Dựng nước - Giữ nước

Máu và Hoa => Một thời máu và hoa => Tác giả chủ đề:: pt.hung trong 25 Tháng Tư, 2015, 11:34:14 PM



Tiêu đề: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 25 Tháng Tư, 2015, 11:34:14 PM
Xin chào các bác. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng nên mẹ cháu đã viết 1 tự truyện để ghi nhớ về 1 thời đã qua, đồng thời cũng là để tặng 1 số bạn bè thân thiết. Nhân đây cháu xin đăng lên để cho mọi người được biết thêm về 1 lĩnh vực trong cuộc cách mạng: giao liên ở mặt trận Quảng Đà.
TB: Đây là lần đầu tiên cháu mở 1 chủ đề mới nên có gì sai sót mong mọi ng nhắc nhở để sửa chữa.

KÝ ỨC CỦA CUỘC ĐỜI

Chương I: Tuổi thơ nhiều gian truân
Đất nước ta hòa bình thống nhất đã được 40 năm, chiến tranh chống Mỹ đã lùi xa về quá khứ. Đời tôi cũng trải qua nhiều gian truân, vất vả nhưng tất cả rồi cũng qua. Hiện tại tôi phải lo cho gia đình, hạnh phúc của con cái, sức khỏe của tuổi già.
Tuy vậy, mỗi lần gặp mặt đồng đội năm xưa, gặp lại mấy anh, mấy chị cùng ở tù, tôi lại thấy những ngày xưa ấy cứ hiện lên trong ký ức của mình, không sao quên được. Mỗi khi ngồi nói chuyện với nhau là kể toàn chuyện năm xưa, vui cũng có, mà buồn cũng không ít. Để có được niềm vui của tuổi già, chúng tôi thỉnh thoảng gặp mặt nhau, rủ nhau đi chơi, tổ chức ăn nhẹ vừa ăn vừa kể chuyện tếu rồi cùng nhau cười. “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” mà!
Tôi tên là Nguyễn Thị Thanh Hương, bí danh là Thanh Thúy, tên thường gọi là Nguyễn Thị Hương, sinh năm ký kết Hiệp định Gienève 1954. Tôi sinh ra và lớn lên ở một miền quê xa lắc, xa lơ mà nghèo lắm. Nhưng tình cảm bà con quê hương bao giờ cũng mặn mà đầm ấm, chân chất, thật thà. Tôi còn nhớ lúc tôi còn bé tí, khoảng 4 hay 5 tuổi gì đó, nhà tôi ở gần nhà ngoại, còn bốn phía là nhà cậu Hai Điểm, bà ngoại, nhà bà Sương (có cậu Năm Thân, dì Chín Út), nhà bà Nay, bà Huẩn…
Chuyện thế này, trước năm 1954 ba tôi ở Điện Thọ - Điện Bàn - Quảng Nam, đi bộ đội Vệ Quốc Đoàn, đơn vị chuyển vào Quảng Ngãi và đóng quân ở thôn Phú Lâm, xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành. Thời gian đóng quân ở đây có nhà một người dân bị hỏng nặng, bộ đội phải giúp dân sửa chữa lại. Trong lúc loay hoay trong căn nhà thì ba tôi đã bị bức tường đất của ngôi nhà đổ xuống chặn ba tôi. Ông bị thương cột sống nên khi có tên đi tập kết, ông đành ở lại miền Nam hoạt động trong bí mật, và đã gặp, yêu một người con gái ở đây, đó là mẹ tôi sau này.
Tôi nhớ lúc còn nhỏ ngày nào tôi không đi học thì theo ba tôi vào trong nương rẫy để chăn bò. Trong đó có làng dân tộc, họ thường hay đem củi ra bán cho bà Luận, bà chuyên buôn bán, làm ăn với bà con người dân tộc (hồi đó gọi là đồng bào thượng du, hay mọi). Có lần hai ba con đang dắt bò ăn cỏ trên bờ ruộng của người dân tộc, không may con bò lại ăn một bụi lúa của họ, thế là họ bắt hai ba con vào làng. Họ dắt bò cột vào một gốc cây trong sân làng, và bắt hai ba con tôi lên ngồi trên sàn nhà của họ. Tôi sợ quá khóc miết, tới chiều không biết ba tôi nói gì đó với họ, họ thả hai ba con tôi về.
Ở đây ba tôi có điều kiện thuận lợi để hoạt động cách mạng. Cùng hoạt động với ba tôi có bác Chúng, dượng Phó người cùng làng. Sau 1975 đất nước hòa bình tôi tìm về thăm ngoại, các bác ấy nghe tôi về, mừng quá tập trung đến hỏi thăm và kể chuyện năm xưa lúc các bác cùng hoạt động với ba tôi. Các bác nói chuyện rất tình cảm, cứ khen: Ba tôi là người Quảng Nam rất giỏi, cần cù siêng năng, sống có tình có nghĩa lắm, giỏi cả việc nước lẫn việc nhà.
Có một chuyện tôi không sao quên được. Lúc tôi 8 tuổi, khoảng năm 1962, có lần mấy ông cách mạng về hoạt động, nhưng vào ấp chiến lược không được. Lính canh gác ngay ở cổng làng, thấy họ, chúng nó bắn ra, làm hai người cán bộ cách mạng hy sinh ngoài đồng, cách nhà tôi khoảng 1 km. Sáng hôm sau, nghe tin “Việt Cộng” chết ngoài đồng ruộng, tôi còn nhỏ không biết gì, thấy họ chạy ra xem, tôi cũng chạy ra, thấy người nào cũng mập mạp, trắng trẻo không như những lời xuyên tạc của bọn địch. Sau lần đó, tình hình ở đây chộn rộn, nhiều người to nhỏ với nhau là “cộng sản” về. Sau đó mỗi lần có động tĩnh ở đâu không biết, đồn Cộng Hòa trên đỉnh núi cứ bắn đại bác ngang qua làng tôi, hú hú vèo vèo. Mỗi lần nghe đại bác, bà con cả làng tập trung chạy xuống bến sông để núp. Làng tôi có con sông chảy từ trên nguồn Ba Tơ xuống, xuôi về sông Vệ. Sông rộng mà không sâu, bến sông dài thoai thoải. Có một lần, vào buổi chiều gần tối, tôi thấy họ chạy tản cư đông như kiến, ngang qua gần nhà tôi. Tôi vào hối mẹ tôi chạy, mẹ tôi ầm ừ rồi nói: “Chờ ba con về cái đã.” Tôi ra ngõ đứng chờ, lâu quá không thấy mẹ ra. Tôi loay hoay rồi thoáng một cái tôi nhập vào đoàn người tản cư. Tối hôm đó đi xuống vùng an toàn ở Hành Phước, ai ngờ gia đình tôi không ai đi, tôi bị lạc trong dòng người lạ. Tôi khóc mãi, tối họ bảo tôi ăn cơm, tôi không ăn, cứ đi quanh tìm kiếm ba tôi. Còn ba tôi cũng không biết tôi ở đâu mà tìm. Lần mò mãi ba tôi mới biết tin, xuống tìm đưa tôi về.
Sau đó, em gái kề tôi là Nguyễn Thị Ba mới 3 tuổi bị ốm rồi chết. Không lâu sau, mẹ tôi sinh đôi hai em trai, nhưng chúng cũng chết từ hồi còn trong tháng, chỉ còn lại mình tôi.  Sau này nhà tôi không ở gần nhà ngoại nữa, mà dời ra phía ngoài gần đường cái một chút. Ra đây tôi có bạn cùng đi học, học ở bên kia sông và phải đi qua cầu Cộng Hòa. Cầu Cộng Hòa hồi ấy hư hỏng một đoạn, phải bắc mấy sạp tre để đi. Ai đi thường xuyên phải nộp mỗi tháng một ang lúa. Trường học ở tận trên Hành Tín, tôi đi học phải ở lại trưa, chiều học xong mới về. Mẹ tôi đem gạo qua gởi cho nhà bà ngoại của chị con cậu tôi. Nhờ bà ngoại nấu cơm trưa cho tôi ăn. Bà ngoại là mẹ vợ của cậu Hai tôi, nên bà thương tôi giống cháu ngoại của bà vậy. Nhà tôi ở đây, gần nhà ông Hương Quảng. Vườn nhà ông Hương Quảng rộng lắm, có một cái giếng khơi để lấy nước uống và có nhiều cây ăn quả như mận, xoài, vú sữa, ô ma (cây hột gà) và nhiều thứ nữa. Cả làng chỉ mình nhà ông có cái giếng nước ấy. Ông sợ người trong làng đến gánh nước trộm nên suốt ngày cô cháu gái của ông lấy nong đậy kín miệng giếng lại. Nhà ông to, nhà ngói hẳn hoi, có sân rộng, dài lát gạch đỏ. Chắc là ông giàu dữ lắm! Ông già rồi, người cao dong dỏng, tóc bạc phơ, trên đỉnh đầu của ông có búi tóc to bằng quả cau. Lúc nào cũng thấy ông mặc bộ đồ trắng, chống gậy đi quanh vườn. Mỗi lần bọn con nít xóm nhà tôi rủ nhau đi gánh trộm nước giếng nhà ông mà ông thấy được, ông xách cây chạy ra dí. Bọn tôi gánh thùng chạy, có đứa ngã lên ngã xuống, chạy có khói, như ma rượt. Rứa mà bọn tôi cũng không từ cái thói gánh nước trộm nhà ông. Nhà con Mỹ ở sau lưng nhà ông, bọn tôi chơi nhảy dây, chơi đánh nẻ với nhau. Cứ trông chừng thấy ông chống gậy đi ra xa là bọn tôi rủ nhau đi gánh trộm nước giếng. Nếu không gánh trộm nước giếng nhà ông thì phải đi xuống sông gánh, mà xuống sông gánh thì lên dốc không nổi và dễ bị trượt ngã. Ông có cô cháu gái tên là Sáu, không có chồng mà gay, khó tính lắm. Mỗi khi thấy bọn con nít đến gánh nước hay hái trái cây trộm, chị ta la ré om sòm rồi cầm cây chạy ra dí đánh. Đứa nào chạy không kịp mà bị bắt vào nhà ông, nhất định làm gì cũng bị đánh một vài roi để nhớ đời. Năm 1997 tôi về thăm quê Quảng Ngãi có đến nhà chị thăm chơi, tôi hỏi “Chị có nhớ em không?” rồi kể lại chuyện hồi còn nhỏ, chị chỉ cười khì, rồi nói: “Con nhỏ này mầy nhớ dai nhách vẩy hả mầy?”. Chị già rồi, vẫn ở vậy không có chồng, vẫn ở nhà của ông Hương Quảng. Nhà và vườn của ông cũng bị đại bác hồi chiến tranh tàn phá nên cây cối tan hoang, nhà cửa đổ nát cả không còn như hồi tôi biết. Tôi hỏi thăm ông, chị nói ông đã chết từ lâu rồi.
Tôi có con bạn tên Mỹ, con của ông Ri ở gần nhà, cùng học một trường với tôi ở Hành Tín. Nó là con gái út và có hai người anh trai, nó được cưng nhất nhà. Hồi còn nhỏ ở Quảng Ngãi hai đứa thường hay chơi: cụm, chơi nhảy tàu bay nhưng sau khi tôi về Quảng Nam năm 1963 chúng tôi mất liên lạc nhau. Sau này, mỗi lần về Quảng Ngãi tôi đều hỏi thăm nhưng chưa gặp được. Đến năm 1997, sau bao nhiêu năm hỏi thăm tìm kiếm, tôi mới có điều kiện tìm và gặp lại nó. Nó bây giờ tên là Thủy chứ không phải tên Mỹ như hồi nhỏ. Khi gặp nó tôi mới biết nó cũng mồ côi cha, mẹ và hai anh của nó cũng hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ, có để lại hai cháu nội. Nó cũng đi thoát ly tham gia công tác ở huyện Nghĩa Hành. Nó có chồng và hai đứa con, có cháu nội, cháu ngoại và đang sinh sống ở thành phố Quảng Ngãi. Được chồng cưng chiều lắm, rất hạnh phúc, nó tâm sự với tôi như thế. Tôi mừng cho nó - con bạn nối khố ngày nào. Nghe tôi nhắc lại những chuyện thời con nít, nó ôm tôi rồi nói: “Tao bái phục mầy lắm, tao không nhớ gì hết, giờ thì tao nhớ ra mầy rồi.” Năm 1998 nó biết được chồng tôi mất, hai vợ chồng hỏi thăm nhà và dẫn nhau ra thăm tôi. Có lần đi Quảng Ngãi tôi đến nhà xin phép chồng nó rồi rủ nó về quê chơi, nó dẫn tôi đi quanh mấy nơi để nhớ lại kỷ niệm hồi còn thơ ấu. Tối về nhà bà con của nó ngủ, hai chị em thức cả đêm để kể lại chuyện ngày xưa, nó cứ khen tôi có trí nhớ tốt. Rồi nó kể cho em nó nghe, chuyện về tôi, chuyện tình bạn của tôi với nó.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 25 Tháng Tư, 2015, 11:40:10 PM
Các em tôi đã mất, tôi vẫn chưa có em trở lại, chỉ một mình tôi nên đi đâu, làm gì ba tôi cũng cho tôi theo. Tôi còn nhớ, ở Quảng Ngãi ba tôi hay đan nong để phơi lúa, đan mủng, thúng để đựng lúa, rồi đan sàng, dừng, nia để dừng gạo. Ba tôi tự đốn tre, chẻ nan, vót trơn tru đem phơi, rồi đan đồ để dùng trong gia đình chứ không bán. Mỗi lần đan thứ gì ba tôi đều cho tôi ngồi một bên rồi bày tôi. Hồi đó còn một mình tôi nên ba tôi cưng tôi lắm.
Tôi nhát gan, hay sợ ma mặc dầu chưa gặp ma bao giờ. Mỗi lần nghe người lớn hù dọa ma là tôi sợ, không bao giờ tôi ở nhà một mình. Ba tôi đi đâu đều dẫn tôi theo như cái đuôi của ổng vậy. Hồi còn nhỏ tôi biết làm nhiều thứ là do mẹ tôi dạy: xay lúa, giã gạo, sàn, dừng gạo tôi đều làm được hết. Khi về Quảng Nam có lần cô Hai tôi giã gạo xong đem ra dừng lấy thóc riêng cho gạo sạch. Cô sàn “ra” làm cho thóc không nhóm lại được. Thấy vậy, tôi nói: “Cô đưa con sàn cho.” Cô hứ tôi một cái, rồi nói: “Con nít biết gì mà làm, đi tránh chỗ khác chơi.” Tôi nói với cô: “Thiệt mà, con làm được!” Cô tôi không tin nhưng cũng đứng lên để tôi làm thử. Tôi ngồi xuống cầm cái sàn quay một hồi, thóc trong sàn nhóm lại thành một nhúm nhỏ xíu ở giữa, tôi hốt thóc bỏ ra ngoài, lúc đó cô tôi khen: “Con này nhỏ mà làm cũng được hỉ, mi giỏi hơn cô rồi đó.” Từ đó về sau tôi làm việc gì cô cũng để ý rồi khen ngợi tôi với mọi người.
Cuối năm 1963, ở Đại Lộc - Quảng Nam có tin “ao cá thần” tại Thượng Đức. Ba tôi dẫn tôi về thăm quê tiện thể xin “nước tiên”. Lần đó về quê gặp ông nội chú (em ruột ông nội tôi) ốm chỉ còn da bọc xương, tôi thấy ba tôi lấy nước “tiên” cho ông tôi uống. Nhưng sau đó một thời gian ông tôi cũng chết. Hai ba con tôi ở lại quê chơi mấy hôm rồi về lại Quảng Ngãi. Sau lần ấy, trở về Quảng Ngãi ba tôi bị lộ cơ sở, nên ông bán nhà và đưa cả gia đình về Quảng Nam sinh sống và hoạt động. Lúc đầu mẹ tôi không muốn về Quảng Nam vì sợ xa quê mà bà con ruột thịt thì không có. Sau này tôi nghe mẹ tôi kể lại, ba tôi nói: “Nếu mẹ tôi không đi thì ba tôi đưa tôi về Quảng Nam một mình.” Mẹ tôi sợ mất tôi nên phải đành theo ba tôi về. Tôi nhớ như in, từ trên quê ngoại tôi đi về Quảng Nam phải theo ghe xuôi dòng xuống sông Vệ, đến nhà bạn của ba tôi nghỉ lại qua đêm. Bác Ngọc là người cùng quê Quảng Nam, cùng đi bộ đội với ba tôi, sau này ông ở lại Sông Vệ có gia đình và sinh sống ở đây. Sáng hôm sau từ Quảng Ngãi ba tôi đón xe về xã Kỳ Minh, Điện Bàn - Quảng Nam (nay là Điện Thọ), xuống chợ Phong Thử rồi đi về nhà của chú Bốn tôi. Hồi đó chợ Phong Thử còn đông vui, sầm uất lắm. Gia đình tôi xuống ngay chợ, tôi thấy họ bán cái mũ có vành cong cong, đẹp quá tôi đòi ba tôi mua. Cuối năm 1963 hay đầu 1964 gì đó, cán bộ cách mạng ban đêm thường về tuyên truyền, phát động nhân dân ở làng Thủy Bồ quê tôi, họ gọi ba tôi đi dự  mít tinh, ba tôi đi và cũng cõng tôi theo.
Về Điện Thọ một thời gian, quê hương được giải phóng, ba tôi tiếp tục tham gia công tác ở thôn rồi lên xã. Năm 1964 nhiều vùng quê được giải phóng. Xã tôi giải phóng được một thời gian, ở thôn giao nhiệm vụ cho bác tôi là mua lúa xay, giã gạo để bà con đi dân công mang gạo cấp cho quân giải phóng. Tôi cũng cùng tham gia giã gạo, làm thóc cho bác tôi, bà bảo: “Giã sơ sơ thôi, chứ giã trắng quá làm hao hớt gạo và nó đi hết chất bổ đó”. Tôi còn nhớ, hồi nớ mẹ tôi dặn: “Mỗi lần nấu cơm là con lấy tay bốc lại một nắm gạo bỏ vào hũ tiết kiệm để ủng hộ cho cách mạng”. Ở Quảng Ngãi về đây, tôi được tiếp tục đi học do thầy Bá dạy. Khi vùng quê được giải phóng, thầy Bá chạy ra Đà Nẵng. Anh Nguyễn Văn Quý lên dạy tiếp bọn nhỏ chúng tôi. Nhưng lớp học đó rồi cũng phải giải tán. Sau đó, bọn địch đến xây nhiều đồn bót, xua lính đi đánh phá phong trào cách mạng. Quê tôi bị địch đóng quân. Nhà tôi bị chúng càn quét đốt cháy không còn manh áo che thân.
Chân ướt, chân ráo từ Quảng Ngãi mới về chưa được bao lâu, nhà cửa ba tôi mới làm sơ sơ, lợp tranh, bốn phía che phên, bốn góc nhà chỏi bằng bốn cây tre, trong nhà không có gì đáng giá cả. Đợt lụt năm Giáp Thìn (1964) trong nhà có cái gì nó trôi hết, ba tôi bán nhà ở Quảng Ngãi về dồn tiền mua được mấy con bò nuôi làm vốn kiếm tiền làm nhà. Nhưng vì bị lụt ngập lâu ngày, một phần đói, phần thì lạnh nên vừa rã lụt đàn bò 3 con của nhà tôi cũng chết hết trơn. Ba tôi đem xẻ thịt, mượn ghe chở đi cho bà con quanh xóm và những người bà con ở thôn Đức Ký, mỗi nhà một ít. Mấy ngày lụt, ba tôi thấy bò đói, lạnh cóng tội nghiệp nên ổng cởi hết áo quần quàng cho nó. Nhưng đâu có ăn thua gì so với nước lụt thấm lâu ngày.
Bước qua năm 1965 thì địch càn đốt phá sạch, mẹ con tôi phải ở nhờ nhà của một người hàng xóm, cái nhà mà họ bỏ đi tản cư từ năm 1964.
Nhớ lại, tôi vẫn còn bàng hoàng, khoảng vào 5 giờ chiều ngày mồng 1 tháng 9 năm 1965 âm lịch, tôi đang bồng em ngồi ở sân nhà, nghe bà Trình, người hàng xóm hớt hơ hớt hải chạy qua hỏi tôi:
- Mẹ mi đi mô rồi Hương?
- Có việc chi rứa bà?
- Nghe đâu ba mi bị lính bắn chết hồi nãy ở đồng ngoài rồi!
Đúng rồi! Mới hồi nãy tôi nghe mấy loạt súng tụi nó bắn rồi la dữ quá. Nghe vậy, tôi hoảng loạn, vừa khóc vừa bồng em chạy thẳng ra xóm ngoài, nhưng mọi người không cho ra, họ bảo tôi phải quay về sợ tối tụi nó bắn pháo tới. Tôi bồng em về nhà thì mẹ tôi đã đi ra ngoài chỗ ba tôi rồi. Tối hôm đó các chú về chôn cất ba tôi trong tiếng pháo bắn cầm canh của đồn Phong Thử. Kể từ đó, mẹ con tôi thiếu vắng hình bóng của ba. Ba tôi bao giờ cũng là trụ cột mọi việc trong nhà, vì mẹ tôi ốm yếu, bà ngoại thì ở xa, chị em tôi thì còn nhỏ, lúc đó tôi  mới 11 tuổi, em tôi chưa tròn tuổi mà đã mồ côi. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, cây lúa làm ra gạo cũng rất khó, mẹ yếu con thơ không nơi nương tựa nên mẹ con tôi rất vất vả, đối mặt với cái nghèo, không biết làm gì ra tiền để sống. Bác Năm Hòa là bác họ của tôi, bà là cán bộ phụ nữ thôn, bà rất giỏi, xông xáo, mạnh mẽ. Bà thường hay đi chợ để bán gạo hoặc rau ở tận dưới chợ Thanh Quýt. Từ quê tôi đi xuống chợ Thanh Quýt rất xa, phải đi qua cánh đồng “thí thân” của Điện An. Gọi là thí thân vì khi qua đây, xác định là nguy hiểm, sẽ chết như chơi, bởi pháo của đồn Bồ Bồ, đồn Trảng Nhựt thường xuyên bắn xuống. Mùa mưa đi rất vất vả, bùn lội tới nửa trái chân, hôm nào gặp bọn địch trong đồn Trảng Nhựt ra phục kích là phải bỏ gánh hàng để chạy thoát. Những lần đi chợ như thế bác hay mua cá liệt ngang (cá nhỏ) đem về kho mặn ăn với cơm qua ngày. Bác đem cho mẹ con tôi một ít cá liệt rim khô để dành nhai cơm cho em tôi. Thấy vậy, có vài lần tôi đòi đi theo bác bán rau kiếm tiền mua cá cho em. Mẹ tôi không cho, nhưng còn nhỏ mà, thấy ai làm gì cũng muốn làm theo cho được. Thế là tôi ra mấy đám mía gần nhà hái rau má, hái lá chuối chát (chuối sứ) trong vườn đem về bó lại thành lọn nhỏ, rồi sáng hôm sau dậy thật sớm theo bác đi chợ. Xuống chợ tôi nhờ bác bán dùm, tất cả chỉ có mấy đồng rồi tôi nhờ bác mua dùm ít cá về kho cho em ăn, ngoài ra tôi không mua gì thêm nữa. Tiền còn lại tôi đem về đưa cho mẹ cất. Đi chợ khổ cực lắm. Hồi nớ tôi lùn tịt, nhỏ bé tí nhưng thích đi, vì được đi chợ bán rau để có tiền mua cá mà lại khỏi bồng em. Bồng em cho mẹ đi làm ruộng miết hai bên hông của tôi bị chai sần, mà mỏi mệt lắm, nên cứ thích làm gì cũng được, miễn sao đừng bồng em là sướng rồi. Có một lần tôi nói với mẹ: “Bữa ni mẹ để con đi làm cỏ lúa cho.” Mẹ bảo: “Mầy mà làm được việc gì, ở nhà giữ em để mẹ đi làm, chứ bữa ni cỏ lên nhiều lắm, nó ăn lúa hết còn đâu ít bữa có gạo mà nấu.” “Con làm cỏ được, mẹ để con đi làm cho, mẹ ở nhà giữ em đi”. Cuối cùng mẹ cũng chiều tôi và cho tôi đi làm cỏ lúa. Đã có lần tôi nhìn thấy người lớn làm cỏ lúa rồi, giờ tôi bắt chước. Thế là ra ruộng, tôi cũng vắn quần lên, xuống ruộng, hai tay cào cỏ, một lát nghe mỏi lưng, tôi lại đứng lên nhìn ra phía sau thấy nước đục, có cỏ con trôi trên mặt nước, tôi nghĩ ở đó đã cào cỏ rồi nên tôi lại bước đến chỗ khác để làm. Cứ thế đến chiều tôi cũng lên bờ ra về như người lớn đi làm thực thụ. Sáng hôm sau, mẹ đi làm như thường ngày, về đến nhà mẹ la mắng tôi quá trời:
- Mẹ nói có sai đâu, không biết làm cỏ mà cứ một hai đòi đi.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 25 Tháng Tư, 2015, 11:46:15 PM
Tôi không biết cào cỏ lúa, chỉ muốn đi làm ngoài đồng để đỡ đần cho mẹ và khỏi bị bồng em thế thôi. Có một chuyện mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ và thương em tôi nhiều lắm. Một hôm tôi bồng em qua nhà hàng xóm, nhà sát vách tường nhà tôi xem mấy chú đánh bài. Tôi say sưa nhìn mấy chú nhưng vẫn nghe văng vẳng tiếng mẹ tôi nói và tôi “dạ”, dù chẳng nghe rõ mẹ nói gì. Đến chiều khi sòng bài của các chú tàn cuộc tôi mới ra hỏi chú Mười chủ nhà:
-Mẹ con hồi nãy nói gì mà con không nghe rõ chú Mười? Chú Mười bảo:
-Mẹ mi biểu mi xay bột đúc bánh xèo.
Nghe chú nói, tôi chạy về nhà lấy gạo nhưng gạo không còn, tôi chạy sang nhà của chú Mười mượn một lon gạo đem ngâm rồi đi xay bột. Tôi thấy trời gần tối mà chưa có bột, tôi lo sợ khi về mà chưa có bánh xèo thì mẹ đánh chết, tôi vội vội vàng vàng bưng gạo đi xay ở nhà của ông Năm Ngợi, cách nhà tôi một nhà đó là nhà ông Mười Chiêm mới đến nhà tôi.
Thấy tôi đi em tôi bò theo, từ sân nhà tôi xuống sân nhà ông Năm Ngợi nó khóc sướt mướt nhưng tôi mặc kệ, cứ lo xay bột. Xay bột rồi, tôi bưng bột chạy về nhà, em tôi lại bò theo về vừa bò vừa khóc, tôi cũng mặc kệ cứ lo công việc cái đã. Về nhà, tôi vừa bồng em bên hông, một tay vịn em, một tay đúc bánh xèo, chân thì vắt lên bếp chồ để làm chỗ tựa cho em tôi khỏi ngã. Tôi đang lui hui trong bếp, mồ hôi mồ kê ra nhễ nhại thì mẹ tôi về, thấy tôi lục đục trong bếp bà lên tiếng hỏi:
- Mày làm cái gì trong bếp đó?
- Con đúc bánh xèo.
- Ai biểu? - bà hỏi. Tôi phân trần:
- Hồi chiều con nghe chú Mười nói mẹ biểu con xay bột đúc bánh xèo!
-Trời…đất ơi! Con với cái, ham chơi chi mà tôi nói một đàng nó làm một nẻo, vậy hả trời! - Rồi mẹ tôi mắng:
- Mẹ biểu mày ở nhà nhớ xay lúa giã gạo, gạo hết rồi chứ mẹ biểu mày xay bột đúc bánh xèo hồi nào?
Lúc này, tôi mới vỡ lẽ: chú Mười thấy tôi ham chơi nên ổng nói đùa với tôi mà lỡ quá trớn nên ổng làm thinh luôn. Đến nay, đã 50 năm trôi qua rồi mà tôi vẫn còn nhớ như in và tôi thương em tôi nhiều lắm. Nghĩ đến thằng em nhỏ bé, trắng trẻo dễ thương mà bị tôi hành một phen, thiệt là tội nghiệp, cứ nhớ đến em là nước mắt tôi chảy hoài, hễ kể chuyện này với bạn tôi nghe thì miệng tôi kể mà mắt tôi lại khóc.
Lúc còn nhỏ ở nhà, tôi thích đi mót lúa. Mấy người lớn họ đi gặt mướn cho chủ ruộng giàu có, thấy tụi tui con nít, họ thương tình hay ngầm vặt ngã từng nhúm lúa xuống để cho tôi lảy. Tôi cũng thích đi lảy lúa rài lúc vụ mùa chưa đến. Gạo lúa rài cơm rất là ngon. Và tôi cũng thường lấy dây lạt đi lượm mo nan (mo tre khô rơi xuống) xâu lại thành từng xâu dài đem về, rồi cắt lá chuối khô về làm củi nấu cơm. Tôi cũng hay đi bẻ măng tre đem về luộc, kho ăn thay cá. Nhà tôi có khi phải lấy sắn tươi nấu chín, bỏ vào mo cau gói lại đập dập ra, chấm với muối mè ăn thay cơm.
Hồi giữa năm 1965, lúc đồn Phong Thử đóng ở đường 100, xã tôi có một chú bộ đội người miền Bắc biệt phái về để bắn tỉa bọn lính ở đồn này. Mẹ, chị nào mà nuôi được chú bộ đội bắn tỉa nớ là vinh dự lắm. Hồi nớ mấy mẹ mấy chị thương quý chú bộ đội nớ như chính con mình. Một hôm mấy chú du kích thôn Thủy Bồ dẫn chú bộ đội đi, tôi thấy chú ấy mang cây súng trường, có cái nòng dài lắm, có cả kính ngắm nữa. Hôm nào bọn lính bị chú bộ đội bắn tỉa chết một vài tên, là hôm đó làng tôi được “ăn” một bữa pháo dữ dội và ngày hôm sau nó càn ra lùng sục gắt gao để tìm kiếm Việt Cộng.
Còn xe nhà binh bọn nó lúc nào cũng chạy qua đường 100 này lên đồn Ái Nghĩa. Đường này cũng là đường giao thông huyết mạch của bọn nó, từ Ái Nghĩa xuống Phong Thử, Vĩnh Điện, ra Đà Nẵng hoặc vào Tam Kỳ. Vì vậy đêm nào du kích cũng ra đào phá đường. Người xách xà ben, người xách cuốc, người cầm xẻng, đào đến tận khuya. Hồi nớ tôi thấy mấy cô, mấy chú đi bám địch, đi đào đường cái 100, đào phá đường rầy xe lửa, đem về những tấm tà vẹt làm kèo để xây hầm chống đại bác là tôi thích lắm, nhưng vì còn nhỏ quá nên không được đi. Tôi chỉ tham gia công tác thiếu nhi như đào hầm cóc ven đường, vót chông tre để nộp cho mấy chú, cùng trang lứa với tôi hồi đó có thằng Trung em, con chú Bốn tôi, nó lanh lẹ và làm được nhiều chuyện ra phết. Tới mùa mưa nó làm ống trúm để bắt lươn trong các ao hồ quanh xóm, thấy nó làm tôi cũng bắt chước nhưng không làm được. Một hôm tôi nói với nó: “Mi cho tau một ống trúm rồi dẫn tau đi đặt lươn với, nhưng mi phải bôi trùn (mồi) sẵn vào ống đó nghe. Tau thích đi đặt lươn nhưng bắt trùn thì tau sợ lắm.” Thế là thằng em cũng chiều tôi, nó cho tôi một ống trúm rồi chiều chiều dẫn tôi đi. Sáng hôm sau tôi cũng dậy sớm đi gỡ ống đem về, tôi thấy ống của nó thì cái nào cũng có vài con lươn trong đó, còn ống của tôi thì nó nhẹ tênh, chẳng có con nào vô cả, không biết tại sao. Tôi đi theo nó mấy ngày liền cũng đều về tay không. Chán quá, tôi nghỉ không thèm đi nữa. Thằng em này của tôi sau đó cũng bị lính Đại Hàn tàn sát cùng với thím tôi vào năm 1966 âm lịch.
Từ khi ba tôi mất, ba mẹ con tôi sống thật buồn tẻ và cô đơn, phần phải lo miếng ăn hàng ngày, phần đồn địch ở gần luôn quấy rối, sống không yên. Thế nhưng, mẹ tôi cũng tham gia công tác cùng địa phương với ý nghĩa để trả thù cho ba tôi. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1966 âm lịch, một ngày thật kinh hoàng mà cả cuộc đời tôi không bao giờ quên được. Sáng hôm đó, du kích địa phương báo là: “Bọn Đại Hàn càn ra thôn La Thọ, không biết nó có ra đây không, bà con nên tập trung ra xóm ngoài ở với nhau cho đỡ sợ.” Khoảng nửa buổi, thấy tình hình vắng, không có gì, bà con nhà ai về nhà nấy. Gần trưa lại nghe bọn Đại Hàn mới tàn sát dưới La Thọ và bây giờ trên đường càn ra Thủy Bồ, bà con lại tập trung ra xóm ngoài một lần nữa với tâm trạng vô cùng sợ hãi, chẳng biết nó có tàn sát giống như ở La Thọ không? Lúc đó, khoảng 3g chiều, bọn Đại Hàn ở đồn Bình Long càn ra, chúng kéo thẳng đến thôn Thủy Bồ, như là đã có ý định từ trước. Trước khi đi, chúng thả bom, bắn đại bác dọn đường. Đến xóm trong không thấy ai, chúng tràn ra xóm ngoài. Ở đây, bà con ta tập trung nhau lại ở chung với nhau trong vỏn vẹn chỉ 6-7 nhà dân, tất cả đều ở dưới hầm để tránh bom. Thế là chúng gọi lên hết, rồi tập trung lại thành hàng, thẳng tay bắn gục hết những người dân vô tội, trong những người bị tàn sát đó có mẹ và em trai tôi chưa tròn hai tuổi. Tôi được may mắn hơn là khi địch ra gần đến nơi rồi, mẹ tôi thấy chú Thưởng thôn đội trưởng chạy ngang qua, mẹ tôi bảo: “Con chạy theo chú đi con.” Nghe lời mẹ, tôi chạy theo chú sang bên kia sông (gọi là sông nhưng nó chỉ như cái lạch nhỏ thôi). Đến thôn Ái Mỹ, vừa rúc xuống hầm nhà ông Lách thì một loạt bom thả xuống trúng miệng hầm trước, tôi ở miệng hầm sau không sao, nhưng hoảng quá. Vừa xong loạt bom, tôi lên khỏi hầm thoát chạy ra thôn Tây. Vừa ra đến đây tôi nghe có người nói: Đại Hàn hồi chiều càn ra tàn sát dân thôn Thủy Bồ chết như rạ!
Nghe vậy, tôi quay lại chạy trở về Thủy Bồ. Vừa về đến xóm nhà mà hồi nãy tôi ở với mẹ, thì tôi đã thấy Vân con trai lớn của chú tôi, nó là du kích, đang ngồi bên cạnh thằng em vừa bị thương trong trận tàn sát lúc chiều. Thằng Vân thấy tôi nó hỏi: “Chị Hai đó hả?” Tôi ừ, rồi chạy băng qua nó để đi tìm mẹ và em tôi. Chạy ra cửa sau nhà bà Bảy An thì thấy ngay xác của bác Năm Hòa, bác họ của tôi chết nằm sóng soài ở đó – chắc bác đã cố chạy trốn nhưng không được. Băng qua bác, tôi chạy vào nhà bà An, ngó qua ngó lại chưa nhìn thấy mẹ, mẹ tôi bị thương nặng nằm đó, thấy tôi mẹ liền gọi:
- Mẹ ở đây con, em nằm dưới đất đằng kia!
Tôi hoảng hốt nhưng cũng đi tìm em tôi và bồng nó lại nằm bên mẹ. Mẹ lấy tay chỉ dưới lai quần của mẹ, tôi lần mò lấy ra được mấy đồng bạc hôm trước đi chợ về tôi đưa cho mẹ giữ và sợi dây chuyền vàng 5 chỉ mà mẹ tôi để dành từ hồi ở Quảng Ngãi. Sống trong cảnh nghèo khổ mà mẹ tôi vẫn cố giữ dây chuyền đó để dành lúc nghẹt nghèo, ốm đau, bệnh tật. Đến bây giờ mẹ lại chỉ cho tôi. Mẹ nói:“Mẹ khát nước!”, tôi chạy đi tìm nước cho mẹ rồi gọi chị Kha y tá xã đến tiêm thuốc, băng bó cho mẹ, nhưng vết thương của mẹ ở bờ vai quá to, máu ra nhiều, không có miếng gạt nào trùm hết được. Sau khi chị Kha tiêm mũi thuốc thứ hai vừa rút kim tiêm ra thì tôi cũng thấy mẹ giật tay chân rồi im lìm, nhắm mắt tắt thở luôn. Thế là mẹ và em tôi đã ra đi vĩnh viễn, không còn ai ở bên tôi nữa! Tôi ngồi khóc mãi không biết làm gì khi không còn mẹ. Tối hôm đó, người lớn họ chạy lo việc này việc kia, còn tôi đến nhà của ông Hữu đối diện với cái nhà mà mẹ và em tôi đang nằm. Tôi ngồi nhìn sang mẹ và em, tôi chỉ biết khóc, không ăn uống gì. Người lớn ai cũng la tôi:
- Con phải ăn cơm để có sức, con không ăn thì mẹ và em con cũng đâu có sống dậy được.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 25 Tháng Tư, 2015, 11:46:56 PM
Cả đêm hôm ấy tôi không ngủ được, phần thương mẹ, nhớ em, phần sợ ma, vì nhìn chỗ nào cũng có người chết nằm ngang nằm dọc. Phía sau nhà ông Hữu có một cây rơm to đã cháy rụi, trong đó có ba đứa nhỏ ở thôn Châu Lâu bị cháy đen thui khi bồng em chạy trốn. Lúc ba của nó về tìm mãi không ra, khi biết được ba đứa con mình đang nằm trong đống tro tàn, ông đứng chết lặng, rồi từ từ ngã xuống, ngất đi. Đợt tàn sát này, Đại Hàn đã giết chết nhân dân ở đây tổng cộng là 145 người, cả người lớn lẫn trẻ con. Trong đó, riêng nhân dân của thôn Thủy Bồ là 105 người. Tối hôm ấy, những người lớn lo chuẩn bị để sáng mai họ khiêng số người bị giết đi lên đồn Bồ Bồ, đồn Trảng Nhựt để đấu tranh với Mỹ. Họ khiêng mẹ và em tôi cùng với mọi người đi đấu tranh đến ngày hôm sau mới đem về chôn. Mới 12 tuổi mà tôi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống bơ vơ, không nhà, không cửa. Bà con tôi thì họ cũng khó khăn nhiều. Cô Sáu tôi có chồng ở khác thôn, một nách bốn con dại, lại mang thêm cái bầu gần sinh, dượng Năm chồng của cô cũng là du kích. Mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, ai cũng khổ như ai. Trong đợt Đại Hàn tàn sát đó có cô Phương du kích. Cô cũng hợp pháp, lúc chúng nó xếp hàng dân để bắn, do người cô thấp bé cô nhanh chóng nằm sấp xuống đống người chết, nên cô đã thoát chết một cách hy hữu.
Sau lần đó, thôn Thủy Bồ còn sót lại mấy gia đình, họ sợ không dám bám trụ nữa mà rủ nhau ra thôn Giáng La ở. Sau khi chôn mẹ tôi xong, tôi không biết mình sẽ đi đâu, làm gì nên tôi theo bà con ra thôn Giáng La. Mỗi lần Mỹ càn, bà con gánh gồng chạy giặc, tôi cũng chạy theo họ, họ đi đâu tôi đi theo đó để kiếm cơm ăn qua ngày. Bây giờ nghĩ lại tôi không nhớ thời gian ấy mình đã ăn cơm của nhà ai và ngủ ở nhà ai, đến bữa cơm nhà nào họ cũng gọi tôi ăn, nhà ai tôi cũng ngủ được. Một thời gian sau, chú ruột của tôi đang đi bộ đội huyện Điện Bàn gọi tôi về và nói: “Cháu ra Đà Nẵng ở với cô Hai giữ em giúp chú để cô Hai có thời gian đi buôn kiếm tiền nuôi các em.” Vì thím tôi và em Trung con trai thứ nhì của chú cũng chết trong đợt tàn sát ấy để lại chú 4 đứa con, thằng Minh 7 tuổi bị thương nặng, thằng Dũng 4 tuổi và 2 đứa nhỏ sanh đôi mới 10 tháng, cô Hai tôi phải đem tất cả chúng ra Đà Nẵng, cưu mang nuôi nấng. Cô đi làm lụng kiếm tiền để nuôi các em con của chú tôi. Nghe chú nói vậy, tôi phải ra ở với cô Hai, giúp cô nuôi các em. Tôi mới 12, 13 tuổi chưa biết gì mà đã làm mọi việc như một người lớn khỏe mạnh. Bây giờ nhớ lại, lắm lúc tôi tự hỏi: hồi nớ mình làm kiểu gì mà giỏi rứa không biết!
Nói đến cô Hai tôi, cô có chồng hy sinh hồi kháng chiến chống Pháp, hai người con của cô cũng chết trong cuộc chiến ấy. Cô ở vậy làm ăn, giúp gia đình chú Bốn tôi, cho nên khi thím tôi mất thì cô tôi phải cưu mang, giúp đỡ chú tôi nuôi sắp nhỏ.
Tôi giúp cô Hai nuôi 2 em nhỏ sanh đôi chưa tròn tuổi và một em 4 tuổi, một em 7 tuổi bị thương nằm tại chỗ, ăn và vệ sinh tại chỗ, lo cơm nước cho các em, dọn nhà cửa và đủ thứ, tôi phải làm cho xong kẻo chiều về, cô thấy cái gì không vừa lòng là cô chửi, la mắng rùm băng, tôi sợ và tủi thân lắm! Tôi nghĩ: “Nếu như mẹ mình còn, chắc mình không phải chịu cái cảnh khổ và bị la mắng thế này.” Vì thế, nên mỗi lần cô Hai tôi la mắng, tôi đều ra ngoài sau hè ngồi khóc, đến bửa cơm mà cô la là tôi ngặn cổ, nuốc không vô, nước mắt chảy dài. Thấy vậy, tối nào anh Điền - con bác Lạc ở trước nhà cô tôi cũng bảo chị Tám em gái của anh:
- Chở cho con Hương đi dạo chút cho nó khuây để nó buồn, nó khóc hoài, tội nghiệp! Chị Tám chở tôi đi quanh một lát, rồi dẫn tôi về nhà chị ăn cơm tối xong tôi mới về nhà ngủ. Tôi ở đây chưa đầy một tháng, thì một hôm cô Sáu tôi ra thăm có dẫn bà nội cô của tôi cùng ra. Bà có chồng nhưng không có con, chồng bà chết. Tôi thấy bà ra, tôi mừng quá – tôi năn nỉ cô Sáu cho tôi theo cô về quê với, ở đây đã có bà Chín giúp cô Hai rồi. Ban đầu cô Sáu không đồng ý, nhưng tôi xin miết, cuối cùng cô Sáu cũng thuận tình và dẫn tôi về. Sau này, lớn lên tôi mới biết và nghĩ: Chắc trong hoàn cảnh khó khăn cùng cực quá nên cô tôi quẫn trí, không biết nói với ai nên cô cứ nhằm vào tôi mà trút giận.
Dượng tôi, chồng cô Sáu cũng hy sinh, vào ngày mồng 10 tháng giêng năm 1967 âm lịch, chỉ sau đợt tàn sát Thủy Bồ - La Thọ có 20 ngày và đứa con trai của cô cũng chết sau đó không lâu. Sau khi Dượng hy sinh, con trai chết, cô tôi mang cái bầu thật to dẫn con nhỏ chạy giặc, tháng sau cô sinh thêm một em trai nữa. Đầu năm 1967 ở Điện Thọ có một đợt càn cũng quy mô lắm, Mỹ bao vây cả Điện An, Điện Hồng, Điện Thái, Điện Tiến và siết vòng vây tại Điện Thọ làm không biết bao nhiêu người đã hy sinh. Trận càn rất bất ngờ, mới vừa ăn tết nguyên đán xong chúng đã chụp quân bao vây ngay nên quân ta không kịp trở tay. Một số cán bộ ở huyện về ăn tết, một số cán bộ trong xã và các xã khác chạy càn đến Điện Thọ, tất cả đều bị chúng vây chặt, không có công sự để núp, họ cứ chạy loanh quanh làng nầy qua làng kia hoặc rúc dưới bờ ruộng, hồ nước cuối cùng cũng bị chúng bắn, số khác thì bị đại bác, máy bay bắn chết. Sau đợt càn bọn nó rút quân đi, dân mình về thấy chỗ nào cũng có xác chết của cán bộ, bộ đội, du kích. Từ đó mỗi khi nhắc lại trận càn mồng 10 tháng giêng năm 1967, là mọi người ở quê tôi lại nhớ ngay đến người chết, nhất là chết ở gần am Bà Đá đồng ngoài của Điện Thọ. Sau đó, tình hình lắng dịu cô tôi lại về làm ăn, cô tôi có trồng được đám thuốc lá, ngày ngày phải lo đi bắt sâu, tưới nước. Thấy cô vất vả, tôi và Sang (con gái cô) rủ nhau ra đồng tưới thuốc giúp cô. Gàu của cô gánh thuộc loại gàu chuyên dụng, họ hàn gò theo tiêu chuẩn đặc biệt là miệng gàu to, rộng còn đít gàu thì nhỏ bằng miệng cái tô canh. Gàu để người ta vừa gánh vừa tưới, không để xuống đất.
Tôi và Sang, hai chị em đều nhỏ bé tí, lùn tịt nên gánh đôi gàu đó không được mà phải khiêng. Khiêng cũng thật khổ sở, rát vai, đau lưng, có khi bị đổ hết cả gàu nước. Nhưng hai đứa cũng cố gắng và đã tưới được mấy hàng thuốc gọi là giúp đỡ cô.
Tôi lại nhớ một lần, ở nhà cô, gần trưa tôi quảy gàu đi gánh nước nấu cơm. Nhà cô không có đôi thùng gánh nước mà chỉ có đôi gàu chuyên dụng đó thôi.  Hôm đó, tôi gánh đôi gàu ra giếng và để nó lên hai cây trụ mà người ta đã đóng sẵn. Tôi múc nước đổ vào được 2/3 gàu, là lượng nước vừa sức của tôi. Từ giếng về nhà cũng hơi xa, nhưng tôi không dám nghỉ. Ráng gánh về đến nhà, tới cái ảng (chum) đựng nước, loay hoay mãi mà không làm sao đổ nước vào ảng được, mệt và đau vai quá, tôi đặt đôi gàu nước xuống đất nghỉ, vừa chạm đất, đôi gàu nước bỗng ngã lăn chiêng, nước trong gàu đổ ra đất không còn một giọt.
Tôi về quê, đi tìm chú tôi và xin chú cho đi THANH NIÊN XUNG PHONG. Chú tôi la không cho và bảo: “Mày còn nhỏ, mang súng bết đất làm sao đi được, ráng vài năm nữa lớn lên rồi đi.” Nhưng sau đó, địa phương cho tôi đi học lớp Giáo viên trẻ tuổi, do Phòng Giáo dục Điện Bàn tổ chức vào đầu tháng 3 năm 1967. Mục đích của lớp học này là học để về dạy lại cho các em nhỏ trong điều kiện hợp pháp với Mỹ. Lớp học được mở ở xã Điện Tân - Gò Nổi, do anh Chiến trên Phòng Giáo dục huyện và cô Nguyên giáo viên người miền bắc về dạy. Mỗi xã có từ 2 đến 5 người học. Xã Điện Thọ đi 5 người, mỗi thôn một người. Vào đây học cũng phải đi đào hầm cóc để lỡ có bom, đại bác bất ngờ trên đường thì có chỗ mà núp. Ăn và ở với dân, lúc đầu ở xã Điện Tân, nhưng sau ở đó bị địch càn nên chuyển xuống Điện Nhơn. Thời gian tôi học ở đây tôi nghe tin chú tôi hy sinh trong trận càn ở Gò Nổi. Nửa tháng sau tôi lại nhận tiếp một tin khác, là Vân con trai lớn của chú đang công tác ở Trạm phẫu huyện Điện Bàn, cũng bị một quả bom ném trúng trạm, làm 5 người hy sinh trong đó có Vân. Rứa là chỉ trong ba năm, năm 1965, 1966, 1967 gia đình tôi, chú tôi, bác tôi, cô tôi đã mất đi tất cả 12 người. Đau thương dồn dập!
Kế hoạch của huyện là vậy, nhưng khi mãn khóa học về thì tình hình ác liệt quá, dân chạy di cư khắp nơi. Những người bám trụ thì lúc nào cũng thấp thỏm chạy càn nên việc học hành của trẻ nhỏ đành phải thôi. Tôi về ở bất hợp pháp chung với các chú du kích, chú Năm Phàn và chú Mười, hai người là du kích cũng có vợ, con chết cùng lần với mẹ tôi. Hai chú nói với tôi:
- Cháu cứ về đây ở với mấy chú, mấy chú ăn gì, cháu ăn nấy.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 25 Tháng Tư, 2015, 11:49:20 PM
Từ đó, hàng ngày tôi đi hái rau, lượm củi nấu cơm cho hai chú đi làm về ăn, theo các cô, các chú bám địch, tham gia sản xuất cải thiện đời sống của du kích trong hoàn cảnh không có dân. Có lần ban đêm các chú du kích bận họp, cô Phương biểu tôi: “Cháu đứng đây ngó chừng dùm cô một chút, nhìn xuống cánh đồng trên đường sắt. Nếu thấy Mỹ, cháu nhớ báo cho cô và mấy chú biết.” Tôi đứng trên nền sân nhà ông Tôn, nền nhà cao mà trống. Trước nhà ông Tôn là một cánh đồng rộng, nhìn bốn phía đều thấy. Đứng nhìn một hồi lâu, tôi chạy vào báo cho cô Phương và chú Năm Phàn:
- Mỹ ở dưới cánh đồng kia kìa.
Mọi người chạy ra dòm. Dòm đi, dòm lại không thấy gì. Vào hỏi tôi:
- Cháu nói thấy Mỹ, mà Mỹ ở đâu, không ai nhìn thấy?
Tôi ra chỉ chỗ đó, mọi người hú hồn và nói:
-Không phải, chỗ đó là bụi cây mọc trên gò mả, ai bảovới cháu là Mỹ! Ban ngày tôi đâu có để ý cây cối trên mả làm chi, nên ban đêm nhìn thấy lù lù ra một lùm, tưởng Mỹ nó phục kích ở đó, ai dè...Hình như bực mình vì chuyện đó có người nói: “Đừng để cho con Hương nó gác ban đêm nữa, nguy hiểm lắm.”
Tôi còn cùng với cô Phương (đã hy sinh), chị Hường, anh Chúc và nhiều người khác tranh thủ lúc không có địch càn, rủ nhau đi đốn những cây keo lớn, quanh các vườn nền nhà cũ của bà con, rồi đào mấy cái hầm đất sâu, rộng chất những cây keo ấy xuống đốt lên, cho cháy để lấy than đem ra Giáng La nhờ bà con bán dùm lấy tiền mua mắm, muối.
Một hôm, mấy chú du kích phân công cô Phương cùng tôi ở nhà ông Tôn bám địch. Chỗ nhà ông Tôn có cái vọng lâu cao lắm. Mấy chú đến dặn tôi: Nếu thấy địch ra là đánh mõ báo tin cho anh em du kích biết mà rúc công sự. Không biết bám thế nào mà địch ra gần đến nơi, hai cô cháu không hay biết chi hết. Khi cô Phương trèo lên vọng lâu nhìn ra cánh đồng thì địch đã càn gần tới nơi. Hai cô cháu hoảng quá, vừa chạy vừa đánh mõ. Địch nghe tiếng mõ, chúng bắn M79 theo và súng lớn, súng nhỏ chúng bắn tới tấp, hai cô cháu chạy bạt mạng đến công sự vừa chui xuống hầm đậy nắp lại là đã nghe bọn nó la om sòm ở trên rồi. Hôm đó, không ai việc gì, nhưng cô Phương được một bữa bị kiểm điểm, còn tôi thì mấy chú nói: “Nó còn nhỏ, không trách, nhưng nhắc nó sau nầy để ý hơn đừng chủ quan khinh địch.”
Đến cuối tháng 5/1967, cô Mười Nhạn cán bộ của thành phố về địa phương tìm người đi làm công tác hợp pháp. Địa phương đã giới thiệu tôi cho cô. Tôi nghe nói đi thoát ly, tôi mừng lắm đồng ý ngay. Thế là, tôi bán hết mười mấy ang lúa của mẹ tôi để lại, lấy tiền sắm áo quần đi thoát ly. Hồi trước ngày, mẹ tôi có cấy 1 sào ruộng, đám ruộng trước nhà ông Tôn, đám ruộng mà tôi xin mẹ đi làm cỏ lúa ấy, nay đến mùa nó đã chín vàng, tôi nhờ mấy cô cắt giúp, rồi xúm nhau đạp, tôi đem phơi khô. Lúa khô, tôi gánh mỗi lần một ít ra nhà ông Dân ở Châu Lâu làng để gửi. Gia tài của tôi có chừng ấy, ngoài ra không còn gì nữa. Tôi đi thoát ly tham gia cách mạng không còn gì vướng bận. Tôi là một người vô sản thật sự, không nhà, không cửa, không cha, không mẹ, không anh chị em, không nơi nương tựa. Cái tuổi 11-12 ấy là tuổi còn đang đi học và còn ham chơi, nhưng với tôi, ở cái tuổi 11-12 lại mang nhiều  bất hạnh. Đế quốc Mỹ đã gieo xuống quê hương tôi bao nhiêu đau thương, mất mát cho bao người dân vô tội, trong đó có bản thân tôi.


Vậy là hết chương I. Cho cháu hỏi làm thế nào để chừa đầu dòng vậy? Để nó thẳng từ trên xuống như vậy có vẻ khó theo dõi quá.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:20:08 AM
Chương II: NHỮNG KỶ NIỆM ĐAU THƯƠNG NHƯNG HÀO HÙNG
Trước khi thoát ly, tôi đem sợi dây chuyền mà mẹ tôi để lại gửi cô Sáu đưa cô Hai giữ dùm và tạm biệt cô để ra đi. Tối hôm đó tôi theo đường dây giao liên đi vào Gò Nổi. Lúc này Gò Nổi là vùng giải phóng an toàn nhất so với các xã ngoài vùng B Điện Bàn. Vào đến Gò Nổi, giao liên dẫn tôi đến một cái nhà dân gửi ở đó, suốt ngày bắt tôi trốn dưới hầm không cho lên trên gặp người lạ. Bí mật cho những người làm công tác hợp pháp, không cho ai vô phận sự thấy mặt, để sau này ra công tác hợp pháp khỏi bị lộ, nguy hiểm.
Ở đây một ngày, đến tối giao liên lại dẫn đi nữa. Lần này đi xa hơn, đường đi khó hơn, anh giao liên mang giùm gùi đồ cá nhân, gạo cho tôi. Đi đến nửa đêm là tới địa điểm tập kết của trạm ở tận xã Sơn Trung – Quế Sơn. Vào đây giao liên họ cũng gửi tôi vào nhà một người dân để ở, ăn cơm của dân. Nhà này là trạm giao liên của tỉnh, ban ngày chị Sáu giao liên ở đây và nói chuyện với tôi cho đỡ buồn, tối chị đi công tác. Khuya họ lại dẫn về hai người nữa, nhưng bố trí ở nhà khác. Tôi ở có một mình, buồn quá! Chị Sáu đi đến nhà mà hai người mới vô tối nay để họp cùng với anh Tánh, anh Chanh. Họ bảo hai người nọ ngồi ở cửa ngó chừng tôi, sợ tôi đi tới đó. Trước khi đi họp chị Sáu dặn: “Em ngủ trước đi, chị họp xong rồi về.” Nhưng lâu không thấy chị về, tôi len lén dò dẫm đi trong bóng tối lên chỗ chị Sáu họp. Vừa đến mép sân của nhà đó, tôi thấy thoáng cái bóng của hai người chạy vào trong nhà, sau đó anh Chanh đi ra la lớn tiếng với tôi: “Đồng chí lên đây làm gì, ai cho phép đồng chí lên?” Tôi sợ hết hồn, chị Sáu ra nói nhỏ: “Em về đi, tí nữa chị về.” Vì không cho tôi và 2 người đó giáp mặt nhau, bí mật mà tôi đâu có hiểu. Về lại nhà, gia đình họ ngủ hết, tôi trải ni lông ngoài hiên nằm để chờ chị Sáu, nằm nghe máy bay B52 bay trên trời, sợ nó ném bom thì không biết núp ở chỗ mô đây. Nằm chờ lâu quá, rồi tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đến sáng dậy thấy có một mình, chứ không có chị Sáu. Tôi giận lắm, “Sao chị lại nói láo với mình?”
Đến tối giao liên lại dẫn chúng tôi đi tiếp, nhưng đi cách nhau rất xa vì không muốn chúng tôi nhìn thấy nhau. Chúng tôivào tận xã Sơn Bình - Hiệp Đức để học tập chính trị và huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn. Chú Dõng (cũng hoạt động thành phố) là người hướng dẫn cho tôi, chú nói: “Việc làm này của cháu rất vinh dự, nhưng cũng đầy khó khăn, dù có khó khăn bao nhiêu cháu cũng đừng nản chí, phải giữ gìn bí mật tuyệt đối, nếu có sa vào tay địch thì cháu cũng phải kiên cường, không khai báo làm lộ cơ sở, có hại cho cách mạng...” Ở Hiệp Đức học tập hai tuần, nếu ai đã biết nhau rồi thì ở chung hầm cùng học tập, còn tôi đi một mình, nên ở một hầm riêng. Học xong, đến ngày về cũng có giao liên đến dẫn. Đi qua từng trạm giao liên cũng nghỉ lại, ngày nghỉ đêm đi, cũng cách ly như rứa, cuối cùng mấy ngày sau chúng tôi về đến Gò Nổi. Về đến đây, tổ chức phân công tôi về công tác ở cánh Hòa Cường, thuộc quận II, lúc này chú Phạm Khương là bí thư đang đứng ở địa bàn thôn Đông, xã Điện Thắng.
Nhà ông Ất là nơi chú Khương ở làm việc, chú dẫn tôi về ở luôn đó. Ngày đầu tiên tôi đi công tác Đà Nẵng, chú gọi Huỳnh giao liên hợp pháp của chú lên căn dặn:
- Mai cháu dẫn Hương đi công tác, trước hết ra chợ Cồn mua vải may 2 bộ đồ, mua nón, dép cho Hương để ít bữa đi công tác, sau đó dẫn đi giới thiệu nhà bà Hai, nhà ông Sáu cho Hương quen để sau này nó tự đi.
Hôm sau, Huỳnh dẫn tôi đi theo và làm y như lời chú Khương dặn. Khi Huỳnh và tôi đi xuống chợ Cồn mua đồ xong, nó dẫn tôi đi bộ xuống chợ Vườn Hoa (đối diện 88 Hùng Vương bây giờ) lên xe Đò Xu. Xe chạy đến đoạn đường Núi Thành, gần ngã tư Quân Đoàn thì xuống xe. Huỳnh dẫn tôi đi qua một hẻm nhỏ vào nhà bà Hai cô ruột chú Khương. Nó giới thiệu tôi với bà, cô Thoa, chú Đăng (con bà), rồi nó dẫn tôi ra đường đón xe lên chợ Hòa Cường vào nhà ông Sáu. Xong việc, chiều hai chúng tôi về lại cơ quan ở thôn Đông, Điện Thắng. Rứa là mở đầu tốt đẹp cho một ngày công tác của tôi.
Lần đầu tiên ra thành phố thấy gì cũng lạ, đi đường thấy gì cũng nhìn, tôi nhìn thấy tiệm chụp hình để chữ PHOTO to tướng, tôi thầm nghĩ: “Không biết chữ photo là ý nghĩa gì mà mình không nghe nói bao giờ.” Hồi đó tôi khờ đến nỗi đi đường, từ điểm này đến điểm kia không để ý tên đường, mà lại cứ để ý mấy cây to hai bên đường đi để làm dấu. Có một lần tôi bị lạc đường, hoảng hốt không biết làm sao.
Tôi đi công tác ở Hòa Cường về, khi xuống xe tôi không đi theo hướng lên chợ Cồn mà lại đi ngược xuống phía chợ Hàn, trên đường Yên Bái bây giờ. Thấy lạ, tôi nghĩ sao không giống đường hôm nớ mình đi, rồi cứ đi lên đi xuống mấy vòng mà cũng không tìm ra con đường mình đi với Huỳnh hôm trước. Ngày càng tối, sợ hết xe thì làm sao về, nên tôi lại hỏi mấy người đang đi, đường lên bến xe chợ Cồn. Họ chỉ lên hướng đó, tôi đi một đoạn sao thấy lạ lạ liền quay lại hỏi người khác họ vẫn chỉ đường đó nhưng sao tôi cứ sợ họ chỉ bậy nên không dám đi, rồi cũng quay lại đường cũ đi như ban đầu (đường Yên Bái). Ở đường này, hồi nãy thấy có cái nhà to quá, tôi lại sợ trụ sở của bọn địch nên quay trở lại con đường mà khi nãy mấy người lớn chỉ. Cuối cùng tôi cũng tìm ra được đường lên bến xe chợ Cồn. Đi về đến nhà trời tối mịt, ai cũng lo cho tôi. Không lo sao được! Lần đầu tiên tôi đi công tác một mình ra Đà Nẵng. Lần đó, tôi kể chuyện cho chú Khương nghe, chú bày cách đi đường cho tôi: “Cháu phải nhìn bảng tên con đường, chứ không phải làm dấu bằng cách nhớ cây cối ở dọc hai bên đường đâu!”
Sau lần đó, chú Khương nói với anh Hai Ất cho tôi qua ở nhờ nhà của anh. Nhà anh ở sát vách nhà ông Ất (cha), nhà anh Hai Ất có 2 con còn nhỏ, ngày nào tôi đi công tác thì thôi, nếu ở nhà thì dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, giữ em giùm cho vợ anh Ất. Chú Khương nói đó là công tác dân vận, mình giúp họ làm những việc vặt trong nhà thì họ mới thương mà cho mình ăn, ở và giúp mình nhiều việc khác. Dần dần tôi được chú Khương giao nhiệm vụ nhiều hơn, tôi ra nhiều cơ sở như: chú Đăng, ông Sáu, chị Mười thợ may, chị Ba Phiến, anh Thành, anh Tâm biệt động (cánh Hòa Cường), chú Bảy Minh ở Hòa Đa, nhà bà Huynh ở quán Đoai v.v. Mỗi lần ra chú Bảy Minh ở Hòa Đa là phải ra nhà bà Huynh nắm tình hình dưới Lỗ Giáng rồi mới dám đi. Lỗ Giáng có đồn lính ngụy ở ngay trên đường đi nên mỗi khi qua đây rất sợ. Xuống Lỗ Giáng đến nhà bà Điệp là cơ sở của chú Khương mà bà cũng là cô của chú. Tôi đến đây đưa thư cho bà để tối bà chuyển cho chú Bảy Minh (Bảy Búa). Vì ông giết ác ôn kinh lắm, nên địch nó đặt cho ông cái biệt danh đó. Nhà bà Huynh thì lúc nào cũng có bọn bình định nông thôn ở. Mỗi lần tôi ra đến nhà bà Huynh, khi gặp bọn nó trong nhà là bà giả vờ mắng, la tôi đủ điều để qua mắt bọn chúng. Bà nói: “Con cháu gì mà nói không nghe lời, cứ đi chơi dang nắng rồi về đau ốm làm mẹ nó khổ” Nhà bà Huynh sau này nghe đâu có chị Huynh, con gái lớn của bà đi tham gia cách mạng cũng hy sinh, anh Diện con trai thứ của bà đi bộ đội Lê Độ, tham gia đánh nhà đèn ở thành phố Đà Nẵng, cũng bị địch bắt ở tù, sau giải phóng mới được trao trả trở về.
Chiến dịch Tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968 chú Khương ra công tác tại Đà Nẵng, không còn ai ở nhà nữa (lúc này tôi và chú Khương đang ở trong nhà dân). Hôm chiều 30 tết Âm lịch tôi nói với chị Nhu vợ anh Ất: “Em về thăm quê ít bữa em xuống.”
Tôi về thăm quê. Hôm đó ở quê bà con rộn ràng vui như hội. Ai cũng tất bật lo việc tết, cúng ông bà cho xong để chiều đi tập trung tại trụ sở thôn cho kịp để xuống Điện Thắng, sáng ngày mai là mồng một tết, cùng toàn dân khắp nơi xuống đường ra Đà Nẵng. Tôi nghe nói rứa, tôi cũng vui theo, và xin với chú Hai Trượt cán bộ địa phương:
- Chú cho con đi với!
- Không được đâu, cháu đã đi thoát ly, có cơ quan quản lý. Chú không có quyền.
- Không sao đâu, thủ trưởng cháu đi công tác rồi, không ai ở nhà mà biết, chú đừng lo.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:20:41 AM
Lúc đó, tôi chưa biết ý thức tổ chức là gì, nên nói bừa. Xin mãi chú Trượt mới cho tôi cùng dân địa phương đi xuống đường. Chiều hôm đó từ Điện Thọ xuống Điện Thắng, có đi ngang qua nhà chị Nhu. Tôi vội chạy tạt ngang vứt gói đồ dùng của tôi, gửi lại nhờ chị cất hộ rồi chạy ra cho kịp với đoàn. Tối hôm đó, tất cả tập trung tại thôn An Tự, xã Điện Thắng để sáng sớm mồng một tết xuống đường Quốc lộ IA cho gần. Tối đó ai cũng xôn xao, không ai ngủ được, mà đại bác ở đồn Bồ Bồ bắn bay ngang trên đầu nghe vút vút, véo véo. Ở đồn Trảng Nhựt cũng bắn pháo cầm canh các vùng lân cận nổ ầm ầm, nghe sợ thiệt. Lỡ mà nó rớt xuống đây một quả pháo là chết chùm, vì đêm nay tập trung ở đây cả ngàn người. Loay hoay rồi cũng đến bốn giờ sáng, trưởng đoàn báo động tập trung nghe phổ biến chương trình đi. Đúng năm giờ sáng bà con xếp hàng ngay ngắn, đi từ thôn An Tự ra xóm Chay của Điện Thắng, đồ đạc gọn gàng. Khi đến xóm Chay chuẩn bị leo lên mặt đường Quốc lộ IA, thì trở thành hàng ba, hàng bốn chứ không như ban đầu là bà con đi hàng một nữa.
Đoàn người vừa bước chân lên đường Quốc lộ số I, bất ngờ nghe một loạt súng từ đồn Ngũ Giáp bắn ra, tiếp theo sau nhiều loạt súng nổ nữa. Lúc đó bà con ùn ùn chạy lên, tất cả dép, guốc, bánh tét, bánh ngọt mà bà con đem theo để dùng đều vứt, ngổn ngang hết trên lề đường. Lúc đó lính Mỹ nằm dày hai bên đường từ Thanh Quýt ra chợ Mới. Bà con người bị thương, người chết. Tôi hoảng quá, nhảy xuống ruộng rồi xuống mương nước gần đó (mương nước chảy từ Quốc lộ số I qua Viêm Tây, xuống cánh đồng Điện Ngọc). Mệt quá, ở dưới mương phần thì bùn nhảo nhẹt, phần thì chân bị run nên tôi cứ nắm chặt cỏ lùng mà đi từng bước một. Xuống tới Viêm Tây thì tiếng súng đã im dần, nhưng tôi leo lên không được, một phần chân mỏi và run, một phần bờ mương cao quá đầu của tôi. May ra lúc đó có người chạy ngang qua, tôi gọi họ kéo tôi lên.
Đến trưa tập trung tại thôn 1 Điện Ngọc để ổn định tổ chức xem ai còn, ai mất, thiếu những ai. Thôn Thủy Bồ thiếu mất bạn Hương cùng xóm với tôi ở Đà Nẵng mới về ăn tết, gặp dịp này đi rồi hy sinh luôn. Thôn Châu Lâu thiếu chị Sáu, lúc ở trên đường Quốc lộ số I, tôi cùng chị Sáu chạy gần nhau, chị Sáu bị thương đổ ruột ngã xuống taluy đường, tôi hoảng hồn nên mới vọt xuống ruộng rồi nhảy luôn xuống mương nước gần đó.
Ở lại Điện Ngọc một ngày, sáng mai trưởng đoàn tập trung lại báo: đoàn tiếp tục đi xuống Điện Vinh đi ra đường Hòa Hải đến Đò Xu sang Hòa Cường xuống Đà Nẵng. Chương trình đi nghe vậy nhưng đến Điện Vinh thì không đi được nữa, Mỹ đóng quân dọc hai bên đường cái từ cầu Tứ Câu trở xuống Điện Vinh, nên phải ở lại Điện Vinh chờ đến hai ngày sau. Nhưng cuối cùng không đi được, cấp trên quyết định cho đoàn dân xuống đường trở về lại địa phương. Khi về, nghe nói bọn địch phơi xác Hương trên đường hai ngày sau mới cho dân lấy xác về chôn. Còn chị Sáu, có còn hay không từ đó đến nay đã mấy chục năm rồi, tôi chưa gặp lại chị lần nào.
Đi suốt đêm để về đến Điện Thọ vào sáng sớm hôm sau. Vừa về đến quê, tôi quay xuống cơ quan ở thôn Đông Hồ, Điện An ngay. Cơ quan bây giờ có thêm chú Thăng đi tập kết ở bắc mới về, làm bí thư Hòa Cường, anh Nguyễn Thành Long, anh Nguyễn Muộn ở tù về, các anh đều cùng quê Hòa Cường, lộ cơ sở bị bắt ở tù nay về lại công tác. Gặp các anh ở cơ quan tôi mừng líu lo kể chuyện mình về địa phương cùng đi xuống đường với bà con và suýt chết ở đường Quốc lộ số I- Thanh Quýt. Nghe xong các anh la: “Em đi như rứa là không được, may mà còn về đây chứ lỡ như bạn của em thì ai chịu trách nhiệm?” Sau này họp cơ quan, thủ trưởng cũng kiểm điểm một trận nhớ đời! Mới đi thoát ly có mấy tháng nên chưa biết gì về ý thức tổ chức, khi nghe thủ trưởng cơ quan bảo: “Việc xuống đường không phải nhiệm vụ của đồng chí, sao đồng chí lại vô tổ chức như thế?” Lần đầu tiên tôi nghe cái từ “đồng chí” sao mà nặng nề quá! Tôi ngồi im thim thiếp. Ngay ngày hôm sau cơ quan phân công tôi ra Đà Nẵng tìm và liên lạc cho được chú Phạm Khương. Tôi đi bộ ra chợ Mới Ba Xã, lên xe lam ra đến chợ Miếu Bông rồi xuống xe đi bộ qua khỏi trạm gác của cảnh sát ở đó. Tôi đón xe khác đi ra Cẩm Lệ rồi xuống xe đi bộ ra đường chùa Bà Quảng để tránh nhiều bót cảnh sát. Sau tết Mậu Thân, tình hình thành phố căng thẳng, do ông Đ.của Quận đội quận II bị địch bắt, ông khai ra nhiều cơ sở và biệt động, làm họ cũng bị địch bắt luôn, giao liên cũng thế nên bọn địch kiểm soát con đường huyết mạch từ vùng ven vào Đà Nẵng rất căng. Chúng dựng lên nhiều trạm kiểm soát trên đường. Những nơi như: Thanh Quýt,Viêm Tây - Điện Ngọc, Ngọc Tứ - Điện An, những nơi giáp ranh vùng giải phóng với vùng địch chúng đều lùng sục, kiểm soát người lên xuống rất gắt gao. Trên đường quốc lộ lúc nào cũng có bọn bình định nông thôn mặc đồ đen đi qua đi lại không chỗ nào trống. Trong thành phố thì thiết quân luật 24/24, giao liên hợp pháp thời gian này đi lại rất khó khăn. Cả tháng trời đi vào ra thành phố, đoạn đường nào trống vắng không có trạm kiểm soát thì tôi tranh thủ đón xe hàng đi, đoạn nào thấy không yên tâm thì tôi đi bộ cùng với dân đi chợ. Mỗi khi ra được Đà Nẵng, tôi đến nhà bà Hai (cô ruột chú Khương) ở chợ Mới, tôi nói với bà: “Con mỏi hai chân quá!” bà liền đem đồ nghề ra lể, hút máu độc ra cho tôi. Bà làm nghề lể phong ngứa gia truyền. Tôi đi hoài mà cũng không tìm ra được chú Khương ở chỗ nào.
Lần sau, chú Thăng bắt tôi đi xuống Trung Lương quê hương bên nội của chú Khương để hỏi thăm bà con có ai thấy chú Khương hoặc thấy xác chú đâu không?
Tôi ra nhiều nhà bà con của chú, nhưng không ai biết chú ở đâu và cũng không thấy xác của chú. Tết năm Mậu thân, khi tiến quân qua Đò Xu, bộ đội ta hy sinh ở đây nhiều lắm. Không những hy sinh bên Trung Lương mà còn hy sinh bên phía Hòa Cường chỗ cầu Bà Xự cũng không ít.
Lần sau tôi ra hỏi nhỏ bà Hai:
- Bà có biết chú Khương ra đây ở đâu không bà?
   - Biết chớ!
- Con nhờ bà dẫn chỉ dùm.
Bà kể: “Cả tháng nay thằng Khương nó về đây, tình hình thiết quân luật dữ lắm, bà sợ cho nó quá. Ở một chỗ nó sợ, nên nó ở nhà bà con của nó mỗi nhà một vài bữa rồi đi nhà khác.”
- Thôi, giờ bà biết chú ở đâu bà đưa con đến đó với.
Bà dọn dẹp đồ nghề rồi uống vào chút rượu lấy tinh thần để dẫn tôi đi. Hai bà cháu không đi xe mà dẫn nhau đi bộ, đi xuống đường Lê Đình Dương bà dẫn vào đình Phước Ninh (nay là trụ sở UBND phường) gặp một ông đang phục vụ ở đình, bà nói nhỏ gì đó rồi ông ấy dẫn tôi vào trong phòng phía sau. Vào đây tôi gặp chú Khương cùng ở với cô Tám Hoài. Tôi nói: “Cả tháng nay mấy chú cơ quan phân công con đi tìm liên lạc với chú mà đi miết chẳng biết chú ở đâu. Thôi, chú viết thư cho con đem về cho chú Thăng biết.” Chú Khương đưa thư tôi đem về, mấy ngày sau tổ chức bố trí đưa chú Khương ra khỏi Đà Nẵng.
Sau chiến dịch Mậu Thân cơ sở lộ bị bắt nhiều, những cơ sở chưa lộ cũng phải cẩn thận, không đi lại tự do như trước.
Cơ quan quận phần nhiều  đóng ở vùng ven nên bị địch càn lai rai, cơ quan đóng quân ở đâu trước hết phải đào công sự để cất giấu dụng cụ nhà bếp, gạo, mắm…, rồi đào công trình vệ sinh, đào hầm núp bom, đào công sự cho mình ở khi địch càn. Gạo thì chôn bằng thùng phuy cho bảo đảm, rứa mà khi gặp lụt, gạo vô nước, ngâm lâu ngày, khi lấy lên đem phơi không khô được. Khi nấu cơm chưa sôi đã sền, nhão. Ăn nghe mùi thủm thủm khó chịu nhưng cũng phải ráng mà nuốt.
Năm 1968 tôi ra nhà cơ sở là tiệm ảnh bà Phụng Ký. Hồi nớ bà có hai tiệm, một tiệm đối diện với bến xe chợ Cồn, một tiệm ở đường Hùng Vương là nhà của bà bây giờ. Mỗi lần tôi ra tiệm ở chỗ bến xe gặp bà, là bà dẫn tôi vào phòng trong giả vờ đi chụp ảnh cho tôi để hai bác cháu nói chuyện rồi tôi đưa thư cho bà. Lúc nớ ở tiệm bà có hai cô thợ rửa ảnh nhưng bà chỉ tin chị Mười thợ ảnh, chị Mười là người Quảng Nam ra đây học nghề rồi làm việc cho bà. Còn hôm nào có chị Phương Lan con gái của bà là bà nháy mắt không cho chị Lan biết. Hình như hồi nớ chị Phương Lan có chồng đi lính hay sao đó, tôi không rõ. Năm 1970, bị lộ cơ sở bà cũng vào ở tù với tôi tại nhà lao Kho Đạn. Bà Phụng Ký có tính hiền lành, ở trong tù suốt ngày bà chỉ móc áo, khăn len cho con cháu ở nhà. Sau ngày giải phóng bà nhắn bọn giao liên chúng tôi đến thăm bà cho bà vui.
Tháng 5/1968, Đảng ta quyết định mở chiến dịch X1 đánh vào thành phố lại lần nữa làm rung động bọn địch. Mỗi lần mở chiến dịch là các cơ quan thành phố bận rộn, giao liên ra vào thành phố không ngớt. Phải lanh trí, nhạy bén không thì lọt vào tay địch như chơi. Ở Hòa Cường lúc này có chú Tám Thơm, cơ sở biệt động bị lộ, chú tự thoát thân vào chiến khu. Chú mua một bộ đồ cảnh sát dã chiến mặc vào lên xe đò đi. Vào đến phía trong đồn Kiểm Lu (Điện An) chú xuống xe đi thẳng lên thôn Ngọc Tứ. Đến đây du kích xã Điện An tưởng thằng ngụy nào đi lọt vào đây nên bắt chú.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:21:12 AM
Chú nói:
- Tôi là cơ sở của quận II đóng tại thôn Đông Hồ.
Du kích không tin. Chú nói:
- Thôi được, các ông không tin thì dẫn giùm tôi về cơ quan của tôi ở nhà bà Cả thôn Đông Hồ.
Cuối cùng du kích dẫn chú về giùm giao cho cơ quan.
Đến tháng 8/1968 Đảng ta lại tiếp tục mở chiến dịch X2. Lần này các anh cơ quan nghĩ chắc chắn  mình sẽ về được nhà rồi. Anh Long, anh Muộn người Hòa Cường hy vọng lắm. Các anh được giao nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội chủ lực vào thành phố, các anh mừng quá, đồ dùng cá nhân như gùi, áo quần, võng...tất cả đem cho hết. Chắc mẩm là về giải phóng Đà Nẵng rồi cần gì mấy thứ đó.
Nhưng rồi, chiến dịch đó cũng không thành, chú Thơm dẫn đơn vị bộ đội chủ lực đi đường Hòa Châu vào ngõ Cẩm Lệ, mới đi đến bãi cát ven sông Hòa Châu phía trên cầu Cẩm Lệ thì địch phát hiện, hai bên đánh nhau cả ngày, quân ta số bị thương, hy sinh, số còn lại chờ đến tối tìm đường rút. Chú Tám Thơm bị thương, đơn vị không đưa đi được phải ở lại núp trong bụi cây trên bãi cát Hòa Châu. Đến khi địch tìm bắt được thì vết thương của chú giòi bò lúc nhúc rồi. Chúng bắt đưa chú đi tù sau giải phóng mới về, còn anh Long, anh Muộn sau đó một thời gian về lại cơ quan, không có cái áo, cái quần mà mặc. Bọn tôi cứ chọc quê các anh:
- Răng không ở nhà Đà Nẵng mà về cơ quan sớm rứa?
Các anh chỉ cười trừ.
Tối ngày 20/10/1968 các chú lãnh đạo và cả giao liên hợp pháp xuống ở thôn I Điện Ngọc để đứng công tác. Chúng tôi xuống tới đây là 12g khuya, trời mưa ướt lạnh nên vừa đến nhà của dân, bọn tôi rửa chân tay, thay đồ rồi vào ngủ liền. Sáng sớm chúng tôi còn đang ngủ ngon chị chủ nhà chạy vào gọi: “Dậy đi bây, lính ở trung đoàn 51 càn xuống, nó đi đến cánh đồng Viêm Tây rồi kìa.” Ba bốn đứa vùng dậy thật nhanh ra vệ sinh xong, vội vàng lấy cái xách ra mang đi ngược lên với địch, đi về hướng đường cái. Sáng sớm, ngoài trời sương còn mù mịt, chúng thấy có mấy đứa con gái đi lên, liền kêu lại và dẫn trở xuống xóm nhà dân Điện Ngọc. Nó xuống bắt thêm một số người khác nữa. Mấy thằng lính hỏi giấy tờ rồi vặn hỏi tôi:
- Mày ở đâu? Tên gì? Làm gì ở đây?.v.v.
- Quê tôi ở xã Kỳ Minh. Tôi ở Đà Nẵng về thăm dì tôi ở đây (tôi đưa tay chỉ vào một nhà gần đó), giờ tôi ra Đà Nẵng sao tự nhiên mấy ông lại bắt tôi. Nó không tin, nó vào nhà của họ, cầm ra một nắm đũa con nó bảo tôi chấp hai bàn tay lại, bắt chéo từng ngón tay với nhau rồi nó để mỗi kẽ tay của tôi một chiếc đũa con, xong rồi nó cầm hai đầu đũa vặn tròn qua, lại làm các ngón tay tôi bị ép lại, đau không chịu nổi, tôi la lên và khóc:
- Tôi nói thiệt mà mấy ông không tin thì mấy ông vào hỏi dì tôi coi! Rồi nó đánh tôi mấy bạt tai, nó bảo tôi ngồi đó, đợi chúng dẫn về đồn trung đoàn 51 trên đường Quốc lộ IA để xét hỏi. Đến chiều chúng nó rút quân về và dẫn bọn tôi theo về đồn ở ngoài chợ Mới Ba Xã.
 Khi càn xuống Điện Ngọc nó có bắt thêm chị Nga người Hòa Hải, giao liên của quận Ba nữa. Về đồn, trước hết chúng  tra tấn chị Nga, chị Nga lớn tuổi hơn nhiều so với bọn tôi. Lúc đó chị cũng khoảng 35 hay 40 tuổi gì đó, trong giấy tờ của chị là quê ở xã Hòa Hải. Chị có giọng nói của người miền biển, nên bị bọn nó nghi ngờ rằng chị vào đây để làm việc cho cộng sản, nên nó tra điện, đổ nước xà phòng hai ba lần. Còn bọn tôi còn nhỏ, khoảng 13-14 tuổi, cho nên nó đánh rồi cũng đổ nước xà phòng nhưng không tra điện. Nó đánh với tính cách hù dọa, nếu đứa nào non gan thì chịu, nhưng bọn tôi không đứa nào dại dột, nên nó nhốt mấy ngày rồi thôi. Tôi khai tôi ở với chú tôi tên là Ngô Yên đang làm việc ở Quảng Nam, là Trưởng đoàn Bình định nông thôn Quảng Nam, hiện nay ông đang ở Hội An. Nó hỏi đủ điều nhưng tôi trả lời suôn sẻ mà nghe cũng hợp lý, nên nó nhốt tôi ở đây 7 ngày. Sau đó nó dẫn tôi ra đường cái đón xe lam cho tôi về Đà Nẵng. Tôi đi lên xe ra đến chợ Miếu Bông xuống xe, tôi lại đón xe quay trở về Thanh Quýt để về Điện Ngọc. Lúc này mấy chú cơ quan trở lại hết trên Điện An rồi. Vì xuống đứng địa bàn công tác mà giao liên bị bắt hết, không còn ai đi công tác nữa, mấy chú phải quay trở về lại cơ quan thôi.
Đầu tháng 11/1968, tôi đi công tác từ Đà Nẵng về đến xóm nhà ông Hương Bốn chỗ bến đò ông Cửu Đoan ở Điện Nam để theo đường dây giao liên đi lên Điện An. Lúc này các ngõ đường lên phía xã Điện An, bọn địch cứ quanh quẩn ở đây để chờ bắt người trên vùng giải phóng đi xuống. Vì vậy, giao liên hợp pháp không dám đi ngõ đó mà phải về Điện Nam rồi theo giao liên bất hợp pháp đi qua đường quốc lộ I để về lại cơ quan ở vùng B. Mùa mưa, ban đêm trời tối đen như mực, đi sát nhau mà cũng không nhìn thấy nhau. Hôm đó tôi đi theo giao liên, đi từ bến đò Cửu Đoan, giao liên căn dặn cả đoàn: “Bọn Mỹ nó nằm dọc hàng cây gò găn (hàng cây này rậm rạp chắn ngang con đường huyết mạch của giao liên), nên mình không đi được đường đó mà phải đi qua bên kia sông đi ngược vào Điện Trung, tránh xa chỗ Mỹ đóng quân mới được bơi qua sông. Anh chị em cứ bám nhau mà đi, trời tối đen đừng để lạc nhau. Không được kêu réo, Mỹ nó nghe được nó bắn pháo là chết.” Rứa rồi cả đoàn mọi người níu áo mưa của nhau mà đi. Khi vào đến bờ sông, bên bụi tre có chỗ xuống bến, mấy ông giao liên dặn thầm chuyền với nhau rằng: “Khi bơi qua sông, nếu ai có trôi thì từ từ chờ anh em bơi ra kéo vô, chứ không được gọi. Mỹ đang nằm rất gần, nó nghe và phát hiện được nó sẽ bắn mà chết chùm đó nghe chưa!” Tôi bơi không được tốt, nhưng cũng cố gắng gói cho mình một cái phao ni lông để bơi. Xuống nước, bơi  ra được giữa sông, tôi nhìn thấp thoáng trên mặt nước, thấy họ lên bờ hết rồi, tôi lo quá. Phần thì nước dưới sông làm chân tay lạnh cóng, phần thì sợ họ không kiểm tra lại bỏ mình mà đi thì chết. Nghĩ tới nghĩ lui, tôi liền gọi nhỏ: “Huớ làng, cứu tôi với!” Lập tức có một người vụt bơi ra sông rất nhanh kéo tôi vào, rồi la: “Muốn chết hả, kêu như rứa lỡ Mỹ nó nghe được, nó nện pháo đến thì làm sao! Thôi, mau lên đi cho kịp kẻo lạc mất đoàn!” Rứa là tôi nhanh chóng, chân không mang dép, mà xách gói đồ chạy theo đoàn người cho kịp. Đường trơn trượt, ngã lên, ngã xuống tôi cũng cố gắng chạy theo. Gần sáng tôi mới về đến cơ quan, lúc này người lạnh run, áo quần thì ướt đẫm, mà lấm lem lấm luốc như con chuột đồng.
Năm 1968, Đảng ta tổ chức mở nhiều đợt tấn công địch ở thành phố. Phối hợp với toàn bộ mặt trận Quảng Đà, bộ đội đặc công Đà Nẵng tấn công nhiều mục tiêu, không chỉ gây cho địch tổn thất về người, phương tiện chiến tranh mà còn làm cho tinh thần binh lính và chính quyền địch dao động mạnh. Để đối phó lại, các vùng ven ngoại vi thành phố là nơi đóng quân của ta, nên chúng cũng điên cuồng ra sức đánh phá ta quyết liệt, tập trung ở các vùng ven thành phố nơi đang có nhiều đơn vị, cơ quan đầu não của ta đang đứng chân. Chúng mở cuộc càn quét quy mô hòng tiêu diệt các đơn vị bộ đội và lãnh đạo của ta đang đóng tại vùng B Điện Bàn.
Sau nhiều ngày rêu rao trên máy bay L19: “Đồng bào! Đồng bào! Hãy mau ra khỏi vùng Việt Cộng kiểm soát, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ hành quân lên vùng này, máy bay sẽ oanh tạc nếu có Việt Cộng chống trả, đồng bào hãy mau rời khỏi nơi này.”
Chúng rao đi rao lại 4, 5 ngày như thế. Mới đầu, nghe thì nghĩ là bọn nó hù dọa thôi. Nhưng chúng rao nhiều ngày thì lần lượt dân thôn Phong Nhị, Ngọc Tứ dần dần đi lánh xuống Vĩnh Điện. Ngày đầu tiên, chúng tôi theo dân đi chợ xuống đường quốc lộ số1. Con đường đi xuống này lại gần đồn lính ngụy ở Kiểm Lu. Bọn tôi cũng có ý định đi tránh càn theo chủ trương của lãnh đạo.
Đúng ngày 21/11/1968, từ 5g sáng, sau mấy tốp máy bay phản lực quần lượn ném bom dữ dội, thì hai, ba tốp không biết bao nhiêu chiếc máy bay trực thăng H34 ào ạt đổ quân, phần lớn là Mỹ, dọc đường cái 100, từ ngã ba Cẩm Lý xuống Vĩnh Điện thẳng ra Quốc lộ 1A, lên Trảng Nhựt, qua núi Bồ Bồ, bọc đến Cẩm Lý. Năm xã vùng B Điện Bàn đều bị nằm gọn trong vòng vây của chúng. Nghe đâu đợt càn này có tổng cộng gần 10.000 quân Mỹ, Ngụy và chư hầu,  kéo dài đến 21 ngày đêm. Trận càn lớn nhất vùng B Điện Bàn lúc bấy giờ.
Ngày đầu bọn giao liên hợp pháp chúng tôi cùng đi theo dân xuống đường Quốc Lộ số I, ngay gần đồn ngụy ở Kiểm Lu. Tôi đi gần đến nơi thì nghe số bà con ở đây họ nói:
- Ai ở vùng giải phóng đi xuống đây, chúng đều bắt hết vào quận Điện Bàn để thanh lọc.
Nghe dân nói thế chúng tôi lo sợ, bàn với nhau:
- Mình về lại thôi, chứ xuống đây chúng bắt hết chị em mình thì ở nhà còn ai đâu mà đi công tác.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:21:36 AM
Thọ, Ba và tôi nghĩ vậy nên quay về lại cơ quan. Thật ra, cũng nghĩ bọn chúng càn giỏi lắm vài ngày rồi rút quân, chứ đâu ngờ lần này chúng quyết càn lớn như rứa! Lãnh đạo họp cơ quan quyết định: “Tối nay chúng ta cùng kết hợp với các đơn vị, cơ quan của huyện, tỉnh theo giao liên xuống vùng C (Điện Ngọc, Điện Nam) để tránh càn.” Tối hôm ấy ăn cơm xong, tất cả chuẩn bị gọn gàng đi theo tổ chức của từng đơn vị tập kết xuống Phong Nhị để theo đường dây giao liên tỉnh dẫn đường qua đường Quốc Lộ số1. Trước khi đi, giao liên quán triệt với tất cả đoàn có đến cả ngàn người.
- Đi phải nhẹ nhàng, không nói chuyện, bám sát với nhau, không được để lạc nhau. Địch đang ở rất gần ta, chúng nằm quanh trên đường quốc lộ 1A, vì vậy phải im lặng.
Mọi người lặng lẽ bám gót nhau mà đi. Đến cánh đồng Phong Nhị, gần cây đa giữa đồng, họ ra hiệu đứng lại. Chúng tôi ai nấy tự tìm cho mình một chỗ, dựa vào nấm mồ to ngồi chờ. Bất ngờ một loạt đạn lửa đan chéo nhau bắn ra từ gốc cây đa và kèm theo tiếng Mỹ hô to: Vi xi (Việt Cộng). Thế là, phần ai nấy thi nhau chạy, người còn ở dưới giao thông hào thì chạy ngược lại, người ngồi dựa bên mả mồ thì chạy tạt ngang vào xóm nhà thôn Phong Nhị để núp đạn, núp pháo. Đến lúc đó thì không còn nhớ lời dặn của giao liên nữa, thi nhau chạy thoát thân. Vừa chạy vừa cúi khom lưng xuống sát đất để tránh tầm đạn của địch đang bắn. Sau này, hỏi ra mới biết, khi trinh sát và giao liên của tỉnh đang bò bám địch, xem địch đóng quân ở đâu, các đồng chí đi sát bên bờ gò mả to dưới gốc cây đa, trời tối bưng như mực, ruộng có bùn và nước, nên quân ta chưa thấy địch thì địch đóng quân trên gò cao chỗ cây đa đã nghe thấy tiếng ta đi bì bõm dưới ruộng rồi.
Ngớt tiếng súng, chúng tôi trở về đến cơ quan thì đã 3g30ph sáng, bắt tay vào cùng chị nuôi lo nấu cơm ăn sáng và gói theo ăn trưa chống càn. Chiều tối chưa thấy động tĩnh gì, chúng tôi lại về nấu cơm ăn tối và mang gói lên đường đi với giao liên. Lần này không xuống vùng C nữa mà đi vào vùng A của Điện Bàn. Từ thôn Đông Hồ ngang qua cầu Trọng vào đường 100, địa phận thôn Câu Nhí - Bác Nhị, để xoi đường vào vùng 10 của Điện Phước rồi qua luôn Gò Nổi. Đêm đầu đi vào đường 100, chỉ vượt qua được một số ít người, còn lại trở về coi như thất bại. Đêm sau, giao liên tổ chức đi lần 2, lần này cũng trót lọt một số ít cán bộ chủ chốt của tỉnh, của thành phố, trong đó có chú Sáu Hưng, cô Năm Cao và một số chị em cơ quan quận Hai. Còn lại cả đoàn phải tháo lui, vì địch phát hiện, bắn như mưa, đạn lửa sáng rực sát mặt đường. Cùng lúc cả bầu trời máy bay thả đèn sáng choang như ban ngày. Cũng nhờ rứa mà chúng tôi thấy đường, đi về dễ dàng hơn. Nhưng xui cho tôi, đang chạy trên bờ ruộng, trong lúc luýnh quýnh tôi trượt chân ngã ầm xuống mương nước sâu rồi lơi bơi dưới đó. Cuối cùng tôi cũng đứng dậy được và vớ tay chụp ống quần của một người đàn ông đang chạy đến. Tôi nhờ họ kéo tôi lên rồi tiếp tục chạy để theo kịp với cơ quan. Lần nào cũng như vậy, về đến cơ quan là 3-4g sáng. Rồi lại nấu cơm ăn đi chống càn. Quanh đi quẩn lại cứ ngày bám công sự, tối lên tìm đường đi ra khỏi vòng vây của địch. Cứ như thế, đến ngày thứ 15 địch vẫn chưa siết chặt vòng vây. Sang ngày thứ 16 trở đi chúng mới nhớm dần một ít, mỗi lần chuẩn bị nhớm đi là nó nã pháo vào vùng đó dữ dội. Lúc này công sự bí mật của cơ quan gặp khó khăn, vì công sự nước thì nước sông tràn vào ngập hết, không sử dụng được, còn công sự khô thì đường đi vào công sự bị mòn, mùa mưa đi lại nhiều lần nên có dấu chân. Ngày nào cũng đi đi lại lại ra vào công sự, giữ cẩn thận bao nhiêu đi nữa thì đường vẫn có dấu chân, nếu địch đến chúng sẽ phát hiện ngay. Thấy vậy, các chú cơ quan bàn nhau nên vận động cho giao liên ra hợp pháp. Vận động mãi, làm công tác tư tưởng mãi, đứa nào cũng sợ không ai chịu đi. Chú Khương nói: “Các cháu còn nhỏ ra hợp pháp, lỡ chúng nó có bắt cũng còn, chứ ở lại đây không biết thế nào, trận càn này đến bao giờ kết thúc chưa ai biết được. Công sự không còn để rúc, nhịn đói, nhịn khát, không chết vì địch cũng chết vì đói, các cháu còn nhỏ chịu không nổi đâu. Các cháu có điều kiện hợp pháp nên ra hợp pháp là tốt nhất, để nhường công sự cho anh em khác.” Cuối cùng một mình tôi chịu đi. Tối hôm đó, anh Long (lớn) dẫn tôi ra gửi cho một nhà dân ở thôn Nam (phía bên này sông Chín Chủ). Ở đây có 3 nhà dân, nói là hợp pháp nhưng họ chỉ nấu cơm công khai, ở nhà công khai thôi chứ thực ra suốt ngày họ không dám bước ra khỏi cửa, vì bên kia con sông là lính Mỹ đóng quân. Ở đây có ngã 3 sông, sông từ Điện Tiến chảy xuống Điện Thọ rồi chảy qua đây tách làm hai  sông nhỏ, một nhánh chảy thẳng xuống Thanh Quýt, một nhánh chảy qua sông Cổ Cò, nhánh này có cầu tre bắc qua gọi là Cầu Thang của Điện An. Mỹ ở nhánh sông bên Chín Chủ (đoạn chảy xuống Thanh Quýt), ta ở nhánh sông Cầu Thang, dân ở góc giữa của hai nhánh sông. Tối đó tôi ra ở lại với dân, sáng sớm ngủ dậy nhìn thấy lính Mỹ ở bên kia, gần quá thấy sợ. Chiều khoảng 5g, mấy ông du kích của Điện Thắng về nắm tình hình, đang còn ở ngoài bờ sông, chưa vào nhà thì đã nghe một bà già trong nhà nói ra:
- Đừng vào nhà, Mỹ đang bơi thuyền cao su qua đó!
Vừa nghe vậy các ông du kích quay lại, tôi cũng chạy theo cùng du kích ra ghe qua bên kia sông là thôn Đông Hồ. Tôi chạy hai tay không, không đem áo quần, không gạo, không gì hết, qua bên đó rồi mới nghĩ: “Mình sang đây lấy gì ăn, rồi ở đâu, cơ quan biết được phê bình chết, mình vô tổ chức thiệt! Nhưng lúc đó thấy Mỹ ở gần sợ quá nên có nghĩ gì được đâu.” Tôi nhớ lại có một hôm, chú Khương lấy đôi đũa con đi quanh nhà tìm các tàn thuốc mà trước kia các chú hút còn thừa vứt đi, bây giờ tìm gom lại, giũ giũ cho tơi rồi đem vấn được một điếu, mỗi người hít một hơi cho đỡ cơn thèm. Cuộc sống hàng ngày cứ loay hoay với công sự chống càn, không biết lúc nào Mỹ rút quân đây. Tôi lỡ chạy sang đây rồi, đến tối tôi lại đi tìm cơ quan, gặp cô Cúc chị nuôi của văn phòng, tôi hỏi:
         - Cô có biết anh Long, anh Muộn ở đâu không?
         - Chúng nó ở công sự ngoài kia.
Cô chỉ tôi đi ra tìm các anh. Gặp được các anh, tôi mừng quá. Tôi nói với anh Long (lớn):
          - Cho em ở với!
Anh Long nói:
         - Sao em lại ở đây? Em ở với nhà dân cơ mà!
Tôi mới kể đầu đuôi câu chuyện vì sao tôi lại sang đây rồi tìm đến các anh. Nghe xong, anh Long (nhỏ) nói:
- Thôi, em ở đây với anh Long, anh Muộn, để anh tìm công sự khác anh ở cũng được.
Tôi ở lại đây với hai anh. Anh Muộn bị thương nằm bên trong, còn tôi và anh Long ngồi bên ngoài gần chỗ cửa công sự. Đến sáng hôm sau, khoảng 9-10g gì đó, đại bác ở đồn Bồ Bồ, đồn Trảng Nhựt nã tới tấp vào khu vực Đông Hồ. Anh Long nhận định: “Chắc tụi này dọn đường để đi xuống vùng này đây!” Vừa nói xong, một loạt pháo khác nổ rung chuyển làm căn hầm bí mật sụp đổ, đất tràn lấp hết người anh Muộn đang nằm phía trong. Tôi và anh Long cùng lấy hai tay bới đất nhưng không được, anh Long nói: “Em mở nắp công sự đi lên, đem đồ của anh lên luôn, gùi, thắt lưng có súng ngắn của anh và anh Muộn.” Tôi nghe lời, đứng lên mở nắp công sự trèo lên, anh Long chuyển tất cả đồ lên để tôi mang vào căn hầm chống pháo của du kích ở gần đó. Mấy phút sau anh Long cũng đưa anh Muộn lên luôn. Hai anh em đi lên chưa vào đến hầm chống pháo thì một tràn pháo khác ập đến, tôi chạy nhanh về phía miệng hầm sau, anh Long cõng anh Muộn chạy vào cửa hầm trước, chưa đến miệng hầm thì anh Muộn rớt tuột khỏi lưng anh Long và rống lên một hồi nghe như bò cắt tiết. Với quán tính của người đang chạy, anh Long chạy thẳng vào miệng hầm thở hổn hển nói:
- Hương ơi! Anh Muộn chắc chết rồi! Một miếng mảnh pháo xẹt qua đầu anh nghe mát rượi, chắc nó trúng đầu anh Muộn rồi!
Nghe vậy, tôi bật chạy ra khỏi hầm đến xem thử thì thấy anh Muộn nằm dài, hai tay duỗi thẳng về phía trước, hai mắt nhắm hờ và rên, thật to. Thấy vậy, tôi thương quá, tôi khóc ức lên, anh Long lạy tôi:
- Bây giờ nghĩ cách gì đây chứ còn sớm quá, tụi nó mà tràn xuống đây anh em mình chết chắc.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:22:07 AM
Ngớt pháo, hai anh em khiêng anh Muộn vào để trên nền nhà, lấy tấm tranh cũ nát che đỡ cho anh rồi để lại đây. Xuống lại dưới hầm tìm mấy cái thắt lưng thì nó ở đâu tôi không thấy, tôi chạy ra sau vườn tìm mang vào, thì ra hồi nãy đi vào nghe pháo nổ gần quá, tôi chạy nhanh vào hầm, đồ đạc mang trên người nó rớt hồi mô tôi không hay biết. Sau đó tôi dẫn anh Long ra chỗ hôm trước du kích dẫn tôi đến, ở đây có một bà già bị tâm thần ở lại. Lúc này mới có 12g trưa, anh Long ở trong nhà, tôi ra vườn lấy dù máy bay thả rơi, đem xuống hố bom giặt phơi cho khô để tối du kích về nhờ họ đem quấn anh Muộn đi chôn. Tối đó, họ về tôi gửi anh Long cho họ (vì hồi trước tôi công tác ở Điện Thắng nên tôi quen với họ) để ngày mai họ dẫn anh Long đi rúc bèo lục bình dưới sông Cầu Thang với họ, luôn tiện anh Long nhờ họ cùng anh Long đi chôn cất anh Muộn. Khuya hôm đó họ dậy sớm nấu cơm ăn còn gói đi để ăn trưa. 5g sáng họ đã đi ra khỏi nhà hết, còn lại tôi và bà già, chị Lan và một thằng bé. Chị Lan du kích Điện Thắng vào đường cùng nên ở lại đây hợp pháp cùng với tôi, thằng bé thì ở Điện Thắng chạy theo anh là du kích, lỡ rồi không về được, rúc bèo thì không chịu nổi nên cũng ở lại đây luôn. Sáng dậy, chúng tôi cùng nhau vét những hạt cơm thừa còn sót lại trong góc nồi đồng của mấy ông du kích, rồi cùng nhau ăn qua loa cho đỡ đói. Khoảng 8g sáng một tràn pháo bắn nổ dữ dội, sau đó mấy tràn liên tiếp bắn tới tấp dữ dội hơn, chúng tôi núp hầm hồi hộp nhưng cố bình tĩnh chờ chúng nó đến. Nhất định mình sẽ bị bắt! Từ Điện Thọ đến Điện An không có một người dân nào ở lại vùng giải phóng trong lúc này. Một hồi lâu im lặng, sau sự im lặng khủng khiếp, chúng tôi nghe tiếng xì xào của Mỹ ngoài mấy lùm tre. Chúng tôi lo sợ nhưng vẫn núp dưới hầm. Chúng đến, có tiếng thằng thông dịch viên của Mỹ hô lớn: “Có ai ở dưới hầm không, lên mau, nhanh lên!!” Chúng tôi lần lượt đi lên. Lên hết rồi, chúng lôi tất cả ra ngoài, đốt nhà. Chúng dẫn bọn tôi đi đến một hố bom đầy nước. Một thằng Mỹ dẫn chị Lan (chị Lan mập, lớn hơn tôi), một thằng ngụy dẫn tôi. Hai tên này nhận chúng tôi xuống hố bom, chúng leo ngồi lên lưng chúng tôi, tay nó nắm đầu tóc, nhận dúi đầu chúng tôi xuống nước, kéo lên nhận xuống liên tục, ngột thở quá, tôi cố gắng hất tên lính ngụy xuống để trèo lên bờ nhưng không có cách gì hất nổi. Tôi nhỏ bé, thằng ngụy to lớn, nên tôi phải bất lực. Qua một hồi nhồi nhét dưới nước bùn của hố bom đã đời, hai chúng tôi nhừ nhẫn không còn biết gì nữa, chúng lôi lên khỏi hố bom bắt nằm dài trên bờ đó. Trong khi tôi mê man, chúng đã lột đôi khuyên tai vàng của tôi. Sau khi tôi biết mình bị mất đôi khuyên tai, còn lại cái khâu vàng trên tay, tôi vội lấy cây ghim, ghim cất chiếc khâu trong lưng quần (trong chiến tranh, ai cũng phòng hờ lỡ có khi bị bắt hoặc đi đâu, nếu bí lắm thì có vàng để bán chi tiêu, do đó tôi cũng có đeo vài chỉ vàng để làm vốn). Một lúc, bọn nó dẫn bốn người chúng tôi đi xuống hướng sông Cầu Thang. Tôi đi nhào tới nhào lui, cái đầu nặng trĩu cứ chúi về phía trước, tưởng chừng nó nặng hơn cái thân của tôi, đi chưa đến sông mà tôi thấy bọn nó dàn đội hình ra hàng ngang rồi bắn. Nó bắn qua bắn lại với quân bên kia sông, tôi và chị Lan bàn với nhau:
   - Chúng nó tiến lên phía trước bắn nhau, ở phía sau mình tranh thủ chạy trở lại trốn.
Chị Lan đồng ý. Hai chị em lủi lại phía sau và chui trốn dưới đám cỏ lùng đang xanh tốt sát mấy gò mả to tướng. Ngồi im trong đó, hết súng nổ tưởng chúng không thấy, mình được thoát rồi. Ai ngờ, nổ súng xong một hồi lâu im lặng chúng chia nhau ra tìm, đạp cỏ lùng rạp xuống lôi cổ 2 chị em ra dẫn đi, xuống đến Cầu Thang sát bờ sông ngang nó dừng lại đó, lúc ấy khoảng 4h chiều, chúng chận cổ 2 chị em ngồi xuống và hỏi đủ thứ.
- Chúng mày có phải cộng sản không?
- Không! - Hai chúng tôi cùng trả lời.
- Không phải cộng sản thì chúng mày làm gì ở vùng cộng sản này.
- Tôi ở Đà Nẵng về thăm nhà, vừa đến đây thì các ông đến bắt chứ tôi không biết chi hết. - Tôi nói.
   - Tại sao mấy ngày trước Việt Nam Cộng Hòa đã có máy bay rao cho đồng bào đi khỏi vùng này mà chúng mày không đi?
- Chúng tôi có nghe, nhưng xuống đến đây nghe đại bác bắn, bom nổ sợ quá không đi nữa, ở lại đây núp hầm tránh đại bác, tránh bom thì gặp các ông bắt đây, chứ tôi có biết chi mô.
Thằng thông dịch viên nói lại với thằng Mỹ. Thằng Mỹ không tin. Thế là nó đánh, đánh bằng cách: bắt hai đứa tôi ngồi xuống duỗi 2 chân ra. Nó lấy cây súng M79 to đùng, thằng Mỹ đứng thẳng lưng đưa tay lên cao đập xuống 2 ống chân tôi, đau quá, tôi la to, càng la nó càng đánh. Chúng thay phiên, hết đánh chị Lan rồi lại đánh tôi. Tôi tưởng chừng như hai ống xương chân của tôi bị gãy, đến nửa tháng sau mà hai ống chân vẫn còn đau và bầm tím. Sau đó khoảng 5h chiều chúng gọi HUMB (H34) đến chở cả chúng tôi về đồn Trảng Nhựt. Về đây, tôi gặp nhiều người quen cũng mới bị chúng bắt trong trận càn 21 ngày này. Trong số đó có chú Thận (Phó Ban An ninh quận II) và Xuân (giao liên anh Nghĩa) cũng bị Mỹ khưi công sự trên thôn La Nan (Điện Phước) sáng nay. Công sự gồm có chú Thận, chú Nghĩa, Xuân, Nhung. Chú Nghĩa và Nhung bị thương khi nổ lựu đạn tự sát không thành nên bị chúng bắt. Chú Nghĩa, Nhung chúng đưa ra nhà thương Non Nước chữa trị. Còn chú Thận, Xuân thì đưa ra đây. Tối đó, chúng phát đồ hộp cho chúng tôi ăn. Ở đây là đồn của Mỹ không phải chỗ giam tù nên chúng bắt ra đây rồi phát đồ ăn của chúng, đồ hộp cũng một phần xuất ăn giống tụi Mỹ để mình ăn thay cơm, và nó nhốt tất cả vào 1 phòng, nam nữ cùng ở chung. Trước khi lên hỏi cung chú Thận dặn: “Tụi nó thẩm vấn cháu, đánh đập, cháu cố chịu đau đừng khai lung tung là nó đánh nhiều và nhốt tù lâu đấy. Đừng có khai biết chú nghe chưa.” Ăn vừa xong, khoảng 7g30 hay 8g gì đó chúng gọi lên hỏi cung. Thằng Mỹ hỏi, thông dịch viên nói lại:
- “Mày tên gì? Làm gì? Ở đâu?”
- Tôi tên Dương Thị An, đang đi ở đợ cho họ ở Đà Nẵng (lúc đó tôi khai tên của bạn tôi đã chết).
- Mày nói ở Đà Nẵng mà sao mày lại đang ở vùng cộng sản này?
- Tôi về quê thăm nhà ở xã Kỳ Minh, vừa đến đây thì các ông bắt.
- Láo! Mày là giao liên cho quận II phải không? Khai ra không thì chúng tau đánh cho mày chừa thói nói láo.
Tôi không chịu, chúng đánh. Ban đầu thằng Mỹ nó túm 2 tay, xốc nách tôi lên lật ngửa ra nằm vắt ngang hai trái đùi to của nó, nó nắm bàn tay lại rồi tộn từ bụng xóc lên hông, lên sườn tôi nhiều cái. Làm tôi tức thở, tôi không chịu nổi, tôi la lên. Tôi nói với thằng thông dịch là tôi không biết thật mà, các ông đừng đánh tôi tội nghiệp, tôi không biết chi hết.
Thằng thông dịch nói:
- Sao thằng nhỏ bắt chung với mày nó khai biết mày, mày là giao liên hợp
pháp của quận II.
- Trời ơi! Tôi đâu có biết nó, tôi ở Đà Nẵng về đến đó nghe đại bác, bom nổ sợ quá, tôi chạy vào núp bom thì thấy nó ở đó chứ tôi có biết nó đâu!
Chúng không tin, đánh, đổ xà phòng, tôi cũng không chịu. Cuối cùng nó bắt tôi sám hối. Đầu tiên, chúng bắt tôi quỳ xuống đất, hai tay giơ thẳng lên cao khỏi đầu, mắt nhìn vào bóng đèn tròn trước mặt, sau đó chúng lấy cây súng M79 để lên hai tay bắt tôi cầm lấy, thẳng tay lên. Tôi cầm cây súng nặng trịch quỳ đến khi mệt quá, tôi sụp xuống, chúng hét lên: “Quỳ lên, thẳng tay giơ cao lên!” Tôi quỳ miết đến khuya mệt, tê hai tay, đau hai gối rồi ngã xuống đất bao giờ không hay. Lúc đó chúng lấy cây súng ra và bảo tôi ngồi dậy. Tôi ngồi dậy không được, hai chân co cứng, hai tay cũng tê cứng không thả xuống được. Chúng để tôi nằm im hồi lâu rồi lại xốc tôi ngồi dậy hỏi cung tiếp. Không có gì thêm, khuya quá chúng trả tôi về phòng. Về phòng mọi người xúm lại xoa bóp cho tôi, động viên tôi hãy cố gắng chịu rồi sẽ qua. Vì không có chứng cứ nó không làm gì mình được đâu. Cũng lúc này, mọi người mới phát hiện ra ở sau chân trái của tôi có một vết thương đã khô, thế mà tôi đâu có hay biết gì. Vết thương này là do mảnh pháo xẹt qua phần mềm sau trái chân, lúc tôi đang chạy từ công sự vào hầm chống pháo của du kích Điện An trước ngày tôi bị bắt.
Đến sáng mai nó lại gọi lên hỏi tiếp và đưa thằng nhỏ đến đối chứng.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:22:38 AM
Tôi nói: “Tôi không biết thằng nhỏ này.” Chúng lại đánh tôi. Nhưng sau đó thằng thông dịch viên của Mỹ đi thẩm vấn thằng nhỏ và nói với nó: “Mày có biết con đó là giao liên quận II thiệt không? Có biết giao liên thiệt thì mày nói, còn không phải nó là giao liên, mà mày khai bậy cho nó là mày ở tù rục xương đó nghe.” Nghe thằng thông dịch viên nói vậy, thằng nhỏ sợ quá nó phản cung khai lại: “Vì các ông nói nếu khai cho hai chị nớ là Việt Cộng thì tôi được thả ra nên tôi khai đại, chứ thiệt ra tôi không biết họ.” Nhờ lời phản cung của thằng nhỏ mà tôi và chị Lan được thoát nạn. Ở Trảng Nhựt được gần 10 ngày, số bị bắt vào đông quá chúng lại đưa chúng tôi ra đồn Hầm Xẻ (ở Yến Nê, Hòa Tiến). Đồn này không thẩm vấn như ở đồn Trảng Nhựt nhưng chúng đánh ác chiến lắm. Mấy thằng Mỹ ở đây không to, cao như mấy thằng Mỹ ở Trảng Nhựt. Nhưng gặp những người ở đây trước, họ truyền miệng với nhau rằng: “Tụi này ban đêm hay đi tuần tra, đốt rác, nó thích là vào gọi ai bất kỳ lôi ra đánh nhừ tử rồi mới dẫn vào thay người khác ra.” Không rõ là nó đánh vì việc gì. Vì không ai biết tiếng, không có thông dịch viên nên nó thích là gọi ra đánh. Những ngày ở đây, ai cũng sợ chúng, trông cho bọn nó đưa đi đâu cũng được. Nơm nớp lo sợ cả đêm, ngày không ai ngủ được. Không lâu, khoảng 05 ngày sau chúng gọi tên tôi và một số người lên xe đưa ra khu quân sự Hòa Cầm.
 Ở đây, có vẻ nề nếp hơn. Nhốt nam riêng, nữ riêng. Nữ ở một căn nhà to, giống như một cái xưởng trống trơn. Chỉ có vài chục chị em nằm một góc, trời mùa đông lạnh buốt mà chúng cho ngủ dưới nền xi măng trải chiếc chiếu mỏng đơn sơ, bốn phía phòng che bằng tôn, mái cũng lợp bằng tôn, ban đêm sương xuống lạnh ơi là lạnh.
Mỗi ngày, vào lúc 3g sáng, chúng tôi đang ngủ thì nghe ổ khóa ngoài cửa kêu rổn rảng, rồi cánh cửa từ từ mở ra, chúng gọi dậy đi vệ sinh (chúng học được tiếng Việt từ đâu không biết cứ lặp đi lặp lại một câu, cái giọng nghe lơ lớ: Đi đái, Đi cầu! Đi đái, Đi cầu!...). Chúng tôi giựt mình vùng dậy đi theo thằng Mỹ (khu vệ sinh cách xa khu vực tù nhân ở), vệ sinh xong rồi về phòng không ngủ được nữa, chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau đến 4g30. Thằng Mỹ hồi nãy, gọi chúng tôi đi đánh răng, miệng, vệ sinh cá nhân. 5g sáng nó gọi chúng tôi ra xếp hàng lấy thức ăn. Thức ăn toàn đồ hộp của Mỹ, không có cơm.
Tại khu quân sự Hòa Cầm, chúng gọi tôi lên làm cung, thẩm vấn. Ở đây cũng có thông dịch viên, chúng hỏi tôi những lời y như ở đồn Trảng Nhựt. Tôi khai tôi đi ở cho họ ở Đà Nẵng về thăm nhà, đến đó nghe đại bác, bom sợ quá tôi vào hầm núp thì gặp các ông Mỹ đến bắt. Thông dịch hỏi ở Đà Nẵng là ở đâu? Tôi khai đại là ở cho nhà chú tôi, tôi có ông chú đang làm Trưởng đoàn bình định nông thôn của Quảng Nam, nhà ở Đà Nẵng.
- Ổng tên gì?
- Chú tôi tên Ngô Yên.
- Tại sao gọi chú mà lại khác họ?
- Chú bà con cô cậu với ba tôi nên khác họ.
 Chúng gọi tôi một vài lần để hỏi cung, lần nào tôi cũng nói như vậy. Sau đó, tôi không thấy bọn nó gọi tôi làm cung nữa. Một tuần sau chúng gọi tôi và chị Lan lên xe, trả chúng tôi về quận Điện Bàn học tập. Về quận Điện Bàn, phòng thẩm vấn của Điện Bàn gọi lên hỏi cung, tôi phản cung, coi như mình không biết gì.
Tên thẩm vấn hỏi:
- Mày tên gì? Ở đâu?
- Dương Thị An (tên An, bạn tôi đã hy sinh), quê thôn Giáng La, xã Kỳ Minh (nay là xã Điện Thọ)
- Mày làm gì mà Mỹ bắt, có phải là Việt Cộng không?
- Dạ không.
- Không phải Việt Cộng mà sao Mỹ bắt vào Hòa Cầm rồi đưa vào đây?
- Dạ, tôi đi ở đợ ngoài Đà Nẵng, tôi về thăm nhà, tôi đi đường Cầu Đỏ, trên đường về nhà thì gặp Mỹ bắt, chứ tôi đâu có biết.
- Tự nhiên họ bắt mày à?
- Họ bảo tôi về vùng Việt Cộng để tiếp tế cho Việt Cộng, rồi họ bắt chứ tôi có làm chi đâu. Không tin thì ông hỏi chú tôi là ông Ngô Yên đang làm Trưởng đoàn bình định nông thôn của tỉnh Quảng Nam, ông đang ở Hội An đó.
- Mày bảo ông Yên là chú mày mà sao mày họ Dương, ông Yên họ Ngô?
- Chú Yên là cháu gọi bà nội tôi bằng cô ruột.
Thấy tôi nói thật thà, nó tin, không hỏi nữa. Cho tôi về trại, từ đó về sau nó không gọi thẩm vấn nữa, rồi sáng nào cũng cho tôi, chị Đỗ Thị Lan cùng nhiều người đi quét dọn, làm vệ sinh dưới quận. Chắc nó biết chú Yên, vì chú Yên người xã Kỳ Minh ra làm Trưởng đoàn bình định nông thôn là có thật. Có mấy lần dân trên quê bị bắt mà chú biết được chú cũng nhận xin cho họ về, ông bảo đảm: “Những người này không phải là Việt Cộng.”
Trong thời gian ở nhà lao Vĩnh Điện, ai cũng phải nộp tiền cơm. May mà lúc bị bắt ở Điện An, bọn chúng đã lấy mất của tôi đôi khuyên tai bằng vàng, khi biết tụi nó lấy vàng của tôi, còn lại một cái khâu trên tay tôi liền gim giấu trong lưng quần nên bây giờ mới có để bán nộp tiền cơm cho tôi và cả chị Lan. Sau gần một tháng thì tôi được thả tự do tại Vĩnh Điện. Được tự do, sướng quá. Còn tiền, tôi và chị Lan ra chợ mua mỗi đứa một chiếc nón lá rồi lên đường cái đón xe về Thanh Quýt. Ra đến Thanh Quýt chúng tôi xuống xe đi lên thôn Đông Hồ về lại cơ quan, gặp các chú, các anh tôi mừng lắm. Chú Khương nói một câu làm tôi vừa buồn vừa giận chú.
- May mà cháu bị bắt đó.
- Cháu bị bắt, chúng nó đánh đập gần chết, mà chú bảo là “may”? Chú tưởng bị bắt sướng lắm hả? Chú Khương nói:
- Không phải chú nói rứa đâu. Chú nói cháu bị bắt may ra còn sống, chứ như con Ba, con Thọ khi Mỹ rút quân, thằng Long ra công sự gọi bọn nó, nó bò lên không nổi, cố gắng lên khỏi miệng hầm bọn nó ngất xỉu luôn! Sau khi ở tù về tôi nghe con Ba kể lại: “Lúc mi bị đánh ở bờ sông, bọn tau nằm dưới công sự nghe mi khóc, la to quá bọn tau sợ mi chịu không nổi, mi dẫn Mỹ tới chỉ khưi công sự thì bọn tau cũng chết!”
Phải chịu đựng trận càn 21 ngày đêm, nhất là mấy ngày cuối trận càn, bọn chúng siết chặt vòng vây nên không thể lên kiếm đồ ăn, uống được gì đành nhịn đói, nhịn khát. Trận càn đã đi qua nhưng ai cũng hãi hùng vì một phen gian nan vất vả, đói khát. Về đây tôi mới biết chị Bảy, người chị nuôi của cơ quan đã hy sinh vào ngày thứ 15 của trận càn. Tối hôm đó chị về lo cơm cho anh em cơ quan, nấu xong chị tranh thủ ra hố bom tắm gội, rúc công sự cả ngày bẩn quá. Chị đang tắm, có một chiếc máy bay nghe u..u trên trời cao thả đèn sáng và bắn mấy loạt đạn lửa nghe ụt..ụt…xuống đây, chúng bắn vu vơ trong vùng giải phóng, nhưng lại trúng vào khu vực cơ quan đang ở, chị bị ngay loạt đạn đó và hy sinh. Trận càn 21 ngày này, cơ quan tôi có hai người hy sinh: anh Nguyễn Muộn và chị Lê Thị Bảy.
Trận càn này lớn nhất từ trước tới nay. Khi nó càn, có đơn vị bộ đội chủ lực cũng toàn người miền bắc. Họ là những người đa số tuổi đời còn chưa biết đến tình yêu là gì. Nhưng họ đều có một tấm lòng cao cả, chấp nhận hy sinh anh dũng để bảo vệ tổ quốc và nhân dân, không có con đường nào khác là phải chờ địch đến rồi đánh. Mình biết ơn họ, yêu thương họ với tất cả tấm lòng của mình, nhờ những người đồng đội đó mình mới có ngày hôm nay.
 Họ đóng quân ở thôn Hạ Nông xã Điện Phước cũng nằm trong vòng vây của địch, cũng giống như các đơn vị dân chính, không ra khỏi vòng vây phải ở lại chiến đấu với địch. Một phần hy sinh, thương vong do địch ném bom, thân xác không toàn vẹn, một phần chiến đấu với địch đến phút cuối cùng không cách nào khác là chấp nhận hy sinh, có số bị thương rồi cũng bị địch bắt. Nhiều lắm, thương các anh lắm, ăn uống thiếu thốn, mà lúc nào cũng chiến đấu với kẻ thù cả trên không lẫn dưới đất.
Tôi ở tù về, anh Long tính tiền sinh hoạt phí, cấp cho tôi hai tháng trong thời gian tôi bị tù. Ở tù gần hai tháng nhưng anh cấp luôn 2 tháng, được bao nhiêu tôi không nhớ rõ, chỉ nhớ, sau khi nhận được tiền sinh hoạt phí, tôi đi công tác ra Đà Nẵng và đổ một chỉ vàng bù lại chỉ vàng mà tôi đã bán nộp tiền ăn trong nhà lao Vĩnh Điện. Thời gian này cơ quan cứ ăn gạo thối miết, gạo chôn cất bằng thùng phuy nhưng không biết sao nước cũng vào ngâm hư hỏng hết, khi lấy lên trải, canh ra hong cho khô, nhưng rồi nấu cơm, cơm cũng thối, nhưng không ăn thì biết ăn cái gì, nên đành phải nuốt! Khi tình hình yên ả, các anh trai tráng ra sông Cầu Thang lặn dưới bèo lục bình bắt ốc bưu vào nấu ăn với cơm. Tôi còn nhớ có lần trời mưa, nước lớn, mấy anh cơ quan thấy con rắn ở trên trần nhà, các anh bảo nhau:
   - Có con rắn bò lên trần nhà, mình đập làm thịt ăn!
Rứa là thi nhau thọc rắn rớt xuống, đập làm thịt ăn. Tôi sợ quá không ăn được. Rồi các anh đề nghị làm bánh xèo ăn. Anh Long nói:     
- Hương, em đi xay bột đúc bánh xèo ăn hỉ.
- Nước lụt làm sao đi xay bột được.
Anh Long (lớn) bảo: “Anh với em dò đường đi chứ có chi đâu.”
- Rứa thì đi, nhưng em sợ sụp ướt hết đó. Anh Long (lớn) nói:
- Không sao đâu.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:23:03 AM
Hai anh em dò dẫm đi trên đường nước còn tràn đồng mà ra thôn Nam xay bột. Đem bột về, tôi đúc cái bánh đầu tiên, bánh xèo không rỗ mặt, nó láng bóng. Anh Long (nhỏ) nói:
- Bánh xèo nó giống cái mặt của con H. quá.
- Vì răng?
- Nó láng bóng chứ răng!
Tôi tức quá không đúc nữa.
- Ai biết thì vô đúc, em không biết làm đâu.
-Anh nói đùa chút mà cô em giận liền. (anh Long nhỏ phân bua)
Tôi lại vào bếp. Lần này tôi đổ nước lạnh thêm vào, khuấy bột cho đều rồi đúc tiếp. Cái bánh thứ hai này là bánh xèo thật rồi, ai cũng vào bếp xem thử rồi khen: “Em giỏi lắm”. Cuối cùng cũng được một bữa ăn bánh xèo ngon lành, mặc dù chẳng có gì ngoài bột gạo, khi ăn bánh xèo chấm với nước mắm, rứa mà ngon quá trời.
Tháng sau, khi ở tù nhà lao Vĩnh Điện về chưa đầy tháng, khoảng cuối tháng 2/1969 chú Sáu Hưng điều tôi về công tác cho chú, chú là Phó bí thư Quận ủy phụ trách Đấu tranh chính trị của quận Hai, cơ quan cũng ở gần nhau.Trong cơ quan có chú Sáu là thủ trưởng còn lại cô Mười Hoa (cơ sở bị lộ mới về), cô Năm Cao phụ trách các tiểu thương, phụ nữ trong thành, anh Long (nhỏ) bảo vệ chú Sáu, anh Tám bảo vệ cơ quan, chị Hoa, Hiền, chị Bảy (Huỳnh), chị Bảy (Xê) là giao liên hợp pháp và một số giao liên, cán bộ công tác trong thành phố thường hay về họp hội. Về đây cũng lại ăn gạo thối bị ngâm nước lụt, lúc nào trong nhà cũng nghe mùi thum thủm. Tôi còn nhớ, đơn vị bộ đội toàn người miền bắc, nghe nói trung đoàn hay tiểu đoàn 36 gì đó về đóng quân ở đây rất đông, ban ngày lo làm lán trại ở, đào hầm công sự chống càn, ban đêm đi lấy gạo dưới vùng C (vùng cát Điện Bàn), có đêm không gặp địch phục kích thì lấy được ít gạo về ăn, có đêm bị địch phục kích không lấy được phải về tay không. Quân đông, gạo ít, ăn không đủ làm sao dự trữ khi có địch càn. Có ngày các anh bộ đội phải đào củ chuối nấu ăn thay cơm. Chỉ có những người thanh niên nhiệt huyết với non sông đất nước mới làm được như vậy. Bọn giao liên hợp pháp chúng tôi, mỗi lần đi công tác về thường hay mua bột ngọt, mì ống (mì Ông Phật), cá hộp về cho cơ quan, thỉnh thoảng chúng tôi lấy cho các anh bộ đội, có lúc bị cô Năm biết được phê bình. Chúng tôi biết sai nhưng thấy các anh cực khổ nên thương mà cho thôi. Nghĩ mình thường ngày ra, vào Đà Nẵng, muốn mua gì cũng được, còn các anh ấy đâu có được như cơ quan mình. Các anh bộ đội miền bắc lúc đó còn trẻ non, thư sinh lắm, hỏi chuyện, các anh tâm sự: Đang học dở dang cấp ba, nghe Đảng nhà nước kêu gọi tòng quân đánh Mỹ, vì miền Nam ruột thịt, các anh, sẵn sàng đăng ký đi ngay. Anh Bốn y sĩ của đơn vị, 19 tuổi, kể: “Anh học hết cấp ba, đi học y sĩ rồi vào Nam chiến đấu luôn.” Khi nào không có địch càn, thời gian rảnh anh Bốn hay lại cơ quan tôi chơi lắm. Vùng này không có dân, mỗi khi đi hái rau, lượm củi các anh thường ghé vào chơi, cô Mười Hoa cũng thường lấy đồ hộp (cá, thịt) ra cho mấy anh.
Quanh thôn Đông Hồ hồi đó có cơ quan của An ninh quận do chú Kim Thanh phụ trách, Thanh niên quận có anh Ngô Tấn Kháng phụ trách, cánh anh Hoàng Tư Nghĩa của Hải Châu, cánh Ngũ Xã do ông Triệu phụ trách còn có Bộ chỉ huy Quân sự của Quận đội do chú Kim làm quận trưởng và nhiều đơn vị lắm. Đơn vị nào cũng có giao liên hợp pháp đi vào đi ra, mỗi lần đi công tác đụng đầu nhau, khi gặp như thế là tự mình tránh mặt để bảo vệ bí mật cho mình. Một thời ở đây rất vui.
Hồi nhỏ ở nhà tôi không biết ăn khổ qua, rau má vì các thứ rau này nó đắng lắm nhưng khi tôi ở với dân công tác dưới Điện Nam, Điện Ngọc riết rồi cũng biết ăn khổ qua. Vì dân vùng này ở đất cát nên họ chuyên trồng rau xanh như: cải, rau thơm, khổ qua .v.v…Còn rau má hồi năm 1973 ở Sơn Phúc, trong các bụi cây xanh, đồi tranh thường có rau má, không có gì khác nên chúng tôi đi hái về ăn, ăn mãi rồi cũng quen.
Nhớ có một lần hồi đầu năm 1969 chú Sáu Hưng phân công tôi đi ra Cẩm Lệ đưa thư cho một anh cơ sở lính biệt động quân ngụy. Hôm đó tôi ra Cẩm Lệ nhưng chưa vào nhà anh ta, vì tôi chưa biết mặt cũng chưa biết nhà nên tôi ghé vào nhà bà Huynh là cơ sở, nhà bà ở quán Đoai nhưng quê ở Cẩm Lệ nên bà biết rõ ở đây. Tôi hỏi kỹ tên, công việc của họ, tả hình dáng người, tôi nắm chắc rồi đi đến nhà anh ta vào lúc trưa để gặp anh ở nhà. Tôi mới bước vào nhà, thấy tôi anh hỏi:
- Cô tìm ai?
- Dạ, em muốn gặp anh H., xin hỏi anh có phải là anh H. không?
- Tôi đây. Nhưng cô là ai, tìm tôi có việc gì?
- Dạ, em là người của chú Sáu Hưng, chú bảo em ra gặp và đưa thư này cho anh. Tôi mới nói vậy là ông nớ đuổi tôi liền, ổng nói:
- Tôi không biết ông Sáu Hưng là ông mô, cô hãy đi mau ra khỏi nhà tôi chứ không thì tôi gọi cảnh sát ở Hòa Vang gần đây đến bắt cô bây giờ. Tôi không tin và cố nói với anh ta:
- Chú Sáu Hưng nói chính xác ở đây mà, em không nhầm đâu.
- Tôi nói mà cô không tin, tôi gọi cảnh sát bây giờ cô có tin không?
Anh ta trả lời dứt khoát như vậy, tôi xin chào đi ra mà lo sợ nếu nó gọi cảnh sát tới thiệt thì coi như mình bị bắt quả tang. Tôi ra khỏi cổng nhà anh ta rồi cố đi thật nhanh và liếc nhìn thử có ai theo sau không. Tôi lẻn vào chợ Cẩm Lệ quanh một vòng, thấy không có gì khả nghi tôi mới ra đón xe về. Tôi đi đường mà cứ suy nghĩ chú Sáu bảo đưa cho thằng này là đúng rồi, mà sao nó lại từ chối và dọa mình. Về đếnThanh Quýt rồi coi như yên tâm, thế mà vẫn còn hồi hộp hai chân tôi vẫn thấy như run run. Nhưng tôi cũng nghĩ: “Đúng ra thì thằng này nó cũng tốt, chứ không, nó báo cảnh sát bắt mình thiệt thì làm gì được nó.” Tôi về cơ quan báo lại chú Sáu, ông nói:
- Lạ hè, cơ sở báo với chú là họ đã xây dựng được thằng lính biệt động quân tên nớ là đúng rồi. Thôi, để chú kiểm tra lại thử.
Ngày 25/2/1969 tôi công tác ở Đà Nẵng về và cũng gặp Hiền ở Đà Nẵng vừa về. Chúng tôi gặp nhau ở chợ Thanh Quýt rồi cùng nhau về dưới xóm nhà ông Hương Bốn ở bến đò của ông Cửu Đoan - Điện Nam để tối đó cùng nhau đi theo đường dây của giao liên tỉnh về vùng B Điện Bàn. Xuống đây, hai đứa gặp anh Long (nhỏ) bọn tôi mừng, vì có người của cơ quan cùng về. Bọn tôi hỏi:
- Vừa rồi địch càn, cơ quan mình có ai hờ chi không anh Long?
- Có anh Tám bị thương! Nghe anh Tám bị thương, tôi và Hiền sốt ruột hỏi tiếp:
 - Anh Tám bị thương ở đâu, có nặng không? Anh Long làm im một lúc, tôi và Hiền hối thúc hỏi:
- Anh Tám bị thương ở đâu? Anh Long trả lời:
- Bị thương ở chân giữa, mà cơ quan chuyển về phía sau để điều trị rồi. Hai đứa nghĩ: “Cái ông này nói chi lạ rứa, mình hỏi thiệt mà ổng trả lời kiểu đùa cợt!” Hiền tức quá mếu máo như gần khóc, anh Long nói tiếp:
- Anh nói thiệt đó. Rồi ổng bỏ đi chỗ khác. Sáng hôm sau về cơ quan hai đứa hỏi mấy cô ở nhà về anh Long, Mấy cô nói:
- Thằng Tám nó bị thương chỗ hiểm, khó nói đó mà. Từ đó đến nay chúng tôi không gặp lại anh Tám nữa.
Cuối tháng 3 năm 1969, con Xê (giao liên của chú Khương), do con Hoa (Voi) giao liên quận đội chỉ điểm đã bị địch bắt trong lúc ra công tác tại Đà Nẵng vì mắc mưu, dụ dỗ của địch, nó chỉ cho địch bắt con Thọ, người cùng quê, cũng là giao liên chú Khương. Vào đây chúng rủ nhau chiêu hồi và cùng nhau ra đứng các điểm chốt mà giao liên thường đi qua lại để chỉ cho địch bắt. Sau một tháng, đột nhiên con Thọ về, nó nghĩ chưa ai biết nó đi chiêu hồi, nên nó nói là nó chạy trốn được nhưng thực ra là để dẫn địch về bắt chú Hưng. Nhưng khi nó về đến cơ quan thì cơ quan giữ lại và đưa lên tỉnh (trên núi) “học tập” (nó có ba đi tập kết, mẹ cán bộ). Trong thời gian ở Trung tâm chiêu hồi nó khai không sót một ai. Anh Tâm biệt động cánh Hòa Cường, bị bắt cũng vì nó.
Bấy giờ giao liên phải rất cẩn thận khi đi qua những nơi như: bến xe chợ Cồn, bến xe Vườn Hoa. Có thời gian bọn nó đón mãi ở bến xe chợ Cồn nhưng không bắt được ai, nó lại đi đón những đường huyết mạch có trạm gác của cảnh sát như: bót cảnh sát đường đất đỏ (nay là đường Hà Huy Tập), bót cảnh sát Hòa Cầm, bót cảnh sát Miếu Bông v.v.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:23:35 AM
Tháng 4 năm 1969, lúc đó tôi được 15 tuổi, đang đi giao liên cho Văn phòng Quận ủy quận 2 (nay là quận Hải Châu) do chú Sáu Hưng trực tiếp phụ trách. Thường ngày, tôi đi xe ra đến ngã 3 Cai Lang, tôi xuống xe đi bộ để tránh bọn chỉ điểm ở bến xe chợ Cồn. Lần này, trên đường đi từ xã Điện An (Điện Bàn, Quảng Nam) ra Đà nẵng, đang ngồi xe lam đến đường Đất Đỏ, thì một tên chỉ điểm đang ngồi trong bót cảnh sát phát hiện ra, mặc dù tôi đã ngồi quay lưng ra ngoài. Tên cảnh sát ra hỏi giấy, bắt tôi xuống. Lúc ấy, tôi nghĩ “Rứa là rồi!” Chúng lập tức chở tôi về bót cảnh sát trên đường Hoàng Hoa Thám để lột quần áo kiểm tra. Lúc đó, tôi có đem theo một bức thư. Trên đường chúng chở đi, tôi tranh thủ nhai nuốt để thủ tiêu. Nhờ đó khi về đồn cảnh sát lục soát, trên người tôi không có gì cả. Buổi chiều cùng ngày, chúng đưa tôi xuống Trung tâm chiêu hồi ở đường Đống Đa hòng dụ dỗ để khai ra tổ chức, cơ sở. Ở đây, tôi thấy nhiều người trạc tuổi mình cũng bị bắt, nhưng không biết ai đã chỉ bắt mình. Sau khi theo dõi, tôi được biết Xê đã khai rất cụ thể về tôi. Bữa cơm tối hôm ấy, chúng đưa vào cho tôi một tô cơm, chén canh để ăn uống đàng hoàng, sau đó mới gọi lên thẩm vấn. Trước tên cảnh sát hỏi cung, tôi giả vờ ngơ ngác: “Mấy ông kêu tôi hỏi giấy rồi bắt tôi chứ tôi có biết chi mô.” Nghe vậy, chúng liền đưa Xê, Cúc lên đối chứng. Tôi lắc đầu: “Tui không biết họ.” Tên giấy khai sinh giả của tôi là Hồ Thị Bông, nhưng con X. khai tôi tên Hương. Tôi cãi lại và nhấn mạnh tôi là Hồ Thị Bông. Bọn cảnh sát liền bộc lộ bản chất “đồ tể”, chúng thẳng tay đánh tôi không thương tiếc. Tuy nhiên, cô bé mười lăm tuổi này vẫn khăng khăng: “Tôi không biết. Tôi là Bông chứ không phải là Hương.” Tên cảnh sát đem lời khai của Thọ ra đọc có nội dung tôi được kết nạp đoàn cùng một đợt với Thọ vào năm 1968. Kết quả chúng thu được vẫn là câu trả lời “Tôi không biết.” Cũng cần nói thêm rằng, ở Trung tâm chiêu hồi, không chỉ riêng tôi mà số cán bộ, giao liên từ nhỏ đến lớn bị bắt vào đây thẩm vấn đánh đập, có lúc bị lột hết quần áo để rồi tra tấn. Thủ đoạn tra tấn chung vẫn là bắt người tù nằm ngang qua thành bồn tắm, lấy chiếc khăn lông dày tẩm xà phòng đắp lên mặt, sau đó xả nước từ vòi hoa sen từ từ chảy xuống. Mỗi thằng giữ một tay ở hai bên, còn một thằng giữ hai chân tôi ghì chặt xuống thành bồn tắm. Hồi lâu, khi tôi không còn nhúc nhích và không biết gì nữa thì chúng nghỉ tay, khiêng về phòng. Sáng hôm sau gọi lên, lại đối chứng với Xê, tôi vẫn không chịu. Chúng lại đánh tiếp, chúng dùng nắm tay tộn từ dưới bụng ngược lên sườn, sau đó đem nhồi nước xà phòng y như trước. Sau này mỗi lần thấy khăn lông và xà phòng là tôi rùng mình, kinh hãi. Tên Nga trên Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình xuống thẩm vấn tôi rồi nổi cáu nói: “Con nít còn chưa biết chi hết trơn mà cũng theo cộng sản lại còn ngoan cố.”
Tôi biết, một số người bị bắt đã khai về tôi rất nhiều, nhưng tôi không chịu. Nửa tháng sau làm cung xong, chúng bịt kín mắt tôi dẫn tôi ra xe bịt bùng, đưa tôi xuống Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình và tống tôi vào phòng xà lim luôn. Lúc được tháo dây bịt mắt ra, tôi dụi mắt nhìn quanh phòng không thấy gì hơn ngoài cái cầu tiêu. Ở đây cảnh sát chuyên thẩm vấn vào ban đêm, thi thoảng cũng có thẩm vấn ban ngày, nhưng không có quy luật nào hết. Mỗi lần tên Nga thẩm vấn, ngoài việc đổ xà phòng, đập đầu tôi vào tường nó còn có cách đánh khác là: miệng nó hỏi mà tay của nó cứ véo hai bên trái đùi của tôi, vết đỏ nó véo tôi cả tháng sau mà vẫn còn bầm tím. Các anh chị bị bắt trước truyền tai lại rằng: “Sợ nhất là gặp tên Nga.” vì hắn vốn là người đằng mình chiêu hồi. Hắn biết nhiều chuyện nên nói y như thật, từ đồng chí lãnh đạo này đến ông cán bộ kia nên không ít người bị mắc mưu. Với tôi, dù hắn có giở mọi thủ đoạn, vẫn chỉ là: “Tui ở trong quê ra đi ở, đến chỗ nớ thì các ông bắt, chứ tui có biết cái chi mô.” Trong phòng biệt giam bé tí của Trung tâm chiêu hồi Thanh Bình, không có gì ngoài cái cầu tiêu và một chiếc chiếu manh đã cũ và rách nát. Sau khi đi thẩm vấn về, vừa bị đánh đập đau vừa mệt nên ngủ say, khi giựt mình thức giấc tôi thấy đầu mình gối lên thành cầu tiêu. Những ngày ở đây thần kinh luôn căng thẳng, lúc nào cũng trong tình trạng sợ bị thẩm vấn, hỏi cung. Hằng ngày thì ăn cục cơm thiu, một miếng canh khoai lang thối, nửa tháng mới cho đi tắm qua loa năm phút là xong, nên tóc tai rối bời vì bẩn thỉu, sinh ra chấy nó bò tận xuống mang tai, bò quanh cả cổ. Còn nước súc miệng thì đúng 5g sáng phải dậy hứng vòi nước dội cầu. Khoảng nửa tháng sau chúng gọi tên tôi ra, bịt mắt đưa xuống Ty cảnh sát Gia Long. Xuống Gia Long, chúng tiếp tục gọi lên hỏi cung, thẩm vấn lần cuối cùng. Chúng cũng không thu được gì thêm. Gia Long là nơi tạm giam người từ các nơi đưa đến nên nhốt tập thể, tù cũ có, tù mới có nên tuy còn thẩm vấn, đánh đập, nhưng có tập thể, mỗi lần ai đi thẩm vấn bị đánh về là chị em xúm lại xoa bóp, hỏi han, động viên nhau nên thấy yên tâm và không còn sợ nữa. Nhưng nhà lao Ty Gia Long tù nhân rất đông, phòng nhỏ hẹp, kín nên nóng nảy. Đúng là:
“Ngày đêm không có chổ ngồi,
Chen nhau mà đứng, mồ hôi ước dầm.”
Trong lúc, anh em ốm đau bệnh tật, bọn chúng không cho thuốc men mà còn đối xử hà khét với tù nhân.
“Ôi! Mở cửa, mở cửa có người xâm ngã gục.
Ê, Im đi tau múc quẹo sườn!”
Những lúc như vậy, ai cũng thấy thương xót cho đồng đội mình, ngày đêm phải chịu bao cảnh gian nan, đớn đau.
“Nhìn lên thấy bạn thảm thương,
Mỗi lần tra tấn thịt xương tím bầm…
Gặp tên Nghiêm nơi nào cũng bị.
Mặt kiêu kỳ,gậy sẵn trong tay.
Trẻ già chỉ một tiếng mày.
Chẳng cần phải trái, gậy thì vào lưng…
Như thế, nhưng lúc nào bọn nó cũng rêu rao là: chính nghĩa, là tự do.v.v.
             “…Ôi cái tự do của Mỹ, ngụy kinh hoàng”
               Trong hoàn cảnh đó ai cũng lo lắng và thương yêu nhau, tối nào ngủ chị em cũng phải cùng nằm nghiêng một bên như sắp cá chuồn, nếu có phải trở mình thì phải cùng nhau trở đồng loạt. Có hôm, một chị mỏi quá mới cố gắng trở mình nằm ngửa ra một tí, tên giám thị đi ngang qua nhìn thấy, nó lập tức lấy dây roi dài đứng ngoài cửa quất thẳng vào người đó nhưng cả một dãy người đang nằm ngủ cũng đều bị đánh luôn. Hồi ấy ở đây, phòng chật, nóng lắm, cái lưng của tôi bị mọc sảy dày như cơm cháy, ngứa rần không sao ngủ được, khổ sở vô cùng. Ở Gia long, nước sinh hoạt cũng rất hạn hẹp, trời mùa hè mà bọn nó cho tù nhân một tuần tắm qua loa một lần thì làm sao chịu nổi. Vì thế cho nên mấy chị lớn hơn mỗi buổi sáng vào lúc 4g thường xin đi dọn vệ sinh dưới bếp, ở WC và lượm rác trong sân khu vực của Ty thì mới có nước tắm, giặt được nhiều hơn một tí. Bên mấy anh nam giới thì suốt ngày phải mặt quần cộc và cầm chiếc khăn để lau mồ hôi chứ mặc đồ dài là nóng lắm. Cuối tuần mới cho họ tập trung ra ngồi quanh giếng nước trước dãy trại giam của nữ, có một người đứng sẵn ở đó để múc nước xối qua loa cho họ, thế mà gọi là tắm đó. Cho nên, hồi năm 1969 chú Lương Trí Nghĩa có sáng tác bài hát về Gia Long, tôi còn nhớ:
“Xối qua một lượt chưa kỳ.
 Xối lại lượt nữa chúng xô đi vào”
Xối chưa ướt cái lưng trần của họ mà đã xô vào, nếu ai chậm trể là giám thị lấy roi quất liền không thương tiếc.
Tắm rửa thì như thế, còn ăn uống thì thôi khỏi phải nói. Một hôm, hỏa thực đem cơm đến và múc canh rau muống ra chia cho mọi người, thấy có chiếc dép nhựt bị đứt quai đen thui nằm trong nồi canh rau đó. Thấy thế, ai cũng rùng mình, không dám ăn canh.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:23:52 AM
Bởi vậy, tôi mới nghĩ: “Tụi nó khai cho mình như rứa chắc gì mình được thả ra sớm nên tôi mong được lên kho đạn để khỏi bị tra tấn, đánh đập nữa, mà tắm rửa chắc cũng đỡ hơn.” Vì tôi nghe các chị ở trên kho đạn về nói ở đó có nước tắm và sinh hoạt tự do hơn ở Gia Long nhiều. Lúc còn ở Gia Long, một hôm mới sáng sớm tôi thấy thằng giám thị cầm gói đồ đi vào phòng, đứng trước cửa nó gọi: “Nguyễn Thị Hương có thân nhân gửi đồ, nhanh ra nhận.” Nghe đúng tên mình, nhưng nghĩ bọn chiêu hồi khai tên mình, mình đâu có chịu nhận, mà bây giờ ra nhận quà sao được.” Thằng giám thị gọi miết nhưng không có ai ra, nó liền cầm gói đồ qua phòng nam gọi: “Nguyễn Văn Hương,” cũng không ai ra nhận, nó lại chạy sang phòng nữ gọi lại lần nữa. Lần này mấy chị cùng phòng bảo: “Mi cứ ra nhận đại thử ai gửi đồ cho mi, chắc thằng gác cổng này nó không biết hồ sơ của mi đâu.” Nghe lời các chị, tôi ra nhận đại đem vào, cầm trên tay gói quà bọc bằng giấy xi măng, ngoài bìa đề người gửi: Nguyễn Văn Thao gửi cháu Nguyễn Thị Hương. Tôi ngạc nhiên và thấy thương bác tôi. Ông là bác họ, hồi ở quê, ông ở bên xứ vợ dưới Điện An, mỗi lần có giỗ ông mới về Điện Thọ. Chiến tranh xảy ra, gia đình ông đi tản cư ra Đà Nẵng. Có lần ông dẫn người con trai lớn của ông là Nguyễn Văn Cư về quê cho đi bộ đội, và dẫn một người em họ mà ông nuôi từ nhỏ cũng về đi bộ đội luôn. Từ ngày xảy ra chiến tranh hai bác cháu không gặp được nhau mà sao giờ này ông biết tôi bị bắt ông gửi đồ cho tôi. Tôi mở gói đồ ra, thấy trong đó có một ổ bánh mì nhân thịt, một cái bánh chưng và một bộ đồ vải tám. Tôi đem bánh chưn chia ra mỗi người ăn một chút cho vui, tôi ăn ổ bánh mì trừ bữa sáng, còn bộ đồ tôi cất giữ làm kỷ niệm. Tôi vào đây, các chị bị bắt trước mà có gia đình thăm nuôi thường xuyên, các chị cho áo quần tôi mặc cũng đủ rồi. Khoảng một tháng sau chúng đưa tôi lên kho đạn. Không có chứng cứ nên không ra tòa mà mang án an trí. Ở kho đạn có một mảnh đất cát rộng bỏ hoang, giám thị trại giam bắt chị em tù chính trị ra cuốc đất lên vun hàng để trồng rau khoai. Trồng rau xong, bọn nó giao cho tù nhân chính trị hằng ngày phải xách nước tưới. Thế là, trưởng phòng phân công mỗi tổ vào ngày chủ nhật phải múc nước ra tưới bằng nước hố tiêu. Một thời gian sau, đám rau lên xanh tốt, ngọn rau vượt lên non mơn mởn, chị em ai thấy đám rau cũng thèm. Hôm đó có giám thị tên Mật xuống đây, chị em xúm lại xin ít rau lang để nấu canh. Lúc đầu nó không cho, chị em kiên trì nói miết cuối cùng nó cũng đồng ý, nhưng không cho nhiều. Nó dặn đi dặn lại là: “Một người chỉ hái được một nhắm rau thôi nghe chưa”. Chỉ chờ có vậy, mừng quá, chị em ùa ra mỗi người hái một nắm cầm trong tay đem vào bỏ chung lại từng mâm ăn của mình. Hôm ấy cả phòng ai cũng được ăn bữa rau lang tươi ngon lành. Sáng hôm sau vào lúc giữa buổi, tên giám thị tên Phú mặt mày dữ dằn xuống gọi chị em tù chính trị tập trung nhanh, nó hối thúc và dí chị em vào gấp. Cửa phòng thì nhỏ, người thì đông nên khi chạy vào, chị em chen lấn nhau té ngã lăn chiêng, chưa ai hoàn hồn thì nó vào đóng cửa và khóa lại. Không ai biết việc gì mà tên giám thị này lằm lằm cái mặt thấy dữ quá. Nhưng chị em cũng thầm to nhỏ với nhau là: “Chắc do chị em mình hái sạch đám rau lang của nó”. Y rằng, khi tập trung hết vào phòng, nó vào đứng nghiêm nghị và gặng hỏi:
- Ai là người chủ trương hái sạch đám rau của trung tâm?
Chị Ba Thương trưởng phòng đứng lên trả lời với nó là:
- Chị em tôi đã xin giám thị Mật rồi. Nó không tin, nó gọi giám thị Mật xuống làm chứng, tên giám thị Mật bảo:
- Tôi cho mấy bà mỗi người một ít thôi, chứ tôi có cho hết đâu mà sao mấy bà hái sạch đám rau? Chị em trong phòng đồng thanh đáp lại:
- Thì bọn tôi mỗi người một nhắm trong tay theo ý của Thầy chứ mấy!
- Nói như mấy bà tại sao đám rau không còn một cộng?
- Chị em trong phòng đông, chỉ cần mỗi người một nắm trong tay chứ có nhiều đâu Thầy!
Thì chỉ cần mỗi người hái một nắm là đủ sạch sẽ đám rau lang rồi chứ còn gì nữa. Cả mấy trăm người thì hỏi rau đâu mà không hết!
Cuối cùng nó đuối lý, không biết làm gì được. Nó tức quá, nên bắt phạt chị em bằng cách đóng cửa phòng, không cho ra ngoài ba ngày. Bọn nó cho hỏa thực  đưa cơm vào phòng ăn. Cả phòng đấu tranh không chịu, mỗi lần bọn nó đưa cơm xuống, giám thị mở cửa đẩy mấy thùng cơm và thức ăn vào phòng, thì chị em đẩy thùng cơm ra ngoài không nhận. Chị em lý giải rằng: “Bọn tôi ở tù lâu năm mà ăn, ngủ, vệ sinh cùng một chỗ, sẽ sinh bệnh tật là không được.” Nhất quyết cả phòng đấu tranh không chịu nhận, thà nhịn đói còn hơn là ăn, ở mất vệ sinh. Cả ngày hôm đó phòng nữ tù chính trị không nhận cơm ăn và chịu phạt đóng cửa. Bọn nó gọi trưởng phòng lên Ban giám thị, ngăm nghe, hù dọa đủ điều nhưng chị em không sợ, vì chị em nói mình không sai. Cuối cùng ý đồ phạt 3 ngày của bọn nó coi như bất thành. Ở đây cũng có tổ chức sinh hoạt Đảng, Đoàn trong bí mật. Mỗi lần muốn họp thông báo việc gì là chị em gọi ngồi lại với nhau, người thêu thùa, người đan áo như bình thường để qua mắt địch. Tổ chức sinh hoạt Đoàn của bọn tôi do chị Hoa (Chữ) phụ trách. Cái ngày Bác Hồ mất chị em biết tin, ai cũng ngậm ngùi thương tiếc, được sự chỉ đạo của mấy chị lớn (lãnh đạo) phòng, sang ngày hôm sau, cả phòng đúng 4g30 sáng phần ai tự động dậy đứng im tại chỗ của mình làm lễ mặc niệm trong sự trang nghiêm hướng về Bác Hồ.
Tôi ở đây được gần hai năm, đến tháng chạp, chị em tù tổ chức văn nghệ cho vui trong đêm giao thừa. Ở nhà lao kho đạn có chị Hoàng Mai là cơ sở, ngoài đời chị làm giáo viên sử nên chị biết lịch sử Việt Nam nhiều, chị thuộc lòng lịch sử của Nguyễn Trãi. Chị viết kịch, và chị cũng là người đóng vai Nguyễn Trãi, Nhung đóng vai Sa Mây (người yêu Nguyễn Trãi), chị Thanh đóng vai Phi Khanh (cha Nguyễn Trãi). Vở kịch được tập dượt gần hoàn thành chờ ngày biểu diễn cho chị em trong phòng xem vui xuân. Đột nhiên, vào một ngày gần tết âm lịch (25/12) âm lịch năm 1970, đúng 5g sáng, giám thị đùng đùng mở cửa gọi tất cả chị em trong phòng dậy, chuẩn bị đồ đạc sẵn sang, ai nghe đúng tên mình thì mang đồ ra ngoài. Tâm tư ai cũng hồi hộp, lo lắng và sẵn sàng chờ đợi, thế rồi chúng đưa nhiều chị em đi, trong đó có nhóm văn nghệ của phòng. Chị em trong phòng bị đưa đi gần hết, để lại cảnh tượng trong phòng lúc nầy trống trải, hoang tàn như vừa có một trận bão qua đây.
Sau đợt đó, số ít chị cốt cán của phòng vẫn còn lại nên họ sớm ổn định tổ chức của phòng và động viên nhau không nản chí. Chị em lại chọn người tích cực tập dượt tiếp vở kịch đó để biểu diễn trong dịp tết. Lần này chị Năm (Tào) đóng vai Nguyễn Trãi, chị Nga Hòa Quý đóng vai Sa Mây. Chị em đội văn nghệ khẩn trương tập để đúng tối giao thừa phòng tổ chức biểu diễn văn nghệ cho chị em vui xuân, đỡ nhớ nhà.
Đến ngày 28 tháng 4 năm 1971, đến lượt tôi bị chúng đưa đi, cũng vào nhà lao Thủ Đức. Từ Đà Nẵng chúng chở chúng tôi bằng máy bay vào Sài Gòn chúng đưa đến nhà lao Khám Chí Hòa, nhốt ở đây 5 ngày mới đưa lên Thủ Đức. Lên Thủ Đức vào khỏi cổng to của trại giam, chúng dẫn chúng tôi đi luôn vào khu tù nhân ở. Khu này gần phòng can nhân của giám thị. Ở đây có sân rộng để tù nhân trại A ra chào cờ vào mỗi buổi sáng. Chúng tập trung tất cả lại đây, gọi tên từng người phân ra từng trại. Chúng đưa tôi, Chiến, Lan cả ba đứa nhỏ nhất vào trại A. Vào trại, ban đại diện trại nhận ngay chúng tôi vào tổ 4 (tổ của ban đại diện). Vào đây, bà trưởng đại diện trại A căn dặn: “Ở đây là tổ nào sinh hoạt tổ đó, không chạy chơi lung tung.” Mới vào nghe nói vậy, bọn tôi sợ không dám đi chơi đâu. Mấy chị tổ 7 toàn là những người ngoài kho đạn vào đây, các chị thấy chúng tôi cũng mừng mà không dám ngồi nói chuyện. Ở tổ 4 có bà Bốn Lan người Điện Ngọc làm cộng tác viên cho bọn giám thị, hớ một chút là bà báo liền với chúng. Hai ngày sau, mấy chị tổ 7 (miền trung) nhờ chị Cát tổ trưởng tổ 1, người Quảng Ngãi vào hoạt động trong Sài Gòn bị bắt vào đây, xin cho ba đứa tôi về tổ của chị. Lấy cớ tổ 1 không có trẻ nhỏ nên chỉ muốn có sắp nhỏ cho vui. Rứa là ba đứa chúng tôi được về tổ 1 của chị Cát. Trong nhóm của chị Cát có 3 chị người Bến Tre và người ở Củ Chi (đất thép) lớn tuổi hơn 3 đứa bọn tôi, mấy chị mới ngoài hai mươi, rất dễ thương. Lúc nào mấy chị cũng gọi bọn tôi là “Cưng” nghe rất gần gũi và thân thương, vì mấy chị ai cũng có cảm tình với người miền Trung.
Ba đứa tôi đều không có gia đình thăm nuôi, các chị bảo vào ăn cùng mâm với mấy chị, mấy chị có 4 người ăn trong mâm mà ai cũng có thăm nuôi (1 tuần 2 lần), thức ăn của 4 người ăn không hết. Rứa là bọn tôi như chuột sa hũ nếp, được các chị thương yêu, nhắc nhở đủ điều, cho chạy đến tổ 7 (miền trung) chơi với mấy chị một cách bình thường không bị cấm như tổ 4.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:24:16 AM
Các chị tổ 1 không ăn thức ăn do hỏa thực phát, mà nhận thức ăn về đem cho các chị tổ 7 hết, vì các chị tổ 7 toàn người ở miền trung vào, không ai có gia đình thăm nuôi, thức ăn không đủ bữa. Ở trại A rộng rãi thoáng đãng hơn các trại khác, tù nhân cũng đông hơn, lại ở sát tường với câu lạc bộ của trung tâm. Sáng hôm đó ra chào cờ, bên trại Y, các bạn: Nhung, chị Hoa (Chử), Hoa (Luyện), Hiền, Minh thấy chúng tôi bên này, mừng quá ra hiệu xin qua bên đó ở chung cho vui. Chúng tôi ở ngoài đời công tác cùng nhau. Sau đó, thấy bên kia ra câu lạc bộ, bên này cũng xin ra câu lạc bộ, gặp nhau nói chuyện, rồi thống nhất qua bên trại Y ở chung cho vui. Bên đó mấy chị làm đơn xin chúng tôi qua trại Y. Mấy tháng sau phòng can nhân gọi ba đứa tôi lên cho qua trại Y ở. Trại Y thì ẩm thấp, chật chội nóng nực hơn trại A, nhưng vui vì có mấy chị em cùng cơ quan ở bên đó. Ở trại giam Thủ Đức phần lớn là án tù lâu năm, nên ai thêu hoặc đan áo đều lấy tiền để mua sắm đồ dùng cá nhân. Ở câu lạc bộ có bà Nghĩa Lợi người Đà Nẵng, bọn chúng kêu án bà 8 năm tù giam, nhưng nhờ bà giàu, chạy tiền cho bọn chúng nên bà được ra làm việc ở câu lạc bộ. Bà ở tù vì tội đổi tiền USD cho cách mạng bị lộ. Chúng tôi người miền trung nhờ bà lắm, chị em trại này cần liên lạc với chị em trại kia chỉ cần ra gặp bà gửi thư là bà đưa giúp ngay. Chị em trại Y chúng tôi cũng nhờ bà. Bà lại nhờ chị em thêu khăn bàn, áo quần cho con, cho cháu, khăn tay, gối. Hết cái này bà đưa cái khác, thêu hoài không hết, khăn bàn của bà toàn khăn loại vải của Mỹ. Một khăn bàn thêu hoa 4 góc, có 6 khăn nhỏ để tách, một khăn lớn hơn để ấm trà. Khi bà trả tiền, chúng tôi muốn ăn thứ gì nhờ bà mua, bà bảo bọn hỏa thực mua giúp cho. Ở Đà Nẵng bà được ra ngoài nhà “thiện chế” (nhà để dạy may cho tù nhân, cả tù chính trị, cả tù tư pháp). Sau năm 1973 bà được về trước án và ra nước ngoài sinh sống với gia đình.
Vào tháng 2/1972, tôi được phòng can nhân gọi lên báo tin tôi sắp được trả tự do. Mừng quá, nhưng chưa biết thời gian cụ thể, về phòng ai cũng xúm lại hỏi.
- Phòng can nhân gọi lên hỏi có gì không?
- Nó báo cho tôi biết sắp được trả tự do!
Cả mâm ăn vui mừng ríu rít. Chị Hoa (Chử) nói:
- Thôi, bọn mình đem lon guy gô tiền ra đếm và chia ra mỗi người một phần, người nào sắp về thì lấy phần tiền của mình để mua sắm đồ: vải để thêu khăn, thêu gối, túi rút về tặng bạn bè, ai chưa về thì lại bỏ tiền vào lon guy gô tiếp (trong nhà lao bọn tôi thêu cho bà Nghĩa Lợi, bà trả tiền bọn tôi bỏ vào lon guy gô để cùng tiêu chung).
Phần tiền của tôi được chia bao nhiêu, giờ tôi không nhớ, chỉ nhớ là tôi nhờ bà Nghĩa Lợi mua dùm mấy mét vải KT 3000 về thêu, loại khăn ba tấc và loại khăn bốn tấc, cả hai loại là 30 cái khăn, 2 cặp gối về cho em (con chú tôi), thêu 2 chiếc túi rút nhỏ xinh xắn, may cho hai đứa 02 cái áo trắng bằng vải KT 4000, tôi nhờ bà Nghĩa Lợi mua vải, đem về nhờ chị Hoa (Luyện) cắt dùm rồi tôi may tay và thêu lên túi con chim bồ câu trắng tượng trưng cho hòa bình, đẹp lắm. Trong thời gian còn ở kho đạn, sáng nào tôi cũng đi lượm tóc của những người lớn chải đầu bị rụng, vuốt thẳng, mỗi bữa một ít, lâu ngày tôi cũng làm được một cái chan tóc rất đẹp đem về cho cô Sáu tôi. Dù chưa biết lúc nào tôi được trả tự do, nhưng mâm ăn của tôi cũng liên hoan một bữa bằng tinh thần, mừng tôi sớm được về.
Sáng ngày 28/4/1972 chúng xuống phòng gọi tên nhiều người trong đó có tôi. Chạy vào phòng bắt tay, tạm biệt chị em rồi cùng ôm nhau khóc, mừng mình được tự do mà cũng buồn là xa chị em. Xách đồ đạc ra xe, chúng tôi ra luôn sân bay về Kho Đạn và kết thúc quãng đời tù đày ngay chiều hôm đó. Ra cổng Kho Đạn, trời gần tối, tôi không biết đi đâu bây giờ, chị Hiền ở cùng quê và cùng về một lượt với tôi, nói:
- Em đến nhà chị ở qua đêm nay rồi mai hẵng tính. Nhà chị tạm trú ở Xuân Hà. Hồi chiến tranh, Xuân Hà là vùng biển, chỉ có bãi cát trống không có nhà cửa, dân cư, cho nên ai trong quê tản cư ra Đà Nẵng cũng lên che chái tá túc lại đây để làm ăn sinh sống qua ngày, lâu dần thành ra khu dân cư của bà con trong quê ra đây ở. Tôi cùng chị lên xe xích lô về nhà, gia đình chị vui mừng vì chị được trả tự do. Tối ở lại đây, chị Hiền giới thiệu tôi với gia đình, tôi nói tôi có người bác họ cũng tản cư ra Đà Nẵng làm nghề chạy xích lô nhưng tôi không biết nhà, mẹ chị Hiền nói bà có biết bác tôi. Sáng hôm sau, bà đi chợ nhắn cho bác tôi biết. Đến chiều bác tôi đến đón tôi về nhà. Gặp nhau hai bác cháu mừng lắm. Chính bác là người đi thăm nuôi tôi một lần ở trại giam Gia Long. Biết ơn người bác đã nhớ và thương tôi là đứa trẻ mồ côi mà gặp nhiều cực khổ. Nhà bác tôi đang ở dưới khu dân cư Thuận Thành, nơi đây dân tản cư trong quê ra làm ăn sinh sống. Tôi ở đây được 2 ngày, nghe tình hình thành phố không ổn, ban đêm địch thiết quân luật, không ai được ra ngoài đường từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau. Lúc này dân ở Quảng Trị chạy vào Đà Nẵng tấp nập, nên bọn chúng đề phòng triệt để. Ở tù mới về nên tôi thấy ai làm gì mình cũng sợ, sợ bọn chúng cho người theo dõi. Tôi không dám đi đâu, ở nhà mà giống như trốn vậy. Có người bạn của anh tôi gần nhà biết tôi ở tù mới về, lúc anh ta đi làm thì thôi, khi về là anh ta sang nhà bác tôi chơi mà lại mang thêm cái kính đen nhìn trước ngó sau, tôi rất ái ngại. Tối tôi nói với anh con bác:
- Anh Thi ơi, có một ông cứ vào nhà mình mà lúc nào cũng nhìn trước ngó sau miết, em sợ lắm.
- Không sao đâu, bạn của anh ở cùng quê, nó làm thợ sửa xe máy, ở sát nhà anh đó mà.
- Thôi, mai anh đừng cho ông nớ qua nhà mình nữa, em thấy ông nớ giống bọn mật thám quá.
AnhThi cười rồi nói:
- Tại em sợ quá đó, chứ nó không có gì đâu.
Một hôm, bác tôi dẫn tôi đi ăn giỗ nhà ông chú họ ở đường Hoàng Diệu, tôi gặp chú Năm Yên cũng ăn giỗ ở đây, chú biết được tôi ở tù mới về, chú nói:
- Tình hình căng thẳng lắm, cháu ở đây để chú kiếm chỗ nào đó cho cháu đi ở giữ em cho người ta, kiếm sống chứ đừng về quê nữa, chết đó! Ba con còn có mình con, con chết coi như hết.
Tôi nói với chú: “Con không thích đi ở giữ em, con thích về quê thôi.”
- Chú nói vậy là chú lo cho con mà con không thích thì thôi.
Ở ráng thêm ngày nữa, tôi cảm thấy không yên tâm. Hôm sau bác tôi đi làm, anh chị tôi đi học, ở nhà chỉ có một chị còn nhỏ. Tôi làm im ra đường đón xe đi thẳng vô chợ Thanh Quýt, nghe ngóng tình hình, hỏi thăm bà con quen biết để dò la thử cơ quan hiện ở đâu, chiều tôi về lại nhà bác. Tối ăn cơm, tôi nói với bác tôi. “Con muốn về quê.”
Tối đó bác tôi khóc và làm thinh bác lại cho tôi 500 đồng, bác gái tối cũng cho tôi 500 đồng để làm lộ phí về quê. Sáng ra bác đi xích lô, bác gái đi phụ hồ cũng sớm, anh tôi đi mua đem về cho tôi một đôi dép nhựt màu trắng, có hai cục ngù ở trên ngón chân cái, một bình kem và một cái bót đánh răng. Anh dẫn tôi đi chụp một bao ảnh lấy liền, anh giữ lại một tấm, còn đưa tôi đem theo về để làm kỷ niệm. Bác tôi có anh con trai lớn tên Cư, đi bộ đội, là Chính trị viên Đại đội Lê Độ, hy sinh ngày 23/8/1968 trong trận đánh quân trấn (nay là BCH Quân sự Thành phố) tại đường Lê Duẩn.
Tôi lên xe về chợ Thanh Quýt, hỏi thăm, không có địch trên thôn An Tự, tôi theo dân đi chợ về, đến thôn Phái Nhì, tôi vào hỏi thăm cơ quan Quận Nhất ở đâu? Họ chỉ tôi vào trạm giao liên quận để hỏi. Vào đây, tôi trình bày sự việc cho anh Trần Văn Trà Trạm trưởng. Anh Trà báo cáo lại cho anh Năm Dừa, Bí thư Quận. Anh Trà về nói lại với tôi:
- Các anh lãnh đạo bảo em cứ ở đây, rồi các anh sẽ tính. Khi về đến đây, hỏi thăm thì tôi mới biết được tin các anh cơ quan cũ nay không còn ai. Chú Khương, chú Dõng, chú Thăng, chú Mười Một, anh Long (lớn), anh Thiệu đều hy sinh trong năm 1969, 1970. Còn anh Long (nhỏ) bị địch bắt ở tù từ năm 1970 ở Điện Sơn. Những năm ấy tình hình các vùng giải phóng vô cùng ác liệt, địch ra sức càn quét, đánh phá gây nhiều khó khăn cho quân ta.
Tôi ở lại trạm giao liên, đến sáng mai Dũng giao liên của trạm đưa tôi ra công sự để chống càn, nhưng ngày hôm đó không có địch càn. Chiều tối về trạm, anh Trà nói với tôi:
- Lãnh đạo của Quận bảo em ra công tác lại Đà Nẵng được không?
- Không, em còn sợ lắm, ở ngoài đó mấy ngày mà lúc nào cũng nghĩ là bọn mật thám theo dõi, chưa làm được gì mà bị bắt trở lại thì mệt, em thích đi bất hợp pháp thôi. Anh nói giùm với lãnh đạo cho em đi bất hợp pháp, làm gì cũng được.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:24:43 AM
Hôm sau, tôi nhận quyết định phân công về cơ quan Tuyên huấn do anh Lê Văn Huấn phụ trách, Phan Văn Long làm bảo vệ, anh Nhị phụ trách tài mậu. Chiều hôm đó, lần đầu tiên tôi nấu cơm bằng củi tre khô, tôi chụm củi, khói ùn lên nghi ngút. Anh Nhị chạy vào bếp lật ngửa cây củi tre và nói: “Chụm củi tre thì nằm ngửa, đàn bà có chửa thì nằm nghiêng.” Câu nói đó đến nay 43 năm rồi tôi vẫn nhớ như in. Sau bữa cơm tối xong, anh Huấn, anh Nhị đi họp, tôi và Long ở nhà. Khoảng 8g, tàu soi vào quầng lượn trên bầu trời La Thọ, nó soi đèn pha qua lại nhiều chỗ. Không may, nó soi đúng vào chính cơ quan của Tuyên Huấn, thấy mấy cái đồ đen của chị Mười Tần giặt phơi trong nhà khi chiều. Thế là nó gọi 2 chiếc máy bay đến bắn thẳng xuống cơ quan. Nó bắn lân tinh xuống sáng chói cả nhà làm đồ đạc cơ quan nát bét, vừa ngớt một đợt bắn phá của chúng, tôi và Long tuôn lên khỏi hầm và chạy một mạch sang thôn Phái Nhì trước khi máy bay quay lại. Tôi chạy, ngã lên ngã xuống vì vấp mấy tảng đất bệ (đất vừa cuốc lật lên), Long thấy tôi chạy lâu quá sợ không kịp, bọn nó quay lại thì khốn, nên Long đến kéo tôi chạy thật nhanh, làm dép của tôi văng lung tung mỗi nơi một chiếc tôi bỏ luôn, chạy chân không một mạch qua nhà bà Năm Liêm ở Phái Nhì. Đến sáng, mấy anh họp ở dưới văn phòng về gọi, nhưng không nghe động tĩnh gì, các anh đi tìm quanh vẫn không thấy. Khi anh Mạnh cán bộ tổ chức quận đi ra đường thấy hai chiếc dép của tôi anh mới báo lại: “Chắc hai đứa nó chạy qua Phái Nhì rồi.”
Ở tù quen với ánh sáng đèn điện, giờ tối mịt tôi không thấy đường để đi. Lại thêm đất bệ chỗ cao chỗ thấp, cỏ mọc kín lên nên càng khó đi hơn. Hai ngày sau có tin xe tăng trong đồn Bình Long càn ra, tôi cùng anh Nhị (tài vụ), anh Mạnh (tổ chức) xuống công sự trong bụi tre gần nhà. Long và cô Bốn Xạo xuống công sự cũng gần đó. Ở công sự từ sáng tới khoảng 3g chiều chưa thấy xe tăng ra, tôi lên ngồi trên miệng hầm viết nhật ký. Chợt nghe tiếng súng bắn rất gần kèm theo tiếng hô: “Ê, Việt Cộng.” Hoảng quá, tôi thả một chân xuống miệng hầm, chân kia còn vướn lại ở trên, tôi loay hoay mãi cũng không sao xuống được. Thấy thế, anh Nhị bảo nhỏ: “Em bình tĩnh, bỏ hai chân xuống trước rồi người xuống sau. Nghe địch la ré sát bên bụi tre có công sự, tôi vội vàng làm theo. Tôi vừa xuống, anh Nhị nhẹ nhàng đậy nắp công sự lại và ngồi im nghe ngóng. Trên mặt đất có xe tăng địch đang chạy ngang qua công sự của tôi để đuổi bắt cho được cái tên“Việt Cộng”mà nó mới phát hiện. Xe vừa chạy vừa bắn như mưa.
Đến địa điểm vừa phát hiện có “Việt Cộng” nó sục tìm, dậm nát cả vườn cỏ lùng và bốn phía khu vườn nhưng không tìm ra, cũng chán, cuối cùng nó cho xe đi thẳng về hướng đường quốc lộ 1A và đến 5g chiều, chúng rút khỏi Điện An. Nghe ngóng, thấy tình hình im ắng, các anh ở công sự cùng với tôi lên và đi về hướng công sự của Long. Cảnh tượng tan nát bày ra trước mắt, các anh rất lo lắng, không biết số phận của Long thế nào? Anh Mạnh vén cỏ lùng, bò vào cửa hầm bí mật thì thấy miệng hầm vẫn còn nguyên, anh mừng quá liền mở nắp lên và gọi: “Long ơi! Chị Bốn ơi!” Cô Bốn nghe tiếng gọi của anh em mình nhưng không dám lên tiếng. Gọi mãi cô mới chịu lò dò bò lên mặt mày xanh lét.
Cô kể: “Thằng Long nó thấy vắng nên nó bảo chị lên miệng hầm nằm cho khỏe, còn nó đi xem thử địch đang ở đâu. Nó ra nhìn lên, nhìn xuống, chưa thấy xe tăng ở đâu thì tụi chúng đã phát hiện nó rồi. Chị nghe địch bắn gần quá, rồi đến dậm nát cỏ lùng tìm kiếm, chị run quá không rúc xuống hầm được mà nằm im chết lặng, sau khi tụi nó đi rồi chị mới rúc xuống.”
Nói đến Long, khi địch đã phát hiện và bắn thì Long không dám vào lại công sự mà chạy thẳng ra sông. Vừa cúi, vừa chạy trước tầm đạn xe tăng của địch, con ruồi của nòng súng AK lại vướng vào cỏ lùng, nhùng nhằng khó chạy, Long quyết định bỏ súng lại, chạy người không để thoát thân. Ra đến bờ tre, Long nhảy ùm xuống sông La Thọ, bơi qua bờ bên kia tìm chỗ núp.  Còn địch, khi lấy được cây súng của Long, bọn nó lùng sục mãi nhưng cũng không phát hiện được gì thêm nên chúng bỏ đi luôn. Sau này, cơ quan kiểm điểm Long: cái tội không bảo vệ được súng. “Vũ khí bất ly thân”. Riêng bản thân, tôi biết rõ là Long rất dày dạn với địch, rất nhanh trí và dũng cảm, nhưng trong trường hợp này không biết tại sao?
Tháng 5/1972 tôi được điều về cơ quan Ban An ninh quận công tác, anh Lê Thanh Tân quyền Trưởng ban, phụ trách chung, anh Kế ủy viên ban. Cơ quan còn có anh Thi bảo vệ kiêm hành chính, anh Chước, chị Năm, chị Cúc (chị nuôi), anh Kháng, anh Chiến ở vùng ven mới về, anh Tẩn cán bộ an ninh học ở Bắc cũng mới được về cơ quan, chị Hương (y sĩ), sau một thời gian có chú Dậu ở An ninh tỉnh bổ sung về làm Trưởng ban. Mỗi buổi sáng tôi thường thấy anh Tẩn ra sau vườn tập thể dục giống như đánh võ, tôi thích quá, nhìn không chớp mắt. Anh Tẩn hỏi:
- Em thích học võ không, nếu thích thì ít bữa nữa anh dạy em mấy chiêu, để phòng thân con gái.
Về đây không lâu, tôi lại được cơ quan an ninh cho lên tỉnh (trên núi) học y tá để về phục vụ cơ quan. Tôi đi học y tá hai tháng ở Ban Dân y tỉnh Quảng Đà. Lên đây chờ khai giảng, nhà trường tổ chức tất cả học viên xuống đồng bằng (Đại Lộc) mua gạo gùi về để ăn trong thời gian học. Ngay ngày hôm sau, học viên chúng tôi xuống Ái Nghĩa - Đại Lộc.
Tối hôm đó học viên của trường đi cùng với nhiều đơn vị khác qua sông Hà Nha đến Ái Nghĩa lấy gạo. Sông này sâu, chảy xiết. Mấy chuyến ghe đầu tiên chở qua sông là các anh ở địa phương, cơ quan an ninh tỉnh Quảng Đà, cơ quan dân vận, và một số đơn vị khác. Chuyến sau, cùng đi với nhiều đơn vị, trường y tế có 5 học viên trong đó có tôi. Vừa qua sông, xuống ghe bước lên bãi cát, mới chuẩn bị đi vào thị trấn, thì bất ngờ một loạt đạn lửa bắn ra từ phía đường cái, mọi người liền chạy ngược ra sông. Tôi cố chạy ra cho kịp chiếc ghe đang gần cập bến, nhưng nghe súng nổ, nó quay đầu bơi đi rất nhanh, bọn tôi cố chạy theo nhưng không được. Dưới chân, đôi dép cao su của tôi chỉ còn mắc lại hai quai hậu, dính lủng lẳng, rất khó đi. Tuy vậy, bọn tôi cũng cố gắng nắm tay dìu nhau, đi mãi đến khi ra ngoài nước sâu, hỏng chân chúng tôi bị nước cuốn trôi. Năm đứa tôi dần dần rời tay nhau mỗi người trôi mỗi ngã.
Lúc đó, nhìn bên cạnh, tôi thấy có một người đàn ông đang bơi với chiếc phao, tôi cố chụp lấy, nhưng không kịp, vì họ bơi đi nhanh quá, nên thôi. Tôi bơi được khoảng 5m thì không bơi được nữa, nằm trên mặt nước, nhìn quanh thấy cả mặt sông Hà Nha kín đầy người đang bơi, trong khi máy bay thả đèn sáng, sáng choang như ban ngày, thỉnh thoảng còn bắn từng tràn đạn dài xuống nghe ụt..ụt.., và thấy từng tua đạn lửa bay xuống đỏ rực.
Tôi bơi mãi mà sao không tới bờ, người mệt lả, rồi nghĩ “Lỡ mình bơi không vào bờ được lại trôi luôn xuống cầu Giao Thủy thì chết.” Qua mấy giờ trôi nổi bồng bềnh, lặn hụp dưới sông Hà Nha, cuối cùng tôi cũng vào được bờ. Lần mò theo ven bờ, ngược sông đi lên tìm về bến đò, về đến đơn vị là đúng 3g sáng. Ở nhà các chị các anh đi lên đi xuống bên bờ sông tìm kiếm bọn tôi. Mãi đến sau mới có thêm hai đứa nữa về. Đức ở Điện Phong, nó nói: “Cũng nhờ biết bơi sơ sơ chứ không thì cũng chết trôi rồi.”Trận phục kích đó của địch đã cướp đi 5 sinh mạng anh em ta, trong đó có một anh cán bộ an ninh của tỉnh.
Đợt đi gùi gạo đầu tiên của trường vậy là đã có hai bạn hy sinh, mất xác. Sau này nghe đâu hai bạn ấy trôi xuống cầu Giao Thủy, bọn lính vớt vào lấy hết tư trang rồi đẩy hai người ra sông cho trôi đi mất.
Tôi biết bơi sơ sơ cũng nhờ hồi còn nhỏ ở Quảng Ngãi nhà tôi ở gần sông. Chiều nào tôi cũng ra sông tắm, tập bơi. Tôi nhớ lại, hồi tôi tập bơi, mấy anh, chị lớn hơn biểu tôi bắt chuồn chuồn cho cắn rún là biết bơi. Tôi nghe theo, bắt chuồn chuồn cho cắn lỗ rún, đau quá mà cũng có bơi được bao nhiêu đâu!
Sau lần phục kích đó, nhà trường cho nghỉ xả hơi một ngày để lại sức, tối hôm sau tiếp tục đi lấy gạo, nhưng không đi hướng Ái Nghĩa mà đi hướng Đại An. Vì ở sông Vu Gia, chỗ thôn 10 Đại Cường, đoạn sông đi qua bãi bắp, bãi dâu của Đại An do cát bồi nên nó cạn, lội bộ qua sông tới lưng quần, nếu gặp địch phục kích, mình lội bộ chạy về cũng được. Nhưng đi qua đoạn đường này cũng sợ lắm, bãi bắp, bãi dâu rộng thênh thang, như đi trong rừng vậy, cứ men theo đường mòn trong bãi bắp của họ mà đi, đi hoài mà không đến xóm nhà của dân. Nhiều lúc cũng sợ bọn địch nắm được quy luật đi lại của mình nó phục kích thì chạy ra tới bờ sông cũng đuối chứ chẳng chơi. Nhưng dẫu sao, đi lấy gạo dưới này cũng yên tâm hơn là đi trên sông Hà Nha.
Lấy gạo ở Đại Lộc được rồi, lại phải gùi trung chuyển nó từ Đại Lộc lên núi Phú Thọ về trường. Lần đầu tiên leo dốc cao mà trên lưng nặng trĩu, mệt quá, sổ hơi tai, tôi nghĩ: Khi mình đi xuống đâu thấy có dốc, mà sao bây giờ dốc cao thế! Cứ đi một đoạn, mệt quá lại kiếm phiến đá to bên đường ghé lưng để gùi gạo xuống nghỉ một chút. Dần dà rồi cũng về đến trường.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:25:09 AM
Thời gian học hai tháng ở đây, khi sắp ra trường chúng tôi đi thực tập ở bệnh viện Y10 – thuộc Ban Dân y tỉnh Quảng Đà. Ở bệnh viện hồi ấy khó khăn lắm, kim tiêm thì đùi nhây, đùi nhách, phải mài đi mài lại mấy lần mới tiêm được, băng gạc dùng cho thương binh xong phải ra suối giặt, rồi hấp để dành dùng cho lần sau, Hồi ở nhà, tôi nhát gan lắm, thấy máu là sợ. Cơ quan quyết định cho tôi đi học, chấp hành tổ chức tôi đi chứ sợ ghê lắm. Khi đi thực tập, tôi không biết chọn làm cái gì đây. Mỗi tuần luân phiên nhau thực tập một phần, tuần này ai đi tiêm thuốc thì tuần sau đi rửa thương. Tôi chọn đi tiêm thuốc trước. Hôm đó đi tiêm, đụng phải anh bệnh nhân đau lâu ngày nên ốm nhôm ốm nhách, còn da bọc xương, thấy mà tội nghiệp. Tôi lấy thuốc tiêm bắp vai cho anh, lụi miết mà mũi kim không vào qua da được, tôi sợ quá. Sau đó, tôi cố kèm chặt trái tay của anh rồi đẩy mạnh kim tiêm vào, lần này kim vào được khỏi lớp da, nhưng khi qua khỏi lớp da tôi nghe tay anh nó kêu cái cợp, tôi giựt mình hỏi:
- Có đau không anh?
- Không đau.
Anh nói vậy chứ sao lại không đau được. Nghĩ thế, tôi thương anh quá. Còn một chuyện khác, cũng hôm đó có một anh bệnh nhân người cao dong dỏng, da trắng trẻo không biết đau gì mà bụng anh to tướng như bà bầu gần sinh. Hôm đó phiên trực của tôi, trưa ăn cơm xong bác sĩ, y tá cũng đi nghỉ trưa, tôi thấy anh không nằm trên võng mà cứ đi qua đi lại trong lúc mọi bệnh nhân khác đều nằm im trên võng nghỉ. Một lúc, có người la lên: “Cấp cứu, cấp cứu!” Tôi chạy lại thấy nước trong bụng anh chảy xòa ra, còn anh thì nằm im bất động. Tôi chạy đi gọi bác sĩ. Bác sĩ đưa đi cấp cứu, cố chạy chữa, nhưng sau đó anh cũng chết. Các anh cùng nằm gần kể lại:
- Anh ấy cứ than thở tức bụng quá, chịu không nổi, nên anh lừa khi không ai để ý, anh lấy dao lam rạch cho nước chảy ra để đỡ tức trong bụng. Ai dè…
Còn tới phiên đi rửa thương mới ớn lạnh. Vết thương mủ nhiều, màu vàng rực, dính đầy trong miếng gạc. Làm thương xong phải đem gạc ra suối giặt, tôi đem gạc để trên cục đá ngay ngọn nước suối chảy mạnh, lấy đá xát cho mủ, máu trôi bớt, sau đó mới lấy xà phòng bỏ vào gạc và lấy chân dậm chà xát rồi mới vò, làm cho sạch. Mấy ngày thực tập ở bệnh viện về, mỗi lần ăn cơm nghĩ tới là ơn ớn. Tôi học 2 tháng, mãn khóa, về lại cơ quan. Khi về, tôi được nhà trường cấp bằng loại giỏi. Hồi ấy tôi có trí nhớ tốt lắm, được làm lớp phó học tập, kèm mấy bạn học yếu ở vùng C (Điện Nam, Điện Ngọc) lên. Còn bây giờ thì tôi nói đằng trước rồi lại quên đằng sau.
Từ trường về, tôi đi cả ngày lẫn đêm, qua đường Duy Xuyên nằm dưới chân đồn Hòn Bằng của địch rất nguy hiểm, đến 2g khuya mới tới cơ quan ở La Thọ, Điện An. Sáng ra, anh Tân bảo:
- Em có việc làm rồi đó. Mọi người kể tối qua các anh em đang ngồi, nghe tiếng máy bay quầng lượn trên khu vực cơ quan mình, và còn đang nghe ngóng bỗng dưng nó thả xuống một quả bom bi, nổ tung trên nóc nhà, mọi người chạy xuống hầm mà không kịp, anh Tẩn trúng bom, vết thương quá nặng hy sinh tại chỗ. Anh Lê Thanh Tân bị thương nhẹ, đồ đạc trong cơ quan hư hỏng nhiều. Các anh chôn anh Tẩn ngay sau nhà, tôi ra mộ thăm anh, nhớ lời anh hứa với tôi, nhưng anh chưa thực hiện được. “Anh sẽ dạy cho em vài chiêu võ nghệ để em phòng thân con gái.” Thời điểm này ở đồng bằng ác liệt lắm. Sau đó An ninh tỉnh  bổ sung anh Lê Minh Tại người Bắc về. Sáng đó tôi thấy anh Tại vô đứng trước cửa cơ quan. Nói là cửa cho ra cái nhà, chứ thực ra nó chỉ là cái thềm của cơ quan  thôi, một cơ quan bằng lều lá. Lúc đó làm nhà cơ quan là phải đào nền nhà thấp so mặt đất tự nhiên là 60 phân, nền nhà xuống gần miệng hầm và mái nhà phải thấp dưới ngọn cây keo, cây chuối lấy ngọn cây ngụy trang, máy bay khỏi phát hiện. Anh Tại người cao, to, đen, có hàm râu quai nón, đeo bên hông cây súng ngắn K54, mặc bộ đồ miền bắc rộng thùng thình. Anh đứng đấy, người anh cao hơn mái nhà của cơ quan, anh phải khom lưng mới bước vào nhà được. Về đây thời gian không lâu, ác liệt quá, địch càn liên tục, anh Tại được cơ quan bố trí về ở tuyến sau (căn cứ ở Điện Trung, Gò Nổi). Ở đó tình hình dịu hơn, địch ít càn vào, được tự do hơn một chút. Nhưng ở phía bên này sông (phía thôn Bì Nhai, Điện Thái) địch cũng hay càn ra. Một hôm vào buổi chiều, thấy tình hình vắng vẻ, tưởng không có địch, chị Cúc và anh Tại đi ra sông Thu Bồn. Chị Cúc rửa rau, bắt hến, còn anh Tại thì rửa mặt, tay, chân. Bên kia sông bọn địch nhìn sang thấy có người, nó bắn qua tới tấp, hai người chạy tóa hỏa, mất hút vào bên trong, nhưng anh Tại do chưa quen nên chạy lạc đường còn bị mất dép nữa. Sau đó anh Kế đi tìm dép giùm đem về cho ảnh. Mấy anh miền Bắc mới vào chiến trường chưa quen tiếng súng gần và tiếng hô la của địch, nên anh nào cũng sợ. Chú Dậu ở trên núi xuống đồng bằng cũng rứa, mỗi lần nghe địch chuẩn bị càn quét là ông bồn chồn, lo lắng không yên, chứ không bình tĩnh như anh Tân, anh Kế.
Ở cơ quan có anh Lê Thanh Tân, anh trầm tĩnh, khó tính, kỹ lưỡng ai cũng ớn. Đi chống càn, anh dặn mọi người phải cầm theo một cây nhỏ, khi đi vào công sự là phải đi thụt lùi, mặt xây lại phía sau và lấy cây nhỏ đang cầm theo lật những phiến lá cỏ lùng trở lại ngay ngắn như cũ, vì khi mình đi lá cỏ lùng bị lật ngửa, nếu không sửa lại như cũ, địch sẽ phát hiện đường đi của mình. Tôi còn nhớ, hồi tôi mới ở tuyên huấn chuyển về, cơ quan chưa có chị Cúc về làm chị nuôi, tôi nấu cơm, chụm củi khói lên nghi ngút, anh Tân vào bếp bày cho tôi:
- Em đổ vào đống tro này một ca nước cho tro ướt đều, lát nữa nếu nghe tiếng máy bay, em dụi hết đầu củi đang đỏ vào đống tro, lập tức nó sẽ tắt mà không có khói.
Đúng là kinh nghiệm xương máu khi sống và làm việc ở vùng giải phóng điều kiện không có dân.
Có lần ra công sự chống càn, thấy cây ớt, có nhiều trái chín đỏ tươi, tôi đứng lại hái. Đang hái thật hấp dẫn, tôi bỗng thấy một con rắn to tướng đang từ từ  bò xuống, tôi hết hồn bỏ chạy lại chỗ công sự. Anh Thi, anh Tân hỏi:
- Có chi rứa?
- Trời ơi, con rắn ngắn củn nằm trên cây ớt, em mới đụng vào là nó bò xuống đi.
- May cho em đó, con rắn lục ban ngày nó không thấy đường, chứ ban đêm là em nộp mạng cho nó rồi.
Mỗi lần nhớ lại thời xưa, cái năm 1972, nhớ tới anh Thi, tôi ngồi cười một mình. Anh Thi mỗi lần đi qua thôn Phái Nhì mua thức ăn cho cơ quan, khi về phải nhờ người dìu sang sông, không có chị Hương (y sĩ) thì cũng phải có người khác, nếu không thì anh chịu. Mấy người cứ nói khích anh Thi:
- Đàn ông, con trai gì mà không biết bơi, lỡ địch càn ai kéo cho ông?
Anh Thi tức quá, về ra sông cố gắng tập bơi (lúc này cơ quan đóng ở sát bờ sông La Thọ). Tối hôm nớ, trời sáng trăng, anh Thi xuống sông tập bơi, tôi ngồi trên thềm cơ quan chơi, nhìn xuống thấy anh bơi thật nhanh, hai tay đập ầm ầm, nước văng tung tóe trắng xóa, tôi thầm khen:“Anh Thi tập bơi tiến bộ ghê.” Một lát sau anh Thi lên bờ, tôi hỏi anh Thi:
- Anh tập bơi hồi mô mà bơi giỏi rứa?
- Giỏi đâu mà giỏi, chọc quê anh đó hả?
- Bơi không giỏi răng hồi nãy em thấy anh bơi thiệt nhanh. Anh Thi cười khì rồi nói:
- Anh đi đó chứ…bơi đâu mà bơi! Rồi anh chửi thề:
- Mẹ cha hắn, sao tối dạ rứa không biết, tập hoài mà cũng bơi không được. 
- Trời…đất ơi! Rứa mà hồi nãy giờ em cứ thầm khen anh!
Một hôm, chiều tối chị Hương (y sĩ) rủ tôi đi xuống cơ quan binh vận chơi, chị đi có việc, chị rủ tôi theo cho vui. Xuống đó tôi thấy một người hơi quen mà không dám hỏi, về nhà tôi hỏi chị Hương:
- Chị Hương, ở binh vận có một người, em thấy quen quen mà không biết ở đâu, tên gì chị biết không?
- Thằng Tuấn đó chớ ai, nó cũng ở Đà Nẵng mới về.
À…, tôi nhớ ra rồi, cái ông mà chị Hương gọi là Tuấn này không phải là Tuấn mà tên là Thuận ở Đà Nẵng, gần nhà của bác mình đây, là bạn của anh Thi con bác mình, và có lần anh Thi nói với mình là yên tâm đi: “Hắn là bạn của anh đó.” Hèn gì hồi ở ngoài nhà bác mình, ổng cứ qua nhà dòm dòm ngó ngó làm mình sợ hết hồn. Sợ cha này làm mật vụ hay sao mà lúc nào cũng đeo gương đen, lườm lườm liếc liếc, dòm trước ngó sau. Giờ mình mới nghĩ ra: “Chắc lúc đó ổng định qua hỏi thăm, mình có về vùng giải phóng không để đi theo về đó mà, nhưng nhát gan quá nên không dám hỏi.”


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:25:31 AM
Một hôm tôi về Gò Dê, Điện Thọ thăm hai bà cô và các em. Muốn về đây phải qua con sông Gò Dê, sông này nhỏ mà sâu, chảy dữ lắm, ở đây không có ghe mà lại có thúng chai (có nơi gọi thúng rái), nhà nào cũng có một cái  để qua lại sông. Thôn Gò Dê ở dưới chân đồn Bồ Bồ nên phải đi về ban đêm chứ đi sớm một chút lỡ mình quên không mặc áo trắng hợp pháp, nó thấy được đằng nào cũng bị ăn pháo hoặc bị bắn tỉa. Mỗi lần về nhà, tôi đều gọi đò, nhờ họ đưa tôi qua sông, Mấy đứa con nít ra giúp tôi. Ngồi trong cái thúng chai mà tôi run, cái thúng thì tròn quay, bọn con nít lấy cái dầm bỏ xuống nước ngoáy qua ngoáy lại một hồi, cái thúng rái xoay xoay tôi sợ thật. Nhưng thoáng một cái, bọn nó cũng đưa tôi qua được bên kia. Tôi về thăm chơi và ngỏ ý muốn xin cô Sáu cái đồng hồ xem giờ. Không có đồng hồ cũng bất tiện lắm. Một hôm tôi đang ngủ ngon giấc, bỗng giật mình thức dậy vội vội vàng vàng đi nhúm lửa nấu cơm ăn sáng. Nấu cơm xong đâu vào đấy rồi mà sao mọi người còn ngủ im re. Tôi nhẹ nhàng vào xem đồng hồ của chị Hương (y sĩ) thì thấy mới có 2g sáng. Tôi lại rúc vào võng ngủ thêm lại một giấc ngon lành. Cho nên lần này về xin cô cái đồng hồ xem giờ để khỏi mất ngủ, cô Sáu hứa: “Để hòa bình rồi cô mua cho.” Cũng xui cho cô tôi, chỉ một tháng sau đó, đúng ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris được ký kết, tôi lại về nhắc với cô: “Nay hòa bình rồi đó cô!” Cô “Ừ!”, rồi nói: “Cô nhớ rồi!” Một tuần sau, cô gửi xuống cho tôi chiếc đồng hồ Seinko thứ thiệt, đẹp lắm. Nghe anh Thu nói lại là: cô mua nó 1.800 đồng tương đương với tám chỉ vàng y hồi đó chứ không phải ít. Tiền này là tiền của cô Hai cho, nhưng cái công là của cô Sáu, chứ cô Sáu làm gì có tiền. Năm 1970 cô Hai về Gò Dê – Điện Thọ ở. Lúc này thằng Dũng cũng lớn rồi, thằng Minh thì đã lành vết thương, đi lại được nhưng chưa vững. Còn hai đứa nhỏ sinh đôi thì sau khi tôi về quê cô tôi cũng cho bớt một đứa còn cô nuôi một đứa nhưng sau đó không lâu nó cũng đau rồi chết. Khi ra tù tôi may cho hai em, mỗi đứa một chiếc áo trắng, tôi thêu chim bồ câu lên túi áo bên ngực trái của nó. Nhưng khi về gặp lại cô, nghe cô Sáu kể: “Đầu năm 1972, vết thương của em Minh bị tái phát cô phải đưa ra bệnh viện Việt Đức ngoài Đà Nẵng để chữa, nhưng sau đó trúng đợt chộn rộn của Quảng Trị rồi tàu bệnh viện về nước đến nay vẫn không tin tức về em.” Cô Hai tôi giỏi lắm, vừa đi làm nuôi hai đứa nhỏ con chú Bốn, vừa giúp cô Sáu nuôi ba đứa con thơ, còn một đứa được huyện cho ra Bắc học. Bà đi buôn ở ngoài Đà Nẵng, sáng đi chiều về. Rứa mà còn làm mấy sào ruộng và nuôi một con heo nái, một bầy heo con, nên bà có tiền lắm. Nhưng tôi không bao giờ xin cô đồng nào, cô có tính hay la, mắng nên tôi buồn, tự ái không bao giờ lấy tiền của cô. Cái tính của bà là vậy đó, nhưng bà tốt bụng, bà thường hay đem cá và tiền cho các ông cán bộ ở xã mỗi lần ra đây. Bà nói: “Biết đâu tối nay mình thấy nó mai đây nó chết thì sao, cho nó ăn được bao nhiêu thì cho, kẻo tội nghiệp.” Có lẽ  nghĩ rứa nên cô mua đồng hồ cho tôi.
Tôi còn nhớ, hồi anh Tẩn còn sống, anh cứ trêu chọc tôi:
- Con Hương nó giống Địch Nghi lắm. Tôi không biết Địch Nghi là gì, tôi cứ theo anh gặn hỏi, anh bảo:
- Từ từ rồi em sẽ biết. Ai nghe thấy cũng mắc cười, nhưng không ai giải thích cho tôi. Sau này anh chị em cơ quan ngồi với nhau tôi mới nhắc lại chuyện ấy, anh Tân nói:
- Ai bảo em ngồi đâu ngủ đó làm chi. À, rứa là tôi hiểu rồi, thành ra ngủ nhiều gọi là “Địch Nghi”. Mấy anh nói rất đúng, hồi đó tôi ngủ nhiều lắm, mỗi khi đi chống càn, xuống công sự là tôi trải ni lông ra nằm ngủ một giấc, hoặc ngồi ở đâu chống càn cứ gục đầu lên cái gùi là tôi cũng đều ngủ được, vô tư thiệt (đúng là cái tuổi ăn, tuổi ngủ) đó mà.
Có lần tôi đi chống càn với anh Tẩn, tôi trêu chọc anh: “Thanh niên gì mà chẳng có cái gùi đẹp đẹp một chút, để mang cái gùi xấu hoắc.” “Gùi của anh nó xấu, anh lỡ bỏ quên không ai thèm lấy. Rứa mà một khi đi chống càn mấy ngày ở công sự cũng không bị đói. Còn bọn bây mang gùi đẹp mà bị địch càn một ngày là cái bụng đói meo.” Anh đi học ở Bắc mấy năm mới về, gia đình ở Đà Nẵng biết được tin anh về nên gởi tiền ra chu cấp cho anh, do đó trong gùi của ảnh lúc nào cũng có bánh, kẹo và đủ các loại đồ ăn.
   Hồi nớ mới về anh cũng có cái ba lô to của miền Bắc chứ không có gùi. Cái ba lô ấy to, không hợp với điều kiện công tác của vùng ven nên anh bỏ đi và lấy bao cát làm gùi mang tạm.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:25:56 AM
Chương III: NIỀM TỰ HÀO CỦA TÔI
Sau ngày ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) địch mở nhiều cuộc lấn chiếm đất, giành dân. Tình hình rất căng thẳng. Chiều hôm 28/1/1973, nghe tin ở Điện Sơn báo về là anh Hạng bị thương, cơ quan ra đưa anh về. Anh Tân phân công tôi và anh Kế, anh Thi ra Điện Sơn, ba anh em đi từ Điện An lên Điện Thọ, đi luôn lên thôn Cẩm Văn của xã Điện Văn, qua đường Cẩm Lý đi đò qua xóm Nổ - Điện Tiến, trên đường đi thấy cờ giải phóng hai màu xanh đỏ của ta và cờ ba que của địch cắm san sát nhau, bọn lính ngụy đứng dọc hai bên đường cái nhựa.
Ba anh em mặc đồ hợp pháp đi, thấy có lính cũng vẫn bình thường. Đến xóm Nổ trời đã tối, anh Kế liên hệ với địa phương dẫn đường cho anh em tôi đi qua Điện Sơn. Du kích địa phương nói: “Không được! Tụi địch hiện giờ nằm giăng hàng ngang hết dọc đường, không có đường nào qua Điện Sơn được.” Anh Kế lo lắng rồi nói với các anh em du kích Điện Tiến về chuyện của anh Hạng. Các anh du kích bảo: “Không được đâu, nếu anh có ra đến nơi thì anh cũng không thể nào đưa thương binh về được, anh đừng lo, ngoài nớ họ có cách giúp anh Hạng được mà.” Cuối cùng ba anh em tôi trở về cơ quan ở Điện An ngay trong đêm.
Trên đường về thấy cờ của địch cắm lấn sang đất của mình nhiều hơn, hồi chiều. Chúng tôi về không phải đi hợp pháp nữa mà đi bất hợp pháp để kịp về báo lại cho anh Tân biết tình hình. Sau đó mấy ngày địch liên tục càn quét, lấn chiếm các vùng ven. Thấy tình hình ngày càng căng thẳng cấp trên rút một số cán bộ, chiến sĩ về tuyến sau (lên núi). Ở đồng bằng còn lại những người thạo địa hình, sức khỏe tốt, biết bơi giỏi. Cơ quan an ninh quận Nhất có anh Kế được phân công ở lại bám địa bàn.
Trong quá trình phấn đấu công tác, tôi được chi bộ an ninh giới thiệu vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 01/4/1973 tôi được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Người giới thiệu tôi vào Đảng là anh Lê Thanh Tân lúc này là Quyền Trưởng ban An ninh quận, và anh Võ Kế là Ủy viên Ban.
Trong số người đi lên núi có tôi. Chiều ngày lên đường, tất cả tập trung ở Văn phòng Quận ủy chờ đến giờ giao liên đến đón. Tôi thấy cô Mười Nhạn ngồi nói chuyện với bạn Lê Thị Hoa (cơ quan Binh vận). Không biết nói chuyện gì mà  hai người lớn tiếng với nhau, tôi nghe Hoa nói với cô Mười: “Cô trả nhật ký lại cho con.” Cô Mười nói: “Không trả được, đây là việc làm có ảnh hưởng đến chính trị.” Hoa nói:“Nếu cô không trả, con đi tự tử đó!” Tôi nghe nói vậy rồi thấy Hoa đang ngồi vội vùng đứng dậy chạy thẳng ra sông La Thọ (VP Quận ủy đóng gần bờ sông). Nghe thấy vậy tôi chạy theo thử. Ai dè, nó nhảy thiệt, nghe cái ầm, rồi hụp lên hụp xuống mấy cái ngoài sông. Tôi chạy vào gọi anh Ba Phong ở Văn phòng Quận, anh Ba Phong chạy ra leo lên ghe có sẵn ở bến, bơi ra, anh Phong đưa cái dầm tới chỗ nó, nó vịn cái dầm rồi anh Phong đưa nó từ từ vào bờ. “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường.” Sau vụ đó, lên núi ai cũng hỏi: “Con Hoa nó tự tử hả?”
Lên núi tôi được đưa về Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Đà. Nghỉ ngơi được ít ngày, sau đó cơ quan đưa tôi lên phục vụ y tá ở Trạm đón tiếp của Ban tổ chức. Trên đường đi lên Trạm, lần đầu tiên tôi leo núi cao từ sáng ở chân dốc, tới trưa mới lên được đỉnh núi. Ăn trưa xong, xuống dốc là tới làng Trà Linh. Tối vào một trại sản xuất của bộ đội người miền bắc nghỉ lại. Tối đó các anh bộ đội tổ chức văn nghệ vui lắm. Lần đầu tiên tôi được nghe anh bộ đội hát bài “Chào em cô gái Lam Hồng”. Mọi người ngồi im lẳng lặng nghe.
“Xe ta bon bon trên những dặm đường giữa làng quê
Ta băng qua giữa bao suối đèo
Mà xe ta bon qua giữa chiến trường…..
Chào em cô gái Lam Hồng
Giữa tiếng bom gào đạn dội
Vẫn nghe vang vang câu hò trên đường…..”
Giọng của anh bộ đội nghe vừa hùng hồn, vừa ấm áp ngọt ngào lạ! Hôm đó tôi và chị Hoa (công an) cùng đi cứ khen mấy anh bộ đội hát giọng bắc nghe hay quá. Đến sáng mai đoàn chúng tôi tiếp tục về trạm đón tiếp, ở đây có trại nghỉ dưỡng của Ban tổ chức tại núi Dốc Gió của Đại Lộc. Mấy ngày tôi ở đây, có chị Nhớ người Điện Dương học ở bắc mới về, trên đường đi B mấy tháng trời lăn lộn với núi rừng chị bị rốt rét. Mỗi lần chị lên cơn rét, nhà cửa rung hết, chị rên hù hù, hết lên cơn rét chị lại đến lên cơn sốt, chị tung tấm đắp vung vãi ra và la lối om sòm. Thấy chị sốt rét quá, tôi sốt ruột lấy thuốc tiêm cho chị, nào ngờ chị vung tay không cho tiêm mà còn mắng chửi tôi thậm tệ, chị nói: “Bọn bây tiêm thuốc để giết con tau hả? Con tau mới có vài tháng tuổi mà bọn bây tiêm Quinin (ký ninh) thì làm sao nó sống được.” Nhất quyết chị không cho tôi tiêm. Cuối cùng tôi chịu thua và nói với mấy anh mấy chị cơ quan nên đưa chị Nhớ đi bênh viện Y10 cho họ điều trị. Thuyết phục mãi chị mới chịu đi bệnh viện. Vì chị sốt rét nặng quá, khi đến bệnh viện họ tiêm cho chị một ngày hai mũi Quinin (ký ninh) mới dứt sốt hẳn và đến đây chị không dám nói năng gì nữa.
Hồi mới lên công tác ở trạm đón tiếp, lúc này trạm làm căn cứ ở Lộc Sơn- Đại Lộc. Ban tổ chức tỉnh điều tôi ra phục vụ cho đoàn Hội nghị 4 bên tại Lộc Sơn. Sau này cơ quan này gọi là Ban Giao tế, thuộc UBND tỉnh Quảng Đà) do ông Phạm Đức Nam Chủ tịch phụ trách. Khoảng một tháng sau tôi trở về lại công tác ở trạm đón tiếp. Chỗ Lộc Sơn mà trạm làm căn cứ có chè xanh nhiều lắm, chè ở đây cũng ngon có tiếng nhưng lâu năm rồi không ai hái. Cây chè cao to mà lá xanh mướt, bọn tôi cứ ra vườn hái vào nấu nước uống. Năm 1973 khi tôi ở và làm việc trên núi, ở nhà cô tôi nhẩm tính năm nay tôi cũng đã lớn khôn, biết giữ của rồi, nên cô gửi cái dây chuyền vàng cho chú Bốn Xin đem lên núi đưa lại cho tôi. Sau này trạm đón tiếp chuyển lên Thạnh Mỹ. Tôi lên Trạm đón tiếp, cơ quan của trạm đóng ở gần Khe Dung, dưới bến Giằng khoảng mấy cây số. Trên đường đi từ cơ quan lên Thạnh Mỹ phải đi qua cái dốc gió B. Đường dốc gió A gần hơn nhưng dốc cao hơn nhiều nên không đi. Đi đường này sên nhiều dữ lắm. Hôm đi lên Thạnh Mỹ chú Tám cán bộ cơ quan dẫn tôi đi. Mới sáng sớm sương còn đọng trên các ngọn lá rừng, chú đi trước dẫn đường cho tôi. Sên nó ở dưới lá rụng ẩm ướt bò lên mặt đường nằm chờ bước chân người qua. Tôi thấy một đầu nó bám dưới đất còn đầu kia ngóc lên huơ qua huơ lại, tôi sợ quá, nếu nó bám lên chân thì làm sao mà bắt được trời! Thế là tôi leo lên tảng đá to bên đường đứng và chờ chú Tám đi thật xa, tôi nhảy xuống chạy cái vù một mạch đến một tảng đá khác rồi lên đó đứng. Chú chống gậy đi lững thững, thỉnh thoảng đứng lại gỡ sên đang bám trên chân. Chân chú máu chảy đỏ lòm trên suốt cả đoạn đường đi. Tôi không dám nhìn, sợ lắm. Quá trưa lên đến Thạnh Mỹ, hết đoạn đường rừng tôi mới đi chậm lại cùng với chú. Trạm đón tiếp trên Thạnh Mỹ có một trại sản xuất nhỏ ở cuối con sông, gần giáp ngã ba sông Bung (sông Thạnh Mỹ và sông Bung từ trên nguồn chảy xuống giáp nhau). Ở đây mấy anh, chị trồng sắn, trồng khoai nhiều lắm. Trong những đám sắn, khoai, rau dền cơm mọc lên không biết làm gì cho hết, giống như mình gieo rau cải vậy, ngoài rừng thì có rau bát bát, rau má, rau lủi, rau dớn ngoài suối v.v. Hằng ngày chúng tôi ra đây nhổ rau dền đưa ra sông rửa sạch, đem vào luộc ăn với cơm, vì rau dền còn nhỏ, non nên chúng tôi luộc cả rễ để ăn. Khoảng 3-4 ngày chị nuôi đi cắt lá sắn non, đem về xắt nhỏ ra bóp với muối sống rồi dầm với nước vo gạo, để một vài ngày nó lên men chua. Chị nuôi đem rửa sạch vắt khô thêm gia vị rồi xào ăn với cơm. Gọi là xào chứ chẳng qua là bắt nồi lên bếp cho nóng, bỏ rau vào khuấy đều rồi nhắc xuống đem ra ăn thôi, chứ làm gì có dầu mà xào. Những năm ấy ở trên núi có người bảo ăn lá sắn “bổ hơn trứng gà”. Thời gian đầu mới lên đây tôi bị sốt rét, mỗi lần sốt như vậy thật là khổ sở, đi không nỗi, đau đầu không tưởng được. Cố gắng đi lại trong nhà thì cái đầu của tôi nặng trĩu, nó cứ chúi xuống nhào về phía trước, hai cái chân thì mỏi rã rời, miệng thì đắng ngắt, môi khô, thân thể thì lúc nào cũng hừng hực nóng ran. Hết cơn sốt rồi lại lên cơn rét, rét gì mà cả người run bật bật, xương sống lạnh nhức nhối, do rét quá cả người co rúm lại, đắp bao nhiêu tấm dù cũng không đỡ cơn rét. Rứa mà vừa dứt cơn sốt rét xong là tôi thấy khỏe re, đi gùi bình thường cứ tưởng như mình chưa bao giờ bị ốm. Đúng là "Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu" thiệt.
Ở đây, thức ăn thì được thiên nhiên ban tặng cho mình đủ thứ, còn chất độn thay lương thực thì cứ sắn khô ghế cơm (sắn của dân tộc, thường ngày họ chặt khúc đem phơi khô để dành cho heo, chắc khi nhà nước khó khăn, dân tộc họ ủng hộ lương thực bằng sắn thay cho gạo). Trước khi ghế cơm, chị nuôi phải chẻ nhỏ sắn ra rồi luộc cho nó chín trước, khi nồi cơm sôi lên thì đổ nó vào nếu không làm thế cơm sống không ăn được. Có lần mấy chị nuôi giao cho tôi nấu bữa trưa, tôi làm y như rứa nhưng cuối cùng cơm đâu có ăn được.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:26:31 AM
Trạm đón tiếp này có nhiệm vụ đón tiếp cán bộ ở Bắc về, đón những cán bộ ở đồng bằng lên, tất cả về đây chờ Ban tổ chức phân công đi nhận công tác ở các đơn vị. Làm việc ở đây cũng vui mà cũng nhức đầu lắm. Cán bộ dưới đồng bằng thì không thích lên núi, thích ở lăn lộn với dân, quầng với địch. Cán bộ ở bắc về cũng tưởng đồng bằng dễ ăn nên họ ưng về dưới nớ, tư tưởng không thông nên giả vờ ốm, phân công công tác không chịu đi. Hôm nào có ai mà giả vờ ốm chị Phin biết liền, chị bảo tôi:
- Ông nớ ốm giả vờ đó, là ốm tư tưởng, em cứ lấy nước cất tiêm cho ổng, ổng tưởng mình tiêm thuốc bổ, ít bữa là ổng hết đau liền hà! Tôi sợ lắm nên hỏi:
- Tiêm nước cất có ảnh hưởng chi không chị?
- Không sao hết, em cứ tiêm, có gì chị chịu cho.
Ở Thạnh Mỹ thời kỳ 1973 có bòong boong ngon lắm. Hôm ngày đám cưới của anh Yên (Phó Ban tổ chức tỉnh Quảng Đà) với chị Thu (Trưởng trạm đón tiếp tổ chức). Anh Nhố người dân tộc Cà Tu học ở bắc mới về, anh thích đi rẫy săn bắn. Hôm nớ ảnh dẫn mấy anh đi hái bòong boong trên núi tại làng Mực của huyện Giằng đem về làm tiệc đãi đám cưới. Cứ một mâm khách là một thau bòong boong (thau bới cơm), ăn hết thau nọ đi lấy thau khác. Ăn tiệc cưới mà giống như tằm ăn dâu. Anh Nhố đi săn giỏi nên cơ quan thường hay có thức ăn tươi. Hễ đêm nào không có heo rừng thì có nai, có nhím, có chim, có hôm anh dẫn về một đàn vượn, con nhỏ con lớn, cái thì bồng cái lai dắt về cột một bầy ngoài suối. Thời nớ Ban tổ chức có thêm một trại điều dưỡng cán bộ, trại điều dưỡng lại sinh hoạt Đảng chung một chi bộ ghép với trạm đón tiếp nên trạm có gì ăn cũng chia cho điều dưỡng. Điều dưỡng có một đội đánh cá trên sông Thạnh Mỹ, nếu có cá nhiều cũng chia bớt cho trạm cùng ăn. Sông Thạnh Mỹ hồi ấy nước sâu, xanh biếc mà sông rộng lắm chứ không phải như bây giờ nó cạn kiệt lòi cát và đá đâu. Hồi đó sông Thạnh Mỹ có cái thác Khe Dung chảy dữ lắm, mỗi lần ghe bọn tôi qua đây đi xuôi dòng thì dễ ợt, nhưng lúc về chống ghe đi ngược suối không được, phải dìu và chống ghe đi sát mé suối mới đi lên được.
Một buổi sáng tôi cùng chị Năm đi ra sườn núi hái rau bát bát về nấu canh. Tôi leo lên sườn núi hái những dây rau non vứt xuống cho chị Năm. Bất ngờ tôi nghe từ dưới suối vang ra một tiếng ạch…, tôi nhìn xuống thấy chị Năm ngã nằm bất tỉnh, tôi nhảy xuống lật ngửa chị Năm lên để nước khỏi vào miệng. Tôi vội vã nhảy từ hòn đá này, vọt lên hòn đá kia, chạy thục mạng về cơ quan, hớt hơ hớt hãi lấy hộp kim và thuốc xách chạy đi. Mấy anh cơ quan không biết việc gì nhưng cũng cầm võng chạy theo tôi. Đến nơi tôi lấy thuốc ra tiêm cho chị. Do mệt và hồi hộp quá, nên lấy thuốc xong mà tay tôi run, không tiêm được. Anh Chiến nói: “Đưa đây anh tiêm cho, y tá gì mà thấy bệnh nhân run như cầy sấy!” Tiêm thuốc cấp cứu xong, anh em xúm đưa chị lên võng cáng về nhà, chị nằm bất động. Chị Năm mập lắm, khiêng chị về đến nhà anh nào cũng thở hổn hễnh như chạy giặc. Về đến cơ quan, tìm chị Phin y sĩ không thấy. Chị đang chơi bên trường bổ túc với bạn đồng hương ngoài bắc mới vào. Gọi chị Phin về, cấp cứu xong, đưa chị Năm đi bệnh viện y 70 điều trị.
Y 70 lúc đó đóng ở Khe Điên – Thạnh Mỹ, cách trạm đón tiếp khoảng gần 10km. Khiêng đi bệnh viện có anh Chiến, anh Hay, anh Long, anh Thành và tôi. Anh Vấn đi theo chứ anh khiêng không được vì anh bị thương ở chân từ hồi ở khu 3, anh ra điều trị ngoài Bắc mới về. Chúng tôi khiêng đi một đoạn, anh Vấn bảo nghỉ chân và tiêm thuốc cho chị Năm, mấy anh cùng đi nói: “Sao hôm nay ông này nhiệt tình, sốt sắng dữ quá.” Khiêng đi mấy tiếng đồng hồ mới đến nơi và vào nhập viện ngay, đến bệnh viện mấy ông mệt quá, thời tiết lại nắng nóng nên anh nào cũng sổ hơi tai! Chị Năm ở đây mê man 4 ngày liền, bác sĩ bảo: “Chị bị sốt ác tính, may mà đưa đến kịp.” Trên đường về lại cơ quan, đến ngã ba Thắng Lợi tôi ghé vào đồn công an ở đây hỏi thăm anh Lê Minh Tại.
Có một lần tôi nghe và biết được anh Tại dưới quận Nhất về đây công tác, nên lần nầy tiện thể ghé hỏi thăm thử. Tôi hỏi:
- Ở đây có ai tên là: Lê Minh Tại không anh?
Anh gác cổng trả lời:
- Có, nhưng anh ấy đi vắng rồi.
Không gặp được anh Tại tôi cũng buồn, vì khi anh về cơ quan ở tuyến sau,  ác liệt quá chú Mai Văn Dậu cho anh lên núi luôn, do đó tôi không gặp. Một tuần sau đó tôi xuống bệnh viện thăm chị Năm và cũng không quên ghé lại hỏi thăm anh Tại, lần này cũng không gặp được anh. Họ bảo anh mới chuyển lên công tác ở đồn công an bến Giằng rồi.
Chị Năm nằm bệnh viện 20 ngày, khi ra viện chị mang theo về hai bên mông hai ổ áp xe cho cơ quan điều trị. Sức khỏe còn yếu, chị chưa làm gì được. Thời gian này chị suốt ngày lên ngồi chỗ làm việc của anh Vấn chơi. Ai dè, hai người này thầm “yêu nhau” từ bao giờ mà cơ quan không ai biết. Sau vụ chị Năm bị sốt ác tính mới phát hiện tình cảm của hai người sâu đậm đến vậy. Tính anh Vấn lúc nào cũng toang toang, vô tư, còn chị Năm thì tính tình điềm đạm ít nói hay cười mà sao hai người để ý với nhau lúc nào vậy ta... Hèn gì, chị Năm đau là anh Vấn cứ lăng xăng chạy lên, chạy xuống bệnh viện mấy lần, mặc dầu chân của anh còn đi hơi “chấm phẩy”. Sau ngày giải phóng hai người cưới nhau và đã có với nhau hai cậu con trai. Nay anh Vấn bị bệnh đã mất chị Năm bây giờ ở với con trai và cháu nội.
Mãi đến năm 2009 tôi mới biết hồi chiến tranh ở La Thọ 1972, anh L. người cùng quê Điện Thắng đã đem lòng yêu chị Năm. Gặp lại chị Năm tôi hỏi chị về chuyện ấy: “Ôi trời ơi! Ông nớ khó tính lắm, ổng nói chuyện mà hai hàm răng không hở, tau không thích.” chị Năm nói vậy. Sau này tôi gặp lại anh L. tôi trêu chọc anh, anh chỉ cười trừ…xem ra đến bây giờ anh L. vẫn còn quý chị Năm. Anh cũng thường hỏi thăm sức khỏe của chị và gia đình.
Tháng 8/1973 Trạm đón tiếp phân công một số anh em lên làng Pà Bân (giáp biên giới Lào) để đào sắn, đào khoai xắt đem về ăn. Tiêu chuẩn gạo cấp trên phát có hạn, ăn không đủ vì phải đón nhiều đoàn cán bộ các nơi về, cơ quan phải tự xoay xở trong tình hình khó khăn. Cơ quan phân công các anh đi lên làng Pà Bân thu hoạch sắn. Lần này đi có 6 người, trong đó tôi đi theo phục vụ ốm đau cho anh em. Trước khi đi lên núi cao, rừng già tôi phải chuẩn bị đèn pin phòng khi tối tăm, không có đèn. Tôi nhờ anh Hay (tiếp vụ) xuống đồng bằng mua dùm tôi một cái đèn pin và một đôi pin đại. Anh Hay đi công tác chưa về thì chúng tôi đã lên đường. Anh Vấn (quản lý) cho tôi mượn đèn pin của anh dùng tạm. Sáng hôm đó chúng tôi đi, đi đúng một ngày mới đến làng Chà Vành thì trời đã tối. Chúng tôi vào làng xin nấu ăn tối và ngủ nhờ. Anh chủ nhà cho tôi treo võng nằm vắt ngang qua sạp của chị vợ anh, chị vợ anh mới sinh con. Nửa đêm tôi cứ nghe tiếng loét choét, sợ không biết điều gì xảy ra, tôi đem đèn pin soi dòm thì không thấy gì cả (đèn pin lúc nào cũng ở trên võng). Nhưng tôi ngủ không được, vừa lạnh vừa nghe tiếng gì lạ. Sáng ra ngồi dậy, tôi thấy chị ngồi với con nhỏ trên sạp gỗ, trên mình chị chỉ có một vài mảnh vải rách che thân thật đáng thương, dưới đất một đống vỏ boòng boong to tướng. Xem ra, cả đêm chị phải cho con bú và vì đói bụng, chị phải ngồi cả đêm để ăn boòng boong.
Chúng tôi nấu cơm ăn sáng rồi chuẩn bị lên đường. Chúng tôi đi ra suối để lội qua bên kia thì lại đi không được, nước lũ ống vừa mới qua đây làm trôi đi một người dân tộc, mọi người đang loay hoay tìm kiếm. Chúng tôi phải ngồi lại đây chờ đến gần trưa nước xuống mới đi sang được. Qua bên kia bờ suối, đi xuôi dòng nước chảy, đi mãi, đi mãi. Mỗi khi nghe hơi gì thum thủm là chúng tôi dừng lại kiểm tra sợ có cọp đang ở quanh đây. Chúng tôi đi đến ngã ba sông (sông Bung) thì lội ngược dòng suối đi lên cơ quan (thời kỳ 1965-1966, ba ban của Tỉnh ủy Quảng Đà đóng ở đây). Chúng tôi đến đây trời đã tối nhà cửa lại sụp xệ hết. Tối nay lại cũng một đêm nữa không ngủ, vắng vẻ sợ cọp!
Phải nói ở rừng già đêm dài thật, 6g sáng mà vẫn còn tối om. Chúng tôi dậy sớm, lo ăn uống xong, ai vào việc nấy, mấy anh trai tráng đi đốn cây làm giàn để sấy sắn, khoai, rồi đốn cây khô lẫn cây tươi đem về làm củi. Chuẩn bị xong xuôi mọi việc, chúng tôi đi lên rẫy nhổ sắn, nhổ khoai lang đem về lột vỏ, đưa ra suối rửa sạch rồi xắt bỏ lên giàn chất lửa sấy. Ở đây lâu ngày không có người ở, mà sắn khoai thì nhiều nên heo rừng tha hồ mà ủi lên ăn. Lên đây mấy ngày rồi mới gặp một anh cán bộ của Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Đà. Hỏi chuyện, anh ấy kể: “Cơ quan chuyển về phía trước hết, để anh ở lại đây giữ đồ, bảo vệ cơ quan, ốm đau mãi, ở một mình cũng sợ lắm, nhưng làm sao bây giờ. Tôi nhìn thấy anh mà tội nghiệp, anh sốt nhiều quá, da vàng chạch, đi đứng khó khăn. Muốn đi đâu phải chống gậy. Anh nói: “Sốt rét nhiều, lá lách to, mệt và khó thở lắm, đi lại không cẩn thận, té ngã vỡ lá lách chứ chẳng phải chơi. Lâu quá mới thấy có người lên đây, anh vui mừng lắm!…


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:27:01 AM
Xắt sắn, sấy khô cũng được kha khá rồi, anh Chiến lại bàn: “Mình gùi về bớt số sắn khô rồi lấy gạo lên ăn chứ hết gạo rồi.” Những ngày hết gạo tôi lấy sắn tươi, mài ra bột đem lắng nước để ráo rồi viên thành miếng tròn ép dẹp lại bỏ vào nước sôi, nếu cái bánh nào chín là nó nổi lên mặt nước, vớt ra ăn trừ cơm, lấy lá cà diềm làm nhưn (cây cà diềm của dân tộc giống cây hẹ). Sau đó ít ngày chúng tôi mang sắn khô, khoai khô về cho cơ quan.
Trên đường về đến bến Giằng tôi đặt gùi nghỉ xả hơi và tranh thủ chạy vào đồn công an Bến Giằng, nằm sát bên đường để hỏi thăm anh Tại. Nhưng lần này cũng giống lần trước, không có anh ở nhà.
Khi đi về các anh nghĩ sẽ lên lại đây làm tiếp nên không ai mang theo áo quần, đồ dùng cá nhân. Còn tôi thì khác, tôi mang sắn khô, mang theo đồ dùng cá nhân và dụng cụ thuốc men về nữa. Về đến cơ quan, anh Thanh đưa cho tôi gói đường trắng (loại 1kg) và một bức thư do anh Hay gửi cho tôi. Tôi nhìn lướt qua thấy ngoài bì ghi tên người nhận là: “Nguyễn Thị Kim Hương” - tôi mắc cười. Tôi nói với anh Thanh:
- Em đâu có gửi mua đường, em chỉ gửi mua đèn pin mà anh Hay không mua thì thôi, chứ em mua đường làm gì.
- Biết đâu, nó gửi thì anh nhận dùm.
Anh Thanh phân trần như rứa. Tôi không lấy gói đường. Anh Thanh nói:
- Mi không lấy, anh lấy anh ăn hết rồi nói mi ăn đó nghe chưa.
- Dạ, anh ăn đi. Anh nói sao cũng được, nhưng em không lấy.
      Hồi đó ai cho gì tôi cũng đều không nhận, nhận quà tôi sợ mắc nợ lắm, nợ tiền nợ cả tình thì phiền phức. Cầm thư mở ra, thấy chữ viết rất khó đọc, viết nói gì mà nghe lằng nhằng khó hiểu, tôi không thích nhưng tôi không nói gì. Tối anh Thanh báo cáo tình hình của cơ quan, anh bảo: “Ý kiến của Ban là Trạm đón tiếp phải chuyển về phía trước, tình hình nay khác rồi.” Chúng tôi lại phải gùi gạo, sắn về chỗ mới của cơ quan ở Sơn Phúc - Quế Sơn. Anh Chiến than thở: “Đồ cá nhân để lại trên đó hết rồi làm sao lên lấy! Anh hỏi tôi: “Em có để đồ trên đó không?” Tôi nói:“Em đem về hết luôn rồi, người đâu của đó.” “Con này nhỏ mà khôn gớm hỉ.”
Tôi thấy tội nghiệp cho anh L. (cán bộ của Văn phòng Tỉnh ủy) bị ở lại trên làng đó, không biết sau này anh còn hay đã mất. Sáng hôm sau chúng tôi đi từ trạm đón tiếp xuống ngã ba Thắng Lợi, xuyên rừng đi về Sơn Phúc, đi đến chỗ trại công trường của thanh niên xung phong Nguyễn Văn Trỗi thì trời đã tối, chúng tôi vào xin đơn vị nghỉ lại qua đêm. Sáng hôm sau chúng tôi dậy sớm nhờ bếp của họ nấu cơm ăn và gói theo ăn trưa. Ở đây vui thật, mới 5g sáng sương đêm còn đọng trên lá rừng mà ngoài mặt đường đã có đội thanh niên, người cuốc đất, người xúc, người khiêng vừa làm vừa hát râm ran, tiếng hát nghe thánh thót của các bạn gái mới lớn, mười tám, đôi mươi, các bạn đồng thanh cất lên bài hát “Cô gái mở đường”.
                “Đi dưới trời khuya sao đêm lấp lánh
                 Tiếng hát ai vang động cây rừng
                 Phải chăng em cô gái mở đường…..
                 Ôi những cô con gái đang ngày đêm mở đường.”
Nghe rất hay, chúng tôi ra chào nhau và lên đường. Đi đã khá xa tôi vẫn còn nghe vọng lại tiếng hát của các bạn vang cả núi rừng của buổi ban mai. Đúng là “không thấy mặt người mà chỉ nghe tiếng hát” của các bạn gái ấy, thơ ngây và rất đỗi vô tư, trong sáng đến lạ thường. Từ đó tới bây giờ thời gian đã trôi qua hơn 42 năm rồi, mà mỗi khi nghe bài hát đó, tôi vẫn còn nhớ đoạn đường quen thuộc mà chúng tôi đã từng đi qua đây, trên dải rừng Trường Sơn hùng vĩ.
Lại đi từ Thạnh Mỹ xuống Sơn Phúc, nếu đi đường xuyên rừng phải mất ba ngày và qua cánh đồng của Tí Sé - Dùi Chiên, cánh đồng hoang lâu năm này có đỉa nhiều lắm, con nào con nấy to như lưỡi giằng cắt lúa gọi là đỉa trâu. Mỗi lần có ai đi qua chúng nghe hơi người, là bơi đến rất nhanh, thấy phát sợ. Mỗi lần gặp như rứa dù có mang nặng mấy đi nữa tôi cũng phải ráng mà chạy, chạy như ma đuổi, chứ nếu không, lỡ nó bu bám vào chân chắc tôi xỉu quá!
Đi ba ngày đường mới tới được Sơn Phúc, buổi chiều ngày thứ hai chúng tôi đến Tí Sé - Dùi Chiên và ở lại qua đêm. Chúng tôi nghỉ lại và đi vào nhà dân mua lươn ra làm thức ăn cho cơm tối, ở đây chỉ có lươn đồng. Con lươn to và vàng lắm, nhà nào cũng có cả thùng thiết lươn. Chúng tôi bỏ lươn vào xoong bắt lên bếp nấu. Củi lượm ngoài bờ sông Tí Sé không được khô, nên khói lên nhiều, chúng tôi đang lui hui thổi, lửa mới nóng xoong, lươn bung nắp vung bò ra quanh bếp, tôi sợ quá bỏ chạy. Nếu không có mấy anh nam giới lại giúp một tay, bắt mấy con lươn thì tôi chẳng biết phải làm thế nào. Các ảnh kinh nghiệm thật, sẵn lươn đang bò trên cát, các anh bắt chúng một cách dễ dàng rồi nắm vuốt nhẹ lên mình nó, vừa làm sạch nhớt vừa làm cho chúng giãn xương ra, nó không bò được nữa.
Một ngày trôi qua rất nhanh, sáng mai lại dậy sớm nấu cơm ăn sáng và gói theo ăn trưa. Trưa đó chúng tôi lên đến đỉnh rừng cây dầu rái nghỉ lại một lát ăn cơm, rồi tiếp tục đi cho kịp. Đi trong rừng ai đi nhanh, đến ngã ba phải nhớ bẻ một nhánh cây bỏ chắn ngang phía lối không đi, cho người đi sau khỏi bị lạc. Tôi đi xa mới về, lại đi tiếp ba ngày nữa mà cũng mang nặng như người ta, rã hai cái chân, đi không nổi, nên rớt lại sau. Khi qua suối gần đồi tranh để về đến Sơn Phúc, nhớ lại người ta nói: “Ở đây thường bị bọn ngụy ở ngoài đồn Duy Xuyên vào phục kích, anh em mình bị chết, bị thương nhiều lắm.” Tôi lo quá nên cố đi cho thiệt nhanh cùng với đoàn để khỏi gặp nguy hiểm. Lần mò mãi rồi cũng về đến cơ quan khoảng 5g chiều. Trước cổng vào cơ quan có cái giếng khơi, tôi dựa gùi vào thành giếng lột dây gùi ra để nghỉ. Trên mái nhà đang lợp, anh Hay ngồi trên đó nhìn xuống thấy tôi, anh liền nhảy phốc xuống gọi tên tôi một cách thân thiết. Tôi mệt quá, làm thinh không nói gì, bên trong nhà anh Vấn nói với ra: “Nó làm thinh rứa chứ trong bụng nó thương thằng Hay lắm.” Nghe nói rứa tôi không nói ra nhưng thực tình tôi không thích tí nào, hồi ấy tôi luôn nghĩ mình mồ côi, mồ cút nên không bao giờ dám nghĩ về tình cảm riêng tư. Do đó, nghe ai cặp đôi tôi với người nào là tôi không vui và luôn tránh mặt. Chị Phin lớn rồi, có kinh nghiệm hơn, chị bảo: “Mấy ông nớ ổng nói kệ ổng, em không thích em cũng cứ vui vẻ coi như không biết, chứ em có tính như thế, họ bảo mình là tự cao đó.” Từ khi đó, anh Hay cũng ngại tôi và không dám nói gì nữa.
Hồi cơ quan đang còn làm căn cứ trên Thạnh Mỹ, mấy anh chị thích ăn đường, sữa hoặc lương khô 701 hay 702 của bộ đội miền Bắc. Ai muốn có những thứ ấy, thì phải gửi mua khăn vôn, bóp (ví) nháy ở đồng bằng lên đem đổi cho mấy anh bộ đội. Mấy anh miền Bắc thích những thứ đó lắm. Khăn vôn thì mỏng mảnh như tơ lụa đủ các màu, ví (bóp) nháy thì cái nào ở ngoài bìa cũng có hình cô gái đẹp, mình để nghiêng bên này thì cô cười, mình để nghiêng sang phía khác thì cô làm duyên, nói chung là hình các cô em đẹp lắm. Các anh bộ đội miền Bắc thích đem về tặng người yêu. Nhờ rứa mình mới có các thứ đường, sữa để mà ăn.
Tháng 8/1973 anh em cơ quan về lại Thạnh Mỹ, rồi sau đó quay về Sơn Phúc, Quế Sơn. Mùa mưa không đi Xuyên Sơn được vì sợ nước suối lớn bất ngờ (lũ ống) nên chúng tôi đi đường ô tô (lúc nầy có đường ô tô rồi). Đi đường ô tô thì xa lắm, tới cả tuần lang thang trên rừng Trường Sơn vất vả lắm. Từ Thạnh Mỹ lên bến Giằng, xuống làng Hồi mới tới Tân An (Hiệp Đức) rồi qua đèo Đá Mái về Sơn Long, Sơn Thạch, Sơn Trung mới lên ngược đèo Le về lại Sơn Phúc. Đi lâu ngày vất vả mà cũng vui, trong đoàn ai có chuyện tiếu lâm đều xách ra kể hết, rồi cùng cười để khỏi thấy con đường dài dằng dặc. Lần khác chúng tôi đi qua khỏi bến Giằng được một đoạn cũng quá trưa, có xe bộ đội đi qua, mấy anh nam giới bảo:
- Bọn anh núp vào bụi, mấy đứa bây đón xe bộ đội để đi nhờ, xe dừng lại bọn anh ở phía sau tranh thủ vọt lên được không?
- Được chứ.
Một lúc, nghe xe chạy ầm ầm phía sau, bọn tôi bảo:
- Các anh nam tránh vào bụi bên lề đường đi nghe!
Bọn con gái chúng tôi đứng lại vẫy vẫy đón xe, rồi xe bộ đội dừng lại:
- Anh cho bọn em đi quá giang với!
- Các cô em đi về đâu?
- Bọn em đi về Hiệp Đức.
- Được rồi, xe anh đi Công Tum, không đi đường đó, nhưng anh sẽ cho các cô em đến ngã ba làng Hồi các cô xuống nhé.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:27:24 AM
Mừng quá, bọn con gái trèo lên xe, các anh con trai trong bụi cũng tranh thủ vọt lẹ lên chứ để xe chạy là hỏng bét. Đi nhờ được một quãng đường dài, chiều đến ngã 3 làng Hồi xe dừng lại cho chúng tôi xuống. Xe bộ đội đi vào hướng tỉnh Công Tum, còn bọn tôi xuống ngã Tân An - Hiệp Đức. Xuống xe chúng tôi nói với nhau rồi cười. “Tội nghiệp các anh bộ đội miền Bắc bị mấy anh miền Nam lừa.” Chứ không lừa như rứa thì đời nào các anh lái xe dừng lại cho các ông trai tráng đi quá giang. Hai tháng sau, tôi và con Tiến hai chị em đi công tác lẻ, không dám đi đường rừng mà đi đường ô tô, hai chị em cũng nhỏ bé như nhau. Chúng tôi đi từ Thành Mỹ xuống làng Hồi để về Sơn Phúc, trên đường đi cứ nhìn ra phía sau, ngó chừng thử có xe bộ đội không để hai đứa xin đi nhờ. Hai chị em là con gái mà đi bộ đường xa, cứ lẽo đẽo đi trên đường rừng vắng vẻ nữa nên sợ lắm. Tôi ngó chừng miết rồi cũng được một chiếc xe bộ đội đi lẻ, bọn tôi đón lại xin nhờ quá giang. Đến trưa dừng lại bên suối, lấy gạo nấu cơm ăn. Bọn tôi đưa gạo, anh bộ đội không lấy và  nói: “Bọn anh ăn theo chế độ bộ đội, bên nầy sông bến Giằng thì ăn theo chế độ giải phóng, còn bên kia sông bến Giằng là ăn theo chế độ Xã hội Chủ nghĩa, nên tiêu chuẩn cao lắm, các em đừng ngại.” Ăn xong, còn thừa cơm anh bộ đội úp nồi đổ xuống đất, đem cái nồi xuống suối rửa sạch cất lên xe, thấy vậy tôi tiếc quá, nhiều lúc mình chẳng biết tìm đâu ra lon gạo để nấu cơm ăn. Đi một đoạn phải băng qua một con suối, đầu chiếc xe chúi thẳng xuống suối rồi lại bò lên dốc cao, mất đà, xe leo lên không nổi, xe phải trượt dốc ngược xuống suối, ngồi trên xe tôi nghĩ dại, “chơi mà có bề gì thì nguy”. Vậy mà anh lái xe vẫn lạc quan, vui vẻ hát hò luôn miệng.
“Trường Sơn ơi!
 Trên đường ta qua, không một dấu chân người.
Có chú nai vàng, nghiêng đôi tai ngơ ngác.
Rừng lưng đèo, mà nghe suối hát.
Ngắt một đóa hoa rừng, cài lên mũ ta đi…”
Hai chị em chúng tôi lắng nghe một cách say sưa, quên cả gian lao, nguy hiểm. Xe đến ngã ba làng Hồi lúc nào rồi mà tôi không hay biết. Xe dừng lại, hai chị em cảm ơn anh bộ đội rồi xuống xe. Bấy giờ là 5g chiều, tôi nhìn xuống lốp xe thấy bốn chiếc lốp đều quấn quanh mấy vòng bằng dây gai thép, có lẽ để cho có độ ma sát xe khỏi trượt. Tôi bái phục mấy anh lái xe Trường Sơn, mấy anh bộ đội miền Bắc lái xe giỏi thật. Bây giờ thỉnh thoảng xem phim thời sự thấy xe chạy trên đường Trường Sơn năm xưa là tôi nhớ lại những ngày mình cũng từng qua, thấy nhớ lắm Trường Sơn! Càng thương các anh bộ đội lái xe Trường Sơn ngày ấy. Họ rất xứng đáng là những anh hùng. Tới ngã ba làng Hồi, hai chị em ở ngoài đường đã nghe mùi quế thơm ngát. Tôi và Tiến đi vào cơ quan xin nghỉ qua đêm, vào đây hỏi ra mới biết ở đây là kho quế của Công ty Thương nghiệp khu V. Các chị ở thương nghiệp khu V hỏi:
- Bọn em về đâu?
- Bọn em về Sơn Phúc.
Các chị dẫn hai đứa tôi xuống bếp để rửa mặt, chân tay rồi cho cơm bọn tôi ăn, vừa ăn vừa nói chuyện. Các chị hỏi:
- Hai em có đi ngang trại sản xuất của các anh Hội An ở Sơn Trung không?
- Dạ có chứ, trại sản xuất đó ở sát bên đường dưới chân dốc đèo Le.
- Ừ, để mai bọn chị gửi cho các anh ít vỏ quế Trà My làm quà đồng hương.
Sáng ra ăn uống xong, chúng tôi lên đường, về đến Sơn Trung thì trời đã xế chiều, vào trại sản xuất của các anh Hội An, đưa quà, các anh mừng và cảm ơn líu lo. Hai chúng tôi tiếp tục đi và qua đèo Le về cơ quan ở Sơn Phúc đúng trời vừa tối.
Trạm đón tiếp về đây lập ra một đội sản xuất để trồng khoai, lúa, rau muống cấp cho Trạm và Ban tổ chức, do anh Thanh làm tổ trưởng, ngoài ra còn có chị Hạnh (Phước), chị Bích, chị Hồ, chị Năm, chị Cúc, anh Xuân, anh Hay, anh Long, anh Thanh (Điện Hòa), anh Bảo, anh Côi. Hai anh này quê Hội An ở tù và được trao trả mới về ở lại đây công tác.
Hằng ngày anh Bảo và anh Côi (Tuấn) gánh nước phân tươi trộn với nước suối tưới rau muống. Ngày nào các anh không tưới rau thì ra trồng khoai lang hoặc làm việc khác. Mấy anh con trai đắp luống khoai lang từng vồng cao lắm, lùn như tôi nhảy qua không được đâu. Rau khoai tốt rất nhanh, luống này bò băng qua luống kia, ngọn khoai non mơn mởn trông rất ngon, hấp dẫn lắm.
Khoai lớn lên, chúng tôi cứ ngắt ngọn luộc ăn, dưới gốc thì moi đất lấy củ vào ghế cơm. Khoai cõng cơm chứ không phải cơm ghế khoai. Ăn khoai lâu ngày ớn quá! Mỗi lần dọn cơm ra, 6 người một thau cơm, một thau canh rau toàn quốc, một ít mắm cái. Ăn chén đầu tiên thì bới đàng hoàng, chén thứ hai, người nào bới trước thì cơm được nhiều hơn một tí, người bới sau thấy khoai lang đầy thau nên hất qua hất lại cho cơm rớt ra rồi lấy cơm, còn để khoai lại. Trộn riết một hồi, thau khoai cũng hết luôn.
Khi nghe trên Ban quyết định xuống đi lấy gạo về nhập kho, bọn tôi mừng lắm. Mỗi lần đi như vậy cũng phải cả tháng mới xong đợt. Lấy gạo từ Sơn Bình - Hiệp Đức về cơ quan ở Hòn Tàu, phải đi mấy ngày đường. Mùa nắng, cứ sáng 4h dậy đi lên tới Sơn Bình là chiều. Khi đi lên thì nhanh vì đi không, khi lấy gạo quay trở lại thì mới đi một đoạn trời đã tối, phải kiếm chỗ nấu cơm ăn rồi treo võng ngủ để sáng mai 4g sáng dậy đi. Gùi nặng, trời nắng, nóng nên đi đến 10h trưa phải nghỉ ăn cơm. Buổi chiều, khoảng 2g đỡ nắng chúng tôi lại đi tiếp đến tối nghỉ nấu cơm ăn và sau đó tiếp tục đi đến 9-10g đêm kiếm chỗ nghỉ lại, ngủ. Cứ như vậy, đi gùi được ăn cơm không, khỏi ghế khoai. Mấy ngày đầu thấy thích, nhưng ăn miết mấy ngày lại thấy thèm khoai. Có khoai, cơm ngọt dễ ăn. Thời gian đầu đi còn có lương khô đem theo ăn, sau hết lương khô nên khi ăn cơm phải bỏ vào nước sôi để nguội một ít muối, bột ngọt rồi chan với cơm ăn thay canh dễ nuốt. Hồi đó, bọn tôi đi gùi từ Tân An Hiệp Đức về đến Sơn Long là khuya, khát nước khô cổ không chịu nổi, uống nước suối nhiều sợ đau bụng nên trông tới nhà dân, để kiếm nước chín uống. Đến khuya tới nhà dân để cái gùi gạo đó rồi chạy vào bếp kiếm miếng nước, nhưng tìm hoài không thấy, họ úp om cất đâu mất. Ban đầu tôi tức điên lên được, nhưng sau nghĩ lại, tôi càng thương cảm cho họ. Ai cũng vào xin nước như vậy thì nước đâu cho phỉ.
Cả tháng chúng tôi đi gùi, mặc dầu rất gian nan, vất vả nhưng đoàn chúng tôi lúc nào cũng nghe chị Phin vui vẻ hát ca, tưởng chừng như có Đài phát thanh Hà Nội luôn theo bước chân chúng tôi trên đường Trường Sơn. Giọng ca rất ngọt ngào của cô gái Hà Tây quê lụa, đúng là tiếng hát át tiếng bom mà! Bài hát “Tiếng đàn ta lư”, một khi chị cất giọng lên là thánh thót ngân xa, các anh bộ đội người Bắc ai cũng nghe tin và ngưỡng mộ chị - một cô gái quê hương miền Bắc luôn lạc quan yêu đời, vui vẻ với mọi người. Những anh bộ đội, mặc dầu không phải cùng quê lụa nhưng vẫn đến làm quen và nhận đồng hương. Chuyến nào đi gùi về, chị cũng rớt lại sau cùng, vì trên đường đi chị thường gặp các anh đồng hương thăm hỏi. Trạm đón tiếp chúng tôi lúc nào cũng nghe tiếng hát của chị, bất cứ làm việc gì và ở đâu. Chị lạc quan và vô tư lạ, ai cũng mến thương, khen chị: đẹp nết, đẹp người.
Sau ngày giải phóng một thời gian, chị cùng chồng chuyển công tác về Hà Nội. Mấy năm nay, mỗi năm đến ngày giải phóng kỷ niệm 29/3 là chị em chúng tôi gặp mặt nhau và tâm sự ôn lại kỷ niệm xưa. Kỷ niệm thời ấy không dễ ai quên. Bao nhiêu năm qua, chúng tôi vẫn luôn nhớ và liên lạc thăm hỏi về nhau.
Các chị ở tiểu đoàn bà Thao về đây công tác sau khi giải thể, phần nhiều các chị đã 25, 26 tuổi. Các chị đã biết yêu, chủ nhật nghỉ làm việc, các chị lại đi vào đơn vị bộ đội chủ lực, người ngoài bắc ở gần trong núi Sơn Phúc chơi cả ngày. Mỗi chị quen một anh, nhưng cuối cùng đâu có mấy ai cưới nhau được. Bộ đội mà, nay đây mai đó, biết đâu mà hẹn mà chờ. Rứa đó, chứ mỗi lần các chị đi chơi trong đó về là các anh cơ quan cứ trêu chọc, các anh không thích các chị yêu bộ đội miền Bắc. Chỉ có chị Mười làm cán bộ quản lý của Ban, sau khi giải phóng về Đà Nẵng gặp lại anh bộ đội năm xưa. Hai người cưới nhau và đã có hai con, bây giờ đang làm ăn sinh sống ở tỉnh Bắc Cạn.
Anh Vấn, trước đây học ở miền Bắc về, mà sao anh cũng không thích mấy chị yêu bộ đội miền Bắc. Rồi cứ hăm dọa tôi và Tiến, các ổng không cấm được mấy chị lớn rồi cứ cấm và dọa hai đứa nhỏ này, “Hai đứa bây không được yêu mấy thằng con trai Bắc, nó phỉnh yêu rồi nó bỏ đấy.” Lúc đó tôi và Tiến hai đứa chưa có quan niệm yêu là gì. Chưa biết gì về chuyện người lớn nhưng mà vẫn cứ bị hăm dọa, dặn dò mãi. Tôi nhớ có một lần, anh em cơ quan đi lao động hết, ở nhà chỉ có chị Năm chị nuôi và tôi đang bị sốt. Có anh bộ đội người Bắc ghé vào trại sản xuất thăm chơi, tôi nghe anh bộ đội và chị Năm nói chuyện với nhau dưới bếp. Anh hỏi chị Năm:
- Ai không đi làm mà nằm ở nhà đấy em?
- Hương nó bị sốt nên ở nhà đó anh.
- Sao anh không nghe cái tên Hương lần nào nhỉ?
- Dạ, con bé nho nhỏ, chắc anh chưa biết nó.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:27:51 AM
Tôi nằm trên nhà trên nghe hai người nói qua nói lại với nhau, rồi tôi nghe tiếng chân người bộ đội đi vòng quanh trại, tôi sợ quá nằm im trong võng phủ kín cái bọc bằng dù, không dám cụ cựa.
Sau tết 1973, Ban tổ chức kết hợp với Mặt trận 4 đưa một đoàn con em dưới đồng bằng lên học trường Thiếu sinh quân ở Thạnh Mỹ. Mỗi đơn vị có bốn đồng chí tham gia đưa đón cả trăm em ở xuôi lên. Chủ yếu là Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc, còn Điện Bàn ít lắm. Vì đường đi bị địch phục kích miết không đưa các em nhỏ đi được. Có em nhỏ nhất 8 tuổi, lớn nhất 11, 12 tuổi. Dẫn bọn này đi, quản lý thiệt là khổ, kèm cặp, nhắc nhở từng tí, còn phải gùi dùm ba lô cho nó nữa. Không khéo nó chạy lạc mất.
Sáng hôm đó, chúng tôi dẫn hơn 100 em, đi từ Sơn Phúc lên Thạnh Mỹ. Buổi sáng đi đến khoảng 10h trưa là kiếm chỗ dừng lại, nấu cơm cho chúng nó ăn. Trước khi nghỉ nấu cơm trưa, bọn tôi dặn chúng nó, “Mỗi em trên đường đi, thấy củi khô là lấy cầm theo để tí nữa nấu cơm.” Rứa là đến nơi mỗi đứa thả một ít củi khô, chị nuôi vào nhóm lửa nấu một tí có cơm cho chúng ăn liền, ăn xong 15’ sau lên đường. Hôm đó dẫn đến trạm quân bưu bộ đội đóng ở Sơn Bình, chúng tôi liên hệ với quân bưu cho ở lại đây qua đêm để sáng mai đi tiếp. Đến đường sắp rẽ vào trạm quân bưu thì có một chiếc xe jeep của bộ đội chạy qua. Khi xe bò xuống suối họ chạy chầm chậm, mấy thằng con trai thấy xe chạy chậm nó thích quá leo lên xe đi thẳng. Khi vào trạm quân bưu, đoàn điểm danh thì thiếu mất 5 em. Trưởng đoàn báo ngay với trạm quân bưu nhờ trạm liên lạc giùm, vì một số em nói có thấy mấy đứa lên xe bộ đội. Sau đó, họ đã liên lạc được và đưa các em trở về trạm. Các em đi cả ngày, cả đêm mệt quá nên thấy xe là nhảy lên đi chứ nào biết đâu người lớn đang lo cho nó. Trạm quân bưu thuộc Mặt trận 4, tối đó các anh liên hệ xin xe để sáng mai chở các em lên Giằng. Ai cũng sợ các em đi bộ đường xa chịu không nổi.
Sáng hôm sau có mấy xe GMC đến đón đoàn chúng tôi đi. Đi đến bến Giằng xe không xuống Thạnh Mỹ mà qua đường 14 lên Chà Vành. Lúc đó trưa rồi, thả các em xuống xe, thả đâu các em nằm im ở đó, hai bên lề đường cái chúng nằm như sắp cá chuồn. Chờ cho các em tỉnh dậy, cho các em ăn trưa xong, bọn tôi dẫn sắp nhỏ đi bộ xuống Thạnh Mỹ giao cho trường Thiếu sinh quân của Mặt trận 4. Trong số đó, sau này có một số em ra Bắc học và về lại miền Nam công tác thành đạt.
Tháng 6/1973 tất cả anh em của trạm đón tiếp và tổ sản xuất tập trung về Ban để họp. Họp xong ăn trưa rồi về lại Sơn Phúc. Con đường về từ núi Hòn Tàu xuống xã Sơn Phúc đã rộng rãi hơn. Cây cối hai bên đường cũng được chặt quang đãng hơn vì không còn sợ máy bay nữa. Đến tối bọn tôi ăn cơm mới thấy thiếu anh Nguyễn Văn Thành,  không lẽ anh đi chậm hơn nhiều người rứa? Anh em ăn cơm rồi chờ đến khuya cũng không thấy anh về, đến sáng mai cũng không thấy anh, nên báo cho công an tỉnh biết nhờ họ tìm giùm. Cuối cùng cũng tìm không ra, không biết anh Thành đã mất tích ở đoạn đường nào. Sau đó, nghe công an nhận định là sợ biệt kích bắt cóc hoặc là hổ vồ. Đến nay là 42 năm rồi cũng không ai biết cụ thể anh Thành mất tích do nguyên nhân gì? Không lâu sau, có tin là bọn biệt kích xuất hiện ở trong núi, dưới dốc đèo Le. Từ đó mỗi lần đi công tác ngang qua đèo Le là phải đi đông chứ ít người không dám đi.
Đến ngày 01/01/1974 tôi sung sướng và vô cùng vinh dự được công nhận là đảng viên chính thức. Sau đó tôi được bầu làm phân đoàn trưởng của phân đoàn trạm đón tiếp tổ chức.
Tháng 7/1974 tôi và chị Phước được điều về công tác tại cơ quan Dân vận Mặt trận tỉnh Quảng Đà, chúng tôi được phân công đi xây dựng cơ quan tuyến trước, bên tuyên huấn cũng xuống đây xây dựng cơ quan. Nhiệm vụ của tôi và chị Phước là đi cắt tranh, phơi khô, đánh thành tấm để lợp nhà. Anh Tâm, anh Dũng thì có nhiệm vụ đốn cây làm sườn nhà, ban đất làm nền. Thời gian làm việc ở đây không lâu nhưng thức ăn rất khó mua, khi đi chúng tôi mang theo một ít, gạo, muối, mắm, vị tinh là chính. Ở đây sáng đi làm trưa về nấu cơm ăn với canh bằng cách: lấy muối bỏ vào nước sôi để nguội rồi đổ vào cơm thay canh cho dễ ăn. Mấy ngày sau thèm rau quá, tôi thấy có mấy anh đi dưới đồng bằng lên có mang theo rau lang trên ba lô, tôi đến xin. Các anh cho không nhiều chỉ có 5 ngọn, lúc đầu tôi ngắt ngọn và lá non còn bỏ lại mấy lá già rồi đem nấu canh với mấy con ốc suối mới bắt được. Ăn ngon quá! Đến mai đi làm về không có gì làm canh ăn cơm, tôi lại chạy ra lấy lại mấy cọng rau mà hôm qua mình đã vứt bỏ, đem vào rửa nấu thêm được bữa canh rau để ăn với cơm.
Phơi tranh mấy ngày tôi và chị Phước thấy tranh đã khô, hai chị em nhóm lại giũ sạch những lá râu ria rồi đem vào đánh thành tấm lợp. Hom tranh là do mấy anh con trai tự đi kiếm tre về chẻ ra cho chúng tôi. Trong quá trình hai chị em đánh tranh, mấy anh bên tuyên huấn sang chơi rồi hỏi thăm: “Mấy em làm sao mà biết đánh tranh thành tấm lợp đẹp rứa, dạy cho các anh với nhé. Hay là hai em đánh tranh dùm bọn anh luôn, đổi lại bên cơ quan em làm gì các anh sang giúp.” Thế là hai chị em tôi lại phải đánh tranh giùm cho các anh cơ quan Tuyên huấn luôn.
Vừa xong việc xây dựng cơ sở cho cơ quan, chúng tôi về lại Hòn Tàu. Tôi về đến cơ quan thì nhận được quyết định về công tác ở quận Nhất. Trước đó quận Tư đóng ở Điện Sơn xin tôi, nhưng tổ chức tỉnh không cho, vì tôi không biết bơi mà sông Yên ở Điện Tiến sâu và chảy xiết lắm. Do đó, khi quận Nhất xin tôi thì tổ chức tỉnh quyết định cho về, dầu sao tôi đã từng công tác ở địa bàn này rồi.
Vào cuối tháng 8/1974, sáng đó tôi ra trạm giao liên liên hệ với họ để theo đường dây về đồng bằng nhận công tác  mới. Ngày hôm sau tôi đi về, trên đường đi từ Hòn Tàu về Duy Xuyên rồi qua Gò Nổi, từ chiều hôm trước rồi đi cả đêm gần sáng hôm sau mới tới cơ quan. Về đến nơi tôi thấy cảnh tượng hoang tàn, lau lách bị ngã lăn lóc, nhà cửa nát tan là do có một trận càn quét vừa qua, bọn nó dội bom, bắn đại bác tơi bời. Trời thì mưa ướt át, đường đi thì rúc qua những hàng lau lách nghiêng ngã chen nhau thiệt là khổ. Tôi về cơ quan Quận Nhất làm nhiệm vụ y tá. Cơ quan có anh Minh (cơ yếu), anh Thắng (máy PRC25), anh Tâm (tài chính), anh Thi (hành chính), anh Tuấn (bảo vệ), anh Kiều Đa (quân sự phụ trách biệt động), Nhung (giao liên), anh Nghĩa và anh Trung phụ trách chung. Tôi về công tác ở đây gần được một tháng thì tôi phải lên lại trên núi để nhận thuốc về phục vụ anh em. Tôi đi lên núi lần nầy quen rồi, có cơ quan cũ làm chỗ dựa. Ngày hôm sau tôi đến Hòn Tàu ghé vô Ban tổ chức (cơ quan cũ) nghỉ lại. Sáng mai đi lên Sơn Phúc ghé về trạm đón tiếp thăm chơi, chờ có ai đi lên Hiệp Đức thì  đi theo. Chờ ở đây một ngày mà không thấy có ai đi lên hướng đó, tôi lo sợ ở lại lâu ngày không được. Tôi đòi đi nhưng mấy anh ở trạm nói:
- Đường đi lên Hiệp Đức qua hai cái đèo, dạo này hay có biệt kích lắm, em đi một mình mà con gái nữa rất nguy hiểm, ráng chờ ít hôm nữa xem!
Tôi nghe lời mấy anh chờ thêm một ngày nữa cũng không có ai đi, cuối cùng tôi quyết định ngày hôm sau lên đường. “Biết đâu đi ra đường lại có người đi cùng thì sao”, tôi nghĩ vậy rồi quyết định đi. Sáng dậy ăn cơm xong, chị Hoán chị nuôi gói cho tôi một nắm cơm vắt để ăn trưa. Tôi chào tạm biệt mọi người ra đi, đi mà cứ lo biết có gì không đây! Từ Sơn Phúc phải qua đèo Le để lên Hiệp Đức, khi qua đèo Le tôi đi thật nhanh. Đến trưa thì đến đèo Đá Trắng, nhưng không dám nghỉ chân để ăn cơm mà cứ lủi thủi đi miết. Khi leo lên gần đỉnh đèo thì tôi gặp một đoàn bộ đội đi ngược chiều với tôi, tôi nghĩ trong bụng: “Không biết bộ đội này là bộ đội thiệt hay bộ đội giả đây?”, tôi nghĩ vậy nên cứ làm thinh đi thật nhanh. Khi qua khỏi đoàn họ rồi, tôi vẫn chưa hết run. Lên tới đỉnh đèo tôi lại gặp một đoàn người khác cũng ngược chiều nhau, bất ngờ tôi nghe trong đoàn có người gọi tên tôi. Tôi mừng quá, tôi nhìn lên thấy anh Tám người cùng cơ quan Mặt trận tỉnh mà có một thời tôi công tác ở đó. Anh Tám hỏi:
- Em đi đâu mà đi có một mình? Tôi kể chuyện chuyến đi cho anh nghe. Anh la tôi:
- Con gái đi xa lại đường rừng mà sao em liều thế. Em không đợi có ai đi rồi mình theo chứ, dạo này có biệt kích nó cải trang bộ đội, nguy hiểm lắm đó em! - Anh nói tiếp - Thôi, em tranh thủ đi nhanh chứ đường còn xa lắm.
Anh em chia tay nhau, lúc đó tôi đỡ sợ hơn một chút. Thế là tôi tiếp tục đi, khi đến kho thuốc là đã 6g chiều. Một ngày đi dốc, đường xa bây giờ mới thấy đói và mệt. Tôi trình giấy ra để chị thủ kho cấp thuốc, tôi tranh thủ rửa tay, rửa mặt rồi lấy cơm ra ăn. Gói cơm từ hồi sáng, đến bây giờ mới dám mở ra ăn. Ăn xong, nhận thuốc đủ rồi, mấy chị ở đây mới hỏi:
- Em đi với ai? Tôi nói:
- Em đi một mình.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:28:14 AM
Mấy chị đó nhìn tôi lo lắng, rồi hỏi:
- Em tính đi về bằng cách nào đây?
- Em không biết nữa!
Đang nói chuyện thì có hai người ở ngoài cửa bước vào kho cũng nhận thuốc. Chị thủ kho thuốc hỏi hai người vừa bước vào và họ trả lời:
- Bọn em đi lên đây bằng đường thủy.
- Rứa thì được rồi, cho tôi gửi cô em này về dưới đó với hỉ.
Hai người hỏi tôi về đâu. Tôi trả lời rồi xin các anh đi nhờ về Sơn Phúc. Thành ra chị thủ kho biết hai người này cũng về ngã Sơn Phúc - Hòn Tàu. Chị mới gởi tôi cho họ, nhận thuốc xong họ ra thuyền đi về không quên gọi tôi đi theo luôn. Đi thuyền ban đêm thật thú vị. Hôm nay thấy bầu trời sáng mờ mờ, hay đi dưới nước rồi thấy thế không biết, đi dọc sông, nhìn hai bên bờ sông đẹp lắm. Tôi thấy mừng và khỏe ra vì không phải đi bộ, leo dốc cả ngày như  hôm nay. Thuyền xuôi dòng từ từ qua Tí Sé - Dùi Chiêng, rồi đi ngang qua núi Hòn Kẽm - Đá Dừng, tôi hỏi anh lái thuyền:
- Ở đây là đâu mà ngọn núi này đẹp quá hở anh?
Núi hai bờ ôm nhau, mình đi giữa sông giống như đang qua con đường hầm vậy. Anh ấy trả lời:
- Hòn Kẽm - Đá Dừng đó em.
À, tôi nghe tên Hòn Kẽm Đá Dừng hồi năm 1968, chú Lương Trí Nghĩa thường hay hát bài gì tôi không biết. Nhưng trong đó có câu “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng, Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi”. Rứa mà nay tôi mới biết và lại được đi ngang qua nơi non nước hữu tình này. Đêm trên sông thật vẳng lặng, chỉ có tiếng chèo khua nhẹ. Thế nhưng khi đi qua khỏi núi Hòn Kẽm rồi, thỉnh thoảng tôi nghe có tiếng nổ ình oàng rồi bỗng nhiên bầu trời chớp lên một luồng ánh sáng đỏ rực. Tôi không hiểu từ đâu lại có tiếng nổ ấy. Tôi nói bâng quơ: “Không biết tiếng nổ nớ ở đâu mà nghe ầm ầm như  đại bác nổ rứa hè.” Một anh trên thuyền nói: “Đó là tiếng nổ trong kho đạn của đồn Nông Sơn mà bộ đội ta mới vừa đánh tiêu diệt đó!” Thuyền chúng tôi đi cũng khá xa mà vẫn còn nghe tiếng đạn pháo nổ kèm theo ánh chớp sáng lòa của bầu trời Trung Phước – Quế Sơn.
Sáng sớm hôm sau thuyền cập bến đò Trung Phước, bước lên thuyền trời vừa sáng, còn lờ mờ hơi sương. Tôi lên đường, nhìn quanh không thấy một bóng người qua lại, cũng không có một tiếng động nào hoặc tiếng ve kêu. Một cảnh tượng hoang tàn đổ nát, lạnh lùng. Tôi thấy sợ ghê cái cảnh vắng vẻ, đìu hiu ấy. Một mình với chiếc ba lô mang đầy thuốc, tôi lững thững đi về hướng Sơn Phúc. Trung Phước cách Sơn Phúc cũng khá xa, trên đường từ Trung Phước về đến Sơn Phúc tôi không gặp được ai. Cứ thế tôi đi đến trưa là đến Trạm đón tiếp của Ban Tổ chức. Về đây, nghỉ ngơi và tôi kể chuyện cho mấy chị, mấy anh cơ quan nghe, mấy người nói:
- Em liều thật, nhưng mà cũng gặp may đấy!
Thế rồi tôi quyết định nghỉ lại đây một ngày để xả hơi. Sáng hôm sau, tôi lên đường đi xuống Hòn Tàu để cho kịp theo đường dây giao liên trở về đồng bằng.
Quận ủy quận Nhất bây giờ có anh Trung Quận ủy viên về phụ trách chung và nhiều anh khác nữa. Thời gian này, ở Gò Nổi cơ quan sản xuất đậu xanh nhiều lắm, do đậu xanh nhiều mà gạo thì ít, cho nên khi nấu cơm thì nấu đậu ghế gạo ăn thay cơm. Thức ăn thì mắm cái là chủ yếu, còn cải thiện thêm canh bằng cách: chiều vắng địch bên kia sông (thôn 10) Điện Phước, thì mình ra bãi cát của sông Thu Bồn bắt hến vào nấu canh với rau mồng tơi, có lúc với ổ khỉ (ổ khỉ giống trái khổ qua) mà trái nó nhỏ xíu, bây giờ ổ khỉ đó họ gọi là “ổ qua rừng” dùng làm thuốc nam tốt lắm. Thứ gì chứ “ổ khỉ” và rau “mồng tơi” ở ngoài bãi bói của Gò Nổi, với hến bên bờ sông Thu Bồn thì không thiếu, đó là những mà thiên nhiên đã ban tặng cho mình. Tôi còn nhớ một lần mà đến bây giờ tôi vẫn còn sợ. Chiều hôm nớ, cơ quan đi ra vùng ven mua gạo của dân, cả cơ quan đi hết chỉ mình tôi ở nhà. Anh Tuấn bảo:
- Chiều nay anh em cơ quan đi lấy gạo, Hương qua sông đưa thuyền về nghe!
- Em đâu có biết chèo thuyền mà bảo em đi đem thuyền về?
Tôi nói như thế. Anh Tuấn nói:
- Dễ ợt, có chi mà không biết. Đi rồi sẽ biết, chứ đâu còn ai nữa!
Thế là mới 3g chiều anh em đã chuẩn bị qua sông, tôi đi theo để đưa thuyền về. Khi đi qua sông tôi để ý thấy người ngồi sau cầm cây dầm bạt tay lái qua lại như thế nào để tí nữa tôi làm theo. Đến bờ sông bên kia, mọi người lên khỏi thuyền, tôi ngồi cuối thuyền cầm tay lái cho thuyền quay đầu trở lại, nhưng con thuyền không chịu đi theo hướng của tôi mà nó cứ quay xà quầng mãi, tôi bỏ dầm thế nào nó cũng vậy, mệt đến toát mồ hôi mà con thuyền vẫn không ra khỏi bến. Nước sông Thu Bồn lại chảy siết, mặt trời thì ngày càng xuống thấp, tôi nghĩ dại: “Lỡ mình bơi về không được mà thuyền trôi xuống Vĩnh Điện thì làm sao đây!” Lúc này chẳng có ai ở đây để mình nhờ một tí. Nghĩ miên man rồi tôi liều mình cố chèo kẻo trời tối mất. Lần này tôi không bơi thuyền ra giữa dòng mà bơi men theo bờ, ngược sông Thu Bồn. Chỗ nào nước sâu tôi lấy dầm chèo, chỗ nào nước cạn tôi lấy dầm chống. Thuyền làm bằng tôn nên dù to và dài nhưng nhẹ. Tôi làm như vậy, thấy thuyền đi thẳng lên được, tôi rất mừng. Cứ như thế tôi cho nó đi lên một quãng khá xa, rồi mới từ từ bơi ra và thả thuyền xuôi dần về Gò Nổi. Cứ thế, cuối cùng đến tối thuyền và tôi cũng về được đến nhà. Hú hồn!!! Vô nhà rồi mà hai chân, hai tay của tôi còn run, trống ngực còn đánh thình thịch. Cả đêm đó tôi không ngủ được vì nghĩ lại lúc chiều mà sợ!
Thời điểm này ở các ngã đường đi vào Duy Xuyên hay xuống vùng C Điện Bàn cũng đều nguy hiểm. Đêm nào cũng nghe tiếng mìn nổ, tiếng pháo trên đồn Hòn Bằng của Duy Sơn bắn xuống. Mùa mưa năm 1973 trạm giao liên tỉnh đóng ở Điện Quang không còn người nào để đi công tác. Chỉ có hai đêm mà đã mất đi năm người, một dãy mồ dài mới toanh là của mấy anh giao liên tỉnh đó. Nói chung đêm nào trên đường ra, vào Duy Xuyên để lên, xuống núi cũng có người hy sinh hoặc bị thương. Con đường độc đạo mà, cho nên địch biết được nó gài mìn, nếu nghe tiếng mìn nổ là nó tiếp tục bắn pháo, có lúc nó phục kích nữa. Mặc dầu mỗi khi có đoàn công tác sắp qua đây, giao liên và trinh sát đều phải rà mìn, bám đường cẩn thận. Ai đi trong đoàn cũng phải tuân theo sự hướng dẫn của họ. Ai chủ quan, sơ sẩy một chút là phải trả giá liền. Phía trên núi đi xuống Duy Xuyên bọn nó cũng gài mìn y như vậy. Có lần, anh Kiều Đa đi họp trên núi về gần đến Duy Xuyên thì vấp mìn bị thương, anh em trong đoàn phải đưa anh trở lại bệnh viện Y80 ở Hòn Tàu (trên núi) để điều trị.
Năm 1974, ở thôn Xuân Đài xã Điện Quang - Gò Nổi, một số gia đình có thân nhân đi tham gia cách mạng, họ về lại quê hương làm ăn để mong được gặp và tiếp tế cho chồng, con họ. Thỉnh thoảng vắng địch, bọn tôi đi vào đó để mua rau về ăn. Không biết họ bỏ phân gì mà cây cải nó to, chỉ hai cây thôi là tôi ôm đủ một vòng tay. Đậu tây, đậu đũa, rau khoai lang cũng thế, tốt tươi mơn mởn.
Hồi ở Gò Nổi, cơ quan Quận ở gần Trạm phẫu của huyện Điện Bàn. Vào những ngày đầu tháng 1/1975, tình hình nghe căng thẳng lắm. Tối hôm nọ tôi sang Trạm phẫu chơi, nghe chị Tri, Trạm trưởng nói:
- Bọn bây nghe tin chi chưa?
- Chưa, có chi rứa chị?
Chị nói: “Chị mới nhận được tin báo là sáng mai địch càn qua 6 xã, vùng Gò Nổi, chị đã chuyển  thương binh đi tránh hết rồi.” Tôi chạy về báo lại, nhưng cơ quan bây giờ không có ai ở nhà, chỉ có tôi, Nhung, chị Hoa, Thắng (nhỏ) và anh Nguyễn Trọng Thi. Anh Thi bảo tôi qua hỏi lại chị Tri cho chắc. Chị Trị nói: “Tau đưa thương binh đi hết rồi chỉ còn con Nương không biết làm sao đây, ở cơ quan bây có công sự mô bảo đảm không? Nghe đâu đợt này bọn nó đi càn có xe tăng đó.” Rồi chị Tri lại nói tiếp: “Hay là mình đi lên trốn trên bãi bói gần đầu cầu Kỳ Lam, chứ nghe có xe tăng mà công sự ở đất cát tau không yên tâm.” Chị Nương y tá của trạm, người to quá cỡ nên mỗi lần địch càn, phải cho chị chạy ra khỏi vùng nguy hiểm chứ không rúc công sự được. Khi bí quá, chị mới rúc công sự nhưng vất vả lắm, khi rúc lên chị mang theo cái khuôn (nắp) của công sự lên luôn.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:28:48 AM
Thế rồi tôi về nói với anh Thi lo việc chống càn gấp. Năm anh em, cả đêm ấy dọn tất cả đồ đạc của cơ quan xuống giấu hết dưới công sự trong nhà. Giấu một chiếc thuyền và đôi thùng gánh nước, bằng cách nhận chìm sâu hai thứ đó ngoài sông Thu Bồn. Nhung lo nấu cơm nhanh để mang theo ăn sáng. Còn tôi, chị Hoa, Thắng và anh Thi lo dọn dẹp đồ đạc trong cơ quan, đem cất gọn gàng. Cơm sôi lên vừa cạn nước, Nhung lấy ni lông đậy kín miệng nồi lại xách đi, ở cơ quan có nuôi một con chó con, khi bọn tôi tất bật dọn nhanh đi cho kịp kẻo trời sắp sáng, nhưng không quên đem con chó nhỏ đi theo. Đúng 3g sáng, chúng tôi gấp rút dọn nhanh ra chiếc thuyền còn lại chèo đi ngược lên phía cầu Kỳ Lam. Đi khoảng một đoạn không xa lắm, chưa lên đến cầu thì một tràng pháo cỡ lớn dập đúng ngay xóm nhà cơ quan đang đóng. Sau đó mấy tràng nữa bắn tới tấp, nổ dữ dội hơn, pháo bầy mà! Bọn tôi nhìn nhau hú hồn! Nhờ chị Tri thông báo kịp thời chứ nếu không, bọn tôi bị mắc kẹt trong trận càn đó rồi. Lên thuyền, anh Thi ngồi tay lái, tôi chèo mũi, chèo đi nhanh kẻo trời sáng sợ bọn ngụy đóng trên đầu cầu Kỳ Lam sẽ phát hiện. Thuyền đi rất khẽ, không cho mái chèo chạm vào be thuyền và cũng không cho tiếng nước sông xao động. Đi qua khỏi đầu cầu Kỳ Lam ở phía bắc, anh Thi cho thuyền đâm thẳng vào một cái cồn bói ở phía trên đầu cầu một chút. Đến đây tôi đã thấy đông đủ tất cả anh chị em các cơ quan huyện, quận, xã…Xem ra ai cũng được thông báo trốn ở đây là tạm thời an toàn nhất.
Anh Thi từ từ, nhẹ nhàng nhận chìm chiếc thuyền xuống nước, bọn tôi xách đồ đi vào sâu trong đám cây bói ngồi. Ở chỗ này là một cái cồn nhỏ, do bồi đắp lâu năm nó trở thành một mô đất theo leo ở ngoài sông, phía thôn Bì Nhai của xã Điện Thái (nay thuộc Điện Thọ). Bói ở đây xanh tốt, cao vút, máy bay địch không để ý. Lên đây, còn có nhiều người nữa nên bọn tôi yên tâm ngồi đây và ăn sáng. Đến trưa, tôi nấu cơm, nhưng sợ khói ùn lên, địch phát hiện là chết cả chùm. Khi bẻ củi bói khô, tôi cũng phải thật nhẹ nhàng, lấy tay ngắt cây củi giống như ngắt rau để khỏi phát ra tiếng động. Khi nấu cơm, một người cầm nhúm củi giơ lên gần sát đít nồi, không cho củi dính dưới đất sẽ dễ có khói. Một người khác cầm cái quạt, quạt qua quạt lại để khói không bay lên được ngọn cây, tránh địch phát hiện. Suốt một ngày ở đây, lúc nào cũng nghe tiếng pháo các nơi bắn đến các xã vùng Gò Nổi, làn đạn đi ngang trên đầu nghe véo véo như xé cả bầu trời nghe mà phát sợ. Đến tối, khoảng 9g, theo dõi tình hình thấy yên tĩnh, mọi người nhẹ nhàng kéo thuyền lên khỏi mặt nước, và từng thuyền một chèo sang phía Điện Hồng - Gò Nổi. Từ sông Thu Bồn vào nhà dân phải đi qua bãi đất hoa màu rộng thênh thang. Vừa đi vừa bám địch, sợ nó còn nằm lại đây. Đến khuya vào được nhà dân và hỏi thăm thì họ báo là địch đã đi xuống hết rồi. Tối ngủ nhờ ở đây một đêm, ngày mai sẽ tính. Sáng sớm dậy, nấu cơm ăn xong, chúng tôi không dám ở lại đây mà phải qua bãi bói phía nam của xã Điện Hồng (cũ) để trốn. Nằm đây một ngày ngoài trời, dưới làn đạn pháo không ngớt đi qua như xé gió. Đến chiều, khoảng 4g chúng tôi mới dám vào lại nhà dân để hỏi thăm xem địch đã rút hết hẳn chưa?
Khi biết địch đã không còn trên đất Gò Nổi nữa, chúng tôi mới đi về cơ quan. Đi chưa đến cơ quan đã thấy cảnh tượng tàn phá tan tành. Do đại bác và xe tăng hàng mấy chục chiếc càn qua, cả vùng bói ở đây nát tương, nằm rạp xuống đất làm trống hoang cả khu vực cơ quan đang đóng. Về đến cơ quan, vô nhà, thấy bọn nó lôi hết đồ dùng cất dưới công sự lên vung vãi khắp nơi. Bọn địch thả lựu đạn xuống hầm trốn đại bác của cơ quan, sụp tan hoang. Ra gần bờ sông, phát hiện có công sự, chúng lôi nắp hầm lên vứt ra một bên. Chúng lôi cả thuyền và đôi thùng gánh nước lên đâm lủng nát bét. Thấy vậy, tôi nghĩ trong bụng nếu không nhờ chị Tri Trạm phẫu Điện Bàn báo tin thì bọn tôi đã bị chúng băm nát hết rồi, chứ còn đâu để thấy được ngày giải phóng 29/3/1975!
Đảng và nhà nước ta nhận định tình hình địch rất sáng suốt, ta có khả năng về giải phóng Đà Nẵng sớm hơn. Sau trận càn đó cơ quan Quận được chuyển về tuyến trước (Phái Nhì - Điện Hòa) và chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công vào giải phóng thành phố. Những ngày này cứ nghe tin chiến thắng của quân và dân ta từ khắp nơi tới tấp đưa về, mọi người đều vô cùng phấn khởi. Ai cũng mong một ngày gần nhất quân ta sẽ tiến về giải phóng Đà Thành, cho thỏa niềm vui. Tối hôm ngày 26-27/3/1975, tôi ở Phái Nhì, ban đêm vắng lặng không nghe một tiếng pháo của quân địch như những ngày trước, chỉ nghe như tiếng xe tăng của quân ta ầm ì từ xa lẫn tiếng súng đâu đó vọng lại. Với khí thế hừng hực của quân giải phóng, chắc nay mai mình cũng được về tiếp quản thành phố. Nghĩ đến đó là lòng tôi náo nức nôn nao khó tả.
Ngày 29/3/1975 được sự phân công của lãnh đạo quận, tôi phải ra thành phố trước, để cùng với một số cơ sở bên trong thành phố làm nội ứng. Chú Trần Hưng Thừa Bí thư quận Nhất và các đồng chí cán bộ khác đã vào thành phố trước ngày 28/3/1975 để lãnh đạo phong trào nổi dậy rồi.
Sáng 29/3/1975, tôi vào Đà Nẵng theo sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan. Tôi đi đường Hòa Tiến ra cầu Đỏ. Trên đường đi tôi thấy bọn lính nhốn nháo ngoài ngã ba Hòa Cầm đang chạy ngược vào vùng giải phóng. Trên mình bọn nó chỉ còn cái quần cộc, và hai tay không. Gương mặt hớt hơ hớt hải, nhìn trước ngó sau, cảnh tượng thiệt là thê thỏm. Còn hai bên đường thì nhao nhao người ta kẻ ra người vào, rất là lộn xộn. Tôi đi bộ ra đến ngã ba Huế, thấy người đâu mà đông như kiến vỡ tổ, không tài nào đi được. Dân Huế, Quảng Trị chạy vào, dân Đà Nẵng lại chạy nhốn nháo. Tôi đi tới chỗ ngã 3 đường Duy Tân (nay là Nguyễn Tri Phương) thì không đi được nữa. Người ùn ùn chen chúc nhau, xe lớn xe nhỏ cũng lấn nhau mà đi. Nhiều xe cắm cờ Phật giáo, cờ giải phóng  phất phới bay. Tình hình giải phóng thành phố quá nhanh không tưởng được. Trong lúc tôi đi chưa được, tôi đứng nhìn quanh thì đã thấy mấy anh trong cơ quan quận (anh Thắng, anh Thi, Biết, anh Tuấn,…) cũng đi xe ra kịp đến đây rồi. Tôi mừng quá, vào nhập đoàn cùng đi. Xe không chạy được, chúng tôi xuống đi bộ. Nhưng mấy xe con treo cờ Phật giáo cứ rà đến mời chúng tôi lên xe cho họ chở. Từ chối xe này thì xe khác ghé lại mời. Cuối cùng chúng tôi cũng lên xe cho họ chở. Được chở quân giải phóng đi trên đường phố, họ vui lắm. Xe chở chúng tôi đến nhà một người dân nằm trên đường Ông Ích Khiêm (gần chùa Tĩnh Hội), họ mời vào ăn cơm tối. Họ đã dọn sẵn lên mâm lên bát hết rồi, không biết họ chuẩn bị từ bao giờ. Vì chúng tôi đông (gần 10 người) nên không ngồi bàn mà ngồi dưới đất để ăn. Khi ăn chúng tôi ai cũng thực hiện ăn “đũa hai đầu” như hồi ở cơ quan. Thấy vậy, họ nói với nhau: “Mấy ông cách mạng ăn, uống có vệ sinh quá hỉ.” Và họ cũng tranh thủ lúc chúng tôi đang ăn để hỏi đủ chuyện về quân giải phóng.
Trong đoàn ai cũng trả lời đến khàn cổ họng, nói không ra tiếng mà họ cũng không tha. Tôi nói không ra tiếng nữa, tôi lấy trong xách ra tập ảnh Bác Hồ đưa họ xem, họ mừng lắm.Tôi biếu họ luôn tập ảnh ấy. Sau đó chúng tôi hối thúc nhau đi tìm nhà cơ sở để gặp lãnh đạo Quận. Đến phường Nam Dương, khoảng 8g tối, bất ngờ nghe một loạt súng nổ từ hướng Quân đoàn I. Hỏi dân ở đây, mới biết trên Quân đoàn I vẫn còn lính ở trong. Súng nổ gần quá nghe cũng sợ, nhưng lúc này thấy khí thế của nhân dân trong thành phố đang bừng bừng, phấn khởi nên bọn tôi cũng yên tâm. Lúc này anh Thắng trên lưng chiếc máy PRC25, anh Thắng gọi hỏi thăm lãnh đạo, địa điểm tập kết để chúng tôi tập trung đến. Sau đó, anh em chúng tôi dẫn nhau đi trên đường Hoàng Diệu của phường Nam Dương rồi băng qua đường Chu Văn An để đến đường Phan Châu Trinh.Tại đây có nhà máy in là cơ sở của ta đang hoạt động. Chúng tôi đến đây, mấy vị lãnh đạo của Quận đã có mặt đầy đủ rồi. Các anh bảo vệ của quận vừa đến đây là bắt tay vào công việc ngay. Tối đó, chủ nhà máy in bảo chúng tôi lên lầu nghỉ ngơi. Cầu thang (bằng bê tông) tối om, tôi bước lên nhè nhẹ từng bước một, vì tôi chưa biết cầu thang có đảm bảo không nên sợ mình đi mạnh nó sụp thì làm sao. Lên sân thượng, tôi đứng nhìn xuống đường Phan Châu Trinh, thấy mấy anh bảo vệ của Quận ra thổi còi gọi xe con soát giấy. Ai không có giấy xe, thì mấy ảnh hướng dẫn đưa xe lên lề đường để đó rồi về. Cứ như thế mà hai bên lề đường hai hàng xe con đậu dài dằng dặc. Đến khuya các anh vào ngủ. Sáng hôm sau ngày 30/3/1975 các anh dậy sớm ra đường, nhìn quanh lên, xuống thấy chẳng còn chiếc xe nào hết. Chúng đã bốc hơi đâu cả rồi. Anh Nguyễn Trọng Thi bực mình chửi thề: “Mẹ cha hắn! Bọn nó lấy sạch không còn lấy một chiếc xe.”
Tình hình tiến triển nhanh quá, không ai tưởng được. Trên Quân đoàn I lúc đó không còn động tĩnh gì nữa. Đường phố lúc nào cũng đông vui người qua lại. Cờ giải phóng tung bay khắp nơi, nhân dân phấn khởi, mặt người nào cũng tươi như hoa.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: pt.hung trong 08 Tháng Năm, 2015, 12:29:54 AM
Tới giữa buổi 30/3/1975 cơ quan được lệnh chuyển về tiếp quản cơ quan quận Nhất cũ của địch đóng ở đường Bạch Đằng. Xuống đây thấy cảnh tượng hoang tàn, giấy tờ tài liệu của bọn chúng vung vãi đầy nhà. Chúng tôi ban đầu có hai ba chị em thôi nên dọn đống rác này thấy ớn quá, chúng tôi hốt hết tấp vào một đống chỗ góc nhà. Các anh nam giới thì gấp rút kẻ chạy đi lo gạo, mắm, xăng dầu, lo chuẩn bị bàn ghế cho cán bộ tiếp nhận bọn địch tàn quân ngụy quân, ngụy quyền đến trình diện.
Ngày đầu nấu cơm không có củi, chúng tôi lấy giấy tài liệu của chúng bỏ lại để đem đun thay củi nấu cơm. Tài liệu gì mà nhiều quá trời. Chiều ngày 30/3/1975 các ông cơ sở chở đến mấy tạ gạo, và 5 thùng phuy xăng với mấy bó củi to. Sáng ngày 01/4/1975 có chị Mai, chị Mười, chị Xuân người Quảng Nam đi học may ở Đà Nẵng được cán bộ ta tuyên truyền giác ngộ cách mạng, mấy chị tham gia hoạt động cơ sở trong thành phố. Nay các chị đến giúp cơ quan nấu ăn và làm ít việc lặt vặt khác. Chị Mười đi xe máy được nên chở tôi đi mua xoong, nồi về chuẩn bị nấu cơm tiếp đoàn cán bộ ở khu V về làm việc củng cố tổ chức các phường. Nghe cơ quan thông báo là có đoàn công tác rất đông ở khu V và tỉnh về, chị em xúm lại lo dọn dẹp, nấu cơm để trưa họ về kịp có cơm ăn. Trưa người ta về đông như kiến, ăn như tằm ăn lên, rồi kiếm chỗ nghỉ. Chị em tôi lại lo dọn dẹp, chuẩn bị buổi cơm chiều. Cứ như thế qua 4-5 ngày gì đó tôi không nhớ rõ, công việc thì nhiều mà người phục vụ ít quá, lại chưa kinh nghiệm, dụng cụ lại thiếu thốn, nên chị em thật vất vả, không có chút thời gian nghỉ ngơi. Một hôm anh Tuấn đưa bảng chấm cơm cho tôi dặn tôi dán lên tường rồi hằng ngày theo dõi chấm cơm cho từng người.Thấy một dãy họ tên dài dằng dặc, tôi nói: “Làm sao mà chấm cơm được.” Anh Tuấn bảo:
- Ai ở phường về ăn trưa, ăn tối thì mi chéo vô đó chứ có chi đâu mà không được.
Tôi nghĩ, thôi cứ dán đại lên đó rồi tính. Một tuần sau trở lại kiểm tra, anh Tuấn hỏi:
- Ủa! Bảng chấm cơm sao trắng nguyên, không chấm vào đây à? Gạo đem về bao nhiêu cũng hết mà không có tên người ăn cơm là sao?
- Em có biết ai đâu mà chấm, hễ thấy họ về thì mình lo dọn cơm cho họ ăn, ăn xong họ tranh thủ đi nghỉ nên thấy mặt thì không biết tên, thấy tên thì không biết mặt, biết chấm cho ai!
Cuối cùng không chấm được một người nào, bảng chấm cơm còn mới nguyên như trước. Trong khi gạo chở về tạ nọ tạ kia đều hết sạch. Rứa là đủ biết số lượng người về công tác đông đến cỡ nào! Rốt cuộc khi đã ổn định tổ chức dưới các phường rồi, tôi cũng không biết ai đã từng về đây ăn cơm. Một tháng trôi qua tôi không rảnh tí nào để về thăm nhà ông bác mà tôi từng ở sau khi ra tù. Dưới bếp thì bận rộn tối ngày không ngơi tay, nhưng trên văn phòng thì cũng tấp nập bọn tàn quân đến xếp hàng để đăng ký trình diện. Hàng ba hàng bảy ngồi ở trước cổng ra vào không còn đường đi, ai cũng ưng mình đăng ký trước nên ngồi chen chúc nhau chờ. Thấy tôi đi chợ ngang qua họ, có người nói với theo: “Chị ơi, chị còn nhớ tôi không? Tôi quen với chị đấy.” Tôi nghĩ: Họ nói bừa vậy thôi, chứ tôi làm gì mà quen với họ.
Chuyện của những ngày tiếp quản thành phố thì nhiều lắm, không sao quên được. Một hôm chiều gần tối, mọi việc trong ngày xong xuôi. Cơ quan ăn cơm xong, anh Thi và Điểm rủ nhau lấy xe máy đi tập thử cho biết để khi cần lấy chạy cho nhanh. Lúc đó, cơ quan tịch thu nhiều xe máy không có giấy tờ để đầy kho. Hai người lấy ra chiếc xe Honda 67 nói chị Mười đổ xăng vào, lúc này ở cơ quan xăng nhiều lắm, có đến 5 thùng phuy xăng, nên chạy vô tư. Hai người ngồi lên xe, anh Thi tự tin cầm tay lái, Điểm ngồi sau. Anh Thi đạp cho xe nổ máy, vẹn tay ga rịn...rịn.., rồi gài số, rồ ga, bỗng nghe vút…rầm. Mọi người trong nhà vội chạy ra nhìn quanh, rồi nhìn lên đống phế liệu, có mấy chiếc xe Jeep cũ của địch đã bỏ từ lâu ở phía sau cơ quan, thấy chiếc xe Honda 67 đang nổ máy ầm ầm, hai bánh xe quay như hai chiếc chong chóng, còn dưới đất hai ông “cách mạng” đang vừa xuýt xoa vừa lò mò ngồi dậy kêu đau quá! Mọi người lo lắng:
- Vì răng rứa, có hờ chi không?
Hai ông tướng vừa đứng lên phủi phủi áo quần, vừa kể. Nghe ra, ai cũng ôm bụng cười, có người cười đến nỗi muốn “tè”. Còn chuyện nữa nghe ra cứ tưởng nói đùa nhưng là thật 100%. Chiều hôm nọ, anh H. Phó Bí thư quận Nhất, họp Quận ủy xong, anh ra đứng trước thềm cơ quan ngắm cảnh sông Hàn, anh thấy chiếc Honda Dam của ai dựng trước sân, anh hỏi xe của ai cho anh mượn đi thử. Một anh cơ sở đang đứng gần đó trả lời:
- Dạ, xe của tôi đó, anh cứ đi.
Anh cơ sở dắt xe ra và hướng dẫn cho anh Huấn cách sử dụng. Anh Huấn ngồi lên xe cho xe chạy từ từ quanh trong sân cơ quan một vòng, thấy yên tâm thế là anh chầm chậm cho xe chạy ra đường Bạch Đằng. Chạy được một đoạn, bất ngờ xe tắt máy, anh xuống xe, chẳng biết lý do tại sao. Đang đứng loay hoay bỗng thấy một toán thanh niên khoảng 4-5 đứa đi chơi vừa đến. Anh gọi lại nhờ chúng coi và xử lý giúp. Thằng thanh niên trong đám đông đó lại ngồi lên xe và đạp mấy cái xe vẫn không nổ, nó nói:
- Con ngồi lên xe, ở phía sau chú đẩy thử nó có nổ không.
Anh Huấn “Ừ!” và làm theo lời hắn bảo. Được đẩy, xe chạy đi một đoạn rồi nổ, anh H. rất mừng. Cậu thanh niên nọ lên ga chạy thêm mấy mét nữa rồi vẫy vẫy tay chào tạm biệt anh, anh thấy thế tưởng nó chạy thử rồi quay lại đưa cho mình. Dè đâu, nó chạy óng tuốt một mạch. Anh nhìn theo nó miệng cứ “Ê..ê..” rồi ú ú ớ ớ. Một hồi lâu, tức mình, anh vội chạy về cơ quan gọi mấy người bảo vệ tập trung lại bảo:
- Mấy đứa chia nhau ra gác mấy ngã ba, ngã tư xem cái thằng thanh niên hồi nãy nó lừa tau, cướp mất xe của tau, nó ở đâu rồi. Gặp nó, bắt nó về đây cho tau!
Các ông bảo vệ cơ quan làm y lệnh của sếp, nhưng chờ đến khuya, mỏi mắt mà không thấy “cái thằng thanh niên nớ” mặt mũi nó ra làm sao!
Sau này, lúc rảnh rỗi anh chị em cơ quan gặp và ngồi lại với nhau, kể chuyện hồi mới về tiếp quản thành phố, mà ôm bụng cười. Toàn những chuyện “nai tơ từ chiến khu ra thành phố”. Một tháng sau ngày giải phóng Đà Nẵng tôi mới có điều kiện về nhà ông bác để thăm, ông bác họ mà hồi tôi ở tù ông đã đến thăm nuôi gửi cho tôi một ổ bánh mì chả và cái bánh chưng cùng một bộ đồ vải tám. Tôi nhớ mãi ơn bác, ba năm tôi ở tù không có ai thăm chỉ có bác, duy nhất một lần. Về nhà gặp lại hai bác cùng các anh chị, tôi vui mừng, lại có thêm một cháu nội gái con của anh Toản (con trai thứ 2 của bác). Chơi được một lúc tôi xin phép bác về lại cơ quan làm việc. Sau ngày giải phóng được hai tháng tôi tranh thủ về thăm quê, cô Hai tôi mừng lắm, cô nói tôi là “hột gạo trên sàn” khi tôi được trở về, rồi cô cho tôi một chiếc khâu (vàng 10) một chỉ và đưa lại dây chuyền của tôi mà lâu nay bà giữ dùm.
Văn phòng Quận ủy Quận Nhất lúc này lại tiếp nhận nhà của tướng Hoàng Xuân Lãm (nay là Lãnh sự quán Liên Xô) nằm trên đường Độc Lập (Trần Phú ngày nay) để làm việc và có chỗ cho nhân viên ở.
Trong thời gian chúng tôi đang bận rộn với công việc tiếp quản, lãnh đạo lo ổn định tổ chức ở cơ sở phường, lo cho việc đăng ký trình diện của bọn ngụy quân, ngụy quyền ngày càng đông thì đồng thời tôi cũng nghe và biết được thành phố Đà Nẵng đã tiếp viện cho quân đội ta ở phía nam cả đoàn xe vận tải hàng hóa và người để quân ta yên tâm đánh thắng, thời điểm này cả nước đang nô nức đón tin vui chiến thắng lớn dồn dập của quân ta trên khắp các mặt trận ở phía nam và tin chắc chắn quân ta sẽ tiến về giải phóng Sài Gòn một ngày không xa. 
Đúng vậy, đến ngày 30/4/1975 Sài Gòn được giải phóng, chỉ sau giải phóng Đà Nẵng 31 ngày thôi. Từ đây đất nước ta được hòa bình thống nhất, nhân dân ta được hưởng trọn độc lập tự do. Niềm vui lớn đến với chúng ta không còn cảnh màn trời chiếu đất, không còn phải lo ngày ngày phải chạy càn và trốn bom đạn nữa. Tất cả đã chấm dứt. Bây giờ phải vào một trận chiến đấu mới khó khăn hơn. Đánh giặc đã khó nhưng giữ nước còn khó hơn.

KẾT THÚC.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: phuockhanh trong 08 Tháng Năm, 2015, 09:06:26 PM
Mới đọc hết chương 1 mà đau thương chồng chất, mất mát quá lớn trong những năm ác liệt nhất của chiến tranh!


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: phuockhanh trong 11 Tháng Năm, 2015, 07:47:40 AM
Đã đọc hết chuyện kể ngày xưa của pt.hung, cuốn hút và Pk biết thêm những ngày kháng chiến ở những vùng giáp ranh hoạt động ra sao! Xin chào và chúc sức khỏe!


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: songvedem trong 13 Tháng Năm, 2015, 04:44:49 PM
Cảm ơn cô Hương về bài viết. Chiến tranh that khốc liệt. Lính Hàn quốc tàn ác và dã man bậc nhất trong KC chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Giao liên Quảng Đà
Gửi bởi: phuockhanh trong 13 Tháng Năm, 2015, 08:03:49 PM
Xin tiếp lời :Songvedem.
Năm 1973, sau hiệp định Pa-ry, một chị tên Huận vợ lính VNCH chưa biết chồng ở đâu sau MÙA HÈ ĐỎ LỬA đang ở Đắc Tô, Tân Cảnh tỉnh Kon Tum, Khi PK về công tác dân vận, chị kể 1968 lính Nam Hàn dồn dân ở Bình Định tàn ác lắm, dân bị dồn về ấp  CHIẾN LƯỢC chết bệnh, chết vì súng đạn, chết vì đói nhiều lắm... Thêm lời kể của NỮ GIAO LIÊN làm PK xúc động vô cùng!