Hóa) và Thành phố Hải Phòng... gây rất nhiều tổn thất cho quân và dân ta. Thậm chí, ngày 16 tháng 4 năm 1972, 60 máy bay Mỹ còn ngang nhiên xâm phạm vùng trời Hà Nội giữa ban ngày, cho F4 gây nhiễu giả B52... Do chưa có kinh nghiệm, chúng ta đã phóng tới 30 quả tên lửa SAM-2 mà không tiêu diệt được chiếc máy bay nào. Trong trận đêm 16 tháng 4 tại Hải Phòng, bộ đội ta đã phóng tới gần một trăm quả tên lửa, nhuìig kết quả vẫn bằng không.

        Lầu Năm Góc ngạo mạn tuyên bố: "Bằng kỹ thuật điện tử, Không lực Hoa Kỳ có thể bịt mắt toàn bộ hệ thống ra-đa của Bắc Việt, có thể vô hiệu hoá toàn bộ hệ thống phòng không của đối phương. Kể từ đây không quân Mỹ có thể tự do ném bom vào bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ Việt Nam, đều như đi vào chỗ không người", và họ tin rằng: "B52 là bất khả xâm phạm, chỉ có thể bị rơi do thời tiết, hoặc trục trặc kỹ thuật; quyết không thể bị bắn rơi vỉ hỏa lực phòng không của Bắc Việt". Chính viên tướng John Mayer Tư lệnh Không quân chiến lược Mỹ cũng đã khẳng định: Chiến tranh điện tử là con đường sống còn của không lực Hoa Kỷ.

        Nhưhg những gì đã diễn ra trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm ấy thì hoàn toàn ngược lại với mong đợi của phía Mỹ: Lực lượng Ra-đa Việt Nam đã hoàn toàn kiểm soát không phận của Tổ quốc. Bằng nhữhg kinh nghiệm xương máu có được trong thực tế chiến đấu và cả sự tài trí tuyệt vời, họ đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ " Vạch nhiễu tìm thừ", tạo điều kiện cho các lực lượng Phòng không - Không quân ta bắn hạ được nhữhg chiếc máy bay tối tân nhất của Hoa Kỳ hồi ấy.

        Và cho đến hôm nay, đó vẫn là nhữhg điều bất ngờ khủng khiếp nhất đối với những Phi công Mỹ.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 04:27:21 AM
       
        Việt Nam luôn chủ động trong mọi tình huống và đã sẵn sàng "quyết đấu"


        Muốn chiến thắng một kẻ địch được trang bị vũ khí hết sức hiện đại trong Cuộc chiến tranh điện tử, chỉ có tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm thôi thì chưa đủ, mà quan trọng hơn là chúng ta đã có được một đường lối quân sự sáng suốt, đã phát huy được Trí tuệ Việt Nam.

        Sự thật là chúng ta đã chủ động từ nhiều năm trước đó và luôn sẵn sàng trong mọi tình huống. Gần bốn năm trước khi xảy ra cuộc tập kích chiến lược của B52 vào Thủ đô Hà Nội, vào một buổi tối mùa xuân năm 1968, tại ngôi nhà sàn trong Phủ Chủ tịch, Bác Hồ đã nói với đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng tham mưu trưởng những lời tiên tri: Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội, rồi mới chịu thua. Chú nên nhớ: Trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định Đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân huỷ diệt Bình Nhưỡng, còn ở Việt Nam, Mỹ nhất định sẽ thua, nhưng chúng chỉ chịu thua sau khi đã bại trên bầu trời Hà Nội.

        Đấy không phải là lần đầu tiên Bác Hồ thay mặt Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ cho bộ đội Phòng không - Không quân. Ngay từ tháng 6 năm 1965, (chỉ hơn một tháng sau khi Mỹ đưa B52 vào chiến trường Việt Nam), Bác đã khẳng định: Dù đế quốc Mỹ lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay "Bê"gì đi nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà đã đánh là nhất định thắng! Tháng 4 năm 1966, khi B52 Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc ngày càng ác liệt, Bác cho mời đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân lên gặp và chỉ thị: Máy bay B52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú Phòng không - Không quân.

        Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, cuối tháng 2 năm 1968 một bản kế hoạch mang tên "Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng" của Quân chủng Phòng không - Không quân đã ra đời. Từ những kinh nghiệm thực tế chiến đấu sôi động, phương án nói trên đã liên tục được bổ sung, hoàn chỉnh và thay thế bằng "Phương án tháng 5", "Phương án tháng 7',"Phương án tháng 9"... và cho tới " Phương án tháng 11".

        Cùng với bản phương án hoàn chỉnh tháng 11 năm 1972, các tài liệu rất quan trọng và cần thiết cho bộ đội Phòng không - Không quân ta như "Cách chống nhiễu thông tin", "Quy trình bắt B52 trong nhiễu"... và đặc biệt là tập tài liệu dày 30 trang đánh máy "Cách đánh B52 của Bộ đội Tên lửa" (còn được gọi là cuốn "Cẩm nang bìa đỏ") đã được hoàn thành và chuyển tới từhg đơn vị chiến đấu, để bộ đội ta luyện tập kỹ càng...

        Đầu tháng 12 năm 1972, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đến thăm Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày kế hoạch đánh B52.

        Theo báo cáo từ các đơn vị địa phương, trước khi diễn ra "Cuộc quyết đấu" 12 ngày đêm, Bộ đội Tên lửa Việt Nam từhg bốn lần bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ:

        - Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Trung đoàn H38 bắn rơi chiếc B52 đầu tiên ở đất thép Vĩnh Linh;

        - Ngày 18 tháng 3 năm 1971, Trung đoàn H37 bắn rơi một B52 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào;

        - Ngày 2 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn H36 bắn rơi chiếc B52 đầu tiên trong chiến dịch Quảng Trị.

        Nhưng cả ba lần nói trên, phía Mỹ đều im lặng và không dám công nhận, vì sợ bị "mất mặt thần tượng" của không quân chiến lược. Trước mỗi phi vụ B52 bay vào vùng trời miền Bắc Việt Nam, các Phi công đều được căn dặn: Nếu bị trúng đạn hãy cố đưa máy bay ra biển, hoặc về phía nhữhg rừhg già phía Tây để... vừa dễ cứu hộ, vừa giấu được bằng chứng, giữ bí mật cho những thiết bị tối tân có trong máy bay không lọt vào tay đối phương...

        - Phải đợi cho tới đêm 22 tháng 11 năm 1972 (trước cuộc tập kích chiến lược chưa đầy một tháng), Trung đoàn H63 đã thực hiện thành công "Quy trình bắt B52 trong nhiễu" bắn cháy một B52 khi chúng đến gây tội ác ở Nghệ An. Chiếc pháo đài bay bị trọng thương này đã cố bay về Thái Lan, khi còn cách sân bay utapao 640 km thì rơi xuống đất. còn may là mấy Phi công đều nhảy dù thoát chết. Nhiíhg đống xác pháo đài bay B52 đã phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật... Rất nhiều nhà báo quốc tế đã có mặt để chứhg kiến. Hãng UPI đã nhanh chóng loan tin này. Không còn bưhg bít được nữa, lần đầu tiên phía Mỹ đã cay đắng thừa nhận B52 của họ đã bị tên lửa SAM-2 của Việt Nam bắn rơi!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2015, 08:29:40 AM
       
        "Bão lửa" trên bầu trời Thủ đô Hà Nội


        Cần phải nói ngay là trong những ngày đêm đầy thử thách và nguy nan, liên quan đến vận mệnh, sự sống còn của đất nước ấy, tất cả các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đều có mặt ngay tại Hà Nội, để trực tiếp chỉ đạo động viên toàn quân và toàn dân đánh giặc. Ban ngày, bất chấp mọi hiểm nguy, khi Hà Nội đang còn ngổn ngang đổ nát vì những trận bom rải thảm, các đồng chí Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm văn Đồng... đã tới tận trận địa, tận khu dân cư vừa bị bom Mỹ để thăm hỏi bộ đội và nhân dân.
Tổng hành dinh của Bộ Quốc phòng cũng không sơ tán như một số người lầm tưởng, mà vẫn được đặt ngay tại "Nhà Con Rồng" trong thành cổ Hà Nội. Nhữhg "đường dây nóng" được thiết lập xuống tận đơn vị tên lửa chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Từ Tổng hành dinh này, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu có thể trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các mặt trận và các quân binh chủng trên toàn quốc...

        "Cuộc quyết đấu" chính thức bắt đầu từ đêm 18 tháng 12 năm 1972. Chúng ta không hề bất ngờ, bởi mọi hoạt động quân sự của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á những ngày trước đó đều được các lực lượng tình báo kỹ thuật của Việt Nam giám sát chặt chẽ. Đầu tháng 12, một nguồn tin rất đáng lưu ý cho biết: Mỹ đã điều động tăng cường thêm 2 hàng không mẫu hạm ở Biển Đông. Trong đó, hàng không mẫu hạm Saratoga từ Philippines, từ Nhật Bản đã áp sát bờ biển Thanh Hóa... Số máy bay chiến lược B52 tại sân bay Utapao tăng đột ngột, chật chỗ. Các xe chở bom đi lại liên tục. Thêm 2 chiếc KC.135 tiếp dầu đã đến sân bay Udon. 5 chiếc KC.135 khác ở các căn cứ Subic cũng sẵn sàng... Một Bộ chỉ huy quân sự về Không quân chiến lược của Mỹ mới được thành lập để điều hành hai căn cứ utapao và Guam...

        Riêng ngày 18 tháng 12, "nhật ký" cho thấy:

        - Lúc 5 giờ: Tàu sân bay America neo đậu ở đông Đà Nẵng đã điện hỏi cấp trên: " Trực thăng hôm nay làm nhiệm vụ cứu hộ ở đâu?";

        - Từ 10 giờ đến 11 giờ 30: Hai lần máy bay không người lái bay rất thấp để trinh sát Hà Nội và Hải Phòng;

        - Cũng thời gian trên, một máy bay trinh sát kiểu RF4C khi bay qua bầu trời Hà Nội đã điện về căn cứ:" Thời tiết đảm bảo cho không quân hoạt động";
-   Lúc 14 giờ 30, có tin khẩn: Các máy bay B52 ở2 căn cứ Utapao và Guam đều đã được tiếp đầy nhiên liệu và đã lắp bom theo cơ số. Các máy bay chiến thuật cường kích, tiêm kích cũng đã khởi động chuẩn bị...

        Tổng hợp và nhận định: Trong ngày hoạt động của không quân địch giảm đột ngột, không phận bắc vĩ tuyến 20 hoàn toàn yên tĩnh... có thể khẳng định: Trong đêm 18-12 địch sẽ đánh lớn vào Hà Nội. Có khả năng B52 sẽ đánh từ chập tối.

        Điều khắng định của ta đã hoàn toàn chính xác: Sau một ngày yên tĩnh lạ thường, đúng 18 giờ các đài ra-đa cảnh giới của ta bỗng đồng loạt thông báo hiện tượng nhiễu với cường độ ngày càng tăng. Đúng 18 giờ 15 phút: phát hiện một tốp F111 trên vùng trời Sầm Nưa của nước bạn. 18 giờ 30 phút: phát hiệu thêm nhiễu ngoài đội hình của máy bay EB66... 18 giờ 50 phút: Các lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam được lệnh báo động cấp Một, sẵn sàng chiến đấu cao nhất...
Còi báo động hú từng hồi hối hả vang khắp các phố phường Hà Nội. Hệ thống loa phóng thanh truyền đi tiếng nói dõng dạc và bình tĩnh của nữ phát thanh viên: Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội 100 cây số. Các lực lượng vũ trang vào vị trí chiến đấu. Đồng bào nhanh chóng xuống hầm trú ẩn...

        19 giờ 00: Đại đội 16 ra-đa phát hiện có nhiều B52 đang bay lên phía Thượng Lào. 19 giờ 15 phút: Đại đội 45 ra-đa khẳng định có nhiều máy bay B52 đang bay ở độ cao hơn 9.000 mét vào vùng trời Hà Nội. 19 giờ 44 phút: Quả đạn tên lửa SAM-2 đầu tiên của Tiểu đoàn 78, thuộc Trung đoàn H57 rời bệ phóng, bay vút lên trời đêm, mở đầu những "Cuộc nghênh tiếp dữ dộỉ".

        Từ các trận địa khác, những "con rồng lửa" cũng đua nhau bay lên sáng rực trời đêm... Rồi các cỡ pháo cao xạ, súng bắn máy bay tầm thấp đồng loạt nhả đạn, trong tiếng máy bay gầm rú và bom rơi ầm ầm rung chuyển mặt đất... cả Hà Nội bỗng sáng lòa trong bão lửa. Thủ đô thiêng liêng của cả nước lại hóa thành "Thăng Long chiến địa".

        23 giờ 13 phút, Tiểu đoàn tên lửa 59 thuộc Trung đoàn H61, trận địa ở cổ Loa (Đông Anh) đã phóng quả đạn mang ký hiệu C202A bắn trúng chiếc B52 đầu tiên của chiến dịch. Chiếc pháo đài bay này xuất phát từ căn cứ Guam là loại B52G đã bị rơi xuống cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ (nay thuộc huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội). Tin vui bay về Tổng hành dinh .., Nhưhg, nếu chưa có "bằng chứhg cụ thể" thì chưa thể công bố được! Ngay trong đêm ấy, Đại tướng Tổng tư lệnh đã yêu câu sư đoàn 361 cử cán bộ đến tận hiện trường máy bay rơi để xác minh, với yêu cầu: Phải nhìn tận mắt, sờ tận tay và tốt nhất là lấy được vật chứng mang về!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2015, 04:20:30 AM
        Đồng chí Võ công Lạng, Trung đoàn phó H61 đã vượt qua nhiều bãi bom, tìm đến nơi đống xác máy bay khổng lồ đang bốc cháy. Anh hồi hộp soi đèn pin, nhanh chóng phát hiện ra một mảnh máy bay có tấm phù hiệu sặc sỡ, có vẽ biểu tượng một quả đấm thép, ba tia chớp, một cành nguyệt quế; cùng dòng chữ STRATEGIC AIR COMMAND (Bộ Chỉ huy Không quân Chiến lược) Nhưng mảnh xác ấy quá lớn, không thể mang theo được. Tiếp tục tìm kiếm, Lạng đã thấy một chiếc nhãn kim loại nhỏ có ghi rõ "Aircraft Model B52G', anh bàng hoàng sung sướng, vội dùng mũi dao găm cậy mang về... Đấy cũng là chiếc pháo đài bay B52 đầu tiên bị bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam bắn rơi tại chỗ.

        Sau khi nghe sư đoàn 361 báo cáo xác nhận chính xác, Đại tướng Vồ Nguyên Giáp phấn khởi quay sang báo tin vui với các uỷ viên Bộ Chính trị đang có mặt: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, văn Tiến Dũng... Qua "đường dây nóng", Đại tướng Tổng tư lệnh đã nhiệt liệt biểu dương thành tích chiến đấu của các đơn vị, trong đêm đầu tiên của chiến dịch đã bắn rơi 3 "pháo đài bay" B52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái...

        Trong 12 ngày đêm "bão lửa" trên bầu trời Hà Nội, có những trận thắng được ghi vào trang sử vàng của lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam như huyền thoại:

        Đêm 20 tháng 12: 15 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có tới 7 chiếc B52 và 2 chiếc F111 "cánh cụp cánh xoè". Nhưng nhiều bệ phóng tên lửa của ta đã hết sạch đạn, vì không điều chuyển kịp. Để tiết kiệm, các trận địa đã được lệnh bắn từng quả một và chỉ dành để bắn B52. Những đêm sau đó, một số lượng lớn đạn tên lửa từ Quân khu Bốn đã được điều ra bổ sung cho Hà Nội.

        Đêm 26 tháng 12: Sau 36 giờ lấy cớ nghỉ Noel, Lầu Năm Góc quyết định tập trung lực lượng lớn, hòng "ra đòn quyết định" đánh gục Hà Nội trong một thời gian cực ngắn. Như lời một tướng Mỹ: "Chỉ trong vòng 15 phút, với 113 máy bay B52 và 220 máy bay chiến thuật, không lực Hoa Kỳ đã thực hiện cuộc oanh tạc tập trung nhất trong lịch sử"... Nhưng đó cũng là đêm thua đau nhất của Mỹ: 8 pháo đài bay bị bắn hạ, trong đó 4 chiếc rơi tại chỗ. Trận thua đậm này có ý nghĩa như một cú "nốc ao", đã quyết định số phận đối với chiến dịch "Linebacker II'.

        Theo thông báo: Đêm 27 tháng 12: Phi công Phạm Tuân lái MiG 21 cất cánh từ sân bay dã chiến bí mật Yên Bái đã bắn rơi một B52 trên vùng trời Hòa Bình. Đây là chiếc pháo đài bay đầu tiên bị Không quân bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm. (Tuy nhiên, phía Mỹ không thừã nhận điều đó - ĐVH). Cũng đêm ấy, Hà Nội còn bắn rơi 4 pháo đài bay B52 nữa, có chiếc rơi ngay xuống làng hoa Ngọc Hà.

        Đêm 28 tháng 12: có 30 chiếc B52 xâm phạm vùng trời Hà Nội, nhưng có lẽ lo sợ bị bắn hạ nên chúng chỉ bay vòng ngoài xa trên cao. Phi công Vũ Xuân Thiều sau khi xuất kích từ một sân bay dã chiến tại Thanh Hóa, đã phát hiện được B52 trên vùng trời sơn La. Anh tiếp cận rồi phóng tên lửa, nhưng chiếc pháo đài bay vẫn chưa bốc cháy. Đã quá gần, thời cơ tiến công địch có một không hai. Lời nói cuối cùng của Thiều báo cáo về sở chi huy: "Thăng Long! Tôi đã bắn cả 2 quả tên lửa, B52 chỉ bị thương. Xin phép được tiêu dỉệt !". Người Phi công ấy đã quả cảm lao cả chiếc MIG mang số hiệu 5121 vào B52 và anh dũng hy sinh trên bầu trời đêm bao la... Đêm ấy, ngoài chiếc B52 bị phi công lái MiG-21 vũ Xuân Thiều làm cho nổ tung trên vùng trời sơn La, Bộ đội Tên lửa Hà Nội còn bắn rơi thêm một B52 nữa.

        Cũng cần phải nói thêm điều này: Tuy không là "đối thủ chính" của B52, nhưng Bộ đội Cao xạ anh hùng đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chung trong chiến dịch 12 ngày đêm. Được trang bị nhiều loại súng và pháo ktíac nhau; lực lượng Cao xạ đã hình thành một mạng lưới trận địa tầm thấp như thiên la địa võng, đón lõng và chặn đánh thành công các loại máy bay chiến thuật của Mỹ.

        Ngoài việc bảo vệ tốt các trận địa tên lửa, ra-đa và các mục tiêu của máy bay chiến thuật; Bộ đội Cao xạ đã trực tiếp bắn rơi 39 máy bay Mỹ; đặc biệt trong đó có tới 5 chiếc F111 (còn được gọi là máy bay "cánh cụp cánh xoè", giá mỗi chiếc đắt hơn cả B52), là loại máy bay tối tân nhất của Không quân chiến thuật Mỹ hồi ấy.

        Không phải ai cũng biết rằng từ bên kia Thái Bình Dương, sau khi ra lệnh cho không quân chiến lược Mỹ ném bom Hà Nội, vì quá tin vào sức mạnh B52, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã cùng vợ đi nghỉ mát ở bang Florida chờ tin thắng lợi... Nhưng ông ta đã liên tục thất vọng, choáng váng lo sợ mỗi khi phải nghe báo cáo chiến sự. Noel năm ấy, Richard Nixon ăn không ngon và ngủ cũng chẳng yên. Ngay chuyện con tàu vũ trụ Apollo 17 cùng 3 nhà vũ trụ Mỹ trở về trái đất an toàn lẽ ra ià một tin vui lớn, cũng đã bị chìm lấp bởi thảm bại ở Việt Nam.

        Trong tâm trạng thất vọng và cay đắng, Tổng thống Mỹ đã buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam lúc 24 giờ đêm 29 tháng 12, nghĩa là chỉ sau một giờ đồng hồ chiếc B52 cuối cùng của Không quân Mỹ bị tên lửa Hà Nội bắn rơi.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2015, 08:47:13 PM
       
        Từ "Đài Tưởng niệm Khâm Thiên" đến "Bảo tàng Chiến thắng B52"

        Tổng cộng trong 12 ngày đêm năm ấy Không lực Hoa Kỳ đã mất tới 81 chiếc máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc B52, 5 chiếc F111, 21 chiếc F4C và F4E... Thêm rất nhiều Phi công Mỹ đã bị bắt làm tù binh.

        Tuy nhiên, trong chiến tranh hiện đại, thật khó có chiến thắng nào được toàn vẹn, không phải hy sinh xương máu. Sau này phía Mỹ đã thú nhận: Trong 12 ngày đêm, riêng với Hà Nội, họ đã sử dụng tới 444 lượt chiếc Pháo đài bay B52 cùng nhiều loại máy bay chiến thuật khác. Tính ra, người Mỹ đã trút xuống Hà Nội 10.000 tấn bom, hòng hủy diệt Thủ đô của Việt Nam...

        Vậy trong "Cuộc quyết đấu" 12 ngày đêm bão lửa ấy thiệt hại về người của chúng ta là bao nhiêu?

        Các chuyên gia Mỹ dự đoán chắc chắn có ít nhất vài vạn dân thường Việt Nam đã thiệt mạng!

        Trong thực tế, thương vong của phía Việt Nam ít hơn rất nhiều, chỉ bằng 1/10 số dự đoán của phía Mỹ. Đó là nhờ chúng ta đã chủ động đề phòng trước: Đầu thập kỷ 70, cả Hà Nội mới có khoảng 60 vạn dân. Trước khi xảy ra cuộc tập kích chiến lược của Mỹ, chính quyền thành phố đã tổ chức sơ tán được 30 vạn người. Sau đêm đầu tiên của cuộc tập kích, lệnh sơ tán càng triệt để hơn, nhằm hạn chế tối đa thương vong cho nhân dân... Đây cũng là một thành công lớn, góp phần quan trọng cho chiến thắng.

        Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ được phép quên những tội ác mà người Mỹ đã gây ra. Chỉ tính riêng ở Hà Nội, bom B52 đã rơi đúng nhiều khu dân cư thuộc phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, Gia Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ... Theo một con số thống kê cho biết: Bom Mỹ đã phá sập 5.480 ngôi nhà, sát hại 2.368 dân thường và làm 1.355 người khác bị thương.
Thiệt hại nặng nhất ở Hà Nội là khu phố Khâm Thiên đông đúc, loạt bom "rải thảm" kéo dài hàng km, khiến 2.265 ngôi nhà bị phá sập hoàn toàn, 287 người bị chết và 290 người khác bị thương... Bãi bom B52 "rải thảm" xưa ở Khâm Thiên nay chỉ còn lại một đài tưởng niệm tội ác chiến tranh. Khi bài viết này đến tay bạn đọc, nhiều gia đình ở Khâm Thiên đang chuẩn bị cho 40 năm ngày giỗ chung của gần 300 linh hồn oan khuất. Hà Nội những năm đầu của thế kỷ 21 đang được xây dựng to đẹp hơn từhg ngày.

        Đã hơn 40 năm sau chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không", có một bảo tàng độc nhất vô nhị trên thế giới mang tên "Bảo tàng Chiến thắng B52" được xây dựng ở đường Đội Cấn. Rồi đây, các thế hệ con cháu chúng ta khi đến thăm Bảo tàng này, mãi mãi có quyền tự hào rằng: Người Hà Nội tháng 12 năm 1972 đã sống và chiến đấu anh hùng như thế!

        Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" càng có ý nghĩa lớn lao hơn, trong bối cảnh hiện nay quân đội Mỹ vẫn sử dụng sách lược quân sự " Tấn công đường không" để đe dọa cả thế giới hòa bình. Bởi cho đến nay, những năm đầu của thế kỷ 21 này, vẫn chỉ có duy nhất Lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam đã bắn rơi được "Pháo đài bay" B52 và đánh bại Không lực Mỹ...

        Trong dịp kỷ niệm 40 năm ''Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không vừa qua (1972 - 2012), không chỉ báo chí Việt Nam, mà nhiều hãng thông tấn, báo chí truyền thông có uy tín của thế giới, đặc biệt là phía Mỹ, đầ không ngớt ca ngợi nghệ thuật quân sự tài tình của lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam. Rõ ràng, trong chiến tranh hiện đại, ưu việt về vũ khí, kỹ thuật tân tiến là vô cùng quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả, mà yếu tố con người vẫn là quyết định. Rồi đây, giới sử học quân sự thế giới, trong đó có Hoa Kỳ còn phải tốn nhiều giấy mực và thời gian nữa để nghiên cứu, tìm hiểu về sự kiện "Điện Biên Phủ trên không" nói trên.

        Được biết, mấy năm trước, cựu Đại tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, ông Lindsey Kiang, sang Việt Nam để sưu tập tư liệu, để viết cuốn sách về "Điện Biên Phủ trên không". Không rõ ông ấy đã hoàn thành công việc ý nghĩa ấy của mình chưa?

Hà Nội, 2002 - 2012       


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2015, 10:47:14 AM
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200241_zpsgmtrfd5j.jpg)
Các đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Quân đội vẫn ở tại Hà Nội để cùng quân dân cả nước "Quyết đấu"

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200242_zpsojyxkwet.jpg)
Nhân dân Hà Nội đi sơ tán, nhường chỗ cho các ừận địa tên lửa và phong không, sẵn sàng đánh máy bay Mỹ.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200243_zpssn9szrua.jpg)
Máy bay B52 ném bom rải thảm - Vũ khí chiến lược, "át chủ bài" của Không quân Mỹ ừong "'Điện Biên Phủ ừên không".

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200244_zpsqh37skeg.jpg)
sự tàn phá huỷ diệt của bom B52 (nhìn từ trên không xuống và tại phổ Khâm Thiên Thủ đô Hà Nội, tháng 12 năm 1972).

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200245_zpssdauyelv.jpg)
Tên lửa SAM-2 do bộ đội Việt Nam sử dụng - "Khắc tinh của B52 Mỹ trong "cuộc quyẽt đấu Điện Biên Phủ trên không".



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2015, 04:32:31 AM
       
        
TÙ BINH PHI CÔNG MỸ Ở "HỎA LÒ"... VÀ NHỮNG BÍ MẬT CẦN "GIẢI MÃ"

        Trong kháng chiến chống Mỹ, hàng chục năm liên tục, Nhà tù Hỏa Lò được coi là một trong những địa chỉ được bảo vệ nghiêm ngặt và bí mật nhất ở Hà Nội. Lý do thật đơn giản: Đó là nơi đã từhg giam giữ hàng trăm Phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam.

        Đến bây giờ thì điều bí mật trên không còn nữa. Nhưng không phải ai cũng hiểu được "sự thật đằng sau bức tường đá" một thời. Ví dụ: cơ cấu tổ chức của trại Tù bỉnh Phi công Mỹ Hỏa Lò hồi ấy như thế nào? Có phải tù binh Phi công Mỹ tại Hỏa Lò được ăn uống theo chế độ "đặc táo'? Họ được tạo điều kiện chơi thể thao, thưởng thức văn nghệ, tham quan danh lam thắng cảnh của Thủ đô ra sao? Những tù binh Mỹ nào đã được mời tham gia đóng phim cho Việt Nam? và cả chuyện một nữ tù binh duy nhất với bức thư "xin nuôi mèo"?...

        Tất cả những câu trả lời cho nhữhg bí mật trên, bạn có thể tìm thấy trong những trang sách sau đây...

        Đôi nét về "Khách sạn Hilton Hà Nội"

        Trong thiên ký sự "'Sự thật về vụ tập kích cứu Phi công Mỹ tại Sơn tây", chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc một phần về nhà tù Hỏa Lò. Nhà tù này nằm ngay trung tâm Thành phố Hà Nội, được xây dựhg từ năm 1896. Người Pháp cho xây dụng nhà tù này nhằm giam giữ những người đấu tranh chống chế độ thực dân.

        Theo một tài liệu còn lưu trữ tại đây cho biết: Nhà tù Hỏa Lò vốn có tên là Đề lao Trung ương (Maison Centrale), nhưng do được xây trên đất của làng Phụ Khánh, tổng Vĩnh xương (cũ), một làng nghề chuyên sản xuất đồ gốm, ngày đêm rực lửa lò nung, vì thế làng còn có tên là Hỏa Lò và nhà tù ở đây cũng được gọi là nhà tù Hỏa Lò.

        Các nhà tù khác thường biệt lập với khu dân cư, riêng Hỏa Lò nằm tại trung tâm Hà Nội, thủ phủ của chính quyền thực dân khi đó. Bên cạnh nhà tù là tòa đại hình và sở mật thám, tạo thành thế chân kiềng, sẵn sàng đàn áp phong trào Cách mạng của nhân dần ta.

        Hỏa Lò là một trong những công trình kiên cố vào loại bậc nhất Đông Dương mà người Pháp đã xây dựng nên. Bao quanh nhà tù là bức tường bằng đá, bê tông cốt thép cao 4 mét, dày 0,5m, được gia cố bởi hệ thống dây thép gai có dòng điện cao thế chạy qua, bốn góc là những tháp canh có khả nầng quan sát nhất cử nhất động toàn bộ trại giam. Riêng hệ thống cửa sắt và khóa phòng giam đã được mang từ Pháp sang.

        Nhiều thế hệ người Việt Nam đã bị giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò, trong đó có các nhà nho yêu nước như cụ Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Dương Bá Trạc đến các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười...

        Tổng diện tích của Hỏa Lò (cũ) rộng gần 13.000 mét vuông, từ trên cao nhìn xuống khu đất này có hình thang, với hai góc vuông (một cạnh của "hình thang" ấy là đường Thợ Nhuộm, cạnh kia là đường Hai Bà Trưng; "đáy nhỏ" của "hình thang" ấy là đường Quán sứ, còn "đáy lớn" là phố Hỏa Lò).
Nếu đi ngoài các đường phố quan sát, thì du khách chỉ thấy toàn bộ nhà tù Hỏa Lò được bao quanh bởi một bức tường đá, bê tông cốt thép dày và cao. Ngày nay, di tích nhà thù Hỏa Lò chỉ còn lại một góc nhỏ bằng 1/5 diện tích cũ nằm giáp với phố Hoả Lò, phần lớn đã bị phá đi để nhường chỗ cho việc xây dựhg một tòa tháp có tên tiếng Anh là Hanoi Towers.

        Cũng bởi sự kiên cố của nhà tù Hỏa Lò và vị trí của nó nằm ngay giữ lòng Thủ đô Hà Nội, nên trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc Việt Nam, Hỏa Lò được sử dụng để giam giữ hàng trăm tù binh Phi công Mỹ đã bị lực lượng phòng không ta bắn rơi và bắt sống. Thời đó, các Phi công Mỹ đã gọi Hỏa Lò bằng những cái tên hài hước là "Khách sạn Hilton Hà Nội" hoặc "Khách sạn vỡ tim".

        Theo Đại tá Trần Trọng Duyệt (hiện trú tại Khu tập thể Đoàn 6 Hải quân, Cầu Rào, Hải Phòng), nguyên Trại trưởng cuối cùng của Trại tù binh Hỏa Lò - người được chứhg kiến những ngày toàn bộ tù binh được ta trao trả cho phía Mỹ theo hiệp định Paris - nhớ lại, thì trong thời gian chiến tranh, tại Hà Nội, tù binh Phi công Mỹ được giam giữ chủ yếu ở ba địa điểm chính: một là khu vực Fafim đường Nguyễn Trãi bây giờ (tiếng lóng của tù binh Phi công Mỹ gọi địa điểm này là "Sở Thú"); hai là, số nhà 17 phố Lý Nam Đế (Phi công Mỹ gọi là "Đồn Điền"); và ba là Hỏa Lò (còn được tù binh Mỹ gọi hài hước là "Khách sạn Hilton", hay "Khách sạn Vỡ Tim"), nơi thường xuyên có đông tù binh Phi công Mỹ "tá túc" nhất. Sau vụ đột kích bằng đường không của lực lượng đặc nhiệm Mỹ, hòng giải cứu cho số tù binh bị giam giữ ở trại Sơn Tây bất thành, các tù binh Mỹ đang giam giữ ở nhiều nơi đã được ta đưa cả về Hỏa Lò, làm cho số lượng càng tăng lên, khiến cho một số phòng giam gần như "quá tải".
        Về cơ cấu tổ chức của trại tù binh Hỏa Lò: Tổng cộng cán bộ chiến sĩ ta chỉ có khoảng 60 người. Trong đó, có một Tổ Quản giáo kiệm Phiên dịch (từ 5 đến 7 cán bộ); một Tổ Bảo vệ chuyên làm nhiệm vụ dẫn giải tù binh đi làm việc và phục vụ sinh hoạt; hai Tiểu đội Hậu cần - Cấp dưỡng được chia làm 2 bộ phận: một bộ phận phục vụ cho ta, còn bộ phận kia (có quản lý riêng) chuyên phục vụ tù binh Mỹ; một Trung đội cảnh vệ gác vòng ngoài (khoảng 20 đến 25 người)...

        Đó là chưa tính các đơn vị phối hợp. ví dụ: Để đề phòng đối phương có thể đột kích bằng đường không giải thoát tù binh, chúng ta đã bố trí một lực lượng phòng không dày đặc trên các tòa nhà cao tầng xung quanh khu vực Hỏa Lò, sẵn sàng bắn hạ máy bay bay thấp và máy bay trực thăng cứu hộ.
Ngoài ra, còn có những đơn vị bộ binh, công an vũ trang, thậm chí có cả xe tăng, thiết giáp luôn sẵn sàng chiến đấu cao, nếu phía Mỹ dám liều lĩnh như với trại tù binh sơn Tây năm 1970.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2015, 12:43:06 AM
       
        Tù binh Mỹ tại Hỏa Lò được ăn ngon hđn cả cán bộ Việt Nam!

        Đại tá Trần Trọng Duyệt cho biết:

        - Hồi đó, tù binh Phi công Mỹ đã được phía ta chăm sóc với một chế độ ăn uống rất đặc biệt: Buổi sáng, họ thường được ăn bánh mỳ với sữa hoặc đường (nhữhg thứ hàng xa xỉ mà thời ấy, những người Việt Nam bình thường chỉ nhữhg khi ốm đau mới được biếu và bồi dưỡng). Bữa trưa và chiều, suất ăn của họ là bánh mỳ kẹp trứhg rán, hoặc thịt và một bát súp thịt hầm với khoai tầy, hoặc rau các loại. Những người nghiện thuốc lá, mỗi ngày còn được phát 3 điếu Tam Đảo bao bạc (thứ thuốc lá không có đầu lọc, nhưng rất quý hiếm, do miền Bắc sản xuất hồi đó).

        Những ngày lễ, ngày Tết (của cả Việt Nam và Mỹ), tù binh còn được cho ăn tươi đặc biệt hơn. Ngoài việc gói bánh chưng, cuốn nem rán, bộ phận hậu cần của trại thường mang giấy giới thiệu đi về tận Hà Bắc, hoặc Sơn Tây để mua gà tây về quay, chế biến món cơm rang thập cẩm (cơm có cả thịt, trứhg và rau), uống với bia Trúc Bạch - thứ đồ uống mà tù binh Mỹ rất thích - ăn xong thường có hoa quả và bánh kẹo.

        Để bạn đọc dễ hình dung và so sánh, chúng tôi xin được nêu ví dụ cụ thể về chế độ và suất ăn như sau: hồi đó bộ đội ta thường có 3 chế độ ăn cơ bản:

        - Đại táo: áp dụng cho tất cả cán bộ chiến sĩ và nhữhg người có quân hàm đến Trung uý, được hưởng tiêu chuẩn ăn 0,68 đồng/ngày;

        - Trung táo: áp dụng cho các sĩ quan có cấp hàm từ Thượng uý đến Trung tá, được hưởng tiêu diuẩn ăn 0,9 đồng/ngày;

        - Tiểu táo: áp dụng cho các sĩ quan cao cấp có quân hàm Thượng tá và Đại tá, được hưởng tiêu chuẩn ăn 1,2 đồng/ngày.

        Riêng tù binh Phi công Mỹ được hưởng mức ăn "đặc táo" tới 1/6 đồng/ngày, với những người gầy yếu, hoặc ốm đau sẽ được Ban chỉ huy trại quyết định cho ăn chế độ bồi dưỡng đặc biệt: 3,2 đồng/ngày. Thời gian sau, mức ăn còn được nâng lên tới 7 đồng/ngày. (Đồng tiền ở miền Bắc ngày đó rất có giá trị: Lương tháng của đồng chí Trưởng ty công an an tỉnh là 115 đồng! Một bát phở ngon có giá 3 hào, một que kem ở bờ hồ Hoàn Kiếm trung tâm Thủ đô Hà Nội chỉ có 5 xu...).

        Vì được hưởng tiêu chuẩn cao, nên tù binh Mỹ thường ăn không hết suất, cơm và thức ăn thừa nhiều. Ban chỉ huy trại quyết định sử dụng số thức ăn thừa đó để... nuôi lợn. Thời gian cao điểm, bộ phận hậu cần của trại tù binh Hỏa Lò nuôi tới 40 con lợn béo. Khi lợn to được xuất chuồng, số thịt tăng gia và tiền bán lợn đó lại được sử dụng để bổ sung cho bữa ăn của tù binh...

        Tóm lại, đó là một sự cố gắng rất lớn về chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tù binh Mỹ. Bởi trong thời kỳ chiến tranh, đời sống nhân dân ta còn thiếu thốn trăm bề. Hàng hóa hầu hết đều phải phân phối, được mua bằng tem phiếu ưu tiên.

        Tù binh Mỹ được ăn uống đầy đủ tới mức khiến nhiều cán bộ chiến sĩ ta phải thắc mắc: Tại sao ở nhiều nơi bộ đội và nhân dân ta còn phải ần độn thêm khoai sắn mới đủ no, mà lại dành khẩu phần ăn tốn kém như vậy cho những kẻ đã từhg gây bao tội ác với đồng bao ta? Cấp trên giải thích: Tù binh Mỹ là ''vốn quý" và "tài sấn" để sau này chúng ta có thể đấu tranh trên mặt trận ngoại giao với địch, cán bộ chiến sĩ của trại phải xác định rõ: chăm sóc bảo đảm tốt sức khỏe cho tù binh cũng là một nhiệm vụ
đặc biệt!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2015, 07:41:07 AM
       
        Ở tù những vẫn được vui chơi và giải trí


        Cựu Trại trưởng tù binh Hỏa Lò Trần Trọng Duyệt đã khẳng định: Có lẽ trên thế giới này không có nước nào đối xử với tù binh Mỹ tốt như ở Việt Nam. Đó là nhờ truyền thống khoan hồng và nhân đạo đã có hàng nghìn năm của dân tộc ta. Các tù binh chẳng nhữhg được ăn tốt, mà còn được chăm sóc sức khỏe (cả vật chất và tinh thần) rất chu đáo trong điều kiện thời chiến cho phép.

        Ngoài việc được tận tình cứu chữa vết thương do nhảy dù sau khi máy bay bốc cháy, các tù binh đã được những bác sĩ giỏi nhất ở các bệnh viện 108, 103, 354 của quân đội đến khám và chữa bệnh theo định kỳ. Cho nên, sau cú sốc thần kinh ban đầu lúc họ bị bắt, khi đã vào trại Hỏa Lò hầu hết các tù binh Mỹ đều ổn định tinh thần và sức khỏe rất nhanh. Nhiều người đã có ý thức tập luyện để thích nghi với điều kiện sinh hoạt mới, giữ gìn sức khỏe để đợi ngày được trao trả về nước.

        Ông Duyệt cho biết: ở Hỏa Lò hồi đó các tù binh Mỹ thường xuyên được tổ chức vui chơi giải trí. Hằng ngày, họ được ra sân phơi nắng, chơi bóng chuyền, bóng rổ, chọc bi-a, đọc sách báo, nghe tin tức - kể cả tin tức của Mỹ và phương Tây - qua đài phát thanh mà trại tiếp âm, hoặc chọn những tù binh có giọng đọc tốt để đọc cho tất cả cùng nghe.
Để các tù binh có phương tiện chơi thể thao thường xuyên, trại phải nhờ đến sự giúp đỡ của đồng chí Tạ Đình Đề, người phụ trách xưởng sản xuất dụng cụ của Tổng cục Thể dục thể thao. Thậm chí để giúp một số tù binh có bệnh về mắt có thể đọc được sách báo, Ban chỉ huy trại đã phải thửa khá nhiều cặp kính thuốc của chị Thuý Hà ở cửa hàng số 48 Hàng Bài. (Hiện bà Hà đang trú tại 51 Trần Nhân Tông, Hà Nội).
Đặc biệt, trong các ngày Lễ, ngày Tết của Mỹ như ngày Độc lập (4 tháng 7), ngày Lễ Tạ ơn, Noel, Tết Dương lịch..., tôn trọng tín ngưỡng của tù binh, trại còn cho mời cả mục sư Bùi Hoàng Thử đến làm lễ theo nghi thức tôn giáo cho số người theo đạo.

        Thỉnh thoảng, trại cho mời các nghệ sĩ của đoàn văn công Tổng cục Chính trị đến biểu diễn cho bộ đội và cho cả tù binh Mỹ cùng thưởng thức, ông Duyệt còn nhớ một lần nghệ sĩ Tường Vi đến hát bài "Cô gái vót chông" và "Tiếng đàn ta lư". Tới đoạn lên cao như tiếng chim hót "Pơ-rô-tốc... pơ-rô-tốc..." Mặc dù không hiểu nghĩa cả bài hát, nhưng tù binh Mỹ khoái quá, vỗ tay rào rào, yêu cầu hát đi hát lại. Đêm ấy, khi buổi vần nghệ đã tan từ lâu, nhưng ở nhiều phòng giam, tù binh không chịu ngủ. Họ bàn tán đủ thứ chuyện về các ca sĩ Việt Nam, rồi còn bắt chước giọng Ệ Tường Vi hát "Pơ-rô-tốc... pơ-rô-tốc..." suốt đêm.

        Để thay đổi không khí cho các tù binh đã phải ở trong trại lâu ngày, được sự phối hợp giúp đỡ của công an Hà Nội và An ninh Quân đội, Ban chỉ huy trại còn nhiều lần tổ chức cho các tù binh đi tham quan một số di tích lịch sử, vần hóa và danh thắng của Thủ đô Hà Nội như: Hồ Hoàn Kiếm, công viên Lê Nin, Quốc tử giám, chùa Trấn Quốc, chùa Một cột, Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), Bệnh viện Bạch Mai... Để bảo đảm an toàn cho những "vị khách đặc biệt" này, ta đã cho phép các tù binh ăn mặc như khách du lịch: cũng com-lê, ca-vát, giày đen v.v... và đi theo hướng dẫn viên.

        Tuy nhiên, cũng có lần nhân dân đâ phát hiện ra tù binh Mỹ. Mọi người xì xào: Chuyên gia, khách nước ngoài gì mà mắt cứ nhìn lơ láo, thiếu tự nhiên, đúng là ''giặc lái Mỹ" rồi"! vậy là tất cả cùng kéo lại chỉ chỏ, bàn tán, buộc ban tổ chức phải đưa tất cả lên xe, huỷ bỏ chuyến tham quan dã ngoại theo dự kiến...

        Có một chuyện rất thú vị, đó là việc tù binh Mỹ tại Hỏa Lò còn được ta trứhg dụng để tham gỉa... đóng phim.

        ''Diễn viên" đầu tiên trong trại Hỏa Lò được nhận vinh dự này là Trung tá Robinson Risner, một Phi công khét tiếng, "người hùng" của quân đội Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên, với 109 vụ và 3.000 giờ bay thành công (một tài liệu nói rằng ông ta đã bắn rơi tới 8 chiếc máy bay của đối phương).

        Nhưng khi sang chiến trường Việt Nam, mới tới phi vụ thứ 5, Risner đã bị lực lượng phòng không ta bắn cháy, anh ta cố lái máy bay ra biển nhảy dù và được cứu hộ thoát chết. Báo chí Mỹ hồi đó đã tuyên truyền rùm beng cả tháng trời về sự việc này. Nhưng lần thứ hai, ngày 16 tháng 9 năm 1965, Risner lái chiếc "Thần sấm" F105D đã bị bắn hạ tại Thanh Hóa. vào Hỏa Lò, tính ngông nghênh của Risner đã bị khuất phục. Anh ta ngoan ngoãn nhận tội và đã khai rất nhiều... vì họ tên đọc theo tiếng Anh thữờng dài và khó phát âm, để dễ gọi tên, bộ đội ta đã đặt cho Risner một cái tên Việt Nam gọi ngắn gọn là "Giai", cũng như tù binh Phi công John McCain được gọi là "Cài".
Anh em phục vụ trong trại tù binh Hoả Lò ngày đó ai cũng nhớ "Giai", vì anh ta ăn rất khoẻ. "Giai" đã làm đơn xin lãnh đạo trại tù binh được ăn... 2 suất ăn bình thường và đã được chấp nhận.

        Khi đoàn làm phim của cộng hòa Dân chủ Đức sang Việt Nam quay bộ phim tài liệu "Phi công trong bộ quần áo ngủ", cần một người vào vai nhà báo quốc tế, Giai đã vui vẻ nhận lời và anh ta nhập vai rất đạt. với khổ người cao to, mặc bộ đồ dạ tím, chẳng ai nghĩ ông nhà báo phương Tây đó lại chính là viên Trung tá tù binh Phi công Mỹ tại Họa Lò đóng.

        Được biết, sau ngày được trao trả về nước, Robinson Risner (tức Giai) còn tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và được phong hàm tướng.

        Với bộ phim truyện "Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn" của điện ảnh Việt Nam thì chuyện đóng phim của tù binh Mỹ còn thú vị hơn: Trong phim ta có sử dụng hai sĩ quan Thiếu tá tù binh đóng vai Đại tá và Trung tá cố vấn Mỹ của Chính quyền sài Gòn (cũ). Phim có nhiều cảnh hai cố vấn Mỹ phải xuất hiện, hoạt động với những không cảnh thời gian và địa điểm khác nhau... và hai tù binh vào vai cũng rất đạt, như diễn viên chuyên nghiệp vậy.
Nhừhg có một sơ suất mà ít ai ngờ... đó là sau khi xem phim, cả hai diễn viên đặc biệt này đều gật gù, rồTmột người nói rất hài hước: "Chỉ có điều hơi tiếc là các ông đã cho tôi làm một Đại tá Mỹ... nghèo nhất thế giới! Bởi suốt từ đầu đến cuối phim tôi chỉ có mỗi bộ quần áo mặc trên người, không hề được thay đổi trang phục"!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2015, 03:33:23 AM
       
        Người nữ tù binh duy nhất tại Hỏa Lò

        Đó là một chi tiết thú vị, dường như còn rất ít người biết.

        Khoảng giữa năm 1971, trại Hỏa Lò được lệnh tiếp nhận 2 tù binh người phương Tây (một nam và một nữ), bị bắt và đưa từ chiến trường miền Nam ra Bắc.

        Người nữ tù binh có tên là Monica, nguyên là sĩ quan quân y trong quân đội Mỹ, gốc Đức. cô ta có khuôn mặt trái xoan, tóc vàng, mẳt xanh, da rất trắng, dáng người mảnh mai, xinh đẹp và thông minh. Monica biết cả tiếng Anh và tiếng Đức. vì là nữ tù binh duy nhất, nên ban chỉ huy trại đã bố trí cho cô ta một phòng riêng rộng khoảng 10 mét vuông, có kê một chiếc giường hộp (loại vẫn dùng cho sĩ quan cấp tá của quân   đội ta), với đủ chan
màn, một phích nước ấm chén và một chiếc bàn nhỏ, thậm chí còn có cả một... lọ hoa!

        Lúc đầu, Monica không chịu nhận chiếc phòng đó, cô ta cứ nằng nặc đòi được ở chung phòng với người nam tù binh đã đi cùng chuyến từ miền Nam ra Bắc. Hình như    giữa họ đã nảy sinh tình cảm nam nữ, quá mức bình thường. Tất nhiên là Ban chỉ huy trại không chấp nhận. Không thể biến phòng giam thành... buồng hạnh phúc cho họ được!

        Nhưng anh em quản giáo giải thích thế nào Monica cũng không nghe, lại còn tỏ thái độ bướng bỉnh, khóc lóc và không chịu ăn uống gì. Lý do, Monica đưa ra là căn phòng ấy... xấu và trống trải quá. Vả lại, đêm ngủ một mình cô rất sợ... ma.
 
        Thấy vậy, trại trưởng Trần Trọng Duyệt cho gọi Monica lên phòng mình, ông hỏi thăm sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình của người nữ tù binh và động viên cô chấp hành kỷ luật trại, cải tạo tốt để khi có điều kiện sẽ sớm được trở về đoàn tụ với gia đình. Rồi với thái độ vừa cương quyết, vừa mềm mỏng, ông nói:

        - Tôi là trại trưởng, nhưng phòng làm việc của tôi cũng không lớn hơn căn phòng mà chúng tôi đã bố trí cho cô. Thậm chí, còn không có lọ hoa... vậy cô còn muốn gì nữa đây?

        Tới lúc đó, Monica mới "ngoan ngoãn" nhận phòng.

        Những ngày sống ở trại Hỏa Lò, người nữ tù binh duy nhất trại này đã được anh em quản giáo quan tâm chăm sóc tới mức... "hơi bị nuông chiều". Họ sắm cho cô ta đủ cả gương, lược và nhữhg đồ dùng cá nhân thiết yếu của phụ nữ. Một chiến sĩ trẻ đã được giao nhiệm vụ đi mua sắm "phụ tùng" cho Monica, vì không quen với loại hàng hóa "phức tạp và tế nhị" này, lại đang là thời bao cấp khó khăn, nên anh đã phải vất vả đi lùng khắp Hà Nội. Thêm nữa, còn phải giữ bí mật, vì không thể nói mình mua đồ lót cho nữ tù binh, nên nhiều phen ngượng chín mặt vì bị hiểu nhầm...

        Thậm chí, có lần Monica còn được Trại trưởng trực tiếp đưa đi làm đầu tại một tiệm uốn tóc bên bờ hồ Hoàn Kiếm, rồi đi mua quần áo ở Hàng Đào... Sau chuyến đi nhiệt tình vì "người đẹp" ấy, ông Duyệt và Ban chỉ huy trại đã bị cấp trên nhắc nhở và phê bình vì đã "thiếu tinh thần cảnh giác".

        Mấy tháng sau, Trại trưởng Trần Trọng Duyệt đã nhận được một lá thư do Monica viết cả 2 mặt giấy, với kiểu chữ nắn nót, một bên bằng tiếng Đức và một bên bằng tiếng Anh, có cùng nội dung, tạm dịch như sau:

        Kính gửi ông chỉ huy,

        Từ tháng 12 năm 1971, tôi đã xin phép nuôi một con mèo. Tồi rất thích động vật, nhất là loài mèo, vì vậy tôi rất vui khi được nhà cầm quyền cho phép. Tôi cho rằng: sự đối xử như vậy, dù là hành động nhỏ, nhưng rất văn minh, biểu lộ chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà nước Việt Nam.
Còn đối với những đề nghị trước đây, tôi tin rằng hoặc đã không tới tay cơ quan ông, hoặc chưa được ông quan tâm thỏa đáng. Nhưng tôi hết lòng hy vọng lần này thì ông sẽ không lãng quên việc tôi xin phép nuôi con mèo này.
Một khi tôi được phóng thích, tôi xin phép được mang theo con mèo về nước. Là một tù binh, tất nhiên giờ đây tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng tôi xin hứa sẽ bồi thường tất cả chi phí tăng   thêm vì tôi được phép nuôi con mèo này. Xin nhường ông sự lựa chọn, băng phương thức trao đổi thích hợp nhất, do ông tự sắp xếp.

        Hy vọng thiết tha rằng ông không bỏ qua lời đề nghị của tôi.

        Xin gửi tới ông chào trân trọng.

        Ký tên: Monica.


        Sau đó, việc nuôi mèo trong phòng giam của Monica đã được Ban chỉ huy trại tù binh chấp nhận, cô ta vui lắm, luôn tỏ ra dịu dàng và tử tế với mọi người, bởi được chăm sóc con vật mà mình yêu thích. Chỉ khổ cho Trưởng trại tù binh Trần Trọng Duyệt vốn đẹp trai, lịch lãm đã bị anh em trêu chọc vì lời đề nghị "đa nghĩa" và rất dễ bị hiểu nhầm của cô nữ tù binh xinh đẹp: Xin nhường ông sự lựa chọn, bằng phương thức trao đổi thích hợp nhất, do ông tự sắp xếp.

        Rất tiếc là, Đại tá Trần Trọng Duyệt không có tấm ảnh nào chụp kỷ niệm với người nữ tù binh duy nhất ở trại Hỏa Lò kể trên. Ông cũng không nhớ là khi được trao trả về nước, cô ấy có mang theo con mèo như đã đề nghị trong thư hay không?

        Nhưng sau hơn 30 năm, Đại tá Trần Trọng Duyệt vẫn giữ được bản gốc bức thư ''Xin nuôi một con mèo" của Monica. Nó được viết bằng thứ chữ nhỏ li ti, đẹp và đều tăm tắp như kiểu chữ vi tính. Ngay bên dưới là bản tạm dịch viết tay của một cán bộ quản giáo.

        Sau khi đã nghỉ hưu, một lần về Hà Nội thầm lại Khu di tích nhà tù Hỏa Lò, cựu trại tưởng Trần Trọng Duyệt đã tặng lại bức thư độc đáo nêu trên cho Ban Quản lý khu di tích, vì thế, bức thư của Monica đang được lưu giữ tại Phòng trưng bày hiện vật tù binh Phi công Mỹ. Người viết bài này cho rằng đó là một trong những bức thư hay nhất thế giới về tù binh trong chiến tranh.

        Tin tức Hiệp định Paris về chấm dút chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đã được trại công khai phổ biến cho tất cả các tù binh Mỹ.

        Một không khí chờ đợi và háo hức lạ thường bởi tất cả bọn họ đều mong đợi đến ngày được trao trả về nước. Những ngày đó, tù binh được phép tự do ra sân chơi thể thao và thậm chí họ còn tham gia làm bếp và tự nấu ăn theo sở thích.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2015, 04:28:48 AM
       
        Chuẩn bị cho ngày trao trả về Mỹ...


        Đại tá Nguyễn Đình Tiếp (số nhà 87, ngõ 343, đường Lạc Long Quân, Hà Nội), nguyên Trưởng phòng sản xuất công nghiệp Cục Quân nhu - đơn vị được giao bảo đảm trang bị cho tù binh ngày đó, kể lại:

        - Chúng tôi được lệnh của trên là phải chuẩn bị một số trang bị đặc biệt (quần áo, túi xách, giày) để sao cho khi tù binh được trao trả phải được ăn mặc tươm tất, lịch sự, thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam.

        Để thực hiện nhiệm vụ trên, nhóm kỹ sư của đơn vị đã phải bàn bạc và cân nhắc mất cả tuần, rồi họ đưa ra phương án:

        - Về loại vải may quần áo cho tù binh Mỹ ở trại Hỏa Lò, đề nghị chọn loại ka-ki của Liên xô. Màu vải phải khác với đồng phục của quân đội và công an, quần sẫm hơn áo. về mẫu áo cũng phải tính toán kỹ, cuối cùng anh em đã chọn phương án may áo bludông, có khóa kéo.

        - Đề nghị không may ba lô như cấp trên gợi ý lúc đầu, mà thay bằng túi xách du lịch không lớn quá, cũng không nhỏ quá.

        - Về giày và dép: lúc đầu, anh em đề nghị mua sẵn dép nhựa cỡ lớn, vì lo không đo được cỡ chân của tù binh. Nhưng sau thấy đi dép không trang trọng, nên lại phải đổi phương án đi giày đen.

        Riêng về may đo quần áo, trực tiếp đồng chí Phó Giám đốc X20 ngày đó đã phải vào trại Hỏa Lò, bí mật đo quần áo cho "khách hàng" bằng cách ngồi một chỗ kín đáo, rồi ước lượng bằng cách so sánh chiều cao của mỗi tù binh trên bậc cửa ra vào để lấy kích cỡ quần áo cho họ...

        Những cố gắng của các cán bộ chiến sĩ X20 đã được đền đáp xứng đáng: Hôm các tù binh Mỹ thay trang phục cấp phát mới để dự lễ bàn giao về nước, tất cả những người chứhg kiến, trong đó có nhiều nhà báo quốc tế đều công nhận là họ được ăn mặc trang trọng và lịch sự tới mức... không ai nghĩ đó là tù binh, mà giống như nhữhg người đến Việt Nam du lịch trở về nước.

        Còn một chuyện lạ lùng này, không thể không viết ra: Đó là khi biết tin sắp được trao trả về nước, một số tù binh Mỹ đã viết đơn xin được tình nguyện... ở lại Việt Nam! Ban chỉ huy trại không biết xử trí ra sao, đành phải báo cáo xin ý kiến cấp trên... Dĩ nhiên, không ai dám chấp thuận điều đó, ông Duyệt đành phải gọi những người đã viết đơn xin ở lại Việt Nam lên phân tích, thuyết phục để họ trở về nước đoàn tụ cùng gia đình.

        Trước hôm tiến hành lễ trao trả tù binh, chỉ huy trại đã tổ chức một bữa cơm Việt Nam, đồng thời cho mua một số nón bài thơ và điếu cày... (những thứ mà tù binh Mỹ rất thích) để tặng họ mang về nước làm kỷ niệm.

        Có một chuyện rất thú vị, mà cho đến nhữhg ngày đầu tháng 4 năm 2010 này Đại tá Trần Trọng Duyệt mới tiết lộ với chúng tôi. Ấy là việc trước ngày ta tổ chức tiến hành trao trả các tù binh cho phía Mỹ. Công việc đã được chuẩn bị rất kỹ càng, tưởng chừhg như chu đáo đến từng chi tiết nhỏ, nhưhg cấp trên vẫn lưu ý: Thử đặt giả thiết, nếu trong quá trình trao trả, tù binh Mỹ có hành động phản đối, cởi hết quân trang quần áo (như anh em tù binh của ta đã làm ở miền Nam khi được trao trả ngày đó) vút lại, hoặc nhữhg hành động tương tự mà chúng ta không lường hết và không kiểm soát được, trước sự chứhg kiến của báo giới quốc tế thì sẽ ra sao?

        Sau nhiều đêm suy nghĩ, Trại trưởng Trần Trọng Duyệt đã nghĩ ra một "độc chiêu" rất có tác dụng: Trước khi đưa các tù binh sang sân bay Gia Lâm bàn giao cho phía Mỹ, ông cho tập hợp họ lại để nói chuyện. Sau khỉ nhắc lại ngắn gọn tinh thần của Hiệp định Paris về việc trao trả tù binh chiến tranh, ông Duyệt đã nói nhữhg chuyện rất tình cảm và hỏi: "Hôm nay, ai trong các anh muốn được vê với gia đình, vỢ con, cha mẹ và người thân?"

        Dĩ nhiên, chẳng có tù binh nào không đồng ý. ông Duyệt lại bảo: "Có về Mỹ được hay không, là tuỳ thuộc hoàn toàn vào thái độ và hành động của các anh. Tôi xin lưu ý các anh cần phải trật tự, giữ nguyên đội hình thắng tiến lên xe và ra máy bay. Chỉ cần một người trong số các anh có hành động khác thường, là ngay lập tức, chúng tôi sẽ cho đình chỉ cuộc trao trả và đưa tất cả trở lại phòng giam"...

        Vậy là chính các tù binh Mỹ đã nhắc nhở nhau tự giác chấp hành kỷ luật và các quy định khác. Điều đó đã góp phần tích cực, làm cho nhữhg đợt trao trả tù binh cho phía Mỹ ở sân bay Gia Lâm hồi đó diễn ra hết sức thuận lợi và thành công tốt đẹp.

        Đại tá Trần Trọng Duyệt, cựu Trại trưởng Trại tù binh Hỏa Lò còn nhắc đến một kỷ niệm với một tù binh Mỹ có tên là Alfonso Riate. Ngày đó, anh em quản giáo thường gọi tắt tên người này là "Te". Anh này bị bắt tại chiến trường Quảng Trị. Nghe nói, "Te" từng làm cố vấn cho một tỉnh trưởng của Chính quyền sài Gòn (cũ). Biết ông Trại trưởng tù binh mang họ Trần, nên anh ta tự nhận mình có họ tên là... "Trần văn Te". Được tin mình sắp được trao trả về Mỹ, "Trần Văn Te" đã viết cho ông Duyệt một lá thư khá dài, trong đó có đoạn:

        ...Lần đầu tiên tôi đến đất nước Việt Nam của ông là ngày 28 tháng 10 năm 1966. Tôi hoàn toàn không hiểu gì về xứ sở này, chi biết rằng ở Việt Nam đang có chiến tranh và tôi đến đây với tư cách là một người lính theo lệnh cấp trên.

        Tôi bị bắt ngày 25 tháng 4 năm 1967. và cho đến hôm nay tôi có may mắn được hiểu biết về đất nước vậ nhân dân Việt Nam, về cuộc chiến tranh xâm lược mà Chính phủ Mỹ đang tiến hành... Tôi đã nói với chính bản thân mình rằng: Cuộc sống của tôi ở Việt Nam hiện nay mặc dù chỉ là của một tù binh, nhưng nó thật có nghĩa.

        Từ tận nơi sâu kín của lòng mình, tôi cảm thấy buồn vì sắp phải từ biệt ông và những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong 6 năm trời ở đây. Tôi sẽ không còn những người hiểu biết và đáng yêu bên cạnh mình nữa.

        Tôi hiểu rằng, nỗi lòng tôi có một mong muốn sau khi trở về nước, nếu có điều kiện nhất định tôi sẽ trở lại thăm Việt Nam. Tôi sẽ không bao giờ quên ông - người trại trưởng của tôi. Bởi ông mang bóng dáng của nhân dân Việt Nam, người trực tiếp điều hành việc thực hiện chính sách nhân đạo của Chính phủ Việt Nam đối với tù binh. Trong tương lai, tôi có ý định làm cho nhân dân Mỹ hiểu về Việt Nam hơn. Hãy giữ gìn sức khoẻ ông nhé. với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn nhất.

        Ký tên: Trần Văn Te".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2016, 08:50:28 AM
       
        Thay cho đoạn kết


        Những "công dân bất đắc dĩ" của Hỏa Lò ngày ấy... bây giờ đang sống và làm việc ra sao? Ai còn và ai mất? Vì bài viết có hạn, chúng tôi không thể điểm mặt tất cả mấy trăm tù binh, nhưng chắc chắn không một ai trong số họ có thể dễ dàng quên và quay mặt lại với quá khứ.

        John McCain, viên Phi công bị ta bắn rơi và vớt lên từ hồ Trúc Bạch (Hà Nội), sau khi trở thành Thượng nghị sĩ Mỹ, với tư cách là một vị khách quý của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã quay trở lại thăm Hỏa Lò, tìm lại chính căn phòng của mình bị giam giữ năm xưa... Đặc biệt là vào năm 2008, khi ông với tư cách là ứng cử viên Tổng thống Mỹ, cùng tranh cử với Barack Obama, thì di tích tù binh Phi công Mỹ tại Hoả Lò đã được các hãng thông tấn Mỹ và nhiều nước khác quan tâm đặc biệt.

        Cựu Trại trưởng Trần Trọng Duyệt đã nghỉ hưu từ lâu, tưởng không còn ai biết đến, bỗng nỗi tiếng cả thế giới. Hàng chục hãng thông tấn nước ngoài với hàng trăm phóng viên từ Mỹ, Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Liên bang Nga, vương quốc Anh, Ba Lan, úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc... đã tìm về Hải Phòng để phỏng vấn và ghi hình Đại tá Trần Trọng Duyệt - Người đã "gần gũi" với ứng cử viên Tổng thống Mỹ một thời.

        Ngài Peterson sau khi đẵ trở thành vị Đại sứ dầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam, lấy vợ người Việt, cũng đã nhiều lần cùng vợ con tìm đến buồng giam số 2, khu I của Hỏa Lò - nơi ông đã có gần 7 năm trời gắn bó với bao kỷ niệm buồn vui.

        Cựu Thống đốc bang Indiana của Mỹ, ngài Joseph Kernan - từng là Phi công do thám của Hải quân Mỹ, bị bắn rơi ở Thanh Hóa năm 1972, bị giam ở Hỏa Lò và Fa fỉm Ngã Tư sở gần một năm trời trước khỉ được trao trả về Mỹ, cũng vừa sang Việt Nam sau Tết Nguyên Đán Canh Dần để thăm lại chiến trường xưa và "dối già" vào năm 2010...

        Các cán bộ, nhân viên quản lý Khu di tích lịch sử Hỏa Lò cho biết: Hầu như ngày nào cũng có những du khách người phương Tây, trong đó có nhiều người đến từ Mỹ ghé vào hai phòng trưng bày "Khách sạn Hilton Hà Nội". Họ có thể là nhũng cựu binh, nhưng nhiều người còn rất trẻ, có lẽ là con cháu, hoặc thân nhân nhũng tù binh đã từhg bị giam giữ tại đây.
Hà Nội, 2004 - 2013       


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Một, 2016, 07:26:02 PM
 

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200262_zpsck5srnl9.jpg)
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200262a_zpsvvve1sng.jpg)
Đại tá Trần Trọng Duyệt, cựu Trại trưởng Trại Tù binh Phi công Mỹ ở Hoả Lò (khi còn trẻ và hiện nay) - một nhân chứng sõng của di tích lịch sử Hỏa Lò Hà Nội.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200263_zpskep6kjz4.jpg)
Toàn cảnh Trại Tù binh Phi công Mỹ tại Hoả Lò (nhìn từ trên cao xuống, từ góc đường Thợ Nhuộm - Hai Bà Trưng) trước khi bị phá dỡ để xây dựng tòa tháp Hà Nội.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200264_zpsaj4wfogm.jpg)
Tù binh Mỹ thường xuyên được Ban Chỉ huy Trại quan tâm gặp gỡ, hỏi thăm sức khỏe, phổ biến chẽ độ chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200265_zpsy94ashdi.jpg)
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200266_zps0ivskvvf.jpg)
Những ngày Lễ-Tẽt, tù binh còn được tự nấu nướng và chế biến những món ăn ngon theo sở thích...



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Một, 2016, 07:21:22 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200267_zpsrhvrqhkd.jpg)
Lễ Giáng sinh, tù binh được tự trang bí Cầy thông Noel, thậm chí còn được đón Lình mục về đọc kinh cầu nguyện

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200268_zpsty7rfrg4.jpg)
Tù binh Mỹ thường xuyên được xem phim giải trí và khám sức khỏe định kỳ.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200269_zpstyoj7m1z.jpg)
Được trồng và chăm sóc cây cảnh...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200270_zpson21ot4m.jpg)
Tù binh Mỹ được chơi thể thao, rèn luyện sức khoẻ...



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2016, 02:59:44 AM
     
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200271_zpsxhczmqlw.jpg)
Được tiếp xúc với báo chí và nhận quà thăm nuôi

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200272_zpslgqbrjep.jpg)
Tự sửa sang đầu tóc và nhận quà lưu niệm của trại tù binh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200273_zpsasqk5313.jpg)
Nghe Trại trưởng nói chuyện lần cuổì cùng, gửi lời thăm hỏi gia đình rồi lần lượt ra khỏi trại giam, lên ôtôra sân bay...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200274_zpsgzbyiqgg.jpg)
Đã tới sân bay Gia Lâm chuẩn bị cho lễ trao trả tù binh



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2016, 08:43:23 AM
     
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200275_zps1ey2kqnr.jpg)
Người tù binh Phi công cuối cùng được phía Việt Nam trao trả cho Chính phủ Hoa Kỳ năm 1973.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200276_zpsno10twjh.jpg)
Cuộc trao trả kết thúc tốt đẹp. Hai truởng đoàn bắt tay chúc mừng nhau trước sự chứng kiến của báo giới quốc tế.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200277_zpsrorohyvd.jpg)
Đại diện phía Hoa Kỳ phát biểu cảm ơn Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2016, 12:55:20 AM
       
        NHỮNG GÓC NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA, KHI KẺ THÙ TRỞ THÀNH... BÈ BẠN

        Theo tinh thần của Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại Hòa bình ở Việt Nam, dầu năm 1973, tất cả số tù binh Phi công Mỹ đã được Chính phủ Việt Nam trao trả cho Chính phủ Hoa Kỳ tại sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Thời gian trôi nhanh, vậy là hơn 40 năm đã qua đi...

        Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với việc xây dựng đất nước trong hoà bình, với truyền thống nhân đạo, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đã tích cực hợp tác với phía Hoa Kỳ để tổ chức nhữhg cuộc tìm kiếm những người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều bộ hài cốt Phi công Mỹ đã được tìm thấy, xác định rõ danh tính và bàn giao cho phía Hoa Kỳ.

        Chiến tranh đã lùi xa, các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự của cả hai phía; các cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam, đặc biệt là các cựu Phi công, đã xuất bản một số cuốn hồi sách, bài báo trực tiếp hoặc gián tiếp nói về vấn đề Phi công Mỹ ở Việt Nam.

        Nhiều cuộc thầm viếng lại chiến trường xưa đã được phía Mỹ và Việt Nám tổ chức, nhằm góp phần hàn gắn các vết thương chiến tranh và xoa dịu nỗi đau mất mát của cả hai phía.

        Nhiều vấn đề được coi là bí mật một thời, nay cũng không còn nữa. với sự hỗ trợ của các phương tiện liên lạc và truyền thông hiện đại, bạn đọc ngày càng có điều kiện tiếp xúc với các nguồn thông tin hết sức phong phú và đa chiều, dễ dàng tiếp cận với sự thật lịch sử...

        Phần cuối cùng của cuốn sách này, chúng tôi xin dành một số trang tạm coi là "phụ lục", để giới thiệu một số bài viết, tư liệu được trích dẫn (in nghiêng) từ báo chí trong nước, nước ngoài và mạng internet, do các đồng nghiệp cung cấp, để bạn đọc tham khảo thêm cái nhìn đa chiều vấn đề ''Phi công Mỹ ở Việt Nam".

       Thư của Đại tướng cựu Chỉ huy trưởng Không quân Mỹ xin lỗi người dân Việt Nam

        Trong loạt bài "Cựu binh Mỹ và đối thủ đáng kính" đăng trên báo Thanh niên, tháng 5 năm 2012, tác giả Nguyễn Thế Tường đã trích dẫn một lá thư thú vị của Đại tướng Ronald Robert Fogleman, cựu Chỉ huy trưởng Lực lượng Không quân Mỹ, viết ngày 10 tháng 2 năm 2012, gửi Trung tá Trần Sự, nguyên Chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Bình (1968) với nội dung như một lời xin lỗi muộn mằn người dân Việt Nam sau chiến tranh:

       "Kính gửi ông Trần Sự - 45 Lý Thường Kiệt, Đồng Hới, Quảng Bình.

        Trong giai đoạn tôi bắt đầu đi lính năm 1968, tôi là một sĩ quan kiểm soát không quân Mỹ (còn gọi là Misty). Trước mỗi cuộc oanh tạc năm 1968, đơn vị của tôi đóng quân được cấp trên giao nhiệm vụ dò tìm và định vị hướng nổ nhằm ngăn chặn xe tải của bộ đội Việt Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh địa phận tỉnh Quảng Bình. Đơn vị của tôi và lực lượng của ngài đã từng nhiều lần đụng độ nhau ác liệt cả trên không phận lẫn địa phận tỉnh Quảng Bình. Đại tá Roger Van Dyken, một sĩ quan nghỉ hưu từng công tác trong lực lượng Misty đã nói rằng, trong một lần gặp gỡ với ngài Trần Sự, được biết ngài chính là người đã từng lãnh đạo lực lượng vũ trang Quảng Bình từ những ngày đầu của Việt Minh đến khi kết thúc cuộc chiến tranh, mà chúng tôi gọi là chiến tranh Việt Nam còn phía các ngài gọi là chiến tranh chống Mỹ. Đại tá cũng cho biết về những mất mát mà ngài phải chịu đựng xảy ra trong chính gia đình ngài, rằng bố ngài đã chết khi bom rơi, còn cô con gái ngài (đại tá biết trong một lần gặp gỡ ở cửa hàng của cô) thì bị thương do mảnh vỡ của một quả bom phát nổ. Xin ngài hãy nhận lấy sự cảm thông của cá nhân tôi đối với những đau thương này. Những mất mát và đau thương ấy là nhữhg kết quả không hề mong đợi do cuộc chiến tranh tại Việt Nam mang lại.

        Con đường từ hòa bình đến chiến tranh thường rất ngắn, trong khi con đường từ chiến tranh đến hòa bình thường dài hơn rất nhiều.

        Đại tá Roger Van Dyken cho tôi biết rằng, ngài Trần Sự đã từng nói bây giờ chính là lúc để lại quá khứ phía sau, cùng nhau hướng đến tương lai và tìm những biện pháp để hai bên có thể mang lại những lợi ích cho đất nước mà chúng ta đang phụng sự. Trước đây, sau khi chiến tranh kết thúc tôi đã từng trở lại Việt Nam một lần, tôi cũng đã suy nghĩ nhiều và rất sâu sắc về những lời nói đó của ngài và hoàn toàn đồng ý với ngài từ sâu thắm trái tim tôi. Thông qua cuộc gặp gỡ với các cựu sĩ quan từng chiến đấu trong lực lượng Misty, lần này ngài đang bước một bước dài và ý nghĩa trên con đường hàn gắn vết thương chiến tranh. Tôi chân thành cảm ơn vì ngài đã rộng lượng đồng ý gặp gỡ với chúng tôi và hy vọng thông qua cuộc gặp, chúng ta sẽ cùng nhau tìm ra nhiều biện pháp để hàn gắn vết thương chiến tranh đồng thời thúc đẩy tương lai tươi sáng cho người dân của cả hai đất nước chúng ta. Tôi rất vinh dự được cùng ngài đóng góp công sức trên chặng đường này.

        Kính thư. Đại tướng Ronald R. Foglenman".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2016, 04:09:13 AM
       
        Có bao nhiêu Tướng Không quằn Mỹ bị chết trong chiến tranh Việt Nam ?

        Một website của cựu chiến binh Mỹ cho biết: Trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã có tới 11 viên Tướng Mỹ được coi là tử trận, thì có 7 viên Tướng quân đội, một viên Tướng của Quân đoàn lính thủy đánh bộ, một Đô đốc Hải quân và có tới 2 Tướng Không quân. Nếu nhìn lại lịch sử tham chiến của quân đội Mỹ, thì con số này thực sự là hơi bị nhiều. Trong cả đại chiến thế giới lần thứ II, các Tướng Mỹ bị chết và tử trận có gần 20 Tướng lĩnh và một số Đô đốc Hải quân. Trong chiến tranh Triều Tiên, chỉ có hai Tướng Mỹ chết, nhưng đều do các nguyên nhân tai nạn giao thông và tai nạn máy bay. Các cuộc chiến tranh sau này, không có Tướng Mỹ nào tử trận.

        Những Tướng Không quân Mỹ tử trận trong cuộc chiến tranh Việt Nam có thể thống kê như sau:

        - Thiếu tướng William Cramm, chi huy trưởng sư đoàn Không quân số 3 của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược thuộc lực lượng Không quân Mỹ: Tướng W.Cramm chỉ huy và điều hành tất cả các hoạt động của Không quân chiến lược ở Đông Nam Á bao gồm cả việc sử dụng các máy bay ném bom chiến lược B-52 và máy bay tiếp dầu. Ngày 7 tháng 7 năm 1967, Kramm bay trên chiếc B-52 (số 56-0595) thực hiện nhiệm vụ chiến đấu từ căn cứ Không quân Anderson (Guam). Mục đích của cuộc ném bom là một thung lũng trên đường Trường sơn, phía Nam Việt Nam. Máy bay của ông ta đã va chạm với một chiếc B-52 trên vùng trời biển Đông gần cửa sông cửu Long. Tướng Kramm và năm thành viên phi hành đoàn đã thiệt mạng. Thi thể của viên thiếu tướng này đã không được tìm thấy. .

        - Thiếu tướng Robert Worley, Phó chỉ huy trưởng Tập đoàn Không quân số 7 thuộc lực lượng Không quân Hoa Kỳ: Ngày 23 tháng 7 năm 1968 Worley thực hiện chuyến bay thám sát trên máy bay RF-4C (số 65-0895, 460 thuộc Không đoàn trinh sát) trong trong vùng chiến thuật khu vực I của miền Nam Việt Nam. Chiếc máy bay của ông ta bị trúng đạn của hỏa lực phòng không trong khu phi quân sự DMZ. Khi chiếc "Phantom" còn bay trên biển, Worley đã ra lệnh cho phi công của mình, Thiếu tá Robert Broadman nhảy dù, bản thân Worlen không nhảy dù mà cố gắng điều khiển chiếc F-4. Nhưng ngọn lửa xuất hiện trong buồng lái và phát nổ. Chiếc máy bay bị rơi trên bờ biển thuộc tình Thừa Thiên (tỉnh chính thức niêm yết vị trí tử vong của Worley). Sau cái chết của Warley, từ Bộ tổng Tham mưu Liên quân đã có mệnh lệnh cấm tất cả các sĩ quan cao cấp của Không quân Mỹ tham gia các chuyến bay chiến đấu.

        - Một phi công Mỹ nữa, cũng có thể coi là "Tướng của Không quân Mỹ", đó là trường hợp Đại tá Edward Burdett, phi công máy bay ném bom F-105 bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam ngay 18 tháng 11 năm 1967. Trong nhiều năm, Burdett được xếp vào danh sách người mất tích trong chiến tranh và trong thời gian đó Burdett được thăng cấp Thiếu tướng. Sau đó phía Bắc Việt Nam đã thông báo Burdett chết vì vết thương quá nặng trong thời gian bị bắt làm tù binh. Hài cốt ông được trả về Mỹ năm 1974. Burdett không được tính vào số Tướng lĩnh Mỹ đã chết ở Việt Nam cũng như cấp hàm Tướng Burdett đã nhận được sau khi chết.

        Cuộc chiến tranh Việt Nam thực tế là một cuộc chiến tàn khốc và ác liệt nhất mà người Mỹ đã gây ra và phải gánh chịu hậu quả ngay cả trong hàng ngũ những sĩ quan cao cấp quân đội Mỹ.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2016, 06:11:10 AM
       
        Chuyện về người tù binh phi công Mỹ cuối cùng bị bắt và trao trả trong chiến tranh Việt Nam


        Ông Nguyễn Đức Toàn (Cựu chiến binh Việt Nam tỉnh Quảng Trị) đầ gửi thông tin cho tác giả cuốn sách này qua email cho biết: Khoảng 5 giờ chiều ngày 27 tháng 1 năm 1973, có một đoàn xe vận tải của mặt trận B5 vượt bến tắt sông Bến Hải vào Cồn Tiên, xuống Dốc Miếu, tới quán Ngang để tiếp tế hậu cần cho sư đoàn 320B và sư đoàn 325 đang chiến đấu ác Hệt tại mặt trận cánh đông tỉnh Quảng Trị. Khi đoàn xe mới vượt qua khỏi Dốc Miếu, đang hướng về phía Đông thì bị máy bay trinh sát O.V10 của Mỹ phát hiện, mặc dù trời đang khá nhiều mây.

        Khoảng 5 phút sau, 2 phi đội F4J của Mỹ từ Hạm đội 7 ở biển Đông baý vào thay nhau tấn công đoàn xe. Đó là phi đội 143, gồm 2 chiếc F4J đã thực hiện 4 lượt ném 8 quả bom vào đoàn xe. Riêng chiếc F4J mang số hiệu 155768 do trung tá Har ley Hall cơ trưởng kiêm phi đội trưởng đã ném 2 lượt 4 quả bom loại 250 kg vào đoàn xe, gây chấy một xe, một xe khác bị thương. Lần thứ 3, khi chiếc F4J này lao xuống rất thấp, cự ly dưới 500 m ném tiếp 2 quả bom cuối cùng, thì các trận địa pháo phòng không 23 mm, 37 mm của sư đoàn 673 đã đánh trả quyết Hệt. Đây là đơn vị cao xạ phòng không có nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường 74, 71 hai nhánh của đường Đông Trường sơn miền Trung Du của Gio Linh. Họ đã khiến chiếc F4J bị trúng đạn ở phần đuôi. 2 phi công Mỹ cố nâng độ cao để bay về hướng Đông nhưng không thể được, buộc phải bay ở độ thấp dưới 2000 m (cách mặt đất) tốc độ 700 - 800km/h. Khi bay qua tọa độ YĐ351650 (xã Triệu Phước - huyện Triệu Phong), họ lại bị lực lượng cao xạ trên địa bàn xã Triệu Phước; với 6 khẩu đội gồm 3 đơn vị trận địa chốt phòng ngự và bảo vệ Bộ Chỉ huy tiền phương của sư đoàn 320B, Bộ Chỉ huy tiền phương quân sự tinh Quảng Trị, Tiểu đoàn Pháo DKB/ Tiểu đoàn Thông tin 15W thuộc mặt trận cánh Đông đã đồng loạt nổ súng đánh bồi. Những loạt đạn cao xạ vút lên, vây kín mục tiêu. Chiếc F4J bốc lửa bùng cháy bao trùm 3/4 thân máy bay. 2 phi công Mỹ buộc phải nhảy dù trên vùng trời Triệu Phước - Triệu Phong. Chiếc F4J rơi xuống thôn Hà Tây xã Triệu vân, cách 2 cánh dù phi công 2 km về phía đông và cách cảng cửa Việt 1 km về phía Tây.

        Lúc này chiếc O.V10 bay lượn sát vào 2 cánh dù phi công vừa đáp xuống. Hạm đội 7 đã cấp tốc tăng cường 2 phi đội F105, F4H, 2 trực thăng đa năng chiến đấu và cứu hộ do thiếu tá Jim Chis Ter chỉ huy từ tàu sân bay, được lệnh bay vào vùng trời Triệu Phước, nhằm đánh trả, khống chế lực lựợng phòng không quân giải phóng, để cứu phi công... Nhưng bị các lực lượng cao xạ trên địa bàn Triệu Phước đánh trả quyết Hệt. Đơn vị hỏa tiễn A72 cũng đã kịp thời triển khai chiến đấu. Người chỉ huy đọc thông số bảng bắn hô to mục tiêu đã đổi hướng, mục tiêu O.V10 tốc độ dưới 500, cự ly 1000, 1200 nhắm thẳng mục tiêu, tập trung bắn trực xạ... phóng đạn!
Những loạt đạn cao xạ vút lên nổ giòn giã và xạ thủ Nguyễn Khải (quê Bắc Giang), trợ thủ Nguyễn văn Long (quê Hà Tây) ấn cò 1 quả hỏa tiễn A72 từ thôn An cư - Triệu Phước, phóng lên lao thằng vào mục tiêu nổ tung chiếc viễn thám O.V10. Thêm 2 phi công Mỹ bật ra khỏi phi cơ từ từ đáp xuống trên cánh đồng Hà Sơn phía Đông làng Vĩnh Lại - Triệu Phước. Chiếc O.V10 rơi nhanh xuống rú cát Lệ Xuyên - Triệu Trạch.

        Lúc này, tôi (Nguyễn Đức Toàn) là chỉ huy đơn vị cao xạ và anh Mai Phước Liệu, Tham mưu phó Trung đoàn 48, đã kịp thời tiếp cận, bắt sống Thiếu tá phi công Phillip AI Kientzler và tiếp cận Trung tá Har Ley Hall. Nhưng viên phi công Mỹ không may mắn này đã tử thương. Nơi đáp xuống tại cánh đồng xóm Cộ, làng Lưỡng Kim cách Ban chỉ huy Trung đoàn 48, sư đoàn 320 khoảng 100m. Chiếc dù của Thiếu tá Phillip AI Kientzler cũng đáp xuống gần đó. Anh ta bị thương nhẹ ở phần mềm đùi bên trái. Chúng tôi đã đưa người tù binh phi công này vào căn hầm Chí huy của Ban Tham mưu Trung đoàn, xử lý băng bó vết thương xong, tôi đã đưa tù binh sang căn hầm khác...

        Có thể nói, đến 5 giờ 30 ngày 27 tháng 1 năm 1973, khi chiếc OVIO của Mỹ do Đại úy Peterson Mark và Trung úy Morris George lái bị bắn hạ, thì lực lượng Không quân chiến thuật của quân đội Mỹ đã hoàn toàn ngưng hoạt động trên vùng trời Quảng Trị. Chỉ còn các phi đội pháo đài bay B52 vẫn tiếp tục rải bom ở vùng Trung du miền tây Quảng Trị cho đến 6 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973. Cũng từ 5 giờ 10 đến 5 giờ 30 ngày 27 tháng 1 năm 1973 chiếc F4J và chiếc O.V10 là 2 chiếc máy bay cuối cùng của quân đội Mỹ bị bắn rơi trên chiến trường Việt Nam.

        Cũng thời điểm đó, tại Paris thủ đô của nước Pháp, các phái đoàn 4 bên đang chính thức ký kết Hiệp định Paris, về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam...

        Sau 6 giờ, trời đã bắt đầu tõi, gió Đông Bắc se lạnh, Bộ B chỉ huy cánh Đông giao nhiệm vụ cho tôi khẩn cấp lấy khẩu cung B (sơ cung) bằng tiếng Anh với tù binh phi công Mỹ - Thiếu tá Phillip Aì Kientzler. Anh ta khai: sinh năm 1940 tại Newyork. Tốt nghiệp đại học 1963 nhập ngũ vào Hải quân 1964. Đã có vợ và 2 con.
 
        Khoảng 7 giờ tối, chúng tôi được lệnh chuyển tù binh về tuyến sau. 6 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, tôi và một đồng chí cùng đơn vị chuyển giao tù binh bằng thuyền máy của đơn vị vận tải thuộc sư đoàn 320B về Bộ chỉ huy Mặt trận B5.
Vài ngày sau tù binh Phillip AI Kientzler đã được chuyển về Hà Nội. Nhưng anh ta đã không có tên trong danh sách trao trả, bởi ngày 21 tháng 1 năm 1973 Hiệp định Paris đã được ký tắt và hồ sơ danh sách các tù binh dự định trao trả đã được phái đoàn 4 bên trao cho nhau trước đó.

        Theo đề nghị của phía Mỹ, Ban quản lý Trại giam tù binh Phi công Mỹ tại Hà Nội đã bổ sung Phillip AI Kientzler vào danh sách trao trả. Tên anh ta đã được ghi bằng bút chì. Đó cũng là người tù binh phi công Mỹ cuối cùng rời Trại giam Hỏa Lò Hà Nội để lên máy bay về nước.

        Được biết, ngày 27 tháng 3 năm 1973, khi về đến Hawai, AI Kientzler đã vui mừng được gặp vợ và con gái là 2 tuổi. Sau đó, anh ta được phong cấp bậc Trung tá và trở lại phục vụ trong lực lượng Không lực của Hải quân Hoa Kỳ thêm một số năm nữa. Người cựu tù binh phi công Mỹ bị bắt cuối cùng trong chiến tranh Việt Nam đã qua đời ngày 12 tháng 2 năm 2005 vì bệnh tim.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2016, 08:43:20 AM
       
        "Kẻ thù của tôi và Bạn của tôi"


        Đó là tên tạm dịch của một cuốn sách (nguyên văn tiếng Anh là "My Enemy - My Friend" dày 104 .trang, do cựu Phi công Mỹ, Tướng Daniel Edwards Cherry (Dan Cherry) thực hiện sau chuyến thăm Việt Nam, tham dự chương trình "Như chưa hề có cuộc chia ly" của nhà báo Thu Uyên, phát sóng trên VTV1.

        Năm 2008, "Câu chuyện hai người tíntỉ" được phát trên Đài Truyền hình Việt Nam đã cuốn hút hàng triệu khán giả màn ảnh nhỏ. Báo chí viết: Đó là một trong số hiếm hoi cuộc đoàn tụ không có nước mắt của chương trình "Như chưa từng có cuộc chia ly". Nó đầy ắp những nụ cười và những cái siết tay trìu mến. Hai cựu Phi công từng ở hai bên chiến tuyến giờ đây đã gọi nhau bằng từ "bạn" và nhìn về một mõi quan hệ hữu hảo trong tương lai. "Tôi mong muốn tình bạn giữa chúng tôi có thể phần nào giúp cho quan hệ Việt Nam và Mỹ tốt đẹp hơn".

        Nhưng có một chi tiết còn ít người biết: Sau chương trình truyền hình trực tiếp tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tướng Dan Cherry đã tới Hà Nội, thăm ngôi nhà nhỏ của cựu Phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ ở phố Cầu Đất (ngoài đê sông Hồng). Tròn một năm sau, vào tháng 4 năm 2009, Dan Cherry đã tổ chức mời Nguyễn Hồng Mỹ sang thăm Hoa Kỳ. và tại đây, cựu Phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ đã được Thống đốc bang Kentucky phong tặng danh hiệu "Đại tá danh dự" của Bang...

        Cho tới tháng 11 năm 2013 này, Nguyễn Hồng Mỹ đã được phía Bộ Không quân Hoa Kỳ, thông qua nhữhg cựu Phi công Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, mời sang thăm Mỹ tới 8 lần. Trong một chuyến thăm như thể, ông vinh dự được lái chiếc máy bay thể thao Mỹ bay lượn trên bầu trời nước Mỹ và được báo chí nước này công nhận: Người Phi công quân sự Việt Nam đầu tiên bay trên bầu trời nước Mỹ, sau chiến tranh.

        Xin được bắt đầu từ câu chuyện của hai người lính gặp nhau trong chương trình "Như chưa hề có cuộc chia". Tường thuật lại câu chuyện này, tác giả Võ Khối (Thanh niên) cho biết:

        Một tập phim tài liệu tái hiện sự kiện bắn rơi máy bay Việt Nam của tướng Daniel Edwards Cherry đã được chiếu ngay từ những phút đầu của chương trình. Ngày 16 tháng 4 năm 1972, máy bay Mỹ trở lại oanh tạc bầu trời Hà Nội. Cherry và một Phi công khác yểm trợ đang săn lùng máy bay MiG. Trời Hà Nội hôm đó mầy mù dày đặc, Cherry nói rằng ông muốn bỏ cuộc vì không thể bay trong điều kiện thời tiết như vậy nữa. Tâm trạng ông đang thật tồi tệ thì bất thình lình nghe tiếng Phi công phụ hô: "MiG, vị trí 2 giờ, 4.000 feet bên trên, đang làm động tác rẽ phải". Chiẽc M/G rẽ mây và rơi vào đúng tầm ngắm. Cherry tăng tốc cho máy bay vọt lên cao. Chiếc MiG bị mất tốc độ và độ cao, rơi đúng vào tầm ngắm của ông ta. Ông ta phóng tên lửa, nhưng trượt. ông ta nhanh chóng bắn đi quả tên lửa thứ hai, lại trượt. "Tôi tức giận. Cả đời tôi chưa từng bao giờ được nhìn thấy một chiếc MiG như vậy. Và ngay lúc ấy nó đang ở trước mặt tôi, tôi có cơ hội để tiêu diệt nó, vậy mà chiếc máy bay của tôi lại không hoạt động", Cherry nói. Cherry và chiếc phi cơ yểm trợ đã bắn trượt mất tất cả 5 quả tên lửa, đến quả thứ 6 thì mới trúng vào cánh phải và khiến chiếc MiG bốc cháy. Từ trong đám lửa, người Phi công hiện ra với chiếc dù. Cherry nói lúc đó ông thấy rất rõ người Phi công Việt Nam nhảy dù, với chiếc áo bay màu đen và đôi chân vươn thẳng ra.

        Sự kiện đó khắc sâu trong tâm trí Cherry vì đó là chiếc MiG đầu tiên ông bắn rơi trong đời. Chưa bao lâu sau đó, vào tháng 6 năm 1972, ông cũng đã rời khỏi chiến trường Việt Nam trở về Mỹ cho đến ngày nay. Ông đã được phong hàm Chuẩn tướng và hiện nay cũng đã có cháu ngoại. Nhưng ông không thể quên người Phi công quả cảm 36 năm trước và "luôn tự hỏi người đàn ông đó là ai, anh có sống sót sau lần nhảy dù ấy không và bây giờ có còn sống không, anh ấy có gia đình không, bao nhiêu con...

        Người Phi công ấy là ai?

        Nhà báo Thu Uyên nói đoạn phim tài liệu của The History Channel "cần được viết tiếp" rồi mời Cherry cùng khán giả theo dõi tiếp một phóng sự dài ở .Việt Nam. Đó là câu chuyện đời của ông Nguyễn Hồng Mỹ, nguyên Phi công MiG 21 thuộc Trung đoàn Không quân tiêm kích 921.

        Ông Mỹ là người Nghệ An, Năm 1965, khi ông đang học năm thứ nhất Đại học Kinh tế ở Hà Nội thì có đoàn cán bộ không quân về tuyển Phi công. "Lúc đầu tôi không nghĩ là tôi trúng đâu. Hồi ấy bé con lắm, hơn 50 cân thôi. Có những người to khoẻ còn bị loại dần, bởi vì đi rất đông", ông Mỹ kể. Nhưng rồi ông đã có mặt trong số 120 thanh niên ưu tú của miền Bắc được gửi đi học lái máy bay ở Liên xô đợt ấy. và trong số 120 người học thì có 19 người tõt nghiệp MiG 21, trong đó có ông Mỹ. "Hồi ấy tất cả bọn tôi sang học bay chỉ háo hức về để chiến đấu thôi. Trong suy nghĩ, chỉ duy nhất một động cơ là học bay, tốt nghiệp sớm, để bay thật giỏi, để về chiến đấu góp phần bảo vệ Tổ qtíoc. Học đến tháng 3 năm 1968 thì tốt nghiệp. Khi về nước chỉ nghỉ tại chỗ 2 ngày, rồi về đơn vị chiến đấu luôn", ông Mỹ nhớ lại.
Ông Mỹ được gắn huy hiệu Bác Hô vào ngày 9 tháng 1 năm 1972, sau khi bắn cháy chiếc RF-101 trên bầu trời Nghệ An. Đó cũng là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên mà không quân Việt Nam bắn rơi trong năm 1972. sáu năm chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc, ông Mỹ đã 2 lần bắn rơi máy bay địch, về sự kiện ngày 16 tháng 4 năm 1972, ông Mỹ kể: "Hôm đó tôi xuất kích lên chỉ thấy đầu tiên là 16 chiếc, sau thêm 8 chiếc nữa là 24. Có mấy đội nhưng ở sân bay khác, còn sân bay Nội Bài chỉ có tôi và đồng chí Khương. Lúc tôi phát hiện là cự ly khoảng 15 km. sở chỉ huy cho phép vào không kích, tôi hô để đồng chí Khương cảnh giới và tôi xông vào. Bởi vì thấy địch thì thời gian không có nhiều. Nó có 16 chiếc, của mình thì có hai anh em tôi xông vào mà đánh thôi. Thế nhưng một thực tế là địch quá đông. Khi tôi vòng gấp vào thì đồng chí Khương nói "không nhìn thấy sổ 1 ở đâu". Tôi đang đuổi theo tốp phía trước thì bị đẩy mạnh đi. Tôi bảo thôi chết, mình bị dính đòn rồi. Cần lái không điều khiển được nữa. Chi huy sở hô nhảy dù. Khi cái dù ra khỏi máy bay thì nó bật 2 lưới bảo vệ, ốp lấy giữ chân tay. Nhưng lưới bảo vệ không hoạt động nên vừa ra thì tôi bị gãy hết 2 tay. Đầu thì chỉ đạo tay điều khiển dù nhưng chả thấy đâu cả. Tôi đành rơi tự do xuống một vùng rừng".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2016, 05:35:20 AM
       Sau khi điều trị vết thương, ông Mỹ đã nằng nặc xin cấp trên cho trở lại bầu trời chiến đấu nhưng, như ông nói, "bay một thời gian thì hai cánh tay gãy luôn cả nẹp sắt" nên đến năm 1974 ông đã phải chuyển ngành.

        Ông Nguyễn Hồng Mỹ sau chiến tranh cũng là một người khá đặc biệt Ông sõng cảnh gà trống nuôi con suốt 24 năm, kể từ lúc con gái đầu của ông chì mới 4 tuổi, con gái sau 2 tuổi. Sau khi chương trình chiếu qua nhữhg hình ảnh và đưa thêm các thông tin về gia đình, con cái của Cherry, ông Mỹ cũng bộc bạch luôn hết hoàn cảnh hiện nay của mình. Hai người con gái của ông giờ đây đều đã tõt nghiệp đại học và đã đi làm. "Con gái út làm ở bộ phận khách hàng của Việt Nam Airlines, năm ngoái cháu vừa đi Atlanta, Việt Nam Airlines mới mở đường bay thắng đi Mỹ mà", ông Mỹ hồn nhiên nói.

        Tại trường quay, lần đầu tiên hai cựu Phi công bắt tay nhau. Họ nhắc lại quá khứ để khép lại quá khứ. ông Mỹ nói: "Toàn cục thì chúng tôi thắng, nhưng trận đó tôi đã thua ông". Buổi gặp gỡ đã diễn ra rất xúc động, ông Cherry đã rơi nước mắt khi người dẫn chương trình đề cập đến gia đình ông và gia đình ông Mỹ. Ông Mỹ mời ông Cherry và các bạn ông này đến thăm nhà ông và hứa sẽ đưa đi tham quan Hà Nội. Ông Cherry nồng nhiệt cám ơn và mời ông Mỹ sang thăm Hoa Kỳ trong một thời gian thích hợp. Họ đã trở thành bạn bè...


        Đoạn tiếp theo của câu chuyện trên, bài viết của tác giả William R. Levesque cho hay:

        Ông Dan Cherry đã bay đi Tampa, tiểu bang Florida để gặp người bạn mới của mình, đưa bạn đi thăm như một người hướng dẫn du khách. Ông dự trù là sẽ đưa bạn đi Disney World và tham dự một buổi biểu diễn máy bay ở Lakeland.

        Ít ai gặp mà có thể đoán được sự tương đồng giữa hai người du khách này. Trước hết, hai người đến từ hai phương trời cách biệt, xa lắc xa lơ nhau. Họ không nói cùng ngôn ngữ hay có chung nền văn hóa. và trong lúc một trong hai người đã đi trọn sự nghiệp của mình và về hưu với cấp bậc sau cùng là Thiếu tướng Không quân, thì người kia chấm dút sự nghiệp của mình như một nhân viên bán bảo hiểm.

        Tĩnh bạn của họ dựa trên sự kết hợp nhũtig nét độc đáo: Lòng dũng cảm và sự hêt mình với bổn phận của người lính.

        Và, gần bốn mươi năm trước, ở trong họ là một sự quyết tâm giết lẫn nhau. Đó là ngày 16 tháng Tư năm 1972, khi viên Phi công Dan Cherry của chiếc chiến đấu cơ F-4 Phantom đang đuối theo chiếc MiG-21 của đối phương vào một vùng mây trên vùng trời Bắc Việt trong một phi vụ săn tìm "'quân ăn cướp" thù địch.

        Viên Phi công của Không Lực Hoa Kỳ mất dấu chiếc MiG trong đám mây. Nhưng vừa khi Phi công Cherry vừa ra khỏi đám mây, viên Phi công phụ "Bò Non" (Baby Beef) la lớn, "Hai giờ phía trên. Nó ở ngay trên đầu anh, Dan."

        Cherry cho nổ thêm máy phụ để kéo gần khoảng cách giữa hai chiếc chiến đấu cơ và cố phóng một hỏa tiễn tầm nhiệt Không có gì xảy ra. Cherry bấm cò thêm lần nữa và lần nữa. vẫn không có gì xảy ra. Hệ thống phóng hỏa tiễn bị hỏng.

        "Bò Non" nhào vào để thanh toán chiếc MiG. Nhưng hệ thống phóng hỏa tiễn của anh ta cũng bị hỏng luôn, cả hai ông Phi công nổi cáu. "cắt ra phía trái, Bò!" Cherry gọi trên máy vô tuyến.

        "Vớt đẹp nó, Dan."

        Khoảng hơn một cầy số từ phía sau chiếc MiG, Cherry bấm cò trên hệ thống hỏa tiễn "sẽ sẽ", hy vọng chút chút Lần này, ông bắn trúng mục tiêu. Hỏa tiễn từ chiếc Phantom F-4 bắn văng cánh phải của chiếc MiG.

        "Trúng! Tôi bắn trúng!" - Phi công Dan Cherry la lớn một cách sôi nối.

        Chiếc MiG vừa đâm xuống đất vừa quay tròn như con quay, kéo theo sau là một vệt dài của lửa và khói, và một chiếc dù bung ra chỉ vài trăm mét trước chiếc Phantom của Cherry. Ông buộc phải bẻ ngoặc hướng bay để tránh đụng nó.

        Khi chiếc chiến đấu cơ của Cherry bay nhanh như hỏa tiễn ngang chiếc dù, ông thấy viên Phi công của chiếc MiG trong bộ đồ bay màu đen đang rơi lơ lửng xuống đất Khó có thể biết được viên Phi công kia bị thương hay chết
Đó là một hình ảnh Cherry biết ông sẽ không bao giờ quên được.

        Ông Cherry bay đã 185 phi vụ với chiến đấu cơ Phantom. Tuy nhiên, chiếc MiG này là chiếc chiến đấu cơ duy nhất của đối phương mà ông bắn rơi.

        Cherry trở về nước và được giao nhiệm vụ mới như là một Sĩ quan Hành quân ở căn cứ Không quân MacDill ở Tampa, tiểu bang Florida.

        Về sau, ông có được bổ nhiệm làm Phi đoàn trưởng phi đoàn biểu diễn Thunderbirds của Không quân Hoa Kỳ. Đây lả một sự bổ nhiệm rất danh dự cho một vai trò rất có thanh thế dành cho ông.

        Ông về hưu năm 1988, với cấp bậc sau cùng là Thiếu tướng và ông dọn về Bowling Green, tiểu bang Kentucky. Thỉnh thoảng, có người hỏi ông về trận không chiến năm xưa. Nhưng hầu như, ông đã không nói gì về chuyện này.

        Tháng Tư năm 2004, Cherry và một nhóm bạn đi thăm Viện Bảo tàng Không quân Hoa Kỳ ở Dayton, Ohio, và luồn tiện ghé thăm chiếc Phantom ông từng lái trước đây giờ được triển lãm ở VFW gần đó.

        Một ngôi sao đỏ được sơn gần máy với hàng chữ ghi lại ngày ông Cherry bẩn rơi chiếc MiG năm xưa: "16 APR 72." Chiếc Phantom giờ đây trông tồi tàn quá đỗi. Phân chim rơi tùm lum trên hai thùng xăng. Gỉ sắt tràn lan như chiếc máy bay bị chứng phát ban.

        Trên đường về, có người gỢi ý Cherry đi tìm người Phi công chiếc MiG năm nào, nếu ông ta còn sống. Cherry đoán chừng đó là chuyện mò kim đáy biển.

        Cuộc viếng thăm chiếc Phantom bỗng làm các thân hữu của ông Cherry có ý định tu bổ lại chiếc chiến đấu cơ này và đưa nó về trưng bày ở một một nơi xứng đáng hơn ở Bowling Green.

        Một hôm, ông Cherry gặp một người bạn hành nghề luật vốn quen biết nhiều ở vùng Á châu. Ông Cherry đề cập đến chuyện tò mò của ông, muốn biết số phận của viên Phi công chiếc MiG năm xưa như thế nào.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2016, 02:18:05 PM
        Ông bạn luật sư này gọi cho những người bạn khác ở Hà Nội. Họ có một sáng kiến: có một chương trình truyền hình ở Thành phố Hồ Chí Minh, có thể giúp được. Chương trình này có tên "Như chưa hề có cuộc chia ly", chuyên tường thuật về những trường hợp đoàn tụ của bạn bè hay gia đình sau một thời gian xa cách tưởng chừng như không còn gặp nhau lại được.

        Vì tất cả các chương trình truyền hình là của Nhà nước, nên chuyện tìm viên Phi công MiG trở nên đơn giản hơn ông Chery tưởng nhiều.

        Viên Phi công chiếc MiG vẫn còn sống và được biết đang sống ở Hà Nội. Cherry được mời đến TP. Hồ Chí Minh cho một chương trình hội ngộ được chiếu trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam. Ngày 5 tháng 4 năm 2008, khi ông Cherry nhìn chằm chằm ngang qua phòng thâu hình của đài truyền hình thì một cư dân Hà Nội, dáng người khỏe mạnh, tóc hói, sải những bước dài có chủ đích về phía ông. Cherry cảm thấy an lòng khi thấy cái nhìn hiền hậu trên khuôn mặt của người kia.

        Cherry và Nguyễn Hồng Mỹ bắt tay thật chặt với nhau. Hồng Mỹ, biết nói chút tiếng Anh, nói qua một người thông ngôn rằng ông hy vọng hai người sẽ trở thành bạn tốt. Đề cập đến trận không chiến năm xưa, ông Hồng Mỹ mỉm cười và nói: "Anh thắng trận đó. Nhưng nhìn toàn cục thì chúng tôi đã thắng".

        Ông Hồng Mỹ bị thương nặng trong lần rớt đó. Ông bị gãy cả hai tay, và bị chấn thương ở lưng. Ông không còn bay nhiều sau ngày đó. Sau chiến tranh, ông xin vào làm việc cho một Công ty bán bảo hiểm.

        Sau đó, Hồng Mỹ đưa Cherry về thăm nhà mình. Trong buổi ăn tối, có một ông láng giềng bước vào và bắt đầu nói về nhữhg tàn phá ở Hà Nội vì bị Mỹ đánh bom.

        Hồng Mỹ lắc đầu, ngăn lại: Chính trị không được bàn đến ở đây.

        Ngày hôm sau họ viếng thăm Khách sạn Hilton Hà Nội (Hỏa Lò) cùng nhau, là nhà tù nổi tiếng khắc nghiệt đã từng giam những Phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc trong nhiều năm.

        Đó là một kinh nghiệm đầy cảm xúc cho Cherry. Khi ông nhìn một bức hình của những Phi công tù binh Mỹ, Hồng Mỹ nói nhỏ bên tai ông, "Anh có bạn trong đây?" Cherry gục đầu, đưa tay chỉ vào một viên Phi công trong tấm hình. "Anh này là bạn của tôi," Cherry nói.

        Hồng Mỹ lắc đầu buồn bã. Bên ngoài nhà trưng bày đã một thời là nhà tù, Hồng Mỹ khoác tay lên vai Cherry một cách thần tình.

        Cherry, giờ đã 70 tuổi, muốn đưa Hồng Mỹ, giờ cũng 63 tuổi, sang thăm Mỹ chơi cho biết. Những người tổ chức trong Hội Sun'n Fun Fly-in ở vùng Lakeland giúp trả chi phí cho chuyến đi. Vào một hôm thứ Ba, chỉ hai ngày trước ngày kỷ niệm lần thứ 37 cuộc không chiến kéo dài bốn phút của họ, Hồng Mỹ đến Bowling Green cùng với người con trai.

        Họ cùng bay vào Tampa hôm thứ Ba để dự một buổi biểu diễn máy bay và cùng viếng thăm viện bảo tàng máy bay ở Hạt Polk.

        Dan Cherry và Nguyễn Hồng Mỹ trước chiếc MiG-21 trong lần gặp nhau năm rồi ở Hà Nội. Lần đầu tiên hai bên gặp nhau, là năm 1972, kéo dài chỉ bốn phút và chấm dứt sau khi Cherry bắn rơi máy bay của Hồng Mỹ. Cherry nói họ trở thành bạn của nhau nhanh chóng. Cuộc hội ngộ mang lại một vài gần gũi cho cả hai, theo Cherry. Ông thấy trong. Hồng Mỹ có một phần của ông, và một phần của bất kỳ Phi công lái chiến đấu cơ nào, những người đã từng bay. Ông thấy sự tự tin, thông minh và tính hài hước.

        "Tôi khám phá rằng Hồng Mỹ giống như Phi công chiến đấu khác mà tôi đã từng biết, "Cherry nói.

        Trước khi đến Hoa Kỳ, Hồng Mỹ nói về một chiến đấu cơ Hoa Kỳ bị chính ông bắn rơi chỉ một tháng trước khi ông có trận không chiến với Cherry, và cũng giống như Cherry, ông Hồng Mỹ cũng đã luôn lấy làm thắc mắc về số phận của phi hành đoàn hai người của chiếc chiến đấu cơ đó.

        Ông Cherry đã bỏ công tìm tòi và khám phá cả hai viên Phi công đó vẫn còn sống sau chiến tranh, mặc dù giờ đây viên Phi công chính đã qua đời. Nhưng ông Cherry tìm được người kia, là viên hoa tiêu ngồi đằng sau trong phi vụ bị bắn rơi đó.

        Một lúc nào đó không xa, buổi hội ngộ lần thứ hai sẽ được thu xếp. Lần này Hồng Mỹ sẽ gặp người ông đã từng bắn rơi năm nào ở Việt Nam. Hồng Mỹ, Cherry và viên hoa tiêu đó dự định sẽ ăn tối cùng nhau.

        Cherry biết họ sẽ không bàn về vấn đề chính trị. Sẽ không có màn tố cáo, buộc tội lẫn nhau. Cuộc nói chuyện thay vào đó có lẽ sẽ đưa về một chủ đề mà kết nối họ lại cùng nhau.

        Đó là niềm vui xé gió tung mây của đời Phi công - The joy of flight! Nguyễn Hồng Mỹ và Dan Cherry từng là cựu thù với nhau. Đài CBS News cho biết gần 40 năm trước, họ từng tìm cách hạ sát nhau cách đây 37 năm trên bầu trời Việt Nam. Kênh truyền hình tài liệu History Chanel còn thực hiện một bộ phim tái lập cuộc không chiến của họ. Khi đó Dan là Phi công điều khiển chiến đấu cơ F-4 còn Hồng Mỹ lái máy bay MiG. Trong một trận giao tranh, Hồng Mỹ bị Dan bắn rơi.

        Sau hàng chục năm, tình cờ hai người gặp lại nhau trong một chương trình truyền hình của Việt Nam. "Anh ấy bắt tay tôi thật chặt Rồi anh ấy nói với tôi: Chào mừng anh tới đất nước của tôi. Tôi hy vọng chúng ta có thể là bạn" - Dan kể. Đó không phải là những lời nói suông. Rời đài truyền hình, Hồng Mỹ mời Dan về nhà ông và từ đó một tình bạn nảy nở.

        Chỉ vài tuần trước, Hồng Mỹ đã tới thăm Dan tại nhà riêng của ông ở Bowling Green, Kentucky. Ngoài việc gặp gỡ nhau, chuyến đi còn phục vụ một mục đích nghiêm túc hơn. "Chúng tôi hy vọng có thể bỏ cuộc chiến lại sau lưng, hàn gắn sự cách biệt và thiết lập một tình bạn nhằm giúp đỡ các cựu chiến binh ở cả hai phía" - Dan noi.

        Như để minh chứng cho lời của Dan, CBS cho biết trong chuyến đi mới nhất tới Mỹ, Hồng Mỹ đã gặp một con người đặc biệt khác, tên là John Stiles. Trong suốt 37 năm qua, John đã cố quên Việt Nam, do ông từng bị Hồng Mỹ bắn hạ khi đang thực hiện một chuyến bay do thám vào tháng 1 năm 1972. Sau nhiều năm, John vẫn tỏ ra căng thẳng và ngại ngần về cuộc gặp kẻ thù cũ. Cuối cùng mọi việc diễn ra dễ dàng hơn ông tưởng. Ngay khi gặp Hồng Mỹ, John cho biết ông đã được giải thoát và cảm thấy "cựu thù" thực sự là một người bạn. "Tôi thấy mình như trút được gánh nặng khổng lồ. Nó đã hoàn toàn biến mất. Thật kỳ diệu, hoàn toàn kỳ diệu" - John nói.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2016, 09:11:01 AM
       
*

        Trong cuốn sách "Chúng tôi và MiG-17", tác giả Lưu Huy Chao đã viết khái quát về chuyện cựu Phi công Nguyễn Hồng Mỹ của Việt Nam khi sang thăm Hoa Kỳ đã được tôn vinh đặc biệt như thế nào:

        Tại bang Kentucky (Mỹ) hiện có một danh sách gồm 29 nhân vật xuất chúng trên cả thế giới được đặt trang trọng ở Tòa thị chính của bang này. Danh sách này ghi tiểu sử những người nổi tiếng như: Tổng thống Lyndon B. Johnson (Mỹ), Thủ tướng Winston Churchil (Anh) hay John Glenn - người đàn ông Mỹ đầu tiên đi ra khoảng không được chỉ định trong khi di chuyển theo quĩ đạo trái đất để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình và đặc biệt, danh sách trên còn có cả một cựu Phi công MỈG-21 Việt Nam: Nguyễn Hồng Mỹ!

        Ngày 19 tháng 1 năm 1972, trong một trận không chiếc ác liệt, phi công Nguyễn Hồng Mỹ đã bắn rơi chiếc F-4. Nhưng mãi tới năm 2008 anh mới biết rằng hai Phi công lái chiếc máy bay đó đã kịp nhảy dù trước khi chiếc máy bay bị bốc cháy hoàn toàn và được trực thăng Mỹ kịp thời đến cứu.

        Và năm 2008, Tướng Không quân Dan Cherry (Mỹ) sang thăm Việt Nam tìm gặp người Phi công Việt Nam mà ông ta đã bắn trúng máy bay, khiến người Phi công đó phải nhảy dù trong một trận không chiến giữa hai chiếc MiG-21 của Việt Nam với 24 chiếc F-4, F-105 của Không lực Hoa Kỳ năm 1972. Không ngờ người Phi công Việt Nam đó chính là ông Nguyễn Hồng Mỹ.

        Năm 2009, rất nhiều báo chí Mỹ đã đưa tin, viết bài về người   Phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ năm1972. Họ cho rằng năm đó người Mỹ đã rất tí mỉ công phu lập một kế hoạch lớn nhằm thôn tính Bắc Việt. Bộ Quốc phòng Mỹ đã rất tự tin và thường sử dụng một số lượng lớn máy bay hiện đại xuất kích, để hòng đàn áp vài chiếc MiG-21 nhỏ bé yếu thế của Việt Nam. Vậy mà chỉ trong vài trận đầu tiên của chiến dịch, Không lực Hoa Kỳ đã bị tiêu diệt bởi Nguyễn Hồng Mỹ. Và việc Nguyễn Hồng Mỹ bắn rơi chiếc F-4 đầu tiên của chiến dịch, làm cho người Mỹ lúc đó vô cùng hoang mang, lo ngại không hiểu Không quân Việt Nam có bí quyết gì? Điều đó đã khiến cho Lầu Năm Góc Mỹ bất ngờ, lúng túng buộc họ phải đánh giá lại sức mạnh của Không quân Việt Nam, thay đổi kế hoạch chiến dịch không kích đầu năm 1972.

        Nguỡng mộ về một con người xuất chúng như thế, tháng 4 năm 2009, Tướng Không quân Mỹ Dan Cherry đã mời bằng được Nguyễn Hồng Mỹ sang thăm Mỹ và dưới sự chứng kiến của hàng nghìn người dân bang Kentucky, đích thân Thõng đốc bang đã trao quân hàm danh dự Đại tá cho cựu Phi công Nguyễn Hồng Mỹ, cùng anh trồng cây lưu niệm trước tòa nhà Bowling star - toà nhà lớn nhất bang Kentucky.
Rồi đích thân Tướng Dan Cherry, cựu Phi công F-4, Giám đốc Bảo tàng Không quân của bang Kentucky đã mời Nguyễn Hồng Mỹ cắt băng khánh thành Bảo tàng Không quân của bang này. Hình ảnh của Nguyễn Hồng Mỹ đã được Bưu điện Mỹ sử dụng làm con tem và báo chí Mỹ nhắc đến nhiều lần.

        Thì ra người Mỹ nói chung và các Phi công Mỹ nói riêng, rất biết cách tôn trọng đối thủ của mình.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2016, 07:32:36 AM
       
        So sánh các "Át" Phi công Mỹ và "Át" Phi công Việt Nam: Ai giỏi hơn ai?

        Trang website clbmohinh.com có một bài viết với những thông tin thú vị, so sánh giữa Phi công Mỹ và Phi công Việt Nam:
 
        Trong chiến tranh Việt Nam, phía Mỹ chì có hai Phi công trở thành "Át", là Randy "Duke" Cunningham (thuộc lực lượng Hải quân) và Steve Ritchie thuộc lực lượng Không quân (người viết cuốn "Phi công Mỹ ở Việt Nam" đã có may mắn được gặp trực tiếp, ăn sáng, cà phê và trò chuyện với "Át" này và sẽ giới thiệu kỹ ở phần sau) còn Việt Nam có đến 16 Phi công đạt được danh hiệu tự hào ấy. Trong đó, Nguyễn Văn Cốc là "Át chủ bài" dẫn đầu của nhóm các Phi công này, với thành tích bắn rơi 9 máy bay Mỹ (7 máy bay chiến đấu và 2 chiếc "xe trên trời không người lái" Firebees). Trong số 7 chiếc của ông, có 6 chiếc được phía Mỹ chính thức xác nhận, còn chiếc thứ 7 là F-102A của Phi công Mỹ Wallace Wiggins (đã chết) bị bắn hạ ngày 3 tháng 2 năm 1968, được kiểm tra chính xác bởi Không quân Việt Nam. Bỏ qua hai chiếc không người lái "ngớ ngẩn" thì Nguyễn văn Cốc vẫn là Phi công "đỉnh" nhất, đáng để các Phi công Mỹ phải kính nể.

        Vậy thì tại sao các Phi công Việt Nam lại ghi được nhiều "bàn thắng"hơn các Phi công Mỹ?

        Có lẽ lý do đầu tiên là số lượng: Trong năm 1965, Không quân Việt Nam chỉ có 36 chiếc MiG-17 với một số lượng tương đương Phi công, thì đến 1968 họ đã có tới 180 chiếc MiG và 72 Phi công, sáu "tiểu đội" Phi công dũng cảm này phải đối mặt với 200 chiếc F-4 của các phi đoàn 8, 35 và 366; khoảng 140 chiếc Thần sấm F-105 của các phi đoàn 355 và 388 của Không lực Hoa Kỳ và khoảng 100 chiếc của Hải quân Hoạ Kỳ (F-8, A-4 và F-4) từ tàu sân bay "Yankee station" trực chiến trong Vịnh Bắc Bộ, kiêm cả các nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động không kích (EB-6B- gãy nhiễu; HH-53 - cứu Phi công nhảy dù; "Skyraider" yểm hộ hai loại trên).

        Như vậy, Phi công Việt Nam rõ ràng là "bận rộn" hơn đối thủ, và đồng thời họ dễ dàng tìm được mục tiêu để diệt hơn. Và quan trọng là họ chiến đấu với tinh thần "không sợ hy sinh". Họ không cần phải về nhà, vì đầy đã là nhà của họ rồi - bầu trời Tổ quốc. Phi công Mỹ cứ sau 100 chuyến xuất kích lại được về thăm nhà, ngoài ra còn được về để huấn luyện, để nhận lệnh làm công việc khác. Khi quay lại, không phải ai cũng sẵn sàng chiến đấu ngay.

        Trong không chiến, người Việt Nam đã dẫn các máy bay tiêm kích đánh chặn của họ một cách tài tình với chiến thuật "du kích" mai phục trên bầu trời. Những chiếc MiG nhanh như cắt và bất ngờ tấn công vào đội hình không quân Hoa Kỳ từ nhiều hướng khác nhau (thông thường, MiG-17 đánh vỗ mặt, MiG-21 đánh từ phía sau). Sau khi bắn rơi một vài chiếc trong đội hình máy bay Mỹ, buộc những chiếc cường kích F-105 phải hấp tấp ném bom trước khi đến mục tiêu, không chờ đợi sự phản ứng của đối phương, các máy bay MiG biến mất. Chiến thuật "không chiến du kích" của Không quân Việt Nam đã rất thành công. Chiến thuật này nhiều khi lại được sự hậu thuẫn của chính những thói quen thủ cựu đến kỳ quặc của không lực Hoa Kỳ. Ví dụ, vào cuối năm 1966, đội hình tấn công của F- 105 đã bay hàng ngày ở một giờ cố định, trên một đường bay cố định và dùng những mật hiệu gọi nhau trong khi bay không thay đổi, lặp đi lặp lại trong rađiô. Các chỉ huy Không quân Bắc Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội: vào tháng Chạp năm 1966, các Phi công MiG-21 của Trung đoàn 921 đã chặn được tụi Thần sấm trước khi họ gặp được các tốp F-4 hộ tống, bắn rơi tới 14 chiếc F-105 của Mỹ mà chẳng mất chiếc MiG nào. ĐỢt chiến đấu này kết thúc vào ngày 2 tháng Giêng năm 1967 khi Đại tá Robin Olds tiến hành chiến dịch "Bolo".

        Giữa thập kỷ I960, các Phi công Mỹ được tập trung huấn luyện sử dụng tên lửa không đối không (như các loại AIM-7 Sparrow (dẫn đường bằng rađa) và loại AIM-9 (dẫn đường bằng hồng ngoại) để giành chiến thắng trong không chiến. Tuy nhiên, họ đã "quên" rằng người Phi công ngồi trong khoang lái quan trọng hơn vũ khí họ sử dụng rất nhiều, còn Phi công Việt Nam lại rất biết điều đó, họ được huấn luyện khai thác tính năng thế mạnh của nhữhg chiếc MiG: nhanh nhẹn, cơ động, sử dụng lối đánh gần, khi mà những chiếc "Con ma" và "Thần sấm"hoàn toàn bất lực. Chỉ cho đến năm 1972, khi chương trình "Top Gun" cải thiện kỹ năng không chiến của các Phi công Mỹ trong Hải quân Hoa Kỳ như Randall Cunningham, và sự xuất hiện của chiếc F-4E tích hợp khẩu ca-nông 20mm "Núi lửa"(Vulcan) thì tình hình mới được cải thiện đôi chút.
Cuối cùng, với mật độ đông đúc máy bay Mỹ trên bầu trời, với cái nhìn của các Phi công Việt Nam thì đó là một "chiến trường giàu mục tiêu", còn với các Phi công Mỹ thì Việt Nam là một "'mảnh đất nghèo đói". Các Phi công Mỹ không có đủ mục tiêu để có thể "san bằng tỷ số". Bởi vì làm gì có chiếc MiG nào ở xung quanh mà tiêu diệt! Thời đó, Không quân Việt Nam chưa bao giờ có quá 200 chiếc máy bay chiến đấu.

        Tất cả nhữhg yếu tố đó đã tạo ra nhiều "Át" Việt Nam hơn là "Át" Hoa Kỳ, và tạo điều kiện cho các Phi công "Át" Việt Nam "ghi được nhiều bàn thắng" hơn các đối thủ Mỹ trong cuộc chiến trên bầu trời.


        Còn theo trang website acepilots.com thống kê: có tới 16 Phi công Việt Nam được họ vinh danh là "Át" (bắn rơi từ 5 máy bay Mỹ trở lên) trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam (trong đó, 13 người là Phi công MiG-21, 3 người là Phi công MiG-17 và không có "Át" của MiG-19): Nguyễn văn Cốc (9 chiếc), Nguyễn Hồng Nhị (8 chiếc), Phạm Thanh Ngân (8 chiếc), Mai Văn Cương (8 chiếc), Đặng Ngọc Ngự (7 chiếc), Nguyễn Văn Bảy (7 chiếc), Nguyễn Đức Soát (6 chiếc), Nguyễn Ngọc Độ (6 chiếc), Nguyễn Nhật Chiều (6 chiếc), Vũ Ngọc Đỉnh (6 chiếc), Lê Thanh Đạo (6 chiếc), Nguyễn Thành Kính (6 chiếc), Nguyễn Tiến Sâm (6 chiếc), Lê Hải (6 chiếc), Lưu Huy Chao (6 chiếc) và Nguyễn Văn Nghĩa (5 chiếc).


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2016, 04:16:03 AM
*
*   *
       Tháng 12 năm 2009, một trong hai "Át" Phi công của Mỹ và cũng là "Át" đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, đã sang thăm Hà Nội bằng con đường du lịch. Đó là Trung tướng, Giáo sư Steve Ritchie, cựu Phi công F-4 trong chiến tranh Việt Nam. Trong những ngày Steve Ritchie lưu lại Hà Nội, người viết cuốn sách này đã có may mắn được tiếp xúc, trò chuyện, cùng ăn sáng và uống cà phê với ông.

        Tướng Steve Ritchie sinh ngày 25 tháng 6 năm 1942 tại Reidsville, Bắc Carolina. Tốt nghiệp Học viện Không quân Hoa Kỳ, Steve Ritchie từhg là Phi công lái máy bay F-104, sau đó chuyển sang lái máy bay tiêm kích F-4 Phantom II. Năm 1969, ở tuổi 26, ông là một trong nhữhg Phi công trẻ nhất của Mỹ lái loại máy bay này. Steve Ritchie tùng làm nhiệm vụ tại Căn cứ Không quân Đà Nẵng (Việt Nam), là một Phi công có kỹ thuật bay điêu luyện nhất, ông đã thực hiện 195 phi vụ thành công. Nhữhg năm 1970 - 1972, ông tham gia giảng dạy và hướng dẫn bay chiến đấu cho các Phi công tiêm kích chiến thuật ở Mỹ. Sau đó, ông lại được điều sang chiến trường Việt Nam... Steve Ritchie đã trở thành Phi công "Át" đầu tiên của Không quân Mỹ trong cuộc chiến tranh này. ông được người Mỹ coi là một trong nhữhg Phi công chiến đấu giỏi nhất nước Mỹ. Steve Ritchie còn được Lầu Năm Góc tiến cử làm Phụ tá của Tổng thống Mỹ về vấn đề Không quân...

        Với dáng người nhỏ nhắn, tầm thước và da trắng, Tướng Steve Ritchie trông giống một nhà nghiên cứu xã hội học hơn là một cựu Phi công nhà nghề, ông chưa biết nhiều về đời sống xã hội miền Bắc Việt Nam, nên trước khi đến Hà Nội, ông vẫn còn lo bị "phân biệt đối xử" như nhữhg "đối thủ" một thời. Do vậy, ông tỏ ra ngạc nhiên khi thấy những người dân Hà Nội rất thân thiện và mến khách, càng ngạc nhiên hơn khi thấy các khách sạn, cửa hiệu ở Hà Nội cũng trang trí cây thông và ông già noel để đón Giáng sinh như Mỹ vậy. Steve Ritchie rất thích số 5, cứ đề nghị chúng tôi gọi ông bằng cái tên Việt Nam thân mật là ''Anh Năm".

        Ngày 19 tháng 12 năm 2009, chúng tôi đã mời "Anh Năm" Steve Ritchie tới Bảo tàng Phòng không-Không quân để tham dự buổi giới thiệu cuốn sách "Chúng tôi và MiG-17" của một "Át" Việt Nam là Lưu Huy Chao.
Steve Ritchie là một nhân vật đặc biệt, là "trung tâm thu hút các phóng viên" trong buổi giới thiệu sách, sự xuất hiện của ông đã nói được thật nhiều điều. Bởi ông không chỉ là một vị tướng, Giáo sư Không quân có tầm cỡ thế giới, mà quan trọng là gần 40 năm trước, Steve Ritchie là Phi công lái F-4 (loại máy bay hiện đại bậc nhất củá Mỹ hồi đó, được mệnh danh là "Con Ma"; đối thủ của các loại MiG-17, MiG-21 của chúng ta). Hơn thế, ông là một Phi công lão luyện vào bậc nhất của không quân Mỹ, với hàng ngàn giờ bay, thoát hiểm và là một trong hai "Át" hiếm hoi của Không quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

        Tại buổi giới thiệu sách, Tướng Steve Ritchie đã được mời phát biểu với tư cách là cựu Phi công F-4. ông tỏ ra   rất xúc động khi   bất ngờ được gặp mặt các "Át" Việt Nam bằng xương bằng thịt: Lưu Huy Chao, Nguyễn văn Bảy - nhữhg đối thủ đáng gờm của Phi công Mỹ một thời.

        Khi ba "Át" Lưu Huy Chao, Nguyễn Văn Bảy và Steve Ritchie gặp gỡ bắt tay, họ đều nói ra một ý giống nhau: Bây giờ chúng ta là bạn, nhưng gần 40 năm trước, nếu gặp nhau trên bầu trời, chưa biết ai sẽ bắn rơi ai trước! Khiến tất cả cùng cười vang.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2016, 03:24:39 AM
       
        "Đại tá Toon" - Phi công huyền thoại của Việt Nam và những chiếc MiG sát thủ máy bay Mỹ


        Trong bài Thượng tướng Đào Đình Luyện - "Người anh cả" của phi công tiêm kích Việt Nam và đối thủ đáng kính nể của phi công Mỹ", chúng tôi đã giới thiệu đôi nét về "Đại tá Tonn". cùng về đề tài thú vị này, tác giả Phong Nhĩ đã tổng hợp thành một bài viết thú vị giới thiệu trên "Người đưa tin":

        Mỗi lần bay ra miền Bắc, đối đầu với các phi công chiến đấu Việt Nam luôn là nỗi ám ảnh với phi công Mỹ. Một trong số đó, được giới phi công Mỹ truyền tai nhau là phi công huyền thoại "Đại tá Toon" - một phi công đạt đắng cấp "Át" (diệt từ 5 mấy bay trở lên).

        Huyền thoại "Đại tá Toon" ra đời như thế nào? Trong thời gian diễn ra những cuộc đổi đầu giữa Không quân Nhân dân Việt Nam và các phi công của Hải quân Hoa Kỳ, các phi công Mỹ thường xuyên ghi nhận hình ảnh chiếc máy bay MiG-17 mang số hiệu 3020, cũng như chiếc MiG-21 mang số hiệu 4326, với ký hiệu 13 ngôi sao đỏ trên mũi, biểu hiện cho việc đã bắn hạ 13 máy bay của đối phương.

        Các phi công Mỹ cho rằng những chiếc máy bay đó do một phi công của Không quân Nhân dân Việt Nam điều khiển. Trong những lần bắt được tín hiệu liên lạc trao đổi giữa mặt đất hoặc giữa các phi công với nhau, họ thường xuyên nghe thấy từ "Toon" hoặc "Tomb" thường xuyên được lặp đi lặp lại. Họ cho rằng đấy là tên của người phi công huyền thoại. Từ đó huyền thoại về người phi công siêu cấp có biệt danh là "Toon" ra đời.

        Sự ám ảnh của các phi công Mỹ đối với "Toon" suốt từ năm 1967 đến 1972. Trong những cuộc trao đổi với nhau, họ liên tục thêm thắt vào cái tên huyền thoại này. "Toon" được "phong" cấp bậc "Đại tá", thậm chí gán cho cái họ "Nguyễn" rất đặc thù Việt Nam. Một số tài liệu còn ghi rõ tên Việt của ông là "Nguyễn Tuân". Những lời đồn đại này đã ảnh hưởng không ít đến tâm lý của các phi công Mỹ, dẫn đến việc vội vã ném bom khi chưa đến mục tiêu, hoặc lảng tránh không chiến khi thấy MiG xuất hiện.

        Mãi đến ngày 10 tháng 5 năm 1972, chiếc MiG-17 mang số hiệu 3020 đã bị chiếc F-4 Phantom II của Hải quân Hoa Kỳ do Đại úy Randy "Duke" Cunningham (phi công) và Trung úy William "Irish" Driscoll (hoa tiêu) bắn hạ. Từ đó, huyền thoại về "Đại tá Toon " trong các phi công Hải quằn Mỹ mới kết thúc.

        Một số người cho rằng đây là phi công Đinh Tôn hoặc Phạm Tuần, là những phi công có tên gọi gần âm với "Toon". Tuy nhiên, đây lại là những phi công được huấn luyện chuyên cho tập kích B-52 chứ không thiên về không chiến, do đó số máy bay bắn hạ được của họ cũng chưa đủ để xếp vào nhóm "Át".

        Thông thường, các phi công Mỹ chỉ điều khiển riêng một máy bay, trừ trường hợp máy bay bị bắn hạ hoặc bị hỏng thì họ mới chuyển sang điều khiển máy bay khác. Ngược lại, do số lượng máy bay rất ít, các phi công Việt Nam thường thay phiên nhau sử dụng chung máy bay để chiến đấu. Hầu hết các máy bay có số lần bắn hạ đối phương cao đều là chiến công của nhiều phi công khác nhau điều khiển nó. Điều này dẫn đến sự ngộ nhận của phi công Hải quân Mỹ để hình thành nên "Đại tá Toon".

        Số lượng phi cồng đạt danh hiệu "Át" Việt Nam cao hơn Mỹ Theo một số nhà nghiên cứu, cái tên "Toon" hoặc "Tomb" không hắn là một cái tên Việt Nam. Họ cho rằng đấy có thể chỉ là một tín hiệu nhiễu vô tuyến thường xuyên xuất hiện, do được lặp đi lặp lại nhiều lần nên các phi công Mỹ bị nhầm lẫn đấy là tên của người phi công. Trên thực tế, trong trao đổi liên lạc giữa mặt đất và các phi công Việt Nam không bao giờ sử dụng tên thật mà chỉ sử dụng các bí danh để chỉ phi đội hoặc các vị trí máy bay.

        Mãi sau chiến tranh, một số thông tin được phía Việt Nam công bố. Theo đó, chiếc máy bay MiG-17F mang số hiệu 3020, là thuộc trung đoàn 923 Yên Thế. Chiếc máy bay này có màu sơn xanh loang lổ, được các phi công Mỹ thường gọi là Green Snake theo màu sơn của những chiếc máy bay cùng loại. Chiếc máy bay này được nhiều phi công đã thay phiên nhau điều khiển nó và họ đã bắn hạ ít nhất 8 máy bay đối phương bằng chính chiếc máy bay này. Hai trong số các phị công đó được xác định là Nguyễn Văn Bảy (có biệt danh là Bảy A) và Lê Hải. cả hai đều là phi công xếp hạng "Át": Nguyễn văn Bảy được xác nhận bắn hạ 7 máy bay đổi phương, Lê Hải bắn hạ 6. cả hai người về sau đều được phong Anh hùng, đều còn sống đến sau chiến tranh và đều được phong cấp Đại tá. còn người phi công đã bị Randy "Duke" Cunningham và William "Irish" Driscoll bắn hạ thì không có thông tin nào được công bố.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2016, 09:03:29 AM
        Riêng về chiếc MiG-21PF mang số hiệu 4326, hiện được trưng bài tại Bảo tàng Phòng Không - Không quân, sân bay Bạch Mai, Hà Nội, từng thuộc trung đoàn 921 Sao Đỏ. Chiếc máy bay này cũng được xác nhận là do nhiều phi công luân phiên sử dụng và đã từng hạ được 13 máy bay đối phương. Về sau, trong đó có phi công tùng điều khiển máy bay nay được phong Anh hùng, trong đó có cả có phi công Nguyễn văn Cốc được xác nhận là bắn hạ 9 chiếc đối phương (Mỹ thừa nhận 7), cao nhất Không quân Việt Nam.

        Tuy nhiên, kỷ lục của Không quân Nhân dân Việt Nam lại thuộc về chiếc MiG-21 PF số hiệu 4324 thuộc đoàn 921, được sử dụng bởi 12 phi công khác nhau, từng cất cánh chiến đấu 69 lần, tiếp chiến 22 lần, khai hỏa 25 quả tên lửa đối không, bắn hạ 14 máy bay Mỹ trong khoảng thời gian tháng 11/1967 đến tháng 5/1968. Đầy là chiếc máy bay "may mắn " vì không chỉ có số lượng máy bay do nó bắn hạ cao nhất (14 chiếc) mà 3/4 phi công điều khiển đều từng bắn hạ đối phương. Trong số 12 phi công đã từng điều khiển máy bay này, có 9 người đã bắn hạ máy bay đối phương, 8 phi công đạt đẳng cấp "Át", 7 người được tuyên dương anh hùng, 5 người trở thành tướng lĩnh. Hiện nay máy bay này đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam ở Hà Nội.

        Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, một số cựu phi công Mỹ sang thăm Việt Nam để tìm hiểu và đã xác nhận "Đại tá Toon"chỉ là một nhân vật tưởng tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý của các phi công Mỹ, "Đại tá Toon" là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam.

        Nếu so sánh tương quan lực lượng giữa Không quân Nhắn dân Việt Nam và Không quân Mỹ là quá khập khiễng cả về trang bị, số lượng, kinh nghiệm trận mạc. Tuy nhiên, điều đáng nói là lực lượng không quân non trẻ với những phi công chỉ có vài trăm giờ bay ít ỏi lại giành được những chiến công hiển hách trước Không quân Mỹ. có đến 16 phi công Việt Nam được công nhận danh hiệu "Át" (các phi công có số lần bắn rơi máy bay đối phương từ con số 5 trở lên), trong đó có 13 phi công lái MiG-21 và 3 phi công lái MiG-17. Trái lại, lượng phi công Mỹ đạt danh hiệu "Át" chỉ có 2 người.

        Vậy thì tại sao các phi công Việt Nam lại ghi được nhiều bàn thắng hơn các phi công Mỹ? có lẽ lý do đầu tiên là số lượng. Trong năm 1965, Không quân Việt Nam chỉ có 36 chiếc MiG-17 với một số lượng tương đương phi công, thì đến 1968 họ đã có tới 180 chiếc MiG và 72 phi công, sáu "'tiểu đội" phi công dũng cảm này phải đối mặt với 200 chiếc F-4 của các phi đoàn 8, 35 và 366; khoảng 140 chiếc Thần sấm F-105 của các phi đoàn 355 và 388 của Không lực Hoa Kỳ và khoảng 100 chiếc của Hải quân Hoa Kỳ (F-8, A-4 và F-4) từ tàu sân bay trực chiến trong Vịnh Bắc Bộ, kiêm cả các nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động không kích (EB-6B - gây nhiễu; trực thăng HH-53 - cứu phi công nhảy dù; "Skyraider" yểm hộ hai loại trên).

        Như vậy, phi công Việt Nam rõ ràng là "bận rộn" hơn đối thủ, và đồng thời họ dễ dàng tìm được mục tiêu để diệt hơn, và quan trọng là họ chiến đấu với tinh thần "chiến đấu đến khi hy sinh". Họ không cần phải về nhà, vì đây đã là nhà của họ rồi - Tổ quốc. Phi công Mỹ cứ sau 100 chuyến xuất kích lại được về thăm nhà, ngoài ra còn được về để huấn luyện, để nhận lệnh hoặc trăm thứ việc linh tinh khác. Khi quay lại, không phải ai cũng sẵn sàng chiến đấu.

        Từ khi Mỹ bắt đầu chương trình phát triển tên lửa không đối không tầm trung AIM-7 Sparrow và tên lửa không đối không tầm ngắn đầu tự dẫn hồng ngoại AIM-9 Sidewinder vào đầu những năm I960, các nhà thiết kế Mỹ đã. vội vàng cho rằng, các cuộc không chiến tầm gần (dogfight) sẽ lùi vào dĩ vãng. Ở đó, tên lửa tầm xa chính là vũ khí sẽ kết liễu đối phương mà không cần đến các cuộc không chiến ở cự ly gần. Các máy bay chiến đấu được thiết kế giai đoạn đầu nhữhg năm 1960 như F-4 Phantom, F-105 Thunderchief không hề được trang bị pháo. Tuy nhiên, đây chính là sai lầm chết người mà Mỹ phải trả giá đắt tại chiến trường Việt Nam. Những chiếc máy bay cường kích F-105, dù có tốc độ siêu âm nhưng vẫn trở thành miếng mồi ngon cho các tiêm kích nhanh nhẹn của Không quân Việt Nam như MiG-17 và MiG-21.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2016, 05:38:25 AM
       
        Từ một Tù binh Phi công đến ngài Đại sứ Mỹ và chàng rể Việt


        Theo tác giả Trí Đường (Tiền Phong): "ông Pi-tơ"là câu mà các chủ quán phở Hà Nội thường gọi khi ngài Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam sau chiến tranh đến xì xụp ăn như những khách hàng bình thường.

        Nay Peter Peterson đã là cựu Đại sứ rồi, nhưng thật lạ, ông vẫn là một trong những người Mỹ nổi tiếng nhất tại Việt Nam.

        Luôn cởi mở và thân thiện, nhưng phía sau nụ cười là câu chuyện cuộc đời từng có nhiều mất mát. Từ một chiến binh trên chiến trường Việt Nam, về Mỹ trở thành thương gia, chính trị gia, nhà ngoại giao, hiện là Chủ tịch Ban Giám đốc Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt, đồng sáng lập và là Chủ tịch tổ chức cứu trợ trẻ em TASC...

        Trở về Mỹ năm 1973 sau những năm lái máy bay ném bom và rồi bị bắt giam ở Việt Nam, Peter đã mất nhiều thời gian để lấy lại cân bằng và cố quên đi hình ảnh chiến tranh.

        Năm 1981, Peter về hub với cấp hàm Đại tá sau 26 năm phục vụ trong lực lượng không quân Mỹ. Ở tuổi 44, Peter bắt đầu thử sức trong lĩnh vực kinh doanh với việc thành lập công ty xây dựng ở Tampa (Florida).

        Không còn chiến tranh, không ở trong quân đội, Peter tưởng như đã thoát khỏi những ám ảnh quá khứ mà không ngờ rằng quãng đời đau khổ nhất đang chờ mình ở phía trước.

        Peter tâm sự, cuộc sõng như tối sầm lại khi con trai ông, Dougie, qua đời trong một vụ tai nạn ô tô năm 1984. Chưa hết, bà Carlotta, vợ ông lại mắc bệnh ung thư vú. vừa phải chịu đựng nỗi đau mất con, vừa cùng vợ vật lộn chống lại bệnh tật, Peter không còn tâm trí nào cho việc kinh doanh.
Năm 1990, Peter quyết định tranh cử vào Hạ viện Mỹ, đánh bại chính Nghị sĩ đương nhiệm và phục vụ tại Hạ viện Mỹ trong 3 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1990 -1996.

        Lần đầu tiên Peter trở lại Việt Nam vào năm 1991 với tư cách là thành viên của Quốc hội Mỹ tới khảo sát chương trình tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh.

        Ngay lần trở lại này, mảnh đất và con người Việt Nam dường như đã trở thành cơ duyên đối với Peter, ông nhớ mãi hình ảnh những đường phố vắng bóng ô tô, xe máy, nhưng tràn ngập xe đạp và chỉ có một ít cửa hàng bán thức ăn, ấn tượng nhất là món phở.

        Hình ảnh lam lũ của người bán hàng rong đẩy xe kẽo kẹt trên đường phố, khuôn mặt ngây thơ của trẻ đánh giày và sự cực nhọc của những bác thợ sửa xe trong góc phố... có sức hút kỳ lạ với cựu binh Peter.

        Ấn tượng đầu tiên của ông trong lần trở lại này là sự nghèo nàn và lạc hậu. Chính Peter cũng không giải thích được vì sao nhưng có lẽ chính điều này đã đưa ông tiếp tục trở lại, thôi thúc ông phải làm gì đó cho mảnh đất mà mình từng giội bom.

        Năm 1993, Peter trở lại Việt Nam và không thể ngờ trước những thay đổi nhanh chóng nhờ vào công cuộc đổi mới. Xe máy đang thay thế xe đạp trên đường phổ, lao động xuất khẩu mang ngoại tệ về cho Việt Nam và đầu tư nước ngoài gia tăng. Chính bà Carlotta, vợ ông, cũng muốn mở 1 ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam...

        Đây cũng là thời điểm bệnh tật của vợ ồng trở nên tồi tệ hơn. Hàng tuần phải đi lại như con thoi từ Quốc hội Mỹ ở Washington về Florida chăm sóc vợ, Peter đã trở thành nhà nội trợ thực thụ. Bà Carlotta qua đời năm 1995.

        Với nỗi đau nặng trĩu trong lòng, Peter đã nghĩ tới chuyện giã từ tất cả và việc đầu tiên là ông tuyên bõ không ra tranh cử nhiệm kỳ 4 trong Quốc hội Mỹ.

        Cuối năm 1994, một sổ đồng nghiệp tại Quốc hội Mỹ đã bắt đầu đề nghị Peter ghi tên vào danh sách ứng cử viên cho vị trí Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam sau chiến tranh.

        Phản ứng đầu tiên của Peter đối với yêu cầu của các nghị sĩ là ông thấy mình không thích hợp với vị trí quan trọng đó vì những gì đã diễn ra trong quá khứ.

        Ông tâm sự:"Quả thực tôi hơi lo ngại rằng giới lãnh đạo và người dân Việt Nam sẽ xem tôi là cựu binh nhiều hơn là một Đại sứ. Điều này có thể tạo ra nhiều sự hiểu lầm đáng tiếc và làm giảm hiệu quả công việc của tôi".
Các nghị sĩ và quan chức cấp cao Nhà Trắng tiếp tục thuyết phục Peter rằng cần nhìn mọi việc theo hướng tích cực và nên chấp nhận vị trí quan trọng này.

        Peter hồi tưởng: "Đó là một quyết định khó khăn, nhưng cuối cùng tôi đã xác định sẽ trở lại Việt Nam với tư cách là Đại sứ. Đây cũng sẽ là một cơ hội lớn trong cuộc đời tôi để nỗ lực hết mình cho việc hàn gắn những vết thương chiến tranh giữa hai nước".

        Một ngày vào tháng 12 năm 1995, ngay sau khi thông báo không tái tranh cử vào Quốc hội, Peter nhận được điện thoại từ Văn phòng Tổng thống Bill Clinton thông báo ông đã được lựa chọn làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2016, 02:30:29 AM
        Tháng 3 năm 1996, Peter được Tổng thống Bill Clinton chính thức đề cử, nhưng lại gặp trở ngại tại Quốc hội. Một số nghị sĩ phản đối, nhưng không phải nhằm vào Peter mà là việc liệu đã đến lúc thiết lập lại quan hệ ngoại giao với Việt Nam hay chưa.

        Phải một năm sau, vào tháng 4 năm 1997, thế bế tắc này mới được khai thông khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua để Peter trở thành Đại sứ tại Việt Nam.

        Ngày nay, dù đã kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ từ năm 2001, nhưng Peter vẫn là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, chuyên gia về công cuộc đổi mới của Việt Nam.

        Đến Hà Nội ngày 9 tháng 5 năm 1997, Đại sứ Peter sống trong căn hộ ở phố Yết Kiêu. Ông không thể quên được ngôi nhà đầu tiên này vì nó... không có cửa sổ. Tòa Đại sứ Mỹ hồi đó cũng chưa được hiện đại và khang trang như ngày nay...

        Tuy nhiên, Peter nói rằng tất cả không quan trọng bằng việc người dân sống xung quanh luôn thân thiện cởi mở với "ông Pi Tơ" mà chẳng ai ngờ ông đang là Đại sứ Mỹ.

        Những người Việt Nam mà Peter tiếp xúc trong lúc làm việc cũng rất gần gũi. Peter tâm sự, chính những điều tưởng như đơn giản trên là động lực để ông làm tốt công việc của một "thợ hàn" đặc biệt

        Bốn năm ở Tòa Đại sứ Mỹ, nhiều người dân Hà Nội đã quen với hình ảnh ông "Pi tơ" đội mũ bảo hiểm, đạp xe kính coong trên đường phổ, sà vào quán phở hoặc hàng cà phê, trò chuyện... mỏi tay (vì bất đồng ngôn ngữ) với bất kỳ người nào mà ông gặp.
Peter cho biết, điều đầu tiên ông muốn làm khi tới Hà Nội không phải là những chuyện lớn lao như người ta vẫn nghĩ. Ông nói: " Tôi chỉ muốn đi bộ trên các đường phố để gặp gỡ, trò chuyện với những người dân mà tôi chưa có cơ hội tiếp xúc trong những lần trở lại Việt Nam trước đây".

        Thấy nhiều người Hà Nội đi xe máy, Peter cũng tậu cho mình 1 chiếc Dream II, rồi đi đăng ký lưu hành và thi giấy phép lái xe. Có xe máy, Peter rong ruổi nhiều hơn, nhưng ông khắng định với tôi rẳng chưa từng bị va quệt vì đi nhiều nên "tay lái lụa".

        Thật lạ, nỗi đau vì con trai và vợ qua đời đã dần được khỏa lấp bởi những điều rất đơn giản kể trên. Mỗi lần gặp, tôi luôn gặng hỏi về những khó khăn tại Việt Nam trong nỗ lực hàn gắn quan hệ Việt - Mỹ, nhưng Peter luôn khẳng định rằng ông không cảm thấy bất kỳ khó khăn nào.

        Ngay cả việc phải thường xuyên trở lại tòa nhà Quốc hội để tranh luận với các đồng nghiệp cũ về cách đối xử chưa công bằng với Việt Nam, Peter cũng không xem đó là khó khăn. Peter tâm sự: "Những ngày làm Đại sứ tại Hà Nội là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi".

        Peter chỉ tiếc là trong 5 năm qua dù vẫn giữ liên lạc với nhau nhưng ít có cơ hội gặp lại ông bạn già tốt bụng Nguyễn văn Chộp, người đã bắt ông làm tù binh khi máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam năm 1966.

        Ông còn tiếc là chưa làm đuợc nhiều hơn nữa cho đất nước này, đặc biệt là trẻ em. Có lẽ cũng vì thế ngay sau khi rời ghế Đại sứ tại Việt Nam Peter cùng bà vợ người Việt Nam đã thành lập tổ chức TASC chuyên cứu trợ trẻ em quốc tế và ngày càng mở rộng hoạt động tại Việt Nam.

        Peter tâm sự, điều quan trọng, hạnh phúc nhất với riêng ông chính là người vợ Việt Nam. Bà Vi Le sinh năm 1956 tại sài Gòn, nhưng chỉ một năm sau gia đình bà rời Việt Nam. Qua nhiều nước châu Á tới năm 1977, gia đình Vi Le định cư tại Australia.

        Khi tôi hỏi ai là người quan trọng nhất trong những ngày đầu ở Hà Nội, Peter nhắc ngay đến vợ mình, bà Vi Le, lúc đó là Cao ủy Thương mại Australia tại Việt Nam. Gặp nhau trong một sự kiện ngoại giao sau vài ngày làm Đại sứ ở Hà Nội, họ đã sớm trở thành bạn tâm giao.

        Ông thường đèo bà trên chiếc Dream II mới tậu phóng vi vu trên phố phường Hà Nội và là khách thường xuyên của các quán phở. Giáng sinh 1997, ông bà đính hôn và lễ cưới diễn ra ngày 23 tháng 5 năm 1998.

        Đến Hà Nội không phải để tìm kiếm một câu chuyện tình lãng mạn, nhưng quả thực người vợ Việt Nam xinh đẹp đang mang tới niềm hạnh phúc cho phần đời còn lại của ông sau những bất hạnh.

        Hiện hai ông bà đang dồn hết tâm trí cho tổ chức TASC có trụ sở chính đóng tại Bangkok (Thái Lan) và đi lại như con thoi giữa Việt Nam, Australia, Mỹ và Thái Lan...

        Không có con, nhưng ông bà lấy niềm vui từ những công việc từ thiện dành cho trẻ em và tiếp tục hướng về Việt Nam. Peter nói: "Chúng tôi thực sự không thể thiếu nhau từ lần đầu tiên gặp gỡ tại Hà Nội cách đây 9 năm".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2016, 02:20:48 AM
       
        Một tù binh Phi công Mỹ tìm lại được đôi giày kỷ vật chiến tranh sau 40 năm


        Theo tác giả Bá Kiên - Trần Đương: Kể từ ngày những tù binh tại trại giam Hỏa Lò (Hà Nội) được Việt Nam trao trả cho phía Mỹ tại sân bay Gia Lâm (12 tháng 2 năm 1973), cựu tù binh - Phi công Halyborton Porter Alex đã nhiều lần trở lại Việt Nam.

        Người ta bảo, Halyborton đến Việt Nam như là một sự sám hối. Còn Halyborton tâm sự: "Đó mới chỉ là một nửa, tôi muốn tìm lại một kỷ vật của thời chiến...Đó là câu chuyện 250 giờ bay và 8 năm tù ở Hoả Lò...

        Mỗi lần trở lại Việt Nam, điểm đầu tiên mà Halyborton ghé thăm là Bảo tàng lịch sử Quân sự ở đường Điện Biên Phủ (Hà Nội). Viên Phi công cứ lặng lẽ đến, nhìn ngó từng hiện vật chiến tranh, như thể tìm kiếm một cái gì đó... rồi lại lặng lẽ đi. Không ai biết anh là ai, cũng chẳng ai để ý đến anh. Bởi mỗi ngày, những người cựu binh Mỹ như Halyborton đến đây có vô khối...

        Ngày 10 tháng 3 năm 2005, cựu binh Halyborton lại trở lại Bảo tàng, lần này ông đi cùng vợ và cả một số người bạn Mỹ. Ông tự tách đoàn, lang thang nhìn ngắm hiện vật một mình. Halyborton dừhg lại khá lâu bên chiếc tủ kính, được đặt dưới chân chiếc xe tăng T-54 mang số hiệu 843, nơi trưng bày khá nhiều hiện vật về Phi công Mỹ bị bắn rơi, bị bắt sống ở miền Bắc Việt Nam từ 1964-1972.

        Chợt ông sửng sốt, reo lên "My shoes! My shoes...!"(Giày của tôi! Giày của tôi!). Halyborton mừng quýnh lên, ông nhìn ngó và nhận ra phía trong đôi giày vẫn còn chữ "Haly" do chính tay ông viết. Ông kéo vợ đến xem, cả hai chụm đầu ngó vào tủ kính. Ông chỉ cho vợ xem nét chữ của chính mình trên cố giày còn rất rõ.

        Cách đây 40 năm, khi đó, Hatyborton là Phi công lái máy bay chiến đấu của Hạm đội 7. Ông tự tay viết tên mình vào cổ giày là để đánh dấu cho khỏi lẫn với giày của các Phi công khác. Ông tâm sự: "Tôi đã nhiều lần đến thăm bảo tàng này, ngắm đi ngắm lại những nơi bày mảnh xác máy bay, trang bị Phi công mà không tìm được một vật nào của mình, vậy mà lần này thật tình cờ, may mắn...Niềm vui bất ngờ của cựu binh Mỹ khiến cho cả đoàn khách Mỹ xúm xít tại bên tủ kính ngắm nghía đôi giày, họ ồ lên cười sung sướng vì ngạc nhiên.

        Thấy chuyện lạ, người hướng dẫn khách mời Thiếu tướng Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng đến tiếp đoàn. Gặp vị tướng giám đốc, Halyborton khẩn khoản: "Xin phép ngài, ngài có thể cho mở tủ kính trưng bày, cho tôi được cầm trên tay đôi giày của mình không ạ?". Mở tủ kính, cựu binh Halyborton mân mê đôi giày... Hồi ức của 40 năm về trước bỗng tràn về...

        Halyborton kể: Năm 1964 viện cớ "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" Tổng thõng Mỹ quyết định mở cuộc hành quân "Mũi tên xuyên". Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ chính thức ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam. Lúc đó, Halyborton vừa tròn 23 tuổi, là một trong những Phi công trẻ nhất từ Mỹ được đưa đến Hạm đội 7.

        Thời kỳ đó, lưới lửa phòng không của miền Bắc Việt Nam ngày càng phát triển và vươn rộng ra các tỉnh, gây nhiều thiệt hại nặng cho hải quân Mỹ ở vùng Đông Bắc và chặn đường ra vào của không quân Mỹ từ Thái Lan sang. McNamara chủ trương mở những cuộc "trả đũa huỷ diệt ngay tức khắc các bệ phóng". Không ngờ, chẳng những không cứu vãn được tình thế, không quân Mỹ bị đánh thiệt hại nặng ngay từ trận tập kích đầu tiên vào Suối Hai (Hà Tây, ngày 27 tháng 7).

        Chỉ huy của Halyborton cay cú bèn hạ lệnh đánh luôn trận thứ hai ở Phú Thọ (ngày 9 tháng 8 ). Một lần nữa quân Mỹ lại thất bại thảm hại. Thấy không quân bị thua đau hai trận nền, viên Tư lệnh sư đoàn Không quân số 2 yêu cầu hải quân đánh tiếp trận thứ ba ở vùng Ỷ Na - Xích Thổ (ngày 13 tháng 8 ). Trận này, có sự tham gia của lực lượng xung kích 77 (Hạm đội 7), nhưng tiếp tục bị lực lượng phòng không của ta đánh thiệt hại nặng, buộc Tổng tham mưu trưởng Không quân Mỹ ra lệnh đình chỉ ngay tức khắc việc đánh "'trả đũa quá đắt đỏ".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2016, 04:53:31 AM
        Trung tuần tháng 10, sau hai tháng nghiên cứu, Lầu Năm Góc hạ lệnh cho không quân, hải quân Mỹ tiếp tục mở "chiến dịch tiến công chớp nhoáng, diệt các trận địa tên lửa phòng không". Sớm ngày 17 tháng 10 năm 1965, chiếc tàu sắn bay USS Independence tiến dần về phía bắc, sỹ quan, nhân viên kỹ thuật cũng như Phi công làm việc hết sức khẩn trương, bận rộn chuẩn bị cho một "phi vụ đặc biệt" trên vùng trời miền Bắc Việt Nam.

        Khoảng 8 giờ sáng, một chiếc máy bay trực thăng có bốn máy bay phản lực bảo vệ, hạ cánh xuống hạm Independence. Đô đốc Grant Sharp Tư lệnh quân Mỹ ở Thái Bình Dương ngày hôm trước đang kinh lý tại Sài Gòn được Bộ tư lệnh sư đoàn Không quân số 2 cho biết một chiếc máy bay không người lái điều khiển bằng điện tử đã chụp được ảnh một vị trí tên lửa đất đối không tại vùng Chũ- Bắc Giang của Bắc Việt, bèn vội đến đây. Grant Sharp ra lệnh mở ngay một đợt tiến công với hai mục đích: cắt đứt đường tiếp vận từ bên ngoài vào miền Bắc Việt Nam; thí điểm cách đánh mới bay thấp, dùng tốp nhỏ, đánh nhanh, rút nhanh, huỷ diệt những bệ phóng tên lửa, trừ mối hiểm hoạ cho các Phi công Mỹ khi bay vào đánh phá miền Bắc.

        Nhưng ngày 17 tháng 10 năm 1965 là ngày đen tối của Hạm đội 7, có rất nhiều máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Bắc Việt Nam. " Tôi lái chiếc F-4 từ hướng Bắc bay thẳng vào vùng Kép - Lạng sơn, chưa kịp tiếp cận mục tiêu, Phi công chúng tôi đã vấp phải lưới lửa phòng không tầng thấp, tầng cao dày đặc. Chúng tôi vừa phải tìm đường tránh tên lửa vừa phải tính kế tiếp cận mục tiêu. Nhưng không kịp, một quả tên lửa đã lao trúng vào máy bay của chúng tôi. Máy bay bốc cháy dữ dội, tôi kịp bấm dù còn Thiếu tá Olmstead Stanley E cùng bay với tôi đã không kịp...", Halyborton nhớ lại.

        Từ Mỹ sang Việt Nam tham chiến, Halyborton thực hiện được 250 giờ bay, rồi trở thành tù binh chiến tranh của Việt Nam. Một tốp dân quân địa phương đã bắt được ông, sau đó viên Phi công Mỹ được đưa về lưu trú ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội). Tại đây, Halyborton gặp lại những Phi công của hạm đội 7, họ cũng bị bắt cùng ngày với ông như các Trung uý Gaither, Ralph Ellis, Knutson, Rodney Alien, Weeat, David Robert... Kể từ dó, Halyborton sống cùng những Phi công khác Ở Hoả Lò khoảng gần 8 năm. Cho đến ngày 12 tháng 2 năm 1973, họ được Chính phủ Việt Nam trao trả cho phía Mỹ tại sân bay Gia Lâm. "Chúng tôi trở về Mỹ bằng bộ quần áo blu dông, trên tay xách chiếc xắc » du lịch đựng đồ tư trang do Chính phủ Việt Nam trang bị. Rất nhiều Phi công trong số chúng tôi mang theo chiếc điếu hút thuốc lào, quạt nan sử dụng khi sống ở Hoả Lò - Hà Nội làm kỷ niệm", Halyborton nói. về Mỹ, ông nghỉ hưu với quân hàm Trung tá.

        Vợ ông, bà Martna Halyborton suốt từ khi nhìn thấy đôi giày của chồng cứ tủm tỉm cười. Bà bảo " Tôi không biẽt nhiều về cuộc chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Nhưng chính chồng tôi đã khiến tôi gắn bó với người dân Việt Nam". Từ năm 2004, Martna đã sang Việt Nam dạy ở trường trẻ mồ côi Hoa Sữa 2 tháng. Bà từng đến Bắc Hà (Lào Cai) để mua lợn tặng cho các gia đình nghèo ở đây. Bà cũng đã đi thăm trại trẻ mồ côi ở Hội An, làng Hy Vọng ở Đà Nẵng, tặng tiền học bổng cho học sinh nghèo ở Huế. "Ấn tượng lớn nhất về cuộc chiến của người Mỹ tại Việt Nam chính là những đứa trẻ Việt Nam bị ảnh hưởng của chất độc da cam mà tôi từng gặp. Chiến tranh thật là độc ác..." - Bà tâm sự.

        Rút chiếc khăn tay chấm những giọt nuớc mắt lăn trên gò má của Martna, Halyborton rầu rầu nói: "Tôi đến Việt Nam lần này cũng có thể là lần cuối cùng..." - Hỏi vì sao? "Tôi đang mắc một chútig bệnh hiểm nghèo...! Đối với tôi lần này thật là một kỷ niệm khó quên. Đến đây, tôi được tham quan bảo tàng, được xem những hiện vật của cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cám ơn bảo tàng đã cho phép tôi và vợ tôi, các bạn của tôi được xem đôi giày bay trưng bày ở dưới chân chiếc xe tăng T-54. Tôi rất vui được gặp Tướng Lê Mã Lương, được ông Giám đốc và cán bộ bảo tàng tiếp tôi với thái độ cởi mở, thân thiện..."


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2016, 12:39:06 PM
 
        "Chúng tôi rất hiểu ông John McCain"


        Như phần trước chúng tôi đã trình bày: John McCain, viên Phi công bị ta bắn rơi và vớt lên từ hồ Trúc Bạch (Hà Nội), sau này đã trở thành Thượng nghị sĩ Mỹ. Đặc biệt, là năm 2008, khi ông với tư cách là ứhg cử viên Tổng thống Mỹ, cùng tranh cử với Barack Obama (Tổng thống Mỹ đương nhiệm), thì chuyện ông ta tùng bị giam ở Hoả Lò đã được các hãng thông tấn Mỹ và nhiều nước khác quan tâm đặc biệt và khai thác thông tin triệt để.

        Nhà báo Aldo Cazzullo, phóng viên của tờ nhật báo II Corriere della Sera bán chạy và có ảnh hưởng lớn nhất đối với dư luận Italia, đã cho đầng bài viết về người đầ canh giữ John McCain ở nhà tù Hỏa Lò trong chiến tranh Việt Nam, với tựa đề khá giật gân: "Tôi, người giam giữ McCain và 5 năm điều tra xét hỏi", với tít dẫn phía dưới "Người sĩ quan Việt Nam đã có cơ hội được gần gũi với "người tù cao cấp" lên tiếng: "Chúng tồi không hề tra tấn ông ta".

        Xin được trích giới thiệu nội dung chính của bài viết, theo cách nhìn tương đối trung thực và khách quan của một tác giả phương Tây:

        ...Người Phi công ấy là McCain và người chịu trách nhiệm canh giữ ông là ông Trần, năm nay 75 tuổi, nghĩa là hơn ông McCain 3 tuổi. Ông Trần sống chỉ cách Hỏa Lò 200 mét, nơi người Mỹ gọi một cách hài hước là Hilton Hanoi, thực chất đó chỉ là một nhà tù. Ngôi nhà của ông ở tầng 1, với cầu thang tối om, toi let lại nằm ở trên ban công nhỏ hẹp. Đó là một căn hộ với sàn bằng gỗ, và trên chiếc tivi màu có một cái tháp Eiffel bằng nhựa, mà chiếc titi ãy là đồ vật duy nhất trong nhà có tuổi đời dưới 40 năm. và đây là lần đầu tiên ông kể câu chuyện này.

        "Tôi tên là Nguyễn Tiến Trần, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1933. Tôi phục vụ cho quân đội Việt Nam trong 40 năm. Ngày 26 tháng 10 năm 1967, tôi được lệnh tiếp nhận Đại úy không quân của hải quân Mỹ John Sidney McCain, vừa bị bắt từ hồ Trúc Bạch, cách đó 1 cây số về phía bắc. Tôi chưa tùìig thấy một người tù nào rách rưới và xơ xác như thế. cánh tay bị thương rớm máu, đầu gối xiêu vẹo. Chúng tôi mang đồ cho anh ta, anh ta ăn nhưng sau đó nôn mửa ra khắp nơi. Buổi sáng hôm sau, chúng tôi đưa anh ta đến Bệnh viện 108, nơi anh ta được mổ và nẵm đó một tháng.

        Tôi luôn theo anh ta từng bước, tôi không về nhà vào ban đêm và thậm chí ngủ cùng buồng với anh ta vì sợ rằng, một bác sĩ hoặc y tá nào đó sẽ vô tình làm hại anh ta. Chúng tôi không muốn anh ta chết. Chúng tôi biết anh ta là con và cháu của 2 đô đốc nổi tiếng trong quân đội Mỹ. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về trường hợp của anh ta. Tôi cần phải ở bên anh ta để khi nào có thể thì hỏi cung anh ta. Tôi phải làm việc đó suốt 5 năm rưỡi"...

        McCain viết trong tự truyện của mình là ông ta bị bỏ đói trong suốt 4 ngày, rằng người Việt Nam muốn biết ông ta bay loại máy bay nào, các phi vụ trong tương lai là gì và sẽ thực hiện các hoạt động tấn công theo kiểu gì. Chúng tôi mang đến cho Nguyễn Tiến Trần cuốn tự truyện với tựa đề "Faith of My Fathers". Ông để ý ngay rẳng "ở đây ông ta chỉ kí là John, nhưng có lần đã khăng khăng khẳng định rẵng "Tôi là John Sidney McCain".

        Ông Trần bỏ ra một nửa ngày để đọc cuốn sách này và sau đó trả lời chúng tôi. "Không phải như thế. Chúng tôi chưa bao giờ tra tấn ông ta. Ngược lại, chúng tôi đã cứu sống ông ta, chữa trị cho ông ta bằng các loại thuốc quý hiếm mà chúng tôi cũng không có để chữa các vết thương cho mình. Loại máy bay mà ông ta lái và bị chúng tôi bắn rơi, mục tiêu của ông ta cũng như tên ông ta đã được ghi rất rõ trên một tấm biển nhận diện ông ta luôn mang theo. Nếu chúng tôi không chữa trị cho ông ta, hắn là ông đã chết, Sự thật là ông ta không định tự tử, bởi ông ta không có vẻ muốn thẽ, mà vẫn nhận đồ ăn, đòi được uống thuốc. Điều đó có nghĩa là ông ta có muốn sống.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Một, 2016, 05:04:49 AM
        Sự thật là Đại tướng Võ Nguyên Giáp không đến thăm ông ta. Với chúng tôi, Võ Nguyên Giáp là một huyền thoại, người chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Nếu ông ấy đến, thì tôi phải nhớ chứ.

        McCain biết rằng chúng tôi không quá ngu ngốc và không biết kể chuyện đùa: những người thẩm vấn ông ta rất nghiêm túc, ông ta cũng thế. Những gì chúng tôi muốn nói với ông ta là cuộc chiến tranh của Mỹ là sai lầm và tội ác. Cuối cùng thì ông ta cũng đã kí vào những lời khai, ông ta cũng đưa ra các điều kiện của mình và chúng tôi chấp nhận. Trong các cuộc hỏi cung, ông ta chưa bao giờ tỏ ra quanh co. Ông ta có nói rằng, cuộc chiến mà ông ta thực hiện từ trên trời là sạch sẽ. Từ đầu đến cuối, ông ta cho rằng, cuộc chiến tranh này là chính nghĩa".

        Điều chắc chắn là Việt Nam muốn McCain sống để nhận được những thông tin quý báu từ ông, và ông không chấp nhận điều này. Ngày 4 tháng 7 năm 1968, viên đô đốc bố của McCain đã có mặt bên cạnh Tổng tư lệnh của quân Mỹ ở Việt Nam, Tướng Westmoreland. Con trai của một Đại tướng Đô đốc của quân đội Mỹ, chắc chắn sẽ là một vũ khí tuyên truyền hiệu quả, nhằm gây áp lực cho Chính phủ Mỹ.

        "Tôi nhận ra tình trạng của ông ta khồng đến nỗi quá bi kịch. McCain bị cô lập một thời gian rất dài. Nhưng không phải là lỗi của tôi nếu ông ta tìm cách liên lạc ra bên ngoài bằng cách gõ vào tường như thế này này", Nguyễn Tiến Trần nói và gõ ngón tay xuống tấm ván lót sàn. "Lúc đó, chúng tôi đưa ông ta đến một phòng giam biệt lập. Chúng tôi muốn tránh tất cà những tiếp xúc theo các cách nào đó giữa những người tù, để tránh họ tìm ra một phương thức chung trong cách đối phó với chúng tôi.

        Sau khi ra khỏi bệnh viện, McCain được đưa tới một phòng giam mà các Phi công Mỹ gọi là Plantation (đồn điền). Trong căn phòng có một cái giường nhỏ, một cái giỏ có nắp đậy. Đèn bật 24/24, nhưng không phải đèn neon gây khó chịu. Xà lim này không có cửa sổ và luôn có người gác đứng ngoài".

        McCain nói rằng, mỗi ngày bị muỗi đốt 400 lần. "ở Việt Nam có rất nhiều muỗi. Một ngày tù bắt đầu từ 5 giờ rưỡi sáng và kẻng được gõ lên để báo giờ ăn sáng. Chúng tôi đưa cho mỗi người tù một miếng bánh mì và một ít đường, vào lúc 11 giờ thì ăn trưa, cũng theo tiếng kẻng: một chút xúp bí với chất béo. vào lúc 5 giờ chiều thì có một bát cơm có thịt

        Ban Giám đốc nhà tù ước tính là mỗi bữa cơm cho người tù tốn 1 đồng 60 xu, gấp đôi suất ăn của những người canh gác. Họ nghĩ là người Mỹ có thói quen ăn nhiều. Thời gian đầu, họ không được nhận hoặc gửi bất cứ thư từ nào, không được đọc báo. Không có một tin tức nào được tiếp cận với bên ngoài, cả tin bầu cử của Nixon hoặc việc Mỹ đổ bộ lên Mặt trăng mà chỉ là các tin tức về chiến thắng của chúng tôi, về những máy bay Mỹ khác bị bắn rơi.

        Chúng tôi phát cho họ những cuốn sách của Hồ Chí Minh được dịch ra tiếng Anh cũng như những bài viết phản chiến bằng tiếng Anh. "Tôi nói chuyện với McCain hai lần một tuần vào tất cả các tuần trong tháng, trong một căn phòng đủ rộng, với những cánh cửa đóng kín và tường cách âm. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Anh, thứ tiếng tôi học ở trường đại học.

        Một lần ông ta nói rằng, nhìn những vết thương của mình, ông ta không còn muốn bay nữa, sự nghiệp quân đội của ông thế ià hết và cần phải bắt đầu một cái gì khác. Đấy là sự nghiệp chính trị...

        Tôi đáp lại rằng, tại Mỹ, không phải nhân dân lựa chọn đường lối, mà là các đảng phái. Chúng tôi biết là ông ta không thích Johnson, nhưng cũng không dám chỉ trích Tổng thống của mình. Tôi biết ông có một vợ và 1 con gái nhỏ, nhưng không bao giờ ông ta nói ra. Thỉnh thoảng chúng tôi nói về địa lí nước Mỹ. McCain nói cho tôi biết về Mỹ, tôi nói là tôi có biết một chút về đất nước của ông ta, nói về Florida, về cầu cống vàng, ông không bao giờ nói về phụ nữ và tính cách Việt Nam cũng không cho tôi nói ra điều đó. Nhưng có một lần ông ta nói về những cô gái Brazil, cho rằng đó là những người phụ nữ đẹp nhất thế giới.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Một, 2016, 01:38:01 AM
        Chúng tôi đi cùng với Nguyễn Tiến Trần đến nơi mà trước kia được gọi là "Hilton Hà Nội". Những người bảo vệ ở trại tù, bây giờ là một nhà bảo tàng, chào ông khi đi qua, có người xin chữ kí của ông. "Xà lim giam giữ McCain không còn nữa, cả văn phòng của tôi nữà, vốn ở trên tầng đó. Đây là tấm ảnh của những người bạn ông ta: Bob Craner, Everett Alvarez, người đầu tiên bị bắn rơi ở Việt Nam. Người này là James Kassler, người cựu chiến binh của chiến tranh Triều Tiên. Ông ấy là người rất cứng cỏi".

        Còn McCain thì ít chất nổi loạn hơn, ngoan ngoãn hơn so với những gì mà ông ta đã kể lại. Ông ta không hề chửi chúng tôi như ông ta đã viết, ông ta cư xử tử tế hơn nhiều. Ông ta cũng không hề kêu gào không cho chúng tôi quay phim trong tù nhân dịp Giáng sinh và một lần ông ta còn được đi làm lễ ở nhà thờ Lớn". McCain nhắc lại rằng, vào một dịp Giáng sinh, một người lính gác ông ta giấu trong người mình một cây thánh giá...

        Ông Trần phản bác: "Đấy là điều không thể. Những người lính chúng tôi đều là những người Cộng sản. Họ chiến đấu trong một cuộc chiến để giành lại Tổ quốc của mình. Họ không chỉ quan tâm đến tôn giáo, mà còn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người dân. Trong số các vấn đề nêu ra, chỉ có một điều ông ta đúng: bộ quần áo Phi công đang lưu trong bảo tàng có ghi là của, McCain, thực ra không phải là của ông ta. Nó đã bị hỏng nát và vứt đi từ lâu rồi".

        Những tấm ảnh từ thời ấy thể hiện một buổi chơi bóng chuyền và bóng rổ của các tù nhân, trong bộ quần áo tù. "Chỉ có một phần chúng tôi chơi bóng chuyền, nhưng không chơi bóng rổ và McCain không trong số đó. ông ta cảm thấy không khỏe và cũng không có vóc dáng để chơi môn đó. Áp lực dồn lên vai ông ta ít hơn những người khác, ồng ta nhận được hàng đống thư, dĩ nhiên bị chúng tôi kiểm soát, trong tù ông ta cũng có bàn trải và kem đánh răng, báo Vietnam Courier, được phép tắm 2 lần một tuần, được phép đi dạo ngoài trời 45 phút mỗi sáng, được nghe đài những bài hát cách mạng của chúng tôi cũng như những bài hát Pháp và nhạc của Louis Armstrong.

        Bạn sẽ thấy là mái tóc McCain bạc trắng, nhưng không phải vì tra tấn như ông ta nói, mà là nghĩ quá nhiều trong tù. Trong tù, McCain đã nghĩ quá nhiều đến cha và ông của mình, đến con đường chính trị mà ông ta sẽ phải bắt đầu thế nào. Đấy là một cá tính mạnh, và ông ta đã thể hiện ra ở trong tù. McCain là một người hùng của Mỹ, đất nước đã mất đi ở Việt Nam 58 nghìn người. Nhưng chúng tôi mất những 3 triệu người.

        Tôi muốn ai là Tổng thống Mỹ sắp tới, ông McCain hay Obama? Đấy là một câu hỏi mà tôi không quan tâm. Quá khứ không có ý nghĩa gì ở đây hết. Nước Mỹ hãy chọn một người đưa nó ra khỏi cuộc chiến Iraq và tránh xa những cuộc chiến tranh khác. McCain hiểu rất rõ về chiến tranh, vì thế tôi tin là ông ta không thích chiến tranh".

        Cuối năm 1972 đầu 1973, Hà Nội bị ném bom dữ dội. Chúng tôi đã phải đưa McCain đến Đức Giang, ngoại thành Hà Nội để cho ông ta chứng kiến cảnh đố nát và chết chóc. McCain nói rằng ông ta bị bắt trong khi đang ném bom Thủ đô của chúng tôi và ông ta nợ chúng tôi mạng sống...


        Người viết cuốn sách này đã chuyển nội dung bài báo nói trên cho Đại tá Trần Trọng Duyệt, cựu Trại trưởng Tù binh Hỏa Lò. Đọc xong, ông Duyệt cười và nói: "Nhiều năm đã qua rồi, nhưng chúng tôi quá hiểu ông John McCain này. Khi ra tranh cử Tổng thống Mỹ, ông ấy đã phải làm đủ mọi cách để có thêm phiếu bầu, kể cả việc mang chuyện cũ ở trại tù binh ra kể lại, kêu ca đã bị muỗi đốt, bị tra tấn, bỏ đói... sao cho lâm ly và xúc động cử tri Mỹ. Nhưng tiếc là John McCain đã bị Barack Obama đánh bại. Ông ấy là người đáng thương, đáng trách hơn là đáng giận. Chúng tôi thông cảm và chia sẻ với ông ấy".

        Rõ ràng, Barack Obama đã xứng đáng làm Tổng thống Mỹ hơn John McCain, và thực tế ông đã chiến thẳng cả hai nhiệm kỳ liên tiếp trong những cuộc vận động tranh cử cam go để được làm ông chủ Nhà Trắng.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Một, 2016, 06:19:58 AM
       
        Những Trại giam Tù binh Phi công Mỹ và chuyện bây giờ mới kể của "người trong cuộc"

        Trong chiến tranh Việt Nam, tù binh Phi công Mỹ được giam giữ ở những trại giam nào ở Miền Bắc nước ta? Cho đến nay, đó vẫn là một câu hỏi được trả lời chưa thỏa mãn với nhiều người. Gần đầy, tác giả cuốn sách này có nhận được bức thư của ông Đặng Xuân Xiêm, sinh năm 1946, nguyên Quản giáo tù binh Phi công Mỹ. Ông Xiêm đã cung cấp một số chi tiết thú vị của một "người trong cuộc"...

        Tháng 10 năm 1970, sau ba năm học tiếng Anh, tôi về công tác Quản giáo tại Trại giam Phi công Mỹ ở Nhổn (một doanh trại của đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô (lúc đó gọi Trung đoàn Thủ đô) gần Trạm Trôi. Thời đó, chúng tôi gọi những tù binh Phi công Mỹ này là "tội phạm chiến tranh" (criminal of war).

        Sau đợt đặc nhiệm Mỹ tổ chức giải cứu tù binh Phi công Mỹ bất thành ở Sơn Tây tháng 11 năm 1970, số Phi công này được ta đưa về giam ở Hỏa Lò, một số được đưa về giam ở trại giam Thanh Liệt (gần Cầu Tó). Cuối năm 1972, một sổ lớn tù binh Phi công Mỹ còn được chuyển đến trại giam ở bản Bó Dường, xã vân Trình, huyện Thạch An, Cao Bằng.

        Ngày 16 tháng 12 năm 1972, tôi được lệnh về Hà Nội chuẩn bị vào Tân Sơn Nhất, Sài Gòn phiên dịch cho Ban Liên hiệp Quân sự thực hiện Hiệp định Paris về Việt Nam... Sau này, tôi còn làm công tác quản lý Nhà nước về tín ngưỡng và tôn giáo. Ngày nay, các đơn vị tôi từng công tác, học tập đều đã tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc sáp nhập: Trường Ngoại ngữ Quân đội (phiên hiệu gọi là Đoàn 17); Trại giam Phi công Mỹ (phiên hiệu Đoàn 168); Ban Liên hiệp Quân sự không còn; cơ quan làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo cũng sáp nhập vào ngành Nội vụ; Đơn vị Thông tin ở sần bay thành Tiểu đoàn...

        Vì có thời gian làm công tác Quản giáo ở một số trại giam Phi công Mỹ, tôi xin được thông tin thêm một sõ chuyện mà tôi biết và trực tiếp''tai nghe mắt thấy".

        Hồi đó, tù binh Phi công Mỹ được giam chủ yếu ở trại giam Sơn Tây. Tháng 10 năm 1970, số Phi công ở đây được chuyển về trại giam ở Nhổn để phục vụ cho công tác đấu tranh chính trị. Nơi đây từng là doanh trại của một đơn vị bộ đội được cải tạo lại, nhưng vẫn giữ nguyên nhà tường gạch, mái ngói cấp 4, trần vôi rơm. Người ta chỉ xây thêm hàng rào bảo vệ cao độ 3 mét, trên có giăng dây thép gai. có ba nhà giam, mỗi nhà đều có sân chơi rộng rãi, có phòng câu lạc bộ cho tù binh Phi công Mỹ xem tranh, đọc báo (thường là báo Vietnam Courier), đọc truyện (thường là chuyện cổ tích, chuyện lịch sử Việt Nam bằng tiếng Anh).

        Sau vụ Không quân Mỹ tổ chức cướp tù binh Phi công ở Sơn Tây không thành cuối năm 1970, thấy trại giam này không đảm bảo an toàn, cấp trên quyết định chuyển đổi số tù hình sự của Bộ Công an về đây, để chúng tôi chuyển toàn bộ số tù binh Phi công Mỹ này về Hỏa Lò.

        Một số thông tin về Trại giam Tù binh Phi công Mỹ ở Ngã Tư Sở: Đây nguyên là cơ sở của xưởng phim Quân đội. Cũng nhà tường gạch, mái ngói cấp bốn, có trần vôi rơm, được cải tạo lại làm nơi giam giữ số tù binh phục vụ cho đấu tranh chính trị.

        Tại trại giam tù binh Phi công Mỹ Ngã Tư sở này đã xảy ra sự kiện chấn động hồi đó: Một tù binh Phi công Mỹ đã trốn trại! Nhưng anh ta mới chỉ lọt ra ngoài từ lúc nửa đêm tới đầu giờ sáng hôm sau đã bị bắt trở lại. Tù binh này khai: Anh ta phát hiện ra phòng giam có lỗ lên trần, khi cải tạo, người ta đã sơ ý không dùng bê tông vôi vữa trát lấp kín, mà dùng dây thép gai bịt lại. Ý định vượt ngục của người tù binh kia đã nảy sinh, khi lên câu lạc bộ của nhà giam, tình cờ được xem một tấm bản đồ Việt Nam treo trên tường. Anh ta nhìn thấy con sông Tô Lịch. Theo nguyên tắc chung, sông chảy ra biển. Anh ta suy đoán: Trốn được ra ngoài cứ đi xuôi theo dòng sông thì chắc sẽ gặp biển. Chỉ cần gặp thuyền của ngư dân rồi, thì sẽ xin đi nhờ, hoặc khống chế họ bắt chở ra biển. Khi gặp tầu nước ngoài thì sẽ làm tín hiệu SOS...

        Để chuẩn bị cho chuyến trốn trại này, người tù binh Phi công Mỹ đó đã lấy bánh mì phơi khô tích trữ dần làm lương thực... Nửa đêm hôm đó, chờ cho mọi người ngủ say, người tù binh này đã tháo dây thép gai chăng trên lỗ lên trần phòng giam và thoát ra ngoài. Nhưng mới lần mò men theo bờ sông đi được ít cây số, thì trời đã tảng sáng. Anh ta phải vào một ngôi chùa bên bờ sông Tô Lịch, vặt lá đa trải lên nền nhà chùa rồi chui vào nằm trốn trong đó...

        Sáng ra, có mấy người dần đi làm qua thấy cây đa lá rụng nhiều. Họ rủ nhau vào chùa xem sao, thì phát hiện thấy có người Tây ăn mặc như tù, đang nằm ngủ, nền báo cho công an và dân quân địa phương. Trước đó, sau khi phát hiện có tù binh Mỹ trốn trại, các lực lượng An ninh và Quân đội của ta trên địa bàn Thủ đô cũng đã được báo động. Cấp trên còn thông báo cho tất cả các địa phương xung quanh Hà Nội cùng phối hợp truy bắt và người tù binh Phi công Mỹ này ngay lập tức đã bị áp giải đưa trả về trại giam...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Một, 2016, 12:48:20 PM
       Về Trại giam ở bản Bó Dường, xã Vằn Trình, huyện Thạch An, tính Cao Bằng: Đây là trại giam được ta xây cấp tốc để sơ tán Phi công Mỹ, nằm trong kế hoạch chủ động chống lại cuộc tập kích 12 ngày đêm của Mỹ tháng 12 năm 1972. Trại giam này được xây vật liệu bằng đá, phòng hẹp và cửa nhỏ. Thời gian xây quá vội, xi măng thiếu, nên chất lượng kém. có một nhà ở của lãnh đạo trại là nhà ngói, vách trát toóc xi; có ba nhà gạch, diện tích khoảng 20 mét vuông, là nơi làm việc của cán bộ quản giáo. Có ba nhà giam xây bằng đá. Nước sinh hoạt được dẫn từ mạch nước ngầm gần đỉnh núi bằng õng nứa đục mắt, nối lại nhiều đoạn, dẫn vào tận phòng giam của tù binh. Sau một tháng, thấy thị giác tù binh bị giảm, chúng tôi báo cáo, cấp trên lệnh làm giàn dây thép ở ngoài sân, lấy lá ngụy trang và thường xuyên cho tù binh ra tắm nắng.

        Sau này, còn có một số tù binh đặc biệt như Đại tá quân đội Chính quyền Sài Gòn Nguyễn văn Thọ bị bắt trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cuối năm 1971, cũng bị đưa về giam giữ tại đây.

        Tại trại giam Bó Dường hồi đó còn có căn nhà lưu giữ hai chiếc xe ô tô (trong đó có một chiếc xe loại cứu thương của bệnh viện). Người trông giữ hai chiếc xe này tiết lộ: Đó là xe từng phục vụ Bác Hỗ.

        Gần đầy, có một bài báo với tiêu đề "Một trại giam Phi công Mỹ bị bỏ quên" chính là viết về trại Bó Dường này. Nếu bạn đọc nào quan tâm, có thể tìm về địa chỉ nêu trên gặp ông Chu Văn Xây, dân tộc Tày, nguyên là cán bộ Quản giáo trại giam tù binh Phi công Mỹ, nhà ông ở ngay bản Bó Dường; hoặc gặp người đã từng làm Chủ tịch xã Vằn Trình thời điểm cuối năm 1972. Ông chủ tịch xã này từng đích thân dẫn chúng tôi và một số anh em vào hang núi cách trại giam khoảng một cây số để chuẩn bị địa điểm dự phòng, theo "'phương án hai": Nếu thấy trại giam không an toàn, thì chuyển tù binh vào trong hang đá...

        Trại giam Thanh Liệt: Đây là trại giam do Bộ công an quản lý. Tháng 9 năm 1971, chúng tôi đưa 23 Phi công Mỹ về giam ở đây. Bên Công an đã dành cho chúng tôi hai ngôi nhà cấp bốn, một là phòng giam, một là nơi ăn nghỉ của cán bộ, chiến sỹ Quản giáo và Bảo vệ sử dụng.

        Trại giam ở nhà số 17 phố Lý Nam Đế - Hà Nội: Nơi đây cũng nguyên là doanh trại đơn vị bộ đội được cải tạo lại. Trước năm 1970 có tù binh Phi công Mỹ nào bị giam ở đây hay không tôi không rõ. Sau này (1972), ta có đưa một số tù binh Mỹ bị bắt ở chiến trường Miền Nam ra và giam giữ ở đây.

        Nhà máy Điện Yên Phụ: Ngoài ra, có thời kỳ gần chục Phi công Mỹ còn được đưa đến Nhà máy điện Yên Phụ. Hàng ngày, ta bổ trí cho họ xuất hiện công khai. Mục đích là để đối phương biết nơi giam giữ tù binh Mỹ, góp phần bảo vệ nhà máy điện Yên Phụ và cầu Long Biên. (Phía Mỹ thấy có người của họ ở gần cầu và tại nhà máy điện sẽ chưa dám ném bom ở đây).

        Một Trại giam Tù binh Phi công Mỹ trong chiêh tranh thường được tổ chức bộ máy như thế nào?

        - Lãnh đạo trại gồm Trại trưởng, Trại phó (biết tiếng Anh) và Chính trị viên;

        - Bộ phận Tham mưu (biết tiếng Anh) có nhiệm vụ tuyên truyền chính sách của Nhà nước ta qua hệ thống truyền thanh của trại. Hỏi cung những tù binh mới bị bắt đựa về trại, duyệt lần cuối các thư của tù gửi về gia đình...

        - Hai tổ Quản giáo (biết tiếng Anh) làm nhiệm vụ tiếp xúc trực tiếp với tù binh hàng ngày. Tổ chức cho họ thực hiện tốt nội quy của trại, giúp họ có nhận thức đúng đắn về chính sách nhân đạo của ta, hiểu rõ cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam.

        Hàng ngày tù binh thường được ra sân tập, tắm nắng, tắm nước hai lần sáng và chiều, mỗi lần một giờ đồng hồ. Chúng tôi thường hướng dẫn họ tham gia các hoạt động thể thao, đưa đi bệnh viện nếu bị ốm, nhận và trao quà gia đình của họ gửi đến; hướng dẫn họ viết thư, kiểm tra và đề xuất ý kiến xử lý đối với những thư có vấn đề...

        - Ngoài ra, ở mỗi Trại giam Tù binh còn có một đơn vị Bảo vệ và bộ phận Cấp dưỡng.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2016, 04:44:48 AM
       Riêng với Trại giam Tù binh Phi công Mỹ Hỏa Lò: có lực lượng Công an gác cổng ngoài, Quân đội gác cổng trong. Khu nhà giam phía đường Quán sứ giao cho bộ đội giam Phi công Mỹ; Lực lượng công an chỉ sử dụng khu C (góc phía đường Hỏa Lò và Hai Bà Trưng). Bên công an chỉ giữ lại tầng một nhà hai tầng phía phố Thợ Nhuộm làm nơi làm việc; còn lại tầng hai và toàn bộ nhà phía đối diện, nhà bếp giao cho đơn vị bộ đội quản lý sử dụng.

        Nhà bếp cho bộ đội được bổ trí sát tường sau của một phòng giam. Cũng chính điều này đã làm thay đổi nhận thức của tù binh Mỹ. Bởi họ thường vịn tay lên cửa sổ nhìn ra và thấy bữa ăn đạm bạc của bộ đội ta kém xa tiêu chuẩn ăn của tù binh Phi công Mỹ. Từ buổi ấy, họ không đả động gì đến công ước Giơ-ne- vơ. Trước đó, báo chí Mỹ và Phương Tây thường đòi ta phải thực hiện Công ước Giơ-ne-vơ đối với tù binh chiến tranh. Trong trại giam, tù binh Mỹ cũng đấu tranh vấn đề này. Chúng tôi giải thích: Các anh là tội phạm chiến tranh, vì đã mang bom ném xuống đất nước chúng tôi, gây bao tội ác với dân thường. Buộc chúng tôi phải chiến đầu bắn trả để tự vệ. Máy bay của các anh trúng đạn bị rơi, các anh bị bắt về đây. Các anh không có quyền đòi được hưởng theo Công ước Giơ-ne-vơ. Tuy nhiên, thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước chúng tôi, các anh đã được đối xử tốt, được hưởng tiêu chuẩn sinh hoạt hàng ngày còn cao hơn cả chúng tồi.

        Thời chiến tranh, sinh hoạt của bộ đội và nhân dân ta còn nhiều thiếu thốn và khó khăn lắm. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội ta mùa hè mỗi người chỉ được chi 7 đồng/ ngày, còn mùa đông là 6 đồng 8/ ngày.

        Đối với tù binh Mỹ thì sao? Họ được hưởng mức ăn tới 16 đồng/ ngày. Chưa hết, mỗi ngày mỗi tù binh được hút 6 điếu thuõc lá Tam Đảo, Nhị Thanh hoặc Tam Thanh (thường là Tam Đảo). Mỗi tháng, một tù binh còn được nhận 6 lưỡi cạo rầu. Mỗi năm được phát một bộ quần áo tù màu xanh lam xẫm, cùng đầy đủ chăn, màn, khăn mặt, bàn chải, thuốc đánh răng...

        Tù binh được cắt tóc theo nhu cầu (có nhà giam chúng ta sắm tông đơ, kéo cho họ tự cắt cho nhau). Mỗi quý, ta còn tổ chức cho họ xem phim một lần. Hàng ngày họ được chơi thể thao, bóng chuyền (có lúc bộ đội cùng tham gia), có tù binh xin được đọc Tuyển tập Mác-Ẩngghen, chúng tôi đã cung cấp.

        Các phòng giam có tú lơ khơ, cờ quốc tế (khi ta có chủ trương cho nhận quà, gia đình họ gửi bàn, quân cờ và tú lơ khơ).

        Ở trại giam Nhổn và Ngã Tư Sở còn có cả phòng câu lạc bộ dành cho tù binh.

        Một tháng, mỗi tù binh được viết một lá thư dài không quá bẩy dòng; một quý, mỗi người được viết một lá thư dài không quá hai mươi mốt dòng gửi về gia đình.

        Vào dịp Lễ Noel (25 tháng 12) hàng năm, Trại giam đều tổ chức lễ, các phòng cũng trang trí cây Noel. Chiều 24 tháng 12, họ thường được ăn thịt gà tây. Năm nào chúng tôi cũng chọn một số tù binh tiêu biểu cho đi lễ nhà thờ. có năm chúng tôi mời mục sư đạo Tin Lành vào làm lễ cho tù binh tại trại giam (đạo Tin lành giản đơn, chỉ cần cây thánh giá là đủ, không cầu kỳ như đạo Công giáo). Đúng 12 giờ đêm, chúng tôi phát quà Noel cho tù binh gồm: 6 cái kẹo hoặc 6 tấm bánh bích quy Hương thảo, sáu hoặc ba điếu thuốc lá...

        Trại giam cũng tổ chức cho các tù binh Phi công Mỹ ăn tết Nguyên đán theo phong tục cổ truyền của người Việt Nam, có bánh trứng và giò lụa. sáng mồng Một, lãnh đạo Trại gặp đại diện tù binh chúc Tết họ. Buổi gặp này thường rất vui. Sau lời chúc Tết của lãnh đạo Trại, tù binh được mời hút thuốc, uống nước, ăn bánh kẹo và nghe chúng tôi kể chuyện cổ tích Việt Nam. Họ rất thích chuyện tiếu lâm, ví dụ như "Sai con đi mua nước mắm bằng đĩa".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Một, 2016, 04:59:28 AM
       
        Một vài chi tiết liên quan đến vụ Đặc nhiệm Mỹ tổ chức cướp tù binh Phi công Mỹ bất thành:


        Tháng 3 năm 1971, anh em bảo vệ Trại Hỏa Lò phát hiện hàng ngày vào khoảng 10 giờ sáng, có hai tù binh ở nhà giam phía đường Quán sứ và Hai Bà Trưng cùng vào nhà vệ sinh, và ở trong đó lâu khoảng một tiếng đồng hồ. Chúng tôi kiểm tra hồ sơ tự khai, hai tù binh này đều tốt nghiệp đại học ngành thông tin liên lạc. Trại trưởng liền ra lệnh khám phòng (có trên 40 tù binh ở phòng này). Chúng tôi phát hiện dây mắc màn bằng dây thép đã được cách điện với tường. Chúng tôi gọi hai tù binh có biểu hiện không bình thường kia lên chất vấn. Họ khai đang lắp máy bộ đàm để liên hệ với bên ngoài. Hỏi linh kiện lấy đâu ra? Họ khai: Hải quân Mỹ gửi linh kiện bằng cách nhét vào hộp thuốc đánh răng, quả táo, bánh xà phòng. (Thực hiện chính sách nhân đạo, Chính phủ ta cho Phi công Mỹ nhận quà từ gia đình). Sau việc này, toàn bộ quà gửi cho Phi công Mỹ được kiểm tra rất kỹ. Qua kiểm tra này, chúng tôi đã lấy được tài liệu của Mỹ gửi cho Phi công giam giữ ở đây về vụ tổ chức cướp Phi công Mỹ ở sơn Tây được nhét vào ruột quả táo khô (ta thường gọi là táo tầu). Tài liệu viết trên tờ giấy ni lông rất mỏng khổ rộng 4 cm, dài 50 cm, chữ nhỏ phải dùng kính lúp mới đọc được. Một câu hỏi đặt ra: Tù binh Phi công Mỹ sẽ đọc bằng cách nào? Họ khai: Lọ nhựa đựng thuốc vitamin Hải quân Mỹ lấy danh nghĩa gia đình gửi cho Phi công Mỹ có đáy là hình cầu lõm, dùng thay kính lúp đọc rất rõ.

        Thời điểm ấy, tôi là Tổ phó Quản giáo đã được giao nhiệm vụ dịch bản tài liệu này. Bản dịch dài tới 5 trang viết tay loại giấy trang kẻ ngang. Tôi còn nhớ có mấy chi tiết như sau: Phía Mỹ cho biết họ có điệp viên là người địa phương, nắm chắc tình hình trại giam, vẽ sơ đồ gửi cho Mỹ. Họ cũng công nhận, vì hoạt động ở trại giam Sơn Tây không thấy có gì thay đổi, vẫn có kẻng báo thức hàng sáng, thấy bộ đội tập thể dục, tối có kẻng báo đi ngủ... Thực ra, trước đó một tháng, toàn bộ số Phi công giam giữ ở đây đã chuyển về trại giam ở Nhổn, cơ sở ở Sơn Tây giao cho một đơn vị bộ đội quản lý. Để giữ bí mật, ngày chuyển tù binh Phi công Mỹ đi, ta đã thực hiện nghi binh: Cứ chuyển đi một xe lại có một xe ô tô giống như vậy chuyển bộ đội đến. Nên trại giam không có gì khác lạ, không ai phát hiện được việc chuyển tù Phi công Mỹ đi khỏi trại giam Sơn Tây...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Một, 2016, 04:11:28 AM
       
        Nhân đây, xin được kể một một vài chuyện còn ít biết về những tù binh đặc biệt này:


        Họ được học hành, đào tạo, huấn luyện rất đặc biệt với nhiều kỹ năng. Khi tham gia chiến tranh ở Việt Nam, Phi công Mỹ còn được học cả cách mở khóa, phá cửa và những kỹ thuật biệt kích phá hoại, có tù binh đã nói với tôi, trốn ra khỏi trại giam các ông không khó, nhưng trốn khỏi lãnh thổ Việt Nam là không thể vì hình dáng người Việt khác người Mỹ và nhân dân các ông có ý thức cảnh giác cao, tin tưởng ở chính quyền. Thực tế cũng có mấy lần chúng trốn khỏi trại nhưng lại bị bắt lại ngay.

        Ngay việc chuyển Phi công Mỹ đi giam ở Cao Bằng, chúng tôi phải thực hiện nghi binh: Xuất phát ở Hỏa Lò từ 11 giờ đêm, xuống Hà Đông, rẽ Nhổn, về Yên Phụ, lên cầu Thăng Long, đi Thái Nguyên, sang Bắc Cạn, đi Thất Khê, Đông Khê (Cao Bằng) và rẽ vào trại giam ở sườn núi thuộc địa phận bản Bó Dường, xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

        Bây giờ từ Hà Nội đi Cao Bằng chi trong một ngày. Nhưng hồi đó, đoàn xe chúng tôi phải đi suốt hai đêm một ngày mới tới. Để đảm bảo an toàn, lo ngại tù binh trốn dọc đường, chúng tôi phân công bảo về ngồi cùng và kèm chặt. Đến Bắc Cạn, xe dừng, tôi lên kiểm tra thì cả mấy đồng chí bảo vệ và tù binh cùng nằm ngủ ngon lành trên xe. Tất nhiên, trên đường đoàn xe chúng tôi đi qua đều có sự hiệp tác bảo vệ của các đơn vị tại chỗ. Điều ngạc nhiên, là ngay sáng hôm sau, tôi vào phòng giam, một tù binh đã nói với tôi: Đây là biên giới Việt Trung! Tôi hỏi tại sao biết? Anh ta chỉ vào cây rừng trước cửa và nói chỉ ở biên giới Việt Trung mới có loại cây này.

        Chuyện báo chí Mỹ nói tù binh Phi công Mỹ bị bộ đội Bắc Việt bắt lao động khổ sai, đã lợi dụng việc đập gạch vỡ rồi xếp chữ SOS để báo với máy bay trinh thám của Mỹ. Không biết thực hư thế nào? Vì trong các trại giam tôi biết, thì không có chuyện bắt tù lao động. Nhưng việc họ lợi dụng viết thư để thông tin về nước là có và rất phổ biến. Do vậy, chúng tôi phải tố chức kiểm duyệt

        Một lần tôi kiểm tra một lá thư gửi về gia đình, một tù binh đã viết như sau: Khi con được về nhà, con sẽ lấy vợ. Bố mẹ mua sẵn cho con một ngôi nhà. Con thích có một ngôi nhà nằm trên một sườn núi, hướng trông ra một cánh đồng và trên cảnh đồng đó có một cái làng... Tôi nghĩ ngay, người tù binh này đã ngầm thông báo Trại giam ở Bó Dường, Cao Bằng. Ngay cái tên "Khách sạn Hilton" là họ tự đặt cho Trại Hỏa Lò, khi viết trong thư gửi về nhà.

        Thời gian cuối năm 1971 đầu năm 1972, cấp trên cho rẳng dãn Mỹ ăn bánh mỳ sao không cho Phi công Mỹ ăn bánh mỳ lại cho họ ăn cơm. Trại chúng tôi liền tố chức cho tù binh ăn bánh mỳ. Họ rất thích, nhưng lại có tù binh lấy cớ chống lại. Xin kể một chuyện. Tù binh Phi công có tên là Morgan (tiếng Việt chúng tôi đặt là "Gàn"- Ở trại giam, để anh em bảo vệ dễ nhớ, dễ gọi, mỗi Phi công Mỹ được đặt một tên Việt John McCain, sau là Thượng nghị sỹ Mỹ, gọi là "Cài". Morgan là Đại úy, anh ta thường khoe là Phi công bị bắt thứ 6 tại Hải Phòng. Sau khi ăn bánh mỳ được một tháng, anh ta lâm bệnh và giảm cân nhanh. Chúng tôi đưa đến bệnh viện. Các bác sỹ bệnh ở viện 108 và 354 đều không tìm   không ra nguyên nhân, có lần tôi được trực tiếp vào phòng chiếu X quang, nhìn màn hình không thấy có biểu hiện gì. Lần đó, bác sỹ quân y viện 354 nói với tồi khả năng tù binh này bị phản ứng thức ăn. Anh ta được điều trị và ăn uống theo chế độ đặc biệt.   Sau này, tù binh này đã khai được tên cầm đầu giao nhiệm vụ, mỗi lần ăn bánh mỳ xong lấy tay móc họng cho nôn ra, rồi ăn lại. Không ngờ hành động đó tạo thói quen phản xạ. Mỗi lần ăn xong, tên này nôn ra bát và rồi lại xúc thức ăn vừa mới đó ăn lại thì mới được. Nhiều đồng chí của ta nhìn thấy là thấy lợm giọng. Tham gia vụ này, "Cài" đã cạo đầu theo phong cách "'một mất một còn" - Cạo trọc một nửa đầu, một nửa để tóc dài.

        Cuối năm 1971, Hà Nội có dịch đau mắt đỏ, Ban chỉ huy Trại tổ chức tiêm phòng cho tù binh. Không hiểu tại sao, có một phòng gần 40 tù binh đã bị đau mắt đỏ đồng loạt ngay sáng hôm sau. Họ la ó, phản đối dữ dội. Chúng tôi phải nhờ các bác sỹ quân y viện đến kiểm tra và chữa trực tiếp, mới qua được đợt dịch này.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Một, 2016, 01:09:54 PM
       
        Kể thêm về anh "Cài"


        Về chuyện tù binh "Cài" - John McCain thì mọi người đều đã rõ. Anh ta là con trai của Đô đốc Hải quân Mỹ Robert McCain, bị bắt ở hồ Trúc Bạch. Khi bị bắt McCain bị thương ở chần rất nặng, mất nhiều máu. Các bác quân y viện 108 đã tập trung cứu sống, sau này chữa không phải cưa chân (vì chân bị dập nát xương) và các năm sau chữa đi được, có người bạn hỏi tôi, nếu ông gặp lại John McCain ông sẽ nói với ông ta điều gì? Tôi nói, những hoạt động của John McCain thời gian qua nói lên sự nhận thức của ông ta về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Nếu có gặp lại, tôi sẽ khuyên ông ta tìm gặp các bác sỹ quân y đã cứu sống và tìm cách giữ cho ông ấy cái chân trong điều kiện khó khăn của bệnh viện 108 nói riêng và Việt Nam nói chung. Nếu có thể ông nên có đóng góp gì đó hữu ích cho bệnh viện quân y 108.

        Có lần tôi hỏi "Cài" là tại sao tham chiến ở Việt Nam. Ông ta trả lời rất đơn giản là sang Việt Nam được lương cao, và vì ông ta là quân nhân nên phải theo lệnh của cấp trên. Ông ta giải thích quân đội Mỹ thường gọi là "GT" (government issue) nghĩa là đội quân theo lệnh của Chính phủ, nên Chính phủ Mỹ bảo đi đâu phải thực hiện. Ông ta còn nói, khi còn là học sinh, sinh viên có tham gia Câu lạc bộ Hàng không, nên khi có động viên sang Việt Nam được lương cao ông ta đã đăng ký tham gia. Tôi hỏi: Bố anh là Đô đốc Hải quân, anh có theo nghiệp bố không? "Cài" trả lời: Tôi khác quan điểm với ông ấy. Tôi thích làm chính trị. Nếu tôi không sang Việt Nam tôi sẽ phấn đấu là Thượng nghị sỹ.

        Có một chuyện vui, một buổi sáng vào nhà giam kiểm tra, khi đi qua phòng giam tôi thấy "Cài" đang tập thể dục. Thấy tôi, "Cài" nói "Blinky" - phó nháy (tôi có tật nháy mắt). Thấy thái độ như vậy, tôi nói bảo vệ không cho ra ngoài. "Cài" gào to: "Báo cáo Trại trưởng"! Đồng chí Tổ trưởng Quản giáo hỏi tôi tại sao anh ta phản ứng vậy? Tôi báo cáo sự việc. Quản giáo cho dẫn "Cài" lên phòng hỏi cung. Vừa gặp tôi, anh ta đã nhận có sai và thanh minh là đùa, xin được gặp tôi để xin lỗi. Khi gặp lại tôi, "Cấi" đã xin lỗi và thanh minh: Thấy ông hiền, tử tế nên tôi mới nói đùa...

        Làm công tác quản lý Phi công Mỹ, chúng tồi thường nhắc nhau phải qua hành động thực tế để cảm hóa họ. Khi nói chúng ta có 4.000 năm lịch sử, bọn họ không tin. Chúng cho rằng nước Mỹ mới có 200 năm mà giầu có như vậy, Việt Nam có 4.000 năm tại sao lại nghèo? Trại bố trí cho họ đến thăm văn Miếu - Quốc Tử Giám, mắt thấy tai nghe, nên họ tin ngay.

        Một lần, một tù binh chửi tục, bị phạt giam riêng, nhưng vẫn hưởng mọi chế độ. Một buổi sáng tôi vào phòng giam đó. Anh ta kể: Ông bảo vệ hôm qua mang cho tôi 6 điếu thuốc lá. Sau đó, ông ấy về vị trí trực. Tôi phát hiện ông ấy cũng nghiện thuốc nặng, đã phải lấy mẩu thuốc cũ trong túi của mình ra châm lửa hút Tôi rất khâm phục ông ấy. Tôi là người đang bị kỷ luật mà ông ãy vẫn đối xử với tôi như vậy. Ông có quyền, nhưng đã không bớt tiều chuẩn thuốc hút của tôi.

        Tù binh Phi công Mỹ khi được ta tin tưởng nhờ làm gì là họ cũng thích. Khi ở trại giam Bó Dường, tôi giao cho một phòng giam tìm các từ đồng nghĩa tiếng Anh (thời kỳ đó tài liệu tiếng Anh khan hiếm lắm). Chỉ 20 ngày họ làm xong một quyển rất hay. Quyển này, sau này khi về học ở Mai Dịch chuẩn bị vào Tân sơn Nhất, tôi đưa cho anh Đoàn Huyên.

        "Tài sản đặc biệt" đã bị tiêu hủy

        Xin kể một chuyện vui nữa: Khi bị bắt, đưa đến trại giam, Phi công Mỹ có tài sản gì trong người đều được ta lập biên bản và giữ lại để khi trao trả thì bàn giao lại. Có một tù binh Phi công Mỹ khi dẫn giải đến trại giam, trong tư trang anh ta có một món tài sản khá đặc biệt, đó là một... túm lông nhỏ (không hiểu để làm gì), nhưng theo quy định, ta cũng phải lập biên bản coi như"tài sản riêng" và phải lưu giữ.

        Vậy là, mỗi khi người tù binh kể trên chuyển đi trại giam nào, thì cán bộ quản lý cũng phải bàn giao "túm lông tài sản" đó theo. Mãi sau này, cấp trên cử bác Xuân Oanh từ bên ngoại giao (năm ấy bác là Người phát ngôn báo chí của đoàn ta tại hội nghị Paris) sang làm Trại phó. Bác Oanh thấy vậy, liền cho hướng xử lý: Mời người tù binh kia lên giải thích về sự phiền toái, rắc rồi... Anh ta đồng ý hủy, chúng tôi liền cho lập biền bản và hủy "tang vật" trước chứng kiến của chủ nhân túm lông kỳ quặc nọ.

        Trong gói quà gia đình gửi cho tù binh thường có cả ảnh gia đình, thậm chí còn có ảnh vợ, bạn gái chụp khỏa thân gửi cho... Lúc đầu, chúng tôi thấy ảnh khỏa thân, trông rất chướng mắt, nên không cho tù binh nhận. Thấy vậy, bác Xuân Oanh tham gia ý kiến là: văn hóa Mỹ và Phương Tây coi ảnh khỏa thân là bình thường trong cuộc sống của họ. Ta cứ cho tù binh nhận ảnh khỏa thân, để họ nhớ vợ, nhớ người yêu, nhớ nhà mà đấu tranh với Chính phủ Mỹ và phản chiến mạnh hơn.


        Nhiều nầm đã trôi qua, chúng tôi rất tiếc là không có điều kiện tổ chức được các buổi gặp mặt truyền thống của các cựu cán bộ nhữhg Trại giam tù binh Phi công Mỹ hồi đó...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Một, 2016, 04:43:06 AM
       
        Hé lộ về một trại tù binh Mỹ tại Đà Năng, trong chiến tranh Việt Nam

        Theo hồi tưởng của Zalin Grant - Một cựu phóng viên của tờ Time, từng tình nguyện phục vụ như một sĩ quan quân đội Mỹ tại Việt Nam (lược dịch - ĐVH):

        Khoảng những năm 1968 -1971, đã có một Trại tù binh Mỹ được lập ở sâu trong một cánh rừng phía tây của Đà Năng. Trại này nằm dưới nhữhg tán lá rừng rậm rạp, nơi ánh sáng mặt trời khó xuyên thủng, với những cành cây và dây leo đan chồng lên nhau. Trại tù binh này không đèn điện, không có tháp canh và cũng không có giây thép gai bao quanh. Phòng giam tù binh chỉ là những túp lều tranh, giường ngủ bẵng sạp tre, được làm đơn giản như nơi ở của người dân tộc Tây Nguyên trong chiến tranh. Những người lính Việt Cộng rất giỏi chịu đựng gian khổ, thiếu thốn và hy sinh. Nhưng với những người Âu - Mỹ thì điều kiện sinh hoạt nơi đây thật là tồi tệ đến kinh dị, vì không khí luôn ẩm thấp, bùn lầy và còn bị côn trùng rắn rết tấn công.

        Lúc cao điểm nhất, trại này có 32 tù binh. Nhưng 12 người trong số họ đã chết vì nhiều lý do: bệnh tật, đói ăn và cả vì bom đạn của quân đội Mỹ trút xuống. Suốt một thời gian dài, 18 tù binh Mỹ phải đi chân trần với dép cao su. Không được cấp đủ gạo và lương thực thường xuyên, để cứu đói, họ phải tự đi lao động thu hoạch khoai mỳ trên rẫy về làm thức ăn. Họ sống trong nguy hiểm rình rập đêm ngày, vì liên tục bị ném bom bởi lực lượng Không quân Mỹ và Không quân Sài Gòn. Một người Mỹ phản chiến được trang bị một khẩu súng trường Marine Bob Garwood đã làm "quản giáo" giúp Việt cộng giam giữ những tù binh nơi đây.

        Tháng 4 năm 1968, các tù binh ở trại giam phía Tây Đà Nắng này đã tố chức một kế hoạch chạy trốn, nhân một lần được cử đi thu hoạch khoai mỳ, mà chỉ có một bảo vệ giám sát. Nhưng tất cả đều bị bắt lại, khi họ lạc vào một buôn người Thượng mà không tìm được lối ra.

        Về sau, chỉ có một tù binh trốn trại và đào thoát thành công. Thêm 5 người trong số họ may mắn được Việt cộng trả tự do vì mục đích tuyên truyền. Số tù binh còn lại phải đến sau Hiệp định Paris mới được trao trả hết cho Mỹ tại Lộc Ninh năm 1973.

        Riêng năm 1971, còn có một nữ tù binh hiếm hoi thuộc lực lượng Quân y, người Mỹ gốc Đức, được yêu cầu gửi ra Hà Nội cùng một tù binh gốc Đức nữa, theo đường mòn Hồ Chí Minh...


        Đó chính là Monica - một nữ tù binh xinh đẹp, tính tình đỏng đảnh, từng đòi ngủ cùng phòng với người tù binh nam gốc Đức kể trên, nhưng đã không được phép, cô đã đề nghị ông Trần Trọng Duyệt, Trại trưởng tù binh Hỏa Lò cho nuôi một con mèo. (Chúng tối đã hầu chuyện bạn đọc ở phần trên). Sau đó, họ cùng được trao trả tại sân bay Gia Lâm - Hà Nội năm 1973.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Hai, 2016, 12:19:44 PM
     
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200335_zpsxer4blz4.jpg)
Đại tướng Ronald Robert Fogieman, cựu Chi huy truởng Lụt lượng Không quân Mỹ, đã viẽt thư gửí Trung tá Trần sự, nguyên Chi huy trưởng Mặt trận Quảng Bình (1968) với nội dung như một lời xin lỗi muộn màn người dân Việt Nam sau chiến tranh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200336_zpsogt73kpg.jpg)
Tướng Dan Cherry bắt tay Nguyễn Hồng Mỹ: "Trước là kẻ thù nay ià bạn" và cuốn sách "My Enemy - My Friend" có bút tích đề tặng của chính tác giả.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200337_zpsuzy1owmx.jpg)
Từ trái qua: cựu Phi công MIG-21 Vũ Đình Rạng (Phi công Việt Nam duy nhất bắn rơi B52, được Mỹ thừa nhận) "At" Lưu Huy Chao, Nhà văn Đặng vương Hưng, "At"Nguyễn Văn Bảy, "At"Steve Ritchie, và ThS. Lê Duy Hào, tại Hà Nội, tháng 12-2009.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200338_zps9hjsgtlu.jpg)
Cựu từ binh Phi công Mỹ, Thượng nghị sĩ Jonh McCain ôm ông Mai Văn Ơn, một trong nhũtig người đã cứu ông thoát chêt từ hồ Trúc Bạch (Hà Nội) năm 1967.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2016, 02:16:52 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200339_zpszuiyq9mx.jpg)
Cựu tù binh Phi công Peter Peterson, vị Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam (1997-2001)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200339a_zpstir8p8kn.jpg)
Đại sứ Peter Peterson và "Lão Chộp" (người nông dân làng An Đoài đã bắt ông làm tù binh)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200340_zpsnqasyy8x.jpg)
Đoàn của cựu Thõng đốc bang Indiana Mỹ tới thăm Fafim Việt Nam, nơi ông tùng là tù binh Phi công (1972-1973).

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200341_zpsfkhq1kx5.jpg)
Cựu tù binh Phỉ công Mỹ, cựu Thõng đốc bang Indiana, Joseph Kernan cùng Nhà văn Đặng vương Hưng, năm 2010.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2016, 07:07:13 PM
       
VIẾT THÊM ĐOẠN CUỐI SÁCH

        Một tư liệu thống kê từ phía Mỹ cho biết: Trong số 591 tù binh chiến tranh được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Chính phủ Hoa Kỳ từ miền Bắc Việt Nam năm 1973, về thành phần, thì có 325 người thuộc lực lượng Không quân, 138 người thuộc lực lượng Hải quân, 26 người trong lực lượng Thủy quân lục chiến và 77 người thuộc các lực lượng khác của quân đội Mỹ. Ngoài ra, còn có 25 người là nhân viên dân sự của các cơ quan Chính phủ Hoa Kỳ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam.

        Xét về địa điểm trao trả, ngoài sân bay Gia Lâm - Hà Nội là chính, cùng thời gian trên, còn có 81 tù binh Mỹ được trao trả từ các địa chỉ khác: 69 người được Chính phủ Cách mạng lâm thời tổ chức trao trả tại miền Nam Việt Nam, họ đã lên máy bay từ Lộc Ninh. Ngoài ra, còn có 9 tù binh đã được trao trả từ Lào và 3 tù binh nữa được trao trả từ Trung Quốc...

        40 năm sau các cuộc trao trả nêu trên, hai trong số những tù binh chiến tranh trước đây trở thành những chính trị gia nổi tiếng phục vụ trong Quốc hội Hoa Kỳ, đó là Thượng nghị sĩ John McCain của bang Arizona và Hạ nghị sĩ Sam Johnson của bang Texas. Một số tù binh khác, sau đó đã tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và được phong hàm cấp Tướng.

        Cuối tháng 5 năm 2013, nhiều phương tiện truyền thông và báo chí Mỹ đưa tin: Khoảng 200 cựu tù binh, đa phần là các cựu phi công đã tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam, cùng thân nhân gia đình và bạn bè của họ đã có cuộc tụ họp lịch sử tại thư viện kiêm bảo tàng mang tên Richard Nixon (1913 - 1994) - Vị Tổng thống thứ 37 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - ở California, để kỷ niệm tròn 40 năm cuộc trao trả tù binh tại Việt Nam (1973 - 2013). Thời kỳ đầu khi Richard Nixon nhậm chức Tổng thống Mỹ, mỗi tuần đã có khoảng 300 lính Mỹ chết tại chiến trường Việt Nam. Và mặc dù cho đến nay ông vẫn là vị Tổng thống duy nhất buộc phải từ bỏ nhiệm sở vì vụ "Watergate" nổi tiếng; nhưng cũng chính ông là người đã "có công" đưa các tù binh Mỹ thoát khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam và trở về nhà.

        Một buổi lễ trang trọng và một bữa tối ấm cúng đã được lên kế hoạch chuẩn bị khá kỹ lưỡng từ trước đó. Các cựu tù binh đã tổ chức một đoàn xe sơn màu quân sự, họ cùng ăn mặc như nhữhg người lính Mỹ năm xưa đã tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam đầy ám ảnh. Theo kịch bản, đoàn xe chở những cựu tù binh đẫ vượt qua một cây cầu, như họ đã đi qua cầu Long Biên để sang sân bay Gia Lâm - Hà Nội để về nước. Rồi một nghi lễ đặt vòng hoa tưởng nhớ những người bạn không trở về và kết hợp tour du lịch tới triển lẫm của một bảo tàng đặc biệt tập trung vào các kỷ vật và ký ức của các tù binh Mỹ đã hồi hương như thế nào năm 1973. Buổi tối hôm đó đã được các cựu tù binh tổ chức như một sự kiện đáng nhớ trong đội. Họ đã cố gắng tái tạo một thực đơn với các món ăn quen thuộc và cả nhữhg món mơ ước khi còn ở trong các trại giam ở Việt Nam cách đây hơn 40 năm để người thân, bạn bè cùng thưởng thức và hồi tưởng lại...

        Các cựu tù binh chiến tranh Việt Nam đã gặp may khi cuộc hội ngộ của họ trùng với một ban nhạc khá nổi tiếng nước Mỹ ở cùng một địa điểm, sự xuất hiện của của một ban nhạc sống cùng những ngôi sao như Bob Hope, John Wayne, Sammy Davis Jr và Irving Berlin... đã thu hút công chúng, báo giới quan tâm và khiến nhữhg người đàn ông rơi nước mắt, khi họ cùng đắm mình trong màn biểu diễn "God Bless America".

        Tất cả đầ cùng uống và nhảy múa cho tới 2 giờ sáng... Họ đã vinh dự nhận được lời của Tổng thống và phu nhân nói "Chúc ngủ ngon" vào lúc nửa đêm. Thậm chí, một thư ký của Nhà Trắng còn nói thêm: "Các bạn có thể nhảy múa suốt đêm. cứ nhảy cho đến khi nào ban nhạc buông tha và đây là một chương trình đã nhận được sự miễn phí".

        Tất cả đều nhằm mục đích tưởng nhớ các tù binh Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam và tái tạo lại không khí trao trả họ từ năm 1973... Vậy 40 năm trước, người Mỹ đã đón nhữhg tù binh của cuộc chiến tranh Việt Nam trở về như thế nào?

        Ngày 12 tháng 2 năm 1973, một chiếc C-141A, loại máy bay phản lực vận chuyển, có sơn biểu tượng chữ thập đỏ trên đuôi đã cất cánh từ sân bay Gia Lâm - Hà Nội, mang theo 40 tù binh chiến tranh vừa được phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trao trả cho chính phủ Hoa Kỳ. Đó cũng là chuyến bay đầu tiên thực hiện cuộc hành trình hồi hương, đoàn tụ với gia đình cho các tù binh, mà người Mỹ gọi đó là hoạt động "Homecoming". Sau này, các tù binh hài hước gọi chiếc máy bay ấy là "Hà Nội ta xỉ" - vì nó đã "có công" đưa những tù binh được trao trả đợt đầu tiên bay lên trời, để họ được biết cảm giác hương vị khoảnh khắc khác nhau giữa cầm tù và tự do là như thế nào. vào cuối ngày hôm đó, thêm ba chiếc C-141A đã cất cánh từ Hà Nội, và một chiếc khác cất cánh từ Sài Gòn mang theo đầy đủ danh sách và nhữhg tù binh được trao trả đầu tiên.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2016, 05:54:59 AM
        Roger E. Shields là một chuyên gia tù binh của Lâu Nầm Góc cho hay: Phái đoàn của ông đã được phía Việt Nam chào đón chu đáo. Ông hài lòng với những hoạt động của ngày đầu tiên, mặc dù nó đã bị trì hoẫn hai giờ bởi thời tiết xấu ở miền Bắc và hơn 12 giờ bởi tranh luận cho thủ tục trao trả ở miền Nam. Nhưng cuối cùng, giai đoạn đầu tiên của chương trình tù binh hồi hương "Homecoming" đã được hoàn tất. Con số tương tự của các tù binh sẽ được trao trả từ phía Chính phủ Việt Nam trong khoảng thời gian khoảng 15 ngày, tương ứng với việc rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam. Nghị định thư về tù binh trong các thỏa thuận của Hiệp định Paris, ngày 27 tháng 1 năm 1973 quy định: Tất cả các tù binh chiến tranh phải được trao trả trong vòng 60 ngày!

        Để phục vụ chương trình tù binh hồi hương "Homecoming", Chính phủ Hoa Kỳ đã huy động những chiếc máy bay vận tải loại C-141A như thế, thực hiện nhiều chuyến bay từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 4 tháng 4 năm 1973, chuyên chở gần 600 tù binh chiến tranh hồi hương về Mỹ. Vẫn còn khoảng 1.300 người Mỹ đã được người ta liệt kê và bị coi là đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam, cần phải được phối hợp tiếp tục tìm kiếm.

        Chưa có tài liệu nào công bố chính thức, nhưng sau này người ta đã thống kê được một con số thú vị: Trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, đã có khoảng 90 vụ các tù binh Mỹ nỗ lực tự tìm cách trốn khỏi trại giam của đối phương. ít nhất 20 vụ trong số đó diễn ra ở Bắc Việt Nam và riêng tại Hà Nội là 5 cuộc vượt trại. Thậm chí còn có nhữhg tù binh Mỹ đã nỗ lực thực hiện chạy trốn nhiều lần. NhƯhg chỉ có khoảng 4% là thoát được (chủ yếu là ở miền Nam Việt Nam), còn hầu hết họ đã bị bắt lại ngay trong ngày đầu vừa vượt trại. Văn hóa, ngôn ngữ và địa hình hoàn toàn xa lạ, ngoại hình khác biệt, đã bất lợi cho các tù binh Mỹ, khi họ tìm cách đào thoát và trốn chạy khỏi trại giam.

        Xin quý vị và các bạn hãy thử đặt mình vào cảm nhận của các tù binh Mỹ ngày đó. và tưởng tượng rằng họ đang thất vọng, chán chường dường như vô tận, vì đã nhiều ngàn ngày và đêm mất tự do, xa rời người thân và quê hương, thì bất ngờ được thay đổi quần áo và xếp hàng lên máy bay để trở về nhà... Bởi thế, nhiều tù binh khi đã được đọc tên trao trả, bước lên máy rồi, vẫn chưa dám tin, vẫn tưởng đó chỉ là một giấc mơ không có thật.

        Khi những chiếc máy bay đã cất cánh rời khỏi đường băng, ổn định độ cao bay trên bầu trời và chắc chắn không thể quay lại trại giam, không khí trang nghiêm, hồi hộp trong các tù binh mới thực sự chấm dứt hoàn toàn. Nhất là khi các cô ý tá kiêm tiếp viên xinh đẹp, mặc đồ trắng, thoang thoảng mùi nước hoa quyến rũ, tới mời họ cà phê, các thứ đồ uống dinh dưỡng khác và cả thuốc lá Mỹ. Rồi họ còn được các tiếp viên mời đọc báo chí mới phát hành trên máy bay. Họ say sưa đọc tờ báo quân sự Stars and Stripes và tạp chí tin tức. Thậm chí có anh còn vớ được cả một cuốn tạp chí Playboy, như ai đó cố tình bỏ quên trên lưng ghế. Anh ta sửhg sốt kêu lên theo bản năng "Chúa ơi!". Khiến mấy người đàn ông cùng chụm đầu dán mắt vào hình ảnh của mấy cô nàng hoàn toàn khỏa thân đầy gợi cảm... Các tù binh thật sự phấn khích. Họ đã tự đặt ra hàng tá các câu hỏi về nhiều chủ đề khác nhau, từ thể thao đến thời trang và nhất là... đàn bà! Họ chuyện trò râm ran, cùng tỏ ra hứng khởi, cổ vũ nhau bằng cách hò hét, huýt sáo và giơ cánh tay lên. có ai đó hô "Tự do muôn năm!" Rồi nhữhg tiếng cười vang và có cả tiếng khóc ấm ức...

        Có tù binh đã tự hỏi: Chúng ta đã được trao trả và trở về quê hương, vậy có phải nước Mỹ đã thắng trong cuộc chiến này không? Một tù binh khác trả lời: cậu hồn nhiên và ngây thơ quá. Không phải "chúng ta", hay "nước Mỹ" mà thường là những cuộc chiến, hay can thiệp quân sự như thế này, chỉ có Chính phủ và những người giàu là thắng; còn những người lính ra trận và nhân dân phải nộp thuế thì bao giờ cũng thua!

        Nhưng điều quan trọng là các tù binh vẫn còn sống và được về nhà. Dường như với họ địa ngục đã không còn tồn tại và tất cả mọi thứ đều đang trở thành thiên đường. Đại úy Larry Chesley, người sau khi bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam, đã có bảy năm "an dưỡng" trong trại giam nổi tiếng "Hà Nội Hilton và một số trại giam khác nhớ lại: "Khi cánh cửa chiếc máy bay C-141 vừa đóng lại, thì hầu hết những người đàn ông dạn dày trận mạc và cứng rắn bom đạn như chúng tôi đã cùng ứa nước mắt. Chúng tôi không giấu giếm mà đã tự do khóc để mừng vui cho ngày trở về".

        Thiếu tướng Ed Mechenbier, là một trong các tù binh của cuộc chiến tranh Việt Nam cuối cùng đã tiếp tục phục vụ trong lực lượng Không quân Mỹ, nhớ lại những cảm xúc của cuộc hành trình của mình ra khỏi miền Bắc Việt Nam vào ngày 18 tháng 2 năm 1973: "Trong không khí xúc động và sự yếu đuối của những tù binh chiến tranh, khi tự do đã trở thành sự thật, chúng tôi đã cùng hét lên, bật khóc, ôm nhau và nhảy...".


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Hai, 2016, 08:31:59 AM
       
*

        Chiếc máy bay thứ 4 đã hạ cánh xuống căn cứ không quân Clark Air Base - Philippines lúc 11 giờ địa phương (tức 10 giờ, ngày thứ Hai, giờ New York), mang theo 26 tù binh vừa được trao trả tại Việt Nam. Ba máy bay khác, mang theo 116 tù binh được thả tại Hà Nội, đã đến buổi chiều ngày hôm trước. Đó là đợt tiếp nhận trao trả các tù binh Mỹ đầu tiên của cuộc chiến tranh Việt Nam vào ngày 13 tháng 2 năm 1973.

        Các tù binh đã được đón tiếp như những ''anh hùng" khi họ về đến Clark Air Base, nơi nhữhg chuyến bay tạm thời dừng chân để chuẩn bị cho chặng bay dài tiếp theo. Trực tiếp Đô đốc Hải quân Noel Gayler, Tư lệnh lực lượng Mỹ Thái Bình Dương, dẫn đầu đến thăm hỏi các tù binh, cùng đi với ông còn có Trung tướng William G. Moore Jr, người chỉ huy đơn vị Không quân 13 và người điều hành các hoạt động trở về quê hương ở Clark; Roger Shields, phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, phụ trách công việc cho POW / MIA.

        Tù binh đầu tiên bước trên thảm đỏ là Đại úy Jeremiah A. Denton của Hải quân. Sau gần tám nầm trong trại giam, khi được mời nói chuyện với đám đông dân chúng đang xếp hàng cạnh đường băng, ông tự tin tiến vào một micro và nói: "Chúng tôi rất vinh dự khi có cơ hội để phục vụ đất nước mình trong nhữhg hoàn cảnh khó khăn như những ngày qua. Chúng tôi rất biết ơn các cấp chỉ huy và cảm ơn tất cả những ai đã tham gia hoạt động giúp các tù binh hồi hương thuận tiện nhất. Rồi ông ta hô to: "Chúa phù hộ cho nước Mỹ!" (Sau này, Jeremiah A. Denton đã được bổ nhiệm Chuẩn đô đốc và được bầu vào Nghị viện Hoa Kỳ/ đại diện cho vùng Alabama).

        Đi ngay sau Đại úy Jeremiah A. Denton là Trung úy Hải quân Everett Alvarez Jr, phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi và bị bắt trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đã có "thâm niên" hơn tám năm làm tù binh. Chỉ có bốn trong số nhữhg tù binh được thả (ba từ miền Bắc và một từ phía Nam) - đã phải rời máy bay xuống sân bằng cáng. Phần còn lại họ đều tự đi ra, bước xuống cầu thang máy bay trên thảm đỏ để chờ xe buýt và xe cứu thương.

        Đại tá Không quân Robinson Risner, sĩ quan cao cấp nổi tiếng tại "Hà Nội Hilton" (người sau này được vinh dự dựng tượng chân dung tại Học viện Không quân Mỹ) nghẹn ngào cảm xúc từ khi ông được trao trả và ngồi trên chiếc C-141 trong chuyến bay thứ hai từ Hà Nội trở về, đã xúc động nói: "Thay mặt tất cả những người bị bắt làm tù binh, tôi muốn cảm ơn tất cả các bạn, cảm ơn Tổng thống và người dân Mỹ đã đưa chúng tôi về nhà để tự do một lần nữa. Cảm ơn bạn hơn bao giờ hết và rất nhiều!"

        Các tù binh đã được chào đón với sự cổ vũ mừhg vui, hoan hô trong nước mắt, khi họ ra khỏi máy bay. Một số tù binh bước nhanh nhẹn ra khỏi máy bay, mỉm cười và chỉ ngón tay cái lên. Tiếng hô "Welcome Home!" của khán giả từ các cơ sở chào đón các tù binh khi họ bước ra khỏi máy bay. Hơn 1.000 cư dân địa phương đã có mặt. Một số chàng trai trẻ trong trang phục thể thao bóng chày và đồng phục Hướng đạo sinh, những phụ nữ ngồi trên bãi cỏ, trẻ em, các phóng viên với máy ảnh và quay phim. Nhiều người xúc động đã ứa nước mắt...

        Trong khi các tù binh Mỹ được thả từ miền Nam Việt Nam vẫn đi đôi dép Việt Nam và bộ quần áo bệnh viện được cấp phát trước chuyến bay, thì nhữhg người được thả từ Hà Nội mặc quần áo đồng phục mà họ đã nhận được từ miền Bắc Việt Nam ngay trước khi họ được trao trả, có vẻ tươm tất hơn: quần xanh, áo sơ mi màu xanh nhạt, thắt lưhg màu nâu, giày đen, và áo jacket màu xám xanh ánh sáng. Chính phủ Việt Nam còn chu đáo cấp cho mỗi tù binh một túi đen đựng tư trang lên máy bay.

        Sau khi nhận được sự kiểm tra y tế, rồi ăn uống món bít tết, kem và thực phẩm Mỹ khác, trước khi thực hiện bay tiếp theo trở về nhà của họ, các tù binh đều được nhận đồng phục mới và yêu cầu thay thế nhữhg bộ đồng phục do phía Việt Nam cấp phát trước khi trao trả. Máy bay của họ đã dừng lại ở Hawaii và California. Nhóm đầu tiên gồm 20 tù binh đã về đến Travis Air Force Base, California, vào ngày 14 tháng hai năm 1973.

        Đại úy Hải quần James stockdale (người sau đó đã trở thành một Phó Đô đốc và ứhg cử viên Phó Tổng thống Mỹ) là người đàn ông đầu tiên khập khiễng ra khỏi chuyến bay lịch sử này. Tiếp đó, lần lượt đến các người khác bước xuống trong sự vui mừng tột độ của thân nhân gia đình họ. Tin tức, hình ảnh và cả các clip tiết lộ nhữhg cảm xúc sâu sắc về tù binh được hồi hương sau cuộc chiến tranh Việt Nam ngày đó đã xuất hiện tràn ngập trên các báo chí nước Mỹ và cả thế giới...


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Hai, 2016, 07:10:03 AM
       
*

        Một đêm cuối năm 2012, người viết cuốn sách này đã cùng cựu phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ của Việt Nam trực tiếp lên Nội Bài để đón Nghệ sĩ nhiếp ảnh Johr Fleck vừa bay đến từ bên kia bờ đại dương, ông là một trong nhữhg tay máy cự phách nhất của nước Mỹ hiện nay, chuyên chụp ảnh cho Bộ Không quân Hoa Kỳ. Johr rất thần tượng nhân vật cựu phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ ở Việt Nam. ông đã chụp tới 58.000 bức ảnh tư liệu cho nhân vật này. Một con số khổng lồ, mà kể cả các siêu sao điện ảnh của Hollywood cũng chưa chắc đẫ có được.

        Johr Fleck sang Việt Nam lần này là thứ hai, với mục đích muốn bổ sung thêm tư liệu để hoàn thành một cuốn sách ảnh, dự kiến sẽ in song ngữ Anh - Việt, về đề tài những cựu phi công Việt - Mỹ. Và quan trọng hơn, là ông muốn khảo sát việc tổ chức đưa một đoàn cựu phi công Mỹ sang thăm Việt Nam vào đúng dịp kỷ niệm 40 năm thi hành Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, trao trả toàn bộ Tù binh Phi công Mỹ cho Chính phủ Hoa Kỳ (1973 - 2013) và 60 năm kỷ chiến Chiến thẳng Điện Biên Phủ, Giải phóng Thủ đô (1954 - 2014)... Nên vừa xuống sân bay đêm hôm trước, chiều hôm sau, ông đã theo cựu Phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ lên tàu về Nghệ An, dự đám giỗ thân phụ ông Mỹ và kết hợp tác nghiệp luôn.

        Tôi đã mời Johr Fleck tới Café Lục Bát ở 40/6 phố Võ Thị Sáu - Hà Nội, tham dự buổi ra mắt tập thơ Đất Làng của Nhà thơ Đặng Cương Lăng và ăn trưa ngay tại quán. Thật tình cờ, cùng ăn trưa với Johr Fleck hôm đó, ngoài cựu phi công MiG-21 của Việt Nam Nguyễn Hồng Mỹ còn có Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Tướng Dan Cherry đã thông qua Johr Fleck chuyển tới chúng tôi nhiều câu hỏi khảo sát cho chuyến đi của các cựu tù binh phi công Mỹ trở lại Việt Nam sau 40 nầm. Chúng tôi đã thay nhau, lần lượt giải đáp toàn bộ những thắc mắc, băn khoăn của phía Mỹ...

        Rồi chúng tôi có buổi tiếp xúc với Trung tướng Trần Hanh (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Chủ tịch Hội cựu Chiến binh Việt Nam; cựu phi công MiG-17 và MiG-21; người đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ trên bầu trời miền Bắc, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân), ông khuyên chúng tôi nên làm việc với Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam để được giúp đỡ.

        Chúng tôi rất mừhg là Tiến sĩ Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch Liên hiệp mới nghe qua điện thoại, đã hoan nghênh và hoàn toàn ủng hộ ý tưởng nêu trên. Đang bận họp Quốc hội, vị Chủ tịch đã tranh thủ tiếp chúng tôi vào giờ nghỉ trưa. ông cho mời một Vụ trưởng phụ trách công tác Châu Mỹ tới cùng nghe chúng tôi trình bày kế hoạch tổ chức đón đoàn cựu Tù binh phi công Mỹ, dự kiến sẽ sang thăm lại Việt Nam vào mùa hè năm 2014. ông còn hứa, sẽ tạo mọi điều kiện, trợ giúp các thủ tục hành chính và ngoại giao cần thiết để đón đoàn được thuận lợi và hiệu quả nhất...

        Đầu tháng 10 năm 2013, cựu phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ đưa Nhà báo David Freed - một phóng viên nổi tiếng của Tạp chí Hàng không và vũ trụ Mỹ, từng đoạt giải Nhất báo chí quốc tế - tới gặp tôi tại Lục Bát Quán. David Freed khoe: ông ta có máy bay riêng và thường xuyên bay. Freed cũng không giấu giếm: Con trai mình là một sĩ quan có quân hàm Đại úy trong quân đội Mỹ, vừa thoát chết từ chiến trường Afghanistan trở về. Lần đầu tiên sang Việt Nam, David Freed có tham vọng viết loạt bài "đinh" cho tạp chí Mỹ về bộ đội Tên lửa Việt Nam và tìm hiểu nguyên nhân đích thực khiến Không quân Mỹ đã thua Tên lửa Việt Nam như thế nào? Qua một người thân và điện thoại, tôi đã kết nối được với Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân... Cuối năm 1972, Nguyễn Văn Phiệt là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn Tên lửa 261 sư đoàn Phòng không 361 (Đoàn Thành Loa). Trong trận "Điện Biên Phủ trên không" đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 năm 1972, ông đã chỉ huy Tiểu đoàn bắn hạ 2 máy bay B52 Mỹ... Trung tướng Nguyễn văn Phiệt đã nhiệt tình, cởi mở tiếp chúng tôi tại nhà riêng ở 174 phố Lê Trọng Tấn. Điều thú vị hơn: ông Phiệt cũng là một trong những nhân chứhg, có mặt tại thị xã sơn Tây cuối tháng 11 năm 1970. Ngày đó, ông Phiệt là học viên lớp bồi dưỡng nâng cao cán bộ cấp Trung đoàn của Trường Sĩ quan Phòng không, ông nhớ rất rõ: Trước khi vụ tập kích xảy ra, bộ đội mình thường tập trận ở khu vực Sơn Tây, có cả máy bay trực thăng; nên trong đêm lực lượng biệt kích Mỹ đổ bộ cứu tù binh phi công bất thành, lúc đầu ai cũng tưởng bộ đội ta lại tập trận. Chỉ khi có thông tin về các nạn nhân, người ta mới biết chuyện gì đã xảy ra ở Sơn Tây…


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Hai, 2016, 04:23:58 AM
        Trong Lễ hội Lục Bát Quý Tỵ - 2013, như một sự hữu duyên, tôi đã gặp được Trung tá cựu chiến binh Bùi Nguyễn Hải Yến. Chị Yến xúc động nhớ lại: Năm 1970, dù mới nhập ngũ được vài tháng, đơn vị đóng quân tại thị xã Sơn Tây. Nhưng ngay trong đêm vụ tập kích xảy ra, người nữ quân nhân này cùng một số đồng đội đã được lệnh lên xe tới hiện trường để cứu hộ các nạn nhân... 43 năm đã qua, nhưhg hình ảnh những người bị thương được đưa tới Viện Quân y 105, nhữhg thi thể và hiện trường đầy máu vẫn còn in đậm trong ký ức của nhiều người cao tuổi ở khu vực Đền Và - Sơn Tây.

        Vào một ngày đẹp trời tháng 11 năm 2013, chúng tôi đã cùng đến thăm lại bà Trần Thị Liên (tức "Nghiên gà") - một nhân chứng của Vụ tập kích sơn Tây. Năm này bà Liện đã bước qua tuổi 80, nhưng vẫn còn khá minh mẫn. Bà Liên khoe: Sau ngày tôi viết bài, giới thiệu về câu chuyện của bà vô tình tiếp phẩm cho các tù binh phi công Mỹ và chứng kiến "Vụ tập kích Sơn Tây" thế nào trên Báo An ninh thế giới, có rất nhiều cựu tù binh phi công Mỹ, khi có điều kiện sang Việt Nam đã tìm đến tận Sơn Tây thăm bà. Trong đó, có cả một nhân vật nổi tiếng thế giới, cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ: Thượng nghị sĩ John Sidney McCain, ông "Kên" trong vai một khách du lịch, mặc quần soóc, đi giày vải, đội mũ lưỡi trai (miền Nam gọi là ''nón kết") đã xin được chụp ảnh với bà "Nghiên gà".

        Có một chi tiết khá hài hước là, dưới con mắt của nhiều cựu tù binh phi công Mỹ từng bị giam giữ bí mật ở Xã Tắc năm 1970, thì bà "Nghiên gà" đã rất "dũng cảm" vì "dám" cung cấp thức ăn cho họ. Dù thực tế, hồi đó bà chỉ là người buôn gà tự do và may mắn nhận được hợp đồng "tiếp phẩm" cho trại tù binh.

        Bây giờ, mỗi khi có khách tới thăm, bà Liên thường tự hào giới thiệu một bức ảnh chụp chung với Thượng nghị sĩ, cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ John Sidney McCain cùng bức thư của vợ chồng một người Mỹ, có nội dung được dịch như sau:

        Ngày 29 tháng 1 năm 1999

        Thưa bà, người bạn mới của chúng tôi!

        Tên tôi là Charlene Terrell, là một trong nhữhg người Mỹ đã gặp bà ở Sơn Tây hồi tháng Mười năm ngoái. Được gặp bà là một trong nhữhg kỷ niệm tốt đẹp nhất trong chuyến đi của chúng tồi. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên lòng tốt và sự hiếu khách mà bà đã dành cho chúng tôi. Đặc biệt, tôi không bao giờ quên lòng tốt mà bà đã dành cho chồng tôi và nhữhg người Mỹ khác nhiều năm trước đầy, khi họ bị giam tại một nhà tù gần nhà của bà. Bà đã mạo hiểm khi cố gắng đưa đồ ăn vào cho những người đàn ông đang bị đói ấy. Chúng tôi khâm phục lòng dũng cảm đó của bà.

        Chúng tôi vui mừng khi biết rằng mọi việc của bà sau đó đã diễn ra tốt đẹp. Các con bà đều có công việc ổn định và có thể giúp đỡ bà. Chúng tôi biết bà rất tự hào về các con của mình. Và các con của bà cũng rất kính yêu bà.

        Chúng tôi chúc bà hạnh phúc và sức khỏe trong năm mới. Chúng tôi cầu Chúa phù hộ cho bà và gia đình. Nếu chúng tôi có thể trở tại Việt Nam trong thời gian tới, chúng tôi sẽ gặp lại bà. Nếu bà có điều kiện sang Mỹ, bà nhất định phải tới chơi với chúng tôi. Một lần nữa xin cảm ơn bà về tất cả mọi việc. Bà thật sự là một ng ười phụ nữ tốt bụng và có trái tím rộng lượng.

        Kính thư: Charlene và David Terrell


        Trước khi phiên bản "Phi công Mỹ ở Việt Nam" năm 2014 được ấn hành, tác cuốn sách này đã mời Thiếu tướng, Nhà giáo Phạm Văn Dần, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục III - Bộ Công an về thăm lại khu Đền Và và làng Xẫ Tắc, nơi có dấu tích Trại giam bí mật những Tù binh phỉ công Mỹ trong chiến tranh. Vị tướng già từng nhiều năm dạy học tại vùng sơn Tây, giờ đây gặp lại cảnh cũ, người xưa, không khỏi bồi hồi xúc động...

        Cùng tham gia đoàn còn có Thủ đền - Quan thày Đặng Thị Mát; Cựu chiến binh Bùi Nguyễn Hải Yến - Họ đều là nhữhg nhân chứng của "Vụ Tập kích Sơn Tây năm 1970". Bằng nhữhg câu chuyện, hồi ức mà họ đã trực tiếp "mắt thấy, tai nghe" đã bổ sung thêm khá nhiều trang tư liệu sống động cho cuốn sách này.
Chúng tôi đầ ghi lại bức ảnh kỷ niệm trước dấu tích cổng của Trại giam bí mật nhữhg Tù binh Mỹ tại sơn Tây cách đây hơn 40 năm... Tôi chợt nghĩ: Gần 70 năm trước, nếu Đội đặc nhiệm "Con Nai" kết nối được Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổng thống Harry S.Truman theo đúng tinh thần: "Quắn đội Mỹ là bạn ta/cứu phi công Mỹ mới là Việt Minh..." thì chắc chắn lịch sử quan hệ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ cũng sẽ không phải trải qua nhiều phen thăng trầm đến thế!


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Hai, 2016, 04:33:44 AM
   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200354_zpsedzii2by.jpg)
Tù binh Mỹ mới được trao trả, biểu lộ sự vui mùng tột độ trên chuyển máy bay vừa cất cánh từ sân bay Gia Lâm - Hà Nội, trong chương trình hoạt động "Homecoming", ngày 12 tháng 2 năm 1973.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200355_zpsajrt3d54.jpg)
Tống thống Mỹ Richard Nixon bắt tay tù binh phi công John Sidney McCain vừa được trao trà từ Việt Nam trở về, năm 1973.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200356_zpsyslqyfq9.jpg)
Một đêm cuõi năm 2012 tại sân bay Nội Bài, tác giả cuốn sách cùng cựu phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ của Việt Nam đi đón nghệ sĩ nhiếp ảnh Johr Fleck. Ong là một trong những tay máy cự phách nhất của nước Mỹ hiện nay, chuyên chụp ảnh cho Bộ Không quân Hoa Kỳ.



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Hai, 2016, 06:00:23 AM
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200357_zpsqf6n9brx.jpg)
Từ trái qua: Tác giả cuốn sách tới thăm nhà riêng của Trung tướng Trần Hanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cựu Phi công MiG-17, Anh hùng LLVTND; cựu phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Mỹ và TS Luật sư Đông Xuân Thụ, tại Hà Nội, tháng 12 năm 2012.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200358_zpsfgtc4pvq.jpg)
Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn văn Phiệt, nguyên Phó Tư lệnh Chỉnh trị Quân chủng Phòng không - Không quân, trò chuyện với Nhà báo David Freed, Phóng viên của Tạp chí Hàng không và Vũ trụ Mỹ, về truyền thõng của bộ đội Tên lửa Việt Nam, tháng 10 năm 2013.


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200359_zpsvzqpiaoi.jpg)
Thiếu tưởng Phạm văn Dần, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục III - Bộ Công an (thứ hai, từ phải qua) và một số nhân chứng của Vụ tập kích Sơn Tây năm 1970 tại Đền Và (ảnh chụp tháng 10 năm 2013).



Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2016, 07:10:45 AM
     
Giỏi thiêu đôi nét về Tác giả cuốn sách:

NHÀ VĂN ĐẶNG VƯƠNG HƯNG VÀ NHỮNG CÔNG TRÌNH TÁC PHẨM TRONG LĨNH Vực KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

        Nhà văn Đặng vương Hưng sinh ngày 28 tháng Chạp năm Đinh Dậu (tức ngày 15 tháng 2 nằm 1958). Cha họ Đặng, mẹ họ Vương. Tổ quán: Hứng Yên. Sinh quán: xã Tân Trung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, cựu Sinh viên Viết văn Nguyễn Du (Khoá III). Cử nhân Luật. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội...

        Ông có nhiều năm phục vụ trong lực lượng vũ trang; làm báo, biên tập và xuất bản sách. Hiện là Sĩ quan cao cấp, phụ trách Ban Biên tạp Website và Ban Biên tập Sách văn học của Nhà xuất bản Công an nhân dân - Bộ công án; là người sáng lập, tổ chức và điều hành các website: www.lucbat.vn, www.nxbcand.vn và www.kyvatlichsucand.vn; đồng thời, là Cố vấn Truyền thông của trang tin nhanh www.vntime.vn.

        Nhà văn Đặng Vương Hưng còn là Thành viên sáng lập và Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ Mãi mãi tuổi 20; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Cuộc vận động sưu tầm và Tuyên truyền Kỷ vật Lịch sử CAND (2012 - 2015).

        Đặc biệt, Nhà văn Đặng vương Hưng được biết đến là Tác giả ý tưởng, người khởi xướng và tổ chức nhiều Công trình tác phẩm "Sưu tầm và Giới thiệu" độc đáo và đặc biệt xuất sắc; có giá trị rất cao về nội dung tư tưởng và mang tính nhân văn sâu sắc; có tác dụng lớn phục vụ phong trào và sự nghiệp Cách mạng; có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài trong đời sống nhân dân; đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng Tổ quốc và phát triển nhận thức xã hộĩ; góp phần bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của dân tộc...

        Dưới đây, chúng tôi xin tóm tắt giới thiệu một số công trình tác phẩm tiêu biểu, do Nhà văn Đặng Vương Hưng khởi xướng, là tác giả ý tưởng và trực tiếp tổ chức, thực hiện thành công, trong khoảng 10 năm gần đây.

        1- Công trình Tổ chức Cuộc vận động sưu tầm, biên soạn và xuất bản bộ sách "Những Lá thư và Nhật ký thời chiến Việt Nam":

        Tháng 12-2004, nhân kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và tiến tới kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, Nhà văn Đặng Vương Hưng đã nhân danh một nhóm các Nhà văn cựu chiến bỉnh phát động Cuộc vận động sưu tầm và Xuất bản bộ sách "Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam", bằng cách cho công khai đăng tải hướng dẫn thông tin nội dung tư liệu cần sưu tầm trên nhỉều cơ quan báo chí (An ninh thế giới, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong, Tuổi trẻ, Thanh niên, Đài Truyền hình Việt Nam...), cung cấp địa chỉ tiếp nhận cụ thể và hồi âm kịp thời.

        Mặc dù lúc dầu Cuộc vận động chỉ mang tính tự phát của một cá nhân, nhutig dường như đã động chạm đến mọt nhu cầu sẵn có trong đời sống cộng đồng; nên đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của các đồng nghiệp và hưởng ứng rộng rãi toàn xã lội. Đã có hàng vạn lá thư, hàng trăm cuốn nhặt ký thời chiến được phát hiện, gửi đến cho những người sưu tầm và biên soạn sách. Đấy là cơ sở cho gần một trăm tác phẩm thuộc "Tủ sách Mãi mãi tuổi 20" ra đời. (Trực tiếp Nhà văn Đặng Vương Hứhg đã sưu tầm, biên soạn và viết lời giới thiệu cho hơn 20 cuốn sách)... Các các phẩm tiêu biểu của Tủ sách "Mãi mãi tuổi 20" đã được bạn đọc cả nước đánh giá cao: Những lá thư thời chiến Việt Nam nhiều tác giả), Tài hoa ra trận (Nhật ký của Liệt sĩ Hoàng Thượng Lân); Trở về trong giấc mơ(Nhật ký của Liệt sĩ Trần Minh Tiến); Nhật ký Vũ Xuân; Sống để yêu thương và dâng hiến (Tập thư của liệt sĩ Hoàng Kim Giao); Trời xanh không biên giới (Nhật ký của Thương binh Đặng Sỹ Ngọc); Tây tiến viễn chinh (Nhật ký của Liêt sĩ Trần Duy Chiến); Gửi lại mai sau (Nhật ký của Liệt sĩ Nguyến Hải Trường)... Đặc biệt, 2 tác phẩm "Mãi mãi tuổi 20" và  đã trở thành hiện tượng trong đời sống chính trị xã hội của cả nước năm 2005. Nhật ký "Mãi mãi tuổi 20"của Liệt sĩ Nguyễn văn Thạc đã trở thành phong trào rầm rộ mang tên ''Tiếp lửa truyền thong mãi mãi tuổi 20" của Thế hệ trẻ và các cựu chiến binh; do Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội cựu chiến binh Việt Nam phối hợp tổ chức trên quy mô cả nước.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/b%20-%200362_zpssg5xtikp.jpg)
Năm 2005, Nhà văn Đặng vương Hưng đã vinh dựđược Bộ trưởng Bộ văn hóa - Thông tin tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong việc sưu lam và gĩới thiệu bộ sách ''Những lá thư và nhật ký tíiời chiến Việt Nam".

        Nằm 2012, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã xác nhận kỷ lục gia: "Nhà văn Đặng Vương Hưng - Nhà văn Việt Nam đầu tiên tổ chức Cuộc vận động Sưu tầm và Xuất bản bộ sách "Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam".

        2- Công trình sáng lập Tủ sách "Chuyện đời tôi" và tham gia tổ chức cuộc thi cho các phạm nhân toàn quốc viết tự truyện:

        Được Nhà văn công bố và khởi xướng từ giữa năm 2007, việc tổ chức thực hiện Tủ sách "Chuyện đời tôi" (còn được gọi là "Tự truyện bình dân") đã được công khai trên các phương tiện thống tin đại chúng; Báo Thể thao & Văn hóa, Báo Người cao tuổi và Nhà xuất bản công an Nhân dân hỗ trợ tích cực, đã thành công ngoài dự kiến. Chỉ vài tháng sau đó, hàng loạt tác phẩm thuộc tủ sách này đã ra đời: "Chuyện đời tôi", "Không thể lãng quên" "Quà tặng mai sau"... với hơn 50 nhân vật (đồng thời cũng là tác giả), hầu hết là các cựu chiến binh, cựu cán bộ kháng chiến, Nhà giáo... Đặc biệt, với việc tham gia của một số tác giả là những bạn trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, khuyết tật về sức khoẻ, nhưng với nghị lực phi thường, vươn lên trong cuộc sống, được Nhà văn Đặng vương Hưng "đỡ đầu" họ đã có tác phẩm cống hiến và đóng góp tích cực cho xã hội: Nguyễn Hồng công (1978 - 2009); Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Minh Nguyệt (1984 - 2009), Nguyễn văn Toán, Nguyễn Thị Phương... với các tác phẩm được báo giới và bạn đọc đánh giá rất cao về tính nhân văn: Khát vọng sống để yêu; Ở trọ trần gian; Nụ cười ở lại; Xin đừng khóc nữa mẹ ơi; Không là cơn gió thoảng qua; Vẫn tin ở ngày mai; Những ngọn đèn trước gió; Cổ tích tình yêu... Những tác phẩm đó đã có giá trị vượt ra khỏi nhữhg cuốn sách thông thường, làm xúc động trái tim hàng triệu độc giả. Giờ đây, chỉ cần tra tìm kiếm qua mạng internet những cái tên tác phẩm hoặc tác giả trên, lầ bạn sẽ dễ dàng tìm ra hàng triệu kết quả.

        Năm 2009, đồng chí Võ Văn Thưởng, thay mặt Trung ương Đoàn TNCS HCM và Hội Thanh niên Việt Nam đã quyết định tặng danh hiệu và biểu tượng "Thanh niên sống đẹp" cho các tác giả trẻ Nguyễn Hồng Công, Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Văn Toán. Năm 2012, anh Nguyễn Phước Lộc, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã tặng giải "Thanh niên sống đẹp" cho   nhân vật - tác giả của tự truyện "Cổ tích tình yêu".

        Trên cơ sở nhữhg kinh nghiệm thành công của việc tổ chức Tù sách "Chuyện đời tôi" Nhà văn Đặng Vương Hưhg đã nêu ý tưởng, cố vấn; đồng thời, ông trực tiếp tham gia làm thành viên Ban Tổ chức và Giám khảo cho một cuộc thi viết tự truyện độc đáo, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc chưa từng có ở Việt Nam, mang tên: "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện" do Tổng cục Cảnh sát Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Bộ công an tổ chức từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2011. Cuộc thi dành cho đối tượng đặc biệt là các phạm nhân đang thi hành án, đã được phát động trong các trại giam, trại tại giam... trên toàn quốc. Kết quả, chỉ trong thời gian 6 tháng, Ban Tổ chức đã nhận được 23 ngàn bài dự thi, với khoảng 150 ngàn trang bản thảo viết tay hoặc đánh máy vi tính; trong đó có hàng ngàn tác phẩm dày hàng chục trang bản thảo, hàng trăm tác phẩm dày vài chục trang... Cuộc thi đã gây bất ngờ lớn với chính Ban Tổ chức, không chỉ có tác dụng tích cực cho hàng vạn phạm nhân đang cải tạo hoàn lương, mà còn mang lại niềm vui cho hàng vạn gia đình có phạm nhân đang chuẩn bị hòa nhập cộng đồng. Nhà xuất bản CAND đã ấn hành tác phẩm "Sự hồi sinh từ trong tuyệt vọng" mở đầu tác phẩm là bài tựa thay lời giới thiệu sách của Nhà vần Đặng Vương Hưng, gây xúc động người đọc và dư luận báo giới; mở ra một triển vọng và hướng tiếp cận mới trong công cuộc gỉáo dục và cải tạo phạm nhân; đấu tranh và phòng chống các loại tội phạm. Đặc biệt, cuộc thi và cuốn sách này đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam cùng lúc xác lập 2 Kỷ lục quốc gia: Cuộc thi viết tự truyện với chủ đề "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện" có số lượng phạm nhân và trại viên tham gia nhiều nhất; và "Sự hồi sinh trong tuyệt vọng" - cuốn sách tập hợp nhiều bài viết tự truyện của các tù nhân, trại viên trên khắp cả nước.


Tiêu đề: Re: Phi công Mỹ ở Việt Nam
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Hai, 2016, 05:11:03 AM
        2- Công trình khởi xướng và tổ chức Cuộc vận động ''Sưu tầm và giới thiệu những kỷ vật kháng chiến" (2008 - 2010):

        Cuộc vận động được chính thức tiến hành trong 3 năm, từ 2008 đến 2010, do Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Hội cựu Chiến binh Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đồng chỉ đạo; Báo Tiền Phong, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; Báo QĐND, Đài Truyền hình Việt Nam, Nhà Xuất bản CAND, Thời báo Ngân hàng đồng tổ chức; Ngân hàng TMCP Bắc Á là Nhà tài trợ chính, đã chi hơn 10 tỉ đồng.

        Nhà văn Đặng Vương Hưng là tác giả khởi xướng và xây dựhg ý tưởng; Nhà báo Nguyễn Đức Đông bổ sung hoàn thiện. Đại tướng Lê Văn Dũng, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, đã ký quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức.

        Kết quả, sau hơn 3 năm thực hiện, Cuộc vận động đã tiếp nhận hơn 11 nghìn kỷ vật (Theo Thiếu tướng Lê Mã Lương, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết: Bình thường, phải mất hơn 10 năm, bảo tàng của ông mới có thể sưu tầm được số hiện vật này); có 4 cuộc triển lãm, 3 cuộc giao lưu, 11 cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử, tiếp nhận kỷ vật kháng chiến... đã diễn ra tại ba miền, nhân những ngày kỷ niệm lớn của đất nước từ năm 2008 đến 2010. Trong đó, có nhiều kỷ vật gắn liền với chiến công hiển hách của các anh hùng, tướng lĩnh quân đội, có những kỷ vật rất đỗi giản dị, chỉ là những bức thư thời chiến, là nhữhg vật dụng thông thường của những người lính bình thường, của gia đình họ. Nhưng tất cả đều là một phần của cuộc chiến, có giá trị rất lớn về lịch sử, văn hóa, khoa học; đồng thời là những nhân chứng sống, chứa đựhg hàng nghìn, hàng vạn những số phận con người của một thời chiến tranh, một thời hòa bình, anh hùng và bi tráng. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã tham gia và ủng hộ kỷ vật cho cuộc vận động nêu trên.

        Những hiện vật sưu tầm được qua cuộc vận động nêu trên không chỉ ghi nhận, tôn vinh những cống hiến, hy sinh của các thế hệ người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ hôm nay tiếp lửa truyền thống, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của thế hệ cha anh đi trước... đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Ban Tổ chức cuộc vận động đã phối hợp cùng Nhà xuất bản Công an nhân dân và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân biên soạn và ấn hành một số tập sách tư liệu quý mang tên "Những kỷ vật kháng chiến Việt Nam".

        
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200366_zpst83nv7dm.jpg)
Trong Lễ Tổng kết Cuộc vận động "sưu tầm và giới thiệu những Kỷ vật kháng chiến", được tổ chức long trọng tháng 12- 2010; với vai trò là tác giả ý tưởng, người khởi xướng cuộc vận động, Nhà văn Đặng vương Hưng đã vinh dự được Đại tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp trao tặng Bằng khen và Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam - Đại tướng Lê Văn Dũng tặng hoa.

        3- Công trình sáng lâp trang website cộng đồng Lục Bát Việt Nam và tổ chức Lễ hội Lục Bát hàng năm:

        Lục Bát không chỉ là tên một thể thơ truyền thống thuần Việt nhất, mà còn là biểu tượng của Hồn quê Việt Nam. Thông qua hình thức truyền khẩu và thuộc lòng, Thơ Lục Bát đã góp phần chuyển tải và lưu giữ một kho tàng tri thức khổng lồ - đó là nhữhg bài ca dao, dân ca, tục ngữ, phương ngôn... của tổ tiên ông bà từ ngàn đời truyền tại cho con cháu. Chính vì thế, Lục Bát vừa là Di sản quý báu, vừa là Tài sản vô giá. Đã là người Việt, thì không ai là không biết đến và không tự hào với kiệt tác Truyện Kiều bằng Thơ Lục Bát của Đại thi hào Nguyễn Du. Nhà nghiên cứu Văn hóa Phạm Quỳnh có câu nói nổi tiếng "Truyện Kiều còn thì Tiếng ta còn". Suy rộng ra: Lục Bát còn thì văn hóa Việt Nam còn, mà Văn hóa Việt Nam còn thì dân tộc ta sẽ trường tồn!

        Xuất phát từ nhận thức trên, để phát huy tính ưu việt của công nghệ thông tin trong việc quảng bá, lưu giữ Thơ Lục Bát; nhằm góp phần bảo tồn và phát huy Di sản vần hóa của dân tộc; ngày 6 tháng 8 năm Mậu Tý (2008), Nhà thơ Đặng Vương Hưng đa cho khai trương trang web cộng đồng, phi lợi nhuận mang tên lucbat.com (nay là Lục Bát Việt Nam) với các địa chỉ tên miền truy cập: lucbat.vn, lucbat.com và lucbat.net, do ông sáng lập và tổ chức điều hành. Ngay lập tức, trang web đã nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tác giả, sự cổ vũ của bạn đọc, sự ủng hộ hết lòng của báo giới và dư luận người yêu thơ, nên đã phát triển rất nhanh.

        Hiện nay, Lục Bát Việt Nam là một trong nhữhg trang web cộng đồng, phi lợi nhuận, có số lượng Biên tập viên, Đại diện vùng miền, Tình nguyện viên, cộng tác viên và số lượng người truy cập lớn nhất ở Viết Nam.
Hơn 5 năm qua, Lục Bát Việt Nam đã không chỉ thành công trong việc quy tụ được hàng vạn tác giả sáng tác Lục Bát, thiết lập được một Thư viện lưu trữ lớn trên mạng internet về Thơ Lục Bát; mà còn thành công trong việc tổ chức nhiều sự kiện văn hóa mang tầm cỡ quốc gia.

        Với nguồn kinh phí hàng tỷ đồng được huy động từ nguồn lực xã hội hóa, mỗi năm Lục Bát Việt Nam đều tổ chức thành công một Cuộc thi sáng tác Thơ Lục Bát, mời nhiều cơ quan báo chí và văn nghệ sĩ có uy tín tham gia Ban Tổ chức và Giám khảo, với sự chứng kiến của báo giới.

        Đặc biệt, là việc trong 5 năm qua, mỗi năm cứ đến ngày Mùng 6 Tháng 8 âm lịch, Lục Bát Việt Nam đều tổ chức thành công một Lễ hội Văn hóa Tâm linh, mang tên Lục Bát, tại Thủ đô Hà Nội, với hàng ngàn người yêu thơ tham dự. Tại Lễ hội này, lần đầu tiên ở Việt Nam, Thơ Lục Bát được chọn lọc xụất bản thành các tập "Lộc Phát" gắn với tên của 12 con Giáp, ỉn trang trọng, để các Cao tăng hành Lễ Rước Thơ, Lễ Dâng hương Thơ và Lễ "Phát lộc" Thơ trên sân khấu... mở ra một hướng đi mới cho việc tiếp cận Thơ với Bạn đọc và qua đó góp phần tôn vinh Văn hóa đọc.

        Cũng hơn 5 năm qua, Lục Bát Việt Nam đã tổ chức xây dựhg - sắp đặt và trình diễn hàng chục ''Lục Bát Quán" trong các Lễ hội Lục Bát, trong Ngày Thơ Việt Nam ở văn Miếu, tại Festival Biển Nha Trang và tại Bến Nhà Rồng, nhân Ngày Thơ Việt Nam - Đó là những không gian đậm chất hồn quê, nhằm tôn vinh Di sản dân tộc và Thơ Lục Bát; với mục đích: vận động, tôn vinh Thơ Lục Bát là Quốc Thi và tiến xa hơn, trong tương lai: Thơ Lục Bát là Di sản vần hóa phỉ vật thể của nhân loại...

        Nhữhg hoạt động nêu trên, chỉ duy nhất trang web cộng đồng Lục Bát Việt Nam làm được, từ hàng tỷ đồng kinh phí xã hội hóa, được dư luận xã hội đồng thuận và đánh giá rất cao.

        4- Công trình khởi xướng và tổ chức Cuộc vận động "Sưu tầm và tuyên truyền Kỷ vật Lịch sử công an nhân dân" (2012 - 2015):

        Đề án do Nhà văn Đặng Vương Hưng khởi xướng và xây dựng; Nhà báo Nguyễn Đức Đông bổ sung hoàn thiện. Thông qua Viện Nghiên cứu Lịch sử công an Nhân dân và Bảo tàng công an Nhân dân thẩm định và đề xuất với Lãnh đạo Tổng cục xây dựng Lực lượng Công an nhân dân và Bộ công an. Tập đoàn VINGROUP là Nhà Tài trợ chính, có văn bản cam kết tài trợ 12 tỷ đồng cho đề án này.

        Cuộc vận động "sưu tầm và Tuyên truyền Kỷ vật lịch sử Công an nhân dân" (2012 - 2015) đã được đồng chí Đại tướng Trần Đại Quang, ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ công an ký quyết định phê duyệt. Bộ Công an đã tổ chức Lễ công bố quyết định này tại Hà Nội, ngày 19-11-2012.
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200369_zpss4fqjdcy.jpg)        
Đại tướng Lê Hồng Anh và Đại tướng Trần Đại Quang chụp ảnh chung với Ban Tổ chức sau buổi Lễ ra mắt Cuộc vận động "Sưu tầm và tuyên truyền "Kỷ vật lịch sử công an Nhân dân tại Hà Nội, ngày 10-3-2013, được VTV truyền hình trực tiếp. (Nhà văn Đặng vương Hưng đứng hàng sau, thứ 3, từ trái sang).

        Lễ ra mắt Cuộc vận động đã được Tổng cục xây dựng Lực lượng CAND tổ chức long trọng tại Cung Vặn hóa Hữu nghị Hà Nội, vào ngày 10-3-2013, đúng dịp kỷ niệm 65 năm 6 điều Bác Hồ dạy CAND và được Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng tường thuật trực tiếp; với sự có mặt của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Công an và đại biểu các nhân chứng lịch sử, các thế hệ cán bộ chiến sĩ Công an nhân dân...

        Ngoài nhữhg công trình tác phẩm tiêu biểu trong lĩnh vực sáng tạo Khoa học và công nghệ nêu trên, Nhà văn Đặng Vương Hưng đã cho xuất bản hơn 40 cuốn sách với nhiều thể loại. Đặc biệt, trong số đó có hơn 20 tác phẩm thuộc thể loại thư và nhật ký thời chiến của Tủ sách "Mãi mãi tuổi 20" với những tư liệu vô giá về lịch sử và truyền thống dân tộc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phi%20cong/b%20-%200370_zpsearlgjff.jpg)
Nhà văn Đặng vương Hưng vinh dự được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác nhận Kỷ lục gia:"'Nhà văn Việt Nam đầu tiên tổ chức Cuộc vận động Sưu tầm và xuất bản bộ sách Những lá thư và Nhật ký thời chiến Việt Nam" và ngài Chủ tịch Tổ chức Kỷ lục Châu Á - Tiến sĩ Biswarroop Roy Chowdhudy, tháng 5 năm 2012 tại TP. Hồ Chí Minh.

        - Ồng là Tác giả đoạt Giải A (duy nhất) Cuộc vận động Sáng tác Văn -Thơ và Ca khúc cho thanh niên (do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức, 1981-1983.

        - Với tư cách là một Nhà báo, Đặng vương Hưng là tác giả của hàng ngàn bài viết, được bạn đọc Việt Nam biết đến là một cây bút xuất sắc về thể loại Phóng sự - Tư liệu; tiêu biểu là Giải Bao chí toàn quốc năm 2000 (với ghi chép ”Có một nàng dâu Nga bán bia hơi ở vùng than!).

        - Người đầu tiên nêu ý tưởng về Những ngôi nhà sống chung với bão cho đồng bào nghèo ven biển miền Trung (đã công bố trên báo Nhân Dân và Website Đảng cộng sản Việt Nam năm 2006).

        - Với tư cách là một Nhà thơ sáng lập website Lục Bát Việt Nam, ông là Người khởi xướng và trực tiếp tổ chức Cuộc thi Thơ Lục Bát "Tổ quốc và Đạo pháp" (2012 - 2018) do ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ đạo; Hội Nhà văn Việt Nam cố vấn Tổ chức, Giám khảo và Bảo trợ thông tin; mỗi năm trao một bộ giải thưởng bằng vàng và Bạc thật cho các tác giả...

        - Nhà văn Đặng Vương Hưng cũng là người đầu tiên nêu ý tưởng về Đề án xây dựhg các "Hoa viên văn nghệ sĩ Việt Nam - Nghĩa trang dành cho các văn nghệ sĩ và trí thức tài danh Việt Nam. (Đã đăng ký Quyền tác giả năm 2008).

        - Là người khởi xướng, đề xuất cuộc thi viết Chúc thư "Gửi lại mai sau" do Báo Người cao tuổi - Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam tổ chức (2012 - 2013); trực tiếp tham gia Ban Tổ chức và Giám khảo.

        Với tư cách là tác giả sáng tạo ý tưởng và trực tiếp tham gia tổ chức, Nhà văn Đặng vương HƯhg đang tiếp tục hoàn thành đề án công trình tác phẩm Khoa học Xã hội và Nhân văn, mang ý nghĩa thời đại. Đó là các Cuôc vận động: Xây dựng Tượng đài và Đền thờ Thánh Võ, Lễ hội Võ Việt và Giải thưởng Võ Nguyên Giáp" (2014 - 2024); xây dựng Tượng đài Chiến thắng Bạch Đằng, Đền thờ Các Vua Hùng và Thánh Bất Tử tại huyện đảo Trường Sa"(2014 - 2018)) xây dựng Tượng đài, Đền thờ và tổ chức Lễ hội cùng tên "Mãi mãi tuổi 20" tại Nghĩa trang Trường sơn (2014 - 2018).

        Tác giả kính mong Quý bạn đọc góp ý, bổ sung thêm tư liệu cho cuốn sách ''Phi công Mỹ ở Việt Nam" để lần tái bản sau sẽ phục vụ được tốt hơn:

        - Email: dangvuonghung03@gmail.com
        - Hoặc điện thoại di động: 0913210520

HẾT